intTypePromotion=2
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 141
            [banner_name] => KM2 - Tặng đến 100%
            [banner_picture] => 986_1568345559.jpg
            [banner_picture2] => 823_1568345559.jpg
            [banner_picture3] => 278_1568345559.jpg
            [banner_picture4] => 449_1568779935.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 7
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:45
            [banner_startdate] => 2019-09-13 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-13 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Luận án Tiến sĩ Chính trị học: Tính chính đáng của Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam

Chia sẻ: Na Na | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:193

0
63
lượt xem
20
download

Luận án Tiến sĩ Chính trị học: Tính chính đáng của Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về tính chính đáng chính trị, tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền, luận án đi khảo sát, phân tích, đánh giá tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền qua các thời kỳ lịch sử, chỉ ra các hạn chế trong duy trì tính chính đáng của Đảng hiện nay, từ đó đưa ra một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền thời gian tới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án Tiến sĩ Chính trị học: Tính chính đáng của Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam

  1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN VĂN QUANG TÝNH CHÝNH §¸NG CñA §¶NG CéNG S¶N CÇM QUYÒN ë VIÖT NAM Chuyên nganh ̀ : Chính trị học Ma sô ̃ ́ : 62 31 20 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC Người hướng dẫn khoa học: 1. TS NGÔ HUY ĐỨC 2. TS TRỊNH THỊ XUYẾN
  2. HÀ NỘI ­ 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu   của riêng tôi. Các số  liệu, tư  liệu sử  dụng trong luận   án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng; những kết luận   đưa ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Nguyễn Văn Quang
  3. MỤC LỤC Trang  MỞ ĐẦU                                                                                                                     .................................................................................................................      1 Chương 1  TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN                    ................      8  1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI                                  ..............................      8  1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC                                ...........................       13  1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU                                        ....................................       30 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH CHÍNH ĐÁNG CHÍNH TRỊ, TÍNH  CHÍNH ĐÁNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CẦM QUYỀN                  ..............       33  2.1. LÝ LUẬN VỀ TÍNH CHÍNH ĐÁNG CHÍNH TRỊ                                           .......................................       33 2.2. KHÁI NIỆM, CẤU TRÚC TÍNH CHÍNH ĐÁNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN   VIỆT NAM CẦM QUYỀN                                                                               ...........................................................................       71 Chương 3 PHÂN TÍCH TÍNH CHÍNH ĐÁNG  CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN Ở VIỆT NAM                                       ...................................       79 3.1. PHÂN TÍCH TÍNH CHÍNH ĐÁNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM   CẦM QUYỀN THỜI KỲ TRƯỚC NĂM 1975                                              ..........................................       79 3.2. PHÂN TÍCH TÍNH CHÍNH ĐÁNG TRONG CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG   CỘNG SẢN VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY                                               ..........................................       88 3.3. KINH NGHIỆM XÂY DỰNG TÍNH CHÍNH ĐÁNG CỦA MỘT SỐ ĐẢNG  TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG BÀI HỌC THAM KHẢO CHO ĐẢNG   CỘNG SẢN VIỆT NAM                                                                                ............................................................................       111 Chương 4 NHỮNG HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TÍNH CHÍNH ĐÁNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN  Ở VIỆT NAM HIỆN NAY                                                                                     .................................................................................       127 4.1. NHỮNG HẠN CHẾ TRONG DUY TRÌ TÍNH CHÍNH ĐÁNG TRONG   CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY             ........       127
  4. 4.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO TÍNH CHÍNH ĐÁNG  TRONG CẦM QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY                                                                                                                         144 .....................................................................................................................      KẾT LUẬN                                                                                                              ..........................................................................................................       175 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐàCÔNG BỐ  CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN                                                                          .....................................................................       177  DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO                                                                 .............................................................       178 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CNXH :    Chủ nghĩa xã hội ĐCS :    Đảng Cộng sản GDP :    Tổng sản phẩm quốc nội GNP :    Tổng sản phẩm quốc dân PAP :    Đảng Hành động nhân dân XHCN :    Xã hội chủ nghĩa
  5. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Về căn bản, trong mối quan hệ của quyền lực (chủ thể ra lệnh ­ chủ thể  phục tùng), chủ thể ra lệnh bao giờ cũng muốn dùng quyền lực của mình để ép  buộc người bị cai trị phải tuân thủ, phục tùng, làm theo các mệnh lệnh của mình  một cách vô điều kiện và tất nhiên là phải đạt được hiệu quả  như  ý muốn.  Ngược lại, người bị  cai trị  luôn có cảm giác khó chịu và có xu hướng phản  kháng, bất tuân thủ. Tuy nhiên, do đòi hỏi của sản xuất, của sự trật tự xã hội, xã   hội vẫn luôn phải tồn tại các mối quan hệ  quyền lực. Như  Ăngghen đã từng  khẳng định: Một quyền uy và một sự  phục tùng nhất định đều do những điều   kiện vật chất làm cho trở nên tất yếu đối với chúng ta. Đây chính là mâu thuẫn  lớn nhất của quyền lực. Vấn đề đặt ra là, làm sao để những mệnh lệnh của chủ  thể quyền lực đưa ra mà người bị trị tuân thủ, nghe theo, làm theo một cách tự  nguyện và đạt được hiệu lực và hiệu quả  cao? Để  có được điều này, đòi hỏi  quyền lực phải có tính chính đáng. Hay nói cách khác, quyền lực, sự cưỡng bức  sẽ “dễ chịu” hơn khi nó được mọi người coi là “chính đáng”. Vì vậy, tính chính   đáng là một sự đòi hỏi cần thiết của quyền lực và đã trở thành một trong những   đối tượng trung tâm của nghiên cứu chính trị học. Trước kia, khi tầng lớp thống trị của nhà nước thực hiện một cách rộng   rãi những đàn áp và bất công, nhân dân có thể tuân thủ những mệnh lệnh của  quyền lực chính trị  từ  những động cơ  của lương tâm như  sự  sợ  hãi bị  trừng  phạt, sự tôn sùng cá nhân, phong tục, tập quán, tôn giáo, do gắn bó trong một  thời gian dài với một người cai trị, hay là tin vào sự   ủy thác quyền lực của   Thượng đế cho người cai trị v.v.. Tuy nhiên, một tầng lớp cai trị nào đó không  thể  vững bền qua thời gian trừ  khi những thần dân của nó nhận ra rằng khi   những người nắm giữ  quyền ra lệnh và đòi hỏi họ  phải phục tùng là nhờ  có   quyền lực chính đáng. Còn nếu không, nó sẽ  dẫn đến những sự  thay đổi về  chủ thể cai trị khi mà những thần dân đã thức tỉnh, nhận rõ được sự bất công từ 
  6. 2 quyền lực bất chính đáng và họ  đã đủ  mạnh để  đánh đổ  chủ  thể  cai trị  hiện   thời. Lịch sử  đã chứng minh, sự  biến chuyển của các chế  độ  chính trị, của  quyền lực có thể coi là sự thay đổi trong quan niệm về tính chính đáng chính trị.  Ngày nay, trong một xã hội dân chủ, tính chính đáng chính trị được coi là   một vấn đề hệ trọng, liên quan trực tiếp đến hiệu lực và hiệu quả của thực thi   quyền lực chính trị, và cụ thể hơn là hiệu lực, hiệu quả thực thi của một mệnh   lệnh, chỉ thị phát ra từ các cơ quan quyền lực của chủ thể cầm quyền. Nếu chủ  thể  cầm quyền thiếu tính chính đáng, các mệnh lệnh từ bộ máy cai trị  của nó  đưa ra sẽ gặp phải sự chống đối, kháng cự  từ  những công dân. Và ngược lại,   chủ thể cầm quyền có được tính chính đáng cao, khi đó, nó sẽ đạt được hiệu lực   và hiệu quả cao trong thực thi quyền lực và dĩ nhiên là giữ được sự ổn định chính  trị­ xã hội nhằm duy trì thời gian cầm quyền. Như vậy, tính chính đáng chính trị  tạo nên sức mạnh, hiệu quả trong thực thi quyền lực của chủ thể cầm quyền. Trong lịch sử hình thành và phát triển của mình, tính chính đáng của Đảng   Cộng sản (ĐCS) Việt Nam đã được lịch sử chứng minh và nhân dân thừa nhận.   Tính chính đáng này có được vì dưới sự lãnh đạo và cầm quyền của mình, Đảng  đã đồng hành cùng nhân dân, cùng dân tộc đạt được nhiều thành tựu trong việc  đấu tranh vì mục tiêu chung là giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã   hội. Vai trò lãnh đạo tuyệt đối của ĐCS Việt Nam đã được ghi nhận trong Hiến   pháp, song điều đó không đồng nghĩa với việc không cần tăng cường, củng cố  tính chính đáng của Đảng trong vị trí cầm quyền. Ngược lại, trong bối cảnh đã   có nhiều thay đổi hiện nay, đòi hỏi Đảng cầm quyền phải không ngừng tăng  cường xây dựng, phát huy tính chính đáng của mình để đoàn kết các lực lượng   trong xã hội đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức để bảo vệ độc lập   dân tộc, thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng  và văn minh. Trong suốt thời gian cầm quyền đã qua, có những lúc Đảng mắc một số  sai lầm trong lãnh đạo và cầm quyền làm ảnh hưởng đến tính chính đáng. Đặc  
  7. 3 biệt, thời gian gần đây, như đã được khẳng định trong nhiều Văn kiện Đại hội  XI của Đảng: Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ  phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan  liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn  tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém  trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòng tin của   dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước   [26,tr.173]. Hậu quả của nó là ở một số nơi xảy ra tình trạng khiếu kiện kéo dài, một   số  cá nhân, tổ  chức chống đối lại các cơ  quan nhà nước một cách quyết liệt,   thậm chí ở một số nơi đã xuất hiện một số “cơn sóng ngầm trong lòng dân” và  có nguy cơ gây mất ổn định xã hội v.v.. Mặc dù Đảng đã có nhiều biện pháp như  tự phê bình và phê bình, chỉnh đốn Đảng, giữ quan hệ mật thiết với quần chúng,  đặc biệt nhấn mạnh sự tuyên truyền, giáo dục và giác ngộ v.v.. Dấu hiệu đó cho  thấy, tính chính đáng đã có dấu hiệu bị xói mòn. Điều này rất dễ xảy ra, nhất là   khi quyền lực nhà nước được đặt dưới sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm   quyền liên tục trong một thời gian dài. Rất có thể, khi cầm quyền trong thời gian  dài, Đảng tự xây cho mình một “tháp ngà” và tự cách biệt mình với quần chúng   nhân dân. Nghiêm trọng hơn, chính điều đó nảy sinh quan liêu, xa dân, tham   nhũng, thậm chí độc đoán, một bộ  phận cán bộ, đảng viên hư  hỏng, dần đánh  mất lòng tin của nhân dân, qua đó làm xói mòn tính chính đáng về sự cầm quyền  của Đảng. Điều này đã từng xảy ra với một số  đảng, dẫn đến kết cục đảng   không cầm quyền được nữa, gây những hệ lụy nguy hiểm cho quốc gia, cho dân  tộc. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá một cách có căn cứ khoa học và hệ thống  về tính chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi Đảng cầm quyền đến   nay để  từ  đó có những kiến nghị  nhằm nâng cao tính chính đáng trong cầm  quyền của Đảng thời gian tới là một vấn đề hết sức hệ trọng và cấp bách. 
  8. 4 Chính vì những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài  “Tính chính đáng   của Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam” để làm luận án tiến sĩ chính trị  học là hữu dụng cả về lý luận và thực tiễn. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về tính chính đáng chính trị, tính  chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền, luận án đi khảo sát, phân tích, đánh  giá tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền qua các thời kỳ lịch sử, chỉ ra   các hạn chế trong duy trì tính chính đáng của Đảng hiện nay, từ đó đưa ra một số  giải pháp khả thi nhằm nâng cao tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền  thời gian tới. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Để thực hiện mục tiêu trên, luận án có các nhiệm vụ chủ yếu sau đây: ­ Thứ  nhất, làm rõ cơ  sở  lý luận về  tính chính đáng chính trị, tính chính   đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền. ­ Thứ hai, dựa trên cơ sở lý luận đã được xây dựng, luận án khảo sát, phân   tích và đưa ra những nhận xét về tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền   qua các thời kỳ lịch sử. ­ Thứ  ba, nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng tính chính đáng trong cầm  quyền của một số đảng chính trị trên thế giới, từ đó rút ra một số bài học có giá   trị tham khảo đối với ĐCS Việt Nam.  ­ Thứ tư, chỉ ra các hạn chế trong duy trì tính chính đáng của Đảng hiện   nay.  ­ Thứ năm, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao tính chính đáng trong  cầm quyền của ĐCS Việt Nam thời gian tới. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án
  9. 5 Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề  lý luận và thực tiễn  đối với tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền. Góc độ tiếp cận và giải   quyết các nội dung nghiên cứu của luận án là dưới góc độ  khoa học Chính trị  học.  3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án  Về nội dung: Nghiên cứu về ĐCS Việt Nam với tư cách là đảng duy nhất   cầm quyền  ở nước ta có rất nhiều nội dung nghiên cứu khác nhau, chứa đựng  nhiều vấn đề phức tạp cả về lý luận và thực tiễn. Luận án chỉ tập trong nghiên   cứu nội dung tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền. Về thời gian: Nghiên cứu tính chính đáng trong cầm quyền của ĐCS Việt  Nam với trọng tâm là khoảng thời gian từ khi Đảng chính thức trở thành Đảng  cầm quyền (1945) ở Việt Nam cho đến nay. 4. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu  4.1. Cơ sở lý luận Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện  chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác ­ Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc  biệt, luận án bán sát đến các quan điểm biện chứng, khách quan, toàn diện, lịch   sử ­ cụ thể để triển khai các ý tưởng nghiên cứu. 4.2. Nguồn tư liệu ­ Tư liệu thứ cấp: Các tài liệu, các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo  đã công bố của các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài   luận án. ­ Tư liệu cấp ba: Các Văn kiện Đại hội Đảng và các Nghị quyết của Ban  Chấp hành Trung ương; các văn bản pháp quy của Quốc hội, Chính phủ, các Bộ,   các ngành; các báo cáo tổng kết của Mặt trận tổ quốc Việt Nam; các tác phẩm   kinh điển có liên quan đến luận án. 4.3. Phương pháp nghiên cứu
  10. 6 Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác  giả lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp với từng nội dung luận án. ­ Chương 1, tác giả  coi trọng phương pháp tổng hợp, phân tích và hệ  thống hóa để  đánh giá các công trình nghiên cứu có liên quan tới vấn đề  tính   chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền. ­ Chương 2, tác giả  sử  dụng nhiều phương pháp để  làm sáng tỏ  những  vấn đề của luận án. Cụ thể, tác giả sử dụng phương pháp quy nạp để xây dựng  các khái niệm công cụ. Phương pháp lịch sử, phân tích, và tổng hợp để khảo sát   các quan niệm khác trong trong lịch sử tư tưởng chính trị về tính chính đáng chính  trị, tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền từ đó đưa ra cấu trúc của tính   chính đáng chính trị, cấu trúc tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền. ­ Chương 3, tác giả  dùng phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử  và   phương pháp định tính để  khảo sát, phân tích, nhận định tính chính đáng trong   cầm của của ĐCS Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Sử dụng phương pháp so   sánh để  tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng tính chính đáng trong cầm quyền của  một số đảng chính trị trên thế giới và rút ra một số bài học cho Đảng ta. ­ Chương 4, về cơ bản, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp   để phân tích các hạn chế trong duy trì tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm   quyền hiện nay và đề ra một số giải pháp có căn cứ khoa học, góp phần nâng cao  tính chính đáng trong cầm quyền của ĐCS Việt Nam thời gian tới.  5. Những đóng góp về mặt khoa học của luận án ­ Luận án đưa ra được khái niệm, cấu trúc về  tính chính đáng chính trị,  tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền từ  cách tiếp cận của Chính trị  học dựa trên hệ  thống hóa các công trình nghiên cứu trước đó, các quan niệm  khác nhau về tính chính đáng chính trị, tính chính đáng của đảng cầm quyền. ­ Trên cơ sở khung lý thuyết về tính chính đáng chính trị, tính chính đáng  của ĐCS Việt Nam cầm quyền, luận án đã khảo sát, phân tích và đưa ra những   nhận xét về tính chính đáng của ĐCS cầm quyền  ở Việt Nam qua các thời kỳ  lịch sử.
  11. 7 ­ Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng tính chính đáng trong cầm  quyền của một số đảng chính trị trên thế giới, luận án rút ra một số bài học bổ ích  có khả  năng vận dụng để  nâng cao tính chính đáng trong cầm quyền của ĐCS   Việt Nam.  ­ Luận án chỉ  ra những hạn chế  trong duy trì tính chính đáng trong cầm  quyền của Đảng hiện nay và đưa ra được các giải pháp khả thi nhằm nâng cao   tính chính đáng trong cầm quyền của Đảng thời gian tới. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Về lý luận, nội dung và kết quả của luận án góp phần hoàn thiện cơ sở lý  luận về tính chính đáng chính trị, tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền.  Vì vậy, luận án có thể  sử  dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,  giảng dạy chuyên ngành Chính trị học, các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn   có liên quan ở Việt Nam.  Về thực tiễn, những kết luận của luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý   luận khoa học, cách tiếp cận rõ ràng. Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền có thể  khai thác, vận dụng vào thực tiễn nhằm nâng cao tính chính đáng trong cầm   quyền của ĐCS Việt Nam hiện nay và thời gian tới. 7. Kết cấu luận án  Ngoài phần mở  đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án   gồm 4 chương, 10 tiết.
  12. 8 Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Vấn đề tính chính đáng chính trị, tính chính đáng của nhà nước đã và đang   được khá nhiều nhà khoa học phương Tây quan tâm nghiên cứu. Ở Việt Nam, vấn  đề tính chính đáng chính trị, đặc biệt tính chính đáng của đảng cầm quyền, trong   một thời gian dài vẫn được coi là vấn đề “nhạy cảm”, là một điều gì đó tối kỵ  trong các nghiên cứu. Tuy nhiên, thời gian gần đây đã có một số nghiên cứu trực   tiếp đề  cập đến vấn đề  này hoặc là liên quan đến vấn đề  xây dựng tính chính  đáng của nhà nước, của ĐCS Việt Nam cầm quyền ở nước ta dưới các góc nhìn  khác nhau.  1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu chuyên biệt về tính chính đáng của  đảng cầm quyền hầu như rất hiếm. Các tác giả  nước ngoài chủ  yếu tập trung  nghiên cứu về  lý thuyết tính chính đáng chính trị, điều kiện đảm bảo cho tính   chính đáng của nhà nước. Trong đó, có thể  kể  đến một số  công trình tiêu biểu   như: Max Weber(1984):“Legitimacy, politics and the State” [136]. Trong bài viết  này, Max Weber cho rằng, mọi nhà nước đều dựa trên bạo lực (force), nhưng bạo   lực chắc chắn không phải là phương tiện duy nhất của nhà nước. Nhưng, rõ ràng   bạo lực là một phương tiện mang tính đặc trưng, riêng biệt của nhà nước. Nhà  nước, theo Webber, là một mối quan hệ của người cai trị và người bị trị, mối quan   hệ này được củng cố bởi công cụ bạo lực được coi là chính đáng. Max Weber cho   rằng, bất cứ một nhà nước nào cũng gắn với sử dụng quyền lực, nhưng không   phải việc sử dụng quyền lực nào cũng là chính đáng. Theo ông, có ba sự lý giải  mang tính nội tại mà được coi là cơ sở cho sự cai trị dựa vào để coi đó là có tính  chính đáng, đó là tính truyền thống, sự cuốn hút và tính hợp pháp. Các luận giải về  cơ sở cho tính chính đáng của nhà nước của M.Weber được coi là nền tảng, nguồn 
  13. 9 gốc tranh luận cho rất nhiều các công trình nghiên cứu về sau. Đây là tiều liệu có  giá trị tham khảo cho chương 2 của luận án. Dưới cách tiếp cận Triết học, khi đi sâu vào nghiên cứu về nhà nước, tính   chính đáng của nhà nước, trong Luận án tiến sĩ của Anthony M. Musonda (2006):  “Political   Legitimacy:   The   Quest   for   the   Moral   Authority   of   the   State,   A  Philosophical Analysis” [127], tác giả đã đi nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý   luận cơ bản về nhà nước như: khái niệm về nhà nước, nguồn gốc của nhà nước,   sự phát triển của nhà nước hiện đại, sự bành trướng về chủ quyền của nhà nước   hiện đại v.v.. Đặc biệt, tác giả dành một lượng không nhỏ  (phần 7, từ trang 89   đến trang 109) để nghiên cứu về tính chính đáng (tính chính đáng của nhà nước).   Trong phần này tác giả có đi phân tích khuôn khổ của tính chính đáng nhà nước,   chủ yếu tập trung vào yếu tố của các quy tắc pháp lý. Theo tác giả, trước kia, khi   tầng lớp thống trị của nhà nước thực hiện một cách rộng rãi những đàn áp và bất  công, nhân dân có thể tuân thủ những mệnh lệnh của quyền lực chính trị từ những   động cơ của lương tâm như sự sợ hãi, lòng thèm muốn, phong tục hoặc chỉ là sự  gắn bó với một người cai trị. Tuy nhiên, một tầng lớp cai trị nào đó không thể  vững bền qua thời gian trừ khi những thần dân của nó nhận ra rằng, những người  nắm giữ quyền lực nhà nước có quyền ra lệnh một cách chính đáng, khi, những   mệnh lệnh đó phù hợp với những nguyên tắc đã được định sẵn mang tính pháp   lý. Bởi vậy, để  một tầng lớp cai trị  bền vững qua thời gian thì nội dung của   những yêu cầu, mệnh lệnh đó phải được căn cứ vào quy tắc mang tính pháp lý.  Các luận giải của tác giả về tính chính đáng của các mệnh lệnh, hay hệ thống   pháp luật của nhà nước có giá trị tham khảo trong việc làm rõ cơ sở lý luận về  tính chính đáng chính trị, đặc biệt là xây dựng cấu trúc tính chính đáng chính trị. Nghiên cứu về mới quan hệ giữa hiệu quả của quá trình cầm quyền với   tính chính đáng chính trị, tác giả Lipset, Seymour Martin trong cuốn sách, “Political   Man: The Social Bases of Politics” [146] được xuất bản năm 1983 có cách tiếp cận  rất đáng chú ý. Trong cuốn sách này, Lipset dành một chương để nói về tính chính   đáng (Social conflict, legitimacy, and Democracy ­ xung đột xã hội, tính chính đáng 
  14. 10 và dân chủ). Không đi sâu vào nghiên cứu tính hợp pháp của nhà nước như  Anthony M. Musonda, Lipset đưa ra khái niệm về tính chính đáng chính trị khá rõ  ràng. Ông cho rằng, số đông coi một hệ thống chính trị có chính đáng hay không  bằng cách xem xem những giá trị của hệ thống đó có phù hợp với họ hay không.   Theo tác giả, giá trị cốt lõi ở đây là hiệu quả của sự cầm quyền. Thước đo cơ bản  cho tính hiệu quả của sự cầm quyền, theo ông, chính là sự phát triển kinh tế và   phát triển kinh tế  là chìa khóa để  cho chủ  thể  cầm quyền xây dựng tính chính  đáng. Từ cách tiếp cận và quan niệm như vậy, ông đi sâu vào phân tích mối quan   hệ  tương tác qua lại giữa tính chính đáng và hiệu quả  cầm quyền của một hệ  thống chính trị. Theo ông, nếu chủ thể cầm quyền tạo ra được sự phát triển kinh   tế cao thì đồng nghĩa với việc tính chính đáng trong cầm quyền cao. Và ngược lại,  khi hiệu quả cầm quyền thấp, nếu để kéo dài thì tính chính đáng trong cầm quyền   bị xói mòn và dần dẫn tới mất vai trò cầm quyền. Các luận giải của tác giả trong  công trình này có giá trị trong việc xây dựng cấu trúc tính chính đáng chính trị ở  chương 2 của luận án. Liên quan đến tính hợp pháp của chủ thể cầm quyền, có công trình nghiên  cứu của Carl Schmitt : “Legality and Legitimacy” [155]. Trong công trình này, tác  giả đi tìm lời giải cho mối quan hệ giữa tính chính đáng với tính hợp pháp. Ông  cho rằng, một chính phủ chỉ có được tính chính đáng khi nó được lập lên từ các  cuộc bầu cử tự do và công bằng ­ tức là hợp pháp. Tuy nhiên, ông cũng hoài nghi  về tính chính đáng của một chính phủ được dựng lên nhờ vào bầu cử bằng chiến  thắng đa số tuyệt đối. Ông cho rằng, 51% phiếu bầu tạo nên tính chính đáng mà   không bao giờ hỏi liệu 49% còn lại có chấp nhận quyết định của 51% hay không.   Theo ông, một chính phủ  được bầu lên với 51% số  phiếu đã được coi là chính  đáng hay chưa nếu như 49% còn lại nổi loạn thì liệu chính phủ đó có duy trì được   thời gian cầm quyền của mình? Từ đó, ông khẳng định rằng, kết quả bầu cử chỉ  là một điều kiện đầu tiên để tạo nên tính chính đáng cho một chính phủ. Chính  phủ đó có duy trì được tính chính đáng hay không cần phải thuyết phục được 49%   còn lại thông qua hiệu quả của các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của mình.  
  15. 11 Các phân tích, nhận định của tác giả sẽ là tham khảo bổ ích trong quá trình triển   khai các nội dung của luận án. Bàn về khía cạnh tính hợp pháp của quyền lực nhà nước còn có bài viết  của John H. Schaar: “Legitimacy in the Modern State” [143]. Trong bài viết này, tác  giả đã đề cập đến một loạt các quan niệm, các cách tiếp cận khác nhau về tính   chính đáng của quyền lực nhà nước. Từ đó, tác giả đưa ra ý kiến của riêng mình.   Theo tác giả, để quyền lực nhà nước trở thành quyền uy, quyền lực đó phái đến   từ ‘sự ủy quyền dân chủ ­ democratic consent’ và quyền lực nhà nước phải vì ‘lợi   ích chung ­ common good’ hay là ‘lợi ích công cộng ­ public interest’. Với quan  niệm như thế, tác giả đi luận giải tính chính đáng của các nhà nước hiện đại. Và   tới nay, quyền lực nhà nước vẫn chưa thực sự trở thành quyền uy và các thể chế  và các quan chức nhà nước vẫn chưa có câu trả lời. Đó chính là dấu hiệu của sự  khủng hoảng tính chính đáng trong nhà nước hiện đại. Cũng bàn về một khía cạnh của tính hợp pháp của quyền lực chính trị, còn có   các công trình:  Barnard, Frederick M, “Democratic Legitimacy: Plural Values and  Political   Power”   [129];   Peter,   Fabienne:   “Democratic   Legitimacy,   New   York:  Routledge” [149]; Hershovitz, Scott: “Legitimacy, Democracy, and Razian Authority”  [142]. Các tác giả này chủ yếu tập trung vào yếu tố dân chủ (trong bầu cử và trong   thực thi quyền lực). Họ  cho rằng, nguồn gốc phổ biến nhất của tính chính đáng  chính trị hiện nay là sự nhận thức rằng, một chính phủ đang hoạt động theo nguyên  tắc dân chủ và theo ý chí của người dân. Các chính phủ thường tuyên bố là nhận   được sự ủy quyền của người dân để thực thi quyền lực. Tuy nhiên, sự ủy quyền   này nhận được bằng cách nào có thể làm thay đổi một cách rõ ràng từ chế độ cai trị  này sang chế độ cai trị khác. Các nhà nước dân chủ tự do tuyên bố rằng, tính chính  đáng trong cai trị của họ dựa trên nền tảng là họ thường xuyên có các cuộc bầu cử  tự do và công bằng, trong đó các đảng chính trị tham gia mà không có bất cứ sự sợ  hãi và áp lực nào. Các nhận định này có giá trị  tham khảo đối với chương 2 và  chương 3 của luận án.
  16. 12 Đề cập đến tính chính đáng chính trị của chủ nghĩa tư  bản hiện nay, có   các   công   trình:   Thomas   MacCarthy,   “Legitimation   Problems   in   Advanced  Capitalism” [148]; George Kateb, “On the “Legitimation Crisis” [140]. Các công  trình này chủ  yếu luận giải các nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tính  chính đáng chính trị  của chủ  nghĩa tư  bản như: Khủng hoảng kinh tế; thất   nghiệp; chiến tranh; vấn đề an sinh xã hội không được giải quyết; các cuộc bầu  cử thiếu công bằng, tự do, v.v.. Liên quan đến tính chính đáng trong cầm quyền của ĐCS Việt Nam, có bài  của  tác giả  Thayer, Carlyle, “Political Legitimacy of Vietnam’s One Party­State:   Challenges and Responses” [158]. Bài viết này, tác giả tập trung vào phân tích các   thách thức đối với quyền lực của nhà nước chỉ có duy nhất một đảng cầm quyền   của Việt Nam nổi lên trong năm 2009 và cách mà nhà nước phản  ứng trước các  thách thức đó. Tác giả  nêu ra ba thách thức riêng biệt ảnh hưởng đến tính chính  đáng của nhà nước: các ý kiến đối lập trong việc khai thác bô xít ở Tây Nguyên;  cuộc biểu tình của Giáo Hội Công Giáo về các vấn đề sở hữu đất đai; và một số  bất đồng quan điểm chính trị của các nhà hoạt động gọi là “ủng hộ dân chủ” và các  blogger. ĐCS Việt Nam khẳng định tính chính đáng chính trị dựa trên nhiều yếu tố.  Những tranh cãi về khai thác bauxite thách thức khẳng định của nhà nước đối với  tính chính đáng chính trị trên cơ sở thực hiện. Tranh chấp đất đai Công giáo thách   thức tuyên bố của nhà nước về tính chính đáng dựa trên cơ sở hợp lý, hợp pháp của  các khu đất thuộc thẩm quyền nhà nước quản lý. Các bất đồng quan điểm chính trị,  bao gồm cả các nhu cầu cho dân chủ với những lo ngại về vấn đề môi trường và  quan hệ với Trung Quốc, thách thức tuyên bố của nhà nước về tính chính đáng dựa   trên chủ nghĩa dân tộc. Từ đó, tác giả khẳng định rằng, cùng với cách xử  lý vừa   mềm dẻo vừa cứng rắn của nhà nước Việt Nam trong năm 2009, tất cả các thách   thức này cũng sẽ được Đảng ta thảo luận tại Đại hội X của Đảng. Như  vậy, điểm qua một số  công trình nghiên cứu của các tác giả  nước   ngoài, ta thấy, các tác giả chủ yếu tập trung vào phân tích các điều kiện của tính  chính đáng chính trị, như, nguồn gốc hình thành thông qua bầu cử, các quyết định  
  17. 13 hợp pháp, phát triển được kinh tế, xã hội, đồng thời lợi ích của đa số phải được   đảm bảo... Ngoài ra, các tác giả  cũng đề  cập đến nguyên nhân dân đến khủng   hoảng tính chính đáng của chủ nghĩa tư bản, v.v… Các kết quả nghiên cứu này sẽ  là cơ sở dữ liệu để tham khảo trong quá trình triển khai làm rõ các nội dung của   luận án, đặc biệt là xây dựng khái niệm và cấu trúc của tính chính đáng chính trị,   tính chính đáng của ĐCS Việt Nam cầm quyền. 1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC  1.2.1. Một số công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm, cấu trúc,  điều kiện của tính chính đáng chính trị, tính chính đáng của Đảng cầm  quyền Sách:   “Đảng   Cộng   sản   cầm   quyền:   nội   dung   và   phương   thức   cầm  quyền của Đảng” của GS, TS. Nguyễn Văn Huyên (chủ  biên)[52]: Cuốn sách  được kết cấu thành ba phần với 12 chương: Phần thứ nhất: Tổng quát những   vấn đề  lý luận chung về  Đảng cầm quyền và Đảng Cộng sản cầm quyền;   Phần thứ hai: Nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng ­ Thực trạng và   những vấn đề  đặt ra; Phần thứ ba: Những điều kiện và yêu cầu đảm bảo sự  cầm quyền của Đảng và những giải pháp đổi mới nội dung và phương thức  cầm quyền của Đảng. Nhằm góp phần giải quyết những vấn đề  đặt ra là nội  dung và phương thức cầm quyền của Đảng cần được xác định như thế nào để  không trái với Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, không trái với nguyên tắc  toàn bộ  quyền lực nhà nước thuộc về  nhân dân, cuốn sách đã làm rõ những  luận cứ khoa học về Đảng Cộng sản cầm quyền, về nội dung và phương thức   cầm quyền của Đảng trong bối cảnh trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp  quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó chú trọng đến quan điểm của chủ nghĩa Mác ­   Lênin và tư  tưởng Hồ  Chí Minh; thực trạng sự  cầm quyền của  Đảng v.v..   Đồng thời đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao vai trò lãnh   đạo và cầm quyền của Đảng. Đặc biệt, cuốn sách còn đề cập đến kinh nghiệm  cầm quyền của một số  Đảng chính trị  tiêu biểu trên thế  giới như: Liên Xô, 
  18. 14 Trung Quốc, các nước phương Tây; đi sâu phân tích khái niệm mà bấy lâu nay   hầu như chưa được bàn đến với một cách lập luận rõ ràng ở nước ta như vấn  đề “tính chính đáng của sự cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản”.  Các tác  giả đã bước đầu khái quát, định hình và gợi mở được những vấn đề cơ bản về  tính chính đáng chính trị, như: quan niệm về tính chính đáng chính trị  của một  số nhà tư tưởng chính trị, bước đầu đưa ra cấu trúc của tính chính đáng chính  trị… Dựa trên cơ sở lý thuyết đó, tác giả phân tích, đánh giá một cách rất khái  quát về tính chính đáng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi cầm quyền cho   đến nay và gợi mở  ra những vấn đề  mang tính thách thức đối với ĐCS Việt  Nam cầm quyền hiện nay. Cuốn sách sẽ  là tài liệu tham khảo bổ   ích cho   chương 2 và chương 4 của luận án.  Bàn đến niềm tin trong tính chính đáng của quyền lực Nhà nước, bài viết  có tiêu đề“Không thể có quyền lực chính đáng nếu dân không tin” của GS. Cao   Huy Thuần [116]. Tác giả cho rằng, tin cậy là nền tảng của xã hội, là gốc của   quyền lực và không thể có một quyền lực chính đáng nếu quyền lực đó vô trách  nhiệm. Để  chứng minh cho điều này, tác giả  bắt đầu từ  sự  phân tích các luận   điểm của J.Locke nhằm trả lời cho câu hỏi lớn: do đâu quyền lực được xem như  chính đáng?. Đó là sự tin cậy của người dân. Nhà nước ngày nay nhận tính chính  đáng từ sự thỏa thuận của người dân. Dân thỏa thuận vì dân tin cậy. Người cầm   quyền nhận một nhiệm vụ mà dân giao phó để thực hiện một mục tiêu mà hai bên   thỏa thuận trong sự tin cậy lẫn nhau. Tin cậy là gốc của quyền lực. Nếu anh làm   tôi mất lòng tin thì tôi rút lui sự tin cậy. Tác giả cũng cho rằng, hiện nay, khắp nơi,   đâu cũng đặt câu hỏi: làm thế  nào để  vực dậy lòng tin cậy nơi con người dân  chủ?. Nhưng có phải chính chế độ dân chủ làm mất lòng tin không? Chắc chắn   không. Theo tác giả, chế độ dân chủ, nhất là ngày nay, phải giải quyết một mâu   thuẫn nội tại: làm sao hòa giải giữa tự do của người dân, càng ngày càng khó tính   vì độc lập hơn, tự chủ hơn, đòi hỏi hơn, với nhu cầu của chính quyền phải hành  động, phải quyết định, nghĩa là phải chọn lựa những giải pháp ít mất lòng tin  nhất 
  19. 15 trong những điều kiện kinh tế, xã hội càng ngày càng khó khăn? Làm thế  nào?   Dẹp bớt dân chủ chăng? Đâu có, phải tăng cường dân chủ! Dân chủ đại diện bị  mất lòng tin? Thì phát triển thêm dân chủ tham dự. Thì tìm mọi cách để người dân   tham gia nhiều hơn nữa vào việc công. Thì mở rộng thêm xã hội công dân. Các  luận giải của tác giả có thể được tham khảo trong chương 2 chương của luận án. Bài   báo,  “Về   sự  cần   thiết  phải   kiểm   soát   quyền  lực  nhà  nước”  của  TS.Lưu Văn Quảng [95]. Trong bài viết này, tác giả  đã bước đầu đề  cập đến  những vẫn đề cơ bản nhất về tính chính đáng của quyền lực nhà nước. Cùng với   tính độc quyền cưỡng chế, tác giả coi tính chính đáng là một trong hai thuộc tính   căn bản của quyền lực nhà nước. Tác giả cho rằng, tính chính đáng của nhà nước  được hiểu là sự chấp nhận, sự đồng tình của nhân dân đối với m ột chế độ cai trị,  hay niềm tin vào một sự cai trị hợp lý. Nói cách khác, tính chính đáng chính trị có  nghĩa là niềm tin của nhân dân vào thẩm quyền và tính hợp lý trong các hoạt động   của nhà nước. Khi người dân tin rằng quyền lực của nhà nước là chính đáng, họ sẽ  tự thấy bổn phận và nghĩa vụ phải tuân thủ các mệnh lệnh mà nhà nước đưa ra.  Tác giả cũng cho rằng, ngày nay quyền lực một nhà nước được coi là chính đáng ít  nhất phải đảm bảo ba yếu tố: Quyền lực đó phải đại diện được lợi ích của nhân   dân; Quyền lực đó phải được lập lên một cách hợp lệ; Quyền lực đó phải được sử  dụng đúng mục đích và hiệu quả. Trong bài viết của mình, tác giả mới chỉ dừng lại   ở nêu ra các vấn đề theo cách hiểu riêng của mình về khái niệm, cấu trúc tính chính  đáng của nhà nước chứ chưa có các luận giải, chứng minh cho các nhận định của  mình dưới cách tiếp cận của một chuyên ngành khoa học cụ thể. Tuy vậy, các nhận  định này cũng có giá trị tham khảo cho luận án, nhất là phần lý thuyết ở chương 2. Cũng đề cập đến tính chính đáng của nhà nước, nhưng đề cập ở khía cạnh  phương thức tạo lập và duy trì tính chính đáng nhờ vào xã hội dân sự, trong bài  báo“Hướng đến một khái niệm khoa học về xã hội dân sự” của tác giả Trần Hữu  Quang [92]. Trong bài viết này, bên cạnh việc đi tìm một khái niệm khoa học về  xã hội dân sự  cho trường hợp của Việt Nam, lấy xuất phát điểm từ  những 
  20. 16 nghiên cứu của Gramsci về xã hội dân sự, tác giả đặc biệt chú trọng đến vai trò   của xã hội dân sự trong việc thiết lập sự đồng thuận nhằm duy trì sự thống lãnh  (hegemony) về tư tưởng của nhà nước ­ cơ sở cho tính hợp thức hay tính chính   đáng của nhà nước. Theo tác giả, nếu không tạo ra được sự đồng thuận nơi xã   hội dân sự, nhà nước sẽ không giữ được sự  thống lãnh tư  tưởng, và vì thế  tất  yếu sẽ mất đi tính hợp thức (hay tính chính đáng, legitimacy) của mình và chỉ còn   nắm được sự cưỡng chế mà thôi. Và tác giả cũng nhận định rằng, muốn duy trì  được sự thống lãnh về tư tưởng của nhà nước, cần phải tạo ra môi trường lành   mạnh để cho xã hội dân sự được phát triển. Vì, sự phát triển lành mạnh và sôi  động của đời sống xã hội dân sự  chính là thước đo của tính hợp thức hay tính   chính đáng (legitimacy) của Nhà nước. Công trình có giá trị  tham khảo trong   chương 2 và chương 4 của luận án. Bài“Tính chính đáng của đảng cầm quyền trong các thể  chế  chính trị  tư  bản” của TS. Đặng Đình Tân [99]. Đây gần như là công trình đầu tiên trực tiếp   nói về tính chính đáng trong cầm quyền của các đảng chính trị được công bố trên  các tạp chí khoa học tại Việt Nam. Tác giả cho rằng, trong các thể chế chính trị  dân chủ tư bản, tính chính đáng của đảng cầm quyền là vấn đề hệ trọng của đời   sống chính trị, liên quan trực tiếp đến hiệu lực thực thi quyền lực của đảng cầm   quyền, đến thời gian tồn tại của đảng đó, và liên quan trực tiếp đến sự ổn định  chính trị, phát triển của xã hội thời kỳ đảng cầm quyền đó đương nhiệm. Tính   chính đáng của đảng cầm quyền (hay liên minh các đảng cầm quyền) trong các  chính thể dân chủ trong các nước tư bản thể hiện trên mấy vấn đề chủ yếu: Thứ  nhất, tính chính đáng của một đảng cầm quyền trước hết được thể hiện ở  tính   hợp hiến, hợp pháp, tức là vai trò cầm quyền đó phải được thừa nhận bằng bằng  đa số trong xã hội; Thứ hai, các cuộc tranh cử phải diễn ra thật sự dân chủ trong   các cuộc bầu cử các cơ quan quyền lực công; Thứ ba, tính chính đáng của đảng  cầm quyền phải thể  hiện  ở  tính hợp lý trong các quyết định của đảng về  các   chính sách công: phải đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội, phân bổ hợp lý   các giá trị, tháo gỡ được những bức xúc, giải quyết được các xung đột lợi ích giữa 

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản