BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG ----------------oOo----------------

CHU KHÁNH LÂN

TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI, 2016

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

----------------oOo----------------

CHU KHÁNH LÂN

TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 62340201

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. PGS.TS. TÔ NGỌC HƯNG

2. PGS.TS. ĐÀO VĂN HÙNG

HÀ NỘI, 2016

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu đã nêu

trong luận án có nguồn gốc rõ ràng và kết quả của luận án là trung thực.

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên.

Người cam đoan

NCS. Chu Khánh Lân

i

MỤC LỤC

MỤC LỤC ............................................................................................................ i DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ....................................................................... iii DANH MỤC BẢNG ............................................................................................ iv DANH MỤC HÌNH VẼ ......................................................................................... v LỜI MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1 CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LUẬN VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ........................................... 12 1.1. TỔNG QUAN VÊ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ............................................................. 12 1.1.1. Khái niệm chính sách tiền tệ ............................................................... 12 1.1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ ........................................................... 13 1.1.3. Công cụ của chính sách tiền tệ ............................................................ 17 1.1.4. Truyền tải chính sách tiền tệ ............................................................... 18 1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .................................................................. 27 1.2.1. Cơ sở hình thành kênh tín dụng .......................................................... 27 1.2.2. Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của ngân hàng thương mại ........................................................................................................... 31 1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của ngân hàng thương mại....................................................................................... 37 1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG TRONG CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG ............................. 44 1.3.1. Kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng .......................................... 44 1.3.2. Kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay ......................................... 47 1.3.3. Kênh tín dụng ngân hàng.................................................................... 50 CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ........... 55 2.1. BỐI CẢNH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM .................................................................................. 55 2.1.1. Bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với điều hành chính sách tiền tệ .................................................................................................... 55 2.1.2. Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ...................................................................................................................... 64 2.1.3. Truyền tải chính sách tiền tệ tại Việt Nam qua nghiên cứu định lượng .... 84 2.2. THỰC TRẠNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ......................................... 89 2.2.1. Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam ...................... 89 2.2.2. Thực trạng truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của các ngân

ii

hàng thương mại Việt Nam ................................................................................... 104 2.3. NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM ............................................................................. 135 2.3.1. Xây dựng mô hình ........................................................................... 135 2.3.2. Kết quả mô hình .............................................................................. 139 CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ............................................................................................................ 145 3.1. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG THỜI GIAN TỚI .................... 145 3.1.1. Định hướng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng ........ 145 3.1.2. Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng thương mại ..................................................................................................................... 146 3.2. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 148 3.2.1. Nhóm giải pháp đối với Ngân hàng Nhà nước .................................... 150 3.2.2. Nhóm giải pháp đối với các ngân hàng thương mại ............................. 171 3.2.3. Nhóm giải pháp đối với khách hàng vay vốn ngân hàng thương mại .... 179 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ .................................................................................................. 184 3.3.1. Nâng cao tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước ................................. 184 3.3.2. Kiên định điều hành chính sách tiền tệ theo hướng kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô gắn với ổn định tài chính ........................................................... 185 3.3.3. Thiết lập cơ chế phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách giám sát an toàn vĩ mô và vi mô nhằm tối ưu hóa tác động của điều hành chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng ............................................................................................................... 185 3.3.4. Phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp thành kênh cấp vốn hiệu quả cho nền kinh tế ................................................................... 187 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 192 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 194 PHỤ LỤC ........................................................................................................ 203 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ................................................................................................................. 221

iii

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Tên đầy đủ bằng tiếng Việt

Tên đầy đủ bằng tiếng Anh

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Association of Southeast Asian Nations

ASEAN

Chỉ số giá tiêu dùng

Consumer Price Index

CPI

Chính sách tài khóa

Fiscal policy

CSTK

Chính sách tiền tệ

Monetary policy

CSTT

Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Small and medium enterprises

DNNVV

Cục dự trữ liên bang Mỹ

Federal Reserve System

Fed

Tổng sản phẩm quốc nội

Gross Domestic Product

GDP

Thống kê Tài chính quốc tế

International Financial Statistics

IFS

Quỹ Tiền tệ Quốc tế

International Monetary Fund

IMF

Ngân hàng Nhà nước

The State bank of Vietnam

NHNN

Ngân hàng thương mại

Commercial banks

NHTM

Ngân hàng thương mại cổ phần

Joint stock commercial banks

NHTMCP

Ngân hàng thương mại nhà nước

State owned commercial banks

NHTMNN

Ngân hàng Trung ương

Central bank

NHTW

Tỷ lệ lãi biên

Net interest margin

NIM

Return On Assets/average assets

ROA/ROAA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản

ROE/ROAE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Return On Equity/average equities

Mô hình véctơ tự hồi quy cấu trúc

Structural Vector Autoregression

SVAR

Tổ chức tín dụng

Credit institutions

TCTD

Tài sản bảo đảm

Collateral

TSBĐ

Thị trường liên ngân hàng

Interbank market

TTLNH

Tổng tài sản

Total assets

TTS

Đô la Mỹ

United State dollar

USD

Vietnam Asset Management Company

VAMC

Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam

Mô hình véctơ tự hồi quy

Vector Autoregression

VAR

Vốn điều lệ

Chartered capital

VĐL

Việt Nam đồng

Vietnamese dong

VND

iv

Bảng 2.1: Mục tiêu và thực hiện chỉ tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam ....... 65 Bảng 2.2: Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở ................................................................... 72 Bảng 2.3: Phân rã phương sai ............................................................................................. 87 Bảng 2.4: Tỷ lệ DPRR/dư nợ và DPRR/nợ xấu của hệ thống NHTM ASEAN và Việt Nam .......................................................................................................................................... 120 Bảng 2.5: Phân rã phương sai của GDP và CPI khi có kênh tín dụng và khi không có kênh tín dụng ............................................................................................................................. 142

DANH MỤC BẢNG

v

Hình 1.1: Cơ chế khuếch đại ảnh hưởng của CSTT ........................................................... 29 Hình 1.2: Cơ chế truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài sản ..................................... 33 Hình 1.3: Cơ chế truyền tải CSTT qua kênh khả năng cấp tín dụng .................................. 35 Hình 2.1: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo ngành ......................................................... 55 Hình 2.2: Hệ số ICOR của Việt Nam và một số quốc gia trong khu vực .......................... 56 Hình 2.3: Hệ số ICOR theo thành phần kinh tế .................................................................. 56 Hình 2.4: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, một số nước trong khu vực, khu vực ASEAN - 5 và thế giới........................................................................................................ 59 Hình 2.5: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát Việt Nam ..................................... 66 Hình 2.6: Chênh lệch giữa kế hoạch và thực hiện chỉ tiêu lạm phát, tín dụng, và cung tiền ............................................................................................................................................ 67 Hình 2.7: Tăng trưởng tiền cơ sở, cung tiền, và hệ số nhân tiền ........................................ 68 Hình 2.8: Lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất huy động, và cho vay ..................... 68 Hình 2.9: Lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn và tỷ lệ lạm phát .... 70 Hình 2.10: Dư nợ các lĩnh vực ưu tiên ............................................................................... 72 Hình 2.11: Tỷ giá VND/USD ............................................................................................. 76 Hình 2.12: Các chỉ tiêu đo lường tình trạng đô la hóa nền kinh tế ..................................... 77 Hình 2.13: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam ..................................... 82 Hình 2.14: Tỷ lệ nợ xấu hệ thống ngân hàng Việt Nam và ASEAN .................................. 82 Hình 2.15: Hàm phản ứng của độ lệch sản lượng trước cú sốc cung tiền trong các mô hình VAR cơ bản và VAR có kênh truyền tải ............................................................................ 86 Hình 2.16: Hàm phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng trước cú sốc cung tiền trong các mô hình VAR cơ bản và VAR có kênh truyền tải .................................................................... 86 Hình 2.17: Mức độ giải thích của cung tiền trong sự biến động của các chỉ tiêu tiền tệ ... 89 Hình 2.18: Số lượng các tổ chức tín dụng theo loại hình ................................................... 90 Hình 2.19: Tỷ trọng tín dụng trên TTS của hệ thống NHTM Việt Nam và ASEAN ........ 91 Hình 2.20: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống TCTD Việt Nam theo loại hình ............................. 92 Hình 2.21: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s ....................................................................................................................... 93 Hình 2.22: Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tín dụng/nguồn vốn huy động của NHTMNN ........................................................................................................................... 94 Hình 2.23: Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tín dụng/nguồn vốn huy động của NHTMCP ............................................................................................................................ 94 Hình 2.24: Lãi suất bình quân liên ngân hàng qua đêm và 1 tháng ................................... 94 Hình 2.25: Tỷ trọng nguồn vốn có tính chất ngắn hạn và dễ bị rút ra của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s ............................................... 95 Hình 2.26: Tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản cao của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s .............................................................................. 96

DANH MỤC HÌNH VẼ

vi

Hình 2.27: Tỷ lệ ROA và ROE của nhóm NHTMNN ....................................................... 97 Hình 2.28: Tỷ lệ ROA và ROE của nhóm NHTMCP ........................................................ 97 Hình 2.29: Tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản hữu hình của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s .............................................................................. 98 Hình 2.30: Mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN ........................................................................................................................ 99 Hình 2.31: Đòn bẩy tài chính và hệ số an toàn vốn của nhóm NHTMNN ...................... 100 Hình 2.32: Đòn bẩy tài chính và hệ số an toàn vốn của nhóm NHTMCP ....................... 100 Hình 2.33: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN ...................................................................................................................... 101 Hình 2.34: Tỷ lệ khả năng chi trả lãi vay của doanh nghiệp ............................................ 105 Hình 2.35: Tỷ lệ sinh lời trên doanh thu của doanh nghiệp ............................................. 105 Hình 2.36: Tỷ lệ ROA của doanh nghiệp ......................................................................... 105 Hình 2.37: Tỷ lệ ROE của doanh nghiệp ......................................................................... 105 Hình 2.38: Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp ................................. 107 Hình 2.39: Hệ số khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp ..................................... 107 Hình 2.40: Tăng trưởng GDP và GDP lĩnh vực xây dựng ............................................... 108 Hình 2.41: Tỷ trọng tín dụng ngân hàng trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.......... 109 Hình 2.42: Quy mô thị trường tín dụng và trái phiếu so với GDP ................................... 110 Hình 2.43: Năng suất lao động bình quân của một lao động ........................................... 111 Hình 2.44: Quy mô dự trữ và vay NHNN của hệ thống NHTM ...................................... 113 Hình 2.45: Tốc độ tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng trưởng dự trữ một số NHTM .... 114 Hình 2.46: Tỷ trọng cho vay trong TTS và tỷ trọng dự trữ trong TTS một số NHTM .... 114 Hình 2.47: Tỷ lệ tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các khoản đầu tư, cho vay Chính phủ trên dư nợ cho vay đối với nền kinh tế ............................................................................. 116 Hình 2.48: Lãi suất trái phiếu Chính phủ các kỳ hạn ....................................................... 116 Hình 2.49: Tỷ trọng nợ nhóm 2, 3, 4, 5 trong tổng dư nợ một số NHTM ....................... 117 Hình 2.50: Tỷ trọng đầu tư chứng khoán trong TTS một số NHTM ............................... 117 Hình 2.51: Tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản cao trước và sau khi trừ đi các khoản vay NHNN và các TCTD trong TTS một số NHTM .............................................................. 119 Hình 2.52: Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn trong tổng dư nợ một số NHTM................. 119 Hình 2.53: Tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ nợ xấu........................................................ 120 Hình 2.54: Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu một số NHTM ............................................ 121 Hình 2.55: Tỷ lệ dự phòng rủi ro trên dư nợ và nợ xấu một số NHTM ........................... 121 Hình 2.56: Tỷ lệ cho vay trên đi vay trên TTLNH của hệ thống NHTM Việt Nam và ASEAN ............................................................................................................................. 122 Hình 2.57: Tỷ trọng tiền gửi và vay TCTD khác, nợ NHNN và phát hành GTCG trong tổng nợ phải trả một số NHTM ........................................................................................ 124 Hình 2.58: Tỷ trọng cho vay và đi vay trên TTLNH trong TTS một số NHTM ............. 124 Hình 2.59: Quy mô cho vay, đi vay và cho vay ròng trên TTLNH một số NHTM ......... 125 Hình 2.60: Tăng trưởng vốn tự có và đóng góp của VĐL vào tăng trưởng vốn tự có của hệ

vii

thống NHTMNN............................................................................................................... 126 Hình 2.61: Tăng trưởng vốn tự có và đóng góp của VĐL vào tăng trưởng vốn tự có của hệ thống NHTMCP ............................................................................................................... 126 Hình 2.62: Tỷ trọng thu nhập lãi ròng và thu nhập hoạt động khác trong tổng thu nhập của NHTM Việt Nam .............................................................................................................. 127 Hình 2.63: Tỷ trọng thu nhập lãi ròng và thu nhập hoạt động khác trong tổng thu nhập của hệ thống NHTM ASEAN ................................................................................................. 127 Hình 2.64: Tỷ lệ lãi biên và lợi nhuận sau thuế trên TTS ................................................ 127 Hình 2.65: Tỷ lệ lãi biên và lợi nhuận sau thuế trên TTS ngân hàng Việt Nam và ASEAN .......................................................................................................................................... 127 Hình 2.66: Tỷ lệ chi phí trên thu nhập của hệ thống NHTM ASEAN và Việt Nam ....... 128 Hình 2.67: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên TTS một số NHTM .............................................. 129 Hình 2.68: Tỷ trọng thu nhập lãi và thu nhập lãi ròng trong tổng thu nhập và thu nhập ròng ................................................................................................................................... 129 Hình 2.69: Tỷ lệ NIM và ROAA một số NHTM ............................................................. 130 Hình 2.70: Tỷ lệ ROAE một số NHTM ........................................................................... 130 Hình 2.71: Tăng trưởng tín dụng, cung tiền và lãi suất cho vay ...................................... 131 Hình 2.72: Tăng trưởng tín dụng và tiêu dùng cuối cùng ................................................ 132 Hình 2.73: Chỉ số niềm tin người tiêu dùng ..................................................................... 132 Hình 2.74: Chỉ số tiêu thụ sản phẩm ngành chế biến chế tạo và tồn kho ngành chế biến chế tạo ..................................................................................................................................... 133 Hình 2.75: Chỉ số mua hàng nhà sản xuất ........................................................................ 133 Hình 2.76: Tăng trưởng tín dụng và tài sản cố định ......................................................... 133 Hình 2.77: Tăng trưởng tín dụng, cung tiền và GDP ....................................................... 134 Hình 2.78: Tăng trưởng tín dụng, cung tiền và lạm phát ................................................. 134 Hình 2.79: Hàm phản ứng của GDP trước cú sốc lãi suất ................................................ 139 Hình 2.80: Hàm phản ứng của CPI trước cú sốc lãi suất ................................................. 139 Hình 2.81: Hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc GDP ................................................ 140 Hình 2.82: Hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc CPI ................................................. 140 Hình 2.83: Hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc tín dụng .......................................... 141 Hình 2.84: Hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc tỷ giá ............................................... 141 Hình 2.85: Hàm phản ứng của GDP trước cú sốc lãi suất khi có kênh tín dụng và khi không có kênh tín dụng .................................................................................................... 141 Hình 2.86: Hàm phản ứng của CPI trước cú sốc lãi suất khi có kênh tín dụng và khi không có kênh tín dụng ............................................................................................................... 141 Hình 3.1: Tỷ lệ trái phiếu Chính phủ và doanh nghiệp trên GDP một số quốc gia ......... 149 Hình 3.2: Tỷ lệ tín dụng trên GDP một số quốc gia ......................................................... 150 Hình 3.3: Trở ngại chủ yếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .. 180 Hình 3.4: Các kiến nghị của doanh nghiệp đối với Chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong thời gian tới ............................................................................................................. 181

1

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Cơ chế truyền tải CSTT tới hệ thống ngân hàng và nền kinh tế luôn là một chủ

đề nhận được nhiều sự quan tâm. Nắm bắt được chiều hướng tác động của CSTT tới

nền kinh tế là cơ sở để các nhà quản lý tiền tệ đưa ra các chính sách phù hợp. Ngay cả

khi đưa ra được một chính sách phù hợp thì việc lựa chọn và cách thức sử dụng công

cụ CSTT cũng đòi hỏi phải đánh giá chính xác thời gian và mức độ ảnh hưởng của nó

tới các biến số kinh tế vĩ mô. Đã có nhiều nghiên cứu về các kênh truyền tải CSTT như

kênh lãi suất, tỷ giá, giá tài sản, chấp nhận rủi ro, tín dụng… nhưng cho đến nay vẫn

chưa có sự đồng thuận giữa các nhà nghiên cứu cả về cơ chế truyển tải lẫn khả năng

tác động của từng kênh. Tại các quốc gia phát triển với thị trường tài chính phát triển,

các kênh truyền tải CSTT đã được nhận diện và được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh

nhưng tại các quốc gia đang phát triển, truyền tải CSTT vẫn đang được nhiều chủ thể

như NHTW, các tổ chức tài chính và các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu. Thiếu

hụt các nghiên cứu định lượng về truyền tải CSTT khiến cho mối liên kết giữa các

công cụ CSTT, các chỉ tiêu tiền tệ và tổng cầu tại các quốc gia này chưa được đánh giá

một cách rõ ràng, là một trong những nhân tố làm giảm đi tính hiệu quả trong công tác

điều hành CSTT của NHTW.

Khác với quan điểm tiền tệ truyền thống nhấn mạnh vào truyền tải CSTT qua

bên nguồn vốn của hệ thống ngân hàng, kênh tín dụng ngân hàng tập trung vào phân

tích ảnh hưởng của CSTT tới nền kinh tế thông qua sự biến động của tài sản. Việc dỡ

bỏ những giả định không phù hợp với thực tế thị trường tiền tệ - tài chính (không có sự

khác biệt trong các quyết định về cấu trúc vốn của người đi vay và cho vay ) và khai

thác vấn đề thông tin bất cân xứng giữa người đi vay và cho vay đã dẫn đến sự ra đời

của kênh tín dụng. Trong nghiên cứu của mình, Bernanke và Blinder (1992) phát triển

lập luận về ảnh hưởng trực tiếp của CSTT lên lãi suất được khuếch đại bởi những thay

đổi bên trong phần thưởng nguồn vốn bên ngoài [38]. Độ lớn của phần thưởng nguồn

vốn bên ngoài phản ánh sự thiếu hoàn hảo của thị trường tín dụng, vốn dĩ gây ra sự

chênh lệch giữa lợi nhuận kỳ vọng của người cho vay và chi phí mà người đi vay phải

trả. Một sự thay đổi trong lãi suất do điều hành CSTT của NHTW sẽ kéo theo sự thay

đổi của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài và tiếp đó, sự thay đổi của phần thưởng

nguồn vốn bên ngoài sẽ làm thay đổi chi phí lãi vay, nhu cầu và khả năng cấp tín dụng,

rồi hoạt động chi tiêu, đầu tư của nền kinh tế. Hai tác giả đã lý giải tại sao điều hành

CSTT lại có tác động đến phần thưởng nguồn vốn bên ngoài trên thị trường tín dụng

thông qua hai kênh truyền tải là bảng cân đối tài sản của người đi vay và khả năng cấp

2

tín dụng của hệ thống ngân hàng. Nghiên cứu khởi đầu này của Bernanke và Blinder

(1995) đã mở ra hướng nghiên cứu mới về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng và được

nhiều nhà nghiên cứu phát triển thêm.

Tại Việt Nam, cùng với nhiều chính sách kinh tế vĩ mô khác, CSTT thắt chặt

trong năm 2011 và nửa đầu năm 2012 nhằm đối phó với sự gia tăng của lạm phát và

bất ổn kinh tế vĩ mô đã khiến cho hệ thống ngân hàng NHTM và doanh nghiệp suy yếu

đi nhiều. Tình trạng thắt chặt tín dụng trong một thời gian dài đã để lại những hệ lụy to

lớn cho nền kinh tế. Về phía doanh nghiệp, hàng hóa ứ đọng, dòng vốn tắc nghẽn, hiệu

quả sản xuất kinh doanh thấp. Về phía ngân hàng, căng thẳng thanh khoản, nợ xấu gia

tăng, mức sinh lời giảm sút, mức độ đủ vốn bị suy giảm mạnh là những biểu hiện yếu

kém phổ biến được bộc lộ rõ rệt. Trước tình hình này, Chính phủ đã nỗ lực triển khai

nhiều giải pháp vĩ mô nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng suy thoái, trong đó

có chương trình tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng. Riêng đối với

NHNN Việt Nam, công tác điều hành CSTT đã được thực hiên linh hoạt, chủ động

hơn nhằm hạ thấp mặt bằng lãi suất, triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ hệ thống NHTM

và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tín dụng có hiệu quả đối với nền kinh tế. Tuy nhiên,

những nỗ lực kể trên của ngành ngân hàng chưa mang lại nhiều kết quả tích cực khi

mà tín dụng tăng trưởng chậm chạp trong năm 2013 và 2014, thậm chí còn âm trong

một vài tháng liên tiếp. Nhu cầu tín dụng lẫn khả năng và mong muốn cung ứng tín

dụng đã bị giảm đi đáng kể khi xuất hiện nhiều yếu tố tác động tiêu cực tới các chủ thể

đi vay và cho vay trong thị trường tín dụng. Thực trạng này cho thấy sự bất ổn trong

truyền tải CSTT qua kênh tín dụng ngân hàng, vốn dĩ là kênh truyền tải chính những

tác động của CSTT đến nền kinh tế tại Việt Nam. Không chỉ tạo ra sự đánh đổi lớn

cho nền kinh tế khi phải chuyển từ mục tiêu tăng trưởng sang mục tiêu kiềm chế lạm

phát (và ngược lại), những yếu kém trong kênh truyền tải này còn gây ra sự mất ổn

định cho hệ thống NHTM Việt Nam. Vì vây, nghiên cứu sinh lựa chọn tiêu đề

“Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt

Nam” cho luận án tiến sĩ của mình.

2. Tổng quan nghiên cứu

Truyền tải CSTT là một trong những chủ đề nghiên cứu được ưa chuộng nhất

trong các nghiên cứu về CSTT vì hai lý do cơ bản. Thứ nhất, nắm bắt được mức độ tác

động của CSTT tới nền kinh tế có vai trò quan trọng trong việc đánh giá định hướng

điều hành của NHTW. Hiệu quả của một CSTT nới lỏng chưa chắc đã được bảo đảm

ngay cả khi NHTW hạ thấp mức lãi suất điều hành khi mà tác động của CSTT lên nền

kinh tế không được như kỳ vọng. Thứ hai, trước khi đưa ra lựa chọn và sử dụng bất kỳ

công cụ CSTT, NHTW cần đánh giá chính xác thời gian và mức độ ảnh hưởng của nó

3

tới hệ thống TCTD và nền kinh tế. Muốn làm được điều này, NHTW cần nắm được cơ

chế truyển tải CSTT tới tình hình tài chính của hệ thống TCTD cũng như các biến số

vĩ mô trong nền kinh tế như sản lượng và lạm phát.

Quan điểm truyền thống về CSTT dựa trên giả định không có sự khác biệt trong

các quyết định về cấu trúc vốn của người đi vay và cho vay. Do vậy, nền kinh tế có thể

được mô hình hóa mà không phải xây dựng các giả định riêng cho từng nguồn vốn

khác nhau. Cụ thể, không tồn tại sự khác biệt về thuế, không chi phí giao dịch, không

có tình trạng thông tin bất cân xứng và mọi mâu thuẫn về quyền lợi giữa các chủ thể

kinh tế có thể được giải quyết mà không tốn phí tổn nào cả.

Tuy nhiên, kể từ thập niên 1970, nhiều nhà nghiên cứu về CSTT đã xem xét tác

động của việc dỡ bỏ những giả định của quan điểm truyền thống. Hầu hết các nghiên

cứu tập trung vào vấn đề thông tin bất cân xứng giữa người đi vay và cho vay để đưa

ra giả định có sự khác biệt giữa các loại tài sản tài chính như khoản vay ngân hàng, trái

phiếu và cổ phiếu (thay vì chỉ giả định có sự khác biệt giữa các tài sản tài chính (sinh

lãi) và tiền (không sinh lãi)) [35]. Trong nghiên cứu của mình, Bernanke và Blinder

(1992) phát triển lập luận về ảnh hưởng trực tiếp của CSTT lên lãi suất được khuếch

đại bởi những thay đổi bên trong phần thưởng nguồn vốn bên ngoài. Độ lớn của phần

thưởng nguồn vốn bên ngoài phản ánh sự thiếu hoàn hảo của thị trường tín dụng, vốn

dĩ gây ra sự chênh lệch giữa lợi nhuận kỳ vọng của người cho vay và chi phí mà người

đi vay phải trả. Một sự thay đổi trong lãi suất do điều hành CSTT của NHTW sẽ kéo

theo sự thay đổi của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài và tiếp đó, sự thay đổi của

phần thưởng nguồn vốn bên ngoài sẽ làm thay đổi chi phí lãi vay, nhu cầu và khả năng

cấp tín dụng, rồi hoạt động chi tiêu, đầu tư của nền kinh tế. Hai tác giả đã lý giải tại

sao điều hành CSTT lại có tác động đến phần thưởng nguồn vốn bên ngoài trên thị

trường tín dụng thông qua hai kênh truyền tải là bảng cân đối tài sản của người đi vay

và khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng [38].

2.1. Tổng quan nghiên cứu ngoài nước

a/ Kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng

Kênh khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng chỉ ra cung tín dụng sẽ

giảm xuống khi NHTW thắt chặt CSTT. Quá trình này bắt đầu khi NHTW sử dụng các

công cụ của CSTT để hút lượng tiền dự trữ ra khỏi hệ thống, khiến cho các ngân hàng

còn ít vốn khả dụng để cho vay [35]. Mặc dù Romer và Romer (1990) cho rằng các

ngân hàng có thể phản ứng lại bằng cách tăng các khoản huy động vốn không chịu quy

định về dự trữ [109] nhưng do các khoản nợ này có chi phí cao nên CSTT thắt chặt

vẫn có tác động làm giảm lượng vốn dành để cho vay đối với nền kinh tế [114].

4

Một vài nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu mảng của hệ thống ngân hàng để xác

định mức độ chịu ảnh hưởng của khả năng cấp tín dụng trước việc NHTW thắt chặt

CSTT. Kashyap và Stein (1995, 2000) phân tích kênh khả năng cấp tín dụng trên cơ sở

tách biệt các ngân hàng thông qua tiêu chí về quy mô và thanh khoản. Hai tác giả nhận

thấy trong điều kiện CSTT thắt chặt, các khoản tín dụng của các ngân hàng lớn không

bị ảnh hưởng nhiều nhưng các ngân hàng nhỏ lại điều chỉnh giảm mạnh các khoản tín

dụng cấp ra nền kinh tế. Như vậy, các ngân hàng nhỏ phải đối mặt với vấn đề căng

thẳng tín dụng do sự thiếu hoàn hảo của thị trường tín dụng với đặc điểm bảng cân đối

tài sản thiếu tính thanh khoản (chi phí cho việc tiếp cận các khoản vốn bán buôn là

lớn) [85, 86]. Tuy nhiên, có một giải thích cho hiện tượng này là hiệu ứng khác biệt

giữa doanh nghiệp nhỏ và lớn. Nghiên cứu của Elliehausen và Wolken (1990) cho thấy

các doanh nghiệp nhỏ có xu hướng vay vốn từ các ngân hàng địa phương có quy mô

nhỏ [63] trong khi Angeloni và các cộng sự (1995) chỉ ra các ngân hàng lớn ưa thích

cấp tín dụng cho các doanh nghiệp lớn với các khoản vay có quy mô lớn và ngược lại

[34]. Hơn nữa, các doanh nghiệp nhỏ chính là đối tượng chịu ảnh hưởng mạnh từ việc

thắt chặt CSTT của NHTW khi doanh thu giảm do hoạt động kinh doanh thiếu đa

dạng. Hàng tồn kho theo đó cũng bị điều chỉnh giảm mạnh, buộc nhóm doanh nghiệp

này phải thu hẹp quy mô hoạt động và dư nợ ngân hàng.

Bên cạnh đó, Kishan và Opiela (2000) cho thấy các ngân hàng nhỏ với quy mô

vốn thấp thường phàn ứng rất nhanh và mạnh với các cú sốc tiền tệ khi mà nguồn thanh

khoản của ngân hàng thường xuyên rơi vào tình trạng căng thẳng [99]. Peek và

Rosengren (1995) chỉ ra các ngân hàng không bảo đảm đủ vốn chủ sở hữu sẽ thu hẹp

quy mô rất nhanh chóng so với các ngân hàng có nguồn vốn chủ sở hữu lớn. Như vậy,

sự không hoàn hảo của thị trường tài chính cũng xảy ra đối với chính các ngân hàng chứ

không chỉ riêng doanh nghiệp bởi vì nếu thị trường hoàn hảo, các ngân hàng hoàn toàn

có thể huy động tiền gửi hoặc vay trên TTLNH nhằm bù đắp sự thiếu hụt về vốn khả

dụng [102]. Nghiên cứu của Sacerdoti (2005) nhận định các ngân hàng tại Châu Phi có

xu hướng mở rộng các khoản tín dụng cho khu vực tư nhân, nhưng với tốc độ bị hạn chế

nhất định khi NHTW thực hiện CSTT nới lỏng. Nguyên nhân là sự thiếu hụt các công

cụ huy động vốn trên thị trường tài chính kém phát triển buộc các ngân hàng phải duy trì

từ 30 - 50% các khoản huy động dưới dạng dự trữ tại NHTW hoặc tài sản ngoại tệ. Các

khoản mục tài sản này, cùng với trái phiếu Chính phủ, đã giúp cho ngân hàng tìm kiếm

được nguồn vốn bổ sung nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế [111].

b/ Kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay

Kênh truyền tải thông qua bảng cân đối tài sản khác với kênh khả năng cấp tín

dụng khi kênh khả năng cấp tín dụng giả định không có sự khác biệt giữa tín dụng

5

ngân hàng giữa doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp lớn. Nhưng kênh bảng cân đối tài

sản lại cho rằng tồn tại sự khác biệt nhất định do khi NHTW thực hiện CSTT thắt chặt,

các doanh nghiệp nhỏ vốn chỉ phụ thuộc vào ngân hàng sẽ phải đối mặt với vấn đề

thiếu hụt nguồn vốn còn các doanh nghiệp lớn có thể tiếp cận được với các nguồn vốn

phi ngân hàng khác. Ngoài ra, các ngân hàng cũng có xu hướng dịch chuyển các khoản

tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ sang doanh nghiệp lớn trong bối cảnh CSTT thắt

chặt. Đây chính là quá trình sàng lọc các đối tượng khách hàng có chất lượng của các

ngân hàng (flight to quality). Bernanke và Gertler (1995) nhận định CSTT thắt chặt

trực tiếp làm giảm đi năng lực tài chính của khách hàng đi vay thông qua chi phí lãi

vay tăng lên và dòng tiền ròng giảm xuống. Sự tăng lên của lãi suất khiến giá tài sản

giảm xuống và đồng nghĩa với đó là giá trị TSBĐ cũng giảm theo. CSTT thắt chặt

cũng ảnh hưởng tới tổng cầu và khiến cho doanh thu, dòng tiền của doanh nghiệp giảm

xuống. Trước tình hình này, các ngân hàng có xu hướng phân bổ lại tín dụng theo

hướng gia tăng tỷ trọng của các doanh nghiệp lớn với mức độ rủi ro thấp hơn [36].

Nghiên cứu của Lang và Nakamura (1995) cho thấy các ngân hàng tăng tỷ trọng

các khoản cho vay cho doanh nghiệp lớn trong giai đoạn thắt chặt tín dụng do các

doanh nghiệp lớn có mức độ rủi ro thấp hơn doanh nghiệp nhỏ [92]. Bernanke, Gertler,

và Gilchrist (1998) chỉ ra đặc điểm của doanh nghiệp có ảnh hưởng tới lượng tín dụng

được cấp từ phía ngân hàng. Trong bối cảnh thắt chặt CSTT, doanh nghiệp nhỏ đối

mặt với vấn đề chi phí đại diện gia tăng sẽ gặp phải khó khăn trong việc tiếp cận tín

dụng so với những doanh nghiệp lớn. Sử dụng dữ liệu của các doanh nghiệp trong lĩnh

vực sản xuất, Bernanke và các cộng sự tìm ra hiện tượng các doanh nghiệp nhỏ giảm

nợ trong khi doanh nghiệp lớn tăng nợ [37].

Hầu hết các nghiên cứu về vấn đề này đưa đến một kết luận là CSTT thắt chặt sẽ

đưa đến sự sắp xếp lại các nguồn vốn khi hệ thống ngân hàng di chuyển các nguồn vốn

ra khỏi bảng cân đối tài sản và các doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn vốn có chi phí thấp

nhất. Post (1992) đề cập đặc điểm các thương phiếu phải được bảo đảm bởi các khoản

dự trữ của doanh nghiệp hoặc từ phía ngân hàng thông qua các khoản cam kết tín dụng

đối với doanh nghiệp. Ngay cả các doanh nghiệp nhỏ gặp khó khăn trong việc phát hành

thương phiếu vẫn có thể tài trợ các khoản mục bên tài sản bằng tín dụng thương mại từ

các doanh nghiệp lớn có khả năng phát hành thương phiếu [105]. Nghiên cứu của

Calomiris, Himmelberg và Wachtel (1995) đã ủng hộ luận điểm này khi tìm thấy bằng

chứng các doanh nghiệp lớn phát hành thương phiếu với mục đích chủ yếu để tài trợ cho

các khoản tín dụng thương mại cho doanh nghiệp nhỏ [49]. Gertler và Gilchrist (1993),

Eichenbaum (1994) cũng nhận định các khoản nguồn vốn không trả lãi vay của doanh

nghiệp nhỏ tăng lên khi NHTW thực hiện CSTT thắt chặt [69, 60].

6

Về phía tình trạng tài chính của khách hàng đi vay, nghiên cứu của Gertler và

Gilchrist (1993) cho thấy các doanh nghiệp nhỏ có xu hướng giảm hàng tồn kho và các

khoản vay ngắn hạn cùng với sự sụt giảm của doanh thu. Tuy vậy, các doanh nghiệp

lớn không có đặc điểm này và điều này cho thấy các doanh nghiệp lớn không đối mặt

với vấn đề căng thẳng thanh khoản như các doanh nghiệp nhỏ [68]. Friedman và

Kuttner (1993) cũng nhận định rằng sự giảm xuống của dòng tiền và gia tăng hàng tồn

kho khi nền kinh tế gặp cú sốc tiêu cực là nhân tố gây ra sự thiếu hụt nguồn vốn của

doanh nghiệp [66]. Zaderey (2003) nhận thấy tại Ukraine, CSTT thắt chặt khiến giá cổ

phiếu giảm và chi phí lãi vay của doanh nghiệp tăng lên, khiến cho dòng tiền ròng lẫn

giá trị dòng bị sụt giảm. Các doanh nghiệp không có khả năng huy động vốn trên thị

trường vốn buộc phải dựa vào nguồn lợi nhuận để lại để đáp ứng nhu cầu thanh khoản,

tài trợ tài sản lưu động và các khoản đầu tư khác [126].

Một vài nghiên cứu không tách biệt giữa kênh khả năng cấp tín dụng và kênh

bảng cân đối tài sản. Kashyap, Lamont, và Stein (1994) tìm thấy bằng chứng về hàng

tồn kho của các doanh nghiệp phụ thuộc vào ngân hàng giảm nhanh hơn so với doanh

nghiệp với đặc điểm nguồn vốn đa dạng [83]. Sử dụng phương pháp tương tự, Gertler

và Gilchrist (1993) cũng nhận thấy doanh nghiệp nhỏ giảm nợ và doanh nghiệp lớn

tăng nợ khi NHTW thực hiện CSTT thắt chặt. Hai tác giả đã phân loại các doanh

nghiệp trên cơ sở giá trị tài sản khi doanh nghiệp nhỏ nằm trong số 30% doanh nghiệp

có tài sản nhỏ nhất. CSTT thắt chặt làm tăng các khoản vay ngắn hạn của các doanh

nghiệp lớn nhằm tài trợ cho hàng tồn kho. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ hầu như

không có điều kiện để vay ngắn hạn ngân hàng và lượng hàng tồn kho giảm mạnh qua

thời gian [69].

Để làm rõ vai trò của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài trong việc đặt nền tảng

cho kênh tín dụng phát triển, Kashyap, Stein, và Wilcox (1993) kiểm tra mối tương

quan giữa tín dụng ngân hàng và thương phiếu. Sự giảm xuống trong khoản vay từ

ngân hàng trong khi giá trị thương phiếu phát hành bởi doanh nghiệp tăng lên cho thấy

bản thân khả năng cấp tín dụng của các ngân hàng bị thu hẹp lại. Ba tác giả đưa ra

nhận định nếu cú sốc là do thay đổi trong nhu cầu tín dụng thì ảnh hưởng của cú sốc sẽ

lan tỏa tới tất cả các nguồn vốn của nền kinh tế. Trong khi đó, cú sốc tiền tệ truyền tải

qua kênh tín dụng ngân hàng sẽ chỉ ảnh hưởng tới phía cung tín dụng [87]. Bằng

chứng định lượng chỉ ra tỷ lệ giữa thương phiếu và tín dụng ngân hàng sẽ tăng lên khi

NHTW thực hiện CSTT thắt chặt. Tuy nhiên, Oliner và Rudebusch (1993), Gertler và

Gilchrist (1993) cho thấy sự giảm xuống của tỷ lệ tín dụng ngân hàng trên thương

phiếu không hoàn toàn là một bằng chứng của kênh tín dụng ngân hàng. Các tác giả

7

nhận thấy CSTT thắt chặt dẫn tới sự giảm thay đổi trong các nguồn vốn bên ngoài của

các doanh nghiệp lớn [100, 69]. Trong khi các khoản tín dụng của các doanh nghiệp

nhỏ giảm xuống, các khoản tín dụng cho các doanh nghiệp lớn lại tăng lên nên tổng tín

dụng ngân hàng không thay đổi khi CSTT thắt chặt. Việc giảm xuống trong tổng tín

dụng được cho là do xuất phát từ nguyên nhân các doanh nghiệp lớn có xu hướng ít

phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng hơn so với doanh nghiệp nhỏ. Một khi

quy mô của doanh nghiệp được đưa vào mô hình phân tích, kết quả là các nguồn vốn

của doanh nghiệp sau khi điều chỉnh không bị ảnh hưởng nhiều. Kashyap, Stein, và

Wilcox (1993) và Romer và Romer (1993) cũng chỉ ra chênh lệch giữa lãi suất tín

dụng và lãi suất thương phiếu tăng lên sau khi NHTW thực hiện CSTT thắt chặt. Do

vậy, doanh nghiệp lớn với xếp hạng tín dụng tốt sẽ có xu hướng thay thế các khoản tín

dụng từ ngân hàng với chi phí cao bằng nguồn vốn từ phát hành thương phiếu [87,

110]. Để xác định mức độ hiệu quả của kênh bảng cân đối tài sản tại Áo, Wesche

(2000) đã sử dụng dữ liệu vi mô của 2000 doanh nghiệp phi tài chính trong khoảng

thời gian từ 1979 đến 1998. Tác giả nhận thấy CSTT có tác động kiểm soát mức cung

tín dụng của ngân hàng và làm ảnh hưởng tới việc vay vốn của doanh nghiệp nhỏ. Bên

cạnh đó, DNNVV với mức chi phí lãi vay cao và tỷ lệ đầu tư trên doanh thu thấp có sự

phản ứng mạnh hơn đối với các biến số tài chính [124].

2.2. Tông quan nghiên cứu trong nước

Chậm hơn so với xu thế nghiên cứu trên thế giới, tại Việt Nam, chỉ có một vài

nghiên cứu về truyền tải CSTT từ giai đoạn những năm 2000 trở lại đây. Các nghiên cứu

về truyền tải CSTT tại Việt Nam có thể đến đề tài nghiên cứu khoa học của tác giả

Nguyễn Thị Kim Thanh (2005) về những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện mục tiêu,

cơ chế truyền tải của chính sách tiền tệ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, luận

văn thạc sỹ của tác giả Trần Thị Lộc (2002) về giải pháp nâng cao hiệu quả kênh truyền

tải các tác động của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế, truyền tải chính sách tiền tệ qua

kênh chấp nhận rủi ro của tác giả Hà Thị Sáu và các cộng sự (2014), bài báo khoa học

của các giả Hung và Wade (2008), Nguyễn Phi Lân (2010) về cơ chế truyền tải tiền tệ

dưới góc độ phân tích định lượng, hai tác giả Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn

(2013) về cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ ở Việt Nam tiếp cận theo mô hình SVAR

và nhiều nghiên cứu khác của các tác giả Tô Ngọc Hưng (2013), Phạm Thị Hoàng Anh

(2013), Nguyễn Đức Trung (2013), Nguyễn Thị Thúy Vinh (2015)... Tuy nhiên, những

nguyên cứu cụ thể về kênh tín dụng ngân hàng, đặc biệt là phân tích các kênh truyền tải

nhỏ hơn bên trong kênh này, là tương đối ít mặc dù kênh tín dụng đóng vai trò quan

trọng trong truyền tải điều hành CSTT của NHNN tới nền kinh tế Việt Nam.

8

Nghiên cứu của Camen (2006) về những thay đổi trong điều hành CSTT của Việt

Nam trong bối cảnh nền kinh tế và thị trường tài chính có những bước phát triển mới

như Hiệp định thương mại Việt Mỹ và quá trình chuẩn bị gia nhập WTO. Tác giả sử

dụng mô hình BVAR gồm các biến tỷ giá, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền, tín dụng đối

với nền kinh tế, hoặc lãi suất cho vay, chỉ số giá cả hàng hóa và cung tiền rộng của Mỹ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn từ tháng 2/1996 đến tháng 4/2003, tín dụng

là nhân tố gây ra ảnh hưởng chính tới lạm phát sau khoảng thời gian 24 tháng [122].

Hung và Wade (2008) đã sử dụng mô hình VAR với các biến số tổng sản lượng

quốc nội, chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất thực, tín dụng và tỷ giá thực hiệu quả. Hai tác giả

đã sắp xếp các biến số vĩ mô trong mô hình theo thứ tự sản lượng, chỉ số giá tiêu dùng,

tín dụng và cung tiền trên cơ sở giả định sự tăng lên của cung tiền sẽ tạo điều kiện mở

rộng tín dụng, từ đó ảnh hưởng tới nền kinh tế. Kết quả cho thấy kênh tín dụng đóng vai

trò quan trọng trong truyền tải CSTT, thậm chí hơn cả kênh lãi suất truyền thống. Bên

cạnh đó, tín dụng có tác động nhân quả tới cung tiền và nếu như loại bỏ vai trò của tín

dụng thì mối quan hệ giữa cung tiền và sản lượng bị giảm đi nhiều [74].

Nguyễn Phi Lân (2010) đã sử dụng mô hình hồi quy SVAR với hai nhóm biến

đại diện cho khu vực quốc tế và trong nước để mô hình hóa khuôn khổ chính sách tiền

tệ tại một nền kinh tế thị trường với độ mở lớn như Việt Nam. Trong mô hình này, tác

giả thiết lập các điều kiện cần thiết để tìm ra những cú sốc tiền tệ và tỷ giá của Việt

Nam, sau đó đánh giá hiệu quả tác động của CSTTvà các kênh truyền tải khác nhau

đến giá cả hàng hóa và các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế trong nước

dựa trên cặp số liệu thu thập từ Thống kê tài chính quốc tế từ năm 1998 - 2009. Tác

giả nhận thấy cung tiền có xu hướng tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế nhưng

chưa lớn, bắt nguồn từ việc một phần tín dụng ngân hàng đã không được một số tổ

chức kinh tế và dân cư sử dụng đúng mục đích sản xuất kinh doanh mà thay vào đó là

đầu tư vào các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao như chứng khoán hay bất động sản. Kết

quả nghiên cứu còn chỉ ra việc thay đổi lãi suất VND trên thị trường tiền tệ thông qua

sử dụng các công cụ tiền tệ như OMO hay tái cấp vốn... sẽ mất thời gian khoảng là 3 -

5 tháng để có hiệu lực [10].

Nghiên cứu khác của Chu Khánh Lân (2012) về thực trạng truyền tải CSTT tại

Việt Nam trên cả phía cung và phía cầu tín dụng. Mặc dù NHNN đã điều hành CSTT

theo hướng nới lỏng nhằm thúc đẩy các TCTD tăng cường cho vay thông qua bơm

thanh khoản cho hệ thống TCTD và giảm lãi suất thị trường để khuyến khích nhu cầu

vay vốn của nền kinh tế nhưng mức độ hiệu quả của chính sách chưa đạt mức kỳ vọng.

Về cung tín dụng, thanh khoản được cải thiện đáng kể so với cuối năm 2011 và đầu

năm 2012 nhưng vẫn tập trung tại hệ thống các TCTD và chủ yếu được sử dụng để đầu

9

tư vào trái phiếu Chính phủ thay vì cho vay đối với nền kinh tế. Về phía cầu tín dụng,

mặc dù lãi suất cho vay đã giảm mạnh nhưng trước những khó khăn chồng chất của

doanh nghiệp, nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh vẫn không được cải thiện do nhu

cầu đầu tư trở nên đặc biệt thiếu nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất trong điều kiện

tương lai bất ổn và khi niềm tin vào thị trường giảm xuống. Thực trạng này cho thấy,

mức độ hiệu quả truyền tải CSTT của kênh tín dụng đã bị giảm đi đáng kể trong thực

trạng suy yếu của hệ thống các TCTD, tình hình tài chính khó khăn của các doanh

nghiệp và môi trường kinh doanh có nhiều biến động khó lường [1].

Nghiên cứu của Chu Khánh Lân (2013) về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng

sử dụng hai mô hình VAR để đo lường mối quan hệ giữa các biến mục tiêu vĩ mô và

các biến số tiền tệ. Tác giả nhận định tại Việt Nam, mức độ khuếch đại của kênh tín

dụng trong truyền tải CSTT là khá nhanh và mạnh. Cụ thể, để so sánh mức độ khuếch

đại thông qua kênh tín dụng, mô hình VAR thứ hai được áp dụng với biến tín dụng là

biến ngoại sinh. Thông qua phương pháp này, tác động của lãi suất và cung tiền sẽ

được truyền tải thông qua biến nội sinh là tín trong khi mô hình VAR thứ hai bỏ qua

cơ chế này. Với bộ số liệu từ quý 2/2000 đến quý 4/2011, tín dụng khuyến đại mạnh

ảnh hưởng của cung tiền và lãi suất thực tới tăng trưởng kinh tế. Tương tự, phản ứng

của CPI trước thay đổi cung tiền và lãi suất thực được khuếch đại khá nhanh và mạnh

trong trường hợp có kênh tín dụng so với trường hợp không có kênh tín dụng. Khi có

kênh tín dụng, biến động của tín dụng thể hiện vai trò đáng kể trong biến động của

GDP. Tương tự, cung tiền, tăng trưởng tín dụng và lãi suất đóng góp vào biến động

của lạm phát nhiều hơn trường hợp không có kênh tín dụng [2].

Nhóm tác giả Nguyễn Phúc Cảnh, Nguyễn Quốc Anh và Nguyễn Hồng Quân

(2013) đã phân tích đặc điểm ngân hàng tác động như thế nào đến truyền tải CSTT qua

kênh tín dụng ngân hàng tại Việt Nam. Bài viết phân tích cơ chế truyền tải của CSTT

qua kênh tín dụng của NHTM giai đoạn 2003-2012 trên khía cạnh phản ứng của chính

mỗi NHTM với sự thay đổi trong CSTT. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy tổng thể cho

dữ liệu bảng thu thập từ báo cáo tài chính của các NHTM giai đoạn 2003-2012. Kết quả

cho thấy kênh tín dụng có tồn tại trong dẫn truyền CSTT tại Việt Nam và các đặc điểm

về vốn chủ sở hữu, tài sản thanh khoản, rủi ro của mỗi NHTM tác động đến tính linh

hoạt của mỗi NHTM khi phản ứng với thay đổi CSTT giai đoạn 2003 – 2012 [11].

Nghiên cứu Nguyễn Thị Thúy Vinh (2015) phân tích cơ chế truyền tải tiền tệ ở

Việt Nam thông qua các kênh lãi suất, tỷ giá hối đoái, tài sản và tín dụng trong giai

đoạn từ 1995 đến 2009. Nghiên cứu áp dụng mô hình VAR để đánh giá cơ chế truyền

tải tiền tệ đến sản lượng và mức giá. Để so sánh tầm quan trọng của các kênh khác

nhau trong quá trình truyền tải CSTT, nghiên cứu đã ước lượng hàm phản ứng và phân

10

rã phương sai của các biến số trong mô hình. Các kết quả thực nghiệm cho thấy những

thay đổi trong cung tiền có tác động tới sản lượng hơn là tác động tới mức giá trong

ngắn hạn. Những tác động của thay đổi cung tiền tới giá cả và sản lượng sẽ được đẩy

mạnh thông qua kênh tỷ giá và tín dụng, Tuy nhiên, những tác động đó sẽ yếu đi thông

qua kênh lãi suất. Đối với kênh tài sản, thông qua giá cổ phiếu, tác động của chính

sách tiền tệ tới giá cả và sản lượng có thể bị “méo mó” do cấu trúc của thị trường

chứng khoán còn mỏng và yếu [13].

Tóm lại, các nghiên cứu về truyền tải CSTT tại Việt Nam nói chung và truyền

tải qua kênh tín dụng nói riêng, trên cả hai phương diện kênh truyền tải qua bảng cân

đối tài sản và khả năng cấp tín dụng là tương đối ít, chưa toàn diện (không phân tích

được các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình truyền tải và mới chỉ tiếp cận kênh khả năng

cấp tín dụng), và trong phạm vi thời gian nghiên cứu quá ngắn hoặc quá dài nên

không được ra được kết luận phù hợp cho từng giai đoạn truyền tải khác nhau.

3. Mục tiêu nghiên cứu

- Tổng hợp và phân tích cơ sở lý luận về truyển tải CSTT, truyển tải CSTT qua

kênh tín dụng với hai kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay và kênh khả năng cấp

tín dụng của ngân hàng. Tổng hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và kết quả

nghiên cứu về truyển tải CSTT qua kênh tín dụng từ các nghiên cứu trong và ngoài

nước làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn Việt Nam.

- Phân tích thực trạng truyền tải CSTT và hoạt động của hệ thống NHTM Việt

Nam làm cơ sở để phân tích thực trạng truyển tải CSTT qua kênh tín dụng với hai

kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay và kênh khả năng cấp tín dụng của ngân

hàng. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới truyền tải CSTT qua kênh tín dụng của

NHTM Việt Nam.

- Nghiên cứu định lượng về mức độ, chiều hướng truyền tải CSTT qua kênh

tín dụng tại Việt Nam, xem xét mức độ đóng góp của kênh tín dụng vào diễn biến các

mục tiêu của CSTT.

- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường khả năng truyền tải CSTT

qua kênh tín dụng của NHTM Việt Nam trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng chính của luận án là thực trạng truyền tải CSTT qua kênh tín dụng

với hai kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay và kênh khả năng cấp tín dụng của

ngân hàng tại Việt Nam. Thực trạng truyền tải được thể hiện qua sự biến động của tín

dụng (bên tài sản trên bảng cân đối tài sản của ngân hàng và nguồn vốn vay ngân hàng

11

trên bảng cân đối tài sản của người đi vay là doanh nghiệp). Ngoài ra, đề tài cũng phân

tích thực trạng điều hành CSTT của NHNN và hoạt động của hệ thống NHTM.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn từ năm 2011 tới năm 2015. Đối

với nghiên cứu định lượng, giai đoạn nghiên cứu kéo dài từ quý 1 năm 2000 đến quý 4

năm 2015.

5. Phương pháp nghiên cứu

Ngoài phương pháp triết học biện chứng và duy vật lịch sử thường được sử

dụng trong nghiên cứu khoa học nói chung, luận án vận dụng các phương pháp khảo

sát, thống kê, so sánh, phân tích - tổng hợp, diễn dịch, quy nạp.

Ngoài các sơ đồ, bảng, đồ thị, đề tài sử dụng mô hình kinh tế lượng SVAR để

kiểm chứng sự tồn tại và đo lường mức độ khuếch đại CSTT của kênh tín dụng thông

qua hàm phản ứng. Thông qua phân rã quá khứ, đề tài đánh giá tác động của tín dụng

tới sự biến động của các biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế.

Đề tài khai thác các nguồn dữ liệu báo cáo tài chính từ năm 2010 đến năm 2015

của 201 doanh nghiệp niêm yết trong chỉ số VNINDEX; dữ liệu báo cáo tài chính từ

năm 2010 đến năm 2014 của 29 NHTM; dữ liệu tiền tệ, ngân hàng từ Thống kê tài

chính quốc tế của IMF; dữ liệu kinh tế vĩ mô từ Tổng cục Thống kê; dữ liệu khảo sát

306 doanh nghiệp năm 2013 của nhóm nghiên cứu thực hiện Báo cáo hoạt động ngân

hàng năm 2013 và một số dự báo năm 2014 của Học viện Ngân hàng.

6. Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm ba

chương:

Chương 1: Cơ sở luận về truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của

ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng truyển tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của các

ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương 3: Giải pháp tăng cường khả năng truyền tải chính sách tiền tệ qua

kênh tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

12

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LUẬN VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA

KÊNH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. TỔNG QUAN VÊ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

1.1.1. Khái niệm chính sách tiền tệ

Hiện nay, trong các tài liệu nghiên cứu về CSTT thì thuật ngữ “Chính sách tiền

tệ” được mô tả thông qua việc sử dụng các mục tiêu và công cụ điều hành. Theo

PGS.TS. Tô Kim Ngọc (2012): “CSTT là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô,

mà trong đó NHTW, thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều

tiết khối lượng tiền cung ứng (hoặc lãi suất) căn cứ vào nhu cầu tiền tệ của nền kinh

tế, nhằm đạt được các mục tiêu về giá cả, sản lượng và công ăn việc làm” [16]. Trong

khi đó, chỉ có một số ít NHTW các quốc gia đưa ra định nghĩa về CSTT một cách

chính thống trong các văn bản pháp luật:

Cục Dự trữ liên bang Mỹ: “CSTT là các hoạt động thực hiện bởi Cục Dự trữ Liên

bang Mỹ để tác động tới mức độ sẵn có và chi phí của tiền và tín dụng nhằm thúc đẩy

quá trình thực hiện các mục tiêu kinh tế của quốc gia” [64].

NHTW Canada: “CSTT là một nhóm các quyết định được thực hiện bởi chính phủ,

thường thông qua NHTW, liên quan tới lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế” [106].

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “CSTT quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở

tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn

định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ

và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra” (Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban

hành ngày 29/06/2010 quy định tại Khoản 1 Điều 3) [8].

Theo quan điểm của tác giả: “CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô được thực

hiện bởi NHTW thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụ để tác động tới lượng

tiền lưu thông (hoặc lãi suất) trong nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế

của quốc gia như bình ổn giá cả, tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm và các mục

tiêu khác”.

Công tác điều hành CSTT của NHTW nhằm điều chỉnh nền kinh tế bao gồm hai

giai đoạn, tuy tách biệt nhưng có mối quan hệ mật thiết, trước tiên là hành vi phản ứng

của NHTW trước những sự biến động của mục tiêu (thông qua sử dụng các công cụ

CSTT) và tiếp đó là quá trình truyền tải những thay đổi trong công cụ tới các mục tiêu

CSTT (bao gồm mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian, và mục tiêu cuối cùng). Nội

dung sau đây tập trung vào phân tích các mục tiêu của CSTT, các công cụ CSTT, và

các kênh truyền tải CSTT.

13

1.1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ

Việc thực thi CSTT được bắt đầu từ việc xác định mục tiêu cuối cùng của

CSTT (là các mục tiêu kinh tế vĩ mô); tiếp đến là các mục tiêu trung gian (như lãi suất

hoặc lượng tiền cung ứng, tín dụng) thống nhất với mục tiêu cuối cùng; các mục tiêu

hoạt động cần phải đạt được để tác động vào mục tiêu trung gian; và là xác định các

công cụ mà NHTW có thể sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu của CSTT.

1.1.2.1. Mục tiêu cuối cùng

Mục tiêu cuối cùng của CSTT là các biến số cuối cùng mà các nhà hoạch định

chính sách (NHTW) muốn đạt được khi điều hành CSTT. Các mục tiêu cuối cùng của

CSTT có thể hướng tới một mục tiêu hoặc nhiều mục tiêu như: giá cả ổn định, tỷ lệ

thất nghiệp ở mức tự nhiên – công ăn việc làm cao, kinh tế tăng trưởng cao, thị trường

tài chính ổn định, lãi suất ổn định và thị trường ngoại hối ổn định [95].

a/ Duy trì giá cả ổn định

Nhận thấy tác động tiêu cực của lạm phát tới tăng trưởng kinh tế và sự phát

triển của xã hội, các nhà thực thi và nghiên cứu chính sách kinh tế đã đưa ra một nhận

định chung là duy trì giá cả ổn định, thể hiện bởi tốc độ tăng giá chậm và ổn định, là

mục tiêu hàng đầu của CSTT. Lập luận này được đưa ra dựa trên việc giá cả tăng cao

và biến động bất thường sẽ gây ra sự mất ổn định trong nền kinh tế và làm giảm tốc độ

tăng trưởng. Khi lạm phát ở mức cao, nền kinh tế phải dành các nguồn lực đáng ra có

thể sử dụng vào sản xuất để đối phó với lạm phát, ví dụ như sử dụng nguồn lực để cập

nhật mức giá mới hay các hộ gia đình và doanh nghiệp phải dành thời gian và nguồn

lực để quản lý tài sản nhằm bảo vệ giá trị của tài sản. Ngoài ra, khi lạm phát biến động

cao khác với dự kiến sẽ khiến quá trình phân phối lại thu nhập thực giữa người đi vay

và người cho vay xảy ra, làm cho rủi ro đối với hai chủ thể này tăng lên và ảnh hưởng

tiêu cực tới việc lập kế hoạch tài chính, hoạt động đầu tư và tiêu dùng.

Bên cạnh quan điểm về mục tiêu quan trọng nhất của CSTT là duy trì mức giá

cả ổn định, các nhà thực thi và nghiên cứu chính sách kinh tế còn đưa ra năm mục tiêu

khác gồm:

b/ Duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên

Tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên có nghĩa là nền kinh tế không có thất nghiệp

chu kỳ (cyclical unemployment) mà chỉ có thất nghiệp chuyển đổi (frictional

unemployment) và thất nghiệp cơ cấu (structural unemployment). Tuy nhiên, CSTT

thường không thể tác động nhiều vào việc giảm hai loại thất nghiệp này. Vì vậy, mục

tiêu của CSTT chỉ là hạn chế tối đa hiện tượng thất nghiệp chu kỳ thường xảy ra trong

các đợt suy thoái kinh tế khi người lao động mất việc làm và không thể tìm được việc

làm mới.

14

c/ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và duy trì mức công ăn việc làm cao có

mối quan hệ chặt chẽ với nhau bởi vì doanh nghiệp có xu hướng đầu tư nâng cao năng

suất lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp. Tuy

nhiên, chính phủ có thể sử dụng các chính sách khác bên cạnh CSTT nhằm trực tiếp

khuyến khích doanh nghiệp tăng đầu tư và dân chúng tăng tiết kiệm (như các ưu đãi về

thuế) để tích lũy thêm vốn cho đầu tư. Do đó, vẫn có những tranh luận nhất định về vai

trò của CSTT trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như quan điểm của Keynes về sự

thiếu hiệu quả của CSTT trong khôi phục lại tăng trưởng kinh tế khi nền kinh tế đang

trong tình trạng suy thoái.

d/ Duy trì sự ổn định của thị trường tài chính

Khi thị trường tài chính rơi vào tình trạng bất ổn, các doanh nghiệp và người

tiêu dùng cần vốn không thể tiếp cận được nguồn vốn từ các chủ thể thặng dư vốn,

điều này dẫn tới tình trạng sản xuất kinh doanh bị đình đốn và nhu cầu tiêu dùng bị

giảm sút, tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp và kéo

theo các bất ổn xã hội khác. Theo quan điểm của Hyman Minsky, NHTW với nhiệm

vụ điều hành CSTT phải thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng nhằm hạn chế tối

đa các vụ đổ vỡ trên thị trường tài chính và ngăn cản quá trình lan truyền sự bất ổn của

thị trường tài chính tới nền kinh tế. Tuy nhiên, có một số lập luận phản bác lại quan

điểm này. Ví dụ như việc lạm dụng các gói hỗ trợ đối với các tổ chức tài chính có thể

dẫn tới vấn đề rủi ro đạo đức khi các tổ chức này tiếp tục chấp nhận mức rủi ro cao

hơn trong hoạt động kinh doanh hay tác động của việc nới lỏng CSTT quá mức có thể

dẫn tới lạm phát tăng cao trong tương lai, ảnh hưởng tới việc thực hiện các mục tiêu

khác của CSTT.

e/ Ổn định lãi suất

Lãi suất biến động mạnh sẽ gây ra tính không chắc chắn trong nền kinh tế và

làm giảm nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp và tiêu dùng của hộ gia đình khi họ cần

phải vay mượn. Lãi suất biến động cao cũng khiến cho các trung gian tài chính gặp

khó khăn trong việc quản trị rủi ro này. Ví dụ, lãi suất tăng lên sẽ làm giảm giá trị các

tài sản và tăng giá trị các nguồn vốn trên bảng cân đối kế toán của tổ chức tài chính có

đặc điểm bảng cân đối tài sản giống với NHTM, dẫn tới sự giảm xuống của vốn chủ sở

hữu, thậm chí đe dọa sự tồn tại của chúng (nhiều hiệp hội tiết kiệm và cho vay và các

ngân hàng tại Mỹ đã gặp nhiều khó khăn nghiêm trọng trong những năm 1980 và 1990

do sự biến động liên tục của lãi suất). Hơn nữa, NHTW cũng có khả năng gặp phải các

xung đột với các nhóm lợi ích khi tăng lãi suất, dẫn tới việc quyền lực của NHTW bị

giảm xuống.

15

f/ Duy trì sự ổn định của thị trường ngoại hối

Khi các quốc gia trên ngày càng hội nhập vào kinh tế thế giới, các giao dịch

hàng hóa và tài chính trở nên phổ biến thì tầm quan trọng của thị trường ngoại hối đã

được các NHTW chú ý hơn bên cạnh các mục tiêu khác của CSTT. Sự sụp đổ của hệ

thống Bretton Woods và tiếp theo đó là các cuộc khủng hoảng tiền tệ tại Mexico

(1994), Châu Á (1997 – 1998), Nga (1998) và Argentina (2000)… đã chỉ ra tầm quan

trọng của phối hợp giữa điều hành CSTT và CSTK trong việc tạo sự ổn định giá trị của

đồng nội tệ và thúc đẩy hoạt động ngoại thương.

Trong dài hạn, mục tiêu ổn định giá cả và các mục tiêu khác của CSTT là nhất

quán vì giá cả ổn định thúc đẩy kinh tế phát triển và bảo đảm lãi suất và thị trường tài

chính ổn định. Tuy nhiên, trong ngắn hạn mục tiêu ổn định giá cả thường mâu thuẫn

với các mục tiêu mức công ăn việc làm cao và duy trì lãi suất ổn định. Chính vì lý do

này, Nhiều NHTW tại quốc gia phát triển đã lựa chọn ổn định giá cả là mục tiêu hàng

đầu và dài hạn. Ví dụ, Đạo luật Hệ thống các NHTW Châu Âu và NHTW Châu Âu

quy định “mục tiêu hàng đầu của ESCB – European System of Central Banks là duy

trì giá cả ổn định. Không phương hại đến mục tiêu giá cả ổn định, CSTT sẽ hỗ trợ các

chính sách kinh tế của Liên minh với mục tiêu đóng góp cho sự đạt được các mục tiêu

của Liên minh…” trong đó, các mục tiêu của Liên minh bao gồm duy trì mức công ăn

việc làm cao cùng với tăng trưởng bền vững không đi kèm lạm phát. Tương tự, trong

Đạo luật NHTW Anh 1998, điều 10 cũng quy định “Khi thực hiện CSTT, các mục tiêu

của NHTW Anh là (a) duy trì giá cả ổn định, và (b) theo sau đó, hỗ trợ mục tiêu kinh

tế… bao gồm mục tiêu tăng trưởng và việc làm”.

Khác với NHTW Châu Âu và NHTW Anh, mục 2 của Đạo luật Cục Dự trữ

Liên bang quy định: “Hội đồng Thống đốc của Hệ thống Dự trữ Liên bang và Ủy ban

Thị trường tự do sẽ duy trì sự tăng trưởng dài hạn của tổng phương tiện thanh toán và

tín dụng tương xứng với mục tiêu dài hạn của nền kinh tế nhằm tăng sản lượng, thúc

đẩy hiệu quả các mục tiêu gồm tạo thêm việc làm, ổn định giá cả, và ổn định lãi suất

dài hạn”.

Việc NHTW duy trì lạm phát ổn định ở mức thấp sẽ có tác động tích cực đến

tăng trưởng kinh tế nên ổn định giá cả đã trở thành mục tiêu hàng đầu của NHTW

nhiều quốc gia trong dài hạn. Tuy nhiên, thực hiện CSTT với mục tiêu duy trì lạm phát

ở mức thấp liên tục trong ngắn hạn sẽ dẫn tới khả năng sản lượng của nền kinh tế

thường xuyên biến động. Trong ngắn hạn, NHTW có thể hạn chế mức biến động trong

sản lượng của nền kinh tế bằng việc cho phép lạm phát chệch ra khỏi mục tiêu trong

ngắn hạn, bảo đảm vẫn cam kết duy trì mức lạm phát thấp trong trung và dài hạn. Mặc

dù vậy, định hướng này của NHTW thường dẫn tới tình huống tập trung theo đuổi các

16

mục tiêu ngắn hạn và bỏ rơi mục tiêu dài hạn, hay còn gọi là vấn đề không nhất quán

thời gian (time inconsistency problem). Vấn đề này chỉ ra việc điều hành CSTT không

nhất quán có thể dễ dàng gây ra lạm phát cao cho nền kinh tế trong trường hợp NHTW

theo đuổi cùng một lúc hai mục tiêu trong ngắn hạn là duy trì lạm phát ở mức mục tiêu

và tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên.

1.1.2.2. Mục tiêu trung gian

NHTW không thể tác động trực tiếp và ngay lập tức tới các mục tiêu cuối cùng

của nền kinh tế vì các tác động này thường có những độ trễ nhất đinh. Nhằm khắc

phục hạn chế này, NHTW thường xác định mục tiêu trung gian trước khi đạt được

mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu trung gian là một biến số kinh tế mà NHTW có thể kiểm

soát sau một độ trễ thời gian hợp lý, với một độ chính xác tương đối, và có mối quan

hệ tương đối ổn định và chặt chẽ với mục tiêu cuối cùng của CSTT. Bằng việc theo

dõi những biến số này, NHTW có thể quyết định liệu những chính sách của mình có

đạt hiệu quả như mong đợi hay không và điều chỉnh hướng tác động khi cần thiết.

Những mục tiêu trung gian điển hình của CSTT là tổng lượng tiền như M1, M2,

hoặc M3, dư nợ tín dụng, hoặc lãi suất trung và dài hạn. Tuy nhiên, những biến số này

thể hiện một số hạn chế nhất định. Chẳng hạn, những biến động bất thường của mục

tiêu trung gian là tổng lượng tiền hay dư nợ tín dụng có thể không phải là chỉ báo của

sự mạnh hay yếu của nền kinh tế trong tương lai. Thay vào đó, những biến động đó

đơn giản chỉ phản ánh sự thay đổi trong danh mục đầu tư của các định chế tài chính

hay của dân cư và tổ chức kinh tế nói chung. Trong trường hợp đó, những phản ứng

của CSTT như thay đổi trong mức dự trữ hoặc các mức lãi suất điều hành có thể sẽ có

không mang lại tác dụng như kỳ vọng. Vì thế, những thay đổi bất thường trong lượng

cung tiền và dư nợ tín dụng không cho biết liệu NHTW có nên can thiệp hay không và

do đó không thể hiện tính “mục tiêu” của những biến số này. Tương tự với trường hợp

của lãi suất dài hạn. Các nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa

lãi suất dài hạn và các mục tiêu cuối cùng là sản lượng thực tế và lạm phát, tuy nhiên

mối quan hệ này lại không ổn định và yếu và không thể hiện một tín hiệu cụ thể nào về

nền kinh tế trong tương lai.

Một số NHTW sử dụng tỷ giá hối đoái danh nghĩa làm mục tiêu trung gian.

Những quốc gia sử dụng tỷ giá hối đoái làm mục tiêu trung gian của CSTT thường

theo đuổi chế độ tỷ giá có quản lý. Tuy nhiên, trong bối cảnh tự do hóa tài khoản vốn

của các quốc gia, việc dòng vốn đảo chiều nhanh chóng sẽ gây khó khăn cho việc duy

trì tỷ giá ổn định, đồng thời tỷ giá hối đoái ổn định dễ có nguy cơ bị đầu cơ và từ đó có

thể gây ảnh hưởng xấu tới ổn định của hệ thống tài chính. Hơn nữa, việc duy trì tỷ giá

hối đoái ổn định sẽ hạn chế khả năng sử dụng CSTT để đối phó với các cú sốc nội địa.

17

1.1.2.3. Mục tiêu hoạt động

Mục tiêu trung gian không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những công cụ CSTT của

NHTW mà các công cụ này ảnh hưởng đến một loạt các biến số khác trước mục tiêu

trung gian được gọi là mục tiêu hoạt động của CSTT. Mục tiêu hoạt động của CSTT là

những biến số kinh tế mà NHTW có thể kiểm soát hàng ngày thông qua việc sử dụng

các công cụ CSTT. Mục tiêu hoạt động thể hiện định hướng điều hành của NHTW.

Hiện nay, lượng tiền cơ sở, dự trữ của các ngân hàng tại NHTW (bao gồm dự trữ vượt

mức, dự trữ không vay và dự trữ đi vay) và mức lãi suất liên ngân hàng ngắn hạn

thường được các NHTW trên thế giới lựa chọn làm mục tiêu hoạt động của CSTT.

1.1.3. Công cụ của chính sách tiền tệ

Thông qua sử dụng các công cụ CSTT, NHTW có thể tác động trực tiếp hoặc

gián tiếp tới mục tiêu hoạt động, qua đó tác động tới các mục tiêu trung gian và sau đó

là các mục tiêu cuối cùng của CSTT. Về cơ bản, NHTW sử dụng ba loại công cụ, đó là

nghiệp vụ thị trường mở, chính sách chiết khấu, và dự trữ bắt buộc. Những công cụ

này có nhiều biến đổi qua thời gian và trong những bối cảnh kinh tế khác nhau được

sử dụng, phối hợp với nhau theo một định hướng, chủ đích nhất định của người làm

chính sách. Trong thực tế, các công cụ này được vận dụng linh hoạt thành các công cụ

như lãi suất NHTW trả cho các khoản dự trữ bắt buộc và vượt mức, lãi suất tái chiết

khấu, tín phiếu NHTW và lãi suất tín phiếu Kho bạc…

1.1.3.1. Nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở là việc NHTW thực hiện mua, bán ngắn hạn các loại

giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệ. Nghiệp vụ này tác động đến khối lượng dự trữ

của các NHTM, khả năng cung ứng tín dụng và qua đó làm thay đổi khối lượng tiền tệ.

Ngoài ra, nghiệp vụ thị trường mở còn ảnh hưởng tới lãi suất trên thị trường liên ngân

hàng và lan truyền tới các lãi suất khác trên thị trường, và tác động tới tổng cầu của

nền kinh tế thông qua tác động tới nhu cầu tiêu dùng và đầu tư.

Các giấy tờ có giá được sử dụng trên thị trường mở là: tín phiếu kho bạc, trái

phiếu chính phủ, thương phiếu.... Các thành viên tham gia thị trường mở là các

NHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng, và các doanh nghiệp đã đáp ứng đầy đủ

các tiêu chuẩn để được cấp giấy phép tham gia thị trường mở.

1.1.3.2. Chính sách chiết khấu

Công cụ chiết khấu là công cụ CSTT nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương

tiện thanh toán cho các NHTM. Thông qua cho các NHTM vay, NHTW hướng đến

mục tiêu làm tăng thêm tiền dự trữ cho hệ thống, từ đó làm tăng thêm lượng tiền cung

ứng và ngược lại. NHTW kiểm soát công cụ này chủ yếu bằng cách tác động đến giá

cả khoản vay (lãi suất cho vay tái chiết khấu) và các điều kiện cần đạt được để được

18

vay từ NHTW. Những thay đổi trong quy định về hạn mức chiết khấu, lãi suất chiết

khấu, các điều kiện chiết khấu ảnh hưởng đến mong muốn và khả năng đi vay chiết

khấu của các NHTM.

1.1.3.3. Dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc là một phần số dư tiền gửi các loại mà các NHTM phải dự trữ

dưới dạng tiền mặt hoặc tiền gửi tại NHTW. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc được xác định bằng

một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảng thời gian nào đó.

Mức dự trữ bắt buộc được quy định khác nhau căn cứ vào thời hạn tiền gửi, vào quy

mô và tính chất hoạt động của TCTD. Điều chỉnh dự trữ bắt buộc có tác động trực tiếp

vào lượng tiền cơ sở, từ đó tác động đến lượng cung tiền trong nền kinh tế.

Bên cạnh ba công cụ cơ bản này, các NHTW còn sử dụng một số công cụ khác

như điều chỉnh tỷ giá, lãi suất đối với dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức, đặc biệt là

một số công cụ chính sách phi truyền thống (unconventional) được các NHTW các

nước sử dụng trong bối cảnh các công cụ truyền thống kể trên không còn phát huy

được nhiều tác dụng. Các công cụ chính sách phi truyền thống có thể được chia thành

ba nhóm chính, bao gồm: (i) việc bảo đảm với các nhà đầu tư rằng lãi suất ngắn hạn

trong tương lai sẽ được giữ ở mức thấp hơn so với kỳ vọng hiện tại của họ (hiệu ứng

cam kết - commitment effect); (ii) gia tăng quy mô bảng tổng kết tài sản của NHTW

vượt mức thông thường để giữ lãi suất chính sách ngắn hạn bằng không, các biện pháp

này nhằm gia tăng dự trữ của hệ thống ngân hàng thông qua nghiệp vụ thị trường mở

hoặc can thiệp trên thị trường ngoại hối (quantitative easing); và (iii) thay đổi lượng

cung các loại giấy tờ có giá trên thị trường thông qua việc thay đổi thành phần bảng

tổng kết tài sản của NHTW (qualitative easing/credit easing).

1.1.4. Truyền tải chính sách tiền tệ

1.1.4.1. Khái niệm truyền tải chính sách tiền tệ

Trong các nghiên cứu về CSTT, có hai xu hướng tiếp cận về ảnh hưởng của

điều hành CSTT tới các mục tiêu của CSTT bao gồm: (i) cách tiếp cận dạng cấu trúc;

và (ii) cách tiếp cận dạng rút gọn. Với cách tiếp cận dạng cấu trúc, mối quan hệ giữa

các công cụ và mục tiêu của CSTT được phân tích dựa trên việc xây dựng các mô hình

giải thích các “kênh truyền tải” từ thay đổi trong điều hành CSTT (ví dụ, thay đổi lãi

suất điều hành) tới các mục tiêu của CSTT (các biến số vĩ mô). Ngược lại, với cách

tiếp cận dạng rút gọn, nhà nghiên cứu chỉ quan tâm tới mối quan hệ trực tiếp giữa hai

biến số vĩ mô mà không quan tâm tới quá trình dẫn truyền tác động. Với cách tiếp cận

này, khó khăn với người điều hành CSTT là không thể lý giải được nguyên nhân vì sao

hiệu quả tác động giữa các công cụ CSTT tới nền kinh tế lại khác nhau trong những

khoảng thời gian khác nhau mặc dù được thực thi như nhau.

19

Mặc dù chưa có một sự thống nhất trong so sánh mức độ hiệu quả của hai

phương pháp tiếp cận, nhưng xuất phát từ hạn chế của cách tiếp cận dạng rút gọn đã

nêu ở trên, các nhà điều hành CSTT và nghiên cứu về CSTT thường lựa chọn tiếp cận

qua dạng cấu trúc thông qua việc đưa ra khái niệm về kênh truyền tải CSTT [95]. Từ

đó, các kênh truyền tải này được sử dụng làm cơ sở đánh giá chiều hướng tác động,

mức độ tác động, các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả của điều hành CSTT tới các mục

tiêu CSTT.

Cơ chế truyền tải CSTT mô tả những thay đổi trong lượng tiền cung ứng hoặc

lãi suất ngắn hạn do điều hành CSTT có ảnh hưởng thế nào tới các yếu tố thực trong

nền kinh tế như sản lượng, giá cả và thất nghiệp.

Các kênh truyền tải CSTT hoạt động thông qua ảnh hưởng tới lãi suất, tỷ giá,

giá cổ phiếu, giá bất động sản, tín dụng ngân hàng… Mặc dù CSTT được truyền tải tới

nền kinh tế qua nhiều kênh khác nhau, nhưng để CSTT có tác động tới các biến số

thực của nền kinh tế, cần phải có hai giả định cơ bản sau:

Thứ nhất, bên nguồn vốn (tài sản nợ) trên bảng cân đối tài sản của NHTW bao

gồm hai thành phần chính là tiền mặt ngoài lưu thông và tiền dự trữ của các TCTD

(tiền cơ sở). Sự thay đổi của hai thành phần này luôn gắn liền với hai khoản mục tài

sản trên bảng cân đối tài sản của NHTW là chứng khoán và cho vay các TCTD. Để

những thay đổi trong lượng tiền cơ sở là kết quả điều hành các công cụ CSTT có ảnh

hưởng không chỉ tới bảng cân đối tài sản của hệ thống TCTD mà có tác động lan tỏa ra

bên ngoài nền kinh tế thì các TCTD phải không có khả năng thay đổi khối lượng hay

thành phần các khoản mục bên nguồn vốn thông qua việc phát hành những chứng

khoán có đặc điểm thay thế hoàn hảo cho lượng tiền cơ sở. Nói một cách khác, cần có

những quy định của pháp luật ngăn cấm các TCTD phát hành những chứng khoán có

đặc điểm giống như tiền mặt ngoài lưu thông và tiền dự trữ.

Thứ hai, để những thay đổi trong lượng tiền cơ sở có tác động tới các biến số vĩ

mô thực thì giá cả danh nghĩa không thể điều chỉnh ngay lập tức, hoặc ít nhất bằng một

phần mức thay đổi của lượng cung ứng tiền trong nền kinh tế (giá cả là cứng nhắc

trong ngắn hạn). Nói một cách khác, luận điểm của các nhà kinh tế học trường phái cổ

điển tin vào tính trung lập của tiền tệ (money neutrality), nghĩa là CSTT chỉ có ảnh

hưởng tới mức giá cả mà không có ảnh hưởng tới các hoạt động thực của nền kinh tế

và sản lượng, là không áp dụng được trong thực tế.

1.1.4.2. Các kênh truyền tải chính sách tiền tệ

a/ Kênh lãi suất

Theo kênh tác động truyền thống được Keynes đề xuất, khi NHTW sử dụng các

công cụ của CSTT để tăng lượng tiền cơ sở thì mức lãi suất ngắn hạn sẽ giảm, và kéo

20

theo sự thay đổi trong lãi suất trung và dài hạn. Mặc dù ban đầu Keynes cho rằng lãi

suất giảm sẽ tác động tới tổng sản lượng của nền kinh tế thông qua quyết định tăng đầu

tư của các doanh nghiệp, những nghiên cứu sau này đã chỉ ra quyết định chi tiêu của

hộ gia đình cũng chịu ảnh hưởng từ việc lãi suất thực giảm (hơn là lãi suất danh

nghĩa). Vì vậy, kênh lãi suất có thể được mô tả thông qua phương trình:

𝑀 ↑→ 𝑖𝑟 ↓→ (𝐼 + 𝐶) ↑→ 𝑌 ↑ trong đó M là cung tiền, 𝑖𝑟 là lãi suất thực, I và C

lần lượt là đầu tư và tiêu dùng, Y là tổng sản lượng.

Có hai điểm quan trọng của kênh truyền tải lãi suất cần phải được nhấn mạnh ở

đây. Thứ nhất, lãi suất thực là nhân tố tác động tới quyết định tiêu dùng của hộ gia

đình và doanh nghiệp chứ không phải lãi suất danh nghĩa. Thứ hai, lãi suất thực dài

hạn, chứ không phải lãi suất ngắn hạn, mới là nhân tố có ảnh hưởng mạnh tới nhu cầu

tiêu dùng và đầu tư. Với giả định là giá cả là cứng nhắc trong ngắn hạn, lãi suất ngắn

hạn danh nghĩa giảm do việc mở rộng lượng tiền cơ sở cũng sẽ làm giảm lãi suất thực

ngắn hạn. Theo lý thuyết dự tính về lãi suất, lãi suất danh nghĩa ngắn hạn giảm sẽ kéo

lãi suất trung và dài hạn giảm theo. Lãi suất trung và dài hạn thực giảm sẽ khuyến

khích tăng đầu tư của doanh nghiệp và tiêu dùng của hộ gia đình, làm tăng tổng cầu

của nền kinh tế. Do vậy, quá trình truyền tải như sau:

𝑀 ↑→ 𝜋𝑒 ↑→ 𝑖𝑟 ↓→ (𝐼 + 𝐶) ↑→ 𝑌 ↑ trong đó M là cung tiền, 𝜋𝑒 là lạm phát dự

tính, 𝑖𝑟 là lãi suất thực, I và C lần lượt là đầu tư và tiêu dùng, Y là tổng sản lượng.

Tới đây, có hai vấn đề cần được bàn luận thêm. Thứ nhất, việc lãi suất thực mới

là nhân tố tác động mạnh tới quyết định đầu tư và tiêu dùng chứ không phải là lãi suất

danh nghĩa, hàm ý rằng kênh truyền tải lãi suất có hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng ngay

cả khi lãi suất danh nghĩa giảm xuống mức 0%. Thứ hai, nếu như việc mở rộng tiền tệ

của NHTW dẫn tới việc hộ gia đình và doanh nghiệp dự tính lạm phát sẽ tăng lên

trong tương lai thì lãi suất danh nghĩa ngắn hạn trong tương lai sẽ tăng lên. Theo lý

thuyết dự tính về lãi suất, mức lãi suất trung và dài hạn sẽ không giảm xuống như kỳ

vọng của NHTW. Ngoài ra, khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, những

nhà đầu tư trái phiếu (bond vigilante) nhận định rủi ro lạm phát tăng lên. Phản ứng lại

với thay đổi trong chính sách, họ sẽ bán trái phiếu, đặc biệt là các trái phiếu trung dài

hạn, từ đó đẩy mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế tăng lên. Hành động này có thể làm

nhu cầu đầu tư và tiêu dùng của nền kinh tế giảm, kéo tổng cầu giảm theo.

Vì những quan điểm khác nhau như vậy, các lập luận về mặt lý thuyết lẫn

nghiên cứu thực nghiệm cũng đưa ra những kết quả trái ngược nhau. Nghiên cứu của

Taylor (1995) cho thấy những bằng chứng thực nghiệm chắc chắn về hiệu quả của

truyền tải CSTT qua kênh lãi suất tới tiêu dùng và đầu tư [119]. Tuy nhiên, Stiglitz và

21

Greenwald (2003) lại chỉ ra rằng đầu tư chịu ảnh hưởng của lãi suất danh nghĩa hơn là

lãi suất thực [115]. Ngoài ra, nhu cầu đầu tư trở nên đặc biệt thiếu nhạy cảm với sự

thay đổi của lãi suất trong điều kiện tương lai bất ổn và khi niềm tin vào thị trường

giảm xuống (mức độ rủi ro tăng cao sẽ dẫn tới tình trạng quan ngại quá mức –

pessimism trap khiến cho giảm lãi suất không thúc đẩy nhu cầu vay vốn). Các hộ gia

đình, doanh nghiệp và trung gian tài chính có xu hướng tăng lượng tiền mặt nắm giữ

khi nền kinh tế trong tình trạng suy thoái (điều này đặc biệt đúng khi lãi suất ở giai

đoạn cuối thời kỳ này thường ở mức thấp tương ứng với chi phí cơ hội của việc nắm

giữ tiền là thấp) nên khi CSTT mở rộng được thực thi thông qua việc tăng lượng cung

tiền, giảm lãi suất thị trường thì lượng cung tiền gia tăng sẽ tiếp tục được các chủ thể

nắm giữ, không các tác động tích cực tới nhu cầu đầu tư và tổng cầu (Krugman, 2012)

[91]. Nghiên cứu của Ahmed (2006) về kênh lãi suất tại Ấn Độ cũng chỉ ra thực trạng

các ngân hàng miễn cưỡng cho vay doanh nghiệp (tập trung đầu tư vào trái phiếu

Chính phủ) cùng với thực trạng yếu kém của hệ thống ngân hàng, thị trường tài chính

kém phát triển là nguyên nhân khiến cho hiệu quả của kênh lãi suất tại quốc gia này rất

yếu [30].

b/ Kênh giá tài sản

Truyền tải CSTT qua kênh giá tài sản bao gồm ba kênh nhỏ là kênh giá cổ

phiếu, kênh tác động của của cải, và kênh tỷ giá.

Thứ nhất, kênh giá cổ phiếu

Kênh giá cổ phiếu được hình thành dựa trên lý thuyết Tobin’s q (Tobin, 1969).

Chỉ số Tobin’s q được xác định bằng tỷ lệ giữa giá thị trường của cổ phiếu và chi phí

cần bỏ ra để thay thế toàn bộ tài sản của doanh nghiệp. Lãi suất ngắn hạn tăng lên khi

NHTW thực hiện CSTT thắt chặt sẽ khiến giá cổ phiếu giảm xuống, làm q giảm. Khi q

giảm, các doanh nghiệp phải phát hành một lượng cổ phiếu mới nhiều hơn so với trước

đây để tài trợ cho các nhu cầu đầu tư. Điều này dẫn tới suất chiết khấu của các dự án

đầu tư tăng và các dự án trước đây có hiệu quả về mặt tài chính trở nên không hiệu

quả. Việc cắt giảm các nhu cầu đầu tư mới khiến cho sản lượng và tỷ lệ thất nghiệp

tăng. Điểm quan trọng trong lập luận của lý thuyết Tobin’s q bao gồm hai vấn đề: (i)

mối quan hệ giữa chỉ số Tobin’s q với quyết định đầu tư của doanh nghiệp như đã

trình bày ở trên; và (ii) quá trình ảnh hưởng của CSTT tác động tới giả cố phiếu. Vấn

đề thứ hai được giải thích bởi trường phái tiền tệ như sau, khi cung tiền tăng do

NHTW thực hiện CSTT nới lỏng, công chúng muốn giảm lượng tiền nắm giữ với mức

sinh lời thấp buộc phải mua vào các tài sản. Một trong những tài sản mà các hộ gia

đình có thể đầu tư là cổ phiếu, khiến giá cổ phiếu tăng lên. Điều này cho thấy mức độ

hiệu quả của kênh giá cổ phiếu phụ thuộc vào tỷ trọng nắm giữa tài sản dưới dạng cổ

22

phiếu của công chúng cũng như sự phát triển của thị trường vốn [121]. Quá trình

truyền tải như sau:

𝑀 ↑→ 𝑃𝑒𝑞𝑢𝑖𝑡𝑦 ↑→ 𝑞 ↓→ 𝐼 ↑→ 𝑌 ↑ trong đó M là cung tiền, 𝑃𝑒𝑞𝑢𝑖𝑡𝑦 là giá cổ

phiếu, q là chỉ số Tobin’s q, I là đầu tư, Y là tổng sản lượng.

Thứ hai, kênh của cải

Kênh tác động của của cải được xây dựng trên lý thuyết Life-cycle theory of

consumption (Ando và Modigliani, 1963). Trong khi đó, lý thuyết Life-cycle theory of

consumption được hình thành dựa trên việc xem xét bảng cân đối tài sản của người

tiêu dùng có ảnh hưởng thế nào tới quyết định chi tiêu của họ. Modigliani đưa ra lập

luận rằng của cải và thu nhập đóng vai trò quan trọng trong chi tiêu tiêu dùng (không

bao gồm chi tiêu về hàng lâu bền) của các hộ gia đình. Thu nhập trong cả cuộc đời của

người tiêu dùng là nhân tố quyết định chi tiêu tiêu dùng và của cải (như bất động sản

và các chứng khoán) là một cấu thành quan trọng tạo ra thu nhập. Khi NHTW thực

hiện CSTT nới lỏng, giá chứng khoán giảm xuống khiến cho của cải, thu nhập và chi

tiêu tiêu dùng của hộ gia đình giảm [33]. Quá trình truyền tải như sau:

𝑀 ↑→ 𝑃𝑒𝑞𝑢𝑖𝑡𝑦 ↑→ 𝑤 ↑→ 𝐶 ↑→ 𝑌 ↑ trong đó M là cung tiền, 𝑃𝑒𝑞𝑢𝑖𝑡𝑦 là giá cổ

phiếu, w là của cải, C là tiêu dùng, Y là tổng sản lượng.

Ngoài các khoản chi tiêu tiêu dùng thì hộ gia đình còn vay mượn để tài trợ cho

chi tiêu hàng tiêu dùng lâu bền. Những người theo trường phái Keynes lập luận rằng

lãi suất thấp sẽ làm giảm chi phí tài trợ cho hàng tiêu dùng lâu bền, khuyến khích hộ

gia đình tăng chi tiêu. Quá trình hình ảnh hưởng như sau: 𝑀 ↑→ 𝑖 ↓→ 𝐶𝑑 ↑→ 𝑌 ↑ trong đó Cd là chi tiêu dùng hàng lâu bền. Bên cạnh đó, sự biến động của giá tài sản vượt quá mức độ biến động do lãi suất gây ra đóng vai trò quan trọng trong mô hình của

trường phái tiền tệ về truyền tải CSTT. Những người theo trường phái tiền tệ cho rằng

điều hành CSTT không chỉ tác động tới thị trường tài chính và thị trường hàng hóa lâu

bền như phân tích của Keynes mà còn tác động tới thị trường cổ phiếu và bất động sản.

Sự thay đổi trong giá cả trên hai thị trường này có ảnh hưởng quan trọng tới của cải

của các hộ gia đình, từ đó ảnh hưởng tới tiêu dùng, sản lượng và tỷ lệ thất nghiệp.

Thứ ba, kênh tỷ giá

Đối với một nền kinh tế mở, thay đổi trong lãi suất ngắn hạn còn ảnh hưởng tới

nền kinh tế thông qua kênh tỷ giá. Tại nhiều quốc gia mới nổi với thị trường tài chính

chưa phát triển thì kênh tỷ giá là kênh quan trọng truyền tải điều hành CSTT của

NHTW. Để kênh tỷ giá phát huy hiệu quả thì cần có một cơ chế tỷ giá với mức độ linh

hoạt nhất định kết hợp với mức độ co giãn cao của hàng hóa xuất nhập khẩu với thay

đổi về giá. Trong cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi, CSTT nới lỏng sẽ làm cho đồng nội tệ

23

giảm giá thông qua tác động tới chênh lệch lãi suất với đồng ngoại tệ. Nội tệ giảm giá

làm giảm nhu cầu về hàng hóa nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu vì hàng hóa trong nước

trở nên rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, dẫn đến tăng chi tiêu cho hàng hóa trong

nước và làm tăng tổng cầu. Quá trình truyền tải như sau:

𝑀 ↑→ 𝑖 ↑→ 𝐸𝑥 ↑→ 𝐸𝑥𝑝𝑜𝑟𝑡 ↑, 𝐼𝑚𝑝𝑜𝑟𝑡 ↓→ 𝑌 ↑ trong đó M là cung tiền, 𝑖 là lãi

suất, Ex là tỷ giá (lượng nội tệ/ngoại tệ), Export là xuất khẩu, Import là nhập khẩu, Y

là tổng sản lượng.

Trong một nền kinh tế nhỏ và mở cửa với cơ chế tỷ giá linh hoạt, tỷ giá thay đổi

cũng có ảnh hưởng tới tổng cung. Khi NHTW nới lỏng CSTT, đồng nội tệ giảm giá

thực sẽ làm tăng giá của hàng hóa nhập khẩu, trực tiếp làm tăng lạm phát. Ngoài ra,

mức giá hàng nhập khẩu cao hơn sẽ có tác động làm tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng

tới lợi nhuận của doanh nghiệp, làm giảm tổng cung. Quá trình truyền tải như sau:

𝑀 ↑→ 𝑖 ↓→ 𝐸𝑥 ↑→ 𝑃 ↑→ 𝑌 ↓ trong đó M là cung tiền, 𝑖 là lãi suất, Ex là tỷ giá

(lượng nội tệ/ngoại tệ), P là mức giá cả của hàng hóa nhập khẩu phục vụ sản xuất

trong nước, Y là tổng sản lượng.

Tỷ giá thay đổi cũng có tác động tới bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.

Khi các chủ thể kinh tế duy trì một trạng thái hối đoái trường hay đoản thì trên bảng

cân đối kế toán thì sự thay đổi của tỷ giá sẽ có ảnh hưởng tới giá trị ròng của các chủ

thể, từ đó tác động tới tình hình tài chính của các chủ thể này. Ngoài ra, trong trường

hợp những nước thuộc thị trường mới nổi, luôn đóng vai trò là con nợ của các nước

khác, thì đồng nội tệ giảm giá đồng nghĩa với việc gánh nặng nợ của các chủ thể trong

nền kinh tế cũng sẽ tăng lên, phần nào lấn át hiệu ứng tạo ra từ sự thay đổi giá tương

đối. Điều này sẽ tiếp tục điều chỉnh hành vi tiêu dùng, đầu tư và vay nợ của các chủ

thể, từ đó ảnh hưởng tới sản lượng của nền kinh tế.

c/ Kênh chấp nhận rủi ro

Kể từ thời điểm xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính - suy thoái kinh tế năm 2008

cho tới nay, đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của CSTT tới sự ổn định của hệ

thống ngân hàng. Mặc dù có những sự đồng thuận về nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng

hoảng như sự yếu kém của hệ thống giám sát tài chính và quản trị công ty, sự phát

triển quá nhanh của thị trường và các công cụ tài chính nhưng CSTT nới lỏng trong

thời gian dài của các NHTW cũng được cho là một nguyên nhân chủ chốt. Việc

NHTW thực hiện CSTT nới lỏng liên tục nhằm đưa mặt bằng lãi suất xuống mức thấp

ngoài việc thúc đẩy nhu cầu tín dụng của nền kinh tế còn có tác dụng khuyến khích các

ngân hàng chấp nhận mức rủi ro cao hơn trong hoạt động kinh doanh.

24

Quay trở lại giai đoạn trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính, sự thành

công trong việc ngăn ngừa lạm phát trong quá khứ đã củng cố lòng tin của các NHTW

vào khả năng duy trì lãi suất ở mức thấp mà không gây ảnh hưởng tới lạm phát trong

tương lai (Taylor, 2009) [120]. Mặc dù việc gia tăng cung tiền có thể khuyến khích các

ngân hàng tăng mức độ chấp nhận rủi ro trong hoạt động tín dụng, mục tiêu ổn định tài

chính không phải là vấn đề mà các NHTW quan tâm vì hai lý do: (1) các NHTW tập

trung nhiều vào mục tiêu ổn định giá cả và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; (2) sự quan

ngại về bất ổn tài chính giảm xuống trước sự phát triển mạnh mẽ của các công cụ

phòng ngừa rủi ro (Greenspan, 2005). Tuy nhiên, sự bất ổn của hệ thống ngân hàng nói

riêng và thị trường tài chính nói chung sau đó đã cho thấy tầm quan trọng của sự phát

triển bền vững của hệ thống ngân hàng trong điều hành CSTT của NHTW. Bên cạnh

đó, quá trình truyền tải CSTT cũng cho thấy sự phức tạp khi điều hành CSTT không

chỉ tác động tới lạm phát, tổng cầu của nền kinh tế mà còn ảnh hưởng tới xu hướng

chấp nhận rủi ro của các chủ thể trong nền kinh tế với mức độ và độ trễ chưa từng

được nghiên cứu kỹ lưỡng [71].

Lãi suất thấp được duy trì trong thời gian dài thông qua nới lỏng CSTT không

những khuyến khích ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng như mô tả trong kênh cấp

tín dụng truyền thống mà còn khuyến khích các ngân hàng chấp nhận mức rủi ro cao

hơn (Altunbas và cộng sự, 2010). Hành vi này của các ngân hàng nếu không được

kiểm soát tốt sẽ dẫn tới sự mất cân bằng giữa khả năng và mức độ chấp nhận rủi ro,

tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với hệ thống [32]. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới sự ra

đời của kênh chấp nhận rủi ro, một kênh mới trong truyền tải CSTT. Khác với các

kênh truyền tải truyền thống đã được đề xuất và nghiên cứu từ trước thì kênh chấp

nhận rủi ro bắt đầu được nghiên cứu từ đầu thế kỉ 21 và được đặc biệt tập trung nghiên

cứu kể từ giai đoạn sau cuộc khủng hoảng tài chính suy thoái kinh tế nổ ra. Borio và

Zhu (2008) đã định nghĩa cơ chế truyền tải CSTT qua kênh chấp nhận rủi ro của hệ

thống ngân hàng là: “lãi suất thay đổi do điều hành CSTT tác động tới sự nhận thức

rủi ro hoặc khả năng chấp nhận rủi ro; và từ đó, tới mức độ rủi ro của danh mục đầu

tư” [44].

Các kênh truyền tải truyền thống như kênh lãi suất, giá cả và tín dụng chủ yếu

tập trung vào ảnh hưởng của CSTT tới tín dụng trên phương diện khối lượng hơn là

phương diện chất lượng. Riêng trong trường hợp của kênh tín dụng, mức độ thay đổi

trong rủi ro do thay đổi trong công tác điều hành CSTT được phản ánh trên phương

diện người đi vay, nhưng lại ít xem xét trên phương diện người cho vay là các ngân

hàng. Vì vậy, các nghiên cứu về truyền tải CSTT truyền thống đã không nhận dạng

được và phản ánh nhận thức lẫn hành vi của ngân hàng liên quan tới rủi ro vào trong

25

mô hình nghiên cứu. Hầu hết các nghiên cứu về kênh chấp nhận rủi ro đều nhận định

CSTT nới lỏng đều có xu hướng làm gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro trong hoạt động

kinh doanh của ngân hàng. Kênh chấp nhận rủi ro được thể hiện qua một vài phương

thức như sau:

Thứ nhất, qua ảnh hưởng của lãi suất tới định giá, thu nhập và dòng tiền

Lãi suất thấp do CSTT nới lỏng trong thời gian dài làm tăng giá trị tài sản ròng

và giá trị tài sản thế chấp của doanh nghiệp và dân chúng. Mức độ đánh giá của ngân

hàng về rủi ro hoạt động kinh doanh, khả năng không trả được nợ vay, thậm chí khả

năng phá sản của người vay sẽ bị thay đổi theo hướng giảm xuống. Kết quả là lãi suất

thấp sẽ làm tăng khả năng chấp nhận rủi ro của cả khách hàng đi vay lẫn hệ thống

ngân hàng [43, 94]. Đơn cử, lãi suất thấp và giá tài sản gia tăng sẽ có xu hướng làm

giảm mức độ biến động của giá tài sản và sau đó là nhận thức về rủi ro của các chủ

thể: giá cổ phiếu cao hơn làm tăng giá trị vốn chủ sở hữu so với nợ, giá cổ phiếu tăng

nhanh làm giảm đòn bẩy tài chính và làm giảm rủi ro của việc nắm giữ cổ phiếu. Hiện

tượng này được gọi là ảnh hưởng đòn bẩy (leverage effect) trong nghiên cứu của

Pagan và Schwert (1990) [101]và Bollerslev và các cộng sự (1992) [42].

Thứ hai, chính sách lãi suất thấp khiến nhà quản lý ngân hàng và doanh nghiệp

có xu hướng chấp nhận rủi ro cao hơn do các quy định trong hợp đồng với chủ sở hữu

Sự giảm xuống của lãi suất so với các mục tiêu lợi nhuận cố định của các doanh

nghiệp hoạt động trong ngành tài chính khiến cho các nhà quản lý buộc phải chấp nhận

mức rủi ro cao hơn nhằm đạt được mức lợi nhuận cao hơn so với mặt bằng lợi nhuận

của ngành hay của nền kinh tế (Rajan, 2005). Hiện tượng này được gọi là tìm kiếm lợi

nhuận (search for yield) [106]. Một minh họa điển hình là vào giai đoạn 2003 - 2004,

nhà đầu tư dịch chuyển danh mục đầu tư từ trái phiếu chính phủ với lợi suất thấp sang

trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu thị trường mới nổi với mức lãi suất cao hơn

tương ứng với mức rủi ro cao hơn. Những nhà đầu tư này cần phải đáp ứng mức lợi

nhuận cao mà họ đã đạt được trong giai đoạn lãi suất cao trước đó.

Sự giảm xuống trong mức lãi suất danh nghĩa do NHTW thực thi CSTT nới

lỏng sẽ dẫn tới việc thay đổi trong hành vi kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh

tế được bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Các nguyên nhân này bao gồm nguyên nhân

đến từ yếu tố tâm lý, quy định trong các hợp đồng và pháp luật.

Về yếu tố tâm lý, ảo tưởng về tiền tệ khiến các doanh nghiệp có thể không nhận

định được mức lãi suất danh nghĩa thấp xuất phát từ việc lạm phát thấp (Gambacorta,

2009) [67]. Cambell và Cochrane (1999) chỉ ra nhà đầu tư có xu hướng ít ngại rủi ro

trong giai đoạn kinh tế thịnh vượng khi tăng mức chi tiêu; CSTT nới lỏng thúc đẩy

tăng trưởng kinh tế, từ đó làm giảm mức độ ngại rủi ro [48]. Kết luận này cũng được

26

kiểm chứng qua các mô hình giá tài sản với kết luận mức chênh lệch lãi suất (credit

spread) tăng lên trong dài hạn sau thời kỳ lãi suất thấp [93, 53].

Một nguyên nhân khác xuất phát từ các quy định trong các thỏa thuận kinh tế

hoặc quy định của Chính phủ. Ví dụ, công ty bảo hiểm nhân thọ và quỹ hưu trí quản lý

tài sản nhằm đáp ứng các nghĩa vụ về tài chính trong tương lai. Tại một số quốc gia

như Thụy Sĩ, Nhật Bản, và Anh, nghĩa vụ tài chính được gắn kết với mức sinh lời danh

nghĩa vốn dĩ được cố định trong dài hạn mà không phản ánh mức sinh lời bình quân

hiện hành. Trong thời kỳ lãi suất thấp, mức sinh lời quy định trong hợp đồng thường

vượt quá mức sinh lời của những tài sản có mức rủi ro thấp và buộc các tổ chức này

phải tìm kiếm những khoản đầu tư có mức sinh lời cao hơn và tương ứng là mức rủi ro

cao hơn. Đối với các ngân hàng, trong trường hợp không được phép đầu tư vào các

lĩnh vực rủi ro và đối mặt với mức lãi suất thấp của trái phiếu Chính phủ, việc tăng các

khoản cấp tín dụng có mức độ rủi ro cao là khó tránh khỏi.

𝑀 ↑→ 𝑖 ↓→ 𝑘ℎả 𝑛ă𝑛𝑔 𝑐ℎấ𝑝 𝑛ℎậ𝑛 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 ↑→ đầ𝑢 𝑡ư, 𝑡í𝑛 𝑑ụ𝑛𝑔 ↑→ 𝐼 ↑→ 𝑌 ↑

trong đó M là cung tiền, i là lãi suất, I là đầu tư, Y là tổng sản lượng.

Ngoài ra, các hợp đồng về lương, thưởng của ban điều hành doanh nghiệp gắn

với lợi nhuận của công ty cũng là một nhân tố khiến cho ban điều hành sẵn lòng chấp

nhận mức rủi ro cao hơn (Ackerman và cộng sự, 1999) [23]. Các nhà đầu tư cũng có

xu hướng đánh giá năng lực của ban điều hành thông qua kết quả kinh doanh trong

ngắn hạn [11, 47]. Điều này đặc biệt đúng đối với các ngân hàng niêm yết khi mức độ

giám sát và đánh giá của nhà đầu tư trong ngắn hạn luôn ở mức cao. Điều này buộc

ban điều hành phải tăng mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng trong bối cảnh mặt

bằng lãi suất thấp.

Thứ ba, lãi suất thấp làm tăng giá trị vốn chủ sở hữu và khuyến khích ngân

hàng chấp nhận rủi ro nhiều hơn

Đây là kênh truyền tải được gọi là kênh đòn bẩy, đề xuất bởi Adrian và Shin

(2009). Các tổ chức tài chính có xu hướng duy trì mức đòn bẩy tài chính cố định (đối

với NHTM) và theo chu kỳ (đối với ngân hàng đầu tư). Khi gặp phải cú sốc đối với

danh mục đầu tư và lợi nhuận, ngân hàng phản ứng lại bằng cách thực hiện các giao

dịch liên quan tới tài sản hơn là phân phối lợi nhuận hoặc huy động thêm vốn. CSTT

nới lỏng sẽ làm tăng giá trị tài sản, lợi nhuận và vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Ngân

hàng sẽ phản ứng lại trong sự giảm xuống của đòn bẩy bằng cách tăng giá trị tài sản

[28]. Điều này củng cố hơn ảnh hưởng ban đầu của lãi suất tới giá trị tài sản và khiến

cho hệ thống ngân hàng trở nên đối mặt với rủi ro nhiều hơn với sự biến động của giá

tài sản.

27

Thứ tư, kênh chấp nhận rủi ro bắt nguồn từ quá trình thông báo chính sách của

NHTW và mức độ hiệu quả của hàm phản ứng [32]

Mức độ minh bạch thông tin và cam kết chính sách của NHTW tăng lên làm

tăng lòng tin của công chúng, giảm đi sự bất định và làm tăng mong muốn chấp nhận

rủi ro của ngân hàng. Đa phần các NHTW có xu hướng tăng cường mức độ minh bạch

thông tin và tạo dựng niềm tin của công chúng vào các chính sách điều hành, đặc biệt

là tại các quốc gia theo đuổi chính sách lạm phát mục tiêu. Ví dụ, nhận thức của công

chúng về khả năng NHTW sẽ can thiệp để tránh suy thoái kinh tế khiến cho khả năng

nền kinh tế rơi vào tình trạng suy giảm được giảm nhẹ. Tương tự, nhận thức của các

ngân hàng về khả năng NHTW sẽ can thiệp hỗ trợ các ngân hàng trong trường hợp gặp

rủi ro phá sản sẽ khuyến khích các ngân hàng chấp nhận rủi ro nhiều hơn với khả năng

quản trị rủi ro của mình.

1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH

TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1. Cơ sở hình thành kênh tín dụng

Bốn thập kỷ gần đây đã chứng kiến những sự thay đổi căn bản trong hoạt động

của thị trường tài chính (như quá trình tự do hóa tài chính và chứng khoán hóa), kéo

theo đó là phương thức điều hành CSTT được các NHTW lựa chọn, hướng nhiều hơn

tới mục tiêu ổn định giá cả. Cũng từ đó, các nhà nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn về các

cách thức CSTT ảnh hưởng tới nền kinh tế, tạo ra một lĩnh vực nghiên cứu mới cho

truyền tải CSTT. Tuy quan điểm truyền thống về tác động của CSTT tới các biến số vĩ

mô qua kênh lãi suất được nhiều nhà kinh tế học tán thành, các nghiên cứu định lượng

lại chỉ ra rằng ngoài lãi suất, các yếu tố trễ khác như sản lượng, doanh thu và dòng tiền

(accelerator) mới là các nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất tới chi tiêu và tiêu dùng [39,

50, 41]. Theo Bernanke và Gertler (1995), CSTT tỏ ra thiếu hiệu quả trong việc làm

giảm lãi suất trung dài hạn, đặc biệt là lãi suất thực, vốn đóng vai trò quan trọng trong

quyết định đầu tư vào các tài sản dài hạn của các chủ thể kinh tế [36].

Chính mối quan hệ mờ nhạt giữa lãi suất và đầu tư vào tài sản dài hạn được chỉ

ra từ nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm kể trên vào những năm đầu của thập

niên 1990 đã dẫn đến nhiều quan điểm nghiên cứu mới về truyền tải CSTT. Để khắc

phục vấn đề này, Bernanke và Gertler (1995) đã đề xuất kênh tín dụng được xây dựng

trên giả định cấu trúc tài chính (financial structure) có tác động tới hành vi và tiêu

dùng của các chủ thể trong nền kinh tế [36].

Giả định này khác với một số học thuyết kinh tế vĩ mô được xây dựng trên giả

định đơn giản là cấu trúc tài chính không có tác động tới hành vi đầu tư và tiêu dùng.

Nói cách khác, các chủ thể trong nền kinh tế gồm doanh nghiệp và hộ gia đình không

28

chịu ảnh hưởng từ sự khác biệt giữa các nguồn vốn được sử dụng cho hoạt động đầu tư

và tiêu dùng. Điều này đồng nghĩa với giả định thị trường tài chính là hoàn hảo, trong

đó người cho vay và người đi vay có mức độ thông tin như nhau với mức chi phí bằng

không. Tuy nhiên, các giả định này không tồn tại trong thực tế do một số nguyên nhân

sau: (i) các doanh nghiệp và hộ gia đình có xu hướng tiêu dùng lợi nhuận và thu nhập

trước khi huy động nguồn vốn từ bên ngoài; (ii) các doanh nghiệp có quy mô lớn có

khả năng huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu trong khi các doanh

nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, các hộ gia đình và cá nhân lại phụ thuộc vào các khoản

vay từ các trung gian tài chính như ngân hàng; (iii) thị trường tài chính là không hoàn

hảo thể hiện rõ qua vấn đề thông tin bất cân xứng và sự tồn tại của chi phí giao dịch

các loại hàng hóa (bao gồm cả thông tin) trên thị trường. Như vậy, các mô hình kinh tế

truyền thống xây dựng trên giả định cấu trúc tài chính không ảnh hưởng tới hành vi

đầu tư và tiêu dùng trở nên thiếu hiệu quả trong việc đưa ra các lập luận về tác động

của các chính sách kinh tế do Chính phủ thực hiện tới các mục tiêu vĩ mô.

Trên thực tế, các chủ thể đi vay thường có xu hướng sử dụng nguồn vốn bên

trong như lợi nhuận và thu nhập hơn là nguồn vốn bên ngoài xuất phát từ ba lý do

chính gồm: (i) chủ thể đi vay không muốn chia sẻ thông tin về hoạt động kinh doanh

hay chịu sự giám sát sử dụng vốn vay từ phía chủ thể cho vay; (ii) chủ thể đi vay phải

trả chi phí và thời gian để đi tìm chủ thể dư thừa vốn; và (iii) chi phí huy động nguồn

vốn bên ngoài cao hơn nguồn vốn nội bộ bắt nguồn từ vấn đề người đại diện - agency

cost nảy sinh khi chủ thể cho vay không chắc chắn rằng lợi ích của họ được chủ thể đi

vay đảm bảo. Đây là cơ sở lý thuyết quan trọng để xây dựng cơ chế truyền tài của

CSTT thông qua kênh tín dụng.

Theo lý thuyết về kênh tín dụng, tác động trực tiếp của CSTT lên lãi suất được

khuếch tán thông qua sự thay đổi trong phần thưởng nguồn vốn bên ngoài (external

finance premium). Phần thưởng nguồn vốn bên ngoài là sự chênh lệch giữa nguồn vốn

huy động từ bên ngoài (từ phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vay ngân hàng) và nguồn vốn

huy động từ bên trong (từ thu nhập giữ lại) của các chủ thể kinh tế như doanh nghiệp,

hộ gia đình hay cá nhân. Mức độ chênh lệch này phản ánh sự không hoàn hảo của thị

trường tín dụng (vấn đề chủ sở hữu và người đại diện; chi phí thẩm định, giám sát, thu

hồi; vấn đề thông tin bất cân xứng), tạo ra mức chênh lệch giữa lợi nhuận kỳ vọng của

người cho vay và chi phí của người đi vay. Khi NHTW điều hành CSTT thắt chặt hay

nới lỏng, phần thưởng nguồn vốn bên ngoài sẽ thay đổi theo, tùy thuộc vào đặc điểm

của thị trường tài chính và các chủ thể trên thị trường tài chính. Như vậy, kênh tín

dụng có thể đại diện cho một nhóm các nhân tố có tác dụng khuếch đại và lan truyền

tác động của CSTT tới các biến số vĩ mô (thuật ngữ “kênh tín dụng” cần được hiểu là

29

“cơ chế tăng cường” chứ không hẳn là một cơ chế độc lập như kênh lãi suất hay kênh

giá tài sản).

Hình 1.1: Cơ chế khuếch đại ảnh hưởng của CSTT

Tình trạng thông tin bất cân xứng giữa doanh nghiệp và ngân hàng dẫn tới phần

thưởng nguồn vốn bên ngoài với vai trò bù đắp cho ngân hàng các chi phí trong quá

trình thẩm định và giám sát tín dụng. Tại Hình 1.1, giả định F là nguồn vốn từ bên

trong của doanh nghiệp (vốn chủ sở hữu) và chi phí của nguồn vốn này là r1, r1 có thể tách ra thành rf 1 là lãi suất phi rủi ro (đại diện cho lãi suất chính sách) và θ là phần bù cho rủi ro của doanh nghiệp. Trong trường hợp thị trường tín dụng là hoàn hảo, doanh

nghiệp vay vốn ngân hàng sẽ chỉ phải trả mức lãi suất r1. Tuy nhiên, do tồn tại tình trạng thông tin bất cân xứng dẫn tới rủi ro đạo đức nên mức lãi suất phải trả sẽ cao hơn

r1 một mức phần thưởng rủi ro là Ω.

Độ lớn của Ω phụ thuộc vào hai yếu tố. Thứ nhất, Ω tăng lên cùng với sự tăng lên

của vốn vay ngân hàng khi mà rủi ro đạo đức tăng lên theo. Mối quan hệ giữa Ω và vốn

vay ngân hàng được biểu diễn bởi đường S1. Thứ hai, theo Gertler và Hubbard (1988), Ω cũng tăng lên cùng với sự tăng lên của lãi suất phi rủi ro, một phần là do lãi suất tăng

làm giảm giá trị của tài sản bảo đảm cho khoản vay, làm tăng rủi ro đạo đức [70].

1 hàm ý rằng sự không hoàn hảo của thị trường tín dụng có thể khuếch đại cú sốc CSTT. Một sự tăng lên của lãi suất phi rủi

Sự phụ thuộc của Ω vào lãi suất phi rủi ro rf

ro sẽ làm tăng lãi suất vay vốn ngân hàng, làm dịch chuyển đường chi phí vốn từ S1 đến S2 và lượng vốn vay ngân hàng giảm từ (I1 – F) xuống còn (I2 – F). Sự giảm xuống trong nguồn vốn bị khuếch đại bởi sự tăng lên của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài

khi làm cho S1 dịch chuyển đến S2 thay vì S1’. Như vậy, lượng vốn dành cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp đã trở nên nhạy cảm hơn với công tác điều hành CSTT.

Do chịu ảnh hưởng từ đặc điểm của từng nền kinh tế, sự vận động không ngừng

của thị trường tài chính và các trung gian tài chính, mức độ hiệu quả của các kênh

30

truyền tải CSTT thay đổi theo thời gian. Các nghiên cứu định lượng về truyền tải

CSTT đưa ra các kết luận khác nhau về vai trò của kênh tín dụng (đối với trường hợp

của Mỹ, xem nghiên cứu của Kashyap và Stein (2000) [85], đối với khu vực Châu Âu,

xem nghiên cứu của Angeloni, Kashyap và Mojon (2003) [26]). Tuy nhiên, điểm

chung lại của các nghiên cứu này là nhận định: với các thị trường tài chính dựa vào thị

trường chứng khoán (market based) và mức độ thay thế giữa các tài sản cho nhau là

cao thì vai trò của kênh tín dụng bị giảm đi so với các kênh khác. Juurikkala và các

cộng sự (2009) lập luận rằng các hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ truyền tải thay

đổi trong CSTT tới nền kinh tế thực nhanh chóng hơn với một thị trường tài chính dựa

vào ngân hàng (bank based). Nhìn nhận theo một cách tiếp cận khác, Angeloni và

Ehrmann (2003) nghiên cứu các kênh truyền tải qua hệ thống ngân hàng và thị trường

chứng khoán tại khu vực Châu Âu sau giai đoạn hình thành khu vực sử dụng đồng tiền

chung. Hai tác giả nhận thấy hệ thống ngân hàng đang hướng đến sự đồng nhất nhờ

quá trình hội nhập và cạnh tranh gia tăng, góp phần vào làm tăng vai trò của hệ thống

ngân hàng trong truyền tải CSTT. Đã có một sự thay đổi rõ rệt trong cách thức các

ngân hàng ở Châu Âu thiết lập lãi suất huy động và cho vay với mức độ phản ứng

trước thay đổi điều hành CSTT một cách mạnh mẽ hơn so với trước đây [27].

Nghiên cứu của Kohlscheen và Miyajima (2015) tại các quốc gia mới nổi chỉ ra

kênh truyền tải truyền thống (ảnh hưởng trực tiếp qua chi phí vốn) cũng như kênh tín

dụng (ảnh hưởng gián tiếp) có tác động khác nhau tới tốc độ tăng trưởng đầu tư. Mức

độ ảnh hưởng phụ thuộc vào vai trò của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế. Tuy

nhiên, dù ảnh hưởng là trực tiếp hay gián tiếp, dù hệ thống tài chính chủ yếu phụ thuộc

vào thị trường chứng khoán đi chăng nữa thì xem xét vai trò của kênh tín dụng vẫn là

cần thiết do điều hành CSTT có tác động tới sức khỏe của hệ thống ngân hàng, và từ

đó tác động tới tính thanh khoản của thị trường tài chính nói chung. Sự thay đổi của thị

trường tài chính tiền tệ thế giới gần đây đã dẫn tới sự gia tăng phần bù rủi ro đối với

khoản nợ của các nền kinh tế mới nổi, và ảnh hưởng tới tổng cầu thông qua hoạt động

tiêu dùng và đầu tư tại các nền kinh tế này. Kohlscheen và Miyajima chỉ ra tại các nền

kinh tế mà nguồn vốn tín dụng ngân hàng có vai trò quyết định trong hoạt động đầu tư

và các ngân hàng hàng nhỏ đóng góp một vai trò tương đối trong thị trường tài chính

thì rõ ràng các nhà điều hành chính sách đang ngày một quan tâm hơn tới kênh truyền

tải qua hệ thống ngân hàng [81]. Kết luận này cũng tương đồng với kết luận của Ngân

hàng Trung ương Châu Âu (2000) trong một nghiên cứu về vai trò của ngân hàng

trong truyền tải CSTT. Tuy nhiên, một nghiên cứu của Ananchotikul và Seneviratne

(2015) cho các nền kinh tế mới nổi tại Châu Á lại đưa ra nhận định trái chiều. Theo lập

31

luận thông thường, tại các quốc gia dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng để cấp vốn

cho các hoạt động kinh tế như tại các quốc gia Châu Á, ngân hàng đóng vai trò tối

quan trọng trong truyền tải CSTT. Hai tác giả sử dụng dữ liệu vĩ mô và dữ liệu mảng

của 9 quốc gia Châu Á từ năm 2000 đến 2013 để kiểm chứng lập luận này. Kết quả

cho thấy kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng, và rộng hơn là kênh tín dụng

không hề thể hiện được vai trò như kỳ vọng. Hiệu quả của truyền tải CSTT phụ thuộc

nhiều vào đặc điểm của hệ thống ngân hàng như năng lực tài chính, cơ cấu sở hữu lẫn

các yếu tố bên ngoài [25]. Nhận định này cùng với việc hội nhập tài chính ngày một

diễn ra sâu rộng và nhanh chóng đưa đến một cảnh báo về những thách thức không

nhỏ cho những nhà điều hành CSTT khi tầm quan trọng của từng kênh truyền tải có xu

hướng thay đổi chứ không cố định.

1.2.2. Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của ngân hàng thương mại

Bernanke và Gertler (1995) đã đề xuất hai kênh truyền tải thông qua bảng cân

đối tài sản của người đi vay (balance sheet channel) và khối lượng tín dụng thông qua

khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng (bank lending channel) [36].

1.2.2.1. Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay

a/ Ảnh hưởng thông qua tác động tới rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch

Cơ sở của kênh truyền tải này là phần thưởng nguồn vốn bên ngoài tỷ lệ nghịch

với tình hình tài chính của người đi vay: giá trị tài sản ròng và giá trị các tài sản có tính

thanh khoản của người đi vay càng lớn thì phần thưởng nguồn vốn bên ngoài càng

nhỏ. CSTT thắt chặt có tác động trực tiếp làm suy yếu tình hình tài chính của người đi

vay thông qua hai ảnh hưởng.

Ảnh hưởng trực tiếp thứ nhất là qua các khoản vay ngắn hạn và các khoản vay

có lãi suất thả nổi. Khi NHTW thắt chặt CSTT, các ngân hàng sẽ có xu hướng điều

chỉnh lại lãi suất cho vay trong bối cảnh nguồn vốn cho vay giảm và chi phí huy động

tăng. Mức độ phản ứng nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào đặc điểm cơ cấu nguồn

vốn huy động có ổn định hay không ổn định và cơ cấu khoản tín dụng của ngân hàng

là lãi suất thả nổi hay cố định, thời hạn cho vay dài hay ngắn. Kế đó, mức lãi suất cao

khiến cho chi phí lãi vay cao hơn, làm giảm lợi nhuận, dòng tiền và giá trị tài sản ròng

(đặc biệt là đối với các doanh nghiệp và hộ gia đình có tỷ lệ nợ cao).

Ảnh hưởng trực tiếp thứ hai khi lãi suất tăng là làm giảm giá trị tài sản được sử

dụng để thế chấp cho khoản vay (theo mô hình định giá chiết khấu dòng tiền). Ngoài

ra, khi giá trị tài sản ròng giảm, các doanh nghiệp có xu hướng chấp nhận các dự án có

mức độ rủi ro cao hơn, khiến cho khả năng hoàn trả khoản vay giảm xuống. Trong

những trường hợp này, rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn đối nghịch tăng lên làm các

NHTM thận trọng hơn trong việc thẩm định và đưa ra quyết định tín dụng, từ đó hạn

32

chế phần nào mong muốn cấp tín dụng của ngân hàng, và hệ quả là đầu tư của doanh

nghiệp vì thế cũng sẽ giảm theo.

Về phía tác động gián tiếp, khi NHTW thắt chặt CSTT, các doanh nghiệp sản

xuất hàng hóa sẽ gặp khó khăn do doanh thu sụt giảm trong khi chi phí cố định lại giữ

nguyên, khiến cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, giá trị tài sản ròng giảm. Trước

tình hình năng lực tài chính của khách hàng vay vốn sụt giảm, NHTM khi tiến hành

thẩm định tín dụng sẽ có xu hướng khả năng từ chối cấp tín dụng nhằm bảo đảm mức

độ an toàn cho hoạt động ngân hàng.

Tổng hợp của ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp là giá trị tài sản ròng và tài sản

thế chấp giảm xuống khiến cho phần thưởng nguồn vốn bên ngoài tăng lên do rủi ro

tiềm ẩn đối với NHTM tăng lên; người đi vay (bao gồm cả doanh nghiệp và hộ gia

đình) sẽ hạn chế đầu tư và tiêu dùng hàng hóa lâu bền (Gertler và Gilchrist, 1993). Do

vậy, các NHTM sẽ hạn chế cấp tín dụng cho các đối tượng này, từ đó làm giảm tín

dụng đối với nền kinh tế. Kết quả là tổng cầu và sản lượng giảm xuống. Quá trình

truyền tải như sau:

rủi ro đạo đức↑→tín M↓→i↑→Pequity↓→lựa chọn đối nghịch và

dụng↓→I↓→Y↓ trong đó: M là cung tiền, i là lãi suất, Pequity là giá trị tài sản ròng, I là đầu tư, Y là tổng sản lượng.

Ngoài ra, CSTT thắt chặt có thể tác động tới nền kinh tế thông qua việc làm cho

luồng thu tiền mặt trở nên khó khăn hơn, giảm tính thanh khoản của bảng cân đối tài

sản của doanh nghiệp. Điều này làm tăng tính quan ngại của ngân hàng vào khả năng,

thậm chí là mong muốn trả nợ của khách hàng và dẫn tới quá trình truyền tải như sau:

M↓→i↑→CF↓→ lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức↑→tín dụng↓→I↓→Y↓

trong đó: M là cung tiền, i là lãi suất, CF là dòng tiền, I là đầu tư, Y là tổng sản

lượng.

b/ Ảnh hưởng thông qua chuẩn mực đánh giá khách hàng của ngân hàng

Cơ chế truyền tải CSTT qua bảng cân đối tài sản còn được thể hiện thông qua

việc xử lý vấn đề lựa chọn đối nghịch của ngân hàng. Theo Stiglitz và Weiss (1981), lựa

chọn đối nghịch khi đánh giá khách hàng (credit rationing) xảy ra trong trường hợp

khách hàng bị từ chối cấp tín dụng cho dù họ sẵn sàng trả mức lãi suất cao hơn. Điều

này xảy ra do các cá nhân và doanh nghiệp với những phương án sản xuất kinh doanh và

dự án đầu tư có mức độ rủi ro cao chính là những người sẵn lòng chi trả mức lãi suất cao

nhất. Nếu phương án, dự án của họ thành công thì họ là những người nhận được nhiều

lợi ích kinh tế hơn trong khi ngân hàng chỉ nhận được lãi vay theo thỏa thuận trong hợp

đồng tín dụng; còn ngược lại, nếu phương án thất bại, các khách hàng vay vốn và ngân

hàng đều gặp rủi ro như nhau là không thu hồi được vốn bỏ ra [116]. Ngoài ra, việc thay

33

đổi lãi suất cho vay và các điều khoản tín dụng cũng làm thay đổi hành vi của khách

hàng vay vốn. Lãi suất cho vay tăng lên sẽ có xu hướng khuyến khích doanh nghiệp

thực hiện những dự án có xác suất thành công thấp nhưng đem lại nhiều lợi nhuận nếu

dự án thành công [116]. Vì vậy, CSTT theo hướng thắt chặt làm tăng rủi ro lựa chọn đối

nghịch, các NHTM trở nên khắt khe hơn trong quá trình xét duyệt và cấp tín dụng cho

khách hàng, làm giảm khối lượng tín dụng cấp cho nền kinh tế.

Hình 1.2: Cơ chế truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài sản

c/ Ảnh hưởng thông qua sự biến động của mức giá chung

Kênh truyền tải CSTT này tác động tới doanh nghiệp thông qua mức giá cả

chung của nền kinh tế. Do các khoản mục bên nợ trên bảng cân đối tài sản thường

được chi trả lãi theo mức lãi suất cố định, sự tăng lên vượt mức dự tính của giá cả sẽ

làm giá trị thực các khoản nợ giảm xuống, giảm gánh nặng các khoản nợ cho doanh

34

nghiệp. Trong khi các khoản mục tài sản trên bảng cân đối tài sản ít bị ảnh hưởng hơn,

giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp sẽ tăng lên, làm giảm lựa chọn đối nghịch và rủi

ro đạo đức. Kết quả là khi NHTW thực hiện CSTT nới lỏng, các NHTM sẽ có xu

hướng dễ dàng chấp nhận các đề nghị vay vốn của doanh nghiệp hơn, làm tăng đầu tư

và sản lượng của nền kinh tế cũng vì thế mà tăng theo. Quá trình truyền tải CSTT qua

hai ảnh hưởng kể trên được mô tả như sau:

M↑→i↓→Punexpected↑→lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức↓→tín dụng↑→I↑→Y↑ trong đó: M là cung tiền, i là lãi suất, Punexpected là mức giá cả không dự tính, I là đầu tư, Y là tổng sản lượng.

1.2.2.2. Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng

a/ Ảnh hưởng thông qua dự trữ ngân hàng

Kênh khả năng cấp tín dụng góp phần giải thích mức độ tác động của CSTT

được khuếch đại hơn so với mức độ ảnh hưởng trực tiếp thông qua kênh lãi suất. Khi

CSTT được điều hành theo hướng thắt chặt, lượng tiền dự trữ trong hệ thống NHTM

giảm xuống. Do việc phát hành các công cụ nợ và cổ phiếu để bù đắp lượng giảm

xuống của tiền gửi là không hề dễ dàng nên khả năng cung ứng các khoản vay của hệ

thống ngân hàng bị ảnh hưởng.

Mặc dù về mặt lý thuyết, sự giảm xuống trong dự trữ của hệ thống ngân hàng

có thể được bù đắp bởi việc bán các chứng khoán kinh doanh nhưng các chứng khoán

này chỉ có hạn nên giải pháp này chỉ mang tính tạm thời. Ngoài ra, các ngân hàng có

quy mô lớn thường nắm giữ ít chứng khoán hơn các ngân hàng có quy mô vừa, và các

ngân hàng có quy mô vừa lại nắm giữ ít chứng khoán hơn các ngân hàng có quy mô

nhỏ. Trong khi đó, các ngân hàng nhỏ, vốn nhạy cảm với sự thay đổi của CSTT thắt

chặt (đặc biệt là vấn đề thanh khoản xảy ra khi người gửi tiền có xu hướng rút tiền), có

xu hướng duy trì một tỷ trọng tối thiểu các các chứng khoán nhằm bảo đảm sự an toàn

cho chính ngân hàng mình [84] nên lập luận về việc giảm tỷ trọng chứng khoán để bù

đắp cho sự giảm xuống trong dự trữ là thiếu thuyết phục.

Ở các quốc gia với thị trường tài chính phát triển, kênh tín dụng chủ yếu phát

huy ảnh hưởng thông qua nhu cầu vay vốn của các DNNVV (do hạn chế trong việc

tiếp cận nguồn vốn từ thị trường cổ phiếu và trái phiếu). Ngược lại, ở các quốc gia

đang phát triển, hoặc các quốc gia phát triển với thị trường tài chính phụ thuộc chủ yếu

vào hệ thống ngân hàng, thì ngay cả các doanh nghiệp lớn vẫn phụ thuộc nhiều vốn tín

dụng. Ở trường hợp này, kênh khả năng cấp tín dụng đóng vai trò vô cùng quan trọng

trong truyền tải tác động của CSTT tới nền kinh tế. Quá trình truyền tải như sau:

M↓→dự trữ hệ thống ngân hàng↓→khả năng cung ứng tín dụng↓→I↓→Y↓ ,

trong đó: M là cung tiền, I là đầu tư, Y là tổng sản lượng.

35

b/ Ảnh hưởng thông qua vốn chủ sở hữu ngân hàng

Ngoài kênh truyền tải thông qua dự trữ, kênh khả năng cấp tín dụng còn hoạt

động thông qua nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Trong kênh truyền tải này, giá

tài sản giảm xuống sẽ dẫn đến các khoản thua lỗ và/hoặc các khoản tín dụng bị suy

giảm chất lượng sẽ làm tăng mức trích lập DPRR của ngân hàng. Các khoản lỗ sẽ làm

giảm vốn chủ sở hữu ngân hàng (tuyệt đối hoặc tương đối) khiến cho các ngân hàng

thận trọng hơn trong việc mở rộng tài sản như cấp tín dụng.Ngoài ra, các ngân hàng

phải đáp ứng quy định về an toàn vốn như duy trì hệ số CAR không thấp hơn mức tối

thiểu. Giải pháp hiệu quả nhất đối với ngân hàng để tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu trở

lại là giảm hoạt động cho vay do việc huy động thêm vốn sẽ rất khó khăn và tốn kém

chi phí. Quá trình deleveraing này khiến cho những khách hàng phụ thuộc vào tín

dụng ngân hàng khó tiếp cận tín dụng ngân hàng hơn và phải cắt giảm các hoạt động

chi tiêu và đầu tư. Kết quả là tổng cầu của nền kinh tế giảm xuống.

M↓→giá trị tài sản↓→vốn chủ sở hữu↓→ khả năng cấp tín dụng↓→I↓→Y↓ ,

trong đó: M là cung tiền, I là đầu tư, Y là tổng sản lượng.

Hình 1.3: Cơ chế truyền tải CSTT qua kênh khả năng cấp tín dụng

36

Trong trường hợp CSTT nới lỏng, tình hình tài chính của ngân hàng sẽ được cải

thiện thông qua hai cách. Thứ nhất, lãi suất ngắn hạn giảm có xu hướng tăng lợi nhuận

biên, tăng lợi nhuận làm tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng qua thời gian. Thứ hai,

CSTT nới lỏng sẽ làm tăng giá trị tài sản tài chính và cải thiện tình hình trả nợ của

người đi vay. Khả năng tài chính được cải thiện sẽ thúc đẩy ngân hàng đẩy mạnh hoạt

động cho vay trở lại.

Quá trình tự do hóa tài chính và ứng dụng các công cụ tài chính mới đã làm

giảm vai trò của kênh truyền tải thông qua khả năng cấp tín dụng. Trong khi đó, sự kết

hợp của hai kênh truyền tải này ngày càng tăng do sự liên kết giữa các ngân hàng trên

thị trường tài chính ngày càng cao (bắt nguồn sự phức tạp trong các giao dịch tài chính

giữa các ngân hàng như vay mượn trên TTLNH, đầu tư góp vốn, chứng khoán hóa,

công cụ phái sinh...). Ngoài ra, kênh truyền tải tín dụng đưa ra hàm ý đối với người

điều hành chính sách là các doanh nghiệp, hộ gia đình và các ngân hàng với tình hình

tài chính yếu kém là những đối tượng dễ chịu tác động tiêu cực từ thay đổi chính sách

tín dụng của ngân hàng và ngược lại.

Đối với một thị trường tài chính phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống NHTM (thị

trường chứng khoán kém phát triển), các biện pháp điều hành CSTT còn mang tính

chất hành chính, trực tiếp, những đặc điểm này sẽ dẫn tới sự gia tăng vai trò của kênh

tín dụng nhưng cũng đồng thời tạo ra ảnh hưởng không tốt tới truyền tải CSTT qua

kênh tín dụng. Thiếu hụt một thị trường các sản phẩm đầu tư có mức độ rủi ro (tín

dụng, thanh khoản…) phù hợp với mức độ ưu thích rủi ro của nhà đầu tư buộc họ phải

lựa chọn đầu tư vào các tài sản thực và/hoặc gửi tiền tiết kiệm vào hệ thống ngân hàng.

Khi đó, bên nguồn vốn và có của hệ thống NHTM sẽ chịu một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, tính ổn định của nguồn vốn bị giảm xuống do các chủ thể có thể rút

vốn bất cứ lúc nào để tìm kiếm các khoản lợi nhuận xuất hiện trên thị trường như các

đợt tăng giá đột biến của thị trường chứng khoán, ngoại tệ, bất động sản hoặc để gửi

vào các ngân hàng có mức lãi suất huy động vốn cao hơn. Thứ nhất, sự thiếu ổn định

này có thể làm cản trở khả năng cấp tín dụng ra nền kinh tế của NHTM. Thứ hai, với

một bên nguồn vốn thiếu ổn định với kỳ hạn bình quân ngắn nhưng lại phải cấp tín

dụng với kỳ hạn bình quân dài hơn, hệ thống NHTM phải đối mặt với rủi ro nhiều hơn

khi mặt bằng lãi suất thị trường tăng (khi NHTW thực hiện CSTT thắt chặt) và ngược

lại. Thứ ba, áp lực huy động vốn ngắn hạn khiến cho mặt bằng lãi suất ngắn hạn tăng,

tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất trung và dài hạn, khiến cho việc giảm lãi suất không hề

dễ dàng. Sự khuếch đại ảnh hưởng quá mạnh này khiến cho việc thắt chặt CSTT ảnh

hưởng xấu tới sự ổn định của NHTM và khả năng cấp tín dụng ra nền kinh tế.

37

Thứ hai, chi phí vốn tăng cao do NHTM phải trả thêm khoản lãi cho người gửi

tiền (để đáp ứng được mức sinh lời cao mà bản thân người gửi tiền kỳ vọng). Chi phí

huy động vốn tăng sẽ tạo áp lực lên chi phí cho vay của NHTM đối với các khách

hàng vay vốn nhằm duy trì mức lợi nhuận phù hợp. Kết hợp với đặc điểm thứ nhất,

NHTM sẽ phản ứng lại bằng cách tìm kiếm và/hoặc cho vay các khách hàng có mức

độ rủi ro cao, hoặc chấp nhận từ bỏ một phần các lợi ích về đa dạng hóa để tiến tới một

danh mục tín dụng rủi ro hơn. Khi nền kinh tế hoạt động yếu kém với hiệu quả đầu tư

thấp, các NHTM buộc phải tìm kiếm rủi ro cao hơn để đạt được mức lợi nhuận kỳ

vọng của cổ đông và đủ chi trả khoản lãi cho các khoản lãi suất huy động. Hơn nữa,

các doanh nghiệp phải vay vốn với mức lãi suất cao sẽ làm tăng chi phí, giá thành sản

phẩm và giảm đi tính cạnh tranh của sản phẩm. Đặc điểm này cho thấy mối quan hệ

giữa truyền tải CSTT qua kênh khả năng cấp tín dụng, kênh bảng cân đối tài sản của

người đi vay và kênh chấp nhận rủi ro.

Khi nghiên cứu về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng, cần chú ý rằng mặc dù

tác động của CSTT lên lãi suất là không thể phủ nhận, nhưng tác động của sự thay đổi

lãi suất lên các nhân tố khác (hơn là tác động trực tiếp lên đầu tư và tiêu dùng) mới

đóng vai trò quan trọng trong ảnh hưởng tới các biến số vĩ mô như sản lượng, thất

nghiệp và lạm phát [37]. Kênh truyền tải tín dụng đã giải thích tốt nhận xét này dựa

trên lập luận: lãi suất tăng trong điều kiện tình hình tài chính của doanh nghiệp là tốt sẽ

không tạo ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực; trái lại, lãi suất tăng trong điều kiện tình hình

tài chính của doanh nghiệp đang xấu đi sẽ có tác động tiêu cực. Sự không cân xứng

trong tác động của chính sách tiền tệ là nguyên nhân dẫn đến các nghiên cứu định

lượng hạ thấp mối quan hệ giữa lãi suất và các biến số vĩ mô [50].

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng

của ngân hàng thương mại

1.2.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh bảng

cân đối tài sản của người đi vay

Các nhân tố ảnh hưởng tới truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài sản gồm

đặc điểm bảng cân đối tài sản và hoạt động kinh doanh của hệ thống doanh nghiệp và

hộ gia đình.

a/ Doanh nghiệp và hộ gia đình có tỷ trọng vay nợ trong nguồn vốn càng lớn thì

mức độ truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài sản càng lớn

Với tỷ trọng vay nợ cao, nói cách khác, các chủ thể trong nền kinh tế phụ thuộc

nhiều vào nguồn vốn vay ngân hàng, một sự thay đổi nhỏ trong chính sách tiền tệ tín

dụng (thể hiện qua lãi suất cho vay và lượng cung ứng vốn tín dụng của NHTM) sẽ có

ảnh hưởng nhanh và mạnh tới tình hình tài chính của chủ thể đi vay. Sự mất cân đối

38

giữa nguồn vốn từ vay nợ ngân hàng và nguồn vốn chủ sở hữu theo hướng tập trung

vào vay nợ ngân hàng làm gia tăng mức độ đòn bẩy tài chính (và đi kèm là rủi ro tài

chính) của doanh nghiệp và hộ gia đình. Đối với trường hợp các khoản vay ngắn hạn,

khi cần phải vay NHTM cho chu kỳ sản xuất kinh doanh mới, các doanh nghiệp sẽ

thận trọng và gặp khó khăn hơn nếu như lãi suất cho vay được điều chỉnh tăng và

chính sách tín dụng cũng được điều chỉnh chặt chẽ hơn (do NHTW thực hiện CSTT

thắt chặt). Điều này là do đòn bẩy tài chính cao sẽ có tác dụng khuếch một sự thay đổi

nhỏ trong lãi suất, làm tăng chi phí lãi vay và ảnh hưởng mạnh tới lợi nhuận của doanh

nghiệp. Cùng với đó, việc giảm hạn mức tín dụng sẽ buộc quy mô sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp phải thu hẹp lại so với trước. Tổng hợp của hai ảnh hưởng này là

hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tiêu dùng của hộ gia đình sẽ giảm

xuống nhanh chóng. Thời hạn vay vốn càng ngắn thì ảnh hưởng của CSTT càng nhanh

và rõ rệt hơn.

Tương tự, trong trường hợp các khoản vay tại NHTM tập trung chủ yếu vào lãi

suất thả nổi (do các NHTM không có khả năng quản trị rủi ro lãi suất hoặc hệ thống tài

chính thiếu các chủ thể có khả năng quản trị rủi ro lãi suất), những thay đổi trong

CSTT sẽ được truyền tải nhanh hơn tới nền kinh tế thông qua tác động vào bảng cân

đối tài sản của chủ thể đi vay.

Xét trên góc độ vĩ mô, tại các quốc gia với thị trường trái phiếu và cổ phiếu

chưa phát triển, doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng sẽ là đối tượng

có mức độ nhạy cảm cao với những thay đổi trong điều hành CSTT của NHTW.

Tương tự, nền kinh tế có nhiều DNNVV so với doanh nghiệp lớn, nhóm DNNVV này

sẽ khó tiếp cận thị trường chứng khoán, và cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ công tác điều

hành CSTT qua kênh tín dụng ngân hàng.

b/ Doanh nghiệp có năng lực quản trị doanh nghiệp và sản xuất kinh doanh tốt

sẽ có khả năng chống chọi trước những thay đổi (đặc biệt là những cú sốc) trong điều

hành CSTT của NHTW

Các doanh nghiệp có năng lực sản xuất kinh doanh tốt, thể hiện ở yếu tố thị

trường, sản phẩm, công nghệ, và nguồn lực…, sẽ ít chịu ảnh hưởng tiêu cực từ thắt

chặt CSTT so với các doanh nghiệp có năng lực sản xuất kinh doanh yếu. Khi nền

kinh tế xuất hiện dấu hiệu giảm tốc do NHTW thực hiện CSTT thắt chặt, các chủ thể

có xu hướng điều chỉnh lại quyết định đầu tư và tiêu dùng theo hướng co hẹp và thận

trọng hơn. Do vậy, trước sự co hẹp của thị trường, những doanh nghiệp có năng lực

quản trị không tốt, khả năng cạnh tranh trên thị trường thấp sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực

một cách nhanh chóng và mạnh mẽ hơn so với các đối thủ của mình, thể hiện qua tình

trạng doanh thu, dòng tiền, và lợi nhuận đều giảm xuống…, làm giảm nhu cầu vay vốn

ngân hàng.

39

Ở góc độ vĩ mô, một nền kinh tế có hiệu quả đầu tư và khả năng cạnh tranh thấp

sẽ rất khó chống đỡ trước các cú sốc từ việc thắt chặt CSTT của NHTW. Việc mất thị

trường vào các đối thủ cạnh tranh nước ngoài có năng lực sản xuất kinh doanh tốt hơn

sẽ khiến các chỉ tiêu tài chính của một doanh nghiệp nói riêng và toàn nền kinh tế nói

chung suy giảm, khiến việc đáp ứng các điều kiện vay vốn của NHTM trở nên khó

khăn hơn. Ngoài ra, sự yếu kém này còn làm giảm tiến trình và mức độ phục hồi của

nền kinh tế sau các cú sốc thắt chặt CSTT, làm việc truyền tải CSTT nới lỏng nhằm

thúc đẩy tín dụng, và hỗ trợ phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế trở nên thiếu hiệu quả.

1.2.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh khả

năng cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại

Các nhân tố ảnh hưởng tới truyền tải CSTT qua kênh khả năng cấp tín dụng

nằm hai bên bảng cân đối tài sản và báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng. Chất

lượng tài sản thấp, tỷ trọng thấp các tài sản có tính thanh khoản cao sẽ làm giảm mạnh

khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân. Tương ứng, các khoản tiền gửi thiếu ổn

định, ngắn hạn và thiếu các giấy tờ có giá để giao dịch trên thị trường thứ cấp là các

nhân tố cản trở các ngân hàng mở rộng tín dụng. Ngoài ra, nguồn thu nhập quá tập

trung vào lãi vay (thiếu đa dạng hóa hoạt động kinh doanh) sẽ khiến khả năng chấp

nhận rủi ro gia tăng, khả năng chịu đựng thua lỗ từ hoạt động tín dụng của các ngân

hàng giảm trong bối cảnh nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh (DPRR tăng làm lợi nhuận

giảm), khiến các ngân hàng ngần ngại hơn trong việc mở rộng tín dụng.

a/ Tỷ trọng tín dụng trong tổng tài sản

Nếu tỷ trọng tín dụng trong TTS của NHTM là thấp, các NHTM sẽ còn dư địa

mở rộng tín dụng khi NHTW thực hiện CSTT nới lỏng (hoặc tiếp tục cấp tín dụng trong

trường hợp CSTT thắt chặt) thông qua việc chuyển các tài sản có tính lỏng cao thành

tiền mặt để cấp tín dụng cho nền kinh tế. Ngược lại, một NHTM có tỷ trọng tín dụng cao

sẽ gặp phải trở ngại khi phải huy động thêm vốn trên thị trường (với mức lãi suất cao

hơn), vay NHTW (đáp ứng các điều kiện tài chính chặt chẽ hơn), và đáp ứng các quy

định về an toàn vốn trong trường hợp tổng tài sản có rủi ro của NHTM đã ở mức cao…

Nghiên cứu của Eid (2011) cho thấy với ngân hàng có tỷ trọng tín dụng trong TTS lớn

hơn 75% không thể hiện hành vi chấp nhận rủi ro trong thời kỳ lãi suất thấp; nhưng các

ngân hàng có tỷ trọng này thấp hơn 30% cho thấy ảnh hưởng của CSTT nới lỏng tới

việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng là rất đáng kể, các ngân hàng này sẽ có xu hướng

mở rộng hoặc thu hẹp tín dụng rất nhanh và mạnh trong thời gian ngắn (tuy nhiên, tỷ lệ

này còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng hệ thống ngân hàng) [61].

b/ Tỷ lệ nợ xấu (dự phòng rủi ro) trên dư nợ tín dụng

Tỷ lệ nợ xấu cao làm giảm nguồn lực tài chính dành để cấp tín dụng của các

NHTM (do phải tập trung vào trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý nợ xấu) đồng

40

thời cũng khiến cho các NHTM thận trọng hơn trong việc cấp tín dụng do lo ngại nợ

xấu có thể tiếp tục phát sinh (ảnh hưởng tới an toàn hoạt động ngân hàng hoặc phải

chịu sự giám sát chặt chẽ của NHTW). Ngược lại, NHTM với tỷ lệ DPRR cao sẽ có

thể sử dụng dự phòng để xử lý nhanh nợ xấu, qua đó dễ dàng đẩy mạnh tín dụng ra

nền kinh tế hơn (đặc biệt là trong điều kiện lãi suất thấp khi NHTW thực hiện CSTT

nới lỏng). Delis và các cộng sự (2011) đã chỉ ra tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên

tổng dư nợ tăng khiến ngân hàng gia tăng chấp nhận rủi ro [55].

c/ Tính thanh khoản của ngân hàng

Tính thanh khoản của ngân hàng thường được thể hiện bởi việc nắm giữ các tài

sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi tại NHTW và các TCTD, và giấy tờ có giá (trái phiếu Chính phủ). Trong điều kiện CSTT nới lỏng, các NHTM với tài sản

có tính thanh khoản cao sẽ dễ dàng chuyển đổi (về mặt thời gian và chi phí) các tài sản

này thành tiền để cấp tín dụng cho khách hàng. Tuy nhiên, nếu thị trường tài chính xảy ra bất ổn, các giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao thường giảm tính thanh khoản

nhanh chóng cũng như khả năng xảy ra hiện tượng rút tiền ồ ạt từ người gửi tiền sẽ

khiến cho các NHTM thận trọng hơn với việc mở rộng tín dụng (thay vào đó, ngân

hàng duy trì tỷ lệ thanh khoản cao). Westerlund (2003), Havro và Vale (2011) đã kêt

luận thanh khoản có ảnh hưởng tới quá trình cấp tín dụng khi tìm ra bằng chứng các

ngân hàng với danh mục tài sản có tính thanh khoản cao có xu hướng cấp tín dụng dễ

dàng hơn [125, 72].

Tính thanh khoản của NHTM có thể được xem xét trên khía cạnh khả năng huy

động các nguồn vốn nhanh chóng và với chi phí thấp trong bối cảnh ngân hàng cần

vốn để cấp tín dụng cho khách hàng. Một cơ cấu vốn ổn định, với tỷ trọng nguồn vốn

trung dài hạn ở mức cao sẽ tạo điều kiện cho các NHTM mở rộng tín dụng thuận lợi.

d/ Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng

Ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao có thể gia tăng mức độ chấp nhận rủi ro

(đủ khả năng hấp thụ các khoản thua lỗ phát sinh do rủi ro tín dụng), từ đó bảo đảm một mức tín dụng cấp cho nền kinh tế cao và ổn định hơn so với các ngân hàng còn lại. Quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu có thể ảnh hưởng tới khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng thông qua việc kiểm soát sự biến động của tài sản có rủi ro. Foglia và các cộng sự (2010) sử dụng dữ liệu ngân hàng và doanh nghiệp để tách biệt kênh khả năng cấp tín dụng khỏi kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay nhằm đánh giá tác động của việc siết chặt cung tín dụng ảnh hưởng tới nhu cầu đầu tư thực sau khi ngân hàng Lehman Brothers bị sụp đổ. Các tác giả nhận định ngân hàng với năng lực tài chính tốt, có kỳ hạn cân bằng ít có xu hướng hạn chế tín dụng hơn trong khi các

doanh nghiệp gặp khó khăn hạn chế các khoản đầu tư lớn hơn các doanh nghiệp có tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh mạnh [65].

41

Vi phạm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu còn khiến ngân hàng phải chịu sự giám sát

chặt chẽ hơn từ các cơ quan quản lý, ảnh hưởng tới uy tín của ngân hàng và gây ra

những phản ứng tiêu cực từ phía thị trường. Những điều này gây ra những chi phí rất

lớn cho ngân hàng nên các ngân hàng vừa cố gắng duy trì một tỷ lệ an toàn vốn phù

hợp, vừa tránh không vi phạm mức tối thiểu này. Nhìn chung, một NHTM có tỷ lệ an toàn vốn thấp sẽ thận trọng trong việc mở rộng tín dụng hơn các NHTM khác.

e/ Mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng thể hiện thông qua

phạm vi hoạt động tín dụng với hoạt động phi tín dụng của ngân hàng, có thể được đại

diện một cách tương đối bằng cấu trúc thu nhập của ngân hàng. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi so với tổng thu nhập ở mức cao sẽ khiến NHTM dễ dàng chấp nhận mức độ rủi ro

từ hoạt động tín dụng nhiều hơn, từ đó làm gia tăng mong muốn và khả năng cấp tín

dụng cho khách hàng. Bên cạnh đó, thu nhập ngoài lãi lại bắt nguồn từ các hoạt động

phi tín dụng về bản chất là ít biến động (hệ số tương quan với hoạt động tín dụng thấp

và ít chịu ảnh hưởng từ thay đổi CSTT hơn), và chịu ít hơn các quy định hơn so với

hoạt động tín dụng và đầu tư [56] là lý do khiến các ngân hàng có nguồn thu đa dạng

hơn sẽ sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao hơn trong bối cảnh NHTW thực hiện nới lỏng lại CSTT sau giai đoạn thắt chặt trước đó.

f/ Mức độ đa dạng hóa danh mục tín dụng của ngân hàng

Tương tự với danh mục đầu tư, danh mục tín dụng của NHTM được đa dạng

hóa sẽ giúp làm giảm rủi ro cho ngân hàng. Vì thế, ngân hàng với mức độ đa dạng hóa

danh mục tín dụng cao sẽ có nhiều khả năng để chấp nhận rủi ro cao hơn (khả năng

mở rộng tín dụng cao hơn). Tuy nhiên, khi mức độ liên kết giữa các ngành được cấp

tín dụng ngày càng tăng (đặc biệt là trong giai đoạn suy thoái kinh tế), các cú sốc tác

động tới nền kinh tế sẽ không chỉ tác động tới một vài ngành hay tác động ngược chiều

giữa các ngành để loại trừ rủi ro mà có thể ảnh hưởng tiêu cực tới tất cả các ngành,

làm gia tăng rủi ro của toàn bộ danh mục tín dụng, khiến khả năng mở rộng tín dụng

của NHTM giảm xuống.

g/ Khả năng sinh lời của ngân hàng

Ngân hàng có khả năng sinh lời cao có thể sẵn sàng chấp nhận các khoản tín dụng có dòng tiền biến động lớn hơn, tức là giảm bớt các tiêu chuẩn cho vay của mình, tạo điều kiện mở rộng tín dụng khi NHTW điều chỉnh CSTT. Nghiên cứu thực nghiệm của Delis và cộng sự (2011) cũng đã xác nhận mối quan hệ này [55].

Ngoài các nhân tố kể trên, kênh khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng

còn chịu ảnh hưởng của một số nhân tố khác như nhiều kênh truyền tải CSTT khác

như quy mô của thị trường tài chính chính thức (so với thị trường tài chính phi chính

thức), mức độ hiệu quả của TTLNH…

42

a/ Quy mô và sự phát triển của thị trường tài chính chính thức

Ở bất kỳ quốc gia nào, giao dịch tín dụng nói riêng và các giao dịch tài chính

nói chung có thể được thực hiện trong khu vực chính thức hoặc phi chính thức. Tại

những quốc gia mà môi trường nền tảng cho sự phát triển chính thức kém phát triển,

hầu hết những người tham gia vào các giao dịch phi chính thức phải dựa vào những

thông tin kém chất lượng để giải quyết tình trạng thông tin bất cân xứng và sử dụng

các biện pháp không chính thức để bảo đảm hợp đồng tín dụng được thực hiện. Trong

trường hợp này, hệ thống tài chính chính thức (bao gồm hệ thống NHTM) có quy mô

nhỏ và chỉ thực hiện được một phần nhỏ vai trò trung gian tài chính trong nền kinh tế.

Khi quy mô của thị trường tài chính chính thức là nhỏ thì trước hết, NHTW sẽ

khó kiểm soát cũng như nhận biết kịp thời những bất ổn trong nền kinh tế để đưa ra

các chính sách phù hợp. Sau đó, ngay cả khi NHTW đã đưa ra được chính sách thì

phần lớn hoạt động của nền kinh tế sẽ không phản ứng với sự thay đổi của các biến số

trung gian cũng như hoạt động của các trung gian tài chính chính thức. Kết quả là ảnh

hưởng của điều hành CSTT tới các biến số của các trung gian tài chính sẽ chỉ gây ra

tác động nhỏ tới tổng cầu của nền kinh tế, không đạt được những kỳ vọng mà NHTW

mong muốn.

Tương tự, Havro và Vale (2011), Ciccarelli và các cộng sự (2010), de Haas và

van Horen (2010) và Boissay (2011) đưa ra nhận định quá trình truyền tải CSTT phụ

thuộc nhiều vào điều kiện của thị trường tài chính. Ví dụ, sự giảm xuống trong mức độ

thanh khoản của thị trường sẽ làm giảm đi đáng kể vai trò của kênh truyền tải qua

kênh tín dụng [72, 52, 54, 40].

b/ Mức độ hiệu quả của thị trường liên ngân hàng

Thị trường liên ngân hàng đóng vai trò cầu nối, khi vừa là nơi cung cấp thông

tin cho công tác điều hành của NHTW, vừa là điểm khởi đầu của quá trình truyền tải

những thay đổi của công cụ CSTT tới hệ thống trung gian là các NHTM. Nếu TTLNH

kém phát triển với các đặc điểm như tính thanh khoản thấp, thiếu các chủ thể tham gia

hoặc tồn tại sự không đồng đều giữa các chủ thể tham gia, hoặc hoạt động thiếu ổn

định do thiếu sự quản lý của NHTW… thì xác suất xảy ra những biến tướng trên thị

trường này sẽ tăng lên. Khi TTLNH không phản ánh được được lượng vốn dư thừa

hay thiếu hụt từ phía các NHTM (đồng thời không xác định được chi phí vốn), NHTW

khó nắm được tình hình tiền tệ trên thị trường một cũng như mức độ rủi ro thanh

khoản của hệ thống. Điều này trước tiên làm ảnh hưởng tới khả năng đưa ra những

quyết định kịp thời và phù hợp để tác động tới lượng vốn khả dụng và chi phí vốn của

hệ thống NHTM. Kế đến, khả năng truyền tải những tác động từ CSTT tới thị trường

của NHTW và NHTM bị hạn chế phần nào. Đơn cử, khi NHTW thực hiện CSTT thắt

43

chặt, một số NHTM yếu kém không đủ điều kiện vay trên TTLNH và đối mặt với rủi

ro thanh khoản lớn, buộc phải quay sang vay NHTW (thay vì vay trên thị trường liên

ngân hàng). Đặc điểm này khiến cho NHTW cùng một lúc phải thắt chặt CSSTT

nhưng cũng phải nỗ lực bảo đảm an toàn hoạt động cho hệ thống ngân hàng, khiến cho

mức độ hiệu lực của CSTT bị giảm đi phần nào.

c/ Mức độ phát triển của thị trường chứng khoán và bất động sản

Tình trạng thiếu phát triển tại thị trường thứ cấp các trái phiếu Chính phủ sẽ

khiến cho NHTW gặp khó khăn trong việc điều hành CSTT thông qua các nghiệp vụ

thị trường mở do thiếu đi các hàng hóa là giấy tờ có giá. Điều này sẽ làm giảm đi mức

độ linh hoạt trong điều hành CSTT và từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả truyền tải CSTT khi NHTW buộc phải sử dụng những công cụ có tác động mạnh vào dự trữ của hệ

thống NHTM như điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc, vốn dĩ sẽ gây ra sự xáo động mạnh

trong lượng vốn khả dụng của các ngân hàng. Ngoài ra, việc thiếu hụt một thị trường

trái phiếu Chính phủ phát triển còn dẫn tới hai vấn đề cho điều hành CSTT. Đơn cử,

do quy mô các nhà đầu tư không phải là TCTD (như các quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm,

quỹ hưu trí…) là tương đối thấp, các NHTM buộc phải mua trái phiếu Chính phủ và

điều này dẫn tới khả năng cấp tín dụng đối với nền kinh tế bị ảnh hưởng đáng kể. Việc

không xây dựng được một đường cong lãi suất chuẩn dựa trên lãi suất trái phiếu Chính

phủ làm ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả truyền tải CSTT qua kênh lãi suất.

Ngoài ra, thị trường bất động sản, trái phiếu công ty, cổ phiếu, thị trường các

công cụ nợ ngắn hạn của doanh nghiệp… kém phát triển sẽ khiến cho hiệu quả truyền

tải CSTT thông qua kênh giá tài sản (qua đó có tác động tiêu cực nhất định tới kênh tín

dụng) bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Khi NHTW thực hiện các giải pháp CSTT nhằm tác

động tới nền kinh tế thông qua kênh giá tài sản nhưng các thị trường này phản ứng

chậm chạp do sự thiếu nhạy cảm của thị trường với thay đổi trong lãi suất.

d/ Mức độ cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng

Tại các quốc gia mà thị trường tài chính kém phát triển thì đi kèm với nó thường là thực trạng mức độ cạnh tranh kém và thiếu lành mạnh giữa các NHTM. Đặc

điểm này diễn ra phổ biến tại các quốc gia mà quy mô của từng NHTM là nhỏ và thị phần tín dụng chủ yếu thuộc về các NHTM do Chính phủ nắm quyền sở hữu. Ngoài ra, việc thiếu đi sự cạnh tranh của các trung gian phi tài chính thì việc truyền tải tác động từ lãi suất chính sách đến lãi suất thị trường và dư nợ tín dụng bị giảm thiểu và chủ yếu chỉ tác động đến độ lớn chênh lệch lãi suất (spread) hơn là lãi suất thị trường. Đặc điểm này sẽ ảnh hưởng tới quá trình truyền tải CSTT từ mức lãi suất điều hành của NHTW tới mặt bằng lãi suất trên thị trường, tín dụng với nền kinh tế do các NHTM

thiếu cạnh tranh hiệu quả sẽ phản ứng khá chậm chạp và không mang lại hiệu quả

trong việc truyền tải CSTT như kỳ vọng.

44

1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG TRONG CÁC NGHIÊN CỨU

VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG

1.3.1. Kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng

Các nghiên cứu định lượng về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng phần lớn tập

trung vào kiểm chứng sự tồn tại của kênh khả năng cấp tín dụng. Phương pháp tiếp cận

đầu tiên, và sau này được nhiều nghiên cứu lặp lại, tập trung vào xem xét mối quan hệ

giữa tiền tệ, tín dụng và sản lượng và đo lường mức độ phản ứng của tiền tệ, tín dụng

trước thay đổi điều hành CSTT của NHTW và ngược lại. Kết quả của các nghiên cứu

về kênh khả năng cấp tín dụng ngân hàng tại Mỹ khá đồng nhất khi chỉ ra tín dụng

phản ứng lại với thay đổi điều hành CSTT với độ trễ và kế đó, sự thay đổi trong tín

dụng cũng dẫn tới sự thay đổi trong sản lượng của nền kinh tế.

Bernanke và Blinder (1992) sử dụng 6 mô hình VAR trong giai đoạn từ tháng

8/1959 tới tháng 9/1979 với các biến khác nhau về dự trữ không vay của các ngân

hàng, lãi suất vốn liên bang, chênh lệch giữa lãi suất vốn liên bang và lãi suất trái

phiếu dài hạn làm đại diện cho điều hành CSTT của Cục dự trữ liên bang Mỹ. Ngoài

ra, mô hình VAR còn có các biến số khác như tỷ lệ thất nghiệp, mức giá cả, và ba biến

đại diện cho hành vi của ngân hàng gồm tiền gửi, tín dụng và trái phiêus. Trên cơ sở

mô hình, Bernanke và Blinder nhận định rằng dưới tác động của CSTT thắt chặt, đo

lường bởi sự tăng lên của lãi suất vốn liên bang, chứng khoán nắm giữ bởi ngân hàng

và tiền gửi của công chúng vào ngân hàng sẽ giảm xuống trong chín tháng đầu tiên

trong khi các khoản tín dụng chỉ giảm nhẹ. Lý giải cho hiện tượng này là việc các ngân

hàng đã có các cam kết tín dụng với khách hàng. Sau ảnh hưởng ban đầu, lượng chứng

khoán nắm giữ được phục hồi và tương ứng là các khoản tín dụng giảm xuống. Sự

giảm xuống này xảy ra đồng thời với sự tăng lên của tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh

tế. Mặc dù kết quả nghiên cứu chỉ ra sự tồn tại của kênh tín dụng, nó cũng là một minh

chứng cho sự tồn tại của kênh truyền tải tiền tệ truyền thống. Nói một cách khác, sự

giảm xuống trong lượng tín dụng cấp cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng có thể là

kết quả của sự sụt giảm trong lượng cung tín dung hoặc có thể là sự giảm xuống từ

phía cầu tín dụng khi các chủ thể kinh tế phải chi trả mức lãi suất vay vốn cao hơn

[38].

Natal (2002, 2003) kế thừa phương pháp của Bernanke và Blinder (1992) và

phát triển thêm theo ba khía cạnh mới. Thứ nhất, tác giả sử dụng phương pháp

Bayesian. Thứ hai, cú sốc CSTT được xem xét trong bối cảnh của Thụy sỹ là một nền

kinh tế nhỏ mở cửa với việc bổ sung thêm yếu tố tỷ giá, giá dầu, giá trị sản xuất công

nghiệp, giá cả người sản xuất và lãi suất kỳ hạn 3 tháng của Đức. Thứ ba, khoảng cách

giữa lãi suất cho vay bất động sản và trái phiếu Chính phủ được sử dụng để đại diện

45

cho phần bù nguồn vốn bên ngoài. Với bộ số liệu gồm 13 biến số (ngoài các biến số kể

trên còn có lãi suất kỳ hạn 3 tháng, cung tiền, tỷ trọng chứng khoán ngân hàng nắm

giữ, tín dụng, GDP, chỉ số giá tiêu dùng, tỷ lệ thất nghiệp), tần suất dữ liệu theo tháng

trong giai đoạn 1976 – 2002, Natal chỉ ra các hàm phản ứng tương đối giống kết quả

của Bernanke và Blinder (1992). Cung tiền và các chứng khoán nắm giữ bởi ngân

hàng bắt đầu giảm ngay khi NHTW thực hiện thắt chặt CSTT, trong khi tín dụng ngân

hàng giảm sau khoảng 12 tháng. Cùng với đó, phần thưởng nguồn vốn bên ngoài bắt

đầu được nới rộng ra. Dù vậy, rất khó dể có thể tách biệt giữa kênh khả năng cấp tín

dụng của ngân hàng và kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay khi sử dụng biến số

là khoảng cách giữa lãi suất cho vay bất động sản và trái phiếu Chính phủ. Một sự nới

rộng trong khoảng cách này có thể là do sự suy giảm chất lượng tài sản của ngân hàng

hoặc là của doanh nghiệp [97,98].

Một phương pháp khác đã được sử dụng để xem xét phản ứng của các nhóm

ngân hàng có đặc điểm khác nhau trước cùng một cú sốc CSTT. Mô hình VAR được

hồi quy riêng cho từng nhóm ngân hàng có đặc điểm khác nhau và hàm phản ứng của

từng nhóm ngân hàng trước được sử dụng để so sánh mức độ khác biệt. Kashyap và

Stein (1995) nhận định các ngân hàng quy mô nhỏ sẽ gặp khó khăn hơn trong việc huy

động vốn để bù lại cho khoản tiền gửi bị khách hàng rút ra. Do vậy, khi NHTW thắt

chặt tiền tệ, các ngân hàng quy mô nhỏ sẽ phản ứng mạnh hơn so với các ngân hàng

lớn khi hạn chế cấp tín dụng nhưng lại phản ứng nhẹ hơn khi cắt giảm tỷ trọng danh

mục chứng khoán [86]. Steudler và Zurlinden (1998) chia các ngân hàng ở Thụy Sỹ

thành ba nhóm gồm nhóm các ngân hàng lớn, nhóm các ngân hàng thương mại thuộc

sở hữu Nhà nước, và nhóm các ngân hàng địa phương. Sử dụng mô hình VAR gồm 5

biến là lãi suất, GDP, tiền gửi, tín dụng và các khoản tiền và chứng khoán đã được

điều chỉnh cho lạm phát với khoảng thời gian nghiên cứu từ quý 2 năm 1977 đến quý 3

năm 1996. Mặc dù hàm phản ứng cho thấy danh mục chứng khoán của cả ba nhóm

ngân hàng đều phản ứng lại với chính sách thắt chặt tiền tệ mạnh hơn là tín dụng, mức

đô phản ứng giữa các nhóm ngân hàng lại không ủng hộ lập luận của Kashyap và

Stein. Thậm chí, các khoản tín dụng của ngân hàng lớn còn giảm mạnh hơn so với hai

nhóm ngân hàng còn lại. Để tăng tính chắc chắn của kết luận, hai tác giả sử dụng mô

hình VAR chỉ với ba biến gồm lãi suất, GDP thực và lần lượt ba biến tiền gửi, tín dụng

và chứng khoán. Hàm phản ứng cho kết quả tương tự với mô hình VAR 5 biến. Tuy

nhiên, nghiên cứu của Steuder và Zurlinden tồn tai một số hạn chế như chưa xác định

được biến số phản ánh được định hướng điều hành CSTT của NHTW Thụy Sỹ, chưa

tách biệt được sự sụt giảm của tín dụng là xuất phát từ phía cung hay phía cầu, và chưa

đề câp đến tính dừng của các biến số trong mô hình VAR [113].

46

Một vài nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu mảng của hệ thống ngân hàng để xác

định mức độ chịu ảnh hưởng của khả năng cấp tín dụng trước việc NHTW thắt chặt

CSTT. Kashyap và Stein (1995, 2000) phân tích kênh khả năng cấp tín dụng trên cơ sở

tách biệt các ngân hàng thông qua tiêu chí về quy mô và thanh khoản. Hai tác giả nhận

thấy trong điều kiện CSTT thắt chặt, các khoản tín dụng của các ngân hàng lớn không

bị ảnh hưởng nhiều nhưng các ngân hàng nhỏ lại điều chỉnh giảm mạnh các khoản tín

dụng cấp ra nền kinh tế. Để chứng minh lập luận này, hai tác giả đã sử dụng dữ liệu

mảng của hệ thống ngân hàng Mỹ từ quý 1 năm 1976 đến quý 2 năm 1993 với tổng

cộng 196.530 quan sát. Có ba phương pháp xác định hướng điều hành CSTT được sử

dụng trong nghiên cứu gồm phương pháp chỉ số Boschen – Mills, lãi suất qua đêm trên

thị trường liên ngân hàng, và phương pháp của Bernanke và Mihov (1998). Chỉ số

Boschen – Mills được áp dụng để chia định hướng điều hành chính sách thành 5

nhóm: mới lỏng mạnh, nỏi lỏng nhẹ, bình thường, thắt chặt nhẹ, và thắt chặt mạnh dựa

trên việc đánh giá mối quan ngại của Fed tập trung vào lạm phát hay thất nghiệp [86].

Kashyap và Stein (2000) sử dụng phương pháp hồi quy hai bước để đo lường sai phân

bậc hai của tín dụng với đặc điểm ngân hàng và biến số đại diện cho CSTT là cung

tiền. Ở bước thứ nhất, tại từng thời điểm, hai tác giả hồi quy tín dụng với biến trễ của

chính nó, biến số đại diện cho đặc điểm của ngân hàng, và biến giả đại diện cho ngân

hàng thuộc phạm vi của ngân hàng dự trữ liên bang nào. Ở bước thứ hai, hệ số đo

lường mức độ ảnh hưởng của đặc điểm ngân hàng (thanh khoản) được sử dụng như

biến độc lập để hồi quy theo chuỗi thời gian với các biến số đại diện cho CSTT là cung

tiền và tăng trưởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của CSTT lên

hoạt động cho vay của ngân hàng sẽ mạnh hơn đối với các ngân hàng với bảng cân đối

tài sản kém thanh khoản. Đặc điểm này được phản ánh rõ rệt đối với nhóm các ngân

hàng nhỏ, ủng hộ lập luận về vai trò của kênh khả năng cấp tín dụng ngân hàng. Như

vậy, các ngân hàng nhỏ phải đối mặt với vấn đề căng thẳng tín dụng do sự thiếu hoàn

hảo của thị trường tín dụng với đặc điểm bảng cân đối tài sản thiếu tính thanh khoản

(chi phí cho việc tiếp cận các khoản vốn bán buôn là lớn) [85].

Perrez và Bichsel (2003) sử dụng dữ liệu bảng các ngân hàng Thụy Sỹ từ năm

1987 nhằm đánh giá truyền tải CSTT giữa các nhóm ngân hàng khác nhau không chi

dựa trên tiêu chí về quy mô mà còn về vốn chủ sở hữu và thanh khoản. Hai tác giả kỳ

vọng hoạt động cho vay của các ngân hàng với năng lực tài chính và thanh khoản thấp

sẽ nhạy cảm với điều hành CSTT hơn các ngân hàng còn lại. Trong phương trình gốc,

Perrez và Bichsel hồi quy tăng trưởng tín dụng với sự thay đổi trong lãi suất ngắn hạn

(đại diện cho định hướng điều hành CSTT) và các hệ số tài chính của ngân hàng, tăng

trưởng kinh tế và lạm phát. Kết quả nghiên cứu cho thấy các hoạt động tín dụng của

47

các ngân hàng với năng lực tài chính thấp phản ứng tiêu cực mạnh mẽ trước CSTT thắt

chặt. Tuy nhiên, thanh khoản không ảnh hưởng tới việc truyền tải CSTT của kênh khả

năng cấp tín dụng [104]. Perrez và Bichsel cũng chỉ ra kết quả nghiên cứu không thực

sự vững chắc khi tiến hành phương pháp hai giai đoạn do Kashyap và Stein (2000) đề

xuất. Khi áp dụng phương pháp này, điều hành CSTT không ảnh hưởng tới tác động

của thanh khoản và vốn chủ sở hữu lên hoạt động tín dụng mà nghiên cứu chỉ đưa đến

kết luận vốn chủ sở hữu có tác động tới tăng trưởng tín dụng trong khi thanh khoản thì

không có tác động.

Iacoviello và Minetti (2008) xem xét vai trò kênh tín dụng trong truyển tải

CSTT tới thị trường nhà đất tại 4 quốc gia Phần Lan, Vương Quốc Anh, Đức và Nauy.

Nhu cầu nhà đất liên quan trực tiếp đến bảng cân đối tài sản của người đi vay do các

đặc điểm như khoản trả trước và duy trì tỷ lệ thu nhập trên lãi phải trả. Kênh khả năng

cấp tín dụng ngân hàng cũng thể hiện vai trò quan trọng trong việc truyền tải CSTT

nếu các ngân hàng nắm giữ nhiều khoản cho vay nhà đất. Hai tác giả áp dụng 4 mô

hình VAR khác nhau để tìm kiến sự hiện diện của kênh tín dụng và tách biệt kênh

bảng cân đối tài sản khỏi kênh khả năng cấp tín dụng ngân hàng. Kết quả cho thấy mặc

dù khu vực châu Âu có sự hội nhập sâu rộng nhưng sự khác biệt về thị trường bất động

sản giữa các quóc gia đã ảnh hưởng tới quá trình truyền tải CSTT. Hai tác giả nhận

định kênh khả năng cấp tín dụng phát huy vai trò tại Phần Lan và Anh, nơi thị trường

bất động sản gắn chặt với ngân hàng, kênh bảng cân đối tài sản tại Đức và sự yếu kém

trong kênh tín dụng tại Nauy [76].

1.3.2. Kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay

Tương tự như kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng, các nghiên cứu về

kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay cũng gồm hai nhóm nghiên cứu sử dụng

dữ liệu theo chuỗi thời gian và dữ liệu mảng. Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu theo

chuỗi thời gian nổi bật như Bernanke và Gertler (1995), Kashyap, Stein, và Wilcox

(1993)… Với mục đích xem xét ảnh hưởng của các đặc điểm từ phía doanh nghiệp tới

truyền tải CSTT qua kênh tín dụng, các nghiên cứu sử dụng dữ liệu mảng bao gồm

nghiên cứu của Gertler và Gilchrist (1994), Oliner và Rudebusch (1993) tại Mỹ và

Zaderey (2003) tại Ukraine, Wesche (2000) tại Áo…

Bernanke và Gertler (1995) sử dụng mô hình VAR với bộ số liệu theo tháng từ

năm 1965 tới 1993 nhằm đánh giá vai trò truyền tải của kênh khả năng cấp tín dụng và

kênh bảng cân đối tài sản. Lựa chọn lãi suất vốn liên bang làm chỉ báo cho định hướng

điều hành CSTT của Fed, tác giả xem xét mức độ phản ứng của các biến số khác trong

mô hình với cú sốc CSTT. Kết quả mô hình cho thấy GDP bắt đầu giảm sau khoảng

thời gian bốn tháng sau khi Fed thực hiện CSTT thắt chặt trong khi phải tới gần 1 năm

48

chỉ số giảm phát GDP mới bắt đầu thể hiện rõ xu hướng giảm. Tách GDP thành hai

thành phần là tiêu dùng cuối cùng và hàng tồn kho cho thấy tiêu dùng cuối cùng giảm

xuống rất nhanh ngay khi Fed thắt chặt tiền tệ còn hàng tồn kho bị ứ đọng một khoảng

thời gian gần nửa năm mới bắt đầu giảm dần. Hai tác giả tiếp tục tách GDP thành các

khoản tiêu dùng hàng hóa lâu bền, tiêu dùng thông thường, đầu tư của hộ gia đình, và

đầu tư của doanh nghiệp. Kết quả hàm phản ứng cho thấy đầu tư của doanh nghiệp

giảm xuống khi Fed thắt chặt tiền tệ nhưng với độ trễ lớn hơn các thành phần còn lại

của tổng cầu. Sử dụng hệ số khả năng thanh toán lãi vay, Bernanke và Gertler nhận

thấy mối tương quan khá rõ rệt giữa khả năng chi trả lãi vay và lãi suất qua đêm trên

thị trường liên ngân hàng. Các chỉ tiêu khác như thu nhập, lợi nhuận, dòng tiền, tiền

lương chi trả cho nhân viên cũng có xu hướng giảm xuống trước các cú sốc tiền tệ.

Thu nhập có xu hướng giảm nhanh hơn chi phí, là tác nhân khiến lợi nhuận giảm

xuống. Ngoài ra, sự sụt giảm tiền mặt của doanh nghiệp đạt mức cao nhất từ tháng thứ

6 đến tháng thứ 9 sau cú sốc thắt chặt tiền tệ, cũng là lúc sản lượng, hàng tồn kho và

đầu tư bắt đầu giảm xuống. Hai tác giả nhận định CSTT thắt chặt trực tiếp làm giảm đi

năng lực tài chính của khách hàng đi vay thông qua chi phí lãi vay tăng lên và dòng

tiền ròng giảm xuống. Sự tăng lên của lãi suất khiến giá tài sản giảm xuống và đồng

nghĩa với đó là giá trị TSBĐ cũng giảm theo. CSTT thắt chặt cũng ảnh hưởng tới tổng

cầu và khiến cho doanh thu, dòng tiền của doanh nghiệp giảm xuống. Trước tình hình

này, các ngân hàng có xu hướng phân bổ lại tín dụng theo hướng gia tăng tỷ trọng của

các doanh nghiệp lớn với mức độ rủi ro thấp hơn [36].

Các nghiên cứu định lượng về kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay đưa

đến một kết luận là CSTT thắt chặt sẽ đưa đến sự sắp xếp lại các nguồn vốn khi hệ

thống ngân hàng di chuyển các nguồn vốn ra khỏi bảng cân đối tài sản và các doanh

nghiệp tìm kiếm các nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Gertler và Gilchrist (1993) xem

xét phản ứng của hai nhóm doanh nghiệp với quy mô nhỏ và lớn trước thay đổi điều

hành CSTT. Mục tiêu của nghiên cứu là nhằm tìm kiếm bằng chứng về mức độ lan tỏa

tác động của cú sốc về tiền tệ tới các hoạt động kinh tế. Sử dụng cơ sở dữ liệu từ báo

cáo tài chính của các doanh nghiệp sản xuất từ quý 4 năm 1958, hai tác giả tiến hành

kiểm tra phản ứng của doanh thu, hàng tồn kho, trước thay đổi lãi suất qua đêm bằng

mô hình VAR hai biến cho từng nhóm doanh nghiệp phân theo quy mô. Kế đó, Gertler

và Gilchrist hồi quy ba biến số kể trên với các biến số bổ sung như tăng trưởng thu

nhập quốc dân, lạm phát và lãi suất qua đêm và các biến số đại diện cho giai đoạn Fed

thắt chặt tiền tệ cho giai đoạn từ quý 1 năm 1960 đến quý 4 năm 1991. Kết quả cho

thấy các biến giả đại diện cho giai đoạn Fed thắt chặt tiền tệ có ý nghĩa thống kê và

mang dấu âm đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ và ngược lại, mang dấu dương đối

49

với các doanh nghiệp quy mô lớn. Áp dụng mô hình VAR với các biến số kể trên cũng

mang lại kết quả tương tự. Như vậy, các doanh nghiệp nhỏ có xu hướng giảm hàng tồn

kho và các khoản vay ngắn hạn cùng với sự sụt giảm của doanh thu. Tuy vậy, các

doanh nghiệp lớn không có đặc điểm này và điều này cho thấy các doanh nghiệp lớn

không đối mặt với vấn đề căng thẳng thanh khoản như các doanh nghiệp nhỏ [69].

Để làm rõ vai trò của phần thưởng nguồn vốn bên ngoài trong việc đặt nền tảng

cho kênh tín dụng phát triển, Kashyap, Stein, và Wilcox (1993) kiểm tra mối tương

quan giữa tín dụng ngân hàng và thương phiếu. Sự giảm xuống trong khoản vay từ

ngân hàng trong khi giá trị thương phiếu phát hành bởi doanh nghiệp tăng lên cho thấy

bản thân khả năng cấp tín dụng của các ngân hàng bị thu hẹp lại. Ba tác giả đưa ra

nhận định nếu cú sốc là do thay đổi trong nhu cầu tín dụng thì ảnh hưởng của cú sốc sẽ

lan tỏa tới tất cả các nguồn vốn của nền kinh tế. Trong khi đó, cú sốc tiền tệ truyền tải

qua kênh tín dụng ngân hàng sẽ chỉ ảnh hưởng tới phía cung tín dụng. Bằng chứng

định lượng chỉ ra tỷ lệ giữa thương phiếu và tín dụng ngân hàng tăng lên khi NHTW

thực hiện CSTT thắt chặt [83]. Tuy nhiên, Oliner và Rudebusch (1993), Gertler và

Gilchrist (1993) nhận định sự giảm xuống của tỷ lệ tín dụng ngân hàng trên thương

phiếu không hoàn toàn là một bằng chứng của kênh tín dụng ngân hàng. Oliner và

Rudebusch hồi quy phương trình với biến phụ thuộc là đầu tư của doanh nghiệp trong

thời kỳ t với các biến độc lập là biến trễ của chính nó, thay đổi doanh thu, thay đổi chi

phí vốn, và dòng tiền (bằng lợi nhuận cộng với khấu hao) ở thời kỳ liền trước. Kết quả

hồi quy cho thấy các hệ số hồi quy của biến doanh thu và chi phí vốn của doanh

nghiệp quy mô lớn có ý nghĩa thống kê và mang dấu dương trong khi hệ số hồi quy

của doanh nghiệp quy ô nhỏ không có ý nghĩa thống kê và rất nhỏ. Đáng chú ý, trong

khi hệ số của biến dòng tiền lớn, dương và có ý nghĩa thống kê đối với các doanh

nghiệp nhỏ nhưng không xuất hiện đặc điểm này đối với các doanh nghiệp lớn. Như

vậy, các doanh nghiệp quy mô nhỏ dựa nhiều hơn vào nguồn vốn nội bộ so với doanh

nghiệp lớn. Tiếp tục thêm biến giả là các giai đoạn Fed thắt chặt tiền tệ, mô hình hồi

quy cho thấy các doanh nghiệp nhỏ đối mặt với chi phí vốn tăng lên, buộc doanh

nghiệp phải dựa vào nguồn vốn nội bộ hơn là nguồn vốn bên ngoài. Trái lại, các doanh

nghiệp lớn không gặp phải sự tăng lên của chi phí vốn bên ngoài. Kết quả nghiên cứu

ủng hộ sự tồn tại của kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay. Như vậy, việc giảm

xuống trong tổng tín dụng có thể được cho là do xuất phát từ nguyên nhân các doanh

nghiệp lớn có xu hướng ít phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng hơn so với

doanh nghiệp nhỏ. Một khi quy mô của doanh nghiệp được đưa vào mô hình phân tích,

kết quả là các nguồn vốn của doanh nghiệp sau khi điều chỉnh không bị ảnh hưởng

nhiều [69, 100]. Kashyap, Stein, và Wilcox (1993) và Romer và Romer (1993) cũng

50

chỉ ra chênh lệch giữa lãi suất tín dụng và lãi suất thương phiếu tăng lên sau khi

NHTW thực hiện CSTT thắt chặt. Do vậy, doanh nghiệp lớn với xếp hạng tín dụng tốt

sẽ có xu hướng thay thế các khoản tín dụng từ ngân hàng với chi phí cao bằng nguồn

vốn từ phát hành thương phiếu [87, 110].

Sử dụng phương pháp hồi quy theo hai bước của Kashyap và Stein (2000)

nhưng áp dụng cho doanh nghiệp, Zaderey (2003) nhận thấy tại Ukraine, CSTT thắt

chặt khiến giá cổ phiếu giảm và chi phí lãi vay của doanh nghiệp tăng lên, khiến cho

dòng tiền ròng lẫn giá trị dòng bị sụt giảm. Với bộ số liệu từ 150 doanh nghiệp thuộc

lĩnh vực sản xuất từ năm 1996 đến 2001, kết quả nghiên cứu các doanh nghiệp nhỏ

không có khả năng huy động vốn trên thị trường vốn buộc phải dựa vào nguồn lợi

nhuận để lại để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, tài trợ tài sản lưu động và các khoản đầu

tư khác [126]. Để xác định mức độ hiệu quả của kênh bảng cân đối tài sản tại Áo,

Wesche (2000) đã sử dụng dữ liệu vi mô của 2.000 doanh nghiệp phi tài chính trong

khoảng thời gian từ 1979 đến 1998. Tác giả nhận thấy CSTT có tác động kiểm soát

mức cung tín dụng của ngân hàng và làm ảnh hưởng tới việc vay vốn của doanh

nghiệp nhỏ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa với mức chi phí lãi

vay cao và tỷ lệ đầu tư trên doanh thu thấp có sự phản ứng mạnh hơn đối với các biến

số tài chính [124].

1.3.3. Kênh tín dụng ngân hàng

Để nắm bắt được mối quan hệ giữa thay đổi tiền tệ, tín dụng và hoạt động của

nền kinh tế là không hề dễ dàng do sự biến động phức tạp của các biến số cũng như sự

đa dạng trong quá trình các tác động. Một vài nghiên cứu đã tập trung xem xét liệu tín

dụng có ảnh hưởng tới nền kinh tế và/hoặc giữa hai kênh tín dụng và các kênh tiền tệ

truyền thống thì kênh nào có khả năng dự báo tốt hơn. King (1986), Ramey (1993) và

Walsh và Wilcox (1995) đưa ra những kết luận không thiên về hướng ủng hộ sự tồn tại

của kênh tín dụng [89, 108, 123]. Nguyên nhân là do khi đưa biến tín dụng vào nhóm

các yếu tố tiền tệ thì khả năng giải thích sự phản ứng của sản lượng trước thay đổi

CSTT không được cải thiện.

Đơn cử, nghiên cứu của Ramey (1993) sử dụng các mô hình OLS, IV, và

VECM để nghiên cứu ảnh hưởng của tín dụng tới nền kinh tế trong giai đoạn từ tháng

1/1954 đến tháng 12/1991. Tác giả sử dụng các biến số như sản lượng sản xuất công

nghiệp, hàng tồn kho lĩnh vực sản xuất và thương mại, cung tiền rộng, tín dụng ngân

hagf, lạm phát, lãi suất qua đêm, lãi suất tín phiếu kỳ hạn 3 tháng và lãi suất thương

phiếu kỳ hạn 6 tháng. Khi vòng quay tiền tệ và vòng quay tín dụng được đặt trong mối

quan hệ với CSTT, kết quả nghiên cứu cho thấy kênh tiền tệ truyền thống phát huy vài

trò truyền tải tốt hơn kênh tín dụng. Ảnh hưởng của tín dụng ngân hàng tới sản lượng

51

công nghiệp ở mức thấp và sự thay đổi trong danh mục đầu tư của ngân hàng không

tác động mạnh tới sản lượng khi vòng quay tiền tệ được đưa vào mô hình. Đối với mô

hình VECM, các biến số tốc độ tăng trường GNP, vòng quay tiền tệ, tốc độ tăng

trưởng nợ ngắn hạn tương đối (đo bằng sự khác biệt giữa tốc độ tăng trưởng nợ ngắn

hạn của doanh nghiệp nhỏ (phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng và tín dụng

thương mại) so với doanh nghiệp lớn), lạm phát và biến chính sách được sử dụng. Kết

quả cho thấy nếu lãi suất không ảnh hưởng được tới tăng trưởng nợ ngắn hạn tương

đối, sản lượng sẽ không phản ứng mạnh với CSTT thắt chặt như kỳ vọng và nhanh

chóng phục hồi [103].

Walsh và Wilcox (1995) sử dụng mô hình VAR trong đó có biến lãi suất cơ sở

và tín dụng ngân hàng để tách biệt ảnh hưởng của sự thay đổi trong cung và cầu tín

dụng tới tín dụng và sản lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy cú sốc cung tín dụng

đóng vai trò quan trọng đối với tín dụng và sản lượng nền kinh tế trong giai đoạn 1960

- 1977 nhưng vai trò này ngày càng giảm dần trong giai đoạn 1978 - 1994. Lý giải cho

sự giảm dần vai trò của kênh tín dụng là do thị trường tài chính phát triển giúp khách

hàng vay vốn có thể tiếp cận những nguồn vốn không phải là tín dụng ngân hàng.

Kahn (1991) kiểm tra mối quan hệ giữa lượng tiền cung ứng và tín dụng ngân hàng tại

Mỹ và nhận thấy mối quan hệ này chịu ảnh hưởng lớn từ mối tương quan giữa những

lần biến động mạnh của cả hai biến số. Xuất phát từ dữ liệu quá khứ, tác giả nhận thấy

tăng trưởng cung tiền thường dẫn trước tăng trưởng tín dụng trong khoảng thời gian 1

năm nhưng mối quan hệ này lại không còn rõ ràng trong giai đoạn từ 1982 - 1991. Kết

quả này khá tương đồng với kết quả mà Walsh và Wilcox (1995) khi bản thân ngân

hàng cũng có thể huy động được các nguồn vốn khác ngoài tiền gửi cũng như có thể

thay thế các khoản tín dụng bằng các tài sản tài chính khác [125].

Xem xét mối quan hệ giữa tiền tệ, tín dụng và lãi suất, Romer và Romer (1990)

tập trung vào phản ứng của nền kinh tế trước hành động thắt chặt CSTT của Cục dự

trữ liên bang Mỹ. Hai tác giả xem xét mức độ nhanh chóng và độ lớn mức độ ảnh

hưởng giữa “tiền tệ - sản lượng” và “tín dụng - sản lượng” nhằm đánh giá về vai trò

truyền tải CSTT giữa kênh truyền thống và kênh tín dụng thông qua mô hình bình

phương nhỏ nhất (OLS) và mô hình biến công cụ (IV). Mô hình OLS cho thấy sản

lượng của nền kinh tế phản ứng khá nhanh với tín dụng khi đạt mức ảnh hưởng cao

nhất sau 5 tháng và kết thúc trong vòng 17 tháng nhưng mô hình IV lại chỉ ra mối

quan hệ giữa hai biến số trên chỉ biến động quanh mức 0. Cùng với đó, sự thiếu vắng

các tác động trễ trong mối quan hệ “tín dụng - sản lượng” cho thấy cho sự tồn tại của

kênh tín dụng không được kết quả nghiên cứu ủng hộ. Dù vậy, kết luận này cần được

xem xét một cách thận trọng khi nền kinh tế Mỹ biến động khá mạnh giai đoạn nghiên

52

cứu và hệ số R2 của mô hình ở mức khá thấp nên có thể tồn tại các biến chưa được đưa vào mô hình để giải thích cho mối quan hệ “tín dụng - sản lượng”; trong trường hợp

CSTT tác động lượng tiền cung ứng nhưng lượng tiền cung ứng sẽ không tác động tới

nền kinh tế mà phải thông qua lượng tín dụng của ngân hàng thì sẽ tồn tại độ trễ trong

mối quan hệ “tín dụng - sản lượng”… [109]

Để so sánh mức độ khuếch đại của kênh tín dụng so với trường hợp chỉ tồn tại

kênh truyền tải truyền thống, một vài nghiên cứu đã so sánh hàm phản ứng và phân rã

phương sai của mô hình VAR trong trường hợp biến tín dụng được đưa vào trong mô

hình VAR thứ nhất và bị đưa ra làm biến ngoại sinh trong mô hình VAR thứ hai.

Nghiên cứu điển hình là của Boughrara (2008) tại Morocco và Tunisia. Điểm quan

trọng ở đây là xem xét ảnh hưởng của việc tăng lãi suất có được khuếch đại bởi kênh

tín dụng vượt quá kênh truyền tải truyền thống là kênh lãi suất hay không. Để thực

hiện mục tiêu nghiên cứu này, tác giả đã bổ sung vào mô hình biến tín dụng thực (tín

dụng đã được điều chỉnh cho lạm phát). Mô hình VAR gồm 4 biến sản lượng, giá cả,

tín dụng và lãi suất được ước lượng trước, sau đó, biến tín dụng được đưa ra ngoài để

ước lượng mô hình VAR gồm 3 biến sản lượng, giá cả và lãi suất. Xem xét hàm phản

ứng của sản lượng trước cú sốc lãi suất trong trường hợp có kênh tín dụng (biến tín

dụng là biến nội sinh) và trường hợp không có kênh tín dụng (biến tín dụng là biến

ngoại sinh) không thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa hai trường hợp [45]. Một nghiên cứu

của Ngalawa và Viegi (2009) về truyền tải CSTT tại Malawi cũng áp dụng phương

pháp tương tự của Boughrara (2008). Tuy nhiên, đối với trường hợp của Malawi, kênh

tín dụng phát huy ảnh hưởng của mình khi đã khuếch đại khá mạnh phản ứng của sản

lượng và giá cả trước cú sốc lãi suất [99].

Tang (2006), Aleem (2010), Holmes và Mengesha (2013), Perera và

Wickramanayake (2013) sử dụng mô hình VAR và SVAR để xem xét mức độ truyền

tải CSTT tại một số quốc gia đang phát triển. Do các nền kinh tế này là nền kinh tế

mở, việc bổ sung các biến bên ngoài đã mang tới kết quả vững chắc hơn, đồng thời

hạn chế được tình trạng puzzule thường hay xảy ra đối với mô hình VAR. Tang (2006)

đã đánh giá vai trò của bốn kênh truyền tải là kênh tỷ giá, kênh giá tài sản, kênh lãi

suất và kênh tín dụng tại Malaysia từ tháng 1 năm 1981 đến tháng 1 năm 2004. Tác giả

sắp xếp các biến số theo thứ tự gồm các biến ngoại sinh như giá cả hàng hóa thế giới,

lãi suất, lạm phát, sản lượng của Mỹ, tới các biến kinh tế vĩ mô trong nước như giá cả,

sản lượng, các biến đo lường CSTT của NHTW rồi mới tới các biến trung gian như tỷ

giá, chỉ số chứng khoán, lãi suất cho vay, và tín dụng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra kênh

lãi suất là kênh truyền tải quan trọng nhất tại Malaysia trong khoảng thời gian 2 năm

trước khi kênh tín dụng thể hiện vai trò này [118]. Ghazanchyan (2014) cũng đưa đến

53

kết luận tương tự với trường hợp của Srilanka khi kênh lãi suất thể hiện rõ rệt vai trò

của mình nhất trong truyền tải CSTT, kế đến là kênh khả năng cấp tín dụng của ngân

hàng. Hai kênh tỷ giá và giá tài sản không thể hiện được nhiều vai trò của mình.

Aleem (2010) nhận định kênh tín dụng là kênh truyền tải mạnh nhất tại Ấn Độ

[31]. Cũng sử dụng mô hình VAR, Holmes và Mengesha (2013) nhận định kênh khả

năng cấp tín dụng ngân hàng là kênh truyền tải mạnh nhất tại Eritrea. Trái lại, kênh lãi

suất và tỷ giá không phát huy được vai trò trong giai đoạn từ quý 1 năm 1996 đến quý

4 năm 2008 tại quốc gia này. Kênh tỷ giá và tín dụng phát huy được vai trò của mình

là do thị trường chợ đen phát triển và các khoản tín dụng được cấp cho khu vực Nhà

nước [73]. Agha và các cộng sự (2005) đã sử dụng dữ liệu tần suất theo tháng từ năm

1996 đến năm 2004 để đánh giá vai trò của các kênh lãi suất, tín dụng, giá tài sản và tỷ

giá tại Pakistan. Các tác giả đi đến kết luận kênh tín dụng và lãi suất là hai kênh truyền

tải hiệu quả CSTT trong khi đánh giá thấp vai trò của kênh tỷ giá. Tuy nhiên, nghiên

cứu này xảy ra tình trạng puzzle về giá cả do bỏ qua các biến số từ bên ngoài nền kinh

tế [29]. Hussain (2009) cũng gặp tình trạng tương tự với kết quả chỉ ra kênh tỷ giá hiệu

quả trong việc kiểm soát lạm phát và giảm độ lệch sản lượng [75].

Qua xem xét các nghiên cứu định lượng ngoài nước và trong nước (xem phần

tổng quan nghiên cứu) về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng, có thể thấy nổi bật lên

việc sử dụng mô hình VAR (và gần đây là SVAR, Bayesian VAR) để kiểm chứng sự

tồn tại của kênh tín dụng cũng như đo lường vai trò của kênh tín dụng so với các kênh

truyền tải CSTT khác.

54

TÓM TẮT CHƯƠNG I

Chương 1 của luận án đã trình bày cơ sở hình thành kênh tín dụng ngân hàng

dựa trên việc phân tích điều hành CSTT sẽ có tác động đến phần thưởng nguồn vốn

bên ngoài. Tác giả đã phân tích cơ chế truyền tải CSTT qua hai kênh nhỏ hơn của kênh

tín dụng ngân hàng là kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay (rủi ro đối nghịch và

lựa chọn đối nghịch, chuẩn mực đánh giá khách hàng, sự biến động của mức giá

chung) và khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng (dự trữ và vốn chủ sở hữu).

Nội dung thứ ba của chương 1 tập trung vào phân tích các phương pháp nghiên cứu

định lượng nổi bật về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng ngân hàng.

55

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

2.1. BỐI CẢNH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

2.1.1. Bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với điều hành

chính sách tiền tệ

2.1.1.1. Bối cảnh kinh tế vĩ mô

a/ Thực trạng kinh tế vĩ mô Việt Nam

Trong giai đoạn 2002 - 2007, nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ với tốc

độ tăng trưởng bình quân 7,88%/năm, tỷ lệ lạm phát bình quân 7,53%. Về phía tổng

cung, sự thịnh vượng này có được nhờ mức độ đóng góp lớn của cả ba nhân tố công

nghệ, lao động, và vốn đầu tư. Về phía tổng cầu, chi tiêu Chính phủ, sự ra đời của Luật

Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Thương mại 2006, ký kết Hiệp định

thương mại song phương Việt - Mỹ, và việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức

của WTO năm 2007 và được sự hậu thuẫn từ CSTT nới lỏng đã khuyến khích được

nguồn lực dồi dào trong khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tham

gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Tình hình chính trị ổn định kết hợp với định

hướng thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh của Chính phủ giai đoạn 2006 - 2010 đã khiến

các chủ thể trong nền kinh tế trở nên lạc quan vào triển vọng kinh tế trong tương lai và

những kỳ vọng này được phản ánh rất rõ ràng vào hành vi tiêu dùng và đầu tư của cả

nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, tư duy kinh tế này đã góp phần khiến cho nền kinh

tế Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015 phải gánh chịu những hệ lụy tiêu cực của giai đoạn

tăng trưởng nóng này.

10%

8%

6%

4%

2%

0%

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

GDP

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Công nghiệp và xây dựng

Dịch vụ

Hình 2.1: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo ngành

Nguồn: Tổng cục Thống kê

56

Đòn bẩy kinh tế, chủ yếu là CSTK và CSTT nới lỏng từ phía Chính phủ, cùng

với nguồn vốn đầu tư và lao động dồi dào đã đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của

Việt Nam trong khi đầu tư vào yếu tố công nghệ và chất lượng lao động không được

quan tâm tương xứng. Hệ quả tất yếu của thực trạng này là hiệu quả đầu tư ngày càng

giảm (chỉ số ICOR cao, đặc biệt là thành phần kinh tế Nhà nước – xem hình 2.2 và

2.3), mức độ rủi ro tài chính của nền kinh tế tăng lên (nợ công ở tầm vĩ mô, mức độ rủi

ro của hệ thống tài chính, và đòn bẩy tài chính của hệ thống doanh nghiệp ở tầm vi

mô), và các bong bóng tài sản dần hình thành (lượng tiền dư thừa quá mức dẫn tới sự

bùng nổ của thị trường bất động sản và chứng khoán). Sai lầm trong tư duy về quản trị

doanh nghiệp cùng với tỷ lệ đầu tư thấp và thiếu hiệu quả vào các yếu tố sản xuất cốt

lõi đã khiến cho khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam giảm mạnh trong khi

khả năng chống chọi với các cú sốc từ bên trong nền kinh tế ngày càng suy yếu [20].

Kết hợp với việc gia nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, tính dễ tổn

thương của nền kinh tế Việt Nam từ các cú sốc bên ngoài cũng tăng lên đáng kể [7].

Hình 2.2: Hệ số ICOR của Việt Nam và Hình 2.3: Hệ số ICOR theo thành phần

Myanmar

c ớ ư n

Cambodia

à h N ế t h n i K

Philippines

Malaysia

i à o g n

c ớ ư n T Đ V

ó c c ự v u h K

Vietnam

China

c ớ ư n à h N

Indonesia

i à o g n ế t h n i K

0

2

4

6

8

0

2

4

6

8

10

12

2015e

2014

2013

2012

2011

2010

2014

2013

2012

2011

một số quốc gia trong khu vực kinh tế

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Nguồn: Thống kê tài chính quốc tế

Tuy tỷ lệ lạm phát cao vào cuối năm 2007 và nửa đầu năm 2008 đã được kiềm

chế thành công nhờ thực hiện quyết liệt Nghị quyết số 10/NQ-CP về các biện pháp

kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền

vững, nhưng đây là một sự cảnh báo đối với tư duy tăng trưởng kinh tế theo chiều

rộng, dựa chủ yếu vào đầu tư của nền kinh tế Việt Nam. Thực vậy, chậm trễ trong việc

nhận thức sự cần thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng từ phía Nhà nước lẫn hệ

thống doanh nghiệp cùng với mong muốn lấy lại đà tăng trưởng kinh tế sau suy thoái

kinh tế năm 2008 đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam phải trả giá “khá đắt” trong giai

đoạn từ năm 2011 cho tới nay [1]. Chính sách kích thích kinh tế (hỗ trợ lãi suất, tăng

57

đầu tư công, giảm thuế) lên tới 8% GDP được thực hiện từ năm 2009 chỉ đem lại sự

phục hồi trong ngắn hạn, che giấu đi những tồn tại trong chất lượng tăng trưởng kinh

tế. Nói một cách khác, các chính sách vĩ mô này (thực hiện theo Nghị quyết số 01/NQ-

CP năm 2009 và Nghị quyết số 03/NQ-CP năm 2010) mang nhiều tính tạm thời nhằm

đối phó với diễn biến khó khăn trước mắt mà chưa giải quyết được những điểm yếu cố

hữu của nền kinh tế.

Lúc này, bất ổn kinh tế vĩ mô tiếp tục được tích lũy, xuất phát từ bốn mất cân

đối kinh tế vĩ mô cơ bản là mất cân đối giữa đầu tư - tiết kiệm, giữa thu - chi ngân

sách, giữa xuất khẩu - nhập khẩu, và giữa cung tiền - cầu tiền.

Thứ nhất, việc cố gắng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế qua việc gia tăng vốn đầu

tư khiến cho mất cân đối giữa tiết kiệm - đầu tư lẫn gánh nặng nợ của nền kinh tế ngày

càng gia tăng [15]. Chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa huy động vốn và sử dụng

vốn trên thị trường tiền tệ - tín dụng và thị trường chứng khoán đã tạo ra áp lực lên mặt

bằng lãi suất trong nền kinh tế và làm gia tăng gánh nặng nợ lên khu vực tư nhân lẫn

Nhà nước (mặt bằng lãi suất giai đoạn 2008 - 2015 luôn cao hơn mặt bằng lãi suất giai

đoạn 2005 - 2007 bất kể tốc độ tăng trưởng cung tiền cao hay thấp). Bất ổn kinh tế vĩ

mô, lạm phát biến động thất thường và thiếu vắng một thị trường vốn trung dài hạn là

các tác nhân đóng góp vào sự gia tăng trong mặt bằng lãi suất bên cạnh áp lực từ

chênh lệch đầu tư - tiết kiệm.

Thứ hai, không chỉ có tín dụng đối với khu vực tư nhân gia tăng nhanh chóng

mà nợ công, nợ của Chính phủ và nợ nước ngoài đều gia tăng mạnh từ năm 2009 trở

lại đây. Mặc dù nợ công chưa vượt ngưỡng an toàn nhưng rủi ro tiềm ẩn từ những

khoản nợ của khu vực DNNN không có khả năng chi trả mà phải dùng NSNN trả thay

là rất đáng lo ngại. Hơn nữa, việc chưa có một chiến lược quản lý nợ công, đặc biệt là

kiểm soát nợ công ở mức an toàn và sử dụng hiệu quả nợ công là một vấn đề đáng

quan ngại cho nền kinh tế trong tương lai [15].

Thứ ba, hoạt động ngoại thương sau giai đoạn xuất siêu 3 năm liền 2012 – 2014

đã quay trở lại nhập siêu 3,2 tỷ USD vào năm 2015, tạo áp lực lên tỷ giá. Xuất khẩu

tiếp tục gia tăng với tỷ lệ xuất khẩu/GDP không ngừng tăng nhưng hiệu quả mang lại

cho nền kinh tế là chưa cao. Giá trị gia tăng hàng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư

nước ngoài thấp do chủ yếu là hàng gia công trong khi khu vực trong nước vẫn nhập

siêu mạnh, cho thấy sự phụ thuộc vào thị trường nước ngoài của sản xuất và tiêu dùng

trong nước (tỷ lệ nội địa hóa thấp). Ngoài ra, cơ cấu ngoại thương phân theo thành

phần kinh tế cho thấy khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tới 61% và 56% kim

ngạch xuất khẩu và nhập khẩu, chủ yếu dựa vào nhập khẩu nguyên nhiên liệu để thực

hiện gia công với hàm lượng gia tăng thấp. Ngành công nghiệp phụ trợ kém phát triển

58

là lực cản lớn đối với việc nâng cao chất lượng xuất khẩu (hạn chế việc doanh nghiệp

nước ngoài đầu tư và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam).

Thứ tư, mất cân đối cung tiền - cầu tiền và sự dư thừa tín dụng làm trầm trọng

hơn thực trạng nguồn vốn được phân bổ thiếu hiệu quả, năng lực sản xuất và khả năng

cạnh tranh không được cải thiện làm khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp suy

giảm. Trong khi đó, những yếu kém của hệ thống tài chính về sở hữu, quy mô, cơ cấu

tín dụng, mức độ an toàn vốn, chất lượng tài sản, và mất cân đối về kỳ hạn, tiền tệ

trong bảng cân đối tài sản lại không được xử lý mà chỉ che giấu tạm thời thông qua mở

rộng tín dụng và TTS. Kiểm soát cung tiền thiếu hiệu quả dẫn tới hệ quả lạm phát gia

tăng (năm 2008 và 2011) và niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ bị suy giảm. Sự

mất giá của đồng nội tệ kéo theo tình trạng đô la hóa và vàng hóa nền kinh tế, gây ra

những biến động phức tạp, tiềm ẩn những bất ổn đối với hệ thống tài chính và nền

kinh tế. Diễn biến thị trường nội tệ bị ảnh hưởng bởi từ sự bất ổn trong thị trường

ngoại tệ và vàng, đặc biệt là khi xảy ra tình trạng đầu cơ ồ ạt của công chúng vào ngoại

tệ và vàng. Sự liên thông này đã khiến cho mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế thiếu đi

sự ổn định trong cả ngắn hạn lẫn trung dài hạn, ảnh hưởng không tốt tới nhu cầu đầu

tư của nền kinh tế. Khả năng kiểm soát thị trường tiền tệ của NHNN cũng bị ảnh

hưởng đáng kể [3].

Hệ lụy của sai lầm về mặt chính sách (ở cả cấp độ điều hành vĩ mô của Nhà

nước lẫn cấp độ quản trị doanh nghiệp) bắt nguồn từ sai lầm trong tư duy kinh tế về

mô hình tăng trưởng là lạm phát tăng, kinh tế suy thoái, hệ thống doanh nghiệp suy

yếu trầm trọng, và hệ thống tài chính đối diện nhiều rủi ro lớn, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn

mang tính hệ thống… Tuy nhiên, có thể khẳng định, những yếu kém này, không phải

chỉ hình thành từ năm 2009 cho tới nay, mà đã xuất hiện từ giai đoạn trước đó và chỉ

bộc lộ rõ rệt khi tất cả những yếu kém trong nền kinh tế cùng xuất hiện. Báo cáo Đánh

giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 và

phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020 đã nhận định

“việc kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế chưa thực sự bền

vững… bội chi ngân sách còn cao… đóng góp của khu vực kinh tế trong nước vào

tăng truơngr xuất khẩu thấp… chất lượng tín dụng chưa cao… thị trường vốn, chứng

khoán, bất động sản phát triển chưa đồng bộ, phục hồi chậm và còn tiềm ẩn rủi ro”.

Hệ quả của những yếu kém kể trên là ngoại trừ sự phục hồi nhẹ nhờ chính sách

kích cầu của Chính phủ năm 2009 và 2010, nền kinh tế Việt Nam vẫn nằm trong xu

thế suy giảm kể từ năm 2008 cho tới nay. Kể từ sau giai đoạn 2005 - 2007 với mức

tăng trưởng bình quân gần 7,2%/năm (theo giá so sánh 2010) thì cho tới năm 2014,

chưa năm nào tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức trên 6,5%/năm. Trong khi đó, kinh tế

59

các nước trên thế giới, khu vực các nền kinh tế mới nổi tại châu Á, và các quốc gia

trong khu vực ASEAN đều chứng kiến sự phục hồi nhất định (xem hình 2.4). Báo cáo

“Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 và

phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020” đã nhận định

“kinh tế phục hồi còn chậm, tăng trưởng chưa đạt chỉ tiêu đề ra; chất lượng tăng

trưởng một số mặt còn thấp. Khoảng cách phát triển so với các nước trong khu vực

còn lớn… Chất lượng tăng trưởng một số mặt còn thấp, cải thiện còn chậm; công nghệ

sản xuất phần lớn còn lạc hậu. Đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) vào

tăng trưởng còn hạn chế, hệ số sử dụng vốn (ICOR) còn cao. Năng lực cạnh tranh

quốc gia chưa được cải thiện nhiều, nhất là về thể chế kinh tế, kết cấu hạ tầng và đổi

mới công nghệ”.

15%

10%

5%

0%

.

.

.

a n i h C

d l r o W

a i s y a l a

m a n t e i V

d n a l i a h T

M

a i s e n o d n I

r a m n a y M

a i d o b m a C

5 - N A E S A

R D P o a L

s e n i p p i l i h P

a i s A v e d & e m E

Trong khủng hoảng (2008 - 2011)

Trước kh ủng hoảng (2001 - 2007) Sau khủng hoảng (2012 - 2015)

Hình 2.4: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, một số nước trong khu vực, khu vực ASEAN - 51 và thế giới

Nguồn: World Economic Outlook, IMF

Rõ ràng, sự suy giảm kinh tế của Việt Nam không còn là nguyên nhân từ phía

bên ngoài mà nằm chủ yếu từ những yếu kém, bất ổn bên trong nền kinh tế. Tăng

trưởng GDP vẫn theo xu hướng quý sau cao hơn quý trước nhưng mức tăng trưởng

này vẫn thấp hơn so với kế hoạch được Chính phủ và Quốc hội thông qua, đặc biệt là

việc đạt được kế hoạch tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015. Đáng lo ngại hơn

cả là giai đoạn trì trệ này đã kéo dài được hơn 3 năm, kể từ quý 3 năm 2011 cho tới

năm 2014, cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi vùng đáy của đồ thị

tăng trưởng chậm chập. Thực trạng này phản ánh những nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế,

tìm kiếm lại thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ như trước đây chỉ có tác dụng trong ngắn

hạn chứ chưa tạo ra những bước tiến có tính chất đột phá. Báo cáo “Đánh giá kết quả

1 ASEAN - 5 gồm 5 quốc gia: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thailand, và Vietnam.

thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 và phương hướng

60

nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020” đã nhận định “thực hiện cơ

cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm. Mô hình tăng

trưởng còn chưa đủ rõ. Phát triển kinh tế phụ thuộc nhiều vào vốn, tài nguyên, lao

động trình độ thấp”.

b/ Những thay đổi trong điều hành chính sách kinh tế của Việt Nam

Nhận thức được sự cần thiết phải đổi mới về tư duy kinh tế, về mô hình tăng

trưởng (thay vì chỉ giải quyết về mặt hiện tượng như đã làm đối với giai đoạn trước) đã

được các cấp chính trị và toàn thể xã hội đồng thuận thực hiện. Từ năm 2011 cho tới

nay, thay đổi về tư duy điều hành chính sách đã được thể hiện rõ trong các mục tiêu tại

Nghị quyết của Chính phủ như từ mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô đã

được nhận diện là mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách (Nghị quyết số 11/NQ-CP

năm 2011); chuyển sang ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng

trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế…

(Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2012); và tiếp tục khẳng định tăng cường ổn định kinh tế

vĩ mô… đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển

đổi mô hình tăng trưởng (Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2013); tiếp tục ổn định kinh tế

vĩ mô, kiểm soát lạm phát; tăng trưởng hợp lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức

cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với

đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế (Nghị quyết số 01/NQ-CP năm

2014); tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản

xuất, kinh doanh. Thực hiện mạnh mẽ các đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế gắn

với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh, phấn

đấu tăng trưởng cao hơn năm 2014 (Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2015).

Dù vậy, những sai lầm về mặt chính sách (và quá trình nhận thức chưa kịp thời)

cùng với khó khăn từ bên ngoài (suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu, khủng hoảng

nợ công tại Châu Âu, và sự tăng trưởng chậm lại của những đầu tàu kinh tế tại Châu

Á) đã khiến hệ thống doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung phải

hứng chịu những hệ lụy không mong đợi. Sự chấp nhận đánh đổi giữa kiềm chế lạm

phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải thực hiện các giải pháp

mang tính “sốc” đối với hệ thống doanh nghiệp và hệ thống tài chính [7]. CSTT thắt

chặt nhằm kiềm chế lạm phát đã gây nên căng thẳng thanh khoản tại các NHTM, dẫn

tới sự ngưng trệ nguồn vốn tín dụng cấp cho hệ thống doanh nghiệp. Nguồn vốn tín

dụng bị hạn chế, lãi vay tăng cao trong khi các chủ thể kinh tế điều chỉnh lại hành vi

đầu tư và tiêu dùng (kết quả của suy giảm kinh tế, triển vọng kinh tế tiêu cực, và thay

đổi về tư duy) đã khiến cho hệ thống doanh nghiệp phải đối mặt với khó khăn kép

(nguồn vốn đầu vào và khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra).

61

Đổi mới mô hình tăng trưởng được hiểu là quá trình chuyển đổi từ mô hình tăng

trưởng dựa chủ yếu theo chiều rộng sang mô hình tăng trưởng dựa vào chiều sâu trên

cơ sở nâng cao hiệu quả tăng trưởng. Điều này đòi hỏi cần phải có giải pháp nâng cao

hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực theo hướng tập trung vào khoa học - công

nghệ và nguồn lao động có chất lượng cao. Muốn vậy, tái cơ cấu nền kinh tế là nhiệm

vụ thiết yếu để nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực trong nền

kinh tế. Trên cơ sở đó, quá trình thực hiện tái cấu trúc kinh tế Việt Nam bao gồm ba

trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công dựa trên Chỉ thị 1792/CT-TTg về tăng cường quản

lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ, tái cơ cấu hệ thống

TCTD theo Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015, và

tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước theo Đề án Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước

trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011 - 2015. Đây là

những quyết sách đúng đắn mà Đảng, Nhà nước và toàn thể xã hội đã lựa chọn, hướng

tới một nền kinh tế phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội.

Tuy vậy, quá trình tái cơ cấu mới chỉ đem lại những kết quả bước đầu, chưa

thực sự có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, đồng thời nó đòi hỏi cần có thời gian và nguồn

lực để xử lý dứt điểm những yếu kém, vốn dĩ là hệ lụy để lại của giai đoạn trước. Thể

chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn vướng mắc, chưa thực sự

trở thành động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội. Mặc dù vậy, quan điểm về

tăng trưởng chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, tập trung vào nâng cao hiệu

quả sử dụng nguồn lực là quan điểm đúng đắn đối với mục tiêu phát triển bền vững

nền kinh tế. Quyết định số 339/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án

tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng

cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013 – 2020” một lần nữa

khẳng định quyết tâm của các cấp chính trị và toàn thể xã hội trong công cuộc cải cách

căn bản nền kinh tế Việt Nam. Báo cáo “Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát

triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế

- xã hội 5 năm 2016 – 2020” đã nhận định mục tiêu tổng quát là “Đẩy mạnh thực hiện

các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng,

nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh” và đề ra các nhiệm vụ và giải pháp

chủ yếu “Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển nhanh, bền vững trong

điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Kết hợp hiệu quả

phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, tăng cường ứng

dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong

và ngoài nước, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh

tranh… Tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả Đề án tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế và

62

cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực… Kết hợp hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu,

chú trọng phát triển chiều sâu, tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, huy

động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước, không ngừng nâng cao

năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh… Tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu

quả Đề án tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế và cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực”..

2.1.1.2. Những vấn đề đặt ra đối với điều hành chính sách tiền tệ

Trên cơ sở phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam và các mục tiêu kinh tế -

xã hội do Chính phủ đề ra, một số yêu cầu cấp bách đối với công tác điều hành CSTT

của NHNN trong giai đoạn 2011 - 2015 bao gồm:

Thứ nhất, về định hướng điều hành và mục tiêu cuối cùng của CSTT, công tác

điều hành CSTT của NHNN phải hướng tới mục tiêu kiềm soát lạm phát ở mức hợp lý

và ổn định, tạo dựng nền tảng quan trọng cho ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện nâng

cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn vốn trong nền kinh tế. Điều này đòi hỏi tỷ lệ

lạm phát thấp phải được duy trì không chỉ trong ngắn hạn mà trong cả trung và dài

hạn, khắc phục triệt để tình trạng theo đuổi mục tiêu ngắn hạn như tăng trưởng kinh tế

và bỏ rơi mục tiêu dài hạn.

Thứ hai, về lựa chọn mục tiêu trung gian của CSTT, kinh nghiệm quốc tế và

thực tiễn điều hành tại Việt Nam cho thấy cung tiền và tín dụng chưa hẳn là mục tiêu

cần đạt được khi muốn kiểm soát lạm phát. Hơn nữa, việc đặt ra mục tiêu tăng trưởng

tín dụng hàng năm, và cố gắng đạt được mục tiêu này, tự bản thân nó đã tạo áp lực

không nhỏ lên điều hành CSTT của NHNN nói riêng và toàn hệ thống ngân hàng nói

chung trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế (tín dụng là kênh cung ứng vốn chủ

yếu). Khi diễn biến lạm phát đi vào ổn định, việc lựa chọn lãi suất làm mục tiêu trung

gian trong điều hành CSTT là một gợi ý cần được xem xét áp dụng. Tiến tới, NHNN

cần xóa bỏ các biện pháp hành chính về lãi suất để tiến tới kiểm soát hoàn toàn theo

giá, hoàn thiện công cụ lãi suất chỉ đạo của NHNN và hình thành lãi suất chuẩn của

Việt Nam.

Thứ ba, về sử dụng các công cụ của CSTT, NHNN cần chủ động, linh hoạt, và

kịp thời trong việc sử dụng, phối hợp các công cụ, đặc biệt là các loại lãi suất và điều

tiết lượng tiền cung ứng. Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô biến động, hệ thống tài chính

tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường, việc sử dụng các công cụ mang tính chất hành chính là

cần thiết nhằm bảo đảm sự kịp thời và mức độ hiệu quả. Ngoài ra, NHNN cần phối

hợp hiệu quả giữa các hoạt động nghiệp vụ thị trường mở, thị trường ngoại tệ và vàng

để điều tiết lượng tiền cung ứng hợp lý trong bối cảnh cùng một lúc phải thực hiện

nhiều mục tiêu (gia tăng dự trữ ngoại hối bảo đảm thanh khoản hệ thống, kiểm soát

lạm phát). Tuy nhiên, để hạn chế dần và tiến tới loại bỏ các công cụ có tính hành

63

chính, trực tiếp cao, các công cụ có tính chất thị trường và điều kiện để áp dụng các

công cụ này cần được triển khai từ sớm.

Thứ tư, về định hướng tín dụng, cần hướng đến chất lượng và tập trung vào các

lĩnh vực ưu tiên của Nhà nước, gắn với mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế. NHNN cần

triển khai chính sách nhằm tạo điều kiện, hỗ trợ các NHTM mở rộng tín dụng có hiệu

quả, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn tiêu dùng thiết yếu và

bảo đảm an sinh xã hội. Ngoài ra, toàn ngành ngân hàng phải chuyển dịch cơ cấu tín

dụng theo hướng ưu tiên tập trung vốn hỗ trợ cho các lĩnh vực như nông nghiệp nông

thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DNNVV, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao,

doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động và các dự án có hiệu quả, giảm tỷ trọng dư nợ

cho vay đối với các lĩnh vực không khuyến khích…

Thứ năm, về xây dựng môi trường cho vận hành CSTT, NHNN cần tập trung

xử lý đồng bộ và triệt để bốn vấn đề lớn nhằm bảo đảm hiệu quả cho việc sử dụng các

công cụ CSTT tác động tới nền kinh tế.

 Giảm quy mô thị trường nợ ngoại tệ, giảm thiểu tình trạng đô la hóa trong

nền kinh tế.

 Tăng cường quản lý thị trường vàng, giảm tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế.

 Đẩy nhanh tiến trình cơ cấu lại và lành mạnh hóa hệ thống TCTD nhằm hỗ

trợ việc thực thi hiệu quả CSTT.

 Giải quyết các vấn đề của TTLNH nhằm tăng cường khả năng truyền tải

những thay đổi trong điều hành CSTT của NHNN tới mặt bằng lãi suất và lượng cung

ứng tín dụng đối với nền kinh tế.

Thứ sáu, về ổn định thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng thông qua hoạt

động thanh tra giám sát, NHNN cần tăng cường công tác thanh tra, giám sát thị

trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ tình hình hoạt động của

các TCTD nhằm phát hiện kịp thời, và triển khai các biện pháp xử lý nghiêm những

sai phạm. Việc một số TCTD vi phạm các quy định trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng

đã làm giảm đi mức độ kỷ cương của thị trường tiền tệ - tài chính và cũng đồng thời

làm giảm hiệu quả điều hành CSTT của NHNN [6]. Theo đó, NHNN cần đổi mới,

kiện toàn mô hình tổ chức và hoạt động của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng;

đổi mới nội dung, phương pháp thanh tra, giám sát ngân hàng phù hợp với thực tiễn

như phát triển hệ thống giám sát theo tiêu chuẩn CAMELS, hệ thống đánh giá rủi ro

đối với tổ chức tín dụng và cảnh báo sớm trong hoạt động ngân hàng, hoàn thiện

khung pháp lý về các quy định về an toàn vốn theo thông lệ quốc tế và chuẩn mực an

toàn vốn theo Basel II.

64

Thứ bảy, tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước trong

điều hành chính sách vĩ mô, đặc biệt là Bộ Tài chính trong điều hành CSTK. Mặc dù

có sự khác biệt về phạm vi điều chỉnh, cơ chế truyền tải, và các công cụ điều hành,

CSTT và CSTK có sự liên hệ mật thiết với nhau. Yêu cầu phối hợp chính sách được

đặt ra do các công cụ chính sách riêng lẻ thường có tác động đến nhiều hơn một mục

tiêu chính sách và các công cụ chính sách riêng lẻ có thể giúp đạt được một mục tiêu

chính sách nhất định nhưng cũng có thể sẽ ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu

chính sách khác. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, NHNN cùng với các cơ quan quản lý

Nhà nước cần xây dựng một khuôn khổ phối hợp công tác, trao đổi thông tin và điều

hành chính sách hợp lý (về cả thời điểm lẫn liều lượng), tạo lập một hệ thống các mục

tiêu trong trung và dài hạn trên cơ sở các mục tiêu do Quốc hội và Chính phủ đặt ra…

Thứ tám, tăng cường công tác thông tin, truyền thông về các quy định của pháp

luật, các chủ trương và giải pháp điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng tới mọi tầng

lớp công chúng, để doanh nghiệp và người dân hiểu, thực hiện đúng các quy định của

cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng.

Thứ chín, về hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, NHNN giữ vai

trò định hướng, cùng với nỗ lực của toàn thể ngành ngân hàng trong việc củng cố vững

chắc mối quan hệ với các NHTW trên thế giới, các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế

cũng như thực hiện theo các lộ trình và bước đi phù hợp trong khuôn khổ hợp tác khu

vực và quốc tế theo cam kết. NHNN cũng cần xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính hiện

đại, đáp ứng yêu cầu tài chính toàn diện có chất lượng cho nền kinh tế và khuyến

khích hệ thống TCTD phát triển dịch vụ ngân hàng đa dạng có hàm lượng tri thức và

công nghệ cao.

2.1.2. Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

2.1.2.1. Hoàn thiện khung chính sách tiền tệ

Khung chính sách tiền tệ của NHTW phản ánh việc lựa chọn các mục tiêu của

CSTT và sử dụng các công cụ để đạt được các mục tiêu đó. Giai đoạn 2011 - 2015

đánh dấu những thay đổi đáng kể trong khung CSTT của NHNN.

a/ Lựa chọn mục tiêu của chính sách tiền tệ

Về mục tiêu cuối cùng: kiên trì thực hiện chủ trương kiềm chế lạm phát, ổn định

kinh tế vĩ mô

Nhận thức được những tồn tại của CSTT đa mục tiêu và việc đảo chiều CSTT

liên tục trong giai đoạn trước đây, kể từ năm 2012 trở lại đây, NHNN đã lựa chọn mục

tiêu kiềm chế, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô là mục tiêu xuyên suốt, chủ

đạo cho điều hành CSTT quốc gia. Trước áp lực hạ mặt bằng lãi suất, mở rộng cung

65

tiền và tín dụng từ nhiều phía để thúc đẩy kinh tế Việt Nam thoát khỏi tình trạng suy

giảm, NHNN vẫn định hướng điều hành CSTT chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt hướng

tới mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền. Các mục tiêu trong từng Chỉ thị của NHNN đều

bám sát các Nghị quyết về phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, tập trung vào kiềm

chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và xem xét tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh

doanh, hỗ trợ thị trường, góp phần tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý (xem bảng 2.1).

Bảng 2.1: Mục tiêu và thực hiện chỉ tiêu lạm phát

Đơn vị: %/năm

và tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Tỷ lệ lạm phát

Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Năm

Mục tiêu

Thực hiện Mục tiêu

Thực hiện

2005

6,5

8,4

8,5

8,4

2006

< GDP

6,6

8

8,17

2007

< GDP

12,63

8,2 – 8,5

8,48

2008

< GDP

22,97

7

6,23

2009

< 15%

6,88

6,5

5,32

2010

<7%

11,75

7-7,5

6,78

2011

<7%

18,52

7-7,6

5,9

2012

<10

6,81

6-6,5

5,03

2013

6-6,5

6,6

5,5

5,42

2014

7

1,84

5,8

5,89

2015

5

0,63

6,2

6,89

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Điểm đổi mới có thể nhận thấy là khác với tư duy ưu tiên tăng trưởng kinh tế

trong giai đoạn trước, từ năm 2011 - 2015, NHNN luôn thể hiện rõ cam kết duy trì lạm

phát thấp không chỉ trong ngắn hạn mà còn cho thấy mục tiêu duy trì lạm phát ổn định

trong cả trung và dài hạn (mục tiêu “góp phần tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý” được

đưa xuống sau cùng). Chấp nhận “đánh đổi” mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao nhằm

bám sát mục tiêu kiểm soát lạm phát, hạn chế tối đa tình trạng lạm phát biến động thất

thường (có giai đoạn vượt quá, có giai đoạn thấp hơn mục tiêu đề ra). Diễn biến tăng

trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát của Việt Nam từ năm 2001 đã dịch chuyển từ vị trí

“tăng trưởng khá, lạm phát thấp” lên mức “tăng trưởng cao, lạm phát vừa phải”, rồi

dịch chuyển sang vị trí “tăng trưởng khá, lạm phát cao”, và tới giai đoạn hiện nay là

“tăng trưởng thấp, lạm phát thấp” (xem hình 2.5). Giai đoạn ba năm trở lại đây (2013 –

2015) cho thấy sự ổn định tương đối của nền kinh tế, là điều kiện để tích lũy các yếu tố

cần thiết cho giai đoạn phục hồi sau này.

66

25%

20%

Hình 2.5: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát Việt Nam

2008

2011

15%

10%

5%

2015

0%

-5%

4%

6%

8%

10%

2003 2008 2013

2002 2007 2012

2001 2006 2011

2004 2009 2014

2005 2010 2015

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Trước những khó khăn mà hệ thống doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam phải

đối mặt, NHNN cũng đã triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt

động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Mục tiêu này hoàn toàn phù hợp với mục

tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô vì kiểm soát tốt lạm phát không chỉ

được thể hiện ở tỷ lệ lạm phát thấp mà còn hạn chế tình trạng thiểu phát và thậm chí là

giảm phát. Hơn nữa, ổn định kinh tế vĩ mô đòi hỏi sự cải thiện, phục hồi từ chính hệ

thống doanh nghiệp đang gặp phải khó khăn, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng,

thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế nhằm củng cố nền tảng cho tăng trưởng bền vững

trong tương lai. Việc lựa chọn được mục tiêu cuối cùng phù hợp với bối cảnh kinh tế

vĩ mô là tiền đề quan trọng cho việc triển khai lựa chọn các mục tiêu trung gian, hoạt

động cũng như sử dụng các công cụ CSTT của NHNN.

Về mục tiêu trung gian: kiểm soát chặt chẽ lượng cung ứng tiền tệ, dần hướng

vào mục tiêu lãi suất thị trường, phù hợp với diễn biến lạm phát, thị trường tiền tệ và

góp phần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh

NHNN đã kiểm soát tổng phương tiện thanh toán và tín dụng chặt chẽ hơn so

với giai đoạn trước nhằm kiểm soát lạm phát. Điểm đáng chú ý là khác với việc lựa

chọn mục tiêu trung gian là tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tốc độ

tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn trước, trong giai đoạn 2011 - 2015, NHNN đã có

những bước chuyển dịch dần sang mục tiêu lãi suất thị trường. Mặc dù tốc độ tăng

trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng vẫn được đưa ra trong Chỉ thị điều

hành CSTT hàng năm nhưng thực tế điều hành cho thấy các chỉ tiêu này thường xuyên

được điều chỉnh cho phù hợp với khả năng của hệ thống TCTD và nền kinh tế.

67

Hình 2.6: Chênh lệch giữa kế hoạch và thực hiện chỉ tiêu

2015 2014 2013 2012 2011 2010 2009 2008 2007 2006 2005 2004 2003 2002 2001

-20%

-10%

0%

10%

20%

30%

40%

Chênh lệch lạm phát Chênh lệch tín dụng Chênh lệch cung tiền

lạm phát, tín dụng, và cung tiền

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước

Tăng trưởng cung tiền và tín dụng kể từ năm 2012 trở lại đây đã thấp và ổn định

hơn nhiều so với giai đoạn trước, cùng với mức độ chênh lệch giữa kế hoạch và thực

hiện cũng giảm xuống đáng kể (xem hình 2.6). Trong khi đó, các mục tiêu mà NHNN

đưa ra vào đầu các năm về điều hành mặt bằng lãi suất về mức hợp lý đều được yêu

cầu triển khai quyết liệt và đạt được mục tiêu đề ra. Để đạt mục tiêu này, NHNN đã sử

dụng đồng bộ nhiều công cụ như lãi suất điều hành, tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc, mua

bán ngoại tệ… nhưng chủ đạo nhất vẫn là vận dụng linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở

để điều chỉnh lãi suất giảm theo đúng mục tiêu của CSTT. Việc hướng vào mục tiêu

lãi suất thị trường, dần theo cho mục tiêu mức cung ứng tiền và tín dụng, là phù hợp

khi nhìn vào mối quan hệ giữa mức cung tiền, dư nợ tín dụng và lạm phát trong những

một giai đoạn dài.

Lạm phát biến động thất thường, là hệ quả của việc kiểm soát chưa tốt cung tiền

và tín dụng đã tạo ra áp lực cao cho công tác điều hành CSTT vào thời điểm sau đó

[7]. Yêu cầu của mục tiêu kiềm chế lạm phát hoặc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thường

đòi hỏi hai chỉ tiêu tiền tệ này phải đảo chiều với liều lượng mạnh. Tuy nhiên, từ sau

năm 2011, việc điều hành thận trọng và linh hoạt chỉ tiêu cung tiền và tín dụng, dần

chuyển sang chỉ tiêu lãi suất thị trường đã cho thấy hiệu quả của nó trong việc kiềm

chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Về mục tiêu hoạt động: kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cơ sở thông qua nghiệp

vụ thị trường mở và tái cấp vốn

NHNN lựa chọn chỉ tiêu hoạt động là lượng tiền cơ sở để kết nối giữa các công

cụ của CSTT với mục tiêu trung gian. Từ năm 2011 cho tới nay, mối quan hệ giữa

tăng trưởng tiền cơ sở và tăng trưởng cung tiền là tương đối ổn định so với giai đoạn

68

trước. Điều này xuất phát nhiều từ sự ổn định của diễn biến lượng tiền cơ sở thông qua

việc điều hành thận trọng, linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở và tái cấp vốn của

NHNN. Kết quả là sau giai đoạn biến động mạnh từ giữa năm 2010 tới giữa năm 2011,

hệ số nhân tiền đã đi vào trạng thái ổn định tương đối cho tới nay (xem hình 2.7).

70%

60%

50%

40%

30%

20%

10%

0%

-10%

-20%

7.0 6.5 6.0 5.5 5.0 4.5 4.0 3.5 3.0 2.5 2.0

r a

r a

l u J 5 0 0 2

l u J 2 1 0 2

n a J 2 0 0 2

n a J 9 0 0 2

n u J 8 0 0 2

t c O 0 1 0 2

t c O 3 0 0 2

b e F 6 0 0 2

p e S 6 0 0 2

b e F 3 1 0 2

p e S 3 1 0 2

r p A 7 0 0 2

r p A 4 1 0 2

c e D 4 0 0 2

c e D 1 1 0 2

M 3 0 0 2

M 0 1 0 2

g u A 2 0 0 2

v o N 7 0 0 2

g u A 9 0 0 2

v o N 4 1 0 2

y a M 4 0 0 2

y a M 1 1 0 2

Tăng trưởng tiền cơ sở

Tăng trưởng cung tiền

Hệ số nhân tiền

Hình 2.7: Tăng trưởng tiền cơ sở, cung tiền, và hệ số nhân tiền

Nguồn: Thống kê tài chính quốc tế

Mặc dù NHNN lựa chọn mục tiêu hoạt động là lượng tiền cơ sở nhưng từ giữa

năm 2011 diễn biến lãi suất cho thấy tồn tại một mỗi quan hệ khá rõ ràng giữa lãi suất

TTLNH và mặt bằng lãi suất của các TCTD. Trong khi lượng tiền cơ sở dù tăng

trưởng ổn định, vai trò định hướng của lãi suất TTLNH (đặc biệt là các loại lãi suất

ngắn hạn) đối với lãi suất huy động và cho vay của các TCTD cho thấy một xu thế

dịch chuyển dần sang lựa chọn mục tiêu hoạt động là lãi suất TTLNH (xem hình 2.8).

Hình 2.8: Lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất huy động, và cho vay

Đơn vị: %

Nguồn: Stoxplus

69

Điều này là hoàn toàn phù hợp khi mà có những thời điểm NHNN đã mua vào

một lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối, đòi hỏi triển khai các biện pháp can

thiệp trung hòa thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Trong bối cảnh hệ số nhân tiền gia

tăng và NHNN có xu hướng tiếp tục lựa chọn chế độ tỷ giá tương đối cứng nhắc như

trong giai đoạn 2012 – 2014 và nửa đầu năm 2015, và hướng tới phát triển thị trường

TTLNH, hoàn thiện nghiệp vụ thị trường mở… thì việc chuyển sang một mục tiêu

hoạt động mới là lãi suất TTLNH là một lựa chọn đúng đắn, phù hợp với thực tiễn.

Tựu chung lại, đã có những thay đổi đáng kể trong định hướng điều hành CSTT

của NHNN kể từ năm 2011 cho tới nay. Ưu tiên kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ

mô là lựa chọn hàng đầu của NHNN trong bối cảnh kinh tế Việt Nam trong giai đoạn

suy thoái và đòi hỏi thực hiện những biện pháp tái cấu trúc nền kinh tế. Việc lựa chọn

các mục tiêu trung gian và hoạt động cũng cho thấy xu thế thay đổi, dù cho thực sự rõ

rệt khi các điều kiện vận dụng chưa hội tụ đủ, nhưng đã hướng vào các chuẩn mực

quốc tế. Điều này đặt ra yêu cầu cho NHNN cần phải vận dụng linh hoạt, đồng bộ và

hiệu quả các công cụ CSTT.

b/ Điều hành công cụ chính sách tiền tệ

Bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ và hướng tới thực hiện các mục tiêu

CSTT, NHNN đã chủ động điều hành các công cụ CSTT nhằm ổn định thị trường tiền

tệ, bảo đảm thanh khoản của các TCTD, kiểm soát tốt các mục tiêu trung gian. Hệ

thống các công cụ mà NHNN đã sử dụng trong giai đoạn này bao gồm: điều hành các

mức lãi suất chỉ đạo, quy định trần lãi suất huy động và cho vay các lĩnh vực ưu tiên,

điều hành nghiệp vụ thị trường mở, thực hiện cho vay tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc,

giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, tỷ giá hối đoái…

Về điều hành các mức lãi suất chỉ đạo: NHNN điều chỉnh tăng, giảm các mức

lãi suất điều hành phù hợp với thực trạng và dự báo tình hình kinh tế vĩ mô và thị

trường tiền tệ

Trong năm 2011, trước diễn biến lạm phát tăng cao, NHNN đã điều chỉnh linh

hoạt các mức lãi suất điều hành theo hướng tăng dần. Cụ thể, trong vòng 3 tháng từ

tháng 2/2011 đến tháng 4/2011, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm trong

thanh toán điện tử liên ngân hàng tăng từ 9 - 12 - 13 - 14%/năm, lãi suất tái chiết khấu

tăng từ 7 - 12 - 13%/năm. Trong tháng 10/2011, NHNN một lần nữa điều chỉnh tăng

lãi suất tái cấp vốn từ 14%/năm lên 15%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh

toán điện tử liên ngân hàng từ 14%/năm lên 16%/năm.

Kể từ năm 2012 cho tới nay, lạm phát giảm nhanh và khá bền vững, hệ thống

doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn, NHNN đã điều chỉnh giảm mạnh các

lãi suất điều hành nhằm định hướng và tạo điều kiện giảm lãi suất huy động, cho vay

70

của các TCTD đối với khách hàng. Thời điểm giảm nhanh các lãi suất điều hành từ

tháng 3/2012 cho tới tháng 7/2012 là do lạm phát giảm nhanh và nền kinh tế có dấu

hiệu giảm phát khi CPI tháng 6 và tháng 7/2012 giảm so với tháng trước.

Quan điểm thận trọng tiếp tục được NHNN duy trì trong những năm 2013 -

2015 do mặt bằng lãi suất đã được đưa về mặt bằng phù hợp với thực trạng kinh tế vĩ

mô. Trong cả năm 2013, lãi suất điều hành được điều chỉnh hai lần, mỗi lần giảm 100

điểm phần trăm, đưa lãi suất tái chiết khấu về mức 5%/năm và lãi suất tái cấp vốn về

mức 7%/năm (từ thời điểm 13/05/2013). Từ ngày 18/03/2014, NHNN đã chủ động

điều chỉnh giảm tiếp 0,5% các mức lãi suất điều hành và giữ nguyên cho tới hết năm

2015. Việc điều chỉnh kịp thời và hợp lý lãi suất điều hành (xem hình 2.9) không chỉ

đưa ra những định hướng CSTT mà còn tạo điều kiện cho hệ thống TCTD đưa các

mức lãi suất huy động và cho vay về mức hợp lý.

Hình 2.9: Lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu,

25%

20%

15%

10%

5%

0%

3 1 0 2 / 1 / 9

1 1 0 2 / 1 / 1

1 1 0 2 / 1 / 3

1 1 0 2 / 1 / 5

1 1 0 2 / 1 / 7

1 1 0 2 / 1 / 9

2 1 0 2 / 1 / 1

2 1 0 2 / 1 / 3

2 1 0 2 / 1 / 5

2 1 0 2 / 1 / 7

2 1 0 2 / 1 / 9

3 1 0 2 / 1 / 1

3 1 0 2 / 1 / 3

3 1 0 2 / 1 / 5

3 1 0 2 / 1 / 7

4 1 0 2 / 1 / 1

4 1 0 2 / 1 / 3

4 1 0 2 / 1 / 5

4 1 0 2 / 1 / 7

4 1 0 2 / 1 / 9

5 1 0 2 / 1 / 1

5 1 0 2 / 1 / 3

5 1 0 2 / 1 / 5

5 1 0 2 / 1 / 7

5 1 0 2 / 1 / 9

4 1 0 2 / 1 / 1 1

1 1 0 2 / 1 / 1 1

2 1 0 2 / 1 / 1 1

3 1 0 2 / 1 / 1 1

5 1 0 2 / 1 / 1 1

Lạm phát (yoy)

Lãi suất cơ bản

Lãi suất chiết khấu

Lãi suất tái cấp vốn

lãi suất tái cấp vốn và tỷ lệ lạm phát

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục Thống kê

Về quy định trần lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên:

NHNN đã đưa ra những giải pháp điều hành tuân thủ quy định tại Luật Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam và phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ

Từ cuối năm 2010, nhiều TCTD chạy đua tăng lãi suất huy động vốn để giải

quyết khó khăn về thanh khoản và tranh giành thị phần, gây xáo trộn trên thị trường và

làm gia tăng hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống, đẩy mặt bằng lãi

suất cho vay lên mức cao. Trước thực trạng này, NHNN đã lựa chọn giải pháp áp dụng

trần lãi suất huy động, thay vì giải pháp áp dụng trần lãi suất cho vay/hoặc cả trần lãi

suất huy động lẫn cho vay. Ngày 03/03/2011, NHNN đã ban hành Thông tư số

02/2011/TT-NHNN quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng VND; theo

đó, các TCTD ấn định lãi suất huy động vốn bằng VND của các tổ chức (trừ TCTD)

71

và cá nhân bao gồm cả khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức không vượt quá

14%/năm. Mức lãi suất huy động vốn áp dụng đối với với phương thức trả lãi cuối kỳ,

đối với các phương thức trả lãi khác, phải được quy đổi theo phương thức trả lãi cuối

kỳ tương ứng với mức lãi suất huy động vốn tối đa.

Cho tới nay, NHNN đã 11 lần điều chỉnh mức trần lãi suất huy động về cả phạm vi lẫn đối tượng áp dụng, phù hợp với điều kiện thị trường tiền tệ và các mục

tiêu của CSTT. Lãi suất đã giảm từ mức 14%/năm về còn 1% đối với tiền gửi không

kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng, 5,5%/năm đối với tiền gửi từ 1 tháng đến 6 tháng.

Trong đó, có hai lần điều chỉnh đáng chú ý vào tháng 06/2012 và tháng 06/2013 khi

NHNN giảm dần mức độ hành chính trong các quy định về trần lãi suất khi chỉ quy định trần lãi suất đối với các kỳ hạn dưới 12 tháng và dưới 6 tháng (xem phụ lục số 1).

Việc ổn định và giảm dần được mặt bằng lãi suất huy động là cơ sở chắc chắn

cho NHNN điều chỉnh giảm mặt bằng lãi suất cho vay. Nhằm hỗ trợ nền kinh tế đang

phải đối mặt với nhiều khó khăn do sức cầu suy yếu và trên cơ sở lạm phát đã được

kiểm soát tốt, NHNN đã ban hành Thông tư số 14/2012/TT-NHNN quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân

hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh

vực, ngành kinh tế. Đối với 04 lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn, phương án,

dự án sản xuất - kinh doanh hàng xuất khẩu, sản xuất - kinh doanh của DNNVV, phát

triển ngành công nghiệp hỗ trợ, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam tối đa

bằng lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên

do NHNN quy định cộng 3%/năm. Tiếp tục hoàn thiện giải pháp này, ngày

21/12/2012, NHNN trực tiếp quy định trần lãi suất cho vay đối với 04 nhóm lĩnh vực

kể trên, bổ sung thêm lĩnh vực sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công

nghệ cao. Theo đó, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng VND tối đa là 12%/năm.

Sang năm 2013, tiếp tục đà giảm này, mức lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng VND

tối đa giảm còn 10%/năm kể từ ngày 13/05/2013, 9%/năm kể từ ngày 28/06/2013 (Thông tư số 10/2013/TT-NHNN và Thông tư số 16/2013/TT-NHNN), 8% từ ngày 18/03/2014 (Quyết định số 499/QĐ-NHNN), và còn 7% từ ngày 30/10/2014 (xem phụ

lục số 2).

Bên cạnh các khoản vay mới doanh nghiệp được hưởng mức lãi suất thấp, NHNN cũng kêu gọi các TCTD đưa lãi suất các khoản vay cũ về mức 15%/năm và sau đó là 13%/năm, góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và tạo điều kiện giải phóng nguồn vốn dư thừa của hệ thống. Mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường thể hiện xu hướng giảm liên tiếp từ năm 2012 đã tạo điều kiện để thực hiện việc ấn định

mức lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND thay vì duy trì mức biên độ tối đa giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên [15].

72

1,000

800

600

400

200

0

D S U

D S U

D S U

D S U

D N V

D N V

D N V

D N V

D N V

CN cao

DNNVV

NNNT

CN hỗ trợ

Xuất khẩu

2012

2013

2014

Hình 2.10: Dư nợ các lĩnh vực ưu tiên

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Về điều hành nghiệp vụ thị trường mở, NHNN đã điều hành linh hoạt nghiệp vụ

thị trường mở phù hợp với cung cầu vốn trên thị trường; phối hợp hiệu quả với hoạt

động can thiệp trên thị trường ngoại tệ và vàng

Trong giai đoạn từ năm 2011 cho tới nay, nghiệp vụ thị trường mở được NHNN

sử dụng linh hoạt, thận trọng theo hướng hỗ trợ thanh khoản và điều hòa lượng vốn

khả dụng bằng VND cho các TCTD. Nếu trong năm 2011, NHNN đã thực hiện các

giao dịch chào mua GTCG, phương thức đấu thầu khối lượng thì sang các năm sau,

NHNN đã thực hiện cả hai chiều giao dịch mua GTCG và bán tín phiếu NHNN,

phương thức đấu thầu khối lượng và lãi suất.

Bảng 2.2: Hoạt động nghiệp vụ thị trường mở

Chào mua

Chào bán

Năm

2011

2012

2013

2014

2011

2012

2013

2014

Số phiên

431

299

257

253

79

161

231

7, 14,

28, 56,

28, 56, 84,

28, 56, 84,

7, 14,

Kỳ hạn (ngày)

7, 14

7, 14

21

91, 182

91, 182

91, 182

21

Số lượt thành viên

8.469

1.431

520

1.003

731

1733

170

Doanh số đặt thầu

13.878 2.199

743

448

9.162

2.753

2.221

bình quân (tỷ đồng)

n ệ i h

Doanh số trúng thầu

6.499

1.505

698

400

2.202

1.583

1.531

c ự h t

bình quân (tỷ đồng)

10 -

3,5 -

g n ô h K

Lãi suất (%/năm)

7 - 14

5,5 - 7 5 – 5,5

1,2 - 7,2

2,4 - 4,5

15

12,5

Khối

Khối

Khối

Khối

Phương thức đầu

Khối

lượng,

Khối

Khối

lượng,

thầu

lượng

lượng

lượng

lãi

lượng, lãi suất

lượng, lãi suất

lãi suất

suất

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

73

Sự linh hoạt còn thể hiện ở các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường mở được điều

chỉnh cho phù hợp với mục tiêu CSTT, mặt bằng lãi suất điều hành của NHNN và bối

cảnh thị trường tiền tệ. Giai đoạn 2011 - 2015 cho thấy sự linh hoạt, hài hòa trong việc

phối hợp giữa các công cụ của CSTT; trong đó, nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò

quan trọng trong điều tiết lượng tiền cơ sở và vốn khả dụng của hệ thống TCTD trên

cơ sở mức độ linh hoạt cao nhất trong số các công cụ của CSTT (xem bảng 2.2).

Về điều hành công cụ tái cấp vốn, NHNN đã linh hoạt sử dụng công cụ này để

bảo đảm thanh khoản cho các TCTD và định hướng tín dụng phục vụ phát triển một số

lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ

Công cụ tái cấp vốn được NHNN sử dụng nhằm hỗ trợ thanh khoản cho các

TCTD vào những thời điểm gặp khó khăn về thanh khoản (trường hợp điển hình là quá

trình hợp nhất 3 ngân hàng: NHTMCP Sài Gòn, NHTMCP Đệ Nhất, NHTMCP Việt

Nam Tín Nghĩa) và hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống với thời hạn ngắn khi nhu cầu

vốn thanh toán tăng cao, góp phần ổn định thị trường tiền tệ.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính

sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (sau này là Nghị định số

55/2015/NĐ-CP), NHNN đã triển khai nhiều biện pháp để hỗ trợ người sản xuất,

doanh nghiệp và TCTD liên quan đến tín dụng ngân hàng phục vụ nông nghiệp nông

thôn. Trong đó, NHNN đã dành lượng tiền cung ứng hàng năm để tái cấp vốn cho

TCTD cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn với ưu đãi về thời hạn và nguồn vốn

cho vay.

NHNN đã triển khai tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt của VAMC để hỗ

trợ nguồn vốn hoạt động của TCTD trong quá trình xử lý nợ xấu theo Nghị định số

53/2013/NĐ-CP cũng như tiếp tục tái cấp vốn với các NHTM để cho vay hỗ trợ nhà ở

theo Nghị quyết số 02/NQ ngày 07/01/2013 và Nghị quyết số 61/NQ-CP ngày

24/08/2014 của Chính phủ.

Về dự trữ bắt buộc, NHNN giữ nguyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi

bằng VND nhằm ổn định thị trường tiền tệ

Nhằm hạn chế lãi suất tăng và giảm thiểu rủi ro thanh khoản cho hệ thống

TCTD, NHNN đã không điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc như trong thời kỳ năm

2008. Trong bối cảnh thanh khoản thấp và thiếu ổn định (xu hướng rút tiền gửi từ

TCTD này để gửi vào TCTD khác của công chúng gia tăng) thì tăng dự trữ bắt buộc

nhằm kiểm soát lạm phát sẽ có thể gây ra rủi ro thanh khoản, ảnh hưởng tới sự ổn định

của hệ thống TCTD. Điều này cho thấy sự linh hoạt trong công tác điều hành CSTT

của NHNN và hướng tới xu thế điều hành CSTT hiện đại khi NHTW chủ yếu sử dụng

công cụ nghiệp vụ thị trường mở để điều tiết lượng vốn khả dụng của các TCTD và

74

thanh khoản của hệ thống còn công cụ dự trữ bắt buộc chỉ sử dụng để hút tiền trong

bối cảnh dư thừa vốn.

Về phân nhóm TCTD và giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, NHNN kiểm soát

chặt chẽ tăng trưởng tín dụng gắn với bảo đảm chất lượng tín dụng, hướng tín dụng

vào hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu tiên của Nhà nước

Thứ nhất, trong năm 2012, NHNN đã tiến hành phân loại các TCTD vào 4

nhóm dựa trên đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tăng trưởng tín dụng. Nhóm

1, 2, 3, 4 lần lượt được phép tăng trưởng tín dụng tối đa là 17%, 15%, 8% và không

tăng trưởng. Trên quan điểm điều hành CSTT, việc giao chỉ tiêu tín dụng cho từng

TCTD, thay bằng việc phân bổ chỉ tiêu cào bằng cho toàn ngành như những năm trước

đây, hướng vào hai mục tiêu. Mục tiêu thứ nhất là giúp cho các TCTD định hướng tốt

hơn hoạt động tín dụng của mình. Dựa trên chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng được giao,

từng TCTD sẽ lập kế hoạch tăng trưởng tín dụng báo cáo NHNN và triển khai hoạt

động tín dụng theo kế hoạch được chấp thuận một cách nghiêm túc và nhất quán. Mục

tiêu thứ hai là nhằm giúp NHNN kiểm soát tốt hơn tăng trưởng tín dụng. Điều này

xuất phát từ thực trạng trong suốt một giai đoạn dài, tăng trưởng tín dụng của hệ thống

thường xuyên vượt quá mục tiêu đề ra, gây khó khăn cho việc thực hiện mục tiêu kiểm

soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Để duy trì tính linh hoạt và tạo sự chủ động nhất

định cho các TCTD cũng như hỗ trợ vốn cho nền kinh tế đang gặp khó khăn, NHNN

có xem xét, điều chỉnh chỉ tiêu tín dụng đối với các TCTD trên cơ sở đánh giá đề nghị

và tình hình hoạt động kinh doanh, mức độ lành mạnh của TCTD.

Sang các năm 2013, 2014 và 2015, NHNN tiếp tục kiểm soát tăng trưởng tín

dụng để bảo đảm mở rộng tín dụng phù hợp với khả năng huy động vốn, năng lực tài

chính, năng lực quản trị điều hành của từng TCTD, định hướng tăng trưởng tín dụng

theo đúng mục tiêu đề ra, và gắn với xử lý nợ xấu, chuyển dịch cơ cấu tín dụng.

Thứ hai, NHNN đã thực hiện giải pháp hỗ trợ các TCTD mở rộng tín dụng có

hiệu quả, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn tiêu dùng thiết yếu,

hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục khó khăn; đồng thời, chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo

hướng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, gắn với tái cấu trúc nền kinh tế. Thực hiện

các Nghị quyết về phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, toàn ngành Ngân hàng đã

nỗ lực triển khai quyết liệt các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh

doanh. NHNN đã quyết liệt chỉ đạo các TCTD thực hiện đồng bộ các biện pháp: (i) rà

soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng

trong việc trả nợ vốn vay; (ii) điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với khách hàng

có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt;

(iii) điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng trước đây xuống mức

75

lãi suất cho vay hiện hành, nhất là đối với các lĩnh vực ưu tiên phát triển của Nhà nước

như nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DNNVV,

sử dụng nhiều lao động; (iv) xem xét miễn, giảm lãi phải trả đối với khách hàng bị tổn

thất về tài sản dẫn đến khó khăn về tài chính theo quy định pháp luật; (v) tạo điều kiện

thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu

của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục

vụ sản xuất kinh doanh; (vi) đề xuất với Chính phủ các giải pháp nhằm thực hiện có

hiệu quả hơn cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với DNNVV để các doanh nghiệp này có

thể vay được vốn ngân hàng một cách vững vàng hơn…

Về điều hành tỷ giá hối đoái, NHNN điều hành chính sách tỷ giá chủ động, dẫn

dắt thị trường nhằm mục tiêu duy trì tỷ giá ổn định, tạo niềm tin của công chúng vào

giá trị của đồng nội tệ

Trong giai đoạn 2011 - 2014, NHNN định hướng điều hành tỷ giá theo hướng

ổn định, chứ không cố định. Trong những tháng đầu năm 2011, để bình ổn thị trường

ngoại tệ có dấu hiệu căng thẳng trong thời gian dài, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá

BQLNH tăng 9,3%, từ 18.932 lên 20.693 và giảm biên độ giao dịch từ ±3% xuống còn

±1% trong tháng 2/2011. Ngoài việc ban hành những văn bản pháp luật điều tiết thị

trường ngoại tệ, NHNN đã tiến hành can thiệp mua bán ngoại tệ khi thị trường có biến

động mạnh và cam kết điều chỉnh tỷ giá không quá 2 - 3% của lãnh đạo NHNN. Kể từ

thời điểm tháng 2/2011, NHNN đã 5 lần điều chỉnh tỷ giá vào tháng 6/2013, tháng

6/2014, tháng 1/2015, tháng 5/2015 và tháng 8/2015 với mức độ điều chỉnh mỗi lần là

tăng 1% tỷ giá bình quân liên ngân hàng nhằm ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối, đưa

đồng VND về sát giá trị thực. Riêng tháng 8/2015, trước việc NHTW Trung Quốc phá

giá đồng nhân dân tệ, một số đồng tiền chủ chốt của ASEAN giảm giá mạnh và lường

trước khả năng Cục dự trữ liên bang Mỹ tăng lãi suất, NHNN đã chủ động tăng tỷ giá

bình quân liên ngân hàng thêm 1% và nới lỏng biên độ giao dịch từ ±1% lên ±3%.

Ngày 31/12/2015, NHNN đã ban hành Quyết định số 2730/QĐ-NHNN về việc

công bố tỷ giá trung tâm của Đồng Việt Nam với Đô la Mỹ, tỷ giá tính chéo của Đồng

Việt Nam với một số ngoại tệ khác. Tỷ giá trung tâm được xác định trên cơ sở tham

chiếu diễn biến tỷ giá bình quân gia quyền trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, diễn

biến tỷ giá trên thị trường quốc tế của một số đồng tiền của các nước có quan hệ

thương mại, vay, trả nợ, đầu tư lớn với Việt Nam, các cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ và

phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ. Cách thức điều hành tỷ giá mới này cho phép

tỷ giá biến động linh hoạt hàng ngày theo diễn biến cung cầu ngoại tệ trong nước, biến

động thị trường thế giới nhưng vẫn bảo đảm vai trò quản lý của NHNN theo định

hướng điều hành CSTT (xem hình 2.11).

76

23,000

2.0%

1.5%

22,500

1.0%

22,000

0.5%

21,500

0.0%

21,000

-0.5%

20,500

-1.0%

20,000

-1.5%

2 1 - r a

3 1 - r a

4 1 - r a

5 1 - r a

1 1 - n u J - 1

2 1 - n u J - 1

3 1 - n u J - 1

4 1 - n u J - 1

5 1 - n u J - 1

1 1 - p e S - 1

2 1 - p e S - 1

3 1 - p e S - 1

4 1 - p e S - 1

5 1 - p e S - 1

3 1 - c e D - 1

1 1 - c e D - 1

2 1 - c e D - 1

4 1 - c e D - 1

5 1 - c e D - 1

M - 1

M - 1

M - 1

M - 1

Tỷ giá VND/USD

Thay đổi tỷ giá VND/USD (trục phải)

Hình 2.11: Tỷ giá VND/USD

Nguồn: Investing.com

Bên cạnh đó, việc thông báo về lượng dữ trữ ngoại hối với xu hướng tăng mạnh

của NHNN cũng cho thấy một cam kết mạnh mẽ của cơ quan quản lý về khả năng can

thiệp trực tiếp trên thị trường ngoại tệ để giữ ổn định tỷ giá, góp phần xóa bỏ tâm lý

chờ đợi những đợt tăng mạnh tỷ giá, giảm tình trạng đầu cơ ngoại tệ. NHNN cũng đã

phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử

lý các vi phạm đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo đảm các TCTD, chủ thể

kinh tế chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về tỷ giá và giao dịch hối đoái.

2.1.2.2. Tạo dựng môi trường cho chính sách tiền tệ vận hành

Nhận thức được những bất ổn trong thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường nợ

ngoại tệ, nợ vàng và thị trường tiền tệ liên ngân hàng, cũng như sự yếu kém của hệ

thống TCTD đã ảnh hưởng tới công tác ra quyết định điều hành và làm giảm đi hiệu

quả truyền tải CSTT, NHNN đã triển khai nhiều giải pháp để tạo dựng một môi trường

tốt cho điều hành và truyền tải CSTT. Hệ thống các giải pháp được thực hiện trong

giai đoạn 2011 - 2015 bao gồm xử lý tình trạng đô la hóa, vàng hóa trong nền kinh tế;

giải quyết các vấn đề bất cập của TTLNH; thực hiện tái cấu trúc hệ thống TCTD theo

Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015 và xử lý nợ xấu

theo Đề án Xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng; hoàn thiện hệ thống pháp

luật về tiền tệ, ngân hàng; tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong

điều hành CSTT…

a/ Giảm quy mô thị trường nợ ngoại tệ, giảm tình trạng đô la hóa

Nhận thức được sự bất ổn của thị trường ngoại tệ giai đoạn trước năm 2011 đã

tạo ảnh hưởng không tốt tới công tác điều hành CSTT, NHNN đã triển khai đồng bộ

và quyết liệt nhiều giải pháp nhằm giảm quy mô của thị trường nợ ngoại tệ, giảm thiểu

tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế (xem hình 2.12).

77

Thứ nhất, NHNN đã phối hợp hiệu quả chính sách tỷ giá với công tác điều hành

lãi suất, hướng tới mục tiêu ổn định tỷ giá, giảm tình trạng đô la hóa. Kể từ năm 2011,

trần lãi suất huy động USD của các TCTD được NHNN áp dụng và quy định ở mức

thấp hơn nhiều so trần lãi suất huy động VND. Lãi suất tiền gửi ngoại tệ tối đa đối với

tổ chức là 0,25%/năm và 0,75%/năm đối với cá nhân, thấp hơn đáng kể so với mức

trần lãi suất tiền gửi nội tệ là 5,5%/năm, khuyến khích người dân bán ngoại tệ thay vì

gửi ngoại tệ tại các TCTD. Sang năm 2015, tiếp tục thực hiện các giải pháp đồng bộ

chống đô la hóa, NHNN đã ban hành Quyết định số 2589/QĐ-NHNN ngày 17/12/2015

quy định mức lãi suất áp dụng đối với tiền gửi của tổ chức (trừ TCTD, chi nhánh ngân

hàng nước ngoài) và cá nhân là 0%/năm.

30%

20%

10%

0%

2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015

Tiền gửi ngoại tệ/tổng tiền gửi

Tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán

Dư nợ ngoại tệ/tổng dư nợ

Hình 2.12: Các chỉ tiêu đo lường tình trạng đô la hóa nền kinh tế

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Thứ hai, NHNN đã ban hành các quy định chặt chẽ hơn về mua bán ngoại tệ và

trạng thái ngoại tệ của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với các bước tiến

hành phù hợp. Đầu tiên, NHNN đã ban hành Thông tư số 20/2011/TT-NHNN quy

định việc mua, bán ngoại tệ của cá nhân với TCTD được phép có hiệu lực kể từ ngày

15/10/2011; trong đó quy định chặt chẽ hơn về nhu cầu chi tiêu của cá nhân được phép

mua ngoại tệ và hạn mức mua ngoại tệ. Sang năm 2012, NHNN ban hành Thông tư số

07/2012/TT-NHNN quy định về trạng thái ngoại tệ của các TCTD, chi nhánh ngân

hàng nước ngoài có hiệu lực kể từ ngày 02/05/2012, giảm trạng thái ngoại tệ từ mức

±30% xuống mức ±20% vốn tự có. Quy định chặt chẽ hơn về trạng thái ngoại tệ phần

nào đã hạn chế được tình trạng găm giữ ngoại tệ của các TCTD, buộc các tổ chức có

trạng thái dương bán ngoại tệ để tạo cung cho thị trường, góp phần hạ nhiệt tỷ giá.

Tiếp đó, trong năm 2013, 2014 và 2015, NHNN đã điều chỉnh tỷ giá mua vào của Sở

giao dịch NHNN cao hơn tỷ giá mua vào của các TCTD, nhằm khuyến khích TCTD

bán lượng ngoại tệ mua được cho NHNN. Như vậy, các biện pháp được NHNN thực

78

hiện cho thấy một lộ trình hợp lý, bắt đầu từ việc thu hút lượng ngoại tệ từ công chúng

vào các TCTD, hạn chế các nhu cầu ngoại tệ không thiết yếu mà TCTD phải đáp ứng,

và sau đó là thúc đẩy các TCTD bán lại lượng ngoại tệ dư thừa.

Thứ ba, NHNN đã ban hành quy định về đối tượng được vay vốn ngoại tệ tại

các TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. NHNN đã ban hành Thông tư số

43/2014/TT-NHNN quy định cho vay bằng ngoại tệ của TCTD, chi nhánh ngân hàng

nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú có hiệu lực từ ngày 25/12/2014

(trước đó là , Thông tư số 29/2013/TT-NHNN, Thông tư số 37/2012/TT-NHNN,

Thông tư số 03/2012/TT-NHNN); trong đó, quy định các TCTD xem xét cho vay các

nhu cầu nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ khi khách hàng vay có đủ ngoại tệ từ nguồn thu

sản xuất kinh doanh để trả nợ vay và phục vụ một số nhu cầu thiết yếu khác khi được

NHNN chấp thuận. Có thể thấy, đồng hành với các biện pháp giảm tình trạng đô la hóa

tiền gửi, NHNN đã thực hiện quyết liệt biện pháp giảm tình trạng đô la hóa tiền vay;

dần chuyển quan hệ huy động - cho vay sang quan hệ mua - bán ngoại tệ một cách

đồng bộ.

Thứ tư, NHNN duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ ở mức cao

hơn so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi nội tệ. Theo đó, tỷ lệ dự trữ bắt buộc

đối với tiền gửi ngoại tệ đều cao hơn tiền gửi VND ở tất cả các kỳ hạn và ở cả độ lớn.

Ngoài ra, NHNN cũng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng

ngoại tệ từ 0,1%/năm xuống còn 0,05%/năm, tương đương với mức lãi suất mà NHNN

sử dụng tiền gửi của TCTD gửi tại Cục dự trữ liên bang Mỹ, nhằm góp phần giảm chi

phí trả lãi và phù hợp với chủ trương hạn chế găm giữ ngoại tệ trên tài khoản.

b/ Chấm dứt thị trường nợ vàng, giảm tình trạng vàng hóa

Khi giá vàng thế giới trong nước biến động mạnh kể từ năm 2008 trở lại đây, sự

bất ổn trong thị trường vàng đã tác động tiêu cực đến diễn biến tỷ giá và sự ổn định

của thị trường ngoại tệ, tạo áp lực và làm giảm hiệu quả của công tác điều hành CSTT

và chính sách tỷ giá. Nhận thức được vấn đề này, ngay từ năm 2011, NHNN đã xây

dựng và triển khai tích cực lộ trình chấm dứt tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế theo ba

bước: (i) xây dựng và thực thi khuôn khổ pháp lý quản lý thị trường vàng; (ii) chấm

dứt hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng của TCTD; và (iii) chuyển quan hệ

huy động - cho vay vốn bằng vàng sang quan hệ mua - bán vàng miếng thông qua

nhiều biện pháp như:

Thứ nhất, khắc phục những bất cập của cơ chế quản lý thị trường vàng giai

đoạn trước đây, NHNN đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành một

khuôn khổ pháp lý mới về quản lý thị trường vàng. Theo đó, Nghị định 95/2011/NĐ-

CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ và vàng, Nghị

79

định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, và nhiều văn bản hướng

dẫn Nghị định 24/2012/NĐ-CP khác được NHNN ban hành.

Thứ hai, NHNN đã tích cực hoàn thiện và kiểm soát mạng lưới mua, bán vàng

miếng nhằm bảo đảm hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng trên thị trường diễn

ra thông suốt, ổn định, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người nắm giữ vàng.

Thứ ba, NHNN ban hành Quyết định số 1623/QĐ-NHNN về việc tổ chức và

quản lý sản xuất vàng miếng để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi vàng miếng khác SJC

sang vàng miếng SJC của người dân, TCTD và doanh nghiệp. Theo đó, NHNN Việt

quyết định lựa chọn phương thức sản xuất vàng miếng của NHNN là thuê gia công và

giao cho công ty SJC gia công đồng thời NHNN là đơn vị quyết định hạn mức, thời

điểm thực hiện gia công của Công ty SJC dưới sự giám sát và kiểm soát của NHNN.

Thứ tư, NHNN kiên quyết áp dụng đồng bộ các biện pháp để thực hiện lộ trình

chấm dứt tình trạng huy động - cho vay vốn bằng vàng và yêu cầu các TCTD phải tất

toán số dư vàng huy động.

Thứ năm, để hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng,

ngăn chặn tình trạng đầu cơ vàng trong hệ thống, NHNN đã ban hành Thông tư số

38/2012/TT- NHNN về việc quy định trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng không

được âm và vượt quá 2% so với vốn tự có.

Thứ sáu, để hỗ trợ hệ thống TCTD tất toán các khoản huy động vàng, không

gây ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường, NHNN đã xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ

pháp lý và triển khai các giải pháp can thiệp thông qua đấu thầu bán vàng miếng kể từ

ngày 28/03/2013, làm tiền đề cho các giải pháp bình ổn thị trường vàng trong nước.

c/ Giải quyết các vấn đề tồn tại của thị trường liên ngân hàng

Năm 2011 cho thấy thực trạng khó khăn của thị trường một đã lan truyền tới thị

trường hai, làm gia tăng mức độ rủi ro hệ thống, đồng thời vai trò của TTLNH trong

việc truyền tải CSTT bị suy giảm đáng kể. Nhằm khắc phục thực trạng này, NHNN đã

ban hành Thông tư số 21/2012/TT-NHNN quy định hoạt động cho vay, đi vay, mua,

bán có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông

tư 21/2012/TT-NHNN quy định: TCTD có nợ quá hạn từ 10 ngày trở lên không được

tham gia vào TTLNH; các TCTD không được gửi tiền, nhận tiền gửi (trừ tiền gửi

thanh toán) tại TCTD khác, trên thị trường 2 mà chỉ được thực hiện giao dịch cho vay

với kỳ hạn ngắn dưới 1 năm, loại bỏ cho vay trung, dài hạn. Như vậy, khi thực hiện

giao dịch cho vay buộc các TCTD phải trích lập DPRR tương tự như các khoản cho

vay đối với khách hàng thông thường, tức là các TCTD phải cẩn trọng hơn khi xem xét

cho vay các đối tác trên TTLNH. Trên cơ sở đó, bản thân các TCTD đã thực hiện tái

cơ cấu lại hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản của mình, hạn chế được tình trạng

80

chạy đua huy động vốn thông qua tăng lãi suất, giảm mức độ phụ thuộc của một số

TCTD nhỏ vào vốn trên thị trường hai từ phía các TCTD lớn.

d/ Kiểm soát và xử lý nợ xấu gắn với tiến trình cơ cấu lại hệ thống các tổ chức

tín dụng

Những yếu kém của hệ thống TCTD, đặc biệt là vấn đề chất lượng tài sản thấp,

giá trị nợ xấu lớn và thể hiện xu hướng tiếp tục tăng đã khiến mức độ an toàn của hệ

thống TCTD và khả năng phòng chống trước những tác động bất lợi, đột ngột từ môi

trường kinh doanh giảm. Không những vậy, sự thiếu lành mạnh của hệ thống TCTD

và tỷ lệ nợ xấu tăng cao đã trở thành lực cản lớn đối với nhiệm vụ truyền tải CSTT của

NHNN đến nền kinh tế. Trước tình hình này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết

định số 254/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai

đoạn 2011 - 2015 nhằm cơ cấu lại căn bản, triệt để và toàn diện hệ thống các TCTD

trong đó xử lý nợ xấu nhằm lành mạnh hóa tình trạng tài chính, cải thiện mức độ an

toàn là những ưu tiên hàng đầu.

Thực hiện triển khai các nhiệm vụ theo Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức

tín dụng giai đoạn 2011 - 2015, và đặc biệt là Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2013 về

một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải

quyết nợ xấu, Quyết định 843/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Xử lý nợ xấu của hệ thống các

tổ chức tín dụng và Đề án Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng

Việt Nam, NHNN đã ban hành các chỉ thị định hướng điều hành CSTT và hoạt động

ngân hàng nhằm phấn đấu tới cuối năm 2015, xử lý căn bản nợ xấu. Trong Đề án Xử lý

nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng, mục tiêu xử lý nợ xấu được gắn liền với quá

trình tái cơ cấu hệ thống TCTD và vừa là điều kiện quan trọng cũng như mục tiêu của

Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015, tạo nền tảng

cho sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống tới năm 2020.

Thứ nhất, gắn xử lý nợ xấu với cơ cấu lại hệ thống TCTD, NHNN đã xác định

các TCTD cần tập trung ưu tiên cơ cấu lại, hỗ trợ thanh khoản kịp thời, cho phép hợp

nhất hoặc tự cơ cấu lại trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm an toàn cho hệ thống.

NHNN đã tiếp nhận và phê duyệt phương án tái cơ cấu của các NHTMCP đang hoạt

động bình thường, phê duyệt phương án, chỉ đạo các ngân hàng còn lại hoàn thiện

phương án để phê duyệt. Trên cơ sở đó, NHNN đã chỉ đạo tiến hành cơ cấu lại hệ

thống TCTD bám sát lộ trình cơ cấu lại trong Đề án Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức

tín dụng giai đoạn 2011 - 2015 bao gồm các nội dung: (i) đánh giá và xác định thực

trạng hoạt động, chất lượng tài sản và nợ xấu của các TCTD; (ii) tiến hành đánh giá và

phân loại TCTD; (iii) xây dựng và triển khai phương án cơ cấu lại TCTD yếu kém và

TCTD khác; (iv) tập trung hỗ trợ thanh khoản để bảo đảm khả năng chi trả của các

81

TCTD; (v) triển khai sáp nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD; (vi) tăng vốn điều lệ và

xử lý nợ xấu của các TCTD; (vii) cơ cấu lại hoạt động và hệ thống quản trị… Bên

cạnh đó, nhiều giải pháp hỗ trợ công tác tái cơ cấu hệ thống TCTD cũng được đẩy

mạnh triển khai như: (i) đổi mới và hoàn thiện các văn bản pháp lý; (ii) đổi mới và

nâng cao hiệu quả thanh tra, giám sát ngân hàng; tạo điều kiện cho hoạt động sáp

nhập, hợp nhất, mua lại các TCTD; xử lý nghiêm các sai phạm trong quản trị, điều

hành và vi phạm luật pháp tại các TCTD…

Thứ hai, NHNN đã ban hành và yêu cầu các TCTD triển khai nghiêm túc nhiều

văn bản liên quan tới công tác xử lý nợ xấu, tạo môi trường thuận lợi cho xử lý và hạn

chế nợ xấu phát sinh như sau:

Về đánh giá lại chất lượng, khả năng thu hồi các khoản nợ, tăng cường trích

lập, và sử dụng dự phòng để xử lý nợ xấu, NHNN đã ban hành văn bản số

7780/NHNN-TTGSNH về việc trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro

vào ngày 27/11/2012. Trong đó, các TCTD được yêu cầu chủ động phân loại nợ theo

đúng quy định, đánh giá khả năng thu hồi nợ từ xử lý TSBĐ, chủ động trích lập dự

phòng rủi ro và cắt giảm chi phí, điều chỉnh lợi nhuận nhằm tạo nguồn xử lý nợ xấu

ngay trong năm 2012 và các năm tiếp theo.

Về cơ cấu lại nợ và tích cực thu hồi nợ xấu, hỗ trợ khách hàng khắc phục khó

khăn, NHNN đã ban hành Quyết định số 780/QĐ-NHNN về việc phân loại nợ đối với

nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ vào ngày 23/04/2012. Theo đó, NHNN

cho phép các TCTD khi cơ cấu lại nợ đối với các khoản nợ có triển vọng phục hồi tích

cực được giữ nguyên nhóm nợ như đã phân loại trước khi cơ cấu lại nợ. Biện pháp này

nhằm mục đích giảm bớt khó khăn về tài chính tạm thời, tạo cơ hội cho các khách

hàng khôi phục và nâng cao hiệu quả hoạt động san xuất kinh doanh, từ đó tạo nguồn

thu mới để trả nợ cho các TCTD.

Về xây dựng và triển khai kế hoạch xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng,

NHNN đã ban hành Văn bản số 8421/NHNN-TTGSNH về việc triển khai thực hiện

Quyết định số 843/QĐ-TTg. Tại văn bản này, NHNN yêu cầu các TCTD phải tập trung

xử lý nợ xấu và hạn chế nợ xấu tiếp tục phát sinh thông qua việc nâng cao chất lượng

tín dụng. Nhằm có đánh giá chính xác về tình trạng nợ xấu và đưa ra các giải pháp kịp

thời, tránh gây ra xáo động trong công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro,

các TCTD phải báo cáo số liệu về nợ xấu trong trường hợp không áp dụng Quyết định

780/QĐ-NHNN và áp dụng Thông tư 02/2013/TT-NHNN.

Về thành lập và đưa vào hoạt động Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín

dụng Việt Nam (VAMC), VAMC được thành lập và hoạt động theo Luật Ngân hàng

Nhà nước, Luật Doanh nghiệp và Nghị định số 53/2013/NĐ-CP. VAMC là doanh

82

nghiệp đặc thù do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, chịu sự quản lý nhà nước, thanh

tra, giám sát trực tiếp của NHNN nhằm mục đích góp phần xử lý nhanh nợ xấu, lành

mạnh hóa tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các TCTD, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng

trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinh tế. Về nguyên tắc hoạt động, VAMC hoạt động

theo nguyên tắc lấy thu bù chi và không vì mục tiêu lợi nhuận; công khai, minh bạch

trong hoạt động mua, xử lý nợ xấu; hạn chế rủi ro và chi phí trong xử lý nợ xấu.

Theo quy định tại Nghị định số 53/2013/NĐ-CP, các TCTD có tỷ lệ nợ xấu từ

3% trở lên phải bán nợ xấu cho VAMC, nếu không sẽ bị áp dụng các biện pháp như

thanh tra, đánh giá lại chất lượng và giá trị tài sản để trên cơ sở đó, TCTD phải bán lại

nợ xấu cho VAMC. Quy định này đã tạo áp lực buộc các TCTD phải nhanh chóng

thực hiện các biện pháp xử lý nợ xấu, hoặc phải tiến hành bán nợ xấu cho VAMC để

nhanh chóng đưa tỷ lệ nợ xấu về mức cho phép. Để tiếp tục đẩy mạnh hoạt động mua

nợ xấu của VAMC, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 34/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ

sung một số điều Nghị định số 53/2013/NĐ-CP, tăng vốn điều lệ của VAMC từ 500 tỷ

đồng lên 2000 tỷ đồng và cho phép VAMC phát hành trái phiếu để mua nợ theo giá trị

thị trường. Trên cơ sở đó, NHNN đã ban hành Thông tư số 14/2015/TT-NHNN sửa

đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 19/2013/TT-NHNN quy định về phát hành,

sử dụng và thanh toán trái phiếu VAMC để mua nợ xấu theo giá thị trường; và sửa đổi,

bổ sung các quy định về phát hành, sử dụng, trích lập dự phòng rủi ro và thanh toán

trái phiếu đặc biệt của VAMC.

Hình 2.13: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống tổ Hình 2.14: Tỷ lệ nợ xấu hệ thống ngân

5%

5%

3.8% 3.7%

4%

4%

3.5% 3.6%

3.3%

2.9%

2.7%

3%

3%

2%

2%

1%

1%

0%

0%

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

6 T 5 1 0 2

1 T 5 1 0 2

2 T 5 1 0 2

3 T 5 1 0 2

9 T 5 1 0 2

ASEAN

Vietnam

2 1 T 4 1 0 2

1 1 T 5 1 0 2

chức tín dụng Việt Nam hàng Việt Nam và ASEAN

Nguồn: Bankscope

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống giảm xuống còn 2,72% vào cuối tháng 11/2015,

thấp hơn mục tiêu 3% đặt ra trong Đề án xử lý nợ xấu. Trong nửa đầu năm 2015, nợ

xấu tăng nhanh do yêu cầu phải phân loại nợ theo xếp hạng tín dụng của CIC và quy

83

định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ hết hiệu lực. Tuy nhiên, tỷ lệ

nợ xấu giảm liên tục từ quý 3 do VAMC đẩy nhanh tốc độ mua nợ xấu (trên 40% nợ

xấu được xử lý thông qua bán cho VAMC), sự ấm lên của thị trường bất động sản, và

tín dụng tăng trưởng tốt (xem hình 2.13 và 2.14).

Quy định cho phép VAMC mua nợ xấu theo giá trị thị trường bằng trái phiếu

của VAMC có hiệu lực từ tháng 10/2015 được kỳ vọng sẽ khuyến khích các ngân hàng

tăng cường bán nợ xấu theo giá trị thị trường trong thời gian tới. Cụ thể, ngân hàng

không phải trích lập dự phòng rủi ro cho loại trái phiếu này và hệ số rủi ro của trái

phiếu này là 0% khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (so với mức trích lập 20%/năm và

hệ số rủi ro là 20% của trái phiếu đặc biệt).

e/ Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ, ngân hàng

Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống thể chế về tiền tệ và hoạt động

ngân hàng đối với việc bảo đảm hiệu lực quản lý và bảo đảm an toàn của hệ thống

TCTD, NHNN đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của công tác pháp chế là bổ sung, hoàn

thiện các văn bản pháp luật phù hợp với điều kiện của Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Trong giai đoạn 2011 - 2015, NHNN đã ban hành nhiều Thông tư, trong đó, tập trung

vào các văn bản hướng dẫn Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các Tổ chức

tín dụng, các chính sách quan trọng về tiền tệ, tín dụng, quản lý ngoại hối, đảm bảo an

toàn hoạt động ngân hàng, công bố thông tin, cải cách thủ tục hành chính. Cụ thể,

NHNN tập trung vào xây dựng, ban hành và hướng dẫn khung pháp lý về hoạt động

tiền tệ, ngân hàng; tạo công cụ pháp lý điều hành CSTT, quản lý ngoại hối và khơi

thông tín dụng cho nền kinh tế; tạo hành lang pháp lý mới về chuẩn mực an toàn hoạt

động ngân hàng, xử lý các ngân hàng yếu kém; hoàn thiện khung pháp lý về phát triển

công nghệ ngân hàng hiện đại và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt…

f/ Tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong điều hành CSTT

Một điểm không mới nhưng lại có sự thay đổi đáng kể (về cả tấn suất lẫn nội

dung) trong công tác điều hành CSTT giai đoạn 2011 - 2015 là công tác truyền thông,

minh bạch hóa thông tin về hoạt động của NHNN nói riêng và toàn ngành ngân hàng

nói chung. Theo đó, NHNN đã cải tiến cơ chế cung cấp thông tin, tăng cường tính chủ

động, kịp thời, công khai minh bạch về cơ chế, chính sách, các quyết định quản lý của

NHNN và tình hình hoạt động của hệ thống các TCTD qua nhiều kênh khác nhau.

Thứ nhất, NHNN chủ động công bố thông tin chính xác, kịp thời những vấn đề

về chính sách tiền tệ, hoạt động ngân hàng… được dư luận xã hội quan tâm tại diễn

đàn Quốc hội, website NHNN, tại các cuộc họp báo do Văn phòng Chính phủ tổ chức,

tại các cuộc họp báo do NHNN tổ chức, tại các cuộc trả lời phỏng vấn báo chí, tại các

cuộc hội thảo, tọa đàm khoa học liên quan đến CSTT và hoạt động ngân hàng.

84

Thứ hai, NHNN phối hợp với các cơ quan truyền thông lớn ngoài ngành để

tuyên truyền các định hướng chính sách, giải pháp chính sách và các kết quả của

ngành Ngân hàng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất

nước nhằm tranh thủ sự đồng thuận, ủng hộ của toàn thể xã hội.

Thứ ba, NHNN đã ban hành Thông tư số 35/2011/TT-NHNN nhằm công bố

gần 20 chỉ tiêu, thông tin quan trọng về diễn biến tiền tệ, hoạt động ngân hàng trên

website NHNN, hướng tới thông lệ quốc tế về minh bạch hóa thông tin.

Thứ tư, theo dõi chặt chẽ các thông tin liên quan đến hoạt động tiền tệ - ngân

hàng, phát hiện nhanh chóng những sai sót và có biện pháp phản hồi, xử lý kịp thời

những thông tin thiếu chính xác, bảo đảm sự ổn định của thị trường tiền tệ - tài chính.

2.1.3. Truyền tải chính sách tiền tệ tại Việt Nam qua nghiên cứu định lượng

2.1.3.1. Xây dựng mô hình

Luận án sử dụng mô hình vector tự hồi quy để kiểm tra mức độ truyền tải CSTT

qua các kênh lãi suất, giá cổ phiếu, kênh tỷ giá, và kênh tín dụng đến nền kinh tế Việt

Nam. Kể từ những năm 1990 cho tới nay, mô hình VAR đã được sử dụng khá phổ biến

để phân tích cơ chế truyền tải chính sách CSTT và khuôn khổ CSTT tại nhiều nền kinh

tế (xem tổng quan nghiên cứu và nội dung 1.3 về các nghiên cứu định lượng). Trên cơ

sở đó, luận án xây dựng mô hình VAR giản đơn (gọi tắt là mô hình VAR cơ bản) cho

nền kinh tế Việt Nam với giả định Việt Nam một nền kinh tế nhỏ, mở cửa. Mô hình

VAR cơ bản gồm 5 biến là giá cả hàng hóa thế giới, lãi suất qua đêm của Mỹ, độ lệch

sản lượng, chỉ số giá tiêu dùng, và cung tiền rộng. Các biến số trong mô hình VAR cơ

bản được sắp xếp theo thứ tự kể trên dựa vào giả định (i) các cú sốc về giá cả hàng hóa

thế giới và tiền tệ từ Mỹ là các cú sốc ngoại sinh đối với nền kinh tế Việt Nam và (ii)

biến số tiền tệ phản ánh những thay đổi không dự tính được (bởi công chúng) trong

CSTT của NHNN không ngay lập tức ảnh hưởng tới sản lượng và giá cả của nền kinh

tế mà cần có thời gian. Biến cung tiền rộng M2 được lựa chọn làm đại diện cho cú sốc

CSTT của NHNN.

Dựa trên mô hình VAR cơ bản, luận án kiểm tra thực trạng các kênh truyền tải

thông qua việc bổ sung các biến số đại diện cho từng kênh truyền tải vào mô hình. Các

biến lãi suất, tỷ giá, chỉ số giá chứng khoán và tín dụng được thêm vào mô hình VAR

cơ bản để hình thành các mô hình VAR cho từng kênh truyền tải là kênh lãi suất, kênh

tỷ giá, kênh giá cổ phiếu, và kênh tín dụng.

2.1.3.2. Số liệu và kiểm định khuyết tật mô hình

Các biến số trong mô hình bao gồm: giá cả hàng hóa thế giới dưới dạng chỉ số

(com) được lấy từ Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF; lãi suất qua đêm của Mỹ (ffr) được lấy từ

website research.stlouisfed.org của Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ St.Louis; độ lệch

85

sản lượng được lọc bằng phương pháp Hodrick-Prescott (gap) từ tổng sản phẩm quốc

nội, chỉ số giá tiêu dùng (cpi) năm gốc 2005 được lấy từ Tổng cục Thống kê; cung tiền

rộng (msl), lãi suất ngắn hạn (int), chỉ số giá chứng khoán (shp), tín dụng đối với nền

kinh tế (cre) được lấy từ Thống kê tài chính quốc tế, Quỹ tiền tệ quốc tế.

Chuỗi số liệu nghiên cứu được lấy theo tuần suất quý từ quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2014 (xem phụ lục số 3). Các số liệu, ngoại trừ lãi suất qua đêm của Mỹ, độ

lệch sản lượng và lãi suất ngắn hạn của Việt Nam ở dạng %, chỉ số giá chứng khoán

được chuyển sang dạng tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước, đều được chuyển sang

dạng logarít. Để loại bỏ yếu tố mùa vụ ra khỏi dữ liệu, phương pháp Census X12 được

áp dụng với tất cả các biến.

Kiểm định tính dừng Augmented Dickey-Fuller cho thấy lãi suất qua đêm Mỹ,

độ lệch sản lượng, tăng trưởng chỉ số giá chứng khoán và lãi suất ngắn hạn Việt Nam

dừng trong khi các biến số khác không dừng, chỉ dừng sau khi lấy sai phân bậc nhất.

Các biến số không dừng được chuyển sang dạng sai phân bậc nhất (xem phụ lục số 4).

Các tiêu chuẩn Sequential modified LR, Final prediction error, Akaike information criterion, Schwarz information criterion và Hannan - Quinn information

criterion được sử dụng để xác định độ trễ tối ưu. Các tiêu chuẩn chỉ ra là 2 trễ hoặc 3

trễ. Tham khảo các nghiên cứu về truyền tải CSTT sử dụng dữ liệu tần suất theo quý

như Ramaswamy và Sloek (1997), Disyatat và Vongsinsirkul (2003), độ trễ 2 quý được lựa chọn2 [107, 57]. Việc lựa chọn độ trễ là 2 quý cũng hạn chế việc làm giảm giá trị bậc tự do trong trường hợp chuỗi số liệu là tương đối ngắn. Kiểm định nghiệm

đơn vị cho các nghiệm đều nhỏ hơn 1, đồng nghĩa với việc mô hình ổn định về mặt

thống kê.

2.1.3.3. Kết quả mô hình

Hàm phản ứng của độ lệch sản lượng trước cú sốc cung tiền trong mô hình

VAR cơ bản và các mô hình có kênh truyền tải cho thấy vai trò truyền tải tốt hơn của

kênh tín dụng và kênh tỷ giá so với hai kênh còn lại trong khoảng thời gian một năm đầu tiên. Trong trung và dài hạn, kênh lãi suất phát huy vai trò truyền tải tốt hơn các kênh còn lại. Nhìn chung, phải tới quý thứ ba, những tác động từ nói lỏng CSTT mới

phát huy tác dụng thúc đẩy kinh tế tăng trưởng (xem hình 2.15). Đối với hàm phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng, kênh lãi suất và kênh tỷ giá thể hiện tốt vai trò truyển tải tác động của cung tiền. Ngoài ra, phản ứng của giá cả trước cú sốc tiền tệ là nhanh chóng hơn so với sản lượng khi chỉ cần đến quý thứ 2, nói lỏng tiền tệ đã có tác dụng làm tăng chỉ số giá tiêu dùng, đạt mức ảnh hưởng cao nhất vào quý thứ 3, 4 và giảm dần sau đó (xem hình 2.16).

2 Tác giả cũng áp dụng độ trễ là 3 quý cho các mô hình và kết quả hàm phản ứng, phân rã phương sai khá tương đồng với kết quả khi áp dụng độ trễ là 2 quý.

86

Hình 2.15: Hàm phản ứng của độ lệch sản lượng trước cú sốc cung tiền

0.0015

0.0010

0.0005

0.0000

-0.0005

-0.0010

-0.0015

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Cơ bản

Lãi suất

Tỷ giá

Giá cổ phiếu

Tín dụng

trong các mô hình VAR cơ bản và VAR có kênh truyền tải

Nguồn: tính toán của tác giả

Hình 2.16: Hàm phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng trước cú sốc cung tiền

0.010

0.008

0.006

0.004

0.002

0.000

-0.002

-0.004

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Cơ bản

Lãi suất

Tỷ giá

Giá cổ phiếu

Tín dụng

trong các mô hình VAR cơ bản và VAR có kênh truyền tải

Nguồn: tính toán của tác giả

Hàm phản ứng của độ lệch sản lượng và chỉ số giá tiêu dùng trước các cú sốc từ lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán, và tín dụng đúng với lý thuyết khi lãi suất tăng đột ngột làm giảm độ lệch sản lượng và chỉ số giá tiêu dùng. Ngược lại, đồng nội tệ mất giá, giá cổ phiếu và tín dụng tăng sẽ có tác động làm tăng sản lượng và giá cả. Trong số các hàm phản ứng của độ lệch sản lượng và chỉ số giá tiêu dùng đối với các cú sốc dụng là nhanh nhất, phản ánh lý do NHNN thường áp dụng các quy định đối với hoạt động tín dụng như hạn mức tăng trưởng hay cho vay theo các chương trình trong bối cảnh nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát hoặc suy thoái (xem phụ lục số 5).

Nhìn chung, kênh lãi suất và kênh tỷ giá truyền tải tác động của cung tiền tới sản lượng và giá cả của nền kinh tế tốt hơn hai kênh còn lại. Kênh giá cổ phiếu là kênh có khả năng truyền tải kém nhất trong số các kênh được nghiên cứu, phần nào phản ánh thực trạng phát triển của thị trường cổ phiếu Việt Nam.

87

Kết quả phân rã phương sai đưa đến bốn kết luận quan trọng sau:

Thứ nhất, cung tiền là nhân tố quan trọng gây ra sự biến động của giá cả nhưng

không phải là nhân tố quan trọng gây ra sự biến động của sản lượng. Cụ thể, trong

ngắn hạn, mức độ ảnh hưởng của cung tiền tới biến động chỉ số giá tiêu dùng là tương

đối hạn chế nhưng kể từ trung hạn trở đi, các ảnh hưởng của CSTT đã được truyển tải

rõ hơn vào mức giá trong nền kinh tế. Kết quả này phù hợp với lý thuyết khi tác động

của CSTT có hiệu quả trong điều kiện giá cả là cứng nhắc trong ngắn hạn và một

CSTT nới lỏng sẽ thúc đẩy được tổng cầu tăng trưởng, làm gia tăng sản lượng; trong

dài hạn, cung tiền là nhân tố gây ra áp lực lên biến động mặt bằng giá cả của nền kinh

tế. Kết luận này hàm ý rằng việc nỗ lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng dựa nhiều vào

CSTT sẽ chỉ mạng lại tác động tích cực trong ngắn hạn nhưng lại gây ra những hệ lụy

lớn cho nền kinh tế trong trung và dài hạn.

Thứ hai, việc bổ sung thêm các kênh vào mô hình truyền tải CSTT góp phần

tăng khả năng giải thích sự biến động của các chỉ tiêu vĩ mô như sản lượng và giá cả,

dù ở mức độ khác nhau. Bổ sung thêm kênh tín dụng vào mô hình truyền tải góp phần

tăng khả năng giải thích sự biến động của chỉ số giá tiêu dùng trong cả ngắn hạn và dài

hạn. Kênh tỷ giá và kênh tín dụng cũng góp phần tạo nên sự biến động của độ lệch sản

lượng cho dù chỉ trong trung, dài hạn và mức độ ảnh hưởng là khá hạn chế. Ngược lại,

kênh lãi suất và kênh giá cổ phiếu thể hiện vai trò khá mờ nhạt trong việc giải thích sự

biến động của độ lệch sản lượng và chỉ số giá tiêu dùng.

Thứ ba, trong ngắn hạn, cung tiền và tỷ giá thể hiện vai trò tốt hơn các chỉ tiêu

khác trong việc điều tiết sản lượng của nền kinh tế và chưa tạo ra áp lực đáng kể lên

mức giá cả. Trong trung và dài hạn, tất cả các chỉ tiêu tài chính tiền tệ tạo ra áp lực khá

lớn lên mức giá cả của nền kinh tế, đặc biệt là trường hợp của kênh tín dụng và kênh

giá cổ phiếu.

com

ffr

gap

cpi

msl

channel

Bảng 2.3: Phân rã phương sai

Biến số Thời điểm

Kênh lãi suất

7.4

5.2

87.4

0.0

0.0

0.0

Độ

1

7.8

3.6

83.1

2.0

3.4

0.1

lệch

2

7.1

9.6

71.6

3.7

7.2

0.7

sản

4

5.1

29.6

55.0

2.7

5.8

1.8

lượng

8

28.4

2.1

4.3

65.3

0.0

0.0

Chỉ số

1

43.1

8.0

3.5

41.0

1.5

2.9

giá

2

36.9

5.7

10.0

22.8

19.7

4.9

tiêu

4

33.4

9.5

12.7

20.9

18.7

4.9

dùng

8

88

com

ffr

gap

cpi

msl

channel

Biến số Thời điểm

Kênh lãi suất

Kênh tỷ giá

4.8

7.1

88.2

0.0

0.0

0.0

Độ

1

7.4

5.5

80.3

0.8

3.1

2.9

lệch

2

8.0

13.9

61.0

2.3

7.9

7.0

sản

4

6.3

32.4

46.1

2.4

7.1

5.7

lượng

8

42.1

6.4

0.4

51.1

0.0

0.0

Chỉ số

1

49.0

6.6

2.2

34.8

0.8

6.6

giá

2

35.6

4.8

14.4

22.7

18.3

4.3

tiêu

4

33.2

8.6

17.7

19.0

16.7

4.8

dùng

8

Kênh giá cổ phiếu

0.8

6.4

92.8

0.0

0.0

0.0

Độ

1

2.4

6.1

85.8

1.1

4.0

0.5

lệch

2

2.8

11.9

73.4

1.8

7.0

3.1

sản

4

2.0

33.4

54.6

1.2

5.4

3.3

lượng

8

28.6

1.4

2.0

68.1

0.0

0.0

Chỉ số

1

41.9

9.5

2.1

45.6

0.5

0.4

giá

2

32.1

10.8

11.9

29.6

11.2

4.4

tiêu

4

25.9

14.3

20.8

19.9

7.6

11.5

dùng

8

Kênh tín dụng

1.2

6.2

92.6

0.0

0.0

0.0

Độ

1

1.6

4.6

86.7

1.3

4.3

1.5

lệch

2

1.8

12.8

71.3

1.1

8.1

4.9

sản

4

1.8

34.0

53.1

0.9

6.6

3.8

lượng

8

27.3

1.1

1.9

69.7

0.0

0.0

Chỉ số

1

38.7

6.2

2.7

45.5

0.3

6.5

giá

2

23.3

4.4

14.8

22.9

15.2

19.3

tiêu

4

24.4

8.2

17.8

18.3

13.2

dùng

8

18.0 Nguồn: Tính toán của tác giả

Thứ tư, vai trò của cung tiền trong sự thay đổi của các chỉ tiêu tài chính tiền tệ

cho thấy trong vòng một năm, cung tiền giải thích từ 16% đến 22% sự biến động của

tín dụng nhưng chỉ từ 2% đến 7% sự biến động của lãi suất, 3% đến 6% sự biến động

của tỷ giá và 1% đối với sự biến động của giá cổ phiếu. Trong trung và dài hạn, mức

giải thích của cung tiền xoay quanh 11% đối với biến động của lãi suất và 20% đối với

biến động của tín dụng (xem hình 2.17). Kết luận này đưa đến hàm ý rằng trong ngắn

hạn và trường hợp cấp bách, việc can thiệp trực tiếp của NHNN đối với lãi suất thị

trường là cần thiết để bảo đảm việc thực hiện các mục tiêu của CSTT.

Việc nghiên cứu các mô hình VAR kể trên giúp luận án đưa ra những nhận định

khái quát về truyển tải CSTT ở Việt Nam nhưng gặp một số hạn chế như: (i) chưa

89

nhận diện các cú sốc tiền tệ dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế chặt chẽ; (ii) chưa đánh

giá được mức độ khuếch đại tác động của CSTT tới các biến số vĩ mô qua kênh tín

dụng; (iii) chưa đánh giá được sự đóng góp của tín dụng vào sự biến động của các biến

số kinh tế vĩ mô trong giai đoạn nghiên cứu. Những vấn đề chưa được giải quyết tại

nội dung này sẽ được nghiên cứu chi tiết và giải quyết ở nội dung 2.3. Nghiên cứu

định lượng về truyền tải CSTT qua kênh tín dụng tại Việt Nam.

Hình 2.17: Mức độ giải thích của cung tiền trong sự biến động

30%

25%

20%

Kênh tín dụng

Kênh lãi suất

15%

Kênh tỷ giá

10%

Kênh giá cổ phiếu

5%

0%

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

của các chỉ tiêu tiền tệ

Nguồn: Tính toán của tác giả

2.2. THỰC TRẠNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN

DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

2.2.1. Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Qua 30 năm đổi mới (1986 - 2015), hệ thống NHTM Việt Nam đã đạt được

nhiều thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới, phát triển kinh tế -

xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Sự lành mạnh của hệ thống NHTM

đóng vai trò quyết định đối với sự an toàn và phát triển của hệ thống tài chính nói

riêng và ổn định kinh tế vĩ mô nói chung. Hệ thống NHTM đã phát triển nhanh chóng

về loại hình, quy mô, hình thức sở hữu… phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế đang

chuyển đổi tồn tại nhiều thành phần kinh tế, đa ngành nghề, đa sở hữu.

Xuất phát từ 4 NHTMNN với quy mô tương đối nhỏ, tính đến cuối năm 2015,

hệ thống NHTM Việt Nam gồm 08 NHTMNN, NHTMCP Nhà nước nắm cổ phần chi

phối, 27 NHTMCP. Số lượng các ngân hàng đã giảm xuống đáng kể sau khi NHNN

triển khai chủ trương sáp nhập, hợp nhất, mua lại các tổ chức tín dụng trong Đề án Cơ

cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 (xem hình 2.18).

Quá trình cơ cấu lại hệ thống TCTD có sự hiện diện rõ nét vai trò của NHNN khi

90

ngoài việc là đại diện phần vốn Nhà nước tại các ngân hàng BIDV, Vietinbank,

Agribank, Vietcombank, MHB (đã sáp nhập vào BIDV), NHNN đã tiếp tục trở thành

cổ đông nắm quyền kiểm soát của các ngân hàng CBBank, GPBank, Oceanbank và

Sacombank. Mạng lưới các NHTM không những bao phủ thị trường nội địa mà còn có

những bước tiến lớn trong việc phát triển mạng lưới tại một số thị trường quốc tế.

Thông qua hoạt động huy động vốn và cho vay, làm trung gian thanh toán và cung cấp

các dịch vụ ngân hàng, hệ thống NHTM đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và góp phần

quan trọng trong quá trình truyền tải CSTT của NHNN đến nền kinh tế.

2007

5

34

5

0

41

21

2010

5

37

5

5

48

30

2011

5

37

4

5

50

30

2012

5

34

4

5

47

30

2014

5

33

4

5

47

28

2015*

8

27

3

5

37

29

NHTMNN NHTMCP NHLD NHNNg CN NHNNg CTTC, CTCTTC

Hình 2.18: Số lượng các tổ chức tín dụng theo loại hình

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh chóng của hệ thống NHTM mà thiếu sự định

hướng phù hợp và giám sát hiệu quả đã dẫn tới sự suy giảm năng lực và bộc lộ những

yếu kém của hệ thống trên nhiều khía cạnh. Những yếu kém này không phải được hình

thành trong một thời điểm mà được tích tụ trong một giai đoạn dài trước đó và chỉ thực

sự bộc lộ kể từ khi Việt Nam thực hiện triển khai quyết liệt, nghiêm túc Nghị quyết số

11/NQ-CP năm 2011 về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định

kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Nội dung sau đây phân tích những đặc điểm của

hệ thống NHTM Việt Nam trên cơ sở đánh giá năm khía cạnh chủ yếu là chất lượng

tài sản có, tình hình thanh khoản, khả năng sinh lời, an toàn vốn và quản trị ngân hàng.

2.2.1.1. Chất lượng tài sản

Chất lượng tài sản của hệ thống NHTM Việt Nam ở mức thấp và suy giảm kể từ

năm 2011 bắt nguồn một phần từ việc phát triển quá nhanh chóng của hệ thống thông

qua việc thành lập mới, chuyển đổi ngân hàng, thành lập các chi nhánh, văn phòng

giao dịch trong nước và ngoài nước nhằm mở rộng TTS. Để bảo đảm cho việc mở

rộng TTS với tốc độ nhanh như vậy, hệ thống NHTM tập trung chủ yếu vào mở rộng

91

sản phẩm tín dụng và các khoản mục mang tính chất tín dụng như trái phiếu doanh

nghiệp, ủy thác đầu tư, đặt cọc, kỹ quỹ… thay vì tập trung vào nâng cao chất lượng tín

dụng (xem hình 2.19). Đáng chú ý là tỷ trọng các khoản cho vay trên TTLNH của hệ

thống NHTM ở mức khá cao nhưng lại giảm xuống khi NHNN triển khai các biện

pháp bình ổn thị trường này. Điểm này cho thấy cơ cấu tài sản của hệ thống có yếu tố

tăng ảo khi các NHTM vay, nhận tiền gửi và cho vay, gửi tiền lẫn nhau diễn ra khá

phổ biến.

Hình 2.19: Tỷ trọng tín dụng trên TTS của

65%

60%

55%

50%

45%

40%

35%

30%

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

ASEAN

Vietnam

hệ thống NHTM Việt Nam và ASEAN

Nguồn: Bankscope

Nợ xấu đã được tích lũy từ năm 2008 khi nền kinh tế phải chống chọi với lạm

phát và suy thoái kinh tế, nhưng lại được “che giấu” nhờ quy mô tín dụng gia tăng. Chỉ

đến khi tốc độ tăng trưởng tín dụng kể từ năm 2011 chậm lại so với giai đoạn trước đó,

nợ xấu mới thực sự bộc lộ. Chất lượng tín dụng suy giảm rõ rệt không chỉ thể hiện ở

nợ xấu tăng mà giá trị và tỷ trọng nợ quá hạn trong tổng dư nợ cũng tăng mạnh. Ngoài

ra, cơ cấu tín dụng của hệ thống NHTM cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro khi tín dụng tập

trung vào một vài lĩnh vực có tính chu kỳ kinh tế cao thay vì được đa dạng hóa nhằm

quản lý tốt rủi ro. Một ví dụ điển hình là tín dụng cho lĩnh vực bất động sản chiếm tỷ

trọng lớn trong tổng dư nợ, đặt sự an toàn của hệ thống ngân hàng vào sự biến động

của thị trường bất động sản.

3 Tác giả dựa trên phương pháp đánh giá ngân hàng của Moody’s để tiến hành so sánh hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam với các nước khu vực ASEAN. Theo phương pháp của Moody’s, các ngân hàng được đánh giá theo các khía cạnh về chất lượng tài sản, mức độ đủ vốn, khả năng sinh lời, thanh khoản. Moody’s cũng cung cấp một thang đo phản ánh thực trạng ngân hàng trên từng khía cạnh qua các mức rất kém (VW), kém

Riêng đối với hệ thống NHTM, năm 2014, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt 2,02%, cao thứ tư trong khu vực3 (cao hơn các nước Singapore,

92

Malaysia và Cambodia). So với cả giai đoạn 2010 – 2014, tỷ lệ nợ xấu năm 2014 của

hệ thống ngân hàng Việt Nam đã giảm nhẹ nhờ các biện pháp bán nợ xấu cho VAMC

và sử dụng dự phòng rủi ro (xem hình 2.21).

35%

30%

% 9 7

.

2 2

25%

% 5 1

.

7 1

20%

15%

10%

% 5 8

.

% 8 8

.

4

% 6 0

% 2 0

% 3 8

.

.

% 4 4

3

.

.

% 7 7

3

3

% 8 4

2

.

% 3 2

% 0 1

.

2

.

.

5%

1

1

1

1

0%

NHHTX

NHTMNN NHTMCP

NHLD, NHNNg

CTTC, CTCTTC

Toàn hệ thống

2011

2012

2013

2014

05/2015

Hình 2.20: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống TCTD Việt Nam theo loại hình

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Tuy tỷ lệ nợ xấu có giảm và đứng ở khoảng giữa trong 7 nước khu vực

ASEAN, khả năng chống đỡ rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn ở

mức thấp. Điểm này được thể hiện qua tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên các khoản

nợ xấu năm 2014 ở mức 73,33% (chỉ cao hơn trường hợp của Philippines). Điều này

làm dấy lên quan ngại là nếu như phân loại đúng theo chuẩn mực quốc tế, mức độ trích

lập DPRR của hệ thống ngân hàng sẽ còn xuống đến mức thấp hơn nữa. Thực trạng thị

trường bất động sản đóng băng, hàng tồn kho tăng cao và khó tiêu thụ càng làm trầm

trọng hơn mức độ quan ngại về mức độ đầy đủ và hợp lý trong trích lập dự phòng của

các NHTM. Trong bối cảnh chất lượng tín dụng còn thấp, chưa có nguồn lực từ bên

ngoài để giải quyết triệt để, thì sử dụng dự phòng rủi ro vẫn là giải pháp chính được

các ngân hàng Việt Nam thực hiện để giảm tỷ lệ nợ xấu. So với các nước như

Cambodia, Thailand và Singapore với mức trích lập dự phòng rủi ro cao hơn 100%

quy mô nợ xấu, mức trích lập dự phòng rủi ro của Việt Nam thấp hơn rất nhiều.

(W), bình thường (M), tốt (S), và rất tốt (VS). Để so sánh hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam với các nước khu vực ASEAN, tác giả sử dụng cơ sở dữ liệu Bankscope trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến 2014. Các ngân hàng thương mại, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng hợp tác và ngân hàng thế chấp hiện đang còn hoạt động được lựa chọn vào mẫu nghiên cứu. Tác giả loại bỏ các ngân hàng đầu tư, tổ chức tài chính vi mô, công ty tài chính, quỹ tín thác… do sự khác biệt về chức năng hoạt động. Tại mỗi quốc gia, các ngân hàng thiếu dữ liệu từ báo cáo tài chính cập nhật đến năm 2014 bị loại khỏi mẫu nghiên cứu. Tổng cộng mẫu nghiên cứu bao gồm 190 ngân hàng.

93

Hình 2.21: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN

VW:  15% W: 6 - 15%

M: 3 - 6%

Philippines: 3,91%

Philippines: 4,15% Thailand: 3,49%

VW

W

S-: 2 - 3%

M

Indonesia: 2,93% Thailand: 2,86% Vietnam: 2,02%

Indonesia: 2,78% Cambodia: 2,42% Vietnam: 2,11%

S-

S

S: 1,5 - 2%

Malaysia: 1,99%

Cambodia: 1,82% Malaysia: 1,53%

S+

VS

S+: 1 - 1,5%

Singapore: 1,18%

VS: 0% - 1%

Singapore: 0,88%

Moody

2014

2010 - 2014

và thang đo của Moody’s

Nguồn: Bankscope, Moody’s, và tính toán của nhóm tác giả

Tóm lại, quy mô tín dụng tăng nhanh nhưng chất lượng tín dụng của hệ thống

NHTM không được bảo đảm. Nợ quá hạn, nợ xấu tăng nhanh trên cả thị trường 1 và

thị trường 2, cơ cấu tín dụng tập trung vào một số lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, mức

độ tập trung tín dụng vào một số khách hàng và khách hàng có liên quan rất lớn.

Trong khi đó, DPRR lại chưa được trích lập tương xứng với mức độ rủi ro mà hệ

thống đang phải đối mặt.

2.2.1.2. Thanh khoản

Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn và sử dụng vốn

cũng là tác nhân dẫn tới rủi ro thanh khoản tại hệ thống NHTM khi dư nợ tín dụng

trung dài hạn chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng dư nợ (nguy cơ mất khả năng

chi trả trong ngắn hạn của một số ngân hàng khi NHNN thực hiện thắt chặt CSTT). Sự

phát triển bùng nổ của hệ thống NHTMCP với nhiều hình thức cạnh tranh (chủ yếu

dựa trên lãi suất, các khoản khuyến mại) đã mở rộng thị phần tiền gửi của nhóm này.

Tuy nhiên, chính từ sự cạnh tranh về giá này, nhóm NHTMCP lại chịu rất nhiều áp lực

từ việc khách hàng liên tục rút trước hạn; khiến cho doanh số tiền gửi bị rút trước hạn

của nhóm này tăng mạnh, gây ra tình trạng mất ổn định thanh khoản cho hệ thống.

Tình trạng huy động lãi suất vượt trần của một bộ phận lớn các NHTM năm 2011 bất

chấp những quy định của NHNN là một minh họa điển hình.

Tình hình thanh khoản của hệ thống NHTM có nhiều bất ổn, được thể hiện trên

cả thị trường 1, 2, và 3. Do chưa có một thị trường vốn phát triển để đáp ứng được nhu

cầu cho nền kinh tế nên hệ thống NHTM luôn chịu áp lực cấp vốn và hệ quả là tỷ lệ

cho vay trên huy động của các ngân hàng luôn ở mức rất cao (xem hình 2.22 và 2.23).

94

Hình 2.22: Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay Hình 2.23: Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay

trung dài hạn, tín dụng/nguồn vốn trung dài hạn, tín dụng/nguồn vốn

35%

110%

40%

82%

35%

30%

80%

105%

30%

25%

78%

100%

25%

20%

76%

95%

20%

15%

74%

15%

90%

10%

72%

10%

85%

5%

70%

5%

0%

80%

0%

68%

2 1 - l u J

2 1 - l u J

3 1 - l u J

4 1 - l u J

5 1 - l u J

3 1 - l u J

4 1 - l u J

5 1 - l u J

3 1 - n a J

4 1 - n a J

5 1 - n a J

3 1 - n a J

4 1 - n a J

5 1 - n a J

3 1 - t c O

2 1 - t c O

4 1 - t c O

5 1 - t c O

2 1 - t c O

3 1 - t c O

4 1 - t c O

5 1 - t c O

4 1 - r p A

2 1 - r p A

3 1 - r p A

4 1 - r p A

5 1 - r p A

2 1 - r p A

3 1 - r p A

5 1 - r p A

Tỷ lệ vốn NH cho vay TDH

Tỷ lệ vốn NH cho vay TDH

Tỷ lệ cấp TD so với nguồn VHĐ (trục phải)

Tỷ lệ cấp TD so với nguồn VHĐ (trục phải)

huy động của NHTMNN huy động của NHTMCP

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Tín dụng tăng trưởng quá nhanh, nhanh hơn huy động vốn trong một thời gian

dài đã làm cho một bộ phận các NHTM phụ thuộc vào nguồn vốn trên TTLNH và

nguồn vốn từ NHNN. Năm 2011, thị trường 2 xuất hiện nhiều hiện tượng bất ổn, tiềm

ẩn rủi ro như: (i) các NHTM thừa vốn và thiếu vốn đều phát sinh đồng thời nhu cầu đi

vay - nhận tiền gửi và cho vay - gửi tiền; (ii) lãi suất tiền gửi giữa các NHTM có nhiều

thời điểm cao hơn lãi suất cho vay trên thị trường 1 (xem hình 2.24); (iii) các NHTM

yêu cầu phải có tài sản bảo đảm cho các quan hệ vay mượn dẫn đến giao dịch trên

TTLNH giảm mạnh đột ngột. Từ cuối quý 2 đến cuối quý 3, các NHTM lớn đa phần

tập trung vào thu hồi các khoản nợ trên TTLNH. Thực trạng này làm mất thanh khoản

cục bộ trên thị trường 2, lan truyền từ những NHTM yếu kém sang các NHTM lành

mạnh khi thị trường 2 không còn làm tốt vai trò điều tiết lượng vốn giữa các NHTM.

Hình 2.24: Lãi suất bình quân liên ngân hàng qua đêm và 1 tháng

Đơn vị: %

Nguồn: StoxPlus.com

95

Ngoài các chỉ tiêu về tỷ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, tác giả đánh giá

tình hình thanh khoản theo hai chỉ tiêu của Moody’s. Chỉ tiêu thứ nhất đo lường tỷ

trọng các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn và dễ bị rút ra khỏi ngân hàng bởi các đối

tác gửi tiền có mức nhạy cảm cao với rủi ro. Các khoản tiền gửi từ các tổ chức kinh tế

và dân cư được Moddy’s đánh giá là ổn định hơn so với các nguồn vốn bán buôn từ

các tổ chức tài chính (vốn trên thị trường liên ngân hàng, các giấy tờ có giá ngắn hạn,

trái phiếu…).

Hình 2.25: Tỷ trọng nguồn vốn có tính chất ngắn hạn và dễ bị rút ra của

Vietnam: 25,69%

VW

W

VW:  50% W: 30 - 50% M-: 25 - 30% M: 20 - 25% M+: 15 - 20%

Vietnam: 16,21%

M-

M

S-: 10 - 15%

Cambodia: 11,84% Malaysia: 11,47% Singapore: 10,95%

Thailand: 12,31% Singapore: 12,01% Malaysia: 10,95%

M+

S: 7,5 - 10%

Thailand: 9,54%

Cambodia: 8,18%

S-

S

S+: 5 - 7,5%

Indonesia: 7,50% Philippines: 6,05%

Indonesia: 6,76% Philippines: 6,25%

S+

VS: 5%

VS

Moody

2014

2010 - 2014

hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s

Nguồn: Bankscope, Moody’s, và tính toán của tác giả

Mặc dù đã thể hiện xu hướng giảm mạnh, tỷ trọng các nguồn vốn dễ bị rút ra

của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn đứng đầu trong số các nước khu vực ASEAN

(xem hình 2.25). Trong nhóm nguồn vốn này, các khoản tiền gửi từ các TCTD và đi

vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất mặc dù các khoản tiền gửi từ các tổ chức tín

dụng đã giảm mạnh nhờ các quy định chặt chẽ hơn của cơ quan quản lý về hoạt động

thị trường liên ngân hàng.

Chỉ tiêu thứ hai đo lường tỷ trọng các tài sản có tính thanh khoản cao trong tổng

tài sản ngân hàng. Ngân hàng có thể huy động dễ dàng hơn từ những đối tác trong nền

kinh tế (kể cả những đối tác gửi tiền nhạy cảm với rủi ro) nếu như các khoản mục tài

sản có tính thanh khoản cao chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Tuy đứng vị trí thứ

hai trong số 7 nước khu vực ASEAN (xem hình 2.26), chỉ tiêu tài sản có tính thanh

khoản cao của hệ thống ngân hàng Việt Nam phần nhiều dựa vào các khoản tiền gửi

tại các TCTD hơn là các tài sản có thể dễ dàng giao dịch trên thị trường thứ cấp. Trái

phiếu Chính phủ do hệ thống ngân hàng nắm giữ là chủ yếu ít được giao dịch trên thị

trường thứ cấp mà chủ yếu được sử dụng để thực hiện các giao dịch với NHNN.

96

Nguồn vốn huy động trên thị trường 1 không ổn định, thị trường 2 mất thanh

khoản cục bộ buộc nhiều NHTM phải tìm đến thị trường 3 qua những khoản vay tái

chiết khấu, tái cấp vốn để bảo đảm thanh khoản. Không những vậy, để bảo đảm các

quy định của NHNN về thanh khoản, các NHTM đã tăng cường phát hành GTCG và

nắm giữ GTCG của NHTM khác phát hành nhằm làm tăng tỷ trọng tài sản có tính

thanh khoản.

Hình 2.26: Tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản cao của hệ thống ngân hàng

VW

VW:  5% W: 5 - 15% M-: 15 - 20% M: 20 - 25%

W

M-

M+: 25 - 30%

M

Thailand: 27,28% Singapore: 28,43% Indonesia: 29,17%

Thailand: 26,97% Singapore: 29,18% Indonesia: 9,65%

M+

S-: 30 - 35%

Malaysia: 30,48%

Malaysia: 31,95%

S-

S: 35 - 40%

Cambodia: 37,22% Vietnam: 38,65%

Cambodia: 38,17% Vietnam: 39,08%

S

Philippines: 42,8%

Philippines: 43,6%

S+

S+: 40 - 50% VS:  50%

VS

Moody

2014

2010 - 2014

các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s

Nguồn: Bankscope, Moody’s, và tính toán của tác giả

Tóm lại, tình hình thanh khoản của hệ thống NHTM trong năm 2011 và nửa

đầu năm 2012 là khá nghiêm trọng do mất cân đối sâu sắc giữa huy động và cho vay

trên thị trường 1, giữa cơ cấu kỳ hạn huy động và cho vay trên thị trường 1, không chỉ

bao gồm nội tệ mà có cả ngoại tệ trong khi doanh số rút tiền gửi rút trước hạn tăng

mạnh. Trong khi đó, rủi ro trên thị trường 2 gia tăng mạnh, một số thời điểm diễn ra

tình trạng mất thanh khoản cục bộ, ảnh hưởng tới an toàn của hệ thống.

2.2.1.3. Khả năng sinh lời

Tăng trưởng lợi nhuận của hệ thống NHTM không bền vững và có sự phân hóa

khá cao giữa các nhóm. Trước giai đoạn suy thoái kinh tế vĩ mô 2011 - 2015, nhóm

NHTMCP chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng lợi nhuận của toàn hệ thống; tuy nhiên,

tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của nhóm này liên tiếp sụt giảm khi tăng trưởng tín dụng

gặp khó và những nhược điểm cố hữu của nhóm ngân hàng này được bộc lộ như nợ

xấu tăng cao. Trong khi đó, lợi nhuận của nhóm NHTMNN có tính ổn định hơn khi

chỉ giảm nhẹ và dần trở thành nhóm chiếm tỷ trọng lợi nhuận cao nhất hệ thống (xem

hình 2.27 và 2.28). Tuy nhiên, trong giai đoạn 2011 – 2015, hầu hết các NHTM không

97

đạt được lợi nhuận như mục tiêu đề ra và phải điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận trong bối

cảnh hoạt động tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung gặp

nhiều khó khăn.

Hình 2.27: Tỷ lệ ROA và ROE của Hình 2.28: Tỷ lệ ROA và ROE của

6%

20%

6%

20%

5%

15%

5%

15%

11.4%

11.0% 11.7% 11.9% 12.1%

10.9% 11.4% 11.6% 12.5%

8.1% 8.2%

4%

10%

4%

10%

7.3%

5.6%

3.9%

3.7%

3%

5%

3%

5%

1.4%

2%

0%

2%

0%

1.5%

1.3% 1.2% 1.1%

1%

-5%

1%

-5%

0.7% 0.8% 0.8% 0.9% 0.8% 0.7% 0.6% 0.5%

0.2% 0.3% 0.5% 0.3%

0%

-10%

0%

-10%

1 1 0 2

4 1 0 2

3 1 0 2

8 0 0 2

9 0 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

8 0 0 2

9 0 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

5 1 0 2 / 9 0

5 1 0 2 / 9 0

ROA

ROA

ROE (trục phải)

ROE (trục phải)

nhóm NHTMNN nhóm NHTMCP

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Dù tổng thu nhập vẫn thể hiện xu hướng tăng, cơ cấu thu nhập của hệ thống

NHTM có nhiều bất cập. Thu nhập từ hoạt động tín dụng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn

trong tổng thu nhập. Việc quá tập trung vào tín dụng như là hoạt động chính của

NHTM đã khiến cho mức độ an toàn, thu nhập và lợi nhuận của hệ thống bị phụ thuộc

vào một hoạt động và trở nên rất nhạy cảm với những biến động kinh tế vĩ mô, đặc

biệt là thay đổi CSTT.

Cụ thể, tín dụng vẫn là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chính khi thu nhập lãi

thuần chiếm khoảng 75% thu nhập hoạt động của ngân hàng so với mức khoảng 60% của các ngân hàng trong khu vực ASEAN4. Tỷ trọng thu nhập phi lãi thuần trong tổng

thu nhập hoạt động của nhóm NHTMNN cao hơn so với nhóm NHTMCP. Điều này

cho thấy sự đa dạng hoá trong nguồn thu nhập của nhóm NHTMNN chủ yếu là dựa

vào lợi thế nhờ quy mô (về nguồn vốn và mạng lưới) trong khi tiến trình đa dạng hoá

hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn diễn ra rất chậm chạp và ở mức thấp

hơn so với hệ thống ngân hàng khu vực ASEAN. Thu nhập từ dịch vụ không chỉ ở

mức rất thấp mà còn thể hiện rõ xu hướng co hẹp trong tổng thu nhập. Tương tự, thu

nhập từ các hoạt động khác như đầu tư, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại tệ,

kinh doanh vàng… không còn đem lại lợi nhuận như các năm trước đây do các thị

4 Số liệu năm 2014

trường này bị đóng băng và giảm giá liên tục. Xu hướng này diễn ra cả đối với nhóm

98

NHTMCP, vốn dĩ từng được cho là có khả năng phát triển các dịch vụ tốt hơn nhóm

NHTMNN nhờ tập trung đầu tư vào lĩnh vực này.

Dựa trên phương pháp phân tích của Moody’s, tác giả đánh giá mức độ sinh lời

của hệ thống ngân hàng các nước khu vực ASEAN thông qua tỷ lệ lợi nhuận trên tài

sản hữu hình (TTS trừ đi lợi thế thương mại và các tài sản vô hình khác). Hệ thống

ngân hàng Việt Nam không chỉ có mức sinh lời thấp nhất trong số 7 nước ASEAN mà

còn thể hiện xu hướng giảm mạnh trong giai đoạn 2010 – 2014 (xem hình số 2.29).

Mặc dù tỷ lệ thu nhập lãi ròng trên tài sản sinh lời cao hơn so với Singapore và

Malaysia (một phần nhờ vào trần lãi suất huy động và tỷ trọng lớn các khoản tiền gửi

kỳ hạn ngắn) nhưng tỷ lệ chi phí trên thu nhập và trích lập dự phòng rủi ro cao đã

khiến mức sinh lời của hệ thống ngân hàng Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước

còn lại trong khu vực ASEAN.

Hình 2.29: Tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản hữu hình của hệ thống ngân hàng

VW

W

VW:  0% W: 0 - 0,75% M-: 0,5 - 0,75%

Vietnam: 0,65%

M-

M: 0,75 - 1%

Vietnam: 0,93%

M

M+: 1 - 1,25%

Singapore: 1,03% Malaysia: 1,11%

Singapore: 1,03% Malaysia: 1,15%

M+

S-

S-: 1,25- 1,5%

Thailand: 1,25% Philippines: 1,43%

Philippines: 1,25% Thailand: 1,35%

S

S+

S: 1,5 - 1,75% S+: 1,75% - 2%

Indonesia: 1,99%

Cambodia: 1,98%

VS-

Cambodia: 2,02%

Indonesia: 2,11%

VS

VS-: 2 - 2,25% VS: 2,25 - 2,5% VS+:  2,5%

VS+

Moody

2014

2010 - 2014

các nước khu vực ASEAN và thang đo của Moody’s

Nguồn: Bankscope, Moody’s, và tính toán của tác giả

Năm 2014 và 2015, chi phí tăng cao bởi việc đẩy mạnh trích lập DPRR tín dụng

khi các ngân hàng sử dụng đến 40 – 50% lợi nhuận cho trích lập dự phòng (sau khi trừ

đi chi phí hoạt động). Trong khi đó, các khoản chi phí hoạt động chiếm tỷ trọng cao

trong tổng thu nhập thể hiện sự quản lý chi phí thiếu hiệu quả của hệ thống ngân hàng.

Hệ quả của việc quản lý chi phí kém hiệu quả là mặc dù tỷ lệ lãi biên của hệ thống

ngân hàng Việt Nam ở mức cao nhưng các tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên TTS và trên

vốn chủ sở hữu lại thấp so với giai đoạn trước khi tái cơ cấu và luôn thấp hơn mức

bình quân khu vực ASEAN.

99

Để bảo đảm việc so sánh mức sinh lời của hệ thống ngân hàng tương xứng với

mức độ rủi ro, tác giả sử dụng chỉ tiêu Z-score đo lường tình trạng mất khả năng thanh

toán của ngân hàng.

𝑍 − 𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒 = 𝑅𝑂𝐴 + 𝐸𝑞𝑢𝑖𝑡𝑦/𝐴𝑠𝑠𝑒𝑡𝑠 𝜎(𝑅𝑂𝐴)

Chỉ tiêu Z-score bao gồm ba nhân tố quan trọng khi đánh giá ngân hàng là lợi

nhuận (tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản), mức đòn bẩy tài chính (tỷ lệ vốn chủ sở hữu

trên tổng tài sản), và mức độ biến động của lợi nhuận (phương sai của tỷ lệ sinh lời

trên tổng tài sản). Do vậy, chỉ tiêu này phản ánh được tình trạng chấp nhận rủi ro quá

mức (excessive risk-taking) của ngân hàng tốt hơn từng chỉ tiêu riêng lẻ. Hệ thống

ngân hàng Việt Nam có mức độ rủi ro cao nhất (đo bằng Z-score) trong số 7 nước khu

vực ASEAN nhưng mức sinh lời lại thấp nhất (đo bằng tỷ lệ ROA). Trong khi đó, hệ

thống ngân hàng các nước như Singapore hay Malaysia có mức sinh lời tuy thấp

nhưng mức rủi ro cũng thấp theo (xem hình 2.30).

Hình 2.30: Mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro của hệ thống ngân hàng

2.5%

Indonesia

2.0%

Cambodia

Indonesia

Philippines

Cambodia

các nước khu vực ASEAN

y t i l i

1.5%

Thailand

Philippines

Malaysia

1.0%

Thailand

Vietnam

b a t i f o r P

Singapore

Malaysia

0.5%

Singapore

Vietnam

0.0%

0%

1%

3%

4%

2% Risk

Nguồn: Bankscope và tính toán của tác giả

Tóm lại, khả năng sinh lời của hệ thống NHTM Việt Nam không chỉ giảm xuống

mà còn thể hiện ở cơ cấu thu nhập thiếu bền vững, chứa đựng nhiều rủi ro trong khi

tổng chi phí lại thiếu đi tính linh hoạt, khiến cho lợi nhuận của toàn hệ thống sụt giảm

mạnh khi nền kinh tế gặp khó khăn.

2.2.1.4. An toàn vốn

Năng lực tài chính của hệ thống NHTM thấp, thể hiện ở quy mô VĐL và TTS ở

mức thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác trong khu vực. Mặc dù số lượng tổ chức

đã giảm đáng kể qua 5 năm tái cơ cấu với nhiều thương vụ hợp nhất, sáp nhập, hệ

thống TCTD Việt Nam vẫn chưa hình thành được ngân hàng có quy mô lớn tầm cỡ

100

khu vực. Nhóm các NHTMNN như BIDV, Vietinbank, Vietcombank mới chỉ xếp thứ

hạng khoảng 20 đổ ra trong khu vực ASEAN xét theo tiêu chí TTS.

Xét đến hệ số an toàn vốn, sau giai đoạn tăng trưởng nhanh năm 2006 - 2009,

hệ số CAR ít được cải thiện trong giai đoạn sau này và vẫn ở mức thấp hơn nhiều so

với khu vực và thế giới (xem hình 2.31 và 2.32). Hệ số CAR của nhóm NHTMNN

trong năm 2010 không đạt mức yêu cầu 9% và chỉ tới năm 2011, mới được cải thiện

lên mức 9,06%. Một số NHTMCP có hệ số an toàn vốn thấp, thậm chị bị âm vốn chủ

sở hữu buộc phải hợp nhất, sáp nhập với một số ngân hàng lớn hoặc bị NHNN mua lại

với giá 0 đồng. Về mặt kỹ thuật, NHTM không đạt mức an toàn vốn tối thiểu thì ngân

hàng đó hoạt động không an toàn, tiềm ẩn rủi ro không chỉ với các ngân hàng đó mà

toàn bộ hệ thống. Ngoài ra, Thông tư 13/2010/TT-NHNN (được thay thế bởi Thông tư

số 36/2014/TT-NHNN) mới chỉ phản ánh rủi ro tín dụng mà chưa phán ánh được rủi

ro thị trường và rủi ro hoạt động nên hệ số CAR của Việt Nam có thể sẽ thấp hơn

nhiều nếu tính theo đúng chuẩn mực quốc tế.

Hình 2.31: Đòn bẩy tài chính và hệ số Hình 2.32: Đòn bẩy tài chính và hệ số

7.0%

14

9.0%

15

8.5%

6.5%

12

8.0%

6.0%

13

7.5%

10

5.5%

7.0%

5.0%

8

6.5%

11

5 1 - l u J

2 1 - l u J

3 1 - l u J

4 1 - l u J

2 1 - l u J

3 1 - l u J

4 1 - l u J

5 1 - l u J

3 1 - n a J

4 1 - n a J

5 1 - n a J

3 1 - n a J

4 1 - n a J

5 1 - n a J

2 1 - t c O

3 1 - t c O

4 1 - t c O

5 1 - t c O

2 1 - t c O

3 1 - t c O

4 1 - t c O

5 1 - t c O

2 1 - r p A

3 1 - r p A

4 1 - r p A

5 1 - r p A

2 1 - r p A

3 1 - r p A

4 1 - r p A

5 1 - r p A

VTC/TTS

VTC/TTS

CAR (trục phải)

CAR (trục phải)

an toàn vốn của nhóm NHTMNN an toàn vốn của nhóm NHTMCP

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Trong tính toán hệ số an toàn vốn của NHTM, đặc biệt là tính tài sản có rủi ro,

sự thiếu minh bạch và quan ngại về việc các NHTM phân loại các tài sản có hệ số rủi

ro cao vào nhóm có hệ số rủi ro thấp hơn là có cơ sở. Điều này thể hiện ở hiện tượng

hệ số an toàn vốn luôn cao hơn đáng kể so với tỷ lệ đòn bẩy tài chính, và mức chênh

lệch chỉ giảm xuống khi hoạt động của nền kinh tế và các lĩnh vực có mức rủi ro cao

diễn ra ổn định. Khả năng phòng thủ trước các cú sốc vẫn là một vấn đề quan ngại khi

hệ số đòn bẩy tài chính của hệ thống vẫn tăng do các ngân hàng mở rộng TTS nhanh

hơn mức tăng vốn chủ sở hữu. Mở rộng TTS tập trung chủ yếu vào cấp tín dụng khiến

cho mức độ chấp nhận rủi ro của hệ thống ngân hàng ngày một cao, tiềm ẩn rủi ro cho

sự ổn định của hệ thống trong tương lai.

101

Hình 2.33: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của hệ thống ngân hàng

20%

15%

10%

5%

0%

a i s y a l a

a i s y a l a

m a n t e i V

m a n t e i V

e r o p a g n i

e r o p a g n i

d n a l i a h T

d n a l i a h T

M

M

a i s e n o d n I

a i s e n o d n I

S

S

a i d o b m a C

a i d o b m a C

s e n i p p i l i h P

s e n i p p i l i h P

2014

2010 - 2014

các nước khu vực ASEAN

Nguồn: Bankscope và tính toán của tác giả

Trong số 7 nước trong cùng khu vực ASEAN, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài

sản của Việt Nam năm 2014 ở mức thấp nhất và thể hiện rõ xu hướng từ năm 2010 trở

lại đây (xem hình 2.31). Nguyên nhân của vấn đề này là do việc phát hành cổ phiếu để

tăng vốn điều lệ chưa thuận lợi, bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài bị giới hạn bởi

quy định của cơ quan quản lý Nhà nước và lợi nhuận để lại bị xói mòn bởi các khoản

trích lập dự phòng rủi ro. Tuy vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam, Cambodia và

Philippines lại có tốc độ tăng trưởng tổng tài sản cao nhất trong khu vực. Đặc điểm

này dẫn tới quan ngại về khả năng chống chọi trước rủi ro của hệ thống ngân hàng

Việt Nam trong bối cảnh các rủi ro tiềm ẩn từ bên ngoài ngày một nhiều hơn do hội

nhập kinh tế quốc tế.

Tóm lại, tình hình an toàn vốn của hệ thống NHTM tuy đạt mức quy định

nhưng lại thiếu sự ổn định và tính bền vững. Thực trạng này làm dấy lên quan ngại về

khả năng chống chọi rủi ro của toàn hệ thống trong điều kiện xảy ra những cú sốc

mang tính hệ thống khi tấm đệm phòng ngừa rủi ro quá mỏng.

2.2.1.5. Quản trị ngân hàng

Năng lực quản trị của các NHTM còn nhiều bất cập, chưa tương xứng so với

quy mô, tốc độ tăng trưởng, và mức độ rủi ro hoạt động. Sự hạn chế về năng lực quản

trị xuất phát từ vấn đề cơ cấu sở hữu tập trung, năng lực của cổ đông, hội đồng quản

trị, và các vị trí quản lý của hệ thống NHTM chưa phù hợp với yêu cầu. Nhiều cổ đông

lớn và người đại diện cổ đông lớn tham gia vào các vị trí quản lý, điều hành nhưng lại

thiếu kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm về ngân hàng.

Chất lượng quản trị ngân hàng ở mức thấp so với mặt bằng chung của toàn nền

kinh tế mặc dù đây là ngành được thanh tra, giám sát khá chặt chẽ bởi cơ quan quản lý

102

Nhà nước. Kết quả đánh giá chất lượng quản trị doanh nghiệp các doanh nghiệp niêm

yết cho thấy điểm số quản trị của ngành tài chính (trong đó có 02 NHTMNN và 06

NHTMCP) chỉ nhỉnh hơn so với mức trung bình của toàn mẫu; đồng thời, ngay cả

mức điểm số cao nhất cũng cách rất xa so với mức cao nhất của toàn bộ mẫu. Tiếp tục

tách 8 NHTM ra khỏi nhóm ngành tài chính, thì ngành ngân hàng có điểm số quản trị

doanh nghiệp là 43,7, thấp hơn so với mức điểm số 45,2 của các ngành bảo hiểm,

chứng khoán…[77, 78, 79]. Đây là minh họa cụ thể cho hệ thống quản trị, nhất là quản

trị rủi ro, hệ thống kiểm tra, kiểm soát, và kiểm toán nội bộ của các ngân hàng hoạt

động chưa hiệu quả và chưa phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó,

mô hình tổ chức và quản lý của các NHTM còn bộc lộ một số nhược điểm cố hữu như:

Thứ nhất, mô hình tổ chức và quản lý hiện tại được phân biệt chủ yếu theo chức

năng với hai cơ cấu quyền lực là cấp quản trị điều hành - Hội đồng quản trị và cấp

quản lý kinh doanh - Ban điều hành. Tuy nhiên, thực tế vai trò của Hội đồng quản trị

và Ban điều hành ở một số NHTM lại chưa được phân tách rõ ràng. Do vậy, Hội đồng

quản trị có thể bị rơi vào trường hợp: (i) không tập trung được các luồng thông tin chủ

yếu về hoạt động để xây dựng, kiểm tra các mục tiêu chiến lược và các quyết định

phòng ngừa rủi ro hoặc (ii) tham gia quá sâu vào các hoạt động thường ngày của hoạt

động quản lý [20].

Thứ hai, mô hình tổ chức của các NHTM chưa được hoàn thiện. Theo đó, các

phòng ban nghiệp vụ từ trụ sở chính và chi nhánh chủ yếu được phân nhiệm theo

nghiệp vụ và cắt khúc theo địa giới hành chính, chưa chú trọng phân nhiệm theo nhóm

khách hàng và loại dịch vụ như thông lệ quốc tế. Đây là hạn chế lớn nhất về cấu trúc

quản lý và phát triển sản phẩm mới đối với NHTM cũng như làm hạn chế khả năng

phục vụ và đáp ứng nhu cầu khách hàng.

Thứ ba, thiếu các bộ phận liên kết các hoạt động, các quyết định giữa các

phòng, ban nghiệp vụ, tạo điều kiện cho Hội đồng quản trị và Ban điều hành bao quát

toàn diện hoạt động và tập trung nhân lực, tài lực vào các định hướng chiến lược.

Ngoài ra, cơ sở dữ liệu về phân tích, dự báo môi trường kinh doanh, đánh giá nguồn

lực và xác định tầm nhìn trung, dài hạn vốn là công cụ quản lý cơ bản của các NHTM

hiện đại vẫn còn thiếu nên các NHTM còn khá lúng túng trong việc hoạch định chiến

lược phát triển dài hạn. Nhược điểm này dẫn đến nhiều NHTM đã tiến hành đầu tư,

cấp tín dụng với quy mô lớn vào một số lĩnh vực có rủi ro cao như bất động sản, vàng,

chứng khoán, bảo hiểm… khiến mức độ rủi ro vượt quá khả năng kiểm soát, đe dọa sự

an toàn của từng NHTM và toàn hệ thống.

103

Cạnh tranh giữa các NHTM thiếu lạnh mạnh, thiếu sự hợp tác giữa các ngân

hàng dẫn đến kỷ cương, kỷ luật, chính sách, pháp luật trong hoạt động ngân hàng

không được tôn trọng. Phương thức, chiến lược kinh doanh và cạnh tranh của các

NHTM bộc lộ nhiều hạn chế, mục tiêu chạy theo lợi nhuận, thị phần đã lẫn át các yêu

cầu về bảo đảm an toàn hoạt động. Tình hình vi phạm quy định pháp luật về hoạt động

ngân hàng khá phổ biến với tính chất ngày càng tinh vi, phức tạp. Ngoài các hành vi

vay ké, nội bộ thông đồng lấy quỹ, lập hồ sơ giả lấy tiền tiết kiệm, tiền vay… như đã

xảy ra trước đây, còn xuất hiện các hình thức vi phạm mới như rửa tiền, sử dụng công

nghệ cao để hoạt động cả trong lĩnh vực chứng khoán và ngân hàng… Tiêu cực, tham,

sự suy thoái đạo đức của các bộ, một số vụ vi phạm có tổ chức, hành vi vi phạm đặc

biệt nghiêm trọng đã xuất hiện (như tại NHTMCP Á Châu, NHTMCP Công thương,

NHTMCP Đại Dương, NHTMCP Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long…).

Nhóm lợi ích và sở hữu chéo giữa các NHTM phổ biến với quy mô ngày càng

gia tăng. Nhiều tập đoàn của tư nhân, các tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước đã đầu

tư góp vốn, mua cổ phần và trở thành cổ đông lớn hoặc chủ sở hữu của các NHTM.

Không ít trường hợp các NHTM đã bị các cổ đông lớn lạm dụng trở thành kênh huy

động và cung cấp vốn cho các cổ đông, doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu, kiểm soát

của cổ đông. Tình trạng sở hữu chéo phổ biến và không được kiểm soát hợp lý đã dẫn

tới nhiều hệ lụy cho hệ thống NHTM như (i) khả năng chống đỡ rủi ro không được

đánh giá đúng mức khi lượng vốn góp thực thấp hơn nhiều so với với lượng vốn góp

danh nghĩa; (ii) làm gia tăng tình trạng cho vay thiếu kiểm soát, dẫn tới tình trạng nợ

xấu bị che giấu đi nhờ những khoản cho vay đảo nợ; (iii) vi phạm các quy định về giới

hạn tín dụng, phân loại nợ và trích lập DPRR; (iv) làm giảm tính cạnh tranh trong hệ

thống; (v) làm gia tăng nguy cơ rủi ro chéo giữa các thị trường ngân hàng, chứng

khoán, bảo hiểm… ; (vi) ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động quản trị doanh nghiệp,

quyền lợi của cổ đông nhỏ lẻ không được bảo đảm.

Cuối cùng, tồn tại trong hệ thống một bộ phận không nhỏ các NHTM tiềm ẩn

nhiều rủi ro, tài chính kém lành mạnh, khả năng cạnh tranh thấp, và dễ bị tổn thương

khi môi trường kinh doanh có sự thay đổi. Đại bộ phận ngân hàng này là các

NHTMCP chuyển đổi từ mô hình NHTMCP nông thôn với quy mô nhỏ, năng lực tài

chính và quản trị rủi ro thấp, hoạt động không có hiệu quả.

Tóm lại, tình hình quản trị trong hệ thống NHTM còn tồn tại nhiều bất cập, là

nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự yếu kém của hệ thống do những sai lầm về tư duy quản

trị ngân hàng. Những vấn đề về quản trị doanh nghiệp, cạnh tranh không lành mạnh,

vi phạm quy định của pháp luật, và sở hữu chéo là những vấn đề nổi cộm cần được

khắc phục nhằm lành mạnh hóa hệ thống NHTM.

104

2.2.2. Thực trạng truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng của các ngân

hàng thương mại Việt Nam

2.2.2.1. Thực trạng truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh bảng cân đối tài sản của

người đi vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

a/ Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh bảng cân đối tài sản của người đi vay

tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ ngày 24/02/2011, NHNN đã

chuyển hướng sang thắt chặt CSTT và chỉ đạo toàn ngành ngân hàng giảm tốc độ tăng

trưởng tín dụng, cải thiện chất lượng tín dụng qua việc điều chỉnh lại cơ cấu tín dụng.

Nhiều giải pháp đã được NHNN triển khai như phát hành tín phiếu NHNN để hút

lượng tiền dư thừa về, tăng các mức lãi suất điều hành, áp dụng trần lãi suất huy động

và hạn mức tăng trưởng tín dụng… Ngay sau đó, mức lãi suất trên thị trường liên ngân

hàng và thị trường tiền tệ tăng lên nhanh chóng, phản ánh sự thiếu hụt thanh khoản của

hệ thống NHTM.

Ảnh hưởng của việc giảm mức độ sẵn có của nguồn vốn dành cho cấp tín dụng

và lãi suất gia tăng là (i) hoạt động sản xuất kinh doanh khó khăn, chi phí lãi vay gia

tăng cao dẫn tới lợi nhuận và giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp sụt giảm; (ii) hàng

tồn kho gia tăng, các khoản tín dụng thương mại khó đòi xuất hiện dày đặc khiến dòng

tiền sụt giảm; (iii) giá trị và tính thanh khoản của TSBĐ giảm; (iv) mức độ không chắc

chắn của môi trường kinh doanh khiến rủi ro tín dụng gia tăng. Thực trạng này đã

khiến cho khả năng lẫn mong muốn vay vốn của doanh nghiệp giảm xuống đáng kể.

Thứ nhất, lãi suất tăng khiến chi phí lãi vay tăng, làm lợi nhuận và giá trị tài sản

ròng giảm mạnh, khiến các doanh nghiệp giảm nhu cầu vay lẫn khả năng sử dụng vốn

vay hiệu quả

Trước giải pháp thắt chặt tiền tệ, bối cảnh kinh tế suy giảm và rủi ro tín dụng

gia tăng đã được dự báo, các NHTM đã chủ động tăng mạnh lãi suất cho vay để bù đắp

mức độ rủi ro gia tăng (spread giữa lãi suất huy động và cho vay tăng). Đối với các

khoản vay mới và khoản vay thả nổi lãi suất, áp dụng mức lãi suất cao (có thời điểm

lên tới 20 - 30%/năm), đã khiến cho chi phí lãi vay của các doanh nghiệp tăng đáng kể.

Đối với các khoản vay cũ với lãi suất thấp, theo quy định trong phần lớn các hợp đồng

tín dụng giữa NHTM và khách hàng, việc lãi suất được phép thỏa thuận lại định kỳ

khoảng 3 tháng/lần (cùng với vị thế hơn hẳn của ngân hàng so với khách hàng do đa

phần khách hàng là DNNVV) đã dẫn tới mặt bằng lãi suất cao nhanh chóng được áp

dụng với hầu hết với các khoản vay. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

vốn dĩ đã gặp khó khăn khi chi phí tăng cao và khả năng cạnh tranh thấp, nay phải đối

mặt với chi phí lãi vay cao, khiến cho khả năng chi trả lãi vay giảm xuống.

105

30%

30%

25%

25%

20%

20%

15%

15%

10%

10%

5%

5%

0%

0%

5 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 -

0 1

5 1

0 2

5 2

0 5

0 1 -

% 0

% 2

% 4

% 6

% 8

% 5 -

% 0 1

% 2 1

% 4 1

% 6 1

% 8 1

% 0 2

e r o M

% 0 1 -

e r o M

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2015

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2015

Hình 2.34: Tỷ lệ khả năng chi trả lãi vay của doanh nghiệp Hình 2.35: Tỷ lệ sinh lời trên doanh thu của doanh nghiệp

Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả Quan sát tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu của doanh nghiệp5 từ năm 2011 sang năm 2012 cho thấy sự dịch chuyển tỷ trọng các doanh nghiệp có mức sinh lời cao sang mức sinh lời thấp hơn. Do tỷ lệ đòn bẩy tài chính ở mức cao, sự sụt giảm lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí lãi vay tăng cao được khuếch đại lên đáng kể (xem hình 2.34 và 2.35). Tỷ lệ ROAA và ROAE cũng cho thấy sự sắp lại theo hướng tập trung tại khu vực thấp hơn trong năm 2012 (xem hình 2.36 và 2.37). Mức sinh lời và khả năng chi trả lãi vay, giá trị tài sản ròng giảm cùng với lãi suất cho vay tăng cao buộc các doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô, hạn chế vay vốn ngân hàng. Bản thân các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để tiếp tục sản xuất kinh doanh cũng gặp khó khăn khi tiếp cận ngân hàng do các chỉ tiêu về tài chính đi xuống và lãi vay tăng cao.

30%

30%

25%

25%

20%

20%

15%

15%

10%

10%

5%

5%

0%

0%

% 0

% 5

% 5 -

% 0

% 2

% 4

% 6

% 8

% 5 2

% 0 1

% 5 1

% 0 2

% 0 3

% 5 3

% 0 4

% 0 6

% 0 8

% 5 -

% 0 1 -

e r o M

% 6 1

% 0 1

% 2 1

% 4 1

% 8 1

% 0 2

-5%

% 0 1 -

e r o M

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2015

2011

2012

2015

Hình 2.36: Tỷ lệ ROA của doanh nghiệp Hình 2.37: Tỷ lệ ROE của doanh nghiệp

5 Kết quả từ số liệu Stoxplus bao gồm 201 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán nằm trong chỉ

số VNINDEX trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015. Chi tiết xem phụ lục sô 6.

Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả

106

Thực trạng này dẫn đến hệ quả từ năm 2012 cho năm 2014, chính sách tiền tệ

tín dụng nới lỏng hơn với mục tiêu thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế không mang lại kết

quả như kỳ vọng. Ngay từ phía cầu tín dụng, các doanh nghiệp sau giai đoạn khó khăn

đã bị suy yếu năng lực tài chính, khiến cho khả năng chịu đựng lãi vay (ngay kể cả khi

lãi suất được giảm xuống mức thấp) trên khía cạnh tuyệt đối (chi phí lãi vay) lẫn tương

đối (lãi suất) bị giảm xuống (lúc này, chi phí lãi vay trở thành một cấu thành lớn trong

chi phí của doanh nghiệp do quy mô sản xuất đang bị thu hẹp và cần thời gian để tăng

trưởng trở lại quy mô như lúc trước giai đoạn suy thoái). Sự cộng hưởng của nhiều

nhân tố tiêu cực (đặc biệt là năng lực tài chính và môi trường kinh doanh) trở thành trở

ngại ngăn cản các doanh nghiệp tiếp cận với tín dụng ngân hàng. Trước tình hình tài

chính suy yếu, không chỉ các doanh nghiệp ngần ngại vay vốn mà các NHTM cũng đã

lựa chọn phương án “phòng thủ” là siết chặt các điều kiện cấp tín dụng.

Thứ hai, sức cầu của nền kinh tế suy yếu, hàng hóa sản xuất không tiêu thụ

được, hàng tồn kho gia tăng mạnh, dẫn tới các khoản tín dụng thương mại khó thanh

toán, dòng tiền của doanh nghiệp sụt giảm

Mặt bằng lãi suất tăng và các điều kiện tín dụng bị siết chặt đã khiến cho doanh

nghiệp phải đối mặt với khó khăn về dòng tiền (không chỉ giới hạn về nguồn và chi phí

vốn). Hàng tồn kho gia tăng nhanh chóng còn do các hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp khó điều chỉnh ngay trong ngắn hạn. Cùng với đó, các khoản tín

dụng thương mại giữa các doanh nghiệp chưa thể hoàn trả được khiến cho dòng tiền

của hệ thống doanh nghiệp bị tắc nghẽn. Nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng thiếu

hụt thanh khoản trầm trọng khi phải thanh toán các khoản nợ đến hạn.

Quan sát diễn biến hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán

nhanh (sau khi loại bỏ hàng tồn kho) của doanh nghiệp cho thấy hệ số này đã được sắp

xếp lại theo hướng tập trung vào khu vực có hệ số thấp hơn trong năm 2011, 2012,

phản ánh sự khó khăn về thanh khoản của hệ thống doanh nghiệp (xem hình 2.38 và

2.39). Các khoản vay cũ đến hạn không được thanh toán kịp thời khiến cho doanh

nghiệp không thể tiếp tục vay các khoản mới, đặc biệt là các khoản vay đáp ứng nhu

cầu vốn lưu động. Sự tắc nghẽn dòng tiền trong hệ thống doanh nghiệp dẫn đến sự tắc

nghẽn dòng tiền giữa doanh nghiệp và NHTM. Nói một cách khác, sự lan truyền khó

khăn thanh khoản giữa các doanh nghiệp sẽ được khuếch đại lớn hơn khi có sự tham

gia của NHTM do bản thân các NHTM thực hiện chính sách tín dụng theo hướng chặt

chẽ hơn.

Với bối cảnh hàng hóa ứ đọng và sức cầu yếu do nền kinh tế tiếp tục đà suy

thoái, hệ thống doanh nghiệp phải hạn chế vay vốn ngân hàng để mở rộng sản xuất

kinh doanh mà thay vào đó là tìm cách thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn nhằm

107

tránh phải trả mức lãi suất cao. Khi mà hiệu quả đầu tư của nền kinh tế chưa phục hồi,

nhu cầu tiêu dùng và đầu tư chưa tăng trở lại, sự chắc chắn về dòng tiền (từ doanh thu

bán ngay và bán chịu) chưa ổn định thì các doanh nghiệp có xu hướng thận trọng hơn

trong việc đưa ra các quyết định tăng sản lượng, thay vào đó, một chiến lược thận

trọng được đa phần các doanh nghiệp lựa chọn. Do vậy, cho dù NHNN có thực hiện

CSTT nới lỏng và các NHTM đổi mới chính sách tín dụng qua việc giảm lãi suất, nới

lỏng các điều kiện vay vốn thì các doanh nghiệp vẫn khá ngần ngại trong việc vay vốn

ngân hàng.

Hình 2.38: Hệ số khả năng thanh toán Hình 2.39: Hệ số khả năng thanh toán

25%

25%

20%

20%

15%

15%

10%

10%

5%

5%

0%

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

0%

2 1

6 1

0 0

2 0

4 0

6 0

8 0

0 1

4 1

8 1

0 2

5 2

0 3

5 3

0 4

5 4

0 5

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

e r o M

4 0

8 0

0 0

2 0

6 0

0 1

2 1

4 1

6 1

8 1

0 2

2 2

4 2

6 2

8 2

0 3

2 3

-5%

e r o M

2010

2011

2015

2010

2011

2015

ngắn hạn của doanh nghiệp nhanh của doanh nghiệp

Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả

Thứ ba, giá trị và tính thanh khoản của TSBĐ, đặc biệt là bất động sản, giảm

mạnh do tác động của CSTT thắt chặt và quy định về tỷ trọng cho vay lĩnh vực không

khuyến khích dưới 16%

Khi thẩm định tín dụng, nhân tố giá trị và tính khả mại của TSBĐ luôn được

các NHTM Việt Nam đề cao do tình trạng thông tin bất cân xứng diễn ra phổ biến và

khả năng quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng còn những bất cập, buộc các NHTM

phải chú trọng vào nguồn thu nợ thứ hai. Khi NHNN thực hiện CSTT thắt chặt và điều

chỉnh nguồn vốn tín dụng theo hướng giảm tỷ trọng các khoản tín dụng bất động sản

và chứng khoán (nằm trong lĩnh vực không khuyến khích, tỷ trọng tối đa 16% tổng dư

nợ) đã khiến cho hai thị trường này gặp khá nhiều khó khăn trong việc duy trì đà tăng

trưởng như giai đoạn trước.

Sau giai đoạn tăng trưởng nóng, thị trường bất động sản chững lại từ cuối năm

2010 và giá bất động sản liên tục lao dốc trong từ năm 2011 tới nay. Lo ngại trước giá

bất động sản khó có thể phục hồi trong ngắn hạn, các NHTM đã định giá thấp và giảm

108

tỷ lệ cho vay tính trên giá trị TSBĐ. Ngoài ra, các giao dịch bất động sản chỉ ở mức

cầm chừng cũng khiến cho khả năng sử dụng bất động sản làm TSBĐ cho khoản vay

của các doanh nghiệp bị hạn chế phần nào. Tình trạng tương tự diễn ra với thị trường

chứng khoán khi giá trị nhiều cổ phiếu giảm sâu, thậm chí giá trị thường thấp hơn

mệnh giá tại không ít mã chứng khoán. Rủi ro trên hai thị trường tăng lên trong khi

mức sinh lời kỳ vọng liên tục giảm cho thấy hai thị trường này không còn là kênh đầu

tư tốt, các NHTM siết chặt các quy định về TSBĐ hơn trước, khiến các khách hàng

khó khăn hơn trong việc đáp ứng các điều kiện vay vốn.

15%

10%

5%

0%

-5%

3 Q 5 0 0 2

1 Q 1 0 0 2

4 Q 1 0 0 2

3 Q 2 0 0 2

2 Q 3 0 0 2

1 Q 4 0 0 2

4 Q 4 0 0 2

2 Q 6 0 0 2

1 Q 7 0 0 2

4 Q 7 0 0 2

3 Q 8 0 0 2

2 Q 9 0 0 2

1 Q 0 1 0 2

4 Q 0 1 0 2

3 Q 1 1 0 2

2 Q 2 1 0 2

1 Q 3 1 0 2

4 Q 3 1 0 2

3 Q 4 1 0 2

2 Q 5 1 0 2

GDP

GDP xây dựng

Hình 2.40: Tăng trưởng GDP và GDP lĩnh vực xây dựng

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Thứ tư, mức độ rủi ro trong kinh doanh tăng lên, tình trạng vi phạm pháp luật

trong hoạt động tín dụng diễn ra phổ biến khiến các NHTM trở nên thận trọng hơn

trong việc đưa ra quyết định tín dụng

Trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn, hiện tượng đổ vỡ của nhiều doanh nghiệp

diễn ra phổ biến, các doanh nghiệp gặp khó khăn thanh khoản buộc phải chấp nhận

vay với mức lãi suất cao để ổn định thanh khoản trong ngắn hạn. Dù vậy, không phải

bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng hoạt động hiệu quả với mức lãi suất vay

vốn cao như vậy trong thời gian dài, đặc biệt là trong điều kiện đòn bẩy tài chính của

doanh nghiệp Việt Nam ở mức cao.

Tình trạng nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh liên tục từ năm 2011 khiến cho các

NHTM trở nên thận trọng hơn trong việc thẩm định và ra quyết định tín dụng. Hầu hết

các NHTM đều điều chỉnh lại chính sách tín dụng theo hướng tập trung vào nâng cao

chất lượng tín dụng và hạn chế mở rộng tín dụng đối với các khách hàng tiềm ẩn rủi ro

cao (đặc biệt là các khách hàng mới). Hơn nữa, các doanh nghiệp có thể chấp nhận

mức lãi suất cho vay cao thường là các doanh nghiệp có năng lực tài chính và sản xuất

kinh doanh tốt hoặc đang thực hiện phương án, dự án kinh doanh có mức độ rủi ro cao.

109

Các doanh nghiệp trong nhóm thứ hai sẽ có xu hướng bị NHTM từ chối cho vay do

không còn phù hợp với khẩu vị rủi ro của ngân hàng. Đối với nhóm thứ nhất, các

phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư của nhiều doanh nghiệp mặc dù có hiệu

quả nhưng khi xét trong môi trường kinh doanh biến động sẽ bị các ngân hàng xem xét

kĩ và khắt khe hơn trước khi đưa ra quyết định tín dụng.

Hình 2.41: Tỷ trọng tín dụng ngân hàng trong

12%

10%

8%

6%

4%

2%

0%

-2%

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

% 0 0

% 0 4

% 0 8

% 0 2 3

% 0 6 5

% 0 2 1

% 0 6 1

% 0 0 2

% 0 4 2

% 0 8 2

% 0 6 3

% 0 0 4

% 0 4 4

% 0 8 4

% 0 2 5

% 0 0 6

% 0 4 6

% 0 8 6

% 0 2 7

% 0 6 7

% 0 0 8

2010

2011

2015

tổng nguồn vốn của doanh nghiệp

Nguồn: Stoxplus và tính toán của tác giả

b/ Các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh

bảng cân đối tài sản của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Về mặt lý thuyết, khi NHTW thực hiện CSTT thắt chặt, năng lực của khách

hàng vay vốn sẽ bị suy yếu ở cả phía tình hình tài chính và giá trị TSBĐ. Rủi ro từ

phía khách hàng vay vốn tăng lên dẫn tới việc các NHTM hạn chế cấp tín dụng, từ đó

ảnh hưởng tới đầu tư, tiêu dùng và sau cùng là sản lượng của nền kinh tế. Giai đoạn

2011 - 2015 đã cho thấy truyền tải CSTT của NHNN qua kênh bảng cân đối tài sản

phát huy tác dụng khi những tác động của CSTT thắt chặt tới tình hình tài chính của

doanh nghiệp và chuẩn mực đánh giá của ngân hàng là tương đối mạnh và dai dẳng.

Trái lại, những nỗ lực sau đó từ phía NHNN nhằm thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế khi

hệ thống doanh nghiệp đã suy yếu và hộ gia đình thắt chặt chi tiêu trở nên khó đạt

được hiệu quả như kỳ vọng. Thực trạng này xuất phát từ hai đặc điểm cơ bản của hệ

thống doanh nghiệp Việt Nam về cơ cấu nguồn vốn và khả năng hấp thụ vốn.

Thứ nhất, hệ thống doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng

khi tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn

Do vai trò của thị trường chứng khoán là khá hạn chế (cả ở chiều rộng lẫn chiều

sâu), nguồn vốn phục vụ cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn dựa chủ yếu vào hệ

thống TCTD (phần lớn là các NHTM). Tăng trưởng về quy mô trong những năm gần

110

đây của thị trường trái phiếu chủ yếu là từ trái phiếu Chính phủ chứ không phải là trái

phiếu doanh nghiệp. Xuất phát từ đặc điểm mang tính vĩ mô như vậy, cơ cấu nguồn

vốn điển hình của hệ thống doanh nghiệp bao gồm tín dụng thương mại và vốn vay

NHTM chiếm tỷ trọng chủ yếu bên cạnh vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ tín dụng trên GDP ở

mức cao (đặc biệt là tín dụng ngắn hạn) khiến hệ thống doanh nghiệp trở nên phụ

thuộc và nhạy cảm cao với các cú sốc tín dụng và lãi suất cho vay (xem hình 2.42).

Giữa hệ thống doanh nghiệp cũng có những đặc điểm khác nhau về cơ cấu vốn

khi phân loại theo quy mô. Cụ thể, hệ thống các doanh nghiệp quy mô lớn có được lợi

thế từ các khoản tín dụng từ phía ngân hàng và khả năng huy động vốn trên thị trường

cổ phiếu. Ngược lại, hệ thống các DNNVV chủ yếu tập trung vào nguồn vốn tín dụng

thương mại từ các doanh nghiệp lớn bên cạnh nguồn vốn tín dụng từ phía ngân hàng.

Điều đáng bàn là nhiều DNNN với quy mô lớn chưa tiến hành cổ phần hóa và không

tiếp cận được thị trường vốn nên buộc phải quay sang tiếp cận thị trường tiền tệ, lấn át

tín dụng của khu vực tư nhân. Khi khu vực DNNN hoạt động thiếu hiệu quả, nợ quá

hạn và nợ xấu phát sinh khiến hệ thống NHTM gặp phải rủi ro tín dụng, hạn chế khả

năng cấp tín dụng đối với nền kinh tế của hệ thống.

150%

120%

90%

60%

30%

2 0 0 2

1 0 0 2

3 0 0 2

4 0 0 2

5 0 0 2

6 0 0 2

7 0 0 2

8 0 0 2

9 0 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

Tín dụng

Trái phiếu doanh nghiệp

Trái phiếu chính phủ

Hình 2.42: Quy mô thị trường tín dụng và trái phiếu so với GDP

Nguồn: Số liệu Ngân hàng thế giới, Asian bond online và tính toán của tác giả

Do các DNNVV thường khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng do năng

lực tài chính, tài sản bảo đảm, khả năng quản trị doanh nghiệp, chất lượng thông tin…

không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng, các DNNVV phải quay sang tiếp cận các

nguồn vốn tín dụng thương mại. Tuy nhiên, do thị trường các công cụ nợ ngắn hạn

không phát triển nên tính thanh khoản của các khoản tín dụng này là rất thấp, cùng với

đó là mức độ rủi ro tín dụng rất khó kiểm soát. Thậm chí, các khoản vay vốn ngân

hàng của doanh nghiệp chủ yếu là để sử dụng cho gia tăng hàng tồn kho và tài trợ cho

các khoản phải thu (bán chịu cho khách hàng) khiến cho hoạt động của doanh nghiệp

quá phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

111

Thứ hai, khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp Việt Nam ở mức thấp và thể

hiện xu hướng giảm rõ rệt

Lựa chọn mô hình tăng trưởng theo chiều rộng với sự trợ giúp của CSTT và

CSTK mở rộng, nền kinh tế Việt Nam đã có thời kỳ tăng trưởng tốt trên cơ sở nguồn

vốn đầu tư và lực lượng lao động dồi dào. Các yếu tố sản xuất cốt lõi là công nghệ và

chất lượng nguồn lao động không được tập trung cải thiện trong thời gian dài đã ảnh

hưởng tiêu cực tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ so với hàng hóa nước

ngoài. Một thực tế là trong những năm gần đây, hàng hóa trong nước trở nên rất khó

cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài, thậm chí những hàng hóa thiết yếu cho đời sống

sinh hoạt của người dân và hàng hóa phụ trợ cho sản xuất của doanh nghiệp đều phải

nhập khẩu. Không đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ, máy móc hiện đại khiến cho các

khoản tín dụng được giải ngân bị sử dụng kém hiệu quả và hạn chế cả quy mô vốn tín

dụng do không thể áp dụng các mô hình sản xuất quy mô lớn. Vì vậy, khả năng hấp

thụ vốn của doanh nghiệp Việt Nam cũng giảm sút theo, và hệ quả tất yếu là doanh

nghiệp đã xem xét giảm xuống tỷ trọng vốn vay ngân hàng.

Hình 2.43: Năng suất lao động bình quân của một lao động

30,000

25,000

20,000

15,000

10,000

5,000

0

6 8 9 1

7 8 9 1

8 8 9 1

9 8 9 1

0 9 9 1

1 9 9 1

2 9 9 1

3 9 9 1

4 9 9 1

5 9 9 1

6 9 9 1

7 9 9 1

8 9 9 1

9 9 9 1

0 0 0 2

1 0 0 2

2 0 0 2

3 0 0 2

4 0 0 2

5 0 0 2

6 0 0 2

7 0 0 2

8 0 0 2

9 0 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

MYS

World

THA

CHN

IDN

PHL

MMR

VNM

KHM

Đơn vị: nghìn USD, theo PPP năm 1990

Nguồn: World Bank

Về chất lượng nguồn nhân lực, cơ cấu lao động của Việt Nam vẫn chưa có sự

chuyển dịch đáng kể theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi ngành nông

nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng lao động lớn nhất. Năm 2014, nhóm

ngành này chiếm tới 46,3% lực lượng lao động (giảm nhẹ so với mức 52,9% vào năm

2007). Đây cũng là ngành có tỷ lệ lao động đã qua đào tạo thấp nhất trong số các

ngành kinh tế, ở mức 3,6%. Mặc dù tình trạng này có được cải thiện ở các ngành công

nghiệp, dịch vụ nhưng tính chung cho toàn nền kinh tế, lực lượng lao động qua đào tạo

112

chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp là 18,2%. Thực trạng trên dẫn tới tình trạng năng suất lao động

(đo bằng tổng sản phẩm trong nước tính bình quân một lao động) tại Việt Nam tăng

chậm và ở mức thấp hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực (xem hình 2.43).

Qua phân tích, mức độ truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài sản cho thấy

CSTT thắt chặt ban đầu đã được khuếch đại, làm giảm đi nhu cầu tín dụng và khả

năng được chấp thuận tín dụng của các chủ thể kinh tế. Những đặc điểm về cơ cấu

vốn, khả năng hấp thụ vốn cùng với đặc điểm về quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp

với ngân hàng có xu hướng làm cho những ảnh hưởng tiêu cực từ việc thắt chặt CSTT

trở nên mạnh mẽ hơn, khiến cho công tác điều hành CSTT dẫn tới sự đánh đổi lớn

giữa các mục tiêu. Đây là nguyên nhân dẫn tới thực trạng nhu cầu tín dụng của nền

kinh tế suy giảm mặc dù kể từ giữa năm 2012, NHNN đã triển khai nhiều biện pháp

nhằm thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế thông qua nới lỏng CSTT mà chưa đem lại được

hiệu quả như kỳ vọng.

2.2.2.2. Thực trạng truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh khả năng cấp tín dụng

của các ngân hàng thương mại Việt Nam

a/ Truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh khả năng cấp tín dụng của các ngân

hàng thương mại Việt Nam

Khi NHNN thực hiện CSTT thắt chặt vào các năm 2011 - 2012, kênh khả năng

cấp tín dụng phát huy ảnh hưởng làm giảm lượng tín dụng cấp ra đối với nền kinh tế

của hệ thống NHTM. Mức độ khuếch đại ảnh hưởng của CSTT thắt chặt được thể hiện

qua một số điểm chính như (i) khả năng cấp tín dụng giảm do lượng thanh khoản của

hệ thống giảm; (ii) ngần ngại cấp tín dụng hơn do chất lượng tín dụng suy giảm; và

(iii) dịch chuyển sang đầu tư vào các tài sản ít rủi ro hơn như trái phiếu Chính phủ.

Thứ nhất, dự trữ của hệ thống NHTM giảm, dẫn đến giảm lượng vốn sẵn có để

cấp các khoản tín dụng mới

Dự trữ của hệ thống NHTM đã giảm xuống mức thấp kể từ giữa năm 2010 và

hệ thống đã phải tăng cường vay từ NHNN nhằm duy trì thanh khoản. Hệ thống

NHTM đẩy mạnh cho vay thực hiện gói kích cầu năm 2009 và 2010, tiếp đó là lượng

dự trữ bị hút về thông qua hoạt động nghiệp vụ thị trường mở năm 2011, sự biến động

tiền gửi do tình trạng chạy đua lãi suất huy động năm 2011 và 2012, và dòng tiền giữa

hệ thống và nền kinh tế bị gián đoạn do tình trạng nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh từ năm

2012 là các nguyên nhân cơ bản dẫn đến hệ thống bị thiếu thanh khoản trầm trọng và

toàn diện. Tình hình thanh khoản căng thẳng diễn ra trong nửa cuối năm 2010 cho tới

tận giữa năm 2012 mới được kiểm soát tương đối (xem hình 2.44).

113

Hình 2.44: Quy mô dự trữ và vay NHNN của hệ thống NHTM

350,000

300,000

250,000

200,000

150,000

100,000

50,000

0

n a J 7 0 0 2

n a J 8 0 0 2

n a J 9 0 0 2

n a J 0 1 0 2

n a J 1 1 0 2

n a J 2 1 0 2

n a J 3 1 0 2

n a J 4 1 0 2

p e S 7 0 0 2

p e S 8 0 0 2

p e S 9 0 0 2

p e S 0 1 0 2

p e S 1 1 0 2

p e S 2 1 0 2

p e S 3 1 0 2

p e S 4 1 0 2

y a M 2 1 0 2

y a M 7 0 0 2

y a M 8 0 0 2

y a M 9 0 0 2

y a M 0 1 0 2

y a M 1 1 0 2

y a M 3 1 0 2

y a M 4 1 0 2

Dự trữ

Vay Ngân hàng Nhà nước

Đơn vị: tỷ VND

Nguồn: Thống kê tài chính quốc tế

Trước tình hình này, các NHTM lựa chọn việc hạn chế cấp mới các khoản tín

dụng cũng như kiểm soát chặt chẽ việc giải ngân các hợp đồng tín dụng đã được kí kết.

Trong bối cảnh thanh khoản căng thẳng, việc duy trì một lượng dự trữ ổn định giúp

các ngân hàng không phải đi vay trên TTLNH với chi phí cao cũng như đảm bảo an

toàn hoạt động của ngân hàng mình. Điều này được thể hiện qua sự sụt giảm mạnh

trong tốc độ tăng trưởng dự trữ (tiền mặt, vàng bạc, đá quý; tiền gửi tại NHNN, tiền

gửi tại các TCTD khác và cho vay các TCTD khác) thậm chí còn lớn hơn sự sụt giảm trong tốc độ tăng trưởng tín dụng (xem hình 2.45)6.

Nửa cuối năm 2012 và sang năm 2013, hệ thống NHTM gia tăng lượng dự trữ

và hoàn trả các khoản vay NHNN nhờ vào lượng tiền huy động tăng ổn định và tín

dụng tăng trưởng chậm. Thực trạng này là một trong những điều kiện tiên quyết giúp

hệ thống NHTM đẩy mạnh cấp các khoản tín dụng mới trong năm 2014 và 2015 (xem

hình 2.46).

6 Số liệu 29 NHTM. Xem phụ lục số 7.

114

120%

450%

400%

100%

350%

80%

300%

60%

250%

40%

200%

20%

150%

0%

100%

-20%

50%

-40%

0%

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

MHBB VCB MSB NASB CTG BID SHB VPB MDB VIB GDB OCB SEAB MBB NAB HDB TPB LVB SGB ABB TCB PGB ACB KLB VAB NVB EIB

STB EAB

Tốc độ tăng trưởng tín dụng

Tốc độ tăng trưởng dự trữ (trục phải)

Hình 2.45: Tốc độ tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng trưởng dự trữ một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

80%

70%

60%

50%

40%

30%

20%

10%

0%

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

MHBB VCB MSB NASB CTG BID

SHB VPB MDB VIB GDB OCB SEAB MBB NAB HDB

TPB

LVB

SGB ABB TCB

PGB ACB KLB VAB NVB

EIB

STB

EAB

Tỷ trọng cho vay/tổng tài sản

Tỷ trọng dự trữ/tổng tài sản

Hình 2.46: Tỷ trọng cho vay trong TTS và tỷ trọng dự trữ trong TTS một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

115

Thứ hai, chất lượng tín dụng suy giảm khiến hệ thống NHTM ngần ngại cấp các

khoản tín dụng mới

Sau giai đoạn căng thẳng thanh khoản, hệ thống NHTM phải đối mặt với tình

trạng chất lượng tín dụng suy giảm mạnh mẽ (xem hình 2.49). Việc hạn chế cấp mới

các khoản tín dụng do căng thẳng thanh khoản càng khiến cho tình hình dòng tiền của khách hàng vay vốn gặp khó khăn hơn trong bối cảnh suy thoái kinh tế. Thực trạng

này quay trở lại tác động đến việc thu hồi các khoản tín dụng đến hạn khi thanh khoản

của cả nền kinh tế bị suy kiệt.

Mức độ rủi ro tín dụng tăng lên ở hầu hết các ngành nghề và lợi ích của việc đa

dạng hóa tín dụng cũng bị hạn chế phần nào (do hệ số tương quan giữa các ngành nghề tăng trong bối cảnh suy thoái kinh tế) khiến cho mong muốn chấp nhận rủi ro của hệ

thống NHTM giảm xuống. Nợ quá hạn tích tụ và chuyển dần thành nợ xấu đã khiến hệ

thống NHTM chuyển từ trạng thái “mong muốn chấp nhận rủi ro thấp” sang trạng thái

“khả năng chấp nhận rủi ro thấp” do nợ xấu tạo áp lực lên trích lập DPRR ngày một

lớn. Trong bối cảnh tái cơ cấu toàn hệ thống, các ngân hàng ưu tiên việc củng cố tình

hình thanh khoản, điều chỉnh cơ cấu tín dụng, cải thiện chất lượng quản trị ngân hàng

và tập trung giám sát, thu hồi các khoản tín dụng đang còn dư nợ hơn là cấp các khoản tín dụng mới.

Chỉ tới năm 2014 và 2015, khi tỷ lệ nợ xấu giảm dần (nhờ vào sử dụng DPRR

và bán nợ xấu cho VAMC) và nền kinh tế có dầu hiệu khởi sắc trở lại, các ngân hàng

mới đẩy mạnh tín dụng. Tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng năm 2015 đạt

17,29%, cao hơn so với định hướng tăng trưởng 13 – 15% trong Chỉ thị số 01/CT-

NHNN về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an

toàn, hiệu quả năm 2015.

Thứ ba, hệ thống NHTM sử dụng lượng tiền dự trữ để đầu tư vào trái phiếu

Chính phủ trong bối cảnh rủi ro tín dụng khó kiểm soát

Từ nửa cuối năm 2012, tình hình thanh khoản của hệ thống NHTM được cải

thiện nhờ lượng tiền gửi tăng ổn định, tín dụng tăng trưởng chậm, NHNN mua vào lượng lớn ngoại tệ nhằm gia tăng dự trữ ngoại hối. Ngoài ra, Thông tư số 21/2012/TT-

NHNN được ban hành vào tháng 06/2012 đã khiến giao dịch trên TTLNH trở nên kém sôi động hơn trước. Lượng vốn dư thừa bị hạn chế cấp cho các khoản tín dụng mới do rủi ro tín dụng gia tăng đã được hệ thống NHTM chuyển sang đầu tư vào trái phiếu Chính phủ (xem hình 2.47). Đầu tư vào trái phiếu Chính phủ là kênh đầu tư có mức độ rủi ro thấp, có tính thanh khoản cao và được quy định hệ số rủi ro thấp khi tính hệ số an toàn vốn. Lãi suất trái phiếu Chính phủ ở mức cao từ năm 2012 đến nửa đầu năm 2014 trong khi nhiều lĩnh vực tín dụng bị áp trần lãi suất cho vay cũng là một lợi thế của việc đầu tư vào trái phiếu Chính phủ.

116

Hình 2.47: Tỷ lệ tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các khoản đầu tư,

18% 16% 14% 12% 10% 8% 6% 4% 2% 0% -2%

n a J 7 0 0 2

n a J 8 0 0 2

n a J 9 0 0 2

n a J 0 1 0 2

n a J 1 1 0 2

n a J 2 1 0 2

n a J 3 1 0 2

n a J 4 1 0 2

p e S 7 0 0 2

p e S 8 0 0 2

p e S 9 0 0 2

p e S 0 1 0 2

p e S 1 1 0 2

p e S 2 1 0 2

p e S 3 1 0 2

p e S 4 1 0 2

y a M 2 1 0 2

y a M 7 0 0 2

y a M 8 0 0 2

y a M 9 0 0 2

y a M 0 1 0 2

y a M 1 1 0 2

y a M 3 1 0 2

y a M 4 1 0 2

Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước/cho vay đối với nền kinh tế

Các khoản đầu tư, cho vay Chính phủ/cho vay đối với nền kinh tế

cho vay Chính phủ trên dư nợ cho vay đối với nền kinh tế

Nguồn: Thống kê tài chính quốc tế

Sang năm 2015, khi mức sinh lời trái phiếu giảm dần (xem hình 2.48), triển

vọng tín dụng được cải thiện, trái phiếu do Chính phủ phát hành không thuộc loại kỳ

hạn được ngân hàng ưa thích, hệ thống NHTM đã giảm tốc độ đầu tư vào trái phiếu

Chính phủ so với các năm trước.

15%

12%

9%

6%

3%

2 1 - b e F - 2

3 1 - b e F - 2

4 1 - b e F - 2

5 1 - b e F - 2

2 1 - g u A - 2

2 1 - v o N - 2

3 1 - g u A - 2

3 1 - v o N - 2

4 1 - g u A - 2

4 1 - v o N - 2

5 1 - g u A - 2

5 1 - v o N - 2

2 1 - y a M - 2

3 1 - y a M - 2

4 1 - y a M - 2

5 1 - y a M - 2

1 năm

2 năm

5 năm

10 năm

Hình 2.48: Lãi suất trái phiếu Chính phủ các kỳ hạn

Nguồn: investing.com

117

18%

16%

14%

12%

10%

8%

6%

4%

2%

0%

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

CTG

STB

EIB

ACB

MBB

VPB

BID

VCB

TCB

SHB

NVB

Tỷ trọng nợ nhóm 2

Tỷ trọng nợ nhóm 3

Tỷ trọng nợ nhóm 4

Tỷ trọng nợ nhóm 5

Hình 2.49: Tỷ trọng nợ nhóm 2, 3, 4, 5 trong tổng dư nợ một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

50% 45% 40% 35% 30% 25% 20% 15% 10% 5% 0%

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

EAB SGB BID NVB EIB PGB VCB SHB CTG STB OCB KLB NASB NAB MHBB ABB ACB VAB SEAB GDB HDB MBB MDB VIB VPB TCB MSB LVB TPB

Đầu tư chứng khoán/tổng tài sản

Hình 2.50: Tỷ trọng đầu tư chứng khoán trong TTS một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

118

b/ Các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh khả

năng cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cấp tín dụng của hệ thống NHTM được phản

ánh rõ nét qua các đặc điểm trên bảng cân đối tài sản và báo cáo kết quả kinh doanh.

Trên bảng cân đối tài sản, các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: (i) tỷ trọng tài sản có tính

thanh khoản cao thấp; (ii) chất lượng tín dụng thấp, nhạy cảm với biến động kinh tế vĩ

mô đi kèm với khả năng chống đỡ rủi ro thấp; (iii) nguồn vốn huy động thiếu ổn định,

tập trung vào kỳ hạn ngắn; (iv) mức độ phụ thuộc vào TTLNH và NHNN cao; và (v)

hệ số an toàn vốn thấp và tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao. Trên báo cáo kết quả kinh doanh,

các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: (i) cơ cấu thu nhập tập trung vào thu lãi từ hoạt động

tín dụng; và (ii) lợi nhuận thấp.

Thứ nhất, tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong TTS, các tài sản thanh khoản chiếm

tỷ trọng thấp

Quá trình tăng trưởng nhanh chóng của hệ thống NHTM Việt Nam phụ thuộc

nhiều vào việc mở rộng tín dụng và các khoản mục mang tính chất tín dụng hơn là

phát triển các sản phẩm, dịch vụ phi tín dụng. Vì vậy, tín dụng chiếm tỷ trọng lớn

trong TTS.

Ngoài ra, gánh vác trọng trách là cung cấp nguồn vốn chủ chốt phục vụ phát

triển kinh tế - xã hội, hệ thống NHTM phải đáp ứng cả nhu cầu vốn ngắn hạn lẫn trung

dài hạn, khiến cho ngoài việc tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong TTS thì các tài sản có

tính thanh khoản cao cũng chiếm tỷ trọng thấp (xem hình 2.51 và 2.52).

Khi NHNN thắt chặt CSTT, khả năng chuyển các tài sản thanh khoản như trái

phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp sang tiền là không hề dễ dàng do nhà đầu

tư chủ yếu là các NHTM, thị trường thứ cấp các chứng khoán này gần như chưa phát

triển về đối tượng nhà đầu tư. Tương tự, các khoản cho vay trên TTLNH là hoạt động

cho vay và đi vay lẫn nhau nên bản thân không thể cung cấp thêm thanh khoản cho

toàn hệ thống.

119

Hình 2.51: Tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản cao trước và sau khi trừ đi

80%

60%

40%

20%

0%

-20%

-40%

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

SGB ACB NVB EAB BID VAB NASB STB CTG OCB PGB ABB MHBB KLB SHB NAB GDB EIB VCB HDB MBB VIB VPB TCB MDB MSB LVB TPB SEAB

Tài sản có tính thanh khoản cao

Tài sản có tính thanh khoản cao - Vay NHNN - Vay TCTD

các khoản vay NHNN và các TCTD trong TTS một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

80%

70%

60%

50%

40%

30%

20%

10%

0%

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

VPB

MBB

STB

SHB

TCB

EIB

NVB

ACB

VCB

CTG

BID

Dư nợ trung hạn

Dư nợ dài hạn

Hình 2.52: Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn trong tổng dư nợ một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

120

Thứ hai, chất lượng tín dụng thấp, nhạy cảm với biến động kinh tế vĩ mô trong

khi khả năng chống đỡ rủi ro ở mức thấp

Mở rộng tín dụng nhanh không đi kèm với các biện pháp quản trị rủi ro tín dụng

tương xứng dẫn đến bất cập trong chất lượng tín dụng. Nợ quá hạn và nợ xấu được tích

lũy qua thời gian, cơ cấu tín dụng tập trung vào một số ngành nghề rủi ro cao, tỷ trọng

lớn tín dụng cấp cho một số doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kém hiệu quả… thực sự

bộc lộ khi kinh tế suy thoái (xem hình 2.53) và NHNN áp dụng các chính sách phân loại

và ghi nhận nợ hướng tới chuẩn mực quốc tế.

8%

6.68%

7%

6.24%

5.98%

5.42%

6%

5.25%

5%

4.12%

3.61%

4%

3.25%

3.06%

2.72%

3%

2%

1%

0%

2011

2012

2013

2014

2015

GDP

Tỷ lệ nợ xấu

Hình 2.53: Tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ nợ xấu

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước

Chất lượng tín dụng thấp không chỉ thể hiện ở các khoản nợ xấu tăng mà còn thể

hiện ở quy mô và tỷ lệ nợ quá hạn cũng tăng mạnh. Ban đầu, thực trạng này tiềm ẩn hai

rủi ro là nếu triển vọng sản xuất kinh doanh lẫn khả năng trả nợ của khách hàng không

được cải thiện thì nợ nhóm hai sẽ được chuyển sang nhóm nợ xấu và tồn tại khả năng

không nhỏ một tỷ trọng đáng kể các khoản nợ đáng nhẽ phải xếp vào nhóm nợ xấu

nhưng vẫn được giữ tại nhóm 2 để tránh ghi nhận quá nhiều nợ xấu. Thực tiễn đã cho

thấy nợ xấu, đặc biệt là nợ nhóm 5, đã không ngừng tăng qua các năm trong khi tỷ lệ nợ

xấu thu hồi được lại thấp (xem hình 2.54).

Bảng 2.4: Tỷ lệ DPRR/dư nợ và DPRR/nợ xấu của

hệ thống NHTM ASEAN và Việt Nam

ASEAN

Việt Nam

DPRR/Dư nợ DPRR/Nợ xấu DPRR/Dư nợ DPRR/Nợ xấu

3.28%

81.42%

2.67%

63.09%

2008

3.48%

81.20%

2.08%

128.36%

2009

3.16%

91.82%

2.28%

106.41%

2010

2.75%

96.51%

2.44%

86.13%

2011

2.47%

101.47%

2.49%

60.41%

2012

121

2.44%

112.33%

2.36%

69.06%

2013

2.26%

113.31%

1.85%

60.31%

2014

Nguồn: Bankscope

Mức DPRR của hệ thống NHTM sụt giảm mạnh do các ngân hàng liên tiếp sử

dụng dự phòng để xử lý các khoản nợ xấu không thể thu hồi. So với các quốc gia trong

khu vực, tỷ lệ DPRR trên dư nợ lẫn nợ xấu đều ở mức thấp hơn rất nhiều và liên tục suy

giảm (xem bảng 2.4 và hình 2.55). Thực trạng này đã khuếch đại tác động tiêu cực của

CSTT thắt chặt đến khả năng lẫn mong muốn cấp tín dụng của hệ thống NHTM.

20%

20%

15%

10%

15%

5%

0%

10%

-5%

-10%

5%

-15%

-20%

0%

0 1 0 2

0 1 0 2

0 1 0 2

0 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

CTG

STB

EIB

ACB

MBB

VPB

BID

VCB

TCB

SHB

NVB

Tỷ lệ nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ xấu (trục phải)

Hình 2.54: Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

8%

250%

200%

6%

150%

100%

4%

50%

0%

2%

-50%

-100%

0%

-150%

4 1 0 2

4 1 0 2

4 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

EIB

CTG

VPB

STB

ACB

NVB

TCB

SHB

BID

MBB

VCB

DPRR/Dư nợ

DPRR/Nợ xấu (trục phải)

Hình 2.55: Tỷ lệ dự phòng rủi ro trên dư nợ và nợ xấu một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

122

Thứ ba, nguồn vốn huy động thiếu ổn định, tập trung vào các kỳ hạn ngắn

Áp lực cấp vốn tín dụng cho nền kinh tế ở tầm vĩ mô cùng với áp lực cạnh tranh

thị phần ở tầm vi mô đã dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trong hoạt động huy động vốn.

Sự phát triển bùng nổ của các NHTMCP nhưng không đi kèm với việc cải thiện chất

lượng các sản phẩm huy động vốn mà tập trung vào cạnh tranh về giá đã mở rộng thị

phần tiền gửi của nhóm này, khiến thị phần của nhóm NHTMNN ngày càng bị thu hẹp.

Tuy nhiên, chính từ việc lựa chọn cạnh tranh về giá này mà nhóm NHTMCP liên tục

chịu áp lực khách hàng rút tiền gửi trước hạn để gửi sang các ngân hàng trả lãi suất cao

hơn. Tỷ trọng tiền gửi kỳ hạn ngắn lẫn doanh số tiền gửi rút trước hạn tăng liên tục

trong giai đoạn năm 2010 đến 2012 là minh chứng rõ ràng cho hiện tượng này. Thực

trạng này lan truyền đến nhóm NHTMNN và dẫn tới nguồn vốn huy động của toàn hệ

thống trở nên thiếu ổn định.

Thứ tư, mức độ phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng và NHNN cao

Mất cân đối giữa huy động và cho vay trên thị trường 1 được phản ánh lên thị

trường 2, nơi về nguyên tắc chỉ đáp ứng các nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn. Một

số ngân hàng quy mô nhỏ không cạnh tranh được trên thị trường 1 đã phải huy động trên

TTLNH để cho vay lại nền kinh tế, dẫn đến chênh lệch kỳ hạn giữa huy động và cho vay

ngày càng lớn.

Hình 2.56: Tỷ lệ cho vay trên đi vay trên TTLNH

250%

200%

150%

100%

50%

0%

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

ASEAN

Vietnam

của hệ thống NHTM Việt Nam và ASEAN

Nguồn: Bankscope

Nếu xét giá trị tổng hợp toàn hệ thống ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên huy động của

hệ thống ngân hàng Việt Nam ở mức cao hơn nhiều so với hệ thống ngân hàng khu vực

ASEAN. Trái lại, nếu xét giá trị trung bình và trung vị, tỷ lệ cho vay trên huy động của

hệ thống ngân hàng Việt Nam lại thấp hơn so với hệ thống ngân hàng khu vực ASEAN

(xem hình 2.56). Điều này phản ánh tồn tại một vài ngân hàng quy mô lớn trong hệ

thống NHTM vừa cho vay và vừa huy động trên TTLNH (cho vay nhiều hơn huy động)

123

trong khi lại có nhiều NHTM quy mô nhỏ phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn đi vay trên

TTLNH (xem hình 2.57, 2.58, và 2.59).

Khi NHNN thắt chặt CSTT, các ngân hàng quy mô lớn hạn chế dần hoạt động

cho vay trên TTLNH, khiến cho các ngân hàng quy mô nhỏ buộc phải tìm đến thị

trường 3 để bảo đảm thanh khoản. Tỷ lệ cho vay trên huy động trên TTLNH của hệ

thống ngân hàng đã giảm dần khi thanh khoản của hệ thống được duy trì ổn định và

NHNN quy định chặt chẽ hơn về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng cho các khoản

cho vay trên TTLNH.

124

80%

70%

60%

50%

40%

30%

20%

10%

0%

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

SGB EAB MBB STB VCB PGB ACB KLB NASB NVB TCB ABB BID SHB LVB CTG HDB VIB MHBB VAB OCB MSB VPB GDB NAB EIB TPB SEAB MDB

Phát hành GTCG

Tiền gửi và vay TCTD khác

Nợ NHNN Việt Nam

Hình 2.57: Tỷ trọng tiền gửi và vay TCTD khác, nợ NHNN và phát hành GTCG trong tổng nợ phải trả một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

60%

50%

40%

30%

20%

10%

0%

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

SGB EAB NASB STB VAB BID CTG ACB OCB NVB MHBB PGB KLB VIB HDB VPB TCB LVB TPB MBB SHB VCB MSB ABB NAB MDB GDB EIB SEAB

Cho vay trên thị trường liên ngân hàng/tổng tài sản

Đi vay trên thị trường liên ngân hàng/tổng nguồn vốn

Hình 2.58: Tỷ trọng cho vay và đi vay trên TTLNH trong TTS một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

125

50,000

40,000

30,000

20,000

10,000

0

-10,000

150,000 120,000 90,000 60,000 30,000 0 -30,000 -60,000 -90,000 -120,000 -150,000

-20,000

0 1 0 2

3 1 0 2

1 1 0 2

4 1 0 2

2 1 0 2

0 1 0 2

3 1 0 2

1 1 0 2

4 1 0 2

2 1 0 2

0 1 0 2

3 1 0 2

1 1 0 2

4 1 0 2

2 1 0 2

0 1 0 2

3 1 0 2

1 1 0 2

4 1 0 2

2 1 0 2

0 1 0 2

3 1 0 2

1 1 0 2

4 1 0 2

2 1 0 2

0 1 0 2

3 1 0 2

1 1 0 2

4 1 0 2

2 1 0 2

0 1 0 2

3 1 0 2

1 1 0 2

4 1 0 2

2 1 0 2

0 1 0 2

3 1 0 2

1 1 0 2

4 1 0 2

2 1 0 2

0 1 0 2

3 1 0 2

1 1 0 2

4 1 0 2

2 1 0 2

0 1 0 2

3 1 0 2

1 1 0 2

4 1 0 2

SGB VAB NASB KLB MDB PGB EAB OCB NVB GDB TPB NAB MHBB STB HDB LVB ABB VIB VPB SHB MSB SEAB ACB TCB MBB EIB BID CTG VCB

Cho vay ròng trên thị trường liên ngân hàng (trục phải)

Cho vay trên thị trường liên ngân hàng

Đi vay trên thị trường liên ngân hàng

Hình 2.59: Quy mô cho vay, đi vay và cho vay ròng trên TTLNH một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

126

Thứ năm, tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao, hệ số an toàn vốn thấp và có xu hướng giảm

khi NHNN thắt chặt CSTT do vốn điều lệ tăng chậm và lợi nhuận suy giảm

Kể từ năm 2011, tăng trưởng VĐL gặp khó khăn do ngân hàng khó phát hành

được cổ phiếu khi thị trường cổ phiếu sụt giảm và việc tìm kiếm cổ đông chiến lược trong và ngoài nước chưa thành công do thực trạng yếu kém của bản thân ngân hàng.

Giới hạn sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài ở mức 30% cũng là một nhân tố cản

trở việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Do khả năng tăng vốn điều lệ bị hạn chế, hệ

thống NHTM phải phụ thuộc vào tăng lợi nhuận chưa phân phối để cải thiện tình hình an toàn vốn.

Tuy nhiên, trong suốt giai đoạn 2011 trở lại đây, tình hình lợi nhuận của hệ thống

NHTM lại không khả quan do tăng trưởng tín dụng gặp khó, các hoạt động phi tín dụng

chưa đem lại mức sinh lời cao và phải tăng cường trích lập DPRR. Hệ số an toàn vốn

giảm xuống, tỷ lệ đòn bẩy tài chính tăng lên khiến cho khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng bị giảm sút (xem hình 2.60 và 2.61).

Hình 2.60: Tăng trưởng vốn tự có và Hình 2.61: Tăng trưởng vốn tự có và

đóng góp của VĐL vào tăng trưởng vốn đóng góp của VĐL vào tăng trưởng vốn

14% 12% 10% 8% 6% 4% 2% 0% -2% -4% -6% -8%

14% 12% 10% 8% 6% 4% 2% 0% -2% -4% -6% -8%

3 1 - b e F

4 1 - b e F

5 1 - b e F

3 1 - b e F

4 1 - b e F

5 1 - b e F

3 1 - v o N

2 1 - g u A

2 1 - v o N

3 1 - g u A

3 1 - v o N

4 1 - g u A

4 1 - v o N

5 1 - g u A

5 1 - v o N

2 1 - g u A

2 1 - v o N

3 1 - g u A

4 1 - g u A

4 1 - v o N

5 1 - g u A

5 1 - v o N

2 1 - y a M

3 1 - y a M

4 1 - y a M

5 1 - y a M

2 1 - y a M

3 1 - y a M

4 1 - y a M

5 1 - y a M

Tăng trưởng VTC

Đóng góp của VĐL

Tăng trưởng VTC

Đóng góp của VĐL

tự có của hệ thống NHTMNN tự có của hệ thống NHTMCP

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

Thứ sáu, cơ cấu thu nhập tập trung vào thu lãi từ hoạt động tín dụng Mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của hệ thống NHTM ít được cải thiện. Tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong bảng cân đối tài sản và cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập hoạt động ngân hàng. So với các quốc gia trong khu vực ASEAN, tỷ trọng thu nhập lãi ròng của NHTM Việt Nam cao hơn tới 20% (xem hình 2.62, 2.63, 2.67, 2.68). Hoạt động dịch vụ đã được các ngân hàng chú trọng đầu tư nhưng chưa đem lại

được kết quả như kỳ vọng khi nhiều dịch vụ chưa đáp ứng được đúng với nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam. Đáng chú ý, nhóm các NHTMNN đã thực hiện việc đa dạng

hóa tốt hơn so với nhóm các NHTMCP chủ yếu dựa vào lợi thế nhờ quy mô (về nguồn

vốn và mạng lưới) chứ không phải dựa vào chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

127

Hình 2.62: Tỷ trọng thu nhập lãi ròng Hình 2.63: Tỷ trọng thu nhập lãi ròng

và thu nhập hoạt động khác trong tổng và thu nhập hoạt động khác trong tổng

100%

100%

90%

90%

80%

70%

80%

60%

70%

50%

40%

60%

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2009

2010

2011

2012

2013

2014

Thu nhập lãi ròng

Thu nhập hoạt động khác

Thu nhập lãi ròng

Thu nhập hoạt động khác

thu nhập của NHTM Việt Nam thu nhập của hệ thống NHTM ASEAN

Nguồn: Bankscope Nguồn: Bankscope

Thứ bảy, mức sinh lời của hệ thống NHTM thấp

So với hệ thống ngân hàng trong khu vực ASEAN, hệ thống NHTM Việt Nam có

tỷ lệ NIM cao hơn nhưng lại có tỷ lệ ROAA và ROAE thấp hơn do chi phí hoạt động và

trích lập DPRR cao hơn (xem hình 2.64, 2.65, 2.69, và 2.70).

Hình 2.64: Tỷ lệ lãi biên và lợi nhuận Hình 2.65: Tỷ lệ lãi biên và lợi nhuận

sau thuế trên TTS sau thuế trên TTS ngân hàng Việt Nam

4.0%

4%

3.5%

3%

3.0%

2.5%

2%

2.0%

1.5%

1%

1.0%

0.5%

0%

0.0%

2011

2012

2013

2014

1 1 0 2

8 0 0 2

9 0 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

ASEAN ROAA

Vietnam ROAA

5 1 0 2 T 9

ROAA

NIM

ASEAN NIM

Vietnam NIM

và ASEAN

Nguồn: Bankscope Nguồn: Bankscope

Chất lượng tín dụng suy giảm buộc cho các ngân hàng phải đẩy mạnh trích lập

DPRR từ năm 2012 trở lại đây, là nguyên nhân chủ chốt làm giảm khả năng sinh lời của

ngân hàng (xem hình 2.66). Ngoài ra, các khoản chi phí hoạt động chiếm tỷ trọng cao

trong tổng thu nhập thể hiện sự quản lý chi phí thiếu hiệu quả của ngân hàng.

128

Hình 2.66: Tỷ lệ chi phí trên thu nhập của

70%

65%

60%

55%

50%

45%

40%

35%

30%

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

ASEAN

Vietnam

hệ thống NHTM ASEAN và Việt Nam

Nguồn: Bankscope

Tóm lại, qua phân tích ba nhân tố kể trên, mức độ truyền tải CSTT qua kênh khả

năng cấp tín dụng cho thấy CSTT thắt chặt đã được khuếch đại, làm giảm đi khả năng

lẫn mong muốn cấp tín dụng của hệ thống NHTM. Những đặc điểm về tính ổn định và

cơ cấu nguồn vốn, chất lượng tài sản có xu hướng làm cho những ảnh hưởng từ việc

thắt chặt CSTT trở nên dai dẳng và chứa đựng nhiều rủi ro như gây ra sự mất ổn định

trong hệ thống NHTM và làm giảm đi vai trò cấp tín dụng của hệ thống với nền kinh tế.

129

70%

60%

50%

40%

30%

20%

10%

0%

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

BID ACB VPB CTG SEAB TCB SHB MBB MHBB MSB VCB EAB HDB EIB NASB STB VIB LVB ABB NVB OCB TPB VAB PGB NAB GDB KLB SGB MDB

Hình 2.67: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên TTS một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

120%

110%

100%

90%

80%

70%

60%

50%

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

STB TCB EAB VCB MBB VPB BID ACB EIB CTG PGB NAB ABB VIB SHB HDB SGB SEAB MSB TPB MHBB KLB NASB OCB NVB VAB LVB MDB GDB

Tỷ trọng thu nhập lãi ròng/(thu nhập lãi ròng + thu nhập từ dịch vụ ròng)

Tỷ trọng thu nhập lãi/(thu nhập lãi + thu nhập từ dịch vụ)

Hình 2.68: Tỷ trọng thu nhập lãi và thu nhập lãi ròng trong tổng thu nhập và thu nhập ròng

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

130

10%

8%

6%

4%

2%

0%

-2%

-4%

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

ABB ACB BID CTG EAB EIB GDB HDB KLB LVB MBB MDB MHBB MSB NAB NASB NVB OCB PGB SEAB SGB SHB STB TCB TPB VAB VCB VIB VPB

NIM

ROAA

Hình 2.69: Tỷ lệ NIM và ROAA một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

35%

30%

25%

20%

15%

10%

5%

0%

-5%

-10%

-15%

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

1 1 0 2

3 1 0 2

0 1 0 2

2 1 0 2

4 1 0 2

ABB ACB BID CTG EAB EIB GDB HDB KLB LVB MBB MDB MHBB MSB NAB NASB NVB OCB PGB SEAB SGB SHB STB TCB TPB VAB VCB VIB VPB

Hình 2.70: Tỷ lệ ROAE một số NHTM

Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng thương mại

131

2.2.2.3. Ảnh hưởng tổng hợp của hai kênh truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng

Tổng hợp ảnh hưởng khuếch đại của truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài

sản và khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng là xu hướng giảm sâu của tốc độ

tăng trưởng tín dụng (giai đoạn năm 2011 – 2012) và chậm phục hồi (năm 2013 –

2014). Sau nhiều năm tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn tốc độ tăng trưởng

huy động vốn, kể từ quý 1 năm 2012, tốc độ tăng trưởng huy động vốn luôn cao hơn

tăng trưởng tín dụng (trừ quý 3 năm 2013) (xem hình 2.71). Trong suốt giai đoạn giữa

năm 2012 – 2014, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy tăng

trưởng tín dụng nhưng tăng trưởng tín dụng rất khó đạt mục tiêu đề ra, thậm chí còn

tăng trưởng âm trong một vài tháng đầu năm. Mặt bằng lãi suất sau khi bị đẩy lên cao

trong năm 2012 và 2013 đã giảm dần về mức của năm 2009, 2010 và thấp hơn cả giai

đoạn trước năm 2008 nhưng tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức thấp hơn nhiều so với

giai đoạn trước đó. Thực trạng này phản ánh tín dụng bị thu hẹp từ cả phía cầu (bao

gồm cả khả năng và mong muốn vay vốn) lẫn phía cung (khả năng và mong muốn cấp

tín dụng). Với kênh lãi suất truyền thống, khi mặt bằng lãi suất giảm về các mức thấp

hơn nhiều trong quá khứ, kết hợp với kỳ vọng lạm phát được duy trì ổn định, phản ứng

của thị trường sẽ là đẩy mạnh hoạt động vay vốn, tiêu dùng và đầu tư. Tuy nhiên, sự

khuếch đại ảnh hưởng của kênh lãi suất truyền thống thông qua vai trò của kênh tín

dụng đã cho thấy mức độ truyền tải CSTT là mạnh và dai dẳng hơn nhiều.

70%

25%

60%

20%

50%

15%

40%

30%

10%

20%

5%

10%

0%

0%

1 Q 1 0 0 2

3 Q 1 0 0 2

1 Q 2 0 0 2

3 Q 2 0 0 2

1 Q 3 0 0 2

3 Q 3 0 0 2

1 Q 4 0 0 2

3 Q 4 0 0 2

1 Q 5 0 0 2

3 Q 5 0 0 2

1 Q 6 0 0 2

3 Q 6 0 0 2

1 Q 7 0 0 2

3 Q 7 0 0 2

1 Q 8 0 0 2

3 Q 8 0 0 2

1 Q 9 0 0 2

3 Q 9 0 0 2

1 Q 0 1 0 2

3 Q 0 1 0 2

1 Q 1 1 0 2

3 Q 1 1 0 2

1 Q 2 1 0 2

3 Q 2 1 0 2

1 Q 3 1 0 2

3 Q 3 1 0 2

1 Q 4 1 0 2

3 Q 4 1 0 2

Tín dụng < Cung tiền

Tín dụng > Cung tiền

Lãi suất cho vay (trục phải)

Hình 2.71: Tăng trưởng tín dụng, cung tiền và lãi suất cho vay

Nguồn: Thống kê tài chính quốc tế

Đối với hoạt động tiêu dùng, tiêu dùng cá nhân tăng trưởng chậm chạp do

người dân cắt giảm chi tiêu và ưu tiên tiết kiệm do thu nhập bị ảnh hưởng và tín dụng

tiêu dùng bị thắt chặt (xem hình 2.72). Đặc điểm này được minh họa thông qua chỉ số

niềm tin người tiêu dùng do Nielsen khảo sát và mối quan hệ giữa tăng trưởng tiêu

dùng và tín dụng. Chỉ số niềm tin người tiêu dùng đã giảm từ mức trên 104 điểm vào

132

đầu năm 2011 (mức độ lạc quan và bi quan được đánh giá theo thang điểm trên và

dưới 100) xuống mức thấp nhất là 87 điểm vào quý 3 năm 2012, và duy trì ở mức dưới

100 điểm cho tới tận quý 2 năm 2014. Điều này càng được củng cố trong bối cảnh thu

nhập tăng chậm và các khoản danh cho chi tiêu trở nên thiếu ổn định hơn do giá cả

một số mặt hàng thiết yếu được điều chỉnh tăng như năng lượng, y tế, và giáo dục

(xem hình 2.73).

Hình 2.72: Tăng trưởng tín dụng và Hình 2.73: Chỉ số niềm tin người tiêu

60%

120

50%

115

40%

110

30%

105

20%

100

10%

95

0%

-10%

90

-20%

85

6 0 0 2

7 0 0 2

8 0 0 2

9 0 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

5 1 0 2

80

Tăng trưởng tiêu dùng cuối cùng

Tăng trưởng tín dụng

2 Q 1 1 0 2

2 Q 5 1 0 2

1 Q 1 1 0 2

3 Q 1 1 0 2

4 Q 1 1 0 2

1 Q 2 1 0 2

2 Q 2 1 0 2

3 Q 2 1 0 2

4 Q 2 1 0 2

1 Q 3 1 0 2

2 Q 3 1 0 2

3 Q 3 1 0 2

4 Q 3 1 0 2

1 Q 4 1 0 2

2 Q 4 1 0 2

3 Q 4 1 0 2

4 Q 4 1 0 2

1 Q 5 1 0 2

3 Q 5 1 0 2

4 Q 5 1 0 2

tiêu dùng cuối cùng dùng

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nguồn: Nielsen

Nhà nước

Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, trong bối cảnh người dân thắt chặt chi

tiêu và tăng mức độ tiết kiệm như vậy, doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

của toàn bộ nền kinh tế đều chứng kiên sự đi xuống rõ rệt. Kinh tế vĩ mô biến động

theo chiều hướng xấu, môi trường kinh doanh chậm được cải thiện và nguồn tiền bị

cạn kiệt do tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại bị siết chặt đã khiến cho những

yếu kém của hệ thống doanh nghiệp bộc lộ khá rõ rệt. Báo cáo “Đánh giá kết quả thực

hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015 và phương hướng, nhiệm

vụ phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2016 – 2020” đã chỉ ra “chất lượng tăng trưởng ở

một số mặt còn thấp, cải thiện còn chậm; công nghệ sản xuất phần lớn còn lạc hậu…

Năng lực cạnh tranh quốc gia chưa được cải thiện nhiều, nhất là về thể chế kinh tế, kết

cấu hạ tầng và đổi mới công nghệ.”. Hàng hóa sản xuất trong nước không cạnh tranh

được với hàng hóa ngoại nhập kết hợp với việc nhu cầu tiêu thụ của nền kinh tế trong

và ngoài nước (nhiều nước tăng cường bảo hộ thương mại và sản xuất) giảm xuống đã

khiến lượng hàng tồn kho tăng lên (xem hình 2.74). Ứ đọng nguyên liệu đầu vào

không sản xuất và hàng hóa không tiêu thụ được là một trong những nguyên nhân căn

bản khiến nhiều doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động hoặc giải thể.

133

Hình 2.74: Chỉ số tiêu thụ sản phẩm ngành chế biến chế tạo

40%

30%

20%

10%

0%

-10%

-20%

1 M 1 1 0 2

4 M 1 1 0 2

7 M 1 1 0 2

1 M 2 1 0 2

4 M 2 1 0 2

7 M 2 1 0 2

1 M 3 1 0 2

4 M 3 1 0 2

7 M 3 1 0 2

1 M 4 1 0 2

4 M 4 1 0 2

7 M 4 1 0 2

1 M 5 1 0 2

4 M 5 1 0 2

7 M 5 1 0 2

0 1 M 5 1 0 2

0 1 M 1 1 0 2

0 1 M 2 1 0 2

0 1 M 3 1 0 2

0 1 M 4 1 0 2

Tiêu thụ sản phẩm ngành chế biến chế tạo

Tồn kho ngành chế biến chế tạo

và tồn kho ngành chế biến chế tạo

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Đặc điểm này minh chứng cho sự lan truyền của sự sụt giảm nhu cầu tiêu dùng

tới nhu cầu đầu tư của nền kinh tế. Các doanh nghiệp cắt giảm quy mô sản xuất, kinh

doanh trong bối cảnh CSTT và các chính sách vĩ mô khác thắt chặt và sau đó rơi vào

tình trạng khó khăn trầm trọng. Đa phần các doanh nghiệp chuyển từ trạng thái “mong

muốn vay vốn ngân hàng” sang trạng thái “không có khả năng và không mong muốn

vay vốn ngân hàng”. Ngoài lý do năng lực sản xuất của nền kinh tế, tỷ lệ vốn đầu tư

toàn xã hội/GDP đã giảm đáng kể trong vài năm trở lại đây bắt nguồn từ sự khó khăn

trong tiếp cận tín dụng và sử dụng vốn vay (xem hình 2.75 và 2.76).

Hình 2.75: Chỉ số mua hàng Hình 2.76: Tăng trưởng tín dụng

54

60%

4

50%

2

40%

30%

50

0

20%

-2

10%

0%

46

-4

-10%

-20%

-6

6 0 0 2

7 0 0 2

8 0 0 2

9 0 0 2

0 1 0 2

1 1 0 2

2 1 0 2

3 1 0 2

4 1 0 2

5 1 0 2

42

-8

Tăng trưởng tài sản cố định

2 1 - l u J

3 1 - l u J

4 1 - l u J

5 1 - l u J

3 1 - n a J

4 1 - n a J

5 1 - n a J

2 1 - t c O

3 1 - t c O

4 1 - t c O

5 1 - t c O

Tăng trưởng tín dụng

2 1 - r p A

3 1 - r p A

4 1 - r p A

5 1 - r p A

nhà sản xuất và tài sản cố định

Nguồn: HSBC Market Nguồn: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng

Nhà nước

134

Thiếu hụt nguồn vốn tín dụng khiến nhu cầu đầu tư tài sản cố định lẫn tiêu dùng

cuối cùng của nền kinh tế suy giảm ngay lập tức trong năm 2011 và phục hồi chậm

chạp ở những năm tiếp theo. Sự phục hồi chậm chạp này quay trở lại trở thành nguyên

nhân cản trở tín dụng từ phía cầu.

Diễn biến nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 cho thấy mục tiêu thúc

đẩy tăng trưởng kinh tế đã phải phần nào “hi sinh” để đổi lại mục tiêu kiểm soát lạm

phát, ổn định kinh tế vĩ mô. NHNN và các NHTM đã triển khai nhiều biện pháp từ

giữa năm 2012 nhằm giảm mặt bằng lãi suất, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Tuy

nhiên, cho dù mặt bằng lãi suất đã về mức của năm 2006 - 2007 nhưng tín dụng vẫn

tăng trưởng khá chậm chạp, một bộ phận lớn các doanh nghiệp vẫn không thể tiếp cận

và hấp thụ được nguồn vốn tín dụng. Lúc này, những biện pháp hỗ trợ nền kinh tế

thông qua thúc đẩy tăng trưởng tín dụng không còn phát huy được nhiều hiệu lực và

hiệu quả như trong điều kiện thông thường.

10%

70%

60%

8%

50%

6%

40%

30%

4%

20%

2%

10%

0%

0%

3 Q 3 0 0 2

3 Q 1 1 0 2

1 Q 1 0 0 2

3 Q 1 0 0 2

1 Q 2 0 0 2

3 Q 2 0 0 2

1 Q 3 0 0 2

1 Q 4 0 0 2

3 Q 4 0 0 2

1 Q 5 0 0 2

3 Q 5 0 0 2

1 Q 6 0 0 2

3 Q 6 0 0 2

1 Q 7 0 0 2

3 Q 7 0 0 2

1 Q 8 0 0 2

3 Q 8 0 0 2

1 Q 9 0 0 2

3 Q 9 0 0 2

1 Q 0 1 0 2

3 Q 0 1 0 2

1 Q 1 1 0 2

1 Q 2 1 0 2

3 Q 2 1 0 2

1 Q 3 1 0 2

3 Q 3 1 0 2

1 Q 4 1 0 2

3 Q 4 1 0 2

GDP (yoy)

Tín dụng (yoy) (trục phải)

Cung tiền (yoy) (trục phải)

Hình 2.77: Tăng trưởng tín dụng, cung tiền và GDP

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước

30%

70%

25%

60%

20%

50%

15%

40%

10%

30%

5%

20%

0%

10%

-5%

0%

3 Q 3 0 0 2

3 Q 1 1 0 2

1 Q 1 0 0 2

3 Q 1 0 0 2

1 Q 2 0 0 2

3 Q 2 0 0 2

1 Q 3 0 0 2

1 Q 4 0 0 2

3 Q 4 0 0 2

1 Q 5 0 0 2

3 Q 5 0 0 2

1 Q 6 0 0 2

3 Q 6 0 0 2

1 Q 7 0 0 2

3 Q 7 0 0 2

1 Q 8 0 0 2

3 Q 8 0 0 2

1 Q 9 0 0 2

3 Q 9 0 0 2

1 Q 0 1 0 2

3 Q 0 1 0 2

1 Q 1 1 0 2

1 Q 2 1 0 2

3 Q 2 1 0 2

1 Q 3 1 0 2

3 Q 3 1 0 2

1 Q 4 1 0 2

3 Q 4 1 0 2

Lạm phát (yoy)

Tín dụng (yoy) (trục phải)

Cung tiền (yoy) (trục phải)

Hình 2.78: Tăng trưởng tín dụng, cung tiền và lạm phát

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước

135

Sự sụt giảm tiêu dùng và đầu tư (hai cấu phần quan trọng trong tổng sản phẩm

quốc nội) khiến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ở mức thấp so với giai đoạn trước.

Tốc độ phục hồi tăng trưởng cũng sau giai đoạn khủng hoảng tài chính cũng chậm

chạp hơn so với các quốc gia trong khu vực. Cùng với đó, tỷ lệ lạm phát giảm sâu

trong năm 2014 và 2015 cho thấy tình trạng thiểu phát đã diễn ra khá rõ rệt (xem hình

2.77 và 2.78).

Tóm lại, việc thiếu hụt một cơ chế kiểm soát mức độ khuếch đại ảnh hưởng của

CSTT qua kênh tín dụng là một nguyên nhân chủ chốt khiến hiệu quả của truyền tải

của kênh này không những không được như kỳ vọng mà còn gây ra những bất ổn cho

nền kinh tế. Sau đó, những bất ổn này lại quay lại đặt áp lực lên công tác điều hành

CSTT của NHNN như phải hạ mặt bằng lãi suất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong

bối cảnh khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp giảm và nợ quá hạn, nợ xấu trong

NHTM gia tăng.

2.3. NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG VỀ TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

QUA KÊNH TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM

2.3.1. Xây dựng mô hình

2.3.1.1. Lựa chọn mô hình

Kể từ những năm 1990, mô hình VAR dạng rút gọn và phân rã Cholesky được

sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu về truyền tải CSTT. Tuy nhiên, phương pháp

này không dựa trên một nền tảng lý thuyết kinh tế vững chắc do phân rã Cholesky giả

định một cú sốc của một biến số không ngay lập tức ảnh hưởng tới các biến số đứng

trước nó trong thứ tự phân rã Cholesky nhưng lại có ảnh hưởng trễ. Vì vậy, kết quả

của mô hình VAR thường rất nhạy cảm với việc sắp xếp thứ tự các biến trong mô

hình. Để khắc phục nhược điểm này, mô hình SVAR được sử dụng để nhận diện các

cú sốc tiền tệ dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế vững chắc hơn. Việc áp đặt mối tương

tác giữa các biến số trong mô hình là nhằm phản ánh những hành vi của NHTW và các

nguyên lí kinh tế vĩ mô căn bản.

𝑝

Trên cơ sở đó, luận án xây dựng mô hình SVAR với trễ p có dạng như sau:

(1)

𝐴0𝑦𝑡 = 𝛼 + ∑ 𝐴𝑖𝑦𝑡−𝑖 + 𝜀𝑡 𝑖=1

’) = I khi s = t và E(εt εs

’)=0 khi s ≠ t. Ma trận 𝐴0

Trong đó: yt là vector 7×1 các biến số vĩ mô yt = (oilt, gdpt, cpit, mst, intt, exct, cret); oil là giá dầu mỏ, gdp là tổng sản phẩm quốc nội, cpi là chỉ số giá tiêu dùng, ms là cung tiền, exc là tỷ giá VND/USD, cre là tín dụng; A0 là ma trận 7×7 phản ánh mối quan hệ tức thời giữa các biến trong vector yt; εt là vector các cú sốc cấu trúc với E(εt) −1 mô tả cú sốc cấu trúc tác = 0; E(εt εs

136

0 0 1 0 0 0

−1 =

0 0 0 0 A0 0 0 0 𝑎42 𝑎43 𝑎44 𝑎45 0

0 0 0 0 𝑎54 𝑎55 𝑎56 𝑎57 0 1 ] [

𝑝

động tới yt có dạng như sau: 0 1 𝑎21 1 𝑎31 𝑎32 0 0 0 𝑎61 𝑎62 𝑎63 𝑎64 𝑎65 1 𝑎71 𝑎72 𝑎73 𝑎74 𝑎75 𝑎76 −1 ta được: Nhân cả hai vế của phương trình (1) với 𝐴0

−1εt.

(2)

−1α; Φi = 𝐴0

𝑦𝑡 = 𝛽 + ∑ 𝛷𝑖𝑦𝑡−𝑖 + 𝑢𝑡 𝑖=1 −1Ai; ut = 𝐴0

Trong đó: β = 𝐴0 Phương trình (2) trở thành mô hình VAR dạng rút gọn với ut là vector sai số

𝑜𝑖𝑙

dạng sau:

0 0 0 0 1 0 0

𝑐𝑝𝑖

𝑢𝑡 𝑔𝑑𝑝 1 0 0 0 0 0 𝑎21

𝑚𝑠

1 0 0 0 0 𝑎31 𝑎32

𝑖𝑛𝑡

1 0 0 0 = 𝑎42 𝑎43 𝑎45 𝑢𝑡 = 𝑢𝑡 𝑢𝑡 𝑢𝑡

0 0 1 0 𝑎54 𝑎56 𝑎57

𝑢𝑡 𝑒𝑥𝑐 1 0 𝑎61 𝑎62 𝑎63 𝑎64 𝑎65 𝑢𝑡

𝑐𝑟𝑒 )

𝑜𝑖𝑙 𝜀𝑡 𝑔𝑑𝑝 𝜀𝑡 𝑐𝑝𝑖 𝜀𝑡 𝑚𝑠 𝜀𝑡 𝑖𝑛𝑡 𝜀𝑡 𝑒𝑥𝑐 𝜀𝑡 𝑐𝑟𝑒 ) 𝜀𝑡

[ 1 ] ( ( 𝑎71 𝑎72 𝑎73 𝑎74 𝑎75 𝑎76 𝑢𝑡

Xuất phát từ thực tế Việt Nam là một nền kinh tế nhỏ với độ mở kinh tế lớn,

ngoài những biến số vĩ mô trong nền kinh tế, luận án bổ sung thêm các biến số phản

ánh các cú sốc bên ngoài là giá dầu thế giới. Các biến số trong mô hình gồm: giá dầu

thô West Texas Intermediate (USD/thùng) (oil), tổng sản phẩm quốc nội (gdp), chỉ số

giá tiêu dùng (cpi), cung tiền rộng m2 (ms), lãi suất cho vay ngắn hạn 3 tháng của các

ngân hàng thương mại (int), và tỷ giá giao dịch VND/USD (exe), và tín dụng đối với

khu vực tư nhân của các ngân hàng thương mại (cre).

Giá dầu thô là biến đại diện cho cú sốc từ bên ngoài nền kinh tế. Việt Nam là

nước có độ mở kinh tế cao, dựa nhiều vào nhập khẩu cho tiêu dùng trong nước và làm

nguyên liệu đầu vào cho hoạt động xuất khẩu nên nền kinh tế khá nhạy cảm với biến

động giá năng lượng. Hơn nữa, giá dầu thô giúp làm giảm hiện tượng “price puzzle”

trong các mô hình VAR khi giá cả thường có xu hướng tăng lên trước các cú sốc thắt

chặt CSTT [51, 46, 58, 117].

Đối với khu vực trong nước, dòng thứ hai và thứ ba mô tả sự cân bằng của thị

trường hàng hóa. Việc ấn định các phần tử bằng 0 trong hai dòng này phản ánh tính

137

chất cứng nhắc của giá cả [26]. Theo Kim và Roubini (2000), các biến số vĩ mô như

tổng sản phẩm quốc nội và giá cả không chịu tác động từ các biến số vĩ mô trừ giá dầu

thô. Nói cách khác, cung tiền, lãi suất, tỷ giá và tín dụng không tác động tới sản lượng

và giá cả ngay tức thời mà có độ trễ. Trong khi đó, giá cả phản ứng tức thời trước cú

sốc thu nhập và giá dầu thô [88].

Dòng thứ tư mô tả hàm cầu tiền với cầu tiền phụ thuộc vào thu nhập thực, giá cả,

lãi suất (chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền). Dòng thứ năm mô tả hàm phản ứng của

CSTT, theo đó, lãi suất được điều chỉnh dựa trên các thông tin về cung tiền, tỷ giá, và tín

dụng. Lựa chọn lãi suất cho vay làm biến đại diện cho điều hành CSTT của NHNN xuất

phát từ thực tế trong một số giai đoạn NHNN áp dụng trần lãi suất cho vay, áp dụng

biên độ lãi suất cho vay không được vượt quá ±150% lãi suất cơ bản, yêu cầu các TCTD

giảm lãi suất cho vay về mức phù hợp với khả năng của nền kinh tế, hoặc đặt ra mục

tiêu giảm lãi suất cho vay trong các chỉ thị điều hành CSTT đầu năm. Mặc dù thông tin

về giá cả là sẵn có theo tần suất tháng và quý nhưng phần lớn dữ liệu về sản lượng theo

quý là dưới dạng ước tính nên NHNN thường đợi thêm các chỉ báo kinh tế vĩ mô một

cách đầy đủ và chính xác hơn trước khi đưa ra quyết định về điều chỉnh định hướng

CSTT. Duy trì cam kết tỷ giá trong một cơ chế tỷ giá tương đối cứng nhắc nên NHNN

sẽ có xu hướng điều hành CSTT phản ứng lại trước cú sốc tỷ giá.

Dòng thứ sáu được xây dựng trên cơ sở lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá

trên thị trường ngoại tệ. Được coi như là một biến số tài chính, tỷ giá phản ứng ngay

lập tức trước các cú sốc khác bên ngoài và bên trong nền kinh tế [26, 88]. Dòng thứ

bảy mô tả các chủ thể kinh tế gồm ngân hàng và khách hàng vay vốn đều có đầy đủ

𝑜𝑖𝑙

các thông tin về kinh tế vĩ mô trước khi đưa ra quyết định tín dụng.

1 0 0 0 0 0

𝑐𝑝𝑖

𝑢𝑡 𝑔𝑑𝑝 0 0 0 1 0 𝑎21

𝑚𝑠

𝑖𝑛𝑡

0 0 0 1 𝑎31 𝑎32 = 𝑢𝑡 = 1 0 0 𝑎42 𝑎43 𝑎45 𝑢𝑡 𝑢𝑡 𝑢𝑡

0 1 0 0 𝑎56 𝑎54

𝑜𝑖𝑙 𝜀𝑡 𝑔𝑑𝑝 𝜀𝑡 𝑐𝑝𝑖 𝜀𝑡 𝑚𝑠 𝜀𝑡 𝑖𝑛𝑡 𝜀𝑡 𝑒𝑥𝑐 ) 𝜀𝑡

[ 𝑢𝑡 𝑒𝑥𝑐 ) ( ( 𝑢𝑡

𝑎61 𝑎62 𝑎63 𝑎64 𝑎65 𝑎66] Để đo lường vai trò của kênh tín dụng, tác giả sử dụng phương pháp

“shutdown” được đề xuất bởi Ramey (1993). Phương pháp này cho phép loại bỏ một

kênh truyền tải CSTT ra khỏi mô hình nhằm đánh giá mức độ đóng góp của kênh

truyền tải này trong việc truyền tải tác động từ CSTT tới các biến số vĩ mô của nền

kinh tế như sản lượng và lạm phát. Đơn cử như trong trường hợp này, so sánh hàm

phản ứng giữa mô hình gốc và mô hình mà biến tín dụng được đưa làm biến ngoại sinh

138

sẽ cho phép đánh giá mức độ đóng góp của kênh tín dụng [108]. Phương pháp này đã

được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng như Morsink và Bayoumi (2001), Disyatat và

Vongsinsirikul (2003), và Perera và Wickramanayake (2013).

2.3.1.2. Số liệu và kiểm định khuyết tật mô hình

Các biến số trong mô hình bao gồm: giá dầu thô West Texas Intermediate

(USD/thùng) (oil); tổng sản phẩm quốc nội (gdp) theo giá so sánh, chỉ số giá tiêu dùng

(cpi) năm gốc 2005 được lấy từ Tổng cục Thống kê; cung tiền rộng (ms), lãi suất ngắn

hạn 3 tháng của các ngân hàng thương mại (int), và tỷ giá giao dịch VND/USD của

các ngân hàng thương mại (exe) vào cuối quý, tín dụng đối với khu vực tư nhân (cre)

được lấy từ Thống kê tài chính quốc tế, Quỹ tiền tệ quốc tế.

Chuỗi số liệu nghiên cứu được lấy theo tuần suất quý từ quý 1 năm 2000 đến

quý 4 năm 2015. Các số liệu, ngoại trừ lãi suất cho vay ngắn hạn của các NHTM ở

dạng %, đều được chuyển sang dạng logarít. Để loại bỏ yếu tố mùa vụ ra khỏi dữ liệu,

phương pháp Census X12 được áp dụng với tất cả các biến.

Kiểm định tính dừng Augmented Dickey-Fuller cho thấy lãi suất cho vay ngắn

hạn dừng trong khi các biến số khác không dừng, chỉ dừng sau khi lấy sai phân bậc

nhất. Các biến không dừng được chuyển sang dạng sai phân bậc nhất và trở thành biến

dừng

Các tiêu chuẩn Sequential modified LR, Final prediction error, Akaike

information criterion, Schwarz information criterion và Hannan - Quinn information

criterion được sử dụng để xác định độ trễ tối ưu cho mô hình. Tiêu chuẩn LR, FPE đề

xuất độ trễ tối ưu là 3 quý, tiêu chuẩn SC và HQ đề xuất độ trễ tối ưu là 1 quý, tiêu

chuẩn AIC đề xuất độ trễ tối ưu là 4 quý. Tuy nhiên, với độ trễ 3 và 4 quý, kiểm định

nghiệm đơn vị cho thấy mô hình không ổn định. Tham khảo các nghiên cứu về truyền

tải CSTT sử dụng dữ liệu tần suất theo quý như Ramaswamy và Sloek (1997),

Disyatat và Vongsinsirkul (2003), độ trễ 2 quý được lựa chọn [107, 57]. Kiểm định

nghiệm đơn vị cho các nghiệm đều nhỏ hơn 1, đồng nghĩa với việc mô hình ổn định về

mặt thống kê (xem phụ lục số 10 về kiểm định nghiệm đơn vị).

−1 áp đặt giá trị 0 cho 26 phần tử ai,j, vượt quá số lượng áp đặt giá trị 0 tối thiểu là (n2-n)/2= (72-7)/2 = 21. Trong trường hợp mô hình SVAR xảy ra hiện

Ma trận A0

tượng over identified, Likelihood Ratio test được sử dụng để xem xét liệu giả thuyết

H0: “cấu trúc mô hình được chấp nhận” có bị bác bỏ ở mức ý nghĩa 5% hay không. Các giá trị p-value của hai mô hình lần lượt là 0,7394 và 0,7773 cho thấy giả thuyết H0 không bị bác bỏ.

139

2.3.2. Kết quả mô hình

Hình 2.79 cho thấy lãi suất tăng làm giảm tốc độ tăng trưởng kể từ quý thứ hai,

và đạt mức ảnh hưởng mạnh nhất vào quý thứ 4. Khoảng tin cậy cho thấy tác động của

lãi suất đến sản lượng có ý nghĩa thống kê trong khoảng thời gian quý thứ 3 và thứ 4.

Điều này cho thấy CSTT thắt chặt cần một độ trễ hiệu quả nhất định để làm giảm tốc

độ tăng trưởng kinh tế. Hàm phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng trước cú sốc lãi suất

cho thấy tăng lãi suất có tác dụng làm giảm tỷ lệ lạm phát. Khá giống với hàm phản

ứng của sản lượng, cần tới quý thứ 2, việc tăng lãi suất mới phát huy tác dụng và ảnh

hưởng cao nhất đạt được vào quý thứ 6 (hình 2.80).

Hình 2.80: Hàm phản ứng của CPI

0.003

0.0015

0.002

0.0010

0.001

0.0005

0.000

0.0000

-0.001

-0.0005

-0.002

-0.0010

-0.003

-0.0015

-0.004

-0.0020

-0.005

-0.0025

1

5

10

15

1

5

10

15

20

20

Hình 2.79: Hàm phản ứng của GDP trước cú sốc lãi suất7 trước cú sốc lãi suất

Nguồn: Tính toán của tác giả Nguồn: Tính toán của tác giả

Hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc sản lượng cho thấy phải đến quý thứ 2,

lãi suất mới được điều chỉnh lại để ngăn đà tăng đột biến trong sản lượng của nền kinh

tế. Trái lại, hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc lạm phát cho thấy CSTT phản ứng

nhanh hơn khi tăng lên ngay trong quý thứ nhất. Điều này cho thấy lãi suất được duy

trì để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (ít nhất là trong ngắn hạn) thay vì phản ứng theo

cách thận trọng hơn là ổn định kinh tế vĩ mô. Chỉ khi lạm phát tăng cao, lãi suất mới

được điều chỉnh tăng nhằm kiềm chế đà tăng và ảnh hưởng của nó tới nền kinh tế.

Thực trạng này cho thấy CSTT có xu hướng thiên về mục tiêu tăng trưởng.

7 Đường nét đứt là khoảng tin cậy một lần độ lệch chuẩn, đường nét đứt chấm là khoảng tin cậy hai lần độ lệch chuẩn.

140

Hình 2.81: Hàm phản ứng của lãi suất Hình 2.82: Hàm phản ứng của lãi suất

2.0

1.0

0.8

1.5

0.6

0.4

1.0

0.2

0.5

0.0

-0.2

0.0

-0.4

-0.6

-0.5

-0.8

-1.0

-1.0

1

5

10

15

1

5

10

15

20

20

trước cú sốc GDP trước cú sốc CPI

Nguồn: Tính toán của tác giả Nguồn: Tính toán của tác giả

Hàm phản ứng của cung tiền trước cú sốc sản lượng và giá cả cũng cho thấy

nhận định tương tự. Đến tận quý thứ 5, cung tiền mới được thu hẹp để ngăn đà tăng

của tăng trưởng trong khi ngay từ quý thứ nhất, cung tiền đã được điều chỉnh giảm để

kiểm soát lạm phát tăng đột biến.

Hình 2.83: Hàm phản ứng của cung Hình 2.84: Hàm phản ứng của cung

0.010

0.008

0.004

0.005

0.000

0.000

-0.004

-0.005

-0.008

-0.010

-0.012

1

5

10

15

1

5

10

15

20

20

tiền trước cú sốc GDP tiền trước cú sốc CPI

Nguồn: Tính toán của tác giả Nguồn: Tính toán của tác giả

Hàm phản ứng của lãi suất trước cú sốc tín dụng cho thấy lãi suất khá nhạy cảm

với sự tăng trưởng đột biến của tín dụng. Kể từ khi xảy ra cú sốc tín dụng, đến quý thứ

2, CSTT mới có phản ứng lại bằng việc tăng lãi suất và đạt ảnh hưởng lớn nhất vào

quý thứ 4 (xem hình 2.83). Hàm phản ứng của tỷ giá trước cú sốc lãi suất cho thấy

hiện tượng tăng vọt tỷ giá khi tỷ giá giảm trong quý đầu tiên và được điều chỉnh tăng

nhẹ vào quý tiếp theo (xem hình 2.84).

141

Hình 2.85: Hàm phản ứng của lãi suất Hình 2.86: Hàm phản ứng của tỷ giá

1.2

0.005

0.6

0.000

0.0

-0.005

-0.6

-0.010

1

5

10

15

1

5

10

15

20

20

trước cú sốc tín dụng trước cú sốc lãi suất

Nguồn: Tính toán của tác giả Nguồn: Tính toán của tác giả

So sánh hàm phản ứng của tổng sản phẩm quốc nội trước cú sốc lãi suất trong

trường hợp có kênh tín dụng và không có kênh tín dụng cho thấy, phản ứng của tổng

sản phẩm quốc nội trước cú sốc lãi suất trong trường hợp có kênh tín dụng mạnh và

dai dẳng hơn (kéo dài tới 10 quý) so với trường hợp không có kênh tín dụng (6 quý)

(xem hình 2.85). Hàm phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng trước cú sốc lãi suất cũng cho

thấy kênh tín dụng phát huy ảnh hưởng rõ rệt từ quý thứ 3 đến quý thứ 12.

Hình 2.87: Hàm phản ứng của GDP Hình 2.88: Hàm phản ứng của CPI

trước cú sốc lãi suất khi có kênh tín trước cú sốc lãi suất khi có kênh tín

0.001

0.002

0.001

0.000

0.000

-0.001

-0.001

-0.002

-0.003

-0.002

-0.004

1

5

10

15

1

5

10

15

20

20

dụng và khi không có kênh tín dụng dụng và khi không có kênh tín dụng

Nguồn: Tính toán của tác giả Nguồn: Tính toán của tác giả

Kết quả hàm phản ứng của sản lượng và giá cả trước cú sốc cung tiền cũng cho

thấy kênh tín dụng có tác dụng khuếch đại mạnh mẽ ảnh hưởng của việc mở rộng cung

tiền (xem hình 2.85 và 2.86).

142

Hình 2.89: Hàm phản ứng của GDP Hình 2.90: Hàm phản ứng của CPI

trước cú sốc cung tiền khi có kênh tín trước cú sốc cung tiền khi có kênh tín

0.003

0.010

0.002

0.005

0.001

0.000

0.000

-0.001

-0.002

-0.005

1

5

10

15

1

5

10

15

20

20

dụng và khi không có kênh tín dụng dụng và khi không có kênh tín dụng

Nguồn: Tính toán của tác giả Nguồn: Tính toán của tác giả

Như vậy, qua phân tích hàm phản ứng đẩy, có thể nhận thấy sự tồn tại và vai

trò nhất định của kênh tín dụng trong truyền tải CSTT của Việt Nam. Theo đó, ảnh

hưởng của điều hành CSTT sẽ phát huy tác dụng nhanh và mạnh hơn trong trường

hợp có kênh tín dụng so với trường hợp không có kênh tín dụng.

Phân rã phương sai cho thấy việc đưa kênh tín dụng vào mô hình giúp tăng mức

giải thích của lãi suất tới sự biến động sản lượng và giá cả (xem bảng 2.5). Mức giải

thích sự biến động sản lượng của lãi suất tăng từ 0,39% lên 1,38% sau một năm và

tăng từ 0,39% lên 2,14% sau 5 năm. Tương tự, mức độ giải thích giá cả của lãi suất

tăng từ 1,24% lên 4,05% sau 5 năm. Tác động của lãi suất lên sản lượng và giá cả là

chậm khi chỉ giải thích chưa đến 5% sự biến động sản lượng giá cả. Điều này củng cố

thực tiễn NHNN buộc phải điều chỉnh tăng mạnh lãi suất kết hợp với biện pháp thu

hẹp cung tiền, quy định hạn mức tăng trưởng tín dụng khi lạm phát tăng cao (cả cung

tiền và tín dụng giải thích 3,77% và 24,3% sự biến động sản lượng và giá cả sau 1

năm).

Bảng 2.5: Phân rã phương sai của GDP và CPI khi có kênh tín dụng

và khi không có kênh tín dụng

Kênh tín dụng

Không có kênh tín dụng

Biến

Thời

số

điểm

oil

gdp

cpi

ms

int

exc

cre

oil

gdp

cpi

ms

int

exc

1

0.02

99.98

0.00

0.00

0.00

0.00

0.00

0.61

99.39

0.00

0.00

0.00

0.00

4

0.13

93.19

0.38

3.71

1.38

1.06

0.13

1.56

87.09

3.21

0.14

0.39

7.61

8

0.65

87.43

1.72

6.21

1.86

1.38

0.75

1.52

85.96

3.36

0.54

0.39

8.23

Sản

lượng

12

1.34

85.58

2.41

6.37

1.87

1.53

0.89

1.51

85.90

3.34

0.55

0.39

8.30

16

1.41

84.07

2.37

7.39

2.03

1.51

1.21

1.52

85.90

3.34

0.55

0.39

8.30

20

1.40

83.36

2.44

7.77

2.14

1.56

1.33

1.52

85.90

3.34

0.55

0.39

8.30

143

1

12.60

0.56

86.83

0.00

0.00

0.00

12.39

0.17

87.44

0.00

0.00

0.00

0.00

4

17.58

8.11

48.48

16.36

1.16

7.94

18.88

3.77

66.39

7.76

1.22

1.97

0.36

8

12.00

12.05

32.82

30.86

3.48

7.34

16.92

7.97

56.59

10.43

1.19

6.91

1.44

Giá cả

12

11.45

11.70

32.18

31.17

4.04

7.62

16.04

11.33

51.64

9.92

1.23

9.84

1.83

16

11.42

11.88

32.15

30.97

4.04

7.59

15.50

13.21

49.17

9.77

1.24

11.11

1.94

20

11.38

12.04

32.04

30.96

4.05

1.94

7.59

14.19

9.67

11.74

15.21 47.94 1.24 Nguồn: Tính toán của tác giả

144

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương 2 của luận án đã khái quát tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam với

nhiều bất ổn từ năm 2011 cho tới nay và chín vấn đề lớn đặt ra cho công tác điều hành

CSTT của NHNN Việt Nam. Tác giả đã phân tích công tác điều hành CSTT trên hai

nội dung là hoàn thiện khung CSTT và tạo dựng mô hình cho CSTT vận hành, đánh

giá năm vấn đề của hệ thống NHTM gồm chất lượng tài sản, thanh khoản, sinh lời, an

toàn vốn và quản trị ngân hàng. Thực trạng truyền tải CSTT qua kênh bảng cân đối tài

sản cho thấy kênh này đã khuếch đại những thay đổi ban đầu của lãi suất và khiến cho

nhu cầu và khả năng vay vốn ngân hàng của các chủ thể kinh tế bị giảm xuống.

Tương tự, kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng chỉ ra sự yếu kém của hệ thống

NHTM đã khiến cho khả năng lẫn mong muốn cấp tín dụng ngân hàng bị suy giảm

đáng kể trong một giai đoạn dài. Thực trạng này là một trong những nguyên nhân

khiến nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng suy thoái kéo dài từ năm 2011 cho tới

2014. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy kênh tín dụng đã khuếch đại nhanh và

mạnh những thay đổi trong công tác điều hành CSTT của NHNN đến nền kinh tế.

145

CHƯƠNG 3:

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TRUYỀN TẢI

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG

CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

3.1. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ

HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1.1. Định hướng điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Trong thời gian tới, kinh tế thế giới được dự báo là vẫn phục hồi chậm, không

đồng đều và còn nhiều khó khăn. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng

tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia. Kinh tế trong nước

tuy có dấu hiệu phục hồi nhưng còn nhiều tồn tại như ổn định kinh tế vĩ mô chưa vững

chắc, chất lượng tăng trưởng thấp, sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, môi

trường kinh doanh còn hạn chế… Tình hình này đòi hỏi phải có sự đổi mới mạnh mẽ

trong tư duy, sáng tạo, năng động và quyết liệt trong hành động để tận dụng các cơ

hội, vượt qua khó khăn, thách thức trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô của Chính

phủ nói chung và điều hành CSTT của NHNN nói riêng.

a/ Quan điểm về điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng

Trong thời gian tới, công tác điều hành CSTT của NHNN và hoạt động của hệ

thống NHTM phải tiếp tục bám sát những quan điểm chủ đạo sau:

Thứ nhất, hệ thống ngân hàng đóng vai trò chủ chốt trong tổng thể hệ thống tài

chính Việt Nam, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế nhanh, bền vững

trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu

quả, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

Thứ hai, hệ thống ngân hàng tập trung vào hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo hướng

kết hợp hài hòa, đồng bộ và hợp lý giữa quy luật thị trường, cạnh tranh bình đẳng,

minh bạch và sự quản lý có tính hiệu lực và hiệu quả của Nhà nước thông qua các

công cụ điều tiết.

Thứ ba, hệ thống ngân hàng lấy ổn định tiền tệ và tài chính là điều kiện tiên

quyết để góp phần vào duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm sự phối hợp đồng bộ

giữa CSTT với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, đặc biệt là CSTK; giữa hoạt động

ngân hàng và hoạt động của doanh nghiệp, hộ gia đình; giữa thị trường tiền tệ với thị

trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm…

Thứ tư, hệ thống ngân hàng phát triển lành mạnh và ổn định; tăng cường phạm

vi và hiệu quả hoạt động, phục vụ nền kinh tế; tăng cường tính minh bạch, trách

146

nhiệm; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hướng tới áp dụng các thông lệ quốc tế vào hoạt

động kinh doanh ngân hàng.

b/ Mục tiêu tổng quát đối với điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng

Mục tiêu tổng quát đối với điều hành CSTT là điều hành chủ động, linh hoạt,

phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm hoàn thành các chỉ tiêu kinh

tế vĩ mô theo mục tiêu của Quốc hội, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và thị

trường tiền tệ, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và cơ cấu lại

nền kinh tế.

Mục tiêu tổng quát đối với hoạt động NHTM là tiếp tục cơ cấu lại triệt để và

toàn diện toàn bộ hệ thống gắn với xử lý nợ xấu hiệu quả; phát triển hệ thống ngân

hàng với quy mô, số lượng hợp lý, hoạt động hiệu quả, an toàn và minh bạch, đủ năng

lực cạnh tranh, và đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng.

3.1.2. Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng thương mại

a/ Giải pháp điều hành chính sách tiền tệ

Thứ nhất, xây dựng và áp dụng triệt để khuôn khổ CSTT với mục tiêu duy nhất

là ổn định giá cả, phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác trong việc

thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội:

 Đổi mới điều hành công cụ của CSTT theo hướng hiện đại, chuyển từ điều

hành theo khối lượng sang điều hành theo giá; sử dụng các công cụ gián tiếp, hạn chế

và tiến tới dừng sử dụng các biện pháp hành chính.

 Xác định cơ chế truyền tải CSTT và đánh giá hiệu quả cơ chế truyền tải theo

các kênh, giải quyết những tồn tại trong các kênh truyền tải đang hạn chế vai trò

truyền tải CSTT tới hệ thống ngân hàng, thị trường tiền tệ, tài chính và nền kinh tế.

 Đổi mới cơ chế tỷ giá theo hướng linh hoạt và có tính thị trường hơn, hạn chế

các công cụ trực tiếp, biện pháp hành chính trong quản lý thị trường ngoại tệ, tăng

cường sử dụng các công cụ gián tiếp để can thiệp vào thị trường ngoại tệ. Đổi mới

công tác quản lý dự trữ ngoại hối phù hợp với thông lệ quốc tế, bảo đảm hài hòa các

mục tiêu an toàn, thanh khoản và sinh lời.

 Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và các mô hình dự báo, cảnh báo sớm làm

căn cứ điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng.

 Thực hiện các giải pháp quản lý ngoại hối hợp lý, đồng bộ với CSTT - tín

dụng; chuyển các quan hệ huy động và cho vay sang quan hệ mua bán, tiến tới xóa bỏ

tình trạng đô la hóa, vàng hóa trong nền kinh tế.

 Tăng cường phối hợp chính sách giữa NHNN và các cơ quan quản lý Nhà

nước để bảo đảm sự hài hòa giữa CSTT và các chính sách kinh tế vĩ mô.

147

 Tăng cường công tác truyền thông và minh bạch các chủ trương, giải pháp

điều hành CSTT với nền kinh tế.

 Đẩy mạnh hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới trong hoạt động điều

hành CSTT, chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để ứng phó với các biến động từ bên

ngoài.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng hoạt động hiệu quả,

phù hợp với các thông lệ quốc tế:

 Hoàn thiện cơ chế, quy trình và phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở

rủi ro phù hợp với thực tiễn hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam, hướng tới áp

dụng các nguyên tắc của Ủy ban giám sát ngân hàng Basel.

 Xây dựng và triển khai hệ thống giám sát từ xa có hiệu quả để cảnh báo sớm,

hệ thống thanh tra tại chỗ để phát hiện các ngân hàng và hoạt động ngân hàng có dấu

hiệu rủi ro, thiếu an toàn.

 Hoàn thiện các quy định về hoạt động ngân hàng theo hướng phù hợp với

thông lệ quốc tế, bảo đảm sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng, thúc đẩy

cạnh tranh lành mạnh.

 Hoàn thiện cơ chế xử phát các vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng đảm bảo

tính nghiêm minh, công bằng và minh bạch.

Thứ ba, phát triển hệ thống NHNN gồm NHNN trụ sở chính và các chi nhánh

NHNN tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hiện đại với mô hình tổ chức hợp lý,

hoạt động hiệu quả trong thực hiện các chức năng của một NHTW:

 Tăng cường năng lực thể chế, nâng cao vị thế và trách nhiệm của NHNN trên

cơ sở Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010

 Cơ cấu lại tổ chức NHNN theo hướng tinh gọn, chuyên môn hóa cao, hiệu

lực và hiệu quả trong công tác điều hành CSTT và quản lý hoạt động ngân hàng.

b/ Giải pháp đối với hoạt động ngân hàng thương mại

Thứ nhất, tiếp tục triển khai các biện pháp tái cơ cấu toàn diện và triệt để các

ngân hàng trên các phương diện tài chính, hoạt động và quản trị theo lộ trình phù hợp:

 Đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa, cấu trúc lại cổ đông chiến lược, và tiến

hành niêm yết trên thị trường chứng khoán các cổ phiếu ngân hàng nhằm tăng cường

năng lực tài chính và tính minh bạch.

 Nâng cao chất lượng tài sản, đặc biệt là kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín

dụng, tập trung xử lý triệt để nợ xấu.

 Đổi mới hệ thống quản trị ngân hàng, đặc biệt là quản trị rủi ro, phù hợp với

thông lệ và chuẩn mực quốc tế

148

 Hiện đại hóa cơ sở vật chất, đặc biệt nền tảng công nghệ và cơ cấu lại hệ

thống kênh phân phối phù hợp với khả năng tiếp cận của khách hàng.

Thứ hai, thực hiện các giải pháp huy động vốn và cấp tín dụng có hiệu quả, phù

hợp với năng lực của ngân hàng, bảo đảm hỗ trợ tăng trưởng hợp lý, hỗ trợ quá trình

tái cấu trúc nền kinh tế, kiểm soát lạm phát.

Thứ ba, chấp hành nghiêm túc các quy định pháp luật trong lĩnh vực hoạt động

ngân hàng như an toàn hoạt động, tín dụng, huy động vốn, quản trị rủi ro, tỷ giá…

Thứ tư, tích cực phát triển phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng phù hợp

với năng lực tài chính, quản trị rủi ro và nhu cầu của khách hàng.

Thứ năm, chủ động cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin về hoạt

động kinh doanh theo quy định của pháp luật; tích cực phối hợp với NHNN, các cơ

quan quản lý và các chủ thể kinh tế để nắm bắt các định hướng điều hành, nhu cầu và

kiến nghị.

Thứ sáu, tăng cường chuẩn bị các giải pháp để tiến tới hội nhập kinh tế khu vực

và quốc tế có hiệu quả và an toàn.

3.2. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TRUYỀN TẢI CHÍNH SÁCH TIỀN

TỆ QUA KÊNH TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Tại Quyết định số 252/QD-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường

chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 ban hành ngày 01/03/2012, mục tiêu

tổng quát đề ra là “phát triển thị trường chứng khoán ổn định, vững chắc,…, đảm bảo

thị trường hoạt động hiệu quả và trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan

trọng của nền kinh tế”. Mục tiêu cụ thể Thủ tướng Chính phủ đưa ra là đến năm 2020,

tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu vào năm 2020 đạt khoảng 70% GDP. Tuy

nhiên, tính đến cuối năm 2015, tỷ lệ này mới chỉ đạt ở mức 34%, tức là chưa đạt một

nửa mục tiêu đề ra. Sự đi xuống từ năm 2008 và sau đó là sự hồi phục chậm chạp của

thị trường cổ phiếu Việt Nam từ năm 2012 cho tới nay đã làm giảm đi khả năng gia

tăng của tỷ lệ vốn hóa thị trường cổ phiếu.

Đối với thị trường trái phiếu, lộ trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam

đến năm 2020 được quy định tại Quyết định số 261/QĐ-BTC ngày 01/02/2013. Theo

đó, quan điểm chung là phát triển thị trường trái phiếu một cách bền vững, thanh

khoản cao và từng bước tiếp cận các thông lệ và chuẩn mực quốc tế, từ đó đưa thị

trường trái phiếu trở thành một kênh huy động vốn an toàn, hiệu quả cho nền kinh tế.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là tổng dư nợ thị trường trái phiếu đạt mức 38% GDP,

trong đó thị trường trái phiếu chính phủ đạt 22% GDP, thị trường trái phiếu chính phủ

bảo lãnh đạt 8%, thị trường trái phiếu chính quyền địa phương đạt 1% GDP và thị

149

trường trái phiếu doanh nghiệp đat 7% GDP. Đến cuối năm 2015, thị trường trái phiếu

vẫn rất xa mục tiêu đề ra khi thị trường trái phiếu chính phủ mới đạt 23,5% GDP và thị

trường trái phiếu doanh nghiệp đạt 1,1% GDP (xem hình 3.1). Đối tượng mua trái

phiếu chính phủ những năm gần đây tập trung chủ yếu vào các NHTM, là nguyên

nhân khiến tỷ lệ này được cải thiện còn thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn phát

triển rất hạn chế.

Hình 3.1: Tỷ lệ trái phiếu Chính phủ và doanh nghiệp

160%

140%

VN

120%

ID

100%

CN

PH

80%

TH

60%

SG

40%

MY

KR

20%

0%

2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014

trên GDP một số quốc gia

Nguồn: Asian bond online và the Worldbank data

Trái lại với sự tăng trưởng chậm chạp và vai trò tương đối mờ nhạt của thị

trường chứng khoán, tín dụng ngân hàng đã và vẫn đang là kênh dẫn vốn chủ đạo cho

hoạt động của nền kinh tế Việt Nam. Tỷ lệ tín dụng trên GDP dù đã giảm xuống so với

mức cao nhất 124,7% vào năm 2010 xuống còn 104,9% vào năm 2012, đã tăng trở lại

mức 113,8% vào năm 2014 (xem hình 3.2). Hệ thống TCTD Việt Nam đã phải nỗ lực

để huy động vốn để cấp tín dụng cho nhiều chủ thể kinh tế, nhiều đối tượng được tài

trợ, với kỳ hạn dài đáng nhẽ phải được phục vụ bởi thị trường chứng khoán. Trong sự

nỗ lực đó, không thể không ghi nhận vai trò của hệ thống NHTM, chiếm tới 84,4%

tổng tài sản của cả hệ thống TCTD. Trong thời gian tới, khả năng hệ thống tài chính

Việt Nam sẽ phát triển đồng đều hơn với sự gia tăng quy mô lẫn tỷ trọng của thị

trường chứng khoán là không cao. Do vậy, tín dụng ngân hàng và hệ thống NHTM

chắc chắn vẫn tiếp tục thể hiện vai trò cầu nối về vốn cho các chủ thể kinh tế đồng thời

là kênh truyền tải quan trọng của CSTT tới nền kinh tế Việt Nam.

Việc tăng cường khả năng truyền tải CSTT qua kênh tín dụng của hệ thống

NHTM Việt Nam trở thành một vấn đề hết sức cấp thiết xuất phát từ (i) vai trò của

kênh này trong số các kênh truyền tải; (ii) những yếu kém nội tại trong hệ thống

NHTM và hệ thống doanh nghiệp đang cản trở hiệu quả truyền tải CSTT qua kênh tín

150

dụng, và (iii) những thách thức mới đối với quá trình truyền tải CSTT qua kênh tín

dụng đang ngày một nhiều lên. Như vậy, việc đưa ra các giải pháp đối với không chỉ

các NHTM mà các giải pháp đối với NHNN, kiến nghị với hệ thống doanh nghiệp là

hết sức cần thiết để tăng cường khả năng truyền tải CSTT qua kênh tín dụng của hệ

thống NHTM.

180%

160%

140%

VN

ID

120%

CN

100%

PH

80%

TH

SG

60%

MY

40%

KR

20%

0%

2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014

Hình 3.2: Tỷ lệ tín dụng trên GDP một số quốc gia

Nguồn: Asian bond online và the Worldbank data

3.2.1. Nhóm giải pháp đối với Ngân hàng Nhà nước

3.2.1.1. Định hướng hệ thống ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng gắn với

nâng cao chất lượng tín dụng

Việc nâng cao chất lượng các khoản tín dụng và giảm thiểu mức độ nhạy cảm

của chất lượng tín dụng với biến động kinh tế vĩ mô là hết sức cần thiết. Về lý thuyết,

hệ thống NHTM không phải là chủ thể kinh tế có khả năng chấp nhận mức rủi ro cao

mà phải là các quỹ đầu tư mạo hiểm, các quỹ đầu tư vào trái phiếu có mức độ tín

nhiệm thấp… Phân tích thực tiễn công tác điều hành CSTT cho thấy mỗi lần NHNN

thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay được

đẩy lên cao và dẫn tới với các bất ổn kinh tế vĩ mô, chất lượng tín dụng của hệ thống

NHTM bị suy giảm mạnh, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng cấp tín dụng của ngân

hàng. Do vậy, tăng trưởng tín dụng cần phải đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng,

phân bổ tín dụng tới đa dạng những đối tượng sử dụng vốn với hiệu quả cao và an

toàn. Việc mở rộng tín dụng trên cơ sở bảo đảm chất lượng tín dụng giúp hệ thống

NHTM chủ động kiểm soát nợ xấu, hạn chế tình trạng mất an toàn cho hệ thống và

giảm thiểu nguy cơ lạm phát.

Thứ nhất, NHNN và hệ thống NHTM cần xác định về mặt nguyên tắc việc quản

lý cơ cấu tín dụng ở tầm vĩ mô phải hướng tới giảm thiểu rủi ro thông qua đa dạng hóa

151

Như vậy, toàn ngành phải xác định được một cơ cấu tín dụng mà ở đó, mức độ

rủi ro là tương xứng với khả năng quản trị rủi ro. Việc giảm tỷ trọng cho vay các lĩnh

vực không khuyến khích và sau đó là tăng tỷ trọng các lĩnh vực được ưu tiên cần được

thực hiện thận trọng nhằm bảo đảm lượng vốn phù hợp cung cấp cho các thị trường

như thị trường bất động sản, chứng khoán…, hạn chế gây ra tình trạng “đóng băng” tại

các thị trường này, gắn điều chỉnh cơ cấu tín dụng với việc cơ cấu lại các thị trường

này theo hướng phát triển bền vững. Đối với những rủi ro mang tính hệ thống và khó

kiểm soát, cần có chính sách phát triển những công cụ bảo hiểm rủi ro phù hợp với các

tổ chức có khả năng kiểm soát rủi ro tốt. Qua đó, trong trường hợp không có khả năng

quản trị rủi ro, NHTM có thể phòng ngừa được rủi ro thông qua việc chuyển cho các

tổ chức này.

Thứ hai, NHNN kiểm soát tăng trưởng tín dụng thông qua việc phân tích nhu

cầu vốn, khả năng cung ứng vốn và khả năng chấp nhận rủi ro của hệ thống NHTM

trong cả ngắn hạn lẫn trung, dài hạn

Trước thực trạng hệ thống ngân hàng còn ở trình độ phát triển thấp, chưa định

hình được các phân khúc một cách rõ ràng, các hoạt động cạnh tranh thiếu lành mạnh

luôn tiềm ẩn, việc không định hướng rõ ràng và kiểm soát chặt chẽ hạn mức tăng

trưởng tín dụng sẽ mang lại những hệ quả tiêu cực cho sự phát triển của từng ngân

hàng và toàn hệ thống. Trên khía cạnh vĩ mô, vai trò của vốn tín dụng ngân hàng trong

vốn đầu tư toàn xã hội - chỉ tiêu kinh tế có vai trò quyết định trong việc thực hiện các

mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước, cho thấy trong ngắn hạn đến trung hạn, NHNN

cần phải tiếp tục quản lý hạn mức tăng trưởng tín dụng cho toàn nền kinh tế. Thực tiễn

đã cho thấy việc đề ra nhưng không kiểm soát được tăng trưởng tín dụng những thời

kỳ điển hình như năm 2006 - 2008 và 2010 đã để lại những hệ quả không mong muốn

cho hệ thống ngân hàng và toàn nền kinh tế. Để tăng trưởng tín dụng hướng tới ổn

định kinh tế vĩ mô (vừa bảo đảm đủ vốn cho nhu cầu đầu tư, tiêu dùng, vừa không gây

ra tình trạng lạm phát, nợ xấu), NHNN nên xác định và điều hành tốc độ tăng trưởng

tín dụng cho một giai đoạn dài hạn. Hàng năm, NHNN đưa ra định hướng chỉ tiêu tăng

trưởng tín dụng bám sát mục tiêu trong trung dài hạn, kết hợp với việc điều chỉnh cho

phù hợp với điều kiện thực tế.

Mức tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng cần được xác định hợp lý và

hài hòa trong mối quan hệ tổng thể phân bổ nguồn lực tài chính quốc gia và gắn phân

bổ nguồn vốn tín dụng ngân hàng với tín hiệu thị trường và hạn chế sự can thiệp của

Chính phủ. Tỷ trọng vốn phân bổ qua cơ chế thị trường từng bước phải được nâng lên

phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế; xác định một cấu trúc tài chính phù

hợp có tác dụng thúc đẩy bền vững kinh tế. Như vậy, tín dụng ngân hàng trong bối

152

cảnh phát triển hệ thống tài chính hướng tới cấu trúc cân đối, chủ yếu đóng vai trò

cung ứng vốn ngắn hạn, và vốn dài hạn được phân bổ thông qua thị trường cổ phiếu và

trái phiếu.

Nguồn vốn tín dụng cần được xác định trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, hài

hòa với các nguồn vốn đầu tư khác như vốn đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu

tư nước ngoài, vốn đầu tư từ bản thân chủ sở hữu của các doanh nghiệp... NHNN cần

phối hợp chặt chẽ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để xác định quy mô vốn

tín dụng để đáp ứng các mục tiêu kinh tế xã hội trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã

hội năm năm được Quốc hội thông qua.

Hàng năm, NHNN đánh giá năng lực tài chính và năng lực quản trị rủi ro tín

dụng của các NHTM, yêu cầu các NHTM xây dựng phương án về tăng trưởng tín

dụng, cải thiện chất lượng hoạt động tín dụng, khả năng vốn để đáp ứng tăng trưởng

tín dụng. Trên cơ sở đó, NHNN đánh giá tổng thể kế hoạch của toàn hệ thống và có

các biện pháp điều chỉnh, hỗ trợ cho phù hợp. Các NHTM từng quý có báo cáo kết

quả, đánh giá và kiến nghị đối với NHNN để có biện pháp điều chỉnh hợp lý. Việc ban

hành một kế hoạch về tăng trưởng tín dụng trong trung hạn, song song với chỉ tiêu

tăng trưởng tín dụng hàng năm, sẽ mang lại những ích lợi đối với công tác điều hành

CSTT và quản lý tín dụng của các NHTM.

Một là: tăng cường sự phối hợp giữa điều hành chính sách tiền tệ - tín dụng với

các chính sách vĩ mô quan trọng khác như thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đầu tư

công… Cơ chế phối hợp này giúp cho các nguồn vốn được huy động, phân bổ và giám

sát một cách hiệu quả hơn, tránh được tình trạng vốn đầu tư tăng vọt trong một thời kỳ,

dẫn tới tình trạng tăng trưởng quá nhanh của nền kinh tế.

Hai là: việc đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong ngắn hạn trên cơ sở bám

sát mục tiêu dài hạn sẽ giúp công tác điều hành tín dụng của NHNN ổn định hơn, gắn

chặt chẽ hơn với các công tác điều hành khác liên quan tới lãi suất, cung tiền, tỷ giá,

thanh toán, thanh tra giám sát ngân hàng.

Ba là: trên cơ sở tăng trưởng tín dụng dài hạn do NHNN đề ra cho toàn ngành,

bản thân các NHTM sẽ có những hoạch định phù hợp về tăng trưởng tín dụng cho

mình. Điều này sẽ giúp các NHTM kiểm soát tăng trưởng tín dụng tốt hơn trước đây

khi tránh khỏi tình trạng tăng trưởng tín dụng quá cao trong một vài năm và phải gánh

chịu hậu quả chất lượng tín dụng suy giảm trong giai đoạn sau đó.

Bốn là: một mục tiêu phù hợp về tăng trưởng tín dụng sẽ giúp định hướng kỳ

vọng của công chúng vào điều hành chính sách của NHNN và chính sách tín dụng của

NHTM. Điều này sẽ khiến công chúng điều chỉnh hành vi đầu tư và tiêu dùng, góp

phần thúc đẩy hiệu quả và tiến độ của quá trình hướng tới các mục tiêu CSTT.

153

Thứ ba, xác định và định hướng tín dụng vào các lĩnh vực phát triển ổn định và

có khả năng hấp thụ vốn tốt trong bối cảnh kinh tế chưa phục hồi bền vững.

Nông nghiệp nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu là những lĩnh vực tiêu biểu mà

NHNN có thể tiếp tục chỉ đạo hệ thống NHTM hướng dòng vốn tín dụng, đặc biệt là

vốn tín dụng trung dài hạn trong thời gian tới thông qua các biện pháp hỗ trợ phù hợp.

Để những chính sách này được triển khai rộng khắp vào thực tiễn, NHNN cần thực

hiện các biện pháp hỗ trợ đối với các NHTM tham gia vào các lĩnh vực này như cho

phép các ngân hàng được vay tái cấp vốn với lãi suất ưu đãi, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc

đối với các ngân hàng có tỷ trọng dư nợ tín dụng cao đối với các lĩnh vực ưu tiên

cao… và dần chuyển sang các hỗ trợ phi tài chính như quy định về điều kiện được vay

tái cấp vốn, về mạng lưới hoạt động… Lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có tốc độ

tăng trưởng tốt, ít nhạy cảm với biến động kinh tế vĩ mô, nhưng vẫn thiếu hụt nguồn

vốn tín dụng phù hợp để có thể tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo đó, cần

có những nguồn vốn có quy mô lớn, thời hạn dài để các doanh nghiệp đầu tư, phát

triển những mô hình trang trại có quy mô (tạo ra lợi thế về quy mô), ứng dụng công

nghệ cao, từ đó tạo ra sức bật đối với sự phát triển của lĩnh vực này. Bên cạnh đó, tiếp

tục xây dựng mô hình thí điểm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ mới vào

cơ giới hóa nông nghiệp ví dụ mô hình cơ giới hóa đồng bộ sản xuất lúa, sản xuất rau

an toàn, chăn nuôi bò sữa…

Để xác định thêm các lĩnh vực có tiềm năng tăng trưởng khác nhưng bảo đảm

điều chỉnh cơ cấu tín dụng hợp lý, NHNN tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ,

ngành, hiệp hội ngành nghề nhằm xác định những lĩnh vực kinh tế tiềm năng của đất

nước trong thời gian tới nhằm đẩy mạnh tín dụng cho lĩnh vực này, góp phần tạo ra

bước đột phá thực sự trong phát triển kinh tế, thực hiện nhiệm vụ tái cấu trúc nền kinh

tế. Để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng tín dụng có kế hoạch và gắn với thực tế, Chính

phủ cần phối hợp các bộ ngành để đưa ra mục tiêu phát triển các lĩnh vực, ngành, vùng

miền kết hợp với mục tiêu cuối cùng về lạm phát, tăng trưởng kinh tế để từ đó xây

dựng mục tiêu tăng trưởng tín dụng gắn với cơ cấu tín dụng phù hợp. Điều này đỏi hòi

cần có một cơ chế phối hợp được thiết lập cụ thể, rõ ràng giữa NHNN (xây dựng và

ban hành các chính sách tín dụng), các NHTM (thực hiện các chính sách tín dụng), Bộ

Công Thương (quản lý các ngành nghề), Bộ Kế hoạch và đầu tư (quản lý cấp phép các

dự án đầu tư), và các Bộ quản lý chuyên ngành như Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và

phát triển nông thôn… Cơ chế phối hợp được xây dựng nhằm hướng tới việc trao đổi

thông tin kịp thời, chính xác về tình hình hoạt động của các lĩnh vực, ngành nghề có

tiềm năng phát triển, có nhu cầu vay vốn để ngành Ngân hàng hướng nguồn vốn tín

dụng tới đúng chỗ và đúng thời điểm. Bên cạnh đó, những khó khăn, tồn tại trong việc

154

tiếp cận và sử dụng vốn cũng sẽ được chia sẻ giữa các bên để tìm kiếm những biện

pháp điều chỉnh lại cơ cấu tín dụng, cơ cấu lại nợ, và các biện pháp hỗ trợ khác. Như

vậy, xây dựng cơ cấu tín dụng cần có sự hỗ trợ đồng bộ từ các cơ quan ban ngành có

liên quan, lên kế hoạch tổng hợp từ trên để từ đó giúp cho ngành ngân hàng triển khai

nhất quán.

Thứ tư, để khuyến khích tăng trưởng tín dụng từ phía cầu và giảm mức độ rủi ro

tín dụng ngay từ khi thẩm định, quyết định cho vay, ngành Ngân hàng có thể nghiên

cứu và triển khai các sản phẩm tín dụng phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực

Việc làm này là nhằm tăng khả năng mở rộng tín dụng cũng như hiệu quả tín

dụng như các gói sản phầm ưu đãi về lãi suất vay vốn, gói sản phẩm tín dụng dựa trên

chuỗi liên kết từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ; cho vay theo dòng tiền; hỗ trợ khách

hàng lập phương án sản xuất - kinh doanh, dự án đầu tư hợp lý, tìm kiếm thị trường

đầu ra cho sản phẩm, dịch vụ; cho vay liên kết giữa chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng,

nhà cung cấp vật liệu xây dựng và người mua nhà… Trong bối cảnh hiện nay, sự hợp

tác giữa các NHTM trong việc triển khai các sản phẩm tín dụng này là chưa cao, khiến

cho việc hình thành một chuỗi sản xuất liên kết trở nên khá khó khăn. Do vậy, vai trò

của NHNN phải là đơn vị đi đầu để tạo lập một khung hợp tác nhằm chia sẻ thông tin,

nguồn lực giữa các NHTM. Biện pháp phát triển gói sản phẩm tín dụng dựa trên chuỗi

liên kết và tìm kiếm thị trường đầu ra đa dạng cho sản phẩm sẽ giúp khách hàng vay

vốn hạn chế được những rủi ro trong quá trình giao dịch sản phẩm, dịch vụ, hạn chế

rủi ro tín dụng cho bản thân khách hàng và sau đó là NHTM. Biện pháp hỗ trợ khách

hàng lập phương án sản xuất - kinh doanh, dự án đầu tư sẽ giúp NHTM hiểu hơn về

khoản vay, đặc biệt là các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra, từ đó có các giải pháp kiểm soát

rủi ro phù hợp và kịp thời.

3.2.1.2. Hoàn thiện hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng

Việt Nam để thúc đẩy hoạt động mua và xử lý nợ xấu

VAMC chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7/2013 và bắt đầu mua nợ xấu

9/2013 đã có đóng góp tích cực vào công tác xử lý nợ xấu của hệ thống NHTM, góp

phần lớn vào việc đưa tỷ lệ nợ xấu về dưới mức 3% vào cuối năm 2015 theo đúng kế

hoạch. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình mua và xử lý nợ xấu, Thủ

tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 34/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều

của Nghị định số 53/2013/NĐ-CP, trao quyền và lợi ích nhiều hơn cho VAMC trong

hoạt động của mình. Trong thời gian tới, trước áp lực tiếp tục mua từ các NHTM, huy

động các nguồn lực để mua nợ xấu theo giá thị trường, cũng như để thực hiện hiệu quả

việc xử lý nợ xấu đã mua, tạo điều kiện cho hệ thống NHTM mở rộng tín dụng, cần

phải bổ sung và hoàn thiện các nội dung sau cho VAMC bao gồm: (i) hoàn thiện

155

khuôn khổ pháp lý; (ii) hoàn thiện chức năng, hoạt động; và (iii) cải thiện môi trường

xử lý nợ xấu.

Thứ nhất, về cơ sở pháp lý của VAMC

Cơ sở pháp lý của VAMC đóng vai trò quan trọng tới sự thành công của quá

trình xử lý nợ xấu. Theo đó, công tác chuyển nhượng các khoản nợ xấu từ các NHTM

cần phải được quy định rõ ràng với hành lang pháp lý thông thoáng nhất để tạo điều

kiện cho các giao dịch mua bán nợ xấu này diễn ra nhanh chóng. Những trở ngại pháp

lý cho việc chuyển giao nợ xấu cần được loại bỏ, ví dụ như việc bắt buộc phải có sự

đồng ý của khách hàng trước khi chuyển giao các khoản nợ xấu cho VAMC hay

VAMC không phải đang ký thay đổi bên nhận bảo đảm trong hợp đồng bảo đảm khi

mua lại khoản nợ xấu từ NHTM.

Để tăng cường hiệu quả của quá trình xử lý nợ xấu, cần phải giám sát hợp nhất

các NHTM, tránh trường hợp các NHTM bán các khoản nợ xấu cho các công ty AMC

trực thuộc với mức giá cao hơn mức giá hợp lý. Nghiệp vụ này thường được các

NHTM áp dụng như một biện pháp "làm đẹp" tình hình tài chính của mình. Một biện

pháp mà cơ quan giám sát có thể áp dụng là yêu cầu các NHTM tính toán hệ số an

toàn vốn trên phương diện hợp nhất bao gồm cả các AMC con của ngân hàng.

Thứ hai, về công tác quản trị công ty của VAMC

Quản trị công ty tốt là yếu tố cần thiết để bảo đảm hiệu quả hoạt động của

VAMC. VAMC cần có một Hội đồng thành viên bao gồm các thành viên từ đơn vị

chủ quản, đại diện của các cơ quan của Chính phủ, và không thể thiếu các thành viên

độc lập từ bên ngoài. Về các tiêu chí lựa chọn thành viên của Hội đồng thành viên của

VAMC, thành viên được bổ nhiệm phải là người có học vấn và kinh nghiệm ở cấp độ

cao trong một hoặc nhiều hơn một lĩnh vực bao gồm: a) Tài chính và kinh tế; b) Pháp

luật; c) Kế toán và kiểm toán; d) Hành chính công; e) Quản trị tín dụng; f) Dự án đầu

tư; g) Đầu tư và phát triển BĐS; h) Quản lý và kinh doanh BĐS; i) Định giá; j) Quy

hoạch đô thị; k) Ngân hàng và đầu tư; l) Phá sản và tái cơ cấu; m) Quản trị rủi ro. Hội

đồng thành viên cần có tối thiểu 03 thành viên độc lập từ bên ngoài (các trung tâm

nghiên cứu của Chính phủ, kiểm toán Nhà nước, hiệp hội doanh nghiệp...).

Quốc hội cần có cơ chế kiểm toán thường xuyên thông qua kiểm toán Nhà nước

(bên cạnh thanh tra của Chính phủ) hoặc kiểm toán độc lập đối với hoạt động của

VAMC để bảo đảm VAMC thực hiện nghiêm túc và hiệu quả những nhiệm vụ được

giao. Bản thân VAMC cần công bố các báo cáo tài chính, quy trình và phương pháp

xử lý nợ định kỳ thông qua các hình thức họp báo, đăng tải thông tin trên các phương

tiện đại chúng (đến nay vẫn có rất ít thông tin về hoạt động của VAMC được công bố

trên website của tổ chức này).

156

Thứ ba, về tiêu chí mua các khoản nợ xấu từ các tổ chức tín dụng của VAMC

Về nguyên tắc, VAMC chỉ nên mua những khoản nợ xấu mà VAMC có thể xử

lý hiệu quả hơn là để tự các NHTM xử lý. Ví dụ, các tài sản cố định như tài sản bị tịch

thu và các khoản vay yêu cầu tịch thu nhà là những lựa chọn tốt cho việc chuyển

nhượng cho VAMC xử lý. Mặt khác, các khoản nợ xấu mà NHNN nhận thấy bản thân

có khả năng tự tái cơ cấu và những khách hàng mà các NHTM muốn duy trì mối quan

hệ lâu dài thì có thể để lại để các NHTM tự xử lý. Các khoản nợ xấu với quy mô nhỏ,

mà tự bản thân NHTM có thể thực hiện thu hồi tốt hơn VAMC, cũng nên được để lại

cho các ngân hàng tự xử lý.

Để đạt được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, VAMC nên chuyển tất cả các khoản nợ

có liên hệ với nhau (ví dụ, các khoản vay của cùng một khách hàng, một nhóm khách

hàng hoặc các khoản vay liên quan đến cùng một loại tài sản thế chấp) thành một

nhóm và mua các khoản nợ này từ phía các NHTM. Do vậy, việc áp dụng nghiêm ngặt

Thông tư số 02/2013/TT-NHNN là một việc làm hết sức cần thiết để cùng lúc các

ngân hàng có thể nhận định chính xác chất lượng khoản nợ của doanh nghiệp, có các

biện pháp xử lý nợ xấu kịp thời.

Các khoản nợ xấu của một doanh nghiệp, cá nhân tại các NHTM khác nhau cần

được đánh giá và xử lý đồng thời, bất kể trường hợp khoản nợ tại một hoặc một số

NHTM không được phân loại vào nhóm nợ xấu. Cơ chế này sẽ tạo điều kiện để thực

hiện tái cấu trúc toàn diện doanh nghiệp, bảo đảm xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu.

Để việc lựa chọn các khoản nợ xấu được mua lại mang lại hiệu quả cao, VAMC

nên tập trung vào xử lý các khoản nợ xấu của tư nhân hơn là các khoản nợ xấu của các

doanh nghiệp Nhà nước. Kinh nghiệm xử lý nợ xấu tại các quốc gia trên thế giới cho

thấy việc AMC quốc gia bị yêu cầu xử lý các khoản vay theo chỉ định của Chính phủ,

thường không mang lại hiệu quả cao.

Thứ tư, về giá mua các khoản nợ xấu của VAMC

Việc mua các khoản nợ xấu của VAMC theo giá thị trường và giá gốc (đã trừ

khoản trích lập DPRR) bằng trái phiếu đặc biệt đồng thời yêu cầu các NHTM trích lập

DPRR cho các trái phiếu này là một phương án phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay

cũng như mục đích của NHNN về tái cơ cấu hệ thống NHTM gắn với tái cơ cấu các

doanh nghiệp, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Điều này hạn chế được những bất cập khi giá

mua nợ xấu cao hơn giá trị thị trường sẽ dẫn tới khả năng các NHTM bán hẳn cho

VAMC số tài sản xấu rất lớn và hình thành tâm lý đẩy nhanh các khoản nợ xấu ra khỏi

bảng cân đối kế toán mà không có trách nhiệm xử lý các khoản nợ này.

Đối với mua nợ xấu theo giá thị trường mà VAMC sẽ tiến hành trong thời gian

tới đây, thường rất khó để định giá tài sản xấu (đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng

157

tài chính), dựa trên khả năng phục hồi, dự báo dòng tiền (với tỷ lệ chiết khấu phù hợp),

và thẩm định tài sản thế chấp, VAMC nên xác định một giá trị xấp xỉ của các khoản nợ

và sử dụng cho mục đích của việc chuyển giao. Do thời gian là một vấn đề luôn được

quan tâm trong công tác xử lý nợ xấu và số lượng các khoản nợ xấu là rất nhiều, việc

chuyển giao sẽ diễn ra tại mức giá ban đầu với thỏa thuận rõ ràng giữa bên bán và bên

mua về mức giá cuối cùng của giao dịch được xác định sau khi giá trị của các tài sản

được VAMC đã được xử lý hoàn toàn. Ngoài ra, chuyển giao tài sản cho VAMC tại

mức giá thị trường đòi hỏi VAMC thực hiện một mục tiêu rõ ràng là thu hồi lại số vốn

bỏ ra ban đầu. Những hạn chế của phương pháp này là nó có thể làm giảm một phần

mong muốn bán các khoản nợ xấu cho VAMC do cả lợi ích và rủi ro chưa được xác

định chính xác tại thời điểm chuyển giao khoản nợ xấu. Trong trường hợp này, một số

thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận hoặc thua lỗ giữa VAMC và các NHTM có thể giúp khắc

phục vấn đề. Cần chú ý việc đưa ra một mức giá, hay một tỷ lệ thanh toán, cho một

loạt các khoản nợ xấu mặc dù đem lại sự đơn giản hóa và chuẩn hóa các quá trình định

giá lại có thể mang lại những bất lợi nhất định. Ví dụ, một hệ thống ở tất cả các mức

giá thống nhất được áp dụng cho các khoản vay không có bảo đảm trong cùng một

danh mục nợ xấu có thể sẽ khiến các NHTM lựa chọn bán các khoản nợ có giá trị thấp

nhất cho VAMC.

Trong trường hợp giữa VAMC và các NHTM không đi đến một thỏa thuận về

giá thị trường của các khoản nợ xấu, một tổ chức độc lập sẽ có trách nhiệm đánh giá

khách quan khoản nợ xấu này, và hai bên phải chấp nhận mức giá do tổ chức độc lập

đưa ra. Ngoài ra, VAMC và các NHTM có thể thỏa thuận với một mức giá bằng bình

quân mức giá các khoản nợ xấu tương tự đã được mua theo giá thị trường, đi kèm với

một cam kết khi thực hiện xử lý xong, các khoản lãi, hoặc lỗ từ việc xử lý sẽ được

phân chia lại theo một tỷ lệ nhất định. Điều này là cần thiết nhằm đẩy nhanh tiến độ xử

lý các khoản nợ xấu.

Việc xác định giá bán các khoản nợ xấu đã mua theo giá thị trường cho các nhà

đầu tư cũng là một vấn đề cần được lưu tâm. Nếu như quá trình xác định giá không

hợp lý, khả năng xảy ra thua lỗ cho VAMC sẽ rất cao, đặc biệt là trường hợp các

thương vụ mua bán kéo dài trong khi các tài sản bảo đảm bị hư hỏng, lỗi thời. Trong

trường hợp như vậy, VAMC sẽ trở nên rất ngần ngại trong việc mua và bán nợ xấu do

lo ngại bị thua lỗ và khiến cho VAMC bị âm vốn điều lệ (tức là làm giảm phần vốn

nhà nước tại tổ chức này).

Thứ năm, về quá trình chuyển giao nợ xấu từ các tổ chức tín dụng tới VAMC

Khi VAMC mua nợ xấu để hỗ trợ các NHTM thua lỗ nhưng vẫn có thể tiếp tục

hoạt động, việc chuyển giao nên được thực hiện một lần duy nhất, không được lặp lại

158

trong thời gian dài. Một thỏa thuận chuyển giao để ngỏ không hạn chế có thể tạo ra các

vấn đề rủi ro đạo đức trong tương lai, làm giảm đi chất lượng tín dụng của NHTM.

Một khía cạnh quan trọng của quá trình chuyển giao liên quan đến việc cung

cấp thông tin, tài liệu cũng như các hồ sơ về tài sản, đặc biệt là khi số lượng tài sản mà

VAMC tiếp quản là lớn. VAMC không nên chấp nhận mua các khoản vay mà các tài

liệu về các khoản vay và người đi vay, đánh giá nội bộ của các khoản vay, kế hoạch

kinh doanh và tài sản thế chấp không đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về mặt pháp lý.

Cuối cùng, để bán thành công các tài sản, VAMC cần phải tìm hiểu xem cá

nhân hay pháp nhân nào là chủ sở hữu của khoản vay này nhằm tránh những khiếu nại

có thể xảy ra, làm chậm quá trình xử lý các khoản nợ xấu.

Thứ sáu, về nguồn vốn sử dụng để mua nợ xấu của VAMC

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy toàn bộ nguồn tài trợ cho AMC thuộc sở hữu của

Chính phủ không nên chỉ huy động từ mỗi ngân sách, đặc biệt là khi các quy mô của

các khoản nợ xấu là tương đối lớn. Trong điều kiện ngân sách gặp khó khăn hiện nay

và trên nguyên tắc gắn trách nhiệm xử lý nợ xấu với nguồn gốc phát sinh nợ xấu,

VAMC phát hành trái phiếu đặc biệt để mua lại nợ xấu từ phía các NHTM là một giải

pháp hoàn toàn phù hợp. Đặc điểm của các trái phiếu này là có thể dùng để vay tái cấp

vốn từ phía NHNN với lãi suất ưu đãi trên tối đa 70% mệnh giá trái phiếu và các

NHTM phải tiến hành trích lập dự phòng rủi ro cho các trái phiếu đặc biệt này. Các

quy định tại Nghị định số 53/2013/NĐ-CP là một giải pháp hoàn toàn phù hợp với

điều kiện của Việt Nam hiện nay. Ngoài ra, áp lực huy động vốn đối với VAMC được

giảm thiểu cũng như NHNN có thể chủ động điều tiết lượng tiền cung ứng, tạo ra sự

phối hợp đồng bộ với CSTT. Song song với đó, việc tăng vốn điều lệ cho VAMC lên

2000 tỷ đồng (đã có đề xuất tiếp tục tăng vốn điều lệ cho VAMC – chưa chính thức)

để tổ chức này mua nợ theo giá thị trường cũng như phát hành trái phiếu để mua nợ

theo giá thị trường (tại Nghị định số 34/2015/NĐ-CP) đã được triển khai nhưng phải

đẩy nhanh tiến độ mua và xử lý để có thể quay vòng vốn nhanh chóng, vừa tăng tính

hiệu quả, kịp thời của việc mua nợ, tạo lập một thị trường mua bán nợ không chỉ cho

hiện tại mà là tiền đề cho giai đoạn xử lý nợ xấu sau này.

Trong thời gian tới, Chính phủ, NHNN cần xem xét cho phép VAMC bán các

khoản nợ xấu đã mua cho các nhà đầu tư quốc tế thông qua việc ban hành các cơ chế

chặt chẽ để vừa xử lý được các khoản nợ, thu hút được nguồn vốn, nhưng đảm bảo

được quyền lợi của nhà đầu tư, các khách hàng có nợ xấu nói riêng cũng như sự ổn

định của hệ thống tài chính, nền kinh tế Việt Nam nói chung. Nếu không tìm được các

nhà đầu tư với nguồn vốn dồi dào và khả năng xử lý nợ chuyên nghiệp thì rất khó có

khả năng tìm kiếm được nhà đầu tư trong nước có đủ khả năng tài chính và chuyên

159

môn để xử lý các khoản nợ này. Rất có thể, chính các NHTM sẽ là nhà đầu tư chủ chốt

vào các trái phiếu mà VAMC phát hành (đặc biệt là trong trường hợp trái phiếu được

Chính phủ bảo lãnh và mức lãi suất sau khi loại bỏ yếu tố rủi ro là cao hơn so với lãi

suất cho vay ra nền kinh tế). Như vậy, nguồn vốn thu được từ việc bán các khoản nợ

xấu ít có khả năng được đưa vào cấp vốn cho nền kinh tế.

Thứ bảy, về công tác xử lý các khoản nợ xấu đã mua được từ các tổ chức tín

dụng của VAMC

Ngay từ trước khi VAMC mua được các khoản nợ xấu từ các NHTM, VAMC

đã cần phải phân loại các khoản nợ xấu vào các nhóm khác nhau nhằm tạo điều kiện

cho việc quản lý cũng như xử lý các khoản nợ này. Đối với mảng xử lý nợ xấu đã mua,

hoạt động của VAMC nên được chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất là nhóm đánh

giá xem các khoản nợ xấu có thể tiếp tục duy trì tín dụng hay không. Trong trường hợp

khoản vay có khả năng phục hồi thì nhóm thứ nhất sẽ tiến hành các biện pháp như điều

chỉnh kỳ hạn trả nợ, thời hạn trả nợ, thay đổi mức lãi suất, thậm chí miễn giảm một

phần hay toàn bộ lãi, bán lại khoản nợ đã mua cho một NHTM khác, chuyển nợ thành

vốn góp, vốn cổ phần… Trường hợp khoản nợ không thể duy trì được, nhóm thứ hai

sẽ đề xuất thỏa thuận với các bên liên quan để xử lý TSBĐ, hoặc nếu không đạt được

thỏa thuận thì TSBĐ sẽ được đem ra bán đấu giá.

Ngoài ra, nhằm đạt được tỷ lệ thu hồi vốn tối đa, VAMC cần phải xử lý khoản

nợ xấu phù hợp với các điều kiện thị trường, đặc biệt là thị trường bất động sản khi mà

tiêu chí ưu tiên xử lý nợ xấu là có bảo đảm bằng bất động sản. Trong trường hợp

khoản vay đang trong giai đoạn thực hiện và giá trị tài sản nếu được xử lý ngay sẽ

mang lại hiệu quả sinh lời thấp, các NHTM và VAMC có thể tạo điều kiện tiếp tục cấp

vốn cho dự án này để khi thực hiện xử lý tài sản, đem lại hiệu quả cao nhất. Cần chú ý

rằng việc xử lý nhanh các TSBĐ chỉ nên áp dụng với các tài sản có mức độ khấu hao

nhanh như máy móc, thiết bị, hàng tồn kho...

Nhằm tối đa hóa giá trị thu hồi từ các khoản nợ xấu, hoặc từ thanh lý các

TSBĐ, việc phát mại các tài sản này có thể ảnh hưởng đến thị trường tài sản. Mục tiêu

xử lý nhanh chóng và thu hồi tiền từ các khoản nợ xấu đã mua sẽ tạo ra một lượng

cung lớn trên thị trường, khiến cho tỷ lệ thu hồi vốn bị giảm xuống. Tuy nhiên, cần

nhìn nhận rằng việc tích trữ các tài sản này mà không xử lý ngay thì các TSBĐ vẫn

được thị trường nhận thức và phản ánh vào mức giá cả trên thị trường tài sản, nên

AMC vẫn nên tập trung vào xử lý càng nhanh càng tốt các khoản.

Ngoài ra, khả năng thành công của công ty quản lý tài sản không chỉ phụ thuộc

vào các yếu tố từ bên trong mà còn chịu ảnh hưởng yếu tố bên ngoài bao gồm:

160

Thứ nhất, hệ thống pháp luật về quyền lợi của người cho vay hiệu quả

Hệ thống pháp luật cần phải xác định rõ các quyền của chủ sở hữu và các nghĩa

vụ giữa NHTM và khách hàng, có khả năng giải quyết thỏa đáng tranh chấp giữa các

bên, và tạo điều kiện thông thoáng cho việc xử lý tài sản thế chấp. Một vị thế pháp lý

tốt dành cho chủ nợ là yếu tố cần thiết cho việc xử lý thành công các khoản nợ xấu nên

các thủ tục pháp lý đầy đủ, rõ ràng, và nhanh gọn là điều hết sức quan trọng. Cũng

không kém phần quan trọng chính là các bộ luật tạo điều kiện cho NHTM hoặc

VAMC thực hiện quyền của chủ nợ với các khoản nợ, TSBĐ và thu nợ từ việc thanh

lý các TSBĐ nếu như khoản nợ không có khả năng được hoàn trả. Hơn thế nữa, các

công ty quản lý tài sản để thu hồi được giá trị tài sản một cách tối đa thì điều quan

trọng là nó phải có quyền đương nhiên bán tài sản thế chấp mà không cần sự đông ý

của khách hàng. Hệ thống luật phá sản chặt chẽ và được thực thi hiệu quả, thông qua

việc cung cấp một khuôn khổ để giải quyết có hiệu quả các khoản nợ xấu, có thể giúp

tăng cường kỷ luật tín dụng bằng cách hạn chế tình trạng những khách hàng có nợ xấu

cố tình trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với NHTM.

Thứ hai, xây dựng và áp dụng một khuôn khổ hoạt động ngân hàng theo chuẩn

mực quốc tế một cách hiệu quả

Khuôn khổ này sẽ đẩy nhanh quá trình và hỗ trợ công tác quản lý các khoản nợ

xấu. Đơn cử, một hệ thống phân loại nợ tốt sẽ cho phép cơ quan quản lý đánh giá quy

mô và chất lượng các khoản nợ xấu, và ngược lại xử lý nợ xấu không thể đạt được

mục tiêu khi các tổ chức này cố tình che giấu các khoản nợ xấu. Mức trích lập dự

phòng quy định thích hợp, phản ánh đúng giá trị của nợ xấu, là cần thiết để ngăn chặn

các tổ chức tài chính tiếp tục nắm giữ các tài sản này mà không có các biện pháp xử lý

kịp thời và thỏa đáng, khiến thị trường các tài sản thực lẫn tài chính rơi vào trạng thái

đình trệ.

Thứ ba, thiết lập một khung thuế phù hợp cho hoạt động xử lý nợ xấu

Một khung thuế thuận lợi sẽ có tác dụng thúc đẩy các giao dịch tài chính và quá

trình tái cấu trúc NHTM. Ví dụ, để tạo thuận lợi cho việc xử lý các khoản nợ xấu, thuế

giao dịch tài chính cần được loại bỏ, và nếu cần thiết, được thay thế bởi các loại thế

dựa trên thu nhập phát sinh từ các giao dịch tài chính này. Ngoài ra, việc cho phép

giảm trừ thuế đối với các khoản trích lập dự phòng sẽ khuyến khích hơn nữa các

NHTM ghi nhận chính xác mức độ nợ xấu.

Thứ tư, tạo lập một môi trường vĩ mô ổn định

Môi trường vĩ mô ổn định sẽ tạo điều kiện giảm thiểu những rủi ro khác ảnh

hưởng tới quá trình xử lý nợ xấu. Đơn cử trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư

vào các khoản nợ xấu thì việc duy trì tỷ giá ở mức ổn định, có thông báo trước sẽ

161

khuyến khích các nhà đầu tư hơn. Lãi suất được duy trì ở mức thấp sẽ hỗ trợ quá trình

xử lý nợ xấu khi các chủ thể đầu tư, nắm giữ các tài sản này sẽ giảm được chi phí tồn

đọng vốn tại các khoản nợ xấu.

3.2.1.3. Dần hạn chế các biện pháp hành chính trong điều hành lãi suất, hướng tới

sử dụng các công cụ gián tiếp

Việc áp dụng cơ chế can thiệp mang tính hành chính lên lãi suất thị trường chỉ

có tác dụng trong thời gian ngắn khi mà mức độ phát triển của thị trường tài chính còn

sơ khai, các công cụ kiểm soát gián tiếp chưa phát huy được hiệu quả, năng lực kiểm

soát thị trường tài chính của NHTW còn hạn chế… Về dài hạn, việc kiểm soát lãi suất

trực tiếp sẽ dẫn tới sự phát triển méo mó của thị trường tài chính, và dẫn tới sự mất ổn

định của nền kinh tế do lãi suất là một biến số có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của

nền kinh tế.

Từ tháng 6/2002, NHNN đã áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận, xóa bỏ biên độ

khống chế lãi suất cho vay, cho phép các NHTM và khách hàng tự thỏa thuận lãi suất

cho vay. Tuy nhiên từ năm 2007, NHNN đã áp dụng một số biện pháp mang tính hành

chính trong điều hành CSTT và đã phát huy tác dụng nhất định nhưng hệ quả để lại

cũng không hề nhỏ. Sau một giai đoạn thiết lập một cơ chế lãi suất khá chặt chẽ,

NHNN đã có những bước đi thận trọng để tiến tới tự do hóa lãi suất như cho phép các

NHTM và khách hàng thỏa thuận lãi suất đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở

lên, và sau đó là 6 tháng trở lên. Thị trường tiền tệ ổn định sau những lần điều chỉnh

trên và dự báo tiếp tục ổn định trong thời gian tới là cơ sở để NHNN tiến tới hạn chế

dần các công cụ trực tiếp và chuyển sang áp dụng các công cụ gián tiếp để định hướng

lãi suất thị trường. Điều này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết cũng như bài học kinh

nghiệm từ các quốc gia trên thế giới. Theo đó, quan điểm về tự do hóa lãi suất của Việt

Nam cần tập trung vào hai vấn đề sau:

Thứ nhất, về thời điểm và tốc độ tiến hành tự do hóa lãi suất. Về cơ bản, việc tự

do hóa lãi suất phải được tiến hành đồng thời với công cuộc tái cơ cấu hệ thống tài

chính và tái cấu trúc nền kinh tế. Đối với một quốc gia gặp phải tình trạng mất cân đối

vĩ mô và cân đối tài chính, các khung pháp lý và giám sát thị trường tài chính chưa

hiệu quả, hệ thống các NHTM còn nhiều yếu kém đòi hỏi phải tái cơ cấu như tại Việt

Nam, việc thực hiện tự do hóa lãi suất quá nhanh chóng sẽ gây ra những ảnh hưởng

tiêu cực. Hơn nữa, hệ thống DNNN hoạt động thiếu hiệu quả, hệ thống NHTM thiếu

sự cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, dịch vụ (chủ yếu cạnh tranh về giá thông qua

lãi suất), sự thiếu minh bạch thông tin của các khách hàng vay khiến cho việc xác định

lãi suất phù hợp với cung cầu vốn của thị trường trở nên khó khăn hơn. Tiến trình tự

do hóa lãi suất diễn ra nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào khả năng quản trị rủi ro lãi

suất của các ngân hàng và khách hàng vay vốn.

162

Thực tế Việt Nam cho thấy việc quá vội vàng áp dụng tự do hóa lãi suất (như

trong giai đoạn 2009 - 2010) trong khi các điều kiện chưa hội tụ đủ sẽ không mang lại

kết quả tích cực như kỳ vọng. Tự do hóa lãi suất sẽ dẫn đến mức độ cạnh tranh giữa

các NHTM tăng lên nhiều và kinh nghiệm thế giới cho thấy cạnh tranh tăng lên thường

mang lại hiệu ứng tiêu cực hơn là tích cực trong thời gian đầu khi các NHTM được

phép cho vay các nhu cầu với mức rủi ro cao để hỗ trợ nhu cầu vay mượn tăng lên khi

được giải tỏa về trần lãi suất (trước đây với mức trần lãi suất, các khách hàng có mức

độ rủi ro cao không thể tiếp cận được nguồn vốn tín dụng). Do vậy, quá trình tự do hóa

lãi suất cần phải được dựa vào những kết quả đạt được của quá trình cơ cấu lại hệ

thống các NHTM cũng như khả năng điều tiết của NHNN đối với những hành vi của

các NHTM.

Thứ hai, trình tự thực hiện đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định sự

thành công của tự do hóa lãi suất. Trình tự thực hiện không chỉ là việc dỡ bỏ các công

cụ gián tiếp đối với lãi suất huy động và cho vay mà còn liên quan đến các giao dịch

tiền tệ bán buôn và bán lẻ. Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy, lãi

suất bán buôn sẽ được tự do trước tiên, sau đó là đến lãi suất cho vay, và cuối cùng là

lãi suất huy động do trình tự này bảo đảm mức độ lợi nhuận cho hệ thống NHTM cũng

như cho phép các chủ thể trong nền kinh tế dần thích nghi với cơ chế lãi suất mới.

Do các NHTM có thể quản trị rủi ro lãi suất tốt hơn hệ thống doanh nghiệp và

cá nhân, và lãi suất trên TTLNH không tác động trực tiếp đến lãi suất trên thị trường

nên cần tiến hành tự do hóa lãi suất trên thị trường này trước tiên. Giải pháp này cũng

sẽ là một bước thử nghiệm mang tính thận trọng của NHNN về khả năng sẵn sàng hoạt

động trong cơ chế lãi suất tự do của các NHTM.

Việc nới lỏng dần các công cụ kiểm soát trực tiếp đối với lãi suất cho vay trước

khi áp dụng đối với lãi suất huy động sẽ giúp hạn chế tình trạng cạnh tranh về giá giữa

các NHTM, vốn dĩ đã xảy ra trong giai đoạn trước đây khi mặt bằng lãi suất trong nền

kinh tế luôn chịu áp lực tăng. Khi trần lãi suất huy động được can thiệp chặt chẽ và các

NHTM sẽ chỉ có thể điều chỉnh lãi suất cho vay để thu hút khách hàng, bản thân họ sẽ

phải (i) thực hiện các biện pháp cải thiện hoạt động của mình để giảm thiểu chi phí, từ

đó giảm lãi suất cho vay để cạnh tranh; (ii) định giá các khoản vay cho cơ sở rủi ro và

đưa ra mức phần bù rủi ro phù hợp; (iii) phát triển những yếu tố cạnh tranh khác về

chất lượng dịch vụ hơn là tập trung về giá (lãi suất cho vay).

Để hạn chế tình trạng vốn huy động mất ổn định khi thực hiện bỏ trần lãi suất

huy động, NHNN có thể ưu tiên thực hiện trước việc tự do hóa lãi suất đối với các

khoản tiền gửi của các khách hàng lớn, của hệ thống DNNN trước khi áp dụng đối với

163

các khoản tiền gửi của cá nhân. Tại Việt Nam, khi thị trường tiền tệ chưa phát triển và

mức độ minh bạch thông tin chưa cao, các doanh nghiệp với tiền nhàn rỗi lớn gần như

chỉ có giải pháp gửi tiền vào hệ thống NHTM nên việc áp dụng biện pháp này hoàn

toàn hợp lý. Thông qua kết quả áp dụng với đối tượng này, NHNN có thể xây dựng lộ

trình phù hợp hơn đối với tự do hóa lãi suất huy động đối với các khách hàng cá nhân.

Thực tiễn tự do hóa lãi suất tại một số quốc gia cho thấy việc tự do hóa lãi suất

thường dẫn tới sự gia tăng quá mức của tín dụng, gây ảnh hưởng tới ổn định kinh tế vĩ

mô. Đây cũng là hiện tượng đã xảy ra tại Việt Nam trong những năm 2006 và 2007 do

Việt Nam lúc đó đang trong đà tăng trưởng kinh tế mạnh. Với bối cảnh kinh tế Việt

Nam vẫn đang trong giai đoạn điều chỉnh như hiện nay, tăng trưởng kinh tế ở mức vừa

phải nhưng ổn định là điều kiện tốt để bảo đảm cho việc tự do hóa lãi suất không dẫn

tới những hệ quả như giai đoạn trước. Tuy vậy, NHNN vẫn cần thực hiện vai trò giám

sát diễn biến huy động lẫn tín dụng trên thị trường và có các biện pháp can thiệp kịp

thời để bảo đảm mục tiêu ổn định vĩ mô luôn được ưu tiên hàng đầu. Ngoài ra, việc tự

do hóa lãi suất cần phải được thực hiện rất thận trọng với việc NHNN cần phải hoàn

thiện các công cụ gián tiếp, đặc biệt là nghiệp vụ thị trường mở, và xây dựng môi

trường truyền tải tốt để bảo đảm khả năng can thiệp thông qua cơ chế gián tiếp.

3.2.1.4. Củng cố và chấn chỉnh kỷ cương thị trường tiền tệ - tín dụng trên cơ sở

thực hiện hiệu quả công tác thanh tra - giám sát ngân hàng

NHNN cần xây dựng hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng hiện đại và hiệu

quả trên cơ sở đáp ứng đầy đủ những thực tiễn phát triển nhanh chóng của hệ thống

NHTM, dần áp dụng và tiến tới thực hiện đầy đủ các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế

về thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối

cảnh hệ thống NHTM đang phát triển nhanh chóng, thị trường tài chính mở rộng về

quy mô cũng như nâng cao về chất lượng, hội nhập sâu hơn vào kinh tế quốc tế. Trong

bối cảnh như vậy, NHTM là nhóm đối tượng chắc chắn phải chịu những cú sốc từ kinh

tế và thị trường tài chính khu vực.

Xuất phát từ tính cấp thiết đó, NHNN cần tăng cường công tác thanh tra, giám

sát hoạt động của các NHTM đảm bảo hoạt động an toàn, đúng quy định của pháp luật

về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định

của cơ quan quản lý nhằm củng cố và chấn chỉnh lại kỷ cương thị trường.

a/ Đối với các yếu tố bên trong

 Hoàn thiện các điều kiện tiên quyết cho hệ thống thanh tra, giám sát ngân

hàng hiệu quả.

164

 Xây dựng Luật thanh tra, giám sát ngân hàng để tạo cơ sở vững chắc và rõ

ràng cho hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng.

 Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy thanh tra theo chiều dọc từ NHTW tới

các chi nhánh, tạo mức độ độc lập cho hoạt động thanh tra thông qua việc thành lập Cơ

quan thanh tra giám sát để thực hiện đầy đủ các chức năng cấp phép, ban hành quy chế

an toàn hoạt động ngân hàng; giám sát từ xa (off-site); thanh tra tại chỗ (on-site); và xử

lý vi phạm.

 Phân định rõ cơ chế và trách nhiệm phối hợp giữa Cơ quan thanh tra giám

sát ngân hàng và Vụ ổn định tài chính – tiền tệ.

 Bảo đảm Cơ quan thanh tra giám sát có đầy đủ quyền trong quá trình thực

hiện nhiệm vụ bao gồm: yêu cầu báo cáo thông tin, thực hiện các nghiệp vụ thanh tra,

kiến nghị xử lý, và thực hiện xử lý một cách độc lập và khách quan.

 Đổi mới và nâng cao hiệu quả phương pháp thanh tra, giám sát ngân hàng

 Phương thức thanh tra, giám sát phải có giám sát từ xa và thanh tra tại

chỗ; mặc dù đã được triển khai nhưng cần phải được cải tiến và hoàn thiện hơn nữa

cho phù hợp với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính trong quá

trình hội nhập.

 Nhanh chóng đổi mới cho phù hợp với thông lệ quốc tế, áp dụng chuẩn

mực Thanh tra ngân hàng thế giới Basel II vào Việt Nam. Bảo đảm an toàn và tính

toàn vẹn của hệ thống ngân hàng trên cơ sở tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh

thông qua xây dựng cơ chế quản lý đi đôi với cơ chế giám sát ngân hàng hữu hiệu và

phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế.

 Hoàn thiện hệ thống quy chế quản lý và biện pháp thận trọng trong lĩnh

vực ngân hàng theo hướng phù hợp với nguyên tắc thị trường và cam kết mở cửa thị

trường dịch vụ ngân hàng, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trên cơ sở từng bước tạo sân

chơi bình đẳng, loại bỏ các rào cản gia nhập thị trường và tiếp cận dịch vụ ngân hàng

trước đây.

 Xây dựng thể chế giám sát ngân hàng đi đôi với thực hiện cơ chế giám sát

dựa trên cơ sở rủi ro và xây dựng Luật giám sát an toàn hoạt động ngân hàng trên

nguyên tắc cài thiện tính độc lập gắn liền nâng cao với tính trách nhiệm và minh bạch

của Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng.

 Không ngừng hoàn thiện cơ sở hạ tầng hỗ trợ giám sát hoạt động ngân

hàng. Đổi mới hệ thống kế toàn ngân hàng phù hợp với các chuẩn mực kế toán quốc tế

để tạo điều kiện cho các NHTM ứng dụng công nghệ quản trị ngân hàng hiện đại và

tạo rào chắn chống lại sự lạm dụng và gian lận, trong đó đặc biệt lưu ý đến chuẩn mức

kế toán Mỹ và kế toán quốc tế trong xu hướng hợp nhất giữa hai chuẩn mực này.

165

 Hiện đại hoá hạ tầng công nghệ thông tin, báo cáo phục vụ mục đích giám

sát an toàn hoạt động ngân hàng. Tăng cường quy chế công bố thông tin, nâng cao chất

lượng và mức độ tin cậy của thông tin thông qua cải thiện chất lượng và hiệu quả của

kiểm toán độc lập.

 Xây dựng và vận hành có hiệu quả cơ chế thực thi đấu tranh chống tội

phạm trong lĩnh vực ngân hàng, trong đó quan tâm hơn đến việc hoàn thiện tổ chức bộ

máy và cơ chế vận hành Trung tâm Thông tin chống rửa tiền.

 Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng cần tăng cường trao đổi thông tin

và phối hợp với các quan giám sát tài chính trong nước và ngoài nước trong việc triển

khai giám sát các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.

 Đổi mới thanh tra, giám sát ngân hàng phải trên cơ sở chương trình, kế

hoạch, có chiến lược phát triển rõ ràng.

 Đổi mới thanh tra, giám sát ngân hàng cần đồng thời đổi mới nâng cao

năng lực tự quản trị của các NHTM. Cơ chế tự chủ trong kinh doanh được tăng cường

cũng đồng nghĩa với việc các NHTM phải tự quản trị, tự chịu trách nhiệm về hoạt

động kinh doanh và đầu tư của mình. Về mặt lý thuyết là phải có sự cân bằng và tương

xứng về quy mô, tốc độ phát triển kinh doanh với khả năng quản trị của các NHTM.

Đồng thời khi khả năng tự quản trị của NHTM được tăng cường thì cơ chế thanh tra,

giám sát của thanh tra, giám sát ngân hàng cũng sẽ đổi mới; có như vậy, việc đổi mới

về tổ chức và hoạt động của thanh tra, giám sát ngân hàng mới phù hợp, mới thúc đẩy

các NHTM phát triển tốt hơn.

 Đầu tư và phát triển nguồn nhân lực cho hệ thống thanh tra, giám sát ngân

hàng phải được đặc biệt coi trọng và xem như yếu tố quyết định để tạo ra chuyển biến

có tính đột phá trong ngắn hạn và đảm bảo sự phát triển bền vững trong dài hạn của hệ

thống thanh tra, giám sát ngân hàng. Để tiếp tục nâng cao chất lượng của hoạt động

thanh tra, giám sát ngân hàng, thì cần phải chú trọng nội dung nâng cao trình độ

nghiệp vụ của thanh tra viên, tập trung vào kỹ năng quản trị rủi ro, công nghệ ngân

hàng và dịch vụ tài chính mới, quản trị ngân hàng hiện đại, các kỹ năng bổ trợ như

phân tích tài chính, hoạt động NHTM. Xử lý nghiêm những vi phạm đạo đức nghề

nghiệp cho dù là nhỏ đồng thời có chế độ đãi ngộ phù hợp đối với những thanh tra

viên có năng lực, trình độ chuyên môn giỏi.

 Cần đổi mới mạnh mẽ khâu tổ chức thực hiện. Trong quá trình đổi mới,

thanh tra, giám sát ngân hàng phải quan tâm, tránh tình trạng có nhiều giải pháp, biện

pháp, kế hoạch đổi mới nhưng không có kết quả cụ thể do khâu tổ chức thực hiện yếu.

Các biện pháp, các điều kiện để tổ chức thực hiện phải được cụ thể hoá trong các kế

166

hoạch đổi mới, trong từng nội dung đổi mới, tránh tình trạng chung chung. Các biện

pháp thực hiện phải giải quyết được cơ bản và triệt để những vấn đề đặt ra trong các

nội dung cần đổi mới; phải xác định rõ trách nhiệm cụ thể của từng đơn vị, từng cá

nhân, kể cả trách nhiệm giám sát, theo dõi quá trình tổ chức thực hiện.

 Sử dụng hiệu quả việc công bố thông tin nhằm làm mạnh kỷ luật thị

trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát. Yêu cầu các NHTM cần phải

công khai thông tin một cách thích đáng, đầy đủ và minh bạch theo nguyên tắc thị

trường bao gồm các tài liệu, thông tin, báo cáo về tình hình hoạt động, kinh doanh theo

định kỳ hay đột xuất. Qua đó có cơ sở để thực hiện các biện pháp chấn chỉnh vi phạm

các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng và nguy cơ mất khả năng chi trả

một cách kịp thời và hoàn thiện "Hệ thống cảnh báo sớm" nhằm dự báo sớm rủi ro hệ

thống trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn còn có nhiều biến động phức tạp.

b/ Đối với các yếu tố bên ngoài

Một hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả cần dựa trên một số nhân

tố bên ngoài hay còn gọi là một số điều kiện tiền đề. Mặc dù những điều kiện tiền đề

này nằm ngoài khả năng tác động trực tiếp của thanh tra, giám sát ngân hàng nhưng lại

có tác động trực tiếp lên tính hiệu quả trong thực tế. Khi có những thiếu sót tồn tại,

thanh tra, giám sát ngân hàng cần kiến nghị với Chính phủ và NHNN về những thiếu

sót đó và những tác động trở lại mang tính tiêu cực thực sự hay tiềm tàng của chúng

đối với các hoạt động thanh tra ngân hàng. Đồng thời, đúng như với vai trò của mình,

thanh tra, giám sát ngân hàng cần phải làm giảm nhẹ những tác động của những hậu

quả đó nhằm đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát các ngân hàng.

Các nhân tố bên ngoài tác động đến hoạt động thanh tra bao gồm:

 Chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý: Chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý là nền

móng của một hệ thống tài chính ổn định. Mặc dù mức độ hợp lý của chính sách kinh

tế vĩ mô không nằm trong khả năng tác động của thanh tra ngân hàng nhưng thanh tra

ngân hàng cần phải hành động cần thiết nếu như nhận biết những chính sách hiện tại

đang làm giảm đi sự hiệu quả và lành mạnh của hệ thống ngân hàng.

 Kết cấu hạ tầng công cộng phát triển tốt: Một hệ thống kết cấu hạ tầng phát

triển tốt cần bao gồm những nhân tố sau:

 Một hệ thống các luật doanh nghiệp, bao gồm luật hợp nhất, luật phá sản,

luật bảo vệ người tiêu dùng và luật tài sản cá nhân… được thi hành nghiêm chỉnh và là

cơ sở để giải quyết ổn thoả những tranh chấp;

 Những chuẩn mực kế toán toàn diện và rõ ràng được quốc tế chấp nhận;

 Một hệ thống kiểm toán độc lập cho các công ty tầm cỡ, nhằm đảm bảo

167

người sử dụng báo cáo tài chính có sự đảm bảo độc lập rằng kế toán cung cấp thông

tin trung thực và hợp lý về tình hình tài chính của công ty và những báo cáo đó được

hình thành dựa trên những chuẩn mực kế toán đã được thiết lập; trong đó các kiểm

toán viên phải chịu trách nhiệm đối với công việc của họ;

 Một bộ máy tư pháp hiệu quả và độc lập, hệ thống kế toán, kiểm toán

được kiểm soát tốt và ngành luật phát triển;

 Có sự thanh tra, giám sát đầy đủ và hiệu quả các thị trường khác trong nền

kinh tế;

 Một hệ thống thanh toán và thanh toán bù trừ an toàn, hiệu quả cho các

giao dịch tài chính trong đó các rủi ro đối tác được kiểm soát.

Nếu các nhân tố trên còn khiếm khuyết thì chúng có thể gây ra tình trạng yếu

kém cho hệ thống tài chính và các thị trường khác trong nền kinh tế, hoặc gây ra

những cản trở cho sự phát triển của các thị trường đó.

- Thị trường hiệu quả: các chủ thể tham gia thị trường cần phải nắm được thông

tin một cách tương đối đẩy đủ, hạn chế tới mức có thể những trường hợp thông tin mất

cân xứng làm ảnh hưởng tới quyết định của chủ thể tham gia thị trường. Việc Chính

phủ can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng cần phải được

xem xét để hạn chế dần.

- Các cơ chế đáp ứng được việc cung cấp một mức độ hợp lý cho bảo vệ hệ

thống (bảo vệ công chúng): Nhìn chung, quyết định mức độ hợp lý cho bảo vệ hệ

thống là một câu hỏi chính sách cần được giải đáp bởi các cơ quan quyền lực. Thanh

tra ngân hàng đóng góp một vai trò quan trọng vì sự hiểu biết sâu sắc của họ về hệ

thống ngân hàng. Sẽ là rất cần thiết để chỉ ra sự khác biệt rõ ràng giữa vai trò bảo vệ

hệ thống và vai trò thanh tra các ngân hàng. Khi giải quyết những vấn đề về hệ thống,

một mặt cần phải đánh giá chính xác các rủi ro có ảnh hưởng xấu tới sự tự tin của hệ

thống tài chính và sự lây lan từ những tổ chức tài chính đã và đang lâm vào tình trạng

yếu kém đến các tổ chức tài chính lành mạnh; mặt khác cần tối thiểu hoá sự bóp méo

những tín hiệu thị trường. Ở nhiều quốc gia, cơ cấu tổ chức của sự bảo vệ hệ thống bao

gồm một hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Những hệ thống như vậy nếu được thiết kế tốt

nhằm hạn chế rủi ro đạo đức sẽ làm tăng sự tin tưởng của công chúng vào hệ thống tài

chính và giảm thiểu sự lan truyền trong cuộc hoảng loạn ngân hàng. Thanh tra ngân

hàng tại các quốc gia phát triển đã nghiên cứu và áp dụng nhiều hệ thống thanh tra

ngân hàng tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả của thanh tra ngân hàng trong thời kỳ mới

khi mà có những thay đổi lớn trên thị trường tài chính và quá trình toàn cầu hóa diễn ra

mau chóng, sâu rộng.

168

3.2.1.5. Giảm độ trễ trong điều hành chính sách tiền tệ

Độ trễ trong điều hành CSTT tại các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt

Nam, là khá lớn thể hiện ở cả ba khâu, từ khâu xác định các vấn đề của nền kinh tế đòi

hỏi cần có sự can thiệp chính sách cho đến khâu xây dựng và thông qua CSTT phù

hợp, và đến khâu cuối cùng là từ lúc chính sách được thực thi cho tới khi phát huy tác

động. Không chỉ làm giảm hiệu quả của chính sách, mà việc ban hành chính sách

chậm có thể dẫn tới tình trạng phản tác dụng do vào thời điểm CSTT phát huy hiệu lực

thì nền kinh tế đã trở lại vị trí ban đầu nhờ cơ chế tự điều chỉnh trong nền kinh tế.

Để giảm thời gian trễ trong điều hành CSTT cần phải tăng cường hiệu quả của

công tác thu thập số liệu và xây dựng các mô hình dự báo các chỉ tiêu vĩ mô. Trên cơ

sở thông tin và dự báo tốt, NHNN có thể sớm nhận biết được những vấn đề tiềm ẩn

của nền kinh tế để nhanh chóng xây dựng và bàn hành các giải pháp phù hợp. Vụ Dự

báo và thống kê tiền tệ cần xây dựng mô hình định lượng trong công tác dự báo vĩ mô

thông qua các mô hình kinh tế lượng hiện đại trong khi Cơ quan thanh tra, giám sát

ngân hàng cần xây dựng các mô hình dự báo khủng hoảng ngân hàng, các mô hình

kiểm tra sức chịu đựng của hệ thống NHTM... Ví dụ, các mô hình dự báo lạm phát tốt

đóng vai trò quan trọng trong việc sớm đưa ra được các biện pháp can thiệp vào thị

trường, hạn chế tối đa việc khi chính sách được ban hành thì lạm phát đã ở mức cao

hoặc phải sử dụng liều lượng mạnh, ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế.

Đối với việc giảm thời gian từ khi ban hành chính sách đến khi chính sách tác

động tới các mục tiêu thì cần phải tăng thực hiện các biện pháp để tăng cường mức độ

nhạy cảm của đầu tư và tiêu dùng với lãi suất, mức độ nhạy cảm của cầu tiền đối với

lãi suất và cơ chế tăng cường hiệu quả của CSTT thông qua việc lành mạnh hoá tình

hình tài chính hệ thống các NHTM và phát triển thị trường liên ngân hàng. Do điều

hành CSTT có độ trễ nhất định từ khi ban hành chính sách đến khi chính sách thực sự

phát huy hiệu quả (nên thực hiện các chính sách cần phải có sự cam kết thực hiện cũng

như thực hiện một cách kiên định trong thời gian dài tương ứng. Nhờ vậy mà các chủ

thể trong nền kinh tế nhận thức được mục đích và hành vi của NHTW, từ đó điều

chỉnh các hành vi của mình trong điều kiện mới, góp phần giúp CSTT phát huy hiệu

quả nhanh hơn. NHNN cũng cần nghiên cứu và xây dựng các mô hình kinh tế lượng

về cơ chế truyền tải tiền tệ nhằm tiến hành phân tích và hoạch định CSTT. Sử dụng kết

quả của các mô hình này giúp đo lường được mức độ phản ứng của của các mục tiêu

trung gian cũng như mục tiêu cuối cùng trước những điều chỉnh của các công cụ CSTT

đồng thời khoảng thời gian trễ của các phản ứng này.

169

3.2.1.6. Đổi mới công tác điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam vừa tạo ra cơ hội đồng thời đặt ra không

ít thách thức đối với công tác điều hành CSTT của NHNN lẫn hiệu quả CSTT. Ảnh

hưởng tích cực lấn át ảnh hưởng tiêu cực hay ngược lại phụ thuộc vào diễn biến kinh tế thế giới nhưng phần lớn lại phụ thuộc những thay đổi trong tư duy và biện pháp

điều hành CSTT của NHNN cũng như những cải cách để thích ứng với bối cảnh hội

nhập kinh tế quốc tế của nền kinh tế.

Điều hành CSTT của NHNN nhờ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ có

những thay đổi tích cực do sự phát triển của thị trường tài chính, của các công cụ CSTT linh hoạt và hoạt động điều hành cũng trở nên độc lập hơn chính bởi đòi hỏi của

hội nhập kinh tế. Những thay đổi này có thể giúp công tác điều hành CSTT trở nên linh hoạt, hiệu quả hơn như (i) các công cụ CSTT gián tiếp có điều kiện được sử dụng

và phát huy tác dụng; (ii) thị trường tiền tệ và thị trường vốn phát triển mạnh và mang

tính toàn cầu; (iii) mức độ độc lập trong điều hành CSTT được tăng cường; (iv) thúc

đẩy cải cách hoạt động điều hành CSTT hướng tới các thông lệ và chuẩn mực quốc tế;

(v) tạo ra cơ hội hợp tác, trao đổi thông tin và phối hợp hành động với các NHTW trên

phạm vi khu vực và toàn cầu; (vi) kỷ luật ngân sách được tăng cường và điều hành

CSTK được thực hiện theo hướng thận trọng hơn để hướng tới mục tiêu ổn định kinh

tế vĩ mô, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều hành CSTT.

Tuy nhiên, quá trình hội nhập gắn liền với quá trình tự do hoá thị trường tài

chính sẽ tạo ra nhiều thách thức. Ngoài những thách thức mà các NHTM phải khắc

phục trong việc cạnh tranh để duy trì và mở rộng thị phần cũng đặt ra những thách

thức lớn cho NHNN trong việc kiểm soát luồng vốn, điều tiết tiền tệ, lãi suất, tỷ giá

trước những tác động thường xuyên và khó lường của thị trường tài chính quốc tế,

cũng như sự vận hành của nền kinh tế với quy mô và đặc điểm khác trước khi hội nhập

kinh tế quốc tế… Vì vậy, NHNN nhận thức được những khó khăn trong điều hành

CSTT và có biện pháp phù hợp: (i) lựa chọn các mục tiêu và thực thi các công cụ

CSTT phù hợp khi mức độ tự chủ CSTT bị giảm đi phần nào dưới tác động của hội

nhập tài chính; (ii) phát triển thị trường tiền tệ liên ngân hàng và lành mạnh hóa hệ

thống NHTM nhằm nâng cao hiệu quả truyền tải khi cơ chế truyền tải CSTT đối mặt

với nhiều thách thức như sự gia nhập của các tổ chức tài chính phi ngân hàng, sự biến

động của lượng tiền gửi ngoại tệ, mức độ cạnh tranh giữa các NHTM gia tăng…; (iii)

kiểm soát lượng cung ứng tiền tệ chặt chẽ trước nguy cơ tiềm ẩn lạm phát cao do

nguồn vốn đầu tư gia tăng; (iv) cơ cấu kinh tế thay đổi đòi hỏi điều chỉnh cơ cấu tín

dụng từ phía hệ thống NHTM; (v) CSTT trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào CSTT của

170

các quốc gia khác; (vi) nâng cao khả năng dự báo và ứng phó trong bối cảnh thị trường

tài chính tiền tệ dễ xảy ra biến động khó lường.

3.2.1.7. Kiểm soát hiệu quả vấn đề thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại

Áp lực huy động vốn đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng trong bối cảnh thị

trường tài chính phát triển không đồng đều dẫn đến thanh khoản của hệ thống NHTM

dễ rơi vào tình trạng căng thẳng trước các cú sốc. Hệ thống NHTM phải sử dụng một

tỷ trọng lớn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, huy động vốn trên thị trường liên

ngân hàng để cho vay lại với các khách hàng, thiếu hụt các tài sản tài chính có tính

lỏng cao khiến cho mỗi khi NHNN thắt chặt CSTT, các ngân hàng nhanh chóng bị

thiếu hụt thanh khoản trên phạm vi rộng và phải dựa vào sự hỗ trợ từ phía NHNN để

bảo đảm an toàn hoạt động.

Để giải quyết được vấn đề này, NHNN cần kiểm soát được (i) tỷ trọng vốn ngắn

hạn sử dụng cho vay trung dài hạn, đầu tư vào trái phiếu dài hạn và các khoản mục có

tính chất dài hạn trên bảng cân đối tài sản của ngân hàng; (ii) tình hình đi vay và cho

vay của từng ngân hàng trên TTLNH, đặc biệt là các ngân hàng có các khoản mục kể

trên chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản, tổng nguồn vốn; (iii) tình hình dự trữ, nắm

giữ các tài sản có tính thanh khoản cao so với các khoản nợ ngắn hạn và các khoản nợ

tiềm tàng… Khi phát hiện các ngân hàng có dấu hiệu tiệm cận mức rủi ro thanh khoản,

NHNN cần triển khai các biện pháp tùy thuộc vào mức độ trầm trọng của vấn đề tại

ngân hàng và vị trí của ngân hàng trong hệ thống để lấy lại cân bằng thanh khoản cho

ngân hàng. Ngoài ra, trước khi ban hành CSTT, NHNN cần nhận định mức độ ảnh

hưởng của việc điều chỉnh chính sách sẽ có tác động như thế nào tới thanh khoản của

từng ngân hàng, nhóm ngân hàng và toàn hệ thống do mức độ liên quan trong hệ thống

ngân hàng là rất lớn. Khi đã nhận định được mức độ ảnh hưởng, NHNN mới lựa chọn

công cụ chính sách và mức độ điều chỉnh phù hợp để triển khai.

Trong bối cảnh phát triển thị trường tài chính tiền tệ như hiện nay, cấp tín dụng

trung, dài hạn đối với các dự án xây dựng, kinh doanh bất động sản vẫn xuất phát từ

phía hệ thống NHTM là chủ yếu. Đây là hoạt động gây ra nhiều rủi ro đối với hệ thống

ngân hàng, trong đó có rủi ro thanh khoản do các dự án này có thời gian thu hồi vốn

dài và phụ thuộc nhiều vào tính thanh khoản của thị trường bất động sản. Khi cấp tín

dụng cho các dự án loại này (có thể là cho vay chủ đầu tư, nhà thầu, và các khách hàng

đầu tư), ngoài việc yêu cầu các NHTM cần đánh giá một cách thận trọng rủi ro thanh

khoản và có các biện pháp phòng ngừa phù hợp, NHNN cần phối hợp với Bộ Xây

dựng để tăng cường hơn nữa tính minh bạch của thị trường cũng như tăng cường kiểm

soát hoạt động này tại các NHTM.

171

3.2.2. Nhóm giải pháp đối với các ngân hàng thương mại

3.2.2.1. Cơ cấu lại nguồn vốn của các ngân hàng thương mại

Sự yếu kém của hệ thống NHTM thể hiện ở những bất cập từ phía tài sản và

nguồn vốn là những nhân tố cản trở công tác truyền tải các công cụ CSTT của NHNN

tới nền kinh tế. Không dừng lại ở đó, những bất cập trong hệ thống NHTM còn đe dọa

nghiêm trọng tới sự ổn định của hệ thống tài chính và nền kinh tế vĩ mô. Xuất phát từ

thực trạng này, hướng tới hoàn thiện vai trò của hệ thống NHTM đối với sự ổn định

kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế bền vững, mà trong ngắn hạn là bảo đảm hiệu quả

truyền tải CSTT qua kênh tín dụng, cần phải tiến hành cơ cấu lại toàn diện hệ thống

NHTM, trong đó tập trung vào cả hai bên của bảng cân đối tài sản.

Thứ nhất, giảm tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn

Trước khi có Thông tư số 36/2014/TT-NHNN, các NHTM được phép sử dụng

tối đa 30% vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và vào cuối năm 2014, các tỷ lệ này tại

các NHTM đã tiệm cận mức cho phép. Thông tư số 36/2014/TT-NHNN có hiệu lực từ

1/2/2015 đã tăng tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn lên 60% và nếu

theo dự thảo Thông tư sửa đổi Thông tư số 36/2014/TT-NHNN là mức 40% thì các

ngân hàng cũng đều tiệm cận mức quy định này do tỷ lệ này đã tăng đáng kể trong

năm 2015. Tuy nhiên, quy định về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cần được

quy định chặt chẽ hơn để tránh tình trạng dù cùng là cho vay trung dài hạn nhưng

khoản vay có thời hạn 5 năm cũng được tính toán như khoản vay có thời hạn 2 năm.

Tương tự như vậy đối với nguồn vốn ngắn hạn. NHNN nên quy định một tỷ lệ bình

quân gia quyền hoặc sử dụng các trọng số là tỷ trọng các kỳ hạn thực tế của các khoản

cho vay trước đây để áp dụng vào tính toán tỷ lệ vốn ngắn hạn tối đa được phép cho

vay trung dài hạn. Chỉ tiêu này sẽ phản ánh chính xác hơn sự mất cân đối về kỳ hạn

giữa hoạt động huy động và cho vay trên thị trường 1. Trường hợp một ngân hàng

vượt quá tỷ lệ tối đa, ngân hàng buộc phải dừng các hoạt động cho vay trung dài hạn

và thực hiện các điều chỉnh nhằm đưa tỷ lệ này về mức cho phép sau một khoảng thời

gian nhất định.

Thứ hai, phát triển các sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn dài

Trong bối cảnh lạm phát tại Việt Nam vẫn ở mức cao và có nhiều biến động, kỳ

vọng về lạm phát chưa hoàn toàn kiểm soát được, việc phát triển các sản phẩm tiền gửi

với lãi suất thả nổi với phần bù rủi ro thanh khoản ở mức phù hợp là một giải pháp tốt.

Thay vì phải trả mức lãi suất huy động luôn có xu hướng biến động mạnh và khó dự

đoán, các NHTM có thể trả một mức lãi suất thả nổi nhằm bảo đảm mức mức sinh lời

thực cho người gửi tiền. Ngoài ra, một mức phần bù rủi ro thanh khoản cho các khoản

tiền gửi có kỳ hạn dài được nghiên cứu trên cơ sở mức độ nhạy cảm của tiền gửi với

172

biến động lãi suất sẽ hạn chế được tình trạng rút vốn của các khách hàng. Các sản

phẩm huy động tiền gửi cần được gắn liền với nhiều dịch vụ ngân hàng không sử dụng

tiền mặt cũng là một biện pháp tốt để tạo sự ổn định của lượng tiền gửi.

Thứ ba, tăng cường huy động nguồn vốn trung dài hạn thông qua phát hành

giấy tờ có giá

Tỷ trọng giấy tờ có giá trung và dài hạn trong tổng nguồn vốn của hệ thống

NHTM ở mức rất thấp, khiến cho áp lực lên huy động nguồn tiền gửi là rất lớn. Mặc

dù các khoản tiền gửi tiết kiệm có thể sử dụng để cầm cố vay vốn nhưng các khoản

tiền gửi thường có xu hướng bị rút ra khỏi ngân hàng để gửi vào các ngân hàng khác

khi có biến động lãi suất, làm ảnh hưởng tới thanh khoản của ngân hàng. Trái lại, với

thị trường thứ cấp các giấy tờ có giá, các nhà đầu tư có thể mua bán qua lại mà không

làm ảnh hưởng tới thanh khoản của ngân hàng. Các NHTN cần nghiên cứu thị trường

và phát triển các sản phẩm huy động vốn là các giấy tờ có giá loại này nhằm rút ngắn

khoảng cách kỳ hạn giữa nguồn vốn và tài sản.

Thứ tư, tăng mức vốn chủ sở hữu thông qua tăng vốn điều lệ và lợi nhuận để lại

Vốn chủ sở hữu được ví như “tấm đệm” chống đỡ lại rủi ro cho ngân hàng

nhưng lại chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của hệ thống NHTM Việt

Nam. Các quy định về đảm bảo an toàn ngân hàng sẽ sớm được nâng cấp toàn diện lên

một chuẩn mực mới cao hơn, hướng tới chuẩn mực theo quốc tế. Theo quy định hienẹ

nay, vốn điều lệ tối thiểu của hệ thống NHTM là 3 nghìn tỷ đồng và tỷ lệ vốn tự có

trên tài sản có rủi ro là 9%. Các NHTM cần đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc ngân

hàng, trong đó tập trung vào việc nâng cao năng lực tài chính thông qua việc phát hành

thêm cổ phiếu, tìm kiếm các nhà đầu tư chiến lược hoặc thông qua hoạt động mua bán,

sáp nhập để tăng vốn điều lệ. Trong thời gian tới, các ngân hàng cần tiến gần hơn tới

chuẩn mực, thông lệ quốc tế như tính đến rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và áp dụng

các phương pháp của Basel II khi tính toán rủi ro tín dụng (hiện đang được triển khai

thí điểm tại 10 ngân hàng theo Công văn số 1601/NHNN-TTGSNH về việc triển khai

thực hiện quy định an toàn vốn theo Basel II ngày 17/03/2014.

3.2.2.2. Hệ thống ngân hàng thương mại chủ động kiểm soát và xử lý nợ xấu

Xuất phát từ nguyên tắc là NHTM và khách hàng vay vốn phải chịu trách

nhiệm chính về các khoản nợ xấu phát sinh và chia sẻ tổn thất trong xử lý nợ xấu, các

NHTM cần phải khoanh vùng, xử lý nợ xấu đã phát sinh đồng thời hạn chế nợ xấu tiếp

tục phát sinh trong tương lai.

a/ Khoanh vùng, xác định và xử lý nợ xấu đã phát sinh và tiềm ẩn phát sinh

trong tương lai

173

Việc xác định chính xác tình trạng nợ xấu về quy mô, đặc điểm, cơ cấu, khả

năng thu hồi… đóng vai trò quan trọng để các NHTM xây dựng phương án, lộ trình xử

lý nợ xấu phù hợp với khả năng tài chính. Trong thời gian tới, hệ thống NHTM cần tập

trung nguồn lực thực hiện các biện pháp sau:

Thứ nhất, các NHTM tiếp tục rà soát, đánh giá lại chất lượng các khoản tín

dụng, xác định các khoản nợ xấu

Hệ thống NHTM phải tiến hành phân loại lại chất lượng và khả năng thu hồi

của các khoản nợ từ các khoản nợ từ nhóm 1 tới nhóm 5 theo đúng các tiêu chí về

phân loại nợ và xếp hạng tín dụng đã được NHNN phê duyệt. Hệ thống NHTM cần

phân loại toàn bộ các tài sản có tính chất tín dụng bao gồm cấp tín dụng, đầu tư trái

phiếu doanh nghiệp, ủy thác đầu tư theo mức độ rủi ro; phân loại lại nợ xấu theo loại

hình doanh nghiệp, theo các loại TSBĐ; nợ xây dựng cơ bản theo đúng định hướng

của Nghị quyết số 02/2013/NĐ-CP, Quyết định số 843/QĐ-TTg. Trên cơ sở đó, các

NHTM mới xây dựng và triển khai các nhóm giải pháp xử lý phù hợp với từng loại

hình nợ xấu, thực hiện hạch toán kế toán đúng bản chất nợ xấu và trích lập DPRR đầy

đủ theo đúng quy định.

Thứ hai, hoàn chỉnh và áp dụng chính sách dự phòng rủi ro phù hợp

Hệ thống NHTM Việt Nam cần phải sử dụng DPRR để xử lý rủi ro và trong bối

cảnh khả năng sinh lời của hệ thống đang sụt giảm thì đây là bài toán không hề dễ

dàng đối với các NHTM. Do vậy, đẩy mạnh các khoản tín dụng có chất lượng, tăng

nguồn thu từ các dịch vụ phi tín dụng và tiết giảm các khoản chi phí là cần thiết để bảo

đảm đủ nguồn lực xử lý nợ xấu. Trên cơ sở rà soát, đánh giá lại các khoản cấp tín

dụng, các NHTM tích cực trích lập DPRR ở mức phù hợp theo khả năng của từng

ngân hàng, nghiêm túc thực hiện Thông tư số 02/2013/TT-NHNN, Văn bản số

7789/NHNN-TTGSNH về trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro.

NHNN cần kiên quyết yêu cầu các NHTM thực hiện nghiêm túc quá trình cơ

cấu lại và phân loại các khoản nợ theo đúng quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-

NHNN nhằm xác định chính xác thực trạng nợ xấu, đánh giá đúng năng lực tài chính

của hệ thống NHTM để có cơ sở xác định khả năng xử lý nợ xấu của bản thân các

NHTM và các nhiệm vụ hỗ trợ xử lý của các cơ quan quản lý Nhà nước.

Ngoài ra, dựa vào hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, các NHTM cần chấn

chỉnh, siết chặt việc xét duyệt cấp tín dụng, quản lý chất lượng tín dụng, từ đó xây

dựng chính sách DPRR phù hợp với phạm vi hoạt động và tình hình thực tế cũng như

dựa trên khả năng trích lập DPRR để điều chỉnh lại chính sách tín dụng của chính

NHTM cho phù hợp.

174

b/ Triển khai quyết liệt các biện pháp xử lý nợ xấu đã phát sinh

Thứ nhất, cơ cấu lại nợ nhằm hỗ trợ khách hàng có nợ xấu khắc phục khó khăn,

phục hồi khả năng trả nợ ngân hàng

Đối với những khách hàng và phương án, dự án sản xuất kinh doanh tạm thời

gặp khó khăn, ảnh hưởng tới khả năng trả nợ NHTM nhưng được đánh giá là có khả

năng phục hồi, các NHTM cần tạo điều kiện giãn thời gian trả nợ, điều chỉnh kỳ hạn

trả nợ và xem xét miễn, giảm lãi suất một cách hợp lý để doanh nghiệp có vốn hoạt

động. Đối với các dự án, công trình đầu tư dở dang và/hoặc sắp hoàn thành, có khả

năng phát huy hiệu quả kinh tế, các NHTM cần tiếp tục cho vay, đầu tư để hoàn thiện

đưa vào khai thác hoặc bán để thu hồi nợ. Khuyến nghị này xuất phát từ một nguyên

tắc trong xử lý nợ xấu là cần phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể tiếp tục hoạt

động trong tương lai, chỉ khi đó doanh nghiệp mới có thể tồn tại, phát triển và trả nợ

ngân hàng.

Tuy nhiên, trong quá trình cơ cấu lại nợ và hỗ trợ khách hàng vay vốn, các

NHTM cần chú ý đến công tác kiểm tra, đánh giá năng lực của các doanh nghiệp, để

tránh trường hợp tiếp tục cấp vốn vào những phương án, dự án không có khả năng

phục hồi. Trong việc cân nhắc, đánh giá các giải pháp cơ cấu lại nợ, các NHTM có thể

yêu cầu sự hỗ trợ từ các tổ chức tư vấn cũng như các nguồn lực khác bên ngoài như

những tổ chức, cá nhân có kinh nghiệm, chuyên môn cao trong việc xử lý các khoản

tín dụng có vấn đề, có khả năng đề xuất những phương án khác nhau trong việc cơ cấu

lại nợ, cũng như đánh giá được các lợi ích, chi phí có liên quan đến từng phương án để

ngân hàng và doanh nghiệp cùng xem xét, thống nhất.

Thứ hai, về hoàn thiện công tác xử lý tài sản bảo đảm để xử lý nợ xấu

Bản thân các NHTM cần phải chủ động phối hợp với khách hàng để tiến hành

rà soát, đánh giá lại TSBĐ và yêu cầu khách hàng bổ sung TSBĐ hợp pháp và đầy đủ

theo mức độ rủi ro của khoản tín dụng. Đồng thời, NHTM cần phải phối hợp với

khách hàng và các cơ quan, tổ chức liên quan hoàn thiện hồ sơ pháp lý đối với những

khoản vay, TSBĐ chưa hoàn thiện hồ sơ pháp lý. Điều này là hết sức cần thiết, đặc

biệt là trong tình hình kinh tế nước ta hiện nay, môi trường pháp lý về chế độ kế toán,

kiểm toán tài chính đang trong quá trình hoàn thiện, vì thế tính minh bạch, trung thực

của báo cáo tài chính, các thông tin của khách hàng cung cấp nhiều khi chưa đủ tin cậy

theo đúng quy chế cho vay, làm tăng rủi ro mất vốn cho các NHTM. Vì vậy, để hạn

chế được tình trạng rủi ro này, các NHTM phải đặc biệt thận trọng trong việc đánh giá

TSBĐ cho các món vay bao gồm việc thẩm định điều kiện tài sản thế chấp, năng lực

pháp lý của người thế chấp tài sản, định giá tài sản, tính thanh khoản của tài sản..., từ

175

đó tuân thủ tỷ lệ cho vay tối đa của các ngân hàng. Các NHTM cũng có thể xem xét

phối hợp xây dựng, củng cố một hệ thống cơ sở dữ liệu giúp tra cứu về các TSBĐ như

năng lực sản xuất, mức độ khấu hao, vị trí, hiện trạng, khả năng tranh chấp, kiện

tụng…, nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình định giá tài sản, giảm thiểu đến mức tối

đa rủi ro liên quan tới TSBĐ.

Về công tác xử lý TSBĐ, các NHTM cần xác định đây là giải pháp chính để thu

hồi vốn từ các khoản nợ xấu không có khả năng thu hồi. Tuy nhiên, thủ tục xử lý

TSBĐ hiện nay vẫn còn nhiều phức tạp và kéo dài. Vì vậy, giải pháp đối với các

NHTM trong việc xử lý TSBĐ khi cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện là chủ động đàm

phán, thuyết phục và đôn đốc khách hàng tự xử lý tài sản, chủ động bán tài sản nhằm

tiết kiệm thời gian, giảm thiểu nguy cơ chất lượng tài sản giảm.

Một giải pháp khác, đặc biệt trong bối cảnh nợ xấu lĩnh vực bất động sản đang

rất lớn, là việc các NHTM vẫn chấp nhận cung cấp thêm tiền cho chủ đầu tư để hoàn

thiện công trình, tạo ra một tài sản sinh lời trong tương lai, với điều kiện phải trả một

phần khoản vay cũ. Đây là cách đã được các NHTM ở Úc, Đức triển khai có hiệu quả

và hứa hẹn sẽ phát huy tác dụng ở Việt Nam.

Thứ ba, xem xét giải pháp hoán đổi nợ thành vốn đối với các khách hàng và dự

án đầu tư có tiềm năng

Trên cơ sở đánh giá khả năng phục hồi và tiềm năng phát triển của các khách

hàng vay vốn, các NHTM có thể tiến hành đàm phán với chủ sở hữu, cổ đông khác của

doanh nghiệp để chuyển nợ thành vốn góp hoặc tham gia đấu giá cổ phần theo quy

định để trở thành cổ đông, rồi từng bước thực hiện các giải pháp tái cấu trúc doanh

nghiệp như xóa một phần nợ và lãi, hoãn trả nợ, thay đổi thời gian trả nợ, hỗ trợ về thị

trường, quản trị, hỗ trợ về tài chính như cho vay, bảo lãnh... nhằm phục hồi từ doanh

nghiệp kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán thành doanh nghiệp hoạt động

kinh doanh có lãi, tạo nguồn trả nợ cho NHTM.

Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động của các Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản là

công ty con của các tổ chức tín dụng

Các AMC trực thuộc NHTM có nhiệm vụ tiếp nhận tài sản thế chấp, cầm cố,

bảo lãnh của những khoản nợ khó đòi thuộc cùng một hệ thống ngân hàng, định giá

TSBĐ, tiếp nhận quản lý các khoản nợ tồn đọng, chủ động xử lý các TSBĐ thuộc

quyền định đoạt của ngân hàng..., giúp NHTM có thể làm sạch tạm thời bảng cân đối

tài sản để tập trung vào cấp tín dụng cho nền kinh tế; đồng thời có thể mua bán nợ tồn

đọng, của các NHTM khác, của các Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản khác theo

quy định của pháp luật.

176

Thứ năm, tích cực bán các khoản nợ xấu cho Công ty Mua bán nợ và tài sản

tồn đọng của doanh nghiệp và/hoặc Công ty Quản lý Tài sản của các tổ chức tín dụng

Việt Nam

Trong trường hợp khả năng tự xử lý các khoản nợ xấu của các NHTM là không

đủ so với quy mô nợ xấu, các NHTM có thể xem xét việc bán các khoản nợ xấu này

cho các tổ chức có năng lực và nguồn vốn để xử lý nợ xấu. Công ty DATC và VAMC

là hai lựa chọn phù hợp nhất trong bối cảnh nợ xấu tại nhiều NHTM đang vượt quá

khả năng tự xử lý. Biện pháp này giúp NHTM cải thiện phần nào bảng cân đối kế toán

để mở rộng tín dụng, đồng thời có thể nhận thêm nguồn vốn từ bên ngoài, kể cả từ các

đối tác nước ngoài, từng bước góp phần xử lý nhanh nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính,

giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng

hợp lý cho nền kinh tế.

c/ Chủ động thực hiện các biện pháp hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh trong

tương lai

Bên cạnh việc tập trung xử lý nợ xấu, trong thời gian tới, các NHTM cần phải

chú trọng việc hạn chế nợ xấu tiếp tục phát sinh. Để thực hiện tốt công tác này, các

ngân hàng cần thực hiện đánh giá lại để điều chỉnh lại chính sách tín dụng và quy trình

tín dụng cho phù hợp với mục tiêu hướng tới tăng trưởng tín dụng nhưng vẫn bảo đảm

chất lượng tín dụng. Chính sách tăng trưởng tín dụng mạnh như trong giai đoạn từ năm

2005 cho tới 2010 không còn phù hợp, và thực tế đã cho thấy việc mở rộng tín dụng

quá mức nhưng không tập trung bảo đảm chất lượng tín dụng đã gây ra những hệ quả

không tốt đối với không chỉ khách hàng vay vốn mà với bản thân các NHTM. Trong

thời gian tới, thay đổi chính sách tín dụng cần tập trung nhiều hơn vào việc điều chỉnh

tín dụng theo cơ cấu ngành nghề, ưu tiên tín dụng đối với các lĩnh vực sản xuất, kinh

doanh ưu tiên theo định hướng của Chính phủ như nông nghiệp nông thôn, doanh

nghiệp nhỏ và vừa… và hạn chế tín dụng đối với các ngành nghề có mức độ rủi ro cao

như bất động sản, chứng khoán mà chỉ duy trì một tỷ trọng thấp nhất định.

Ngoài ra, các NHTM cần phải bảo đảm quy trình cho vay được tuân thủ ở tất cả

các bước từ thường xuyên cập nhật thông tin về khách hàng và khoản vay, thực hiện

việc đánh giá định kỳ trên cơ sở rủi ro của khách hàng và khoản vay, thực hiện đánh

giá, phân loại nợ nhằm có các biện pháp can thiệp kịp thời. Công tác thẩm định tín

dụng tại các NHTM cần được tập trung nâng cao chất lượng nhằm bảo đảm chất

lượng, hiệu quả của công tác chấm điểm, xếp loại khách hàng và đưa ra quyết định tín

dụng hợp lý, cũng như tạo cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát sau khi cho vay.

Để gắn liền công tác phòng ngừa, hạn chế nợ xấu phát sinh với tái cơ cấu lại hệ

thống NHTM, cần nâng cao năng lực quản trị, điều hành, hệ thống kiểm soát, kiểm

177

toán nội bộ, phát triển hệ thống quản trị rủi ro và các chiến lực kinh doanh, chính sách,

quy trình, thủ tục cấp tín dụng theo hướng lành mạnh, thận trọng; cải thiện trình độ,

đạo đức của cán bộ tín dụng ngân hàng cũng là những giải pháp mà các NHTM cần

tiến hành để hạn chế nợ xấu phát sinh trong tương lai.

3.2.2.3. Phát triển các mô hình hợp tác triển khai các sản phẩm tín dụng liên kết

Để khuyến khích tăng trưởng tín dụng từ phía cầu và giảm mức độ rủi ro tín

dụng ngay từ khi thẩm định, quyết định cho vay, ngành Ngân hàng có thể nghiên cứu

và triển khai các sản phẩm tín dụng phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực, đặc biệt

chú trọng sản phẩm tín dụng vào lĩnh vực áp dụng khoa học công nghệ mới, liên kết

chặt chẽ theo chuỗi từ khâu sản xuất, chế biến tiêu thụ. Ví dụ, cung cấp các gói sản

phầm ưu đãi về lãi suất vay vốn, gói sản phẩm tín dụng dựa trên chuỗi liên kết từ khâu

sản xuất đến khâu tiêu thụ, cho vay theo dòng tiền, hỗ trợ khách hàng lập phương án

sản xuất - kinh doanh, dự án đầu tư hợp lý, tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm,

dịch vụ, cho vay liên kết giữa chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng, nhà cung cấp vật liệu

xây dựng và người mua nhà…

Chuỗi giá trị là một tập hợp các mối liên kết từ cung cấp đầu vào, sản xuất, chế

biến và tiêu thụ. Chuỗi giá trị của một sản phẩm là một hệ thống chứ không là hành vi

đơn lẻ của từng doanh nghiệp nên có thể tạo nên sức cạnh tranh mạnh mẽ. Ở bất kỳ

khâu nào trong chuỗi giá trị, ngân hàng cũng có thể tham gia cho vay các chủ thể kinh

tế. Nếu nhiều ngân hàng cùng phối hợp để đưa vốn tín dụng vào chuỗi giá trị này, các

rủi ro tại từng khâu sẽ được kiểm soát tốt hơn nhờ sự chia sẻ thông tin giữa các chủ thể

khi việc cho vay ở khâu sau sẽ bảo đảm cho việc hình thành thị trường cho khâu trước.

Về tổng thể, những rủi ro mang tính chu kỳ ảnh hưởng mạnh tới các chuỗi giá trị liên

kết cao sẽ được giảm thiểu tốt hơn so với trường hợp các chuỗi giá trị liên kết thấp.

Với số lượng khách hàng rộng khắp trên địa bàn cả nước, thậm chí là cả các đối

tác nước ngoài (thông qua các chi nhánh mở tại nước ngoài), các ngân hàng hoàn toàn

có thể thực hiện vai trò tìm kiếm, chắp nối các khách hàng vay vốn trong một chuỗi

giá trị. Việc giới thiệu các hộ gia đình, doanh nghiệp cần tìm kiếm đầu vào hoặc đầu ra cho sản xuất, hay cần tìm hiểu, chia sẻ kỹ năng nghề nghiệp… là việc làm các ngân hàng đã triển khai trong thời gian qua nhưng chưa thực sự mang lại hiệu quả như mong muốn. Một phần nguyên nhân là do đa phần các ngân hàng thực hiện công tác này một cách đơn lẻ mà chưa có sự phối hợp với nhau nên thông tin về khách hàng, thị trường tiềm năng… còn tương đối hạn chế. Trong thời gian tới, các ngân hàng cần thay đổi quan điểm đối với công tác này nhằm có sự phối hợp hài hòa hơn, từ đó hỗ trợ

khách hàng vay vốn sử dụng vốn vay một cách hiệu quả. Khi đó, các ngân hàng không chỉ đẩy mạnh được đầu ra cho nguồn vốn huy động mà còn tăng cường được chất

178

lượng tín dụng. Đối với các dự án quy mô lớn, các ngân hàng có thể cho vay đồng tài

trợ nhằm tăng cường khả năng đáp ứng nguồn vốn, gia tăng mức độ chính xác trong

thẩm định dự án, nâng cao hiệu quả giám sát khoản vay và chia sẻ rủi ro.

Trong thời gian tới, NHNN và các NHTM có thể xem xét thí điểm các mô hình

với các lĩnh vực khác trong nền kinh tế như khai thác tài nguyên, trồng trọt, chăn nuôi, thủy hải sản tại một số địa phương có lợi thế tiềm năng, ngân hàng có thế mạnh về cấp

tín dụng cho lĩnh vực này. Nếu thành công, các mô hình này có thể nhân rộng ra các

địa phương khác và tại các NHTM khác trên phạm vi cả nước. Để triển khai sản phẩm

liên kết dạng này NHNN thực hiện vai trò khuyến khích, định hướng và theo dõi việc

tuân thủ các cam kết, đảm bảo nguyên tắc các ngân hàng tham gia chuỗi liên kết bình đẳng về vai trò, tự nguyện tham gia và thống nhất về quyền lợi, nghĩa vụ. Với mô hình

chuỗi liên kết sẽ giúp cho hoạt động tín dụng được tăng trưởng một cách bền vững và

nâng cao chất lượng tín dụng.

Để làm được điều này, các ngân hàng cần phối hợp chặt chẽ để có thể tập trung

nguồn vốn, giúp cấp tín dụng kịp thời đối với sản xuất, thu mua, chế biến (đặc biệt là

các hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ mục tiêu xuất khẩu hàng hóa) với lãi suất,

thời hạn vay vốn, bảo đảm tiền vay hợp lý lẫn các thủ tục vay vốn theo hướng đơn giản hóa và gắn kết các chương trình khuyến nông hỗ trợ người sản xuất về kỹ thuật

sản xuất kinh doanh. Song song với việc thực hiện các quy trình tín dụng truyền thống,

các ngân hàng cần phải phối hợp với nhiều cơ quan, tổ chức đoàn thể để kết hợp hoạt

động tín dụng với các hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh cho

khách hàng. Các khóa tập huấn về kỹ thuật trổng trọt, chăn nuôi có thể được tổ chức

trước, trong, và sau khi giải ngân nhưng phải bảo đảm liên tục, thường xuyên và đến

đúng đối tượng, đúng nhu cầu để người vay vốn có thể vận dụng tốt nhất, kịp thời nhất

những kiến thức được trang bị vào sử dụng vốn vay.

3.2.2.4. Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của NHTM hướng tới mục đích nhằm giảm

thiểu những rủi ro phi hệ thống (non-systematic risks), qua đó tăng khả năng chịu đựng (khả năng chấp nhận) rủi ro của ngân hàng. Hoạt động kinh doanh cơ bản của

một NHTM bao gồm tín dụng, đầu tư và các dịch vụ ngân hàng khác như thanh toán, ngoại hối, ủy thác, tư vấn tài chính… Việc nguồn thu của NHTM phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động tín dụng như các ngân hàng Việt Nam khiến cho lợi nhuận và mức độ rủi ro của ngân hàng ở mức cao, không tận dụng được những ích lợi về giảm thiểu rủi ro mà đa dạng hóa kinh doanh đem lại. Khi hoạt động tín dụng gặp khó khăn (có thể bắt nguồn từ thắt chặt CSTT của NHNN), nguồn thu từ hoạt động tín dụng sụt giảm

khiến lợi nhuận của ngân hàng ở mức thấp (thậm chí bị âm) cản trở chức năng thúc đẩy tín dụng ra nền kinh tế.

179

Nguồn thu từ hoạt động tín dụng của NHTM phụ thuộc khá nhiều vào điều

hành CSTT của NHNN khi một sự thay đổi trong định hướng thắt chặt hay nới lỏng

CSTT sẽ nhanh chóng ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng ngân hàng, tới thu lãi, chi phí

lãi, và lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. Trái lại, nguồn thu từ hoạt động phi tín dụng

(mảng dịch vụ ngân hàng) có tính chất ổn định hơn và ít chịu ảnh hưởng từ điều hành

CSTT của NHNN.

Hệ thống NHTM cần đa dạng hóa hoạt động kinh doanh thông qua việc nâng

cao tỷ trọng nguồn thu từ các hoạt động phi tín dụng và hoạt động đầu tư. Dù vậy,

trong bối cảnh hoạt động đầu tư của NHTM Việt Nam đang bị kiểm soát khá chặt chẽ

từ cơ quan quản lý Nhà nước do những bất cập trong nghiệp vụ này và những bài học

thực tiễn từ hoạt động đầu tư của các NHTM trên thế giới trong cuộc khủng hoảng tài

chính vừa qua, các NHTM nên tập trung vào phát triển mảng dịch vụ ngân hàng.

Các NHTM cần tập trung phát triển các mảng dịch vụ phi tín dụng như tư vấn tài

chính cá nhân, thanh toán liên ngân hàng, đầu tư vào internet banking, phát triển các

hình thức thanh toán qua các công cụ điện tử. Học hỏi kinh nghiệm và hỗ trợ kỹ thuật,

công nghệ từ các nhà đầu tư chiến lược là các ngân hàng nước ngoài sẽ giúp ngân hàng

Việt Nam đẩy mạnh tiến trình này. Tùy vào năng lực của mình, mỗi ngân hàng cần tự

xây dựng kế hoạch đầu tư, phát triển vào các mảng dịch vụ phi tín dụng dựa trên điều

kiện và năng lực sẵn có. Ví dụ, đối với các ngân hàng đã có sẵn cơ sở hạ tầng thanh toán

tốt cần tập trung vào công tác nâng cao các tiện ích sử dụng cho người sử dụng bao gồm

nâng cấp hệ thống kỹ thuật, phát triển đội ngũ nhân viên hướng dẫn sử dụng dịch vụ phù

hợp. Bên cạnh đó, ngân hàng này cần có sự phối hợp với các bên bán hàng khác như

siêu thị, chuỗi cửa hàng … để có những chính sách giảm giá cho khách hàng sử dụng

dịch vụ thanh toán phi tiền mặt. Đối với các ngân hàng chưa xây dựng được hệ thống

thanh toán cho khách hàng thì có thể: (i) liên kết với ngân hàng đã có cơ sở thanh toán

tốt; (ii) phát triển xây dựng đội ngũ cán bộ tư vấn tài chính cho khách hàng cá nhân. Các

ngân hàng cần phối hợp với các trường đào tạo chuyên ngành tài chính ngân hàng nhằm

tìm kiếm được lực lượng nhân lực phù hợp cho mảng hoạt động này.

3.2.3. Nhóm giải pháp đối với khách hàng vay vốn ngân hàng thương mại

3.2.3.1. Cải thiện khả năng hấp thụ vốn

Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng mà nền kinh tế Việt Nam theo đuổi trong

giai đoạn trước đã bộc lộ những yếu kém cố hữu của nó. Những yếu tố nền tảng cho

tăng trưởng được tích lũy trong giai đoạn trước (trước 2010) đã cạn kiệt nên những

giải pháp về phía tổng cầu thông qua mở rộng chính sách tài khóa và CSTT không còn

phát huy được nhiều tác dụng. Triển khai các nhiệm vụ tái cấu trúc nền kinh tế đòi hỏi

cần phải tập trung nâng cao năng lực của các yếu tố sản xuất như công nghệ và chất

180

lượng lao động, vốn dĩ đã chậm phát triển so với các doanh nghiệp nước ngoài và các

quốc gia khác trên thế giới. Đây là điều kiện tiền đề để các doanh nghiệp có thể hấp

thụ được lượng vốn tín dụng từ các NHTM cũng như xa hơn là nâng cao năng lực

cạnh tranh và tiến tới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Theo kết quả khảo sát doanh nghiệp năm 20138, trở ngại chủ yếu đối với hệ thống doanh nghiệp không còn là vấn đề tiếp cận vốn (25%) mà do sức tiêu thụ giảm

(59%), hàng tồn kho tiêu thụ chậm (43%). Tuy nhiên, các yếu tố về chất lượng nhân

lực chưa cao (12%) và công nghệ lạc hậu (11%) cùng với vấn đề hàng tồn kho tiêu thụ

chậm cho thấy khả năng sản xuất và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam

ở mức rất yếu. Như vậy, không thể kỳ vọng các doanh nghiệp có thể hấp thụ lượng

vốn tín dụng trong bối cảnh hiện nay. Việc có gắng thúc đẩy tăng trưởng tín dụng

nhưng không đi kèm với cải thiện khả năng hấp thụ vốn sẽ dẫn tới nguồn vốn không

được phân bổ và sử dụng hiệu quả, bất ổn kinh tế vĩ mô tái diễn là điều khó tránh khỏi

(xem hình 3.3).

Hình 3.3: Trở ngại chủ yếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh

59%

43%

37%

25%

23%

12%

11%

9%

3%

2%

Khác

Sức tiêu thụ giảm

Yếu tố đầu vào

An ninh - chính trị

Hàng tồn kho chậm tiêu thụ

Tiếp cận vốn khó khăn

Thủ tục pháp lý phức tạp

Công nghệ lạc hậu

Giao thông vận tải

Chất lượng nhân lực chưa cao

của doanh nghiệp

Nguồn: Khảo sát và tính toán của tác giả

Lý giải cho việc khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp giảm bao gồm

hai yếu tố chính là nhu cầu tiêu thụ toàn ngành giảm (58%) và sức ép cạnh tranh tăng

(54%), thay đổi thị hiếu người tiêu dùng (12%). Từ ngắn hạn đến trung hạn, hoàn toàn

có thể kỳ vọng sức cầu của nền kinh tế được cải thiện nhưng vấn đề cạnh tranh, đặc

biệt là cạnh tranh với các doanh nghiệp tiên tiến nước ngoài, nếu không được giải

quyết thì khó có thể kỳ vọng vào khả năng phục hồi và phát triển bền vững của doanh

8 Kết quả khảo sát 306 doanh nghiệp về tình hình hoạt động doanh nghiệp năm 2013. Chi tiết xem phụ lục số

11.

nghiệp Việt Nam.

181

Hình 3.4: Các kiến nghị của doanh nghiệp đối với Chính phủ

61%

44%

44%

35%

34%

34%

12%

12%

11%

10%

Ổn định giá cả

Xử lý nợ xấu

Hỗ trợ về lãi suất cho vay

Cải cách thủ tục pháp lý

Hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn cho DN

Thực hiện chương trình hỗ trợ về thuế

Tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế

Khuyến khích đầu tư vào công nghệ

Tháo gỡ khó khăn đối với thị trường tài chính, BĐS

Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong thời gian tới

Nguồn: Khảo sát và tính toán của tác giả

Tuy nhiên, kết quả khảo sát doanh nghiệp cho thấy các kiến nghị của doanh

nghiệp đối với Chính phủ lại tập trung chủ yếu vào việc hỗ trợ lãi suất cho vay (61%),

hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn (44%) mà chưa tập trung vào các giải pháp cải thiện các yếu

tố sản xuất như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (11%), khuyến khích đầu tư vào

công nghệ (10%) (xem hình 3.4). Do vậy, vấn đề trước tiên cần phải thay đổi chính là

nhận thức của người lãnh đạo doanh nghiệp. Người đứng đầu doanh nghiệp phải xác

định được đầu tư vào yếu tố sản xuất cơ bản là nhân tố quyết định, quan trọng cần

được ưu tiên thực hiện cùng với việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Những thay đổi

trong chính sách về ưu tiên phát triển khoa học công nghệ, giáo dục và đạo tạo của

Chính phủ là những giải pháp mang tính vĩ mô cần được thực hiện kịp thời.

Để bảo đảm tăng trưởng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, các

khách hàng doanh nghiệp vay vốn ngân hàng cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh

và hiệu quả đầu tư. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải đầy mạnh đầu tư

vào khoa học kỹ thuật, công nghệ cao, tiên tiến nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm và

duy trì vị thế trên thị trường. Tuy nhiên, điều này đỏi hòi quy mô vốn lớn, trong dài

hạn và chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. Trong trường hợp bản thân các doanh nghiệp

không nỗ lực thực hiện các giải pháp phát triển nguồn nhân lực và đầu tư cải tiến công

nghệ, Chính phủ có thể tạo lập một cơ chế hỗ trợ thông qua việc thành lập một định

chế của Nhà nước với tên gọi Công ty Tài chính Công nghệ Việt Nam (Vinafitech).

Định chế này có nhiệm vụ đại diện Nhà nước hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp

vay vốn đề đầu tư vào yếu tố công nghệ. Các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn ngân

hàng để đầu tư cải thiện công nghệ sẽ có quyền đề xuất bảo lãnh tín dụng từ phía

Vinafitech. Khi nhận được đề nghị bảo lãnh tín dụng từ phía doanh nghiệp, Vinafitech

182

có trách nhiệm thành lập các hội đồng thẩm định công nghệ độc lập để đánh giá mức

độ cải tiến trong công nghệ của phương án sản xuất - kinh doanh, dự án đầu tư. Trong

trường hợp đề xuất của doanh nghiệp thỏa mãn các tiêu chí của Vinafitech, Vinafitech

sẽ phát hành bảo lãnh tín dụng tới các NHTM; nhờ vậy, các doanh nghiệp sẽ được tạo

điều kiện tiếp cận với nguồn vốn dễ dàng hơn.

Để thực hiện hiệu quả chức năng này, Vinafitech cần có được hai yếu tố cơ bản

là thẩm định công nghệ và quản lý tài chính. Vinafitech cần tăng cường tính chuyên

nghiệp trong thẩm định công nghệ bằng cách liên tục phát triển và nâng cấp các mô

hình thẩm định công nghệ, tái cơ cấu các tổ chức thẩm định nội bộ, và tạo lập các liên

kết bên ngoài với các cơ quan Chính phủ, các NHTM, các cơ quan, trung tâm nghiên

cứu khoa học công nghệ… Về nguồn vốn, Vinafitech cần có nguồn vốn đóng góp từ

các bên với các mức trách nhiệm và thụ hưởng khác nhau. Nguồn vốn cho Vinafitech

bao gồm tiền từ ngân sách nhà nước, các NHTM, nguồn chia sẻ lợi nhuận từ các doanh

nghiệp được bảo lãnh tín dụng, tiền thu được từ đầu tư các nguồn tiền của Vinafitech.

Thông qua chức năng thẩm định công nghệ và bảo lãnh tín dụng, Vinafitech sẽ

gắn kêt lợi ích của việc được hỗ trợ về mặt tài chính với trách nhiệm nâng cao năng

lực về công nghệ của các doanh nghiệp. Đây là cơ sở tiền đề cho các doanh nghiệp

tích lũy các nhân tố cần thiết để hấp thụ tốt lượng vốn tín dụng từ các NHTM, nâng

cao năng lực sản xuất và cạnh tranh.

3.2.3.2. Xây dựng cơ cấu vốn phù hợp

Cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính mô tả nguồn gốc và phương pháp hình

thành nên nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cấu

trúc vốn đề cập đến cách thức doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài trợ thông qua các

phương án kết hợp giữa phát hành cổ phiếu, trái phiếu, đi vay ngân hàng, nợ đối tác…

Thực trạng cấu trúc vốn của hệ thống doanh nghiệp Việt Nam cho thấy tỷ trọng

vốn chủ sở hữu ở mức thấp, đặc biệt là các DNNVV và DNNN khi tính minh bạch ở

mức thấp và quá trình cổ phần hóa diễn ra chậm chạp. Ngay cả các doanh nghiệp có

quy mô lớn cũng gặp khó khăn trong việc gia tăng vốn chủ sở hữu khi thị trường cổ

phiếu sau giai đoạn phát triển bùng nổ đã rơi vào tình trạng giảm giá liên tiếp và quy

mô phát hành, giao dịch kém sôi động. Điều này đã cản trở các doanh nghiệp có nhu

cầu phát hành mới và phát hành bổ sung cổ phiếu.

Doanh nghiệp dựa chủ yếu vào hai nguồn vốn là tín dụng ngân hàng và vốn

chiếm dụng từ các đối tác và khách hàng. Nhiều doanh nghiệp chiếm dụng vốn của đối

tác với nhận định rằng lượng vốn chiếm dụng này là miễn phí nhưng lại không nhận ra

và tính toán được chi phí thực của nguồn vốn này. Khi tính toán chi phí nguồn vốn

183

chiếm dụng của đối tác từ số tiền phải trả nếu thanh toán ngay và số tiền trả chậm, chi

phí của nguồn vốn này cao hơn nhiều so với lãi vay ngân hàng, ảnh hưởng tiêu cực tới

khả năng sinh lời. Hơn nữa, nguồn vốn này không có tính lâu dài, dễ biến động do

người bán hàng có thể dừng cấp tín dụng đối với doanh nghiệp, người mua có quyền

đòi lại tiền đã ứng trước.

Ngoài ra, việc quá phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng đã khiến cho

các doanh nghiệp thiếu đi sử chủ động và linh hoạt trong việc thay đổi cơ cấu nguồn

vốn cho phù hợp năng lực tài chính và điều kiện thị trường. Tất cả các doanh nghiệp,

dù là quy mô lớn hay nhỏ, năng lực tài chính thấp hay cao… đều có cơ cấu vốn dựa

chủ yếu vào tín dụng ngân hàng. Điều này khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp trở nên quá phụ thuộc vào khả năng cấp tín dụng, lãi suất cho vay và

quy mô tín dụng từ phía ngân hàng, và rộng hơn là nhạy cảm với công tác điều hành

CSTT của NHNN.

Xuất phát từ những hạn chế này, hệ thống doanh nghiệp cần có các biện pháp

điều chỉnh lại cơ cấu nguồn vốn phù hợp theo hướng tăng tỷ trọng nguồn vốn chủ sở

hữu và trái phiếu doanh nghiệp, giảm dần sự lệ thuộc vào nguồn vốn tín dụng thương

mại và tín dụng ngân hàng. Cấu trúc vốn được coi là phù hợp cho doanh nghiệp khi

làm cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro, làm tối thiếu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân

của doanh nghiệp qua đó làm tăng giá trị ròng. Nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có

thể thiết lập một cấu trúc vốn phù hợp dựa trên cơ sở định tính và định lượng những

nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng của cấu trúc

vốn đến khả năng sinh lời và rủi ro của doanh nghiệp. Điểm nhấn ở đây là việc đa

dạng hóa các nguồn vốn huy động nhằm giúp cho doanh nghiệp không bị quá phụ

thuộc vào một vài nguồn vốn, tăng cường tính tự chủ về tài chính của doanh nghiệp.

Để khắc phục thực trạng thiếu đa dạng hóa nguồn vốn, DNNVV cần xem xét huy động

vốn từ các nguồn khác như từ thuê tài chính; phát hành trái phiếu, cổ phiếu; nguồn vốn

góp từ các quỹ đầu tư mạo hiểm; từ quỹ hỗ trợ doanh nghiệp… Một số biện pháp cơ

bản cần được triển khai là: (i) nâng cao năng lực hoạch định cơ cấu vốn của ban lãnh

đạo doanh nghiệp thông qua trang bị kiến thức cơ bản về cơ cấu vốn; (ii) nâng cao

năng lực hoạch định, thực hiện và cập nhật cơ cấu vốn thực tế trên cơ sở so sánh với

cơ cấu vốn mục tiêu; (iii) tăng cường mức độ minh bạch về thông tin của doanh nghiệp

để thu hút các nguồn vốn đầu tư phù hợp, kể cả từ các quỹ đầu tư mạo hiểm trong

trường hợp phù hợp với chiến lược phát triển của doanh nghiệp; (iv) nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn, thực hiện nghiêm túc các cam kết với nhà tài trợ vốn…

184

3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.3.1. Nâng cao tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước

Lý thuyết kinh tế cũng như các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đã cho

thấy mức độ độc lập của NHTW có quan hệ cùng chiều với mức độ hiệu quả trong

điều hành CSTT. Vị thế độc lập tạo điều kiện cho NHTW chủ động trong việc lựa

chọn mục tiêu, xây dựng và đưa ra quyết định các chính sách, thực hiện các biện pháp

điều hành CSTT, can thiệp vào các thị trường tín dụng, ngoại hối mà không bị giới hạn

hay phải phụ thuộc vào các mục tiêu khác. Ngoài ra, nâng cao tính độc lập của NHTW

sẽ làm giảm độ trễ trong quá trình ra quyết định CSTT khi không phải chờ đợi ý kiến

cho phép, phản hồi từ các đơn vị quản lý cấp cao hơn, giúp CSTT phản ứng kịp thời

hơn với những diễn biến của nền kinh tế vĩ mô với những công cụ được thực thi với

thời điểm và liều lượng phù hợp. Trái lại, việc NHTW không có sự độc lập, việc điều

hành CSTT thường hay bị chậm trễ, giật cục, liên tục đổi chiều các mục tiêu do chịu

ảnh hưởng từ phía Chính phủ.

Việc nâng cao tính độc lập cho NHNN ở đây không nhất thiết phải là độc lập về

mô hình tổ chức hoặc độc lập trong việc xác định mục tiêu CSTT mà còn là độc lập

hoàn toàn (cả về mặt pháp lý và thực tế) trong việc sử dụng các công cụ để đạt được

mục tiêu của CSTT. Khi đó Thống đốc được quyền chủ động lựa chọn và điều hành

các công cụ CSTT, độc lập, tự chủ hơn trong việc đưa ra các quyết định chính sách.

Mức độ độc lập của một NHTW được chia thành độc lập hoạt động (operational

independence) và độc lập mục tiêu (target independence). Hiện tại, phân loại mức độ

độc lập của NHNN là độc lập hoạt động chứ không phải là độc lập mục tiêu. Hàng

năm, NHNN xây dựng chỉ tiêu lạm phát để Chính phủ trình Quốc hội quyết định; Thủ

tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng các công cụ và biện

pháp điều hành để thực hiện mục tiêu CSTT quốc gia theo quy định của Chính phủ.

Xuất phát từ thực tế hiệu quả hoạt động của NHTW tăng lên cùng với mức độ độc lập,

NHNN cần được tăng cường hơn nữa mức độ độc lập như sau:

 NHNN được trao quyền hơn nữa trong việc hoạch định các mục tiêu và điều

hành CSTT, chỉ phải trình Quốc hội phê duyệt.

 NHNN toàn quyền trong việc thực hiện các mục tiêu này, chịu trách nhiệm

trước Quốc hội về các kết quả điều hành CSTT theo mục tiêu đề ra.

 NHNN toàn quyền quyết định lượng tiền cung ứng bổ sung vào lưu thông

hàng năm theo yêu cầu điều hành xuất phát từ các mục tiêu kinh tế vĩ mô được Quốc

hội phê duyệt.

 NHNN không bị các cơ quan khác của Chính phủ can thiệp vào quá trình

thực thi CSTT và tùy ý sử dụng các công cụ CSTT để đạt được mục tiêu đã đề ra.

185

Tuy nhiên, cũng cần nâng cao tính minh bạch và bảo đảm khả năng giải trình

của NHNN đối với các cơ quan giám sát cũng như đối với công chúng về hoạt động

của mình. NHNN cần phải chịu sự kiểm toán hàng năm và các đợt thanh tra Nhà nước

định kỳ nhằm bảo đảm cơ chế hoạt động hiệu quả cũng như tăng cường tính minh bạch

trong giải trình với cơ quan giám sát và công bố thông tin cho công chúng.

Sự độc lập trong điều hành CSTT sẽ giúp NHNN dễ dàng tạo dựng sự ổn định

trên thị trường tiền tệ và hệ thống ngân hàng, hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô. Qua đó,

sự độc lập này bảo đảm một cơ chế truyền tải ổn định hơn, hạn chế được đảo chiều

CSTT liên tục mà không bám sát được mục tiêu căn bản là ổn định giá cả, khiến cho

các chủ thể tham gia vào kênh tín dụng ngân hàng bị ảnh hưởng tiêu cực (gây ra tình

trạng bất cân xứng trong tác động của CSTT tới các chủ thể này và nền kinh tế).

3.3.2. Kiên định điều hành chính sách tiền tệ theo hướng kiểm soát lạm phát, ổn

định kinh tế vĩ mô gắn với ổn định tài chính

Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 đã quy định hoạt động của NHNN nhằm

ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toàn hoạt động ngaan hàng và hệ thống tổ chức

tín dụng… Việc theo đuổi các mục tiêu khác như tăng trưởng kinh tế mà bỏ qua mục

tiêu ổn định lạm phát thường dẫn đến việc mở rộng cung tiền, tín dụng quá khả năng

hấp thụ của nền kinh tế, gây ra lạm phát cao và nhiều bất ổn kinh tế. Tuy nhiên, trong

điều kiện hệ thống ngân hàng là chủ thể cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế trong giai

đoạn cần vốn co phát triển, việc thực hiện CSTT phải hết sức linh hoạt, không thể chỉ

tập trung vào mục tiêu kiểm soát lạm phát mà phải hưởng tới các mục tiêu khác trong

khả năng và phạm vi cho phép. CSTT còn có nhiệm vụ quan trọng là ổn định tài chính

do những bất ổn trên thị trường tài chính sẽ ảnh hưởng tới khả năng truyền tải chính

sách lẫn gây ra bất ổn kinh tế vĩ mô. Do vậy, dù trong bối cảnh lạm phát được kiểm

soát tốt thì việc điều hành CSTT không nhất thiết chỉ hướng tới mục tiêu tăng trưởng

mà còn phải rất thận trọng với mục tiêu ổn định tài chính. Chính phủ cần bám sát

nguyên tắc này trong việc điều hành kinh tế vĩ mô, nhằm tạo ra một không gian riêng,

chủ động hơn, độc lập hơn và linh hoạt hơn cho CSTT thực hiện mục tiêu quan trọng

của mình.

3.3.3. Thiết lập cơ chế phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách giám sát an

toàn vĩ mô và vi mô nhằm tối ưu hóa tác động của điều hành chính sách tiền tệ

qua kênh tín dụng

Một mình CSTT là không đủ để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu ổn định vĩ mô,

tài chính tiền tệ. Sử dụng các công cụ giám sát an toàn vĩ mô và vi mô giúp hạn chế

các tác dụng phụ của việc điều hành CSTT lên hành vi chấp nhận rủi ro trong quá trình

186

cấp tín dụng của các ngân hàng. Vì thế, CSTT và giám sát an toàn cần có sự phối hợp

với nhau để tối ưu hóa ảnh hưởng của từng chính sách lên cơ chế truyền tải CSTT.

Bên cạnh đó, việc triển khai mỗi chính sách luôn gặp phải những trở ngại nhất định,

chẳng hạn chính sách giám sát an toàn đôi khi không thể triệt tiêu hoàn toàn tác động

của các cú sốc về tài chính hay khắc phục hoàn hảo những méo mó trên thị trường tài

chính, thậm chí có thể bị các rào cản về chính trị trong quá trình thực hiện. Trong khi

đó, CSTT tại những nền kinh tế nhỏ mở cửa thường gặp hạn chế bởi những tác động

nằm ngoài khả năng kiểm soát của NHTW như luồng vốn vào ra, giá cả thế giới,…

Trong những trường hợp đó, CSTT đôi khi phải “ngược chiều gió” và chấp nhận sự

đánh đổi giữa ổn định sản lượng, lạm phát với ổn định tài chính, hoặc chính sách giám

sát an toàn vĩ mô đôi khi phải làm thay một phần vai trò của CSTT (IMF, 2013). Trong

những giai đoạn căng thẳng về tài chính, việc nới lỏng các quy định giám sát an toàn

tài chính theo cơ chế động (dynamic) làm giảm bớt gánh nặng phải điều chỉnh giảm lãi

suất của CSTT, nhờ đó giảm được nguy cơ rủi ro đạo đức, bong bóng giá tài sản và

giúp cơ chế truyền tải CSTT vận hành êm dịu hơn. Hoặc khi các cú sốc tài chính xảy

ra, sự điều chỉnh các công cụ giám sát an toàn vĩ mô giúp công chúng tin hơn vào cam

kết của NHTW đối với mục tiêu ổn định giá cả, lạm phát, tạo điều kiện thuận lợi cho

sự vận hành của cơ chế truyền tải CSTT.

Việc phối hợp chính sách cũng cần tính đến việc xây dựng cơ chế trao đổi

thông tin, phối hợp phân tích giữa các đơn vị liên quan đến hoạch định và thực thi các

chính sách này. Cơ chế phối hợp này cần tránh để không ảnh hưởng đến uy tín của mỗi

chính sách trong việc đạt được mục tiêu cuối cùng của mình cũng như không ảnh

hưởng đến tính độc lập của CSTT. Cơ chế phối hợp hai chính sách cũng cần xem xét

đến vấn đề tổ chức thể chế, theo đó chức năng giám sát an toàn vĩ mô có nên là một

nhiệm vụ của NHTW hay thuộc về một cơ quan độc lập mà NHTW chỉ đóng vai trò

phối hợp? Việc xem xét này là hết sức quan trọng đảm bảo cho sự phối hợp hiệu quả

giữa CSTT và chính sách giám sát an toàn vĩ mô trong quá trình đảm bảo ổn định vĩ

mô tài chính tiền tệ. Hiện tại, Việt Nam có 3 đơn vị cùng có chức năng giám sát ổn

định tài chính gồm: NHNN chịu trách nhiệm về ổn định hệ thống tổ chức tín dụng, Bộ

Tài chính chịu trách nhiệm về các công ty tài chính khác như bảo hiểm, công ty chứng

khoán, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia có chức năng tham mưu, tư vấn cho Thủ

tướng Chính phủ trong việc điều phối hoạt động giám sát thị trường tài chính quốc gia

(ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm), giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện giám sát

chung thị trường tài chính quốc gia. Tuy nhiên, việc phối hợp trao đổi thông tin, đề

xuất chính sách nhằm ổn định hệ thống tài chính nói chung giữa 3 cơ quan này chưa

187

thực sự chặt chẽ. Việc thống nhất chung một đầu mối giám sát an toàn hệ thống tài

chính là cần thiết để trên cơ sở đó có sự phối hợp đồng bộ về các biện pháp đảm bảo

an toàn thị trường tài chính và phối hợp hiệu quả với điều hành chính sách tiền tệ.

3.3.4. Phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp

thành kênh cấp vốn hiệu quả cho nền kinh tế

Chính phủ cần có những giải pháp nhằm phát triển thị trường trái phiếu, bao

gồm cả thị trường trái phiếu Chính phủ và doanh nghiệp, nhằm tạo kênh huy động vốn

chủ động cho ngân sách và doanh nghiệp thay vì dồn áp lực cấp vốn lên kênh tín dụng.

Hiện nay, cả thị trường cổ phiếu và trái phiếu (đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp) của

Việt Nam vẫn chưa phát triển mạnh. Thực trạng này được thể hiện qua nhiều vấn đề

như quy mô nhỏ, hàng hóa không đa dạng, thiếu hụt hàng hóa có chất lượng, thiếu các

thành viên tạo lập thị trường chuyên nghiệp, mức độ minh bạch thông tin và bảo vệ

nhà đầu tư thấp…Thị trường trái phiếu phát triển mang lại nhiều ích lợi về cả mặt vĩ

mô lẫn vi mô đối với công tác điều hành CSTT.

Thứ nhất, đối với thị trường trái phiếu Chính phủ, thị trường trái phiếu tạo ra

một kênh huy động vốn tài trợ cho bội chi ngân sách thay vì tạo áp lực tài trợ lên

CSTT - tín dụng như đã đề cập ở trên. Điều này góp phần tạo sự độc lập cho công tác

điều hành CSTT của NHNN nhờ hạn chế được thực trạng tài trợ gián tiếp cho các

khoản bội chi ngân sách thông qua hoạt động chiết khấu, tái cấp vốn. Việc chủ động

kiểm soát lượng cung ứng tiền tệ sẽ làm giảm thiểu nguy cơ dẫn tới lạm phát. Hơn

nữa, thị trường trái phiếu phát triển về cả quy mô lẫn mức độ hiệu quả thì chi phí lãi

của trái phiếu sẽ giảm xuống, góp phần làm giảm mặt bằng lãi suất chung của nền kinh

tế, hạn chế áp lực lên mặt bằng lãi suất tín dụng.

Ngoài ra, thị trường trái phiếu còn có tác dụng cải thiện mức độ hiệu quả truyền

tải CSTT và sử dụng các công cụ CSTT, đặc biệt là các công cụ gián tiếp. NHNN và

các NHTM sẽ dễ dàng sử dụng trái phiếu Chính phủ cho các hợp đồng mua lại, và

thực hiện các nghiệp vụ mua bán để can thiệp trên thị trường mở. Việc tăng cường

hiệu quả của thị trường trái phiếu Chính phủ sẽ giúp NHNN tác động được vào các

mức lãi suất ngắn hạn trên đường cong lãi suất, từ đó ảnh hưởng tới các mức lãi suất

trung dài hạn trên thị trường dễ dàng hơn. Ngoài ra, đường cong lãi suất của trái phiếu

Chính phủ được hình thành trên thị trường trái phiếu phát triển là nền tảng để các sản

phẩm tài chính hiện đại phát triển, góp phần vào việc tăng cường khả năng quản trị rủi

ro của các trung gian tài chính và cung cấp thông tin cho công tác điều hành CSTT.

Để thực hiện mục tiêu này, Chính phủ cần tập trung vào các biện pháp chủ yếu

sau: (i) ban hành các chính sách khuyến khích các nhà đầu tư không phải là các

NHTM tham gia vào thị trường trái phiếu Chính phủ, đặc biệt là trên thị trường thứ

188

cấp; (ii) phát triển và đa dạng hóa trái phiếu về kỳ hạn, lãi suất, phương thức trả lãi…

phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư nhưng bảo đảm tính chuẩn hóa của các trái phiếu;

(iii) minh bạch các số liệu về tài khóa và nợ công để bảo đảm nguồn thông tin cho các

nhà đầu tư tham gia vào thị trường… Hiện nay, nhà đầu tư chủ yếu vào trái phiếu

Chính phủ là các NHTM. Do vậy để đảm bảo tính bền vững của thị trường và tạo sự

độc lập cho CSTT, cần tăng cường việc gia tăng cơ sở nhà đầu tư thông qua việc

khuyến khích thành lập các quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ đầu tư; đa dạng thêm sản phẩm

thu hút các nhà đầu tư khác …

Thứ hai, đối với thị trường trái phiếu doanh nghiêp sẽ giúp hệ thống doanh

nghiệp chủ động huy động vốn từ kênh thị trường chứng khoán, giảm sự phụ thuộc

vào tín dụng ngân hàng. Trong khi đó, phát hành trái phiếu có thể giúp doanh nghiệp

huy động được nguồn vốn dài hạn với giá trị lớn, và có cấu trúc linh hoạt, đáp ứng

được các cấu trúc tài chính khác nhau của doanh nghiệp.

Đối với hệ thống NHTM, phát triển thị trường chứng khoán làm tăng mức độ

ổn định tài chính và phát triển hệ thống trung gian tài chính thông qua việc gia tăng

mức độ cạnh tranh và phát triển cơ sở hạ tầng cho các sản phẩm, dịch vụ tài chính. Thị

trường trái phiếu phát triển sẽ làm giảm gánh nặng tài trợ vốn trung dài hạn cho hệ

thống doanh nghiệp nhưng đồng thời là buộc các trung gian tài chính phát triển các sản

phẩm hay các hình thức tài trợ vốn khác.

Do trong cơ cấu nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM hiện nay, nguồn vốn

ngắn hạn chiếm tỷ trọng tương đối thấp nhưng lại phải đáp ứng chủ yếu nguồn vốn

trung dài hạn cho nền kinh tế, gây ra rủi ro thanh khoản cho hệ thống. Rủi ro thanh

khoản do bất cân xứng về kỳ hạn giữa huy động và cho vay của hệ thống ngân hàng

cũng giảm xuống nhờ sự phát triển của thị trường trái phiếu.

Tại Việt Nam, hệ thống các thủ tục pháp lý liên quan đến việc phát hành trái

phiếu chưa được hoàn thiện, còn nhiều thủ tục rườm rà, rắc rối gây khó khăn cho

doanh nghiệp. Mặc dù cơ sở pháp lý cho hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp

đang dựa trên Nghị định số 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp

nhưng các thông tư hướng dẫn thực hiện vẫn khá hạn chế (mới chỉ có Thông tư số

211/2012/TT-BTC về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định só

90/2011/NĐ-CP và Thông tư số 17/2013/TT-NHNN về việc hướng dẫn về việc quản

lý ngoại hối đối với việc phát hành trái phiếu quốc tế của doanh nghiệp không được

Chính phủ bảo lãnh) nên gây ra những khó khăn, hạn chế cho công tác phát hành trái

phiếu. Nhận thức của các nhà đầu tư cá nhân về các sản phẩm trái phiếu của doanh

nghiệp còn nhiều hạn chế nên chỉ tập trung vào các kênh đầu tư phổ biến như tiền gửi

tiết kiệm, vàng, bất động sản, cổ phiếu… Hệ thống các nhà đầu tư tổ chức, hệ thống

189

nhà tạo lập thị trường chưa được thành lập và đi vào hoạt động chuyên nghiệp khiến

thị trường không hấp dẫn được nhà đầu tư. Để giải quyết được tình trạng này, cần thực

hiện đồng bộ các biện pháp sau:

Thứ nhất, cần đơn giản các thủ tục, thuế, lệ phí phát hành, có chính sách ưu đãi

về thuế, phí, lệ phí phát hành trái phiếu cho doanh nghiệp. Các thủ tục phát hành trái

phiếu nên đơn giản hóa, không cần xin phép qua nhiều cấp nhằm giảm thời gian các

thủ tục, giúp doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận với nguồn vốn.

Thứ hai, cần tiến hành xây dựng và phát triển mạnh các kênh thông tin về thị

trường trái phiếu để cung cấp thông tin cần thiết cho nhà đầu tư như thông tin về trái

phiếu, doanh nghiệp, chính sách, chiến lược phát triển, khung pháp lý có liên quan để

nhà đầu tư có thể nắm bắt kịp thời. Minh bạch thông tin đóng vai trò quan trọng với sự

phát triển của thị trường trong khi nhận thức về trái phiếu doanh nghiệp của doanh

nghiệp và công chúng được nâng cao sẽ góp phần tạo nên sự phát triển của thị trường

trái phiếu.

Thứ ba, Chính phủ phải xây dựng được một hệ thống nhà tạo lập thị trường có

hiệu quả. Hệ thống những nhà tạo lập thị trường sẽ là chất xúc tác, tăng tính thanh

khoản cho trái phiếu Chính phủ, và qua đó thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp

phát triển. Các nhà tạo lập thị trường trái phiếu chủ yếu là các NHTM hoặc các công ty

môi giới chứng khoán.

Thứ tư, khuyến khích sự phát triển hệ thống định mức xếp hạng tín nhiệm

chuyên nghiệp có tính độc lập thông qua việc Chính phủ ban hành các văn bản pháp lý

tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm thành lập và đi vào hoạt động

dưới sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan quản lý Nhà nước.

Thứ năm, khuyến khích các tổ chức tạo lập thị trường nghiên cứu phát triển các

sản phẩm trái phiếu với các đặc điểm phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của Việt

Nam nhằm tăng cung và đa dạng hóa các sản phẩm trên thị trường.

Về mặt vĩ mô, thị trường trái phiếu Chính phủ còn có tác dụng cải thiện mức độ

hiệu quả truyền tải CSTT và sử dụng các công cụ CSTT, đặc biệt là các công cụ gián

tiếp. NHNN và các NHTM sẽ dễ dàng sử dụng trái phiếu Chính phủ cho các hợp đồng

mua lại, và thực hiện các nghiệp vụ mua bán để can thiệp trên thị trường mở. Ngoài ra,

thị trường trái phiếu Chính phủ phát triển về cả quy mô lẫn mức độ hiệu quả thì chi phí

lãi của trái phiếu sẽ giảm xuống, góp phần làm giảm mặt bằng lãi suất chung của nền

kinh tế thay vì tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất như trong thời gian qua.

Về mặt vi mô, phát triển thị trường chứng khoán làm tăng mức độ ổn định tài

chính và phát triển hệ thống trung gian tài chính thông qua việc gia tăng mức độ cạnh

tranh và phát triển cơ sở hạ tầng cho các sản phẩm, dịch vụ tài chính. Thị trường trái

190

phiếu phát triển sẽ làm giảm gánh nặng tài trợ vốn trung dài hạn cho hệ thống doanh

nghiệp nhưng đồng thời là buộc các trung gian tài chính phát triển các sản phẩm hay

các hình thức tài trợ vốn khác. Đường cong lãi suất của trái phiếu Chính phủ là nền

tảng để các sản phẩm tài chính hiện đại phát triển, góp phần vào việc tăng cường khả

năng quản trị rủi ro của các trung gian tài chính và cung cấp thông tin cho công tác

điều hành CSTT của NHNN.

191

TÓM TẮT CHƯƠNG 3

Chương 3 của luận án trình bày định hướng điều hành CSTT và hoạt động ngân

hàng trong thời gian tới để làm cơ sở đưa ra những giải pháp và kiến nghị tăng cường

khả năng truyền tải CSTT qua kênh tín dụng của các NHTM. Đối với NHNN, luận án

đưa ra các giải pháp về định hướng tín dụng tăng trưởng có hiệu quả, bền vững vào

các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, bám sát vào mục tiêu tăng trưởng tín dụng trung và

dài hạn; hoàn thiện cơ chế hoạt động của VAMC; hạn chế các biện pháp hành chính

trong điều hành lãi suất với lộ trình tự do hóa lãi suất; và củng cố và chấn chỉnh kỷ

cương thị trường tiền tệ thông qua công tác thanh tra – giám sát ngân hàng. Đối với hệ

thống NHTM, cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng cân đối giữa nguồn ngắn hạn và trung

dài hạn, nâng cao vốn chủ sở hữu; đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu, nâng cao chất

lượng tín dụng; đa dạng hóa hoạt động kinh doanh ngân hàng là các giải pháp cần

được gấp rút triển khai. Các kiến nghị xoay quay việc tăng cường năng lực cho

NHNN, phát triển thị trường trái phiếu và tăng cường giám sát vi mô và vĩ mô hệ

thống NHTM.

192

KẾT LUẬN

Trong phạm vi khoảng 190 trang nghiên cứu và các phụ lục, luận án đã giải

quyết được bốn mục tiêu cơ bản đặt ra.

Thứ nhất, chương 1 đã là làm rõ cơ sở lý luận về truyền tải CSTT qua kênh tín

dụng, từ cơ sở hình thành tới các cấu phần của kênh tín dụng là kênh bảng cân đối tài

sản của người đi và và khả năng cấp tín dụng của ngân hàng. Kênh tín dụng đại diện

cho một nhóm các nhân tố có tác dụng khuếch đại và lan truyền tác động của CSTT tới

các biến số kinh tế vĩ mô thông qua việc ảnh hưởng tới phần thưởng nguồn vốn bên

ngoài. Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình truyền tải phản ánh năng lực hoạt động

kinh doanh và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp và ngân hàng, cho thấy có sự khác

biệt trong việc truyền CSTT tới các chủ thể kinh tế với các đặc điểm khác nhau. Thông

qua các mô hình đình lượng, các nghiên cứu nước ngoài đã chứng tỏ kênh tín dụng

phát huy tác dụng khác nhau trong từng giai đoạn và chủ thể kinh tế khác nhau.

Thứ hai, điều hành CSTT của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 cho thấy những

giải pháp thắt chặt tiền tệ tín dụng vào năm 2011 và nửa đầu năm 2012 đã để lại những

hệ quả không tốt đối với hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Những

yếu kém của hệ thống NHTM và doanh nghiệp đã khiến cho những thay đổi trong

công tác điều hành CSTT bị khuếch đại theo hướng tiêu cực, làm suy kiệt tình hình tài

chính của doanh nghiệp cũng như năng lực hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Kết

quả khảo sát 201 doanh nghiệp niêm yết cho thấy tình hình thanh khoản, sinh lời và

khả năng chi trả lãi vay đã giảm đi đáng kể trong giai đoạn năm 2011, 2012, phản ánh

sự đi xuống trong khả năng hấp thụ vốn lẫn nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp. Tương

tự, phân tích 29 NHTM trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014 chỉ ra sự khó khăn

về thanh khoản, chất lượng tín dụng, năng lực tài chính… đã khuếch đại ảnh hưởng

của CSTT thắt chặt lên hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Nỗ lực của NHNN và hệ

thống NHTM nhằm khắc phục những yếu kém trên và hướng tới thúc đẩy kinh tế phục

hồi thông qua kênh tín dụng ngân hàng trở nên khó khăn hơn.

Thứ ba, mô hình SVAR cho thấy tồn tại kênh tín dụng tại Việt Nam có tác dụng

khuếch đại mạnh tác động của điều hành CSTT đến nền kinh tế. Theo đó, phản ứng

của sản lượng và giá cả đều tăng vọt khi thay đổi về cung tiền và lãi suất được truyền

dẫn qua kênh tín dụng so với trường hợp không được truyền dẫn qua kênh tín dụng.

Kênh tín dụng cũng góp phần làm tăng mức độ giải thích của các biến số tiền tệ trong

mô hình đối với sự biến động của sản lượng và giá cả.

Thứ tư, trên cơ sở định hướng và giải pháp điều hành CSTT và hoạt động

NHTM, đề tài đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả vai trò

193

truyền tải CSTT tới nền kinh tế qua kênh tín dụng như: cơ cấu lại bảng cân đối tài sản

của hệ thống NHTM và doanh nghiệp, xử lý nợ xấu tại hệ thống NHTM, đa dạng hóa

hoạt động kinh doanh ngân hàng, xây dựng cơ cấu nguồn vốn hợp lý; tăng cường hiệu

quả công tác thanh tra – giám sát ngân hàng, phát triển thị trường trái phiếu, và cải

thiện khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp Việt Nam...

194

TÀI LIỆU THAM KHẢO

a/ Tài liệu tiếng Việt

1. Chu Khánh Lân, 2012, Thực trạng truyền tải chính sách tiefn tệ qua kênh

tín dụng tại Việt Nam trong năm 2012, Tạp chí Khoa học và đào tạo Ngân hàng, tháng

12/2012.

2. Chu Khánh Lân, 2013, Nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn chính sách

tiền tệ qua kênh tín dụng tại Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, tháng 3/2013.

3. Chu Khánh Lân, 2013, Nhìn lại công tác điều hành chính sách tỷ giá nhằm

giảm tình trạng đô la hóa của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2011 - 2013, Kỷ yếu Hội

thảo Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô

giai đoạn 2014 - 2105.

4. Hà Thị Sáu, 2014, Nghiên cứu cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua

kênh chấp nhận rủi ro của các tổ chức tín dụng: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý chính

sách cho Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Ngành.

5. Học viện ngân hàng, 2014, Bức tranh toàn cảnh ngành ngân hàng năm

2013, dự báo và một số khuyến nghị chính sách 2014.

6. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2012, Giải pháp tái cơ cấu hệ thống

tổ chức tín dụng Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và dự báo, tháng 10/2012

7. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2013, Khung chính sách tiền tệ của

Việt Nam năm 2012 và những gợi ý chính sách, Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân

hàng, tháng 2/2013.

8. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.

9. Nguyễn Đức Trung, 2013, Giải pháp quản lý thị trường vàng tại Việt Nam,

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Ngành 2012.

10. Nguyễn Phi Lân, 2010, Cơ chế truyền dẫn tiền tệ dưới góc độ phân tích

định lượng, Tạp chí Ngân hàng, tháng 9/2010.

11. Nguyễn Phúc Cảnh, Nguyễn Quốc Anh và Nguyễn Hồng Quân, 2013, "Đặc

điểm ngân hàng tác động đến sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng

ngân hàng tại VN", Tạp chí Phát triển Kinh tế (276), 75-91.

12. Nguyễn Thị Kim Thanh, 2005, Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện

mục tiêu, cơ chế truyền tải của chính sách tiên tệ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

13. Nguyễn Thị Thúy Vinh, 2015, Nghiên cứu vai trò của các kênh trong truyền

dẫn chính sách tiền tệ tới tăng trưởng và lạm phát ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và phát

triển, Số 214, tháng 4/2015.

14. Phạm Thị Hoàng Anh, 2013, Đánh giá tính hiệu lực của cơ chế truyền tải

195

chính sách tiền tệ qua kênh giá tài sản tại Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học Học

viện Ngân hàng.

15. Tô Kim Ngọc, 2011, Thực trạng kinh tế vĩ mô Việt Nam và các chính sách

giai đoạn 2008 - 2011, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Chính sách tiền tệ phối hợp với các

chính sách kinh tế vĩ mô khác trong điều kiện kinh tế thế giới biến động.

16. Tô Kim Ngọc, 2012. Giáo trình Tiền Tệ - Ngân Hàng, tái bản lần thứ 4,

NXB Dân Trí.

17. Tô Kim Ngọc, 2013, Sử dụng công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ

của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2011 đến nay, Kỷ yếu tọa đàm khoa học

Nhìn lại điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước 2011 - 2013: Những kết quả

và thách thức.

18. Tô Ngọc Hưng, 2013, Tăng trưởng tín dụng năm 2012 và một số khuyến

nghị chính sách cho năm 2013, Tạp chí Ngân hàng, tháng 2/2013.

19. Tô Ngọc Hưng, 2013, Truyền dẫn chính sách tiền tệ tới tiêu dùng thông qua

giá bất động sản - Thực trạng và một số khuyến nghị chính sách, Đề tài nghiên cứu

khoa học Học viện Ngân hàng.

20. Tô Ngọc Hưng, 2013, Xử lý nợ xấu trong quá trình tái cấu trúc các ngân

hàng thương mại Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Ngành 2012.

21. Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn, 2013, Cơ chế truyền dẫn chính sách

tiền tệ ở Việt Nam tiếp cận theo mô hình SVAR, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, tháng

5-6/2013.

22. Trần Thị Lộc, 2002, Giải pháp nâng cao hiệu quả kênh truyền dẫn các tác

động của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế, Luận văn Thạc sỹ.

b/ Tài liệu tiếng Anh

23. Ackermann, C., Mc Enally, R. and Ravenscraft, D. (1999). The

Performance of Hedge Funds: Risk, Return, and Incentives. The Journal of Finance.

Vol. 54, No. 3, pp. 833-874.

24. Aleem, A. (2010). Transmission mechanism of monetary policy in India.

Journal of Asian Economics. Vol. 21, Issue 2, pp. 186-197.

25. Ananchotikul, N. and Seneviratne, D. (2015). Monetary Policy

Transmission in Emerging Asia : The Role of Banks and the Effects of Financial

Globalization. IMF Working paper No. 15/207.

26. Angeloni, I., Kashyap, A., and Mojon, B. (ed.). (2003), Monetary policy

transmission in the Euro area, Cambridge University Press.

27. Angeloni, I. and Ehrmann, M. (2003). Monetary policy transmission in the

196

Euro area: any changes after EMU? ECB Working paper No. 240.

28. Adrian, T. and Shin, H. S. (2009). The shadow banking system:

implications for financial regulation, Federal Reserve Bank of New York Staff reports.

29. Agha, A. I., Ahmed, N., Mubarik, and Y. A., Shah, H. (2005). Transmission

mechanism of monetary policy in Pakistan. SBP-Research Bulletin, State Bank of

Pakistan 1, pp. 1-23.

30. Ahmed, M. (2006). Effectiveness of interest rate channel in price and

output determination in the post financial liberalization era of developing economy:

evidence from India. Applied Econometrics and International Development. Vol. 6.

31. Aleem, A. (2010). Transmission Mechanism of Monetary Policy in India.

Journal of Asian Economics. Vol. 21, pp. 186–197.

32. Altunbas, Y., Gambacorta, L. and Marqués-Ibañez, D. (2010). Does

Monetary Policy Affect Bank Risk-Taking?. ECB Working Paper 1166.

33. Ando, A. and Modigliani, F. 1963. The ‘Life Cycle’ hypothesis of Saving:

Aggregate Implications and Tests. American Economic Review. Vol. 53 (March 1963),

pp. 55–84.

34. Angeloni, I., Buttiglione, L., Ferri, G., and Gaiotti, E. (1995). The credit

channel of monetary policy across heterogeneous banks: The case of Italy. Banca

d'Italia, Temi di discussione No. 256 September 1995.

35. Bernanke, B. and Blinder, A. (1988). Credit, Money, and Aggregate

Demand. American Economic Review. Vol. 78, pp. 435-439.

36. Bernanke, B. and Gertler, M. (1995). Inside the black box: The credit

channel of monetary policy transmission. Journal of Economic Perspective. Vol. 9, pp.

27-48.

37. Bernanke, B., Gertler, M. and Gilchrist, S. (1998). The financial accelerator

and the flight to quality. The Review of Economics and Statistics. Vol. 78, pp.1-15.

38. Bernanke, B.S. and Blinder, A. S. (1992). The federal fundsrate and the

channels of monetary transmission. American Economic Review. Vol. 82 , Issue 4, pp.

901-21.

39. Blinder, A. S. and Maccini, L. J. (1991). Taking stock: A critical

assessment of recent research on inventories. Journal of Economic Perspectives. Vol.

5, pp. 73-96.

40. Boissay, F. (2011). Global imbalances and financial fragility. Working

paper.

41. Boldin, M. (1994). Econometric analysis of the recent downturn in housing:

Was it a credit crunch?. Federal Reserve Bank of New York.

197

42. Bollerslev, T., Chou, R.Y., and Kroner, K, F. (1992). ARCH Modeling

in Finance: A Review of the Theory and Empirical Evidence. Journal of

Econometrics. Vol. 52, pp. 5-59.

43. Borio C., Furfine C., and Lowe P. (2001). Procyclicality of the Financial

System and Financial Stability: Issues and Policy Options. Bank for International

Settlements Papers. No. 1.

44. Borio, C. E, and Zhu, V.H. (2008). Capital Regulation, Risk taking, and

Monetary policy: A missing link in the transmission machanisim?. BIS Working Paper 268.

45. Boughrara, A. (2008). Monetary transmission mechanisms in Morocco and

Tunisia.Paper presented at the Workshop on Monetary policy and inflation targeting.

46. Brischetto, A. and Voss, G. (1999). A structural vector autoregression model

of monetary policy in Australia. Reserve Bank of Australia Discussion Paper No 1999-11

47. Brunnermeier, M. K. and Nagel, S. (2004). Hedge funds and technology

bubble. The Journal of Finance. Vol. 59, No. 5, pp. 2013 – 2040.

48. Campbell, J. Y. and Cochrane, J. (1999). By Force of Habit: A

Consumption-Based Explanation of Aggregate Stock Market Behavior. Journal of

Political Economy.

49. Calomiris, C. W., Himmelberg, C.P., and Wachtel, P. (1995).

Commercial paper, corporate finance, and the business cycle: A microeconomic

perspective. CRCS on Public Policy. Vol. 42, pp. 203-250.

50. Chirinko, R. (1993). Business fixed investment spending: A critical survey

of modeling strategies, empirical results, and policy implications. Journal of Economic

Literature. Vol. 31, pp. 1875-1911.

51. Christiano, L. J., Eichenbaum, M. and Evans, C. L. (1998). Monetary policy

shocks: What have we learned and to what end?. NBER working papers.

52. Ciccarelli. M., Maddaloni. A., and Peydró. J. (2010). Trusting the bankers:

a new look at the credit channel off monetary policy. ECB working papers. No

1228/July 2010.

53. Collin-Dufresene, P., Goldstein, R. S. and Martin, J. S. (2001). The

determinants of credit spread changes. Journal of Finance. Vol. 57, pp. 2177-2206.

54. de Haas, R and N van Horen. (2010). The crisis as a wake-up call: do banks

tighten screening and monitoring during a financial crisis?. DNB Working Paper. No

255.

55. Delis, M. D., Hasan, I., and Mylonidis, N. (2011). The risk-taking channel

of monetary policy in the USA: Evidence from micro-level data. Social science

research network. available at http://ssrn.com/abstract=2013787

198

56. DeYoung R. and Roland K. (2001). Product mix and earnings volatility at

commercial banks: Evidence from a degree of total leverage model. Journal of

Financial Intermediation. Vol. 10, pp. 54-84.

57. Disyatat, P. and Vongsinsirikul, P. (2003). Monetary policy and the

transmission mechanism in Thailand. Journal of Asian Economics. Vol. 14, pp. 389-418.

58. Dungey, M. and Pagan, A., (2000). A structural VAR model of the

Australian economy. Economic Record. Vol. 76(235), pp 321–342.

59. Ghazanchyan, M. (2014). Unraveling the Monetary Policy Transmission

Mechanism in Sri Lanka. IMF Working Paper No. 14/190.

60. Eichenbaum, M., Comment, in N.G. Mankiw (ed.) Monetary Policy.

Cambridge, MA: NBER and Cambridge Univ. Press, pp. 256-261.

61. Eid, S. (2011). Monetary policy, risk-taking channel and income structure:

an empirical assessment of the French banking system. HAL Post-Print.

62. Elbourne, A., and de Haan, J. (2006). Financial structure and monetary

policy transmission mechanism in transition countries. Journal of Comparative

Economics. Vol. 34 (1), pp 1-23.

63. Elliehausen, G. E. and Wolken, J. D. (1990). Banking marketsand the use of

financial services by small and medium-sized businesses. Board of Governors of the

Federal Reserve System, Staff studies No.160, 1990.

64. Federal Reserve Act, 1913, available at

https://www.federalreserve.gov/aboutthefed/fract.htm

65. Foglia, A., Piersante, F., and Santoro, R. (2010). The importance of the bank

balance sheet channel in the transmission of shocks to the real economy. Working paper.

66. Friedman, B. M. and Kuttner, K. N. (1993). Economic activity and the

short-term credit markets: An analysis of prices and quantities, BPEA. Vol. 2, pp. 193-

266.

67. Gambacorta, L. (2009). Monetary policy and the risk-taking channel. BIS

working paper. Available at http://www.bis.org/publ/qtrpdf/r_qt0912f.pdf

68. Gertler, M. and Gilchrist, S. (1993). The role of credit market

imperfections in the monetary transmission mechanism: Arguments and evidence.

Scandinavian Journal of Economics. Vol. 95, Issue. 1 pp. 43-64.

69. Gertler, M. and S. Gilchrist, S. (1993). Monetary policy, business cycles

and the behavior of small manufacturing firms. Quarterly Journal of Economics. Vol.

109, Iss. 2, pp. 309-400.

70. Gertler, M. and Hubbard, R. G. (1988). Financial Factors in Business

Fluctuations in Financial Market Volatility: Causes, Consequences, and Policy

199

(Kansas City: Federal Reserve Bank of Kansas City). Pp. 33-71.

71. Greenspan, A. (2005). Risk transfer and financial stability. Speech to the

Federal Reserve Bank of Chicago.

72. Havro, G. and Vale, B. (2011) .Bank lending channel during an exogenous

liquidity shock. Working paper.

73. Holmes, M. J. and Mengesha, L. G. (2013). Monetary policy and its

transmission mechanisms in Eritrea. Journal of Policy Modeling. Vol. 35, Iss. 5, pp.

766-780.

74. Hung, L.V. and Pfau. W. D. (2008). Var analysis of the monetary

tranmission mechanism in Vietnam. Vietnam Development forum Working Paper 081.

75. Hussain, K. (2009). Monetary Policy Channels of Pakistan and Their

Impact on Real GDP and Inflation. CID Graduate Student Working Paper Series No

40, Center for International Development at Harvard University.

76. Iacoviello, M. and Raoul, M. (2008). The Credit Channel of Monetary

Policy: Evidence from the Housing Market. Journal of Macroeconomics. Vol. 30, No.

1 (March), pp. 69-96.

77. IFC. (2010). Corporate Governance Scorecard for Vietnam 2010.

78. IFC. (2011). Corporate Governance Scorecard for Vietnam 2011.

79. IFC. (2012). Corporate Governance Scorecard for Vietnam 2012.

80. Uurikkala, T., Karas, A., and Solanko, L. (2009). The role of banks in

monetary policy transmission: Empirical evidence from Russia. BOFIT Discussion

paper.

81. Kohlscheen, E. and Miyajima, K. (2015). The transmission of monetary

policy in EMEs in a changing financial environment: a longitudinal analysis. BIS

working papers No. 495.

82. Kahn, G. A. (1991). Does more money mean more bank loans?. FRB

Kansas City Economic Review. Vol. 76 (4), pp. 21-31.

83. Kashap, A. K., Lamont, O. A. and Stein, J.C. (1994). Credit conditions and

the cyclical behavior of inventories. Quarterly Journal of Economics. Vol. 109 (3), pp.

565-592.

84. Kashyap, A. and Stein, J. C. (1993). Monetary policy and Bank lending.

NBER Working paper, No. 4317.

85. Kashyap, A. K. and Stein, J. C. (2000). What do a million observations on

banks say about the transmission of monetary policy?. American Economic Review.

Vol. 90 (3), pp. 407-428.

86. Kashyap, A. K. and Stein, J. C. (1995). The impact of monetary policy on

200

bank balance sheets. CRCS on Public Policy. Vol. 42, pp. 151-196.

87. Kashyap, A. K., Stein, J. C., and Wilcox, D. W. (1993). Monetary policy

and credit conditions: Evidence from the composition of external finance. American

Economic Review. Vol. 83 (1), pp. 78-98.

88. Kim, S. and Roubini, N. (2000). Exchange rate anomalies in the industrial

countries: a solution with a structural VAR approach. Journal of Monetary Economics.

Vol. 45(3), pp. 561–586.

89. King, S. (1986). Monetary transmission: through bank loans or bank

liabilities. Journal of Money, Banking and Credit. August

90. Kishan, R. P. and Opiela, T. P. (2000). Bank size, bank capital, and the

bank lending channel. Journal of Money, Credit, and Banking. Vol. 32 (1), pp. 121-

141.

91. Krugman, P. (2012). End this Depression now. W. W. Norton & Company.

1st Edition. Chapter 2.

92. Lang, W. and Nakamura, L. (1995). Flight to quality” in bank lending and

economic activity. Journal of Monetary Economics. Vol. 36, pp. 145 - 164.

93. Longstaff, F. A. and E. S. Schwartz. (1995). A simple approach to valuing

risky fixed and floating ratedebt. Journal of Finance. 789-819.

94. Matsuyama, K. (2007). Credit Traps and Credit Cycles. American

Economic Review. Vol. 97(1), pp. 503-16.

95. Mishkin, F. S. (2010). The economics of money, banking and financial

markets, 9th. Addison-Wesley edition.

96. Morsink, J. and Bayoumi, T. (2001). A peek inside the black box: The

monetary policy transmission mechanism in Japan. IMF Staff paper.

97. Natal, Jean-Marc. (2002). Analyse empirique de la politique monétaire à

l’aide de modèles (B)(S)VAR: le cas de la Suisse. Thesis, University of Geneva.

98. Natal, Jean-Marc. (2003). The credit channel in Switzerland: empirical

evidence using a (B)SVAR. Swiss National Bank, unpublished working paper.

99. Ngalawa, H. and Viegi, N. (2009). Dynamic effects of monetary policy

shocks in Malawi. Paper presented at the 14th Annual Conference of the African

Econometric Society.

100. Oliner, S. D. and G. D. Rudebusch, G. D. (1993). Is there a bank credit

channel for monetary policy? Federal Reserve Board Finance and Economics

Discussion Series No. 93-8 March 1993.

101. Pagan, A. R. and Schwert, G. W. (1990). Alternative models for

conditional stock volatility. Journal of Econometrics. Vol 45 (1990), pp. 267-290.

201

102. Peek, J. and Rosengren, E. S. (1995). The capital crunch: Neither a

borrower nor a lender be. Journal of Money, Credit, and Banking. Vol. 27 (3), pp. 625-

638.

103. Perera, A. and Wickramanyake, J. (2013). Monetary transmission in the

emerging country context: The case of Srilanka. Central bank of Srilanka

International Research conference 2013, pp. 1-80.

104. Perrez, J. and Bichsel, R. (2003). Bankenkapitalisierung und

Kreditentwicklung: Eine empirische Untersuchung mit einem Panel-Ansatz. Swiss

National Bank, unpublished working paper.

105. Post, M. A. (1992). The evolution of the U.S. commercial paper market

since 1980. Federal Reserve Bulletin. Vol. 78 (12), pp. 879-891.

106. Rajan, R. (2005). Has Financial Development Made the World riskier?.

NBER Working Paper, Article ID: 11728

107. Ramaswamy, R. and Sloek, T. (1997). The real effects of monetary

policy in the European Union: What are the differences?. IMF Staff Papers.

108. Ramey, V. (1993). How important is the credit channel in the

transmission of monetary policy?. Carnegie-Rochester Conference Series on Public

policy. Vol. 39, pp. 1-45.

109. Romer, C. D. and Romer, D. H. (1990). New evidence on the monetary

transmission mechanism. BPEA. Vol. 1, pp. 149-213.

110. Romer, C. D. and Romer, D. H. (1993). Credit channels or credit

actions? An interpretation of the postwar transmission mechanism, in Changing

Capital Markets: Implications for Monetary Policy. FRB Kansas City. pp. 71-116.

111. Sacerdoti, E. (2005). Access to bank credit in Sub-Saharan Africa: Key

issues and Reform strategies. IMF working paper 05/166.

112. Shleifer, A. and Vishny, R. W. (1997). A Survey of Corporate

Governance. Journal of Finance. Vol. 52 (2): 737-783.

113. Steudler, O. and Zurlinden, M. (1998). Monetary policy, aggregate

demand, and the lending behaviour of bank groups in Switzerland. In Topics in

monetary policy modelling, BIS Conference Papers Vol. 6, pp. 279-293.

114. Stein, J. C. (1998). An adverse selection model of bank asset and

liability management with implications for the transmission of monetary policy. RAND

Journal of Economics. Vol. 29 (3), pp. 466-486.

115. Stiglitz, J. E. and Greenwald, B. (2003). Towards a new paradigm in

monetar economics. Raffaele Mattioli Lectures.

116. Stiglitz, J. E. and Weiss, A. (1981). Credit rationing in markets with

202

imperfect information. American Economic Review. Vol. 71 (3), pp. 393-410

117. Suzuki, T. (2004). Is the lending channel of monetary policy dominant in

Australia. Economic Record. Vol. 80(249), pp. 145–156.

118. Tang, H. C. (2006). The Relative Importance of Monetary Policy

Transmission Channels in Malaysia. CAMA Working Paper Series.

119. Taylor, J. B. (1995). The Monetary Transmission Mechanism: An

Empirical Framework. Journal of Economic Perspectives, American Economic

Association. Vol. 9(4), pages 11-26, Fall.

120. Taylor, J. B. (2009). The financial crisis and the policy responses: an

empirical analysis of what went wrong. NBER working paper series. No. 14631.

121. Tobin, J. (1969). A General Equilibrium Approach To Monetary

Theory. Journal of Money, Credit and Banking. Vol. 1 (1): 15–29

122. Camen, U. (2006). Monetary policy in Vietnam: the case of a transition

country. Bank for International Settlements Papers. No 31 “Monetary policy in Asia:

approaches and implementation”.

123. Walsh, C. E. and Wilcox, J. A. (1995). Bank credit and economic

activity, in Peek, E.S. Rosengren (eds.) Is Bank Lending Important for the

Transmission of Monetary Policy? FRB Boston Conference Series. No.39, pp. 83-112.

124. Wesche, K. (2000). Is there a Credit Channel in Austria? The Impact of

Monetary Policy on Firm’s Investment Decisions. Working paper 41, Oesterreichische

Nationalbank.

125. Westerlund, J. (2003). A Panel Data Test of the Bank Lending Channel

Sweden." Available at: in

http://www.nek.lu.se/publications/workpap/Papers/WP03_16.pdf

126. Zaderey, N. (2003). Monetary Transmission in Ukraine: Is There a

Broad Credit Channel?. National university of Kyiv-Mohyla Academy.

203

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Quy định trần lãi suất huy động của NHNN

Thông tư

Ngày hiệu lực

Kỳ hạn

Lãi suất

TT 02/2011/TT-NHNN

03/03/2011

Tất cả các kỳ hạn

14%/năm

TT 30/2011/TT-NHNN

01/10/2011 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng

6%/năm

Từ 1 tháng trở lên

14%/năm

TT 05/2012/TT-NHNN

13/03/2012 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng

5%/năm

Từ 1 tháng trở lên

13%/năm

TT 08/2012/TT-NHNN

11/04/2012 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng

4%/năm

Từ 1 tháng trở lên

12%/năm

TT 17/2012/TT-NHNN

28/05/2012 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng

3%/năm

Từ 1 tháng trở lên

11%/năm

TT 19/2012/TT-NHNN

11/06/2012 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng

2%/năm

Từ 1 tháng đến dưới 12 tháng

9%/năm

TT 32/2012/TT-NHNN

24/12/2012 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng

2%/năm

Từ 1 tháng đến dưới 12 tháng

8%/năm

TT 08/2013/TT-NHNN

26/03/2013 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng

2%/năm

Từ 1 tháng đến dưới 12 tháng

7,5%/năm

TT 15/2012/TT-NHNN

28/06/2013 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng

1,2%/năm

Từ 1 tháng đến dưới 6 tháng

7%/năm

18/03/2014 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng

1%/năm

Từ 1 tháng đến dưới 6 tháng

6%/năm

QĐ 2173/QĐ-NHNN

29/10/2014 Không kỳ hạn & dưới 1 tháng

1%/năm

Từ 1 tháng đến dưới 6 tháng

5,5%/năm

QĐ 498, /QĐ-NHNN

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

204

Phụ lục 2: Các văn bản quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa của NHNN

Ngày ban

Lãi suất

Thông tư

Đối tượng cho vay

hành

%/năm

TT 14/2012

Nông nghiệp nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh

04/05/2012

15%

/TT-NHNN

nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ

TT 33/2012

Nông nghiệp nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh

21/12/2012

12%

/TT-NHNN

nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao

TT 10/2013

10/05/2013

10%

/TT-NHNN

Nông nghiệp nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao

TT 16/2013

27/06/2013

9%

/TT-NHNN

Nông nghiệp nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao

QĐ 499/

17/03/2014

8%

QĐ-NHNN

Nông nghiệp nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao

QĐ/ 2713/

29/10/2014

7%

QĐ-NHNN

Nông nghiệp nông thôn, hàng xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

205

Phụ lục 3: Thống kê mô tả các biến trong mô hình VAR

COM FFR GDP

CPI MSL

LEN CRED

EXC

SHR

127

1.76

1.2E+14

1.6E+15 11.37 1.5E+15 17,489 161.17

143

Mean

128

1.03

1.1E+14

1.3E+15 10.88 1.1E+15 16,114 158.23

122

Median

216

6.40

2.1E+14

5.0E+15 20.10 3.9E+15 21,246 410.57

242

Maximum

49

0.07

5.8E+13

2.0E+14

1.6E+14 14,514

54.11

79

8.16

Minimum

50

1.92

3.7E+13

1.4E+15

1.2E+15

2,357

81.08

56

2.65

Std. Dev.

-0.02

0.88

0.52

0.49

0.82

0.54

0.59

1.22

1.41

Skewness

1.62

2.39

2.50

1.76

2.53

1.80

1.66

4.67

4.55

Kurtosis

4.54

8.27

3.18

5.97

6.99

24.49

6.20

7.55

20.63

Jarque-Bera

0.10

0.02

0.20

0.05

0.03

0.00

0.05

0.02

0.00

Probability

57

57

57

57

57

57

57

57

57

Observations

206

Phụ lục 4: Kiểm định tính dừng các biến trong mô hình

Level

***

Intercept

1.454893

1st difference -5.536218

***

Trend and intercept

-2.050569

-5.608909

COM

***

None

0.751844

-5.522069

Intercept

-2.208353

**

Trend and intercept

-3.745182

FFR

None

-1.292478

***

Intercept

-3.343517

GDP

***

Trend and intercept

-3.325470

(gap)

***

None

-3.396564

***

Intercept

0.103105

-4.237683

***

Trend and intercept

-2.182095

-4.126338

CPI

**

None

3.179947

-2.534668

**

Intercept

-3.155255

*

Trend and intercept

-3.321664

INT

None

-0.444950

***

Intercept

-1.902042

-4.054715

***

Trend and intercept

0.291485

-4.587574

CRE

None

3.484833

-0.691563

***

Intercept

-0.068902

-7..958894

***

Trend and intercept

-1.400004

-7.900881

EXC

***

None

3.397230

-3.490033

***

Intercept

-4.201865

***

Trend and intercept

-4.252993

SHR

None

-0.967440

207

Phụ lục 5: Hàm phản ứng của độ lệch sản lượng và chỉ số giá tiêu dùng

trước các cú sốc

0.006

0.0020

0.0015

0.004

0.0010

0.002

Phản ứng của độ lệch sản lượng Phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng

0.0005

0.000

0.0000

-0.002

-0.0005

sốc

-0.004

-0.0010

lãi

-0.006

-0.0015

-0.008

-0.0020

1

2

3

4

5

6

7

8

9 10 11 12

1

2

3

4

5

6

7

8

9 10 11 12

0.008

0.004

0.006

0.003

0.004

suất

0.002

0.002

0.001

0.000

sốc

0.000

-0.002

-0.001

tỷ

-0.004

-0.006

-0.002

1

2

3

4

5

6

7

8

9 10 11 12

1

2

3

4

5

6

7

8

9 10 11 12

0.010

0.003

0.008

0.002

giá

0.006

0.004

0.001

0.002

0.000

0.000

sốc

-0.002

-0.001

giá

-0.004

-0.002

-0.006

cổ

-0.008

-0.003

1

2

3

4

5

6

7

8

9 10 11 12

1

2

3

4

5

6

7

8

9 10 11 12

0.010

0.003

0.008

0.002

0.006

phiếu

0.004

0.001

0.002

0.000

0.000

sốc

-0.002

-0.001

tín

-0.004

-0.006

-0.002

1

2

3

4

5

6

7

8

9 10 11 12

1

2

3

4

5

6

7

8

9 10 11 12

dụng

Nguồn: Tính toán của tác giả

208

Phụ lục 6: Danh sách 201 doanh nghiệp niêm yết

STT Tên doanh nghiệp

Ngành

STT Tên doanh nghiệp

Ngành

1

TM - DV Bến Thành

Bán lẻ phức hợp

101

PV GAS D

Phân phối xăng dầu & khí đốt

2

Thương nghiệp Cà Mau

Bán lẻ phức hợp

102 Nhiên liệu Sài Gòn

Phân phối xăng dầu & khí đốt

3

XNK PETROLIMEX

Bán lẻ phức hợp

103 Đạm Phú Mỹ

SP hóa dầu, Nông dược & Hóa chất khác

4

CIDICO

Bất động sản

104 Nông Dược H.A.I

SP hóa dầu, Nông dược & Hóa chất khác

5

Phát triển Đô thị số 2

Bất động sản

105 Kỹ thuật NN Cần Thơ

SP hóa dầu, Nông dược & Hóa chất khác

6

Dic Corp

Bất động sản

106 Khử trùng Việt Nam

SP hóa dầu, Nông dược & Hóa chất khác

7

BĐS Phát Đạt

Bất động sản

107 Nhiệt điện Bà Rịa

Sản xuất & Phân phối Điện

8

Dầu khí IDICO

Bất động sản

108 Điện lực Khánh Hòa

Sản xuất & Phân phối Điện

9

Chiếu xạ An Phú

Công nghệ sinh học

109 Nhiệt điện Phả Lại

Sản xuất & Phân phối Điện

10

Đầu tư Cao su Quảng Nam

Công nghiệp phức hợp

110

Sông Ba JSC

Sản xuất & Phân phối Điện

11

In và Bao bì Mỹ Châu

Containers & Đóng gói

111

Thủy điện Cần Đơn

Sản xuất & Phân phối Điện

12

Bao bì Biên Hòa

Containers & Đóng gói

112

Thủy điện Thác Bà

Sản xuất & Phân phối Điện

13

Bao bì Dầu Thực vật

Containers & Đóng gói

113 Điện Tây Nguyên

Sản xuất & Phân phối Điện

14

Công viên nước Đầm Sen

Dịch vụ giải trí

114

Thủy điện Thác Mơ

Sản xuất & Phân phối Điện

15

Thuận Thảo Group

Dịch vụ giải trí

115 Đông Hải Bến Tre

Sản xuất giấy

16

Quốc tế Hoàng Gia

Dịch vụ giải trí

116

Tập đoàn Hapaco

Sản xuất giấy

17

Dịch vụ Máy tính

117 VIỄN ĐÔNG

Tập đoàn CMC

Sản xuất giấy

18

Vận tải Hà Tiên

Dịch vụ vận tải

118 Ô tô Hàng Xanh

Sản xuất ô tô

19

Hàng hải Hà Nội

Dịch vụ vận tải

119 Ô tô Trường Long

Sản xuất ô tô

20

Tan Cang Logistics

Dịch vụ vận tải

120

SAVICO

Sản xuất ô tô

21

VinaLink

Dịch vụ vận tải

121 Ô tô TMT

Sản xuất ô tô

22

Ánh Dương Việt Nam

Dịch vụ vận tải

122 Đại Thiên Lộc

Thép và sản phẩm thép

23

Giải khát Chương Dương

Đồ uống & giải khát

123 Kim khí TP.HCM

Thép và sản phẩm thép

209

STT Tên doanh nghiệp

Ngành

STT Tên doanh nghiệp

Ngành

Dược phẩm Cửu Long

Dược phẩm

124 Hòa Phát

Thép và sản phẩm thép

24

Dược Hậu Giang

Dược phẩm

Tập đoàn Hoa Sen

Thép và sản phẩm thép

125

25

Dược phẩm DOMESCO

Dược phẩm

Thép Nam Kim

Thép và sản phẩm thép

126

26

IMEXPHARM

Dược phẩm

Thép Pomina

Thép và sản phẩm thép

127

27

Dược phẩm OPC

Dược phẩm

SONHA CORP

Thép và sản phẩm thép

128

28

S.P.M CORP

Dược phẩm

Thép Tiến Lên

Thép và sản phẩm thép

129

29

Traphaco

Dược phẩm

Thép Việt Ý

Thép và sản phẩm thép

130

30

Y Dược phẩm Vimedimex

Dược phẩm

131 Đầu tư Cầu đường CII

Thiết bị điện

31

XNK Bình Thạnh

Hàng cá nhân

132 Bóng đèn Điện Quang

Thiết bị gia dụng

32

Bột giặt Lix

Hàng cá nhân

133 Gỗ Đức Thành

Thiết bị gia dụng

33

Vàng Phú Nhuận

Hàng cá nhân

134 Bóng đèn & Phích Rạng Đông Thiết bị gia dụng

34

Tập đoàn Thiên Long

Hàng cá nhân

135 Khoan Dầu khí PVDrilling

Thiết bị và Dịch vụ Dầu khí

35

136

Pin Ắc quy Miền Nam

Hàng điện & điện tử

Thiết bị Siêu Thanh

Thiết bị văn phòng

36

137

Điện tử TIE

Hàng điện & điện tử

Phát triển Công nghệ ĐT-VT

Thiết bị viễn thông

37

Dây & Cáp điện TAYA

Hàng điện & điện tử

138 Cáp viễn thông SAM

Thiết bị viễn thông

38

Viettronics Tân Bình

Hàng điện & điện tử

139

Thiết bị Y tế Việt Nhật

Thiết bị y tế

39

EVERON

Hàng May mặc

140 Bánh kẹo BIBICA

Thực phẩm

40

41 May Sài Gòn

Hàng May mặc

141 Đường Biên Hòa

Thực phẩm

42 MIRAE

Hàng May mặc

142 Bánh kẹo Kinh đô

Thực phẩm

Dệt may Thành Công

Hàng May mặc

143 Chế biến Hàng XK Long An

Thực phẩm

43

Sài Gòn Telecom

Internet

144 Mía đường Lam Sơn

Thực phẩm

44

DL Thành Thành Công

Khách sạn

145

Tập đoàn Masan

Thực phẩm

45

Khoáng sản Bắc Giang

Khai khoáng

146 Mía đường Tây Ninh

Thực phẩm

46

Khoáng sản Bình Định

Khai khoáng

147 Dầu Tường An

Thực phẩm

47

CN Khoáng sản Bình Thuận

Khai khoáng

148 XNK Thiên Nam

Thực phẩm

48

210

STT Tên doanh nghiệp

Ngành

STT Tên doanh nghiệp

Ngành

Khoáng sản Bình Dương

Khai khoáng

149 Vinacafé Biên Hòa

Thực phẩm

49

Đầu tư và Phát triển KSH

Khai khoáng

150

Lương thực Vĩnh Long

Thực phẩm

50

Na Rì Hamico

Khai khoáng

151 VINAMILK

Thực phẩm

51

TAI NGUYEN CORP

Khai khoáng

Thuốc lá Cát Lợi

Thuốc lá

152

52

Thuốc lá

153

ĐT và PT Cảng Đình Vũ

Kho bãi, hậu cần và bảo dưỡng

Tập đoàn Hoàng Long

53

154

Gemadept

Kho bãi, hậu cần và bảo dưỡng

Tập đoàn PAN

Tư vấn & Hỗ trợ KD

54

155

Kho Vận Miền Nam

Kho bãi, hậu cần và bảo dưỡng

Tư vấn và XD Điện 1

Tư vấn & Hỗ trợ KD

55

156

Kho vận Ngoại Thương TPHCM Kho bãi, hậu cần và bảo dưỡng

Tàu Cao tốc Superdong

Vận tải hành khách & Du lịch

56

Kho bãi, hậu cần và bảo dưỡng

157 Vận chuyển Sài Gòn Tourist

Vận tải hành khách & Du lịch

VICONSHIP

57

Đức Long Gia Lai

Lâm sản và Chế biến gỗ

158 Vận tải thủy PETROLIMEX

Vận tải Thủy

58

Gỗ Thuận An

Lâm sản và Chế biến gỗ

159 Vận tải Dầu khí PVTrans

Vận tải Thủy

59

Gỗ Trường Thành

Lâm sản và Chế biến gỗ

160 Vận tải SAFI

Vận tải Thủy

60

Cao su Miền Nam

Lốp xe

161 Vận tải Xăng dầu VIPCO

Vận tải Thủy

61

Cao su Đà Nẵng

Lốp xe

162 Vận tải biển Vinaship

Vận tải Thủy

62

Cao su Sao Vàng

Lốp xe

163 Vận tải Biển Việt Nam

Vận tải Thủy

63

LILAMA 10

Máy công nghiệp

164 VITACO

Vận tải Thủy

64

Cơ Điện Lạnh REE

Máy công nghiệp

165 Nhựa Bình Minh

Vật liệu xây dựng & Nội thất

65

SEAREFICO

Máy công nghiệp

166 Gạch men Chang YIH

Vật liệu xây dựng & Nội thất

66

Thiết bị Phụ tùng Sài Gòn

Nhà cung cấp thiết bị

167 Hóa An

Vật liệu xây dựng & Nội thất

67

Nhựa Đông Á

Nhựa, cao su & sợi

168 Xi măng & VLXD Đà Nẵng

Vật liệu xây dựng & Nội thất

68

Cao su Đồng Phú

Nhựa, cao su & sợi

169 Xi măng Hà Tiên 1

Vật liệu xây dựng & Nội thất

69

Kỹ nghệ & Nhựa Đô Thành

Nhựa, cao su & sợi

170 Xi măng Vicem Hải Vân

Vật liệu xây dựng & Nội thất

70

Cao su Hòa Bình

Nhựa, cao su & sợi

171 Khoáng sản Lâm Đồng

Vật liệu xây dựng & Nội thất

71

Cao su Phước Hòa

Nhựa, cao su & sợi

172

Tấm lợp và gỗ Nam Việt

Vật liệu xây dựng & Nội thất

72

Nhựa Rạng Đông

Nhựa, cao su & sợi

173 Đá Núi Nhỏ

Vật liệu xây dựng & Nội thất

73

211

STT Tên doanh nghiệp

Ngành

STT Tên doanh nghiệp

Ngành

Nhựa, cao su & sợi

174

Phú Tài

Vật liệu xây dựng & Nội thất

Cao su Thống Nhất

74

Nhựa, cao su & sợi

175

Savimex

Vật liệu xây dựng & Nội thất

Nhựa Tân Đại Hưng

75

Nhựa, cao su & sợi

176 Gốm sứ TAICERA

Vật liệu xây dựng & Nội thất

Cao su Tây Ninh

76

Nước

177 Becamex TDC

Vật liệu xây dựng & Nội thất

Cấp nước Chợ Lớn

77

Nước

178 XD và GT Bình Dương

Cấp nước Thủ Đức

Xây dựng

78

Nuôi trồng nông & hải sản

179 Xây dựng 47

Thủy sản Mekong

Xây dựng

79

Nuôi trồng nông & hải sản

180 Chương Dương Corp

Thủy sản Bến Tre

Xây dựng

80

Thủy sản CL An Giang

Nuôi trồng nông & hải sản

181 Xây dựng COMA 18

Xây dựng

81

Thủy sản An Giang

Nuôi trồng nông & hải sản

182 Hạ tầng Kỹ thuật TP.HCM

Xây dựng

82

Thủy sản Nam Việt

Nuôi trồng nông & hải sản

183 Xây dựng Cotec

Xây dựng

83

Tập đoàn Sao Mai

Nuôi trồng nông & hải sản

184 Cường Thuận IDICO

Xây dựng

84

NTACO

Nuôi trồng nông & hải sản

185 ĐT và TM DIC

Xây dựng

85

Chế biến Thủy sản Cà Mau

Nuôi trồng nông & hải sản

186 Hacisco

Xây dựng

86

Thủy sản Sao Ta

Nuôi trồng nông & hải sản

187

PT Hạ tầng IDICO

Xây dựng

87

Thủy sản Hùng Vương

Nuôi trồng nông & hải sản

188 Xây dựng HUD3

Xây dựng

88

Đầu tư & TM Thủy sản

Nuôi trồng nông & hải sản

189

LICOGI 16

Xây dựng

89

Giống cây trồng TW

Nuôi trồng nông & hải sản

190

LILAMA 18

Xây dựng

90

Giống cây trồng Miền Nam

Nuôi trồng nông & hải sản

191 Cơ điện và XD VN

Xây dựng

91

Thủy sản số 4

Nuôi trồng nông & hải sản

192 Xây dựng Miền Đông

Xây dựng

92

Thủy sản Vĩnh Hoàn

Nuôi trồng nông & hải sản

193 Xây lắp Bưu Điện PTIC

Xây dựng

93

Thủy hải sản Việt Nhật

Nuôi trồng nông & hải sản

194 XL CN và dân dụng Dầu khí

Xây dựng

94

CN mạng và Truyền thông

Phần mềm

195

Lắp máy Dầu khí

Xây dựng

95

Tập đoàn FPT

Phần mềm

196 Xây lắp Đường ống Dầu khí

Xây dựng

96

Vật tư Xăng dầu

Phân phối hàng chuyên dụng

197 Xây dựng Số 5

Xây dựng

97

PETROLSETCO

Phân phối hàng chuyên dụng

198 XD & PT Đô thị Tỉnh BR - VT Xây dựng

98

212

STT Tên doanh nghiệp

Ngành

STT Tên doanh nghiệp

Ngành

99

Dầu khí An Pha

Phân phối xăng dầu & khí đốt

199

PT Nhà & Đô Thị IDICO

Xây dựng

100 Gas PETROLIMEX

Phân phối xăng dầu & khí đốt

200 Xây dựng điện Việt Nam

Xây dựng

201 Đầu tư & XD Cấp thoát nước Xây dựng

213

Phụ lục 7: Danh sách 29 ngân hàng

STT Tên viết tắt

Tên ngân hàng

1 MSB

NHTMCP Hàng Hải Việt Nam

2 SEAB

NHTMCP Đông Nam Á

3 TPB

NHTMCP Tiên Phong

4 LVB

NHTMCP Bưu Điện Liên Việt

5 MDB

NHTMCP Phát triển Mê Kông

6 NAB

NHTMCP Nam Á

7 TCB

NHTMCP Kỹ Thương

8 HDB

NHTMP Phát triển nhà TP HCM

9 GDB

NHTMCP Gia Định

10 VPB

NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng

11 ABB

NHTMCP An Bình

12 MBB

NHTMCP Quân Đội

13 VIB

NHTMCP Quốc Tế Việt Nam

14 EIB

NHTMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam

15 SHB

NHTMCP Sài Gòn Hà Nội

16 VAB

NHTMCP Việt Á

17 NVB

NHTMCP Quốc Dân

18 ACB

NHTMCP Á Châu

19 KLB

NHTMCP Kiên Long

20 VCB

NHTMCP Ngoại Thương

21 OCB

NHTMCP Phương Đông Việt Nam

22 MHBB

NHTMCP phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long

23 STB

NHTMCP Sài Gòn Thương Tín

24 NASB

NHTMCP Bắc Á

25 PGB

NHTMCP Xăng Dầu Petrolimex

26 CTG

NHTMCP CôngThương Việt Nam

27 EAB

NHTMCP Đông Á

28 BID

NHTMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam

29 SGB

NHTMCP Sài Gòn

214

Phụ lục 8: Thống kê mô tả các biến trong mô hình SVAR

OIL

GDP

CPI

MSL

INT

EXC

CRE

63.74 1.20E+14

87.43 1.81E+15 11.07 17591.83 1.58E+15

Mean

62.33 1.14E+14

75.45 1.27E+15 10.73 16119.50 1.14E+15

Median

133.88 2.28E+14 145.50 5.77E+15 20.10 21881.00 4.69E+15

Maximum

19.39 5.45E+13

47.60 1.61E+14

6.96 14062.00 1.21E+14

Minimum

28.71 4.12E+13

36.06 1.66E+15

2.70

2563.59 1.39E+15

Std. Dev.

0.22 0.555111

0.43 0.879506

1.26

0.45 0.615961

Skewness

1.93 2.565734

1.62 2.559084

4.58

1.57 2.002114

Kurtosis

3.58

3.79

8.77 23.53

7.64

6.70

7.04

Jarque-Bera

0.17

0.15

0.01

0.00

0.02

0.04

0.03

Probability

64

64

64

64

64

64

64

Observations

215

Phụ lục 9: Kiểm định tính dừng các biến trong mô hình SVAR

Log level

***

-1.628868

Intercept

1st difference -6.941401

***

Trend and intercept

-0.994932

-7.039928

OIL

***

0.028285

None

-6.996550

***

-1.712992

Intercept

-3.601576

GDP

***

Trend and intercept

-1.907410

-3.546555

(log level and Hp

***

filter)

-1.731640

None

-3.643271

***

0.253293

Intercept

-4.165894

**

Trend and intercept

-1.943937

-4.076571

CPI

***

2.985667

None

-2.649789

***

-1.667183

Intercept

-5.059054

***

Trend and intercept

-0.015201

-5.400616

MSL

4.428779

None

-0.882749

**

-0.217877

Intercept

INT

***

Trend and intercept

0.174191

(level và KPSS

test)

***

Intercept

-0.184275

-8.535443

***

Trend and intercept

-1.413603

-8.468170

EXC

***

None

3.927454

-3.509705

***

Intercept

-1.998223

-3.955423

CRE

***

Trend and intercept

-0.062540

-4.523312

None

3.355806

-0.891940

216

Phụ lục 10: Kiểm định nghiệm đơn vị mô hình SVAR

Mô hình SVAR thứ nhất

Mô hình SVAR thứ hai

Roots of Characteristic Polynomial

Roots of Characteristic Polynomial

Lag specification: 1 2

Lag specification: 1 2

Root

Modulus

Root

Modulus

0.839972 - 0.209127i

0.865614

0.915403

0.915403

0.839972 + 0.209127i

0.865614

0.785111

0.785111

0.809617

0.809617

0.530419 - 0.406682i 0.668382

0.626656 - 0.344323i

0.715021

0.530419 + 0.406682i 0.668382

0.626656 + 0.344323i

0.715021

0.121569 - 0.632597i 0.644172

0.161803 - 0.626076i

0.646646

0.121569 + 0.632597i 0.644172

0.161803 + 0.626076i

0.646646

0.448331

0.448331

-0.169578 - 0.515816i

0.542976

-0.181441 - 0.362303i 0.405196

-0.169578 + 0.515816i

0.542976

-0.181441 + 0.362303i 0.405196

0.286926 - 0.415429i

0.504884

-0.39408

0.394076

0.286926 + 0.415429i

0.504884

0.203936 - 0.303338i 0.365519

-0.39657

0.396569

0.203936 + 0.303338i 0.365519

-0.004582 - 0.246458i

0.2465

No root lies outside the unit circle.

-0.004582 + 0.246458i

0.2465

VAR satisfies the stability condition.

No root lies outside the unit circle.

VAR satisfies the stability condition.

217

Mẫu điều tra: 306 doanh nghiệp.

Thống kê số lượt trả lời theo tỷ lệ % tổng số phiếu khảo sát hợp lệ nhận về.

Phụ lục 11: Kết quả khảo sát tình hình hoạt động doanh nghiệp

1. Thống kê doanh nghiệp được khảo sát theo loại hình:

52%

25%

9%

6%

4%

2%

1%

1%

Hợp tác xã

Cty hợp danh

DN có vốn đầu tư nước ngoài

DN tư nhân CTCP, Cty TNHH có vốn nhà nước <50%

Cty TNHH MTV 100% vốn nhà nước

CTCP, Cty TNHH có vốn nhà nước >50%

CTCP, Cty TNHH không có vốn nhà nước

2. Thống kê doanh nghiệp được khảo sát theo ngành nghề:

24%

20%

12%

12%

10%

7%

6%

6%

3%

3%

Khác

BĐS

Khai khoáng

Vật liệu xây dựng

Vận tải, kho bãi

Xây dựng, xây lắp

Bán buôn, bán lẻ, dịch vụ

Nông, lâm, thủy sản

CN chế biến, chế tạo

Thông tin, truyền thông

3. Thống kê doanh nghiệp được khảo sát theo tổng nguồn vốn (tài sản):

37%

14%

13%

13%

12%

11%

Dưới 1 tỷ đồng Từ 1 - 10 tỷ

đồng

Từ 10 - 20 tỷ đồng

Từ 20 - 50 tỷ đồng

Từ 50 - 100 tỷ đồng

Trên 100 tỷ đồng

218

55%

37%

5%

3%

0

Rất xấu

Xấu

Bình thường

Tốt

Rất tốt

4. Cảm nhận của doanh nghiệp về môi trường kinh doanh hiện nay:

5. Trở ngại chủ yếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiện nay:

59%

43%

37%

25%

23%

12%

11%

9%

3%

2%

Khác

Sức tiêu thụ giảm

Yếu tố đầu vào

An ninh - chính trị

Hàng tồn kho chậm tiêu thụ

Tiếp cận vốn khó khăn

Thủ tục pháp lý phức tạp

Công nghệ lạc hậu

Giao thông vận tải

Chất lượng nhân lực chưa cao

6. Lý do khiến khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp giảm:

58%

54%

12%

3%

Khác

Nhu cầu tiêu thụ toàn ngành giảm

Sức ép cạnh tranh tăng

Thay đổi thị hiếu người tiêu dùng

7. Nếu trong năm 2013, doanh nghiệp đầu tư thêm vào tài sản cố định thì nhằm mục đích:

47%

29%

19%

11%

Khác

Mở rộng SX-KD Thay thế TSCĐ đảm

Đổi mới công nghệ

bảo SX-KD

219

62%

39%

38%

24%

16%

9%

8%

6%

Thủ tục vay vốn phiền hà

Phải trả thêm phụ phí

Vốn đối ứng không đủ

Lãi suất cao TSBĐ không đáp ứng được yêu cầu ngân hàng

Phương án kinh doanh không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng

Khả năng tài chính doanh nghiệp không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng

Bị từ chối với lý do thuộc lĩnh vực mà ngân hàng đang hạn chế cho vay

8. Khó khăn chủ yếu khi tiếp cận vốn vay ngân hàng của doanh nghiệp:

9. Mục đích vay vốn chủ yếu của doanh nghiệp:

61%

43%

8%

Trang trải chi phí lưu động Thanh toán các khoản nợ đến

Thực hiện phương án kinh doanh mới

hạn của các ngân hàng

10. Các biện pháp hỗ trợ của ngân hàng đối với doanh nghiệp

66%

31%

16%

15%

2%

Khác

Tư vấn dự án, phương án SX-KD

Giảm lãi suất Gia hạn nợ và cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ

Hỗ trợ về thanh toán, quản lý khoản phải thu

11. Triển vọng hoạt động của doanh nghiệp được khảo sát trong năm 2014:

63%

28%

9%

Tốt hơn 2013

Giữ nguyên so với 2013

Xấu hơn 2013

220

59%

29%

12%

Cải thiện so với 2013 Giữ nguyên so với 2013 Suy giảm so với 2013

12. Dự báo của doanh nghiệp về môi trường kinh doanh trong năm 2014:

13. Thống kê những kiến nghị chủ yếu từ phía doanh nghiệp đối với Chính phủ nhằm hỗ trợ

doanh nghiệp trong thời gian tới:

61%

44%

44%

35%

34%

34%

12%

12%

11%

10%

Ổn định giá cả

Xử lý nợ xấu

Hỗ trợ về lãi suất cho vay

Cải cách thủ tục pháp lý

Hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn cho DN

Thực hiện chương trình hỗ trợ về thuế

Tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế

Khuyến khích đầu tư vào công nghệ

Tháo gỡ khó khăn đối với thị trường tài chính, BĐS

Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

221

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

a/ Bài báo khoa học, kỷ yếu khoa học

1. Chu Khánh Lân, 2012, Nguyên nhân lạm phát tại Việt Nam và một số gợi ý

chính sách, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Số 4/2012.

2. Chu Khánh Lân, 2012, Bàn về tác động của chính sách tiền tệ tới tăng trưởng tín

dụng tại Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, Số 13/2012.

3. Chu Khánh Lân, 2012, Nghiên cứu thực nghiệm về hàm cầu tiền tại Việt Nam

và một số gợi ý chính sách, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Số 10/2012.

4. Chu Khánh Lân, 2012, Thực trạng truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín

dụng tại Việt Nam trong năm 2012, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Số 12/2012.

5. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2012, Giải pháp tái cơ cấu hệ thống tổ

chức tín dụng Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Số 22/2012.

6. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2013, Khung chính sách tiền tệ của Việt

Nam năm 2012 và những gợi ý chính sáchTạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng, Số 128

+ 129/2013.

7. Chu Khánh Lân, 2013, Nghiên cứu thực nghiệm về truyền dẫn chính sách tiền tệ

qua kênh tín dụng tại Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng, Số 13/2013.

8. Chu Khánh Lân, 2014, Nhìn lại công tác điều hành chính sách tỷ giá nhằm giảm

tình trạng đô la hóa của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2011 – 2013, Tạp chí Khoa học và

Đào tạo Ngân hàng, Số 140+141/2014.

9. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2014, Khung chính sách tiền tệ của Việt

Nam năm 2013 - Những điểm nhấn, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng, Số 140

+141/2014.

10. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2014, Nghiên cứu tác động của lãi suất

tới tỷ giá tại Việt Nam theo mô hình giá cứng Dornbusch, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số

200/2014.

11. Chu Khánh Lân, 2015, Khung chính sách tiền tệ năm 2014 và những gợi ý

chính sách năm 2015, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Số 152+153/2015.

12. Lê Thị Tuấn Nghĩa và Chu Khánh Lân, 2016, Những kết quả nổi bật trong điều

hành chính sách tiền tệ năm 2015, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, Số

164+165/2015.

13. Chu Khánh Lân và Hà Quốc Tuấn, 2016, Nghiên cứu thực nghiệm về truyền

dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân

hàng, Số 167/2015.

222

14. Đỗ Thị Kim Hảo, Chu Khánh Lân, Nguyễn Minh Phương, 2016, Hệ thống ngân

hàng Việt Nam trong bối cảnh gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN, Kỷ yếu hội thảo Phát

triển hệ thống ngân hàng hiệu quả và bền vững trên nền tảng sử dụng khoa học – công

nghệ, đổi mới và sáng tạo, tháng 5/2016.

b/ Đề tài nghiên cứu khoa học

15. Chu Khánh Lân và Nguyễn Minh Phương, 2012, Điều hành chính sách tiền tệ

tại Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn – Thực trạng và giải pháp, Đề tài NCKH

cấp Học viện.

16. Lê Thị Tuấn Nghĩa, 2013, Tác động của lãi suất đến tỷ giá – Lý thuyết và thực

tế Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Ngành (thư ký khoa học).

17. Trương Quốc Cường, 2013, Vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng

thương mại Việt Nam: Thực trạng, hệ lụy và giải pháp, Đề tài NCKH cấp Ngành (thành

viên).

18. Tô Ngọc Hưng, 2013, Xử lý nợ xấu trong quá trình tái cấu trúc các ngân hàng

thương mại Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Ngành (thành viên).

19. Nguyễn Đức Trung, 2013, Giải pháp quản lý thị trường Vàng tại Việt Nam, Đề

tài NCKH cấp Ngành (thành viên).

20. Tô Ngọc Hưng, 2013, Truyền dẫn chính sách tiền tệ tới tiêu dùng thông qua giá

bất động sản – Thực trạng và một số khuyến nghị chính sách, Đề tài NCKH cấp Học viện

(thành viên).

21. Chu Khánh Lân, 2014, Truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng tại Việt

Nam và một số khuyến nghị chính sách, Đề tài NCKH cấp Bộ Giáo dục và đào tạo.

22. Nguyễn Thùy Dương, 2014, Đánh giá thực trạng tín dụng thời gian qua. Định

hướng và giải pháp điều hành cho giai đoạn từ nay đến năm 2015, Đề tài NCKH cấp

Ngành (thành viên).

23. Hà Thị Sáu, 2014, Nghiên cứu cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh

chấp nhận rủi ro của các tổ chức tín dụng: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý chính sách cho

Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Ngành (thư ký khoa học).

24. Tô Ngọc Hưng, 2016, Giải pháp đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh

suy giảm kinh tế, Đề tài NCKH phối hợp giữa HVNH và BIDV (thư ký khoa học).

25. Tô Ngọc Hưng, 2016, Giải pháp tín dụng cho người nghèo và chương trình xây

dựng nông thôn mới tại Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Ngành (thư ký khoa học).