BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG ----------------oOo----------------
CHU KHÁNH LÂN
TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
----------------oOo----------------
CHU KHÁNH LÂN
TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 62340201
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. PGS.TS. TÔ NGỌC HƯNG
2. PGS.TS. ĐÀO VĂN HÙNG
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu đã nêu
trong luận án có nguồn gốc rõ ràng và kết quả của luận án là trung thực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên.
Người cam đoan
NCS. Chu Khánh Lân
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................ i DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ....................................................................... iii DANH MỤC BẢNG ............................................................................................ iv DANH MỤC HÌNH VẼ ......................................................................................... v LỜI MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1 CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LUẬN VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ........................................... 12 1.1. TỔNG QUAN VÊ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ............................................................. 12 1.1.1. Khái niệm chính sách tiền tệ ............................................................... 12 1.1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ ........................................................... 13 1.1.3. Công cụ của chính sách tiền tệ ............................................................ 17 1.1.4. Truyền tải chính sách tiền tệ ............................................................... 18 1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .................................................................. 27 1.2.1. Cơ sở hình thành kênh tín dụng .......................................................... 27 1.2.2. Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của ngân hàng thương mại ........................................................................................................... 31 1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của ngân hàng thương mại....................................................................................... 37 1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG TRONG CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG ............................. 44 1.3.1. Kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng .......................................... 44 1.3.2. Kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay ......................................... 47 1.3.3. Kênh tín dụng ngân hàng.................................................................... 50 CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ........... 55 2.1. BỐI CẢNH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM .................................................................................. 55 2.1.1. Bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với điều hành chính sách tiền tệ .................................................................................................... 55 2.1.2. Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ...................................................................................................................... 64 2.1.3. Truyền tải chính sách tiền tệ tại Việt Nam qua nghiên cứu định lượng .... 84 2.2. THỰC TRẠNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ......................................... 89 2.2.1. Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam ...................... 89 2.2.2. Thực trạng truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của các ngân
ii
hàng thương mại Việt Nam ................................................................................... 104 2.3. NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM ............................................................................. 135 2.3.1. Xây dựng mô hình ........................................................................... 135 2.3.2. Kết quả mô hình .............................................................................. 139 CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ............................................................................................................ 145 3.1. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG THỜI GIAN TỚI .................... 145 3.1.1. Định hướng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng ........ 145 3.1.2. Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng thương mại ..................................................................................................................... 146 3.2. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 148 3.2.1. Nhóm giải pháp đối với Ngân hàng Nhà nước .................................... 150 3.2.2. Nhóm giải pháp đối với các ngân hàng thương mại ............................. 171 3.2.3. Nhóm giải pháp đối với khách hàng vay vốn ngân hàng thương mại .... 179 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ .................................................................................................. 184 3.3.1. Nâng cao tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước ................................. 184 3.3.2. Kiên định điều hành chính sách tiền tệ theo hướng kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô gắn với ổn định tài chính ........................................................... 185 3.3.3. Thiết lập cơ chế phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách giám sát an toàn vĩ mô và vi mô nhằm tối ưu hóa tác động của điều hành chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng ............................................................................................................... 185 3.3.4. Phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp thành kênh cấp vốn hiệu quả cho nền kinh tế ................................................................... 187 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 192 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 194 PHỤ LỤC ........................................................................................................ 203 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ................................................................................................................. 221
iii
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Tên đầy đủ bằng tiếng Việt
Tên đầy đủ bằng tiếng Anh
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Association of Southeast Asian Nations
ASEAN
Chỉ số giá tiêu dùng
Consumer Price Index
CPI
Chính sách tài khóa
Fiscal policy
CSTK
Chính sách tiền tệ
Monetary policy
CSTT
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Small and medium enterprises
DNNVV
Cục dự trữ liên bang Mỹ
Federal Reserve System
Fed
Tổng sản phẩm quốc nội
Gross Domestic Product
GDP
Thống kê Tài chính quốc tế
International Financial Statistics
IFS
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
International Monetary Fund
IMF
Ngân hàng Nhà nước
The State bank of Vietnam
NHNN
Ngân hàng thương mại
Commercial banks
NHTM
Ngân hàng thương mại cổ phần
Joint stock commercial banks
NHTMCP
Ngân hàng thương mại nhà nước
State owned commercial banks
NHTMNN
Ngân hàng Trung ương
Central bank
NHTW
Tỷ lệ lãi biên
Net interest margin
NIM
Return On Assets/average assets
ROA/ROAA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
ROE/ROAE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Return On Equity/average equities
Mô hình véctơ tự hồi quy cấu trúc
Structural Vector Autoregression
SVAR
Tổ chức tín dụng
Credit institutions
TCTD
Tài sản bảo đảm
Collateral
TSBĐ
Thị trường liên ngân hàng
Interbank market
TTLNH
Tổng tài sản
Total assets
TTS
Đô la Mỹ
United State dollar
USD
Vietnam Asset Management Company
VAMC
Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
Mô hình véctơ tự hồi quy
Vector Autoregression
VAR
Vốn điều lệ
Chartered capital
VĐL
Việt Nam đồng
Vietnamese dong
VND
iv
Bảng 2.1: Mục tiêu và thực hiện chỉ tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam ....... 65 Bảng 2.2: Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở ................................................................... 72 Bảng 2.3: Phân rã phương sai ............................................................................................. 87 Bảng 2.4: Tỷ lệ DPRR/dư nợ và DPRR/nợ xấu của hệ thống NHTM ASEAN và Việt Nam .......................................................................................................................................... 120 Bảng 2.5: Phân rã phương sai của GDP và CPI khi có kênh tín dụng và khi không có kênh tín dụng ............................................................................................................................. 142
DANH MỤC BẢNG
v
Hình 1.1: Cơ chế khuếch đại ảnh hưởng của CSTT ........................................................... 29 Hình 1.2: Cơ chế truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài sản ..................................... 33 Hình 1.3: Cơ chế truyền tải CSTT qua kênh khả năng cấp tín dụng .................................. 35 Hình 2.1: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo ngành ......................................................... 55 Hình 2.2: Hệ số ICOR của Việt Nam và một số quốc gia trong khu vực .......................... 56 Hình 2.3: Hệ số ICOR theo thành phần kinh tế .................................................................. 56 Hình 2.4: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, một số nước trong khu vực, khu vực ASEAN - 5 và thế giới........................................................................................................ 59 Hình 2.5: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát Việt Nam ..................................... 66 Hình 2.6: Chênh lệch giữa kế hoạch và thực hiện chỉ tiêu lạm phát, tín dụng, và cung tiền ............................................................................................................................................ 67 Hình 2.7: Tăng trưởng tiền cơ sở, cung tiền, và hệ số nhân tiền ........................................ 68 Hình 2.8: Lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất huy động, và cho vay ..................... 68 Hình 2.9: Lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn và tỷ lệ lạm phát .... 70 Hình 2.10: Dư nợ các lĩnh vực ưu tiên ............................................................................... 72 Hình 2.11: Tỷ giá VND/USD ............................................................................................. 76 Hình 2.12: Các chỉ tiêu đo lường tình trạng đô la hóa nền kinh tế ..................................... 77 Hình 2.13: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam ..................................... 82 Hình 2.14: Tỷ lệ nợ xấu hệ thống ngân hàng Việt Nam và ASEAN .................................. 82 Hình 2.15: Hàm phản ứng của độ lệch sản lượng trước cú sốc cung tiền trong các mô hình VAR cơ bản và VAR có kênh truyền tải ............................................................................ 86 Hình 2.16: Hàm phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng trước cú sốc cung tiền trong các mô hình VAR cơ bản và VAR có kênh truyền tải .................................................................... 86 Hình 2.17: Mức độ giải thích của cung tiền trong sự biến động của các chỉ tiêu tiền tệ ... 89 Hình 2.18: Số lượng các tổ chức tín dụng theo loại hình ................................................... 90 Hình 2.19: Tỷ trọng tín dụng trên TTS của hệ thống NHTM Việt Nam và ASEAN ........ 91 Hình 2.20: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống TCTD Việt Nam theo loại hình ............................. 92 Hình 2.21: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s ....................................................................................................................... 93 Hình 2.22: Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tín dụng/nguồn vốn huy động của NHTMNN ........................................................................................................................... 94 Hình 2.23: Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tín dụng/nguồn vốn huy động của NHTMCP ............................................................................................................................ 94 Hình 2.24: Lãi suất bình quân liên ngân hàng qua đêm và 1 tháng ................................... 94 Hình 2.25: Tỷ trọng nguồn vốn có tính chất ngắn hạn và dễ bị rút ra của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s ............................................... 95 Hình 2.26: Tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản cao của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s .............................................................................. 96
DANH MỤC HÌNH VẼ
vi
Hình 2.27: Tỷ lệ ROA và ROE của nhóm NHTMNN ....................................................... 97 Hình 2.28: Tỷ lệ ROA và ROE của nhóm NHTMCP ........................................................ 97 Hình 2.29: Tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản hữu hình của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s .............................................................................. 98 Hình 2.30: Mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN ........................................................................................................................ 99 Hình 2.31: Đòn bẩy tài chính và hệ số an toàn vốn của nhóm NHTMNN ...................... 100 Hình 2.32: Đòn bẩy tài chính và hệ số an toàn vốn của nhóm NHTMCP ....................... 100 Hình 2.33: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN ...................................................................................................................... 101 Hình 2.34: Tỷ lệ khả năng chi trả lãi vay của doanh nghiệp ............................................ 105 Hình 2.35: Tỷ lệ sinh lời trên doanh thu của doanh nghiệp ............................................. 105 Hình 2.36: Tỷ lệ ROA của doanh nghiệp ......................................................................... 105 Hình 2.37: Tỷ lệ ROE của doanh nghiệp ......................................................................... 105 Hình 2.38: Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp ................................. 107 Hình 2.39: Hệ số khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp ..................................... 107 Hình 2.40: Tăng trưởng GDP và GDP lĩnh vực xây dựng ............................................... 108 Hình 2.41: Tỷ trọng tín dụng ngân hàng trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.......... 109 Hình 2.42: Quy mô thị trường tín dụng và trái phiếu so với GDP ................................... 110 Hình 2.43: Năng suất lao động bình quân của một lao động ........................................... 111 Hình 2.44: Quy mô dự trữ và vay NHNN của hệ thống NHTM ...................................... 113 Hình 2.45: Tốc độ tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng trưởng dự trữ một số NHTM .... 114 Hình 2.46: Tỷ trọng cho vay trong TTS và tỷ trọng dự trữ trong TTS một số NHTM .... 114 Hình 2.47: Tỷ lệ tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các khoản đầu tư, cho vay Chính phủ trên dư nợ cho vay đối với nền kinh tế ............................................................................. 116 Hình 2.48: Lãi suất trái phiếu Chính phủ các kỳ hạn ....................................................... 116 Hình 2.49: Tỷ trọng nợ nhóm 2, 3, 4, 5 trong tổng dư nợ một số NHTM ....................... 117 Hình 2.50: Tỷ trọng đầu tư chứng khoán trong TTS một số NHTM ............................... 117 Hình 2.51: Tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản cao trước và sau khi trừ đi các khoản vay NHNN và các TCTD trong TTS một số NHTM .............................................................. 119 Hình 2.52: Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn trong tổng dư nợ một số NHTM................. 119 Hình 2.53: Tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ nợ xấu........................................................ 120 Hình 2.54: Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu một số NHTM ............................................ 121 Hình 2.55: Tỷ lệ dự phòng rủi ro trên dư nợ và nợ xấu một số NHTM ........................... 121 Hình 2.56: Tỷ lệ cho vay trên đi vay trên TTLNH của hệ thống NHTM Việt Nam và ASEAN ............................................................................................................................. 122 Hình 2.57: Tỷ trọng tiền gửi và vay TCTD khác, nợ NHNN và phát hành GTCG trong tổng nợ phải trả một số NHTM ........................................................................................ 124 Hình 2.58: Tỷ trọng cho vay và đi vay trên TTLNH trong TTS một số NHTM ............. 124 Hình 2.59: Quy mô cho vay, đi vay và cho vay ròng trên TTLNH một số NHTM ......... 125 Hình 2.60: Tăng trưởng vốn tự có và đóng góp của VĐL vào tăng trưởng vốn tự có của hệ
vii
thống NHTMNN............................................................................................................... 126 Hình 2.61: Tăng trưởng vốn tự có và đóng góp của VĐL vào tăng trưởng vốn tự có của hệ thống NHTMCP ............................................................................................................... 126 Hình 2.62: Tỷ trọng thu nhập lãi ròng và thu nhập hoạt động khác trong tổng thu nhập của NHTM Việt Nam .............................................................................................................. 127 Hình 2.63: Tỷ trọng thu nhập lãi ròng và thu nhập hoạt động khác trong tổng thu nhập của hệ thống NHTM ASEAN ................................................................................................. 127 Hình 2.64: Tỷ lệ lãi biên và lợi nhuận sau thuế trên TTS ................................................ 127 Hình 2.65: Tỷ lệ lãi biên và lợi nhuận sau thuế trên TTS ngân hàng Việt Nam và ASEAN .......................................................................................................................................... 127 Hình 2.66: Tỷ lệ chi phí trên thu nhập của hệ thống NHTM ASEAN và Việt Nam ....... 128 Hình 2.67: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên TTS một số NHTM .............................................. 129 Hình 2.68: Tỷ trọng thu nhập lãi và thu nhập lãi ròng trong tổng thu nhập và thu nhập ròng ................................................................................................................................... 129 Hình 2.69: Tỷ lệ NIM và ROAA một số NHTM ............................................................. 130 Hình 2.70: Tỷ lệ ROAE một số NHTM ........................................................................... 130 Hình 2.71: Tăng trưởng tín dụng, cung tiền và lãi suất cho vay ...................................... 131 Hình 2.72: Tăng trưởng tín dụng và tiêu dùng cuối cùng ................................................ 132 Hình 2.73: Chỉ số niềm tin người tiêu dùng ..................................................................... 132 Hình 2.74: Chỉ số tiêu thụ sản phẩm ngành chế biến chế tạo và tồn kho ngành chế biến chế tạo ..................................................................................................................................... 133 Hình 2.75: Chỉ số mua hàng nhà sản xuất ........................................................................ 133 Hình 2.76: Tăng trưởng tín dụng và tài sản cố định ......................................................... 133 Hình 2.77: Tăng trưởng tín dụng, cung tiền và GDP ....................................................... 134 Hình 2.78: Tăng trưởng tín dụng, cung tiền và lạm phát ................................................. 134 Hình 2.79: Hàm phản ứng của GDP trước cú sốc lãi suất ................................................ 139 Hình 2.80: Hàm phản ứng của CPI trước cú sốc lãi suất ................................................. 139 Hình 2.81: Hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc GDP ................................................ 140 Hình 2.82: Hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc CPI ................................................. 140 Hình 2.83: Hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc tín dụng .......................................... 141 Hình 2.84: Hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc tỷ giá ............................................... 141 Hình 2.85: Hàm phản ứng của GDP trước cú sốc lãi suất khi có kênh tín dụng và khi không có kênh tín dụng .................................................................................................... 141 Hình 2.86: Hàm phản ứng của CPI trước cú sốc lãi suất khi có kênh tín dụng và khi không có kênh tín dụng ............................................................................................................... 141 Hình 3.1: Tỷ lệ trái phiếu Chính phủ và doanh nghiệp trên GDP một số quốc gia ......... 149 Hình 3.2: Tỷ lệ tín dụng trên GDP một số quốc gia ......................................................... 150 Hình 3.3: Trở ngại chủ yếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .. 180 Hình 3.4: Các kiến nghị của doanh nghiệp đối với Chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong thời gian tới ............................................................................................................. 181
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cơ chế truyền tải CSTT tới hệ thống ngân hàng và nền kinh tế luôn là một chủ
đề nhận được nhiều sự quan tâm. Nắm bắt được chiều hướng tác động của CSTT tới
nền kinh tế là cơ sở để các nhà quản lý tiền tệ đưa ra các chính sách phù hợp. Ngay cả
khi đưa ra được một chính sách phù hợp thì việc lựa chọn và cách thức sử dụng công
cụ CSTT cũng đòi hỏi phải đánh giá chính xác thời gian và mức độ ảnh hưởng của nó
tới các biến số kinh tế vĩ mô. Đã có nhiều nghiên cứu về các kênh truyền tải CSTT như
kênh lãi suất, tỷ giá, giá tài sản, chấp nhận rủi ro, tín dụng… nhưng cho đến nay vẫn
chưa có sự đồng thuận giữa các nhà nghiên cứu cả về cơ chế truyển tải lẫn khả năng
tác động của từng kênh. Tại các quốc gia phát triển với thị trường tài chính phát triển,
các kênh truyền tải CSTT đã được nhận diện và được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh
nhưng tại các quốc gia đang phát triển, truyền tải CSTT vẫn đang được nhiều chủ thể
như NHTW, các tổ chức tài chính và các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu. Thiếu
hụt các nghiên cứu định lượng về truyền tải CSTT khiến cho mối liên kết giữa các
công cụ CSTT, các chỉ tiêu tiền tệ và tổng cầu tại các quốc gia này chưa được đánh giá
một cách rõ ràng, là một trong những nhân tố làm giảm đi tính hiệu quả trong công tác
điều hành CSTT của NHTW.
Khác với quan điểm tiền tệ truyền thống nhấn mạnh vào truyền tải CSTT qua
bên nguồn vốn của hệ thống ngân hàng, kênh tín dụng ngân hàng tập trung vào phân
tích ảnh hưởng của CSTT tới nền kinh tế thông qua sự biến động của tài sản. Việc dỡ
bỏ những giả định không phù hợp với thực tế thị trường tiền tệ - tài chính (không có sự
khác biệt trong các quyết định về cấu trúc vốn của người đi vay và cho vay ) và khai
thác vấn đề thông tin bất cân xứng giữa người đi vay và cho vay đã dẫn đến sự ra đời
của kênh tín dụng. Trong nghiên cứu của mình, Bernanke và Blinder (1992) phát triển
lập luận về ảnh hưởng trực tiếp của CSTT lên lãi suất được khuếch đại bởi những thay
đổi bên trong phần thưởng nguồn vốn bên ngoài [38]. Độ lớn của phần thưởng nguồn
vốn bên ngoài phản ánh sự thiếu hoàn hảo của thị trường tín dụng, vốn dĩ gây ra sự
chênh lệch giữa lợi nhuận kỳ vọng của người cho vay và chi phí mà người đi vay phải
trả. Một sự thay đổi trong lãi suất do điều hành CSTT của NHTW sẽ kéo theo sự thay
đổi của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài và tiếp đó, sự thay đổi của phần thưởng
nguồn vốn bên ngoài sẽ làm thay đổi chi phí lãi vay, nhu cầu và khả năng cấp tín dụng,
rồi hoạt động chi tiêu, đầu tư của nền kinh tế. Hai tác giả đã lý giải tại sao điều hành
CSTT lại có tác động đến phần thưởng nguồn vốn bên ngoài trên thị trường tín dụng
thông qua hai kênh truyền tải là bảng cân đối tài sản của người đi vay và khả năng cấp
2
tín dụng của hệ thống ngân hàng. Nghiên cứu khởi đầu này của Bernanke và Blinder
(1995) đã mở ra hướng nghiên cứu mới về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng và được
nhiều nhà nghiên cứu phát triển thêm.
Tại Việt Nam, cùng với nhiều chính sách kinh tế vĩ mô khác, CSTT thắt chặt
trong năm 2011 và nửa đầu năm 2012 nhằm đối phó với sự gia tăng của lạm phát và
bất ổn kinh tế vĩ mô đã khiến cho hệ thống ngân hàng NHTM và doanh nghiệp suy yếu
đi nhiều. Tình trạng thắt chặt tín dụng trong một thời gian dài đã để lại những hệ lụy to
lớn cho nền kinh tế. Về phía doanh nghiệp, hàng hóa ứ đọng, dòng vốn tắc nghẽn, hiệu
quả sản xuất kinh doanh thấp. Về phía ngân hàng, căng thẳng thanh khoản, nợ xấu gia
tăng, mức sinh lời giảm sút, mức độ đủ vốn bị suy giảm mạnh là những biểu hiện yếu
kém phổ biến được bộc lộ rõ rệt. Trước tình hình này, Chính phủ đã nỗ lực triển khai
nhiều giải pháp vĩ mô nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng suy thoái, trong đó
có chương trình tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng. Riêng đối với
NHNN Việt Nam, công tác điều hành CSTT đã được thực hiên linh hoạt, chủ động
hơn nhằm hạ thấp mặt bằng lãi suất, triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ hệ thống NHTM
và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tín dụng có hiệu quả đối với nền kinh tế. Tuy nhiên,
những nỗ lực kể trên của ngành ngân hàng chưa mang lại nhiều kết quả tích cực khi
mà tín dụng tăng trưởng chậm chạp trong năm 2013 và 2014, thậm chí còn âm trong
một vài tháng liên tiếp. Nhu cầu tín dụng lẫn khả năng và mong muốn cung ứng tín
dụng đã bị giảm đi đáng kể khi xuất hiện nhiều yếu tố tác động tiêu cực tới các chủ thể
đi vay và cho vay trong thị trường tín dụng. Thực trạng này cho thấy sự bất ổn trong
truyền tải CSTT qua kênh tín dụng ngân hàng, vốn dĩ là kênh truyền tải chính những
tác động của CSTT đến nền kinh tế tại Việt Nam. Không chỉ tạo ra sự đánh đổi lớn
cho nền kinh tế khi phải chuyển từ mục tiêu tăng trưởng sang mục tiêu kiềm chế lạm
phát (và ngược lại), những yếu kém trong kênh truyền tải này còn gây ra sự mất ổn
định cho hệ thống NHTM Việt Nam. Vì vây, nghiên cứu sinh lựa chọn tiêu đề
“Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt
Nam” cho luận án tiến sĩ của mình.
2. Tổng quan nghiên cứu
Truyền tải CSTT là một trong những chủ đề nghiên cứu được ưa chuộng nhất
trong các nghiên cứu về CSTT vì hai lý do cơ bản. Thứ nhất, nắm bắt được mức độ tác
động của CSTT tới nền kinh tế có vai trò quan trọng trong việc đánh giá định hướng
điều hành của NHTW. Hiệu quả của một CSTT nới lỏng chưa chắc đã được bảo đảm
ngay cả khi NHTW hạ thấp mức lãi suất điều hành khi mà tác động của CSTT lên nền
kinh tế không được như kỳ vọng. Thứ hai, trước khi đưa ra lựa chọn và sử dụng bất kỳ
công cụ CSTT, NHTW cần đánh giá chính xác thời gian và mức độ ảnh hưởng của nó
3
tới hệ thống TCTD và nền kinh tế. Muốn làm được điều này, NHTW cần nắm được cơ
chế truyển tải CSTT tới tình hình tài chính của hệ thống TCTD cũng như các biến số
vĩ mô trong nền kinh tế như sản lượng và lạm phát.
Quan điểm truyền thống về CSTT dựa trên giả định không có sự khác biệt trong
các quyết định về cấu trúc vốn của người đi vay và cho vay. Do vậy, nền kinh tế có thể
được mô hình hóa mà không phải xây dựng các giả định riêng cho từng nguồn vốn
khác nhau. Cụ thể, không tồn tại sự khác biệt về thuế, không chi phí giao dịch, không
có tình trạng thông tin bất cân xứng và mọi mâu thuẫn về quyền lợi giữa các chủ thể
kinh tế có thể được giải quyết mà không tốn phí tổn nào cả.
Tuy nhiên, kể từ thập niên 1970, nhiều nhà nghiên cứu về CSTT đã xem xét tác
động của việc dỡ bỏ những giả định của quan điểm truyền thống. Hầu hết các nghiên
cứu tập trung vào vấn đề thông tin bất cân xứng giữa người đi vay và cho vay để đưa
ra giả định có sự khác biệt giữa các loại tài sản tài chính như khoản vay ngân hàng, trái
phiếu và cổ phiếu (thay vì chỉ giả định có sự khác biệt giữa các tài sản tài chính (sinh
lãi) và tiền (không sinh lãi)) [35]. Trong nghiên cứu của mình, Bernanke và Blinder
(1992) phát triển lập luận về ảnh hưởng trực tiếp của CSTT lên lãi suất được khuếch
đại bởi những thay đổi bên trong phần thưởng nguồn vốn bên ngoài. Độ lớn của phần
thưởng nguồn vốn bên ngoài phản ánh sự thiếu hoàn hảo của thị trường tín dụng, vốn
dĩ gây ra sự chênh lệch giữa lợi nhuận kỳ vọng của người cho vay và chi phí mà người
đi vay phải trả. Một sự thay đổi trong lãi suất do điều hành CSTT của NHTW sẽ kéo
theo sự thay đổi của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài và tiếp đó, sự thay đổi của
phần thưởng nguồn vốn bên ngoài sẽ làm thay đổi chi phí lãi vay, nhu cầu và khả năng
cấp tín dụng, rồi hoạt động chi tiêu, đầu tư của nền kinh tế. Hai tác giả đã lý giải tại
sao điều hành CSTT lại có tác động đến phần thưởng nguồn vốn bên ngoài trên thị
trường tín dụng thông qua hai kênh truyền tải là bảng cân đối tài sản của người đi vay
và khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng [38].
2.1. Tổng quan nghiên cứu ngoài nước
a/ Kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng
Kênh khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng chỉ ra cung tín dụng sẽ
giảm xuống khi NHTW thắt chặt CSTT. Quá trình này bắt đầu khi NHTW sử dụng các
công cụ của CSTT để hút lượng tiền dự trữ ra khỏi hệ thống, khiến cho các ngân hàng
còn ít vốn khả dụng để cho vay [35]. Mặc dù Romer và Romer (1990) cho rằng các
ngân hàng có thể phản ứng lại bằng cách tăng các khoản huy động vốn không chịu quy
định về dự trữ [109] nhưng do các khoản nợ này có chi phí cao nên CSTT thắt chặt
vẫn có tác động làm giảm lượng vốn dành để cho vay đối với nền kinh tế [114].
4
Một vài nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu mảng của hệ thống ngân hàng để xác
định mức độ chịu ảnh hưởng của khả năng cấp tín dụng trước việc NHTW thắt chặt
CSTT. Kashyap và Stein (1995, 2000) phân tích kênh khả năng cấp tín dụng trên cơ sở
tách biệt các ngân hàng thông qua tiêu chí về quy mô và thanh khoản. Hai tác giả nhận
thấy trong điều kiện CSTT thắt chặt, các khoản tín dụng của các ngân hàng lớn không
bị ảnh hưởng nhiều nhưng các ngân hàng nhỏ lại điều chỉnh giảm mạnh các khoản tín
dụng cấp ra nền kinh tế. Như vậy, các ngân hàng nhỏ phải đối mặt với vấn đề căng
thẳng tín dụng do sự thiếu hoàn hảo của thị trường tín dụng với đặc điểm bảng cân đối
tài sản thiếu tính thanh khoản (chi phí cho việc tiếp cận các khoản vốn bán buôn là
lớn) [85, 86]. Tuy nhiên, có một giải thích cho hiện tượng này là hiệu ứng khác biệt
giữa doanh nghiệp nhỏ và lớn. Nghiên cứu của Elliehausen và Wolken (1990) cho thấy
các doanh nghiệp nhỏ có xu hướng vay vốn từ các ngân hàng địa phương có quy mô
nhỏ [63] trong khi Angeloni và các cộng sự (1995) chỉ ra các ngân hàng lớn ưa thích
cấp tín dụng cho các doanh nghiệp lớn với các khoản vay có quy mô lớn và ngược lại
[34]. Hơn nữa, các doanh nghiệp nhỏ chính là đối tượng chịu ảnh hưởng mạnh từ việc
thắt chặt CSTT của NHTW khi doanh thu giảm do hoạt động kinh doanh thiếu đa
dạng. Hàng tồn kho theo đó cũng bị điều chỉnh giảm mạnh, buộc nhóm doanh nghiệp
này phải thu hẹp quy mô hoạt động và dư nợ ngân hàng.
Bên cạnh đó, Kishan và Opiela (2000) cho thấy các ngân hàng nhỏ với quy mô
vốn thấp thường phàn ứng rất nhanh và mạnh với các cú sốc tiền tệ khi mà nguồn thanh
khoản của ngân hàng thường xuyên rơi vào tình trạng căng thẳng [99]. Peek và
Rosengren (1995) chỉ ra các ngân hàng không bảo đảm đủ vốn chủ sở hữu sẽ thu hẹp
quy mô rất nhanh chóng so với các ngân hàng có nguồn vốn chủ sở hữu lớn. Như vậy,
sự không hoàn hảo của thị trường tài chính cũng xảy ra đối với chính các ngân hàng chứ
không chỉ riêng doanh nghiệp bởi vì nếu thị trường hoàn hảo, các ngân hàng hoàn toàn
có thể huy động tiền gửi hoặc vay trên TTLNH nhằm bù đắp sự thiếu hụt về vốn khả
dụng [102]. Nghiên cứu của Sacerdoti (2005) nhận định các ngân hàng tại Châu Phi có
xu hướng mở rộng các khoản tín dụng cho khu vực tư nhân, nhưng với tốc độ bị hạn chế
nhất định khi NHTW thực hiện CSTT nới lỏng. Nguyên nhân là sự thiếu hụt các công
cụ huy động vốn trên thị trường tài chính kém phát triển buộc các ngân hàng phải duy trì
từ 30 - 50% các khoản huy động dưới dạng dự trữ tại NHTW hoặc tài sản ngoại tệ. Các
khoản mục tài sản này, cùng với trái phiếu Chính phủ, đã giúp cho ngân hàng tìm kiếm
được nguồn vốn bổ sung nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế [111].
b/ Kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay
Kênh truyền tải thông qua bảng cân đối tài sản khác với kênh khả năng cấp tín
dụng khi kênh khả năng cấp tín dụng giả định không có sự khác biệt giữa tín dụng
5
ngân hàng giữa doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn. Nhưng kênh bảng cân đối tài
sản lại cho rằng tồn tại sự khác biệt nhất định do khi NHTW thực hiện CSTT thắt chặt,
các doanh nghiệp nhỏ vốn chỉ phụ thuộc vào ngân hàng sẽ phải đối mặt với vấn đề
thiếu hụt nguồn vốn còn các doanh nghiệp lớn có thể tiếp cận được với các nguồn vốn
phi ngân hàng khác. Ngoài ra, các ngân hàng cũng có xu hướng dịch chuyển các khoản
tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ sang doanh nghiệp lớn trong bối cảnh CSTT thắt
chặt. Đây chính là quá trình sàng lọc các đối tượng khách hàng có chất lượng của các
ngân hàng (flight to quality). Bernanke và Gertler (1995) nhận định CSTT thắt chặt
trực tiếp làm giảm đi năng lực tài chính của khách hàng đi vay thông qua chi phí lãi
vay tăng lên và dòng tiền ròng giảm xuống. Sự tăng lên của lãi suất khiến giá tài sản
giảm xuống và đồng nghĩa với đó là giá trị TSBĐ cũng giảm theo. CSTT thắt chặt
cũng ảnh hưởng tới tổng cầu và khiến cho doanh thu, dòng tiền của doanh nghiệp giảm
xuống. Trước tình hình này, các ngân hàng có xu hướng phân bổ lại tín dụng theo
hướng gia tăng tỷ trọng của các doanh nghiệp lớn với mức độ rủi ro thấp hơn [36].
Nghiên cứu của Lang và Nakamura (1995) cho thấy các ngân hàng tăng tỷ trọng
các khoản cho vay cho doanh nghiệp lớn trong giai đoạn thắt chặt tín dụng do các
doanh nghiệp lớn có mức độ rủi ro thấp hơn doanh nghiệp nhỏ [92]. Bernanke, Gertler,
và Gilchrist (1998) chỉ ra đặc điểm của doanh nghiệp có ảnh hưởng tới lượng tín dụng
được cấp từ phía ngân hàng. Trong bối cảnh thắt chặt CSTT, doanh nghiệp nhỏ đối
mặt với vấn đề chi phí đại diện gia tăng sẽ gặp phải khó khăn trong việc tiếp cận tín
dụng so với những doanh nghiệp lớn. Sử dụng dữ liệu của các doanh nghiệp trong lĩnh
vực sản xuất, Bernanke và các cộng sự tìm ra hiện tượng các doanh nghiệp nhỏ giảm
nợ trong khi doanh nghiệp lớn tăng nợ [37].
Hầu hết các nghiên cứu về vấn đề này đưa đến một kết luận là CSTT thắt chặt sẽ
đưa đến sự sắp xếp lại các nguồn vốn khi hệ thống ngân hàng di chuyển các nguồn vốn
ra khỏi bảng cân đối tài sản và các doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn vốn có chi phí thấp
nhất. Post (1992) đề cập đặc điểm các thương phiếu phải được bảo đảm bởi các khoản
dự trữ của doanh nghiệp hoặc từ phía ngân hàng thông qua các khoản cam kết tín dụng
đối với doanh nghiệp. Ngay cả các doanh nghiệp nhỏ gặp khó khăn trong việc phát hành
thương phiếu vẫn có thể tài trợ các khoản mục bên tài sản bằng tín dụng thương mại từ
các doanh nghiệp lớn có khả năng phát hành thương phiếu [105]. Nghiên cứu của
Calomiris, Himmelberg và Wachtel (1995) đã ủng hộ luận điểm này khi tìm thấy bằng
chứng các doanh nghiệp lớn phát hành thương phiếu với mục đích chủ yếu để tài trợ cho
các khoản tín dụng thương mại cho doanh nghiệp nhỏ [49]. Gertler và Gilchrist (1993),
Eichenbaum (1994) cũng nhận định các khoản nguồn vốn không trả lãi vay của doanh
nghiệp nhỏ tăng lên khi NHTW thực hiện CSTT thắt chặt [69, 60].
6
Về phía tình trạng tài chính của khách hàng đi vay, nghiên cứu của Gertler và
Gilchrist (1993) cho thấy các doanh nghiệp nhỏ có xu hướng giảm hàng tồn kho và các
khoản vay ngắn hạn cùng với sự sụt giảm của doanh thu. Tuy vậy, các doanh nghiệp
lớn không có đặc điểm này và điều này cho thấy các doanh nghiệp lớn không đối mặt
với vấn đề căng thẳng thanh khoản như các doanh nghiệp nhỏ [68]. Friedman và
Kuttner (1993) cũng nhận định rằng sự giảm xuống của dòng tiền và gia tăng hàng tồn
kho khi nền kinh tế gặp cú sốc tiêu cực là nhân tố gây ra sự thiếu hụt nguồn vốn của
doanh nghiệp [66]. Zaderey (2003) nhận thấy tại Ukraine, CSTT thắt chặt khiến giá cổ
phiếu giảm và chi phí lãi vay của doanh nghiệp tăng lên, khiến cho dòng tiền ròng lẫn
giá trị dòng bị sụt giảm. Các doanh nghiệp không có khả năng huy động vốn trên thị
trường vốn buộc phải dựa vào nguồn lợi nhuận để lại để đáp ứng nhu cầu thanh khoản,
tài trợ tài sản lưu động và các khoản đầu tư khác [126].
Một vài nghiên cứu không tách biệt giữa kênh khả năng cấp tín dụng và kênh
bảng cân đối tài sản. Kashyap, Lamont, và Stein (1994) tìm thấy bằng chứng về hàng
tồn kho của các doanh nghiệp phụ thuộc vào ngân hàng giảm nhanh hơn so với doanh
nghiệp với đặc điểm nguồn vốn đa dạng [83]. Sử dụng phương pháp tương tự, Gertler
và Gilchrist (1993) cũng nhận thấy doanh nghiệp nhỏ giảm nợ và doanh nghiệp lớn
tăng nợ khi NHTW thực hiện CSTT thắt chặt. Hai tác giả đã phân loại các doanh
nghiệp trên cơ sở giá trị tài sản khi doanh nghiệp nhỏ nằm trong số 30% doanh nghiệp
có tài sản nhỏ nhất. CSTT thắt chặt làm tăng các khoản vay ngắn hạn của các doanh
nghiệp lớn nhằm tài trợ cho hàng tồn kho. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ hầu như
không có điều kiện để vay ngắn hạn ngân hàng và lượng hàng tồn kho giảm mạnh qua
thời gian [69].
Để làm rõ vai trò của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài trong việc đặt nền tảng
cho kênh tín dụng phát triển, Kashyap, Stein, và Wilcox (1993) kiểm tra mối tương
quan giữa tín dụng ngân hàng và thương phiếu. Sự giảm xuống trong khoản vay từ
ngân hàng trong khi giá trị thương phiếu phát hành bởi doanh nghiệp tăng lên cho thấy
bản thân khả năng cấp tín dụng của các ngân hàng bị thu hẹp lại. Ba tác giả đưa ra
nhận định nếu cú sốc là do thay đổi trong nhu cầu tín dụng thì ảnh hưởng của cú sốc sẽ
lan tỏa tới tất cả các nguồn vốn của nền kinh tế. Trong khi đó, cú sốc tiền tệ truyền tải
qua kênh tín dụng ngân hàng sẽ chỉ ảnh hưởng tới phía cung tín dụng [87]. Bằng
chứng định lượng chỉ ra tỷ lệ giữa thương phiếu và tín dụng ngân hàng sẽ tăng lên khi
NHTW thực hiện CSTT thắt chặt. Tuy nhiên, Oliner và Rudebusch (1993), Gertler và
Gilchrist (1993) cho thấy sự giảm xuống của tỷ lệ tín dụng ngân hàng trên thương
phiếu không hoàn toàn là một bằng chứng của kênh tín dụng ngân hàng. Các tác giả
7
nhận thấy CSTT thắt chặt dẫn tới sự giảm thay đổi trong các nguồn vốn bên ngoài của
các doanh nghiệp lớn [100, 69]. Trong khi các khoản tín dụng của các doanh nghiệp
nhỏ giảm xuống, các khoản tín dụng cho các doanh nghiệp lớn lại tăng lên nên tổng tín
dụng ngân hàng không thay đổi khi CSTT thắt chặt. Việc giảm xuống trong tổng tín
dụng được cho là do xuất phát từ nguyên nhân các doanh nghiệp lớn có xu hướng ít
phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng hơn so với doanh nghiệp nhỏ. Một khi
quy mô của doanh nghiệp được đưa vào mô hình phân tích, kết quả là các nguồn vốn
của doanh nghiệp sau khi điều chỉnh không bị ảnh hưởng nhiều. Kashyap, Stein, và
Wilcox (1993) và Romer và Romer (1993) cũng chỉ ra chênh lệch giữa lãi suất tín
dụng và lãi suất thương phiếu tăng lên sau khi NHTW thực hiện CSTT thắt chặt. Do
vậy, doanh nghiệp lớn với xếp hạng tín dụng tốt sẽ có xu hướng thay thế các khoản tín
dụng từ ngân hàng với chi phí cao bằng nguồn vốn từ phát hành thương phiếu [87,
110]. Để xác định mức độ hiệu quả của kênh bảng cân đối tài sản tại Áo, Wesche
(2000) đã sử dụng dữ liệu vi mô của 2000 doanh nghiệp phi tài chính trong khoảng
thời gian từ 1979 đến 1998. Tác giả nhận thấy CSTT có tác động kiểm soát mức cung
tín dụng của ngân hàng và làm ảnh hưởng tới việc vay vốn của doanh nghiệp nhỏ. Bên
cạnh đó, DNNVV với mức chi phí lãi vay cao và tỷ lệ đầu tư trên doanh thu thấp có sự
phản ứng mạnh hơn đối với các biến số tài chính [124].
2.2. Tông quan nghiên cứu trong nước
Chậm hơn so với xu thế nghiên cứu trên thế giới, tại Việt Nam, chỉ có một vài
nghiên cứu về truyền tải CSTT từ giai đoạn những năm 2000 trở lại đây. Các nghiên cứu
về truyền tải CSTT tại Việt Nam có thể đến đề tài nghiên cứu khoa học của tác giả
Nguyễn Thị Kim Thanh (2005) về những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện mục tiêu,
cơ chế truyền tải của chính sách tiền tệ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, luận
văn thạc sỹ của tác giả Trần Thị Lộc (2002) về giải pháp nâng cao hiệu quả kênh truyền
tải các tác động của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế, truyền tải chính sách tiền tệ qua
kênh chấp nhận rủi ro của tác giả Hà Thị Sáu và các cộng sự (2014), bài báo khoa học
của các giả Hung và Wade (2008), Nguyễn Phi Lân (2010) về cơ chế truyền tải tiền tệ
dưới góc độ phân tích định lượng, hai tác giả Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn
(2013) về cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ ở Việt Nam tiếp cận theo mô hình SVAR
và nhiều nghiên cứu khác của các tác giả Tô Ngọc Hưng (2013), Phạm Thị Hoàng Anh
(2013), Nguyễn Đức Trung (2013), Nguyễn Thị Thúy Vinh (2015)... Tuy nhiên, những
nguyên cứu cụ thể về kênh tín dụng ngân hàng, đặc biệt là phân tích các kênh truyền tải
nhỏ hơn bên trong kênh này, là tương đối ít mặc dù kênh tín dụng đóng vai trò quan
trọng trong truyền tải điều hành CSTT của NHNN tới nền kinh tế Việt Nam.
8
Nghiên cứu của Camen (2006) về những thay đổi trong điều hành CSTT của Việt
Nam trong bối cảnh nền kinh tế và thị trường tài chính có những bước phát triển mới
như Hiệp định thương mại Việt Mỹ và quá trình chuẩn bị gia nhập WTO. Tác giả sử
dụng mô hình BVAR gồm các biến tỷ giá, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền, tín dụng đối
với nền kinh tế, hoặc lãi suất cho vay, chỉ số giá cả hàng hóa và cung tiền rộng của Mỹ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn từ tháng 2/1996 đến tháng 4/2003, tín dụng
là nhân tố gây ra ảnh hưởng chính tới lạm phát sau khoảng thời gian 24 tháng [122].
Hung và Wade (2008) đã sử dụng mô hình VAR với các biến số tổng sản lượng
quốc nội, chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất thực, tín dụng và tỷ giá thực hiệu quả. Hai tác giả
đã sắp xếp các biến số vĩ mô trong mô hình theo thứ tự sản lượng, chỉ số giá tiêu dùng,
tín dụng và cung tiền trên cơ sở giả định sự tăng lên của cung tiền sẽ tạo điều kiện mở
rộng tín dụng, từ đó ảnh hưởng tới nền kinh tế. Kết quả cho thấy kênh tín dụng đóng vai
trò quan trọng trong truyền tải CSTT, thậm chí hơn cả kênh lãi suất truyền thống. Bên
cạnh đó, tín dụng có tác động nhân quả tới cung tiền và nếu như loại bỏ vai trò của tín
dụng thì mối quan hệ giữa cung tiền và sản lượng bị giảm đi nhiều [74].
Nguyễn Phi Lân (2010) đã sử dụng mô hình hồi quy SVAR với hai nhóm biến
đại diện cho khu vực quốc tế và trong nước để mô hình hóa khuôn khổ chính sách tiền
tệ tại một nền kinh tế thị trường với độ mở lớn như Việt Nam. Trong mô hình này, tác
giả thiết lập các điều kiện cần thiết để tìm ra những cú sốc tiền tệ và tỷ giá của Việt
Nam, sau đó đánh giá hiệu quả tác động của CSTTvà các kênh truyền tải khác nhau
đến giá cả hàng hóa và các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế trong nước
dựa trên cặp số liệu thu thập từ Thống kê tài chính quốc tế từ năm 1998 - 2009. Tác
giả nhận thấy cung tiền có xu hướng tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế nhưng
chưa lớn, bắt nguồn từ việc một phần tín dụng ngân hàng đã không được một số tổ
chức kinh tế và dân cư sử dụng đúng mục đích sản xuất kinh doanh mà thay vào đó là
đầu tư vào các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao như chứng khoán hay bất động sản. Kết
quả nghiên cứu còn chỉ ra việc thay đổi lãi suất VND trên thị trường tiền tệ thông qua
sử dụng các công cụ tiền tệ như OMO hay tái cấp vốn... sẽ mất thời gian khoảng là 3 -
5 tháng để có hiệu lực [10].
Nghiên cứu khác của Chu Khánh Lân (2012) về thực trạng truyền tải CSTT tại
Việt Nam trên cả phía cung và phía cầu tín dụng. Mặc dù NHNN đã điều hành CSTT
theo hướng nới lỏng nhằm thúc đẩy các TCTD tăng cường cho vay thông qua bơm
thanh khoản cho hệ thống TCTD và giảm lãi suất thị trường để khuyến khích nhu cầu
vay vốn của nền kinh tế nhưng mức độ hiệu quả của chính sách chưa đạt mức kỳ vọng.
Về cung tín dụng, thanh khoản được cải thiện đáng kể so với cuối năm 2011 và đầu
năm 2012 nhưng vẫn tập trung tại hệ thống các TCTD và chủ yếu được sử dụng để đầu
9
tư vào trái phiếu Chính phủ thay vì cho vay đối với nền kinh tế. Về phía cầu tín dụng,
mặc dù lãi suất cho vay đã giảm mạnh nhưng trước những khó khăn chồng chất của
doanh nghiệp, nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh vẫn không được cải thiện do nhu
cầu đầu tư trở nên đặc biệt thiếu nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất trong điều kiện
tương lai bất ổn và khi niềm tin vào thị trường giảm xuống. Thực trạng này cho thấy,
mức độ hiệu quả truyền tải CSTT của kênh tín dụng đã bị giảm đi đáng kể trong thực
trạng suy yếu của hệ thống các TCTD, tình hình tài chính khó khăn của các doanh
nghiệp và môi trường kinh doanh có nhiều biến động khó lường [1].
Nghiên cứu của Chu Khánh Lân (2013) về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng
sử dụng hai mô hình VAR để đo lường mối quan hệ giữa các biến mục tiêu vĩ mô và
các biến số tiền tệ. Tác giả nhận định tại Việt Nam, mức độ khuếch đại của kênh tín
dụng trong truyền tải CSTT là khá nhanh và mạnh. Cụ thể, để so sánh mức độ khuếch
đại thông qua kênh tín dụng, mô hình VAR thứ hai được áp dụng với biến tín dụng là
biến ngoại sinh. Thông qua phương pháp này, tác động của lãi suất và cung tiền sẽ
được truyền tải thông qua biến nội sinh là tín trong khi mô hình VAR thứ hai bỏ qua
cơ chế này. Với bộ số liệu từ quý 2/2000 đến quý 4/2011, tín dụng khuyến đại mạnh
ảnh hưởng của cung tiền và lãi suất thực tới tăng trưởng kinh tế. Tương tự, phản ứng
của CPI trước thay đổi cung tiền và lãi suất thực được khuếch đại khá nhanh và mạnh
trong trường hợp có kênh tín dụng so với trường hợp không có kênh tín dụng. Khi có
kênh tín dụng, biến động của tín dụng thể hiện vai trò đáng kể trong biến động của
GDP. Tương tự, cung tiền, tăng trưởng tín dụng và lãi suất đóng góp vào biến động
của lạm phát nhiều hơn trường hợp không có kênh tín dụng [2].
Nhóm tác giả Nguyễn Phúc Cảnh, Nguyễn Quốc Anh và Nguyễn Hồng Quân
(2013) đã phân tích đặc điểm ngân hàng tác động như thế nào đến truyền tải CSTT qua
kênh tín dụng ngân hàng tại Việt Nam. Bài viết phân tích cơ chế truyền tải của CSTT
qua kênh tín dụng của NHTM giai đoạn 2003-2012 trên khía cạnh phản ứng của chính
mỗi NHTM với sự thay đổi trong CSTT. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy tổng thể cho
dữ liệu bảng thu thập từ báo cáo tài chính của các NHTM giai đoạn 2003-2012. Kết quả
cho thấy kênh tín dụng có tồn tại trong dẫn truyền CSTT tại Việt Nam và các đặc điểm
về vốn chủ sở hữu, tài sản thanh khoản, rủi ro của mỗi NHTM tác động đến tính linh
hoạt của mỗi NHTM khi phản ứng với thay đổi CSTT giai đoạn 2003 – 2012 [11].
Nghiên cứu Nguyễn Thị Thúy Vinh (2015) phân tích cơ chế truyền tải tiền tệ ở
Việt Nam thông qua các kênh lãi suất, tỷ giá hối đoái, tài sản và tín dụng trong giai
đoạn từ 1995 đến 2009. Nghiên cứu áp dụng mô hình VAR để đánh giá cơ chế truyền
tải tiền tệ đến sản lượng và mức giá. Để so sánh tầm quan trọng của các kênh khác
nhau trong quá trình truyền tải CSTT, nghiên cứu đã ước lượng hàm phản ứng và phân
10
rã phương sai của các biến số trong mô hình. Các kết quả thực nghiệm cho thấy những
thay đổi trong cung tiền có tác động tới sản lượng hơn là tác động tới mức giá trong
ngắn hạn. Những tác động của thay đổi cung tiền tới giá cả và sản lượng sẽ được đẩy
mạnh thông qua kênh tỷ giá và tín dụng, Tuy nhiên, những tác động đó sẽ yếu đi thông
qua kênh lãi suất. Đối với kênh tài sản, thông qua giá cổ phiếu, tác động của chính
sách tiền tệ tới giá cả và sản lượng có thể bị “méo mó” do cấu trúc của thị trường
chứng khoán còn mỏng và yếu [13].
Tóm lại, các nghiên cứu về truyền tải CSTT tại Việt Nam nói chung và truyền
tải qua kênh tín dụng nói riêng, trên cả hai phương diện kênh truyền tải qua bảng cân
đối tài sản và khả năng cấp tín dụng là tương đối ít, chưa toàn diện (không phân tích
được các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình truyền tải và mới chỉ tiếp cận kênh khả năng
cấp tín dụng), và trong phạm vi thời gian nghiên cứu quá ngắn hoặc quá dài nên
không được ra được kết luận phù hợp cho từng giai đoạn truyền tải khác nhau.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Tổng hợp và phân tích cơ sở lý luận về truyển tải CSTT, truyển tải CSTT qua
kênh tín dụng với hai kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay và kênh khả năng cấp
tín dụng của ngân hàng. Tổng hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và kết quả
nghiên cứu về truyển tải CSTT qua kênh tín dụng từ các nghiên cứu trong và ngoài
nước làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn Việt Nam.
- Phân tích thực trạng truyền tải CSTT và hoạt động của hệ thống NHTM Việt
Nam làm cơ sở để phân tích thực trạng truyển tải CSTT qua kênh tín dụng với hai
kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay và kênh khả năng cấp tín dụng của ngân
hàng. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới truyền tải CSTT qua kênh tín dụng của
NHTM Việt Nam.
- Nghiên cứu định lượng về mức độ, chiều hướng truyền tải CSTT qua kênh
tín dụng tại Việt Nam, xem xét mức độ đóng góp của kênh tín dụng vào diễn biến các
mục tiêu của CSTT.
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường khả năng truyền tải CSTT
qua kênh tín dụng của NHTM Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính của luận án là thực trạng truyền tải CSTT qua kênh tín dụng
với hai kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay và kênh khả năng cấp tín dụng của
ngân hàng tại Việt Nam. Thực trạng truyền tải được thể hiện qua sự biến động của tín
dụng (bên tài sản trên bảng cân đối tài sản của ngân hàng và nguồn vốn vay ngân hàng
11
trên bảng cân đối tài sản của người đi vay là doanh nghiệp). Ngoài ra, đề tài cũng phân
tích thực trạng điều hành CSTT của NHNN và hoạt động của hệ thống NHTM.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn từ năm 2011 tới năm 2015. Đối
với nghiên cứu định lượng, giai đoạn nghiên cứu kéo dài từ quý 1 năm 2000 đến quý 4
năm 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp triết học biện chứng và duy vật lịch sử thường được sử
dụng trong nghiên cứu khoa học nói chung, luận án vận dụng các phương pháp khảo
sát, thống kê, so sánh, phân tích - tổng hợp, diễn dịch, quy nạp.
Ngoài các sơ đồ, bảng, đồ thị, đề tài sử dụng mô hình kinh tế lượng SVAR để
kiểm chứng sự tồn tại và đo lường mức độ khuếch đại CSTT của kênh tín dụng thông
qua hàm phản ứng. Thông qua phân rã quá khứ, đề tài đánh giá tác động của tín dụng
tới sự biến động của các biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế.
Đề tài khai thác các nguồn dữ liệu báo cáo tài chính từ năm 2010 đến năm 2015
của 201 doanh nghiệp niêm yết trong chỉ số VNINDEX; dữ liệu báo cáo tài chính từ
năm 2010 đến năm 2014 của 29 NHTM; dữ liệu tiền tệ, ngân hàng từ Thống kê tài
chính quốc tế của IMF; dữ liệu kinh tế vĩ mô từ Tổng cục Thống kê; dữ liệu khảo sát
306 doanh nghiệp năm 2013 của nhóm nghiên cứu thực hiện Báo cáo hoạt động ngân
hàng năm 2013 và một số dự báo năm 2014 của Học viện Ngân hàng.
6. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm ba
chương:
Chương 1: Cơ sở luận về truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của
ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng truyển tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của các
ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp tăng cường khả năng truyền tải chính sách tiền tệ qua
kênh tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam
12
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LUẬN VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA
KÊNH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VÊ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.1.1. Khái niệm chính sách tiền tệ
Hiện nay, trong các tài liệu nghiên cứu về CSTT thì thuật ngữ “Chính sách tiền
tệ” được mô tả thông qua việc sử dụng các mục tiêu và công cụ điều hành. Theo
PGS.TS. Tô Kim Ngọc (2012): “CSTT là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô,
mà trong đó NHTW, thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều
tiết khối lượng tiền cung ứng (hoặc lãi suất) căn cứ vào nhu cầu tiền tệ của nền kinh
tế, nhằm đạt được các mục tiêu về giá cả, sản lượng và công ăn việc làm” [16]. Trong
khi đó, chỉ có một số ít NHTW các quốc gia đưa ra định nghĩa về CSTT một cách
chính thống trong các văn bản pháp luật:
Cục Dự trữ liên bang Mỹ: “CSTT là các hoạt động thực hiện bởi Cục Dự trữ Liên
bang Mỹ để tác động tới mức độ sẵn có và chi phí của tiền và tín dụng nhằm thúc đẩy
quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế của quốc gia” [64].
NHTW Canada: “CSTT là một nhóm các quyết định được thực hiện bởi chính phủ,
thường thông qua NHTW, liên quan tới lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế” [106].
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “CSTT quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở
tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn
định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ
và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra” (Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban
hành ngày 29/06/2010 quy định tại Khoản 1 Điều 3) [8].
Theo quan điểm của tác giả: “CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô được thực
hiện bởi NHTW thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụ để tác động tới lượng
tiền lưu thông (hoặc lãi suất) trong nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế
của quốc gia như bình ổn giá cả, tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm và các mục
tiêu khác”.
Công tác điều hành CSTT của NHTW nhằm điều chỉnh nền kinh tế bao gồm hai
giai đoạn, tuy tách biệt nhưng có mối quan hệ mật thiết, trước tiên là hành vi phản ứng
của NHTW trước những sự biến động của mục tiêu (thông qua sử dụng các công cụ
CSTT) và tiếp đó là quá trình truyền tải những thay đổi trong công cụ tới các mục tiêu
CSTT (bao gồm mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian, và mục tiêu cuối cùng). Nội
dung sau đây tập trung vào phân tích các mục tiêu của CSTT, các công cụ CSTT, và
các kênh truyền tải CSTT.
13
1.1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Việc thực thi CSTT được bắt đầu từ việc xác định mục tiêu cuối cùng của
CSTT (là các mục tiêu kinh tế vĩ mô); tiếp đến là các mục tiêu trung gian (như lãi suất
hoặc lượng tiền cung ứng, tín dụng) thống nhất với mục tiêu cuối cùng; các mục tiêu
hoạt động cần phải đạt được để tác động vào mục tiêu trung gian; và là xác định các
công cụ mà NHTW có thể sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu của CSTT.
1.1.2.1. Mục tiêu cuối cùng
Mục tiêu cuối cùng của CSTT là các biến số cuối cùng mà các nhà hoạch định
chính sách (NHTW) muốn đạt được khi điều hành CSTT. Các mục tiêu cuối cùng của
CSTT có thể hướng tới một mục tiêu hoặc nhiều mục tiêu như: giá cả ổn định, tỷ lệ
thất nghiệp ở mức tự nhiên – công ăn việc làm cao, kinh tế tăng trưởng cao, thị trường
tài chính ổn định, lãi suất ổn định và thị trường ngoại hối ổn định [95].
a/ Duy trì giá cả ổn định
Nhận thấy tác động tiêu cực của lạm phát tới tăng trưởng kinh tế và sự phát
triển của xã hội, các nhà thực thi và nghiên cứu chính sách kinh tế đã đưa ra một nhận
định chung là duy trì giá cả ổn định, thể hiện bởi tốc độ tăng giá chậm và ổn định, là
mục tiêu hàng đầu của CSTT. Lập luận này được đưa ra dựa trên việc giá cả tăng cao
và biến động bất thường sẽ gây ra sự mất ổn định trong nền kinh tế và làm giảm tốc độ
tăng trưởng. Khi lạm phát ở mức cao, nền kinh tế phải dành các nguồn lực đáng ra có
thể sử dụng vào sản xuất để đối phó với lạm phát, ví dụ như sử dụng nguồn lực để cập
nhật mức giá mới hay các hộ gia đình và doanh nghiệp phải dành thời gian và nguồn
lực để quản lý tài sản nhằm bảo vệ giá trị của tài sản. Ngoài ra, khi lạm phát biến động
cao khác với dự kiến sẽ khiến quá trình phân phối lại thu nhập thực giữa người đi vay
và người cho vay xảy ra, làm cho rủi ro đối với hai chủ thể này tăng lên và ảnh hưởng
tiêu cực tới việc lập kế hoạch tài chính, hoạt động đầu tư và tiêu dùng.
Bên cạnh quan điểm về mục tiêu quan trọng nhất của CSTT là duy trì mức giá
cả ổn định, các nhà thực thi và nghiên cứu chính sách kinh tế còn đưa ra năm mục tiêu
khác gồm:
b/ Duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên
Tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên có nghĩa là nền kinh tế không có thất nghiệp
chu kỳ (cyclical unemployment) mà chỉ có thất nghiệp chuyển đổi (frictional
unemployment) và thất nghiệp cơ cấu (structural unemployment). Tuy nhiên, CSTT
thường không thể tác động nhiều vào việc giảm hai loại thất nghiệp này. Vì vậy, mục
tiêu của CSTT chỉ là hạn chế tối đa hiện tượng thất nghiệp chu kỳ thường xảy ra trong
các đợt suy thoái kinh tế khi người lao động mất việc làm và không thể tìm được việc
làm mới.
14
c/ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và duy trì mức công ăn việc làm cao có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau bởi vì doanh nghiệp có xu hướng đầu tư nâng cao năng
suất lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp. Tuy
nhiên, chính phủ có thể sử dụng các chính sách khác bên cạnh CSTT nhằm trực tiếp
khuyến khích doanh nghiệp tăng đầu tư và dân chúng tăng tiết kiệm (như các ưu đãi về
thuế) để tích lũy thêm vốn cho đầu tư. Do đó, vẫn có những tranh luận nhất định về vai
trò của CSTT trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như quan điểm của Keynes về sự
thiếu hiệu quả của CSTT trong khôi phục lại tăng trưởng kinh tế khi nền kinh tế đang
trong tình trạng suy thoái.
d/ Duy trì sự ổn định của thị trường tài chính
Khi thị trường tài chính rơi vào tình trạng bất ổn, các doanh nghiệp và người
tiêu dùng cần vốn không thể tiếp cận được nguồn vốn từ các chủ thể thặng dư vốn,
điều này dẫn tới tình trạng sản xuất kinh doanh bị đình đốn và nhu cầu tiêu dùng bị
giảm sút, tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và kéo
theo các bất ổn xã hội khác. Theo quan điểm của Hyman Minsky, NHTW với nhiệm
vụ điều hành CSTT phải thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng nhằm hạn chế tối
đa các vụ đổ vỡ trên thị trường tài chính và ngăn cản quá trình lan truyền sự bất ổn của
thị trường tài chính tới nền kinh tế. Tuy nhiên, có một số lập luận phản bác lại quan
điểm này. Ví dụ như việc lạm dụng các gói hỗ trợ đối với các tổ chức tài chính có thể
dẫn tới vấn đề rủi ro đạo đức khi các tổ chức này tiếp tục chấp nhận mức rủi ro cao
hơn trong hoạt động kinh doanh hay tác động của việc nới lỏng CSTT quá mức có thể
dẫn tới lạm phát tăng cao trong tương lai, ảnh hưởng tới việc thực hiện các mục tiêu
khác của CSTT.
e/ Ổn định lãi suất
Lãi suất biến động mạnh sẽ gây ra tính không chắc chắn trong nền kinh tế và
làm giảm nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp và tiêu dùng của hộ gia đình khi họ cần
phải vay mượn. Lãi suất biến động cao cũng khiến cho các trung gian tài chính gặp
khó khăn trong việc quản trị rủi ro này. Ví dụ, lãi suất tăng lên sẽ làm giảm giá trị các
tài sản và tăng giá trị các nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán của tổ chức tài chính có
đặc điểm bảng cân đối tài sản giống với NHTM, dẫn tới sự giảm xuống của vốn chủ sở
hữu, thậm chí đe dọa sự tồn tại của chúng (nhiều hiệp hội tiết kiệm và cho vay và các
ngân hàng tại Mỹ đã gặp nhiều khó khăn nghiêm trọng trong những năm 1980 và 1990
do sự biến động liên tục của lãi suất). Hơn nữa, NHTW cũng có khả năng gặp phải các
xung đột với các nhóm lợi ích khi tăng lãi suất, dẫn tới việc quyền lực của NHTW bị
giảm xuống.
15
f/ Duy trì sự ổn định của thị trường ngoại hối
Khi các quốc gia trên ngày càng hội nhập vào kinh tế thế giới, các giao dịch
hàng hóa và tài chính trở nên phổ biến thì tầm quan trọng của thị trường ngoại hối đã
được các NHTW chú ý hơn bên cạnh các mục tiêu khác của CSTT. Sự sụp đổ của hệ
thống Bretton Woods và tiếp theo đó là các cuộc khủng hoảng tiền tệ tại Mexico
(1994), Châu Á (1997 – 1998), Nga (1998) và Argentina (2000)… đã chỉ ra tầm quan
trọng của phối hợp giữa điều hành CSTT và CSTK trong việc tạo sự ổn định giá trị của
đồng nội tệ và thúc đẩy hoạt động ngoại thương.
Trong dài hạn, mục tiêu ổn định giá cả và các mục tiêu khác của CSTT là nhất
quán vì giá cả ổn định thúc đẩy kinh tế phát triển và bảo đảm lãi suất và thị trường tài
chính ổn định. Tuy nhiên, trong ngắn hạn mục tiêu ổn định giá cả thường mâu thuẫn
với các mục tiêu mức công ăn việc làm cao và duy trì lãi suất ổn định. Chính vì lý do
này, Nhiều NHTW tại quốc gia phát triển đã lựa chọn ổn định giá cả là mục tiêu hàng
đầu và dài hạn. Ví dụ, Đạo luật Hệ thống các NHTW Châu Âu và NHTW Châu Âu
quy định “mục tiêu hàng đầu của ESCB – European System of Central Banks là duy
trì giá cả ổn định. Không phương hại đến mục tiêu giá cả ổn định, CSTT sẽ hỗ trợ các
chính sách kinh tế của Liên minh với mục tiêu đóng góp cho sự đạt được các mục tiêu
của Liên minh…” trong đó, các mục tiêu của Liên minh bao gồm duy trì mức công ăn
việc làm cao cùng với tăng trưởng bền vững không đi kèm lạm phát. Tương tự, trong
Đạo luật NHTW Anh 1998, điều 10 cũng quy định “Khi thực hiện CSTT, các mục tiêu
của NHTW Anh là (a) duy trì giá cả ổn định, và (b) theo sau đó, hỗ trợ mục tiêu kinh
tế… bao gồm mục tiêu tăng trưởng và việc làm”.
Khác với NHTW Châu Âu và NHTW Anh, mục 2 của Đạo luật Cục Dự trữ
Liên bang quy định: “Hội đồng Thống đốc của Hệ thống Dự trữ Liên bang và Ủy ban
Thị trường tự do sẽ duy trì sự tăng trưởng dài hạn của tổng phương tiện thanh toán và
tín dụng tương xứng với mục tiêu dài hạn của nền kinh tế nhằm tăng sản lượng, thúc
đẩy hiệu quả các mục tiêu gồm tạo thêm việc làm, ổn định giá cả, và ổn định lãi suất
dài hạn”.
Việc NHTW duy trì lạm phát ổn định ở mức thấp sẽ có tác động tích cực đến
tăng trưởng kinh tế nên ổn định giá cả đã trở thành mục tiêu hàng đầu của NHTW
nhiều quốc gia trong dài hạn. Tuy nhiên, thực hiện CSTT với mục tiêu duy trì lạm phát
ở mức thấp liên tục trong ngắn hạn sẽ dẫn tới khả năng sản lượng của nền kinh tế
thường xuyên biến động. Trong ngắn hạn, NHTW có thể hạn chế mức biến động trong
sản lượng của nền kinh tế bằng việc cho phép lạm phát chệch ra khỏi mục tiêu trong
ngắn hạn, bảo đảm vẫn cam kết duy trì mức lạm phát thấp trong trung và dài hạn. Mặc
dù vậy, định hướng này của NHTW thường dẫn tới tình huống tập trung theo đuổi các
16
mục tiêu ngắn hạn và bỏ rơi mục tiêu dài hạn, hay còn gọi là vấn đề không nhất quán
thời gian (time inconsistency problem). Vấn đề này chỉ ra việc điều hành CSTT không
nhất quán có thể dễ dàng gây ra lạm phát cao cho nền kinh tế trong trường hợp NHTW
theo đuổi cùng một lúc hai mục tiêu trong ngắn hạn là duy trì lạm phát ở mức mục tiêu
và tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên.
1.1.2.2. Mục tiêu trung gian
NHTW không thể tác động trực tiếp và ngay lập tức tới các mục tiêu cuối cùng
của nền kinh tế vì các tác động này thường có những độ trễ nhất đinh. Nhằm khắc
phục hạn chế này, NHTW thường xác định mục tiêu trung gian trước khi đạt được
mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu trung gian là một biến số kinh tế mà NHTW có thể kiểm
soát sau một độ trễ thời gian hợp lý, với một độ chính xác tương đối, và có mối quan
hệ tương đối ổn định và chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng của CSTT. Bằng việc theo
dõi những biến số này, NHTW có thể quyết định liệu những chính sách của mình có
đạt hiệu quả như mong đợi hay không và điều chỉnh hướng tác động khi cần thiết.
Những mục tiêu trung gian điển hình của CSTT là tổng lượng tiền như M1, M2,
hoặc M3, dư nợ tín dụng, hoặc lãi suất trung và dài hạn. Tuy nhiên, những biến số này
thể hiện một số hạn chế nhất định. Chẳng hạn, những biến động bất thường của mục
tiêu trung gian là tổng lượng tiền hay dư nợ tín dụng có thể không phải là chỉ báo của
sự mạnh hay yếu của nền kinh tế trong tương lai. Thay vào đó, những biến động đó
đơn giản chỉ phản ánh sự thay đổi trong danh mục đầu tư của các định chế tài chính
hay của dân cư và tổ chức kinh tế nói chung. Trong trường hợp đó, những phản ứng
của CSTT như thay đổi trong mức dự trữ hoặc các mức lãi suất điều hành có thể sẽ có
không mang lại tác dụng như kỳ vọng. Vì thế, những thay đổi bất thường trong lượng
cung tiền và dư nợ tín dụng không cho biết liệu NHTW có nên can thiệp hay không và
do đó không thể hiện tính “mục tiêu” của những biến số này. Tương tự với trường hợp
của lãi suất dài hạn. Các nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa
lãi suất dài hạn và các mục tiêu cuối cùng là sản lượng thực tế và lạm phát, tuy nhiên
mối quan hệ này lại không ổn định và yếu và không thể hiện một tín hiệu cụ thể nào về
nền kinh tế trong tương lai.
Một số NHTW sử dụng tỷ giá hối đoái danh nghĩa làm mục tiêu trung gian.
Những quốc gia sử dụng tỷ giá hối đoái làm mục tiêu trung gian của CSTT thường
theo đuổi chế độ tỷ giá có quản lý. Tuy nhiên, trong bối cảnh tự do hóa tài khoản vốn
của các quốc gia, việc dòng vốn đảo chiều nhanh chóng sẽ gây khó khăn cho việc duy
trì tỷ giá ổn định, đồng thời tỷ giá hối đoái ổn định dễ có nguy cơ bị đầu cơ và từ đó có
thể gây ảnh hưởng xấu tới ổn định của hệ thống tài chính. Hơn nữa, việc duy trì tỷ giá
hối đoái ổn định sẽ hạn chế khả năng sử dụng CSTT để đối phó với các cú sốc nội địa.
17
1.1.2.3. Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu trung gian không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những công cụ CSTT của
NHTW mà các công cụ này ảnh hưởng đến một loạt các biến số khác trước mục tiêu
trung gian được gọi là mục tiêu hoạt động của CSTT. Mục tiêu hoạt động của CSTT là
những biến số kinh tế mà NHTW có thể kiểm soát hàng ngày thông qua việc sử dụng
các công cụ CSTT. Mục tiêu hoạt động thể hiện định hướng điều hành của NHTW.
Hiện nay, lượng tiền cơ sở, dự trữ của các ngân hàng tại NHTW (bao gồm dự trữ vượt
mức, dự trữ không vay và dự trữ đi vay) và mức lãi suất liên ngân hàng ngắn hạn
thường được các NHTW trên thế giới lựa chọn làm mục tiêu hoạt động của CSTT.
1.1.3. Công cụ của chính sách tiền tệ
Thông qua sử dụng các công cụ CSTT, NHTW có thể tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp tới mục tiêu hoạt động, qua đó tác động tới các mục tiêu trung gian và sau đó
là các mục tiêu cuối cùng của CSTT. Về cơ bản, NHTW sử dụng ba loại công cụ, đó là
nghiệp vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu, và dự trữ bắt buộc. Những công cụ
này có nhiều biến đổi qua thời gian và trong những bối cảnh kinh tế khác nhau được
sử dụng, phối hợp với nhau theo một định hướng, chủ đích nhất định của người làm
chính sách. Trong thực tế, các công cụ này được vận dụng linh hoạt thành các công cụ
như lãi suất NHTW trả cho các khoản dự trữ bắt buộc và vượt mức, lãi suất tái chiết
khấu, tín phiếu NHTW và lãi suất tín phiếu Kho bạc…
1.1.3.1. Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là việc NHTW thực hiện mua, bán ngắn hạn các loại
giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệ. Nghiệp vụ này tác động đến khối lượng dự trữ
của các NHTM, khả năng cung ứng tín dụng và qua đó làm thay đổi khối lượng tiền tệ.
Ngoài ra, nghiệp vụ thị trường mở còn ảnh hưởng tới lãi suất trên thị trường liên ngân
hàng và lan truyền tới các lãi suất khác trên thị trường, và tác động tới tổng cầu của
nền kinh tế thông qua tác động tới nhu cầu tiêu dùng và đầu tư.
Các giấy tờ có giá được sử dụng trên thị trường mở là: tín phiếu kho bạc, trái
phiếu chính phủ, thương phiếu.... Các thành viên tham gia thị trường mở là các
NHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, và các doanh nghiệp đã đáp ứng đầy đủ
các tiêu chuẩn để được cấp giấy phép tham gia thị trường mở.
1.1.3.2. Chính sách chiết khấu
Công cụ chiết khấu là công cụ CSTT nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương
tiện thanh toán cho các NHTM. Thông qua cho các NHTM vay, NHTW hướng đến
mục tiêu làm tăng thêm tiền dự trữ cho hệ thống, từ đó làm tăng thêm lượng tiền cung
ứng và ngược lại. NHTW kiểm soát công cụ này chủ yếu bằng cách tác động đến giá
cả khoản vay (lãi suất cho vay tái chiết khấu) và các điều kiện cần đạt được để được
18
vay từ NHTW. Những thay đổi trong quy định về hạn mức chiết khấu, lãi suất chiết
khấu, các điều kiện chiết khấu ảnh hưởng đến mong muốn và khả năng đi vay chiết
khấu của các NHTM.
1.1.3.3. Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là một phần số dư tiền gửi các loại mà các NHTM phải dự trữ
dưới dạng tiền mặt hoặc tiền gửi tại NHTW. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được xác định bằng
một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảng thời gian nào đó.
Mức dự trữ bắt buộc được quy định khác nhau căn cứ vào thời hạn tiền gửi, vào quy
mô và tính chất hoạt động của TCTD. Điều chỉnh dự trữ bắt buộc có tác động trực tiếp
vào lượng tiền cơ sở, từ đó tác động đến lượng cung tiền trong nền kinh tế.
Bên cạnh ba công cụ cơ bản này, các NHTW còn sử dụng một số công cụ khác
như điều chỉnh tỷ giá, lãi suất đối với dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức, đặc biệt là
một số công cụ chính sách phi truyền thống (unconventional) được các NHTW các
nước sử dụng trong bối cảnh các công cụ truyền thống kể trên không còn phát huy
được nhiều tác dụng. Các công cụ chính sách phi truyền thống có thể được chia thành
ba nhóm chính, bao gồm: (i) việc bảo đảm với các nhà đầu tư rằng lãi suất ngắn hạn
trong tương lai sẽ được giữ ở mức thấp hơn so với kỳ vọng hiện tại của họ (hiệu ứng
cam kết - commitment effect); (ii) gia tăng quy mô bảng tổng kết tài sản của NHTW
vượt mức thông thường để giữ lãi suất chính sách ngắn hạn bằng không, các biện pháp
này nhằm gia tăng dự trữ của hệ thống ngân hàng thông qua nghiệp vụ thị trường mở
hoặc can thiệp trên thị trường ngoại hối (quantitative easing); và (iii) thay đổi lượng
cung các loại giấy tờ có giá trên thị trường thông qua việc thay đổi thành phần bảng
tổng kết tài sản của NHTW (qualitative easing/credit easing).
1.1.4. Truyền tải chính sách tiền tệ
1.1.4.1. Khái niệm truyền tải chính sách tiền tệ
Trong các nghiên cứu về CSTT, có hai xu hướng tiếp cận về ảnh hưởng của
điều hành CSTT tới các mục tiêu của CSTT bao gồm: (i) cách tiếp cận dạng cấu trúc;
và (ii) cách tiếp cận dạng rút gọn. Với cách tiếp cận dạng cấu trúc, mối quan hệ giữa
các công cụ và mục tiêu của CSTT được phân tích dựa trên việc xây dựng các mô hình
giải thích các “kênh truyền tải” từ thay đổi trong điều hành CSTT (ví dụ, thay đổi lãi
suất điều hành) tới các mục tiêu của CSTT (các biến số vĩ mô). Ngược lại, với cách
tiếp cận dạng rút gọn, nhà nghiên cứu chỉ quan tâm tới mối quan hệ trực tiếp giữa hai
biến số vĩ mô mà không quan tâm tới quá trình dẫn truyền tác động. Với cách tiếp cận
này, khó khăn với người điều hành CSTT là không thể lý giải được nguyên nhân vì sao
hiệu quả tác động giữa các công cụ CSTT tới nền kinh tế lại khác nhau trong những
khoảng thời gian khác nhau mặc dù được thực thi như nhau.
19
Mặc dù chưa có một sự thống nhất trong so sánh mức độ hiệu quả của hai
phương pháp tiếp cận, nhưng xuất phát từ hạn chế của cách tiếp cận dạng rút gọn đã
nêu ở trên, các nhà điều hành CSTT và nghiên cứu về CSTT thường lựa chọn tiếp cận
qua dạng cấu trúc thông qua việc đưa ra khái niệm về kênh truyền tải CSTT [95]. Từ
đó, các kênh truyền tải này được sử dụng làm cơ sở đánh giá chiều hướng tác động,
mức độ tác động, các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả của điều hành CSTT tới các mục
tiêu CSTT.
Cơ chế truyền tải CSTT mô tả những thay đổi trong lượng tiền cung ứng hoặc
lãi suất ngắn hạn do điều hành CSTT có ảnh hưởng thế nào tới các yếu tố thực trong
nền kinh tế như sản lượng, giá cả và thất nghiệp.
Các kênh truyền tải CSTT hoạt động thông qua ảnh hưởng tới lãi suất, tỷ giá,
giá cổ phiếu, giá bất động sản, tín dụng ngân hàng… Mặc dù CSTT được truyền tải tới
nền kinh tế qua nhiều kênh khác nhau, nhưng để CSTT có tác động tới các biến số
thực của nền kinh tế, cần phải có hai giả định cơ bản sau:
Thứ nhất, bên nguồn vốn (tài sản nợ) trên bảng cân đối tài sản của NHTW bao
gồm hai thành phần chính là tiền mặt ngoài lưu thông và tiền dự trữ của các TCTD
(tiền cơ sở). Sự thay đổi của hai thành phần này luôn gắn liền với hai khoản mục tài
sản trên bảng cân đối tài sản của NHTW là chứng khoán và cho vay các TCTD. Để
những thay đổi trong lượng tiền cơ sở là kết quả điều hành các công cụ CSTT có ảnh
hưởng không chỉ tới bảng cân đối tài sản của hệ thống TCTD mà có tác động lan tỏa ra
bên ngoài nền kinh tế thì các TCTD phải không có khả năng thay đổi khối lượng hay
thành phần các khoản mục bên nguồn vốn thông qua việc phát hành những chứng
khoán có đặc điểm thay thế hoàn hảo cho lượng tiền cơ sở. Nói một cách khác, cần có
những quy định của pháp luật ngăn cấm các TCTD phát hành những chứng khoán có
đặc điểm giống như tiền mặt ngoài lưu thông và tiền dự trữ.
Thứ hai, để những thay đổi trong lượng tiền cơ sở có tác động tới các biến số vĩ
mô thực thì giá cả danh nghĩa không thể điều chỉnh ngay lập tức, hoặc ít nhất bằng một
phần mức thay đổi của lượng cung ứng tiền trong nền kinh tế (giá cả là cứng nhắc
trong ngắn hạn). Nói một cách khác, luận điểm của các nhà kinh tế học trường phái cổ
điển tin vào tính trung lập của tiền tệ (money neutrality), nghĩa là CSTT chỉ có ảnh
hưởng tới mức giá cả mà không có ảnh hưởng tới các hoạt động thực của nền kinh tế
và sản lượng, là không áp dụng được trong thực tế.
1.1.4.2. Các kênh truyền tải chính sách tiền tệ
a/ Kênh lãi suất
Theo kênh tác động truyền thống được Keynes đề xuất, khi NHTW sử dụng các
công cụ của CSTT để tăng lượng tiền cơ sở thì mức lãi suất ngắn hạn sẽ giảm, và kéo
20
theo sự thay đổi trong lãi suất trung và dài hạn. Mặc dù ban đầu Keynes cho rằng lãi
suất giảm sẽ tác động tới tổng sản lượng của nền kinh tế thông qua quyết định tăng đầu
tư của các doanh nghiệp, những nghiên cứu sau này đã chỉ ra quyết định chi tiêu của
hộ gia đình cũng chịu ảnh hưởng từ việc lãi suất thực giảm (hơn là lãi suất danh
nghĩa). Vì vậy, kênh lãi suất có thể được mô tả thông qua phương trình:
𝑀 ↑→ 𝑖𝑟 ↓→ (𝐼 + 𝐶) ↑→ 𝑌 ↑ trong đó M là cung tiền, 𝑖𝑟 là lãi suất thực, I và C
lần lượt là đầu tư và tiêu dùng, Y là tổng sản lượng.
Có hai điểm quan trọng của kênh truyền tải lãi suất cần phải được nhấn mạnh ở
đây. Thứ nhất, lãi suất thực là nhân tố tác động tới quyết định tiêu dùng của hộ gia
đình và doanh nghiệp chứ không phải lãi suất danh nghĩa. Thứ hai, lãi suất thực dài
hạn, chứ không phải lãi suất ngắn hạn, mới là nhân tố có ảnh hưởng mạnh tới nhu cầu
tiêu dùng và đầu tư. Với giả định là giá cả là cứng nhắc trong ngắn hạn, lãi suất ngắn
hạn danh nghĩa giảm do việc mở rộng lượng tiền cơ sở cũng sẽ làm giảm lãi suất thực
ngắn hạn. Theo lý thuyết dự tính về lãi suất, lãi suất danh nghĩa ngắn hạn giảm sẽ kéo
lãi suất trung và dài hạn giảm theo. Lãi suất trung và dài hạn thực giảm sẽ khuyến
khích tăng đầu tư của doanh nghiệp và tiêu dùng của hộ gia đình, làm tăng tổng cầu
của nền kinh tế. Do vậy, quá trình truyền tải như sau:
𝑀 ↑→ 𝜋𝑒 ↑→ 𝑖𝑟 ↓→ (𝐼 + 𝐶) ↑→ 𝑌 ↑ trong đó M là cung tiền, 𝜋𝑒 là lạm phát dự
tính, 𝑖𝑟 là lãi suất thực, I và C lần lượt là đầu tư và tiêu dùng, Y là tổng sản lượng.
Tới đây, có hai vấn đề cần được bàn luận thêm. Thứ nhất, việc lãi suất thực mới
là nhân tố tác động mạnh tới quyết định đầu tư và tiêu dùng chứ không phải là lãi suất
danh nghĩa, hàm ý rằng kênh truyền tải lãi suất có hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng ngay
cả khi lãi suất danh nghĩa giảm xuống mức 0%. Thứ hai, nếu như việc mở rộng tiền tệ
của NHTW dẫn tới việc hộ gia đình và doanh nghiệp dự tính lạm phát sẽ tăng lên
trong tương lai thì lãi suất danh nghĩa ngắn hạn trong tương lai sẽ tăng lên. Theo lý
thuyết dự tính về lãi suất, mức lãi suất trung và dài hạn sẽ không giảm xuống như kỳ
vọng của NHTW. Ngoài ra, khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, những
nhà đầu tư trái phiếu (bond vigilante) nhận định rủi ro lạm phát tăng lên. Phản ứng lại
với thay đổi trong chính sách, họ sẽ bán trái phiếu, đặc biệt là các trái phiếu trung dài
hạn, từ đó đẩy mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế tăng lên. Hành động này có thể làm
nhu cầu đầu tư và tiêu dùng của nền kinh tế giảm, kéo tổng cầu giảm theo.
Vì những quan điểm khác nhau như vậy, các lập luận về mặt lý thuyết lẫn
nghiên cứu thực nghiệm cũng đưa ra những kết quả trái ngược nhau. Nghiên cứu của
Taylor (1995) cho thấy những bằng chứng thực nghiệm chắc chắn về hiệu quả của
truyền tải CSTT qua kênh lãi suất tới tiêu dùng và đầu tư [119]. Tuy nhiên, Stiglitz và
21
Greenwald (2003) lại chỉ ra rằng đầu tư chịu ảnh hưởng của lãi suất danh nghĩa hơn là
lãi suất thực [115]. Ngoài ra, nhu cầu đầu tư trở nên đặc biệt thiếu nhạy cảm với sự
thay đổi của lãi suất trong điều kiện tương lai bất ổn và khi niềm tin vào thị trường
giảm xuống (mức độ rủi ro tăng cao sẽ dẫn tới tình trạng quan ngại quá mức –
pessimism trap khiến cho giảm lãi suất không thúc đẩy nhu cầu vay vốn). Các hộ gia
đình, doanh nghiệp và trung gian tài chính có xu hướng tăng lượng tiền mặt nắm giữ
khi nền kinh tế trong tình trạng suy thoái (điều này đặc biệt đúng khi lãi suất ở giai
đoạn cuối thời kỳ này thường ở mức thấp tương ứng với chi phí cơ hội của việc nắm
giữ tiền là thấp) nên khi CSTT mở rộng được thực thi thông qua việc tăng lượng cung
tiền, giảm lãi suất thị trường thì lượng cung tiền gia tăng sẽ tiếp tục được các chủ thể
nắm giữ, không các tác động tích cực tới nhu cầu đầu tư và tổng cầu (Krugman, 2012)
[91]. Nghiên cứu của Ahmed (2006) về kênh lãi suất tại Ấn Độ cũng chỉ ra thực trạng
các ngân hàng miễn cưỡng cho vay doanh nghiệp (tập trung đầu tư vào trái phiếu
Chính phủ) cùng với thực trạng yếu kém của hệ thống ngân hàng, thị trường tài chính
kém phát triển là nguyên nhân khiến cho hiệu quả của kênh lãi suất tại quốc gia này rất
yếu [30].
b/ Kênh giá tài sản
Truyền tải CSTT qua kênh giá tài sản bao gồm ba kênh nhỏ là kênh giá cổ
phiếu, kênh tác động của của cải, và kênh tỷ giá.
Thứ nhất, kênh giá cổ phiếu
Kênh giá cổ phiếu được hình thành dựa trên lý thuyết Tobin’s q (Tobin, 1969).
Chỉ số Tobin’s q được xác định bằng tỷ lệ giữa giá thị trường của cổ phiếu và chi phí
cần bỏ ra để thay thế toàn bộ tài sản của doanh nghiệp. Lãi suất ngắn hạn tăng lên khi
NHTW thực hiện CSTT thắt chặt sẽ khiến giá cổ phiếu giảm xuống, làm q giảm. Khi q
giảm, các doanh nghiệp phải phát hành một lượng cổ phiếu mới nhiều hơn so với trước
đây để tài trợ cho các nhu cầu đầu tư. Điều này dẫn tới suất chiết khấu của các dự án
đầu tư tăng và các dự án trước đây có hiệu quả về mặt tài chính trở nên không hiệu
quả. Việc cắt giảm các nhu cầu đầu tư mới khiến cho sản lượng và tỷ lệ thất nghiệp
tăng. Điểm quan trọng trong lập luận của lý thuyết Tobin’s q bao gồm hai vấn đề: (i)
mối quan hệ giữa chỉ số Tobin’s q với quyết định đầu tư của doanh nghiệp như đã
trình bày ở trên; và (ii) quá trình ảnh hưởng của CSTT tác động tới giả cố phiếu. Vấn
đề thứ hai được giải thích bởi trường phái tiền tệ như sau, khi cung tiền tăng do
NHTW thực hiện CSTT nới lỏng, công chúng muốn giảm lượng tiền nắm giữ với mức
sinh lời thấp buộc phải mua vào các tài sản. Một trong những tài sản mà các hộ gia
đình có thể đầu tư là cổ phiếu, khiến giá cổ phiếu tăng lên. Điều này cho thấy mức độ
hiệu quả của kênh giá cổ phiếu phụ thuộc vào tỷ trọng nắm giữa tài sản dưới dạng cổ
22
phiếu của công chúng cũng như sự phát triển của thị trường vốn [121]. Quá trình
truyền tải như sau:
𝑀 ↑→ 𝑃𝑒𝑞𝑢𝑖𝑡𝑦 ↑→ 𝑞 ↓→ 𝐼 ↑→ 𝑌 ↑ trong đó M là cung tiền, 𝑃𝑒𝑞𝑢𝑖𝑡𝑦 là giá cổ
phiếu, q là chỉ số Tobin’s q, I là đầu tư, Y là tổng sản lượng.
Thứ hai, kênh của cải
Kênh tác động của của cải được xây dựng trên lý thuyết Life-cycle theory of
consumption (Ando và Modigliani, 1963). Trong khi đó, lý thuyết Life-cycle theory of
consumption được hình thành dựa trên việc xem xét bảng cân đối tài sản của người
tiêu dùng có ảnh hưởng thế nào tới quyết định chi tiêu của họ. Modigliani đưa ra lập
luận rằng của cải và thu nhập đóng vai trò quan trọng trong chi tiêu tiêu dùng (không
bao gồm chi tiêu về hàng lâu bền) của các hộ gia đình. Thu nhập trong cả cuộc đời của
người tiêu dùng là nhân tố quyết định chi tiêu tiêu dùng và của cải (như bất động sản
và các chứng khoán) là một cấu thành quan trọng tạo ra thu nhập. Khi NHTW thực
hiện CSTT nới lỏng, giá chứng khoán giảm xuống khiến cho của cải, thu nhập và chi
tiêu tiêu dùng của hộ gia đình giảm [33]. Quá trình truyền tải như sau:
𝑀 ↑→ 𝑃𝑒𝑞𝑢𝑖𝑡𝑦 ↑→ 𝑤 ↑→ 𝐶 ↑→ 𝑌 ↑ trong đó M là cung tiền, 𝑃𝑒𝑞𝑢𝑖𝑡𝑦 là giá cổ
phiếu, w là của cải, C là tiêu dùng, Y là tổng sản lượng.
Ngoài các khoản chi tiêu tiêu dùng thì hộ gia đình còn vay mượn để tài trợ cho
chi tiêu hàng tiêu dùng lâu bền. Những người theo trường phái Keynes lập luận rằng
lãi suất thấp sẽ làm giảm chi phí tài trợ cho hàng tiêu dùng lâu bền, khuyến khích hộ
gia đình tăng chi tiêu. Quá trình hình ảnh hưởng như sau: 𝑀 ↑→ 𝑖 ↓→ 𝐶𝑑 ↑→ 𝑌 ↑ trong đó Cd là chi tiêu dùng hàng lâu bền. Bên cạnh đó, sự biến động của giá tài sản vượt quá mức độ biến động do lãi suất gây ra đóng vai trò quan trọng trong mô hình của
trường phái tiền tệ về truyền tải CSTT. Những người theo trường phái tiền tệ cho rằng
điều hành CSTT không chỉ tác động tới thị trường tài chính và thị trường hàng hóa lâu
bền như phân tích của Keynes mà còn tác động tới thị trường cổ phiếu và bất động sản.
Sự thay đổi trong giá cả trên hai thị trường này có ảnh hưởng quan trọng tới của cải
của các hộ gia đình, từ đó ảnh hưởng tới tiêu dùng, sản lượng và tỷ lệ thất nghiệp.
Thứ ba, kênh tỷ giá
Đối với một nền kinh tế mở, thay đổi trong lãi suất ngắn hạn còn ảnh hưởng tới
nền kinh tế thông qua kênh tỷ giá. Tại nhiều quốc gia mới nổi với thị trường tài chính
chưa phát triển thì kênh tỷ giá là kênh quan trọng truyền tải điều hành CSTT của
NHTW. Để kênh tỷ giá phát huy hiệu quả thì cần có một cơ chế tỷ giá với mức độ linh
hoạt nhất định kết hợp với mức độ co giãn cao của hàng hóa xuất nhập khẩu với thay
đổi về giá. Trong cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi, CSTT nới lỏng sẽ làm cho đồng nội tệ
23
giảm giá thông qua tác động tới chênh lệch lãi suất với đồng ngoại tệ. Nội tệ giảm giá
làm giảm nhu cầu về hàng hóa nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu vì hàng hóa trong nước
trở nên rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, dẫn đến tăng chi tiêu cho hàng hóa trong
nước và làm tăng tổng cầu. Quá trình truyền tải như sau:
𝑀 ↑→ 𝑖 ↑→ 𝐸𝑥 ↑→ 𝐸𝑥𝑝𝑜𝑟𝑡 ↑, 𝐼𝑚𝑝𝑜𝑟𝑡 ↓→ 𝑌 ↑ trong đó M là cung tiền, 𝑖 là lãi
suất, Ex là tỷ giá (lượng nội tệ/ngoại tệ), Export là xuất khẩu, Import là nhập khẩu, Y
là tổng sản lượng.
Trong một nền kinh tế nhỏ và mở cửa với cơ chế tỷ giá linh hoạt, tỷ giá thay đổi
cũng có ảnh hưởng tới tổng cung. Khi NHTW nới lỏng CSTT, đồng nội tệ giảm giá
thực sẽ làm tăng giá của hàng hóa nhập khẩu, trực tiếp làm tăng lạm phát. Ngoài ra,
mức giá hàng nhập khẩu cao hơn sẽ có tác động làm tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng
tới lợi nhuận của doanh nghiệp, làm giảm tổng cung. Quá trình truyền tải như sau:
𝑀 ↑→ 𝑖 ↓→ 𝐸𝑥 ↑→ 𝑃 ↑→ 𝑌 ↓ trong đó M là cung tiền, 𝑖 là lãi suất, Ex là tỷ giá
(lượng nội tệ/ngoại tệ), P là mức giá cả của hàng hóa nhập khẩu phục vụ sản xuất
trong nước, Y là tổng sản lượng.
Tỷ giá thay đổi cũng có tác động tới bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
Khi các chủ thể kinh tế duy trì một trạng thái hối đoái trường hay đoản thì trên bảng
cân đối kế toán thì sự thay đổi của tỷ giá sẽ có ảnh hưởng tới giá trị ròng của các chủ
thể, từ đó tác động tới tình hình tài chính của các chủ thể này. Ngoài ra, trong trường
hợp những nước thuộc thị trường mới nổi, luôn đóng vai trò là con nợ của các nước
khác, thì đồng nội tệ giảm giá đồng nghĩa với việc gánh nặng nợ của các chủ thể trong
nền kinh tế cũng sẽ tăng lên, phần nào lấn át hiệu ứng tạo ra từ sự thay đổi giá tương
đối. Điều này sẽ tiếp tục điều chỉnh hành vi tiêu dùng, đầu tư và vay nợ của các chủ
thể, từ đó ảnh hưởng tới sản lượng của nền kinh tế.
c/ Kênh chấp nhận rủi ro
Kể từ thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính - suy thoái kinh tế năm 2008
cho tới nay, đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của CSTT tới sự ổn định của hệ
thống ngân hàng. Mặc dù có những sự đồng thuận về nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng
hoảng như sự yếu kém của hệ thống giám sát tài chính và quản trị công ty, sự phát
triển quá nhanh của thị trường và các công cụ tài chính nhưng CSTT nới lỏng trong
thời gian dài của các NHTW cũng được cho là một nguyên nhân chủ chốt. Việc
NHTW thực hiện CSTT nới lỏng liên tục nhằm đưa mặt bằng lãi suất xuống mức thấp
ngoài việc thúc đẩy nhu cầu tín dụng của nền kinh tế còn có tác dụng khuyến khích các
ngân hàng chấp nhận mức rủi ro cao hơn trong hoạt động kinh doanh.
24
Quay trở lại giai đoạn trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính, sự thành
công trong việc ngăn ngừa lạm phát trong quá khứ đã củng cố lòng tin của các NHTW
vào khả năng duy trì lãi suất ở mức thấp mà không gây ảnh hưởng tới lạm phát trong
tương lai (Taylor, 2009) [120]. Mặc dù việc gia tăng cung tiền có thể khuyến khích các
ngân hàng tăng mức độ chấp nhận rủi ro trong hoạt động tín dụng, mục tiêu ổn định tài
chính không phải là vấn đề mà các NHTW quan tâm vì hai lý do: (1) các NHTW tập
trung nhiều vào mục tiêu ổn định giá cả và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; (2) sự quan
ngại về bất ổn tài chính giảm xuống trước sự phát triển mạnh mẽ của các công cụ
phòng ngừa rủi ro (Greenspan, 2005). Tuy nhiên, sự bất ổn của hệ thống ngân hàng nói
riêng và thị trường tài chính nói chung sau đó đã cho thấy tầm quan trọng của sự phát
triển bền vững của hệ thống ngân hàng trong điều hành CSTT của NHTW. Bên cạnh
đó, quá trình truyền tải CSTT cũng cho thấy sự phức tạp khi điều hành CSTT không
chỉ tác động tới lạm phát, tổng cầu của nền kinh tế mà còn ảnh hưởng tới xu hướng
chấp nhận rủi ro của các chủ thể trong nền kinh tế với mức độ và độ trễ chưa từng
được nghiên cứu kỹ lưỡng [71].
Lãi suất thấp được duy trì trong thời gian dài thông qua nới lỏng CSTT không
những khuyến khích ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng như mô tả trong kênh cấp
tín dụng truyền thống mà còn khuyến khích các ngân hàng chấp nhận mức rủi ro cao
hơn (Altunbas và cộng sự, 2010). Hành vi này của các ngân hàng nếu không được
kiểm soát tốt sẽ dẫn tới sự mất cân bằng giữa khả năng và mức độ chấp nhận rủi ro,
tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với hệ thống [32]. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới sự ra
đời của kênh chấp nhận rủi ro, một kênh mới trong truyền tải CSTT. Khác với các
kênh truyền tải truyền thống đã được đề xuất và nghiên cứu từ trước thì kênh chấp
nhận rủi ro bắt đầu được nghiên cứu từ đầu thế kỉ 21 và được đặc biệt tập trung nghiên
cứu kể từ giai đoạn sau cuộc khủng hoảng tài chính suy thoái kinh tế nổ ra. Borio và
Zhu (2008) đã định nghĩa cơ chế truyền tải CSTT qua kênh chấp nhận rủi ro của hệ
thống ngân hàng là: “lãi suất thay đổi do điều hành CSTT tác động tới sự nhận thức
rủi ro hoặc khả năng chấp nhận rủi ro; và từ đó, tới mức độ rủi ro của danh mục đầu
tư” [44].
Các kênh truyền tải truyền thống như kênh lãi suất, giá cả và tín dụng chủ yếu
tập trung vào ảnh hưởng của CSTT tới tín dụng trên phương diện khối lượng hơn là
phương diện chất lượng. Riêng trong trường hợp của kênh tín dụng, mức độ thay đổi
trong rủi ro do thay đổi trong công tác điều hành CSTT được phản ánh trên phương
diện người đi vay, nhưng lại ít xem xét trên phương diện người cho vay là các ngân
hàng. Vì vậy, các nghiên cứu về truyền tải CSTT truyền thống đã không nhận dạng
được và phản ánh nhận thức lẫn hành vi của ngân hàng liên quan tới rủi ro vào trong
25
mô hình nghiên cứu. Hầu hết các nghiên cứu về kênh chấp nhận rủi ro đều nhận định
CSTT nới lỏng đều có xu hướng làm gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Kênh chấp nhận rủi ro được thể hiện qua một vài phương
thức như sau:
Thứ nhất, qua ảnh hưởng của lãi suất tới định giá, thu nhập và dòng tiền
Lãi suất thấp do CSTT nới lỏng trong thời gian dài làm tăng giá trị tài sản ròng
và giá trị tài sản thế chấp của doanh nghiệp và dân chúng. Mức độ đánh giá của ngân
hàng về rủi ro hoạt động kinh doanh, khả năng không trả được nợ vay, thậm chí khả
năng phá sản của người vay sẽ bị thay đổi theo hướng giảm xuống. Kết quả là lãi suất
thấp sẽ làm tăng khả năng chấp nhận rủi ro của cả khách hàng đi vay lẫn hệ thống
ngân hàng [43, 94]. Đơn cử, lãi suất thấp và giá tài sản gia tăng sẽ có xu hướng làm
giảm mức độ biến động của giá tài sản và sau đó là nhận thức về rủi ro của các chủ
thể: giá cổ phiếu cao hơn làm tăng giá trị vốn chủ sở hữu so với nợ, giá cổ phiếu tăng
nhanh làm giảm đòn bẩy tài chính và làm giảm rủi ro của việc nắm giữ cổ phiếu. Hiện
tượng này được gọi là ảnh hưởng đòn bẩy (leverage effect) trong nghiên cứu của
Pagan và Schwert (1990) [101]và Bollerslev và các cộng sự (1992) [42].
Thứ hai, chính sách lãi suất thấp khiến nhà quản lý ngân hàng và doanh nghiệp
có xu hướng chấp nhận rủi ro cao hơn do các quy định trong hợp đồng với chủ sở hữu
Sự giảm xuống của lãi suất so với các mục tiêu lợi nhuận cố định của các doanh
nghiệp hoạt động trong ngành tài chính khiến cho các nhà quản lý buộc phải chấp nhận
mức rủi ro cao hơn nhằm đạt được mức lợi nhuận cao hơn so với mặt bằng lợi nhuận
của ngành hay của nền kinh tế (Rajan, 2005). Hiện tượng này được gọi là tìm kiếm lợi
nhuận (search for yield) [106]. Một minh họa điển hình là vào giai đoạn 2003 - 2004,
nhà đầu tư dịch chuyển danh mục đầu tư từ trái phiếu chính phủ với lợi suất thấp sang
trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu thị trường mới nổi với mức lãi suất cao hơn
tương ứng với mức rủi ro cao hơn. Những nhà đầu tư này cần phải đáp ứng mức lợi
nhuận cao mà họ đã đạt được trong giai đoạn lãi suất cao trước đó.
Sự giảm xuống trong mức lãi suất danh nghĩa do NHTW thực thi CSTT nới
lỏng sẽ dẫn tới việc thay đổi trong hành vi kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh
tế được bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Các nguyên nhân này bao gồm nguyên nhân
đến từ yếu tố tâm lý, quy định trong các hợp đồng và pháp luật.
Về yếu tố tâm lý, ảo tưởng về tiền tệ khiến các doanh nghiệp có thể không nhận
định được mức lãi suất danh nghĩa thấp xuất phát từ việc lạm phát thấp (Gambacorta,
2009) [67]. Cambell và Cochrane (1999) chỉ ra nhà đầu tư có xu hướng ít ngại rủi ro
trong giai đoạn kinh tế thịnh vượng khi tăng mức chi tiêu; CSTT nới lỏng thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, từ đó làm giảm mức độ ngại rủi ro [48]. Kết luận này cũng được
26
kiểm chứng qua các mô hình giá tài sản với kết luận mức chênh lệch lãi suất (credit
spread) tăng lên trong dài hạn sau thời kỳ lãi suất thấp [93, 53].
Một nguyên nhân khác xuất phát từ các quy định trong các thỏa thuận kinh tế
hoặc quy định của Chính phủ. Ví dụ, công ty bảo hiểm nhân thọ và quỹ hưu trí quản lý
tài sản nhằm đáp ứng các nghĩa vụ về tài chính trong tương lai. Tại một số quốc gia
như Thụy Sĩ, Nhật Bản, và Anh, nghĩa vụ tài chính được gắn kết với mức sinh lời danh
nghĩa vốn dĩ được cố định trong dài hạn mà không phản ánh mức sinh lời bình quân
hiện hành. Trong thời kỳ lãi suất thấp, mức sinh lời quy định trong hợp đồng thường
vượt quá mức sinh lời của những tài sản có mức rủi ro thấp và buộc các tổ chức này
phải tìm kiếm những khoản đầu tư có mức sinh lời cao hơn và tương ứng là mức rủi ro
cao hơn. Đối với các ngân hàng, trong trường hợp không được phép đầu tư vào các
lĩnh vực rủi ro và đối mặt với mức lãi suất thấp của trái phiếu Chính phủ, việc tăng các
khoản cấp tín dụng có mức độ rủi ro cao là khó tránh khỏi.
𝑀 ↑→ 𝑖 ↓→ 𝑘ℎả 𝑛ă𝑛𝑔 𝑐ℎấ𝑝 𝑛ℎậ𝑛 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 ↑→ đầ𝑢 𝑡ư, 𝑡í𝑛 𝑑ụ𝑛𝑔 ↑→ 𝐼 ↑→ 𝑌 ↑
trong đó M là cung tiền, i là lãi suất, I là đầu tư, Y là tổng sản lượng.
Ngoài ra, các hợp đồng về lương, thưởng của ban điều hành doanh nghiệp gắn
với lợi nhuận của công ty cũng là một nhân tố khiến cho ban điều hành sẵn lòng chấp
nhận mức rủi ro cao hơn (Ackerman và cộng sự, 1999) [23]. Các nhà đầu tư cũng có
xu hướng đánh giá năng lực của ban điều hành thông qua kết quả kinh doanh trong
ngắn hạn [11, 47]. Điều này đặc biệt đúng đối với các ngân hàng niêm yết khi mức độ
giám sát và đánh giá của nhà đầu tư trong ngắn hạn luôn ở mức cao. Điều này buộc
ban điều hành phải tăng mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng trong bối cảnh mặt
bằng lãi suất thấp.
Thứ ba, lãi suất thấp làm tăng giá trị vốn chủ sở hữu và khuyến khích ngân
hàng chấp nhận rủi ro nhiều hơn
Đây là kênh truyền tải được gọi là kênh đòn bẩy, đề xuất bởi Adrian và Shin
(2009). Các tổ chức tài chính có xu hướng duy trì mức đòn bẩy tài chính cố định (đối
với NHTM) và theo chu kỳ (đối với ngân hàng đầu tư). Khi gặp phải cú sốc đối với
danh mục đầu tư và lợi nhuận, ngân hàng phản ứng lại bằng cách thực hiện các giao
dịch liên quan tới tài sản hơn là phân phối lợi nhuận hoặc huy động thêm vốn. CSTT
nới lỏng sẽ làm tăng giá trị tài sản, lợi nhuận và vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Ngân
hàng sẽ phản ứng lại trong sự giảm xuống của đòn bẩy bằng cách tăng giá trị tài sản
[28]. Điều này củng cố hơn ảnh hưởng ban đầu của lãi suất tới giá trị tài sản và khiến
cho hệ thống ngân hàng trở nên đối mặt với rủi ro nhiều hơn với sự biến động của giá
tài sản.
27
Thứ tư, kênh chấp nhận rủi ro bắt nguồn từ quá trình thông báo chính sách của
NHTW và mức độ hiệu quả của hàm phản ứng [32]
Mức độ minh bạch thông tin và cam kết chính sách của NHTW tăng lên làm
tăng lòng tin của công chúng, giảm đi sự bất định và làm tăng mong muốn chấp nhận
rủi ro của ngân hàng. Đa phần các NHTW có xu hướng tăng cường mức độ minh bạch
thông tin và tạo dựng niềm tin của công chúng vào các chính sách điều hành, đặc biệt
là tại các quốc gia theo đuổi chính sách lạm phát mục tiêu. Ví dụ, nhận thức của công
chúng về khả năng NHTW sẽ can thiệp để tránh suy thoái kinh tế khiến cho khả năng
nền kinh tế rơi vào tình trạng suy giảm được giảm nhẹ. Tương tự, nhận thức của các
ngân hàng về khả năng NHTW sẽ can thiệp hỗ trợ các ngân hàng trong trường hợp gặp
rủi ro phá sản sẽ khuyến khích các ngân hàng chấp nhận rủi ro nhiều hơn với khả năng
quản trị rủi ro của mình.
1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Cơ sở hình thành kênh tín dụng
Bốn thập kỷ gần đây đã chứng kiến những sự thay đổi căn bản trong hoạt động
của thị trường tài chính (như quá trình tự do hóa tài chính và chứng khoán hóa), kéo
theo đó là phương thức điều hành CSTT được các NHTW lựa chọn, hướng nhiều hơn
tới mục tiêu ổn định giá cả. Cũng từ đó, các nhà nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn về các
cách thức CSTT ảnh hưởng tới nền kinh tế, tạo ra một lĩnh vực nghiên cứu mới cho
truyền tải CSTT. Tuy quan điểm truyền thống về tác động của CSTT tới các biến số vĩ
mô qua kênh lãi suất được nhiều nhà kinh tế học tán thành, các nghiên cứu định lượng
lại chỉ ra rằng ngoài lãi suất, các yếu tố trễ khác như sản lượng, doanh thu và dòng tiền
(accelerator) mới là các nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất tới chi tiêu và tiêu dùng [39,
50, 41]. Theo Bernanke và Gertler (1995), CSTT tỏ ra thiếu hiệu quả trong việc làm
giảm lãi suất trung dài hạn, đặc biệt là lãi suất thực, vốn đóng vai trò quan trọng trong
quyết định đầu tư vào các tài sản dài hạn của các chủ thể kinh tế [36].
Chính mối quan hệ mờ nhạt giữa lãi suất và đầu tư vào tài sản dài hạn được chỉ
ra từ nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm kể trên vào những năm đầu của thập
niên 1990 đã dẫn đến nhiều quan điểm nghiên cứu mới về truyền tải CSTT. Để khắc
phục vấn đề này, Bernanke và Gertler (1995) đã đề xuất kênh tín dụng được xây dựng
trên giả định cấu trúc tài chính (financial structure) có tác động tới hành vi và tiêu
dùng của các chủ thể trong nền kinh tế [36].
Giả định này khác với một số học thuyết kinh tế vĩ mô được xây dựng trên giả
định đơn giản là cấu trúc tài chính không có tác động tới hành vi đầu tư và tiêu dùng.
Nói cách khác, các chủ thể trong nền kinh tế gồm doanh nghiệp và hộ gia đình không
28
chịu ảnh hưởng từ sự khác biệt giữa các nguồn vốn được sử dụng cho hoạt động đầu tư
và tiêu dùng. Điều này đồng nghĩa với giả định thị trường tài chính là hoàn hảo, trong
đó người cho vay và người đi vay có mức độ thông tin như nhau với mức chi phí bằng
không. Tuy nhiên, các giả định này không tồn tại trong thực tế do một số nguyên nhân
sau: (i) các doanh nghiệp và hộ gia đình có xu hướng tiêu dùng lợi nhuận và thu nhập
trước khi huy động nguồn vốn từ bên ngoài; (ii) các doanh nghiệp có quy mô lớn có
khả năng huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu trong khi các doanh
nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, các hộ gia đình và cá nhân lại phụ thuộc vào các khoản
vay từ các trung gian tài chính như ngân hàng; (iii) thị trường tài chính là không hoàn
hảo thể hiện rõ qua vấn đề thông tin bất cân xứng và sự tồn tại của chi phí giao dịch
các loại hàng hóa (bao gồm cả thông tin) trên thị trường. Như vậy, các mô hình kinh tế
truyền thống xây dựng trên giả định cấu trúc tài chính không ảnh hưởng tới hành vi
đầu tư và tiêu dùng trở nên thiếu hiệu quả trong việc đưa ra các lập luận về tác động
của các chính sách kinh tế do Chính phủ thực hiện tới các mục tiêu vĩ mô.
Trên thực tế, các chủ thể đi vay thường có xu hướng sử dụng nguồn vốn bên
trong như lợi nhuận và thu nhập hơn là nguồn vốn bên ngoài xuất phát từ ba lý do
chính gồm: (i) chủ thể đi vay không muốn chia sẻ thông tin về hoạt động kinh doanh
hay chịu sự giám sát sử dụng vốn vay từ phía chủ thể cho vay; (ii) chủ thể đi vay phải
trả chi phí và thời gian để đi tìm chủ thể dư thừa vốn; và (iii) chi phí huy động nguồn
vốn bên ngoài cao hơn nguồn vốn nội bộ bắt nguồn từ vấn đề người đại diện - agency
cost nảy sinh khi chủ thể cho vay không chắc chắn rằng lợi ích của họ được chủ thể đi
vay đảm bảo. Đây là cơ sở lý thuyết quan trọng để xây dựng cơ chế truyền tài của
CSTT thông qua kênh tín dụng.
Theo lý thuyết về kênh tín dụng, tác động trực tiếp của CSTT lên lãi suất được
khuếch tán thông qua sự thay đổi trong phần thưởng nguồn vốn bên ngoài (external
finance premium). Phần thưởng nguồn vốn bên ngoài là sự chênh lệch giữa nguồn vốn
huy động từ bên ngoài (từ phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vay ngân hàng) và nguồn vốn
huy động từ bên trong (từ thu nhập giữ lại) của các chủ thể kinh tế như doanh nghiệp,
hộ gia đình hay cá nhân. Mức độ chênh lệch này phản ánh sự không hoàn hảo của thị
trường tín dụng (vấn đề chủ sở hữu và người đại diện; chi phí thẩm định, giám sát, thu
hồi; vấn đề thông tin bất cân xứng), tạo ra mức chênh lệch giữa lợi nhuận kỳ vọng của
người cho vay và chi phí của người đi vay. Khi NHTW điều hành CSTT thắt chặt hay
nới lỏng, phần thưởng nguồn vốn bên ngoài sẽ thay đổi theo, tùy thuộc vào đặc điểm
của thị trường tài chính và các chủ thể trên thị trường tài chính. Như vậy, kênh tín
dụng có thể đại diện cho một nhóm các nhân tố có tác dụng khuếch đại và lan truyền
tác động của CSTT tới các biến số vĩ mô (thuật ngữ “kênh tín dụng” cần được hiểu là
29
“cơ chế tăng cường” chứ không hẳn là một cơ chế độc lập như kênh lãi suất hay kênh
giá tài sản).
Hình 1.1: Cơ chế khuếch đại ảnh hưởng của CSTT
Tình trạng thông tin bất cân xứng giữa doanh nghiệp và ngân hàng dẫn tới phần
thưởng nguồn vốn bên ngoài với vai trò bù đắp cho ngân hàng các chi phí trong quá
trình thẩm định và giám sát tín dụng. Tại Hình 1.1, giả định F là nguồn vốn từ bên
trong của doanh nghiệp (vốn chủ sở hữu) và chi phí của nguồn vốn này là r1, r1 có thể tách ra thành rf 1 là lãi suất phi rủi ro (đại diện cho lãi suất chính sách) và θ là phần bù cho rủi ro của doanh nghiệp. Trong trường hợp thị trường tín dụng là hoàn hảo, doanh
nghiệp vay vốn ngân hàng sẽ chỉ phải trả mức lãi suất r1. Tuy nhiên, do tồn tại tình trạng thông tin bất cân xứng dẫn tới rủi ro đạo đức nên mức lãi suất phải trả sẽ cao hơn
r1 một mức phần thưởng rủi ro là Ω.
Độ lớn của Ω phụ thuộc vào hai yếu tố. Thứ nhất, Ω tăng lên cùng với sự tăng lên
của vốn vay ngân hàng khi mà rủi ro đạo đức tăng lên theo. Mối quan hệ giữa Ω và vốn
vay ngân hàng được biểu diễn bởi đường S1. Thứ hai, theo Gertler và Hubbard (1988), Ω cũng tăng lên cùng với sự tăng lên của lãi suất phi rủi ro, một phần là do lãi suất tăng
làm giảm giá trị của tài sản bảo đảm cho khoản vay, làm tăng rủi ro đạo đức [70].
1 hàm ý rằng sự không hoàn hảo của thị trường tín dụng có thể khuếch đại cú sốc CSTT. Một sự tăng lên của lãi suất phi rủi
Sự phụ thuộc của Ω vào lãi suất phi rủi ro rf
ro sẽ làm tăng lãi suất vay vốn ngân hàng, làm dịch chuyển đường chi phí vốn từ S1 đến S2 và lượng vốn vay ngân hàng giảm từ (I1 – F) xuống còn (I2 – F). Sự giảm xuống trong nguồn vốn bị khuếch đại bởi sự tăng lên của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài
khi làm cho S1 dịch chuyển đến S2 thay vì S1’. Như vậy, lượng vốn dành cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp đã trở nên nhạy cảm hơn với công tác điều hành CSTT.
Do chịu ảnh hưởng từ đặc điểm của từng nền kinh tế, sự vận động không ngừng
của thị trường tài chính và các trung gian tài chính, mức độ hiệu quả của các kênh
30
truyền tải CSTT thay đổi theo thời gian. Các nghiên cứu định lượng về truyền tải
CSTT đưa ra các kết luận khác nhau về vai trò của kênh tín dụng (đối với trường hợp
của Mỹ, xem nghiên cứu của Kashyap và Stein (2000) [85], đối với khu vực Châu Âu,
xem nghiên cứu của Angeloni, Kashyap và Mojon (2003) [26]). Tuy nhiên, điểm
chung lại của các nghiên cứu này là nhận định: với các thị trường tài chính dựa vào thị
trường chứng khoán (market based) và mức độ thay thế giữa các tài sản cho nhau là
cao thì vai trò của kênh tín dụng bị giảm đi so với các kênh khác. Juurikkala và các
cộng sự (2009) lập luận rằng các hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ truyền tải thay
đổi trong CSTT tới nền kinh tế thực nhanh chóng hơn với một thị trường tài chính dựa
vào ngân hàng (bank based). Nhìn nhận theo một cách tiếp cận khác, Angeloni và
Ehrmann (2003) nghiên cứu các kênh truyền tải qua hệ thống ngân hàng và thị trường
chứng khoán tại khu vực Châu Âu sau giai đoạn hình thành khu vực sử dụng đồng tiền
chung. Hai tác giả nhận thấy hệ thống ngân hàng đang hướng đến sự đồng nhất nhờ
quá trình hội nhập và cạnh tranh gia tăng, góp phần vào làm tăng vai trò của hệ thống
ngân hàng trong truyền tải CSTT. Đã có một sự thay đổi rõ rệt trong cách thức các
ngân hàng ở Châu Âu thiết lập lãi suất huy động và cho vay với mức độ phản ứng
trước thay đổi điều hành CSTT một cách mạnh mẽ hơn so với trước đây [27].
Nghiên cứu của Kohlscheen và Miyajima (2015) tại các quốc gia mới nổi chỉ ra
kênh truyền tải truyền thống (ảnh hưởng trực tiếp qua chi phí vốn) cũng như kênh tín
dụng (ảnh hưởng gián tiếp) có tác động khác nhau tới tốc độ tăng trưởng đầu tư. Mức
độ ảnh hưởng phụ thuộc vào vai trò của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế. Tuy
nhiên, dù ảnh hưởng là trực tiếp hay gián tiếp, dù hệ thống tài chính chủ yếu phụ thuộc
vào thị trường chứng khoán đi chăng nữa thì xem xét vai trò của kênh tín dụng vẫn là
cần thiết do điều hành CSTT có tác động tới sức khỏe của hệ thống ngân hàng, và từ
đó tác động tới tính thanh khoản của thị trường tài chính nói chung. Sự thay đổi của thị
trường tài chính tiền tệ thế giới gần đây đã dẫn tới sự gia tăng phần bù rủi ro đối với
khoản nợ của các nền kinh tế mới nổi, và ảnh hưởng tới tổng cầu thông qua hoạt động
tiêu dùng và đầu tư tại các nền kinh tế này. Kohlscheen và Miyajima chỉ ra tại các nền
kinh tế mà nguồn vốn tín dụng ngân hàng có vai trò quyết định trong hoạt động đầu tư
và các ngân hàng hàng nhỏ đóng góp một vai trò tương đối trong thị trường tài chính
thì rõ ràng các nhà điều hành chính sách đang ngày một quan tâm hơn tới kênh truyền
tải qua hệ thống ngân hàng [81]. Kết luận này cũng tương đồng với kết luận của Ngân
hàng Trung ương Châu Âu (2000) trong một nghiên cứu về vai trò của ngân hàng
trong truyền tải CSTT. Tuy nhiên, một nghiên cứu của Ananchotikul và Seneviratne
(2015) cho các nền kinh tế mới nổi tại Châu Á lại đưa ra nhận định trái chiều. Theo lập
31
luận thông thường, tại các quốc gia dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng để cấp vốn
cho các hoạt động kinh tế như tại các quốc gia Châu Á, ngân hàng đóng vai trò tối
quan trọng trong truyền tải CSTT. Hai tác giả sử dụng dữ liệu vĩ mô và dữ liệu mảng
của 9 quốc gia Châu Á từ năm 2000 đến 2013 để kiểm chứng lập luận này. Kết quả
cho thấy kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng, và rộng hơn là kênh tín dụng
không hề thể hiện được vai trò như kỳ vọng. Hiệu quả của truyền tải CSTT phụ thuộc
nhiều vào đặc điểm của hệ thống ngân hàng như năng lực tài chính, cơ cấu sở hữu lẫn
các yếu tố bên ngoài [25]. Nhận định này cùng với việc hội nhập tài chính ngày một
diễn ra sâu rộng và nhanh chóng đưa đến một cảnh báo về những thách thức không
nhỏ cho những nhà điều hành CSTT khi tầm quan trọng của từng kênh truyền tải có xu
hướng thay đổi chứ không cố định.
1.2.2. Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của ngân hàng thương mại
Bernanke và Gertler (1995) đã đề xuất hai kênh truyền tải thông qua bảng cân
đối tài sản của người đi vay (balance sheet channel) và khối lượng tín dụng thông qua
khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng (bank lending channel) [36].
1.2.2.1. Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay
a/ Ảnh hưởng thông qua tác động tới rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch
Cơ sở của kênh truyền tải này là phần thưởng nguồn vốn bên ngoài tỷ lệ nghịch
với tình hình tài chính của người đi vay: giá trị tài sản ròng và giá trị các tài sản có tính
thanh khoản của người đi vay càng lớn thì phần thưởng nguồn vốn bên ngoài càng
nhỏ. CSTT thắt chặt có tác động trực tiếp làm suy yếu tình hình tài chính của người đi
vay thông qua hai ảnh hưởng.
Ảnh hưởng trực tiếp thứ nhất là qua các khoản vay ngắn hạn và các khoản vay
có lãi suất thả nổi. Khi NHTW thắt chặt CSTT, các ngân hàng sẽ có xu hướng điều
chỉnh lại lãi suất cho vay trong bối cảnh nguồn vốn cho vay giảm và chi phí huy động
tăng. Mức độ phản ứng nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào đặc điểm cơ cấu nguồn
vốn huy động có ổn định hay không ổn định và cơ cấu khoản tín dụng của ngân hàng
là lãi suất thả nổi hay cố định, thời hạn cho vay dài hay ngắn. Kế đó, mức lãi suất cao
khiến cho chi phí lãi vay cao hơn, làm giảm lợi nhuận, dòng tiền và giá trị tài sản ròng
(đặc biệt là đối với các doanh nghiệp và hộ gia đình có tỷ lệ nợ cao).
Ảnh hưởng trực tiếp thứ hai khi lãi suất tăng là làm giảm giá trị tài sản được sử
dụng để thế chấp cho khoản vay (theo mô hình định giá chiết khấu dòng tiền). Ngoài
ra, khi giá trị tài sản ròng giảm, các doanh nghiệp có xu hướng chấp nhận các dự án có
mức độ rủi ro cao hơn, khiến cho khả năng hoàn trả khoản vay giảm xuống. Trong
những trường hợp này, rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn đối nghịch tăng lên làm các
NHTM thận trọng hơn trong việc thẩm định và đưa ra quyết định tín dụng, từ đó hạn
32
chế phần nào mong muốn cấp tín dụng của ngân hàng, và hệ quả là đầu tư của doanh
nghiệp vì thế cũng sẽ giảm theo.
Về phía tác động gián tiếp, khi NHTW thắt chặt CSTT, các doanh nghiệp sản
xuất hàng hóa sẽ gặp khó khăn do doanh thu sụt giảm trong khi chi phí cố định lại giữ
nguyên, khiến cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, giá trị tài sản ròng giảm. Trước
tình hình năng lực tài chính của khách hàng vay vốn sụt giảm, NHTM khi tiến hành
thẩm định tín dụng sẽ có xu hướng khả năng từ chối cấp tín dụng nhằm bảo đảm mức
độ an toàn cho hoạt động ngân hàng.
Tổng hợp của ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp là giá trị tài sản ròng và tài sản
thế chấp giảm xuống khiến cho phần thưởng nguồn vốn bên ngoài tăng lên do rủi ro
tiềm ẩn đối với NHTM tăng lên; người đi vay (bao gồm cả doanh nghiệp và hộ gia
đình) sẽ hạn chế đầu tư và tiêu dùng hàng hóa lâu bền (Gertler và Gilchrist, 1993). Do
vậy, các NHTM sẽ hạn chế cấp tín dụng cho các đối tượng này, từ đó làm giảm tín
dụng đối với nền kinh tế. Kết quả là tổng cầu và sản lượng giảm xuống. Quá trình
truyền tải như sau:
rủi ro đạo đức↑→tín M↓→i↑→Pequity↓→lựa chọn đối nghịch và
dụng↓→I↓→Y↓ trong đó: M là cung tiền, i là lãi suất, Pequity là giá trị tài sản ròng, I là đầu tư, Y là tổng sản lượng.
Ngoài ra, CSTT thắt chặt có thể tác động tới nền kinh tế thông qua việc làm cho
luồng thu tiền mặt trở nên khó khăn hơn, giảm tính thanh khoản của bảng cân đối tài
sản của doanh nghiệp. Điều này làm tăng tính quan ngại của ngân hàng vào khả năng,
thậm chí là mong muốn trả nợ của khách hàng và dẫn tới quá trình truyền tải như sau:
M↓→i↑→CF↓→ lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức↑→tín dụng↓→I↓→Y↓
trong đó: M là cung tiền, i là lãi suất, CF là dòng tiền, I là đầu tư, Y là tổng sản
lượng.
b/ Ảnh hưởng thông qua chuẩn mực đánh giá khách hàng của ngân hàng
Cơ chế truyền tải CSTT qua bảng cân đối tài sản còn được thể hiện thông qua
việc xử lý vấn đề lựa chọn đối nghịch của ngân hàng. Theo Stiglitz và Weiss (1981), lựa
chọn đối nghịch khi đánh giá khách hàng (credit rationing) xảy ra trong trường hợp
khách hàng bị từ chối cấp tín dụng cho dù họ sẵn sàng trả mức lãi suất cao hơn. Điều
này xảy ra do các cá nhân và doanh nghiệp với những phương án sản xuất kinh doanh và
dự án đầu tư có mức độ rủi ro cao chính là những người sẵn lòng chi trả mức lãi suất cao
nhất. Nếu phương án, dự án của họ thành công thì họ là những người nhận được nhiều
lợi ích kinh tế hơn trong khi ngân hàng chỉ nhận được lãi vay theo thỏa thuận trong hợp
đồng tín dụng; còn ngược lại, nếu phương án thất bại, các khách hàng vay vốn và ngân
hàng đều gặp rủi ro như nhau là không thu hồi được vốn bỏ ra [116]. Ngoài ra, việc thay
33
đổi lãi suất cho vay và các điều khoản tín dụng cũng làm thay đổi hành vi của khách
hàng vay vốn. Lãi suất cho vay tăng lên sẽ có xu hướng khuyến khích doanh nghiệp
thực hiện những dự án có xác suất thành công thấp nhưng đem lại nhiều lợi nhuận nếu
dự án thành công [116]. Vì vậy, CSTT theo hướng thắt chặt làm tăng rủi ro lựa chọn đối
nghịch, các NHTM trở nên khắt khe hơn trong quá trình xét duyệt và cấp tín dụng cho
khách hàng, làm giảm khối lượng tín dụng cấp cho nền kinh tế.
Hình 1.2: Cơ chế truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài sản
c/ Ảnh hưởng thông qua sự biến động của mức giá chung
Kênh truyền tải CSTT này tác động tới doanh nghiệp thông qua mức giá cả
chung của nền kinh tế. Do các khoản mục bên nợ trên bảng cân đối tài sản thường
được chi trả lãi theo mức lãi suất cố định, sự tăng lên vượt mức dự tính của giá cả sẽ
làm giá trị thực các khoản nợ giảm xuống, giảm gánh nặng các khoản nợ cho doanh
34
nghiệp. Trong khi các khoản mục tài sản trên bảng cân đối tài sản ít bị ảnh hưởng hơn,
giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp sẽ tăng lên, làm giảm lựa chọn đối nghịch và rủi
ro đạo đức. Kết quả là khi NHTW thực hiện CSTT nới lỏng, các NHTM sẽ có xu
hướng dễ dàng chấp nhận các đề nghị vay vốn của doanh nghiệp hơn, làm tăng đầu tư
và sản lượng của nền kinh tế cũng vì thế mà tăng theo. Quá trình truyền tải CSTT qua
hai ảnh hưởng kể trên được mô tả như sau:
M↑→i↓→Punexpected↑→lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức↓→tín dụng↑→I↑→Y↑ trong đó: M là cung tiền, i là lãi suất, Punexpected là mức giá cả không dự tính, I là đầu tư, Y là tổng sản lượng.
1.2.2.2. Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng
a/ Ảnh hưởng thông qua dự trữ ngân hàng
Kênh khả năng cấp tín dụng góp phần giải thích mức độ tác động của CSTT
được khuếch đại hơn so với mức độ ảnh hưởng trực tiếp thông qua kênh lãi suất. Khi
CSTT được điều hành theo hướng thắt chặt, lượng tiền dự trữ trong hệ thống NHTM
giảm xuống. Do việc phát hành các công cụ nợ và cổ phiếu để bù đắp lượng giảm
xuống của tiền gửi là không hề dễ dàng nên khả năng cung ứng các khoản vay của hệ
thống ngân hàng bị ảnh hưởng.
Mặc dù về mặt lý thuyết, sự giảm xuống trong dự trữ của hệ thống ngân hàng
có thể được bù đắp bởi việc bán các chứng khoán kinh doanh nhưng các chứng khoán
này chỉ có hạn nên giải pháp này chỉ mang tính tạm thời. Ngoài ra, các ngân hàng có
quy mô lớn thường nắm giữ ít chứng khoán hơn các ngân hàng có quy mô vừa, và các
ngân hàng có quy mô vừa lại nắm giữ ít chứng khoán hơn các ngân hàng có quy mô
nhỏ. Trong khi đó, các ngân hàng nhỏ, vốn nhạy cảm với sự thay đổi của CSTT thắt
chặt (đặc biệt là vấn đề thanh khoản xảy ra khi người gửi tiền có xu hướng rút tiền), có
xu hướng duy trì một tỷ trọng tối thiểu các các chứng khoán nhằm bảo đảm sự an toàn
cho chính ngân hàng mình [84] nên lập luận về việc giảm tỷ trọng chứng khoán để bù
đắp cho sự giảm xuống trong dự trữ là thiếu thuyết phục.
Ở các quốc gia với thị trường tài chính phát triển, kênh tín dụng chủ yếu phát
huy ảnh hưởng thông qua nhu cầu vay vốn của các DNNVV (do hạn chế trong việc
tiếp cận nguồn vốn từ thị trường cổ phiếu và trái phiếu). Ngược lại, ở các quốc gia
đang phát triển, hoặc các quốc gia phát triển với thị trường tài chính phụ thuộc chủ yếu
vào hệ thống ngân hàng, thì ngay cả các doanh nghiệp lớn vẫn phụ thuộc nhiều vốn tín
dụng. Ở trường hợp này, kênh khả năng cấp tín dụng đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong truyền tải tác động của CSTT tới nền kinh tế. Quá trình truyền tải như sau:
M↓→dự trữ hệ thống ngân hàng↓→khả năng cung ứng tín dụng↓→I↓→Y↓ ,
trong đó: M là cung tiền, I là đầu tư, Y là tổng sản lượng.
35
b/ Ảnh hưởng thông qua vốn chủ sở hữu ngân hàng
Ngoài kênh truyền tải thông qua dự trữ, kênh khả năng cấp tín dụng còn hoạt
động thông qua nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Trong kênh truyền tải này, giá
tài sản giảm xuống sẽ dẫn đến các khoản thua lỗ và/hoặc các khoản tín dụng bị suy
giảm chất lượng sẽ làm tăng mức trích lập DPRR của ngân hàng. Các khoản lỗ sẽ làm
giảm vốn chủ sở hữu ngân hàng (tuyệt đối hoặc tương đối) khiến cho các ngân hàng
thận trọng hơn trong việc mở rộng tài sản như cấp tín dụng.Ngoài ra, các ngân hàng
phải đáp ứng quy định về an toàn vốn như duy trì hệ số CAR không thấp hơn mức tối
thiểu. Giải pháp hiệu quả nhất đối với ngân hàng để tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu trở
lại là giảm hoạt động cho vay do việc huy động thêm vốn sẽ rất khó khăn và tốn kém
chi phí. Quá trình deleveraing này khiến cho những khách hàng phụ thuộc vào tín
dụng ngân hàng khó tiếp cận tín dụng ngân hàng hơn và phải cắt giảm các hoạt động
chi tiêu và đầu tư. Kết quả là tổng cầu của nền kinh tế giảm xuống.
M↓→giá trị tài sản↓→vốn chủ sở hữu↓→ khả năng cấp tín dụng↓→I↓→Y↓ ,
trong đó: M là cung tiền, I là đầu tư, Y là tổng sản lượng.
Hình 1.3: Cơ chế truyền tải CSTT qua kênh khả năng cấp tín dụng
36
Trong trường hợp CSTT nới lỏng, tình hình tài chính của ngân hàng sẽ được cải
thiện thông qua hai cách. Thứ nhất, lãi suất ngắn hạn giảm có xu hướng tăng lợi nhuận
biên, tăng lợi nhuận làm tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng qua thời gian. Thứ hai,
CSTT nới lỏng sẽ làm tăng giá trị tài sản tài chính và cải thiện tình hình trả nợ của
người đi vay. Khả năng tài chính được cải thiện sẽ thúc đẩy ngân hàng đẩy mạnh hoạt
động cho vay trở lại.
Quá trình tự do hóa tài chính và ứng dụng các công cụ tài chính mới đã làm
giảm vai trò của kênh truyền tải thông qua khả năng cấp tín dụng. Trong khi đó, sự kết
hợp của hai kênh truyền tải này ngày càng tăng do sự liên kết giữa các ngân hàng trên
thị trường tài chính ngày càng cao (bắt nguồn sự phức tạp trong các giao dịch tài chính
giữa các ngân hàng như vay mượn trên TTLNH, đầu tư góp vốn, chứng khoán hóa,
công cụ phái sinh...). Ngoài ra, kênh truyền tải tín dụng đưa ra hàm ý đối với người
điều hành chính sách là các doanh nghiệp, hộ gia đình và các ngân hàng với tình hình
tài chính yếu kém là những đối tượng dễ chịu tác động tiêu cực từ thay đổi chính sách
tín dụng của ngân hàng và ngược lại.
Đối với một thị trường tài chính phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống NHTM (thị
trường chứng khoán kém phát triển), các biện pháp điều hành CSTT còn mang tính
chất hành chính, trực tiếp, những đặc điểm này sẽ dẫn tới sự gia tăng vai trò của kênh
tín dụng nhưng cũng đồng thời tạo ra ảnh hưởng không tốt tới truyền tải CSTT qua
kênh tín dụng. Thiếu hụt một thị trường các sản phẩm đầu tư có mức độ rủi ro (tín
dụng, thanh khoản…) phù hợp với mức độ ưu thích rủi ro của nhà đầu tư buộc họ phải
lựa chọn đầu tư vào các tài sản thực và/hoặc gửi tiền tiết kiệm vào hệ thống ngân hàng.
Khi đó, bên nguồn vốn và có của hệ thống NHTM sẽ chịu một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, tính ổn định của nguồn vốn bị giảm xuống do các chủ thể có thể rút
vốn bất cứ lúc nào để tìm kiếm các khoản lợi nhuận xuất hiện trên thị trường như các
đợt tăng giá đột biến của thị trường chứng khoán, ngoại tệ, bất động sản hoặc để gửi
vào các ngân hàng có mức lãi suất huy động vốn cao hơn. Thứ nhất, sự thiếu ổn định
này có thể làm cản trở khả năng cấp tín dụng ra nền kinh tế của NHTM. Thứ hai, với
một bên nguồn vốn thiếu ổn định với kỳ hạn bình quân ngắn nhưng lại phải cấp tín
dụng với kỳ hạn bình quân dài hơn, hệ thống NHTM phải đối mặt với rủi ro nhiều hơn
khi mặt bằng lãi suất thị trường tăng (khi NHTW thực hiện CSTT thắt chặt) và ngược
lại. Thứ ba, áp lực huy động vốn ngắn hạn khiến cho mặt bằng lãi suất ngắn hạn tăng,
tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất trung và dài hạn, khiến cho việc giảm lãi suất không hề
dễ dàng. Sự khuếch đại ảnh hưởng quá mạnh này khiến cho việc thắt chặt CSTT ảnh
hưởng xấu tới sự ổn định của NHTM và khả năng cấp tín dụng ra nền kinh tế.
37
Thứ hai, chi phí vốn tăng cao do NHTM phải trả thêm khoản lãi cho người gửi
tiền (để đáp ứng được mức sinh lời cao mà bản thân người gửi tiền kỳ vọng). Chi phí
huy động vốn tăng sẽ tạo áp lực lên chi phí cho vay của NHTM đối với các khách
hàng vay vốn nhằm duy trì mức lợi nhuận phù hợp. Kết hợp với đặc điểm thứ nhất,
NHTM sẽ phản ứng lại bằng cách tìm kiếm và/hoặc cho vay các khách hàng có mức
độ rủi ro cao, hoặc chấp nhận từ bỏ một phần các lợi ích về đa dạng hóa để tiến tới một
danh mục tín dụng rủi ro hơn. Khi nền kinh tế hoạt động yếu kém với hiệu quả đầu tư
thấp, các NHTM buộc phải tìm kiếm rủi ro cao hơn để đạt được mức lợi nhuận kỳ
vọng của cổ đông và đủ chi trả khoản lãi cho các khoản lãi suất huy động. Hơn nữa,
các doanh nghiệp phải vay vốn với mức lãi suất cao sẽ làm tăng chi phí, giá thành sản
phẩm và giảm đi tính cạnh tranh của sản phẩm. Đặc điểm này cho thấy mối quan hệ
giữa truyền tải CSTT qua kênh khả năng cấp tín dụng, kênh bảng cân đối tài sản của
người đi vay và kênh chấp nhận rủi ro.
Khi nghiên cứu về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng, cần chú ý rằng mặc dù
tác động của CSTT lên lãi suất là không thể phủ nhận, nhưng tác động của sự thay đổi
lãi suất lên các nhân tố khác (hơn là tác động trực tiếp lên đầu tư và tiêu dùng) mới
đóng vai trò quan trọng trong ảnh hưởng tới các biến số vĩ mô như sản lượng, thất
nghiệp và lạm phát [37]. Kênh truyền tải tín dụng đã giải thích tốt nhận xét này dựa
trên lập luận: lãi suất tăng trong điều kiện tình hình tài chính của doanh nghiệp là tốt sẽ
không tạo ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực; trái lại, lãi suất tăng trong điều kiện tình hình
tài chính của doanh nghiệp đang xấu đi sẽ có tác động tiêu cực. Sự không cân xứng
trong tác động của chính sách tiền tệ là nguyên nhân dẫn đến các nghiên cứu định
lượng hạ thấp mối quan hệ giữa lãi suất và các biến số vĩ mô [50].
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng
của ngân hàng thương mại
1.2.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh bảng
cân đối tài sản của người đi vay
Các nhân tố ảnh hưởng tới truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài sản gồm
đặc điểm bảng cân đối tài sản và hoạt động kinh doanh của hệ thống doanh nghiệp và
hộ gia đình.
a/ Doanh nghiệp và hộ gia đình có tỷ trọng vay nợ trong nguồn vốn càng lớn thì
mức độ truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài sản càng lớn
Với tỷ trọng vay nợ cao, nói cách khác, các chủ thể trong nền kinh tế phụ thuộc
nhiều vào nguồn vốn vay ngân hàng, một sự thay đổi nhỏ trong chính sách tiền tệ tín
dụng (thể hiện qua lãi suất cho vay và lượng cung ứng vốn tín dụng của NHTM) sẽ có
ảnh hưởng nhanh và mạnh tới tình hình tài chính của chủ thể đi vay. Sự mất cân đối
38
giữa nguồn vốn từ vay nợ ngân hàng và nguồn vốn chủ sở hữu theo hướng tập trung
vào vay nợ ngân hàng làm gia tăng mức độ đòn bẩy tài chính (và đi kèm là rủi ro tài
chính) của doanh nghiệp và hộ gia đình. Đối với trường hợp các khoản vay ngắn hạn,
khi cần phải vay NHTM cho chu kỳ sản xuất kinh doanh mới, các doanh nghiệp sẽ
thận trọng và gặp khó khăn hơn nếu như lãi suất cho vay được điều chỉnh tăng và
chính sách tín dụng cũng được điều chỉnh chặt chẽ hơn (do NHTW thực hiện CSTT
thắt chặt). Điều này là do đòn bẩy tài chính cao sẽ có tác dụng khuếch một sự thay đổi
nhỏ trong lãi suất, làm tăng chi phí lãi vay và ảnh hưởng mạnh tới lợi nhuận của doanh
nghiệp. Cùng với đó, việc giảm hạn mức tín dụng sẽ buộc quy mô sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp phải thu hẹp lại so với trước. Tổng hợp của hai ảnh hưởng này là
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tiêu dùng của hộ gia đình sẽ giảm
xuống nhanh chóng. Thời hạn vay vốn càng ngắn thì ảnh hưởng của CSTT càng nhanh
và rõ rệt hơn.
Tương tự, trong trường hợp các khoản vay tại NHTM tập trung chủ yếu vào lãi
suất thả nổi (do các NHTM không có khả năng quản trị rủi ro lãi suất hoặc hệ thống tài
chính thiếu các chủ thể có khả năng quản trị rủi ro lãi suất), những thay đổi trong
CSTT sẽ được truyền tải nhanh hơn tới nền kinh tế thông qua tác động vào bảng cân
đối tài sản của chủ thể đi vay.
Xét trên góc độ vĩ mô, tại các quốc gia với thị trường trái phiếu và cổ phiếu
chưa phát triển, doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng sẽ là đối tượng
có mức độ nhạy cảm cao với những thay đổi trong điều hành CSTT của NHTW.
Tương tự, nền kinh tế có nhiều DNNVV so với doanh nghiệp lớn, nhóm DNNVV này
sẽ khó tiếp cận thị trường chứng khoán, và cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ công tác điều
hành CSTT qua kênh tín dụng ngân hàng.
b/ Doanh nghiệp có năng lực quản trị doanh nghiệp và sản xuất kinh doanh tốt
sẽ có khả năng chống chọi trước những thay đổi (đặc biệt là những cú sốc) trong điều
hành CSTT của NHTW
Các doanh nghiệp có năng lực sản xuất kinh doanh tốt, thể hiện ở yếu tố thị
trường, sản phẩm, công nghệ, và nguồn lực…, sẽ ít chịu ảnh hưởng tiêu cực từ thắt
chặt CSTT so với các doanh nghiệp có năng lực sản xuất kinh doanh yếu. Khi nền
kinh tế xuất hiện dấu hiệu giảm tốc do NHTW thực hiện CSTT thắt chặt, các chủ thể
có xu hướng điều chỉnh lại quyết định đầu tư và tiêu dùng theo hướng co hẹp và thận
trọng hơn. Do vậy, trước sự co hẹp của thị trường, những doanh nghiệp có năng lực
quản trị không tốt, khả năng cạnh tranh trên thị trường thấp sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực
một cách nhanh chóng và mạnh mẽ hơn so với các đối thủ của mình, thể hiện qua tình
trạng doanh thu, dòng tiền, và lợi nhuận đều giảm xuống…, làm giảm nhu cầu vay vốn
ngân hàng.
39
Ở góc độ vĩ mô, một nền kinh tế có hiệu quả đầu tư và khả năng cạnh tranh thấp
sẽ rất khó chống đỡ trước các cú sốc từ việc thắt chặt CSTT của NHTW. Việc mất thị
trường vào các đối thủ cạnh tranh nước ngoài có năng lực sản xuất kinh doanh tốt hơn
sẽ khiến các chỉ tiêu tài chính của một doanh nghiệp nói riêng và toàn nền kinh tế nói
chung suy giảm, khiến việc đáp ứng các điều kiện vay vốn của NHTM trở nên khó
khăn hơn. Ngoài ra, sự yếu kém này còn làm giảm tiến trình và mức độ phục hồi của
nền kinh tế sau các cú sốc thắt chặt CSTT, làm việc truyền tải CSTT nới lỏng nhằm
thúc đẩy tín dụng, và hỗ trợ phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế trở nên thiếu hiệu quả.
1.2.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh khả
năng cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại
Các nhân tố ảnh hưởng tới truyền tải CSTT qua kênh khả năng cấp tín dụng
nằm hai bên bảng cân đối tài sản và báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng. Chất
lượng tài sản thấp, tỷ trọng thấp các tài sản có tính thanh khoản cao sẽ làm giảm mạnh
khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân. Tương ứng, các khoản tiền gửi thiếu ổn
định, ngắn hạn và thiếu các giấy tờ có giá để giao dịch trên thị trường thứ cấp là các
nhân tố cản trở các ngân hàng mở rộng tín dụng. Ngoài ra, nguồn thu nhập quá tập
trung vào lãi vay (thiếu đa dạng hóa hoạt động kinh doanh) sẽ khiến khả năng chấp
nhận rủi ro gia tăng, khả năng chịu đựng thua lỗ từ hoạt động tín dụng của các ngân
hàng giảm trong bối cảnh nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh (DPRR tăng làm lợi nhuận
giảm), khiến các ngân hàng ngần ngại hơn trong việc mở rộng tín dụng.
a/ Tỷ trọng tín dụng trong tổng tài sản
Nếu tỷ trọng tín dụng trong TTS của NHTM là thấp, các NHTM sẽ còn dư địa
mở rộng tín dụng khi NHTW thực hiện CSTT nới lỏng (hoặc tiếp tục cấp tín dụng trong
trường hợp CSTT thắt chặt) thông qua việc chuyển các tài sản có tính lỏng cao thành
tiền mặt để cấp tín dụng cho nền kinh tế. Ngược lại, một NHTM có tỷ trọng tín dụng cao
sẽ gặp phải trở ngại khi phải huy động thêm vốn trên thị trường (với mức lãi suất cao
hơn), vay NHTW (đáp ứng các điều kiện tài chính chặt chẽ hơn), và đáp ứng các quy
định về an toàn vốn trong trường hợp tổng tài sản có rủi ro của NHTM đã ở mức cao…
Nghiên cứu của Eid (2011) cho thấy với ngân hàng có tỷ trọng tín dụng trong TTS lớn
hơn 75% không thể hiện hành vi chấp nhận rủi ro trong thời kỳ lãi suất thấp; nhưng các
ngân hàng có tỷ trọng này thấp hơn 30% cho thấy ảnh hưởng của CSTT nới lỏng tới
việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng là rất đáng kể, các ngân hàng này sẽ có xu hướng
mở rộng hoặc thu hẹp tín dụng rất nhanh và mạnh trong thời gian ngắn (tuy nhiên, tỷ lệ
này còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng hệ thống ngân hàng) [61].
b/ Tỷ lệ nợ xấu (dự phòng rủi ro) trên dư nợ tín dụng
Tỷ lệ nợ xấu cao làm giảm nguồn lực tài chính dành để cấp tín dụng của các
NHTM (do phải tập trung vào trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý nợ xấu) đồng
40
thời cũng khiến cho các NHTM thận trọng hơn trong việc cấp tín dụng do lo ngại nợ
xấu có thể tiếp tục phát sinh (ảnh hưởng tới an toàn hoạt động ngân hàng hoặc phải
chịu sự giám sát chặt chẽ của NHTW). Ngược lại, NHTM với tỷ lệ DPRR cao sẽ có
thể sử dụng dự phòng để xử lý nhanh nợ xấu, qua đó dễ dàng đẩy mạnh tín dụng ra
nền kinh tế hơn (đặc biệt là trong điều kiện lãi suất thấp khi NHTW thực hiện CSTT
nới lỏng). Delis và các cộng sự (2011) đã chỉ ra tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên
tổng dư nợ tăng khiến ngân hàng gia tăng chấp nhận rủi ro [55].
c/ Tính thanh khoản của ngân hàng
Tính thanh khoản của ngân hàng thường được thể hiện bởi việc nắm giữ các tài
sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi tại NHTW và các TCTD, và giấy tờ có giá (trái phiếu Chính phủ). Trong điều kiện CSTT nới lỏng, các NHTM với tài sản
có tính thanh khoản cao sẽ dễ dàng chuyển đổi (về mặt thời gian và chi phí) các tài sản
này thành tiền để cấp tín dụng cho khách hàng. Tuy nhiên, nếu thị trường tài chính xảy ra bất ổn, các giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao thường giảm tính thanh khoản
nhanh chóng cũng như khả năng xảy ra hiện tượng rút tiền ồ ạt từ người gửi tiền sẽ
khiến cho các NHTM thận trọng hơn với việc mở rộng tín dụng (thay vào đó, ngân
hàng duy trì tỷ lệ thanh khoản cao). Westerlund (2003), Havro và Vale (2011) đã kêt
luận thanh khoản có ảnh hưởng tới quá trình cấp tín dụng khi tìm ra bằng chứng các
ngân hàng với danh mục tài sản có tính thanh khoản cao có xu hướng cấp tín dụng dễ
dàng hơn [125, 72].
Tính thanh khoản của NHTM có thể được xem xét trên khía cạnh khả năng huy
động các nguồn vốn nhanh chóng và với chi phí thấp trong bối cảnh ngân hàng cần
vốn để cấp tín dụng cho khách hàng. Một cơ cấu vốn ổn định, với tỷ trọng nguồn vốn
trung dài hạn ở mức cao sẽ tạo điều kiện cho các NHTM mở rộng tín dụng thuận lợi.
d/ Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng
Ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao có thể gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro
(đủ khả năng hấp thụ các khoản thua lỗ phát sinh do rủi ro tín dụng), từ đó bảo đảm một mức tín dụng cấp cho nền kinh tế cao và ổn định hơn so với các ngân hàng còn lại. Quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu có thể ảnh hưởng tới khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng thông qua việc kiểm soát sự biến động của tài sản có rủi ro. Foglia và các cộng sự (2010) sử dụng dữ liệu ngân hàng và doanh nghiệp để tách biệt kênh khả năng cấp tín dụng khỏi kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay nhằm đánh giá tác động của việc siết chặt cung tín dụng ảnh hưởng tới nhu cầu đầu tư thực sau khi ngân hàng Lehman Brothers bị sụp đổ. Các tác giả nhận định ngân hàng với năng lực tài chính tốt, có kỳ hạn cân bằng ít có xu hướng hạn chế tín dụng hơn trong khi các
doanh nghiệp gặp khó khăn hạn chế các khoản đầu tư lớn hơn các doanh nghiệp có tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh mạnh [65].
41
Vi phạm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu còn khiến ngân hàng phải chịu sự giám sát
chặt chẽ hơn từ các cơ quan quản lý, ảnh hưởng tới uy tín của ngân hàng và gây ra
những phản ứng tiêu cực từ phía thị trường. Những điều này gây ra những chi phí rất
lớn cho ngân hàng nên các ngân hàng vừa cố gắng duy trì một tỷ lệ an toàn vốn phù
hợp, vừa tránh không vi phạm mức tối thiểu này. Nhìn chung, một NHTM có tỷ lệ an toàn vốn thấp sẽ thận trọng trong việc mở rộng tín dụng hơn các NHTM khác.
e/ Mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng thể hiện thông qua
phạm vi hoạt động tín dụng với hoạt động phi tín dụng của ngân hàng, có thể được đại
diện một cách tương đối bằng cấu trúc thu nhập của ngân hàng. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi so với tổng thu nhập ở mức cao sẽ khiến NHTM dễ dàng chấp nhận mức độ rủi ro
từ hoạt động tín dụng nhiều hơn, từ đó làm gia tăng mong muốn và khả năng cấp tín
dụng cho khách hàng. Bên cạnh đó, thu nhập ngoài lãi lại bắt nguồn từ các hoạt động
phi tín dụng về bản chất là ít biến động (hệ số tương quan với hoạt động tín dụng thấp
và ít chịu ảnh hưởng từ thay đổi CSTT hơn), và chịu ít hơn các quy định hơn so với
hoạt động tín dụng và đầu tư [56] là lý do khiến các ngân hàng có nguồn thu đa dạng
hơn sẽ sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao hơn trong bối cảnh NHTW thực hiện nới lỏng lại CSTT sau giai đoạn thắt chặt trước đó.
f/ Mức độ đa dạng hóa danh mục tín dụng của ngân hàng
Tương tự với danh mục đầu tư, danh mục tín dụng của NHTM được đa dạng
hóa sẽ giúp làm giảm rủi ro cho ngân hàng. Vì thế, ngân hàng với mức độ đa dạng hóa
danh mục tín dụng cao sẽ có nhiều khả năng để chấp nhận rủi ro cao hơn (khả năng
mở rộng tín dụng cao hơn). Tuy nhiên, khi mức độ liên kết giữa các ngành được cấp
tín dụng ngày càng tăng (đặc biệt là trong giai đoạn suy thoái kinh tế), các cú sốc tác
động tới nền kinh tế sẽ không chỉ tác động tới một vài ngành hay tác động ngược chiều
giữa các ngành để loại trừ rủi ro mà có thể ảnh hưởng tiêu cực tới tất cả các ngành,
làm gia tăng rủi ro của toàn bộ danh mục tín dụng, khiến khả năng mở rộng tín dụng
của NHTM giảm xuống.
g/ Khả năng sinh lời của ngân hàng
Ngân hàng có khả năng sinh lời cao có thể sẵn sàng chấp nhận các khoản tín dụng có dòng tiền biến động lớn hơn, tức là giảm bớt các tiêu chuẩn cho vay của mình, tạo điều kiện mở rộng tín dụng khi NHTW điều chỉnh CSTT. Nghiên cứu thực nghiệm của Delis và cộng sự (2011) cũng đã xác nhận mối quan hệ này [55].
Ngoài các nhân tố kể trên, kênh khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng
còn chịu ảnh hưởng của một số nhân tố khác như nhiều kênh truyền tải CSTT khác
như quy mô của thị trường tài chính chính thức (so với thị trường tài chính phi chính
thức), mức độ hiệu quả của TTLNH…
42
a/ Quy mô và sự phát triển của thị trường tài chính chính thức
Ở bất kỳ quốc gia nào, giao dịch tín dụng nói riêng và các giao dịch tài chính
nói chung có thể được thực hiện trong khu vực chính thức hoặc phi chính thức. Tại
những quốc gia mà môi trường nền tảng cho sự phát triển chính thức kém phát triển,
hầu hết những người tham gia vào các giao dịch phi chính thức phải dựa vào những
thông tin kém chất lượng để giải quyết tình trạng thông tin bất cân xứng và sử dụng
các biện pháp không chính thức để bảo đảm hợp đồng tín dụng được thực hiện. Trong
trường hợp này, hệ thống tài chính chính thức (bao gồm hệ thống NHTM) có quy mô
nhỏ và chỉ thực hiện được một phần nhỏ vai trò trung gian tài chính trong nền kinh tế.
Khi quy mô của thị trường tài chính chính thức là nhỏ thì trước hết, NHTW sẽ
khó kiểm soát cũng như nhận biết kịp thời những bất ổn trong nền kinh tế để đưa ra
các chính sách phù hợp. Sau đó, ngay cả khi NHTW đã đưa ra được chính sách thì
phần lớn hoạt động của nền kinh tế sẽ không phản ứng với sự thay đổi của các biến số
trung gian cũng như hoạt động của các trung gian tài chính chính thức. Kết quả là ảnh
hưởng của điều hành CSTT tới các biến số của các trung gian tài chính sẽ chỉ gây ra
tác động nhỏ tới tổng cầu của nền kinh tế, không đạt được những kỳ vọng mà NHTW
mong muốn.
Tương tự, Havro và Vale (2011), Ciccarelli và các cộng sự (2010), de Haas và
van Horen (2010) và Boissay (2011) đưa ra nhận định quá trình truyền tải CSTT phụ
thuộc nhiều vào điều kiện của thị trường tài chính. Ví dụ, sự giảm xuống trong mức độ
thanh khoản của thị trường sẽ làm giảm đi đáng kể vai trò của kênh truyền tải qua
kênh tín dụng [72, 52, 54, 40].
b/ Mức độ hiệu quả của thị trường liên ngân hàng
Thị trường liên ngân hàng đóng vai trò cầu nối, khi vừa là nơi cung cấp thông
tin cho công tác điều hành của NHTW, vừa là điểm khởi đầu của quá trình truyền tải
những thay đổi của công cụ CSTT tới hệ thống trung gian là các NHTM. Nếu TTLNH
kém phát triển với các đặc điểm như tính thanh khoản thấp, thiếu các chủ thể tham gia
hoặc tồn tại sự không đồng đều giữa các chủ thể tham gia, hoặc hoạt động thiếu ổn
định do thiếu sự quản lý của NHTW… thì xác suất xảy ra những biến tướng trên thị
trường này sẽ tăng lên. Khi TTLNH không phản ánh được được lượng vốn dư thừa
hay thiếu hụt từ phía các NHTM (đồng thời không xác định được chi phí vốn), NHTW
khó nắm được tình hình tiền tệ trên thị trường một cũng như mức độ rủi ro thanh
khoản của hệ thống. Điều này trước tiên làm ảnh hưởng tới khả năng đưa ra những
quyết định kịp thời và phù hợp để tác động tới lượng vốn khả dụng và chi phí vốn của
hệ thống NHTM. Kế đến, khả năng truyền tải những tác động từ CSTT tới thị trường
của NHTW và NHTM bị hạn chế phần nào. Đơn cử, khi NHTW thực hiện CSTT thắt
43
chặt, một số NHTM yếu kém không đủ điều kiện vay trên TTLNH và đối mặt với rủi
ro thanh khoản lớn, buộc phải quay sang vay NHTW (thay vì vay trên thị trường liên
ngân hàng). Đặc điểm này khiến cho NHTW cùng một lúc phải thắt chặt CSSTT
nhưng cũng phải nỗ lực bảo đảm an toàn hoạt động cho hệ thống ngân hàng, khiến cho
mức độ hiệu lực của CSTT bị giảm đi phần nào.
c/ Mức độ phát triển của thị trường chứng khoán và bất động sản
Tình trạng thiếu phát triển tại thị trường thứ cấp các trái phiếu Chính phủ sẽ
khiến cho NHTW gặp khó khăn trong việc điều hành CSTT thông qua các nghiệp vụ
thị trường mở do thiếu đi các hàng hóa là giấy tờ có giá. Điều này sẽ làm giảm đi mức
độ linh hoạt trong điều hành CSTT và từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả truyền tải CSTT khi NHTW buộc phải sử dụng những công cụ có tác động mạnh vào dự trữ của hệ
thống NHTM như điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc, vốn dĩ sẽ gây ra sự xáo động mạnh
trong lượng vốn khả dụng của các ngân hàng. Ngoài ra, việc thiếu hụt một thị trường
trái phiếu Chính phủ phát triển còn dẫn tới hai vấn đề cho điều hành CSTT. Đơn cử,
do quy mô các nhà đầu tư không phải là TCTD (như các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm,
quỹ hưu trí…) là tương đối thấp, các NHTM buộc phải mua trái phiếu Chính phủ và
điều này dẫn tới khả năng cấp tín dụng đối với nền kinh tế bị ảnh hưởng đáng kể. Việc
không xây dựng được một đường cong lãi suất chuẩn dựa trên lãi suất trái phiếu Chính
phủ làm ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả truyền tải CSTT qua kênh lãi suất.
Ngoài ra, thị trường bất động sản, trái phiếu công ty, cổ phiếu, thị trường các
công cụ nợ ngắn hạn của doanh nghiệp… kém phát triển sẽ khiến cho hiệu quả truyền
tải CSTT thông qua kênh giá tài sản (qua đó có tác động tiêu cực nhất định tới kênh tín
dụng) bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Khi NHTW thực hiện các giải pháp CSTT nhằm tác
động tới nền kinh tế thông qua kênh giá tài sản nhưng các thị trường này phản ứng
chậm chạp do sự thiếu nhạy cảm của thị trường với thay đổi trong lãi suất.
d/ Mức độ cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng
Tại các quốc gia mà thị trường tài chính kém phát triển thì đi kèm với nó thường là thực trạng mức độ cạnh tranh kém và thiếu lành mạnh giữa các NHTM. Đặc
điểm này diễn ra phổ biến tại các quốc gia mà quy mô của từng NHTM là nhỏ và thị phần tín dụng chủ yếu thuộc về các NHTM do Chính phủ nắm quyền sở hữu. Ngoài ra, việc thiếu đi sự cạnh tranh của các trung gian phi tài chính thì việc truyền tải tác động từ lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường và dư nợ tín dụng bị giảm thiểu và chủ yếu chỉ tác động đến độ lớn chênh lệch lãi suất (spread) hơn là lãi suất thị trường. Đặc điểm này sẽ ảnh hưởng tới quá trình truyền tải CSTT từ mức lãi suất điều hành của NHTW tới mặt bằng lãi suất trên thị trường, tín dụng với nền kinh tế do các NHTM
thiếu cạnh tranh hiệu quả sẽ phản ứng khá chậm chạp và không mang lại hiệu quả
trong việc truyền tải CSTT như kỳ vọng.
44
1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG TRONG CÁC NGHIÊN CỨU
VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG
1.3.1. Kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng
Các nghiên cứu định lượng về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng phần lớn tập
trung vào kiểm chứng sự tồn tại của kênh khả năng cấp tín dụng. Phương pháp tiếp cận
đầu tiên, và sau này được nhiều nghiên cứu lặp lại, tập trung vào xem xét mối quan hệ
giữa tiền tệ, tín dụng và sản lượng và đo lường mức độ phản ứng của tiền tệ, tín dụng
trước thay đổi điều hành CSTT của NHTW và ngược lại. Kết quả của các nghiên cứu
về kênh khả năng cấp tín dụng ngân hàng tại Mỹ khá đồng nhất khi chỉ ra tín dụng
phản ứng lại với thay đổi điều hành CSTT với độ trễ và kế đó, sự thay đổi trong tín
dụng cũng dẫn tới sự thay đổi trong sản lượng của nền kinh tế.
Bernanke và Blinder (1992) sử dụng 6 mô hình VAR trong giai đoạn từ tháng
8/1959 tới tháng 9/1979 với các biến khác nhau về dự trữ không vay của các ngân
hàng, lãi suất vốn liên bang, chênh lệch giữa lãi suất vốn liên bang và lãi suất trái
phiếu dài hạn làm đại diện cho điều hành CSTT của Cục dự trữ liên bang Mỹ. Ngoài
ra, mô hình VAR còn có các biến số khác như tỷ lệ thất nghiệp, mức giá cả, và ba biến
đại diện cho hành vi của ngân hàng gồm tiền gửi, tín dụng và trái phiêus. Trên cơ sở
mô hình, Bernanke và Blinder nhận định rằng dưới tác động của CSTT thắt chặt, đo
lường bởi sự tăng lên của lãi suất vốn liên bang, chứng khoán nắm giữ bởi ngân hàng
và tiền gửi của công chúng vào ngân hàng sẽ giảm xuống trong chín tháng đầu tiên
trong khi các khoản tín dụng chỉ giảm nhẹ. Lý giải cho hiện tượng này là việc các ngân
hàng đã có các cam kết tín dụng với khách hàng. Sau ảnh hưởng ban đầu, lượng chứng
khoán nắm giữ được phục hồi và tương ứng là các khoản tín dụng giảm xuống. Sự
giảm xuống này xảy ra đồng thời với sự tăng lên của tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh
tế. Mặc dù kết quả nghiên cứu chỉ ra sự tồn tại của kênh tín dụng, nó cũng là một minh
chứng cho sự tồn tại của kênh truyền tải tiền tệ truyền thống. Nói một cách khác, sự
giảm xuống trong lượng tín dụng cấp cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng có thể là
kết quả của sự sụt giảm trong lượng cung tín dung hoặc có thể là sự giảm xuống từ
phía cầu tín dụng khi các chủ thể kinh tế phải chi trả mức lãi suất vay vốn cao hơn
[38].
Natal (2002, 2003) kế thừa phương pháp của Bernanke và Blinder (1992) và
phát triển thêm theo ba khía cạnh mới. Thứ nhất, tác giả sử dụng phương pháp
Bayesian. Thứ hai, cú sốc CSTT được xem xét trong bối cảnh của Thụy sỹ là một nền
kinh tế nhỏ mở cửa với việc bổ sung thêm yếu tố tỷ giá, giá dầu, giá trị sản xuất công
nghiệp, giá cả người sản xuất và lãi suất kỳ hạn 3 tháng của Đức. Thứ ba, khoảng cách
giữa lãi suất cho vay bất động sản và trái phiếu Chính phủ được sử dụng để đại diện
45
cho phần bù nguồn vốn bên ngoài. Với bộ số liệu gồm 13 biến số (ngoài các biến số kể
trên còn có lãi suất kỳ hạn 3 tháng, cung tiền, tỷ trọng chứng khoán ngân hàng nắm
giữ, tín dụng, GDP, chỉ số giá tiêu dùng, tỷ lệ thất nghiệp), tần suất dữ liệu theo tháng
trong giai đoạn 1976 – 2002, Natal chỉ ra các hàm phản ứng tương đối giống kết quả
của Bernanke và Blinder (1992). Cung tiền và các chứng khoán nắm giữ bởi ngân
hàng bắt đầu giảm ngay khi NHTW thực hiện thắt chặt CSTT, trong khi tín dụng ngân
hàng giảm sau khoảng 12 tháng. Cùng với đó, phần thưởng nguồn vốn bên ngoài bắt
đầu được nới rộng ra. Dù vậy, rất khó dể có thể tách biệt giữa kênh khả năng cấp tín
dụng của ngân hàng và kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay khi sử dụng biến số
là khoảng cách giữa lãi suất cho vay bất động sản và trái phiếu Chính phủ. Một sự nới
rộng trong khoảng cách này có thể là do sự suy giảm chất lượng tài sản của ngân hàng
hoặc là của doanh nghiệp [97,98].
Một phương pháp khác đã được sử dụng để xem xét phản ứng của các nhóm
ngân hàng có đặc điểm khác nhau trước cùng một cú sốc CSTT. Mô hình VAR được
hồi quy riêng cho từng nhóm ngân hàng có đặc điểm khác nhau và hàm phản ứng của
từng nhóm ngân hàng trước được sử dụng để so sánh mức độ khác biệt. Kashyap và
Stein (1995) nhận định các ngân hàng quy mô nhỏ sẽ gặp khó khăn hơn trong việc huy
động vốn để bù lại cho khoản tiền gửi bị khách hàng rút ra. Do vậy, khi NHTW thắt
chặt tiền tệ, các ngân hàng quy mô nhỏ sẽ phản ứng mạnh hơn so với các ngân hàng
lớn khi hạn chế cấp tín dụng nhưng lại phản ứng nhẹ hơn khi cắt giảm tỷ trọng danh
mục chứng khoán [86]. Steudler và Zurlinden (1998) chia các ngân hàng ở Thụy Sỹ
thành ba nhóm gồm nhóm các ngân hàng lớn, nhóm các ngân hàng thương mại thuộc
sở hữu Nhà nước, và nhóm các ngân hàng địa phương. Sử dụng mô hình VAR gồm 5
biến là lãi suất, GDP, tiền gửi, tín dụng và các khoản tiền và chứng khoán đã được
điều chỉnh cho lạm phát với khoảng thời gian nghiên cứu từ quý 2 năm 1977 đến quý 3
năm 1996. Mặc dù hàm phản ứng cho thấy danh mục chứng khoán của cả ba nhóm
ngân hàng đều phản ứng lại với chính sách thắt chặt tiền tệ mạnh hơn là tín dụng, mức
đô phản ứng giữa các nhóm ngân hàng lại không ủng hộ lập luận của Kashyap và
Stein. Thậm chí, các khoản tín dụng của ngân hàng lớn còn giảm mạnh hơn so với hai
nhóm ngân hàng còn lại. Để tăng tính chắc chắn của kết luận, hai tác giả sử dụng mô
hình VAR chỉ với ba biến gồm lãi suất, GDP thực và lần lượt ba biến tiền gửi, tín dụng
và chứng khoán. Hàm phản ứng cho kết quả tương tự với mô hình VAR 5 biến. Tuy
nhiên, nghiên cứu của Steuder và Zurlinden tồn tai một số hạn chế như chưa xác định
được biến số phản ánh được định hướng điều hành CSTT của NHTW Thụy Sỹ, chưa
tách biệt được sự sụt giảm của tín dụng là xuất phát từ phía cung hay phía cầu, và chưa
đề câp đến tính dừng của các biến số trong mô hình VAR [113].
46
Một vài nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu mảng của hệ thống ngân hàng để xác
định mức độ chịu ảnh hưởng của khả năng cấp tín dụng trước việc NHTW thắt chặt
CSTT. Kashyap và Stein (1995, 2000) phân tích kênh khả năng cấp tín dụng trên cơ sở
tách biệt các ngân hàng thông qua tiêu chí về quy mô và thanh khoản. Hai tác giả nhận
thấy trong điều kiện CSTT thắt chặt, các khoản tín dụng của các ngân hàng lớn không
bị ảnh hưởng nhiều nhưng các ngân hàng nhỏ lại điều chỉnh giảm mạnh các khoản tín
dụng cấp ra nền kinh tế. Để chứng minh lập luận này, hai tác giả đã sử dụng dữ liệu
mảng của hệ thống ngân hàng Mỹ từ quý 1 năm 1976 đến quý 2 năm 1993 với tổng
cộng 196.530 quan sát. Có ba phương pháp xác định hướng điều hành CSTT được sử
dụng trong nghiên cứu gồm phương pháp chỉ số Boschen – Mills, lãi suất qua đêm trên
thị trường liên ngân hàng, và phương pháp của Bernanke và Mihov (1998). Chỉ số
Boschen – Mills được áp dụng để chia định hướng điều hành chính sách thành 5
nhóm: mới lỏng mạnh, nỏi lỏng nhẹ, bình thường, thắt chặt nhẹ, và thắt chặt mạnh dựa
trên việc đánh giá mối quan ngại của Fed tập trung vào lạm phát hay thất nghiệp [86].
Kashyap và Stein (2000) sử dụng phương pháp hồi quy hai bước để đo lường sai phân
bậc hai của tín dụng với đặc điểm ngân hàng và biến số đại diện cho CSTT là cung
tiền. Ở bước thứ nhất, tại từng thời điểm, hai tác giả hồi quy tín dụng với biến trễ của
chính nó, biến số đại diện cho đặc điểm của ngân hàng, và biến giả đại diện cho ngân
hàng thuộc phạm vi của ngân hàng dự trữ liên bang nào. Ở bước thứ hai, hệ số đo
lường mức độ ảnh hưởng của đặc điểm ngân hàng (thanh khoản) được sử dụng như
biến độc lập để hồi quy theo chuỗi thời gian với các biến số đại diện cho CSTT là cung
tiền và tăng trưởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của CSTT lên
hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ mạnh hơn đối với các ngân hàng với bảng cân đối
tài sản kém thanh khoản. Đặc điểm này được phản ánh rõ rệt đối với nhóm các ngân
hàng nhỏ, ủng hộ lập luận về vai trò của kênh khả năng cấp tín dụng ngân hàng. Như
vậy, các ngân hàng nhỏ phải đối mặt với vấn đề căng thẳng tín dụng do sự thiếu hoàn
hảo của thị trường tín dụng với đặc điểm bảng cân đối tài sản thiếu tính thanh khoản
(chi phí cho việc tiếp cận các khoản vốn bán buôn là lớn) [85].
Perrez và Bichsel (2003) sử dụng dữ liệu bảng các ngân hàng Thụy Sỹ từ năm
1987 nhằm đánh giá truyền tải CSTT giữa các nhóm ngân hàng khác nhau không chi
dựa trên tiêu chí về quy mô mà còn về vốn chủ sở hữu và thanh khoản. Hai tác giả kỳ
vọng hoạt động cho vay của các ngân hàng với năng lực tài chính và thanh khoản thấp
sẽ nhạy cảm với điều hành CSTT hơn các ngân hàng còn lại. Trong phương trình gốc,
Perrez và Bichsel hồi quy tăng trưởng tín dụng với sự thay đổi trong lãi suất ngắn hạn
(đại diện cho định hướng điều hành CSTT) và các hệ số tài chính của ngân hàng, tăng
trưởng kinh tế và lạm phát. Kết quả nghiên cứu cho thấy các hoạt động tín dụng của
47
các ngân hàng với năng lực tài chính thấp phản ứng tiêu cực mạnh mẽ trước CSTT thắt
chặt. Tuy nhiên, thanh khoản không ảnh hưởng tới việc truyền tải CSTT của kênh khả
năng cấp tín dụng [104]. Perrez và Bichsel cũng chỉ ra kết quả nghiên cứu không thực
sự vững chắc khi tiến hành phương pháp hai giai đoạn do Kashyap và Stein (2000) đề
xuất. Khi áp dụng phương pháp này, điều hành CSTT không ảnh hưởng tới tác động
của thanh khoản và vốn chủ sở hữu lên hoạt động tín dụng mà nghiên cứu chỉ đưa đến
kết luận vốn chủ sở hữu có tác động tới tăng trưởng tín dụng trong khi thanh khoản thì
không có tác động.
Iacoviello và Minetti (2008) xem xét vai trò kênh tín dụng trong truyển tải
CSTT tới thị trường nhà đất tại 4 quốc gia Phần Lan, Vương Quốc Anh, Đức và Nauy.
Nhu cầu nhà đất liên quan trực tiếp đến bảng cân đối tài sản của người đi vay do các
đặc điểm như khoản trả trước và duy trì tỷ lệ thu nhập trên lãi phải trả. Kênh khả năng
cấp tín dụng ngân hàng cũng thể hiện vai trò quan trọng trong việc truyền tải CSTT
nếu các ngân hàng nắm giữ nhiều khoản cho vay nhà đất. Hai tác giả áp dụng 4 mô
hình VAR khác nhau để tìm kiến sự hiện diện của kênh tín dụng và tách biệt kênh
bảng cân đối tài sản khỏi kênh khả năng cấp tín dụng ngân hàng. Kết quả cho thấy mặc
dù khu vực châu Âu có sự hội nhập sâu rộng nhưng sự khác biệt về thị trường bất động
sản giữa các quóc gia đã ảnh hưởng tới quá trình truyền tải CSTT. Hai tác giả nhận
định kênh khả năng cấp tín dụng phát huy vai trò tại Phần Lan và Anh, nơi thị trường
bất động sản gắn chặt với ngân hàng, kênh bảng cân đối tài sản tại Đức và sự yếu kém
trong kênh tín dụng tại Nauy [76].
1.3.2. Kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay
Tương tự như kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng, các nghiên cứu về
kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay cũng gồm hai nhóm nghiên cứu sử dụng
dữ liệu theo chuỗi thời gian và dữ liệu mảng. Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu theo
chuỗi thời gian nổi bật như Bernanke và Gertler (1995), Kashyap, Stein, và Wilcox
(1993)… Với mục đích xem xét ảnh hưởng của các đặc điểm từ phía doanh nghiệp tới
truyền tải CSTT qua kênh tín dụng, các nghiên cứu sử dụng dữ liệu mảng bao gồm
nghiên cứu của Gertler và Gilchrist (1994), Oliner và Rudebusch (1993) tại Mỹ và
Zaderey (2003) tại Ukraine, Wesche (2000) tại Áo…
Bernanke và Gertler (1995) sử dụng mô hình VAR với bộ số liệu theo tháng từ
năm 1965 tới 1993 nhằm đánh giá vai trò truyền tải của kênh khả năng cấp tín dụng và
kênh bảng cân đối tài sản. Lựa chọn lãi suất vốn liên bang làm chỉ báo cho định hướng
điều hành CSTT của Fed, tác giả xem xét mức độ phản ứng của các biến số khác trong
mô hình với cú sốc CSTT. Kết quả mô hình cho thấy GDP bắt đầu giảm sau khoảng
thời gian bốn tháng sau khi Fed thực hiện CSTT thắt chặt trong khi phải tới gần 1 năm
48
chỉ số giảm phát GDP mới bắt đầu thể hiện rõ xu hướng giảm. Tách GDP thành hai
thành phần là tiêu dùng cuối cùng và hàng tồn kho cho thấy tiêu dùng cuối cùng giảm
xuống rất nhanh ngay khi Fed thắt chặt tiền tệ còn hàng tồn kho bị ứ đọng một khoảng
thời gian gần nửa năm mới bắt đầu giảm dần. Hai tác giả tiếp tục tách GDP thành các
khoản tiêu dùng hàng hóa lâu bền, tiêu dùng thông thường, đầu tư của hộ gia đình, và
đầu tư của doanh nghiệp. Kết quả hàm phản ứng cho thấy đầu tư của doanh nghiệp
giảm xuống khi Fed thắt chặt tiền tệ nhưng với độ trễ lớn hơn các thành phần còn lại
của tổng cầu. Sử dụng hệ số khả năng thanh toán lãi vay, Bernanke và Gertler nhận
thấy mối tương quan khá rõ rệt giữa khả năng chi trả lãi vay và lãi suất qua đêm trên
thị trường liên ngân hàng. Các chỉ tiêu khác như thu nhập, lợi nhuận, dòng tiền, tiền
lương chi trả cho nhân viên cũng có xu hướng giảm xuống trước các cú sốc tiền tệ.
Thu nhập có xu hướng giảm nhanh hơn chi phí, là tác nhân khiến lợi nhuận giảm
xuống. Ngoài ra, sự sụt giảm tiền mặt của doanh nghiệp đạt mức cao nhất từ tháng thứ
6 đến tháng thứ 9 sau cú sốc thắt chặt tiền tệ, cũng là lúc sản lượng, hàng tồn kho và
đầu tư bắt đầu giảm xuống. Hai tác giả nhận định CSTT thắt chặt trực tiếp làm giảm đi
năng lực tài chính của khách hàng đi vay thông qua chi phí lãi vay tăng lên và dòng
tiền ròng giảm xuống. Sự tăng lên của lãi suất khiến giá tài sản giảm xuống và đồng
nghĩa với đó là giá trị TSBĐ cũng giảm theo. CSTT thắt chặt cũng ảnh hưởng tới tổng
cầu và khiến cho doanh thu, dòng tiền của doanh nghiệp giảm xuống. Trước tình hình
này, các ngân hàng có xu hướng phân bổ lại tín dụng theo hướng gia tăng tỷ trọng của
các doanh nghiệp lớn với mức độ rủi ro thấp hơn [36].
Các nghiên cứu định lượng về kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay đưa
đến một kết luận là CSTT thắt chặt sẽ đưa đến sự sắp xếp lại các nguồn vốn khi hệ
thống ngân hàng di chuyển các nguồn vốn ra khỏi bảng cân đối tài sản và các doanh
nghiệp tìm kiếm các nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Gertler và Gilchrist (1993) xem
xét phản ứng của hai nhóm doanh nghiệp với quy mô nhỏ và lớn trước thay đổi điều
hành CSTT. Mục tiêu của nghiên cứu là nhằm tìm kiếm bằng chứng về mức độ lan tỏa
tác động của cú sốc về tiền tệ tới các hoạt động kinh tế. Sử dụng cơ sở dữ liệu từ báo
cáo tài chính của các doanh nghiệp sản xuất từ quý 4 năm 1958, hai tác giả tiến hành
kiểm tra phản ứng của doanh thu, hàng tồn kho, trước thay đổi lãi suất qua đêm bằng
mô hình VAR hai biến cho từng nhóm doanh nghiệp phân theo quy mô. Kế đó, Gertler
và Gilchrist hồi quy ba biến số kể trên với các biến số bổ sung như tăng trưởng thu
nhập quốc dân, lạm phát và lãi suất qua đêm và các biến số đại diện cho giai đoạn Fed
thắt chặt tiền tệ cho giai đoạn từ quý 1 năm 1960 đến quý 4 năm 1991. Kết quả cho
thấy các biến giả đại diện cho giai đoạn Fed thắt chặt tiền tệ có ý nghĩa thống kê và
mang dấu âm đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ và ngược lại, mang dấu dương đối
49
với các doanh nghiệp quy mô lớn. Áp dụng mô hình VAR với các biến số kể trên cũng
mang lại kết quả tương tự. Như vậy, các doanh nghiệp nhỏ có xu hướng giảm hàng tồn
kho và các khoản vay ngắn hạn cùng với sự sụt giảm của doanh thu. Tuy vậy, các
doanh nghiệp lớn không có đặc điểm này và điều này cho thấy các doanh nghiệp lớn
không đối mặt với vấn đề căng thẳng thanh khoản như các doanh nghiệp nhỏ [69].
Để làm rõ vai trò của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài trong việc đặt nền tảng
cho kênh tín dụng phát triển, Kashyap, Stein, và Wilcox (1993) kiểm tra mối tương
quan giữa tín dụng ngân hàng và thương phiếu. Sự giảm xuống trong khoản vay từ
ngân hàng trong khi giá trị thương phiếu phát hành bởi doanh nghiệp tăng lên cho thấy
bản thân khả năng cấp tín dụng của các ngân hàng bị thu hẹp lại. Ba tác giả đưa ra
nhận định nếu cú sốc là do thay đổi trong nhu cầu tín dụng thì ảnh hưởng của cú sốc sẽ
lan tỏa tới tất cả các nguồn vốn của nền kinh tế. Trong khi đó, cú sốc tiền tệ truyền tải
qua kênh tín dụng ngân hàng sẽ chỉ ảnh hưởng tới phía cung tín dụng. Bằng chứng
định lượng chỉ ra tỷ lệ giữa thương phiếu và tín dụng ngân hàng tăng lên khi NHTW
thực hiện CSTT thắt chặt [83]. Tuy nhiên, Oliner và Rudebusch (1993), Gertler và
Gilchrist (1993) nhận định sự giảm xuống của tỷ lệ tín dụng ngân hàng trên thương
phiếu không hoàn toàn là một bằng chứng của kênh tín dụng ngân hàng. Oliner và
Rudebusch hồi quy phương trình với biến phụ thuộc là đầu tư của doanh nghiệp trong
thời kỳ t với các biến độc lập là biến trễ của chính nó, thay đổi doanh thu, thay đổi chi
phí vốn, và dòng tiền (bằng lợi nhuận cộng với khấu hao) ở thời kỳ liền trước. Kết quả
hồi quy cho thấy các hệ số hồi quy của biến doanh thu và chi phí vốn của doanh
nghiệp quy mô lớn có ý nghĩa thống kê và mang dấu dương trong khi hệ số hồi quy
của doanh nghiệp quy ô nhỏ không có ý nghĩa thống kê và rất nhỏ. Đáng chú ý, trong
khi hệ số của biến dòng tiền lớn, dương và có ý nghĩa thống kê đối với các doanh
nghiệp nhỏ nhưng không xuất hiện đặc điểm này đối với các doanh nghiệp lớn. Như
vậy, các doanh nghiệp quy mô nhỏ dựa nhiều hơn vào nguồn vốn nội bộ so với doanh
nghiệp lớn. Tiếp tục thêm biến giả là các giai đoạn Fed thắt chặt tiền tệ, mô hình hồi
quy cho thấy các doanh nghiệp nhỏ đối mặt với chi phí vốn tăng lên, buộc doanh
nghiệp phải dựa vào nguồn vốn nội bộ hơn là nguồn vốn bên ngoài. Trái lại, các doanh
nghiệp lớn không gặp phải sự tăng lên của chi phí vốn bên ngoài. Kết quả nghiên cứu
ủng hộ sự tồn tại của kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay. Như vậy, việc giảm
xuống trong tổng tín dụng có thể được cho là do xuất phát từ nguyên nhân các doanh
nghiệp lớn có xu hướng ít phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng hơn so với
doanh nghiệp nhỏ. Một khi quy mô của doanh nghiệp được đưa vào mô hình phân tích,
kết quả là các nguồn vốn của doanh nghiệp sau khi điều chỉnh không bị ảnh hưởng
nhiều [69, 100]. Kashyap, Stein, và Wilcox (1993) và Romer và Romer (1993) cũng
50
chỉ ra chênh lệch giữa lãi suất tín dụng và lãi suất thương phiếu tăng lên sau khi
NHTW thực hiện CSTT thắt chặt. Do vậy, doanh nghiệp lớn với xếp hạng tín dụng tốt
sẽ có xu hướng thay thế các khoản tín dụng từ ngân hàng với chi phí cao bằng nguồn
vốn từ phát hành thương phiếu [87, 110].
Sử dụng phương pháp hồi quy theo hai bước của Kashyap và Stein (2000)
nhưng áp dụng cho doanh nghiệp, Zaderey (2003) nhận thấy tại Ukraine, CSTT thắt
chặt khiến giá cổ phiếu giảm và chi phí lãi vay của doanh nghiệp tăng lên, khiến cho
dòng tiền ròng lẫn giá trị dòng bị sụt giảm. Với bộ số liệu từ 150 doanh nghiệp thuộc
lĩnh vực sản xuất từ năm 1996 đến 2001, kết quả nghiên cứu các doanh nghiệp nhỏ
không có khả năng huy động vốn trên thị trường vốn buộc phải dựa vào nguồn lợi
nhuận để lại để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, tài trợ tài sản lưu động và các khoản đầu
tư khác [126]. Để xác định mức độ hiệu quả của kênh bảng cân đối tài sản tại Áo,
Wesche (2000) đã sử dụng dữ liệu vi mô của 2.000 doanh nghiệp phi tài chính trong
khoảng thời gian từ 1979 đến 1998. Tác giả nhận thấy CSTT có tác động kiểm soát
mức cung tín dụng của ngân hàng và làm ảnh hưởng tới việc vay vốn của doanh
nghiệp nhỏ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa với mức chi phí lãi
vay cao và tỷ lệ đầu tư trên doanh thu thấp có sự phản ứng mạnh hơn đối với các biến
số tài chính [124].
1.3.3. Kênh tín dụng ngân hàng
Để nắm bắt được mối quan hệ giữa thay đổi tiền tệ, tín dụng và hoạt động của
nền kinh tế là không hề dễ dàng do sự biến động phức tạp của các biến số cũng như sự
đa dạng trong quá trình các tác động. Một vài nghiên cứu đã tập trung xem xét liệu tín
dụng có ảnh hưởng tới nền kinh tế và/hoặc giữa hai kênh tín dụng và các kênh tiền tệ
truyền thống thì kênh nào có khả năng dự báo tốt hơn. King (1986), Ramey (1993) và
Walsh và Wilcox (1995) đưa ra những kết luận không thiên về hướng ủng hộ sự tồn tại
của kênh tín dụng [89, 108, 123]. Nguyên nhân là do khi đưa biến tín dụng vào nhóm
các yếu tố tiền tệ thì khả năng giải thích sự phản ứng của sản lượng trước thay đổi
CSTT không được cải thiện.
Đơn cử, nghiên cứu của Ramey (1993) sử dụng các mô hình OLS, IV, và
VECM để nghiên cứu ảnh hưởng của tín dụng tới nền kinh tế trong giai đoạn từ tháng
1/1954 đến tháng 12/1991. Tác giả sử dụng các biến số như sản lượng sản xuất công
nghiệp, hàng tồn kho lĩnh vực sản xuất và thương mại, cung tiền rộng, tín dụng ngân
hagf, lạm phát, lãi suất qua đêm, lãi suất tín phiếu kỳ hạn 3 tháng và lãi suất thương
phiếu kỳ hạn 6 tháng. Khi vòng quay tiền tệ và vòng quay tín dụng được đặt trong mối
quan hệ với CSTT, kết quả nghiên cứu cho thấy kênh tiền tệ truyền thống phát huy vài
trò truyền tải tốt hơn kênh tín dụng. Ảnh hưởng của tín dụng ngân hàng tới sản lượng
51
công nghiệp ở mức thấp và sự thay đổi trong danh mục đầu tư của ngân hàng không
tác động mạnh tới sản lượng khi vòng quay tiền tệ được đưa vào mô hình. Đối với mô
hình VECM, các biến số tốc độ tăng trường GNP, vòng quay tiền tệ, tốc độ tăng
trưởng nợ ngắn hạn tương đối (đo bằng sự khác biệt giữa tốc độ tăng trưởng nợ ngắn
hạn của doanh nghiệp nhỏ (phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng và tín dụng
thương mại) so với doanh nghiệp lớn), lạm phát và biến chính sách được sử dụng. Kết
quả cho thấy nếu lãi suất không ảnh hưởng được tới tăng trưởng nợ ngắn hạn tương
đối, sản lượng sẽ không phản ứng mạnh với CSTT thắt chặt như kỳ vọng và nhanh
chóng phục hồi [103].
Walsh và Wilcox (1995) sử dụng mô hình VAR trong đó có biến lãi suất cơ sở
và tín dụng ngân hàng để tách biệt ảnh hưởng của sự thay đổi trong cung và cầu tín
dụng tới tín dụng và sản lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy cú sốc cung tín dụng
đóng vai trò quan trọng đối với tín dụng và sản lượng nền kinh tế trong giai đoạn 1960
- 1977 nhưng vai trò này ngày càng giảm dần trong giai đoạn 1978 - 1994. Lý giải cho
sự giảm dần vai trò của kênh tín dụng là do thị trường tài chính phát triển giúp khách
hàng vay vốn có thể tiếp cận những nguồn vốn không phải là tín dụng ngân hàng.
Kahn (1991) kiểm tra mối quan hệ giữa lượng tiền cung ứng và tín dụng ngân hàng tại
Mỹ và nhận thấy mối quan hệ này chịu ảnh hưởng lớn từ mối tương quan giữa những
lần biến động mạnh của cả hai biến số. Xuất phát từ dữ liệu quá khứ, tác giả nhận thấy
tăng trưởng cung tiền thường dẫn trước tăng trưởng tín dụng trong khoảng thời gian 1
năm nhưng mối quan hệ này lại không còn rõ ràng trong giai đoạn từ 1982 - 1991. Kết
quả này khá tương đồng với kết quả mà Walsh và Wilcox (1995) khi bản thân ngân
hàng cũng có thể huy động được các nguồn vốn khác ngoài tiền gửi cũng như có thể
thay thế các khoản tín dụng bằng các tài sản tài chính khác [125].
Xem xét mối quan hệ giữa tiền tệ, tín dụng và lãi suất, Romer và Romer (1990)
tập trung vào phản ứng của nền kinh tế trước hành động thắt chặt CSTT của Cục dự
trữ liên bang Mỹ. Hai tác giả xem xét mức độ nhanh chóng và độ lớn mức độ ảnh
hưởng giữa “tiền tệ - sản lượng” và “tín dụng - sản lượng” nhằm đánh giá về vai trò
truyền tải CSTT giữa kênh truyền thống và kênh tín dụng thông qua mô hình bình
phương nhỏ nhất (OLS) và mô hình biến công cụ (IV). Mô hình OLS cho thấy sản
lượng của nền kinh tế phản ứng khá nhanh với tín dụng khi đạt mức ảnh hưởng cao
nhất sau 5 tháng và kết thúc trong vòng 17 tháng nhưng mô hình IV lại chỉ ra mối
quan hệ giữa hai biến số trên chỉ biến động quanh mức 0. Cùng với đó, sự thiếu vắng
các tác động trễ trong mối quan hệ “tín dụng - sản lượng” cho thấy cho sự tồn tại của
kênh tín dụng không được kết quả nghiên cứu ủng hộ. Dù vậy, kết luận này cần được
xem xét một cách thận trọng khi nền kinh tế Mỹ biến động khá mạnh giai đoạn nghiên
52
cứu và hệ số R2 của mô hình ở mức khá thấp nên có thể tồn tại các biến chưa được đưa vào mô hình để giải thích cho mối quan hệ “tín dụng - sản lượng”; trong trường hợp
CSTT tác động lượng tiền cung ứng nhưng lượng tiền cung ứng sẽ không tác động tới
nền kinh tế mà phải thông qua lượng tín dụng của ngân hàng thì sẽ tồn tại độ trễ trong
mối quan hệ “tín dụng - sản lượng”… [109]
Để so sánh mức độ khuếch đại của kênh tín dụng so với trường hợp chỉ tồn tại
kênh truyền tải truyền thống, một vài nghiên cứu đã so sánh hàm phản ứng và phân rã
phương sai của mô hình VAR trong trường hợp biến tín dụng được đưa vào trong mô
hình VAR thứ nhất và bị đưa ra làm biến ngoại sinh trong mô hình VAR thứ hai.
Nghiên cứu điển hình là của Boughrara (2008) tại Morocco và Tunisia. Điểm quan
trọng ở đây là xem xét ảnh hưởng của việc tăng lãi suất có được khuếch đại bởi kênh
tín dụng vượt quá kênh truyền tải truyền thống là kênh lãi suất hay không. Để thực
hiện mục tiêu nghiên cứu này, tác giả đã bổ sung vào mô hình biến tín dụng thực (tín
dụng đã được điều chỉnh cho lạm phát). Mô hình VAR gồm 4 biến sản lượng, giá cả,
tín dụng và lãi suất được ước lượng trước, sau đó, biến tín dụng được đưa ra ngoài để
ước lượng mô hình VAR gồm 3 biến sản lượng, giá cả và lãi suất. Xem xét hàm phản
ứng của sản lượng trước cú sốc lãi suất trong trường hợp có kênh tín dụng (biến tín
dụng là biến nội sinh) và trường hợp không có kênh tín dụng (biến tín dụng là biến
ngoại sinh) không thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa hai trường hợp [45]. Một nghiên cứu
của Ngalawa và Viegi (2009) về truyền tải CSTT tại Malawi cũng áp dụng phương
pháp tương tự của Boughrara (2008). Tuy nhiên, đối với trường hợp của Malawi, kênh
tín dụng phát huy ảnh hưởng của mình khi đã khuếch đại khá mạnh phản ứng của sản
lượng và giá cả trước cú sốc lãi suất [99].
Tang (2006), Aleem (2010), Holmes và Mengesha (2013), Perera và
Wickramanayake (2013) sử dụng mô hình VAR và SVAR để xem xét mức độ truyền
tải CSTT tại một số quốc gia đang phát triển. Do các nền kinh tế này là nền kinh tế
mở, việc bổ sung các biến bên ngoài đã mang tới kết quả vững chắc hơn, đồng thời
hạn chế được tình trạng puzzule thường hay xảy ra đối với mô hình VAR. Tang (2006)
đã đánh giá vai trò của bốn kênh truyền tải là kênh tỷ giá, kênh giá tài sản, kênh lãi
suất và kênh tín dụng tại Malaysia từ tháng 1 năm 1981 đến tháng 1 năm 2004. Tác giả
sắp xếp các biến số theo thứ tự gồm các biến ngoại sinh như giá cả hàng hóa thế giới,
lãi suất, lạm phát, sản lượng của Mỹ, tới các biến kinh tế vĩ mô trong nước như giá cả,
sản lượng, các biến đo lường CSTT của NHTW rồi mới tới các biến trung gian như tỷ
giá, chỉ số chứng khoán, lãi suất cho vay, và tín dụng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra kênh
lãi suất là kênh truyền tải quan trọng nhất tại Malaysia trong khoảng thời gian 2 năm
trước khi kênh tín dụng thể hiện vai trò này [118]. Ghazanchyan (2014) cũng đưa đến
53
kết luận tương tự với trường hợp của Srilanka khi kênh lãi suất thể hiện rõ rệt vai trò
của mình nhất trong truyền tải CSTT, kế đến là kênh khả năng cấp tín dụng của ngân
hàng. Hai kênh tỷ giá và giá tài sản không thể hiện được nhiều vai trò của mình.
Aleem (2010) nhận định kênh tín dụng là kênh truyền tải mạnh nhất tại Ấn Độ
[31]. Cũng sử dụng mô hình VAR, Holmes và Mengesha (2013) nhận định kênh khả
năng cấp tín dụng ngân hàng là kênh truyền tải mạnh nhất tại Eritrea. Trái lại, kênh lãi
suất và tỷ giá không phát huy được vai trò trong giai đoạn từ quý 1 năm 1996 đến quý
4 năm 2008 tại quốc gia này. Kênh tỷ giá và tín dụng phát huy được vai trò của mình
là do thị trường chợ đen phát triển và các khoản tín dụng được cấp cho khu vực Nhà
nước [73]. Agha và các cộng sự (2005) đã sử dụng dữ liệu tần suất theo tháng từ năm
1996 đến năm 2004 để đánh giá vai trò của các kênh lãi suất, tín dụng, giá tài sản và tỷ
giá tại Pakistan. Các tác giả đi đến kết luận kênh tín dụng và lãi suất là hai kênh truyền
tải hiệu quả CSTT trong khi đánh giá thấp vai trò của kênh tỷ giá. Tuy nhiên, nghiên
cứu này xảy ra tình trạng puzzle về giá cả do bỏ qua các biến số từ bên ngoài nền kinh
tế [29]. Hussain (2009) cũng gặp tình trạng tương tự với kết quả chỉ ra kênh tỷ giá hiệu
quả trong việc kiểm soát lạm phát và giảm độ lệch sản lượng [75].
Qua xem xét các nghiên cứu định lượng ngoài nước và trong nước (xem phần
tổng quan nghiên cứu) về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng, có thể thấy nổi bật lên
việc sử dụng mô hình VAR (và gần đây là SVAR, Bayesian VAR) để kiểm chứng sự
tồn tại của kênh tín dụng cũng như đo lường vai trò của kênh tín dụng so với các kênh
truyền tải CSTT khác.
54
TÓM TẮT CHƯƠNG I
Chương 1 của luận án đã trình bày cơ sở hình thành kênh tín dụng ngân hàng
dựa trên việc phân tích điều hành CSTT sẽ có tác động đến phần thưởng nguồn vốn
bên ngoài. Tác giả đã phân tích cơ chế truyền tải CSTT qua hai kênh nhỏ hơn của kênh
tín dụng ngân hàng là kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay (rủi ro đối nghịch và
lựa chọn đối nghịch, chuẩn mực đánh giá khách hàng, sự biến động của mức giá
chung) và khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng (dự trữ và vốn chủ sở hữu).
Nội dung thứ ba của chương 1 tập trung vào phân tích các phương pháp nghiên cứu
định lượng nổi bật về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng ngân hàng.
55
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1. BỐI CẢNH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.1.1. Bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với điều hành
chính sách tiền tệ
2.1.1.1. Bối cảnh kinh tế vĩ mô
a/ Thực trạng kinh tế vĩ mô Việt Nam
Trong giai đoạn 2002 - 2007, nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ với tốc
độ tăng trưởng bình quân 7,88%/năm, tỷ lệ lạm phát bình quân 7,53%. Về phía tổng
cung, sự thịnh vượng này có được nhờ mức độ đóng góp lớn của cả ba nhân tố công
nghệ, lao động, và vốn đầu tư. Về phía tổng cầu, chi tiêu Chính phủ, sự ra đời của Luật
Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Thương mại 2006, ký kết Hiệp định
thương mại song phương Việt - Mỹ, và việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức
của WTO năm 2007 và được sự hậu thuẫn từ CSTT nới lỏng đã khuyến khích được
nguồn lực dồi dào trong khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tham
gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Tình hình chính trị ổn định kết hợp với định
hướng thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh của Chính phủ giai đoạn 2006 - 2010 đã khiến
các chủ thể trong nền kinh tế trở nên lạc quan vào triển vọng kinh tế trong tương lai và
những kỳ vọng này được phản ánh rất rõ ràng vào hành vi tiêu dùng và đầu tư của cả
nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, tư duy kinh tế này đã góp phần khiến cho nền kinh
tế Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015 phải gánh chịu những hệ lụy tiêu cực của giai đoạn
tăng trưởng nóng này.
10%
8%
6%
4%
2%
0%
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015
GDP
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp và xây dựng
Dịch vụ
Hình 2.1: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo ngành
Nguồn: Tổng cục Thống kê
56
Đòn bẩy kinh tế, chủ yếu là CSTK và CSTT nới lỏng từ phía Chính phủ, cùng
với nguồn vốn đầu tư và lao động dồi dào đã đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam trong khi đầu tư vào yếu tố công nghệ và chất lượng lao động không được
quan tâm tương xứng. Hệ quả tất yếu của thực trạng này là hiệu quả đầu tư ngày càng
giảm (chỉ số ICOR cao, đặc biệt là thành phần kinh tế Nhà nước – xem hình 2.2 và
2.3), mức độ rủi ro tài chính của nền kinh tế tăng lên (nợ công ở tầm vĩ mô, mức độ rủi
ro của hệ thống tài chính, và đòn bẩy tài chính của hệ thống doanh nghiệp ở tầm vi
mô), và các bong bóng tài sản dần hình thành (lượng tiền dư thừa quá mức dẫn tới sự
bùng nổ của thị trường bất động sản và chứng khoán). Sai lầm trong tư duy về quản trị
doanh nghiệp cùng với tỷ lệ đầu tư thấp và thiếu hiệu quả vào các yếu tố sản xuất cốt
lõi đã khiến cho khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam giảm mạnh trong khi
khả năng chống chọi với các cú sốc từ bên trong nền kinh tế ngày càng suy yếu [20].
Kết hợp với việc gia nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, tính dễ tổn
thương của nền kinh tế Việt Nam từ các cú sốc bên ngoài cũng tăng lên đáng kể [7].
Hình 2.2: Hệ số ICOR của Việt Nam và Hình 2.3: Hệ số ICOR theo thành phần
Myanmar
c ớ ư n
Cambodia
à h N ế t h n i K
Philippines
Malaysia
i à o g n
c ớ ư n T Đ V
ó c c ự v u h K
Vietnam
China
c ớ ư n à h N
Indonesia
i à o g n ế t h n i K
0
2
4
6
8
0
2
4
6
8
10
12
2015e
2014
2013
2012
2011
2010
2014
2013
2012
2011
một số quốc gia trong khu vực kinh tế
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Nguồn: Thống kê tài chính quốc tế
Tuy tỷ lệ lạm phát cao vào cuối năm 2007 và nửa đầu năm 2008 đã được kiềm
chế thành công nhờ thực hiện quyết liệt Nghị quyết số 10/NQ-CP về các biện pháp
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền
vững, nhưng đây là một sự cảnh báo đối với tư duy tăng trưởng kinh tế theo chiều
rộng, dựa chủ yếu vào đầu tư của nền kinh tế Việt Nam. Thực vậy, chậm trễ trong việc
nhận thức sự cần thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng từ phía Nhà nước lẫn hệ
thống doanh nghiệp cùng với mong muốn lấy lại đà tăng trưởng kinh tế sau suy thoái
kinh tế năm 2008 đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam phải trả giá “khá đắt” trong giai
đoạn từ năm 2011 cho tới nay [1]. Chính sách kích thích kinh tế (hỗ trợ lãi suất, tăng
57
đầu tư công, giảm thuế) lên tới 8% GDP được thực hiện từ năm 2009 chỉ đem lại sự
phục hồi trong ngắn hạn, che giấu đi những tồn tại trong chất lượng tăng trưởng kinh
tế. Nói một cách khác, các chính sách vĩ mô này (thực hiện theo Nghị quyết số 01/NQ-
CP năm 2009 và Nghị quyết số 03/NQ-CP năm 2010) mang nhiều tính tạm thời nhằm
đối phó với diễn biến khó khăn trước mắt mà chưa giải quyết được những điểm yếu cố
hữu của nền kinh tế.
Lúc này, bất ổn kinh tế vĩ mô tiếp tục được tích lũy, xuất phát từ bốn mất cân
đối kinh tế vĩ mô cơ bản là mất cân đối giữa đầu tư - tiết kiệm, giữa thu - chi ngân
sách, giữa xuất khẩu - nhập khẩu, và giữa cung tiền - cầu tiền.
Thứ nhất, việc cố gắng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế qua việc gia tăng vốn đầu
tư khiến cho mất cân đối giữa tiết kiệm - đầu tư lẫn gánh nặng nợ của nền kinh tế ngày
càng gia tăng [15]. Chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa huy động vốn và sử dụng
vốn trên thị trường tiền tệ - tín dụng và thị trường chứng khoán đã tạo ra áp lực lên mặt
bằng lãi suất trong nền kinh tế và làm gia tăng gánh nặng nợ lên khu vực tư nhân lẫn
Nhà nước (mặt bằng lãi suất giai đoạn 2008 - 2015 luôn cao hơn mặt bằng lãi suất giai
đoạn 2005 - 2007 bất kể tốc độ tăng trưởng cung tiền cao hay thấp). Bất ổn kinh tế vĩ
mô, lạm phát biến động thất thường và thiếu vắng một thị trường vốn trung dài hạn là
các tác nhân đóng góp vào sự gia tăng trong mặt bằng lãi suất bên cạnh áp lực từ
chênh lệch đầu tư - tiết kiệm.
Thứ hai, không chỉ có tín dụng đối với khu vực tư nhân gia tăng nhanh chóng
mà nợ công, nợ của Chính phủ và nợ nước ngoài đều gia tăng mạnh từ năm 2009 trở
lại đây. Mặc dù nợ công chưa vượt ngưỡng an toàn nhưng rủi ro tiềm ẩn từ những
khoản nợ của khu vực DNNN không có khả năng chi trả mà phải dùng NSNN trả thay
là rất đáng lo ngại. Hơn nữa, việc chưa có một chiến lược quản lý nợ công, đặc biệt là
kiểm soát nợ công ở mức an toàn và sử dụng hiệu quả nợ công là một vấn đề đáng
quan ngại cho nền kinh tế trong tương lai [15].
Thứ ba, hoạt động ngoại thương sau giai đoạn xuất siêu 3 năm liền 2012 – 2014
đã quay trở lại nhập siêu 3,2 tỷ USD vào năm 2015, tạo áp lực lên tỷ giá. Xuất khẩu
tiếp tục gia tăng với tỷ lệ xuất khẩu/GDP không ngừng tăng nhưng hiệu quả mang lại
cho nền kinh tế là chưa cao. Giá trị gia tăng hàng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài thấp do chủ yếu là hàng gia công trong khi khu vực trong nước vẫn nhập
siêu mạnh, cho thấy sự phụ thuộc vào thị trường nước ngoài của sản xuất và tiêu dùng
trong nước (tỷ lệ nội địa hóa thấp). Ngoài ra, cơ cấu ngoại thương phân theo thành
phần kinh tế cho thấy khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tới 61% và 56% kim
ngạch xuất khẩu và nhập khẩu, chủ yếu dựa vào nhập khẩu nguyên nhiên liệu để thực
hiện gia công với hàm lượng gia tăng thấp. Ngành công nghiệp phụ trợ kém phát triển
58
là lực cản lớn đối với việc nâng cao chất lượng xuất khẩu (hạn chế việc doanh nghiệp
nước ngoài đầu tư và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam).
Thứ tư, mất cân đối cung tiền - cầu tiền và sự dư thừa tín dụng làm trầm trọng
hơn thực trạng nguồn vốn được phân bổ thiếu hiệu quả, năng lực sản xuất và khả năng
cạnh tranh không được cải thiện làm khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp suy
giảm. Trong khi đó, những yếu kém của hệ thống tài chính về sở hữu, quy mô, cơ cấu
tín dụng, mức độ an toàn vốn, chất lượng tài sản, và mất cân đối về kỳ hạn, tiền tệ
trong bảng cân đối tài sản lại không được xử lý mà chỉ che giấu tạm thời thông qua mở
rộng tín dụng và TTS. Kiểm soát cung tiền thiếu hiệu quả dẫn tới hệ quả lạm phát gia
tăng (năm 2008 và 2011) và niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ bị suy giảm. Sự
mất giá của đồng nội tệ kéo theo tình trạng đô la hóa và vàng hóa nền kinh tế, gây ra
những biến động phức tạp, tiềm ẩn những bất ổn đối với hệ thống tài chính và nền
kinh tế. Diễn biến thị trường nội tệ bị ảnh hưởng bởi từ sự bất ổn trong thị trường
ngoại tệ và vàng, đặc biệt là khi xảy ra tình trạng đầu cơ ồ ạt của công chúng vào ngoại
tệ và vàng. Sự liên thông này đã khiến cho mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế thiếu đi
sự ổn định trong cả ngắn hạn lẫn trung dài hạn, ảnh hưởng không tốt tới nhu cầu đầu
tư của nền kinh tế. Khả năng kiểm soát thị trường tiền tệ của NHNN cũng bị ảnh
hưởng đáng kể [3].
Hệ lụy của sai lầm về mặt chính sách (ở cả cấp độ điều hành vĩ mô của Nhà
nước lẫn cấp độ quản trị doanh nghiệp) bắt nguồn từ sai lầm trong tư duy kinh tế về
mô hình tăng trưởng là lạm phát tăng, kinh tế suy thoái, hệ thống doanh nghiệp suy
yếu trầm trọng, và hệ thống tài chính đối diện nhiều rủi ro lớn, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn
mang tính hệ thống… Tuy nhiên, có thể khẳng định, những yếu kém này, không phải
chỉ hình thành từ năm 2009 cho tới nay, mà đã xuất hiện từ giai đoạn trước đó và chỉ
bộc lộ rõ rệt khi tất cả những yếu kém trong nền kinh tế cùng xuất hiện. Báo cáo Đánh
giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 và
phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020 đã nhận định
“việc kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế chưa thực sự bền
vững… bội chi ngân sách còn cao… đóng góp của khu vực kinh tế trong nước vào
tăng truơngr xuất khẩu thấp… chất lượng tín dụng chưa cao… thị trường vốn, chứng
khoán, bất động sản phát triển chưa đồng bộ, phục hồi chậm và còn tiềm ẩn rủi ro”.
Hệ quả của những yếu kém kể trên là ngoại trừ sự phục hồi nhẹ nhờ chính sách
kích cầu của Chính phủ năm 2009 và 2010, nền kinh tế Việt Nam vẫn nằm trong xu
thế suy giảm kể từ năm 2008 cho tới nay. Kể từ sau giai đoạn 2005 - 2007 với mức
tăng trưởng bình quân gần 7,2%/năm (theo giá so sánh 2010) thì cho tới năm 2014,
chưa năm nào tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức trên 6,5%/năm. Trong khi đó, kinh tế
59
các nước trên thế giới, khu vực các nền kinh tế mới nổi tại châu Á, và các quốc gia
trong khu vực ASEAN đều chứng kiến sự phục hồi nhất định (xem hình 2.4). Báo cáo
“Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 và
phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020” đã nhận định
“kinh tế phục hồi còn chậm, tăng trưởng chưa đạt chỉ tiêu đề ra; chất lượng tăng
trưởng một số mặt còn thấp. Khoảng cách phát triển so với các nước trong khu vực
còn lớn… Chất lượng tăng trưởng một số mặt còn thấp, cải thiện còn chậm; công nghệ
sản xuất phần lớn còn lạc hậu. Đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) vào
tăng trưởng còn hạn chế, hệ số sử dụng vốn (ICOR) còn cao. Năng lực cạnh tranh
quốc gia chưa được cải thiện nhiều, nhất là về thể chế kinh tế, kết cấu hạ tầng và đổi
mới công nghệ”.
15%
10%
5%
0%
.
.
.
a n i h C
d l r o W
a i s y a l a
m a n t e i V
d n a l i a h T
M
a i s e n o d n I
r a m n a y M
a i d o b m a C
5 - N A E S A
R D P o a L
s e n i p p i l i h P
a i s A v e d & e m E
Trong khủng hoảng (2008 - 2011)
Trước kh ủng hoảng (2001 - 2007) Sau khủng hoảng (2012 - 2015)
Hình 2.4: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, một số nước trong khu vực, khu vực ASEAN - 51 và thế giới
Nguồn: World Economic Outlook, IMF
Rõ ràng, sự suy giảm kinh tế của Việt Nam không còn là nguyên nhân từ phía
bên ngoài mà nằm chủ yếu từ những yếu kém, bất ổn bên trong nền kinh tế. Tăng
trưởng GDP vẫn theo xu hướng quý sau cao hơn quý trước nhưng mức tăng trưởng
này vẫn thấp hơn so với kế hoạch được Chính phủ và Quốc hội thông qua, đặc biệt là
việc đạt được kế hoạch tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015. Đáng lo ngại hơn
cả là giai đoạn trì trệ này đã kéo dài được hơn 3 năm, kể từ quý 3 năm 2011 cho tới
năm 2014, cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi vùng đáy của đồ thị
tăng trưởng chậm chập. Thực trạng này phản ánh những nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế,
tìm kiếm lại thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ như trước đây chỉ có tác dụng trong ngắn
hạn chứ chưa tạo ra những bước tiến có tính chất đột phá. Báo cáo “Đánh giá kết quả
1 ASEAN - 5 gồm 5 quốc gia: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thailand, và Vietnam.
thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 và phương hướng
60
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020” đã nhận định “thực hiện cơ
cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm. Mô hình tăng
trưởng còn chưa đủ rõ. Phát triển kinh tế phụ thuộc nhiều vào vốn, tài nguyên, lao
động trình độ thấp”.
b/ Những thay đổi trong điều hành chính sách kinh tế của Việt Nam
Nhận thức được sự cần thiết phải đổi mới về tư duy kinh tế, về mô hình tăng
trưởng (thay vì chỉ giải quyết về mặt hiện tượng như đã làm đối với giai đoạn trước) đã
được các cấp chính trị và toàn thể xã hội đồng thuận thực hiện. Từ năm 2011 cho tới
nay, thay đổi về tư duy điều hành chính sách đã được thể hiện rõ trong các mục tiêu tại
Nghị quyết của Chính phủ như từ mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô đã
được nhận diện là mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách (Nghị quyết số 11/NQ-CP
năm 2011); chuyển sang ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng
trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế…
(Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2012); và tiếp tục khẳng định tăng cường ổn định kinh tế
vĩ mô… đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển
đổi mô hình tăng trưởng (Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2013); tiếp tục ổn định kinh tế
vĩ mô, kiểm soát lạm phát; tăng trưởng hợp lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức
cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với
đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế (Nghị quyết số 01/NQ-CP năm
2014); tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản
xuất, kinh doanh. Thực hiện mạnh mẽ các đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế gắn
với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh, phấn
đấu tăng trưởng cao hơn năm 2014 (Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2015).
Dù vậy, những sai lầm về mặt chính sách (và quá trình nhận thức chưa kịp thời)
cùng với khó khăn từ bên ngoài (suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu, khủng hoảng
nợ công tại Châu Âu, và sự tăng trưởng chậm lại của những đầu tàu kinh tế tại Châu
Á) đã khiến hệ thống doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung phải
hứng chịu những hệ lụy không mong đợi. Sự chấp nhận đánh đổi giữa kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải thực hiện các giải pháp
mang tính “sốc” đối với hệ thống doanh nghiệp và hệ thống tài chính [7]. CSTT thắt
chặt nhằm kiềm chế lạm phát đã gây nên căng thẳng thanh khoản tại các NHTM, dẫn
tới sự ngưng trệ nguồn vốn tín dụng cấp cho hệ thống doanh nghiệp. Nguồn vốn tín
dụng bị hạn chế, lãi vay tăng cao trong khi các chủ thể kinh tế điều chỉnh lại hành vi
đầu tư và tiêu dùng (kết quả của suy giảm kinh tế, triển vọng kinh tế tiêu cực, và thay
đổi về tư duy) đã khiến cho hệ thống doanh nghiệp phải đối mặt với khó khăn kép
(nguồn vốn đầu vào và khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra).
61
Đổi mới mô hình tăng trưởng được hiểu là quá trình chuyển đổi từ mô hình tăng
trưởng dựa chủ yếu theo chiều rộng sang mô hình tăng trưởng dựa vào chiều sâu trên
cơ sở nâng cao hiệu quả tăng trưởng. Điều này đòi hỏi cần phải có giải pháp nâng cao
hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực theo hướng tập trung vào khoa học - công
nghệ và nguồn lao động có chất lượng cao. Muốn vậy, tái cơ cấu nền kinh tế là nhiệm
vụ thiết yếu để nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực trong nền
kinh tế. Trên cơ sở đó, quá trình thực hiện tái cấu trúc kinh tế Việt Nam bao gồm ba
trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công dựa trên Chỉ thị 1792/CT-TTg về tăng cường quản
lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ, tái cơ cấu hệ thống
TCTD theo Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015, và
tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước theo Đề án Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước
trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 - 2015. Đây là
những quyết sách đúng đắn mà Đảng, Nhà nước và toàn thể xã hội đã lựa chọn, hướng
tới một nền kinh tế phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội.
Tuy vậy, quá trình tái cơ cấu mới chỉ đem lại những kết quả bước đầu, chưa
thực sự có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, đồng thời nó đòi hỏi cần có thời gian và nguồn
lực để xử lý dứt điểm những yếu kém, vốn dĩ là hệ lụy để lại của giai đoạn trước. Thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn vướng mắc, chưa thực sự
trở thành động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội. Mặc dù vậy, quan điểm về
tăng trưởng chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, tập trung vào nâng cao hiệu
quả sử dụng nguồn lực là quan điểm đúng đắn đối với mục tiêu phát triển bền vững
nền kinh tế. Quyết định số 339/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án
tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng
cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020” một lần nữa
khẳng định quyết tâm của các cấp chính trị và toàn thể xã hội trong công cuộc cải cách
căn bản nền kinh tế Việt Nam. Báo cáo “Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội 5 năm 2016 – 2020” đã nhận định mục tiêu tổng quát là “Đẩy mạnh thực hiện
các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng,
nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh” và đề ra các nhiệm vụ và giải pháp
chủ yếu “Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển nhanh, bền vững trong
điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Kết hợp hiệu quả
phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, tăng cường ứng
dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong
và ngoài nước, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh
tranh… Tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả Đề án tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế và
62
cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực… Kết hợp hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu,
chú trọng phát triển chiều sâu, tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, huy
động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước, không ngừng nâng cao
năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh… Tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu
quả Đề án tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế và cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực”..
2.1.1.2. Những vấn đề đặt ra đối với điều hành chính sách tiền tệ
Trên cơ sở phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam và các mục tiêu kinh tế -
xã hội do Chính phủ đề ra, một số yêu cầu cấp bách đối với công tác điều hành CSTT
của NHNN trong giai đoạn 2011 - 2015 bao gồm:
Thứ nhất, về định hướng điều hành và mục tiêu cuối cùng của CSTT, công tác
điều hành CSTT của NHNN phải hướng tới mục tiêu kiềm soát lạm phát ở mức hợp lý
và ổn định, tạo dựng nền tảng quan trọng cho ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện nâng
cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn vốn trong nền kinh tế. Điều này đòi hỏi tỷ lệ
lạm phát thấp phải được duy trì không chỉ trong ngắn hạn mà trong cả trung và dài
hạn, khắc phục triệt để tình trạng theo đuổi mục tiêu ngắn hạn như tăng trưởng kinh tế
và bỏ rơi mục tiêu dài hạn.
Thứ hai, về lựa chọn mục tiêu trung gian của CSTT, kinh nghiệm quốc tế và
thực tiễn điều hành tại Việt Nam cho thấy cung tiền và tín dụng chưa hẳn là mục tiêu
cần đạt được khi muốn kiểm soát lạm phát. Hơn nữa, việc đặt ra mục tiêu tăng trưởng
tín dụng hàng năm, và cố gắng đạt được mục tiêu này, tự bản thân nó đã tạo áp lực
không nhỏ lên điều hành CSTT của NHNN nói riêng và toàn hệ thống ngân hàng nói
chung trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế (tín dụng là kênh cung ứng vốn chủ
yếu). Khi diễn biến lạm phát đi vào ổn định, việc lựa chọn lãi suất làm mục tiêu trung
gian trong điều hành CSTT là một gợi ý cần được xem xét áp dụng. Tiến tới, NHNN
cần xóa bỏ các biện pháp hành chính về lãi suất để tiến tới kiểm soát hoàn toàn theo
giá, hoàn thiện công cụ lãi suất chỉ đạo của NHNN và hình thành lãi suất chuẩn của
Việt Nam.
Thứ ba, về sử dụng các công cụ của CSTT, NHNN cần chủ động, linh hoạt, và
kịp thời trong việc sử dụng, phối hợp các công cụ, đặc biệt là các loại lãi suất và điều
tiết lượng tiền cung ứng. Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô biến động, hệ thống tài chính
tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường, việc sử dụng các công cụ mang tính chất hành chính là
cần thiết nhằm bảo đảm sự kịp thời và mức độ hiệu quả. Ngoài ra, NHNN cần phối
hợp hiệu quả giữa các hoạt động nghiệp vụ thị trường mở, thị trường ngoại tệ và vàng
để điều tiết lượng tiền cung ứng hợp lý trong bối cảnh cùng một lúc phải thực hiện
nhiều mục tiêu (gia tăng dự trữ ngoại hối bảo đảm thanh khoản hệ thống, kiểm soát
lạm phát). Tuy nhiên, để hạn chế dần và tiến tới loại bỏ các công cụ có tính hành
63
chính, trực tiếp cao, các công cụ có tính chất thị trường và điều kiện để áp dụng các
công cụ này cần được triển khai từ sớm.
Thứ tư, về định hướng tín dụng, cần hướng đến chất lượng và tập trung vào các
lĩnh vực ưu tiên của Nhà nước, gắn với mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế. NHNN cần
triển khai chính sách nhằm tạo điều kiện, hỗ trợ các NHTM mở rộng tín dụng có hiệu
quả, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn tiêu dùng thiết yếu và
bảo đảm an sinh xã hội. Ngoài ra, toàn ngành ngân hàng phải chuyển dịch cơ cấu tín
dụng theo hướng ưu tiên tập trung vốn hỗ trợ cho các lĩnh vực như nông nghiệp nông
thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DNNVV, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao,
doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động và các dự án có hiệu quả, giảm tỷ trọng dư nợ
cho vay đối với các lĩnh vực không khuyến khích…
Thứ năm, về xây dựng môi trường cho vận hành CSTT, NHNN cần tập trung
xử lý đồng bộ và triệt để bốn vấn đề lớn nhằm bảo đảm hiệu quả cho việc sử dụng các
công cụ CSTT tác động tới nền kinh tế.
Giảm quy mô thị trường nợ ngoại tệ, giảm thiểu tình trạng đô la hóa trong
nền kinh tế.
Tăng cường quản lý thị trường vàng, giảm tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế.
Đẩy nhanh tiến trình cơ cấu lại và lành mạnh hóa hệ thống TCTD nhằm hỗ
trợ việc thực thi hiệu quả CSTT.
Giải quyết các vấn đề của TTLNH nhằm tăng cường khả năng truyền tải
những thay đổi trong điều hành CSTT của NHNN tới mặt bằng lãi suất và lượng cung
ứng tín dụng đối với nền kinh tế.
Thứ sáu, về ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng thông qua hoạt
động thanh tra giám sát, NHNN cần tăng cường công tác thanh tra, giám sát thị
trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ tình hình hoạt động của
các TCTD nhằm phát hiện kịp thời, và triển khai các biện pháp xử lý nghiêm những
sai phạm. Việc một số TCTD vi phạm các quy định trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng
đã làm giảm đi mức độ kỷ cương của thị trường tiền tệ - tài chính và cũng đồng thời
làm giảm hiệu quả điều hành CSTT của NHNN [6]. Theo đó, NHNN cần đổi mới,
kiện toàn mô hình tổ chức và hoạt động của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng;
đổi mới nội dung, phương pháp thanh tra, giám sát ngân hàng phù hợp với thực tiễn
như phát triển hệ thống giám sát theo tiêu chuẩn CAMELS, hệ thống đánh giá rủi ro
đối với tổ chức tín dụng và cảnh báo sớm trong hoạt động ngân hàng, hoàn thiện
khung pháp lý về các quy định về an toàn vốn theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực an
toàn vốn theo Basel II.
64
Thứ bảy, tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước trong
điều hành chính sách vĩ mô, đặc biệt là Bộ Tài chính trong điều hành CSTK. Mặc dù
có sự khác biệt về phạm vi điều chỉnh, cơ chế truyền tải, và các công cụ điều hành,
CSTT và CSTK có sự liên hệ mật thiết với nhau. Yêu cầu phối hợp chính sách được
đặt ra do các công cụ chính sách riêng lẻ thường có tác động đến nhiều hơn một mục
tiêu chính sách và các công cụ chính sách riêng lẻ có thể giúp đạt được một mục tiêu
chính sách nhất định nhưng cũng có thể sẽ ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu
chính sách khác. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, NHNN cùng với các cơ quan quản lý
Nhà nước cần xây dựng một khuôn khổ phối hợp công tác, trao đổi thông tin và điều
hành chính sách hợp lý (về cả thời điểm lẫn liều lượng), tạo lập một hệ thống các mục
tiêu trong trung và dài hạn trên cơ sở các mục tiêu do Quốc hội và Chính phủ đặt ra…
Thứ tám, tăng cường công tác thông tin, truyền thông về các quy định của pháp
luật, các chủ trương và giải pháp điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng tới mọi tầng
lớp công chúng, để doanh nghiệp và người dân hiểu, thực hiện đúng các quy định của
cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
Thứ chín, về hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, NHNN giữ vai
trò định hướng, cùng với nỗ lực của toàn thể ngành ngân hàng trong việc củng cố vững
chắc mối quan hệ với các NHTW trên thế giới, các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế
cũng như thực hiện theo các lộ trình và bước đi phù hợp trong khuôn khổ hợp tác khu
vực và quốc tế theo cam kết. NHNN cũng cần xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính hiện
đại, đáp ứng yêu cầu tài chính toàn diện có chất lượng cho nền kinh tế và khuyến
khích hệ thống TCTD phát triển dịch vụ ngân hàng đa dạng có hàm lượng tri thức và
công nghệ cao.
2.1.2. Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
2.1.2.1. Hoàn thiện khung chính sách tiền tệ
Khung chính sách tiền tệ của NHTW phản ánh việc lựa chọn các mục tiêu của
CSTT và sử dụng các công cụ để đạt được các mục tiêu đó. Giai đoạn 2011 - 2015
đánh dấu những thay đổi đáng kể trong khung CSTT của NHNN.
a/ Lựa chọn mục tiêu của chính sách tiền tệ
Về mục tiêu cuối cùng: kiên trì thực hiện chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô
Nhận thức được những tồn tại của CSTT đa mục tiêu và việc đảo chiều CSTT
liên tục trong giai đoạn trước đây, kể từ năm 2012 trở lại đây, NHNN đã lựa chọn mục
tiêu kiềm chế, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô là mục tiêu xuyên suốt, chủ
đạo cho điều hành CSTT quốc gia. Trước áp lực hạ mặt bằng lãi suất, mở rộng cung
65
tiền và tín dụng từ nhiều phía để thúc đẩy kinh tế Việt Nam thoát khỏi tình trạng suy
giảm, NHNN vẫn định hướng điều hành CSTT chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt hướng
tới mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền. Các mục tiêu trong từng Chỉ thị của NHNN đều
bám sát các Nghị quyết về phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, tập trung vào kiềm
chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và xem xét tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh
doanh, hỗ trợ thị trường, góp phần tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý (xem bảng 2.1).
Bảng 2.1: Mục tiêu và thực hiện chỉ tiêu lạm phát
Đơn vị: %/năm
và tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Tỷ lệ lạm phát
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Năm
Mục tiêu
Thực hiện Mục tiêu
Thực hiện
2005
6,5
8,4
8,5
8,4
2006
< GDP
6,6
8
8,17
2007
< GDP
12,63
8,2 – 8,5
8,48
2008
< GDP
22,97
7
6,23
2009
< 15%
6,88
6,5
5,32
2010
<7%
11,75
7-7,5
6,78
2011
<7%
18,52
7-7,6
5,9
2012
<10
6,81
6-6,5
5,03
2013
6-6,5
6,6
5,5
5,42
2014
7
1,84
5,8
5,89
2015
5
0,63
6,2
6,89
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Điểm đổi mới có thể nhận thấy là khác với tư duy ưu tiên tăng trưởng kinh tế
trong giai đoạn trước, từ năm 2011 - 2015, NHNN luôn thể hiện rõ cam kết duy trì lạm
phát thấp không chỉ trong ngắn hạn mà còn cho thấy mục tiêu duy trì lạm phát ổn định
trong cả trung và dài hạn (mục tiêu “góp phần tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý” được
đưa xuống sau cùng). Chấp nhận “đánh đổi” mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao nhằm
bám sát mục tiêu kiểm soát lạm phát, hạn chế tối đa tình trạng lạm phát biến động thất
thường (có giai đoạn vượt quá, có giai đoạn thấp hơn mục tiêu đề ra). Diễn biến tăng
trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát của Việt Nam từ năm 2001 đã dịch chuyển từ vị trí
“tăng trưởng khá, lạm phát thấp” lên mức “tăng trưởng cao, lạm phát vừa phải”, rồi
dịch chuyển sang vị trí “tăng trưởng khá, lạm phát cao”, và tới giai đoạn hiện nay là
“tăng trưởng thấp, lạm phát thấp” (xem hình 2.5). Giai đoạn ba năm trở lại đây (2013 –
2015) cho thấy sự ổn định tương đối của nền kinh tế, là điều kiện để tích lũy các yếu tố
cần thiết cho giai đoạn phục hồi sau này.
66
25%
20%
Hình 2.5: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát Việt Nam
2008
2011
15%
10%
5%
2015
0%
-5%
4%
6%
8%
10%
2003 2008 2013
2002 2007 2012
2001 2006 2011
2004 2009 2014
2005 2010 2015
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trước những khó khăn mà hệ thống doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam phải
đối mặt, NHNN cũng đã triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt
động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Mục tiêu này hoàn toàn phù hợp với mục
tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô vì kiểm soát tốt lạm phát không chỉ
được thể hiện ở tỷ lệ lạm phát thấp mà còn hạn chế tình trạng thiểu phát và thậm chí là
giảm phát. Hơn nữa, ổn định kinh tế vĩ mô đòi hỏi sự cải thiện, phục hồi từ chính hệ
thống doanh nghiệp đang gặp phải khó khăn, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng,
thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế nhằm củng cố nền tảng cho tăng trưởng bền vững
trong tương lai. Việc lựa chọn được mục tiêu cuối cùng phù hợp với bối cảnh kinh tế
vĩ mô là tiền đề quan trọng cho việc triển khai lựa chọn các mục tiêu trung gian, hoạt
động cũng như sử dụng các công cụ CSTT của NHNN.
Về mục tiêu trung gian: kiểm soát chặt chẽ lượng cung ứng tiền tệ, dần hướng
vào mục tiêu lãi suất thị trường, phù hợp với diễn biến lạm phát, thị trường tiền tệ và
góp phần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
NHNN đã kiểm soát tổng phương tiện thanh toán và tín dụng chặt chẽ hơn so
với giai đoạn trước nhằm kiểm soát lạm phát. Điểm đáng chú ý là khác với việc lựa
chọn mục tiêu trung gian là tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tốc độ
tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn trước, trong giai đoạn 2011 - 2015, NHNN đã có
những bước chuyển dịch dần sang mục tiêu lãi suất thị trường. Mặc dù tốc độ tăng
trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng vẫn được đưa ra trong Chỉ thị điều
hành CSTT hàng năm nhưng thực tế điều hành cho thấy các chỉ tiêu này thường xuyên
được điều chỉnh cho phù hợp với khả năng của hệ thống TCTD và nền kinh tế.
67
Hình 2.6: Chênh lệch giữa kế hoạch và thực hiện chỉ tiêu
2015 2014 2013 2012 2011 2010 2009 2008 2007 2006 2005 2004 2003 2002 2001
-20%
-10%
0%
10%
20%
30%
40%
Chênh lệch lạm phát Chênh lệch tín dụng Chênh lệch cung tiền
lạm phát, tín dụng, và cung tiền
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước
Tăng trưởng cung tiền và tín dụng kể từ năm 2012 trở lại đây đã thấp và ổn định
hơn nhiều so với giai đoạn trước, cùng với mức độ chênh lệch giữa kế hoạch và thực
hiện cũng giảm xuống đáng kể (xem hình 2.6). Trong khi đó, các mục tiêu mà NHNN
đưa ra vào đầu các năm về điều hành mặt bằng lãi suất về mức hợp lý đều được yêu
cầu triển khai quyết liệt và đạt được mục tiêu đề ra. Để đạt mục tiêu này, NHNN đã sử
dụng đồng bộ nhiều công cụ như lãi suất điều hành, tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc, mua
bán ngoại tệ… nhưng chủ đạo nhất vẫn là vận dụng linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở
để điều chỉnh lãi suất giảm theo đúng mục tiêu của CSTT. Việc hướng vào mục tiêu
lãi suất thị trường, dần theo cho mục tiêu mức cung ứng tiền và tín dụng, là phù hợp
khi nhìn vào mối quan hệ giữa mức cung tiền, dư nợ tín dụng và lạm phát trong những
một giai đoạn dài.
Lạm phát biến động thất thường, là hệ quả của việc kiểm soát chưa tốt cung tiền
và tín dụng đã tạo ra áp lực cao cho công tác điều hành CSTT vào thời điểm sau đó
[7]. Yêu cầu của mục tiêu kiềm chế lạm phát hoặc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thường
đòi hỏi hai chỉ tiêu tiền tệ này phải đảo chiều với liều lượng mạnh. Tuy nhiên, từ sau
năm 2011, việc điều hành thận trọng và linh hoạt chỉ tiêu cung tiền và tín dụng, dần
chuyển sang chỉ tiêu lãi suất thị trường đã cho thấy hiệu quả của nó trong việc kiềm
chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.
Về mục tiêu hoạt động: kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cơ sở thông qua nghiệp
vụ thị trường mở và tái cấp vốn
NHNN lựa chọn chỉ tiêu hoạt động là lượng tiền cơ sở để kết nối giữa các công
cụ của CSTT với mục tiêu trung gian. Từ năm 2011 cho tới nay, mối quan hệ giữa
tăng trưởng tiền cơ sở và tăng trưởng cung tiền là tương đối ổn định so với giai đoạn
68
trước. Điều này xuất phát nhiều từ sự ổn định của diễn biến lượng tiền cơ sở thông qua
việc điều hành thận trọng, linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở và tái cấp vốn của
NHNN. Kết quả là sau giai đoạn biến động mạnh từ giữa năm 2010 tới giữa năm 2011,
hệ số nhân tiền đã đi vào trạng thái ổn định tương đối cho tới nay (xem hình 2.7).
70%
60%
50%
40%
30%
20%
10%
0%
-10%
-20%
7.0 6.5 6.0 5.5 5.0 4.5 4.0 3.5 3.0 2.5 2.0
r a
r a
l u J 5 0 0 2
l u J 2 1 0 2
n a J 2 0 0 2
n a J 9 0 0 2
n u J 8 0 0 2
t c O 0 1 0 2
t c O 3 0 0 2
b e F 6 0 0 2
p e S 6 0 0 2
b e F 3 1 0 2
p e S 3 1 0 2
r p A 7 0 0 2
r p A 4 1 0 2
c e D 4 0 0 2
c e D 1 1 0 2
M 3 0 0 2
M 0 1 0 2
g u A 2 0 0 2
v o N 7 0 0 2
g u A 9 0 0 2
v o N 4 1 0 2
y a M 4 0 0 2
y a M 1 1 0 2
Tăng trưởng tiền cơ sở
Tăng trưởng cung tiền
Hệ số nhân tiền
Hình 2.7: Tăng trưởng tiền cơ sở, cung tiền, và hệ số nhân tiền
Nguồn: Thống kê tài chính quốc tế
Mặc dù NHNN lựa chọn mục tiêu hoạt động là lượng tiền cơ sở nhưng từ giữa
năm 2011 diễn biến lãi suất cho thấy tồn tại một mỗi quan hệ khá rõ ràng giữa lãi suất
TTLNH và mặt bằng lãi suất của các TCTD. Trong khi lượng tiền cơ sở dù tăng
trưởng ổn định, vai trò định hướng của lãi suất TTLNH (đặc biệt là các loại lãi suất
ngắn hạn) đối với lãi suất huy động và cho vay của các TCTD cho thấy một xu thế
dịch chuyển dần sang lựa chọn mục tiêu hoạt động là lãi suất TTLNH (xem hình 2.8).
Hình 2.8: Lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất huy động, và cho vay
Đơn vị: %
Nguồn: Stoxplus
69
Điều này là hoàn toàn phù hợp khi mà có những thời điểm NHNN đã mua vào
một lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối, đòi hỏi triển khai các biện pháp can
thiệp trung hòa thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Trong bối cảnh hệ số nhân tiền gia
tăng và NHNN có xu hướng tiếp tục lựa chọn chế độ tỷ giá tương đối cứng nhắc như
trong giai đoạn 2012 – 2014 và nửa đầu năm 2015, và hướng tới phát triển thị trường
TTLNH, hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở… thì việc chuyển sang một mục tiêu
hoạt động mới là lãi suất TTLNH là một lựa chọn đúng đắn, phù hợp với thực tiễn.
Tựu chung lại, đã có những thay đổi đáng kể trong định hướng điều hành CSTT
của NHNN kể từ năm 2011 cho tới nay. Ưu tiên kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô là lựa chọn hàng đầu của NHNN trong bối cảnh kinh tế Việt Nam trong giai đoạn
suy thoái và đòi hỏi thực hiện những biện pháp tái cấu trúc nền kinh tế. Việc lựa chọn
các mục tiêu trung gian và hoạt động cũng cho thấy xu thế thay đổi, dù cho thực sự rõ
rệt khi các điều kiện vận dụng chưa hội tụ đủ, nhưng đã hướng vào các chuẩn mực
quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu cho NHNN cần phải vận dụng linh hoạt, đồng bộ và
hiệu quả các công cụ CSTT.
b/ Điều hành công cụ chính sách tiền tệ
Bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ và hướng tới thực hiện các mục tiêu
CSTT, NHNN đã chủ động điều hành các công cụ CSTT nhằm ổn định thị trường tiền
tệ, bảo đảm thanh khoản của các TCTD, kiểm soát tốt các mục tiêu trung gian. Hệ
thống các công cụ mà NHNN đã sử dụng trong giai đoạn này bao gồm: điều hành các
mức lãi suất chỉ đạo, quy định trần lãi suất huy động và cho vay các lĩnh vực ưu tiên,
điều hành nghiệp vụ thị trường mở, thực hiện cho vay tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc,
giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, tỷ giá hối đoái…
Về điều hành các mức lãi suất chỉ đạo: NHNN điều chỉnh tăng, giảm các mức
lãi suất điều hành phù hợp với thực trạng và dự báo tình hình kinh tế vĩ mô và thị
trường tiền tệ
Trong năm 2011, trước diễn biến lạm phát tăng cao, NHNN đã điều chỉnh linh
hoạt các mức lãi suất điều hành theo hướng tăng dần. Cụ thể, trong vòng 3 tháng từ
tháng 2/2011 đến tháng 4/2011, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm trong
thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng từ 9 - 12 - 13 - 14%/năm, lãi suất tái chiết khấu
tăng từ 7 - 12 - 13%/năm. Trong tháng 10/2011, NHNN một lần nữa điều chỉnh tăng
lãi suất tái cấp vốn từ 14%/năm lên 15%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh
toán điện tử liên ngân hàng từ 14%/năm lên 16%/năm.
Kể từ năm 2012 cho tới nay, lạm phát giảm nhanh và khá bền vững, hệ thống
doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn, NHNN đã điều chỉnh giảm mạnh các
lãi suất điều hành nhằm định hướng và tạo điều kiện giảm lãi suất huy động, cho vay
70
của các TCTD đối với khách hàng. Thời điểm giảm nhanh các lãi suất điều hành từ
tháng 3/2012 cho tới tháng 7/2012 là do lạm phát giảm nhanh và nền kinh tế có dấu
hiệu giảm phát khi CPI tháng 6 và tháng 7/2012 giảm so với tháng trước.
Quan điểm thận trọng tiếp tục được NHNN duy trì trong những năm 2013 -
2015 do mặt bằng lãi suất đã được đưa về mặt bằng phù hợp với thực trạng kinh tế vĩ
mô. Trong cả năm 2013, lãi suất điều hành được điều chỉnh hai lần, mỗi lần giảm 100
điểm phần trăm, đưa lãi suất tái chiết khấu về mức 5%/năm và lãi suất tái cấp vốn về
mức 7%/năm (từ thời điểm 13/05/2013). Từ ngày 18/03/2014, NHNN đã chủ động
điều chỉnh giảm tiếp 0,5% các mức lãi suất điều hành và giữ nguyên cho tới hết năm
2015. Việc điều chỉnh kịp thời và hợp lý lãi suất điều hành (xem hình 2.9) không chỉ
đưa ra những định hướng CSTT mà còn tạo điều kiện cho hệ thống TCTD đưa các
mức lãi suất huy động và cho vay về mức hợp lý.
Hình 2.9: Lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu,
25%
20%
15%
10%
5%
0%
3 1 0 2 / 1 / 9
1 1 0 2 / 1 / 1
1 1 0 2 / 1 / 3
1 1 0 2 / 1 / 5
1 1 0 2 / 1 / 7
1 1 0 2 / 1 / 9
2 1 0 2 / 1 / 1
2 1 0 2 / 1 / 3
2 1 0 2 / 1 / 5
2 1 0 2 / 1 / 7
2 1 0 2 / 1 / 9
3 1 0 2 / 1 / 1
3 1 0 2 / 1 / 3
3 1 0 2 / 1 / 5
3 1 0 2 / 1 / 7
4 1 0 2 / 1 / 1
4 1 0 2 / 1 / 3
4 1 0 2 / 1 / 5
4 1 0 2 / 1 / 7
4 1 0 2 / 1 / 9
5 1 0 2 / 1 / 1
5 1 0 2 / 1 / 3
5 1 0 2 / 1 / 5
5 1 0 2 / 1 / 7
5 1 0 2 / 1 / 9
4 1 0 2 / 1 / 1 1
1 1 0 2 / 1 / 1 1
2 1 0 2 / 1 / 1 1
3 1 0 2 / 1 / 1 1
5 1 0 2 / 1 / 1 1
Lạm phát (yoy)
Lãi suất cơ bản
Lãi suất chiết khấu
Lãi suất tái cấp vốn
lãi suất tái cấp vốn và tỷ lệ lạm phát
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục Thống kê
Về quy định trần lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên:
NHNN đã đưa ra những giải pháp điều hành tuân thủ quy định tại Luật Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam và phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ
Từ cuối năm 2010, nhiều TCTD chạy đua tăng lãi suất huy động vốn để giải
quyết khó khăn về thanh khoản và tranh giành thị phần, gây xáo trộn trên thị trường và
làm gia tăng hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống, đẩy mặt bằng lãi
suất cho vay lên mức cao. Trước thực trạng này, NHNN đã lựa chọn giải pháp áp dụng
trần lãi suất huy động, thay vì giải pháp áp dụng trần lãi suất cho vay/hoặc cả trần lãi
suất huy động lẫn cho vay. Ngày 03/03/2011, NHNN đã ban hành Thông tư số
02/2011/TT-NHNN quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng VND; theo
đó, các TCTD ấn định lãi suất huy động vốn bằng VND của các tổ chức (trừ TCTD)
71
và cá nhân bao gồm cả khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức không vượt quá
14%/năm. Mức lãi suất huy động vốn áp dụng đối với với phương thức trả lãi cuối kỳ,
đối với các phương thức trả lãi khác, phải được quy đổi theo phương thức trả lãi cuối
kỳ tương ứng với mức lãi suất huy động vốn tối đa.
Cho tới nay, NHNN đã 11 lần điều chỉnh mức trần lãi suất huy động về cả phạm vi lẫn đối tượng áp dụng, phù hợp với điều kiện thị trường tiền tệ và các mục
tiêu của CSTT. Lãi suất đã giảm từ mức 14%/năm về còn 1% đối với tiền gửi không
kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng, 5,5%/năm đối với tiền gửi từ 1 tháng đến 6 tháng.
Trong đó, có hai lần điều chỉnh đáng chú ý vào tháng 06/2012 và tháng 06/2013 khi
NHNN giảm dần mức độ hành chính trong các quy định về trần lãi suất khi chỉ quy định trần lãi suất đối với các kỳ hạn dưới 12 tháng và dưới 6 tháng (xem phụ lục số 1).
Việc ổn định và giảm dần được mặt bằng lãi suất huy động là cơ sở chắc chắn
cho NHNN điều chỉnh giảm mặt bằng lãi suất cho vay. Nhằm hỗ trợ nền kinh tế đang
phải đối mặt với nhiều khó khăn do sức cầu suy yếu và trên cơ sở lạm phát đã được
kiểm soát tốt, NHNN đã ban hành Thông tư số 14/2012/TT-NHNN quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh
vực, ngành kinh tế. Đối với 04 lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn, phương án,
dự án sản xuất - kinh doanh hàng xuất khẩu, sản xuất - kinh doanh của DNNVV, phát
triển ngành công nghiệp hỗ trợ, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam tối đa
bằng lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên
do NHNN quy định cộng 3%/năm. Tiếp tục hoàn thiện giải pháp này, ngày
21/12/2012, NHNN trực tiếp quy định trần lãi suất cho vay đối với 04 nhóm lĩnh vực
kể trên, bổ sung thêm lĩnh vực sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công
nghệ cao. Theo đó, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng VND tối đa là 12%/năm.
Sang năm 2013, tiếp tục đà giảm này, mức lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng VND
tối đa giảm còn 10%/năm kể từ ngày 13/05/2013, 9%/năm kể từ ngày 28/06/2013 (Thông tư số 10/2013/TT-NHNN và Thông tư số 16/2013/TT-NHNN), 8% từ ngày 18/03/2014 (Quyết định số 499/QĐ-NHNN), và còn 7% từ ngày 30/10/2014 (xem phụ
lục số 2).
Bên cạnh các khoản vay mới doanh nghiệp được hưởng mức lãi suất thấp, NHNN cũng kêu gọi các TCTD đưa lãi suất các khoản vay cũ về mức 15%/năm và sau đó là 13%/năm, góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và tạo điều kiện giải phóng nguồn vốn dư thừa của hệ thống. Mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường thể hiện xu hướng giảm liên tiếp từ năm 2012 đã tạo điều kiện để thực hiện việc ấn định
mức lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND thay vì duy trì mức biên độ tối đa giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên [15].
72
1,000
800
600
400
200
0
D S U
D S U
D S U
D S U
D N V
D N V
D N V
D N V
D N V
CN cao
DNNVV
NNNT
CN hỗ trợ
Xuất khẩu
2012
2013
2014
Hình 2.10: Dư nợ các lĩnh vực ưu tiên
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Về điều hành nghiệp vụ thị trường mở, NHNN đã điều hành linh hoạt nghiệp vụ
thị trường mở phù hợp với cung cầu vốn trên thị trường; phối hợp hiệu quả với hoạt
động can thiệp trên thị trường ngoại tệ và vàng
Trong giai đoạn từ năm 2011 cho tới nay, nghiệp vụ thị trường mở được NHNN
sử dụng linh hoạt, thận trọng theo hướng hỗ trợ thanh khoản và điều hòa lượng vốn
khả dụng bằng VND cho các TCTD. Nếu trong năm 2011, NHNN đã thực hiện các
giao dịch chào mua GTCG, phương thức đấu thầu khối lượng thì sang các năm sau,
NHNN đã thực hiện cả hai chiều giao dịch mua GTCG và bán tín phiếu NHNN,
phương thức đấu thầu khối lượng và lãi suất.
Bảng 2.2: Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở
Chào mua
Chào bán
Năm
2011
2012
2013
2014
2011
2012
2013
2014
Số phiên
431
299
257
253
79
161
231
7, 14,
28, 56,
28, 56, 84,
28, 56, 84,
7, 14,
Kỳ hạn (ngày)
7, 14
7, 14
21
91, 182
91, 182
91, 182
21
Số lượt thành viên
8.469
1.431
520
1.003
731
1733
170
Doanh số đặt thầu
13.878 2.199
743
448
9.162
2.753
2.221
bình quân (tỷ đồng)
n ệ i h
Doanh số trúng thầu
6.499
1.505
698
400
2.202
1.583
1.531
c ự h t
bình quân (tỷ đồng)
10 -
3,5 -
g n ô h K
Lãi suất (%/năm)
7 - 14
5,5 - 7 5 – 5,5
1,2 - 7,2
2,4 - 4,5
15
12,5
Khối
Khối
Khối
Khối
Phương thức đầu
Khối
lượng,
Khối
Khối
lượng,
thầu
lượng
lượng
lượng
lãi
lượng, lãi suất
lượng, lãi suất
lãi suất
suất
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
73
Sự linh hoạt còn thể hiện ở các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường mở được điều
chỉnh cho phù hợp với mục tiêu CSTT, mặt bằng lãi suất điều hành của NHNN và bối
cảnh thị trường tiền tệ. Giai đoạn 2011 - 2015 cho thấy sự linh hoạt, hài hòa trong việc
phối hợp giữa các công cụ của CSTT; trong đó, nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò
quan trọng trong điều tiết lượng tiền cơ sở và vốn khả dụng của hệ thống TCTD trên
cơ sở mức độ linh hoạt cao nhất trong số các công cụ của CSTT (xem bảng 2.2).
Về điều hành công cụ tái cấp vốn, NHNN đã linh hoạt sử dụng công cụ này để
bảo đảm thanh khoản cho các TCTD và định hướng tín dụng phục vụ phát triển một số
lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ
Công cụ tái cấp vốn được NHNN sử dụng nhằm hỗ trợ thanh khoản cho các
TCTD vào những thời điểm gặp khó khăn về thanh khoản (trường hợp điển hình là quá
trình hợp nhất 3 ngân hàng: NHTMCP Sài Gòn, NHTMCP Đệ Nhất, NHTMCP Việt
Nam Tín Nghĩa) và hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống với thời hạn ngắn khi nhu cầu
vốn thanh toán tăng cao, góp phần ổn định thị trường tiền tệ.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính
sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (sau này là Nghị định số
55/2015/NĐ-CP), NHNN đã triển khai nhiều biện pháp để hỗ trợ người sản xuất,
doanh nghiệp và TCTD liên quan đến tín dụng ngân hàng phục vụ nông nghiệp nông
thôn. Trong đó, NHNN đã dành lượng tiền cung ứng hàng năm để tái cấp vốn cho
TCTD cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn với ưu đãi về thời hạn và nguồn vốn
cho vay.
NHNN đã triển khai tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt của VAMC để hỗ
trợ nguồn vốn hoạt động của TCTD trong quá trình xử lý nợ xấu theo Nghị định số
53/2013/NĐ-CP cũng như tiếp tục tái cấp vốn với các NHTM để cho vay hỗ trợ nhà ở
theo Nghị quyết số 02/NQ ngày 07/01/2013 và Nghị quyết số 61/NQ-CP ngày
24/08/2014 của Chính phủ.
Về dự trữ bắt buộc, NHNN giữ nguyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi
bằng VND nhằm ổn định thị trường tiền tệ
Nhằm hạn chế lãi suất tăng và giảm thiểu rủi ro thanh khoản cho hệ thống
TCTD, NHNN đã không điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc như trong thời kỳ năm
2008. Trong bối cảnh thanh khoản thấp và thiếu ổn định (xu hướng rút tiền gửi từ
TCTD này để gửi vào TCTD khác của công chúng gia tăng) thì tăng dự trữ bắt buộc
nhằm kiểm soát lạm phát sẽ có thể gây ra rủi ro thanh khoản, ảnh hưởng tới sự ổn định
của hệ thống TCTD. Điều này cho thấy sự linh hoạt trong công tác điều hành CSTT
của NHNN và hướng tới xu thế điều hành CSTT hiện đại khi NHTW chủ yếu sử dụng
công cụ nghiệp vụ thị trường mở để điều tiết lượng vốn khả dụng của các TCTD và
74
thanh khoản của hệ thống còn công cụ dự trữ bắt buộc chỉ sử dụng để hút tiền trong
bối cảnh dư thừa vốn.
Về phân nhóm TCTD và giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, NHNN kiểm soát
chặt chẽ tăng trưởng tín dụng gắn với bảo đảm chất lượng tín dụng, hướng tín dụng
vào hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu tiên của Nhà nước
Thứ nhất, trong năm 2012, NHNN đã tiến hành phân loại các TCTD vào 4
nhóm dựa trên đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tăng trưởng tín dụng. Nhóm
1, 2, 3, 4 lần lượt được phép tăng trưởng tín dụng tối đa là 17%, 15%, 8% và không
tăng trưởng. Trên quan điểm điều hành CSTT, việc giao chỉ tiêu tín dụng cho từng
TCTD, thay bằng việc phân bổ chỉ tiêu cào bằng cho toàn ngành như những năm trước
đây, hướng vào hai mục tiêu. Mục tiêu thứ nhất là giúp cho các TCTD định hướng tốt
hơn hoạt động tín dụng của mình. Dựa trên chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng được giao,
từng TCTD sẽ lập kế hoạch tăng trưởng tín dụng báo cáo NHNN và triển khai hoạt
động tín dụng theo kế hoạch được chấp thuận một cách nghiêm túc và nhất quán. Mục
tiêu thứ hai là nhằm giúp NHNN kiểm soát tốt hơn tăng trưởng tín dụng. Điều này
xuất phát từ thực trạng trong suốt một giai đoạn dài, tăng trưởng tín dụng của hệ thống
thường xuyên vượt quá mục tiêu đề ra, gây khó khăn cho việc thực hiện mục tiêu kiểm
soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Để duy trì tính linh hoạt và tạo sự chủ động nhất
định cho các TCTD cũng như hỗ trợ vốn cho nền kinh tế đang gặp khó khăn, NHNN
có xem xét, điều chỉnh chỉ tiêu tín dụng đối với các TCTD trên cơ sở đánh giá đề nghị
và tình hình hoạt động kinh doanh, mức độ lành mạnh của TCTD.
Sang các năm 2013, 2014 và 2015, NHNN tiếp tục kiểm soát tăng trưởng tín
dụng để bảo đảm mở rộng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn, năng lực tài
chính, năng lực quản trị điều hành của từng TCTD, định hướng tăng trưởng tín dụng
theo đúng mục tiêu đề ra, và gắn với xử lý nợ xấu, chuyển dịch cơ cấu tín dụng.
Thứ hai, NHNN đã thực hiện giải pháp hỗ trợ các TCTD mở rộng tín dụng có
hiệu quả, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn tiêu dùng thiết yếu,
hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục khó khăn; đồng thời, chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo
hướng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, gắn với tái cấu trúc nền kinh tế. Thực hiện
các Nghị quyết về phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, toàn ngành Ngân hàng đã
nỗ lực triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh. NHNN đã quyết liệt chỉ đạo các TCTD thực hiện đồng bộ các biện pháp: (i) rà
soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng
trong việc trả nợ vốn vay; (ii) điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với khách hàng
có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt;
(iii) điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng trước đây xuống mức
75
lãi suất cho vay hiện hành, nhất là đối với các lĩnh vực ưu tiên phát triển của Nhà nước
như nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DNNVV,
sử dụng nhiều lao động; (iv) xem xét miễn, giảm lãi phải trả đối với khách hàng bị tổn
thất về tài sản dẫn đến khó khăn về tài chính theo quy định pháp luật; (v) tạo điều kiện
thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu
của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục
vụ sản xuất kinh doanh; (vi) đề xuất với Chính phủ các giải pháp nhằm thực hiện có
hiệu quả hơn cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với DNNVV để các doanh nghiệp này có
thể vay được vốn ngân hàng một cách vững vàng hơn…
Về điều hành tỷ giá hối đoái, NHNN điều hành chính sách tỷ giá chủ động, dẫn
dắt thị trường nhằm mục tiêu duy trì tỷ giá ổn định, tạo niềm tin của công chúng vào
giá trị của đồng nội tệ
Trong giai đoạn 2011 - 2014, NHNN định hướng điều hành tỷ giá theo hướng
ổn định, chứ không cố định. Trong những tháng đầu năm 2011, để bình ổn thị trường
ngoại tệ có dấu hiệu căng thẳng trong thời gian dài, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá
BQLNH tăng 9,3%, từ 18.932 lên 20.693 và giảm biên độ giao dịch từ ±3% xuống còn
±1% trong tháng 2/2011. Ngoài việc ban hành những văn bản pháp luật điều tiết thị
trường ngoại tệ, NHNN đã tiến hành can thiệp mua bán ngoại tệ khi thị trường có biến
động mạnh và cam kết điều chỉnh tỷ giá không quá 2 - 3% của lãnh đạo NHNN. Kể từ
thời điểm tháng 2/2011, NHNN đã 5 lần điều chỉnh tỷ giá vào tháng 6/2013, tháng
6/2014, tháng 1/2015, tháng 5/2015 và tháng 8/2015 với mức độ điều chỉnh mỗi lần là
tăng 1% tỷ giá bình quân liên ngân hàng nhằm ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối, đưa
đồng VND về sát giá trị thực. Riêng tháng 8/2015, trước việc NHTW Trung Quốc phá
giá đồng nhân dân tệ, một số đồng tiền chủ chốt của ASEAN giảm giá mạnh và lường
trước khả năng Cục dự trữ liên bang Mỹ tăng lãi suất, NHNN đã chủ động tăng tỷ giá
bình quân liên ngân hàng thêm 1% và nới lỏng biên độ giao dịch từ ±1% lên ±3%.
Ngày 31/12/2015, NHNN đã ban hành Quyết định số 2730/QĐ-NHNN về việc
công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ, tỷ giá tính chéo của Đồng
Việt Nam với một số ngoại tệ khác. Tỷ giá trung tâm được xác định trên cơ sở tham
chiếu diễn biến tỷ giá bình quân gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, diễn
biến tỷ giá trên thị trường quốc tế của một số đồng tiền của các nước có quan hệ
thương mại, vay, trả nợ, đầu tư lớn với Việt Nam, các cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ và
phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ. Cách thức điều hành tỷ giá mới này cho phép
tỷ giá biến động linh hoạt hàng ngày theo diễn biến cung cầu ngoại tệ trong nước, biến
động thị trường thế giới nhưng vẫn bảo đảm vai trò quản lý của NHNN theo định
hướng điều hành CSTT (xem hình 2.11).
76
23,000
2.0%
1.5%
22,500
1.0%
22,000
0.5%
21,500
0.0%
21,000
-0.5%
20,500
-1.0%
20,000
-1.5%
2 1 - r a
3 1 - r a
4 1 - r a
5 1 - r a
1 1 - n u J - 1
2 1 - n u J - 1
3 1 - n u J - 1
4 1 - n u J - 1
5 1 - n u J - 1
1 1 - p e S - 1
2 1 - p e S - 1
3 1 - p e S - 1
4 1 - p e S - 1
5 1 - p e S - 1
3 1 - c e D - 1
1 1 - c e D - 1
2 1 - c e D - 1
4 1 - c e D - 1
5 1 - c e D - 1
M - 1
M - 1
M - 1
M - 1
Tỷ giá VND/USD
Thay đổi tỷ giá VND/USD (trục phải)
Hình 2.11: Tỷ giá VND/USD
Nguồn: Investing.com
Bên cạnh đó, việc thông báo về lượng dữ trữ ngoại hối với xu hướng tăng mạnh
của NHNN cũng cho thấy một cam kết mạnh mẽ của cơ quan quản lý về khả năng can
thiệp trực tiếp trên thị trường ngoại tệ để giữ ổn định tỷ giá, góp phần xóa bỏ tâm lý
chờ đợi những đợt tăng mạnh tỷ giá, giảm tình trạng đầu cơ ngoại tệ. NHNN cũng đã
phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử
lý các vi phạm đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo đảm các TCTD, chủ thể
kinh tế chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về tỷ giá và giao dịch hối đoái.
2.1.2.2. Tạo dựng môi trường cho chính sách tiền tệ vận hành
Nhận thức được những bất ổn trong thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường nợ
ngoại tệ, nợ vàng và thị trường tiền tệ liên ngân hàng, cũng như sự yếu kém của hệ
thống TCTD đã ảnh hưởng tới công tác ra quyết định điều hành và làm giảm đi hiệu
quả truyền tải CSTT, NHNN đã triển khai nhiều giải pháp để tạo dựng một môi trường
tốt cho điều hành và truyền tải CSTT. Hệ thống các giải pháp được thực hiện trong
giai đoạn 2011 - 2015 bao gồm xử lý tình trạng đô la hóa, vàng hóa trong nền kinh tế;
giải quyết các vấn đề bất cập của TTLNH; thực hiện tái cấu trúc hệ thống TCTD theo
Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015 và xử lý nợ xấu
theo Đề án Xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng; hoàn thiện hệ thống pháp
luật về tiền tệ, ngân hàng; tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong
điều hành CSTT…
a/ Giảm quy mô thị trường nợ ngoại tệ, giảm tình trạng đô la hóa
Nhận thức được sự bất ổn của thị trường ngoại tệ giai đoạn trước năm 2011 đã
tạo ảnh hưởng không tốt tới công tác điều hành CSTT, NHNN đã triển khai đồng bộ
và quyết liệt nhiều giải pháp nhằm giảm quy mô của thị trường nợ ngoại tệ, giảm thiểu
tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế (xem hình 2.12).
77
Thứ nhất, NHNN đã phối hợp hiệu quả chính sách tỷ giá với công tác điều hành
lãi suất, hướng tới mục tiêu ổn định tỷ giá, giảm tình trạng đô la hóa. Kể từ năm 2011,
trần lãi suất huy động USD của các TCTD được NHNN áp dụng và quy định ở mức
thấp hơn nhiều so trần lãi suất huy động VND. Lãi suất tiền gửi ngoại tệ tối đa đối với
tổ chức là 0,25%/năm và 0,75%/năm đối với cá nhân, thấp hơn đáng kể so với mức
trần lãi suất tiền gửi nội tệ là 5,5%/năm, khuyến khích người dân bán ngoại tệ thay vì
gửi ngoại tệ tại các TCTD. Sang năm 2015, tiếp tục thực hiện các giải pháp đồng bộ
chống đô la hóa, NHNN đã ban hành Quyết định số 2589/QĐ-NHNN ngày 17/12/2015
quy định mức lãi suất áp dụng đối với tiền gửi của tổ chức (trừ TCTD, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài) và cá nhân là 0%/năm.
30%
20%
10%
0%
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015
Tiền gửi ngoại tệ/tổng tiền gửi
Tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán
Dư nợ ngoại tệ/tổng dư nợ
Hình 2.12: Các chỉ tiêu đo lường tình trạng đô la hóa nền kinh tế
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Thứ hai, NHNN đã ban hành các quy định chặt chẽ hơn về mua bán ngoại tệ và
trạng thái ngoại tệ của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với các bước tiến
hành phù hợp. Đầu tiên, NHNN đã ban hành Thông tư số 20/2011/TT-NHNN quy
định việc mua, bán ngoại tệ của cá nhân với TCTD được phép có hiệu lực kể từ ngày
15/10/2011; trong đó quy định chặt chẽ hơn về nhu cầu chi tiêu của cá nhân được phép
mua ngoại tệ và hạn mức mua ngoại tệ. Sang năm 2012, NHNN ban hành Thông tư số
07/2012/TT-NHNN quy định về trạng thái ngoại tệ của các TCTD, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài có hiệu lực kể từ ngày 02/05/2012, giảm trạng thái ngoại tệ từ mức
±30% xuống mức ±20% vốn tự có. Quy định chặt chẽ hơn về trạng thái ngoại tệ phần
nào đã hạn chế được tình trạng găm giữ ngoại tệ của các TCTD, buộc các tổ chức có
trạng thái dương bán ngoại tệ để tạo cung cho thị trường, góp phần hạ nhiệt tỷ giá.
Tiếp đó, trong năm 2013, 2014 và 2015, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá mua vào của Sở
giao dịch NHNN cao hơn tỷ giá mua vào của các TCTD, nhằm khuyến khích TCTD
bán lượng ngoại tệ mua được cho NHNN. Như vậy, các biện pháp được NHNN thực
78
hiện cho thấy một lộ trình hợp lý, bắt đầu từ việc thu hút lượng ngoại tệ từ công chúng
vào các TCTD, hạn chế các nhu cầu ngoại tệ không thiết yếu mà TCTD phải đáp ứng,
và sau đó là thúc đẩy các TCTD bán lại lượng ngoại tệ dư thừa.
Thứ ba, NHNN đã ban hành quy định về đối tượng được vay vốn ngoại tệ tại
các TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. NHNN đã ban hành Thông tư số
43/2014/TT-NHNN quy định cho vay bằng ngoại tệ của TCTD, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú có hiệu lực từ ngày 25/12/2014
(trước đó là , Thông tư số 29/2013/TT-NHNN, Thông tư số 37/2012/TT-NHNN,
Thông tư số 03/2012/TT-NHNN); trong đó, quy định các TCTD xem xét cho vay các
nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khi khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu
sản xuất kinh doanh để trả nợ vay và phục vụ một số nhu cầu thiết yếu khác khi được
NHNN chấp thuận. Có thể thấy, đồng hành với các biện pháp giảm tình trạng đô la hóa
tiền gửi, NHNN đã thực hiện quyết liệt biện pháp giảm tình trạng đô la hóa tiền vay;
dần chuyển quan hệ huy động - cho vay sang quan hệ mua - bán ngoại tệ một cách
đồng bộ.
Thứ tư, NHNN duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ ở mức cao
hơn so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi nội tệ. Theo đó, tỷ lệ dự trữ bắt buộc
đối với tiền gửi ngoại tệ đều cao hơn tiền gửi VND ở tất cả các kỳ hạn và ở cả độ lớn.
Ngoài ra, NHNN cũng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng
ngoại tệ từ 0,1%/năm xuống còn 0,05%/năm, tương đương với mức lãi suất mà NHNN
sử dụng tiền gửi của TCTD gửi tại Cục dự trữ liên bang Mỹ, nhằm góp phần giảm chi
phí trả lãi và phù hợp với chủ trương hạn chế găm giữ ngoại tệ trên tài khoản.
b/ Chấm dứt thị trường nợ vàng, giảm tình trạng vàng hóa
Khi giá vàng thế giới trong nước biến động mạnh kể từ năm 2008 trở lại đây, sự
bất ổn trong thị trường vàng đã tác động tiêu cực đến diễn biến tỷ giá và sự ổn định
của thị trường ngoại tệ, tạo áp lực và làm giảm hiệu quả của công tác điều hành CSTT
và chính sách tỷ giá. Nhận thức được vấn đề này, ngay từ năm 2011, NHNN đã xây
dựng và triển khai tích cực lộ trình chấm dứt tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế theo ba
bước: (i) xây dựng và thực thi khuôn khổ pháp lý quản lý thị trường vàng; (ii) chấm
dứt hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD; và (iii) chuyển quan hệ
huy động - cho vay vốn bằng vàng sang quan hệ mua - bán vàng miếng thông qua
nhiều biện pháp như:
Thứ nhất, khắc phục những bất cập của cơ chế quản lý thị trường vàng giai
đoạn trước đây, NHNN đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành một
khuôn khổ pháp lý mới về quản lý thị trường vàng. Theo đó, Nghị định 95/2011/NĐ-
CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ và vàng, Nghị
79
định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, và nhiều văn bản hướng
dẫn Nghị định 24/2012/NĐ-CP khác được NHNN ban hành.
Thứ hai, NHNN đã tích cực hoàn thiện và kiểm soát mạng lưới mua, bán vàng
miếng nhằm bảo đảm hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng trên thị trường diễn
ra thông suốt, ổn định, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người nắm giữ vàng.
Thứ ba, NHNN ban hành Quyết định số 1623/QĐ-NHNN về việc tổ chức và
quản lý sản xuất vàng miếng để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi vàng miếng khác SJC
sang vàng miếng SJC của người dân, TCTD và doanh nghiệp. Theo đó, NHNN Việt
quyết định lựa chọn phương thức sản xuất vàng miếng của NHNN là thuê gia công và
giao cho công ty SJC gia công đồng thời NHNN là đơn vị quyết định hạn mức, thời
điểm thực hiện gia công của Công ty SJC dưới sự giám sát và kiểm soát của NHNN.
Thứ tư, NHNN kiên quyết áp dụng đồng bộ các biện pháp để thực hiện lộ trình
chấm dứt tình trạng huy động - cho vay vốn bằng vàng và yêu cầu các TCTD phải tất
toán số dư vàng huy động.
Thứ năm, để hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng,
ngăn chặn tình trạng đầu cơ vàng trong hệ thống, NHNN đã ban hành Thông tư số
38/2012/TT- NHNN về việc quy định trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng không
được âm và vượt quá 2% so với vốn tự có.
Thứ sáu, để hỗ trợ hệ thống TCTD tất toán các khoản huy động vàng, không
gây ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường, NHNN đã xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ
pháp lý và triển khai các giải pháp can thiệp thông qua đấu thầu bán vàng miếng kể từ
ngày 28/03/2013, làm tiền đề cho các giải pháp bình ổn thị trường vàng trong nước.
c/ Giải quyết các vấn đề tồn tại của thị trường liên ngân hàng
Năm 2011 cho thấy thực trạng khó khăn của thị trường một đã lan truyền tới thị
trường hai, làm gia tăng mức độ rủi ro hệ thống, đồng thời vai trò của TTLNH trong
việc truyền tải CSTT bị suy giảm đáng kể. Nhằm khắc phục thực trạng này, NHNN đã
ban hành Thông tư số 21/2012/TT-NHNN quy định hoạt động cho vay, đi vay, mua,
bán có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông
tư 21/2012/TT-NHNN quy định: TCTD có nợ quá hạn từ 10 ngày trở lên không được
tham gia vào TTLNH; các TCTD không được gửi tiền, nhận tiền gửi (trừ tiền gửi
thanh toán) tại TCTD khác, trên thị trường 2 mà chỉ được thực hiện giao dịch cho vay
với kỳ hạn ngắn dưới 1 năm, loại bỏ cho vay trung, dài hạn. Như vậy, khi thực hiện
giao dịch cho vay buộc các TCTD phải trích lập DPRR tương tự như các khoản cho
vay đối với khách hàng thông thường, tức là các TCTD phải cẩn trọng hơn khi xem xét
cho vay các đối tác trên TTLNH. Trên cơ sở đó, bản thân các TCTD đã thực hiện tái
cơ cấu lại hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của mình, hạn chế được tình trạng
80
chạy đua huy động vốn thông qua tăng lãi suất, giảm mức độ phụ thuộc của một số
TCTD nhỏ vào vốn trên thị trường hai từ phía các TCTD lớn.
d/ Kiểm soát và xử lý nợ xấu gắn với tiến trình cơ cấu lại hệ thống các tổ chức
tín dụng
Những yếu kém của hệ thống TCTD, đặc biệt là vấn đề chất lượng tài sản thấp,
giá trị nợ xấu lớn và thể hiện xu hướng tiếp tục tăng đã khiến mức độ an toàn của hệ
thống TCTD và khả năng phòng chống trước những tác động bất lợi, đột ngột từ môi
trường kinh doanh giảm. Không những vậy, sự thiếu lành mạnh của hệ thống TCTD
và tỷ lệ nợ xấu tăng cao đã trở thành lực cản lớn đối với nhiệm vụ truyền tải CSTT của
NHNN đến nền kinh tế. Trước tình hình này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 254/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai
đoạn 2011 - 2015 nhằm cơ cấu lại căn bản, triệt để và toàn diện hệ thống các TCTD
trong đó xử lý nợ xấu nhằm lành mạnh hóa tình trạng tài chính, cải thiện mức độ an
toàn là những ưu tiên hàng đầu.
Thực hiện triển khai các nhiệm vụ theo Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức
tín dụng giai đoạn 2011 - 2015, và đặc biệt là Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2013 về
một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải
quyết nợ xấu, Quyết định 843/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Xử lý nợ xấu của hệ thống các
tổ chức tín dụng và Đề án Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng
Việt Nam, NHNN đã ban hành các chỉ thị định hướng điều hành CSTT và hoạt động
ngân hàng nhằm phấn đấu tới cuối năm 2015, xử lý căn bản nợ xấu. Trong Đề án Xử lý
nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng, mục tiêu xử lý nợ xấu được gắn liền với quá
trình tái cơ cấu hệ thống TCTD và vừa là điều kiện quan trọng cũng như mục tiêu của
Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015, tạo nền tảng
cho sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống tới năm 2020.
Thứ nhất, gắn xử lý nợ xấu với cơ cấu lại hệ thống TCTD, NHNN đã xác định
các TCTD cần tập trung ưu tiên cơ cấu lại, hỗ trợ thanh khoản kịp thời, cho phép hợp
nhất hoặc tự cơ cấu lại trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm an toàn cho hệ thống.
NHNN đã tiếp nhận và phê duyệt phương án tái cơ cấu của các NHTMCP đang hoạt
động bình thường, phê duyệt phương án, chỉ đạo các ngân hàng còn lại hoàn thiện
phương án để phê duyệt. Trên cơ sở đó, NHNN đã chỉ đạo tiến hành cơ cấu lại hệ
thống TCTD bám sát lộ trình cơ cấu lại trong Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức
tín dụng giai đoạn 2011 - 2015 bao gồm các nội dung: (i) đánh giá và xác định thực
trạng hoạt động, chất lượng tài sản và nợ xấu của các TCTD; (ii) tiến hành đánh giá và
phân loại TCTD; (iii) xây dựng và triển khai phương án cơ cấu lại TCTD yếu kém và
TCTD khác; (iv) tập trung hỗ trợ thanh khoản để bảo đảm khả năng chi trả của các
81
TCTD; (v) triển khai sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD; (vi) tăng vốn điều lệ và
xử lý nợ xấu của các TCTD; (vii) cơ cấu lại hoạt động và hệ thống quản trị… Bên
cạnh đó, nhiều giải pháp hỗ trợ công tác tái cơ cấu hệ thống TCTD cũng được đẩy
mạnh triển khai như: (i) đổi mới và hoàn thiện các văn bản pháp lý; (ii) đổi mới và
nâng cao hiệu quả thanh tra, giám sát ngân hàng; tạo điều kiện cho hoạt động sáp
nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD; xử lý nghiêm các sai phạm trong quản trị, điều
hành và vi phạm luật pháp tại các TCTD…
Thứ hai, NHNN đã ban hành và yêu cầu các TCTD triển khai nghiêm túc nhiều
văn bản liên quan tới công tác xử lý nợ xấu, tạo môi trường thuận lợi cho xử lý và hạn
chế nợ xấu phát sinh như sau:
Về đánh giá lại chất lượng, khả năng thu hồi các khoản nợ, tăng cường trích
lập, và sử dụng dự phòng để xử lý nợ xấu, NHNN đã ban hành văn bản số
7780/NHNN-TTGSNH về việc trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro
vào ngày 27/11/2012. Trong đó, các TCTD được yêu cầu chủ động phân loại nợ theo
đúng quy định, đánh giá khả năng thu hồi nợ từ xử lý TSBĐ, chủ động trích lập dự
phòng rủi ro và cắt giảm chi phí, điều chỉnh lợi nhuận nhằm tạo nguồn xử lý nợ xấu
ngay trong năm 2012 và các năm tiếp theo.
Về cơ cấu lại nợ và tích cực thu hồi nợ xấu, hỗ trợ khách hàng khắc phục khó
khăn, NHNN đã ban hành Quyết định số 780/QĐ-NHNN về việc phân loại nợ đối với
nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ vào ngày 23/04/2012. Theo đó, NHNN
cho phép các TCTD khi cơ cấu lại nợ đối với các khoản nợ có triển vọng phục hồi tích
cực được giữ nguyên nhóm nợ như đã phân loại trước khi cơ cấu lại nợ. Biện pháp này
nhằm mục đích giảm bớt khó khăn về tài chính tạm thời, tạo cơ hội cho các khách
hàng khôi phục và nâng cao hiệu quả hoạt động san xuất kinh doanh, từ đó tạo nguồn
thu mới để trả nợ cho các TCTD.
Về xây dựng và triển khai kế hoạch xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng,
NHNN đã ban hành Văn bản số 8421/NHNN-TTGSNH về việc triển khai thực hiện
Quyết định số 843/QĐ-TTg. Tại văn bản này, NHNN yêu cầu các TCTD phải tập trung
xử lý nợ xấu và hạn chế nợ xấu tiếp tục phát sinh thông qua việc nâng cao chất lượng
tín dụng. Nhằm có đánh giá chính xác về tình trạng nợ xấu và đưa ra các giải pháp kịp
thời, tránh gây ra xáo động trong công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro,
các TCTD phải báo cáo số liệu về nợ xấu trong trường hợp không áp dụng Quyết định
780/QĐ-NHNN và áp dụng Thông tư 02/2013/TT-NHNN.
Về thành lập và đưa vào hoạt động Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín
dụng Việt Nam (VAMC), VAMC được thành lập và hoạt động theo Luật Ngân hàng
Nhà nước, Luật Doanh nghiệp và Nghị định số 53/2013/NĐ-CP. VAMC là doanh
82
nghiệp đặc thù do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, chịu sự quản lý nhà nước, thanh
tra, giám sát trực tiếp của NHNN nhằm mục đích góp phần xử lý nhanh nợ xấu, lành
mạnh hóa tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các TCTD, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng
trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinh tế. Về nguyên tắc hoạt động, VAMC hoạt động
theo nguyên tắc lấy thu bù chi và không vì mục tiêu lợi nhuận; công khai, minh bạch
trong hoạt động mua, xử lý nợ xấu; hạn chế rủi ro và chi phí trong xử lý nợ xấu.
Theo quy định tại Nghị định số 53/2013/NĐ-CP, các TCTD có tỷ lệ nợ xấu từ
3% trở lên phải bán nợ xấu cho VAMC, nếu không sẽ bị áp dụng các biện pháp như
thanh tra, đánh giá lại chất lượng và giá trị tài sản để trên cơ sở đó, TCTD phải bán lại
nợ xấu cho VAMC. Quy định này đã tạo áp lực buộc các TCTD phải nhanh chóng
thực hiện các biện pháp xử lý nợ xấu, hoặc phải tiến hành bán nợ xấu cho VAMC để
nhanh chóng đưa tỷ lệ nợ xấu về mức cho phép. Để tiếp tục đẩy mạnh hoạt động mua
nợ xấu của VAMC, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 34/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ
sung một số điều Nghị định số 53/2013/NĐ-CP, tăng vốn điều lệ của VAMC từ 500 tỷ
đồng lên 2000 tỷ đồng và cho phép VAMC phát hành trái phiếu để mua nợ theo giá trị
thị trường. Trên cơ sở đó, NHNN đã ban hành Thông tư số 14/2015/TT-NHNN sửa
đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2013/TT-NHNN quy định về phát hành,
sử dụng và thanh toán trái phiếu VAMC để mua nợ xấu theo giá thị trường; và sửa đổi,
bổ sung các quy định về phát hành, sử dụng, trích lập dự phòng rủi ro và thanh toán
trái phiếu đặc biệt của VAMC.
Hình 2.13: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống tổ Hình 2.14: Tỷ lệ nợ xấu hệ thống ngân
5%
5%
3.8% 3.7%
4%
4%
3.5% 3.6%
3.3%
2.9%
2.7%
3%
3%
2%
2%
1%
1%
0%
0%
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
6 T 5 1 0 2
1 T 5 1 0 2
2 T 5 1 0 2
3 T 5 1 0 2
9 T 5 1 0 2
ASEAN
Vietnam
2 1 T 4 1 0 2
1 1 T 5 1 0 2
chức tín dụng Việt Nam hàng Việt Nam và ASEAN
Nguồn: Bankscope
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống giảm xuống còn 2,72% vào cuối tháng 11/2015,
thấp hơn mục tiêu 3% đặt ra trong Đề án xử lý nợ xấu. Trong nửa đầu năm 2015, nợ
xấu tăng nhanh do yêu cầu phải phân loại nợ theo xếp hạng tín dụng của CIC và quy
83
định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ hết hiệu lực. Tuy nhiên, tỷ lệ
nợ xấu giảm liên tục từ quý 3 do VAMC đẩy nhanh tốc độ mua nợ xấu (trên 40% nợ
xấu được xử lý thông qua bán cho VAMC), sự ấm lên của thị trường bất động sản, và
tín dụng tăng trưởng tốt (xem hình 2.13 và 2.14).
Quy định cho phép VAMC mua nợ xấu theo giá trị thị trường bằng trái phiếu
của VAMC có hiệu lực từ tháng 10/2015 được kỳ vọng sẽ khuyến khích các ngân hàng
tăng cường bán nợ xấu theo giá trị thị trường trong thời gian tới. Cụ thể, ngân hàng
không phải trích lập dự phòng rủi ro cho loại trái phiếu này và hệ số rủi ro của trái
phiếu này là 0% khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (so với mức trích lập 20%/năm và
hệ số rủi ro là 20% của trái phiếu đặc biệt).
e/ Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ, ngân hàng
Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống thể chế về tiền tệ và hoạt động
ngân hàng đối với việc bảo đảm hiệu lực quản lý và bảo đảm an toàn của hệ thống
TCTD, NHNN đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của công tác pháp chế là bổ sung, hoàn
thiện các văn bản pháp luật phù hợp với điều kiện của Việt Nam và thông lệ quốc tế.
Trong giai đoạn 2011 - 2015, NHNN đã ban hành nhiều Thông tư, trong đó, tập trung
vào các văn bản hướng dẫn Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các Tổ chức
tín dụng, các chính sách quan trọng về tiền tệ, tín dụng, quản lý ngoại hối, đảm bảo an
toàn hoạt động ngân hàng, công bố thông tin, cải cách thủ tục hành chính. Cụ thể,
NHNN tập trung vào xây dựng, ban hành và hướng dẫn khung pháp lý về hoạt động
tiền tệ, ngân hàng; tạo công cụ pháp lý điều hành CSTT, quản lý ngoại hối và khơi
thông tín dụng cho nền kinh tế; tạo hành lang pháp lý mới về chuẩn mực an toàn hoạt
động ngân hàng, xử lý các ngân hàng yếu kém; hoàn thiện khung pháp lý về phát triển
công nghệ ngân hàng hiện đại và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt…
f/ Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong điều hành CSTT
Một điểm không mới nhưng lại có sự thay đổi đáng kể (về cả tấn suất lẫn nội
dung) trong công tác điều hành CSTT giai đoạn 2011 - 2015 là công tác truyền thông,
minh bạch hóa thông tin về hoạt động của NHNN nói riêng và toàn ngành ngân hàng
nói chung. Theo đó, NHNN đã cải tiến cơ chế cung cấp thông tin, tăng cường tính chủ
động, kịp thời, công khai minh bạch về cơ chế, chính sách, các quyết định quản lý của
NHNN và tình hình hoạt động của hệ thống các TCTD qua nhiều kênh khác nhau.
Thứ nhất, NHNN chủ động công bố thông tin chính xác, kịp thời những vấn đề
về chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng… được dư luận xã hội quan tâm tại diễn
đàn Quốc hội, website NHNN, tại các cuộc họp báo do Văn phòng Chính phủ tổ chức,
tại các cuộc họp báo do NHNN tổ chức, tại các cuộc trả lời phỏng vấn báo chí, tại các
cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học liên quan đến CSTT và hoạt động ngân hàng.
84
Thứ hai, NHNN phối hợp với các cơ quan truyền thông lớn ngoài ngành để
tuyên truyền các định hướng chính sách, giải pháp chính sách và các kết quả của
ngành Ngân hàng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước nhằm tranh thủ sự đồng thuận, ủng hộ của toàn thể xã hội.
Thứ ba, NHNN đã ban hành Thông tư số 35/2011/TT-NHNN nhằm công bố
gần 20 chỉ tiêu, thông tin quan trọng về diễn biến tiền tệ, hoạt động ngân hàng trên
website NHNN, hướng tới thông lệ quốc tế về minh bạch hóa thông tin.
Thứ tư, theo dõi chặt chẽ các thông tin liên quan đến hoạt động tiền tệ - ngân
hàng, phát hiện nhanh chóng những sai sót và có biện pháp phản hồi, xử lý kịp thời
những thông tin thiếu chính xác, bảo đảm sự ổn định của thị trường tiền tệ - tài chính.
2.1.3. Truyền tải chính sách tiền tệ tại Việt Nam qua nghiên cứu định lượng
2.1.3.1. Xây dựng mô hình
Luận án sử dụng mô hình vector tự hồi quy để kiểm tra mức độ truyền tải CSTT
qua các kênh lãi suất, giá cổ phiếu, kênh tỷ giá, và kênh tín dụng đến nền kinh tế Việt
Nam. Kể từ những năm 1990 cho tới nay, mô hình VAR đã được sử dụng khá phổ biến
để phân tích cơ chế truyền tải chính sách CSTT và khuôn khổ CSTT tại nhiều nền kinh
tế (xem tổng quan nghiên cứu và nội dung 1.3 về các nghiên cứu định lượng). Trên cơ
sở đó, luận án xây dựng mô hình VAR giản đơn (gọi tắt là mô hình VAR cơ bản) cho
nền kinh tế Việt Nam với giả định Việt Nam một nền kinh tế nhỏ, mở cửa. Mô hình
VAR cơ bản gồm 5 biến là giá cả hàng hóa thế giới, lãi suất qua đêm của Mỹ, độ lệch
sản lượng, chỉ số giá tiêu dùng, và cung tiền rộng. Các biến số trong mô hình VAR cơ
bản được sắp xếp theo thứ tự kể trên dựa vào giả định (i) các cú sốc về giá cả hàng hóa
thế giới và tiền tệ từ Mỹ là các cú sốc ngoại sinh đối với nền kinh tế Việt Nam và (ii)
biến số tiền tệ phản ánh những thay đổi không dự tính được (bởi công chúng) trong
CSTT của NHNN không ngay lập tức ảnh hưởng tới sản lượng và giá cả của nền kinh
tế mà cần có thời gian. Biến cung tiền rộng M2 được lựa chọn làm đại diện cho cú sốc
CSTT của NHNN.
Dựa trên mô hình VAR cơ bản, luận án kiểm tra thực trạng các kênh truyền tải
thông qua việc bổ sung các biến số đại diện cho từng kênh truyền tải vào mô hình. Các
biến lãi suất, tỷ giá, chỉ số giá chứng khoán và tín dụng được thêm vào mô hình VAR
cơ bản để hình thành các mô hình VAR cho từng kênh truyền tải là kênh lãi suất, kênh
tỷ giá, kênh giá cổ phiếu, và kênh tín dụng.
2.1.3.2. Số liệu và kiểm định khuyết tật mô hình
Các biến số trong mô hình bao gồm: giá cả hàng hóa thế giới dưới dạng chỉ số
(com) được lấy từ Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF; lãi suất qua đêm của Mỹ (ffr) được lấy từ
website research.stlouisfed.org của Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ St.Louis; độ lệch
85
sản lượng được lọc bằng phương pháp Hodrick-Prescott (gap) từ tổng sản phẩm quốc
nội, chỉ số giá tiêu dùng (cpi) năm gốc 2005 được lấy từ Tổng cục Thống kê; cung tiền
rộng (msl), lãi suất ngắn hạn (int), chỉ số giá chứng khoán (shp), tín dụng đối với nền
kinh tế (cre) được lấy từ Thống kê tài chính quốc tế, Quỹ tiền tệ quốc tế.
Chuỗi số liệu nghiên cứu được lấy theo tuần suất quý từ quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2014 (xem phụ lục số 3). Các số liệu, ngoại trừ lãi suất qua đêm của Mỹ, độ
lệch sản lượng và lãi suất ngắn hạn của Việt Nam ở dạng %, chỉ số giá chứng khoán
được chuyển sang dạng tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước, đều được chuyển sang
dạng logarít. Để loại bỏ yếu tố mùa vụ ra khỏi dữ liệu, phương pháp Census X12 được
áp dụng với tất cả các biến.
Kiểm định tính dừng Augmented Dickey-Fuller cho thấy lãi suất qua đêm Mỹ,
độ lệch sản lượng, tăng trưởng chỉ số giá chứng khoán và lãi suất ngắn hạn Việt Nam
dừng trong khi các biến số khác không dừng, chỉ dừng sau khi lấy sai phân bậc nhất.
Các biến số không dừng được chuyển sang dạng sai phân bậc nhất (xem phụ lục số 4).
Các tiêu chuẩn Sequential modified LR, Final prediction error, Akaike information criterion, Schwarz information criterion và Hannan - Quinn information
criterion được sử dụng để xác định độ trễ tối ưu. Các tiêu chuẩn chỉ ra là 2 trễ hoặc 3
trễ. Tham khảo các nghiên cứu về truyền tải CSTT sử dụng dữ liệu tần suất theo quý
như Ramaswamy và Sloek (1997), Disyatat và Vongsinsirkul (2003), độ trễ 2 quý được lựa chọn2 [107, 57]. Việc lựa chọn độ trễ là 2 quý cũng hạn chế việc làm giảm giá trị bậc tự do trong trường hợp chuỗi số liệu là tương đối ngắn. Kiểm định nghiệm
đơn vị cho các nghiệm đều nhỏ hơn 1, đồng nghĩa với việc mô hình ổn định về mặt
thống kê.
2.1.3.3. Kết quả mô hình
Hàm phản ứng của độ lệch sản lượng trước cú sốc cung tiền trong mô hình
VAR cơ bản và các mô hình có kênh truyền tải cho thấy vai trò truyền tải tốt hơn của
kênh tín dụng và kênh tỷ giá so với hai kênh còn lại trong khoảng thời gian một năm đầu tiên. Trong trung và dài hạn, kênh lãi suất phát huy vai trò truyền tải tốt hơn các kênh còn lại. Nhìn chung, phải tới quý thứ ba, những tác động từ nói lỏng CSTT mới
phát huy tác dụng thúc đẩy kinh tế tăng trưởng (xem hình 2.15). Đối với hàm phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng, kênh lãi suất và kênh tỷ giá thể hiện tốt vai trò truyển tải tác động của cung tiền. Ngoài ra, phản ứng của giá cả trước cú sốc tiền tệ là nhanh chóng hơn so với sản lượng khi chỉ cần đến quý thứ 2, nói lỏng tiền tệ đã có tác dụng làm tăng chỉ số giá tiêu dùng, đạt mức ảnh hưởng cao nhất vào quý thứ 3, 4 và giảm dần sau đó (xem hình 2.16).
2 Tác giả cũng áp dụng độ trễ là 3 quý cho các mô hình và kết quả hàm phản ứng, phân rã phương sai khá tương đồng với kết quả khi áp dụng độ trễ là 2 quý.
86
Hình 2.15: Hàm phản ứng của độ lệch sản lượng trước cú sốc cung tiền
0.0015
0.0010
0.0005
0.0000
-0.0005
-0.0010
-0.0015
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Cơ bản
Lãi suất
Tỷ giá
Giá cổ phiếu
Tín dụng
trong các mô hình VAR cơ bản và VAR có kênh truyền tải
Nguồn: tính toán của tác giả
Hình 2.16: Hàm phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng trước cú sốc cung tiền
0.010
0.008
0.006
0.004
0.002
0.000
-0.002
-0.004
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Cơ bản
Lãi suất
Tỷ giá
Giá cổ phiếu
Tín dụng
trong các mô hình VAR cơ bản và VAR có kênh truyền tải
Nguồn: tính toán của tác giả
Hàm phản ứng của độ lệch sản lượng và chỉ số giá tiêu dùng trước các cú sốc từ lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán, và tín dụng đúng với lý thuyết khi lãi suất tăng đột ngột làm giảm độ lệch sản lượng và chỉ số giá tiêu dùng. Ngược lại, đồng nội tệ mất giá, giá cổ phiếu và tín dụng tăng sẽ có tác động làm tăng sản lượng và giá cả. Trong số các hàm phản ứng của độ lệch sản lượng và chỉ số giá tiêu dùng đối với các cú sốc dụng là nhanh nhất, phản ánh lý do NHNN thường áp dụng các quy định đối với hoạt động tín dụng như hạn mức tăng trưởng hay cho vay theo các chương trình trong bối cảnh nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát hoặc suy thoái (xem phụ lục số 5).
Nhìn chung, kênh lãi suất và kênh tỷ giá truyền tải tác động của cung tiền tới sản lượng và giá cả của nền kinh tế tốt hơn hai kênh còn lại. Kênh giá cổ phiếu là kênh có khả năng truyền tải kém nhất trong số các kênh được nghiên cứu, phần nào phản ánh thực trạng phát triển của thị trường cổ phiếu Việt Nam.
87
Kết quả phân rã phương sai đưa đến bốn kết luận quan trọng sau:
Thứ nhất, cung tiền là nhân tố quan trọng gây ra sự biến động của giá cả nhưng
không phải là nhân tố quan trọng gây ra sự biến động của sản lượng. Cụ thể, trong
ngắn hạn, mức độ ảnh hưởng của cung tiền tới biến động chỉ số giá tiêu dùng là tương
đối hạn chế nhưng kể từ trung hạn trở đi, các ảnh hưởng của CSTT đã được truyển tải
rõ hơn vào mức giá trong nền kinh tế. Kết quả này phù hợp với lý thuyết khi tác động
của CSTT có hiệu quả trong điều kiện giá cả là cứng nhắc trong ngắn hạn và một
CSTT nới lỏng sẽ thúc đẩy được tổng cầu tăng trưởng, làm gia tăng sản lượng; trong
dài hạn, cung tiền là nhân tố gây ra áp lực lên biến động mặt bằng giá cả của nền kinh
tế. Kết luận này hàm ý rằng việc nỗ lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng dựa nhiều vào
CSTT sẽ chỉ mạng lại tác động tích cực trong ngắn hạn nhưng lại gây ra những hệ lụy
lớn cho nền kinh tế trong trung và dài hạn.
Thứ hai, việc bổ sung thêm các kênh vào mô hình truyền tải CSTT góp phần
tăng khả năng giải thích sự biến động của các chỉ tiêu vĩ mô như sản lượng và giá cả,
dù ở mức độ khác nhau. Bổ sung thêm kênh tín dụng vào mô hình truyền tải góp phần
tăng khả năng giải thích sự biến động của chỉ số giá tiêu dùng trong cả ngắn hạn và dài
hạn. Kênh tỷ giá và kênh tín dụng cũng góp phần tạo nên sự biến động của độ lệch sản
lượng cho dù chỉ trong trung, dài hạn và mức độ ảnh hưởng là khá hạn chế. Ngược lại,
kênh lãi suất và kênh giá cổ phiếu thể hiện vai trò khá mờ nhạt trong việc giải thích sự
biến động của độ lệch sản lượng và chỉ số giá tiêu dùng.
Thứ ba, trong ngắn hạn, cung tiền và tỷ giá thể hiện vai trò tốt hơn các chỉ tiêu
khác trong việc điều tiết sản lượng của nền kinh tế và chưa tạo ra áp lực đáng kể lên
mức giá cả. Trong trung và dài hạn, tất cả các chỉ tiêu tài chính tiền tệ tạo ra áp lực khá
lớn lên mức giá cả của nền kinh tế, đặc biệt là trường hợp của kênh tín dụng và kênh
giá cổ phiếu.
com
ffr
gap
cpi
msl
channel
Bảng 2.3: Phân rã phương sai
Biến số Thời điểm
Kênh lãi suất
7.4
5.2
87.4
0.0
0.0
0.0
Độ
1
7.8
3.6
83.1
2.0
3.4
0.1
lệch
2
7.1
9.6
71.6
3.7
7.2
0.7
sản
4
5.1
29.6
55.0
2.7
5.8
1.8
lượng
8
28.4
2.1
4.3
65.3
0.0
0.0
Chỉ số
1
43.1
8.0
3.5
41.0
1.5
2.9
giá
2
36.9
5.7
10.0
22.8
19.7
4.9
tiêu
4
33.4
9.5
12.7
20.9
18.7
4.9
dùng
8
88
com
ffr
gap
cpi
msl
channel
Biến số Thời điểm
Kênh lãi suất
Kênh tỷ giá
4.8
7.1
88.2
0.0
0.0
0.0
Độ
1
7.4
5.5
80.3
0.8
3.1
2.9
lệch
2
8.0
13.9
61.0
2.3
7.9
7.0
sản
4
6.3
32.4
46.1
2.4
7.1
5.7
lượng
8
42.1
6.4
0.4
51.1
0.0
0.0
Chỉ số
1
49.0
6.6
2.2
34.8
0.8
6.6
giá
2
35.6
4.8
14.4
22.7
18.3
4.3
tiêu
4
33.2
8.6
17.7
19.0
16.7
4.8
dùng
8
Kênh giá cổ phiếu
0.8
6.4
92.8
0.0
0.0
0.0
Độ
1
2.4
6.1
85.8
1.1
4.0
0.5
lệch
2
2.8
11.9
73.4
1.8
7.0
3.1
sản
4
2.0
33.4
54.6
1.2
5.4
3.3
lượng
8
28.6
1.4
2.0
68.1
0.0
0.0
Chỉ số
1
41.9
9.5
2.1
45.6
0.5
0.4
giá
2
32.1
10.8
11.9
29.6
11.2
4.4
tiêu
4
25.9
14.3
20.8
19.9
7.6
11.5
dùng
8
Kênh tín dụng
1.2
6.2
92.6
0.0
0.0
0.0
Độ
1
1.6
4.6
86.7
1.3
4.3
1.5
lệch
2
1.8
12.8
71.3
1.1
8.1
4.9
sản
4
1.8
34.0
53.1
0.9
6.6
3.8
lượng
8
27.3
1.1
1.9
69.7
0.0
0.0
Chỉ số
1
38.7
6.2
2.7
45.5
0.3
6.5
giá
2
23.3
4.4
14.8
22.9
15.2
19.3
tiêu
4
24.4
8.2
17.8
18.3
13.2
dùng
8
18.0 Nguồn: Tính toán của tác giả
Thứ tư, vai trò của cung tiền trong sự thay đổi của các chỉ tiêu tài chính tiền tệ
cho thấy trong vòng một năm, cung tiền giải thích từ 16% đến 22% sự biến động của
tín dụng nhưng chỉ từ 2% đến 7% sự biến động của lãi suất, 3% đến 6% sự biến động
của tỷ giá và 1% đối với sự biến động của giá cổ phiếu. Trong trung và dài hạn, mức
giải thích của cung tiền xoay quanh 11% đối với biến động của lãi suất và 20% đối với
biến động của tín dụng (xem hình 2.17). Kết luận này đưa đến hàm ý rằng trong ngắn
hạn và trường hợp cấp bách, việc can thiệp trực tiếp của NHNN đối với lãi suất thị
trường là cần thiết để bảo đảm việc thực hiện các mục tiêu của CSTT.
Việc nghiên cứu các mô hình VAR kể trên giúp luận án đưa ra những nhận định
khái quát về truyển tải CSTT ở Việt Nam nhưng gặp một số hạn chế như: (i) chưa
89
nhận diện các cú sốc tiền tệ dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế chặt chẽ; (ii) chưa đánh
giá được mức độ khuếch đại tác động của CSTT tới các biến số vĩ mô qua kênh tín
dụng; (iii) chưa đánh giá được sự đóng góp của tín dụng vào sự biến động của các biến
số kinh tế vĩ mô trong giai đoạn nghiên cứu. Những vấn đề chưa được giải quyết tại
nội dung này sẽ được nghiên cứu chi tiết và giải quyết ở nội dung 2.3. Nghiên cứu
định lượng về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng tại Việt Nam.
Hình 2.17: Mức độ giải thích của cung tiền trong sự biến động
30%
25%
20%
Kênh tín dụng
Kênh lãi suất
15%
Kênh tỷ giá
10%
Kênh giá cổ phiếu
5%
0%
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
của các chỉ tiêu tiền tệ
Nguồn: Tính toán của tác giả
2.2. THỰC TRẠNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN
DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.2.1. Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Qua 30 năm đổi mới (1986 - 2015), hệ thống NHTM Việt Nam đã đạt được
nhiều thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới, phát triển kinh tế -
xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Sự lành mạnh của hệ thống NHTM
đóng vai trò quyết định đối với sự an toàn và phát triển của hệ thống tài chính nói
riêng và ổn định kinh tế vĩ mô nói chung. Hệ thống NHTM đã phát triển nhanh chóng
về loại hình, quy mô, hình thức sở hữu… phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế đang
chuyển đổi tồn tại nhiều thành phần kinh tế, đa ngành nghề, đa sở hữu.
Xuất phát từ 4 NHTMNN với quy mô tương đối nhỏ, tính đến cuối năm 2015,
hệ thống NHTM Việt Nam gồm 08 NHTMNN, NHTMCP Nhà nước nắm cổ phần chi
phối, 27 NHTMCP. Số lượng các ngân hàng đã giảm xuống đáng kể sau khi NHNN
triển khai chủ trương sáp nhập, hợp nhất, mua lại các tổ chức tín dụng trong Đề án Cơ
cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 (xem hình 2.18).
Quá trình cơ cấu lại hệ thống TCTD có sự hiện diện rõ nét vai trò của NHNN khi
90
ngoài việc là đại diện phần vốn Nhà nước tại các ngân hàng BIDV, Vietinbank,
Agribank, Vietcombank, MHB (đã sáp nhập vào BIDV), NHNN đã tiếp tục trở thành
cổ đông nắm quyền kiểm soát của các ngân hàng CBBank, GPBank, Oceanbank và
Sacombank. Mạng lưới các NHTM không những bao phủ thị trường nội địa mà còn có
những bước tiến lớn trong việc phát triển mạng lưới tại một số thị trường quốc tế.
Thông qua hoạt động huy động vốn và cho vay, làm trung gian thanh toán và cung cấp
các dịch vụ ngân hàng, hệ thống NHTM đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và góp phần
quan trọng trong quá trình truyền tải CSTT của NHNN đến nền kinh tế.
2007
5
34
5
0
41
21
2010
5
37
5
5
48
30
2011
5
37
4
5
50
30
2012
5
34
4
5
47
30
2014
5
33
4
5
47
28
2015*
8
27
3
5
37
29
NHTMNN NHTMCP NHLD NHNNg CN NHNNg CTTC, CTCTTC
Hình 2.18: Số lượng các tổ chức tín dụng theo loại hình
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh chóng của hệ thống NHTM mà thiếu sự định
hướng phù hợp và giám sát hiệu quả đã dẫn tới sự suy giảm năng lực và bộc lộ những
yếu kém của hệ thống trên nhiều khía cạnh. Những yếu kém này không phải được hình
thành trong một thời điểm mà được tích tụ trong một giai đoạn dài trước đó và chỉ thực
sự bộc lộ kể từ khi Việt Nam thực hiện triển khai quyết liệt, nghiêm túc Nghị quyết số
11/NQ-CP năm 2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Nội dung sau đây phân tích những đặc điểm của
hệ thống NHTM Việt Nam trên cơ sở đánh giá năm khía cạnh chủ yếu là chất lượng
tài sản có, tình hình thanh khoản, khả năng sinh lời, an toàn vốn và quản trị ngân hàng.
2.2.1.1. Chất lượng tài sản
Chất lượng tài sản của hệ thống NHTM Việt Nam ở mức thấp và suy giảm kể từ
năm 2011 bắt nguồn một phần từ việc phát triển quá nhanh chóng của hệ thống thông
qua việc thành lập mới, chuyển đổi ngân hàng, thành lập các chi nhánh, văn phòng
giao dịch trong nước và ngoài nước nhằm mở rộng TTS. Để bảo đảm cho việc mở
rộng TTS với tốc độ nhanh như vậy, hệ thống NHTM tập trung chủ yếu vào mở rộng
91
sản phẩm tín dụng và các khoản mục mang tính chất tín dụng như trái phiếu doanh
nghiệp, ủy thác đầu tư, đặt cọc, kỹ quỹ… thay vì tập trung vào nâng cao chất lượng tín
dụng (xem hình 2.19). Đáng chú ý là tỷ trọng các khoản cho vay trên TTLNH của hệ
thống NHTM ở mức khá cao nhưng lại giảm xuống khi NHNN triển khai các biện
pháp bình ổn thị trường này. Điểm này cho thấy cơ cấu tài sản của hệ thống có yếu tố
tăng ảo khi các NHTM vay, nhận tiền gửi và cho vay, gửi tiền lẫn nhau diễn ra khá
phổ biến.
Hình 2.19: Tỷ trọng tín dụng trên TTS của
65%
60%
55%
50%
45%
40%
35%
30%
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
ASEAN
Vietnam
hệ thống NHTM Việt Nam và ASEAN
Nguồn: Bankscope
Nợ xấu đã được tích lũy từ năm 2008 khi nền kinh tế phải chống chọi với lạm
phát và suy thoái kinh tế, nhưng lại được “che giấu” nhờ quy mô tín dụng gia tăng. Chỉ
đến khi tốc độ tăng trưởng tín dụng kể từ năm 2011 chậm lại so với giai đoạn trước đó,
nợ xấu mới thực sự bộc lộ. Chất lượng tín dụng suy giảm rõ rệt không chỉ thể hiện ở
nợ xấu tăng mà giá trị và tỷ trọng nợ quá hạn trong tổng dư nợ cũng tăng mạnh. Ngoài
ra, cơ cấu tín dụng của hệ thống NHTM cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro khi tín dụng tập
trung vào một vài lĩnh vực có tính chu kỳ kinh tế cao thay vì được đa dạng hóa nhằm
quản lý tốt rủi ro. Một ví dụ điển hình là tín dụng cho lĩnh vực bất động sản chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng dư nợ, đặt sự an toàn của hệ thống ngân hàng vào sự biến động
của thị trường bất động sản.
3 Tác giả dựa trên phương pháp đánh giá ngân hàng của Moody’s để tiến hành so sánh hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam với các nước khu vực ASEAN. Theo phương pháp của Moody’s, các ngân hàng được đánh giá theo các khía cạnh về chất lượng tài sản, mức độ đủ vốn, khả năng sinh lời, thanh khoản. Moody’s cũng cung cấp một thang đo phản ánh thực trạng ngân hàng trên từng khía cạnh qua các mức rất kém (VW), kém
Riêng đối với hệ thống NHTM, năm 2014, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt 2,02%, cao thứ tư trong khu vực3 (cao hơn các nước Singapore,
92
Malaysia và Cambodia). So với cả giai đoạn 2010 – 2014, tỷ lệ nợ xấu năm 2014 của
hệ thống ngân hàng Việt Nam đã giảm nhẹ nhờ các biện pháp bán nợ xấu cho VAMC
và sử dụng dự phòng rủi ro (xem hình 2.21).
35%
30%
% 9 7
.
2 2
25%
% 5 1
.
7 1
20%
15%
10%
% 5 8
.
% 8 8
.
4
% 6 0
% 2 0
% 3 8
.
.
% 4 4
3
.
.
% 7 7
3
3
% 8 4
2
.
% 3 2
% 0 1
.
2
.
.
5%
1
1
1
1
0%
NHHTX
NHTMNN NHTMCP
NHLD, NHNNg
CTTC, CTCTTC
Toàn hệ thống
2011
2012
2013
2014
05/2015
Hình 2.20: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống TCTD Việt Nam theo loại hình
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Tuy tỷ lệ nợ xấu có giảm và đứng ở khoảng giữa trong 7 nước khu vực
ASEAN, khả năng chống đỡ rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn ở
mức thấp. Điểm này được thể hiện qua tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên các khoản
nợ xấu năm 2014 ở mức 73,33% (chỉ cao hơn trường hợp của Philippines). Điều này
làm dấy lên quan ngại là nếu như phân loại đúng theo chuẩn mực quốc tế, mức độ trích
lập DPRR của hệ thống ngân hàng sẽ còn xuống đến mức thấp hơn nữa. Thực trạng thị
trường bất động sản đóng băng, hàng tồn kho tăng cao và khó tiêu thụ càng làm trầm
trọng hơn mức độ quan ngại về mức độ đầy đủ và hợp lý trong trích lập dự phòng của
các NHTM. Trong bối cảnh chất lượng tín dụng còn thấp, chưa có nguồn lực từ bên
ngoài để giải quyết triệt để, thì sử dụng dự phòng rủi ro vẫn là giải pháp chính được
các ngân hàng Việt Nam thực hiện để giảm tỷ lệ nợ xấu. So với các nước như
Cambodia, Thailand và Singapore với mức trích lập dự phòng rủi ro cao hơn 100%
quy mô nợ xấu, mức trích lập dự phòng rủi ro của Việt Nam thấp hơn rất nhiều.
(W), bình thường (M), tốt (S), và rất tốt (VS). Để so sánh hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam với các nước khu vực ASEAN, tác giả sử dụng cơ sở dữ liệu Bankscope trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến 2014. Các ngân hàng thương mại, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng hợp tác và ngân hàng thế chấp hiện đang còn hoạt động được lựa chọn vào mẫu nghiên cứu. Tác giả loại bỏ các ngân hàng đầu tư, tổ chức tài chính vi mô, công ty tài chính, quỹ tín thác… do sự khác biệt về chức năng hoạt động. Tại mỗi quốc gia, các ngân hàng thiếu dữ liệu từ báo cáo tài chính cập nhật đến năm 2014 bị loại khỏi mẫu nghiên cứu. Tổng cộng mẫu nghiên cứu bao gồm 190 ngân hàng.
93
Hình 2.21: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN
VW: 15% W: 6 - 15%
M: 3 - 6%
Philippines: 3,91%
Philippines: 4,15% Thailand: 3,49%
VW
W
S-: 2 - 3%
M
Indonesia: 2,93% Thailand: 2,86% Vietnam: 2,02%
Indonesia: 2,78% Cambodia: 2,42% Vietnam: 2,11%
S-
S
S: 1,5 - 2%
Malaysia: 1,99%
Cambodia: 1,82% Malaysia: 1,53%
S+
VS
S+: 1 - 1,5%
Singapore: 1,18%
VS: 0% - 1%
Singapore: 0,88%
Moody
2014
2010 - 2014
và thang đo của Moody’s
Nguồn: Bankscope, Moody’s, và tính toán của nhóm tác giả
Tóm lại, quy mô tín dụng tăng nhanh nhưng chất lượng tín dụng của hệ thống
NHTM không được bảo đảm. Nợ quá hạn, nợ xấu tăng nhanh trên cả thị trường 1 và
thị trường 2, cơ cấu tín dụng tập trung vào một số lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, mức
độ tập trung tín dụng vào một số khách hàng và khách hàng có liên quan rất lớn.
Trong khi đó, DPRR lại chưa được trích lập tương xứng với mức độ rủi ro mà hệ
thống đang phải đối mặt.
2.2.1.2. Thanh khoản
Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn và sử dụng vốn
cũng là tác nhân dẫn tới rủi ro thanh khoản tại hệ thống NHTM khi dư nợ tín dụng
trung dài hạn chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng dư nợ (nguy cơ mất khả năng
chi trả trong ngắn hạn của một số ngân hàng khi NHNN thực hiện thắt chặt CSTT). Sự
phát triển bùng nổ của hệ thống NHTMCP với nhiều hình thức cạnh tranh (chủ yếu
dựa trên lãi suất, các khoản khuyến mại) đã mở rộng thị phần tiền gửi của nhóm này.
Tuy nhiên, chính từ sự cạnh tranh về giá này, nhóm NHTMCP lại chịu rất nhiều áp lực
từ việc khách hàng liên tục rút trước hạn; khiến cho doanh số tiền gửi bị rút trước hạn
của nhóm này tăng mạnh, gây ra tình trạng mất ổn định thanh khoản cho hệ thống.
Tình trạng huy động lãi suất vượt trần của một bộ phận lớn các NHTM năm 2011 bất
chấp những quy định của NHNN là một minh họa điển hình.
Tình hình thanh khoản của hệ thống NHTM có nhiều bất ổn, được thể hiện trên
cả thị trường 1, 2, và 3. Do chưa có một thị trường vốn phát triển để đáp ứng được nhu
cầu cho nền kinh tế nên hệ thống NHTM luôn chịu áp lực cấp vốn và hệ quả là tỷ lệ
cho vay trên huy động của các ngân hàng luôn ở mức rất cao (xem hình 2.22 và 2.23).
94
Hình 2.22: Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay Hình 2.23: Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay
trung dài hạn, tín dụng/nguồn vốn trung dài hạn, tín dụng/nguồn vốn
35%
110%
40%
82%
35%
30%
80%
105%
30%
25%
78%
100%
25%
20%
76%
95%
20%
15%
74%
15%
90%
10%
72%
10%
85%
5%
70%
5%
0%
80%
0%
68%
2 1 - l u J
2 1 - l u J
3 1 - l u J
4 1 - l u J
5 1 - l u J
3 1 - l u J
4 1 - l u J
5 1 - l u J
3 1 - n a J
4 1 - n a J
5 1 - n a J
3 1 - n a J
4 1 - n a J
5 1 - n a J
3 1 - t c O
2 1 - t c O
4 1 - t c O
5 1 - t c O
2 1 - t c O
3 1 - t c O
4 1 - t c O
5 1 - t c O
4 1 - r p A
2 1 - r p A
3 1 - r p A
4 1 - r p A
5 1 - r p A
2 1 - r p A
3 1 - r p A
5 1 - r p A
Tỷ lệ vốn NH cho vay TDH
Tỷ lệ vốn NH cho vay TDH
Tỷ lệ cấp TD so với nguồn VHĐ (trục phải)
Tỷ lệ cấp TD so với nguồn VHĐ (trục phải)
huy động của NHTMNN huy động của NHTMCP
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Tín dụng tăng trưởng quá nhanh, nhanh hơn huy động vốn trong một thời gian
dài đã làm cho một bộ phận các NHTM phụ thuộc vào nguồn vốn trên TTLNH và
nguồn vốn từ NHNN. Năm 2011, thị trường 2 xuất hiện nhiều hiện tượng bất ổn, tiềm
ẩn rủi ro như: (i) các NHTM thừa vốn và thiếu vốn đều phát sinh đồng thời nhu cầu đi
vay - nhận tiền gửi và cho vay - gửi tiền; (ii) lãi suất tiền gửi giữa các NHTM có nhiều
thời điểm cao hơn lãi suất cho vay trên thị trường 1 (xem hình 2.24); (iii) các NHTM
yêu cầu phải có tài sản bảo đảm cho các quan hệ vay mượn dẫn đến giao dịch trên
TTLNH giảm mạnh đột ngột. Từ cuối quý 2 đến cuối quý 3, các NHTM lớn đa phần
tập trung vào thu hồi các khoản nợ trên TTLNH. Thực trạng này làm mất thanh khoản
cục bộ trên thị trường 2, lan truyền từ những NHTM yếu kém sang các NHTM lành
mạnh khi thị trường 2 không còn làm tốt vai trò điều tiết lượng vốn giữa các NHTM.
Hình 2.24: Lãi suất bình quân liên ngân hàng qua đêm và 1 tháng
Đơn vị: %
Nguồn: StoxPlus.com
95
Ngoài các chỉ tiêu về tỷ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tác giả đánh giá
tình hình thanh khoản theo hai chỉ tiêu của Moody’s. Chỉ tiêu thứ nhất đo lường tỷ
trọng các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn và dễ bị rút ra khỏi ngân hàng bởi các đối
tác gửi tiền có mức nhạy cảm cao với rủi ro. Các khoản tiền gửi từ các tổ chức kinh tế
và dân cư được Moddy’s đánh giá là ổn định hơn so với các nguồn vốn bán buôn từ
các tổ chức tài chính (vốn trên thị trường liên ngân hàng, các giấy tờ có giá ngắn hạn,
trái phiếu…).
Hình 2.25: Tỷ trọng nguồn vốn có tính chất ngắn hạn và dễ bị rút ra của
Vietnam: 25,69%
VW
W
VW: 50% W: 30 - 50% M-: 25 - 30% M: 20 - 25% M+: 15 - 20%
Vietnam: 16,21%
M-
M
S-: 10 - 15%
Cambodia: 11,84% Malaysia: 11,47% Singapore: 10,95%
Thailand: 12,31% Singapore: 12,01% Malaysia: 10,95%
M+
S: 7,5 - 10%
Thailand: 9,54%
Cambodia: 8,18%
S-
S
S+: 5 - 7,5%
Indonesia: 7,50% Philippines: 6,05%
Indonesia: 6,76% Philippines: 6,25%
S+
VS: 5%
VS
Moody
2014
2010 - 2014
hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s
Nguồn: Bankscope, Moody’s, và tính toán của tác giả
Mặc dù đã thể hiện xu hướng giảm mạnh, tỷ trọng các nguồn vốn dễ bị rút ra
của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn đứng đầu trong số các nước khu vực ASEAN
(xem hình 2.25). Trong nhóm nguồn vốn này, các khoản tiền gửi từ các TCTD và đi
vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất mặc dù các khoản tiền gửi từ các tổ chức tín
dụng đã giảm mạnh nhờ các quy định chặt chẽ hơn của cơ quan quản lý về hoạt động
thị trường liên ngân hàng.
Chỉ tiêu thứ hai đo lường tỷ trọng các tài sản có tính thanh khoản cao trong tổng
tài sản ngân hàng. Ngân hàng có thể huy động dễ dàng hơn từ những đối tác trong nền
kinh tế (kể cả những đối tác gửi tiền nhạy cảm với rủi ro) nếu như các khoản mục tài
sản có tính thanh khoản cao chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Tuy đứng vị trí thứ
hai trong số 7 nước khu vực ASEAN (xem hình 2.26), chỉ tiêu tài sản có tính thanh
khoản cao của hệ thống ngân hàng Việt Nam phần nhiều dựa vào các khoản tiền gửi
tại các TCTD hơn là các tài sản có thể dễ dàng giao dịch trên thị trường thứ cấp. Trái
phiếu Chính phủ do hệ thống ngân hàng nắm giữ là chủ yếu ít được giao dịch trên thị
trường thứ cấp mà chủ yếu được sử dụng để thực hiện các giao dịch với NHNN.
96
Nguồn vốn huy động trên thị trường 1 không ổn định, thị trường 2 mất thanh
khoản cục bộ buộc nhiều NHTM phải tìm đến thị trường 3 qua những khoản vay tái
chiết khấu, tái cấp vốn để bảo đảm thanh khoản. Không những vậy, để bảo đảm các
quy định của NHNN về thanh khoản, các NHTM đã tăng cường phát hành GTCG và
nắm giữ GTCG của NHTM khác phát hành nhằm làm tăng tỷ trọng tài sản có tính
thanh khoản.
Hình 2.26: Tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản cao của hệ thống ngân hàng
VW
VW: 5% W: 5 - 15% M-: 15 - 20% M: 20 - 25%
W
M-
M+: 25 - 30%
M
Thailand: 27,28% Singapore: 28,43% Indonesia: 29,17%
Thailand: 26,97% Singapore: 29,18% Indonesia: 9,65%
M+
S-: 30 - 35%
Malaysia: 30,48%
Malaysia: 31,95%
S-
S: 35 - 40%
Cambodia: 37,22% Vietnam: 38,65%
Cambodia: 38,17% Vietnam: 39,08%
S
Philippines: 42,8%
Philippines: 43,6%
S+
S+: 40 - 50% VS: 50%
VS
Moody
2014
2010 - 2014
các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s
Nguồn: Bankscope, Moody’s, và tính toán của tác giả
Tóm lại, tình hình thanh khoản của hệ thống NHTM trong năm 2011 và nửa
đầu năm 2012 là khá nghiêm trọng do mất cân đối sâu sắc giữa huy động và cho vay
trên thị trường 1, giữa cơ cấu kỳ hạn huy động và cho vay trên thị trường 1, không chỉ
bao gồm nội tệ mà có cả ngoại tệ trong khi doanh số rút tiền gửi rút trước hạn tăng
mạnh. Trong khi đó, rủi ro trên thị trường 2 gia tăng mạnh, một số thời điểm diễn ra
tình trạng mất thanh khoản cục bộ, ảnh hưởng tới an toàn của hệ thống.
2.2.1.3. Khả năng sinh lời
Tăng trưởng lợi nhuận của hệ thống NHTM không bền vững và có sự phân hóa
khá cao giữa các nhóm. Trước giai đoạn suy thoái kinh tế vĩ mô 2011 - 2015, nhóm
NHTMCP chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng lợi nhuận của toàn hệ thống; tuy nhiên,
tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của nhóm này liên tiếp sụt giảm khi tăng trưởng tín dụng
gặp khó và những nhược điểm cố hữu của nhóm ngân hàng này được bộc lộ như nợ
xấu tăng cao. Trong khi đó, lợi nhuận của nhóm NHTMNN có tính ổn định hơn khi
chỉ giảm nhẹ và dần trở thành nhóm chiếm tỷ trọng lợi nhuận cao nhất hệ thống (xem
hình 2.27 và 2.28). Tuy nhiên, trong giai đoạn 2011 – 2015, hầu hết các NHTM không
97
đạt được lợi nhuận như mục tiêu đề ra và phải điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận trong bối
cảnh hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung gặp
nhiều khó khăn.
Hình 2.27: Tỷ lệ ROA và ROE của Hình 2.28: Tỷ lệ ROA và ROE của
6%
20%
6%
20%
5%
15%
5%
15%
11.4%
11.0% 11.7% 11.9% 12.1%
10.9% 11.4% 11.6% 12.5%
8.1% 8.2%
4%
10%
4%
10%
7.3%
5.6%
3.9%
3.7%
3%
5%
3%
5%
1.4%
2%
0%
2%
0%
1.5%
1.3% 1.2% 1.1%
1%
-5%
1%
-5%
0.7% 0.8% 0.8% 0.9% 0.8% 0.7% 0.6% 0.5%
0.2% 0.3% 0.5% 0.3%
0%
-10%
0%
-10%
1 1 0 2
4 1 0 2
3 1 0 2
8 0 0 2
9 0 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
8 0 0 2
9 0 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
5 1 0 2 / 9 0
5 1 0 2 / 9 0
ROA
ROA
ROE (trục phải)
ROE (trục phải)
nhóm NHTMNN nhóm NHTMCP
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Dù tổng thu nhập vẫn thể hiện xu hướng tăng, cơ cấu thu nhập của hệ thống
NHTM có nhiều bất cập. Thu nhập từ hoạt động tín dụng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng thu nhập. Việc quá tập trung vào tín dụng như là hoạt động chính của
NHTM đã khiến cho mức độ an toàn, thu nhập và lợi nhuận của hệ thống bị phụ thuộc
vào một hoạt động và trở nên rất nhạy cảm với những biến động kinh tế vĩ mô, đặc
biệt là thay đổi CSTT.
Cụ thể, tín dụng vẫn là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chính khi thu nhập lãi
thuần chiếm khoảng 75% thu nhập hoạt động của ngân hàng so với mức khoảng 60% của các ngân hàng trong khu vực ASEAN4. Tỷ trọng thu nhập phi lãi thuần trong tổng
thu nhập hoạt động của nhóm NHTMNN cao hơn so với nhóm NHTMCP. Điều này
cho thấy sự đa dạng hoá trong nguồn thu nhập của nhóm NHTMNN chủ yếu là dựa
vào lợi thế nhờ quy mô (về nguồn vốn và mạng lưới) trong khi tiến trình đa dạng hoá
hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn diễn ra rất chậm chạp và ở mức thấp
hơn so với hệ thống ngân hàng khu vực ASEAN. Thu nhập từ dịch vụ không chỉ ở
mức rất thấp mà còn thể hiện rõ xu hướng co hẹp trong tổng thu nhập. Tương tự, thu
nhập từ các hoạt động khác như đầu tư, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại tệ,
kinh doanh vàng… không còn đem lại lợi nhuận như các năm trước đây do các thị
4 Số liệu năm 2014
trường này bị đóng băng và giảm giá liên tục. Xu hướng này diễn ra cả đối với nhóm
98
NHTMCP, vốn dĩ từng được cho là có khả năng phát triển các dịch vụ tốt hơn nhóm
NHTMNN nhờ tập trung đầu tư vào lĩnh vực này.
Dựa trên phương pháp phân tích của Moody’s, tác giả đánh giá mức độ sinh lời
của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN thông qua tỷ lệ lợi nhuận trên tài
sản hữu hình (TTS trừ đi lợi thế thương mại và các tài sản vô hình khác). Hệ thống
ngân hàng Việt Nam không chỉ có mức sinh lời thấp nhất trong số 7 nước ASEAN mà
còn thể hiện xu hướng giảm mạnh trong giai đoạn 2010 – 2014 (xem hình số 2.29).
Mặc dù tỷ lệ thu nhập lãi ròng trên tài sản sinh lời cao hơn so với Singapore và
Malaysia (một phần nhờ vào trần lãi suất huy động và tỷ trọng lớn các khoản tiền gửi
kỳ hạn ngắn) nhưng tỷ lệ chi phí trên thu nhập và trích lập dự phòng rủi ro cao đã
khiến mức sinh lời của hệ thống ngân hàng Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước
còn lại trong khu vực ASEAN.
Hình 2.29: Tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản hữu hình của hệ thống ngân hàng
VW
W
VW: 0% W: 0 - 0,75% M-: 0,5 - 0,75%
Vietnam: 0,65%
M-
M: 0,75 - 1%
Vietnam: 0,93%
M
M+: 1 - 1,25%
Singapore: 1,03% Malaysia: 1,11%
Singapore: 1,03% Malaysia: 1,15%
M+
S-
S-: 1,25- 1,5%
Thailand: 1,25% Philippines: 1,43%
Philippines: 1,25% Thailand: 1,35%
S
S+
S: 1,5 - 1,75% S+: 1,75% - 2%
Indonesia: 1,99%
Cambodia: 1,98%
VS-
Cambodia: 2,02%
Indonesia: 2,11%
VS
VS-: 2 - 2,25% VS: 2,25 - 2,5% VS+: 2,5%
VS+
Moody
2014
2010 - 2014
các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s
Nguồn: Bankscope, Moody’s, và tính toán của tác giả
Năm 2014 và 2015, chi phí tăng cao bởi việc đẩy mạnh trích lập DPRR tín dụng
khi các ngân hàng sử dụng đến 40 – 50% lợi nhuận cho trích lập dự phòng (sau khi trừ
đi chi phí hoạt động). Trong khi đó, các khoản chi phí hoạt động chiếm tỷ trọng cao
trong tổng thu nhập thể hiện sự quản lý chi phí thiếu hiệu quả của hệ thống ngân hàng.
Hệ quả của việc quản lý chi phí kém hiệu quả là mặc dù tỷ lệ lãi biên của hệ thống
ngân hàng Việt Nam ở mức cao nhưng các tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên TTS và trên
vốn chủ sở hữu lại thấp so với giai đoạn trước khi tái cơ cấu và luôn thấp hơn mức
bình quân khu vực ASEAN.
99
Để bảo đảm việc so sánh mức sinh lời của hệ thống ngân hàng tương xứng với
mức độ rủi ro, tác giả sử dụng chỉ tiêu Z-score đo lường tình trạng mất khả năng thanh
toán của ngân hàng.
𝑍 − 𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒 = 𝑅𝑂𝐴 + 𝐸𝑞𝑢𝑖𝑡𝑦/𝐴𝑠𝑠𝑒𝑡𝑠 𝜎(𝑅𝑂𝐴)
Chỉ tiêu Z-score bao gồm ba nhân tố quan trọng khi đánh giá ngân hàng là lợi
nhuận (tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản), mức đòn bẩy tài chính (tỷ lệ vốn chủ sở hữu
trên tổng tài sản), và mức độ biến động của lợi nhuận (phương sai của tỷ lệ sinh lời
trên tổng tài sản). Do vậy, chỉ tiêu này phản ánh được tình trạng chấp nhận rủi ro quá
mức (excessive risk-taking) của ngân hàng tốt hơn từng chỉ tiêu riêng lẻ. Hệ thống
ngân hàng Việt Nam có mức độ rủi ro cao nhất (đo bằng Z-score) trong số 7 nước khu
vực ASEAN nhưng mức sinh lời lại thấp nhất (đo bằng tỷ lệ ROA). Trong khi đó, hệ
thống ngân hàng các nước như Singapore hay Malaysia có mức sinh lời tuy thấp
nhưng mức rủi ro cũng thấp theo (xem hình 2.30).
Hình 2.30: Mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro của hệ thống ngân hàng
2.5%
Indonesia
2.0%
Cambodia
Indonesia
Philippines
Cambodia
các nước khu vực ASEAN
y t i l i
1.5%
Thailand
Philippines
Malaysia
1.0%
Thailand
Vietnam
b a t i f o r P
Singapore
Malaysia
0.5%
Singapore
Vietnam
0.0%
0%
1%
3%
4%
2% Risk
Nguồn: Bankscope và tính toán của tác giả
Tóm lại, khả năng sinh lời của hệ thống NHTM Việt Nam không chỉ giảm xuống
mà còn thể hiện ở cơ cấu thu nhập thiếu bền vững, chứa đựng nhiều rủi ro trong khi
tổng chi phí lại thiếu đi tính linh hoạt, khiến cho lợi nhuận của toàn hệ thống sụt giảm
mạnh khi nền kinh tế gặp khó khăn.
2.2.1.4. An toàn vốn
Năng lực tài chính của hệ thống NHTM thấp, thể hiện ở quy mô VĐL và TTS ở
mức thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác trong khu vực. Mặc dù số lượng tổ chức
đã giảm đáng kể qua 5 năm tái cơ cấu với nhiều thương vụ hợp nhất, sáp nhập, hệ
thống TCTD Việt Nam vẫn chưa hình thành được ngân hàng có quy mô lớn tầm cỡ
100
khu vực. Nhóm các NHTMNN như BIDV, Vietinbank, Vietcombank mới chỉ xếp thứ
hạng khoảng 20 đổ ra trong khu vực ASEAN xét theo tiêu chí TTS.
Xét đến hệ số an toàn vốn, sau giai đoạn tăng trưởng nhanh năm 2006 - 2009,
hệ số CAR ít được cải thiện trong giai đoạn sau này và vẫn ở mức thấp hơn nhiều so
với khu vực và thế giới (xem hình 2.31 và 2.32). Hệ số CAR của nhóm NHTMNN
trong năm 2010 không đạt mức yêu cầu 9% và chỉ tới năm 2011, mới được cải thiện
lên mức 9,06%. Một số NHTMCP có hệ số an toàn vốn thấp, thậm chị bị âm vốn chủ
sở hữu buộc phải hợp nhất, sáp nhập với một số ngân hàng lớn hoặc bị NHNN mua lại
với giá 0 đồng. Về mặt kỹ thuật, NHTM không đạt mức an toàn vốn tối thiểu thì ngân
hàng đó hoạt động không an toàn, tiềm ẩn rủi ro không chỉ với các ngân hàng đó mà
toàn bộ hệ thống. Ngoài ra, Thông tư 13/2010/TT-NHNN (được thay thế bởi Thông tư
số 36/2014/TT-NHNN) mới chỉ phản ánh rủi ro tín dụng mà chưa phán ánh được rủi
ro thị trường và rủi ro hoạt động nên hệ số CAR của Việt Nam có thể sẽ thấp hơn
nhiều nếu tính theo đúng chuẩn mực quốc tế.
Hình 2.31: Đòn bẩy tài chính và hệ số Hình 2.32: Đòn bẩy tài chính và hệ số
7.0%
14
9.0%
15
8.5%
6.5%
12
8.0%
6.0%
13
7.5%
10
5.5%
7.0%
5.0%
8
6.5%
11
5 1 - l u J
2 1 - l u J
3 1 - l u J
4 1 - l u J
2 1 - l u J
3 1 - l u J
4 1 - l u J
5 1 - l u J
3 1 - n a J
4 1 - n a J
5 1 - n a J
3 1 - n a J
4 1 - n a J
5 1 - n a J
2 1 - t c O
3 1 - t c O
4 1 - t c O
5 1 - t c O
2 1 - t c O
3 1 - t c O
4 1 - t c O
5 1 - t c O
2 1 - r p A
3 1 - r p A
4 1 - r p A
5 1 - r p A
2 1 - r p A
3 1 - r p A
4 1 - r p A
5 1 - r p A
VTC/TTS
VTC/TTS
CAR (trục phải)
CAR (trục phải)
an toàn vốn của nhóm NHTMNN an toàn vốn của nhóm NHTMCP
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Trong tính toán hệ số an toàn vốn của NHTM, đặc biệt là tính tài sản có rủi ro,
sự thiếu minh bạch và quan ngại về việc các NHTM phân loại các tài sản có hệ số rủi
ro cao vào nhóm có hệ số rủi ro thấp hơn là có cơ sở. Điều này thể hiện ở hiện tượng
hệ số an toàn vốn luôn cao hơn đáng kể so với tỷ lệ đòn bẩy tài chính, và mức chênh
lệch chỉ giảm xuống khi hoạt động của nền kinh tế và các lĩnh vực có mức rủi ro cao
diễn ra ổn định. Khả năng phòng thủ trước các cú sốc vẫn là một vấn đề quan ngại khi
hệ số đòn bẩy tài chính của hệ thống vẫn tăng do các ngân hàng mở rộng TTS nhanh
hơn mức tăng vốn chủ sở hữu. Mở rộng TTS tập trung chủ yếu vào cấp tín dụng khiến
cho mức độ chấp nhận rủi ro của hệ thống ngân hàng ngày một cao, tiềm ẩn rủi ro cho
sự ổn định của hệ thống trong tương lai.
101
Hình 2.33: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của hệ thống ngân hàng
20%
15%
10%
5%
0%
a i s y a l a
a i s y a l a
m a n t e i V
m a n t e i V
e r o p a g n i
e r o p a g n i
d n a l i a h T
d n a l i a h T
M
M
a i s e n o d n I
a i s e n o d n I
S
S
a i d o b m a C
a i d o b m a C
s e n i p p i l i h P
s e n i p p i l i h P
2014
2010 - 2014
các nước khu vực ASEAN
Nguồn: Bankscope và tính toán của tác giả
Trong số 7 nước trong cùng khu vực ASEAN, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài
sản của Việt Nam năm 2014 ở mức thấp nhất và thể hiện rõ xu hướng từ năm 2010 trở
lại đây (xem hình 2.31). Nguyên nhân của vấn đề này là do việc phát hành cổ phiếu để
tăng vốn điều lệ chưa thuận lợi, bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài bị giới hạn bởi
quy định của cơ quan quản lý Nhà nước và lợi nhuận để lại bị xói mòn bởi các khoản
trích lập dự phòng rủi ro. Tuy vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam, Cambodia và
Philippines lại có tốc độ tăng trưởng tổng tài sản cao nhất trong khu vực. Đặc điểm
này dẫn tới quan ngại về khả năng chống chọi trước rủi ro của hệ thống ngân hàng
Việt Nam trong bối cảnh các rủi ro tiềm ẩn từ bên ngoài ngày một nhiều hơn do hội
nhập kinh tế quốc tế.
Tóm lại, tình hình an toàn vốn của hệ thống NHTM tuy đạt mức quy định
nhưng lại thiếu sự ổn định và tính bền vững. Thực trạng này làm dấy lên quan ngại về
khả năng chống chọi rủi ro của toàn hệ thống trong điều kiện xảy ra những cú sốc
mang tính hệ thống khi tấm đệm phòng ngừa rủi ro quá mỏng.
2.2.1.5. Quản trị ngân hàng
Năng lực quản trị của các NHTM còn nhiều bất cập, chưa tương xứng so với
quy mô, tốc độ tăng trưởng, và mức độ rủi ro hoạt động. Sự hạn chế về năng lực quản
trị xuất phát từ vấn đề cơ cấu sở hữu tập trung, năng lực của cổ đông, hội đồng quản
trị, và các vị trí quản lý của hệ thống NHTM chưa phù hợp với yêu cầu. Nhiều cổ đông
lớn và người đại diện cổ đông lớn tham gia vào các vị trí quản lý, điều hành nhưng lại
thiếu kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm về ngân hàng.
Chất lượng quản trị ngân hàng ở mức thấp so với mặt bằng chung của toàn nền
kinh tế mặc dù đây là ngành được thanh tra, giám sát khá chặt chẽ bởi cơ quan quản lý
102
Nhà nước. Kết quả đánh giá chất lượng quản trị doanh nghiệp các doanh nghiệp niêm
yết cho thấy điểm số quản trị của ngành tài chính (trong đó có 02 NHTMNN và 06
NHTMCP) chỉ nhỉnh hơn so với mức trung bình của toàn mẫu; đồng thời, ngay cả
mức điểm số cao nhất cũng cách rất xa so với mức cao nhất của toàn bộ mẫu. Tiếp tục
tách 8 NHTM ra khỏi nhóm ngành tài chính, thì ngành ngân hàng có điểm số quản trị
doanh nghiệp là 43,7, thấp hơn so với mức điểm số 45,2 của các ngành bảo hiểm,
chứng khoán…[77, 78, 79]. Đây là minh họa cụ thể cho hệ thống quản trị, nhất là quản
trị rủi ro, hệ thống kiểm tra, kiểm soát, và kiểm toán nội bộ của các ngân hàng hoạt
động chưa hiệu quả và chưa phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó,
mô hình tổ chức và quản lý của các NHTM còn bộc lộ một số nhược điểm cố hữu như:
Thứ nhất, mô hình tổ chức và quản lý hiện tại được phân biệt chủ yếu theo chức
năng với hai cơ cấu quyền lực là cấp quản trị điều hành - Hội đồng quản trị và cấp
quản lý kinh doanh - Ban điều hành. Tuy nhiên, thực tế vai trò của Hội đồng quản trị
và Ban điều hành ở một số NHTM lại chưa được phân tách rõ ràng. Do vậy, Hội đồng
quản trị có thể bị rơi vào trường hợp: (i) không tập trung được các luồng thông tin chủ
yếu về hoạt động để xây dựng, kiểm tra các mục tiêu chiến lược và các quyết định
phòng ngừa rủi ro hoặc (ii) tham gia quá sâu vào các hoạt động thường ngày của hoạt
động quản lý [20].
Thứ hai, mô hình tổ chức của các NHTM chưa được hoàn thiện. Theo đó, các
phòng ban nghiệp vụ từ trụ sở chính và chi nhánh chủ yếu được phân nhiệm theo
nghiệp vụ và cắt khúc theo địa giới hành chính, chưa chú trọng phân nhiệm theo nhóm
khách hàng và loại dịch vụ như thông lệ quốc tế. Đây là hạn chế lớn nhất về cấu trúc
quản lý và phát triển sản phẩm mới đối với NHTM cũng như làm hạn chế khả năng
phục vụ và đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Thứ ba, thiếu các bộ phận liên kết các hoạt động, các quyết định giữa các
phòng, ban nghiệp vụ, tạo điều kiện cho Hội đồng quản trị và Ban điều hành bao quát
toàn diện hoạt động và tập trung nhân lực, tài lực vào các định hướng chiến lược.
Ngoài ra, cơ sở dữ liệu về phân tích, dự báo môi trường kinh doanh, đánh giá nguồn
lực và xác định tầm nhìn trung, dài hạn vốn là công cụ quản lý cơ bản của các NHTM
hiện đại vẫn còn thiếu nên các NHTM còn khá lúng túng trong việc hoạch định chiến
lược phát triển dài hạn. Nhược điểm này dẫn đến nhiều NHTM đã tiến hành đầu tư,
cấp tín dụng với quy mô lớn vào một số lĩnh vực có rủi ro cao như bất động sản, vàng,
chứng khoán, bảo hiểm… khiến mức độ rủi ro vượt quá khả năng kiểm soát, đe dọa sự
an toàn của từng NHTM và toàn hệ thống.
103
Cạnh tranh giữa các NHTM thiếu lạnh mạnh, thiếu sự hợp tác giữa các ngân
hàng dẫn đến kỷ cương, kỷ luật, chính sách, pháp luật trong hoạt động ngân hàng
không được tôn trọng. Phương thức, chiến lược kinh doanh và cạnh tranh của các
NHTM bộc lộ nhiều hạn chế, mục tiêu chạy theo lợi nhuận, thị phần đã lẫn át các yêu
cầu về bảo đảm an toàn hoạt động. Tình hình vi phạm quy định pháp luật về hoạt động
ngân hàng khá phổ biến với tính chất ngày càng tinh vi, phức tạp. Ngoài các hành vi
vay ké, nội bộ thông đồng lấy quỹ, lập hồ sơ giả lấy tiền tiết kiệm, tiền vay… như đã
xảy ra trước đây, còn xuất hiện các hình thức vi phạm mới như rửa tiền, sử dụng công
nghệ cao để hoạt động cả trong lĩnh vực chứng khoán và ngân hàng… Tiêu cực, tham,
sự suy thoái đạo đức của các bộ, một số vụ vi phạm có tổ chức, hành vi vi phạm đặc
biệt nghiêm trọng đã xuất hiện (như tại NHTMCP Á Châu, NHTMCP Công thương,
NHTMCP Đại Dương, NHTMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long…).
Nhóm lợi ích và sở hữu chéo giữa các NHTM phổ biến với quy mô ngày càng
gia tăng. Nhiều tập đoàn của tư nhân, các tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước đã đầu
tư góp vốn, mua cổ phần và trở thành cổ đông lớn hoặc chủ sở hữu của các NHTM.
Không ít trường hợp các NHTM đã bị các cổ đông lớn lạm dụng trở thành kênh huy
động và cung cấp vốn cho các cổ đông, doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu, kiểm soát
của cổ đông. Tình trạng sở hữu chéo phổ biến và không được kiểm soát hợp lý đã dẫn
tới nhiều hệ lụy cho hệ thống NHTM như (i) khả năng chống đỡ rủi ro không được
đánh giá đúng mức khi lượng vốn góp thực thấp hơn nhiều so với với lượng vốn góp
danh nghĩa; (ii) làm gia tăng tình trạng cho vay thiếu kiểm soát, dẫn tới tình trạng nợ
xấu bị che giấu đi nhờ những khoản cho vay đảo nợ; (iii) vi phạm các quy định về giới
hạn tín dụng, phân loại nợ và trích lập DPRR; (iv) làm giảm tính cạnh tranh trong hệ
thống; (v) làm gia tăng nguy cơ rủi ro chéo giữa các thị trường ngân hàng, chứng
khoán, bảo hiểm… ; (vi) ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động quản trị doanh nghiệp,
quyền lợi của cổ đông nhỏ lẻ không được bảo đảm.
Cuối cùng, tồn tại trong hệ thống một bộ phận không nhỏ các NHTM tiềm ẩn
nhiều rủi ro, tài chính kém lành mạnh, khả năng cạnh tranh thấp, và dễ bị tổn thương
khi môi trường kinh doanh có sự thay đổi. Đại bộ phận ngân hàng này là các
NHTMCP chuyển đổi từ mô hình NHTMCP nông thôn với quy mô nhỏ, năng lực tài
chính và quản trị rủi ro thấp, hoạt động không có hiệu quả.
Tóm lại, tình hình quản trị trong hệ thống NHTM còn tồn tại nhiều bất cập, là
nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự yếu kém của hệ thống do những sai lầm về tư duy quản
trị ngân hàng. Những vấn đề về quản trị doanh nghiệp, cạnh tranh không lành mạnh,
vi phạm quy định của pháp luật, và sở hữu chéo là những vấn đề nổi cộm cần được
khắc phục nhằm lành mạnh hóa hệ thống NHTM.
104
2.2.2. Thực trạng truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của các ngân
hàng thương mại Việt Nam
2.2.2.1. Thực trạng truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh bảng cân đối tài sản của
người đi vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
a/ Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay
tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ ngày 24/02/2011, NHNN đã
chuyển hướng sang thắt chặt CSTT và chỉ đạo toàn ngành ngân hàng giảm tốc độ tăng
trưởng tín dụng, cải thiện chất lượng tín dụng qua việc điều chỉnh lại cơ cấu tín dụng.
Nhiều giải pháp đã được NHNN triển khai như phát hành tín phiếu NHNN để hút
lượng tiền dư thừa về, tăng các mức lãi suất điều hành, áp dụng trần lãi suất huy động
và hạn mức tăng trưởng tín dụng… Ngay sau đó, mức lãi suất trên thị trường liên ngân
hàng và thị trường tiền tệ tăng lên nhanh chóng, phản ánh sự thiếu hụt thanh khoản của
hệ thống NHTM.
Ảnh hưởng của việc giảm mức độ sẵn có của nguồn vốn dành cho cấp tín dụng
và lãi suất gia tăng là (i) hoạt động sản xuất kinh doanh khó khăn, chi phí lãi vay gia
tăng cao dẫn tới lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp sụt giảm; (ii) hàng
tồn kho gia tăng, các khoản tín dụng thương mại khó đòi xuất hiện dày đặc khiến dòng
tiền sụt giảm; (iii) giá trị và tính thanh khoản của TSBĐ giảm; (iv) mức độ không chắc
chắn của môi trường kinh doanh khiến rủi ro tín dụng gia tăng. Thực trạng này đã
khiến cho khả năng lẫn mong muốn vay vốn của doanh nghiệp giảm xuống đáng kể.
Thứ nhất, lãi suất tăng khiến chi phí lãi vay tăng, làm lợi nhuận và giá trị tài sản
ròng giảm mạnh, khiến các doanh nghiệp giảm nhu cầu vay lẫn khả năng sử dụng vốn
vay hiệu quả
Trước giải pháp thắt chặt tiền tệ, bối cảnh kinh tế suy giảm và rủi ro tín dụng
gia tăng đã được dự báo, các NHTM đã chủ động tăng mạnh lãi suất cho vay để bù đắp
mức độ rủi ro gia tăng (spread giữa lãi suất huy động và cho vay tăng). Đối với các
khoản vay mới và khoản vay thả nổi lãi suất, áp dụng mức lãi suất cao (có thời điểm
lên tới 20 - 30%/năm), đã khiến cho chi phí lãi vay của các doanh nghiệp tăng đáng kể.
Đối với các khoản vay cũ với lãi suất thấp, theo quy định trong phần lớn các hợp đồng
tín dụng giữa NHTM và khách hàng, việc lãi suất được phép thỏa thuận lại định kỳ
khoảng 3 tháng/lần (cùng với vị thế hơn hẳn của ngân hàng so với khách hàng do đa
phần khách hàng là DNNVV) đã dẫn tới mặt bằng lãi suất cao nhanh chóng được áp
dụng với hầu hết với các khoản vay. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
vốn dĩ đã gặp khó khăn khi chi phí tăng cao và khả năng cạnh tranh thấp, nay phải đối
mặt với chi phí lãi vay cao, khiến cho khả năng chi trả lãi vay giảm xuống.
105
30%
30%
25%
25%
20%
20%
15%
15%
10%
10%
5%
5%
0%
0%
5 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 -
0 1
5 1
0 2
5 2
0 5
0 1 -
% 0
% 2
% 4
% 6
% 8
% 5 -
% 0 1
% 2 1
% 4 1
% 6 1
% 8 1
% 0 2
e r o M
% 0 1 -
e r o M
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2015
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2015
Hình 2.34: Tỷ lệ khả năng chi trả lãi vay của doanh nghiệp Hình 2.35: Tỷ lệ sinh lời trên doanh thu của doanh nghiệp
Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả Quan sát tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu của doanh nghiệp5 từ năm 2011 sang năm 2012 cho thấy sự dịch chuyển tỷ trọng các doanh nghiệp có mức sinh lời cao sang mức sinh lời thấp hơn. Do tỷ lệ đòn bẩy tài chính ở mức cao, sự sụt giảm lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí lãi vay tăng cao được khuếch đại lên đáng kể (xem hình 2.34 và 2.35). Tỷ lệ ROAA và ROAE cũng cho thấy sự sắp lại theo hướng tập trung tại khu vực thấp hơn trong năm 2012 (xem hình 2.36 và 2.37). Mức sinh lời và khả năng chi trả lãi vay, giá trị tài sản ròng giảm cùng với lãi suất cho vay tăng cao buộc các doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô, hạn chế vay vốn ngân hàng. Bản thân các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để tiếp tục sản xuất kinh doanh cũng gặp khó khăn khi tiếp cận ngân hàng do các chỉ tiêu về tài chính đi xuống và lãi vay tăng cao.
30%
30%
25%
25%
20%
20%
15%
15%
10%
10%
5%
5%
0%
0%
% 0
% 5
% 5 -
% 0
% 2
% 4
% 6
% 8
% 5 2
% 0 1
% 5 1
% 0 2
% 0 3
% 5 3
% 0 4
% 0 6
% 0 8
% 5 -
% 0 1 -
e r o M
% 6 1
% 0 1
% 2 1
% 4 1
% 8 1
% 0 2
-5%
% 0 1 -
e r o M
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2015
2011
2012
2015
Hình 2.36: Tỷ lệ ROA của doanh nghiệp Hình 2.37: Tỷ lệ ROE của doanh nghiệp
5 Kết quả từ số liệu Stoxplus bao gồm 201 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán nằm trong chỉ
số VNINDEX trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015. Chi tiết xem phụ lục sô 6.
Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả
106
Thực trạng này dẫn đến hệ quả từ năm 2012 cho năm 2014, chính sách tiền tệ
tín dụng nới lỏng hơn với mục tiêu thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế không mang lại kết
quả như kỳ vọng. Ngay từ phía cầu tín dụng, các doanh nghiệp sau giai đoạn khó khăn
đã bị suy yếu năng lực tài chính, khiến cho khả năng chịu đựng lãi vay (ngay kể cả khi
lãi suất được giảm xuống mức thấp) trên khía cạnh tuyệt đối (chi phí lãi vay) lẫn tương
đối (lãi suất) bị giảm xuống (lúc này, chi phí lãi vay trở thành một cấu thành lớn trong
chi phí của doanh nghiệp do quy mô sản xuất đang bị thu hẹp và cần thời gian để tăng
trưởng trở lại quy mô như lúc trước giai đoạn suy thoái). Sự cộng hưởng của nhiều
nhân tố tiêu cực (đặc biệt là năng lực tài chính và môi trường kinh doanh) trở thành trở
ngại ngăn cản các doanh nghiệp tiếp cận với tín dụng ngân hàng. Trước tình hình tài
chính suy yếu, không chỉ các doanh nghiệp ngần ngại vay vốn mà các NHTM cũng đã
lựa chọn phương án “phòng thủ” là siết chặt các điều kiện cấp tín dụng.
Thứ hai, sức cầu của nền kinh tế suy yếu, hàng hóa sản xuất không tiêu thụ
được, hàng tồn kho gia tăng mạnh, dẫn tới các khoản tín dụng thương mại khó thanh
toán, dòng tiền của doanh nghiệp sụt giảm
Mặt bằng lãi suất tăng và các điều kiện tín dụng bị siết chặt đã khiến cho doanh
nghiệp phải đối mặt với khó khăn về dòng tiền (không chỉ giới hạn về nguồn và chi phí
vốn). Hàng tồn kho gia tăng nhanh chóng còn do các hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp khó điều chỉnh ngay trong ngắn hạn. Cùng với đó, các khoản tín
dụng thương mại giữa các doanh nghiệp chưa thể hoàn trả được khiến cho dòng tiền
của hệ thống doanh nghiệp bị tắc nghẽn. Nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng thiếu
hụt thanh khoản trầm trọng khi phải thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Quan sát diễn biến hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán
nhanh (sau khi loại bỏ hàng tồn kho) của doanh nghiệp cho thấy hệ số này đã được sắp
xếp lại theo hướng tập trung vào khu vực có hệ số thấp hơn trong năm 2011, 2012,
phản ánh sự khó khăn về thanh khoản của hệ thống doanh nghiệp (xem hình 2.38 và
2.39). Các khoản vay cũ đến hạn không được thanh toán kịp thời khiến cho doanh
nghiệp không thể tiếp tục vay các khoản mới, đặc biệt là các khoản vay đáp ứng nhu
cầu vốn lưu động. Sự tắc nghẽn dòng tiền trong hệ thống doanh nghiệp dẫn đến sự tắc
nghẽn dòng tiền giữa doanh nghiệp và NHTM. Nói một cách khác, sự lan truyền khó
khăn thanh khoản giữa các doanh nghiệp sẽ được khuếch đại lớn hơn khi có sự tham
gia của NHTM do bản thân các NHTM thực hiện chính sách tín dụng theo hướng chặt
chẽ hơn.
Với bối cảnh hàng hóa ứ đọng và sức cầu yếu do nền kinh tế tiếp tục đà suy
thoái, hệ thống doanh nghiệp phải hạn chế vay vốn ngân hàng để mở rộng sản xuất
kinh doanh mà thay vào đó là tìm cách thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn nhằm
107
tránh phải trả mức lãi suất cao. Khi mà hiệu quả đầu tư của nền kinh tế chưa phục hồi,
nhu cầu tiêu dùng và đầu tư chưa tăng trở lại, sự chắc chắn về dòng tiền (từ doanh thu
bán ngay và bán chịu) chưa ổn định thì các doanh nghiệp có xu hướng thận trọng hơn
trong việc đưa ra các quyết định tăng sản lượng, thay vào đó, một chiến lược thận
trọng được đa phần các doanh nghiệp lựa chọn. Do vậy, cho dù NHNN có thực hiện
CSTT nới lỏng và các NHTM đổi mới chính sách tín dụng qua việc giảm lãi suất, nới
lỏng các điều kiện vay vốn thì các doanh nghiệp vẫn khá ngần ngại trong việc vay vốn
ngân hàng.
Hình 2.38: Hệ số khả năng thanh toán Hình 2.39: Hệ số khả năng thanh toán
25%
25%
20%
20%
15%
15%
10%
10%
5%
5%
0%
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
0%
2 1
6 1
0 0
2 0
4 0
6 0
8 0
0 1
4 1
8 1
0 2
5 2
0 3
5 3
0 4
5 4
0 5
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
e r o M
4 0
8 0
0 0
2 0
6 0
0 1
2 1
4 1
6 1
8 1
0 2
2 2
4 2
6 2
8 2
0 3
2 3
-5%
e r o M
2010
2011
2015
2010
2011
2015
ngắn hạn của doanh nghiệp nhanh của doanh nghiệp
Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả
Thứ ba, giá trị và tính thanh khoản của TSBĐ, đặc biệt là bất động sản, giảm
mạnh do tác động của CSTT thắt chặt và quy định về tỷ trọng cho vay lĩnh vực không
khuyến khích dưới 16%
Khi thẩm định tín dụng, nhân tố giá trị và tính khả mại của TSBĐ luôn được
các NHTM Việt Nam đề cao do tình trạng thông tin bất cân xứng diễn ra phổ biến và
khả năng quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng còn những bất cập, buộc các NHTM
phải chú trọng vào nguồn thu nợ thứ hai. Khi NHNN thực hiện CSTT thắt chặt và điều
chỉnh nguồn vốn tín dụng theo hướng giảm tỷ trọng các khoản tín dụng bất động sản
và chứng khoán (nằm trong lĩnh vực không khuyến khích, tỷ trọng tối đa 16% tổng dư
nợ) đã khiến cho hai thị trường này gặp khá nhiều khó khăn trong việc duy trì đà tăng
trưởng như giai đoạn trước.
Sau giai đoạn tăng trưởng nóng, thị trường bất động sản chững lại từ cuối năm
2010 và giá bất động sản liên tục lao dốc trong từ năm 2011 tới nay. Lo ngại trước giá
bất động sản khó có thể phục hồi trong ngắn hạn, các NHTM đã định giá thấp và giảm
108
tỷ lệ cho vay tính trên giá trị TSBĐ. Ngoài ra, các giao dịch bất động sản chỉ ở mức
cầm chừng cũng khiến cho khả năng sử dụng bất động sản làm TSBĐ cho khoản vay
của các doanh nghiệp bị hạn chế phần nào. Tình trạng tương tự diễn ra với thị trường
chứng khoán khi giá trị nhiều cổ phiếu giảm sâu, thậm chí giá trị thường thấp hơn
mệnh giá tại không ít mã chứng khoán. Rủi ro trên hai thị trường tăng lên trong khi
mức sinh lời kỳ vọng liên tục giảm cho thấy hai thị trường này không còn là kênh đầu
tư tốt, các NHTM siết chặt các quy định về TSBĐ hơn trước, khiến các khách hàng
khó khăn hơn trong việc đáp ứng các điều kiện vay vốn.
15%
10%
5%
0%
-5%
3 Q 5 0 0 2
1 Q 1 0 0 2
4 Q 1 0 0 2
3 Q 2 0 0 2
2 Q 3 0 0 2
1 Q 4 0 0 2
4 Q 4 0 0 2
2 Q 6 0 0 2
1 Q 7 0 0 2
4 Q 7 0 0 2
3 Q 8 0 0 2
2 Q 9 0 0 2
1 Q 0 1 0 2
4 Q 0 1 0 2
3 Q 1 1 0 2
2 Q 2 1 0 2
1 Q 3 1 0 2
4 Q 3 1 0 2
3 Q 4 1 0 2
2 Q 5 1 0 2
GDP
GDP xây dựng
Hình 2.40: Tăng trưởng GDP và GDP lĩnh vực xây dựng
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Thứ tư, mức độ rủi ro trong kinh doanh tăng lên, tình trạng vi phạm pháp luật
trong hoạt động tín dụng diễn ra phổ biến khiến các NHTM trở nên thận trọng hơn
trong việc đưa ra quyết định tín dụng
Trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn, hiện tượng đổ vỡ của nhiều doanh nghiệp
diễn ra phổ biến, các doanh nghiệp gặp khó khăn thanh khoản buộc phải chấp nhận
vay với mức lãi suất cao để ổn định thanh khoản trong ngắn hạn. Dù vậy, không phải
bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng hoạt động hiệu quả với mức lãi suất vay
vốn cao như vậy trong thời gian dài, đặc biệt là trong điều kiện đòn bẩy tài chính của
doanh nghiệp Việt Nam ở mức cao.
Tình trạng nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh liên tục từ năm 2011 khiến cho các
NHTM trở nên thận trọng hơn trong việc thẩm định và ra quyết định tín dụng. Hầu hết
các NHTM đều điều chỉnh lại chính sách tín dụng theo hướng tập trung vào nâng cao
chất lượng tín dụng và hạn chế mở rộng tín dụng đối với các khách hàng tiềm ẩn rủi ro
cao (đặc biệt là các khách hàng mới). Hơn nữa, các doanh nghiệp có thể chấp nhận
mức lãi suất cho vay cao thường là các doanh nghiệp có năng lực tài chính và sản xuất
kinh doanh tốt hoặc đang thực hiện phương án, dự án kinh doanh có mức độ rủi ro cao.
109
Các doanh nghiệp trong nhóm thứ hai sẽ có xu hướng bị NHTM từ chối cho vay do
không còn phù hợp với khẩu vị rủi ro của ngân hàng. Đối với nhóm thứ nhất, các
phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư của nhiều doanh nghiệp mặc dù có hiệu
quả nhưng khi xét trong môi trường kinh doanh biến động sẽ bị các ngân hàng xem xét
kĩ và khắt khe hơn trước khi đưa ra quyết định tín dụng.
Hình 2.41: Tỷ trọng tín dụng ngân hàng trong
12%
10%
8%
6%
4%
2%
0%
-2%
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
% 0 0
% 0 4
% 0 8
% 0 2 3
% 0 6 5
% 0 2 1
% 0 6 1
% 0 0 2
% 0 4 2
% 0 8 2
% 0 6 3
% 0 0 4
% 0 4 4
% 0 8 4
% 0 2 5
% 0 0 6
% 0 4 6
% 0 8 6
% 0 2 7
% 0 6 7
% 0 0 8
2010
2011
2015
tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả
b/ Các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh
bảng cân đối tài sản của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Về mặt lý thuyết, khi NHTW thực hiện CSTT thắt chặt, năng lực của khách
hàng vay vốn sẽ bị suy yếu ở cả phía tình hình tài chính và giá trị TSBĐ. Rủi ro từ
phía khách hàng vay vốn tăng lên dẫn tới việc các NHTM hạn chế cấp tín dụng, từ đó
ảnh hưởng tới đầu tư, tiêu dùng và sau cùng là sản lượng của nền kinh tế. Giai đoạn
2011 - 2015 đã cho thấy truyền tải CSTT của NHNN qua kênh bảng cân đối tài sản
phát huy tác dụng khi những tác động của CSTT thắt chặt tới tình hình tài chính của
doanh nghiệp và chuẩn mực đánh giá của ngân hàng là tương đối mạnh và dai dẳng.
Trái lại, những nỗ lực sau đó từ phía NHNN nhằm thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế khi
hệ thống doanh nghiệp đã suy yếu và hộ gia đình thắt chặt chi tiêu trở nên khó đạt
được hiệu quả như kỳ vọng. Thực trạng này xuất phát từ hai đặc điểm cơ bản của hệ
thống doanh nghiệp Việt Nam về cơ cấu nguồn vốn và khả năng hấp thụ vốn.
Thứ nhất, hệ thống doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng
khi tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn
Do vai trò của thị trường chứng khoán là khá hạn chế (cả ở chiều rộng lẫn chiều
sâu), nguồn vốn phục vụ cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn dựa chủ yếu vào hệ
thống TCTD (phần lớn là các NHTM). Tăng trưởng về quy mô trong những năm gần
110
đây của thị trường trái phiếu chủ yếu là từ trái phiếu Chính phủ chứ không phải là trái
phiếu doanh nghiệp. Xuất phát từ đặc điểm mang tính vĩ mô như vậy, cơ cấu nguồn
vốn điển hình của hệ thống doanh nghiệp bao gồm tín dụng thương mại và vốn vay
NHTM chiếm tỷ trọng chủ yếu bên cạnh vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ tín dụng trên GDP ở
mức cao (đặc biệt là tín dụng ngắn hạn) khiến hệ thống doanh nghiệp trở nên phụ
thuộc và nhạy cảm cao với các cú sốc tín dụng và lãi suất cho vay (xem hình 2.42).
Giữa hệ thống doanh nghiệp cũng có những đặc điểm khác nhau về cơ cấu vốn
khi phân loại theo quy mô. Cụ thể, hệ thống các doanh nghiệp quy mô lớn có được lợi
thế từ các khoản tín dụng từ phía ngân hàng và khả năng huy động vốn trên thị trường
cổ phiếu. Ngược lại, hệ thống các DNNVV chủ yếu tập trung vào nguồn vốn tín dụng
thương mại từ các doanh nghiệp lớn bên cạnh nguồn vốn tín dụng từ phía ngân hàng.
Điều đáng bàn là nhiều DNNN với quy mô lớn chưa tiến hành cổ phần hóa và không
tiếp cận được thị trường vốn nên buộc phải quay sang tiếp cận thị trường tiền tệ, lấn át
tín dụng của khu vực tư nhân. Khi khu vực DNNN hoạt động thiếu hiệu quả, nợ quá
hạn và nợ xấu phát sinh khiến hệ thống NHTM gặp phải rủi ro tín dụng, hạn chế khả
năng cấp tín dụng đối với nền kinh tế của hệ thống.
150%
120%
90%
60%
30%
2 0 0 2
1 0 0 2
3 0 0 2
4 0 0 2
5 0 0 2
6 0 0 2
7 0 0 2
8 0 0 2
9 0 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
Tín dụng
Trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu chính phủ
Hình 2.42: Quy mô thị trường tín dụng và trái phiếu so với GDP
Nguồn: Số liệu Ngân hàng thế giới, Asian bond online và tính toán của tác giả
Do các DNNVV thường khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng do năng
lực tài chính, tài sản bảo đảm, khả năng quản trị doanh nghiệp, chất lượng thông tin…
không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng, các DNNVV phải quay sang tiếp cận các
nguồn vốn tín dụng thương mại. Tuy nhiên, do thị trường các công cụ nợ ngắn hạn
không phát triển nên tính thanh khoản của các khoản tín dụng này là rất thấp, cùng với
đó là mức độ rủi ro tín dụng rất khó kiểm soát. Thậm chí, các khoản vay vốn ngân
hàng của doanh nghiệp chủ yếu là để sử dụng cho gia tăng hàng tồn kho và tài trợ cho
các khoản phải thu (bán chịu cho khách hàng) khiến cho hoạt động của doanh nghiệp
quá phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
111
Thứ hai, khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp Việt Nam ở mức thấp và thể
hiện xu hướng giảm rõ rệt
Lựa chọn mô hình tăng trưởng theo chiều rộng với sự trợ giúp của CSTT và
CSTK mở rộng, nền kinh tế Việt Nam đã có thời kỳ tăng trưởng tốt trên cơ sở nguồn
vốn đầu tư và lực lượng lao động dồi dào. Các yếu tố sản xuất cốt lõi là công nghệ và
chất lượng nguồn lao động không được tập trung cải thiện trong thời gian dài đã ảnh
hưởng tiêu cực tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ so với hàng hóa nước
ngoài. Một thực tế là trong những năm gần đây, hàng hóa trong nước trở nên rất khó
cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài, thậm chí những hàng hóa thiết yếu cho đời sống
sinh hoạt của người dân và hàng hóa phụ trợ cho sản xuất của doanh nghiệp đều phải
nhập khẩu. Không đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ, máy móc hiện đại khiến cho các
khoản tín dụng được giải ngân bị sử dụng kém hiệu quả và hạn chế cả quy mô vốn tín
dụng do không thể áp dụng các mô hình sản xuất quy mô lớn. Vì vậy, khả năng hấp
thụ vốn của doanh nghiệp Việt Nam cũng giảm sút theo, và hệ quả tất yếu là doanh
nghiệp đã xem xét giảm xuống tỷ trọng vốn vay ngân hàng.
Hình 2.43: Năng suất lao động bình quân của một lao động
30,000
25,000
20,000
15,000
10,000
5,000
0
6 8 9 1
7 8 9 1
8 8 9 1
9 8 9 1
0 9 9 1
1 9 9 1
2 9 9 1
3 9 9 1
4 9 9 1
5 9 9 1
6 9 9 1
7 9 9 1
8 9 9 1
9 9 9 1
0 0 0 2
1 0 0 2
2 0 0 2
3 0 0 2
4 0 0 2
5 0 0 2
6 0 0 2
7 0 0 2
8 0 0 2
9 0 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
MYS
World
THA
CHN
IDN
PHL
MMR
VNM
KHM
Đơn vị: nghìn USD, theo PPP năm 1990
Nguồn: World Bank
Về chất lượng nguồn nhân lực, cơ cấu lao động của Việt Nam vẫn chưa có sự
chuyển dịch đáng kể theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi ngành nông
nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng lao động lớn nhất. Năm 2014, nhóm
ngành này chiếm tới 46,3% lực lượng lao động (giảm nhẹ so với mức 52,9% vào năm
2007). Đây cũng là ngành có tỷ lệ lao động đã qua đào tạo thấp nhất trong số các
ngành kinh tế, ở mức 3,6%. Mặc dù tình trạng này có được cải thiện ở các ngành công
nghiệp, dịch vụ nhưng tính chung cho toàn nền kinh tế, lực lượng lao động qua đào tạo
112
chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp là 18,2%. Thực trạng trên dẫn tới tình trạng năng suất lao động
(đo bằng tổng sản phẩm trong nước tính bình quân một lao động) tại Việt Nam tăng
chậm và ở mức thấp hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực (xem hình 2.43).
Qua phân tích, mức độ truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài sản cho thấy
CSTT thắt chặt ban đầu đã được khuếch đại, làm giảm đi nhu cầu tín dụng và khả
năng được chấp thuận tín dụng của các chủ thể kinh tế. Những đặc điểm về cơ cấu
vốn, khả năng hấp thụ vốn cùng với đặc điểm về quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp
với ngân hàng có xu hướng làm cho những ảnh hưởng tiêu cực từ việc thắt chặt CSTT
trở nên mạnh mẽ hơn, khiến cho công tác điều hành CSTT dẫn tới sự đánh đổi lớn
giữa các mục tiêu. Đây là nguyên nhân dẫn tới thực trạng nhu cầu tín dụng của nền
kinh tế suy giảm mặc dù kể từ giữa năm 2012, NHNN đã triển khai nhiều biện pháp
nhằm thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế thông qua nới lỏng CSTT mà chưa đem lại được
hiệu quả như kỳ vọng.
2.2.2.2. Thực trạng truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh khả năng cấp tín dụng
của các ngân hàng thương mại Việt Nam
a/ Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh khả năng cấp tín dụng của các ngân
hàng thương mại Việt Nam
Khi NHNN thực hiện CSTT thắt chặt vào các năm 2011 - 2012, kênh khả năng
cấp tín dụng phát huy ảnh hưởng làm giảm lượng tín dụng cấp ra đối với nền kinh tế
của hệ thống NHTM. Mức độ khuếch đại ảnh hưởng của CSTT thắt chặt được thể hiện
qua một số điểm chính như (i) khả năng cấp tín dụng giảm do lượng thanh khoản của
hệ thống giảm; (ii) ngần ngại cấp tín dụng hơn do chất lượng tín dụng suy giảm; và
(iii) dịch chuyển sang đầu tư vào các tài sản ít rủi ro hơn như trái phiếu Chính phủ.
Thứ nhất, dự trữ của hệ thống NHTM giảm, dẫn đến giảm lượng vốn sẵn có để
cấp các khoản tín dụng mới
Dự trữ của hệ thống NHTM đã giảm xuống mức thấp kể từ giữa năm 2010 và
hệ thống đã phải tăng cường vay từ NHNN nhằm duy trì thanh khoản. Hệ thống
NHTM đẩy mạnh cho vay thực hiện gói kích cầu năm 2009 và 2010, tiếp đó là lượng
dự trữ bị hút về thông qua hoạt động nghiệp vụ thị trường mở năm 2011, sự biến động
tiền gửi do tình trạng chạy đua lãi suất huy động năm 2011 và 2012, và dòng tiền giữa
hệ thống và nền kinh tế bị gián đoạn do tình trạng nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh từ năm
2012 là các nguyên nhân cơ bản dẫn đến hệ thống bị thiếu thanh khoản trầm trọng và
toàn diện. Tình hình thanh khoản căng thẳng diễn ra trong nửa cuối năm 2010 cho tới
tận giữa năm 2012 mới được kiểm soát tương đối (xem hình 2.44).
113
Hình 2.44: Quy mô dự trữ và vay NHNN của hệ thống NHTM
350,000
300,000
250,000
200,000
150,000
100,000
50,000
0
n a J 7 0 0 2
n a J 8 0 0 2
n a J 9 0 0 2
n a J 0 1 0 2
n a J 1 1 0 2
n a J 2 1 0 2
n a J 3 1 0 2
n a J 4 1 0 2
p e S 7 0 0 2
p e S 8 0 0 2
p e S 9 0 0 2
p e S 0 1 0 2
p e S 1 1 0 2
p e S 2 1 0 2
p e S 3 1 0 2
p e S 4 1 0 2
y a M 2 1 0 2
y a M 7 0 0 2
y a M 8 0 0 2
y a M 9 0 0 2
y a M 0 1 0 2
y a M 1 1 0 2
y a M 3 1 0 2
y a M 4 1 0 2
Dự trữ
Vay Ngân hàng Nhà nước
Đơn vị: tỷ VND
Nguồn: Thống kê tài chính quốc tế
Trước tình hình này, các NHTM lựa chọn việc hạn chế cấp mới các khoản tín
dụng cũng như kiểm soát chặt chẽ việc giải ngân các hợp đồng tín dụng đã được kí kết.
Trong bối cảnh thanh khoản căng thẳng, việc duy trì một lượng dự trữ ổn định giúp
các ngân hàng không phải đi vay trên TTLNH với chi phí cao cũng như đảm bảo an
toàn hoạt động của ngân hàng mình. Điều này được thể hiện qua sự sụt giảm mạnh
trong tốc độ tăng trưởng dự trữ (tiền mặt, vàng bạc, đá quý; tiền gửi tại NHNN, tiền
gửi tại các TCTD khác và cho vay các TCTD khác) thậm chí còn lớn hơn sự sụt giảm trong tốc độ tăng trưởng tín dụng (xem hình 2.45)6.
Nửa cuối năm 2012 và sang năm 2013, hệ thống NHTM gia tăng lượng dự trữ
và hoàn trả các khoản vay NHNN nhờ vào lượng tiền huy động tăng ổn định và tín
dụng tăng trưởng chậm. Thực trạng này là một trong những điều kiện tiên quyết giúp
hệ thống NHTM đẩy mạnh cấp các khoản tín dụng mới trong năm 2014 và 2015 (xem
hình 2.46).
6 Số liệu 29 NHTM. Xem phụ lục số 7.
114
120%
450%
400%
100%
350%
80%
300%
60%
250%
40%
200%
20%
150%
0%
100%
-20%
50%
-40%
0%
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
MHBB VCB MSB NASB CTG BID SHB VPB MDB VIB GDB OCB SEAB MBB NAB HDB TPB LVB SGB ABB TCB PGB ACB KLB VAB NVB EIB
STB EAB
Tốc độ tăng trưởng tín dụng
Tốc độ tăng trưởng dự trữ (trục phải)
Hình 2.45: Tốc độ tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng trưởng dự trữ một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
80%
70%
60%
50%
40%
30%
20%
10%
0%
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
MHBB VCB MSB NASB CTG BID
SHB VPB MDB VIB GDB OCB SEAB MBB NAB HDB
TPB
LVB
SGB ABB TCB
PGB ACB KLB VAB NVB
EIB
STB
EAB
Tỷ trọng cho vay/tổng tài sản
Tỷ trọng dự trữ/tổng tài sản
Hình 2.46: Tỷ trọng cho vay trong TTS và tỷ trọng dự trữ trong TTS một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
115
Thứ hai, chất lượng tín dụng suy giảm khiến hệ thống NHTM ngần ngại cấp các
khoản tín dụng mới
Sau giai đoạn căng thẳng thanh khoản, hệ thống NHTM phải đối mặt với tình
trạng chất lượng tín dụng suy giảm mạnh mẽ (xem hình 2.49). Việc hạn chế cấp mới
các khoản tín dụng do căng thẳng thanh khoản càng khiến cho tình hình dòng tiền của khách hàng vay vốn gặp khó khăn hơn trong bối cảnh suy thoái kinh tế. Thực trạng
này quay trở lại tác động đến việc thu hồi các khoản tín dụng đến hạn khi thanh khoản
của cả nền kinh tế bị suy kiệt.
Mức độ rủi ro tín dụng tăng lên ở hầu hết các ngành nghề và lợi ích của việc đa
dạng hóa tín dụng cũng bị hạn chế phần nào (do hệ số tương quan giữa các ngành nghề tăng trong bối cảnh suy thoái kinh tế) khiến cho mong muốn chấp nhận rủi ro của hệ
thống NHTM giảm xuống. Nợ quá hạn tích tụ và chuyển dần thành nợ xấu đã khiến hệ
thống NHTM chuyển từ trạng thái “mong muốn chấp nhận rủi ro thấp” sang trạng thái
“khả năng chấp nhận rủi ro thấp” do nợ xấu tạo áp lực lên trích lập DPRR ngày một
lớn. Trong bối cảnh tái cơ cấu toàn hệ thống, các ngân hàng ưu tiên việc củng cố tình
hình thanh khoản, điều chỉnh cơ cấu tín dụng, cải thiện chất lượng quản trị ngân hàng
và tập trung giám sát, thu hồi các khoản tín dụng đang còn dư nợ hơn là cấp các khoản tín dụng mới.
Chỉ tới năm 2014 và 2015, khi tỷ lệ nợ xấu giảm dần (nhờ vào sử dụng DPRR
và bán nợ xấu cho VAMC) và nền kinh tế có dầu hiệu khởi sắc trở lại, các ngân hàng
mới đẩy mạnh tín dụng. Tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng năm 2015 đạt
17,29%, cao hơn so với định hướng tăng trưởng 13 – 15% trong Chỉ thị số 01/CT-
NHNN về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an
toàn, hiệu quả năm 2015.
Thứ ba, hệ thống NHTM sử dụng lượng tiền dự trữ để đầu tư vào trái phiếu
Chính phủ trong bối cảnh rủi ro tín dụng khó kiểm soát
Từ nửa cuối năm 2012, tình hình thanh khoản của hệ thống NHTM được cải
thiện nhờ lượng tiền gửi tăng ổn định, tín dụng tăng trưởng chậm, NHNN mua vào lượng lớn ngoại tệ nhằm gia tăng dự trữ ngoại hối. Ngoài ra, Thông tư số 21/2012/TT-
NHNN được ban hành vào tháng 06/2012 đã khiến giao dịch trên TTLNH trở nên kém sôi động hơn trước. Lượng vốn dư thừa bị hạn chế cấp cho các khoản tín dụng mới do rủi ro tín dụng gia tăng đã được hệ thống NHTM chuyển sang đầu tư vào trái phiếu Chính phủ (xem hình 2.47). Đầu tư vào trái phiếu Chính phủ là kênh đầu tư có mức độ rủi ro thấp, có tính thanh khoản cao và được quy định hệ số rủi ro thấp khi tính hệ số an toàn vốn. Lãi suất trái phiếu Chính phủ ở mức cao từ năm 2012 đến nửa đầu năm 2014 trong khi nhiều lĩnh vực tín dụng bị áp trần lãi suất cho vay cũng là một lợi thế của việc đầu tư vào trái phiếu Chính phủ.
116
Hình 2.47: Tỷ lệ tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các khoản đầu tư,
18% 16% 14% 12% 10% 8% 6% 4% 2% 0% -2%
n a J 7 0 0 2
n a J 8 0 0 2
n a J 9 0 0 2
n a J 0 1 0 2
n a J 1 1 0 2
n a J 2 1 0 2
n a J 3 1 0 2
n a J 4 1 0 2
p e S 7 0 0 2
p e S 8 0 0 2
p e S 9 0 0 2
p e S 0 1 0 2
p e S 1 1 0 2
p e S 2 1 0 2
p e S 3 1 0 2
p e S 4 1 0 2
y a M 2 1 0 2
y a M 7 0 0 2
y a M 8 0 0 2
y a M 9 0 0 2
y a M 0 1 0 2
y a M 1 1 0 2
y a M 3 1 0 2
y a M 4 1 0 2
Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước/cho vay đối với nền kinh tế
Các khoản đầu tư, cho vay Chính phủ/cho vay đối với nền kinh tế
cho vay Chính phủ trên dư nợ cho vay đối với nền kinh tế
Nguồn: Thống kê tài chính quốc tế
Sang năm 2015, khi mức sinh lời trái phiếu giảm dần (xem hình 2.48), triển
vọng tín dụng được cải thiện, trái phiếu do Chính phủ phát hành không thuộc loại kỳ
hạn được ngân hàng ưa thích, hệ thống NHTM đã giảm tốc độ đầu tư vào trái phiếu
Chính phủ so với các năm trước.
15%
12%
9%
6%
3%
2 1 - b e F - 2
3 1 - b e F - 2
4 1 - b e F - 2
5 1 - b e F - 2
2 1 - g u A - 2
2 1 - v o N - 2
3 1 - g u A - 2
3 1 - v o N - 2
4 1 - g u A - 2
4 1 - v o N - 2
5 1 - g u A - 2
5 1 - v o N - 2
2 1 - y a M - 2
3 1 - y a M - 2
4 1 - y a M - 2
5 1 - y a M - 2
1 năm
2 năm
5 năm
10 năm
Hình 2.48: Lãi suất trái phiếu Chính phủ các kỳ hạn
Nguồn: investing.com
117
18%
16%
14%
12%
10%
8%
6%
4%
2%
0%
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
CTG
STB
EIB
ACB
MBB
VPB
BID
VCB
TCB
SHB
NVB
Tỷ trọng nợ nhóm 2
Tỷ trọng nợ nhóm 3
Tỷ trọng nợ nhóm 4
Tỷ trọng nợ nhóm 5
Hình 2.49: Tỷ trọng nợ nhóm 2, 3, 4, 5 trong tổng dư nợ một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
50% 45% 40% 35% 30% 25% 20% 15% 10% 5% 0%
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
EAB SGB BID NVB EIB PGB VCB SHB CTG STB OCB KLB NASB NAB MHBB ABB ACB VAB SEAB GDB HDB MBB MDB VIB VPB TCB MSB LVB TPB
Đầu tư chứng khoán/tổng tài sản
Hình 2.50: Tỷ trọng đầu tư chứng khoán trong TTS một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
118
b/ Các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh khả
năng cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cấp tín dụng của hệ thống NHTM được phản
ánh rõ nét qua các đặc điểm trên bảng cân đối tài sản và báo cáo kết quả kinh doanh.
Trên bảng cân đối tài sản, các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: (i) tỷ trọng tài sản có tính
thanh khoản cao thấp; (ii) chất lượng tín dụng thấp, nhạy cảm với biến động kinh tế vĩ
mô đi kèm với khả năng chống đỡ rủi ro thấp; (iii) nguồn vốn huy động thiếu ổn định,
tập trung vào kỳ hạn ngắn; (iv) mức độ phụ thuộc vào TTLNH và NHNN cao; và (v)
hệ số an toàn vốn thấp và tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao. Trên báo cáo kết quả kinh doanh,
các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: (i) cơ cấu thu nhập tập trung vào thu lãi từ hoạt động
tín dụng; và (ii) lợi nhuận thấp.
Thứ nhất, tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong TTS, các tài sản thanh khoản chiếm
tỷ trọng thấp
Quá trình tăng trưởng nhanh chóng của hệ thống NHTM Việt Nam phụ thuộc
nhiều vào việc mở rộng tín dụng và các khoản mục mang tính chất tín dụng hơn là
phát triển các sản phẩm, dịch vụ phi tín dụng. Vì vậy, tín dụng chiếm tỷ trọng lớn
trong TTS.
Ngoài ra, gánh vác trọng trách là cung cấp nguồn vốn chủ chốt phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội, hệ thống NHTM phải đáp ứng cả nhu cầu vốn ngắn hạn lẫn trung
dài hạn, khiến cho ngoài việc tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong TTS thì các tài sản có
tính thanh khoản cao cũng chiếm tỷ trọng thấp (xem hình 2.51 và 2.52).
Khi NHNN thắt chặt CSTT, khả năng chuyển các tài sản thanh khoản như trái
phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp sang tiền là không hề dễ dàng do nhà đầu
tư chủ yếu là các NHTM, thị trường thứ cấp các chứng khoán này gần như chưa phát
triển về đối tượng nhà đầu tư. Tương tự, các khoản cho vay trên TTLNH là hoạt động
cho vay và đi vay lẫn nhau nên bản thân không thể cung cấp thêm thanh khoản cho
toàn hệ thống.
119
Hình 2.51: Tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản cao trước và sau khi trừ đi
80%
60%
40%
20%
0%
-20%
-40%
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
SGB ACB NVB EAB BID VAB NASB STB CTG OCB PGB ABB MHBB KLB SHB NAB GDB EIB VCB HDB MBB VIB VPB TCB MDB MSB LVB TPB SEAB
Tài sản có tính thanh khoản cao
Tài sản có tính thanh khoản cao - Vay NHNN - Vay TCTD
các khoản vay NHNN và các TCTD trong TTS một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
80%
70%
60%
50%
40%
30%
20%
10%
0%
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
VPB
MBB
STB
SHB
TCB
EIB
NVB
ACB
VCB
CTG
BID
Dư nợ trung hạn
Dư nợ dài hạn
Hình 2.52: Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn trong tổng dư nợ một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
120
Thứ hai, chất lượng tín dụng thấp, nhạy cảm với biến động kinh tế vĩ mô trong
khi khả năng chống đỡ rủi ro ở mức thấp
Mở rộng tín dụng nhanh không đi kèm với các biện pháp quản trị rủi ro tín dụng
tương xứng dẫn đến bất cập trong chất lượng tín dụng. Nợ quá hạn và nợ xấu được tích
lũy qua thời gian, cơ cấu tín dụng tập trung vào một số ngành nghề rủi ro cao, tỷ trọng
lớn tín dụng cấp cho một số doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kém hiệu quả… thực sự
bộc lộ khi kinh tế suy thoái (xem hình 2.53) và NHNN áp dụng các chính sách phân loại
và ghi nhận nợ hướng tới chuẩn mực quốc tế.
8%
6.68%
7%
6.24%
5.98%
5.42%
6%
5.25%
5%
4.12%
3.61%
4%
3.25%
3.06%
2.72%
3%
2%
1%
0%
2011
2012
2013
2014
2015
GDP
Tỷ lệ nợ xấu
Hình 2.53: Tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ nợ xấu
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước
Chất lượng tín dụng thấp không chỉ thể hiện ở các khoản nợ xấu tăng mà còn thể
hiện ở quy mô và tỷ lệ nợ quá hạn cũng tăng mạnh. Ban đầu, thực trạng này tiềm ẩn hai
rủi ro là nếu triển vọng sản xuất kinh doanh lẫn khả năng trả nợ của khách hàng không
được cải thiện thì nợ nhóm hai sẽ được chuyển sang nhóm nợ xấu và tồn tại khả năng
không nhỏ một tỷ trọng đáng kể các khoản nợ đáng nhẽ phải xếp vào nhóm nợ xấu
nhưng vẫn được giữ tại nhóm 2 để tránh ghi nhận quá nhiều nợ xấu. Thực tiễn đã cho
thấy nợ xấu, đặc biệt là nợ nhóm 5, đã không ngừng tăng qua các năm trong khi tỷ lệ nợ
xấu thu hồi được lại thấp (xem hình 2.54).
Bảng 2.4: Tỷ lệ DPRR/dư nợ và DPRR/nợ xấu của
hệ thống NHTM ASEAN và Việt Nam
ASEAN
Việt Nam
DPRR/Dư nợ DPRR/Nợ xấu DPRR/Dư nợ DPRR/Nợ xấu
3.28%
81.42%
2.67%
63.09%
2008
3.48%
81.20%
2.08%
128.36%
2009
3.16%
91.82%
2.28%
106.41%
2010
2.75%
96.51%
2.44%
86.13%
2011
2.47%
101.47%
2.49%
60.41%
2012
121
2.44%
112.33%
2.36%
69.06%
2013
2.26%
113.31%
1.85%
60.31%
2014
Nguồn: Bankscope
Mức DPRR của hệ thống NHTM sụt giảm mạnh do các ngân hàng liên tiếp sử
dụng dự phòng để xử lý các khoản nợ xấu không thể thu hồi. So với các quốc gia trong
khu vực, tỷ lệ DPRR trên dư nợ lẫn nợ xấu đều ở mức thấp hơn rất nhiều và liên tục suy
giảm (xem bảng 2.4 và hình 2.55). Thực trạng này đã khuếch đại tác động tiêu cực của
CSTT thắt chặt đến khả năng lẫn mong muốn cấp tín dụng của hệ thống NHTM.
20%
20%
15%
10%
15%
5%
0%
10%
-5%
-10%
5%
-15%
-20%
0%
0 1 0 2
0 1 0 2
0 1 0 2
0 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
CTG
STB
EIB
ACB
MBB
VPB
BID
VCB
TCB
SHB
NVB
Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ xấu (trục phải)
Hình 2.54: Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
8%
250%
200%
6%
150%
100%
4%
50%
0%
2%
-50%
-100%
0%
-150%
4 1 0 2
4 1 0 2
4 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
EIB
CTG
VPB
STB
ACB
NVB
TCB
SHB
BID
MBB
VCB
DPRR/Dư nợ
DPRR/Nợ xấu (trục phải)
Hình 2.55: Tỷ lệ dự phòng rủi ro trên dư nợ và nợ xấu một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
122
Thứ ba, nguồn vốn huy động thiếu ổn định, tập trung vào các kỳ hạn ngắn
Áp lực cấp vốn tín dụng cho nền kinh tế ở tầm vĩ mô cùng với áp lực cạnh tranh
thị phần ở tầm vi mô đã dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trong hoạt động huy động vốn.
Sự phát triển bùng nổ của các NHTMCP nhưng không đi kèm với việc cải thiện chất
lượng các sản phẩm huy động vốn mà tập trung vào cạnh tranh về giá đã mở rộng thị
phần tiền gửi của nhóm này, khiến thị phần của nhóm NHTMNN ngày càng bị thu hẹp.
Tuy nhiên, chính từ việc lựa chọn cạnh tranh về giá này mà nhóm NHTMCP liên tục
chịu áp lực khách hàng rút tiền gửi trước hạn để gửi sang các ngân hàng trả lãi suất cao
hơn. Tỷ trọng tiền gửi kỳ hạn ngắn lẫn doanh số tiền gửi rút trước hạn tăng liên tục
trong giai đoạn năm 2010 đến 2012 là minh chứng rõ ràng cho hiện tượng này. Thực
trạng này lan truyền đến nhóm NHTMNN và dẫn tới nguồn vốn huy động của toàn hệ
thống trở nên thiếu ổn định.
Thứ tư, mức độ phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng và NHNN cao
Mất cân đối giữa huy động và cho vay trên thị trường 1 được phản ánh lên thị
trường 2, nơi về nguyên tắc chỉ đáp ứng các nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn. Một
số ngân hàng quy mô nhỏ không cạnh tranh được trên thị trường 1 đã phải huy động trên
TTLNH để cho vay lại nền kinh tế, dẫn đến chênh lệch kỳ hạn giữa huy động và cho vay
ngày càng lớn.
Hình 2.56: Tỷ lệ cho vay trên đi vay trên TTLNH
250%
200%
150%
100%
50%
0%
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
ASEAN
Vietnam
của hệ thống NHTM Việt Nam và ASEAN
Nguồn: Bankscope
Nếu xét giá trị tổng hợp toàn hệ thống ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên huy động của
hệ thống ngân hàng Việt Nam ở mức cao hơn nhiều so với hệ thống ngân hàng khu vực
ASEAN. Trái lại, nếu xét giá trị trung bình và trung vị, tỷ lệ cho vay trên huy động của
hệ thống ngân hàng Việt Nam lại thấp hơn so với hệ thống ngân hàng khu vực ASEAN
(xem hình 2.56). Điều này phản ánh tồn tại một vài ngân hàng quy mô lớn trong hệ
thống NHTM vừa cho vay và vừa huy động trên TTLNH (cho vay nhiều hơn huy động)
123
trong khi lại có nhiều NHTM quy mô nhỏ phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn đi vay trên
TTLNH (xem hình 2.57, 2.58, và 2.59).
Khi NHNN thắt chặt CSTT, các ngân hàng quy mô lớn hạn chế dần hoạt động
cho vay trên TTLNH, khiến cho các ngân hàng quy mô nhỏ buộc phải tìm đến thị
trường 3 để bảo đảm thanh khoản. Tỷ lệ cho vay trên huy động trên TTLNH của hệ
thống ngân hàng đã giảm dần khi thanh khoản của hệ thống được duy trì ổn định và
NHNN quy định chặt chẽ hơn về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng cho các khoản
cho vay trên TTLNH.
124
80%
70%
60%
50%
40%
30%
20%
10%
0%
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
SGB EAB MBB STB VCB PGB ACB KLB NASB NVB TCB ABB BID SHB LVB CTG HDB VIB MHBB VAB OCB MSB VPB GDB NAB EIB TPB SEAB MDB
Phát hành GTCG
Tiền gửi và vay TCTD khác
Nợ NHNN Việt Nam
Hình 2.57: Tỷ trọng tiền gửi và vay TCTD khác, nợ NHNN và phát hành GTCG trong tổng nợ phải trả một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
60%
50%
40%
30%
20%
10%
0%
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
SGB EAB NASB STB VAB BID CTG ACB OCB NVB MHBB PGB KLB VIB HDB VPB TCB LVB TPB MBB SHB VCB MSB ABB NAB MDB GDB EIB SEAB
Cho vay trên thị trường liên ngân hàng/tổng tài sản
Đi vay trên thị trường liên ngân hàng/tổng nguồn vốn
Hình 2.58: Tỷ trọng cho vay và đi vay trên TTLNH trong TTS một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
125
50,000
40,000
30,000
20,000
10,000
0
-10,000
150,000 120,000 90,000 60,000 30,000 0 -30,000 -60,000 -90,000 -120,000 -150,000
-20,000
0 1 0 2
3 1 0 2
1 1 0 2
4 1 0 2
2 1 0 2
0 1 0 2
3 1 0 2
1 1 0 2
4 1 0 2
2 1 0 2
0 1 0 2
3 1 0 2
1 1 0 2
4 1 0 2
2 1 0 2
0 1 0 2
3 1 0 2
1 1 0 2
4 1 0 2
2 1 0 2
0 1 0 2
3 1 0 2
1 1 0 2
4 1 0 2
2 1 0 2
0 1 0 2
3 1 0 2
1 1 0 2
4 1 0 2
2 1 0 2
0 1 0 2
3 1 0 2
1 1 0 2
4 1 0 2
2 1 0 2
0 1 0 2
3 1 0 2
1 1 0 2
4 1 0 2
2 1 0 2
0 1 0 2
3 1 0 2
1 1 0 2
4 1 0 2
2 1 0 2
0 1 0 2
3 1 0 2
1 1 0 2
4 1 0 2
SGB VAB NASB KLB MDB PGB EAB OCB NVB GDB TPB NAB MHBB STB HDB LVB ABB VIB VPB SHB MSB SEAB ACB TCB MBB EIB BID CTG VCB
Cho vay ròng trên thị trường liên ngân hàng (trục phải)
Cho vay trên thị trường liên ngân hàng
Đi vay trên thị trường liên ngân hàng
Hình 2.59: Quy mô cho vay, đi vay và cho vay ròng trên TTLNH một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
126
Thứ năm, tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao, hệ số an toàn vốn thấp và có xu hướng giảm
khi NHNN thắt chặt CSTT do vốn điều lệ tăng chậm và lợi nhuận suy giảm
Kể từ năm 2011, tăng trưởng VĐL gặp khó khăn do ngân hàng khó phát hành
được cổ phiếu khi thị trường cổ phiếu sụt giảm và việc tìm kiếm cổ đông chiến lược trong và ngoài nước chưa thành công do thực trạng yếu kém của bản thân ngân hàng.
Giới hạn sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài ở mức 30% cũng là một nhân tố cản
trở việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Do khả năng tăng vốn điều lệ bị hạn chế, hệ
thống NHTM phải phụ thuộc vào tăng lợi nhuận chưa phân phối để cải thiện tình hình an toàn vốn.
Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn 2011 trở lại đây, tình hình lợi nhuận của hệ thống
NHTM lại không khả quan do tăng trưởng tín dụng gặp khó, các hoạt động phi tín dụng
chưa đem lại mức sinh lời cao và phải tăng cường trích lập DPRR. Hệ số an toàn vốn
giảm xuống, tỷ lệ đòn bẩy tài chính tăng lên khiến cho khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng bị giảm sút (xem hình 2.60 và 2.61).
Hình 2.60: Tăng trưởng vốn tự có và Hình 2.61: Tăng trưởng vốn tự có và
đóng góp của VĐL vào tăng trưởng vốn đóng góp của VĐL vào tăng trưởng vốn
14% 12% 10% 8% 6% 4% 2% 0% -2% -4% -6% -8%
14% 12% 10% 8% 6% 4% 2% 0% -2% -4% -6% -8%
3 1 - b e F
4 1 - b e F
5 1 - b e F
3 1 - b e F
4 1 - b e F
5 1 - b e F
3 1 - v o N
2 1 - g u A
2 1 - v o N
3 1 - g u A
3 1 - v o N
4 1 - g u A
4 1 - v o N
5 1 - g u A
5 1 - v o N
2 1 - g u A
2 1 - v o N
3 1 - g u A
4 1 - g u A
4 1 - v o N
5 1 - g u A
5 1 - v o N
2 1 - y a M
3 1 - y a M
4 1 - y a M
5 1 - y a M
2 1 - y a M
3 1 - y a M
4 1 - y a M
5 1 - y a M
Tăng trưởng VTC
Đóng góp của VĐL
Tăng trưởng VTC
Đóng góp của VĐL
tự có của hệ thống NHTMNN tự có của hệ thống NHTMCP
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
Thứ sáu, cơ cấu thu nhập tập trung vào thu lãi từ hoạt động tín dụng Mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM ít được cải thiện. Tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong bảng cân đối tài sản và cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập hoạt động ngân hàng. So với các quốc gia trong khu vực ASEAN, tỷ trọng thu nhập lãi ròng của NHTM Việt Nam cao hơn tới 20% (xem hình 2.62, 2.63, 2.67, 2.68). Hoạt động dịch vụ đã được các ngân hàng chú trọng đầu tư nhưng chưa đem lại
được kết quả như kỳ vọng khi nhiều dịch vụ chưa đáp ứng được đúng với nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam. Đáng chú ý, nhóm các NHTMNN đã thực hiện việc đa dạng
hóa tốt hơn so với nhóm các NHTMCP chủ yếu dựa vào lợi thế nhờ quy mô (về nguồn
vốn và mạng lưới) chứ không phải dựa vào chất lượng sản phẩm, dịch vụ.
127
Hình 2.62: Tỷ trọng thu nhập lãi ròng Hình 2.63: Tỷ trọng thu nhập lãi ròng
và thu nhập hoạt động khác trong tổng và thu nhập hoạt động khác trong tổng
100%
100%
90%
90%
80%
70%
80%
60%
70%
50%
40%
60%
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2009
2010
2011
2012
2013
2014
Thu nhập lãi ròng
Thu nhập hoạt động khác
Thu nhập lãi ròng
Thu nhập hoạt động khác
thu nhập của NHTM Việt Nam thu nhập của hệ thống NHTM ASEAN
Nguồn: Bankscope Nguồn: Bankscope
Thứ bảy, mức sinh lời của hệ thống NHTM thấp
So với hệ thống ngân hàng trong khu vực ASEAN, hệ thống NHTM Việt Nam có
tỷ lệ NIM cao hơn nhưng lại có tỷ lệ ROAA và ROAE thấp hơn do chi phí hoạt động và
trích lập DPRR cao hơn (xem hình 2.64, 2.65, 2.69, và 2.70).
Hình 2.64: Tỷ lệ lãi biên và lợi nhuận Hình 2.65: Tỷ lệ lãi biên và lợi nhuận
sau thuế trên TTS sau thuế trên TTS ngân hàng Việt Nam
4.0%
4%
3.5%
3%
3.0%
2.5%
2%
2.0%
1.5%
1%
1.0%
0.5%
0%
0.0%
2011
2012
2013
2014
1 1 0 2
8 0 0 2
9 0 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
ASEAN ROAA
Vietnam ROAA
5 1 0 2 T 9
ROAA
NIM
ASEAN NIM
Vietnam NIM
và ASEAN
Nguồn: Bankscope Nguồn: Bankscope
Chất lượng tín dụng suy giảm buộc cho các ngân hàng phải đẩy mạnh trích lập
DPRR từ năm 2012 trở lại đây, là nguyên nhân chủ chốt làm giảm khả năng sinh lời của
ngân hàng (xem hình 2.66). Ngoài ra, các khoản chi phí hoạt động chiếm tỷ trọng cao
trong tổng thu nhập thể hiện sự quản lý chi phí thiếu hiệu quả của ngân hàng.
128
Hình 2.66: Tỷ lệ chi phí trên thu nhập của
70%
65%
60%
55%
50%
45%
40%
35%
30%
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
ASEAN
Vietnam
hệ thống NHTM ASEAN và Việt Nam
Nguồn: Bankscope
Tóm lại, qua phân tích ba nhân tố kể trên, mức độ truyền tải CSTT qua kênh khả
năng cấp tín dụng cho thấy CSTT thắt chặt đã được khuếch đại, làm giảm đi khả năng
lẫn mong muốn cấp tín dụng của hệ thống NHTM. Những đặc điểm về tính ổn định và
cơ cấu nguồn vốn, chất lượng tài sản có xu hướng làm cho những ảnh hưởng từ việc
thắt chặt CSTT trở nên dai dẳng và chứa đựng nhiều rủi ro như gây ra sự mất ổn định
trong hệ thống NHTM và làm giảm đi vai trò cấp tín dụng của hệ thống với nền kinh tế.
129
70%
60%
50%
40%
30%
20%
10%
0%
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
BID ACB VPB CTG SEAB TCB SHB MBB MHBB MSB VCB EAB HDB EIB NASB STB VIB LVB ABB NVB OCB TPB VAB PGB NAB GDB KLB SGB MDB
Hình 2.67: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên TTS một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
120%
110%
100%
90%
80%
70%
60%
50%
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
STB TCB EAB VCB MBB VPB BID ACB EIB CTG PGB NAB ABB VIB SHB HDB SGB SEAB MSB TPB MHBB KLB NASB OCB NVB VAB LVB MDB GDB
Tỷ trọng thu nhập lãi ròng/(thu nhập lãi ròng + thu nhập từ dịch vụ ròng)
Tỷ trọng thu nhập lãi/(thu nhập lãi + thu nhập từ dịch vụ)
Hình 2.68: Tỷ trọng thu nhập lãi và thu nhập lãi ròng trong tổng thu nhập và thu nhập ròng
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
130
10%
8%
6%
4%
2%
0%
-2%
-4%
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
ABB ACB BID CTG EAB EIB GDB HDB KLB LVB MBB MDB MHBB MSB NAB NASB NVB OCB PGB SEAB SGB SHB STB TCB TPB VAB VCB VIB VPB
NIM
ROAA
Hình 2.69: Tỷ lệ NIM và ROAA một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
35%
30%
25%
20%
15%
10%
5%
0%
-5%
-10%
-15%
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
1 1 0 2
3 1 0 2
0 1 0 2
2 1 0 2
4 1 0 2
ABB ACB BID CTG EAB EIB GDB HDB KLB LVB MBB MDB MHBB MSB NAB NASB NVB OCB PGB SEAB SGB SHB STB TCB TPB VAB VCB VIB VPB
Hình 2.70: Tỷ lệ ROAE một số NHTM
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại
131
2.2.2.3. Ảnh hưởng tổng hợp của hai kênh truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng
Tổng hợp ảnh hưởng khuếch đại của truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài
sản và khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng là xu hướng giảm sâu của tốc độ
tăng trưởng tín dụng (giai đoạn năm 2011 – 2012) và chậm phục hồi (năm 2013 –
2014). Sau nhiều năm tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn tốc độ tăng trưởng
huy động vốn, kể từ quý 1 năm 2012, tốc độ tăng trưởng huy động vốn luôn cao hơn
tăng trưởng tín dụng (trừ quý 3 năm 2013) (xem hình 2.71). Trong suốt giai đoạn giữa
năm 2012 – 2014, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy tăng
trưởng tín dụng nhưng tăng trưởng tín dụng rất khó đạt mục tiêu đề ra, thậm chí còn
tăng trưởng âm trong một vài tháng đầu năm. Mặt bằng lãi suất sau khi bị đẩy lên cao
trong năm 2012 và 2013 đã giảm dần về mức của năm 2009, 2010 và thấp hơn cả giai
đoạn trước năm 2008 nhưng tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức thấp hơn nhiều so với
giai đoạn trước đó. Thực trạng này phản ánh tín dụng bị thu hẹp từ cả phía cầu (bao
gồm cả khả năng và mong muốn vay vốn) lẫn phía cung (khả năng và mong muốn cấp
tín dụng). Với kênh lãi suất truyền thống, khi mặt bằng lãi suất giảm về các mức thấp
hơn nhiều trong quá khứ, kết hợp với kỳ vọng lạm phát được duy trì ổn định, phản ứng
của thị trường sẽ là đẩy mạnh hoạt động vay vốn, tiêu dùng và đầu tư. Tuy nhiên, sự
khuếch đại ảnh hưởng của kênh lãi suất truyền thống thông qua vai trò của kênh tín
dụng đã cho thấy mức độ truyền tải CSTT là mạnh và dai dẳng hơn nhiều.
70%
25%
60%
20%
50%
15%
40%
30%
10%
20%
5%
10%
0%
0%
1 Q 1 0 0 2
3 Q 1 0 0 2
1 Q 2 0 0 2
3 Q 2 0 0 2
1 Q 3 0 0 2
3 Q 3 0 0 2
1 Q 4 0 0 2
3 Q 4 0 0 2
1 Q 5 0 0 2
3 Q 5 0 0 2
1 Q 6 0 0 2
3 Q 6 0 0 2
1 Q 7 0 0 2
3 Q 7 0 0 2
1 Q 8 0 0 2
3 Q 8 0 0 2
1 Q 9 0 0 2
3 Q 9 0 0 2
1 Q 0 1 0 2
3 Q 0 1 0 2
1 Q 1 1 0 2
3 Q 1 1 0 2
1 Q 2 1 0 2
3 Q 2 1 0 2
1 Q 3 1 0 2
3 Q 3 1 0 2
1 Q 4 1 0 2
3 Q 4 1 0 2
Tín dụng < Cung tiền
Tín dụng > Cung tiền
Lãi suất cho vay (trục phải)
Hình 2.71: Tăng trưởng tín dụng, cung tiền và lãi suất cho vay
Nguồn: Thống kê tài chính quốc tế
Đối với hoạt động tiêu dùng, tiêu dùng cá nhân tăng trưởng chậm chạp do
người dân cắt giảm chi tiêu và ưu tiên tiết kiệm do thu nhập bị ảnh hưởng và tín dụng
tiêu dùng bị thắt chặt (xem hình 2.72). Đặc điểm này được minh họa thông qua chỉ số
niềm tin người tiêu dùng do Nielsen khảo sát và mối quan hệ giữa tăng trưởng tiêu
dùng và tín dụng. Chỉ số niềm tin người tiêu dùng đã giảm từ mức trên 104 điểm vào
132
đầu năm 2011 (mức độ lạc quan và bi quan được đánh giá theo thang điểm trên và
dưới 100) xuống mức thấp nhất là 87 điểm vào quý 3 năm 2012, và duy trì ở mức dưới
100 điểm cho tới tận quý 2 năm 2014. Điều này càng được củng cố trong bối cảnh thu
nhập tăng chậm và các khoản danh cho chi tiêu trở nên thiếu ổn định hơn do giá cả
một số mặt hàng thiết yếu được điều chỉnh tăng như năng lượng, y tế, và giáo dục
(xem hình 2.73).
Hình 2.72: Tăng trưởng tín dụng và Hình 2.73: Chỉ số niềm tin người tiêu
60%
120
50%
115
40%
110
30%
105
20%
100
10%
95
0%
-10%
90
-20%
85
6 0 0 2
7 0 0 2
8 0 0 2
9 0 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
5 1 0 2
80
Tăng trưởng tiêu dùng cuối cùng
Tăng trưởng tín dụng
2 Q 1 1 0 2
2 Q 5 1 0 2
1 Q 1 1 0 2
3 Q 1 1 0 2
4 Q 1 1 0 2
1 Q 2 1 0 2
2 Q 2 1 0 2
3 Q 2 1 0 2
4 Q 2 1 0 2
1 Q 3 1 0 2
2 Q 3 1 0 2
3 Q 3 1 0 2
4 Q 3 1 0 2
1 Q 4 1 0 2
2 Q 4 1 0 2
3 Q 4 1 0 2
4 Q 4 1 0 2
1 Q 5 1 0 2
3 Q 5 1 0 2
4 Q 5 1 0 2
tiêu dùng cuối cùng dùng
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nguồn: Nielsen
Nhà nước
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, trong bối cảnh người dân thắt chặt chi
tiêu và tăng mức độ tiết kiệm như vậy, doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
của toàn bộ nền kinh tế đều chứng kiên sự đi xuống rõ rệt. Kinh tế vĩ mô biến động
theo chiều hướng xấu, môi trường kinh doanh chậm được cải thiện và nguồn tiền bị
cạn kiệt do tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại bị siết chặt đã khiến cho những
yếu kém của hệ thống doanh nghiệp bộc lộ khá rõ rệt. Báo cáo “Đánh giá kết quả thực
hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 và phương hướng, nhiệm
vụ phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2016 – 2020” đã chỉ ra “chất lượng tăng trưởng ở
một số mặt còn thấp, cải thiện còn chậm; công nghệ sản xuất phần lớn còn lạc hậu…
Năng lực cạnh tranh quốc gia chưa được cải thiện nhiều, nhất là về thể chế kinh tế, kết
cấu hạ tầng và đổi mới công nghệ.”. Hàng hóa sản xuất trong nước không cạnh tranh
được với hàng hóa ngoại nhập kết hợp với việc nhu cầu tiêu thụ của nền kinh tế trong
và ngoài nước (nhiều nước tăng cường bảo hộ thương mại và sản xuất) giảm xuống đã
khiến lượng hàng tồn kho tăng lên (xem hình 2.74). Ứ đọng nguyên liệu đầu vào
không sản xuất và hàng hóa không tiêu thụ được là một trong những nguyên nhân căn
bản khiến nhiều doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động hoặc giải thể.
133
Hình 2.74: Chỉ số tiêu thụ sản phẩm ngành chế biến chế tạo
40%
30%
20%
10%
0%
-10%
-20%
1 M 1 1 0 2
4 M 1 1 0 2
7 M 1 1 0 2
1 M 2 1 0 2
4 M 2 1 0 2
7 M 2 1 0 2
1 M 3 1 0 2
4 M 3 1 0 2
7 M 3 1 0 2
1 M 4 1 0 2
4 M 4 1 0 2
7 M 4 1 0 2
1 M 5 1 0 2
4 M 5 1 0 2
7 M 5 1 0 2
0 1 M 5 1 0 2
0 1 M 1 1 0 2
0 1 M 2 1 0 2
0 1 M 3 1 0 2
0 1 M 4 1 0 2
Tiêu thụ sản phẩm ngành chế biến chế tạo
Tồn kho ngành chế biến chế tạo
và tồn kho ngành chế biến chế tạo
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Đặc điểm này minh chứng cho sự lan truyền của sự sụt giảm nhu cầu tiêu dùng
tới nhu cầu đầu tư của nền kinh tế. Các doanh nghiệp cắt giảm quy mô sản xuất, kinh
doanh trong bối cảnh CSTT và các chính sách vĩ mô khác thắt chặt và sau đó rơi vào
tình trạng khó khăn trầm trọng. Đa phần các doanh nghiệp chuyển từ trạng thái “mong
muốn vay vốn ngân hàng” sang trạng thái “không có khả năng và không mong muốn
vay vốn ngân hàng”. Ngoài lý do năng lực sản xuất của nền kinh tế, tỷ lệ vốn đầu tư
toàn xã hội/GDP đã giảm đáng kể trong vài năm trở lại đây bắt nguồn từ sự khó khăn
trong tiếp cận tín dụng và sử dụng vốn vay (xem hình 2.75 và 2.76).
Hình 2.75: Chỉ số mua hàng Hình 2.76: Tăng trưởng tín dụng
54
60%
4
50%
2
40%
30%
50
0
20%
-2
10%
0%
46
-4
-10%
-20%
-6
6 0 0 2
7 0 0 2
8 0 0 2
9 0 0 2
0 1 0 2
1 1 0 2
2 1 0 2
3 1 0 2
4 1 0 2
5 1 0 2
42
-8
Tăng trưởng tài sản cố định
2 1 - l u J
3 1 - l u J
4 1 - l u J
5 1 - l u J
3 1 - n a J
4 1 - n a J
5 1 - n a J
2 1 - t c O
3 1 - t c O
4 1 - t c O
5 1 - t c O
Tăng trưởng tín dụng
2 1 - r p A
3 1 - r p A
4 1 - r p A
5 1 - r p A
nhà sản xuất và tài sản cố định
Nguồn: HSBC Market Nguồn: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng
Nhà nước
134
Thiếu hụt nguồn vốn tín dụng khiến nhu cầu đầu tư tài sản cố định lẫn tiêu dùng
cuối cùng của nền kinh tế suy giảm ngay lập tức trong năm 2011 và phục hồi chậm
chạp ở những năm tiếp theo. Sự phục hồi chậm chạp này quay trở lại trở thành nguyên
nhân cản trở tín dụng từ phía cầu.
Diễn biến nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 cho thấy mục tiêu thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế đã phải phần nào “hi sinh” để đổi lại mục tiêu kiểm soát lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô. NHNN và các NHTM đã triển khai nhiều biện pháp từ
giữa năm 2012 nhằm giảm mặt bằng lãi suất, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Tuy
nhiên, cho dù mặt bằng lãi suất đã về mức của năm 2006 - 2007 nhưng tín dụng vẫn
tăng trưởng khá chậm chạp, một bộ phận lớn các doanh nghiệp vẫn không thể tiếp cận
và hấp thụ được nguồn vốn tín dụng. Lúc này, những biện pháp hỗ trợ nền kinh tế
thông qua thúc đẩy tăng trưởng tín dụng không còn phát huy được nhiều hiệu lực và
hiệu quả như trong điều kiện thông thường.
10%
70%
60%
8%
50%
6%
40%
30%
4%
20%
2%
10%
0%
0%
3 Q 3 0 0 2
3 Q 1 1 0 2
1 Q 1 0 0 2
3 Q 1 0 0 2
1 Q 2 0 0 2
3 Q 2 0 0 2
1 Q 3 0 0 2
1 Q 4 0 0 2
3 Q 4 0 0 2
1 Q 5 0 0 2
3 Q 5 0 0 2
1 Q 6 0 0 2
3 Q 6 0 0 2
1 Q 7 0 0 2
3 Q 7 0 0 2
1 Q 8 0 0 2
3 Q 8 0 0 2
1 Q 9 0 0 2
3 Q 9 0 0 2
1 Q 0 1 0 2
3 Q 0 1 0 2
1 Q 1 1 0 2
1 Q 2 1 0 2
3 Q 2 1 0 2
1 Q 3 1 0 2
3 Q 3 1 0 2
1 Q 4 1 0 2
3 Q 4 1 0 2
GDP (yoy)
Tín dụng (yoy) (trục phải)
Cung tiền (yoy) (trục phải)
Hình 2.77: Tăng trưởng tín dụng, cung tiền và GDP
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước
30%
70%
25%
60%
20%
50%
15%
40%
10%
30%
5%
20%
0%
10%
-5%
0%
3 Q 3 0 0 2
3 Q 1 1 0 2
1 Q 1 0 0 2
3 Q 1 0 0 2
1 Q 2 0 0 2
3 Q 2 0 0 2
1 Q 3 0 0 2
1 Q 4 0 0 2
3 Q 4 0 0 2
1 Q 5 0 0 2
3 Q 5 0 0 2
1 Q 6 0 0 2
3 Q 6 0 0 2
1 Q 7 0 0 2
3 Q 7 0 0 2
1 Q 8 0 0 2
3 Q 8 0 0 2
1 Q 9 0 0 2
3 Q 9 0 0 2
1 Q 0 1 0 2
3 Q 0 1 0 2
1 Q 1 1 0 2
1 Q 2 1 0 2
3 Q 2 1 0 2
1 Q 3 1 0 2
3 Q 3 1 0 2
1 Q 4 1 0 2
3 Q 4 1 0 2
Lạm phát (yoy)
Tín dụng (yoy) (trục phải)
Cung tiền (yoy) (trục phải)
Hình 2.78: Tăng trưởng tín dụng, cung tiền và lạm phát
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước
135
Sự sụt giảm tiêu dùng và đầu tư (hai cấu phần quan trọng trong tổng sản phẩm
quốc nội) khiến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ở mức thấp so với giai đoạn trước.
Tốc độ phục hồi tăng trưởng cũng sau giai đoạn khủng hoảng tài chính cũng chậm
chạp hơn so với các quốc gia trong khu vực. Cùng với đó, tỷ lệ lạm phát giảm sâu
trong năm 2014 và 2015 cho thấy tình trạng thiểu phát đã diễn ra khá rõ rệt (xem hình
2.77 và 2.78).
Tóm lại, việc thiếu hụt một cơ chế kiểm soát mức độ khuếch đại ảnh hưởng của
CSTT qua kênh tín dụng là một nguyên nhân chủ chốt khiến hiệu quả của truyền tải
của kênh này không những không được như kỳ vọng mà còn gây ra những bất ổn cho
nền kinh tế. Sau đó, những bất ổn này lại quay lại đặt áp lực lên công tác điều hành
CSTT của NHNN như phải hạ mặt bằng lãi suất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong
bối cảnh khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp giảm và nợ quá hạn, nợ xấu trong
NHTM gia tăng.
2.3. NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
QUA KÊNH TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM
2.3.1. Xây dựng mô hình
2.3.1.1. Lựa chọn mô hình
Kể từ những năm 1990, mô hình VAR dạng rút gọn và phân rã Cholesky được
sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu về truyền tải CSTT. Tuy nhiên, phương pháp
này không dựa trên một nền tảng lý thuyết kinh tế vững chắc do phân rã Cholesky giả
định một cú sốc của một biến số không ngay lập tức ảnh hưởng tới các biến số đứng
trước nó trong thứ tự phân rã Cholesky nhưng lại có ảnh hưởng trễ. Vì vậy, kết quả
của mô hình VAR thường rất nhạy cảm với việc sắp xếp thứ tự các biến trong mô
hình. Để khắc phục nhược điểm này, mô hình SVAR được sử dụng để nhận diện các
cú sốc tiền tệ dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế vững chắc hơn. Việc áp đặt mối tương
tác giữa các biến số trong mô hình là nhằm phản ánh những hành vi của NHTW và các
nguyên lí kinh tế vĩ mô căn bản.
𝑝
Trên cơ sở đó, luận án xây dựng mô hình SVAR với trễ p có dạng như sau:
(1)
𝐴0𝑦𝑡 = 𝛼 + ∑ 𝐴𝑖𝑦𝑡−𝑖 + 𝜀𝑡 𝑖=1
’) = I khi s = t và E(εt εs
’)=0 khi s ≠ t. Ma trận 𝐴0
Trong đó: yt là vector 7×1 các biến số vĩ mô yt = (oilt, gdpt, cpit, mst, intt, exct, cret); oil là giá dầu mỏ, gdp là tổng sản phẩm quốc nội, cpi là chỉ số giá tiêu dùng, ms là cung tiền, exc là tỷ giá VND/USD, cre là tín dụng; A0 là ma trận 7×7 phản ánh mối quan hệ tức thời giữa các biến trong vector yt; εt là vector các cú sốc cấu trúc với E(εt) −1 mô tả cú sốc cấu trúc tác = 0; E(εt εs
136
0 0 1 0 0 0
−1 =
0 0 0 0 A0 0 0 0 𝑎42 𝑎43 𝑎44 𝑎45 0
0 0 0 0 𝑎54 𝑎55 𝑎56 𝑎57 0 1 ] [
𝑝
động tới yt có dạng như sau: 0 1 𝑎21 1 𝑎31 𝑎32 0 0 0 𝑎61 𝑎62 𝑎63 𝑎64 𝑎65 1 𝑎71 𝑎72 𝑎73 𝑎74 𝑎75 𝑎76 −1 ta được: Nhân cả hai vế của phương trình (1) với 𝐴0
−1εt.
(2)
−1α; Φi = 𝐴0
𝑦𝑡 = 𝛽 + ∑ 𝛷𝑖𝑦𝑡−𝑖 + 𝑢𝑡 𝑖=1 −1Ai; ut = 𝐴0
Trong đó: β = 𝐴0 Phương trình (2) trở thành mô hình VAR dạng rút gọn với ut là vector sai số
𝑜𝑖𝑙
dạng sau:
0 0 0 0 1 0 0
𝑐𝑝𝑖
𝑢𝑡 𝑔𝑑𝑝 1 0 0 0 0 0 𝑎21
𝑚𝑠
1 0 0 0 0 𝑎31 𝑎32
𝑖𝑛𝑡
1 0 0 0 = 𝑎42 𝑎43 𝑎45 𝑢𝑡 = 𝑢𝑡 𝑢𝑡 𝑢𝑡
0 0 1 0 𝑎54 𝑎56 𝑎57
𝑢𝑡 𝑒𝑥𝑐 1 0 𝑎61 𝑎62 𝑎63 𝑎64 𝑎65 𝑢𝑡
𝑐𝑟𝑒 )
𝑜𝑖𝑙 𝜀𝑡 𝑔𝑑𝑝 𝜀𝑡 𝑐𝑝𝑖 𝜀𝑡 𝑚𝑠 𝜀𝑡 𝑖𝑛𝑡 𝜀𝑡 𝑒𝑥𝑐 𝜀𝑡 𝑐𝑟𝑒 ) 𝜀𝑡
[ 1 ] ( ( 𝑎71 𝑎72 𝑎73 𝑎74 𝑎75 𝑎76 𝑢𝑡
Xuất phát từ thực tế Việt Nam là một nền kinh tế nhỏ với độ mở kinh tế lớn,
ngoài những biến số vĩ mô trong nền kinh tế, luận án bổ sung thêm các biến số phản
ánh các cú sốc bên ngoài là giá dầu thế giới. Các biến số trong mô hình gồm: giá dầu
thô West Texas Intermediate (USD/thùng) (oil), tổng sản phẩm quốc nội (gdp), chỉ số
giá tiêu dùng (cpi), cung tiền rộng m2 (ms), lãi suất cho vay ngắn hạn 3 tháng của các
ngân hàng thương mại (int), và tỷ giá giao dịch VND/USD (exe), và tín dụng đối với
khu vực tư nhân của các ngân hàng thương mại (cre).
Giá dầu thô là biến đại diện cho cú sốc từ bên ngoài nền kinh tế. Việt Nam là
nước có độ mở kinh tế cao, dựa nhiều vào nhập khẩu cho tiêu dùng trong nước và làm
nguyên liệu đầu vào cho hoạt động xuất khẩu nên nền kinh tế khá nhạy cảm với biến
động giá năng lượng. Hơn nữa, giá dầu thô giúp làm giảm hiện tượng “price puzzle”
trong các mô hình VAR khi giá cả thường có xu hướng tăng lên trước các cú sốc thắt
chặt CSTT [51, 46, 58, 117].
Đối với khu vực trong nước, dòng thứ hai và thứ ba mô tả sự cân bằng của thị
trường hàng hóa. Việc ấn định các phần tử bằng 0 trong hai dòng này phản ánh tính
137
chất cứng nhắc của giá cả [26]. Theo Kim và Roubini (2000), các biến số vĩ mô như
tổng sản phẩm quốc nội và giá cả không chịu tác động từ các biến số vĩ mô trừ giá dầu
thô. Nói cách khác, cung tiền, lãi suất, tỷ giá và tín dụng không tác động tới sản lượng
và giá cả ngay tức thời mà có độ trễ. Trong khi đó, giá cả phản ứng tức thời trước cú
sốc thu nhập và giá dầu thô [88].
Dòng thứ tư mô tả hàm cầu tiền với cầu tiền phụ thuộc vào thu nhập thực, giá cả,
lãi suất (chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền). Dòng thứ năm mô tả hàm phản ứng của
CSTT, theo đó, lãi suất được điều chỉnh dựa trên các thông tin về cung tiền, tỷ giá, và tín
dụng. Lựa chọn lãi suất cho vay làm biến đại diện cho điều hành CSTT của NHNN xuất
phát từ thực tế trong một số giai đoạn NHNN áp dụng trần lãi suất cho vay, áp dụng
biên độ lãi suất cho vay không được vượt quá ±150% lãi suất cơ bản, yêu cầu các TCTD
giảm lãi suất cho vay về mức phù hợp với khả năng của nền kinh tế, hoặc đặt ra mục
tiêu giảm lãi suất cho vay trong các chỉ thị điều hành CSTT đầu năm. Mặc dù thông tin
về giá cả là sẵn có theo tần suất tháng và quý nhưng phần lớn dữ liệu về sản lượng theo
quý là dưới dạng ước tính nên NHNN thường đợi thêm các chỉ báo kinh tế vĩ mô một
cách đầy đủ và chính xác hơn trước khi đưa ra quyết định về điều chỉnh định hướng
CSTT. Duy trì cam kết tỷ giá trong một cơ chế tỷ giá tương đối cứng nhắc nên NHNN
sẽ có xu hướng điều hành CSTT phản ứng lại trước cú sốc tỷ giá.
Dòng thứ sáu được xây dựng trên cơ sở lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá
trên thị trường ngoại tệ. Được coi như là một biến số tài chính, tỷ giá phản ứng ngay
lập tức trước các cú sốc khác bên ngoài và bên trong nền kinh tế [26, 88]. Dòng thứ
bảy mô tả các chủ thể kinh tế gồm ngân hàng và khách hàng vay vốn đều có đầy đủ
𝑜𝑖𝑙
các thông tin về kinh tế vĩ mô trước khi đưa ra quyết định tín dụng.
1 0 0 0 0 0
𝑐𝑝𝑖
𝑢𝑡 𝑔𝑑𝑝 0 0 0 1 0 𝑎21
𝑚𝑠
𝑖𝑛𝑡
0 0 0 1 𝑎31 𝑎32 = 𝑢𝑡 = 1 0 0 𝑎42 𝑎43 𝑎45 𝑢𝑡 𝑢𝑡 𝑢𝑡
0 1 0 0 𝑎56 𝑎54
𝑜𝑖𝑙 𝜀𝑡 𝑔𝑑𝑝 𝜀𝑡 𝑐𝑝𝑖 𝜀𝑡 𝑚𝑠 𝜀𝑡 𝑖𝑛𝑡 𝜀𝑡 𝑒𝑥𝑐 ) 𝜀𝑡
[ 𝑢𝑡 𝑒𝑥𝑐 ) ( ( 𝑢𝑡
𝑎61 𝑎62 𝑎63 𝑎64 𝑎65 𝑎66] Để đo lường vai trò của kênh tín dụng, tác giả sử dụng phương pháp
“shutdown” được đề xuất bởi Ramey (1993). Phương pháp này cho phép loại bỏ một
kênh truyền tải CSTT ra khỏi mô hình nhằm đánh giá mức độ đóng góp của kênh
truyền tải này trong việc truyền tải tác động từ CSTT tới các biến số vĩ mô của nền
kinh tế như sản lượng và lạm phát. Đơn cử như trong trường hợp này, so sánh hàm
phản ứng giữa mô hình gốc và mô hình mà biến tín dụng được đưa làm biến ngoại sinh
138
sẽ cho phép đánh giá mức độ đóng góp của kênh tín dụng [108]. Phương pháp này đã
được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng như Morsink và Bayoumi (2001), Disyatat và
Vongsinsirikul (2003), và Perera và Wickramanayake (2013).
2.3.1.2. Số liệu và kiểm định khuyết tật mô hình
Các biến số trong mô hình bao gồm: giá dầu thô West Texas Intermediate
(USD/thùng) (oil); tổng sản phẩm quốc nội (gdp) theo giá so sánh, chỉ số giá tiêu dùng
(cpi) năm gốc 2005 được lấy từ Tổng cục Thống kê; cung tiền rộng (ms), lãi suất ngắn
hạn 3 tháng của các ngân hàng thương mại (int), và tỷ giá giao dịch VND/USD của
các ngân hàng thương mại (exe) vào cuối quý, tín dụng đối với khu vực tư nhân (cre)
được lấy từ Thống kê tài chính quốc tế, Quỹ tiền tệ quốc tế.
Chuỗi số liệu nghiên cứu được lấy theo tuần suất quý từ quý 1 năm 2000 đến
quý 4 năm 2015. Các số liệu, ngoại trừ lãi suất cho vay ngắn hạn của các NHTM ở
dạng %, đều được chuyển sang dạng logarít. Để loại bỏ yếu tố mùa vụ ra khỏi dữ liệu,
phương pháp Census X12 được áp dụng với tất cả các biến.
Kiểm định tính dừng Augmented Dickey-Fuller cho thấy lãi suất cho vay ngắn
hạn dừng trong khi các biến số khác không dừng, chỉ dừng sau khi lấy sai phân bậc
nhất. Các biến không dừng được chuyển sang dạng sai phân bậc nhất và trở thành biến
dừng
Các tiêu chuẩn Sequential modified LR, Final prediction error, Akaike
information criterion, Schwarz information criterion và Hannan - Quinn information
criterion được sử dụng để xác định độ trễ tối ưu cho mô hình. Tiêu chuẩn LR, FPE đề
xuất độ trễ tối ưu là 3 quý, tiêu chuẩn SC và HQ đề xuất độ trễ tối ưu là 1 quý, tiêu
chuẩn AIC đề xuất độ trễ tối ưu là 4 quý. Tuy nhiên, với độ trễ 3 và 4 quý, kiểm định
nghiệm đơn vị cho thấy mô hình không ổn định. Tham khảo các nghiên cứu về truyền
tải CSTT sử dụng dữ liệu tần suất theo quý như Ramaswamy và Sloek (1997),
Disyatat và Vongsinsirkul (2003), độ trễ 2 quý được lựa chọn [107, 57]. Kiểm định
nghiệm đơn vị cho các nghiệm đều nhỏ hơn 1, đồng nghĩa với việc mô hình ổn định về
mặt thống kê (xem phụ lục số 10 về kiểm định nghiệm đơn vị).
−1 áp đặt giá trị 0 cho 26 phần tử ai,j, vượt quá số lượng áp đặt giá trị 0 tối thiểu là (n2-n)/2= (72-7)/2 = 21. Trong trường hợp mô hình SVAR xảy ra hiện
Ma trận A0
tượng over identified, Likelihood Ratio test được sử dụng để xem xét liệu giả thuyết
H0: “cấu trúc mô hình được chấp nhận” có bị bác bỏ ở mức ý nghĩa 5% hay không. Các giá trị p-value của hai mô hình lần lượt là 0,7394 và 0,7773 cho thấy giả thuyết H0 không bị bác bỏ.
139
2.3.2. Kết quả mô hình
Hình 2.79 cho thấy lãi suất tăng làm giảm tốc độ tăng trưởng kể từ quý thứ hai,
và đạt mức ảnh hưởng mạnh nhất vào quý thứ 4. Khoảng tin cậy cho thấy tác động của
lãi suất đến sản lượng có ý nghĩa thống kê trong khoảng thời gian quý thứ 3 và thứ 4.
Điều này cho thấy CSTT thắt chặt cần một độ trễ hiệu quả nhất định để làm giảm tốc
độ tăng trưởng kinh tế. Hàm phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng trước cú sốc lãi suất
cho thấy tăng lãi suất có tác dụng làm giảm tỷ lệ lạm phát. Khá giống với hàm phản
ứng của sản lượng, cần tới quý thứ 2, việc tăng lãi suất mới phát huy tác dụng và ảnh
hưởng cao nhất đạt được vào quý thứ 6 (hình 2.80).
Hình 2.80: Hàm phản ứng của CPI
0.003
0.0015
0.002
0.0010
0.001
0.0005
0.000
0.0000
-0.001
-0.0005
-0.002
-0.0010
-0.003
-0.0015
-0.004
-0.0020
-0.005
-0.0025
1
5
10
15
1
5
10
15
20
20
Hình 2.79: Hàm phản ứng của GDP trước cú sốc lãi suất7 trước cú sốc lãi suất
Nguồn: Tính toán của tác giả Nguồn: Tính toán của tác giả
Hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc sản lượng cho thấy phải đến quý thứ 2,
lãi suất mới được điều chỉnh lại để ngăn đà tăng đột biến trong sản lượng của nền kinh
tế. Trái lại, hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc lạm phát cho thấy CSTT phản ứng
nhanh hơn khi tăng lên ngay trong quý thứ nhất. Điều này cho thấy lãi suất được duy
trì để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (ít nhất là trong ngắn hạn) thay vì phản ứng theo
cách thận trọng hơn là ổn định kinh tế vĩ mô. Chỉ khi lạm phát tăng cao, lãi suất mới
được điều chỉnh tăng nhằm kiềm chế đà tăng và ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế.
Thực trạng này cho thấy CSTT có xu hướng thiên về mục tiêu tăng trưởng.
7 Đường nét đứt là khoảng tin cậy một lần độ lệch chuẩn, đường nét đứt chấm là khoảng tin cậy hai lần độ lệch chuẩn.
140
Hình 2.81: Hàm phản ứng của lãi suất Hình 2.82: Hàm phản ứng của lãi suất
2.0
1.0
0.8
1.5
0.6
0.4
1.0
0.2
0.5
0.0
-0.2
0.0
-0.4
-0.6
-0.5
-0.8
-1.0
-1.0
1
5
10
15
1
5
10
15
20
20
trước cú sốc GDP trước cú sốc CPI
Nguồn: Tính toán của tác giả Nguồn: Tính toán của tác giả
Hàm phản ứng của cung tiền trước cú sốc sản lượng và giá cả cũng cho thấy
nhận định tương tự. Đến tận quý thứ 5, cung tiền mới được thu hẹp để ngăn đà tăng
của tăng trưởng trong khi ngay từ quý thứ nhất, cung tiền đã được điều chỉnh giảm để
kiểm soát lạm phát tăng đột biến.
Hình 2.83: Hàm phản ứng của cung Hình 2.84: Hàm phản ứng của cung
0.010
0.008
0.004
0.005
0.000
0.000
-0.004
-0.005
-0.008
-0.010
-0.012
1
5
10
15
1
5
10
15
20
20
tiền trước cú sốc GDP tiền trước cú sốc CPI
Nguồn: Tính toán của tác giả Nguồn: Tính toán của tác giả
Hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc tín dụng cho thấy lãi suất khá nhạy cảm
với sự tăng trưởng đột biến của tín dụng. Kể từ khi xảy ra cú sốc tín dụng, đến quý thứ
2, CSTT mới có phản ứng lại bằng việc tăng lãi suất và đạt ảnh hưởng lớn nhất vào
quý thứ 4 (xem hình 2.83). Hàm phản ứng của tỷ giá trước cú sốc lãi suất cho thấy
hiện tượng tăng vọt tỷ giá khi tỷ giá giảm trong quý đầu tiên và được điều chỉnh tăng
nhẹ vào quý tiếp theo (xem hình 2.84).
141
Hình 2.85: Hàm phản ứng của lãi suất Hình 2.86: Hàm phản ứng của tỷ giá
1.2
0.005
0.6
0.000
0.0
-0.005
-0.6
-0.010
1
5
10
15
1
5
10
15
20
20
trước cú sốc tín dụng trước cú sốc lãi suất
Nguồn: Tính toán của tác giả Nguồn: Tính toán của tác giả
So sánh hàm phản ứng của tổng sản phẩm quốc nội trước cú sốc lãi suất trong
trường hợp có kênh tín dụng và không có kênh tín dụng cho thấy, phản ứng của tổng
sản phẩm quốc nội trước cú sốc lãi suất trong trường hợp có kênh tín dụng mạnh và
dai dẳng hơn (kéo dài tới 10 quý) so với trường hợp không có kênh tín dụng (6 quý)
(xem hình 2.85). Hàm phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng trước cú sốc lãi suất cũng cho
thấy kênh tín dụng phát huy ảnh hưởng rõ rệt từ quý thứ 3 đến quý thứ 12.
Hình 2.87: Hàm phản ứng của GDP Hình 2.88: Hàm phản ứng của CPI
trước cú sốc lãi suất khi có kênh tín trước cú sốc lãi suất khi có kênh tín
0.001
0.002
0.001
0.000
0.000
-0.001
-0.001
-0.002
-0.003
-0.002
-0.004
1
5
10
15
1
5
10
15
20
20
dụng và khi không có kênh tín dụng dụng và khi không có kênh tín dụng
Nguồn: Tính toán của tác giả Nguồn: Tính toán của tác giả
Kết quả hàm phản ứng của sản lượng và giá cả trước cú sốc cung tiền cũng cho
thấy kênh tín dụng có tác dụng khuếch đại mạnh mẽ ảnh hưởng của việc mở rộng cung
tiền (xem hình 2.85 và 2.86).
142
Hình 2.89: Hàm phản ứng của GDP Hình 2.90: Hàm phản ứng của CPI
trước cú sốc cung tiền khi có kênh tín trước cú sốc cung tiền khi có kênh tín
0.003
0.010
0.002
0.005
0.001
0.000
0.000
-0.001
-0.002
-0.005
1
5
10
15
1
5
10
15
20
20
dụng và khi không có kênh tín dụng dụng và khi không có kênh tín dụng
Nguồn: Tính toán của tác giả Nguồn: Tính toán của tác giả
Như vậy, qua phân tích hàm phản ứng đẩy, có thể nhận thấy sự tồn tại và vai
trò nhất định của kênh tín dụng trong truyền tải CSTT của Việt Nam. Theo đó, ảnh
hưởng của điều hành CSTT sẽ phát huy tác dụng nhanh và mạnh hơn trong trường
hợp có kênh tín dụng so với trường hợp không có kênh tín dụng.
Phân rã phương sai cho thấy việc đưa kênh tín dụng vào mô hình giúp tăng mức
giải thích của lãi suất tới sự biến động sản lượng và giá cả (xem bảng 2.5). Mức giải
thích sự biến động sản lượng của lãi suất tăng từ 0,39% lên 1,38% sau một năm và
tăng từ 0,39% lên 2,14% sau 5 năm. Tương tự, mức độ giải thích giá cả của lãi suất
tăng từ 1,24% lên 4,05% sau 5 năm. Tác động của lãi suất lên sản lượng và giá cả là
chậm khi chỉ giải thích chưa đến 5% sự biến động sản lượng giá cả. Điều này củng cố
thực tiễn NHNN buộc phải điều chỉnh tăng mạnh lãi suất kết hợp với biện pháp thu
hẹp cung tiền, quy định hạn mức tăng trưởng tín dụng khi lạm phát tăng cao (cả cung
tiền và tín dụng giải thích 3,77% và 24,3% sự biến động sản lượng và giá cả sau 1
năm).
Bảng 2.5: Phân rã phương sai của GDP và CPI khi có kênh tín dụng
và khi không có kênh tín dụng
Kênh tín dụng
Không có kênh tín dụng
Biến
Thời
số
điểm
oil
gdp
cpi
ms
int
exc
cre
oil
gdp
cpi
ms
int
exc
1
0.02
99.98
0.00
0.00
0.00
0.00
0.00
0.61
99.39
0.00
0.00
0.00
0.00
4
0.13
93.19
0.38
3.71
1.38
1.06
0.13
1.56
87.09
3.21
0.14
0.39
7.61
8
0.65
87.43
1.72
6.21
1.86
1.38
0.75
1.52
85.96
3.36
0.54
0.39
8.23
Sản
lượng
12
1.34
85.58
2.41
6.37
1.87
1.53
0.89
1.51
85.90
3.34
0.55
0.39
8.30
16
1.41
84.07
2.37
7.39
2.03
1.51
1.21
1.52
85.90
3.34
0.55
0.39
8.30
20
1.40
83.36
2.44
7.77
2.14
1.56
1.33
1.52
85.90
3.34
0.55
0.39
8.30
143
1
12.60
0.56
86.83
0.00
0.00
0.00
12.39
0.17
87.44
0.00
0.00
0.00
0.00
4
17.58
8.11
48.48
16.36
1.16
7.94
18.88
3.77
66.39
7.76
1.22
1.97
0.36
8
12.00
12.05
32.82
30.86
3.48
7.34
16.92
7.97
56.59
10.43
1.19
6.91
1.44
Giá cả
12
11.45
11.70
32.18
31.17
4.04
7.62
16.04
11.33
51.64
9.92
1.23
9.84
1.83
16
11.42
11.88
32.15
30.97
4.04
7.59
15.50
13.21
49.17
9.77
1.24
11.11
1.94
20
11.38
12.04
32.04
30.96
4.05
1.94
7.59
14.19
9.67
11.74
15.21 47.94 1.24 Nguồn: Tính toán của tác giả
144
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 của luận án đã khái quát tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam với
nhiều bất ổn từ năm 2011 cho tới nay và chín vấn đề lớn đặt ra cho công tác điều hành
CSTT của NHNN Việt Nam. Tác giả đã phân tích công tác điều hành CSTT trên hai
nội dung là hoàn thiện khung CSTT và tạo dựng mô hình cho CSTT vận hành, đánh
giá năm vấn đề của hệ thống NHTM gồm chất lượng tài sản, thanh khoản, sinh lời, an
toàn vốn và quản trị ngân hàng. Thực trạng truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài
sản cho thấy kênh này đã khuếch đại những thay đổi ban đầu của lãi suất và khiến cho
nhu cầu và khả năng vay vốn ngân hàng của các chủ thể kinh tế bị giảm xuống.
Tương tự, kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng chỉ ra sự yếu kém của hệ thống
NHTM đã khiến cho khả năng lẫn mong muốn cấp tín dụng ngân hàng bị suy giảm
đáng kể trong một giai đoạn dài. Thực trạng này là một trong những nguyên nhân
khiến nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng suy thoái kéo dài từ năm 2011 cho tới
2014. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy kênh tín dụng đã khuếch đại nhanh và
mạnh những thay đổi trong công tác điều hành CSTT của NHNN đến nền kinh tế.
145
CHƯƠNG 3:
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TRUYỀN TẢI
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
3.1. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ
HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1.1. Định hướng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng
Trong thời gian tới, kinh tế thế giới được dự báo là vẫn phục hồi chậm, không
đồng đều và còn nhiều khó khăn. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng
tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia. Kinh tế trong nước
tuy có dấu hiệu phục hồi nhưng còn nhiều tồn tại như ổn định kinh tế vĩ mô chưa vững
chắc, chất lượng tăng trưởng thấp, sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, môi
trường kinh doanh còn hạn chế… Tình hình này đòi hỏi phải có sự đổi mới mạnh mẽ
trong tư duy, sáng tạo, năng động và quyết liệt trong hành động để tận dụng các cơ
hội, vượt qua khó khăn, thách thức trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô của Chính
phủ nói chung và điều hành CSTT của NHNN nói riêng.
a/ Quan điểm về điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng
Trong thời gian tới, công tác điều hành CSTT của NHNN và hoạt động của hệ
thống NHTM phải tiếp tục bám sát những quan điểm chủ đạo sau:
Thứ nhất, hệ thống ngân hàng đóng vai trò chủ chốt trong tổng thể hệ thống tài
chính Việt Nam, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế nhanh, bền vững
trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu
quả, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.
Thứ hai, hệ thống ngân hàng tập trung vào hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo hướng
kết hợp hài hòa, đồng bộ và hợp lý giữa quy luật thị trường, cạnh tranh bình đẳng,
minh bạch và sự quản lý có tính hiệu lực và hiệu quả của Nhà nước thông qua các
công cụ điều tiết.
Thứ ba, hệ thống ngân hàng lấy ổn định tiền tệ và tài chính là điều kiện tiên
quyết để góp phần vào duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm sự phối hợp đồng bộ
giữa CSTT với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, đặc biệt là CSTK; giữa hoạt động
ngân hàng và hoạt động của doanh nghiệp, hộ gia đình; giữa thị trường tiền tệ với thị
trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm…
Thứ tư, hệ thống ngân hàng phát triển lành mạnh và ổn định; tăng cường phạm
vi và hiệu quả hoạt động, phục vụ nền kinh tế; tăng cường tính minh bạch, trách
146
nhiệm; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hướng tới áp dụng các thông lệ quốc tế vào hoạt
động kinh doanh ngân hàng.
b/ Mục tiêu tổng quát đối với điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng
Mục tiêu tổng quát đối với điều hành CSTT là điều hành chủ động, linh hoạt,
phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm hoàn thành các chỉ tiêu kinh
tế vĩ mô theo mục tiêu của Quốc hội, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và thị
trường tiền tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và cơ cấu lại
nền kinh tế.
Mục tiêu tổng quát đối với hoạt động NHTM là tiếp tục cơ cấu lại triệt để và
toàn diện toàn bộ hệ thống gắn với xử lý nợ xấu hiệu quả; phát triển hệ thống ngân
hàng với quy mô, số lượng hợp lý, hoạt động hiệu quả, an toàn và minh bạch, đủ năng
lực cạnh tranh, và đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng.
3.1.2. Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng thương mại
a/ Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ
Thứ nhất, xây dựng và áp dụng triệt để khuôn khổ CSTT với mục tiêu duy nhất
là ổn định giá cả, phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác trong việc
thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội:
Đổi mới điều hành công cụ của CSTT theo hướng hiện đại, chuyển từ điều
hành theo khối lượng sang điều hành theo giá; sử dụng các công cụ gián tiếp, hạn chế
và tiến tới dừng sử dụng các biện pháp hành chính.
Xác định cơ chế truyền tải CSTT và đánh giá hiệu quả cơ chế truyền tải theo
các kênh, giải quyết những tồn tại trong các kênh truyền tải đang hạn chế vai trò
truyền tải CSTT tới hệ thống ngân hàng, thị trường tiền tệ, tài chính và nền kinh tế.
Đổi mới cơ chế tỷ giá theo hướng linh hoạt và có tính thị trường hơn, hạn chế
các công cụ trực tiếp, biện pháp hành chính trong quản lý thị trường ngoại tệ, tăng
cường sử dụng các công cụ gián tiếp để can thiệp vào thị trường ngoại tệ. Đổi mới
công tác quản lý dự trữ ngoại hối phù hợp với thông lệ quốc tế, bảo đảm hài hòa các
mục tiêu an toàn, thanh khoản và sinh lời.
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và các mô hình dự báo, cảnh báo sớm làm
căn cứ điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng.
Thực hiện các giải pháp quản lý ngoại hối hợp lý, đồng bộ với CSTT - tín
dụng; chuyển các quan hệ huy động và cho vay sang quan hệ mua bán, tiến tới xóa bỏ
tình trạng đô la hóa, vàng hóa trong nền kinh tế.
Tăng cường phối hợp chính sách giữa NHNN và các cơ quan quản lý Nhà
nước để bảo đảm sự hài hòa giữa CSTT và các chính sách kinh tế vĩ mô.
147
Tăng cường công tác truyền thông và minh bạch các chủ trương, giải pháp
điều hành CSTT với nền kinh tế.
Đẩy mạnh hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới trong hoạt động điều
hành CSTT, chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để ứng phó với các biến động từ bên
ngoài.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng hoạt động hiệu quả,
phù hợp với các thông lệ quốc tế:
Hoàn thiện cơ chế, quy trình và phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở
rủi ro phù hợp với thực tiễn hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam, hướng tới áp
dụng các nguyên tắc của Ủy ban giám sát ngân hàng Basel.
Xây dựng và triển khai hệ thống giám sát từ xa có hiệu quả để cảnh báo sớm,
hệ thống thanh tra tại chỗ để phát hiện các ngân hàng và hoạt động ngân hàng có dấu
hiệu rủi ro, thiếu an toàn.
Hoàn thiện các quy định về hoạt động ngân hàng theo hướng phù hợp với
thông lệ quốc tế, bảo đảm sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng, thúc đẩy
cạnh tranh lành mạnh.
Hoàn thiện cơ chế xử phát các vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng đảm bảo
tính nghiêm minh, công bằng và minh bạch.
Thứ ba, phát triển hệ thống NHNN gồm NHNN trụ sở chính và các chi nhánh
NHNN tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hiện đại với mô hình tổ chức hợp lý,
hoạt động hiệu quả trong thực hiện các chức năng của một NHTW:
Tăng cường năng lực thể chế, nâng cao vị thế và trách nhiệm của NHNN trên
cơ sở Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010
Cơ cấu lại tổ chức NHNN theo hướng tinh gọn, chuyên môn hóa cao, hiệu
lực và hiệu quả trong công tác điều hành CSTT và quản lý hoạt động ngân hàng.
b/ Giải pháp đối với hoạt động ngân hàng thương mại
Thứ nhất, tiếp tục triển khai các biện pháp tái cơ cấu toàn diện và triệt để các
ngân hàng trên các phương diện tài chính, hoạt động và quản trị theo lộ trình phù hợp:
Đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa, cấu trúc lại cổ đông chiến lược, và tiến
hành niêm yết trên thị trường chứng khoán các cổ phiếu ngân hàng nhằm tăng cường
năng lực tài chính và tính minh bạch.
Nâng cao chất lượng tài sản, đặc biệt là kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín
dụng, tập trung xử lý triệt để nợ xấu.
Đổi mới hệ thống quản trị ngân hàng, đặc biệt là quản trị rủi ro, phù hợp với
thông lệ và chuẩn mực quốc tế
148
Hiện đại hóa cơ sở vật chất, đặc biệt nền tảng công nghệ và cơ cấu lại hệ
thống kênh phân phối phù hợp với khả năng tiếp cận của khách hàng.
Thứ hai, thực hiện các giải pháp huy động vốn và cấp tín dụng có hiệu quả, phù
hợp với năng lực của ngân hàng, bảo đảm hỗ trợ tăng trưởng hợp lý, hỗ trợ quá trình
tái cấu trúc nền kinh tế, kiểm soát lạm phát.
Thứ ba, chấp hành nghiêm túc các quy định pháp luật trong lĩnh vực hoạt động
ngân hàng như an toàn hoạt động, tín dụng, huy động vốn, quản trị rủi ro, tỷ giá…
Thứ tư, tích cực phát triển phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phù hợp
với năng lực tài chính, quản trị rủi ro và nhu cầu của khách hàng.
Thứ năm, chủ động cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin về hoạt
động kinh doanh theo quy định của pháp luật; tích cực phối hợp với NHNN, các cơ
quan quản lý và các chủ thể kinh tế để nắm bắt các định hướng điều hành, nhu cầu và
kiến nghị.
Thứ sáu, tăng cường chuẩn bị các giải pháp để tiến tới hội nhập kinh tế khu vực
và quốc tế có hiệu quả và an toàn.
3.2. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Tại Quyết định số 252/QD-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường
chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 ban hành ngày 01/03/2012, mục tiêu
tổng quát đề ra là “phát triển thị trường chứng khoán ổn định, vững chắc,…, đảm bảo
thị trường hoạt động hiệu quả và trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan
trọng của nền kinh tế”. Mục tiêu cụ thể Thủ tướng Chính phủ đưa ra là đến năm 2020,
tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu vào năm 2020 đạt khoảng 70% GDP. Tuy
nhiên, tính đến cuối năm 2015, tỷ lệ này mới chỉ đạt ở mức 34%, tức là chưa đạt một
nửa mục tiêu đề ra. Sự đi xuống từ năm 2008 và sau đó là sự hồi phục chậm chạp của
thị trường cổ phiếu Việt Nam từ năm 2012 cho tới nay đã làm giảm đi khả năng gia
tăng của tỷ lệ vốn hóa thị trường cổ phiếu.
Đối với thị trường trái phiếu, lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam
đến năm 2020 được quy định tại Quyết định số 261/QĐ-BTC ngày 01/02/2013. Theo
đó, quan điểm chung là phát triển thị trường trái phiếu một cách bền vững, thanh
khoản cao và từng bước tiếp cận các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, từ đó đưa thị
trường trái phiếu trở thành một kênh huy động vốn an toàn, hiệu quả cho nền kinh tế.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là tổng dư nợ thị trường trái phiếu đạt mức 38% GDP,
trong đó thị trường trái phiếu chính phủ đạt 22% GDP, thị trường trái phiếu chính phủ
bảo lãnh đạt 8%, thị trường trái phiếu chính quyền địa phương đạt 1% GDP và thị
149
trường trái phiếu doanh nghiệp đat 7% GDP. Đến cuối năm 2015, thị trường trái phiếu
vẫn rất xa mục tiêu đề ra khi thị trường trái phiếu chính phủ mới đạt 23,5% GDP và thị
trường trái phiếu doanh nghiệp đạt 1,1% GDP (xem hình 3.1). Đối tượng mua trái
phiếu chính phủ những năm gần đây tập trung chủ yếu vào các NHTM, là nguyên
nhân khiến tỷ lệ này được cải thiện còn thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn phát
triển rất hạn chế.
Hình 3.1: Tỷ lệ trái phiếu Chính phủ và doanh nghiệp
160%
140%
VN
120%
ID
100%
CN
PH
80%
TH
60%
SG
40%
MY
KR
20%
0%
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
trên GDP một số quốc gia
Nguồn: Asian bond online và the Worldbank data
Trái lại với sự tăng trưởng chậm chạp và vai trò tương đối mờ nhạt của thị
trường chứng khoán, tín dụng ngân hàng đã và vẫn đang là kênh dẫn vốn chủ đạo cho
hoạt động của nền kinh tế Việt Nam. Tỷ lệ tín dụng trên GDP dù đã giảm xuống so với
mức cao nhất 124,7% vào năm 2010 xuống còn 104,9% vào năm 2012, đã tăng trở lại
mức 113,8% vào năm 2014 (xem hình 3.2). Hệ thống TCTD Việt Nam đã phải nỗ lực
để huy động vốn để cấp tín dụng cho nhiều chủ thể kinh tế, nhiều đối tượng được tài
trợ, với kỳ hạn dài đáng nhẽ phải được phục vụ bởi thị trường chứng khoán. Trong sự
nỗ lực đó, không thể không ghi nhận vai trò của hệ thống NHTM, chiếm tới 84,4%
tổng tài sản của cả hệ thống TCTD. Trong thời gian tới, khả năng hệ thống tài chính
Việt Nam sẽ phát triển đồng đều hơn với sự gia tăng quy mô lẫn tỷ trọng của thị
trường chứng khoán là không cao. Do vậy, tín dụng ngân hàng và hệ thống NHTM
chắc chắn vẫn tiếp tục thể hiện vai trò cầu nối về vốn cho các chủ thể kinh tế đồng thời
là kênh truyền tải quan trọng của CSTT tới nền kinh tế Việt Nam.
Việc tăng cường khả năng truyền tải CSTT qua kênh tín dụng của hệ thống
NHTM Việt Nam trở thành một vấn đề hết sức cấp thiết xuất phát từ (i) vai trò của
kênh này trong số các kênh truyền tải; (ii) những yếu kém nội tại trong hệ thống
NHTM và hệ thống doanh nghiệp đang cản trở hiệu quả truyền tải CSTT qua kênh tín
150
dụng, và (iii) những thách thức mới đối với quá trình truyền tải CSTT qua kênh tín
dụng đang ngày một nhiều lên. Như vậy, việc đưa ra các giải pháp đối với không chỉ
các NHTM mà các giải pháp đối với NHNN, kiến nghị với hệ thống doanh nghiệp là
hết sức cần thiết để tăng cường khả năng truyền tải CSTT qua kênh tín dụng của hệ
thống NHTM.
180%
160%
140%
VN
ID
120%
CN
100%
PH
80%
TH
SG
60%
MY
40%
KR
20%
0%
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
Hình 3.2: Tỷ lệ tín dụng trên GDP một số quốc gia
Nguồn: Asian bond online và the Worldbank data
3.2.1. Nhóm giải pháp đối với Ngân hàng Nhà nước
3.2.1.1. Định hướng hệ thống ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng gắn với
nâng cao chất lượng tín dụng
Việc nâng cao chất lượng các khoản tín dụng và giảm thiểu mức độ nhạy cảm
của chất lượng tín dụng với biến động kinh tế vĩ mô là hết sức cần thiết. Về lý thuyết,
hệ thống NHTM không phải là chủ thể kinh tế có khả năng chấp nhận mức rủi ro cao
mà phải là các quỹ đầu tư mạo hiểm, các quỹ đầu tư vào trái phiếu có mức độ tín
nhiệm thấp… Phân tích thực tiễn công tác điều hành CSTT cho thấy mỗi lần NHNN
thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay được
đẩy lên cao và dẫn tới với các bất ổn kinh tế vĩ mô, chất lượng tín dụng của hệ thống
NHTM bị suy giảm mạnh, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng cấp tín dụng của ngân
hàng. Do vậy, tăng trưởng tín dụng cần phải đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng,
phân bổ tín dụng tới đa dạng những đối tượng sử dụng vốn với hiệu quả cao và an
toàn. Việc mở rộng tín dụng trên cơ sở bảo đảm chất lượng tín dụng giúp hệ thống
NHTM chủ động kiểm soát nợ xấu, hạn chế tình trạng mất an toàn cho hệ thống và
giảm thiểu nguy cơ lạm phát.
Thứ nhất, NHNN và hệ thống NHTM cần xác định về mặt nguyên tắc việc quản
lý cơ cấu tín dụng ở tầm vĩ mô phải hướng tới giảm thiểu rủi ro thông qua đa dạng hóa
151
Như vậy, toàn ngành phải xác định được một cơ cấu tín dụng mà ở đó, mức độ
rủi ro là tương xứng với khả năng quản trị rủi ro. Việc giảm tỷ trọng cho vay các lĩnh
vực không khuyến khích và sau đó là tăng tỷ trọng các lĩnh vực được ưu tiên cần được
thực hiện thận trọng nhằm bảo đảm lượng vốn phù hợp cung cấp cho các thị trường
như thị trường bất động sản, chứng khoán…, hạn chế gây ra tình trạng “đóng băng” tại
các thị trường này, gắn điều chỉnh cơ cấu tín dụng với việc cơ cấu lại các thị trường
này theo hướng phát triển bền vững. Đối với những rủi ro mang tính hệ thống và khó
kiểm soát, cần có chính sách phát triển những công cụ bảo hiểm rủi ro phù hợp với các
tổ chức có khả năng kiểm soát rủi ro tốt. Qua đó, trong trường hợp không có khả năng
quản trị rủi ro, NHTM có thể phòng ngừa được rủi ro thông qua việc chuyển cho các
tổ chức này.
Thứ hai, NHNN kiểm soát tăng trưởng tín dụng thông qua việc phân tích nhu
cầu vốn, khả năng cung ứng vốn và khả năng chấp nhận rủi ro của hệ thống NHTM
trong cả ngắn hạn lẫn trung, dài hạn
Trước thực trạng hệ thống ngân hàng còn ở trình độ phát triển thấp, chưa định
hình được các phân khúc một cách rõ ràng, các hoạt động cạnh tranh thiếu lành mạnh
luôn tiềm ẩn, việc không định hướng rõ ràng và kiểm soát chặt chẽ hạn mức tăng
trưởng tín dụng sẽ mang lại những hệ quả tiêu cực cho sự phát triển của từng ngân
hàng và toàn hệ thống. Trên khía cạnh vĩ mô, vai trò của vốn tín dụng ngân hàng trong
vốn đầu tư toàn xã hội - chỉ tiêu kinh tế có vai trò quyết định trong việc thực hiện các
mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước, cho thấy trong ngắn hạn đến trung hạn, NHNN
cần phải tiếp tục quản lý hạn mức tăng trưởng tín dụng cho toàn nền kinh tế. Thực tiễn
đã cho thấy việc đề ra nhưng không kiểm soát được tăng trưởng tín dụng những thời
kỳ điển hình như năm 2006 - 2008 và 2010 đã để lại những hệ quả không mong muốn
cho hệ thống ngân hàng và toàn nền kinh tế. Để tăng trưởng tín dụng hướng tới ổn
định kinh tế vĩ mô (vừa bảo đảm đủ vốn cho nhu cầu đầu tư, tiêu dùng, vừa không gây
ra tình trạng lạm phát, nợ xấu), NHNN nên xác định và điều hành tốc độ tăng trưởng
tín dụng cho một giai đoạn dài hạn. Hàng năm, NHNN đưa ra định hướng chỉ tiêu tăng
trưởng tín dụng bám sát mục tiêu trong trung dài hạn, kết hợp với việc điều chỉnh cho
phù hợp với điều kiện thực tế.
Mức tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng cần được xác định hợp lý và
hài hòa trong mối quan hệ tổng thể phân bổ nguồn lực tài chính quốc gia và gắn phân
bổ nguồn vốn tín dụng ngân hàng với tín hiệu thị trường và hạn chế sự can thiệp của
Chính phủ. Tỷ trọng vốn phân bổ qua cơ chế thị trường từng bước phải được nâng lên
phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế; xác định một cấu trúc tài chính phù
hợp có tác dụng thúc đẩy bền vững kinh tế. Như vậy, tín dụng ngân hàng trong bối
152
cảnh phát triển hệ thống tài chính hướng tới cấu trúc cân đối, chủ yếu đóng vai trò
cung ứng vốn ngắn hạn, và vốn dài hạn được phân bổ thông qua thị trường cổ phiếu và
trái phiếu.
Nguồn vốn tín dụng cần được xác định trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, hài
hòa với các nguồn vốn đầu tư khác như vốn đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu
tư nước ngoài, vốn đầu tư từ bản thân chủ sở hữu của các doanh nghiệp... NHNN cần
phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để xác định quy mô vốn
tín dụng để đáp ứng các mục tiêu kinh tế xã hội trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội năm năm được Quốc hội thông qua.
Hàng năm, NHNN đánh giá năng lực tài chính và năng lực quản trị rủi ro tín
dụng của các NHTM, yêu cầu các NHTM xây dựng phương án về tăng trưởng tín
dụng, cải thiện chất lượng hoạt động tín dụng, khả năng vốn để đáp ứng tăng trưởng
tín dụng. Trên cơ sở đó, NHNN đánh giá tổng thể kế hoạch của toàn hệ thống và có
các biện pháp điều chỉnh, hỗ trợ cho phù hợp. Các NHTM từng quý có báo cáo kết
quả, đánh giá và kiến nghị đối với NHNN để có biện pháp điều chỉnh hợp lý. Việc ban
hành một kế hoạch về tăng trưởng tín dụng trong trung hạn, song song với chỉ tiêu
tăng trưởng tín dụng hàng năm, sẽ mang lại những ích lợi đối với công tác điều hành
CSTT và quản lý tín dụng của các NHTM.
Một là: tăng cường sự phối hợp giữa điều hành chính sách tiền tệ - tín dụng với
các chính sách vĩ mô quan trọng khác như thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đầu tư
công… Cơ chế phối hợp này giúp cho các nguồn vốn được huy động, phân bổ và giám
sát một cách hiệu quả hơn, tránh được tình trạng vốn đầu tư tăng vọt trong một thời kỳ,
dẫn tới tình trạng tăng trưởng quá nhanh của nền kinh tế.
Hai là: việc đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong ngắn hạn trên cơ sở bám
sát mục tiêu dài hạn sẽ giúp công tác điều hành tín dụng của NHNN ổn định hơn, gắn
chặt chẽ hơn với các công tác điều hành khác liên quan tới lãi suất, cung tiền, tỷ giá,
thanh toán, thanh tra giám sát ngân hàng.
Ba là: trên cơ sở tăng trưởng tín dụng dài hạn do NHNN đề ra cho toàn ngành,
bản thân các NHTM sẽ có những hoạch định phù hợp về tăng trưởng tín dụng cho
mình. Điều này sẽ giúp các NHTM kiểm soát tăng trưởng tín dụng tốt hơn trước đây
khi tránh khỏi tình trạng tăng trưởng tín dụng quá cao trong một vài năm và phải gánh
chịu hậu quả chất lượng tín dụng suy giảm trong giai đoạn sau đó.
Bốn là: một mục tiêu phù hợp về tăng trưởng tín dụng sẽ giúp định hướng kỳ
vọng của công chúng vào điều hành chính sách của NHNN và chính sách tín dụng của
NHTM. Điều này sẽ khiến công chúng điều chỉnh hành vi đầu tư và tiêu dùng, góp
phần thúc đẩy hiệu quả và tiến độ của quá trình hướng tới các mục tiêu CSTT.
153
Thứ ba, xác định và định hướng tín dụng vào các lĩnh vực phát triển ổn định và
có khả năng hấp thụ vốn tốt trong bối cảnh kinh tế chưa phục hồi bền vững.
Nông nghiệp nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu là những lĩnh vực tiêu biểu mà
NHNN có thể tiếp tục chỉ đạo hệ thống NHTM hướng dòng vốn tín dụng, đặc biệt là
vốn tín dụng trung dài hạn trong thời gian tới thông qua các biện pháp hỗ trợ phù hợp.
Để những chính sách này được triển khai rộng khắp vào thực tiễn, NHNN cần thực
hiện các biện pháp hỗ trợ đối với các NHTM tham gia vào các lĩnh vực này như cho
phép các ngân hàng được vay tái cấp vốn với lãi suất ưu đãi, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc
đối với các ngân hàng có tỷ trọng dư nợ tín dụng cao đối với các lĩnh vực ưu tiên
cao… và dần chuyển sang các hỗ trợ phi tài chính như quy định về điều kiện được vay
tái cấp vốn, về mạng lưới hoạt động… Lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có tốc độ
tăng trưởng tốt, ít nhạy cảm với biến động kinh tế vĩ mô, nhưng vẫn thiếu hụt nguồn
vốn tín dụng phù hợp để có thể tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo đó, cần
có những nguồn vốn có quy mô lớn, thời hạn dài để các doanh nghiệp đầu tư, phát
triển những mô hình trang trại có quy mô (tạo ra lợi thế về quy mô), ứng dụng công
nghệ cao, từ đó tạo ra sức bật đối với sự phát triển của lĩnh vực này. Bên cạnh đó, tiếp
tục xây dựng mô hình thí điểm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ mới vào
cơ giới hóa nông nghiệp ví dụ mô hình cơ giới hóa đồng bộ sản xuất lúa, sản xuất rau
an toàn, chăn nuôi bò sữa…
Để xác định thêm các lĩnh vực có tiềm năng tăng trưởng khác nhưng bảo đảm
điều chỉnh cơ cấu tín dụng hợp lý, NHNN tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ,
ngành, hiệp hội ngành nghề nhằm xác định những lĩnh vực kinh tế tiềm năng của đất
nước trong thời gian tới nhằm đẩy mạnh tín dụng cho lĩnh vực này, góp phần tạo ra
bước đột phá thực sự trong phát triển kinh tế, thực hiện nhiệm vụ tái cấu trúc nền kinh
tế. Để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng tín dụng có kế hoạch và gắn với thực tế, Chính
phủ cần phối hợp các bộ ngành để đưa ra mục tiêu phát triển các lĩnh vực, ngành, vùng
miền kết hợp với mục tiêu cuối cùng về lạm phát, tăng trưởng kinh tế để từ đó xây
dựng mục tiêu tăng trưởng tín dụng gắn với cơ cấu tín dụng phù hợp. Điều này đỏi hòi
cần có một cơ chế phối hợp được thiết lập cụ thể, rõ ràng giữa NHNN (xây dựng và
ban hành các chính sách tín dụng), các NHTM (thực hiện các chính sách tín dụng), Bộ
Công Thương (quản lý các ngành nghề), Bộ Kế hoạch và đầu tư (quản lý cấp phép các
dự án đầu tư), và các Bộ quản lý chuyên ngành như Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn… Cơ chế phối hợp được xây dựng nhằm hướng tới việc trao đổi
thông tin kịp thời, chính xác về tình hình hoạt động của các lĩnh vực, ngành nghề có
tiềm năng phát triển, có nhu cầu vay vốn để ngành Ngân hàng hướng nguồn vốn tín
dụng tới đúng chỗ và đúng thời điểm. Bên cạnh đó, những khó khăn, tồn tại trong việc
154
tiếp cận và sử dụng vốn cũng sẽ được chia sẻ giữa các bên để tìm kiếm những biện
pháp điều chỉnh lại cơ cấu tín dụng, cơ cấu lại nợ, và các biện pháp hỗ trợ khác. Như
vậy, xây dựng cơ cấu tín dụng cần có sự hỗ trợ đồng bộ từ các cơ quan ban ngành có
liên quan, lên kế hoạch tổng hợp từ trên để từ đó giúp cho ngành ngân hàng triển khai
nhất quán.
Thứ tư, để khuyến khích tăng trưởng tín dụng từ phía cầu và giảm mức độ rủi ro
tín dụng ngay từ khi thẩm định, quyết định cho vay, ngành Ngân hàng có thể nghiên
cứu và triển khai các sản phẩm tín dụng phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực
Việc làm này là nhằm tăng khả năng mở rộng tín dụng cũng như hiệu quả tín
dụng như các gói sản phầm ưu đãi về lãi suất vay vốn, gói sản phẩm tín dụng dựa trên
chuỗi liên kết từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ; cho vay theo dòng tiền; hỗ trợ khách
hàng lập phương án sản xuất - kinh doanh, dự án đầu tư hợp lý, tìm kiếm thị trường
đầu ra cho sản phẩm, dịch vụ; cho vay liên kết giữa chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng,
nhà cung cấp vật liệu xây dựng và người mua nhà… Trong bối cảnh hiện nay, sự hợp
tác giữa các NHTM trong việc triển khai các sản phẩm tín dụng này là chưa cao, khiến
cho việc hình thành một chuỗi sản xuất liên kết trở nên khá khó khăn. Do vậy, vai trò
của NHNN phải là đơn vị đi đầu để tạo lập một khung hợp tác nhằm chia sẻ thông tin,
nguồn lực giữa các NHTM. Biện pháp phát triển gói sản phẩm tín dụng dựa trên chuỗi
liên kết và tìm kiếm thị trường đầu ra đa dạng cho sản phẩm sẽ giúp khách hàng vay
vốn hạn chế được những rủi ro trong quá trình giao dịch sản phẩm, dịch vụ, hạn chế
rủi ro tín dụng cho bản thân khách hàng và sau đó là NHTM. Biện pháp hỗ trợ khách
hàng lập phương án sản xuất - kinh doanh, dự án đầu tư sẽ giúp NHTM hiểu hơn về
khoản vay, đặc biệt là các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra, từ đó có các giải pháp kiểm soát
rủi ro phù hợp và kịp thời.
3.2.1.2. Hoàn thiện hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng
Việt Nam để thúc đẩy hoạt động mua và xử lý nợ xấu
VAMC chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7/2013 và bắt đầu mua nợ xấu
9/2013 đã có đóng góp tích cực vào công tác xử lý nợ xấu của hệ thống NHTM, góp
phần lớn vào việc đưa tỷ lệ nợ xấu về dưới mức 3% vào cuối năm 2015 theo đúng kế
hoạch. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình mua và xử lý nợ xấu, Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 34/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP, trao quyền và lợi ích nhiều hơn cho VAMC trong
hoạt động của mình. Trong thời gian tới, trước áp lực tiếp tục mua từ các NHTM, huy
động các nguồn lực để mua nợ xấu theo giá thị trường, cũng như để thực hiện hiệu quả
việc xử lý nợ xấu đã mua, tạo điều kiện cho hệ thống NHTM mở rộng tín dụng, cần
phải bổ sung và hoàn thiện các nội dung sau cho VAMC bao gồm: (i) hoàn thiện
155
khuôn khổ pháp lý; (ii) hoàn thiện chức năng, hoạt động; và (iii) cải thiện môi trường
xử lý nợ xấu.
Thứ nhất, về cơ sở pháp lý của VAMC
Cơ sở pháp lý của VAMC đóng vai trò quan trọng tới sự thành công của quá
trình xử lý nợ xấu. Theo đó, công tác chuyển nhượng các khoản nợ xấu từ các NHTM
cần phải được quy định rõ ràng với hành lang pháp lý thông thoáng nhất để tạo điều
kiện cho các giao dịch mua bán nợ xấu này diễn ra nhanh chóng. Những trở ngại pháp
lý cho việc chuyển giao nợ xấu cần được loại bỏ, ví dụ như việc bắt buộc phải có sự
đồng ý của khách hàng trước khi chuyển giao các khoản nợ xấu cho VAMC hay
VAMC không phải đang ký thay đổi bên nhận bảo đảm trong hợp đồng bảo đảm khi
mua lại khoản nợ xấu từ NHTM.
Để tăng cường hiệu quả của quá trình xử lý nợ xấu, cần phải giám sát hợp nhất
các NHTM, tránh trường hợp các NHTM bán các khoản nợ xấu cho các công ty AMC
trực thuộc với mức giá cao hơn mức giá hợp lý. Nghiệp vụ này thường được các
NHTM áp dụng như một biện pháp "làm đẹp" tình hình tài chính của mình. Một biện
pháp mà cơ quan giám sát có thể áp dụng là yêu cầu các NHTM tính toán hệ số an
toàn vốn trên phương diện hợp nhất bao gồm cả các AMC con của ngân hàng.
Thứ hai, về công tác quản trị công ty của VAMC
Quản trị công ty tốt là yếu tố cần thiết để bảo đảm hiệu quả hoạt động của
VAMC. VAMC cần có một Hội đồng thành viên bao gồm các thành viên từ đơn vị
chủ quản, đại diện của các cơ quan của Chính phủ, và không thể thiếu các thành viên
độc lập từ bên ngoài. Về các tiêu chí lựa chọn thành viên của Hội đồng thành viên của
VAMC, thành viên được bổ nhiệm phải là người có học vấn và kinh nghiệm ở cấp độ
cao trong một hoặc nhiều hơn một lĩnh vực bao gồm: a) Tài chính và kinh tế; b) Pháp
luật; c) Kế toán và kiểm toán; d) Hành chính công; e) Quản trị tín dụng; f) Dự án đầu
tư; g) Đầu tư và phát triển BĐS; h) Quản lý và kinh doanh BĐS; i) Định giá; j) Quy
hoạch đô thị; k) Ngân hàng và đầu tư; l) Phá sản và tái cơ cấu; m) Quản trị rủi ro. Hội
đồng thành viên cần có tối thiểu 03 thành viên độc lập từ bên ngoài (các trung tâm
nghiên cứu của Chính phủ, kiểm toán Nhà nước, hiệp hội doanh nghiệp...).
Quốc hội cần có cơ chế kiểm toán thường xuyên thông qua kiểm toán Nhà nước
(bên cạnh thanh tra của Chính phủ) hoặc kiểm toán độc lập đối với hoạt động của
VAMC để bảo đảm VAMC thực hiện nghiêm túc và hiệu quả những nhiệm vụ được
giao. Bản thân VAMC cần công bố các báo cáo tài chính, quy trình và phương pháp
xử lý nợ định kỳ thông qua các hình thức họp báo, đăng tải thông tin trên các phương
tiện đại chúng (đến nay vẫn có rất ít thông tin về hoạt động của VAMC được công bố
trên website của tổ chức này).
156
Thứ ba, về tiêu chí mua các khoản nợ xấu từ các tổ chức tín dụng của VAMC
Về nguyên tắc, VAMC chỉ nên mua những khoản nợ xấu mà VAMC có thể xử
lý hiệu quả hơn là để tự các NHTM xử lý. Ví dụ, các tài sản cố định như tài sản bị tịch
thu và các khoản vay yêu cầu tịch thu nhà là những lựa chọn tốt cho việc chuyển
nhượng cho VAMC xử lý. Mặt khác, các khoản nợ xấu mà NHNN nhận thấy bản thân
có khả năng tự tái cơ cấu và những khách hàng mà các NHTM muốn duy trì mối quan
hệ lâu dài thì có thể để lại để các NHTM tự xử lý. Các khoản nợ xấu với quy mô nhỏ,
mà tự bản thân NHTM có thể thực hiện thu hồi tốt hơn VAMC, cũng nên được để lại
cho các ngân hàng tự xử lý.
Để đạt được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, VAMC nên chuyển tất cả các khoản nợ
có liên hệ với nhau (ví dụ, các khoản vay của cùng một khách hàng, một nhóm khách
hàng hoặc các khoản vay liên quan đến cùng một loại tài sản thế chấp) thành một
nhóm và mua các khoản nợ này từ phía các NHTM. Do vậy, việc áp dụng nghiêm ngặt
Thông tư số 02/2013/TT-NHNN là một việc làm hết sức cần thiết để cùng lúc các
ngân hàng có thể nhận định chính xác chất lượng khoản nợ của doanh nghiệp, có các
biện pháp xử lý nợ xấu kịp thời.
Các khoản nợ xấu của một doanh nghiệp, cá nhân tại các NHTM khác nhau cần
được đánh giá và xử lý đồng thời, bất kể trường hợp khoản nợ tại một hoặc một số
NHTM không được phân loại vào nhóm nợ xấu. Cơ chế này sẽ tạo điều kiện để thực
hiện tái cấu trúc toàn diện doanh nghiệp, bảo đảm xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu.
Để việc lựa chọn các khoản nợ xấu được mua lại mang lại hiệu quả cao, VAMC
nên tập trung vào xử lý các khoản nợ xấu của tư nhân hơn là các khoản nợ xấu của các
doanh nghiệp Nhà nước. Kinh nghiệm xử lý nợ xấu tại các quốc gia trên thế giới cho
thấy việc AMC quốc gia bị yêu cầu xử lý các khoản vay theo chỉ định của Chính phủ,
thường không mang lại hiệu quả cao.
Thứ tư, về giá mua các khoản nợ xấu của VAMC
Việc mua các khoản nợ xấu của VAMC theo giá thị trường và giá gốc (đã trừ
khoản trích lập DPRR) bằng trái phiếu đặc biệt đồng thời yêu cầu các NHTM trích lập
DPRR cho các trái phiếu này là một phương án phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay
cũng như mục đích của NHNN về tái cơ cấu hệ thống NHTM gắn với tái cơ cấu các
doanh nghiệp, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Điều này hạn chế được những bất cập khi giá
mua nợ xấu cao hơn giá trị thị trường sẽ dẫn tới khả năng các NHTM bán hẳn cho
VAMC số tài sản xấu rất lớn và hình thành tâm lý đẩy nhanh các khoản nợ xấu ra khỏi
bảng cân đối kế toán mà không có trách nhiệm xử lý các khoản nợ này.
Đối với mua nợ xấu theo giá thị trường mà VAMC sẽ tiến hành trong thời gian
tới đây, thường rất khó để định giá tài sản xấu (đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng
157
tài chính), dựa trên khả năng phục hồi, dự báo dòng tiền (với tỷ lệ chiết khấu phù hợp),
và thẩm định tài sản thế chấp, VAMC nên xác định một giá trị xấp xỉ của các khoản nợ
và sử dụng cho mục đích của việc chuyển giao. Do thời gian là một vấn đề luôn được
quan tâm trong công tác xử lý nợ xấu và số lượng các khoản nợ xấu là rất nhiều, việc
chuyển giao sẽ diễn ra tại mức giá ban đầu với thỏa thuận rõ ràng giữa bên bán và bên
mua về mức giá cuối cùng của giao dịch được xác định sau khi giá trị của các tài sản
được VAMC đã được xử lý hoàn toàn. Ngoài ra, chuyển giao tài sản cho VAMC tại
mức giá thị trường đòi hỏi VAMC thực hiện một mục tiêu rõ ràng là thu hồi lại số vốn
bỏ ra ban đầu. Những hạn chế của phương pháp này là nó có thể làm giảm một phần
mong muốn bán các khoản nợ xấu cho VAMC do cả lợi ích và rủi ro chưa được xác
định chính xác tại thời điểm chuyển giao khoản nợ xấu. Trong trường hợp này, một số
thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận hoặc thua lỗ giữa VAMC và các NHTM có thể giúp khắc
phục vấn đề. Cần chú ý việc đưa ra một mức giá, hay một tỷ lệ thanh toán, cho một
loạt các khoản nợ xấu mặc dù đem lại sự đơn giản hóa và chuẩn hóa các quá trình định
giá lại có thể mang lại những bất lợi nhất định. Ví dụ, một hệ thống ở tất cả các mức
giá thống nhất được áp dụng cho các khoản vay không có bảo đảm trong cùng một
danh mục nợ xấu có thể sẽ khiến các NHTM lựa chọn bán các khoản nợ có giá trị thấp
nhất cho VAMC.
Trong trường hợp giữa VAMC và các NHTM không đi đến một thỏa thuận về
giá thị trường của các khoản nợ xấu, một tổ chức độc lập sẽ có trách nhiệm đánh giá
khách quan khoản nợ xấu này, và hai bên phải chấp nhận mức giá do tổ chức độc lập
đưa ra. Ngoài ra, VAMC và các NHTM có thể thỏa thuận với một mức giá bằng bình
quân mức giá các khoản nợ xấu tương tự đã được mua theo giá thị trường, đi kèm với
một cam kết khi thực hiện xử lý xong, các khoản lãi, hoặc lỗ từ việc xử lý sẽ được
phân chia lại theo một tỷ lệ nhất định. Điều này là cần thiết nhằm đẩy nhanh tiến độ xử
lý các khoản nợ xấu.
Việc xác định giá bán các khoản nợ xấu đã mua theo giá thị trường cho các nhà
đầu tư cũng là một vấn đề cần được lưu tâm. Nếu như quá trình xác định giá không
hợp lý, khả năng xảy ra thua lỗ cho VAMC sẽ rất cao, đặc biệt là trường hợp các
thương vụ mua bán kéo dài trong khi các tài sản bảo đảm bị hư hỏng, lỗi thời. Trong
trường hợp như vậy, VAMC sẽ trở nên rất ngần ngại trong việc mua và bán nợ xấu do
lo ngại bị thua lỗ và khiến cho VAMC bị âm vốn điều lệ (tức là làm giảm phần vốn
nhà nước tại tổ chức này).
Thứ năm, về quá trình chuyển giao nợ xấu từ các tổ chức tín dụng tới VAMC
Khi VAMC mua nợ xấu để hỗ trợ các NHTM thua lỗ nhưng vẫn có thể tiếp tục
hoạt động, việc chuyển giao nên được thực hiện một lần duy nhất, không được lặp lại
158
trong thời gian dài. Một thỏa thuận chuyển giao để ngỏ không hạn chế có thể tạo ra các
vấn đề rủi ro đạo đức trong tương lai, làm giảm đi chất lượng tín dụng của NHTM.
Một khía cạnh quan trọng của quá trình chuyển giao liên quan đến việc cung
cấp thông tin, tài liệu cũng như các hồ sơ về tài sản, đặc biệt là khi số lượng tài sản mà
VAMC tiếp quản là lớn. VAMC không nên chấp nhận mua các khoản vay mà các tài
liệu về các khoản vay và người đi vay, đánh giá nội bộ của các khoản vay, kế hoạch
kinh doanh và tài sản thế chấp không đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về mặt pháp lý.
Cuối cùng, để bán thành công các tài sản, VAMC cần phải tìm hiểu xem cá
nhân hay pháp nhân nào là chủ sở hữu của khoản vay này nhằm tránh những khiếu nại
có thể xảy ra, làm chậm quá trình xử lý các khoản nợ xấu.
Thứ sáu, về nguồn vốn sử dụng để mua nợ xấu của VAMC
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy toàn bộ nguồn tài trợ cho AMC thuộc sở hữu của
Chính phủ không nên chỉ huy động từ mỗi ngân sách, đặc biệt là khi các quy mô của
các khoản nợ xấu là tương đối lớn. Trong điều kiện ngân sách gặp khó khăn hiện nay
và trên nguyên tắc gắn trách nhiệm xử lý nợ xấu với nguồn gốc phát sinh nợ xấu,
VAMC phát hành trái phiếu đặc biệt để mua lại nợ xấu từ phía các NHTM là một giải
pháp hoàn toàn phù hợp. Đặc điểm của các trái phiếu này là có thể dùng để vay tái cấp
vốn từ phía NHNN với lãi suất ưu đãi trên tối đa 70% mệnh giá trái phiếu và các
NHTM phải tiến hành trích lập dự phòng rủi ro cho các trái phiếu đặc biệt này. Các
quy định tại Nghị định số 53/2013/NĐ-CP là một giải pháp hoàn toàn phù hợp với
điều kiện của Việt Nam hiện nay. Ngoài ra, áp lực huy động vốn đối với VAMC được
giảm thiểu cũng như NHNN có thể chủ động điều tiết lượng tiền cung ứng, tạo ra sự
phối hợp đồng bộ với CSTT. Song song với đó, việc tăng vốn điều lệ cho VAMC lên
2000 tỷ đồng (đã có đề xuất tiếp tục tăng vốn điều lệ cho VAMC – chưa chính thức)
để tổ chức này mua nợ theo giá thị trường cũng như phát hành trái phiếu để mua nợ
theo giá thị trường (tại Nghị định số 34/2015/NĐ-CP) đã được triển khai nhưng phải
đẩy nhanh tiến độ mua và xử lý để có thể quay vòng vốn nhanh chóng, vừa tăng tính
hiệu quả, kịp thời của việc mua nợ, tạo lập một thị trường mua bán nợ không chỉ cho
hiện tại mà là tiền đề cho giai đoạn xử lý nợ xấu sau này.
Trong thời gian tới, Chính phủ, NHNN cần xem xét cho phép VAMC bán các
khoản nợ xấu đã mua cho các nhà đầu tư quốc tế thông qua việc ban hành các cơ chế
chặt chẽ để vừa xử lý được các khoản nợ, thu hút được nguồn vốn, nhưng đảm bảo
được quyền lợi của nhà đầu tư, các khách hàng có nợ xấu nói riêng cũng như sự ổn
định của hệ thống tài chính, nền kinh tế Việt Nam nói chung. Nếu không tìm được các
nhà đầu tư với nguồn vốn dồi dào và khả năng xử lý nợ chuyên nghiệp thì rất khó có
khả năng tìm kiếm được nhà đầu tư trong nước có đủ khả năng tài chính và chuyên
159
môn để xử lý các khoản nợ này. Rất có thể, chính các NHTM sẽ là nhà đầu tư chủ chốt
vào các trái phiếu mà VAMC phát hành (đặc biệt là trong trường hợp trái phiếu được
Chính phủ bảo lãnh và mức lãi suất sau khi loại bỏ yếu tố rủi ro là cao hơn so với lãi
suất cho vay ra nền kinh tế). Như vậy, nguồn vốn thu được từ việc bán các khoản nợ
xấu ít có khả năng được đưa vào cấp vốn cho nền kinh tế.
Thứ bảy, về công tác xử lý các khoản nợ xấu đã mua được từ các tổ chức tín
dụng của VAMC
Ngay từ trước khi VAMC mua được các khoản nợ xấu từ các NHTM, VAMC
đã cần phải phân loại các khoản nợ xấu vào các nhóm khác nhau nhằm tạo điều kiện
cho việc quản lý cũng như xử lý các khoản nợ này. Đối với mảng xử lý nợ xấu đã mua,
hoạt động của VAMC nên được chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất là nhóm đánh
giá xem các khoản nợ xấu có thể tiếp tục duy trì tín dụng hay không. Trong trường hợp
khoản vay có khả năng phục hồi thì nhóm thứ nhất sẽ tiến hành các biện pháp như điều
chỉnh kỳ hạn trả nợ, thời hạn trả nợ, thay đổi mức lãi suất, thậm chí miễn giảm một
phần hay toàn bộ lãi, bán lại khoản nợ đã mua cho một NHTM khác, chuyển nợ thành
vốn góp, vốn cổ phần… Trường hợp khoản nợ không thể duy trì được, nhóm thứ hai
sẽ đề xuất thỏa thuận với các bên liên quan để xử lý TSBĐ, hoặc nếu không đạt được
thỏa thuận thì TSBĐ sẽ được đem ra bán đấu giá.
Ngoài ra, nhằm đạt được tỷ lệ thu hồi vốn tối đa, VAMC cần phải xử lý khoản
nợ xấu phù hợp với các điều kiện thị trường, đặc biệt là thị trường bất động sản khi mà
tiêu chí ưu tiên xử lý nợ xấu là có bảo đảm bằng bất động sản. Trong trường hợp
khoản vay đang trong giai đoạn thực hiện và giá trị tài sản nếu được xử lý ngay sẽ
mang lại hiệu quả sinh lời thấp, các NHTM và VAMC có thể tạo điều kiện tiếp tục cấp
vốn cho dự án này để khi thực hiện xử lý tài sản, đem lại hiệu quả cao nhất. Cần chú ý
rằng việc xử lý nhanh các TSBĐ chỉ nên áp dụng với các tài sản có mức độ khấu hao
nhanh như máy móc, thiết bị, hàng tồn kho...
Nhằm tối đa hóa giá trị thu hồi từ các khoản nợ xấu, hoặc từ thanh lý các
TSBĐ, việc phát mại các tài sản này có thể ảnh hưởng đến thị trường tài sản. Mục tiêu
xử lý nhanh chóng và thu hồi tiền từ các khoản nợ xấu đã mua sẽ tạo ra một lượng
cung lớn trên thị trường, khiến cho tỷ lệ thu hồi vốn bị giảm xuống. Tuy nhiên, cần
nhìn nhận rằng việc tích trữ các tài sản này mà không xử lý ngay thì các TSBĐ vẫn
được thị trường nhận thức và phản ánh vào mức giá cả trên thị trường tài sản, nên
AMC vẫn nên tập trung vào xử lý càng nhanh càng tốt các khoản.
Ngoài ra, khả năng thành công của công ty quản lý tài sản không chỉ phụ thuộc
vào các yếu tố từ bên trong mà còn chịu ảnh hưởng yếu tố bên ngoài bao gồm:
160
Thứ nhất, hệ thống pháp luật về quyền lợi của người cho vay hiệu quả
Hệ thống pháp luật cần phải xác định rõ các quyền của chủ sở hữu và các nghĩa
vụ giữa NHTM và khách hàng, có khả năng giải quyết thỏa đáng tranh chấp giữa các
bên, và tạo điều kiện thông thoáng cho việc xử lý tài sản thế chấp. Một vị thế pháp lý
tốt dành cho chủ nợ là yếu tố cần thiết cho việc xử lý thành công các khoản nợ xấu nên
các thủ tục pháp lý đầy đủ, rõ ràng, và nhanh gọn là điều hết sức quan trọng. Cũng
không kém phần quan trọng chính là các bộ luật tạo điều kiện cho NHTM hoặc
VAMC thực hiện quyền của chủ nợ với các khoản nợ, TSBĐ và thu nợ từ việc thanh
lý các TSBĐ nếu như khoản nợ không có khả năng được hoàn trả. Hơn thế nữa, các
công ty quản lý tài sản để thu hồi được giá trị tài sản một cách tối đa thì điều quan
trọng là nó phải có quyền đương nhiên bán tài sản thế chấp mà không cần sự đông ý
của khách hàng. Hệ thống luật phá sản chặt chẽ và được thực thi hiệu quả, thông qua
việc cung cấp một khuôn khổ để giải quyết có hiệu quả các khoản nợ xấu, có thể giúp
tăng cường kỷ luật tín dụng bằng cách hạn chế tình trạng những khách hàng có nợ xấu
cố tình trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với NHTM.
Thứ hai, xây dựng và áp dụng một khuôn khổ hoạt động ngân hàng theo chuẩn
mực quốc tế một cách hiệu quả
Khuôn khổ này sẽ đẩy nhanh quá trình và hỗ trợ công tác quản lý các khoản nợ
xấu. Đơn cử, một hệ thống phân loại nợ tốt sẽ cho phép cơ quan quản lý đánh giá quy
mô và chất lượng các khoản nợ xấu, và ngược lại xử lý nợ xấu không thể đạt được
mục tiêu khi các tổ chức này cố tình che giấu các khoản nợ xấu. Mức trích lập dự
phòng quy định thích hợp, phản ánh đúng giá trị của nợ xấu, là cần thiết để ngăn chặn
các tổ chức tài chính tiếp tục nắm giữ các tài sản này mà không có các biện pháp xử lý
kịp thời và thỏa đáng, khiến thị trường các tài sản thực lẫn tài chính rơi vào trạng thái
đình trệ.
Thứ ba, thiết lập một khung thuế phù hợp cho hoạt động xử lý nợ xấu
Một khung thuế thuận lợi sẽ có tác dụng thúc đẩy các giao dịch tài chính và quá
trình tái cấu trúc NHTM. Ví dụ, để tạo thuận lợi cho việc xử lý các khoản nợ xấu, thuế
giao dịch tài chính cần được loại bỏ, và nếu cần thiết, được thay thế bởi các loại thế
dựa trên thu nhập phát sinh từ các giao dịch tài chính này. Ngoài ra, việc cho phép
giảm trừ thuế đối với các khoản trích lập dự phòng sẽ khuyến khích hơn nữa các
NHTM ghi nhận chính xác mức độ nợ xấu.
Thứ tư, tạo lập một môi trường vĩ mô ổn định
Môi trường vĩ mô ổn định sẽ tạo điều kiện giảm thiểu những rủi ro khác ảnh
hưởng tới quá trình xử lý nợ xấu. Đơn cử trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
vào các khoản nợ xấu thì việc duy trì tỷ giá ở mức ổn định, có thông báo trước sẽ
161
khuyến khích các nhà đầu tư hơn. Lãi suất được duy trì ở mức thấp sẽ hỗ trợ quá trình
xử lý nợ xấu khi các chủ thể đầu tư, nắm giữ các tài sản này sẽ giảm được chi phí tồn
đọng vốn tại các khoản nợ xấu.
3.2.1.3. Dần hạn chế các biện pháp hành chính trong điều hành lãi suất, hướng tới
sử dụng các công cụ gián tiếp
Việc áp dụng cơ chế can thiệp mang tính hành chính lên lãi suất thị trường chỉ
có tác dụng trong thời gian ngắn khi mà mức độ phát triển của thị trường tài chính còn
sơ khai, các công cụ kiểm soát gián tiếp chưa phát huy được hiệu quả, năng lực kiểm
soát thị trường tài chính của NHTW còn hạn chế… Về dài hạn, việc kiểm soát lãi suất
trực tiếp sẽ dẫn tới sự phát triển méo mó của thị trường tài chính, và dẫn tới sự mất ổn
định của nền kinh tế do lãi suất là một biến số có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của
nền kinh tế.
Từ tháng 6/2002, NHNN đã áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận, xóa bỏ biên độ
khống chế lãi suất cho vay, cho phép các NHTM và khách hàng tự thỏa thuận lãi suất
cho vay. Tuy nhiên từ năm 2007, NHNN đã áp dụng một số biện pháp mang tính hành
chính trong điều hành CSTT và đã phát huy tác dụng nhất định nhưng hệ quả để lại
cũng không hề nhỏ. Sau một giai đoạn thiết lập một cơ chế lãi suất khá chặt chẽ,
NHNN đã có những bước đi thận trọng để tiến tới tự do hóa lãi suất như cho phép các
NHTM và khách hàng thỏa thuận lãi suất đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở
lên, và sau đó là 6 tháng trở lên. Thị trường tiền tệ ổn định sau những lần điều chỉnh
trên và dự báo tiếp tục ổn định trong thời gian tới là cơ sở để NHNN tiến tới hạn chế
dần các công cụ trực tiếp và chuyển sang áp dụng các công cụ gián tiếp để định hướng
lãi suất thị trường. Điều này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết cũng như bài học kinh
nghiệm từ các quốc gia trên thế giới. Theo đó, quan điểm về tự do hóa lãi suất của Việt
Nam cần tập trung vào hai vấn đề sau:
Thứ nhất, về thời điểm và tốc độ tiến hành tự do hóa lãi suất. Về cơ bản, việc tự
do hóa lãi suất phải được tiến hành đồng thời với công cuộc tái cơ cấu hệ thống tài
chính và tái cấu trúc nền kinh tế. Đối với một quốc gia gặp phải tình trạng mất cân đối
vĩ mô và cân đối tài chính, các khung pháp lý và giám sát thị trường tài chính chưa
hiệu quả, hệ thống các NHTM còn nhiều yếu kém đòi hỏi phải tái cơ cấu như tại Việt
Nam, việc thực hiện tự do hóa lãi suất quá nhanh chóng sẽ gây ra những ảnh hưởng
tiêu cực. Hơn nữa, hệ thống DNNN hoạt động thiếu hiệu quả, hệ thống NHTM thiếu
sự cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, dịch vụ (chủ yếu cạnh tranh về giá thông qua
lãi suất), sự thiếu minh bạch thông tin của các khách hàng vay khiến cho việc xác định
lãi suất phù hợp với cung cầu vốn của thị trường trở nên khó khăn hơn. Tiến trình tự
do hóa lãi suất diễn ra nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào khả năng quản trị rủi ro lãi
suất của các ngân hàng và khách hàng vay vốn.
162
Thực tế Việt Nam cho thấy việc quá vội vàng áp dụng tự do hóa lãi suất (như
trong giai đoạn 2009 - 2010) trong khi các điều kiện chưa hội tụ đủ sẽ không mang lại
kết quả tích cực như kỳ vọng. Tự do hóa lãi suất sẽ dẫn đến mức độ cạnh tranh giữa
các NHTM tăng lên nhiều và kinh nghiệm thế giới cho thấy cạnh tranh tăng lên thường
mang lại hiệu ứng tiêu cực hơn là tích cực trong thời gian đầu khi các NHTM được
phép cho vay các nhu cầu với mức rủi ro cao để hỗ trợ nhu cầu vay mượn tăng lên khi
được giải tỏa về trần lãi suất (trước đây với mức trần lãi suất, các khách hàng có mức
độ rủi ro cao không thể tiếp cận được nguồn vốn tín dụng). Do vậy, quá trình tự do hóa
lãi suất cần phải được dựa vào những kết quả đạt được của quá trình cơ cấu lại hệ
thống các NHTM cũng như khả năng điều tiết của NHNN đối với những hành vi của
các NHTM.
Thứ hai, trình tự thực hiện đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định sự
thành công của tự do hóa lãi suất. Trình tự thực hiện không chỉ là việc dỡ bỏ các công
cụ gián tiếp đối với lãi suất huy động và cho vay mà còn liên quan đến các giao dịch
tiền tệ bán buôn và bán lẻ. Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy, lãi
suất bán buôn sẽ được tự do trước tiên, sau đó là đến lãi suất cho vay, và cuối cùng là
lãi suất huy động do trình tự này bảo đảm mức độ lợi nhuận cho hệ thống NHTM cũng
như cho phép các chủ thể trong nền kinh tế dần thích nghi với cơ chế lãi suất mới.
Do các NHTM có thể quản trị rủi ro lãi suất tốt hơn hệ thống doanh nghiệp và
cá nhân, và lãi suất trên TTLNH không tác động trực tiếp đến lãi suất trên thị trường
nên cần tiến hành tự do hóa lãi suất trên thị trường này trước tiên. Giải pháp này cũng
sẽ là một bước thử nghiệm mang tính thận trọng của NHNN về khả năng sẵn sàng hoạt
động trong cơ chế lãi suất tự do của các NHTM.
Việc nới lỏng dần các công cụ kiểm soát trực tiếp đối với lãi suất cho vay trước
khi áp dụng đối với lãi suất huy động sẽ giúp hạn chế tình trạng cạnh tranh về giá giữa
các NHTM, vốn dĩ đã xảy ra trong giai đoạn trước đây khi mặt bằng lãi suất trong nền
kinh tế luôn chịu áp lực tăng. Khi trần lãi suất huy động được can thiệp chặt chẽ và các
NHTM sẽ chỉ có thể điều chỉnh lãi suất cho vay để thu hút khách hàng, bản thân họ sẽ
phải (i) thực hiện các biện pháp cải thiện hoạt động của mình để giảm thiểu chi phí, từ
đó giảm lãi suất cho vay để cạnh tranh; (ii) định giá các khoản vay cho cơ sở rủi ro và
đưa ra mức phần bù rủi ro phù hợp; (iii) phát triển những yếu tố cạnh tranh khác về
chất lượng dịch vụ hơn là tập trung về giá (lãi suất cho vay).
Để hạn chế tình trạng vốn huy động mất ổn định khi thực hiện bỏ trần lãi suất
huy động, NHNN có thể ưu tiên thực hiện trước việc tự do hóa lãi suất đối với các
khoản tiền gửi của các khách hàng lớn, của hệ thống DNNN trước khi áp dụng đối với
163
các khoản tiền gửi của cá nhân. Tại Việt Nam, khi thị trường tiền tệ chưa phát triển và
mức độ minh bạch thông tin chưa cao, các doanh nghiệp với tiền nhàn rỗi lớn gần như
chỉ có giải pháp gửi tiền vào hệ thống NHTM nên việc áp dụng biện pháp này hoàn
toàn hợp lý. Thông qua kết quả áp dụng với đối tượng này, NHNN có thể xây dựng lộ
trình phù hợp hơn đối với tự do hóa lãi suất huy động đối với các khách hàng cá nhân.
Thực tiễn tự do hóa lãi suất tại một số quốc gia cho thấy việc tự do hóa lãi suất
thường dẫn tới sự gia tăng quá mức của tín dụng, gây ảnh hưởng tới ổn định kinh tế vĩ
mô. Đây cũng là hiện tượng đã xảy ra tại Việt Nam trong những năm 2006 và 2007 do
Việt Nam lúc đó đang trong đà tăng trưởng kinh tế mạnh. Với bối cảnh kinh tế Việt
Nam vẫn đang trong giai đoạn điều chỉnh như hiện nay, tăng trưởng kinh tế ở mức vừa
phải nhưng ổn định là điều kiện tốt để bảo đảm cho việc tự do hóa lãi suất không dẫn
tới những hệ quả như giai đoạn trước. Tuy vậy, NHNN vẫn cần thực hiện vai trò giám
sát diễn biến huy động lẫn tín dụng trên thị trường và có các biện pháp can thiệp kịp
thời để bảo đảm mục tiêu ổn định vĩ mô luôn được ưu tiên hàng đầu. Ngoài ra, việc tự
do hóa lãi suất cần phải được thực hiện rất thận trọng với việc NHNN cần phải hoàn
thiện các công cụ gián tiếp, đặc biệt là nghiệp vụ thị trường mở, và xây dựng môi
trường truyền tải tốt để bảo đảm khả năng can thiệp thông qua cơ chế gián tiếp.
3.2.1.4. Củng cố và chấn chỉnh kỷ cương thị trường tiền tệ - tín dụng trên cơ sở
thực hiện hiệu quả công tác thanh tra - giám sát ngân hàng
NHNN cần xây dựng hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng hiện đại và hiệu
quả trên cơ sở đáp ứng đầy đủ những thực tiễn phát triển nhanh chóng của hệ thống
NHTM, dần áp dụng và tiến tới thực hiện đầy đủ các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế
về thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối
cảnh hệ thống NHTM đang phát triển nhanh chóng, thị trường tài chính mở rộng về
quy mô cũng như nâng cao về chất lượng, hội nhập sâu hơn vào kinh tế quốc tế. Trong
bối cảnh như vậy, NHTM là nhóm đối tượng chắc chắn phải chịu những cú sốc từ kinh
tế và thị trường tài chính khu vực.
Xuất phát từ tính cấp thiết đó, NHNN cần tăng cường công tác thanh tra, giám
sát hoạt động của các NHTM đảm bảo hoạt động an toàn, đúng quy định của pháp luật
về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định
của cơ quan quản lý nhằm củng cố và chấn chỉnh lại kỷ cương thị trường.
a/ Đối với các yếu tố bên trong
Hoàn thiện các điều kiện tiên quyết cho hệ thống thanh tra, giám sát ngân
hàng hiệu quả.
164
Xây dựng Luật thanh tra, giám sát ngân hàng để tạo cơ sở vững chắc và rõ
ràng cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng.
Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy thanh tra theo chiều dọc từ NHTW tới
các chi nhánh, tạo mức độ độc lập cho hoạt động thanh tra thông qua việc thành lập Cơ
quan thanh tra giám sát để thực hiện đầy đủ các chức năng cấp phép, ban hành quy chế
an toàn hoạt động ngân hàng; giám sát từ xa (off-site); thanh tra tại chỗ (on-site); và xử
lý vi phạm.
Phân định rõ cơ chế và trách nhiệm phối hợp giữa Cơ quan thanh tra giám
sát ngân hàng và Vụ ổn định tài chính – tiền tệ.
Bảo đảm Cơ quan thanh tra giám sát có đầy đủ quyền trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ bao gồm: yêu cầu báo cáo thông tin, thực hiện các nghiệp vụ thanh tra,
kiến nghị xử lý, và thực hiện xử lý một cách độc lập và khách quan.
Đổi mới và nâng cao hiệu quả phương pháp thanh tra, giám sát ngân hàng
Phương thức thanh tra, giám sát phải có giám sát từ xa và thanh tra tại
chỗ; mặc dù đã được triển khai nhưng cần phải được cải tiến và hoàn thiện hơn nữa
cho phù hợp với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính trong quá
trình hội nhập.
Nhanh chóng đổi mới cho phù hợp với thông lệ quốc tế, áp dụng chuẩn
mực Thanh tra ngân hàng thế giới Basel II vào Việt Nam. Bảo đảm an toàn và tính
toàn vẹn của hệ thống ngân hàng trên cơ sở tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh
thông qua xây dựng cơ chế quản lý đi đôi với cơ chế giám sát ngân hàng hữu hiệu và
phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế.
Hoàn thiện hệ thống quy chế quản lý và biện pháp thận trọng trong lĩnh
vực ngân hàng theo hướng phù hợp với nguyên tắc thị trường và cam kết mở cửa thị
trường dịch vụ ngân hàng, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở từng bước tạo sân
chơi bình đẳng, loại bỏ các rào cản gia nhập thị trường và tiếp cận dịch vụ ngân hàng
trước đây.
Xây dựng thể chế giám sát ngân hàng đi đôi với thực hiện cơ chế giám sát
dựa trên cơ sở rủi ro và xây dựng Luật giám sát an toàn hoạt động ngân hàng trên
nguyên tắc cài thiện tính độc lập gắn liền nâng cao với tính trách nhiệm và minh bạch
của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng.
Không ngừng hoàn thiện cơ sở hạ tầng hỗ trợ giám sát hoạt động ngân
hàng. Đổi mới hệ thống kế toàn ngân hàng phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế
để tạo điều kiện cho các NHTM ứng dụng công nghệ quản trị ngân hàng hiện đại và
tạo rào chắn chống lại sự lạm dụng và gian lận, trong đó đặc biệt lưu ý đến chuẩn mức
kế toán Mỹ và kế toán quốc tế trong xu hướng hợp nhất giữa hai chuẩn mực này.
165
Hiện đại hoá hạ tầng công nghệ thông tin, báo cáo phục vụ mục đích giám
sát an toàn hoạt động ngân hàng. Tăng cường quy chế công bố thông tin, nâng cao chất
lượng và mức độ tin cậy của thông tin thông qua cải thiện chất lượng và hiệu quả của
kiểm toán độc lập.
Xây dựng và vận hành có hiệu quả cơ chế thực thi đấu tranh chống tội
phạm trong lĩnh vực ngân hàng, trong đó quan tâm hơn đến việc hoàn thiện tổ chức bộ
máy và cơ chế vận hành Trung tâm Thông tin chống rửa tiền.
Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng cần tăng cường trao đổi thông tin
và phối hợp với các quan giám sát tài chính trong nước và ngoài nước trong việc triển
khai giám sát các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
Đổi mới thanh tra, giám sát ngân hàng phải trên cơ sở chương trình, kế
hoạch, có chiến lược phát triển rõ ràng.
Đổi mới thanh tra, giám sát ngân hàng cần đồng thời đổi mới nâng cao
năng lực tự quản trị của các NHTM. Cơ chế tự chủ trong kinh doanh được tăng cường
cũng đồng nghĩa với việc các NHTM phải tự quản trị, tự chịu trách nhiệm về hoạt
động kinh doanh và đầu tư của mình. Về mặt lý thuyết là phải có sự cân bằng và tương
xứng về quy mô, tốc độ phát triển kinh doanh với khả năng quản trị của các NHTM.
Đồng thời khi khả năng tự quản trị của NHTM được tăng cường thì cơ chế thanh tra,
giám sát của thanh tra, giám sát ngân hàng cũng sẽ đổi mới; có như vậy, việc đổi mới
về tổ chức và hoạt động của thanh tra, giám sát ngân hàng mới phù hợp, mới thúc đẩy
các NHTM phát triển tốt hơn.
Đầu tư và phát triển nguồn nhân lực cho hệ thống thanh tra, giám sát ngân
hàng phải được đặc biệt coi trọng và xem như yếu tố quyết định để tạo ra chuyển biến
có tính đột phá trong ngắn hạn và đảm bảo sự phát triển bền vững trong dài hạn của hệ
thống thanh tra, giám sát ngân hàng. Để tiếp tục nâng cao chất lượng của hoạt động
thanh tra, giám sát ngân hàng, thì cần phải chú trọng nội dung nâng cao trình độ
nghiệp vụ của thanh tra viên, tập trung vào kỹ năng quản trị rủi ro, công nghệ ngân
hàng và dịch vụ tài chính mới, quản trị ngân hàng hiện đại, các kỹ năng bổ trợ như
phân tích tài chính, hoạt động NHTM. Xử lý nghiêm những vi phạm đạo đức nghề
nghiệp cho dù là nhỏ đồng thời có chế độ đãi ngộ phù hợp đối với những thanh tra
viên có năng lực, trình độ chuyên môn giỏi.
Cần đổi mới mạnh mẽ khâu tổ chức thực hiện. Trong quá trình đổi mới,
thanh tra, giám sát ngân hàng phải quan tâm, tránh tình trạng có nhiều giải pháp, biện
pháp, kế hoạch đổi mới nhưng không có kết quả cụ thể do khâu tổ chức thực hiện yếu.
Các biện pháp, các điều kiện để tổ chức thực hiện phải được cụ thể hoá trong các kế
166
hoạch đổi mới, trong từng nội dung đổi mới, tránh tình trạng chung chung. Các biện
pháp thực hiện phải giải quyết được cơ bản và triệt để những vấn đề đặt ra trong các
nội dung cần đổi mới; phải xác định rõ trách nhiệm cụ thể của từng đơn vị, từng cá
nhân, kể cả trách nhiệm giám sát, theo dõi quá trình tổ chức thực hiện.
Sử dụng hiệu quả việc công bố thông tin nhằm làm mạnh kỷ luật thị
trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát. Yêu cầu các NHTM cần phải
công khai thông tin một cách thích đáng, đầy đủ và minh bạch theo nguyên tắc thị
trường bao gồm các tài liệu, thông tin, báo cáo về tình hình hoạt động, kinh doanh theo
định kỳ hay đột xuất. Qua đó có cơ sở để thực hiện các biện pháp chấn chỉnh vi phạm
các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng và nguy cơ mất khả năng chi trả
một cách kịp thời và hoàn thiện "Hệ thống cảnh báo sớm" nhằm dự báo sớm rủi ro hệ
thống trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn còn có nhiều biến động phức tạp.
b/ Đối với các yếu tố bên ngoài
Một hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả cần dựa trên một số nhân
tố bên ngoài hay còn gọi là một số điều kiện tiền đề. Mặc dù những điều kiện tiền đề
này nằm ngoài khả năng tác động trực tiếp của thanh tra, giám sát ngân hàng nhưng lại
có tác động trực tiếp lên tính hiệu quả trong thực tế. Khi có những thiếu sót tồn tại,
thanh tra, giám sát ngân hàng cần kiến nghị với Chính phủ và NHNN về những thiếu
sót đó và những tác động trở lại mang tính tiêu cực thực sự hay tiềm tàng của chúng
đối với các hoạt động thanh tra ngân hàng. Đồng thời, đúng như với vai trò của mình,
thanh tra, giám sát ngân hàng cần phải làm giảm nhẹ những tác động của những hậu
quả đó nhằm đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát các ngân hàng.
Các nhân tố bên ngoài tác động đến hoạt động thanh tra bao gồm:
Chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý: Chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý là nền
móng của một hệ thống tài chính ổn định. Mặc dù mức độ hợp lý của chính sách kinh
tế vĩ mô không nằm trong khả năng tác động của thanh tra ngân hàng nhưng thanh tra
ngân hàng cần phải hành động cần thiết nếu như nhận biết những chính sách hiện tại
đang làm giảm đi sự hiệu quả và lành mạnh của hệ thống ngân hàng.
Kết cấu hạ tầng công cộng phát triển tốt: Một hệ thống kết cấu hạ tầng phát
triển tốt cần bao gồm những nhân tố sau:
Một hệ thống các luật doanh nghiệp, bao gồm luật hợp nhất, luật phá sản,
luật bảo vệ người tiêu dùng và luật tài sản cá nhân… được thi hành nghiêm chỉnh và là
cơ sở để giải quyết ổn thoả những tranh chấp;
Những chuẩn mực kế toán toàn diện và rõ ràng được quốc tế chấp nhận;
Một hệ thống kiểm toán độc lập cho các công ty tầm cỡ, nhằm đảm bảo
167
người sử dụng báo cáo tài chính có sự đảm bảo độc lập rằng kế toán cung cấp thông
tin trung thực và hợp lý về tình hình tài chính của công ty và những báo cáo đó được
hình thành dựa trên những chuẩn mực kế toán đã được thiết lập; trong đó các kiểm
toán viên phải chịu trách nhiệm đối với công việc của họ;
Một bộ máy tư pháp hiệu quả và độc lập, hệ thống kế toán, kiểm toán
được kiểm soát tốt và ngành luật phát triển;
Có sự thanh tra, giám sát đầy đủ và hiệu quả các thị trường khác trong nền
kinh tế;
Một hệ thống thanh toán và thanh toán bù trừ an toàn, hiệu quả cho các
giao dịch tài chính trong đó các rủi ro đối tác được kiểm soát.
Nếu các nhân tố trên còn khiếm khuyết thì chúng có thể gây ra tình trạng yếu
kém cho hệ thống tài chính và các thị trường khác trong nền kinh tế, hoặc gây ra
những cản trở cho sự phát triển của các thị trường đó.
- Thị trường hiệu quả: các chủ thể tham gia thị trường cần phải nắm được thông
tin một cách tương đối đẩy đủ, hạn chế tới mức có thể những trường hợp thông tin mất
cân xứng làm ảnh hưởng tới quyết định của chủ thể tham gia thị trường. Việc Chính
phủ can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng cần phải được
xem xét để hạn chế dần.
- Các cơ chế đáp ứng được việc cung cấp một mức độ hợp lý cho bảo vệ hệ
thống (bảo vệ công chúng): Nhìn chung, quyết định mức độ hợp lý cho bảo vệ hệ
thống là một câu hỏi chính sách cần được giải đáp bởi các cơ quan quyền lực. Thanh
tra ngân hàng đóng góp một vai trò quan trọng vì sự hiểu biết sâu sắc của họ về hệ
thống ngân hàng. Sẽ là rất cần thiết để chỉ ra sự khác biệt rõ ràng giữa vai trò bảo vệ
hệ thống và vai trò thanh tra các ngân hàng. Khi giải quyết những vấn đề về hệ thống,
một mặt cần phải đánh giá chính xác các rủi ro có ảnh hưởng xấu tới sự tự tin của hệ
thống tài chính và sự lây lan từ những tổ chức tài chính đã và đang lâm vào tình trạng
yếu kém đến các tổ chức tài chính lành mạnh; mặt khác cần tối thiểu hoá sự bóp méo
những tín hiệu thị trường. Ở nhiều quốc gia, cơ cấu tổ chức của sự bảo vệ hệ thống bao
gồm một hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Những hệ thống như vậy nếu được thiết kế tốt
nhằm hạn chế rủi ro đạo đức sẽ làm tăng sự tin tưởng của công chúng vào hệ thống tài
chính và giảm thiểu sự lan truyền trong cuộc hoảng loạn ngân hàng. Thanh tra ngân
hàng tại các quốc gia phát triển đã nghiên cứu và áp dụng nhiều hệ thống thanh tra
ngân hàng tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả của thanh tra ngân hàng trong thời kỳ mới
khi mà có những thay đổi lớn trên thị trường tài chính và quá trình toàn cầu hóa diễn ra
mau chóng, sâu rộng.
168
3.2.1.5. Giảm độ trễ trong điều hành chính sách tiền tệ
Độ trễ trong điều hành CSTT tại các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt
Nam, là khá lớn thể hiện ở cả ba khâu, từ khâu xác định các vấn đề của nền kinh tế đòi
hỏi cần có sự can thiệp chính sách cho đến khâu xây dựng và thông qua CSTT phù
hợp, và đến khâu cuối cùng là từ lúc chính sách được thực thi cho tới khi phát huy tác
động. Không chỉ làm giảm hiệu quả của chính sách, mà việc ban hành chính sách
chậm có thể dẫn tới tình trạng phản tác dụng do vào thời điểm CSTT phát huy hiệu lực
thì nền kinh tế đã trở lại vị trí ban đầu nhờ cơ chế tự điều chỉnh trong nền kinh tế.
Để giảm thời gian trễ trong điều hành CSTT cần phải tăng cường hiệu quả của
công tác thu thập số liệu và xây dựng các mô hình dự báo các chỉ tiêu vĩ mô. Trên cơ
sở thông tin và dự báo tốt, NHNN có thể sớm nhận biết được những vấn đề tiềm ẩn
của nền kinh tế để nhanh chóng xây dựng và bàn hành các giải pháp phù hợp. Vụ Dự
báo và thống kê tiền tệ cần xây dựng mô hình định lượng trong công tác dự báo vĩ mô
thông qua các mô hình kinh tế lượng hiện đại trong khi Cơ quan thanh tra, giám sát
ngân hàng cần xây dựng các mô hình dự báo khủng hoảng ngân hàng, các mô hình
kiểm tra sức chịu đựng của hệ thống NHTM... Ví dụ, các mô hình dự báo lạm phát tốt
đóng vai trò quan trọng trong việc sớm đưa ra được các biện pháp can thiệp vào thị
trường, hạn chế tối đa việc khi chính sách được ban hành thì lạm phát đã ở mức cao
hoặc phải sử dụng liều lượng mạnh, ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế.
Đối với việc giảm thời gian từ khi ban hành chính sách đến khi chính sách tác
động tới các mục tiêu thì cần phải tăng thực hiện các biện pháp để tăng cường mức độ
nhạy cảm của đầu tư và tiêu dùng với lãi suất, mức độ nhạy cảm của cầu tiền đối với
lãi suất và cơ chế tăng cường hiệu quả của CSTT thông qua việc lành mạnh hoá tình
hình tài chính hệ thống các NHTM và phát triển thị trường liên ngân hàng. Do điều
hành CSTT có độ trễ nhất định từ khi ban hành chính sách đến khi chính sách thực sự
phát huy hiệu quả (nên thực hiện các chính sách cần phải có sự cam kết thực hiện cũng
như thực hiện một cách kiên định trong thời gian dài tương ứng. Nhờ vậy mà các chủ
thể trong nền kinh tế nhận thức được mục đích và hành vi của NHTW, từ đó điều
chỉnh các hành vi của mình trong điều kiện mới, góp phần giúp CSTT phát huy hiệu
quả nhanh hơn. NHNN cũng cần nghiên cứu và xây dựng các mô hình kinh tế lượng
về cơ chế truyền tải tiền tệ nhằm tiến hành phân tích và hoạch định CSTT. Sử dụng kết
quả của các mô hình này giúp đo lường được mức độ phản ứng của của các mục tiêu
trung gian cũng như mục tiêu cuối cùng trước những điều chỉnh của các công cụ CSTT
đồng thời khoảng thời gian trễ của các phản ứng này.
169
3.2.1.6. Đổi mới công tác điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam vừa tạo ra cơ hội đồng thời đặt ra không
ít thách thức đối với công tác điều hành CSTT của NHNN lẫn hiệu quả CSTT. Ảnh
hưởng tích cực lấn át ảnh hưởng tiêu cực hay ngược lại phụ thuộc vào diễn biến kinh tế thế giới nhưng phần lớn lại phụ thuộc những thay đổi trong tư duy và biện pháp
điều hành CSTT của NHNN cũng như những cải cách để thích ứng với bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế của nền kinh tế.
Điều hành CSTT của NHNN nhờ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ có
những thay đổi tích cực do sự phát triển của thị trường tài chính, của các công cụ CSTT linh hoạt và hoạt động điều hành cũng trở nên độc lập hơn chính bởi đòi hỏi của
hội nhập kinh tế. Những thay đổi này có thể giúp công tác điều hành CSTT trở nên linh hoạt, hiệu quả hơn như (i) các công cụ CSTT gián tiếp có điều kiện được sử dụng
và phát huy tác dụng; (ii) thị trường tiền tệ và thị trường vốn phát triển mạnh và mang
tính toàn cầu; (iii) mức độ độc lập trong điều hành CSTT được tăng cường; (iv) thúc
đẩy cải cách hoạt động điều hành CSTT hướng tới các thông lệ và chuẩn mực quốc tế;
(v) tạo ra cơ hội hợp tác, trao đổi thông tin và phối hợp hành động với các NHTW trên
phạm vi khu vực và toàn cầu; (vi) kỷ luật ngân sách được tăng cường và điều hành
CSTK được thực hiện theo hướng thận trọng hơn để hướng tới mục tiêu ổn định kinh
tế vĩ mô, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều hành CSTT.
Tuy nhiên, quá trình hội nhập gắn liền với quá trình tự do hoá thị trường tài
chính sẽ tạo ra nhiều thách thức. Ngoài những thách thức mà các NHTM phải khắc
phục trong việc cạnh tranh để duy trì và mở rộng thị phần cũng đặt ra những thách
thức lớn cho NHNN trong việc kiểm soát luồng vốn, điều tiết tiền tệ, lãi suất, tỷ giá
trước những tác động thường xuyên và khó lường của thị trường tài chính quốc tế,
cũng như sự vận hành của nền kinh tế với quy mô và đặc điểm khác trước khi hội nhập
kinh tế quốc tế… Vì vậy, NHNN nhận thức được những khó khăn trong điều hành
CSTT và có biện pháp phù hợp: (i) lựa chọn các mục tiêu và thực thi các công cụ
CSTT phù hợp khi mức độ tự chủ CSTT bị giảm đi phần nào dưới tác động của hội
nhập tài chính; (ii) phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng và lành mạnh hóa hệ
thống NHTM nhằm nâng cao hiệu quả truyền tải khi cơ chế truyền tải CSTT đối mặt
với nhiều thách thức như sự gia nhập của các tổ chức tài chính phi ngân hàng, sự biến
động của lượng tiền gửi ngoại tệ, mức độ cạnh tranh giữa các NHTM gia tăng…; (iii)
kiểm soát lượng cung ứng tiền tệ chặt chẽ trước nguy cơ tiềm ẩn lạm phát cao do
nguồn vốn đầu tư gia tăng; (iv) cơ cấu kinh tế thay đổi đòi hỏi điều chỉnh cơ cấu tín
dụng từ phía hệ thống NHTM; (v) CSTT trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào CSTT của
170
các quốc gia khác; (vi) nâng cao khả năng dự báo và ứng phó trong bối cảnh thị trường
tài chính tiền tệ dễ xảy ra biến động khó lường.
3.2.1.7. Kiểm soát hiệu quả vấn đề thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại
Áp lực huy động vốn đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng trong bối cảnh thị
trường tài chính phát triển không đồng đều dẫn đến thanh khoản của hệ thống NHTM
dễ rơi vào tình trạng căng thẳng trước các cú sốc. Hệ thống NHTM phải sử dụng một
tỷ trọng lớn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, huy động vốn trên thị trường liên
ngân hàng để cho vay lại với các khách hàng, thiếu hụt các tài sản tài chính có tính
lỏng cao khiến cho mỗi khi NHNN thắt chặt CSTT, các ngân hàng nhanh chóng bị
thiếu hụt thanh khoản trên phạm vi rộng và phải dựa vào sự hỗ trợ từ phía NHNN để
bảo đảm an toàn hoạt động.
Để giải quyết được vấn đề này, NHNN cần kiểm soát được (i) tỷ trọng vốn ngắn
hạn sử dụng cho vay trung dài hạn, đầu tư vào trái phiếu dài hạn và các khoản mục có
tính chất dài hạn trên bảng cân đối tài sản của ngân hàng; (ii) tình hình đi vay và cho
vay của từng ngân hàng trên TTLNH, đặc biệt là các ngân hàng có các khoản mục kể
trên chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản, tổng nguồn vốn; (iii) tình hình dự trữ, nắm
giữ các tài sản có tính thanh khoản cao so với các khoản nợ ngắn hạn và các khoản nợ
tiềm tàng… Khi phát hiện các ngân hàng có dấu hiệu tiệm cận mức rủi ro thanh khoản,
NHNN cần triển khai các biện pháp tùy thuộc vào mức độ trầm trọng của vấn đề tại
ngân hàng và vị trí của ngân hàng trong hệ thống để lấy lại cân bằng thanh khoản cho
ngân hàng. Ngoài ra, trước khi ban hành CSTT, NHNN cần nhận định mức độ ảnh
hưởng của việc điều chỉnh chính sách sẽ có tác động như thế nào tới thanh khoản của
từng ngân hàng, nhóm ngân hàng và toàn hệ thống do mức độ liên quan trong hệ thống
ngân hàng là rất lớn. Khi đã nhận định được mức độ ảnh hưởng, NHNN mới lựa chọn
công cụ chính sách và mức độ điều chỉnh phù hợp để triển khai.
Trong bối cảnh phát triển thị trường tài chính tiền tệ như hiện nay, cấp tín dụng
trung, dài hạn đối với các dự án xây dựng, kinh doanh bất động sản vẫn xuất phát từ
phía hệ thống NHTM là chủ yếu. Đây là hoạt động gây ra nhiều rủi ro đối với hệ thống
ngân hàng, trong đó có rủi ro thanh khoản do các dự án này có thời gian thu hồi vốn
dài và phụ thuộc nhiều vào tính thanh khoản của thị trường bất động sản. Khi cấp tín
dụng cho các dự án loại này (có thể là cho vay chủ đầu tư, nhà thầu, và các khách hàng
đầu tư), ngoài việc yêu cầu các NHTM cần đánh giá một cách thận trọng rủi ro thanh
khoản và có các biện pháp phòng ngừa phù hợp, NHNN cần phối hợp với Bộ Xây
dựng để tăng cường hơn nữa tính minh bạch của thị trường cũng như tăng cường kiểm
soát hoạt động này tại các NHTM.
171
3.2.2. Nhóm giải pháp đối với các ngân hàng thương mại
3.2.2.1. Cơ cấu lại nguồn vốn của các ngân hàng thương mại
Sự yếu kém của hệ thống NHTM thể hiện ở những bất cập từ phía tài sản và
nguồn vốn là những nhân tố cản trở công tác truyền tải các công cụ CSTT của NHNN
tới nền kinh tế. Không dừng lại ở đó, những bất cập trong hệ thống NHTM còn đe dọa
nghiêm trọng tới sự ổn định của hệ thống tài chính và nền kinh tế vĩ mô. Xuất phát từ
thực trạng này, hướng tới hoàn thiện vai trò của hệ thống NHTM đối với sự ổn định
kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế bền vững, mà trong ngắn hạn là bảo đảm hiệu quả
truyền tải CSTT qua kênh tín dụng, cần phải tiến hành cơ cấu lại toàn diện hệ thống
NHTM, trong đó tập trung vào cả hai bên của bảng cân đối tài sản.
Thứ nhất, giảm tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn
Trước khi có Thông tư số 36/2014/TT-NHNN, các NHTM được phép sử dụng
tối đa 30% vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và vào cuối năm 2014, các tỷ lệ này tại
các NHTM đã tiệm cận mức cho phép. Thông tư số 36/2014/TT-NHNN có hiệu lực từ
1/2/2015 đã tăng tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn lên 60% và nếu
theo dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư số 36/2014/TT-NHNN là mức 40% thì các
ngân hàng cũng đều tiệm cận mức quy định này do tỷ lệ này đã tăng đáng kể trong
năm 2015. Tuy nhiên, quy định về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cần được
quy định chặt chẽ hơn để tránh tình trạng dù cùng là cho vay trung dài hạn nhưng
khoản vay có thời hạn 5 năm cũng được tính toán như khoản vay có thời hạn 2 năm.
Tương tự như vậy đối với nguồn vốn ngắn hạn. NHNN nên quy định một tỷ lệ bình
quân gia quyền hoặc sử dụng các trọng số là tỷ trọng các kỳ hạn thực tế của các khoản
cho vay trước đây để áp dụng vào tính toán tỷ lệ vốn ngắn hạn tối đa được phép cho
vay trung dài hạn. Chỉ tiêu này sẽ phản ánh chính xác hơn sự mất cân đối về kỳ hạn
giữa hoạt động huy động và cho vay trên thị trường 1. Trường hợp một ngân hàng
vượt quá tỷ lệ tối đa, ngân hàng buộc phải dừng các hoạt động cho vay trung dài hạn
và thực hiện các điều chỉnh nhằm đưa tỷ lệ này về mức cho phép sau một khoảng thời
gian nhất định.
Thứ hai, phát triển các sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn dài
Trong bối cảnh lạm phát tại Việt Nam vẫn ở mức cao và có nhiều biến động, kỳ
vọng về lạm phát chưa hoàn toàn kiểm soát được, việc phát triển các sản phẩm tiền gửi
với lãi suất thả nổi với phần bù rủi ro thanh khoản ở mức phù hợp là một giải pháp tốt.
Thay vì phải trả mức lãi suất huy động luôn có xu hướng biến động mạnh và khó dự
đoán, các NHTM có thể trả một mức lãi suất thả nổi nhằm bảo đảm mức mức sinh lời
thực cho người gửi tiền. Ngoài ra, một mức phần bù rủi ro thanh khoản cho các khoản
tiền gửi có kỳ hạn dài được nghiên cứu trên cơ sở mức độ nhạy cảm của tiền gửi với
172
biến động lãi suất sẽ hạn chế được tình trạng rút vốn của các khách hàng. Các sản
phẩm huy động tiền gửi cần được gắn liền với nhiều dịch vụ ngân hàng không sử dụng
tiền mặt cũng là một biện pháp tốt để tạo sự ổn định của lượng tiền gửi.
Thứ ba, tăng cường huy động nguồn vốn trung dài hạn thông qua phát hành
giấy tờ có giá
Tỷ trọng giấy tờ có giá trung và dài hạn trong tổng nguồn vốn của hệ thống
NHTM ở mức rất thấp, khiến cho áp lực lên huy động nguồn tiền gửi là rất lớn. Mặc
dù các khoản tiền gửi tiết kiệm có thể sử dụng để cầm cố vay vốn nhưng các khoản
tiền gửi thường có xu hướng bị rút ra khỏi ngân hàng để gửi vào các ngân hàng khác
khi có biến động lãi suất, làm ảnh hưởng tới thanh khoản của ngân hàng. Trái lại, với
thị trường thứ cấp các giấy tờ có giá, các nhà đầu tư có thể mua bán qua lại mà không
làm ảnh hưởng tới thanh khoản của ngân hàng. Các NHTN cần nghiên cứu thị trường
và phát triển các sản phẩm huy động vốn là các giấy tờ có giá loại này nhằm rút ngắn
khoảng cách kỳ hạn giữa nguồn vốn và tài sản.
Thứ tư, tăng mức vốn chủ sở hữu thông qua tăng vốn điều lệ và lợi nhuận để lại
Vốn chủ sở hữu được ví như “tấm đệm” chống đỡ lại rủi ro cho ngân hàng
nhưng lại chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của hệ thống NHTM Việt
Nam. Các quy định về đảm bảo an toàn ngân hàng sẽ sớm được nâng cấp toàn diện lên
một chuẩn mực mới cao hơn, hướng tới chuẩn mực theo quốc tế. Theo quy định hienẹ
nay, vốn điều lệ tối thiểu của hệ thống NHTM là 3 nghìn tỷ đồng và tỷ lệ vốn tự có
trên tài sản có rủi ro là 9%. Các NHTM cần đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc ngân
hàng, trong đó tập trung vào việc nâng cao năng lực tài chính thông qua việc phát hành
thêm cổ phiếu, tìm kiếm các nhà đầu tư chiến lược hoặc thông qua hoạt động mua bán,
sáp nhập để tăng vốn điều lệ. Trong thời gian tới, các ngân hàng cần tiến gần hơn tới
chuẩn mực, thông lệ quốc tế như tính đến rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và áp dụng
các phương pháp của Basel II khi tính toán rủi ro tín dụng (hiện đang được triển khai
thí điểm tại 10 ngân hàng theo Công văn số 1601/NHNN-TTGSNH về việc triển khai
thực hiện quy định an toàn vốn theo Basel II ngày 17/03/2014.
3.2.2.2. Hệ thống ngân hàng thương mại chủ động kiểm soát và xử lý nợ xấu
Xuất phát từ nguyên tắc là NHTM và khách hàng vay vốn phải chịu trách
nhiệm chính về các khoản nợ xấu phát sinh và chia sẻ tổn thất trong xử lý nợ xấu, các
NHTM cần phải khoanh vùng, xử lý nợ xấu đã phát sinh đồng thời hạn chế nợ xấu tiếp
tục phát sinh trong tương lai.
a/ Khoanh vùng, xác định và xử lý nợ xấu đã phát sinh và tiềm ẩn phát sinh
trong tương lai
173
Việc xác định chính xác tình trạng nợ xấu về quy mô, đặc điểm, cơ cấu, khả
năng thu hồi… đóng vai trò quan trọng để các NHTM xây dựng phương án, lộ trình xử
lý nợ xấu phù hợp với khả năng tài chính. Trong thời gian tới, hệ thống NHTM cần tập
trung nguồn lực thực hiện các biện pháp sau:
Thứ nhất, các NHTM tiếp tục rà soát, đánh giá lại chất lượng các khoản tín
dụng, xác định các khoản nợ xấu
Hệ thống NHTM phải tiến hành phân loại lại chất lượng và khả năng thu hồi
của các khoản nợ từ các khoản nợ từ nhóm 1 tới nhóm 5 theo đúng các tiêu chí về
phân loại nợ và xếp hạng tín dụng đã được NHNN phê duyệt. Hệ thống NHTM cần
phân loại toàn bộ các tài sản có tính chất tín dụng bao gồm cấp tín dụng, đầu tư trái
phiếu doanh nghiệp, ủy thác đầu tư theo mức độ rủi ro; phân loại lại nợ xấu theo loại
hình doanh nghiệp, theo các loại TSBĐ; nợ xây dựng cơ bản theo đúng định hướng
của Nghị quyết số 02/2013/NĐ-CP, Quyết định số 843/QĐ-TTg. Trên cơ sở đó, các
NHTM mới xây dựng và triển khai các nhóm giải pháp xử lý phù hợp với từng loại
hình nợ xấu, thực hiện hạch toán kế toán đúng bản chất nợ xấu và trích lập DPRR đầy
đủ theo đúng quy định.
Thứ hai, hoàn chỉnh và áp dụng chính sách dự phòng rủi ro phù hợp
Hệ thống NHTM Việt Nam cần phải sử dụng DPRR để xử lý rủi ro và trong bối
cảnh khả năng sinh lời của hệ thống đang sụt giảm thì đây là bài toán không hề dễ
dàng đối với các NHTM. Do vậy, đẩy mạnh các khoản tín dụng có chất lượng, tăng
nguồn thu từ các dịch vụ phi tín dụng và tiết giảm các khoản chi phí là cần thiết để bảo
đảm đủ nguồn lực xử lý nợ xấu. Trên cơ sở rà soát, đánh giá lại các khoản cấp tín
dụng, các NHTM tích cực trích lập DPRR ở mức phù hợp theo khả năng của từng
ngân hàng, nghiêm túc thực hiện Thông tư số 02/2013/TT-NHNN, Văn bản số
7789/NHNN-TTGSNH về trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro.
NHNN cần kiên quyết yêu cầu các NHTM thực hiện nghiêm túc quá trình cơ
cấu lại và phân loại các khoản nợ theo đúng quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-
NHNN nhằm xác định chính xác thực trạng nợ xấu, đánh giá đúng năng lực tài chính
của hệ thống NHTM để có cơ sở xác định khả năng xử lý nợ xấu của bản thân các
NHTM và các nhiệm vụ hỗ trợ xử lý của các cơ quan quản lý Nhà nước.
Ngoài ra, dựa vào hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, các NHTM cần chấn
chỉnh, siết chặt việc xét duyệt cấp tín dụng, quản lý chất lượng tín dụng, từ đó xây
dựng chính sách DPRR phù hợp với phạm vi hoạt động và tình hình thực tế cũng như
dựa trên khả năng trích lập DPRR để điều chỉnh lại chính sách tín dụng của chính
NHTM cho phù hợp.
174
b/ Triển khai quyết liệt các biện pháp xử lý nợ xấu đã phát sinh
Thứ nhất, cơ cấu lại nợ nhằm hỗ trợ khách hàng có nợ xấu khắc phục khó khăn,
phục hồi khả năng trả nợ ngân hàng
Đối với những khách hàng và phương án, dự án sản xuất kinh doanh tạm thời
gặp khó khăn, ảnh hưởng tới khả năng trả nợ NHTM nhưng được đánh giá là có khả
năng phục hồi, các NHTM cần tạo điều kiện giãn thời gian trả nợ, điều chỉnh kỳ hạn
trả nợ và xem xét miễn, giảm lãi suất một cách hợp lý để doanh nghiệp có vốn hoạt
động. Đối với các dự án, công trình đầu tư dở dang và/hoặc sắp hoàn thành, có khả
năng phát huy hiệu quả kinh tế, các NHTM cần tiếp tục cho vay, đầu tư để hoàn thiện
đưa vào khai thác hoặc bán để thu hồi nợ. Khuyến nghị này xuất phát từ một nguyên
tắc trong xử lý nợ xấu là cần phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể tiếp tục hoạt
động trong tương lai, chỉ khi đó doanh nghiệp mới có thể tồn tại, phát triển và trả nợ
ngân hàng.
Tuy nhiên, trong quá trình cơ cấu lại nợ và hỗ trợ khách hàng vay vốn, các
NHTM cần chú ý đến công tác kiểm tra, đánh giá năng lực của các doanh nghiệp, để
tránh trường hợp tiếp tục cấp vốn vào những phương án, dự án không có khả năng
phục hồi. Trong việc cân nhắc, đánh giá các giải pháp cơ cấu lại nợ, các NHTM có thể
yêu cầu sự hỗ trợ từ các tổ chức tư vấn cũng như các nguồn lực khác bên ngoài như
những tổ chức, cá nhân có kinh nghiệm, chuyên môn cao trong việc xử lý các khoản
tín dụng có vấn đề, có khả năng đề xuất những phương án khác nhau trong việc cơ cấu
lại nợ, cũng như đánh giá được các lợi ích, chi phí có liên quan đến từng phương án để
ngân hàng và doanh nghiệp cùng xem xét, thống nhất.
Thứ hai, về hoàn thiện công tác xử lý tài sản bảo đảm để xử lý nợ xấu
Bản thân các NHTM cần phải chủ động phối hợp với khách hàng để tiến hành
rà soát, đánh giá lại TSBĐ và yêu cầu khách hàng bổ sung TSBĐ hợp pháp và đầy đủ
theo mức độ rủi ro của khoản tín dụng. Đồng thời, NHTM cần phải phối hợp với
khách hàng và các cơ quan, tổ chức liên quan hoàn thiện hồ sơ pháp lý đối với những
khoản vay, TSBĐ chưa hoàn thiện hồ sơ pháp lý. Điều này là hết sức cần thiết, đặc
biệt là trong tình hình kinh tế nước ta hiện nay, môi trường pháp lý về chế độ kế toán,
kiểm toán tài chính đang trong quá trình hoàn thiện, vì thế tính minh bạch, trung thực
của báo cáo tài chính, các thông tin của khách hàng cung cấp nhiều khi chưa đủ tin cậy
theo đúng quy chế cho vay, làm tăng rủi ro mất vốn cho các NHTM. Vì vậy, để hạn
chế được tình trạng rủi ro này, các NHTM phải đặc biệt thận trọng trong việc đánh giá
TSBĐ cho các món vay bao gồm việc thẩm định điều kiện tài sản thế chấp, năng lực
pháp lý của người thế chấp tài sản, định giá tài sản, tính thanh khoản của tài sản..., từ
175
đó tuân thủ tỷ lệ cho vay tối đa của các ngân hàng. Các NHTM cũng có thể xem xét
phối hợp xây dựng, củng cố một hệ thống cơ sở dữ liệu giúp tra cứu về các TSBĐ như
năng lực sản xuất, mức độ khấu hao, vị trí, hiện trạng, khả năng tranh chấp, kiện
tụng…, nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình định giá tài sản, giảm thiểu đến mức tối
đa rủi ro liên quan tới TSBĐ.
Về công tác xử lý TSBĐ, các NHTM cần xác định đây là giải pháp chính để thu
hồi vốn từ các khoản nợ xấu không có khả năng thu hồi. Tuy nhiên, thủ tục xử lý
TSBĐ hiện nay vẫn còn nhiều phức tạp và kéo dài. Vì vậy, giải pháp đối với các
NHTM trong việc xử lý TSBĐ khi cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện là chủ động đàm
phán, thuyết phục và đôn đốc khách hàng tự xử lý tài sản, chủ động bán tài sản nhằm
tiết kiệm thời gian, giảm thiểu nguy cơ chất lượng tài sản giảm.
Một giải pháp khác, đặc biệt trong bối cảnh nợ xấu lĩnh vực bất động sản đang
rất lớn, là việc các NHTM vẫn chấp nhận cung cấp thêm tiền cho chủ đầu tư để hoàn
thiện công trình, tạo ra một tài sản sinh lời trong tương lai, với điều kiện phải trả một
phần khoản vay cũ. Đây là cách đã được các NHTM ở Úc, Đức triển khai có hiệu quả
và hứa hẹn sẽ phát huy tác dụng ở Việt Nam.
Thứ ba, xem xét giải pháp hoán đổi nợ thành vốn đối với các khách hàng và dự
án đầu tư có tiềm năng
Trên cơ sở đánh giá khả năng phục hồi và tiềm năng phát triển của các khách
hàng vay vốn, các NHTM có thể tiến hành đàm phán với chủ sở hữu, cổ đông khác của
doanh nghiệp để chuyển nợ thành vốn góp hoặc tham gia đấu giá cổ phần theo quy
định để trở thành cổ đông, rồi từng bước thực hiện các giải pháp tái cấu trúc doanh
nghiệp như xóa một phần nợ và lãi, hoãn trả nợ, thay đổi thời gian trả nợ, hỗ trợ về thị
trường, quản trị, hỗ trợ về tài chính như cho vay, bảo lãnh... nhằm phục hồi từ doanh
nghiệp kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán thành doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh có lãi, tạo nguồn trả nợ cho NHTM.
Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động của các Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản là
công ty con của các tổ chức tín dụng
Các AMC trực thuộc NHTM có nhiệm vụ tiếp nhận tài sản thế chấp, cầm cố,
bảo lãnh của những khoản nợ khó đòi thuộc cùng một hệ thống ngân hàng, định giá
TSBĐ, tiếp nhận quản lý các khoản nợ tồn đọng, chủ động xử lý các TSBĐ thuộc
quyền định đoạt của ngân hàng..., giúp NHTM có thể làm sạch tạm thời bảng cân đối
tài sản để tập trung vào cấp tín dụng cho nền kinh tế; đồng thời có thể mua bán nợ tồn
đọng, của các NHTM khác, của các Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản khác theo
quy định của pháp luật.
176
Thứ năm, tích cực bán các khoản nợ xấu cho Công ty Mua bán nợ và tài sản
tồn đọng của doanh nghiệp và/hoặc Công ty Quản lý Tài sản của các tổ chức tín dụng
Việt Nam
Trong trường hợp khả năng tự xử lý các khoản nợ xấu của các NHTM là không
đủ so với quy mô nợ xấu, các NHTM có thể xem xét việc bán các khoản nợ xấu này
cho các tổ chức có năng lực và nguồn vốn để xử lý nợ xấu. Công ty DATC và VAMC
là hai lựa chọn phù hợp nhất trong bối cảnh nợ xấu tại nhiều NHTM đang vượt quá
khả năng tự xử lý. Biện pháp này giúp NHTM cải thiện phần nào bảng cân đối kế toán
để mở rộng tín dụng, đồng thời có thể nhận thêm nguồn vốn từ bên ngoài, kể cả từ các
đối tác nước ngoài, từng bước góp phần xử lý nhanh nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính,
giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng
hợp lý cho nền kinh tế.
c/ Chủ động thực hiện các biện pháp hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh trong
tương lai
Bên cạnh việc tập trung xử lý nợ xấu, trong thời gian tới, các NHTM cần phải
chú trọng việc hạn chế nợ xấu tiếp tục phát sinh. Để thực hiện tốt công tác này, các
ngân hàng cần thực hiện đánh giá lại để điều chỉnh lại chính sách tín dụng và quy trình
tín dụng cho phù hợp với mục tiêu hướng tới tăng trưởng tín dụng nhưng vẫn bảo đảm
chất lượng tín dụng. Chính sách tăng trưởng tín dụng mạnh như trong giai đoạn từ năm
2005 cho tới 2010 không còn phù hợp, và thực tế đã cho thấy việc mở rộng tín dụng
quá mức nhưng không tập trung bảo đảm chất lượng tín dụng đã gây ra những hệ quả
không tốt đối với không chỉ khách hàng vay vốn mà với bản thân các NHTM. Trong
thời gian tới, thay đổi chính sách tín dụng cần tập trung nhiều hơn vào việc điều chỉnh
tín dụng theo cơ cấu ngành nghề, ưu tiên tín dụng đối với các lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh ưu tiên theo định hướng của Chính phủ như nông nghiệp nông thôn, doanh
nghiệp nhỏ và vừa… và hạn chế tín dụng đối với các ngành nghề có mức độ rủi ro cao
như bất động sản, chứng khoán mà chỉ duy trì một tỷ trọng thấp nhất định.
Ngoài ra, các NHTM cần phải bảo đảm quy trình cho vay được tuân thủ ở tất cả
các bước từ thường xuyên cập nhật thông tin về khách hàng và khoản vay, thực hiện
việc đánh giá định kỳ trên cơ sở rủi ro của khách hàng và khoản vay, thực hiện đánh
giá, phân loại nợ nhằm có các biện pháp can thiệp kịp thời. Công tác thẩm định tín
dụng tại các NHTM cần được tập trung nâng cao chất lượng nhằm bảo đảm chất
lượng, hiệu quả của công tác chấm điểm, xếp loại khách hàng và đưa ra quyết định tín
dụng hợp lý, cũng như tạo cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát sau khi cho vay.
Để gắn liền công tác phòng ngừa, hạn chế nợ xấu phát sinh với tái cơ cấu lại hệ
thống NHTM, cần nâng cao năng lực quản trị, điều hành, hệ thống kiểm soát, kiểm
177
toán nội bộ, phát triển hệ thống quản trị rủi ro và các chiến lực kinh doanh, chính sách,
quy trình, thủ tục cấp tín dụng theo hướng lành mạnh, thận trọng; cải thiện trình độ,
đạo đức của cán bộ tín dụng ngân hàng cũng là những giải pháp mà các NHTM cần
tiến hành để hạn chế nợ xấu phát sinh trong tương lai.
3.2.2.3. Phát triển các mô hình hợp tác triển khai các sản phẩm tín dụng liên kết
Để khuyến khích tăng trưởng tín dụng từ phía cầu và giảm mức độ rủi ro tín
dụng ngay từ khi thẩm định, quyết định cho vay, ngành Ngân hàng có thể nghiên cứu
và triển khai các sản phẩm tín dụng phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực, đặc biệt
chú trọng sản phẩm tín dụng vào lĩnh vực áp dụng khoa học công nghệ mới, liên kết
chặt chẽ theo chuỗi từ khâu sản xuất, chế biến tiêu thụ. Ví dụ, cung cấp các gói sản
phầm ưu đãi về lãi suất vay vốn, gói sản phẩm tín dụng dựa trên chuỗi liên kết từ khâu
sản xuất đến khâu tiêu thụ, cho vay theo dòng tiền, hỗ trợ khách hàng lập phương án
sản xuất - kinh doanh, dự án đầu tư hợp lý, tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm,
dịch vụ, cho vay liên kết giữa chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng, nhà cung cấp vật liệu
xây dựng và người mua nhà…
Chuỗi giá trị là một tập hợp các mối liên kết từ cung cấp đầu vào, sản xuất, chế
biến và tiêu thụ. Chuỗi giá trị của một sản phẩm là một hệ thống chứ không là hành vi
đơn lẻ của từng doanh nghiệp nên có thể tạo nên sức cạnh tranh mạnh mẽ. Ở bất kỳ
khâu nào trong chuỗi giá trị, ngân hàng cũng có thể tham gia cho vay các chủ thể kinh
tế. Nếu nhiều ngân hàng cùng phối hợp để đưa vốn tín dụng vào chuỗi giá trị này, các
rủi ro tại từng khâu sẽ được kiểm soát tốt hơn nhờ sự chia sẻ thông tin giữa các chủ thể
khi việc cho vay ở khâu sau sẽ bảo đảm cho việc hình thành thị trường cho khâu trước.
Về tổng thể, những rủi ro mang tính chu kỳ ảnh hưởng mạnh tới các chuỗi giá trị liên
kết cao sẽ được giảm thiểu tốt hơn so với trường hợp các chuỗi giá trị liên kết thấp.
Với số lượng khách hàng rộng khắp trên địa bàn cả nước, thậm chí là cả các đối
tác nước ngoài (thông qua các chi nhánh mở tại nước ngoài), các ngân hàng hoàn toàn
có thể thực hiện vai trò tìm kiếm, chắp nối các khách hàng vay vốn trong một chuỗi
giá trị. Việc giới thiệu các hộ gia đình, doanh nghiệp cần tìm kiếm đầu vào hoặc đầu ra cho sản xuất, hay cần tìm hiểu, chia sẻ kỹ năng nghề nghiệp… là việc làm các ngân hàng đã triển khai trong thời gian qua nhưng chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn. Một phần nguyên nhân là do đa phần các ngân hàng thực hiện công tác này một cách đơn lẻ mà chưa có sự phối hợp với nhau nên thông tin về khách hàng, thị trường tiềm năng… còn tương đối hạn chế. Trong thời gian tới, các ngân hàng cần thay đổi quan điểm đối với công tác này nhằm có sự phối hợp hài hòa hơn, từ đó hỗ trợ
khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay một cách hiệu quả. Khi đó, các ngân hàng không chỉ đẩy mạnh được đầu ra cho nguồn vốn huy động mà còn tăng cường được chất
178
lượng tín dụng. Đối với các dự án quy mô lớn, các ngân hàng có thể cho vay đồng tài
trợ nhằm tăng cường khả năng đáp ứng nguồn vốn, gia tăng mức độ chính xác trong
thẩm định dự án, nâng cao hiệu quả giám sát khoản vay và chia sẻ rủi ro.
Trong thời gian tới, NHNN và các NHTM có thể xem xét thí điểm các mô hình
với các lĩnh vực khác trong nền kinh tế như khai thác tài nguyên, trồng trọt, chăn nuôi, thủy hải sản tại một số địa phương có lợi thế tiềm năng, ngân hàng có thế mạnh về cấp
tín dụng cho lĩnh vực này. Nếu thành công, các mô hình này có thể nhân rộng ra các
địa phương khác và tại các NHTM khác trên phạm vi cả nước. Để triển khai sản phẩm
liên kết dạng này NHNN thực hiện vai trò khuyến khích, định hướng và theo dõi việc
tuân thủ các cam kết, đảm bảo nguyên tắc các ngân hàng tham gia chuỗi liên kết bình đẳng về vai trò, tự nguyện tham gia và thống nhất về quyền lợi, nghĩa vụ. Với mô hình
chuỗi liên kết sẽ giúp cho hoạt động tín dụng được tăng trưởng một cách bền vững và
nâng cao chất lượng tín dụng.
Để làm được điều này, các ngân hàng cần phối hợp chặt chẽ để có thể tập trung
nguồn vốn, giúp cấp tín dụng kịp thời đối với sản xuất, thu mua, chế biến (đặc biệt là
các hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ mục tiêu xuất khẩu hàng hóa) với lãi suất,
thời hạn vay vốn, bảo đảm tiền vay hợp lý lẫn các thủ tục vay vốn theo hướng đơn giản hóa và gắn kết các chương trình khuyến nông hỗ trợ người sản xuất về kỹ thuật
sản xuất kinh doanh. Song song với việc thực hiện các quy trình tín dụng truyền thống,
các ngân hàng cần phải phối hợp với nhiều cơ quan, tổ chức đoàn thể để kết hợp hoạt
động tín dụng với các hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh cho
khách hàng. Các khóa tập huấn về kỹ thuật trổng trọt, chăn nuôi có thể được tổ chức
trước, trong, và sau khi giải ngân nhưng phải bảo đảm liên tục, thường xuyên và đến
đúng đối tượng, đúng nhu cầu để người vay vốn có thể vận dụng tốt nhất, kịp thời nhất
những kiến thức được trang bị vào sử dụng vốn vay.
3.2.2.4. Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của NHTM hướng tới mục đích nhằm giảm
thiểu những rủi ro phi hệ thống (non-systematic risks), qua đó tăng khả năng chịu đựng (khả năng chấp nhận) rủi ro của ngân hàng. Hoạt động kinh doanh cơ bản của
một NHTM bao gồm tín dụng, đầu tư và các dịch vụ ngân hàng khác như thanh toán, ngoại hối, ủy thác, tư vấn tài chính… Việc nguồn thu của NHTM phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động tín dụng như các ngân hàng Việt Nam khiến cho lợi nhuận và mức độ rủi ro của ngân hàng ở mức cao, không tận dụng được những ích lợi về giảm thiểu rủi ro mà đa dạng hóa kinh doanh đem lại. Khi hoạt động tín dụng gặp khó khăn (có thể bắt nguồn từ thắt chặt CSTT của NHNN), nguồn thu từ hoạt động tín dụng sụt giảm
khiến lợi nhuận của ngân hàng ở mức thấp (thậm chí bị âm) cản trở chức năng thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế.
179
Nguồn thu từ hoạt động tín dụng của NHTM phụ thuộc khá nhiều vào điều
hành CSTT của NHNN khi một sự thay đổi trong định hướng thắt chặt hay nới lỏng
CSTT sẽ nhanh chóng ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng ngân hàng, tới thu lãi, chi phí
lãi, và lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. Trái lại, nguồn thu từ hoạt động phi tín dụng
(mảng dịch vụ ngân hàng) có tính chất ổn định hơn và ít chịu ảnh hưởng từ điều hành
CSTT của NHNN.
Hệ thống NHTM cần đa dạng hóa hoạt động kinh doanh thông qua việc nâng
cao tỷ trọng nguồn thu từ các hoạt động phi tín dụng và hoạt động đầu tư. Dù vậy,
trong bối cảnh hoạt động đầu tư của NHTM Việt Nam đang bị kiểm soát khá chặt chẽ
từ cơ quan quản lý Nhà nước do những bất cập trong nghiệp vụ này và những bài học
thực tiễn từ hoạt động đầu tư của các NHTM trên thế giới trong cuộc khủng hoảng tài
chính vừa qua, các NHTM nên tập trung vào phát triển mảng dịch vụ ngân hàng.
Các NHTM cần tập trung phát triển các mảng dịch vụ phi tín dụng như tư vấn tài
chính cá nhân, thanh toán liên ngân hàng, đầu tư vào internet banking, phát triển các
hình thức thanh toán qua các công cụ điện tử. Học hỏi kinh nghiệm và hỗ trợ kỹ thuật,
công nghệ từ các nhà đầu tư chiến lược là các ngân hàng nước ngoài sẽ giúp ngân hàng
Việt Nam đẩy mạnh tiến trình này. Tùy vào năng lực của mình, mỗi ngân hàng cần tự
xây dựng kế hoạch đầu tư, phát triển vào các mảng dịch vụ phi tín dụng dựa trên điều
kiện và năng lực sẵn có. Ví dụ, đối với các ngân hàng đã có sẵn cơ sở hạ tầng thanh toán
tốt cần tập trung vào công tác nâng cao các tiện ích sử dụng cho người sử dụng bao gồm
nâng cấp hệ thống kỹ thuật, phát triển đội ngũ nhân viên hướng dẫn sử dụng dịch vụ phù
hợp. Bên cạnh đó, ngân hàng này cần có sự phối hợp với các bên bán hàng khác như
siêu thị, chuỗi cửa hàng … để có những chính sách giảm giá cho khách hàng sử dụng
dịch vụ thanh toán phi tiền mặt. Đối với các ngân hàng chưa xây dựng được hệ thống
thanh toán cho khách hàng thì có thể: (i) liên kết với ngân hàng đã có cơ sở thanh toán
tốt; (ii) phát triển xây dựng đội ngũ cán bộ tư vấn tài chính cho khách hàng cá nhân. Các
ngân hàng cần phối hợp với các trường đào tạo chuyên ngành tài chính ngân hàng nhằm
tìm kiếm được lực lượng nhân lực phù hợp cho mảng hoạt động này.
3.2.3. Nhóm giải pháp đối với khách hàng vay vốn ngân hàng thương mại
3.2.3.1. Cải thiện khả năng hấp thụ vốn
Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng mà nền kinh tế Việt Nam theo đuổi trong
giai đoạn trước đã bộc lộ những yếu kém cố hữu của nó. Những yếu tố nền tảng cho
tăng trưởng được tích lũy trong giai đoạn trước (trước 2010) đã cạn kiệt nên những
giải pháp về phía tổng cầu thông qua mở rộng chính sách tài khóa và CSTT không còn
phát huy được nhiều tác dụng. Triển khai các nhiệm vụ tái cấu trúc nền kinh tế đòi hỏi
cần phải tập trung nâng cao năng lực của các yếu tố sản xuất như công nghệ và chất
180
lượng lao động, vốn dĩ đã chậm phát triển so với các doanh nghiệp nước ngoài và các
quốc gia khác trên thế giới. Đây là điều kiện tiền đề để các doanh nghiệp có thể hấp
thụ được lượng vốn tín dụng từ các NHTM cũng như xa hơn là nâng cao năng lực
cạnh tranh và tiến tới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Theo kết quả khảo sát doanh nghiệp năm 20138, trở ngại chủ yếu đối với hệ thống doanh nghiệp không còn là vấn đề tiếp cận vốn (25%) mà do sức tiêu thụ giảm
(59%), hàng tồn kho tiêu thụ chậm (43%). Tuy nhiên, các yếu tố về chất lượng nhân
lực chưa cao (12%) và công nghệ lạc hậu (11%) cùng với vấn đề hàng tồn kho tiêu thụ
chậm cho thấy khả năng sản xuất và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
ở mức rất yếu. Như vậy, không thể kỳ vọng các doanh nghiệp có thể hấp thụ lượng
vốn tín dụng trong bối cảnh hiện nay. Việc có gắng thúc đẩy tăng trưởng tín dụng
nhưng không đi kèm với cải thiện khả năng hấp thụ vốn sẽ dẫn tới nguồn vốn không
được phân bổ và sử dụng hiệu quả, bất ổn kinh tế vĩ mô tái diễn là điều khó tránh khỏi
(xem hình 3.3).
Hình 3.3: Trở ngại chủ yếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
59%
43%
37%
25%
23%
12%
11%
9%
3%
2%
Khác
Sức tiêu thụ giảm
Yếu tố đầu vào
An ninh - chính trị
Hàng tồn kho chậm tiêu thụ
Tiếp cận vốn khó khăn
Thủ tục pháp lý phức tạp
Công nghệ lạc hậu
Giao thông vận tải
Chất lượng nhân lực chưa cao
của doanh nghiệp
Nguồn: Khảo sát và tính toán của tác giả
Lý giải cho việc khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp giảm bao gồm
hai yếu tố chính là nhu cầu tiêu thụ toàn ngành giảm (58%) và sức ép cạnh tranh tăng
(54%), thay đổi thị hiếu người tiêu dùng (12%). Từ ngắn hạn đến trung hạn, hoàn toàn
có thể kỳ vọng sức cầu của nền kinh tế được cải thiện nhưng vấn đề cạnh tranh, đặc
biệt là cạnh tranh với các doanh nghiệp tiên tiến nước ngoài, nếu không được giải
quyết thì khó có thể kỳ vọng vào khả năng phục hồi và phát triển bền vững của doanh
8 Kết quả khảo sát 306 doanh nghiệp về tình hình hoạt động doanh nghiệp năm 2013. Chi tiết xem phụ lục số
11.
nghiệp Việt Nam.
181
Hình 3.4: Các kiến nghị của doanh nghiệp đối với Chính phủ
61%
44%
44%
35%
34%
34%
12%
12%
11%
10%
Ổn định giá cả
Xử lý nợ xấu
Hỗ trợ về lãi suất cho vay
Cải cách thủ tục pháp lý
Hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn cho DN
Thực hiện chương trình hỗ trợ về thuế
Tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế
Khuyến khích đầu tư vào công nghệ
Tháo gỡ khó khăn đối với thị trường tài chính, BĐS
Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong thời gian tới
Nguồn: Khảo sát và tính toán của tác giả
Tuy nhiên, kết quả khảo sát doanh nghiệp cho thấy các kiến nghị của doanh
nghiệp đối với Chính phủ lại tập trung chủ yếu vào việc hỗ trợ lãi suất cho vay (61%),
hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn (44%) mà chưa tập trung vào các giải pháp cải thiện các yếu
tố sản xuất như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (11%), khuyến khích đầu tư vào
công nghệ (10%) (xem hình 3.4). Do vậy, vấn đề trước tiên cần phải thay đổi chính là
nhận thức của người lãnh đạo doanh nghiệp. Người đứng đầu doanh nghiệp phải xác
định được đầu tư vào yếu tố sản xuất cơ bản là nhân tố quyết định, quan trọng cần
được ưu tiên thực hiện cùng với việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Những thay đổi
trong chính sách về ưu tiên phát triển khoa học công nghệ, giáo dục và đạo tạo của
Chính phủ là những giải pháp mang tính vĩ mô cần được thực hiện kịp thời.
Để bảo đảm tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, các
khách hàng doanh nghiệp vay vốn ngân hàng cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh
và hiệu quả đầu tư. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải đầy mạnh đầu tư
vào khoa học kỹ thuật, công nghệ cao, tiên tiến nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm và
duy trì vị thế trên thị trường. Tuy nhiên, điều này đỏi hòi quy mô vốn lớn, trong dài
hạn và chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. Trong trường hợp bản thân các doanh nghiệp
không nỗ lực thực hiện các giải pháp phát triển nguồn nhân lực và đầu tư cải tiến công
nghệ, Chính phủ có thể tạo lập một cơ chế hỗ trợ thông qua việc thành lập một định
chế của Nhà nước với tên gọi Công ty Tài chính Công nghệ Việt Nam (Vinafitech).
Định chế này có nhiệm vụ đại diện Nhà nước hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp
vay vốn đề đầu tư vào yếu tố công nghệ. Các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn ngân
hàng để đầu tư cải thiện công nghệ sẽ có quyền đề xuất bảo lãnh tín dụng từ phía
Vinafitech. Khi nhận được đề nghị bảo lãnh tín dụng từ phía doanh nghiệp, Vinafitech
182
có trách nhiệm thành lập các hội đồng thẩm định công nghệ độc lập để đánh giá mức
độ cải tiến trong công nghệ của phương án sản xuất - kinh doanh, dự án đầu tư. Trong
trường hợp đề xuất của doanh nghiệp thỏa mãn các tiêu chí của Vinafitech, Vinafitech
sẽ phát hành bảo lãnh tín dụng tới các NHTM; nhờ vậy, các doanh nghiệp sẽ được tạo
điều kiện tiếp cận với nguồn vốn dễ dàng hơn.
Để thực hiện hiệu quả chức năng này, Vinafitech cần có được hai yếu tố cơ bản
là thẩm định công nghệ và quản lý tài chính. Vinafitech cần tăng cường tính chuyên
nghiệp trong thẩm định công nghệ bằng cách liên tục phát triển và nâng cấp các mô
hình thẩm định công nghệ, tái cơ cấu các tổ chức thẩm định nội bộ, và tạo lập các liên
kết bên ngoài với các cơ quan Chính phủ, các NHTM, các cơ quan, trung tâm nghiên
cứu khoa học công nghệ… Về nguồn vốn, Vinafitech cần có nguồn vốn đóng góp từ
các bên với các mức trách nhiệm và thụ hưởng khác nhau. Nguồn vốn cho Vinafitech
bao gồm tiền từ ngân sách nhà nước, các NHTM, nguồn chia sẻ lợi nhuận từ các doanh
nghiệp được bảo lãnh tín dụng, tiền thu được từ đầu tư các nguồn tiền của Vinafitech.
Thông qua chức năng thẩm định công nghệ và bảo lãnh tín dụng, Vinafitech sẽ
gắn kêt lợi ích của việc được hỗ trợ về mặt tài chính với trách nhiệm nâng cao năng
lực về công nghệ của các doanh nghiệp. Đây là cơ sở tiền đề cho các doanh nghiệp
tích lũy các nhân tố cần thiết để hấp thụ tốt lượng vốn tín dụng từ các NHTM, nâng
cao năng lực sản xuất và cạnh tranh.
3.2.3.2. Xây dựng cơ cấu vốn phù hợp
Cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính mô tả nguồn gốc và phương pháp hình
thành nên nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cấu
trúc vốn đề cập đến cách thức doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài trợ thông qua các
phương án kết hợp giữa phát hành cổ phiếu, trái phiếu, đi vay ngân hàng, nợ đối tác…
Thực trạng cấu trúc vốn của hệ thống doanh nghiệp Việt Nam cho thấy tỷ trọng
vốn chủ sở hữu ở mức thấp, đặc biệt là các DNNVV và DNNN khi tính minh bạch ở
mức thấp và quá trình cổ phần hóa diễn ra chậm chạp. Ngay cả các doanh nghiệp có
quy mô lớn cũng gặp khó khăn trong việc gia tăng vốn chủ sở hữu khi thị trường cổ
phiếu sau giai đoạn phát triển bùng nổ đã rơi vào tình trạng giảm giá liên tiếp và quy
mô phát hành, giao dịch kém sôi động. Điều này đã cản trở các doanh nghiệp có nhu
cầu phát hành mới và phát hành bổ sung cổ phiếu.
Doanh nghiệp dựa chủ yếu vào hai nguồn vốn là tín dụng ngân hàng và vốn
chiếm dụng từ các đối tác và khách hàng. Nhiều doanh nghiệp chiếm dụng vốn của đối
tác với nhận định rằng lượng vốn chiếm dụng này là miễn phí nhưng lại không nhận ra
và tính toán được chi phí thực của nguồn vốn này. Khi tính toán chi phí nguồn vốn
183
chiếm dụng của đối tác từ số tiền phải trả nếu thanh toán ngay và số tiền trả chậm, chi
phí của nguồn vốn này cao hơn nhiều so với lãi vay ngân hàng, ảnh hưởng tiêu cực tới
khả năng sinh lời. Hơn nữa, nguồn vốn này không có tính lâu dài, dễ biến động do
người bán hàng có thể dừng cấp tín dụng đối với doanh nghiệp, người mua có quyền
đòi lại tiền đã ứng trước.
Ngoài ra, việc quá phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng đã khiến cho
các doanh nghiệp thiếu đi sử chủ động và linh hoạt trong việc thay đổi cơ cấu nguồn
vốn cho phù hợp năng lực tài chính và điều kiện thị trường. Tất cả các doanh nghiệp,
dù là quy mô lớn hay nhỏ, năng lực tài chính thấp hay cao… đều có cơ cấu vốn dựa
chủ yếu vào tín dụng ngân hàng. Điều này khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp trở nên quá phụ thuộc vào khả năng cấp tín dụng, lãi suất cho vay và
quy mô tín dụng từ phía ngân hàng, và rộng hơn là nhạy cảm với công tác điều hành
CSTT của NHNN.
Xuất phát từ những hạn chế này, hệ thống doanh nghiệp cần có các biện pháp
điều chỉnh lại cơ cấu nguồn vốn phù hợp theo hướng tăng tỷ trọng nguồn vốn chủ sở
hữu và trái phiếu doanh nghiệp, giảm dần sự lệ thuộc vào nguồn vốn tín dụng thương
mại và tín dụng ngân hàng. Cấu trúc vốn được coi là phù hợp cho doanh nghiệp khi
làm cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro, làm tối thiếu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân
của doanh nghiệp qua đó làm tăng giá trị ròng. Nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có
thể thiết lập một cấu trúc vốn phù hợp dựa trên cơ sở định tính và định lượng những
nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng của cấu trúc
vốn đến khả năng sinh lời và rủi ro của doanh nghiệp. Điểm nhấn ở đây là việc đa
dạng hóa các nguồn vốn huy động nhằm giúp cho doanh nghiệp không bị quá phụ
thuộc vào một vài nguồn vốn, tăng cường tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp.
Để khắc phục thực trạng thiếu đa dạng hóa nguồn vốn, DNNVV cần xem xét huy động
vốn từ các nguồn khác như từ thuê tài chính; phát hành trái phiếu, cổ phiếu; nguồn vốn
góp từ các quỹ đầu tư mạo hiểm; từ quỹ hỗ trợ doanh nghiệp… Một số biện pháp cơ
bản cần được triển khai là: (i) nâng cao năng lực hoạch định cơ cấu vốn của ban lãnh
đạo doanh nghiệp thông qua trang bị kiến thức cơ bản về cơ cấu vốn; (ii) nâng cao
năng lực hoạch định, thực hiện và cập nhật cơ cấu vốn thực tế trên cơ sở so sánh với
cơ cấu vốn mục tiêu; (iii) tăng cường mức độ minh bạch về thông tin của doanh nghiệp
để thu hút các nguồn vốn đầu tư phù hợp, kể cả từ các quỹ đầu tư mạo hiểm trong
trường hợp phù hợp với chiến lược phát triển của doanh nghiệp; (iv) nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn, thực hiện nghiêm túc các cam kết với nhà tài trợ vốn…
184
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.3.1. Nâng cao tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước
Lý thuyết kinh tế cũng như các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đã cho
thấy mức độ độc lập của NHTW có quan hệ cùng chiều với mức độ hiệu quả trong
điều hành CSTT. Vị thế độc lập tạo điều kiện cho NHTW chủ động trong việc lựa
chọn mục tiêu, xây dựng và đưa ra quyết định các chính sách, thực hiện các biện pháp
điều hành CSTT, can thiệp vào các thị trường tín dụng, ngoại hối mà không bị giới hạn
hay phải phụ thuộc vào các mục tiêu khác. Ngoài ra, nâng cao tính độc lập của NHTW
sẽ làm giảm độ trễ trong quá trình ra quyết định CSTT khi không phải chờ đợi ý kiến
cho phép, phản hồi từ các đơn vị quản lý cấp cao hơn, giúp CSTT phản ứng kịp thời
hơn với những diễn biến của nền kinh tế vĩ mô với những công cụ được thực thi với
thời điểm và liều lượng phù hợp. Trái lại, việc NHTW không có sự độc lập, việc điều
hành CSTT thường hay bị chậm trễ, giật cục, liên tục đổi chiều các mục tiêu do chịu
ảnh hưởng từ phía Chính phủ.
Việc nâng cao tính độc lập cho NHNN ở đây không nhất thiết phải là độc lập về
mô hình tổ chức hoặc độc lập trong việc xác định mục tiêu CSTT mà còn là độc lập
hoàn toàn (cả về mặt pháp lý và thực tế) trong việc sử dụng các công cụ để đạt được
mục tiêu của CSTT. Khi đó Thống đốc được quyền chủ động lựa chọn và điều hành
các công cụ CSTT, độc lập, tự chủ hơn trong việc đưa ra các quyết định chính sách.
Mức độ độc lập của một NHTW được chia thành độc lập hoạt động (operational
independence) và độc lập mục tiêu (target independence). Hiện tại, phân loại mức độ
độc lập của NHNN là độc lập hoạt động chứ không phải là độc lập mục tiêu. Hàng
năm, NHNN xây dựng chỉ tiêu lạm phát để Chính phủ trình Quốc hội quyết định; Thủ
tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng các công cụ và biện
pháp điều hành để thực hiện mục tiêu CSTT quốc gia theo quy định của Chính phủ.
Xuất phát từ thực tế hiệu quả hoạt động của NHTW tăng lên cùng với mức độ độc lập,
NHNN cần được tăng cường hơn nữa mức độ độc lập như sau:
NHNN được trao quyền hơn nữa trong việc hoạch định các mục tiêu và điều
hành CSTT, chỉ phải trình Quốc hội phê duyệt.
NHNN toàn quyền trong việc thực hiện các mục tiêu này, chịu trách nhiệm
trước Quốc hội về các kết quả điều hành CSTT theo mục tiêu đề ra.
NHNN toàn quyền quyết định lượng tiền cung ứng bổ sung vào lưu thông
hàng năm theo yêu cầu điều hành xuất phát từ các mục tiêu kinh tế vĩ mô được Quốc
hội phê duyệt.
NHNN không bị các cơ quan khác của Chính phủ can thiệp vào quá trình
thực thi CSTT và tùy ý sử dụng các công cụ CSTT để đạt được mục tiêu đã đề ra.
185
Tuy nhiên, cũng cần nâng cao tính minh bạch và bảo đảm khả năng giải trình
của NHNN đối với các cơ quan giám sát cũng như đối với công chúng về hoạt động
của mình. NHNN cần phải chịu sự kiểm toán hàng năm và các đợt thanh tra Nhà nước
định kỳ nhằm bảo đảm cơ chế hoạt động hiệu quả cũng như tăng cường tính minh bạch
trong giải trình với cơ quan giám sát và công bố thông tin cho công chúng.
Sự độc lập trong điều hành CSTT sẽ giúp NHNN dễ dàng tạo dựng sự ổn định
trên thị trường tiền tệ và hệ thống ngân hàng, hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô. Qua đó,
sự độc lập này bảo đảm một cơ chế truyền tải ổn định hơn, hạn chế được đảo chiều
CSTT liên tục mà không bám sát được mục tiêu căn bản là ổn định giá cả, khiến cho
các chủ thể tham gia vào kênh tín dụng ngân hàng bị ảnh hưởng tiêu cực (gây ra tình
trạng bất cân xứng trong tác động của CSTT tới các chủ thể này và nền kinh tế).
3.3.2. Kiên định điều hành chính sách tiền tệ theo hướng kiểm soát lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô gắn với ổn định tài chính
Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 đã quy định hoạt động của NHNN nhằm
ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toàn hoạt động ngaan hàng và hệ thống tổ chức
tín dụng… Việc theo đuổi các mục tiêu khác như tăng trưởng kinh tế mà bỏ qua mục
tiêu ổn định lạm phát thường dẫn đến việc mở rộng cung tiền, tín dụng quá khả năng
hấp thụ của nền kinh tế, gây ra lạm phát cao và nhiều bất ổn kinh tế. Tuy nhiên, trong
điều kiện hệ thống ngân hàng là chủ thể cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế trong giai
đoạn cần vốn co phát triển, việc thực hiện CSTT phải hết sức linh hoạt, không thể chỉ
tập trung vào mục tiêu kiểm soát lạm phát mà phải hưởng tới các mục tiêu khác trong
khả năng và phạm vi cho phép. CSTT còn có nhiệm vụ quan trọng là ổn định tài chính
do những bất ổn trên thị trường tài chính sẽ ảnh hưởng tới khả năng truyền tải chính
sách lẫn gây ra bất ổn kinh tế vĩ mô. Do vậy, dù trong bối cảnh lạm phát được kiểm
soát tốt thì việc điều hành CSTT không nhất thiết chỉ hướng tới mục tiêu tăng trưởng
mà còn phải rất thận trọng với mục tiêu ổn định tài chính. Chính phủ cần bám sát
nguyên tắc này trong việc điều hành kinh tế vĩ mô, nhằm tạo ra một không gian riêng,
chủ động hơn, độc lập hơn và linh hoạt hơn cho CSTT thực hiện mục tiêu quan trọng
của mình.
3.3.3. Thiết lập cơ chế phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách giám sát an
toàn vĩ mô và vi mô nhằm tối ưu hóa tác động của điều hành chính sách tiền tệ
qua kênh tín dụng
Một mình CSTT là không đủ để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu ổn định vĩ mô,
tài chính tiền tệ. Sử dụng các công cụ giám sát an toàn vĩ mô và vi mô giúp hạn chế
các tác dụng phụ của việc điều hành CSTT lên hành vi chấp nhận rủi ro trong quá trình
186
cấp tín dụng của các ngân hàng. Vì thế, CSTT và giám sát an toàn cần có sự phối hợp
với nhau để tối ưu hóa ảnh hưởng của từng chính sách lên cơ chế truyền tải CSTT.
Bên cạnh đó, việc triển khai mỗi chính sách luôn gặp phải những trở ngại nhất định,
chẳng hạn chính sách giám sát an toàn đôi khi không thể triệt tiêu hoàn toàn tác động
của các cú sốc về tài chính hay khắc phục hoàn hảo những méo mó trên thị trường tài
chính, thậm chí có thể bị các rào cản về chính trị trong quá trình thực hiện. Trong khi
đó, CSTT tại những nền kinh tế nhỏ mở cửa thường gặp hạn chế bởi những tác động
nằm ngoài khả năng kiểm soát của NHTW như luồng vốn vào ra, giá cả thế giới,…
Trong những trường hợp đó, CSTT đôi khi phải “ngược chiều gió” và chấp nhận sự
đánh đổi giữa ổn định sản lượng, lạm phát với ổn định tài chính, hoặc chính sách giám
sát an toàn vĩ mô đôi khi phải làm thay một phần vai trò của CSTT (IMF, 2013). Trong
những giai đoạn căng thẳng về tài chính, việc nới lỏng các quy định giám sát an toàn
tài chính theo cơ chế động (dynamic) làm giảm bớt gánh nặng phải điều chỉnh giảm lãi
suất của CSTT, nhờ đó giảm được nguy cơ rủi ro đạo đức, bong bóng giá tài sản và
giúp cơ chế truyền tải CSTT vận hành êm dịu hơn. Hoặc khi các cú sốc tài chính xảy
ra, sự điều chỉnh các công cụ giám sát an toàn vĩ mô giúp công chúng tin hơn vào cam
kết của NHTW đối với mục tiêu ổn định giá cả, lạm phát, tạo điều kiện thuận lợi cho
sự vận hành của cơ chế truyền tải CSTT.
Việc phối hợp chính sách cũng cần tính đến việc xây dựng cơ chế trao đổi
thông tin, phối hợp phân tích giữa các đơn vị liên quan đến hoạch định và thực thi các
chính sách này. Cơ chế phối hợp này cần tránh để không ảnh hưởng đến uy tín của mỗi
chính sách trong việc đạt được mục tiêu cuối cùng của mình cũng như không ảnh
hưởng đến tính độc lập của CSTT. Cơ chế phối hợp hai chính sách cũng cần xem xét
đến vấn đề tổ chức thể chế, theo đó chức năng giám sát an toàn vĩ mô có nên là một
nhiệm vụ của NHTW hay thuộc về một cơ quan độc lập mà NHTW chỉ đóng vai trò
phối hợp? Việc xem xét này là hết sức quan trọng đảm bảo cho sự phối hợp hiệu quả
giữa CSTT và chính sách giám sát an toàn vĩ mô trong quá trình đảm bảo ổn định vĩ
mô tài chính tiền tệ. Hiện tại, Việt Nam có 3 đơn vị cùng có chức năng giám sát ổn
định tài chính gồm: NHNN chịu trách nhiệm về ổn định hệ thống tổ chức tín dụng, Bộ
Tài chính chịu trách nhiệm về các công ty tài chính khác như bảo hiểm, công ty chứng
khoán, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia có chức năng tham mưu, tư vấn cho Thủ
tướng Chính phủ trong việc điều phối hoạt động giám sát thị trường tài chính quốc gia
(ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm), giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện giám sát
chung thị trường tài chính quốc gia. Tuy nhiên, việc phối hợp trao đổi thông tin, đề
xuất chính sách nhằm ổn định hệ thống tài chính nói chung giữa 3 cơ quan này chưa
187
thực sự chặt chẽ. Việc thống nhất chung một đầu mối giám sát an toàn hệ thống tài
chính là cần thiết để trên cơ sở đó có sự phối hợp đồng bộ về các biện pháp đảm bảo
an toàn thị trường tài chính và phối hợp hiệu quả với điều hành chính sách tiền tệ.
3.3.4. Phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp
thành kênh cấp vốn hiệu quả cho nền kinh tế
Chính phủ cần có những giải pháp nhằm phát triển thị trường trái phiếu, bao
gồm cả thị trường trái phiếu Chính phủ và doanh nghiệp, nhằm tạo kênh huy động vốn
chủ động cho ngân sách và doanh nghiệp thay vì dồn áp lực cấp vốn lên kênh tín dụng.
Hiện nay, cả thị trường cổ phiếu và trái phiếu (đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp) của
Việt Nam vẫn chưa phát triển mạnh. Thực trạng này được thể hiện qua nhiều vấn đề
như quy mô nhỏ, hàng hóa không đa dạng, thiếu hụt hàng hóa có chất lượng, thiếu các
thành viên tạo lập thị trường chuyên nghiệp, mức độ minh bạch thông tin và bảo vệ
nhà đầu tư thấp…Thị trường trái phiếu phát triển mang lại nhiều ích lợi về cả mặt vĩ
mô lẫn vi mô đối với công tác điều hành CSTT.
Thứ nhất, đối với thị trường trái phiếu Chính phủ, thị trường trái phiếu tạo ra
một kênh huy động vốn tài trợ cho bội chi ngân sách thay vì tạo áp lực tài trợ lên
CSTT - tín dụng như đã đề cập ở trên. Điều này góp phần tạo sự độc lập cho công tác
điều hành CSTT của NHNN nhờ hạn chế được thực trạng tài trợ gián tiếp cho các
khoản bội chi ngân sách thông qua hoạt động chiết khấu, tái cấp vốn. Việc chủ động
kiểm soát lượng cung ứng tiền tệ sẽ làm giảm thiểu nguy cơ dẫn tới lạm phát. Hơn
nữa, thị trường trái phiếu phát triển về cả quy mô lẫn mức độ hiệu quả thì chi phí lãi
của trái phiếu sẽ giảm xuống, góp phần làm giảm mặt bằng lãi suất chung của nền kinh
tế, hạn chế áp lực lên mặt bằng lãi suất tín dụng.
Ngoài ra, thị trường trái phiếu còn có tác dụng cải thiện mức độ hiệu quả truyền
tải CSTT và sử dụng các công cụ CSTT, đặc biệt là các công cụ gián tiếp. NHNN và
các NHTM sẽ dễ dàng sử dụng trái phiếu Chính phủ cho các hợp đồng mua lại, và
thực hiện các nghiệp vụ mua bán để can thiệp trên thị trường mở. Việc tăng cường
hiệu quả của thị trường trái phiếu Chính phủ sẽ giúp NHNN tác động được vào các
mức lãi suất ngắn hạn trên đường cong lãi suất, từ đó ảnh hưởng tới các mức lãi suất
trung dài hạn trên thị trường dễ dàng hơn. Ngoài ra, đường cong lãi suất của trái phiếu
Chính phủ được hình thành trên thị trường trái phiếu phát triển là nền tảng để các sản
phẩm tài chính hiện đại phát triển, góp phần vào việc tăng cường khả năng quản trị rủi
ro của các trung gian tài chính và cung cấp thông tin cho công tác điều hành CSTT.
Để thực hiện mục tiêu này, Chính phủ cần tập trung vào các biện pháp chủ yếu
sau: (i) ban hành các chính sách khuyến khích các nhà đầu tư không phải là các
NHTM tham gia vào thị trường trái phiếu Chính phủ, đặc biệt là trên thị trường thứ
188
cấp; (ii) phát triển và đa dạng hóa trái phiếu về kỳ hạn, lãi suất, phương thức trả lãi…
phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư nhưng bảo đảm tính chuẩn hóa của các trái phiếu;
(iii) minh bạch các số liệu về tài khóa và nợ công để bảo đảm nguồn thông tin cho các
nhà đầu tư tham gia vào thị trường… Hiện nay, nhà đầu tư chủ yếu vào trái phiếu
Chính phủ là các NHTM. Do vậy để đảm bảo tính bền vững của thị trường và tạo sự
độc lập cho CSTT, cần tăng cường việc gia tăng cơ sở nhà đầu tư thông qua việc
khuyến khích thành lập các quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ đầu tư; đa dạng thêm sản phẩm
thu hút các nhà đầu tư khác …
Thứ hai, đối với thị trường trái phiếu doanh nghiêp sẽ giúp hệ thống doanh
nghiệp chủ động huy động vốn từ kênh thị trường chứng khoán, giảm sự phụ thuộc
vào tín dụng ngân hàng. Trong khi đó, phát hành trái phiếu có thể giúp doanh nghiệp
huy động được nguồn vốn dài hạn với giá trị lớn, và có cấu trúc linh hoạt, đáp ứng
được các cấu trúc tài chính khác nhau của doanh nghiệp.
Đối với hệ thống NHTM, phát triển thị trường chứng khoán làm tăng mức độ
ổn định tài chính và phát triển hệ thống trung gian tài chính thông qua việc gia tăng
mức độ cạnh tranh và phát triển cơ sở hạ tầng cho các sản phẩm, dịch vụ tài chính. Thị
trường trái phiếu phát triển sẽ làm giảm gánh nặng tài trợ vốn trung dài hạn cho hệ
thống doanh nghiệp nhưng đồng thời là buộc các trung gian tài chính phát triển các sản
phẩm hay các hình thức tài trợ vốn khác.
Do trong cơ cấu nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM hiện nay, nguồn vốn
ngắn hạn chiếm tỷ trọng tương đối thấp nhưng lại phải đáp ứng chủ yếu nguồn vốn
trung dài hạn cho nền kinh tế, gây ra rủi ro thanh khoản cho hệ thống. Rủi ro thanh
khoản do bất cân xứng về kỳ hạn giữa huy động và cho vay của hệ thống ngân hàng
cũng giảm xuống nhờ sự phát triển của thị trường trái phiếu.
Tại Việt Nam, hệ thống các thủ tục pháp lý liên quan đến việc phát hành trái
phiếu chưa được hoàn thiện, còn nhiều thủ tục rườm rà, rắc rối gây khó khăn cho
doanh nghiệp. Mặc dù cơ sở pháp lý cho hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp
đang dựa trên Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp
nhưng các thông tư hướng dẫn thực hiện vẫn khá hạn chế (mới chỉ có Thông tư số
211/2012/TT-BTC về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định só
90/2011/NĐ-CP và Thông tư số 17/2013/TT-NHNN về việc hướng dẫn về việc quản
lý ngoại hối đối với việc phát hành trái phiếu quốc tế của doanh nghiệp không được
Chính phủ bảo lãnh) nên gây ra những khó khăn, hạn chế cho công tác phát hành trái
phiếu. Nhận thức của các nhà đầu tư cá nhân về các sản phẩm trái phiếu của doanh
nghiệp còn nhiều hạn chế nên chỉ tập trung vào các kênh đầu tư phổ biến như tiền gửi
tiết kiệm, vàng, bất động sản, cổ phiếu… Hệ thống các nhà đầu tư tổ chức, hệ thống
189
nhà tạo lập thị trường chưa được thành lập và đi vào hoạt động chuyên nghiệp khiến
thị trường không hấp dẫn được nhà đầu tư. Để giải quyết được tình trạng này, cần thực
hiện đồng bộ các biện pháp sau:
Thứ nhất, cần đơn giản các thủ tục, thuế, lệ phí phát hành, có chính sách ưu đãi
về thuế, phí, lệ phí phát hành trái phiếu cho doanh nghiệp. Các thủ tục phát hành trái
phiếu nên đơn giản hóa, không cần xin phép qua nhiều cấp nhằm giảm thời gian các
thủ tục, giúp doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận với nguồn vốn.
Thứ hai, cần tiến hành xây dựng và phát triển mạnh các kênh thông tin về thị
trường trái phiếu để cung cấp thông tin cần thiết cho nhà đầu tư như thông tin về trái
phiếu, doanh nghiệp, chính sách, chiến lược phát triển, khung pháp lý có liên quan để
nhà đầu tư có thể nắm bắt kịp thời. Minh bạch thông tin đóng vai trò quan trọng với sự
phát triển của thị trường trong khi nhận thức về trái phiếu doanh nghiệp của doanh
nghiệp và công chúng được nâng cao sẽ góp phần tạo nên sự phát triển của thị trường
trái phiếu.
Thứ ba, Chính phủ phải xây dựng được một hệ thống nhà tạo lập thị trường có
hiệu quả. Hệ thống những nhà tạo lập thị trường sẽ là chất xúc tác, tăng tính thanh
khoản cho trái phiếu Chính phủ, và qua đó thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp
phát triển. Các nhà tạo lập thị trường trái phiếu chủ yếu là các NHTM hoặc các công ty
môi giới chứng khoán.
Thứ tư, khuyến khích sự phát triển hệ thống định mức xếp hạng tín nhiệm
chuyên nghiệp có tính độc lập thông qua việc Chính phủ ban hành các văn bản pháp lý
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm thành lập và đi vào hoạt động
dưới sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan quản lý Nhà nước.
Thứ năm, khuyến khích các tổ chức tạo lập thị trường nghiên cứu phát triển các
sản phẩm trái phiếu với các đặc điểm phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của Việt
Nam nhằm tăng cung và đa dạng hóa các sản phẩm trên thị trường.
Về mặt vĩ mô, thị trường trái phiếu Chính phủ còn có tác dụng cải thiện mức độ
hiệu quả truyền tải CSTT và sử dụng các công cụ CSTT, đặc biệt là các công cụ gián
tiếp. NHNN và các NHTM sẽ dễ dàng sử dụng trái phiếu Chính phủ cho các hợp đồng
mua lại, và thực hiện các nghiệp vụ mua bán để can thiệp trên thị trường mở. Ngoài ra,
thị trường trái phiếu Chính phủ phát triển về cả quy mô lẫn mức độ hiệu quả thì chi phí
lãi của trái phiếu sẽ giảm xuống, góp phần làm giảm mặt bằng lãi suất chung của nền
kinh tế thay vì tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất như trong thời gian qua.
Về mặt vi mô, phát triển thị trường chứng khoán làm tăng mức độ ổn định tài
chính và phát triển hệ thống trung gian tài chính thông qua việc gia tăng mức độ cạnh
tranh và phát triển cơ sở hạ tầng cho các sản phẩm, dịch vụ tài chính. Thị trường trái
190
phiếu phát triển sẽ làm giảm gánh nặng tài trợ vốn trung dài hạn cho hệ thống doanh
nghiệp nhưng đồng thời là buộc các trung gian tài chính phát triển các sản phẩm hay
các hình thức tài trợ vốn khác. Đường cong lãi suất của trái phiếu Chính phủ là nền
tảng để các sản phẩm tài chính hiện đại phát triển, góp phần vào việc tăng cường khả
năng quản trị rủi ro của các trung gian tài chính và cung cấp thông tin cho công tác
điều hành CSTT của NHNN.
191
TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Chương 3 của luận án trình bày định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân
hàng trong thời gian tới để làm cơ sở đưa ra những giải pháp và kiến nghị tăng cường
khả năng truyền tải CSTT qua kênh tín dụng của các NHTM. Đối với NHNN, luận án
đưa ra các giải pháp về định hướng tín dụng tăng trưởng có hiệu quả, bền vững vào
các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, bám sát vào mục tiêu tăng trưởng tín dụng trung và
dài hạn; hoàn thiện cơ chế hoạt động của VAMC; hạn chế các biện pháp hành chính
trong điều hành lãi suất với lộ trình tự do hóa lãi suất; và củng cố và chấn chỉnh kỷ
cương thị trường tiền tệ thông qua công tác thanh tra – giám sát ngân hàng. Đối với hệ
thống NHTM, cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng cân đối giữa nguồn ngắn hạn và trung
dài hạn, nâng cao vốn chủ sở hữu; đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu, nâng cao chất
lượng tín dụng; đa dạng hóa hoạt động kinh doanh ngân hàng là các giải pháp cần
được gấp rút triển khai. Các kiến nghị xoay quay việc tăng cường năng lực cho
NHNN, phát triển thị trường trái phiếu và tăng cường giám sát vi mô và vĩ mô hệ
thống NHTM.
192
KẾT LUẬN
Trong phạm vi khoảng 190 trang nghiên cứu và các phụ lục, luận án đã giải
quyết được bốn mục tiêu cơ bản đặt ra.
Thứ nhất, chương 1 đã là làm rõ cơ sở lý luận về truyền tải CSTT qua kênh tín
dụng, từ cơ sở hình thành tới các cấu phần của kênh tín dụng là kênh bảng cân đối tài
sản của người đi và và khả năng cấp tín dụng của ngân hàng. Kênh tín dụng đại diện
cho một nhóm các nhân tố có tác dụng khuếch đại và lan truyền tác động của CSTT tới
các biến số kinh tế vĩ mô thông qua việc ảnh hưởng tới phần thưởng nguồn vốn bên
ngoài. Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình truyền tải phản ánh năng lực hoạt động
kinh doanh và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp và ngân hàng, cho thấy có sự khác
biệt trong việc truyền CSTT tới các chủ thể kinh tế với các đặc điểm khác nhau. Thông
qua các mô hình đình lượng, các nghiên cứu nước ngoài đã chứng tỏ kênh tín dụng
phát huy tác dụng khác nhau trong từng giai đoạn và chủ thể kinh tế khác nhau.
Thứ hai, điều hành CSTT của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 cho thấy những
giải pháp thắt chặt tiền tệ tín dụng vào năm 2011 và nửa đầu năm 2012 đã để lại những
hệ quả không tốt đối với hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Những
yếu kém của hệ thống NHTM và doanh nghiệp đã khiến cho những thay đổi trong
công tác điều hành CSTT bị khuếch đại theo hướng tiêu cực, làm suy kiệt tình hình tài
chính của doanh nghiệp cũng như năng lực hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Kết
quả khảo sát 201 doanh nghiệp niêm yết cho thấy tình hình thanh khoản, sinh lời và
khả năng chi trả lãi vay đã giảm đi đáng kể trong giai đoạn năm 2011, 2012, phản ánh
sự đi xuống trong khả năng hấp thụ vốn lẫn nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp. Tương
tự, phân tích 29 NHTM trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014 chỉ ra sự khó khăn
về thanh khoản, chất lượng tín dụng, năng lực tài chính… đã khuếch đại ảnh hưởng
của CSTT thắt chặt lên hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Nỗ lực của NHNN và hệ
thống NHTM nhằm khắc phục những yếu kém trên và hướng tới thúc đẩy kinh tế phục
hồi thông qua kênh tín dụng ngân hàng trở nên khó khăn hơn.
Thứ ba, mô hình SVAR cho thấy tồn tại kênh tín dụng tại Việt Nam có tác dụng
khuếch đại mạnh tác động của điều hành CSTT đến nền kinh tế. Theo đó, phản ứng
của sản lượng và giá cả đều tăng vọt khi thay đổi về cung tiền và lãi suất được truyền
dẫn qua kênh tín dụng so với trường hợp không được truyền dẫn qua kênh tín dụng.
Kênh tín dụng cũng góp phần làm tăng mức độ giải thích của các biến số tiền tệ trong
mô hình đối với sự biến động của sản lượng và giá cả.
Thứ tư, trên cơ sở định hướng và giải pháp điều hành CSTT và hoạt động
NHTM, đề tài đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả vai trò
193
truyền tải CSTT tới nền kinh tế qua kênh tín dụng như: cơ cấu lại bảng cân đối tài sản
của hệ thống NHTM và doanh nghiệp, xử lý nợ xấu tại hệ thống NHTM, đa dạng hóa
hoạt động kinh doanh ngân hàng, xây dựng cơ cấu nguồn vốn hợp lý; tăng cường hiệu
quả công tác thanh tra – giám sát ngân hàng, phát triển thị trường trái phiếu, và cải
thiện khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp Việt Nam...
194
TÀI LIỆU THAM KHẢO
a/ Tài liệu tiếng Việt
1. Chu Khánh Lân, 2012, Thực trạng truyền tải chính sách tiefn tệ qua kênh
tín dụng tại Việt Nam trong năm 2012, Tạp chí Khoa học và đào tạo Ngân hàng, tháng
12/2012.
2. Chu Khánh Lân, 2013, Nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn chính sách
tiền tệ qua kênh tín dụng tại Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, tháng 3/2013.
3. Chu Khánh Lân, 2013, Nhìn lại công tác điều hành chính sách tỷ giá nhằm
giảm tình trạng đô la hóa của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2011 - 2013, Kỷ yếu Hội
thảo Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô
giai đoạn 2014 - 2105.
4. Hà Thị Sáu, 2014, Nghiên cứu cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua
kênh chấp nhận rủi ro của các tổ chức tín dụng: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý chính
sách cho Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Ngành.
5. Học viện ngân hàng, 2014, Bức tranh toàn cảnh ngành ngân hàng năm
2013, dự báo và một số khuyến nghị chính sách 2014.
6. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2012, Giải pháp tái cơ cấu hệ thống
tổ chức tín dụng Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và dự báo, tháng 10/2012
7. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2013, Khung chính sách tiền tệ của
Việt Nam năm 2012 và những gợi ý chính sách, Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân
hàng, tháng 2/2013.
8. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.
9. Nguyễn Đức Trung, 2013, Giải pháp quản lý thị trường vàng tại Việt Nam,
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Ngành 2012.
10. Nguyễn Phi Lân, 2010, Cơ chế truyền dẫn tiền tệ dưới góc độ phân tích
định lượng, Tạp chí Ngân hàng, tháng 9/2010.
11. Nguyễn Phúc Cảnh, Nguyễn Quốc Anh và Nguyễn Hồng Quân, 2013, "Đặc
điểm ngân hàng tác động đến sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng
ngân hàng tại VN", Tạp chí Phát triển Kinh tế (276), 75-91.
12. Nguyễn Thị Kim Thanh, 2005, Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện
mục tiêu, cơ chế truyền tải của chính sách tiên tệ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
13. Nguyễn Thị Thúy Vinh, 2015, Nghiên cứu vai trò của các kênh trong truyền
dẫn chính sách tiền tệ tới tăng trưởng và lạm phát ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và phát
triển, Số 214, tháng 4/2015.
14. Phạm Thị Hoàng Anh, 2013, Đánh giá tính hiệu lực của cơ chế truyền tải
195
chính sách tiền tệ qua kênh giá tài sản tại Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học Học
viện Ngân hàng.
15. Tô Kim Ngọc, 2011, Thực trạng kinh tế vĩ mô Việt Nam và các chính sách
giai đoạn 2008 - 2011, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Chính sách tiền tệ phối hợp với các
chính sách kinh tế vĩ mô khác trong điều kiện kinh tế thế giới biến động.
16. Tô Kim Ngọc, 2012. Giáo trình Tiền Tệ - Ngân Hàng, tái bản lần thứ 4,
NXB Dân Trí.
17. Tô Kim Ngọc, 2013, Sử dụng công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2011 đến nay, Kỷ yếu tọa đàm khoa học
Nhìn lại điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước 2011 - 2013: Những kết quả
và thách thức.
18. Tô Ngọc Hưng, 2013, Tăng trưởng tín dụng năm 2012 và một số khuyến
nghị chính sách cho năm 2013, Tạp chí Ngân hàng, tháng 2/2013.
19. Tô Ngọc Hưng, 2013, Truyền dẫn chính sách tiền tệ tới tiêu dùng thông qua
giá bất động sản - Thực trạng và một số khuyến nghị chính sách, Đề tài nghiên cứu
khoa học Học viện Ngân hàng.
20. Tô Ngọc Hưng, 2013, Xử lý nợ xấu trong quá trình tái cấu trúc các ngân
hàng thương mại Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Ngành 2012.
21. Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn, 2013, Cơ chế truyền dẫn chính sách
tiền tệ ở Việt Nam tiếp cận theo mô hình SVAR, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, tháng
5-6/2013.
22. Trần Thị Lộc, 2002, Giải pháp nâng cao hiệu quả kênh truyền dẫn các tác
động của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế, Luận văn Thạc sỹ.
b/ Tài liệu tiếng Anh
23. Ackermann, C., Mc Enally, R. and Ravenscraft, D. (1999). The
Performance of Hedge Funds: Risk, Return, and Incentives. The Journal of Finance.
Vol. 54, No. 3, pp. 833-874.
24. Aleem, A. (2010). Transmission mechanism of monetary policy in India.
Journal of Asian Economics. Vol. 21, Issue 2, pp. 186-197.
25. Ananchotikul, N. and Seneviratne, D. (2015). Monetary Policy
Transmission in Emerging Asia : The Role of Banks and the Effects of Financial
Globalization. IMF Working paper No. 15/207.
26. Angeloni, I., Kashyap, A., and Mojon, B. (ed.). (2003), Monetary policy
transmission in the Euro area, Cambridge University Press.
27. Angeloni, I. and Ehrmann, M. (2003). Monetary policy transmission in the
196
Euro area: any changes after EMU? ECB Working paper No. 240.
28. Adrian, T. and Shin, H. S. (2009). The shadow banking system:
implications for financial regulation, Federal Reserve Bank of New York Staff reports.
29. Agha, A. I., Ahmed, N., Mubarik, and Y. A., Shah, H. (2005). Transmission
mechanism of monetary policy in Pakistan. SBP-Research Bulletin, State Bank of
Pakistan 1, pp. 1-23.
30. Ahmed, M. (2006). Effectiveness of interest rate channel in price and
output determination in the post financial liberalization era of developing economy:
evidence from India. Applied Econometrics and International Development. Vol. 6.
31. Aleem, A. (2010). Transmission Mechanism of Monetary Policy in India.
Journal of Asian Economics. Vol. 21, pp. 186–197.
32. Altunbas, Y., Gambacorta, L. and Marqués-Ibañez, D. (2010). Does
Monetary Policy Affect Bank Risk-Taking?. ECB Working Paper 1166.
33. Ando, A. and Modigliani, F. 1963. The ‘Life Cycle’ hypothesis of Saving:
Aggregate Implications and Tests. American Economic Review. Vol. 53 (March 1963),
pp. 55–84.
34. Angeloni, I., Buttiglione, L., Ferri, G., and Gaiotti, E. (1995). The credit
channel of monetary policy across heterogeneous banks: The case of Italy. Banca
d'Italia, Temi di discussione No. 256 September 1995.
35. Bernanke, B. and Blinder, A. (1988). Credit, Money, and Aggregate
Demand. American Economic Review. Vol. 78, pp. 435-439.
36. Bernanke, B. and Gertler, M. (1995). Inside the black box: The credit
channel of monetary policy transmission. Journal of Economic Perspective. Vol. 9, pp.
27-48.
37. Bernanke, B., Gertler, M. and Gilchrist, S. (1998). The financial accelerator
and the flight to quality. The Review of Economics and Statistics. Vol. 78, pp.1-15.
38. Bernanke, B.S. and Blinder, A. S. (1992). The federal fundsrate and the
channels of monetary transmission. American Economic Review. Vol. 82 , Issue 4, pp.
901-21.
39. Blinder, A. S. and Maccini, L. J. (1991). Taking stock: A critical
assessment of recent research on inventories. Journal of Economic Perspectives. Vol.
5, pp. 73-96.
40. Boissay, F. (2011). Global imbalances and financial fragility. Working
paper.
41. Boldin, M. (1994). Econometric analysis of the recent downturn in housing:
Was it a credit crunch?. Federal Reserve Bank of New York.
197
42. Bollerslev, T., Chou, R.Y., and Kroner, K, F. (1992). ARCH Modeling
in Finance: A Review of the Theory and Empirical Evidence. Journal of
Econometrics. Vol. 52, pp. 5-59.
43. Borio C., Furfine C., and Lowe P. (2001). Procyclicality of the Financial
System and Financial Stability: Issues and Policy Options. Bank for International
Settlements Papers. No. 1.
44. Borio, C. E, and Zhu, V.H. (2008). Capital Regulation, Risk taking, and
Monetary policy: A missing link in the transmission machanisim?. BIS Working Paper 268.
45. Boughrara, A. (2008). Monetary transmission mechanisms in Morocco and
Tunisia.Paper presented at the Workshop on Monetary policy and inflation targeting.
46. Brischetto, A. and Voss, G. (1999). A structural vector autoregression model
of monetary policy in Australia. Reserve Bank of Australia Discussion Paper No 1999-11
47. Brunnermeier, M. K. and Nagel, S. (2004). Hedge funds and technology
bubble. The Journal of Finance. Vol. 59, No. 5, pp. 2013 – 2040.
48. Campbell, J. Y. and Cochrane, J. (1999). By Force of Habit: A
Consumption-Based Explanation of Aggregate Stock Market Behavior. Journal of
Political Economy.
49. Calomiris, C. W., Himmelberg, C.P., and Wachtel, P. (1995).
Commercial paper, corporate finance, and the business cycle: A microeconomic
perspective. CRCS on Public Policy. Vol. 42, pp. 203-250.
50. Chirinko, R. (1993). Business fixed investment spending: A critical survey
of modeling strategies, empirical results, and policy implications. Journal of Economic
Literature. Vol. 31, pp. 1875-1911.
51. Christiano, L. J., Eichenbaum, M. and Evans, C. L. (1998). Monetary policy
shocks: What have we learned and to what end?. NBER working papers.
52. Ciccarelli. M., Maddaloni. A., and Peydró. J. (2010). Trusting the bankers:
a new look at the credit channel off monetary policy. ECB working papers. No
1228/July 2010.
53. Collin-Dufresene, P., Goldstein, R. S. and Martin, J. S. (2001). The
determinants of credit spread changes. Journal of Finance. Vol. 57, pp. 2177-2206.
54. de Haas, R and N van Horen. (2010). The crisis as a wake-up call: do banks
tighten screening and monitoring during a financial crisis?. DNB Working Paper. No
255.
55. Delis, M. D., Hasan, I., and Mylonidis, N. (2011). The risk-taking channel
of monetary policy in the USA: Evidence from micro-level data. Social science
research network. available at http://ssrn.com/abstract=2013787
198
56. DeYoung R. and Roland K. (2001). Product mix and earnings volatility at
commercial banks: Evidence from a degree of total leverage model. Journal of
Financial Intermediation. Vol. 10, pp. 54-84.
57. Disyatat, P. and Vongsinsirikul, P. (2003). Monetary policy and the
transmission mechanism in Thailand. Journal of Asian Economics. Vol. 14, pp. 389-418.
58. Dungey, M. and Pagan, A., (2000). A structural VAR model of the
Australian economy. Economic Record. Vol. 76(235), pp 321–342.
59. Ghazanchyan, M. (2014). Unraveling the Monetary Policy Transmission
Mechanism in Sri Lanka. IMF Working Paper No. 14/190.
60. Eichenbaum, M., Comment, in N.G. Mankiw (ed.) Monetary Policy.
Cambridge, MA: NBER and Cambridge Univ. Press, pp. 256-261.
61. Eid, S. (2011). Monetary policy, risk-taking channel and income structure:
an empirical assessment of the French banking system. HAL Post-Print.
62. Elbourne, A., and de Haan, J. (2006). Financial structure and monetary
policy transmission mechanism in transition countries. Journal of Comparative
Economics. Vol. 34 (1), pp 1-23.
63. Elliehausen, G. E. and Wolken, J. D. (1990). Banking marketsand the use of
financial services by small and medium-sized businesses. Board of Governors of the
Federal Reserve System, Staff studies No.160, 1990.
64. Federal Reserve Act, 1913, available at
https://www.federalreserve.gov/aboutthefed/fract.htm
65. Foglia, A., Piersante, F., and Santoro, R. (2010). The importance of the bank
balance sheet channel in the transmission of shocks to the real economy. Working paper.
66. Friedman, B. M. and Kuttner, K. N. (1993). Economic activity and the
short-term credit markets: An analysis of prices and quantities, BPEA. Vol. 2, pp. 193-
266.
67. Gambacorta, L. (2009). Monetary policy and the risk-taking channel. BIS
working paper. Available at http://www.bis.org/publ/qtrpdf/r_qt0912f.pdf
68. Gertler, M. and Gilchrist, S. (1993). The role of credit market
imperfections in the monetary transmission mechanism: Arguments and evidence.
Scandinavian Journal of Economics. Vol. 95, Issue. 1 pp. 43-64.
69. Gertler, M. and S. Gilchrist, S. (1993). Monetary policy, business cycles
and the behavior of small manufacturing firms. Quarterly Journal of Economics. Vol.
109, Iss. 2, pp. 309-400.
70. Gertler, M. and Hubbard, R. G. (1988). Financial Factors in Business
Fluctuations in Financial Market Volatility: Causes, Consequences, and Policy
199
(Kansas City: Federal Reserve Bank of Kansas City). Pp. 33-71.
71. Greenspan, A. (2005). Risk transfer and financial stability. Speech to the
Federal Reserve Bank of Chicago.
72. Havro, G. and Vale, B. (2011) .Bank lending channel during an exogenous
liquidity shock. Working paper.
73. Holmes, M. J. and Mengesha, L. G. (2013). Monetary policy and its
transmission mechanisms in Eritrea. Journal of Policy Modeling. Vol. 35, Iss. 5, pp.
766-780.
74. Hung, L.V. and Pfau. W. D. (2008). Var analysis of the monetary
tranmission mechanism in Vietnam. Vietnam Development forum Working Paper 081.
75. Hussain, K. (2009). Monetary Policy Channels of Pakistan and Their
Impact on Real GDP and Inflation. CID Graduate Student Working Paper Series No
40, Center for International Development at Harvard University.
76. Iacoviello, M. and Raoul, M. (2008). The Credit Channel of Monetary
Policy: Evidence from the Housing Market. Journal of Macroeconomics. Vol. 30, No.
1 (March), pp. 69-96.
77. IFC. (2010). Corporate Governance Scorecard for Vietnam 2010.
78. IFC. (2011). Corporate Governance Scorecard for Vietnam 2011.
79. IFC. (2012). Corporate Governance Scorecard for Vietnam 2012.
80. Uurikkala, T., Karas, A., and Solanko, L. (2009). The role of banks in
monetary policy transmission: Empirical evidence from Russia. BOFIT Discussion
paper.
81. Kohlscheen, E. and Miyajima, K. (2015). The transmission of monetary
policy in EMEs in a changing financial environment: a longitudinal analysis. BIS
working papers No. 495.
82. Kahn, G. A. (1991). Does more money mean more bank loans?. FRB
Kansas City Economic Review. Vol. 76 (4), pp. 21-31.
83. Kashap, A. K., Lamont, O. A. and Stein, J.C. (1994). Credit conditions and
the cyclical behavior of inventories. Quarterly Journal of Economics. Vol. 109 (3), pp.
565-592.
84. Kashyap, A. and Stein, J. C. (1993). Monetary policy and Bank lending.
NBER Working paper, No. 4317.
85. Kashyap, A. K. and Stein, J. C. (2000). What do a million observations on
banks say about the transmission of monetary policy?. American Economic Review.
Vol. 90 (3), pp. 407-428.
86. Kashyap, A. K. and Stein, J. C. (1995). The impact of monetary policy on
200
bank balance sheets. CRCS on Public Policy. Vol. 42, pp. 151-196.
87. Kashyap, A. K., Stein, J. C., and Wilcox, D. W. (1993). Monetary policy
and credit conditions: Evidence from the composition of external finance. American
Economic Review. Vol. 83 (1), pp. 78-98.
88. Kim, S. and Roubini, N. (2000). Exchange rate anomalies in the industrial
countries: a solution with a structural VAR approach. Journal of Monetary Economics.
Vol. 45(3), pp. 561–586.
89. King, S. (1986). Monetary transmission: through bank loans or bank
liabilities. Journal of Money, Banking and Credit. August
90. Kishan, R. P. and Opiela, T. P. (2000). Bank size, bank capital, and the
bank lending channel. Journal of Money, Credit, and Banking. Vol. 32 (1), pp. 121-
141.
91. Krugman, P. (2012). End this Depression now. W. W. Norton & Company.
1st Edition. Chapter 2.
92. Lang, W. and Nakamura, L. (1995). Flight to quality” in bank lending and
economic activity. Journal of Monetary Economics. Vol. 36, pp. 145 - 164.
93. Longstaff, F. A. and E. S. Schwartz. (1995). A simple approach to valuing
risky fixed and floating ratedebt. Journal of Finance. 789-819.
94. Matsuyama, K. (2007). Credit Traps and Credit Cycles. American
Economic Review. Vol. 97(1), pp. 503-16.
95. Mishkin, F. S. (2010). The economics of money, banking and financial
markets, 9th. Addison-Wesley edition.
96. Morsink, J. and Bayoumi, T. (2001). A peek inside the black box: The
monetary policy transmission mechanism in Japan. IMF Staff paper.
97. Natal, Jean-Marc. (2002). Analyse empirique de la politique monétaire à
l’aide de modèles (B)(S)VAR: le cas de la Suisse. Thesis, University of Geneva.
98. Natal, Jean-Marc. (2003). The credit channel in Switzerland: empirical
evidence using a (B)SVAR. Swiss National Bank, unpublished working paper.
99. Ngalawa, H. and Viegi, N. (2009). Dynamic effects of monetary policy
shocks in Malawi. Paper presented at the 14th Annual Conference of the African
Econometric Society.
100. Oliner, S. D. and G. D. Rudebusch, G. D. (1993). Is there a bank credit
channel for monetary policy? Federal Reserve Board Finance and Economics
Discussion Series No. 93-8 March 1993.
101. Pagan, A. R. and Schwert, G. W. (1990). Alternative models for
conditional stock volatility. Journal of Econometrics. Vol 45 (1990), pp. 267-290.
201
102. Peek, J. and Rosengren, E. S. (1995). The capital crunch: Neither a
borrower nor a lender be. Journal of Money, Credit, and Banking. Vol. 27 (3), pp. 625-
638.
103. Perera, A. and Wickramanyake, J. (2013). Monetary transmission in the
emerging country context: The case of Srilanka. Central bank of Srilanka
International Research conference 2013, pp. 1-80.
104. Perrez, J. and Bichsel, R. (2003). Bankenkapitalisierung und
Kreditentwicklung: Eine empirische Untersuchung mit einem Panel-Ansatz. Swiss
National Bank, unpublished working paper.
105. Post, M. A. (1992). The evolution of the U.S. commercial paper market
since 1980. Federal Reserve Bulletin. Vol. 78 (12), pp. 879-891.
106. Rajan, R. (2005). Has Financial Development Made the World riskier?.
NBER Working Paper, Article ID: 11728
107. Ramaswamy, R. and Sloek, T. (1997). The real effects of monetary
policy in the European Union: What are the differences?. IMF Staff Papers.
108. Ramey, V. (1993). How important is the credit channel in the
transmission of monetary policy?. Carnegie-Rochester Conference Series on Public
policy. Vol. 39, pp. 1-45.
109. Romer, C. D. and Romer, D. H. (1990). New evidence on the monetary
transmission mechanism. BPEA. Vol. 1, pp. 149-213.
110. Romer, C. D. and Romer, D. H. (1993). Credit channels or credit
actions? An interpretation of the postwar transmission mechanism, in Changing
Capital Markets: Implications for Monetary Policy. FRB Kansas City. pp. 71-116.
111. Sacerdoti, E. (2005). Access to bank credit in Sub-Saharan Africa: Key
issues and Reform strategies. IMF working paper 05/166.
112. Shleifer, A. and Vishny, R. W. (1997). A Survey of Corporate
Governance. Journal of Finance. Vol. 52 (2): 737-783.
113. Steudler, O. and Zurlinden, M. (1998). Monetary policy, aggregate
demand, and the lending behaviour of bank groups in Switzerland. In Topics in
monetary policy modelling, BIS Conference Papers Vol. 6, pp. 279-293.
114. Stein, J. C. (1998). An adverse selection model of bank asset and
liability management with implications for the transmission of monetary policy. RAND
Journal of Economics. Vol. 29 (3), pp. 466-486.
115. Stiglitz, J. E. and Greenwald, B. (2003). Towards a new paradigm in
monetar economics. Raffaele Mattioli Lectures.
116. Stiglitz, J. E. and Weiss, A. (1981). Credit rationing in markets with
202
imperfect information. American Economic Review. Vol. 71 (3), pp. 393-410
117. Suzuki, T. (2004). Is the lending channel of monetary policy dominant in
Australia. Economic Record. Vol. 80(249), pp. 145–156.
118. Tang, H. C. (2006). The Relative Importance of Monetary Policy
Transmission Channels in Malaysia. CAMA Working Paper Series.
119. Taylor, J. B. (1995). The Monetary Transmission Mechanism: An
Empirical Framework. Journal of Economic Perspectives, American Economic
Association. Vol. 9(4), pages 11-26, Fall.
120. Taylor, J. B. (2009). The financial crisis and the policy responses: an
empirical analysis of what went wrong. NBER working paper series. No. 14631.
121. Tobin, J. (1969). A General Equilibrium Approach To Monetary
Theory. Journal of Money, Credit and Banking. Vol. 1 (1): 15–29
122. Camen, U. (2006). Monetary policy in Vietnam: the case of a transition
country. Bank for International Settlements Papers. No 31 “Monetary policy in Asia:
approaches and implementation”.
123. Walsh, C. E. and Wilcox, J. A. (1995). Bank credit and economic
activity, in Peek, E.S. Rosengren (eds.) Is Bank Lending Important for the
Transmission of Monetary Policy? FRB Boston Conference Series. No.39, pp. 83-112.
124. Wesche, K. (2000). Is there a Credit Channel in Austria? The Impact of
Monetary Policy on Firm’s Investment Decisions. Working paper 41, Oesterreichische
Nationalbank.
125. Westerlund, J. (2003). A Panel Data Test of the Bank Lending Channel
Sweden." Available at: in
http://www.nek.lu.se/publications/workpap/Papers/WP03_16.pdf
126. Zaderey, N. (2003). Monetary Transmission in Ukraine: Is There a
Broad Credit Channel?. National university of Kyiv-Mohyla Academy.
203
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Quy định trần lãi suất huy động của NHNN
Thông tư
Ngày hiệu lực
Kỳ hạn
Lãi suất
TT 02/2011/TT-NHNN
03/03/2011
Tất cả các kỳ hạn
14%/năm
TT 30/2011/TT-NHNN
01/10/2011 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng
6%/năm
Từ 1 tháng trở lên
14%/năm
TT 05/2012/TT-NHNN
13/03/2012 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng
5%/năm
Từ 1 tháng trở lên
13%/năm
TT 08/2012/TT-NHNN
11/04/2012 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng
4%/năm
Từ 1 tháng trở lên
12%/năm
TT 17/2012/TT-NHNN
28/05/2012 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng
3%/năm
Từ 1 tháng trở lên
11%/năm
TT 19/2012/TT-NHNN
11/06/2012 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng
2%/năm
Từ 1 tháng đến dưới 12 tháng
9%/năm
TT 32/2012/TT-NHNN
24/12/2012 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng
2%/năm
Từ 1 tháng đến dưới 12 tháng
8%/năm
TT 08/2013/TT-NHNN
26/03/2013 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng
2%/năm
Từ 1 tháng đến dưới 12 tháng
7,5%/năm
TT 15/2012/TT-NHNN
28/06/2013 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng
1,2%/năm
Từ 1 tháng đến dưới 6 tháng
7%/năm
18/03/2014 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng
1%/năm
Từ 1 tháng đến dưới 6 tháng
6%/năm
QĐ 2173/QĐ-NHNN
29/10/2014 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng
1%/năm
Từ 1 tháng đến dưới 6 tháng
5,5%/năm
QĐ 498, /QĐ-NHNN
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
204
Phụ lục 2: Các văn bản quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa của NHNN
Ngày ban
Lãi suất
Thông tư
Đối tượng cho vay
hành
%/năm
TT 14/2012
Nông nghiệp nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh
04/05/2012
15%
/TT-NHNN
nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ
TT 33/2012
Nông nghiệp nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh
21/12/2012
12%
/TT-NHNN
nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao
TT 10/2013
10/05/2013
10%
/TT-NHNN
Nông nghiệp nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao
TT 16/2013
27/06/2013
9%
/TT-NHNN
Nông nghiệp nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao
QĐ 499/
17/03/2014
8%
QĐ-NHNN
Nông nghiệp nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao
QĐ/ 2713/
29/10/2014
7%
QĐ-NHNN
Nông nghiệp nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
205
Phụ lục 3: Thống kê mô tả các biến trong mô hình VAR
COM FFR GDP
CPI MSL
LEN CRED
EXC
SHR
127
1.76
1.2E+14
1.6E+15 11.37 1.5E+15 17,489 161.17
143
Mean
128
1.03
1.1E+14
1.3E+15 10.88 1.1E+15 16,114 158.23
122
Median
216
6.40
2.1E+14
5.0E+15 20.10 3.9E+15 21,246 410.57
242
Maximum
49
0.07
5.8E+13
2.0E+14
1.6E+14 14,514
54.11
79
8.16
Minimum
50
1.92
3.7E+13
1.4E+15
1.2E+15
2,357
81.08
56
2.65
Std. Dev.
-0.02
0.88
0.52
0.49
0.82
0.54
0.59
1.22
1.41
Skewness
1.62
2.39
2.50
1.76
2.53
1.80
1.66
4.67
4.55
Kurtosis
4.54
8.27
3.18
5.97
6.99
24.49
6.20
7.55
20.63
Jarque-Bera
0.10
0.02
0.20
0.05
0.03
0.00
0.05
0.02
0.00
Probability
57
57
57
57
57
57
57
57
57
Observations
206
Phụ lục 4: Kiểm định tính dừng các biến trong mô hình
Level
***
Intercept
1.454893
1st difference -5.536218
***
Trend and intercept
-2.050569
-5.608909
COM
***
None
0.751844
-5.522069
Intercept
-2.208353
**
Trend and intercept
-3.745182
FFR
None
-1.292478
***
Intercept
-3.343517
GDP
***
Trend and intercept
-3.325470
(gap)
***
None
-3.396564
***
Intercept
0.103105
-4.237683
***
Trend and intercept
-2.182095
-4.126338
CPI
**
None
3.179947
-2.534668
**
Intercept
-3.155255
*
Trend and intercept
-3.321664
INT
None
-0.444950
***
Intercept
-1.902042
-4.054715
***
Trend and intercept
0.291485
-4.587574
CRE
None
3.484833
-0.691563
***
Intercept
-0.068902
-7..958894
***
Trend and intercept
-1.400004
-7.900881
EXC
***
None
3.397230
-3.490033
***
Intercept
-4.201865
***
Trend and intercept
-4.252993
SHR
None
-0.967440
207
Phụ lục 5: Hàm phản ứng của độ lệch sản lượng và chỉ số giá tiêu dùng
trước các cú sốc
0.006
0.0020
0.0015
0.004
0.0010
0.002
Phản ứng của độ lệch sản lượng Phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng
0.0005
0.000
Cú
0.0000
-0.002
-0.0005
sốc
-0.004
-0.0010
lãi
-0.006
-0.0015
-0.008
-0.0020
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11 12
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11 12
0.008
0.004
0.006
0.003
0.004
suất
0.002
0.002
Cú
0.001
0.000
sốc
0.000
-0.002
-0.001
tỷ
-0.004
-0.006
-0.002
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11 12
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11 12
0.010
0.003
0.008
0.002
giá
0.006
0.004
0.001
Cú
0.002
0.000
0.000
sốc
-0.002
-0.001
giá
-0.004
-0.002
-0.006
cổ
-0.008
-0.003
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11 12
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11 12
0.010
0.003
0.008
0.002
0.006
phiếu
0.004
0.001
Cú
0.002
0.000
0.000
sốc
-0.002
-0.001
tín
-0.004
-0.006
-0.002
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11 12
1
2
3
4
5
6
7
8
9 10 11 12
dụng
Nguồn: Tính toán của tác giả
208
Phụ lục 6: Danh sách 201 doanh nghiệp niêm yết
STT Tên doanh nghiệp
Ngành
STT Tên doanh nghiệp
Ngành
1
TM - DV Bến Thành
Bán lẻ phức hợp
101
PV GAS D
Phân phối xăng dầu & khí đốt
2
Thương nghiệp Cà Mau
Bán lẻ phức hợp
102 Nhiên liệu Sài Gòn
Phân phối xăng dầu & khí đốt
3
XNK PETROLIMEX
Bán lẻ phức hợp
103 Đạm Phú Mỹ
SP hóa dầu, Nông dược & Hóa chất khác
4
CIDICO
Bất động sản
104 Nông Dược H.A.I
SP hóa dầu, Nông dược & Hóa chất khác
5
Phát triển Đô thị số 2
Bất động sản
105 Kỹ thuật NN Cần Thơ
SP hóa dầu, Nông dược & Hóa chất khác
6
Dic Corp
Bất động sản
106 Khử trùng Việt Nam
SP hóa dầu, Nông dược & Hóa chất khác
7
BĐS Phát Đạt
Bất động sản
107 Nhiệt điện Bà Rịa
Sản xuất & Phân phối Điện
8
Dầu khí IDICO
Bất động sản
108 Điện lực Khánh Hòa
Sản xuất & Phân phối Điện
9
Chiếu xạ An Phú
Công nghệ sinh học
109 Nhiệt điện Phả Lại
Sản xuất & Phân phối Điện
10
Đầu tư Cao su Quảng Nam
Công nghiệp phức hợp
110
Sông Ba JSC
Sản xuất & Phân phối Điện
11
In và Bao bì Mỹ Châu
Containers & Đóng gói
111
Thủy điện Cần Đơn
Sản xuất & Phân phối Điện
12
Bao bì Biên Hòa
Containers & Đóng gói
112
Thủy điện Thác Bà
Sản xuất & Phân phối Điện
13
Bao bì Dầu Thực vật
Containers & Đóng gói
113 Điện Tây Nguyên
Sản xuất & Phân phối Điện
14
Công viên nước Đầm Sen
Dịch vụ giải trí
114
Thủy điện Thác Mơ
Sản xuất & Phân phối Điện
15
Thuận Thảo Group
Dịch vụ giải trí
115 Đông Hải Bến Tre
Sản xuất giấy
16
Quốc tế Hoàng Gia
Dịch vụ giải trí
116
Tập đoàn Hapaco
Sản xuất giấy
17
Dịch vụ Máy tính
117 VIỄN ĐÔNG
Tập đoàn CMC
Sản xuất giấy
18
Vận tải Hà Tiên
Dịch vụ vận tải
118 Ô tô Hàng Xanh
Sản xuất ô tô
19
Hàng hải Hà Nội
Dịch vụ vận tải
119 Ô tô Trường Long
Sản xuất ô tô
20
Tan Cang Logistics
Dịch vụ vận tải
120
SAVICO
Sản xuất ô tô
21
VinaLink
Dịch vụ vận tải
121 Ô tô TMT
Sản xuất ô tô
22
Ánh Dương Việt Nam
Dịch vụ vận tải
122 Đại Thiên Lộc
Thép và sản phẩm thép
23
Giải khát Chương Dương
Đồ uống & giải khát
123 Kim khí TP.HCM
Thép và sản phẩm thép
209
STT Tên doanh nghiệp
Ngành
STT Tên doanh nghiệp
Ngành
Dược phẩm Cửu Long
Dược phẩm
124 Hòa Phát
Thép và sản phẩm thép
24
Dược Hậu Giang
Dược phẩm
Tập đoàn Hoa Sen
Thép và sản phẩm thép
125
25
Dược phẩm DOMESCO
Dược phẩm
Thép Nam Kim
Thép và sản phẩm thép
126
26
IMEXPHARM
Dược phẩm
Thép Pomina
Thép và sản phẩm thép
127
27
Dược phẩm OPC
Dược phẩm
SONHA CORP
Thép và sản phẩm thép
128
28
S.P.M CORP
Dược phẩm
Thép Tiến Lên
Thép và sản phẩm thép
129
29
Traphaco
Dược phẩm
Thép Việt Ý
Thép và sản phẩm thép
130
30
Y Dược phẩm Vimedimex
Dược phẩm
131 Đầu tư Cầu đường CII
Thiết bị điện
31
XNK Bình Thạnh
Hàng cá nhân
132 Bóng đèn Điện Quang
Thiết bị gia dụng
32
Bột giặt Lix
Hàng cá nhân
133 Gỗ Đức Thành
Thiết bị gia dụng
33
Vàng Phú Nhuận
Hàng cá nhân
134 Bóng đèn & Phích Rạng Đông Thiết bị gia dụng
34
Tập đoàn Thiên Long
Hàng cá nhân
135 Khoan Dầu khí PVDrilling
Thiết bị và Dịch vụ Dầu khí
35
136
Pin Ắc quy Miền Nam
Hàng điện & điện tử
Thiết bị Siêu Thanh
Thiết bị văn phòng
36
137
Điện tử TIE
Hàng điện & điện tử
Phát triển Công nghệ ĐT-VT
Thiết bị viễn thông
37
Dây & Cáp điện TAYA
Hàng điện & điện tử
138 Cáp viễn thông SAM
Thiết bị viễn thông
38
Viettronics Tân Bình
Hàng điện & điện tử
139
Thiết bị Y tế Việt Nhật
Thiết bị y tế
39
EVERON
Hàng May mặc
140 Bánh kẹo BIBICA
Thực phẩm
40
41 May Sài Gòn
Hàng May mặc
141 Đường Biên Hòa
Thực phẩm
42 MIRAE
Hàng May mặc
142 Bánh kẹo Kinh đô
Thực phẩm
Dệt may Thành Công
Hàng May mặc
143 Chế biến Hàng XK Long An
Thực phẩm
43
Sài Gòn Telecom
Internet
144 Mía đường Lam Sơn
Thực phẩm
44
DL Thành Thành Công
Khách sạn
145
Tập đoàn Masan
Thực phẩm
45
Khoáng sản Bắc Giang
Khai khoáng
146 Mía đường Tây Ninh
Thực phẩm
46
Khoáng sản Bình Định
Khai khoáng
147 Dầu Tường An
Thực phẩm
47
CN Khoáng sản Bình Thuận
Khai khoáng
148 XNK Thiên Nam
Thực phẩm
48
210
STT Tên doanh nghiệp
Ngành
STT Tên doanh nghiệp
Ngành
Khoáng sản Bình Dương
Khai khoáng
149 Vinacafé Biên Hòa
Thực phẩm
49
Đầu tư và Phát triển KSH
Khai khoáng
150
Lương thực Vĩnh Long
Thực phẩm
50
Na Rì Hamico
Khai khoáng
151 VINAMILK
Thực phẩm
51
TAI NGUYEN CORP
Khai khoáng
Thuốc lá Cát Lợi
Thuốc lá
152
52
Thuốc lá
153
ĐT và PT Cảng Đình Vũ
Kho bãi, hậu cần và bảo dưỡng
Tập đoàn Hoàng Long
53
154
Gemadept
Kho bãi, hậu cần và bảo dưỡng
Tập đoàn PAN
Tư vấn & Hỗ trợ KD
54
155
Kho Vận Miền Nam
Kho bãi, hậu cần và bảo dưỡng
Tư vấn và XD Điện 1
Tư vấn & Hỗ trợ KD
55
156
Kho vận Ngoại Thương TPHCM Kho bãi, hậu cần và bảo dưỡng
Tàu Cao tốc Superdong
Vận tải hành khách & Du lịch
56
Kho bãi, hậu cần và bảo dưỡng
157 Vận chuyển Sài Gòn Tourist
Vận tải hành khách & Du lịch
VICONSHIP
57
Đức Long Gia Lai
Lâm sản và Chế biến gỗ
158 Vận tải thủy PETROLIMEX
Vận tải Thủy
58
Gỗ Thuận An
Lâm sản và Chế biến gỗ
159 Vận tải Dầu khí PVTrans
Vận tải Thủy
59
Gỗ Trường Thành
Lâm sản và Chế biến gỗ
160 Vận tải SAFI
Vận tải Thủy
60
Cao su Miền Nam
Lốp xe
161 Vận tải Xăng dầu VIPCO
Vận tải Thủy
61
Cao su Đà Nẵng
Lốp xe
162 Vận tải biển Vinaship
Vận tải Thủy
62
Cao su Sao Vàng
Lốp xe
163 Vận tải Biển Việt Nam
Vận tải Thủy
63
LILAMA 10
Máy công nghiệp
164 VITACO
Vận tải Thủy
64
Cơ Điện Lạnh REE
Máy công nghiệp
165 Nhựa Bình Minh
Vật liệu xây dựng & Nội thất
65
SEAREFICO
Máy công nghiệp
166 Gạch men Chang YIH
Vật liệu xây dựng & Nội thất
66
Thiết bị Phụ tùng Sài Gòn
Nhà cung cấp thiết bị
167 Hóa An
Vật liệu xây dựng & Nội thất
67
Nhựa Đông Á
Nhựa, cao su & sợi
168 Xi măng & VLXD Đà Nẵng
Vật liệu xây dựng & Nội thất
68
Cao su Đồng Phú
Nhựa, cao su & sợi
169 Xi măng Hà Tiên 1
Vật liệu xây dựng & Nội thất
69
Kỹ nghệ & Nhựa Đô Thành
Nhựa, cao su & sợi
170 Xi măng Vicem Hải Vân
Vật liệu xây dựng & Nội thất
70
Cao su Hòa Bình
Nhựa, cao su & sợi
171 Khoáng sản Lâm Đồng
Vật liệu xây dựng & Nội thất
71
Cao su Phước Hòa
Nhựa, cao su & sợi
172
Tấm lợp và gỗ Nam Việt
Vật liệu xây dựng & Nội thất
72
Nhựa Rạng Đông
Nhựa, cao su & sợi
173 Đá Núi Nhỏ
Vật liệu xây dựng & Nội thất
73
211
STT Tên doanh nghiệp
Ngành
STT Tên doanh nghiệp
Ngành
Nhựa, cao su & sợi
174
Phú Tài
Vật liệu xây dựng & Nội thất
Cao su Thống Nhất
74
Nhựa, cao su & sợi
175
Savimex
Vật liệu xây dựng & Nội thất
Nhựa Tân Đại Hưng
75
Nhựa, cao su & sợi
176 Gốm sứ TAICERA
Vật liệu xây dựng & Nội thất
Cao su Tây Ninh
76
Nước
177 Becamex TDC
Vật liệu xây dựng & Nội thất
Cấp nước Chợ Lớn
77
Nước
178 XD và GT Bình Dương
Cấp nước Thủ Đức
Xây dựng
78
Nuôi trồng nông & hải sản
179 Xây dựng 47
Thủy sản Mekong
Xây dựng
79
Nuôi trồng nông & hải sản
180 Chương Dương Corp
Thủy sản Bến Tre
Xây dựng
80
Thủy sản CL An Giang
Nuôi trồng nông & hải sản
181 Xây dựng COMA 18
Xây dựng
81
Thủy sản An Giang
Nuôi trồng nông & hải sản
182 Hạ tầng Kỹ thuật TP.HCM
Xây dựng
82
Thủy sản Nam Việt
Nuôi trồng nông & hải sản
183 Xây dựng Cotec
Xây dựng
83
Tập đoàn Sao Mai
Nuôi trồng nông & hải sản
184 Cường Thuận IDICO
Xây dựng
84
NTACO
Nuôi trồng nông & hải sản
185 ĐT và TM DIC
Xây dựng
85
Chế biến Thủy sản Cà Mau
Nuôi trồng nông & hải sản
186 Hacisco
Xây dựng
86
Thủy sản Sao Ta
Nuôi trồng nông & hải sản
187
PT Hạ tầng IDICO
Xây dựng
87
Thủy sản Hùng Vương
Nuôi trồng nông & hải sản
188 Xây dựng HUD3
Xây dựng
88
Đầu tư & TM Thủy sản
Nuôi trồng nông & hải sản
189
LICOGI 16
Xây dựng
89
Giống cây trồng TW
Nuôi trồng nông & hải sản
190
LILAMA 18
Xây dựng
90
Giống cây trồng Miền Nam
Nuôi trồng nông & hải sản
191 Cơ điện và XD VN
Xây dựng
91
Thủy sản số 4
Nuôi trồng nông & hải sản
192 Xây dựng Miền Đông
Xây dựng
92
Thủy sản Vĩnh Hoàn
Nuôi trồng nông & hải sản
193 Xây lắp Bưu Điện PTIC
Xây dựng
93
Thủy hải sản Việt Nhật
Nuôi trồng nông & hải sản
194 XL CN và dân dụng Dầu khí
Xây dựng
94
CN mạng và Truyền thông
Phần mềm
195
Lắp máy Dầu khí
Xây dựng
95
Tập đoàn FPT
Phần mềm
196 Xây lắp Đường ống Dầu khí
Xây dựng
96
Vật tư Xăng dầu
Phân phối hàng chuyên dụng
197 Xây dựng Số 5
Xây dựng
97
PETROLSETCO
Phân phối hàng chuyên dụng
198 XD & PT Đô thị Tỉnh BR - VT Xây dựng
98
212
STT Tên doanh nghiệp
Ngành
STT Tên doanh nghiệp
Ngành
99
Dầu khí An Pha
Phân phối xăng dầu & khí đốt
199
PT Nhà & Đô Thị IDICO
Xây dựng
100 Gas PETROLIMEX
Phân phối xăng dầu & khí đốt
200 Xây dựng điện Việt Nam
Xây dựng
201 Đầu tư & XD Cấp thoát nước Xây dựng
213
Phụ lục 7: Danh sách 29 ngân hàng
STT Tên viết tắt
Tên ngân hàng
1 MSB
NHTMCP Hàng Hải Việt Nam
2 SEAB
NHTMCP Đông Nam Á
3 TPB
NHTMCP Tiên Phong
4 LVB
NHTMCP Bưu Điện Liên Việt
5 MDB
NHTMCP Phát triển Mê Kông
6 NAB
NHTMCP Nam Á
7 TCB
NHTMCP Kỹ Thương
8 HDB
NHTMP Phát triển nhà TP HCM
9 GDB
NHTMCP Gia Định
10 VPB
NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng
11 ABB
NHTMCP An Bình
12 MBB
NHTMCP Quân Đội
13 VIB
NHTMCP Quốc Tế Việt Nam
14 EIB
NHTMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
15 SHB
NHTMCP Sài Gòn Hà Nội
16 VAB
NHTMCP Việt Á
17 NVB
NHTMCP Quốc Dân
18 ACB
NHTMCP Á Châu
19 KLB
NHTMCP Kiên Long
20 VCB
NHTMCP Ngoại Thương
21 OCB
NHTMCP Phương Đông Việt Nam
22 MHBB
NHTMCP phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long
23 STB
NHTMCP Sài Gòn Thương Tín
24 NASB
NHTMCP Bắc Á
25 PGB
NHTMCP Xăng Dầu Petrolimex
26 CTG
NHTMCP CôngThương Việt Nam
27 EAB
NHTMCP Đông Á
28 BID
NHTMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam
29 SGB
NHTMCP Sài Gòn
214
Phụ lục 8: Thống kê mô tả các biến trong mô hình SVAR
OIL
GDP
CPI
MSL
INT
EXC
CRE
63.74 1.20E+14
87.43 1.81E+15 11.07 17591.83 1.58E+15
Mean
62.33 1.14E+14
75.45 1.27E+15 10.73 16119.50 1.14E+15
Median
133.88 2.28E+14 145.50 5.77E+15 20.10 21881.00 4.69E+15
Maximum
19.39 5.45E+13
47.60 1.61E+14
6.96 14062.00 1.21E+14
Minimum
28.71 4.12E+13
36.06 1.66E+15
2.70
2563.59 1.39E+15
Std. Dev.
0.22 0.555111
0.43 0.879506
1.26
0.45 0.615961
Skewness
1.93 2.565734
1.62 2.559084
4.58
1.57 2.002114
Kurtosis
3.58
3.79
8.77 23.53
7.64
6.70
7.04
Jarque-Bera
0.17
0.15
0.01
0.00
0.02
0.04
0.03
Probability
64
64
64
64
64
64
64
Observations
215
Phụ lục 9: Kiểm định tính dừng các biến trong mô hình SVAR
Log level
***
-1.628868
Intercept
1st difference -6.941401
***
Trend and intercept
-0.994932
-7.039928
OIL
***
0.028285
None
-6.996550
***
-1.712992
Intercept
-3.601576
GDP
***
Trend and intercept
-1.907410
-3.546555
(log level and Hp
***
filter)
-1.731640
None
-3.643271
***
0.253293
Intercept
-4.165894
**
Trend and intercept
-1.943937
-4.076571
CPI
***
2.985667
None
-2.649789
***
-1.667183
Intercept
-5.059054
***
Trend and intercept
-0.015201
-5.400616
MSL
4.428779
None
-0.882749
**
-0.217877
Intercept
INT
***
Trend and intercept
0.174191
(level và KPSS
test)
***
Intercept
-0.184275
-8.535443
***
Trend and intercept
-1.413603
-8.468170
EXC
***
None
3.927454
-3.509705
***
Intercept
-1.998223
-3.955423
CRE
***
Trend and intercept
-0.062540
-4.523312
None
3.355806
-0.891940
216
Phụ lục 10: Kiểm định nghiệm đơn vị mô hình SVAR
Mô hình SVAR thứ nhất
Mô hình SVAR thứ hai
Roots of Characteristic Polynomial
Roots of Characteristic Polynomial
Lag specification: 1 2
Lag specification: 1 2
Root
Modulus
Root
Modulus
0.839972 - 0.209127i
0.865614
0.915403
0.915403
0.839972 + 0.209127i
0.865614
0.785111
0.785111
0.809617
0.809617
0.530419 - 0.406682i 0.668382
0.626656 - 0.344323i
0.715021
0.530419 + 0.406682i 0.668382
0.626656 + 0.344323i
0.715021
0.121569 - 0.632597i 0.644172
0.161803 - 0.626076i
0.646646
0.121569 + 0.632597i 0.644172
0.161803 + 0.626076i
0.646646
0.448331
0.448331
-0.169578 - 0.515816i
0.542976
-0.181441 - 0.362303i 0.405196
-0.169578 + 0.515816i
0.542976
-0.181441 + 0.362303i 0.405196
0.286926 - 0.415429i
0.504884
-0.39408
0.394076
0.286926 + 0.415429i
0.504884
0.203936 - 0.303338i 0.365519
-0.39657
0.396569
0.203936 + 0.303338i 0.365519
-0.004582 - 0.246458i
0.2465
No root lies outside the unit circle.
-0.004582 + 0.246458i
0.2465
VAR satisfies the stability condition.
No root lies outside the unit circle.
VAR satisfies the stability condition.
217
Mẫu điều tra: 306 doanh nghiệp.
Thống kê số lượt trả lời theo tỷ lệ % tổng số phiếu khảo sát hợp lệ nhận về.
Phụ lục 11: Kết quả khảo sát tình hình hoạt động doanh nghiệp
1. Thống kê doanh nghiệp được khảo sát theo loại hình:
52%
25%
9%
6%
4%
2%
1%
1%
Hợp tác xã
Cty hợp danh
DN có vốn đầu tư nước ngoài
DN tư nhân CTCP, Cty TNHH có vốn nhà nước <50%
Cty TNHH MTV 100% vốn nhà nước
CTCP, Cty TNHH có vốn nhà nước >50%
CTCP, Cty TNHH không có vốn nhà nước
2. Thống kê doanh nghiệp được khảo sát theo ngành nghề:
24%
20%
12%
12%
10%
7%
6%
6%
3%
3%
Khác
BĐS
Khai khoáng
Vật liệu xây dựng
Vận tải, kho bãi
Xây dựng, xây lắp
Bán buôn, bán lẻ, dịch vụ
Nông, lâm, thủy sản
CN chế biến, chế tạo
Thông tin, truyền thông
3. Thống kê doanh nghiệp được khảo sát theo tổng nguồn vốn (tài sản):
37%
14%
13%
13%
12%
11%
Dưới 1 tỷ đồng Từ 1 - 10 tỷ
đồng
Từ 10 - 20 tỷ đồng
Từ 20 - 50 tỷ đồng
Từ 50 - 100 tỷ đồng
Trên 100 tỷ đồng
218
55%
37%
5%
3%
0
Rất xấu
Xấu
Bình thường
Tốt
Rất tốt
4. Cảm nhận của doanh nghiệp về môi trường kinh doanh hiện nay:
5. Trở ngại chủ yếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiện nay:
59%
43%
37%
25%
23%
12%
11%
9%
3%
2%
Khác
Sức tiêu thụ giảm
Yếu tố đầu vào
An ninh - chính trị
Hàng tồn kho chậm tiêu thụ
Tiếp cận vốn khó khăn
Thủ tục pháp lý phức tạp
Công nghệ lạc hậu
Giao thông vận tải
Chất lượng nhân lực chưa cao
6. Lý do khiến khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp giảm:
58%
54%
12%
3%
Khác
Nhu cầu tiêu thụ toàn ngành giảm
Sức ép cạnh tranh tăng
Thay đổi thị hiếu người tiêu dùng
7. Nếu trong năm 2013, doanh nghiệp đầu tư thêm vào tài sản cố định thì nhằm mục đích:
47%
29%
19%
11%
Khác
Mở rộng SX-KD Thay thế TSCĐ đảm
Đổi mới công nghệ
bảo SX-KD
219
62%
39%
38%
24%
16%
9%
8%
6%
Thủ tục vay vốn phiền hà
Phải trả thêm phụ phí
Vốn đối ứng không đủ
Lãi suất cao TSBĐ không đáp ứng được yêu cầu ngân hàng
Phương án kinh doanh không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng
Khả năng tài chính doanh nghiệp không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng
Bị từ chối với lý do thuộc lĩnh vực mà ngân hàng đang hạn chế cho vay
8. Khó khăn chủ yếu khi tiếp cận vốn vay ngân hàng của doanh nghiệp:
9. Mục đích vay vốn chủ yếu của doanh nghiệp:
61%
43%
8%
Trang trải chi phí lưu động Thanh toán các khoản nợ đến
Thực hiện phương án kinh doanh mới
hạn của các ngân hàng
10. Các biện pháp hỗ trợ của ngân hàng đối với doanh nghiệp
66%
31%
16%
15%
2%
Khác
Tư vấn dự án, phương án SX-KD
Giảm lãi suất Gia hạn nợ và cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ
Hỗ trợ về thanh toán, quản lý khoản phải thu
11. Triển vọng hoạt động của doanh nghiệp được khảo sát trong năm 2014:
63%
28%
9%
Tốt hơn 2013
Giữ nguyên so với 2013
Xấu hơn 2013
220
59%
29%
12%
Cải thiện so với 2013 Giữ nguyên so với 2013 Suy giảm so với 2013
12. Dự báo của doanh nghiệp về môi trường kinh doanh trong năm 2014:
13. Thống kê những kiến nghị chủ yếu từ phía doanh nghiệp đối với Chính phủ nhằm hỗ trợ
doanh nghiệp trong thời gian tới:
61%
44%
44%
35%
34%
34%
12%
12%
11%
10%
Ổn định giá cả
Xử lý nợ xấu
Hỗ trợ về lãi suất cho vay
Cải cách thủ tục pháp lý
Hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn cho DN
Thực hiện chương trình hỗ trợ về thuế
Tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế
Khuyến khích đầu tư vào công nghệ
Tháo gỡ khó khăn đối với thị trường tài chính, BĐS
Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
221
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
a/ Bài báo khoa học, kỷ yếu khoa học
1. Chu Khánh Lân, 2012, Nguyên nhân lạm phát tại Việt Nam và một số gợi ý
chính sách, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Số 4/2012.
2. Chu Khánh Lân, 2012, Bàn về tác động của chính sách tiền tệ tới tăng trưởng tín
dụng tại Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, Số 13/2012.
3. Chu Khánh Lân, 2012, Nghiên cứu thực nghiệm về hàm cầu tiền tại Việt Nam
và một số gợi ý chính sách, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Số 10/2012.
4. Chu Khánh Lân, 2012, Thực trạng truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín
dụng tại Việt Nam trong năm 2012, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Số 12/2012.
5. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2012, Giải pháp tái cơ cấu hệ thống tổ
chức tín dụng Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Số 22/2012.
6. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2013, Khung chính sách tiền tệ của Việt
Nam năm 2012 và những gợi ý chính sáchTạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng, Số 128
+ 129/2013.
7. Chu Khánh Lân, 2013, Nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn chính sách tiền tệ
qua kênh tín dụng tại Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, Số 13/2013.
8. Chu Khánh Lân, 2014, Nhìn lại công tác điều hành chính sách tỷ giá nhằm giảm
tình trạng đô la hóa của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2011 – 2013, Tạp chí Khoa học và
Đào tạo Ngân hàng, Số 140+141/2014.
9. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2014, Khung chính sách tiền tệ của Việt
Nam năm 2013 - Những điểm nhấn, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng, Số 140
+141/2014.
10. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2014, Nghiên cứu tác động của lãi suất
tới tỷ giá tại Việt Nam theo mô hình giá cứng Dornbusch, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số
200/2014.
11. Chu Khánh Lân, 2015, Khung chính sách tiền tệ năm 2014 và những gợi ý
chính sách năm 2015, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Số 152+153/2015.
12. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2016, Những kết quả nổi bật trong điều
hành chính sách tiền tệ năm 2015, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Số
164+165/2015.
13. Chu Khánh Lân và Hà Quốc Tuấn, 2016, Nghiên cứu thực nghiệm về truyền
dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân
hàng, Số 167/2015.
222
14. Đỗ Thị Kim Hảo, Chu Khánh Lân, Nguyễn Minh Phương, 2016, Hệ thống ngân
hàng Việt Nam trong bối cảnh gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN, Kỷ yếu hội thảo Phát
triển hệ thống ngân hàng hiệu quả và bền vững trên nền tảng sử dụng khoa học – công
nghệ, đổi mới và sáng tạo, tháng 5/2016.
b/ Đề tài nghiên cứu khoa học
15. Chu Khánh Lân và Nguyễn Minh Phương, 2012, Điều hành chính sách tiền tệ
tại Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn – Thực trạng và giải pháp, Đề tài NCKH
cấp Học viện.
16. Lê Thị Tuấn Nghĩa, 2013, Tác động của lãi suất đến tỷ giá – Lý thuyết và thực
tế Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Ngành (thư ký khoa học).
17. Trương Quốc Cường, 2013, Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam: Thực trạng, hệ lụy và giải pháp, Đề tài NCKH cấp Ngành (thành
viên).
18. Tô Ngọc Hưng, 2013, Xử lý nợ xấu trong quá trình tái cấu trúc các ngân hàng
thương mại Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Ngành (thành viên).
19. Nguyễn Đức Trung, 2013, Giải pháp quản lý thị trường Vàng tại Việt Nam, Đề
tài NCKH cấp Ngành (thành viên).
20. Tô Ngọc Hưng, 2013, Truyền dẫn chính sách tiền tệ tới tiêu dùng thông qua giá
bất động sản – Thực trạng và một số khuyến nghị chính sách, Đề tài NCKH cấp Học viện
(thành viên).
21. Chu Khánh Lân, 2014, Truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng tại Việt
Nam và một số khuyến nghị chính sách, Đề tài NCKH cấp Bộ Giáo dục và đào tạo.
22. Nguyễn Thùy Dương, 2014, Đánh giá thực trạng tín dụng thời gian qua. Định
hướng và giải pháp điều hành cho giai đoạn từ nay đến năm 2015, Đề tài NCKH cấp
Ngành (thành viên).
23. Hà Thị Sáu, 2014, Nghiên cứu cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh
chấp nhận rủi ro của các tổ chức tín dụng: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý chính sách cho
Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Ngành (thư ký khoa học).
24. Tô Ngọc Hưng, 2016, Giải pháp đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh
suy giảm kinh tế, Đề tài NCKH phối hợp giữa HVNH và BIDV (thư ký khoa học).
25. Tô Ngọc Hưng, 2016, Giải pháp tín dụng cho người nghèo và chương trình xây
dựng nông thôn mới tại Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Ngành (thư ký khoa học).

