intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận án Tiến sĩ Luật học: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chia sẻ: Trí Mẫn | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:174

8
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài đặt ra mục đích làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về TNBTCNN; chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra trước những yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện TNBTCNN, thiết lập cơ chế pháp lý thuận lợi và khả thi để bảo đảm thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của công dân đối với những thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo tinh thần của Hiến pháp 2013.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án Tiến sĩ Luật học: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THANH TỊNH TR¸CH NHIÖM BåI TH¦êNG CñA NHµ N¦íC TRONG §IÒU KIÖN NHµ N¦íC PH¸P QUYÒN X· HéI CHñ NGHÜA VIÖT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2017
  2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THANH TỊNH TR¸CH NHIÖM BåI TH¦êNG CñA NHµ N¦íC TRONG §IÒU KIÖN NHµ N¦íC PH¸P QUYÒN X· HéI CHñ NGHÜA VIÖT NAM Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật Mã số: 62 38 01 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI HÀ NỘI - 2017
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi. Các tài liệu và số liệu sử dụng trong luận án đều được trích dẫn rõ ràng. Các kết luận khoa học trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào. Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2017 TÁC GIẢ LUẬN ÁN Nguyễn Thanh Tịnh
  4. MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI................................................................................................................................... 7 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ...................................... 7 1.2. Nhận xét chung và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu .................. 18 1.3. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học ................................................... 25 1.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ............................................. 26 Chƣơng 2: LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG CỦA NHÀ NƢỚC TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ................................................................................................................................... 28 2.1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ................. 28 2.2. Mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và vấn đề trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ............................................................................................ 39 2.3. Yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ........................................................................... 47 2.4. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của một số nước trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam ................................................................. 55 Chƣơng 3: TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM.......... 77 3.1. Quá trình hình thành trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Việt Nam............ 77 3.2. Nội dung cơ bản của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành ................................................................................ 85 3.3. Kết quả thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ............................. 94 3.4. Hạn chế, bất cập của trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành so với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ...................................................................................... 106 Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG CỦA NHÀ NƢỚC TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ................................. 124 4.1. Quan điểm bảo đảm thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam .................... 124 4.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam .................... 128 KẾT LUẬN ................................................................................................................. 148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .......................................................................................................... 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 152 PHỤ LỤC
  5. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLDS: Bộ luật Dân sự BTNN: Bồi thường nhà nước BTTH: Bồi thường thiệt hại CQHCNN: Cơ quan hành chính Nhà nước FTCA: Federal Tort Claim Act GQBT: Giải quyết bồi thường HĐND: Hội đồng nhân dân NNPQ: Nhà nước pháp quyền TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao THADS: Thi hành án dân sự TNBT: Trách nhiệm bồi thường TNBTCNN: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước TNDS: Trách nhiệm dân sự TNPL: Trách nhiệm pháp lý TTHS: Tố tụng hình sự TTLT: Thông tư liên tịch QPPL: Quy phạm pháp luật UBND: Ủy ban nhân dân UBTVQH: Ủy ban Thường vụ Quốc hội VKSNDTC: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao XHCN: Xã hội chủ nghĩa
  6. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Một trong những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền là quyền con người, quyền công dân được tôn trọng, được bảo vệ và được bảo đảm thực hiện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc tối thượng của pháp luật, trong nhà nước pháp quyền, Nhà nước và công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Nhà nước là chủ thể của quyền lực công, có quyền ban hành pháp luật và thực hiện quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Tuy nhiên, trước pháp luật, Nhà nước có trách nhiệm tuân thủ như mọi chủ thể khác, theo đó, nếu cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước có quyết định, hành vi trái pháp luật mà gây ra thiệt hại đối với cá nhân, tổ chức thì Nhà nước phải bồi thường. Bồi thường nhà nước là một cơ chế pháp lý phức tạp. Hoạt động của Nhà nước được điều chỉnh bởi pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và hành chính (luật công). Trong hoạt động của mình, nếu Nhà nước gây ra thiệt hại trái pháp luật cho tổ chức, cá nhân thì việc xác định trách nhiệm bồi thường phải được điều chỉnh bởi các quy định của luật công. Tuy nhiên, theo nguyên tắc mọi tổ chức, cá nhân và Nhà nước, cơ quan nhà nước đều bình đẳng trước pháp luật thì khi tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra thì họ có quyền yêu cầu bồi thường mà không phân biệt chủ thể có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại là ai. Do vậy, trong trường hợp thiệt hại do nhà nước gây ra thì về nguyên tắc các tiêu chuẩn về bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật dân sự (luật tư) sẽ được áp dụng. Như vậy, pháp luật về bồi thường nhà nước (trách nhiệm bồi thường của Nhà nước) có sự giao thoa giữa luật công và luật tư. Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) cần được xem xét trên cơ sở đánh giá mục tiêu và nguyên tắc điều chỉnh của cả pháp luật hành chính và pháp luật dân sự. Cơ chế TNBTCNN có sự tham gia của ba chủ thể: (1) cán bộ, công chức gây ra thiệt hại, (2) người bị thiệt hại và (3) nhà nước. TNBTCNN sẽ phát sinh nếu như cán bộ, công chức có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại trong khi thi hành công vụ. Như vậy, một đặc điểm hết sức quan trọng của cơ chế trách nhiệm pháp lý này là 1
  7. nhà nước sẽ đảm nhận trách nhiệm bồi thường thay cho cán bộ, công chức có hành vi trái pháp luật trong khi thi hành công vụ gây ra thiệt hại đối với cá nhân, tổ chức. Với đặc điểm nêu trên, TNBTCNN có ý nghĩa cả về phương diện chính trị và pháp lý. Trên phương diện chính trị, TNBTCNN là một biểu hiện của nhà nước pháp quyền. Thực thi dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân là yêu cầu đối với nhà nước pháp quyền. Thông qua cơ chế pháp luật, nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Mọi hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đều bị xử lý và phải chịu chế tài theo quy định của pháp luật mà không có sự phân biệt chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật là tổ chức, cá nhân hay Nhà nước. Việc thừa nhận TNBTCNN và thiết lập cơ chế bảo đảm thực thi trách nhiệm pháp lý này là công cụ hữu hiệu để thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó, việc xây dựng, ban hành và triển khai thi hành pháp luật về TNBTCNN là công việc thiết thực để thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Thông qua cơ chế này, một mặt, người bị thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường đối với những thiệt hại về vật chất và tổn thất về tinh thần mà mình đã phải gánh chịu, qua đó nâng cao uy tín của Đảng và Nhà nước, mặt khác, cán bộ, công chức sẽ có ý thức, trách nhiệm hơn trong khi thi hành công vụ, đóng góp tích cực vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước. Trên phương diện pháp lý, TNBTCNN là cơ chế hữu hiệu để bảo đảm thực hiện quyền được bồi thường của tổ chức, cá nhân đã được Hiến pháp ghi nhận, đồng thời, góp phần duy trì sự ổn định của hoạt động công vụ. Trong cơ chế TNBTCNN, Nhà nước là chủ thể bồi thường thay thế người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại. Trên cơ sở thừa nhận TNBTCNN, thông qua công cụ pháp luật, Nhà nước quy định cụ thể các tiêu chí, chuẩn mực xác định trách nhiệm bồi thường, xác định thiệt hại được bồi thường, trách nhiệm và thủ tục giải quyết bồi thường để bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại được thực hiện trên thực tế. Mặt khác, cơ chế TNBTCNN có ý nghĩa bảo đảm sự ổn định của hoạt động công vụ. Cán bộ, công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một vị trí công vụ và có chức năng, nhiệm vụ nhất định và được Nhà nước bảo đảm các điều kiện cần thiết để hoàn thành công vụ của mình. Trường hợp cán bộ, công chức có lỗi vô ý hoặc 2
  8. cố ý gây ra thiệt hại đối với tổ chức, cá nhân trong khi thi hành công vụ thì Nhà nước sẽ đảm nhận trách nhiệm bồi thường, tạo điều kiện ổn định để cán bộ, công chức hoàn thành công vụ của mình. Hơn nữa, với địa vị là chủ thể quản lý ngân khố quốc gia, việc Nhà nước thực hiện trách nhiệm của bên bồi thường sẽ tạo thuận lợi cho việc thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền bồi thường vì Nhà nước không bị hạn chế bởi năng lực tài chính so với cá nhân cán bộ, công chức. Với những ý nghĩa đó, cơ chế pháp lý về TNBTCNN được xác lập đã đánh dấu một bước tiến hết sức quan trọng của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và hội nhập quốc tế hiện nay. TNBTCNN có ý nghĩa, vai trò to lớn trong nhà nước pháp quyền, trong mối quan hệ này, nhà nước pháp quyền cũng đặt ra những yêu cầu đối với TNBTCNN. Một trong những yêu cầu đó là tính khả thi của cơ chế giải quyết bồi thường thuộc trách nhiệm của Nhà nước. Trong quan hệ TNBTCNN, bên yêu cầu bồi thường - tổ chức, cá nhân bị thiệt hại luôn là bên yếu thế về địa vị pháp lý so với bên bồi thường - Nhà nước. Nhà nước thực hiện việc giải quyết bồi thường thông qua cơ quan đại diện của mình (cơ quan có trách nhiệm bồi thường). Giải quyết bồi thường nhà nước là hoạt động phức tạp và nhạy cảm vì liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế, chính trị của cán bộ, công chức đã gây ra thiệt hại. Do đó, hoạt động giải quyết bồi thường của cơ quan có trách nhiệm bồi thường sẽ chịu nhiều sức ép mà hậu quả là không bảo đảm tính khả thi của cơ chế bồi thường nhà nước. Để bảo đảm những nguyên tắc của nhà nước pháp quyền thì yêu cầu đặt ra là cơ chế TNBTCNN phải có tính thực tiễn, khả thi và hiệu quả. Mặt khác, đặc điểm của quan hệ bồi thường thiệt hại là việc giải quyết xung đột lợi ích giữa bên yêu cầu bồi thường và bên bồi thường. Trong TNBTCNN, nếu phạm vi trách nhiệm bồi thường càng rộng thì càng gây sức ép đối với Nhà nước, trái lại, phạm vi trách nhiệm bồi thường hẹp thì lại không bảo đảm quyền được bồi thường của tổ chức và cá nhân đã được Hiến pháp quy định. Do đó, vấn đề đặt ra đối với cơ chế TNBTCNN là phải bảo đảm sự cân bằng hợp lý lợi ích của Nhà nước và của công dân. Ý nghĩa của TNBTCNN là rất to lớn trong việc bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân mà trực tiếp là quyền được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước gây ra; góp phần nâng cao trách nhiệm của người thi hành công vụ. Tuy nhiên, những vấn đề pháp lý nẩy 3
  9. sinh trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đã và đang thách thức tính khả thi của cơ chế TNBTCNN cũng như quan điểm về mô hình TNBTCNN trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo tinh thần của Hiến pháp 2013. Mặt khác, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về TNBTCNN trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, đặt ra những câu hỏi lớn cần làm rõ như khái niệm, bản chất và đặc điểm TNBTCNN; mối quan hệ của TNBTCNN và Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; giải pháp nâng cao tính hiệu quả và khả thi của pháp luật về TNBTCNN trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” là đề tài luận án tiến sĩ của mình. 2. Mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu Đề tài đặt ra mục đích làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về TNBTCNN; chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra trước những yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện TNBTCNN, thiết lập cơ chế pháp lý thuận lợi và khả thi để bảo đảm thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của công dân đối với những thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo tinh thần của Hiến pháp 2013. 2.2. Phạm vi nghiên cứu Trên thực tế, với tư cách là một chủ thể pháp luật, Nhà nước sẽ thực hiện trách nhiệm bồi thường cho tổ chức, cá nhân khi có căn cứ pháp lý xác định Nhà nước phải bồi thường thông qua các thủ tục như khiếu nại, tố cáo, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự hoặc trình tự giải quyết bồi thường thuộc TNBTCNN. Luận án này tập trung nhiên cứu về việc bồi thường của Nhà nước với phạm vi và trình tự giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật về TNBTCNN. Để làm rõ cơ sở lý luận và thực tế của TNBTCNN trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay, luận án sẽ nghiên cứu về quá trình hình thành 4
  10. và phát triển của chế định TNBTCNN ở Việt Nam trước và sau khi Luật TNBTCNN số 35/2009/QH12 (Luật TNBTCNN năm 2009) được ban hành gắn với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo tinh thần của Hiến pháp 2013. Đồng thời, Luận án sẽ nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về TNBTCNN để rút ra các bài học có thể tham khảo cho Việt Nam. 2.3. Nhiệm vụ của luận án Để đạt được mục tiêu nói trên, luận án có những nhiệm vụ sau đây Một là, khái quát được những công trình khoa học tiêu biểu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu, chỉ ra được những vấn đề đã được giải quyết và giải quyết như thế nào. Trên cơ sở đó chỉ ra được những vấn đề mà luận án cần giải quyết. Hai là, làm rõ được những vấn đề lý luận về TNBTCNN trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam như: khái niệm, đặc điểm, cơ sở phát sinh, phạm vi TNBTCNN và cơ chế giải quyết bồi thường trên cơ sở bảo đảm bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Ba là, so sánh những nội dung cơ bản về TNBTCNN theo quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước trên thế giới để chỉ ra sự tương đồng, khác biệt; phân tích đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về TNBTCNN và chỉ ra những hạn chế, bất cập so với yêu cầu bảo đảm thực hiện TNBTCNN trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Bốn là, đưa ra được hệ quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện TNBTCNN; thiết lập cơ chế phù hợp để bảo đảm thực hiện quyền được bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và thi hành Hiến pháp 2013. 3. Những đóng góp mới của luận án Điểm mới của luận án gồm những vấn đề chủ yếu sau đây: Đánh giá tổng quan được các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về TNBTCNN, pháp luật về TNBTCNN. Đưa ra khái niệm, đặc điểm, vai trò của TNBTCNN trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, mối quan hệ giữa TNBTCNN và nhà nước pháp quyền; khái quát được quá trình hình thành và phát triển của TNBTCNN. Đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về TNBTCNN ở 5
  11. Việt Nam và chỉ ra những hạn chế, bất cấp, nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó trên cơ sở những nhận thức và yêu cầu của nhà nước pháp quyền về trách nhiệm của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức; bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Đưa ra được hệ quan điểm và những giải pháp bảo đảm thực hiện TNBTCNN trong điều kiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Kết quả đạt được của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về TNBTCNN và mối quan hệ giữa TNBTCNN với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, vai trò của TNBTCNN trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống, đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật về TNBTCNN, do đó là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập ở các trường đại học chuyên ngành luật. Đồng thời, có thể được các cơ quan giải quyết bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường, các cơ quan tư pháp sử dụng như một tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện pháp luật, áp dụng các quy định pháp luật về TNBTCNN. 5. Kết cấu của luận án Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận án gồm: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài. Chương 2: Lý luận về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chương 3: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Việt Nam. Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 6
  12. Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.1.1. Những công trình nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 1.1.1.1. Những công trình khoa học về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở nước ngoài TNBTCNN là chế định pháp luật mới được hình thành và là một lĩnh vực pháp luật có tính chất giao thao giữa pháp luật hành chính và pháp luật dân sự, do đó, trên thế giới không có nhiều công trình khoa học chuyên sâu nghiên cứu. Như đánh giá của Carol Harlow “Gần như tất cả sách giáo trình về luật hiến pháp hoặc luật hành chính đều có một chương về trách nhiệm của Nhà nước mặc dù các nội dung thì khác nhau. Đôi khi tác giả giới hạn chính bản thân mình trong việc phân tích các quy định của Luật tranh tụng Hoàng Gia (Crown Proceeding Act) năm 1947… Tác giả của pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không có sự quan tâm tương tự đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước. Không hề có những đầu đề như vậy xuất hiện trong những cuốn sách này” [16, tr. 7]. Trong bối cảnh đó, cuốn sách Bồi thường và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Chính phủ (Compensation and Government Torts) của tác giả Carol Harlow, do Nhà sách London Sweet and Maxwell xuất bản năm 1982 là một công trình khoa học hiếm hoi nghiên cứu khá toàn diện về TNBTCNN. Mở đầu bằng việc phân tích tính hợp lý và sự cần thiết phải xác lập TNBTCNN, tác giả đã tổng hợp các án lệ và các tranh luận của các học giả để đưa đến kết luận là “các hoạt động thực hiện vì lợi ích công cộng không được phép gây ra thiệt hại mà không có bồi thường cho các cá nhân… Nạn nhân trong các vụ tai nạn phải ở vị trí pháp lý giống nhau dù cho chiếc xe tải đâm họ hay nhà máy nơi họ bị tai nạn được sở hữu bởi một cá nhân, một công ty hoặc của nhà nước” [16, tr. 11] và theo đó Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường tương tự như cá nhân, tổ chức chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đồng thời, ông cũng thừa nhận rằng, quan niệm về trách nhiệm bồi thường được liên kết với lý tưởng của các nhà nước kinh tế tự do, không can thiệp [16, tr. 13]. Đối với Luật tranh tụng Hoàng Gia của Vương quốc Anh 7
  13. được ban hành năm 1947, ông nhận định “Nó là nền tảng cho nhà nước pháp quyền mà Hoàng gia, giống như các nhà cầm quyền khác, nên chịu sự chia sẻ công bằng đối với các trách nhiệm pháp lý và chịu trách nhiệm trước những sai lầm gây ra” [16, tr. 16]. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những lập luận phê phán thuyết “miễn trừ quốc gia về trách nhiệm bồi thường” tại Vương quốc Anh. Nguyên tắc pháp lý về miễn trừ quốc gia về trách nhiệm bồi thường hay "sự miễn trừ trách nhiệm đối với pháp luật thông thường" được hình thành ngay trong thời trung cổ với quy tắc đơn giản, theo đó, một lãnh chúa phong kiến không thể bị kiện tại chính “tòa án” riêng của mình [16, tr. 10]. Đồng thời, nhà vua trong thời kì phong kiến cũng không thể bị kiện. Nhà sử học về pháp lý giải thích điều này như là cơ sở của câu châm ngôn quen thuộc "Nhà vua không bao giờ sai”. Như các học giả đã nói: "Luật pháp nước Anh không cung cấp bất kỳ phương tiện nào mà trong đó nhà vua có thể bị trừng phạt hoặc bị bắt buộc phải bồi thường" [16, tr. 10]. Thuật ngữ "Vương quyền" mà được sử dụng đến ngày nay, với hàm ý là độc đoán, quyền hạn và quyền lực tuyệt đối, không thể áp dụng vào các học thuyết thời Trung cổ về địa vị của vua. Khi các nhà chính trị học của thế kỷ 17 và sau đó, đã chỉnh sửa và mở ra các khái niệm mới khiến cho châm ngôn về các thủ tục trước đây thay đổi ý nghĩa của nó: nhà vua không thể bị kiện trừ khi có thủ tục đặc biệt từ yêu cầu của bên có quyền, có nghĩa là nhà vua không thể bị coi là phạm tội hoặc phạm các sai lầm cá nhân gây thiệt hại. Theo tác giả thì cách đơn giải nhất để hạn chế sự miễn trừ trách nhiệm đối với hoàng gia trong nhà nước hiện đại là đặt ra một “bức màn” phía trước nhà vua bằng cách tạo ra một pháp nhân nhân tạo gọi là Nhà nước, quốc gia hay thậm chí là Chính phủ. Thông luật không thể thực hiện được bước nhảy vọt này. Chủ thuyết này đã được duy trì trong Chính phủ quân chủ ở Anh không phải là điều ngạc nhiên. Điều đáng ngạc nhiên hơn là ở những nước cộng hòa như Hoa Kỳ hay Pháp cũng thừa nhận miễn trừ trách nhiệm của Nhà nước đối với việc kiện tụng. Câu châm ngôn "nhà vua không sai" vẫn còn được sử dụng ở Pháp thế kỷ XIX và Laferriere - luật sư công vĩ đại thế kỷ 19, đã liên kết việc miễn trừ trách nhiệm pháp lý với các lý thuyết chính trị của Vương quyền khi ông nói rằng thuộc tính cơ bản của Vương quyền đó là áp đặt chính nó lên tất cả mọi người mà không có bồi thường. Các rào cản thủ tục thời trung cổ đã phát triển thành một khả năng miễn trừ độc lập đối với 8
  14. các thủ tục tố tụng pháp lý - những thủ tục được thiết kế để ngăn chặn, hạn chế quyền hạn của chính phủ và sách nhiễu của các thành phần thuộc chính phủ thông qua các hành động trong các tòa án dân sự. Trên thực tế, khoảng trống pháp lý về sự thiếu trách nhiệm của vương quyền về bồi thường thiệt hại đã được lấp đầy bởi nguyên tắc trách nhiệm pháp lý của cá nhân, người đã mắc sai lầm: cá nhân công chức có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với những sai lầm mà mình mắc phải trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Dicey, một học giả thời đó, nêu cao tư tưởng này trong một hiến pháp tín ngưỡng (constitutional dogma) đáng tôn sùng được thể hiện trong một tác phẩm kinh điển của ông, khi ông định nghĩa các quy định của pháp luật như sau: "Chúng ta ở vị trí thứ hai, khi chúng ta nói về các quy định của pháp luật như một đặc điểm của nước ta, không chỉ vì với chúng ta không có người nào đứng trên luật pháp, mà ở đây mỗi người, bất kể địa vị hay điều kiện của họ, đều là đối tượng của pháp luật thông thường của vương quốc và chịu trách nhiệm với quyền xét xử của tòa án thông thường. nước Anh, ý tưởng bình đẳng pháp lý, hay sự tuôn thủ của tất cả các giai cấp đối với một hệ thống pháp luật được quản lý bởi các tòa án thông thường đã được đẩy đến giới hạn tối đa của nó. Mỗi cán bộ, từ Thủ tướng Chính phủ đến nguyên soái hay người thu thuế, đều chịu trách nhiệm như nhau cho mỗi hành động của họ giống như mọi công dân khác mà không có sự biện minh của pháp luật. Đã có rất nhiều vụ việc mà trong đó các công chức đã được đưa ra trước tòa và trong tư cách cá nhân, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi trái pháp luật trong khi thi hành công vụ của họ. Một thống đốc thuộc địa, một thư ký chính phủ, sĩ quan quân đội, mặc dù thực hiện các lệnh của cấp trên nhưng họ vẫn phải chịu trách nhiệm về bất kỳ hành động mà pháp luật không cho phép như là những cá nhân bình thường. Như vậy, thời kỳ này, pháp luật chưa thiết lập cơ chế TNBTCNN, tuy nhiên, người bị thiệt hại vẫn có cơ chế pháp lý để thực hiện quyền bồi thường thiệt hại của mình. Đồng thời, tác giả cũng bình luận về mục tiêu thứ hai của trách nhiệm BTTH đó là vai trò ngăn chặn sự xâm phạm quyền. Theo đó, trong pháp luật công, hành vi buộc bồi thường thiệt hại là một cách thức tán thành “các quy định của pháp luật” bằng cách ngăn chặn lạm dụng quyền lực và hành động bất hợp pháp của các quan chức Chính phủ. Một công chức chịu trách nhiệm cá nhân về lạm 9
  15. dụng quyền lực dường như thích hợp, bởi vì những quyền hạn mà anh ta được giao phó là rất lớn. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một cách bắt anh ta phải chịu tội. Như một thẩm phán Pháp đã từng nói trong sự biện minh của hệ thống luật Anh "Nỗi sợ hãi xử phạt cá nhân đối với một công chức chắc chắn là “cái phanh” mạnh hơn rất nhiều so với trách nhiệm sau cùng đối với công việc mà một công chức được tuyển dụng thực hiện" [16, tr. 12]. Vậy đâu là cơ sở để hình thành TNBTCNN, tác giả đưa ra lập luận rằng, nếu như cá nhân chịu trách nhiệm bồi thường thì trong nhiều trường hợp nguồn tài chính của cá nhân không đủ để thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền bồi thường. Trong khi Nhà nước - Vương triền mà họ phụng sự thường không có giới hạn về nguồn lực tài chính. Từ đó, thông luật đã đưa ra giải pháp là áp dụng trách nhiệm liên đới để cho phép sử dụng nguồn ngân sách nhà nước để chi trả bồi thường, tương tự như pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra. Tác giả cũng cho rằng, ngày nay, trách nhiệm liên đới là quy luật hơn là ngoại lệ, theo đó, người chủ, người hưởng lợi từ công việc của người đầy tớ, sẽ phải cung cấp các khoản tiền bồi thường nếu người đầy tớ phạm sai lầm cá nhân. Tương tự, các đầy tớ của vua phạm sai lầm, quỹ Chính phủ sẽ thực hiện việc bồi thường cho những sai lầm đó. Đây chính là nguyên lý làm nền tảng cho việc ban hành Luật tranh tụng Hoàng gia năm 1947. Mặc dù vậy, tác giả cho rằng, đạo luật này còn những hạn chế bởi lẽ đạo luật còn quy định duy trì nguyên tắc miễn trừ trách nhiệm bồi thường của chính phủ trong hoạt động tư pháp và một số trường hợp đặc biệt khác [16, tr. 17]. Trong cuốn sách của mình, tác giả cũng đã bình luận về bản chất và nội dung của TNBTCNN tại Vương Quốc Anh, theo đó các nguyên tắc của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng để xác định thiệt hại được Nhà nước bồi thường cũng như phân tích về nguyên tắc xem xét tính trái pháp luật trong hoạt động công vụ để làm cơ sở xác định TNBTCNN [16, tr. 38]. Trong số các nước có Luật TNBTCNN thì Trung Quốc là quốc gia có thể chế chính trị tương đồng với Việt Nam đã ban hành Luật này vào năm 1994 và được ghi nhận có một số công trình khoa học về lĩnh vực này. Trong đó bao gồm: Mã Hoại Đức (chủ biên), Nghiên cứu một số vấn đề về Luật Bồi thường nhà nước, Nxb Pháp luật Trung Quốc năm 2005; Cao Gia Vĩ, Luật Bồi thường nhà nước, sách chuyên khảo, Nhà sách Thương vụ Trung Quốc, năm 2004; Trang Công Thắng và 10
  16. Lưu Chí Tân, Bồi thường nhà nước và giám định tổn thất tinh thần, Sách chuyên khảo, Nxb Tòa án nhân dân, Trung Quốc năm 2005. Các tác giả khẳng định rằng việc ban hành chế định bồi thường nhà nước của các quốc gia là quy luật khách quan trong tiến trình dân chủ hóa đời sống xã hội, đặc biệt việc các quốc gia trên thế giới chấp nhận và ngày càng mở rộng phạm vi bồi thường trong lĩnh vực hành chính là bước đột phá trong quan hệ bồi thường của Nhà nước, qua đó đánh giá và là thước đo nền dân chủ ở mỗi quốc gia. Cách tiếp cận vấn đề về trách nhiệm giữa các chủ thể trong mối quan hệ giữa một bên là Nhà nước, một bên là cá nhân, tổ chức trong xã hội dân chủ mà ở đó quyền công dân, quyền con người được đề cao. Đồng thời, thông qua việc phân tích quy định pháp luật bồi thường của Trung Quốc, so sánh với các chế định tương ứng của pháp luật Trung Quốc với một số nước trên thế giới như: Nhật Bản, Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp để tìm ra những ưu điểm và hạn chế, tồn tại, tác giả đã đưa ra những đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này phù hợp với chủ trương xây dựng, phát triển xã hội hài hòa mang bản sắc Trung Quốc. Liên quan đến bồi thường tổn hại về tinh thần, mặc dù, Luật Bồi thường nhà nước Trung Quốc quy định nguyên tắc bồi thường tổn hại về tinh thần được quy ra vật chất để chi trả một lần cho những chủ thể bị hại, nhưng vấn đề cuốn sách đề cập tới là nhiều tổn hại tinh thần chưa được Luật quy định, trong khi đó có những tổn hại về tinh thần rất khó tính toán để quy ra vật chất, thậm chí nếu quy ra vật chất thì mức bồi thường là chưa tương xứng với uy tín, danh dự, nhân phẩm mà cá nhân hay tổ chức phải gánh chịu. Trên cơ sở thực tiễn của Trung Quốc và nghiên cứu tình hình của các nước phát triển, tác giả đã đưa ra những đề xuất các tiêu chuẩn, định mức bồi thường và đề nghị bổ sung vấn đề này vào Luật Bồi thường nhà nước Trung Quốc. Trong quá trình nghiên cứu xây dựng Luật TNBTCNN, cơ quan soạn thảo đã mời nhiều chuyên gia pháp luật về BTNN của các nước giới thiệu kinh nghiệm pháp luật về TNBTCNN của các nước. Trong đó bao gồm các nghiên cứu: Arnel Cezar, Pháp luật và chính sách về TNBTCNN ở Phi-Líp-Pin, Kỷ yếu Hội thảo “Pháp luật và chính sách về TNBTCNN” - Trung tâm Thông tin thư viện và nghiên cứu khoa học Văn phòng Quốc hội, Hà Nội, 2007; Alfredo Santos, TNBTCNN ở Liên bang Thụy Sỹ, Kỷ yếu Hội thảo “Pháp luật về bồi thường nhà nước” - Nhà Pháp luật Việt Pháp, Hà Nội, 10, 11 tháng 9 năm 2007; Christian A. Brendel, Pháp luật và chính sách về 11
  17. trách nhiệm nhà nước ở Cộng hòa liên bang Đức, Kỷ yếu Hội thảo “Pháp luật và chính sách về TNBTCNN” - Trung tâm Thông tin thư viện và nghiên cứu khoa học Văn phòng Quốc hội, Hà Nội, 2007; Inosentius Samsul, Pháp luật và chính sách về trách nhiệm nhà nước ở nước cộng hòa Indonesia, Kỷ yếu Hội thảo “Pháp luật và chính sách về TNBTCNN” - Trung tâm Thông tin thư viện và nghiên cứu khoa học Văn phòng Quốc hội, Hà Nội, 2007; Taro Morinaga, Pháp luật và chính sách về TNBTCNN ở Nhật Bản, Kỷ yếu Hội thảo “Pháp luật và chính sách về TNBTCNN” - Trung tâm Thông tin thư viện và nghiên cứu khoa học Văn phòng Quốc hội, Hà Nội, 2007. Các chuyên gia đã giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển Luật TNBTCNN ở các nước. Trong đó, Nhật Bản là quốc gia được đánh giá có hệ thống pháp luật về TNBTCNN hiệu quả. Theo tác giả thì Luật Bồi thường nhà nước của Nhật bản được ban hành năm 1946 trên cơ sở tiếp thu các nguyên lý về TNBTCNN được phát triển ở một số nước phương Tây. Đạo luật này có 06 điều quy định về TNBTCNN của Chính phủ Nhật Bản. Theo các chuyên gia Nhật Bản thì đặc điểm của pháp luật bồi thường nhà nước là có sự giao thoa giữa pháp luật hành chính và pháp luật dân sự. Khía cạnh pháp luật hành chính biểu hiện ở quan hệ bồi thường giữa một bên là Nhà nước và các cơ quan nhà nước với một bên là tổ chức, cá nhân. Trong đó, về trách nhiệm hành chính thì Nhà nước và cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về hành vi trái pháp luật do cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước gây ra và xác định Bộ trưởng Bộ Tư pháp là người đại diện Chính phủ Nhật Bản chịu trách nhiệm về bồi thường thiệt hại thuộc trách nhiệm của Nhà nước. Luật cũng xác định phạm vi TNBTCNN bao quát tất cả các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp với yêu cầu là người bị thiệt hại chứng minh được có thiệt hại xẩy ra do hành vi trái pháp luật của Nhà nước và các cơ quan nhà nước. Khía cạnh pháp luật dân sự biểu hiện ở việc bảo hộ quyền được bồi thường của cá nhân tổ chức theo thủ tục và chuẩn mực của pháp luật dân sự. Theo đó, Luật Bồi thường nhà nước của Nhật Bản quy định dẫn chiếu áp dụng pháp luật dân sự, tố tụng dân sự để giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước. 1.1.1.2. Những công trình khoa học về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam TNBTCNN là vấn đề pháp lý mới hình thành ở Việt Nam thông qua việc Quốc hội ban hành Luật TNBTCNN. Do đó, việc nghiên cứu về TNBTCNN gắn 12
  18. liền với việc xây dựng và tổ chức thi hành Luật TNBTCNN. Tác giả Phạm Hồng Thái, Một số vấn đề về bồi thường nhà nước, Báo cáo tại Hội thảo “Pháp luật về bồi thường nhà nước” do Ủy ban Pháp luật của Quốc hội tổ chức tại Quảng Ninh, ngày 18, 19 tháng 12 năm 2008 đã đi sâu phân tích một số yếu tố cơ bản của hoạt động công vụ, đặc thù của yếu tố chủ thể công quyền - Nhà nước - trong quan hệ công vụ để từ đó xác định những vấn đề cơ bản của TNBTCNN, theo đó, khẳng định, TNBTCNN về bản chất là quan hệ công vụ. Tác giả cũng cho rằng, về nguyên tắc, không loại trừ bất kỳ hoạt động công vụ nào ra khỏi phạm vi TNBTCNN, có hay chăng là chỉ đối với hoạt động lập pháp. Trên cơ sở coi bồi thường nhà nước là quan hệ hành chính, tác giả cho rằng, mức bồi thường cũng nên thấp hơn với mức bồi thường thông thường trong quan hệ dân sự. Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng, để xác định đúng đắn TNBTCNN cũng cần phân biệt giữa lỗi của nền công vụ và lỗi cá nhân của người thi hành công vụ. Bên cạnh đó, tác giả Trịnh Đức Thảo, Hai lý thuyết và hai loại TNBTCNN, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1, tháng 1/2008 đã thông tin sơ lược về sự hình thành và phát triển của chế định pháp luật về TNBTCNN nói chung. Tác giả đề cập đến hai lý thuyết về TNBTCNN là lý thuyết về trách nhiệm trực tiếp và lý thuyết về trách nhiệm thay thế. Theo đó, tác giả cho rằng, mỗi lý thuyết đều có những ưu điểm, nhược điểm nhất định, ví dụ, ở lý thuyết trách nhiệm trực tiếp thì có ưu điểm là trực tiếp thừa nhận rằng Nhà nước có thể sai, qua đó, phủ nhận tư tưởng “vua không thể làm sai” hoặc có thể quy định miễn trừ trách nhiệm hoàn trả của công chức. lý thuyết về trách nhiệm thay thế thì có nhược điểm là có thể dẫn tới cách suy diễn là vẫn có sự tồn tại của tư tưởng “vua không thể làm sai”… Ngoài ra, tại bài viết này, tác giả cũng phân tích và so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa hai loại hình trách nhiệm: bồi thường thiệt hại và đền bù tổn thất cả trên phương diện căn cứ phát sinh lẫn căn cứ áp dụng. Trong Số chuyên đề Những nội dung cơ bản của Luật Bồi thường nhà nước, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật 2008, các tác giả Dương Đăng Huệ, Trần Thế Quân, Nguyễn Văn Tuân, Đinh Văn Thanh, Hoàng Ngọc Cẩn, Mai Anh Thông đã phân tích sự cần thiết ban hành Luật TNBTCNN và đề xuất nội dung về trách nhiệm bồi thường trong các lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ. Cũng trong Số chuyên đề này, tác giả Dương 13
  19. Văn Hậu, trong bài viết “Một số vấn đề lý luận về bồi thường nhà nước nhìn từ góc độ ranh giới giữa bồi thường và đền bù: đã phân tích về mối liên hệ giữa “bồi thường” và “đền bù” trong việc xác định tính trái pháp luật của hành vi và tính trái pháp luật của hậu quả cũng như xu hướng trong hoàn thiện pháp luật về bồi thường nhà nước giữa hai vấn đề nêu trên. Cụ thể, tác giả tập trung vào một số vấn đề: (1) sự phát triển của lý thuyết về tính bất hợp pháp của hành vi, ưu điểm và nhược điểm của từng lý thuyết, hệ quả và ý nghĩa của nó khi lựa chọn định hướng lý luận cho việc thể chế hóa tại các quy định cụ thể. Từ đó, tác giả đi tới nhận định về ranh giới giữa “bồi thường” và “đền bù” đang ngày càng thu hẹp, thậm chí biến mất; (2) sự cân nhắc lựa chọn giữa các lý thuyết về trách nhiệm thay thế hoặc trách nhiệm độc lập của Nhà nước trong mối liên quan giữa sự ủy quyền của Nhà nước cho công chức trong thực hiện công vụ với yếu tố lỗi của công chức trong thi hành công vụ với tư cách là lỗi cá nhân để từ đó cho rằng, trong quan hệ bồi thường nhà nước, chừng nào hậu quả là thiệt hại đã xảy ra thì sẽ bị coi là bất hợp pháp; (3) tác giả đưa ra một số vấn đề như tính bất hợp pháp của hành vi và yếu tố lỗi của công chức trong mối liên hệ với những cân nhắc lựa chọn định hướng lập pháp theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại để từ đó khẳng định sự bất hợp pháp và lỗi của công chức là không nhất thiết phải bắt buộc để yêu cầu nhà nước bồi thường. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Trách nhiệm dân sự của cơ quan, tổ chức về thiệt hại do hành vi của cán bộ, công chức gây ra - vấn đề lý luận và thực tiễn”, Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Minh Tuấn, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2008 được xác định là một công trình nghiên cứu công phu, có hệ thống về các khía cạnh liên quan đến trách nhiệm bồi thường của cơ quan, tổ chức do hành vi gây ra thiệt hại của cán bộ, công chức gây ra, cụ thể là: (1) phân tích, chỉ rõ nhiều vấn đề làm cơ sở lý luận và thực tiễn để khẳng định sự cần thiết của chế định pháp luật về bồi thường thiệt hại của cơ quan, tổ chức do hành vi gây ra thiệt hại của cán bộ, công chức gây ra như: khẳng định trách nhiệm bồi thường là trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.v.v...; (2) nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia về TNBTCNN như Canada, Nhật Bản, Hoa Kỳ v.v...; (3) nghiên cứu, xác định địa vị pháp lý của cơ quan, tổ chức và của cán bộ, công chức trong quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ra thiệt hại của cán bộ, công chức gây ra; (4) nghiên cứu, phân tích các yếu tố của quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại 14
  20. của cơ quan, tổ chức do hành vi gây ra thiệt hại của cán bộ, công chức gây ra và (5) đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại của cơ quan, tổ chức. Sau khi Luật TNBTCNN năm 2009 được ban hành, hoạt động nghiên cứu về TNBTCNN được tiếp tục quan tâm nhằm phục vụ hoạt động tổ chức thi hành Luật. Bên cạnh đó đã có nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh chọn TNBTCNN làm chủ đề của luận án. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Các biện pháp bảo đảm thi hành Luật TNBTCNN”, Chủ nhiệm đề tài ThS. Nguyễn Thanh Tịnh, Cục Bồi thường nhà nước, Hà Nội, 2012 đã làm rõ được nhiều vấn đề như sau: (1) xây dựng khái niệm và đặc điểm của bảo đảm thi hành pháp luật nói chung và bảo đảm thi hành pháp luật về TNBTCNN nói riêng; (2) đề ra ở tầm vĩ mô những biện pháp thi hành Luật TNBTCNN; (3) đề xuất các nhóm tiêu chí cơ bản trong việc đánh giá hiệu quả thi hành Luật TNBTCNN; (4) đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về TNBTCNN ở giai đoạn trước và sau khi có Luật và đánh giá thực trạng áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành Luật TNBTCNN; (5) xác định những định hướng cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành Luật TNBTCNN và (6) các kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả các biện pháp bảo đảm thi hành Luật TNBTCNN. Bên cạnh đó các nhóm tác giả đã nghiên cứu xây dựng một số sách chuyên khảo: Sách chuyên khảo “Những vấn đề cơ bản của Luật TNBTCNN”, TS. Đinh Trung Tụng chủ biên, Nxb. Tư pháp, Hà Nội năm 2009. Cuốn sách đã được tác giả nghiên cứu, đề cập tương đối toàn diện các vấn đề có liên quan về TNBTCNN bao gồm: sự cần thiết của việc ban hành Luật TNBTCNN, mục tiêu ban hành và quan điểm chỉ đạo việc xây dựng Luật, tình hình thực hiện trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước theo Nghị quyết 388; khái quát về kinh nghiệm pháp luật về TNBTCNN của một số nước, trong đó tác giả giới thiệu về phạm vi các lĩnh vực hoạt động mà Nhà nước phải bồi thường, TNBTCNN trong hoạt động tố tụng, thủ tục thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, cơ quan có trách nhiệm giải quyết việc bồi thường, trách nhiệm hoàn trả của công chức đối với Nhà nước. Tác giả cũng đã đi sâu phân tích những điểm mới của Luật TNBTCNN năm 2009 so với các quy định trước đây là những nội dung cơ bản của Luật. Sách chuyên khảo “Tìm hiểu pháp luật về TNBTCNN”, ThS. Nguyễn Thanh Tịnh chủ biên, Cục Bồi thường nhà nước, năm 2012. Cuốn sách đề cập tương đối 15
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2