BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

PHAN NGỌC THU

ĐÓNG GÓP CỦA NHÀ THƠ XUÂN DIỆU

TRONG LĨNH VỰC PHÊ BÌNH NGHIÊN CỨU

VĂN HỌC

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 5. 04. 33

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

GS. Nguyễn Đăng Mạnh

HÀ NỘI – 2002

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 1

TỔNG QUAN ................................................................................................................ 5

CHƢƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ VĂN HỌC, VÀ PHƢƠNG PHÁP PHÊ BÌNH

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỦA XUÂN DIỆU ................................................................. 25

1.1. Quan niệm của Xuân Diệu về văn học, chủ yếu là quan niệm về thơ .......... 27

1.2. Phƣơng pháp phê bình nghiên cứu văn học của Xuân Diệu: ......................... 40

CHƢƠNG 2: THÀNH TỰU TRONG LĨNH VỰC PHÊ BÌNH NGHIÊN CỨU

VĂN HỌC CỦA XUÂN DIỆU QUA NHỮNG CHẶNG ĐƢỜNG ................................... 62

2. 1. Nhìn lại một số tác phẩm tiêu biểu qua các thời kỳ ..................................... 62

2.1.1. Thời Thơ Mới (1932- 1945) .................................................................. 62

2.1.2. Những năm kháng chiến chống Pháp (1946 -1954): Tiếng thơ ............ 70

2.1.3. Từ 1955 đến 1985 .................................................................................. 73

2.2. Những mảng đề tài nổi bật ............................................................................ 85

2.2.1. Xuân Diệu với sáng tác thơ ca dân gian: ............................................... 85

2.2.2. Xuân Diệu với gia tài văn học cổ điển dân tộc: ..................................... 89

2.2.3. Xuân Diệu với nền thơ Việt Nam hiện đại: ......................................... 112

CHƢƠNG 3: PHONG CÁCH PHÊ BÌNH NGHIÊN CỨU CỦA XUÂN DIỆU . 125

3.1. Nhà thơ trong nhà phê bình......................................................................... 126

3.2. Bình và giảng .............................................................................................. 144

3.3 "...Và cây đời mãi mãi xanh tƣơi"................................................................ 159

KẾT LUẬN ................................................................................................................ 170

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ....................................... 141

TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 142

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

1.1. Xuân Diệu (1916-1985) là một trong những tác giả lớn của Văn học Việt Nam

thế kỷ XX. Ông không chỉ là nhà thơ hàng đầu mà còn là một nhà hoạt động kiệt xuất trên

nhiều lĩnh vực sáng tạo văn học.

Ngay từ những năm tuổi trẻ, với hai tòa lâu đài thơ ca lộng lẫy: Thơ thơ (1938) và Gửi

hương cho gió (1945) Xuân Diệu đã "đem đến một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn

nước non lặng lẽ này" [144, tr 212] và khẳng định vị trí văn học sử của mình: "nhà thơ mới

nhất", "đại biểu đầy đủ nhất" cho phong trào Thơ Mới (1932-1945). Đồng thời, ông còn là

tác giả hai tập văn xuôi Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945) và nhiều bài tranh luận

văn học sôi nổi đăng trên các báo Ngày nay, Phong hóa, Tao đàn...

Sau Cách mạng tháng Tám (1945), hành trình sáng tác thơ ca của Xuân Diệu lại rạo

rực với một "nguồn thơ mới". Nếu kể từ hai bản tráng ca Ngọn Quốc kì (1945), Hội nghị non

sông (1946) đến tập Thanh ca cuối cùng (1982), Xuân Diệu đã có hơn 13 tập thơ đƣợc xuất

bản trong lòng xã hội mới, đó là chƣa kể đến nhiễu tập văn xuôi, thƣ dịch và hàng trăm buổi

nói chuyện thơ trƣớc công chúng; Tất cả, đều chứng tỏ cho ta thấy một Xuân Diệu - nhà thơ,

với một bút lực không hề vơi cạn, nhƣ "cây đời mãi mãi vanh tươi" nhƣ "sự sống chẳng bao

giờ chán nản".

Nhƣng, có lẽ, nói nhƣ nhà thơ Tế Hanh, hoặc Trần Đăng Khoa..."Về cơ bản, văn tài

Xuân Diệu ở giai đoạn này phát triển chủ yếu theo ngả tiểu luận nghiên cứu, phê bình, chứ

không phải là thơ" [71, tr 7 |. Hơn ba nghìn trang sách với gần hai chục công trình , kể từ

Tiếng thơ (1951) đến bài viết cuối cùng: S ự uyên bác với việc làm thơ (1985)...chỉ tính riêng

các tác phẩm lí luận, phê bình đã có thể gọi Xuân Diệu là một đại gia" [128, tr 136]. Đặc biệt

những tác phẩm

2

Xuân Diệu bàn về "công việc làm thơ" tìm hiểu về "các nhà thơ cổ điển Việt Nam"...là những

công trình tầm cỡ chỉ có những nhà phê bình lớn, nhà văn hóa thực sự uyên bác tài hoa mới

vƣơn tới đƣợc.

Chính vì vậy, đã đến lúc muốn tìm hiểu một cách toàn diện và sâu sắc sự nghiệp văn

học của Xuân Diệu, cũng nhƣ những đóng góp lớn lao, đặc sắc của ông đối với nền văn học

hiện đại nƣớc nhà, rất cần có những công trình nghiên cứu chuyên biệt từng tác phẩm, từng

chặng đƣờng, từng phƣơng diện sáng tạo của ông. Và, tất nhiên, không thể không có những

công trình chuyên sâu, khám phá vẻ đẹp và đóng góp của văn tài Xuân Diệu trong lĩnh vực

phê bình, nghiên cứu văn học.

1.2. V.G. Bi-ê-linxki, nhà phê bình văn học Nga nổi tiếng thế kỉ XIX, đã CÓ lần bàn

về mối quan hệ giữa phê bình và sáng tác nhƣ sau: "Ở đây không phải nghệ thuật tạo ra phê

bình, cũng không phải phê bình tạo ra nghệ thuật, mà cả hai đều xuất phát từ tinh thần của

thời đại, có điều phê bình là ý thức triết học, còn nghệ thuật là ý thức trực tiếp" [66, tr 239].

Từ sự phân biệt này có thể nhận thức đƣợc rằng, nếu đi sâu tìm hiểu sáng tác thơ ca của Xuân

Diệu, ngƣời đọc có thể tiếp cận với con - người - ý - thức- trực - tiếp của nhà thơ, thì đi sâu

tìm hiểu các tác phẩm tiểu luận, phê bình sẽ là dịp tiếp cận với con - ngƣời- ý - thức- triết -

học của tác giả. Tuy nhiên, đối với Xuân Diệu , con ngƣời""sống toàn tim, toàn hồn, sống

toàn tâm" cho thơ, thì cả nghệ thuật và phê bình đều là nỗi niềm thổn thức, rạo rực của một

Mái tim thơ luôn "khát khao giao cảm với đời", luôn gắn bó hết mình với con ngƣời và cuộc

sống; hay nói cách khác, cả "ý thức trực tiếp" và "ý thức triết học" đều đã hòa quyện, giao

thoa trong tâm hồn một nghệ sĩ bậc thầy để làm nảy sinh ra tài năng sáng tạo đa dạng trên

nhiều lĩnh vực. Vì thế, tìm hiểu đóng góp của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu

văn học chỉ là công việc đi sâu tách bạch một cách tƣơng đối sự giao thoa ấy nhƣng lại có ý

nghĩa mở ra thêm một hƣớng tiếp cận với thế giới nghệ thụât thi ca đầy "cảm xúc” và "huyền

diệu" của chính ông.

3

1.3. Mặt khác ở nƣớc ta, cho dù nền văn học dân tộc vốn hình thành, phát triển từ

sớm, nhƣng phê bình, nghiên cứu văn học hiểu theo nghĩa nhƣ một hoạt động chuyên nghiệp

thì lại ra đời khá muộn. Suốt mƣời thế kỉ, văn học trung đại viết bằng chữ Hán, chữ Nôm; với

tính chất bác học, sùng cổ, với quan niệm "văn dĩ tải đạo", lực lƣợng sáng tác và công chúng

thƣởng thức thƣờng rất hạn hẹp. Mãi đến những năm ba mƣơi, bốn mƣơi của thế kỉ XX, khi

văn học Việt Nam thực sự bƣớc vào quá trình hiện đại hóa, mới xuất hiện một số tác phẩm

của các nhà phê bình, nghiên cứu chuyên nghiệp. Có thể kể đến, nhƣ "Phê bình và cảo luận"

(1933) của Thiếu-Sơn, "Thi nhân Việt Nam" (1941) của Hoài Thanh và Hoài Chân; "Việt

Nam văn học sử yếu" (1941) của Dƣơng Quảng Hàm, "Nhà văn hiện đại" (1942) của Vũ

Ngọc Phan.v..v...

Vẫn biết, phê bình là hoạt động chuyên môn không thể thiếu đƣợc trong đời sống văn

học đƣơng đại, song mấy chục năm qua, nhìn lại thành tựu chung của văn học nƣớc nhà, so

với các thể loại khác, phê bình vẫn phát triển chậm chạp, nếu không nói là yếu kém. Lực

lƣợng phê bình chuyên nghiệp rất ít ỏi; những nhà phê bình thực sự có uy tín đƣợc giới sáng

tác và cổng chúng thừa nhận lại càng hiếm hoi. Tác phẩm phê bình phần lớn là những bài đọc

sách vô thƣởng, vô phạt đƣợc tập hợp lại, ít có những tiểu luận, những công trình dài hơi, tâm

huyết. Nhiều ngƣời chỉ coi phê bình văn học là nghề tay trái, thậm chí còn lãng; tránh vì ngại

đụng chạm, phiền hà. Trong bối cảnh ấy cần ghi nhận những đóng góp thực sự của một số

nhà giáo ở các trƣờng đại học, các viện, công trình của họ vừa phục vụ cho giang dạy nghiên

cứu, vừa góp phần thúc đẩy nền phê bình văn học. Đồng thời cũng cần kể đến thành tựu của

một số nhà văn, nhà thơ nổi tiếng vừa có tác phẩm văn thơ với phong cách nghệ thuật độc

đáo, vừa thể hiện tiếng nói đầy bản lĩnh qua những nghiên cứu phê bình. Ở thập niên sáu

mƣơi, bảy mƣơi, tám mƣơi, đó là Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình

Thi...., và gần đây là một số cây bút trẻ khác. Tuy nhiên, trong số nhà văn, nhà thơ đã kể trên,

chƣa ai để nhiều tâm sức, dành nhiều thời gian viết nhiều, viết say sƣa có hệ thống và để lại

nhiều tác phẩm xuất sắc trong lĩnh vực

4

phê bình, nghiên cứu văn học nhƣ Xuân Diệu. Ông thật xứng đáng là nhà thơ lớn, nhà phê

bình tài danh của nền văn học nƣớc ta trong thế kỉ XX. Tìm hiểu, nghiên cứu Xuân Diệu ở

lĩnh vực sáng tạo này một cách toàn diện và sâu sắc, nhất định sẽ rút ra đƣợc những bài học

bổ ích, những kinh nghiệm quí báu cho sự phát triển của nền phê bình văn học hôm nay, góp

phần bổ sung vào mảng nghiên cứu lịch sử hình thành nhà văn và quan niệm văn học của nền

văn học hiện đại chúng ta khi bƣớc vào thiên niên kỉ mới.

1.4. Giảng dạy và học tập văn chƣơng trong nhà trƣờng tuy có những nét đặc thù,

riêng biệt, nhƣng nhìn ở một phƣơng diện nào đấy, nó cũng chính là một cách đƣa văn học

trở về với công chúng. Những tập sách giới thiệu, phê bình nghiên cứu văn học đầy sức hấp

dẫn của Xuân Diệu vừa là một kho kiến thức, tƣ liệu văn học đồ sộ, vừa là những bài học có

ý nghĩa "cẩm nang‖ cho những ai muốn thực sự đi vào con đƣờng sáng tác cũng nhƣ học tập,

giảng dạy, nghiên cứu văn học.

Với chƣơng trình cải cách giáo dục, Xuân Diệu là một trong những tác giả trọng tâm

đƣợc giảng dạy ở Phổ thông và Đại học. Tìm hiểu đóng góp của Xuân Diệu trong lĩnh vực

phê bình văn học, nhƣ trên đã nói, không chỉ là cơ sở để hiểu sâu hơn vẻ đẹp trong các tác

phẩm thi ca của ông; mà còn giúp cho giáo viên phổ thông có thêm cơ sở phƣơng pháp luận

để nhận thức và đánh giá toàn diện về cuộc đời,sự nghiệp của một tác giả lớn trong chƣơng

trình. Đó cũng chính là việc làm thiết thực góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học văn - một

vấn đề thời sự đang đƣợc xây dựng và nhà trƣờng quan tâm .

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1. Mục đích

Từ góc nhìn văn học sử, luận án tập hợp và khảo sát một cách có hệ thống những tác

phẩm tiểu luận phê bình văn học của Xuân Diệu, nhằm phát hiện, tìm hiểu toàn diện những

đóng góp lớn lao của nhà thơ ở lĩnh vực này, qua đó khẳng định tài năng phong phú đa dạng

của Xuân Diệu, một nhà thơ kiệt xuất , một nhà

5

phê bình văn học đặc sắc, một gƣơng mặt văn hóa tiêu biểu của dân tộc ta trong thế kỉ XX.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

2.2.1. Tìm hiểu quan niệm về văn học (chủ yếu là quan niệm về thơ), quan niệm về

phê bình nghiên cứu văn học của Xuân Diệu, coi đây là cơ sở nhận thức luận tạo nên phƣơng

pháp phê bình văn học của ông. Tất nhiên, trong quá trình tìm hiểu hệ thống quan niệm ấy

qua các tác phẩm phê bình, tiểu luận - phần "ý thức triết học", không thể không liên hệ tới

phần "ý thức trực tiếp" - thế giới hình tƣợng nghệ thuật thi ca của nhà thơ.

2.2.2. Đánh giá thành tựu trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học của Xuân Diệu

qua từng chặng dƣờng, điểm lại những tác phẩm, công trình tiêu biểu, những mảng đề tài nổi

bật, nhƣ một quá trình vận động phát triển có qui luật, gắn với hành trình sáng tác của nhà

thơ, và tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại.

2.2.3. Trong mối quan hệ so sánh vói một số nhà phê bình văn học tiêu biểu cùng

thời, bƣớc đầu phát hiện những nét nổi bật của phong cách nghệ thuật phê bình Xuân Diệu.

Từ đó, khẳng định vị trí và đóng góp lớn lao của ông trong lĩnh vực sáng tạo này nói riêng và

trong nền văn học nƣớc ta nói chung.

TỔNG QUAN

1. Tình hình nghiên cứu vần đề

Sau bài thơ đầu tiên Với bàn tay ấy đƣợc in trên báo Phong Hóa (1935), bên cạnh

sáng tác thơ Xuân Diệu còn viết nhiều tiểu luận gửi đăng các báo. Nhƣ đã đƣợc chuẩn bị rạo

rực, dồn nén từ thuở thiếu thời, bƣớc vào tuổi 20, tài năng văn học của Xuân Diệu cùng lúc

bừng nở ở nhiều phƣơng diện; thơ, văn xuôi, phê bình cảo luận. Tất cả đều tuôn chảy từ một

hồn thơ mới lạ, vừa gần gũi, vừa bồng bột, vừa xôn xao mà quyến rũ đến vô cùng! Nhà thơ

Tế Hanh cho rằng, với

6

Thơ thơ và Gửi hương cho gió, Xuân Diệu đã hoàn tất dòng thơ đạt tới giá trị cổ điển, sức thơ

của anh đã phát triển tới cùng, đỉnh điểm [71, tr.7]. Có lẽ vì thế, ngay từ đầu và cả cho đến

hôm nay, mỗi lần nhắc Xuân Diệu, hầu nhƣ độc giả và đại bộ phận các nhà nghiên cứu, phê

bình đều bị cuốn hút bởi tài thơ của ông. Nếu phải lập một thƣ mục nghiên cứu về Xuân Diệu

thật đầy đủ, thì đa phần các công trình, bài viết đều tập trung khám phá vẻ đẹp thơ ca Xuân

Diệu, từ nhiều bình diện, nhiều góc độ khác nhau.

Những bài viết, những công trình có liên quan đến đóng góp của Xuân Diệu trong lĩnh

vực phê bình nghiên cứu văn học còn ít, chƣa tƣơng xứng với tầm vóc các trƣớc tác của ông

để lại cho đời. Nhìn chung có thể phân thành ba loại:

Loại thứ nhất, chủ yếu tìm hiểu giá trị thơ Xuân Diệu, thảng hoặc có đề cập tới hoạt

động phê bình văn học của Xuân Diệu và coi đó nhƣ một hoạt động cho thơ.

Loại thứ hai, đối tƣợng nghiên cứu chính là cuộc dời và sự nghiệp văn học của Xuân

Diệu; hoạt động phê bình đƣợc coi nhƣ một phƣơng diện để hiểu thêm tài năng của nhà thơ

và để khẳng định thêm đóng góp của Xuân Diệu đối với đời sống văn học.

Loại thứ ba, là những bài viết trực tiếp lấy đối tƣợng tìm hiểu là những tác phẩm tiểu

luận, phê bình của Xuân Diệu. Loại này còn ít hơn cả.

Dƣới đây là diễn biến cụ thể của tình hình nghiên cứu vấn đề qua từng thời kì.

1.1. Từ năm 1955 trở về trước:

Hầu nhƣ chƣa có ai trong giới nghiên cứu đề cập đến hoạt động phê bình của Xuân

Diệu.

Năm 1941, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh nhân giới thiệu về thơ Xuân Diệu,

có nêu một thoáng nhận xét:

7

... "Ngay lời văn Xuân Diệu cũng có vẻ chơi vơi, Xuân Diệu viết văn tựa trẻ con học

nói hay như người ngoại quốc mới võ vẽ tiếng Nam. Câu văn tuồng bỡ ngỡ. Nhưng cái dáng

bỡ ngỡ ấy chính là chỗ Xuân Diệu hơn người. Dòng tư tưởng quá sôi nổi không thể đi theo

những đường có sẵn. Ý văn xô đẩy, khuôn khổ câu văn phải lung lay" [144, tr 120].

Năm 1942, khép lại bài viết về Xuân Diệu trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan

khái quái: "Người ta thấy dù ở văn xuôi hay ở văn vần, bao giờ Xuân Diệu cũng là một thi sĩ,

một thi sĩ giàu lòng yêu dấu" [ 131, tr.274].

Có thể coi mấy nhận xét trên dây, dù chƣa có gì trực tiếp, nhƣng phải chăng đó là

những ý kiến sớm nhất của giới nghiên cứu phê bình có đả động đến văn Xuân Diệu.

1.2. Từ năm 1955 đến 1985

Sau hơn mƣời năm đi cùng Cách mạng và kháng chiến, Xuân Diệu hòa mình vào đại

chúng, cùng "chia với nhân dân cay đắng, ngọt bùi, như gỗ thuyền ăn chịu cùng muối biển"

(Lệ); vốn là "một người của đời", khác với nhiều bạn bè cùng thế hệ, hồn thơ Xuân Diệu sớm

bắt nhịp với cuộc sống mới. Cũng có lúc Xuân Diệu tâm sự, khi không làm đƣợc thơ thì

ngƣời ta viết phê bình, nhƣng vẫn đều đặn, cứ hai, ba năm ông lại có một tập thơ ra mắt bạn

đọc. Từ Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962) đến Một khối hồng (1964), từ

Hai đợt sóng (1967) Tôi giàu đôi mắt (l970) đến Hồn tôi đôi cánh (1976); từ Thanh ca

(1982) đến Tuyển tập Xuân Diệu - tập I, thơ (1983), ở những mức độ khác nhau, thi phẩm

nào của Xuân Diệu cũng mang đƣợc dấu ấn trăn trở sáng tạo của tâm hồn một nhà thơ lớn,

cũng đƣợc đông đảo chúng và giới nghiên cứu phê bình, chờ đợi, đón nhận.

Khó có thể nói, những tập thơ vừa kể trên đây là "sản phẩm phụ" (chữ dùng của Trần

Đăng Khoa) của Xuân Diệu. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng trong khỏang ba mƣơi năm cuối

đời, bên cạnh dòng thơ vẫn tuôn trào, Xuân Diệu

8

còn có một sự nghiệp thầm lặng mà lớn lao hơn, một khối lƣợng trang viết đồ sộ và hấp dẫn

hơn, ấy là hàng loạt những công trình tiểu luận, phê bình của ông lần lƣợt đến với bạn dọc.

Năm 1983, Xuân Diệu đƣợc bầu làm Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Nghệ thuật Cộng hòa

Dân chủ Đức. Đó không chỉ là vinh dự của riêng nhà thơ, mà còn là một niềm vui của văn

hóa, văn học Việt Nam. Trong bối cảnh ấy, độc giả nói chung, giới sáng tác và nghiên cứu

phê bình nói riêng, đã bắt đầu chú ý hơn đến nhũng đóng góp của Xuân Diệu "ở các hoạt

động khác cho thơ", nhất là lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học.

Năm 1958, nhân đọc Những bước đường tư tưởng của Xuân Diệu Chế Lan Viên đã

phát biểu cảm nghĩ: " Xuân Diệu là một nhà thơ có lí", rồi giải thích rõ hơn:

"Cái lí của Xuân Diệu là cái lí do sự cọ xát đấu tranh mà bật ra, không phải là cái lí

nằm sẵn trên một trang sách in, có người bê vào một trang sách viết. Tôi yêu nó là cái lí

động chứ không phải là lí tĩnh nằm ngủ cứng đờ. Đọc Xuân Diệu, người ta vẫn thấy anh dẫn

chứng sách nọ, sách kia, nhưng anh không mắc bệnh sách vở, từ chương, không ăn tươi nuốt

sống những điều anh đọc. Đọc anh, người ta không thoát li thực tế văn học Việt Nam, mà trái

lại càng gắn mình vào" [158, tr. 6].

Nhà thơ trí tuệ Chế Lan Viên, đã nêu đƣợc một nét nổi bật trong cách viết tiểu luận

phê bình của Xuân Diệu.

Năm 1970, trên tuần báo Văn nghệ số 373, cuối bài viết về "Tâm hồn thơ Xuân Diệu",

nhà giáo Nguyên Duy Bình đã đề cập đến việc Xuân Điệu "Giới thiệu thơ cổ điển" (Nguyễn

Du, Hồ Xuân Hƣơng, Tú Xƣơng) nghiên cứu ca dao cổ, thơ quần chúng hiện nay, viết về các

nhà thơ hiện đại, dịch và bàn về các nhà thơ thế giới v.v...Từ đó tác giả cho rằng: "Nhà phê

bình Xuân Diệu đã được mến yêu và có tín nhiệm... Ngòi bút viết phê bình tiểu luận của anh

linh hoạt, tinh tế, sâu sắc. Tác phẩm xưa và nay qua những lời phê bình và giới thiệu của anh

sáng đẹp hơn lên... Chất lượng của các bài viết cũng chưa đều. Nhưng nói chung

9

những phát hiện, khám phá của anh khá thú vị, bổ ích. Anh đã đem được khiếu nhạy cảm của

người nghệ sĩ giúp cho bạn đọc đi sâu vào cái hay cái đẹp của thơ; giúp cho thơ phát huy tác

dụng tích cực vào đời sống" [149, tr 63].

Những ý kiến vừa dẫn, tuy chƣa nằm trong một luận lí chặt chẽ, song phần nào cũng

đƣa ra dƣợc một vài nhận xét về mặt mạnh, mặt yếu của ngòi bút phê bình Xuân Diệu.

Đi sâu vào một số tác phẩm cụ thể của Xuân Diệu ở lĩnh vực này, phải kể đến bài viết

"Xuân Diệu qua "Thi hào dân tộc 'Nguyễn Du" của Mai Quốc Liên. Là ngƣời đã từng nhiều

năm nghiên cứu về văn học trung đại Việt Nam, tác giả cảm thông với Xuân Diệu khi phải

đối diện với Nguyễn Du và Truyện Kiều là nơi đã thử thách khá nhiều ngọn bút, khi phải

ngồi trƣớc một đầu đề "hạn vận" nhƣ đọc Văn chiêu hồn. Mai Quốc Liên thấy đƣợc "cái linh

hoạt của ngòi bút Xuân Diệu", khi "kết hợp sự suy nghĩ, nhiệt tình, cảm xúc, vốn sống"... trên

từng trang viết để "làm cho người đọc xích lại gần hơn với tấm lòng nhân đạo lớn rộng của

Nguyễn Du" [ 149, tr 238].

Cũng trong bài viết này, Mai Quốc Liên cho rằng, Xuân Diệu hấp dẫn ngƣời đọc

không phải "trên những nét lớn của vấn đề" mà chính là "những phát hiện thú vị trên từng

chi tiết"; Xuân Diệu tin "có cách nói mới" "một cách viết thật thoái mái" với "mạch văn lôi

cuốn, sôi nổi". Xuân Diệu "say sưa theo đuổi những ý nghĩ của mình, phát triển nó, và nói

liền một mạch, nói đến tận cùng vấn đề, và chỉ đến lúc đó, anh mới buông tha nó" [149,tr.

239]

Theo, Mai Quốc Liên, nhƣợc điểm của tập sách là ở chỗ: "Xuân Diệu đã để bộc lộ

quá nhiều nhiệt tình của mình ra ngoài, và do đó đôi khi anh nói nhiều quá, trong khi đáng lẽ

anh nên thâm trầm hơn, ẩn kín hơn, anh chỉ cần gợi ra mà người ta hiểu, ít lời mà hàm xúc

sâu xa". [149, tr 239]

Năm 1973, giáo sƣ Lê Đình Kỵ đăng tiểu luận ―Xuân Diệu và những áng thơ hay‖

trên tập Tác phẩm mới, số 2-1 (sau đó đƣợc in lại trong cuốn Thơ với

10

Xuân Diệu, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Nhà xuất bản Cửu Long - 1983). Có thể nói đây là

bài viết đầu tiên khá kỹ lƣỡng về công việc bình thơ của Xuân Diệu. Tác giả vừa thấu hiểu,

vừa nhiệt tình phát hiện, phân tích những nét đặc sắc về tƣ tƣởng thẩm mĩ và phong cách

nghệ thuật Xuân Diệu khi bình luận, giới thiệu những bài thơ hay. Giáo sƣ Lê Đình Kỵ cũng

chỉ ra những mặt mạnh, mặt hạn chế của Xuân Diệu khi giới thiệu thơ ca cổ điển, thơ ca cách

mạng hiện đại trong nƣớc, thơ của các thi sĩ nƣớc ngoài... để đi đến khái quát:

"Thành công của Xuân Diệu trước hết là ở lòng say mê trân trọng di sản thơ ca dân

tộc, ở khả năng cảm thụ sắc sảo, tinh nhạy, lại có sự am hiểu tinh tế ngôn ngữ Việt Nam, từ

đó có nhữnq bài viết xuất sắc, với nhiều khám phá độc đáo. Đó là về chất lượng. Còn khôi

lượng các bài tiểu luận phê bình cũng rất lớn, hiện nay chưa có cây bút nào sánh kịp" [91, tr

66].

Công trình Nhà văn Việt Nam (1945-1975) hai tập của giáo sƣ Phan Cự Đệ và giáo sƣ

Hà Minh Đức ra đời năm 1979 (tập 1) và năm 1981 (tập 2) mang tính chất tổng kết đánh giá

thành tựu của ba mƣơi năm xây dựng nền văn học mới, tất nhiên theo quan điểm của ý thức

văn học hồi bấy giờ. Ở chƣơng: "Về một nền lí luận, phê bình nghiên cứu văn học theo quan

điểm mác-xít ba mươi năm 1945-1975", giáo sƣ Phan Cự Đệ khi nhắc đến đội ngũ lí luận phê

bình, ngoài lực lƣợng chuyên nghiệp, đã nói đến sự đóng góp rất quan trọng của các nhà sáng

tác nhƣ Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Chế Lan Viên vào lĩnh vực phê

bình văn học; và có đoạn so sánh:

..."Cùng đi vào công việc bếp núc của nghề thơ, nhưng Chế Lan Viên thì thông minh,

độc đáo, tập trung gây ấn tượng bằng một lối diễn đạt mới mẻ hấp dẫn còn Xuân Diệu thì cởi

mở, chân tình, trò chuyện thu hút thế hệ trẻ bằng tìm tòi, khám phá và tấm lòng nâng niu, của

một nghệ sĩ đối với di sản văn hóa của cha ôm;" [66, tr 295].

Cũng trong công trình này, ở phần giới thiệu các nhà văn, nhà thơ tiêu biểu, giáo sƣ

Hà Minh Đức đã khắc họa: "Xuân Diệu là nhà thơ, và cũng là nhà nghiên cứu và phê bình,

người có nhiều hoạt động sôi nổi và đóng

11

góp trong công việc giới thiệu, dịch thơ và nói chuyện thơ" [166, tr 614]. Đồng thời tác giả

công trình còn dành hơn 6 trang để nhìn lại hoạt động phê bình, nghiên cứu văn học của

Xuân Diệu và chỉ ra một số đặc điểm nổi bật nhƣ "toàn bộ hoạt động của Xuân Diệu đều hút

vào và xoay quanh cái trục của thơ", "thiên hướng của Xuân Diệu là biểu dương cái hay,

chọn những sáng tác hay nhất của từng tác giả để khai thác bình luận", "luôn tỏ ra tinh tế và

cảm thụ chính xác" nhưng"khi chủ quan thì cũng dễ bình luận một cách ồ ạt".

Sau này ở bài viết "Anh đã sống hết mình cho cuộc sống và cho thơ" [68, tr. 75] cũng

nhƣ một số bài viết khác, giáo sƣ Hà Minh Đức tiếp tục phân tích làm sáng rõ những dặc

điểm ấy và khẳng định ngợi ca những đóng góp của Xuân Diệu không chỉ trong lĩnh vực sáng

tạo thơ mà còn cả trong hoạt động phê bình nghiên cứu văn học.

Năm 1983 Tuyển tập Xuân Diệu tập I (thơ) đã ra mắt bạn đọc. Lời giới thiệu tuyển tập

là một bài tiểu luận rất công phu của nhà thơ Hoàng Trung Thông, chủ yếu dành để phân tích,

lí giải quá trình hình thành, phát triển và những dóng góp đặc sắc của Xuân Diệu trong lĩnh

vực sáng tác thơ. Tuy vậy Hoàng Trung Thông vẫn không quen nhắc đến một Xuân Diệu có

"hàng bao nhiêu bài tiểu luận và phê bình để khẳng định cái mới trong văn học" bằng một

"bút lực thật là mạnh mẽ, phong phú, uyển chuyển". Với Hoàng Trung Thông, Xuân Diệu là

nhà thơ đầy tài năng "đi từ thế giới cũ đến thế giới mới đi từ sáng tạo này đến sáng tạo khác,

tinh thông văn học trong nước và văn học thế giới một người có công với nền văn học mới,

một người đáng bậc thầy cho các nhà thơ trẻ" [28, tr37].

Năm 1984, Nhà thơ Việt Nam hiện đại- một công trình tập thể của nhiều tác giả, do

Viện Văn học tổ chức biên soạn, đƣợc xuất bản. Viết về Xuân Diệu sau khi phân tích những

nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật sáng tạo thi ca, nhà phê bình Mã Giang Lân đã nhấn

mạnh: "Xuân Diệu có ưu thế và có những đóng góp trong những hoạt động phê bình, giới

thiệu, thơ, dịch thơ... Phải

12

thừa nhận rằng, qua những phát hiện của ảnh, các tác phẩm càng lộ cái đẹp đẽ, cái sâu sắc.

Và kì (liệu là, với các hài viết của anh, các hài {hớ, các nhà thơ như được xuân hóa, trẻ

thêm, vô cùng sinh động... Anh gây ấn tượng và cuốn hút hấp dẫn người đọc bằng những

khám phá bất ngờ, bằng những suy nghĩ sâu sắc, tâm đắc, bằng hành văn sinh động, bằng

những liên tưởng so sánh độc đáo theo cách riêng của mình" [95, tr.121].

Trong mạch ý tƣởng ấy, ở nhiều bài viết khác, Mã Giang Lân đã làm nổi bật "sự đa

dạng của Xuân Diệu" trong suốt cuộc đời lao động nghệ thuật.

Nguyễn Văn Long trong "Từ điển Văn học" tập II, ghi những dòng cô đọng về cuộc

đời và sự nghiệp của Xuân Diệu, vẫn không quên "đóng góp của Xuân Diệu vào việc tìm

hiểu, học tập truyền thống thư ca dân tộc bằng một loạt công trình có giá trị", và nhận xét:

"Bằng một vốn hiểu biết phong phú và một sự tinh nhạy của nhà thơ, với lối viết luôn tràn

đầy nhiệt tình, cảm xúc, những tác phẩm phê bình tiểu luận, bút kí của Xuân Diệu có một

tiếng nói riêng đáng chú ý" [100, tr 605].

Ngày 18/12/1985, lúc 19h 45 phút, do một cơn đau tim đột ngột, nhà thơ Xuân Diệu

đã trút hơi thở cuối cùng tại phòng cấp cứu bệnh viện Việt - Xô trong niềm đau đớn tiếc

thƣơng vô hạn của bạn bè văn nghệ và đông đảo công chúng bạn đọc trong và ngoài nƣớc.

Điếu văn của Ủy ban Trung ƣơng Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt

Nam đọc tại lễ truy diệu ngày 21 tháng 12 năm 1985 đã nhìn lại một cách khái quát cuộc đời,

sự nghiệp Xuân Diệu và khẳng định: Xuân Diệu là "nhà thơ lớn, nhà phê bình văn học xuất

sắc nhà hoạt động văn hóa và xã hội tích cực, người đồng cảm sâu sắc của các thế hệ thanh

niên Việt Nam trong suốt chặng; đường nửa thế kỉ qua".... "Những di sản tinh thần mà Xuân

Diệu để lại cho chúng ta là những di sản đẹp đẽ và là những di sản lâu bền, có thể truyền từ

thế hệ này đến thế hệ khác, di sản không chỉ có giá trị trong nước lúc mà còn có giá trị quốc

tế"... Xuân Diệu ra đi nhƣ "một cây lớn nằm xuống làm cho cả khoảng trời trống vắng [133,

tr 137].

13

Tuy nhiên với một ngƣời nhƣ Xuân Diệu "Chết không phải là hạ màn của một cuộc

đời; chết là bắt đầu một cuộc sống khác của tác phẩm một nhà văn, nhà thơ" [41, tr-206].

1.3. Từ 1986 đến nay:

Hơn mƣời năm sau chiến tranh, muốn vƣợt qua tình trạng kinh tế bao cấp nghèo nàn

lạc hậu, đất nƣớc không thể không đổi mới để phù họp với qui luật phát triển của lịch sử và

hội nhập với nhân loại. Trƣớc vận hội ấy, ý thức văn học của thời đại nói chung và tƣ duy lí

luận phê bình nói riêng, từng bƣớc đã có những chuyển biến rõ rệt. Nhiều hiện tƣợng văn học

trong quá khứ nhƣ Phong trào Thơ Mới (1932-1945), tiểu thuyết Tự lực Văn đoàn, Vũ Trọng

Phụng... đƣợc nhìn nhận và đánh giá lại một cách cởi mở, toàn diện hơn. Giới phê bình

nghiên cứu văn học có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn tƣ liệu. Công việc tìm hiểu, phân tích,

lí giải về tác giả tác phẩm có thêm những góc nhìn mới, và ngày càng có nhiều phát hiện mới

mẻ hơn.

Trong tình hình ấy, việc đi sâu nghiên cứu nhiều phƣơng diện của sự nghiệp văn học

Xuân Diệu đã có những bƣớc tiến đáng kể. Dƣới đây chỉ điểm lại những công trình, những

bài viết có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học của Xuân Diệu:

Năm 19X6, Vũ Đức Phúc khi nhìn lại tình hình lí luận phê bình trong Văn học Việt

Nam kháng chiến chống Pháp 1945-1954 không quên nói đến Tiếng thơ:

"Xuân Diệu với tập Tiếng thơ (1951) đã chăm chỉ theo dõi thơ ca kháng chiến và

phân tích đánh giá mọi sáng tác thơ ca một cách xác đáng. Lí luận về thơ ca của anh có

nhiều sáng tạo, dựa trên kinh nghiệm bản thân và dựa trên một vốn hiểu biết sâu sắc về thơ

ca châu Âu và cả thơ ca Việt Nam, Trung Quốc cổ. Kinh nghiệm của anh có thể giúp cho

những nhà thơ trẻ". [128 ,tr 70]

Năm 1987, công trình Xuân Diệu con người và tác phẩm do Hữu Nhuận biên soạn,

nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành đã tập hợp một số bài viết tiêu biểu, những cảm nghĩ của

nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình bạn bè trong

14

ngoài nƣớc về cuộc đời, sự nghiệp của Xuân Diệu. Tất cả đều nói lên tình cảm mến yêu và

khẳng định những cống hiến lớn lao của Xuân Diệu cho nền văn học nƣớc nhà. Nam Chi

(một Việt kiều ở Pháp) đã ví cuộc đời Xuân Diệu nhƣ "một chuỗi cườm, đồ trang sức của các

bà mẹ quê, mà mồ hôi thời gian làm sáng long lanh từng hạt một"; và Nam Chi đã chia chuỗi

hạt huyền ấy làm ba giai đoạn: Trƣớc năm 1945, Xuân Diệu "là người tạo sinh lực cho Thơ

Mới" - hiểu theo nghĩa một trào lƣu trong lịch sử văn học, "những đóng góp có tính cách tự

nhiên, như một qui luật của bản năng sáng tạo, của con chim "ngứa cổ hát chơi". Giai đoạn

hai, từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1954, "những cống hiến ở giai đoạn này là một cố

gắng vượt bậc về ý thức, tình cảm, một hy sinh của con người cho một lý tưởng: giải phóng

đất nước và phục vụ nhân dân. Giai đoạn ba, sau 1951 về Hà Nội, Xuân Diệu vẫn tiếp tục

làm thơ như trước, nhưng lại dành nhiều thời gian nghiên cứu theo hai hướng chính: thơ văn

Việt Nam cổ điển và văn học dân gian, bên cạnh một số bài về thơ hiện đợi và thơ nước

ngoài" [ 133, tr 90].

Suy nghĩ trên đây của Nam Chi về "trường hợp Xuân Diệu" chƣa hẳn đã thống nhất

với một số ngƣời vốn quen tìm hiểu, đánh giá đƣờng đời, đƣờng thơ Xuân Diệu theo kiểu

giản đơn, một chiều, nhƣng lại có cơ sở hợp lí từ chính cuộc đời hoạt động phong phú sôi nổi

và thực tiễn sáng tác của Xuân Diệu qua tìm từng chặng đƣờng. Điều đáng nói là Nam Chi,

cũng nhƣ Tế Hanh và Trần Đăng Khoa sau đó, đã thấy rõ hoạt động phê bình nghiên cứu có

một vị trí không kém phần nổi bật, chiếm một quãng thời gian rất có ý nghĩa trong cuộc đời

và sự nghiệp của Xuân Diệu.

Hòa nhịp với những chuyển hiến chung của tình hình phê bình, nghiên cứu văn học,

chƣơng trình và sách giáo khoa ở trƣờng Đại học và Phổ thông cũng đƣợc cải cách. Xuân

Diệu là một trong những tác giả lớn đƣợc biên soạn khá kĩ lƣỡng trong giáo trình Đại học và

sách giáo khoa phổ thông.

15

Giáo sƣ Nguyễn Trác, trong giáo trình "Văn học Việt Nam 1945-1975" tập II, ở

chƣơng ở Xuân Diệu, sau khi giới thiệu tiểu sử, con ngƣời sự nghiệp của nhà thơ, đã dành

riêng một mục tìm hiểu về "Xuân Diệu, nhà viết bút kí, tiểu luận và phê bình văn học", để từ

đó nêu lên một số nhận định khái quát.

Giáo sƣ Nguyễn Đăng Mạnh trên Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn

đã dành nhiều bài viết công phu và sâu sắc về Xuân Diệu, tập trung vào hƣớng tìm hiểu, phát

hiện tƣ tƣởng nghệ thuật của nhà thơ. Từ Xuân Diệu và niềm khát khao giao cảm với đời

(Văn nghệ, số 29, ngày 20/7/1985), "Vài cảm nghĩ về văn xuôi Xuân Diệu" [113], đến Tư

tưởng và phong cách một nhà thơ lớn [114], tác giả đã giúp cho ngƣời đọc nhận diện "đặc

điểm độc đáo của thi pháp Xuân Diệu", mối quan hệ mật thiết giữa các loại hình sáng tạo

trong sự nghiệp văn học của ông; đồng thời gợi ý bƣớc đầu sự khác nhau trong phong cách

phê bình nghệ sĩ của một số nhà văn, nhà thơ nhƣ: Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Hoài Thanh...

Giáo sƣ Nguyễn Đăng Mạnh viết: "Tôi không muốn tách biệt văn Xuân Diệu với thơ

Xuân Diệu. Văn hay thơ thì vẫn là hình ảnh phập phồng nóng hổi của một trái tim đắm say

sự sống, mùa xuân, tuổi trẻ và tình yêu"[113.tr61]. Và "phê bình cũng là sự giao cảm tri âm

tri kỉ giữa người làm thơ và người đọc thơ"...là sự "muốn gặp tất cả và tỏ lòng với tất cả

những cảm nghĩ tin yêu của mình" để "đón nhận những giao cảm của mọi người...", ấy cũng

là lí do để giải thích lại sao ở lĩnh vực này, nhà thơ Xuân Diệu đã "viết nhiều, viết say sưa

hơn bất cứ nhà nghiên cứu nào".

Cũng trong gian thời gian này, nhà phê bình văn học Vƣơng Trí Nhàn "những mong

tìm ra những khía cạnh mà chưa ai nói tới", đã sƣu tầm, giới thiệu bài tiểu luận của Xuân

Diệu trƣớc Cách mạng tháng Tám: "Tính cách An Nam trong văn chương" đăng trên báo

Ngày nay năm 1939 để cho ngƣời đọc thấy đƣợc Xuân Diệu sớm có "quan điểm cởi mở về

tính dân tộc" [149. tr 257] - một vấn đề có ý nghĩ thời sự, hiện đang đƣợc nhiều ngƣời quan

tâm. Theo hƣớng đi

16

sâu vào tác phẩm và con ngƣời tác giả, Vƣơng Trí Nhàn còn có bài viết về công trình của

Xuân Diệu nghiên cứu "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam"; qua đó nói lên "cái công của Xuân

Diệu trong việc trở về cội nguồn thơ dân tộc" và khẳng định " Xuân Diệu đã đi đầu trong

việc: tìm hiểu gia tài văn học cổ điển" [149, tr 238]. Vƣơng Trí Nhím còn tạo ra những cuộc

phỏng vấn tƣởng tƣợng với Xuân Diệu nhằm giúp cho ngƣời đọc hiểu thêm về tác giả và có

cơ sở cảm nhận tác phẩm sâu sắc hơn.

Giáo sƣ Hoàng Nhƣ Mai, trong sách giáo khoa Văn 11, phần Văn học Việt Nam, khi

nhận định về sự nghiệp thơ văn Xuân Diệu cũng đề cập đến: "Ngòi bút nghiên cứu phê bình

của Xuân Diệu phát hiện, khám phá nhiều điều độc đáo, sâu sắc (trong các bài nghiên cứu

thơ văn cổ điển về Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Trần Tế Xương, Nguyễn

Khuyến...) và có những nhận xét chính xác, tinh tế (tập Tiếng thơ, Phê bình giới thiệu thơ,

Dao có mài mới sắc...).

Tháng 8/1993, trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Trần Đăng Khoa trong mội bài bút kí

chân dung văn học đã đánh giá rất cao sự nghịêp phê bình nghiên cứu thơ ca của Xuân Diệu:

"Tôi trộm nghĩ, sự đóng góp lớn lao của Xuân Diệu sau Cách mạng vẫn không phải là

thư ca, mặc dù thơ ông vẫn hay, cũng không phải ở mảng dịch thuật, mặc dù mảng dịch thơ,

giới thiệu thơ này cũng đủ thành một sự nghiệp mà nhiều người không dám mơ tưởng. Tài

năng Xuân Diệu sau thời 'Thơ thơ", "Gửi hương cho gió" một lần nữa rực chói lên ở lĩnh

vực phê bình, nghiên cứu thơ ca...".

..."Xuân Diệu đã viết hầu hết các danh nhân văn học Việt Nam. Viết hay đến mức

không ai có thể sánh được. Mặc dù trước Xuân Diệu chúng ta đã có Hoài Thanh, nhà phê

bình thiên tài của thời Thơ Mới"..."Nếu Hoài Thanh có biệt tài tiên cảm văn chương, thì

Xuân Diệu lại rất giỏi đi vào kỹ xảo, đi vào thực tiễn cụ thể của bếp núc nhà nghề” [85,tr

53,54].

17

Và, Trần Đăng Khoa đã coi hai tập Nhà thơ cổ điển của Xuân Diệu cùng với Thi nhân

Việt Nam của Hoài Thanh là hai bộ sách quí, "là bảo bối, là sách học nghề".

Ở thập niên chín mƣơi, cuộc đời và sự nghiệp văn học của Xuân Diệu đã là đề tài của

nhiều luận án thạc, tiến sĩ chuyên ngành khoa học ngữ văn. Song, phần lớn các luận án đều

tập trung nghiên cứu, phát hiện thêm những giá trị phong phú của thơ ca Xuân Diệu; nhất là

tìm hiểu khẳng định vẻ đẹp của Thơ thơ và Gửi hương cho gió với cái nhìn nhiều chiều, nhiều

góc độ của lí thuyết phê bình mới. Một số công trình có dề cập trực tiếp đến hoạt động phê

bình, nghiên cứu của Xuân Diệu nhƣng cũng-chỉ đi sâu vào một số tác phẩm, một mảng đề

tài nhƣ: Xuân Diệu với các nhà thơ cổ điển Việt Nam V..V.., hoặc tiếp cận theo một hƣớng

khác. Gần đây tập sách Xuân Diệu - tác phẩm văn chương và lao động nghệ thuật (Nhà xuất

bản Giáo dục - Hà Nội 1999) do Lƣu Khánh Thơ sƣu tầm, tuyển chọn và giới thiệu, có thể

coi là Tuyển tập Xuân Diệu, tập III, và cũng là công trình đầu tiên sƣu tập một cách có hệ

thống giới thiệu và tìm hiểu khái quát đóng góp của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình,

nghiên cứu văn học. Nhƣng trong tập sách này, Lƣu Khánh Thơ chƣa bao quát mảng hoạt

động khá sổi nổi với nhiều bài tranh luận văn học của Xuân Diệu trƣớc Cách mạng tháng

Tám.

Tóm lại, từ tình hình nghiên cứu vấn đề nhƣ trên, có thể thấy rằng cùng với sự nghiệp

sáng tạo thơ ca nổi tiếng của Xuân Diệu, sự nghiệp phê bình nghiên cứu văn học của ông

cũng ngày càng dƣợc giới lí luận, phê bình nghiên cứu quan tâm, và vẫn "đang là một lĩnh

vực hấp dẫn chờ đợi khám phá." [140, tr 333]. Đã đến lúc cần có nhiều công trình nghiên cứu

ở nhiêu cấp độ và hình chọn khác nhau mới có thể xứng đáng với tầm vóc của những di sản

văn học vô giá mà Xuân Diệu đã dể lại cho chúng ta. Điều đó, một lần nữa nói lên tính cấp

thiết và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.

18

Tiếp thu thành tựu của ngƣời đi trƣớc, luận án này cố gắng tập hợp tƣ liệu, phân tích,

lí giải một cách hệ thống để dƣa ra đƣợc một cái nhìn tổng quan, một toàn cảnh về sự nghiệp

phê bình văn học lớn lao của Xuân Diệu bên cạnh sự nghiệp thơ ca đã từng rạng rỡ của ông.

2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu và cái mới của luận án

2.1. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Xuân Diệu là ngƣời say thơ, yêu thơ và dƣờng nhƣ sinh ra là để làm thơ, chăm chút

cho thơ. Những lập thơ đầu tay: Thơ thơ, Gửi hương cho gió đã làm nên một Xuân Diệu tài

danh rạng rỡ. Xuân Diệu viết văn xuôi, làm phê bình, dịch thơ, đi nói chuyện thơ trƣớc công

chúng cũng chính là biểu hiện "tình yêu đầy rẫy" của một trái tim thơ giàu có chân thật, ham

sống, ham yêu luôn tìm mọi cách để có đƣợc giao cảm với đời, với ngƣời. Chính vì vậy,

trong sáng tác của Xuân Diệu, các thể loại thƣờng hòa quyện vào nhau. Không ít những bài

thơ, câu thơ của Xuân Diệu mang vẻ đẹp hồn nhiên nhƣ lời văn nói, ngƣợc lại trong các tập

văn của Xuân Diệu đã xuất bản thƣờng có sự đan xen của truyện ngắn, bút kí, tùy bút, tiểu

luận và phê bình. Tất cả nhƣ để cùng tắm gội trong thơ, thấm đẫm chất thơ. Luận án này chỉ

chọn những bài viết, những tác phẩm giàu chất phê bình văn học của Xuân Diệu làm đối

tƣợng tìm hiểu, nghiên cứu.

Xuân Diệu không chỉ giới thiệu, phê bình thơ trong nƣớc, mà còn dịch và giới thiệu

nhiều nhà thơ lớn ở nƣớc ngoài. Song, do chƣa đủ điều kiện, tƣ liệu để đối chiếu giữa nguyên

văn với bản dịch, luận án này chủ yếu chỉ tập trung khảo sát những tác phẩm tiểu luận của

Xuân Diệu viết về Văn học Việt Nam.

Với tính chất văn học sử của đề tài, luận án này không đi sâu biện giải những khái

niệm nạng về lí thuyết văn chƣơng nhƣ đặc trƣng của văn học, phân biệt các loại thể, loại

hình văn học, phong cách nghệ thuật...mà chỉ vận dụng một dung lƣợng kiến thức vừa đủ để

làm cơ sở cho lập luận và phân tích triển khai vấn đề. Ở đây, từ thực tiễn tiếp cận một khối

lƣợng không nhỏ các tác phẩm tiểu

19

luận phê bình của Xuân Diệu, chúng tôi thấy cần giới hạn thống nhất cách hiểu phê bình văn

học, nghiên cứu văn học và mối quan hệ giữa hai khái niệm ấy nhƣ sau:

Theo quan điểm truyền thống, khoa học nghiên cứu văn chƣơng bao gồm ba ngành

lịch sử văn học, lí luận văn học về phê bình văn học. Nếu lịch sử văn học "khao khát" tái hiện

những quá trình hình thành và phát triển của nền văn học các dân tộc qua từng thời đại, lí

luận văn học chuyên chú say mê với những khái niệm, phạm trù thuộc về bản chất và qui luật

chung nhất của văn chƣơng, thì phê bình văn học là sự vận dụng văn học sử và lí luận văn

học dể hƣớng vào đối tƣợng chủ yếu là những hiện tƣợng văn học đang diễn ra trƣớc mắt. Có

nhà phê bình đã xác định:"Đối tượng thật sự của phê bình, là toàn bộ quá trình văn học

đương đại với tất cả các đặc điểm, diện mạo, vấn đề của nó" còn "đối tượng thường thấy của

phê hình là sáng tác, là các tác phẩm văn học, hoặc nói rõ hơn, là những sáng tác mới ra

mắt, những tác phẩm đương đại" [4, tr 173].

Tuy nhiên, cuộc sống vốn rất phong phú đa dạng và nhƣ một dòng chảy liên tục, trong

những cái đang diễn ra hôm nay vẫn có những giá trị của ngày hôm qua tiếp tục nảy nở, sinh

sôi. Mặt khác, không mấy ai tìm hiểu di sản văn học quá khứ, tìm về những "người muôn

năm cũ" mà không xuất phát từ một nỗi niềm trƣớc hiện tại. Có lẽ thế , phê bình văn học còn

đƣợc hiểu ở nghĩa rộng hơn, nó có thể "đề cập đến những hiện tượng văn học quá khứ, nhưng

không phải là nhằm tái hiện lại quá trình phát triển toàn diện của nó, mà chính là để qua nó

hoặc từ nó góp phần làm sáng tỏ một vấn đề hiện tại. Tính hiện đại của phê bình do đó,

không chỉ ở đối tượng, ở đề tài, mà còn ở chủ đề, ở cách xử lý "chế ngự đối tượng" [92, tr 9].

Phê bình văn học theo Bi -ê-lin-xki là "mĩ học vận động" chứ không phải là "khoa học trong

trạng thái tĩnh" cần phải đƣợc hiểu một cách linh hoạt và toàn diện trong sự gắn bó mật thiết

với thực tiễn.

Giới thuyết trên đây đã chứng tỏ rằng hoạt động phê bình và nghiên cứu Văn học, tác

phẩm phê hình và tác phẩm nghiên cứu có mối quan hệ mật thiết hết

20

sức gần gũi. Dù muốn hay không, cả phê bình và nghiên cứu đều phải bắt đầu từ tác phẩm

văn học, phê bình muốn sâu sắc thì phải có sự hỗ trợ đắc lực của nhiều nguồn tƣ liệu, nhiều

góc nhìn lí thuyết dựa trên các thành tựu nghiên cứu; ngƣợc lại nghiên cứu muốn thực sự sinh

động, hữu ích lại không thể thiếu cái nhìn nhạy cảm, "con mắt xanh" của ngƣời làm phê bình.

Sự phân biệt giữa phê bình và nghiên cứu chính là ở chỗ phê bình cũng là khoa học về văn

chƣơng nhƣng không phải là khoa học lí thuyết mà là khoa học ứng dụng. Vì vậy, phê bình

đòi hỏi phải năng động hơn, gần với thực tiễn sáng tác hơn. So với nghiên cứu, phê bình văn

học có nhiều thể văn, và cùng nhƣ trong sáng tác ranh giới giữa chúng không phải bao giờ

cũng phân định rõ ràng. Từ những thể văn phê bình thƣờng gặp nhƣ: tiểu luận, điểm bình, tùy

bút, lời tựa, lời bạt, chân dung, đối thoại, phỏng vấn... đến các khuynh hƣớng (phê bình lí

luận, phê bình xã hội - lịch sử, phê bình thẩm mĩ, phê bình tâm lí, phê bình ngôn ngữ...) các

phong cách (phê bình hàn lâm, phê bình tài tử, phê bình nhà trƣờng, phê bình tình cảm...)

càng chứng tỏ trong các ngành của khoa học văn chƣơng thì phê bình là ngƣời lính xung

kích, phải có mặt và ứng phó linh hoạt, kịp thời với đời sống muôn màu, muôn vẻ của văn

học. Và, nhà phê bình không thể thiếu đức tính của nhà nghiên cứu, nhà khoa học nhƣng ở

những khía cạnh nào đó lại cũng rất cần phải có những phẩm chất của ngƣời nghệ sĩ vì phê

bình phải chăng vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Còn hơn thế , đối với những nhà

phê bình thực sự có tài năng thì tác phẩm của họ không chí nhận định đánh giá chính xác một

hiện tƣợng văn học còn là một "văn bản nghệ thuật thứ hai" một công trình sáng tạo đầy tính

thẩm mĩ có sức rung động sâu xa tâm hồn, tình cảm ngƣời đọc.

Tìm hiểu những hoạt động của Xuân Diệu ở lĩnh vực này, chúng tôi có thể thấy rằng,

hầu hết tác phẩm tiểu luận - phê bình của ông, bao gồm nhiều thể loại, đều gắn với thời sự

văn học nƣớc ta, nhất là thời sự nền thơ Việt Nam hiện dại trong nửa thể kỉ vừa qua (từ 1935

đến 1985).Những công trình tìm hiểu về các nhà thơ cổ điển của dân tộc từ Nguyễn Trãi,

Nguyễn Du, Hồ Xuân Hƣơng đến Nguyễn Khuyến, Tú Xƣơng, Nguyễn Đình Chiểu, Đào Tấn

v..v… đều chủ yếu

21

góp phần phát hiện từ quá khứ những khía cạnh mới mẻ làm phong phú thêm đời sống văn

học hiện tại, là cách đọc sách xƣa cho ngƣời hôm nay; hay nói nhƣ Kim Thánh Thán đã từng

chân thành thú nhận khi phê bình "Mái tây", có thể Xuân Diệu còn có mục đích "ông không

vì ai hết, muốn vì chính mình, muốn làm duyên với người đời sau, buộc người đời sau phải

nhớ tới tên tuổi của mình" (125, tr 104). Cách "chế ngự đối tượng" nhƣ thế khiến cho hai tập

"Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" cũng thiên về phê bình giới thiệu thơ.

Mặt khác, cũng ít ai làm phê bình lại dày công đọc đi đọc lại, tìm hiểu một cách có hệ

thống và dành nhiều tâm huyết nhƣ Xuân Diệu. Có lẽ vì thế mà nhà thơ Chế Lan Viên đã có

lí khi nói rằng: "năng suất của Xuân Diệu bằng cả một Viện văn chương, mà Diệu vừa là viện

trưởng, vừa là viện phó, vừa là loong toong, bởi vì chỉ một mình Diệu đã viết hầu hết các

danh nhân văn học! Viết hay khó ai thay được" [133, tr 146]. Đó là lý do để luận án này

không tách rời phê bình và nghiên cứu trong đóng góp của Xuân Diệu ở lĩnh vực này.

2.2. Cái mới của luận án:

Luận án là công trình đầu tiên từ góc nhìn văn học sử đi sâu tìm hiểu một cách toàn

diện, có hệ thống hoạt động phê bình nghiên cứu văn học của Xuân Diệu cả trƣớc và sau

Cách mạng tháng Tám 1945 gắn với từng chặng đƣờng sáng tác thơ ca của ông và quá trình

phát triển của nền Văn học Việt Nam hiện đại từ 1935 đến 1985.

Luận án còn phát hiện, phân tích, so sánh để làm nổi bật những đóng góp của Xuân

Diệu cho nên văn học dân tộc trong lĩnh vực phê bình nghiên cứu: từ quan niệm về văn học,

về phê bình và phƣơng pháp phê bình đến những công trình tiêu biểu, những những đề tài nổi

bật; những đặc trƣng phong cách nghệ thuật .

Đồng thời, qua việc nhìn lại sự nghiệp phê bình nghiên cứu văn học với những thành

tựu rực rỡ của nhà thơ Xuân Diệu, qua tấm gƣơng lao động trung

22

thực đầy tài năng của một nghệ sĩ bậc thầy, luận án còn muốn góp thêm những suy nghĩ, rút

ra những bài học bổ ích, thiết thực cho hoạt động phê bình, nghiên cứu và giảng dạy văn học

hiện nay.

3. Phương pháp nghiên cứu của luận án:

Xuất phát từ đối tƣợng nghiên cứu và tính chất của đề tài, trong quá trình thực hiện

luận án, chúng tôi kết hợp vận dụng những phƣơng pháp cơ bản sau đây:

3.1. Phương pháp tập hợp, thông kê, phân loại:

Cùng với sự nghiệp sáng tác thơ ca, sự nghiệp phê bình nghiên cứu văn học của Xuân

Diệu cũng hết sức phong phú, đa dạng. Phƣơng pháp tập hợp thống kê, phân loại sẽ giúp cho

việc sƣu tập sắp xếp các tác phẩm phê bình nghiên cứu của Xuân Diệu theo trật tự thời gian,

và phân loại theo từng thể tài, từng vấn dề cần giải quyết để tăng cƣờng chính xác trong

nghiên cứu.

3.2. Phương pháp lịch sử:

Là đề tài văn học sử, phƣơng pháp này nhằm miêu tả, tái tạo quá trình hoạt động của

nhà thơ Xuân Diệu trên lĩnh vực phê bình nghiên cứu qua những chặng đƣờng cầm bút gắn

với lịch sử phê bình văn học Việt Nam nói riêng và nền văn học hiện đại của dân tộc nói

chung.

3.3. Phương pháp tiếp cận hệ thống:

Theo định nghĩa của N. Xtêpanôp, hệ thống là "một tập hợp phong phú với nhiều xác

định và liên hệ". Trong nghiên cứu khoa học, tri thức về đối tƣợng muốn có giá trị bao giờ

cũng mang tính cụ thể và tính hệ thống. Phƣơng pháp này giúp chúng tôi vừa đi sâu khảo sát

từng tác phẩm cụ thể của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình văn học, vừa đặt tác phẩm ấy

trong mối quan hệ với các tác phẩm khác gắn với từng chặng dƣờng hoạt động sáng tác và

phê bình của nhà thơ, đồng thời xác định định vị trí của hoạt động ấy trong sự phát triển

chung của nền văn học hiện đại nƣớc nhà.

23

3.4. Phương pháp so sánh văn học:

So sánh dể làm nổi bài tính da dạng và thống nhất trong sự nghiệp văn học của Xuân

Diệu, mặt khác, so sánh (đồng đại và lịch đại) giữa Xuân Diệu và các cây bút phê bình văn

học khác nhằm nhận diện phong cách nghệ thuật phê bình của Xuân Diệu và khẳng định

thành tựu đóng góp của ông ở lĩnh vực này.

Tất nhiên, trong quá trình tiếp cận đối tƣợng nghiên cứu và triển khai vấn đề, luận án

còn vận dụng phối hợp những phƣơng pháp bổ trợ khác.

4. Giới thiệu sơ lược cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan và kết luận, nội dung luận án đƣợc cấu trúc thành các

chƣơng, mục chính nhƣ sau:

Chương 1: Quan niệm về văn học và phƣơng phán phê bình nghiên cứu văn học của

Xuân Diệu

1.1. Quan niệm của Xuân Diệu về văn học chủ yếu là quan niệm về thơ

1.1.1. Thơ trƣớc hết là cuộc sống, cuộc sống nơi trần thế, trần tục này.

1.1.2. Thơ là trái tim chân thật, là quy luật tình cảm. .

1.1.3. Thơ còn là thơ nữa.

1. 2. Phƣơng pháp phê bình nghiên cứu văn học của Xuân Diệu

1.2.1. Phƣơng pháp "mắt xanh điểm huyệt vào chất văn"

1.2.2. Phƣơng pháp thể nghiệm đồng sáng tạo

1.2.3. Phƣơng pháp huy động triệt để vốn tri thức văn hóa, đời sống vào trƣờng liên

tƣởng thẩm mỹ.

1.2.4. Phƣơng pháp phân tích tác phẩm nhƣ một cơ thể sống một chỉnh thể nghệ thuật

sinh động.

Chương 2: Thành tựu của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình nghiên cứu văn học qua

các chặng đƣờng cầm bút

2.1. Nhìn lại một số tác phẩm tiêu biểu qua các thời kì.

2.1.1. Từ 1932-1945: Những bài tranh luận văn học thời "Thơ Mới" và "Thanh niên

với quốc văn".

24

2.1.2. Từ 1946-1954: "Tiếng thơ"

2.13. Từ 1955-1985: Với một số tác phẩm tiêu biểu:

- "Những bước đường tư tưởng của tôi".

- "Phê bình giới thiệu thơ"

- "Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ"

- "Lượng thông tin và những kĩ sư tâm hồm ấy "

- "Dao có mài mới sắc"

- "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" tập I, tập-II

- "Công việc làm thơ"

2.2. Những mảng đề tài phê bình nghiên cứu của Xuân Diệu

2.2. 1. Xuân Diệu với sáng tác thơ ca của quần chúng

2.2.2 .Xuân Diệu với gia tài văn học cổ điển của dân tộc

2.2.3. Xuân Diệu với nền thơ Việt Nam hiện đại

Chương 3: Phong cách phê bình nghiên cứu của Xuân Diệu

3.1. Nhà thơ trong nhà phê bình

3.2. Bình và giảng.

3.3.... "Và cây đời mãi mãi xanh tươi"

25

CHƢƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ VĂN HỌC, VÀ PHƢƠNG PHÁP PHÊ BÌNH

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CỦA XUÂN DIỆU

Khi bàn về đặc trƣng "lao động dưới hình thái riêng của người" Các Mác đã diễn đạt

một triết lý nổi tiếng bằng hình ảnh nhƣ sau: Con nhện làm những động tác của ngƣời thợ

dệt, con ong vói những ngăn tổ sáp của mình còn khéo hơn nhiều một nhà kiến trúc. Thế

nhƣng, điều phân biệt trƣớc tiên giữa một nhà kiến trúc tồi nhất và con ong giỏi nhất là nhà

kiến trúc trƣớc khi xây dựng tƣờng ngăn trong tổ ong, thì đã xây dựng tƣờng ngăn đó trong

óc mình rồi. Nghĩa là, kết quả cuối cùng lao động đạt dƣợc, trí tƣởng tƣợng của ngƣời lao

động đã quan niệm ra trƣớc rồi.

Nhƣ vậy, quan niệm là sự hình dung trƣớc của con ngƣời về một công việc nào đó,

hoặc nói rộng hơn là về một vấn đề, một đối tƣợng khách quan, một sự kiện nào đó; quan

niệm vừa là sự nhận thức, đồng thời cũng là một hoạt động nhận thức biểu hiện năng lực tƣ

duy của chủ thể sáng tạo. Quan niệm có thể đƣợc bổ sung, điều chỉnh thậm chí có khi phải

thay đổi do hoàn cảnh cụ thể trong quá trình tiếp xúc với đối tƣợng, nhƣng nó chính là cơ sở

nhận thức luận có ý nghĩa quyết định thái độ ứng xử và phƣơng pháp tiến hành công việc

nhằm đạt tới mục đích. Khi con ngƣời lao dộng cải tạo thiên nhiên, để tạo ra một "thiên nhiên

thứ hai" phục vụ cho chính mình, cũng có nghĩa là "thiên nhiên thứ hai " ấy bao giờ cũng soi

bóng con ngƣời và mang dấu ấn của những quan niệm. Bởi vậy, "sự thấy trƣớc ấy" đúng hay

sai, rõ ràng; hay mập mờ đều góp phần quyết định thành, bại của kết quả công việc.

Nói riêng trong lĩnh vực sáng tạo văn học, nhà văn nào trƣớc khi đặt bút cũng hình

dung về "đứa con tinh thần " của mình và hình dung trƣớc cả thái độ

26

của "bạn đọc giả định" khi "đứa con" ấy ra đời. Bởi thế nhiều ngƣời đã nói, trong bản thân

mỗi nhà văn, nhà thơ bao giờ cũng có một nhà phê bình; trƣớc hết là dể làm công việc biên

tập tác phẩm của chính họ: Nhà văn, nhà thơ càng lớn thì nhà phê bình ấy càng nghiêm khắc.

Là một nghệ sĩ bậc thầy Xuân Diệu ý thức sâu sắc và thƣờng trực vai trò của tƣ tƣởng,

quan niệm trong quá trình lao động văn chƣơng. Nhiều lần, trong nhiều trƣờng hợp khác

nhau, Xuân Diệu đã nói đến vấn đề này.

Nhận xét về Tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1954, xuất bản lần đầu (5/1957) Xuân Diệu

cho rằng: "Vì thiếu một lí luận nền tảng, một đường lối rõ rệt, nên Tuyển tập thơ Việt Nam

thiếu một xương sống, đến cả việc đặt tên cho mình cũng mơ hồ", và theo ý ông: "Ở giữa khối

thơ bề bộn đó, nếu ta chủ động có lí luận chắc chắn, có một phương hướng rõ rệt, thì ta vẫn

làm nổi được những đường nét căn bản" [34, tr" 102]. Lần khác, đọc và cảm nhận thơ Cao

Bá Quát, Xuân Diệu giải thích: "một lí do làm cho chất thơ Chu Thần hay, theo ý tôi cũng ở

nơi quan niệm đúng đắn của ông về thơ" [44, tr 142]. Và, khi "thêm lời trò chuyện" với các

bạn làm thơ trẻ, Xuân Diệu lại vẫn xác định: "nếu không nói được nhiều, thì cái cần nói đầu

tiên, vẫn nặng về vấn đề tư tưởng, vấn đề quan niệm" [36, tr 22].

Rõ ràng, "vấn đề tư tưởng, vấn đề quan niệm" đối với ngƣời biên tập, phê bình và

sáng tạo văn học, luôn đƣợc Xuân Diệu nhấn mạnh, đặt lên hàng đầu. Ông coi đó nhƣ 1à

"một đường lối", "một lí luận nền tảng", "một phương hướng" để tạo nên "xương sống" cho

tác phẩm, cho công trình. Chẳng thế mà, lúc nhìn lại "mười lăm năm lao động thơ" của chính

mình, Xuân Diệu cũng tự thấy và khẳng định: "có trình độ tư tưởng nào, thì có thơ ấy" [ 36, tr

99].

Mặt khác, thành tựu phê bình nghiên cứu văn học lớn về khối lƣợng và xuất sắc về

chất lƣợng của Xuân Diệu, cũng nói rằng ông đã sử dụng một hệ phƣơng pháp có hiệu quả.

27

Vậy, phƣơng pháp đó là gì?

Chúng ta vẫn biết, phƣơng pháp nghiên cứu một đối tƣợng nào đấy bao giờ cũng

tƣơng ứng với quan niệm của ngƣời sử dụng về chính đối tƣợng ấy. Tuy theo quan niệm về

đối tƣợng khác nhau mà ngƣời ta có những phƣơng pháp khác nhau. Từ mối tƣơng quan ấy,

việc xác định quan niệm về văn học của Xuân Diệu trƣớc khi di vào khảo sát phƣơng pháp

phê bình nghiên cứu của ông là hết sức cần thiết.

1.1. Quan niệm của Xuân Diệu về văn học, chủ yếu là quan niệm về thơ

Sở dĩ nói quan niệm về văn học của Xuân Diệu trƣớc hết và chủ yếu là quan niệm về

thơ, vì thơ là đối lƣợng chính, xuyên suốt của hoạt động phê bình nghiên cứu của Xuân Diệu.

Vừa là nhà sáng tác, vừa là nhà phê bình, tất nhiên hệ thống quan niệm ấy đã đƣợc

biểu hiện trong toàn bộ thế giới nghệ thuật thi ca của ông trƣớc và sau Cách mạng tháng Tám.

Tuy vậy, do dặc trƣng của thể loại, các tác phẩm tiểu luận - phê bình, mới chính là nơi bộc lộ

trực tiếp " ý thức triết học" của nhà thơ qua việc cảm nhận, đánh giá các hiện tƣợng văn học,

hoặc nhìn lại sáng tác của bản thân mình. Quan niệm về văn học của Xuân Diệu cũng không

nằm ngoài quy luật vận động, chuyển biến của một thế hệ văn nghệ sĩ vốn từ "chân trời của

một người" đến với "chân trời của tất cả" từ "thung lũng đau thương" đến với "cánh đồng

vui". Ban đầu, cũng có lúc Xuân Diệu tỏ ra quyết tâm không "vướng" bởi "nghiệp xưa",

nhƣng càng ngày ông càng nhận thức đƣợc đó là quá trình đấu tranh giữa cái "mình sau" và

cái "mình trước", "vừa phủ nhận, vừa kế thừa" đầy phức tạp, tinh vi. Nét khác biệt so với các

nhà văn cùng thế hệ, đó là Xuân Diệu không có thái độ đối lập hoàn loàn giữa hai thời kỳ

sáng tác trƣớc và sau cách mạng; ông biết tự phân tích và điều chỉnh; vì vậy quan niệm của

Xuân Diệu về văn học vừa vận động phát triển bổ sung, vừa đa dạng và thống nhất. Xuân

Diệu đã nhiều lần nói lên điều ấy qua "một tâm sự thi sĩ".

28

..."Cái tôi là đáng ghét", nhưng nếu tôi không nói cụ thể xuất phát từ trường hợp cá

nhân tôi, thì tôi làm sao nói được một cái gì sâu sắc, nghĩa là thành thật về thơ? Ý tôi muốn

nói rằng tôi là CŨ và là NAY, và hai phương pháp sáng tác, hai "hồn thơ", hai "bút pháp",

hai thời kì lịch sử của nước tôi hòa nhập làm một ở trong tôi".

“Trong thời tuổi trẻ tôi đã biết cái thú vị của buồn mơ, đã thưởng thức cái êm ái của

sự cô lẻ; trong những bài thơ lúc trước, tôi đã có những dạt dào lãng mạn và những giọng

điệu tượng trưng tôi không phủ nhận những sáng tạo của tôi khi trước, nhưng tôi nói như

Pôn Eluya (Paul Elua):"Từ chân trời của một người đến chân trời của mọi người", tôi tìm

thấy một hạnh phúc giàu có hơn, trọn vẹn hơn, đầy sáng tạo hơn. Tôi là một người hành

động và người mơ mộng bằng thơ" [46, tr-49].

Chúng tôi cho rằng muốn tìm hiểu và đánh giá đúng quan niệm về nghệ thuật và sáng

tác của Xuân Diệu, không thể không đặt trong mạch suy cảm ấy.

1.1.1. Thơ trước hết là cuộc sống, cuộc sống nơi trần thế, trần tục này

Xuân Diệu vẫn thƣờng phát biểu: ―Trong một tác phẩm văn học, cái mà ngƣời ta yêu

trƣớc hết là cuộc sống, chân lý cuối cùng và cao nhất của nghệ thuật là cuộc sống. Nghệ thuật

không thể là một thế giới riêng ở ngoài đời" [51 ,tr.31]. Cái chân lý dƣờng nhƣ hiển nhiên và

giản dị ấy, với thế hệ những nhà thơ nhƣ Xuân Diệu có đƣợc là cả một quá trình nhận thức rất

tinh vi, dần dà và nhẫn nại. Phân tích đƣợc một quá trình nhƣ vậy, theo Xuân Diệu là cả một

việc lý thú, bổ ích vì nó diễn ra vừa có quy luật, vừa nhiều vẻ gắn với hoàn cảnh riêng của

mỗi ngƣời.

Trƣớc Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu đã có những lời thơ:

"Là thi sĩ nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây

(Cảm xúc)

29

"Tôi là con chim đến từ núi lạ

Ngứa cổ hát chơi..."

(Lời thơ vào tập Gửi hương)

Một thời, không ít nhà phê bình nghiên cứu dã cho rằng các nhà thơ lãng mạn trong

phong trào thƣ mới đều theo khuynh hƣớng thoát ly, và những câu thơ nhƣ trên chính là

tuyên ngôn cho quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật.

Thực ra, kết luận ấy cũng không phải không có ít nhiều cơ sở. Sống những ngày tháng

u uất, tù hãm trong "lồng con" của một "lồng to" xã hội thực dân, nửa phong kiến hồi bấy giờ,

Xuân Diệu cũng đã từng nói, phàm ai có đầu óc, có lƣơng tâm đều muốn thoát ly, chỉ có điều

không thoát li nổi. Khi cái tôi (induvidu) - cá nhân, thể hiện đƣợc thức tỉnh mà chƣa tìm đƣợc

hƣớng đời, một số nhà thơ lãng mạn đã quay lƣng với thực tại bằng nhiều cách nhƣ tác giả

―Thi nhân Việt Nam" đã từng tổng kết. Xuân Diệu với cái tôi rạo rực, ham sống, ham yêu

cũng đã chọn cho mình một cách "thoát ly" riêng, ấy là cứ bám riết lấy cuộc đời trần thế :

Ta ôm bó, cánh tay ta làm rắn

Làm dây đa quấn quýt cả mình xuân

Không muốn đi, mãi mãi ở vườn trần

Thân hóa rễ để hút mùa dưới đất ... "

(Thanh niên)

Ngay cùng thời điểm ấy, trên báo Ngày nay, trong bài tiểu luận ―Thơ của ngƣời"; ở

một dạng diễn đạt khác, tƣ tƣởng và tâm hồn Xuân Diệu vẫn gắn với "nhân sinh" đắm đuối

xiết hao:

"Thoát ra ngoài cuộc đời, Ồ! Mộng tưởng cao quí; nhưng cứ ở trong cuộc đời, sự cao

quí lại càng cao hơn. Công việc việc dễ dàng là đuổi một người tình nhân phụ ta, nhưng ở

với họ và còn yêu họ luôn, điều ấy chỉ ai thi sĩ mới làm nổi. Sao

30

những người tự xưng là thi sĩ lại không làm được cái công việc ngang tàng một cách sâu sắc:

ở với đời và còn luôn luôn yêu đời, dầu đời phụ ta" [29, tr 102].

Giọng văn tranh luận có thể đang còn cái "xúc tác" (chữ dùng của Xuân Diệu) của

tuổi trẻ, nhƣng chúng ta một lần nữa thấy dƣợc quan niệm sống và quan niệm nghệ thuật nhất

quán của Xuân Diệu. Ông phê phán quyết liệt vì không chịu dƣợc thứ thơ "làm duyên làm

dáng đến buồn cười", thứ thơ "làm tiên", "làm ma"... mà không "làm người"; và ông đùa cợt:

"nếu tôi phải làm tiên, tôi sẽ làm tiên một ngày thôi và sẽ có một giọng nói ngọt ngào hơn

suối đào: tôi chỉ cần đủ thời giờ để rủ tiên bà, tiên cô cùng tiên ông xuống trần phạm tội"

[29, tr 103]. Cái nhìn ở đây chƣa hẳn đã toàn diện, song vẫn toát lên nhiệt tình khẳng định

quan niệm thơ là của ngƣời, là của đời và phải "ở trong cuộc đời”; nhà thơ phải là những

ngƣời yêu cuộc đời nồng nàn thiết tha nhất, chỉ vậy mới xứng đáng với "sự lớn mênh mông"

và "niềm bao dung quảng đại" của thơ. Quả là, Thế Lữ đã vô cùng thấu hiểu và chí lí khi nêu

nhận xét trong lời đề tựa Thơ thơ xuất bản lần dầu (1938): "Xuân Diệu là một người của đời,

một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian"

[133, tr 29]. Tƣởng nhƣ cho đến nay, chƣa ai có thể khái quát đúng bản chất con - ngƣời-thơ-

Xuân Diệu và con - ngƣời - quan - niệm - nghệ - thuật của Xuân Diệu gọn và đủ đến nhƣ vậy.

Ngẫm lại, mấy vần thơ mở đầu bài Cảm xúc và Lời thơ vào tập Gửi hương đã nhắc ở trên,

chúng ta thấy rằng có khi chƣa hẳn đó là "tuyên ngôn" nghệ thuật mà phải chăng chỉ là một

cách bộc lộ chân thành, hồn nhiên về "cái nghiệp" thi nhân và cũng nói lên phần nào đặc

trƣng bản năng lao động, sáng tạo nghệ thuật của thi sĩ. Bởi vì là nhà thơ ai mà chẳng có lúc

"vơ vẩn" đắm mình vào nhiên nhiên, vào hạnh phúc sáng tạo đối với họ, nói nhƣ văn hào Nga

vĩ đại - Tuốc-ghê-nhi-ép, có khi không phải là quá khứ, không phải là hiện tại, cũng không

phải là tƣơng lai, mà đó là những "khoảnh khắc" lạ lùng, khoảnh khắc "ngứa cổ hát chơi" ấy!

Nhớ lại "nỗi chua cay của một thời thơ", Xuân Diệu kể lại rằng:

31

"Trong đời làm thơ của tôi trước Cách mạng, tôi chưa hề nói đến cảnh tiên một lần

nào, chỉ có một lần viết: "Chớ nên tiết kiệm, hỡi nàng tiên", thì đây là cách gọi một người ở

trần thế " [47, tr 584].

Cố nhiên, cuộc đời và hiện thực trong quan niệm cũng nhƣ trong thơ Xuân Diệu trƣớc

Cách mạng chỉ dừng ở mức chủ yếu là tâm tƣ của cái tôi - cá nhân cá thể, "chỉ tự quay nhìn

vào trong". Cái "vũ trụ riêng tư" ấy đƣợc nghe rất tinh diệu và rất đáng trân trọng, nhƣng

không thể nào "giàu sức mạnh" bằng "cái tôi kiểu mới" sau này. Mỗi khi nhìn lại mình, chính

Xuân Diệu vẫn tự hằng suy nghĩ: "Thế nào mà một tâm hồn thi sĩ cảm thương đã chuyển

thành một tâm hồn thi sĩ tham gia cải tạo thế giới!" [ 38, tr 59]. Đó là cả một quá trình phấn

đấu của ngƣời cầm bút dƣới ánh sáng lí tƣởng cách mạng. Trải qua "những đêm hành quân",

Xuân Diệu thấm thía, tự hào:

"...Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi

Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu

Tôi sống với cuộc đời chiến dấu

Của triệu người yêu dấu gian lao."

Khi đã nhận thức bằng cả con tim và trí tuệ nhƣ vậy thì cảm quan của nhà thơ về đời

sống và văn học ngày càng phong phú và nhạy bén hơn.

Thơ trƣớc tiên là cuộc đời, là hiện thực vì theo Xuân Diệu nghĩ suy và sắp xếp thì

"trong sự sáng tạo của nhà thơ, thứ nhất là sáng tạo chất sống, thứ nhì là sáng tạo chất

sống, thứ ba, thứ tứ mới đến sáng tạo ngôn ngữ". Và ông cho rằng "loại thơ sáng tạo ngôn

ngữ tài giỏi cũng chỉ mới là thơ loại nhì" [51 tr 56]

Mỗi tác phẩm, mỗi bài thơ là một sinh thể, một tâm hồn. Ngƣời ta vẫn thƣờng nói,

cuộc sống dƣợc tái tạo thêm nhiều lần qua cái nhìn và tài năng thể hiện của ngƣời nghệ sĩ.

Ngƣời viết văn làm thơ không phải chỉ phản ánh đời sống mà còn truyền thêm chất sống,

sáng tạo thêm sự sống. Chẳng là, không ít những

32

hình tƣợng nhân vật, những lời thơ đã từ tác phẩm bƣớc ra cuộc đời, và cùng đi lại, sống mãi

trong lòng ngƣời đọc đó sao!

Giải thích lý do văn nghệ phải dùng tƣ duy hình tƣợng, Xuân Diệu cũng lập luận;

dùng hình tƣợng chính là để lấy sự sống tác động vào sự sống, nhƣ thế sức hấp dẫn mới

mạnh, sức lôi cuốn mới lớn. Vì vậy, tƣ tƣởng ở trong thơ chỉ nên để một phần dƣới dạng

châm ngôn, nói trực tiếp bằng ý, còn phần lớn phải đƣợc biểu hiện qua thế giới hình tƣợng,

tức là đổi ra thành máu thịt cuộc đời.

"Thơ khó", ấy cũng là do bản thân đời sống có những điều dễ nói, những điều khó nói,

có những ý thông thƣờng hễ nói ra ai cũng hiểu đƣợc, có những ý sâu sắc thì không phải ai

cũng hiểu, ví nhƣ những bông hoa, có hoa vừa tầm tay hái, có những hoa phải vƣơn cả mình

lên mới ngắt đƣợc và có cả những bông hoa phải qua đèo, leo núi khó nhọc lắm mới mang

đƣợc về. Hơn nữa, muốn thực là thơ thì bản thân nó phải có một cuộc sống riêng, nhà thi sĩ

phải biết "thu góp những cái tinh hoa, những cái cốt yếu, cốt lõi của sự vật" đem kết đọng lại

làm nên những câu thơ đậm đà. "Tài liệu thì vẫn lấy trong đời thường, trong cuộc sống hàng

ngày, trong những rung động của trái tim, của xương thịt; nhưng khi đã đem vào thơ thì tài

liệu biến đi thành ngọc châu". "Thơ khó" vì thơ khác văn xuôi, thơ ở trong một thế giới riêng;

thơ vẫn là sự sống, nhƣng là sự sống đọng lại, kết tinh biến thành cái dẹp.

Trong mạch ý niệm ấy, càng quan tâm đến vấn đề chất sống, chất đời trong thơ bao

nhiêu, Xuân Diệu càng coi trọng tính chân thật của thơ bấy nhiêu. Xuân Diệu vẫn hằng nhắc

một yêu cầu thƣờng trực:

Thơ phải

chân, chân, chân!

thật, thật, thật!

Và ông giảng giải: "thật là sự có thật ở trong đời, ở trong sự sống; chân là tính có

thật ở trong lòng người, tâm hồn người [51. Tr 48].

33

1.1.2. Thơ là trái tim chân thật, là quy luật tình cảm.

Theo Xuân Diệu nhà thơ lớn là nhà thơ nắm bắt đƣợc sâu sắc nhất quy luật của trái

tim; con đƣờng ngắn nhất để thơ đến với ngƣời đọc là con đƣờng thẳng trực tiếp từ trái tim

đến trái tim. Cho nên, "đức tính" trƣớc tiên của tác phẩm thơ (cũng nhƣ nhiều tác phẩm nghệ

thuật khác) là "sự cộng thêm vào thực tại một tâm hồn, một trí tuệ, một tình cảm, một sáng

tạo" [51. Tr35]. Tất cả chất liệu trong cuộc sống đều có khả năng hoa thành thơ, nhƣng

không phải cái gì cũng otomatich ra thơ cả. Phân biệt các thể loại văn học: là ký, là truyện, là

kịch, hay là thơ chính là ở mức độ "sự cộng thêm vào" ấy cùng với bản lĩnh của ngƣời cầm

bút khi đứng trƣớc thực tế bề bộn quyết định lựa chọn chất liệu nào.

Là tiếng hát của trái tim chân thật, thơ là quy luật tình cảm. Ngày xƣa Lê Quý Đôn

bàn về thơ cũng đã sắp xếp theo thứ tự TÌNH, rồi mới đến CẢNH, và SỰ. Ngô Thì Nhậm, trò

chuyện về thơ với Phan Huy Ích cũng khẳng định một ý tƣơng tự:

"Mây gió có hoa xinh tươi kỳ diệu đến đâu, hết thảy cũng đều tự trong lòng nảy ra,

gửi vào sự vật mà hiện lên ngôn ngữ.

... Hãy xúc động hồn thơ để ngọn bút có thần" [141. Tr75]

Kế thừa và phát huy nhƣng quan niệm truyền thống ấy. Xuân Diệu hết sức coi trọng

và đề cao vai trò tình cảm trong thơ. Ông xác định:

"Các tác phẩm văn thơ hay, tác động đến tình cảm của con người có một địa vị rất

quan trọng trong đời sống tình cảm xã hội; văn học mang tư tưởng xuyên qua tình cảm, xúc

cảm, đó là đặc trưng của nó" [51, Tr29]

Là trái tim chân thật, Xuân Diệu luôn đòi hỏi văn học nghệ thuật phải không đƣợc giả

đối một tí nào. Đối với thơ, ông lại càng yêu cầu một cách triết róng, quyết liệt Xuân Diệu

chấp nhận có thƣ hay, thơ khá, thơ thƣờng, thơ kém, thơ - dở... thơ thành công nhiều, ít hoặc

không ít thành công chứ nhất định đừng có

34

thơ giả, cũng nhƣ "là vàng, là bạc, là đồng, là thiếc hay là chì, chứ nhất định đừng là vàng

giả" [36. Tr 61]. Trò chuyện vói các bạn làm thơ trẻ, Xuân Diệu coi đó là điều căn bản phải

dặn dò nhau trƣớc nhất, ông nhắc họ "phải ghét cái giả như ghét rắn độc, thấy nó là phải

triệt. Còn thơ non kém thì ta dần dần rèn luyện mà nâng lên" [36, Tr 24]. Quả là với Xuân

Diệu "cái giả" trái với quy luật con tim, là một thứ hiểm họa, cần phải tuyên chiến với nó nhƣ

tuyên chiến với cái xấu, cái ác... Ở đây quan niệm văn chƣơng gắn với quan niệm về con

ngƣời, và cả nhân cách ngƣời cầm bút. Ngƣời làm sao sẽ viết văn làm vậy, xem văn sẽ biết

tính tình ngƣời viết ra nó. Thơ lại là trái tim, là "người ở phần tinh vi nhất" nên càng không

chịu đƣợc sự giả tạo. Có lần, sau khi dẫn lời một nhà thơ nƣớc ngoài: Thơ là con đẻ của lòng

thành thật, vì thiếu cái đó thì thi phẩm không còn sức sống; là lời kêu gọi của trái tim và

lƣơng tâm" Xuân Diệu nhƣ nhìn vời vợi vào xa xăm thời gian đổ cái lên ý nghĩa của trái tim

chân thật đối với lẽ sống còn của ngƣời nghệ sĩ:

“Trong những xã hội có giai cấp, từ những ngàn năm, những trăm năm về trước,

những thi sĩ xứng đáng của nhân loại đã gửi cái chân chất của tâm trí và tài năng mình như

một cái phao nổi trên dòng thời gian, đặng vươn tới những mai hậu xa xăm và rạng rỡ" [51,

Tr- 265].

Xuân Diệu cũng lấy sự chân thật của trái tim, của tình cảm để phân biệt "thứ thơ lớn"

và "thứ thơ bé"; đồng thời cũng coi đó là nền tảng của phong cách lớn, bút pháp lớn. "Thứ

thơ lớn "theo quan niệm của ông là thứ thơ có chất, nó cũng đầy đủ kỹ thuật, nhƣng không

phai là thứ thơ "khôn vặt", "kỹ thuật vặt" dùng cái khéo léo của câu chữ dể lòe ngƣời, mà nó

trọng chất hơn hình. Chính nhờ cái chất chân thật mà thơ trơ nên gần gũi với ngƣời đọc,

"thức tỉnh", làm cho tâm hồn con ngƣời nhạy cảm hơn và phong phú hơn. Xuân Diệu mƣợn

câu Kiều: "Trăm năm tính cuộc vuông tròn/ Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông" để nói

đến ngọn nguồn sâu thảm của sáng tạo thi ca là tình yêu, một tình yêu mãnh liệt không; cùng.

Ông nhấn mạnh, cái mà ngƣời ta đòi hỏi hơn cả ở nhà thơ là dù

35

nói đến ngƣời đến vật, đến việc cũng phải tràn trề tình cảm, "phải nói bằng tất cả trái tim,

linh hồn của mình, càng dào dạt càng hay". Có nhƣ vậy, thơ mới mong đem lại một cái gì đó

nhƣ A-ra-gông nói: "một đồng xu rơi trên đường nhựa nảy một tiếng vang chứ không phải im

lìm; tức là cái duyên trên một nét mặt, tức đôi mắt có chiều sâu" [36, Tr 63].

Không phủ nhận thơ là một nghề, hiểu rất rõ "nghề thơ cũng lắm công phu", phải có

chuyên môn, phải có kỹ thuật, có chuyện bếp núc cụ thể nhƣng không bao giờ Xuân Diệt coi

tài, khéo là quyết định cả. Cần phải "có hồn để sai khiến kỹ xảo", cần phải có mạch đập trái

tim sau từng con chữ thì thơ mới đi đƣợc vào cõi lớn rộng, dài lâu. Muốn vậy, ngƣời làm thơ

phải sống thật, yêu thật, phải hiểu việc đời, việc ngƣời vô cùng sâu sắc. Đọc hai câu thơ của

Nguyễn Trãi:

"Phơ phơ đầu bạc ông câu cá

Leo lẻo duềnh xanh con mắt mèo"

Xuân Diệu cho rằng, chỉ có một thi sĩ rung động thực sự, cứ chân thật xuất phát từ sự

vật mới nói đƣợc cái mầu này, làm đƣợc hai câu thơ này. Hoặc mỗi lần suy ngẫm về sức sống

"mãi mãi trong đời" của Truyện Kiều, Xuân Diệu nhƣ vẫn nghe nhịp đập trái tim của nhà thơ

thiên tài Nguyễn Du và lý giải, thán phục:

"Tính cách nhân dân, tính cách quần chúng của thơ Kiều còn do sự hiểu biết việc đời,

việc người sâu sắc của Nguyễn Du. Sao thơ Nguyễn Du chân thế, thật thế" [143, Tr. 150].

1.1.3. Thơ còn là thơ nữa...

Xuất phát từ đặc trƣng của văn học là tƣ duy hình tƣợng, tƣ duy cảm xúc Xuân Diệu

phân biệt hai viện bảo tàng: bảo tàng lịch sử và bảo tàng văn học Viện bảo tàng lịch sử quan

trọng hơn hết, quan trọng vì lịch sử là sống chết của một dân tộc; còn viện bảo tàng văn học

là một ngôi nhà con của ngôi nhà lớn lớn; nhƣng thơ văn hay đã từng văn hay đã từng tâm

hồn con ngƣời, cho nên hồn con ngƣời, cho nên

36

nhiều khi viện bảo tàng đó đặt ở trong tim của hàng triệu ngƣời làm ra lịch sử. Do đó mà

ngƣời ta nhớ đến Tô Đông Pha hơn là nhớ đến Vƣơng An Thạch. Xuân Diệu đòi hỏi "phạm

trù nào ra phạm trù ấy" vào coi đó là chân lí khách quan.

Phân biệt văn học với triết lí đạo đức, thái độ của Xuân Diệu là không đối lập, nhƣng

không hề đồng nhất.

Đọc "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi gồm 254 bài và "Bạch Vân quốc ngữ thi" của

Nguyễn Bỉnh Khiêm (sinh sau Nguyễn Trãi 11 năm) gồm 100 bài, Xuân Diệu xem xét kĩ

lƣỡng 20 bài trùng nhau của hai tập thơ, phần lớn là những lời giáo huấn đạo đức, luân lí -

một đặc điểm thƣờng gặp nổi bật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, vẫn biết "có những câu nên

khắc chữ vàng, đặt ở chỗ cao trong phạm trù quí báu" nhƣng Xuân Diệu cho rằng, nhƣ vậy là

"xa phạm trù văn học", và lấy đó làm căn cứ so sánh để khẳng định: Trong làng thơ tiếng

Nôm thì bản lĩnh nhất là Hồ Xuân Hƣơng và Nguyễn Trãi.

Nói về sự khác nhau giữa báo chí với văn học, giữa ngƣời làm báo với nhà thơ -

những "kĩ sư tâm hồn", Xuân Diệu chỉ rõ nhà báo chỉ cần đƣa tin, cung cấp "lượng thông tin",

còn nhà văn, nhà thơ là nhận những "lƣợng thông tin" của sự vật, lấy nó làm cái cớ mà phát

hiện những phản ánh và sáng tạo kì diệu trong tâm hồn ngƣời. Xuân Diệu dẫn chứng một

hiện tƣợng trong đời sống để diễn giải:

"Tờ báo vô hạn quan trọng, nhưng sang ngày hôm sau, một tuần lễ sau, tin mới đã

đuổi tin cũ, sách văn học dở quá thì người ta xé mà đút nút chai tương chứ bình thường,

không ai xé sách văn học gói kẹo; tờ báo thì người ta chỉ cất những tờ báo in những tin tức

đặc biệt nhất, cần giữ làm kỉ niệm, còn thì qua ngày rồi người ta lấy báo gói hàng là chuyện

thường. Bởi "lượng thông tin" thì hồn vía của nó là cái tin, cái tin thì không có văn chương gì

cả, người ta dùng cái tin và người ta bỏ số báo " [42. tr9]

37

Cùng với qui luật tình cảm, Xuân Diệu luôn có ý thức khẳng định qui luật thẩm mĩ

nhƣ một phẩm chất dặc trƣng của "đức tính thơ": "Không có giá trị thẩm mĩ, thì bất thành tác

phẩm nghệ thuật" [34, tr 98].

Đặt quan điểm vừa nêu trong hoàn cảnh ra đời của nó mới thấy hết tính chất tiên

phong và ý nghĩa đóng góp của tƣ tƣởng nghệ thuật Xuân Diệu. Lúc bấy giờ, những năm giữa

thập niên năm mƣơi đến đầu thập niên sáu mƣơi của thế kỉ, sau kháng chiến chống Pháp

(1946-1954) thắng lợi, cách mạng nƣớc ta bƣớc sang một giai đoạn mới; miền Bắc bƣớc vào

công cuộc hàn gắn vết thƣơng chiến tranh, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và lừng bƣớc di

vào thời kì quá độ. Một nền văn học xây dựng theo ba phƣơng châm "dân tộc, khoa học, đại

chúng" vừa đi qua chiến tranh, đứng trƣớc hiện thực mới phải trải qua một cuộc đấu tranh

"nhận đường" lần thứ hai. Trong mặt trận đấu tranh hồi ấy, chỉ trừ một số rất ít những kẻ tà

tâm, còn phần lớn văn nghệ sĩ - những ngƣời đã từng tôi luyện qua ngọn lửa kháng chiến vẫn

thủy chung với con đƣờng lí tƣởng. Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân, ý thức nghệ thuật của

một thời còn không ít những nhận thức máy móc, ấu trỹ; bệnh phê bình xã hội học dung tục,

cái nhìn sơ lƣợc giáo diều còn khá phổ biến; những qui luật nội tại của tác phẩm nghệ thuật

và đặc trƣng lao động nhà văn chƣa đƣợc coi trọng. Bản thân Xuân Diệu trong tình hình ấy

cũng có lúc không tránh khỏi "ngây thơ" hoặc phải diễn phaỉ theo lối "phên dậu rào đón",

nhƣng trƣớc sau vẫn kiên trì bảo vệ ý kiến của mình, đề cao đặc trƣng thẩm mỹ của văn học.

Ông luôn nhấn mạnh, "những quy luật của tác phẩm là có thật" nhà văn là "kỹ sư tâm hồn"

chứ không phải kĩ sƣ thực tế ; cái thắt lại cuối cùng là " ai cũng thích văn thơ phải thật hay";

tác phẩm thơ phải đem lại cho ngƣời đọc "những khoái cảm, những lạc thú về cái đẹp đẽ cái

diễm lệ ". Muốn vậy, ngƣời làm thơ phải làm sao "biến cái vật cái ngoài đời thành vật ở

trong lòng, lấy vật ở ngoài "đời mà tạo ra một thế giới mê say, thậm chí là kỳ diệu nữa" [30,

tr 223].

38

Cũng nhƣ nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng khác, Xuân Diệu luôn đề cao tính cá thể

hóa trong lao động; nghệ thuật văn chương. Ông chỉ rõ, lao động thơ, nghề thơ đòi hỏi phải

làm ra một loại sản phẩm đặc biệt, không đƣợc lập lại ngƣời đi nƣớc, không đƣợc bình

thƣờng (trong lĩnh vực này, loại sản phẩm này, bình thƣờng cũng là tầm thƣờng), phải mới lạ,

hấp dần. Sáng tác thơ không thể bằng sức mạnh của số đông, nó là "thứ sản xuất đặc biệt cá

thể của một cá nhân thi sĩ; hơn tất cả mọi ngành nghệ thuật nào, thơ phải thật cá thể và cụ

thể.” Thơ phải rất sống, thơ phải cá thể, thơ không có vẻ đẹp nhọn sắc cá thể hóa của sự sống

thì ngƣời ta chẳng yêu thơ.

Xuân Diệu còn phân tích tỉ mỉ, thơ là "món ăn tinh thần" khác với "món ăn vật chất":

"Món ăn vật chất có khi chưa ngon nhưng vì đói nên ta ta cũng ăn vậy, còn món ăn văn nghệ,

nếu kém quá người ta sẽ nhận sự giáo dục trực tiếp bằng tư tưởng chứ không cần đi qua cái

chế biến kém cỏi của văn nghệ; và người ta tìm những áng văn cổ truyền mà đọc để thỏa mãn

khiếu thẩm mỹ của mình" [51, Tr- 89].

Làm đƣợc loại sản phẩm nhƣ thế, còn có con đƣờng nào khác ngoài con đƣờng nhà

văn phải lao động cật lực, phải biết tự yêu cầu cao với công việc của chính mình và phải thực

sự có tài. Xuân Diệu coi việc "đòi hỏi nhà văn phải có tài là một quy luật khách quan của xã

hội" [5, Tr 89] Chỉ nhờ có tài, ngƣời nghệ sĩ mới đem đƣợc điệu cảm xúc của mình hòa kết

vào chất liệu, mới đẻ ra đƣợc những tác phẩm cụ thể hoá và cá thể hóa, có tên ngƣời làm,

không trộn lẫn đƣợc. Nhà văn Nguyễn Khải trên Văn nghệ nguyệt san, tháng 8 năm 1993, khi

nói về "nghề văn cũng lắm công phu" đã nhấn mạnh một ý tƣơng tự:

"Cái tài các nghề sáng tạo là vô cùng quan trọng. Nó quyết định hết thảy. Nó là hình

ảnh, là âm thanh, là màu sắc hết sức độc đáo, lóe sáng trong một giây phút nào đó của cuộc

sống đã được nghệ sĩ nhìn ra, nghe ra, nhận ra theo cách riêng của mình, cũng chỉ trong

thoáng chốc xuất thần. Và người sáng

39

tạo đã tìm ra những câu chữ, những chất liệu chính xác nhất, phù hợp nhất để giữ lại cái

thoáng chốc ấy cho muôn thuở".

Xuân Diệu thì khẳng định "Một ngƣời dốt thì học cũng phải thông, chứ ngƣời không

có cổ họng tốt thì hát mãi cũng không thể hay đƣợc, nếu không có năng khiếu thì không nên

làm việc sáng tác nghệ thuật, sẽ mất công vô ích " [34, tr49].

*

Mỹ học Xuân Diệu còn thể hiện ở cái nhìn tổng quát và uyển chuyển về mối quan hệ

giữa nội dung và nghệ thuật tác phẩm. Xuân Diệu rất tâm đắc với ý kiến của Thủ tƣớng Phạm

Văn Đồng: "Đã nói đến văn học nghệ thuật thì phải thấy nội dung tƣ tƣởng rất quan trọng,

nhƣng đồng thời giá trị nghệ thuật cũng rất quan trọng. Ta đòi hỏi hai mặt đó đều phải tốt một

trăm phần trăm", rồi luận thêm: "Tôi chú ý đồng chí Phạm Văn Đồng không dùng chữ "hình

thức" để đối với hai chữ "nội dung", mà đã dùng "nghệ thuật". Hình thức còn có phần hẹp,

có thể gây hiểu lầm, và từ hiểu lầm rơi vào chủ nghĩa hình thức. Chữ "nghệ thuật" rộng hơn,

sâu hơn..."; nghệ thuật tức là bao gồm tất cả các cách, tất cả hình thức dùng để diễn tả nội

dung và đồng thời là kết quả của sự dùng ấy; nghệ thuật tức là cả bản thân cái tác phẩm đã

thành hình, và "không có giá trị nghệ thuật thì không thể là tác phẩm nghệ thuật được. Nó sẽ

là con số không" [41. tr176].

Không chỉ dừng lại ở quan niệm, khi đi vào thế giới nghệ thuật thi ca, tìm hiểu đánh

giá từng tác phẩm cụ thể, Xuân Diệu rất quan tâm đến từng yếu tố nội dung và nghệ thuật.

Ông phân biệt và tìm hiểu "quy luật cuộc sống và quy luật tác phẩm trong thơ", ông nói tỉ mỉ

về cách tìm tứ cho một bài thơ, về kỹ thuật cấu tứ, về cách tạo hình ảnh, âm thanh nhịp điệu

và đến cả việc đặt tên cho một tập thơ. Nhƣng cái cuối cùng thắt lại bao giờ Xuân Diệu cũng

nhắc đến yêu cầu phải có "lương tâm nhà nghề, lương tâm thi sĩ" để "lắng nghe, dò xét tâm lý

của con ngƣời, đặng mà bắt chộp cho đƣợc những trạng thái đặc biệt của tâm hồn.

40

những thoáng run rẩy của nội tâm" [150, Tr 158]. Và nhƣ vậy cũng có nghĩa là nhà phê bình

thơ cũng phải "lắng nghe dò xét" mà chộp lấy cho đƣợc những trạng thái tâm hồn, những

thoáng run rẩy ấy qua mỗi dòng chữ, mỗi vần điệu của thơ. Lĩnh hội thơ cũng cần phải có

năng khiếu, có gom, có "mắt xanh". Nhà thơ Xuân Diệu và nhà phê bình Xuân Diệu ở đây là

một.

1.2. Phương pháp phê bình nghiên cứu văn học của Xuân Diệu:

Cùng với lao động nghệ thuật sáng tạo thi ca, sau Cách mạng tháng Tám, đƣợc tắm

mình dòng đời sống nhân dân, Xuân Diệu có lần tâm sự:

..."Tôi ao ước và ao ước chỉ một cái việc làm anh kép, bác xẩm vẻ vang đi bình thơ

tận nơi cho những người chiến đấu và lao động nghe ngay tươi sốt, cũng đáng cho mình sống

một, hai cái đời nữa!

... Tôi ao ước muốn viết được nhiều tiểu luận, vì công chúng mới của ta cần chiếm

lĩnh kho tàng văn hóa, rất cần sự môi giới của nhà văn. Tôi ao ước viết thi thoại, cái việc mà

Tùy Viên xưa đã làm, mình với người đọc như đôi bạn gác đùi lên nhau nói chuyện thơ xưa

nay, thích thì vỗ đùi mình hóa ra vỗ đùi bạn.

... Tôi ao ước làm thế nào hút nhụy mật từ những sáng tác quần chúng hiện nay đang

lên một chất lượng cao, vượt bậc thành những bài thơ thật xứng đáng với tên ấy!" [38, tr;

12].

Nhƣ vậy, phê bình nghiên cứu văn học đối với Xuân Diệu có hai mục đích:

Một là, để đƣa thơ đến cho mọi ngƣời, cho đại chúng.

Hai là, để hút nhụy mật cho mình.

Vì thế Xuân Diệu rất coi trọng công chúng rộng rãi, trạng thái thức sâu sắc mối quan

hệ giữa công chúng và nhà thơ, ông gọi đó là "mối duyên văn tự", Xuân Diệu quan niệm phê

bình không phải là chỉ trích, là lên lớp bằng chủ quan mà cái chính là giúp cho bạn đọc hiểu

một thời đại, một nền thơ, một nhà thơ ; "Khen hay chê chưa quan trọng bằng cảm thông và

thấu hiểu". Mặt

41

khác, để hút nhụy phê bình cần phát hiện cho đƣợc cái hay cái tuyệt vời, hoàn mĩ của tác

phẩm để đáp ứng nhu cầu nâng cao không ngừng năng lực thẩm mĩ cho ngƣời đọc.

Chính từ quan niệm về thơ về phê bình nghiên cứu thơ, dẫn tới một số phƣơng pháp

phê bình nghiên cứu thơ của Xuân Diệu.

1.2.1. Phương pháp "mắt xanh điểm huyệt vào chất văn"

Đọc tiểu luận phê bình của Xuân Diệu luôn gặp ông nói đến hai chữ "mắt xanh". Khi

thì khen tác giả Văn đài bảo giám đã có mắt xanh tuyển chọn bài; khi thì nói, tôi có mắt xanh

với bài này trong Quốc âm thi tập, trong thơ Hồ Xuân Hƣơng; khi thì kể lại cách làm của

mình trƣớc một tác giả có một khối lƣợng thơ đó sộ nén phải dùng phƣơng pháp "mắt xanh

điểm huyệt".

Thực ra, trên thế giới cũng nhƣ trong nƣớc ta, nhiều nhà mỹ học, nhiều nghệ sĩ lớn đã

nói đến vai trò của các giác quan và đặc biệt là vai trò của đôi mắt đối với việc cảm thụ thế

giới và sáng tạo nghệ thuật. Đại thi hào Đức Gớt-tơ cho rằng: "Mỗi lần nhìn chăm chú vào

thế giới, thì chúng ta đều đã luận lý rồi" [3, Tr 77]. Nhà thi hào Pháp A-ra-gông từng nói đến

"sáng mắt sáng lòng;". Hội họa phƣơng Đông vốn có truyền thống "họa long điểm mi" (vẽ

rồng điểm mắt). Lƣu Hiệp thì khẳng định: "Nếu mắt mà sáng thì không có hình dáng gì là

không phân biệt được; nội tâm mà mẫn nhuệ thì không có đạo lý gì không hiểu thấu được "

[80,Tr 274]. Xuyên suốt tác phẩm Nam Cao phải chăng cũng là vấn đề "đôi mắt".

Là nhà thơ của "tôi giàu đôi mắt", nhà thơ của "cái nhìn" đọc Quốc âm thi tập, Xuân

Diệu rất tâm đắc với hai câu thơ:

Tuổi cao, tóc bác, cái râu bạc

Nhà ngặt, đèn xanh, con mắt xanh

42

Trong quan niệm của Xuân Diệu: "đôi mắt là cái giác quan trí tuệ hơn cả, trí thức

hơn cả, chiếm lĩnh sự vật hơn cả; hình tượng đập vào mắt, đập vào tri thức, trí tuệ, cho nên

rất mạnh" [51, Tr 234]. Còn "mắt xanh" là mắt trong sáng, tinh nhạy và trẻ trung, là tri âm,

tri kỷ, là gout, là sự thấu hiểu. Thấu hiểu ở đây, đƣợc Xuân Diệu giải thích là thấu hiểu thời

đại hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, thấu hiểu tƣ tƣởng, lập trƣờng đã đành, mà cần phải thấu

hiểu cả phƣơng pháp cấu tứ, tạo hình, bút pháp, thói quen, cá tính của một nhà thơ. Vì vậy,

đòi hỏi nhà phê bình phải có lập trƣờng, quan điểm, vốn sống, vốn kiến thức, phải biết cả

nghề nghiệp, kỹ thuật lao động thi ca và cần hơn cả là phải có cái linh cảm của nhà nghệ sĩ

chân chính để cảm đƣợc cái hồn toát ra từ tác phẩm; phải có cái "linh nhãn" để “con mắt anh

sắc hơn dao" và "con mắt sâu lại còn cao cường hơn con mắt sắc", mới phát hiện trúng vấn

đề, mới "nên được cái hay tuyệt vời, cái hoàn mỹ mà phê bình văn học của chúng ta cần phải

vươn tới".

Vậy, "mắt xanh" trong phƣơng pháp phê bình của Xuân Diệu chính là mắt của tâm

hồn, của trí tuệ, mắt của trái tim, mắt của lòng; lòng sáng thì mắt sáng, lòng đầy ắp thì mắt

tinh nhạy. Đó cũng chính là sức mạnh giao cảm bằng con đƣờng trực giác thẩm mỹ - con

đƣờng ngắn nhất từ trái tim đến trái tim. Sức mạnh này chỉ có đƣợc ở năng khiếu thƣởng thức

văn chƣơng đặc biệt của một nhà phê hình, một siêu độc giả. Thuật phê bình Xuân Diệu là

bắt đầu từ "mắt xanh" ấy !

Phê bình nghiên cứu thơ, trƣớc hết phải chọn đƣợc thơ, tức là phải tập hợp văn bản,

xác minh văn bản, và phải chọn đƣợc thơ hay. Làm bằng cách nào, hãy nghe Xuân Diệu thuật

lại:

"... Năm 1957, lần đầu tiên viết bài "Nguyễn Trãi, nhà văn mở đầu nền văn học cổ

điển Việt Nam", tôi vốn ít thì giờ hơn lần này, viết bài thứ hai. Là vì lúc đó, tai tôi chưa biết

nghe cho thủng "tiếng sấm". Với lại viết theo lối sơ lược, chia bài ra làm ba mục : Một tâm

hồn cao cả, Lòng yêu tạo vật, Nhà thơ dân tộc, rồi lấy thơ Nguyễn Trãi minh họa cho những

chủ ý muốn nói, thì công việc

43

giản lược, chóng vánh hơn nhiều. Lần này 22 năm sau, tôi phải chín hơn: tôi di theo Nguyễn

Trãi và để thơ Quốc âm của Ông Cụ quần tôi cho tới mê mệt; tôi xin theo tác giả chứ không

bắt tác giả theo tôi; tôi tìm hiểu, tìm hiểu, và tìm hiểu Ức Trai; tôi xuất phát từ thực tế, là

toàn bộ 254 bài thơ Nôm có thật, tác phẩm tồn tại đó, như một địa lý non sông ao hồ đồi

nương cây cối hoa cỏ chim muông: tôi cố gắng giữ mình đừng gọt bớt Nguyễn Trãi để cho

vào cái khung, cái khuôn mà tôi chuẩn bị sẵn theo ý muốn, như chứng minh một luận đề

?[43, Tr 96-97].

Và, trong suốt quá trình "ôm lấy đề tài như Bế Văn Đàn lấy thân làm giá súng" ấy,

Xuân Diệu đã dùng "mắt xanh" mà phân biệt các dị bản, xác định đâu là văn bản đích thực

của ngƣời xƣa. Ông đối chiếu giữa "Quốc âm thi tập" và "Bạch vân quốc ngữ thi" để xác

định những bài có lý lịch phân vân giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, hoặc so sánh tỉ

mỉ văn bản ba bài thơ "Chợ trời" của Lê Thánh tông (đề năm Hồng Đức thứ bảy - 1476),

"Chơi chợ trời Sài Sơn" của Hồ Xuân Hƣơng và bài "Chơi chợ trời Hương Tích" của Nguyễn

Khuyến để khẳng định cái bản thơ đã đƣợc rất nhiều sách và cửa miệng truyền tụng với câu

mở đầu: "Hóa công xây đắp đã bao đời" là của Hồ Xuân Hƣơng. Khi riêng "có mắt xanh"

với một bài thơ nào, Xuân Diệu rất chịu khó tìm hiểu nghĩa của các từ. Ông cho rằng không

hiểu rõ chữ nghĩa thì không thể phân tích đƣợc. Vì thế, nhiều lần Xuân Diệu soi thấu từng

câu, từng chữ trong văn bản để hiểu đến mức kỳ cùng mới thôi. Chẳng hạn, một chữ "thấu"

trong câu thơ "Nguyệt xuyên há dễ thấu lòng trúc" ở bài 49, Quốc âm thi tập của Nguyễn

Trãi. Bản Đào Duy Anh phiên âm là thâu và giảng nghĩa: Trăng soi qua bụi trúc, dễ chi soi

thấu qua đƣợc lòng cây trúc. Xuân Diệu viết: "Khi phiên âm thì phiên là thâu, đến khi giảng

nghĩa, thì cũng phải dùng đến thấu. Thâu là xuyên suốt qua, có nghĩa vật chất; thấu có nghĩa

tâm tình: thấu gan, thấu mật, nguyệt xuyên thâu qua vỏ cây trúc để thấu tới lòng cây trúc,

dùng từ như thế mới tinh tế. Bởi vậy nguyệt xuyên há dễ thấu lòng trúc thì hay hơn thâu” [43,

tr72]. Hoặc Xuân Diệu để ý rất tỉ mỉ đến cách dùng từ đồng nghĩa Ức Trai những trƣờng hợp:

44

... "Chim bắt trong rừng, cá bắt ao

... Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn

… Trì tham nguyệt hiện chăng buông cá

rồi cắt nghĩa chi li từng trƣờng hợp mà nhà thơ cân nhắc chọn chữ "ao" hay "hồ", hay "trì"

trong tƣơng quan từ ngữ ở mỗi câu thơ.

Trong việc chọn tựa tác phẩm để phê bình, hay chọn những bài thơ đƣợc giải lúc làm

giám khảo các cuộc thi thơ, Xuân Diệu luôn có ý thức dùng mắt xanh phân biệt thơ hay thơ

dở, thơ lớn thơ nhỏ, thơ ở mức nghệ nhân hay ở mức nghệ sĩ, thơ đáng để ở bảo tàng văn học

hay ở bảo tàng lịch sử. "Con mắt xanh" nhiều lần trở đi trở lại trong văn phê bình của Xuân

Diệu không chỉ nhƣ một hình ảnh lấp lánh sau những dòng văn mà còn nhƣ một nguyên tắc

tƣ duy khoa học, một thao tác quen thuộc, thành thạo. Năm 1969, tuần báo Văn nghệ tổ chức

cuộc thi thơ lần hai, giữa cái biển thơ hơn một vạn ba nghìn bài của hai nghìn năm trăm cây

bút, làm thế nào cân nhắc, chọn lựa, đánh giá và trao giải cho đúng? Xuân Diệu đề xuất "phải

tổ chức làm việc cho có trật tự, lớp lang, bảo đảm đừng để lọt mất nhân tài, phải dân chủ tôn

trọng những ý kiến của từng người sơ khảo, từng người chung khảo, và để cho các ý kiến

được cọ xát cân nhắc với nhau,...nhưng thắt lại tận cùng là phải có con mắt khá xanh biết

thẩm mỹ" [39, tr.270]. Khi chuẩn bị viết về "Thế giới thơ Huy Cận", trƣớc khối lƣợng 16 tập

thơ đã xuất bản và hơn ba trăm bài thơ chƣa hề in của tác giả, Xuân Diệu đã chọn cách làm:

"Một nhà phê bình, nếu gặp một thi sĩ "mắn" như vậy, đó là chỗ dụng tài "con mắt xanh" của

mình, một người bạn tri kỷ cần phải như vậy" [56, tr 14]. Qua đó chúng ta thấy đƣợc "mắt

xanh" đã giúp Xuân Diệu một công cụ đắc lực để tập hợp, xác minh và bƣớc đầu xử lý văn

bản. Xuân Diệu không chỉ làm mà còn muốn đƣa đến cho mọi ngƣời một phƣơng pháp tiếp

cận với tác giả tác phẩm.

45

Bƣớc vào cõi linh diệu của thơ để hiểu hồn thơ, Xuân Diệu dùng "mắt xanh điểm

huyệt" để phát hiện các nhãn tự, thần chú. Thí dụ, một từ "nguyệt" tƣởng nhƣ rất quen thuộc

và bình thƣờng trong hai câu thơ quốc âm của Nguyễn Trãi:

Trà mai đêm nguyệt xem bóng

Phiến sách ngày xuân ngồi chấm câu

Thế mà mắt xanh tinh tế Xuân Diệu đã phát hiện ra: Nguyễn Trãi biết làm thơ lắm,

đem đặt các danh từ (trà, mai, đêm, nguyệt) gần bên nhau, các danh từ bèn dính kết với nhau

không cần hồ của các tiếng trợ từ; "đêm trăng" mọi ngƣời đã nói rồi; "đêm nguyệt", lần đầu

tiên Nguyễn Trãi nói; "đêm nguyệt dậy xem bóng, hai tiếng trắc, lại là hai dấu nặng, đụng

vào nhau: chợt dậy, một tâm sự chợt dựng mình thức dậy, hoặc là cái đẹp đặc biệt của trăng

khuya bắt mình phải dậy. Câu trên đột ngột, có câu dưới đối lại thật thật ung dung, hai câu

nâng nhau lên" [43,tr18-18-19].

Đọc bài thứ 10 trong chùm "Ngôn chỉ" (Quốc âm thi tập), mắt xanh Xuân Diệu nhận

ra chữ "bợ" trong hai câu thơ:

Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén;

Ngày vắng xem hoa bợ cây

Và cảm nhận: “Chúng ta thường biết: một chữ dùng cũng nói được cái tầm lớn của

một thi sĩ. Nguyễn Trãi nói bợ cây, là ta thấy cả cái yêu thương của Nguyễn Trãi đối với mọi

sinh vật, nâng đỡ từng nhánh lá như bưng một cái gì thanh cao và biết suy nghĩ - "Ngày

vắng, xem hoa bợ cây", suốt đời mình, Nguyễn Trãi chưa hề bợ đỡ ai, bợ đỡ người nào,

nhưng đối với cây thì ông bợ ông nâng, ông đỡ; cũng như 500 năm sau, Cao Bá Quát suốt

đời không cúi đầu trước ai hết, nhưng lại nhất sinh đề thủ bái mai hoa, cúi đầu trước hoa

mai. Thế mới hay chứ!" [43, tr 64].

46

Đó cũng là một chữ "dột" dùng rất gọn, không còn có thể thay chữ nào khác, khi

Nguyễn Du tả Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe, hay quá, nhƣng buồn quá, Kim trách:

"Dột lòng mình cũng nao nao lòng người "...

Đặc biệt Xuân Diệu rất lƣu ý đến những từ ngữ, những yếu tố lặp đi lặp lại một cách

cố ý gắn với quan niệm của từng tác giả. Cái nhìn "mắt xanh" mang chiều sâu nội tâm giúp

Xuân Diệu nghe thấy "bảy tiếng cho nghiến răng của Hoạn Thư thật đáng ghê sợ" khi Hoạn

Thƣ đặt mƣu đi bắt Thúy Kiều:

Làm cho, cho mệt, cho mê

Làm cho đau đớn, ê chề cho coi!

Trước cho bõ ghét những người

Sau cho để một trò cười về sau!

Xuân Diệu phát hiện bốn tiếng "đó" mang sắc thái biểu cảm, biểu nghĩa khác nhau

trong bốn câu Kiều:

Khi ở lầu xanh lần thứ nhất:

Ai tri âm đó, mặn mà với ai

Khi Kiều trẫm mình:

Sông Tiền đường đó ấy mồ hồng nhan

Vƣơng Bà khóc kể, khi Kim Trọng trở lại vƣờn Thúy:

Chàng Kim về đó, con thì đi đâu?

Phải chăng trong tiếng đó này còn tiếng khóc nấc?

Cũng có thể viết: "Sông Tiền Đƣờng đó là mồ hồng nhan; khi mà đã viết "ấy mồ hồng

nhan" rồi, đủ ý rồi, thì chữ đó liền trên hầu nhƣ là thừa nghĩa; nó đứng ở đấy là đóng vai trò

của tiếng nấc, đóng vai trò về tâm lý. Câu thứ tƣ, Kiều trùng phùng cả gia đình và Kim

Trọng:

Hai em phương trưởng hòa hai

Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa

47

Chữ đó thứ tƣ này không phải tiếng nấc nhƣ trên nữa nhƣng nó cũng đầy ý nghĩa biết

bao! đó là nhìn thấy mà hồ như lơ đi không thấy, nhìn ít ít thôi, đó là mừng rỡ mà cố nén cho

dễ coi; và biết đâu đó lại chẳng là xa mười lăm năm lâu quá, mừng quá hóa tủi, muốn ứa

nước mắt". [43, tr 291]. Thật là, phải đọc rất kỹ và chuyên chú, phải có bao nhiêu kinh

nghiệm và vốn sống, phải thật thấu hiểu tình ngƣời, tình đời mới có thể phân tích nhƣ thế

đƣợc! Qua mấy dẫn chứng vừa nêu, chúng ta cũng thấy dƣờng nhƣ ở đây, "mỗi cái nhìn riêng

lẻ đều gắn liền với một ý thức nào đó về tính trật tự và sự sáng rõ" [3, tr 77]. Cảm thụ bất

giác đã kết hợp với cảm thụ ý chí để hƣớng tới vẻ đẹp đích thực của mỗi ngôn từ, mỗi hình

ảnh nằm trong vẻ đẹp tƣ tƣởng nghệ thuật của tác phẩm.

Lối phê bình "mắt xanh điểm huyệt" này, thƣờng phân biệt thơ hay, thơ dở một cách

tinh nhạy, bài viết nhƣ có điện phát sáng khi phản ứng thẩm mỹ xảy ra, nên rất giàu chất văn

và có sức truyền cảm. Nhƣng, mặt khác cũng dễ sa vào chủ quan vì không ai có năng lực

"mắt xanh" tuyệt đối cả. "Mắt xanh" Xuân Diệu đã có khi vì cái tạng của mình mà không

thích trƣờng ca, không thấy đƣợc cái hay cái đẹp của thơ Xuân Quỳnh. Thực ra đây cũng

không phải là điều lạ. Có những nhà văn lớn nhƣ Lép Tôn xtôi đã từng không thích kịch Sếc -

xpia. Nhà phê bình Hoài Thanh cũng không hợp "tạng" với tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng

Phụng..., phải chăng là cũng nằm trong qui luật ấy. Vì vậy bao giờ cũng cần có sự phối hợp

linh hoạt với những phƣơng pháp khác.

1.1.2.Phương pháp thể nghiệm đồng sáng tạo

Đây là cách phê bình không đem những ý niệm có sẵn để áp đặt đánh giá tác phẩm

mà luôn luôn tìm mọi cách nhập thân vào tác giả, dùng tƣởng tƣợng đặt mình vào hoàn cảnh

tƣơng tự nhƣ nhà thơ, sống với những tâm tình những vui, buồn, yêu, ghét của tác giả. Một

nhà lý luận Trung Quốc đã gọi đó là trạng huống vật ngã đồng nhất. Tức là trạng huống nhà

phê bình hóa thân, phân thân vào tác giả mà cảm hiểu phân tích thơ.

48

Để có cơ sở cho tƣởng tƣợng Xuân Diệu dựa vào những tƣ liệu có đƣợc, tìm hiểu cặn

kẽ hoàn cảnh lịch sử, xã hội, hoàn cảnh sáng tác và hoàn cảnh cá nhân của mỗi nhà thơ. Điều

đáng nói là công việc sƣu tập và tìm hiểu tƣ liệu ấy đƣợc làm với "một yêu mến say sưa đầy

rẫy" mà cũng rất có phƣơng pháp; vì "cái yêu cái say đó không phải là cảm tính, xốc nổi, mà

là một sự chiêm nghiệm, ngẫm nghĩ có ý thức" [44, tr 427], là một tâm tình Xuân Diệu đã

theo đuổi mấy chục năm trời. Ông thổ lộ tâm sự và đòi hỏi:

"Khi tôi cầm những tác phẩm ưu tú Việt Nam từ xưa để lại, trước hết thái độ của tôi

là mừng rỡ, cảm động, và có một cảm tưởng gì như là: "thật may mắn biết bao!"; bởi vì tôi là

một người dân đã bị mất nước trong hàng nghìn năm vì phong kiến Trung Hoa, rồi lại trái

ngót trăm năm mất nước vì thực dân Pháp; văn học Việt Nam của tôi sinh ra trong những

hoàn cảnh rất nhiên gian khổ. đứng về dân tộc mà nói, thật biết bao phấn đấu, thật là chịu

thương chịu khó. thật là thắt lưng buộc bụng; cho nên dược văn tài nào, được trứ tác nào, là

tôi trước hết gần gũi, nâng niu...

... Chúng ta luôn luôn cần phải đặt các tài năng cổ điển trong hoàn cảnh lịch sử-của

họ, chúng ta cần phải thấy hết những khó khăn mà thời cũ chồng chất lên trí tuệ họ" [44, tr

428-430].

Xác định nhƣ vậy, phƣơng pháp phê bình ở đây dƣờng nhƣ cũng là phƣơng pháp

sống. Đến với những tác giả văn học cổ điển tìm mọi cách sống với quá khứ, với ngƣời xƣa

để hiểu ngƣời xƣa, Xuân Diệu rất chú ý tính chính xác của năm tháng lịch sử, những sự kiện,

những chi tiết có liên quan đến đời sống và sáng tác của nhà thơ. Sống với lịch sử là sống

bằng tái hiện. Sống với lịch sử tâm hồn dân tộc (những tác phẩm của các nhà thơ cổ điển) tất

nhiên cũng không nằm ngoài qui luật ấy. Có điều, nhƣ trên đã nói, Xuân Diệu vốn là ngƣời có

"mắt xanh" nên đã biết chọn những tƣ liệu giàu mỹ cảm, hoặc khi đã chọn thì lại có khả năng

mỹ cảm hóa tƣ liệu để tái tạo một cách sống, thiết tha khung cảnh lịch sử, xã hội làm nền cho

việc phân tích đầy thấu hiểu cuộc sống thi nhân và thi

49

phẩm của họ. Đọc văn phê bình của Xuân Diệu phải thật tinh tế chúng ta mới nhận ra những

thao tác ấy. Chẳng hạn nhƣ, đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, ai cũng biết đó là "thơ

khó", khó vì nội dung tƣ tƣởng và nghệ thuật cao sâu đã đành, còn khó vì nhiều cách diễn dạt,

nhiều từ cổ đã xa ngƣời đọc hôm nay hơn sáu trăm năm. Xuân Diệu đã chọn thao tác mở đầu

bằng cách giới thiệu bức truyền thần lụa xƣa vẽ chân dung Nguyễn Trãi, rất hiếm hoi mà họ

Nguyễn Nhị Khê còn giữ đƣợc; gợi lên hình ảnh, phong thái ung dung, vững chãi, thanh tao

cùa Ức Trai hiện về trong thăm thẳm thời gian và không gian, rồi từ đó mới đƣa dần ngƣời

đọc vào thế giới thơ quốc âm của Nguyễn Trãi, mới giảng giải, bình chú từng bài. Với

Nguyễn Du, biết bao nhiêu sự kiện diễn ra trong cuộc đời nhà thi hào, Xuân Diệu rất chú ý

chi tiết cảm động mà sách "Chính biên liệt truyện" từng chép: Nguyễn Du mắc bệnh nặng;

không chịu uống thuốc, mất lúc 56 tuổi; và nói rõ hơn: "Không chịu uống thuốc, phải đâu

chẳng có thuốc mà uống, nhưng vì Nguyễn Du uất ức bởi những nỗi đau đớn oan khiên của

xã hội, bệnh của xã hội phong kiến lúc đó thật là vô kế khả thi, Nguyễn Du đã lấy bệnh của

xã hội làm bệnh của mình, vì Nguyễn Du là một nghệ sĩ lớn mang trái tim của thời đại; xã

hội đã không chữa được, thì Nguyễn Du uống thuốc làm gì" [43, tr 10]. Phải chăng đó cũng là

cách Xuân Diệu khái quát chân dung hoàn cảnh lịch sử xã hội và chân dung một con ngƣời,

trƣớc khi đi vào phân tích "tầng tầng lớp lớp" những giá trị các tác phẩm của Nguyễn Du.

"Đọc thơ Nguyễn Khuyến" cũng vậy, Xuân Diệu mở đầu bằng cách dựng cảnh đòi và cảnh

thơ Nguyễn Khuyến qua "một bài thơ, một bức ảnh". Đặc biệt, Xuân Diệu chú ý đến chi tiết

cụ Nguyễn Khuyến cầm chén rƣợu nhỏ hạt mít trên tay khi chụp ảnh. Bởi vì Xuân Diệu chƣa

thấy một danh nhân, nhân vật nào chụp chân dung mà cứ cầm chén rƣợu trên tay; ngƣời ta

phải trịnh trọng giữ thế để di vào cõi lƣu hậu chứ! Vậy cái chi tiết kia là một cách tự trọng

của cụ Nguyễn Khuyến, để khỏi lẫn với các thứ quan thời bấy giờ; chúng luôn làm ra vẻ

"mẫu mực" "nề nếp", nhƣng" thực ra chỉ là một lũ: "Ghế tréo lộng xanh ngồi bảnh chọe/ Nghĩ

rằng đồ thật hóa đồ chơi" mà thôi!

50

Nếu không hiểu hoàn cảnh lịch sử xã hội nƣớc ta cuối thế kỷ XIX, không sống với tác giả thì

không thể viết về Nguyễn Khuyến nhƣ vậy!

Cũng chính vì thế mà khi nghiên cứu Hồ Xuân Hƣơng; Xuân Diệu không dấu đƣợc

tâm trạng "tức tối và đau đớn, đứng trước tình cảnh không biết ngày sinh tháng đẻ, năm mất

của một thi hào như Xuân Hương, biết không đích xác về đời của Xuân Hương, nghi vấn cả

về một số bài thơ không biết có phải là của Hồ Xuân Hương không" [44, tr 8]. Ở những

trƣờng hợp này, và nhiều trƣờng hợp khác, Xuân Diệu thƣờng vận dụng kết hợp linh hoạt

phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp xã hội học nghệ thuật. Ông dựa vào những bài thơ lƣu

truyền chắc chắn là của Hồ Xuân Hƣơng để hình dung về cuộc đời và hoàn cảnh sống của

ngƣời nữ sĩ; rồi cũng chính từ cuộc đời và hoàn cảnh sống ấy mà phân tích, lý giải những nét

đặc sắc khác thƣờng trong thơ của "bà chúa thơ Nôm" - Xuân Diệu viết: "Cuộc đời cùa Xuân

Hương, tạm phân ra năm đoạn ấy (Thời con gái đi học chữ nho - Thời Tổng Cóc - Thời Phủ

Vĩnh Tường - Thời Chiêu Hổ - Thời đi dạo), gắn chặt với tác phẩm Xuân Hương. Thơ Xuân

Hương là đời của Xuân Hương, là người của Xuân Hương trong đó. Thơ Xuân Hương là

hồn, là xác, là mắt nhìn, tay sờ, chân đi, là nụ cười, nước mắt Xuân Hương; là cá tính, là số

phận của Xuân Hương.. Người xưa nói: Không đổ máu huyết của mình vào trong văn thì văn

không hay. Đúng thế ! Xuân Hương đã làm như thế” [44, tr 17].

Những dòng văn trên đây rạo rực, xúc động nhƣ Xuân Diệu bộc lộ một quan niệm,

một nỗi niềm của chính mình. Có thể nói rằng, việc tiếp nhận tác phẩm trong sự "vận mình

vào chủ thể sáng tạo", trong bối cảnh văn hóa, xã hội biến động của nó và trong cái nhìn đầy

rung động thẩm mỹ là một nét đặc sắc tạo nên cách thức phê bình uyển chuyển, linh họat,

phối hợp đƣợc nhiều thao tác ở ngòi bút Xuân Diệu.

Kim Thánh Thán bình Tây Sƣơng ký cùa Vƣơng Thực Phủ cũng làm cách này. Nhà

phê bình khi đã "vận mình" vào nhà văn nhà thơ, thì bản thân anh ta cũng là một chủ thể sáng

tạo. Nhà phê bình sẽ cảm thông thấu hiểu sâu sắc với

51

tác giả tác phẩm; nhƣng đối với những tác phẩm của văn học truyền thống đã ra đời cách

chúng ta nhiều thế kỷ, đôi lúc anh ta cũng dễ gán tâm lý mình cho ngƣời xƣa. Cách bình

giảng quá lời một vài bài thơ- câu thơ của Hồ Xuân Hƣơng (nhƣ bài Tát Nước...) Xuân Diệu

cũng đã vấp vào trƣờng hợp nhƣ vậy chăng?

1.1.3. Huy động triệt để vốn trí thức văn hóa, đời sống vào trường liên tưởng thẩm

mỹ.

Khái niệm "trường liên tưởng thẩm mỹ" (champ esthétique) gắn với đặc trƣng của

quy luật nhận thức nghệ thuật. Xuất phát từ quan điểm mỹ học Mác - Lênin và dựa trên kinh

nghiệm thực tiễn có ngƣời đã chỉ ra rằng, "Qui luật nhận thức cái đẹp không hề đối lập với tư

duy lôgíc", đồng thời "nhận thức cái đẹp, là một phán đoán có tính chất toàn diện và tổng

hợp, bao hàm rất nhiều liên tưởng đa dạng gắn liền với toàn bộ vốn tri thức chính trị, xã hội,

văn hóa và toàn bộ kinh nghiệm sống của chủ thế nhận thức". [112, Tr 132 — 133]. Hiểu nhƣ

vậy, có nghĩa là sự rung cảm của con ngƣời trƣớc cái đẹp không phải do giác quan bên ngoài

mà cái quyết định là giác quan bên trong với sức mạnh "liên tƣởng" phong phú nẩy sinh

trong tâm hồn con người khi thưởng thức nghệ thuật". Trƣờng liên tƣởng thẩm mỹ vốn có

trong tâm hồn mỗi con ngƣời khi đƣợc đánh thức nó sẽ tạo nên cảm hứng - một trạng thái tâm

lý đặc biệt thần diệu không thể hiểu đƣợc đối với ngƣời sáng tác và ngƣời tiếp nhận văn học.

Trường liên tưởng thẩm mỹ được hình thành do những ấn tượng thẩm mỹ tạo nên bởi tác

động của môi trường và còn bởi ý thức sống sâu, tích luỹ của mỗi ngƣời. Có đƣợc một trƣờng

liên tƣởng thẩm mỹ tinh nhậy và phong phú là kết quả của một quá trình tu dƣỡng rèn luyện,

nói nhƣ Xuân Diệu, nếu "yêu qua loa, cảm xúc cạn như đĩa đèn, thì thơ không thể hay được"

và phê bình thơ cũng không thể hay đƣợc.

Xuân Diệu với bản tính "tay siêng làm lụng, mắt năng kiếm tìm" cần mẫn “năng nhặt

chặt bị" và là một nhà thơ đầy tài năng, cho nên trường liên tưởng thẩm mỹ của ông rất

phong phú, uyên bác. Nhiều lần ông nói: "Cái phương pháp, tập quán, cá tính của cái nhà

máy thơ tôi là ví von" [37 tr 133] đáng lẽ chỉ

52

cần hỏi "Mƣời năm nay, mình có nhớ ta chăng" thì Xuân Diệu viết : "Ngọc tuyệt vời anh trao

cho em / mười năm nay em có giở ra xem" (Bài thơ Ngọc tặng, trong tập Riêng chung). Và

cũng bằng cách ví von này, Xuân Diệu đã từng sáng tạo nên những câu thơ hay vào loại bậc

nhất trong nền thơ Việt Nam hiện đại nhƣ: "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"; " Lá

liễu dài như một nét mi" ; "Trái đất ba phần tư nước mắt / Đi như giọt lệ giữa không trung"...

Tài nghệ liên tƣởng, so sánh ấy cùng với tri thức đầy ắp tích lũy lừ nhiều nguồn đã

đƣợc Xuân Diệu huy động triệt để khi cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chƣơng.

"Sống với ca dao, dân ca miền Nam Trung Bộ". Xuân Diệu chỉ ra cái bí quyết có ý

nghĩa phƣơng pháp luận cho những ai muốn hiểu ca dao:

"Cái hay, cái sâu sắc của ca dao, cái hồn của ca dao chỉ lộ ra đƣợc hết khi ta sống với

nó, khi ca dao làm thành không khí ta thở, ca dao quyện làm một với nét mặt những nhà cửa,

chòm xóm, làng mạc, khi ca dao cất tiếng lên rất trữ tình một cách hồn nhiên; ca dao dã thành

một cái điệu của tâm hồn cảnh vật và tâm hồn ngƣời " - "như buổi trưa nhè nhẹ trong ca

dao"," con trong võng êm lành ru kẽo kẹt", " ta ru lòng bằng tiếng mẹ ru em " [42, Tr 160].

Vì có lẽ, do "sống với nó", với tri thức đã "nuốt vào, tiêu hóa thành của mình", trƣờng

liên tƣởng, so sánh trong văn tiểu luận - phê bình của Xuân Diệu rất phong phú, uyên bác

nhƣng không sách vở bày biện, cứ diễn ra nhƣ một dòng chảy tự nhiên của cảm xúc mang hơi

ấm của tâm hồn ông.

Nhớ lại những câu ca dao ở quê má Bình Định, Xuân Diệu đã làm sống dậy cả một

thế giới thơ ca dân gian gắn với ngƣời thân, với kỷ niệm của chính mình, từ đó đánh thức biết

bao tình cảm gần gũi thân thƣơng trong lòng ngƣời đọc. Phân tích một bài ca dao Phú Yên:

Anh bước chân lên Đèo Cả

Anh trông sang Vạn Giá

Anh ngó lại xứ Tu Bòng

Biết rằng cha mẹ đành không

Anh chờ em đợi, uổng công hai đàng.

53

Xuân Diệu hòa vào cảnh vật, con ngƣời, địa danh và không khí một miền quê cụ thể

rồi lắng vào tâm trạng để diễn đạt: "Một người con trai trèo lên Đèo Cả, phóng một tầm mắt

rất rộng rãi, khoáng đạt, nhìn lại tình thế những nơi ở của mình đã yêu đương, nhưng mắt

rộng mà nợ duyên thì hẹp, đất nước xinh mà tâm trạng ưu phiền; đứng trên cao nhìn xuống

càng rõ nỗi bâng khuâng...‖ [4, tr 184].

Đọc câu ca dao quen thuộc:

Trèo đèo hai mái chân vân

Lòng về Hà Tĩnh, dạ ái ân Quảng Bình.

Xuân Diệu viết: "Thật đúng tâm trạng cái người Hà Tĩnh vô ở ,vô yêu Quảng Bình-

hai tỉnh ấy như môi với răng, ra vô nhiều lắm - để lại mối tình ở đâu Câu Ròon, Ba Đồn chi

đó, chân bước lên đèo Ngang, tới đỉnh rồi, một chân đặt ở mái về Hà Tĩnh, một chân đặt ở

mái lại Quảng Bình / Trèo đèo hai mái chân vân - chân vân là tiếng mới do hoàn cảnh và tự

sáng tạo ra, nó tổng hợp chữ chênh vênh là đèo với chữ phân vân là dạ" [38, Tr 195].

Rõ rằng là, nếu không có một kiến thức địa lý cần thiết, một vốn hiểu biết con ngƣời

và đời sống sinh hoạt của một vùng quê, thì không thể có đƣợc một trƣờng liên tƣởng ngôn

ngữ giàu có nhƣ vậy.

Nhờ năng lực so sánh, khi tiếp cận ca dao dân ca, Xuân Diệu còn phát hiện tinh tế,

phân biệt sự khác nhau trong sắc thái ca dao từng miền. Ông nhận xét:

"Ca dao Bình Trị Thiên vần đã nhiều; nhƣng ca dao cổ Bình Định quê của má tôi,

chơi vẫn còn giàu hơn, vui hơn, còn dập dồn lăng líu hơn vần trong hò mái nhì của Bình Trị

Thiên:

Hòn đá cheo leo con ngựa trèo, con ngựa trượt, con trâu trèo con trâu đổ

Anh thương em lao khổ tự cổ chí kim

Anh thương em khó kiếm khó tìm

54

Cây kim luồn qua sợi chỉ

Sự bất đắc dĩ, phu mới lìa thê

Nên hay không nên, anh ở em về

Đừng giao, đừng kết, đừng thề mà vương.

Đọc lên, hò lên, là có một nỗi vui thú vần điệu ở trong miệng" [51, Tr 109]. Ở đây có

vốn ca dao, có lỗ tai thẩm âm, và bất ngờ còn có cả sự chuyển đổi của cảm giác rất thú vị.

Xuân Diệu cũng đã "tự lấy làm lý thú" khi cảm nhận đƣợc cái hay của bài "Vào nhà

lao huyện Tĩnh Tây" (Nhập Tĩnh Tây huyện ngục) của Bác nhờ việc liên hệ tới bài thơ cổ

"Độc tọa Kính Đình Sơn" của Lý Bạch (701 - 762):

"Chúng điểu cao phi tận

Cô vân độc khứ nhàn

Tương khan lưỡng bất yếm

Chi hữu Kính Đình san"

(Câu này có bản ghi là Duy hữu Kính đình sơn, ở đây trích theo đúng bản của Xuân

Diệu).

Xuân Diệu nghĩ rằng, hai bài thơ ra đời trong hai hoàn cảnh, ở trong hai hệ thống văn

học. Bài thơ Lý Bạch hai mƣơi chữ, lƣa thƣa bốn câu mấy nét, mà sao vƣợt đƣợc hơn một

nghìn hai trăm năm để đến với ta ngày nay? Bài thơ cũng khá đơn giản, hai câu trên (Chúng

điểu cao phi tận / Cô vân độc khứ nhàn) còn có đối, chứ hai câu dƣới (Tương khan lưỡng bất

yếm / Chỉ hữu Kính Đình san) chỉ là câu nói ngắn tự nhiên. Chắc hẳn trong bài thơ, phải có

một chất gì đó mà mọi ngƣời đã cảm thấy qua mƣời hai thế kỷ. Phải chăng, ấy là phong thái

ung dung, tự hào của một nhân cách lớn - cái chất ở ngoài lời của những bài thơ ƣu việt. Từ

đó Xuân Diệu thấy đƣợc hai câu thơ "Nhật ký trong tù": "Mây mưa mây tạnh bay đi hết / Còn

lại trong tù khách tự do" cùng có cái chất "Độc tọa Kính Đình san": "Cũng nói theo lối ấy,

cũng ung dung, mây mấy thứ cũng bay đi hết, duy còn lại người tự do ở trong tù! Cái khi vị

bài thơ thật là kỳ thú. Có lẽ trong tù chúng nó đã giam nhầm núi Kính Đình san hay núi Tản

Viên" [39, Tr 61- 62].

55

Với nhãn quan thẩm mỹ rộng lớn và sâu sắc, Xuân Diệu còn huy động vốn tri thức

văn hóa để so sánh một cách chủ động, ở nhiều cấp độ và bình diện khác nhau.

Chẳng hạn, so sánh đồng đại để nhận ra bản sắc, cá tính sánh tạo và tƣ tƣởng nghệ

thuật của từng tác phẩm, tác giả trong cùng một giai đoạn văn học:

Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm dịch từ chữ Hán ra tiếng Việt, Cung oán ngâm

khúc của Ôn Nhƣ Hầu sáng tác thẳng bằng tiếng Việt, "ấy thế mà Chinh phụ ngâm rất nôm,

lời lẽ trong sáng, nhạc điệu ngọt ngào mà thanh nhẹ", còn Cung oán ngâm khúc không phải

là không có ưu điểm, nhưng lổn nhổn những từ Hán Việt, "hầu hết đều gợn, như là khoe mình

thông thái thích nói chữ", vì vậy người ta ít biết Cung oán hơn Chinh phụ [51 - Tr 20].

Hoặc, "Tài thơ của Xuân Hương không bằng tài thơ của Nguyễn Du, bởi Nguyễn Du

ôm trùm rộng lớn hơn, cái cánh quạt các tình cảm được diễn tả của Nguyễn Du mênh mông.

Nguyễn Du tạo ra cả các nhân vật có một sức sống ghê gớm, và ngôn từ của Nguyễn Du cùng

biến hóa trăm dạng và hay tuyệt vời. Tuy nhiên, Hồ Xuân Hương có cái đặc điểm này, mà

các nhà thơ cổ điển trước và đương thời với bà chưa dễ bì kịp, là sức chống đối xé phá cái xã

hội phong kiến của thơ Hồ Xuân Hương" [44, tr 10]. Ở đây so sánh lồng vào so sánh và kết

hợp với diễn giải.

Có khi cũng với cái nhìn đồng dại, Xuân Diệu bất ngờ tạo nện sự so sánh giữa hai tính

chất của hai nhà thơ cùng thời đại:

"Tố Hữu là một nhà thơ thời sự. Những cái thời sự của Tố Hữu không giống cái thời

sự của Tú Mỡ. Tôi không so sánh một nhà thơ trào phúng với một nhà thơ trữ tình mà chỉ so

sánh hai tính chất thời sự thôi vì theo ý chúng tôi, Tố Hữu và Tú Mỡ là hai nhà thơ thời sự

nhất". Nhưng "thời sự trong thơ Tú Mỡ chỉ là thời sự của tin tức và sự việc" còn trong thơ Tố

Hữu là "thời sự của tình cảm thời đại" "thời sự đã kết đọng lại thành tâm tình" [35, tr 114].

56

Xuân Diệu cũng thƣờng sử dụng phƣơng pháp so sánh lịch đại với nhiều cấp độ để

phát hiện lịch sử hình thành tác giả qua từng chặng đƣờng và vị trí của tác giả, tác phẩm tiến

trình phát triển chung của văn học.

Đó là khi đọc "Ánh sáng và phù sa" của Chế Lan Viên, Xuân Diệu nhận xét: "Một tập

thơ là một sản phẩm trong cuộc sống; nó mang máu thịt cụ thể, ưu khuyết cụ thể của một nhà

thơ trong một chặng đời mình. Từ tập "Gửi các Anh", đến tập "Ánh sáng và phù sa", Chế Lan

Viên tiếp tục tiến lên. Chặng "Gửi các Anh" lành hiền hơn, còn chặng "Ánh sáng và phù sa"

có những đấu tranh xé thịt xẻ da; tập trước hãy còn giản lược, tập sau nảy nở sắc tài; tập sau

đã mang mầm trong tập trước" [37, tr 234].

Và đây là một nét vận động và phát triển của phong cách thơ Tố Hữu: "Tố Hữu đã tạo

ra điệu thơ lục bát chính của anh; từ hơi ca dao rất mực nhuần nhị của bài Bầm ơi năm

1947, Tố Hữu đã nâng câu lục bát thêm lên, xanh mát, trẻ trung, có sự xáo động ở bên trong,

rất tự nhiên mà rất tiết tấu năm 1951:

"Bác kêu con đến bên bàn

Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ

Con bồ câu trắng ngây thơ

Nó đi tìm thóc quanh bồ công văn

Lát rồi chim nhé, chim ăn

Bác Hồ còn bận khách văn đến nhà"

Câu lục bát Tố Hữu này, đến bài Việt Bắc, năm 1954, đã thật hoàn chỉnh" 139, tr 66].

"Đọc lại Nguyễn Du", ngẫm nghĩ "Từ anh trai phường nón đến Thúy Kiều", Xuân

Diệu gợi cho ngƣời đọc cách so sánh giữa các tác giả trong văn học cổ điển Việt Nam, để

khẳng định rằng "chỉ có Nguyễn Du, trong truyện Kiều là

57

mới đặt vấn đề chữ "mình" một cách tập trung hơn cả, một cách gay gắt, điển hình, một cách

da diết, u uất giận tức " hơn cả .

Cảm nhận mấy câu thơ Tản Đà: "Lạnh lẽo hơi thu chiếc lá bay/ Gió đưa người cũ lại

về đây", Xuân Diệu cũng đƣa ngƣời đọc vào mạch liên tƣởng so sánh: "Gió nhẹ, lá nhẹ, mà

ngƣời cũng nhẹ, bởi tâm tình hoài man mác bâng khuâng:

Bốn phương mây nước người đôi ngả

Hai chữ tương tư, một gánh sầu

Nội tâm của nhà thơ rất đầy, vì vậy mà hai câu thất ngôn trên đây, những dòng chữ

thoạt nhìn nhƣ sáo mòn, mà khi bốn mảnh ghép vào nhau, tâm tình tác giả xuyên suốt cho

nên đọc vẫn gợi cảm: đó không phải thơ Tú Xƣơng, thơ Nguyễn Khuyến, hoặc là "Thơ Mới".

Về sau này, thơ Mới 1932-1945 thì phải cao độ, xoáy thắt, run lên bần bật; đây là thơ Tản Đà

chứ không ai khác, những hoa quả đầu mùa của chủ nghĩa lãng mạn, lâng lâng mà đƣợm, có

thể nói hồn thì nhẹ mà tim thì nặng" [4.5, Tr 24].

Từ năm 1963, Xuân Diệu đã đề nghị : ''Chúng ta nên nghiên cứu văn học sử hiện đại

nhiều nước, nhất là các nước bạn, để tìm thấy thơ cách mạng, thơ vô sản ở các nước đó đã sử

dụng bọc trùm, tiêu hóa những yếu tố hiện thực xã hội chủ nghĩa" như thế nào. Cái khoa so

sánh văn học các nước này (littérature comparée) chắc sẽ giúp chúng ta liên hệ sáng rõ một

số vấn đề văn học sử trong nước " [37, Tr" 123].

Khát vọng bổ sung không ngừng nguồn tri thức, khát vọng "mở rộng văn chương"

vẫn luôn là một nhu cầu tình cảm và trí tuệ của nhà phê bình. Bởi lẽ, với Xuân Diệu, một tâm

trí uyên bác nhất định bao giờ cũng thấu tình đạt lý hơn một tâm trí nông cạn và dốt nát; huy

động kiến thức để liên tƣởng so sánh trong phê bình không phải để nâng ai hạ ai mà chính là

để có thêm những góc nhìn những cách tiếp cận, đặng phát hiện cho hết cái hay, cái đẹp của

từng tác phẩm, của mỗi sự nghiệp văn học.

58

1.2.4. Phương pháp phân tích tác phẩm như một cơ thể sống, một chỉnh thể nghệ

thuật sinh động

Sự sống bao giờ cũng có tính hoàn chỉnh. Mỗi tác phẩm văn học là "một cơ thể", "một

sinh vật", "một tác giả", "một con người", khi đi vào phân tích bình luận, Xuân Diệu vẫn

thƣờng dùng "mắt xanh" nhận xét bao quát toàn bộ thế giới nghệ thuật của tác phẩm, ghi

nhận ấn tƣợng chung của chỉnh thể nghệ thuật.

Ấy là cái nhìn toàn cảnh lâu dài của Truyện Kiều dài 3254 câu; mà "điều đáng phục

trước tiên là toàn đó của bài thơ rất cân nhắc, rất hòa đối, các phần, các đoạn đều vâng theo

sự điều khiển của toàn cục, không phần nào dôi, không đoạn nào choạc, chẳng có chỗ nào

kéo dài hay lan man vô lý, tất cả đều vâng theo một logic gắt gao" [43, Tr135].

Ấy là ánh chiều thu buồn "tê đi và tái lại, tái cắt không ra máu đỏ của niềm vui" trong

thế giới thơ chữ Hán của Nguyễn Du, là "đêm trường dạ tối tăm trời đất " bao trùm lấy tất cả

bài Văn chiêu hồn. Ấy cũng là "Cao Bá Quát trước mắt chúng ta, tượng trưng cho tài thơ và

cho tinh thần phản kháng" [44, Tr 115], là "thơ Nôm của Nguyễn Khuyến thường để lại một

ấn tượng chung là lành và trong sáng" .[44, Tr 149] .

Xuân Diệu rất ghét lối cắt xén, cắt lìa các câu chữ ra khỏi chỉnh thể rồi suy diễn, qui

chụp. Bởi vì nói nhƣ Chế Lan Viên, bình thơ, giảng thơ trƣớc hết phải nắm cho đƣợc cái tứ

của toàn bài, còn "cứ trích ra một vài câu thì anh muốn khen chê gì người ta cũng phải chịu"

nhƣng thực ra là anh chẳng hiểu thơ, thậm chí còn xuyên tạc cả ý tác giả. Cũng vì thế mà có

lúc Xuân Diệu đã phê phán "phương pháp thẩm mỹ cứng nhắc" của những ngƣời khi đọc thơ

cứ chằm chằm tìm đoạn hay câu hay. Ông cho rằng "tìm như thế cũng phải, tuy nhiên sai ở

chỗ trước hết không chịu xúc cảm toàn bộ cái hồn bài thơ toát ra, mãi tra xét các bộ phận mà

điếc mũi, nặng tai đối với cái tinh mỹ nhất của bài thơ. Thật là một hiện

59

tượng phê bình thơ rất đáng đau khổ". Để làm rõ hơn ý mình, ông đã giải thích bằng sự am

tƣờng về thơ. Có những bài thơ toàn bộ hay, từng bộ phận cũng hay (Hoa thơm thơm lạ thơm

lùng / Thơm gốc, thơm rễ, người trồng cũng thơm). Nhƣng cũng có rất nhiều bài thơ, nếu

đem chặt từng bộ phận một cách không biện chứng, thì mỗi bộ phận chƣa hay gì cả; đem ráp

những bộ phận chƣa hay một mình ấy trở lại thành một cơ thể duy nhất, thì tự nhiên toát ra

một sự sống tinh vi, tế nhị, hấp dẫn lạ thƣờng! [51, Tr 48]

Cách làm của Xuân Diệu là từ những "điểm huyệt" rồi tiếp tục phân tích chi tiết lan

tỏa. Chẳng hạn, "Đọc Văn chiêu hồn", Xuân Diệu tập trung làm nổi bật bức tranh "đêm

trường dạ tối tăm trời đất" xuyên suốt tác phẩm: từ cảnh mới đầu "mưa dầm sùi sụt", cơn rét

"toát" "buốt" thổi về đến cảnh trong bài thì gió mƣa sấm sét; rồi màu sắc thì xám, mờ, tối; âm

thanh thì thét, khóc, than; động tác thì thất thểu, lôi thôi bồng dắt: một lũ "quỉ không đầu đón

khóc đêm mưa"; đây là một bức tranh, một tình cảnh rất có tính cách Sếch-xpia, trong đó

một trái tim lớn, trái tim Nguyễn Du đang đập. Và các khía cạnh khác của giá trị nội dung và

nghệ thuật tác phẩm đều tập trung làm sáng tỏ ấn tƣợng chung đã đƣợc phát hiện từ đầu.

Cũng nhƣ vậy, khi "Đọc thơ Thế Lữ", Xuân Diệu chọn hai câu thơ:

"Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy

Ngàn năm chưa dễ mấy ai quên"

sau dó chứng minh một cách sinh động, thơ Thế Lữ hấp dẫn bơi chính vẻ đẹp bâng khuâng

của "cái buổi ban đầu" ấy, nó thuộc về "tính cách của giai đoạn đầu của chủ nghĩa lãng mạn

trong thơ Việt Nam" .Theo Xuân Diệu, "người thiếu nữ trong thơ Thế Lữ là tâm tình của một

thời - thuở; có lẽ Thế Lữ là ngƣời đầu tiên đã tạo ra chữ "cô em" ở trong thơ, đây không phải

là "em", đối tƣợng của tình yêu, của "anh" mà đây là bản thể của ngƣời thiếu nữ, chính thân

cô ấy là ngôi thứ ba, nhƣng có thể bao gồm cả ngôi thứ hai, còn "em" chỉ có thể là ngôi thứ

60

hai. Cô em của Thế Lữ dễ thƣơng biết chừng nào, có thể là đối tƣợng để ngƣời ta yêu, nhƣng

đặc biệt là đối tƣợng để ngƣời ta mơ; "cô em" ấy thƣờng sóng đôi với hình tƣợng cái hồ:

Trên mặt hồ in màu ngọc biếc

Cô em đang bơi chiếc thuyền con" [47, tr. 570]

Cái không khí "Lần đầu hết, lòng cô mang tình ái" bàng bạc nhuần thấm phần lớn các

bài thơ Thế Lữ, những bài thành công nhất... Cứ tiếp tục trong mạch phân tích ấy, Xuân Diệu

khẳng định cái ý nghĩa, cái "thần" của thơ Thế Lữ nói chung là ở trong phạm trù "cái thuở

ban đầu" nhƣ hai câu thơ đã chọn.

- Song, dù có phân tích, diễn giải theo kiểu nào thì cuối cùng cũng phải xâu chuỗi lại,

tổng hợp lại; cũng nhƣ phát hiện, tìm chọn ra đƣợc ngọc trai, mới chỉ là một phần công việc,

phải có mắt xanh xe chỉ luồn kim, xâu chuỗi lại thì "mỗi viên ngọc mới khỏi rời rạc lăn lông

lốc". Xuân Diệu rất ý thức điều dó, ông nói: "Mổ xẻ rồi, là để mà khâu lại, phân tích là để mà

tổng hợp trở lại; một áng thơ là một con cá lội, con bướm bay, con chim hót; việc nghiên cứu

không phải làm cho cá chết khô, bướm ép dẹp, chim nhồi rơm, mà là để đưa vào trong trạng

thái tìm người đọc cái kỳ diệu của chim hót, bướm bay, cá lội" [44, tr 433]. Và Xuân Diệu đã

"khâu lại" theo cái "gu" (điệu thẩm mỹ) của mình: Kinh nghiệm của tôi là, sau khi lật di lật

lại một từ rồi, và thấy nó thật vàng chẳng phải thau đâu, thì lúc đó để nó yên, đừng dằn vặt

nó nữa, mà nên phục hồi nó trong cái thế "phong sương được vẻ thiên nhiên", trong cái thế

hồn nhiên, tự nhiên nằm giữa các đoạn văn, nằm trong mạch. Lúc đó sẽ hiểu văn một cách

người lớn, không rơi vào tiểu xảo chi li" [43, tr 323].

Nhƣ vậy, cách thức phê bình của Xuân Diệu cũng không nằm ngoài qui luật nhận

thức tác phẩm văn học. Ngƣời ta thƣờng chia quá trình này làm ba bứớc: TỔNG - PHÂN -

HỢP. Chế Lan Viên gọi bƣớc thứ nhất là tổng hợp sơ thủy, bƣớc thứ hai là phân tích, phân

tích các mặt của sự việc, qua những biến cố,

61

qua quá trình vận động, bƣớc cuối cùng là kết luận, ấy là tổng hợp cao nhất [163, tr 91].

Phân tích một bài thơ, một tập thơ... cũng tƣơng tự nhƣ thế. Thực ra những ngƣời sành sỏi

văn chƣơng, một cách tự nhiên, tự phát hay ý thức đều làm nhƣ thế cả. Đặc biệt nhất là bƣớc

một, nghe thấy cho đƣợc thần thái của bài thơ, của tác phẩm và bƣớc hai, cảm thụ chi tiết, đi

sâu vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Bởi vì ấn tƣợng ban đầu đúng, và thấy đƣợc cái hay

cái đẹp của tác phẩm thì thế nào tổng hợp cuối cùng cũng chính xác. Muốn vậy, quan trọng

nhất vẫn là tìm mọi cách để tiếp xúc với văn bản, phải đọc đi đọc lại nhiều lần, nhiều cách,

trong nhiều hoàn cảnh. Nhà phê bình Kim Thánh Thán đã từng nói về cách đọc "Mái Tây"

nhƣ sau:

"Đọc Mái Tây tất phải hết sức một đêm, một ngày, đọc làm một hơi. Đọc làm một hơi

để có thể tóm được từ đầu đến cuối.

... Đọc Mái Tây tất phải bỏ ra nửa tháng, một tháng cho kỹ càng. Đọc cho kỹ càng để

tìm xét lấy những chỗ tỉ mỉ" [143, tr 360].

Xuân Diệu cũng đã từng đọc Quốc âm thi tập, đọc Truyện Kiều, đọc thơ chữ Hán

Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hƣơng... nhƣ thế ! Ông đã từng kể lại: "Riêng tôi vài chục năm nay

đọc đi đọc lại đoạn Kim - Kiều gặp nhau - Kim Trọng tương tư Kiều để có trăm lần , hồ như

đã thuộc".

Tóm lại, quan niệm về văn học và phƣơng pháp phê bình nghiên cứu văn học của

Xuân Diệu luôn gắn bó với nhau rất mật thiết Từ quan niệm dẫn đến phƣơng pháp nhƣng

phƣơng pháp bao giờ cũng linh hoạt, sáng tạo và cụ thể. Để vƣơn tới cái hay, cái đẹp của tác

phẩm và truyền đến cho ngƣời nghe, Xuân Diệu đã kết hợp năng lực cảm nhận văn học của

một nhà phê bình một siêu độc giả cùng với nguồn kiến thức vô cùng uyên bác của mình để

làm nên những, thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực phê hình nghiên cứu văn học qua từng chặng

đƣờng cầm bút.

62

CHƢƠNG 2: THÀNH TỰU TRONG LĨNH VỰC PHÊ BÌNH NGHIÊN CỨU

VĂN HỌC CỦA XUÂN DIỆU QUA NHỮNG CHẶNG ĐƢỜNG

2. 1. Nhìn lại một số tác phẩm tiêu biểu qua các thời kỳ

2.1.1. Thời Thơ Mới (1932- 1945)

Cùng với hai tập Thơ thơ, Gửi hương cho gió và tập truyện ý tƣởng Phấn thông vàng,

những bài tranh luận văn học sôi nổi của Xuân Diệu đăng trên các báo, tạp chí Ngày nay,

Phong hóa, Tao đàn... đã góp phần tích cực làm nên chiến thắng của Phong trào Thơ Mới nói

riêng, và trào lƣu văn học lãng mạn của nƣớc ta lúc bấy giờ nói chung.

Có thế kế đến một số bài tiêu biểu sau đây: "Thơ của người" (Ngày nay số ra ngày

7.8.1938); "Thơ khó" (Ngày nay số 145, ngày 14. 1 .1939); "Tính cách An Nam trong văn

chương" (Ngày nay, số 146, ra ngày 28.1.1939); "Mở rộng văn chương" (Ngày nay, số 148,

ra ngày 4.2.1939); "Thư Huy Cận" (Ngày nay, số 151, ra ngày 4.3.1939); "Công của thi sĩ

Tản Đà" (Ngày nay, số 166, ra ngày 17.6.1939); "Một vài kỷ niệm về yêu thơ Tản Đà" (Tao

Đàn, số 1.7.1930); "Tựa Lửa thiêng (1940)... và một số bài khác đƣợc tập hợp in lại trong

"Thanh niên với quốc văn" (Nxb Thời đại, 11. 1945).

Với "Thơ của người" và "Thơ khó", những bài nói chuyện trƣớc sinh viên về "Cái học

quẩn quanh" và "Công danh với sự nghiệp"... Xuân Diệu trực tiếp phát biểu quan niệm sống

và quan niệm thi ca của mình. Sống là "ở trong cuộc đời" ,"luôn luôn yêu đời, đầu đời có thể

phụ ta" "những thi sĩ có lẽ là lẽ là những người nồng nàn thiết tha". Xuân Diệu không tin có

một thế giới khác ở ngoài cuộc sống trần thế. Ông không thích chữ nhàn của lão Trang, ông

ghét lối học khoa cử giết chết nhân tài, ông cổ vũ cho một tinh thần sống sôi nổi rạo rực

không phải

63

để chạy theo công danh mà phải làm một việc có ích cho cuộc sống thực, phải nghĩ đến sự

nghiệp và làm nên sự nghiệp cho đời.

Thơ ca cũng vậy, dù là "ru với gió" hay "mơ theo trăng"... cũng không thể "thoát ra

ngoài cuộc đời". Xuân Diệu luôn đề cao vai trò tƣởng tƣợng trong thơ, đồng thời vẫn phân

biệt: "Có trí tưởng tượng sáng tạo, và có trí tưởng tượng chỉ là "con mẹ điên ở trong nhà"

[27, tr 103], có cái điên của ngƣời thi sĩ do cảm xúc mãnh liệt quá mức thƣờng xuất phát từ

niềm si mê, say đắm đời sống và cái điên bệnh hoạn, ồn ào "đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà

cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: tôi điên đây! tôi điên đây!" [26, tr 103] Cái nhìn và lý lẽ

của Xuân Diệu chƣa hẳn đã toàn diện và hoàn toàn thuyết phục, song ý tƣởng và giọng văn

tranh luận của ông thƣờng thẳng thắn, chân tình, hàm chứa khát vọng cách tân nền thơ dân

tộc. Xuân Diệu viết nhƣ không hề ngần ngại: "Những thi sĩ của nước tôi! Chúng ta đã đùa

nhiều rồi. Từ khi có văn chương Việt Nam, chúng ta bỡn cợt gần hết một ngàn năm. Có lẽ

bây giờ đã đến lúc dẹp các câu nói bông, bắt đầu nói thực" [27, tr 103].

Để giúp ngƣời đọc khám phá sâu hơn vào bản chất của thơ, Xuân Diệu nhấn mạnh

đặc trƣng: "Thơ khó" và ông cho rằng có hai loại "thơ khó". Có loại khó cao kỳ về ý tƣởng và

cả về hình thức của những ngƣời chủ trƣơng rằng thơ phải khó nhƣ hai nhà thi sĩ Mallarmé,

Valéry. Đó là thơ khó do ngƣời viết rất cố gắng, rất xếp đặt, có khi "đặc biệt dụng công làm

cho tốt nghĩa". Và loại khó thứ hai, "người thi sĩ làm thơ rất tự nhiên, rất vô tình, thế mà thơ

lại có tính cách khó khăn"; "Người thi sĩ tìm cái đẹp, chứ có tìm cái khó đâu! Khó hiểu hay

dễ hiểu đó là lời bình phẩm của người; chứ trong khi làm, người thi sĩ không ngờ rằng thơ

mình lại "khó hiểu"" [93, tr 573 ].

Từ những dẫn chứng và lập luận theo cách của mình, Xuân Diệu đi đến khẳng định

"Cái tính cách cốt yếu của thơ là sự khó. Đó là quan niệm mới nhất mà cũng đúng nhất" [93,

tr 573].

Cuối cùng để khép lại bài tiểu luận và làm tăng thêm sức thuyết phục cho quan niệm

của mình Xuân Diệu đƣa ra một dẫn chứng mà ông cho là "ví dụ tráng

64

lệ nhất của lối thơ khó mà không không cốt ý làm khó " đó là thơ của Bô-đơ-le (Baudelaire).

Những ý tƣởng trên đây của Xuân Diệu về thơ, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ là mạnh

dạn, mới mẻ; có sự tiếp thu ảnh hƣởng của văn học phƣơng Tây, nhƣng không phải là không

có cơ sở từ truyền thống văn học dân tộc. Có lẽ chính vì thế mà nó giàu sức sống và vẫn còn

rất có ý nghĩa đối với thơ cũng nhƣ nền văn hóa của chúng ta hiện nay.

"Tính cách An Nam trong văn chương" và "Mở rộng văn chương" là hai tiểu luận gắn

bó với nhau một cách mật thiết, tập trung thể hiện quan niệm tích cực, mới mẻ của Xuân

Diệu về tính dân tộc trong văn chƣơng, và khát vọng cách tân, đƣa văn chƣơng dân tộc hòa

nhập với văn chƣơng nhân loại. Chúng ta bắt gặp cái tôi chính luận của Xuân Diệu với ý thức

cá nhân, cá thể đã đƣợc thức tỉnh, biết "có lẽ ý tôi sẽ ngược với rất nhiều người", song vẫn

"mong được cái tự do tư tưởng" "nói những điều tôi thành thực tin", và dám can đảm chấp

nhận "dù bị công kích cũng đành " [93, tr 574].

Đứng vững trên lập trƣờng dân tộc, nhiệt tình yêu nƣớc của tuổi trẻ Xuân Diệu phê

phán kịch liệt những tƣ tƣởng cố chấp, hủ lậu, nhân danh thuyết "tính cách An Nam", nhƣng

thực ra đã biến cái thuyết đẹp đẽ kia thành ra một thuyết chật hẹp, nông nổi. Xuân Diệu thẳng

thắn bày tỏ thái độ:

"Chúng ta phải giữ cho tính cách An Nam. Điều ấy rất phải. Nhưng giữ gìn bờ cõi có

phải là đóng hết cửa biển, tuyệt hết giao thông, bế tắc cả nước lại đâu! Giữ gìn không phải là

đành tâm mến yêu một cảnh nghèo đói" [93, tr 575].

Với niềm tin vào qui luật đào thải tự nhiên của văn chƣơng, những cái phản với tinh

thần quốc văn tất phải tiêu diệt, cái gì không hợp với tiếng Việt Nam tất phải chết. Xuân Diệu

phê phán lối văn nô lệ cho văn Tàu hay văn Tây đồng thời rất quan tâm đến vấn đề mà ngày

nay chúng ta vẫn thƣờng gọi là bản sắc dân tộc: "văn mỗi nước có một tinh thần, khó diễn tả

ra cho rõ được; ta phải

65

có một thứ cảm xúc riêng để cảm nghe cái tinh thần ấy" [93, tr 575]. Cái tinh thần ấy tức là

tính dân tộc của văn học, hay nói theo cách diễn đạt của tác giả lúc bấy giờ: "tính cách An

Nam trong văn chương".

Cũng nhƣ trong "Thanh niên với quốc văn", Xuân Diệu đề cao tiếng nói dân tộc, kêu

gọi dùng tiếng Việt nhƣ một khí cụ, dùng đúng, dùng cẩn thận theo tinh thần Việt Nam thì

nhất định văn ta là văn Việt Nam. Quan điểm này, đặt vào hoàn cảnh ra đời của nó, và nhƣ

lời nhà văn Alphonse Daudet trong câu chuyện Buổi học cuối cùng mà Xuân Diệu đã dẫn:

"Một dân tộc nào mà còn giữ được tiếng của dân tộc mình, thì dân tộc ấy cũng như giữ đi

được cái chìa khóa để tự giải thóat...", chúng ta mới thấy hết đƣợc ý nghĩa sâu xa bền chặt

của tình yêu đất nƣớc, dân tộc qua tình yêu tiếng mẹ đẻ và khát vọng giải phóng trong tâm

hồn của cả một thế hệ nhà thơ cháy bỏng đến nhƣờng nào!

Mặt khác, Xuân Diệu cũng lập luận: "Chúng ta là người An Nam có chịu ảnh hưởng

Âu Tây, nhưng vẫn là người An Nam. Mà người Âu Tây là gì? Họ cũng là người. Trừ những

điều riêng tây quá, chứ cái "kho" cái "đáy", cái "vốn" của con nạười ở đâu đâu cũng giống

nhau" [93, tr 576]. Do đó "có cái đẹp riêng của văn mỗi nước và có cái đẹp mà văn nước nào

cũng có thể có như nhau" [92, tr 579]. Phải chăng, ở đây, Xuân Diệu là một trong những nhà

phê bình, bằng tiên cảm của một nhà thơ lớn đã thấy đƣợc mối quan hệ giữa tính dân tộc và

tính nhân loại. Và cũng từ đó, Xuân Diệu cho rằng, để có tính cách An Nam trong văn

chƣơng, không phải chỉ bó hẹp trong phạm vi dân tộc mình với những cái đã có mà còn cần

phải "mở rộng văn chương " để giao lƣu tiếp thu thêm để làm mở mang thêm trí não, tình

cảm dân tộc, làm cho "con ngƣời" của ta giàu thêm. Ông đặt câu hỏi, "cái học của Âu Tây đã

làm cho chúng ta tinh vi kỹ lưỡmg; vì sao chúng ta không nói những điều ấy trong văn học

Việt Nam?" [93 tr 575]

Mặt khác, cũng nhƣ nhiều nhà văn khác, trong quan niệm của Xuân Diệu văn chƣơng

là một sự sáng tạo, ngƣời viết văn còn phải truyền sự sống, thêm sự sống vào cho ngƣời

thƣờng; nó không chỉ dừng lại ở sự mô tả mà thôi đâu, văn

66

chƣơng còn là sự dò xét, sự đoán hiểu... Vì vậy, Xuân Diệu nhiệt tình cổ vũ cho sự tiếp thu và

sáng tạo cái mới với mục đích để văn học làm sao diễn tả, biểu hiện cho đƣợc sự sống đa

đạng, phong phú và phát triển không ngừng của tâm hồn con ngƣời Việt Nam. Xuân Diệu

hào hứng và sôi nổi:

"Chúng ta phải tạo thêm, phải bày đặt ra những cách dùng mới mà xưa kia các cụ

không chịu tìm; và lại chúng ta ở thế kỷ XX, chúng ta có những cái phức tạp mà các cụ không

có..."

... "Đốt đi, củi sẽ cháy; tưới đi, đất sẽ ướt: ta cứ nói đến một sự sống mãnh liệt, đầy

đủ, tất nhiên những tâm hồn Á Đông, sẽ có sự hưởng ứng... Người Á Đông giấu trong lòng,

một ngọn lửa thần, như than lấp dưới tro; ta phải làm cho ngọn lửa ấy biểu lộ" [93,tr 578]

Tất nhiên, cũng phải thấy rằng, cái nhìn và quan niệm của Xuân Diệu về tính dân tộc

hồi bấy giờ đôi lúc chƣa thể tránh khỏi phiến diện hoặc cực đoan. Chẳng hạn nhƣ, ông viết:

"Chúng ta nay chịu ảnh hưởng văn học Âu Tây, nhưng ta phải ngoan lên nhiều lắm,

đã tỉnh dậy nhiều lắm, đã không nô lệ cho văn học nước ngoài. Ta đã biết làm như La

Fontaine: "Sự bắt chước của ta không phải là sự nô lệ", chứ ngẫm cái quá khứ văn học của

ta mà xem, cha ông ta đã bắt chước Tàu một cách tệ hại là dường nào. Đành rằng ta gần Tàu

hơn gần Tây, nhưng chúng ta xưa đã ăn cắp hẳn chứ không chịu ảnh hưởng" [93, tr580].

Có lẽ, cách nói quá lên này âu cũng là căn bệnh thƣờng gặp của bất kỳ một cuộc cách

tân nào ở vào buổi đầu của nó. Nhìn chung những quan niệm của Xuân Diệu về tính dân tộc

của nền văn học nƣớc nhà thể hiện qua các bài tranh luận nhƣ đã nêu ở trên vẫn cứ mới mẻ và

có ý nghĩa tích cực với cả chúng ta hôm nay.

*

* *

67

Những bài viết về thơ Tản Đà, thơ Huy Cận có thể coi là những bài mở đầu cho sự

nghiệp phê bình văn học của Xuân Diệu.

Tản Đà mất ngày 20 tháng 4 năm Kỷ Mão (tức là ngày 7/6/1939), trong cái tang

chung của văn học nƣớc nhà hồi bấy giờ, Xuân Diệu đã liên tiếp có hai bài: "Công của thi sĩ

Tản Đà" và "Một vài kỷ niệm về yêu thơ Tản Đà".

Nói đến "Công của thi sĩ Tản Đà", mở đầu bài tiểu luận, Xuân Diệu khẳng định: "Tản

Đà là người thi sĩ đầu tiên, mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại. Tản Đà là người thứ nhất đã

có can đảm làm thi sĩ, đã làm thi sĩ một cách đường hoàng bạo dạn, dám giữ một bản ngã,

dám có một cái "tôi"" [93, 588].

... Giữa lúc thơ Việt Nam khô khan ở trong dấu xe cũ, giữa lúc lối "thơ Nam phong"

trị vì một cách bệ vệ. dùng những tiếng lớn nói những chuyện con, diễn những ý sáo bằng

những lời sáo hơn bội phần, giữa lúc trống rỗng và buồn tênh, Tản Đà đem tới một hồn thơ,

Tản Đà cho văn học Việt Nam một thi sĩ" [93, tr 589].

Bằng sự lắng nghe tinh nhạy giữa những tâm hồn đồng điệu, Xuân Diệu phát hiện

những cái mà "lần đầu" thi sĩ Tản Đà đem đến cho thơ Việt Nam: lần đầu, "người ta được

nghe một trong nói dịu dàng trong trẻo, nhẹ nhõm có duyên" của "một tấm lòng thực thà hé

phơi, và người ta cảm động"; lần đầu, Tản Đà dám vẩn vơ, dám mơ mộng, dám cho trái tim

và linh hồn đƣợc có quyền sống cái đời riêng của chúng, lần đầu "ông tự nhiên để cho bản

ngã của mình tràn ra ngoài khuôn khổ". Những nét đặc sắc ấy chính là phong cách nghệ

thuật và đóng góp của thơ Tản Đà: "Say, ngông và mộng, ba điểm ấy làm cho thơ ông nhẹ

nhàng phóng khoáng. Tản Đà đã có một bản ngã, đó là công trình của ông trong thơ Việt

Nam": Đồng thời, nhƣ để tiếp tục minh chứng cho quan niệm về "tính cách An Nam trong

văn chương" và "mở rộng văn chương", Xuân Diệu đã khẳng định: "Là thi sĩ đầu tiên trong

thơ Việt Nam hiện đại, là cái mầm thứ nhất của thơ chân thành, Tản Đà còn là thi sĩ rất An

Nam, có thể nói là hoàn toàn An Nam. Đó là một điều không dễ" [93, tr 590]. Ông chỉ ra tính

dân tộc trong thơ Tản Đà với "những vần thơ nhẹ nhàng, phất qua như gió", " những câu ca

có duyên,

68

những đoạn phong dao mộc mạc" mà Tản Đà thể hiện rất thuần thục, rất trong trẻo nhƣ hơi

thở tự nhiên của phong cảnh Việt Nam; rồi ngay cả cách hài hƣớc vừa bóng bẩy, vừa ngộ

nghĩnh, điểm một thứ hóm hỉnh nhè nhẹ, đặc biệt là Việt Nam. Không những vậy, khi Tản Đà

làm thơ thất ngôn Đƣờng luật, cũng không chút gì gò gẫm khó khăn nhƣ các cụ nhà nho thuở

trƣớc vì thi sĩ đã am hiểu tƣờng tận tiếng nói dân tộc. Cũng vì vậy, thơ Tản Đà đã có sức phổ

biến rộng rãi, đi đến mọi hạng ngƣời. Xuân Diệu khép lại bài tiểu luận với những dòng đầy tự

tin và ân nghĩa:

"Chúng ta hiện nay có một tâm hồn khúc chiết, dù xu hướng về một lối thơ hợp với

những tình cảm mới, chúng ta vẫn yêu và kính phục luôn luôn nhà thi sĩ thứ nhất đã cho

chúng ta nghe những khúc giáo đầu đặc biệt tài hoa, những khúc giáo đầu của thơ hiện kim,

của thơ mới" [93, Tr 591].

Trong mạch cảm nghĩ ấy, Xuân Diệu kể lại xúc động "Một vài kỷ niệm về yêu thơ

Tản Đà": Từ lúc mƣời ba tuổi, đã chép những bài thơ Tản vào sổ con, với "cảm giác mơ hồ

như hứng lấy bóng trăng thanh" và "mờ mờ hiểu ra rằng người thi sĩ là lạ khác khác, không

phải là những người quen biết" mà mình đã gặp, để rồi càng xem càng thấy cái tài đặc biệt

Tản Đà, và nhận ra"những bài thơ đạo mạo, hoặc sâu thẳm, nhưng bao giờ cũng khô khan

nhạt nhẽo, đăng ở Nam Phong thì bì sao được những câu ca dao bay bổng của Nguyễn Khắc

Hiếu đăng ở Hữu Thanh" [150, tr 310 ].

Tuy nhiên, cũng ở hồi ức này, đoạn cuối Xuân Diệu viết: "Càng lớn tôi càng cần sự

tha thiết, sự mãnh liệt mà tôi không thấy trong thơ Tản Đà. Cái thích hôm nay không giống

cái thích ngày trước và một ngày mai lại không còn cái thích hôm nay" [150, tr 314]. Vì thế,

Xuân Diệu đã chọn một con đƣờng khác cho hƣớng đời và hƣớng thơ của mình. Phải chăng

đó là biểu hiện bản lĩnh của một nhà thơ lớn, nhà phê bình lớn trong tƣơng lai.

*

69

Khác với bình luận thơ Tản Đà, giới thiệu 'Thơ Huy Cận" (1939) và viết lời tựa cho

"Lửa thiêng" (1940), Xuân Diệu không phải chỉ giới thiệu thơ của một ngƣời bạn mà cái

chính là biểu hiện thái độ của ông đối với "cái đương dậy, cái đương lên", là "bổn phận của

chúng ta đối với văn chương Nam Việt" tức là phải "ráng thấu hiểu để yêu mến những văn

tài" [56, tr 173]. Cũng từ những bài tiểu luận phê bình này, Xuân Diệu minh chứng sinh động

cho quan niệm về thơ, về sự cần thiết phải "mở rộng văn chương".

Mƣợn lời Thế Lữ khi giới thiệu thơ mình, Xuân Diệu khẳng định, Huy Cận cũng là

"một người của đời, một người ở giữa loài người" "ông không đi với lối thơ phù phiếm, mộng

mơ"; thơ Huy Cận cũng mang đặc tính của "thơ khó", nhƣng thuộc loại "vừa xem qua thì

dường như khó khăn, nhưng kỳ thực không có gì bí hiểm".

Ngòi bút phê bình Xuân Diệu cảm nhận tinh tế những đặc sắc của hồn thơ Huy Cận

ngay từ buổi đầu qua "Lửa thiêng", với chất "ôm nhiều vũ trụ", với vẻ đẹp "thầm kín, rạo

rực" "không phô bày", "phảng phất một linh hồn Đường thi", "nóng chảy bên trong, e lệ bên

ngoài, hay nói nhỏ và hay làm thinh để men lòng càng rạo rực hơn nữa", "một tâm hồn hay

lặng yên để nước mắt chảy, không biết khóc cái gì; vừa mạnh vừa yếu, rất mới và rất xưa, rất

Âu Tây và rất Á Đông, nghĩa là cả con người, con người phức tạp muôn thuở" [56, Tr 180].

Và cũng chỉ có Xuân Diệu, nhà thơ của tuổi trẻ, tình yêu, bạn thân của Huy Cận mới

nhận ra ở thơ Huy Cận lúc bấy giờ, đằng sau những ý sống hiền hòa là một lòng yêu đời...

đầy sức khỏe, là một "Huy Cận đa tình; tâm hồn ông là một cô gái xưa rón rén ung dung,

trông nết na dè dặt, kỳ thực hay liếc trộm và rất ưa viết thư tình" [93,tr585].

Có lẽ, Xuân Diệu là ngƣời viết đầu tiên là ngƣời viết hay nhất về thơ Huy Cận. Thực

ra Xuân Diệu biểu dƣơng thơ Huy Cận qua Lửa thiêng, cũng chính là khặng định sự chiến

thắng của cả phong trào Thơ Mới: nó "không phải là rượu đã rót vào chén" mà là "men

đương lên", không phải là hoa sẵn trên

70

cành" mà là "dòng nhựa đương chuyển ", không phải là "một lời hứa hẹn nữa" mà đã là nụ

lộc xanh tốt, đem đến một hƣơng sống lạ lùng.

Qua bài tiểu luận này, chúng thấy đƣợc, ngay từ dầu Xuân Diệu cũng nhƣ một số nhà

thơ, nhà phê hình thời ấy quan niệm thơ mới sở dĩ thành công không chỉ là sự tiếp thu thơ ca

Âu Tây mà còn là sự góp nhặt "bao nhiêu cái đẹp tốt của Á Đông, nhất là cái lửa tro nồng ấm

ở bên trong và cái xa vắng mênh mông của Thời cũ". Cũng nhƣ cây có rễ càng sâu thì bóng

cành mới có sức vƣơn cao lan tỏa, bài học đáng quí về sự đổi mới văn học có thể rút ra từ

đây; ấy là dám tự phê phán cái yếu kém của chính mình, biết hào hứng nồng nhiệt mở rộng

giao lƣu tiếp thu cái mình chƣa có, nhƣng không bao giờ xa rời nguồn cội.

*

* *

2.1.2. Những năm kháng chiến chống Pháp (1946 -1954): Tiếng thơ

Cách mạng Tháng Tám thành công đã giải phóng dân tộc ra khỏi xiềng xích nô lệ và

mở ra một chân trời mới cho sáng tạo văn học nghệ thuật. Đối với một thế hệ nhà thơ đã rừng

"chín mấy mùa thương đau" trong xã hội cũ, "những năm kháng chiến chống Pháp là giai

đoạn chuyển mình, rèn luyện để hòa nhập với cuộc sống mới. Một số bài viết buổi đầu của

Xuân Diệu nhƣ "Nhân xem quyển Nguyễn" với bút danh Triều Mai [101], "Văn hóa Việt Nam

sẻ không đi theo nấm mồ văn hóa Pháp" [31] đều nằm trong mạch bày tỏ quyết tâm "lột xác"

của nhiều nghệ sĩ lúc bấy giờ.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Xuân Diệu cùng nhiều anh chị em văn nghệ lên

chiến khu Việt Bắc. Năm 1947, Xuân Diệu công tác ở Đài tiếng nói Việt Nam, và theo hồi ký

"những kỷ niệm chung quanh Tạp chí Văn nghệ" thì bắt đầu từ số 5 (2/1948) ông viết mục

"Tiếng thu" cho tờ tạp chí này. Tuyển tập các bài viết ấy, nhà xuất bản Văn nghệ đã in thành

sách "Tiếng thơ", ấn hành vào năm 1951.

71

"Tiếng thơ" ở đây cũng là "tiếng đời", "tiếng của kháng chiến, tiếng của sự sống".

Xuân Diệu coi mình viết 'Tiếng thơ" là đã làm một thứ bút ký lấy giọng của nhiều ngƣời để

dần dà nói cho dƣợc cái tiếng rất thơ của thời đại" [32, tr 65]. Ông đã lắng nghe, lƣợm lặt thơ

ca từ mọi miền đất nƣớc. Có hình dung những gian khổ, khó khăn của giao thông liên lạc và

phƣơng tiện in ấn hồi bấy giờ, mới thấy hết nhiệt tình và công phu của Xuân Diệu trong việc

sƣu tập tƣ liệu để "lọc những cái hay", "cốt gợi một không khí hát ca" và làm nên Tiếng thơ.

Chúng ta có thể thấy đƣợc qua Tiếng thơ cả một không khí sôi nổi của những năm đầu

kháng chiến chống Pháp: một phong trào quần chúng vừa đánh giặc vừa làm thơ ở khắp nơi

trên mọi miền đất nƣớc. "Cả một thời chinh chiến cả một niềm hỉ xả quên mình, cả đá núi,

cây rừng, cả bùn lầy, cát vắng hát đồng vọng trong những câu thơ" [30, tr 6]. Xuân Diệu

điểm lại "Thơ hai năm kháng chiến", tập hợp thơ bộ đội từ các chiến trƣờng, theo dõi phong

trào "vệ quốc làm thơ", đọc "những vần thơ dâng cụ Hồ", lắng nghe thơ trong tiếng hò tiếp

vận. Ồng tự ví mình nhƣ ngƣời đi nhặt vỏ sò, vẫn biết không phải vỏ sò nào cũng bóng bẩy

xinh đẹp cả, nhƣng vỏ sò nào xấu xí đơn giản đến đâu cũng mang đƣợc nhịp biển vang vang.

Ông ý thức rằng: thơ hay hiếm nhƣ ngọc quí, nhƣng biết nghe bài thơ nào cũng gần xa, to

nhỏ nói đƣợc thời đại. Chính Xuân Diệu đã phát hiện: "cái đẹp trầm hùng ngang với lòng

chiến sĩ” qua bài thơ Đèo Cả của Hữu Loan từ chiến trƣờng cực nam Trung bộ. Và giữa lúc,

không ít ngƣời phê phán Ngày về của Chính Hữu, Xuân Diệu lại nhận ra ở đây vẻ đẹp của

"mấy câu thơ Hà Nội phơi phới lòng trai" cùng hình ảnh các chiến sĩ đêm rút lui khói thủ đô

đã biết trước "ngày về"...

Không ngại "buồn rớt", Xuân Diệu là ngƣời rất sớm bênh vực cho "quyền đƣợc buồn"

của thơ ca kháng chiến. Xuân Diệu đã cảm ơn Vĩnh Mai - ngƣời thi sĩ chiến khu Bình Trị

Thiên nói giùm những phút lòng cán bộ qua bài thơ "Không đề":

72

..."Chiều nay núi vẫn trơ màu biếc

Khe vẫn ngân nga một giọng đều

Rừng vẫn buồn buồn như mến tiếc

Trời ơi! ấm ức biết bao nhiêu".

Cái nhìn nhƣ vậy với thơ kháng chiến lúc bấy giờ không phải ai cũng có đƣợc!

Điều đáng ghi nhận qua "Tiếng thơ" còn là ở chỗ bằng cảm quan nhạy bén và bản lĩnh

của một nhà thơ lớn, Xuân Diệu vừa có đƣợc cái nhìn trân trọng đầy sức phát hiện để biểu

dƣơng cái nụ, cái mầm của một nền thơ mới, đồng thời cũng vừa mạnh dạn chỉ ra kịp thời

"những bệnh ấu trĩ của thơ thời đại". Vốn là nhà thơ hàng dầu của công cuộc cách tân nền

thơ dân tộc vào những năm ba mƣơi của thế kỷ; Xuân Diệu nắm bắt đƣợc qui luât đổi mới

của thơ ca, và cũng tự thấy mình "là một người tập sự của nền văn nghệ mới, một tên lính của

đội quân sáng tác rất cực nhọc", để từ đó nhận xét rất chân thành và xác đáng về "những cái

dở" của thơ kháng chiến buổi đầu mà cho đến nay ta vẫn thấy còn nguyên ý nghĩa thời sự của

nó. "Những cái dở" ấy là bệnh tham lam ôm đồm chất liệu đời sống, thiếu chọn lọc và cả

bệnh sáo. Xuân Diệu cũng chỉ rõ, thơ phải gần ngƣời, phải là của ngƣời, phải đi sát với đời để

lăn lộn vào sự vật, để mọc rễ dƣới đất, lấy sức chắc chắn vững vàng. Nhƣng không phải cứ

chìm dần trong những, bản kê khai, mà phải có "hồn thi nhân" mà lọc cát lấy vàng, phải

chọn, phải lựa, phải ngẩng đầu lên để cất tiếng hát nhƣ cái hoa ngƣớc cổ lên khí trời. Ông

nhìn lại thơ ca từ đầu thế kỷ, so sánh và cho rằng, thơ thời nào cũng có những cái sáo. Có cái

sáo cổ điển của thơ thời Nam Phong: thuật hoài, cảm khái, khẩu khí, vịnh cái ống điếu, cái

hỏa lò. Có cái sáo lãng mạn của thời "thơ mới" 1932 : gió, mây bến sông, đan áo len, con đò,

giang hồ vặt... Và có cái sáo cách mạng : lửa, máu thét, gào, tặc tặc, đùng đùng, rồi một ngày

mùa thu có vàng son lên ngự..., có ngọn lửa mùa đông thì ngọn lửa phải bập bùng. Một thi sĩ

đã có những tiếng ru hay, thế là các thi sĩ khác thi đua đƣa tiếng ru em, ru con, ru cháu vào

giữa những

73

đoạn thơ... Sở dĩ nhƣ vậy là vì một hình thức đƣa ra ít lâu sẽ thành chiếu lệ nêu không có lòng

ngƣời đi theo hình thức ấy, những đề tài chuyền tay đi mãi, "càng chuyền đi càng mất trinh

tiết, càng hết mới" sẽ thành ra sáo mòn, ứng phê phán mạnh mẽ những căn bệnh hình thức

chủ nghĩa, chạy theo câu chữ, sang hàng, chặt cắt câu thơ một cách tùy tiện mà cho là "mốt":

Ông yêu cầu mỗi câu, mỗi chữ trong bài thơ đứng ở đâu đều có lý do, mỗi hình thức của thơ

đều phải gắn với tƣ tƣởng, tình cảm và quan niệm của ngƣời thi sĩ; ông nhấn mạnh cái đức

tính bậc nhất của thơ là vƣơng vấn lấy ngƣời đọc, in sâu vào trí nhớ, bắt ngƣời ta phải thuộc.

Thơ quyến rũ ngƣời đọc nhờ hình ảnh, nhịp điệu, âm nhạc, và một bài thơ hay thực sự bao

giờ cũng hay "cả hồn lẫn xác".

Tất nhiên, khi chỉ ra "những bệnh ấu trĩ của thơ thời đại", Xuân Diệu rất thấu hiểu

hoàn cảnh ra đời của thơ ca hồi bấy giờ. "Cái tình thế bắt chúng ta chưa có những bài thơ

kỹ", phần lớn mới là thơ nhật ký, thơ chép vội, thơ tài liệu vì nhà thơ chƣa có thì giờ cảm xúc

kỹ, và chƣa có thì giờ làm kỹ; và đó cũng là một bƣớc đi biện chứng mà mỗi đợt thơ mới của

mỗi thời đại đều phải trải qua.

Có thể khẳng định rằng, cùng với "Nói chuyện thơ kháng chiến" của nhà phê bình

Hoài Thanh, "Tiếng thơ" của Xuân Diệu là những tác phẩm phê bình có vị trí xứng đáng mở

đầu cho nền phê bình của văn học nƣớc ta từ sau Cách mạng tháng Tám.

2.1.3. Từ 1955 đến 1985

Đây là chặng đƣờng ba mƣơi năm. Xuân Diệu vẫn tiếp tục làm thơ và có thêm nhiều

tập thơ mới. Thơ tình Xuân Diệu trong niềm "riêng chung" vẫn có những bài dào dạt đắm

say. Nhƣng đây cũng là thời kỳ Xuân Diệu dồn nhiều tâm sức cho những hoạt động trên lĩnh

vực nghiên cứu phê bình thơ ca. Cùng với các tập thơ nhƣ đã kể ở phần trƣớc, hàng loạt tác

phẩm tiểu luận phê bình đã ra đời. Có thể điểm lại một số tác phẩm, công trình tiêu biểu sau

đây; trƣớc khi đi vào từng mảng đề tài lớn trong tiểu luận phê bình của Xuân Diệu.

74

2. 1.3.1 "Những bước đường tư tưởng của tôi" Tập tiểu luận phê bình văn học - Nhà

xuất bản Văn hóa - Hà Nội - 1958).

Bài tiểu luận công phu, dài hơn 30 trang viết vào tháng 10/1957, đƣợc lấy làm tên gọi

chung cho cả tập sách - "Những bước đường tư tưởng của tôi" là bản tự bạch rất chân thành

của Xuân Diệu, đồng thời có ý nghĩa rất điển hình cho tâm trạng và quá trình diễn biến tƣ

tƣởng, nhận thức của cả một thế hệ nhà thơ, nhà văn đã từng nổi tiếng trƣớc Cách mạng tháng

Tám. Hoài Thanh, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tƣởng, Chế Lan Viên... đều đã

từng nhớ lại "nỗi chua cay của một thời thơ ấy", đều nói đến quá trình "lột xác" "tái sinh" khi

đi theo cách mạng và kháng chiến; nhƣng có lẽ chƣa ai tự nhìn lại mình và nói lên một cách tí

mỉ, đầy đủ, chi li nhƣ Xuân Diệu. Ngƣời đọc có thể biết đƣợc những ảnh hƣởng của gia đình,

xả hội, nhà trƣờng và truyền thống văn hóa văn học đến việc hình thành phẩm chất tâm hồn

của một nhà thơ. Ngƣời đọc cũng có thể bắt gặp ở đây quá trình chuyển biến của cái tôi -

Xuân Diệu, từ cái tôi - trữ tình cá nhân, cá thể giàu "thƣơng vay" 'khóc mƣớn" "đi trong đời

như một kẻ lột da" đến cái tôi kiểu mới - sung sƣớng đƣợc Cách mạng đổi dời, trả lại cho một

Tổ quốc, một dân tộc, một ý nghĩa cuộc đời hòa mình vào cái ta rộng lớn. Nhƣng đối với

những ngƣời nghệ sĩ lớn, con đƣờng từ giác ngộ trên lý thuyết để dẫn đến hành động sáng

tạo, quá không phải dễ dàng, ngày một, ngày hai. Xuân Diệu cũng không dấu sự thật ấy: "Kỳ

tình, tôi vẫn biết đứng chỗ cũ không thể được nữa; tuy nhiên, lại ngại sang đứng chỗ mới;

tâm trạng tôi như người bị chẹt, tinh thần bất ổn, vẫn gần với quá khứ, vẫn xa vợi với tương

lai. Tự chạy sang bên này rồi chạy sang bên kia, thật là đau đớn" [ 34, tr 31 ].

Biểu hiện rất thật tâm trạng ấy của chính mình, phải chăng Xuân Diệu đã nói hộ cho ý

nghĩ, tâm trạng của nhiều anh chị em văn nghệ sĩ trong quá trình chuyển biến nhận thức để đi

theo cách mạng.

Có một điều thƣờng gặp, khi nhìn lại những thời điểm "nhận đường" của văn nghệ

nƣớc ta sau Cách mạng tháng Tám (1946 - 1947 ; 1955 - 1958) đó là

75

không ít ngƣời hay có thái độ "quá tả" muốn phủ nhận tất cả quá khứ để tỏ rõ dứt khoát lập

trƣờng của mình. Với Xuân Diệu, qua "những bước đường tư tưởng" cũng nhƣ qua 'Tiếng

thơ" trƣớc đó, ông đối lập chế độ cũ, xã hội cũ trƣớc cách mạng vói chế độ mới, xã hội mới;

bởi lẽ ông quá thấu hiểu cảnh "đêm trường dạ tối tăm trời đất", có những em bé mới lên ba

đã khóc vì buồn trong chiều, những em bé đòi mẹ nhả cơm ra, những em bé chết đói bám vào

cửa kính nhƣ ruồi, cái xã hội mà "nỗi đời cay cực đang giơ vuốt" và khinh rẻ ngƣời nghệ sĩ;

ông thấm thía công ơn của chế độ mới, xã hội mới đã giải phóng con ngƣời thoát khỏi cuộc

đời tủi nhục nô lệ và tôn vinh nghiệp văn chƣơng, coi văn chƣơng là một nghề cao quí của xã

hội. Nhƣng, Xuân Diệu không bao giờ đối lập sáng tác của mình trƣớc và sau cácg mạng,

không có cái nhìn phủ định sạch trơn đối với văn học quá khứ. Ông thƣờng chỉ ra những mặt

hạn chế, cắt nghĩa nguyên nhân, đồng thời kiên trì đấu tranh phát hiện khẳng định những giá

trị nằm trong nguồn mạch văn học dân tộc mà nền văn học mới sẽ kế thừa và phát huy. Ông

quan niệm rằng: "nghệ thuật chân chính không chịu kiếm ăn trong tính hiếu kỳ"... "tác phẩm

mới của ta vẫn nối tiếp không đứt quãng với những truyền thống cũ đã được quần chúng", đã

được dân tộc lọc lựa và thử thách lâu đời. Không phải cái gì cũ cũng là già nua, tồi tàn, đáng

vứt đi. Không phải cái gì mới cũng đáng hai tay rước lấy" [42, tr 38].

Chính từ nhận thức ấy, trong tập tiểu luận này, Xuân Diệu đã sôi nổi tham gia bàn

luận về những vấn đề có ý nghĩa thời sự trong văn học nƣớc ta ở miền Bắc vào những năm

sau ngày hòa bình lặp lại (1955-1957). Ông "không say sưa vì danh từ" cốt đi sâu tìm hiểu

"thế nào là cái mới", chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa khách thể và chủ thể trong sáng tạo

văn học để xác định "cái mới trước tiên ở trong thực tại khách quan cách mạng", đồng thời

"cái mới trong tác phẩm cũng do tài năng, do tìm tòi, nghiên cứu và diễn tả của người nghệ

sĩ dựa trên cái mới khách quan"; do vậy "tìm tòi cần đúng hướng". Tham gia vào cuộc đấu

tranh tƣ tƣởng trên mặt trận văn học hồi bấy giờ, Xuân Diệu xác định cách

76

nhìn nhận về "cái mới của văn học chúng ta", nêu "vài ý kiến về bệnh sơ lược", bàn về "viết

sự thật" và "một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong thơ". Giữa lúc không phải không có

ngƣời hoang mang, dao động động, thì Xuân Diệu vẫn giữ lập trƣờng kiên định của mình

trong học thuật cũng nhƣ trong sáng tạo thơ ca.

Tất nhiên, ngày nay đọc lại chúng ta có thể thấy Xuân Diệu có nơi, có lúc trong cách

nhìn nhận, phê phán cũng không thể vƣợt qua đƣợc ý thức văn học của một thời. Song điều

đáng quí là thái độ của Xuân Diệu bao giờ cũng chân thành, trung thực thậm chí có khi vồ

vập, ngây thơ đến hồn nhiên; cả ngƣời đọc và ngƣời bị phê bình đều có thể thông cảm: Xuân

Diệu mà, khi đã yêu thì yêu luôn cả "nhược điểm trên mặt em", nhƣ tên một bài thơ của ông

vậy! Đọc "Những bước đường tư tưởng của tôi" có thể thấy đƣợc thời sự tâm hồn của văn

nghệ sĩ nƣớc ta trong giai đoạn chuyển mình của cách mạng.

2.1.3.2. "Phê bình giới thiệu thơ" (Nhà xuất bản Văn học - Hà Nội. 1960): Gồm

những bài viết tập hợp bổ sung trong khoáng 12 năm, từ "Cuộc thi thơ kháng chiến đầu tiên"

(Bắc Cạn 2/6/1947) đến "Thơ với đấu tranh thống nhất" (20/7/1959) có thể coi là sự tiếp nối

mạch "Tiếng thơ". Tác giả nhiệt tình say mê sƣu tập, giới thiệu, biểu dƣơng phong trào sáng

tác thơ của quần chúng trong kháng chiến chống Pháp "Một ít ca dao kháng chiến", "Về

kháng chiến Bình Trị Thiên", "Học một số thơ kháng chiến của công nhân"....), trong phát

động giảm tô và Cải cách ruộng đất (Ca dao "Dặn con", Anh Thuấn và Cố Phương...).

Tác giả cũng kịp thời giới thiệu những thành tựu của thơ ca kháng chiến chống Pháp

nhƣ "Thư kháng chiến của Tú Mỡ", "Hai nhà thơ Tiếng Thổ và Tiếng Mán" viết về giải

thƣởng thơ 1951-1952 của Hội Văn nghệ đã trao cho hai nhà thơ Nông Quốc Chấn và Bàn

Tài Đoàn.

Đáng chú ý nhất trong "Phê bình giới thiệu thơ" là các bài viết của Xuân Diệu về tập

thơ Việt Bắc của Tố Hữu và "Từ ấytrong tôi bừng nắng hạ" (đọc tập thơ "Từ ấy"). Đây là

những bài phê bình có nhiều ý kiến mới mẻ sâu sắc, thực sự

77

đóng góp vào các cuộc thảo luận của giới nghiên cứu phê bình hồi bấy giờ, đồng thời cũng là

sự khẳng định đầy nhiệt tình thành tựu của nền thơ cách mạng qua một số tác giả tiểu biểu.

Tuy chƣa thật nhiều những bài viết xuất sắc, nhƣng qua "Phê hình giới thiệu thơ",

ngƣời đọc đã bƣớc đầu thấy đƣợc hoạt động xông xáo của Xuân Diệu trên lĩnh vực phê bình

văn học với một bút lực không kém phần đa dạng và uyển chuyển.

2. 1.3.3. "Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ" (Nhà xuất bản Văn học -Hà Nội.

1961) bao gồm bài phát biểu của Xuân Diệu ở Hội nghị những ngƣời viết văn trẻ (họp từ 6

đến 9/4/1959), bài "Vào trong bếp nước của thơ" (Nói chuyện với các bạn làm thơ trẻ) và tiểu

luận "Mười lăm năm lao động thơ" Xuân Diệu viết nhân dịp kỷ niệm mƣời lăm năm nƣớc

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

"Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ, Xuân Diệu nhƣ dồn hết yêu thƣơng và kinh

nghiệm làm thơ có đƣợc của mình để tâm sự và bàn bạc một cách vô cùng chân tình, thẳng

thắn:

"Tôi nói đây không phải là để làm chùn bước những bạn đang đầy nhiệt tình, hay là

để nói rằng số ghế ngồi trong làng thơ là rất hạn định; nhưng chúng ta thật sự thương yêu

nhau giúp đỡ nhau, thì phải nói với nhau những điều sâu sắc nhất, những điều ở trong ruột

của vấn đề" [36, tr 5].

Xuân Diệu không truyền nghề theo kiểu sách vở lý thuyết, không nói chung chung mà

đi vào từng công việc cụ thể xuất phát từ nỗi lòng yêu thơ của bạn trẻ và tấm lòng "quan

thiết, chi chút mến thương" thành tâm xây dựng của chính mình. Ông đã chịu khó đọc hàng

trăm, hàng nghìn bài thơ gửi về báo Văn học, tạp chí Văn nghệ và trên các báo khác để phân

tích, giảng giải tỉ mỉ cái đƣợc cái chƣa đƣợc, nhiều khi ông còn tự mổ xẻ nêu ra những bài

học thất bại của thơ mình để cho bạn trẻ có thể rút kinh nghiệm. Ở nƣớc ta, không chỉ riêng

Xuân Diệu, nhiều nhà văn nhà thơ khác cũng hay nói về nghề, "chuyện nghề" trao đổi kinh

nghiệm sáng tác, nhƣng có lẽ ít ai ý thức về nghề và truyền nghề một cách công phu, kỹ

lƣỡng và đầy tâm huyết nhƣ Xuân Diệu.

78

Cũng trong bài tiểu luận "Vào trong bếp nước của thơ" (nói chuyện với các bạn làm

thơ trẻ) Xuân Diệu thẳng thắn, nghiêm khắc chỉ ra những mặt chƣa đƣợc ở các bài thơ, đồng

thời ông cũng lƣu giữ và phát hiện những ƣu điểm đáng quí ở một số bài thơ của các cây bút

trẻ. "Những hồn thơ đang vươn nở", đó là niềm hy vọng và dự báo của ông về sự ra đời và

trƣởng thành của một thế hệ nhà thơ mới xuất hiện vào những năm đầu xây dựng chủ nghĩa

xã hội và chống Mỹ cứu nƣớc ở miền Bắc hồi bấy giờ.

Tiểu luận "Mười lăm năm lao động thơ" khép lại tập sách là sự nhìn lại của chính nhà

thơ về con đƣờng đã đi và khả năng sáng tác của mình qua mƣời lăm năm trong lòng chế độ

mới: Xuân Diệu nhận thức một cách sâu sắc rằng "trên đời này không có sự giày vò nào ghê

gớm hơn sự giày vò của ngôn từ", và chia mƣời lăm năm lao động thơ của mình ra làm ba

chặng: chặng Ngọn quốc kỳ (11/1945) chặng Ngôi sao (1945 - 1955), chặng "Riêng chung"

(1957 - 1960) ; ông gọi đó là "những chặng đường gian khổ", ứng cũng tự phân tích, phê

phán những bài thƣ "rắc rối, nhọc mệt, gượng" của chính mình và nhận ra "khi hồn thơ đã

cạn, thì bài thơ có khâu vá bao nhiêu cũng cứ chẳng chịu liền hơi".

Ông giải thích cái hiện tƣợng "bí" thơ có nguồn gốc quan trọng ở tƣ tƣởng và tình

cảm, "nguyên do chủ yếu của nó là tôi chưa thay đổi được phương thức say mê, chưa có

được cái chất say mê mới" [36, tr 76]. Nếu "Những bước đường tư tưởng của tôi" (1958)

thiên về diễn biến cảm xúc, ý nghĩ đƣờng dời, thì "Mười lăm năm lao động thơ" là sự tiếp nối

lời tự bạch của Xuân Diệu về đƣờng thơ, về quá trình nỗ lực của mình để đi theo cách mạng.

"Vài ý nghĩ thấy trong khi lao động thơ" càng giúp Xuân Diệu tự tin hơn khi "nhìn tới đàng

trước" là cái đảm bảo để nhà thơ, nhà phê bình của chúng ta tiếp tục phấn dấu, lao động và

lao động cho những công trình sắp tới ở chặng đƣờng tiếp theo.

2.1.3.4 "Dao có mài mới sắc" (Nhà xuất bản Văn học Hà Nội - 1963)

Tập sách đƣợc tác giả chia làm 2 phần. Sau 12 bài bút ký ( phần bút ký -theo cách gọi

của Xuân Diệu) là 10 bài thuộc phần tiểu luận phê bình. Thực ra

79

việc phân chia này chỉ có ý nghĩa tƣơng đối, nên lẫn bút ký với tiểu luận phê bình, trộn lẫn

những vấn đề thời sự của đời sống với những vấn đề của văn học của thơ ca, là một nét đặc

trƣng thƣờng gặp trong văn phê bình của Xuân Diệu.

"Mười lăm năm sống trong lòng chế độ" là sự tiếp tục mạch cảm xúc ân tình của

Xuân Diệu đối với chế độ mới đã đƣa mình về "bơi trong biển"và đƣợc làm một con sóng

giữa biển cả nhân dân. "Chúc mừng nhà thơ Tú Mỡ 60 tuổi", khẳng định đóng góp cùa nhà

thơ "Bút chiến đấu" Xuân Diệu muốn khắc phục cái khuynh hƣớng xấu xí của phê bình

thƣờng "thích làm sống những người đã chết và làm chết những người đang sống". "Thương

tiếc Nguyễn Huy Tưởng" là bộc lộ sự "tức tối tràn hông" trƣớc một chuyện vô lý của tạo vật,

của cái chết, cƣớp đi "cái cây đang đầy sức lực, đang đà cành lá xum xuê", là để khẳng định

một nhân cách, một văn tài "không ánh chói, không làm người ta choáng phục ngay" nhƣng

lại "rất có duyên và dần dần mới hay... có một sức hấp dẫn sâu sắc" [37, Tr 63]. "Sáu mươi

tuổi Aragông" không chỉ ngợi ca một thi hào mà còn rút ra ở đây bài học về mối quan hệ giữa

thơ và đời, giữa ngƣời nghệ sĩ và chiến sĩ "người chiến sĩ mạnh thêm vì có thiên tài của nhà

văn, nhà văn lớn thêm vì có tư tưởng của người chiến sĩ [37, tr 71].

Hai bài viết về "Những biến hóa của chủ nghĩa cá nhân tư sản qua thơ Lê Đạt" và

"Những tư tường nghệ thuật của Văn Cao" là sự hiện diện kịp thời của Xuân Diệu vào cuộc

đấu tranh tƣ tƣởng phức tạp lúc bấy giờ. Có thể thấy đƣợc thái độ dứt khoát, chân thành của

nhà thơ, nhƣng Xuân Diệu cũng không tránh khỏi cái nhìn ngộ nhận vội vàng quy kết ấu trĩ

của một thời.

Về cuộc trao dổi ý kiến chung quanh tập thơ "Từ ấy" của Tố Hữu, trƣớc đó Xuân

Diệu đã có bài "Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ" (Văn nghệ, số 28 tháng 9/1959, "Dao có mài

mới sắc" có ý giải thích lại ý kiến "thơ Tố Hữu trước cách mạng, trên nét lớn tức là một sự

thoát thai từ phong trào "Thơ Mới" (từ 1932 trở đi) kết hợp với tinh thần, với tư tưởng cách

mạng vô sản do Đảng của giai cấp công nhân, làm cho một số ngƣời đã hiểu lầm và tranh

luận. Cách diễn đạt của

80

Xuân Diệu tỏ ra mềm mại, uyển chuyển hơn nhƣng vẫn dùng lý lẽ và thực tế để kiên quyết

bảo vệ ý kiến của mình về những giá trị của Thơ Mới, mối quan hệ giữa Từ ấy và Thơ Mới,

không đồng tình với những ý kiến giản đơn, qui kết, chụp mũ. Đặt vào hoàn cảnh ý thức phê

bình ở miền Bắc nƣớc ta đầu những năm sáu mƣơi mới thấy hết đƣợc bản lĩnh và thái độ

dũng cảm trung thực của Xuân Diệu.

"Bàn thêm với bạn", "Tâm tình cùng bạn đọc" nhƣ những lời giải bày của một nhà thơ

muốn nhà phê bình phái thấu hiểu thơ hơn nữa và cũng là khát vọng gửi gắm tấc lòng đến

công chúng bạn đọc. Những bài viết này của Xuân Diệu góp phần uốn nắn một phần không

khí phê bình nhiều khi máy móc dung tục, qui chiếu lý luận một cách cứng nhắc hồi bấy giờ.

Những bài khác nhƣ: "Mười lăm năm thơ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" (Lời nói đầu Tuyển

tập thơ Việt Nam 1945 - 1960). "Đọc một số ca dao kháng chiến của bộ đội", "Những bài

thơ được giải trong một cuộc thi" (Tổng kết cuộc thi thơ của tạp chí Văn nghệ năm 1961"),

"Những bài thơ thày giáo và nhà trường". "Đọc Á n h sáng và phù sa"... thể hiện đƣợc cách

cảm nhận, giới thiệu, phê bình rất tinh nhạy, kịp thời của Xuân Diệu, đồng thời cũng biểu lộ

nhiệt tình, sự quan tâm "thƣờng trực của Xuân Diệu đối với đời sống thơ ca dân tộc và nhân

loại.

2.1.3.5. "Đi trên dường lớn" ( Nhà xuất bản Văn học Hà Nội -4/1968

Tập hợp 15 bài bút ký và tiểu luận văn học. Với Xuân Diệu dƣờng nhƣ không có ranh

giới rõ rệt giữa văn phê bình và văn sáng tác, phê bình cũng là nghệ thuật, là văn học vậy.

Rạo rực cảm xúc tự hào của nhà thơ đƣợc "đi trên đƣờng lớn" của thời đại và dân tộc trong

những năm cả nƣớc đánh Mỹ là không khí bao trùm tập sách và cũng từ đó mà khơi nguồn

cho tác giả suy nghĩ về những vấn đề đặt ra cho thơ, cho cả vai trò trách nhiệm của ngƣời

nghệ sĩ. Xuân Diệu qui nạp những chất lƣợng cần thiết cho sự sáng tác vào hai trục chính :

một là cần sự già dặn của tƣ tƣởng , hai là cần cần trẻ trung về cảm xúc. "Đi trên đường lớn",

Xuân Diệu nghĩ đến quá trình của "những hồn thơ từ mất xương thịt của đời

81

sống đã nhờ Cách mạng hồi phục có lại xương thịt của đời sống, những hồn thơ mất máu đỏ

của cuộc đời đã trở lại hồng sắc mặt; những hồn thơ nói đến sự chết dở, "sống mòn" đã trở

về nói hành động, hoạt động, lao động, cải tạo thế giới" [37, tr 63]. Và còn hơn thế, cách

mạng "đã tạo ra trong nhân dân vĩ đại một công chúng lớn lao: có hằng hà sa số những

người yêu văn, yêu thơ khắp các nẻo đường đất nước, đó là những người chủ mới của văn

học, những Mạnh Thường Quân, những Chung Tử Kỳ của văn học" [38, Tr 61].

Bài tiểu luận dài hơn 40 trang đƣợc viết rất công phu : "Thơ với cuộc sống thơ và thực

tế không chỉ đánh dấu "hai giác ngộ lớn làm trục cho tâm trí nhà thơ là đấu tranh giai cấp và

vai trò của quần chúng mà còn là sự biểu hiện những nhận thức mới của Xuân Diệu - nhà phê

bình trong quan niệm vẻ đẹp của thơ khi nó gắn với cuộc sống và hàm chứa chất liệu hiện

thực.

Đặc biệt trong tập bút ký, tiểu luận này có bài "Cảm nghĩ đọc "Bất khuất" Đây là một

trƣờng hợp hiếm hoi Xuân Diệu viết về một tác phẩm văn xuôi, nhƣng cũng chứng tỏ sự có

mặt, góp tiếng nói tham gia vào không khí sôi nổi đọc tập hồi ký "Bất khuất" của đồng chí

Nguyễn Đức Thuận vào những năm cuối sáu mƣơi. Xuân Diệu nói lên những ấn tƣợng sâu

sắc của mình khi đọc tập hồi ký, quí trọng, yêu mến, đánh giá cao, nhƣng cũng uốn nắn lại

tình hình đọc sách lúc bấy giờ khi có cả một số nhà phê bình vì kính trọng ngƣời chiến sĩ mà

quá lời khen về giá trị nội dung và nghệ thuật của tập sách. Xuân Diệu "muốn để cho quyển

sách có thì giờ chao lên chao xuống trong tâm hồn như một chiếc thuyền mới hạ thủy cần có

một thì giờ ổn định trên sóng nước..." và đòi hỏi tác giả của nó khi tái bản cần chú ý thêm

tính tác phẩm của quyển sách hơn nữa để cho nó "khỏi gây nên cái vƣớng trong sự ƣa thích"

của ngƣời đọc. Suy nghĩ ấy nói lên ý thức thƣờng trực của Xuân Diệu trong việc coi trọng giá

trị thẩm mỹ của văn chƣơng, đồng thời cũng biểu hiện một thái độ phê bình trung thực.

2.1.3.6. "Và cây đời mãi mãi xanh tươi" (Nhà xuất bản Văn học - Hà Nội - 1971)

gồm 19 bài viết xen lẫn, hòa quyện giữa bút ký và phê bình tiểu luận văn học.

82

Ngày 2 tháng 9 năm 1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đƣờng đi vào cõi vĩnh hằng.

Xuân Diệu đã dành những tình cảm yêu thƣơng vô hạn để viết về thơ Bác và tình cảm của

dân tộc đối với Bác qua thơ: ("Yêu thơ Bác", "Tập thơ Bác Hồ", "Lòng Bác Hồ đối với liệt sĩ

và thương binh", "Bức chân dung Bác Hồ"..).

Xuân Diệu vẫn nhƣ "sự sống chẳng bao giờ chán nản", chăm chút theo dõi, cổ vũ

phong trào sáng tác thơ của các tầng lớp nhân dân: "Thơ bộ đội hành quân", "Thơ bộ đội

công binh mở đường Thống Nhất", "Tâm hồn người địa chất”… phát hiện và giới thiệu thơ

Trần Đăng Khoa: "Một em nhỏ làm thơ"; "Trò chuyện quanh một bài thơ Mưa của Huy Cận

để nói lên tâm tình, suy nghĩ của bạn và của chính mình. Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn

và đòi hỏi của một công chúng mới, Xuân Diệu mong muốn "Tiến lên những chặng đường

mới của sáng tác thơ và nhận xét phân tích một cách tinh tế, sâu sắc những bài thơ hay đƣợc

giải trong cuộc thi thơ 1969-1970, do tuần báo Văn nghệ tổ chức của các nhà thơ trẻ Phạm

Tiến Duật, Bế Kiến Quốc, Phan Thị Thanh Nhàn.

2.1.3.7. "Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy" (Nhà xuất bản Tác phẩm mới

- Hà Nội 1978) là một tập tiểu luận gồm 20 bài viết về thơ ca trong nƣớc và ngoài nƣớc với

nhiều thể loại, thể tài.

Bài mở đầu, lấy làm tên gọi chung cho cả tập sách đƣợc viết vào tháng 1 năm 1976,

một lần nữa nói lên những suy nghĩ tâm huyết của Xuân Diệu về văn, về nghề. Ông phân biệt

văn học với báo chí, văn học với triết lý; công việc của ngƣời phóng viên đƣa "lƣợng thông

tin" với công việc của nhà văn là "kỹ sƣ tâm hồn". Sự phân biệt ấy, nhƣ Xuân Diệu đã viết:

"thật ra, ai cũng đã biết rồi, tôi chỉ gọi là làm cho nhọn sắc thêm thôi" [42, tr 7]. Song, điều

đáng chú ý là ở chỗ, ngay vào thời điểm chúng ta vừa kháng chiến chống Mỹ đại thành công,

giành độc lập, tự do và hoàn toàn thống nhất Tổ quốc, Xuân Diệu đã sớm thấy đƣợc: "trong

hoàn cảnh ba mươi năm cách mạng long trời lở đất, các sự kiện dồn dập, phong phú, luôn

luôn nảy mới, chúng ta đã dùng nhiều loại "báo cáo văn học" [42, tr 8]. Sau khi dẫn lời văn

hào I-li-a Êrenbua nói về văn học Xô Viết thời

83

chiến tranh vệ quốc chống phát xít Đức, Xuân Diệu khẳng định: "Văn học của ta thời kỳ vừa

qua cũng vậy, nặng về báo cáo văn học", và cũng tự thấy trách nhiệm của chính mình:

“Trong đó có tôi; viết vế thực tế, mà muốn làm kỹ sư tàm hồn, thì lắm lúc đau óc quá, bèn

dịch dần sang "lượng thông tin" lúc nào không biết nữa" [42, tr8-9].

Phải chăng, đó cũng chính là ý nghĩ mà sau này Chế Lan Viên đã gửi lại trong Di cảo

thơ khi viết "Sử” về nền thơ dân tộc:

..."Ở đất nước ba tuổi đã rời nôi lên ngựa sắt

Tuổi trẻ chơi lau đã chơi trò đánh giặc

Kiếm làm cho rùa không thể yên thân trong cuộc sống thường

Thơ chỉ sống một phần cho mình còn ba phần cho nhiệm vụ

Nghĩ mà thương."

Chỉ có những nghệ sĩ hết lòng tâm đắc với nghề nghiệp, nhạy cảm với nhu cầu cấp

thiết cần đổi mới nền văn học nƣớc nhà khi lịch sử đã bƣớc sang một thời kỳ mới, thì mới

đau đáu một nỗi niềm nhơ vậy!

Trong "lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy" còn có những tiểu luận đƣợc viết

công phu mang tính tổng kết một giai đoạn, một phong trào sáng tác thơ ca, một chặng đƣờng

tích lũy tƣ liệu của tác giả: "Mười năm thơ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" (Lời mở dầu cho

Tuyển tập Thơ Việt Nam 1945-1960)-"Những bài thơ viết về bộ đội 1944-1974)" hầu nhƣ

Xuân Diệu không bỏ sót một tác giả tiêu biểu nào; "Sống với ca dao dân ca miền Nam Trung

bộ" v..v... Ngoài ra, Xuân Diệu còn có một số bài dựng chân dung văn học (Nhà thơ Tú Mỡ),

đề tựa cho các tập thơ trong nƣớc và ngoài nƣớc.

Có ngƣời cho rằng Xuân Diệu vẫn cứ tật "ham hố" thiếu chọn lọc nên chất lƣợng các

bài viết chƣa đều. Nhƣng thực ra, càng đọc kỹ mới càng thấy hết tầm vóc cảm xúc trí tuệ,

năng lực bao quát và sức sống xông xáo của ngòi bút phê bình Xuân Diệu.

84

2.1.3.8. "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" 2 tập (Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, tập I -

1981, tập II - 1982) thực sự là một công trình đồ sộ, một đóng góp lớn lao của nhà thơ Xuân

Diệu trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học cổ điển dân tộc. Qua tâm hồn, tài năng và

nghệ thuật phân tích, diễn đạt của Xuân Diệu, những giá trị tinh hoa của văn học truyền thống

từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hƣơng, Cao Bá Quát đến Nguyễn Khuyến, Trần Tế

Xƣơng, Nguyễn Đình Chiểu, Đào Tấn.... đều hiện lên vô cùng gần gũi, thân thiết với con

ngƣời hôm nay. Cùng với chân dung "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam", ngƣời đọc còn nhận ra

đƣợc chân dung của nhà thơ, nhà phê bình Xuân Diệu uyên bác, cần mẫn và rất mực tinh tế,

tài hoa mà chúng tôi sẽ dành nói ở các phần sau.

2.1.3.9. "Công việc làm thơ" (Nhà xuất bản Văn học - Hà Nội 1984) gồm 12 bài viết

đi sâu vào bản chất đặc trƣng của thơ và tiếp tục mạch trò chuyện về "công việc làm thơ" với

những ngƣời viết trẻ. Hàng loạt vấn đề từ "sự trong sáng của tiếng Việt trong thơ", "qui luật

sống và qui luật tác phẩm trong thơ", "sự giản dị và phong phú trong thơ" đến việc "tiếp

nhận ảnh hưởng thơ truyền thống" cách "tìm tứ cho một bài thơ" rồi "bàn về chất lượng của

thơ", "sự tương xứng của ngôn từ thơ" đều đƣợc Xuân Diệu giảng giải cặn kẽ bằng sự kết

hợp nhuần chín giữa lý luận và thực tiễn sáng tạo thi ca. Qua những bài tổng kết, đánh giá

của Xuân Diệu về các cuộc thi thơ, ngƣời đọc thấy đƣợc mối quan tâm thƣờng trực của ông

với nền thơ ca hiện đại nƣớc nhà. Có thể coi "Công việc làm thơ" nhƣ là một trong những tập

giáo trình của Xuân Diệu về nghề thơ mà suốt đời ông đã say mê và muốn truyền lại cho lớp

trẻ.

Bài tiểu luận cuối cùng "Sự uyên bác với việc làm thơ" (viết vào tháng 11 1985) mà

Xuân Diệu chƣa kịp đọc tại Hội nghị những ngƣời viết văn trẻ toàn quốc lần thứ ba (12/1985)

cũng nằm trong mạch trí tuệ và cảm xúc ấy.

*

* *

85

Nhƣ vậy là cùng với hệ thống tác phẩm thơ (từ thơ "lãng mạn" đến thơ cách mạng)

Xuân Diệu còn có một hệ thống tác phẩm phê bình, nghiên cứu, giới thiệu thơ không kém

phần đồ sộ, gắn liền với quá trình vận động và phát triển của nền thơ ca nƣớc ta trên con

đƣờng hiện đại hóa, cách mạng hóa suốt hơn nửa thế kỷ. Thơ vốn là thời sự tâm hồn của dân

tộc và thời đại. Vì vậy nội dung tƣ tƣởng và nghệ thuật trong văn phê bình của Xuân Diệu

cũng vô cùng phong phú. Theo cách "xâu chuỗi" vấn đề của Xuân Diệu, để tìm hiểu sâu hơn

đóng góp của ông ở lĩnh vực này, trong phạm vi giới hạn nghiên cứu của luận án, dƣới đây

chúng tôi sẽ tập trung phân tích những mảng phê bình (những đề tài) nổi bật nhất xuyên suốt

các trƣớc tác của ông để lại.

2.2. Những mảng đề tài nổi bật

2.2.1. Xuân Diệu với sáng tác thơ ca dân gian:

Khi nói về "Tiếp nhận ảnh hưởng của thơ truyền thống" Xuân Diệu đã có lần kể lại:

"Ngày nhỏ, khoảng 1930, tâm trí tôi nảy mầm làm thơ là này giữa văn mạch của dân

tộc lúc đó, tức là giữa các lối thơ, điệu thơ truyền thống đăng trên các báo, in trong các sách

đương thời... Thơ cổ điển, là nhà trường ngày trước dạy, còn thư dân gian phải tự học lấy.

Mãi đến sau Cách mạng Tháng Tám, vào kháng chiến, tôi mới biết học tập ca dao... Phải trải

qua một quá trình quần chúng hóa, mới thấm thía cái đẹp dân gian, cái hay ca dao" [51

tr101].

Nhƣ vậy, ý thức về phê bình, nghiên cứu sáng tác thơ ca quần chúng của nhà thơ hiện

đại, nhà phê bình Xuân Diệu đƣợc hình thành gắn với quá trình giác ngộ lý tƣởng mới và vai

trò quần chúng. Cũng từ đó sau sau Cách mạng tháng Tám trong các nƣớc tác tiểu luận - phê

bình của mình, Xuân Diệu đã dành gần hai mƣơi bài viết, công trình giới thiệu, tìm hiểu,

nghiên cứu về sáng tác thơ ca của quần chúng bao gồm ca dao dân ca truyền thống, và ca dao

hò vè của các tầng lớp nhân dân trong thời hiện đại. Xuân Diệu quan niệm: "Đối với việc giới

thiệu những sáng tác văn nghệ thuật dân gian, phần lớn, công việc nằm ở chỗ sưu tầm

86

và chọn lọc; đề dẫn là để thỉnh thoáng tôn thêm vị một phần nào" [35, tr [35,tr110]. Tuy

nhiên, tùy theo từng đối tƣợng cụ thể, ông lại có cách tiếp cận riêng.

Với ca dao, dân ca truyền thống đã từng đƣợc sàng lọc qua thời gian, Xuân Diệu coi

đó là "một thứ máu của Tổ quốc", là tiếng hát của tâm hồn dân tộc qua trƣờng kỳ lịch sử, ở

đó "như có đất, như có nước, như có cát, có biển, có mồ hôi người" và có cả "giọt nước mắt

tinh túy chắt ra từ ruột của non sông". Khi giới thiệu "Ca dao ở Việt Nam" ra nƣớc ngoài,

Xuân Diệu đã viết những dòng chứa chan cảm xúc và hình ảnh :

"Trong tâm trí tôi, ca dao lẫn lộn với với tiếng võng đưa kẽo kẹt buổi trưa hè, thấp

thoáng bóng lá dừa, tàu lá chuối; với những khói nấu cơm chiều bốc lên mái nhà tranh ; với

những đêm sâu con đóm lập lòe; với bóng trăng thanh mát rười rượi trên dòng sông nhỏ

chảy qua làng tôi - Ca dao quyện vào những hàng tre um tùm, với hình núi xa đứng tận chân

trời; ca dao là tình Yêu đất nước" [35, tr 227].

Bài tiểu luận "Sống với ca dao dân ca miền Nam Trung Bộ", dài gần sáu mƣơi trang,

đƣợc viết rất công phu, là kết quả chọn lọc sƣu tầm hơn ba mƣơi năm trời (1930-1963) với tất

cả niềm cảm xúc đầy rẫy của Xuân Diệu. Sau khi nêu nhận xét không khí chung, tình cảm

chung hơi thở chung của ca dao dân ca miền Nam Trung Bộ, điểm lại những câu ca dao về

hoàn cảnh xã hội, ca dao tình yêu, Xuân Diệu đã dành hẳn phần cuối để phân biệt ca dao

miền Nam Trung Bộ với ca dao các miền khác? Tất nhiên đây không phải là công việc dễ

dàng, Xuân Diệu cũng ý thức đƣợc vấn đề này rất tinh tế và phức tạp; nhƣng ông vẫn cố gắng

tìm cho ra, mặc dù có thể mắc nhầm lẫn vì các miền đã giao lƣu trao đổi ca dao cho nhau.

Với Xuân Diệu ca dao Nam Trung Bộ, "có một cái gì rất độc đáo trong chất thơ, trong chất

sống, chất tình ở đây", rồi từ đó bằng vốn ca dao phong phú, ông đi vào dẫn chứng và nêu ra

những nhận xét so sánh cụ thể: "Ca dao ân tình Bắc Bộ nói chung hơi thở đã thật trau chuốt"

"tuy nhiên trong cái trau chuốt, nhiều khi xảy ra cái khuôn sáo". Những câu hò mái nhì, mái

đẩy ở

87

Bình Trị Thiên đem thêm vào cái vốn ca dao dân tộc một hơi mới... Lời hò ở đây nặng về

xinh hơn là về đẹp, có duyên, rất có duyên, song "văn ca dao ở Bình Trị Thiên còn để lươm

nhươm, chứ không tước bớt quá chặt chẽ như văn ca dao Bắc Bộ. Vào đến Nam Trung Bộ

(Nam, Ngãi, Bình, Phú..), theo Xuân Diệu, chất sống, trong ca dao ở đây "thật là xông xáo",

bắt đầu cái "máu miền Nam", dễ nóng, dễ sôi, ngƣời ta dám nói thật hơn điều cảm nghĩ, nói

thẳng hơn, nói bộc toạc hơn"... [42, tr 211]. Do trữ tình cao độ, nỗi đau cũng xé ra, nên hò

Nam Ngãi, Bình Phú, "nhạc tự do hơn, bài tha hồ ngắn dài" - Xuân Diệu dẫn, rồi bình chú

một cách say mê nhƣ là đang là nói chuyện thơ trƣớc công chúng vậy.

Nhà thơ Chế Lan Viên khi đọc tập "Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy" đã

nhận xét bài viết về ca dao miền Nam Trung Bộ, có nhiều nhiệt tình, nhiều khám phá, song

phần đặc điểm các miền hơi tán [159, tr 233]. Nhƣng, phải nói rằng ý thức so sánh phân biệt

nhƣ Xuân Diệu đã làm là hết sức cần thiết và rất có ý nghĩa, nhất là hiện nay khi tìm hiểu đặc

trƣng bản sắc văn hóa dân tộc, giới văn hóa học đã và đang không quên chú ý đến văn hóa

vùng. Phải chăng, những ý kiến của Xuân Diệu cũng góp thêm những gợi mở bổ ích.

Say mê với ca dao tình yêu, Xuân Diệu chỉ ra vị trí không, thể thay thế đƣợc của văn

học dân gian trong đời sống dân tộc:

"Chao ôi! cái xã hội Á đông Việt Nam cũ kéo dài phong kiến chưa qua cách mạng tư

sản dân quyền, ấm ách mãi không bùng nổ nổi một thời kỳ Phục Hưng như ở Châu Âu; văn

chương chính thống làm như là con người không có thân thể, không có thể xác, rất giả đạo

đức; vì vậy mà văn học bình dân dưới thời phong kiến đã dóng góp vai trò, làm cái nhiệm vụ

bổ sung cho văn học chính đương thời; trong thời cũ, có những mảng tâm hồn mà nếu văn

học bình dân không nói ra, thì chẳng có thứ văn học nào nói tới" [44 tr 45].

*

* *

88

Với phong trào sáng tác thơ ca, hò vè của quần chúng sau Cách mạng tháng Tám, nhƣ

phần trên đã nói, từ 1947, phụ trách mục "Tiếng thơ" của Đài Tiếng nói Việt Nam, và sau đó

mục "Tiếng thơ" trên Tạp chí Văn nghệ, Xuân Diệu là ngƣời thƣờng xuyên chăm chút thâu

lƣợm chọn lọc, giới thiệu. Ít có, hiếm có một nhà thơ chuyên nghiệp lừng danh nào trong nền

thơ hiện đại nƣớc ta, lại chịu khó làm một công việc "đãi cát tìm vàng" dầu dãi hàng chục

năm trời nhƣ Xuân Diệu. Có lẽ, niềm say mê ấy trƣớc hết bắt nguồn từ bản chất của một hồn

thơ vốn rộng mở: "đây là quán tha hồ muôn khách đến, đây là bình thu hợp trí muôn

phương", một hồn thơ luôn "mời yêu" và tự ví mình "là một cây kim bé nhỏ mà vạn vật là

muôn đá nam châm". Nhƣng không thể không nói đến, sức mạnh lay chuyển vô cùng lớn lao

của biển cả nhân dân khi hồn thơ ấy đƣợc tắm mình.

Cả một dân tộc "Giũ bùn đứng dậy sáng lòa" (Nguyễn Đình Thi) không chỉ đánh giặc

bằng súng, bằng gƣơm mà cả bằng thơ ca. Cả không khí âm vang "tiếng thơ" ấy đã dội vào

những tiểu luận phê bình của Xuân Diệu. Đó là tinh thần của đại chúng. Với Xuân Diệu, cổ

vũ cho tinh thần ấy là cổ vũ cho sức mạnh của tình cảm yêu nƣớc, ý chí chiến đấu diệt thù, là

biểu hiện ý thức trách nhiệm công của ngƣời nghệ sĩ. Mặt khác, với lớp "nhà thơ cũ" nhƣ

Xuân Diệu, đến với sáng tác của quần chúng, cũng là "đi tìm học cái chất thơ mới, cái tâm

hồn mới ở lớp người mới lớp người mới", vì ở đó có "hơi người, điện người, mồ hôi xương

máu người "trong những thành tựu của nó là có cá "lãng mạn cách mạng", hiện thực chân

thật, là gang thép làm xƣơng sống cho tâm hồn.

Trƣớc một đối tƣợng nhƣ thế, cảm hứng phê bình của Xuân Diệu thiên về phía tìm

học, tìm hiểu, phát hiện và biểu dƣơng cũng là lẽ thƣờng tình. Tuy nhiên, nhƣ vậy không có

nghĩa là Xuân Diệu không thấy đƣợc những hạn chế của phong trào. Ông thẳng thắn nhận

xét:

"Rất nhiều bài ca dao... còn gần với khẩu hiệu, hô hào, thiếu tình cảm, và như thế thì

khi một phong trào cụ thể qua đi, người ta sẽ không còn nhớ ca dao

89

tuyên truyền nữa; ông đòi hỏi: "về phương diện sáng tác văn chương, thì cái văn chương nói,

hát phải tiến lên cho bằng cái văn chương viết, in có nghĩa là những ca vè của đại chúng

phải tiến lên đến chỗ chỉnh tề và toàn bích". Vì thế các nhà thơ chuyên nghiệp muốn khẳng

định mình thì trên cái nền ấy, cần phải vƣợt cao lên; phải tìm cách thế nào nâng cao chất

lƣợng sáng tác mà vẫn không tách lìa với đa số ngƣời đọc. Ý thức phê bình ấy của Xuân Diệu

là sự thể hiện quán triệt phƣơng châm "phổ cập và nâng cao" của văn nghệ ta hồi bấy giờ và

ảnh hƣởng rất lớn đến thơ Xuân Diệu sau Cách mạng.

2.2.2. Xuân Diệu với gia tài văn học cổ điển dân tộc:

Xuân Diệu tiếp cận gia tài văn học này với một ý thức "để biết quá khứ mà lo liệu cho

tƣơng lai" [59, tr 40], đồng thời cũng nhƣ một nhu cầu giải tỏa nội tâm:

"Ôi! Tôi xin vui lòng nhận lấy lời trách mắng là "cô đơn", nếu bởi vì tôi hay cô đơn

mà có ý thức đi tìm bè bạn trong thơ xưa, nay rồi trở nên đông vui giàu có" [150, tr 152].

Ông yêu cầu mọi ngƣời và cũng tự nhắc mình phải luôn nắm vững quan điểm lịch sử,

"không được lấc cấc tự phụ, nện giày cồm cộp trong đền thơ người xưa", "cần trân trọng

tránh rơi vào cái chủ quan của chúng ta hiện nay" "cố gắng phát huy cái gia tài văn học và

tinh thần của cha ông để lại, một gia tài cha ông phải nhen nhúm, dựng xây và bảo vệ rất

gian khổ, trải bao lận đận, chìm nổi, mất mát mới đến chúng ta ngày nay"... "phải đặt tâm trí

mình vào cái thời đại, cái hoàn cảnh lịch sử cụ thể để mà thấu cảm các nhân vật ngày xưa;

không nên chịt vào những câu văn cắt rời, rất dễ lên tay xuống ngón để tố tụng" [43, tr 34].

Xuân Diệu nêu cao thái độ đối với vốn cũ văn hóa dân tộc là "gạn đục khơi trong", là tìm

hiểu thật sâu sắc.

Với niềm tâm huyết ấy, Xuân Diệu đã dành thời gian và công sức, gần trọn ba mƣơi

năm, chọn lọc, giải, ngợi ca những tinh hoa văn học cổ điển nƣớc nhà.

90

2.2.2.1. Xuân Diệu với Nguyễn Trãi:

Là bậc đại anh hùng dân tộc, ngƣời đã cùng Lê Lợi làm nên sự nghiệp bình Minh

giành độc lập cho đất nƣớc, Nguyễn Trãi còn là một nhân vật toàn tài hiếm có trong lịch sử

Việt Nam thời phong kiến. Thế giới đã tổ chức kỷ niệm danh nhân Nguyễn Trãi, nhiều công

trình nghiên cứu, nhiều tác phẩm đã viết về cuộc đời và sự nghiệp của ông; Xuân Diệu khi

tiếp cận Nguyễn Trãi đã tự xác định cho mình chỉ đóng khung lại trong phạm trù nhà thơ lớn,

"nghĩa là lớn trong thơ, qua thơ thấy cái lớn của Nguyễn Trãi với tư cách là một thi sĩ" ở

trong bảo tàng văn học, còn trong bảo tàng lịch sử, trên đài lịch sử, lại là một phạm trù khác

nữa" [43, tr 9].

Từ tháng 7/1957, sau khi chúng ta vừa tìm lại đƣợc "Quốc âm thi tập", theo nhà phê

bình Hoài Thanh, thì Xuân Diệu là ngƣời đầu tiên đã viết bài bình thơ nôm Nguyễn Trãi.

Trƣớc sự nghiệp văn học đồ sộ của Nguyễn Trãi, Xuân Diệu luôn ý thức rằng, muốn cho

công bằng, công minh phải đọc và giới thiệu toàn bộ các tác phẩm của Ngƣời; bởi lẽ mỗi tác

phẩm đều có một vị trí và tầm vóc riêng của nó. Chẳng hạn, với "Quân trung từ mệnh tập",

"quan thừa chỉ Nguyễn Trãi đã phụng mệnh Bình Định Vương, viết bằng chữ Hán, trước sau

hàng chục bức thư đưa vào thành giặc, đủ giọng cứng mềm, cởi buộc đủ các lẽ, mỗi hàng

chữ hiệu lực không kém một đội quân" [41, tr 24]; với Bình Ngô đại cáo, một áng thiên cổ

hùng văn, "sảng khoái lên tới tột đỉnh" có những câu nhƣ đổ một trái núi xuống đầu thù, "văn

mạch liền nhau" "đoạn nào cũng đáng cho ta trích" "chỉ mới đọc lên nghe bằng lỗ tai mà có

cảm giác như văn đã khắc vào đá, chữ đã đúc trong đồng"... Xuân Diệu cũng không quên

dẫn lời nhiều ngƣời xƣa, nay từng ngợi ca công đức Nguyễn Trãi; nhƣng, tất cả, tất cả cái nền

trí tuệ và cảm xúc ấy dƣờng nhƣ để góp phần cho Xuân Diệu dồn "mắt xanh" đọc Quốc âm

thi tập và "chỉ biết thu hẹp chung quanh Quốc âm thi tập mà thôi". “Điểm huyệt" nhƣ vậy, vì

Xuân Diệu xác định "Quốc âm thi tập là một bổ sung rất quan trọng vào các tác phẩm khác

của Nguyễn Trãi viết bằng chữ nho. Đó là "tập

91

thơ đầu tiên bằng tiếng mẹ đẻ của ta, cổ nhất, chính xác nhất còn lại trong văn học Việt Nam

ta". Cùng với 105 bài thơ chữ Hán (Ức Trai thi tập), 254 bài thơ chữ nôm này "nó góp phần

trọng yếu để cho ta thấy con người tình cảm trong Nguyễn Trãi".

Mƣợn cách nói của hoàng đế Na-pô-lê-on đệ nhất, khi lần đầu tiêp gặp thi hào Gớt-te

(Goethe): "Gớt-tơ tiên sinh! Tiên sinh là một con người", Xuân Diệu cho rằng, qua Quốc âm

thi tập, chúng ta có đủ yếu tố để nói: "bậc vĩ nhân, người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi cũng

là "một con người", đó lời khen cao nhất. Và Nguyễn Trãi xứng đáng là một nhà thơ trọn vẹn

nhà thơ mở đầu cho nền thơ cổ điển Việt Nam" [44, tr 74].

Xuất phát từ triết lý phê bình giàu tính nhân văn và nhân bản ấy, những trang viết hay

nhất và cũng là những đóng góp đặc sắc nhất của Xuân Diệu khi đọc Quốc âm thi tập chính

là sự đi sâu tìm hiểu, khám phá vẻ đẹp của tài thơ Nguyễn Trãi, vẻ đẹp tâm hồn của một bậc

vĩ nhân nhưng vẫn là con người "trần thế nhất trần gian" này.

Từ đó, so sánh nhƣng bài có sự lẫn lộn giữa thơ Nguyễn Trãi và thơ Nguyễn Bỉnh

Khiêm, Xuân Diệu đã chứng minh một cách khá thuyết phục tài thơ Ức Trai và đi đến nhận

xét: "Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà đạo đức làm thơ, Nguyễn Trãi chính cống là một tâm

hồn thi sĩ". Riêng điều ấy đã chứng tỏ "Nguyễn Trãi hai lần bản lĩnh, hai lần vĩ đại", bởi vì

nhà tƣ tƣởng lớn Nguyễn Trãi, nhà hành động lớn Nguyễn Trãi đã không bóp chẹt nhà thơ

trong bản thân mình. Khi thơ Nguyễn Trãi đã hay, thì đúng là cái hay của thơ Nguyễn Trãi

chứ không của ai khác, bản lĩnh vô hạn, đáng kính trọng và yêu mến vô hạn.

Có những bài thơ của Nguyễn Trãi, trên hình thức không có hoa văn gì đặc biệt,

không có trang sức gì để làm cho ngƣời ta chú ý, nhƣng tất cả bản lĩnh, trí tuệ lại nằm ở bên

trong, đọc lên cứ nhƣ hiển hiện một dáng đi một thế đứng, một tầm nhìn và cả một nỗi niềm

chứa chan thế sự: "Đủng đỉnh chiều hôm dắt tay / Trong thế giới phút chim bay/ Non cao non

thấp mây thuộc/ Cây cứng cây mềm

92

gió hay / Nước mấy trăm thu còn vậy/ Nguyệt bao nhiêu kiếp nhẫn này / Ngoài chưng mọi

chốn đều thông hết / Bui một lòng người cực hiểm thay".

Xuân Diệu đã dẫn ngƣời đọc vào vƣờn thơ Ức Trai bằng cách vén dần lớp bụi thời

gian, lại đi lật lại từng từ, vừa giải nghĩa cặn kẽ, vừa tắm nó vào trong thế giới cảm xúc.

Trƣớc bài thơ "Tùng" của Nguyễn Trãi: "Thu đến cây nào chẳng lạ lùng / Một mình lạt thuở

ba đông" qua ngọn bút Xuân Diệu trở nên gần gũi: "mùa thu, cây nào cũng thành ra lạ, ra

khác đi, lá vàng ra, bắt đầu rụng, từ những cành rậm rạp trở thành ra cành trơ xƣơng; ngƣời ta

nhìn cây lạ hẳn đi, thành ra: cây lạ lùng. Trong khi đó thì một mình cây tùng là vẫn xanh tốt,

coi lạt lẽo, coi thƣờng, làm cho cái rét của ba tháng mùa đông cũng lạt đi, thành ra: lạt ba

đông" [43, tr 54].

Nguyễn Trãi có lần: "dửng dưng ca" khi "ngâm được câu thần" Xuân Diệu chỉ rõ

những câu thơ thần ấy chính là những câu nói về chí khí, tâm huyết và tình yêu tạo vật thiên

nhiên trong thơ Nguyễn Trãi. Tâm trí Ức Trai là điển hình cao cả nhất, toàn vẹn nhất về lòng

ƣu ái, ƣu quốc, ái dân:

..."Bui một tấm lòng ưu ái cũ

Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông "

..."Lòng một tấc son còn nhớ chúa

Tóc hai phần bạc bởi thương thu.."

..."Bui có một lòng trung với hiếu

Mài chẳng khuyết, nhuộm chẳng đen"

Ông viết: "ý trong những câu thơ trên không có gì lạ, nhưng "tình trong thơ thì sáu

trăm năm sau, người đọc còn phải ứa nước mắt".

Xuân Diệu cũng rất hiểu với những ngƣời nghệ sĩ lớn, trong đời sống bình thƣờng và

nhất là những khi gặp nghịch cảnh, lúc phải trở về với chính mình, đối diện với lòng mình họ

thƣờng tìm đến với thiên nhiên. Nguyễn Trãi của chúng ta

93

cũng không nằm ngoài qui luật ấy. Sau khi cùng Lê Lợi dẹp giặc Minh, cho dù không nguôi

"đạo làm con mấy đạo làm tôi", nhƣng trƣớc cảnh ngang trái của triều đình, Nguyễn Trãi đã

phải tự bảo mình "lưng không uốn, lộc nên từ" và quyết định "rũ bụi lầm" về ẩn dật ở Côn

Sơn, về với ngƣời bạn lớn thiên nhiên. Trong lịch sử Việt Nam dƣới thời phong kiến, ai tầm

cỡ nhƣ Nguyễn Trãi, hăm hở giúp nƣớc lo đời nhƣ Nguyễn Trãi mà lại rơi vào tình cảnh oái

oăm, đớn đau nhƣ Nguyễn Trãi; có lẽ vì vậy mà "trong thơ Việt Nam, chưa có một nhà thơ

nào yêu mến thắm thiết đất nước thiên nhiên cho bằng Nguyễn Trãi" [43, tr 32].

Xuân Diệu cắt nghĩa, tình yêu thiên nhiên ấy vừa bắt nguồn từ truyền thống nghệ

thuật cổ điển Á Đông, vừa là một hiện tƣợng đặc biệt do bản tính và cũng do tình thế, hoàn

cảnh của Nguyễn Trãi. Qua đó Xuân Diệu nhận ra một bản lĩnh Ức Trai thật đa dạng, thật

phong phú "vào bậc nhất giữa các vĩ nhân của dân tộc và các thi sĩ của dân tộc" [41, tr 24].

Thực ra, những suy nghĩ và nhận định trên đây cũng không có gì mới. Trƣớc Xuân

Diệu, cùng với Xuân Diệu, giới phê bình nghiên cứu về Nguyễn Trãi nhiều ngƣời cũng đã đề

cập, ngƣỡng mộ, ngợi ca. Có điều, với Quốc âm thi tập thì Xuân Diệu là một trong những

ngƣời tìm hiểu sớm nhất và sâu sắc nhất trong nền phê bình hiện đại, đồng thời qua cách diễn

đạt của mình.Xuân Diệu đã làm cho thơ Ức Trai, dù dã cách xa hơn sáu thế kỷ vẫn trở nên

gần gũi với ngƣời đọc. Những cảnh "nước biếc non xanh", "cây rợp tán che" "hồ thanh

nguyệt hiện", "hoa liễu trong chiều", "đào xuân trước gió"... đã từng "lai láng lòng thơ‖

Nguyễn Trãi, dƣờng nhƣ một lần nữa mới mẻ hiện lên qua từng trang văn của Xuân Diệu với

biết bao bồi hồi, xúc động. Tâm hồn Ức Trai vừa rất cứng cỏi, vừa rất mềm mại. Dù "canh

cánh" bên lòng bao niềm ƣu ái, cõi văn hóa, nghệ thuật vẫn là xứ sở của tâm trí Ức Trai. Vừa

là một vĩ nhân cũng vừa là một thƣờng nhân, Nguyễn Trãi là một con ngƣời cụ thể, do bố mẹ

cụ thể ông bà cụ thể sinh ra có cá tính bẩm sinh cụ thể. Chính khía cạnh thông thƣờng ấy

càng làm tăng thêm giá trị con ngƣời khác thƣờng. Càng đi sâu vào Quốc âm thi tập, những

giá

94

trị nhân bản ấy của tập thơ, của chân dung tâm hồn Nguyễn Trãi qua ngòi bút Xuân Diệu

ngƣời đọc dƣợc cảm nhận vô cùng tinh tế, sâu sắc.

Đặc biệt, lúc bấy giờ trƣớc luồng ý kiến muốn hạ thấp thơ Nguyễn Trãi vì "thơ

Nguyên Trãi buồn", xuất phát từ sự thấu hiểu cuộc đời, sự nghiệp Nguyễn Trãi và niềm cảm

thông vô hạn trƣớc nỗi đau của một bậc vĩ nhân bị đẩy vào tình cảnh "còn một non xanh là cố

nhân" khi bọn gian thần thắng thế, Xuân Diệu đã lập luận đầy sức thuyết phục để bênh vực

cho quyền đƣợc buồn của con ngƣời và thẳng thắn trao đổi một vấn đề học thuật: thái độ đối

với cái buồn trong văn học cũ trƣớc cách mạng. Xuân Diệu viết: "Đọc văn học cũ, của các xã

hội có giai cấp, trên toàn Trái Đất, mà không hiểu cái buồn, là không hiểu gì sất cả" [43, tr

84]. Nhìn vào nỗi buồn Nguyễn Trãi bao lần "khắc khoải thuở trăng" bao lần thao thức "một

bóng lan can tựa, trăng sáng như băng trời biếc treo" trong đời và trong thơ, Xuân Diệu gọi

đó là "cái buồn hùng tráng", "cái buồn bi tráng". Từ đó, Xuân Diệu đã có một phát hiện bất

ngờ về Nguyễn Trãi:

"Cái ngòi bút như đang xông pha tung hoành giữa vạn mũi tên, ngàn viên đạn của

Bình Ngô đại cáo, lại có một hào sảng khác, trong bài Côn sơn ca, cái hào sảng của một đại

trí dám đứng lên trên muôn thứ gọi là vinh hoa phú quí để mà ngạo nghễ với cái chân giá trị

của một con người; từ trước tới nay, ít người chú ý đầy đủ đến cái hơi văn mạnh mẽ như

"cơn gió to trút sạch lá khô" của Côn Sơn ca"... Ngòi bút "đã viết được "Bình ngô đại cáo",

còn viết Côn sơn ca, thì còn viết được tiếng lòng của mình, đa dạng như sự sống, đa dạng

như nước, nước có thể làm biển, cũng có thể làm một hạt sương cỏn con lóng lánh năm sắc

cầu vồng... Bên cạnh cái chí khí, một yếu tố quan trọng góp phần làm nên cái hay, cái tinh

thần nhân đạo, cái sâu sắc, cái hấp dẫn của thơ Nguyễn Trãi, là cái buồn có tầm vóc cao lớn

trong thơ ấy "[43, tr 87].

Vậy là Nguyễn Trãi cũng vui buồn, sƣớng khổ, giận, ghét yêu mến nhƣ mọi ngƣời.

Nguyễn Trãi dù ở đâu làm gì cũng không nguôi nhớ về quê cũ cũng gắn bó với công việc

đồng áng nhà nông, cũng "ao cạn vớt bèo cấy muống, Trời

95

thanh phát cỏ ương sen". Có lẽ, khác với bất kỳ nhà phê bình nào, qua cách dựng chân dung

của ngòi bút Xuân Diệu, chúng ta có một Nguyễn Trãi vô cùng kính yêu và gần gũi; gần gũi

tới mức nhƣ Xuân Diệu nói "đọc thơ ông mà tức cười một cách kính trọng", ta tìm ở nhà thi

sĩ một ngƣời bạn, với thi sĩ chúng ta có thể quàng vai, quí nể nhƣng nhất định không sợ hãi,

dù chỉ là e ngại cũng không. "Nguyễn Trãi vĩ nhân là nhà thơ kiểu ấy; thi sĩ có thể an ủi ta và

ta cũng có thể an ủi thi sĩ".

Không phải ngẫu nhiên mà Xuân Diệu nói đi rồi bình lại rất kỹ bài thơ "Ba tiêu" (Cây

chuối). Phải chăng, ở đây nhà thơ hiện đại đã bất gặp tâm hồn đồng điệu trẻ trung với chất

"xuân tình" trong hồn thơ Nguyễn Trãi. Phải có một khả năng cảm hiểu, một bút lực tự tin

đến chừng nào, nhà phê bình Xuân Diệu mới có thể viết về một bậc vĩ nhân với giọng thân

mật, thậm chí có khi còn "suồng sã" mà ngƣời đọc vẫn chấp nhận. Nhớ lại giai thoại về

Nguyễn Trãi và cô bán chiếu, Xuân Diệu cho rằng: "mặc dù không lấy chi làm bằng chứng

rằng có thật , vẫn cứ có duyên, vẫn là việc tán gái từ cổ truyền lại cho đến kim, đặt Nguyễn

Trãi cùng vai vế với tất cả thanh niên xưa và nay, điều này chỉ có lợi cho Nguyễn Trãi thôi"

[41, tr 45]. Đúng là giọng văn của Xuân Diệu chứ không là của ai khác!

Tóm lại, qua "Đọc Quốc âm thi tập", Xuân Diệu không chỉ làm cho ngƣời đọc cảm

thấu vị trí, giá trị của tập thơ trong nền thơ dân tộc mà còn làm nổi bật đƣợc chân dung tâm

hồn, khí phách và phong thái của Nguyễn Trãi. Cho đến nay đã có nhiều bài viết về thơ Ức

Trai nhƣng phải nói rằng ít ai viết kỹ viết hay nhƣ vậy. Thật là: "Nước chảy âu khôn xiết

bóng non".

2.2.2.2. Xuân Diệu với đại thi hào dân tộc Nguyễn Du

Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều là niềm tự hào của văn học dân tộc và nhân loại.

Trong các nhà thơ cỏ điển Việt Nam, nhà thơ nào Xuân Diệu cũng quí trọng, yêu mến, nhƣng

chỉ khi nói về Nguyễn Du, ông mới dùng đến cách gọi "thiên tài của loài người", "nghệ sĩ lớn

mang trái tim của thời đại" Với bản tính của mình, mỗi lần "đọc lại Truyện Kiều", bao giờ

Xuân Diệu cũng thấy "Nguyễn

96

Du mới quá, trẻ quá,… tuyệt nhiên chưa hề có một nét nhăn nào, một chút bụi thời gian nào

in được trên thiên tài Nguyền Du"; thiên tài đó vẫn cứ "hải đường mơn mởn cành tơ", vẫn cứ

"giọt sương chĩu nặng cành xuân la đà", vẫn cứ "bóng trăng đã xế hoa lê lại gần", vẫn cứ

huyễn diệu chúng ta, làm chúng ta mê say nhƣ điếu đổ!". Và đƣờng nhƣ không nén đƣợc cảm

xúc: "Mỗi lần nói đến, chúng ta lại cứ như người hăng, bốc, chưa kể câu chuyện cho người

nghe đã vội phải khen trước là "hay quá", "hay quá" là tuyệt trần" [43, tr 115]. Nhƣng

"hăng", "bốc", say mê là một chuyện, còn để có chỗ đứng thực sự trong giới phê bình trƣớc

một tác giả, tác phẩm đã từng lôi cuốn biết bao thế hệ cầm bút, thì quả không dễ dàng chút

nào!

Trƣớc hết, qua những trang tiểu luận - phê bình của Xuân Diệu chúng ta có thể thấy

đƣợc niềm đồng cảm sâu xa của một nhà thơ lớn thời hiện đại với "nỗi đau đớn lòng" của thi

hào dân tộc Nguyễn Du về "những điều trông thấy" trong "cõi người ta", về số phận con

ngƣời trong xã hội cũ.

Nhiều nhà phê bình, nghiên cứu đã đánh giá cao giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo

của Truyện Kiều. Hoài Thanh cũng đã nói: Truyện Kiều là "một tiếng kêu thƣơng". Với Xuân

Diệu, Truyện Kiều là "tiếng khóc vĩ đại" và cũng là "một tiếng căm hờn vĩ đại": "Biết khóc,

khóc to, khóc lớn, là vạch ra những mâu thuẫn không giải quyết được của xã hội phong kiến;

khóc rung chuyển cả cả muôn lòng người, khóc đến nỗi mây sầu gió thảm, trời đất cũng

không thể đứng yên , là muốn đập vào cửa trời, bắt phải trả lời về số phận con người tại sao

khổ sở đến cùng cực như vậy" [43, Tr 119]. Dƣới ngòi bút Nguyễn Du, cuộc đời cô - đĩ - hai -

lần Vƣơng Thúy Kiều là một bản cáo trạng đanh thép, trong một xã hội vô đạo, thì những

trung hiếu, tiết, nghĩa, những tài năng, những giá trị đẹp đẽ nhất lại nằm chính ngay ở những

ngƣời bị coi là cặn bã của xã hội, những con đĩ, những ngƣời đầy tớ, những kẻ làm "giặc".

Xuân Diệu chỉ ra rằng, bằng cách đảo ngƣợc bậc thang giá trị, Nguyễn Du đã thóa mạ tất cả

bọn vua quan, và Đoạn trường tân thanh có sức mãnh liệt gợi xót thƣơng và gây căm hờn.

Đứng trƣớc cái đau khổ kéo dài hàng nghìn năm của hàng triệu con ngƣời, Nguyễn Du không

thể coi là

97

chuyện ngoài mình, mà cũng nhƣ nàng Kiều, Nguyễn Du đem vận vào thân, đến nỗi đau nặng

không chịu uống thuốc, chết không thèm trăng trối. Lòng của Nguyễn Du trong Truyện Kiều,

trăm lần đứt đoạn, thấy rõ trong những câu thơ nghiền nát:

Dở dang nào có hay gì

Đã tu - tu trót - qua thì - thì thôi.

Hòa cùng nỗi xót thƣơng và căm uất của Nguyễn Du mà Xuân Diệu đã có phát hiện

bất ngờ về cảnh đoàn viên ở cuối truyện Kiều.

Xƣa nay đã có nhiều ý kiến khác nhau về tình tiết này. Không ít ngƣời cho là gƣợng

gạo, có ngƣời thì cho rằng cứ để Kiểu trẫm mình ở sông Tiền Đƣờng xong là kết thúc tác

phẩm, có ngƣời chỉ nhìn đơn giản nhƣ là cách kết thúc "có hậu" thƣờng gặp trong truyện dân

gian, Xuân Diệu thấy không có gì nên phản đối sự sum họp này; đồng thời Xuân Diệu đã đối

sánh với Thanh Tâm tài nhân để thấy dƣợc trên nguyên cốt truyện, Nguyễn Du đã sáng tạo

thêm rất lớn, đã làm thành bản cáo trạng cuối cùng trong Truyện Kiều. Xuân Diệu viết, trái

tim Nguyễn Du không bằng lòng với vài nét nhƣ Thanh Tâm tài nhân, mà mỗi đoạn, mỗi ý

"run bần bật lên", trong mỗi lời là có mƣời lăm năm đau khổ; trong cả chƣơng Kim - Kiều tái

hợp, trong lời ngoài lời đâu đâu cũng có cái khối đau đớn mƣời lăm ấy:

Nàng rằng: chút phận hoa rơi

Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay

Tính rằng mặt nước chân mây

Lòng nào còn tưởng có này nữa không?

Xuân Diệu lắng nghe trong hoàn cảnh đoàn viên tái hợp nỗi lòng đau đớn và thƣơng

xót của Nguyễn Du và cảm nhận rằng: Ai có ngờ chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc và văn tài

Nguyễn Du đã mở ra một chân trời văn chương dào dạt ở cái nơi mà người ta không ngờ

đến; Nguyễn Du đã sử dụng triệt để cuộc đoàn viên, để tính sổ một lần cuối cùng - bản cáo

trạng bất ngờ thật ra nằm rõ mồn một trong

98

chương đoàn viên này!... Nguyễn Du không đọc cáo trạng bằng lý thuyết, bình luận, mà đưa

ra một cáo trạng bằng xương thịt, bằng máu của tâm hồn: Đây là nạn nhân còn sống sót của

mười lăm năm chúng bay!" [43, tr 216].

Niềm say mê bất tận kết hợp với kiến thức, vốn sống và sức suy nghĩ giàu có, Xuân

Diệu cứ qua mỗi lần đọc lại Nguyễn Du và Truyện Kiều đều đánh thức đƣợc ở ngƣời đọc

những cảm nhận tinh tế, sâu sắc. "Khi Nguyễn Du "Thác lời anh trai phường nón", rồi "từ

anh trai phường nón đến Thúy Kiều" Xuân Diệu đã thống kê những chữ "mình" trong văn

học nƣớc ta trƣớc và sau Nguyễn Du (qua Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, "Sơ

kính tân trang" của Phạm Thái, thơ Hồ Xuân Hƣơng, truyện nôm "Hoa tiên" của Nguyễn

Huy Tự, rồi cả "một mảnh tình riêng ta với ta" trong thơ bà huyện Thanh Quan, trong "Tự

tình khúc" của Cao Bá Nhạ...) để chứng minh chỉ có Nguyễn Du, trong Truyện Kiều, "là nơi

đặt vấn đề chữ "mình" một cách tập trung hơn cả, một cách gay gắt, điển hình, một cách da

diết, u uất giận tức" hơn cả. Xuân Diệu cho rằng, không biết Nguyễn Du đã tự giác đƣợc vấn

đề đến mức nào? Nhƣng theo cách hiểu triết học của chúng ta ngày nay thì đó là vấn đề "con

người cá nhân" vấn đề quyền sống và quyền hạnh phúc của mỗi con ngƣời, vấn đề in-di-vi-

du trong xã hội phong kiến mà Nguyễn Du cách đây hai trăm năm, bằng cảm quan nhân văn

chủ nghĩa lớn lao của mình đã đem đến cho văn học.

Rõ ràng là "phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông", phải bằng giác quan của một nhà

thơ vốn ý thức sâu sắc khát vọng của cái tôi - cá nhân cá thể trong thời hiện đại, mới nhạy

cảm với khát vọng thức tỉnh quyền sống cá nhân, con ngƣời cá nhân trong thơ của ngƣời xƣa

đến thế!

Với Xuân Diệu, viết về thơ Nguyễn Du, về thơ Kiều không bao giờ là chấm rốt, có

thể suy nghĩ thêm về sau nữa, "cô Kiều quả thật sắc sảo mặn mà, vẫn còn làm gãy lưng được

nhiều nhà phê bình, nhà bình luận". Khi một tác phẩm văn học đã mang đƣợc sức thanh xuân

của sự sống thì nhà phê bình cũng cần phải có bút pháp thật đa dạng, linh hoạt đầy biến hóa

nhƣ bản thân vận động

99

của đời sống. Mỗi bài viết của Xuân Diệu về Nguyễn Du và Truyện Kiều không lần nào lặp

lại từ cách kết cấu đến triển khai ý tứ, diễn đạt. Vẫn là một Xuân Diệu nhƣng khi thì nhìn nhà

thơ thiên tài Nguyễn Du qua "tiếng khóc vĩ đại", 'hiện thực vĩ đại và lãng mạn vĩ đại", "tài

thơ vĩ đại" qua "toàn cảnh lâu dài" "tầng tầng lớp lớp" "hàm súc, dư ba" "nhạc điệu dào dạt"

của truyện Kiều; khi "đọc lại Nguyễn Du" thì mƣợn lối viết của nhà văn Nguyễn Tuân "tản

mạn chung quanh một áng Kiều" nhƣng trở lại ngọn nguồn từ lúc Nguyễn Du còn "Thác lời

anh trai phường nón". Có lúc Xuân Diệu chỉ "điểm huyệt" vào "cảnh đoàn viên" để thấy hết

ý nghĩa "bản cáo trạng cuối cùng trong Truyện Kiều"; có lúc chỉ bàn chuyện "chung quanh

từ ngữ truyện Kiều" văn phát hiện ra nhiều điều lý thú.

*

Thế giới hình tƣợng nhân vật trong Truyện Kiều là một sáng tạo tuyệt vời của ngòi bút

thiên tài Nguyễn Du. Đã có không ít ngƣời bình luận, phân tích kỹ lƣỡng. Đến lƣợt Xuân

Diệu một lần nữa những nhân vật ấy nhƣ lại hiện lên rạo rực tràn đầy sức sống.

Nếu Nguyễn Du tóm đƣợc thần thái của mỗi nhân vật qua một vài từ, qua giọng điệu

riêng khi miêu tả, thì nhà phê bình Xuân Diệu của chúng ta lại nhƣ hóa thân vào Nguyễn Du

để gọi tên đích xác cái thần thái ấy.

Các nhân vật phản diện nhƣ mụ Tú Bà với cái cơn nổi tam bành, với lời mụ "the thé",

"bù lu bù loa", "nanh nọc" đay nghiến nàng Kiều, đến nỗi Xuân Diệu phải kêu lên: "Trời đất

ơi....Tưởng như mụ đã xé xác người ta rồi, cái con hổ cái..." Rồi Hoạn Thƣ ghê gớm đánh

ghen "Đàn bà dễ có mấy tay" mà "khôn ngoan rất mực nói năng phải lời"... Rồi Mã Giám

Sinh và Sở Khanh: "cái hình dong chải chuốt của anh ta, tƣởng nhƣ sặc mùi bi-dăng-tin hiện

đại". Cả anh chàng kỳ Tâm họ Thúc, cũng "lôi thôi như trong cuộc đời cũ, chúng ta vừa giận

lại vừa mến". Xuân Diệu coi đó là những sáng tạo thật ly kì, thật là hiếm có của Nguyễn Du

nhƣng lại rất đúng, rất thật.

100

Nói đến những nhân vật chính diện, có Kim Trọng, chàng thƣ sinh tuấn tú, tao nhã;

nhiều ngƣời đã phân tích - Kim Trọng bƣớc đi từng xinh đẹp cả một vùng: "một vùng như thể

cây quỳnh cành giao", Kim Trọng là ngƣời thủy chung hiếm có... cũng đã có ngƣời bình luận.

Nhƣng hơn tất cả, qua con mắt Xuân Diệu, Kim Trọng tiêu biểu cho ngƣời si tình, cho chàng

thanh niên mê gái hiểu theo nghĩa tốt. Và dòng thơ "Xăm xăm - đè nẻo - Lam Kiều - lần

sang", với tám chữ Nguyễn Du đã tóm hết cái thần thái của hàng trăm thế hệ mê gái cho vào

thơ [43, tr 129].

Xuân Diệu nhận xét, Nguyễn Du dùng hiện thực phê bình dựng những nhân vật phản

phái, nhƣng đến khi dựng những nhân vật chính diện thì Nguyễn Du phải dùng ngòi bút vừa

hiện thực, vừa lãng mạn. Ở Kim Trọng, một nhân vật Nguyễn Du quí mến, nhƣ đã nói trên,

đã đƣợc Nguyễn Du sử dụng bút pháp này; nhƣng phải đến Thúy Kiều và Từ Hải những nhân

vật mà Nguyễn Du gửi tâm sự, hoài vọng và yêu mến họ nhƣ xƣơng thịt mình Nguyễn Du

mới đem hết bút lực tài tình mà vẽ họ. Với Kiều và Từ Hải, ngọn bút của Nguyễn Du là "lãng

mạn phượng múa rồng bay", là "mở cửa cho mộng tưởng, cho lý tưởng xa xăm về hóa thành

sự sống". Nhƣ hòa trong niềm cảm xúc của Nguyễn Du để hóa thập vào nhân vật, Xuân Diệu

viết những dòng tràn đầy say mê hào hứng: "Thúy Kiều là kết tinh của tài hoa, Từ Hải là kết

tinh của khí phách. Thúy Kiều là "tiếng hạc bay qua", là "hoa trôi man mác", là "tay tiên gió

táp mưa sa"... bao nhiên cái gì ƣớc mơ xinh đẹp mà chƣa có, là thành Thúy Kiều - Từ Hải là

"gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo", là "dọc ngang nào biết trên đầu có ai", là "những

phường giá áo túi cơm sá gì", bao nhiêu đạp phá, sảng khoái, vẫy vùng, là thành Từ Hải",...

"Từ Hải là giấc mơ tung phá, hào hứng của Nguyễn Du" [43 tr 131]. Ý của đoạn văn trên có

thể không có gì mới, nhƣng sức sống và tình cảm thì dƣờng nhƣ tràn ra không giới hạn; đó là

bí quyết tạo nên sức hấp dẫn của văn phê bình Xuân Diệu.

*

* *

101

Nằm trong mạch cảm hứng phê bình qua văn mà hình dung về con ngƣời, đến với

Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Xuân Diệu tự thấy mình "không phải là một nhà nghiên cứu" chỉ

"bằng theo những tài liệu đã có, đi tìm lưa thưa dấu vết một thi hào tôi mến yêu". Hồi còn trẻ

(1941), khi đọc đƣợc hai câu thơ:

"Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như"

Xuân Diệu đã viết: "té ra phía sau Nguyễn Du tác giả Truyện Kiều, Nguyễn Du ông

quan, đang còn có Tố Như; còn có cái thế giới Tố Như thân mật hơn, riêng tư hơn, tưởng

chừng như cũng xúc cảm hơn nữa kia" [43-tr 160]. Nhà thơ trẻ nghe đƣợc từ đó "lời kêu gọi

của một trang tài tình, nghe êm ái ngậm ngùi như một tiếng chim cô lẻ dội giữa trời thu

khuya. Đó là tiếng giã đời, nhưng cũng là tiếng họp bạn; tiếng tuyệt vọng, nhưng cũng là

tiếng hy vọng; câu tự hỏi nhưng cũng là câu tự trả lời... [43 - tr 62]. Đến đầu những năm sáu

mƣơi, khi có tập Thơ chữ Hán 102 bài của Nguyễn Du, Xuân Diệu càng nhận ra "chính Thơ

chữ Hán chứa đựng bóng hình, đời sống, nét mặt, mái tóc, dấu chân, tâm tình, suy nghĩ của

Nguyễn Du". Và, có lẽ, cũng chỉ có Xuân Diệu mới có so sánh: "Truyện Kiều là một "đoạn

trường tân thanh", tuy nhiên tôi vẫn có cảm giác về màu sắc, màu sắc mở đầu là mặt đẹp

tuyệt vời và xiêm áo, nhà cửa của Thúy Vân, Thúy Kiều, là mùa xuân, là hiên Lãm thúy nét

vàng chƣa phai...v.v..., mƣời lăm năm của Truyện Kiều là có màu sắc. Thế thì lại sao cũng

đồng một ngòi bút mà đến Thơ chữ Hán" thì hầu như chỉ có một xa xám chiều thu". Cắt nghĩa

băn khoăn ấy, Xuân Diệu đã đứng ở góc nhìn thể loại lý giải: Vẫn là một Nguyễn Du nhƣng

khi Nguyễn Du là một nhà tiểu thuyết, một nhà viết kịch nhƣ ở trƣờng hợp Truyện Kiều, thì

Nguyễn Du phải là ông tạo hóa phun ra sự sống, vui, khóc cƣời, tan hợp, biết cùng yêu với

con trai, con gái, cùng làm "giặc" với Từ Hải cùng thay hoa đổi lá với bốn mùa... Nhƣng bản

thân của Nguyễn Du thì đã đem cái bệnh của thời đại làm cái bệnh của chính mình, mâu

thuẫn xã hội trong thời đại mình không giải quyết đƣợc, không biết cách thế nào mà giải

quyết, tích lại

102

thành một nỗi u uất trong tâm hồn riêng, thì Nguyễn Du là nàng Kiều trong cái lầu Ngƣng

Bích của chế độ phong kiến:

Mặc người mưa Sở mây Tần

Những mình nào biết có xuân là gì!

Thơ chữ Hán là tâm trạng của chính cái tôi trữ tình Tố Nhƣ nên mới đem đến cho ta

cảm giác triền miên một buổi chiều thu ấy!

*

* *

Đọc "Văn chiêu hồn", một tác phẩm rất độc đáo về đề tài, hầu nhƣ là duy nhất, trong

nền thơ Việt Nam, nói đến những ngƣời chết, nói đến cái chết dƣới trăm tình thế... mà thực

chất lại là sự ôm trùm rộng rãi những ngƣời sống, Xuân Diệu hiểu Nguyễn Du đã mƣợn một

yêu cầu của phong tục làm cái cớ để nói cái chủ nghĩa nhân đạo của mình, nói sự quan tâm

của mình đến vấn đề chết sống, để một lần nữa lại đặt cái câu hỏi day dứt mà thời đại ấy

không trả lời đƣợc, ấy là "kiếp người! kiếp người! kiếp người". Xuân Diệu hình dung đến một

không gian "rất có tính cách Sếch-xpia", trong đó "một trái tim lớn", "trái tim Nguyễn Du

đang đập - một trái tim rộng lớn đến cỡ của kiếp ngƣời, của số phận con ngƣời, loài ngƣời.

Và Xuân Diệu cũng thấy đƣợc ''Văn chiêu hồn" vừa mang cái hồng tâm của Nguyễn Du và

cũng mang những cái hạn chế của tâm trí Nguyễn Du ở thời đại ấy.

"Văn chiêu hồn" có một câu thơ rất hiếm trong thơ cổ điển, thƣờng đƣợc nhiều ngƣời

nhắc:

"Đòn gánh tre chín dạn hai vai"

Xuân Diệu có lời bình theo cách của mình: "Nguyễn Du là một thi sĩ, có sức cảm

thông với người bình dân cực khổ như chính mình bị đau ở trong xương thịt; gồng gánh kĩu

cà kĩu kịt mãi suốt đời, còn tham gánh nặng, thì nát vai chín thịt, lại còn

103

trở gánh, nên chín cả hai vai; chiếc đòn gánh tre này còn là cái trục trên ấy tựa cả một nền

kinh tế nông nghiệp lạc hậu" [43 - tr 194].

Tóm lại, có thể thấy rằng, qua ngòi bút phê bình của Xuân Diệu, những giá trị nhân

đạo nhân văn cao cả của thiên tài nghệ thuật Nguyễn Du một lần nữa càng thêm rạng ngời vẻ

đẹp vĩnh cửu. Xuân Diệu đi tìm Nguyễn Du, đi tìm Tố Nhƣ, soi vào văn Kiều, Chiêu hồn,

Thơ chữ Hán, nhƣ Xuân Diệu đã nói không phải để đánh giá - Cái chính là để "thỏa lòng yêu

thương dân tộc, yêu thương quốc văn, yêu thương những tài tử lớn, họ vượt qua những hạn

chế của thời đại cũ, đóng góp tiến nói lớn cho dân tộc Việt Nam, cho nhân loại - như Nguyễn

Du" [43 - tr 280].

2.2.2.3. Xuân Diệu với "Hồ Xuân Hương - bà Chúa thơ Nôm"

Hồ Xuân Hƣơng là một hiện tƣợng độc đáo có một không hai trong lịch sử văn học

Việt Nam. Theo Xuân Diệu, sau Nguyễn Du với Truyện Kiều, Hồ Xuân Hƣơng là nhà thơ cổ

điển đƣợc nhắc tới nhiều lần và gây nhiều tranh luận nhất. Sở dĩ nhƣ vậy, không chỉ vì quan

điểm khác nhau, mà còn vì tƣ liệu về cuộc đời và tác phẩm của Hồ Xuân Hƣơng đều do

ngƣời đời sau lƣu truyền, chƣa có một căn cứ nào quả quyết là xác thực. Không ít những giai

thoại về Hồ Xuân Hƣơng, thậm chí có cả một số bài thơ cũng không biết có phải là của Hồ

Xuân Hƣơng không. Măt khác, thơ Xuân Mƣơng lại rất lạ, "là thứ thơ không chịu ở trong cái

khuôn khổ thông thường, một thứ thơ muốn lặn sâu vào sự vật, vào những đáy rất kín thơm

của tâm tư, những đáy kin thẳm ấy luôn lạc lõng, cô đơn cá nhân chủ nghĩa, mà trái lại được

hàng vạn, hàng vạn người đồng tình, thông cảm [43 tr 5]. Vấn đề Xuân Hƣơng vì thế càng

trở nên phức tạp, và càng có sức hấp dẫn lôi cuốn nhiều nhà nghiên cứu phê bình, nhiều học

giả trong và ngoài nƣớc. Trƣớc bối cảnh đó, với một năng lực đọc và bao quát tƣ liệu khó ai

sánh kịp Xuân Diệu đã nắm bắt đƣợc những luồng ý kiến khác nhau về thơ Hồ Xuân Hƣơg

và chủ động tranh luận, lý giải trình bày quan điểm nhìn nhận, đánh giá của mình.

104

Cảm thấu tâm trạng "khóc hổ người, cười ra nước mắt" của ngƣời phụ nữ tài tình,

giàu bản lĩnh mà gặp phải số phận không may, đặt thơ Hồ Xuân Hƣơng vào hoàn cánh lịch

sử, xã hội thời cuối Lê đầu Nguyễn và hoàn cảnh riêng của cuộc đời tác giả, gắn thơ Xuân

Hƣơng với những hiện tƣợng văn học dân gian nhƣ truyện Trạng Lợn, Trạng Quỳnh, Xuân

Diệu đã nêu bật đƣợc ý nghĩa của tiếng nói phản kháng mạnh mẽ quyết liệt bao trùm trong

thơ Xuân Hƣơng. Ông giải thích, đó là cái đòi hỏi giải phóng ngấm ngầm của cả một xã hội

là cái "ngứa gan" của nhiều ngƣời dồn vào một con ngƣời", là biểu hiện điển hình tập trung

cho khát vọng của mỗi ngƣời đòi hỏi "phải được coi như một cá thể đáng quí trọng". Có nhƣ

vậy mới cắt nghĩa đƣợc tại sao Xuân Hƣơng đả kích không chút thƣơng tiếc vào ý thức hệ

phong kiến, vào giai cấp thống trị, vào cả một lũ đạo đức giả; không cho chúng ăn ngon ngủ

yên; và rƣợt đuổi chúng bằng tiếng cƣời vào tận óc, làm cho chúng không thể bịt tai lại đƣợc.

Xuân Diệu cho rằng, cái cƣời của Xuân Hƣơng, cùng một tính chất với cái cƣời của Tú

Xƣơng sau này và còn ở trên một bậc cao hơn, bởi vì "Xuân Hương không lấy một thứ văn

hạng nhì ra để làm "thơ trào phúng" - Những nhà trào phúng vĩ đại không nhe răng ra mà

cƣời, không chửi bằng lời nói; họ ném cả trái tim của họ, ném cả cuộc đời họ vào cuộc đời,

cũng nhƣ những nhà trữ tình vĩ dại... Xuân Hƣơng mƣợn cái cƣời đó đánh cho đau vào cái xã

hội cũ, nhƣng trái tim nàng, đời nàng đã bị nghiến trong cái guồng máy oan nghiệt của nó.

Trào phúng của Xuân Hương gắn chặt với trữ tình" [44, tr 28]. Xuân Diệu còn viết tiếp một

cách hào hứng: "Những thiên tài trào phúng, tính cổ kim, họa chỉ có vài ba, bốn... Những nhà

trữ tình vĩ đại, vẫn là quí hiếm, nhưng còn tính được hàng chục... Xét như vậy, để thấy cho

hết cái cười lớn lớn lao của Xuân Hương" [44, tr 28"].

Bằng cái nhìn và nghệ thuật phân tích sự vật trong các mặt đối lập, Xuân Diệu còn

làm cho ngƣời đọc thấy đƣợc một nét độc đáo của và thơ Xuân Hƣơng, đó là "không đàn bà

và rất đàn bà".

105

"Không đàn bà" vì Xuân Hƣơng không chịu "an phận đàn bà", không chịu thua thiệt,

chịu lép ngƣời đàn ông nào. Từ cái “ghé mắt trông ngang" đền Sầm Nghi Đống đến cách nói,

cách xƣng hô: "Này, này chị bảo cho mà biết"; từ lời khuyên ngƣời đàn bà khóc chồng: "nín

đi kẻo thẹn với non sông" đến việc vƣợt qua mọi ràng buộc để ngang tàng đi du ngoạn nhiều

nơi trên đất nƣớc, Xuân Hƣơng là một sự khác phẩm, ít có đƣợc ở ngƣời đàn bà ngày trƣớc.

Mặt khác, Xuân Diệu cũng chứng minh cho mọi ngƣời thấy dƣợc Xuân Hƣơng cũng "rất đàn

bà" qua nỗi niềm của Xuân Hƣơng trong những bài thơ viết về thân phận ngƣời phụ nữ dƣới

chế độ cũ và qua thái độ phản kháng mạnh mẽ, quyết liệt để bênh vực cho giới mình. Xuân

Diệu coi đó là một đóng góp của Xuân Hƣơng vào lịch sử văn học nƣớc nhà. Và có lẽ, cũng

chỉ có Xuân Diệu mới có cái nhìn trực diện, bao quát khi vẽ nên chân dung của bậc "thiên tài,

kỳ nữ" trong bức tranh toàn cảnh các nhà thơ nữ nổi tiếng của Việt Nam dƣới thời phong

kiến:

"Xuân Hương không như Đoàn Thị Điểm, nặng về tao nhã, không như Ngọc Hân

công chúa, nặng về tha thiết khóc than; không như Bà huyện Thanh Quan làm thơ như có con

hầu theo sau; Xuân Hương là trong thơ có người, trong thơ có tiên, và trong thơ có quỉ? Tiên

là những lúc Xuân Hương:

Êm ái chiều xuân tới khán đài

Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai

Ba hồi triêu mọ chuông gầm sóng

Một vũng tang thương nước lộn trời

...Nhưng mặt khác, Xuân Hương là người trên vực thẳm, cheo leo, đi lại trên vực, mà

vẫn không rơi xuống bao giờ. Người ta thấy như là Xuân Hương lấm lét, nhưng Xuân Hương

cứ vẫn đàng hoàng, thẳng ngay" [44- tr-58].

Phải chăng, đấy là cái nhìn thỏa đáng, soi thấu những mặt mạnh mặt yếu, đồng thời

cũng khắng định giá trị tƣ tƣởng của thơ Hồ Xuân Hƣơng. Chính từ chỗ đứng và cách nhìn

ấy, ngòi bút phê bình Xuân Diệu đã xông xáo, nắm bắt và không ngại đề cập đến những vấn

đề mà lúc bấy giờ, giới nghiên cứu không ít ngƣời băn khoăn, tranh cãi: chẳng hạn, thơ Xuân

Hƣơng tục hay là thanh, có dâm

106

hay là không dâm, tại sao có những bài thơ Xuân Hƣơng tả canh thiên nhiên đất nƣớc lại

"dùng nhiều giác quan" gây cho ngƣời đọc khó chịu đến thế... Tất nhiên, nói nhƣ giáo sƣ Lê

Đình Kỵ: "Viết về Xuân Hương, khó mà giữ được tỉnh táo, mực thước - nhất là đối với một

câ y bút như Xuân Diệu" [90, tr 22], nhƣng nhìn chung, những ý kiến cùa Xuân Diệu là

thẳng thắn và có sức thuyết phục.

"Thiên tài kỳ nữ", "nhà thơ dòng Việt, bà Chúa thơ Nôm" là cách gọi riêng của Xuân

Diệu dành cho Xuân Hƣơng. Nhiều ngƣời cũng đã nói đến cái tài sử dụng ngôn ngữ trong thơ

Xuân Hƣơng; nhƣng chƣa ai đọc và thẩm thơ một cách kỳ công và nói lên với tất cả tình cảm

sôi nổi, đam mê không dấu đƣợc nhƣ Xuân Diệu. Nhiều đoạn văn nhƣ là sự hòa điệu tâm hồn

giữa hai nhà thơ lớn của hai thời đại, lôi cuốn ngƣời đọc vào thế giới nhƣ Hồ Xuân Hƣơng

với tất cả niềm cuồng nhiệt đắm say. Thật khó mà phân biệt đâu là ngôn từ Xuân Diệu, đâu là

thơ Xuân Hƣơng chỉ thấy nó sinh động, hồn nhiên nhƣ đời sống:

"Lòng Xuân Hương là lửa, tay Xuân Hương có điện, nên các chữ đều sống cả lên, nó

có thể bò lổm ngổm, có thể mấp máy, có thể bay, có thể duỗi, có thể khom khom, ngửa

ngửa, nó có thể chủm chọe, hi ha, cốc, om, khua, vỗ; nó có thể um, xoe, xóa, loét, rì; nó có

thể nối nhau thành chuỗi vần vang động: bom, chòm, om, mòm, tom, hoặc ọp ẹp, heo, leo,

kheo, teo, lèo; chúng ta có thể đố ai tìm dược trong thơ Xuân Hương những chữ nào mà âm

thanh bẹp dí, những chữ chết nào đứng trơ không cựa quậy ở trong câu" [44, tr 83]. Và Xuân

Diệu bình luận: "Đây không phải là kỹ thuật đâu! Đấy là tâm hồn truyền sức sống cho cho

ngôn ngữ".Cái bí quyết của thơ Xuân Hương là thế. Là lửa sống". Sở dĩ nhƣ vậy vì Xuân

Hƣơng đã lìa cái gốc nho sĩ của mình mà "lăn lóc" vào giữa bình dân: Xuân Hƣơng là con ốc,

quả mít, cái bánh trôi; Xuân Hƣơng làm thơ với cỏ gà, cá giếc, quả cam, lá trầu, con ong, cái

giếng... Xuân Diệu đƣa ra hàng loạt ví dụ và so sánh giữa thơ Xuân Hƣơng với thơ nôm các

nhà thơ nổi tiếng khác trƣớc và sau đó nhƣ Lê Thánh Tông, Nguyễn Khuyến, Tú Xƣơng... để

chứng minh một cách đầy sức thuyết phục vị trí "Bà chúa thơ Nôm" của Hồ Xuân Hƣơng

trong nền văn học nƣớc nhà.

107

Có thể nói rằng với những công trình phủ bình, nghiên cứu công phu của Xuân Diệu,

hiện tƣợng Hồ Xuân Hƣơng thực sự đƣợc nhìn nhận với tất cả vẻ đẹp độc đáo và sống động

của nó. Tuy không phái tất cả vấn đề phức tạp đã đƣợc giải quyết, song nhiều ý kiến của

Xuân Diệu, nhiều nhận định đành giá của Xuân Diệu cho đến nay vẫn chƣa ai vƣợt qua. Hồ

Xuân Hƣơng thực sự trở thành một niềm tự hào của văn học cổ điển Việt Nam.

2.2.2.4. Xuân Diệu với các nhà thơ cổ điển Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế

Xương, Nguyễn Đình Chiểu, Đào Tấn...

"Mỗi người một vẻ", Xuân Diệu đã có "mắt xanh" phát hiện đƣợc những nét độc đáo,

tiêu biểu ở từng nhà thơ để dựng nên chân dung của họ trong viện bảo tàng - văn học dân tộc.

"Đọc thơ Cao Bá Quát" Xuân Diệu nhận ra chất hào sảng và giọng bi tráng của một

hồn thơ "tượng trưng cho tài thơ và cho tinh thần phản kháng":

Thơ Cao Bá Quát là chí khí và tâm huyết. Chí khí là từ sức mạnh yêu mến bên trong,

muốn tỏa tung ra, to lớn, khi chí khí ấy không thi thố được, thì đọng lại thành tâm huyết" [44,

tr 133]

Khắc họa chân dung một vĩ nhân nào, Xuân Diệu cũng thƣờng hay chú ý đến những

nét đời thƣờng của họ. Xuân Diệu hình dung Cao Bá Quát con ngƣời "nhất sinh đề thủ bái

mai hoa" (một đời cúi đầu lạy hoa mai) ấy là nhà thơ, khách thơ ở đầu ngọn sóng trong tay

cầm một hoa sen "phong lƣu khoáng dật". Cả cuộc đời và thơ luôn hƣớng về cái đẹp, về phía

hành động cho sự sống. Phần lớn thơ Cao Bá Quát để lại đều là thơ chữ Hán. Xuân Diệu

muốn "xuyên qua nguyên văn chữ nho, đến được tấm lòng", tâm hồn Cao Bá Quát" để "bâng

khuâng với bao kho tàng suy nghĩ, chí khí và tâm huyết" của một hồn thơ khởi nghĩa mà tên

tuổi đã từng truyền đi từ nửa sau thế kỷ XIX trong lịch sử và văn học nƣớc nhà.

*

108

"Đọc thơ Nguyễn Khuyến", nhƣ phần trên đã nói Xuân Diệu dựng chân dung nhà thơ

bằng cách trƣớc tiên gợi lại cảm xúc về "một bài thơ, một bức ảnh" của Nguyễn Khuyến, Bài

thơ chữ Hán "Tặng nhục" (Cho thịt) thắm thiết nhân tình và bức ảnh nhà thơ, tay cầm chén

rƣợu nhỏ hạt mít - một nét đặc biệt của Nguyễn Khuyến không tan vào các nhà nho, các ông

quan khác. Xuân Diệu ngợi ca Nguyễn Khuyến là "nhà thơ có phẩm chất rất cao quí". Ngày

xƣa, Khuất Nguyên đã yêu quất, Đào Tiềm đã yêu cúc, Nguyễn Khuyến muốn có cả phẩm

cách của hai ngƣời. Buổi đầu mất nƣớc, trong hoàn cảnh bi thƣơng của dân tộc hồi bấy giờ,

Nguyễn Khuyến đã gửi tâm huyết của mình vào thơ, nhất là thơ chữ Hán, vì chữ Hán cô đúc

hơn, kín đáo hơn, ít phổ cập hơn, che mắt đƣợc bọn thực dân và tay sai của chúng.

Tuy nhiên, cũng nhƣ nhiều ngƣời, Xuân Diệu cho rằng, Nguyễn Khuyến nổi tiếng

nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm. Từ những bài thơ, câu thơ gắn với cảnh vật và

con ngƣời nông thôn miền Bắc, đặc biệt là ba bài thơ mùa thu nổi tiếng: "Thu điếu", 'Thu ẩm"

“Thu vịnh", Xuân Diệu gọi Nguyễn Khuyến là "nhà thơ của quê hương cảnh việt Nam", "nhà

thơ của dân tình". Cách gọi ấy của Xuân Diệu có ý nghĩa xác định rõ nét đặc trƣng của thơ

Nguyễn Khuyến, nhất là vị trí thơ Tam Nguyên Yên Đổ trong quá trình mấy trăm năm thơ

mùa thu của dân tộc. Xuân Diệu đã là một trong những ngƣời cảm nhận, phân tích tinh tế

nhất ba bài thơ "Thu điếu", "Thu ẩm", 'Thu vịnh". Với Xuân Diệu quê hƣơng làm nƣớc và

đồng bào nhân dân là hai trục cảm xúc, hai trụ cột của tâm hồn thơ Nguyễn Khuyến mà

không phải nhà thơ nào cũng có đƣợc.

Còn tính chất trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu nhận xét, đó là "tiếng

cười chê nhẹ nhàng, hóm hỉnh, không cấu xé vào nhân vật, sự vật như Tú Xương" ... " là một

thứ u mưa(humour), một thứ "phớt-ăng-lê", "một thứ cười mát", nói "mát" theo lối Việt Nam,

"nói ngọt mà lọt đến xương", rất sâu sắc!

Những nét trên đây, theo Xuân Diệu, cũng chính là "bản lĩnh nhà thơ và bản sắc thơ

Nguyễn Khuyến".

*

109

"Đọc thơ Tú Xương", nhà thơ cùng thời với Nguyễn Khuyến, một ngƣời chủ yếu lấy

để tài, tứ thơ ở thành thị (Nam Định) một ngƣời chủ yếu lấy đề tài cảm hứng ở làng quê (Yên

Đổ), Xuân Diệu nảy ra ý nghĩ độc đáo, xem hai nhà thơ "tương xứng nhau như một câu đối

có hai vế, vế trắc là Tú Xương, vế bằng là Nguyễn Khuyến". Và cũng theo ý nghĩ riêng, tự

mình cân nhắc, chiêm nghiệm, Xuân Diệu. Xác định sau ba thi hào dân tộc Nguyễn Trãi,

Nguyễn Du, Hồ Xuân Hƣơng là đến Đoàn Thị Điểm, và tiếp theo bốn vị kia là nhà thơ lớn Tú

Xƣơng. Sở dĩ nhƣ vậy là vì Xuân Diệu đánh giá rất cao "chất lượng tâm hồn" "mức độ của

cảm nghĩ" thông qua văn tài của nhà thơ. Chất lƣợng ấy, trƣớc hết biểu hiện ở tiếng cƣời.

Nếu thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến "cƣời chế nhẹ nhàng, hóm hỉnh, không cấu xé vào

nhân vật" thì thơ đả kích của Tú Xƣơng lại bám sát lấy đối tƣợng với tiếng cƣời nhƣ "một thứ

axit đổ nó vào, cắn cho nó nát ra, cháy đi". Tú Xƣơng đã nói là nói đến mức cao độ, đến mức

điển hình, đến mức nổi bật hết tất cả nhƣng gai góc của vấn đề, của sự vật, tức là Tú Xƣơng

nói rất sâu, từ chỗ sâu thẳm của lòng mình mà nói ra! "Tú Xương hộc ra tiếng cười" [44, tr

24]. Chính vì vậy, tiếng cƣời ấy vừa mạnh mẽ quyết liệt, vừa nhiều cung bậc, càng thấm sâu

vào ngƣời đọc. Xuân Diệu liên hệ tiếng cƣời trong thơ Tú Xƣơng với những trƣờng hợp khác

trong văn học sử xa gần, để ngƣời đọc càng thấm hơn cái gốc trào phúng của thơ Tú Xƣơng.

Đó là sự phản ánh một chiều sâu nghịch lý của tâm trạng nhiều thi nhân trong xã hội cũ: "khi

vui muốn khóc, buồn tênh lại cười". Từ đó Xuân Diệu không đồng ý với cách gọi Tú Xƣơng

là "nhà thơ hiện thực nào phúng lớn của dân tộc" nhƣ quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu

lúc bấy giờ. Mà theo ông cần phải lần lại các nhà thơ lớn cổ, kim, đông tây ở đó là sự "thống

nhất hai luồng trữ tình và trào phúng lại trong một: một trái tim, một linh hồn, một trí tuệ,

một tài năng của một thi sĩ, và gọi Nhà thơ lớn Tú Xương” [44, tr 145].

Cũng nhƣ Nguyễn Tuân trong tiểu luận "Thời và thơ Tú Xương" Xuân Diệu rất để ý

đến hƣơng vị đặc trƣng riêng biệt của vùng Nam Định trong thơ Tú

110

Xƣơng; đồng thời Xuân Diệu cũng phân tích nỗi ƣu ái, mối quan hoài bàng bạc không nguôi

trong mỗi dòng mỗi chữ của nhà thơ thành Nam ấy:

...Năm canh thức suốt cả năm canh

Những chuyện xa xôi giật cả mình..

... Trời không chớp bể lại mưa nguồn

Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn

Tú Xƣơng ấp ủ mãi vết thƣơng mất nƣớc ở trong tâm hồn. Chửi cái nhố nhăng của xã

hội thành thị tƣ sản hóa buổi đầu dƣới ách thực dân đế quốc, cũng là muốn bảo vệ tinh thần

dân tộc. Đặt vào hoàn cảnh lịch sử nƣớc ta giai đoạn cuối thế kỷ thứ XIX, mới thấy hết ý

nghĩa của giá trị tƣ tƣởng và nghệ thuật mà thơ Trần Tế Xƣơng đã để lại cho chúng ta hôm

nay.

*

* *

Phát biểu "Mấy cảm nghĩ về cụ Đồ Chiểu" (1963) và "Đọc lại thơ văn Nguyễn Đình

Chiểu" (1972) vào những ngày đất nƣớc chƣa thống nhất, là tấm lòng của Xuân Diệu đối với

Nam Bộ mến yêu. Chính từ tấm lòng ấy mà Xuân Diệu nghĩ về cái duyên văn của Nguyễn

Đình Chiểu - nhà thơ đã gắn chặt tài văn của cá nhân mình với thời đại, với quần chúng nhân

dân, với địa lý và lịch sử. Xuân Diệu viết - chính vì thế mà "những tác phẩm của Cụ để lại đã

thành một sản phẩm tổng hợp, nó vượt khỏi trang giấy bản với những chữ nôm mà thành ra

một giá trị đại diện rất lớn. Cánh buồm thơ của cụ Đồ Chiểu đã bọc lấy gió, lấy bão ở thời

đại Cụ, gió bão khóc than và gào thét, đến nỗi bây giờ không thể tách cái khí thế của gió bão

ra khỏi buồm" [44, tr 346]. Theo Xuân Diệu, ít có nhà thơ mà sự nghiệp văn chƣơng vừa nằm

trong viện bảo tàng văn học lại vừa nằm trong viện bảo tàng lịch sử nhƣ Nguyễn Đình Chiểu.

Đọc câu thơ "Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà", Xuân Diệu có cảm nghĩ "Câu thơ sung

sướng như một câu thơ cộng sản của chúng ta ngày nay" [43, tr 347]. Đọc lại "Lục V â n

Tiên", " N g ư tiều

111

y thuật vấn đáp", "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", Xuân Diệu khái quát, hai yếu tố làm nên văn

tài Nguyễn Đình Chiểu là kháng Pháp và miền Nam, và cái nền chung của hai yếu tố đó là

tính cách quần chúng [43, tr 348]; đồng thời kết hợp với những phân tích, cảm nhận tinh tế,

Xuân Diệu rất đề cao cái tâm, cái trí sáng suốt của nhà thơ mù Nguyễn Đình Chiểu, lá cờ đầu

của nền thơ văn yêu nƣớc cuối thế kỷ XIX, và cũng không quên nhấn mạnh cái tài.

"Có cái trí để hiểu biết, có cái tâm để yêu thương và có cái tài để thực hiện. Văn

chương Nguyễn Đình Chiểu có sự thống nhất ba mặt ấy" [44, tr 344].

Vậy là, Xuân Diệu đã nói lên đƣợc khá đầy đủ những nét dặc trƣng nhất của cuộc đời,

sự nghiệp thơ văn và vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong đời sống văn học và cả tâm hồn dân

tộc.

*

Khép lại công trình "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" xuất bản lần đầu là tiểu luận

"Tìm hiểu nhà thơ Đào Tấn"; Xuân Diệu viết vào cuối năm 1977, đầu năm 1978, nhân dự

một hội nghị nghiên cứu về Đào Tấn - ông tổ của nghệ thuật tuồng, một loại hình nghệ thuật

truyền thống rất đƣợc phổ biến và rất đƣợc yêu chuộng ở miền Nam Trung bộ nƣớc ta. Vốn

làm quen với nghệ thuật tuồng từ tuổi thiếu niên ở quê ngoại Bình Định, Xuân Diệu xác định

thái độ "gạn đục khơi trong" và tìm hiểu thật sâu sắc một hiện tƣợng nghệ thuật từ các nhà trí

thức phong kiến tạo ra, có tính cách bác học, thậm chí cung đình, nhƣng lại trở thành của dân

gian có sức hấp dẫn. Cái phức tạp ở đây còn do của tác giả, song đặt vào hoàn cảnh lịch sử và

xuất phát từ bản thân tác phẩm nghệ thuật, Xuân Diệu đã thấy đƣợc giá trị tuồng Đào Tấn và

khảng định, đó là "bài học cổ vũ phấn đấu, ca ngợi đức bền bỉ hy sinh" "giữ cho cho ngọn

lửa chính nghĩa đó mãi không tắt".

Đặc biệt, xuất phát từ đặc trƣng của tuồng nghệ thuật tổng hợp, mà "cái xương sống

của nó là thơ ca" [44, tr 400], Xuân Diệu đã kết hợp với những sang

112

tác thơ và từ của Đào Tấn để thấy đƣợc "cái dùng dằng đáng thương, cái phân vân đau khổ

của một ông quan mũ cao áo dài" mà "cái chí trung quân không thể nào thành được nữa"

(trung quân chi chí cánh nan thành) [144, tr 369]; cho nên, phải mƣợn thơ, từ khúc để ghi lại

nhật ký tâm hồn mình, để cho tâm hồn mình tha hồ mà dào dạt. Liên tƣởng đến tâm sự Tố

Nhƣ (Ba trăm năm nữa mơ màng/ Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như), Xuân Diệu viết: "Cụ

Thượng Đào cũng vậy thôi, thật là tội nghiệp cho những individu trong xã hội phong kiến kéo

dài đó, người ta nhốt Đào Tấn trong ông quan và cụ Thượng, chức càng cao thì cái lồng nhốt

càng chắc, càng cứng... Huống chi chức nào có thật là chức, danh nào có nghĩa lý gì mà

danh"...[44, tr 363]. Đặt vào bối cảnh ấy ấy Xuân Diệu coi "Từ của Đào Tấn báo hiệu chủ

nghĩa lãng mạn" [44, tr 374] và phác họa chân dung: "Đào Tấn thật là một thi sĩ", "một

người rất có tài và có nghĩa".

Viết về Đào Tấn vào những năm 1977-1978, những ý kiến trên đây của Xuân Diệu là

mạnh dạn và giàu sức phát hiện.

*

Sau ngày Xuân Diệu qua đời, những lần tái bản, "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" còn

đƣợc bổ sung thêm cái tiểu luận của Xuân Diệu viết về "Những bài hát anh Khóa của Á Nam

Trần Tuấn Khải" và “Tìm hiểu Tản Đà". Nhƣ vậy là, chỉ một mình Xuân Diệu, đã có gần một

nghìn trang sách, làm hiện lên hầu hết những danh nhân nổi tiếng trong nền văn học truyền

thống của dân tộc. Càng bắt rễ sâu vào mảnh đất phì nhiêu ấy, cây đời, cây thơ, cây phê bình

văn học Xuân Diệu càng dạt dào sức sống, càng vƣơn tỏa ra nhiều phía của chân trời sáng

tạo.

*

2.2.3. Xuân Diệu với nền thơ Việt Nam hiện đại:

So với công việc tìm hiểu, tiếp thu gia tài văn học truyền thống, phê bình - thơ hiện

đại đối với Xuân Diệu thuận lợi hơn nhiều. Suốt hơn nửa thế kỷ, từ lúc

113

phong trào Thơ mới ra đời đến lúc nền văn học cách mạng của chúng ta nói chung và thơ

Việt Nam hiện đại nói riêng sắp bƣớc vào vận hội đổi mới, Xuân Diệu vừa là ngƣời theo dõi,

chứng kiến, đồng thời cũng vừa là một trong những "kỹ sƣ trƣởng" trực tiếp tham gia thiết kế

và miệt mài thi công. Tất nhiên, nói nhƣ vậy không có nghĩa là không gặp những khó khăn

khác: những ràng buộc, hạn chế của hoàn cảnh, văn học đƣơng đại chƣa qua sự sàng lọc và

thử thách của thời gian, thói "văn nhân tương khinh" muôn thuở, nhất là giữa những ngƣời

cùng thời đang sống. Ở phần trên, khi điểm lại những tác phẩm tiêu biểu của Xuân Diệu qua

từng chặng đƣờng, tức là cũng dã phần nào trực tiếp nói đến đóng góp lớn lao của Xuân Diệu

đối với nền thơ Việt Nam hiện đại trong hoạt động phê bình nghiên cứu. Chúng tôi thấy vẫn

rất cần một cái nhìn xuyên suốt các công trình ấy để làm nổi rõ hơn những thành tựu và có

khi cả những bất cập của nhà thơ ở lĩnh vực này. Có thể khái quát ở ba nội dung nhƣ sau:

- Phê bình của Xuân Diệu với những bƣớc đi của nền thơ hiện đại

- Phê bình của Xuân Diệu với việc giới thiệu các nhà thơ cùng thời

- Phê bình Xuân Diệu với các nhà thơ trẻ

2.2.3.1. Xuân Diệu với những bước đi của nền thơ hiện đại:

Cùng với chế độ phong kiến kéo dài, sau hơn chín thế kỷ văn học trung trung đại, mãi

đến đầu thế kỷ XX, khi mà văn hóa vật chất và tinh thần của phƣơng Tây tác động sâu sắc

đến đời sống con ngƣời Việt Nam, khi mà Tản Đà đã "dạo những bản đàn mà đầu cho một

hòa nhạc tân k ỳ đương sắp sửa" [144, tr 14], nền thơ ca nƣớc ta mới từng bƣớc thoát khỏi

địa hạt "thơ cũ" và thực sự đƣợc hiện đại hóa phong nào Thơ mới (1932 - 1945). Trong cuộc

cách mạng thơ ca ấy Xuân Diệu vừa có những sáng tác ở đỉnh cao, vừa có những bài tiểu

luận phê bình hòa vào dàn đồng ca đấu tranh cho sự thắng của thơ Mới.

Từ Cách mạng tháng Tám, nền văn học mới, nền thơ ca cách mạng ra đời và phát

triển trong hoàn cảnh hai cuộc chiến tranh vệ quốc và những năm đầu

114

xây dựng đất nƣớc; cùng với sáng tác thơ, hoạt động phê bình nghiên cứu thơ của ngòi bút

Xuân Diệu ngày càng xông xáo sôi nổi.

Nhà thơ cũng nhƣ nhà phê bình thực sự có tài năng bao giờ cũng là những ngƣời có tƣ

tƣởng và phong cách. Tƣ tƣởng xuyên suốt các tác phẩm tiểu luận, phê bình của Xuân Diệu

từ sau Cách mạng và cũng sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến phong cách phê bình của ông mà ta sẽ

nói ở chƣơng sau, ấy là coi trọng mối quan hệ mật thiết giữa văn học nói chung, thơ ca nói

riêng với đời sống chiến đấu và lao động của quần chúng. Xuân Diệu nhiệt tình cổ vũ cho

phong trào sáng tác thơ ca của các tầng lớp nhân dân và cũng từng là "chủ soái" cả lý thuyết

và thực tiễn của khuynh hƣớng thơ coi trọng và tăng cƣờng chất liệu hiện thực. Không phải

ngẫu nhiên Xuân Diệu có hàng loạt bài phê bình "viết về vệ quốc làm thơ, "thơ bộ đội", "thơ

trong chiến dịch sống Thao, thơ công binh mở đường thắng lợi" cả cả vè "Anh Thuấn, cô

Phương", thơ "Dặn con" của Trần Hữu Thung, v.v... Có lý lẽ của Xuân Diệu cả đấy! Thông

thƣờng thiếu cái gì thì ngƣời ta cần bù đắp thêm cái đó! "Chúng tôi, một số "nhà thơ cũ" đã

tìm học cái chất thơ mới, cái chất tâm hồn mới ở lớp người mới" [42, tr 92]. Gắn bó với

ngƣời đời là bản chất của hồn thơ Xuân Diệu; huống chi khi cách mạng đã đƣa nhà thơ trở về

giữa lòng nhân dân thì Xuân Diệu cần ý thức rằng không có lý gì những ngƣời đang gánh cả

đất nƣớc, cả gian khổ của cuộc kháng chiến trên đôi vai, lại thiếu vắng họ trong thơ, trong

văn học. Đó cũng là lý do để khi giới thiệu tuyển tập thơ Việt Nam 1945-1960, Xuân Diệu

cho rằng, mƣời lăm năm thơ ấy, là một quá trình đƣa thơ về với thực tại xã hội, đặt nó nằm

trong những thế kỷ thơ của dân tộc, ta thấy chứa bao giờ thơ Việt Nam lại có sức ôm lấy thực

tại nhƣ bây giờ; "chiếc thuyền thơ cũng tỏ ra rất tài tình, nó cần chở bao nhiêu việc thật,

người thật của cuộc sống cách mạng, mà vẫn bơi chèo rất có duyên và đỗ bến khá viên mãn"

*

[42, tr 44].

Từng bƣớc đi của thơ hiện đại thƣờng đặt ra những vấn đề cho phê bình, có khi là

những vấn đề mới mẻ, gay cấn. Vốn là ngƣời thƣờng đòi hỏi các nhà phê

115

bình không cầu an, trong nhiều cuộc tranh luận về thơ, Xuân Diệu bao giờ cũng mạnh dạn

phát biểu chủ kiến của mình. Một trong những biểu hiệu rõ nhất là thái độ nhất quán của

Xuân Diệu đối với Thơ Mới. Từ đầu những năm sáu mƣơi, khi mà dƣ luận của giới nghiên

cứu phê bình còn nhiều ý kiến không đồng tình, không ít ngƣời còn lên án văn học lãng mạn,

đánh giá thơ Mới "căn bản là đồi trụy và bạc nhƣợc"... Xuân Diệu đã nêu vấn đề mối quan hệ

giữa Thơ mới và thơ cách mạng; không chịu đặt cho Thơ mới cái tên "thơ lãng mạn tiêu cực"

vì "cái tên đó không được khoa học, không nói hết được phong trào Thơ mới" [37, tr 124].

Ông lý giải rất cặn kẽ và luôn khẳng định thơ mới dù có những hạn chế nhất định nhƣng vẫn

nằm trong văn mạch dân tộc. Quả thật, từ ngày đất nƣớc bƣớc vào sự nghiệp đổi mới, rất

nhiều hiện tƣợng văn học quá khứ và văn học hiện dại đã và đang đƣợc nhìn nhận lại, thì

nhiều ý kiến phê bình, nhiều vấn đề Xuân Diệu từng nêu ra trƣớc đây (có lúc đã bị qui kết,

định kiến nặng nề) ngƣời đọc càng thấy hết giá trị học thật và tính chất tiên phong của nó.

Một đóng góp rất lớn của Xuân Diệu còn là ý thức thƣờng trực của ông về nâng cao

chất lƣợng thơ. ứng hay bàn đến những phẩm chất của thợ và rất chú ý theo dõi chất lƣợng

cảm nhận phê bình thơ. Với thơ ca truyền thống Xuân Diệu xác định thái độ là tìm hiểu, học

hỏi; còn với thơ hiện đại ông là ngƣời cổ vũ động viên phong trào sáng tác rất nhiệt thành

nhƣng cũng đỏi hỏi cần đánh giá khen chê thỏa đáng. Tất nhiên, trong một vài cuộc tranh

luận, một vài lần nhận xét phê bình, không phải bao giờ ý kiến của Xuân Diệu cũng chính

xác. Song ngƣời nghe, ngƣời đọc và cả ngƣời trong cuộc cũng đều có thể cảm thông vì đằng

sau những lời lẽ ấy vẫn là tấm lòng, vẫn là mong muốn rất thật, rất thiện chí của Xuân Diệu.

Đó cũng là một trong nhiều lý do để lúc sinh thời, Xuân Diệu vẫn đƣợc coi là nhà luật pháp

đầy uy lực của nền thơ hiện đại nƣớc ta.

Năm 1985, chỉ mấy tháng trƣớc ngày mất, Xuân Diệu vẫn còn nhắc:

"Cùng với việc sáng tác thơ, phải có một trình độ OTK thơ khá cao của những người

biên tập ở các báo chí và nhà xuất bản. Có thể cả một thời kì, một

116

xã hội không tự giác mà hạ thấp đo lường của chất lượng thơ, thời kỳ sau nhìn lại mới nhận

thấy... Ta đang lạm phát thơ, chất lượng thơ ta hiện giờ không cao, thơ gần đây không đưa lý

thú cho người đọc" [53].

Đã hơn mƣời sáu năm trôi qua, bây giờ đọc lại, chúng ta vẫn cứ tƣởng nhƣ Xuân Diệu

đang nói về tình trạng thơ hiện nay vậy!

2.2.3.2 Xuân Diệu với các nhà thơ ưu tú của nền thơ hiện đại

Có lần trao đổi về một "Tuyển tập thơ Việt Nam đối với phong trào thơ", Xuân Diệu

đã viết:

"Nghệ thuật đòi hỏi một phong trào văn học kết tinh vào những tác phẩm hẳn hoi, vào

những thi sĩ thật sự, hơn một mức nữa vào những thi gia ưu tú " [34, tr 104].

Ý thức ấy đã thể hiện ở công việc của Xuân Diệu vừa theo dõi bao quát đánh giá

phong trào vừa chú ý đi sâu tìm hiểu thành tựu của một số tác giả, tác phẩm trong nền thơ

hiện đại.

Trƣớc hết, Xuân Diệu đã dành một tình cảm đặc biệt đối với thơ Bác Hồ

Đọc "Nhật ký trong tù" trong niềm "yêu thơ Bác" vô hạn, Xuân Diệu không dấu niềm

vui sƣớng, tự hào trƣớc tập thơ "đứng vô song trong nền văn học nước ta, vì nó là những

tiếng tâm hồn Hồ Chủ Tịch" [39, tr 49]. Để cảm nhận vẻ đẹp của tập thơ, Xuân Diệu tự thấy

cần "phải ở trong cái không khí cao, sáng của trí tuệ này; phải nối liền mạch với trái tim rất

nhân đạo này, thì mới nhận được hết cái chất thơ quí này" [39,tr49]. Từ đó Xuân Diệu phát

hiện ra "bút pháp phóng viên" của tập nhật ký đồng thời cũng thấy đƣợc "tâm trí tác giả luôn

luôn xúc cảm" và xúc cảm lại thƣờng "che dấu sau một nụ cười vì vậy "trào phúng, đó là áo

mặc" còn "trữ tình, đó là thực chất" của tập thơ. Chất trữ tình ấy chính là "tình người ở trong

nhà cách mạng, nhà tư tưởng, nhà chiến lược, chiến thuật Hồ Chí Minh". Tuy nhiên điều hơn

hết làm cho tập thơ lớn lao mà thấm thía, "lay động mọi tâm hồn" - Xuân Diệu viết "đó là

hình ảnh Hồ Chủ Tịch - người mà tất cả

117

chúng ta sẵn sàng đổ máu của mình để bảo vệ người yêu thương nhất của chúng ta..." [39, tr

56]. Với tình cảm ấy Xuân Diệu đã nhiều lần "đọc lại thơ Nhật ký trong tù mỗi lần lại mang

đến cho ông những cảm nhận mới; bài thơ "Vãn cảnh" (Cảnh chiều hôm) trong tập thơ đã

đƣợc nhiều ngƣời phân tích chiêm ngƣỡng, Xuân Diệu vẫn có những phát hiện riêng giàu sức

thuyết phục. Xuân Diệu từng kể lại, sau lần Bác mất, "từ ngày 25/09/1969 đến 04/07/1970,

bản thân tôi đã bình 107 cuộc trƣớc công chúng về thơ Hồ Chủ Tịch'',"tôi ôm thơ Bác vào

lòng như một hành trang diệu kỳ vô ảnh... Trời ơi! Tôi nhớ thương Bác mà tôi đi, đồng bào

các nơi nhớ thương bác mà gọi bảo tôi đến phục vụ, tôi đi để tôi gặp Bác ở trên đất nước, ở

trong tâm hồn tôi, ở trong mắt của đồng bào" 139, tr 68]. Xuân Diệu coi đó là những tình

cảm, những kỷ niệm không thể nào quên trong cuộc đời mình.

*

* *

Với Thế Lữ, Huy Cận, Chế Lan Viên, những nhà thơ đã từng "cùng một lứa bên trời

lận đận", ngòi bút phê bình của Xuân Diệu có những mối duyên nợ khác nhau.

Thế Lữ (1907 - 1989) thuộc lớp nhà thơ sáng lập nên phong trào Thơ mới. Ông là

ngƣời đầu tiên cùng báo Phong hóa có công phát hiện và in bài lần đầu "Với bàn tay ấy" của

Xuân Diệu vào năm 1935. Là ngƣời ghi hồi ký tự thuật của Thế Lữ, Xuân Diệu cũng đã có

những dòng mở đầu đầy ân nghĩa. "Tìm hiểu thơ Thế Lữ", Xuân Diệu chỉ ra sự tiếp nối của

Thế Lữ với Tản Đà và khẳng định vị trí của thơ Thế Lữ. Nếu Tản Đà đã báo hiệu và mở đầu

chủ nghĩa lãng mạn về nội dung tâm tình nhƣng văn Tản Đà chƣa thoát khỏi ngôn từ của thơ

truyền thống thì Thế Lữ thật sự vào chủ nghĩa lãng mạn (romanticsm) về nội dung cũng như

về hình thức, và là giai đoạn đầu của chủ nghĩa lãng mạn" [47, tr 50] Để chứng minh cho

"sức hấp dẫn và tính cách của thơ Thế Lư cũng là ở đó" Xuân Diệu đã đem đến cho ngƣời

đọc những hình ảnh tâm tình "bâng khuâng man mác" những

118

câu thơ, những bài thơ hay nhất của Thế Lữ mang vẻ đẹp "cái thuở ban đầu lưu luyến ấy" của

phong trào Thơ mới, của tuổi đời mỗi con ngƣời. Từ "Tiếng sáo Thiên Thai, bài thơ 18 câu,

"nghệ thuật hoàn chỉnh, khônq lọt một khe hở non tay nào", đến "Vẻ đẹp thoáng qua", "Mộng

Ánh" rồi "Lời than thở của nàng mỹ thuật", "Tiếng gọi bên sông" và dừng lại ở trứ tác "Nhớ

rừng", Xuân Diệu đã làm nổi bật những nét đặc trƣng của hồn thơ Thế Lữ và đóng góp xứng

đáng của ông vào nền thơ Việt Nam ở vào cái thời kỳ thứ nhất của Thơ Mới 1932 - 1945.

Còn với Huy Cận, từ năm 1936 Xuân Diệu gặp Huy Cận ở trƣờng Quốc học (Huế),

cũng từ đó họ trở thành bạn đời, bạn thơ luôn có bên nhau suốt nửa thế kỷ, chỉ có cái chết

mới bắt họ chia lìa. Tình bạn Xuân - Huy đã chắp cánh hồn thơ cho nhau, và cũng vì lẽ đó

Huy Cận và Xuân Diệu là những ngƣời hiểu đời, hiểu thơ của nhau hơn cả.

Năm 1939, trên báo Ngày nay, Xuân Diệu đã có bài giới thiệu "Thơ Huy Cận", năm

1940, Xuân Diệu lại có tựa "Lửa Thiêng" khi tập thơ này xuất bản lần đầu. Dƣờng nhƣ tất cả

những nét tinh hoa của thơ Huy Cận đã phát sáng từ ngọn "Lửa Thiêng" và đã đƣợc Xuân

Diệu cảm nhận, phát hiện một cách thần tình từ hồi đó. Những bƣớc đƣờng "có công mài sắt

có ngày nên thơ" rất "mắn" sau này của Huy Cận đều có sự chăm chút cổ vũ đầy tri âm tri kỷ

của Xuân Diệu. Tiểu luận dài gần 100 trong: "Thế giới thơ Huy Cận" là một "công trình kể

biết mấy mươi", đƣợc viết hơn một năm trời và hoàn thành một tháng trƣớc ngày Xuân Diệu

qua đời đã nói lên biết bao tình cảm của ông dành cho bạn!

Xuân Diệu chỉ có một bài viết về thơ Chế Lan Viên, đó là bài "Đọc Ánh sáng và Phù

sa", in vào cuối tập "Dao có mài mới sắc". Ở đây có vấn đề cái thích cái "tạng" riêng cứu

mỗi nhà phê bình, nhƣng "mắt xanh" Xuân Diệu đã vƣợt qua cái tạng thích riêng mình để

nhìn nhận một cách trung thực, thẳng thắn những nhƣợc điểm và những đóng góp của tập thơ

vào nền thơ chung của nƣớc ta lúc bấy giờ. Chọn "Ánh sáng và Phù sa" tức là đã chọn tập thơ

tiêu biểu nhất của

119

phong cách nghệ thuật một thi sĩ; nó đánh dấu "một giai đoạn đấu tranh của tâm hồn Chế

Lan Viên, không những đấu tranh chống bệnh, mà thực ra, còn chống nốt với những còn lại

nào đó của giai thoại đoạn đoạn suy nghĩ siêu hình trước cách mạng [58, tr 770]. Là nhà thơ

từng trải qua "thung lung đau thương"; Xuân Diệu cảm nhận sâu sắc từ "Ánh sáng và phù sa"

tiếng nói của "một tâm hồn nặng những suy nghĩ, phấn đấu trên hoàn cảnh cụ thể của mình,

để tới được cái lớn của niềm vui chung". Những ƣu tú trong tập thơ có đƣợc, bắt nguồn từ sự

chuyển biến ấy đã dƣợc Xuân Diệu hào hứng phân tích; cái "tài thơ” của Chế Lan Viên với

những mặt mạnh và mặt yếu của nó cũng đƣợc Xuân Diệu đề cập, cái thông minh sắc sảo của

Chế Lan Viên ngay cả khi làm loại thơ đả kích trào phúng, Xuân Diệu cũng không quên. Nhƣ

vậy, là chỉ cần "điểm huyệt" vào một tập thơ nhà phê bình Xuân Diệu vẫn có thể làm nổi bật

khá rõ chân dung một nhà thơ lớn của nền thơ hiện đại.

*

* *

Chƣa kể những cảm nghĩ, những dẫn chứng, những phân tích liên hệ tạt ngang trong

nhiều bài viết, Xuân Diệu đã có sáu tiểu luận công phu về thơ Tố Hữu; lần theo thời gian có

thể kể đến nhƣ sau: "Tập thơ Việt Băc của Tố Hữu" 4.01.1955); "Từ ấy trong tôi bừng nắng

hạ" (Đọc tập thơ Từ ấy của Tố Hữu tháng 8/1959), "Dao có mài mới sắc" (chung quanh tập

thơ Từ ấy, 14/02/1960) tập thơ Bác Hồ" ( Đọc tập thơ dâng Bác của Tố Hữu, 7/1960); "Tố

Hữu với chúng tôi" (Lời nói đầu tập thơ "Máu và hoa" của Tố Hữu Hữu dịch, xuất bản ở

Pháp, 1975); và "Huế với thơ Tố Hữu" (3/1984). Và, qua các tiểu luận ấy Xuân Diệu ông chỉ

khẳng định vai trò ngƣời mở đƣờng, vị trí đặc biệt của Tố Hữu trong thơ ca cách mạng; tác

động của thơ Tố Hữu đối với công chúng và đối với chính bản thân mình; mà những vấn đề

có ý nghĩa học qua thơ Tố Hữu đang đƣợc Xuân Diệu không ngần ngại phát biểu và trao đổi.

Chính Xuân Diệu là lời đã đƣa ra ý kiến: "trên nét lớn, thơ Tố Hữu trước cách mạng tức là sự

thoát

120

thai từ phong trào Thơ mới (từ 1932 trở đi) kết hợp với tinh thần, với tư tưởng Cách mạng

vô sản do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo" [l01,tr 131]. Một cuộc thảo luận sôi nổi

xung quanh tập thơ Từ ấy đã diễn ra vào năm 1959-1960. Không ít ý kiến phản đối và thậm

chí qui kết nặng nề nhƣng Xuân Diệu chỉ tiếp thu, điều chỉnh cách nói, còn vẫn bảo vệ quan

điểm của mình về mối quan hệ giữa thơ Từ ấy và Thơ mới. Thực tiễn phê bình, nghiên cứu

văn học ngày càng chứng minh những suy nghĩ đi trƣớc của Xuân Diệu là đúng đắn và trung

thực.

Trong bài thơ giới thiệu tập thơ "Máu và Hoa" của Tố Hữu dịch ra tiếng Pháp, Xuân

Diệu viết: "Tố Hữu đã đưa thơ chính trị đến trình độ là thơ rất trữ tình; trong từng giai đoạn

đoạn gay go của cuộc đấu tranh, thơ chính trị đạt đến thơ hay, là một niềm vui sướng cho

tâm và trí nqười đọc" [42, tr 36]. Chúng tôi nghĩ rằng, cho đến mãi sau này, đây vẫn là một

trong những lời đánh giá có tâm, có trí nhất về đặc trƣng và giá trị thơ Tố Hữu.

*

* *

Đặc biệt, ngọn bút phê bình Xuân Diệu cũng rất quan tâm đến nhà thơ trào phúng Tú

Mỡ. Chẳng là hồi Cách mạng tháng Tám mới thành công Xuân Diệu đã từng làm thơ trào

phúng đả kích bọn "Việt quốc", "Việt cách" phản động, tay sai giặc Tƣởng; xa hơn, bác Tú và

Xuân Diệu đều cùng tham gia Tự Lực Văn Đoàn; nhƣng cái chính là không ai khác, Tú Mỡ là

nhà thơ trào phúng lớn nhất của nền thơ nƣớc ta thế kỷ XX. Năm 1952, Xuân Diệu đã có bài

"Thơ ca kháng chiến" của Tú Mỡ, ghi nhận sức viết của một ngòi bút dẻo dai, ngòi bút không

bao giờ biết mệt, nhà thơ viết nhiều nhất trong kháng chiến, đồng thời cũng so với thơ trào

phúng thời "Dòng nước ngược" để thấy sức "bút chiến đấu" mới của Tú Mỡ. Năm 1960,

Xuân Diệu "Chúc mừng nhà thơ Tú Mỡ sáu mươi tuổi”, năm 1964 với tiểu luận "Nhà thơ Tú

Mỡ", Xuân Diệu đã thể hiện rất kỹ lƣỡng và sinh động chân dung nhà thơ. Viết về Tú Mỡ,

ngòi bút phê bình Xuân Diêu còn muốn khẳng định vị trí thơ trào phúng trong nền thơ ca dân

tộc và nói

121

lên quan niệm của mình về mối quan hệ giữa thơ trào phúng và thƣ trữ tình. Xuân Diệu

thƣờng hay so sánh thơ Tú Mỡ và thơ Tú Xƣơng, để vừa nêu bật đƣợc phong cách mỗi nhà

thơ, đồng thời cũng yêu cầu cái đích mà thơ trào phúng cần phải vƣơn tới. Ông nhận xét rất

tinh tế: "Tú Xương trào phúng mà lại ít cười "Vì Tú Xương đau xót với người với cảnh xấu xa

nên lúc đập Tú Xương cũng đập mạnh hơn", còn Tú Mỡ, bêu riếu quân giặc, vạch mặt nó,

dồn nó túi bụi, nhƣng "chửi giặc nhiều hơn là đánh nó; Tú Mỡ thiên về nụ cười, chú về trào

phúng "chưa có những câu thơ điển hình bám vào trí nhớ như những câu thơ Tú Xương cái

sức căm giận nội tại ở trong thơ còn ít" [59, tr 507]. Xuân Diệu chỉ rõ: Lên tới chỗ căm phẫn

tột độ, cái trào phúng sẽ gặp cái bi tráng, và thơ trào phúng ấy tức là thơ" [59, tr 508]. Do

vậy, theo Xuân Diệu, "thơ Tú Xương sâu hơn, mạnh hơn thơ Tú Mỡ, và rất trữ tình" nhƣng

về đề tài, "thơ Tú Mỡ "xã hội" hơn thơ Tú Xương", "thơ trào phúng của Tú Mỡ ôm trùm về

chiều rộng, và có duyên, rất có duyên" [37, tr 56]. Có lẽ, cho đến nay, chƣa ai viết về thơ Tú

Mỡ hay hơn, kỹ hơn, và cũng ít ai quan tâm đến mối quan hệ mật thiết giữa thơ trào phúng và

thơ trữ tình nhƣ nhà thơ Xuân Diệu.

Sau cách mạng, nền văn học mới của chúng ta là nền văn học của nhiều dân tộc anh

em cùng sống chung trên Tổ quốc Việt Nam. Giới thiệu hai nhà thơ tiếng Thổ và tiếng Mán

(Nông Quốc Chấn và Bàn Tài Đoàn) Xuân Diệu muốn lƣu ý đến đặc trƣng ấy; mặt khác ông

còn muốn đề cập một vấn đề quan trọng hơn, đó là bản sắc dân tộc của thơ qua ngôn ngữ.

Xuân Diệu ngăn trƣớc tình trạng có thể "Kinh hóa" khi dịch thơ ra thơ ra vần điệu tiếng Kinh

và đòi hỏi phải giữ nguyên hƣơng của tiếng thơ Thổ, tiếng Mán. Xuân Diệu viết:

"Người thi sĩ là con đẻ của ngôn ngữ dân tộc, là người phải cảm xúc sâu xa nhất cái

hay, cái đẹp, cái khu tàng sâu kín của ngôn ngữ dân tộc mình, nó chứa đựng tâm hồn dân tộc

mình. Một nhà thơ không được xa rời ngôn ngữ dân tộc mình dù chỉ là một bước" [59, tr

518].

122

Đó cũng là ý nghĩ chung của những nhà văn hóa lớn, nhà thơ lớn, nhà phê bình lớn

của mọi dân tộc và thời đại.

2.2.33. Xuân Diệu với các nhà thơ trẻ

Thuở “Thơ Thơ" mới ra đời, Xuân Diệu đã đƣợc gọi là nhà thơ của mùa xuân, tình

yêu và tuổi trẻ. Nhà thơ trẻ tuổi ấy lại cứ "y phục tối tân" nên không ít ngƣời tiếng ra, tiếng

vào; nhƣng nói nhƣ Hoài Thanh: "Với một nhà thơ còn gì quí cho bằng sự hoan nghênh của

tuổi trẻ" [144, tr121]. Tuy nhiên, nhà phê bình lại là chuyện khác!

Xuân Diệu vẫn hằng nghĩ: "Người nào yêu cuộc sống, yêu cuộc đời vô hạn, luôn luôn

thay máu mới, người ấy tất nhiên yêu những bạn thanh niên... Trong làng văn cũng vậy,

những nhà văn hướng về tương lai thì cũng đồng thời quí mến trân trọng những người viết

văn trẻ" [36, tr 3]. Có thể nói không quá lời rằng, từ ngày chúng ta xây dựng nền văn học

mới, nền thơ cách mạng, trong các nhà thơ, nhà vãn có tôn tuổi, Xuân Diệu là ngƣời nhiệt

lình và quan lâm thƣờng xuyên nhất đến những ngƣời viết trẻ. Bằng tấm lòng ấy cùng với

một sức đọc ghê gớm khó ai sánh kịp, Xuân Diệu dƣờng nhƣ đã bao quát hết đƣợc nền thơ

chúng ta, trong đó có lớp lớp những cây bút trẻ. Sau "tiếng thơ" kháng chiến chống Pháp

cùng một thế hệ thi sĩ xuất hiện; bƣớc vào những năm xây dựng miền Bắc và kháng chiến

chống Mỹ, qua mỗi cuộc thi thơ, mỗi chặng đƣờng sáng tác, Xuân Diệu không dấu niềm hào

hứng của mình khi phát hiện những tài năng mới: "... Tôi rất vui sướng chào mừng nhà thơ

mới Phạm Tiến Duật... đã có những bài thơ hay, hay cả hồn lẫn xác, hay trên giấy trắng mực

đen, hay với những câu thơ hẳn hoi...". Rồi "Vƣơng Anh, ngƣời dân tộc Mƣờng, "qua thơ

anh, làm cho tôi thấy cái vốn văn học Mường thật là đáng quí. Thơ Vương Anh đã kết hợp ở

mức độ cao bản năng xúc cảm và trí tuệ suy ngh”. Còn "Bế Kiến Quốc cho thấy một cái gì

đang mầm chồi nụ ở trong cảm xúc, trong hồn thơ". ―Phan Thị Thanh Nhàn... chứng tỏ một

sự đằm trong xúc cảm và suy nghĩ, cái đằm của tâm hồn phụ nữ" [39, tr 272 - 282]. Hầu nhƣ,

Xuân Diệu đọc và từng nhớ từng

123

gƣơng mặt các bạn thơ trẻ: Nguyễn Mỹ để lại cho chúng ta một "tiếng hát thiên nga": bài

Cuộc chia ly màu đỏ. Lê Anh Xuân đã "vĩnh cửu hóa các liệt sĩ với "Dáng đứng Việt Nam",

Nguyễn Khoa Điềm nhận "từ những gì các anh trao" ở chiến trƣờng Trị Thiên, Dƣơng

Hƣơng Ly lưu lại hình ảnh người con gái dũng sĩ sông Hàn (Đà Nẵng). Nguyễn Duy với

"Bầu trời vuông", Nguyễn Đức Mậu, trực tiếp nói đến chiến trƣờng nhƣ "một phóng viên mặt

trận mà tâm hồn đầy chất thơ", thơ Trần Đăng Khoa, Hoàng Nhuận Cầm "đáng mến thương

vô hạn trong cái hồn nhiên như một bình minh ríu rít", "mang cái duyên tinh sương của một

buổi sớm của đời người" [42, tr 124-127]. Xuân Diệu chăm chút trân trọng không chỉ từng

bài mà cả từng ý, từng đoạn, từng câu, từng hình ảnh, từng quan sát lý thú của từng cây bút

trẻ:

Song đối với một nhà thơ tầm cỡ nhƣ Xuân Diệu, đóng góp lớn nhất cho phê bình thơ

trẻ, chủ yếu vẫn là sự dẫn dắt truyền nghề, là "phải nói với nhau những điều sâu sắc nhất,

những điều ở trong ruột của vấn đề". Xuân Diệu rất ý thức điều ấy. Ông xác định rằng, "cổ

vũ, khuyến khích, nâng đỡ nhà văn trẻ không có nghĩa là hạ bớt tiêu chuẩn" " ngược lại tôi

cố ý đòi hỏi cao" là vì tôi tha thiết muốn giúp ích nhiều nhất cho các bạn". Xuân Diệu cũng

đã đón trƣớc cái khó chịu của ngƣời khác: "cũng có thể đôi ngƣời không thấu, cho là tại sao

tôi lại vạch lá tìm sâu, thật ra, đây là một thái độ chí tình"... "là chứng minh cho tấm lòng

quan thiết, chi chút, mến thương, tấm tình thành xây dựng" [36 tr 30]. Những bài nói chuyện

của ông với mấy lần hội nghị các nhà văn trẻ, những bài tổng kết của ông sau các cuộc thi thơ

đều đƣợc chuẩn bị công phu tỉ mỉ với biết bao tâm huyết. Thƣờng là nhân nói về thơ trẻ mà

ông nói về "công việc làm thơ" từ qui luật của thơ để đòi hỏi bạn trẻ "phải trộn trái tim của

mình vào sự vật hơn nữa, thì bài thơ mới đứng được". Không ít lần, trong những bài phân

tích bình luận thơ với các bạn trẻ, Xuân Diệu thƣờng đem cả bài thơ của mình ra làm ví dụ.

Có ngƣời không thích Xuân Diệu làm việc này, nhƣng thực ra với cái tâm của Xuân Diệu,

đọc và hiểu thật kỹ Xuân Diệu, chúng ta sẽ thấy rằng việc làm này

124

cũng nhƣ hành động của Đankô tự lấy tim mình ra để làm đuốc sáng, là muốn đỡ bớt sự tiêu

phí "máu xương" của ngƣời đi sau. Đã có nhiều nhà văn, nhà thơ trẻ nói đến "khả năng tòa

sáng" của Xuân Diệu; nhiều kỷ niệm, hồi ức của bạn bè cũng nhƣ qua thực tiễn phê bình của

Xuân Diệu ở từng bài viết, càng làm nổi bật đóng góp lớn lao này.

Có lúc, nhƣ sợ mình quá lời, Xuân Diệu đã mƣợn Kim Thánh Thán để tâm sự:

"Khi viết bình luận về vở Tây Sương Ký, Thánh Thán tự cho mình là "chua phê càn

rỡ"; vào câu chuyện về công việc làm thơ tôi nói sa đà và tỉ mỉ quá; đây chỉ là những lời lạm

bàn, xin các tác giá trẻ quí mến của tôi vui lòng lượng thứ" [51, tr 179].

Nhìn lại tình trạng phê bình thơ từ ngày Hoài Thanh, rồi Xuân Diệu qua đời đến nay,

ta vẫn mong sao có một ngƣời "chua phê càn rỡ" ấy!

*

* *

Tóm lại, ở lĩnh vực phê bình nghiên cứu, nhà thơ Xuân Diệu đã có cả một hệ thống

tác phẩm tiêu biểu qua từng thời kỳ, trong đó có cả công trình tầm cỡ mang giá trị cổ điển

"Các thơ cổ điển Việt Nam, tập I, tập II". Mặt khác, bút lực phê bình của Xuân Diệu còn thể

hiện ở khả năng bao quát nhiều mảng đề tài, viết theo nhiều kiểu thể loại mà ở đề tài nào,

kiểu loại nào cũng có những thành công xuất sắc. Đó chính là nguồn cứ liệu và cơ sở để đi

sâu tìm hiểu thêm phong cách phê bình của Xuân Diệu.

125

CHƢƠNG 3: PHONG CÁCH PHÊ BÌNH NGHIÊN CỨU CỦA XUÂN DIỆU

Phong cách và những vấn đề về phong cách, từ xƣa đến nay dã đƣợc nhiều sách vở

bàn luận. "Từ điển thuật ngữ văn học" định nghĩa:

"Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn

định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc

đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn

học dân tộc" [77, tr 170].

Khái quát trên đây dƣờng nhƣ chƣa ôm trọn phê bình, vì tác phẩm ở loại hình này

không xây dựng "hệ thống hình tượng". Song, ở một góc nhìn khác, đằng sau mỗi tác phẩm

phê bình đích thực bao giờ cũng không thể thiếu vắng hình tượng - cái tôi đầy tài năng và

bản lĩnh của nhà phê bình. Ở đó, phê bình không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật vì bản

thân nó cũng là văn học. Và, mỗi ngƣời phê bình, nói nhƣ Hoài Thanh cũng thƣờng có "một

sở trường riêng, một lối viết riêng, một phong cách riêng" [145, tr. 221] .

Đi tìm phong cách, thực ra là phát hiện cho đƣợc cái "sở trường riêng", cái "lối viết

riêng" ấy; hay nói nhƣ Nguyễn Đình Thi là đi tìm "cái chất tổng hợp làm nên bản lĩnh từng

tác giả". Với những nghệ sĩ lớn hoạt động ở nhiều lĩnh vực sáng tạo, phong cách nghệ thuật

của họ thƣờng phong phú, đa dạng nhƣng vẫn thống nhất để làm nên những đặc điểm nổi bật

không thể lẫn với ngƣời khác. Tìm hiểu phong cách có một ý nghĩa rất lớn trong việc xác

định vị trí và đóng góp thực sự của nhà văn đối với nền văn học; bởi vì suy cho cùng cái còn

lại của họ cũng chính là sự hiện diện của một phong cách sáng tạo mà thôi! V Huygô có lí khi

khẳng định rằng: "Tương lai chỉ thuộc về những nắm được phong cách" [89, tr. 205].

126

Từ nhận thức trên, tìm hiểu phong cách phê bình của Xuân Diệu chủ yếu là khảo sát

hệ thống tác phẩm của ông ở lĩnh vực này, gắn với chức năng của phê bình và đặt nó trong

mối quan hệ so sánh với những tác phẩm của một số cây bút tiêu biểu khác. Dƣới đây chỉ mới

bƣớc đầu nhận diện một số đặc điểm nổi bật.

3.1. Nhà thơ trong nhà phê bình

Thực ra, ở nƣớc ta, không chỉ riêng Xuân Diệu, mà nhiều nhà văn, nhà thơ, trong đó

một số ngƣời có tên tuổi nhƣ Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi.... cũng vừa

viết văn, làm thơ vừa có tác phẩm phê bình. Khác với những nhà phê bình chuyên nghiệp, đối

với những nghệ sĩ vừa sáng tác, vừa làm phê bình này, họ đều có chung một chỗ mạnh; ấy là

họ không chỉ nhìn tác phẩm từ bên ngoài mà còn có cả cái nhìn từ quá trình bên trong, xuất

phát từ sự thấu hiểu tâm lý lao động nghệ thuật. Sự tác động qua lại giữa tư duy hình tượng

và tư duy luận lý ở ngay trong một chủ thể sáng tạo sẽ là qui luật tất yếu dẫn đến sự hình

thành những mối tƣơng đồng nhất định giữa phong cách trong sáng tác và phong cách trong

phê bình. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, mỗi hình thức tƣ duy gắn với mỗi lĩnh vực hoạt

động có tính độc lập tƣơng đối của nó và sự tác động qua lại nhiều hay ít còn tùy thuộc vào

mục đích, động cơ và cảm hứng của chủ thể khi tiến hành mỗi loại công việc. Mức độ đậm,

nhạt của tƣ duy hình tƣợng và tƣ duy luận lý thể hiện qua tác phẩm sẽ là một trong những yếu

tố làm nổi bật phong cách riêng của nghệ sĩ ở từng loại hình sáng tạo ấy.

Chẳng hạn, có nhà văn đến với phê bình nhƣ để tìm thêm một thú chơi, thú vui thấy

cái gì hay, cái thích thì viết, cũng nhƣ "thấy cây nào ra hoa mà tiện mắt tiện tay, tiện chỗ" thì

xem trƣớc, chứ "không cần đi theo trật tự gì". Trƣờng hợp này phê bình của nhà văn sẽ nhƣ

một dạng tùy bút, rất điển hình cho phong cách phê bình tài hoa tài tử của mọi tƣ duy nghệ sĩ

khoáng đạt. Có nhà thơ với tƣ duy trí tuệ sắc sảo luôn mong đem đến "hương sắc lạ" cho đời,

khi bƣớc vào phê bình lại thƣờng quan tâm đến những vấn đề "ngoại vi thơ" rồi "nghĩ cạnh

dòng thơ" nhƣ chứng tỏ thêm phong cách khác lạ, thông thái của chính mình. Có nhà

127

văn, nhà thơ, bên cạnh sáng tác còn gánh trách nhiệm quảnh lý , thì tiểu luận phê bình của

chính nhà văn nhà thơ ấy lại thiên về phía tƣ duy lý luận, nêu ra "mấy vấn đề văn học" hoặc

"một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong văn nghệ" mang ý nghĩa "nhận đường", dẫn dắt.

Con với nhà thơ Xuân Diệu, "con người dường như sinh ra để làm thơ" thì văn xuôi, hoặc

tiểu luận phê bình của ông đều là những phiên bản của thơ; sáng tác văn xuôi hay làm phê

bình đều là những hoạt động cho thơ, đều không ngoài cảm hứng dào dạt muốn gửi đến muôn

đời niềm yêu thơ "ngàn năm không thỏa". Xuân Diệu cũng ý thức rất rõ sự khác nhau giữa

lao động thơ và lao động phê bình. Có lần ông tâm sự: "Làm thơ tuy vất vả nhưng có cảm xúc

bù đắp khi suy nghĩ. Còn nghiên cứu dễ tổn thọ" [59, tr 74]. Nhƣng, với một tình yêu mãnh

liệt không thể dấu, Xuân Diệu đã bộc lộ trực tiếp cái tôi sôi nổi đắm say của mình vào văn

phê bình. Và, có thể nói rằng chính cái tôi - trữ tình Xuân - Diệu - nhà - thơ đã hòa quyện và

đem đến cho cái - tôi - chính - luận Xuân - Diệu - nhà - phê - bình những bản sắc riêng, tạo

thành một đặc điểm nổi bật của phong thái và cốt cách Xuân Diệu.

Là ngƣời đọc rộng biết nhiều, đôi mắt giàu có của Xuân Diệu am tƣờng nhiều lĩnh

vực vãn hóa văn học, nhƣng hầu hết công trình phê bình nghiên cứu có giá trị, những bài tiểu

luận tâm huyết nhất ông đều dành cho thơ. Hiếm thấy một nhà phê bình nào có sẵn cả một

nguồn thơ đầy ắp, thƣờng trực, vừa dào dạt thiết tha, vừa rạo rực sôi nổi nhƣ Xuân Diệu.

Bƣớc vào thế giới nghệ thuật phê bình của Xuân Diệu là bƣớc vào thế giới thi ca của muôn

nhà, muôn thời, muôn nơi muôn loại: ở đó có thơ ca hò vè dân gian, thơ cổ điển, thơ hiện đại

thơ trong nƣớc, thơ ngoài nƣớc, thơ của bậc thiên tài và cả thơ của ngƣời mới gửi bài dự thi

thơ trên báo tƣờng v...v. Ngòi bút Xuân Diệu "vẫy vùng" trong biển thơ ấy để bất cứ lúc nào,

chỉ cần có dịp là bình thơ, nói chuyện thơ, và thơ lại tuôn trào vào mạch văn một cách tự

nhiên, ào ạt. Có lẽ cũng chính vì vậy mà cùng là nhà phê bình thơ, Hoài Thanh thƣờng đƣa

dẫn chứng vào bài văn the lối chọn lọc, vừa đủ, còn Xuân Diệu lại hay dẫn chứng dồn dập,

nhiều khi theo lối liệt kê không dứt. Chẳng hạn, đọc Quốc âm thi tập, đứng trƣớc bức vẽ chân

dung Nguyễn Trãi

128

"tuổi cao tóc bạc cái râu bực" và "sắc bạc của làu tóc như tòa rà ánh sáng", Xuân Diệu liền

nghĩ đến: "Trong thơ cổ điển Việt Nam có hai người bạc tóc: Nguyễn Trãi và Nguyễn Du",

thế là cùng một lúc những câu thơ nói về sự bạc tóc của hai bậc thi hào ùa về: "Nguyễn Du

khi "tấm thân sáu thƣớc tuổi ba mƣơi" mà đã Xuân thu đại tự bạch đầu tân", lần lữa Xuân thu

đầu tóc thêm bạc; Nguyễn Du Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên, ngƣời tráng sĩ bạc đầu buồn

ngửa mặt lên trời; Nguyễn Du Đầu bạc đáng buồn vì không cách giấu mình - Bạc đầu buồn

chẳng trở về quê - Mấy sợi tóc bạc lòng thòng xuống vạt áo - Bạc đầu còn được thấy Thăng

Long - Tóc bạc phơ phơ trước gió chiều - Tròn gối nằm nơi đất khách, hai mái tóc bạc bù

xù…

Sinh trƣớc Nguyễn Du 385 năm, Nguyễn Trãi "Tóc hai phần bạc bởi sương thu - Tóc

nên bạc bởi lòng ưu ái - Âu thì tóc đã bạc mười phân- Tuổi đã năm mươi đầu đã bạc..." [44,

tr 6].

Để làm nổi bật ý nghĩa của hình tƣợng chữ "MÌNH" trong truyện Kiều của Nguyễn

Du; mở đầu tiểu luận "Tìm hiểu Tản Đà" đi vào "Thế giới thơ Huy Cận", Xuân Diệu cũng liệt

kê những câu thơ tiêu biểu, tạo nên một bầu khí quyển thơ nhƣ thế trƣớc khi phân tích, bình

luận.

Ngƣời ta vẫn thƣờng nói, đối tƣợng của nhà văn, nhà thơ là cái đẹp trong cuộc đời,

còn đối tƣợng của nhà phê bình là cái dẹp trong thơ văn. Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu cho

khuynh hƣớng mở rộng cánh cửa thơ để hiện tƣợng cuộc sống ùa vào, thì Xuân Diệu cũng là

nhà phê bình tiêu biểu cho một phong cách mở rộng cánh cửa phê bình đó cho thơ ùa vào.

Nhiều lúc, cứ cảm tƣởng nhƣ Xuân Diệu "vốc" (chữ dùng của Xuân Diệu) cả nắm thơ đƣa

vào văn phê bình của mình, không kịp và không cần phải chọn lựa. Chế - Lan - Viên cũng đã

có lần nhận xét, nếu theo cách ấy, khi vào vƣờn, Xuân Diệu "sẽ ngoạm vào các trái hồng lẫn

cả trái xanh" [166. tr 8]. Thậm chí, nhiều khi Xuân Diệu không chỉ trích dẫn thơ ngƣời mà

còn trích dẫn thơ của chính mình. Độc giả và ngay cả

129

đồng nghiệp không phải ai cũng thích, đó là chƣa nói đến có ngƣời còn tỏ ra khó chịu; nhƣng

biết làm sao đƣợc, bản tính của hồn thơ Xuân Diệu là vậy:

"Trái tim tôi: một cái túi tràn trề

Hột lúa, hột mè, hột bông, hột cải

Lòng tôi chứa, mà hồn tôi thì vãi

Gió bay hột cải rơi lại trong vườn...

Sang xuân hoa cải ở lại vàng tươi"

(Tôi muốn đi thăm cả miền Nam)

Trích dẫn thơ đến độ đậm đặc trong văn phê bình, Xuân Diệu có triết lý riêng của

mình. Ông quan niệm: "Sáng tạo là người thi sĩ, còn người bình luận chỉ có chọn lọc, sắp

xếp, đề dẫn" [56, tr 151]. Mặt khác, Xuân Diệu vốn là nhà thơ của ý thức thời gian; qua thời

gian cái gì tinh chất thì sẽ còn: "Gió bay hột cải rơi lại trong vườn - Sang xuân hoa cải ở lại

vàng tươi". Trong mạch văn với hàng loạt dẫn chứng "vội vàng" có khi chƣa kịp chọn lọc ấy,

Xuân Diệu đầy tự tin vào lòng mình và còn tin vào sự sàng lọc đầy khắc nghiệt mà cũng vô

cùng sáng suốt của thời gian. "Yếu tố thời gian, thời điểm rất quan trọng trong việc phê bình

văn học" [45, tr- 14].

*

Cái tôi chính luận dào dạt chất trữ tình trong văn phê bình Xuân Diệu thƣờng hay nói

đến "đối diện đàm tâm". Xuất phát từ quan niệm coi trọng sự thông cảm, thấu hiểu, cái tôi ấy

thiên về phía phê bình, trò chuyện, tâm sự.

Khi thì níu kéo trò chuyện tâm sự với ngƣời nghe, ngƣời đọc bằng giọng kể thân tình

nhƣ gợi một niềm say mê:

"... Tôi nhớ khi mình còn nhỏ tuổi độ mười bốn, tình cờ tôi mở Kiều ra đọc; tôi chưa

hề biết câu chuyện đầu đuôi ra sao, các nhân vật thế nào tôi cứ lao vào giữa các trang, và

vốc từng vốc thơ, uống say sưa! Và tôi riêng chọn những câu nào tôi yêu mến nhất, trữ tình

nhất, cất vào trong trí nhớ non trẻ" [43, tr 153].

130

Khi thì nhƣ cùng chia xẻ một điều tâm đắc:

"... Khoái trá biết bao, mình là con cháu sáu trăm năm sau được vào đến thơ của cô

tiên thuở trước, ôm từng cái cột, đếm từng chiếc kèo, ngửa mặt nhìn từ bên trong mỗi phiến

ngói, ngắm ngắm từ cánh cửa, trân trọng từng viên gạch .... suốt cái phần cuộc đời tôi còn

lại cho đến hơi thứ cuối chót sẽ vẫn còn cái tâm đắc này" [43, tr 17].

Cách dùng đại từ xƣng hô "ta", "chúng ta" lặp lại nhiều lần trong hành văn mà không

thấy lặp cũng góp phần tạo nên không khí hòa hợp, gần gũi với độc giả:

"Ức Trai dùng từ, đặt cáu rất ngang, mà hợp, làm chúng ta đọc rất khoái:

"... Chúng ta hãy soi một chữ trong thơ Nguyễn Trãi..."

"... Ôi! Nguyễn Trãi khiến chúng ta tâm đắc về bản lĩnh của Người, và khẽ mỉm cười

rất phục cái ngang bướng mở rộng của Người ..." [43, tr 17 - 27].

"... Ta phải đặt tâm trí mình vào cái thời đại, cái hoàn cảnh lịch sử cụ thể để mà thấu

cảm với các nhân vật ngày xưa" [43, tr 24].

"... Ta vào vườn thơ thăm đền thơ, lên lầu thơ của Ức Trai, quen thuộc với cách viết

của Người rồi, thì ưa mến; ta cảm thấy: đây đúng là một thi sĩ" . [43,tr57].

"... Nguyễn Du của ta cũng nối tiếp tiếng khóc hào hùng ấy”. [43, tr 122].

Tên gọi một số bài viết của Xuân Diệu nhƣ "Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ"

"Bàn thêm với bạn"... cũng nằm trong mạch tâm tình này.

Không chỉ trò chuyện với độc giả, phê bình của Xuân Diệu còn hay có những cuộc trò

chuyện tƣởng tƣợng giữa ngƣời xƣa và tác giả: đó là lần Xuân Diệu chƣa câu thơ "Tuổi cao,

tóc bạc, cái râu bạc" của Nguyễn Trãi, đọc thành "Tuổi già, tóc bạc, chòm râu bạc..." và tự

đắc ý với sự "cải tiến" đó. Xuân Diệu kể lại tôi nằm chiêm bao tƣởng thấy Ức Trai tiên sinh

trong mộng và Ức Trai bảo tôi: "Này, đồng chí Xuân Diệu, ai cho đồng chí chữa thơ tôi? Tôi

già bao giờ đồng chí bảo tôi già ..." [43, tr 61].

131

Và một lần khác thì Xuân Diệu lại "tưởng như mình đang thưa với Ức Trai tiên sinh"

về biển, về núi, về tuyết, về trăng và về cây tùng đứng ngạo tuyết "một mình lạt thuở ba

đông" trong thơ của Ngƣời [43, tr 77 - 78].

Cũng có khi cái tôi chính luận lại tâm sự với chính mình nhƣ một dộc thoại nội tâm:

"Ôi...! bao giờ thơ mình cũng được người ta mua như mua một bao diêm, cùng với

bao diêm; giá mà thơ cũng cần thiết cho sự sống đến như một bao diêm! Được người ta rung

đùi mà "đọc thơ Xương, ăn chuối ngự" thì chết cũng ngậm cười nơi chín suối" [44, tr 296].

Phải chăng, cái cách phê bình tâm sự ấy cũng bắt nguồn từ tiếng nói của một hồn thơ

*

* *

vốn "khát khao giao cảm" với ngƣời, với đời và với thơ!

Nhƣ Xuân Diệu vẫn từng quan niệm: "Nhà thơ hay, hay bằng tư tưởng, bằng tình

cảm, bằng chí khí, bằng tính tình nhưng tất những cái ấy phải thông qua xúc cảm, cảm giác"

[ 39, tr 273]. "Văn học mang tư tưởng xuyên qua tình cảm, xúc cảm đó là đặc trưng của nó"

[44, tr 229]. Được cái linh cảm, cái trực giác về thơ dẫn đi, chúng ta sẽ chú ý đến những yếu

tố không đo lường được, không tính đến dược" [43, tr 318]. Bởi thế, cho nên "nhà phê bình

cũng như nhà thơ phải luyện cho tinh cái cảm giác thơ, nó là thứ giác quan tinh tế, rất mực

tinh tế [51, tr 261].

Một trong những câu thơ của B. Đimitrôva viết về Việt Nam trong chiến tranh mà

Xuân Diệu rất thích đó là "Nghe tiếng cười của thời gian khúc khích" - một câu thơ "thức

nhọn giác quan". Hoàng Trung Thông có lý khi nhận xét: "Xuân Diệu là nhà thơ của cảm

xúc nhạy bén" [147, tr 63 ] và một nét của Xuân Diệu nhà thơ - Xuân Diệu nhà phê bình là

"nói suy nghĩ bằng cảm xúc và trong những cảm xúc ấy mang suy nghĩ". Văn phê bình của

Xuân Diệu có cả một thế giới hình ảnh, ngôn từ "rất Xuân Diệu" nhằm gọi đúng một trạng

thái xúc động

132

và đánh vào cảm giác ngƣời đọc. Nào là "đầy rẫy", "xuất sáo", "tót vời", "vọt ra", "phun",

"vặt trụi", "nấc lèn", "oang oang"", "đắng đót", "xé", "phá", "đấm", "thụi"...., toàn là những

tính từ, động từ mạnh, gắn với một cách diễn đạt nhiều khi cứ nhƣ "nói chẻ hoe'" ra cốt cho

thực đúng điều muốn nói:

..."Nguyễn Du rút Thúy Kiều từ trong trái tim mình ra, không yêu mến làm sao được"

[43, tr 216].

..."cô Kiều quả thật sắc sáo mặn mà, vẫn còn làm gãy lưng được nhiều nhà phê bình"

[43, tr 158].

..."Xuân Hương là một nghệ sĩ lớn biết phun tâm hồn mình vào cảnh vật, làm cho

chung sống lên ngồn ngộn" [44, tr 62 - 63].

..."Thơ Xuân Hương là thơ rất xuân, rất tình. Bức tranh "Hai tố nữ" dưới mắt cô, như

dầy dầy nổi lên một màu da thịt tốt tươi mát mẻ" [36, tr223].

...Tú Xƣơng "tung tấm lòng cần yêu, ham yêu của mình để đánh trống lấp át đi một

sự không đẹp"... "đã nói thì muốn khạc cả tim phổi mình vào văn".

... "Nhiều nhà thơ khác cũng trào phúng, nhưng chất lượng cười không sâu được

bằng Tú Xương, không phải như Tú Xương hộc ra tiếng cười" [44, tr244-265 -295].

Cách dùng từ, hình ảnh và diễn đạt nhƣ vậy, có thể hơi chối đối với một số ngƣời lúc

đầu chƣa quen, cũng có lúc Xuân Diệu hơi xô bồ, nhƣng nói nhƣ giáo sƣ Hà Minh Đức,

"Xuân Diệu luôn có một tâm hồn cởi mở và thái độ chân tình với cuộc sống nên anh có năng

lực giao cảm mạnh" [67, tr 192]. Chẳng là, ngay từ hồi "Thơ thơ" mới ra đời, trong "lời đưa

duyên" Xuân Diệu đã nhắn gửi "Tôi rất sợ sự lạnh nhạt, sở dĩ tôi tha thiết như vậy, là muốn

xứng đáng với lòng bạn thiết tha... Hỡi không gian, xin người đừng lạnh lẽo" [150, tr 37 -

38].

Dùng từ ngữ sáo mòn, lặp lại ngƣời khác cũng là một "sự lạnh nhạt" để làm tê giá

cảm xúc. Xuân Diệu rất sợ nhƣ thế, ấy cũng là một biểu hiện của trái tim rạo rực Xuân Diệu

trong thơ và cả trong ngôn ngữ phê bình.

*

* *

133

Tuy nhiên, cảm xúc đặc trƣng của hồn thơ Xuân Diệu vẫn là tình yêu - tình yêu đời

yêu ngƣời mà cung bậc thiết tha nhất của nó là tình cảm lứa đôi, tình yêu nam nữ.

Giới thiệu "Ca dao ở Việt Nam", "sống với ca dao miền Nam Trung bộ” những câu ca

dao Xuân Diệu tâm đắc và bình giảng say sƣa văn là ca dao tình yêu. Ông viết:

"Tâm hồn con ngƣời hàng nghìn năm vƣơn tới cái đẹp, đã tạo nên những hình ảnh mỹ

lệ trong ca dao Việt Nam. Và có lẽ khi mà ngƣời ta muốn cho lời nói trở thành hoa, chạm vào

một vật quí giá nhất, là khi ngƣời ta diễn tả tình yêu" [35, tr 230].

Hãy nghe ông phân tích hai câu ca dao miền Nam Trung-bộ:

Ngó em không dám ngó lâu

Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi

"Đây là một cái tâm lý "để dành" rất kỳ lạ, để dành cái kho tàng của tình yêu, nhƣ sợ

nó hao hụt đi mất một sợi tơ:

Thò tay mà ngắt ngọn ngò

Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ

Sao ca dao lại thấu đáo lòng ngƣời đến mức ấy" [59, tr 904].

Dựng chân dung "các nhà thơ cổ điển Việt Nam", ca ngợi tầm vóc vĩ đại tài năng rạng

rỡ của các danh nhân đất nƣớc, Xuân Diệu vẫn không quên vẻ đẹp "con người" qua câu

chuyện tình yêu và qua thái độ, tình cảm của họ đối với tình yêu đôi lứa. Với Xuân Diệu, thì

Nguyễn Trãi cũng buồn vui giận hờn yêu mến nhƣ mọi ngƣời và câu chuyện trêu cô bán

chiếu vẫn rất có duyên, vẫn là việc “tán gái" từ cổ truyền lại cho đến kim, và bài thơ "Ba

tiêu" (Cây chuối): “tình thu một bức phong còn kín" đã gửi lại cái bí mật tâm tình đầy e ấp

cho bạn đọc. Còn Nguyễn Du, là nhà thơ lớn đã "nắm bắt được sâu sắc nhất những qui luật

của

134

trái tim con người" là "sứ giả của tình yêu" , Xuân Diệu bị cuốn hút vào mối tình Thúy Kiều

- Kim Trọng nhƣ một ngƣời trong cuộc, đọc đi đọc lại đoạn Kim - Kiều gặp nhau rồi Kim

Trọng tƣơng tƣ Kiều kể có trăm lần; đến mức đếm đƣợc tỉ mỉ "Nguyễn Du đã dùng 238 câu

thơ vào việc mối lái hồi hộp này, và có thể chia làm bảy bước", tất cả có sáu bước hồi hộp,

lui tới, có không, dẫn đến bước mối lái thắng lợi cuối cùng:

Lần theo tường gấm dạo quanh

Trên đào nhác thấy một cành kim thoa..." [43, tr 139].

Và, cũng chỉ có Xuân Diệu, nhƣ ở phần trƣớc, chúng ta đã nói, mới hình dung đƣợc

dáng đi của Kim Trọng; cứ từng hai bƣớc một, chăm chăm chúi chúi "xăm xăm - đè nẻo -

Lam Kiều – lần sang". Thật là: "Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu" (Chu Mạnh

Trinh).

Không phải ngẫu nhiên mà Xuân Diệu là một trong những cây bút phê bình hào hứng

và sắc sảo nhất khi viết về cuộc đời và thi phẩm Hồ Xuân Hƣơng.

Ở đây, có sức hấp dẫn kỳ lạ của một hiện tƣợng văn học độc đáo đã từng thu hút

nhiều ngƣời, không thể nằm ngoài sự chú ý của Xuân Diệu; ở đây, có tấm lòng thƣờng trực

của một nhà thơ lớn, nhà văn hóa lớn vốn chắt chiu những giá trị tinh thần của cha ông để lại;

nhƣng qua thái độ và nhiệt tình sôi nổi của Xuân Diệu đối với Xuân Hƣơug, chúng ta dƣờng

nhƣ còn thấy đƣợc sự bắt gặp sức sống mãnh liệt của chất lƣợng "Xuân tình" dào dạt khát

vọng sống, khát vọng yêu giữa tâm hồn hai nhà thơ XUÂN của hai thời đại. Có nhƣ vậy

chúng ta mới cắt nghĩa đƣợc tại sao, trƣớc nhiều luồng ý kiến khác nhau hồi bấy giờ, Xuân

Diệu đã tập trung bút lực của mình bênh vực bảo vệ và đề cao giá trị thơ Hồ Xuân Hƣơng

quyết liệt nhƣ thế. Phải chăng, nhà thơ, nhà phê bình của thời đại chúng ta đã thấu hiểu hơn ai

hết, đằng sau sức mạnh đập phá, đằng sau tiếng cƣời trào phúng đáo để của thơ Xuân Hƣơng

là một nỗi đau đớn vô hạn của ngƣời phụ nữ tài hoa, tài tình dƣới chế độ cũ và cả "một nối cô

đơn không nói nên lời, không giải bày?"

135

"Một nỗi yêu" hình nhƣ bao giờ cũng thƣờng trực trong tâm hồn Xuân Diệu. Đọc một

lời thơ chứa chan tâm sự của Trần Tế Xƣơng:

Lúc nhớ nhớ cùng trong mộng tưởng

Khi riêng riêng cả đến tình chung ...

ông cũng liên hệ tạt ngang sang chuyện "Những anh con trai đang lớn lên tưởng như mình

đang yêu ai đó, thì rất dễ vận ngay hai câu thơ ấy vào mình!" [44, tr 231].

Ngay cả lúc dựng chân dung Nguyễn Đình Chiểu - nhà thơ nổi tiếng của đạo đức

trung, hiếu, tiết, nghĩa, với cái nhìn ấy, Xuân Diệu vẫn phát hiện ra ở đoạn gặp gỡ Vân Tiên -

Kiều Nguyệt Nga vẻ đẹp có tầng lớp, và rất ý tứ của cụ Đồ Chiểu. Xuân Diệu hòa lời văn

giàu tƣởng tƣợng của mình cùng thơ, làm hiện lên một lần nữa hình ảnh đôi nam thanh nữ tú.

Xuân Diệu viết những dòng hóm hỉnh: "Phải chăng thầy tú Chiểu khi còn thanh niên

đã có kinh nghiệm được con gái thương mình trước, cho nên mới tả tâm tình Nguyệt Nga

được sâu sắc? [44. trg 337]

Và đây là một đoạn văn có cánh của Xuân Diệu về "bức tượng Vân Tiên" một điệp

khúc trong truyện thơ của Nguyễn Đình Chiểu:

"Cái tình yêu muôn thuở của con người khi thì nó hóa ra dệt gấm, như chức cẩm hồi

vân của nàng Tô Huệ, khi thì nó ẩn trong tiếng đàn như chuyện nàng Kiều, khi nó hoá thành

những bài thơ trong tình sử, khi nó hóa thành bức chân dung hồi ký như chuyện Nguyệt Nga"

[44 tr 350]

Qua ngòi bút phê bình cùa Xuân Diệu, bao giờ chúng ta cũng lắng nghe đƣợc một bản

đàn tình yêu không tắt trong văn học truyền thống dân tộc. Điều ấy, thật có ý nghĩa, khi mà ở

một đất nƣớc chiến tranh giặc giã liên miên, chế độ phong kiến lại kéo dài cả ngàn năm cùng

lễ giáo khắc nghiệt ràng buộc tỏa chiết tình cảm của con ngƣời. Phát hiện và chuyên chú nói

lên khát vọng nhân tình, nhân bản mãnh liệt ấy đâu chỉ là câu chuyện đi tìm nguồn cảm hứng,

nguồn chất

136

liệu đề tài mà thực sự là tuột nét tư tưởng và phong cách của một bút pháp phê bình lớn trong

nền văn học hiện đại hiện đại.

Từ rất sớm, cùng với những bài thơ rạo rực, sôi nổi viết về tình yêu, Xuân Diệu đã có

những bài cảo luận trực tiếp bộc lộ quan niệm của mình về "ái tình" và "thơ ái tình". Trên báo

Ngày nay (tháng 4/1938), nhà thơ, nhà phê bình trẻ hồi ấy đã phát biểu nhƣ một tuyên ngôn:

"Nếu tình yêu chỉ là tình yêu thì tôi yêu làm gì" và viết tiếp một cách đầy ấn tƣợng:., "chính

bàn tay đã đàn trên phím thịt là bàn tay nâng lấy trán ưu tư". (Cũng ý này, về sau trong thơ,

Xuân Diệu viết: "Vai anh khi để đầu em tựa/ Cân cả buồn, vui của một đời").

..."Ta để trong ái tình không biết ngần nào là thơ với mộng, những mơ ước bao la,

những khát khao vòi vọi, những đại dương của thương nhớ và sa mạc của cô đơn, những

rừng rú của lo toan và cái đồng bằng của chán nản".

Có thể nói rằng, Xuân Diệu đã gửi vào tình yêu, cung bậc thiết tha nhất của đời sống

tâm hồn con ngƣời rất nhiều suy nghĩ, chứ không chỉ phải là trực cảm nhƣ khi ngƣời ta

tƣởng. Cái ý mà Mai-a-cốp-xki nói đã lâu: "có những phạm trù mà chỉ có thơ mới giải quyết

được" thì Xuân Diệu hiểu thêm: "có những phạm trù mà chỉ có người yêu mới giải quyết

được" [42, tr18]. Nếu trong thơ, Xuân Diệu là một tình nhân vồ vập, đam mê thì trong phê

bình, chúng ta lại gặp một Xuân Diệu triết nhân không kém phần hào hứng "dùng năng lượng

của tình yêu góp vào năng lượng của tư tưởng" [5t, tr 85]- Dƣới đây là "mấy suy nghĩ về thơ

tình yêu" và sự cần thiết phải có thơ tình yêu trong nền văn học của chúng ta qua một bài viết

của Xuân Diệu cách đây đã hơn bốn mƣơi năm (1962) về trƣớc:

"Hiện nay trong công chúng cách mạng của ta, có một đòi hỏi: sau những thơ về xây

dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà là yêu cầu quan trọng nhất, người ta

đòi hỏi có những bài thơ nói về tình cảm của con người: tình mẹ con, cha con, tình bạn bè,

tình anh em, tình thầy trò...; trong những thường tình ấy, tình yêu có một vị trí đặc biệt. Đến

nay, sự tiến lên của

137

Cách mạng đòi hỏi có vườn hoa; các đô thị đã đặt việc xây dựng vườn hoa vào trong kế

hoạch nhà nước của mình. Cũng như vậy, những người lao động cách mạng hiện nay đòi hỏi

có thơ tình yêu bên cạnh những thơ khác.

Trước Cách mạng, ở trong thơ, anh anh em em nhiều quá, bài hay ít, bài dở nhiều,

ướt quá thì hóa ra sũng, ra lụt. Hơn nữa, khi độc lập của dân tộc, tự do của con người chưa

giành được thì đến vườn hoa cũng thành mỉa mai, thơ tình cũng hóa như một hững hờ với

thời cuộc đó là chưa kể tình yêu trước kia nhiều khi đã thành một nơi trốn tránh, thoát ly.

Trong kháng chiến quyết liệt, sức bút sức người cũng như sức lúa gạo phải dồn cho cuộc vật

lộn sinh tử, tình yêu thì không dừng lại bao giờ, vì giả sử tình yêu ngừng thì cuộc sống cũng

ngừng lại, nhưng sự diễn đạt tình yêu lúc đó chưa phải là cấp bách, chúng ta đã tự bằng lòng

với một bài thơ tình Xô Viết từng nằm trong đáy bị của những hồng quân đánh Đức quốc xã;

ai đã đo hết tác dụng của một Đợi anh về (của Xiniônốp, Tố Hữu dịch), niềm mong đợi bền bỉ

thủy chung gắn liền với hình ảnh người chồng trở về chiến thắng, đã đem lại sự tươi mát, sự

nhuần thấm cho tâm hồn những người kháng chiến chúng ta?

Chúng ta hiểu tình hình trước đây. Nhưng hiện nay không nên có sự vắng vẻ của thơ

tình yêu trong sáng tác văn học của ta" [51, tr 64 - 65]

Không nung nấu vấn đề, không là ngƣời trong cuộc am hiểu tƣờng tận tình hình sáng

tác, không thể có đƣợc một cách trình bày vừa giản dị, vừa hàm súc đến nhƣ vậy! Nếu nhớ lại

năm 1962, cũng là năm Xuân Diệu cho xuất bản tập thơ "Mũi Cà mau" (thơ đấu tranh thống

nhất) và "Cầm tay" (chùm thơ tình), trong đó có "Biển" - bài thơ tình yêu hay nhất của Xuân

Diệu sau Cách mạng, chúng ta mới thấy hết sự thống nhất và bổ sung cho nhau giữa lý thuyết

và thực tiễn sáng tạo, sự hòa quyện giữa Xuân Diệu nhà thơ và Xuân Diệu - nhà phê bình.

138

Từ cái nhìn toàn diện sau chặng đƣờng "Riêng - chung", từ cơ sở lý luận và thực tiễn

trên đây, trong văn tiểu luận phê bình, Xuân Diệu thƣờng liên hệ với tình yêu vì ông cho rằng

"người hiểu thấp thơ cũng như người hiểu thấp tình yêu" và ngƣợc lại cũng từ tình yêu để

hiểu thơ sâu sắc hơn. Dƣờng nhƣ, bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào, ngòi bút phê bình Xuân Diệu

đều có thể liên tƣởng đến tình yêu và hễ chạm đến tình yêu là bỗng say sƣa, sôi nổi và linh

hoạt hẳn lên. "Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ", Xuân Diệu nhắc một điều thiết cốt: "Làm

thơ cũng xác định động cơ phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân nhƣ mọi công tác khác,

nhƣng còn một nguyên cớ khác nữa: là làm thơ vì thúc đẩy tự bên trong, vì nhu cầu của tâm

hồn. Thắt lại đến cùng, vẫn phải có cái động cơ ấy: tôi cần làm thơ, nhƣ tôi cần yêu ngƣời

yêu! Nếu không có cái nguyên cớ cuối cùng ấy thì ta không làm thơ nổi. Anh yêu em, tam tứ

núi cũng trèo, ngũ lục giang cũng lội, thất bát đèo cũng qua. Ta yêu thơ, ta cũng có cái gan

nhƣ vậy..." [36, tr 12].

Đang "bàn về chất lượng thơ", về cách "xem đời" "xem thơ", Xuân Diệu đặt vấn đề

"Xem đời thì phải tinh, xem thơ thì không cần phải tinh hay sao?" bỗng "Ví dụ nhƣ nói sang

chuyện tình yêu. Đã yêu thì phải có cái nhu cầu tỏ tình. Tuy nhiên, ngƣời không sành, không

tinh, thì cứ nghe lời nói hay, nói ngọt của ngƣời khác khéo tán... Tâm hồn ngƣời phụ nữ cao

cƣờng thì có ăng-ten để bắt sóng ngắn, họ nghe đƣợc cái im lặng của ngƣời tỏ tình mà không

nói năng gì cả. Có ngƣời vợ nào xứng đáng với cái tên ấy, mà lại khoe rằng: "chồng tôi yêu

tôi khéo lắm"? Chồng tôi yêu tôi chân thật, thủy chung lắm, hy sinh lắm, chứ sao tình yêu lại

"khéo"? Chân thành là cái chuẩn mực trƣớc nhất để đo tình yêu. Tình yêu có cái phần tinh

diệu, kỳ diệu mà ta biết...[5l, tr 214].

Có những lúc tƣởng chừng nhƣ không thể nào liên tƣởng đến chuyện tình yêu đƣợc,

thế mà Xuân Diệu vẫn cứ tìm ra cách nghĩ, cách nói của mình; chẳng hạn nghiền ngẫm mấy

câu thơ Vịnh cây mía của Nguyễn Trãi:

Ăn nước kia ai được thú

Lần từng đốt mới hay mùi

139

Xuân Diệu bình: "Thông thường người ta ăn cái và uống nước, nhưng vì cây mía, cho

nên ức Trai nói là ăn nước: đây là Ức Trai dạy chúng ta thái độ đi tìm chân lý: đừng tổng kết

vội vàng, phải xuất phát từ từng phần của thực tại cái đã, nếu ăn gốc mía trước, ta sẽ bảo

gốc tre, nếu ăn ngọn mía trước, ta sẽ bảo là chanh, có chua, ăn đoạn giữa thì mía mới ngọt;

huống chi cũng có những đốt ở giữa hẳn hoi, mà không ngọt, phải lần từng đốt mới hay mùi.

Và tôi có thể hiểu thêm một nghĩa ẩn phía sau: Khi hưởng thụ người yêu, cũng phải "lần từng

đốt” với một tâm trí, một trí tuệ cỡ Nguyễn Trãi, không loại trừ cái khả năng tác giả có bao

hàm cả nghĩa thứ hai" [150, tr154 - 155].

Thật là quá bất ngờ! Xuân Diệu vẫn rất phục Thánh Thán, nhƣng cũng có lần, ông gọi

là Thánh Tán. Không biết ở đây Xuân Diệu của chúng ta có "tán" không?

Thế nhƣng, ấy mới là Xuân Diệu. Phê bình nghiên cứu văn học ai chẳng bắt đầu từ tác

phẩm, mà với Xuân Diệu thì "tác phẩm văn học là sự cưới xin giữa ngoại vật với nội tâm nhà

văn" [42, tr 17]. Cho nên, làm sao nói đến văn học mà không nói đến tình yêu. L.Aragông -

nhà thơ Pháp nổi tiếng của thế kỷ XX đã từng khẳng định: "Tất cả những ai từng mơ ước

hạnh phúc cho con người đều là những kẻ si tình". Dù là văn chính luận, vẫn không thể thiếu

giai điệu tình yêu, đó là nét đặc trưng của phong cách phê bình Xuân Diệu. Không lắng nghe

được giai điệu ấy là chưa hiểu hết Xuân Diệu nếu không nói là chưa hiểu gì cả.

*

* *

Ngay trong phần tổng quan, chúng tôi đã nêu một nhận xét của Hoài Thanh về lời văn

"có vẻ chơi vơi" của Xuân Diệu: "Xuân Diệu viết văn tựa trẻ con học nói hay nhƣ ngƣời

ngoại quốc mới võ vẽ tiếng Nam. Câu văn tuồng bỡ ngỡ. Nhƣng cái dáng bỡ ngỡ ấy chính lại

là chỗ Xuân Diệu Diệu hơn ngƣời. Dòng tƣ tƣởng sôi nổi không thể đi theo những đƣờng có

sẵn. Ý văn xô đẩy, khuôn khổ

141

sống của chúng ta sẽ thỏa mãn không ngừng, do tay ta làm óc ta suy nghĩ, và trái tim ta

yêu"...

Cũng có lúc chỉ trong một đoạn văn ngắn, Xuân Diệu phối hợp nhiều phép", chẳng

hạn, khi mở đầu nói về "sự trong sáng của tiếng Việt trong thơ"; dƣờng nhƣ ở đây có cả nghệ

thuật "bồi thấn" (tức là đƣa ra một ý rồi cứ nói thêm vào), có cá lối "sư tử giỡn quả cầu"

(dùng nhiều hình ảnh, nhiều cách diễn dạt vờn quanh một ý) kết hợp với so sánh, ẩn dụ...

Xuân Diệu viết:

"Nhà văn Nguyễn Đình Thi nói: "Văn Truyện Kiều của Nguyễn Du như làm bằng ánh

sáng. Một nhà phê bình nào lại nói: "Thơ Kiều như có vị mật ong". Mật ong thì cũng là ánh

sáng kết tinh lại thôi, mật ong trong; ở miền Nam nói: tổ ong, vàng ong, "ong" tức là trong

sáng như nhìn xuyên qua được. Thơ Nguyễn Du vừa ngọt ngào như mật, vừa ong như ánh

sáng" [50, tr 5 ].

Và, chắc là Xuân Diệu cũng rất ý thức dùng cả phép "rồng thiêng quẫy đuôi" (tức là

tả xong, viết xong chấm hết một chƣơng, một bài, nhƣng lại ghét thế bút xuống thẳng quá,

cho nên quật lại tả, viết thêm đoạn nữa, bài nữa...) lúc cuối bài Đọc Quốc âm thi tập: "... sau

khi viết xong và đánh máy rồi, - lại nghĩ tiếp về bài thơ số 216: Ba tiêu, rồi đƣa bút thêm ba

trang nữa; hoặc đã viết tiểu luận mang tính tổng kết về "Nhà thơ thiên tài dân tộc Nguyễn

Dù" sau đó còn kết thêm "Bản cáo trạng cuối cùng trong truyện Kiều", "Đọc lại Nguyễn Du".

Mặt khác, để tạo thêm nhạc diệu tâm tình cho giọng văn phê bình, Xuân Diệu thƣờng

chủ động dùng "tài tình riêng", "cặp mắt riêng" của mình hòa vào ngƣời thơ, tác phẩm thơ là

đối tƣợng tiếp cận, khám phá; vì thế chất thơ đƣợc nâng lên, giọng văn, bài văn càng có thêm

sức cuốn hút. Hãy nghe một đoạn tình văn rạo rực của Xuân Diệu hòa vào Xuân Hƣơng:

... "Xuân Hương bực bội, có một cái nhu cầu cắn xé, cấu phá, xé phá xã hội chưa

được, thì Xuân Hương làm cho cảnh vật nhọn lên, xiên ngang mặt đất rêu từng đám, đâm

toạc chân mây đá mấy hòn; Xuân Hương muốn một cái gì

142

như thụi, như đánh, lắt lẻo cành thông cơn gió thốc, chứ không phải gió thổi: còn sương thì

Xuân Hương muốn cho nó đầm đìa lá liễu giọt sương gieo, tràn rẫy ra chứ không phải chỉ

đượm mà thôi. Cái chân của Xuân Hương cũng muốn làm cho rách thêm cái động Hương

Tích, người quen cõi Phật chen chân xọc; con mắt của Xuân Hương như giương chống lên,

có thể bóc trần tất cả: kẻ lạ bầu tiên ghé mắt dòm; cái tay của Xuân Hương không đụng vào

cảnh vật một cách nông cạn, mà lườn đá cỏ leo bờ rậm rạp, lách khe nước rỉ mó lam nham;

đối với tai của Xuân Hương, cái tiếng động chẳng lướt qua, mà nó sống lên, có khối trong

không khí, gió đập cành cây khua lắc cắc - sóng dồn mặt nước vỗ long bong - luồng gió

thông reo vỗ phập phòm. Xuân Hương nhìn sắc màu, thì những màu sắc đó phải kêu lên,

phải xé ra, phải cao độ, phải là cửa son đỏ loét tùm hum nóc, hòn đá xanh rì lún phún rêu.

Một trái trăng thu chín phải là chín mõm mòm, này vừng quế đỏ phải là đỏ lòm lom. Sáng

của Xuân Hương phải là sáng banh không kẻ khua tang mít, trưa của Xuân Hương phải là

trưa trật nào ai móc kẽ rêu. Ở cái chùa Quán Sứ vắng teo này, chày kình tiểu để suông

không đấm, chứ chẳng phải là không đánh hay không gõ. Trong cái bạo lực, cái rạo rực của

Xuân Hương, Xuân Hương còn vặn trẹo cả các chữ: Lộn lèo, đẽo đá, đá nơi neo, chái gió,

nắng đứng" [43, tr59, 60].

Sở dĩ phải trích dài cả một đoạn nhƣ trên, vì có thể nói rằng đây là một đoạn văn đã

nắm bắt đƣợc một cách thần tình hồn thơ Hồ Xuân Hƣơng, đồng thời cũng rất điển hình cho

tính cách hồn thơ, hồn phê bình Xuân Diệu. Với tài diễn đạt linh hoạt và một vốn thơ ca đầy

ắp, Xuân Diệu cũng là ngƣời hay hòa những câu lẫy Kiều, lẫy ca dao, tục ngữ, lẫy thơ ca hiện

đại... vào trong văn phê bình một cách tự nhiên, góp phần tạo thêm dòng chảy cho mạch văn,

mạch cảm xúc. Nào là "Văn đong càng lắc càng đầy" rồi "Tinh hoa phát tiết ra ngoài, nghìn

thu bạc mệnh một đời tình yêu" (lẫy Kiều); nào là " Nghề thơ cũng lắm công phu" "có công

mài sắc có ngày nên thơ". "Trăng lên khỏi núi trăng tà, Mình yêu thơ

143

thật hay là yêu chơi" (lẫy tục ngữ, ca dao...); có thể lập đƣợc cả một bảng thống kê và nêu

đƣợc những nhận xét rất thú vị.

Đặc biệt, văn phê bình thƣờng thiên về tƣ duy luận lý, nhƣng Xuân Diệu rất hay dùng

những thán từ để liên kết ý, chuyển ý và bộc lộ trực tiếp cảm xúc:

..."Chao ôi! cho đến khi viết tới dòng này, tôi vẫn chưa nói hết được cái hay trong thơ

nôm của Ức Trai" [43, tr 74].

..." Ôi! chỉ một nét nhỏ thôi, một trong trăm, ngàn câu của Truyện Kiều, mà bỗng bật

ra trước mắt ta cả một xã hội quái gở, vô lý" [43, tr 113].

... "Trời đất ơi! Tú Bà nói không đầy nửa phút, mà bọt mép của mụ văng ra mãi đến

ngàn năm"..[43, tr 127].

..." Quân tử ơi là quân tử ơi! Trước cảnh đẹp dẫu không bồng đảo, cũng tiên đây... lẽ

nào đành bất lực [44, tr 26].

..." Ôi! Những ngàn năm xưa đã qua! Sao mà xã hội Á Đông đã ngưng đọng đến đến

và làm khó cực con người dài lâu đến thế ! [43, tr 277].

..." Ôi! làm thơ là cân nhắc từ phần nghìn chữ" [43,tr 231 ].

... "Ôi! nếu không dùng cái im lặng, thì lấy cái gì để diễn tả cái vô biên, cái thiêng

liêng" [38, tr 76].

... "Chao ôi! nếu không có ám ảnh, thì còn gì sâu xa ở trên đời nữa!" [50, tr 92].

... "Chao ôi! Cái thế giới trẻ lạ lùng, vĩ đại, nguồn gốc của đời sống, thể mà tôi mù tịt

đứng bên ngoài trong hàng mấy chục năm là nghĩa làm sao" [50, tr.257].

Những thán từ gắn với nhịp điệu câu văn qua một số dẫn chứng trên đây không chỉ là

một hình thức cấu trúc đƣợc lặp lại góp phần biểu hiện thái độ nhà

144

phê bình đối với tác phẩm, tác giả mà còn có khi nhƣ một độc thoại nội tâm, một sợi "tơ lòng'

làm day dứt, vƣơng vấn ngƣời đọc.

Nhiều nhà lý luận văn học đã từng nói rằng, đặc điểm của tác phẩm trữ tình là biểu

hiện những suy tƣ và miêu tả có màu sắc xúc cảm, là cấu trúc tự biểu hiện của cái tôi vừa

giàu cá tính vừa muốn xẻ chia thông cảm với mọi ngƣời hòa với giọng văn có sức khêu gợi,

ám ảnh và bao giờ cũng mang tính chủ quan rất có ý thức của nhà thơ. Qua việc phân tích ở

trên chúng ta có thể thấy đƣợc rất rõ có một nhà thơ Xuân Diệu trong phê bình và đó cũng

chính là đặc điểm nổi bật nhất trong phong cách phê bình Xuân Diệu. Tất nhiên có những đặc

điểm khác gắn với chức năng phê bình, chúng tôi sẽ phân tích ở phần sau.

3.2. Bình và giảng

Có thể nói bình và giảng là một đặc trƣng riêng biệt của phê bình. Bởi vì, dù muốn

hay không, đã gọi là phê bình thì phải có bình chọn, bình giá, bình luận và phân tích, giảng

giải để giúp cho ngƣời đọc và cả ngƣời sáng tác hiểu dùng thực chất giá trị tác phẩm văn học

nghệ thuật. Giảng và bình trong phê bình truyền thống thƣờng dừng ở những yếu tố đơn lẻ

mang tính chất thƣởng ngoạn hoặc miêu tả. Ngày nay, trong phê bình hiện đại, ngƣời ta còn

đòi hỏi nhà phê bình không chỉ phân tích, đánh giá mà còn cắt nghĩa cả nguyên nhân những

thành công, hạn chế của tác phẩm, hay nói nhƣ nhà phê bình nói riêng, ngƣời Pháp F.

Brunetiere (1867 - 1906): "Phê bình cần phải thiết lập được mối liên hệ giữa một tác phẩm

riêng biệt với lịch sử chung của nền văn học, với các quy luật vốn có của thể loại, với hoàn

cảnh mà nó xuất hiện và cuối cùng là với tác giả của nó. Đó chính là công việc giải thích" [8,

tr 170]. Khả năng bình và giảng, nghệ thuật bình và giảng không giống nhau sẽ góp phần tạo

nên những diện mạo khác nhau về phong cách.

Trong nền văn học hiện đại nƣớc ta, cùng chung khuynh hƣớng phê bình nghệ sĩ,

những phong cách bình và giảng của Xuân Diệu cũng khác với Hoài Thanh, Nguyễn Tuân,

Chế Lan Viên... Nếu Hoài Thanh hay bình, Nguyễn Tuân

145

thƣờng hay tán, Chế Lan Viên thích luận thì Xuân Diệu lại thiên về giảng giải.

Xin nêu mấy dẫn dụ dể thấy sự khác biệt ấy, trƣớc khi nói kỹ hơn về phong cách bình

và giảng của Xuân Diệu.

Nhà phê bình nổi tiếng Hoài Thanh khi có "một đôi điều tâm sự trên câu chuyện bình

thơ" đã tự thấy: "Cái điều có thể làm và trên thực tế tôi đã làm từ trước đến nay chủ yếu là

bình thơ. Ngay những bài gọi là phê bình của tôi phần lớn đều nặng tính chất bình thơ”; rồi

ông viết với một giọng rất khiêm nhƣờng: "Riêng tôi tuy có trải qua công tác này nọ, nhƣng

nhìn lại nếu có đóng góp đƣợc chút ít nào thì chủ yếu cũng là do việc bình thơ" [142, tr 204 -

207]. Và, cách bình thơ của Hoài Thanh là đi từ cảm đến hiểu; là lấy hồn mình để hiểu hồn

ngƣời, chọn cho trúng những câu thơ thật hay, dùng lời rất đích đáng vừa đủ "cho nó một cái

đường viền để nêu bật nó lên" làm rung cảm tâm hồn ngƣời đọc. Chẳng hạn, một hình ảnh

nàng Kiều chủ động đến với ngƣời yêu hiện lên qua ngòi bút phê bình của Hoài Thanh đã

đánh thức biết bao tình ý: "Gót chân nàng "thoăn thoắt" đi sang nhà Kim Trọng cái hình ảnh

nàng "xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình", bây giờ đây vẫn còn có thể làm cho một số

ngƣời ngơ ngác" [142, tr 98]; hoặc một đoạn Hoài Thanh bình thơ Xuân Diệu theo lối điểm

xuyết giàu "tiên cảm văn chƣơng", nói ngay lên đƣợc "hồn vía" thi sĩ:

"Trong cảnh mùa thu rất quen với thi nhân Việt Nam, chỉ Xuân Diệu mới để ý đến:

Những luồng run rẩy rung rinh lá...

cùng cái:

Cành biếc run run chân ý nhi

Nghe đàn dƣới trăng Xuân Diệu mới thấy :

Lung linh bóng sáng bỗng rung mình

và mới có cái xôn xao gửi trong mấy hàng chữ lạ lùng này:

Tim lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời:

Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:

146

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người.

Cũng chỉ có Xuân Diệu mới tìm đƣợc nơi đồng quê cái cảnh:

Mây biếc về đâu bay gấp gấp

Con cò trên ruộng cánh phân vân

Từ con cò của Vƣơng Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu

không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới"

[141, tr 118-119].

Đó là những lời bình nổi tiếng của Hoài Thanh đã từng in sâu trong tâm khảm bao

ngƣời và cũng đã từng chắp cánh cho biết bao ngƣời tiếp tục nghĩ suy và mơ mộng. Những

lời bình mà trong mỗi câu thơ trích dẫn nhƣ không chỉ mang hồn của nhà thơ mà còn mang

cả rung động rất thơ của nhà phê bình. Sở dĩ nhƣ vậy, là vì ở đây cái tôi của nhà phê bình,

nói nhƣ Hoài Thanh, đã biết làm "người đệm đàn", "người bình thơ lùi lại sau để đưa tiếng

hát tiếng thơ, lên trước".

Với nhà văn Nguyễn Tuân, thì lối bình và giảng của ông lại độc đáo và mang đầy cá

tính, phong cách của Nguyễn. Ông thƣờng dựng hoàn cảnh ra đời của sáng tác và sƣu tầm tài

liệu, tra cứu sách vở rất công phu, nhƣ khi viết về "thời và thơ Tú Xương", khi đếm tỉ mỉ

trong Kiều có bảy lần Nguyễn Du nói đến liễu, năm mƣơi mốt lần nói đến trăng, là để làm cơ

sở, nói có sách, mách có chứng cho lời bình và tán của mình. Và chính từ những cơ sở xác tín

ấy cùng với lối bình và tán xoáy vào một sự việc, một hình ảnh, một câu chữ, mà văn phê

bình của Nguyễn Tuân đã đem đến cho ngƣời đọc những phát hiện bất ngờ, thú vị và không

kém phần sâu sắc. Hãy nghe lại một vài đoạn bình - tán của Nguyễn Tuân để thấy rõ hơn sức

hấp dẫn của nét đẹp phong cách ấy:

Đây là nụ cƣời Sêkhôp:

"Sê-khốp cƣời không to tiếng mấy khi, khi cƣời đôi mắt đẹp rất dịu hiền. Goócki bảo

rằng chƣa thấy một ngƣời thứ hai nào trong đời lại có thể cƣời nhƣ thế, cƣời một cách "cũng

đầy tuệ giác như thế ". Đấy là tiếng cƣời đúng nhƣ

147

Ernard Shau định nghĩa về khoa hoạt kê "u mua": "là tất cả những cái gì làm bật lên đƣợc

tiếng cƣời. Nhưng bên cạnh tiếng cười tạo nên do môn hoạt kê khá nhất, vẫn chen lẫn vào

một giọt nước mắt nữa". Cái cƣời Sêkhốp trào lộng, nửa đời, nhƣng đồng thời chan chứa biết

bao yêu thƣơng con ngƣời chan chứa bao thiện ý đối với sự xây dựng cuộc sống tƣơng lai.

Không có cái gì liên quan đến sự tiến hóa của xã hội mà Sêkhốp lại dửng dƣng" [158, tr 563,

564].

Đây là tiếng nói màu sắc trong truyện Kiều:

"Cái lý thú của tiếng nói Nguyễn Du lại còn ở chỗ đa sắc nó ngồn ngộn đủ các mầu

cầu vồng, chữ cứ óng ánh cả lên như múa bằng hồi quang của hào quang". Thật là "cỏ lợt

màu sương", "thưa hồng rậm lục", "một gian nước biếc", mặt phấn tươi son", "bạc phau cầu

giá", “đen rầm ngàn mây", "non phơi bóng vàng”, "thành xây khói biếc" và "xơ xác vàng"

cho liễu cùng là "trôi giạt thẳm" cho hoa, vân vân. Cứ bảo tƣ tƣởng Nguyễn Du nhiễm màu

đạo và thuyết luân hồi Phật, tức là chiền già sắc sắc không không. Tƣ tƣởng không sắc sắc

không nhƣng lời nói câu thơ thì phản hẳn lại và sự mâu thuẫn hiện lên đủ màu. Màu chữ của

Kiều thỏa thuê mà tƣơi chói nhƣ màu các họa sĩ vị sắc phái Colorisite, [158, tr 895].

Và đây là nguyên mẫu cả lời bình, tán của Nguyễn Tuân về bài thơ "Sông lấp" của Tú

Xƣơng:

"Thơ là mở ra một cái gì mà trƣớc câu thơ đó trƣớc nhà thơ đó, vẫn nhƣ là còn bị

phong kín. Bài Sông lấp dƣới đây càng rõ cái điệu "mở vào mở ra" đó:

Sông kia rày đã lên đồng

Chỗ làm nhà cửa chỗ giồng ngô khoai

Đêm nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình mà tưởng tiếng ai gọi đò

148

Tôi không đƣợc tƣờng về năm sinh tháng đẻ chính xác của bốn câu lục bát này, nhƣng

theo ý riêng tôi, đây là ngữ cảnh của những thanh điệu chín nhất, tròn nhất, viên mãn nhất ở

tiếng thơ Tú Xƣơng của cả đời Tú Xƣơng.

Nếu chúng ta cùng thỏa thuận rằng nói chung trong thơ Tú Xƣơng có cả hiện thực có

cả lãng mạn, thì trong riêng bài Sông lấp này, lại càng rõ cả hai cái phần thể phách hiện thực

và tinh thần lãng mạn ấy. Hai câu đầu không có gì là "mở cửa sổ thấy núi" cả, bình thƣờng

thế thôi, các bạn làm vè bình thƣờng và tôi làm văn nhật trình tƣờng thuật đƣa tin, mọi ngƣời

chúng ta đều làm đƣợc cả. Nhƣng đó mới chỉ là đếm việc kể việc, nhƣ cái kiểu đi thực tế mà

nô lệ chi tiết thực tế, chƣa biết nâng thực tế lên, còn lệ thuộc vào nét vặt mà chƣa có tí gì là

sự hóa sinh do tâm hồn mình thổi vào. Nếu con sông lấp Vị Hoàng mà chỉ có hai câu đầu lục

bát ấy thôi, thì con sông Tây lấy đi kia có thể coi là tuyệt tự rồi và tên tuổi nhà thơ của nó

cũng có thể phần nào lấp theo đi với con sông cạn. Nƣớc "con sông thời thế" Vị Hoàng bất

chấp mọi sự cạn lấp, đến ngày nay vẫn còn chảy tới thế hệ chúng ta, hợp lƣu đƣợc với lòng

chúng ta, chính là do cái nguồn mạch trữ tình của hai câu thơ sau tiếp đẩy nó đi. Và mạch

nƣớc ngầm ấy còn chảy xa lắm. Tôi nghĩ đến một tƣơng lai Việt Nam mà sông cái sông con,

suối chị, suối em, trên khắp Tổ quốc ta sẽ hết cả đò ngang mà chỉ còn có toàn là cầu sắt bê

tông, hoặc cùng giả lắm là nhà máy. Cho là mƣời kế hoạch năm năm nữa thì căn bản có thể

tuyên bố là đã hết đò ngang chứ gì! Và lúc ấy đò ngang không còn là hình ảnh của vận tải

quốc doanh, mà chỉ còn là những vốn dân tộc giữ lại cho những cặp tình nhân nhàn tản trên

mặt sông hồ những đợt dài lao động vì mọi ngƣời. Tôi cho rằng tới ngày đó và sau đó nữa,

trong lòng những ngƣời Việt Năm của năm 2000, của năm hai nghìn lẻ mấy chục chi đó, càng

vang hƣởng cái tiếng u hoài Tú Xƣơng gọi đò trên sông lấp. Những thế hệ sau này thật là

không thể nào hình dung đƣợc đầy đủ cái thảm kịch gọi đò đêm vắng và cái thảm kịch đợi

nƣớc gọi đò - hiểu theo cả nghĩa đen kinh tế lạc hậu, hiểu theo cả nghĩa bóng: chính trị của

những ngƣời yêu nƣớc trƣớc đây nói bóng gió về thời cùng bang hình tƣợng thơ. Nhƣng tôi

tin rằng những thế hệ sau đây đƣợc nâng cao vật chất và

149

tinh thần, đƣợc học nhiều học rộng gấp mấy mƣơi chúng ta bây giờ, họ có một quan niệm

rộng rãi hơn về xử sự thể của những con ngƣời đợi nƣớc ngóng đò trƣớc dây, và họ cảm

thông nhiều hơn là lên án. Cái học lực của họ sẽ tạo cho họ nhiều độ lƣợng nhân ái hơn, tình

cảm rộng rãi và trong lắng hơn, và họ có thể còn cảm thông thâm thúy và xúc động sâu sắc

hơn nữa với hiện tại gần đây của lớp chúng ta. Thực ra cái lớp chúng ta đây, cũng là một lớp

ngƣời còn xơi mới thoát đò ngang, cũng vừa sang xong một vài chuyến, có những chuyến

thuận chèo trót lọt, bến đông rộn lên nhƣ hội mùa, nhƣng cũng có chuyến gian nan, tay lái mà

không dẻo không cứng, thì cũng dễ đắm, con đò có lúc đã thấy chiềng hẳn đi" [158, tr 789-

790]. Ở dây, văn thật khó phân biệt là phê bình hay tùy bút.

Nguyễn Tuân là nhà văn, nhà phê bình rất sành "tán về ngôn ngữ". Có khi chỉ một từ

kép "nõn nường" hay "nõn nà", ông cũng "tán" ra thành cả một bài về "băm sau cái nõn

nường Hồ Xuân Hương" hoặc qua cách viết của Nguyễn Du trong hai câu Kiều: "Đạm thanh

một bức tranh tùng treo trên" và "Trên treo một tượng trắng đôi lông mày" thì Nguyễn Tuân

cũng băn khoăn "treo trên" khác với "trên treo" thế nào, rồi "tản mạn" sang mối quan hệ giữa

chi tiết và đại cục, giữa mỹ học và đức học, giữa nội dung và hình thức của nghệ phẩm để

cho sự thƣởng thức Kiều mới thêm rộng thêm sâu!

Nhà thơ Chế Lan Viên quan niệm rằng, "thơ là một thể loại đòi giảng" vì thơ là "thể

đóng", "thơ là cô đúc"; "thơ có nhiều loại, nên giảng thơ có nhiều cách", "muốn giảng thơ

phải nhiều công phu". Nhƣng khi đi vào phê bình, Chế Lan Viên lại thƣờng không giảng mà

tập trung nói lên những "suy nghĩ và bình luận" nhƣ đã từng là một nhà "suy nghĩ và bình

luận" trong thơ. Cái tôi - chính luận của Chế Lan Viên hấp dẫn ngƣời đọc, chủ yếu là ở sức

nghĩ, cách nghĩ mới lạ, nhiều chiều của một trí tuệ sắc sảo giàu mỹ cảm. Cả những điều

tƣởng chừng nhƣ rất quen, Chế Lan Viên vẫn có thể "lạ hóa" đi, để cuốn hút ngƣời đọc.

Chẳng hạn nói về thế hệ các nhà thơ tiền chiến đến với cách mạng, Chế Lan Viên viết:

150

Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, nữ thi sĩ Anh Thơ... là những nqười từ

thế giới một người đến với thế giới nhiều người, từ thung lũng đau thương ra đến cánh đồng

vui, là những người xưa kia tự xé da thịt mình, nay đi vá lại thịt da và xây dựng mùa xuân

[162, tr 65].

Hoặc, khi nói đến vấn đề trong sáng của tiếng Việt, Chế Lan Viên cũng luận ra nhiều

quan niệm: "Có sự trong sáng của mặt giếng không tiếp xúc với bên ngoài: Lòng em như

nước giếng - Thề không gợn sóng lan. Có sự trong sáng của dòng suối, con sông phải thâu

nhận bao nhiêu chất tạp khác trên đƣờng xuôi chảy. Có sự trong sáng quay lại sau, lấy cha

ông làm mẫu mực tuyệt đối, nhƣng cũng có sự trong sáng, nhìn ra trƣớc, mở đƣờng đi cho

con cháu mai sau. Có sự trong sáng dân tộc hẹp hòi, chỉ biết mình say mê ngắm nghía lấy dân

tộc mình, nhƣng cũng có sự trong sáng đặt dân tộc mình là một bộ phận của nhân loại. Có

trong sáng động và trong sáng tĩnh, trong sáng giàu và trong sáng nghèo.[162.Trg114]

Ngòi bút phê bình của Chế Lan Viên không sành đi vào cảm nhận, bình thơ, giảng thơ

từng câu, từng bài cụ thể nhƣng lại rất tài lý lẽ, khái quát. Hãy nghe ông lập luận về vấn đề

Tản Đà, Hoàng Tích Chu trong giai đoạn văn học ba mƣơi năm đầu thế kỷ XX: Tôi rất yêu

Tản Đà là một thi sĩ có tài, nhƣng tôi không nỡ dè bĩu Hoàng Tích Chu lúc ấy là nhà báo có

thứ văn cọc cạch. Đứng bên Hoàng, Tản Đà có lời văn xem nhƣ trong sáng biết bao. Nhƣng

đấy là cái "trong sáng khăn tà áo lượt lễ giáo con nhà sắp chết của lối văn xuôi biền ngẫu

"ngày cũng có lúc sầu, đêm cũng có lúc sầu, mưa giầm gió bấc mà sầu, trăng trong gió mát

mà càng sầu". Còn cái cọc cạch của Hoàng Tích Chu lúc ấy là cái đấm cửa - dù là bất lực -

nhƣng để mở cửa cho một lối nói xuất hiện trên văn đàn. Tôi không thú cái lỗ tai thẩm âm

kém của Hoàng Tích Chu, nhƣng chính nhờ nó mà ngƣời ta cũng chóng chán cái lỗ tai thính

trắc bằng đối đáp biền ngẫu ru đến mê ngƣời của văn xuôi Tản Đà, và sự chán ấy rất cần

thiết trên bƣớc đƣờng tiến hoá"[162, tr 115].

151

Cũng trong mạch lập luận ấy, Chế Lan Viên còn viết tiếp để bảo vệ cho quan niệm về

sự trong sáng của mình: "so với lời văn cộc lốc của Nguyễn Công Hoan, xô bổ, hỗn độn của

Nguyên Hồng, phức tạp đến rối rắm của Nguyễn Tuân thời trƣớc cách mạng thì nhà văn Tự

Lực có vẻ "trong sáng" đấy. Nhƣng sao mà trong sáng một cách "nhẵn nhụi bảnh bao" diêm

dúa trơn tru làm vậy. Đấy là hoa chăm, cỏ xén lối phẳng cây trồng của một công viên nhàn

nhã hơn là cái um tùm sầm uất của một khu rừng!". Tôi không bênh vực cho ai lấy có , mình

là "rừng" để viết ẩu. Nhƣng vấn đề tôi muốn đặt ra là ta sẽ bảo vệ một trong sự trong sáng

nào vậy?". Đúng là một giọng văn dồn dập, hùng biện, đầy biến báo! Ở những chỗ quan niệm

rõ ràng, cảm xúc đuổi kịp trí tuệ, lý lẽ trong văn chính luận của Chế Lan Viên đầy sức cuốn

hút! Cái tạng phê bình của Chế Lan Viên là thế!

*

* *

Qua một vài nét so sánh trên đây, trở lại với Xuân Diệu, chúng ta sẽ thấy rõ hơn năng

lực riêng, sở thích, sở trƣờng riêng trong phong cách nghệ thuật bình và giảng của ông.

Xuất phát từ nhu cầu giao cảm, giao cảm với tác phẩm, tác giả và công chúng bạn

đọc, Xuân Diệu thường giảng giải rất kỹ. Với Xuân Diệu, thì phê bình trƣớc tiên là phải giải

thích để làm cho ngƣời đọc "thấu hiểu"; bởi vì không hiểu thì làm sao mà giao cảm, mà thích

thú đƣợc. Hình nhƣ, Biêlinxki trong Diễn văn phê bình cũng đã có lần phát biểu, đại ý là, kẻ

nào nói rằng tác phẩm nghệ thuật làm cho hắn ta thích thú, nhƣng nếu hắn không hiểu cận kẽ

trong sự thích thú đó, không nghiên cứu những nguyên nhân của nó, thì đó là sự dối mình. Sự

thích thú. đối với mội tác phẩm nghệ thuật mà ta không hiểu - đó là sự thích thú đau khổ,

Trong văn phê bình của Xuân Diệu, bình thƣờng đi đối với giảng, vừa bình vừa giảng, giảng

cho đến nơi đến chốn để sự hiểu biết càng sâu sắc thì thƣởng thức mới càng thỏa mãn.

152

Xuân Diệu rất chú ý và có biệt tài trong việc tạo dựng không khí bình thơ, giảng thơ.

Chẳng hạn, biết thơ Nôm Nguyễn Trãi là "thơ khó" vì đã cách xa hơn sáu trăm năm, Xuân

Diệu đã dành gần cả trăm tiểu luận để giới thiệu hình ảnh Nguyễn Trãi qua bức tranh truyền

thần, để tra cứu từng câu chữ, dƣờng nhƣ vén dần lớp bụi thời gian đƣa "Quốc âm thi tập" trở

về gần gũi với ngƣời đọc hôm nay; đến cuối cùng khi đã có không khí, Xuân Diệu mới đi vào

bình giảng bài thơ "Ba tiêu" (Cây chuối) mà ông tâm đắc nhất. Với nhà thơ thiên tài dân tộc

Nguyễn Du, thì mỗi lần "đọc lại", Xuân Diệu đều gắn đƣợc với những hoàn cảnh gợi cảm, từ

đó giúp cho ngƣời đọc thấm thía thêm "bản cáo trạng cuối cùng trong truyện Kiều", hiểu

thêm "con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán", trong "Văn chiêu hồn" và phát hiện thêm

những vẻ đẹp mới mẻ "chung quanh từ ngữ truyện Kiều". Để nêu bật "tính tư tưởng trong ba

bài thơ Hồ Xuân Hương", trƣớc đó Xuân Diệu đã dựng lại hình ảnh cuộc đời Xuân Hƣơng

trong hoàn cảnh xã hội phong kiến với đầy rẫy những thứ lễ giáo ràng buộc ngƣời phụ nữ qua

thơ của bà; ngòi bút phê bình Xuân Diện phải "tả xung hữu đột" với những loại ý kiến khác

nhau hiểu sai lệch hoặc hạ thấp giá trị thơ Hồ Xuân Hƣơng, rồi đi đến khẳng định chân giá trị

của bậc "thiên tài kỹ nữ", "nhà thơ người Việt, bà chúa thơ Nôm".

Cũng nhƣ thế, khi đọc thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xƣơng, Nguyễn Đình Chiểu v...v..

bao giờ Xuân Diệu cũng tạo ra đƣợc một không gian tiếp nhận gần gũi thân mật cho ngƣời

đọc. Ở đây, thêm một lần nữa, chúng ta có thể thấy rằng, đã là viết văn dù viết ở thể loại nào,

thì bản sắc cái tôi của người cầm bút bao giờ cũng có ý nghĩa quyết định hình thành nên

phong cách tác phẩm. Nếu nhƣ có ngƣời đã vì bình thơ cũng nhƣ đánh dàn đệm cho ngƣời ta

hát, làm sao cho tiếng đàn và tiếng hát hòa hợp, thì Hoài Thanh, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên

và Xuân Diệu, mỗi ngƣời tin đệm đàn theo mỗi vẻ. Hoài Thanh thƣờng chỉ chọn đánh đàn

đệm cho ngƣời hát và tự nguyện đứng ở bình diện thứ hai đứng sau làm nền cho ngƣời ca và

tiếng hát bay bổng. Nguyễn Tuân cũng đệm đàn nhƣng nhiều khi lại đứng hình diện, mƣợn

lời hát để khoe tiếng

153

đàn, tài đàn. Chế Lan Viên thì muốn gửi vào tiếng đàn của mình cho thật nhiều những âm

thanh khác lạ của một ngƣời đệm dàn giàu trang sức. Còn cái - tôi -phê bình của Xuân Diệu

hình như vừa đánh đàn đệm, vừa muốn ca cùng người hát, vừa muốn làm môi giới cho người

nghe, để họ thấu hiểu và thưởng thức được cả lời ca lẫn tiếng đàn; hay nói nhƣ ao ƣớc của

ông: "mình với người đọc như đôi bạn gác đùi lên nhau nói chuyện thơ xưa nay, thích thì vỗ

đùi mình hóa ra vỗ đùi bạn".

Trong không khí thân tình ấy, Xuân Diệu thƣờng nói đƣợc rất nhiều chuyện. Sợ ngƣời

đọc có khi không hiểu hết thơ, không hiểu hết mình, Xuân Diệu giảng giải đến kỳ cùng,

muốn cho mọi thứ đều trở thành rõ nghĩa. Đó là chỗ hay mà cũng là chỗ dở trong phong cách

bình và giảng của Xuân Diệu. Hay, là những khi Xuân Diệu uyên bác nhƣ một học giả đọc

rộng biết nhiều mà vẫn bình dị cần cù nhƣ một ông đồ xứ Nghệ "năng nhặt chặt bị", không

thích khoe chữ, không tỏ ra sách vở, thông thái, chỉ cốt làm sao tìm đƣợc cách giảng giải đắc

ý nhất, cuốn hút mọi ngƣời. Ông vận dụng đƣợc lối tƣ duy hiện đại khúc chiết của phƣơng

Tây nhƣng đồng thời cũng tiếp thu truyền thống "thi thoại" của phƣơng Đông, nhất là học tập

lối bình văn của Kim Thánh Thán. Nếu Thánh Thán phê bình Đƣờng thi có tiền tài, hậu giải;

phê bình Tây sương ký có phê chú câu, chữ và có lối bình cả chƣơng thì Xuân Diệu cũng

thƣờng giảng đi, bình lại để mỗi lần giảng giải lại giúp ngƣời đọc tiếp cận thêm với những vẻ

đẹp của tác phẩm. Phải nói rằng, ít có nhà thơ, nhà phê bình nào có đƣợc cách đọc, cách giải

thích hào hứng và kỹ lƣỡng nhƣ Xuân Diệu khi đọc "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi.

Ngay từ lúc tập thơ vừa mới tìm lại đƣợc cũng nhƣ về sau này. Xuân Diệu là một trong

những ngƣời có công đầu tiên đƣa thơ Nguyễn Trãi trở về gần gũi với con ngƣời hiện đại.

Này đây từ "nghi ngút" trong câu thơ quốc âm của Nguyễn Trãi (Trời nghi ngút, nước mênh

mông) đƣợc Xuân Diệu giải thích: "Ức Trai không bằng lòng với những chứ "trời cao vút"

chẳng hạn, dùng từ nghi ngút nhƣ nói: khói lên nghi ngút, thì thăm thẳm hơn; trời cao vút thì

không gian

154

tĩnh quá; nghi ngút thì có cảm tƣởng cái trời cao xanh này động, cuồn cuộn nao nao" [43, tr

55]. Giảng từ tiêu sái trong 2 câu thơ "Ngô chí" của Nguyễn Trãi:

Ít nhiều tiêu sái lòng ngoài thế

Năng một ông này đẹp thú này.

Xuân Diệu viết:..."tiêu sái" nghĩa là không bợn, thanh thoát, "không phải lợi danh

vây", từ Hán - Nôm này, tôi đã yêu cái âm thanh của nó từ 50 năm trước: "Đàn ai tiêu sái -

khiến khách giang hồ tình ái ngại..."; Nguyễn Trãi đặt trƣớc tính từ Hán Nôm này hai chữ "ít

nhiều" thật là sinh động; niềm tiêu sái khó mà đo lƣờng, cho nên nhà thơ đong do nó thì bèn

dùng một chữ mơ hồ: ít nhiều tiêu sái rất có duyên; bản thân cả bài thơ cũng thật là tiêu sái

[43, tr 63].

Xuân Diệu không chỉ là ngƣời bênh vực mà còn lý giải đầy sức thuyết phục hiện

tƣợng không ít câu thơ của Hồ Xuân Hƣơng "khêu gợi" nhiều đến các giác quan. Ông lập

luận, con ngƣời đòi giải phóng, đòi phát triển là đòi giải phóng trong suy nghĩ, trong hành

động và đòi giải phóng trong cả những giác quan; ông nhìn lại lịch sử văn học nghệ thuật,

lịch sử tình cảm nhân loại từ thời kỳ Phục Hƣng đến thời đại chúng chúng; ông huy dộng

kiến thức Đông, Tây, kim cổ về hội họa, điêu khắc; ông so sánh Nguyễn Du, ngƣời đã "vứt

đƣợc tất cả quần áo gò bó để ca ngợi "dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên"" và Hồ Xuân

Hƣơng đã làm đƣợc một nửa cái việc của Nguyễn Du qua bài thơ Thiếu nữ ngủ ngày với hình

ảnh "yếm đào trễ xuống dƣới nƣơng long‖ để khẳng định: sự "giải y" ấy, đặt vào trong thời

đại Hồ Xuân Hƣơng có ý nghĩa nhƣ một sự đòi giải phóng. Rõ ràng là không có một vốn kiến

thức phong phú, không biết đặt một hiện tƣợng, một sự vật vào trong hệ thống thì không thể

có cách giảng giải đầy tự tin và có sức cuốn hút nhƣ vậy!

Chỗ hay của nghệ thuật bình và giảng trong văn phê bình Xuân Diệu còn thể hiện ở

cái nhìn thắm thiết của một tâm hồn nghệ sĩ trƣớc thiên nhiên tạo vật. Tất nhiên, thiên nhiên

tạo vật đối với ngƣời phê bình chính là thế giới nghệ thuật

155

thi ca. Hãy lắng nghe một đoạn vừa bình vừa giảng dƣới đây về "nhạc điệu dào dạt" của

truyện Kiều để thấy đƣợc các ăng- ten - giác - quan vô cùng tinh nhạy của Xuân Diệu:

"Có nhưng câu thơ nhạc điệu ở khắp mọi nơi, đó là ánh vàng của mùa thu sáng trong

rung thành nhạc điệu:

Long long đáy nước in trời

Thành xây khói biếc non phơi vàng

Có những câu thơ giáp hạt giữa chiều lặn với trăng lên:

Chim hôm thoi thót về rừng

Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành

Chim hôm thoi thót: nó vừa lưa thưa lẻ tẻ về núi, lại vừa thoi thót như ánh chiều; có

một cái gì lo sợ đâu dây! Sở Khanh sắp đưa Kiều đi trốn...

Có những câu chỉ có thể là tuyệt diệu, tuyệt diệu:

Sông Tần một dải trong xanh

Loi thoi bờ liễu mấy cành dương quan

“Trong xanh - loi thoi - dương quan" cũng như là "bến Tầm - dương - canh -khuya -

đưa - khách", mấy thanh bằng không có dấu huyền đưa cái chia phôi ra khắp không gian. Loi

thoi bờ liễu, chứ không phải là lôi thôi, loi thoi là lá liễu so le không đều, là bờ liễu quanh co

không thẳng, là tấm lòng nữa, nó xộc xệch, buồn buồn, mong nhớ, loi thoi...[43, tr 148].

Nhiều ngƣời vẫn thƣờng nói đến phong cách phê bình giàu tính trực cảm của Xuân

Diệu. Bản thân Xuân Diệu cũng quan niệm, con đƣờng ngắn nhất, hiệu quả nhất đến với tác

phẩm, đến với ngƣời đọc là con dƣờng đi thẳng từ trái tim đến trái tim; đôi khi đƣợc cái linh

cảm, cái trực giác mách bảo, ngƣời ta sẽ bất ngờ chú ý đến những yếu tố không lƣờng trƣớc

đƣợc và cũng không thể cãi nhau lý lẽ đƣợc, vì chẳng có lý lẽ gì cà mà chỉ có xúc cảm.

Nhƣng thực ra, theo nhà triết học Béc-xông định nghĩa thì: "Trực giác chính là cái kiểu đi

sâu của trí tuệ

156

và nhờ đó chúng ta chuyển nhập được mình vào bản chất của sự vật để tìm thấy trong sự vật

cái duy nhất và cái không biểu lộ ra" [3, tr 30]. Nếu chịu khó tìm nếu kỹ, chúng ta cũng sẽ

thấy những chỗ hay nhất, giàu phát hiện bất ngờ nhất trong văn phê bình nghiên cứu của

Xuân Diệu bao giờ cũng chính là nơi giao thoa giữa tư duy trực giác và tư duy trí tuệ; ở đó

dƣờng nhƣ cùng một lúc nhiều phƣơng pháp tiếp cận đƣợc tác giả huy động, và ở đó cũng

khó phân biệt đƣợc đâu là bình đâu là giảng, đâu là nhà phê bình đâu là nhà sáng tác, chỉ biết

là cùng mê say, hòa quyện trong niềm khát vọng "vô biên và tuyệt đích".

Có thể bắt gặp đƣợc nhiều đoạn bình văn phát sáng đầy sức cuốn hút nhƣ y khi Xuân

Diệu viết về tình yêu thiên nhiêu thắm thiết gắn với hoàn cảnh và nỗi buồn mang kích cỡ tâm

hồn Nguyễn Trãi; về chủ nghĩa nhân đạo sâu thẳm, bao la, đau đớn đến khóc òa trong truyện

Kiều, thơ chữ Hán, Văn chiêu hồn của Nguyễn Du; về sức sống mãnh liệt, quằn quại cứ nhƣ

giãy nảy lên đằng sau tiếng đời đáo để của Hồ Xuân Hƣơng; về những vần thơ hào sảng của

Cao Bá Quát; trời thu rất xanh và rất cao trong hồn thơ thấm đƣợm quê hƣơng làng cảnh Việt

Nam của nhà thơ Nguyễn Khuyến; về cảm giác không gian dƣờng nhƣ chỉ "đất trời ngơ ngẩn

với nhau" trong "Lửa thiêng" của Huy Cận v.v...

Nhờ sức mạnh trực giác và của cá hồi ức, vốn sống nghề nghiệp, Xuân Diệu chỉ kể lại

kỷ niệm về một câu ca dao và pha một nét giảng bình thoáng qua nhƣ họa sĩ vẽ tranh thủy

mặc, mà rất gợi:

"Thuở đi học, tôi nghe một ông giáo quê Quảng Bình đọc thoáng qua trong khi nói

chuyện: "Núi cao chót vót chon von - Làm trai anh như thế nớ, vợ con chưa từng". Câu dƣới

bình thƣờng, chứ câu trên thì tôi yêu quá, núi đã chót vót lại chon von, thì cao và lẻ biết bao

nhiêu!" [51 tr 105].

Hoặc, chỉ lắng nghe, rồi thốt nên lời khi bắt gặp "một câu thơ hay quá, tả cao độ buổi

rừng chiều, chim rừng gọi kêu" trong bài "Tiếng hát đi đày", thơ Từ ấy của Tố Hữu:

Thông reo bờ suối rì rào

Chim chiều chiu chít, ai nào kêu ai?..

157

"Chim chiều chiu chít, những âm thanh ch quyến luyến lạ thường! chim ơi chim, ta

luyến nhà, luyến nước" [35, tr 160]. Ở đây, đâu có phải là giảng, bình, là tiếng của nội tâm,

của siêu giảng bình. Cho nên, có lúc Xuân Diệu nhƣ gợi hƣớng dẫn cho ngƣời khác hiểu và

giảng thơ của mình, chẳng hạn: "Xuân Diệu muốn khêu gợi phong cảnh khi chớm vào thu,

mở đầu bài "Đây mùa thu tới", lấy âm thanh diễn tả những lá liễu mùa thu đứng rũ dài nhƣ

dòng lệ chảy, rồi gợi cành lá bắt đầu thƣa, hoa bắt đầu rụng, trăng bắt đầu suy nghĩ đâu

những chuyện xa xôi, sƣơng bắt đầu che, và điển hình hơn cả, là những chuyến đò bắt đầu

vắng ngƣời sang, tất cả nhạc khúc cũng gợi lên xa xăm và thƣơng nhớ.... Những thiếu nữ

thành thị đứng tựa cửa nhìn ra xa không biết chờ mong một cái gì đây... Đó cũng lại là một sự

"ngơ ngác" trong xã hội cũ" [35, tr 202].

Có ngƣời nói Xuân Diệu giống nhƣ một thầy giáo dạy ngƣời ta đọc thơ và làm thơ

qua những trang phê bình cũng là vì thế!

Nghệ thuật bình và giảng của ngòi bút phê bình Xuân Diệu còn hay ở chỗ rất tinh

nhạy trong việc phát hiện cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật của từng tác giả, tác

phẩm. Mỗi chân dung Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hƣơng, Cao Bá Quát, Nguyễn

Khuyến, Trần Tế Xƣơng, Nguyễn Đình Chiểu... trong "viện bảo tàng văn học" đƣợc Xuân

Diệu thể hiện đều rất sống động; mỗi ngƣời một hoàn cảnh, một nét thiên tài, một nỗi đau

buồn riêng, một số phận, một tính cách riêng". Cùng là đả kích sƣ, nhƣng "Xuân Hương ghét

sư, Nguyễn Khuyến khinh sư, Tú Xương giễu sư". Cùng, là tiếng cƣời trào phúng, nhƣng tiếng

cƣời Xuân Hƣơng thì đuổi rƣợt các nhân vật xấu xí của xã hội mà "cười vào tận óc, nó không

thể bịt tai lại được", tiếng cƣời Nguyễn Khuyến dù nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhƣ một thứ "u

mua", một thứ nói "mát", cƣời mát mà rất sâu sắc, còn Tú Xƣơng thì "hộc" ra tiếng cƣời nhƣ

một thứ a xít cấu xé vào nhân vật, sự vật cắn cho nó nát ra cháy đi. Cùng là thơ Nôm, nhƣng

thơ Nôm của Nguyễn Trãi là tiếng thơ của bậc cao minh "xuất sáo" thơ nôm truyện Kiều là

"tót vời của nguồn cổ điển" thơ Hồ Xuân Hƣơng là "tót vời của nguồn nôm na bình dân", thơ

nôm

158

Nguyễn Khuyến lành và sáng, thơ nôm Trần Tế Xƣơng mang cái âm điệu, sắc màu địa

phƣơng Nam Định, thơ nôm Nguyễn Đình Chiểu lại thấm đẫm chất đất chất ngƣời Nam Bộ

mến yêu; cùng là "thơ bộ đội" nhƣng có "thơ lính" và "thơ cán bộ" v..v....

Là nhà thơ của thời đại thức tỉnh và giải phóng cái tôi cá nhân cá thể, Xuân Diệu qua

phê bình đi tìm nỗi khát vọng cái tôi của ngƣời xƣa, đồng thời rất quan tâm đến vấn đề phát

huy bản sắc cái tôi - cá tính sáng tạo trong nền thơ hiện tại. Xuân Diệu phân tích sâu sắc cái

"ngông" và niềm bâng khuâng trong thơ Tản Đà, cái man mác "thuở ban đầu" của Thế Lữ,

những xúc cảm "vũ trụ" trong thơ Huy Cận, nhƣng hình nhƣ Xuân Diệu ít nói thêm về phong

cách thơ của những ngƣời cùng thế hệ, vì có lẽ qua "Thi nhân Việt Nam", Hoài Thanh hầu

nhƣ đã khái quát một cách thần tình rồi. Tú Mỡ nhà phê bình Hoài Thanh chƣa nói, Tố Hữu

nhà thơ cách mạng cùng thời với các nhà thơ mới là Xuân Diệu giành nhiều trang phê bình

hơn cả. Ồng phân biệt tiếng cƣời trong thơ Tú Mỡ và thơ Tú Xƣơng. Ông tìm hiểu kỹ hai tập

thơ "Từ ấy" và "Việt Bắc" để lắng nghe "điệu tâm hồn" của nhà thơ Tố Hữu. Có lẽ Xuân Diệu

là ngƣời đầu tiên nhận ra "điệu ngâm" của lòng thƣơng mến, phân tích một cách sâu sắc tính

cách quần chúng của tập thơ "Việt Bắc" và cái chất lãng mạn giàu tính cá thể hóa của cái tôi

gắn chặt với cách mạng qua tập thơ "Từ ấy”. Đặc biệt, nhƣ phần trƣớc đã nói, Xuân Diệu rất

chú ý phát hiện những phong cách sáng tạo mới từ lớp nhà thơ trẻ. Với Xuân Diệu tìm hiểu

một nhà thơ, nhà văn là phải phát hiện cho đƣợc bản lĩnh và phong cách; "cũng như hương

hoa không phải là thơm nói chung, một mùi hương không có cá tính mà là hương nhài,

hương bưởi, hương ngâu" [53]. Do đó, đọc văn phê bình Xuân Diệu, cái hay còn ở chỗ đƣợc

gặp nhiều phong cách cá tính sáng tạo của nhiều thế hệ nhà thơ qua nghệ thuật bình và giảng

tài hoa của tâm hồn một nhà thơ, nhà phê bình lớn.

Tuy nhiên, không phải bao giờ Xuân Diệu bình và giảng cũng hay. Thông thƣờng

ngƣời ta đã mạnh chỗ nào thì có khi yếu ngay chỗ đó. "Có tài mà cậy chi

159

tài", đôi lúc Xuân Diệu cũng quá đà không thật tỉnh táo. Mặc dù vẫn biết qui luật của sự gợi

cảm là đừng nên kéo dài, vì kéo dài, nói nhiều làm ngƣời ta mệt cứ thế chán, nhƣng Xuân

Diêu có những khi vẫn không tránh đƣợc bệnh ham hố, muốn nói cho đến lận cùng.

Với Xuân Diệu để cho ngƣời đọc hiểu thì mọi thứ đều phải rõ nghĩa. Thực ra, cuộc

đời không phải bao giờ mọi thứ, mọi việc đều phải giải thích cho rõ ràng. Thơ nói riêng, văn

học nói chung là lĩnh vực của cái đẹp mà đôi khi con ngƣời vẫn mãi phải với tới mà không

thể nào tới đƣợc. Nhƣ một nhà văn đã từng nghĩ về nghề: "Văn chƣơng nói cho cùng là

những khắc khoải, những mơ tƣởng về một giấc mộng chửa thành. Có những giấc mộng sẽ

không bao giờ thành nhưng vẫn cho phép cả người viết lẫn người đọc đắm đuối trong hy

vọng, trong mong đợi để cuộc đời thêm hương vị, thêm ánh sáng" (Nguyễn Khải). Bản thân

Xuân Diệu chả là có lần viết "Ai đem phân chất một mùi hương", thế mà, khi phê bình Xuân

Diệu cứ muốn nói cho nhiều, cho kỹ thì làm sao tránh khỏi suy diễn quá lời. Không khó lắm

để chỉ ra những chỗ "bất thập toàn" ấy trong văn phê bình của Xuân Diệu. Ngay ở cuối tập

tiểu luận "Thế giới thơ Huy Cận" dài gần 170 trang, Xuân Diệu phải chột dạ mƣợn lời nhà

thơ Pháp Boalô (Bơileau 1636 -1711) để thốt lên rằng: "Thôi, ai không biết tự hạn chế mình

thì cũng không bao giờ biết viết văn, tôi xin thêm: cả văn phê bình tiểu luận"; thế mà cứ viết

gắng thêm một khúc nữa để giải nghĩa thêm một từ. Do cái lối viết kéo dài này mà bài tiểu

luận "Thế giới thơ Huy Cận" nhiều đoạn không hay! Phải chăng đó cũng là cái tật của ngòi

bút phê bình vốn có chung cội nguồn với hồn "luôn thèm khát vô biên và tuyệt đích", thích

"nghĩa là..." "nghĩa là... " và đã yêu là "phải nói, nói và phải nói.." chăng? Dù vẫn ý thức

đƣợc nhƣng ngƣời ta không phải lúc nào cũng dễ dàng vƣợt qua đƣợc chính mình! Xuân

Diệu là vậy, vì trƣớc tiên ông là '"một Con Ngƣời" ở giữa cuộc đời này.

3.3 "...Và cây đời mãi mãi xanh tươi"

Nhà thơ Chính Hữu, trong một bài thơ gần đây có viết:

160

Xuân Diệu, anh đã ngủ yên

Nhưng câu thơ của anh vẫn trằn trọc

...Tuổi đã già, đọc lại Xuân Diệu

Tôi tìm để có những điều hôm nay tôi thiếu

Tình yêu cuộc sống run rẫy từng trang...

Phải chăng đó cũng là cảm xúc khi đọc văn tiểu luận phê bình của Xuân Diệu. Không

phải ngẫu nhiên, Xuân Diệu đã lấy một ý trong câu nói nổi tiếng của đại văn hào Gót-tơ làm

lên gọi cho một tâp sách. Cùng với chất thơ, nguồn thơ dào dạt, cùng với lối bình thơ theo

cách riêng ; hình ảnh "cây đời mãi mãi xanh tươi", "sự sống chẳng bao giờ chán nản" cũng là

một đặc điểm nổi bật trong phong cách phê bình của Xuân Diệu. Đời sống ở đây không chỉ

hiểu theo nghĩa thông thƣờng của phê bình, bó hẹp trong phạm vi đời sống văn học, đời sống

tác giả, tác phẩm mà còn là đời sống lịch sử xã hội, đời sống của bản thân mỗi con ngƣời

luôn diễn ra dƣới nhiều dạng vẻ: rạo rực, sôi nổi, cuồn cuộn và biến đổi không ngừng.

Trƣớc hết, nhìn một cách bao quát những tác phẩm tiểu luận - phê bình của Xuân

Diệu đã xuất bản (chƣa kể các bài viết in lẻ) từ "Thanh niên với quốc văn" (1945), "Tiếng

thơ", “Những bước đường tư tưởng của tôi" (1958), “Phê bình giới thiệu thơ" (1960), "Trò

chuyện với các bạn làm thơ trẻ" (1961), "Dao có mài mới sắc" (1963), "Đi trên đường lớn"

(1968), "Và cây đời mãi mãi xanh tươi" (1971)... đến "Mài sắt nên kim" (1977), "Lượng

thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy" (1978), "Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" tập I (1981),

tập II 1982), "Công việc làm thơ"(1984)... ngƣời đọc có thể nhận thấy rất rõ sự nghiệp phê

bình văn học của Xuân Diệu đã theo sát những bƣớc đi của đời sống văn học trƣớc nhà nói

chung và đời sống thơ ca nói riêng trong suốt mấy chục năm qua, đồng thời cũng theo sát

từng bƣớc đi của đời sống xã hội lịch sử và cách mạng. Tính thời sự trong thơ và trong văn

phê bình; văn phê bình; chất đời và chất đời hòa quyện

161

chính là nguồn đề tài, nguồn chất liệu, nguồn cảm hứng; tuôn trào qua từng trang viết, làm

nên khối lƣợng tác phẩm đồ sộ của Xuân Diệu.

Phê bình với qui luật nội tại của nó bao giờ cũng phải gắn với lý luận và đời sống văn

học đang không ngừng diễn ra. Nhƣng trong thực tế, không ít ngƣời phê bình chỉ gọi phê

bình cho vừa cái khuôn lý luận đã có sẵn rồi từ đó dùng phép "qui chiếu" mà đánh giá tác giả,

tác phẩm, hoặc có ngƣời chỉ chuyên chú đến chữ nghĩa, văn chƣơng mà không đếm xỉa đến

việc đời. Ở Xuân Diệu, hình nhƣ không có ranh giới giữa văn và đời, mỗi trang văn phê bình

của Xuân Diệu thƣờng rợp mát bóng cây đời, do đó ngƣời ta có thể qua văn mà hiểu cuộc đời

sâu sắc hơn và ngƣợc lại càng từng trải việc dời, càng có học, thì càng hiểu văn hơn. Xuân

Diệu cho rằng: "một tâm trí uyên bác nhất định thấu tình đạt lý hơn một tâm trí nông cạn

hoặc dốt nát" [54, tr 16].

Nếu chúng ta đã từng kinh ngạc là không biết từ đâu, đọc bằng cách nào, nhớ làm sao

mà Xuân Diệu có cả một vốn thơ vận dụng trong văn phê bình phong phú đến nhƣ vậy, thì

chúng ta cũng sẽ hết sức bất ngờ khi bắt gặp ở những trang bình thơ của Xuân Diệu, hằng hà

những chi tiết, hình ảnh bất tận từ đời sống thực. Xuân Diệu đã vận nó vào mạch văn phân

tích, giảng giải một cách rất linh hoạt tài tình.

Xuân Diệu, dẫn chứng một bài thơ Trung Quốc cổ:

"Song the mừng rỡ mở thư phong

Mảnh giấy đôi bề thấy trắng không

Hẳn ý chàng không chi khác cả

Yêu em có nói cũng không cùng!

để nói rằng, nếu tách từng câu thì bài thơ có gì hay, nhƣng để trong toàn bài thì lại rất đáng

yêu! Xuân Diệu bỗng phân tích nhƣ tâm sự việc đời: "Người phụ nữ thời xưa, ngóng đợi tin

chồng đi rất xa, giao thông chậm chạp, đường sá muôn khó khăn, được một lá thư chồng gửi

về mừng hết lớn! Không ngờ

162

ông chồng đãng trí đến mức thư đã viết bỏ ở ngoài, mà tờ giấy trắng mà tờ giấy trắng chưa

viết lại gấp bỏ vào trong. Thành ra vợ mừng hụt. Nếu vợ bẳn tính thì sẽ làm thơ cáu với

chồng - cáu ở đây là một hình thức yêu thôi - tuy nhiên sao bằng cái hình thức yêu thương

mà người vợ chí tình, thông minh và hiền hậu này đã dùng! Chị đã cầm bút viết ngay lên cái

tờ thư đãng trí của chồng bài thơ tứ tuyệt ấy" [51, tr 49]. Vậy là chỉ kể chuyện đời, không

bình luận gì thêm mà ngƣời đọc vẫn thấy đƣợc cái hay, cái đẹp của bài thơ.

Một câu thơ tuyệt vời trong sáng của truyện Kiều đã từng đƣợc bao ngƣời lấy làm dẫn

chứng về mùa thu và nghệ thuật tả cảnh:

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng

Xuân Diệu góp thêm một cách cảm hiểu; nếu tách đứng riêng ra thì đây là hai câu thơ

tả cảnh, "nhƣng để vào trong mạch văn, thì sở dĩ cảnh trong sáng đến thế, còn là vì Thúc Sinh

sau khi về thăm vợ là Hoạn Thơ "cho phải đạo", thì đã đƣợc trèo lên lƣng ngựa mà "roi câu

vừa dóng dặm trường", quất ngựa chỉ roi, trở lại với nàng Kiều, có thế thì cảnh mới phơi phới

đến nhƣ thế chứ!"[51, tr 5-6].

Xuân Diệu đã dùng chất liệu đời sống, kỷ niệm của bản thân để lắng nghe "tiếng gọi

đò" trong bài thơ "Sông Lấp" của Tú Xƣơng, chi da diết hơn, thăm thẳm hơn:

"Tôi còn nhớ trong xã hội trước, khi tôi còn nhỏ, nằm ngủ trong nhà của cha mẹ,

trước mắt là khúc sông Gò Bồi. Khuya lạnh, co quắp trong chiếc chiếu dài, nửa nằm nửa đắp

phủ kín cả đầu, trẻ con ngủ rất mê, mà lại vẫn cử nghe tiếng rất to gọi đò văng vẳng bên

ngoài, thành ra lẫn vào với giấc mộng. Sông vang tiếng, trời vang tiếng, khuya vang tiếng,

đêm tối đen, tiếng gọi đò vời vợi làm sao" [44, tr 367]

Hoặc là khi "tìm hiểu Tản Đà", trong mạch văn chứa chan nỗi niềm tri âm, tri kỷ,

Xuân Diệu nhớ lại cái tang của văn học Việt Nam, của thơ Việt Nam khi

163

Tản Đà qua đời (1939), nhắc lại một kỷ niệm về yêu thơ Tản Đà cũng chính là để khẳng định

thêm vị trí của nhà thơ và cả những điều thơ Tản Đà chƣa thể vƣơn tới đƣợc.

Đọc văn tiểu luận phê bình cùa Xuân Diệu, nhiều lúc cứ nhƣ không chỉ đọc thơ, mà là

đọc những trang đời. Đang bình thơ, Xuân Diệu hay có những liên hệ tạt ngang rất bất ngờ,

có khi nhƣ một sự chiêm nghiệm, quan sát đời sống nhạy bén mà sâu sắc. Chẳng hạn, nhân

khi nói thơ Tú Xƣơng đùa ông cử Ba, dốt quá mà đỗ cử nhân:

Ai ngờ mũ áo đến ba ba!

... Tuy rằng cổ rụt mà không ngỏng

Hễ cắn ai thì sét mới tha

Xuân Diệu "bồi thấn" thêm: "Ông cử dốt kia là một con ba ba thật sự rồi: "Đất sét

không ăn, ăn thịt gà” khôn thật, toàn ăn ngon mà lại lấy của người khác. Cái giống cứng đờ,

cố chấp này bập được vào công danh thì nhất định không nhả ra, sét có đánh cũng không

nhả ra!" [53, tr 273].

Có lúc Xuân Diệu cũng thật là hóm hỉnh, đang nói về "nâng cao chất lượng thơ", ông

cho rằng, thơ kém, thơ xoàng thì trong đời luôn luôn xảy ra, và đăng thơ kém, thơ xoàng lên

báo, thì cũng là việc thƣờng có; "cái vấn đề cần phải chú ý nhất, bảo vệ nhất, là ngừng lại

đừng khen một số bài thơ trung bình, cũng như trong đời có những người kém, xoàng là

chuyện thường; vấn đề là đừng đưa những những người này vào cấp ủy" [50, tr 279].

Rõ ràng, cũng nhƣ nhiều nhà thơ lớn của nhân loại, Xuân Diệu tràn ngập niềm khát

đƣợc nhận cái sự vật, đƣợc hòa nhập với chúng, đƣợc chất chứa chúng vào đầu óc nhƣ một

nguồn điện năng thì lúc cần mới phát sáng chiếu thẳng vào sự vật nhƣ thế!

..."Và cây đời mãi mãi xanh tươi" trong văn phê bình Xuân Diệu còn thế hiện ở niềm

xúc động và cảm nhận tinh tế khi hòa nhập vào "thế giới trẻ con" của

164

thơ Huy Cận, và khi nói về "Thơ em Khoa". Hãy nghe Xuân Diệu hòa tâm hồn mình vào đời

sống trẻ thơ để phân tích bài thơ "Trăng" của cậu thiếu nhi ấy:

"Mặt trăng muôn đời, hàng nghìn thi sĩ đã so sánh ví von rồi, nhƣng Khoa cứ thấy

đƣợc cái mới lạ:

Trăng ơi từ đâu đến

Hay từ cánh rừng xa

Trăng vàng như quả chín

Treo lơ lửng trước nhà

Trăng nhƣ trái chín đỏ, chín vàng, nên phải gợi đến cánh rừng xa. Hình tƣợng này

chƣa mới lắm vì trƣớc đây nữ thi sĩ Hồ Xuân Hƣơng đã nói rồi: Một trái trăng thu chín mõm

mòm

Đến hình tƣợng thứ hai thì thật mới lạ:

Trăng ơi từ đâu đến

Hay từ biển diệu kỳ

Trăng tròn như mắt cá

Không bao giờ chớp mi

Một hình tƣợng mà xâu chuỗi dƣợc từ trời sang biển, từ biển đến trời, trăng là mắt của

một con cá nào nhìn nghiêng kỳ diệu đến thế! Tôi vốn sinh ra và lớn lên trên bờ biển ngắm

trăng rằm mọc nhô từ dƣới biển lên, đúng là mắt của một con cá bể chứ gì nữa! Tới hình

tƣợng thứ ba, thì chỉ có một trẻ em mới lần đầu nghĩ ra trong thơ:

Trăng ơi từ đâu đến

Hay từ một sân chơi

Trăng bay như quả bóng

Đứa nào đá lên trời

165

Cái cú sút này hẳn là một em thiếu nhi Việt Nam con cháu của một dân tộc anh hùng,

mới đá đƣợc quả bóng sáng bay lên thành mặt trăng nhƣ vậy" [35, tr 235-236].

Và ai ngờ, nhà thơ Xuân Diệu còn biết đƣợc cả những chuyện tỉ mỉ nhƣ là chuyện trẻ

con ở nông thôn đi bắt ếch. Khoa có một câu thơ nói về cái việc ấy, khi ra đi chẳng có gì, lúc

trở về: "Giỏ không thoắt đã đựng đầy tiếng kêu". Câu thơ này đƣợc Xuân Diệu giải thích:

"Nếu là đi bắt chim trở về giỏ không thoắt đã đựng đầy tiếng chim, thì thơ chẳng có gì hay

đáng kể. Phải là giỏ đựng ếch bụng nó rỗng đầy hơi, lại gặp cái giỏ rỗng, rồi tiếng nó kêu

cũng ì ộp, rỗng, ba cái rỗng ấy bắt gặp nhau, cái rỗng này đựng hai cái rỗng kia cho nên câu

mới thật thú vị" [38, tr 234].

Những đoạn bình thơ thiếu nhi vừa giàu chất thực tế, vừa đánh thức tƣởng tƣợng nhƣ

trên, chỉ có thể có đƣợc ở những ngọn bút già dặn và không nguôi khát khao tình yêu con trẻ.

*

* *

Cũng có ngƣời cho rằng văn phê bình nghiên cứu của Xuân Diệu giàu chất thơ, chất

đời nhƣng trình độ lý luận, khái quát thì không có gì nổi bật lắm. Thực ra đây cũng là đặc

điểm chung thƣờng thấy ở khuynh hƣớng phê bình nghệ sĩ. Nhƣng vấn đề còn ở chỗ hiểu thế

nào là lý luận trong phê bình và nghiên cứu. Giáo sƣ Lê Đình Kỵ - một nhà lý luận văn học,

đã nói về vấn đề này nhƣ sau:

"Lý luận ta cơ sở để phân tích đánh giá tác phẩm tác phẩm, nó không phải là cái

cộng thêm thêm vào bài viết từ ngoài đưa vào; nó thể hiện không phải ở những trích dẫn

thậm chí không phải những cách thuyết lý nào đó, mà trước hết và chủ yếu là ở cách tiếp cận

vấn đề, ở quan niệm chung và ở bản thân sự vận dụng vào thực tế tác phẩm, nó nằm bên

trong, chắp cánh cho bài viết" [90, tr 11].

166

Trong thực tiễn sáng tạo văn học, những cây bút phê hình nghiên cứu mà thiếu lý luận

thì không thể đi xa, và cũng không mấy khi gặt hái đƣợc thành tựu gì đáng kể. Nhìn từ những

góc độ ấy, phê bình của Xuân Diệu không phải thiếu lý luận mà chính là lí luận đã nhuần

nhuyễn hòa vào cảm xúc, đƣợc ẩn ở đằng sau cách liếp cận và cách diễn đạt bằng hình ảnh.

Có thể tìm thấy trong những trang văn phê bình Xuân Diệu rất nhiều phát biểu mang

tính lý luận, khái quát nhƣng không phải "màu xám" mà hòa với màu xanh bát ngát của cây

đời. Ở chƣơng I, khi đề cập đến quan niệm của Xuân Diệu về thơ, về phê bình chúng tôi đã

có dịp đƣa nhiều trích dẫn. Dƣới đây xin nêu thêm vài dẫn chứng về cách diễn đạt rất đời một

số vấn đề lí luận theo sở trƣờng riêng của Xuân Diệu:

Về mối quan hệ giữa nhà văn và cuộc sống:

"Không có dâu thì tằm chết, không có tằm thì cũng chẳng có tơ " [34, tr. 49].

Về mối quan hệ giữa quần chúng và tác phẩm:

"Quần chúng là đất mà tác phẩm là hạt giống, là cây; thảng hoặc gặp nơi đất khô,

khó, thì phải tưới, phải bồi dưỡng đất, chứ không thể trồng cây ra ngoài đất" [37, tr 150].

Nói về đọc văn hay phải kết hợp tƣ duy trực cảm và tƣ duy trí tuệ:

"Văn hay trước hết chưa phải ở hình tượng, âm thanh, sáng kiến là những điều quan

trọng lắm lắm, mà văn hay trước hết ở cái thế, ở sự phân tích được tâm lí của hoàn cảnh.

Đọc văn cũng vậy, như xem người, chưa nên lác mắt vì quần áo, trang sức, mà cho đến mặc

đẹp cũng chưa đáng sợ! Hãy xem vầng trán suy nghĩ gì và hai con mắt là gương của tâm

hồn" [42 tr 20]

Nói về thử của thời gian:

... "Đối với các tác phẩm văn học thời gian là người vặt lông vịt một tài tình, vịt khô,

vịt khô xù lông ra vẻ béo, vịt ướt lông dính ra vẻ gầy, thời gian đều vặt

167

hết lông một cách thật khách quan, và bao nhiêu thịt vịt thật đều hiện ra trần trụi trước

mắt"...

... "Chiếc thuyền thơ thả trong biển thời gian, lúc đầu mới hạ thủy còn chao lên chao

xuống, gió bão từng kỳ làm chòng đi chành lại, cứ cho thăng trầm mỗi đợt là mất hai mươi

năm đi, thì trải qua năm đợt hai mươi năm, mà vẫn giong lèo giương buồm phơi phới, như

vậy là có thể nói rằng: từ đây vào bất tử rồi" [43. tr 227].

- Nói về yêu cầu rèn luyện đối với nhà thơ:

"Người thi sĩ cần phải luôn luôn tích lũy ý nghĩ và tình cảm, cần có một niềm yêu

thương và say mê thường trực; phải chăng tấm lòng thơ trong người ấy như một thửa ruộng

đã cày bừa sẵn, đã túc trực cả "nước, phân, cần" để đợi "giống" gieo vào thì có thể nảy cây,

khai hoa kết qua" [38, tr 79]...

Với Xuân Diệu dƣờng nhƣ bất kỳ một vấn đề gì của văn chƣơng cũng đều có sẵn một

kho từ ngữ, hình ảnh trong đời sống để diễn dạt. Tuy nhiên, phê bình không chỉ là một nghệ

thuật mà còn là một khoa học - Mà, bất kỳ khoa học nào cũng có một hệ thống thuật ngữ của

nó. Lối diễn đạt của Xuân Diệu với tần số hình ảnh đời sống rất cao có mặt mạnh sẽ làm cho

ngƣời đọc dễ hiểu, nhƣng nếu sa đà vào chi tiết thì cũng dễ rơi vào dung tục, tầm thƣờng hóa

vấn đề, có thể ảnh hƣởng đến mĩ cảm của ngƣời đọc.

*

Phong cách phê bình giàu chất liệu đời sống của Xuân Diệu còn đƣợc thể hiện qua

giọng điệu và ngôn ngữ. Do đã từng sống, từng đi nhiều nơi ở khắp cả ba miền đất nƣớc, do ý

thức tích lũy "năng nhặt chặt bị" "tay siêng làm lụng mắt năng kiếm tìm", cái vốn từ ngữ và

năng lực biểu đạt của ngòi bút Xuân Diệu hết sức năng động và linh hoạt. Ông am hiểu đến

mức có thể bằng các thứ giọng, có thể giải nghĩa cặn kẽ một từ ở một địa phƣơng nào đó làm

ta cũng bất ngờ. Có lúc nhờ am hiểu vốn từ nhƣ vậy, ông dã xác định văn bản: Bài "Đêm dài"

của Tú

168

Xƣơng, có sách in là của tú tài Từ Diễn Đồng 1866 - 1918), nhƣng Xuân Diệu ngã về ý kiến

cho là của Tú Xƣơng chỉ vì có chữ "thúng thắng ho" là tiếng nói đặc biệt của địa phƣơng

Nam Định:

"Trẻ con u ơ chừng muốn dậy

Ông già thúng thắng vẫn đâm ho"

còn tú tài Từ Diễn Đồng lại là ngƣời Thƣờng Tín, Hà Đông.

Cũng ít ai trong phê bình lại viết bằng một giọng hồn nhiên, nhi nhiên nhƣ Xuân

Diệu. Nào là "Thúc Sinh về quê thăm vợ cả đƣợc một thời gian thì lại thấy ngứa cẳng muốn

đi" [42, tr 281], nào là vợ đƣợc thƣ chồng thì "mừng hết lớn"; vần cuối câu theo lối thơ Trung

Quốc là "vần cà pháo", vần theo gốc thơ dân gian Việt Nam, vừa cuối câu, vừa giữa lƣng câu

là vần bánh trôi vì nó dính lấy nhau, lăng líu với nhau [51, tr 107].

Xuân Diệu vẫn hằng quan niệm: "Nhà thơ lớn phải viết được những câu thơ sức lộng

lẫy, đồng thời lại viết được những câu thơ tuyệt vời giản dị". Nói về ba bài thơ mùa thu của

Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu so sánh, "quá trình ngôn ngữ thơ đi từ đời Lê Hồng Đức thật

hãy còn vất vả nặng nề:

Trời muôn trượng thẳm làu làu sạch

đến Nguyễn Khuyến đã thành ra:

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao

thật trong sáng nhẹ nhàng, như không một trở lực nào níu được sự diễn đạt nữa". Xuân Diệu

cho rằng những câu thơ thoải mái tự nhiên là kết quả của một sự khổ luyện, khổ luyện qua

những thời đại, hoặc khổ luyện trong một con ngƣời đạt đến sự "đắc đạo", làm những câu thơ

trong sáng, thoải mái, dễ nhƣ không ấy, là kết quả của một sự rèn luyện ngôn ngữ cao cƣờng.

Nhiều trang văn phê bình của Xuân Diệu phải chăng cũng đã đạt đến sự "đắc đạo",

"cao cƣờng" ấy!

*

169

Xuân Diệu làm thơ, viết văn xuôi, viết phê bình, vừa nhƣ một nhu cầu tự thân của

ngƣời nghệ sĩ, đồng thời cũng nhƣ một sự trả ơn, một món nợ trái tim với cuộc đời. Trƣớc

Cách mạng, cuộc đời chỉ bó hẹp trong phạm vi cá nhân, nhiều khi chỉ biết hƣớng vào lòng

mình, sau Cách mạng đến với cuộc đời mới, sự sống và cây đời càng dào dạt xanh tƣơi khi

nhà thơ, nhà phê bình đƣợc sống giữa lòng nhân dân, đất nƣớc. Trong quá trình chuyển biến

tƣ tƣờng ấy, Xuân Diệu luôn ý thức, "làm việc gì cũng phải có hy sinh", "mọi việc tốt, việc

phải trên đời làm được là nhờ sự tự giác kết hợp với bắt buộc". Khác với nhiều ngƣời, Xuân

Diệu tự bộc lộ rất chân thành:

"Động cơ lớn xui tôi viết một số bài thơ là phục vụ cách mạng, ca ngợi công trình sự

nghiệp của nhân dân, nhƣng động cơ trƣớc mắt, nhiều khi vì là muốn trả ơn sự đãi ngộ:

Hạt cơm là của bà con

Là tình, là nghĩa, là ơn thấm nhuần

Xuân Diệu thấy mình "rất vinh dự được xã hội giao công việc và đặt hàng" [51, tr 91

- 123]. Chính vì vậy rất nhiều bài viết của Xuân Diệu thƣờng mở đầu bằng một sự việc từ đời

sống, nhân một ngày lễ, một kỷ niệm, và sau khi đã đi sâu vào thế giới của tác giả tác phẩm,

Xuân Diệu lại trở về gắn ý nghĩa bài viết với cuộc sống hiện tại. Cái cảm giác "mắc nợ" cuộc

đời, "không nỡ" không nhận lời, không nỡ không viết ấy vừa rất nhân bản vừa rất thực tế đã

thôi thúc Xuân Diệu, chi phối cả cấu trúc" và giọng điệu văn phê bình tiểu luận của ông.

Tất nhiên, dù muốn hay không, viết theo đơn đặt hàng thì phải chiều theo ý ngƣời đặt

hàng cho nên có lúc cảm xúc, ý nghĩ không theo kịp Xuân Diệu không tránh khỏi gƣợng ép,

vội vàng, thậm chí đôi khi còn nói lấy đƣợc, hạ thấp vai trò tƣởng tƣợng của thơ và vẻ đẹp trí

tuệ của văn phê bình..

Mặc dù vậy với nhiệt tình và nguồn kiến thức uyên bác cùng với tài diễn đạt của

mình, Xuân Diệu vẫn đem đến đƣợc cho ngƣời đọc ngƣời nghe không ít những trang phê

bình lý thú giàu có chất thơ và sống động, rợp mát chất đời. Đó cũng là một nét riêng dễ nhận

thấy trong phong cách phê bình Xuân Diệu.

170

KẾT LUẬN

1. Nhìn lại đóng góp lớn lao của Xuân Diệu trong lĩnh vực phê bình nghiên cứu văn

học, một lần nữa chúng ta có thể tự hào khẳng định rằng Xuân Diệu không chỉ là một trong

những nhà thơ kiệt xuất của nền thơ ca việt Nam hiện đại mà còn là một nhà phê bình lớn đã

để lại một khối lƣợng tác phẩm đồ sộ với quan niệm và phong cách riêng, có giá trị tƣ tƣởng

nghệ thuật vô cùng phong phú.

Mỗi công trình tiểu luận - phê bình của Xuân Diệu gắn với "những bước đường tư

tưởng" của nhà thơ, đồng thời quá trình vận động ấy còn có ý nghĩa điển hình cho con đƣờng

chuyển biến nhận thức - tình cảm của cả một thế hệ văn nghệ sĩ từ thế giới cũ đau thƣơng đến

với thế giới mới ngập tràn ánh sáng cách mạng. Tìm hiểu đóng góp của nhà thơ Xuân Diệu ở

lĩnh vực này là bƣớc đầu bổ sung vào lịch sử hình thành nhà văn và quan niệm văn học nói

chung trong quá trình hiện đại hóa và cách mạng hóa nền văn hóa dân tộc.

Mặt khác, những tác phẩm của Xuân Diệu từ "Tiếng thơ", "Phê bình giới thiệu thơ",

"Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ", "Dao có mài giới sắc" đến "Và cây đời mãi mãi xanh

tươi", "Mài sắt nên kim", "Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy", "Công việc làm

thơ"... còn là tiếng thơ, tiếng đời dào dạt của từng chặng đƣờng phát triển nền thơ cách mạng

nƣớc ta hòa nhịp với cuộc sống và tâm hồn dân tộc qua hai cuộc kháng chiến và những năm

dầu dựng xây đất nƣớc thống nhất. Có thể không quá lời khi khẳng định rằng, bằng tài năng

sáng tạo thi ca, bằng biệt tài phê bình, giới thiệu thơ, bằng tất cả niềm tâm huyết với nghề.

Xuân Diệu là một trong những ngƣời có công lớn nhất vào quá trình hình thành và phát triển

của nền thơ Việt Nam hiện đại trong thế kỷ XX.

Đặc biệt với tập đại thành:"Các nhà thơ cổ điển Việt Nam",nhà phê bình nghiên cứu

Xuân Diệu còn là một học giả uyên bác công khảo cứu, dựng

171

chân dung, tạo lập nên một "Viện bảo tàng văn học" gồm những danh nhân tiêu biểu nhất của

nền văn chƣơng truyền thống nƣớc nhà. Viết về các nhà thơ cổ điển, ngòi bút phê bình cùa

Xuân Diệu và tác phẩm của ông đã vƣơn tới vẻ đẹp cổ điển.

2. Nhiều ngƣời đã nói đến chân dung Xuân Diệu qua thế giới thơ ca đầy "cảm xúc" và

"huyền diệu" của ông. Luận án này, tuy chỉ là bƣớc đầu, nhƣng cũng phần nào giúp nhận diện

thêm một chân dung Xuân Diệu qua phê bình văn học.

Cũng là một Xuân Diệu ấy thỏi; cũng ham sống, ham yêu, cũng bồng bột nông nổi

nhƣ ngƣời đời, cũng biết "sợ", nhiều khi để nói đƣợc suy nghĩ trung thực của mình cũng phải

diễn đạt theo lối "phên dậu rào đón", và cũng có lúc không tránh khỏi những ngộ nhận ngây

thơ. Nhƣng cũng nhƣ trong thơ, trong phê bình Xuân Diệu là một nhân cách lớn, một phong

cách lớn nhất quán với những phẩm chất chỉ có đƣợc ở những ngƣời thực sự tài năng và bản

lĩnh. Đó là một con ngƣời luôn biết vƣợt lên nỗi đau riêng, sống hết mình, yêu hết mình, việc

hết mình cho cuộc sống, cho con ngƣời, cho khát vọng vƣơn tới cái đẹp.

Phê bình nghiên cứu văn học đối với Xuân Diệu trƣớc hết là một nghệ thuật, ông viết

trong niềm rung động mê say của thơ với những cảm nhận rất đỗi tài hoa và tinh tế; đồng thời

cũng là một khoa học, ông làm việc nhƣ một ngƣời lao động cật lực với một sức đọc, sức

nghĩ, sức sáng tạo phi thƣờng. Nhƣng học thuật với những ngƣời nhƣ Xuân Diệu cũng chính

là tâm thuật. Tất cả đếu xuất phát từ tấm lòng, từ một vốn nhân tình nhân bản đầy ắp mà sâu

thẳm, mặc dù trí tuệ cũng không kém phần uyên bác. Đó phải chăng cũng là bài học lớn mà

Xuân Diệu để lại cho đời, nhất là cho những ngƣời sáng tác trẻ. Và đó cũng chính là sức

mạnh để sự nghiệp văn học của Xuân Diệu sống mãi qua thử thách của thời gian, không thể

nào quên trong lòng ngƣời đọc. "Sự không thể nào quên ấy - nói như Xuân Diệu - là qui luật

của tình yêu: trong vũ trụ thay đổi, giữa vạn vật biến

172

chuyển, sự sống của con người cần những cái mốc, cái trụ không thay đổi, có thể mới sống

được, mới bền bỉ và tốt đẹp được" [39. tr 68].

3. Cũng cần phải nói thêm rằng, không phải tất cả các trang viết của Xuân Diệu đều

hay, không phải trong quan niệm và phƣơng pháp phê bình nghiên cứu của Xuân Diệu không

còn những hạn chế, nhƣng một sự thật là, ở mảng đề tài nào, ở thể loại nào, văn phê bình

Xuân Diệu cũng có những đóng góp riêng, những thành công xuất sắc. Gia tài phê bình

nghiên cứu của Xuân Diệu để lại không kém bất kỳ một nhà phê bình chuyên nghiệp nào

trong nền văn học nƣớc ta thế kỷ XX. "Ở trong còn lắm điều hay", bản luận án này dù đã cố

gắng bao quát nhƣng cũng chỉ mới tìm hiểu nghiên cứu một phần giá trị và ý nghĩa của gia tài

ấy. Chắc chắn còn nhiều vấn đề đƣợc đặt ra. Mong rằng từ nhiều góc độ và bình diện khác

nhau, sẽ có thêm nhiều công trình mới tiếp tục nghiên cứu về đề tài thật sự có sức hấp dẫn

này.

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

1. Phan Ngọc Thu "Tiếng thơ" - của Xuân Diệu - một tác phẩm mở đầu cho nền phê bình

văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám - Tạp chí Khoa học & Công nghệ Đại

học Đà Năng, số 8 - 2001, tr 81 - 85.

2. Phan Ngọc Thu Quan niệm của Xuân Diệu về phê bình văn học -Tạp chí Khoa học - Đại

học Sƣ phạm Hà Nội, số 2001, tr 44-49.

3. Phan Ngọc Thu Quan niệm của Xuân Diệu về văn học trong tập Để hiểu thêm một số tác

giả, tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại (giới thiệu và truyền chọn), NXB, Giáo dục

- 11.2001, tr 29-52.

4. Phan Ngọc Thu Quan nhiệm của Xuân Diệu về tính dân tộc (thời thơ Mới) - tạp chí Văn

học số 10 2001, tr 55 61.

5. Phan Ngọc Thu " Sổ tay người yêu thơ" (viết chung), Sở văn hóa Thông tin Bình Trị

Thiên - Xuất bản năm 1986.

6. Phan Ngọc Thu "Học văn" (viết chung) - Đại học Sƣ phạm Huế - 1991.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại nhận thức và thẩm định, Nxb Khoa học

Xã hội, Hà Nội.

2. Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca, (Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà

dịch), Nxb Vãn học, Hà Nội.

3. Arnauđốp - M.v (1978), Tâm lý học sáng tạo văn học, (Hoài Lam – Hoài Ly dịch), Nxb

Văn học, Hà Nội.

4. Lại Nguyên Ân (1987), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.

5. Lại Nguyên Ân (1995), "Biên tập sách của Xuân Diệu", Tạp chí Văn học, số (12).

6. Lại Nguyên Ân (1997), Sống với văn học cùng thời, Nxb Văn học, Hà Nội.

7. Nguyễn Duy Bình (1968), "Xuân Diệu trong Hai đợt sóng", Tạp chí VH, số (5).

8. Nguyên Duy Bình (1970), "Tâm hồn thơ Xuân Diệu", Báo Văn nghệ, số(373).

9. Brunetiere - F (2001), "Phê bình văn học", Tạp chí Văn học Nước ngoài, số (4),Hội

NVVN (trg 166-181).

10. Hoàng Cái (1996), "Một dòng chảy trong thơ Xuân Diệu, Báo GD&TĐ, số ngày 29/11.

11. Huy Cận (1986), "Thơ tình Xuân Diệu" (Tựa "Đây chùm thương nhớ"),Nxb Đà Nẵng.

12. Huy Cận (1995), "Phấn thông vàng tập truyện ngắn trữ tình độc đáo của Xuân Diệu",

Tuyển tập Huy Cận. tập (2), Nxb Văn học, Hà Nội.

13. Huy Cận (1996), "Xuân Diệu và tôi", Tạp chí Việt Nam và Đông Nam Á ngày nay, số(2).

14. Trƣơng Chính (1982), Lời giới thiệu Tuyển tập Hoài Thanh tập (1) N.xb Văn học, Hà

Nội.

15. Lê Đình Cúc (1991), "Lại bàn về phề bình văn học", Tạp chí Văn học số (1)

l6. Hồng Chƣơng (1959), "Anh đã đi đúng hƣớng", Văn nghệ Cách mạng không ngừng ,Nxb

Sự thật, Hà Nội.

17. Hồng Chƣơng (1961), Đọc "Riêng chung", Tạp chí Văn học, số(43).

18. Xuân Diệu (1992), Thơ thơ, Nxb Hội Nhà văn - Hội NC&GDVH TP.Hồ Chí Minh (tái

bản).

19. Xuân Diệu (1992), Gửi hương cho gió, Nxb Hội nhà văn Hội NC&GDVH TP. HCM (tái

bản).

20. Xuân Diệu (1995), Ngôi sao, Nxb Văn nghệ, Hà Nội.

21. Xuân Diệu (1960), Riêng chung, Nxb Văn học, Hà Nội.

22. Xuân Diệu (1962), Mũi Cà Mau - Cầm tay, Nxb Văn học, Hà Nội.

23. Xuân Diệu (1964), Một khối hồng Nxb Văn học, Hà Nội.

24. Xuân Diệu (1967), Hai đợt sóng, Nxb Văn học, Hà Nội.

25. Xuân Diệu (1970), Tôi giàu đôi mắt, Nxb Văn học, Hà Nội.

26. Xuân Diệu (1976), Hồn tôi đôi cánh, Nxb Văn học, Hà Nội.

27. Xuân Diệu (1982), Thanh ca, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.

28. Xuân Diệu (1983), Tuyển tập, (thơ),tập (I), Nxb Văn học, Hà Nội.

29. Xuân Diệu (1987), Tuyển tập, (văn xuôi), tập (II), Nxb Văn học, Hà Nội.

30. Xuân Diệu (1946), "Một bài thơ Cách mạng", Tạp chí Tiên phong số( 8 ) .

31. Xuân Diệu (1946), "Văn hóa Việt Nam sẽ không đi theo nấm mồ Văn hóa Pháp", Tạp chí

Tiên phong số đặc biệt.

32. Xuân Diệu (1951)Tiếng thơ,- Nxb Văn nghệ, Hà Nội.

33. Xuân Diệu (1951),Triều lên, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

34. Xuân Diệu (1958), Những bước đường tư tưởng của tôi , Nxb Văn học, Hà Nội.

35. Xuân Diệu (1960), Phê bình giới thiệu thơ, Nxb Văn học, Hà Nội.

36. Xuân Diệu (1961), Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ, Nxb Văn học, Hà Nội.

37. Xuân Diệu (1963), Dao có mài mới sắc, Nxb Văn học, Hà Nội.

38. Xuân Diệu (1968), Đi trên đường lớn, Nxb Văn học, Hà Nội.

39. Xuân Diệu (1971 ),Và cây đời mãi mãi xanh tươi, Nxb Văn học, Hà Nội.

40. Xuân Diệu (1973), Lời giới thiệu tập thơ Chùa Hƣơng, T y Văn hóa Thông tin Hà Tây.

41. Xuân Diệu (1971), Mài sắt nên kim, Nxb Văn học, Hà Nội.

42. Xuân Diệu (1978), Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy, Nxb Tác phẩm mới, Hà

Nội.

43. Xuân Diệu (1981), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập (1), Nxb Văn học, Hà Nội.

44. Xuân Diệu (1982), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam. tập (II), Nxb Văn học, Hà Nội.

45. Xuân Diệu (1982), "Tìm hiểu thơ Tản Đà", Lời giới thiệu Tuyển tập Tản Đà, Nxb Văn

học, Hà Nội.

46. Xuân Diệu (1983), "Một tâm sự thi sĩ", Tạp chí Văn học, số ( 1 ) .

47. Xuân Diệu (1983), "Đọc thơ Thế Lữ, Tuyển tập Thế Lữ, Nxb Văn học, Hà Nội.

48. Xuân Diệu (1984), "Hồi ký của Thế Lữ", Báo Văn nghệ, Số Tết Giáp tý

49. Xuân Diệu (1984), "Huế với thơ Tố Hữu", Báo Văn nghệ, số ( 1 3 ) .

50. Xuân Diệu (1984), "Đọc lại thơ Nhật ký trong tù", Báo Văn nghệ, số (21).

51. Xuân Diệu (1984), Công việc làm thơ, Nxb. Văn học, Hà Nội.

52. Xuân Diệu (1985), "Mấy cảm nghĩ (nhân tặng thƣởng Thơ 1981-1983)" Báo Văn nghệ số

(6).

53. Xuân Diệu (1986), "Sáu mƣơi năm phía trƣớc", Báo Văn nghệ, số (3).

54. Xuân Diệu (19.X6), "Sự uyên bác với việc làm thơ", Tạp chí Văn học, số (1)

55. Xuân Diệu (1986), Giới thiệu Tuyển tập Huy Cận, tập (1), Nxb Văn học, Hà Nội.

56. Xuân Diệu (1987) Thế giới thơ H u y Cận. Nxb Trẻ TP. HCM.

57. Xuân Diệu (2001), Toàn tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội.

58. Xuân Diệu (2001) Toàn tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội.

59. Xuân Diệu(2001), Toàn tập 3. Nxb Văn học, Hà Nội.

60. Xuân Diệu (2001),Toàn tập 4, Nxb Văn học, Hà Nội.

61. Xuân Diệu (2001), Toàn tập 5, Nxb Văn học, Hà Nội.

62. Xuân Diệu (2001), Toàn tập , Nxb Văn học, Hà Nội.

63. Lê Tiến Dũng(1993), Xuân Diệu một đời người một đời thơ, Nxb Giáo dục Hà Nội.

64. Đặng Anh Đào (1991), "Hai bí quyết của phê bình văn học", Tạp chí Văn học, số (3).

65. Phan Cự Đệ (1982), Phong trào Thơ Mới 1932-1945, Nxb Khoa học Xã Hội (in lần 2),

Hà Nội.

66.Phan Cự Đệ - Mà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam (1945-1975), tập (1), Nxb Đại học

và THCN, Hà Nội.

67. Hà Minh Đức (1977), Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thơ ca, Nxb Văn học, Hà Nội.

68. Hà Minh Đức (1987), "Anh đã sống hết mình cho cuộc sống và cho thơ", Xuân Diệu - con

và tác phẩm, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.

69. Hà Minh Đức (1997), Khảo luận văn chương, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

70. Hà Minh Đức (1998), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb văn học, Hà Nội.

71. Tế Hanh (1995), "Đời và thơ Xuân Diệu - đôi điều nhớ và cảm" - (Nguyễn Hữu Sơn ghi),

Tạp chí Văn học, số (12).

72. Nguyễn Thanh Hà ( 1998), "Xuân Diệu bàn về tiêu chuẩn phê bình thơ", Diễn dàn Văn

nghệ Việt Nan, số (6).

73. Nguyễn Thanh Hà (1999), "Xuân Diệu bàn về công chúng thơ", Diễn đàn Văn nghệ Việt

Nam, số (4).

74. Nguyễn Thanh Hà (2000), "Xuân Diệu với thơ Bác", Báo văn nghệ Trẻ, số (21).

75. Nguyễn Thanh Hà (2000), "Xuân Diệu nói về thơ hay, thơ dở", Diễn đàn Văn nghệ Việt

Nam, số (7-8).

76. Dƣơng Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu. Bộ Giáo dục, Trung tâm Tƣ liệu tái

bản, Sài Gòn.

77. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb

Giáo dục.

78. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Nhƣ Phƣơng (1998), Lý luận văn học vấn đề và suy nghĩ,

Nxb Giáo dục, Hà Nội.

79. Hoàng Ngọc Hiến (1999), Văn học và học văn. Nxb Văn học, Hà Nội.

80. Lƣu Hiệp (1999), Văn tâm điêu long, Phan Ngọc dịch, Nxb Văn học, Hà Nội.

81. Đỗ Đức Hiểu (1994), Đổi mới phê bình văn học, Nxb Khoa học XH, Hà Nội.

82. Đỗ Đức Hiểu (1985), "Phê bình trong văn học Pháp", Tạp chí Văn học, số (8).

83. Nguyễn Khắc Hóa (1999), "Xuân Diệu với ý thức phê bình thơ kháng chiến (1946-1954)"

Tạp chí Văn học, số (5).

84. Lê Quang Hƣng (1996), "Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu trƣớc cách mạng tháng

Tám", Luận án PTS Ngữ Văn, ĐHSP Hà Nội.

85. Trần Đăng Khoa (1998), Chân dung và đối thoại, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

86. Trần Đăng Khoa (1998), "Tài biên tập của Xuân Diệu", Phụ san VNQĐ. số (13).

87. Nguyễn Bỉnh Khôi (1983), "Đọc sách Các nhà thơ cổ điển Việt Nam", Báo Văn nghệ, số

(48).

88. Nguyễn Hoành Khung (1996), "Một mùa thơ nở rộ", trong Xuân Diệu tình đời và sự

nghiệp, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

89. Khrapchenkô. M.B (1978), Cá tính sáng tạo nhà văn và sự phát triển văn học, Nxb Tác

phẩm mới, Hà Nội.

90. Lê Đình Kỵ (1983), Thơ với Xuân Diệu, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Nxb Cửu Long.

91. Lê Đình Kỵ (1988),Thơ mới những bước trầm, Nxb Thành phố HCM

92. Lê Đình Kỵ (1998). Phê bình nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục Hà Nội

93. Thanh Lãng (1995), Mƣời ba năm thanh luật văn học (1932-1945) tập (III), Nxb VH và

Hội NCGDVTTP HCM.

94. Mã Giang Lân (1984), "Xuân Diệu", trong Nhà thơ Việt Nam hiện đại, NxbKHXH Hà

Nội.

105. Mã Giang Lân (1987), "Sự đa dạng của Xuân Diệu", Xuân Diệu Con người và tác phẩm,

Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.

106. Phong Lê (1997), Văn học trên hành trình của thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia, Hà

Nội.

107. Phong Lê (1999), Vẫn chuyện văn và người", Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

108. Mai Quốc Liên (1992), Trước đèn, Nxb Văn nghệ TP. HCM.

109.Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng (1968), Việt Nam thi nhân tiền chiến quyển

thượng, Nxb Sống mới, Sài Gòn.

110. Nguyễn Văn Long (1984), "Xuân Diệu", Từ điển Văn học, Tập (II), Nxb Khoa học Xã

hội, Hà Nội.

111. Nguyễn Văn Long - sƣu tầm biên soạn (1998), Cuộc thảo luận 1959- 1960 về tập thơ Từ

ấy, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

112. Lƣu Trọng Lƣ (1963), "Nhân đọc một tập thơ tình của Xuân Diệu", Báo Văn nghệ, số

(4).

113. Thế Lữ (1937), "Một thi sĩ mới: Xuân Diệu", Ngày nay, số(46).

114. Thế Lữ (1983), Tuyển tập Thế Lữ, Nxb Văn học, Hà Nội.

115. Phƣơng Lựu (1983), Tìm hiểu một nguyên lý văn chƣơng, Nxb Khoa học XH, Hà Nội.

116. Phƣơng Lựu, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà (1986), Lý luận văn học, tập (l), Nxb Giáo

dục, Hà Nội.

117. Phƣơng Lựu (1997), Tiếp nhận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

118. Trần Hạnh Mai (2000), Sự nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh, Luận án Tiến sĩ

Ngữ văn ĐHSP, Hà Nội.

119. Hoàng Nhƣ Mai (2000), "Xuân Diệu", Văn học 11, tập (1), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

120. Triều Mai (1946), "Nhân xem quyển Nguyễn", Tạp chí Tiên phong, số (7), trang (29-

30).

121. Nguyễn Đăng Mạnh (1979), Nhà văn tư tưởng và phong cách. Nxb Tác phẩm mới, Hà

Nội

112. Nguyễn Đăng Mạnh (1981), Mấy vấn đề về phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Hồ

Chủ tịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

113. Nguyễn Đăng Mạnh (1987), "Vài cảm nhận về văn xuôi Xuân Diệu", lời giới thiệu

Tuyển tập Xuân Diệu, tập (II), Nxb Văn học, Hà Nội.

114. Nguyễn Đăng Mạnh (1990), Chân dung văn học, Nxb Thuận Hóa, Huế.

115. Nguyễn Đăng Mạnh (1990), "Vài suy nghĩ về phê bình văn học", trong cuốn Các vấn đề

của khoa học văn học - nhiều tác giả, Nxb KHXH, Hà Nội.

1l6. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

117. Nguyễn Đăng Mạnh (1995), "Thử điểm qua bốn mƣơi năm phát triển của phê bình văn

học", trong tập Một thời đại mới trong văn học nhiều tác giả, Nxb Văn học, Hà Nội.

118. Nguyễn Đăng Mạnh - sƣu tầm, giới thiệu (1999), Nguyễn Tuân bàn về văn học nghệ

thuật, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

119. Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Nhà văn Việt Nam hiện đại, Chân dung và Phong cách -

Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

120. Anh Ngọc (1996), Nhà thơ gần gũi nhất với tâm hồn tôi - Tạp chí VNQĐ, số (3).

121. Nguyễn Lƣơng Ngọc (1992), Nhớ bạn, Nxb Văn học, Hà Nội.

122. Lữ Huy Nguyên (1995), Xuân Diệu thơ và đời, Nxb Văn học Hà Nội.

123. Phạm Thế Ngữ - (1965), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên. Quốc học tùng thƣ, Sài

Gòn.

124. Vƣơng Trí Nhàn (1987), Bƣớc đầu đến với văn học . Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.

125. Vƣơng Trí Nhàn (2000), "Tự thú của một ngƣời viết phê bình văn học" Tạp chí Nhà

văn, số (6).

126. Vƣơng Trí Nhàn (2001) Nghiệp văn, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

127. Vƣơng Trí Nhàn (2001), "Xuân Diệu còn nhiều điều chƣa kể",Tiền phong CN, số

(30,31,32, 33).

128. Nhiều tác giả (1980), Văn học Việt Nam kháng chiến chống Pháp 1945-1954, Nxb

KHXH, Hà Nội

129. Nhiều tác giả (1990), Các vấn đề của Khoa học Văn học, Nxb KHXH, Hà Nội.

130. Nhiều tác giả (1997), Tuyển tập phê bình Văn học Việt Nam, tập 1,2,3,4,5, Nxb Văn học,

Hà Nội

131. Nhiều tác giả (1999), Những vấn đề lý luận và lịch sử Văn học, Viện Văn học, Hà Nội.

132. Nhiều tác giả (2001), Lý luận văn học miền Trung thế kỷ XX, Nxb Đà Nẵng.

133. Hữu Nhuận - tuyển chọn (1987), Xuân Diệu con người và tác phẩm, Nxb Tác phẩm

mới, Hà Nội.

134. Vũ Ngọc Phan (1982), Nhà văn hiện đại, tập (1,2), Nxb KHXH tái bản, Hà Nội.

135. Nhƣ Phong (1977), Phê bình văn học, Nxb Văn học, Hà Nội.

136. Vũ Quần Phƣơng (1995), "Thơ Xuân Diệu nồng và trẻ", Tạp chí Văn học, số (12).

137. Nguyễn Xuân Sanh (1995), "Đôi suy nghĩ về bạn", Tạp chí Văn học. số (12).

138. Trần Đình Sử (1996), Lý luận và phê bình văn học, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

139. Trần Đình Sử (1999), Dẫn luận thi pháp học. Nxb Giáo dục, Hà Nội.

140. Trần Đình Sử (2001), Văn học và Thời gian, Nxb Văn học, Hà Nội.

141. Nguyễn Minh Tấn chủ biên (1981), Từ trong di sản, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.

142. Kim Thánh Thán (1990), Phê bình thơ Đường, (Trần Trọng San biên dịch), Trƣờng ĐH

Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh.

143. Kim Thánh Thán (1999), Phê bình Mái Tây của Vương Thực Phủ, (Bản dịch Nhƣợng

Tống), Nxb Văn hóa Thông tin, tái bản, Hà Nội.

144. Hoài Thanh - Hoài Chân (1982), Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học (tái bản), Hà Nội.

145. Hoài Thanh (1982), Tuyển tập II, Nxb Văn học, Hà Nội.

146. Hoài Thanh (1978), Chuyện thơ, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.

147. Hoàng Trung Thông (1983), Lời giới thiệu Tuyển tập Xuân Diệu, tập (1), Nxb Văn học,

Hà Nội.

148. AnhThơ (1995), "Ngƣời bạn chí tình và đầy nhiệt huyết", Tạp chí Văn học, số (12).

149. Lƣu Khánh Thơ - tuyển chọn và giới thiệu (1998), Xuân Diệu về tác gia và tác phẩm,

Nxb Giáo dục, Hà Nội.

150. Lƣu Khánh Thơ - giới thiệu và tuyển chọn (1999), Xuân Diệu tác phẩm văn chương về

lao động nghệ thuật, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

151. Lý Hoài Thu (1997), Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám -1945, Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

152. Đỗ Lai Thúy (1992), Con mắt thơ, Nxb Lao động, Hà Nội.

153. Chu Quang Tiềm (1991), Tâm lý Văn nghệ, (Khổng Đức - Đinh Tấn Dung dịch), Nxb

TP. Hồ Chí Minh.

154. Lê Ngọc Trà (1990), Lý luận và văn học Nxb Trẻ TP. Hồ Chí Minh.

155. Nguyễn Trác (1990), Xuân Diệu, trong Giáo trình VHVN 1945 -1975 tập (2), nhiều tác

giả, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

156. Đăng Trung (1996), "Xuân Diệu đi nói chuyện thơ", Báo Tiền phong. số (3).

157. Võ Văn Trực (1961), "Xuân Diệu những lần gặp", Báo Văn nghệ số (33).

158. Nguyễn Tuân (2000), Toàn tập, tập V, Nxb Văn hóa Hà Nội.

159. Xuân Tùng - sƣu tầm và biên soạn (1999), Xuân Diệu như chính ông, Nxb Văn hóa

Thông tin, Hà Nội.

160. Nguyễn Quốc Túy (1994), Thơ mới bình minh thơ Việt Nam hiện đại. Nxb Văn học; Hà

Nội.

161. Chế Lan Viên (1962), Phê bình văn học, Nxb Văn học, Hà Nội.

162. Chế Lan Viên (1981), Nghĩ cạnh dòng thơ, Nxb Văn học, Hà Nội.

163. Chế Lan Viên (1981), Từ gác Khuê văn đến quán Trung Tân, Nxb TP. HCM.

164. Chế Lan Viên (1987), Ngoại vi thơ, Nxb Thuận Hóa, Huế.

165. Chế Lan Viên (1993), Di cảo thơ, tập (2), Nxb Thuận Hóa - Huế.

166. Chế Lan Viên (1993), Vào nghề, Nxb Văn học (tái bản), Hà Nội.

167. Vƣgốtxki L.x (1981), Tâm lý học nghệ thuật, (Hoài Lam dịch), Nxb Khoa học Xã hội,

Hà Nội.

168. Xâytlin -A (1967), Lao động nhà văn I (Hoài Lam, Hoài Ly dịch), Nxb Văn học, Hà

Nội.

169. Xâytlin -A (1968), Lao động nhà văn II (Hoài Lam, Hoài Ly dịch), Nxb Văn học, Hà

Nội.