VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ----------------------------
NGUYỄN VĂN CHIẾN
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĂN MÒN CỤC BỘ KIM LOẠI
BẰNG PHƯƠNG PHÁP NHIỄU ĐIỆN HÓA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
Hà Nội – 2016
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ---------------------------- NGUYỄN VĂN CHIẾN
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĂN MÒN CỤC BỘ KIM LOẠI
BẰNG PHƯƠNG PHÁP NHIỄU ĐIỆN HÓA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
Chuyên ngành: Hóa lý thuyết và Hóa lý
Mã số: 62 44 01 19
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS, Lê Văn Cường
2. TS, Nguyễn Trọng Tĩnh
Hà Nội – 2016
LỜI CAM ĐOAN
Các kết quả trình bày trong luận án là công trình nghiên cứu
của riêng tôi và được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS,TS.
Lê Văn Cường và TS. Nguyễn Trọng Tĩnh.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên của mình.
Tác giả luận án
ii
Nguyễn Văn Chiến
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất tới
PGS,TS. Lê Văn Cường và TS. Nguyễn Trọng Tĩnh là hai thầy đã
tận tình hướng dẫn, chỉ ra những nội dung cần giải quyết và đóng
góp những ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thành bản luận án này.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Viện Kỹ thuật nhiệt đới và
các đồng nghiệp đã luôn tạo điều kiện, động viên, quan tâm và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo cùng tập thể phòng Ăn
mòn và bảo vệ kim loại đã quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện luận án.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình và bè
bạn đã luôn thông cảm, động viên, giúp đỡ và chia sẻ với tôi trong
suốt thời gian thực hiện luận án.
Tác giả luận án
iii
Nguyễn Văn Chiến
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Tiếng Anh
Tiếng Việt
Alternating Current
Dòng xoay chiều
AC
Current Noise
Nhiễu dòng
CN
CWT
Continuous Wavelet Transform
Biến đổi sóng nhỏ liên tục
Direct Current
Dòng một chiều
DC
Discrete Fourier Transform
Biến đổi Fourier rời rạc
DFT
DWT
Discrete WaveletTransform
Biến đổi sóng nhỏ rời rạc
Electro Impedance Spectroscopy
Phổ tổng trở điện hóa
EIS
Electrochemical Noise
Nhiễu điện hóa
EN
ENA
Electrochemical Noise Analysis
Phân tích nhiễu điện hóa
ENM
Electrochemical Noise Measurement Đo nhiễu điện hóa
ESD
Energy Spectral Density
Mật độ phổ năng lượng
FFT
Fast Fourier Transform
Biến đổi nhanh Fourier
JTFA
Joint Time - Frequency Analysis
Phân tích phổ tần số - thời gian
LPR
Linear Polarization Resistance
Điện trở phân cực tuyến tính
MEM Maximum Entropy Method
MRA
Multi resolution analysis
Phương pháp tối đa dữ liệu ngẫu nhiên Phân tích đa phân giải
OPC
Opent Potential Cirurt
Thế mạch hở
PI (LI)
Pitting index (Local index)
Chỉ số lỗ (Chỉ số cục bộ)
PN
Potential Noise
Nhiễu điện thế
PR
Polarization Resistance
Điện trở phân cực
PSD
Power Spectral Density
Mật độ phổ công suất
SCE
Saturated calomel electrode
Điện cực calomel bão hòa
STFT
Short-Time Fourier Transform
Biến đổi Fourier thời gian ngắn
WT
Wavelet Transform
Biến đổi sóng nhỏ
ZRA
Zero resistance ammeter
Đo dòng mạch điện trở bằng không
iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU
Ký hiệu Tên gọi
Ký hiệu Tên gọi
Điện trở nhiễu, Ω
Hằng số khí
R
Rn
Điện trở phân cực, Ω
Băng thông
f
Rp
Tổng trở nhiễu
Hằng số Boltmann
kB
Điện thế nhiễu, V
Nhiệt độ tuyệt đối
T
Vn
Dòng nhiễu, A
Điện tích
In
e
Tốc độ ăn mòn, mm/năm
Độ rộng dải tần đo
CR
B
Công suất
Tần số
f
P
x(n)/ f(x) Tập tín hiệu/ Hàm tín hiệu
Dòng trung bình
Φ(x)
Hàm tỉ lệ
Thế trung bình
= 1/f : Nghịch đảo tần số
Hàm sóng nhỏ
h(n), g(n) Hàm đáp ứng
s
Kích thước phân đoạn sóng
Hệ số dịch chuyển đặc
b
D
nhỏ (chỉ số cấu trúc)
trưng vị trí
sj
Đơn vị cơ bản chi tiết thứ j
Đơn vị xấp xỉ thứ j
dj
(hoặc Aj)
Phương sai của đơn vị cơ
2 j
Độ dốc của đường
bản chi tiết thứ j
Năng lượng liên kết với
Độ lệch chuẩn của thế,
E, I
mỗi đơn vị cơ bản chi tiết
dòng nhiễu
Căn bậc hai trung bình
Căn bậc hai trung bình bình
bình phương của
thế
phương của dòng nhiễu
nhiễu
Hàm liên hiệp phức
Hằng số hàm sóng nhỏ Tổng số điểm dữ liệu N cg
v
Thế galvanic Dòng galvanic Eg Ig
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................... - 1 -
CHƯƠNG 1 . TỔNG QUAN ..................................................................... - 4 -
1.1. Tổng quan về ăn mòn kim loại ............................................................- 4 -
1.1.1. Khái niệm ăn mòn kim loại ......................................................... - 4 - 1.1.2. Các dạng ăn mòn cục bộ kim loại ............................................... - 9 -
1.2. Các phương pháp điện hóa trong nghiên cứu ăn mòn kim loại ... - 11 -
1.2.1. Giới thiệu chung ........................................................................ - 11 -
1.2.2. Nhiễu điện hóa trong nghiên cứu ăn mòn kim loại ................... - 13 -
1.3. Các phương pháp phân tích dữ liệu nhiễu điện hóa ...................... - 27 -
1.3.1. Các tìm kiếm cơ bản trên tín hiệu nhiễu điện hóa .................... - 29 -
1.3.2. Phát hiện đáng chú ý về xác định tốc độ ăn mòn bằng ENA .... - 30 -
1.3.3. Phát hiện đáng chú ý về xác định ăn mòn cục bộ bằng ENA ... - 32 -
1.3.4. Các bước xử lý tín hiệu nhiễu điện hóa .................................... - 33 -
1.3.5. Các phát triển mới trong lý thuyết và kĩ thuật ENA.................. - 44 -
1.4. Phép biến đổi sóng nhỏ (WT) ........................................................... - 46 -
1.4.1. Phép biến đổi sóng nhỏ liên tục (CWT) .................................... - 46 -
1.4.2. Phép biến đổi sóng nhỏ rời rạc (DWT) và phân tích đa phân giải .. - 50 -
1.4.3. Ứng dụng của phép biến đổi sóng nhỏ trong nghiên cứu đột biến ... - 52 - 1.4.4. Ứng dụng biến đổi sóng nhỏ trong nghiên cứu ăn mòn ............ - 53 -
CHƯƠNG 2 . ĐIỀU KIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM . - 56 -
2.1. Điều kiện thiết lập hệ đo nhiễu dòng và thế điện hóa .................... - 56 -
2.2. Vật liệu và Môi trường thử nghiệm ................................................. - 57 -
2.2.1. Vật liệu thử nghiệm. .................................................................. - 57 - 2.2.2. Môi trường thử nghiệm ............................................................. - 59 -
2.2.3 Chế độ thử nghiệm và thiết bị đo đạc ........................................ - 60 -
vi
2.3. Phương pháp phân tích kết quả dữ liệu nhiễu điện hóa ............... - 62 -
2.3.1. Phân tích mật độ phổ công suất dữ liệu nhiễu điện hóa bằng FFT . - 62 -
2.3.2. Phân tích mật độ phổ năng lượng dữ liệu nhiễu điện hóa bằng biến đổi sóng nhỏ ........................................................................................ - 63 -
CHƯƠNG 3 . KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ......................................... - 68 -
3.1. Khảo sát nhiễu của hệ thiết bị sử dụng trong nghiên cứu............. - 68 -
3.1.1. Phân tích đánh giá các điều kiện đo đạc thu thập dữ liệu ........ - 68 -
3.1.2. Phân tích thống kê dữ liệu ........................................................ - 70 -
3.2. Sử dụng kĩ thuật và phân tích dữ liệu nhiễu điện hóa nghiên cứu ăn
mòn cho thép cacbon thấp ....................................................................... - 72 -
3.2.1. Đặc tính nhiễu điện hóa ăn mòn đều của thép cacbon thấp ..... - 72 -
3.2.2. Đặc tính nhiễu điện hóa quá trình thụ động và ăn mòn cục bộ của thép cacbon thấp trong môi trường pH cao có chứa ion Cl- .............. - 80 - 3.2.3. Đặc tính nhiễu điện hóa ăn mòn hỗn hợp của thép cacbon thấp- 95 -
3.2.4. Các thông số điện hóa đặc trưng của thép cacbon thấp trong các môi trường thử nghiệm ăn mòn ......................................................... - 100 -
3.2.5. Mối quan hệ của một số thông số điện hóa của phương pháp nhiễu điện hóa và phương pháp điện hóa thông thường ............................ - 102 -
3.3. Ăn mòn cục bộ của thép hợp kim 304 ........................................... - 104 -
3.3.1. Ăn mòn lỗ ................................................................................ - 104 -
3.3.2. Ăn mòn khe .............................................................................. - 114 -
3.3.3. Các đặc trưng tín hiệu nhiễu điện hóa cho một số dạng ăn mòn ..... - 123 -
KẾT LUẬN CHUNG ............................................................................. - 127 -
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN ..................................... - 128 -
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ ............................ - 129 -
vii
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................... - 130 -
DANH MỤC HÌNH
Hình 1-1. Một số dạng ăn mòn trên vật liệu kim loại. ................................. - 6 -
Hình 1-2. Nhiễu thế cho các điều kiện ăn mòn đều của thép cacbon thấp trong
dung dịch natri clorua. ......................................................................... - 19 -
Hình 1-3. Nhiễu thế - dòng ăn mòn của thép cacbon thấp trong NaCl. .... - 20 -
Hình 1-4. Mối liên hệ dòng và thế ở thời gian ngắn với lỗ chưa ổn định. - 21 -
Hình 1-5. Lỗ giả bền và lỗ bền. .................................................................. - 21 -
Hình 1-6. Nhiễu thế và dòng khi ăn mòn khe bắt đầu ổn định. ................. - 22 -
Hình 1-7. Nhiễu thế điện hóa của thép không gỉ 304L trong 3,5% NaCl. - 23 -
Hình 1-8. Sơ đồ thiết lập đo nhiễu điện hóa dòng và thế đơn giản. .......... - 24 -
Hình 1-9. Kiểu mật độ phổ công suất thế của EN. .................................... - 39 -
Hình 1-10. Dữ liệu ENP và ECN trong vùng tần số của thép cacbon ngâm
trong dung dịch NaCl 0,5M trong 24 giờ. ........................................... - 40 -
Hình 1-11. PSDV thép cacbon trong NaHCO3 0,1 M phân tích bằng FFT.- 41
-
Hình 1-12. So sánh sự sai khác phổ PSD của thép 316 SS trong dung dịch
NaCl 0,5M phân tích bằng FFT và MEM. ........................................... - 43 -
Hình 1-13. Ba dạng sóng nhỏ cơ bản. ....................................................... - 47 -
Hình 1-14. Phân tích đa phân giải sử dụng biến đổi sóng nhỏ rời rạc. .... - 50 -
Hình 1-15. Phân tích sóng nhỏ cho tín hiệu trong vùng thời gian. ........... - 53 -
Hình 1-16. (a) Tín hiệu dòng EN của mẫu thép 304 SS sau 10h nhúng ngập trong dung dịch FeCl3 10-3 M, (b) PSD của EN và (c) EDP của EN. .. - 55 -
Hình 2-1. Hình ảnh mẫu kim loại và các phụ kiện sử dụng trong nghiên cứu. . -
58 -
Hình 2-2. Sơ đồ mạch tương đương (a); Hệ đo thực nghiệm (b). ............. - 62 -
Hình 2-3. Sơ đồ chung các bước thu thập và phân tích dữ liệu nhiễu điện hóa.
viii
- 67 -
Hình 3-1. Phổ dữ liệu tín hiệu nhiễu trắng của thiết bị hp 34401A. ......... - 68 -
Hình 3-2. Bảy bậc tách (Dj – db4) tín hiệu nhiễu trắng của thiết bị hp34401A.
- 69 -
Hình 3-3. Phân bố tín hiệu nhiễu dòng trắng. ........................................... - 70 -
Hình 3-4. Độ lệch chuẩn nhiễu dòng. ........................................................ - 71 -
Hình 3-5. Biểu hiện thế và dòng nhiễu điện hóa của thép cacbon thấp theo
thời gian trong các môi trường ăn mòn khác nhau. ............................ - 73 -
Hình 3-6. Phổ biên độ nhiễu dòng ăn mòn thép cacbon thấp ở thời gian ngắn
(1024 điểm cuối 2 giờ thử nghiệm) trong khoảng thời gian 2 giờ thử
nghiệm. ................................................................................................. - 74 -
Hình 3-7. Hình ảnh (100) bề mặt mẫu thép cacbon thấp sau khảo sát ăn mòn
bằng kĩ thuật nhiễu điện hóa. ............................................................... - 74 -
Hình 3-8. Biên độ nhiễu thế và dòng ăn mòn đều của thép các bon thấp trong
hai môi trường thử nghiệm phân tách WT ở bậc 5. ............................. - 75 -
Hình 3-9. Mật độ phổ công suất của thế và dòng nhiễu của thép cacbon thấp
ăn mòn đều hai giờ trong môi trường thử nghiệm phân tách WT bậc 5.- 76
-
Hình 3-10. Bảy bậc tách (Dj – db4) tín hiệu nhiễu dòng ăn mòn đều trong hai
môi trường thử nghiệm. ........................................................................ - 78 -
Hình 3-11. Phổ phân bố ESD và các hệ số phân chia cơ bản Dj tín hiệu nhiễu
dòng ăn mòn đều sau hai giờ trong hai môi trường thử nghiệm. ........ - 79 -
Hình 3-12. Phổ dữ liệu nhiễu dòng - thế của thép cacbon thấp theo thời gian
trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2 + NaCl (1:1). .................................... - 81 -
Hình 3-13. Phổ biên độ nhiễu dòng của thép cacbon thấp trong dung dịch
0,1M Ca(OH)2 + NaCl (1:1). ............................................................... - 82 -
Hình 3-14. Mật độ phổ công suất thế và dòng nhiễu của thép cacbon thấp thụ
động trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2 + NaCl (1:1). ........................... - 84 -
ix
Hình 3-15. Bảy bậc tách (Dj – db4) tín hiệu nhiễu dòng theo thời gian. ... - 85 -
Hình 3-16. Phổ phân bố ESD và các hệ số phân chia cơ bản Dj thiết lập với
hai giai đoạn thụ động khác nhau. ....................................................... - 86 -
Hình 3-17. Phổ dữ liệu biên độ nhiễu dòng và thế của thép cacbon thấp theo
thời gian trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2 + NaCl (1:1). .................... - 88 -
Hình 3-18. Mật độ phổ công suất thế và dòng nhiễu của thép cacbon thấp thụ
động trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2+NaCl 1:1 (1024 điểm sau 15.600
giây). ..................................................................................................... - 89 -
Hình 3-19. Bảy bậc tách (Dj – db4) tín hiệu nhiễu dòng theo thời gian và
phân bố ESD với các hệ số phân chia cơ bản Dj. ................................ - 91 -
Hình 3-20. Hình ảnh (100) bề mặt thép cacbon thấp trong và sau khảo sát
nhiễu điện hóa ăn mòn cục bộ trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2+NaCl
(1:1). ..................................................................................................... - 92 -
Hình 3-21. Hình ảnh (100) một lỗ điển hình trên bề mặt thép và cơ chế rỗ. .. -
93 -
Hình 3-22. Phổ dữ liệu nhiễu dòng - thế của thép cacbon thấp theo thời gian
trong dung dịch NaCl 3,5%. ................................................................ - 96 -
Hình 3-23. Phổ dữ liệu nhiễu điện hóa ở thời gian ngắn ban đầu (1042 điểm).
- 97 -
Hình 3-24. Biên độ nhiễu điện hóa ở thời gian dài ứng với mật độ phổ công
suất dòng và thế nhiễu tách mức (2 giờ thử nghiệm). ......................... - 98 -
Hình 3-25. Bảy bậc tách (Dj - db4) tín hiệu nhiễu dòng ăn mòn sau 2 giờ thử
nghiệm. ................................................................................................. - 99 -
Hình 3-26. Phổ phân bố ESD và các hệ số phân chia cơ bản Dj. ............. - 99 -
Hình 3-27. Hình ảnh (100) bề mặt thép cacbon thấp sau khảo sát nhiễu điện
hóa ăn mòn trong dung dịch NaCl 3,5% sau 16 giờ thử nghiệm. ..... - 100 -
Hình 3-28. Đường cong phân cực điện hóa của thép cacbon thấp trong các
x
dung dịch ăn mòn thử nghiệm. ........................................................... - 101 -
Hình 3-29. Mối tương quan giữa Rp – Rn. ................................................ - 103 -
Hình 3-30. Dòng và thế nhiễu của mẫu thép 304 trong dung dịch FeCl3.- 105
-
Hình 3-31. Phổ biên độ EN của mẫu thép 304 trong dung dịch FeCl3. .. - 106 -
Hình 3-32. Lỗ giả bền (a) và lỗ bền (b). .................................................. - 107 -
Hình 3-33. Biên độ dao động của tín hiệu nhiễu và mật độ phổ công suất
dòng của thép 304 ăn mòn lỗ hai giờ trong môi trường thử nghiệm. - 109 -
Hình 3-34. Bảy bậc tách (Dj – db4) tín hiệu nhiễu dòng ăn mòn lỗ sau 2 giờ
thử nghiệm. ......................................................................................... - 110 -
Hình 3-35. Phổ phân bố ESD và các hệ số phân chia cơ bản Dj. ........... - 111 -
Hình 3-36. Đường phân cực của thép không gỉ 304 trong dung dịch FeCl3. .... -
112 -
Hình 3-37. Hình ảnh các lỗ phát triển trên bề mặt của mẫu thép 304. ... - 113 -
Hình 3-38. Dòng và thế nhiễu theo thời gian của thép 304 ăn mòn khe 15 giờ
thử nghiệm. ......................................................................................... - 115 -
Hình 3-39. Biên độ dao động nhiễu thế và dòng ăn mòn khe của thép 304
trong môi trường thử nghiệm FeCl3 tại 30 C. .................................. - 116 -
Hình 3-40. biên độ dòng nhiễu của vùng 2 mẫu thép 304 ăn mòn khe trong
dung dịch FeCl3. ................................................................................. - 117 -
Hình 3-41. Mật độ phổ công suất và biên độ dao động nhiễu thế và dòng của
thép 304 ăn mòn khe 2 giờ trong môi trường thử nghiệm. ................ - 118 -
Hình 3-42. Bảy bậc tách (Dj – db4) tín hiệu nhiễu dòng ăn mòn khe sau hai
giờ thử nghiệm. .................................................................................. - 119 -
Hình 3-43. Phổ phân bố ESD và các hệ số phân chia cơ bản Dj. ........... - 120 -
Hình 3-44. Hình ảnh của mẫu thử nghiệm ăn mòn khe trong dung dịch FeCl3.
- 121 -
Hình 3-45. Phổ PSD đặc trưng của một số dạng ăn mòn........................ - 126 -
xi
Hình 3-46. Phổ ESD đặc trưng của một số dạng ăn mòn........................ - 126 -
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1-1: Phân loại loại ăn mòn tương quan đến chỉ số lỗ PI. ................ - 38 -
Bảng 2-1: Thành phần nguyên tố các mẫu thử nghiệm (% khối lượng). ... - 57 -
Bảng 2-2: Môi trường thử nghiệm ăn mòn. ............................................... - 59 -
Bảng 2-3: Quy trình chuẩn bị và xử lý bề mặt mẫu. .................................. - 60 -
Bảng 2-4: Thiết bị đo điện hóa sử dụng trong nghiên cứu. ....................... - 61 -
Bảng 2-5: Khoảng tần số và thời gian cho j = 7 và fs = 2 Hz. .................. - 65 -
Bảng 3-1: Giá trị phổ PSDi (FFT) và PSDi (WT-FFT) trong khoảng 2.350 đến
2.850 giây trong các môi trường thử nghiệm (1024 điểm dữ liệu). .... - 77 -
Bảng 3-2: Các thông số điện hóa của thép cacbon thấp từ phân cực điện thế. -
102 -
Bảng 3-3: Thông số Rp - Rn và PI. ............................................................ - 102 -
Bảng 3-4: Các thông số điện hóa từ đường cong phân cực của thép 304 trong
xii
dung dịch FeCl3. ................................................................................. - 112 -
MỞ ĐẦU
Nghiên cứu ăn mòn và bảo vệ chống ăn mòn vật liệu kim loại có tầm
quan trọng và liên quan đến hầu hết các ngành kinh tế cũng như an ninh quốc
phòng. Theo những đánh giá mới nhất, tổn thất do ăn mòn kim loại, hợp kim
ước tính khoảng 4% tổng giá trị sản phẩm của các nước công nghiệp phát
triển [1]. Trong các dạng ăn mòn kim loại, ăn mòn cục bộ là dạng ăn mòn
nguy hiểm nhất bởi là dạng ăn mòn rất phổ biến, rất khó phát hiện trước khi
xảy ra sự cố. Vì thế, nguy cơ phá hủy vật liệu, thiết bị kim loại do ăn mòn cục
bộ là rất lớn và là lý do phải nâng cao, thậm chí phải hoàn thiện các phương
pháp truyền thống đồng thời xây dựng các phương pháp mới để phát hiện,
theo dõi nhằm mục đích kiểm soát ngăn ngừa các sự cố về ăn mòn [2-7].
Các phương pháp điện hóa truyền thống áp dụng trong nghiên cứu ăn
mòn là đo trực tiếp, tổng thể các mối nguy hiểm ăn mòn. Tốc độ ăn mòn tức
thời hay tốc độ ăn mòn trung bình có thể được chấp nhận từ các phép đo trực
tiếp này [2, 8-9]. Các phương pháp điện hóa này hoạt động dựa trên cơ sở
“trạng thái ổn định”; mặc dù phần lớn các quá trình ăn mòn xảy ra không
đồng đều, xuất phát từ đặc điểm sự cấu tạo pha hạt không tuân theo các điều
kiện chuẩn. Vì thế các phương pháp truyền thống như tổng trở điện hóa (EIS)
hoặc các kĩ thuật Tafel trong nghiên cứu các quá trình ăn mòn không đồng
đều của kim loại không cung cấp những thông tin thật sự có giá trị, bởi tín
hiệu đo được sẽ ngày càng bị nhiễu. Trong trường hợp số lượng các nhiễu này
ứng với các sự kiện ăn mòn rời rạc sẽ gây nhiễu loạn trong các phương pháp
đo liên tục.
Hạn chế chung của các phương pháp điện hóa nêu trên là không có khả
- 1 -
năng xác định ăn mòn trực tiếp trên đối tượng đang hoạt động, cũng như nhận
biết các dạng ăn mòn khác nhau và tỷ phần của chúng trong từng giai đoạn
của quá trình ăn mòn vật liệu kim loại.
Phương pháp đo nhiễu điện hóa được đề xuất để bổ sung và giải quyết
các vấn đề tồn tại trong nghiên cứu ăn mòn của phương pháp đo lường điện
hóa. Phương pháp nhiễu điện hóa có thể đo trực tiếp mức độ ăn mòn của kim
loại trong môi trường xâm thực với điều kiện có hoặc không có bảo vệ chống
ăn mòn, cả quá trình chuyển từ trạng thái thụ động sang trạng thái hoạt động
ăn mòn và ngược lại. Đặc trưng và ưu thế của việc đo nhiễu điện hóa là phát
hiện các tín hiệu bất thường và là rất điển hình trong các quá trình thay đổi
trạng thái [4, 10-11].
Như vậy vấn đề đặt ra là:
Làm thế nào có thể đo được tín hiệu nhiễu và có thể so sánh với các
phương pháp đo tin cậy khác.
Khả năng đo được các thông số gì và định hướng các quá trình là rất
cần thiết để có một cơ sở đo đạc vững chắc.
Làm thế nào có thể phân tích hiệu quả nhất dữ liệu và giải thích đáng
tin cậy.
Triển vọng ứng dụng của tín hiệu nhiễu vào thực tiễn là gì.
Ưu điểm của phương pháp đo nhiễu điện hóa trong nghiên cứu ăn mòn
kim loại:
- Đơn giản bởi là phương pháp không phá hủy; ghi và phân tích tín hiệu
liên tục hay rời rạc nên có thể phân biệt các hiện tượng và quá trình ăn mòn
khác nhau trong các môi trường khác nhau.
- Dữ liệu nhiễu điện hóa với đặc trưng nghèo thông tin đầu vào nhưng
- 2 -
qua phân tích đem lại nhiều thông số giá trị.
- Phương pháp đo nhiễu điện hóa có thể áp dụng nghiên cứu trực tiếp
với đối tượng đang làm việc nên có ý nghĩa thực tiễn lớn.
Phương pháp nhiễu điện hóa là phương pháp đo và phân tích tín hiệu
điện hóa nâng cao, yêu cầu phải sử dụng các phương pháp phân tích các tín
hiệu như biến đổi nhanh Fourier (FFT), entropy cực đại (MEM), phương pháp
phân tích phổ vùng tần số - thời gian (JTFA) và đặc biệt là phương pháp biến
đổi sóng nhỏ (WT) và biểu diễn bằng mật độ phổ công suất hay năng lượng
theo tần số - thời gian…[12-16].
Nhờ những ưu điểm nêu trên, nghiên cứu và ứng dụng của phương
pháp nhiễu điện hóa cho mục đích khác nhau đã và đang giành được mối quan
tâm phổ biến của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu vật liệu mới.
Trong đề tài luận án này, chúng tôi xác định các mục tiêu sau:
i) Thiết lập hệ đo nhiễu điện hóa cho cả dòng và điện thế trong quá
trình ăn mòn điện hóa của thép cacbon thấp và thép không gỉ 304.
ii) Tập trung phân tích tín hiệu nhiễu dòng điện hóa cho một số dạng ăn
mòn (nhất là ăn mòn cục bộ) bằng cách áp dụng thuật toán biến đổi sóng nhỏ
với hàm tự tương quan.
iii) Định lượng hóa các thông số phân tích được cho các quá trình ăn
- 3 -
mòn điện hóa cho các nghiên cứu thực nghiệm.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về ăn mòn kim loại
1.1.1. Khái niệm ăn mòn kim loại
a. Định nghĩa
Ăn mòn kim loại là khái niệm dùng để chỉ quá trình tự diễn biến phá
huỷ vật liệu kim loại do tương tác hóa – lý với môi trường xung quanh [2, 6-7,
17].
b. Phân loại ăn mòn kim loại
Ăn mòn kim loại là quá trình tương tác hóa – lý phức tạp, xảy ra với
nhiều loại vật liệu kim loại khác nhau trong những môi trường xâm thực đa
dạng, luôn thay đổi và thường là không thể kiểm soát được. Vì thế, để dễ nắm
bắt và giải quyết vấn đề chống ăn mòn kim loại, người ta thường phân loại
các quá trình ăn mòn kim loại dưới những góc độ khác nhau, thí dụ phân loại
theo cơ chế, theo hình dạng bề mặt bị ăn mòn, theo môi trường xâm thực…
Dưới đây là một số phân loại ăn mòn kim loại thông dụng nhất.
Phân loại ăn mòn kim loại theo cơ chế:
Ăn mòn hoá học: là quá trình phá huỷ vật liệu kim loại do tác dụng hóa
học của môi trường xung quanh. Các phản ứng hoá học phá huỷ kim loại xảy
ra khi kim loại nằm trong môi trường các chất không điện li dạng lỏng và khí
khô. Sản phẩm ăn mòn nằm ngay trên bề mặt tiếp xúc của kim loại và môi
trường.
Ăn mòn điện hoá: là quá trình phá huỷ vật liệu kim loại do tương tác
của chúng với môi trường điện li xung quanh. Còn dạng ăn mòn vi sinh xảy ra
dưới tác động của của các chất thải do vi sinh vật tiết ra thường được coi là
- 4 -
dạng đặc biệt của ăn mòn điện hóa.
Sự khác nhau cơ bản giữa cơ chế ăn mòn hoá học và ăn mòn điện hoá
là trong phản ứng ăn mòn hoá học, phản ứng tổng quát chỉ xảy ra ở một nơi
và một giai đoạn; trong khi đó, ở ăn mòn điện hoá, phản ứng tổng quát xảy ra
ở hai khu vực khác nhau và trong nhiều giai đoạn. Ăn mòn điện hóa nhìn
nhận đơn giản là ăn mòn kim loại xảy ra kèm với sự trao đổi điện tử, cùng với
nó là xuất hiện dòng điện được gọi với tên khoa học là dòng ăn mòn.
Ăn mòn điện hóa xảy ra rất đa dạng, phụ thuộc nhiều vào các điều kiện
như: bản chất vật liệu kim loại và bản chất môi trường ăn mòn…. Giá trị tổn
thất do ăn mòn thực tế có thể thống kê từ các ngành công nghiệp phát triển
cùng với biến đổi môi trường và các điều kiện vận hành. Các môi trường
nhúng ngập có thể dẫn đến nhiều dạng ăn mòn nguy hiểm khác nhau.
Phân loại ăn mòn kim loại theo hình dạng bề mặt ăn mòn:
Theo hình dạng bề mặt bị ăn mòn (hình 1-1), ăn mòn kim loại được
chia thành hai loại chính: ăn mòn đều và ăn mòn cục bộ.
Ăn mòn đều [8-10]: là quá trình ăn mòn xảy ra trên toàn bộ bề mặt
và có thể dự đoán và định lượng bằng tốc độ ăn mòn. Trong ăn mòn đều, vật
liệu kim loại bị ăn mòn như nhau trên toàn bề mặt kim loại.
Để xảy ra ăn mòn đều, môi trường ăn mòn phải tác động như nhau trên
hầu hết bề mặt, và bản thân kim loại cũng phải đồng nhất về cấu trúc cũng
như thành phần. Trong thực tế, yếu tố này thường khó thỏa mãn, nên người ta
chấp nhận sự không đồng đều ở một mức độ nào đó. Thí dụ ăn mòn thép
trong khí quyển, thép trong môi trường axít, ôxy hoá ở nhiệt độ cao, v.v...
thường được coi là ăn mòn đồng đều. Theo quan điểm kĩ thuật, ăn mòn đồng
đều thường được chấp nhận sử dụng cho việc tính toán và thiết kế.
Ăn mòn cục bộ [6, 18]: là các kiểu ăn mòn khác nhau tập trung trên
- 5 -
một hay một số diện tích rất nhỏ của toàn bộ bề mặt kim loại tiếp xúc với môi
trường gây ăn mòn. Đặc trưng ăn mòn cục bộ là phát triển của chúng rất khó
nhận biết. Chính vì tốc độ ăn mòn chung rất nhỏ nên các phương pháp xác
điện hóa thông thường không đủ khả năng xác định quá trình và định lượng
tốc độ ăn mòn của chúng.
Hình 1-1. Một số dạng ăn mòn trên vật liệu kim loại.
Các phương pháp điện hóa được sử dụng phổ biến nhất để nghiên cứu
và giải thích ăn mòn. Kim loại và môi trường mà chúng tiếp xúc tạo thành
một hệ điện hóa. Quá trình chuyển điện tích giữa kim loại và môi trường bao
gồm hai phản ứng, đó là phản ứng oxi hóa và phản ứng khử. Kết quả là một
lượng kim loại bị tan vào môi trường.
Phân loại ăn mòn kim loại theo môi trường ăn mòn:
Theo phân loại này, ăn mòn kim loại thường được phân thành ăn mòn
trong môi trường tự nhiên (khí quyển, nước biển và trong đất) và môi trường
công nghiệp.
Ăn mòn trong môi trường tự nhiên
Ăn mòn khí quyển
Ăn mòn trong môi trường khí quyển là dạng ăn mòn phổ biến nhất. Có
- 6 -
khoảng 80% máy móc, thiết bị hoặc kết cấu kim loại làm việc trong môi
trường khí quyển, vì vậy có rất nhiều công trình nghiên cứu ăn mòn vật liệu
kim loại trong môi trường khí quyển được tiến hành trên thế giới [19-21]
cũng như ở Việt Nam [6, 22-24]. Những yếu tố quyết định cơ chế và tốc độ ăn
mòn kim loại trong môi trường khí quyển là mức độ ẩm trên bề mặt kim loại
tiếp xúc với không khí và hàm lượng chất xâm thực. Có thể chia ra làm 3 loại
ăn mòn trong môi trường khí quyển:
* Ăn mòn trong không khí ướt: là dạng ăn mòn xảy ra khi có một lớp
màng nước mỏng bao phủ bề mặt kim loại có thể trông thấy bằng mắt thường.
Quá trình này xảy ra khi bề mặt kim loại bị nước mưa rơi trực tiếp hay hơi
nước ngưng tụ trên bề mặt kim loại khi độ ẩm tương đối của không khí đến
100%. Ăn mòn dạng này tuân theo cơ chế ăn mòn điện hoá.
* Ăn mòn trong không khí ẩm: là dạng ăn mòn xảy ra khi có màng nước
mỏng không trông thấy được bằng mắt thường bao phủ bề mặt kim loại. Quá
trình này xảy ra do sự ngưng tụ hấp phụ và ngưng tụ hoá học khi độ ẩm tương
đối của không khí nhỏ hơn 100%. Ăn mòn dạng này tuân theo cơ chế điện
hoá.
* Ăn mòn trong không khí khô: ăn mòn dạng này tuân theo cơ chế hoá
học.
Sự phân loại các dạng ăn mòn nói chung chỉ là quy ước, bởi vì trong
thực tế dạng ăn mòn này có thể chuyển thành dạng ăn mòn khác tuỳ theo điều
kiện của môi trường. Đối với nghiên cứu ăn mòn khí quyển, người ta thường
quan tâm đến những yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm tương đối, thời gian lưu ẩm
hay thời gian thấm ướt bề mặt (TOW), lượng mưa, tần suất mưa, sương, độ
nhiễm bẩn khí quyển [25]. Thông thường, người ta chia môi trường khí quyển
ra thành các vùng khí quyển công nghiệp, thành phố, biển, nông thôn, biển
nhiệt đới và xây dựng những bản đồ ăn mòn của từng quốc gia, từng khu vực
- 7 -
hay từng thành phố [22].
Ăn mòn trong môi trường nước biển, nước sông, nước hồ
Các kết cấu thép của các công trình thuỷ lợi; thuỷ điện; giao thông vận
tải; xây dựng… vận hành trong môi trường biển, sông hồ thường bị ăn mòn
dẫn đến những thiệt hại to lớn cho nền kinh tế, an ninh quốc phòng.... Có rất
nhiều công trình nghiên cứu ăn mòn vật liệu kim loại trong những môi trường
này đã được tiến hành trên thế giới cũng như ở Việt Nam từ trước đến nay
[26-27]. Ăn mòn trong môi trường này tuân theo cơ chế điện hoá.
2-, CO3
Khi nghiên cứu ăn mòn trong môi trường nước, các nhà nhiên cứu quan tâm đến các yếu tố như: thành phần các muối khoáng hoà tan trong nước (Cl-, 2-, Br-… và các cation Na+, K+, Mg2+, Ca2+…); chu kỳ thấm ướt SO4
kim loại; sự phân bố ôxy trong nước; tốc độ dòng chảy và nhiệt độ của nước;
tác dụng của ứng suất cơ học và hình dạng cũng như cấu trúc của kết cấu kim
loại [28-29].
Ăn mòn trong môi trường đất
Các thiết bị, các kết cấu kim loại chôn ngầm trong đất như các ống dẫn
nước, dẫn dầu… bị ăn mòn rất mạnh. Nhiều công trình nghiên cứu ăn mòn
trong môi trường đất đã được tiến hành từ rất lâu [23, 30-32]. Quá trình ăn
mòn kim loại trong đất về bản chất là một quá trình ăn mòn điện hoá, vì môi
trường đất là môi trường điện li. Khi nghiên cứu ăn mòn trong môi trường
đất, người ta quan tâm đến điện trở suất, nhiệt độ, độ ẩm của đất, độ pH và
thành phần muối hòa tan trong đất [32].
Ăn mòn trong môi trường công nghiệp
Ăn mòn trong môi trường công nghiệp rất đa dạng và phức tạp, nó phá
huỷ từ các sản phẩm theo thời gian vận hành cũng như thời gian nghỉ, từ ôtô,
máy móc tới các công trình và thiết bị công nghiệp như đường ống dẫn dầu,
- 8 -
dẫn khí, dẫn nước, các dây chuyền sản xuất của nhà máy hoá chất, nhà máy
điện… Nó bao gồm các dạng ăn mòn và các cơ chế ăn mòn (hoá học, điện
hoá, ứng suất, mài mòn…). Chính vì thế nên có rất nhiều công trình nghiên
cứu ăn mòn trong môi trường công nghiệp đã được công bố mà ta có thể gặp
ở bất cứ một hội nghị ăn mòn quốc gia hay quốc tế nào [24, 33-34] . Vấn đề
đang được đặt ra là làm thế nào để theo dõi và kiểm soát ăn mòn trong các
môi trường này đơn giản, hiệu quả và kinh tế nhất.
1.1.2. Các dạng ăn mòn cục bộ kim loại
Trong đề mục này, ăn mòn cục bộ kim loại ở đây được nhìn dưới góc
độ ăn mòn điện hoá [2, 6, 35-37] và được giới thiệu một cách tổng quát. Các
biểu hiện ăn mòn cục bộ được giới thiệu để có được mối liên hệ khi nghiên
cứu chúng bằng kĩ thuật điện hóa truyền thống và nhiễu điện hóa. Các biểu
hiện của từng loại ăn mòn cục bộ xác định bằng phương pháp điện hóa và
nhiễu điện hóa được trình bày trong phần 1.2 và 1.3.
Ăn mòn lỗ:
Ăn mòn lỗ là dạng ăn mòn cục bộ trong khi phần lớn bề mặt có thể
không bị ăn mòn, các lỗ ăn mòn rất bé được hình thành. Các lỗ này có thể
xuyên rất sâu vào kim loại nền và phá hủy độ bền các thiết bị máy móc. Ngoài
các dạng ăn mòn thông thường trên các vật liệu kim loại, ăn mòn lỗ có thể do
ẩm ướt cục bộ hoặc các vết (điểm) sai hỏng trong thép cacbon thấp hay của
lớp phủ bảo vệ. Các sản phẩm ăn mòn thường hút ẩm và các chất gây ăn mòn
khác tăng cường tấn công. Ăn mòn lỗ thường xuất hiện ở các kim loại có
màng thụ động. Một kim loại thụ động là quá trình hình thành tự nhiên (hay
nhân tạo) một lớp bảo vệ được gọi là màng thụ động (như thép không gỉ, nhôm...). Sự có mặt ion Cl- thường gây ăn mòn lỗ của các màng thụ động.
Một lỗ được hình thành khi màng thụ động bị phá vỡ cục bộ hay khuyết tật
- 9 -
của màng thụ động. Nó có thể là nguyên nhân chính gây nguy hiểm cho kết
cấu kim loại do tính không đồng nhất, bị lạnh cục bộ của kim loại, đọng chất
bẩn hoặc các thành phần khác nhau của môi trường.
Ăn mòn khe:
Các vùng khác nhau trong thành phần cấu tạo có thể dẫn đến các điện
thế khác nhau trên các vị trí bề mặt kim loại: ví dụ sự khác nhau về diện tích,
khi mà ở đó nồng độ ôxy thay đổi. Đặc biệt là các phần kim loại bị che lấp bởi
những tấm lót, đệm, vòng nối, đinh tán... là vùng nhạy cảm với ăn mòn khe.
Ăn mòn chọn lọc:
Các hợp kim là sự kết hợp của nhiều kim loại khác nhau. Trong một
vài hợp kim, các hợp phần có thể bị hòa tan rời khỏi các hợp phần khác. Ví dụ
phổ biến nhất là kẽm bị ăn mòn chọn lọc tan ra khỏi hợp kim đồng kẽm.
Ăn mòn xuyên tinh thể: Kim loại bao gồm rất nhiều các hợp phần các
hạt kích thước nhỏ phân bố ngẫu nhiên. Ăn mòn xuyên tinh thể xuất hiện khi
có sự kết dính chặt chẽ giữa các thành phần hợp phần. Tốc độ ăn mòn thường
rất thấp nhưng kết quả tổn thất giữa các thành phần hợp phần làm phân rã kim
loại. Chúng thường xuất hiện ở các thép trắng đơn giản. Đây là kiểu ăn mòn
chọn lọc crôm gần biên giới hạt.
Ăn mòn giữa các tinh thể là ăn mòn cục bộ theo các biên giới hạt, nó
diễn ra giống như ăn mòn lỗ nhưng chủ yếu dọc theo các đường biên hạt do
sự khác nhau rất nhỏ trong tính chất luyện kim.
Ăn mòn nứt gẫy và mỏi:
Là dạng ăn mòn phát sinh do các thành phần trọng tâm bị căng ra khi
chịu tải trọng đồng thời bị tác động của môi trường ăn mòn. Nứt gẫy có thể
xảy ra khi tinh thể bị trượt hoặc vỡ; nhưng trong cả hai trường hợp trên gần
- 10 -
vuông góc với thành phần trọng tâm. Chỉ khi các vật liệu, kết cấu kim loại
hoạt động trong môi trường điện li gây ăn mòn dạng này theo cơ chế điện hóa
mới được quan tâm nghiên cứu bằng các phương pháp điện hóa.
Ăn mòn mài mòn và tác động của các va chạm:
Ăn mòn mài mòn xuất hiện khi vật liệu kim loại tiếp xúc với chất lỏng
có tốc độ chảy cao hoặc có chứa những vật liệu mài mòn ngăn cản việc tái tạo
màng bảo vệ. Đặc điểm của ăn mòn mài mòn là tạo thành rãnh có hướng. Các
quá trình ăn mòn mài mòn thường gặp ở chân vịt tàu thủy, tua bin hay bơm ly
tâm của các nhà máy thủy điện...và chúng gây rất nhiều tổn thất.
1.2. Các phương pháp điện hóa trong nghiên cứu ăn mòn kim loại
1.2.1. Giới thiệu chung
Ăn mòn kim loại đa dạng về cơ chế, về môi trường xâm thực cũng như
về hình dạng bề mặt bị ăn mòn (như đã đề cập ở trên), với một số kim loại bị
ăn mòn cục bộ, độ bền ăn mòn của chúng không phụ thuộc nhiều vào giá trị
tốc độ ăn mòn mà phụ thuộc vào các thông số ăn mòn cục bộ như độ sâu, mật
độ ăn mòn lỗ. Vì thế, một nhu cầu cấp bách được đặt ra là xây dựng các
phương pháp nghiên cứu hiện đại để nghiên cứu cơ chế ăn mòn cục bộ kim
loại, đặc biệt là các phương pháp không phá hủy vật liệu và có thể tiến hành
trực tiếp ngay tại hiện trường. Cho nên, nghiên cứu ăn mòn kim loại cũng
phải đa dạng từ phương pháp luận, trang thiết bị, điều kiện…để có thể cung
cấp một khái niệm đầy đủ nhất, dễ hiểu nhất và xác thực nhất có thể về quá
trình tương tác hóa – lý phức tạp này. Vấn đề đầu tiên đặt ra cho nghiên cứu
ăn mòn là xác định nguyên nhân gây ăn mòn, dạng và tốc độ ăn mòn. Giá trị
tốc độ ăn mòn kim loại cho chúng ta đánh giá tổng thể về độ bền chống ăn
mòn của một loạt vật liệu kim loại, từ đó, cho phép chúng ta lựa chọn được
loại vật liệu có độ bền ăn mòn cao nhất, phù hợp nhất và nếu có thể rẻ tiền
- 11 -
nhất cho các mục đích và yêu cầu sử dụng (xây lắp, chế tạo, sửa chữa…).
Ăn mòn kim loại, về bản chất chủ yếu là một quá trình điện hóa được
nghiên cứu bằng các phương pháp điện hóa. Nhiều kĩ thuật đã được phát triển
nhằm nghiên cứu tỉ mỉ nguyên nhân và cơ chế của các quá trình ăn mòn, xác
định môi trường ăn mòn và đánh giá khả năng chống ăn mòn của vật liệu kim
loại... So sánh với các kĩ thuật khác, các kĩ thuật điện hóa có nhiều lợi thế rất
rõ ràng là: có kết quả trong thời gian ngắn; độ chính xác cao và có khả năng
định lượng ăn mòn liên tục [38-43]. Ứng dụng phổ biến nhất của chúng là để
xác định tốc độ ăn mòn kim loại bởi tốc độ ăn mòn kim loại là một trong các
thông số quan trọng nhất để xác định khả năng phá hủy của môi trường, trong
sự lựa chọn các kĩ thuật bảo vệ chống ăn mòn và đánh giá lại ăn mòn của các
vật liệu kim loại... Các kĩ thuật điện hóa thông thường có khả năng đánh giá
nhanh, liên tục và tự động xác định tốc độ ăn mòn. Đo tốc độ ăn mòn tương
đương thực tế để xác định động học của các quá trình ăn mòn.
Các phương pháp điện hóa là các phương pháp nghiên cứu ăn mòn trực
tiếp. Các phương pháp điện hóa sử dụng nghiên cứu ăn mòn dựa trên tiền đề
ăn mòn là một quá trình điện hóa và có thể xác định thông qua các phép đo
mối liên hệ giữa thế - dòng và điện trở phân cực, các thông số này đặc trưng
cho quá trình ăn mòn. Kĩ thuật này bị giới hạn trong một vài hệ pha
(khí/dầu/nước) và không thể sử dụng trong môi trường không điện li.
So sánh kĩ thuật phân cực tuyến tính DC với kĩ thuật EIS thì EIS thực
sự đáng tin cậy hơn bởi nó có thể cho thấy các quá trình ăn mòn điện hóa
riêng rẽ khác nhau và có thể loại trừ các lỗi đo do điện trở dung dịch và điện
trở màng bề mặt.
Phương pháp điện trở phân cực (PR) hoặc điện trở phân cực tuyến tính
(LPR), từ điện trở phân cực xác định tốc độ ăn mòn hoặc xác định bằng
- 12 -
ngoại suy Tafel (phương pháp phá hủy).
Phương pháp tổng trở điện hóa (EIS) là phương pháp không phá hủy
xác định tốc độ ăn mòn từ điện trở chuyển điện tích tương đương điện
trở phân cực của phương pháp PR.
Phương pháp nhiễu điện hóa (ENM) là phương pháp không phá hủy.
Ưu điểm của các phương pháp điện hóa là cho phép xác định tốc độ ăn
mòn kim loại trong thời gian ngắn, có độ chính xác cao với điều kiện thí
nghiệm được tiến hành theo đúng tiêu chuẩn. Có thể xác định tốc độ ăn mòn
vật liệu kim loại trong điều kiện gia tốc để so sánh với các thí nghiệm trong
điều kiện tự nhiên nếu chọn được các điều kiện phản ánh được những yếu tố
gần sát với hiện trường. Các phương pháp điện hóa ứng dụng nghiên cứu ăn
mòn thông thường trong và ngoài nước thường được thử nghiệm rất kỹ càng
và thống nhất thành các tiêu chuẩn.
1.2.2. Nhiễu điện hóa trong nghiên cứu ăn mòn kim loại
1.2.2.1. Khái niệm nhiễu điện hóa
Nhiễu điện hoá (EN) [44-45]: Phản ứng điện hóa xảy ra (hòa tan hoặc
kết tủa hoặc hình thành hay phá vỡ màng thụ động…) trên bề mặt khi kim
loại tiếp xúc với môi trường chất điện li. Điều này gây ra sự biến động điện
thế và dòng điện hóa với đặc trưng là tần số thấp (10-3 Hz < 10 Hz) và biên
độ nhỏ; những biến động như vậy xuất hiện khi đo đạc tín hiệu thế hay dòng ở
trạng thái tự do được gọi là nhiễu điện hóa. Nhiễu điện hóa thường được coi
là một hiện tượng ngẫu nhiên kèm với các động học điện hóa xác định.
“Nhiễu điện hóa” là cách gọi cũ (thập kỷ 50 - 70 của thế kỷ 20) khi các
tín hiệu điện hóa là ngẫu nhiên không có giá trị đối với các phương pháp điện
hóa thông thường như phân cực điện hóa (I - V) hay tổng trở điện hóa (EIS).
- 13 -
Ngày nay, mọi người vẫn tôn trọng cách gọi cũ và đang được nhiều lĩnh vực
khoa học quan tâm. Khi tiến bộ khoa học phát triển, người ta xử lý và phân
tích được nhiều thông tin có giá trị hơn từ các tín hiệu này mà các phương
pháp điện hóa thuần túy không làm được. Từ khi Iverson (1968 -1986) [46-
47] lần đầu tiên chú ý đến nhiễu điện thế ngẫu nhiên trong hệ ăn mòn điện
hóa, khả năng của các ứng dụng phân tích nhiễu (ENA) trong nghiên cứu ăn
mòn đã thu hút được sự quan tâm mạnh mẽ của các nhà khoa học trên khắp
thế giới. Trước sự phát triển mạnh mẽ hơn bốn thập kỷ qua, ENA đã và đang
thực sự trở thành công cụ rất hiệu quả trong việc đo tốc độ ăn mòn đều (Eden
và các cộng sự 1986; Searson và Dawson 1988) [48], nhất là xác định dạng ăn
mòn trong lĩnh vực nghiên cứu ăn mòn cục bộ (Hladky và Dawson 1981) khi
phân tích tần số [49]. Hơn thế nữa, các ứng dụng khác của EN được thảo luận
trong các nghiên cứu của Mansfeld và cộng sự (1994) [50] và Gusmano
(1997) [51].
Sự khác nhau giữa nhiễu điện hóa với nhiễu tự nhiên và ngẫu nhiên:
Nhiễu điện hóa dựa trên thực tế là ăn mòn điện hóa liên quan đến phản ứng
oxi hóa khử kèm theo đó là một dòng điện hóa và thường có một hàm lượng
phổ rộng. Nhiễu tự nhiên và ngẫu nhiên nói chung, là năng lượng ngoại lai từ
các nguồn tự nhiên hay do con người tạo ra, gây trở ngại cho việc thu các tín
hiệu mong muốn và thường có hàm lượng phổ tương đối hẹp [52]. Bản chất
của nhiễu điện hóa được xác định bởi các nguồn nhiễu. Xác định hoặc không
xác định là hai dạng của tất cả các quá trình vật lý. Quá trình xác định có thể
là không ngẫu nhiên, có thể có chu kỳ hoặc không (tức thời) và có thể được
mô tả bằng các hàm số khác nhau theo thời gian. Theo Macdonald [53], quá
trình bắt đầu thụ động và / hoặc bắt đầu rỗ tạo ra nhiễu là ví dụ của một quá
trình xác định. Tuy nhiên, nhiễu nhiệt mà kết quả từ dao động điện tử được
- 14 -
phân loại là không xác định.
1.2.2.2. Các nguồn nhiễu
Cơ sở lý thuyết của EN dựa trên một phân tích lý thuyết của nhiễu kết
hợp với một xung ngắn chuyển điện tích. Các nguồn nhiễu chính nhận được
trong lĩnh vực điện hóa và ăn mòn có thể cho là toàn bộ hiện tượng ngẫu
nhiên. Chúng bao gồm một phần là các dòng cảm ứng, các quá trình hấp phụ -
giải hấp phụ, mức độ bao phủ bề mặt, và phần lớn là nguyên nhân ăn mòn cục
bộ, sự khởi đầu quá trình hình thành lỗ và các kết quả cơ học ảnh hưởng từ
quá trình nứt gãy và xói mòn. Mặc dù phổ nhiễu thu được tương tự như
trong nghiên cứu các lĩnh vực khoa học khác như hóa sinh, điện tử… điều này
có nghĩa là các quá trình không nhất thiết có liên quan nhưng các nguyên tắc
cơ bản để giải thích dữ liệu có thể áp dụng cho toàn bộ các lĩnh vực trên. Mặc
dù vậy, dữ liệu đưa vào xử lý thông tin sẽ khác nhau [54]. Trên cơ sở nhiễu
được coi là những biến động dòng hoặc điện áp, có thể liệt kê ra một loạt các
nguồn nhiễu. Có những nguồn nhiễu mà chúng là bản chất vốn có của vật liệu
và từ đó gây ra một nhiễu được biết đến ở bất kỳ linh kiện hoặc một giao diện
trong điều kiện hoạt động cố định. Một số nguồn nhiễu cơ bản là:
Nhiễu nhiệt:
Độ lớn của cường độ nhiễu trong các hệ điện hóa thông thường chịu
ảnh hưởng nhiệt độ (nhiễu nhiệt, nhiễu Johnson hay nhiễu Nyquist); là kết
quả của sự chuyển động ngẫu nhiên của các điện tử và các phần tử mang điện
tích trong trạng thái cân bằng nhiệt bao quanh chúng. Sự dao động này xuất
hiện tại nhiệt độ trên mức không tuyệt đối và công thức mô tả được Nyquist
đưa ra [55]: Trong đó nhiễu thế và năng lượng có quan hệ là ;
điện trở ngắn mạch tiêu hao một năng lượng nhiễu ; mối
- 15 -
quan hệ nhiễu dòng và năng lượng là do đó công suất nhiễu của
một điện trở tại nhiệt độ phòng
[56]. Mật độ phổ công suất gần như là hằng số trong toàn bộ phổ tần số.
Nhiễu nhiệt độ được gọi là nhiễu trắng, năng lượng nhiễu cân xứng trực tiếp
với tần số đo. Các thiết bị đo điện hóa bị ảnh hưởng bởi nhiễu Johnson phải
giảm đến mức tối thiểu. Thông thường ảnh hưởng nhiệt độ của thiết bị đo
được kiểm soát và loại trừ.
Nhiễu bắn:
Các nhiễu bắn của mạch điện tử trong thiết bị đo thông thường do quá
trình chuyển điện tử và tổ hợp đặc trưng các mức thấp của dòng trong thiết bị
điện tử. Một nhiễu bắn dòng được tạo ra khi các electron đi qua rào cản thế
một cách độc lập và ngẫu nhiên [57]. Nhất là trong quá trình mạ điện, những
thay đổi bất thường này lớn hơn rất nhiều so với nhiễu nhiệt, nhưng nhiễu bắn
của hệ điện tử thông thường không được mong muốn này tương tự một dạng
nguồn nhiễu điện hóa trong ăn mòn [58]. Nhiễu bắn có thể sử dụng trong
nghiên cứu điện hóa ăn mòn để phân tích cụm điện tích mà sinh ra lỗ có trạng
thái giả bền và phân tích ở thời điểm tức thời áp dụng ở tần số thấp. Nhiễu
bắn liên quan chặt chẽ đến các hiện tượng nhiễu nhiệt và được coi là “nhiễu
trắng”, có nghĩa là mật độ công suất (dòng/ thế nhiễu) không thay đổi theo tần
suất đo đếm. ; trong đó e - điện tích; I - mật độ dòng; B – độ
rộng dải tần đo [56].
Các nghiên cứu ban đầu về các hệ nhiễu điện hóa được các nhà nghiên
cứu mô tả bằng cơ sở toán học dựa theo phương pháp Langevin cho quá trình
tổng quát về nhiễu bắn của quá trình cảm ứng điện từ [59]. Các kết quả trên
cung cấp phương pháp luận cho một xử lý tổng thể các nghiên cứu phản ứng
điện hóa về dòng cảm ứng, dòng thông thường cho phổ công suất, chuyển
- 16 -
điện tích và các động học hóa học nhưng không liên quan đến ăn mòn.
Nhiễu nhấp nháy:
Loại nhiễu này xảy ra ở hầu hết các thiết bị điện tử ở tần số thấp (6 10-5 Hz). Nhiễu nhấp nháy là một loại nhiễu có phổ điện tử là một hàm của tần
số nghịch đảo: [52, 56].
Từ năm 1967 – 1972, Hooge và các cộng sự đã nghiên cứu tỉ mỉ nhiễu
trong kim loại và bán dẫn. Các kết quả đã cho thấy rằng nhiễu nhấp nháy là
hằng số với một phân bố Gaussian [60]. Các nghiên cứu trên đối với hệ dung
dịch nước và phân tích phổ và chỉ ra rằng nhiễu dẫn đến những
thay đổi bất thường trong sự linh động của điện tích tự do không thay đổi
trong số lượng chuyển thực tế. Cách tiếp cận này không có tác động đến
nghiên cứu ăn mòn.
Có các nghiên cứu sớm làm nổi bật hai mặt hạn chế trong việc sử dụng
EN để nghiên cứu hệ oxi hóa khử: một là tín hiệu nhiễu có mối liên hệ nhỏ;
hai là tín hiệu nhiễu như các điểm ngoại lai do đó không có đặc trưng trung
bình để so sánh các phép đo nhiễu cho các phương pháp xác định cho các hệ
này [59]. Điều quan trọng của các phép đo nhiễu là ứng dụng trong nghiên
cứu thụ động và phá vỡ thụ động. T. Okada và các nhà nghiên cứu khác đã
nghiên cứu vấn đề trên từ những năm 1970 – 1990 [61]. Hầu hết các phương
trình toán học được phát triển theo hướng xác suất trên nền vật lý thống kê đã
sử dụng cho các nghiên cứu kết tủa và ăn mòn điện hóa. Dòng chuyển qua là
quá trình điểm hay một sự cấu tạo hạt nhân có thể hình thành và cung cấp một
mật độ phổ công suất (PSD) để xác định các sự kiện có tính chu kỳ. Đặc trưng
nhất cho mô hình ăn mòn bằng xử lý Poisson có thể cho thấy tồn tại sự liên
quan của vùng tần số thấp đến quá trình vật lý và hóa học: trong đó phổ PSD
đại diện quá trình xuất hiện hoặc kết thúc một cách đột ngột, trong khi
- 17 -
đó phổ PSD chỉ quá trình xuất hiện hoặc kết thúc một cách từ từ.
Hình dạng phổ ở thời gian ngắn biểu hiện tín hiệu quan trọng trong việc
xác định các dạng đường phổ [35]. Trong trường hợp đo đồng thời cả dòng và
thế tại thế ăn mòn, thời gian ngắn của dòng tăng chậm và giảm nhanh chóng
hay ngược lại có biểu hiện trên phổ rất khác nhau. Thời gian ngắn với dòng
tăng nhanh và giảm chậm hoặc nguồn nhiễu tĩnh có thể là kết quả phổ nhiễu
trắng [62-63]. Như vậy, trong tình huống ăn mòn tự do có thể chuyển dòng
nhiễu qua tổng trở mặt phân cách điện cực mà kết quả là thế nhiễu. Do đó có
thể xuất hiện một tín hiệu dòng nhiễu trắng cho mật độ phổ công suất thế
nhiễu của (hoặc trong đường biên độ ) trong khi một nguồn dòng
nhiễu làm tăng đường mật độ phổ công suất thế nhiễu của (giá trị
tương ứng cho độ dốc trong đường biên độ). Mặc dù loại nhiễu này
được quan sát trong nhiều hệ thống, nguồn gốc của nó chưa rõ ràng so với
nhiễu nhiệt hoặc bắn để phân loại với nhiễu điện hóa trong nghiên cứu ăn
mòn kim loại. Người ta cho rằng đó là do các tạp chất trong các kênh dẫn điện
của thiết bị đo EN và giới hạn nhạy của chính thiết bị. Đối với các loại tín
hiệu này, việc trôi tín hiệu là một hạn chế lớn.
Nguồn nhiễu trong các hệ ăn mòn:
Nguồn nhiễu trong hệ điện hóa ăn mòn khá đa dạng có thể được quy
cho các sự kiện vĩ mô ngẫu nhiên và đã được thống kê bao gồm [64-65]:
i) Ăn mòn đều (ăn mòn thông thường) - Mặc dù quá trình ăn mòn đều được
coi là một quá trình đồng nhất, nó vẫn biểu hiện một số biến động ngẫu nhiên
nhỏ của thế và dòng (hình 1-2). Trong ăn mòn đều các quy trình phổ biến nhất
tạo ra nhiễu là kim loại tan và có kèm theo bọt khí thoát ra. Theo Dawson [66]
- hình 1-2, Legat và Dolecek [67], sự gia tăng chậm của điện áp là do sự hình
thành và phát triển của bọt khí hyđrô, trong khi bước nhảy dốc là do tách bọt
- 18 -
khí gây biến động dòng và thế. Các nghiên cứu của Legat [67-68] cho thấy
rằng biên độ của thế ở thời gian ngắn là do quá trình ăn mòn, trong khi dòng ở
thời gian ngắn chịu ảnh hưởng của diện tích bề mặt điện cực.
Hình 1-2. Nhiễu thế cho các điều kiện ăn mòn đều của thép cacbon thấp trong
dung dịch natri clorua.
Trong một vài trường hợp, nhiễu vẫn xuất hiện ngẫu nhiên cả tác động
cơ học. Trong các hệ khác, chủ yếu ta quan tâm đến các quá trình ở trạng thái
tĩnh, khi đó quá trình chuyển điện tích và phân tán trạng thái rắn vẫn có thể
xuất hiện. Trong toàn bộ các trường hợp, dữ liệu nhiễu từ các nghiên cứu ăn
mòn chỉ có khả năng xác định các quá trình tĩnh. Dữ liệu sau đó phải được
hiểu theo cách cung cấp các thông tin ăn mòn hoặc dưới các điều kiện chuẩn
trong các giới hạn của các mô hình và nguyên lý ăn mòn.
ii) Ăn mòn mỏi nứt gãy - Sự lây lan của các vết nứt ăn mòn ứng suất
có thể do một quá trình liên tục hoặc không liên tục. Quá trình liên tục tạo ra
tạm thời các dòng tương tự như trạng thái khe lỗ giả bền và một cách tiếp cận
tương tự được áp dụng để phân tích.
Leban (1998) đã đo EN trong quá trình ăn mòn nứt ứng suất thép
- 19 -
cacbon thấp dung dịch NaCl trung tính được minh họa trong hình 1-3 [69].
Nó được giả định rằng khởi đầu của vết nứt là nguyên nhân của sự bùng nổ
của điện thế và giảm nhanh chóng dòng xảy ra ở khu vực I. Sự phát triển và
tách thoát bọt khí hyđrô; thay đổi điện trở dung dịch và khuếch tán vào vi khe
nứt lan truyền và sự phóng điện của kim loại mới lộ ra tại khe nứt lan truyền.
Hình 1-3. Nhiễu thế - dòng ăn mòn của thép cacbon thấp trong NaCl.
iii) Ăn mòn lỗ (sự khởi phát rỗ, lỗ chưa ổn định và lỗ phát triển bền): Nhiễu
gắn liền với quá trình ăn mòn lỗ lớn hơn rất nhiều so với quá trình ăn mòn
đồng đều. Mầm lỗ giả bền và lây lan thường là kết quả từ quá trình bắt đầu rỗ.
Theo Cottis [70], ở thời gian ngắn của quá trình anốt tạo ra lỗ chưa ổn định
tương đối ngắn, trái lại với thời gian ngắn của catốt trên các điện cực làm
việc. Ở thời gian ngắn catốt, ban đầu sản phẩm hình thành do việc phóng điện
lớp kép và sau đó nạp lại bởi quá trình catốt bình thường, dẫn đến thế và dòng
- 20 -
ở thời gian ngắn thể hiện như trong hình 1-4.
Hình 1-4. Mối liên hệ dòng và thế ở thời gian ngắn với lỗ chưa ổn định.
Dòng ở thời gian ngắn là kết quả từ sự tạo mầm, phát triển và biến mất
của hố giả bền kéo dài một vài giây. Trạng thái giả bền lỗ trên bề mặt của hợp
kim thép cacbon và nhôm bao gồm thế tăng nhanh, dòng chậm hơn, nhưng
với thép không gỉ gia tăng thế là chậm và dòng tăng nhanh chóng. Hình 1-5
minh họa một số thời gian ngắn có thể tiếp tục làm gia tăng lỗ giả bền hoặc
bền [64].
- 21 -
Hình 1-5. Lỗ giả bền và lỗ bền.
iv) Ăn mòn khe - Dawson và các cộng sự [71] cho rằng khởi đầu ăn mòn khe
là do sự cố của màng. Từ điều tra của ông về nhiễu điện thế cho thép cacbon;
Dawson [64] nhận thấy dao động thường xuyên gây ra bởi sự ăn mòn các khe.
Những quãng thời gian ngắn có nhiều khả năng do sự hình thành và hòa tan
các màng không ổn định.
Hình 1-6. Nhiễu thế và dòng khi ăn mòn khe bắt đầu ổn định.
Hầu hết các nghiên cứu đã công bố cho rằng các tấn công khe xảy ra
như các sự kiện riêng rẽ và biên độ tạm thời có thể khoảng 100 mV. Cottis
[70] và Al-Ansari [72] cho rằng có các đặc trưng để phân biệt ăn mòn các khe
là rõ ràng. Đó là mối liên hệ giả bền của thế dẫn đến việc chuyển tiếp trạng
thái bền của ăn mòn khe (hình 1-6 [72]).
v) Các hệ thụ động: Đặc trưng của tín hiệu nhiễu ở các hệ này là biên độ
thấp và tần số cao; không có tín hiệu nhiễu rõ ràng ở thời gian ngắn mô tả sự
biến động của màng thụ động. Người ta cho rằng nhiễu dòng và thế được gây
ra bởi sự cố của màng thụ động. Simoes và Ferreria [73] cho rằng có bước
- 22 -
nhảy đột ngột, sau đó phục hồi dần dần theo cấp số nhân của dòng ở thời gian
ngắn là do sự cố và sửa chữa của màng thụ động hay quá trình hình thành và
ổn định màng thụ động.
vi) Tác động cơ học và sự mài mòn: Một số biến động xuất hiện trong khi
có dòng chảy thành lớp do tỷ lệ với khối lượng tổn hao. Các biến động tạo ra
bởi dòng chảy thành lớp dẫn để xử lý nhiễu bùng phát [65].
Hình 1-7. Nhiễu thế điện hóa của thép không gỉ 304L trong 3,5% NaCl.
Hình 1-7 (với tốc độ dòng khác nhau [74]) đại diện cho nhiễu điện thế
của thép không gỉ trong điều kiện dòng chảy thành lớp. Nó không thể hiện rõ
ràng rằng nguồn gốc của nhiễu có thể được phân tích như là một quá trình
phân bố xác suất rời rạc, và công việc tiếp theo là cần thiết để hiểu các mối
quan hệ giữa đo nhiễu và các quá trình cơ bản dự kiến. Mặt khác, một số biến
động trong độ dày lớp ranh giới cho một quá trình vận chuyển khối lượng sẽ
tạo ra biến động lớn hơn của dòng, những biến động này dự kiến sẽ được
quan sát thấy trong điều kiện hỗn loạn [70]. Biến động của nhiễu điện thế
trong điều kiện dòng chảy hỗn loạn được thể hiện trong hình 1-7 (b).
vii) Các dạng ăn mòn khác: Ăn mòn dưới lớp màng; ăn mòn trong các quá
trình nhiệt độ cao; ăn mòn vi sinh… cũng đã được các nhà khoa học nêu ra và
- 23 -
đang được quan tâm nghiên cứu.
1.2.2.3. Các cấu hình đo nhiễu điện hóa
Thông thường sử dụng ba loại cấu hình đo nhiễu điện hóa sau: hệ 3
điện cực; hệ 2 điện cực và hệ ZRA (hình 1-8) ba điện cực.
Hình 1-8. Sơ đồ thiết lập đo nhiễu điện hóa dòng và thế đơn giản.
Kĩ thuật điện hóa đã trở nên rất quan trọng để theo dõi các quá trình ăn
mòn trong ngành công nghiệp; chúng không chỉ là các ứng dụng trong các
nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Iverson (1968) là người đầu tiên đã
chứng minh đo EN [47] theo thời gian khác nhau. Những phép đo như vậy
mang lại hiệu quả trong các nghiên cứu sau này. Một cách khác là ghi lại
những biến động thế tự nhiên của quá trình ăn mòn bằng cách sử dụng một
vôn kế có độ nhạy cao [48, 75]. Hay cách tiếp cận khác là khi đo điện thế ăn
mòn kết hợp với một phép đo dòng bằng cách nối hai điện cực giống hệt nhau
thông qua một ampe kế có điện trở bằng không (ZRA - hình 1-8) [48, 76]. Hệ
ZRA (trong đó kết hợp bù điện áp thấp) phải có khả năng duy trì một sự khác
biệt điện thế giữa hai mẫu trong cặp điện cực làm việc là 1 mV, và trong dải tần số 10-4 đến 10 Hz có nhiễu rất thấp.
Đo EN có thể được thực hiện mà không áp bất kỳ sự thay đổi đáng kể
- 24 -
nào bên ngoài đến hệ ăn mòn (hoặc nếu có thì không đáng kể), do đó nó có
thể áp dụng được cho các cấu trúc thực tế. Kĩ thuật EN đã và đang chứng tỏ là
một công cụ rất hữu ích và mạnh mẽ để giám sát quá trình ăn mòn và ức chế
ăn mòn theo các điều kiện khác nhau [77-78]. EN cũng đã được sử dụng để
nghiên cứu các quá trình ăn mòn trong các hệ ăn mòn khác nhau [79] như: ăn
mòn đều; ăn mòn lỗ; ăn mòn khe; ăn mòn ứng suất.
Như vậy, có hai cách tiếp cận liên quan đến đo lường của EN được đại
diện bởi nhiễu điện thế và nhiễu dòng. Ngoài các loại ăn mòn đề cập ở trên,
đo và phân tích EN đã được sử dụng trong việc đánh giá các chất ức chế ăn
mòn và lớp phủ hữu cơ [80-81].
1.2.2.4. Các giới hạn của kĩ thuật đo nhiễu điện hóa
Mặc dù kĩ thuật ENM có những ưu điểm trên khi so sánh với kĩ thuật
điện hóa khác nhưng nó vẫn có một số hạn chế sau:
ENM không làm việc được với các điện cực có độ dẫn điện rất thấp,
trừ khi diện tích điện cực được ngăn cách và tối ưu hóa.
ENM có thể phức tạp khi nhiều phản ứng oxi hóa khử tham gia,
chẳng hạn như thép không gỉ trong dung dịch permanganat kiềm.
ENM đánh giá tỷ lệ ăn mòn thường thấp hơn tốc độ ăn mòn thực tế.
Nhiễu ngoại lai sẽ được tạo ra bởi các điện cực đối khi sử dụng một
điện cực làm việc lớn (WE) và điện cực đối nhỏ (CE).
Nguyên nhân:
Tốc độ ghi tín hiệu khác nhau sẽ cho những kết quả khác nhau và rõ
ràng là tốc độ ghi tín hiệu càng cao tỷ lệ lấy mẫu dạng sóng càng chính xác
hơn. Một đại diện về các tín hiệu ban đầu tốt hơn khi đạt được một tỷ lệ ghi
- 25 -
tín hiệu nhanh hơn (các điểm dữ liệu có được trong một thời gian nhất định).
Bản chất của tín hiệu nhiễu sẽ bị mất khi tần số ghi tín hiệu là 0,5 Hz,
nhưng tần số ghi tín hiệu 20 Hz của dòng chuyển qua ở thời gian ngắn mô tả
đặc trưng quá trình rỗ giả bền của thép cacbon có thể phát hiện được [82].
Tần số tối đa có thể được ghi chính xác là tần số Nyquist (ƒN) là khoảng một
nửa tỷ lệ lấy mẫu (fN = f/2, mặc dù, trên thực tế, nhiều hệ thống thông qua
một tiêu chuẩn fN = f/2,5) và tần số thấp nhất quan tâm (f0) được đại diện bởi
nghịch đảo của tổng thời gian ghi (băng thông).
1.2.2.5. Một số ứng dụng của phương pháp EN trong nghiên cứu ăn mòn
Đánh giá tốc độ ăn mòn:
Ban đầu, giá trị của EPN được đưa ra như một yếu tố chỉ tốc độ ăn
mòn. Hardol và cộng sự đã đưa ra dữ liệu thực nghiệm để giải thích mối liên
hệ giữa giá trị EPN và dòng ăn mòn. Nhưng dữ liệu dùng để giải thích phân
tán. Theo đó phương pháp này không thực sự đặc trưng.
Legat và Zevnik có giải thích mối liên hệ chặt chẽ giữa nhiễu dòng
nguồn và nhiễu dòng ăn mòn hệ thép cacbon thấp và thép không gỉ trong các
dung dịch nước khác nhau [68].
Gabrielli và cộng sự giải thích khi đo tổng trở sử dụng EPN và ECN
dưới các điều kiện dòng tĩnh và thế tĩnh lần lượt (tách biệt), sau đó dùng
thông tin tốc độ đối chiếu và suy luận với phương pháp EIS.
Ngay cả kĩ thuật nhiễu điện trở cũng được Edel và cộng sự công bố có
nhiều hấp dẫn đáng chú ý nhất [48]. Nhiễu điện trở thu được từ một phép đo
đồng thời EPN/ECN sử dụng một hệ đo với hai điện cực làm việc kết hợp. Nó
được định nghĩa là độ lệch chuẩn EPN và ECN.
Phân loại và xác định ăn mòn cục bộ:
Phân tích tín hiệu nhiễu điện hóa để phân loại các kiểu ăn mòn đã thu
- 26 -
hút một lượng quan tâm đáng kể trong gần bốn mươi năm qua. Khái niệm và
các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng EN là “chìa khoá” có một không hai, là
một phương pháp đặc trưng nghiên cứu ăn mòn, nhất là để phân biệt giữa ăn
mòn đồng đều, ăn mòn lỗ và ăn mòn khe (các dạng ăn mòn cục bộ).
Nghiên cứu ăn mòn cục bộ:
EN đã được sử dụng và đang hoàn thiện để nghiên cứu và xác định các
biểu hiện đặc trưng của ăn mòn cục bộ với đóng góp phân loại ăn mòn. Cơ sở
chính của phương pháp được sử dụng trong phân tích các đột biến của phổ dữ
liệu EN trong thời gian ngắn có thể nhận được khi màng thụ động bị phá vỡ.
Các thông số như hình dạng, giá trị đột biến, số lượng điện tích chuyển qua,
tốc độ các tín hiệu, và toàn bộ các đặc trưng vùng tần số khác nhau của thời
gian ngắn đều được sử dụng để suy luận cho các mô hình khác nhau để mô tả
quá trình điện hóa.
1.3. Các phương pháp phân tích dữ liệu nhiễu điện hóa
EN là kĩ thuật mới và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Kĩ thuật này
ghi kiểm tra định lượng các thay đổi bất thường xuất hiện trong điện thế và
dòng ăn mòn. Giống như EIS, cơ sở phương pháp vẫn đang được phát triển.
Về định tính, dữ liệu EN đã được sử dụng để xác định ăn mòn cục bộ và các
điều kiện khác có thể xuất hiện ở ăn mòn đồng đều và ăn mòn cục bộ. Về định
lượng, dữ liệu EN đã được sử dụng để đánh giá tốc độ ăn mòn bằng cách sử
dụng các thông số như điện trở nhiễu (Rn) và phổ tổng trở nhiễu điện hóa (Zn).
EN có thể xác định được các tín hiệu thay đổi bất thường rất nhỏ mà chúng có
thể xảy ra từ tín hiệu nhiễu có nguồn gốc không liên quan.
Phân tích nhiễu điện hóa (ENA) có nhiều lợi thế hơn kĩ thuật phân cực
tuyến tính và kĩ thuật EIS. Đo nhiễu điện hóa không áp nguồn nhiễu từ phân
cực bên ngoài vào hệ kiểm tra, nó có thể kiểm soát những thay đổi thường
thấy với các tính chất đặc trưng của hệ như cấu trúc bề mặt và độ nhám, các
- 27 -
quá trình hấp phụ và ức chế… Do vậy ENA có thể áp dụng để nghiên cứu các
quá trình ăn mòn khác nhau. Hơn thế nữa, ghi nhiễu điện hóa không cần các
thiết bị phức tạp với các yêu cầu cao trên đối tượng áp dụng (Rothwel và
Eden 1992; Tan và các cộng sự 1996 b,c) [58, 83]. Từ khi Iverson (1968) [47]
lần đầu tiên chú ý đến nhiễu thế điện hóa ngẫu nhiên, các ứng dụng của ENA
trong nghiên cứu ăn mòn đã thu hút được quan tâm mạnh mẽ trên khắp thế
giới. ENA được đánh giá là hiệu quả hơn hẳn các kĩ thuật điện hóa khác vì:
Thứ nhất là đo nhiễu điện hóa được đề nghị thực hiện đo ăn mòn trong
điều kiện tự do không cần áp một thay đổi nào lên hệ kiểm tra bằng một
nguồn áp phân cực từ bên ngoài. Nó vẫn có thể kiểm soát những thay đổi
thường thấy với các tính chất đặc trưng của hệ như cấu trúc bề mặt và độ
nhám, các quá trình hấp phụ và ức chế…. Như vậy ENA có thể áp dụng để
nghiên cứu các quá trình ăn mòn khác nhau mà không cần nghiên cứu quá tỉ
mỉ như các kĩ thuật khác.
Thứ hai là ghi nhiễu điện hóa không cần các thiết bị phức tạp, nó như
một thực nghiệm đơn giản, do vậy rất thuận tiện trên đối tượng áp dụng. Hơn
thế nữa, ENA có thể sử dụng để theo dõi liên tục cho không chỉ ăn mòn thông
thường mà còn cả ăn mòn cục bộ. Như vậy, điện thế thu được từ các vấn đề
trên trong quá trình theo dõi liên tục tốc độ ăn mòn đồng đều và cục bộ được
kiểm soát.
ENA là một kĩ thuật đang được tiếp tục phát triển và hoàn thiện. Hầu
hết các ứng dụng vẫn đang được thảo luận và cơ sở chủ yếu dựa trên các kinh
nghiệm và thực nghiệm đúng đắn. Yong Jun Tan (1996) cố gắng phát triển
hơn kĩ thuật này để sử dụng nó như một công cụ mới trong nghiên cứu và
theo dõi sự tồn tại màng ức chế trong môi trường ăn mòn CO2 [84].
Trong phần này sẽ giới thiệu ngắn gọn cơ sở tổng quát ENA và các ứng
dụng của nó trong nghiên cứu ăn mòn; thảo luận các vấn đề và các ứng dụng
- 28 -
của chúng.
1.3.1. Các tìm kiếm cơ bản trên tín hiệu nhiễu điện hóa
Hầu hết các thay đổi bất thường ngẫu nhiên của điện thế được nhiều
người biết đến là một hiện tượng mà tín hiệu dễ dàng thu được, vài khả năng
liên hệ tới quá trình ăn mòn đã được công bố trong những năm 60 của thế kỉ
20. Trong một loạt các thực nghiệm của Iverson (1968) [47] đo sự thay đổi
bất thường của điện thế giữa điện cực platin và một điện cực làm việc khác
như nhôm, magiê, sắt, thép cacbon thấp, kẽm. Các thực nghiệm chỉ ra rằng
nhôm, magiê đã có biểu hiện nhanh chóng thay đổi điện thế ở tần số 1- 2 Hz
và biên độ lớn hơn 100 μV. Các điện cực sắt, thép, kẽm biểu hiện một kiểu
thay đổi điện thế khác ở tần số 0,2 - 0,6 Hz (hoặc thấp hơn tùy thuộc điều kiện
môi trường) với biên độ trong khoảng 50 - 60 μV. Ngay cả với hai điện cực là
platin mà được cho là bền ăn mòn cũng nhận được sự thay đổi bất thường của
điện thế. Khi trong dung dịch có mặt ức chế (NaNO2), điện cực thép và nhôm
không còn sự thay đổi bất thường của điện thế. Trên cơ sở các kết quả thực
nghiệm, Iverson thảo luận rằng sự thay đổi bất thường của điện thế có liên hệ
trực tiếp đến các phản ứng ăn mòn và tốc độ ăn mòn. Tác giả còn giả thiết
rằng sự thay đổi bất thường của điện thế có thể liên hệ định lượng với tốc độ
ăn mòn của điện cực. Tác giả gợi ý khả năng nghiên cứu quá trình ăn mòn và
định lượng tốc độ ăn mòn bằng phân tích thay đổi bất thường của điện thế.
Kiểu thay đổi ngẫu nhiên bất thường của điện thế (hoặc dòng) được Barker
(1969) nghiên cứu và đưa ra khái niệm nhiễu điện hóa [59].
Để giải thích bản chất, cơ chế sản phẩm và ý nghĩa của thế và dòng
nhiễu, Iverson (1968) đưa ra khái niệm rằng sự thay đổi bất thường của điện
thế là kết quả của quá trình chuyển điện tích trong thời gian ngắn của quá
trình ăn mòn. Quá trình chuyển điện tích trong thời gian ngắn có thể dẫn đến
một sự khác biệt trong điện tích giữa phản ứng anốt và catốt có mặt tại
- 29 -
khoảng thời gian ngắn hoặc quá trình chuyển điện tích trong vùng anốt và
catốt. Barker (1969) [59] đã thảo luận rằng sản phẩm của nhiễu điện hóa là
chấp nhận được nếu điện tích chuyển qua được xúc tác bởi một thành phần
nhỏ của bề mặt hoặc nếu một hệ điện hóa được biệt lập xa hệ cân bằng của
nó. G Blanc và cộng sự (1978) đã kết nối hệ nhiễu điện hóa của một quá trình
kết tủa điện hóa - hệ mạ điện [85]; Epelboin và cộng sự (1979) [86] đã thảo
luận trong nghiên cứu nhiễu điện hóa liên hệ với thoát khí hyđrô; Bertocci
(1979-1981) [87] đã khảo sát nhiễu điện hóa liên hệ với quá trình ăn mòn cục
bộ; sau đó là Hladky và Dawson (1981-1982) [49, 75] khảo sát sự thay đổi bất
thường của điện thế ăn mòn phản ánh những thay đổi trạng thái cân bằng
động của điện cực ăn mòn thực. Hơn nữa, các giải thích trên mang tính định
tính, chung chung và bằng chứng thực nghiệm cụ thể còn thiếu. Nói chung,
cho đến nay, bản chất, cơ chế, sản phẩm và ý nghĩa của thế và dòng nhiễu vẫn
còn bàn luận nhiều và đang dần thống nhất cho rõ ràng.
Có nhiều khó khăn trong việc giải thích các tín hiệu nhiễu điện hóa,
nhưng đã có nhiều phát hiện quan trọng cho thấy khả năng ứng dụng phương
pháp nhiễu điện hóa trong nghiên cứu ăn mòn. Những phát hiện này đến nay
vẫn còn đang được kiểm tra lại xem thực sự chúng có đại diện hay không.
1.3.2. Phát hiện đáng chú ý về xác định tốc độ ăn mòn bằng ENA
Hladky và Dawson (1982) [75] đã nghiên cứu và giả thiết mối tương
quan định tính giữa tốc độ ăn mòn và độ lệch chuẩn của nhiễu điện thế, mối
quan hệ định tính đầu tiên giữa nhiễu điện hóa và tốc độ ăn mòn đã được xác
định bởi Edel và cộng sự (1986) [48]. Trong nghiên cứu của Edel chỉ ra rằng
, nhiễu điện trở (Rn) có thể tính toán từ số liệu thế và dòng nhiễu:
. Chính mối và được so sánh với điện trở phân cực (Rp) với mối quan hệ
quan hệ này có thể sử dụng để tính toán tốc độ ăn mòn từ các phân tích nhiễu
- 30 -
điện hóa. Hơn nữa, các nghiên cứu của Mansfeld và Xiao (1993) [76] đã xác
nhận rằng có tương đồng giữa điện trở nhiễu và điện trở phân cực mà không
bị ảnh hưởng với tất cả các hệ. Các nghiên cứu lý thuyết dựa trên chính mối
liên hệ kinh nghiệm cho thấy rất cần thiết và quan trọng để tìm hiểu điện thế
đó và các giới hạn của nó.
Trong một bài công bố lý thuyết phân tích trên ý nghĩa vật lý của nhiễu
điện trở, Chen và Bogaerts (1995) [88] đã chỉ ra rằng điện trở nhiễu là tương
đương với điện trở phân cực dưới một số điều kiện nhất định. Tan và cộng sự
(1996) [58] đã nghiên cứu thực nghiệm sự tương đương giữa điện trở nhiễu
với điện trở phân cực và giải thích dưới dạng một “thống kê điện trở phân cực
tuyến tính”.
Các mối quan hệ định tính giữa nhiễu điện hóa và tốc độ ăn mòn đã
được Searson và Dawson (1988) công bố [89]. Trước khi phân tích mối liên
hệ giữa tổn hao trọng lượng với độ lệch chuẩn của điện thế, Searson và
Dawson đã gợi ý một đường kinh nghiệm liên hệ giữa độ lệch chuẩn của điện
(trong đó r là tốc độ ăn mòn – mm/năm).
thế với tốc độ ăn mòn:
Mặc dù tính toán cho tốc độ ăn mòn bằng kinh nghiệm liên hệ không chính
xác nhưng có thể chấp nhận rằng có mối liên hệ đáng tin cậy giữa độ lệch
chuẩn của điện thế nhiễu và ăn mòn xuất hiện. Gusmano và cộng sự đã gợi ý
mối liên hệ logarit giữa Rp và độ lệch chuẩn của điện thế nhiễu. Legat và
Zevnik (1993) [68] không thừa nhận mối liên hệ này và cho rằng mối liên hệ
giữa điện thế nhiễu và tốc độ ăn mòn là rất nghèo thông tin. Tan và công sự
(1996) cũng không thừa nhận mối liên hệ này.
Mối liên hệ thứ ba giữa nhiễu điện hóa và tốc độ ăn mòn được Legat và
Zevnik (1993) nghiên cứu khá kĩ và gợi ý sử dụng mật độ phổ công suất trung
bình. Các tác giả tính toán giá trị mật độ phổ công suất trung bình ( ) cho
dòng nhiễu tại các giá trị tần số giữa hai khoảng (từ 1mHz đến 1Hz) và thấy
- 31 -
rằng tính toán giá trị mật độ phổ công suất dòng nhiễu trong khoảng tần số từ
10 đến 100 mHz có thể đo chính xác tốc độ ăn mòn đều thông thường. Tuy
nhiên, các tác giả cũng đã xác định được giới hạn của phép phân tích này bởi
nó bị giới hạn chính thuật toán FFT do trải dài trên toàn khoảng tần số phân
tích. Ngoài ra, tổng trở nhiễu điện hóa còn bị giới hạn bởi Nyquite.
1.3.3. Phát hiện đáng chú ý về xác định ăn mòn cục bộ bằng ENA
Nhiễu điện hóa đã được chỉ ra rằng có liên hệ với ăn mòn cục bộ.
Bertocci (1980) cùng nhóm nghiên cứu [87] đã nghiên cứu sự phá vỡ màng
thụ động, sự khởi phát lỗ và sự chuyển trạng thái thụ động sử dụng công nghệ
tin học với phổ nhiễu từ sự thay đổi bất thường của dòng dưới điều kiện thế
tĩnh. Kết quả nghiên cứu đã xác định điện thế lỗ, biên độ của phổ nhiễu là
không thể phân biệt được từ nhiễu thiết bị. Thậm chí phổ ghi được gần với thế
lỗ sinh ra các biên độ nhiễu rộng. Khi các điện thế có giá trị hơn điện thế lỗ,
biên độ dòng nhiễu tăng bởi qua hai bậc cường độ. Đã có nhiều nghiên cứu
cho thấy tín hiệu tăng trong vùng tần số thấp của dòng nhiễu được ghi trong
sự gia tăng lan truyền lỗ. Hladky và Dawson (1981) đã nhận thấy những đặc
trưng bất thường của điện thế trên điện cực dưới sự phát triển của ăn mòn khe
hoặc lỗ. Các thực nghiệm trên cho thấy rằng biểu hiện lỗ của nhôm trong
dung dịch NaCl bùng phát nhiễu suốt 10 - 15 phút với biên độ khoảng 0,1mV.
Hladky và Dawson (1982) [75] đã nghiên cứu tỉ mỉ phổ tần số thấp của những
thay đổi bất thường điện thế ăn mòn bằng công cụ phân tích phổ và thấy rằng
có một hằng số biên độ suốt một khoảng tần số thấp (dưới 10 mHz) cùng với
sự giảm biên độ tại tần số cao. Điều đó cho thấy rằng phổ năng lượng nhiễu là
duy nhất cho kiểu ăn mòn. Trên cơ sở phát hiện này, Hladky và Dawson đã
gợi ý rằng dạng phổ công suất nhiễu có thể đưa ra thông tin về ăn mòn thông
thường và ăn mòn cục bộ và phân tích nhiễu điện hóa có thể được sử dụng
- 32 -
như một chất chỉ thị cho nghiên cứu ăn mòn cục bộ. Trong một số các nghiên
cứu khác, các tác giả trên nhận thấy ăn mòn lỗ tấn công ở một phần quay lại -
20dB/ decade và -40 dB/ decade cho kiểu ăn mòn thông thường.
Tuy nhiên, những phát hiện của Hladky và Dawson không hoàn toàn có
liên hệ so với các nhà nghiên cứu ở phòng thí nghiệm khác. Mansfeld và Xiao
[76] thấy rằng phần quay lại -20 dB/ decade trong phổ công suất nhiễu không
nhất thiết đặc trưng cho ăn mòn cục bộ. Legat và Zevnik (1993) đã thảo luận
rằng có sự khác nhau giữa mật độ phổ công suất nhiễu của dòng và thế, trong
nhiều trường hợp không có phần quay lại ở phổ công suất nhiễu vẫn có mối
liên hệ tới kiểu ăn mòn. Vẫn còn nhiều quan điểm không đồng tình hoàn toàn
với những phát hiện của Hladky và Dawson trước đó. Trong điều kiện thường
họ đã không tìm thấy bất kỳ mối tương quan rõ ràng nào giữa các đường dốc
của phổ năng lượng nhiễu, các thông số kiểm tra và biểu hiện ăn mòn.
Mối liên hệ giữa nhiễu điện hóa và ăn mòn cục bộ qua các nghiên cứu
trên cho thấy có thể được giải thích bởi tính ngẫu nhiên đặc trưng của các quá
trình ăn mòn. Tuy nhiên, vẫn cần nhiều nghiên cứu hơn nữa là rất cần thiết
trong lĩnh vực này.
1.3.4. Các bước xử lý tín hiệu nhiễu điện hóa
Thế và dòng nhiễu được tổng quát để giới thiệu lại một quá trình ngẫu
nhiên và được phân loại là không xác định và được mô tả trong giới hạn có
thể (Searson và Dawson 1988) [89]. Ba dạng hàm thống kê chính có thể sử
dụng để mô tả tính chất cơ bản của quá trình ngẫu nhiên tĩnh: Các giá trị bình
phương trung bình, các hàm phân bố mật độ xác suất và các phổ hàm mật độ
(Bendat và Piersol 1986) [90]. Mặc dù phân tích nhiễu có thể sử dụng nhiều
cách khác, thông thường dữ liệu nhiễu điện hóa có thể phân tích bằng hai
phương pháp: (i) Phân tích nhiễu theo thời gian ghi thống kê; (ii) biến đổi dữ
- 33 -
liệu nhiễu - thời gian sang vùng tần số và phân tích các đường phổ mật độ của
nhiễu. Phương pháp (i) dùng để đánh giá tốc độ ăn mòn và sau đó thường sử
dụng để xác định kiểu ăn mòn (cơ sở được trình bày trong phần 1.3.4.2 và
1.3.4.3). Sau toàn bộ các phân tích trên, một bước tiền xử lý đươc áp dụng
cho dữ liệu nhiễu thô. Ở đây bao gồm loại bỏ trôi đường nền từ các giá trị ghi
nhiễu (Uruchrtu và Dawson 1987; Searson và Dawson 1988 [89, 91]).
1.3.4.1. Loại bỏ trôi đường nền từ các giá trị nhiễu của dữ liệu ban đầu
Xu hướng thay đổi điện thế ăn mòn (trôi đường nền tín hiệu), một
thành phần ở tần số rất thấp của dữ liệu nhiễu ghi ban đầu là rất phổ biến
trong các hệ ăn mòn điện hóa. Nếu các xu hướng trôi đường nền ở tần số thấp
không được loại bỏ khỏi dữ liệu, tình trạng không xác định lớn có thể xuất
hiện trong quá trình phân tích nhiễu về sau (Searson và Dawson 1988).
Kĩ thuật chuẩn để loại bỏ trôi trôi đường nền là sử dụng hàm khai triển
bình phương tối thiểu cho các dữ liệu (Uruchrtu và Dawson 1987). Cụ thể là
để các giá trị dữ liệu nguyên bản un khai triển theo bậc tự do K xác định bằng:
; trong đó, n = 1,2,…N.
Tiến hành “bình phương tối thiểu” bằng cách giảm thiểu nhất bình
phương nghịch giữa các giá trị dữ liệu và đa thức là:
Bendat và Piersol đã đưa ra một quá trình tính toán chi tiết cho bước
bình phương tối thiểu. Trong thực tế, quá trình này là tương đương được ứng
dụng một bước cao qua bộ lọc dữ liệu, nó như dạng thành phần tần số không
thể loại bỏ bằng bộ lọc số, Searson và Dawson (1988) đã sử dụng một thuật
toán để hiệu chỉnh.
Phương pháp bình phương tối thiểu là phương pháp truyền thống để
- 34 -
loại bỏ trôi nền từ dòng và thế nhiễu điện hóa và cũng được nhiều nhà nghiên
cứu sử dụng. Tuy nhiên, có một vấn đề nghiêm trọng đối với phương pháp
này. Trôi đường nền tín hiệu có thể theo một vài kiểu và thường không tuyến
tính, trên thực tế cũng không tuyến tính và có thể xử lí bởi một đơn đa thức.
Trong rất nhiều trường hợp thì phương pháp bình phương tối thiểu không
thích hợp và do đó một phương pháp quan trọng khác đã được phát triển.
1.3.4.2. Phân tích thống kê dữ liệu nhiễu
Phân tích thống kê dữ liệu nhiễu điện hóa là nền tảng dựa trên các
nghiên cứu được trình bày trong phần trên. Độ lệch chuẩn của thế hay dòng
nhiễu thường được sử dụng để đánh giá tốc độ ăn mòn từ dữ liệu nhiễu. Một
loạt các thông số thống kê đã được sử dụng để phân tích các dữ liệu ghi theo
thời gian của EN. Những thông số này thu được đơn giản và nhanh chóng,
chúng bao gồm các thao tác được liệt kê dưới đây. Để tránh ảnh hưởng các
đỉnh răng cưa, trên các thông số thống kê sử dụng một bộ lọc chống răng cưa
trước khi lấy mẫu (làm mềm số liệu).
Trung bình: Có nghĩa là mức trung bình của dữ liệu, nó là tổng của dữ
liệu chia cho số lượng các mẫu dữ liệu. Các dữ liệu điện thế trung bình ghi
theo thời gian tính theo công thức:
Trong đó: N - Số lần đo
- Điện thế trung bình
- Điện thế tại lần đo thứ k
Khi đo dòng giữa hai điện cực giống hệt nhau trên danh nghĩa, giá trị
trung bình dự kiến sẽ bằng không [92].
Phương sai: Phương sai là giá trị trung bình của bình phương độ lệch
- 35 -
các tín hiệu dòng hoặc thế (2). Đôi khi nó được gọi là công suất hay năng
lượng nhiễu và có các đơn vị là V2 và A2 [92]. Phương sai của tập mẫu điện
thế (E1,…,EN) được tính bởi:
Trong đó: N - Số mẫu dữ liệu
- Điện thế tại lần đo thứ k
- Điện thế trung bình
Độ lệch chuẩn: Độ lệch chuẩn được xác định là căn bậc hai của phương
sai để đo tính biến động của giá trị mang tính thống kê và từ lâu đã được coi
là tham số được chấp nhận đại diện cho sự thay đổi hoặc khoảng rộng biên độ
của tín hiệu. Đối với nhiễu thế, là một giá trị điện thế thứ k; N là tổng số
các điểm giá trị đã biết;
Trong đó: - Độ lệch chuẩn của thế nhiễu
- Thế trung bình
Tương tự cho dòng nhiễu, với dòng trung bình; và
điện trở nhiễu được xác định: [48].
Hệ số bất đối xứng (độ xiên) – skewness: Bất đối xứng là một tham số
không có thứ nguyên, mô tả mức độ đối xứng của phân phối xác suất của một
biến ngẫu nhiên. Đối với một phân bố liên tục có bất đối xứng Gaussian bằng
0, nhưng với một phân bố bình thường của N mẫu có sai số lệch chuẩn là
[93]. Bởi nhiễu ngẫu nhiên thường giả định là phân bố Gaussian nếu
một phép đo nhiễu điển hình chứa 1024 mẫu, sai số lệch tiêu chuẩn là 0,077 là
tương đối lớn và cần được chú ý thực hiện khi lệch đang được sử dụng trong
- 36 -
phân tích EN. Đối với một mẫu của N giá trị, hệ số bất đối xứng là:
skewness
Trong đó: - Trung bình và trung bình bình phương điện thế ,
N - Số mẫu dữ liệu
- Điện thế thứ k
Chỉ số Kurtosis (độ nhọn): Là thước đo độ nhọn hoặc độ phẳng của
phân bố và được đưa ra bởi phương trình dưới đây.
Chỉ số Kurtosis
Cao hơn giá trị của Kurtosis càng có nhiều khả năng nó là giá trị
phương sai là do giá trị chênh lệch lớn so với trung bình; thấp hơn Kurtosis
nhiều khả năng là do giá trị của phương sai thường xuyên nhỏ hơn so với
trung bình. Một chỉ số Kurtosis tin cậy tương ứng với phân bố nhọn hơn,
trong khi một Kurtosis không tin cậy cho thấy một phân bố bẹt [94]. Để bình
thường hóa các giá trị Kurtosis của phân phối Gaussian có 3 cách trừ tùy ý.
Một Kurtosis cao dự kiến sẽ được một kết quả nhanh của thời gian ngắn và do
đó có thể được sử dụng như là dấu hiệu của ăn mòn cục bộ [95].
Hệ số biến đổi: Là tỉ số của giá trị căn bậc hai của trung bình bình
phương chia cho giá trị trung bình: Hệ số biến đổi
Trong đó: = Trung bình bình phương thế nhiễu
= Thế trung bình
Nó đo độ lệch của một biến từ trung bình của nó và chỉ ra sự thay đổi
- 37 -
tương đối của một phân bố. Một giá trị lớn liên quan với các khoảng thời gian
tồn tại ngắn lớn và do đó cho thấy sự ăn mòn cục bộ. Mặc dù hệ số biến đổi là
một trong các thông số đầu tiên được sử dụng cho việc xác định ăn mòn cục
bộ, nó có giới hạn là một giá trị trung bình lớn có thể hoặc từ một trung bình
rất nhỏ hoặc từ một độ lệch chuẩn rất lớn.
Chỉ số lỗ: Theo Kelly và cộng sự [96] chỉ số lỗ (PI) đôi khi được gọi là
chỉ số cục bộ hoá (LI), được tính từ công thức:
Trong đó: - Độ lệch chuẩn của dòng nhiễu
- Căn bậc hai trung bình bình phương của dòng nhiễu
PI có thể có giá trị giữa 0 và 1 và cho thấy các loại ăn mòn. Trong patent WO
87/07022 của Eden (1987) đề xuất bảng 1-1 minh họa các dạng ăn mòn theo
phạm vi PI. Đối với các giá trị PI gần bằng không, có một ăn mòn đều và giá
trị tương đối lớn của PI tương ứng với các dạng ăn mòn lỗ. Không có đặc thù
nhất quán khi sử dụng PI, bởi vì mặc dù nó được coi là một thay thế cho hệ số
biến đổi, nó bị những hạn chế tương tự.
Bảng 1-1: Phân loại loại ăn mòn tương quan đến chỉ số lỗ PI.
Khoảng chỉ số lỗ Loại ăn mòn
0,001< PI < 0,01 Ăn mòn đều
0,01< PI < 0,1 Ăn mòn hỗn hợp
0,1< PI < 1 Ăn mòn lỗ
Căn bậc hai trung bình bình phương được coi là cách đơn giản nhất để
đo năng lượng trong một tín hiệu và được cho bởi:
- 38 -
và
Trung bình bình phương và bình phương trung bình liên hệ theo công
thức: và
Phân tích thống kê dữ liệu nhiễu điện hóa được sử dụng rộng dãi và có
nhiều lợi thế hơn các kĩ thuật phân tích khác [76].
1.3.4.3. Các đường mật độ phổ công suất nhiễu
Một phương pháp khác trong phân tích nhiễu điện hóa là các đường
mật độ phổ công suất (PSD). Nó có thể được coi là một cách mô tả của dữ
liệu nhiễu trong vùng tần số. Phương pháp này thông thường được sử dụng để
phân biệt ăn mòn thông thường và ăn mòn cục bộ.
Trong xử lý tín hiệu thống kê và vật lý, mật độ phổ công suất (PSD) là
một hàm thực và dương theo biến tần số gắn với các quá trình ngẫu nhiên
dừng, hoặc hàm xác định theo thời gian, có thứ nguyên là công suất trên Hz.
Nó thường được gọi đơn giản là phổ của tín hiệu. Qua trực giác, mật độ phổ
giữ lại phổ tần suất của quá trình ngẫu nhiên và giúp nhận dạng tính tuần
hoàn. Cottis [70] đã chỉ ra đó là cách phổ biến để minh họa cho phổ công suất
bởi biên độ ở trạng thái bình ổn, tần số phần cuộn lại và hai bên dốc của
đường được minh họa trong hình 1-9 dưới đây.
- 39 -
Hình 1-9. Kiểu mật độ phổ công suất thế của EN.
Độ dốc hai bên đường từ các tập hợp dữ liệu nhỏ có thể chỉ ra một đặc
tính nhất định của loại ăn mòn xảy ra, trong khi tập hợp dữ liệu lớn hơn, độ
dốc hai bên đường được coi là không đáng tin cậy cho sự phân loại ăn mòn.
PSD có thể được viết là (V2/Hz) và (A2/Hz) tương ứng cho thế và
dòng nhiễu. Dữ liệu EN trong vùng tần số cho thép cacbon thấp nhúng ngập
trong dung dịch NaCl 0,5M trong 24 giờ [97] cho thế và dòng nhiễu được thể
hiện trong hình 1-10 tương ứng dưới đây.
Hình 1-10. Dữ liệu ENP và ECN trong vùng tần số của thép cacbon ngâm
trong dung dịch NaCl 0,5M trong 24 giờ.
Chuyển đổi sang vùng tần số có thể tính toán nhiễu tổng trở (ψn) bằng
cách chia PDS của thế ( ) cho PSD của dòng ( ):
Nhiễu tổng trở:
Phổ nhiễu có thể được trình bày như là đồ thị PSD hay là biên độ (dB), trong cả hai trường hợp hoặc logarit của PSD (V2/Hz hoặc A2/Hz) hoặc logarit của dB (V/Hz1/2 hoặc A/Hz1/2) theo log (Hz).
PDS đặc trưng cho phân bố công suất tín hiệu trong miền tần số và
- 40 -
được xác định là công suất của tín hiệu tại một tần số đem lại. PSD thể hiện
tần số một tín hiệu nhiễu có mặt và cường độ của nó từ giá trị PSD tại một
phần tần số đặc trưng có tỉ lệ với bình phương biên độ tín hiệu tại tần số đó.
Như vậy PSD thường được sử dụng để đặc trưng cho nguồn gốc tín hiệu
(Harris và Ledwidge 1974) [98]. Một đặc trưng của đường logPSD bao gồm
ba thông số cơ bản: độ dốc của đường tuyến tính vùng tần số cao, đoạn cuộn
lại của tần số, và giới hạn DC tại tần số thấp nhất. Ba thông số đó để phân biệt
ăn mòn thông thường và ăn mòn cục bộ.
Phương pháp biến đổi nhanh Fourier: Biến đổi nhanh Fourier (FFT) là
một kĩ thuật toán học áp dụng rộng rãi trong nhiều ngành kĩ thuật và khoa học
để biến đổi các tín hiệu thời gian vào miền tần số. Nó trực tiếp áp dụng để
cuộn lại hoặc tởi ra tập dữ liệu. FFT có thể được thực hiện để phân tích phổ
của một tín hiệu EN theo thời gian tồn tại ngắn ngẫu nhiên và thích hợp cho
tín hiệu có tính chu kỳ, và các tập dữ liệu với một số lượng hợp lý của các
điểm mẫu. Các phổ dữ liệu nhiễu thế điện hóa được xuất bởi FFT khá phân
tán. Hình 1-11 hiển thị các dữ liệu PN chuyển vào miền tần số theo phương
pháp FFT cho thép cacbon trong dung dịch NaHCO3 0,1M [99].
Hình 1-11. PSDV thép cacbon trong NaHCO3 0,1 M phân tích bằng FFT.
Đối với dữ liệu kĩ thuật số, sử dụng biến đổi Fourier rời rạc (DFT).
- 41 -
Trước khi tính toán nên áp dụng loại trừ xu hướng và cửa sổ ghi thời gian để
tránh gặp thông tin giả mạo hoặc sai vào phổ. Thuật toán Welch [65, 100] là
một phương pháp dựa trên FFT, sử dụng phổ trung bình xuất phát từ các phân
đoạn chồng chéo của thời gian ghi. Khi tính toán, PSD phụ thuộc vào các thủ
tục trung bình, thông tin hữu ích sẽ bị mất trong quá trình chuyển đổi. Để
tránh việc mất dữ liệu hữu ích, dữ liệu nhiễu nên được phân tích đầu tiên là
các dữ liệu theo thời gian sau đó các dữ liệu thời gian thực chuyển đổi thành
các dữ liệu tần số. Nhiều phương pháp khác nhau đã được sử dụng cho các
đánh giá phổ công suất và tần số của tín hiệu, là phương pháp phổ biến áp
dụng phân tích tín hiệu từ các phép đo nhiễu điện hóa.
Biến đổi Fourier tiêu chuẩn chỉ định vị được ở tần số của tín hiệu. Biến
đổi Fourier thời gian ngắn (STFT) tương tự như biến đổi sóng nhỏ (WT),
trong đó nó định vị thời gian và tần số, nhưng có những vấn đề với độ phân
giải chuyển đổi tần số / thời gian và rất tốn bộ nhớ.
Phương pháp entropy cực đại: Phương pháp tối đa dữ liệu ngẫu nhiên
(MEM) lần đầu tiên được công bố là một kĩ thuật do Burg khảo sát và công
bố năm 1967 [101]. MEM là một công cụ toán học để đánh giá các hệ số của
một loạt các bộ lọc được áp dụng cho nhiễu trắng. Phổ xuất ra bởi MEM mịn
màng hơn so với của FFT. Do đó, MEM có thể đối phó với các tín hiệu trôi
mà không yêu cầu cửa sổ chặn hoặc loại bỏ trôi.
Hàm PSD có thể là kết quả của quá trình chuyển dữ liệu ghi dòng và
thế từ vùng thời gian sang vùng tần số bằng phương pháp FFT hoặc phương
pháp MEM. FFT là một trong những công cụ toán học thông thường để phân
tích các tín hiệu. Một tính toán chi tiết của FFT được Bendat và Piersol đưa ra
(1986). MEM có thể được sử dụng để chuyển dữ liệu nhiễu từ vùng thời gian
sang vùng tần số. MEM làm mềm các đường biểu diễn hơn FFT và không tạo
- 42 -
ra bất kỳ một thông tin giả nào ngoài sự biến thiên của mẫu thời gian (Simoes
và Ferreira 1987 [73]; Searson và Dawson 1988), do vậy nó được sử dụng
thường xuyên hơn trong phân tích nhiễu điện hóa.
Trình tự của MEM tương ứng với số lượng các hệ số của bộ lọc và có
tác dụng trên phổ công suất. Khi sử dụng MEM, sử dụng một bậc hợp lý sẽ
ảnh hưởng tốt đến mật độ phổ công suất thu được. Số lượng các hệ số nhỏ
hơn (thứ tự) sẽ được phổ mượt mà [14]. Phương pháp này có nhiều lợi thế
như dễ dàng thực hiện và có thể được áp dụng cho một lớp lớn của các tín
hiệu ngẫu nhiên. MEM đã được Beaunier và các cộng sự sử dụng trong các
khảo sát ăn mòn cục bộ cho thép 304 [11]. Một so sánh phân tích phổ MEM
và FFT được thực hiện. Thứ tự của MEM thấp dẫn đến phổ trơn (tần số có độ
phân giải kém) với một vài đường gợn sóng trong phạm vi tần số cao. Mặt
khác, bậc cao đó dẫn đến một phổ với nhiều dao động giả. Tuy nhiên, FFT và
MEM được cho là khác nhau, nhưng nếu lệnh của MEM được tăng lên và
trung bình hóa được sử dụng để mịn FFT, sau đó phổ đưa ra bởi cả hai
phương pháp được coi là giống nhau [11, 89]. Một so sánh của các PSD được
phân tích bằng FFT và MEM với các bậc khác nhau được minh họa trong
hình 1-12 [14].
Hình 1-12. So sánh sự sai khác phổ PSD của thép 316 SS trong dung dịch
- 43 -
NaCl 0,5M phân tích bằng FFT và MEM.
Nhiều tác giả và nhóm nghiên cứu khác nhau đã thừa nhận và sử dụng đơn vị PSD là V2/Hz cho nhiễu điện thế và A2/Hz cho nhiễu dòng (Bertocci;
Gabrielli; Keddam; Monticelli…). Thậm chí, có nhiều nhóm nghiên cứu
thường sử dụng mật độ phổ công suất, để biểu thị biên độ nhiễu hơn công suất
nhiễu và mật độ phổ này có đơn vị truyền thống là decibel (db). Biên độ nhiễu
là căn bậc hai bình phương của công suất nhiễu do đó db = 20log(tỉ số điện
thế). Một biên độ của 1V mặc định là 0 db, và phổ mật độ có thể được tính
toán bởi db = 20log (giá trị của dòng hoặc thế). Uruchrtu và Dawson (1987)
đã tranh luận rằng rút gọn này được chấp nhận để tạo sự thuận tiện.
1.3.5. Các phát triển mới trong lý thuyết và kĩ thuật ENA
Trong phần giới thiệu trên, ENA vẫn là một kĩ thuật đang được phát
triển và còn có nhiều vấn đề thảo luận cũng như liên quan đến các ứng dụng
của nó. Đã có vài câu hỏi liên quan đến ứng dụng ENA. Các câu hỏi đó có thể
khái quát trình bày kỹ càng hơn dưới đây:
(i) Cơ sở lý thuyết của kĩ thuật phân tích nhiễu điện hóa là gì?. Đó là
một điều thực tế bởi hầu hết các ứng dụng ENA dựa trên cơ sở các mối liên
hệ kinh nghiệm. Nguồn gốc của nhiễu điện hóa do ăn mòn thực sự đã sáng tỏ
chưa.
(ii) Tại sao các dữ liệu ENA đã công bố thường dao động mạnh mẽ?.
Trong thực tế, các công trình nghiên cứu về vấn đề này đã được thực hiện khi
phần ghi nhiễu thô được phân tích trước.
(iii) Đối với phương pháp điện trở nhiễu (Rn), lý thuyết chính của Rn là
gì và các giới hạn của nó là gì?. Mặc dù một lý thuyết phân tích dựa trên ý
nghĩa vật lý của Rn đã được Chen và Bogaerts (1995) nghiên cứu, chính xác
thì ý nghĩa lý thuyết của Rn và các giới hạn của nó vẫn chưa rõ ràng. Mansfeld
- 44 -
và cộng sự (1993) đã cho rằng mối tương quan giữa Rn và Rp không hoàn toàn
đúng cho mọi trường hợp. Dawson và cộng sự (1993) thì cho rằng ENA có
thể sử dụng để xác định tốc độ ăn mòn nhưng chỉ trong những hệ mà có thể
tương quan với LP và EIS, và trong những hệ có độ dẫn thấp. Hơn thế nữa,
chưa có bằng chứng nào được đưa ra để chứng minh các công bố đó. Đó là
vấn đề rất quan trọng để biết trong hệ nào kĩ thuật Rn có thể sử dụng phù hợp.
Phương pháp ENA đã và đang được các nhà khoa học các nước trên thế
giới nghiên cứu phát triển và sử dụng, nhưng cho tới hiện nay chưa có công
trình nào tiến hành đánh giá một cách tổng thể và thống nhất định lượng mức
độ của từng thành phần đóng góp cùng lúc bằng kĩ thuật này được công bố.
Các công trình đã công bố mới nhất [102-108] vẫn đang chủ yếu tập chung
vào xác định một cách thống kê biểu hiện đặc trưng của từng dạng ăn mòn cụ
thể dựa trên biểu hiện nhiễu thế điện hóa của chúng.
Đóng góp vào kĩ thuật ENA, các phương pháp trên được cải tiến, nâng
cấp và phân tích lý thuyết sâu hơn được phát triển và sẽ trình bày trong phần
sau theo các câu hỏi đã trình bày phần trên. Các phương pháp trên sẽ được sử
dụng để kiểm tra các kết quả thực nghiệm trong nghiên cứu này.
Ở Việt Nam hiện còn rất ít (hầu như chưa có) các công trình nghiên cứu
và áp dụng phương pháp này trong các lĩnh vực nghiên cứu điện hóa học nói
chung và lĩnh vực ăn mòn nói riêng. Việc lựa chọn nghiên cứu và hoàn thiện
phương pháp EN và kĩ thuật phân tích dữ liệu EN dựa trên nguyên tắc tương
đối đơn giản và có khả năng ứng dụng thực tế được ở nước ta bởi dựa trên
nền tảng đang được chuẩn hóa về đo và phân tích EN. Ý tưởng của tác giả
luận án là việc áp dụng lý thuyết và kĩ thuật biến đổi sóng nhỏ (Wavelet
Transform - WT) trong dò tìm tần số của tín hiệu nhiễu điện hóa. Dựa trên
nhận xét của tác giả từ các công trình đã công bố về việc có thể sử dụng kết
hợp các đặc trưng của tín hiệu khi biểu diễn trong miền tần số từ đó xác định
- 45 -
thời điểm đột biến của tín hiệu để giải quyết bài toán xác định đặc trưng vùng
tần số, mật độ năng lượng của từng dạng ăn mòn trong dữ liệu nhiễu điện hóa
nhất là các dạng ăn mòn cục bộ.
Mục đích của luận án này không xây dựng thuật toán biến đổi sóng nhỏ
mà chỉ áp dụng chúng trên công cụ sẵn có để phân tích tín hiệu. Tuy nhiên, để
có cái nhìn tổng quát về phép biến đổi sóng nhỏ và các ứng dụng, chúng tôi
trình bày các phần cơ bản của phép biến đổi sóng nhỏ liên tục và phép biến
đổi sóng nhỏ rời rạc. Đặc biệt là kĩ thuật đa phân giải, một kĩ thuật thường
được sử dụng trong việc phân tích tín hiệu để lọc nhiễu, tách trường và xác
định đột biến tín hiệu.
1.4. Phép biến đổi sóng nhỏ (WT)
Năm 1975, Jean Morlet phát triển phương pháp đa phân giải [109];
trong đó, ông sử dụng một xung dao động, được hiểu là một “sóng nhỏ” cho
thay đổi kích thước và so sánh với tín hiệu ở từng đoạn riêng biệt. Kĩ thuật
này bắt đầu với sóng nhỏ chứa các dao động tần số khá thấp, sóng nhỏ này
được so sánh với tín hiệu phân tích để có một bức tranh toàn cục của tín hiệu
ở độ phân giải thô. Sau đó sóng nhỏ được nén lại để nâng cao dần tần số dao
động. Quá trình này gọi là làm thay đổi tỉ lệ phân tích; khi thực hiện tiếp bước
so sánh, tín hiệu sẽ được nghiên cứu chi tiết ở các độ phân giải cao hơn, giúp
phát hiện các thành phần biến thiên nhanh còn ẩn bên trong tín hiệu.
1.4.1. Phép biến đổi sóng nhỏ liên tục (CWT)
1.4.1.1. Phép biến đổi sóng nhỏ thuận
Gọi f(x) là tín hiệu không gian (hoặc thời gian) giống như biểu diễn tín
hiệu trong biến đổi Fourier, phép biến đổi sóng nhỏ liên tục của f(x) sử dụng
hàm sóng nhỏ là hàm mẹ (Daubechies, 1992) [110] được biểu diễn bởi:
- 46 -
với s 0, b R (1.4.1)
trong đó: W(s, b) là hệ số biến đổi sóng nhỏ liên tục của f(x), với 1/s là tỉ lệ
là
tần số, khi thay đổi s ta có được phổ và b là hệ số dịch chuyển đặt trưng vị trí
mô tả sự trượt của qua mọi miền không gian mà tín hiệu f(x) đi qua.
hàm liên hiệp phức của sóng nhỏ, được gọi là hàm sóng nhỏ phân tích.
Phương trình (1.4.1) cho thấy, phép biến đổi sóng nhỏ là một ánh xạ
chuyển từ hàm một biến f(x) thành hàm W(s,b) phụ thuộc hai biến số là biến tỉ
lệ s và biến dịch chuyển b. Hệ số chuẩn hóa trong (1.4.1) đảm bảo cho
sự chuẩn hóa sóng nhỏ với các tỉ lệ phân tích s khác nhau ||ψ0(s, b)|| =||ψ0||.
Trên hình 1-13 giới thiệu ba dạng sóng nhỏ ứng với ba hàm cơ bản.
a - Haar b - Daubechies 5 c - Morlet
Hình 1-13. Ba dạng sóng nhỏ cơ bản.
Phép biến đổi sóng nhỏ trực chuẩn biểu diễn một chuỗi dữ liệu liên tục
(1.4.2)
f(x) dưới dạng một tổ hợp của các thành phần xấp xỉ và chi tiết như sau:
Trong đó, aj,k và dj,k lần lượt biểu diễn cho các hệ số khai triễn sóng nhỏ thành
phần xấp xỉ và thành phần chi tiết, k là số nguyên xác định số hệ số ở mỗi
thành phần, và lần lượt là hàm tỉ lệ và hàm sóng nhỏ phân tích còn j là độ
phân giải thấp nhất trong tổ hợp trên. Các hệ cơ sở sóng nhỏ trực chuẩn được
dùng rộng rãi trong phân tích đa phân giải theo cấu trúc hình tháp, đó là một
- 47 -
giải thuật nổi tiếng có liên quan đến việc sử dụng các bộ lọc thông cao và
thông thấp kết hợp với kĩ thuật lấy mẫu giảm xuống hoặc lấy mẫu tăng lên
dựa theo nguyên lý toán tử tác dụng (Mallat, 1989) [111].
1.4.1.2. Các tính chất của hàm sóng nhỏ
i) Tính chất sóng
Hàm sóng nhỏ phức (tổng quát) ψ0 được định xứ hoàn toàn trong cả hai
miền: miền không gian và miền tỉ lệ (tỉ lệ tần số) và đồng thời phải thỏa mãn
tính chất sóng, nghĩa là dao động với giá trị trung bình của hàm sóng nhỏ
bằng không:
(1.4.3)
Như vậy, hàm sóng nhỏ là dạng sóng nhỏ có không gian tồn tại hữu hạn
và có giá trị trung bình bằng không. Hệ quả từ tính chất sóng của hàm sóng
nhỏ dẫn đến sự độc lập của phép biến đổi sóng nhỏ đối với tất cả các hàm
được phân tích.
Lưu ý rằng khi sử dụng phép biến đổi sóng nhỏ liên tục, phải chuẩn hóa
trong một vùng không gian giới hạn phiên bản của hàm sóng nhỏ là
được qui định bởi kích thước cửa sổ; bên ngoài vùng giới hạn hàm sóng nhỏ
triệt tiêu. Vậy phép biến đổi sóng nhỏ liên tục cung cấp những thông tin về sự
thay đổi cục bộ ở vùng đang khảo sát mà chúng ta không cần quan tâm đến
biến đổi toàn cục của hàm sóng nhỏ.
ii) Đặc trưng về năng lượng
Năng lượng tổng của tín hiệu f(x) được định nghĩa bởi biểu thức sau:
(1.4.4)
Tín hiệu có năng lượng xác định khi biểu thức (1.4.4) nhận giá trị xác
- 48 -
định.
Hàm sóng nhỏ có đặc trưng về năng lượng được chuẩn hóa bằng đơn vị
cho mọi tỉ lệ s. Vậy, tính chất thứ hai của hàm sóng nhỏ là:
(1.4.5)
1.4.1.3. Phép biến đổi sóng nhỏ nghịch
Nếu phép biến đổi sóng nhỏ thuận có dạng (1.4.1) thì phép biến đổi
sóng nhỏ nghịch có dạng:
(1.4.6)
trong đó: - cg là hằng số phụ thuộc vào hàm sóng nhỏ được sử dụng.
Công thức (1.4.6) cho phép khôi phục lại tín hiệu nguyên thủy từ các hệ
số biến đổi sóng nhỏ bằng phép tính tích phân theo toàn bộ các tham số tỉ lệ s
và dịch chuyển b. Trong (1.4.6), hàm sóng nhỏ ψ0 được sử dụng thay cho hàm
liên hiệp phức của nó trong biểu thức (1.4.1).
Ngoài ra còn có các phép biến đổi sóng nhỏ liên tục hai chiều và nhiều
chiều. Phép biến đổi sóng nhỏ n chiều (n > 2) có thể xây dựng đơn giản bằng
cách mở rộng số phần tử trong các véctơ x và b đến n giá trị theo cách biểu
diễn: R(x1, x2, … xn) và B(b1, b2, …bn).
Ưu điểm chính của phép biến đổi sóng nhỏ là phân tích chi tiết từng
vùng không gian rất nhỏ trong vùng biến đổi rộng của tín hiệu khảo sát. Sự
cục bộ hóa trong phân tích giúp phát hiện vị trí đột biến như các điểm đứt
gãy, các điểm gián đoạn với độ dốc lớn nếu hàm sóng nhỏ được chọn đồng
dạng với tín hiệu. Do vậy, tiêu chuẩn chọn hàm sóng nhỏ dựa trên mục đích
và các yêu cầu sau: trực giao hay không trực giao; phức hay thực; độ rộng;
chẵn hay lẻ; các momen triệt tiêu; đẳng hướng hay không đẳng hướng. Ngoài
yếu tố trên, các yếu tố khác cũng giữ vai trò quan trọng, cần được xem xét kỹ
- 49 -
trước khi chọn một hàm sóng nhỏ để phân tích.
Để tính các hệ số của phép biến đổi sóng nhỏ liên tục trên máy tính, hai
tham số tỉ lệ và tịnh tiến không thể nhận các giá trị liên tục mà nó phải là các
giá trị rời rạc. Vì thế, nó được gọi là rời rạc hóa phép biến đổi sóng nhỏ liên
tục.
1.4.2. Phép biến đổi sóng nhỏ rời rạc (DWT) và phân tích đa phân giải
Ý tưởng của phân tích đa phân giải là sử dụng các kĩ thuật lọc số trong
quá trình phân tích. Trong đó, mỗi một tín hiệu được phân tích thành hai
thành phần: thành phần xấp xỉ A ‘tương ứng với thành phần tần số thấp’ và
thành phần chi tiết d ‘tương ứng với thành phần tần số cao’, thông qua hai bộ
lọc thông thấp và thông cao như mô tả trong hình 1-14. Trong đó, bộ lọc
thông cao sử dụng hàm sóng nhỏ ψ(x) và bộ lọc thông thấp sử dụng hàm tỉ lệ
Φ(x). Mối quan hệ giữa hàm tỉ lệ và hàm sóng nhỏ được cho bởi:
(1.4.7)
(1.4.8)
Hình 1-14. Phân tích đa phân giải sử dụng biến đổi sóng nhỏ rời rạc.
Các phép lọc được tiến hành với nhiều tầng khác nhau và để khối lượng
- 50 -
tính toán không tăng, khi qua mỗi bộ lọc, tín hiệu được lấy mẫu giảm hai lần.
Ứng với mỗi tầng, tín hiệu có độ phân giải khác nhau. Do đó, phép biến đổi
sóng nhỏ rời rạc được gọi là phân tích đa phân giải.
Tại mỗi tầng lọc, biểu thức của phép lọc được cho bởi công thức:
(1.4.9)
(1.4.10)
trong đó, S(n) là tín hiệu, h(n) là đáp ứng xung của các bộ lọc thông thấp
tương ứng với hàm tỉ lệ Φ(n) và g(n) là đáp ứng xung của các bộ lọc thông
cao tương ứng với hàm sóng nhỏ ψ(n). Hai bộ lọc này liên hệ nhau theo hệ
thức:
(1.4.11)
trong đó, N là số mẫu trong tín hiệu.
Tín hiệu S(n) có thể được tái tạo theo các bước ngược lại gọi là phép
biến đổi nghịch sóng nhỏ rời rạc (IDWT) như sau:
(1.4.12)
trong đó, Hhigh(k) và Llow(k) lần lượt là tín hiệu đầu ra sau khi đi qua các bộ lọc
thông cao và bộ lọc thông thấp đã đề cập ở trên. Để đảm bảo cho việc phục
hồi tín hiệu được chính xác như ban đầu, khi qua mỗi tầng lọc tái tạo, tín hiệu
được tiến hành lấy mẫu gấp đôi.
Lưu ý là không phải các hàm sóng nhỏ nào cũng tồn tại hàm tỉ lệ tương
ứng xác định từ biểu thức (1.4.7) và (1.4.8); nên khi thực hiện phép biến đổi
sóng nhỏ rời rạc, phải chọn lựa các hàm sóng nhỏ có hàm tỉ lệ tương ứng như
hệ hàm sóng nhỏ Daubechies trực chuẩn – họ hàm này đều có các hàm tỉ lệ
- 51 -
tương ứng [112].
1.4.3. Ứng dụng của phép biến đổi sóng nhỏ trong nghiên cứu đột biến
Điểm khác biệt chính trong phép biến đổi sóng nhỏ là tỉ lệ giữa các số
liệu đo đóng vai trò trọng tâm; phép biến đổi sóng nhỏ phân tích số liệu đo
được ở nhiều tỉ lệ khác nhau, gọi là phép phân tích với nhiều độ phân giải
khác nhau.
Phương trình (1.4.2) được xem là phép phân tách đa phân giải, nó biểu
diễn tín hiệu với các độ phân giải khác nhau. Từ đó, những thông tin về tần số
cao thì liên quan đến những giá trị của tỉ lệ nhỏ trong khi những giá trị j lớn
lại đại diện cho nhóm thông tin tần số thấp. Phép biến đổi sóng nhỏ có đặc
tính xác định sự định vị của tần số tốt hơn nhiều so với phép biến đổi Fourier.
Đặc tính này cho phép ta thiết lập các mô hình có sự phụ thuộc của tính chất
định vị không gian theo tần số.
Ở đây, số liệu tín hiệu bất kỳ có thể được phân tích ở vùng sóng nhỏ
bằng phép biến đổi sóng nhỏ rời rạc theo giải pháp của Press.W (1992) [113]
với hệ cơ sở trực chuẩn sóng nhỏ Daubechies. Các hệ số sóng nhỏ được tách
ra thành các tỉ lệ khác nhau mà ở mỗi tỉ lệ sẽ tương ứng với một giá trị gần
đúng của tín hiệu so với tín hiệu ban đầu. Vậy những tần số thấp sẽ được biểu
diễn bởi rất ít các hệ số khai triển sóng nhỏ và các hệ số đó sẽ định vị chủ yếu
ở các mức khai triển thô (mức cao). Ngược lại, các tần số cao sẽ biểu diễn bởi
nhiều hệ số ở mức khai triển tốt nhất (mức thấp). Vậy chúng ta có thể xác
định vị trí các nguồn đột biến nhỏ (ví dụ đột biến dòng/ thế do ăn mòn cục bộ)
từ nguyên lý chồng chất sóng điện từ bằng cách chọn lựa mức độ phân giải và
các hệ số sóng nhỏ chi tiết thích hợp. Công việc chúng ta là tìm các hệ số
sóng nhỏ chi tiết có biên độ lớn hơn các hệ số khác quanh nó; sự định vị của
các hệ số sóng nhỏ chi tiết cực đại cho ta mối tương quan với sự định vị các
- 52 -
nguồn đột biến thặng dư.
1.4.4. Ứng dụng biến đổi sóng nhỏ trong nghiên cứu ăn mòn
Trong toán học, người ta phân chia dữ liệu các sóng phức tạp thành các
thành phần tần số khác nhau, tách dao động tần số thấp hơn từ những phần
cao hơn như một hàm của thời gian. Bằng kĩ thuật phân tích sóng nhỏ, các dữ
liệu có thể được tách thành các phần khác nhau. Biến đổi sóng nhỏ được phân
loại thành các biến đổi sóng nhỏ rời rạc (DWT) và biến đổi sóng nhỏ liên tục
(CWT). Lưu ý rằng cả hai DWT và CWT là chuyển đổi tương tự thời gian.
Chúng có thể được sử dụng để đại diện cho tín hiệu thời gian liên tục. CWT
hoạt động trên mọi quy mô và có thể biến đổi trong khi DWT sử dụng một tập
hợp cụ thể về tỉ lệ và giá trị biến đổi hoặc lưới đại diện. Lợi ích này đã được
sử dụng để loại bỏ trôi DC hay tách thành các phần dữ liệu cho các bước phân
tích khác. Một dạng tương tự như sóng nhỏ là biến đổi Hilbert [108].
Hình 1-15. Phân tích sóng nhỏ cho tín hiệu trong vùng thời gian.
Trong hình 1-15, Duran [114] chuyển tín hiệu từ miền thời gian vào
miền tần số. Được biết rằng, các tín hiệu quan tâm nhất bao gồm các đặc tính
tạm thời (không ở trạng thái tĩnh) như trôi, các xu hướng, khởi đầu và kết thúc
- 53 -
của sự kiện. Khi các đặc tính tạm thời này được coi là một phần của tín hiệu
và không thể được phát hiện bởi phân tích bằng biến đổi Fourier thì phân tích
sóng nhỏ đã được đề nghị để giải quyết các vấn đề trên.
Kĩ thuật sóng nhỏ đã được Aballe; Smulko và cộng sự [115-116] sử
dụng trong nghiên cứu nhiễu điện hóa phân tích tín hiệu EN để mô tả cường
độ ăn mòn lỗ. Trong hình 1-16, một tập dữ liệu ghi EN đã được phân tích
bằng cách sử dụng cả phương pháp phổ và phổ sóng nhỏ [116]. Có thể thấy từ
các bản ghi thời gian có hai khoảng thời gian tồn tại ngắn (giữa 500 và 600
giây). Tuy nhiên, nó không phải dễ dàng trích xuất bất kỳ thông tin hữu ích từ
các phổ PSD của bộ dữ liệu này. Phổ phân bố năng lượng cho thấy những đặc
điểm rõ ràng của các bộ dữ liệu thời gian, hai đỉnh cực đại tại d1 và S8 (hình
1-16) được cho là hai quá trình với quy mô khác nhau đang diễn ra trong đó
d1 thể hiện quá trình hoạt hóa đều trên bề mặt còn S8 (và d8) thể hiện quá
trình hòa tan cục bộ. Do đó, giá trị cao ở quy mô nhỏ có liên quan đến sự biến
động nhanh chóng trong hồ sơ thời gian, trong khi các giá trị cao ở quy mô
lớn có liên quan đến quá độ. Hơn nữa, các phân tích có thể được tự động hóa
bằng cách sử dụng biến đổi sóng nhỏ và có thể có một tiện ích trực tiếp trong
các ứng dụng giám sát.
Về cơ bản, các phương pháp sóng nhỏ mô phỏng một chuỗi thời gian
phức tạp của “làn sóng các phần dữ liệu”. Các tính chất toán học của phương
pháp này tương tự như lý thuyết Fourier và được dựa trên các hàm trực giao.
Trong công trình nhiên cứu [116] (hình 1-16), hình (B) cho thấy rất khó khăn
khi tách mọi thông tin từ PSD tương ứng với các tín hiệu trong hình (A) từ
trực quan không đưa ra một định lượng về tầm quan trọng tương đối của mỗi tiến trình độc lập, như có thể thu được bằng cách sử dụng Ed từ phương pháp
sóng nhỏ. Phương pháp sóng nhỏ đã được giới thiệu để giải quyết những hạn
chế của phương pháp FFT và MEM cho việc giải thích dữ liệu nhiễu điện hóa.
- 54 -
Ngoài ứng dụng cho phân tích nhiễu điện hóa ăn mòn, biến đổi sóng nhỏ còn
được dùng để phân tích nhiễu điện thế cho sự phát triển bong bóng khí tại bề
mặt giao diện điện cực/dung dịch điện li [117]. Các phân tích nhiễu điện thế
được áp dụng riêng cho điều kiện điện phân bán công nghiệp. Các sự kiện bọt
khí và ảnh hưởng của nó trên hệ thống điện phân được giải quyết từ phổ sóng
nhỏ.
- 55 -
Hình 1-16. (a) Tín hiệu dòng EN của mẫu thép 304 SS sau 10h nhúng ngập trong dung dịch FeCl3 10-3 M, (b) PSD của EN và (c) EDP của EN.
CHƯƠNG 2. ĐIỀU KIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
2.1. Điều kiện thiết lập hệ đo nhiễu dòng và thế điện hóa
Các quá trình oxi hóa khử ban đầu của ăn mòn tương ứng với các quá
trình hòa tan kim loại. Vì vậy một phần cơ sở của nghiên cứu ăn mòn chính là
dòng điện hóa dựa trên phương pháp nghiên cứu các hệ điển hình bao gồm
các vật liệu kim loại nằm trong một môi trường điện li gây ăn mòn. Khi chúng
ta xác định được giá trị điện trở phân cực RP thì có thể xác định tốc độ ăn
mòn. Các phương pháp điện hóa thông thường phân tích đường cong phân
cực ổn định chỉ yêu cầu các thiết bị thông dụng ít tốn kém nhưng tốn thời gian
hơn. Phương pháp thứ hai là phương pháp tổng trở, tốn ít hơn thời gian,
nhưng thiết bị yêu cầu đầy đủ và phức tạp. Mặc dù cả hai phương pháp - đặc
biệt là trong trường hợp tích hợp cả hai mang lại kết quả đáng kể thì một
phương pháp mới là các phép đo nhiễu điện hóa ngày càng được phổ biến
trong những năm gần đây.
Các điều kiện thiết lập hệ đo EN (ASTM G199 09 [16] và ASTM STP
1277 [44]) dựa trên những thay đổi bất thường của dòng hoặc thế nhận được
trong quá trình ăn mòn điện hóa. Chúng đặc trưng ở tần số thấp (10-3 10
Hz) và biên độ nhỏ. Sự khởi nguồn của nhiễu điện hóa là một phần từ các
dạng tự nhiên khác nhau của tốc độ động học điện hóa trong một quá trình ăn
mòn. Nhiễu điện hóa thường liên quan đến cặp ngẫu nhiên thông thường có
tính quyết định động học của phản ứng điện hóa.
Phương pháp A: Đo nhiễu dòng điện hóa trên hệ tại thế mạch hở.
Phương pháp B: Đo nhiễu thế điện hóa trên hệ tại thế mạch hở.
Phương pháp C: Đo nhiễu thế tĩnh (đo nhiễu dòng sinh ra trên một hệ
- 56 -
tại đó dưới điều kiện áp thế).
2.2. Vật liệu và Môi trường thử nghiệm
Tổ hợp của các điện cực làm việc và dung dịch điện li gây ăn mòn sinh
ra dòng và thế điện hóa được tiến hành trong một chương trình thử nghiệm để
thu thập và đánh giá các dữ liệu điện hóa và nhiễu điện hóa.
2.2.1. Vật liệu thử nghiệm.
A- Thép các bon thấp thử nghiệm ăn mòn đều và ăn mòn cục bộ.
B- Thép hợp kim 304 với quy trình thử nghiệm ăn mòn khe và ăn mòn
lỗ trong dung dịch FeCl3 theo ASTM G-78 [118].
C- Thử nghiệm điện hóa theo ASTM G5 – 94 (R 99) [119].
Thông thường, diện tích bề mặt điện cực làm việc đã được khuyến cáo tối thiểu 10 cm2 trong dung dịch chất điện li. Tỉ lệ diện tích bề mặt và thể tích dung dịch thử là 13,9 cm2/ lít [16].
Các mẫu kim loại được phân tích thành phần nguyên tố theo ASTM
E415-08; ASTM E1251-11trên thiết bị ARL 3460 OSE của Trung tâm đánh
giá hư hỏng vật liệu – Viện Khoa học vật liệu – Viện Hàn lâm Khoa học và
Công nghệ Việt Nam được trình bày chi tiết trong bảng 2-1 dưới đây.
Bảng 2-1: Thành phần nguyên tố các mẫu thử nghiệm (% khối lượng).
Mẫu thép cacbon thấp
Giá trị trung
99,6818 0,0078 0,0112 0,0061 0,0167 0,1233 0,0156 0,0425
bình
Fe C Si S P Mn Ni Cr
Giá trị trung
0,0035 0,0013 0,0128 0,0010 0,0477 0,0055 0,0028 0,0468
bình
- 57 -
Mo V Cu W Ti Sn Co Al
Mẫu thép hợp kim 304
Giá trị trung
71,0153 0,0565 0,4463 0,0053 0,0331 1,3594 8,0860 18,2010
bình
Fe C Si S P Mn Ni Cr
Mo
V
Cu
W
Ti
Sn
Co
Al
Giá trị trung
0,2904 0,0575 0,2779 0,0425 0,0073 0,0097 0,1061 0,0058
bình
Toàn bộ mẫu thí nghiệm được cắt dây với đường kính 40 mm, dày 3mm (diện tích bề mặt làm việc ≈ 12,566 cm2, hình 2-1). Đối với mẫu đo điện
hóa và nhiễu điện hóa được hàn gắn dây. Bề mặt mẫu được tẩy sạch dầu mỡ
và tẩy gỉ theo quy trình chuẩn bị mẫu kim loại cho thử nghiệm ăn mòn khí
quyển. Toàn bộ các mẫu được đúc epôxy cách điện bao kín, một mặt thử
nghiệm hở. Xử lý các lỗi vi lỗ, các khe hở giữa kim loại và nhựa epôxy bằng
hệ nhựa PU 2K trong và sấy ở 120 C trong 2 giờ.
Hình 2-1. Hình ảnh mẫu kim loại và các phụ kiện sử dụng trong nghiên cứu.
Chuẩn bị bề mặt thử nghiệm trên máy mài BUEHLER Alpha của Đức
- 58 -
với các cấp giấy mài có độ nhám từ 100 đến 600; sau đó các mẫu được làm
sạch dầu mỡ bằng methanol (hoặc axetol …) và rửa bằng nước cất có cồn, sấy
khô trước khi thử nghiệm.
2.2.2. Môi trường thử nghiệm
Môi trường thử nghiệm ăn mòn là dung dịch nước chứa các ion xâm
thực. Các môi trường này được trình bày chi tiết trong bảng 2-2 dưới đây.
Bảng 2-2: Môi trường thử nghiệm ăn mòn.
ASTM G199-09
Hệ thử Mẫu kim loại Dung dịch Chế độ Ghi chú ăn mòn
axít xitric Thép các bon A ăn mòn đều thấp 25°C C6H8O7 0,1M
ASTM G5-99 Thép các bon B ăn mòn đều H2SO4 1N thấp ở 25°C
Thép các bon ăn mòn hỗn C NaCl 3,5% ở 25°C thấp hợp
Thép các bon ăn mòn cục Ca(OH)2+NaCl D ở 25°C thấp 0,1M (1:1) bộ
6% FeCl3 Thép hợp ASTM G48-03 ăn mòn cục E bộ kim 304 ở 25°C 1% HCl
Hệ A và B sẽ cho một chế độ ăn mòn đều; hệ C sẽ cho dạng ăn mòn
hỗn hợp; hệ D sẽ có hiện tượng thụ động và ăn mòn lỗ trong điều kiện thụ
động; hệ còn lại sẽ cho dạng ăn mòn cục bộ đặc trưng (ăn mòn lỗ và ăn mòn
khe). Ứng với hệ A và B có thể được xác nhận bằng cách sử dụng các kĩ thuật
điện hóa khác (ví dụ như điện trở phân cực, Tafel…). Kết quả của ba hệ còn
lại rất khó kiểm chứng bởi tổn hao trọng lượng mà chủ yếu quan sát ảnh bề
- 59 -
mặt các mẫu sau khi thử nghiệm (vẫn chưa có tiêu chuẩn cụ thể để so sánh).
2.2.3 Chế độ thử nghiệm và thiết bị đo đạc
2.2.3.1. Chế độ thử nghiệm (chuẩn bị mẫu thí nghiệm)
Quy trình chuẩn bị mẫu và xử lý mẫu sau các chu kỳ thử nghiệm được
tiến hành theo ISO và ASTM [120]. Mẫu được tẩy dầu mỡ bằng các dung môi
hữu cơ hoặc dung dịch kiềm theo ISO 847 – 91 hoặc ASTM G1 – 81. Dung
dịch và chế độ làm việc được ghi trong bảng 2-3:
Bảng 2-3: Quy trình chuẩn bị và xử lý bề mặt mẫu.
Nhiệt độ, Kim loại Dung dịch tẩy sản phẩm ăn mòn Thời gian, phút C
HCl (=1,19g/ml) – 100 ml
Thép các 20 - 30 10 Hexametylentetramin – 3,5g bon thấp
Nước cất 1 lít
NaOH – 200 g Thép
Zn bột – 50 g sôi 20 hợp kim
304 Nước cất 1 lít
Các nghiên cứu ăn mòn khe đã được thực hiện trên các mẫu thép 304
bằng cách sử dụng hai điện cực tấm cùng loại hình vành khuyên (d1= 30 mm,
d2 = 6mm, dày 3 mm). Diện tích bề mặt làm việc của điện cực trong dung
dịch được duy trì cùng một vùng điện cực làm việc và điện cực đối như nhau.
Các mẫu đã có một lỗ trung tâm, thông qua đó một vít nhựa giữ khe nhân tạo
(ASTM G-48, năm 2005). Khe nhân tạo được làm bằng Teflon (PTFE). Cố
định khe bằng đai ốc và bu lông nhựa kèm một đệm cao su đàn hồi chịu hóa
chất. Đai ốc, bu lông và vòng đệm cao su là cô lập về điện với mẫu và dung
- 60 -
dịch (hình 2-1). Bề mặt điện cực sau khi đánh bóng đến cỡ hạt mài 600, được
làm sạch bằng xà phòng và axeton, để khô tự nhiên một giờ trước khi thử
nghiệm. Các phép đo EN được lặp lại 3 lần cho một chế độ thử nghiệm.
2.2.3.2. Thiết bị đo điện hóa và nhiễu điện hóa
Bảng 2-4: Thiết bị đo điện hóa sử dụng trong nghiên cứu.
Tên thiết bị Đơn vị quản lý và sử dụng Nước sản suất
AUTOLAB G30 Hà Lan Viện Kỹ thuật nhiệt đới Đại học Giao thông vận tải
HIOKI-3801-50 Nhật Bản Viện Kỹ thuật nhiệt đới
Nhật Bản Viện Kỹ thuật nhiệt đới Ocilloscope LeCroy 424
hp 34401A Multimeter Mỹ Viện Vật lý ứng dụng và thiết bị khoa học
Một bình điện hóa phù hợp được mô tả trong tiêu chuẩn ASTM G5 với
một ngoại lệ quan trọng là vị trí đặt điện cực. Trong toàn bộ quá trình thực
nghiệm, các điện cực được thiết lập cùng cách cố định khoảng cách giữa hai
bề mặt điện cực làm việc và điện cực đối là như nhau (1 cm) cho toàn bộ các
thí nghiệm. Bình điện hóa điều nhiệt có nắp đậy cũng có thể được sử dụng
miễn là thiết lập được một cặp điện cực làm việc, một điện cực so sánh, ống
dẫn khí vào - ra và có một nhiệt kế được nhúng ngập trong dung dịch chất
điện li (khi nghiên cứu liên quan đến nhiệt độ).
Đo nhiễu dòng (CN) được thực hiện trên thiết bị hp 34401A
Multimeter, nhiễu thế (PN) được đo giữa cặp điện cực làm việc với điện cực
so sánh trên thiết bị HIOKI 3801 - 50 Digital Hitester. Hệ đo nhiễu điện hóa
được thiết lập với hai điện cực giống hệt nhau làm điện cực đối và điện cực
làm việc. Thế được đo giữa cặp điện cực làm việc với điện cực so sánh (điện
cực Calomel bão hòa). Mạch đo được thiết lập đo dòng theo mạch điện trở
- 61 -
bằng không (ZRA) [15] (hình 2-2) cho phép đo đồng thời nhiễu điện thế và
dòng. Hệ đo điện hóa được đặt trong một lồng Faraday lưới thép (nối đất) để
cách điện từ các nguồn gây nhiễu bên ngoài. Những nguồn nhiễu tạo ra bởi
các thiết bị đo không thể loại bỏ. Các thiết bị đo này được đánh giá bằng một
tế bào điện tử giả chuẩn của AUTOLAB G30.
Dữ liệu nhiễu điện hóa được thu thập ở tần số lấy mẫu 20 Hz đối với
dòng và 1Hz đối với thế. Toàn bộ dữ liệu được loại nhiễu trắng trước khi
phân tích tín hiệu. Các dòng điện chạy giữa hai điện cực làm việc được đo
theo phương pháp ZRA. Điện thế được đo giữa các điện cực làm việc với điện
cực so sánh (kể từ khi được ngắn mạch với nhau, cả hai điện cực “làm việc”
có cùng điện thế). Các tín hiệu dòng và thế có thể được phân tích bằng các
phương pháp được liệt kê trong phần phân tích kết quả.
Hình 2-2. Sơ đồ mạch tương đương (a); Hệ đo thực nghiệm (b).
2.3. Phương pháp phân tích kết quả dữ liệu nhiễu điện hóa
2.3.1. Phân tích mật độ phổ công suất dữ liệu nhiễu điện hóa bằng FFT
Một trong những phương pháp phân tích tín hiệu EN là ước tính công
suất các tín hiệu có mặt ở các tần số khác nhau. Các phổ mật độ được minh
họa bằng các đường mật độ phổ công suất (PSD) đặc trưng cho phân bố công
) sử dụng biến đổi
suất tín hiệu trong miền tần số. Trong kĩ thuật này, dữ liệu EN trong miền thời
- 62 -
gian (hàm ) được chuyển vào miền tần số (hàm nhanh Fourier (FFT) và xác định được là PSD. Đường này có thể cho nhiều
thông tin về loại hình, cơ chế và tốc độ ăn mòn. Các mối quan hệ sau đây cho
thấy mối liên hệ giữa mật độ phổ công suất của điện áp hay dòng (PSD) và
tần số [121]: (2.1)
Trong đó S là độ dốc (tính đến phần cuộn lại) thể hiện dưới dạng log (V2 hoặc A2 Hz-1) / log(Hz) và A là cường độ nhiễu điện thế hoặc dòng của đường PSD thể hiện dưới dạng log(V2 hoặc A2 Hz-1). Độ lớn của đoạn bằng phẳng
phía trên (A) có thể được coi là dấu hiệu cho thấy tốc độ và mức độ nghiêm
trọng của quá trình ăn mòn cho nhiễu thế. Trong khi đó, độ dốc (S) có thể liên
quan đến loại ăn mòn sinh ra nhiễu [122]. Các phân tích tần số được thực hiện trong mỗi khối chứa 1024 (hoặc 2n) điểm dữ liệu trong dữ liệu EN sau khi loại
bỏ các giá trị trung bình. Khoảng tần số phân tích liên quan đến các dạng ăn mòn tập trung trong dải 10-3 Hz đến 2Hz [123].
Tuy nhiên, phép biến đổi Fourier có những điểm hạn chế của nó như:
phép biến đổi Fourier chỉ cung cấp thông tin có tính toàn cục và chỉ thích hợp
cho những tín hiệu tuần hoàn, không chứa các đột biến hoặc các thay đổi
không dự báo được…. nên người ta tìm những phép biến đổi khác có nhiều
ưu điểm hơn. Ngày nay, người ta sử dụng phép biến đổi sóng nhỏ vì nó khắc
phục được các nhược điểm của phép biến đổi Fourier.
2.3.2. Phân tích mật độ phổ năng lượng dữ liệu nhiễu điện hóa bằng biến
đổi sóng nhỏ
Phân tích một tín hiệu bằng biến đổi sóng nhỏ (WT) dựa trên cơ sở của
một họ các hàm được hình thành thông qua chuyển đổi và mở rộng quy mô
của một phù hợp được lựa chọn làm hàm mẹ cục bộ. Mục đích chính là cung
cấp thông tin về quá trình vật lý cơ học – hóa lý: vị trí của các năng lượng
tương đối tối đa trong chủ ý phân bố năng lượng cho quá trình quyết định
trong các sự kiện ăn mòn nhất định và sự thay đổi của nó có thể phản ánh các
- 63 -
hành vi của quá trình chi phối ăn mòn.
Trong thực tế, trực giao biến đổi sóng nhỏ được tính bằng thuật toán
của các biến đổi nhanh sóng nhỏ (FWT) , sơ đồ triển khai được mô tả trong sơ
đồ hình 1-14 (chương 1). Vì nó có thể đánh giá tối đa FWT bao gồm: bộ lọc
thông thấp, cao, bộ lọc băng thông và giảm mẫu lấy tương ứng như L, H
và2. Bằng cách này, các tín hiệu có thể bị phân tách liên tục thành hai phần
có độ phân giải cao và độ phân giải thấp và mỗi lần các tín hiệu được phân tích ở một nửa độ phân giải trước. WT sử dụng các cửa sổ bội theo những mục đích thích hợp: dùng cửa sổ hẹp ở tần số cao, cửa sổ rộng ở tần số thấp,
nhằm đảm bảo là độ rộng tương đối của bǎng không đổi. Các thiết lập của hệ
số làm trơn “S” hoặc xấp xỉ “A” cung cấp thông tin về xu hướng chung của
các tín hiệu. Tập hợp các hệ số chi tiết “d” cung cấp thông tin về các biến
động cục bộ và các đặc điểm nhỏ nhất trong các tín hiệu. Mỗi hệ số chi tiết
của các hệ số được gọi là đơn vị cơ bản [121, 124].
Các tính toán cần thiết cho phân tách của các tín hiệu phân tích có thể
được thực hiện bằng phần mềm Origin 8.0 [105] hay Matlab. Các hàm trực
giao φ(t), được áp dụng gọi là Daubechies theo bậc (2 hoặc 4) để thực hiện
biến đổi sóng nhỏ trên các tín hiệu ECN. Những sóng nhỏ đã được lựa chọn ở
một mức phân giải thích hợp sao cho cực đại của các hệ số sóng nhỏ chi tiết
có vị trí trùng khớp với vị trí với các nguồn đột biến, và sóng nhỏ cơ sở đã lựa
chọn là hàm khả vi và suy giảm nhanh. Thuộc tính chính của hàm trực giao
được chọn φ(t) là năng lượng của tín hiệu phân tích x(n) tương đương với
tổng năng lượng của tất cả các thành phần thu được bằng cách biến đổi sóng
nhỏ. Tuy nhiên, kết quả tương tự có thể được thu được bằng các họ sóng nhỏ
khác với đủ số khoảng phân giải.
Bằng việc sử dụng kĩ thuật biến đổi sóng nhỏ rời rạc dựa trên trực giao
- 64 -
db2 hoặc db4 [103, 125-126] các dữ liệu sóng nhỏ EN thu thập được phân
) được tính như sau:
tách bảy cấp (d1 - d7, và s7 – bảng 2-5). Sau đó, các phần nhỏ của năng lượng
liên kết với mỗi đơn vị cơ bản chi tiết (
(j = 1,2….,7) (2.2)
trong đó d là đơn vị cơ bản chi tiết và N là tổng số điểm dữ liệu cho
mỗi lần ghi. E là năng lượng tổng tương đương với tổng số bảy đơn vị cơ bản
chi tiết (d1-d7), chiết khấu sự đóng góp của các sj.
(2.3)
Bảng 2-5: Khoảng tần số và thời gian cho j = 7 và fs = 2 Hz.
Tên bậc phân tách Khoảng tần số, Hz Khoảng thời gian, s
d1 2 – 1 0,5 – 1
d2 1 – 0,5 1 – 2
d3 0,5 – 0,25 2 – 4
d4 0,25 – 0,125 4 – 8
d5 0,125 – 0,0625 8 – 16
d6 0,0625 – 0,0312 16 – 32
d7 0,0312 – 0,0156 32 – 64
Các phương pháp biến đổi trực giao dựa trên sóng nhỏ thời gian gần
đây đã được đề xuất cho việc ước lượng độ dốc và kích thước phân đoạn D
[103, 125, 127-128]. Ở đây chúng ta sử dụng khái niệm này để phân tích các
tín hiệu EN. Đối với phân tách sóng nhỏ trực chuẩn rời rạc, các mối quan hệ
(2.4)
- 65 -
có thể được thay thế bằng quan hệ sau:
là phương sai của đơn vị cơ bản chi tiết dj, và có thể được
Trong đó
tính bằng phương trình sau đây:
so với mức j:
với j = 1,2….,7. (2.5)
(2.6)
Độ dốc β thu được từ đường
Việc xác định các kích thước phân đoạn có thể được tính như sau [103] :
(2.7)
Cuối cùng, kích thước phân đoạn (D) đã thu được bằng:
D = 2,5-0,5β (2.8)
Ý nghĩa của D là: khi tín hiệu chứa các cấu trúc quan trọng, các cấu
trúc này thuộc về các thang khác nhau, thì thông tin tín hiệu phải được tổ
chức lại thành các tập thành phần chi tiết của kích cỡ thay đổi. Do vậy, kích
thước phân đoạn cũng có thể cũng được sử dụng để mô tả đặc tính phức tạp của các tín hiệu.
Khái niệm thang được đưa vào như là phép luân phiên tần số dẫn đến
việc biểu diễn thang thời gian. Điều này có nghĩa là tín hiệu đã được biểu diễn
trong mặt phẳng thời gian - thang (t - s).
Sơ đồ chung của thuật toán sử dụng để có được những đường phổ mật
độ dạng mật độ công suất hay năng lượng là hình 2-3c. Các bậc tách được sử
dụng là phân tách bằng công cụ của Matlab hoặc Originlab cho biến đổi sóng
nhỏ sau đó được tính mật độ công suất của dòng hoặc thế nhiễu từ miền thời
gian sang miền tần số. Toàn bộ các bước xử lý phân tích trên chủ yếu nhằm
đưa ra được kết luận hay nhận xét cho từng dạng ăn mòn và phần trăm đóng
- 66 -
góp của chúng.
- 67 -
Hình 2-3. Sơ đồ chung các bước thu thập và phân tích dữ liệu nhiễu điện hóa.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khảo sát nhiễu của hệ thiết bị sử dụng trong nghiên cứu
3.1.1. Phân tích đánh giá các điều kiện đo đạc thu thập dữ liệu
Kết quả phân tích, đánh giá tín hiệu nhiễu trắng hệ thiết bị đo dòng theo
sơ đồ hình 2-3. Phép đo mẫu trắng được thực hiện thông qua tế bào điện hóa
giả chuẩn của AUTOLAB G 30 thay cho hệ điện hóa trong điều kiện phòng
thí nghiệm. Kết quả phân tích được trình bày trên hình 3-1 dưới đây.
- 68 -
Hình 3-1. Phổ dữ liệu tín hiệu nhiễu trắng của thiết bị hp 34401A.
Hình 3-1a là kết quả dao động dòng trước và sau loại nhiễu trắng qua
bằng bộ lọc FFT với dải tần từ 10-3 Hz 2 Hz. Kết quả mật độ phổ công suất
(hình 3-1b) cho thấy có giá trị LogPSDi là hằng số theo thời gian cũng như tần số thấp trong khoảng giá trị -19 A2 /Hz ứng với F < 10-2 Hz. Mật độ phổ
công suất tín hiệu nhiễu trắng cuộn lại ở tần số 0,1 Hz tại giá trị khoảng -18 A2 /Hz sau đó giảm về giá trị đầu và ổn định ở vùng tần số cao hơn. Điều
khác biệt này tương quan với các dao động nội tại của chính hệ thiết bị và
được tách theo bậc trình bày trên hình 3-2.
Kết quả phân tách 7 bậc tín hiệu bằng sóng nhỏ 1D với db4 với dữ liệu
dòng nhiễu mẫu trắng ở trên cho thấy: i) Tín hiệu dạng sóng dải đều trên toàn
bộ các bậc tách. ii) Biên độ nhiễu của tín hiệu nhỏ (10-8 10-9 A - phù hợp
ngưỡng đo). iii) Có thể loại được tín hiệu này bằng bộ lọc số hoặc tương tự.
- 69 -
Hình 3-2. Bảy bậc tách (Dj – db4) tín hiệu nhiễu trắng của thiết bị hp34401A.
3.1.2. Phân tích thống kê dữ liệu
Phân tích thống kê được thực hiện bằng cách lấy khoảng thời gian ổn
định (1024 điểm). Số liệu thống kê được tiến hành cho dữ liệu dòng nhiễu
trắng của thiết bị và dữ liệu đo trên mẫu thử. Mẫu thử là mẫu ăn mòn khe với
điều kiện thử nghiệm trình bày trong chương 2. Hình 3-3,4 cho thấy kết quả
phân bố tín hiệu nhiễu trắng và kết quả độ lệch chuẩn của dòng và thế cho các
mẫu thép 304. Kết quả cho hệ điện hóa giả là 2,454310-8 A. Kết quả phân
tích thống kê cho thấy các tín hiệu nhiễu điện hóa do ăn mòn bề mặt kim loại
so với tín hiệu nhiễu của thiết bị là cao hơn từ 35 100 lần. Các kết quả tính
toán cho độ nghiêng và độ nhọn không tiết lộ mối tương quan nào. Thông qua
tín hiệu của tế bào điện tử giả chuẩn của AUTOLAB G30 ta có thể loại tín
hiệu nhiễu hệ thiết bị bằng các bộ lọc kĩ thuật số.
- 70 -
Hình 3-3. Phân bố tín hiệu nhiễu dòng trắng.
Hình 3-4. Độ lệch chuẩn nhiễu dòng.
Nhận xét:
Tín hiệu nhiễu trắng thiết bị được đặt chế độ giảm nhiễu -3dB cho tín
hiệu nền là dạng phân bố Gaussian. Biên độ dao động tập trung chủ yếu ở tần
số cao với cường độ thấp. Tín hiệu nhiễu trắng của thiết bị dạng này dễ dàng
được tách loại bằng các bộ lọc tương tự hoặc số. Nếu tín hiệu đo thực nghiệm
có cường độ lớn hơn rất nhiều và tần số thấp hơn thì có thể được tự động loại
bỏ bằng giảm nhiễu của biến đổi sóng nhỏ bởi chúng sẽ nằm trong phần trôi
DC. Ngoài ra, có nhiều kĩ thuật lọc nhiễu khác thông qua các bộ lọc số.
Vùng tần số thấp (< 10-2 Hz) và tần số cao (> 0,2 Hz) không gây ảnh
hưởng nhiễu đến tín hiệu đo bởi các dạng ăn mòn cục bộ, thụ động và ăn mòn
đều nằm trong hai khoảng tần số này.
Nếu tín hiệu có mật độ công suất hay năng lượng >> -19 A2 /Hz đều có
thể sử dụng hệ thiết bị này để đo đạc và phân tích tín hiệu nhiễu điện hóa.
Việc phân tích độ lệch chuẩn chỉ ra rằng tham số này cho phép đánh giá
độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu sau này đồng thời có thể thể hiện mức
độ xâm thực của dung dịch cũng như sự hiện diện của ăn mòn kim loại trong
- 71 -
các môi trường.
3.2. Sử dụng kĩ thuật và phân tích dữ liệu nhiễu điện hóa nghiên cứu ăn
mòn cho thép cacbon thấp
3.2.1. Đặc tính nhiễu điện hóa ăn mòn đều của thép cacbon thấp
Trong hầu hết các công trình công bố về ăn mòn của thép cacbon thấp
trong môi trường dung dịch axít xitric (C6H8O7); H2SO4, các tác giả đều thống
nhất là dạng ăn mòn đều và đã có tiêu chuẩn để đánh giá ăn mòn cho chúng
[17, 129-131]. Trong các tiêu chuẩn đánh giá này thì kĩ thuật nhiễu điện hóa
[15, 45] chỉ ra rằng có mối tương quan điện trở nhiễu và điện trở phân cực (Rp
Rn) để tính toán tốc độ ăn mòn kim loại.
Trong nghiên cứu này tập trung phân tích chi tiết hơn về nhiễu dòng
điện hóa theo thời gian bằng cách phân tích phổ mật độ để bổ sung làm rõ đặc
tính ăn mòn đều khi sử dụng kĩ thuật nhiễu điện hóa. Dữ liệu gốc nhiễu điện
hóa dòng và thế của thép cacbon thấp được ghi và biểu diễn trên hình 3-5.
Đặc tính dữ liệu nhiễu điện thế (hình 3-5a) theo thời gian cho thấy sau
khoảng 0,5 giờ ngâm thì điện thế của thép tương đối ổn định đối với môi
trường axít xitric 0,1M và sau khoảng 2 giờ cho môi trường H2SO4 1N. Ổn
định thế tương ứng biểu hiện ổn định của dòng nhiễu (hình 3-5b). Đặc tính dữ
liệu nhiễu điện hóa theo thời gian vẫn chưa cho thấy định lượng được gì nhiều
nhưng đã thể hiện được hành vi biến thiên của chúng. Trong cách thức thu
thập dữ liệu EN trên cho thấy khi sử dụng kĩ thuật nhiễu điện hóa với ZRA, ta
theo dõi được biểu hiện đồng thời thế mạch hở theo thời gian và dòng ăn mòn
tự do của chúng. Đây là một trong những điểm mạnh của kĩ thuật này mà
- 72 -
không làm ảnh hưởng đến hệ nghiên cứu.
Hình 3-5. Biểu hiện thế và dòng nhiễu điện hóa của thép cacbon thấp theo
thời gian trong các môi trường ăn mòn khác nhau.
Kết quả phân tích biểu hiện biên độ nhiễu dòng và thế trong thời gian
ngắn của thép cacbon thấp trong các môi trường ăn mòn trên được biểu diễn
trên hình 3-6. Biên độ nhiễu dòng của mẫu thép cacbon thấp trong dung dịch
1N H2SO4 có biên độ nhiễu dòng cao nhất ( 510-6 A/cm2). Trong môi
trường axít xitric, do kim loại bị hòa tan và tạo phức xitrat kim loại tan vào
dung dịch nên bề mặt luôn hoạt động ổn định và do đó điện thế luôn ổn định
(khoảng - 530 mVSCE - hình 3-5a) và biên độ dòng nhiễu cũng ổn định trong
- 73 -
khoảng 210-7 A/cm2 trong thời gian sau 1 giờ thử nghiệm (hình 3-6).
Hình 3-6. Phổ biên độ nhiễu dòng ăn mòn thép cacbon thấp ở thời gian ngắn
(1024 điểm cuối 2 giờ thử nghiệm) trong khoảng thời gian 2 giờ thử nghiệm.
Hình 3-7. Hình ảnh (100) bề mặt mẫu thép cacbon thấp sau khảo sát ăn mòn
bằng kĩ thuật nhiễu điện hóa.
(C - D - bề mặt chưa tẩy sản phẩm ăn mòn; C’ – D’ bề mặt sau tẩy sản phẩm
- 74 -
ăn mòn lần lượt trong dung dịch axít xitric 0,1M và H2SO4 1N)
Đối với môi trường dung dịch 1N H2SO4, bề mặt thép theo thời gian
thử nghiệm bị lớp sản phẩm ăn mòn đọng trên bề mặt (hình 3-7D và D’) cản
trở các thành phần xâm thực đến bề mặt thép cũng như H2 thoát ra nên biên
độ dao động của điện thế cũng bị tác động theo. Biên độ nhiễu dòng có tần
suất xuất hiện và biên độ dao động càng lớn thì tỉ lệ với tốc độ ăn mòn càng
mạnh. Qua đây chúng ta nhận thấy rằng ăn mòn đều ứng với dao động của thế
và dòng tương đối ổn định liên tục theo thời gian.
Hình 3-8. Biên độ nhiễu thế và dòng ăn mòn đều của thép các bon thấp trong
- 75 -
hai môi trường thử nghiệm phân tách WT ở bậc 5.
Các dữ liệu dòng và thế nhiễu trong miền thời gian (hình 3-8) được
chuyển vào miền tần số bằng cách sử dụng thuật toán khai triển nhanh Fourier
(hình 3-9) và xác định được đường mật độ công suất của tín hiệu. Kết quả mật
độ phổ công suất nhiễu thế và dòng được trình bày trên hình 3-9 và bảng 3-1
có dạng Log(PSD) = A+SLog(f ).
Hình 3-9. Mật độ phổ công suất của thế và dòng nhiễu của thép cacbon thấp
ăn mòn đều hai giờ trong môi trường thử nghiệm phân tách WT bậc 5.
Mật độ phổ công suất dòng cho biểu hiện đặc trưng ăn mòn đều tập trung
ở phần tần số cao rõ ràng hơn so với mật độ phổ công suất thế. Giá trị độ lớn
- 76 -
của thép cacbon thấp trong dung dịch H2SO4 1N là lớn nhất (-13 -15 A2/Hz) phù hợp với dấu hiệu về tốc độ ăn mòn của nó trong dung dịch này là
lớn nhất (phù hợp kết quả so sánh bảng 3-1 với kết quả phân cực điện hóa
bảng 3-2). Giá trị độ dốc (Si) có thể liên quan đến loại ăn mòn sinh ra nhiễu
[121].
Bảng 3-1: Giá trị phổ PSDi (FFT) và PSDi (WT-FFT) trong khoảng 2.350 đến
2.850 giây trong các môi trường thử nghiệm (1024 điểm dữ liệu).
Log PSDi (FFT) Log PSDi (WT-FFT) Thông Môi trường số A2/Hz
Axít xitric -17,0966 -17,0973 AI 0,1M
-14,9819 -13,006 H2SO4 1N AI
Từ các kết quả phân tích WT kết hợp FFT cho phổ LogPSD/logF,
không quan sát thấy ở vùng tần số thấp cho các dữ liệu của các thử nghiệm có
đoạn nằm ngang. Điều này có thể khẳng định ưu thế của quá trình ăn mòn đều
trong suốt giai đoạn này. Ngoài ra, chiều cao của đỉnh phổ LogPSD/logF
giảm đồng thời dịch về phía tần số cao theo thứ tự của môi trường ăn mòn từ
mạnh đến yếu.
Tiến hành phân tích mật độ phổ năng lượng cho dòng nhiễu (ESDi)
bằng kĩ thuật sóng nhỏ tách theo phân đoạn tần số trong 2 giờ đầu thử nghiệm
cho kết quả rất khả quan trên hình 3-10 và 3-11 dưới đây. Qua 7 bậc tách
bằng kĩ thuật sóng nhỏ cho cả hai dữ liệu gốc dòng nhiễu ăn mòn thép cacbon
thấp trong hai môi trường trên cho thấy: toàn bộ tín hiệu đều thể hiện rất đặc
trưng cho ăn mòn đều, đó là đều xuất hiện với tần suất lớn trên toàn bộ 7 bậc
tách với 7 khoảng tần số (từ 2 Hz đến 0,0156 Hz ). Biên độ dao động (hình 3-
10) trên toàn bộ 7 bậc tách của thép cacbon thấp trong H2SO4 1N mau hơn so
- 77 -
với trong dung dịch xitric 0,1M. Phân bố mật độ năng lượng cho dòng nhiễu
theo bậc tách (hình 3-11a) cho thấy ăn mòn thép cacbon thấp trong hai dung
dịch thử nghiệm phù hợp kết quả thu được từ phổ log PSD ở trên.
Hình 3-10. Bảy bậc tách (Dj – db4) tín hiệu nhiễu dòng ăn mòn đều trong hai
- 78 -
môi trường thử nghiệm.
Hình 3-11 thể hiện kết quả phân bố ESD dòng nhiễu theo bậc tách (của
tín hiệu từ hình 3-10) cho thấy cực đại mật độ năng lượng tập trung dao động
ở D1 phía tần số cao ( 0,5 2 Hz) và giảm từ từ về phía tần số thấp (bậc tách
sóng nhỏ cao) đặc trưng cho biểu hiện ăn mòn đều. Đồng thời hệ số góc của
phương sai năng lượng theo bậc tách có giá trị tỉ lệ tốc độ ăn mòn trong hai
môi trường trên. Hệ số kích thước phân đoạn được sử dụng để mô tả đặc tính
phức tạp của các tín hiệu, D > 2.
Hình 3-11. Phổ phân bố ESD và các hệ số phân chia cơ bản Dj tín hiệu nhiễu
- 79 -
dòng ăn mòn đều sau hai giờ trong hai môi trường thử nghiệm.
3.2.2. Đặc tính nhiễu điện hóa quá trình thụ động và ăn mòn cục bộ của thép cacbon thấp trong môi trường pH cao có chứa ion Cl-
Thép cacbon thấp được khảo sát bằng kĩ thuật nhiễu điện hóa trong môi
trường 0,1M Ca(OH)2+NaCl (1:1). Trong hệ này, thụ động bề mặt của điện
cực thép cacbon thấp đã được dự kiến trong dung dịch thử. Trên bề mặt thép
hình thành màng thụ động do pH cao ( 9) và Ca(OH)2 hấp phụ trên bề mặt
kim loại. Tại một số chỗ bề mặt màng thụ động chưa hoàn chỉnh có sự hấp thụ các ion halogen Cl-; tại đó kim loại bị hòa tan với tốc độ đủ lớn tạo lỗ phát
sinh ăn mòn điểm và tạo nên các muối dễ tan. Nhưng khi ra ngoài bề mặt kim
loại, các muối này chuyển ngay thành hyđrôxít kim loại do pH môi trường
cao lại cản trở quá trình ăn mòn. Những vị trí có màng thụ động chưa hoàn
chỉnh thường là biên giới giữa kim loại và tạp chất phi kim. Tại đó màng thụ
động không bảo vệ được kim loại và dễ hấp thụ các ion halogen.
3.2.2.1.Đặc tính nhiễu điện hóa quá trình thụ động của thép cacbon thấp
Dữ liệu dòng và thế thu thập theo phương pháp nhiễu điện hóa ZRA
được ghi lại và thể hiện trên hình 3-12. Mẫu thép cacbon thấp trong nghiên
cứu này thụ động hoàn toàn tại giá trị điện thế khoảng -440 mV sau 3 giờ
ngâm. Quá trình phá vỡ màng thụ động trên bề mặt thép tại những chỗ khuyết
tật sau 4 giờ ngâm tiếp theo. Giá trị thế, tại đó lớp thụ động bắt đầu bị xuyên
thủng, ăn mòn điểm bắt đầu gọi là thế ăn mòn lỗ [18]. Biểu hiện biên độ dao
động điện thế và dòng nhiễu tương ứng rất rõ (hình 3-12b).
Biến động bất thường thể hiện trên phổ nhiễu chính là quá trình bề mặt
thép cacbon thấp chuyển sang trạng thái thụ động trong môi trường thử
nghiệm này. Biên độ dao động dòng và thế nhiễu theo thời gian ở giai đoạn
đầu (hình 3-12b) là tương ứng nhau đó là hiện tượng biên độ dòng tăng vọt và
- 80 -
giảm mạnh tương ứng với biểu hiện thế theo thời gian thử nghiệm. Kết quả
được phân tích chi tiết hơn bằng mật độ phổ công suất cho dòng và thế nhiễu
trình bày trên hình 3-14.
Hình 3-12. Phổ dữ liệu nhiễu dòng - thế của thép cacbon thấp theo thời gian
trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2 + NaCl (1:1).
Kiểm tra chi tiết dữ liệu theo thời gian của cả dòng và thế cho thấy thời
gian của các hoạt động điện hóa bề mặt cục bộ cao được chỉ ra bởi sự hiện
diện số lượng ở thời gian ngắn ban đầu (hình 3-13). Ở giai đoạn đầu tiên, dữ
liệu nhiễu thế và dòng thụ động ở thời gian ngắn đã thu thập được quan sát.
Đối với dòng nhiễu có xu hướng chuyển phân cực từ catốt sang anốt sau
khoảng 320 giây. Biểu hiện này rất đặc trưng trên phổ biên độ nhiễu dòng
- 81 -
(hình 3-13b) ở thời gian ngắn.
Hình 3-13. Phổ biên độ nhiễu dòng của thép cacbon thấp trong dung dịch
- 82 -
0,1M Ca(OH)2 + NaCl (1:1).
Trên phổ biên độ dao động của dòng (hình 3-13b) xuất hiện một bước
nhảy đặc trưng tại vị trí thời gian khoảng 320 giây. Sau biến động nhiễu mạnh
này thì dòng ổn định đồng thời biên độ nhiễu dòng thấp trong khoảng thời
gian khá dài. Điện thế dịch chuyển mạnh về phía anốt trong khoảng thời gian
tương ứng với dòng (khoảng 65 mV – hình 3-12a) do pH cao và Ca(OH)2 hấp
phụ trên toàn bề mặt thép tạo màng bảo vệ. Biên độ dao động nhiễu của thế
(hình 3-12b) mạnh dần và mau dần trong khoảng 1mV có thể giả thiết là do có mặt Cl- bắt đầu gây ảnh hưởng đến lớp điện tích kép.
Phân tích chi tiết biểu hiện mối tương quan nhiễu điện hóa của dòng và
điện thế trong thời gian ngắn cho nghiên cứu này thông qua mật độ phổ công
suất được trình bày trên hình 3-14 (1024 điểm trong khoảng 0 – 7.200 giây).
Trong thời gian đầu (1024 điểm ban đầu - hình 3-14a), mật độ phổ công suất
nhiễu thế biểu hiện dao động có mức năng lượng tăng dần đỉnh ở tần số khoảng 0,02 Hz ứng với LogPSDV -8 V2/Hz mà không có vùng nằm ngang
ở tần số thấp (< 0,01 Hz). Đối với dòng nhiễu, biểu hiện biên độ dao động có
mức năng lượng một cung lớn phân bố tương đối với đỉnh ở tần số 0,05 Hz với LogPSDi -16 A2/Hz với vùng nằm ngang ở tần số thấp (< 0,01 Hz); kèm
theo đó không có biểu hiện phụ điển hình nào ở tần số cao hơn. Điều này
chứng tỏ dao động đột biến của dòng (hình 3-13b) được thể hiện tương quan
rõ ràng thông qua phổ mật độ mà đặc trưng là quá trình chuyển trạng thái thụ
động. Khi phân tích 1024 điểm cuối 2 giờ cho thấy biên độ dao động của
dòng có chu kỳ tương đối xác định (0,5 Hz) nhưng mức mật độ rất thấp gần bằng phổ nhiễu trắng (LogPSDi -18 A2/Hz). Điều này cho thấy phù hợp với
giai đoạn thụ động tương đối hoàn chỉnh của bề mặt kim loại. Khi ở trạng thái
này thì biên độ dao động của chúng tương đối ổn định và dòng trao đổi ở mức
thấp nhất do hiện tượng hòa tan kim loại rất khó xảy ra hoặc xảy ra không
- 83 -
đáng kể.
Hình 3-14. Mật độ phổ công suất thế và dòng nhiễu của thép cacbon thấp thụ
động trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2 + NaCl (1:1).
Tiến hành phân tích mật độ phổ năng lượng (ESDs) dữ liệu của dòng
nhiễu cho quá trình thụ động của thép cacbon thấp trong 0,1M Ca(OH)2 +
NaCl (1:1). Kết quả phân tách 7 bậc bằng biến đổi sóng nhỏ với 7 phân đoạn
thời gian – tần số vùng được trình bày trên hình 3-15 cho hai phân đoạn thời
gian bao gồm chuyển trạng thái thụ động và thụ động hoàn toàn (căn cứ kết
quả trình bày trên hình 3-13a). 7 bậc tách (hình 3-15b) cho thấy đều xuất hiện
dao động ở vùng tần số cao (gần với dạng ăn mòn đều) trong khi đó biểu hiện
dao động ở hình 3-15a hoàn toàn bị lấn át bởi tín hiệu của quá trình chuyển
- 84 -
trạng thái thụ động ban đầu.
Hình 3-15. Bảy bậc tách (Dj – db4) tín hiệu nhiễu dòng theo thời gian.
- 85 -
(a- 0 7.200 giây; b – 2.500 7.200 giây)
Hình 3-16 a cho thấy phân bố ESDi trong bảy đơn vị cơ sở chi tiết với
hai trạng thái khác nhau của quá trình thụ động, tương ứng với biên độ nhiễu
dòng (hình 3-15). Năng lượng tương đối tối đa cho cả hai trạng thái theo thời
gian cho quá trình thụ động đều tại hệ số đơn vị cơ sở D2, với một tần số
tương đối cao 0,5 - 1 Hz ứng với khoảng thời gian ngắn là 1 – 2 giây. Các độ
so với mức j. Kết quả cho
dốc β và kích thước phân đoạn D được tính toán từ dữ liệu và thể hiện trong
hình 3-16 b từ logarit phương sai của chi tiết
thấy trong cả hai trạng thái thụ động thì β có giá trị độ dốc thấp 0,1257 và
0,3612.
Hình 3-16. Phổ phân bố ESD và các hệ số phân chia cơ bản Dj thiết lập với
- 86 -
hai giai đoạn thụ động khác nhau.
Thụ động thép cacbon thấp trong điều kiện thử nghiệm này có nghĩa là
hình thành một màng thụ động trên bề mặt kim loại, và tốc độ ăn mòn kim
loại sẽ giảm đáng kể. Xem xét thực tế thấy rằng sự đóng góp của các thành
phần tần số cao trong chuỗi thời gian EN giảm với sự gia tăng của giá trị β
[132]. Nhiều thành phần tần số tương đối cao được quan sát trong quá trình
thụ động. Điều này chỉ ra rằng các sự kiện tần số cao có xu hướng xảy ra khắp
nơi trên bề mặt [133]. Vì vậy, các tín hiệu EN trong điều kiện thụ động chủ
yếu nằm trong các tín hiệu giống ăn mòn đều với khoảng tần số thấp hơn một
bậc (theo phân đoạn tách tùy chọn) và do vậy giá trị độ dốc của β thấp.
Từ dữ liệu biên độ nhiễu và mật độ phổ công suất cũng như mật độ phổ
năng lượng trên cho thấy tốc độ hòa tan anốt tăng tham gia quan trọng vào giá
trị dòng thụ động để cho phép sự hình thành của màng thụ động trong miền
trước khi thụ động. Sự gia tăng tốc độ hòa tan là quan trọng cần thiết để bổ
sung mật độ dòng cho thụ động. Sự hình thành của màng thụ động làm giảm
tốc độ hòa tan đột ngột hoặc giảm, tùy thuộc vào các hợp kim kim loại (thành
phần và cấu trúc vi mô) và chất điện li (thành phần, tốc độ khuấy và nhiệt độ).
Các dòng tĩnh anốt ở giai đoạn tiền thụ động tăng mạnh mẽ tại các vị trí
không được che phủ của anốt dẫn đến rỗ là khởi nguồn của loại hình ăn mòn
cục bộ (ăn mòn lỗ).
3.2.2.2. Đặc tính nhiễu điện hóa ăn mòn cục bộ của thép cacbon thấp
Người ta đã xây dựng những mô hình khác nhau cho các biến động dòng
và thế nhiễu điện hóa. Chúng được thể hiện trong quá trình tái thụ động, ăn
mòn đều và ăn mòn cục bộ. Các lỗ thường được bao phủ bởi một lớp sản
phẩm sa lắng đóng một vai trò quan trọng trong sự biến động dòng với mức
tăng dòng nhanh chóng theo sau là một giai đoạn chậm. Sự phụ thuộc điện thế
theo thời gian tái thụ động chủ yếu là do ảnh hưởng của điện thế áp đến lớp
- 87 -
sản phẩm sa lắng trên miệng hố.
Từ biểu hiện biến động của dữ liệu nhiễu dòng - thế của thép cacbon
thấp theo thời gian trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2 + NaCl (1:1) (hình 3-13a)
cho thấy có biến động mạnh của cả dòng và thế trong khoảng 15.000 đến
35.000 giây (khoảng 4 đến 10 giờ thử nghiệm). Một biến động nhảy vọt của
thế ở thời gian khoảng 22.000 giây có thể là do màng thụ động đã bị thủng
một cách đáng kể. Tuy nhiên, điện thế bề mặt vẫn nằm trong vùng thụ động
của thép (theo giản đồ E – pH) dẫn đến ăn mòn cục bộ với tốc độ hòa tan rất
nhỏ. Biên độ dao động của dòng theo thời gian có biểu hiện rất đặc trưng của
ăn mòn cục bộ (cụ thể là ăn mòn lỗ). Các biến động nhiễu này được tiến hành
phân tích và biểu diễn trên hình 3-17 và 3-18.
Hình 3-17. Phổ dữ liệu biên độ nhiễu dòng và thế của thép cacbon thấp theo
thời gian trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2 + NaCl (1:1).
Biên độ dao động cho thời gian ngắn (hình 3-17) cho thấy biểu hiện dao
động của nhiễu dòng rất đặc trưng cho quá trình hình thành lỗ tại vị trí màng
bắt đầu bị khuyết tật do Cl- có mặt ngay từ đầu (hoặc khuếch tán qua màng
thụ động) trên bề mặt kim loại. Dạng dao động nhiễu dòng này đặc trưng cho
- 88 -
trạng thái lỗ giả bền và lan truyền [134].
Tiến hành phân tích mật độ phổ công suất cho cả thế và dòng trong
khoảng thời gian ngắn này (1024 điểm bắt đầu từ 15.600 giây – khoảng 4h33
phút). Biểu hiện phổ mật độ của thế nhiễu với phần nằm ngang (hình 3-18a) ở
tần số thấp (< 0,01 Hz) rất đặc trưng cho ăn mòn cục bộ [116, 133] đồng thời
tương ứng với phổ mật độ của dòng nhiễu là tăng dần và cuộn lại ở tần số
0,03 Hz. Nhưng kết quả của PSD dòng không có sự tương quan (hình 3-18 b).
Hình 3-18. Mật độ phổ công suất thế và dòng nhiễu của thép cacbon thấp thụ
- 89 -
động trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2+NaCl 1:1 (1024 điểm sau 15.600 giây).
Hình 3-19a là kết quả phân tách sóng nhỏ với 7 khoảng thời gian - tần
số vùng. Với 7 phân đoạn trên cho thấy xuất hiện sóng nhỏ ở tần số cao ở cả 7
phân đoạn. Như vậy là vẫn có biểu hiện của thụ động bề mặt kim loại. Bên
cạnh đó là biểu hiện các sóng nhỏ ở tần số thấp với đặc trưng cho màng thụ
động bị phá vỡ do Cl- tấn công. Phân bố ESD ăn mòn cục bộ trong bảy đơn vị
cơ sở chi tiết cho thấy giá trị đỉnh năng lượng tương đối tối đa của ăn mòn lỗ
được xác định tại vị trí của D7. Chúng có một tần số tương đối thấp từ 0,0312
- 0,0156 Hz và có khoảng thời gian dài 32 - 64 giây. Kết quả này chỉ ra rằng
ăn cục bộ là một quá trình chậm với một tần số thấp và khoảng thời gian dài.
Nhưng tại D2, năng lượng của tín hiệu thụ động vẫn chiếm ưu thế bởi bề mặt
kim loại vẫn hình thành thụ động tiếp tục trong môi trường này. Những kết
quả EDP là phù hợp với kết quả của CN hình 3-13a.
Độ dốc β trong điều kiện ăn mòn này có giá trị cao (β = 1,1452). Các
kích thước phân đoạn D của thụ động lớn hơn 2 nhưng D của ăn mòn lỗ thấp
hơn 2 (D = 1,9274), điều này có thể giải thích rằng độ sâu ăn mòn của ăn mòn
lỗ là lớn hơn so với chiều dày của màng thụ động hình thành trên kim loại. Ăn
mòn lỗ luôn xảy ra trong khu vực cục bộ do các sự cố của màng thụ động và
của các ion có tính ăn mòn như Cl- xâm thực. Các đặc điểm chung của ăn
mòn lỗ là sự tồn tại của khu vực phản ứng anốt nhỏ và khu vực catốt lớn (bề
mặt kim loại còn lại). Các quá trình ăn mòn là cục bộ nên tín hiệu EN có tần
số thấp (hình 3-19) và có giá trị độ dốc β lớn. Giá trị D của ăn mòn lỗ trong
trường hợp này là 1,9274, trong đó hàm ý rằng bề mặt kim loại bị hòa tan tại
- 90 -
các địa điểm cục bộ [135].
Hình 3-19. Bảy bậc tách (Dj – db4) tín hiệu nhiễu dòng theo thời gian và
- 91 -
phân bố ESD với các hệ số phân chia cơ bản Dj.
Những dữ liệu nhiễu điện hóa đã phân tích ở phần trên được đối chiếu
chi tiết với bề mặt của mẫu thử nghiệm liên quan đến sự ăn mòn cục bộ bằng
kính hiển vi, tức là sự hiện diện ăn mòn với dạng ăn mòn lỗ như thể hiện
trong hình 3-20. Có một vài hố lớn được bao quanh bởi số lượng lớn các hố
thứ cấp nhỏ hơn. Có vài hố lớn gần nhau đã sắp dừng phát triển. Độ rộng của
hố trong khoảng 4 - 6 m (hình 3-21a). Hình thái bề mặt hiển thị một vài hố
khác biệt với số lượng các lỗ nhỏ không xác định là phù hợp tốt với số lượng
quá độ bắt đầu / tái thụ động cục bộ và bắt đầu / tái thụ động ở thời gian ngắn.
Bổ sung bắt đầu / tái thụ động cục bộ và bắt đầu / tái thụ động đã xảy ra ở thời
gian ngắn nhiều sau này có thể là tập hợp hố nhỏ quan sát được dưới kính
hiển vi sau 1 giờ, 6 giờ và 16 giờ thử nghiệm.
Hình 3-20. Hình ảnh (100) bề mặt thép cacbon thấp trong và sau khảo sát
- 92 -
nhiễu điện hóa ăn mòn cục bộ trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2+NaCl (1:1).
Ăn mòn thép cacbon thấp trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2+NaCl (1:1)
là dạng cục bộ đặc trưng và nó thể hiện như các lỗ trên bề mặt kim loại do
màng thụ động bị phá vỡ cục bộ. Sự hình thành ban đầu của hố rất khó phát
hiện do kích thước nhỏ, nhưng sau một thời gian dài có thể phát hiện bằng
trực quan. Hình 3-20 cho thấy sự phát triển các lỗ ăn mòn theo thời gian thử
nghiệm.
Sự xuất hiện của các hố trên bề mặt kim loại không quá nghiêm trọng,
nhưng cũng có thể vô hại nếu không xảy ra thủng. Việc bắt đầu xuất hiện các
hố xảy ra tại các địa điểm cục bộ trên một khuyết tật bề mặt kim loại có thể là
do không sơn bảo vệ, gián đoạn gia công cơ khí hoặc không đồng nhất giai
đoạn vi cấu trúc như giai đoạn thứ cấp. Bên cạnh đó kéo dài thời gian cần
thiết cho sự hình thành hố hoặc phát triển hố. Người ta cho rằng nhiều phản
ứng anốt và catốt diễn ra tại các địa điểm cục bộ. Tỉ lệ cả hai phản ứng anốt
và catốt là chậm. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các phản ứng tiếp tục vào
bên trong theo hướng trọng lực. Nhiều nghiên cứu về vấn đề này cho thấy đáy của hố rất giàu kim loại ion Fe2+ do số lượng lớn các phản ứng anốt [136-
137].
Hình 3-21. Hình ảnh (100) một lỗ điển hình trên bề mặt thép và cơ chế rỗ.
(sau 16 giờ thử nghiệm trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2+NaCl (1:1))
Hình 3-21a cho thấy bề mặt có chứa hố với đường kính khoảng 5μm.
- 93 -
Trong hình 3-21b là mô hình cho cơ chế rỗ [137]. Ăn mòn lỗ có thể xảy ra do
sự cố của một màng bảo vệ (màng thụ động hyđrôxít) bị thấm Cl-. Hình thức
ăn mòn này có thể được tìm thấy trên hầu hết các kim loại hay hợp kim có
màng oxit bảo vệ hoặc các lớp phủ bảo vệ (sơn) do sự cố màng / lớp phủ bề
mặt tại các địa điểm bị cô lập. Các hố khác nhau về hình dạng, nhưng những
lỗ hổng bề mặt rất nhỏ do các điểm phản ứng anốt cục bộ hóa đặc biệt.
Trong một môi trường điện li nước ban đầu có chứa ion Cl- và các phân tử O2 , các ion Cl- di chuyển về phía dưới cùng của hố và phân tử (O2) phản
ứng với các phân tử nước trên bề mặt kim loại (hình 3-21b). Vì vậy, muối clorua kim loại (FeCl2) và ion OH- được sinh ra. Đây là một quá trình oxi hóa
được biết đến là quá trình hòa tan kim loại [137-138]. Trước khi hình thành
FeCl2, các phản ứng chủ yếu ban đầu như sau:
Fe Fe+2 + 2e- (3.1) O2 + 2H2O + 2e- 4OH- (3.2) Fe+2 + 2Cl- FeCl2 (3.3)
Sau đó, FeCl2 bị thủy phân bởi các phân tử nước. Do đó,
+ 2H2O Fe(OH)2 + 2HCl (3.4) Axít HCl tự do hình thành ở dưới cùng của hố làm tăng nồng độ axít tại
FeCl2
các địa điểm. Điều này làm cho nồng độ ion hyđrô tăng lên và mức độ axít có thể được xác định bởi pH = -lg[H+].
Các hyđrôxit sắt II (Fe(OH)2) không ổn định và do đó nó phản ứng với
ôxy hòa tan trong nước để tạo thành sản phẩm ăn mòn. Do đó,
4Fe(OH)2 + O2 + 2H2O 4Fe(OH)3 (3.5)
Rỗ sẽ xảy ra, một cơ chế hòa tan kim loại không đồng nhất xác định
một cuộc tấn công cục bộ mà có thể liên quan đến việc thâm nhập kim loại
trong phần cấu trúc mỏng. Trong trường hợp của các bộ phận kết cấu lớn, rỗ
thường là ít có ý nghĩa. Mặt khác, phá hủy bề mặt do cơ chế rỗ cũng được ghi
trong rất nhiều các tài liệu. Do đó, rỗ thường phát triển đi kèm với các vết vi
- 94 -
nứt bề mặt của kim loại.
Sắt hòa tan do ăn mòn trong dung dịch Ca(OH)2 + NaCl có thể dẫn đến nhiều hợp chất chứa Fe (II) phụ thuộc vào nồng độ Cl- và OH- trên bề mặt tiếp
xúc. Vì vậy, nồng độ các chất có ảnh hưởng mạnh mẽ và chúng có thể kiểm
soát các quá trình ăn mòn hay tái thụ động. Ăn mòn lỗ gây ra bởi sự phân cực
catốt của một bề mặt thép trong một môi trường kiềm điện li tĩnh để tạo
Fe(OH)2, và Fe(OH)2 bị oxi hóa bởi O2 thành Fe(OH)3. Sự hiểu biết về hành
vi của sắt đã ngày càng rất rõ ràng bởi kiến thức chi tiết về cơ chế hình thành
và biến đổi của Fe (II) trong các pha có mặt trong sản phẩm ăn mòn.
3.2.3. Đặc tính nhiễu điện hóa ăn mòn hỗn hợp của thép cacbon thấp
Hầu hết các nghiên cứu ăn mòn đều cho rằng thép cacbon thấp thể hiện
ăn mòn hỗn hợp trong môi trường NaCl. Nhưng các kết quả về tốc độ ăn mòn
đều tính toán cho dạng ăn mòn đều. Dữ liệu thực nghiệm bằng ENM cho ăn
mòn của thép cacbon thấp trong dung dịch NaCl 3,5 % ở điều kiện thường
được trình bày trên hình 3-22a. Ta dễ dàng nhận thấy điện thế OPC của thép
cacbon thấp trong môi trường này dịch chuyển về phía catốt và ổn định sau
3000 giây nhưng biểu hiện dòng nhiễu tăng giảm bất thường. Biên độ dao
động (hình 3-22b) của thế và dòng theo thời gian cho thấy chúng là những
- 95 -
biến động ngẫu nhiên liên tục.
Hình 3-22. Phổ dữ liệu nhiễu dòng - thế của thép cacbon thấp theo thời gian
trong dung dịch NaCl 3,5%.
Kết quả phân tích FFT cho phổ LogPSD/logF trong 1024 điểm dữ liệu
thời gian đầu trình bày trên hình 3-23b. Phổ PSD cho điện thế nhiễu (đường
1) không quan sát thấy ở vùng tần số thấp cho các dữ liệu thử nghiệm có đoạn
nằm ngang nhưng phổ PSD cho dòng nhiễu (đường 2) lại rất rõ dàng. Điều
này cho thấy sự xuất hiện của quá trình ăn mòn cục bộ xảy ra ở giai đoạn này
là hợp lý. Đồng thời, tại tần số cao hơn của tín hiệu cho cả thế và dòng nhiễu
xuất hiện phần cuộn lại thể hiện cho đặc tính của ăn mòn đều. như vậy đây là
một quá trình ăn mòn hỗn hợp. Tuy nhiên phổ PSD của cả dòng và thế nhiễu
- 96 -
vẫn không có mối tương quan rõ ràng cho cơ chế ăn mòn.
Hình 3-23. Phổ dữ liệu nhiễu điện hóa ở thời gian ngắn ban đầu (1042 điểm).
Kết quả trên phổ PSD (hình 3-24d) cho thấy có phần bằng phẳng phía
tần số thấp nhưng không rõ ràng để thể hiện ăn mòn cục bộ xuất hiện tương
ứng biên độ dao động nhiễu (hình 3-24b). Đồng thời xuất hiện phần cuộn lại ở
tần số cao hơn tương ứng biểu hiện biên độ dao động nhiễu của ăn mòn đều.
Như vậy có thể thấy mối tương quan giữa mật độ phổ công suất của biên độ
dòng nhiễu rõ ràng hơn so với mật độ phổ công suất của biên độ thế nhiễu đối
với biểu hiện của ăn mòn cục bộ ở tần số thấp mặc dù chúng đều xuất hiện
- 97 -
phần bằng phẳng phía tần số thấp không rõ ràng.
Hình 3-24. Biên độ nhiễu điện hóa ở thời gian dài ứng với mật độ phổ công
suất dòng và thế nhiễu tách mức (2 giờ thử nghiệm).
Tiến hành phân tích sóng nhỏ cho dữ liệu nhiễu dòng với 7 bậc tách,
kết quả được trình bày trên hình 3-25 và 3-26 dưới đây. Kết quả cho thấy mật
độ năng lượng tập trung ở hai đơn vị cơ sở chi tiết trong đó: D1 thể hiện cho
ăn mòn đều; D6 thể hiện cho ăn mòn cục bộ trong khoảng tần số 0,0625 –
0,0312 Hz tương ứng 16 – 32 giây. Giá trị D trong trường hợp này là 2,0952
nằm trung gian giữa ăn mòn đều và ăn mòn cục bộ thể hiện cho quá trình ăn
mòn thép các bon thấp trong môi trường này xảy ra là hỗn hợp nhưng ăn mòn
đều vẫn chiếm ưu thế hơn. Các kết quả thu được từ phổ PSD và phân bố ESD
- 98 -
phù hợp với kết quả hình thái bề mặt bị ăn mòn sau thử nghiệm (hình 3-27).
Hình 3-25. Bảy bậc tách (Dj - db4) tín hiệu nhiễu dòng ăn mòn sau 2 giờ thử
nghiệm.
- 99 -
Hình 3-26. Phổ phân bố ESD và các hệ số phân chia cơ bản Dj.
Hình 3-27. Hình ảnh (100) bề mặt thép cacbon thấp sau khảo sát nhiễu điện
hóa ăn mòn trong dung dịch NaCl 3,5% sau 16 giờ thử nghiệm.
(B , B’ - Trước và sau khi loại sản phẩm ăn mòn)
3.2.4. Các thông số điện hóa đặc trưng của thép cacbon thấp trong các môi
trường thử nghiệm ăn mòn
Các mẫu thí nghiệm được tiến hành khảo sát ăn mòn bằng kĩ thuật phân
cực điện hóa thông thường trong cùng loại dung dịch khảo sát và xác định các
thông số điện hóa ăn mòn. Hình 3-28 biểu diễn đường cong phân cực điện hóa
của thép cacbon thấp trong các môi trường ăn mòn khác nhau (dung dịch ăn
mòn NaCl, H2SO4, C6H8O7 và Ca(OH)2 + NaCl). Hình 3-28a và bảng 3-2 là
kết quả đo phân cực và phân tích các thông số điện hóa sau 30 phút ngâm
(đến trạng thái điện thế mạch hở ổn định). Đường phân cực của thép cacbon thấp trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2 + NaCl (1:1) ứng với sự có mặt OH- nên
vùng phân cực nhánh anốt có mật độ dòng thấp do có hiện tượng thụ động bề
mặt đồng thời bị ăn mòn cục bộ nhưng thể hiện trong hình 3-28 đường (1)
không phát hiện được đặc trưng gì. Đường phân cực thế vòng của thép cacbon
thấp trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2 + NaCl (1:1) (hình 3-28b) được tiến hành
sau 5 phút ngâm cho thấy biểu hiện của hiện tượng thụ động bề mặt (chiều
anốt) và biểu hiện ăn mòn cục bộ (chiều catốt). Giá trị Epit gần trùng với điện
- 100 -
thế ăn mòn (đường 1 - hình 3-28a). Điện thế ăn mòn của thép dịch về vùng
bảo vệ anốt nhưng do có mặt Cl- nên có biểu biện ăn mòn cục bộ đặc trưng và
được phát hiện bằng kĩ thuật nhiễu điện hóa.
Hình 3-28. Đường cong phân cực điện hóa của thép cacbon thấp trong các
dung dịch ăn mòn thử nghiệm.
Các thông số điện hóa xác định từ các đường cong phân cực được trình
bày trong bảng 3-2. Kết quả cho thấy thép cacbon thấp có mật độ dòng ăn
mòn trong dung dịch 0,1M Ca(OH)2+NaCl (1:1) nhỏ hơn khoảng 10 lần. Kết
- 101 -
quả này là do thép cacbon thấp đã được thụ động trong môi trường này.
xitric
0,1M
Thép cacbon thấp
NaCl 3,5%
H2SO4 1N
Ca(OH)2+NaCl(1:1)
0,1 M
I corr, A/cm2
5,145E-5
2,311E-4
1,361E-3
4,85E-6
-0,607
-0,535
-0,505
-0,592
Ecorr, VSCE
0,1038
0,3609
0,4474
0,1362
bc, V/dec
0,0670
0,2750
0,1159
0,2433
ba, V/dec
8,589E+1
4,152E+1
4,161E+0
1,106E+3
Rp,
Tốc độ ăn mòn,
5,988E-1
2,689E+0
1,584E+1
5,644E-2
mm/năm
Bảng 3-2: Các thông số điện hóa của thép cacbon thấp từ phân cực điện thế.
3.2.5. Mối quan hệ của một số thông số điện hóa của phương pháp nhiễu
điện hóa và phương pháp điện hóa thông thường
Kết quả thực nghiệm khảo sát mối tương quan giữa điện trở nhiễu và
điện trở phân cực cho thép cacbon thấp được tính toán và trình bày trong bảng
3-3 và hình 3-29. Các giá trị thu được cho thấy rằng giữa điện trở nhiễu và
điện trở phân cực trong quá trình ăn mòn đều có thể sử dụng như nhau trong
tính toán tốc độ ăn mòn.
Bảng 3-3: Thông số Rp - Rn và PI.
Môi trường PI Rp, Rn,
1.106 4.690 0,1042 0,1MCa(OH)2 + NaCl(1:1)
NaCl 3,5% 85,9 99,8 0,0101
41,5 36,9 0,0096 C6H8O7 0,1M
- 102 -
4,2 4,7 0,0099 H2SO4 1M
Hình 3-29. Mối tương quan giữa Rp – Rn.
Điện trở nhiễu Rn có thể đo như Rp, và tổng trở nhiễu điện hóa có thể đo
bằng giao diện tổng trở, một vài điều kiện cần chú ý sau:
i) Hệ tuyến tính; Trạng thái ổn định; Các điện cực giống nhau (điện cực
đối xứng).
ii) Thời gian ghi không ở trạng thái tĩnh nhưng trạng thái động gần như
nhỏ dẫn đến phổ có tầm quan trọng.
iii) Phổ năng lượng bị giới hạn tại các tần số cao do các thành phần tần
số cao của mạch tương đương không ghi lại được.
iv) Thông tin về pha là giá trị đáng ngờ.
Hầu hết các nghiên cứu đã và đang cố gắng tìm mối tương quan của các
số thông số điện hóa và nhiễu điện hóa nhưng các kết quả nghiên cứu đã chỉ
ra rằng chỉ có mối tương quan của điện trở phân cực và điện trở nhiễu ở trong
điều kiện ăn mòn đều. Các điều kiện ăn mòn cục bộ khác như ăn mòn lỗ, ăn
mòn khe, ăn mòn dự ứng lực … đều không thu được bất kỳ tương quan tin
- 103 -
cậy nào và vẫn còn đang được tranh luận.
3.3. Ăn mòn cục bộ của thép hợp kim 304
Hợp kim này có chứa các nguyên tố kim loại cơ bản như niken (Ni)
11,86 %, crôm (Cr) 18 %, molypden (Mo) 2,3 %, mangan (Mn) 1,7 %. Hàm
lượng Cr và Mo cung cấp khả năng bảo vệ vượt trội chống các điều kiện oxi
hóa khử.
3.3.1. Ăn mòn lỗ
Các quá trình ăn mòn, đặc biệt là ăn mòn cục bộ như khe, lỗ và ăn mòn
ứng lực… chủ yếu là do màng thụ động hình thành không đồng nhất hoặc
màng thụ động bị phá vỡ cục bộ bởi phản ứng hóa học hay điện hóa của kim
loại khi làm việc trong môi trường xâm thực. Trên quan điểm điện hóa ăn
mòn bề mặt kim loại, các quá trình trên gây ra biến động tự phát của tín hiệu
điện hóa theo thời gian. Những tín hiệu dạng này được biết đến như là nhiễu
điện hóa (EN) trên bề mặt điện cực kim loại bị ăn mòn. Thông tin về những
biến động bề mặt kim loại do quá trình ăn mòn khác nhau thể hiện qua các tín
hiệu điện thế và tín hiệu dòng nhiễu [51, 135, 139-140]. Các quá trình ngẫu
nhiên (phá vỡ và tái thụ động của màng thụ động) và các quá trình mặc định
(hình thành màng và phát tán lỗ) xảy ra tương ứng với các phản ứng anốt và
catốt [141-142]. Những nghiên cứu về các hiện tượng ăn mòn cục bộ bao gồm
việc phân tích ngẫu nhiên biến động điện thế và/hoặc dòng [35, 64] chủ yếu
tập trung phân tích nhiễu điện thế. Một trong những phương pháp tiếp cận đối
với một tín hiệu ngẫu nhiên đặc trưng là ước tính mật độ phổ công suất của nó
(PSD), đó là phân bố năng lượng của tín hiệu trong miền tần số [51]. Thực
hiện phân tích phổ của các biến động thế điện cực hay dòng điện hóa xuất
hiện trong một hệ điện hóa là một kĩ thuật thú vị đang được quan tâm phát
triển để theo dõi sự khởi đầu và kết thúc của sự kiện ăn mòn cục bộ [142].
Một công cụ là thuật toán khai triển Fourier nhanh (FFT) thực hiện phân tích
- 104 -
phổ của các tín hiệu EN. Tuy nhiên, biến đổi Fourier khó áp dụng được đối
với tín hiệu có tần số thay đổi như kiểu tín hiệu nhiễu và bị giới hạn bởi
nguyên tắc Nyquit của phổ tần số [143].
Trong phần này trình bày kết quả nghiên cứu về ăn mòn lỗ trên điện cực
thép không gỉ 304 trong dung dịch FeCl3 (hệ E) ở điều kiện môi trường không
khí và nhiệt độ phòng thí nghiệm. Nhiễu điện hóa phản ánh biểu hiện của quá
trình ăn mòn cơ bản xảy ra trên bề mặt kim loại. Đối với thép không gỉ, sự có
mặt của ôxy là điều cần thiết cho toàn bộ quá trình ăn mòn, không chỉ để duy
trì màng thụ động mà còn là một yếu tố trong phản ứng catốt. Nó thể hiện mối
quan hệ giữa đặc tính của dòng và thế nhiễu điện hóa trên điện cực thép 304
và biểu hiện hình thái học ăn mòn lỗ bề mặt. Kết quả thực nghiệm sẽ được
thảo luận và so sánh với những nghiên cứu của các nhóm khác.
3.3.1.1. Dữ liệu nhiễu điện hóa ăn mòn lỗ và phân cực điện hóa
Phổ ghi dữ liệu của dòng và thế bằng kĩ thuật nhiễu điện hóa theo thời
gian liên tục trong 2 giờ được thể hiện trong hình 3-30. Kết quả đã ghi nhận
được sự xuất hiện dòng anốt thoáng qua vẫn ở mức dòng cao hơn trong
khoảng 1.500 giây đầu trước khi trở về giá trị thấp hơn, sau đó cả thế và dòng
dao động trong khoảng thấp.
- 105 -
Hình 3-30. Dòng và thế nhiễu của mẫu thép 304 trong dung dịch FeCl3.
Hình 3-31. Phổ biên độ EN của mẫu thép 304 trong dung dịch FeCl3.
(a - nhiễu thế; b - nhiễu dòng)
Trên phổ biên độ điện thế và dòng nhiễu hình 3-31 thể hiện những dao
động mạnh liên tục với biên độ lớn. Đây là đặc trưng của dòng và thế đã ghi
lại trong đó cho thấy sự phát triển của một hố ổn định cụ thể. Nhiễu gắn liền
với quá trình ăn mòn lỗ là lớn hơn rất nhiều so với quá trình ăn mòn đồng
đều. Mầm lỗ giả bền và lây lan thường là kết quả từ quá trình bắt đầu rỗ. Theo
Cottis [70], ở thời gian ngắn tạo ra rỗ chưa ổn định tương đối ngắn ở thời gian
ngắn anốt, trái lại với catốt ở thời gian ngắn trên các điện cực làm việc. Ở thời
gian ngắn catốt, ban đầu sản phẩm hình thành do việc phóng điện lớp kép, và
sau đó nạp lại bởi quá trình catốt bình thường. Các lỗ phát triển tốt được quan
- 106 -
sát trên vùng diện tích bề mặt của mẫu (hình 3-37a).
Kết quả về dòng và thế nhiễu theo thời gian được thể hiện trong hình 3.30
cho thấy trạng thái giả bền lỗ trên bề mặt của thép không gỉ 304 gia tăng thế
là chậm và dòng tăng nhanh chóng. Dòng ở thời gian ngắn là kết quả từ sự tạo
mầm, phát triển và biến mất của lỗ giả bền kéo dài một vài giây [64, 134].
Đến khi chuyển về trạng thái ổn định thì dòng giảm chậm, thế giảm nhanh thể
hiện trong phổ hình 3-31. Hình 3-32 minh họa kết quả một số thời gian ngắn
có thể tiếp tục làm gia tăng lỗ giả bền hoặc bền trong nghiên cứu này.
- 107 -
Hình 3-32. Lỗ giả bền (a) và lỗ bền (b).
Như thể hiện trong hình 3-32, các đặc tính biểu hiện gia tăng nhanh và
phục hồi chậm của nhiễu dòng đã được quan sát. Ngoài ra, tất cả các gai
nhiễu là trong cùng một hướng (kết quả tương tự Homborg [108] đã phân tích
bằng phổ Hilbert). Xem xét các phép đo được thực hiện bằng cách sử dụng
đúng một điện cực so sánh, hố giả bền chỉ xảy ra trên WEs. Điều này dẫn đến
việc thế bị dịch về phía âm. Mặt khác, hai điện cực làm việc và điện cực đối
(WEs) danh nghĩa giống nhau, nên rỗ xảy ra ngẫu nhiên bất kỳ trên một trong
hai WEs, nhưng hầu hết dòng quá độ xảy ra không đối xứng trong một hướng
(như thể hiện trong hình 3-32b).
Sự không đối xứng ở trên không phải chỉ là một sự trùng hợp, mà
thường được quan sát thấy trong phân tích các tập dữ liệu nhiễu điện hóa.
Theo Cottis [94] và Dong [144], nó có thể được gán cho những thay đổi pH
nhẹ xảy ra như là kết quả của dòng thực giữa hai WEs. Điện cực không rỗ sẽ
là một catốt thực, và các dung dịch lân cận sẽ trở nên kiềm sẽ ức chế mầm rỗ.
Trong khi đó, các điện cực rỗ sẽ là một anốt thực, và các dung dịch sẽ có
được nhiều axít hơn, đó sẽ tạo điều kiện cho mầm rỗ dẫn đến một sự bất đối
xứng lớn giữa hai WEs.
Nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này tin rằng những quá độ dòng
và thế điển hình cho thấy sự khởi đầu của rỗ giả bền. Sau một thời gian ngắn
phát triển rỗ thì có tái thụ động của chỗ rỗ gây ra các quá độ để trở về giá trị
ban đầu của chúng [64, 134, 144]. Vì vậy, giảm thời gian quá độ dòng cho
thấy rằng quá trình tái thụ động rỗ giả bền được tăng tốc bởi chính sản phẩm
ăn mòn hoặc sự có mặt của các phần tử có khả năng ức chế. Trong khi đó, các
biến động thế trong quá trình ăn mòn lỗ chủ yếu có thể do ảnh hưởng chi phối
- 108 -
của lớp điện tích kép.
3.3.1.2. Mật độ phổ công suất và năng lượng nhiễu điện hóa của ăn mòn lỗ
Hình 3-33. Biên độ dao động của tín hiệu nhiễu và mật độ phổ công suất
- 109 -
dòng của thép 304 ăn mòn lỗ hai giờ trong môi trường thử nghiệm.
Kết quả phân tích mật độ phổ công suất của nhiễu dòng theo phương
pháp WT-FFT phân tách bậc (ở thời gian ngắn cuối 2 giờ thử nghiệm) được
trình bày trên hình hình 3-33b,c. Từ các kết quả phân tích tách bậc cho phổ
LogPSD/logF quan sát thấy ở vùng tần số thấp (< 0,04 Hz) cho các dữ liệu
nhiễu dòng có đoạn nằm ngang không rõ ràng. Điều này khẳng định ưu thế
của quá trình ăn mòn cục bộ nói chung và ăn mòn lỗ nói riêng trong điều kiện
nghiên cứu này không có căn cứ [14] mặc dù biểu hiện nhiễu (hình 3-33a) rất
đặc trưng cho ăn mòn lỗ. Ngoài ra, biên độ nhiễu tách bậc 7 (hình 3-33a) vẫn
dữ nguyên được vị trí của dao động đặc trưng ăn mòn cục bộ đồng thời các vị
trí khác là không có biểu hiện của ăn mòn đều chủ yếu ở bậc phân tách này.
Kết quả phân tích bằng phương pháp sóng nhỏ được trình bày trong
hình 3-34. Trong toàn bộ 7 bậc tách trên cho thấy chủ yếu là biểu hiện sóng
nhỏ của biến động bất thường ở thời gian dài với năng lượng lớn. Các đỉnh
được xác định với tần số tương đối thấp có thể được quan sát cho quá trình
lan truyền ăn mòn lỗ (hình 3-32b).
Hình 3-34. Bảy bậc tách (Dj – db4) tín hiệu nhiễu dòng ăn mòn lỗ sau 2 giờ
- 110 -
thử nghiệm.
Kết quả phân bố năng lượng được tính toán, biểu diễn trong hình 3-35.
Hình 3-35. Phổ phân bố ESD và các hệ số phân chia cơ bản Dj.
Rõ ràng rằng tín hiệu đặc trưng ăn mòn lỗ tập trung ở D7 (hình 3-35).
Chúng đã có một tần số tương đối thấp từ 0,0312 - 0,0156 Hz và có khoảng
thời gian dài 32 - 64 giây. Điều đó đã được Wang [135] chỉ ra rằng ăn mòn
cục bộ là một quá trình chậm với một tần số thấp và khoảng thời gian dài. Độ
dốc đường logarit phương sai năng lượng là lớn. Tương ứng là kích thước
phân đoạn D nhỏ hơn 2 (D = 1,4234).
Đường cong phân cực thế vòng trong nghiên cứu này (hình 3-36) cho
thấy rõ ràng rằng thép 304 không thụ động trong môi trường khảo sát và các
biểu hiện ăn mòn lỗ theo các tiêu chuẩn điện hóa thông thường cũng không
thấy xuất hiện. Kết quả biểu hiện chiều quay về là dương và cắt nhánh anốt là
phù hợp biểu hiện của dòng anốt thoáng qua của kết quả nhiễu điện hóa ở trên
(tại giá trị điện thế EL= -5,2 mV). Nhưng kết quả từ hình ảnh bề mặt lại cho
- 111 -
thấy chỉ xuất hiện các lỗ trên bề mặt thép bị ăn mòn (hình 3-37b).
Hình 3-36. Đường phân cực của thép không gỉ 304 trong dung dịch FeCl3.
Bảng 3-4: Các thông số điện hóa từ đường cong phân cực của thép 304 trong
dung dịch FeCl3.
Icorr
ba, V/dec bc, V/dec EL, mV Ecorr,mV Rp,
- 5,2 4,6 1,077E-3 40,33 0,1058 1,8308
Khi sử dụng kĩ thuật phân cực điện hóa, đây là phép đo thường phá hủy
bề mặt mẫu. Đối với các bề mặt kim loại có khả năng thụ động thì nó cho
phép xác định được miền thụ động thế/ dòng của bề mặt kim loại trong môi
trường khảo sát. Hầu hết các thông tin về thế/ dòng của phương pháp này đều
chưa đủ thuyết phục để giải thích cơ chế hình thành và phát triển các điểm ăn
mòn xuất hiện trên bề mặt kim loại bị ăn mòn.
3.3.1.3. Hình ảnh bề mặt sau thử nghiệm ăn mòn lỗ
Các biểu hiện lỗ ăn mòn bề mặt được quan sát sau các phép đo điện hóa
và nhiễu điện hóa cho thép không gỉ 304 ăn mòn lỗ trong dung dịch FeCl3.
Kết quả kiểm tra bằng kính hiển vi của bề mặt của điện cực sau 16 giờ thử
nghiệm EN (hình 3-37a) cho thấy hình thái bề mặt bị ăn mòn lỗ có đặc trưng
- 112 -
khác hẳn với lỗ hình thành do phân cực điện hóa (hình 3-37b).
Hình 3-37. Hình ảnh các lỗ phát triển trên bề mặt của mẫu thép 304.
(a - nhiễu điện hóa sau 16 giờ; b - các lỗ sau khi đo phân cực điện thế)
Từ hình 3-37b cho thấy khi sử dụng phương pháp phân cực điện hóa đã
tác động lên lớp sản phẩm ăn mòn bật ra khỏi miệng lỗ làm cho lỗ phát triển
sâu, rộng và miệng lỗ có dạng hình tròn. Đường kính của các lỗ bị ăn mòn
khoảng vài chục micromet, mặc dù một vài hố có đường kính tương đối lớn
cũng xuất hiện, nhưng vẫn rất thấp ( 100 μm). Độ sâu hố trong điều kiện
nghiên cứu này rất thấp dưới mức độ nhạy của kính hiển vi quang học đo
được. Dòng ăn mòn đo được trong quá trình này luôn cao hơn nhiều so với
thực tế do vậy dễ dẫn đến tính toán tốc độ ăn mòn không chính xác. Từ kết
quả hình 3-37a cho thấy bằng phương pháp nhiễu điện hóa nghiên cứu cho
quá trình ăn mòn lỗ không tác động bề mặt. Quá trình ăn mòn xảy ra là tự
nhiên [14, 132]. Sản phẩm ăn mòn bịt trên miệng các lỗ làm giảm tốc độ ăn
mòn của bề mặt thép. Chính các lớp sản phẩm ăn mòn này đóng góp một phần
vào dữ liệu nhiễu dòng hay thế theo cách mà ta đã thu được.
Các cơ chế đã được đề xuất cho sự cố màng thụ động như: đã bị thâm
nhập, phá vỡ màng thụ động và hấp phụ. Đối với thép không gỉ, Macdonald
D.D đã đề xuất kết hợp giữa màng thụ động và các hợp chất sunfua đại diện
cho một khu vực của mạng tinh thể khuyết tật, do đó là một nơi thuận lợi cho
- 113 -
ngưng tụ cation và các vị trí sự cố thụ động [53]. Ngoài ra, các nghiên cứu
khác gần đây cho rằng sự hòa tan MnS gây ra sự phát triển của một chất xúc
tiến cục bộ trong một môi trường hạn chế đầy đủ khử thụ động điện cực thép
không gỉ [132].
3.3.2. Ăn mòn khe
Thép không gỉ 304 là một trong những hợp kim rất thông dụng và đa
năng trong họ Ni-Cr-Mo; nó được chế tạo có độ bền ăn mòn cao trong các
môi trường. Mặc dù có khả năng chống ăn mòn cao, thép 304 cũng như các
hợp kim trong họ Ni-Cr-Mo rất dễ bị ăn mòn khe trong một số điều kiện
chẳng hạn như nhiệt độ cao, nồng độ clorua cao và độ pH thấp [145].
Ăn mòn khe thường được phân tích trực tiếp các dữ liệu nhiễu điện hóa.
Các dấu hiệu dự kiến về sự hiện diện của loại hình ăn mòn này là giảm thế
duy trì theo thời gian và đồng thời là sự gia tăng của dòng [92, 94, 145-146].
Cho đến nay, kĩ thuật này chưa được sử dụng nhiều để nghiên cứu ăn mòn
khe của hợp kim Ni-Cr-Mo.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã theo dõi biến động thế và dòng điện
hóa bằng kĩ thuật nhiễu điện hóa. Một số thông số thống kê được tính toán khi
hệ nghiên cứu đạt trạng thái ăn mòn khe ổn định để xem các thông số này có
thể chỉ ra sự hiện diện ăn mòn cục bộ hay không. Mục đích của công việc này
là đánh giá khả năng của kĩ thuật nhiễu điện hoá ứng dụng trong việc phát
hiện và nghiên cứu ăn mòn khe cho hợp kim Ni-Cr-Mo nói chung và cho thép
không gỉ 304 nói riêng trong điều kiện thử nghiệm. Việc sử dụng kĩ thuật này
trong lĩnh vực điện hóa ăn mòn nói chung là đầy hứa hẹn, nó không chỉ ứng
dụng khảo sát ăn mòn kim loại, mà còn là một phương pháp để giám sát ăn
- 114 -
mòn tại chỗ trên công trình.
3.3.2.1. Thế và dòng nhiễu điện hóa của ăn mòn khe
Hệ ăn mòn khe sẽ hình thành sau khi cặp WEs bên trong và bên ngoài
kẽ hở. Nhiễu dòng, tức dòng galvanic (Ig), cho biết có sự tăng tốc sự ăn mòn
của WE1. Nhiễu điện thế, tức thế cặp (Eg), có thể phản ánh tình trạng bề mặt
của hai WEs. Việc khởi và phát triển ăn mòn kẽ hở của WEs có thể được xác
định thông qua việc phân tích các bản ghi thời gian EN. Hình 3-38 trình bày
kết quả dữ liệu nhiễu điện hóa thu được từ mẫu thép không gỉ 304 thử nghiệm
ăn mòn khe 15 giờ trong dung dịch FeCl3 duy trì ở nhiệt độ 30 C bằng kĩ
thuật ZRA trong các điều kiện được nghiên cứu theo thời gian thực. Biểu hiện
kết quả trên cho thấy thế ổn định của hợp kim sau khoảng 3000 giây. Dòng
ghi được ban đầu là tương đối cao ( 2,310-4 A) và sụt nhanh theo thời gian
thử nghiệm. Biểu hiện dòng và thế theo thời gian của cả hai trường hợp đều
tương tự nhau. Thời điểm xuất hiện biến động mạnh, rõ ràng ổn định của cả
dòng và thế là sau 10 giờ thử nghiệm.
Hình 3-38. Dòng và thế nhiễu theo thời gian của thép 304 ăn mòn khe 15 giờ
- 115 -
thử nghiệm.
Biểu hiện biên độ nhiễu dòng và thế được thể hiện trong hình 3-39. Kết
quả cho thấy dữ liệu thế và dòng của thép 304 sau khoảng 2 giờ thử nghiệm
thì cả dòng và thế đều có biên độ dao động rất mạnh theo từng khoảng thời
gian sau đó lại là biến động đều và thụt giảm. Phổ nhiễu điện hóa thể hiện
trong trường hợp ở thời gian đầu (vùng 1) cho ăn mòn khe, ở đó chỉ có một sự
biến đổi nhanh cả dòng và thế nhiễu. Biểu hiện này rất phù hợp với đặc trưng
phổ nhiễu điện hóa của dạng ăn mòn khe [70, 147]. Kết quả này tương ứng
với hình ảnh bề mặt ăn mòn khe theo thời gian thử nghiệm (hình 3-44). Biên
độ nhiễu thế khoảng 0,6 mV- hình 3-39a vùng 1 và 3 đến 4 mV vùng 2). Sau
khoảng 10 giờ thử nghiệm thì cả dòng và thế đều có biến động rất mạnh và
thời gian tồn tại lâu hơn với các đặc trưng khác hẳn so với quãng thời gian
trước đó (vùng 2 cho cả biên độ nhiễu dòng và thế).
Hình 3-39. Biên độ dao động nhiễu thế và dòng ăn mòn khe của thép 304
- 116 -
trong môi trường thử nghiệm FeCl3 tại 30 C.
Tiến hành phân tích chi tiết những biến động bất thường đặc trưng
(vùng 2) theo thời gian cho dòng nhiễu và biên độ dao động của chúng thông
qua bộ lọc băng thông tần số từ 2 Hz đến 0,001 Hz thu được kết quả thể hiện
trên hình 3-40. Rõ ràng rằng phần lệch dương lớn của biên độ dao động dòng
không còn xuất hiện trên phổ biên độ dao động ở thời gian ngắn mà là biểu
hiện gần cân đối. Kết quả trên thể hiện bộ lọc đã xử lý được phần cộng hưởng
tín hiệu do thoát khí H2 ra khỏi khe trong quá trình ăn mòn trong khe. Đồng
thời không hề có biểu hiện trạng thái giả bền như ăn mòn lỗ ở thời gian ngắn.
Hình 3-40. biên độ dòng nhiễu của vùng 2 mẫu thép 304 ăn mòn khe trong
dung dịch FeCl3.
3.3.2.2. Mật độ phổ công suất và năng lượng nhiễu điện hóa của ăn mòn khe
Dữ liệu nhiễu điện hóa được phân tích theo WT- FFT cho mật độ phổ
công suất dòng được trình bày trong hình 3-41. Khi phân tách WT bậc 7, biên
độ nhiễu dòng có biểu hiện dao động dạng sóng của ăn mòn đều với cường độ
thấp. Kết quả của mật độ phổ công suất dòng cũng cho thấy có phần cuộn lại
tại tần số 0,04 và 0,1 Hz rất đặc trưng cho ăn mòn đều (phân tích ở 1024 điểm
cuối 2 giờ cũng như toàn bộ 2 giờ thử nghiệm). Khi ăn mòn khe ở trạng thái
ổn định thì biểu hiện của chúng trên phổ nhiễu là rất rõ ràng. Khoảng thời
gian tồn tại một bùng phát nhiễu từ hàng chục giây đến trăm giây (hình 3-
- 117 -
39a).
Hình 3-41. Mật độ phổ công suất và biên độ dao động nhiễu thế và dòng của
- 118 -
thép 304 ăn mòn khe 2 giờ trong môi trường thử nghiệm.
Khoảng thời gian bùng phát nhiễu có thể tương ứng với lớp sản phẩm
ăn mòn bị bật ra khỏi miệng khe do thoát khí tăng tốc quá trình ăn mòn.
Những bùng phát nhiễu có thời gian tồn tại tương tự nhưng biên độ thấp hơn
có thể là của quá trình lan truyền và phát triển ăn mòn bề mặt trong khe.
Chính vì điều này mà khi phân tách bậc 7 ở thời gian tương đối cho ăn mòn
đều được thể hiện rất đặc trưng phần cuộn lại của mật độ phổ công suất phân
tích theo Wt-FFT (hình 3-41b,c). Tần số thể hiện ăn mòn đều cho phần cuộn
lại của phổ khoảng > 0,1 Hz và các phần cuộn lại ở tần số cao hơn.
Kết quả phân tích bằng phương pháp sóng nhỏ được trình bày trong
hình 3-42. Trong toàn bộ 7 bậc tách trên cho thấy chủ yếu là biểu hiện sóng
nhỏ của biến động bất thường ở thời gian dài với năng lượng lớn. Tuy vậy
vẫn xuất hiện biểu hiện dao động của các sóng nhỏ tần số cao trên toàn bộ 7
bậc tách.
Hình 3-42. Bảy bậc tách (Dj – db4) tín hiệu nhiễu dòng ăn mòn khe sau hai
- 119 -
giờ thử nghiệm.
Kết quả mật độ năng lượng được tính toán và biểu diễn trong hình 3-43.
Tín hiệu ECN cho ăn mòn khe trong hình 3-43 đã bao gồm hai loại biến động
(tức là hai khoảng tần số), do đó ESD ăn mòn khe có hai đỉnh tại đơn vị cơ sở
D7 và D1 tương ứng đồng thời đỉnh D7 lớn hơn nhiều so với D1. Kết quả
và D của quá trình ăn mòn khe tương tự như ăn mòn lỗ; chúng thể hiện cho
đặc trưng ăn mòn cục bộ [116]. Những kết quả ESD phù hợp với kết quả của
PSD (hình 3-41). Các kết quả này chỉ ra rằng ăn mòn khe là dạng ăn mòn cục
bộ điển hình so với tổng thể bề mặt kim loại nhưng đồng thời bề mặt kim loại
trong khe lại xuất hiện ăn mòn đều.
Hình 3-43. Phổ phân bố ESD và các hệ số phân chia cơ bản Dj.
3.3.2.3. Hình ảnh bề mặt sau thử nghiệm ăn mòn khe
Kết quả hình ảnh bề mặt sau thử nghiệm ăn mòn khe cho thép 304
trong dung dịch FeCl3 thể hiện trên hình 3-44. Trong khoảng thời gian đầu, bề
mặt mẫu có biểu hiện ăn mòn quanh mép khe (hình b). Dạng ăn mòn này là
biểu hiện ăn mòn cục bộ theo thời gian thử nghiệm. Có thể do chính điều này
- 120 -
làm ảnh hưởng đến phổ biên độ do động nhiễu thế và dòng rất mạnh trong
thời gian đầu (hình 3-39). Biểu hiện mật độ phổ công suất dòng cho 1024
điểm ban đầu (khoảng 500 giây) cũng như trong 2 giờ đầu khi phân tách bậc 7
cho thấy xuất hiện dạng đặc trưng của ăn mòn đều (hình 3-41b,c). Ăn mòn
đều ở đây được hiểu là ăn mòn đều trên bề mặt kim loại trong khe (hình 3-
44d) nhưng là ăn mòn cục bộ tại vị trí trong khe so với toàn bộ bề mặt của
mẫu cho thấy ăn mòn khe là chủ đạo và phù hợp với kết quả hình ảnh bề mặt
sau thử nghiệm.
Hình 3-44. Hình ảnh của mẫu thử nghiệm ăn mòn khe trong dung dịch FeCl3.
(Mẫu ban đầu (a); sau 1.200 giây (b); sau 3.600 giây (c); sau 16 giờ (d))
Sự ăn mòn khe của thép không gỉ trong dung dịch clorua thông thường
theo cơ chế phá vỡ thụ động [102, 148]. Ở giai đoạn ban đầu, cả hai phần điện
cực bên trong và bên ngoài các kẽ hở trong trạng thái thụ động và quá trình
catốt là giảm ôxy:
- 121 -
O2 + 2H2O + 4e → OH- (3.6)
Quá trình anốt bao gồm hòa tan Fe và Cr:
Fe - 2e → Fe2+ (3.7) Cr - 3e → Cr3+ (3.8)
Khi có các quá trình ăn mòn, O2 bên trong các kẽ hở bị tiêu thụ và
không thể được bổ sung do hiệu ứng hút giữ. Phản ứng catốt (1) chủ yếu xảy
ra trên bề mặt điện cực bên ngoài khe, trong khi phản ứng anốt chủ yếu xảy ra trên bề mặt điện cực ở trong các khe[149]. Khi nồng độ ion Fe2+ và Cr3+ bên
trong các kẽ hở đạt đến giá trị nhất định, quá trình thủy phân sẽ diễn ra:
Fe2+ + 2H2O → Fe(OH)2 + 2H+ (3.9)
Cr3+ + 3H2O → Cr(OH)3 + 3H+ (3.10)
Giá trị pH bên trong các kẽ hở giảm khi các quá trình thủy phân diễn
ra. Quá trình axít hóa ưu tiên xảy ra tại phía dưới các kẽ hở bởi ảnh hưởng hút
giữ tại vùng này là nghiêm trọng hơn. Vì vậy, bề mặt điện cực tại các vùng
dưới kẽ hở chuyển tiếp từ trạng thái thụ động sang trạng thái hoạt động trong
trường hợp giá trị pH thấp, kết quả là một sự dịch chuyển điện thế về phía âm hơn (như thể hiện trong hình 3-38) và nồng độ Cl- cao bên trong các kẽ hở.
Điều này có nghĩa rằng sự thay đổi điện thế về phía âm và sự khác biệt điện
thế giữa hai vùng của điện cực bên trong và bên ngoài các kẽ hở tăng mạnh.
Sau đó, dòng cũng tăng mạnh, như thể hiện trong các phép đo EN (Hình 3-38 – hình nhỏ). Trong khi đó, [H+] có thể giảm trên bề mặt điện cực chưa bị ăn
mòn và các bong bóng khí hyđrô hình thành bên trong các kẽ hở:
2H+ + 2e → H2 ↑ (3.11)
Nói chung, phản ứng anốt chủ yếu xảy ra trên các vùng điện cực bên
trong các kẽ hở khi ăn mòn khe được kích hoạt và phản catốt có thể được bỏ
qua. Tuy nhiên, trong quá trình ăn mòn khe bao giờ cũng có một số bọt khí
hyđrô trên bề mặt điện cực làm việc (WE) bên trong các kẽ hở. Do đó, thực
- 122 -
sự không thể bỏ qua phản ứng catốt bên trong các kẽ hở. Nhiều công trình
nghiên cứu đã lưu ý rằng hyđrô luôn luôn hình thành các vị trí bị ăn mòn của WE. Rõ ràng, nồng độ ion Fe2+ và Cr3+ gần các vị trí bị ăn mòn cao hơn trong
khu vực khác do quá trình hòa tan anốt. Sau đó, giá trị pH cục bộ gần nơi bị ăn mòn thấp hơn, tức là nồng độ H+ cao hơn, đáp ứng môi trường hóa học cho
quá trình hình thành H2.
Khi quá trình ăn mòn được tiếp tục, ăn mòn trong các kẽ hở đến giai
đoạn phát triển ổn định. Fe(OH)2 bị oxi hóa thành Fe(OH)3 và sau đó phân
hủy sắt oxít (rỉ sét) tích tụ tại miệng khe hở do giàu O2 hơn trong khe:
4Fe(OH)2 +O2 + 2H2O → 4Fe(OH)3 (3.12)
2Fe(OH)3 → Fe2O3 + 3H2O (3.13)
Nó đã được chứng minh rằng các oxit sắt có một số mức độ chọn lọc anion, và mức độ chọn lọc này có lợi cho quá trình làm giàu ion Cl- và axít
hóa, do vậy mà nó tăng tốc ăn mòn khe.
3.3.3. Các đặc trưng tín hiệu nhiễu điện hóa cho một số dạng ăn mòn
Qua nhiều công trình nghiên cứu đã công bố, chúng ta biết rằng hiện
tượng ăn mòn gây ra bởi các cặp pin vi hình thành và phân bố trên bề mặt
điện cực sẽ xác định hình thái tấn công. EN được đặc trưng bởi các biến động
ngẫu nhiên của các dòng / thế phát sinh từ các cặp vi pin, do đó đặc điểm EN
khác nhau sẽ đại diện cho hoạt động riêng biệt của điện cực [128]. Trong thực
tế, ăn mòn kim loại chủ yếu là dạng ăn mòn hỗn hợp. Do vậy mà phổ tín hiệu
nhiễu điện hóa (dòng hay thế) thu được cho bất kỳ nghiên cứu dạng ăn mòn
nào hay môi trường gây ăn mòn nào cũng đều suất hiện các biến động ngẫu
nhiên theo thời gian cũng như trong dải tần số phân tích.
Dạng ăn mòn đều và thụ động bề mặt kim loại
Ăn mòn đều được xác định là hòa tan kim loại đồng đều trên toàn bộ bề
- 123 -
mặt. Nó là quá trình luân phiên vi anốt / vi catốt phản ứng trên toàn bộ diện
tích điện cực, số lượng vật liệu hòa tan và độ sâu của sự ăn mòn là gần như
giống nhau trên toàn bộ bề mặt kim loại (hình 3-7) [150]. Thụ động của thép
nói chung có nghĩa là có một dạng màng mỏng thụ động trên bề mặt kim loại,
và tốc độ ăn mòn kim loại sẽ giảm đáng kể (hình 3-20 sau 1giờ).
Các đặc điểm chung của hiện tượng ăn mòn đều và thụ động là những
hành vi điện hoá xảy ra đồng đều trên toàn bộ diện tích điện cực, và cùng với
độ sâu ăn mòn hoặc độ dày màng theo hướng thẳng đứng. Nói chung, các sự
kiện tần số cao có xu hướng xảy ra khắp nơi trên bề mặt, trong khi các sự kiện
ăn mòn tần số thấp tồn tại trong từng vị trí với quá trình hòa tan một lượng
tương đối lớn các vật liệu [151-152]. Vì vậy, các tín hiệu nhiễu điện hóa của
quá trình ăn mòn đều và thụ động là chủ yếu là giống các tín hiệu nhiễu trắng
với tần số cao (hình 3-9 và 3-11) và do vậy giá trị độ dốc β thấp. Các kích
thước phân đoạn D cho ăn mòn đều và thụ động lớn hơn 2 (hình 3-11b và 3-
16b), phù hợp với kích thước của hình thái tấn công thể hiện trong hình 3-7 và
3-20 sau 1giờ. Kích thước phân đoạn của quá trình ăn mòn đều lớn hơn so với
thụ động, điều này có thể chỉ ra rằng độ sâu ăn mòn của sự ăn mòn đều là lớn
hơn so với độ dày của màng thụ động được hình thành trên kim loại [135].
Dạng ăn mòn lỗ và ăn mòn khe
Biểu hiện ăn mòn cục bộ của thép 304 đã được nghiên cứu trong điều
kiện phòng thí nghiệm thông khí tự nhiên bằng kĩ thuật EN đồng thời so sánh
với kĩ thuật điện hóa thông thường. Từ các phần thảo luận trên có thể đi đến
các nhận xét sau đây:
i) Ăn mòn lỗ luôn xảy ra trong khu vực cục bộ do sự phân hủy của
màng thụ động và quá trình xâm thực của các ion có tính ăn mòn như Cl-. Đặc
điểm chung của ăn mòn lỗ và ăn mòn khe là sự tồn tại của khu vực phản ứng
- 124 -
anốt nhỏ và khu vực catốt lớn (bề mặt kim loại còn lại). Các quá trình ăn mòn
cục bộ có tín hiệu nhiễu điện hóa ở tần số thấp (hình 3-33; 3-35 và hình 3-41;
3-43) với một giá trị độ dốc β lớn. Các kích thước D của phân đoạn ăn mòn lỗ
và ăn mòn khe nhỏ hơn 2 (khoảng 1,4) có thể hiểu rằng các vật liệu kim loại
hòa tan tại các địa điểm cục bộ (hình 3-37 và 3-44).
ii) Từ phổ dữ liệu nhiễu điện hóa ở thời gian thực cho cả nhiễu thế và
dòng cho thấy biểu hiện trạng thái giả bền, ổn định và phát triển ăn mòn lỗ
nhưng không có tín hiệu nhiễu thoáng qua trong phần thời gian EN của ăn
mòn khe, tức là không có rỗ giả bền xuất hiện trong thời gian chuẩn bị ăn
mòn kẽ hở ăn mòn khe trong nghiên cứu này. Biểu hiện đặc trưng đã được
phát hiện rõ ràng trong phổ PSD và ESD. Kết quả này chỉ ra rằng kĩ thuật
nhiễu điện hóa thực sự có hiệu quả để phát hiện các biểu hiện ăn mòn cho các
hợp kim Cr-Ni-Mo chống ăn mòn, cụ thể là thép không gỉ 304.
iii) Với việc sử dụng kĩ thuật EN, dữ liệu EN có thể phân biệt giữa các
hình thái ăn mòn khác nhau. Theo các công trình đã công bố về dòng nhiễu
[153-154], từ đặc điểm biến động dòng nhiễu đã được chứng minh rằng có thể
được gán cho các dạng ăn mòn, đó là các quá trình ăn mòn cục bộ chính được
tìm thấy trong các hệ có chứa clorua nhất là ở nồng độ cao hay nhiệt độ cao.
Kết quả phổ mật độ PSD (hình 3-45) và ESD (hình 3-46) đặc trưng cho
một số dạng ăn mòn điển hình trong nghiên cứu này được trình bày lại một
cách hệ thống để so sánh và nhận dạng. Từ đó cho thấy bằng phương pháp
sóng nhỏ cho kết quả phân biệt các dạng ăn mòn thực sự có hiệu quả hơn hẳn
phương pháp biến đổi Fourier và các phương pháp khác có sử dụng biến đổi
Fourier. Kết quả này cũng đã được nhiều công bố [122, 155-156] thừa nhận
khi nghiên cứu đơn lẻ cho từng dạng ăn mòn bằng các so sánh kết quả từ các
- 125 -
phương pháp phân tích dữ liệu nhiễu điện điện hóa của chúng.
Hình 3-45. Phổ PSD đặc trưng của một số dạng ăn mòn.
- 126 -
Hình 3-46. Phổ ESD đặc trưng của một số dạng ăn mòn.
KẾT LUẬN CHUNG
1) Đo nhiễu điện hóa theo kĩ thuật ZRA với cặp điện cực đối – điện cực
làm việc như nhau và phân tích dữ liệu nhiễu điện hóa ở trạng thái dừng bằng
phương pháp sóng nhỏ đã được sử dụng thành công trong quá trình phân tích
các dạng ăn mòn khác nhau như ăn mòn đều, ăn cục bộ … và cả quá trình
chuyển trạng thái thụ động cũng như thụ động bề mặt kim loại.
2) Phổ phân bố mật độ năng lượng dòng theo bậc tách có thể coi là
“dấu vân tay” để xác định các dạng ăn mòn và phần trăm đóng góp của chúng trong quá trình ăn mòn. Kết quả phân bố Ed của nhiễu dòng cho ăn mòn đều
ứng D1 – D2; thụ động bề mặt ở D2; ăn mòn lỗ và khe (ăn mòn cục bộ) tập
trung ở D6 - D7.
3) Giá trị độ dốc β cho ăn mòn đều nhỏ hơn 1, ăn mòn hỗn hợp có giá
trị gần 1 và ăn mòn lỗ và khe (ăn mòn cục bộ) gần 2. Tương ứng β là kích
thước phân đoạn D của tín hiệu dòng nhiễu điện hóa. Giá trị D nhỏ hơn 2 đối
với ăn mòn cục bộ; D lớn hơn hoặc gần 2 đối với ăn mòn đều, thụ động và ăn
mòn hỗn hợp. Các giá trị β và D kết hợp với phổ phân bố mật độ năng lượng
của tín hiệu dòng nhiễu để đánh giá mức độ và phân biệt các dạng ăn mòn.
4) Độ dốc của đường mật độ phổ công suất (PSD) phụ thuộc vào băng
thông của phép đo nhiễu điện hóa và nói chung không liên quan đến một cơ
chế ăn mòn cụ thể. Phổ phân bố mật độ năng lượng phân tích bằng biến đổi
sóng nhỏ thực sự hữu ích để phân biệt các dạng ăn mòn và đánh giá chúng.
5) Điện trở nhiễu (Rn) tương đương với điện trở phân cực (Rp) chỉ trong
những trường hợp mà trở kháng đã đạt đến giới hạn dc của nó trong băng
thông đo lường nhiễu điện hóa. Chỉ số cục bộ (PI) chủ yếu là một chỉ số của
mức độ bất đối xứng của hai điện cực được sử dụng cho các phép đo nhiễu
- 127 -
điện hóa và không phải là một thông số chỉ báo của các cơ chế ăn mòn cục bộ.
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
1. Luận án đã đề xuất và sử dụng các công cụ toán tin hiện đại
(Lapview, Matlab, KaleidaGraph…) để thiết lập hệ đo và phân tích các tín
hiệu nhiễu điện hóa cho lĩnh vực ăn mòn kim loại, và chúng tôi tin rằng đó là
công cụ hữu hiệu có độ tin cậy cao để mô phỏng hay phân tích các biểu hiện
tín hiệu và các thông số điện hóa trong nghiên cứu cũng như ứng dụng thực
tiễn.
2. Từ các kết quả nghiên cứu, thực nghiệm luận án đã thiết lập một sơ
đồ tổng quát trình tự các nguyên tắc phương pháp thực nghiệm và phân tích
tín hiệu nhiễu điện hóa trong lĩnh vực nghiên cứu điện hóa nói chung và trong
nghiên cứu ăn mòn kim loại nói riêng.
3. Luận án cũng đã bổ sung giải thích được nguyên nhân khác nhau về
mặt cơ chế và khả năng phản ứng của hiện tượng thụ động và từng dạng ăn
mòn cục bộ trên cơ sở theo dõi và phân tích dữ liệu nhiễu điện hóa trong miền
thời gian – vùng tần số và mật độ năng lượng của chúng bằng phương pháp
sóng nhỏ.
4. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn: Các kết quả của đề tài này nhằm
góp phần vào việc giải quyết vấn đề phân biệt cụ thể các dạng ăn mòn điện
hóa nhất là ăn mòn cục bộ, thụ động bề mặt kim loại. Bằng các phương pháp
biến đổi sóng nhỏ và phân tích tập dữ liệu đang được theo dõi trực tiếp trên hệ
hoạt động trích ra ở trạng thái dừng. Một hướng nghiên cứu như thế có thể
hứa hẹn những đóng góp khoa học độc đáo. Đồng thời với việc giải quyết vấn
đề đặt ra bằng các phương pháp phân tích và tính toán trên có thể đóng góp
định hướng cho việc thiết kế bảo vệ chống ăn mòn có đủ hiệu quả đáp ứng
được những điều kiện làm việc của các thiết bị hay công trình kim loại trong
- 128 -
môi trường ăn mòn đã dự đoán trước.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
1. Nguyễn Văn Chiến, Lê Đức Bảo, Lê Văn Cường, Nguyễn Trọng
Tĩnh,.“Nghiên cứu ăn mòn khe cho thép không gỉ 304 trong dung dịch FeCl3
bằng kĩ thuật nhiễu điện hóa”. Tạp chí Hóa học 52(6B), trang 136 - 140,
2014.
2. Nguyễn Văn Chiến, Lê Văn Cường, Nguyễn Trọng Tĩnh, Phạm Đức
Long,.“Nhiễu điện hóa của thép không gỉ 304 ăn mòn lỗ trong dung dịch
FeCl3”. Tạp chí Hóa học 53(1), trang 74 - 78, 2015.
3. Nguyễn Văn Chiến, Lê Văn Cường, Nguyễn Trọng Tĩnh,.“Phân tích phổ
mật độ tín hiệu nhiễu điện hóa cho ăn mòn đều của thép cacbon thấp”. Tạp
chí Hóa học 53(4), trang 497 - 502, 2015.
4. Nguyễn Văn Chiến, Lê Văn Cường, Nguyễn Trọng Tĩnh, Nguyễn Huy
Dũng,.“ Application of the wavelet Transform in analyzing electrochemical
noise signal of Passivation and Pitting Corrosion forms of Mild Carbon
Steel”. Tạp chí Khoa học và Công nghệ 53(1B), trang 299 - 308 (2015).
- 129 -
(Hội nghị Ăn mòn và Bảo vệ kim loại lần thứ IV – Huế 18 - 19/ 9/ 2015)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Yang, L., Techniques for corrosion monitoring. 2008, Cambridge England:
Woodhead Publishing Limited.
2.
Gellings, P.J. Introduction to Corrosion Prevention and Control, The Nether
Lands: Delft University Press (1985).
3.
Advances in electrochemical applications of impedance spectroscopy Issued
© by ZAHNER-elektrik GmbH & Co. KG, (1996).
4. Mansfeld, F., Kearns, J.R., Scully, J.R., Roberge, P.R., et al. Electrochemical
noise measurements
for corrosion applications, ASTM STP 1277,
Philadelphia, (1996).
5.
G.L.Edgemon. Electrochemical Noise Based Corrosion Monitoring at the
Hanford Site: Third Generation System Development, Design, and Data,
CORROSION, NACE, Houston, TX, (2001) 01282.
6.
Vũ Đình Cự (chủ biên), Cơ sở kỹ thuật nhiệt đới. 2003: Nhà xuất bản Văn
hóa Thông tin, Hà Nội.
7.
Shaw, B. and Kelly, R.G., What is Corrosion. The Electrochemical Society
Interface. 2006: Spring. 24 - 26.
8.
Christensen, P.A. and Hamnett, A., Techniques and Mechanisms in
Electrochemistry. Department of Chemistry University of Newcastle upon
Tyne. 1994: Kluwer Academic Publishers.
9.
Stephen, W. and Tait, P.D. An Introduction to Electrochemical Corrosion
Testing for Practicing Engineers & Scientists, Pair O Docs Pubns edition,
(1994).
10. Kearns, J.R., Scully, J.R., Roberge, P.R., Reichet, J.L., et al.,
Electrochemical Noise Measurement For Corrosion Aplycation. 1996: USA
11. Beaunier, L., R.Kearns, J., J.R.Scully, P.R.Roberge, et al. Comparison of
Spectral Analysis with Fast Fourier Transform and Maximum Entropy
Method. Application to the Role of Molybdenum Implantation on Localized
- 130 -
Corrosion of Type 304 Stainless Steel, ASTM STP 1277, Philadelphia,
(1996) 114-128.
12.
Zahner. Nois for Corrosion Monitoring Add on module for IM5/6 impedance
spectrum analyzers MesstechnikGmbH&Co.KG, (1997).
13. Mabbutt, S., Mills, D.J., and Woodcock, C. Devolopment of
the
Electrochemical Noise method (ENM) for more practical assessment of anti
corrosion coatings, Progress in Organic Coatings. 59(3) (2007) 192-196.
14.
Pujar, M.G., Anita, T., Shaikh, H., Dayal, R.K., et al. Analysis of
Electrochemical Noise (EN) Data Using MEM for Pitting Corrosion of 316
SS in Chloride Solution, Int. J. Electrochem. Sci. 2 (2007) 301 - 310.
15.
STP1506. Corrosion Monitoring Measurement, ASTM International, (2009).
16. ASTM-G199-2009.
Standard Guide
for Electrochemical Noise
Measurement, Journal of ASTM International, (2009).
17.
ISO-8044-99. Corrosion of metals and alloys, Basic terms and definitions,
(1999).
18.
Trịnh Xuân Sén, Điện hóa học. 4 ed. 2004: Nhà xuất bản đại học Quốc Gia
Hà Nội.
19. Cordner, R.J. Atmospheric Corrosion Survey of New Zealand, Corrosion
Science. 25(2) (1990) 115.
20. Dean, S.W. Analyses of Four Years of Exposure Data from th USA
Contribution of ISO CORRAG Program, ASTM STP 1239, Atmospheric
Corrosion, Philadelphia, (1995).
21.
Lichtman, J.Z., Kallas, D.H., and Rufolo, A. Evaluating Erosion
(Cavatation) Damage Handbook on Corrosion Testing and Evaluation, John
Wiley and sons, Inc, Newyork-London-Sydney-Toronto, (1971) 453-476.
22.
Phạm Thy San, N.V.H., Lê Thị Hồng Liên,. Atmospheric Corrosion Map of Cacbon Steel in one year for the North of Vietnam, Proc. of the 9th APCCC,
Kaoshing, TaiWan, (1995).
- 131 -
23. Ngô Quốc Long and Lê Văn Cường. Study Corrosion Process of Carbon
Steel and Metallic Coatings in Vietnamese Soils Conditions – Results of Field Exposure, Proc. of the 11th APCCC, Hochiminh City, Vietnam, (1999). 24. Hồ Sỹ Thoảng. Vietnam Oil and Gas Sector and Corrosion, Proc. of the 11th
APCCC, Hochiminh City, Vietnam, (1999).
25. Dean, S.W. and Reiser, D.B. Time of Wetness and Dew Formation: A Model
of Atmospheric Heat Transfer, ASTM STP 1239, Atmospheric Corrosion,
Philadelphia, (1995).
26. Rezakhami, D. and Zhaam, A.A. The Effects of Temperature, Dissolved
Oxygen and Velocity of Sewater on the Corrosion Behavious of Condenser Alloy, 15th ICC, Barcelona, (2002) 645.
27.
Zhu, X. and Huang, G. A Study on the Corrosion Peak of Carbon Steel in Marine Splash Zone, 13th ICC, Australia, (1996) 389.
28. Kenneth, G.C. Seawater Test, Handbook on Corrosion Testing and
Evaluation, John Wiley and sons, Inc, Newyork-London-Sydney-Toronto,
(1971) 507-529.
29. Vũ Đình Huy and Nguyễn Ngọc Bình. Nghiên cứu quá trình ăn mòn một số
kim loại ( thép CT3, thép C45, kẽm, các lớp mạ kẽm và cadmi, trong điều
kiện khí hậu nhiệt đới ẩm Việt nam, Báo cáo giám định đề tài cấp nhà nước
48.08.01, (1986).
30. Kajiyama, K., Koyama, Y., and Nakamura, Y. Corrosion of Ductile Iron
Pipes in Soil. A Summary of Research Activities Performed during the Last Decade, 13th ICC, Australia, (1996) 438.
31.
Erik, S. Corrosion on Steel – Vertically Located – in Soil, A Report from about twenty test Places 1954-1985, 10th Scandinavian Corrosion Congress,
Stockholm, (1986) 313-316.
32.
Iverson, W.P. Tests in Soils, Handbook on Corrosion Testing and
Evaluation, John Wiley and sons, Inc, Newyork-London-Sydney-Toronto,
(1971) 575-597.
- 132 -
33. Bardal, E. Erosion and Corrosion in Oil & Gas Production Systems, Proc. of
the 11th APCCC, Hochiminh City, Vietnam, (1999).
34. Otero, E., Pardo, A., Perez, F.J., Perosanz, F.J., et al. Corrosion of Several
Steels After Their Exposure at High Temperature to Oxygen and Sulfur Mixtures, 13th ICC, Australia, (1996) 259.
35. Gabrielli, C., Heut, F., Keddam, M., and Oltra, R. A review o f the
probabilistic aspects of localized corrosion, Corrosion science. 46(4) (1990)
266-278.
36. Kruger, J. and Rhyne, K. Current understanding of pitting and crevice
corrosion and its application to test methods for determining the corrosion
susceptibility of nuclear waste metallic containers, Nuclear and Chemical
Waste Management 3(4) (1982) 205-227.
37. Revie, R.W., Uhlig's Corrosion Handbook. Second ed. 2000: John Wiley &
Sons Inc.
38. Aksüt, A.A., Lorenz, W.J., and Mansfeld, F. The determination of corrosion
rates by electrochemical d.c. and a.c. methods — II. Systems with
discontinuous steady state polarization behavior Corrosion Science. 22(7)
(1982) 611-619.
39. ASTM-G59-97. Standard Test Method for Conducting Potentiodynamic
Polarization Resistance Measurements, (2009).
40.
Phan Lương Cầm and Schultze, W.A. Ăn mòn và bảo vệ kim loại Trường
ĐHBKHN và Trường ĐHKT Delft - Hàlan, (1985) 226tr.
41.
Trương Ngọc Liên, Điện hóa lý thuyết. 2000: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ
thuật, Hà Nội.
42.
Trần Hiệp Hải, Các phản ứng điện hóa và ứng dụng. 2002: Nhà xuất bản
Giáo dục, Hà Nội.
43. Bard, A.J. and Faulkner, L.R., Electrochemical Methods. Fundamentals and
Applications. 2nd Ed ed. 2001, New York: Wiley.
- 133 -
44. Kearns, J.R., Scully, J.R., Roberge, P.R., Reichert, D.L., et al.
Electrochemical noise measurements for corrosion applications, ASTM STP
1277, Philadelphia, (1996).
45. G199-2009. Standard Guide for Electrochemical Noise Measurement,
ASTM International, (2009).
46. W.P.Iverson, G.J.Olson, and L.F.Heverly. The Role of Phosphorus and
Hydrogen Sulfide in the Anaerobic Corrosion of Iron and the Possible
Detection of This Corrosion by an Electrochemical Noise Technique,
Biologically Induced Corrosion, Gaithersburg, Maryland, 10-12 June 1985
(National Association of Corrosion Engineers, 1440 South Creek Drive,
Houston, Texas 77084, USA), (1986) 154-161.
47.
Iverson, W.P. Transient Voltage Changes Produced in Corroding Metals
and Alloys, Electrochemical Society. 115(6) (1968) 617-619.
48. D.A.Eden, K.Hladky, D.G.John, and J.L.Dawson. Electrochemical Noise -
Simultaneous monitoring of potential and current noise signals from
corroding electrodes, Procceeding corrosion, National Association of
Corrosion Engineers, (1986).
49. Hladky, K. and Dawson, J.L. The measurement of localized corrosion using
electrochemical noise, Corrosion Science. 21(4) (1981) 317-322.
50. Mansfeld, F. and al. Electrochemical Noise Analysis of Iron Exposed to NaCl
Solutions of Different Corrosivity, Electrochemical Society. 141(5) (1994)
1402-1404.
51. Gusmano, G., Montesperelli, G., Pacetti, S., Petitti, A., et al. Electrochemical
Noise Resistance as a Tool for Corrosion Rate Prediction, Corrosion. 53(11)
(1997) 860-868.
52.
Loto, C.A. Electrochemical Noise Measurement Technique in Corrosion
Research, Int. J. Electrochem. Sci. 7 (2012) 9248 - 9270.
53. Macdonald, D.D. The Point Defect Model
for
the Passive State,
Electrochemical Society. 139(12) (1992) 3434-3449.
- 134 -
54.
Zeil, A.V.d. Noise sources, Characterization, Measurement, Prentice Hall,
Englewood Cliffs, NJ, (1970).
55. Nyquist, H. Thermal Agitation of Electric Charge in Conductors, Physics
Revue, the theory. 32 (1928) 110.
56. www.rfic.co.uk. Noise tutorial, cited, 5 November, (2009 ).
57. Haartman, M.v. Low-frequency noise characterization, evaluation and
modeling of advanced Si- and SiGe-based CMOS transistors Doctoral
Thesis of the School of Information and Communication Technology (ICT),
Stockholm, Sweden (2006 ).
58.
Tan, Y., Bailey, S., and Kinsella, B. The monitoring of the formation and
destruction of corrosion inhibitor films using electrochemical noise analysis
(ENA) Corrosion Science. 38(10) (1996 ) 1681-1695.
59. Barker, G.C. Noise connected with electrode processes, Electroanalytical
Chemistry and Interfacial Electrochemistry. 21(1) (1969) 127-136.
60. Hooge, F.N. 1/f noise is no surface effect, Physics letters. 29(3) (1969) 139-
140.
61. Okada, T. A theoretical analysis of the electrochemical noise during the
induction period of pitting corrosion in passive metals: Part 1. The current
noise associated with the adsorption/desorption processes of halide ions on
the passive film surface, Electroanalytical Chemistry and Interfacial
Electrochemistry. 297 (1991) 349-359.
62. Hashimoto, M., Miyajima, S., and Murata, T. A stochastic analysis of
potential fluctuation during passive film breakdown and repair on iron,
Corrosion science. 33(6) (1992) 885-904.
63. Hashimoto, M., Miyajima, S., and Murata, T. An experimental study of
potential fluctuation during passive film breakdown and repair on iron,
Corrosion science. 33(6) (1992) 905-915.
64. Dawson, J.L. Electrochemical Noise Measurement: The Definitive In-situ
Technique for Corrosion Applycation?, ASTM STP 1277, Philadelphia,
(1996) 3 - 35.
- 135 -
65.
Shaglouf, M., Effect of flow on Electrochemical Noise generation, in Ph.D.
These of The University of Manchester. 2010.
66. Hladky, K. and Dawson, J.L. The Measurement of Localized Corrosion using
Electrochemical Moise, Corrosion Science. 21(4) (1980) 317-322.
67.
Legat, A. and Dolecek, V. Corrosion Monitoring System Based on
Measurement and Analysis of Electrochemical Noise, Corrosion. 51(4)
(1995) 295-300.
68. A.Legat and C.Zevnik. The electrochemical noise of mild and stainless steel
in various water solution, Corrosion Science. 35(5-8) (1993) 1661-1666.
69.
Leban, M., Legat, A., Dolecek, V., and Kuhar, V. Electrochemical noise as a
possible method for detecting Stress-Corrosion Cracking, Materials Science
Forum, (1998) 157-162.
70. Cottis, R.A. Sources of Electrochemical Noise in Corroding Systems,
Russian Journal of Electrochemistry. 42(5) (2006) 497-505.
71. Dawson, J.L., Hladky, K., and Eden, D.A. Electrochemical Noise – Some
New Developments in Corrosion Monitoring, UK Corrosion 83 –
Proceedings of the Conference, Birmingham UK, (1983) 99-108.
72. Al-Ansari, A. The effects of reduced sulphur species in the localized
corrosion of stainless steels, Ph.D. Thesis of UMIST: Manchester, (1997).
73.
Simões, A.M.P. and Ferreira, M.G.S. Crevice Corrosion Studies on Stainless
Steel Using Electrochemical Noise Measurements, British Corrosion. 22(1)
(1987) 21-25.
74. Wood, R.J.K., Wharton, J.A., Speyer, A.J., and Tan, K.S. Investigation of
errosion corrosion processes using electrochemical noise measurements, J.
Tribology Interntational. 35 (2002) 631-641.
75. Hladky, K. and Dawson, J.L. The measurement of corrosion using
electrochemical 1/f noise, Corrosion Science 22(3) (1982) 231-237.
76. Mansfeld, F. and Xiao, H. Electrochemical noise analysis of iron exposed to
NaCl solutions of different corrosivity, Electrochemical Society. 140(8)
(1993) 2205-2209.
- 136 -
77.
Zhou, X.Y., Lvov, S.N., Wei, X.J., Benning, L.G., et al. Quantitative
evaluation of general corrosion of Type 304 stainless steel in subcritical and
supercritical aqueous solutions via electrochemical noise analysis,
Corrosion Science. 44(4) (2002) 841-860.
78.
Schmitt, G. and Plagemann, P. Investigations on the applicability of
electrochemical noise analysis to study the corrosion behaviour of copper
tubes in potable water installations, Materials and Corrosion. 49(9) (1998)
677-683.
79. Choi, H.J. and Cepulis, R.L. Inhibitor Film Persistence Measurement by
Electrochemical Techniques, SPE Journal. 2(4) (1987) 325-330.
80.
Zhou, X. and Jepson, W.P. Corrosion in Three-Phase Oil/Water/Gas Slug
Flow in Horizontal Pipes, NACE Corrosion International: Houston, Tx,
(1994).
81. Gopal, M., Kaul, A., and Jepson, W.P. Mechanisms contributing to enhanced
corrosion
in horizontal
three phase slug
flow, NACE Corrosion
International: Houston, Tx, (1995).
82. Cheng, Y.F., A Fundamental Understanding of the Electrochemical Noise
Related to Pitting Corrosion of Carbon Steel, in Ph.D. Thesis of Department
of Chernical and Materials Engineering, University of Alberta: Edmonton.
2000.
83. Rothwell, A.N. and Eden, D.A. Electrochemical Noise Data: Analysis,
Interpretation and Presentation, Corosion 92 Conference, NACE, Houston,
(1992) 223.
84.
Tan, Y. Electrochemical Studies on Carbon Dioxide Corrosion ad Its
Inhibition, Ph.D. Thesis of the Curtin University of Technology, (1996).
85. Blanc, G., Gabrielli, C., Ksouri, M., and Wiart, R. Experimental Study of the
Relationships Between the Electrochemical Noise and the Structure of the
Electrodeposits of Metals, Electrochim Acta. 23(4) (1978) 337-340.
86.
Epelboin, I., Gabrielli, C., Keddam, M., and Raillon, L. Measurement of the
power spectral density of electrochemical noise: direct two-channel method,
- 137 -
Electroanalytical Chemistry and Interfacial Electrochemistry. 105(2) (1979)
389-395.
87. Bertocci, U. and Kruger, J. Studies of passive film breakdown by detection
and analysis of electrochemical noise, Surface Science. 101(1-3) (1980)
608-618.
88. Chen, J.F. and Bogaerts, W.F. The physcial maining of noise resistance,
Corrosion Science. 37(11) (1995) 1839-1842.
89.
Searson, P.C. and Dawson, J.L. Analysis of electrochemical noise generated
by corroding electrodes under open-circuit conditions, Electrochemical
Society. 135(8) (1988) 1908-1915.
90. Bendat, J.S. and Piersol(1986), A.G. Random Data: Analysis and
Measurement Procedures, second, revised and expanded, Wiley, New York.
First edition, (1971).
91. Uruchurtu, J.C. and Dawson, J.L. Noise analysis of pure aluminum under
different pitting conditions, Corrosion. 43(1) (1987) 19–26.
92. Cottis, R.A. and Turgoose, S. Electrochemical Impedance and Noise.
Corrosion testing made easy, NACE International, B.C. Syrett, Editor:
Houston/Tx., USA, (1999).
93.
Press, W.H., Teukolsky, S.A., Vetterling, W.T., and Flannery, B.P.
Numerical Recipes in C, Cambridge University Press: Cambridge,UK,
(1993).
94. Cottis, R.A. Interpretation of electrochemical noise data, Corrosion. 57(3)
(2001) 265–284.
95. Barr, E.E., Goodfellow, R., and Rosenthal, L.M. Noise monitoring at
Canada’s Simonette sour oil processing facility, Orlando, Fl, NACE
Corrosion International, (2000).
96. Kelly, R.G., Inman, M.E., and Hudson, J.L. Analysis of Electrochemical
Noise for Type 410 Stainless Steel in Chloride Solutions, ASTM STP 1277,
Philadelphia, (1996) 101-113.
- 138 -
97. Mansfeld, F., Sun, Z., and Hsu, C.H. Electrochemical noise analysis (ENA)
for active and passive systems in chloride media, Electrochimica Acta.
46(24-25) (2001) 3651-3664.
98. Harris, R.W. and Ledwidge, T.J. Random noise theory Pion (London), Last
edited on 2002, (1974) 102.
99. Haruna, T., Morikawa, Y., Fujimoto, S., and Shibata, T. Electrochemical
noise analysis for estimation of corrosion rate of carbon steel in bicarbonate
solution, Corrosion Science. 45 (2003) 2093-2104.
100. www.matlab.com. The documentation for pwelch in the Matlab signal
processing toolbox, [cited 1 October], (2009).
101. Burg, J.P. Modern Spectrum Analysis, ed. D.G. Childers, New York: IEEE
Press, (1978).
102. Hu, Q., Zhang, G., Qiu, Y., and Guo, X. The crevice corrosion behaviour of
stainless steel in sodium chloride solution, Corrosion Science. 53 (2011)
4065–4072.
103. Planinšič, P. and Petek, A., Wavelets in Electrochemical Noise Analysis in
Discrete Wavelet Transforms - Biomedical Applications, H. Olkkonen,
Editor. 2011, InTech.
104. Xia, D., Song, S., Wang, J., Shi, J., et al. Determination of corrosion types
from electrochemical noise by phase space reconstruction
theory,
Electrochemistry Communications. 15(1) (2012) 88-92.
105. Xu, J., Sun, T., Zhang, L., Li, J., et al. Potentiostatic Electrochemical Noise
Analysis of 2101 Lean Duplex Stainless Steel in 1 mol/L NaCl, Journal of
Materials Science & Technology. 28(5) (2012) 474-480.
106. Breimesser, M., Ritter, S., Seifert, H.-P., Suter, T., et al. Application of
electrochemical noise to monitor stress corrosion cracking of stainless steel
in tetrathionate solution under constant load, Corrosion Science. 63 (2012)
129-139.
- 139 -
107. Homborg, A.M., Tinga, T., Zhang, X., van Westing, E.P.M., et al. Time-
frequency methods for trend removal in electrochemical noise data,
Electrochimica Acta. 70 (2012) 199-209.
108. Homborg, A.M., van Westing, E.P.M., Tinga, T., Zhang, X., et al. Novel
time-frequency characterization of electrochemical noise data in corrosion
studies using Hilbert spectra, Corrosion Science. 66 (2013) 97-110.
109. Morlet, J. Seismic tomorrow, interferometry and quantum mechanics. in Soc.
Expl. Geophys. Annual International Meeting. 1975. Denver, CO, USA, Oct.
110. Daubechies, I. Ten lectures on wavelets, CBMS-NSF conference series in
applied mathematics. SIAM Ed, (1992).
111. Mallat, S.G. A Theory for Multiresolution Signal Decomposition: The
Wavelet Representation IEEE Transactions on Pattern Analysic and Machine
Intelligence. 11(7) (1989) 674-693.
112. Paul, S.A., The Illustrated Wavelet Transform Handbook: Introductory
Theory and Applications in Science, Engineering, Medicine and Finance.
2002, Bristol and Philadelphia: The Institute of Physics, London.
113. Press, W., Teukolsky, S., Vetterling, W., and Flannery, B., Numerical
Recipes in C, ed. Second. 1992: Cambridge University Press.
114. Duran, O., Vera, E., Ortiz, C.A., and Heyn, A. Use of the wavelet method for
analyzing electrochemical noise data, Materials and Corrosion. 58(12)
(2007) 997-999.
115. Smulko, J., Darowicki, K., and Zielinski, A. Pitting corrosion in steel and
electrochemical noise intensity, Electrochemistry Communications. 4(5)
(2002) 388-391.
116. Aballe, A., Bethencourt, M., Botana, F.J., and Marcos, M. Using wavelets
transform in the analysis of electrochemical noise data, Electrochimical
Acta. 44(26) (1999) 4805–4816.
117. Chen, R., Trieu, V., Natter, H., Kintrup, J.r., et al. Wavelet analysis of
chlorine bubble evolution on electrodes with different surface morphologies,
Electrochemistry Communications. 22 (2012) 16-20.
- 140 -
118. ASTM. G78 - 01: Standard Guide for Crevice Corrosion Testing of Iron-
Base and Nickel-Base Stainless Alloys in Seawater and Other Chloride-
Containing Aqueous Environments, (2007).
119. ASTM G5–94(R 99). Standard Reference Test Method for Making
Potentiostatic and Potentiodynamic Anodic Polarization Measurements,
(2002).
120.
ISO 847 - 91 BS 7545 - 91. Metals and Alloys - Procedures for Removal of
Corrosion Products from Tets Specimens, (1991).
121. Safizadeh, F. and Ghali, E. Monitoring passivation of Cu–Sb and Cu–Pb
anodes during electrorefining employing electrochemical noise analyses
Electrochimica Acta. 56(1) (2010) 93-101.
122. Smith, M.T. and Macdonald, D.D. Wavelet Analysis of Electrochemical
Noise Data, Corrosion. 65(7) (2009) 438-448.
123. Acosta, G., Veleva, L., and López, J.L. Power Spectral Density Analysis of
the Corrosion Potential Fluctuation of Aluminium in Early Stages of
Exposure to Caribbean Sea Water, Journal of Electrochem Science. 9 (2014)
6464 - 6474.
124. Subba, R.B., Reddy, D.S., and Dr.G.V.Marutheswar. Identification of Fault
Location in Multiple Transmission Lines by Wavelet Transform, International
Journal of Computational Engineering Research. 4(2) (2014) 56-65.
125. Planinšič, P. and Petek, A. Characterization of corrosion processes by
current noise wavelet-based fractal and correlation analysis, Electrochimica
Acta. 53(16) (2008) 5206-5214.
126. Shahidi, M., Hosseini, S.M.A., and Jafari, A.H. Comparison between ED and
SDPS plots as the results of wavelet transform for analyzing electrochemical
noise data, Electrochimica Acta. 56(27) (2011) 9986-9997.
127. Legat, A. and Dolecek, V. Chaotic Analysis of Electrochemical Noise
Measured on Stainless Steel, Electrochemical Society. 142 (1995) 1851-
1858.
- 141 -
128. Liu, X.F., Wang, H.G., and Gu, H.C. Fractal characteristic analysis of
electrochemical noise with wavelet transform, Corrosion Science. 48(6)
(2006) 1337-1367.
129. G5–94(R 99). Standard Reference Test Method for Making Potentiostatic
and Potentiodynamic Anodic Polarization Measurements, ASTM
International, (1999).
130. G102 – 89 (R 99). Standard Practice for Calculation of Corrosion Rates and
Ralated
Information
from Electrochemical Measurements, ASTM
International, (1999).
131. G 59 - 97 (R 2009). Standard Test Method for Conducting Potentiodynamic
Polarization Resistance Measurements, ASTM International, (2009).
132. J.A.Wharton, Wood, R.J.K., and Mellor, B.G. Wavelet analysis of
electrochemical noise measurements during corrosion of austenitic and
superduplex stainless steels in chloride media, Corrosion Science, Pergamon.
45(1) (2003) 97-122.
133. Homborg, A.M., Tinga, T., Zhang, X., van Westing, E.P.M., et al. Transient
analysis through Hilbert spectra of electrochemical noise signals for the
identification of localized corrosion of stainless steel, Electrochimica Acta.
104(0) (2013) 84-93.
134. Guan, L., Zhang, B., Wang, J.Q., Han, E.H., et al. The reliability of
electrochemical noise and current transients characterizing metastable
pitting of Al-Mg-Si microelectrodes, Corrosion Science. 80(0) (2014) 1-6.
135. Wang, X., Wang, J., Fu, C., and Gao, Y. Determination of Corrosion Type
by Wavelet-Based Fractal Dimension from Electrochemical Noise, Journal of
Electrochem Science. 8 (2013) 7211 - 7222.
136. Sheir, L.L., Jarman.R.A, and Burstein.G.T, Corrosion. Vol. 1. 2000, Oxford
Auckland Boston Johannesburg Melbuorne NewDelhi.
137. Perez, N. Electrochemistry and Corrosion Science, Kluwer Academic
Publishers, Boston, (2004).
138. Bradford, S.B. Corrosion, ASM Handbook. 13 (1992).
- 142 -
139. Bertocci, U. and Huet, F. Noise Analysis Applied to Electrochemical
Systems, Corrosion. 51(2) (1995) 131-144.
140. Bertocci, U., Gabrielli, C., Huet, F., Keddam, M., et al. Noise resistance
applied to corrosion measurements. II. Experimental tests, Electrochemical
Society. 144(1) (1997) 37-43.
141.
Isaac, J.W. and Hebert, K.R. Electrochemical Current Noise on Aluminum
Microelectrodes Articles, J. Electrochem. Soc. 146(2) (1999) 502-509.
142. López, F.H.E.-., Calderón, F.A.-., Margulis, R.G.B., Zamora, M.A.B., et al.
Transient Analysis of Electrochemical Noise for 316 and Duplex 2205
Stainless Steels Und er Pitting Corrosion, Int. J. Electrochem. Sci. 6 (2011)
1785-1796.
143. Bertocci, U., Frydman, J., Gabrielli, C., Huet, F., et al. Analysis of
Electrochemical Noise by Power Spectral Density Applied to Corrosion
Studies: Maximum Entropy Method or Fast Fourier Transform?, J.
Electrochem. Soc. 145(8) (1998) 2780-2786.
144. Dong, Z.H., Guo, X.P., Zheng, J.X., and Xu, L.M. Investigation on inhibition
of CrO4 2− and MoO4 2− ions on carbon steel pitting corrosion by
electrochemical noise analysis, Journal of Applied Electrochemistry. 32(4)
(2002) 395-400.
145. Matsuhashi, R. and Taddokoro, Y. Estimation of Crevice Corrosion Life
Time for Stainless Steels in Seawater Environments, Nippon Steel Technical
Report, Technical Report. 99 (2010) 62-72.
146. Cottis, R.A., Al-Mazeedi, H.A., and Turgoose, S. Measures for the
Identification of Localized Corrosion
from Electrochemical Noise
Measurements, NACE Corrosion International: Houston, Tx, (2002).
147. Cai, B., Liu, Y., Tian, X., Wang, F., et al. An experimental study of crevice
corrosion behaviour of 316L stainless steel in artificial seawater, Corrosion
Science. 52(10) (2010) 3235-3242.
148. Oldfteld, J.W. and Sutton, W.H. Crevice corrosion of stainless steels. II:
Experimental results, British Corrosion. 13 (1978) 104–111.
- 143 -
149. Kennell, G.F. and Evitts, R.W. Crevice corrosion cathodic reactions and
crevice scaling laws, Electrochimica Acta. 54(20) (2009) 4696-4703.
150. Jiang, X., Nešić, S., Huet, F., Kinsella, B., et al. Selection of Electrode Area
for Electrochemical Noise Measurements to Monitor Localized CO2
Corrosion, Journal of The Electrochemical Society. 159(7) (2012) C283-
C288.
151. Al-Mazeedi, H.A.A. and Cottis, R.A. A practical evaluation of
electrochemical noise parameters as
indicators of corrosion
type,
Electrochimica Acta. 49(17-18) (2004) 2787–2793.
152. Na, K.-H. and Pyun, S.-I. Comparison of susceptibility to pitting corrosion of
AA2024-T4, AA7075-T651 and AA7475-T761 aluminium alloys in neutral
chloride solutions using electrochemical noise analysis, Corrosion Science.
50(1) (2008) 248-258.
153. Soltis, J., Krouse, D.P., Laycock, N.J., and Zavadil, K.R. Automated
processing of electrochemical current noise in the time domain: I. Simulated
signal, Corrosion Science. 52(3) (2010) 838-847.
154. Cappeln, F., Bjerrum, N.J., and Petrushina, I.M. Electrochemical Noise
Measurements of Steel Corrosion in the Molten NaCl-K2SO4 System,
Electrochemical Society. 152(B7) (2005) 228-235.
155. Aballe, A., Bethencourt, M., Botana, F.J., and Marcos, M. Wavelet
transform-based analysis
for electrochemical noise, Electrochemistry
Communications. 1(7) (1999) 266-270.
156. Kim, J.J. Electrochemical Noise Analysis of Localized Corrosion by Wavelet
Transform, Met. Mater. Int. 16(5) (2010) 747-753.
- 144 -
Hà Nội, ngày 03/ 11/ 2015

