i
LỜI CẢM ƠN
Được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy, cô, các cán bộ trong cơ sở
đào tạo Viện Chiến lược phát triển và thầy hướng dẫn khoa học, tác giả đã hoàn
thành bản luận án với đề tài: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ven biển Bắc Bộ
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Tác giả luận án xin trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Viện Chiến lược
phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập
và nghiên cứu luận án. Tác giả xin cảm ơn các thầy, các cô và các cán bộ tại cơ sở
đào tạo của Viện Chiến lược phát triển và Trường Đại học Kinh tế quốc dân trong
quá trình học tập, nghiên cứu.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả luận án xin được bày tỏ lòng
cảm ơn tới PGS.TSKH Nguyễn Bích Đạt, người thầy đã tận tình hướng dẫn trong
quá trình tác giả nghiên cứu và hoàn thiện luận án. Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS
Bùi Tất Thắng, PGS.TS Ngô Doãn Vịnh, GS.TS Ngô Thắng Lợi, PGS.TS Nguyễn
Văn Đặng, TS Nguyễn Công Mỹ và các nhà khoa học đã tận tình chỉ dẫn trong quá
trình tác giả học tập, nghiên cứu.
Tác giả trân trọng cảm ơn sự động viên giúp đỡ của gia đình, bạn bè và các
bạn đồng nghiệp trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện bản luận án này.
Hà nội, ngày tháng năm 2014
Trần Anh Tuấn
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
nội dung trong luận án là trung thực. Kết quả của luận án chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả
Trần Anh Tuấn
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.........................................................................1 2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU .......................................................2 3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU ............................................................3 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.........................................................................3 5. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN ................................................................4 6. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN ...................................................................................4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ................................. 5
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC.........................5 1.1.1. Một số công trình nghiên cứu về định hướng CDCCKT theo hướng CNH, HĐH .............................................................................................................5 1.1.2. Một số công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến CDCCKT theo hướng CNH, HĐH...................................................................................................6 1.1.3. Tổng quan về kinh nghiệm quốc tế về CDCCKT của vùng ven biển theo hướng CNH, HĐH...................................................................................................9 1.2. TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC ............................... 18 1.2.1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề CCKT và CDCCKT ở Việt Nam ..............18 1.2.2. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề CDCCKT theo hướng CNH, HĐH ...........20 1.2.3. Một số nghiên cứu về CDCCKT ở cấp vùng và CDCCKT vùng ven biển....21 1.2.4. Một số văn bản pháp quy về CDCCKT và các định hướng phát triển vùng VBBB...........................................................................................................23
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
VÙNG THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA .................. 26
2.1. KHÁI NIỆM CƠ CẤU KINH TẾ, CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ............................................................... 26 2.1.1. Khái niệm, phân loại CCKT.........................................................................26 2.1.2. Khái niệm CDCCKT ...................................................................................30 2.1.3. Khái niệm CNH, HĐH.................................................................................32 2.1.4. CDCCKT theo hướng CNH, HĐH............................................................... 33
iv
2.2. ĐÁNH GIÁ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA...........................................................................34 2.2.1. Yêu cầu về phương pháp đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.........34 2.2.2. Tổng hợp các chỉ tiêu cơ bản về đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.....35 2.2.3. Lựa chọn những chỉ tiêu cơ bản đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH....40 2.3. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA...........................................................................42 2.3.1. CDCCKT vùng ............................................................................................ 42
2.3.2. CDCCKT vùng theo hướng CNH, HĐH ......................................................46 2.3.3. Đặc trưng của CDCCKT vùng theo hướng CNH, HĐH ............................... 48 2.3.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến CDCCKT vùng theo hướng CNH, HĐH......50 2.4. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ............................................................... 56 2.4.1. CDCCKT của vùng ven biển theo hướng CNH, HĐH .................................56 2.4.2. Đánh giá CDCCKT của vùng ven biển theo hướng CNH, HĐH ..................57
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG VEN
BIỂN BẮC BỘ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA..... 61
3.1. TỔNG QUAN VỀ VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ .............................................61 3.1.1. Diện tích, dân số và các tỉnh trong vùng VBBB ...........................................61 3.1.2. Định hướng phát triển không gian vùng VBBB ...........................................64 3.1.3. Định hướng phát triển mạng lưới giao thông vùng VBBB............................ 67 3.2. LỰA CHỌN BỘ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TỀ VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ............................................................................70 3.2.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh các yếu tố đầu vào trực tiếp ảnh hưởng đến CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH ....................................................70 3.2.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh động thái và trình độ CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH ......................................................................................... 71 3.2.3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả CDCCKT theo hướng CNH, HĐH ............72 3.2.4. Nhóm chỉ tiêu bổ trợ đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH ...............72
v
3.3. ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ....................................................................................................72 3.3.1. Điều kiện thuận lợi cho CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH .....72 a. Nhóm yếu thuận lợi từ bên ngoài tác động đến CDCCKT vùng VBBB .............72 b. Nhóm các yếu tố nội tại thuận lợi cho CDCCKT vùng VBBB........................... 75 3.3.2. Những hạn chế, khó khăn đối với CDCCKT theo hướng CNH, HĐH ..........77 a. Những khó khăn từ bên ngoài tác động đến CDCCKT vùng VBBB...................77 b. Những khó khăn nội tại tác động đến CDCCKT vùng VBBB............................ 78 3.4. ĐÁNH GIÁ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ ............................. 82 3.4.1. Đánh giá theo nhóm chỉ tiêu phản ánh các yếu tố đầu vào trực tiếp ảnh hưởng đến CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH...................................82 a. Đánh giá về cơ cấu đầu tư để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH....................... 82 b. Đánh giá chuyển dịch cơ cấu lao động cho phát triển công nghiệp và dịch vụ ...85 c. Đánh giá theo các chỉ tiêu ảnh hưởng đến CDCCKT vùng VBBB: Tỷ lệ lao động qua đào tạo, mức độ tiếp cận thông tin và hiệu suất sử dụng vốn ..................86 3.4.2. Đánh giá theo nhóm chỉ tiêu phản ánh động thái và trình độ CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH................................................................................88 a. Đánh giá CDCCKT theo hướng phát triển công nghiệp hiện đại ........................ 88 b. Đánh giá CDCCKT theo hướng phát triển dịch vụ hiện đại ............................... 91 c. Sự thay đổi về quy mô GDP vùng VBBB so với GDP vùng ĐBSH và GDP của cả nước ...........................................................................................................94 3.4.3. Đánh giá theo nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH ......................................................................................... 95 a. Chuyển dịch cơ cấu giữa hai khối ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp .........95 b. Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa hai khối ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp....96 c. Một số chỉ tiêu kinh tế phản ánh kết quả CDCCKT theo hướng CNH, HĐH .....97 d. Đánh giá chỉ tiêu phát triển kinh tế biển vùng VBBB .............................................99 3.4.4. Đánh giá theo nhóm chỉ tiêu bổ trợ phản ánh CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH............................................................................................... 101
vi
3.5. ĐÁNH GIÁ NHỮNG THÀNH CÔNG, HẠN CHẾ CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ..................................................... 103 3.5.1. Đánh giá những thành công cơ bản của CDCCKT theo hướng CNH, HĐH .......103 3.5.2. Đánh giá những hạn chế của CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH .........106
CHƯƠNG 4 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ THEO HƯỚNG CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ..................................................................... 113
4.1. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ ............................................................................... 113 4.1.1. Xác định các ngành nghề có khả năng cạnh tranh ......................................113 4.1.2. Các định hướng phát triển liên vùng cơ bản ............................................... 116 4.1.3. Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển vùng VBBB ........................................... 123 4.2. NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA..126 4.2.1. Những giải pháp CDCCKT theo hướng CNH, HĐH..................................126 a. Những giải pháp huy động yếu tố đầu vào phục vụ quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH............................................................................................... 126 b. Những giải pháp về động thái và trình độ CDCCKT theo hướng CNH, HĐH..128 c. Những giải pháp cơ bản nâng cao kết quả CDCCKT theo hướng CNH, HĐH .131 4.2.2. Những giải pháp phát huy nội lực và khắc phục những hạn chế nội tại ......132 a. Phát triển nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ...................................................... 132 b. Một số giải pháp huy động vốn phục vụ quá trình CNH, HĐH ........................ 135 c. Những giải pháp cơ bản về cơ chế, chính sách đối với quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH ....................................................................................... 137 d. Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ CDCCKT theo hướng CNH, HĐH................ 138 e. Phát triển công nghiệp phụ trợ phục vụ quá trình CNH, HĐH.......................... 139 f. Những giải pháp phát huy lợi thế về vị trí địa lý đối với quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH ....................................................................................... 140 g. Giải pháp quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên ......................... 140
vii
4.2.3. Những giải pháp liên vùng và tận dụng các yếu tố bên ngoài để phát triển và CDCCKT theo hướng CNH, HĐH..................................................................141 a. Giải pháp về hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài ..................................141 b. Tăng cường năng lực cạnh tranh để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH........... 142 c. Kết hợp giữa CDCCKT theo hướng CNH, HĐH với đảm bảo quốc phòng - an ninh và trật tự, an toàn xã hội..........................................................................143 d. Các biện pháp chung bảo vệ môi trường vùng VBBB và các vùng lân cận ......144
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................... 147
1. KẾT LUẬN .....................................................................................................147 2. KIẾN NGHỊ.....................................................................................................149
viii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCN CCKT CDCCKT CNH CCN
ĐBSH GTSX GDP
HĐH HNKTQT ICB KT-XH KH-CN KCN KKT NIEs
NSLĐ ODA PPP R&D TNCs USD
VKTTĐ VBBB Bộ Công nghiệp Cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Công nghiệp hóa Cụm công nghiệp Đồng bằng sông Hồng Giá trị sản xuất Tổng sản phẩm quốc nội Hiện đại hóa Hội nhập kinh tế quốc tế Hệ thống phân chia các ngành trong nền kinh tế quốc dân Kinh tế - Xã hội Khoa học - Công nghệ Khu công nghiệp Khu kinh tế Các nước công nghiệp mới Năng suất lao động Vốn hỗ trợ phát triển chính thức Mô hình hợp tác công-tư Nghiên cứu và phát triển Các tập đoàn/công ty đa quốc gia Đồng đô la Mỹ Vùng kinh tế trọng điểm Ven biển Bắc Bộ
ix
DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 1.1: Các CNN tập trung ở 10 thành phố đồng bằng Châu Giang ....................14
Biểu 3.1: Một số hạng mục đầu tư cơ bản để CDCCKT theo hướng ......................82
Biểu 3.2: Chuyển dịch cơ cấu lao động của vùng VBBB giai đoạn 2001-2010 ......85
Biểu 3.3: Một số chỉ tiêu kinh tế phản ánh CDCCKT theo hướng CNH, HĐH ......86
Biểu 3.4: Một số chỉ tiêu cơ bản phản ánh sự phát triển dịch vụ theo hướng hiện
đại .........................................................................................................................88
Biểu 3.5: Một số chỉ tiêu cơ bản phản ánh sự phát triển dịch vụ theo hướng hiện
đại .........................................................................................................................91
Biểu 3.6: Tỷ trọng GDP vùng VBBB so với GDP vùng ĐBSH và GDP cả nước...94
Biểu 3.7: CCKT vùng VBBB theo các khu vực kinh tế .........................................95
Biểu 3.8: Cơ cấu lao động theo các khu vực kinh tế...............................................96
Biểu 3.9: Một số chỉ tiêu bổ trợ đánh giá quá trình CDCCKT theo hướng CNH,
HĐH....................................................................................................................101
Biểu 4.1: Danh mục những ngành đã có năng lực cạnh tranh của Việt Nam ........114
Biểu 4.2:Danh mục những ngành Việt Nam có thể có sức cạnh tranh ..................114
Biểu 4.3: Những ngành có lợi thế cạnh tranh vùng VBBB...................................114
x
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ phân tích CCKT theo ngành......................................................... 29
Hình 2.2: Sơ đồ phân tích CDCCKT ..................................................................... 31
Hình 3.1: Bản đồ vùng VBBB. .............................................................................. 61
Hình 3.2: Bản đồ thể hiện mối liên kết vùng trong phát triển vùng VBBB............. 65
Hình 3.3: Bản đồ thể hiện mối quan hệ giao thương quốc tế vùng VBBB.............. 66
Hình 3.4: Bản đồ thể hiện mạng lưới đô thị vùng VBBB ....................................... 67
Hình 4.1: Sơ đồ 34 ngành có tính cạnh tranh cao trên thế giới do Viện Chiến lược
cạnh tranh-Đại học Havard đề xuất...................................................................... 113
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa (CNH, HĐH) bao gồm CDCCKT các vùng là vấn đề quan trọng đối với quá
trình phát triển kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế (HNKTQT) ngày càng sâu rộng, cơ cấu kinh tế (CCKT) hợp lý cần
phải cụ thể hóa được các quan điểm chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội (KT-
XH), đảm bảo đi đúng theo định hướng CNH, HĐH đã được Đảng và Nhà nước xác
định, phù hợp với xu hướng phát triển chung trên thế giới. Thực tế đang có nhiều
biến động của tình hình kinh tế - chính trị trong và ngoài nước tác động đến sự phát
triển kinh tế và quá trình CDCCKT. Đến nay, đã có các công trình, đề án nghiên
cứu về CCKT và CDCCKT trong bối cảnh CNH, HĐH. Tuy nhiên, những nghiên
cứu này chủ yếu tập trung ở phạm vi cấp quốc gia, vấn đề CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH đối với các vùng lãnh thổ chưa được tập trung nghiên cứu đầy đủ. Vì
vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống vấn đề CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH của các vùng (trong đó có các vùng ven biển) là một yêu cầu cần thiết
nhằm phục vụ quá trình ra quyết định quản lý, phát triển kinh tế của các vùng, các
tỉnh trực thuộc các vùng và sự phát triển chung của cả nước.
Việt Nam là một quốc gia có bờ biển trải dọc theo lãnh thổ khoảng 3.400 km,
các vùng ven biển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của cả nước. Vì
vậy, phát triển kinh tế các vùng ven biển là một trong những định hướng phát triển
quan trọng đối với nước ta. Vùng ven biển Bắc Bộ (VBBB) bao gồm có các
tỉnh/thành phố: thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Thái Bình, tỉnh Nam
Định và tỉnh Ninh Bình là vùng có vai trò quan trọng trong phát triển KT-XH của cả
nước. Vùng VBBB có tiềm năng phát triển công nghiệp, du lịch, vận tải, thương
mại và kinh tế biển,…. có vị trí thuận lợi về giao thông thủy, đường bộ và đường
hàng không. Vùng VBBB có ảnh hưởng lớn đối với phát triển kinh tế khu vực Bắc
Bộ và đối với cả nước. Bên cạnh đó, Việt Nam đang triển khai nhiều chương trình
2
quan trọng như: triển khai thực hiện Chiến lược biển, triển khai Đề án hai hành lang
- một vành đai kinh tế, xây dựng các KKT ven biển,... Điều này có ảnh hưởng đến
sự phát triển kinh tế của các tỉnh/thành phố thuộc vùng VBBB. Cơ hội mở ra trước
mắt rất lớn nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại không ít khó khăn, thách thức đối với
vùng VBBB. Trên thực tế, sự phát triển kinh tế của vùng vẫn còn chưa xứng với
tiềm năng, CCKT còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế so với yêu cầu của quá trình
CNH, HĐH. CDCCKT của vùng VBBB diễn ra chậm và chưa hiệu quả, sự phát
triển của các ngành còn chưa đảm bảo tính liên vùng, năng lực cạnh tranh còn yếu,
hiệu quả kinh tế không cao. Vì vậy, nghiên cứu xây dựng một CCKT hợp lý theo
hướng CNH, HĐH ở vùng VBBB là một vấn đề rất cần thiết. Việc phân tích, đánh
giá những đặc điểm của vùng, các tiềm năng lợi thế cho phát triển và các yếu tố tác
động đến quá trình CDCCKT của vùng sẽ tạo cơ sở vững chắc để đề xuất những
giải pháp phù hợp cho quá trình CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH.
Với những lý do trên, luận án tiến sĩ “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ven
biển Bắc Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” được thực hiện nhằm
đóng góp vào cơ sở khoa học và thực tiễn về vấn đề CDCCKT theo hướng CNH,
HĐH, giúp các nhà lãnh đạo của các tỉnh/thành phố trong vùng VBBB đề xuất
những giải pháp nâng cao hiệu quả CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của luận án: Luận án được thực hiện nhằm góp phần
làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn về CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH,
HĐH, từ đó xác định các định hướng, giải pháp CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
tại vùng VBBB.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: Để tiến đến mục tiêu đề ra, luận án tập
trung vào 3 nội dung sau:
(1). Góp phần làm rõ nội dung về CDCCKT vùng theo hướng CNH, HĐH và
đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
(2). Nghiên cứu các đặc điểm vùng VBBB và các yếu tố ảnh hưởng đến quá
trình CDCCKT, đánh giá quá trình CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH
3
(trong đó tập trung phân tích, đánh giá theo CDCCKT theo ngành của vùng VBBB)
(3). Đề xuất các định hướng, giải pháp CDCCKT vùng VBBB theo hướng
CNH, HĐH giai đoạn 2010 – 2020.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào quá
trình CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian của luận án là vùng VBBB (bao gồm các tỉnh/thành phố:
thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Thái Bình, tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh
Bình).
Phạm vi về nội dung, luận án tập trung nghiên cứu về CDCCKT theo ngành để
đánh giá quá trình CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH.
Thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung đánh giá quá trình CDCCKT vùng
VBBB giai đoạn từ 2000 - 2010 (một số nội dung cập nhật số liệu đến 2012) và đề
xuất những định hướng, giải pháp CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH
cho giai đoạn 2010 - 2020 và sau năm 2020.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
(1). Luận án sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, kế thừa các kết quả
nghiên cứu đã được công bố. Từ đó đưa ra một số quan điểm phân tích của tác giả
đối với các vấn đề CDCCKT, CDCCKT vùng, CDCCKT vùng theo hướng CNH,
HĐH và đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
(2). Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống để lựa chọn bộ chỉ tiêu
đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH (cấp quốc gia và các vùng ven biển).
Luận án sử dụng các chỉ tiêu được lượng hóa và một số chỉ tiêu định tính để đánh
giá quá trình CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH.
(3). Luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đề xuất những
định hướng, giải pháp CDCCKT theo hướng CNH, HĐH vùng VBBB.
Khung logic vấn đề nghiên cứu của luận án được trình bày trong phụ lục 1.
4
5. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
Luận án tập trung vào ba điểm mới:
Thứ nhất, luận án góp phần làm phong phú hơn nội dung về CDCCKT vùng
và CDCCKT vùng ven biển theo hướng CNH, HĐH. Đánh giá quá trình CDCCKT
theo hướng CNH, HĐH bằng phương pháp lựa chọn và sử dụng các chỉ tiêu định
lượng kết hợp với một số chỉ tiêu định tính.
Thứ hai, luận án tập trung phân tích, tổng kết những đặc điểm cơ bản của
vùng VBBB và đánh giá những thuận lợi, khó khăn đối với CDCCKT vùng VBBB.
Sử dụng các nhóm chỉ tiêu được lựa chọn để phân tích, đánh giá quá trình
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH của vùng VBBB. Phân tích những thành công,
hạn chế và những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những thành công, hạn chế của quá
trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH tại vùng VBBB.
Thứ ba, luận án đã đề xuất những định hướng CDCCKT tập trung vào những
vấn đề cơ bản nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh và nâng cao hiệu quả kinh tế
của vùng VBBB. Trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm của vùng VBBB, các thuận
lợi, khó khăn đối với CDCCKT, những thành công, hạn chế của quá trình CDCCKT
của vùng VBBB, luận án đã đề xuất các giải pháp CDCCKT vùng VBBB theo
hướng CNH, HĐH.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm có phần mở đầu, kết luận, phụ lục và 4 chương sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở khoa học CDCCKT vùng theo hướng CNH, HĐH
Chương 3: Đánh giá CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH.
Chương 4: Những định hướng, giải pháp CDCCKT vùng VBBB theo hướng
CNH, HĐH
5
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC
1.1.1. Một số công trình nghiên cứu về định hướng CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH
CDCCKT và vấn đề CNH, HĐH là những vấn đề được nhiều học giả trong
và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trong lịch sử, Mark K (1909) [122] là một
trong những học giả sớm bàn đến vấn đề định hướng CDCCKT thông qua phân
tích, bàn luận trong học thuyết về phân công lao động xã hội và học thuyết về tái
sản xuất xã hội. Quá trình CDCCKT và những định hướng CDCCKT cũng được đề
cập trong một số ấn phẩm của các học giả tiêu biểu như Clark C (1964) [101];
Fisher I và Allen G.B (1935) [106]; Perloff H.S (1960) [130]; Borts G.H và Stein
J.C (1964) [97]. Những quan điểm của các nhà kinh tế đó đã tạo nền tảng cho
nghiên cứu về CDCCKT, các định hướng CDCCKT phù hợp với quá trình hiện đại
hóa của nền sản xuất, phù hợp với sự phát triển của KH-CN và quá trình CNH diễn
ra trong thế kỷ 20. Nhìn chung, các học giả tiêu biểu trên đưa ra các quan điểm về
định hướng, quá trình vận hành của nền kinh tế và các yếu tố tác động đến quá trình
CDCCKT. Tuy nhiên, các học giả chưa bàn sâu đến quá trình CDCCKT trong bối
cảnh khi quan hệ kinh tế giữa các quốc gia ngày càng được mở rộng, các yếu tố tác
động mang tính chất toàn cầu chi phối quá trình CDCCKT tại mỗi quốc gia.
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH hiệu quả cần phải đạt được mục tiêu nâng
cao mức tăng trưởng kinh tế trong điều kiện sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu
vào. Trong lịch sử, các nhà kinh tế đã cố gắng nghiên cứu những yếu tố nằm sau
quá trình tăng trưởng và CDCCKT để đưa ra những quan điểm về định hướng
CDCCKT một cách hiệu quả. Trong các tác phẩm như Smith A.D (1776) [139],
Marshall A (1890) [121] và Keynes J.M (1936) [111], các học giả đều tập trung vào
thảo luận, phân tích về vai trò, tầm quan trọng của các yếu tố tác động đến tăng
trưởng và CDCCKT như: vai trò của vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, KH-
CN,... Đây là những quan điểm có giá trị nền tảng để các nhà nghiên cứu đi sau tiếp
tục kế thừa và phát triển lý thuyết về tăng trưởng và CDCCKT.
6
Trong lịch sử đã xuất hiện "trường phái cơ cấu luận", những học giả tiêu biểu
có thể kể đến Chenery R.S và Syrquin M (1986) [100] đã đi sâu nghiên cứu về sự
phát triển kinh tế, các định hướng CDCCKT trong bối cảnh các quan hệ hợp tác
kinh tế quốc tế đang phát triển. Để phát triển kinh tế trong bối cảnh HNKTQT, các
nước cần phải tìm cho mình những cách CDCCKT một cách hiệu quả trên cơ sở
phát huy được yếu tố nội lực, lợi thế so sánh và tận dụng được những lợi thế từ bên
ngoài. Đối với các nước đang phát triển, vấn đề quan trọng là phải CDCCKT như
thế nào để chuyển từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã hội CNH, HĐH với
ngành công nghiệp và ngành dịch vụ hiện đại làm nòng cốt. Đây là những quan
điểm có giá trị thực tế để các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và
quản lý kinh tế tham khảo để đề xuất điều chỉnh quá trình CDCCKT của mỗi quốc
gia phù hợp với xu thế HNKTQT ngày càng sâu rộng.
Nhà kinh tế Porter M (1990) [132] đã phân tích quá trình CDCCKT và các
định hướng CDCCKT phù hợp với xu thế phát triển kinh tế hiện đại, HNKTQT và
tăng cường năng lực cạnh tranh: “Những yếu tố đầu vào của sản xuất như đất đai,
lao động, vốn, tài nguyên và sự can thiệp của chính phủ thông qua trợ cấp, tỷ lệ lãi
suất, rào cản thương mại lẫn nhau sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lợi
thế so sánh của một quốc gia đối với phát triển kinh tế trong đó bao gồm quá trình
CDCCKT”. Những quan điểm về lợi thế cạnh tranh của nhà kinh tế Porter M rất có
giá trị đối với việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất tại mỗi quốc gia để đảm bảo lợi thế
cạnh tranh hay nói cách khác là tác động lớn đến định hướng CDCCKT tại mỗi
quốc gia trong bối cảnh HNKTQT ngày càng phát triển.
1.1.2. Một số công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH
Nghiên cứu về tác động của KH-CN đối với CDCCKT: Các học giả Roy J. R
(1993) [135], Maddison A (1991) [119] đã tổng kết kể từ những năm 1.700, những
quốc gia có nền công nghệ hàng đầu với NSLĐ ngày một tăng lên đều đạt được sự
tăng trưởng kinh tế nhanh. Các học giả Jaffe A.M (1993) [109] và Lucas R (1988)
[117] có chung quan điểm “Sự lan tỏa tri thức giữa các quốc gia phát triển giúp cho
họ có lợi thế đầu vào đó là nguồn nhân lực trình độ cao, lợi thế này đóng góp vào
7
việc nâng cao NSLĐ và nâng cao các yếu tố năng suất tổng hợp từ đó đóng góp vào
tăng trưởng của nền kinh tế”. Đây là quan điểm có giá trị thực tiễn, điều này được
khẳng định rõ trong bối cảnh ngày nay khi xu thế HNKTQT ngày càng phát triển.
Vai trò của tri thức, KH-CN trong phát triển kinh tế và quá trình thay đổi cơ cấu sản
xuất của một nền kinh tế ngày càng quan trọng. Nhà kinh tế học Ricardo D và
Hartwell R.M (1971) [133] đã khẳng định “Một quốc gia sẽ thu được lợi nhuận ở
mức cao nhất khi quốc gia đó tận dụng được lợi thế về công nghệ để sản xuất các
loại hàng hóa, dịch vụ với giá cả thấp nhất và nhập khẩu những loại hàng hóa dịch
vụ sẽ phải sản xuất với giá cao nhất tại quốc gia đó”. Các học giả như Kuznets S
(1967) [112] và Syrquin M (1998) [145] có chung quan điểm CDCCKT có mối liên
hệ chặt chẽ với nền kinh tế tri thức, phát triển KH-CN. Các học giả Locke J.M
(1996) [116]; Streeck W (1988) [142]; Frenkel S (1988) [107] đều nhận định những
năm 1980 và 1990 là quá trình chuyển giao công nghệ diễn ra trên quy mô toàn thế
giới và sự ảnh hưởng của quá trình chuyển giao công nghệ có tác động lớn đến cơ
cấu sản xuất của nhiều nền kinh tế.
Nhìn chung, KH-CN có tác động lớn đến quá trình tăng trưởng và CDCCKT,
vì vậy đã có rất nhiều học giả quan tâm nghiên cứu mối quan hệ này và họ phân tích
về vai trò cũng như ảnh hưởng của KH-CN đối với CDCCKT ở các khía cạnh khác
nhau. Các học giả đã đưa ra những kết luận nghiên cứu có giá trị tổng kết thực tiễn
và phân tích một cách sâu sắc, khoa học về vai trò của KH-CN đối với quá trình
tăng trưởng và CDCCKT, các quan điểm nêu trên chỉ là một số quan điểm tiêu biểu.
Nghiên cứu về vai trò của doanh nhân đối với quá trình CDCCKT theo
hướng hiện đại và tăng trưởng kinh tế: Học giả Marcus D (2000) [123] đã đưa ra
nhận xét “Sự tăng lên của các số lượng các nhà thương gia thường sẽ đẩy nhanh
tăng trưởng kinh tế”. Đây là quan điểm có giá trị khoa học được đúc rút từ nghiên
cứu thực tiễn phát triển kinh tế của các nước và có ảnh hưởng lớn đến việc định
hướng xây dựng đội ngũ doanh nghiệp ở mỗi quốc gia. Quá trình tăng trưởng và
CDCCKT tại mỗi quốc gia có liên quan với sự phát triển của các doanh nghiệp và
đội ngũ các nhà thương gia. Họ chính là những chủ thể đóng góp vào quá trình định
hướng, đầu tư, quản lý và tổ chức sản xuất ra các sản phẩm của một nền kinh tế. Vì
thế, số lượng và chất lượng doanh nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng tác
8
động đến quá trình tăng trưởng và CDCCKT tại mỗi quốc gia.
Nghiên cứu về vai trò của nguồn vốn đối với quá trình CDCCKT: Đối với
quá trình tổ chức sản xuất và CDCCKT, nguồn vốn đầu tư vào quá trình sản xuất
đóng vai trò quan trọng, một số nhà kinh tế như Veronika D và Césaire M (2002)
[149], Levine R (1997) [114] đã nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa tài chính và
tăng trưởng, CDCCKT. Các học giả đưa ra nhận định sự phát triển tốt của khu vực
tài chính có những ảnh hưởng mạnh mẽ và tích cực đến tăng trưởng và CDCCKT.
Đây là quan điểm có giá trị khoa học và thực tiễn giúp các nước định hướng cho
quá trình tăng trưởng và CDCCKT gắn với sự phát triển ổn định khu vực tài chính
và khả năng huy động các nguồn vốn cho phát triển.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến CDCCKT: Trong bối
cảnh KH-CN phát triển mạnh và HNKTQT, vai trò của công nghệ thông tin ngày
càng trở nên quan trọng đối với quá trình phát triển và CDCCKT của mỗi quốc gia.
Các học giả Spreng D (1993) [140] và Stern D. I (1994) [141] đã có cùng quan
điểm có ý nghĩa thực tiễn khi khẳng định thông tin là một trong những nhân tố cơ
bản phục vụ cho quá trình sản xuất, thông tin đóng vai trò định hướng cho quá trình
tăng trưởng và CDCCKT của từng quốc gia.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa CDCCKT và cải cách thể chế: Các học giả
North D.C (1981) [129] và Moe T (1984) [127] đều đánh giá cao vai trò quan trọng
của thể chế đối với quá trình tăng trưởng và CDCCKT của các quốc gia thông qua
việc nhấn mạnh quan điểm “Cải cách thể chế giúp cho nền kinh tế phát triển hiệu
quả, tạo ra những khuyến khích hiệu quả để các chủ thể kinh tế tham gia vào quá
trình phát triển kinh tế”. Đây là những quan điểm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
rất lớn làm cơ sở cho quá trình cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước cũng như nâng cao trình độ quản lý kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực để tạo ra một nền thể chế phục vụ hiệu quả cho quá trình CDCCKT và phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách kinh tế vĩ mô: Học giả Sheng F
(2003) [137] và Colin I và Bradford J (2003) [102] đã tổng kết quan điểm có giá trị
thực tiễn khi phân tích vai trò của chính sách kinh tế vĩ mô với quá trình CDCCKT.
Theo các nhà nghiên cứu này, cải cách hay chuyển đổi cơ cấu sản xuất đóng vai trò
9
quan trọng để đạt được hiệu quả của tăng trưởng kinh tế trong đó sự điều chỉnh
chính sách kinh tế vĩ mô đóng vai trò quan trọng. Đối với nhiều nước, một trong
những mục tiêu quan trọng của chính sách kinh tế vĩ mô là giữ cho nền kinh tế tăng
trưởng ổn định với tỷ lệ lạm phát thấp trong quá trình CNH và phát triển kinh tế.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp với CDCCKT: Một
số học giả tập trung nghiên cứu và thể hiện quan điểm về mối liên hệ giữa
CDCCKT và phát triển công nghiệp trong các ấn phẩm của Lin J.Y (2007) [115],
Kuznet S (1966) [113], Maddison A (1980) [119], Syrquin M (1988) [145]. Những
học giả này đưa ra nhận xét tương đối giống nhau đó là “Những ngành công nghiệp
mạnh thường có cơ cấu đa dạng, tại những những thời điểm khác nhau thì cơ cấu tổ
chức một ngành công nghiệp cũng khác nhau. Việc duy trì sự phát triển kinh tế từ
trạng thái thu nhập thấp đến trạng thái tạo ra thu nhập cao và CDCCKT trong thời
hiện đại phải gắn với việc liên tục đổi mới công nghệ và HĐH ngành công nghiệp”.
1.1.3. Tổng quan về kinh nghiệm quốc tế về CDCCKT của vùng ven biển theo
hướng CNH, HĐH
Trên thế giới, nhiều vùng ven biển đã đạt được thành công trong phát triển
kinh tế với những kinh nghiệm về định hướng CDCCKT khác nhau. Nghiên cứu
kinh nghiệm CDCCKT để áp dụng cho quá trình CDCCKT của vùng ven biển nước
ta (bao gồm vùng VBBB) cần có sự lựa chọn phù hợp để áp dụng có hiệu quả. Luận
án này tập trung nghiên cứu kinh nghiệm về xác định và thực hiện các định hướng
CDCCKT tại một số vùng ven biển trong khu vực. Nghiên cứu kinh nghiệm
CDCCKT các vùng ven biển có điều kiện tương tự hoặc có quan hệ kinh tế với
nước ta để xác định các định hướng CDCCKT hiệu quả cho các vùng ven biển ở
Việt Nam. Luận án này tập trung vào một số vùng ven biển trong khu vực sau:
Đặc điểm CDCCKT theo hướng hiện đại của bang Pahang –Malaysia
Pahang của Malaysia là vùng có nhiều điểm gần giống với vùng VBBB: là
vùng ven biển, có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, tiềm năng phát triển nông
nghiệp, du lịch, vận tải biển, du lịch biển, thuận lợi về giao thương đường bộ,
đường biển và giao thương quốc tế. Pahang là bang lớn thứ 3 của Malaysia có địa
10
hình giáp với sông Kuantan và giáp biển, trong đó thành phố Kuantan là thủ phủ
của Pahang là một trong 9 thành phố lớn nhất của Malaysia [53].
Pahang đã đạt đạt được thành công trong quá trình CDCCKT theo hướng
hiện đại và ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của Malaysia,
(GDP bình quân tại Pahang khoảng 11.100 USD/người năm 2010) [105],... Quá
trình CDCCKT của Pahang tập trung vào một số định hướng cơ bản sau.
Thứ nhất, về phát triển nông nghiệp: Pahang tập trung mạnh cho việc trồng
và chế biến các sản phẩm từ dầu cọ kết hợp với các loại hình canh tác nông sản
khác. Các loại hoa quả có chất lượng cao như: sầu riêng, chôm chôm,... để phục vụ
nhu cầu trong nước và xuất khẩu [94]. Mô hình kết hợp nông nghiệp với du lịch
sinh thái cũng được khai thác tốt, nhiều trang trại trở thành những khu vui chơi giải
trí thu hút khách du lịch. Bên cạnh nông nghiệp, khai thác và chế biến hải sản cũng
là một ngành quan trọng cung cấp thực phẩm cho người dân và xuất khẩu ra bên
ngoài.
Thứ hai, về phát triển công nghiệp quan trọng làm trụ cột cho phát triển:
Pahang tập trung phát triển những ngành công nghiệp có thế mạnh và gắn với kinh
tế biển, trong đó vận tải biển là một ưu tiên hàng đầu cho phát triển. Dịch vụ cảng
và hậu cần cảng là một trong những trụ cột kinh tế quan trọng. Pahang đã rất thành
công khi xây dựng cảng Kuantan là một trong những cảng có lượng trung chuyển
hàng hóa lớn nhất của Malaysia. (Cảng Kuantan là cảng tổng hợp gồm có 3 khu vực
phục vụ vận chuyển chất lỏng hóa học, 3 khu vực chuyên phục vụ vận chuyển dầu
cọ và các sản phẩm hóa dầu, 1 khu vực phục vụ vận chuyển các quặng và cầu cảng
phục vụ các mục đích khác. Tổng công suất cho phép vận chuyển khoảng 134 triệu
tấn/năm [54]). Bên cạnh vận tải biển, Pahang phát triển một số ngành công nghiệp
nặng như sản xuất gỗ và tập trung phát triển các ngành công nghiệp dựa vào lợi thế
tài nguyên như: chế biến hải sản, khai thác kim loại quý như vàng và các loại
khoáng sản khác. Lọc hóa dầu cũng là một trong những ngành công nghiệp được
Pahang tập trung phát triển mạnh trong những năm gần đây.
Thứ ba, về phát triển du lịch và dịch vụ: Pahang tập trung phát triển một cách
chuyên nghiệp các hoạt động du lịch và dịch vụ để khai thác hiệu quả các trung tâm
11
thương mại như thành phố Kuantan và các đô thị quan trọng như Jerantut, Kuala
Lipis, Temorloh và các khu du lịch nổi tiếng như cao nguyên Genting, cao nguyên
Cameron, đồi Fraser, rừng Taman,... Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng và
đem lại thu nhập chính cho Pahang. Pahang đã khai thác tốt đặc điểm văn hóa đa
dạng với các sắc tộc như 1 triệu người Malay, 233.000 người gốc Hoa, 68.500
người Ấn, 13.700 người thuộc các dân tộc khác [54]. Sự đa dạng về sắc tộc, văn
hóa, tín ngưỡng đã được Pahang khai thác hiệu quả để thu hút khách du lịch.
Thứ tư, khai thác hiệu quả các mối quan hệ liên vùng để phát triển: Pahang
đã tận dụng tốt lợi thế về đường biển để phát triển các ngành công nghiệp chế biến
và vận tải biển. Tận dụng tốt vị trí thuận lợi trong tuyến liên vận quốc tế về đường
bộ (nằm trung điểm giữa Singapore và Kota Braru) và gần thủ đô Kualar Lumpur để
thu hút khách du lịch và vận chuyển hàng hóa.
Một số kinh nghiệm CDCCKT theo hướng hiện đại tại Pusan – Hàn Quốc
Pusan là thành phố cảng lớn nhất của Hàn Quốc và là thành phố cảng lớn thứ
ba thế giới. Pusan là thành phố lớn thứ hai tại Hàn Quốc với dân số khoảng 4 triệu
người. Về mặt hành chính, Pusan được coi là một khu vực đại đô thị tự quản và là
một vùng kinh tế quan trọng của Hàn Quốc [59]. Để đạt được những thành công
trong phát triển kinh tế, Pusan đã thành công khi thực hiện những định hướng
CDCCKT quan trọng, một trong những định hướng cơ bản như sau:
Thứ nhất, Pusan khai thác hiệu quả các lợi thế cho phát triển: Pusan nằm tại
chóp mũi Đông Nam của Hàn Quốc, là dải đất đầu tiên nối liền với Châu Á, Séc-bi
và Châu Âu, đồng thời là cửa ngõ nối liền Thái Bình Dương và Đại Tây Dương
[59]. Với vị trí thuận lợi này, Pusan đã tận dụng tốt lợi thế về vị trí địa lý thuận lợi
cho phát triển những ngành kinh tế quan trọng và hiệu quả kinh tế cao bao gồm cả
khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Thứ hai, Pusan đã tận dụng tốt lợi thế để phát triển kinh tế biển và các ngành
công nghiệp trụ cột: Giao thông vận tải và đóng tàu là hai lĩnh vực kinh tế chính của
thành phố Pusan. Từ năm 1978, Pusan đã mở ba cảng lớn là Jaseungdae,
Shinsundae và Gamman. Thành phố này được biết đến là một trong những cảng lớn
nhất thế giới và lưu thông tới 13,2 triệu côngtenơ hàng hóa mỗi năm [59]. Pusan đã
12
phát triển hiệu quả các ngành kinh tế mũi nhọn, có sức cạnh tranh: chế tạo ô tô,
đóng tàu biển, các loại động cơ, phụ tùng cơ khí, giày dép, dệt may, thời trang, hải
sản. Ngoài ra, Pusan cũng chú trọng phát triển du lịch, ngân hàng, phần mềm tin
học và điện ảnh [60].
Thứ ba, Pusan đã tận dụng tốt lợi thế để phát triển dịch vụ: Pusan đã tập
trung phát triển những trung tâm thương mại sầm uất và đa dạng hóa các loại hình
kinh doanh dịch vụ từ những chợ nhỏ với các nông phẩm, hải sản cho đến các siêu
thị lớn. Pusan đã phát triển khu vực tự do kinh tế Pusan-Jinhae, điều này tạo điều
kiện để Pusan trở thành một trung tâm tài chính lớn của Hàn Quốc. Pusan đã xây
dựng các khu phố thương mại dành cho người nước ngoài tạo nên sự đa dạng, hấp
dẫn trong phát triển dịch vụ và du lịch [60]. Pusan đã rất thành công trong tổ chức
các sự kiện quốc tế để quảng bá hình ảnh: liên hoan phim quốc tế, đại hội thể thao
châu Á 2002, hội nghị APEC 2005,... [60]. Bên cạnh đó, Pusan đã khai thác hiệu
quả các thế mạnh để phát triển du lịch: Pusan được bao bọc bởi sông, núi và biển
với hệ sinh thái được quan tâm bảo tồn. Thành phố có nhiều di tích lịch sử và văn
hóa và thắng cảnh nổi tiếng như: sân bay quốc tế Kimhae, chợ cá hải sản Jagalchi,
bãi biển Haeundae, tượng người cá, Viện Hải dương học Pusan, bến du thuyền, bảo
tàng Bokcheon, chùa Boemoesa,... Những yếu tố này đều được Pusan tận dụng và
khai thác hiệu quả trong phát triển dịch vụ và du lịch.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao: Pusan đã tập trung phát
triển nguồn nhân lực có chất lượng cao để phục vụ cho phát triển công nghiệp và
dịch vụ hiện đại. Bên cạnh đó, Pusan tập trung đào tạo nguồn nhân lực có chất
lượng thu hút học sinh, sinh viên tại Hàn Quốc và nhiều quốc gia,... Pusan có 18
trường Đại học, trong đó có một số trường nổi tiếng như: đại học quốc gia Pukyong,
đại học Công nghệ thông tin Pusan, đại học Đông Á, đại học Pusan,... [60].
Kinh nghiệm CDCCKT theo hướng hiện đại vùng đồng bằng Châu
Giang - Trung Quốc
Đồng bằng Châu Giang là một vùng bồi đắp qua hàng triệu năm của sông
Châu Giang và ba con sông lớn khác, đó là sông Tây Giang, Bắc Giang và Đông
Giang [55]. Đồng bằng Châu Giang đồng thời là vùng ven biển được dùng để đề
13
cập đến mạng lưới siêu đô thị bao gồm 9 thành phố là: Quảng Châu, Thâm Quyến,
Chu Hải, Đông Hoản, Trung Sơn, Phật Sơn, Huệ Châu, Giang Môn, Triệu Khánh,
Đặc khu hành chính Hồng Kông và Ma cao. Khu vực này đã nhanh chóng trở thành
một siêu vùng đầu tiên của thế giới, với mạng lưới dày đặc các đô thị đông đúc với
dân số [151]. Vùng đồng bằng Châu Giang là KKT phát triển đặc biệt, các KCN
phát triển theo chiến lược hướng ngoại, đạt được thành công trong việc thu hút
nhiều nhà đầu tư trên khắp thế giới, là nơi phát triển dịch vụ mang tính toàn cầu và
là thị trường quan trọng của Trung Quốc. Để đạt được thành công này, vùng đồng
bằng Châu Giang đã thực hiện nhiều định hướng CDCCKT quan trọng, một số định
hướng dẫn đến thành công như sau:
Thứ nhất, CDCCKT theo hướng giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp để tập
trung phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ: Trước khi phát triển, hoạt động
chính của đồng bằng Châu Giang là nuôi trồng thủy sản. Từ năm 1978 đến năm
2010, tổng sản phẩm trên địa bàn của khu vực nông nghiệp giảm từ 30% xuống còn
2,1%. Ngược lại, tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng dần trong tổng GDP
(khoảng 27,9%) [151]. Diện tích khá lớn đất nông nghiệp đã được chuyển sang đất
công nghiệp, đất thương mại và đất ở.
Thứ hai, mở rộng sản xuất, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển các ngành
công nghiệp mũi nhọn: KKT vùng đồng bằng Châu Giang trở thành nhà máy của
toàn cầu, là nơi sản xuất chủ yếu hàng điện tử như đồng hồ, đồ chơi, hàng may mặc,
đồ nhựa và nhiều loại sản phẩm khác. Nhiều sản phẩm hoàn toàn là đầu tư nước
ngoài và sản xuất cho xuất khẩu. KKT đồng bằng Châu Giang chiếm trên một phần
ba (35%) giá trị xuất khẩu của Trung Quốc [151]. Về phát triển các ngành mũi
nhọn: Vùng đồng bằng Châu Giang bắt đầu sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng nhiều
lao động như thực phẩm, nước giải khát, đồ chơi và may mặc từ đầu những năm 80
của thế kỷ trước. Sau năm 1985, tập trung phát triển những ngành công nghiệp
nặng, công nghệ điện tử, hóa chất,... các ngành này đóng vai trò quan trọng đối với
xuất khẩu. Hiện nay, vùng đồng bằng Châu Giang như một nhà máy của thế giới
với một số loại đồ chơi, điện thoại di động, quần áo may sẵn, đồ gỗ,... của vùng có
tỷ trọng lớn trên thị trường thế giới. Trong số các ngành công nghiệp, có 10 ngành
công nghiệp mũi nhọn (trụ cột): điện tử thông tin, thiết bị điện, dầu khí và hóa chất,
14
may mặc, thực phẩm và giải khát, vật liệu xây dựng, chế biến gỗ, sản xuất giầy dép,
y tế, vận tải [151].
Biểu 1.1: Các CCN tập trung ở 10 thành phố đồng bằng Châu Giang
Chuyên môn hóa Thành phố
Quảng Châu Xe và phụ kiện, phương tiện giao thông, đồ điện tử, điện, hóa chất,
gốm, may mặc, dịch vụ kinh doanh, phần mềm, đồ chơi, đồ dùng
thể thao, đá quý.
Thâm Quyến Điện tử, máy tính, điện thoại, vi mạch, đồ chơi, nhựa, đồng hồ,
khóa, sơn, dịch vụ cảng, thủ tục xuất nhập khẩu, tài chính.
Đông Quan Máy tính, phụ kiện, thiết bị từ xa, đồ gốm, đồ gỗ, giày, đồ chơi,
đồng hồ, khóa, dao kéo, dụng cụ nhà bếp, máy hàn, thiết bị câu cá.
Huệ Châu Điện tử số, đĩa CD, điện thoại, pin và ác quy, mạch in, máy móc
chính xác, đồ nhựa, hóa chất.
Trung Sơn Thiết bị chiếu sáng, sản phẩm kim khí, xe máy, đồ mặc thường
(trong nhà), khóa, thiết bị nghe.
Phật Sơn Công nghiệp gốm sứ, thiết bị mặc, quần áo trẻ em.
Trần Thôn Dụng cụ trồng hoa, bể cá cảnh, thiết bị làm đất
Nam Hải May mặc, sản phẩm nhôm, xe máy, đồ lót.
Thuận Đức Thiết bị điện, đồ gỗ gia đình, containers hàng hải, đồ gỗ, máy cơ
khí, xe máy
Giang Môn May mặc, đồ gốm, giấy, pin và ắc quy.
Nguồn: Michael J; Enright, E; Scott, K C. (2005), Regional Powerhouse: the
Greater Pearl River Delta and the Rise of China, John Wiley & Sons (Asia) Pte
Ltd [126]
Thứ ba, phát triển đảm bảo tính liên vùng: Công nghiệp của vùng phát triển
thành nhiều cụm ngành liên kết. Phía Đông tập trung các ngành công nghiệp điện tử
tin học, phía Tây tập trung các ngành sản xuất dụng cụ gia đình. Công nghiệp của
vùng đã tập trung lại theo vùng địa lý, tạo điều kiện bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau, đã tạo
thêm sức cạnh tranh. Ở vùng đồng bằng Châu Giang chuỗi cung đã được định hình,
thuận lợi cho cung mọi nguyên liệu, bán thành phẩm và linh kiện lắp ráp. Công
15
nghiệp được cụm lại theo đầu vào và đầu ra, cung cấp nguyên liệu theo quy trình
chặt chẽ và chuyên môn hóa sâu. Nhờ vậy, mà hiệu quả được tăng lên và chi phí
giảm. Các CCN tập trung ở 10 thành phố được nêu trong biểu 1.1 [126]
Thứ tư, phát triển khu vực dịch vụ hiệu quả: Vùng đồng bằng Châu Giang
vừa có nhu cầu tiêu dùng cao lại vừa có nhu cầu hàng hóa chất lượng cao. Vùng tập
trung kinh doanh những mặt hàng có sức tiêu thụ lớn: thiết bị điện tử, ô tô, điện
thoại di động, thiết bị viễn thông, vật liệu xây dựng và đồ trang trí. Hiện nay,
thương mại của vùng phát triển theo mô hình đa dạng hóa trong bán lẻ như cửa
hàng, quầy hàng, siêu thị, nhà hàng. Các loại dịch vụ chính như: Dịch vụ logistics
(hậu cần) hiện đại (điển hình là Thâm Quyến có cảng vận chuyển hàng container
lớn thứ 4 trên thế giới, với 2.000 công ty kinh doanh logistics); Dịch vụ ngân hàng
(Hiện có khoảng 22 ngân hàng nước ngoài ở Quảng Châu, và 31 ngân hàng nước
ngoài ở Thâm Quyến); Dịch vụ hội chợ, triển lãm,... [126].
Thứ năm, phát triển hệ thống hạ tầng giao thông để phục vụ phát triển kinh tế
hiệu quả: Vùng đồng bằng Châu Giang có mạng lưới giao thông đa dạng gồm giao
thông đường thủy, đường bộ và đường hàng không phát triển. Các thành phố được
nối kết với nhau bằng đường sắt và đường cao tốc. Hệ thống đường cao tốc đảm bảo
đi từ 1 thành phố sang thành phố lân cận trong vòng 1 giờ. Vùng có 5 sân bay (kể cả
Hồng Kông và Ma Cao). Sân bay mới là Bạch Vân (Baiyun) thuộc Quảng Châu, là
một trong 3 sân bay đầu mối của Trung Quốc với 110 đường bay quốc tế. Bên cạnh
đó, cảng biển đóng vai trò quan trọng đối với vận tải của vùng, các cảng chính gồm
có: cảng Quảng Châu, cảng Thượng Hải, cảng Thiên Tân và cảng ở Thâm Quyến,...
Trong số 3 cảng container lớn của Trung Quốc, có 2 cảng ở vùng là cảng Quảng
Châu và cảng Thâm Quyến.
Một số kinh nghiệm về CDCCKT theo hướng hiện đại của Singapore
Singapore có quy mô dân số nhỏ (khoảng 5,3 triệu người vào tháng 6 năm
2012), quy mô dân số này chỉ tương đương với 1 vùng ven biển của Việt Nam. Mặc
dù là một quốc gia, tuy nhiên, Singapore có đặc điểm của một vùng kinh tế ven
biển. Singapore đã đạt được những thành công lớn trong quá trình xây dựng CCKT
hiệu quả và có năng lực cạnh tranh cao. (Kinh tế Singapore từ cuối những năm 1980
16
đạt tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất thế giới: năm 1994 đạt 10%, năm 1995 đạt
8,9%. Sau một giai đoạn phát triển chững lại và không ổn định, từ 1999, Singapore
bắt đầu phục hồi nhanh: Năm 1999, tăng trưởng đạt 5,5%, và năm 2000 đạt hơn 9%.
Năm 2009, GDP chỉ tăng 1,2%, năm 2010 là 14,7%, năm 2011 đạt 5,2%, năm 2012
tăng trưởng 1,3% do tác động của khủng hoảng kinh tế) [56]. Một số định hướng
CDCCKT góp phần đem lại thành công của Singapore:
Thứ nhất, Singapore chủ động hạn chế phát triển khu vực nông nghiệp để tập
trung phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ: Singapore hầu như không có tài
nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bên ngoài. Singapore chỉ có ít than, nham
thạch, đất sét, không có nước ngọt, đất canh tác hẹp và chủ yếu để trồng cao su,
dừa, rau, và cây ăn quả. Vì vậy, Singapore không tập trung phát triển nông nghiệp,
hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở trong nước.
Singapore đã có tập trung mạnh cho phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ có
sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế cao để bù đắp cho việc nhập khẩu lương thực,
thực phẩm. Tuy vậy, Singapore tận dụng rất hiệu quả nguồn tài nguyên hạn hẹp của
mình để phục vụ phát triển kinh tế, cố gắng xử lý và tái chế chất thải, nước thải để
tái sử dụng. Tận dụng tối đa đất để canh tác các loại rau, cây ăn quả có chất lượng
cao, và trồng các loại hoa, cây cảnh phục vụ cho phát triển dịch vụ - du lịch.
Thứ hai, Singapore tập trung phát triển công nghiệp và những ngành trụ cột
sức cạnh tranh cao: Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát
triển hàng đầu châu Á như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công
nghiệp lọc dầu, chế biến và lắp ráp máy móc tinh vi. Singapore là nước dẫn đầu về
sản xuất ổ đĩa máy tính, điện tử và hàng bán dẫn. Singapore còn là trung tâm lọc
dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở châu Á. Singapore có 12 KCN lớn, trong
đó lớn nhất là KCN Jurong.
Thứ ba, Singapore tập trung phát triển hiệu quả dịch vụ và du lịch: Nền kinh
tế Singapore chủ yếu dựa vào dịch vụ và du lịch (chiếm 40% thu nhập quốc dân).
Các ngành dịch vụ thế mạnh của Singapore là vận tải (logistic) và thông tin liên lạc,
tài chính, du lịch. Năm 2010, du lịch đóng góp cho nền kinh tế Singapore khoảng
18,8 tỷ đô Sing, năm 2012 là 22,2 tỷ đô Sing. Singapore hiện có khoảng trên 50.000
phòng khách sạn, tỷ lệ sử dụng phòng cao (năm 2011 đạt đến 86%). Singapore tập
17
trung phát triển các thị trường chính với phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về
Singapore. Phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu
chuẩn dịch vụ, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch
và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp,…[57].
Thứ tư, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao để phục vụ phát triển kinh
tế: Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế
tri thức. Hiện nay có khoảng 5,3 triệu người sinh sống tại Singapore, trong số đó lao
động nước ngoài chiếm đến 80% lao động khu vực công nghiệp và chiếm 50% lao
động trong khu vực dịch vụ [143]. Singapore theo đuổi chiến lược nhằm nâng cao
Singapore thành một nền kinh tế dựa vào công nghệ, sáng kiến và tri thức. Tạo
nguồn động viên về tài chính, điều chỉnh luật lệ nhằm khuyến khích các hoạt động
nghiên cứu và phát triển. Singapore khuyến khích các công ty đa quốc gia tiến hành
các hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ, tạo điều kiện cho các chuyên gia nước
ngoài đến cư trú và làm việc [58].
Một số bài học kinh nghiệm CDCCKT theo hướng hiện đại vùng ven
biển Việt Nam qua tổng kết kinh nghiệm quốc tế
Thứ nhất, trong quá trình CDCCKT và xác định cơ cấu ngành nghề cho phát
triển, các vùng ven biển của Việt Nam cần phải tận dụng tối đa lợi thế vị trí địa lý
để phát triển các ngành kinh tế biển trong đó tập trung phát triển các ngành: Vận tải
biển, khai thác, chế biến thủy, hải sản, du lịch biển, đóng tàu, hậu cần cảng,...
Thứ hai, trong quá trình CDCCKT, các vùng ven biển cần dựa trên các tiềm
năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên, nhân lực và các cơ chế ưu đãi để phát triển
những ngành kinh tế trụ cột, có sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, đem lại
hiệu quả kinh tế cao. Tập trung vào những ngành có trình độ KH-CN hiện đại. Phát
triển hiệu quả những ngành công nghiệp gắn với đặc thù của vùng ven biển và phát
triển hệ thống các ngành công nghiệp phụ trợ để nâng cao hiệu quả sản xuất và tăng
khả năng cạnh tranh cho các ngành kinh tế.
Thứ ba, trong quá trình CDCCKT, các vùng ven biển cần tận dụng thế mạnh
từ biển và các lợi thế về giao thông đường bộ, giao thương quốc tế và các điều kiện
18
thiên nhiên, văn hóa để phát triển hiệu quả các ngành kinh tế dịch vụ, du lịch gắn
với biển, gắn với văn hóa tâm linh và bản sắc văn hóa tại mỗi vùng.
Thứ tư, trong quá trình CDCCKT, các vùng ven biển cần phải dựa trên lợi
ích tổng thể để phát triển hiệu quả trong mối tương quan phát triển của các vùng
khác (đảm bảo tính liên vùng). Từ đó, việc xây dựng cơ cấu ngành nghề và phân bố
phát triển các ngành tại lãnh thổ các vùng một cách hợp lý để phát huy sức mạnh
tổng hợp của các vùng trong phát triển.
Thứ năm, bên cạnh các điều kiện về vốn, điều kiện tự nhiên, hạ tầng, cơ chế
chính sách,... trong quá trình CDCCKT các vùng ven biển cần tập trung xây dựng
nguồn nhân lực có chất lượng cao để phục vụ cho quá trình CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH.
1.2. TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.2.1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề CCKT và CDCCKT ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề CDCCKT cũng được nhiều học giả quan tâm nghiên
cứu, đặc biệt là trong bối cảnh nước ta đang từng bước HNKTQT. Sự phát triển
nhanh của KH-CN và sự cạnh tranh ngày càng mạnh khi tham gia vào chuỗi giá trị
toàn cầu có tác động lớn đến quá trình CDCCKT. Vì vậy, một số học giả đã quan
tâm nghiên cứu về CDCCKT. Vấn đề CCKT và CDCCKT được đề cập trong các
giáo trình như của trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, Đại học Kinh tế thành
phố Hồ Chí Minh. Giáo trình “Lịch sử các học thuyết kinh tế” do tác giả Trần Văn
Hiếu và Ngô Đức Hồng biên soạn năm 2006 [34] cũng bàn đến các vấn đề về
CCKT và tăng trưởng kinh tế. Nhìn chung, các giáo trình của các trường đại học ở
Việt Nam đã làm sáng tỏ những vấn đề lý thuyết cơ bản về CCKT và CDCCKT.
Đi sâu vào nghiên cứu ứng dụng trên thực tiễn, học giả Ngô Doãn Vịnh và
đồng nghiệp đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn
liên quan đến CCKT, CDCCKT trong bối cảnh thực tế nước ta. Những tác phẩm
tiêu biểu như: “Những vấn đề chủ yếu về kinh tế phát triển” xuất bản năm 2006
[92]; “Bàn về cải tiến cơ cấu nền kinh tế Việt Nam” xuất bản năm 2010 [93]. Qua
những tác phẩm này, từ kinh nghiệm thực tiễn nghiên cứu chiến lược, quy hoạch và
tổng kết thực tiễn quá trình CDCCKT của nước ta, tác giả đã đưa ra những quan
19
điểm, đặc điểm, tính chất, các yếu tố tác động đến CCKT, CDCCKT trong bối cảnh
thực tiễn tại Việt Nam để làm nền tảng cho những đề xuất CDCCKT hiệu quả.
Học giả Bùi Tất Thắng qua các tác phẩm “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
ở Việt Nam” xuất bản năm 2006 [74] và “Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch
cơ cấu ngành trong thời kỳ CNH ở Việt Nam” xuất bản năm 2006 [75] đã đưa ra
những quan điểm rất có giá trị về khoa học và thực tiễn đối với quá trình phát triển
và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta, các tác phẩm này đã khái quát lý
luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ CNH, nêu ra những thực
trạng, quan điểm và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay. Học giả Nguyễn Thành Độ (2010) [31] đã phân tích mối
quan hệ chặt chẽ giữa HNKTQT và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, vấn đề này
có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng để các nhà quản lý kinh tế có những điều chỉnh
CCKT phù hợp với xu thế HNKTQT.
Nghiên cứu về cải cách và CDCCKT, học giả Vũ Minh Khương (2010)
thông qua bài viết “Đôi điều về cải cách cơ cấu nền kinh tế” [41] đã có những đóng
góp làm rõ khái niệm: Cải cách cơ cấu là nỗ lực tổng hợp của toàn xã hội, trong đó
chính phủ đóng vai trò trung tâm, nhằm nâng cao mạnh mẽ NSLĐ và hiệu quả sử
dụng nguồn lực, tăng thêm việc làm, kiến tạo nền tảng lâu dài và thuận lợi hơn cho
công cuộc phát triển. Tâm điểm của cải cách cơ cấu là tăng NSLĐ, được đo bằng
giá trị gia tăng tạo ra trên mỗi đơn vị nguồn lực. Đây là quan điểm đã chỉ ra một
trong những mục đích quan trọng hàng đầu của CDCCKT là nâng cao NSLĐ, trên
cơ sở đó các nhà quản lý kinh tế có thể xây dựng các định hướng và quyết định
trong điều chỉnh CCKT một cách hiệu quả.
Bài viết “Tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng cạnh tranh và phát triển bền
vững” (2009) [43] của tác giả Trần Du Lịch bàn về đổi mới nội dung và phương
thức quản lý nhà nước về kinh tế, cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế và những định
hướng cơ bản của tái cấu trúc nền kinh tế từ năm 2010. Bài viết này mang tính thời
sự, gắn kết giữa lý luận và thực tiễn. Bên cạnh đó bài viết “Tái cấu trúc nền kinh tế
Việt Nam” (2009) [65] của tác giả Nguyễn Minh Phong cũng bàn về các vấn đề tái
20
cấu trúc nền kinh tế liên quan đến xu hướng phát triển của sản phẩm, xu hướng phát
triển của các công ty, xu hướng phát triển của nền kinh tế nước ta và kinh tế thế
giới,... từ đó chỉ ra những yêu cầu cơ bản đối với tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam.
1.2.2. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Đối với vấn đề CNH, HĐH có thể kể đến học giả tiêu biểu Đỗ Quốc Sam,
trong bài viết năm 2007 “Một số vấn đề về CNH, HĐH sau 20 năm đổi mới” [68]
đã cung cấp một bức tranh tổng thể về CNH, HĐH của Việt Nam. Trong nghiên cứu
này học giả Đỗ Quốc Sam cũng đã đề xuất bộ chỉ tiêu một nước công nghiệp, đây là
vấn đề mà cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, vì vậy
những quan điểm của học giả Đỗ Quốc Sam là một trong những cơ sở quan trọng có
giá trị tham khảo. Học giả Trần Văn Thọ (2005) trong tác phẩm “Biến động kinh tế
Đông Á và con đường CNH Việt Nam” [77] đã đưa ra những quan điểm rất có giá
trị đối với việc tiến hành CNH ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực
hóa để nước ta phát huy tốt lợi thế so sánh và các tiềm năng phát triển, phát huy tốt
yếu tố nội lực và ngoại lực để nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh HNKTQT.
Học giả Trần Đình Thiên (2008) trong ấn phẩm “Chiến lược CNH, HĐH của Việt
Nam: Hoàn cảnh mới và tư duy đột phá để tiến kịp” [76] đã đề những ý tưởng có
giá trị như: tư duy mới về mô hình CNH, HĐH, lộ trình chiến lược, lựa chọn điểm
đột phá và chính sách đột phá đối với quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam. Học giả
Nguyễn Minh Khải (2011) thông qua bài viết “CNH, HĐH gắn với phát triển kinh
tế tri thức” [39] đã phân tích xu hướng tất yếu của CNH, HĐH của Việt Nam và vấn
đề CNH, HĐH trên thế giới.
Về vấn đề CNH, HĐH ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu
quản lý kinh tế trung ương đã thực hiện nghiên cứu “Đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt
Nam”[89] năm 2010, nghiên cứu này đã làm rõ những vấn đề về CNH, HĐH ở Việt
Nam thời kỳ đổi mới.
Một số nghiên cứu tập trung vào quá trình CNH, HĐH nhằm khảo cứu kinh
nghiệm ở nước ngoài như: “Kinh tế Đài Loan - tình hình và chính sách” của tác giả
Phạm Quốc Thái (1997) [72]; “CNH ở các nước NIEs Đông Á và bài học kinh
nghiệm đối với Việt Nam” của tác giả Lê Bàn Thạch (2000) [73]; “CNH, HĐH:
21
Những bài học thành công của Đông Á” do tác giả Nguyễn Thị Luyến chủ biên năm
1998 [44]; “Nhà nước trong kinh tế thị trường các nước đang phát triển châu Á” của
tác giả Đỗ Đức Định (1991) [28]; “CNH, HĐH: Phát huy lợi thế so sánh - Kinh
nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á” xuất bản năm 1999 [29];
“Kinh tế học phát triển về CNH và cải cách nền kinh tế” của học giả Đỗ Đức Định
(2004) [30]; “Lựa chọn sản phẩm và thị trường trong ngoại thương thời kỳ CNH,
HĐH của các nền kinh tế Đông Á” do tác giả Nguyễn Trần Quế chủ biên năm 2000
[66]; “Một số vấn đề về CNH, HĐH ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Hoài Nam xuất
bản năm 2004 [46],... Những tác phẩm này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan
trọng đối với quá trình xây dựng các định hướng CDCCKT trên cơ sở tham khảo
kinh nghiệm thành công trong CDCCKT của Đài Loan, các nước NIEs và một số
nước Đông Á,... Những kinh nghiệm này cần được tham khảo để vận dụng vào thực
tế bối cảnh của nước ta trong quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
1.2.3. Một số nghiên cứu về CDCCKT ở cấp vùng và CDCCKT vùng ven biển
Về phát triển kinh tế vùng được các tác giả Nguyễn Xuân Thu và Nguyễn
Văn Phú phân tích tập trung vào đặc điểm của kinh tế vùng, các yếu tố ảnh hưởng
đến phát triển kinh tế vùng,... Kết quả phân tích của các tác giả đã được đề cập
trong ấn phẩm “Phát triển kinh tế vùng trong quá trình CNH, HĐH”. Ấn phẩm này
đã có những đóng góp về cơ sở lý luận khi nghiên cứu về quá trình CDCCKT vùng
theo hướng CNH, HĐH [70]. Cùng nghiên cứu về vấn đề kinh tế vùng, tác giả Vũ
Đình Tích trong bài viết “Một số ý kiến về phát triển kinh tế vùng ở nước ta hiện
nay” cũng đã đưa ra những quan điểm phân tích về các vùng kinh tế ở nước ta và
đặc điểm của phát triển kinh tế vùng trong thời kỳ kinh tế bắt đầu hội nhập. Đây là
những đóng góp có giá trị thực tiễn về đặc điểm kinh tế vùng và những yếu tố ảnh
hưởng đến CDCCKT vùng, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp đối với
CDCCKT vùng [80].
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, một số nhà nghiên cứu đã đi sâu vào nghiên
cứu quá trình CDCCKT trong bối cảnh của từng vùng, từng địa phương để đưa ra
những nhận định và những tổng kết thực tiễn đặc thù cho từng địa phương, từng
vùng nghiên cứu. Các tác giả Trần Du Lịch và Đặng Văn Phan đã tập trung phân
22
tích sâu về chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế thuộc VKTTĐ phía Nam
[42]. Học giả Hồ Văn Vĩnh (2008) trong bài viết “Đẩy mạnh CNH, HĐH nông
nghiệp nông thôn trong tình hình mới” [91] đã phân tích những vấn đề mới đối với
quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn,…
Khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến CDCCKT của một tỉnh với tư
cách là một bộ phận cấu thành của một vùng kinh tế: Các nhà nghiên cứu của Viện
Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của vốn
đầu tư nước ngoài đối với quá trình CDCCKT và đề xuất những định hướng phù
hợp để thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ CDCCKT tại thành phố Hồ Chí Minh
[90]. Tác giả Trương Thị Minh Sâm phân tích vấn đề CDCCKT thông qua ấn phẩm
xuất bản năm 2000 “Vấn đề CDCCKT ngành ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá
trình CNH, HĐH” [70]. Tác giả Nguyễn Văn Phát khi nghiên cứu về CDCCKT tại
tỉnh Thừa Thiên Huế đã đánh giá được những thành công, hạn chế của quá trình
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH trong giai đoạn 2000-2010. Từ đó đề xuất những
định hướng CDCCKT ngành theo hướng CNH, HĐH ở tỉnh Thừa Thiên Huế cho
giai đoạn sau năm 2010 [62]. Tác giả Bùi Thanh Tuấn khi nghiên cứu về CDCCKT
theo ngành của tỉnh Điện Biên đã tập trung vào hệ thống hóa về lý thuyết về CCKT
ngành và CDCCKT ngành. Đánh giá thành tựu và hạn chế về CDCCKT theo ngành
giai đoạn 2003-2010. Đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng cơ cấu ngành
kinh tế phù hợp với tỉnh Điện Biên tạo cơ sở cho tăng trưởng bền vững đưa tỉnh ra
khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn [81]. Tác giả Huỳnh Phẩm Dũng Phát cũng đã tập
trung phân tích ảnh hưởng của các nguồn lực tới sự CDCCKT của tỉnh Tiền Giang.
Phân tích thực trạng CDCCKT theo ngành, theo thành phần giai đoạn 1995-2007 và
phân tích CDCCKT theo lãnh thổ, từ đó đề xuất những định hướng và một số giải
pháp CDCCKT tỉnh Tiền Giang theo hướng CNH, HĐH [63]. Tác giả Võ Tấn Danh
khi nghiên cứu về CDCCKT tỉnh Kon Tum đã tập trung phân tích ảnh hưởng của
các nguồn lực tới CDCCKT của tỉnh. Phân tích thực trạng CDCCKT theo ngành và
đề xuất một số giải pháp CDCCKT tỉnh Kon Tum theo hướng CNH, HĐH [19].
Nghiên cứu về vấn đề kinh tế biển và CDCCKT vùng ven biển có thể kể đến
học giả Hoàng Hữu Hòa đã tập trung đánh giá thực trạng CCKT ngành vùng đầm
phá ven biển Thừa Thiên Huế, các kết quả đạt được và những tác động của
23
CDCCKT vùng trong giai đoạn 1996-2001. Đánh giá các hiệu quả về kinh tế, xã hội
và môi trường của quá trình CDCCKT từ đó đề xuất những quan điểm, định hướng
cho quá trình CDCCKT vùng đầm phá ven biển Thừa Thiên Huế [36].
Ngoài ra còn có các học giả nghiên cứu về vấn đề kinh tế biển tiêu biểu: Học
giả Nguyễn Chu Hồi (2007) [37] cũng đã đưa ra những quan điểm có giá trị về phát
triển kinh tế biển như: Vùng ven biển là “bàn đạp” tiến ra biển, là hậu phương hỗ
trợ các hoạt động trên biển thông qua các trung tâm kinh tế hải đảo. Học giả Võ Đại
Lược (2007) [45] đưa ra một số quan điểm “Hội nhập là phương án phòng thủ tối
ưu”,... Đây là những bài viết cung cấp một bức tranh toàn cảnh về phát triển kinh tế
biển Việt Nam. Một số học giả khác cũng nghiên cứu về vấn đề phát triển kinh tế
biển: Nguyễn Huy Cường, Đoàn Văn Phụ (2006) trong ấn phẩm “Đánh giá hiện
trạng phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam” [18]. Bàn về vấn đề liên quan
đến kinh tế biển còn có các học giả tiêu biểu sau: Học giả Nguyễn Đình Dỹ (1995)
cùng cộng sự trong ấn phẩm “Các kiểu đường bờ biển Việt Nam” [21]; Vũ Văn
Phái (2007) trong ấn phẩm “Cơ sở địa lý tự nhiên biển và đại dương” [61]; Đoàn
Thiên Tích (2001) trong ấn phẩm “Dầu khí Việt Nam” [79],... Đây là những ấn
phẩm có giá trị tham khảo khi nghiên cứu về biển và kinh tế biển ở nước ta.
1.2.4. Một số văn bản pháp quy về CDCCKT và các định hướng phát triển
vùng VBBB
Về vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế đã được đề cập trong một số văn bản pháp
quy, gần đây Chính phủ đã ban hành Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19 tháng 12
năm 2013 phê duyệt đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng
theo hướng chất lượng, hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020
[14]. Đây là văn bản pháp quy đề cập đến những vấn đề quan trọng về định hướng
sự CDCCKT phù hợp với bối cảnh HNKTQT, nâng cao chất lượng tăng trưởng,
tăng cường năng lực cạnh tranh và xây dựng một nền kinh tế cơ cơ cấu hợp lý, hiện
đại, phát huy được các tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế nước ta.
Đối với vùng VBBB, một số văn bản liên quan đến phát triển của vùng như
sau: Quyết định số 865/QĐ-TTg ban hành ngày 10 tháng 7 năm 2008 [11] về việc
phê duyệt Quy hoạch xây dựng Vùng duyên hải Bắc Bộ đến năm 2025 và tầm nhìn
24
đến năm 2050; Quyết định số: 34/2009/QĐ-TTg ban hành ngày 02 tháng 3 năm
2009 [12] về việc phê duyệt quy hoạch phát triển vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc
Bộ đến năm 2020; Quyết định số 05/2011/QĐ-TTg ban hành ngày 24 tháng 1 năm
2011 về phê duyệt quy hoạch phát triển giao thông vận tải VKTTĐ Bắc Bộ đến năm
2020 và định hướng đến 2030 [15]; Quyết định số 31/2007/QĐ-BCN ban hành ngày
20 tháng 7 năm 2007 về phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp VKTTĐ Bắc
Bộ đến năm 2015 và định hướng đến 2020 [16]; Quyết định số 1353/QĐ-TTg ban
hành ngày 23 tháng 9 năm 2008 về việc phê duyệt đề án phát triển các KKT ven
biển của Việt Nam đến 2020 [17].
Tiểu kết chương 1
Nghiên cứu đã tập trung tổng quan các vấn đề CDCCKT, định hướng
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, các yếu tố tác động/liên quan đến quá trình
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH của các học giả trong và ngoài nước, các văn bản
pháp quy liên quan đến CDCCKT và vùng VBBB. Tổng quan nghiên cứu kinh
nghiệm quốc tế về CDCCKT vùng ven biển (bang Pahang của Malaysia, Pusan của
Hàn Quốc, đồng bằng Châu Giang của Trung Quốc và một số kinh nghiệm của
Singapore), từ đó tổng kết một số bài học kinh nghiệm đối với CDCCKT vùng ven
biển của nước ta: kinh nghiệm về lựa chọn cơ cấu ngành nghề, tăng cường năng lực
cạnh tranh, khai thác hiệu quả lợi thế về biển và các điều kiện tự nhiên, phát triển
đảm bảo tính liên vùng và nâng cao trình độ nguồn nhân lực phục vụ CDCCKT
theo hướng CNH, HĐH. Qua nghiên cứu tổng quan cho thấy vấn đề CDCCKT và
đánh giá CDCCKT đã được một số học giả nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc. Tuy
nhiên các vấn đề này chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ đối với phạm vi các
vùng, các địa phương. Mặc dù đã có một số văn bản pháp quy liên quan đến phát
triển vùng VBBB, tuy nhiên, vấn đề CDCCKT theo hướng CNH, HĐH ở cấp vùng,
trong đó có vùng VBBB chưa được tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống. Các
công cụ đánh giá quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH vùng VBBB (sử dụng
bộ chỉ tiêu định lượng và định tính) chưa được áp dụng để có thể đưa ra những định
25
hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH
(đây chính là một khoảng trống cần có sự nghiên cứu đầy đủ). Vì vậy, vấn đề phân
tích, đánh giá CDCCKT của vùng VBBB cần phải được tập trung nghiên cứu để
đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả CDCCKT của vùng VBBB.
26
Chương 2
CƠ SỞ KHOA HỌC CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
2.1. KHÁI NIỆM CƠ CẤU KINH TẾ, CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 2.1.1. Khái niệm, phân loại CCKT
a. Khái niệm CCKT Cơ cấu (hay kết cấu) là khái niệm trong triết học duy vật biện chứng dùng để
chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các
mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan
hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện như là một thuộc tính của sự
vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật, hiện tượng [74].
Về chất và lượng của một cơ cấu, theo quan điểm của triết học Mác - Lênin,
bất cứ một sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm mặt chất và mặt lượng. Hai mặt đó
thống nhất hữu cơ với nhau trong sự vật, hiện tượng [7]. Khi xem xét cơ cấu của
một sự vật hiện tượng có nhiều cách tiếp cận theo các tiêu thức khác nhau. Một sự
vật, hiện tượng được phân chia thành các bộ phận cấu thành đảm nhận những vai
trò nhất định trong cơ cấu của sự vật, hiện tượng đó.
Khái niệm CCKT theo nghĩa hẹp: Đối với một nền kinh tế, khi xem nó là
một hệ thống phức tạp thì có thể thấy CCKT gồm nhiều bộ phận cấu thành với các
kiểu cơ cấu khác nhau, sự vận động và biến đổi của nền kinh tế theo thời gian bao
hàm trong đó sự thay đổi bản thân các bộ phận cũng như sự thay đổi của các kiểu cơ
cấu. Vì vậy, có thể thấy rằng “cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể những
mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành đó trong một
không gian, thời gian và trong một điều kiện KT-XH nhất định” [92].
Đặc trưng về lượng và chất: Cơ cấu nền kinh tế phải được nhìn nhận là một
thực thể gồm nhiều phần tử (hay phân hệ) có cấu trúc, mỗi phần tử lại là một hệ
thống riêng cũng được cấu thành từ những bộ phận nhỏ hơn. Vì thế, khi nói đến
CCKT tức là nói đến cơ cấu của các cơ cấu. Khi xem xét CCKT ta quan tâm đến 2
mặt: mặt chất lượng thể hiện phương thức, trình độ kết hợp của các bộ phận cấu
27
thành nền kinh tế, mặt số lượng thể hiện tỷ lệ phần trăm (%) các bộ phận cấu thành
CCKT [92]. Theo những cách tiếp cận khác nhau thì nền kinh tế có thể được phân
chia thành các hệ thống cấu thành khác nhau, do đó sẽ có những hệ thống tỷ lệ %
khác nhau. Có thể xem xét CCKT theo các cách tiếp cận như sau: CCKT theo
ngành, CCKT theo lãnh thổ, CCKT theo thành phần kinh tế,...
Nếu CCKT là một tổng thể chiếm 100%, các bộ phận cấu thành CCKT
chiếm một tỷ lệ % nhất định trong CCKT và chúng luôn biến đổi không ngừng. Tại
một thời điểm nhất định, CCKT được xem xét với tỷ lệ % của các bộ phận cấu
thành ở tại thời điểm đó, tuy nhiên ngay tại thời điểm nghiên cứu thì các bộ phận
cấu thành CCKT cũng đang trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng. Sự
biến đổi về lượng của các bộ phận cấu thành CCKT đến một chừng mực nào đó sẽ
dẫn đến sự thay đổi về chất của CCKT. Tỷ trọng của một bộ phận cấu thành nói lên
vai trò quan trọng của bộ phận cấu thành đó so với CCKT. Khi nghiên cứu CCKT
cần tập trung vào sự biến đổi của các bộ phận cấu thành để đánh giá bản chất của sự
thay đổi và những yếu tố nào quyết định sự thay đổi của CCKT, xu thế biến đổi nào
là tích cực cũng như nguyên nhân của các xu thế biến đổi tích cực và tiêu cực, từ đó
hạn chế những yếu tố tiêu cực đến sự thay đổi CCKT. Vì thế, việc phân tích định
tính kết hợp với định lượng là cần thiết khi nghiên cứu sự thay đổi của CCKT.
Khái niệm CCKT theo nghĩa rộng: CCKT là một tổng thể bao gồm những
bộ phận cấu thành và các yếu tố liên quan như: các yếu tố đầu vào (hay các nhân tố
đóng vai trò cung), các yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất và các nhân tố tác động
từ bên ngoài.
Nhóm các nhân tố đầu vào gồm tập hợp các nguồn lực mà xã hội có thể huy
động vào quá trình sản xuất như: các nguồn lực tự nhiên (gồm có tài nguyên đất,
nước, rừng, khoáng sản,...), nguồn lực con người (quy mô và chất lượng lao động),
nguồn tài chính (quy mô tiết kiệm, khả năng huy động vốn từ các nguồn khác nhau
để đầu tư sản xuất,...).
Nhóm các nhân tố đầu ra ảnh hưởng đến quá trình định hướng sản xuất,
trong đó thị trường là nơi phát ra các tín hiệu quan trọng bậc nhất dẫn dắt các luồng
vốn đầu tư cũng như các nguồn lực sản xuất khác, tín hiệu thị trường sẽ chi phối
quyết định phân bổ sản xuất và đầu tư vào những lĩnh vực sản xuất nào và với quy
28
mô bao nhiêu,... Những nhân tố mang tính chất kết quả đầu ra bao gồm: GDP bình
quân đầu người, NSLĐ, tốc độ tăng trưởng kinh tế,...
Các nhân tố tác động đến CCKT và sự biến đổi CCKT gồm: cơ chế chính
sách, hợp tác quốc tế, xu hướng tiêu dùng quốc tế, sự tiến bộ của KH-CH, sự phát
triển của các tập đoàn/công ty đa quốc gia, sự phát triển các chuỗi giá trị toàn cầu và
cạnh tranh quốc tế, ổn định chính trị, pháp luật và thể chế,...
(Các đặc trưng của CCKT bao gồm: CCKT là một hệ thống đa dạng, phức
tạp; Các bộ phận cấu thành CCKT là những hệ thống có cơ cấu; CCKT của một
quốc gia là một bộ phận cấu thành của CCKT toàn cầu; CCKT là một hệ thống vận
động theo các quy luật kinh tế; CCKT là một hệ thống liên quan trực tiếp đến các
yếu tố đầu vào, đầu ra của nền kinh tế - chi tiết được phân tích ở phụ lục 2).
b. Phân loại CCKT
Tùy theo cách tiếp cận hay mục đích nghiên cứu, CCKT có thể phân loại
theo một số cách khác nhau:
CCKT theo ngành: CCKT được chia thành các nhóm ngành theo các cách
tiếp cận khác nhau: (1). Tiếp cận theo 3 khu vực kinh tế, CCKT được chia thành 3
khu vực: khu vực nông nghiệp (gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy
sản), khu vực công nghiệp (gồm công nghiệp và xây dựng), khu vực dịch vụ (gồm
thương mại, dịch vụ và du lịch). (2). Tiếp cận theo nhóm ngành và phương thức sản
xuất: khối ngành nông nghiệp (gồm nông, lâm nghiệp và thủy sản) và khối ngành
phi nông nghiệp (gồm khu vực công nghiệp và dịch vụ). (3). Tiếp cận theo tính chất
sản phẩm cuối cùng, CCKT có thể được chia thành: nhóm ngành sản xuất sản phẩm
vật chất và nhóm ngành sản xuất sản phẩm dịch vụ.
Bên cạnh đó, cần đánh giá sự hợp lý của CCKT khi phân tích cơ cấu nội bộ
các ngành kinh tế, ví dụ: cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp (gồm có ngành trồng
trọt, chăn nuôi, dịch vụ, chế biến), cơ cấu nội bộ ngành lâm nghiệp (gồm trồng
rừng, khai thác, chế biến), cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp gồm: Tiểu thủ công
nghiệp, công nghiệp, công nghiệp phụ trợ,...
Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu CCKT và CDCCKT theo hướng CNH,
HĐH và đi sâu vào nghiên cứu CCKT theo ngành. CCKT theo ngành được thể hiện
trong sơ đồ sau:
29
CƠ CẤU NỀN KINH TẾ
KHỐI SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM VẬT CHẤT
KHỐI SẢN XUẤT CÁC SẢN PHẨM PHI VẬT CHẤT
1
1
KHU VỰC NÔNG NGHIỆP
KHU VỰC CÔNG NGHIỆP
KHU VỰC DỊCH VỤ
1
Du lịch
Xây dựng - Nhà ở
Nông nghiệp - Trồng trọt
Lâm nghiệp - Trồng rừng
Thủy sản - Nuôi trồng
- Khai thác
- Chăn nuôi
- Đánh bắt
- Cầu, đường
- Chế biến
- Dịch vụ nông nghiệp
- Dịch vụ thủy sản
- Bất động sản,...
- Dịch vụ lâm nghiệp
Thương mại Các ngành trong hệ thống thương mại - Bán buôn, - Bán lẻ - Xuât, nhập khẩu,...
1
1
1
Công nghiệp - Công nghiệp khai khoáng - Luyện kim - Công nghiệp chế biến - chế tạo - Công 1 nghiệp phụ trợ,...
Dịch vụ Các ngành trong hệ thống ngành dịch vụ - Vận tải - Kho bãi - Hậu cần - Tài chính, ngân hàng - Tư vấn, thiết kế,...
Các loại hình du lịch - Du lịch sinh thái - Du lịch tâm linh - Du lịch cao cấp - Du lịch cộng đồng,...
1
1
1
Khối ngành nông nghiệp
Khối các ngành phi nông nghiệp
Hình 2.1: Sơ đồ phân tích CCKT theo ngành
30
CCKT theo lãnh thổ: Có thể phân chia CCKT theo một số phương pháp
phân chia lãnh thổ như sau: (1). Cơ cấu lãnh thổ theo các vùng KT-XH: lãnh thổ
quốc gia được phân thành những vùng có quy mô lớn về dân số và về lãnh thổ để
hoạch định chính sách và chiến lược, mỗi vùng bao gồm các tỉnh. Tiếp đến, lãnh thổ
các tỉnh được phân chia thành các tiểu vùng. (2). Bên cạnh đó còn có một số cách
phân chia như: cơ cấu lãnh thổ theo thành thị và nông thôn, cơ cấu lãnh thổ phát
triển và lãnh thổ chậm phát triển, cơ cấu lãnh thổ động lực và lãnh thổ còn lại,...
CCKT theo thành phần kinh tế: CCKT được chia theo các hình thức sở
hữu. Có thể nghiên cứu CCKT theo 5 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế
tập thể, kinh tế cá thể hộ gia đình, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài. Bên cạnh đó, có thể phân loại theo thành phần kinh tế nhà nước và kinh
tế ngoài nhà nước.
2.1.2. Khái niệm CDCCKT
a. Khái niệm CDCCKT CDCCKT là quá trình cải biến KT-XH từ tình trạng lạc hậu bước vào chuyên
môn hóa hợp lý, trang bị kĩ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở đó, tạo ra năng suất
lao động cao, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế nói
chung. CDCCKT bao gồm cải biến kinh tế theo ngành, theo vùng lãnh thổ và cơ cấu
các thành phần kinh tế. CDCCKT là vấn đề mang tính tất yếu khách quan và là một
quá trình đi lên từng bước dựa trên sự kết hợp mật thiết các điều kiện chủ quan, các
lợi thế KT-XH, tự nhiên trong nước, trong vùng, trong đơn vị kinh tế với các khả
năng đầu tư, hợp tác, liên kết, liên doanh về sản xuất, dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm của
các nước, các vùng và đơn vị kinh tế khác nhau [31].
Theo nghĩa hẹp: CDCCKT bao gồm quá trình chuyển dịch từ lao động thủ
công sang sản xuất sử dụng máy móc hiện đại, từ nền kinh tế nông nghiệp sang
công nghiệp và dịch vụ, từ công nghiệp thâm dụng lao động với hiệu quả kinh tế và
năng suất lao động thấp sang công nghiệp hiện đại, từ nền kinh tế hướng nội sang
nền kinh tế định hướng xuất khẩu,...
Theo nghĩa rộng: CDCCKT là một quá trình thay đổi cách thức tổ chức và
hoạt động của một nền kinh tế theo hướng có hiệu quả, mang lại giá trị gia tăng cao
hơn cho toàn xã hội. CDCCKT phải được thực hiện trên cả ba khía cạnh của phát
31
triển bền vững là kinh tế, xã hội và môi trường và ngày một tham gia hiệu quả vào
chuỗi giá trị toàn cầu.
Quá trình CDCCKT được diễn ra dưới sự điều hành của các chính sách, định
hướng phát triển kinh tế của nhà nước. Nhà nước xác định những mục tiêu, định
hướng cho quá trình CDCCKT, từ đó nhà nước sử dụng công cụ pháp luật, chính
sách, các quyết định quản lý,... để điều chỉnh các quan hệ kinh tế trong xã hội. Nhà
nước đóng vai trò là chủ thể phát động, điều hành, vừa tham gia vừa điều chỉnh và
bảo đảm về mặt pháp lý và điều kiện hạ tầng, xã hội để quá trình CDCCKT diễn ra
theo những định hướng, mục tiêu đề ra.
b. Sơ đồ nghiên cứu tổng quát về CDCCKT
Vận dụng lý thuyết hệ thống vào phân tích CCKT và CDCCKT cho thấy
CCKT là một hệ thống phức tạp, luôn vận động và có thể điều chỉnh được bởi vì
CCKT có quan hệ trực tiếp với các yếu tố đầu vào và đầu ra và các yếu tố tác động
đến CCKT. Trên cơ sở đó có thể khái quát thành sơ đồ nghiên cứu sau đây:
Các yếu tố tác động (thuận lợi, khó khăn) từ bên ngoài
- Các nhân tố về cơ chế, chính sách - Hợp tác quốc tế về chính trị, kinh tế - Xu hướng tiêu dùng - Sự tiến bộ của KH-CN - Sự phát triển các chuỗi giá trị toàn cầu - Cạnh tranh quốc tế
Cơ cấu đầu ra quá trình CDCCKT - Hiệu quả khai thác các yếu tố đầu vào - Trình độ, động thái quá trình CDCCKT - Các kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra - Đảm bảo các yêu cầu phát triển kinh tế
Cơ cấu đầu vào quá trình CDCCKT - Cơ cấu sử dụng vốn đầu tư để CDCCKT - Cơ cấu sử dụng lao động - Đóng góp của các ngành KH-CN - Các yếu tố đầu vào khác: thông tin, tỷ lệ lao động qua đào tạo, tài nguyên,... Cơ cấu nội tại quá trình CDCCKT - Thuận lợi và khó khăn nội tại đối với CDCCKT: Vị trí, hạ tầng phục vụ phát triển, nhân lực, cạnh tranh, cơ chế, điều kiện tự nhiên, xã hội,... - CDCCKT theo ngành, theo vùng/lãnh thổ, theo thành phần kinh tế
Hình 2.2: Sơ đồ phân tích CDCCKT
32
2.1.3. Khái niệm CNH, HĐH
Khái niệm CNH: CNH có thể hiểu là quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế cơ
bản dựa vào nông nghiệp sang nền kinh tế lấy công nghiệp làm chủ đạo. Song song
với quá trình này là sự thay đổi cơ cấu lao động từ trạng thái lao động nông nghiệp
chiếm đa số giảm dần và tiến đến tỷ trọng lao động công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn
hơn và sự dịch chuyển này là dịch chuyển về xã hội, văn hóa và văn minh từ nông
nghiệp sang công nghiệp [68]. Tuy nhiên, những năm gần đây HNKTQT ngày càng
phát triển, quá trình CNH và xu thế CNH ở các nước đều ít nhiều chịu ảnh hưởng
của các xu thế phát triển công nghiệp đang diễn ra trên thế giới. Vì vậy, CNH ngày
nay cần thiết phải gắn chặt với xu thế HNKTQT, khai thác các tiềm năng, lợi thế để
tiến hành CNH một cách hiệu quả.
Khái niệm HĐH: HĐH theo nghĩa hẹp (gắn với KH-CN) là sự chuyển dịch
từ trình độ thấp sang trình độ tiên tiến, hiện đại gắn liền với nó là sự phát triển của
KH-CN. Theo nghĩa rộng, HĐH gắn với những xu hướng phát triển hiện đại của
nền kinh tế như: phát triển bền vững, phát triển công nghiệp và dịch vụ theo hướng
hiện đại, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tri thức,... [68].
Quan hệ giữa CNH và HĐH: Quá trình CNH gắn với HĐH đặt ra yêu cầu
tất yếu đối với quá trình CDCCKT. Để thực hiện CNH, HĐH đòi hỏi phải nâng cao
trình độ người lao động, xây dựng cơ sở hạ tầng và cải cách thể chế để đảm bảo cho
quá trình CDCCKT theo hướng hiện đại. CDCCKT cần khắc phục tình trạng công
nghệ lạc hậu, phát triển mạnh công nghệ song song với quá trình phát triển công
nghiệp. Nhà nước, doanh nghiệp và người dân cần phải nỗ lực tập trung đầu tư vốn
cho phát triển công nghiệp hiện đại. Chỉ có phát triển công nghiệp theo hướng hiện
đại mới có thể nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
và ngày một thu hẹp khoảng cách chênh lệch với các nước trong khu vực.
Khái niệm CNH, HĐH: CNH, HĐH được Đảng ta xác định là “Quá trình
chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản
lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động một cách phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển
của công nghiệp và tiến bộ KH-CN, tạo ra NSLĐ xã hội cao” [23]. Một số quan
33
điểm về CNH, HĐH được Đảng ta xác định như sau: (1). Độc lập tự chủ đi đôi với
hợp tác quốc tế trong quá trình CNH, HĐH; (2). CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn
dân; (3). Nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho phát triển nhanh và bền vững
trong quá trình CNH, HĐH; (4). KH-CN là động lực của quá trình CNH, HĐH; (5).
Lấy hiệu quả KT-XH làm tiêu chuẩn phát triển cho quá trình CNH, HĐH; (6). Kết
hợp kinh tế với quốc phòng-an ninh trong quá trình CNH, HĐH [24].
2.1.4. CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH cần đảm bảo những định hướng
cơ bản sau:
a. Về mô hình tăng trưởng: Quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
cần gắn với mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, vừa mở rộng quy mô
vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, bền vững [27].
b. Về cơ cấu ngành nghề: Cần điều chỉnh cơ cấu các ngành sản xuất và các
ngành dịch vụ, phân bố hợp lý các ngành sản xuất phù hợp với các tiềm năng, lợi
thế phát triển của các vùng, các địa phương. Cơ cấu ngành nghề cần được phát triển
một cách đa dạng, tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo cơ hội
thuận lợi để người lao động học tập, nâng cao trình độ, tay nghề, đồng thời có cơ
chế, chính sách phát hiện, trọng dụng nhân tài. Tập trung đầu tư vào các ngành công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ ứng dụng KH-CN cao,... Tham gia ngày hiệu quả vào
mạng sản xuất và phân phối toàn cầu ở những phân khúc sản phẩm có trình độ công
nghệ và hiệu quả kinh tế cao, khai thác tốt các tiềm năng lợi thế so sánh để tham gia
vào mạng sản xuất, phân phối toàn cầu.
c. Một số giải pháp cơ bản để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH: Thứ
nhất, cần cải thiện môi trường đầu tư, tạo sức hấp dẫn để khuyến khích, huy động
các nguồn lực của các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài. Thứ hai, tập
trung phát triển KH-CN, khuyến khích ứng dụng KH-CN vào sản xuất để nâng cao
NSLĐ và hiệu quả kinh tế. Thứ ba, củng cố các mối liên hệ liên vùng trong phát
triển, phát huy hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng kinh tế, đẩy mạnh phát
triển các cực tăng trưởng, các vùng kinh tế trọng điểm để tạo hiệu ứng lan tỏa, thúc
34
đẩy các vùng khác phát triển. Thứ tư, điều chỉnh chiến lược phát triển doanh
nghiệp, tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
2.2. ĐÁNH GIÁ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
2.2.1. Yêu cầu về phương pháp đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Những vấn đề về CDCCKT và CNH, HĐH ở Việt Nam đã được một số học
giả nghiên cứu cả về phương diện lý luận và nghiên cứu thực tiễn. Về mặt lý luận,
vấn đề CDCCKT đã được đề cập trong một số giáo trình của các trường đại học, các
đề tài, bài báo khoa học, nghiên cứu trao đổi,... Tuy nhiên, vấn đề đánh giá
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH vẫn chưa có sự thống nhất và chưa có bộ chỉ tiêu
chuẩn để đánh giá. Phương pháp đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH thông
qua bộ chỉ tiêu giúp các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách đánh giá được
những thành công và những điểm còn hạn chế của CCKT, chỉ ra được các yếu tố
cản trở đến CDCCKT và đi vào phân tích các nguyên nhân của chúng. Yêu cầu về
đánh giá quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH đó là cần phải được tiến hành
dựa trên các chỉ tiêu đánh giá định tính và định lượng để chỉ ra: (1). Các yếu tố ảnh
hưởng đến CDCCKT theo hướng CNH, HĐH; (2). Động thái và trình độ của quá
trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH; (3). Các kết quả đạt được của quá trình
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Trên cơ sở đó có thể đề xuất những điều chỉnh
cần thiết, đưa ra các bài học kinh nghiệm và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Vì vậy, nghiên cứu này sử dụng các
nhóm chỉ tiêu để đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
Để đảm bảo tính hệ thống và hiệu quả, bộ chỉ tiêu đánh giá CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH được lựa chọn cần dựa trên một số căn cứ cơ bản: (1). Cần tham
khảo kinh nghiệm quốc tế, những đặc điểm của các quốc gia đã tiến hành quá trình
CNH thành công để xác định một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá quá trình CDCCKT
theo hướng CNH, HĐH; (2). Tham khảo các quan điểm của các học giả trong và
ngoài nước đã nghiên cứu về mặt lý luận, thực tiễn về CDCCKT, CNH, HĐH của
Việt Nam; (3). Tham khảo chủ trương, đường lối của Đảng, chiến lược, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về CNH, HĐH. Trên cơ sở các kinh nghiệm quốc tế và kinh
35
nghiệm trong nước để xác định các chỉ tiêu cơ bản đánh giá CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH.
2.2.2. Tổng hợp các chỉ tiêu cơ bản về đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
a. Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá quá trình CNH qua nghiên cứu kinh
nghiệm quốc tế
Nghiên cứu quá trình CNH và CDCCKT ở một số nước đã tiến hành CNH
thành công, các nước này đã đạt được trình độ sản xuất công nghiệp và dịch vụ hiện đại
(Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia). Về cơ bản họ đã đạt được các tiêu chí về trình độ
CNH, HĐH mà chúng ta đang phấn đấu với một số nhóm chỉ tiêu cơ bản như sau:
Nhóm các chỉ tiêu phản ánh yếu tố đầu vào tác động đến CDCCKT theo hướng CNH, HĐH: Tùy thuộc vào điều kiện số liệu và bối cảnh kinh tế của từng
nước, một số chỉ tiêu sau được sử dụng để đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH:
(1). Về tích lũy đầu tư và tập trung đầu tư, các nước tập trung đầu tư cho phát
triển công nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại, tỷ lệ tích lũy để đầu tư các nước
CNH thành công vượt quá mức 30-40% tổng thu nhập quốc dân. Bên cạnh đó, lựa
chọn đầu tư hợp lý và đầu tư có trọng điểm để nâng cao hiệu quả đầu tư [73].
(2). Chuyển dịch cơ cấu lao động để phát triển công nghiệp và dịch vụ theo
hướng hiện đại. Bên cạnh đó, một số chỉ tiêu khác về chất lượng nguồn nhân lực
được khuyến khích phân tích khi có điều kiện số liệu chính xác đó là tỷ lệ lao động
qua đào tạo và chỉ số phát triển nguồn nhân lực (HDI). Chỉ số HDI được xác định
như một thước đo tổng hợp về sự phát triển của con người trên phương diện sức
khỏe, tri thức và thu nhập, trong đó đề cập các khía cạnh như tuổi thọ trung bình, sự
phát triển về kiến thức và mức sống (GDP thực tế đầu người theo sức mua tương
đương tính bằng USD).
(3). Đầu tư cho KH-CN và Giáo dục và đào tạo: Các nước đã tiến hành CNH
thành công thường có tỷ lệ đầu tư cho KH-CN, giáo dục và đào tạo từ 8% so với
tổng vốn đầu tư xã hội [69].
(3). Chỉ tiêu phản ánh mức độ tiếp cận công nghệ thông tin, một loại công
nghệ tiên tiến nhất hiện nay đang đóng vai trò chi phối đối với quá trình phát triển
và HĐH của các quốc gia, nó có thể được sử dụng như một loại thước đo để đánh
giá mức độ HĐH của một quốc gia trong tiến trình CNH.
36
(4). Khả năng giữ vững môi trường chính trị, xã hội và kinh tế ổn định là chỉ
tiêu quan trọng đảm bảo cho CNH được tiến hành hiệu quả, bền vững. Chỉ tiêu này
có thể được đánh giá qua 2 mặt, đó là sự ổn định về chính trị-xã hội và sự ổn định kinh
tế vĩ mô với mức lạm phát thấp và ổn định (khoảng 5%) [69].
(5). Năng lực thể chế và khung pháp lý: Tiêu chí này thể hiện qua vai trò và
năng lực của nhà nước, chất lượng và quá trình thực thi pháp luật một cách hiệu
quả. Nhà nước là chủ thể đóng vai trò chủ động, tích cực đối với quá trình CNH
(khởi xướng, chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn và trực tiếp tham gia thực thi các chính
sách và chiến lược CNH). Nhà nước có sức mạnh kinh tế đủ mạnh để xây dựng cơ
sở hạ tầng và xây dựng các ngành công nghiệp, dịch vụ hiện đại, dẫn đường và đảm
bảo cho các ngành công nghiệp, dịch vụ hiện đại phát triển.
Nhóm chỉ tiêu cơ bản phản ánh động thái và trình độ CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH
(1). Chỉ tiêu về động thái CDCCKT theo hướng CNH, HĐH: Chỉ tiêu này
được thể hiện qua việc CCKT chuyển dịch theo hướng phát triển khu vực công
nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại. Về cơ cấu nội bộ khu vực công nghiệp, các
ngành công nghiệp chế tạo thường chiếm từ 75% tổng GTSX công nghiệp trở lên.
Trong cơ cấu hàng xuất khẩu, hàng công nghiệp chế tạo được coi là loại hàng phản
ánh tính chất và mức độ CNH của một nước vì nó thể hiện trình độ năng lực công
nghiệp của một quốc gia. Thông thường một quốc gia được coi là có trình độ CNH
cao, tỷ trọng giá trị xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo phải chiếm từ 75% tổng giá
trị xuất khẩu (các nước CNH trung bình cần tiến tới mức từ 50%) [73].
(2). Sự chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu dân cư, bao gồm lao động và
dân cư trong các ngành công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, dân cư trong các
KCN, đô thị và nông thôn. Những chỉ số này cho thấy sự thay đổi về chất hơn về
lượng, nó cho thấy sự thu nạp lực lượng lao động, tình trạng thất nghiệp, sự phát
huy sức mạnh của nguồn nhân lực, lợi ích của CNH,…
(3). Trong quá trình CNH, một yếu tố quan trọng cần được xem xét, đó là
mức độ HNKTQT, mức độ kết hợp giữa nội lực và ngoại lực cho phát triển kinh tế
37
của một nước, có thể đánh giá qua mức độ mở cửa, hội nhập của một nước thông
qua tỷ lệ giữa tổng giá trị xuất nhập khẩu so với GDP của nước đó (XNK/GDP).
Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả của CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
(1). Cơ cấu ngành: Thông thường cơ cấu ngành phản ánh sự phân chia thành
các khu vực: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Khi xem xét CDCCKT theo
hướng CNH cần xem xét đến tỷ trọng tăng giảm của cả 3 khu vực: công nghiệp,
nông nghiệp và dịch vụ. Một nền kinh tế phát triển CNH hiệu quả cần phải giảm tỷ
trọng khu vực nông nghiệp xuống dưới 20%, nâng tỷ trọng khu vực công nghiệp và
dịch vụ lên mức trên 80%. Đối với những nền kinh tế CNH cao thì tỷ trọng khu vực
nông nghiệp phải giảm xuống dưới 10%, thậm chí là 5% [44].
(2). Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng là chỉ tiêu phản ánh mức
độ thành công của CDCCKT trong một giai đoạn nhất định. Ở những nền kinh tế
CNH thành công, khu vực công nghiệp và dịch vụ có thể tăng tới 15-20% [29].
(3). Về GDP bình quân đầu người: Thể hiện mức sống và mức độ thành
công của một nền kinh tế đem lại cho người dân, hiện nay có một số cách phân chia
(kém phát triển: dưới 1.000 USD, trung bình: từ 1.000-10.000 USD, phát triển: từ
10.000 USD trở lên). Các nước khi tiến hành CNH thành công thường phải đạt mức
thu nhập bình quân đầu người từ 3.000 USD trở lên [69].
Các chỉ tiêu tham khảo: Nhóm các chỉ tiêu đánh giá sự CDCCKT theo các
xu hướng hiện đại của nền kinh tế thế giới (tiến đến phát triển bền vững, tăng cường
năng lực cạnh tranh).
(1). Mức độ công bằng xã hội là một trong những yếu tố quan trọng để đảm
bảo độ bền vững của quá trình CNH. CNH cần đem lại lợi ích cho đa số nhân dân,
được nhiều người ủng hộ thì mới thực hiện và duy trì một cách lâu dài. Bên cạnh
công bằng xã hội thì đối với những nước đang phát triển cần bổ sung thêm chỉ tiêu
giảm tỷ lệ người dân sống dưới mức nghèo khổ xuống dưới 5% dân số (mức nghèo
khổ là dưới 1 USD/ngày).
(2). Chỉ tiêu tạo việc làm và giảm thất nghiệp: Đa số các nước CNH thành
công đều giảm được tỷ lệ thất nghiệp từ 20-30% xuống còn 5% và thậm chí thấp
hơn nữa so với tổng lực lượng lao động xã hội.
38
(3). Để xác định hiệu quả lan tỏa của CNH cần quan tâm đến tiêu chí nâng
cao chất lượng sống, thể hiện rõ nhất trên 2 mặt là giảm dịch bệnh và tăng tuổi thọ
của toàn dân (tuổi thọ bình quân ở mức từ 70 tuổi trở lên).
(4). Các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường, hạn chế những tác hại do CNH gây
ra đối với môi trường sinh thái và cải thiện môi trường sinh thái cũng nên được
nghiên cứu khi có đủ điều kiện số liệu.
(5). Chỉ tiêu nâng cao chỉ số năng suất tổng hợp (TFP) là chỉ tiêu đánh giá
chung về năng suất, chất lượng và hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố sản xuất
trong tăng trưởng kinh tế và trong CNH. Tuy nhiên, chỉ tiêu này có tính chất khuyến
khích áp dụng khi điều kiện số liệu cho phép tính toán một cách chính xác.
(6). Năng lực cạnh tranh của một nước trong bối cảnh của xu thế toàn cầu
hóa và cạnh tranh quốc tế: Tiêu chí này được phản ánh trong bảng xếp hạng năng
lực cạnh tranh do một số tổ chức và các nhà khoa học có uy tín nêu ra (ví dụ Michel
Porter),… Đây là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp năng lực cạnh tranh của một quốc gia,
của các công ty cũng như của các ngành và sản phẩm công nghiệp được xây dựng
và phát triển của một quốc gia.
b. Một số quan điểm trong nước về các chỉ tiêu đánh giá quá trình CNH, HĐH
Vấn đề CNH, HĐH ở Việt Nam đã được nhiều học giả nghiên cứu, tuy nhiên
việc đưa ra bộ chỉ tiêu chung để đánh giá quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam vẫn còn
chưa thống nhất. Trên thực tế, tùy từng giai đoạn phát triển của đất nước mà việc
đánh giá, xác định các chỉ tiêu đánh giá CNH, HĐH cũng cần phải thay đổi cho phù
hợp. Nghiên cứu về vấn đề CNH, HĐH ở Việt Nam, học giả Đỗ Quốc Sam trong
bài viết “Một số vấn đề về CNH, HĐH sau 20 năm đổi mới” [68] đã đề xuất bộ chỉ
tiêu phù hợp với đặc trưng của CNH, HĐH ở Việt Nam, những chỉ tiêu này gắn với
các tiêu chí được dùng rộng rãi trên thế giới để dễ so sánh, đánh giá. Các học giả
Viện Chiến lược phát triển đưa ra bộ chỉ tiêu đánh giá chất lượng tăng trưởng, bộ
chỉ tiêu này đề cập đến nhiều vấn đề mà quá trình tăng trưởng kinh tế và CDCCKT
cần đạt được. Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 đặt ra mục tiêu
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại với
những chỉ tiêu cơ bản cần đạt được như sau [9]:
39
Về kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7-8%/năm
- GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD.
- Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP.
- Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt
khoảng 45% trong tổng GDP.
- Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị
sản xuất công nghiệp.
- Tỷ lệ lao động nông nghiệp khoảng 30 - 35% tổng lao động xã hội.
- Yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng khoảng 35%.
Về văn hóa, xã hội
- Tốc độ tăng dân số ổn định ở mức khoảng 1%.
- Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi.
- Lao động qua đào tạo đạt trên 70%.
- Đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội.
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,5- 2%/năm, phúc lợi xã hội, an sinh xã
hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được bảo đảm.
Về môi trường
- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 45%.
- Trên 80% các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường.
- 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải
y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn.
c. Những hạn chế trong đánh giá CDCCKT theo hướng CNH-HĐH
Cho đến nay việc đánh giá CDCCKT còn tồn tại một số điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, yêu cầu sử dụng các chỉ tiêu định lượng kết hợp với định tính là cần
thiết đối với đánh giá quá trình CDCCKT. Tuy nhiên, việc đề xuất một bộ chỉ tiêu
chuẩn để đánh giá CDCCKT vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, quá trình lượng hóa
thường gặp khó khăn về số liệu (từ thu thập, xử lý, độ tin cậy của số liệu,...).
Thứ hai, Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 đã đề cập đến
các mục tiêu để nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, tuy
40
nhiên những chỉ tiêu này là những mục tiêu chung mà nước ta cần đạt được, nếu sử
dụng để đánh giá CDCCKT có thể tham khảo một số mục tiêu này. Tuy nhiên, bên
cạnh các chỉ tiêu cơ bản đã được đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn
2011-2020, việc đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH cần tham khảo kinh
nghiệm quốc tế để có những so sánh cần thiết.
Thứ ba, mặc dù có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề CDCCKT và CNH,
HĐH nhưng việc đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH chưa được nghiên
cứu sâu đối với vùng VBBB.
Vì vậy, nghiên cứu này tập trung vào lựa chọn một số chỉ tiêu cơ bản, kết
hợp giữa các chỉ tiêu định lượng và các chỉ tiêu định tính để đánh giá CDCCKT
vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH.
2.2.3. Lựa chọn những chỉ tiêu cơ bản đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Những quan điểm về CNH, HĐH đã được đề cập trong các tài liệu của Đảng
và Nhà nước. Tuy nhiên, để đánh giá quá trình CDCCKT như thế nào, đã thành
công và còn hạn chế ở những điểm nào cần căn cứ vào một bộ chỉ tiêu có thể lượng
hóa kết hợp với một số chỉ tiêu định tính. Nghiên cứu này đã lựa chọn các nhóm chỉ
tiêu cơ bản để đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH ở Việt Nam trên cơ sở áp
dụng mô hình phân tích hệ thống (theo sơ đồ ở hình 2.2 về nghiên cứu CDCCKT).
Các căn cứ để lựa chọn các chỉ tiêu như sau:
(1). Mục tiêu CNH, HĐH: Mục tiêu cơ bản là phát triển khu vực công nghiệp
và dịch vụ hiện đại, HĐH nông nghiệp và chuyển sang phi nông nghiệp.
(2). Quan điểm trong nước và ngoài nước về vấn đề CNH, HĐH và
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
(3). Phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới.
(4). Điều kiện số liệu: số liệu sẵn có, số liệu thu thập được, khả năng xử lý,
độ tin cậy của số liệu,...
Sau khi lựa chọn các chỉ tiêu cơ bản, các chỉ tiêu được nhóm lại theo mục
đích đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Cụ thể kết quả bộ chỉ tiêu đánh
giá được đề xuất như sau:
41
a. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố đầu vào tác động đến CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH
(1). Cơ cấu đầu tư phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ
(2). Cơ cấu lao động khu vực công nghiệp và dịch vụ
(3). Tỷ lệ kinh phí đầu tư cho KH-CN, giáo dục và đào tạo so với tổng vốn
đầu tư
(4). Mức độ tiếp cận thông tin
(5). Tỷ lệ lao động qua đào tạo
(6). Sự ổn định chính trị
(7). Hệ thống pháp luật và thể chế hoạt động hiệu quả
(Phương pháp đo lường và các mức tiêu chuẩn đánh giá đối với các chỉ tiêu
trên được nêu trong phụ lục 3)
b. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh động thái và trình độ CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH
(1). Chỉ tiêu phản ánh CDCCKT theo hướng phát triển công nghiệp hiện đại
được thể hiện qua các thông số cơ bản sau:
- Sự biến đổi tỷ trọng GDP khu vực công nghiệp so với tổng GDP của
nền kinh tế
- Tốc độ tăng GDP khu vực công nghiệp
- Tốc độ tăng NSLĐ khu vực công nghiệp
- Tỷ trọng các ngành công nghiệp hiện đại so với tổng GTSX khu vực
công nghiệp
(2). Chỉ tiêu phản ánh CDCCKT theo hướng phát triển dịch vụ hiện đại được
thể hiện qua các thông số cơ bản sau
- Sự biến đổi về tỷ trọng GDP khu vực dịch vụ so với tổng GDP của
nền kinh tế
- Tốc độ tăng GDP khu vực dịch vụ
- Tốc độ tăng NSLĐ khu vực dịch vụ
- Sự biến đổi tỷ trọng các ngành dịch vụ hiện đại so với tổng GTSX
khu vực dịch vụ
42
(3). Độ mở cửa/hội nhập của nền kinh tế
(4). Tỷ trọng giá trị xuất khẩu/tổng giá trị xuất khẩu của thế giới
(Phương pháp đo lường và các mức tiêu chuẩn đánh giá đối với các chỉ tiêu
trên được nêu trong phụ lục 4)
c. Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả CDCCKT so với các mục tiêu cần đạt được
của CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
(1). Sự chuyển dịch tỷ trọng kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp
(2). Chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp
(3). GDP và GDP/người
(4). Tốc độ tăng trưởng kinh tế
(5). Năng suất lao động
(6). Cơ cấu thị trường
(Phương pháp đo lường và các mức tiêu chuẩn đánh giá đối với các chỉ tiêu
trên được nêu trong phụ lục 5)
d. Nhóm các chỉ tiêu bổ trợ đánh giá sự CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
(1). Tỷ lệ lạm phát
(2). Tỷ lệ thất nghiệp
(3). Tỷ lệ hộ nghèo
(4). Tỷ lệ tăng dân số
(5). Tuổi thọ bình quân
(6). Chỉ tiêu về môi trường
(Phương pháp đo lường và các mức tiêu chuẩn đánh giá đối với các chỉ tiêu
trên được nêu trong phụ lục 6)
2.3. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
2.3.1. CDCCKT vùng
a. Quan niệm về vùng kinh tế
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về phân chia vùng. Đối với nước ta,
vùng là một khái niệm dùng để phân chia lãnh thổ quốc gia thành các lãnh thổ trực
thuộc. Tùy theo mục đích quản lý, nghiên cứu mà lãnh thổ quốc gia có thể được
43
phân chia theo các tiêu chí phân vùng khác nhau. Về mặt địa lý, các vùng nằm trong
lãnh thổ quốc gia có những điểm đặc thù về điều kiện tự nhiên, điều kiện giao
thông, kinh tế, văn hóa, xã hội,... Về mặt quản lý, một vùng bao gồm các tỉnh, các
vùng trực thuộc sự quản lý của Chính phủ.
Vùng kinh tế là một bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân với đặc trưng
chuyên môn hóa những chức năng kinh tế cơ bản, đảm bảo tính tổng hợp và liên kết
trong phát triển, phát huy lợi thế phát triển của các địa phương. Vùng kinh tế được
coi như một hệ thống nằm trong hệ thống quản lý nền kinh tế quốc dân.
Cơ sở hình thành và phát triển vùng kinh tế là các yếu tố tạo vùng, trong đó
phân công lao động theo lãnh thổ là yếu tố đóng vai trò quan trọng. Sự phân công
lao động theo ngành làm xuất hiện quá trình phân công lao động theo lãnh thổ. Phân
công lao động theo lãnh thổ tác động đến việc hình thành các vùng kinh tế. Trên
phạm vi lãnh thổ quốc gia có nhiều vùng kinh tế, từ đó hình thành cơ cấu vùng kinh
tế của nền kinh tế quốc dân. Việc phân vùng kinh tế cần căn cứ vào sự xuất hiện và
quy luật vận động của các yếu tố tạo vùng. Từ đó, xác định những nguyên tắc, quan
điểm nhất định để đưa ra hệ thống các vùng với cơ cấu sản xuất và cơ cấu lãnh thổ
nhất định. Trong thực tế có nhiều cách phân vùng khác nhau, các vùng được phân
chia theo tiêu chí kinh tế như nguồn lực kinh tế, tổ chức các ngành/các hoạt động,
chức năng và năng lực kinh tế,... [90].
Vùng kinh tế ngành: Là một vùng mà trong đó giới hạn của nó phân bổ tập
trung một ngành sản xuất nhất định, chẳng hạn như vùng nông nghiệp, vùng công
nghiệp,... Vùng kinh tế ngành cũng có tính chất tổng hợp, trong vùng kinh tế ngành
không chỉ có các ngành sản xuất chuyên môn hóa mà còn có cả cơ cấu phát triển
tổng hợp tồn tại song song với các ngành sản xuất chuyên sâu đóng vai trò then chốt
trong quá trình phát triển của vùng. Vùng kinh tế ngành thực chất là một hệ thống
các vùng kinh tế quốc gia được chia theo quan điểm ngành [90].
Vùng kinh tế tổng hợp: Là những vùng kinh tế đa ngành, có cơ cấu ngành
phức tạp, cơ cấu và quy mô hàng hóa lớn và phong phú. Các vùng kinh tế tổng hợp
là những lãnh thổ được lựa chọn theo quan điểm tổng thể của tất cả các ngành, các
lĩnh vực hoạt động có trên lãnh thổ trong mối liên hệ ảnh hưởng và phụ thuộc lẫn
nhau giữa chúng và quan hệ với các điều kiện phát triển của các vùng, quan hệ với
44
các lãnh thổ khác cũng như với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự chuyên môn hóa
của các vùng được quy định bởi các vùng kinh tế ngành tồn tại trong vùng kinh tế
tổng hợp mà sự chuyên môn hóa của nó có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển
của vùng kinh tế tổng hợp khác (tính liên vùng) [90].
b. CCKT theo vùng
CCKT theo vùng là sự phân chia nền kinh tế của quốc gia thành các vùng
kinh tế (lãnh thổ kinh tế) trên cơ sở những đặc điểm cấu tạo vùng (điều kiện tự
nhiên, vị trí địa lý, văn hóa, nhân lực,...). Trên cơ sở những điều kiện, nguồn lực cho
phát triển kinh tế và mục đích quản lý, lãnh thổ quốc gia có thể được chia thành các
vùng kinh tế. Mỗi vùng kinh tế sẽ có cơ cấu ngành nghề được xây dựng căn cứ vào
những điều kiện, tiềm năng, lợi thế cho phát triển kinh tế và các mục đích quản lý.
CCKT vùng có xu hướng luôn thay đổi do sự tác động của các yếu tố bên ngoài, sự
không cố định bởi các yếu tố cấu thành CCKT vùng (sự thay đổi về cơ cấu ngành
nghề, sự xuất hiện hay mất đi của một số ngành,...). Đối với nước ta, khi xem xét cơ
cấu lãnh thổ theo vùng có thể xem xét ở nhiều cấp độ:
Cơ cấu theo các vùng KT-XH, lãnh thổ quốc gia được phân chia thành các
vùng KT-XH để hoạch định chính sách, chiến lược, phân bổ lực lượng sản xuất, bố
trí ngành nghề theo các vùng và phân vùng nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng,
lợi thế của các vùng thuộc lãnh thổ quốc gia. Các tỉnh cần căn cứ vào các định
hướng CDCCKT của vùng để định hướng cho quá trình CDCCKT một cách hiệu
quả, phù hợp với các định hướng phát triển của vùng và đảm bảo tính liên vùng
trong phát triển. Đối với các tỉnh cũng có thể phân chia thành các tiểu vùng trực
thuộc tỉnh căn cứ vào các đặc điểm tự nhiên, văn hóa, kinh tế, xã hội,...
Ngoài ra, tùy theo mục đích nghiên cứu, CCKT theo lãnh thổ có thể được
phân theo: cơ cấu thành thị và nông thôn, cơ cấu lãnh thổ phát triển và lãnh thổ
chậm phát triển, cơ cấu lãnh thổ động lực và lãnh thổ còn lại.
c. CDCCKT vùng
CDCCKT vùng là sự thay đổi CCKT của vùng do sự thay đổi/chuyển dịch
của các bộ phận cấu thành CCKT của vùng, bao gồm: sự thay đổi cơ cấu ngành
nghề, cơ cấu theo thành phần kinh tế và cơ cấu theo lãnh thổ. CDCCKT theo ngành
là sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các khu vực kinh tế, các ngành, nghề thuộc
45
vùng, một số ngành mới có thể xuất hiện và một số ngành có thể mai một hoặc mất
đi. Thậm chí, đối với mỗi ngành, cơ cấu nội bộ các ngành cũng có thể thay đổi trong
quá trình CDCCKT vùng. Khi phân tích, đánh giá CDCCKT theo các vùng, có thể
sử dụng một số cách tiếp cận sau:
(1). Sự thay đổi về cơ cấu ngành nghề của vùng
(2). Sự thay đổi về thành phần kinh tế của vùng
(3). Sự thay đổi của các tiểu vùng trực thuộc vùng
(4). Sự dịch chuyển/thay đổi về cơ cấu giữa thành thị - nông thôn trực thuộc
vùng nghiên cứu
(5). Sự thay đổi CCKT của vùng liên quan đến các hành lang kinh tế
(6). Sự thay đổi CCKT của vùng trong mối liên hệ với các KKT đặc biệt
(7). Sự thay đổi của cơ cấu lãnh thổ động lực và lãnh thổ còn lại
(8). Sự thay đổi của các lãnh thổ phát triển, chậm phát triển nằm trong vùng
CDCCKT vùng được thực hiện thông qua sự điều chỉnh trong phân bổ sản
xuất theo vùng. Cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu ngành kinh tế thực chất là hai mặt
của một thể thống nhất và đều là biểu hiện của sự phân công lao động xã hội.
CDCCKT vùng cần phải dựa trên lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của từng
vùng, tăng cường sự kết nối, bổ sung cho nhau giữa các vùng thành một nền kinh tế
thống nhất, kết nối hiệu quả với các nước trong khu vực và kinh tế thế giới. Khi
phân tích CDCCKT của vùng cần quan tâm đến các yếu tố sau:
(1). Về dân số: Phân tích cơ cấu dân số theo các nhóm dân tộc, đặc điểm dân
tộc, trình độ dân cư và các giá trị văn hóa của vùng, những yếu tố này có thể phản
ánh quá trình CDCCKT của vùng thích ứng với đặc điểm nguồn nhân lực và tiềm
năng xây dựng nguồn nhân lực như thế nào để đáp ứng với việc CDCCKT của vùng
một cách hiệu quả.
(2). Về tài nguyên thiên nhiên: Tiềm năng tài nguyên thiên nhiên của vùng là
những lợi thế để định hướng phát triển kinh tế và phân bố lực lượng sản xuất.
Những tài nguyên thiên nhiên quan trọng ảnh hưởng đến xây dựng các định hướng
CDCCKT của vùng như: khoáng sản, nguồn nước, đất đai, tài nguyên rừng, đặc
điểm khí hậu, địa hình,...
46
(3). Tiềm lực kinh tế: Tiềm lực kinh tế của một vùng cho phép vùng đó có thể
tích lũy và đầu tư vào xây dựng một CCKT hiện đại với các hạng mục đầu tư cơ
bản: đầu tư cho cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển KH-CN, đầu tư
cho trang thiết bị máy móc hiện đại,... Những yếu tố phản ánh tiềm lực nền kinh tế
gồm có: tổng GDP, năng lực sản xuất kinh doanh, năng lực các sản phẩm chủ
lực/mũi nhọn, năng lực sản xuất công nghiệp,...
(4). Năng lực kết cấu hạ tầng của vùng: Kết cấu hạ tầng hiện đại và đồng bộ là
điều kiện cần để tiến hành CDCCKT một cách hiệu quả. Kết cấu hạ tầng đóng vai
trò lớn đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh, định hướng sản xuất, thu hút các nhà
đầu tư và tăng năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm của một vùng kinh tế.
(5). Năng lực đào tạo, chăm sóc sức khỏe, thể thao, văn hóa: Những yếu tố này
đóng vai trò lớn đối với việc phát triển nguồn nhân lực và tái sản xuất lao động xã
hội một cách hiệu quả.
2.3.2. CDCCKT vùng theo hướng CNH, HĐH
CDCCKT vùng theo hướng CNH, HĐH là quá trình thay đổi các bộ phận
cấu thành của CCKT vùng hướng tới các mục tiêu đề ra của quá trình CNH, HĐH
trong đó có các mục tiêu cơ bản:
(1). Phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại và nâng
cao hiệu quả sản xuất khu vực nông nghiệp, chuyển dịch sang các ngành phi nông
nghiệp.
(2). Đảm bảo nâng cao vị thế, phát huy vai trò của vùng và đóng góp vào quá
trình phát triển chung của đất nước.
(3). Phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới, đảm bảo
các chỉ tiêu cơ bản về xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, phù hợp với bối cảnh,
tiềm năng, lợi thế và các đặc điểm đặc thù của vùng.
Về định hướng cơ bản: Quá trình CDCCKT của vùng theo hướng CNH,
HĐH cần gắn với định hướng tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, vừa mở
rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững.
47
a. Định hướng CDCCKT của vùng đối với các ngành theo hướng CNH, HĐH
Để CDCCKT vùng theo hướng CNH, HĐH, cần điều chỉnh cơ cấu các ngành
sản xuất và các ngành dịch vụ, phân bố hợp lý các ngành sản xuất phù hợp với các
tiềm năng, lợi thế phát triển của các vùng, các địa phương. Cơ cấu ngành nghề cần
được phát triển một cách đa dạng, tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao
động, tạo cơ hội thuận lợi để người lao động học tập, nâng cao trình độ, tay nghề,
đồng thời có cơ chế, chính sách phát hiện, trọng dụng nhân tài. Tập trung đầu tư vào
các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ ứng dụng KH-CN cao,... Tham gia
ngày càng nhiều và có hiệu quả mạng sản xuất và phân phối toàn cầu ở những phân
khúc sản phẩm có trình độ công nghệ và hiệu quả kinh tế cao.
Định hướng phát triển công nghiệp của vùng theo hướng CNH, HĐH: Phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại với những ngành công nghiệp có lợi thế
so sánh, có khả năng phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững. Phát triển các sản phẩm có
tính cạnh tranh để tham gia hiệu quả vào mạng sản xuất và phân phối toàn cầu. Một số
định hướng cơ bản như sau: (1). Phân bố hợp lý sản phẩm công nghiệp trên các vùng,
các địa phương. Tổ chức sản xuất hiệu quả các KCN, CCN, khuyến khích phát triển
công nghiệp tập trung để hình thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, các cụm
ngành liên kết. (2). Phát triển các khu công nghệ cao, các KKT tổng hợp ven biển
và các KKT cửa khẩu. (3). Khuyến khích phát triển và ứng dụng KH-CN vào sản
xuất. Tập trung cho nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các sản phẩm có tính cạnh tranh và
giá trị kinh tế cao, từng bước phát triển các mặt hàng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu,
nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm,... (4). Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ
nông nghiệp và nông thôn với các sản phẩm như trang thiết bị, máy móc phục vụ
sản xuất, bảo quản, chế biến sản phẩm, phân bón, thức ăn cho chăn nuôi và thuốc
bảo vệ động, thực vật,... (5). Phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng và tập trung
phát triển hợp lý công nghiệp sử dụng nhiều lao động, góp phần chuyển dịch nhanh
cơ cấu lao động.
Định hướng phát triển dịch vụ của vùng theo hướng CNH, HĐH: Một số
định hướng phát triển dịch vụ như sau: (1). Phát triển dịch vụ theo hướng hiện đại,
tổ chức quản lý và sản xuất một cách bài bản. Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ
có hiệu quả kinh tế cao và có tính cạnh tranh và phục vụ đắc lực cho phát triển kinh
48
tế trong bối cảnh hiện nay như: dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, thương
mại, du lịch, vận tải, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tư vấn KH-CN. (2). Khuyến khích
người dân sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước, tập trung khai thác tốt thị trường
nội địa. (3). Tổ chức sản xuất hiệu quả các hoạt động thương mại trong nước ở tất
cả các vùng. Xây dựng các kênh phân phối hiệu quả để đáp ứng tốt nhu cầu, thị hiếu
người tiêu dùng trong nước. (4). Xây dựng các trung tâm thương mại - dịch vụ lớn ở
các vùng, các trung tâm này đóng vai trò vừa là trung tâm thương mại dịch vụ cho
người tiêu dùng nội địa, vừa là cửa ngõ giao thương với quốc tế.
Định hướng phát triển nông nghiệp của vùng theo hướng CNH, HĐH: Phát triển khu vực nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, tập trung
vào một số định hướng cơ bản sau: (1). Gắn kết các chủ thể liên quan đến quá trình
sản xuất, kết hợp chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp, nhà nông và nhà khoa học
để sản xuất một cách hiệu quả, có tính khả thi cao và đảm bảo tính bền vững. (2).
Khuyến khích phát triển sản xuất tập trung, ứng dụng KH-CN vào sản xuất, nâng
cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh, quản lý và xử lý tốt các
nguồn ô nhiễm môi trường, gắn kết sản xuất với chế biến và thị trường, mở rộng
xuất khẩu. (3). Đối với các vùng miền núi, khuyến khích các thành phần kinh tế
tham gia phát triển lâm nghiệp bền vững, chú trọng cả rừng sản xuất, rừng phòng hộ
và rừng đặc dụng, tăng diện tích trồng rừng và độ che phủ rừng. (4). Đối với các
vùng ven biển cần phát triển đánh bắt xa bờ, nuôi trồng thủy sản đa dạng, thâm
canh, sản xuất tập trung, nuôi công nghiệp. Ứng dụng KH-CN vào sản xuất, gắn nuôi
trồng với chế biến bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm. Phát triển đồng bộ kết cấu hạ
tầng, cơ sở dịch vụ phục vụ nuôi trồng, đánh bắt, chế biến, xuất khẩu thủy sản.
2.3.3. Đặc trưng của CDCCKT vùng theo hướng CNH, HĐH
a. Đặc trưng chuyển đổi về lượng và chất: Nghiên cứu CDCCKT của vùng
theo hướng CNH, HĐH cần đánh giá qua các chỉ tiêu có thể lượng hóa được kết
hợp với các chỉ tiêu định tính. CCKT vùng là một hệ thống vận động, biến đổi
không ngừng, những thông số về mặt lượng cũng luôn nằm trong trạng thái biến đổi
không ngừng và đến một thời điểm nhất định thì CCKT của vùng sẽ chuyển sang
một trình độ với những đặc điểm cơ bản tương ứng với trình độ mới. Vì thế, khi
nghiên cứu CDCCKT của vùng theo hướng CNH, HĐH ở các khoảng thời gian cho
49
phép thấy được sự biến đổi về trình độ của CCKT vùng so sánh với mục tiêu CNH,
HĐH. Từ việc nghiên cứu sự thay đổi những thông số được lượng hóa qua các mốc
thời gian nhất định có thể đánh giá sự thay đổi về chất của CCKT vùng.
b. Sự tham gia của nhà nước và các chủ thể kinh tế: CDCCKT của một
vùng theo hướng CNH, HĐH đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể liên quan đến
quá trình phát triển kinh tế vùng. Trong đó, nhà nước đóng vai trò định hướng và
điều hành cho quá trình CDCCKT của các vùng theo hướng CNH, HĐH. Mục tiêu
của CDCCKT nói chung và các vùng nói riêng là tăng NSLĐ (đó là sự gia tăng
GDP tạo ra trên mỗi đơn vị nguồn lực, bao gồm: lao động, vốn, và tài nguyên).
Theo học giả Trần Văn Thọ, để tăng NSLĐ, các doanh nghiệp cần: (1). Tăng thêm
giá trị cho mỗi đơn vị sản phẩm; (2). Tăng năng suất sản phẩm (sản lượng trên đơn
vị nguồn lực); (3). Tăng giá trị từ khai thác xu thế, thời cơ và nguồn lực ngoại biên
thông qua khả năng hoạch định chiến lược và năng lực hợp tác, liên minh [77].
c. CDCCKT vùng trong bối cảnh hội nhập kinh tế: Trong bối cảnh toàn
cầu hóa hiện nay, quá trình CDCCKT của các vùng theo hướng CNH, HĐH cần
phải tính đến sự hoạt động của mạng lưới sản xuất đa quốc gia được hỗ trợ của
mạng lưới thông tin, internet toàn cầu và chuỗi giá trị toàn cầu. Các ngành kinh tế
cấu thành CCKT của các vùng cần phải cơ cấu theo hướng phát triển các ngành và
các sản phẩm tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường và có sức cạnh tranh
cao (theo hướng phát triển bền vững, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tri thức,...).
Quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH của các vùng cần phải hướng tới tăng
cường năng lực cạnh tranh để tham gia một cách có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn
cầu trên cơ sở phát huy tốt lợi thế so sánh, nâng cao trình độ lao động, đổi mới công
nghệ và quản lý, tổ chức sản xuất hiệu quả,...
d. Tốc độ tăng trưởng kinh tế phản ánh hiệu quả CDCCKT của vùng:
Tăng trưởng kinh tế của vùng được đánh giá thông qua sự thay đổi GDP trong một
giai đoạn nhất định (gồm có ngắn hạn, trung hạn và dài hạn). Một vùng kinh tế có
tốc độ tăng trưởng cao và ổn định nhưng vẫn đảm bảo phát triển các yếu tố xã hội
và bền vững về môi trường được đánh giá là vùng kinh tế phát triển hiệu quả và có
CCKT hợp lý. Điều đó thể hiện sự hiệu quả trong phân bổ nguồn lực và tổ chức
quản lý nền kinh tế của vùng kinh tế.
50
e. Tốc độ tăng trưởng của các bộ phận cấu thành phản ánh xu hướng
CDCCKT vùng theo hướng CNH, HĐH: Xu hướng CDCCKT của vùng theo
hướng CNH, HĐH là phải đạt tới trình độ tổ chức sản xuất và công nghệ hiện đại,
tập trung phát triển những ngành nghề có sức cạnh tranh và có giá trị kinh tế lớn. Để
đảm bảo sức cạnh tranh cao thì cần phải có vốn, KH-CN, nguồn nhân lực có chất
lượng cao và trình độ tổ chức sản xuất tốt. Vì vậy, CDCCKT của vùng theo hướng
CNH, HĐH cần hướng tới: (1). Phát triển công nghiệp và dịch vụ hiện đại, đồng
thời nâng cao hiệu quả sản xuất khu vực nông nghiệp; (2). Nâng cao vai trò và vị
thế phát triển của vùng trong CCKT của toàn bộ nền kinh tế; (3). Tăng cường năng
lực cạnh tranh và phát triển những ngành kinh tế trụ cột của vùng; (4). Đảm bảo tính
liên vùng trong phát triển.
Ngày nay, trong bối cảnh HNKTQT ngày một sâu rộng, sự cạnh tranh giữa
các quốc gia ngày càng cao để chiếm lĩnh thị trường nội địa và quốc tế và tham gia
sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cùng với sự phát triển mạnh KH-CN, CCKT của các
quốc gia và các vùng kinh tế cần phải liên tục điều chỉnh để củng cố năng lực cạnh
tranh cho các sản phẩm. Để đảm bảo sức cạnh tranh, việc nâng cao trình độ công
nghệ và tổ chức sản xuất, phân bố ngành nghề hợp lý là những yếu tố đóng vai trò
quan trọng. Việc phát triển các bộ phận cấu thành của CCKT theo hướng hiện đại
được coi như là một điều kiện cần có của các vùng kinh tế. Bởi vậy, thông qua xu
thế vận động của các bộ phận cấu thành có thể đánh giá được xu hướng và hiệu quả
CDCCKT của vùng theo hướng CNH, HĐH.
2.3.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến CDCCKT vùng theo hướng CNH, HĐH
a. Nhân tố quốc tế và khu vực
Toàn cầu hóa, HNKTQT: Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, liên minh, liên
kết trong phát triển kinh tế đã trở thành hiện tượng phổ biến. Khi HNKTQT, các
nước đều muốn mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo cơ hội để thu mua các sản
phẩm đầu vào phục vụ sản xuất, tìm kiếm đối tác để cùng khai thác thị trường, tiếp
cận và sử dụng các thành quả của KH-CN,... Những yếu tố này ảnh hưởng đến quá
trình CDCCKT theo hướng hiện đại của các quốc gia và các vùng kinh tế.
51
HNKTQT sâu rộng khiến các doanh nghiệp trong một vùng kinh tế phải chịu
áp lực cạnh tranh của việc chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường các
yếu tố đầu vào. Ngày nay, với thông tin và công nghệ hiện đại, thông tin về các sản
phẩm đầu ra, đầu vào và công nghệ sản xuất được các quốc gia và các doanh nghiệp
tập trung nghiên cứu và điều chỉnh cơ cấu sản xuất. Mạng sản xuất và phân phối
toàn cầu chi phối việc xây dựng các chiến lược, kế hoạch kinh doanh của từng
doanh nghiệp và hệ thống doanh nghiệp của các vùng kinh tế, vì thế HNKTQT ảnh
hưởng đến quá trình CDCCKT của các vùng theo hướng CNH, HĐH.
Quá trình CDCCKT của các quốc gia và các vùng kinh tế ngày càng chịu ảnh
hưởng của các các công ty đa quốc gia (TNCs). Các TNCs có lợi thế về vốn, KH-
CN, kinh nghiệm tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm, thương hiệu có uy tín,...
Những yếu tố đó giúp TNCs tăng cường năng lực cạnh tranh và phạm vi ảnh hưởng
đối với các đối thủ của họ ở các quốc gia trên thế giới. Các doanh nghiệp thuộc các
vùng kinh tế đều chịu ảnh hưởng/chi phối của các TNCs ở các mức độ khác nhau.
Các doanh nghiệp đều phải cân nhắc khả năng cạnh tranh của họ đối với các TNCs
hay họ sẽ liên minh, liên kết lại với nhau để tăng cường năng lực cạnh tranh hoặc
liên kết trực tiếp với các TNCs. Vì vậy, cơ cấu doanh nghiệp và phân bổ sản xuất
của các vùng chịu ảnh hưởng ngày càng lớn của công ty, tập đoàn siêu quốc gia.
Xu hướng CDCCKT toàn cầu: Cùng với sự HNKTQT ngày càng phát
triển, các xu thế CDCCKT trên thế giới đang ngày càng ảnh hưởng đến sự phát triển
kinh tế và quá trình CDCCKT của các quốc gia và các vùng kinh tế. Ngày nay, khi
KH-CN phát triển mạnh, các quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế ngày càng trở lên
đa dạng, mối liên hệ giữa các nền kinh tế và các bộ phận cấu thành của các nền kinh
tế với nhau ngày càng trở lên chặt chẽ. Vì vậy, một số xu hướng CDCCKT phổ biến
trên thế giới sẽ có ảnh hưởng lớn đến sự CDCCKT của các nền kinh tế cũng như
các vùng kinh tế (với tư cách là những bộ phận cấu thành các nền kinh tế). Hiện
nay, một số xu thế ảnh hưởng đến quá trình CDCCKT của các quốc gia như: xu thế
CDCCKT để khắc phục khủng hoảng nợ công, phát triển kinh tế xanh, phát triển
bền vững, phát triển nền kinh tế tri thức,... Điều này được thể hiện rõ khi nghiên cứu
các định hướng phát triển của các nước trong những năm gần đây. Đối với nước ta,
52
mặc dù còn là nước đang phát triển, thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm
trung bình thấp, tuy nhiên, trong những năm gần đây các chủ trương, đường lối phát
triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta đã đánh giá tầm quan trọng của các vấn đề
như: phát triển bền vững, phát triển kinh tế xanh, phát triển nền kinh tế tri thức. Các
chủ trương, đường lối này đã được cụ thể hóa thành các định hướng, chính sách,
quyết định quản lý trong quá trình phát triển kinh tế và CDCCKT của cả nước và
của các vùng kinh tế.
Tiến bộ KH-CN trên thế giới: Tiến bộ KH-CN ảnh hưởng đến quá trình
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH thông qua việc ứng dụng các thành quả nghiên
cứu vào cải tiến công nghệ sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm. KH-CN cung cấp
những ý tưởng, thiết kế, sản phẩm khoa học phục vụ nhu cầu con người, các doanh
nghiệp sẽ ứng dụng các thành quả nghiên cứu vào sản xuất. Các lĩnh vực KH-CN
mà nhiều nước ưu tiên phát triển trong thời gian tới như: công nghệ sinh học, gen và
vật liệu mới, công nghệ khai thác đại dương, công nghệ thông tin,... Những năm gần
đây công nghệ sinh học đã đóng góp lớn vào nâng cao NSLĐ, tạo ra nhiều gen và
giống mới cho năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế cao hơn. Công nghệ thông
tin ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong bối cảnh HNKTQT. Khai thác biển,
tận dụng thế mạnh về đại dương để phát triển kinh tế cũng là một hướng đi được
nhiều nước tập trung phát triển,...
b. Nhân tố nội tại (trong nước) ảnh hưởng đến CDCCKT của các vùng
Mô hình phát triển kinh tế: Mỗi quốc gia đều có những mô hình phát triển
kinh tế, các mô hình này chi phối sự phân bố sản xuất, phân công lao động xã hội,
định hướng phát triển ngành nghề của các vùng. Vì vậy, mô hình kinh tế sẽ có vai
trò quyết định đối với việc phát triển kinh tế và CDCCKT của các vùng kinh tế theo
hướng CNH, HĐH. Mô hình kinh tế có thể phát triển theo chiều rộng, trong đó tập
trung vào mở rộng quy mô sản xuất, khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều lao động
hoặc phát triển theo chiều sâu trên cơ sở tập trung huy động sức mạnh KH-CN và
nguồn nhân lực cao vào phát triển kinh tế. Mô hình kinh tế có thể được các quốc gia
điều chỉnh để phát triển phù hợp với bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội ứng với từng
giai đoạn. Một khi mô hình kinh tế đã có sự thay đổi thì CCKT của quốc gia và
53
CCKT của các vùng tất yếu phải được điều chỉnh cho phù hợp với các đặc điểm của
mô hình kinh tế mới. Ngay cả khi mô hình kinh tế không có sự thay đổi lớn thì
CCKT của quốc gia và CCKT của các vùng vẫn cần được điều chỉnh.
Thể chế kinh tế: Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH của một quốc gia và
các vùng kinh tế đạt được thành công cần phải có sự quản lý hiệu quả của nhà nước.
Điều này đòi hỏi đội ngũ quản lý có trình độ cao, tâm huyết với sự nghiệp phát triển
của cả dân tộc, được đào tạo bài bản và có lý tưởng cống hiến vì sự thịnh vượng
chung của xã hội, có trách nhiệm với cuộc sống vật chất, tinh thần của người dân ở
mọi tầng lớp trong xã hội. Bên cạnh đó, cần phải có hệ thống các văn bản như chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách kinh tế được ban hành một cách hiệu quả,
đóng góp đắc lực cho phát triển và CDCCKT của quốc gia và các vùng kinh tế theo
hướng CNH, HĐH. Hơn nữa, cần phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và những
cơ quan thực thi pháp luật, cơ quan bảo vệ pháp luật hoạt động bài bản để điều
chỉnh tốt các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là các quan hệ kinh tế trong quá trình
CDCCKT của quốc gia và các vùng kinh tế.
Đầu tư cho phát triển: Vốn đầu tư là một trong những yếu tố đóng vai trò
quan trọng hàng đầu để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Điều này được thể hiện
qua một số yếu tố sau: Thứ nhất, để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH thì cần phải
có một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đủ hiện đại và đồng bộ đáp
ứng yêu cầu của các ngành sản xuất hiện đại. Điều này không thể trở thành hiện
thực nếu thiếu vốn; Thứ hai, việc xây dựng nguồn nhân lực có trình độ đáp ứng quá
trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH cũng cần phải có nguồn vốn đủ mạnh để
đầu tư cho đào tạo cũng như cơ sở vật chất phục vụ quá trình đào tạo nhân lực; Thứ
ba, để có thể CDCCKT theo hướng CNH, HĐH thì việc đầu tư cho phát triển các
ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại cũng đòi hỏi nguồn vốn lớn, trong một số
trường hợp, vốn đầu tư đóng vai trò quyết định sự thắng lợi trong phát triển một số
ngành hiện đại. Vì thế, để CDCCKT của vùng theo hướng CNH, HĐH, các vùng
kinh tế cần tập trung đầu tư cho phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ theo
hướng hiện đại. Bên cạnh đó, đầu tư cho KH-CN, giáo dục - đào tạo để nâng cao
trình độ nhân lực của vùng cũng đóng vai trò quan trọng.
54
Chuyển dịch cơ cấu lao động: Đối với quá trình CDCCKT vùng theo
hướng CNH, HĐH thì bên cạnh vốn, cơ sở hạ tầng, thể chế thì nguồn nhân lực cũng
là một yếu tố đóng vai trò quan trọng. Một số yêu cầu về chuyển dịch cơ cấu lao
động để CDCCKT vùng theo hướng CNH, HĐH: Thứ nhất, việc chuyển dịch cơ
cấu lao động của vùng phải tạo điều kiện cho quá trình CDCCKT vùng theo đúng
định hướng CNH, HĐH; Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu lao động phải theo hướng tạo
ra nguồn nhân lực có trình độ để đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp và
dịch vụ hiện đại; Thứ ba, phải tạo ra một đội ngũ các nhà quản lý, tổ chức sản xuất
một cách chuyên nghiệp để phục vụ quá trình CDCCKT vùng theo hướng CNH,
HĐH một cách hiệu quả. Vì vậy, để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, cơ cấu lao
động của vùng cần phải được định hướng chuyển dịch theo hướng tập trung cho
phát triển công nghiệp và dịch vụ hiện đại. Lao động trong ngành nông nghiệp cần
giảm xuống và tăng tỷ trọng lao động các ngành phi nông nghiệp trong cơ cấu lao
động của toàn vùng. Cơ cấu lao động của vùng cần phải đảm bảo tỷ lệ lao động qua
đào tạo đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH.
Vị trí địa lý và các yếu tố tự nhiên: Vị trí địa lý là một yếu tố quan trọng để
các vùng kinh tế định hướng CDCCKT nhằm khai thác tốt những lợi thế so sánh
cho phát triển như: vị trí địa lý thuận lợi về giao thông, vị trí nằm trên hoặc gần với
tuyến liên vận quốc tế, vị trí nằm gần với những trung tâm kinh tế,... Bên cạnh đó,
các yếu tố tự nhiên cũng đóng vai trò quan trọng để hình thành cơ cấu ngành nghề
sản xuất và định hướng CDCCKT nhằm khai thác tốt các lợi thế về điều kiện tự
nhiên như: điều kiện đất đai, khí hậu, tài nguyên nước, các loại tài nguyên khoáng
sản, động thực vật, cảnh quan du lịch,...
Cơ sở hạ tầng: Để phát triển kinh tế và CDCCKT có hiệu quả theo hướng
CNH, HĐH, các vùng kinh tế cần phải xây dựng được cơ sở hạ tầng đảm bảo cho
sự phát triển. Cơ sở hạ tầng bao gồm có hạ tầng vật chất và hạ tầng xã hội. Những
yếu tố này phải được trang bị đồng bộ để các ngành, nghề vận hành hiệu quả theo
đúng những định hướng CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng
tốt sẽ là yếu tố quan trọng trong thu hút đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy
CDCCKT của vùng theo hướng CNH, HĐH. Một số hạng mục cơ sở hạ tầng quan
trọng đối với quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH như: Hệ thống giao thông
55
bao gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không được xây dựng và
một cách đồng bộ, thuận tiện trong kết nối giao thông liên vùng, kết nối với mạng
lưới giao thông quốc tế; Hệ thống cung cấp điện, nước, xử lý chất thải, hệ thống kho
bãi...hoạt động có chất lượng và đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất hiện đại;
Hệ thống các cơ quan quản lý, cơ quan nghiên cứu triển khai ứng dụng KH – CN
vào sản xuất, văn phòng đại diện, trung tâm thương mại, triển lãm, hội chợ...
Tiến bộ KH-CN: Quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH của các vùng
kinh tế cần phải gắn với việc ứng dụng KH-CN để hiện đại hóa nền sản xuất, nâng
cao hiệu quả kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh, giảm thời gian và sức lao
động. HNKTQT ngày càng phát triển, sự cạnh tranh giữa các nền kinh tế càng cao.
Vì vậy, nhu cầu ứng dụng KH-CN vào sản xuất ngày càng trở nên cần thiết, vai trò
của KH-CN ngày càng quan trọng đối với quá trình CDCCKT theo hướng hiện đại
hóa nền sản xuất.
Dân số, nguồn nhân lực và các yếu tố xã hội: Cùng với điều kiện hạ tầng
và vốn, cơ cấu dân số hợp lý, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng là những yếu tố
quan trọng ảnh hưởng sự thành công của quá trình CDCCKT theo hướng CNH,
HĐH của các vùng kinh tế. Các yếu tố xã hội cũng đóng vai trò thúc đẩy sự phát
triển nhanh hay chậm, ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình CDCCKT của các
vùng kinh tế. Các yếu tố xã hội cũng tác động đến việc xây dựng nguồn nhân lực
phục vụ cho quá trình CDCCKT của các vùng kinh tế theo hướng CNH, HĐH.
Sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp: Doanh nghiệp là tế bào cấu
thành nền kinh tế, là những chủ thể đóng vai trò quan trọng đối với quá trình
CDCCKT. Mỗi vùng kinh tế đều có hệ thống doanh nghiệp được hình thành dưới
tác động của các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội và các tiềm năng, lợi thế cho
phát triển kinh tế. CDCCKT của các vùng kinh tế phải được bắt đầu ngay từ việc
thay đổi tổ chức sản xuất, cơ cấu lao động và những cải cách của các doanh nghiệp.
Nhà nước đóng vai trò định hướng và điều hành, các doanh nghiệp là những chủ thể
thực hiện quá trình CDCCKT ở các cấp độ khác nhau. Một nền kinh tế mạnh phải
có những doanh nghiệp mạnh, có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế. Một
vùng kinh tế mạnh cần phải có hệ thống doanh nghiệp mạnh đóng góp hiệu quả cho
sự phát triển kinh tế vùng.
56
Lịch sử phát triển: Lịch sử phát triển là một trong những yếu tố đóng vai
trò khuyến khích các doanh nghiệp và người dân của một vùng kinh tế có thêm
động lực thôi thúc họ phải phát triển kinh tế. Lịch sử phát triển của vùng có thể ảnh
hưởng tích cực đến CDCCKT vùng theo hướng hiện đại hơn, hoạt động hiệu quả
hơn, tạo ra nhiều giá trị kinh tế hơn.
Nhu cầu của con người thay đổi và tăng lên không ngừng: Theo thời
gian, yêu cầu về chất lượng, chủng loại hàng hóa và độ thỏa dụng ngày một tăng
lên. Điều này đòi hỏi quá trình sản xuất phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu của người
tiêu dùng. Cơ cấu ngành sản xuất cũng phải thay đổi để phù hợp với nhu cầu thị
trường. Do vậy, quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH của các vùng kinh tế
chịu tác động lớn của việc thay đổi nhu cầu người tiêu dùng và chuyển dịch theo
hướng ngày càng hiện đại để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. 2.4. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN THEO
HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
2.4.1. CDCCKT của vùng ven biển theo hướng CNH, HĐH
CDCCKT vùng ven biển theo hướng CNH, HĐH cần đảm bảo các mục tiêu,
đặc trưng và yêu cầu phát triển của một vùng kinh tế theo hướng CNH, HĐH và
khai thác hiệu quả yếu tố biển để phát triển, tập trung vào các mục tiêu cơ bản sau:
Thứ nhất, một vùng ven biển cần CDCCKT theo hướng phát triển các ngành
công nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại.
Thứ hai, hướng tới việc nâng cao vị thế (kinh tế - xã hội – an ninh quốc
phòng), phát huy vai trò của vùng, đóng góp vào quá trình phát triển chung của đất
nước. CDCCKT vùng ven biển theo hướng CNH, HĐH cần phải đảm bảo các chỉ
tiêu cơ bản về xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.
Thứ ba, tăng cường năng lực cạnh tranh và phát triển những ngành kinh tế
trụ cột của vùng, đảm bảo tính liên vùng trong phát triển.
Thứ tư, đối với vùng ven biển quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
cần phải hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế biển một cách hiệu quả, đóng góp vào
quá trình ổn định, nâng cao đời sống người dân ven biển và đóng góp vào sự phát
triển chung của đất nước.
57
2.4.2. Đánh giá CDCCKT của vùng ven biển theo hướng CNH, HĐH
Để đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH đối với các vùng ven biển
cần lựa chọn bộ chỉ tiêu phù hợp để đánh giá CDCCKT vùng ven biển trên cơ sở
tham khảo phương pháp tiếp cận và bộ chỉ tiêu chung về đánh giá CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH. Lãnh thổ nước ta có các vùng ven biển khác nhau, mỗi vùng
ven biển có các tiềm năng, lợi thế cho phát triển, vị thế, vai trò đối với sự phát triển
kinh tế chung của toàn quốc khác nhau. Vì vậy, khi nghiên cứu CDCCKT của một
vùng ven biển cần căn cứ vào các đặc điểm của vùng ven biển đó để lựa chọn bộ chỉ
tiêu phù hợp để đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
Về yêu cầu lựa chọn bộ chỉ tiêu đánh giá CDCCKT vùng ven biển theo
hướng CNH, HĐH: Thứ nhất, bộ chỉ tiêu áp dụng đối với vùng ven biển cần phù
hợp với phương pháp tiếp cận và những chỉ tiêu cơ bản khi đánh giá CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH; Thứ hai, cần căn cứ vào vị trí, vai trò và các đặc điểm của vùng
ven biển để đưa ra các mức đánh giá phù hợp; Thứ ba, bộ chỉ tiêu phải đảm bảo
đánh giá được quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH; Thứ tư, bộ chỉ tiêu đối
với vùng ven biển cần thể hiện được mức độ thành công của phát triển kinh tế biển
gắn với mục tiêu CNH, HĐH; Thứ năm, bộ chỉ tiêu phù hợp với điều kiện số liệu
của vùng ven biển. Với những yêu cầu lựa chọn bộ chỉ tiêu như trên, nghiên cứu
này lựa chọn 4 nhóm chỉ tiêu để đánh giá CDCCKT vùng ven biển như sau:
a. Nhóm chỉ tiêu phản ánh các yếu tố đầu vào trực tiếp ảnh hưởng đến
CDCCKT vùng ven biển theo hướng CNH, HĐH:
Đối với nhóm chỉ tiêu này cần xem xét các chỉ tiêu quan trọng sau:
(1). Đầu vào khu vực công nghiệp và dịch vụ: Để CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH thì cần phải phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ hiện đại. Do
vậy, việc tập trung đầu tư cho phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ sẽ trực tiếp
ảnh hưởng đến sự thành công của quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
(2). Đầu tư cho phát triển KH-CN và Giáo dục và đào tạo: Đầu tư cho KH-
CN và Giáo dục và đào tạo cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao trình độ công
nghệ và nguồn nhân lực để đảm bảo thành công của quá trình CDCCKT theo hướng
58
CNH, HĐH. Nghiên cứu kinh nghiệm các nước tiến hành CNH thành công, đầu tư
cho KH-CN và Giáo dục và đào tạo cần đạt mức từ 8% tổng vốn đầu tư xã hội.
(3). Chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công
nghiệp và dịch vụ: Chuyển dịch cơ cấu lao động là yếu tố quan trọng vừa là đầu vào
ảnh hưởng đến quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, vừa là kết quả của quá
trình này.
(4). Ngoài 3 chỉ tiêu trên, một số chỉ tiêu khác cũng trực tiếp ảnh hưởng đến
quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH như: tỷ lệ lao động qua đào tạo, mức
độ tiếp cận thông tin, hiệu suất sử dụng vốn.
Quá trình CDCCKT chịu ảnh hưởng (tích cực và tiêu cực) của nhiều yếu tố.
Ngoài các yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, cần
nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố sau: mô hình kinh tế, thể chế kinh tế, sự
phát triển KH-CN, sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp, vị trí địa lý và điều kiện
tự nhiên, cơ sở hạ tầng, những ảnh hưởng mang tính quốc tế và khu vực,...
b. Nhóm chỉ tiêu phản ánh động thái và trình độ CDCCKT vùng ven biển theo
hướng CNH, HĐH
Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, các vùng ven biển cần phát triển khu
vực công nghiệp và dịch vụ hiện đại. Vì vậy, bộ chỉ tiêu đánh giá CDCCKT vùng
ven biển theo hướng CNH, HĐH cần đánh giá được động thái và trình độ phát triển
khu vực công nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại với một số chỉ tiêu cơ bản sau:
(1). Tốc độ tăng trưởng trung bình GTSX khu vực công nghiệp và dịch vụ; (2). Tốc
độ tăng NSLĐ trung bình khu vực công nghiệp và dịch vụ; (3). Sự thay đổi tỷ trọng
GDP (số điểm % thay đổi) của khu vực công nghiệp và dịch vụ so với tổng GDP;
(4). Tỷ lệ GTSX các ngành chế biến - chế tạo so với tổng GTSX khu vực công
nghiệp và Tỷ lệ GTSX các ngành dịch vụ hiện đại so với tổng GTSX của khu vực
dịch vụ.
Bên cạnh các chỉ tiêu cơ bản đánh giá CDCCKT theo hướng phát triển công
nghiệp và dịch vụ hiện đại, để đánh giá trình độ CDCCKT cần thông qua sự thay
đổi về vị thế của kinh tế vùng ven biển so với các vùng có quan hệ và so với cả
nước. Vì vậy, chỉ tiêu thay đổi quy mô GDP của vùng ven biển so với vùng lớn hơn
và so với cả nước cần được phân tích.
59
Đối với vùng ven biển, vấn đề phát triển kinh tế biển có vai trò quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế của vùng và quá trình CDCCKT của vùng. Vì vậy, bộ
chỉ tiêu đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH cần đánh giá được trình độ phát
triển kinh tế biển.
c. Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả CDCCKT vùng ven biển theo hướng CNH,
HĐH: Đối với kết quả của CDCCKT vùng ven biển theo hướng CNH, HĐH có
nhiều chỉ tiêu đánh giá. Tuy nhiên, dưới góc độ phân tích CDCCKT theo ngành cần
đánh giá một số chỉ tiêu cơ bản sau:
(1). Chuyển dịch cơ cấu giữa hai khối ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp.
(2). Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa hai khối ngành nông nghiệp và phi nông
nghiệp.
(3). Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả trực tiếp của quá trình CDCCKT vùng ven
biển theo hướng CNH, HDH: GDP bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng
kinh tế và NSLĐ.
d. Nhóm chỉ tiêu bổ trợ
Ngoài các chỉ tiêu trên, một số chỉ tiêu khác mang tính chất lan tỏa của quá
trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH nên được phân tích:
(1). Tỷ lệ thất nghiệp
(2). Tỷ lệ nghèo
(3). Tuổi thọ bình quân
(4). Tỷ lệ tăng dân số
Tiểu kết chương 2
Chương 2 của luận án đã phân tích các vấn đề về lý luận của CCKT và
CDCCKT về các mặt chất và lượng để góp phần làm rõ khái niệm về CCKT và
CDCCKT. Từ khái niệm chung về CCKT, CDCCKT và các quan niệm về CNH,
HĐH, chương 2 đã tập trung nghiên cứu, lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá CDCCKT
theo hướng CNH, HĐH (trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và quan điểm
của các học giả trong nước về các chỉ tiêu đánh giá quá trình CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH).
60
Từ các vấn đề lý luận về CDCCKT và đánh giá CDCCKT theo hướng CNH,
HDH, chương 2 đã tập trung phân tích để góp phần làm rõ lý luận về CDCCKT
vùng: (1). Phân tích khái niệm về vùng kinh tế về mặt địa lý và quản lý và CCKT
vùng; (2). Phân tích khái niệm, đặc trưng và các yếu tố tác động đến CDCCKT theo
vùng; (3). Quan niệm về CDCCKT vùng, CDCCKT vùng ven biển theo hướng
CNH, HĐH và đánh giá CDCCKT vùng ven biển theo hướng CNH, HĐH.
Đối với khái niệm về CDCCKT vùng, chương 2 đã đưa ra các cách tiếp cận
khi nghiên cứu CDCCKT của vùng, trong đó tập trung phân tích sâu về CDCCKT
của vùng theo ngành kinh tế. Đối với vấn đề CDCCKT của vùng theo hướng CNH,
HĐH, các vấn đề sau đã được phân tích: Về định hướng CDCCKT ngành của vùng
theo hướng CNH, HĐH (các vấn đề phân tích gồm: định hướng chung về chuyển
dịch cơ cấu ngành của vùng, định hướng phát triển công nghiệp, nông nghiệp và
dịch vụ theo hướng CNH, HĐH). Về đặc trưng CDCCKT vùng theo hướng CNH,
HĐH (các vấn đề phân tích gồm: đặc trưng biến đổi về lượng và chất, sự tham gia
của nhà nước và các chủ thể kinh tế, CDCCKT vùng trong bối cảnh HNKTQT và
sự chuyển dịch của các bộ phận cấu thành CCKT vùng).
Trên cơ sở lý thuyết về CDCCKT vùng theo hướng CNH, HDH, chương 2
đã đưa ra các quan niệm về CDCCKT vùng ven biển theo hướng CNH, HĐH và lựa
chọn các chỉ tiêu đánh giá quá trình CDCCKT vùng ven biển theo hướng CNH,
HĐH. Bộ chỉ tiêu đánh giá CDCCKT được phân thành các nhóm chỉ tiêu cơ bản:
(1). Nhóm chỉ tiêu phản ánh các yếu tố đầu vào, ảnh hưởng đến CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH; (2). Nhóm chỉ tiêu phản ánh động thái và trình độ CDCCKT
theo hướng CNH, HĐH; (3). Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH và (4). Một số chỉ tiêu bổ trợ.
61
Chương 3
ĐÁNH GIÁ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ
THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
3.1. TỔNG QUAN VỀ VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ
3.1.1. Diện tích, dân số và các tỉnh trong vùng VBBB
Theo Quyết định số 865/QĐ-TTg Vùng duyên hải Bắc Bộ (luận án này gọi là vùng VBBB) có diện tích tự nhiên hơn 12.000 km2 gồm toàn bộ ranh giới hành
chính thành phố Hải Phòng và 4 tỉnh: Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định và Ninh
Bình. Dự báo dân số toàn vùng đến năm 2015 có khoảng 8,3 - 8,65 triệu người, dự
kiến đến năm 2025 có khoảng 8,7 - 9 triệu người, với dân số đô thị khoảng 2,5-2,8
triệu người vào năm 2015 và khoảng 4,5 - 5 triệu người vào năm 2025 [11].
Hình 3.1: Bản đồ vùng VBBB
Nguồn: Quy hoạch xây dựng Vùng duyên hải Bắc Bộ [11]
Về quy hoạch sử dụng đất, đến năm 2015 đất xây dựng đô thị khoảng 40.280
đến 45.100 ha chiếm 3,75% diện tích tự nhiên. Đất công nghiệp khoảng 20.500 -
27.500 ha chiếm 2,29% diện tích đất tự nhiên. Dự kiến năm 2025 đất xây dựng đô
62
thị khoảng 72.500 - 78.500 ha, chiếm 6,54% diện tích tự nhiên. Đất xây dựng công
nghiệp khoảng 44.000 - 53.000 ha, chiếm 4,42% diện tích tự nhiên [11].
Thành phố Hải Phòng: Theo Quyết định số 1448 /QĐ-TTg ngày 16/9/2009
của Thủ tướng Chính phủ, Hải Phòng là trung tâm kinh tế - khoa học - kỹ thuật tổng
hợp của vùng VBBB và là một trong những trung tâm phát triển của VKTTĐ Bắc
Bộ và cả nước. Thành phố Hải Phòng có 7 quận nội thành, 6 huyện ngoại thành và 2
huyện đảo. Thành phố Hải Phòng có lợi thế thuận lợi khai thác về giao thông là
đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không [49]. Theo số liệu của Tổng cục
Thống kê Việt Nam năm 2012, thành phố Hải Phòng có diện tích tự nhiên là 1.508 km2 với dân số khoảng 1.904.100 người. Thành phố Hải Phòng có một số tiềm năng cơ bản cho phát triển như: Thuận lợi về vị trí giao thông (Hải Phòng có khả năng
khai thác lợi thế thuận tiện về giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và
đường không); Hiện tại, Hải Phòng là thành phố lớn thứ 3 của Việt Nam, có vị trí
quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và
cả nước. Hải Phòng là thành phố cảng với những cảng biển nước sâu quan trọng, là
đầu mối giao thông quan trọng đối với vùng đồng bằng sông Hồng, vùng KTTĐ
Bắc Bộ, tuyến liên vận hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam -
Trung Quốc; Thành phố Hải Phòng có tiềm năng du lịch với các địa danh nổi tiếng
như: khu du lịch biển Đồ Sơn, khu du lịch biển - quần đảo Cát Bà, sân golf Cái Giá,
núi Voi, động Đá Hoa, khu du lịch suối nước khoáng Tiên Lãng...
Tỉnh Quảng Ninh: Quảng Ninh là tỉnh được coi là đầu tầu của VKTTĐ Bắc
Bộ, là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của cả nước. Quảng Ninh có 3 thành phố
trực thuộc và 3 KKT (Vân Đồn và hai trung tâm thương mại là Hạ Long, Móng Cái)
và là đầu mối giao thương giữa Việt Nam với Trung Quốc [50]. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2012, tỉnh Quảng Ninh có diện tích tự nhiên là 6.102,3 km2
với dân số khoảng 1.177.200 người. Quảng Ninh là một trong bốn trung tâm du lịch
lớn của cả nước với di sản thiên nhiên như Vịnh Hạ Long. Quảng Ninh là tỉnh có lợi
thế về giao thông để phát triển KT-XH do nằm trên tuyến liên vận quốc tế hai hành
lang-một vành đai. Quảng Ninh có thể khai thác lợi thế về giao thông đường bộ và
63
đường biển cũng như đẩy mạnh giao thương với các nước qua hệ thống cảng biển.
Quảng Ninh là tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, có hệ thống cửa
khẩu phân bố trên dọc tuyến biên giới, đặc biệt cửa khẩu quốc tế Móng Cái là nơi
hội tụ giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ và thu hút các nhà đầu tư. Quảng Ninh
còn là cửa ngõ giao dịch xuất nhập khẩu với Trung Quốc và các nước trong khu
vực. Về tiềm năng du lịch, Quảng Ninh có các địa danh nổi tiếng như: Vịnh Hạ
Long 2 lần được Tổ chức UNESCO tôn vinh, khu du lịch Yên Tử, bãi cọc Bạch
Đằng, đền Cửa Ông, đình Quan Lạn, đình Trà Cổ, núi Bài Thơ...
Tỉnh Thái Bình: Thái Bình là tỉnh ven biển nằm tiếp giáp với 5 tỉnh, thành
phố: Hải Dương ở phía Bắc, Hưng Yên ở phía Tây Bắc, Hải Phòng ở phía Đông
Bắc, Hà Nam ở phía Tây, Nam Định ở phía Tây và Tây Nam, phía Đông là biển
Đông. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2012, tỉnh Thái Bình có diện tích là 1.570 km2, dân số khoảng 1.787.300 người. Thái Bình có lợi thế về phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp và những ngành công nghiệp sử dụng nhiều nhân lực. Thái Bình
có các khoáng sản chính như: khí mỏ, nước khoáng, than... Thái Bình là tỉnh thuận
lợi về giao thông với các tuyến đường bộ và đường thủy. Về tiềm năng du lịch, Thái
Bình là tỉnh có nhiều loại hình văn hóa truyền thống: 82 lễ hội đặc sắc, 16 loại hát
múa, trò chơi như: chiếu chèo, múa rối nước... Thái Bình có các khu di tích nổi
tiếng như: đền thờ vương triều nhà Trần, chùa Chành, chùa Keo được xây dựng từ
thế kỉ 11 triều nhà Lý, đền Tiên La, đền Đồng Bằng, đình Nhân Thanh.
Tỉnh Nam Định: Nam Định là tỉnh nằm ở tiếp giáp với tỉnh Thái Bình ở
phía Bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía Nam, tỉnh Hà Nam ở phía Tây Bắc, phía Đông giáp
biển. Nam Định có 1 thành phố và 09 huyện, 20 phường và 15 thị trấn. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2012, tỉnh Nam Định có diện tích là 1.652,6 km2, dân số khoảng 1.836.900 người. Nam Định là tỉnh có lợi thế về giao thông đường bộ,
đường sắt và đường sông và đường biển và nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 90km
[51]. Nam Định có các ngành công nghiệp dệt may, công nghiệp cơ khí, công
nghiệp chế biến, các ngành nghề truyền thống... Nam Định từng là một trong những
trung tâm công nghiệp dệt của cả nước và trung tâm thương mại - dịch vụ, cửa ngõ
64
phía Nam của đồng bằng sông Hồng. Về tiềm năng du lịch, Nam Định là tỉnh có
nhiều loại hình văn hóa truyền thống thu hút du khách như: chợ Viềng, lễ khai ấn
đền Trần, nhà hát chèo Nam Định,... Bên cạnh đó Nam Định cũng có nhiều di tích
lịch sử như: khu di tích Đền Trần, chùa Cổ Lễ, hội Phủ Giầy, quần thể các di tích
thờ Vua Đinh Tiên Hoàng, tháp chuông chùa Phổ Minh...
Tỉnh Ninh Bình: Ninh Bình là tỉnh nằm giáp với tỉnh Hòa Bình và Hà Nam
ở phía Bắc, Nam Định ở phía Đông, Thanh Hóa ở phía Tây, biển ở phía Đông Nam.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2012, tỉnh Ninh Bình có diện tích là 1.376,7 km2, dân số khoảng 915.900 người. Ninh Bình là tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú và vượt trội so với các tỉnh phía Bắc khác với nhiều danh lam, thắng
cảnh và di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như: cố đô Hoa Lư, chùa Bái Đính, khu du
lịch sinh thái Tràng An, khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, vườn quốc gia Cúc
Phương, nhà thờ Phát Diệm,... Ninh Bình nằm trên tuyến đường sắt Bắc-Nam, có
thể khai thác lợi thế giao thông đường sông, đường bộ, đường biển và đường hàng
không [52]. Về tiềm năng phát triển công nghiệp, Ninh Bình có tiềm năng phát triển
công nghiệp vật liệu xây dựng, đặc biệt là sản xuất xi măng. Bên cạnh đó là các
làng nghề thủ công truyền thống như thêu ren ở Hoa Lư, dệt chiếu và làm hàng cói
mỹ nghệ, đan lát mây tre, sản xuất đồ đá mỹ nghệ...
3.1.2. Định hướng phát triển không gian vùng VBBB
Theo Quyết định 865/QĐ-TTg [11], vùng VBBB phát triển theo hướng vùng
đô thị đa cực, phân bố theo tuyến liên kết không gian giữa thành phố Hải Phòng -
Hạ Long (là đô thị trung tâm vùng) với các đô thị trung tâm tỉnh lỵ trên cơ sở các
trục không gian chính: trục không gian quốc lộ 18, trục không gian quốc lộ 10, trục
không gian tuyến cao tốc ven biển vùng VBBB, trục không gian Đông Tây nối vùng
châu thổ sông Hồng với Vùng Thủ đô Hà Nội. Không gian vùng VBBB được tổ
chức thành 2 vùng: vùng đô thị hạt nhân và vùng phát triển đối trọng.
Vùng đô thị hạt nhân: Thành phố Hải Phòng - Hạ Long là động lực để phát
triển vùng VBBB và khẳng định vai trò cấp độ quốc gia, quốc tế với các dịch vụ:
thương mại, du lịch, cảng biển, công nghiệp trong mối liên kết với Vùng Thủ đô Hà
Nội và các trung tâm phân vùng.
65
Hình 3.2: Bản đồ thể hiện mối liên kết vùng trong phát triển vùng VBBB
Nguồn: Quy hoạch xây dựng Vùng duyên hải Bắc Bộ [11]
Vùng phát triển đối trọng: Gồm 2 phân vùng với các đô thị tỉnh lỵ đóng vai
trò hạt nhân phát triển [11]:
Phân vùng phía Bắc: Không gian liên kết phát triển theo quốc lộ 18 và
đường cao tốc Hà Nội - Hạ Long - Móng Cái gồm các đô thị phân bố theo dải:
Đông Triều - Mạo Khê - Uông Bí - Cẩm Phả - Tiên Yên - Đầm Hà - Quảng Hà -
Móng Cái và KKT Vân Đồn. Là trung tâm công nghiệp: luyện kim, năng lượng,
đóng tàu, dịch vụ, cảng biển, khai thác mỏ và trung tâm dịch vụ du lịch quốc gia,
quốc tế với di sản vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long.
Phân vùng phía Nam: gồm 3 tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Trung
tâm phân vùng là thành phố Nam Định (phát triển thành trung tâm vùng Nam sông
Hồng) và đô thị trung tâm tỉnh Thái Bình, Ninh Bình. Phát triển các đô thị ven biển:
Diêm Điền, Tiền Hải, Hải Thịnh, Phát Diệm. Phát triển các đô thị mới ở khu vực có
tiềm năng phát triển: Hùng Thắng, Ngô Đồng, Quất Lâm, Cồn, Rạng Đông gắn với
các khu bảo tồn thiên nhiên và rừng quốc gia Cúc Phương, khu Tràng An. Phân
66
vùng bảo đảm yêu cầu an ninh lương thực, phát triển công nghiệp đóng tàu, chế
biến thủy, hải sản, nông sản, trung tâm văn hóa - giáo dục và đào tạo, dịch vụ và là
một trung tâm du lịch quốc gia.
Hình 3.3: Bản đồ thể hiện mối quan hệ giao thương quốc tế vùng VBBB
Nguồn: Quy hoạch xây dựng Vùng duyên hải Bắc Bộ [11]
Hệ thống đô thị được phân như sau:
Các thành phố cấp vùng: Hải Phòng và Hạ Long là trung tâm tổng hợp dịch
vụ hoạt động kinh tế biển của Bắc Bộ, đồng thời là cửa ngõ chính ra biển của 2
hành lang kinh tế với phía Nam Trung Quốc, là đô thị hướng biển gắn với công
nghiệp - dịch vụ cảng biển, dịch vụ thương mại, tài chính ngân hàng, dịch vụ du
lịch, trung tâm y tế, giáo dục và đào tạo.
Đô thị cấp phân vùng và vùng tỉnh gồm các thành phố: Móng Cái (trung tâm
phân vùng phía Bắc), Nam Định (trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng). Tỉnh
67
Thái Bình, Ninh Bình phát triển theo hướng thúc đẩy các chức năng chuyên ngành,
đầu tư xây dựng hạ tầng xã hội – kỹ thuật gắn các vùng công nghiệp và dịch vụ đô
thị, thu hút lao động và phát triển các công trình lớn của vùng.
Các đô thị chuyên ngành: Chủ yếu gắn liền các khu du lịch, KKT, KCN cao
như Vân Đồn, Cát Bà, Đồ Sơn, Cát Hải, Tràng An,…
Các đô thị, thị trấn, huyện lỵ: Là trung tâm hành chính - chính trị cấp huyện,
trung tâm công nghiệp vừa và nhỏ, dịch vụ dân cư nông nghiệp, thúc đẩy CNH,
HĐH nông nghiệp - nông thôn.
Hình 3.4: Bản đồ thể hiện mạng lưới đô thị vùng VBBB
Nguồn: Quy hoạch xây dựng Vùng duyên hải Bắc Bộ [11]
3.1.3. Định hướng phát triển mạng lưới giao thông vùng VBBB
Vùng VBBB sẽ phát triển hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường
thủy, đường hàng không theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh, nhằm kết nối một cách
đồng bộ, thuận lợi giữa các địa phương, giữa vùng với các vùng lân cận và các tỉnh
68
phía Nam Trung Quốc, làm động lực thúc đẩy phát triển KT-XH của các tỉnh trong
vùng, định hướng cơ bản phát triển mạng lưới giao thông vùng VBBB theo quy
hoạch xây dựng như sau [11]:
Đường bộ Các tuyến đường cao tốc quan trọng: Các tuyến kết nối trung tâm vùng
VBBB với Vùng Thủ đô Hà Nội đã và đang được định hướng xây dựng: đường cao
tốc Hà Nội – Hải Phòng, đường cao tốc Nội Bài – Hạ Long – Móng Cái, đường cao
tốc Bắc – Nam, đường cao tốc ven biển (theo Nghị quyết số 09/NQ-TW về chiến
lược biển Việt Nam đến năm 2020).
Cải tạo, nâng cấp quốc lộ, tỉnh lộ: Vùng VBBB sẽ hoàn thiện việc xây dựng
đường gom dọc tuyến quốc lộ 5, quốc lộ 4B thuộc vành đai I, quốc lộ 279 thuộc
vành đai II, quốc lộ 37 thuộc vành đai III, hệ thống đường gom dọc quốc lộ 10. Cải
tạo nâng cấp các quốc lộ 12B, 39, 21B, 37, 18C. Nâng cấp một số tỉnh lộ quan trọng
lên quốc lộ, đưa một số tuyến huyện lộ lên tỉnh lộ, cải tuyến hoặc mở một số tuyến
mới ở những khu vực cần thiết nhằm đạt tiêu chuẩn cấp III, IV.
Xây mới quốc lộ, tỉnh lộ: Xây dựng mới quốc lộ 21A, tuyến đường nối Nam
Định - Hà Nam - Hưng Yên, tuyến Nam Định - Lâm - Thiên Tôn nối với đường Hồ
Chí Minh và tuyến đường nút giao Liên Tuyền (Phủ Lý - Hà Nam) vượt sông Hồng
đến tỉnh lộ 217 của tỉnh Thái Bình và nối với quốc lộ 10. Hoàn chỉnh tuyến đường
vành đai biên giới, đường tuần tra trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh theo dự án đường
biên giới do Bộ Quốc phòng đang triển khai. Xây dựng một số tuyến mới nhằm kết
nối thuận tiện hơn giữa các tỉnh Thái Bình và Nam Định với Vùng Thủ đô.
Đường sắt Đường sắt quốc gia: Xây dựng mới các tuyến đường sắt quốc gia (theo tiêu
chuẩn đường 1,435 m) đáp ứng nhu cầu vận tải của các hướng, đường sắt cao tốc
Hà Nội - Hải Phòng đến cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng và đường sắt chạy song
song với quốc lộ 4B từ Lạng Sơn đến Quảng Ninh tới cảng Mũi Chùa.
Đường sắt nội vùng: Xây dựng mới tuyến đường sắt Hạ Long - Móng Cái,
tuyến đường sắt ven biển nối Nam Định - Thái Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Nâng cấp các tuyến đường hiện có vào cấp kỹ thuật quy định như đường sắt Bắc -
Nam, đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, đường sắt Kép - Bãi Cháy. Xây dựng mới
69
tuyến Yên Viên - Phả Lại - Bãi Cháy và xây dựng một số đoạn tuyến, các đường
nhánh nối với cảng, KCN, KKT và kết nối với các tuyến hiện tại.
Đường thủy Đường biển: Xây dựng cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng để có thể tiếp nhận
tàu từ 30.000 DWT - 80.000 DWT. Xây dựng mới cảng chuyên dùng Hải Hà phục
vụ cho công nghiệp nặng và năng lượng. Cải tạo nâng cấp cảng than Cẩm Phả, cảng
Hòn Nét phục vụ cho ngành công nghiệp khai khoáng. Xây dựng các bến còn lại
của cảng Cái Lân, Đình Vũ. Xây dựng mới cảng hành khách quốc tế Hòn Gai, cảng
Hải Phòng: duy trì luồng vào cảng Hải Phòng để cho tàu 10.000 DWT đến 20.000
DWT ra vào. Di chuyển cảng Hoàng Diệu để xây dựng đô thị và cảng hành khách
quốc tế và xây dựng cảng, trung tâm hậu cần tìm kiếm cứu nạn.
Các cảng địa phương: Nâng cấp cải tạo các cảng hiện có như cảng Mũi
Chùa, Vạn Hoa, Vạn Gia, Cái Rồng, Dân Tiến, Điền Công (Quảng Ninh), cảng
Diêm Điền (Thái Bình), cảng Hải Thịnh (Nam Định) phục vụ phát triển kinh tế địa
phương, có thể tiếp nhận tàu từ 1.000 DWT – 2.000 DWT.
Đường sông: Cải tạo, hoàn thiện các tuyến vận tải thủy chính: sông Đá Bạc,
sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông Lạch Tray, sông Văn Úc, sông Thái Bình, sông
Luộc, sông Trà Lý, sông Hồng, sông Ninh Cơ, sông Đáy,… Xây dựng mới cảng
Nam Định, cảng Tân Đệ trên sông Hồng. Cải tạo hệ thống cảng sông quốc gia bao
gồm: các cảng thuộc Hải Phòng, cảng Nam Định và cảng Ninh Phúc,… Cải tạo, xây
dựng hệ thống cảng, bến bãi địa phương và các cảng chuyên dùng khác.
Các cảng tiềm năng và cảng cửa ngõ của khu vực phía Bắc (giai đoạn 2010 -
2025): cảng Cẩm Phả chuyên dùng phục vụ cho công nghiệp khai khoáng, công
nghiệp vật liệu xây dựng cho tàu trọng tải 30.000 DWT hoặc lớn hơn.
Đường hàng không: Nâng cấp cảng hàng không Cát Bi trở thành cảng hàng
không quốc tế dự bị cho sân bay quốc tế Nội Bài. Duy trì, nâng cấp sân bay quân sự
Kiến An. Xây dựng mới sân bay Vân Đồn và xây dựng các sân bay taxi tại các địa
điểm thích hợp để phục vụ du lịch, cứu hộ, cứu nạn, kinh tế đối ngoại,… (tại đảo
Bạch Long Vĩ, đảo Cô Tô, đảo Cát Bà, Đồ Sơn, Tiền Hải, Nghĩa Hưng, Giao Thủy,
Tràng An,…).
70
3.2. LỰA CHỌN BỘ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TỀ
VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ
Để đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH cần lựa chọn bộ chỉ tiêu đặc
thù của vùng VBBB trên cơ sở bộ chỉ tiêu chung được áp dụng đối với cả nước, của
vùng ven biển và các đặc điểm của vùng VBBB. Nghiên cứu này lựa chọn bộ chỉ
tiêu đánh giá CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH trên cơ sở các căn cứ
sau: Thứ nhất, bộ chỉ tiêu cần phù hợp với phương pháp tiếp cận và những chỉ tiêu
chung khi đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH; Thứ hai, tham khảo kinh
nghiệm quốc tế và trong nước về đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH; Thứ
ba, đảm bảo đánh giá được quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH (trong đó,
các mục tiêu cơ bản cần phải được đánh giá như: phát triển khu vực công nghiệp và
dịch vụ hiện đại, CDCCKT từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, một số chỉ tiêu
phản ánh kết quả CDCCKT của vùng VBBB so với các mức chuẩn về kết quả của
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH); Thứ tư, bộ chỉ tiêu đối với vùng VBBB cần thể
hiện được đặc thù của vùng ven biển, trong đó kinh tế biển là một yếu tố quan trọng
đối với CDCCKT vùng VBBB; Thứ năm, bộ chỉ tiêu đối với vùng VBBB phải phù
hợp với điều kiện số liệu và khả năng thu thập số liệu của vùng VBBB.
Trên cơ sở các căn cứ nêu trên, nghiên cứu này đã lựa chọn 4 nhóm chỉ tiêu
để đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH của vùng VBBB: (1). Nhóm chỉ tiêu
phản ánh yếu tố đầu vào trực tiếp ảnh hưởng đến CDCCKT vùng VBBB theo
hướng CNH, HĐH; (2). Nhóm chỉ tiêu đánh giá động thái và trình độ CDCCKT
vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH; (3). Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả
CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH; (4). Nhóm chỉ tiêu bổ trợ đánh giá
CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH.
3.2.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh các yếu tố đầu vào trực tiếp ảnh hưởng đến
CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH
(1). Đầu tư vào khu vực công nghiệp, khu vực dịch vụ và khu vực nông nghiệp
(2). Đầu tư cho phát triển KH-CN và giáo dục và đào tạo
(3). Chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công
nghiệp và dịch vụ
71
(4). Một số yếu tố ảnh hưởng: tỷ lệ lao động qua đào tạo, mức độ tiếp cận thông
tin, hiệu suất sử dụng vốn
(Ý nghĩa, phương pháp đo lường và đánh giá đối với các chỉ tiêu trên được nêu
trong phụ lục 7)
Bên cạnh các chỉ tiêu trên cần xét đến các yếu tố tác động (thuận lợi, khó khăn
nội tại và từ bên ngoài) đến CDCCKT sau: mô hình kinh tế, thể chế kinh tế, sự phát
triển KH-CN, sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp, vị trí địa lý và điều kiện tự
nhiên, cơ sở hạ tầng, những ảnh hưởng mang tính quốc tế và khu vực.
3.2.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh động thái và trình độ CDCCKT vùng VBBB
theo hướng CNH, HĐH
(1). CDCCKT theo hướng phát triển công nghiệp hiện đại
- Tốc độ tăng trưởng trung bình GTSX khu vực công nghiệp
- Tốc độ tăng NSLĐ trung bình khu vực công nghiệp
- Sự thay đổi tỷ trọng GDP (số điểm % thay đổi) của khu vực công
nghiệp so với tổng GDP
- Tỷ lệ GTSX các ngành chế biến - chế tạo so với tổng GTSX khu vực
công nghiệp
(2). CDCCKT theo hướng phát triển dịch vụ hiện đại
- Tốc độ tăng trưởng trung bình GTSX khu vực dịch vụ
- Tốc độ tăng NSLĐ trung bình khu vực dịch vụ
- Sự thay đổi tỷ trọng GDP (số điểm % thay đổi) của khu vực dịch vụ
so với tổng GDP
- Tỷ lệ GTSX các ngành dịch vụ hiện đại so với tổng GTSX khu vực
dịch vụ
(3). Sự thay đổi về quy mô GDP vùng VBBB so với GDP vùng ĐBSH và so với cả
nước
(4). Phát triển kinh tế biển
(Ý nghĩa, phương pháp đo lường và đánh giá đối với các chỉ tiêu trên được nêu
trong phụ lục 8)
72
3.2.3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
(1). Chuyển dịch cơ cấu giữa hai khối ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp
(2). Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa hai khối ngành nông nghiệp và phi nông
nghiệp
(3). Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản: GDP bình quân đầu người, tốc độ tăng
trưởng kinh tế và NSLĐ
(Ý nghĩa, phương pháp đo lường và đánh giá đối với các chỉ tiêu trên được nêu
trong phụ lục 9)
3.2.4. Nhóm chỉ tiêu bổ trợ đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
(1). Tỷ lệ thất nghiệp
(2). Tỷ lệ nghèo
(3). Tuổi thọ bình quân
(4). Tỷ lệ tăng dân số
(Ý nghĩa, phương pháp đo lường và đánh giá đối với các chỉ tiêu trên được nêu
trong phụ lục 10)
3.3. ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
3.3.1. Điều kiện thuận lợi cho CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH
a. Nhóm yếu thuận lợi từ bên ngoài tác động đến CDCCKT vùng VBBB
HNKTQT và những ảnh hưởng từ các nước trong khu vực: Vùng VBBB
có vị trí thuận lợi về giao thương quốc tế với hệ thống giao thông đường bộ, đường
sắt, đường biển và đường hàng không. Vì vậy, trong bối cảnh HNKTQT, vùng
VBBB có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế: tiếp cận thị trường, thu hút đầu tư,
đào tạo nhân lực.
Với vị trí cửa ngõ để Trung Quốc đi vào khu vực Đông Nam Á, vùng VBBB có thể khai thác kế hoạch phát triển “hai hành lang và một vành đai kinh tế trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc”. Phía Tây Nam, Trung Quốc đã mở 3 con đường ra biển thông qua Quảng Đông, qua Lào sang Campuchia và qua Myanmar. Tuyến hành lang xuyên đi qua lãnh thổ Việt Nam được nhiều nước quan tâm. Vùng VBBB
73
có hệ thống giao thông khá phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế và hợp tác quốc tế. Nằm trong vòng cung biển Đông - biển Trung Quốc - biển Nhật Bản, có đường biên giới trên biển và đất liền với Trung Quốc, vùng VBBB có vị trí địa chính trị - kinh tế và tiềm năng mở rộng giao lưu quốc tế về kinh tế thương mại, văn hóa và đối ngoại quan trọng nhất của Việt Nam ở khu vực phía Bắc.
Trung Quốc là một thị trường rộng lớn có thể đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hàng hóa từ cao cấp đến các mặt hàng như nông sản, hải sản. Thực tế những năm qua cho thấy thị trường Trung Quốc đã tiêu thụ một số lượng hàng hóa nông sản và hải sản rất lớn, bên cạnh những mặt hàng đã có truyền thống tiêu thụ tại thị trường Trung Quốc, vùng VBBB có thể tập trung vào những sản phẩm khác để đa dạng hóa cơ cấu sản xuất công nghiệp và phát triển các ngành dịch vụ, đặc biệt là tập trung thu hút một lượng lớn khách du lịch từ phía Trung Quốc.
Bên cạnh Trung Quốc, các nước khác trong khu vực như Thái Lan, Ma-lai- xi-a, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin cũng đang là những nước cạnh tranh với Việt Nam về cung cấp các sản phẩm cho thị trường thế giới, thậm chí cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm với ngay cả thị trường trong nước trong đó có vùng VBBB. Vì vậy, áp lực cạnh tranh từ Trung Quốc và các nước trong khu vực sẽ ảnh hưởng đến quá trình
CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH.
Về cơ chế và thể chế (nhà nước, pháp luật và thể chế kinh tế) Trên cơ sở hệ thống pháp luật Việt Nam đang dần hoàn thiện, các tỉnh thuộc vùng VBBB đang cố gắng nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng các cán bộ làm việc trong các cơ quan nhà nước ở địa phương, trong đó có đội ngũ quản lý kinh tế. Tiến hành cải cách thủ tục hành chính theo hướng thông thoáng, khuyến khích người dân và doanh nghiệp phát triển sản xuất, góp phần hình thành tâm lý phát triển. Các tỉnh đã từng bước sử dụng "chính phủ điện tử" nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm về nhân sự, giảm các thủ tục và góp phần minh bạch hóa các chủ trương,
chính sách, đáng chú ý là Đề án 30, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước ở địa phương.
Thuận lợi trong quan hệ liên kết vùng Vùng VBBB có điều kiện thuận lợi về liên kết vùng để phát triển kinh tế:
Bên cạnh tài nguyên thiên nhiên, vùng VBBB có vị trí thuận lợi về giao thông
74
đường biển, đường bộ, đường hàng không và gần với trung tâm kinh tế, chính trị,
khoa học của cả nước. Những năm gần đây kinh tế trong nước phát triển nhanh, nhu
cầu tiêu dùng ngày càng tăng lên và phong trào người Việt dùng hàng Việt ngày
càng mạnh mẽ. Đây là những lợi thế để các doanh nghiệp vùng VBBB có thể sản
xuất phục vụ người tiêu dùng trong nước. Vùng VBBB có khả năng khai thác các
thị trường rộng lớn bên ngoài như Trung Quốc, các thị trường lớn bên trong như
Thủ đô Hà Nội và các thành phố lớn trong nội vùng và vùng ĐBSH như: Hải
Phòng, Hạ Long, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên, Thái Nguyên. Hơn
nữa, do có vị trí thuận lợi về giao thông nên lượng du khách quốc tế đến Việt Nam
qua các tỉnh VBBB ngày một tăng, điều này tạo điều kiện để vùng VBBB cũng có
thể sản xuất các mặt hàng phục vụ du khách quốc tế và xuất khẩu.
Thuận lợi về phát triển KH-CN Với lợi thế gần thủ đô Hà Nội và các tỉnh trong VKTTĐ phía Bắc, vùng
VBBB có lợi thế về đào tạo nguồn nhân lực cho nền sản xuất hiện đại, người lao
động có thể trực tiếp được đào tạo trong các doanh nghiệp có nền tảng công nghệ
hiện đại. Hiện nay, thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh là 2 địa phương đang
có ưu thế thuận lợi hơn so với toàn vùng về phát triển KH-CN, điều này được thể
hiện qua một số yếu tố sau: Các doanh nghiệp lớn với công nghệ hiện đại cũng tập
trung nhiều ở các tỉnh thuộc vùng VBBB như Quảng Ninh, Hải Phòng tạo ra nhu
cầu về nguồn lao động có trình độ, đây cũng sẽ tạo ra một động lực lớn để người lao
động và người dân đầu tư vào việc nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu của nền
sản xuất hiện đại; Hải Phòng và Quảng Ninh là có nhiều lợi thế để thu hút đầu tư
nước ngoài và đi kèm theo việc thu hút đầu tư nước ngoài là các cơ hội để tiếp cận
với nền sản xuất có công nghệ và trình độ quản lý hiện đại.
Với xu thế công nghệ thông tin phát triển mạnh như ngày nay, việc tìm hiểu
và áp dụng KH-CN ở các doanh nghiệp thuộc vùng VBBB trở thành nhu cầu tất yếu
và có nhiều điều kiện thuận tiện hơn. Với những động lực là những lợi thế sẵn có
(vị trí địa kinh tế, nguồn năng lượng, quỹ đất, nguồn lao động rẻ,...) và chủ trương
hỗ trợ phát triển CNH, HĐH của nhà nước, việc ứng dụng KH-CN hiện đại vào sản
xuất và quá trình CNH tại vùng VBBB sẽ thuận lợi.
75
b. Nhóm các yếu tố nội tại thuận lợi cho CDCCKT vùng VBBB
Thuận lợi về vị trí, vai trò của vùng
Theo Quyết định số 865/QĐ-TTg, vùng VBBB được định hướng sẽ trở thành
vùng kinh tế quan trọng tầm quốc gia và quốc tế. Mục tiêu là phát huy mọi tiềm
năng lợi thế để phát triển vùng VBBB thành vùng kinh tế tổng hợp có vai trò quan
trọng trong sự nghiệp phát triển KT-XH của Việt Nam. Vùng VBBB sẽ phát triển
theo hướng vùng đô thị đa cực, phát triển kinh tế, công nghiệp, dịch vụ tập trung
trên trục kinh tế Hải Phòng-Hạ Long-Móng Cái. Trong đó, Hải Phòng, Hạ Long là
những đô thị trung tâm [11]. Vùng VBBB có mối quan hệ chặt chẽ với các vùng
phát triển mạnh của cả nước đó là vùng ĐBSH và VKTTĐ Bắc Bộ.
Thuận lợi về điều kiện hạ tầng giao thông
Với vị trí thuận lợi là nằm trong vùng có nhiều đầu mối giao thông trong và
ngoài nước, các tỉnh thuộc vùng VBBB có thể khai thác mạng lưới giao thông tổng
hợp bao gồm đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển và đường hàng không.
Về đường bộ, vùng VBBB sẽ có lợi thế tận dụng được các điều kiện thuận lợi từ
quy hoạch các tuyến đường cao tốc hướng tâm kết nối với Thủ đô Hà Nội. Theo kế
hoạch sẽ thành việc xây dựng hệ thống đường cao tốc, đường kết nối giữa các tỉnh,
các tuyến đường ven biển, cảng biển và các sân bay đồng bộ và hiện đại để phát
triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Vùng có thể khai thác lợi thế gần sân bay
quốc tế Nội Bài và kế hoạch sẽ nâng cấp sân bay Cát Bi, xây dựng mới sân bay
quốc tế Vân Đồn (Quảng Ninh) có khả năng đón trên 30 triệu hành khách/năm.
Ngoài ra, Việt Nam đã và đang phát triển hệ thống cảng biển lớn và hiện đại có tầm
cỡ quốc tế với các cụm cảng ở Hải Phòng và ở Quảng Ninh với tổng công suất
khoảng 90 - 100 triệu tấn vào năm 2020, trong đó cảng Hải Phòng là một đầu tầu
phát triển quan trọng của vùng VBBB. Vùng VBBB cũng có thế mạnh trong vận
chuyển theo tuyến đường sắt, gồm có các tuyến đường sắt nối với cảng biển và cảng
bốc dỡ nội địa và các tuyến đường sông gắn với hệ thống cảng biển và các khu vực,
nhà máy khai thác nguyên liệu. Theo kế hoạch sẽ nghiên cứu phương án xây dựng
tuyến đường sắt VBBB nối các tỉnh Nam Định - Thái Bình - Quảng Ninh và thành
76
phố Hải Phòng. Cải tạo và sử dụng hiệu quả các tuyến giao thông đường sông, nhất
là các tuyến sông Hồng, sông Thái Bình, sông Đuống.
Thuận lợi về xây dựng, thu hút lực lượng lao động có trình độ Vùng VBBB có thể tận dụng lợi thế của vùng ĐBSH, đây là vùng có trình độ
học vấn của các nhóm cư dân, trình độ văn hóa chung cao hơn so với các vùng khác
trong cả nước. Hiện tại, vùng ĐBSH tập trung 64% các trường đại học và cao đẳng
của cả nước, hầu hết các viện nghiên cứu, các trung tâm khoa học đầu ngành của đất
nước đều tập trung ở vùng ĐBSH. Vùng VBBB có thể khai thác thế mạnh nhân lực
của Vùng thủ đô Hà Nội, tại đây, có mạng lưới gần 600 cơ quan KH-CN của Trung
ương và địa phương. Ngoài ra, Vùng thủ đô Hà Nội còn có 63 trường đại học trong
tổng số 230 trường đại học của cả nước [88].
Thuận lợi về điều kiện tự nhiên Vùng VBBB có tiềm năng lớn về khoáng sản như than, vật liệu xây dựng,
đặc biệt là đá vôi có khả năng làm xi măng chất lượng cao. Vùng có tiềm năng tài
nguyên nước khá lớn, phục vụ tốt cho các hoạt động kinh tế và các hoạt động dân
sinh. Tuy vậy, do chưa có hệ thống cấp nước tốt nên trên thực tế có những khu vực
vẫn bị thiếu nước tại các địa phương như: dải ven biển, thành phố Hải Phòng, các
KCN ở Hải Phòng và Quảng Ninh.
Thuận lợi về tiềm năng du lịch Vùng VBBB có nhiều cảnh quan đẹp và nổi tiếng như vịnh Hạ Long, Bái Tử
Long, Vân Đồn, Cát Bà. Trong vùng có nhiều di tích lịch sử (đền, chùa) gắn với
tâm linh người Việt như: khu di tích cố đô Hoa Lư, khu di tích thành nhà Trần, khu
di tích Yên Tử. Những di tích gắn với lịch sử hào hùng về dựng nước và giữ nước
cùng rất nhiều các làng nghề truyền thống như lụa, mộc, gốm - sứ, đúc đồng là
những điểm mạnh thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Bên cạnh những giá
trị văn hóa vật thể, vùng VBBB còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa phi vật thể với
nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống và các nếp sống tinh thần phong phú gắn
với nền văn minh lúa nước lâu đời.
Về truyền thống, lịch sử phát triển Vùng VBBB có lịch sử phát triển lâu đời, từ lâu trong vùng đã hình thành hệ
thống các đô thị, trung tâm kinh tế, cơ sở sản xuất có tiềm lực tạo điều kiện thuận
77
lợi cho phát triển. Với tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, trong
đó Hải Phòng là 1 trong 5 thành phố lớn của cả nước, các tập đoàn lớn trong nước
và quốc tế đầu tư nhiều vốn và công nghệ hiện đại như Canon, LG, Intel, Toyota,...
Nhiều ngành công nghiệp quốc gia có cơ cấu và trình độ công nghệ hiện đại đã và
đang tập trung phát triển ở Hải Phòng và Quảng Ninh. Mô hình kinh doanh các loại
hình dịch vụ ngày càng được đổi mới theo hướng hiện đại, chất lượng dịch vụ ngày
càng được nâng cao với các trung tâm phát triển dịch vụ lớn của cả nước như Hải
Phòng, Quảng Ninh.
3.3.2. Những hạn chế, khó khăn đối với CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
a. Những khó khăn từ bên ngoài tác động đến CDCCKT vùng VBBB
Sức ép cạnh tranh lớn của hàng hóa các nước trong khu vực
Mặc dù có thuận lợi về vị trí gần với Trung Quốc (có thể khai thác một thị
trường rộng lớn), tuy nhiên vùng VBBB phải đối mặt với một thách thức lớn do áp lực
cạnh tranh ngày một tăng lên của các sản phẩm Trung Quốc. Cho đến nay các loại
hàng hóa của VBBB nói riêng và của Việt Nam nói chung trong thị trường Đông Nam
Á có sức cạnh tranh không cao. Nhiều mặt hàng của vùng VBBB xuất khẩu ra thị
trường thế giới giống những mặt hàng được sản xuất ở Trung Quốc, trong khi các sản
phẩm của Trung Quốc lại có giá thành cạnh tranh, mẫu mã đa dạng, đáp ứng nhiều
mức giá cả và yêu cầu sử dụng. Ngay cả những sản phẩm là thế mạnh của vùng như
nông sản cũng đang bị cạnh tranh mạnh, các nước trong khu vực như Trung Quốc,
Thái Lan, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a,... có thể cung ứng ra thị trường với khối lượng
lớn, chất lượng cao hơn, và giá cạnh tranh hơn.
Biến đổi khí hậu và thiên tai
Vùng VBBB phải đối mặt với nhiều khó khăn về khí hậu như lũ, lụt, bão và
nắng nóng kéo dài. Mỗi năm, thường có từ 5 - 6 cơn bão đổ bộ vào Bắc Bộ, năm
đặc biệt có từ 9 - 10 cơn. Bão đổ bộ vào đất liền thường kéo dài từ 2 đến 4 ngày,
mang theo gió mạnh, mưa lớn, nước biển dâng và gây lũ lụt, sạt lở, tàn phá nhà cửa,
cây cối và mùa màng kể cả tính mạng con người. Biến đổi khí hậu đã và đang bắt
78
đầu có những dấu hiệu tác động tiêu cực, gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống
như: nắng nóng nhiều hơn, rét đậm hơn, nhiều thiên tai bão lụt ở mức độ tàn phá
cao hơn trước, diễn biến thời tiết phức tạp và khó dự báo hơn.
Vấn đề chủ quyền trên biển Đông Quá trình phát triển kinh tế và CDCCKT tại vùng VBBB chịu ảnh hưởng
nhất định của vấn đề biển Đông. Vùng VBBB bao gồm 5 tỉnh có bờ biển có thể kết
nối với tuyến liên vận quốc tế, vì vậy sự phát triển kinh tế của vùng sẽ chịu ảnh
hưởng chi phối và liên quan đến các yếu tố như: an ninh quốc phòng, an toàn hàng
hải, cứu hộ, cứu nạn, cùng khai thác, đánh bắt tài nguyên và khai thác tuyến liên
vận quốc tế. Trong lịch sử và những năm gần đây, vấn đề tuyên bố chủ quyền trên
biển còn chưa thống nhất, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến các quyết định đầu tư
khai thác tài nguyên biển và các hoạt động kinh tế liên quan đến biển, công tác thu
hút đầu tư nước ngoài vào hoạt động tại các vùng biển gặp nhiều khó khăn do các
nhà đầu tư nước ngoài thường chỉ muốn tập trung đầu tư vào những vùng ổn định
về chủ quyền lãnh thổ.
Cạnh tranh trong thu hút đầu tư vào các tỉnh vùng VBBB Vùng VBBB có cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, kết nối giao thông vẫn còn đang
trong giai đoạn hoàn thiện và thời gian di chuyển từ thủ đô Hà Nội đến các tỉnh
trong vùng cũng như thời gian di chuyển người và hàng hóa nội vùng còn lớn. Điển
hình là thời gian vận chuyển hàng hóa từ Hà Nội đến Quảng Ninh dài hơn rất nhiều
so với đi các tỉnh gần Thủ đô Hà Nội như Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà
Nam, Hòa Bình. Các ngành công nghiệp phụ trợ tại vùng VBBB vẫn còn chưa phát
triển, kinh nghiệm khai thác và phát triển kinh tế biển vẫn còn hạn chế, nguồn nhân
lực trình độ thấp, kinh nghiệm quản lý và thu hút đầu tư trong và ngoài nước còn
hạn chế. Vì thế, khả năng cạnh tranh trong thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào
vùng VBBB sẽ là một khó khăn cho sự phát triển và CDCCKT của vùng.
b. Những khó khăn nội tại tác động đến CDCCKT vùng VBBB
Dân số đông, chất lượng lao động thấp, và thiếu việc làm Vùng VBBB nằm trong vùng ĐBSH nơi có số dân và mật độ dân số cao nhất trong cả nước (mật độ là 936,2 người/km2 - gấp 3,58 lần so cả nước và 1,43 lần so
79
với vùng Đông Nam Bộ), đồng thời là một trong những vùng nông thôn có mật độ
dân số cao nhất thế giới. Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người của vùng rất
thấp, lực lượng lao động nông thôn chiếm phần lớn và có chất lượng thấp. Hơn nữa,
thị trường lao động chưa phát triển nên chưa thể thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa
người sử dụng lao động và người lao động, điều này dẫn tới cơ cấu lao động còn
nhiều bất hợp lý. Thêm vào đó, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn diễn ra khá
gay gắt, đặc biệt một bộ phận không nhỏ nằm trong độ tuổi lao động không còn đất
để canh tác và không có khả năng đào tạo mới hoặc đào tạo lại.
Khó khăn trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Như phân tích ở trên, với dân số đông, trình độ hiện tại của lực lượng lao
động thấp, trong khi thiếu việc làm nên mặt bằng chung đời sống dân cư trong vùng
VBBB còn thấp. Điều này làm hạn chế khả năng người lao động trong vùng tự đầu
tư học hỏi để nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH. Đối
với các nhà đầu tư trong vùng VBBB, họ thường tuyển lao động đã qua đào tạo, vì
thế cơ hội để người lao động được các doanh nghiệp tổ chức đào tạo nâng cao trình
độ còn chưa phổ biến. Hiện nay, cơ cấu ngành nghề của vùng VBBB còn chưa hiện
đại, đa số các ngành công nghiệp vẫn ở phân khúc công nghệ thấp, kinh tế dịch vụ
vẫn còn phát triển chưa chuyên nghiệp, vì vậy, hiện tại ở vùng VBBB vẫn còn ít cơ
hội cho người lao động được tiếp cận với KH-CN hiện đại cũng như việc đào tạo
người lao động ở trình độ bậc cao.
Kết cấu hạ tầng còn hạn chế cho phát triển theo hướng CNH, HĐH
Vùng VBBB không có những công trình kết cấu hạ tầng lớn, thiếu các đường
cao tốc kết nối liên vùng và các tuyến cao tốc kết nối với các khu, điểm kinh tế
trọng yếu như sân bay, KCN, khu kinh tế, và cảng biển. Hệ thống vận tải chưa được
tổ chức và vận hành đồng bộ, gây cản trở cho việc thông thương và giải phóng hàng
hóa tại các cảng sân bay, cảng biển và cảng nội địa. Các hệ thống cung cấp nước,
cung cấp điện và thoát nước, xử lý nước thải chưa đáp ứng tốt cho quá trình sản
xuất kinh doanh và cho sinh hoạt trong giai đoạn hiện tại (chưa kể đến nhu cầu ngày
càng lớn hơn trong tương lai). Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng cho nghiên cứu phát
80
minh, sáng chế của vùng còn thiếu và yếu, mạng lưới bệnh viện đang còn thiếu về
số lượng và kém về chất lượng. Hệ thống kết cấu hạ tầng trong các thành phố, thị xã
thiếu đồng bộ, giao thông đã bộc lộ sự quá tải, các công trình thủy lợi xuống cấp.
Khả năng cạnh tranh thấp
Cơ cấu ngành nghề của vùng VBBB chưa phù hợp với nền công nghệ hiện
đại, hiệu quả kinh tế thấp và lãng phí nhiên liệu. Những ngành thu lợi cao như tư
vấn, thiết kế, phát minh, sáng chế, mỹ thuật công nghiệp, phân phối,... còn đang ở
giai đoạn hình thành nên chưa phát triển. Các loại hình dịch vụ phục vụ cho quá
trình CNH, HĐH còn chưa phát triển để đáp ứng nhu cầu, trong đó có dịch vụ trực
tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh như: công nghệ thông tin, viễn thông, tài chính,
ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, KH-CN.
Trình độ KH-CN và trình độ quản lý của các cơ sở sản xuất còn hạn chế, các
sản phẩm công nghiệp có năng lực cạnh tranh yếu, hiệu quả sản xuất còn thấp ở
trong nhiều lĩnh vực, cụ thể hiệu suất sử dụng đất thấp, tiêu hao điện cao, NSLĐ các
ngành và xuất khẩu ròng thấp.
Vùng chủ yếu xuất khẩu những sản phẩm thô, ít qua chế biến hoặc chế biến ở
trình độ công nghệ thấp nên chất lượng không cao, thâm dụng sức lao động, thị trường
tiêu thụ có phạm vi nhỏ. Đến nay, chưa có doanh nghiệp mang tầm toàn cầu tạo nòng
cốt để HNKTQT và nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế. Những ngành xuất khẩu,
doanh nghiệp của vùng chủ yếu đang tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở phân khúc
sản phẩm thấp (giá rẻ, trình độ công nghệ thấp, cung cấp sản phẩm thô,...)
Tổ chức lãnh thổ còn bộc lộ nhiều bất hợp lý: Sự chênh lệch về trình độ
phát triển giữa các địa phương thuộc các tỉnh ở vùng VBBB còn ở mức độ cao. Các
thành phố lớn như Hải Phòng và Hạ Long là là địa bàn tập trung nhiều các ngành
công nghiệp, trong khi Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình chủ yếu vẫn là sản xuất
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển và có rất ít các trung tâm phát
triển. Các tuyến hành lang liên tỉnh, liên vùng, các cửa vào – ra, sân bay, cảng biển
chưa được kết nối tốt và có chưa đáp ứng khả năng hàng hóa và hành khách luân
chuyển lớn.
81
Sự liên kết gắn bó giữa các tỉnh với nhau lỏng lẻo, không tạo được sự phân
công lao động trong vùng, do đó, thiếu bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau, chưa tạo thành
được một sức mạnh tổng hợp để tăng NSLĐ và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Tổ chức không gian thiếu đồng bộ, thiếu tính tổng thể và hiệu quả phát triển
thấp: Đa số các trung tâm phát triển đều bám dọc đường giao thông, còn lại các khu
vực xa các tuyến lộ kém phát triển. Các tuyến đường liên tỉnh thường được xây
dựng tốn nhiều thời gian và thường tắc ở các điểm giao giữa các tỉnh. Ngoài ra,
đang xảy ra tình trạng các KCN, các nhà máy sản xuất xi măng ở các tỉnh phát triển
tương đối tràn lan, thiếu tính quy hoạch, thiếu tính hệ thống, và không tuân theo lợi
thế so sánh của từng tỉnh, nhiều khi còn hạn chế lẫn nhau và cản trở sự phát triển,
hạn chế tính cạnh tranh giữa các tỉnh.
Tâm lý phát triển chưa tốt: Dân cư tại các tỉnh trong vùng VBBB có tâm lý
tích lũy của cải. Hiện tại, lượng vốn lớn trong dân tích lũy dưới các hình thức kim
loại quý, ngoại tệ mạnh, đất đai nhưng họ chưa có ý thức cao về việc phát triển sản
xuất kinh doanh. Trong khi đó, lượng vốn được sử dụng vào mục đích tiêu dùng,
đặc biệt là tiêu dùng hàng hóa đắt tiền (ô tô, thiết bị nội thất, thiết bị điện tử) của
vùng lớn, vì thế đã phần nào làm giảm sự phát triển theo hướng hiện đại của vùng.
Người dân còn nặng tư tưởng ỷ lại, thụ động, ít mạo hiểm và không dám chịu rủi ro,
thay đổi cách nghĩ, cách làm ăn theo hướng CNH, HĐH. Bên cạnh đó, tinh thần
sáng tạo mà cụ thể là tinh thần phát minh sáng chế, cải tiến chưa trở thành phổ biến
và vì thế sản phẩm hàng hóa mới xuất hiện ít. Cơ chế quản lý còn chưa thông
thoáng, tồn tại nhiều hạn chế về thủ tục hành chính đối với các hoạt động sản xuất
kinh doanh nên người dân có tâm lý ngại đầu tư phát triển sản xuất.
Bảo vệ môi trường gặp khó khăn
Chất lượng vệ sinh môi trường của các tỉnh thuộc VBBB đang ngày một
xuống cấp rất nhanh với những nguyên nhân chủ yếu trực tiếp liên quan đến phát
triển kinh tế và đảm bảo đời sống người dân như: Tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh
trong khi kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội chưa đáp ứng kịp. Dân số đông, diện
tích chật hẹp và sự phát triển nhanh của các ngành công nghiệp. Vấn đề khai thác
82
một cách hủy diệt các tài nguyên như san hô, đánh bắt gần bờ, chặt phá rừng, khai
thác than, khai thác đá vôi, khai thác đất làm gạch, rác thải nông thôn… Tình trạng
ô nhiễm môi trường không chỉ ở khu vực thành thị mà ngay cả ở khu vực nông
thôn, các vấn đề môi trường đang trở nên nghiêm trọng, hầu hết rác thải tại các địa
phương đều được tập trung tại các bãi rác lộ thiên.
3.4. ĐÁNH GIÁ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ
3.4.1. Đánh giá theo nhóm chỉ tiêu phản ánh các yếu tố đầu vào trực tiếp ảnh
hưởng đến CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH
a. Đánh giá về cơ cấu đầu tư để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Đơn vị: %
Biểu 3.1: Một số hạng mục đầu tư cơ bản để CDCCKT theo hướng CNH, HĐ
Chỉ tiêu
Hải Phòng
Quảng Ninh
Thái Bình
Ninh Bình
Vùng VBBB
Nam Định
32 38
24 32
36 25,7
24,4 27,1
31 34,6
29 31,5
49 57
57,5 65
35 55
34 52
52 61
42 45
19 5
18,5 3
29 19,3
41,6 20,9
17 4,4
29 23,5
1.Tỷ lệ đầu tư vào khu vực công nghiệp so với tổng vốn đầu tư - Giai đoạn 2001-2005 - Giai đoạn 2006-2010 2. Tỷ lệ đầu tư vào khu vực dịch vụ so với tổng vốn đầu tư - Giai đoạn 2001-2005 - Giai đoạn 2006-2010 3. Tỷ lệ đầu tư vào khu vực nông nghiệp so với tổng vốn đầu tư vào 3 khu vực kinh tế - Giai đoạn 2001-2005 - Giai đoạn 2006-2010 4. Tỷ lệ đầu tư cho KH-CN so với tổng vốn đầu tư xã hội
2001-2005 2006-2010 2010-2012
0,5 1,9 1,1
0,6 1 0,4
0,3 1,5 0,2
0,3 2 4,6
0,1 0,2 0,3
0,4 1,3 1,3
5. Tỷ lệ đầu tư cho giáo dục và đào tạo so với tổng vốn đầu tư xã hội
2001-2005 2006-2010 2011-2012
1,9 1,6 1,6
1,8 3 2,1
3,3 3,5 2
4,8 4 4,8
8,9 0,9 1,8
4,1 2,6 2,5
Nguồn: Tính từ các nguồn số liệu [82] [83] [84] [86] [87]
83
Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH cần phải tập trung đầu tư vào những
lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
Những hạng mục đầu tư cơ bản bao gồm: đầu tư cho phát triển khu vực công
nghiệp, khu vực dịch vụ, khu vực nông nghiệp, đầu tư cho phát triển KH-CN và
giáo dục - đào tạo. Đầu tư trực tiếp vào phát triển khu vực công nghiệp là điều kiện
cần đề CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Đầu tư cho KH-CN và giáo dục - đào tạo
sẽ thúc đẩy quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Những yếu tố này làm cơ
sở cho phát triển công nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại. Các hạng mục đầu tư
cơ bản này được tính trong biểu 3.1. Tuy nhiên, bên cạnh việc đầu tư trực tiếp vào
các hạng mục trên cần phải có nguồn vốn đầu tư mang tính chất đảm bảo cho quá
trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH (đầu tư cho cơ sở hạ tầng, đầu tư cho phát
triển các ngành công nghiệp phụ trợ....).
Tỷ lệ đầu tư vào các ngành công nghiệp trong tổng vốn đầu tư sản xuất
ở 3 khu vực kinh tế: Các tỉnh thuộc vùng VBBB có tỷ lệ đầu tư vào khu vực công
nghiệp thấp mặc dù trong giai đoạn hiện tại các tỉnh đều phải tập trung đầu tư phát
triển công nghiệp và tiến tới phát triển các ngành thuộc khu vực dịch vụ. Nếu tính
cho toàn vùng trong giai đoạn 2001-2005, tỷ lệ đầu tư vào khu vực công nghiệp chỉ
chiếm khoảng 29%, giai đoạn 2006-2010 chiếm khoảng 31,5% so với tổng vốn đầu
tư của vùng VBBB (tính cho cả giai đoạn 2001-2010 tỷ lệ đầu tư vào khu vực công
nghiệp đạt khoảng 30,25% tổng vốn đầu tư của toàn vùng VBBB). Các tỉnh có tỷ lệ
đầu tư từ 2001-2010 vào khu vực công nghiệp so với tổng vốn đầu tư tương ứng
như sau: Hải Phòng khoảng 36%, Quảng Ninh khoảng 28%, Thái Bình khoảng
30,9%, Nam Định khoảng 25,8%, Ninh Bình khoảng 32,8%. Với tỷ lệ đầu tư cho
phát triển công nghiệp như giai đoạn 2001-2010 không thể đảm bảo cho vùng
VBBB phát triển theo hướng CNH, HĐH.
Tỷ lệ đầu tư vào khu vực dịch vụ trong tổng vốn đầu tư sản xuất ở 3 khu
vực kinh tế: Các tỉnh thuộc vùng VBBB có tỷ lệ đầu tư vào khu vực dịch vụ tương
đối cao mặc dù trong giai đoạn hiện tại các tỉnh đều phải tập trung đầu tư phát triển
công nghiệp. Nếu tính cho toàn vùng giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ đầu tư vào khu vực
dịch vụ chiếm khoảng 43,5% so với tổng vốn đầu tư của các tỉnh thuộc vùng VBBB
84
(giai đoạn 2001-2005 đạt khoảng 42% và giai đoạn 2006-2010 đạt khoảng 45%).
Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư phát triển khu vực dịch vụ của vùng VBBB rất thấp,
điều này được thể hiện qua tỷ trọng GDP khu vực dịch vụ trong tổng GDP giảm
trung bình khoảng 0,8%/năm trong giai đoạn 2001-2005 và chỉ tăng trung bình
1,9% trong giai đoạn 2005-2010. Vì vậy, tổ chức sản xuất hợp lý và việc nâng cao
hiệu quả kinh tế dịch vụ là một trong những điều kiện quan trọng để vùng VBBB có
thể phát triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH.
Đầu tư vào khu vực nông nghiệp so với tổng đầu tư vào 3 khu vực kinh
tế: Nhìn chung, trong giai đoạn 2001-2010, các tỉnh trong vùng VBBB đã tập trung
đầu tư mạnh cho phát triển các khu vực công nghiệp và dịch vụ. Tỷ lệ đầu tư vào
khu vực nông nghiệp có xu hướng giảm mạnh, đặc biệt là ở các tỉnh như Quảng
Ninh, Ninh Bình và thành phố Hải Phòng. Tuy vậy, nếu xem xét đối với toàn vùng
thì tỷ lệ đầu tư vào khu vực nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng đáng kể so với
tổng đầu tư vào sản xuất ở 3 khu vực kinh tế (giai đoạn 2001-2005 là chiếm 29% và
giai đoạn 2006-2010 chiếm 23,5%). Trên thực tế, sản xuất ở khu vực nông nghiệp
chưa hiệu quả và chưa theo hướng hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, điều này
được thể hiện qua các yếu tố sau: Việc ứng dụng KH-CN tiên tiến vào sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản còn hạn chế; Các ngành dịch vụ phục vụ sản
xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản còn chưa phát triển; Đầu tư về trang thiết
bị phục vụ đánh bắt hải sản xa bờ còn thấp; Ngành chế biến nông sản, lâm sản và
thủy sản chưa có những sản phẩm có thương hiệu mạnh trên thị trường...
Đầu tư cho phát triển KH-CN, Giáo dục và đào tạo: Tỷ lệ đầu tư cho phát
triển KH-CN của vùng VBBB rất thấp (chỉ chiếm khoảng 0,85% vốn đầu tư trong
giai đoạn 2001-2010, giai đoạn từ 2010-2012 đạt khoảng 1,3%). Với mức đầu tư
như hiện nay cho KH-CN vùng VBBB thì không thể đảm bảo cho quá trình CNH,
HĐH bởi đầu tư cho KH-CN theo hướng hiện đại đòi hỏi khoản kinh phí lớn với
các hạng mục như: hạ tầng cơ sở, máy móc, trang thiết bị, phát triển nguồn nhân
lực, và đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng,... Tương tự như đầu tư cho phát triển KH-
CN, tỷ lệ đầu tư cho phát triển Giáo dục và đào tạo của các tỉnh thuộc vùng VBBB
cũng còn thấp và chưa thể tạo tiền đề cho phát triển nguồn nhân lực có chất lượng
85
phục vụ hiệu quả cho quá trình CNH, HĐH. Mức đầu tư trung bình cho phát triển
Giáo dục và đào tạo của vùng VBBB giai đoạn 2001-2010 đạt khoảng 3,35% tổng
ngân sách vùng VBBB. Như vậy, để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH mức đầu tư
kinh phí cho KH-CN và Giáo dục và đào tạo tại vùng VBBB còn rất thấp và chưa
thể đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cho quá trình CNH, HĐH. KH-CN
của vùng cũng chưa thể phục vụ quá trình CNH, HĐH với thực trạng đầu tư và phát
triển như giai đoạn vừa qua (2001-2010). Khi nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế để đề
xuất mức đầu tư cho KH-CN, Giáo dục và đào tạo tại Việt Nam, học giả Đỗ Quốc
Sam đã đề xuất mức đầu tư cần thiết phải từ 8% ngân sách của một quốc gia [69].
Vì vậy, việc tập trung đầu tư hơn nữa cho KH-CN, Giáo dục và đào tạo của vùng
VBBB là một việc làm cần thiết để phát triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH cũng
như CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
b. Đánh giá chuyển dịch cơ cấu lao động cho phát triển công nghiệp và dịch vụ Lao động là một trong các yếu tố đầu vào trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH ở vùng VBBB. Để CDCCKT theo hướng CNH,
HĐH, vùng VBBB cần tập trung phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ theo
hướng hiện đại, trong đó lực lượng lao động chuyển từ khu vực nông nghiệp sang
khu vực công nghiệp và dịch sẽ ảnh hưởng đến quá trình tập trung cho phát triển
công nghiệp và dịch vụ. Số điểm % dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp
sang khu vực công nghiệp và dịch vụ được nêu trong biểu sau:
Đơn vị: %
Biểu 3.2: Chuyển dịch cơ cấu lao động của vùng VBBB giai đoạn 2001-2010
Chỉ tiêu
Hải Phòng
Quảng Ninh
Thái Bình
Ninh Bình
Vùng VBBB
Nam Định
6 8,8
1,9 1,1
11,7 0,9
1,7 3
5,4 12,2
5,2 5,2
6,9 3,4
8,7 6,3
4,4 4
4,6 3,4
1,3 6,9
4,3 4,8
1. Số điểm % dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp - Giai đoạn 2001-2005 - Giai đoạn 2006-2010 2. Số điểm % dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang dịch vụ - Giai đoạn 2001-2005 - Giai đoạn 2006-2010
Nguồn: Tính từ các nguồn số liệu [82] [83] [84] [86] [87]
86
Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp trong giai
đoạn 2001-2010 của toàn vùng VBBB diễn ra chậm (nếu tính trung bình khoảng
5,2% sau 5 năm). Trong khi đó, vùng VBBB là vùng có nhiều tiềm năng cho phát
triển công nghiệp. Trong vùng, các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình, Quảng
Ninh có số lượng lao động nông nghiệp lớn. Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
đòi hỏi sự dịch chuyển lao động trong vùng VBBB từ khu vực nông nghiệp sang
khu vực công nghiệp và dịch vụ một cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, khu vực dịch vụ
của vùng phát triển chậm, thu hút không nhiều lao động (giai đoạn 2001-2005 số
lao động dịch vụ chỉ tăng 4,3%, giai đoạn 2006-2010 số lao động dịch vụ tăng
4,8%). Thực trạng lao động trong khu vực dịch vụ của vùng VBBB còn chưa đáp
ứng nổi so với tiềm năng phát triển (đội ngũ quản lý người lao động trong khu vực
dịch vụ có trình độ thấp và thiếu tính chuyên nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn).
Vì vậy, tốc độ và chất lượng chuyển dịch lao động sang khu vực công nghiệp
và dịch vụ trong giai đoạn 2001-2010 của vùng VBBB chưa đáp ứng yêu cầu quá
trình CNH, HĐH. Các tỉnh như Thái Bình, Nam Định và Quảng Ninh cần phải đẩy
mạnh hơn nữa quá trình chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp.
c. Đánh giá theo các chỉ tiêu ảnh hưởng đến CDCCKT vùng VBBB: Tỷ lệ lao
động qua đào tạo, mức độ tiếp cận thông tin và hiệu suất sử dụng vốn
Biểu 3.3: Một số chỉ tiêu kinh tế phản ánh CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Đơn vị
Hải Phòng
Quảng Ninh
Thái Bình
Ninh Bình
Vùng VBBB
Nam Định
Chỉ tiêu 1. Tỷ lệ lao động qua đào tạo
2010 2012
% %
50 52
45 46
40 43
42 44
35 34
42,4 43,8
2. Mức độ tiếp cận thông tin
2010
30
25
13
21
22
22
ĐT/100 dân
2012
32
28
18
22
24
25
ĐT/100 dân ICOR
6 5,3
5,2 4,5
6,7 6
5,8 5
6,2 5
6 5,2
3. Hiệu suất sử dụng vốn - Giai đoạn 2001-2005 - Giai đoạn 2006-2010
Đơn vị Đơn vị
Nguồn: Tính từ các nguồn số liệu [82] [83] [84] [86] [87]
87
Bên cạnh đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ, một số yếu tố quan
trọng khác ảnh hưởng đến CDCCKT của vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH như:
tỷ lệ lao động qua đào tạo, mức độ tiếp cận thông tin, hiệu suất sử dụng vốn.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo và sử dụng lao động: Hiện tại, tỷ lệ lao động
qua đào tạo của vùng VBBB thấp (chỉ đạt khoảng 42-43%), trong khi mục tiêu
trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 để xây dựng nước ta cơ
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì tỷ lệ lao động qua đào tạo
cần ở mức 70% trở lên [9].
Vì vậy, tỷ lệ lao động qua đào tạo của vùng VBBB chưa thể đáp ứng yêu cầu
của quá trình CNH theo hướng hiện đại. Một bộ phận khá lớn người lao động tuy đã
qua đào tạo nhưng chưa đủ trình độ để lao động trong những doanh nghiệp có nền
sản xuất hiện đại. Phần lớn các doanh nghiệp trong vùng có tiềm lực còn hạn chế, vì
thế việc triển khai nghiên cứu và ứng dụng công nghệ hiện đại gặp nhiều khó khăn.
Hơn nữa, doanh nghiệp thường có tâm lý tuyển lao động sẵn có, chưa tập trung
nhiều vào đào tạo người lao động. Từ đó, người lao động sẽ không chuyên nghiệp,
trình độ khập khiễng với nhu cầu thực tế của quá trình sản xuất, đây cũng là một
nguyên nhân hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Để phát triển hiệu
quả theo hướng CNH, HĐH thì việc ứng dụng KH-CN còn phải có những thay đổi
về mặt chất lượng cũng như đẩy nhanh quá trình ứng dụng KH-CN.
Mức độ tiếp cận thông tin: Về cơ bản so với chuẩn CNH mà học giả Đỗ
Quốc Sam đề xuất [69], vùng VBBB đã đạt tiêu chuẩn với 100.000 thuê bao sử
dụng internet và 30% dân số có thuê bao điện thoại cố định – nếu tính trung bình
theo hộ gia đình từ 3-4 người thì gần như 100% hộ gia đình có thuê bao điện thoại
cố định (chưa tính đến thuê bao di động). Với mức tiếp cận thông tin và công nghệ
thông tin như hiện nay hoàn toàn có thể tạo cơ hội cho các tỉnh vùng VBBB phát
triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Tuy vậy, vấn đề là cần phải tiếp cận và sử
dụng thông tin một cách hiệu quả. Thực tế hiện nay việc sử dụng internet ở Việt
Nam nói chung và ở vùng VBBB có hiệu quả hạn chế.
88
Hiệu suất sử dụng vốn: Hiệu suất sử dụng vốn của vùng VBBB trong giai
đoạn 2001-2005 đạt khoảng 6 đơn vị và giai đoạn 2006-2010 giảm xuống 5,2 đơn
vị. Mặc dù hiệu quả sử dụng vốn đã nâng lên, tuy nhiên, tuy nhiên còn tồn tại nhiều
yếu tố làm giảm hiệu suất sử dụng vốn. Vùng VBBB cần nâng cao hiệu quả kinh tế
dịch vụ, giảm các ngành công nghiệp khai khoáng và những ngành công nghiệp gây
ô nhiễm môi trường, tập trung chế biến sâu các sản phẩm nông sản, hải sản và
khoáng sản của vùng, lựa chọn các dự án đầu tư hiệu quả.
3.4.2. Đánh giá theo nhóm chỉ tiêu phản ánh động thái và trình độ CDCCKT vùng
VBBB theo hướng CNH, HĐH
a. Đánh giá CDCCKT theo hướng phát triển công nghiệp hiện đại
Một số chỉ tiêu phản ánh quá trình CDCCKT của vùng VBBB theo hướng
phát triển dịch vụ hiện đại được nêu trong biểu 3.4.
Biểu 3.4: Một số chỉ tiêu cơ bản phản ánh sự phát triển công nghiệp theo
Đơn vị: %
hướng hiện đại
Chỉ tiêu
Hải Phòng
Quảng Ninh
Thái Bình
Ninh Bình
Vùng VBBB
Nam Định
19,1 14
9,3 17,6
20 31,1
11,7 28,5
18,4 30,7
15,5 24,4
8,7 10,6
18,5 33
19 30,1
9,6 21,1
8,6 15,7
12,9 22,1
0,8 3,4
9 14,5
13,1 6,9
16,5 5,3
12,9 9,4
8,7 7,9
76,5 92,1
23 38,2
72 97,3
71,4 95,7
68 90
61 73
1. Tốc độ tăng trưởng trung bình GTSX khu vực công nghiệp - Giai đoạn 2001-2005 - Giai đoạn 2006-2010 2. Tỷ lệ tăng NSLĐ trung bình khu vực công nghiệp - Giai đoạn 2001-2005 - Giai đoạn 2006-2010 3. Sự thay đổi tỷ trọng GDP khu vực công nghiệp so với tổng GDP - Giai đoạn 2001-2005 - Giai đoạn 2006-2010 4. Tỷ lệ GTSX các ngành chế biến - chế tạo so với tổng GTSX khu vực công nghiệp - Giai đoạn 2001-2005 - Giai đoạn 2006-2010
Nguồn: Tính từ các nguồn số liệu [82] [83] [84] [86] [87]
89
Tốc độ tăng trưởng trung bình GTSX khu vực công nghiệp: Khi đánh giá
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH của vùng VBBB cần phải đánh giá tốc độ phát
triển công nghiệp của toàn vùng, một trong những chỉ số quan trọng cần xem xét là
tốc độ tăng GTSX của khu vực công nghiệp. Giai đoạn 2001-2010, tốc độ tăng
GTSX khu vực công nghiệp của vùng VBBB đạt khoảng 19,95% (giai đoạn 2001-
2005 đạt 15,5% và giai đoạn 2006-2010 đạt 24,4%), điều này khẳng định cơ cấu
kinh tế của toàn vùng VBBB đã chuyển dịch nhanh theo hướng tập trung cho phát
triển công nghiệp. (So với các chỉ tiêu cơ bản được các nước NIEs đưa ra, các chỉ
tiêu phát triển công nghiệp và dịch vụ để trở thành một nước công nghiệp hiện đại
cần đạt tốc độ khoảng 15-20% và ổn định trong nhiều năm liên tục) [69]. Tuy vậy,
mặc dù tốc độ tăng trưởng GTSX của vùng VBBB đạt khoảng 19,95 % nhưng nhìn
chung các tỉnh còn ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển công nghiệp, công nghệ
sản xuất còn hạn chế, năng lực cạnh tranh thấp.
Tốc độ tăng NSLĐ công nghiệp (2001-2010): Tốc độ tăng NSLĐ trong các
ngành công nghiệp của toàn vùng VBBB đạt khoảng 17,5% (giai đoạn 2001-2005
đạt 12,9% và giai đoạn 2006-2010 đạt 22,1%). Tuy nhiên, thực tế các ngành công
nghiệp ở các tỉnh/thành phố này ở trình độ thấp nên hiệu quả kinh tế và sức cạnh
tranh vẫn thấp.
Sự dịch chuyển (số điểm % dịch chuyển) của khu vực công nghiệp trong
tổng GDP của toàn vùng: Giai đoạn 2001-2005, sự dịch chuyển tỷ trọng GDP khu
vực công nghiệp so với tổng GDP của toàn vùng đạt 8,7% và giai đoạn 2006-2010
đạt 7,9%. Chỉ số này cho thấy CCKT của toàn vùng VBBB đã dịch chuyển tương
đối nhanh theo hướng phát triển công nghiệp. Những tỉnh có độ dịch chuyển nhanh
là Quảng Ninh (14,5%) và Ninh Bình (9,4%), thành phố Hải Phòng với định hướng
tập trung mạnh cho phát triển khu vực dịch vụ nên khu vực công nghiệp có độ dịch
chuyển thấp nhất (3,4%). Nam Định có truyền thống phát triển công nghiệp dệt, tuy
nhiên, độ dịch chuyển theo hướng công nghiệp chỉ đạt 5,3%, thực tế cho thấy Nam
Định chậm đổi mới công nghệ, nhiều nhà máy còn sử dụng công nghệ rất lạc hậu,
thu hút đầu tư cũng chưa hiệu quả.
90
Tỷ trọng GTSX các ngành công nghiệp chế biến - chế tạo so với tổng
GTSX khu vực công nghiệp: Một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá xu
hướng phát triển của các ngành công nghiệp đó là thông qua sự tỷ trọng các ngành
công nghiệp chế biến - chế tạo so với tổng GTSX khu vực công nghiệp. Những
ngành công nghiệp chế biến - chế tạo thường là những ngành đòi hỏi công nghệ cao,
lao động có trình độ, tổ chức quản lý và sản xuất có hiệu quả để duy trì năng lực
cạnh tranh. Năm 2010, tỷ trọng GTSX ngành công nghiệp chế biến - chế tạo của
toàn vùng VBBB đạt 73%. Tuy nhiên, ở vùng VBBB, công nghiệp - chế biến chế
tạo lại tập trung nhiều ở nhưng ngành trình độ thấp (chế biến nông, lâm sản, lương
thực ở dạng sơ chế) và chưa tập trung cho chế biến sâu với trình độ KH-CN và tổ
chức quản lý cao. Qua điều tra của nghiên cứu này hàm lượng công nghệ tiên tiến
áp dụng vào trong các ngành công nghiệp chế biến - chế tạo còn chưa hiện đại,
nhiều nhà máy còn sử dụng công nghệ lạc hậu. Thậm chí công nghệ để khai thác tài
nguyên và than cũng lạc hậu, kém hiệu quả và gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, vấn
đề chính của các tỉnh thuộc vùng VBBB này là chuyển đổi cơ cấu ngành công nghiệp
theo hướng hiện đại qua việc tập trung chuyên nghiệp hóa các hoạt động sản xuất, nâng
cao trình độ công nghệ và người lao động, tổ chức sản xuất với quy mô lớn.
Đánh giá chung: Qua nghiên cứu quá trình phát triển các ngành công nghiệp
của vùng VBBB theo hướng hiện đại cho thấy có một số điểm hạn chế như sau:
Trong cơ cấu các mặt hàng công nghiệp, tỷ lệ các mặt hàng công nghiệp có
trình độ thấp còn lớn, hiệu quả kinh tế chưa cao, sản xuất phụ thuộc nhiều vào tài
nguyên sẵn có (điển hình như Quảng Ninh, công nghiệp khai thác tài nguyên chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng GTSX công nghiệp).
Trình độ người lao động chưa đáp ứng tốt quá trình sản xuất hiện đại. Phân
bố và tổ chức sản xuất công nghiệp chưa hiệu quả, việc thu hút lao động có trình độ
cao và chuyên nghiệp còn hạn chế. Chưa có sự phối hợp tốt theo quy trình sản xuất
ra các sản phẩm để nâng cao hiệu quả kinh tế. Hiện tượng thiếu một số ngành công
nghiệp phụ trợ còn phổ biến, phân bố các cụm sản xuất và các ngành nghề sản xuất
còn chưa hợp lý.
91
Quá trình đổi mới công nghệ, áp dụng các thành quả KH-CN mới vào sản
xuất còn hạn chế. Những ngành công nghiệp mới đòi hỏi trình độ cao chưa phát
triển ở vùng VBBB trong khi vùng có lợi thế tiếp cận thị trường, lợi thế trong đào
tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
Các tỉnh/thành phố trong vùng VBBB chưa tận dụng tốt những lợi thế, kinh
nghiệm sản xuất đã có để khẳng định thương hiệu trong sản xuất công nghiệp và
tổng GTSX của các ngành này ngày càng hạn chế. Điển hình như công nghiệp dệt ở
Nam Định không khẳng định được thương hiệu, công nghiệp chế biến thủy, hải sản
ngày càng bị cạnh tranh bởi các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
b. Đánh giá CDCCKT theo hướng phát triển dịch vụ hiện đại
Một số chỉ tiêu phản ánh quá trình CDCCKT của vùng VBBB theo hướng
phát triển dịch vụ hiện đại được nêu trong biểu 3.5:
Đơn vị: %
Biểu 3.5: Một số chỉ tiêu cơ bản phản ánh sự phát triển dịch vụ theo hướng hiện đại
Thái
Nam
Ninh
Vùng
Hải Phòng
Quảng Ninh
Bình
Bình
VBBB
Định
Chỉ tiêu
1. Tốc độ tăng GTSX khu vực dịch vụ
11,7
17,6
8,3
7,8
7,1
10,1
- Giai đoạn 2001-2005
17
12,6
12,7
8,7
16,1
13,4
- Giai đoạn 2006-2010
2. Tỷ lệ tăng NSLĐ khu vực dịch vụ
16
13,4
5,5
7,1
5,2
9,2
- Giai đoạn 2001-2005
15
10
7
8
10
10
- Giai đoạn 2006-2010
3. Sự thay đổi tỷ trọng GDP khu vực dịch vụ trong CCKT
2,8
2,4
- 4,8
-7,1
2,4
-0,8
- Giai đoạn 2001-2005
2,2
3,4
-0,6
-3
3,3
1,9
- Giai đoạn 2006-2010
4. Tỷ lệ các ngành dịch vụ hiện đại /tổng GTSX khu vực dịch vụ
34
58
52
18
16
36
- Giai đoạn 2001-2005
52
70
60
35
45
53
- Giai đoạn 2006-2010 Nguồn: Tính từ các nguồn số liệu [82] [83] [84] [86] [87]
Tốc độ tăng GTSX khu vực dịch vụ: CDCCKT theo hướng CNH, HĐH bao
hàm cả phát triển dịch vụ hiện đại. Vì vậy khi đánh giá CDCCKT theo hướng CNH,
92
HĐH của vùng VBBB cần phải đánh giá tốc độ phát triển khu vực dịch vụ của toàn
vùng, trong đó, tốc độ tăng GTSX là một chỉ tiêu quan trọng cần đánh giá. Giai đoạn
2001-2010, tốc độ tăng GTSX của toàn vùng VBBB đạt 11,75%, chỉ số này cao hơn
tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ của toàn quốc trong giai đoạn 2001-2010 (khoảng
8,7%). Tuy nhiên, đối chiếu với kinh nghiệm ở các nước NIEs, các chỉ tiêu phát triển
công nghiệp và dịch vụ để trở thành một nước công nghiệp hiện đại cần đạt tốc độ
khoảng 15-20% và ổn định trong nhiều năm liền [73]. Vì vậy, mặc dù tốc độ tăng
trưởng GTSX của vùng VBBB đạt khoảng 11,75% nhưng với xuất phát điểm thấp,
các tỉnh thuộc vùng VBBB cần tập trung mạnh cho phát triển khu vực dịch vụ.
Tốc độ tăng NSLĐ khu vực dịch vụ (2001-2010): Tốc độ tăng NSLĐ
trung bình trong khu vực dịch vụ của vùng VBBB chỉ đạt khoảng 9,6%. Để
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH thì các tỉnh/thành phố trong vùng VBBB cần có
tốc độ tăng trưởng NSLĐ khu vực dịch vụ trung bình khoảng từ 15-20% và liên tục
trong nhiều năm liền (theo kinh nghiệm các nước công nghiệp mới NIEs, trong giai
đoạn CDCCKT theo hướng CNH [73]). Vì vậy tốc độ tăng NSLD khu vực dịch vụ
chưa đảm bảo so với yêu cầu của quá trình CNH, HĐH.
Sự dịch chuyển (số điểm % dịch chuyển) của khu vực dịch vụ trong tổng
GDP của toàn vùng (2001-2010): Giai đoạn 2001-2005, tỷ trọng GDP khu vực
dịch vụ trong tổng GDP của toàn vùng giảm 0,8%, giai đoạn 2006-2010 tỷ trọng
này tăng 1,9%. Nhìn chung tốc độ CDCCKT theo hướng phát triển dịch vụ của
vùng VBBB rất thấp so với các tiềm năng lợi, thế để phát triển dịch vụ của vùng.
Nếu so với tốc độ phát triển khu vực dịch vụ của các nước công nghiệp mới NIEs
thì có một khoảng cách rất lớn (họ luôn duy trì tăng trưởng kinh tế dịch vụ trong
nhiều năm liên ở mức 15-20%). Vì vậy, việc đẩy mạnh phát triển và chuyên nghiệp
hóa khu vực dịch vụ là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với
vùng VBBB. Thực tế, thành phố Hải Phòng, Quảng Ninh và Ninh Bình có nhiều lợi
thế trong phát triển du lịch và dịch vụ, tuy nhiên tỷ lệ tăng của khu vực dịch vụ của
các tỉnh này trong giai đoạn 2005-2010 chỉ tăng tương ứng 2,2%; 3,4% và 3,3%.
Đáng chú ý, Thái Bình và Nam Định có tỷ trọng khu vực dịch vụ trong CCKT giảm
(Thái Bình giảm 0,63% và Nam Định giảm 3%).
93
Tỷ trọng GTSX các ngành dịch vụ trình độ cao so với tổng GTSX khu
vực dịch vụ: Để đánh giá CDCCKT của vùng theo hướng CNH, HĐH cần xem xét
đến xu hướng phát triển các ngành dịch vụ theo hướng hiện đại và những ngành
đem lại hiệu quả kinh tế cao, tỷ trọng những ngành này trong tổng GTSX khu vực
dịch vụ. Trên cơ sở thực trạng phát triển các ngành dịch vụ của các tỉnh thuộc vùng
VBBB, những ngành dịch vụ có trình độ hiện đại và đem lại hiệu quả kinh tế cao
được lựa chọn như sau: Du lịch, dịch vụ tài chính, dịch vụ y tế, tư vấn, KH-CN, văn
hóa - thể thao được lựa chọn để nghiên cứu do những ngành này đòi hỏi công nghệ
cao, lao động có trình độ, và tổ chức quản lý và sản xuất có hiệu quả. Giai đoạn
2001-2010, tỷ trọng GTSX của các ngành dịch vụ hiện đại và hiệu quả kinh tế cao
chiếm khoảng khoảng 44,5% tổng GTSX khu vực dịch vụ. Đây là một chỉ số cho
thấy hiệu quả phát triển dịch vụ của vùng VBBB thấp hơn nhiều so với tiềm năng
của vùng.
Nhận định chung:
So với mục tiêu CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, các ngành dịch vụ tại
vùng VBBB phát triển còn hạn chế và chưa đáp ứng yêu cầu của kinh tế dịch vụ
hiện đại. Kinh nghiệm phát triển các ngành dịch vụ của vùng còn hạn chế, việc tổ
chức phát triển kinh tế dịch vụ của vùng VBBB chưa theo kịp được xu thế phát triển
chung trong khu vực nên tính hấp dẫn và khả năng cạnh tranh thấp. Vùng VBBB
chưa tập trung phát triển những ngành dịch vụ hiện đại đặc biệt là dịch vụ như tài
chính, vận tải biển, logistics và du lịch biển.
Đội ngũ nhân lực hoạt động trong khu vực kinh tế dịch vụ chưa được đào tạo
bài bản và chưa chuyên nghiệp, điều này được thể hiện qua một số yếu tố sau: (1).
Qua khảo sát của nghiên cứu này và đánh giá của các chuyên gia địa phương cho
thấy nhiều người lao động trong khu vực dịch vụ của vùng VBBB có trình độ hạn
chế và tập trung vào những ngành dịch vụ đơn giản với trình độ công nghệ và nhân
lực ở bậc thấp; (2). Việc tổ chức đào tạo người lao động cho khu vực dịch vụ còn
chưa được các tỉnh trong vùng quan tâm đúng mức, các cơ sở kinh doanh dịch vụ
chủ yếu tuyển lao động có sẵn và chỉ một số ít người lao động được đào tạo qua hệ
94
thống các cơ sở đào tạo; (3). Liên kết và gửi đi nước ngoài đào tạo người lao động ở
khu vực dịch vụ rất hạn chế và rất ít người đã được đào tạo từ nước ngoài; (4). Qua
khảo sát một số cơ sở kinh doanh dịch vụ lớn trong vùng, hiện nay còn tồn tại một
số hạn chế cơ bản như người lao động trực tiếp tại các cơ sở này còn chưa chuyên
nghiệp, điều này gây phản cảm đối với du khách, nhất là du khách nước ngoài.
c. Sự thay đổi về quy mô GDP vùng VBBB so với GDP vùng ĐBSH và GDP
của cả nước
Đơn vị: %
Biểu 3.6: Tỷ trọng GDP vùng VBBB so với GDP vùng ĐBSH và GDP cả nước
2000
2005
2010
2012
Chỉ tiêu
Vùng VBBB so với vùng ĐBSH
39
37
37,3
37,5
6,7
9,5
12
12,5
Vùng VBBB so với cả nước
100
100
100
100
Cả nước
Nguồn: Tính từ các nguồn số liệu [82] [83] [84] [86] [87]
Trong giai đoạn từ 2000-2005, số điểm phần trăm GDP của vùng VBBB so
với tổng GDP của cả nước tăng lên khoảng 3%, giai đoạn 2005-2010 tăng lên
khoảng 2,5%. Tính đến năm 2012, tổng GDP của vùng VBBB chiếm khoảng 12,5%
tổng GDP của cả nước. Điều này thể hiện vùng VBBB có vai trò quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế của cả nước và tốc độ phát triển nhanh hơn tốc độ phát triển
kinh tế trung bình của cả nước. Tuy nhiên, trong quá trình CNH, HĐH, vùng VBBB
chưa khẳng định tốt vị thế và vai trò, chưa khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế
của vùng để phát triển công nghiệp và dịch vụ hiện đại.
Số điểm phần trăm GDP của vùng VBBB so với tổng GDP của vùng ĐBSH
từ năm 2000 đến năm 2005 giảm 2%, từ năm 2005 đến 2010 chỉ tăng lên 0,3%, tốc
độ tăng trưởng kinh tế chung của toàn vùng VBBB không vượt trội hơn tốc độ tăng
trưởng kinh tế của vùng ĐBSH. Bên cạnh đó, tiềm năng phát triển kinh tế biển, phát
triển du lịch và dịch vụ của vùng VBBB còn chưa được các tỉnh khai thác hiệu quả,
công nghiệp chưa phát triển tương xứng với tiềm năng.
95
3.4.3. Đánh giá theo nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả CDCCKT vùng VBBB
theo hướng CNH, HĐH
a. Chuyển dịch cơ cấu giữa hai khối ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp
Số điểm phần trăm GDP dịch chuyển giữa hai nhóm ngành nông nghiệp và
phi nông nghiệp là một trong những yếu tố phản ánh kết quả CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH. Kết quả tính số điểm phần trăm GDP dịch chuyển từ nông nghiệp sang
phi nông nghiệp của vùng VBBB được nêu ở biểu sau:
Đơn vị: %
Biểu 3.7: CCKT vùng VBBB theo các khu vực kinh tế
Tỉnh
Khu vực nông nghiệp
Khu vực công nghiệp
Khu vực dịch vụ
2000 2005 2010 2012 2000 2005 2010 2012 2000 2005 2010 2012
18,8
7,5
7,2
7,6
35,6
60
59,5
58,1
45,6
32,5
33,3
34,3
Hải Phòng
9,8
7,2
6,3
5,5
45,2
54,2
54,6
51,3
45
38,6
39,1
43,2
Quảng Ninh
Thái Bình
54,1
36,8
29,1
31
15
36,8
45,6
47,1
30,9
26,4
25,3
21,9
41,4
31,9
29,8
25,7
21,2
31,1
35,7
39,4
37,4
37
34,5
34,9
Nam Định
Ninh Bình
49,3
22,8
19,6
15,2
22,7
54,2
57,6
46,2
28
23
22,8
38,6
Vùng VBBB
36
24,5
18,1
17,5
28
44,2
50
49,1
36
31,3
31,9
33,4
Nguồn: Tính từ các nguồn số liệu [82] [83] [84] [86] [87]
Trong giai đoạn từ 2001-2010, CCKT của vùng VBBB có độ dịch chuyển từ
nông nghiệp sang phi nông nghiệp như sau: Tỷ trọng khu vực nông nghiệp của toàn
vùng năm 2005 giảm xuống 11 điểm % so với năm 2000 và 2010 giảm xuống 6,4
điểm % so với năm 2005, tương ứng với số điểm % dịch chuyển dịch sang các
ngành phi nông nghiệp (bao gồm khu vực công nghiệp và dịch vụ). Tính đến năm
2010, tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp trong CCKT đạt khoảng 81,9%, năm
2012 tỷ trọng này tăng lên khoảng 82,5%. Quá trình CDCCKT từ nông nghiệp sang
phi nông nghiệp diễn ra ở các tỉnh khác nhau do các điều kiện, tiềm năng cho phát
triển của các tỉnh khác nhau.
Nhìn chung, mặc dù đã có sự chuyển dịch đáng kể từ nông nghiệp sang phi
nông nghiệp, tuy nhiên về chất lượng và hiệu quả của quá trình CDCCKT từ nông
nghiệp sang phi nông nghiệp của vùng VBBB chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu quá
trình CNH, HĐH, điều này được thể hiện qua một số đặc điểm sau:
96
Thứ nhất, giai đoạn 2001-2010, các tỉnh trong vùng VBBB như Quảng Ninh,
Ninh Bình, Nam Định tập trung mạnh cho phát triển công nghiệp nhưng khu vực
dịch vụ chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của các tỉnh.
Thứ hai, mặc dù vùng VBBB hội tụ nhiều khả năng cho phát triển kinh tế
nông, lâm và thủy sản, đặc biệt là kinh tế biển, tuy nhiên hiệu quả của khu vực kinh
tế nông nghiệp vẫn còn thấp: Các tỉnh như Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định là
những tỉnh có tiềm năng lớn về nông, lâm, thủy sản nhưng tỷ trọng đóng góp vào
tổng GDP của khu vực này còn thấp, đặc biệt là thủy sản chỉ chiếm khoảng 2%-4%
trong CCKT.
b. Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa hai khối ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu lao động là một chỉ tiêu cần nghiên cứu để thấy được xu
hướng tập trung lao động trong quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Kết
quả tính chỉ tiêu về chuyển dịch cơ cấu lao động giữa hai khối ngành nông nghiệp
và phi nông nghiệp được nêu trong biểu sau:
Đơn vị: %
Biểu 3.8: Cơ cấu lao động theo các khu vực kinh tế
Tỉnh
Khu vực nông nghiệp
Khu vực công nghiệp
Khu vực dịch vụ
2001 2005 2010 2012 2001 2005 2010 2012 2001 2005 2010 2012
55,3
46,1
35,2
17,8
19,2
26,9
25,3
26,9
34,7
36,1
39,5
37
Hải Phòng
59,5
50,3
41,3
23,3
22,4
23,4
17,2
27,3
33,6
34,7
43
24
Quảng Ninh
Thái Bình
81,6
66,6
63,3
60,5
20
21,4
13,4
15,3
17,5
22
9,5
8,9
78,2
71,9
65,1
62,4
14,7
18,1
20,6
13,4
16,8
17
8,8
13
Nam Định
Ninh Bình
75,9
69,3
49,5
47,5
12,6
18,8
35,7
31,7
11,5
11,9
14,8
20,8
Vùng VBBB
71
60,5
50,5
49
15,5
19,2
26
25,3
13,5
20,3
23,5
25,7
Nguồn: Tính từ các nguồn số liệu [82] [83] [84] [86] [87]
Giai đoạn 2001-2005, tỷ lệ chuyển dịch lao động từ khu vực kinh tế nông
nghiệp sang khu vực kinh tế phi nông nghiệp của vùng VBBB khoảng 10,5 điểm %,
giai đoạn 2006-2010, tỷ lệ chuyển dịch này đạt khoảng 10 điểm %. Tính đến năm
2012, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm khoảng 49% tổng số lao động của toàn
vùng VBBB. Nếu so với mục tiêu được đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH
giai đoạn 2011-2020 [9], tỷ trọng lao động nông nghiệp còn lớn (mục tiêu đề ra năm
97
2010 lao động nông nghiệp đạt từ 30-35%, trong khi năm 2010 vùng VBBB có
50,5% lao động nông nghiệp, năm 2012 khoảng 49%).
Qua nghiên cứu thực trạng chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi
nông nghiệp tại vùng VBBB có thể đánh giá một số điểm như sau:
Thứ nhất, mặc dù vùng VBBB đã có sự chuyển dịch lao động đáng kể từ
nông nghiệp sang phi nông nghiệp trong giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010, tuy
nhiên tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn còn cao, chưa đáp ứng được mục tiêu được đề
ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 [9]. Để đáp ứng yêu cầu
quá trình CNH, HĐH đòi hỏi sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi
nông nghiệp ở mức cao hơn hiện tại rất nhiều.
Thứ hai, một bộ phận không nhỏ lao động trong các ngành công nghiệp và
dịch vụ có trình độ hạn chế, tập trung vào một số ngành công nghiệp đòi hỏi trình
độ thấp và hiệu quả kinh tế thấp, lao động trong khu vực dịch vụ còn thiếu chuyên
nghiệp. Vì vậy, nguồn nhân lực chưa đủ khả năng đáp ứng tốt quá trình CDCCKT
theo hướng CNH, HĐH.
Thứ ba, thực trạng lao động nông nghiệp tại vùng VBBB có trình độ thấp và
mang tính thời vụ. Một số tỉnh như Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình, hiện tượng
thiếu việc làm sau khi kết thúc vụ mùa sản xuất xảy ra phổ biến đối với lao động
nông nghiệp. Khi kết thúc thời vụ sản xuất, một bộ phận không nhỏ lao động nông nghiệp tại các tỉnh này đã dời đi tìm việc tại các thành phố.
c. Một số chỉ tiêu kinh tế phản ánh kết quả CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Để đánh giá quá trình CDCCKT của vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH
cần căn cứ vào một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản như: GDP bình quân đầu người,
NSLĐ, tốc độ tăng trưởng kinh tế. Kết quả tính các chỉ tiêu này trong giai đoạn từ
2000-2010 và 2012 được nêu trong biểu 3.9.
GDP/người: GDP bình quân đầu người của vùng VBBB năm 2010 đạt
khoảng 1.049 USD (năm 2012 đạt khoảng 1.647 USD). Nếu so với GDP bình quân
đầu người của vùng ĐBSH và của cả nước thì GDP/người của vùng VBBB thấp
hơn (GDP/người vùng ĐBSH đạt 1.225 USD và cả nước đạt 1.116 USD vào năm
2010). Nhìn chung, chất lượng sống người dân vùng VBBB còn thấp và có sự
chênh lệch mức sống lớn giữa các nhóm dân cư thành thị và nông thôn, số lượng
98
người có thu nhập thấp còn lớn. Đây cũng là một cản trở lớn cho quá trình CNH,
HĐH bởi người dân không thể có đủ khả năng tài chính để tự nâng cao trình độ.
Với mức thu nhập bình quân đầu người của người dân Việt Nam là 1.116
USD/người (năm 2010) và của vùng VBBB khoảng 1.049 USD/người sẽ là một khó
khăn lớn để vùng VBBB CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Qua nghiên cứu kinh
nghiệm quốc tế về CNH, HĐH, mức GDP bình quân đầu người cần đạt từ 3.000
USD trở lên. Khi nghiên cứu về chuẩn CNH của Việt Nam, học giả Đỗ Quốc Sam
đề xuất mức GDP/người để đạt chuẩn CNH của Việt Nam cần đạt 5.000 USD [69].
Vì thế, mức thu nhập bình quân đầu người của toàn quốc và của vùng VBBB còn
thấp hơn rất nhiều so với 2 mức đánh giá: mức chuẩn là 3.000 USD/người và mức
cao hơn là 5.000 USD/người.
Biểu 3.9: Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Thái
Nam
Ninh
Vùng
Chỉ tiêu
Đơn vị
Hải Phòng
Quảng Ninh
Bình
Bình
VBBB
Định
1. GDP/người (giá hiện hành)
2000
USD
410
380
220
200
170
276
2005
USD
770
730
450
350
360
532
2010
USD
1.750
1.293
800
600
800
1.049
2012
USD
2.180
2.643
1.180
1.030
1.200
1.647
2. Tăng trưởng kinh tế
%
13,7
12,8
17,3
7,7
9,1
12,1
Giai đoạn 2001-2005
%
11,6
12,5
13,4
7,1
15,3
12
Giai đoạn 2006-2010
%
10
10,7
13
9,5
14,3
11,5
Giai đoạn 2010-2012
3. NSLĐ (giá hiện hành)
2005
57,2
31,8
35,4
21
24
33,9
Triệu đồng
2010
99,2
95,9
58,4
23,5
65,3
68,5
Triệu đồng
2012
109
106
66,2
30
74,8
77,2
Triệu đồng
4
Nguồn: Tính từ các nguồn số liệu [82] [83] [84] [86] [87]
Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng trưởng kinh
tế bình quân (GDP) của vùng đạt khoảng 12,1% giai đoạn 2006-2010 đạt 12%/năm.
Mặc dù giai đoạn 2006-2010 vùng VBBB đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn
99
các chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 khi nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp (tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7-
8%/năm). Tuy nhiên, vùng VBBB có nhiều tiềm năng và thuận lợi cho phát triển
kinh tế nên cần hướng tới mức tăng trưởng cao hơn và tương đương với mức tăng
trưởng của các nước đã thành công trong quá trình CNH, HĐH (khoảng 15-20%)
[73]. Vì vậy, để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, tốc độ tăng trưởng kinh tế của
vùng VBBB cần cao hơn mức 12%.
Một số điểm cần lưu ý về tăng trưởng kinh tế vùng VBBB để CDCCKT của
vùng theo hướng CNH, HĐH: (1). Hải Phòng và Quảng Ninh chưa phát huy được
vai trò là đầu tầu phát triển của vùng VBBB, chưa thể hiện được vai trò là một trong
những trung tâm phát triển mạnh của vùng ven biển; (2). Phát triển công nghiệp
chưa bền vững, công nghiệp chế biến - chế tạo vẫn còn hạn chế (điển hình là tỉnh
Quảng Ninh); (3). Kinh tế dịch vụ chưa phát triển một cách chuyên nghiệp và chưa
xứng với tiềm năng của vùng VBBB; (4). Kinh tế biển phát triển chưa hiệu quả,
khai thác đánh bắt xa bờ và du lịch biển còn hạn chế, nuôi trồng thủy sản còn chịu
nhiều ảnh hưởng của thiên tai dịch bệnh.
NSLĐ: NSLĐ trung bình của vùng VBBB năm 2010 đạt 68,5 triệu
đồng/người (năm 2012 đạt khoảng 77,2 triệu đồng/người), cao hơn NSLĐ bình
quân của cả nước năm 2010 (40,3 triệu đồng/người). Tuy nhiên, với mức NSLĐ
trung bình đạt 68,5 triệu đồng/người (khoảng 3.300 USD/người) và mức thu nhập
bình quân đầu người đạt 1.040 USD/người thì rất khó để kinh tế của tỉnh phát triển
hiệu quả theo hướng CNH, HĐH. Các tỉnh thuộc vùng VBBB cần đạt được mức thu
nhập bình quân đầu người từ 3.000 - 5.000 USD theo tiêu chuẩn CNH [69]. Như
vậy, NSLĐ trung bình phải gấp ít nhất từ 2,5 đến 3 lần trở lên so với mức NSLĐ
trung bình của năm 2010 thì mới có thể đạt được mức thu nhập bình quân đầu người
của vùng là 3.000 USD. Vì thế, để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, việc đổi mới cơ
cấu sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế là rất cần thiết đối với vùng VBBB.
d. Đánh giá chỉ tiêu phát triển kinh tế biển vùng VBBB
Ngày nay, khi thấy được tầm quan trọng của đại dương trong phát triển kinh
tế, các nước đều tập trung phát triển kinh tế biển. Vì vậy, vùng VBBB với lợi thế
100
các tỉnh ven biển cần tận dụng thế mạnh từ biển để phát triển theo hướng CNH,
HĐH. Tuy nhiên, thực tế hiện nay việc khai thác kinh tế biển tại vùng VBBB còn
nhiều hạn chế, những ngành còn nhiều tiềm năng nhưng chưa được phát huy như
vận tải biển, du lịch biển, dịch vụ logistics, đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu
khí, chế biến thủy sản.
Ngành du lịch biển của vùng VBBB mặc dù có nhiều tiềm năng phát triển,
tuy nhiên cho đến nay ngành du lịch biển vẫn thiếu sức cạnh tranh do không chuyên
nghiệp và thiếu những hình ảnh đặc sắc. Khai thác hải sản và nuôi trồng thủy sản
nước lợ là lĩnh vực kinh tế quan trọng, tuy nhiên hiện nay các tỉnh thuộc vùng
VBBB chưa khai thác mạnh đánh bắt xa bờ. Nuôi trồng thủy sản vẫn còn phụ thuộc
nhiều vào thiên nhiên, chịu ảnh hưởng của thiên tai dịch bệnh do công nghệ chưa
hiện đại và chưa hình thành những vùng chuyên canh đề quản lý và hạn chế tốt các
loại dịch bệnh. Bên cạnh đó, chế biến hải sản vẫn còn hạn chế, chưa tạo ra được
những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Căn cứ theo số liệu các tỉnh vùng VBBB năm 2012, tổng GTSX ngành chế
biến hải sản chỉ chiếm khoảng 2% tổng GTSX các ngành công nghiệp chế biến.
GTSX ngành vận tải biển chiếm khoảng 1%-1,9% tổng GTSX ngành vận tải của
các tỉnh, thành phố trong vùng. GTSX ngành thủy sản chiếm khoảng 1%-2% tổng
GTSX. GTSX ngành du lịch trong đó bao gồm cả du lịch biển chỉ chiếm từ 1,5%
đến 4% tổng GTSX của các tỉnh/thành phố trong vùng (trong khi khai thác chưa
hiệu quả du lịch biển) - Tính theo các nguồn số liệu [82] [83] [84] [86] [87]. Những
lĩnh vực quan trọng để phát huy sức mạnh kinh tế biển như lọc hóa dầu, đóng và sửa
chữa tàu biển, sản xuất muối biển công nghiệp, các dịch vụ kinh tế biển và ven biển
(thông tin, cứu hộ, viễn thông hàng hải trong nước và quốc tế, nghiên cứu KH-CN
biển, xuất khẩu thuyền viên,...) đang mới ở giai đoạn bắt đầu và quy mô nhỏ. Đầu
tư, khai thác biển đảo và hải đảo chưa hiệu quả, đóng góp ít vào phát triển kinh tế.
Về hệ thống hạ tầng vùng VBBB để khai thác kinh tế biển cũng chưa đồng
bộ, hiện nay vùng VBBB không có đường cao tốc chạy dọc theo bờ biển để kết nối
các thành phố, KKT, KCN ven biển thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn. Hệ
thống các khu đô thị, KCN dọc theo biển tại vùng VBBB cũng chưa hoàn thiện, bên
101
cạnh đó việc đầu tư cho khoa học và nhân lực để khai thác kinh tế biển còn hạn chế.
Mạng lưới an toàn cho khai thác kinh tế biển vẫn còn lạc hậu (các cơ sở dự báo thời
tiết, trung tâm cứu hộ, trang thiết bị còn lạc hậu).
Nhìn chung, trình độ khai thác biển của vùng VBBB để phục vụ phát triển
kinh tế còn lạc hậu so với các vùng ven biển ở các nước trên thế giới và thậm chí
ngay trong khu vực.
3.4.4. Đánh giá theo nhóm chỉ tiêu bổ trợ phản ánh CDCCKT vùng VBBB theo
hướng CNH, HĐH
Bên cạnh 3 nhóm chỉ tiêu đánh giá CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH,
HĐH, nghiên cứu này đã tính một số chỉ tiêu bổ trợ đánh giá hiệu quả lan tỏa của
quá trình CDCCKT của vùng VBBB: tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ nghèo, tuổi thọ bình
quân, tỷ lệ tăng dân số. Kết quả tính các chỉ tiêu này được nêu trong biểu sau:
Biểu 3.9: Một số chỉ tiêu bổ trợ đánh giá quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Nam
Chỉ tiêu
Hải Phòng
Quảng Ninh
Thái Bình
Ninh Bình
Vùng VBBB
Đơn vị
Định
1. Tỷ lệ thất nghiệp
2010
%
0,4
1,9
2,5
4,3
3,7
2,6
2012
%
3,5
1,4
0,8
1,9
2,7
2,1
2. Tỷ lệ nghèo
2010
%
5,9
4,1
9,3
3,9
6,5
5,9
2012
4,2
3,5
6,8
6,7
8
5,8
72
73
76
72
74
73
% Tuổi
3. Tuổi thọ bình quân 2010 4. Tỷ lệ tăng dân số
2010
%
1
1,1
0,8
0,9
0,2
0,8
2012
%
0,9
1,3
0,6
1,9
0,9
1,1
Nguồn: Tính từ các nguồn số liệu [82] [83] [84] [86] [87]
Tỷ lệ thất nghiệp: Tỷ lệ thất nghiệp của vùng VBBB năm 2010 khoảng
2,6% (năm 2012 giảm xuống còn 2,1%). Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tỷ lệ thất
nghiệp trung bình của cả nước (khoảng 4,5- 5%), và thấp hơn so với tỷ lệ thất
nghiệp trung bình của vùng ĐBSH (5,6%). Nếu so với chỉ tiêu chung về phát triển
theo hướng CNH của các nước NIEs thì tỷ lệ này thấp hơn (tỷ lệ thất nghiệp ở các
nước này dưới 5%) [73]. Tuy nhiên, mặc dù có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhưng lực
lượng lao động của các tỉnh thuộc vùng VBBB có trình độ thấp và phần lớn lao
102
động hoạt động trong khu vực kinh tế nông nghiệp, một bộ phận lao động chuyển
sang khu vực kinh tế công nghiệp và dịch vụ nhưng đa phần là hoạt động trong
những ngành đòi hỏi trình độ thấp và hiệu quả kinh tế cũng như NSLĐ thấp.
Tỷ lệ hộ nghèo: Tỷ lệ nghèo của vùng VBBB năm 2010 là 5,9%, tỷ lệ này
cao hơn so với với chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn
2011-2020. Nếu so với tỷ lệ hộ nghèo của toàn quốc và của vùng ĐBSH thì tỷ lệ hộ
nghèo của vùng VBBB thấp hơn nhiều (tỷ lệ nghèo của cả nước năm 2010 khoảng
11% và vùng đồng bằng sông Hồng 19,8%) [88]. Tỷ lệ hộ nghèo của vùng VBBB
cũng cao hơn so với mức tiêu chuẩn quốc tế bởi khi nghiên cứu kinh nghiệm quốc
tế các nước đã thực hiện thành công CNH, trong giai đoạn còn đang phát triển như
Việt Nam hiện nay (GDP khoảng 1.200 USD/người), tỷ lệ hộ nghèo cần giảm
xuống dưới 5% để đảm bảo sự tin cậy và bền vững của sự nghiệp CNH [69]. Như
vậy, vùng VBBB cần tiếp tục thực hiện tốt công tác giảm nghèo để duy trì và ngày
một giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống thấp hơn mức 5%.
Một số chỉ tiêu phản ánh chất lượng cuộc sống người dân: Thứ nhất, về tuổi thọ bình quân của người dân đạt 73 tuổi, đạt mức trung
bình so với cả nước và vùng ĐBSH. Tuy nhiên đối chiếu với các tiêu chuẩn được đề
ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 vùng VBBB cần nâng
tuổi thọ bình quân lên 75 tuổi [9].
Thứ hai, tỷ lệ sử dụng nước sạch là của vùng VBBB khoảng từ 80% - 90%,
vì vậy, vùng VBBB cần nâng cao tỷ lệ sử dụng nước sạch để đảm bảo 100% dân số
được sử dụng nước sạch.
Thứ ba, tỷ lệ tăng dân số của vùng VBBB năm 2010 là 0,8% và năm 2012 là
1,1 %, tỷ lệ này tiệm cận với mục tiêu tỷ lệ tăng dân số ổn định ở mức từ 1% trở
xuống được đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH hội giai đoạn 2011-2020 để
xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại [9].
Bảo vệ môi trường: Đối với một nền kinh tế CNH, HĐH, bên cạnh những
yếu tố hiệu quả kinh tế và NSLĐ cao thì vấn đề sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi
trường cần được quan tâm hợp lý. Vấn đề bảo vệ môi trường là một chỉ tiêu cần
xem xét để đánh giá sự bền vững đối với quá trình CDCCKT theo hướng CNH,
HĐH tại vùng VBBB. Hiện nay tại vùng VBBB đang có những ảnh hưởng đáng
103
báo động đến ô nhiễm môi trường: Môi trường của thành phố Hải Phòng và các tỉnh
trong vùng VBBB đang ngày càng ô nhiễm, tỷ lệ xử lý chất thải chỉ đạt 60-80%.
Như vậy, sức ép đến môi trường ngày một lớn đi kèm với quá trình CNH, HĐH.
Bên cạnh đó là tỷ lệ che phủ rừng cũng như diện tích cây xanh trên địa bàn các
tỉnh/thành phố ngày một giảm dần, kèm theo đó là một số KCN và một số cơ sở sản
xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông sản và hải sản với công nghệ
lạc hậu gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, vấn đề sử dụng tài nguyên hợp lý và bảo
vệ môi trường cần được các tỉnh quan tâm song song với quá trình CNH, HĐH.
Đối chiếu với một số tiêu chuẩn cơ bản được đề ra trong Chiến lược phát
triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 (tỷ lệ che phủ rừng đạt 45%; 95% chất thải rắn
thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu
chuẩn,...) thì vùng VBBB cần rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường của vùng
bởi các tiêu chuẩn đều thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH
giai đoạn 2011-2020 [9].
3.5. ĐÁNH GIÁ NHỮNG THÀNH CÔNG, HẠN CHẾ CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ 3.5.1. Đánh giá những thành công cơ bản của CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
a. Những thành công cơ bản
Về huy động nguồn lực đầu vào cho CDCCKT theo hướng CNH, HĐH Mặc dù chưa đạt được thành công so với mục tiêu CNH, HĐH, tuy nhiên,
các tỉnh/thành phố thuộc vùng VBBB đã xác định và bước đầu đạt được thành công
trong quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Điều này được thể hiện qua việc
tập trung đầu tư cho phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ. Tính cho cả giai
đoạn 2001-2010 tỷ lệ đầu tư vào khu vực công nghiệp khoảng 30,25% và tỷ lệ đầu
tư vào khu vực dịch vụ khoảng 43,5% tổng vốn đầu tư của toàn vùng VBBB.
Các tỉnh/thành phố đã bắt đầu quan tâm đầu tư cho phát triển KH-CN, nâng
cao trình độ người lao động để tạo nền tảng về công nghệ và nhân lực cho quá trình
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH trong giai đoạn từ nay đến 2020 và sau năm
2020. Các hạng mục công trình kết cấu hạ tầng đã và đang được quan tâm đầu tư để
ngày một phục vụ tốt hơn cho quá trình phát triển KT-XH.
104
Một số yếu tố thuận lợi, ảnh hưởng đến quá trình CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH đang dần dần được các tỉnh trong vùng VBBB tập trung khai thác và
phát huy hiệu quả: Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, thuận lợi về giao thương quốc tế,
các tiềm năng, lợi thế cho phát triển và CDCCKT.
Về động thái và trình độ CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Vùng VBBB đã khẳng định được vị thế kinh tế của vùng so với cả nước, giai
đoạn từ 2000-2005, số điểm phần trăm GDP của vùng VBBB so với tổng GDP của
cả nước tăng lên khoảng 3%, giai đoạn 2005-2010 tăng lên khoảng 2,5%. Tính đến
năm 2012, tổng GDP của vùng VBBB chiếm khoảng 12,5% tổng GDP của cả nước.
Mặc dù chưa đạt được thành công trong phát triển khu vực dịch vụ, tuy
nhiên, CCKT của vùng VBBB đã chuyển dịch nhanh theo hướng tập trung cho phát
triển công nghiệp. Giai đoạn 2001-2010, tỷ trọng khu vực công nghiệp của vùng
tăng lên 8,3% điểm phần trăm trong CCKT. Tốc độ tăng GTSX của khu vực công
nghiệp tương đối cao (giai đoạn 2001-2010 đạt khoảng 19,95%, so với tiêu chuẩn
CNH, HĐH tốc độ này cần tăng từ 15-20%). Tốc độ tăng NSLĐ khu vực công
nghiệp cũng tương đối cao với khoảng 17,5% trong giai đoạn 2001-2010. Tỷ trọng
các ngành công nghiệp chế biến - chế tạo và những ngành có hàm lượng công nghệ
và hiệu quả kinh tế cao đang dần dần được nâng lên. Kinh tế các tỉnh thuộc vùng
VBBB đã bắt đầu tập trung cho phát triển các ngành dịch vụ. Đời sống người dân
ngày một nâng lên, thu nhập bình quân đầu người được cải thiện.
Về kết quả và một số chỉ tiêu bổ trợ đánh giá quá trình CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng tương đối cao, tính trung bình trong giai
đoạn 2001-2010, tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 12,05%/năm. Tỷ trọng khu
vực nông nghiệp giảm 17,9 % trong giai đoạn 2001-2010. Cùng với việc giảm tỷ
trọng khu vực nông nghiệp là sự tăng lên của các ngành phi nông nghiệp (chủ yếu
tập trung cho phát triển công nghiệp).
Tỷ trọng chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp
từ năm 2001-2010 đạt 20,5%, song song sự chuyển dịch này, trình độ người lao
động dần dần được nâng lên.
105
Tỷ lệ thất nghiệp của toàn vùng thấp, năm 2010 tỷ lệ thất nghiệp là 2,5%, tỷ
lệ này thấp hơn so với mức trung bình của cả nước và tỷ lệ thất nghiệp của các nước
công nghiệp hóa thành công (tỷ lệ thất nghiệp dưới 5%). Bên cạnh đó, tỷ lệ hộ
nghèo của vùng VBBB cũng thấp hơn mức trung bình của cả nước và của vùng
ĐBSH. Tỷ lệ tăng dân số đạt yêu cầu so với mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát
triển KT-XH giai đoạn 2011-2020.
b. Nguyên nhân những thành công: Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến những
thành công về CDCCKT của vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH như sau:
Khai thác các tiềm năng lợi thế: Các tỉnh trong vùng VBBB có những lợi
thế về tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho quá trình tích lũy, đầu tư cho phát triển
(các loại tài nguyên, khoáng sản quan trọng như than ở Quảng Ninh, các tài nguyên
khác như: đất, nước, cảnh quan phục vụ du lịch), bên cạnh tài nguyên, nguồn nhân
lực của vùng VBBB dồi dào với giá lao động thấp. Với thuận lợi về giao thông và
vị trí địa kinh tế, các tỉnh/thành phố trong vùng VBBB đã tập trung khai thác các thị
trường trong nước và xuất khẩu.
Phát triển ngành nghề: Các tỉnh/thành phố trong vùng VBBB đã quan tâm
đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ - du lịch, cố gắng từng bước phát huy
lợi thế về thuận lợi kết nối giao thông trong và ngoài nước để đẩy mạnh phát triển
công nghiệp và dịch vụ. Bên cạnh đó, vùng VBBB đã bắt đầu tập trung phát huy các
tiềm năng, lợi thế để phát triển các loại hình dịch vụ vận tải biển, cảng biển, dịch vụ
và du lịch biển. Những ngành truyền thống đã được quan tâm đầu tư, từng bước
nâng dần trình độ lao động và công nghệ (khai thác, chế biến nông, lâm, thủy sản,
các ngành tiểu thủ công nghiệp).
Thu hút đầu tư và phát triển các KCN, CCN: Thu hút đầu tư nước ngoài
vào Quảng Ninh, Hải Phòng và các tỉnh thuộc vùng VBBB đã góp phần tạo nên
những thành công quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế các tỉnh theo hướng
CNH, HĐH. Trong vùng tập trung nhiều KKT, KCN quan trọng với sự tham gia
của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước tạo hiệu ứng lan tỏa cho phát triển, có thể
kể đến các KCN của Hải Phòng như: Nomura, Đình Vũ I và II, Đồ Sơn, Tràng Duệ,
An Dương, các KCN phi thuế quan, KKT Đình Vũ - Cát Hải và các KCN quan
trọng của tỉnh Quảng Ninh: Hải Hà-Móng Cái,...
106
Hạ tầng và cơ chế: Cơ sở hạ tầng giao thông và hạ tầng phục vụ phát triển
kinh tế của các tỉnh thuộc vùng VBBB đang dần hoàn thiện tạo thuận lợi cho giao
thương nội, ngoại vùng và kết nối giao thương quốc tế, góp phần đem lại những
thành công trong phát triển kinh tế của vùng. Bên cạnh đó, quá trình cải cách hành
chính đã phần nào khuyến khích các thành phần kinh tế tập trung đầu tư vào các
lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
3.5.2. Đánh giá những hạn chế của CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH
a. Những hạn chế cơ bản
Cơ cấu các ngành của vùng VBBB còn chưa hợp lý, chưa hình thành
được hệ thống các ngành có sức cạnh tranh làm trụ cột cho phát triển kinh tế:
Nhìn chung, các tỉnh chưa phát huy tốt lợi thế so sánh, thế mạnh về các nguồn lực
(tài nguyên, nguồn nguyên liệu, thị trường và lao động), chưa phát triển và xây
dựng các ngành, sản phẩm tiêu biểu, có sức cạnh tranh cao. Quá trình tổ chức sản
xuất, phân bố sản xuất và các ngành phụ trợ kèm theo để tăng cường năng lực cạnh
tranh cho các sản phẩm của vùng VBBB còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa
có một cơ quan quản lý chung về tổ chức, điều phối sản xuất của riêng vùng VBBB.
Vì vậy, năng lực cạnh tranh của các sản phẩm trong vùng VBBB còn hạn chế và
làm giảm hiệu quả CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
Tổ chức mạng lưới sản xuất của vùng (liên kết vùng) chưa tốt: Sự kết nối
giữa các tỉnh trong vùng để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong phát triển kinh tế chưa
tốt, điều này giảm sức cạnh tranh trong quá trình sản xuất các tỉnh. Vùng VBBB
chưa khai thác và phát triển hiệu quả các KCN, CCN xứng với tiềm năng, phát
triển các làng nghề truyền thống chưa hiệu quả, nguồn nhân lực và đội ngũ công
nhân lành nghề chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.
Kinh tế biển phát triển chưa hiệu quả: Kinh nghiệm và thực lực phát triển
kinh tế biển của vùng VBBB còn yếu và chưa xứng với tiềm năng của vùng, nuôi
trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản chưa khai thác hết lợi thế, tiềm năng của vùng.
Phương thức nuôi vẫn chủ yếu là quảng canh nên năng suất, chất lượng sản phẩm
chưa cao, du lịch biển phát triển còn hạn chế.
107
Hạn chế về huy động nguồn lực đầu vào cho quá trình CDCCKT của
vùng theo hướng CNH, HĐH: Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, các
tỉnh/thành phố trong vùng VBBB đã tập trung cho phát triển khu vực công nghiệp
và khu vực dịch vụ theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, tình hình kinh tế những năm
gần đây gặp nhiều khó khăn nên việc tích lũy, huy động vốn cho đầu tư còn hạn
chế. Bên cạnh đó, các tỉnh/thành phố trong vùng VBBB đang phải tập trung mạnh
cho phát triển cơ sở hạ tầng. Vì vậy, tổng vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và
dịch vụ chưa đáp ứng được yêu cầu của một nền sản xuất hiện đại.
Bên cạnh đó, trình độ người lao động còn hạn chế, chưa thể đáp ứng yêu cầu
phát triển công nghiệp và dịch vụ hiện đại. Đầu tư cho phát triển KH-CN, phát triển
Giáo dục và đào tạo chưa đủ lớn để có thể đào tạo được nguồn nhân lực có chất
lượng để phục vụ hiệu quả cho quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Trình
độ và NSLĐ thấp, lao động tập trung nhiều ở những ngành có trình độ công nghệ và
giá trị kinh tế không cao. Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp và chưa chuyên nghiệp,
năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo của toàn vùng chỉ chiếm 42,4%, năm 2012 tỷ
lệ lao động qua đào tạo khoảng 43,8%, trong khi mục tiêu đề ra trong Chiến lược
phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp theo hướng hiện đại, tỷ lệ lao động cần đạt khoảng 70% trở lên).
Những hạn chế về động thái và trình độ quá trình CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH:
Trong giai đoạn 2001-2010, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông
nghiệp sang phi nông nghiệp diễn ra chậm, chưa đáp ứng yêu cầu quá trình
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Khu vực công nghiệp mặc dù có tốc độ tăng
trưởng GTSX và NSLĐ tương đối cao (tương ứng khoảng 19,95% và 17,5%), số
điểm % của khu vực công nghiệp trong CCKT tăng lên nhanh (khoảng 16,6 điểm
%). Tuy nhiên, chất lượng chuyển dịch còn hạn chế, tổ chức sản xuất công nghiệp
hiệu quả thấp, chưa có sự phối kết hợp tốt theo quy trình sản xuất ra các sản phẩm
để nâng cao hiệu quả kinh tế. Hiện tượng thiếu một số ngành công nghiệp phụ trợ
còn phổ biến, phân bố các cụm sản xuất và các ngành nghề sản xuất còn chưa hợp
lý. Quá trình đổi mới, áp dụng các thành quả KH-CN mới vào sản xuất còn hạn chế.
Trong cơ cấu các mặt hàng công nghiệp, tỷ lệ các mặt hàng công nghiệp có trình độ
108
thấp còn lớn và hiệu quả kinh tế chưa cao, phụ thuộc nhiều vào tài nguyên sẵn có và
nguồn nhân lực chất lượng thấp.
Kinh tế dịch vụ chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của vùng. Chuyển
dịch cơ cấu lao động khu vực dịch vụ diễn ra chậm, tốc độ tăng trưởng và NSLĐ
khu vực dịch vụ thấp, tỷ trọng GDP khu vực dịch vụ tăng lên rất nhỏ (số điểm %
khu vực dịch vụ giai đoạn 2001-2005 giảm 0,8 điểm %, giai đoạn 2006-2010 tăng
1,5 điểm %). Tỷ trọng GTSX các ngành dịch vụ hiện đại và đem lại hiệu quả kinh tế
cao còn hạn chế so với tổng GTSX của khu vực dịch vụ. Vì vậy, vùng VBBB cần
phải cố gắng nhiều để tiến đến mục tiêu phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ
hiện đại để thực hiện CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
Hạn chế về kết quả đạt được so với các tiêu chuẩn CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH
CDCCKT (GDP) và chuyển dịch cơ cấu lao động giữa hai khối ngành nông
nghiệp và phi nông nghiệp chưa đạt yêu cầu của quá trình CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH. Tính đến năm 2012, tỷ trọng GDP các ngành phi nông nghiệp của
vùng đạt khoảng 82,5% so với tổng GDP toàn vùng, tỷ trọng lao động phi nông
nghiệp khoảng 49% (Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, tỷ trọng GDP các
ngành phi nông nghiệp đạt từ 85% trở lên và lao động phi nông nghiệp chiếm từ 30-
35% tổng số lao động [9]).
NSLĐ và thu nhập bình quân đầu người vùng VBBB thấp so với mức trung
bình của cả nước và vùng ĐBSH và thấp hơn nhiều đối với mức chuẩn để tiến hành
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH (năm 2010 thu nhập bình quân đầu người của
vùng đạt 1.043 USD/người). Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH hiệu quả vùng
VBBB cần có mức thu nhập bình quân đầu người từ 3.000 USD trở lên.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa đảm bảo cho quá trình CNH, HĐH (Mặc dù
đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình là 12,05%/năm, tuy nhiên, tốc độ này còn
thấp hơn so với mức tăng trưởng để CNH, HĐH thành công theo kinh nghiệm quốc
tế (các nước NIEs đạt tốc độ tăng trưởng khu vực công nghiệp và dịch vụ đạt từ 15-
20% trong nhiều năm liền để trở thành nước công nghiệp hiện đại).
Bên cạnh đó, một số yếu tố khác mang tính chất hệ quả của quá trình công
nghiệp hóa và đô thị hóa như: Vệ sinh môi trường và tệ nạn xã hội đang diễn ra theo
109
chiều hướng xấu, ở nhiều nơi ô nhiễm môi trường và tệ nạn xã hội đã ở mức báo
động. Tỷ lệ hộ nghèo của vùng (5,9% vào năm 2012) vẫn còn cao hơn mức chuẩn
của quá trình CNH, HĐH (5%). Tuổi thọ bình quân cần phấn đấu lên 75 tuổi (hiện
tại năm 2012 là 73 tuổi).
b. Những nguyên nhân cơ bản cản trở trong quá trình phát triển kinh tế theo
hướng CNH, HĐH
Những nguyên nhân nội tại cần có những giải pháp phù hợp
- Nguồn nhân lực của vùng VBBB còn hạn chế: Trình độ hiện tại người lao
động thấp, quá trình đào tạo không bài bản, vì thế không thể đáp ứng nhu cầu của
những ngành sản xuất có hiệu quả kinh tế và đòi hỏi trình độ lao động cao.
- Khó khăn về vốn đầu tư cho sản xuất: Nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh
tế còn hạn chế nên việc đầu tư cho phát triển sản xuất theo công nghệ hiện đại và
đào tạo nguồn nhân lực gặp khó khăn. Đầu tư cho giáo dục KH-CN chưa đảm bảo
để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho quá trình CNH, HĐH. Mức đầu tư
cho KH-CN ở các tỉnh đều dưới 2% tổng vốn đầu tư, đầu tư cho Giáo dục và đào
tạo thấp hơn 4% tổng vốn đầu tư. Vùng VBBB cần đạt tới mức đầu tư cho KH-CN
và Giáo dục và đào tạo đạt mức 8% tổng GDP của vùng (theo kinh nghiệm của các
nước tiến hành CNH thành công).
- Cơ chế, chính sách và công tác quản lý còn nhiều hạn chế: Trình độ quản
lý kinh tế và cơ chế quản lý của các tỉnh/thành phố trong vùng còn chưa theo kịp
được xu thế phát triển. Vì vậy, quá trình phát triển kinh tế của các tỉnh chưa khai
thác tốt các tiềm năng, lợi thế so sánh của vùng phục vụ quá trình CNH, HĐH
- Chất lượng cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo: Vùng VBBB có cơ sở hạ tầng còn
chưa đảm bảo chất lượng và chưa đồng bộ để phục vụ cho quá trình CNH, HĐH.
- Công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch chưa hiệu quả: Công tác quy
hoạch, quản lý và thực hiện quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức để phát triển
kết cấu hạ tầng và các tiền đề cho phát triển kinh tế, nhất là hệ thống giao thông
huyết mạch.
- Công nghiệp phụ trợ chưa phát triển: Vùng VBBB còn thiếu các ngành
công nghiệp phụ trợ để hỗ trợ cho quá trình phát triển của toàn vùng, vì thế, giảm
110
tính hấp dẫn trong thu hút đầu tư vào vùng VBBB và giảm khả năng cạnh tranh
trong sản xuất hàng hóa của vùng.
- Khai thác tài nguyên và điều kiện tự nhiên chưa hiệu quả: Chưa sử dụng
hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và chưa phát huy tốt các lợi thế về vị trí địa
lý, vai trò của vùng cũng như các tiềm năng cho phát triển.
Những yếu tố tác động bên ngoài cần có những giải pháp phù hợp
- Ảnh hưởng của vấn đề an ninh, chủ quyền trên biển: Vấn đề quốc phòng -
an ninh, an ninh trên biển và sự nhạy cảm của vấn để chủ quyền quốc gia và tranh
chấp lãnh thổ trên biển và cũng ít nhiều ảnh hưởng đến tâm lý và các quyết định của
các nhà đầu tư phát triển kinh tế biển nói riêng và kinh tế vùng VBBB nói chung.
- Áp lực cạnh tranh từ bên ngoài: Sự cạnh tranh gay gắt của hàng hóa Trung
Quốc và một số nước trong khu vực cũng tạo áp lực lớn và gây ảnh hưởng tiêu cực
đối với sản xuất một số mặt hàng của vùng VBBB.
- Hợp tác kinh tế quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài của vùng VBBB vẫn
còn hạn chế: Do thiếu các ngành công nghiệp phụ trợ, nguồn nhân lực hạn chế, cơ
chế chưa thực sự hấp dẫn và hạ tầng chưa đồng bộ
- Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và các yếu tố rủi ro trong sản xuất: Kinh
tế biển và sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp chịu ảnh hưởng tiêu cực của thiên tai và
thời tiết, các ngành chăn nuôi tăng trưởng chưa vững chắc, diễn biến phức tạp của dịch bệnh vẫn còn nguy cơ tiềm ẩn và tái phát gây thiệt hại cho sản xuất làm giảm
tốc độ tăng trưởng chung; các khu chăn nuôi tập trung hình thành chậm, hiệu quả
chưa cao.
Tiểu kết chương 3
Vùng VBBB bao gồm có thành phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh, Thái Bình,
Nam Định và Ninh Bình. Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình
CDCCKT và đánh giá quá trình CDCCKT của vùng VBBB theo hướng CNH,
HĐH, chương III của luận án đã tập trung vào các vấn đề sau:
Thứ nhất, nghiên cứu điều kiện cơ bản của vùng VBBB liên quan đến quá
trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH: Điều kiện đất đai, dân số, giao thông
(đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không) và các định hướng phát
triển không gian của vùng VBBB.
111
Thứ hai, tập trung phân tích các yếu tố tác động đến quá trình CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH: (1). Nhóm các điều kiện thuận lợi bao gồm: Thuận lợi bên từ
bên ngoài (bao gồm: thuận lợi do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thuận lợi về cơ
chế và thể chế, thuận lợi từ liên kết vùng và giao thương, tiến bộ KH-CN). Thuận
lợi mang tính chất nội tại (bao gồm: vị trí vai trò của vùng được đánh giá cao đối
với sự phát triển kinh tế của cả nước, điều kiện hạ tầng giao thông thuận tiện, lợi
thế về điều kiện tự nhiên, tiềm năng du lịch,...); (2). Nhóm các yếu tố cản trở quá
trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH: Khó khăn từ bên ngoài (bao gồm: sức ép
cạnh tranh lớn với hàng hóa các nước trong khu vực, biến đổi khí hậu và thiên tai,
vấn để chủ quyền trên biển chưa thống nhất, cạnh tranh trong thu hút đầu tư).
Những khó khăn nội tại (bao gồm: dân số đông và chất lượng lao động thấp, kết
cấu hạ tầng còn hạn chế, khả năng cạnh tranh thấp, tổ chức lãnh thổ còn bộc lộ
nhiều bất hợp lý, tâm lý phát triển chưa tốt, bảo vệ môi trường gặp khó khăn).
Thứ ba, thông qua bộ chỉ tiêu đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
nghiên cứu đã tổng kết được những thành công cơ bản và những hạn chế của quá
trình CDCCKT tại vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH tại vùng VBBB:
Đối với những thành công tập trung vào: (1). Những thành công về huy động
nguồn lực đầu vào và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH; (2). Những thành công về động thái và trình độ CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH; (3). Những thành công về kết quả đạt được của quá trình CDCCKT
theo hướng CNH, HĐH.
Những hạn chế cơ bản của quá trình CDCCKT gồm có: (1). Cơ cấu các
ngành của vùng VBBB còn chưa hợp lý, chưa hình thành được hệ thống các ngành
có sức cạnh tranh làm trụ cột cho phát triển kinh tế; (2). Tổ chức mạng lưới sản xuất
vùng (liên kết vùng) chưa tốt; (3). Kinh tế biển phát triển chưa hiệu quả; (4). Hạn
chế về huy động nguồn lực đầu vào cho quá trình CDCCKT của vùng theo hướng
CNH, HĐH; (5). Chưa đạt được một số chỉ tiêu về động thái và trình độ của
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH; (6). Kết quả đạt được của một số chỉ tiêu chưa
đạt so với các tiêu chuẩn CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
Về những nguyên nhân cơ bản của những hạn chế nêu trên bao gồm: Những
nguyên nhân nội tại cần có những giải pháp phù hợp (bao gồm: nguồn nhân lực của
112
vùng VBBB còn hạn chế, khó khăn về vốn đầu tư cho sản xuất, cơ chế, chính sách
và công tác quản lý còn nhiều hạn chế, chất lượng cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo,
công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch chưa hiệu quả, công nghiệp phụ trợ
chưa phát triển, khai thác tài nguyên và điều kiện tự nhiên chưa hiệu quả). Những
yếu tố tác động bên ngoài cần có những giải pháp phù hợp (bao gồm: ảnh hưởng
của vấn đề chủ quyền trên biển, áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, hợp tác kinh tế
quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài hạn chế, ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và
các yếu tố rủi ro trong sản xuất).
113
Chương 4 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
4.1. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG VEN BIỂN BẮC BỘ 4.1.1. Xác định các ngành nghề có khả năng cạnh tranh
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH cho vùng VBBB cần phải gắn với các
định hướng phát triển các ngành/nghề có năng lực cạnh tranh của vùng. Các định
hướng này cần phải dựa trên các yếu tố: tiềm năng lợi thế và xu thế trong nước, xu
thế phát triển và tiêu thụ sản phẩm, những ngành có tính cạnh tranh cao trên thế
giới, những ngành Việt Nam có lợi thế cạnh tranh, những tiềm năng và lợi thế của
Confidential
các tỉnh/thành phố thuộc vùng VBBB.
a. Những ngành có tính cạnh tranh quốc tế
34 ngành kinh tế thế giới được coi là những ngành trụ cột tiềm năng cho quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Ninh Thuận
Đồ
Đồ nhựa
thêu ren
Dược phẩm
Trang sức và kim loại quý
Sản phẩm da
Thiết bị y tế
Hóa chất
Các công cụ phân tích
Dệt may
Giày dép
Khung, thiết bị cho xây dựng
Xuất bản và in ấn
Giải trí và hàng hóa trẻ em
Sản xuất Và truyền năng lượng điện
Xây dựng và bất động sản
Dầu mỏ và khí đốt
Đồ nội thất
Giáo dục và đào tạo
Các dịch vụ kinh doanh/ tài chính
Tự động hóa
Công nghệ
sản xuất
Tin học/ viễn thông
Nông sản thủy sản Va Lâm sản
Các
Du lịch và
Bán buôn/ bán lẻ
Động cơ, các phương tiện hàng không và quốc phòng
sản phẩm
dịch vụ
Điện tử
chạy bằng
Sản xuất
động cơ
Thiết bị
kim loại
Công nghiệp
thông tin
Giải trí
nặng
liên lạc
Giao thông vận tải và hậu cần
Khai thác mỏ và khoáng sản
quốc gia để đảm bảo các ngành độc lập với nhau nhưng cùng phát triển toàn diện
Ghi chú: các cụm ngành dựa trên định nghĩa ngành của Học viện Chiến lược và cạnh Tranh và được lựa chọn theo số liệu thống kê Ghi chú: Màu sắc và các vòng tròn lồng vào nhau thể hiện sự liên kết giữa các ngành
24
Copy right © 2007 Monitor Company Group, L.P. — Confidential — DUB
Nguồn: Học viện Chiến lược và Cạnh tranh – Đại học Havard, Hoa Kỳ, GSO
Hình 4.1: Sơ đồ 34 ngành có tính cạnh tranh cao trên thế giới do Viện
Chiến lược cạnh tranh-Đại học Havard đề xuất [85]
Ngày nay, các nước đều muốn nâng cao năng lực cạnh tranh cho các sản
phẩm của mình để ngày một tham gia hiệu quả vào mạng sản xuất và phân phối
toàn cầu. Một số vấn đề quan trọng được nhiều nước quan tâm như: định hướng
phát triển sản phẩm, nâng cao NSLĐ, ứng dụng KH-CN hiện đại, nâng cao trình độ,
kỹ năng cho người lao động và mở rộng mạng lưới phân phối toàn cầu,... Vì vậy,
114
mỗi quốc gia cần căn cứ vào tiềm năng, lợi thế so sánh của mình và xu thế phát
triển của thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước để định hướng cho mình
những sản phẩm chủ lực, định hướng phát triển cơ cấu sản phẩm, cơ cấu ngành kinh
tế một cách phù hợp. Khi nghiên cứu đến khả năng cạnh tranh của các sản phẩm,
Viện Chiến lược cạnh tranh của Trường Đại học Havard đã xác định 34 ngành có
năng lực cạnh tranh mang tính toàn cầu như trong sơ đồ hình 4.1.
b. Những ngành Việt Nam có tiềm năng cạnh tranh
Trên cơ sở 34 ngành có năng lực cạnh tranh trên thế giới, tổ chức Monitor
khi nghiên cứu về khả năng cạnh tranh cho các sản phẩm của Việt Nam đã xác định
được 21 cụm ngành mà Việt Nam có thể phát triển và có sức cạnh tranh khi xuất
khẩu sản phẩm ra thị trường thế giới như sau [85]:
Những cụm ngành hiện đã có năng lực cạnh tranh: Những cụm ngành
hiện có năng lực cạnh tranh của Việt Nam được nêu trong biểu sau:
(1). Thêu ren
(4). Đồ gỗ, nội thất
(2). Nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp, lâm nghiệp
(5). Các sản phẩm da
(3). Sản xuất giày, dép
(6). Dệt may
Biểu 4.1: Danh mục những ngành đã có năng lực cạnh tranh của Việt Nam
Những cụm ngành mới Việt Nam có thể có sức cạnh tranh: Những cụm
ngành Việt Nam có khả năng cạnh tranh được nêu trong biểu sau:
(1). Thiết bị xây dựng
(9). Sản xuất đồ nhựa
(2). Thiết bị thông tin liên lạc
(10). Sản xuất kim loại
(3). Xây dựng, bất động sản
(11). Dịch vụ xuất bản, in ấn
(4). Giáo dục-Đào tạo
(12). Sản xuất động cơ
(5). Dịch vụ giải trí
(13). Sản xuất năng lượng
(6). Điện tử
(14). Dịch vụ hậu cần, vận tải
(7). Dịch vụ kinh doanh/tài chính
(15). Các sản phẩm thể thao giải trí, đồ
dùng và đồ chơi trẻ em
(8). Du lịch và dịch vụ
Biểu 4.2: Danh mục những ngành Việt Nam có thể có sức cạnh tranh
115
c. Xác định những ngành có khả năng cạnh tranh của vùng VBBB
Xác định những hướng phát triển cho các ngành có sức cạnh tranh, đóng vai
trò trụ cột đối với phát triển vùng VBBB cần dựa trên: xu hướng phát triển những
ngành có tính cạnh tranh cao trên thế giới (34 nhóm ngành), những ngành mà Việt
Nam có thể phát triển (21 cụm ngành) và những điều kiện phát triển của vùng
VBBB. Vùng VBBB cần căn cứ vào vị trí địa kinh tế trong đó khai thác hiệu quả
yếu tố thuận lợi về biển trong phát triển kinh tế. Khai thác hiệu quả vị trí thuận lợi
trong giao thương quốc tế và hình thành các ngành phi nông nghiệp hiện đại và
nông nghiệp chất lượng cao. Tăng tỷ trọng giá trị phi nông nghiệp với những ngành
có lợi thế so sánh, tạo giá trị gia tăng cao và có sức cạnh tranh lớn. Phát triển công
nghiệp với công nghệ tiên tiến, đào tạo lao động theo các tiêu chuẩn quốc tế, chú
trọng phát triển các ngành phi nông nghiệp để thu hút các lao động dôi dư (kể cả
ngành dịch vụ xuất khẩu lao động). Hình thành một số sản phẩm chủ lực có thế
mạnh của các tỉnh và hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất và hướng tới thị
trường ngoài nước.
Những tiềm năng, lợi thế cơ bản của vùng VBBB để phát triển những ngành
có năng lực cạnh tranh gồm có: (1). Vùng VBBB có lợi thế trong việc khai thác các
thị trường rộng lớn như thị trường vùng đồng bằng sông Hồng, thị trường Trung
Quốc, thị trường Châu Âu…; (2). Vùng có lợi thế về vị trí thuận lợi trong giao
thương quốc tế, khai thác thế mạnh trong giao thông đường biển và hệ thống các
cảng lớn trong vùng để phát triển vận tải biển và các ngành dịch vụ hiện đại như tài
chính, bảo hiểm, logistics…; (3). Các tỉnh trong vùng đều có lợi thế tiếp giáp với
biển, điều này thuận lợi cho phát triển những ngành kinh tế gắn với biển như đánh
bắt (trong đó đánh bắt xa bờ là một định hướng quan trọng), nuôi trồng và chế biến
hải sản; (4). Vùng VBBB có nhiều cảnh quan đẹp, các khu di tích lịch sử và sự đa
dạng về văn hóa, phong tục, tập quán nên có thể phát triển du lịch, trong đó du lịch
biển là một trong những thế mạnh của vùng, từ đó có thể hình thành các tour, tuyến
du lịch liên vùng; (5). Vùng VBBB có cơ sở hạ tầng tương đối thuận tiện bên cạnh
đó là thuận lợi trong việc đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao do nằm
ở vị trí gần với Thủ đô Hà Nội, những lợi thế này cần được khai thác để phát triển
116
các ngành công nghiệp chế biến-chế tạo và các ngành công nghiệp hiện đại như
công nghiệp điện tử, dược phẩm…; (6). Vùng VBBB có có tiềm năng về đá vôi để
sản xuất xi măng và các sản phẩm phục vụ ngành xây dựng như cát, sỏi…
Với những mục tiêu và tiềm năng, lợi thế cho phát triển như đã nêu ở trên,
vùng VBBB cần tập trung phát triển những ngành, lĩnh vực có lợi thế so sánh được
nêu trong biểu sau:
(6). Nuôi trồng hải sản, đánh bắt xa bờ
(1). Công nghệ thông tin (tập trung vào công nghiệp phần mềm)
(2). Điện tử (tập trung cho điện tử dân dụng)
(7). Chế biến thực phẩm, ưu tiên cho chế biến hải sản
(3). Vật liệu (tập trung vào vật liệu xây dựng)
(8). Phát triển du lịch, trong đó ưu tiên du lịch biển
(4). Cơ khí chế tạo, gia công, chế biến
(9). Dịch vụ vận tải biển, dịch vụ cảng và hậu cần cảng và dịch vụ tư vấn, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
(5). Sản xuất dược phẩm
(10). Dệt may, da giày
Biểu 4.3: Những ngành có lợi thế cạnh tranh vùng VBBB
4.1.2. Các định hướng phát triển liên vùng cơ bản
Một số định hướng cơ bản đối với toàn vùng được xác định theo Quyết định
số 865/QĐ-TTg [11] được trình bày trong chương II. Trên cơ sở những định hướng
cơ bản này và thông qua quá trình nghiên cứu bản luận án đã tập trung xác định các
định hướng chung phát triển liên vùng và các định hướng phát triển liên vùng đối
với khu vực công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp như sau:
a. Định hướng chung của vùng VBBB
Để xác định các định hướng phát triển mang tính liên vùng, vùng VBBB cần
phải căn cứ vào các chủ trương lớn của Chính phủ làm cơ sở để hình thành các định
hướng cụ thể cho phát triển các ngành nghề. Mục tiêu của việc xây dựng các định
hướng phát triển đảm bảo tính liên vùng nhằm: phát triển một cách hiệu quả, đảm
bảo tính liên kết nội vùng giữa các tỉnh; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn vùng
và hiệu quả trong sử dụng nguồn lực; tiết kiệm chi phí, thời gian và bảo vệ môi
117
trường; hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực. Đối với các tỉnh trong vùng VBBB, sự
cạnh tranh của hàng hóa ngoại nhập, đặc biệt là hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc,
sẽ là một áp lực rất lớn. Điều này đòi hỏi các tỉnh phải định hướng sản phẩm, tổ
chức sản xuất, đổi mới công nghệ và quản lý một cách hợp lý để tăng cường sức
cạnh tranh đối với các sản phẩm Trung Quốc. Vì vậy, tính liên kết vùng trong phát
triển có ảnh hưởng quan trọng đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất, tiết kiệm chi phí
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
b. Những định hướng phát triển công nghiệp mang tính liên vùng
Để phát triển công nghiệp một cách hiệu quả, các tỉnh trong vùng VBBB cần
có những định hướng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh KT-XH và các tiềm năng,
lợi thế của từng tỉnh. Tuy nhiên, các định hướng phát triển công nghiệp cho từng
tỉnh trong vùng VBBB cần phải đảm bảo cho sự phát triển của các tỉnh trong vùng
một cách hiệu quả và cùng phát triển. Đối với công nghiệp, cần xác định trên cơ sở
huy động sức mạnh phát triển công nghiệp của toàn vùng để định hướng phát triển.
Một số chỉ tiêu phát triển công nghiệp liên vùng cần phấn đấu như sau:
- Về tốc độ tăng trưởng GTSX của ngành công nghiệp toàn vùng nên duy trì
tốc độ tăng trưởng cao như giai đoạn 2006-2010 (đạt tốc độ khoảng 24,4%) và phấn
đấu ở mức cao hơn khi tận dụng tốt các tiềm năng, lợi thế của vùng cho phát triển
công nghiệp.
- Tốc độ tăng NSLĐ trung bình của các ngành công nghiệp cần đạt được
khoảng trên 22% (giai đoạn 2006-2010 đạt 22,1%).
- Tỷ trọng GDP các ngành công nghiệp cần ngày một tăng lên trong cơ cấu
kinh tế (tăng lên khoảng 8-9% so với giai đoạn 2006-2010).
- Tỷ lệ các ngành công nghiệp chế biến-chế tạo cần chiếm khoảng 85% so
với tổng GTSX của các ngành công nghiệp (giai đoạn 2006-2010 đạt khoảng 73%).
Trong vùng VBBB, Hải Phòng và Quảng Ninh là hai địa phương có lợi thế
phát triển các ngành công nghiệp liên quan đến vận tải (trong đó vận tải biển là một
hướng quan trọng) và các ngành công nghiệp phục vụ xuất khẩu. Vì vậy, định
hướng cơ bản của Hải Phòng và Quảng Ninh cần tập trung cho phát triển cảng biển,
các ngành công nghiệp gia công, chế biến, lắp ráp sản phẩm phục vụ xuất khẩu. Hải
118
Phòng và Quảng Ninh cần phát triển những ngành công nghiệp công nghệ cao để có
thể đóng vai trò là những trung tâm phát triển và tạo hiệu ứng lan tỏa, kích thích sự
phát triển của toàn vùng VBBB. Hải Phòng và Hạ Long là đô thị trung tâm vùng
phát triển công nghiệp, cảng biển, dịch vụ, du lịch.
Các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình cần phát triển các ngành công
nghiệp hướng đến xuất khẩu và cung cấp nguyên liệu, sản phẩm cho các ngành
công nghiệp công nghệ cao tập trung ở Hải Phòng và Quảng Ninh và các KCN
trong vùng ĐBSH, VKTTĐ phía Bắc. Các tỉnh này cũng cần tập trung phát triển
công nghiệp khai thác; chế biến thủy sản, nông, lâm sản để phục vụ xuất khẩu;
hướng tới phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao để đáp ứng nhu cầu về
chất lượng, mẫu mã sản phẩm của thị trường trong nước và quốc tế.
Để đảm bảo tính liên vùng trong phát triển, các tỉnh trong vùng VBBB cần
thực hiện vai trò mang tính liên vùng trong phát triển công nghiệp như sau:
Định hướng sản xuất công nghiệp mang tính liên vùng của thành phố Hải
Phòng: Với vai trò là một trung tâm phát triển của toàn vùng VBBB, thành phố Hải
Phòng cần tập trung phát triển công nghiệp chủ lực, công nghiệp phụ trợ, công
nghiệp công nghệ cao. Các ngành công nghiệp cần tập trung là cơ khí chế tạo, điện
tử, điện lạnh, tin học, hóa chất, luyện kim, chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất
vật liệu xây dựng, dệt may, da giày, phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề,
định hướng phát triển KCN, CCN,… Tập trung phát triển các ngành công nghiệp
chế biến, lắp ráp các sản phẩm phục vụ xuất khẩu với nguyên liệu và sản phẩm
được cung cấp bởi các tỉnh khác như Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định và Ninh
Bình. Nâng cao hiệu quả hoạt động của 4 KCN tập trung là KCN, KCN Đồ Sơn,
KCN Nam Cầu Kiền, KCN Tràng Duệ và KKT Đình Vũ - Cát Hải, cùng nhiều
CCN trên địa bàn thành phố. Trong đó, KCN Đình Vũ tập trung phát triển các
ngành công nghiệp hóa dầu, công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ.
Định hướng sản xuất công nghiệp mang tính liên vùng của tỉnh Quảng Ninh:
Để đảm bảo tính liên kết vùng trong phát triển công nghiệp, Quảng Ninh cần tập
trung vào một số ngành công nghiệp mà tỉnh có thế mạnh để phát triển và hỗ trợ các
tỉnh khác trong phát triển công nghiệp. Các định hướng phát triển công nghiệp liên
vùng cơ bản đối với Quảng Ninh như sau: (1). Phát triển các sản phẩm phục vụ xuất
119
khẩu và chế biến các nguyên liệu, sản phẩm thô từ các tỉnh khác trong vùng VBBB
như Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình. Phát triển các ngành công nghiệp có thế
mạnh như: khai thác than, điện, vật liệu xây dựng, cơ khí mỏ, cơ khí đóng tàu, công
nghiệp phục vụ du lịch,… Phát triển công nghiệp quy mô nhỏ ở nông thôn và miền
núi. Phát triển công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến và công nghiệp công nghệ
cao. Phát triển công nghiệp có hàm lượng KH-CN cao như sản xuất thiết bị điện,
linh kiện điện tử tin học. (2) Tăng cường hợp tác, liên kết giữa các ngành, doanh
nghiệp công nghiệp trên địa bàn và với các địa phương khác để sử dụng có hiệu
quả, tiết kiệm các nguồn lực, nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của công
nghiệp. (3) Tập trung phát triển các ngành công nghiệp theo thứ tự ưu tiên sau:
công nghiệp cơ khí, điện tử, công nghiệp chế biến nông, lâm thủy sản và thực
phẩm, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp sản xuất điện năng,
công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp hóa chất, công nghiệp dệt may – da giày,
công nghiệp phục vụ du lịch.
Định hướng sản xuất công nghiệp mang tính liên vùng của tỉnh Thái Bình:
Để đảm bảo tính liên kết vùng trong phát triển công nghiệp, tỉnh Thái Bình cần phát
triển theo các định hướng sau: (1). Khuyến khích doanh nghiệp áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật hiện đại phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Nâng cao chất
lượng, cải tiến mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm phù hợp với thị hiếu người tiêu
dùng, xây dựng thương hiệu một số sản phẩm có thế mạnh của địa phương; (2).
Phát huy thế mạnh các làng nghề nổi tiếng như: làng nghề trạm bạc Đồng Xâm,
làng Nguyễn, làng chiếu Hưng Nhân; (3). Phát công nghiệp chế biến lương thực,
thực phẩm, đồ uống như: bia, nước hoa quả các loại và nước khoáng. Ưu tiên phát
triển công nghiệp chế biến các sản phẩm: rau quả ngắn ngày, hoa hòe, dưa gang,
dưa chuột, ớt, cà chua, khoai tây, thịt lợn sữa đông lạnh, thủy hải sản đông lạnh để
tiêu thụ trong nước và xuất khẩu; (4). Phát triển vùng nguyên liệu cho tỉnh và tiến
tới cung cấp cho toàn vùng VBBB như: rau, quả, nuôi trồng thủy sản, vùng chăn
nuôi gia súc, gia cầm tập trung theo mô hình gia trại, trang trại với phương pháp
công nghiệp, bán công nghiệp gắn với các nhà máy chế biến nông sản, thực phẩm.
Định hướng sản xuất công nghiệp mang tính liên vùng của Nam Định: (1). Tập trung phát triển những ngành công nghiệp đã có thế mạnh như: các ngành công
120
nghiệp dệt may, công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế biến, các ngành nghề truyền thống, các phố nghề; (2). Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có thị trường tương đối ổn định và hiệu quả cao, các ngành công nghiệp có thế mạnh về nguồn nguyên liệu; (3). Phát triển ngành công nghiệp cơ khí, điện tử và gia công kim loại trở thành ngành công nghiệp trọng điểm với các sản phẩm mũi nhọn như: đóng mới, sửa chữa tàu, sản xuất lắp ráp ôtô các loại, sản xuất hàng cơ khí; (4). Phát triển công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, đồ uống gắn với phát triển nguồn nguyên liệu. Củng cố, phát triển các nghề và làng nghề truyền thống, mở rộng dần quy mô sản xuất sang khu vực lân cận.
Định hướng sản xuất công nghiệp mang tính liên vùng của Ninh Bình: Ninh Bình có vị trí quan trọng nằm ở cửa ngõ miền Bắc và VKTTĐ phía Bắc nên cần tập trung vào các định hướng phát triển công nghiệp sau: (1). Phát huy tốt các tiềm năng phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng, đặc biệt là sản xuất xi măng, đá, thép, vôi, gạch; (2). Phát triển các làng nghề thủ công truyền thống như: thêu ren ở Hoa Lư; dệt chiếu và làm hàng cói mỹ nghệ ở Kim Sơn, Yên Khánh; đan lát mây tre ở Gia Viễn, Nho Quan; sản xuất đồ đá mỹ nghệ ở Ninh Vân (Hoa Lư); (3). Tập trung vào một số ngành công nghiệp: công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp hóa chất, công nghiệp luyện kim, công nghiệp điện tử, công nghiệp may mặc, công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tập trung vào các sản phẩm thêu ren, cói, đá, đồ gỗ mỹ nghệ. c. Những định hướng cơ bản phát triển khu vực dịch vụ mang tính liên vùng
Khu vực dịch vụ đóng vai trò quan trọng đối với quá trình CNH, HĐH của vùng VBBB cũng như gắn kết phát triển dịch vụ liên vùng và đảm bảo tăng cường năng lực cạnh tranh các ngành dịch vụ của vùng VBBB. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, khu vực dịch vụ cần tiến đến một số chỉ tiêu sau: Tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ cần đạt khoảng từ 15% trở lên; Tỷ lệ tăng NSLĐ khu vực dịch vụ cũng cần đạt mức từ 15% trở lên; Tỷ lệ các ngành dịch vụ hiện đại so với tổng GTSX của khu vực dịch vụ khoảng từ 70% trở lên; Tỷ trọng GDP của ngành khu vực dịch vụ ngày một tăng lên (khoảng 2-3%/năm).
Vùng VBBB cần phát triển dịch vụ trong mối liên hệ liên vùng, kết nối tốt với các tỉnh lân cận, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội và các tỉnh trong VKTTĐ phía Bắc. Những ngành dịch vụ chất lượng cao cần được phát triển mạnh ở các tỉnh như
121
Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, đối với các tỉnh như Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình cần phải dần dần nâng cao trình độ và chuyên nghiệp hóa lao động trong khu vực dịch vụ. Phát triển các ngành dịch vụ truyền thống song song với dịch vụ chất lượng cao để phục vụ các khu đô thị, các thành phố trong vùng ĐBSH, phục vụ trục kinh tế Hải Phòng – Hạ Long – Móng Cái. Các đô thị công nghiệp, dịch vụ phát triển nối kết theo trục quốc lộ 5 phát triển theo hướng phục vụ người tiêu dùng và du khách trong vùng VBBB và phục vụ du khách quốc tế.
Phát triển các ngành dịch vụ đảm bảo kết nối về không gian du lịch, hướng
đến phát triển các tour, tuyến du lịch biển kết hợp với du lịch tâm linh phục vụ du
khách trong và ngoài nước. Tập trung phát triển dịch vụ ở Hải Phòng và Hạ Long,
trong đó du lịch biển, dịch vụ cảng biển và các dịch vụ liên quan là một trong những
định hướng quan trọng trong phát triển dịch vụ của vùng VBBB. Các đô thị trực
thuộc tỉnh như thành phố Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Móng Cái cần từng
bước HĐH khu vực dịch vụ, tập trung vào các dịch vụ phát triển kinh tế trong bối
cảnh hội HNKTQT: dịch vụ pháp lý, tài chính, ngân hàng, tư vấn. Các đô thị trung
bình, nhỏ, cấp huyện được phát triển gắn với các vùng nông nghiệp, công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông nghiệp thu hút lao động tại chỗ.
Tổ chức định hướng phát triển hệ thống dịch vụ xã hội: Xây dựng các trung
tâm thương mại với vai trò điều hòa phân phối hàng hóa trong vùng VBBB tại
thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, Ninh Bình. Xây dựng trung tâm y tế chất
lượng cao cấp của vùng tại thành phố Hải Phòng, Nam Định, chống quá tải cho các
bệnh viện đầu ngành tại Thủ đô Hà Nội. Xây dựng các trung tâm thể dục, thể thao
cấp vùng tại thành phố Hải Phòng và tỉnh Nam Định.
Vùng VBBB có tiềm năng du lịch tập trung ở các tỉnh/thành phố Hải Phòng,
Quảng Ninh, Ninh Bình. Đây là vùng có cảnh quan thiên nhiên ưu đãi, các vùng
sinh thái biển đảo, di tích lịch sử, văn hóa, làng nghề truyền thống. Trong vùng có
các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia như: vườn quốc gia Cát Bà, Cúc
Phương, khu bảo tồn Ba Mùn – Bái Tử Long, vịnh Hạ Long, Xuân Thủy, Yên Tử,
Vân Long, 2 khu bảo tồn biển: đảo Bạch Long Vĩ, đảo Cát Bà. Vì vậy, các
tỉnh/thành phố trong vùng VBBB cần tiến hành bảo vệ cảnh quan, các vườn quốc
gia, các khu di tích lịch sử, văn hóa, các khu bảo tồn thiên nhiên để duy trì tiềm
122
năng phát triển du lịch vốn là thế mạnh của vùng. Phát triển du lịch sinh thái biển,
đảo gắn với du lịch văn hóa, lịch sử, lễ hội, du lịch các làng nghề nông nghiệp châu
thổ sông Hồng và là các điểm du lịch vệ tinh của Vùng Thủ đô Hà Nội. Lựa chọn
đầu tư xây dựng một số trung tâm du lịch cấp quốc gia và quốc tế. Cấp quốc gia
gồm có Trà Cổ, Cô Tô, Yên Tử, đền Trần (Nam Định) và các điểm du lịch cấp
vùng. Cấp quốc tế gồm: Hạ Long, Hải Phòng, Cát Bà, khu Tràng An,…
d. Những định hướng cơ bản phát triển liên vùng trong khu vực nông nghiệp
Để phát triển hiệu quả và đảm bảo liên vùng, các tỉnh/thành phố trong vùng
VBBB cần tiến đến các chỉ tiêu sau: (1). Gắn phát triển nông nghiệp với sản xuất
hàng hóa, phát triển nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp
sinh thái, sạch; (2). Hình thành các vùng sản xuất lúa rau, hoa, cây cảnh, chăn nuôi
lợn, bò sữa, gia cầm,… có quy mô thích hợp với chất lượng cao phục vụ xuất khẩu
và tiêu dùng nội địa; (3). Đầu tư nâng cấp hệ thống đê điều, hệ thống thủy lợi và
khuyến nông; (4). Phát triển nuôi trồng thủy, hải sản từ các vùng có lợi thế và điều
kiện cho phép đánh bắt xa bờ; (5). Phát triển lâm nghiệp toàn diện với 3 loại rừng:
rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, củng cố, phát triển hệ thống rừng
phòng hộ ven biển.
Bên cạnh đó, khuyến khích hộ nông dân đầu tư CDCCKT nông nghiệp, thủy
sản, tạo ra những vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Triển khai thực hiện một số cơ
chế, chính sách hỗ trợ để khuyến khích phát triển kinh tế trang trại và các mô hình
sản xuất hiệu quả. Đầu tư và khuyến khích áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ
mới vào sản xuất, tiến hành xây dựng các khu nông nghiệp, thủy sản công nghệ cao,
những trung tâm giống cây trồng, vật nuôi đáp ứng nhu cầu cây, con giống chất
lượng cao. Lĩnh vực thủy sản sẽ được đầu tư theo hướng tăng cường hỗ trợ, đẩy
mạnh việc khai thác các tuyến đánh bắt xa bờ gắn với việc bảo vệ nguồn lợi thủy
sản và phát triển khai thác bền vững.
Đồng thời, hình thành các trung tâm chế biến nông, lâm, thủy sản. Hải Phòng
và Quảng Ninh tập trung phát triển các ngành chế biến nông sản và hải sản chất
lượng cao để phục vụ thị trường trong nước và chiếm lĩnh thị trường quốc tế, thu
hút nguồn nguyên liệu (thô, sơ chế) từ các tỉnh khác như Ninh Bình, Nam Định,
123
Thái Bình để tập trung sản xuất các mặt hàng phục vụ xuất khẩu. Nam Định và Thái
Bình cung cấp các sản phẩm nông, lâm sản và nguyên liệu cho ngành chế biến
nông, lâm và thủy sản cho toàn vùng VBBB và từng bước tập trung chế biến nông,
lâm, thủy sản.
Đặc biệt cần phát triển Hải Phòng thành trung tâm thủy sản về giống, thức
ăn, KH-CN, chế biến, buôn bán hàng thủy sản có giá trị gia tăng cao, trung tâm lưu
giữ bảo quản thành phẩm và xuất khẩu cho nghề cá khu vực phía Bắc và bắc miền
Trung. Hải Phòng hiện là địa phương duy nhất của các tỉnh phía Bắc sản xuất được
giống thủy sản nước lợ, mặn. Hải Phòng cần chuyển giao công nghệ sản xuất giống
như: tu hài, tôm he Nhật Bản, giống cá bớp, cá giò, cá song,... cho các tỉnh Phú Thọ,
Yên Bái, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định và một số tỉnh miền Trung.
4.1.3. Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển vùng VBBB
a. Thách thức cơ bản đối với phát triển kinh tế biển vùng VBBB
Để phát triển kinh tế biển hiệu quả, các tỉnh/thành phố thuộc vùng VBBB
cần đối mặt với một số thách thức lớn như:
Thứ nhất, khai thác tài nguyên biển có tính cạnh tranh lớn do đặc điểm cùng
chia sẻ về tài nguyên biển trong khi vùng VBBB cùng khai thác tài nguyên trên
biển với người Trung Quốc ở khu vực ngoài khơi của vịnh Bắc Bộ. Điều này sẽ
là thách thức lớn khi người Trung Quốc có tiềm lực về kinh tế, công nghệ và
kinh nghiệm cũng như tham vọng khai thác tài nguyên biển ngày càng lớn.
Thứ hai, hiện nay nền tảng công nghệ, kinh nghiệm khai thác và đầu tư phát
triển kinh tế biển tại vùng VBBB còn hạn chế, chưa có tiền đề phát triển đa ngành
về kinh tế biển. Bên cạnh đó, công tác quản lý còn hạn chế, chưa tạo được sức mạnh
liên ngành, đây là những thách thức lớn để các tỉnh/thành phố trong vùng VBBB
khai thác sức mạnh kinh tế biển.
Thứ ba, mặc dù cùng chung một không gian biển nhưng vấn đề quản lý biển
lại chịu sự quản lý của nhiều cơ quan, nhiều ngành, trong đó vấn đề an ninh và chủ
quyền luôn được đặt lên hàng đầu, thực tế hiện nay một số ngành như quản lý tài
nguyên biển và môi trường biển còn rất hạn chế.
124
Thứ tư, vùng VBBB nằm ở khu vực nhạy cảm về chủ quyền trên biển, sự
tuyên bố chồng lấn về chủ quyền vẫn chưa được giải quyết nên cũng tạo ra khó
khăn cho việc đầu tư phát triển kinh tế biển, đáng chú ý là sự chưa thống nhất về
chủ quyền trên biển giữa nước ta với Trung Quốc.
Thứ năm, phát triển kinh tế biển tại vùng VBBB chịu ảnh hưởng nhiều của
biến đổi khí hậu và thiên tai. Những ảnh hưởng tiêu cực tác động xấu đến các hệ
sinh thái, đến đời sống người dân ven biển và trên các đảo. Tuy nhiên, đến nay
vẫn chưa có những giải pháp hiệu quả để đối phó với vấn đề này.
b. Một số đề xuất cơ bản đẩy mạnh phát triển kinh tế biển vùng VBBB
Thay đổi tư duy về kinh tế biển
Để phát huy tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế biển, cạnh tranh với các
nước thì vùng VBBB phải phát triển tư duy, nhân lực và đầu tư vào KH-CN phục
vụ phát triển kinh tế biển. Khai thác kinh tế biển cần có tư duy mạnh dạn chinh
phục biển (gồm có tiềm lực kinh tế, nhân lực, công nghệ) [40]. Các tỉnh/thành phố
thuộc vùng VBBB cần đẩy mạnh khai thác biển từ việc đánh giá tiềm năng tài
nguyên biển, đổi mới công tác quản lý để tạo sức mạnh tổng hợp giữa các ngành, có
kế hoạch phát triển dài hạn và tập trung phát huy thế mạnh của từng vùng biển để
khai thác tối đa hiệu quả của kinh tế biển, đảo. Xây dựng các cơ chế, chính sách và
quy hoạch phát triển kinh tế biển mang tính chất liên vùng để phát huy sức mạnh
tổng hợp của toàn vùng VBBB trong khai thác kinh tế biển.
Phát huy lợi thế của biển
Để phát huy các lợi thế trong phát triển kinh tế biển, các tỉnh thuộc vùng
VBBB cần tập trung vào giải quyết tốt các vấn đề sau để mở đường giải phóng sức
sản xuất và khai thác được các lĩnh vực kinh tế biển trọng tâm: (1). Quy hoạch và
khai thác tài nguyên biển; (2). Quản lý và khai thác tài nguyên vùng bờ; (3). Đảm
bảo cuộc sống cho cư dân ven biển; (4). Bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ đa
dạng sinh học; (5). Phát triển cơ sở hạ tầng cho kinh tế biển; (6). Phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao cho kinh tế biển; (7). Thích ứng với biến đổi khí hậu và
nước biển dâng.
125
Xác định vùng ven biển là vùng cơ sở để tiến ra biển
Không gian kinh tế biển gồm có: không gian ven biển và ven bờ, không gian
biển, không gian đảo và không gian đại dương. Vùng VBBB cần đóng vai trò là hậu
phương hỗ trợ các hoạt động trên biển thông qua các trung tâm kinh tế hải đảo. Vì
vậy, dọc ven biển phải xây dựng các trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội (đô thị) có
bán kính ảnh hưởng rộng ra biển, gắn chiến lược kinh tế với an ninh - quốc phòng.
Vùng biển rộng lớn ở phía ngoài là không gian phát triển các hoạt động hàng hải và
khai thác dầu khí ở thềm lục địa, đồng thời là nơi hoạt động hợp tác và HNKTQT.
Đây cũng là không gian phát triển nghề cá đa loài, nên là nơi phát triển nghề đánh
bắt hải sản, vừa đánh bắt vừa góp phần bảo vệ an ninh tổ quốc. Đối với các đảo nhỏ,
đảo hoang sơ thì phát triển kinh tế đảo gắn với bảo tồn thiên nhiên, du lịch sinh thái
biển đảo. Đối với các đảo đông dân như Cô Tô, Cát Bà cần xây dựng thành các
trung tâm kinh tế hải đảo toàn diện, dưới dạng “KKT mở”[37].
Hội nhập phát triển kinh tế biển vùng VBBB
Vùng VBBB có lợi thế nằm ở vị trí thuận tiện giao thông trên biển, gần
đường hàng hải quốc tế vào loại sôi động nhất thế giới, ở trung tâm vùng kinh tế
Đông Á phát triển năng động. Tuy nhiên, lợi thế trên chưa được vùng VBBB khai
thác xứng với tiềm năng. Vì vậy, vùng VBBB cần phát huy các tiềm năng, lợi thế
để phát triển kinh tế biển hiệu quả. Trong hội nhập phát triển kinh tế biển vùng
VBBB cần đứng trên định hướng về tính quốc tế hóa của vùng biển đã có từ rất lâu,
bởi vì các lĩnh vực dầu khí, hải sản, du lịch, các hải cảng lớn nổi tiếng đều có liên
quan đến quan hệ quốc tế. Quan hệ hợp tác, hội nhập khu vực và thế giới sẽ là
phương án phòng thủ tối ưu và hữu hiệu nhất. Nếu các công ty lớn đầu tư khai thác
ở vùng biển Việt Nam thì họ sẽ bảo vệ lợi ích của họ đồng thời cũng bảo vệ lợi ích
của ta [45].
Tập trung vào một số giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế biển
Kinh tế biển là lĩnh vực kinh tế được hình thành, tồn tại và phát triển từ tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp của biển. Do tầm quan trọng đặc biệt của biển đến sự
sống còn của các quốc gia, nên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển hiện nay
126
cho các quốc gia không giáp biển có quyền tiếp cận biển mà không phải trả thuế lưu
thông qua quốc gia quá cảnh. Đồng thời, Liên Hiệp Quốc cũng có chương trình hỗ
trợ các quốc gia đang phát triển không giáp biển. Do vai trò đặc biệt và toàn cục đó,
biển tác động đến các hoạt động của con người, trong đó tác dụng trực tiếp hoặc
gián tiếp đến việc hình thành các lĩnh vực kinh tế như [35]:
(1). Giao lưu thương mại, đầu tư, hội nhập thông qua hệ thống vận tải biển.
(2). Ngành công nghiệp như khai khoáng biển.
(3). Ngành công nghiệp đánh bắt cá, nuôi trồng và chế biến hải sản.
(4). Ngành công nghiệp đóng tàu, công trình biển, cảng biển, hậu cần cảng.
(5). Ngành du lịch biển, đảo.
(6). Ngành công nghiệp quốc phòng biển.
Từ sự phân tích ở trên cho thấy việc hình thành nền kinh tế biển vùng VBBB
cần tập trung vào một số ngành: hải sản, dầu khí, vận tải biển, dịch vụ đóng tàu và
du lịch biển. Bên cạnh đó, nên tập trung vào hình thành các KCN, KKT, đặc KKT
kết hợp với cảng biển nước sâu. Vùng VBBB cần phải tiến hành các giải pháp cấp
bách trong các lĩnh vực sau: (1). Củng cố tư duy về khai thác kinh tế biển, tiến đến
kiểm soát được không gian vùng biển của mình, nắm được các quy luật, điều kiện
tự nhiên và môi trường biển một cách có hệ thống, có khả năng dự báo các quy luật
trên để phục vụ cho khai thác biển hiệu quả; (2). Củng cố về hạ tầng kỹ thuật, đặc
biệt là các phương tiện máy móc khảo sát nghiên cứu; (3). Tăng cường trang thiết bị
hiện đại cho các hải cảng và đội tàu; (4). Phát triển KH-CN biển đáp ứng yêu cầu và
nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, cạnh tranh được với các nước trong khu vực.
4.2. NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÙNG VEN
BIỂN BẮC BỘ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
4.2.1. Những giải pháp CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
a. Những giải pháp huy động yếu tố đầu vào phục vụ quá trình CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH
Giải pháp huy động vốn để phát triển công nghiệp và dịch vụ hiện đại
Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH các tỉnh/thành phố trong vùng VBBB
cần tập trung vốn để phát triển công nghiệp và dịch vụ hiện đại, cụ thể như sau: (1).
127
Huy động các nguồn vốn để hoàn thiện kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển khu vực
công nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại, đặc biệt là những ngành công nghiệp
gắn với khai thác, chế biến nông, lâm, thủy sản và khoáng sản; (2). Tạo cơ chế
thông thoáng để tạo sức hấp dẫn trong thu hút đầu tư trong và ngoài nước; (3).
Khuyến khích các thành phần kinh tế tư nhân phát triển sản xuất công nghiệp theo
hướng hiện đại, công nghiệp và dịch vụ gắn vận tải biển, chế biến nông, lâm, thủy
sản và khoáng sản; (4). Cấp phép đầu tư một cách có chọn lọc để lựa chọn được
những nhà đầu tư hoạt động trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ hiện đại.
Giải pháp ứng dụng KH-CN vào CDCCKT theo hướng CNH, HĐH Các tỉnh trong vùng VBBB cần khuyến khích ứng dụng KH-CN hiện đại vào
sản xuất thông qua định hướng, khuyến khích phát triển những ngành công nghiệp
chế biến - chế tạo, trong đó tỉnh Quảng Ninh cần giảm công nghiệp khai thác để tập
trung cho công nghiệp chế biến, chế tạo, các tỉnh Ninh Bình, Nam Định và Thái
Bình cần đẩy nhanh tiến độ ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất. Để
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH thì cần nâng cao tỷ lệ GTSX của ngành công
nghiệp chế biến - chế tạo và những ngành dựa vào KH-CN lên trên 75% và hướng
đến 85% tổng GTSX. Hướng nghiệp và đào tạo người lao động để có thể làm việc
được ở những doanh nghiệp có công nghệ hiện đại, nâng tỷ lệ người lao động được
đào tạo bài bản.
Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở KH-CN của các tỉnh trong vùng VBBB cần
phối hợp chặt chẽ trong việc cấp phép đầu tư một cách có chọn lọc và có cơ chế ưu
đãi đối với những doanh nghiệp hoạt động trên nền tảng công nghệ tiên tiến và ứng
dụng KH-CN hiện đại vào sản xuất. Khuyến khích các doanh nghiệp tập trung cho
phát triển bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D). Sở Công Thương của các tỉnh
trong vùng VBBB cần xây dựng các định hướng để các doanh nghiệp trong vùng có
thể mở rộng quy mô, liên kết, hợp tác nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, tăng khả
năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp của vùng. Khuyến khích những doanh
nghiệp khai khoáng và khai thác tài nguyên thiên nhiên phát triển theo hướng chế
biến sản phẩm đầu ra cuối cùng để nâng cao hiệu quả kinh tế.
Sở KH-CN và Sở Giáo dục – Đào tạo của các tỉnh trong vùng VBBB cần
củng cố, nâng cao năng lực các trung tâm nghiên cứu ứng dụng, sản xuất và chuyển
128
giao KH-CN. Đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật trình
độ cao, kỹ thuật viên về lĩnh vực KH-CN. Tăng cường hợp tác liên kết với các viện,
trường để đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật và qui
trình sản xuất. Tranh thủ các dự án hợp tác quốc tế để tiếp cận công nghệ hiện đại.
Các tỉnh trong vùng VBBB cần chỉ đạo Sở Tư Pháp và Sở Nội vụ xây dựng
cơ chế chính sách để khuyến khích hình thành các doanh nghiệp KH-CN, kết hợp
công nghệ cao với công nghệ truyền thống đã được hình thành. Tạo môi trường
thuận lợi để thu hút các nguồn lực đầu tư vào KH-CN phục vụ sản xuất. Tổ chức
các hội thi sáng tạo kỹ thuật nhằm khuyến khích người lao động tham gia các hoạt
động KH-CN.
Giải pháp về giáo dục gắn với CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Sở Giáo dục và Đào tạo của các tỉnh trong vùng VBBB cần tập trung vào
một số giải pháp cơ bản sau: Thứ nhất, đổi mới chương trình giáo dục gắn với đặc
điểm CNH, HĐH, tăng cường sử dụng các chương trình đào tạo quốc tế ở các cơ sở
đào tạo nghề nghiệp và đại học, triển khai chương trình ngoại ngữ trong toàn bộ hệ
thống giáo dục; Thứ hai, triển khai hệ thống đảm bảo chất lượng, tăng cường công
tác kiểm tra, thanh tra giáo dục; Thứ ba, tổ chức dạy nghề sát với yêu cầu của thị
trường lao động trong bối cảnh CNH, HĐH, đáp ứng các tiêu chuẩn, kỹ năng nghề,
thường xuyên được cập nhật kỹ thuật, công nghệ mới; Thứ tư, gắn kết giữa các cơ
sở đào tạo và cơ sở sản xuất, kinh doanh, tổ chức sử dụng lao động; Thứ năm, tổ
chức mạng lưới các trường cao đẳng, đại học một cách hợp lý, đáp ứng nhu cầu
nhân lực về quy mô và cơ cấu ngành nghề đào tạo, phục vụ quá trình CDCCKT
trong sự nghiệp CNH, HĐH.
b. Những giải pháp về động thái và trình độ CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Những giải pháp về cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH
Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH các tỉnh trong vùng VBBB cần chỉ đạo
Sở Công Thương tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau: (1). Tiếp tục phát triển
những ngành công nghiệp có thế mạnh của các tỉnh trong vùng, cần ứng dụng công
129
nghệ hiện đại vào khai thác chế biến các sản phẩm sau khai thác (tập trung phát
triển công nghiệp chế biến các sản phẩm khai thác, nông, lâm, thủy sản). Bên cạnh
đó cần phát triển những ngành công nghiệp phụ trợ để nâng cao hiệu quả sản xuất
công nghiệp và phục vụ cho các hoạt động sản xuất và cơ giới hóa nông nghiệp theo
hướng hiện đại; (2). Phát triển các ngành dịch vụ theo hướng hiện đại trong đó tập
trung vào những ngành dịch vụ mà vùng có tiềm năng và lợi thế so sánh (những
ngành dịch vụ như tài chính, tư vấn thiết kế, dịch vụ gắn với kinh tế biển, du lịch...);
(3). Sở Xây dựng của các tỉnh trong vùng cần nghiên cứu, triển khai xây dựng kết
cấu hạ tầng để tạo nền tảng cho quá trình CNH, HĐH song song với đẩy mạnh và
chuyên nghiệp hóa các ngành dịch vụ và du lịch. (4). Các tỉnh trong vùng VBBB
như Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng, Nam Định và Thái Bình cần đẩy mạnh phát
triển kinh tế biển, tập trung vào vận tải biển, du lịch biển, khai thác, nuôi trồng và
đánh bắt hải sản; (5). Nâng cao trình độ người lao động và khuyến khích ứng dụng
KH-CN vào sản xuất và chế biến các sản phẩm nông, lâm, thủy sản;
Một số giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, các tỉnh trong vùng VBBB cần tập
trung vào một số giải pháp cơ bản về chuyển dịch cơ cấu lao động như sau: (1).
Giảm mạnh số lượng lao động trong khu vực nông nghiệp bởi hiện tại hiệu quả lao
động trong khu vực này rất thấp, điển hình là ở 2 tỉnh Thái Bình và Nam Định. Tỉnh
Quảng Ninh cần tiếp tục phát triển ngành công nghiệp khai thác nhưng cần đào tạo
người lao động trong lĩnh vực chế biến để tiến đến giảm tỷ trọng các ngành công
nghiệp khai thác; (2). Các tỉnh Nam Định, Thái Bình và Ninh Bình tập trung phát
triển lực lượng lao động ngành xây dựng để phục vụ tốt nhu cầu xây dựng của tỉnh
và vùng VBBB cũng như các tỉnh lân cận. Thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng
Ninh cần tập trung phát triển và chuyên nghiệp hóa khu vực dịch vụ để ngày một
tạo thêm việc làm cho người lao động; (3). Các tỉnh trong vùng VBBB cần chỉ đạo
các sở Lao động - Thương binh - Xã hội đẩy mạnh công tác hướng nghiệp và tạo
thêm việc làm trong khu vực công nghiệp và dịch vụ, có cơ chế khuyến khích người
dân tự học tập, nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu lao động trong khu vực công
nghiệp và dịch vụ; (4). Cập nhật thông tin thị trường việc làm, nhu cầu doanh
nghiệp để xây dựng các chương trình đào tạo người lao động gắn với yêu cầu thực
130
tế sản xuất công nghiệp theo hướng hiện đại; (5). Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư,
khuyến khích các nhà đầu tư, doanh nghiệp phát triển công nghiệp và dịch vụ để tạo
thêm việc làm cho người lao động, dần dần rút lao động ra khỏi khu vực nông
nghiệp.
Những giải pháp thúc đẩy CDCCKT theo hướng phát triển công nghiệp
và dịch vụ hiện đại
Thứ nhất, các tỉnh trong vùng VBBB cần phát huy lợi thế của vùng để phát
triển thương mại, dịch vụ và du lịch. Đối với dịch vụ cần phát huy thế mạnh của
vùng trong phát triển kinh tế biển như vận tải biển, du lịch biển và dịch vụ cảng,
trong đó Hải Phòng và Quảng Ninh cần khai thác tối đa lợi thế này. Cần đầu tư cho
cơ sở hạ tầng để đào tạo người lao động có trình độ cao nhằm chuyên nghiệp hóa
các hoạt động dịch vụ. Những năm tới, với xu hướng HNKTQT sâu rộng và thuận
lợi cho giao thương quốc tế nên những ngành dịch vụ như tài chính, ngân hàng, bảo
hiểm, du lịch sẽ là những ngành quan trọng để vùng VBBB cần tập trung phát triển,
những tỉnh như Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng là những địa phương có lợi thế
để phát triển theo các định hướng này.
Thứ hai, phát huy lợi thế được ưu tiên đầu tư trong những năm gần đây để
xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại. Đầu tư phát triển KH-CN và phát triển nguồn nhân
lực để HĐH nền công nghiệp và chuyên nghiệp hóa kinh tế dịch vụ. Đẩy mạnh áp
dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào khai thác và chế biến các sản phẩm tự nhiên
như: khoáng sản, nông, lâm, thủy sản và các ngành dịch vụ có giá trị kinh tế cao,
đòi hỏi công nghệ và trình độ lao động cao (các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh
Bình bên cạnh định hướng tập trung phát triển công nghiệp cần đẩy mạnh ứng dụng
KH-CN vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản). Từ đó, các tỉnh trong
vùng VBBB có thể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn so với mức tăng
trưởng kinh tế hiện tại.
Thứ ba, tập trung đầu tư cho phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, đổi
mới công nghệ và phát triển các ngành công nghiệp chế biến. Giảm dần tỷ trọng ngành
công nghiệp khai thác và phát triển những ngành công nghiệp chế biến - chế tạo.
Khuyến khích phát triển những ngành công nghiệp được đánh giá là hiện đại trong
131
cơ cấu công nghiệp của các tỉnh trong vùng. Tập trung phát triển những ngành công
nghiệp gắn với dịch vụ cảng, vận tải biển và khai thác kinh tế biển như: sơ chế, chế
biến sản phẩm phục vụ xuất khẩu, đóng gói bao bì, kho bãi, hậu cần cảng, các dịch
vụ như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, du lịch.
Thứ tư, Sở KH-CN và Sở Tài chính của các tỉnh cần phối hợp để huy động mọi
nguồn vốn có thể để tập trung phát triển KH-CN, đầu tư cho cơ sở hạ tầng KT-XH
phù hợp với công nghiệp chế biến - chế tạo. Phát triển nguồn nhân lực cho ngành
công nghiệp chế biến - chế tạo. Quản lý tốt công tác cấp phép đầu tư để lựa chọn và
ưu tiên cấp phép cho những doanh nghiệp có công nghệ hiện đại và hoạt động trong
lĩnh vực chế biến - chế tạo. Chuyển sang chế biến và từng bước giảm dần những
ngành công nghiệp khai thác đi kèm với HĐH công nghệ khai thác tài nguyên. Sở
Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh cần thực hiện tốt công tác quản lý và cấp phép đầu tư
để có thể sàng lọc công nghệ nhằm lựa chọn được những doanh nghiệp có công
nghệ hiện đại hoạt động trên địa bàn các tỉnh/thành phố trong vùng.
c. Những giải pháp cơ bản nâng cao kết quả CDCCKT theo hướng CNH, HĐH Thứ nhất, các tỉnh/thành phố trong vùng VBBB cần đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu ngành và cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp thông qua
việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng nghiệp và đào tạo người
lao động theo hướng CNH, HĐH và phát triển dịch vụ. Có cơ chế để doanh nghiệp
tham gia vào đào tạo người lao động để thu hút lao động từ nông nghiệp sang công
nghiệp và dịch vụ. Khuyến khích người dân và doanh nghiệp tập trung vào chế biến
các sản phẩm phục vụ xuất khẩu, chế biến nông sản, hải sản và khai thác các lợi thế
trong phát triển kinh tế biển.
Thứ hai, nâng cao chất lượng sống về vật chất và tinh thần cho người dân
thông qua việc đẩy mạnh phát triển kinh tế để nâng cao mức thu nhập bình quân đầu
người của người dân. Đầu tư cho cơ sở vật chất hạ tầng KT-XH, phát triển các công
trình công cộng, văn hóa, thể dục, thể thao để phục vụ đời sống tinh thần của người
dân. Đảm bảo trật tự xã hội, an toàn vệ sinh môi trường. Phát triển mạng lưới y tế
và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Thứ ba, tiếp tục giảm tỷ lệ thất nghiệp thông qua việc khuyến khích phát
triển công nghiệp và dịch vụ để tạo thêm việc làm cho người dân. Phát triển các
132
làng nghề truyền thống và cập nhật và cung cấp thông tin về thị trường lao động,
việc làm cho người lao động. Thực hiện các chương trình đào tạo sát với nhu cầu
của các doanh nghiệp. Hỗ trợ người nghèo có điều kiện tham gia đào tạo, nâng cao
trình độ và tiếp cận với các kênh thông tin việc làm. Đầu tư cho phát triển mạng
lưới thông tin, truyền thông và những dịch vụ mới để phục vụ cho quá trình phát
triển theo hướng công nghiệp hiện đại và chuyên nghiệp hóa về dịch vụ.
Thứ tư, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội của các tỉnh trong vùng VBBB
thực hiện các biện pháp giảm nghèo như: hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất, cung
cấp thông tin thị trường, bao tiêu sản phẩm, hỗ trợ/tư vấn về KH-CN. Thực hiện tốt
các chương trình giảm nghèo của chính phủ, các tổ chức quốc tế.
Thứ năm, Sở Tư pháp của các tỉnh trong vùng VBBB tập trung giải quyết
vấn đề tệ nạn xã hội từ lâu đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống người dân.
Các cơ quan bảo vệ pháp luật cần phối hợp chặt chẽ để phát hiện và xử lý nghiêm
khắc những hành vi vi phạm pháp luật; thường xuyên giáo dục ý thức pháp luật cho
người dân.
Thứ sáu, các tỉnh trong vùng VBBB cần chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi
trường bảo vệ tốt môi trường tại các tỉnh trong vùng VBBB: khảo sát để xây dựng
các trạm xử lý chất thải, rác thải để đảm bảo 100% lượng rác thải, nước thải được
xử lý. Thường xuyên kiểm tra giám sát quá trình an toàn vệ sinh môi trường để có
những điều chỉnh kịp thời và xử lý những vi phạm. Nâng cao tỷ lệ che phủ rừng và
tỷ lệ che phủ cây xanh trong các KCN, khu dân cư, khu đô thị. Cấp phép đầu tư có
chọn lọc và kiên quyết hạn chế và đi đến loại bỏ những doanh nghiệp có công nghệ
lạc hậu gây ô nhiễm môi trường và lãng phí tài nguyên. Giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho người dân, cán bộ và doanh nghiệp. Điều tra khảo sát để đánh giá trữ
lượng tài nguyên, lập kế hoạch khai thác và chế biến có hiệu quả.
4.2.2. Những giải pháp phát huy nội lực và khắc phục những hạn chế nội tại
a. Phát triển nguồn nhân lực cho CNH, HĐH
Yêu cầu về nguồn nhân lực cho CDCCKT theo hướng CNH, HĐN
Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, các tỉnh thuộc vùng VBBB cần phát
triển nguồn nhân lực quan trọng như sau: (1). Đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý
133
hành chính nhà nước cần phải được các tỉnh trong vùng VBBB quan tâm đào tạo
một cách bài bản, chuyên nghiệp; (2). Đội ngũ cán bộ KH-CN đủ về số lượng và
mạnh về chất lượng, tập trung vào nhóm chuyên gia đầu ngành có trình độ ngang
với chuyên gia của các nước tiên tiến trong khu vực Đông Á; (3). Đào tạo đội ngũ
giáo viên các cấp có trình độ chuyên môn cao, có kiến thức và kỹ năng làm việc tiếp
cận với trình độ quốc tế; (4). Đào tạo đội ngũ doanh nhân có trình độ, thông thạo kỹ
năng quản lý, có đủ khả năng thực hiện vai trò động lực, dẫn dắt để nâng cao vị thế,
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong bối cảnh CNH, HĐH và HNKTQT;
(5). Đào tạo lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề, đặc biệt là trong các ngành,
lĩnh vực mũi nhọn đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH.
Các giải pháp xây dựng nguồn nhân lực
Đối với giáo dục và đào tạo: Sở Giáo dục và Đào tạo của các tỉnh trong vùng
VBBB cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản về đổi mới chương trình giáo dục,
nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, gắn kết đào tạo với nhu cầu thực tế, hoàn
thiện mạng lưới cơ sở đào tạo… Những giải pháp chi tiết được trình bày ở mục a
trong phần 4.2.1 của luận án này.
Đối với chăm sóc sức khỏe và tăng cường thể lực, tầm vóc con người: Các
Sở Y tế của các tỉnh trong vùng VBBB cần nghiên cứu các tiêu chuẩn về chăm sóc
sức khỏe và thể lực của các nước đã thành công trong quá trình CNH, HĐH. Tập
trung nâng cao chất lượng sinh nở như kiểm tra sức khỏe, bệnh tật, tính di truyền,…
đảm bảo sẽ sinh ra một thế hệ trẻ có thể chất và trí lực tốt. Sau đó cần phải có chế
độ chăm sóc, nuôi dưỡng về vật chất và tinh thần để trẻ lớn lên thể lực dồi dào, có
trí tuệ tốt. Thực hiện tốt công tác sức khỏe sinh sản, sàng lọc trẻ trước sinh. Đẩy
mạnh phong trào rèn luyện sức khỏe, công tác y tế dự phòng, nâng cao chất lượng
dịch vụ khám, chữa bệnh cho người dân,...).
Tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển nguồn nhân lực: Để xây dựng
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CDCCKT theo hướng CNH, HĐH cần tăng cường
quan hệ hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Khuyến khích, thu hút chuyên gia
quốc tế giỏi và Việt kiều giỏi vào làm việc ở tại các tỉnh, thành phố thuộc vùng VBBB
134
trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, hoạt động KH-CN, tư vấn thiết kế, quản lý
và kinh doanh.
Đào tạo, bồi dưỡng lực lượng lao động có kỹ thuật, thợ lành nghề: Lực
lượng lao động có trình độ kỹ thuật và lành nghề đóng vai trò quan trọng đối với
quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, bao gồm lao động nông, lâm, ngư
nghiệp, thủ công nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Vùng VBBB cần chỉ
đạo các Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tổ chức các
khóa đào tạo, bồi dưỡng bộ phận lao động này bằng nhiều hình thức như: các trung
tâm dạy nghề, các trường trung cấp nghề, các lớp huấn luyện kỹ thuật, công nghệ.
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở bậc cao đẳng, đại học và sau đại
học: Đào tạo bậc cao đẳng, đại học và sau đại học góp phần quan trọng vào phát
triển KH-CN, đào tạo nguồn nhân lực cho quá trình CDCCKT theo hướng CNH,
HĐH. Vùng VBBB cần mở rộng hệ thống các trường cao đẳng và đại học và xây
dựng hệ thống trường dạy nghề ở các tỉnh và cần nghiên cứu các chương trình học
liên thông từng cấp và tiếp tục nâng lên trình độ đại học. Đa dạng hóa và nâng cao
chất lượng đào tạo bậc đại học, cao đẳng và trung cấp nghề. Mở rộng chỉ tiêu, tạo
điều kiện thuận lợi hơn cho việc đào tạo sau đại học ở các ngành nghề, các lĩnh vực
liên quan đến sự phát triển kinh tế của các tỉnh và gắn với nhu cầu của xã hội trong
bối cảnh CNH, HĐH. Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ giảng viên, đầu tư xây
dựng phát triển cơ sở vật chất, kỹ thuật theo hướng thiết thực, hiệu quả và gắn với mục
tiêu CNH, HĐH.
Những giải pháp sử dụng nhân lực
Thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao: Các tỉnh thuộc vùng VBBB cần chỉ
đạo các Sở Tư pháp nghiên cứu để có những chính sách, cơ chế hấp dẫn, tạo điều
kiện, môi trường làm việc thuận lợi. Trọng dụng, phát huy năng lực của người tài
công tác tại các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn vùng. Sử dụng hiệu quả lực
lượng mới đào tạo, đồng thời thu hút thêm lực lượng lao động từ nơi khác.
Đáp ứng nhu cầu về tiền công, thu nhập nhằm đáp ứng nhu cầu tái sản xuất
sức lao động trong bối cảnh CNH, HĐH: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội cần
thường xuyên khảo sát và có những kiến nghị với các doanh nghiệp và người sử
135
dụng lao động để đảm bảo cho người lao động có thu nhập hợp lý, đáp ứng nhu cầu
tái sản xuất sức lao động và nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao và đa dạng của lực
lượng lao động. Xác định mức lương theo đúng nội dung, vị trí công việc không
những tăng thu nhập cho cá nhân cụ thể trong từng công việc mà còn tạo động lực
cho cá nhân phấn đấu tăng năng lực làm việc để cạnh tranh và duy trì việc làm.
Phát triển thị trường lao động - việc làm: Sở Lao động, Thương binh và Xã
hội của các tỉnh trong vùng VBBB cần đưa ra chính sách về điều kiện lao động
trong bối cảnh CNH, HĐH, bao gồm các chính sách về: hình thức, phương thức ký
kết hợp đồng lao động, thời gian lao động, trả công lao động, những chuẩn mực,
quy định về vệ sinh, an toàn lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Triển khai
xây dựng các trung tâm giới thiệu việc làm, các sàn giao dịch việc làm để kết nối
giữa cung và cầu lao động. Hình thành các thị trường lao động, nắm chắc cung –
cầu lao động và dự báo nhu cầu sử dụng lao động theo các doanh nghiệp, ngành,
nghề, cấp trình độ và địa bàn. Từ đó, xây dựng và thực hiện các hướng phát triển
nguồn nhân lực sát với nhu cầu thực tiễn.
Nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực: Sử dụng nhân lực trong khu vực nhà
nước cần phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường: Thực hiện bài bản từ khâu tuyển
dụng, bố trí công việc, trả công lao động, thăng tiến nghề nghiệp. Không ngừng cải
thiện điều kiện, môi trường lao động để tạo động lực, kích thích, khuyến khích làm việc
sáng tạo và có hiệu quả cao. Trao quyền tự chủ, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm
cho tất cả các doanh nghiệp, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế trong việc quản
lý, sử dụng nhân lực theo những quy định của pháp luật và tác động của cơ chế thị
trường.
b. Một số giải pháp huy động vốn phục vụ quá trình CNH, HĐH
Nhu cầu về vốn để phục vụ quá trình CNH, HĐH vùng VBBB: Như đã
phân tích trong chương III của luận án, để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, vùng
VBBB phải đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm từ 15-20% và duy trì tốc
độ tăng trưởng trong nhiều năm liên tục. Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, các
nước có nền kinh tế phát triển hiệu quả và bền vững cần duy trì hệ số ICOR ở mức
3 [32]. Như vậy, vùng VBBB cần xác định nhu cầu về vốn trên cơ sở các chỉ số trên
để hướng tới sự phát triển hiệu quả và bền vững theo hướng CNH, HĐH.
136
Với mức tăng trưởng kinh tế bình quân là 15%, giai đoạn 2011-2015 vùng
VBBB cần nguồn vốn đầu tư khoảng 270.147 tỷ đồng, giai đoạn 2016-2020 cần đầu
tư khoảng 543.364 tỷ đồng. Với mức tăng trưởng kinh tế cao hơn (khoảng 20%),
giai đoạn 2011-2015 vùng VBBB cần nguồn vốn đầu tư khoảng 397.551 tỷ đồng,
giai đoạn 2016-2020 cần đầu tư khoảng 989.234 tỷ đồng. (Chi tiết tính toán nguồn
vốn đầu tư cho vùng VBBB giai đoạn 2011-2020 được nêu trong phụ lục 21). Với
nguồn vốn đầu tư lớn vùng VBBB cần tiến hành các hoạt động sau để huy động
hiệu quả nguồn vốn đầu tư:
Chính sách thuế và tín dụng để huy động tiết kiệm dân cư: Quá trình
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH đòi hỏi nguồn vốn lớn, vì vậy các chính sách
điều tiết của nhà nước cần tập trung vào: (1). Về chính sách thuế của nhà nước
khuyến khích đầu tư phát triển: các chính sách tài chính huy động tiết kiệm dân cư
để đầu tư phát triển thường gắn với cải cách thuế, với hai mục tiêu cơ bản là tăng
thu ngân sách và điều chỉnh lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Ưu tiên đánh thuế
vào tiêu dùng, hạn chế đánh thuế thu nhập; (2). Về chính sách tín dụng khuyến
khích đầu tư phát triển: Cần tăng cường thông tin khách hàng để tránh thất thoát
vốn. Chủ trương nới lỏng điều kiện cấp phép và tăng thêm quyền hạn cho những tổ
chức tài chính quy mô nhỏ. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, đồng
thời nâng cao năng lực quản lý của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là giám sát
việc cho vay dưới chuẩn.
Huy động các nguồn vốn nhỏ lẻ: Trong quá trình CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH, giải pháp huy động các nguồn vốn nhỏ lẻ, phân tán được hiểu là các
cách thức huy động sức mạnh tổng hợp các nguồn vốn nhỏ lẻ của dân cư cho đầu tư
phát triển theo hướng CNH, HĐH. Vùng VBBB cần phát triển dịch vụ ngân hàng
trong dân cư, mở thêm các tổ chức tín dụng, ngân hàng vào các khu vực dân cư,
khắc phục thủ tục rườm rà, tạo tiện lợi cho người gửi tiền [47]. Khuyến khích người
dân mở tài khoản tại ngân hàng, thực hiện các dịch vụ thanh toán, trả lương,... qua
ngân hàng [48]. Đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng để thu hút tiết kiệm nhỏ lẻ. Ngoài
những dịch vụ truyền thống như gửi tiết kiệm, mua tín phiếu kho bạc, thương phiếu,
chứng chỉ tiền gửi có thể mở thêm dịch vụ ký quỹ tại ngân hàng và người ký quỹ
được hưởng lãi suất.
137
Tăng cường huy động vốn từ khu vực doanh nghiệp: Để huy động nguồn
vốn từ doanh nghiệp nhà nước và ngoài nhà nước vào quá trình CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH, các tỉnh trong vùng VBBB cần khuyến khích tăng tỷ lệ đầu tư
từ nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay vốn,
đồng thời làm minh bạch hóa các báo cáo tài chính. Thực hiện chế độ kiểm toán để
có báo cáo tài chính rõ ràng, có độ tin cậy cao tạo điều kiện cho ngân hàng dễ dàng
trong việc thẩm định phương án vay vốn, cũng như quyết định hình thức bảo đảm
nợ vay. Ngoài ra, cần nâng cao chất lượng thông tin hai chiều giữa ngân hàng và các
doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp thanh toán thông qua ngân hàng.
Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài: Tập trung cải cách thủ tục hành
chính, tạo cơ chế thông thoáng, minh bạch trong điều hành kinh tế. Cải thiện cơ sở
hạ tầng đồng bộ. Phát triển các ngành phụ trợ và các cụm ngành liên kết (clusters)
và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
c. Những giải pháp cơ bản về cơ chế, chính sách đối với quá trình CDCCKT
theo hướng CNH, HĐH
Trong quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, vùng VBBB cần đẩy
mạnh cải cách, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tạo ra lợi thế cạnh tranh của
vùng VBBB về cơ chế, chính sách so với các vùng xung quanh. Chính quyền các
tỉnh/thành phố thuộc vùng VBBB cần tiến hành cơ chế minh bạch hóa các khoản
thu chi ngân sách và đấu thầu công. Xây dựng các đề án quy hoạch có tính khả thi,
cách thức tiến hành hiệu quả. Những người đứng đầu các chính quyền địa phương
phải gương mẫu thực hiện các chính sách, pháp luật của nhà nước, là những người
tiên phong chống tham nhũng. Cải cách hành chính hiệu quả, tinh giản các thủ tục
gây phiền hà đối với doanh nghiệp và người dân, đặc biệt là liên quan đến vấn đề sở
hữu và tài chính, thuế,... tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển. Đẩy mạnh sử dụng
"chính phủ điện tử" nhằm tiết kiệm thời gian, nhân lực, giảm các thủ tục và góp
phần minh bạch hóa các chủ trương, chính sách.
Các tỉnh trong vùng VBBB cần chỉ đạo Sở Tư pháp nghiên cứu, điều chỉnh
cơ chế, chính sách theo hướng phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tạo sức
hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Các thủ tục hành chính cần rõ ràng,
nhất quán, minh bạch...tạo tâm lý yên tâm đối với các nhà đầu tư trong và ngoài
138
nước. Bên cạnh đó, quá trình điều chỉnh cơ chế, chính sách phục vụ CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH cần trú trọng đến các định hướng phát triển và bảo vệ quốc
phòng – an ninh để có thể kết hợp chặt chẽ và hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế
và đảm bảo quốc phòng – an ninh.
Bên cạnh quá trình xây dựng cơ chế chính sách, các tỉnh trong vùng VBBB
cần xây dựng các kế hoạch kiểm tra, giám sát quá trình thực thi pháp luật và thực
hiện các cơ chế, chính sách cũng như đánh giá hiệu quả các cơ chế, chính sách được
ban hành. Từ đó, có thể rút kinh nghiệm và điều chỉnh cơ chế, chính sách nhằm
phục vụ ngày một tốt hơn quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
d. Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Các tỉnh/thành phố trong vùng VBBB cần chỉ đạo các Sở Xây dựng nghiên
cứu và xây dựng quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng gắn chặt với mục tiêu
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Trước hết, cần tập trung khảo sát, nghiên cứu để
xây dựng cơ sở hạ tầng một cách hiệu quả cho CNH, HĐH, đặc biệt là hệ thống
giao thông, hệ thống điện, cấp thoát nước và xử lý chất thải từ quá trình CNH và đô
thị hóa. Căn cứ vào quy hoạch phát triển hạ tầng, các tỉnh cần tiến hành đo đạc,
khảo sát và xác định ranh giới quỹ đất dùng cho các dự án phát triển hạ tầng để
phục vụ quá trình CNH, HĐH. Xây dựng cơ sở hạ tầng cần có kế hoạch và lộ trình
triển khai, từ đó huy động vốn thực hiện một cách đồng bộ, tránh tình trạng xây
dựng các hạng mục không hợp lý dẫn đến tình trạng lãng phí, ảnh hưởng lẫn nhau
giữa các hạng mục thi công.
Sở Tài chính của các tỉnh trong vùng VBBB cần có những biện pháp huy
động các nguồn vốn có thể (vốn ODA, vốn ngân sách nhà nước, vốn doanh
nghiệp,...) để phát triển cơ sở hạ tầng. Trong tương lai, nguồn vốn ODA sẽ hạn chế
dần, vì vậy cần khai thác nguồn vốn tư nhân để phát triển cơ sở hạ tầng và PPP (Mô
hình hợp tác công - tư). Mô hình PPP thông qua hình thức đấu thầu rộng rãi sẽ tạo
điều kiện cạnh tranh minh bạch, công bằng cho các nhà đầu tư. Vì vậy, thu hút vốn
PPP chính là vừa xây dựng hạ tầng làm cơ sở cho quá trình CNH, HĐH một cách
bền vững, vừa không tăng nợ công. Cần phải tạo ra cơ chế phù hợp như: khi tham
gia dự án, doanh nghiệp được hưởng các ưu đãi để các doanh nghiệp có thể đầu tư
139
vào phát triển cơ sở hạ tầng bên cạnh nguồn ngân sách nhà nước và vốn ODA. Bên
cạnh ODA và vốn từ ngân sách, các tỉnh/thành phố cần tập trung tích lũy đầu tư trên
địa bàn để chủ động đầu tư vào các hạng mục hạ tầng trên địa bàn.
e. Phát triển công nghiệp phụ trợ phục vụ quá trình CNH, HĐH
Các tỉnh/thành phố trong vùng VBBB cần cùng nhau hợp tác để đi đến sự
thống nhất và phối hợp chặt chẽ trong phát triển công nghiệp phụ trợ, mỗi tỉnh nên
thành lập một ban chỉ đạo trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố. Trong đó,
cần chỉ rõ những công việc nào sẽ được điều phối ở trung ương và những việc nào
từng tỉnh sẽ làm. Một số giải pháp cơ bản phát triển công nghiệp phụ trợ trong quá
trình CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH như sau:
Thứ nhất, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu công nghiệp phụ trợ: Các
tỉnh/thành phố thuộc vùng VBBB cần triển khai việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ
liệu và thông tin công nghiệp với một bộ phận chuyên trách về thông tin công
nghiệp có trách nhiệm tiến hành thu thập, xử lý và cập nhật dữ liệu của hệ thống.
Thứ hai, thành lập trung tâm xúc tiến công nghiệp phụ trợ: Đảm nhiệm chức
năng xúc tiến công nghiệp và cung cấp thông tin về công nghiệp phụ trợ của địa
phương, trung tâm này có thể được hoạt động độc lập dưới sự quản lý của Sở Công
Thương hoặc Trung tâm xúc tiến đầu tư của các tỉnh/thành phố.
Thứ ba, hỗ trợ pháp lý: Các tỉnh/thành phố thuộc vùng VBBB cần xây dựng
các chương trình và tổ chức tư vấn, hỗ trợ thông tin và hỗ trợ pháp lý cho các doanh
nghiệp nhỏ trong việc soạn thảo, đàm phán và ký kết hợp đồng kinh doanh.
Thứ tư, thành lập ban chỉ đạo phát triển công nghiệp phụ trợ: Ban chỉ đạo
phát triển công nghiệp phụ trợ có chức năng thiết kế và tư vấn ban hành các chính
sách, xây dựng các chương trình, phối hợp các ban ngành chức năng để thực thi và
giám sát, đánh giá chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ.
Thứ năm, lập kế hoạch và đề án cho việc triển khai các giải pháp: Các
tỉnh/thành phố thuộc vùng VBBB nên thành lập một bộ phận chức năng để điều
hành, xây dựng các kế hoạch, đề án, các chương trình và hành động cụ thể và giám
sát, theo dõi và chỉ đạo một cách chặt chẽ quá trình phát triển công nghiệp phụ trợ.
140
f. Những giải pháp phát huy lợi thế về vị trí địa lý đối với quá trình CDCCKT
theo hướng CNH, HĐH
Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, vùng VBBB cần tranh thủ và thu hút
các nguồn đầu tư để xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ cho phát triển công nghiệp
và dịch vụ hiện đại. Đầu tư xây dựng các KCN với định hướng tập trung vào những
ngành công nghiệp hiện đại và gắn với kinh tế biển, dịch vụ cảng cũng như hậu cần
cảng. Tập trung phát triển mạng lưới giao thông thông suốt để khai thác các lợi thế
của hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt-Trung. Phát triển mạng lưới
vận tải đường sắt kết nối với Quảng Ninh và các trung tâm kinh tế lớn của Trung
Quốc để có thể tạo thành tuyến liên vận đường sắt quốc tế đáp ứng nhu cầu vận tải
hàng hóa lớn và giảm bớt thời gian vận chuyển so với đường biển.
Chuyển đổi cơ cấu sản xuất công nghiệp và dịch vụ để tạo ra những sản
phẩm có lợi thế cạnh tranh cao nhằm khai thác thị trường rộng lớn gồm có Trung
Quốc và các nước Đông Âu thông qua lợi thế giao thương đường bộ. Tập trung
mạnh vào các sản phẩm công nghiệp có sức cạnh tranh cao và có thế mạnh như
cảng và hậu cần cảng, vận tải biển, khai thác đánh bắt xa bờ. Chuyên nghiệp hóa
các loại hình dịch vụ như tài chính, y tế, du lịch,... để ngày một phát huy tốt vị trí
địa kinh tế thuận lợi của thành phố trong quá trình CNH, HĐH.
Bên cạnh những lợi thế cho phát triển kinh tế, các tỉnh thuộc vùng VBBB
còn có vai trò rất quan trọng về mặt quốc phòng - an ninh của cả nước. Với vị thế và
vai trò này, các tỉnh cần huy động và kêu gọi các nguồn đầu tư cho phát triển hạ
tầng hiện đại để phục vụ tốt cho quá trình CNH, HĐH cũng như phục vụ mục đích
quốc phòng - an ninh.
g. Giải pháp quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên
Về khai thác tài nguyên khí hậu: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn của
các tỉnh trong vùng VBBB cần nghiên cứu những đặc điểm đặc thù về khí hậu để
xây dựng các chương trình sản xuất, canh tác phù hợp với tài nguyên khí hậu hậu
các tỉnh/thành phố thuộc vùng VBBB.
Về tài nguyên đất: Sử dụng hợp lý, bền vững đất nông nghiệp và bảo vệ môi
trường đất. Thay đổi mô hình canh tác trên đất dốc, phủ xanh đất trống, đồi trọc bằng
các loại cây nguyên liệu công nghiệp để hạn chế lũ và xói mòn đất.
141
Khai thác hợp lý tài nguyên nước: Sử dụng hợp lý và có thứ tự ưu tiên cho
các đối tượng dùng nước, tăng cường quản lý và đầu tư kinh phí cho các công trình
khai thác phục vụ nước sinh hoạt và sản xuất.
Khai thác hợp lý bảo vệ rừng và đa dạng sinh học: Cần khoanh nuôi các khu
rừng tự nhiên, trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn để đảm bảo điều hòa dũng chảy tự
nhiên, tăng cường lượng nước trên sông, suối vào mùa khô, nghiêm cấm săn bắn
thú rừng để bảo vệ đa dạng sinh học.
Khai thác hợp lý tài nguyên khoáng sản: Sở Công Thương của các tỉnh cần
tổ chức các chương trình nghiên cứu, thăm dò, khảo sát trữ lượng các loại khoáng
sản, tiềm năng khai thác và sử dụng vào những ngành công nghiệp nào, sau đó có
kế hoạch khai thác, sử dụng và chế biến các loại sản phẩm đầu ra. Nghiên cứu các
giải pháp hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực do khai thác tài nguyên khoáng
sản gây ra. Lựa chọn công nghệ, kế hoạch phát triển các KCN, CCN dựa trên nguồn
tài nguyên sẵn có. Công nghệ cần phù hợp để khai thác và chế biến có hiệu quả
cũng như giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
4.2.3. Những giải pháp liên vùng và tận dụng các yếu tố bên ngoài để phát triển
và CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
a. Giải pháp về hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài
Vùng VBBB có vị trí quan trọng đối với nước ta trong quan hệ đối ngoại với
các nước thuộc khu vực Đông Bắc Á và Trung Quốc. Để CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH, vùng VBBB cần khai thác hiệu quả hợp tác quốc tế với các giải pháp
cơ bản sau: (1). Các tỉnh/thành phố thuộc vùng VBBB cần tập trung đầu tư phát
triển nhân lực, cải cách cơ chế và huy động mọi nguồn vốn để hình thành địa bàn
đầu tư hấp dẫn cho các nước ASEAN và Trung Quốc, cũng như xây dựng trở thành
địa bàn thu hút các nhà đầu tư công nghệ nguồn; (2). Phát triển cơ sở hạ tầng hiện
đại theo tiêu chuẩn quốc tế và cải cách cơ chế quản lý hành chính theo hướng thông
thoáng, thuận tiện cho các hoạt động sản xuất kinh doanh để thu hút đầu tư nước
ngoài; (3). Tổ chức nhiều hội chợ, triển lãm có uy tín quốc tế để xây dựng hình ảnh
và thương hiệu của vùng. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh công tác quảng bá vùng trên
các trang internet để các nhà đầu tư trong và ngoài nước dễ dàng tiếp cận và tìm
hiểu được các tiềm năng, lợi thế và cơ hội kinh doanh trong vùng; (4). Tăng cường
142
công tác xúc tiến đầu tư, phát triển đa dạng các lĩnh vực liên kết với các đối tác
chiến lược, trong đó đặc biệt chú ý các trung tâm kinh tế, KH-CN lớn trên thế giới;
(5). Chủ động liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp mạnh, các tập đoàn, công ty
lớn trên thế giới có lợi thế về vốn, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý – kinh
doanh để ngày một hiện đại hóa nền sản xuất trong vùng, tạo cơ hội cho các nhà
quản lý và người lao động nhanh chóng tiếp cận với công nghệ, trình độ quản lý và
tác phong sản xuất hiện đại; (6). Chủ động liên kết với các doanh nghiệp Việt Nam
đang hoạt động tại nước ngoài và thu hút nguồn kiều hối đầu tư phát triển các ngành
công nghiệp và dịch vụ của vùng theo hướng hiện đại; (7). Các tỉnh trong vùng
VBBB cần xây dựng một cơ quan chuyên nghiên cứu các cơ hội thu hút đầu tư,
đánh giá tiềm năng lợi thế của từng tỉnh, các cơ hội kinh doanh của từng tỉnh, quảng
bá hình ảnh của tỉnh và cơ chế chính sách... Bên cạnh đó, xây dựng các trang
website quảng bá từng tỉnh trên cả 2 ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh để các nhà
đầu tư trong và ngoài nước dễ dàng tìm hiểu các tiềm năng, lợi thế và cơ hội kinh
doanh khi họ muốn đầu tư vào vùng VBBB.
b. Tăng cường năng lực cạnh tranh để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH
Về cơ chế, chính sách tăng cường năng lực cạnh tranh: Cần cải cách hành
chính, tạo cơ chế thông thoáng khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước và
người dân đầu tư vốn phát triển sản xuất ở trình độ công nghệ cao. Trong những
năm tới, để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, vùng VBBB cần phát triển công
nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại. Điều này đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất
lớn cho hạ tầng, máy móc và phát triển nhân lực. Vì vậy, huy động hiệu quả mọi
nguồn vốn trong dân, doanh nghiệp và các nhà đầu tư nước ngoài sẽ là giải pháp
giúp các tỉnh trong vùng VBBB có thể đẩy nhanh tiến trình HĐH nền sản xuất.
Về huy động nguồn lực tăng cường năng lực cạnh tranh: Tiếp tục mở
rộng quy mô nền kinh tế thông qua việc đẩy mạnh phát triển sản xuất, nâng cao hiệu
quả kinh tế và thực hành tốt công tác thu chi ngân sách, khuyến khích tích lũy và
đầu tư. Đẩy mạnh phát triển kinh tế để nâng cao mức GDP bình quân đầu người và
nâng cao mức sống về vật chất, tinh thần cho người dân, để họ có điều kiện chủ
động về kinh phí đầu tư cho giáo dục, nâng cao trình độ, tham gia vào các quá trình
143
sản xuất đòi hỏi công nghệ cao, nâng cao NSLĐ và hiệu quả kinh tế. Đầu tư cho
phát triển KH-CN và phát triển nguồn nhân lực để nâng cao NSLĐ, từ đó có thể
nâng cao mức GDP bình quân đầu người.
Về phát triển ngành nghề tăng cường năng lực cạnh tranh: Phát triển các
sản phẩm chủ lực có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ để nâng cao hiệu quả sản xuất, thu hút đầu
tư trong và ngoài nước vào vùng VBBB. Đối với kinh tế biển cần ưu tiên phát triển
du lịch biển vốn từ lâu đã là thế mạnh của các tỉnh/thành phố trong vùng như Quảng
Ninh, Hải Phòng và Ninh Bình. Bên cạnh đó cần nâng cao hiệu quả của việc đánh
bắt, nuôi trồng thủy sản và phát triển mạnh chế biến hải sản.
c. Kết hợp giữa CDCCKT theo hướng CNH, HĐH với đảm bảo quốc phòng -
an ninh và trật tự, an toàn xã hội
Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, bảo đảm quá trình phát triển
và CDCCKT theo hướng CNH, HĐH góp phần nâng cao tiềm lực và sức mạnh giữ
nước, hiện đại hóa quốc phòng - an ninh, đảm bảo vững chắc thế trận quốc phòng - an
ninh nhân dân. Bảo đảm sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các địa phương
trong phát triển kinh tế với các nhiệm vụ quốc phòng - an ninh.
Đảm bảo sự thống nhất giữa phát triển kinh tế với quốc phòng - an ninh ngay
từ những khâu đầu tiên nhằm mục đích không phá vỡ những quy hoạch lớn về quốc
phòng - an ninh đã được xây dựng từ trước. Kết hợp chương trình phát triển KT-XH
với phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phòng và chống tội phạm và
bài trừ các tệ nạn xã hội.
Triển khai tuyên truyền, tập huấn công tác quốc phòng - an ninh trong hệ
thống giáo dục nhà trường và khu dân cư một cách thiết thực, ý nghĩa nhằm nâng
cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ an ninh và quốc phòng. Tổ chức lực lượng tự
vệ và lực lượng giữ gìn an ninh trật tự ở các xí nghiệp, khu dân cư. Xây dựng và
triển khai các phương án phòng chống khủng bố, bạo loạn, trấn áp tội phạm và các
hành vi phá hoại của những thế lực thù địch, đảm bảo an ninh biên giới và hải đảo.
144
d. Các biện pháp chung bảo vệ môi trường vùng VBBB và các vùng lân cận
Quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH tại vùng VBBB cần đảm bảo
yêu cầu về bảo vệ môi trường của vùng VBBB và các vùng phụ cận với các giải
pháp cơ bản sau:
Thực hiện nghiêm việc đánh giá tác động môi trường đối với tất cả các cơ sở
sản xuất ngay từ khâu lập dự án. Di dời các nhà máy gây ô nhiễm môi trường vào
các KCN, CCN. Lựa chọn công nghệ sạch, cụ thể hóa các quy định về nhập khẩu
công nghệ, thiết bị theo các tiêu chuẩn về hệ số tiêu hao năng lượng, hệ số chất thải.
Xác định các tiêu chuẩn chất thải của vùng theo các ngành và lĩnh vực. Xây dựng
chính sách về tài chính, khuyến khích miễn giảm thuế hoặc cho vay vốn với việc
nhập thiết bị và công nghệ xử lý chất thải. Đối với các dự án phát triển công nghiệp,
du lịch cần giải trình phương án cụ thể về công nghệ và quy trình xử lý chất thải
đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường của vùng.
Xã hội hóa công tác thu gom, xử lý chất thải rắn, tiến tới 100% chất thải rắn
đô thị được thu gom và xử lý hợp vệ sinh. Hoàn thành dự án xây dựng khu liên hợp
xử lý chất thải rắn, xây dựng hệ thống thoát nước và các cơ sở xử lý nước thải.
Khuyến khích phát triển các cơ sở dịch vụ xử lý chất thải, tăng cường đào tạo nhân
lực về công nghệ môi trường để có thể đảm đương việc thiết kế thi công, vận hành
các công trình xử lý chất thải.
Tăng cường thanh tra, giám sát các nguồn thải của các cơ sở sản xuất công
nghiệp, du lịch, thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đã hoạt
động để đánh giá hiệu quả công nghệ sản xuất, hiệu quả của hệ thống xử lý chất
thải. Đẩy mạnh việc giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường. Giám sát việc xả
nước thải, chất thải, dầu mỡ từ các tàu thuyền tại vùng biển và hệ thống đường thủy
nội địa trong vùng. Áp dụng thu phí ô nhiễm và các biện pháp hành chính khác đối
với các nhà máy thải ra môi trường khối lượng lớn khí thải, nước thải.
Thực hiện việc phân vùng môi trường để có những biện pháp quản lý và sử
dụng phù hợp. Cũng như việc định hướng các lãnh thổ nhạy cảm, đặc biệt như rừng
ngập mặn ven biển, vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển. Xây dựng kế hoạch quản
lý tổng hợp lưu vực sông, vùng bờ biển, đề phòng sự cố liên quan đến vận tải biển
145
như tràn dầu, rò rỉ hóa chất độc hại. Xây dựng kế hoạch dự phòng, xử lý khi có sự
cố môi trường.
Có kế hoạch thực hiện bảo vệ, bảo tồn rừng và các thảm thực vật không chỉ ở
trên cạn mà ở cả dưới nước nhằm đảm bảo đa dạng sinh học cho các loài động, thực
vật trong vùng. Tăng cường hợp tác quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực cảnh báo, dự
báo những vấn đề liên quan đến thiên tai và những ảnh hưởng tiêu cực, thất thường
do biến đổi khí hậu gây ra.
Tiểu kết chương 4
Chương 4 của luận án đã đề xuất những định hướng CDCCKT vùng VBBB
theo hướng CNH, HĐH trên cơ sở các kết quả phân tích những thành công, hạn chế
và nguyên nhân của những thành công, hạn chế của quá trình CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH tại vùng VBBB. Nghiên cứu các yếu tố tác động đến CDCCKT vùng
VBBB theo hướng CNH, HĐH: (1) Định hướng phát triển phát triển những ngành
nghề có khả năng cạnh tranh cho vùng VBBB: (bao gồm 10 ngành: công nghệ
thông tin, điện tử, vật liệu xây dựng, cơ khí, nuôi trồng - đánh bắt hải sản, chế biến
thực phẩm, phát triển du lịch, dịch vụ vận tải biển - hậu cần cảng - tài chính, dệt
may - da giày). (2) Vấn đề phát triển mang tính liên vùng: (tập trung vào: Những
định hướng chung về phát triển liên vùng và phát triển khu vực công nghiệp, dịch
vụ và khu vực nông nghiệp mang tính liên vùng). (3) Vấn đề nâng cao hiệu quả phát
triển kinh tế biển: (tập trung vào các nội dung: phát triển tư duy về kinh tế biển,
phát huy các lợi thế từ biển để phục vụ phát triển kinh tế, xác định vùng ven biển là
vùng cơ sở phát triển kinh tế biển, phát triển kinh tế biển trong bối cảnh hội nhập,
một số giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả kinh tế biển).
Từ việc đánh giá các thành công, hạn chế, các nguyên nhân, các yếu tố tác
động và những định hướng cơ bản cho quá trình CDCCKT, chương 4 đã đề xuất các
giải pháp cơ bản cho quá trình CDCCCKT vùng VBBB. Các giải pháp được chia
làm 3 nhóm:
Nhóm giải pháp thứ nhất tập trung vào các chỉ tiêu cơ bản đánh giá
CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH gồm có: (1). Những giải pháp huy
146
động hiệu quả các yếu tố đầu vào trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình CDCCKT vùng
VBBB theo hướng CNH, HĐH; (2). Những giải pháp tương ứng về động thái và
trình độ CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH; (3). Những giải pháp để
nâng cao kết quả đạt được của quá trình CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH,
HĐH để tiến đến đạt các tiêu chuẩn của CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
Nhóm giải pháp thứ hai tập trung vào những giải pháp phát huy những yếu tố
nội lực và khắc phục những nguyên nhân nội tại ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình
CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH, bao gồm: (1). Nhóm giải pháp phát
triển nguồn nhân lực vùng VBBB; (2). Nhóm giải pháp về huy động vốn; (3).
Những giải pháp cơ chế, chính sách; (4). Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho quá
trình CNH, HĐH; (5). Phát triển công nghiệp phụ trợ phục vụ quá trình CNH,
HĐH; (6). Những giải pháp phát huy lợi thế về vị trí địa lý; (7). Giải pháp quản lý
và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.
Nhóm giải pháp thứ ba tập trung vào yếu tố phát triển liên vùng và tận dụng
các yếu tố bên ngoài để phát triển theo hướng CNH, HĐH, gồm có: (1) Giải pháp
về hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài; (2). Tăng cường năng lực cạnh tranh;
(3). Kết hợp giữa phát triển kinh tế với đảm bảo thế trận quốc phòng - an ninh và
trật tự an toàn xã hội; (4). Những giải pháp bảo vệ môi trường.
147
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn CDCCKT vùng VBBB theo
hướng CNH, HĐH, luận án đã hoàn thành được các nhiệm vụ nghiên cứu và có một
số đóng góp mới sau đây:
1. Tổng quan các quan điểm của các học giả trong và ngoài nước nghiên cứu
về CCKT và CDCCKT. Luận án đã góp phần làm rõ khái niệm về CDCCKT,
CDCCKT của vùng theo hướng CNH và vấn đề CDCCKT vùng ven biển theo
hướng CNH, HĐH. Luận án sử dụng phương pháp phân tích hệ thống để lựa chọn
một số chỉ tiêu để đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH ở hai cấp độ đánh giá
đó là cấp độ quốc gia và cấp độ vùng (lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá cụ thể cho
vùng VBBB). Bộ chỉ tiêu đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH được phân
thành các nhóm chỉ tiêu cơ bản: (1). Nhóm chỉ tiêu phản ánh các yếu tố đầu vào,
ảnh hưởng đến CDCCKT theo hướng CNH, HĐH; (2). Nhóm chỉ tiêu phản ánh
động thái và trình độ CDCCKT theo hướng CNH, HĐH; (3). Nhóm chỉ tiêu phản
ánh kết quả CDCCKT theo hướng CNH, HĐH và (4). Một số chỉ tiêu bổ trợ đánh
giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
2. Luận án đã tập trung nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về CDCCKT vùng
ven biển thành công trong khu vực (bang Pahang của Malaysia, Pusan của Hàn
Quốc, đồng bằng Châu Giang của Trung Quốc và một số kinh nghiệm của
Singapore). Từ đó, đề xuất một số bài học kinh nghiệm đối với CDCCKT vùng ven
biển của nước ta, bao gồm: (1). Kinh nghiệm về lựa chọn cơ cấu ngành nghề; (2).
Tăng cường năng lực cạnh tranh; (3). Khai thác hiệu quả lợi thế về biển và các
điều kiện tự nhiên; (4). Phát triển đảm bảo tính liên vùng; (5). Nâng cao trình độ
nguồn nhân lực phục vụ CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
3. Luận án đã phân tích, đánh giá một cách khoa học về các yếu tố ảnh
hưởng đến CDCCKT vùng VBBB, tính toán, phân tích các chỉ tiêu đánh giá
CDCCKT của vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH. Qua đó, đánh giá những thành
công, hạn chế của quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
148
Đối với những thành công: (tập trung vào: Những thành công về huy động
nguồn lực đầu vào và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH; Những thành công về động thái và trình độ CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH và Những thành công về kết quả đạt được của quá trình CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH). Từ đó phân tích nguyên nhân cơ bản của các thành công.
Những hạn chế cơ bản của quá trình CDCCKT gồm có: (1). Cơ cấu các
ngành còn chưa hợp lý và thiếu sức cạnh tranh; (2). Tính liên vùng trong tổ chức
mạng lưới sản xuất chưa tốt; (3). Kinh tế biển phát triển chưa hiệu quả; (4). Hạn chế
về huy động nguồn lực đầu vào cho quá trình CDCCKT của vùng theo hướng CNH,
HĐH; (5). Chưa đạt được một số chỉ tiêu về động thái và trình độ CDCCKT theo
hướng CNH, HĐH; (6). Kết quả đạt được của một số chỉ tiêu chưa đạt so với các
tiêu chuẩn CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Những nguyên nhân cơ bản của
những hạn chế nêu trên bao gồm: (1). Những nguyên nhân nội tại: nguồn nhân lực
hạn chế, khó khăn về vốn đầu tư cho sản xuất, cơ chế và công tác quản lý còn nhiều
hạn chế, chất lượng cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo, công nghiệp phụ trợ chưa phát
triển, khai thác tài nguyên hiệu quả. (2). Những nguyên nhân từ bên ngoài gồm:
ảnh hưởng của vấn đề chủ quyền trên biển, áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, hợp tác
kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài hạn chế, ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và
các yếu tố rủi ro trong sản xuất.
4. Luận án đã đề xuất những định hướng cơ bản CDCCKT theo hướng CNH,
HĐH: (1). Định hướng phát triển những ngành nghề có khả năng cạnh tranh cho
vùng VBBB (bao gồm 10 ngành) (2). Vấn đề phát triển mang tính liên vùng (tập
trung vào: Những định hướng phát triển khu vực công nghiệp, dịch vụ và khu vực
nông nghiệp mang tính liên vùng). (3). Vấn đề nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế
biển (tập trung vào các nội dung: phát triển tư duy về kinh tế biển, phát huy các lợi
thế từ biển để phục vụ phát triển kinh tế, xác định vùng ven biển là vùng cơ sở phát
triển kinh tế biển, phát triển kinh tế biển trong bối cảnh hội nhập, một số giải pháp
cơ bản để nâng cao hiệu quả kinh tế biển).
5. Đối với những giải pháp CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH:
Từ việc đánh giá các thành công, hạn chế, các nguyên nhân, các yếu tố tác động và
149
những định hướng cơ bản cho quá trình CDCCKT, luận án đề xuất các nhóm giải
pháp cơ bản sau:
Nhóm giải pháp thứ nhất tập trung vào các chỉ tiêu cơ bản đánh giá
CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH, bao gồm: (1). Những giải pháp huy
động hiệu quả các yếu tố đầu vào trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình CDCCKT vùng
VBBB theo hướng CNH, HĐH; (2). Những giải pháp tương ứng về động thái và
trình độ CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH; (3). Những giải pháp để
nâng cao kết quả đạt được của quá trình CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH,
HĐH để tiến đến đạt các tiêu chuẩn của CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
Nhóm giải pháp thứ hai, tập trung vào những giải pháp phát huy những yếu
tố nội lực và khắc phục những nguyên nhân nội tại ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình
CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH, bao gồm: (1). Nhóm giải pháp phát
triển nguồn nhân lực vùng VBBB; (2). Nhóm giải pháp về huy động vốn; (3). Những
giải pháp cơ chế, chính sách; (4). Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho quá trình
CNH, HĐH; (5). Phát triển công nghiệp phụ trợ phục vụ quá trình CNH, HĐH; (6).
Những giải pháp phát huy lợi thế về vị trí địa lý; (7). Giải pháp quản lý và sử dụng
hiệu quả tài nguyên thiên nhiên.
Nhóm giải pháp thứ ba, tập trung vào yếu tố phát triển liên vùng và tận dụng
các yếu tố bên ngoài để phát triển theo hướng CNH, HĐH, gồm có: (1). Giải pháp
về hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài; (2). Tăng cường năng lực cạnh
tranh; (3). Kết hợp giữa phát triển kinh tế với đảm bảo thế trận quốc phòng - an
ninh và trật tự an toàn xã hội; (4). Những giải pháp bảo vệ môi trường.
2. KIẾN NGHỊ
Từ những phát hiện và tổng kết thực tiễn có thể thấy quá trình CDCCKT của
vùng VBBB cần phải được đẩy nhanh tốc độ và nâng cao hiệu quả. Các tỉnh/thành
phố trong vùng VBBB cần căn cứ vào những định hướng chung phát triển của vùng
và tiềm năng phát triển của từng tỉnh/thành phố để tập trung vào những nhóm giải
pháp chủ yếu như: (1). Phải xây dựng được nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu
quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH; (2). Xây dựng cơ sở hạ tầng và những
đảm bảo xã hội cho quá trình phát triển công nghiệp và dịch vụ hiện đại; (3). Cải
150
cách thể chế, cơ chế quản lý hành chính tạo sự thuận lợi cho quá trình CNH, HĐH;
(4). Thu hút đầu tư trong và ngoài nước, huy động tiết kiệm từ dân cư và doanh
nghiệp để có nguồn vốn đủ mạnh đáp ứng được quá trình CNH, HĐH; (5). Xây
dựng tinh thần doanh nghiệp, khát vọng làm giàu trong dân cư; (6). Tận dụng và
phát huy tối đa những tiềm năng sẵn có của từng tỉnh để phát triển công nghiệp và
dịch vụ hiện đại.
Đến nay, việc xây dựng một bộ chỉ tiêu về đánh giá CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH cấp quốc gia và cấp vùng vẫn còn chưa có sự thống nhất chung và chưa
có một bộ chỉ tiêu chuẩn. Nghiên cứu này đã lựa chọn một số chỉ tiêu đánh giá
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH và tập trung đánh giá sâu vào vùng VBBB. Vì
vậy, vấn đề đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH này cần được nhiều nhà
nghiên cứu tập trung nghiên cứu sâu và toàn diện hơn nữa để ngày một hoàn thiện
bộ chỉ tiêu đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Thường xuyên cập nhật và
điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn và từng phạm vi/cấp đánh giá để có thể
mở rộng đánh giá phạm vi hoặc áp dụng cho các thời kỳ khác nhau.
151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Trần Anh Tuấn (2012), “Đề xuất định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng
ven biển Bắc Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Khoa học
và Đào tạo ngân hàng, (số 127, tháng 12-2012), trang 39-45.
2. Trần Anh Tuấn (2013), “Nâng cao hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ven
biển Bắc Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Kinh tế và Dự
báo, (số 1 tháng 1-2013), trang 49-52.
3. Trần Anh Tuấn (2013), “Giải pháp phát triển kinh tế biển Vùng duyên hải Bắc
Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (số
14 tháng 7- 2013), trang 38-40.
4. Trần Anh Tuấn (2013), “Lựa chọn bộ chỉ tiêu đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Khoa học và Đào tạo
ngân hàng , (số 137, tháng 10-2013), trang 14-21.
152
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Vũ Tuấn Anh (1982), “Một số vấn đề lý luận về cơ cấu nền kinh tế quốc dân”, Tạp chí
Nghiên cứu kinh tế, số 2/1982, Hà Nội.
2. Đinh Văn Ân, Võ Trí Thành (2002), Thể chế - cải cách và phát triển, NXB Thống kê,
Hà Nội.
3. Lê Xuân Bá (2009), Nghiên cứu dự báo chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp nông thôn và các giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và đô thị hóa ở nước ta, Báo cáo đề tài cấp nhà nước KX. 02.01/06-10 năm 2009, Hà Nội.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2012), “Đẩy mạnh phát triển quy hoạch kinh tế biển”, truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2012(Nguồn: http://www.mpi.gov.vn/portal/page/portal/bkhdt/). 5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2010), Học tập từ kinh nghiệm quốc tế năm 2009, Báo cáo số 8 - Thị trường lao động/Việc làm và Đô thị hóa ở Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1975), Từ điển Triết học, NXB Tiến Bộ, Hà Nội. 7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình Triết học Mác – Lê nin, NXB Chính trị quốc
gia – Sự thật, Hà Nội.
8. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2010), Đề án Phát triển thị trường lao động Việt Nam đến 2020, Báo cáo khoa học Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội, Hà Nội. 9. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chiến lược phát triển kinh tế-xã
hội giai đoạn 2011-2020, Hà Nội.
10. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chiến lược biển Việt Nam đến
năm 2020, Hà Nội.
11. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định số 865/QĐ-TTg ban hành ngày 10 tháng 7 năm 2008 về Về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng Vùng duyên hải Bắc Bộ đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội.
12. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định số 34/2009/QĐ-TTg ban hành ngày 02 tháng 3 năm 2009 về Phê duyệt Quy hoạch phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ đến năm 2020, Hà Nội.
13. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định 1448 /QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội.
14. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19 tháng 12 năm 2013 phê duyệt đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng, hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020, Hà Nội.
15. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định số 05/2011/QĐ-TTg ban hành ngày 24 tháng 1 năm 2011 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển giao thông
vận tải vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2020 và định hướng đến 2030, Hà Nội.
16. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định số 31/2007/QĐ- BCN ban hành ngày 20 tháng 7 năm 2007 về phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2015 và định hướng đến 2020, Hà Nội.
17. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quyết định số 1353/QĐ-TTg ban hành ngày 23 tháng 9 năm 2008 về việc phê duyệt đề án phát triển các khu kinh tế ven biển của Việt Nam đến 2020, Hà Nội.
18. Nguyễn Huy Cường, Đoàn Văn Phụ (2006), “Đánh giá hiện trạng phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam” Kỷ yếu hội thảo quốc gia về Phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam: các vấn đề và cách tiếp cận. Tr 32-39. Hà Nội.
19. Võ Tấn Danh, (2011), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Kon Tum, Luận văn Thạc sĩ, Đại
học Đà Nẵng, Thành phố Đà Nẵng.
20. Đoàn Minh Duệ (2010), Giải quyết các vấn đề xã hội trong thời kỳ CNH, HĐH-Một số quan điểm và giải pháp, Báo cáo khoa học, Trường Đại học Vinh, Thành phố Vinh. 21. Nguyễn Đình Dỹ (Chủ biên), Vũ Cao Minh, Trần Minh, Đinh Văm Thuận, Mai Thành Tân (1995), Các kiểu đường bờ biển Việt Nam, Báo cáo khoa học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
27. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, truy
cập ngày 22 tháng 10năm 2012,(Địa chỉ: http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongT inTongHop/noidungvankiendaihoidang/).
28. Đỗ Đức Định (1991), Nhà nước trong kinh tế thị trường các nước đang phát triển châu
Á, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
29. Đỗ Đức Định (1999), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Phát huy lợi thế so sánh- Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. Đỗ Đức Định (2004), Kinh tế học phát triển về công nghiệp hóa và cải cách nền kinh
tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
153
31. Nguyễn Thành Độ (2010), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập khu vực và thế giới, Báo cáo Đề tài B98.38.10, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. 32. Nguyễn Hồng Nga và Nhật Trung (2011), “Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2010 và
triển vọng năm 2011”, Tạp chí khoa học Ngân hàng, số 4 năm 2011, Hà Nội.
33. Lê Thế Giới (2010), Một số giải pháp phát triển ngành công nghiệp bổ trợ trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng, Báo cáo khoa học Đại học Huế, Thành phố Huế.
34. Trần Văn Hiếu, Ngô Đức Hồng (2006), Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế, Đại
học Cần Thơ, Thành phố Cân Thơ.
35. Trương Đình Hiển (2008), Hướng tới một quốc gia kinh tế biển, Báo Doanh nhân Sài
Gòn, truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2011 (Địa chỉ: http://tuoitre.vn/Kinhe/33394/Huong-toi-mot-quoc-gia-kinh-te-bien.html).
36. Hoàng Hữu Hòa (2005), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng xuất khẩu và bền vững ở vùng đầm phá ven biển Thừa Thiên Huế”, Tạp chí Khoa học, số 28, 2005, Đại học Huế, Thành phố Huế.
37. Nguyễn Chu Hồi (2007), Vùng ven biển là “bàn đạp” tiến ra biển, Báo cáo hội thảo
khoa học, Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, Hà Nội.
38. Phạm Hùng (2004), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn miền đông Nam bộ theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
39. Nguyễn Minh Khải (2011), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế
tri thức, Báo cáo khoa học, Học viện chính trị - Bộ Quốc phòng, Hà Nội.
40. Kinh tế biển Việt Nam: Thực trạng và thách thức, Truy cập nhật lúc 15h48" , ngày
03/03/2009. (Địa chỉ: http://www.decafirep.gov.vn)
41. Vũ Minh Khương (2010), Đôi điều về cải cách cơ cấu nền kinh tế, Báo cáo khoa học,
Đại học quốc gia Singapore, Singapore.
42. Trần Du Lịch, Đặng Văn Phan (2004), Định hướng chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học, Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
43. Trần Du Lịch (2009), Tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng cạnh tranh và phát triển bền
vững, Báo cáo khoa học, Ủy Ban Kinh tế Quốc hội, Hà Nội.
44. Nguyễn Thị Luyến (1998), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Những bài học thành công
của Đông Á, Báo cáo khoa học, Viện Kinh tế thế giới, Hà Nội.
45. Võ Đại Lược (2007), Hội nhập là phương án phòng thủ tối ưu, Báo cáo khoa học, Viện
Kinh tế thế giới, Hà Nội.
46. Đỗ Hoài Nam (2004), Một số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
47. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2006), Phát triển dịch vụ ngân hàng trong dân cư - Một cấu phần quan trọng trong Chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng giai đoạn 2006-2010 và 2011-2020. Báo cáo khoa học, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hà Nội 48. Lưu Văn Nghiêm (2007), “Thị trường chứng khoán Việt Nam: Thực trạng và những
giải pháp điều chỉnh”, Kinh tế và dự báo, 9/2007, số 413, tr. 20-22.
49. Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Hải_Phòng 50. Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Quảng_Ninh
154
51. Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Định 52. Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ninh_Bình 53. Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Pahang 54. Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Kuantan_Port 55. Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Chau_Giang 56. Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Singapore 57. Nguồn: http://www.hanoitourist.com.vn/kinhnghiemtour/kinhnghiem/kn-quan-
ly/phattriendulich-singapore
58. Nguồn: http://123doc.vn/document/108308-kinh-nghiem-phat-trien-cua-singapore-va-
bai-hoc-cho-viet-nam.htm
59. Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Pusan 60. Nguồn: http://www.vi.bumblebeevietnam.com/index.php/danh-lam-thang
canh/item/37-Pusan
61. Vũ Văn Phái (2007), Cơ sở địa lý tự nhiên biển và đại dương, NXB Giáo dục, Hà Nội. 62. Nguyễn văn Phát (2010), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế - Thực trạng và những khuyến nghị”, Tạp chí khoa học số 60, Đại học Huế, Thành phố Huế. 63. Huỳnh Phẩm Dũng Phát (2009), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Tiền Giang thời kỳ 1995-2007 và định hướng đến năm 2020, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
64. Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ (1999), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện
hội nhập kinh tế thế giới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
65. Nguyễn Minh Phong (2009), “Tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam”, Thời báo kinh tế Sài
Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh.
66. Nguyễn Trần Quế (2000), Lựa chọn sản phẩm và thị trường trong ngoại thương thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của các nền kinh tế Đông Á, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
67. Nguyễn Trần Quốc (2004), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong những năm đầu
thế kỉ 21, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
68. Đỗ Quốc Sam (2007), Một số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa sau 20 năm đổi mới, Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010, (Địa chỉ: http://luanvan.net.vn/luan- van/mot-so-van-de-ve-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-sau-20-nam-doi-moi-7297/). 69. Đỗ Quốc Sam (2011), Thế nào là một nước công nghiệp, Tạp chí Cộng sản, truy cập ngày5/12/2011,(Nguồn:http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/NghiencuuTraodoi/20 09/2638/The-nao-la-mot-nuoc-cong-nghiep.aspx).
70. Trương Thị Minh Sâm (2000), “Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Báo cáo khoa học, Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
155
71. Nguyễn Văn Thành (2009), “Phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Hà Nội.
72. Phạm Quốc Thái (1997), Kinh tế Đài Loan tình hình và chính sách, NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội.
73. Lê Bàn Thạch, Trần Thị Tri (2000), Công nghiệp hóa ở NIEs Đông Á và bài học kinh
nghiệm đối với Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội.
74. Bùi Tất Thắng (2006), Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội.
75. Bùi Tất Thắng (2006), Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành trong
thời kỳ công nghiệp hóa ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
76. Trần Đình Thiên (2008), Chiến lược CNH, HĐH của Việt Nam, Báo cáo khoa học,
Viện kinh tế Việt Nam, Hà Nội.
77. Trần Văn Thọ (2005), Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt
Nam, NXB trẻ, Hà Nội.
70. Nguyễn Xuân Thu, Nguyễn Văn Phú (2006), Phát triển kinh tế vùng trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
79. Đoàn Thiên Tích (2001), Dầu Khí Việt Nam. Báo cáo khoa học, Đại học quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
80. Vũ Đình Tích (2004), “Một số ý kiến về phát triển vùng kinh tế ở nước ta hiện nay”,
Kinh tế và Phát triển, số 79, Hà Nội.
81. Bùi Thanh Tuấn (2011), Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Điện Biên, Luận văn
Thạc sĩ, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
82. UBND thành phố Hải Phòng, Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng các năm từ
2000 đến 2010, Cục Thống kê thành phố Hải Phòng, Thành phố Hải Phòng.
83. UBND tỉnh Nam Định, Niên giám thống kê tỉnh Nam Định các năm từ 2000 đến 2010,
Cục Thống kê tỉnh Nam Định, Nam Định.
84. UBND tỉnh Ninh Bình, Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình các năm từ 2000 đến 2010,
Cục Thống kê tỉnh Ninh Bình, Ninh Bình.
85. UBND tỉnh Ninh Thuận (2011), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến 2030, Báo cáo đề án, Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Ninh Thuận, Ninh Thuận.
86. UBND tỉnh Quảng Ninh, Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh các năm từ 2000 đến
2010, Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ninh.
87. UBND tỉnh Thái Bình, Niên giám thống kê tỉnh Thái Bình các năm từ 2000 đến 2010,
Cục Thống kê tỉnh Thái Bình, Thái Bình.
88. Viện Chiến lược phát triển (2010), Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã
hội vùng Đồng bằng sông Hồng, Viện Chiến lược phát triển, Hà Nội.
89. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2010), Đẩy mạnh CNH, HĐH ở Việt Nam,
Báo cáo đề án, Trung tâm Thông tin tư liệu-CIEM, Hà Nội.
156
90. Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (2007), Định hướng thu hút đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Báo cáo đề tài khoa học, Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
91. Hồ Văn Vĩnh (2008), Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong tình hình mới, Báo cáo khoa học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
92. Ngô Doãn Vịnh (2006), Những vấn đề chủ yếu về Kinh tế phát triển, NXB chính trị
quốc gia, Hà Nội.
93. Ngô Doãn Vịnh (2010), Bàn về cải tiến cơ cấu nền kinh tế Việt Nam, Báo cáo nghiên
cứu khoa học, Viện Chiến lược phát triển, Hà Nội.
157
Tiếng Anh 94. Abdullah B. M (2011), Agriculture sector and its importance to Malaysian Economy,
INTAN Press, Kuala Lumper, Malaysia.
95. Barbiroli G., Raggi, A. (2003), “A method for evaluating the overall technical and economic performance of environmental innovations in production cycles”, Journal of Cleaner Production, 2003, Vol 11(4), p365-374.
96. Barro R. J. (1994), “Democracy and growth”, NBER Working Paper No. 4909, NBER. 97. Bort G. H., Stein J. C (1964), Economic Growth in a Free market, New York, Culumbia
University Press, 1964.
98. Chen X. (1994), “Substitution of information for energy: conceptual background,
realities and limits”, Energy Policy 22: 15-28.
99. Chenery H. B. (1960), “Patterns of industrial growth”. American Economic Review, 50,
624-654.
100. Chenery R. S., Syrquin M. (1986), Industrialization and Growth: A Comparative
Study, Oxford University.
101. Clark C, (1964), The Condition of Economic Progress, 3rd edition, New York,
Culumbia University Press.
102. Colin
I., Bradford J.
(2003), Prioritizing Economic Growth: Enhancing
Macroeconomic Policy Choice, UNCTAD Press.
103. Dimaggio P., Walter, P. (1983), “The Iron Cage Revisited: Institutional Isomorphism and Collective Rationality in Organizational Fields”, American Sociological Review 48: 147-60.
104. David R., Paul M. R. (2007), From The Concise Encyclopedia of Economics, Liberty
Fund, Reprinted by permission of the copyright holder.
105. Economic planning and management - Malaysian Technical Cooperation Program (2011), Reforms to transform Malaysia to become an advanced nation, INTAN Press, Kuala Lumper, Malaysia.
106. Fisher T, Allen G. B. (1935), The Clash of Progress and Security, Macmillan Press,
London.
107. Frenkel S. (1988), “Containing Dualism through Corporatism: Changes in Contemporary Industrial Relations in Australia”, Bulletin of Comparative Industrial Relations, Bulletin no. 20, 1990, pp. 113-145.
108. Granovetter M. (1985), “Economic Action and Social Structure: The Problem of
Embeddedness”, American Journal of Sociology 91:481- 510.
109. Jaffe A. M., Henderson R. (1993), “Geographical Localization of Knowledge Spillovers as Evidenced by Patent Citations”, Quarterly Journal of Economics 108: 577-598.
110. Joseph E. M. (2003), “The socio-economic and environmental impacts of tourism development on the Okavango Delta, north-western Botswana”, Journal of Arid Environments, 2003, p 447-467.
111. Keynes J. M. (1936), The General Theory of Employment, Interest and Money,
Macmillan Press, London.
112. Kuznets S. (1967), “Population and economic growth”, American Philosophical
Society Proceedings, 3, 170–193.
113. Kuznets S. (1966), Modern Economic Growth: Rate, Structure, and Spread. New
Heaven, Yale University Press.
114. Levine R. (1997), “Financial Development and Economic Growth: Views and
Agenda”, Journal of Economic Literature 35: 688-726.
115. Lin J. Y. (2007), Development Strategy, Optimal Industrial Structure and Economic Growth in Less Developed Countries, China Center for Economic Research, Peking University.
116. Locke J.M., Richard M. (1996), Remaking the Italian Economy. Ithaca: Cornell
University Press.
117. Lucas, R. (1988), “On the Mechanics of Economic Development”, Journal of
Monetary Economics 22: 3-42.
118. Maddison, A. (1980), Economic Growth and Structural Change in Advanced
Countries, London: Croom Helm Press.
119. Maddison, A. (1991), Dynamic Forces in Capitalist Development: A Long-Run
Comparative View, Oxford University Press.
120. March J.G., Johan P.O. (1989), Discovering Institutions: The Organizational Basis of
Politics, New York: Free Press.
121. Marshall A. (1890), Principles of Economics, Macmillan Press, London. 122. Marx K. (1909), Capital: A Critique of the Political Economy, C.H. Kerr & Company
Press, Chicago:
123. Marcus D. (2000), Entrepreneurship and Economic Growth: An Obvious Conjunction? CREW, Economics and Social Sciences Press, University of Namur. 124. Mayer J. W. (1977), “Institutionalized Organizations: Formal Structures as Myth and
Ceremony”, American Journal of Sociology 88: 340-63.
125. Mika, V. J., Hanu, L. (2006), Regional industrial transformation and knowkedge- intensive clustering: The case of the northern savo region in finland, University of Kuopio Press, Stockholm, Sweden.
158
126. Michael J; Enright, E; Scott, K C. (2005), Regional Powerhouse: the Greater Pearl
River Delta and the Rise of China, John Wiley & Sons (Asia) Pte Ltd.
127. Moe T. (1984), “The New Economics of Organization”, American Journal of
Political Science 28: 739 -77.
128. North D. C., Robert O. T. (1973), The Rise of the Western World A New Economic
History, Cambridge University Press.
129. North D. C. (1981), Structure and Change in Economic History, New York: Norton. 130. Perloff H. S, et all.(1960), Regions, Resource and Economic Growth, Johns Hopkins
Press, 1960.
131. Piore M., Charles, S. (1984), The Second Industrial Divide, New York: Basic Books. 132. Porter M. (1990), The Competitive advantage of nations, New York: Free Press. 133. Ricardo, D., Hartwell R. M (1971), On the principles of political economy, and
taxation, edited by R. M. Hartwell, Harmondsworth Press: Penguin.
134. Ruth M. (1995), “Information, order and knowledge in economic and ecological systems: implications for material and energy use”, Ecological Economics 13: 99-114. 135. Roy J. R. (1993), What Determines Economic Growth? Economic Review Press,
University of Houston.
136. Schmidt H., Serven. (1999), The Economic of Saving and Growth: Theory, Evidence
and Implications Policy for Policy, Cambridge University Press.
137. Sheng F. (2003), Calculating Economic Growth, Macroeconomics for Sustainable
Development Program Office (MPO), World Wide Fund For Nature.
138. Simon K. (2008), Modern Economic Growth: Rate, Structure and Spread, Ludwig
Maximilians University Press, Munchen.
139. Smith A. D. (1776), An Inquiry Into the Nature and Causes of the Wealth of Nations.
Dublin Press.
140. Spreng D. (1993), “Possibilities for substitution between energy, time and
information”, Energy Policy, 21: 13-23.
141. Stern D. I. (1994), Natural Resources as Factors of Production: Three Empirical
Studies, Geography Press, Boston.
142. Streeck W. (1988), “Industrial Relations in West Germany”, Labour, 2, No. 3, pp. 3-
44.
143. Sudderuddi S. (2009). “Singapore's phantom workers”. The Straits Times (Singapore).
Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011.
144. Summers R., Alan H. (1988), “A New Set of International Comparisons of RealProduct and Prices: Estimates for 130 Countries”, Review of Income and Wealth 34, pp. 1–25.
145. Syrquin M. (1988), Patterns of structural change, In H. B. Chenery & T. 98. Temin
(1984).
146. The Global Social Change Research Project. (2007), Basic Guide to the World Economic Growth, 1970 to 2007, The Global Social Change Research Project. University, Boston MA.
147. Thirlwall A. P. (1994), Growth and Development, with special reference to
developing countries, London.
159
148. Vanssay X and Spindler Z.A. (1994), “Freedom and Growth: Do Constitutions
Matter?” Public Choice 78: 359-372.
149. Veronika D., Césaire M. (2002), Financial Structure and Economic Growth: A Non- Technical Survey, Monetary and Financial Analysis Department Bank of Canada. 150. Victor N; Su S. (1990), “Institutional Change and Economic Growth in China: The
View from the Villages”, The Journal of Asian Studies, Vol. 49, No. 1, pp. 3-25.
151. Vidan J. (2010), World's biggest cities merging into 'mega-regions, UN report, United Nation (http://www.theguardian.com/world/2010/mar/22/un-cities-mega-regions). 152. Vikesh G; Subrina H. (2004), “Relationship between inflation and economic growth”,
Working Paper 2004/04, Economics Department, Reserve Bank of Fiji.
160
161
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Khung logic vấn đề nghiên cứu của luận án
Quan điểm trong và ngoài nước về CNH, HĐH
Phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới (Phát triển bền vững, Kinh tế tri thức...)
Mục tiêu CNH, HĐH + Chuyển sang phi nông nghiệp. + Phát triển công nghiệp và dịch vụ hiện đại + Các mục tiêu về kết quả cần đạt được của CNH, HĐH
Phương pháp phân tích hệ thống
Điều kiện số liệu (Số liệu sẵn có; Số liệu thu thập được; Khả năng xử lý; Độ tin cậy của số liệu
Xác định và lựa chọn Phân chia thành 4 nhóm chỉ tiêu cơ bản đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH nói chung và nhóm chỉ tiêu áp dụng cho vùng ven biển
Đánh giá hiện trạng các đặc điểm của vùng VBBB và phân tích các yếu tố tác động đến CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH
Lựa chọn bộ chỉ tiêu đánh giá CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH => Phân tích, đánh giá quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH trên cơ sở sử dụng bộ chỉ tiêu đánh giá CDCCKT được xác định cho vùng VBBB
Xác định những thành công cơ bản & Nguyên nhân dẫn đến thành công
Xác định những hạn chế cơ bản + Các nguyên nhân của những hạn chế
Những nguyên nhân nội tại - Nguồn nhân lực hạn chế - Khó khăn về vốn đầu tư - Hạn chế về cơ chế, quản lý - Cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo - Công nghiệp phụ trợ yếu - Khai thác tài nguyên chưa hiệu quả,...
Hạn chế của CDCCKT theo hướng CNH, HĐH - Hệ thống các ngành trụ cột thiếu sức cạnh tranh - Tổ chức sản xuất chưa đảm bảo liên kết vùng - Kinh tế biển phát triển chưa hiệu quả - Yếu tố đầu vào chưa đảm bảo - Trình độ và động thái CDCCKT còn chưa đạt yêu cầu của quá trình CNH, HĐH - Kết quả CDCCKT chưa đạt yêu cầu của CNH, HĐH
Nguyên nhân tác động bên ngoài - HTQT, thu hút đầu tư. - Áp lực cạnh tranh - Ảnh hưởng của ĐKTN, các yếu tố rủi trong sản ro xuất,...
Giải pháp (nội tại)
Giải pháp (bên ngoài)
Giải pháp tương ứng với các tiêu chí đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH vùng VBBB
tài
- Hợp tác quốc tế + Thu hút đầu tư nước ngoài - Tăng cường năng lực cạnh tranh - Giải pháp về QPAN - Giải pháp về bảo vệ môi trường
- Định hướng phát triển các ngành trụ cột có sức cạnh tranh - Định hướng phát triển liên vùng - Định hướng phát triển kinh tế biển
- Phát triển nguồn nhân lực - Giải pháp về vốn đầu tư - Giải pháp về cơ chế, quản lý - Phát triển hạ tầng - Hạn chế về quy hoạch - PT công nghiệp phụ trợ - Sử dụng hiệu quả nguyên,....
162
Phụ lục 2: Đặc trưng của CCKT a. CCKT là một hệ thống đa dạng, phức tạp
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống có thể hiểu: CCKT là một tổng thể gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong những không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện KT-XH nhất định, được thể hiện cả về mặt định tính lẫn định lượng, cả về số lượng và chất lượng. Vì vậy, khi nghiên cứu CCKT cần phải phân tích theo các cách tiếp cận khác nhau để làm sáng tỏ những các đặc điểm của CCKT.
Một số cách tiếp cận thường được sử dụng khi phân tích CCKT như sau: cơ cấu theo nhóm yếu tố đầu vào - đầu ra của quá trình sản xuất, cơ cấu theo ngành, cơ cấu theo lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ cấu lao động. Bên cạnh đó, một số cách tiếp cận kết hợp: cơ cấu ngành theo vùng và theo thành phần kinh tế, cơ cấu lao động theo ngành và theo vùng kinh tế, cơ cấu đầu tư theo ngành, theo vùng và theo thành phần kinh tế. b. Các bộ phận của CCKT là những hệ thống có cơ cấu
CCKT bao gồm các bộ phận cấu thành là những hệ thống cũng có cơ cấu bao gồm các bộ phận cấu thành nhỏ hơn, có thể nói “CCKT là cơ cấu của các cơ cấu”. Khi nghiên cứu CCKT cần phải có sự kết hợp các tiêu chí để có thể hiểu được các đặc điểm của CCKT. Nếu phân tích CCKT theo ngành, có thể phân chia thành 3 khu vực kinh tế: khu vực nông nghiệp (gồm nông, lâm, thủy sản), khu vực công nghiệp (gồm công nghiệp và xây dựng), khu vực dịch vụ (gồm thương mại, dịch vụ và du lịch). Các khu vực kinh tế này sẽ được phân chia thành các ngành cấp 1 bao gồm các ngành cấp 2, mỗi ngành cấp 2 có thể coi là một ngành có cơ cấu riêng bao gồm các ngành nhỏ hơn (các ngành cấp 3 với các cơ cấu tương ứng). Vì thế, khi nghiên cứu CCKT theo ngành thì cần có sự kết hợp các tiêu chí (tiêu thức) nghiên cứu theo các phân tổ khác nhau. CCKT theo ngành cũng có thể được phân chia thành: khu vực sản xuất các sản phẩm vật chất và khu vực sản xuất các sản phẩm dịch vụ; khối ngành tế nông nghiệp và khối ngành kinh tế phi nông nghiệp.
Đối với CCKT theo lãnh thổ, khi phân tích lãnh thổ kinh tế của quốc gia có thể phân chia thành các vùng lớn (Việt Nam hiện có 6 vùng KT-XH), các vùng lớn được phân chia thành các tiểu vùng bao gồm các tỉnh, các tỉnh bao gồm các huyện. Khi phân tích cơ cấu theo lãnh thổ nhà nghiên cứu cũng có thể phân chia thành các vùng như: vùng trung du miền núi, vùng đồng bằng, vùng ven biển. Hoặc có thể có một số cách phân chia khác như: vùng thành thị - nông thôn, vùng động lực và vùng còn lại.
163
c. CCKT của một quốc gia là một bộ phận cấu thành hệ thống kinh tế toàn cầu Một nền kinh tế là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế toàn cầu và chịu sự tác động của nền kinh tế toàn cầu. Ngày nay, các nước đều muốn tham gia sâu vào mạng phân phối sản phẩm toàn cầu để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Để có thể tham gia vào mạng sản xuất và phân phối toàn cầu, các sản phẩm của một quốc gia cần phải có sức cạnh tranh so với cùng loại sản phẩm được cung cấp bởi quốc gia khác, năng lực cạnh tranh được xác định bởi những yếu tố quan trọng như chất lượng, giá cả và thương hiệu. Nếu không củng cố năng lực cạnh tranh thì sản phẩm của một quốc gia có thể mất thị trường quốc tế và thậm chí ngay cả thị trường trong nước (sân nhà) cũng bị cạnh tranh. Do vậy, các quốc gia cần phải không ngừng đổi mới công nghệ và mô hình tổ chức sản xuất các sản phẩm để cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế và từ đó CCKT sẽ phải thay đổi một cách tương ứng. Vì vậy, CCKT cũng cần phải không ngừng biến đổi để đáp ứng với những thay đổi và những tác động của nền kinh tế toàn cầu. d. CCKT là một hệ thống vận động theo các quy luật kinh tế
CCKT vận động và biến đổi không ngừng: Các bộ phận cấu thành nền kinh tế được cấu thành bởi những bộ phận nhỏ hơn. Các bộ phận cấu thành ở các cấp độ khác nhau đều có sự vận động, biến đổi không ngừng. Vì vậy, cần xem xét CCKT biến đổi theo chuỗi thời gian để thấy được xu thế biến đổi của nền kinh tế, từ đó có những điều chỉnh cần thiết để nền kinh tế tiến đến mục tiêu mong muốn.
CCKT và sự điều tiết của nhà nước: Trong nền kinh tế, các doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài), các xí nghiệp, các hợp tác xã, các đơn vị kinh tế tập thể, các đơn vị kinh tế hộ gia đình là những đơn vị có thể được xem như những tế bào cấu thành nền kinh tế. Các đơn vị cấu thành này đảm đương nhiệm vụ cung cấp các sản phẩm cho thị trường tiêu dùng trong nước, thị trường nước ngoài và các sản phẩm dùng vào quá trình sản xuất, tái sản xuất… Một nền kinh tế có cơ cấu hiệu quả, các sản phẩm được sản xuất ra với sự cố gắng giảm thiểu tối đa về chi phí sản xuất và tối đa hóa về lợi nhuận. Nền kinh tế có sức cạnh tranh cao, tận dụng tốt quy luật thị trường, là nền kinh tế đã được tổ chức chặt chẽ, các bộ phận cấu thành có sự phối hợp một cách hợp lý, hài hòa để nâng cao hiệu quả kinh tế. Để đáp ứng các yêu cầu này, sự quản lý và điều tiết một cách hợp lý của nhà nước đóng vai trò quan trọng thông qua các định hướng, công cụ quản lý, phân phối, điều tiết. e. CCKT là một hệ thống liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của nền kinh tế: CCKT chịu ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào và đầu ra của quá
164
trình sản xuất. Khi phân tích các mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào có thể thấy nền kinh tế phát triển theo chiều rộng hay chiều sâu; thâm dụng vốn, thâm dụng lao động hay dựa trên nền tảng KH-CN.
Cơ cấu sử dụng vốn: Chuyển dịch cơ cấu đầu tư có ảnh hưởng đến CDCCKT. CDCCKT của mỗi quốc gia phù hợp với trình độ phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư. Ngược lại hoạt động đầu tư lại góp phần thúc đẩy quá trình CDCCKT theo các định hướng, mục tiêu được đề ra trong chiến lược, quy hoạch phát triển KT-XH, bởi vì: Thông qua đầu tư, có những ngành nghề sản xuất mới xuất hiện. Đầu tư tạo nguồn vốn để nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ, góp phần tăng NSLĐ trong các ngành kinh tế, thông qua hoạt động đầu tư có thể làm tăng tỷ trọng một số ngành được quan tâm đầu tư phát triển trong CCKT. Tuy nhiên, một số ngành có thể không được quan tâm đầu tư sẽ ngày càng mai một, thậm chí có những ngành bị dẫn đến xóa sổ do không còn được đầu tư cho phát triển. Mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và CCKT được thể hiện thông qua sơ đồ sau: Cơ cấu sử dụng lao động: Chuyển dịch cơ cấu lao động sẽ ảnh hưởng đến CDCCKT, cơ cấu lao động phù hợp sẽ thúc đẩy quá trình CDCCKT và sự phát triển của nền kinh tế, ngược lại cơ cấu lao động không hợp lý sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế. Cơ cấu lao động được phân theo nhiều loại: cơ cấu theo thành phần kinh tế, cơ cấu lao động theo ngành nghề, cơ cấu theo trình độ chuyên môn, cơ cấu theo vùng lãnh thổ.
Cơ cấu sử dụng tài nguyên: Hoạt động sản xuất được thực hiện với các nguồn lực đầu vào, trong đó tài nguyên thiên nhiên là yếu tố quan trọng hình thành nên lợi thế so sánh của một nền kinh tế. Sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú là thuận lợi trong phát triển kinh tế trong giai đoạn đầu khi tích lũy tư bản, từ đó có thể đầu tư vào sản xuất những ngành đòi hỏi nguồn vốn lớn và công nghệ hiện đại. Cơ cấu sử dụng tài nguyên thể hiện định hướng tổ chức sản xuất, khai thác hiệu quả các tiềm năng về tài nguyên phục vụ cho phát triển kinh tế. Tuy vậy, các định hướng tổ chức sản xuất, CDCCKT cần phải căn cứ vào khả năng thực tế đáp ứng của nguồn tài nguyên và các sức chứa về môi trường sinh thái cho sự phát triển. Vì thế, tiềm năng tài nguyên thiên nhiên là một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng các định hướng phát triển và CDCCKT.
Thị trường và CDCCKT: Thị trường và dung lượng thị trường là những yếu tố đầu ra của nền sản xuất, thị trường đóng vai trò định hướng cho quá trình CDCCKT. Quá trình sản xuất, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề của một nền kinh tế và quá trình thay đổi trong sản xuất, kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế đều chịu sự chi phối của thị trường. Thị trường tiêu thụ các loại sản phẩm: hàng hóa tiêu
165
dùng của các hộ gia đình, tư liệu sản xuất của các ngành, hàng hóa phục vụ các hoạt động công ích, tiêu dùng của chính phủ.
Thói quen và thị hiếu người tiêu dùng: Cơ cấu các loại sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường phụ thuộc vào thói quen và thị hiếu của người tiêu dùng. Thị trường tiêu thụ sản phẩm ở các quốc gia, các vùng lãnh thổ có sự khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố như văn hóa, tập quán, thu nhập,... các yếu tố này ảnh hưởng đến thói quen và thị hiếu người tiêu dùng. Thói quen và thị hiếu cũng thay đổi theo thời gian, vì thế, các yếu tố như chủng loại hàng hóa và dung lượng của các loại hàng hóa được tiêu thụ trên các thị trường cũng thay đổi và từ đó ảnh hưởng đến quá trình CDCCKT.
Giá cả các loại hàng hóa dịch vụ: CDCCKT cần phải hướng đến nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành các loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, các doanh nghiệp của một nền kinh tế cần phải căn cứ vào các lợi thế, khó khăn và khả năng cạnh tranh của họ để quyết định lựa chọn các sản phẩm họ sẽ cung cấp cho thị trường. Giá cả các loại hàng hóa, dịch vụ trên thị trường là yếu tố thường xuyên thay đổi do các nhà sản xuất luôn cố gắng tăng cường năng lực cạnh tranh, đổi mới quá trình tổ chức sản xuất để có thể nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Thậm chí, khi có sự thay đổi giá cả của một loại sản phẩm thì sẽ kéo theo sự thay đổi giá của các loại sản phẩm có liên quan. Chính vì vậy, quá trình CDCCKT chịu ảnh hưởng bởi giá cả các loại hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Phụ lục 3. Đo lường và các mốc đánh giá nhóm các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố đầu vào tác động đến CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. (1). Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế (xem xét mức độ tập trung phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ) Phương pháp đo lường:
∆ RIA là sự thay đổi tỷ lệ đầu tư vào khu vực nông nghiệp; RIA (t) là tỷ lệ đầu tư vào khu vực nông nghiệp vào năm t (năm quan sát) và RIA (o) là tỷ lệ đầu tư vào khu vực nông nghiệp năm đầu kỳ quan sát. ∆ RII là sự thay đổi tỷ lệ đầu tư vào khu vực công nghiệp; RII (t) là tỷ lệ đầu tư vào khu vực công nghiệp vào năm t (năm quan sát) và RII(o) là tỷ lệ đầu tư vào khu vực công nghiệp năm đầu kỳ quan sát. ∆ RIS là sự thay đổi tỷ lệ đầu tư vào khu vực dịch vụ; RIS (t) là tỷ lệ đầu tư vào khu vực dịch vụ vào năm t (năm quan sát) và RIS(o) là tỷ lệ đầu tư vào khu vực dịch vụ năm đầu kỳ quan sát. Ý nghĩa: Cơ cấu đầu tư vào các ngành nghề cho thấy mức độ tập trung nguồn lực để phát triển các ngành nghề, nghiên cứu cơ cấu đầu tư có thể được thực hiện ở
∆ RIA = RIA (t) - RIA (o) ∆ RII = RII (t) - RII(o) ∆ RIS = RIS (t) - RIS (o)
166
các mức độ khác nhau (các ngành cấp 1, cấp 2,...). Việc nghiên cứu cơ cấu đầu tư cũng giúp cho việc phân tích mối tương quan giữa cơ cấu đầu tư và kết quả đạt được để từ đó đánh giá hiệu quả đầu tư của các ngành trong nền kinh tế.
Mức tiêu chuẩn đánh giá: Chỉ tiêu này nên được sử dụng để quan sát sự biến đổi tỷ trọng của tỷ lệ đầu tư vào 3 khu vực kinh tế, từ đó nhận định về xu thế và định hướng tập trung nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ. Đối với chỉ tiêu này, không nên căn cứ vào các mức chuẩn đánh giá về tỷ lệ đầu tư theo hướng CNH, HĐH do cơ cấu ngành nghề luôn có sự biến đổi, mỗi ngành nghề trong mỗi giai đoạn có sự đòi hỏi mức đầu tư khác nhau. (2). Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế (xem xét mức độ dịch chuyển lao động theo hướng tập trung phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ) Xem xét sự biến đổi ∆ RLA; ∆ RLI; ∆ RLS qua công thức
Trong đó: ∆ RLA là sự thay đổi tỷ lệ lao động khu vực nông nghiệp; RLA (t) là tỷ lệ lao động khu vực nông nghiệp vào năm t (năm quan sát) và RLA (o) là tỷ lệ lao động khu vực nông nghiệp năm đầu kỳ quan sát. ∆ RLI là sự thay đổi tỷ lệ lao động khu vực công nghiệp; RLI (t) là tỷ lệ lao động khu vực công nghiệp vào năm t (năm quan sát) và RLI(o) là tỷ lệ lao động khu vực công nghiệp năm đầu kỳ quan sát ∆ RLS là sự thay đổi tỷ lệ lao động khu vực dịch vụ; RLS (t) là tỷ lệ lao động khu vực dịch vụ vào năm t (năm quan sát) và RLS(o) là tỷ lệ lao động khu vực dịch vụ năm đầu kỳ quan sát Nghiên cứu cơ cấu lao động theo ngành kinh tế cho thấy mức độ, tỷ trọng tham gia của lực lượng lao động vào những ngành kinh tế ở những trình độ lao động khác nhau. Đối với định hướng CNH, HĐH cần xem xét cơ cấu lao động tập trung cho phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ.
∆ RLA = RLA (t) – RLA (o) ∆ RLI = RLI (t) – RLI(o) ∆ RLS = RLS (t) – RLS (o)
Mức chuẩn đánh giá: Đối với chỉ tiêu này cần quan sát dựa trên kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp. Tỷ trọng lao động phi nông nghiệp cần chiếm khoảng từ 65-70% trở lên trong tổng số lao động (theo mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH hội giai đoạn 2011-2020 [9]). (3). Tỷ lệ đầu tư cho KH-CN và Giáo dục và đào tạo so với tổng vốn đầu tư
(RIS&T là tỷ lệ kinh phí đầu tư cho KH-CN so với tổng đầu tư xã hội; IS&T là ngân sách đầu tư cho phát triển KH-CN; I là tổng đầu tư xã hội).
Tỷ lệ đầu tư kinh phí cho KH-CN giúp ta có thể đánh giá được mức độ ưu tiên đầu tư phát triển cho KH-CN của một quốc gia và so sánh với tỷ lệ đầu tư cho KH-CN của các quốc gia đã đạt được thành công trong quá trình CNH. RIS&T = IS&T / I Về đo lường:
167
Kinh phí giáo dục bình quân đầu người: Chỉ tiêu kinh phí giáo dục bình quân đầu người cho thấy được khả năng đầu tư và mức độ đầu tư so với chỉ tiêu này của các nước phát triển và các nước công nghiệp mới.
(IE(P) là kinh phí giáo dục bình quân đầu người; IE là ngân sách đầu tư bình quân đầu người cho giáo dục, đào tạo; Po là dân số).
IE(P) = IE/Po Về đo lường:
Mức tiêu chuẩn đánh giá: Tổng chi phí đầu tư cho KH-CN và Giáo dục và đào tạo cần phải đạt mức 8% trở lên theo chuẩn CNH của Việt Nam (Theo Đỗ Quốc Sam trong bài viết “Thế nào là một nước công nghiệp” - Tạp chí Cộng sản [69]). (4). Mức độ tiếp cận thông tin: Số thuê bao internet đạt 25/100 hộ dân theo tiêu chuẩn CNH được đề xuất bởi học giả Đỗ Quốc Sam [69]. (5). Tỷ lệ lao động qua đào tạo: Cần đạt từ 70% trở lên theo chỉ tiêu Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 đề ra [9]. (6). Sự ổn định chính trị
Sự ổn định chính trị là một trong những yếu tố khẳng định hình ảnh của một quốc gia và tính hấp dẫn trong hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài. Là tiền đề cho việc xây dựng mô hình phát triển kinh tế đi kèm với nó là chiến lược, chính sách, pháp luật để quản lý, điều tiết sự phát triển kinh tế, xây dựng môi trường kinh doanh hiệu quả. Sự ổn định chính trị có ảnh hưởng lớn đến quyết định của các nhà đầu tư. Thực tế cho thấy, các nhà đầu tư thường chỉ muốn đầu tư vào những quốc gia có sự ổn định chính trị cao. Vì thế, ổn định chính trị chính là một yếu tố ảnh hưởng thúc đẩy quá trình CDCCKT, là một chỉ tiêu khẳng định vị thế của một nền kinh tế đối với nền kinh tế thế giới.
Về mức tiêu chuẩn đánh giá: Đây là chỉ tiêu định tính, vì thế việc lượng hóa thang bậc đánh giá chỉ mang tính chất tổng hợp, có thể đưa ra các mức: ổn định chính trị cao, trung bình, ổn định chính trị kém. (7). Hệ thống pháp luật và thể chế hoạt động hiệu quả
Hệ thống pháp luật và thể chế tốt là một trong những yếu tố quan trọng phục vụ phát triển KT-XH, là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến quyết định của các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư thường chỉ muốn đầu tư vào những quốc gia có sự ổn định chính trị cao và hệ thống pháp luật rõ ràng, ổn định, vận hành có hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế. Chất lượng và hiệu quả của hệ thống pháp luật và thể chế là một yếu tố ảnh hưởng thúc đẩy quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Hệ thống pháp luật hoạt động hiệu quả cũng là một trong những yếu tố khẳng định vị thế của nền kinh tế nước ta so với các nền kinh tế trên thế giới.
Về mức tiêu chuẩn đánh giá: Đây là chỉ tiêu định tính dùng để đánh giá vị thế của nền kinh tế, mức độ thành công do quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH mang lại. Để đánh giá ta có thể đưa ra các mức: hệ thống pháp luật hoạt động hiệu quả, mức hiệu quả trung bình, mức độ hiệu quả kém.
168
Phụ lục 4. Phương pháp đo lường và các mức tiêu chuẩn đánh giá nhóm các chỉ tiêu phản ánh động thái và trình độ CDCCKT theo hướng CNH, HĐH Thứ nhất: Các chỉ tiêu phản ánh CDCCKT theo hướng công nghiệp hiện đại (1). Sự biến đổi tỷ trọng GDP khu vực công nghiệp
(Trong đó: ∆ ROI: Sự chuyển dịch tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế; ROI (t ): Tỷ trọng GDP công nghiệp năm t của cuối kỳ quan sát; ROI (o): Tỷ trọng GDP công nghiệp năm đầu kỳ quan sát)
∆ ROI = (ROI (t )– ROI (o)) ×100
Sự biến đổi tỷ trọng GDP khu vực công nghiệp cho thấy mức độ chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng CNH (đi kèm với quá trình chuyển dịch tỷ trọng GDP trong công nghiệp là sự biến đổi tỷ trọng GDP trong khu vực nông nghiệp và dịch vụ. Xem xét mối tương quan với dịch chuyển tỷ trọng ở hai khu vực kinh tế nông nghiệp và dịch vụ có thể thấy được xu hướng và mức độ chuyển dịch từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. (2). Tốc độ tăng GDP khu vực công nghiệp
Đo lường: GGDP(I) = (GDPI(t) – GDPI(0))/ GDPI(0)) ×100 (Trong đó: GGDP(I): Tốc độ tăng GDP khu vực công nghiệp; GDPI(t): Tổng GDP khu vực công nghiệp vào năm t ở cuối kỳ quan sát; GDPI(0): Tổng GDP khu vực công nghiệp vào năm đầu tiên của kỳ quan sát).
Tốc độ tăng GDP ngành công nghiệp cho thấy hiệu quả phát triển khu vực công nghiệp: Khi xem xét tốc độ tăng GDP công nghiệp trong mối tương quan với tổng GTSX và mức vốn đầu tư vào ngành công nghiệp, mức độ ô nhiễm môi trường, giải quyết việc làm và cơ cấu phát triển các ngành công nghiệp có thể đánh giá hiệu quả phát triển công nghiệp (mức độ thành công của quá trình CNH). (3). Tốc độ tăng NSLĐ khu vực công nghiệp
nghiệp năm t của cuối kỳ quan sát; PLI(0): NSLD khu vực công nghiệp năm đầu kỳ quan sát).
Phương pháp đo lường: ∆ PLI = (PLI(t) – PLI(0)) ×100 (Trong đó: ∆ PLI: Tốc độ tăng NSLĐ khu vực công nghiệp; PLI(t) : NSLD khu vực công
Tốc độ tăng NSLĐ: Là một chỉ số đánh giá hiệu quả sản xuất, NSLĐ cao thường gắn với CCKT ở trình độ cao (trình độ công nghệ và nhân lực chất lượng cao và trình độ tổ chức quản lý sản xuất cao).
(4). Tỷ trọng các ngành công nghiệp công nghệ cao (Đánh giá thông qua tỷ lệ % ngành công nghiệp chế biến - chế tạo so với tổng GTSX khu vực công nghiệp và tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp chế biến - chế tạo so với tổng lao động khu vực công nghiệp)
Phương pháp đo lường: Công thức 1: RHI = GOHI/GOI: (Trong đó: RHI: Tỷ trọng các ngành công nghiệp chế biến - chế tạo so với tổng GO khu vực công nghiệp; GOHI: Tổng GTSX các ngành công nghiệp chế biến - chế tạo; GOI: Tổng GTSX khu vực công nghiệp)
169
Công thức 2: RLHI = LHI/LI (Trong đó: RLHI: Tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp chế biến - chế tạo so với tổng lao động khu vực công nghiệp; LHI: Lao động trong các ngành công nghiệp chế biến - chế tạo; LI: Tổng lao động khu vực công nghiệp) Công thức 3: RIHI = IHI/II (Trong đó: RIHI: Tỷ trọng đầu tư trong các ngành công nghiệp chế biến - chế tạo so với tổng đầu tư khu vực công nghiệp; IHI: Đầu tư trong các ngành công nghiệp chế biến - chế tạo; II: Tổng đầu tư khu vực công nghiệp)
Quan sát các hệ số: ∆ RHI; ∆ RIHI và ∆ RLHI Sự thành công của quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH cần được đánh giá thông qua mức độ phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đánh giá mức độ hiện đại của phát triển công nghiệp thì việc đánh giá cơ cấu sản xuất các ngành theo trình độ công nghệ là một tiêu chí quan trọng, cơ cấu sản xuất này cho phép đánh giá trình độ lực lượng lao động công nghiệp. Trong CCKT công nghiệp Việt Nam, những ngành công nghiệp chế biến - chế tạo và những ngành công nghiệp mới như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,... là những ngành công nghiệp có công nghệ cao. Việc phân tích cơ cấu các ngành công nghiệp có trình độ công nghệ cao cần phải xem xét thông qua các yếu tố cơ bản: Thị trường đầu ra (thông qua chỉ số tổng GTSX của các ngành này); Đầu vào là cơ cấu lao động và cơ cấu đầu tư.
Thứ 2: Các chỉ tiêu phản ánh CDCCKT theo hướng dịch vụ hiện đại
(1). Sự biến đổi về tỷ trọng khu vực dịch vụ trong CCKT
Phương pháp đo lường: ∆ ROS = (ROS(t )– ROS(o)) ×100 (Trong đó: ∆ ROS: Sự chuyển dịch tỷ trọng kinh tế dịch vụ trong nền kinh tế; ROS(t ): Tỷ trọng GDP dịch vụ năm t của cuối kỳ quan sát; ROS(o): Tỷ trọng GDP dịch vụ năm đầu kỳ quan sát) Sự biến đổi tỷ trọng GDP khu vực dịch vụ cho thấy mức độ chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển dịch vụ (đây là một trong những yêu cầu cơ bản của quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH). Xem xét mối tương quan với sự dịch chuyển tỷ trọng GDP ở hai khu vực kinh tế nông nghiệp và công nghiệp có thể thấy được xu hướng và mức độ chuyển dịch từ nông nghiệp sang dịch vụ và công nghiệp.
(2). Tốc độ tăng GDP khu vực dịch vụ
(Trong đó: GGDP(S): Tốc độ tăng GDP khu vực dịch vụ; GDPS(t): Tổng GDP khu vực dịch vụ vào năm t ở cuối kỳ quan sát; GDPS(o): Tổng GDP khu vực dịch vụ vào năm đầu tiên của kỳ quan sát)
Đo lường: GGDP(S) = 100× (GDPS(t) – GDPS(o))/ GDPS(o)
Tốc độ tăng GDP khu vực dịch vụ cho thấy hiệu quả phát triển: Khi xem xét tốc độ tăng GDP khu vực dịch vụ trong mối tương quan với GTSX và mức vốn đầu tư vào khu vực dịch vụ, khả năng giải quyết việc làm và cơ cấu phát triển có thể đánh giá hiệu quả phát triển khu vực dịch vụ.
170
(3). Tốc độ tăng NSLĐ khu vực dịch vụ
năm t của cuối kỳ quan sát; PLS(0 ): NSLD khu vực kinh tế dịch vụ năm đầu kỳ quan sát)
Phương pháp đo lường: ∆ PLS = (PLS(t )– PLS(0 )) ×100 (Trong đó: ∆ PLS: Tốc độ tăng NSLĐ khu vực dịch vụ; PLS(t ): NSLD khu vực kinh tế dịch vụ
Tốc độ tăng NSLĐ: Là một chỉ số đánh giá hiệu quả sản xuất, NSLĐ cao thường gắn với CCKT ở trình độ cao (trình độ công nghệ và nhân lực chất lượng cao và trình độ tổ chức quản lý sản xuất cao).
(4). Sự biến đổi tỷ trọng GTSX các ngành dịch vụ hiện đại trong tổng GTSX khu vực dịch vụ
HS: Tổng GTSX các ngành dịch vụ hiện đại; GO S: Tổng GTSX khu vực dịch vụ)
Phương pháp đo lường: Công thức 1: RHS = GO HS /GO S (Trong đó: RHS: Tỷ trọng các ngành dịch vụ hiện đại trong tổng GO khu vực dịch vụ; GO
Công thức 2: RLHS = LHS/LS (Trong đó: RLHS: Tỷ trọng lao động trong các ngành dịch vụ hiện đại so với tổng lao động khu vực dịch vụ; LHS: Lao động trong các ngành dịch vụ hiện đại; LS: Tổng lao động khu vực dịch vụ)
Quan sát các hệ số: ∆ RHS và ∆ RLHS Sự thành công của quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH cũng cần
được đánh giá thông qua mức độ phát triển khu vực dịch vụ theo hướng hiện đại.
Để đánh giá mức độ hiện đại của phát triển khu vực dịch vụ, việc đánh giá cơ cấu sản xuất các ngành theo trình độ công nghệ là một chỉ số quan trọng, cơ cấu sản xuất này cho phép đánh giá trình độ lực lượng lao động khu vực dịch vụ. Việc phân tích cơ cấu các ngành dịch vụ hiện đại phải xem xét thông qua các yếu tố cơ bản đó là: Thị trường đầu ra (thông qua chỉ số GTSX của các ngành này); Đầu vào là cơ cấu lao động và cơ cấu đầu tư.
Các mức tiêu chuẩn đánh giá CDCCKT theo hướng công nghiệp và dịch vụ hiện đại: Đối với các chỉ tiêu có thể lượng hóa để đánh giá CDCCKT theo hướng công nghiệp và dịch vụ hiện đại nên được sử dụng như các mức định lượng để quan sát động thái CDCCKT. Để đánh giá hiệu quả quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH thì cần phải căn cứ vào các kết quả của quá trình CDCCKT so với các tiêu chuẩn CNH. Vì thế, đối với đánh giá về động thái và trình độ CDCCKT theo hướng công nghiệp và dịch vụ hiện đại cần căn cứ vào các mức tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp về kết quả CDCCKT như sau:
Về CDCCKT theo hướng công nghiệp và dịch vụ nên căn cứ vào kết quả CDCCKT từ khối ngành nông nghiệp sang khối ngành phi nông nghiệp. Vì thế, nghiên cứu này sử dụng chỉ tiêu tỷ trọng GDP các ngành phi nông nghiệp từ 80- 85% trở lên và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm trên 70% (theo học giả Đỗ Quốc Sam đã đề xuất khi nghiên cứu về chuẩn CNH ở Việt Nam) [69].
171
Qua nghiên cứu cho thấy thông thường đối với một nước CNH thành công, các ngành công nghiệp chế biến - chế tạo chiếm từ 75% tổng giá trị sản xuất công nghiệp trở lên, các nước CNH trung bình cần tiến tới mức từ 50% trở lên [73].
Tỷ trọng GDP khu vực dịch vụ cần đạt từ 45% trở lên [73]) Để phát triển công nghiệp và dịch vụ hiện đại thì thu nhập bình quân đầu người cần đạt mức khoảng 3.000 USD trở lên (tương đương với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 được đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại [9]).
Thứ 3. Độ mở cửa/hội nhập của nền kinh tế:
Độ mở cửa/hội nhập của nền kinh tế cho thấy cơ cấu hàng xuất, nhập khẩu so
với tổng GDP của cả nền kinh tế.
(Trong đó: ROE: Độ mở nền kinh tế; EX: Tổng giá trị từ xuất nhập khẩu; IM: Tổng GDP của cả nền kinh tế)
Phương pháp đo lường: ROE = (EX+IM)/ GDPN
Về mức tiêu chuẩn đánh giá: Chỉ tiêu đánh giá độ mở của nền kinh tế cho thấy khả năng phát triển kinh tế theo hướng tập trung cho xuất khẩu và nhập khẩu. Độ mở cửa của nền kinh tế không phản ảnh rõ được trình độ cao hay thấp của CCKT, tuy nhiên qua đó có thể đánh giá động thái chuyển dịch, xu thế và khả năng tham gia thị trường thế giới về các mặt như xuất khẩu và nhập khẩu. Độ mở của nền kinh tế cũng phản ánh mức độ phụ thuộc của một nền kinh tế vào nền kinh tế thế giới.
Thứ 4. Tỷ trọng giá trị xuất khẩu/tổng giá trị xuất khẩu của thế giới:
(Trong đó: RE: Mức độ tham gia của nền kinh tế vào cơ cấu xuất khẩu thế giới; EX: Tổng giá trị xuất khẩu của nền kinh tế; EXW: Tổng giá trị xuất khẩu của cả nền kinh tế thế giới)
Phương pháp đo lường: RE = EX /EXW
Về mức tiêu chuẩn đánh giá: Chỉ tiêu tỷ trọng giá trị xuất khẩu/tổng giá trị xuất khẩu của thế giới phản ánh khả năng chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu thế giới, từ đó có thể thấy trình độ CDCCKT (một CCKT hiện đại thường có khả năng cạnh tranh thị trường xuất khẩu tốt). Tuy nhiên, trên thực tế có những quốc gia chiếm một lượng lớn hàng xuất khẩu so với tổng giá trị xuất khẩu của một mặt hàng trên thế giới nhưng không phải là nước có nền công nghiệp hiện đại. Vì thế, với tiêu chí này không nên đưa ra các mức tiêu chuẩn định lượng cụ thể để đánh giá CDCCKT mà nên được sử dụng để quan sát động thái CDCCKT.
Phụ lục 5. Phương pháp đo lường và các mức tiêu chuẩn đánh giá đối với nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả đạt được của CDCCKT theo hướng CNH, HĐH (1). Sự chuyển dịch tỷ trọng kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp:
Phương pháp đo lường: ∆ROF = (ROF(t )– ROF(o))×100
(Trong đó: ∆ROF: Sự chuyển dịch tỷ trọng kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp; ROF(t): Tỷ trọng GDP phi nông nghiệp năm t của cuối kỳ quan sát; ROF(o): Tỷ trọng GDP phi nông nghiệp năm gốc đầu kỳ quan sát).
172
Quá trình CNH, HĐH đặt ra yêu cầu nền kinh tế phát triển theo hướng giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp để tập trung phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ theo hướng hiện đại. Vì vậy, nghiên cứu sự dịch chuyển tỷ trọng GDP từ khối ngành nông nghiệp sang khối ngành phi nông nghiệp cho thấy hiệu mức độ thành công (nhanh hay chậm) của quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH.
(Trong đó: ∆ROF: Sự chuyển dịch tỷ trọng lao động khu vực kinh tế phi nông nghiệp; RLOF(t): Tỷ trọng lao động phi nông nghiệp năm t của cuối kỳ quan sát; RLOF(o): Tỷ trọng lao động phi nông nghiệp năm đầu kỳ quan sát)
Mức tiêu chuẩn đánh giá: Có thể sử dụng các mốc đánh giá như sau: Thứ nhất, theo tiêu chuẩn đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020, khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp phải đạt khoảng 85% trở lên [9]. Học giả Đỗ Quốc Sam khi nghiên cứu về tiêu chuẩn cho CNH ở Việt Nam cũng đề xuất mức đánh giá tỷ trọng khối ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế là 10% trở xuống [69]. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy một nước tiến hành CNH thành công cũng cần đạt tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp khoảng 80% trở lên, đối với những nền kinh tế công nghiệp hóa cao thì tỷ trọng nông nghiệp phải giảm xuống dưới 10%, thậm chí là 5%. Vì thế, nghiên cứu này đề xuất có thể đánh giá tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế theo mức từ 80-85% trở lên [73]. (2). Chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Phương pháp đo lường: ∆RLOF = (RLOF(t )– RLOF(o)) ×100
Sự CDCCKT theo hướng CNH, HĐH với định hướng đề ra là nâng cao tỷ trọng khối ngành phi nông nghiệp gắn với quá trình tập trung phát triển các ngành phi nông nghiệp, gắn với chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Sự chuyển dịch này cũng cho thấy mức độ chuyển dịch theo xu hướng chuyển dịch từ khu vực sản xuất trình độ thấp sang khu vực sản xuất có trình độ cao hơn (hiện đại hơn).
Mức tiêu chuẩn đánh giá: Đối với nước ta, Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 đề ra chỉ tiêu lao động nông nghiệp chiếm từ 30-35% tổng lao động xã hội, vì thế tỷ trọng lao động phi nông nghiệp cần chiếm khoảng từ 65-70% trở lên so với tổng số lao động xã hội [9]. (3). GDP bình quân đầu người
(Trong đó: GDPp: GDP bình quân đầu người; GDPN: Tổng GDP của nền kinh tế; Np: Dân số)
Đo lường GDP bình quân đầu người: GDPp = GDPN/Np
Thông qua GDP bình quân đầu người có thể đánh giá mức sống của dân cư của một nền kinh tế so với các nền kinh tế khác, từ đó thấy được sự thành công trong quá trình tăng trưởng và CDCCKT.
173
Mức tiêu chuẩn đánh giá: Để khẳng định được vị trí trong khu vực, quy mô nền kinh tế phải có tiềm lực đủ lớn để có khả năng đầu tư, cạnh tranh về KH-CN, phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại so với các nước trong khu vực. Khi đó, GDP của nước ta phải đạt mức trung bình của 4 nước có GDP cao nhất hiện nay trong ASEAN, là Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia (vào khoảng 180- 200 tỷ USD) và tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người hàng năm phải ở mức trên 10%/năm, GDP bình quân đầu người cần đạt từ 3.000 USD trở lên [73]. Khi nghiên cứu về chuẩn CNH của Việt Nam, học giả Đỗ Quốc Sam đề xuất mức GDP/người để đạt chuẩn CNH của Việt Nam cần đạt 5.000 USD [69]. (4). Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế là một chỉ tiêu phản ánh kết quả của quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011- 2020 đã đề ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 7% - 8% để phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Khi nghiên cứu kinh nghiệm các nước tiến hành CNH thành công, họ luôn đạt tốc độ tăng trưởng khu vực công nghiệp và dịch vụ từ 15-20% trong nhiều năm liên tục và khu vực nông nghiệp khoảng 5% [73] (trong khi khu vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong CCKT các nước này). (5). Năng suất lao động
Một trong những mục tiêu quan trọng của CDCCKT theo hướng CNH, HĐH là nâng cao năng suất lao động để đảm bảo nâng cao thu nhập bình quân đầu người từ 3.000 USD – 5.000 USD trở lên để tiến hành CNH thành công [69].
Phụ lục 6. Phương pháp đo lường và các mốc đánh giá đối với nhóm các chỉ tiêu bổ trợ đánh giá sự CDCCKT theo hướng CNH, HĐH (1). Tỷ lệ lạm phát: Cần ổn định ở mức 5% (đây cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển KT-XH ổn định). (2). Tỷ lệ thất nghiệp
(Trong đó: RUE: Tỷ lệ thất nghiệp; NUE: Số người chưa tìm được việc làm; L: Tổng lực lượng lao động)
Đo lường: RUE = NUE /L
Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ số người chưa tìm được việc làm trong tổng lực lượng lao động. Giảm tỷ lệ thất nghiệp và tạo thêm việc làm cho xã hội là một trong những mục tiêu đóng góp vào sự phát triển nền kinh tế bền vững.
Mức tiêu chuẩn đánh giá: Nghiên cứu kinh nghiệm các nước CNH thành công (Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia) cho thấy: Các nước CNH thành công đều giảm được tỷ lệ thất nghiệp còn 5% và thậm chí thấp hơn nữa so với tổng lực lượng lao động xã hội. (3). Tỷ lệ hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo là một tiêu chí đánh giá mức độ thành công và phúc lợi cho người dân của một nền kinh tế.
174
Đo lường: ROP = NP/TH×100 (Trong đó: ROP: Tỷ lệ hộ nghèo; NP: Tổng số hộ nghèo; TH: Tổng số hộ gia đình) Ý nghĩa: Tỷ lệ hộ nghèo nói lên phúc lợi và hướng tới phát triển bền vững
của nền kinh tế.
Mức tiêu chuẩn đánh giá: Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế các nước đã thực hiện thành công CNH, trong giai đoạn còn đang phát triển như Việt Nam hiện nay (GDP khoảng 1.200 USD/người), tỷ lệ hộ nghèo cần giảm xuống dưới 5% để đảm bảo hiệu quả của quá trình CNH [73]. (4). Tỷ lệ tăng dân số: Tỷ lệ tăng dân số chỉ sự thay đổi dân số trong một đơn vị thời gian. Về mức tiêu chuẩn đánh giá: Khi đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ tăng dân số cần giữ ở mức ổn định 1% (mức 1% là chỉ tiêu được đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 để xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại [9]). (5). Tuổi thọ bình quân: Tuổi thọ bình quân đầu người cần đạt mức 75 tuổi theo tiêu chí đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 [9]. (6) Chỉ tiêu về môi trường: Chỉ tiêu/tiêu chí này cần xác định thông qua khảo sát ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực môi trường. Đối với chỉ tiêu này có thể dùng một số chỉ số phản ánh kết quả tổng hợp được đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020: tỷ lệ che phủ rừng đạt 45%; 95% chất thải rắn thông thường, 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn [9].
Phụ lục 7: Nhóm chỉ tiêu phản ánh các yếu tố đầu vào trực tiếp ảnh hưởng đến CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH (1). Cơ cấu đầu tư phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ
Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH vùng VBBB cần tập trung phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ hiện đại. Vì vậy, việc đánh giá cơ cấu đầu tư cho theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hay khả năng tập trung đầu tư cho phát triển 2 khu vực này. Chỉ tiêu này được thể hiện thông qua tỷ trọng giữa tổng vốn đầu tư vào khu vực công nghiệp và dịch vụ so với tổng vốn đầu tư vào sản xuất của vùng VBBB.
Mức tiêu chuẩn đánh giá: Chỉ tiêu này phản ánh sự biến đổi của tỷ trọng đầu tư cho phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ, từ đó đánh giá được mức độ tập trung đầu tư cho 2 khu vực kinh tế này ở vùng VBBB. Đối với chỉ tiêu này, không nên căn cứ vào các mức chuẩn về đầu tư vào khu vực công nghiệp và dịch vụ do cơ cấu ngành nghề luôn có sự biến đổi, mỗi ngành nghề trong mỗi giai đoạn có sự đòi hỏi mức đầu tư khác nhau. Việc đánh giá CDCCKT theo hướng CNH, HĐH nên căn cứ vào hiệu quả đầu tư được thể hiện qua một số kết quả cơ bản của quá trình đầu tư vào 2 khu vực công nghiệp và dịch vụ: Việc đầu tư phải hướng tới kết quả
175
đầu đạt được các yêu cầu của quá trình CNH, HĐH như: tỷ trọng GDP các ngành phi nông nghiệp phải chiếm khoảng trên 80% tổng GDP của toàn vùng; Tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp và dịch vụ phải tăng từ 15-20% (Theo kinh nghiệm quốc tế để tiến hành quá trình CNH thành công [73]). (2). Đầu tư cho phát triển KH-CN và Giáo dục và Đào tạo
Tỷ lệ đầu tư kinh phí cho KH-CN và Giáo dục và đào tạo thể hiện mức độ ưu tiên đầu tư phát triển cho KH-CN và Giáo dục và Đào tạo của vùng VBBB. Chỉ tiêu này được tính bằng tổng kinh phí đầu tư cho phát triển KH-CN và Giáo dục và đào tạo so với tổng đầu tư xã hội.
Mức tiêu chuẩn đánh giá: Đầu tư cho KH-CN và Giáo dục và đào tạo của vùng VBBB phải tạo cơ hội cho phát triển các lĩnh vực này để phục vụ quá trình CNH, HĐH và đảm bảo sức cạnh tranh đối với các nước trong khu vực. Vì vậy, đầu tư cho phát triển KH-CN, Giáo dục và đào tạo cần phải đạt mức 8% trở lên theo mức chuẩn của các nước đã tiến hành CNH thành công [69]. (3). Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tập trung phát triển khu vực công nghiệp và dịch vụ
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH tại vùng VBBB liên quan và chịu sự ảnh hưởng của cơ cấu lao động của vùng VBBB. Vì vậy, cần xem xét cơ cấu lao động theo 2 khối ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp và sự chuyển dịch lao động giữa 2 khối ngành này.
Mức chuẩn đánh giá: Vùng VBBB là vùng kinh tế quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của cả nước, hội tụ nhiều tiềm năng phát triển kinh tế. Để khẳng định vị thế, vai trò của vùng đối với sự phát triển kinh tế của cả nước, lực lượng lao động của vùng phải có chất lượng khá hơn mức chung của toàn quốc. Vì thế, tỷ trọng lao động phi nông nghiệp cần đạt mức ngang và cao hơn mức chung của toàn quốc. Tức là tỷ trọng lao động phi nông nghiệp cần chiếm khoảng từ 65-70% trở lên so với tổng số lao động của vùng VBBB. (Mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển KT- XH hội giai đoạn 2011-2020, lực lượng lao động phi nông nghiệp chiếm từ 65-70% tổng lực lượng lao động [9]). (4). Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất theo hướng hiện đại:
Các mức tiêu chuẩn đánh giá của vùng VBBB nên tham khảo 2 mức: (1). Mức đạt ngưỡng có thể so với mục tiêu được đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020; (2). Mức cao hơn là đạt được các mục tiêu ngang với các nước đã tiến hành CNH thành công. Vì thế một số chỉ tiêu và mức so sánh được như sau:
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo: Tỷ lệ lao động qua đào tạo của vùng cần đạt tới mức chung của toàn quốc và có thể cao hơn. Vì vậy, tỷ lệ lao động qua đào
176
tạo của vùng VBBB cần đạt từ 70% trở lên (theo chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 [9]).
- Mức độ tiếp cận thông tin: Số thuê bao internet đạt 25/100 hộ dân theo tiêu
chuẩn CNH [69].
(5). Một số yếu tố tác động: Đối với các yếu tố ảnh hưởng không thể định lượng thì cần phân tích định tính để thấy sự ảnh hưởng cao hay thấp và các xu thế ảnh hưởng đến quá trình CDCCKT của vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH. Các yếu tố này bao gồm: mô hình kinh tế, thể chế kinh tế, sự phát triển KH-CN, sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, ảnh hưởng của cơ sở hạ tầng, những ảnh hưởng mang tính quốc tế và khu vực.
Phụ lục 8. Nhóm chỉ tiêu phản ánh động thái và trình độ CDCCKT vùng
VBBB theo hướng CNH, HĐH
(1). CDCCKT theo hướng phát triển công nghiệp hiện đại
- Tốc độ tăng trưởng trung bình GTSX khu vực công nghiệp: Tốc độ tăng GTSX khu vực công nghiệp vùng VBBB là một chỉ số phản ánh mức độ thành công của phát triển khu vực công nghiệp của vùng này.
- Tốc độ tăng NSLĐ trung bình khu vực công nghiệp: Là một chỉ số đánh giá hiệu quả sản xuất của khu vực công nghiệp vùng VBBB, NSLĐ cao thường gắn với CCKT ở trình độ cao (trình độ công nghệ và nhân lực chất lượng cao và trình độ tổ chức quản lý sản xuất cao).
- Sự thay đổi tỷ trọng GDP (số điểm % thay đổi) của khu vực công nghiệp so với tổng GDP của vùng VBBB: Chỉ số này phản ánh mức độ hay xu thế CDCCKT của vùng VBBB theo hướng phát triển công nghiệp.
- Tỷ lệ GTSX các ngành chế biến - chế tạo so với tổng GTSX khu vực công nghiệp: Sự thành công của quá trình CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH cần được đánh giá thông qua mức độ phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại. Tỷ lệ % GTSX ngành công nghiệp chế biến - chế tạo so với tổng GTSX khu vực công nghiệp là một trong những chỉ tiêu cơ bản thể hiện mức độ thành công của phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại. (2). CDCCKT theo hướng phát triển dịch vụ hiện đại
- Tốc độ tăng trưởng trung bình GTSX khu vực dịch vụ: Đây là một trong những
chỉ số đánh giá sự thành công của phát triển khu vực dịch vụ.
- Tốc độ tăng NSLĐ trung bình khu vực dịch vụ: Là một chỉ số đánh giá hiệu quả
sản xuất, NSLĐ cao thường gắn với CCKT ở trình độ cao.
177
- Sự thay đổi tỷ trọng GDP (số điểm % thay đổi) của khu vực dịch vụ so với tổng GDP: Chỉ số này cho thấy mức CDCCKT của vùng theo hướng phát triển dịch vụ (đây là một trong những yêu cầu cơ bản của quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH).
- Tỷ lệ GTSX các ngành dịch vụ hiện đại so với tổng GTSX khu vực dịch vụ của vùng VBBB: Để CDCCKT theo hướng CNH, HĐH, vùng VBBB cần tập trung phát triển những ngành dịch vụ hiện đại và có hiệu quả kinh tế cao. Vì thế, quan sát sự thay đổi tổng GTSX của các ngành dịch vụ hiện đại và có hiệu quả kinh tế cao so với tổng GTSX khu vực dịch vụ có thể đánh giá xu thế phát triển khu vực dịch vụ theo hướng hiện đại.
Mức tiêu chuẩn đánh giá đối với CDCCKT theo hướng phát triển Công nghiệp và dịch vụ hiện đại ở vùng VBBB: Đối với đánh giá CDCCKT vùng VBBB theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ hiện đại cần căn cứ theo các mức tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp về sự thành công của quá trình phát triển công nghiệp và dịch vụ hiện đại để tiến đến các mục tiêu đề ra của CNH, HĐH. Vùng VBBB là vùng có tiềm năng phát triển so với vùng ĐBSH và với cả nước, vì vậy mức tiêu chuẩn đánh giá cần xác định ở mức cao hơn hoặc ngang với mức tiêu chuẩn đánh giá chung của cả nước và tiến đến các chỉ tiêu CNH, HĐH của những nước đã tiến hành CNH thành công trong khu vực. Vì vậy, các tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp về kết quả CDCCKT theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ hiện đại như sau:
Thứ nhất, CDCCKT theo hướng công nghiệp và dịch vụ cần tiến đến mục tiêu của chuyển dịch từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp (bao gồm cả các ngành công nghiệp và dịch vụ). Nghiên cứu này sử dụng chỉ tiêu tỷ trọng GDP phi nông nghiệp từ 80-85% trở lên và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm trên 70% [69].
Thứ hai, qua nghiên cứu các nước đã tiến hành CNH thành công, các ngành công nghiệp chế biến - chế tạo chiếm từ 75% tổng giá trị sản xuất công nghiệp trở lên, các nước CNH trung bình cần tiến tới mức từ 50% trở lên [73].
Thứ ba, tốc độ tăng trưởng khu vực công nghiệp và dịch vụ từ 15-20% và tỷ
trọng GDP ngành dịch vụ cần đạt từ 45% trở lên [73]) (3). Sự thay đổi về quy mô GDP vùng VBBB so với GDP vùng ĐBSH và so với cả nước: Chỉ tiêu này phản ánh sự dịch chuyển về vị thế, vai trò của kinh tế vùng VBBB so với vùng ĐBSH và với cả nước. Sự thay đổi này được đo lường thông qua số điểm % thay đổi của GDP vùng VBBB so với vùng GDP vùng ĐBSH và so với GDP cả nước.
178
(4). Phát triển kinh tế biển: Vùng VBBB có lợi thế của vùng ven biển trong phát triển và CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Vì thế, phát triển kinh tế biển trong quá trình CDCCKT là một trong những vấn đề quan trọng và đặc thù khi đánh giá CDCCKT của vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH. Sự thành công trong phát triển kinh tế biển được thể hiện qua trình độ phát triển các ngành kinh tế gắn với biển như: khai thác, đánh bắt hải sản; chế biến hải sản; vận tải biển; du lịch biển; khai thác dầu khí và lọc hóa dầu; dịch vụ hậu cần cảng.
Phụ lục 9. Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH (1). Chuyển dịch cơ cấu giữa hai khối ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp: Đối với vùng VBBB, nghiên cứu này sử dụng chỉ tiêu tỷ trọng GDP phi nông nghiệp từ 80-85% trở lên và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm trên 70% [73]. (2). Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa hai khối ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp: Kết quả quá trình chuyển dịch này cần đạt được tỷ trọng lao động phi nông nghiệp của vùng VBBB cần chiếm khoảng từ 65-70% trở lên trong tổng số lao động của vùng [9]. (3). GDP bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động
GDP bình quân đầu người: Để phát triển công nghiệp và dịch vụ hiện đại thì thu nhập bình quân đầu người vùng VBBB cần đạt mức khoảng 3.000 USD trở lên (tương đương với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 được đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại [69]).
Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế là một chỉ tiêu phản ánh kết quả của quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH. Để khẳng định vị thế, vai trò của mình, vùng VBBB cần đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức tăng trưởng kinh tế được đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 (7% - 8%) và phấn đấu mức tăng trưởng của những nước tiến hành CNH thành công. Khi nghiên cứu kinh nghiệm các nước tiến hành CNH thành công, họ luôn đạt tốc độ tăng trưởng khu vực công nghiệp và dịch vụ từ 15-20% trong nhiều năm liên tục.
NSLĐ: NSLĐ của vùng VBBB cần hướng tới mục tiêu quan trọng của CDCCKT theo hướng CNH, HĐH là nâng cao năng suất lao động để đảm bảo nâng cao thu nhập bình quân đầu người từ 3.000 USD – 5.000 USD trở lên để tiến hành CNH thành công [69].
179
Phụ lục 10. Nhóm chỉ tiêu bổ trợ đánh giá CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH
(1). Tỷ lệ thất nghiệp: Giảm tỷ lệ thất nghiệp và tạo thêm việc làm là một trong những mục tiêu đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững và cũng là mục tiêu của quá trình CNH, HĐH. Nghiên cứu kinh nghiệm các nước CNH thành công (Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia) cho thấy: Các nước CNH thành công đều giảm được tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 5% so với tổng lực lượng lao động xã hội [73]. Vì vậy, vùng VBBB cần phấn đấu đến mục tiêu ngang với các nước CNH thành công để khẳng định vị thế, vai trò và các tiềm năng, lợi thế phát triển của vùng.
(2). Tỷ lệ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo là một chỉ tiêu đánh giá mức độ thành công và phúc lợi cho người dân của quá trình phát triển và CDCCKT của vùng VBBB. Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế các nước đã thực hiện thành công CNH, trong giai đoạn còn đang phát triển như hiện nay (GDP khoảng 1.200 USD/người), tỷ lệ hộ nghèo cần giảm xuống dưới 5% để đảm bảo hiệu quả của quá trình CNH [73]. Vì thế, vùng VBBB nên duy trì tỷ lệ hộ nghèo dưới 5%.
(3). Tuổi thọ bình quân: Vùng VBBB cần phấn đấu tuổi thọ bình quân đầu người cần đạt mức 75 tuổi theo chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 [9].
(4). Tỷ lệ tăng dân số: Khi đánh giá CDCCKT vùng VBBB theo hướng CNH, HĐH có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ tăng dân số cần giữ ở mức ổn định 1% (mức 1% là chỉ tiêu được đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011- 2020 để xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại [9]).
(5). Tình trạng ô nhiễm môi trường: Chỉ tiêu này cần xác định thông qua khảo sát và một số chỉ số định lượng cơ bản về môi trường. CDCCKT theo hướng CNH, HĐH cần phải đảm bảo tình trạng ô nhiễm môi trường ở mức thấp nhất có thể. Đối với chỉ tiêu này có thể dùng một số chỉ số phản ánh kết quả tổng hợp được đề ra trong Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020: Tỷ lệ che phủ rừng đạt 45%; 95% chất thải rắn thông thường; 85% chất thải nguy hại và 100% chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn [73].
180
Phụ lục 11: CCKT theo ngành của thành phố Hải Phòng
Ngành kinh tế
2000 100 18,8 0,7 26,8
2005 100 13 0,7 27,3
2010 100 10 0,8 28,4
Đơn vị:% 2011 100 9,7 0,5 27,9
2012 100 10,3 0,4 27,5
0,8 0,5 6,9
0,8 0,5 7
0,9 0,6 6,5
1,6 0,5 6,5
1,6 0,5 6,4
9,4 13,7 2,2 1,1 1,1 3,9 0,4 0,6
10,4 15,4 2,5 1,2 1,2 4,3 0,5 0,7
12,4 12,1 4 1,1 1,6 4 0,4 0,7
12,2 12,3 4,2 1,1 2,3 4,1 0,4 1,1
12,6 12,8 4,4 1,1 2 4,2 0,4 0,7
4,3 4,0 1,3 0,5 0,1 1,9 1,0
4,8 4,4 1,4 0,6 0,1 2,1 1,1
5,5 4,5 1,5 0,6 0,1 3,5 0,8
5,6 3,8 1,3 0,5 0,1 3,5 0,8
5,9 3,4 1,5 0,5 0,1 2,8 0,9
Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Công nghiệp khai khoáng Công nghiệp chế biến - chế tạo Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí Các ngành công nghiệp khác Xây dựng Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác Vận tải, kho bãi Dịch vụ lưu trú và ăn uống Thông tin và truyền thông Hoạt động tài chính, ngân hàng Hoạt động kinh doanh bất động sản Hoạt động chuyên môn, KH-CN Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ Hoạt động của Đảng, quản lý nhà nước, an ninh - quốc phòng, đảm bảo xã hội Giáo dục và đào tạo Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội Nghệ thuật, vui chơi và giải trí Hoạt động làm thuê trong các hộ gia đình Thuế nhập khẩu Hoạt động dịch vụ khác Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng [82]
181
Phụ lục 12: GTSX công nghiệp chủ yếu của thành phố Hải Phòng (theo giá thực tế)
Đơn vị: Tỷ đồng 2011
2005
2010
62
143
2000 10.918 25.295 83.872 104.683 416 97.334 3.634 563 454 3.414 2.067 3.485 1.218 3.560 251
257 10.758 24.924 79.747 2.841 1.270 408 144 259 301 2.421 1.025 1.194 380 2.805 1.006 837 160 2.368 384 147 130
548 62 130 443 164 434 69 166 56
2012 119.946 381 111.213 4.159 850 506 4.838 2.092 3.537 1.497 4.134 291
3.529 906 116 79 6.764 1.822 2.359 6.883 4.971 22.123 3.829 1.435
5.254 148 9.500 8.476 22.272 7.077
391 34 786 1.018 2.146 619
8.813 192 10.577 9.708 21.795 7.991
122 2.507 445 654 4.632 193
1.655 5.269 1.088 6.815 5.223 505
2.470 5.369 1.492 7.324 4.219 1.022
52 1.082 192 282 1.999 83
2.681 7.388 2.694 8.197 4.091 1.057
46
107
3.341
6.274
7.597
53
122
528
659
861
GTSX ngành công nghiệp Tổng GTSX công nghiệp Công nghiệp khai khoáng Công nghiệp chế biến - chế tạo Sản xuất, chế biến thực phẩm Sản xuất đồ uống Sản xuất sản phẩm thuốc lá Dệt Sản xuất trang phục Sản xuất da và các sản phẩm liên quan Chế biến, sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy In, sao chép bản ghi các loại Sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu Sản xuất sản phẩm từ cao su và nhựa Sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác Sản xuất kim loại Sản phẩm sản phẩm từ kim loại đúc sẵn Sản xuất các sản phẩm điện tử, máy vi tính Sản xuất thiết bị điện Sản xuất thiết bị máy móc Sản xuất xe có động cơ Sản xuất phương tiện vận tải khác Sản xuất giường tủ, bàn ghế Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng [82]
182
Đơn vị: %
Phụ lục 13: CCKT theo ngành tỉnh Quảng Ninh
Các ngành kinh tế
2000 100 9,8 30,3 8,9
2005 100 6,5 34,3 10,1
2010 100 5,7 30,5 13
2011 100 5,4 29,6 13,1
2012 100 5,5 23,9 13,4
2,5 0,6 3,0
2,6 0,7 3,4
3,6 0,5 5,4
8,4 0,5 5,1
7 0,5 5,1
12,2
11,5 4,2 2,4 2,2 2,3
11,5 4 2,5 2,5 3,7
11 5 2,5 2,1 4
9,8 4,4 2,2 2,1 3,7
4,5 2,5 2,3 2,4 0,2
0,7
0,2 0,7
0,2 0,4
0,2 0,4
0,2 0,4
0,3
0,3
0,3
0,3
0,3
3,1 3,6 1,1 1,0 10,8 0,2
2,9 3,4 1 0,9 10,2 0,2
2,3 2,8 0,7 1 9 0,4
2,2 2,9 0,8 1 10,4 0,4
2 2,4 0,6 0,9 9,9 0,4
Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản Công nghiệp khai khoáng Công nghiệp chế biến - chế tạo Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí Các ngành công nghiệp khác Xây dựng Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác Vận tải kho bãi Dịch vụ lưu trú và ăn uống Thông tin và truyền thông Hoạt động tài chính, ngân hàng Hoạt động kinh doanh bất động sản Hoạt động chuyên môn, KH-CN Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ Hoạt động của Đảng, quản lý nhà nước, an ninh - quốc phòng và bảo đảm xã hội Giáo dục và đào tạo Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội Nghệ thuật, vui chơi và giải trí Thuế sản phẩm Hoạt động dịch vụ khác Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh [86]
183
Đơn vị: Tỷ đồng
Phụ lục 14: GTSX một số ngành công nghiệp chủ yếu tỉnh Quảng Ninh (theo giá thực tế)
2000
6.558
2005 23.451
2009 60.404
2010 85.805
2012 121.731
GTSX các ngành công nghiệp Tổng GTSX công nghiệp Phân theo ngành Công nghiệp khai thác
4.650 3.268
58.066 56.931
16.627 16.481
38.036 37.535
53.800 52.818
Trong đó: Khai thác than
1.634 275 13 0 24 14
5.843 2.798 47 100 86 27
20.655 6.718 135 163 382 56
27.279 10.694 160 200 628 77
47.843 20.080 306 172 1.536 103
847
6.366
7.827
237 490
15.678 1.252
178
661
861
284
1.099
1.015
3.089
1.516
329
981
1.486
3.672
15.315
Công nghiệp chế biến - chế tạo Trong đó một số ngành chủ yếu: - Sản xuất thực phẩm và đồ uống - Sản xuất trang phục - Sản xuất sản phẩm da, giả da - Sản xuất sản phẩm gỗ, lâm sản - Xuất bản, in, sao bản ghi - Sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại - Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn - Sản xuất sản phẩm phương tiện vận tải khác Công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh [86]
184
Phụ lục 15: CCKT theo ngành tỉnh Thái Bình
2000 100
2005 100
2009 100
Đơn vị: % 2012 100
2010 100
54,1 0,1 11,5
36,8 0,3 30
29,2 0,3 35,1
31 0,2 35.3
29,1 0,3 34,1
0,2 0,1 3,2
0,5 0,2 8,3
0,5 0,2 9,4
0,5 0,2 9,9
0,6 0,3 9
5,3 3,0 1,8 1,0
4,1 2,3 1,4 0,8
4,7 3,2 1,7 0,6
5,7 3,1 2,2 0,6
4,2 3 2,1 0,7
1,2 4,3 0,3
1 3,3 0,2
1 3,7 0,3
1,4 3,2 0,5
1,2 2,1 0,2
0,3
0,2
0,1
0,1
0,2
3,2 5,0 1,9 0,8 2,7
2,5 3,9 1,5 0,6 2,1
2 3,4 1,8 0,4 2,4
1,9 3,2 2,2 0,6 2,2
2,1 3,0 1,9 0,4 2,5
Các ngành kinh tế Tổng số Phân theo ngành kinh tế Nông, lâm nghiệp và thủy sản Công nghiệp khai khoáng Công nghiệp chế biến - chế tạo Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước Các ngành công nghiệp khác Xây dựng Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ khác Vận tải, kho bãi Dịch vụ lưu trú và ăn uống Thông tin truyền thông Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm Kinh doanh bất động sản Hoạt động chuyên môn, KH-CN Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ Hoạt động của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, an ninh - quốc phòng Giáo dục và đào tạo Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội Nghệ thuật, vui chơi và giải trí Hoạt động dịch vụ khác Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Bình [87]
185
Phụ lục 16: GTSX các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tỉnh Thái Bình (theo giá thực tế)
2000 2.054
2005 7.109
Đơn vị: Tỷ đồng 2010 22.792
2012 32.749
2009 16.432
10 8 187 219 585 158
35 27 646 758 2.023 547
28 104 1.523 1.184 3.992 1.387
28 120 1.801 1.829 4.809 1.886
29 86 2.690 2.167 5.764 3.914
5
18
33
64
173
218 21
756 74
1.344 275
1.422 363
1.564 633
39
136
480
597
1.037
3
11
34
61
61
10
36
71
126
182
209 11
725 38
1.473 1.330
1.777 4.471
2.755 5.477
116
402
1.130
1.218
2.088
12 6 5 1 13 178
43 22 19 4 45 616
26 92 39 2 769 710
64 290 37 30 541 864
119 319 56.7 998 512 1.227
GTSX các ngành công nghiệp Tổng GTSX công nghiệp Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên Khai khoáng khác Sản xuất, chế biến thực phẩm Sản xuất đồ uống Dệt Sản xuất trang phục Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim Sản xuất kim loại Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học Sản xuất thiết bị điện Sản xuất máy móc thiết bị Sản xuất xe có động cơ, rơ moóc Sản xuất phương tiện vận tải khác Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế
4
13
83
101
266
32 6
111 21
219 58
235 77
378 99
5
17
16
20
72
Công nghiệp chế biến - chế tạo khác Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước Khai thác, xử lý và cung cấp nước Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Bình [87]
186
Phụ lục 17: CCKT theo ngành của tỉnh Nam Định
2000 100
2005 100
2010 100
Đơn vị: % 2011 100
2012 100
41,4 0,3 14,2
31,9 0,5 20,8
29,8 0,2 24,5
29,3 0,2 24,8
25,7 0,2 27,5
0,2 0,6 5,9
0,3 0,9 8,6
0,2 1,5 9,3
0,3 1,7 9,8
0,3 1,7 9,7
6,5 4 1,9 1,5 1,6 7,7 0,3
6,4 4,1 1,8 1,4 1,7 7,6 0,3
8 3 1,2 1,5 2,1 5,5 0,3
8,1 2,9 1,1 1,5 2,7 4,9 0,5
8,4 3 1,2 1,6 2,7 5,1 0,5
0,2
0,2
0,3
0,3
0,3
3,8 5,0 1,8 0,4
3,9 4,9 1,8 0,4
3,8 4,6 1,6 0,4
3,5 4,3 1,5 0,4
3,6 4,3 1,6 0,4
0,4 0,3 2,0
0,3 0,2 2
0,2 0,4 1,6
0,3 0,5 1,4
0,4 0,4 1,4
Các ngành kinh tế Tổng số Phân theo ngành kinh tế Nông, lâm nghiệp và thủy sản Khai khoáng Công nghiệp chế biến - chế tạo Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải Các ngành công nghiệp khác Xây dựng Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ khác Vận tải, kho bãi Dịch vụ lưu trú và ăn uống Thông tin và truyền thông Hoạt động tài chính, ngân hàng Kinh doanh bất động sản Hoạt động chuyên môn, KH-CN Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ Hoạt động của Đảng cộng sản, an ninh - quốc phòng, đảm bảo xã hội Giáo dục và đào tạo Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội Nghệ thuật vui chơi và giải trí Hoạt động làm thuê trong hộ gia đình, sản xuất hộ gia đình Thuế nhập khẩu Hoạt động dịch vụ khác Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định [83]
187
Phụ lục 18: GTSX các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tỉnh Nam Định (theo giá thực tế)
104
179
2000 1.876 23 1.836 114 48 4.273 231 15 130 32 10 4 38 31 82 33 227 4 40 20 238 112 17 130
2005 6.783 82 6.640 411 174 15.450 836 55 471 116 36 14 136 113 295 119 821 13 144 71 860 405 61 469
Đơn vị: Tỷ đồng 2009 2012 2010 18.528 23.123 38.951 129 18.334 22.124 37.356 1.658 1.033 436 785 5.690 3.345 7.650 4.260 163 187 2.843 1.650 635 331 157 88 167 90 971 723 598 291 1.719 997 328 545 5.979 3.042 473 199 822 534 144 336 2.616 2.432 3.289 1.981 177 114 125 73
766 306 2.748 3.563 145 1.335 230 73 55 557 210 826 264 2.446 135 429 105 2.525 1.581 86 63
4
14
23
40
52
GTSX các ngành công nghiệp Tổng GTSX công nghiệp Khai khoáng Công nghiệp chế biến - chế tạo Sản xuất, chế biến thực phẩm Sản xuất đồ uống Dệt Sản xuất trang phục Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy In, sao chép bản ghi các loại Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại Sản xuất kim loại Sản xuất từ kim loại đúc sẵn Sản xuất thiết bị điện Sản xuất máy móc, thiết bị Sản xuất xe có động cơ, rơ móc Sản xuất phương tiện vận tải khác Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế Công nghiệp chế biến - chế tạo khác Khai thác, xử lý và cung cấp nước Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải; tái chế phế liệu Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định [83]
188
Phụ lục 19: CCKT theo ngành của tỉnh Ninh Bình
2000 100,0 49,3 0,4 10,8
2005 100 22,8 1 25,8
Đơn vị: % 2010 100 19,6 1,1 24,6
2012 100 15,2 0,6 24,1
1,5
3,5
3,3
2,9
0,2 3,6 6,2
0,3 8,7 14,9
0,2 7 21,4
0,2 3,1 15,3
4,7 2,4 1,3 1,6 1,8 6,0 0,2 0,1
3,5 1,7 1,2 1,8 1,7 4,0 0,4 0,3
4,1 2,1 1 2,1 1,8 3,7 0,6 0,4
10,2 6,1 2 1,4 2,8 2,3 0,5 0,8
3,4 3,3 1,5 0,4 1,2
3,4 2,4 1,2 0,3 1
2,4 2,6 1 0,3 0,6
5,5 4,6 1,2 0,5 0,5
0,1
0,1
0,1
0,2
Các ngành kinh tế Tổng số Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Công nghiệp khai khoáng Công nghiệp chế biến - chế tạo Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải Các ngành công nghiệp khác Xây dựng Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác Vận tải, kho bãi Dịch vụ lưu trú và ăn uống Thông tin và truyền thông Hoạt động tài chính, ngân hàng Hoạt động kinh doanh bất động sản Hoạt động chuyên môn, KH - CN Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ Hoạt động của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, bảo đảm xã hội bắt buộc Giáo dục và đào tạo Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội Nghệ thuật, vui chơi và giải trí Hoạt động dịch vụ khác Hoạt động làm thuê các công việc trong 113 các hộ gia đình, tự sản xuất và tiêu dùng Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình [84]
113
189
Phụ lục 20: GTSX công nghiệp chủ yếu của tỉnh Ninh Bình (theo giá hiện hành)
2011
563
2000 995 22 863 75 8 21 18
2005 3.936 86 3.414 297 33 82 70
2010 13.612 472 12.251 799 206 108 600
Đơn vị: Tỷ đồng 2012 20.871 23.122 348 19.437 21.680 1.145 1.081 238 206 96 86 2.054 1.624
1
2
79
245
363
228
56 2 1 52 0
223 6 4 206 0
669 36 27 605 99
816 50 46 885 65
1.057 63 51 1.623 132
211 324 39 2 2 13 38 0
834 1.282 154 6 7 53 150 0
5.262 1.846 575 585 46 175 480 5
8.613 2.361 697 799 1.135 52 573 8
9.539 1.421 970 631 1.368 58 714 28
GTSX các ngành công nghiệp Tổng GTSX công nghiệp Khai khoáng Công nghiệp chế biến - chế tạo - Sản xuất, chế biến thực phẩm - Sản xuất đồ uống - Dệt - Sản xuất trang phục - Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan - Chế biến gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa - Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy - In, sao chép bản ghi các loại - Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất - Sản xuất sản phẩm từ cao su và nhựa - Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác - Sản xuất kim loại - Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn - Sản xuất máy móc, thiết bị - Sản xuất xe có động cơ, rơ moóc - Sản xuất phương tiện vận tải khác - Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế - Công nghiệp chế biến - chế tạo khác - Sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy
0
27
0
9
20
móc và thiết bị
995
104
411
823
785
6
100
25
66
86
Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình [84]
190
Phụ lục 21: Tính nhu cần vốn cho vùng VBBB giai đoạn 2011-2020 để phát
Đơn vị: Tỷ đồng
triển theo hướng CNH, HĐH hiệu quả và bền vững
Tổng GDP của 3 khu vực kinh tế
Khu vực nông nghiệp
Khu vực công nghiệp
Khu vực dịch vụ
24.004
7.002
12.249
3.934
11.420
3.949
3.903
3.568
36.154
2.320
19.689
9.573
10.459
2.602
41.445
3.712
7.001
1.163
3.894
1.942
Các tỉnh/thành phố Hải Phòng Thái Bình Quảng Ninh Nam Định Ninh Bình Tổng GDP toàn vùng VBBB năm 2010
89.038
17.036
81.180
22.729
Tính nhu cầu vốn với mức đầu tư hiệu quả, bền vững (hệ số ICOR là 3)
179.087
270.147
360.208
543.364
221.555
397.551
551.299
989.234
GDP toàn vùng VBBB năm 2015 mức tăng trưởng 15% Nhu cầu vốn giai đoạn 2011-2015 GDP toàn vùng VBBB năm 2020 mức tăng trưởng 15% Nhu cầu vốn giai đoạn 2016-2020 GDP toàn vùng VBBB năm 2015 mức tăng trưởng 20% Nhu cầu vốn giai đoạn 2011-2015 GDP toàn vùng VBBB năm 2020 mức tăng trưởng 20% Nhu cầu vốn giai đoạn 2016-2020 Nguồn: Theo số liệu thống kê và tính toán của luận án
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo 3 đối tượng: Giới lãnh đạo chính
quyền, quản trị doanh nghiệp lớn (được gọi là giới tinh hoa hay những người ra quyết
định). Đội ngũ cán bộ tham mưu và lực lượng nghiên cứu KH-CN trình độ cao (những
Phụ lục 22: Một số định hướng quan trọng phát triển nguồn nhân lực vùng Đồng Bằng Sông Hồng [88]
người hoạch định chính sách). Lực lượng lao động lành nghề cho các lĩnh vực mũi nhọn.
Dự kiến số lượng về nguồn nhân lực phân theo các cấp này như sau:
Giới tinh hoa (đào tạo mới và đào tạo lại) khoảng 300 người (lãnh đạo Ủy ban nhân
dân và lãnh đạo Đảng cấp địa phương và các cán bộ nằm trong quy hoạch thuộc diện trên).
Đào tạo khoảng 2.000 doanh nhân trình độ cao (lãnh đạo các doanh nghiệp lớn). Đào tạo
mới và đào tạo lại cho khoảng 150.000 giám đốc doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Đào tạo mới khoảng 7.000 người cho phát triển hệ thống đánh giá chất lượng và
khoảng 10.000 cán bộ khoa học (trong đó khoảng 25-30% có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ)
cho hệ thống sáng tạo. Đào tạo mới và đào tạo lại trình độ cao cho các ngành công nghiệp
điện tử, chế tạo máy, điện, sản xuất vật liệu, ngân hàng, du lịch, viễn thông, các ngành
công nghiệp phụ trợ,... khoảng 200.000 người.
Phấn đấu đưa tỷ lệ số sinh viên đại học, cao đẳng/100 dân đạt khoảng 5,0 người và
nâng tỷ trọng lao động qua đào tạo có bằng đạt trên 40% vào năm 2020. Phát triển đội ngũ
các nhà khoa học, chuyên gia làm lực lượng nòng cốt nghiên cứu và chuyển giao công
nghệ trong các ngành, lĩnh vực ở các địa phương. Tăng cường đầu tư chiều sâu và HĐH
các cơ sở nghiên cứu KH-CN đầu ngành, các cơ sở nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao để
tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học và chuyên gia phát huy năng lực.
Tăng cường đầu tư cho Giáo dục và tạo và dạy nghề để nâng cao nhanh trình độ
chuyên môn, tay nghề cho lực lượng lao động, đảm bảo có thể tham gia vào các tập đoàn
xuyên quốc gia hoặc đơn vị sản xuất kinh doanh có vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu và hệ
thống phân phối toàn cầu.
Chú trọng đào tạo đội ngũ lao động, quản lý đáp ứng nhu cầu phát triển các ngành
kinh tế mũi nhọn và đào tạo lao động ở nông thôn, tạo điều kiện để chuyển nhanh lao động
nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Xây dựng chính sách đào tạo, bồi dưỡng và thu hút
nhân tài trong tất cả các lĩnh vực và ngành nghề để phục vụ phát triển kinh tế và văn hóa-
xã hội.
Tập trung đầu tư phát triển các trường cao đẳng, trung cấp nghề, trong đó ưu tiên
đầu tư hình thành từ 8-10 trường cao đẳng nghề chất lượng cao, mỗi trường có từ 3-5 nghề
đạt chuẩn tương đương với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới, đáp ứng nhu cầu lao
động có kỹ thuật cao cho các doanh nghiệp, ngành kinh tế mũi nhọn và xuất khẩu lao động.
Huy động năng lực dạy nghề trên địa bàn, đặc biệt là doanh nghiệp, làng nghề, hình
thành mạng lưới dạy nghề với nhiều hệ thống, nhiều cấp độ để tăng nhanh quy mô dạy
191
nghề, đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ phát triển KT-XH của vùng. Thực hiện dạy nghề
theo nhu cầu thị trường, dạy nghề theo địa chỉ. Chú trọng dạy nghề cho lao động nông
thôn, đặc biệt là lao động vùng chuyên canh, vùng chuyển đổi cơ cấu kinh tế, lao động bị
thu hồi đất để xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp.
192
Phụ lục 23: Thu hút đầu tư vào các tỉnh/thành phố thuộc vùng VBBB và một
số thành quả đạt được
1. Nam Định và Thái Bình (Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Nam Định và Thái Bình)
Nam Định và Thái Bình là hai tỉnh nông nghiệp phía Nam đồng bằng sông Hồng,
trung tâm của Vùng duyên hải Bắc Bộ, khu vực được định hướng sẽ trở thành vùng kinh tế quan trọng tầm quốc gia. Với tổng diện tích: 3.211 km2 và tổng dân số khoảng 4 triệu
người, vị trí địa lý tương đối thuận tiện, 2 địa phương được đánh giá có tiềm năng phát
triển rất lớn trong tương lai. Nhiều nhà đầu tư cũng khẳng định những thuận lợi của môi
trường đầu tư ở 2 địa phương này, đồng thời có những cam kết mạnh mẽ thúc đẩy các lĩnh
vực mà địa phương đang kêu gọi. Tổng cộng đã có 12 dự án đầu tư được ký kết giữa các
nhà đầu tư trong và ngoài nước với lãnh đạo 2 tỉnh, giá trị vốn đăng ký tại Nam Định đạt
1,46 tỷ USD, tại Thái Bình đạt 2,388 tỷ USD, chủ yếu trong các lĩnh vực khí, nhiệt điện,
xây dựng bất động sản, công nghiệp phụ trợ.
Nam Định đặt mục tiêu tăng trưởng GDP giai đoạn 2010-2015 là 13%/năm, tích
cực CDCCKT phát triển công nghiệp theo hướng bền vững. Để đạt được mục tiêu trên,
Nam Định xác định thu hút đầu tư là động lực phát triển. Tỉnh đã ban hành danh mục các
dự án kêu gọi đầu tư, cùng một loạt chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư ngoài chính
sách ưu đãi theo quy định của Luật Đầu tư. Tỉnh cũng đã chỉ đạo các ngành, địa phương
tập trung giải quyết tất cả các thủ tục hành chính theo một đầu mối, đảm bảo nhanh, gọn,
đơn giản và thuận lợi cho các nhà đầu tư.
Nằm trong vùng ảnh hưởng của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng -
Quảng Ninh, Thái Bình cũng là tỉnh có tiềm năng và cơ hội đầu tư lớn. Hiện Thái Bình là một
trong những tỉnh có mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy phát triển sớm và rất nhanh
trong cả nước. Hệ thống đường, trường, trạm, bưu chính, viễn thông cũng được đầu tư đầy đủ
và phát triển mạnh so với các tỉnh lân cận. Thái Bình sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu
tư có nhu cầu về mặt bằng sản xuất được thuê đất theo các điều kiện cụ thể của địa phương. Hỗ
trợ chi phí san lấp mặt bằng, kinh phí đào tạo lao động và chi phí cung ứng lao động. Về mức
giá thuê đất, tỉnh Thái Bình sẽ vận dụng khung giá thấp nhất do Nhà nước ban hành và phù
hợp với tình hình thực tiễn của các địa phương. Tỉnh cũng sẽ vận dụng các chính sách thuế
hiện hành của nhà nước theo chiều hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp.
193
2. Hải phòng (Nguồn: Cổng thông tin điện tử thành phố Hải Phòng): Với lợi thế là một
cảng công nghiệp ở miền Bắc của Việt Nam và là 1 trong 5 thành phố lớn của cả nước, Hải
Phòng đang đứng trước những cơ hội lớn cho thu hút và triển khai nhiều dự án đầu tư lớn.
Hàng loạt cảng mới, hiện đại đang được đầu tư, xây dựng, đưa vào khai thác, góp phần
thực hiện mục tiêu “Hải Phòng phải nhanh chóng trở thành thành phố cảng, cửa ngõ trọng
yếu vùng đồng bằng sông Hồng, VKTTĐ, động lực phía Bắc”.
Cảng chuyên dùng Đình Vũ hiện đã đón tàu container trọng tải đến 20.000 DWT;
Cảng dịch vụ dầu khí tổng hợp; Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện có tổng mức đầu tư
28.000 tỷ VND trong giai đoạn 2020, với quy mô 1.200 ha. Theo tính toán, nhu cầu hàng
hóa thông qua hệ thống cảng biển khu vực Hải Phòng ước đạt 120 triệu tấn/năm vào năm
2020.
Cảng hàng không quốc tế Cát Bi (Hải Phòng) giai đoạn đến năm 2015 và định
hướng năm 2025 cũng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Theo quy hoạch, tổng
diện tích toàn cảng hàng không Cát Bi mới là 491,13 ha. Đến năm 2015, sẽ kéo dài, nâng
cấp đường cất, hạ cánh hiện có, đảm bảo tiếp nhận máy bay A321, B767 và tương đương.
Nhà ga mới đáp ứng được công suất 800 hành khách/giờ cao điểm và 17.000 tấn hàng.
Đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng đã có mặt bằng sạch để triển khai tại Hải
Phòng. Con đường với tổng chiều dài 105,5 km, bắt đầu từ cầu Thanh Trì đến đập Đình
Vũ, đoạn qua khu vực Hải Phòng dài 33 km có chiều rộng nền đường 35 m, gồm 6 làn xe,
dải phân cách giữa rộng 1,5 – 3 m khởi công từ tháng 5/2008. Triển khai Dự án cầu Đình
Vũ – Cát Hải có cầu dây văng dài 6 km, cao thông thuyền 27 m, mặt cắt ngang 24,5 m, bao
gồm 4 làn xe cơ giới và 2 lề đi bộ, cho phép tàu trọng tải 3.000 DWT được thông qua, cũng
như tuyến đường 10 ven biển đã được khởi động. Dự án Cầu Rào 2, sau 9 năm lập dự án và
tìm vốn, hiện cũng đã được khởi công. Dự án có tổng mức đầu tư 661 tỷ VND từ nguồn vốn
ODA của Phần Lan và vốn đối ứng trong nước.
Phía Bắc thành phố Hải Phòng đang trở thành trung tâm đóng mới, sửa chữa tàu
lớn nhất nước. Những cái tên Nam Triệu, Bạch Đằng, Phà Rừng, Bến Kiền đã trở nên quen
thuộc với nhiều bạn hàng. KKT Đình Vũ – Cát Hải được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
có quy mô 21.640 ha, trong đó, diện tích đất liền 12.918 ha, vùng ngập nước 8.722 ha.
Riêng khu vực đảo Cát Hải và vùng lấn biển phía Nam có diện tích hơn 9.000 ha dành để
phát triển hệ thống cảng quốc tế, dịch vụ và là trung tâm kinh tế biển của vùng biển Bắc
Bộ, là đầu mối giao thông quốc tế. Cảng dịch vụ Nam Đình Vũ được khởi công, với tổng
vốn đầu tư lên đến 2.900 tỷ VND.
Xây dựng Bạch Long Vĩ trở thành trung tâm chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá
cho các tỉnh ven biển Bắc Bộ. Xây dựng đảo Cát Bà, Đồ Sơn thành trung tâm du lịch quốc
tế; xây dựng Trường Đại học Hải Phòng. Xây dựng Bệnh viện Việt – Tiệp thành bệnh viện
trung tâm vùng.
Bộ mặt đô thị ngày càng đẹp hơn với các dự án lớn đang thi công và đã đi vào sử
dụng: Dự án Khu đô thị mới Ngã Năm – Sân bay Cát Bi, Đại siêu thị BigC thuộc Trung
tâm Thương mại EIE, Metro, Trung tâm thương mại Thùy Dương Plaza, Parkson,… đã tạo
cho cư dân thành phố Hải Phòng một phong cách sống văn minh và hiện đại.
Để tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho các nhà đầu tư, Hải Phòng thực hiện
tốt việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, như việc cấp giấy phép
đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài rút ngắn chỉ còn từ hai đến ba ngày. Cấp chứng chỉ hành
nghề cho lao động trong ngày nếu hồ sơ hợp lệ. Cấp một số mẫu giấy chứng nhận ưu đãi
qua internet, tích cực phối hợp cùng các nhà đầu tư giải quyết những vấn đề như: ổn định
nguồn nhân lực, điện, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất.
Việc xây dựng cảng Đình Vũ giai đoạn 2 cùng các dự án khác đang được triển khai
như hệ thống đường bộ, hệ thống cấp điện 110 kV, 220 kV, hệ thống cấp nước sạch của
thành phố sẽ làm tăng sức hấp dẫn, thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài
nước vào KCN Đình Vũ nói riêng, thành phố Hải Phòng nói chung, tạo việc làm cho một
số doanh nghiệp và bộ phận cư dân địa phương.
194
3. Quảng Ninh (Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh)
Quảng Ninh là tỉnh địa đầu Đông Bắc Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với cảnh
quan Vịnh Hạ Long nổi tiếng đã 2 lần được UNESCO công nhận di sản thiên nhiên thế
giới với hơn hai nghìn hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 1.030 đảo có tên và hơn một nghìn
hòn đảo chưa có tên. Ngoài ra, nơi đây còn nhiều địa danh du lịch nổi tiếng như khu di tích
Yên Tử, khu di tích Nhà Trần ở Đông Triều, cụm di tích Chiến thắng Bạch Đằng. Ngoài tài
nguyên du lịch nổi tiếng với những hòn đảo, nhiều bãi biển đẹp. Quảng Ninh còn có nhiều
tài nguyên khoáng sản như than đá, tài nguyên rừng, biển… Đầu năm 2010, Quảng Ninh
vươn lên dẫn đầu là địa phương thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhất
với 2,147 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm.
Quảng Ninh cũng có những điều kiện tốt để phát triển một ngành kinh tế đa dạng,
tổng hợp. Nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào, đặc biệt trữ lượng than tại Quảng Ninh
lớn nhất cả nước (3,6 tỷ tấn), rất thuận lợi cho phát triển ngành công nghiệp nặng, sản xuất
vật liệu xây dựng. Toàn tỉnh có 410 km đường quốc lộ và hơn 2.000 km đường liên huyện,
liên xã. Ngoài ra, tỉnh Quảng Ninh đã hình thành Khu kinh tế Vân Đồn, KCN Cảng biển
Hải Hà, 5 KCN tập trung là KCN Việt Hưng, KCN Cái Lân, KCN cảng biển Hải Hà, KCN
Đông Mai, KCN Hải Yên, các khu kinh tế cửa khẩu cùng các CCN bố trí đều khắp ở
huyện, thị xã, thành phố, với cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh. Về du lịch, chỉ riêng việc Vịnh
Hạ Long được UNESCO hai lần công nhận là “Di sản thiên nhiên thế giới” đã hấp dẫn các
nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Trong giai đoạn 2006 - 2010, tỉnh đã thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) hơn 3,32 tỷ
USD, chiếm 72% tổng số vốn đầu tư đã cấp. Cũng trong giai đoạn này, tổng số dự án cấp mới
là 54 dự án, trong đó có 37 dự án nằm ngoài các KCN, khu kinh tế, 14 dự án nằm trong khu
công nghiệp và 1 dự án nằm trong khu kinh tế.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 103 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký
hơn 3,7 tỷ USD. Trong đó, có 44 dự án đầu tư theo hình thức liên doanh với tổng số vốn
đầu tư là 3,4 tỷ USD (chiếm hơn 91% tổng số vốn đầu tư), 46 dự án đầu tư theo hình thức
100% vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư 261 triệu USD (chiếm gần 7%), còn
lại 13 dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh với tổng số vốn đầu tư là
49 triệu USD. Ngoài ra có 07 Văn phòng đại diện và 03 Chi nhánh doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài không kèm dự án đầu tư. Quảng Ninh là một trong những địa phương
đứng đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài . Hiện nay, các đối tác nước
ngoài đầu tư tại Quảng Ninh đến từ 14 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó
Mỹ giữ vị trí đứng đầu với số vốn đăng ký là 2,39 tỷ USD (chiếm gần 64% tổng vốn đầu
tư), tiếp theo là Trung Quốc, Singapore, Đài Loan,… Các dự án tập trung vào địa
bàn: thành phố Hạ Long với 48 dự án, thành phố Móng Cái với 24 dự án và các huyện, thị
xã Cẩm Phả, Vân Đồn, Uông Bí, Đông Triều.
195
4. Ninh Bình (Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Binh Bình)
Nằm ở cực Nam của đồng bằng sông Hồng, Ninh Bình có nhiều tiềm năng, lợi thế
để phát triển KT-XH, do vậy Ninh Bình đang là điểm lựa chọn đầu tư của nhiều tổ chức, cá
nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Ninh Bình nằm cách thủ đô Hà Nội hơn 90 km trên tuyến đường giao thông xuyên
Bắc - Nam, có mạng lưới giao thông thủy, bộ thuận tiện trong đó có gần 15 km bờ biển, có
các cảng xếp dỡ hàng hóa như cảng Ninh Phúc, cảng Ninh Bình, các cảng, bến xếp dỡ trên
các tuyến sông. Bên cạnh đó, tỉnh có hệ thống núi đá vôi và hàng chục triệu tấn đôlômít
chất lượng tốt, làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng và các hóa chất.
Nguồn đất sét phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp thuộc thị xã Tam Điệp, Gia
Viễn, Yên Mô là nguồn nguyên liệu cần thiết cho sản xuất vật liệu xây dựng như gạch
ngói. Ninh Bình có suối nước khoáng nóng Kênh Gà (Gia Viễn) trữ lượng lớn, nước
khoáng Cúc Phương (Nho Quan) có thành phần magiêcacbonnat cao, có thể khai thác đưa
vào tắm ngâm, chữa bệnh kết hợp với du lịch và sản xuất nước giải khát… Ngoài ra, Ninh
Bình còn có một lực lượng lao động dồi dào và trên 10 trường đào tạo nhân lực như Đại
học Hoa Lư, các trường Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp.
Đối với du lịch, Ninh Bình có nhiều khu, điểm nổi tiếng, hấp dẫn, là điểm đến an
toàn, thân thiện, thu hút nhiều du khách đến tham quan. Về nông nghiệp, với diện tích đất
sản xuất trên 96.797 ha, được chia thành 3 vùng, vùng biển có đất phù sa bồi đắp màu mỡ
thuận cho trồng lúa, cói, nuôi trồng thủy sản. Vùng bán sơn địa để phát triển cây công
nghiệp, trồng rừng, chăn nuôi đại gia súc, vùng đồng bằng gieo trồng lúa màu, chăn nuôi
gia súc, gia cầm, góp phần phát triển KT-XH, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.
Tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách thông thoáng kêu gọi các nhà đầu tư như
việc quy định một số chính sách khuyến khích xuất khẩu; quỹ khuyến công. Quy định về
ưu đãi khuyến khích đầu tư vào các khu công nghiệp, khu du lịch trên địa bàn. Theo đó,
các nhà đầu tư được ưu đãi về đơn giá thuê đất, thuê mặt nước, về vốn đầu tư, lãi suất vay
vốn, lãi suất cho thuê tài chính và phí cung cấp các dịch vụ của ngân hàng và các tổ chức
tín dụng, ưu đãi về đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ
đào tạo nghề, thủ tục hành chính.
Ninh Bình khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn trọng điểm nhằm khai
thác tiềm năng, sử dụng cơ sở hạ tầng, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhiều
khu đi vào hoạt động góp phần quan trọng nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, dịch vụ du lịch như KCN Gián Khẩu, Khánh Phú, khu du lịch sinh thái Tràng
An… Một số KCN hình thành theo hướng sản xuất công nghệ sạch, bền vững như khu
công nghệ cao Phong Sơn (thành phố Ninh Bình). KCN này được quy hoạch 400 ha, tập
trung thu hút đầu tư công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ điện tử, công
196
nghệ bán dẫn, lắp ráp ô tô, xe máy, cơ khí sản xuất các máy công cụ, thiết bị công nghệ
cao. Các ngành nghề cũng từ đó phát triển đa dạng ở các lĩnh vực như công nghiệp vật liệu
cơ khí, chế biến hoa quả xuất khẩu, chế biến nông sản thực phẩm, may mặc, chế tác đá mỹ
nghệ, mây tre đan, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất thủ công mỹ nghệ, chế biến thức ăn
gia súc, sản xuất dụng cụ thể thao, bao bì, chế biến gỗ công nghiệp.
Ngoài cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư tỉnh còn tập trung đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư như hệ thống giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, thương mại, dịch vụ du lịch,… Các ngân hàng, tổ chức tín dụng luôn đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và các nhà đầu tư.
Cơ sở hạ tầng bưu chính - viễn thông được trang bị các thiết bị hiện đại ở tất cả các huyện, thị, thành phố, các xã, thị trấn. Các công trình cấp nước đã và đang từng bước được đầu tư xây dựng, cung cấp nước sạch phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt đời sống nhân dân. Mạng lưới điện được xây dựng đồng đều trên toàn địa bàn, đến được tất cả các xã, thị trấn, với tổng chiều dài các loại đường dây trên 770km, có các trạm biến áp trung gian 500 kV, 220kV, 375 nghìn KVA, 11kV.
Về dịch vụ, Ninh Bình có hàng nghìn các khách sạn, nhà hàng được đầu tư xây dựng khang trang, hiện đại. Với những ưu thế đó, Ninh Bình luôn mở cửa, thân thiện đón các nhà đầu tư có tiềm lực vào địa bàn.
Tính đến năm 2011, có 67 dự án đầu tư vào KCN đã được cấp phép với số vốn đăng ký là 37.741 tỷ đồng, trong đó 15 dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Toàn tỉnh có 36 dự án đi vào sản xuất có hiệu quả. Các KCN trong tỉnh đã tạo ra khoảng 37% giá trị sản xuất công nghiệp ở địa phương và giải quyết việc làm cho 13.450 lao động, chủ yếu là lao động tại chỗ. Các KCN đã lựa chọn các dự án công nghệ cao, công nghiệp sạch, các dự án có khả năng giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương, đóng góp cho nguồn thu ngân sách của tỉnh. Đồng thời, các ngành chức năng cần tạo điều kiện, tháo gỡ khó khăn về thủ tục hành chính, mặt bằng, vốn.
197

