HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN MINH LUÂN
N¤NG NGHIÖP TØNH Cµ MAU PH¸T TRIÓN
THEO H¦íNG BÒN V÷NG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ Mã số: 62 31 01 02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM QUỐC TRUNG HÀ NỘI - 2016
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên c ứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung th ực và có
nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận án
Nguyễn Minh Luân
MỤC LỤC
Trang 1
MỞ ĐẦU Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
4
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Những công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến
đề tài
4 16
1.2. Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu Chương 2: CƠ SỞ LÝ LU ẬN VÀ TH ỰC TI ỄN VỀ NÔNG NGHI ỆP
19
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
2.1. Một số vấn đề lý lu ận về phát tri ển bền vững và nông nghi ệp phát
19 triển bền vững
2.2. Nội dung, tiêu chí và các nhân t ố ảnh hưởng đến nông nghi ệp phát
triển bền vững 33
2.3. Kinh nghi ệm về nông nghi ệp phát tri ển bền vững và bài h ọc đối với
43 Cà Mau về nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững
Chương 3: THỰC TR ẠNG NÔNG NGHI ỆP PHÁT TRI ỂN THEO
61
HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh t ế, xã h ội ảnh hưởng đến nông nghi ệp phát
61 triển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau
3.2. Th ực tr ạng nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững ở tỉnh Cà
Mau, giai đoạn 1997-2015 72
3.3. Đánh giá chung về nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh
96 Cà Mau, giai đoạn 1997-2015
105 Chương 4: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU XÂY DỰNG NỀN NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO ĐOẠN HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU, GIAI 2016 - 2025
105
4.1. Dự báo nh ững yếu tố có kh ả năng ảnh hưởng đến nông nghi ệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2016 - 2025 4.2. Quan điểm xây dựng nền nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững
ở tỉnh Cà Mau 113
4.3. Ph ương hướng, mục tiêu xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo
hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2016 - 2025 114
4.4. Một số giải pháp ch ủ yếu nhằm xây dựng nền nông nghi ệp phát tri ển
theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2016 - 2025
KẾT LUẬN DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
121 151 153 154
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA : Khu v ực mậu dịch tự do ASEAN
CNH : Công nghi ệp hóa
CNH, HĐH : Công nghi ệp hóa, hiện đại hóa
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP : T ổng sản phẩm quốc nội
GD-ĐT : Giáo d ục và Đào tạo
HDI : Ch ỉ số phát triển con người
HTX : H ợp tác xã
KT-XH : Kinh t ế - xã hội
KT- XH- MT : Kinh t ế - xã hội - môi trường
KH- CN : Khoa h ọc - công nghệ
KH - KT : Khoa h ọc - kỹ thuật
NNPTBV : Nông nghi ệp phát triển bền vững
NNPTTHBV : Nông nghi ệp phát triển theo hướng bền vững
NTTS : Nuôi tr ồng thủy sản
ện trợ phát triển chính thức ODA : Vi
ển bền vững PTBV : Phát tri
ệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP : Hi
UBND : Ủy ban nhân dân
USD : Đô la Mỹ
WTO : T ổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: So sánh một số tiêu chí về biển của tỉnh Cà Mau 63
Bảng 3.2: Diện tích đất tr ồng lúa t ỉnh Cà Mau qua các n ăm 2001 -
2006 - 2015 66
Bảng 3.3: Diện tích nuôi tr ồng th ủy sản tỉnh Cà Mau qua các n ăm
2001, 2006, 20015 chia theo địa phương huyện, thành phố 67
Bảng 3.4: Dân số năm 2015 chia theo huyện, thành phố 68
Bảng 3.5: Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế 69
Bảng 3.6: Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản theo huyện, thành phố 75
Bảng 3.7: Sản lượng tôm nuôi trồng thủy sản phân theo huyện, thành phố 76
Bảng 3.8: Diện tích các loại cây trồng 77
Bảng 3.9: Biến động diện tích một số cây trồng chính (1997 - 2015) 79
Bảng 3.11: Hiện trạng rừng và trồng rừng giai đoạn 2011 - 2013 81
Bảng 3.12: Cơ cấu lao động qua đào tạo hàng năm 84
Bảng 3.13: Số lượng và cơ cấu lao động đang hoạt động kinh tế 85
Bảng 3.14: Lao động ngành ngư nông lâm nghiệp 85
Bảng 3.15: Tỷ lệ hộ có nguồn nước hợp vệ sinh 95
Bảng 4.1: Điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của Cà Mau 112
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ tăng, giảm (%) của sản lượng khai thác thủy sản biển 73
Biểu đồ 3.2: Sản lượng thủy sản phân theo ngành nuôi trồng của tỉnh Cà Mau 77
Biểu đồ 3.3: Số bác sĩ trên 10.000 dân năm 2013 88
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ học sinh các cấp so với cấp dưới 89
Biểu đồ 4.1: Tỷ trọng đóng góp của các cụm ngành tr ọng điểm vào GDP
của tỉnh 119
Biểu đồ 4.2: Cụm nuôi trồng và chế biến thủy sản 131
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Tương tác gi ữa ba hệ thống kinh tế - xã h ội - môi tr ường và
phát triển bền vững 24
Hình 2.2: Mô hình trình t ự đánh giá tiến độ về bền vững 26
Hình 2.3: Khung lý thuy ết về nông nghiệp phát triển bền vững 34
Hình 3.1: Bản đồ địa lý hành chính tỉnh Cà Mau 62
Hình 3.2: Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 của Cà Mau 62
Hình 3.3: Vòng xoáy đói nghèo 83
Hình 4.1: Mô hình liên k ết hướng ly tâm và ly tâm tại Đông Nam Bộ và
Đồng bằng sông Cửu Long 109
Hình 4.2: Nông nghi ệp phát triển theo hướng bền vững 120
Hình 4.3: Bản đồ địa giới hành chính Đồng bằng sông Cửu Long 143
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một qu ốc gia nông nghi ệp - sau 30 n ăm đổi mới và phát tri ển, nông
nghiệp Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị thế của mình với việc cung cấp sinh
kế cho 9,53 tri ệu hộ dân nông thôn và 68,2% dân s ố (60 tri ệu ng ười), đóng góp
18%-22% GDP cho n ền kinh t ế và 23%-35% giá tr ị xu ất kh ẩu [91]... Tuy nhiên,
trước bối cảnh đẩy mạnh công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa (CNH, H ĐH) đất nước và
hội nhập sâu rộng, nền kinh t ế nói chung, nông nghi ệp nói riêng đang đứng trước
không ít khó kh ăn, thách th ức, như: áp lực cạnh tranh ngày càng gay g ắt; tác động
ngày càng trực diện của diễn biến kinh tế khu vực, thế giới đến phát triển kinh tế nói
chung, phát triển nông nghiệp nói riêng; đồng thời, nông nghiệp lại là lĩnh vực đang
đối diện với những ảnh hưởng nghiêm tr ọng của biến đổi khí hậu và ô nhi ễm môi
trường...trong khi năng lực sản xuất và mức độ hội nhập của lĩnh vực nông nghi ệp
còn yếu bởi thực tế sản xuất nông nghi ệp Việt Nam hiện nay vẫn phổ biến với quy
mô nhỏ lẻ; tình tr ạng chuyển dịch cơ cấu nông nghi ệp còn mang tính t ự phát, sản
xuất chủ yế`u theo tín hi ệu thị trường ngắn hạn cộng thêm trình độ sản xuất công
nghiệp ch ế bi ến còn th ấp so v ới các n ước và nông nghi ệp Vi ệt Nam v ẫn bị động
trước nh ững tác động, ảnh hưởng từ các y ếu tố khách quan nh ư khí h ậu, dịch
bệnh… Vì v ậy, để nông nghi ệp thực sự là một trụ cột quan tr ọng của nền kinh tế
trong tiến trình CNH, H ĐH và hội nhập quốc tế, thì nông nghi ệp cần hướng tới sự
phát triển mang tính bền vững.
Là tỉnh thuộc trục tam giác kinh t ế trọng điểm của khu vực Đồng bằng sông
Cửu Long ( ĐBSCL), Cà Mau có điều ki ện tự nhiên - xã h ội thu ận lợi và có ti ềm
năng để phát tri ển kinh tế toàn di ện, đặc biệt là kinh t ế nông nghi ệp, ngoài cây lúa
với diện tích khoảng 130.000 ha, Cà Mau còn có khả năng phát triển một số loài cây
trồng khác phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu, môi trường và phát triển chăn nuôi gia
súc, gia cầm... tạo vùng nguyên li ệu cho ngành công nghi ệp chế biến, lương thực,
thực ph ẩm, thì v ới chi ều dài b ờ bi ển 254 km, di ện tích r ừng của Cà Mau kho ảng
110.000 ha, Cà Mau được xem là m ột trong nh ững địa phương có ti ềm năng phát
triển lâm nghiệp, thủy sản lớn so với những tỉnh khác của cả nước. Song cũng chính
những thu ận lợi này l ại đang đặt nông nghi ệp Cà Mau tr ước nh ững thách th ức
không nhỏ đó là tình tr ạng phát tri ển nóng ở một số mô hình nông, lâm, th ủy sản
2
nên gây ra nhiều hệ lụy, như: bất ổn trong thực hiện quy hoạch phát triển và đầu tư,
dẫn đến nông nghiệp Cà Mau ph ải đối diện với tình trạng phát triển trong điều kiện
quy ho ạch thi ếu đồng bộ, kết cấu hạ tầng thi ếu (đặc bi ệt là điện, mạng lưới kênh
dẫn và thoát nước) và các điều kiện về vốn, con giống, thức ăn, rất quan trọng chưa
được đảm bảo...
Từ những thực tế trên cho thấy việc nghiên cứu sinh chọn đề tài: "Nông nghiệp
tỉnh Cà Mau phát tri ển theo hướng bền vững " làm lu ận án ti ến sĩ Kinh tế là có ý
nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc và phù hợp với chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa và c ụ th ể hóa cơ sở lý lu ận và th ực tiễn về NNPTTHBV nói
chung và ở tỉnh Cà Mau nói riêng. T ừ đó, cho th ấy vai trò h ết sức to lớn và quan
trọng của nông nghi ệp trong vi ệc góp ph ần phát tri ển kinh tế, ổn định xã hội, đảm
bảo môi trường.
Phân tích quá trình NNPTTHBV ở tỉnh Cà Mau t ừ năm 1997 đến 2015 để
thấy rõ th ực trạng, nh ững thành tựu, hạn ch ế, yếu kém và nguyên nhân; t ừ đó, đề
xuất quan điểm, định hướng và nh ững gi ải pháp nh ằm đưa nông nghi ệp tỉnh Cà
Mau phát triển theo hướng bền vững.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là t ổng thể nền nông nghi ệp của tỉnh Cà
Mau trên phương diện phát tri ển bền vững (PTBV). Đó là quá trình v ận động, phát
triển nội tại của nền nông nghi ệp hướng đến ba mục tiêu cơ bản: bền vững kinh tế,
bền vững xã h ội, và b ền vững môi tr ường. Lu ận án không nghiên c ứu nền nông
nghiệp với các ngành đơn lẻ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Ph ạm vi n ội dung : Nông nghi ệp tỉnh Cà Mau phát tri ển theo h ướng bền
vững được nghiên cứu trong phạm vi luận án là nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong
đó trọng tâm là ba lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp.
+ Phạm vi không gian : Không gian nông nghi ệp tỉnh Cà Mau, bao g ồm: các
huyện, thành phố và cả vùng biển khu vực Cà Mau.
+ Phạm vi th ời gian: Nghiên cứu của luận án được giới hạn trong ph ạm vi
thời gian từ năm 1997 đến 2015. Ph ạm vi th ời gian này cho phép lu ận án đánh giá
3
thực tr ạng nông nghi ệp Cà Mau t ừ khi tái l ập tỉnh 1997 đến 2015; xác định mục
tiêu, nhiệm vụ và gi ải pháp NNPTTHBV trong m ối quan hệ kinh tế - xã h ội (KT-
XH) của tỉnh đến năm 2025.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t ư tưởng Hồ Chí
Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản và chính sách, pháp lu ật của Nhà
nước Việt Nam về phát triển kinh tế, PTBV nói chung, NNPTTHBV nói riêng; ch ủ
trương phát triển KT-XH, phát triển nông nghiệp của tỉnh Cà Mau; tiếp thu có chọn
lọc các kết quả nghiên cứu đã công bố về phát triển nông nghiệp, NNPTTHBV của các nhà khoa học trong và ngoài nước. 4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử Mác-Lênin để nghiên cứu, rút ra các k ết luận. Ngoài ra, lu ận án còn s ử
dụng các ph ương pháp nghiên c ứu cụ thể, như: thống kê, nghiên c ứu thực tế, phân
tích đánh giá, t ổng hợp, so sánh, t ổng kết th ực ti ễn…nhằm rút ra nh ững vấn đề
mang tính tổng kết, khái quát m ột giai đoạn phát tri ển nông nghi ệp cả trên ph ương
diện lý luận, lẫn thực tiễn, để vận dụng đánh giá tổng thể thực trạng phát triển nông
nghiệp của tỉnh Cà Mau k ể từ khi tái l ập tỉnh đến 2015, trên c ơ sở đó định hướng
xây dựng nông nghiệp tỉnh Cà Màu phát triển bền vững trong thời gian tới.
5. Đóng góp về khoa học của luận án
- Luận án góp phần làm rõ thêm khung lý thuyết về PTBV, nông nghiệp phát
triển bền vững (NNPTBV).
- Tìm hi ểu kinh nghi ệm một số quốc gia trên th ế giới và một số địa phương
trong nước về NNPTBV, để rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Cà Mau.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát tri ển nông nghi ệp ở tỉnh Cà Mau
giai đoạn 1997 - 2015.
- Đề xu ất trên c ơ sở căn cứ khoa h ọc các quan điểm và gi ải pháp ch ủ yếu
nhằm thúc đẩy nông nghi ệp ở tỉnh Cà Mau phát tri ển theo h ướng bền vững trong
những năm tới.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài li ệu tham khảo, nội dung lu ận
án được kết cấu làm 4 chương, 12 tiết.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. NH ỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN C ỨU TRONG N ƯỚC VÀ NGOÀI
NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Xây dựng nền NNPTBV luôn là đòi hỏi tất yếu đối với một nước như Việt
Nam vốn xuất phát từ nền nông nghi ệp lạc hậu, manh mún, nh ỏ lẻ. Nền NNPTBV
làm cho sự liên kết ngày càng b ền chặt trong chu ỗi giá tr ị toàn cầu. Ngày nay, t ư
duy sản xuất nông nghiệp cũng đã có sự chuyển biến nhanh chóng, đi vào chiều sâu
và với quy mô ngày càng r ộng lớn hơn. Những sản phẩm của nông nghi ệp và kinh
tế nông thôn không nh ững đáp ứng nhu cầu sinh ho ạt của đời sống xã hội, mà còn
tạo cơ sở cho các ngành kinh t ế quốc dân khác phát tri ển. Do đó, đối với mọi quốc
gia đi lên t ừ nông nghi ệp, vi ệc đẩy mạnh phát tri ển nền nông nghi ệp hi ện đại là
nhiệm vụ mang tính chi ến lược trong bối cảnh phát tri ển mới, nhằm khai thác hi ệu
quả tiềm năng góp phần kiến tạo vị thế mới cho quốc gia trên trường quốc tế.
Ở Vi ệt Nam, v ấn đề NNPTBV tuy không còn m ới, nh ưng hi ện vẫn nh ận
được sự quan tâm đặc biệt của xã hội bởi để NNPTBV bản thân lĩnh vực này đang
hàm chứa những vấn đề nội tại cả thời điểm trước mắt lẫn lâu dài, ch ẳng hạn như
mâu thuẫn giữa gia tăng năng suất với đảm bảo chất lượng, tăng trưởng sản lượng
nhưng cần bảo vệ môi tr ường; hay mu ốn tăng trưởng sản xuất nhưng không tự chủ
trước những diễn biến khó lường của biến đổi khí hậu… Theo đó, ở "mảng" nghiên
cứu này cũng đã có không ít công trình được công bố và c ũng là l ĩnh vực nghiên
cứu được tiếp cận khá đa dạng. Trong số đó, những nghiên cứu liên quan đến đề tài
luận án có thể kể đến, bao gồm.
1.1.1. Những công trình nghiên c ứu của các tác giả trong nước liên quan
đến đề tài
1.1.1.1. Sách chuyên khảo và tham khảo
Trong những công trình nghiên cứu mà nghiên cứu sinh tham khảo có những
đặc điểm gần nhau, đó là nh ững công trình nghiên c ứu của các tác gi ả Vi ệt Nam
liên quan đến những vấn đề về nông nghi ệp của nước ta và nh ững nghiên cứu liên
quan đến vấn đề nông nghi ệp ở một số nước có n ền nông nghi ệp phát tri ển trong
khu vực và trên thế giới.
5
- "Các gi ải pháp phát tri ển nông nghi ệp ngo ại thành Hà N ội theo h ướng
nông nghiệp sinh thái" của Phạm Văn Khôi [53] đã chỉ rõ, Hà Nội là vùng có nhi ều
tiềm năng để phát tri ển thành ph ố sinh thái g ắn li ền với các ho ạt động sản xu ất
nông, lâm nghiệp như sự phát triển lâu đời của các làng hoa Ng ọc Hà, cá cảnh Yên
Phụ, vùng hoa Nh ật Tân và s ự phát tri ển của các vùng hoa m ới Vĩnh Tuy - Thanh
Trì, Tây Tựu huyện Từ Liêm, vùng lâm nghiệp sinh thái huyện Sóc Sơn và các hoạt
động canh ngư trên hệ thống đầm hồ có ở khắp mọi nơi trên địa bàn Thành phố.
Hiện nay, quá trình đô thị hoá và phát tri ển thành phố Hà Nội đang mở rộng.
Sự phát triển của Thành phố, một mặt đang tạo ra điều kiện và là cơ hội chuyển dịch
nhiều hoạt động kinh tế vươn ra phát triển mạnh ở ngoại thành như dịch vụ đời sống,
du lịch sinh thái, nghỉ ngơi, giải trí cu ối ngày, cuối tuần. Mặt khác, sự phát triển của
công nghiệp và quá trình đô th ị hoá di ễn ra nhanh chóng đã và đang làm cho môi
trường sinh thái ngày càng bị ô nhiễm. Hơn nữa, theo đà phát triển kinh tế, thu nhập và
đời sống của mọi tầng lớp nhân dân Thủ Đô sẽ ngày càng tăng, đòi hỏi chất lượng sống
cũng được nâng lên và đáp ứng kịp thời. Với vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế và
văn hoá của cả nước, Hà Nội phải có sự phát triển tương xứng trên tất cả các mặt với
vị trí của Thủ Đô ngang tầm với các nưóc phát triển trong khu vực.
Trong bối cảnh trên, các ho ạt động sản xuất nông nghi ệp không nh ững vẫn
tiếp tục duy trì mà c ần được đầu tư phát triển theo những yêu cầu và nội dung mới.
Nó không chỉ dừng lại với tính chất của vành đai cung cấp lương thực, thực phẩm ở
trình độ thấp mà hướng tới những yêu cầu phát triển của vùng đô thị hiện đại - nông
nghiệp sinh thái. Để thực hiện phương hướng trên, vấn đề cấp thiết đặt ra cần phải
làm rõ là: nông nghi ệp ngoại thành phát tri ển theo hướng nông nghi ệp sinh thái là
gì? Căn cứ và các tiêu chí để phát tri ển nông nghi ệp ngoại thành theo h ướng nông
nghiệp sinh thái? Hà N ội có nh ững ti ền đề, ti ềm năng và nh ững khó kh ăn gì cho
việc phát tri ển nông nghi ệp sinh thái? Làm th ế nào để thúc đẩy phát tri ển nông
nghiệp ngoại thành theo h ướng nông nghi ệp sinh thái?. Đây là công trình được tác
giả Phạm Văn Khôi nghiên c ứu nhiều năm, có nhi ều nội dung tương đồng, rất bổ
ích cho nghiên cứu sinh trong quá trình hoàn thiện luận án của mình.
- "Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trong thời
kỳ mới" của Lê Quang Phi [69] đã nêu lên yêu cầu bức thiết, bước đi có ý nghĩa quyết
định trong th ời kỳ mới là c ần ph ải CNH, H ĐH nông nghi ệp nông thôn. B ởi nông
6
nghiệp, nông thôn là v ấn đề rộng lớn và ph ức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều
lĩnh vực khác nhau. Nội dung cuốn sách bước đầu tổng kết quá trình lãnh đạo, chỉ đạo
của Đảng, cung cấp thêm những tư liệu tham khảo về đổi mới đối với khu vực này.
- "Chính sách xu ất khẩu nông sản Việt Nam lý lu ận và th ực tiễn" của Trịnh
Thị Ái Hoa [43] đã đề cập đến những cơ sở lý lu ận của chính sách xu ất khẩu nông
sản Việt Nam từ năm 1989 đến nay. Qua đó, tác gi ả đưa ra nh ững quan điểm, giải
pháp, ki ến ngh ị nh ằm kh ắc ph ục nh ững hạn ch ế trong chính sách xu ất kh ẩu nông
sản hiện hành, trong đó có tính đến những cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế
giới (WTO) của nước ta.
Để thúc đẩy và tích c ực tham gia vào quá trình h ội nhập kinh tế khu vực và
thế giới, cuốn sách đã đề cao vai trò c ủa khu vực nông nghiệp, nông thôn, xem đây
là khu vực đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, chính sách đối
với khu vực này, trong đó có chính sách xu ất khẩu nông sản, luôn được chính ph ủ
các nước, từ các nước đang phát triển, đến các nước phát triển quan tâm.
- "Nông nghi ệp, nông dân, nông thôn Vi ệt Nam hôm nay và mai sau " của
Đặng Kim S ơn [78] đã ch ỉ rõ, trong l ịch sử th ế gi ới, quá trình công nghi ệp hóa
(CNH) thường đi kèm v ới những xáo tr ộn to l ớn về kinh tế - xã h ội - môi tr ường
(KT-XH-MT) và nông nghi ệp, nông thôn, nông dân th ường là đối tượng chịu nhiều
hy sinh, thi ệt thòi nh ất. Muốn khắc phục tình tr ạng đó, Nhà nước và nhân dân ph ải
có nh ững quy ết sách đúng đắn, quy ết tâm to l ớn. Chính vì th ế, tác gi ả và nhóm
nghiên cứu mong mu ốn mô t ả nh ững nét c ơ bản về bức tranh hi ện tr ạng nông
nghiệp, nông dân, nông thôn Vi ệt Nam, phân tích m ột cách khoa h ọc, theo ph ương
pháp tiêu chu ẩn, số liệu theo dõi h ệ thống, nhất là về các lĩnh vực thể chế, xã hội,
môi trường nông thôn.
- "Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam" của Vũ Văn Nâm [63] đã đề
cập, ở Việt Nam vấn đề PTBV trong s ản xuất nông nghi ệp vẫn còn là m ột vấn đề
mới. Đặc biệt sau hơn hai mươi năm đổi mới đất nước, bên cạnh những thành tựu
mà chúng ta đạt được thì th ực ti ễn cũng đang đặt ra cho chúng ta r ất nhi ều thách
thức khi xây dựng nền nông nghiệp theo hướng bền vững. Nội dung cuốn sách được
kết cấu thành 3 chương. Chương 1: tác giả tập trung làm rõ các khái niệm về PTBV,
NNPTBV và tìm hi ểu kinh nghi ệm quốc tế về phát triển nông nghi ệp bền vững, đó
là nh ững kinh nghi ệm cho Vi ệt Nam. Ch ương 2: tác gi ả tập trung nghiên c ứu về
7
thực tr ạng phát tri ển nông nghi ệp ở nước ta theo h ướng ti ếp cận vị trí, đặc điểm,
những chuyển biến bao gồm cả thành công và h ạn chế phát tri ển nền nông nghi ệp
nước ta theo h ướng bền vững. Chương 3: Đó là nh ững phương hướng và gi ải pháp
để phát triển nông nghiệp theo xu hướng bền vững, trong đó đặc biệt chú trọng đến
bốn giải pháp theo tác giả đó là những giải pháp cơ bản nhất.
- "Nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nh ập WTO th ời cơ và thách th ức" của
Nguyễn Vĩnh Thanh, Lê S ỹ Th ọ [90] đã ch ỉ rõ vi ệc tham gia WTO Vi ệt Nam có
nhiều cơ hội để xây dựng và phát tri ển đất nước. Vào WTO n ước ta ph ải tuân th ủ
các quy tắc thống nhất về hệ thống chính sách th ương mại, về môi tr ường thể chế
pháp lý, nhưng nền kinh tế nói chung, nền sản xuất nông nghiệp nói riêng thêm điều
kiện tiếp cận thị trường hàng hóa để phát tri ển một cách bình đẳng của một nước
thành viên. Tuy nhiên, n ỗi lo lớn nhất của nền kinh tế vẫn là vấn đề nông nghi ệp,
nông thôn, nông dân. B ởi, nước ta đi lên t ừ nông nghi ệp, trình độ phát tri ển còn
thấp, quy mô s ản xuất nhỏ lẻ, hàng hóa c ạnh tranh kh ốc liệt, khả năng liên kết hạn
chế…đó là những rào cản không nhỏ mà các tác giả cảnh báo trước.
- "Phát tri ển bền vững các trang tr ại ở vùng cây ăn qu ả Bắc Giang " của
Phạm Văn Khôi [54] đã nêu rõ kinh t ế trang trại là một trong các hình th ức tổ chức
sản xu ất tiên ti ến trong nông nghi ệp. Ở Vi ệt Nam kinh t ế trang tr ại đã được th ừa
nhận và tạo những điều kiện thuận lợi để phát tri ển trong nh ững năm đổi mới. Vì
vậy, kinh tế trang tr ại đã có bước phát tri ển nhất định, đã góp ph ần quan tr ọng vào
việc khai thác các ti ềm năng, lợi th ế của nông nghi ệp, nông thôn có hi ệu qu ả, là
hình mẫu tổ chức sản xuất cho các h ộ nông dân trong vùng. B ắc Giang là t ỉnh có
nhiều tiềm năng phát triển kinh tế trang trại, nhất là các trang tr ại trồng cây ăn quả.
Các cấp, các ngành trong t ỉnh đã có nhi ều quan tâm đến sự phát tri ển của kinh tế
trang tr ại. Vì v ậy, kinh t ế trang tr ại đã phát tri ển khá mạnh, tạo nên b ước chuyển
trong sản xuất nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá… trong những năm đổi mới.
Trên th ực tế, sự phát tri ển của trang tr ại ở Bắc Giang nói chung, các trang
trại ở vùng cây ăn quả, nhất là các trang tr ại chuyên canh v ải thiều đã và đang bộc
lộ nhi ều vấn đề ảnh hưởng đến kết qu ả và hi ệu qu ả, đặc bi ệt là đã xu ất hi ện các
nguy cơ đe doạ sự tồn tại của các trang tr ại… cần phải giải quyết. Nhận thức được
vấn đề trên, tỉnh đã đưa ra nhiều biện pháp tháo gỡ và đã góp phần giải quyết những
vấn đề của thực tiễn. Tuy nhiên, các gi ải pháp chú tr ọng nhiều đến kỹ thuật, những
8
vấn đề của tổ chức quản lý chưa được giải quyết một cách đồng bộ và triệt để. Xuất
phát từ vai trò c ủa nông nghi ệp, nông thôn và s ự phát tri ển của nông nghi ệp nói
chung, kinh tế trang trại nói riêng; xuất phát từ thực trạng của những vấn đề đã được
tác giả Phạm Văn Khôi nghiên c ứu, cho thấy có sự liên quan đến đề tài nghiên cứu
sinh đang thực hiện, từ đây sẽ mở ra một cách nhìn đối với địa phương Cà Mau b ổ
ích trong hoàn thiện đề tài.
- "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình t ăng trưởng kinh tế mới
giai đoạn 2011-2020" của Nguyễn Thị Tố Quyên [75] đã được tập thể tác giả trình
bày trong bốn nội dung. Một là, tác giả tiếp cận các lý thuy ết, mô hình th ực tiễn và
kinh nghiệm phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn, nông dân trên th ế giới. Hai là, nêu
lên thực trạng một số điểm trọng tâm, nổi bật về nông nghiệp, nông thôn, nông dân
từ năm 2000 đến nay. Ba là, những cơ hội, thách th ức mới đặt ra cho nông nghi ệp,
nông thôn, nông dân trong mô hình t ăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2020. Bốn
là, một số đề xu ất về chính sách nông nghi ệp hi ện nay. Theo nhóm tác gi ả, nông
nghiệp, nông thôn, nông dân là v ấn đề khá r ộng và còn nhi ều nội dung c ần được
tiếp tục nghiên cứu, trao đổi trong thời gian tới.
- "Công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp, nông thôn v ấn đề và gi ải
pháp" của Lê Quang Lý [58] đã tập trung vào m ấy vấn đề như sau: Thứ nhất, cách
thức tiếp cận mới về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ thực tiễn sinh động của
nền nông nghi ệp nước nhà. Thứ hai , các v ấn đề đặt ra đối với chính sách nông
nghiệp, cơ cấu công - nông nghi ệp trong nền kinh tế. Thứ ba, đánh giá nh ững mặt
được, ch ưa được của CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn trong th ời gian qua và
kiến giải những vấn đề cần thay đổi. Thứ tư, nhận thức mới về sở hữu ruộng đất, về
quan hệ sản xuất do CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đưa đến.
- "Xây dựng nông thôn m ới những vấn đề lý lu ận và th ực tiễn" của Vũ Văn
Phúc [72] bao g ồm các bài vi ết của các nhà khoa h ọc, lãnh đạo các cơ quan trung
ương, các địa phương, các ngành, các c ấp về xây dựng NTM, với những nội dung
chính như sau: Nh ững vấn đề lý lu ận chung và kinh nghi ệm quốc tế về xây dựng
NTM; thực tiễn xây dựng NTM ở Việt Nam.
- "Gỡ khó cho nông nghi ệp, nông dân, nông thôn " của Báo Nhân dân [1] đã
tập hợp các tác ph ẩm báo chí ch ọn lọc hưởng ứng cu ộc thi vi ết về nông nghi ệp,
nông dân, nông thôn đăng trên Báo Nhân dân n ăm 2011-2012. Cuốn sách giới thiệu
9
38 tác ph ẩm báo chí đề cập đến nhi ều lĩnh vực của nông nghi ệp, nông dân, nông
thôn đang được xã h ội quan tâm, nh ư: bàn v ề mô hình s ản xu ất nông nghi ệp phù
hợp với cơ chế thị trường; phát tri ển cơ sở hạ tầng nông thôn, tín d ụng trong nông
nghiệp; xây dựng NTM; phát tri ển nghề cá gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo; cơ
chế, chính sách cho phát tri ển nông nghi ệp, nông dân, nông thôn;…t ừ đó, các bài
viết tổng kết, phân tích, đề xuất những giải pháp giúp Nhà n ước ta tháo g ỡ vướng
mắc trong lĩnh vực này, góp phần thiết thực vào phát triển nông nghiệp và nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần cho người dân ở nông thôn.
- "Đảng với vấn đề nông dân, nông nghi ệp và nông thôn 1930-1975 " của Vũ
Quang Hiển [42] đã góp ph ần tái tạo bức tranh KT-XH Vi ệt Nam giai đoạn 1930-
1975, trong đó đặc biệt đi sâu phân tích ch ủ tr ương, chính sách c ủa Đảng đối với
nông dân, nông nghi ệp, nông thôn; t ừ đó, rút ra m ột số nhận xét và nh ững bài học
kinh nghiệm trong việc tiếp tục phát huy vị trí, vai trò, s ức mạnh của giai cấp nông
dân, địa bàn nông thôn và ngành kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
- "Chính sách của Nhà nước đối với tiêu th ụ nông sản trong quá trình th ực
hiện cam kết với WTO" của Vũ Văn Hùng [47] đã tập trung ba v ấn đề lớn: Chính
sách tiêu th ụ nông sản trong quá trình th ực hiện cam kết WTO - c ơ sở lý lu ận và
kinh nghiệm quốc tế; thực trạng chính sách tiêu th ụ nông sản Việt Nam trong quá
trình thực hiện cam kết với WTO; quan điểm và gi ải pháp cơ bản hoàn thi ện chính
sách tiêu thụ nông sản Việt Nam trong quá trình thực hiện cam kết WTO.
- "Hợp tác phát tri ển nông nghi ệp ở châu Phi đặc điểm và xu h ướng" của
Trần Thị Lan Hương [49] đã tập trung phân tích th ực trạng phát triển nông nghiệp ở
châu Phi những năm gần đây, những kết quả hợp tác nông nghiệp ban đầu ở châu Phi
với thế giới bên ngoài và những cơ hội hợp tác nông nghiệp ở châu Phi trong hai thập
niên đầu thế kỷ 21. Những phát hiện nghiên cứu này là rất quan trọng để Việt Nam tìm
hướng hợp tác lâu dài, hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp với châu Phi.
- "Một số vấn đề cơ bản về con đường phát tri ển hiện đại của nông nghi ệp
và nông thôn Nh ật Bản" của Dương Minh Tu ấn [93] đã chỉ rõ, trên th ế giới, trong
quá trình CNH, H ĐH không n ước nào có th ể xem nh ẹ sự phát tri ển nông nghi ệp,
nông thôn. S ự phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn Nh ật Bản trong quá trình phát
triển, hiện đại hóa nền kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh mới hiện nay được xem là
một nội dung khá h ấp dẫn thu hút các nhà nghiên c ứu nước ngoài cũng như chính
10
các học giả Nhật Bản. Cuốn sách là công trình nghiên c ứu có đóng góp quan tr ọng
về giá trị nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn Nh ật Bản, trong bối cảnh ở Việt Nam
đây vẫn còn là m ảng nghiên c ứu chưa được tập trung thích đáng, vẫn còn ít công
trình chuyên sâu về vấn đề này. Đặc biệt, nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản để
rút ra các bài h ọc tham kh ảo cho Việt Nam trong quá trình CNH và phát tri ển kinh
tế trong bối cảnh mới hiện nay. Cuốn sách gồm có 3 chương, chương I, tác giả trình
bày tổng quan v ề sự phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn Nh ật Bản, nh ằm nâng lên
những đặt trưng chủ yếu, có tính đặc thù cũng như vai trò c ủa nông nghi ệp đối với
quá trình CNH, HĐH của Nhật Bản. Chương II, trình bày các gi ải pháp chủ yếu đối
với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Nh ật Bản, đặc biệt là các gi ải pháp về đất
đai, về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, về tổ chức quản lý nông nghiệp,
hợp tác qu ốc tế và b ảo hộ nông nghi ệp của Nh ật Bản. Ch ương III, làm rõ nh ững
thành tựu và những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhật
Bản cũng nh ư mô hình và nh ững kinh nghi ệm phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn
Nhật Bản đối với Việt Nam trong quá trình CNH hiện nay.
- "Nông nghiệp Hàn Quốc trên con đường phát triển" của Trần Quang Minh
[61] đã nêu rõ, Hàn Qu ốc đã tr ải qua h ơn nửa th ế kỷ th ực hi ện CNH, H ĐH đất
nước. Trong quá trình này, không ch ỉ các ngành công nghi ệp của Hàn Qu ốc đạt
được những thành tựu phát triển hết sức mạnh mẽ làm nên cái tên g ọi "kỳ tích sông
Hàn", mà ngành nông nghi ệp của Hàn Quốc cũng từng bước đi lên hiện đại, bộ mặt
nông thôn ngày càng được đổi mới. Những kinh nghi ệm của Hàn Qu ốc trong vi ệc
giải quyết vấn đề nông nghi ệp, nông thôn trong quá trình CNH, H ĐH chắc chắn là
những tham khảo rất có giá trị đối với Việt Nam. Cuốn sách tập trung phân tích một
cách toàn di ện tiến trình phát tri ển nông nghi ệp của Hàn Qu ốc từ truyền thống đến
hiện đại; các chính sách và gi ải pháp giải quyết những vấn đề đặt ra trên con đường
phát triển hiện đại của nông nghiệp và nông thôn Hàn Qu ốc và đề xuất một số gợi ý
chính sách cho s ự phát tri ển nông nghi ệp Việt Nam trên c ơ sở những kinh nghi ệm
của Hàn Qu ốc. Chính vì v ậy, việc nghiên cứu và đánh giá nh ững kinh nghi ệm của
Hàn Quốc về phát triển nông nghiệp và nông thôn là h ết sức cần thiết cả về lý luận
và thực tiễn đối với Việt Nam.
- "Quá trình phát tri ển kinh tế - xã hội nông thôn ở Trung Quốc 1978-2008"
của Nguyễn Xuân Cường [22] đã nêu rõ, Trung Qu ốc là nước nông nghi ệp lớn với
11
dân số đông nhất thế giới. Hơn nửa thế kỷ qua, nhất là từ khi tiến hành cải cách mở
cửa năm 1978 đến nay, Trung Qu ốc đã giành được những thành tựu to lớn và toàn
diện, trong đó có lĩnh vực nông nghi ệp, nông thôn. Nh ững kinh nghi ệm của Trung
Quốc trong quá tŕnh cải cách nông nghi ệp, nông thôn; phát tri ển hài hòa gi ữa nông
thôn và thành th ị; phát tri ển cân bằng giữa công nghi ệp và nông nghi ệp; xây dựng
NTM xă hội chủ nghĩa…là những kinh nghiệm hữu ích cho Việt Nam.
- Ngoài ra còn có thể kể đến: "Hàn Quốc đất nước con người" của Trung tâm
Dịch vụ Thông tin h ải ngoại Hàn Qu ốc [92]; "Kinh tế Thái Lan m ột số chính sách
công nghi ệp hóa h ướng về xu ất kh ẩu trong ba th ập niên cu ối th ế kỷ XX" của
Trương Duy Hòa [44]; "Kinh tế thế giới năm 2020: Xu hướng và thách thức" của Tạ
Kim Ngọc [66];"Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, kinh nghi ệm Việt Nam,
kinh nghiệm Trung Quốc" của Trần Hữu Phú [71].
Tổng quan các công trình nghiên c ứu kể trên tập trung đi sâu các đặc trưng
chủ yếu từ điều kiện đất đai, công nghệ, sản phẩm, giá trị và thu nh ập trên lĩnh vực
nông nghiệp của các nước. Từng giai đoạn phát triển, các tác giả đã làm rõ ý nghĩa, tầm
quan trọng và mức độ đóng góp của nền nông nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế và sự
phát triển của mỗi nước. Đặc biệt là đối với Châu Phi như một sự điển hình về duy trì
sự sống, đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội. Bên cạnh những mặt tích cực
và những lợi thế, các nghiên c ứu cũng chỉ ra nhi ều vấn đề nan gi ải trong phát tri ển
nông nghiệp của mỗi quốc gia mà cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết. Từ đó, các tác
giả đã đưa ra nh ững kiến nghị giải pháp khác nhau nh ằm hướng tới tổ chức, quản lý
hiệu quả nền nông nghiệp quốc gia, những kiến nghị, giải pháp này cũng là những bài
học quý giá cho những quốc gia nông nghiệp như Việt Nam.
1.1.1.2. M ột số luận án tiến sĩ
- "Nghiên cứu mô hình s ản xu ất nông nghi ệp bền vững trong vùng d ự án
ngọt hóa Gò Công" của Nguyễn Văn Khang [50] đã lý giải được những mô hình sản
xuất bền vững ở khu vực ngọt hóa Gò Công t ỉnh Tiền Giang, từ đó giúp cho nông
dân lựa chọn được những mô hình có th ể áp d ụng trong quá trình s ản xuất có th ể
mang lại hiệu quả, ít tác động đến môi tr ường sinh thái; đánh giá được những thay
đổi trong s ản xu ất và đời sống của ng ười dân tr ước và sau ng ọt hóa; định hướng
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo nh ững mục tiêu khác nhau. Nh ững công
trình này có th ể áp dụng được những địa phương khác có điều kiện về địa lý, sản
xuất tương tự trong khu vực.
12
- "Giải pháp nâng cao hi ệu qu ả kinh t ế trong s ử dụng đất nông nghi ệp tại
Yên Bái, giai đoạn 2012-2020" của Bùi Nữ Hoàng Oanh [68] đã đi sâu phân tích cơ
sở lý lu ận và th ực tiễn về đất nông nghi ệp; đề cập hiệu quả kinh tế trong sử dụng
đất, phân tích xu hướng suy giảm đất nông nghiệp và những tác động làm suy thoái
đất trong quá trình s ản xuất. Luận án đã nêu lên một số giải pháp mang tính kh ả thi
nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh, như: nêu lên
giải pháp về quy ho ạch sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học - k ỹ thu ật (KH-KT),
liên kết vùng sản xuất, các điều kiện đảm bảo cho các gi ải pháp th ực hiện được và
trách nhiệm các cấp, các ngành để đảm bảo tính khả thi của luận án.
- "Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện nay ở tỉnh Vĩnh Phúc" của
Bùi Minh Hồng [45] đã phân tích, làm rõ được thị trường quyền sử dụng đất nông
nghiệp, xem đó là thứ hàng hóa đặc biệt, đó là tài sản, là nguồn lực quý giá của mỗi
quốc. Luận án đã tập trung, đi sâu phân tích thực trạng thị trường quyền sử dụng đất
nông nghiệp hiện nay ở tỉnh Vĩnh Phúc, ch ỉ ra nh ững mặt tích cực, những hạn chế,
cũng như những yếu kém của thị trường này. Từ đó, tác giả đề xuất những phương
hướng, gi ải pháp, t ạo môi tr ường thông thoáng cho th ị tr ường quy ền sử dụng đất
nông nghiệp phát triển linh hoạt nhằm khai thác có hi ệu quả nguồn lực đất đai phục
vụ tốt cho CNH, HĐH.
- "Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam" của Nguyễn Hữu Sở [79] đã xoay
quanh vấn đề phát tri ển kinh tế bền vững, luận án đã nhấn mạnh đến khả năng phát
triển liên tục, lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ở những lĩnh
vực khác, nhất là thiên nhiên và xã hội. Phát triển kinh tế mà hủy hoại đến môi trường
là phát triển không bền vững. Phát triển mà chỉ dựa vào lượng tài nguyên sẵn có là phát
triển không thể lâu dài được. Tác giả cũng nêu lên quan điểm cho rằng, phát triển kinh
tế mà để phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực (FDI) cũng là khó bền vững, vì nguồn ấy
có nhiều rủi ro, không chắc chắn. Hai thành tố nòng cốt của phát triển là văn hóa và xã
hội. Để chuyển hóa khái niệm phát triển kinh tế bền vững từ cấp độ lý thuyết áp dụng
vào thực tiễn, khái niệm cần được làm sáng tỏ sau đó áp dụng trực tiếp đối với các lĩnh
vực khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
1.1.1.3. Nh ững công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí, hội thảo
Những năm gần đây, nhất là từ sau Hội nghị lần thứ bảy, Khóa X khi Ngh ị
quyết của BCH TW Đảng về vấn đề nông nghi ệp, nông dân, nông thôn được ban
13
hành và đi vào thực hiện, theo đó đã có ngày càng nhi ều các công trình nghiên c ứu
nhận được sự quan tâm xã h ội, các nhà nghiên c ứu, dưới đây xin nêu m ột số công
trình liên quan như:
- "Quyết định số 153/2004/TTg ban hành văn bản Định hướng Chiến lược phát
triển bền vững ở Việt Nam (gọi tắt là Chương trình Nghị sự 21)" của Thủ tướng Chính
phủ [86]. Theo đó, phát triển bền vững là xu thế chung mà toàn nhân loại đang nỗ lực
thực hiện. Đó cũng là mục tiêu chiến lược quan trọng mà Đảng, Chính phủ và nhân dân
Việt Nam quyết tâm biến thành hành động, ở hiện tại và tương lai.
- "Nông dân và nông nghi ệp Việt Nam nhìn t ừ sản xuất thị trường" của Võ
Tòng Xuân [110] đã cho rằng, hạn ch ế lớn nh ất của nông nghi ệp hi ện nay là s ản
xuất một cách rất tự phát, muốn trồng giống gì thì trồng, muốn sử dụng kỹ thuật thế
nào là tùy ý. Người dân trồng lúa nhưng không biết ai sẽ mua, doanh nghiệp chỉ biết
thương lái, đối tác, bỏ mặc người dân. Đến khi thu ho ạch, tiêu th ụ người dân cũng
không thể quyết định được giá cả, luôn thua lỗ, thiệt thòi. Tác gi ả đề xuất hướng ra
là cần sớm xây d ựng mô hình Công ty c ổ ph ần nông nghi ệp; mạnh dạn chuy ển
hướng phát huy ti ềm năng tự nhiên và ng ười lao động; Nhà n ước cần linh ho ạt
trong điều chuyển cơ chế, chính sách cho phù hợp với thị trường.
- "Tái cơ cấu ngành nông nghi ệp nước ta hi ện nay " của Vương Đình Hu ệ
[42] đã ch ỉ rõ, tr ước bối cảnh phát tri ển kinh t ế luôn bi ến động, có nhi ều cơ hội,
thách thức đan xen cả trong nước và hội nhập quốc tế, bài vi ết đề xuất một số nội
dung và giải pháp cần thiết, cấp bách, góp phần nghiên cứu tiếp tục đổi mới căn bản
và đồng bộ về chiến lược, thể chế và tổ chức trong tái c ơ cấu ngành nông nghi ệp,
nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa X c ủa Ban Ch ấp
hành Trung ương và Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã được phê duyệt.
- "Con đường bền vững nh ất cho nông nghi ệp" của Nguy ễn Qu ốc Vọng
[108] đã nêu rõ, m ột nền nông nghi ệp chất lượng cao là con đường bền vững nhất
để nông nghiệp, nông thôn và nông dân Vi ệt Nam đứng vững và phát triển trong kỷ
nguyên hội nhập. Tác giả cung cấp 5 "luật chơi" của thị trường nông sản thế giới, từ
đó ch ỉ ra nh ững hạn ch ế, yếu kém c ủa nông nghi ệp Vi ệt Nam và nghiên c ứu gi ải
pháp từ Australia để chúng ta có thêm cách nhìn về nền nông nghiệp nước nhà.
- "Phát tri ển nông nghi ệp bền vững - Lý lu ận và th ực ti ễn" của Vũ Tr ọng
Bình [3] đã tập trung giới thiệu khái niệm NNPTBV, các ti ếp cận chiến lược trong
14
NNPTBV, trình bày tóm tắt một số chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững của
một số quốc gia cũng như thực tiễn PTBV ở Việt Nam. Có nhi ều cách tiếp cận cho
PTBV, tuy nhiên, t ất cả để làm thế nào cho ng ười sản xuất thay đổi hành vi của họ
dựa trên các nguyên tắc sản xuất bền vững. Cách tiếp cận của tác giả cho thấy, nước
ta đang rất tích c ực phát tri ển nền nông nghi ệp bền vững. Nhi ều chính sách được
Chính phủ ban hành. Tuy nhiên, cho th ấy giữa hiện thực và chính sách còn kho ảng
cách xa. Chúng ta đang thiếu chuỗi giá trị dựa trên quản trị sản xuất bền vững, thiếu
cơ ch ế chính sách để nông dân th ực hành b ền vững. Khi mà th ực hành s ản xu ất
không bền vững vẫn còn có l ợi ích l ớn hơn, th ậm chí l ớn hơn nhi ều so v ới th ực
hành sản xuất bền vững, thì việc phát triển nông nghiệp bền vững vẫn còn khó khăn.
- "Quyết định 899/QĐ-TTg về tái cơ cấu nông nghi ệp theo hướng nâng cao
giá trị gia tăng và phát tri ển bền vững" của Thủ tướng Chính phủ [87] đây là đề án
tái cơ cấu nông nghi ệp là một hợp ph ần của tái c ơ cấu tổng th ể nền kinh t ế qu ốc
dân, phù h ợp với chi ến lược và k ế ho ạch phát tri ển KT-XH c ủa cả nước, gắn với
phát triển KT-XH và bảo vệ môi trường cho trước mắt và lâu dài.
- "Nông nghi ệp Vi ệt Nam h ướng đến phát tri ển bền vững" của Đỗ Kim
Chung, Kim Th ị Dung [8] đã cho rằng, trong th ời gian qua, ngành nông nghi ệp đạt
được tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế nông nghi ệp chuyển dịch theo hướng
phù hợp hơn với nhu cầu thị trường, giá cả, kim ngạch xuất khẩu đều tăng trưởng ở
mức hợp lý. Tuy nhiên, nông nghi ệp vẫn ch ưa th ực sự phát tri ển bền vững; kh ả
năng cạnh tranh của một số sản phẩm nông sản chưa cao, th ị trường tiêu th ụ thiếu
ổn định, chưa hình thành có hi ệu quả chuỗi giá tr ị nông sản, thu nh ập của cơ dân
nông thôn thấp. Hướng đến sự PTBV, cần có giải pháp phát triển nông nghiệp nước
ta một cách đúng hướng và đồng bộ, đây là câu h ỏi lớn đặt ra cho các nhà nghiên
cứu lý luận, hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn.
Một số bài báo nêu trên t ập trung nghiên c ứu, phân tích nh ững vấn đề mang
tính lý lu ận về NNPTBV ho ặc nh ững vấn đề có liên quan khác đến nông nghi ệp,
đến PTBV và NNPTBV ở nước ta trong nh ững năm gần đây. Trên c ơ sở ch ỉ ra
những thành tựu và hạn chế, yếu kém, các tác gi ả đã đề xuất định hướng, giải pháp
cho NNPTBV. Tuy nhiên, các công trình đăng tải trên các t ạp chí khoa h ọc, số bài
liên quan tr ực tiếp đến NNPTBV tuy nhi ều, nh ưng các bài vi ết ít đi sâu phân tích
các yếu tố đảm bảo cho nền NNPTBV trong xu thế mới dưới góc nhìn kinh tế chính
trị học, cho nên, đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu.
15
1.1.2. Nh ững công trình nghiên c ứu ngoài nước có liên quan đến đề tài
luận án
Cũng như ở Việt Nam, nhi ều nước trên th ế giới đi lên từ nông nghi ệp, hoặc
nông nghiệp có vị trí đặc biệt đối với sự phát triển một quốc gia nào đó, vì thế trong
các nghiên cứu nước ngoài cũng có không ít công trình nghiên c ứu liên quan đến đề
tài lu ận án và các nghiên c ứu này s ẽ là nh ững tài li ệu bổ ích cho nghiên c ứu của
luận án và g ợi mở nh ững bài học kinh nghi ệm quý giá đối với Vi ệt Nam. Một số
nghiên cứu điển hình ở mảng nghiên cứu này có thể kể đến như:
- "Tăng cường nông nghi ệp cho phát tri ển" của Ngân hàng th ế giới [65] đã
nêu bật nông nghiệp là công c ụ phát triển sống còn để đạt mục tiêu phát tri ển thiên
niên kỷ. Báo cáo dài h ơn 500 trang, n ội dung đề cập đến 3 v ấn đề chính, đó là:
Nông nghiệp có thể làm gì để góp phần vào phát tri ển; công cụ hữu hiệu trong việc
sử dụng nông nghi ệp vì sự phát tri ển là gì?; làm th ế nào để thực hiện tốt nhất các
chương trình ngh ị sự nông nghi ệp vì sự phát tri ển. Báo cáo này h ướng dẫn cho các
Chính ph ủ và c ộng đồng qu ốc tế khi thi ết kế và th ực thi các ch ương trình nông
nghiệp cho phát tri ển, mà nh ững ch ương trình này có th ể đổi đời cho hàng tri ệu
người đói nghèo, cơ cực ở nông thôn.
- Nghiên cứu của Quỹ Quốc tế về phát tri ển nông nghi ệp (IFAD): Có nhi ều
tác giả tập trung nghiên cứu về vai trò và ảnh hưởng từ phía chính phủ và các chính
sách hỗ tr ợ phát tri ển nông nghi ệp [64]. Điển hình là nghiên c ứu của Ti ến sỹ
Gertrud Schieder, Tr ường Đại học Hohen - Đức, nghiên cứu về tín dụng cho người
nghèo sống ở nông thôn đất nước Cameroon đã luận giải sự tồn tại tất yếu, khách
quan của 2 bộ phận: tín dụng chính th ức và tín d ụng phi chính th ức. Theo tác gi ả,
thì nhất thiết Chính phủ cần phải cung ứng tín dụng để đảm bảo an toàn lương thực
cho người nghèo ở nông thôn.
- "Nền kinh tế xanh lam " của Gunter Pauli [41] đã hàm ch ứa tầm nhìn khác
thường về những gì chúng ta có th ể làm được trong bối cảnh một nền kinh tế bền
vững. Từ kết quả hấp dẫn của nỗ lực khai thác ti ềm năng đạt tới sự bền vững trong
khắp các hệ sinh thái của tự nhiên, đó cũng là thách th ức lớn nhất của thế giới. Tuy
tác giả giới thiệu về mô hình kinh doanh h ướng đến sự bền vững, nhưng đây là một
nghiên cứu rất có ý nghĩa về kinh tế dưới góc nhìn kinh tế chính trị học.
16
1.2. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ NH ỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA C ẦN TI ẾP TỤC
NGHIÊN CỨU
1.2.1. Đánh giá chung các kết quả nghiên cứu đã công bố
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về NNPTBV đều
có cách ti ếp cận và gi ải quyết vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau. Có th ể nêu lên
mấy vấn đề cơ bản sau:
- Các nghiên c ứu đã làm rõ các khái ni ệm, đặc điểm, vai trò và tính t ất yếu
của PTBV, NNPTBV trong xu th ế toàn cầu hóa hiện nay. Dù là qu ốc gia phát tri ển
hay đang phát triển thì việc đầu tư cho nông nghiệp luôn có tầm quan trọng đặc biệt
trong nền kinh tế của mỗi nước.
- Các nghiên cứu đã làm sáng tỏ, phản ánh được nhiều mặt về bức tranh nông
nghiệp trước yêu cầu PTBV ở một số nước như Hàn Qu ốc, Nhật Bản, Trung Qu ốc
và một số quốc gia khác ở châu Phi, châu Âu… đó là nh ững kinh nghi ệm quý cho
Việt Nam xây dựng và phát triển nền NNPTTHBV.
- Từ những nghiên cứu ở phương diện lý luận và thực tiễn các nghiên cứu đã
có nh ững ki ến ngh ị, đề xu ất ph ương hướng và gi ải pháp phát tri ển nông nghi ệp
trong một thời điểm nhất định, nhất là trong h ội nhập càng ph ải đề cao, xem tr ọng
các yếu tố PTBV.
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra một số kết luận sau:
Một là, các công trình nghiên c ứu trong nước về nông nghiệp, phát triển bền
vững nông nghiệp là một phần quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam
hiện nay. Quá trình ấy, được nghiên cứu trên nhi ều mặt, có mối quan h ệ bền chặt
giữa KT-XH-MT; gi ữa vi ệc xây d ựng một nước Vi ệt Nam phát tri ển, giàu m ạnh,
chủ động hội nhập quốc tế. Những vấn đề các tác giả nghiên cứu, trong đó đáng chú
ý là đã đưa ra nhiều cách gỡ khó cho nông nghi ệp, xác định phát triển nông nghiệp
với mô hình t ăng trưởng bền vững là sự lựa chọn đúng đắn cho tái c ơ cấu lại nông
nghiệp, th ực hi ện CNH, H ĐH đất nước, đưa nông nghi ệp nước nhà h ội nh ập sâu
WTO. Nh ận th ức được điều đó, vi ệc nghiên c ứu, th ực hi ện đề tài nông nghi ệp ở
tỉnh Cà Mau phát triển theo hướng bền vững là việc cụ thể hóa trong thực tiễn ở một
địa phương, là một đòi hỏi bức xúc trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài, góp phần phát
triển KT-XH của tỉnh, rất cần có một đề tài nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề này.
17
Hai là, trong các nghiên c ứu quốc tế có liên quan đến đề tài cho th ấy, trên
thế giới, trong lịch sử phát tri ển của các qu ốc gia, hầu hết các qu ốc gia đều không
xem nhẹ việc đầu tư, phát triển nông nghiệp. Từ các nước sản xuất nông nghiệp đầy
khó khăn như Châu phi, đến những nước có sự đầu tư mạnh vào nông nghi ệp như
Hàn Quốc, Nh ật Bản, Thái Lan, Ixrael…ch ỉ trong một th ời gian nh ất định đã làm
các nước này có s ự thay đổi lớn lao, PTBV, quá trình đó có s ự đóng góp hết sức
quan trọng của nông nghiệp. Chính vì vậy, đề tài nông nghiệp, nông dân, nông thôn
không chỉ nhận được sự quan tâm sâu s ắc của các nhà nghiên c ứu trong nước mà
còn là đề tài luôn có s ức hấp dẫn đối với các nhà nghiên c ứu ngoài nước, kết quả
nghiên cứu của các tác gi ả nước ngoài là nh ững kinh nghi ệm, bài h ọc tham kh ảo
quý đối với Vi ệt Nam nói riêng, các n ền kinh t ế nông nghi ệp nói chung c ả trên
phương diện thành công và thất bại mà một số quốc gia nào đó đã trải qua.
1.2.2. Những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
Như trình bày ở trên, các nghiên c ứu đã công b ố được đề cập là khá phong
phú, đa dạng về các khía c ạnh phát tri ển của nông nghi ệp, NNPTBV. Tuy nhiên,
trong quá trình tham kh ảo để viết luận án này, nghiên c ứu sinh nh ận thấy hầu hết
các tư liệu tham khảo chủ yếu nghiên cứu nông nghiệp ở tầm lý luận chung, những
vấn đề mang tính nguyên lý ở cấp độ quốc gia, châu lục. Một số công trình khác thì tập
trung nghiên cứu một hoặc một số vấn đề cụ thể của nông nghiệp trong nước. Ngay cả
ba luận án tham kh ảo cũng chỉ đi sâu nghiên cứu mô hình sản xuất ở vùng ngọt hóa,
vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất, thị trường quyền sử dụng đất nông
nghiệp. Với đề tài luận án của nghiên cứu sinh, những công trình trên rất có ý nghĩa ở
chỗ, nó giúp cho nghiên c ứu sinh tiếp cận thuận lợi hơn để giải quyết các vấn đề có
liên quan đến nông nghiệp ở Cà Mau phát triển theo hướng bền vững.
Trên cơ sở việc hệ thống hóa lý thuy ết NNPTTHBV đến cụ thể hóa lý thuy ết
này vào điều kiện cụ thể của tỉnh Cà Mau, lu ận án cần trả lời những câu hỏi lớn và
then chốt về nông nghiệp phát triển sao cho hi ệu quả, bền vững và khả thi. Luận án
không chỉ gắn kết nông nghi ệp với các mục tiêu xây d ựng, phát tri ển KT-XH của
tỉnh trong tương lai, mà còn đưa ra định hướng giúp cho nông nghi ệp của tỉnh tăng
trưởng ổn định, theo hướng bền vững, nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế cạnh tranh,
cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, phát tri ển nông nghi ệp đồng bộ, thúc đẩy liên kết
vùng và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Với tinh thần như vậy, luận án tập trung
18
làm rõ mức độ tác động đến NNPTTHBV của tỉnh trong th ời gian qua, c ả ưu điểm
và hạn chế yếu kém trên ba ph ương diện: thực trạng của nền NNPTTHBV về KT-
XH-MT. Từ đó đưa ra nh ững dự báo đối với NNPTTHBV ở tỉnh Cà Mau đến năm
2025 trên cơ sở những quan điểm, phương hướng, mục tiêu và một số giải pháp cụ
thể nhằm hướng đến một nền NNPTTHBV ở một tỉnh có lợi thế và ti ềm năng dồi
dào cả ngư, nông, lâm nghi ệp; có cả hệ sinh thái m ặn và ng ọt; có cả rừng và bi ển;
có cả nuôi trồng, đánh bắt và chế biến…với những đóng góp của luận án, cho chúng
ta th ấy được bức tranh toàn c ảnh về nông nghi ệp của tỉnh Cà Mau m ột vùng đất
giàu tiềm năng phát triển này.
Cà Mau là m ột tỉnh cực Nam Tổ quốc, tuy có ngu ồn tài nguyên, thiên nhiên
khá phong phú, d ồi dào, nh ưng ngành nông nghi ệp của tỉnh hiện tại vẫn còn ch ậm
phát triển, có nhi ều yếu tố thiếu ổn định, chưa bền vững, thì vi ệc nghiên cứu thúc
đẩy nền nông nghi ệp của tỉnh phát tri ển theo h ướng bền vững là r ất cần thi ết. Vì
vậy, lựa chọn nghiên cứu của Nghiên cứu sinh mong đóng góp một phần nhỏ bé vào
nỗ lực phát tri ển KT-XH của địa phương trên cơ sở khai thác ti ềm năng, thế mạnh
về nông nghiệp của tỉnh.
19
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
2.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ NÔNG
NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
2.1.1. Khái quát chung về phát triển bền vững
2.1.1.1. Khái niệm về phát triển bền vững
Ngày nay, trên bình diện toàn thế giới hay tại mỗi khu vực và ở mỗi quốc gia
xuất hiện biết bao vấn đề bức xúc mang tính ph ổ biến. Kinh tế càng tăng trưởng thì
tình trạng khan hi ếm các lo ại nguyên li ệu, năng lượng do sự cạn kiệt các nguồn tài
nguyên không tái t ạo được ngày càng t ăng thêm, môi tr ường thiên nhiên càng b ị
hủy hoại, cân bằng sinh thái b ị phá vỡ, dẫn tới "sự trả thù" của thiên nhiên gây ra
những thiên tai vô cùng th ảm khốc. Đó là sự tăng trưởng kinh tế không cùng nh ịp
với tiến bộ và phát triển xã hội, đôi khi ngược chiều với phát triển xã hội. Cụ thể là,
có tăng tr ưởng kinh t ế nh ưng không có ti ến bộ và công b ằng xã h ội; tăng tr ưởng
kinh tế theo hướng CNH, đô thị hóa, dẫn tới làm méo mó nông thôn; t ăng trưởng
kinh tế nhưng thu nh ập của người lao động không tăng; tăng trưởng kinh tế nhưng
văn hóa, đạo đức bị suy đồi; tăng trưởng kinh tế lại làm dãn cách h ơn sự phân hóa
giàu nghèo trong xã hội, dẫn tới sự bất ổn trong xã hội và điều này đã trở thành một
trong những vấn đề nóng bỏng ở nhiều quốc gia. Vậy nên, quá trình phát triển có sự
điều tiết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm bình ổn xã hội và bảo vệ môi
trường đang trở thành yêu c ầu bức thiết đối với toàn th ế giới. Theo đó, chiến lược
PTBV ra đời và trở thành chiến lược phát triển toàn cầu những năm cuối của thế kỷ
20 và đang tiếp tục là chiến lược phát triển toàn cầu trong thế kỷ 21.
Mặc dù chi ến lược phát tri ển toàn cầu xuất hiện từ những năm cuối của thế
kỷ 20, song thu ật ngữ "phát tri ển bền vững" là một khái ni ệm dần được hình thành
từ thực tiễn đời sống xã hội và có tính t ất yếu. Tư duy về PTBV manh nha trong c ả
quá trình sản xuất xã hội và bắt đầu từ việc nhìn nh ận tầm quan tr ọng của bảo vệ
môi trường và tiếp đó là nh ận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn trong xã
hội. Chính vì th ế, năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của
Liên hợp quốc được tổ chức ở Ri-ô đơ Gia-nê-rô đề ra Ch ương trình ngh ị sự toàn
cầu cho th ế kỷ XXI, theo đó, PTBV được xác định là: Một sự phát tri ển thỏa mãn
20
những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm h ại đến khả năng đáp ứng những
nhu cầu của thế hệ tương lai. Theo đó, ba trụ cột PTBV được xác định là: Thứ nhất,
bền vững về mặt kinh tế, hay phát tri ển kinh tế bền vững là phát tri ển nhanh và an
toàn, chất lượng; Thứ hai, bền vững về mặt xã hội là công bằng xã hội và phát triển
con người, ch ỉ số phát tri ển con ng ười (HDI) là tiêu chí cao nh ất về phát tri ển xã
hội, bao gồm: thu nh ập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo d ục, sức khỏe,
tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh; Thứ ba, bền vững về sinh thái môi
trường là khai thác và s ử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, b ảo vệ môi trường và
cải thiện chất lượng môi trường sống.
Cho tới nay, quan ni ệm về PTBV trên bình di ện qu ốc tế có được sự th ống
nhất chung và mục tiêu để thực hiện PTBV trở thành mục tiêu thiên niên kỷ.
Ở Việt Nam, ch ủ đề PTBV cũng đã được chú ý nhi ều trong gi ới nghiên cứu
cũng như những nhà hoạch định đường lối, chính sách. Quan niệm về PTBV thường
được tiếp cận theo hai khía cạnh: Một là, PTBV là phát triển trong mối quan hệ duy
trì nh ững giá tr ị môi tr ường sống, coi giá tr ị môi tr ường sinh thái là m ột trong
những yếu tố cấu thành nh ững giá trị cao nh ất cần đạt tới của sự phát tri ển. Hai là,
PTBV là s ự phát tri ển dài h ạn, cho hôm nay và cho mai sau; phát tri ển hôm nay
không làm ảnh hưởng tới mai sau.
Trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, PTBV được định nghĩa: "Phát
triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm
tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp
chặt chẽ, hài hòa gi ữa tăng trưởng kinh t ế, bảo đảm tiến bộ xã h ội và b ảo vệ môi
trường" [74]. Đây là định nghĩa có tính t ổng quát, nêu b ật những yêu c ầu và mục
tiêu trọng yếu nhất của PTBV, phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam.
Từ nội hàm khái ni ệm PTBV, rõ ràng là, để đạt được mục tiêu PTBV c ần
giải quyết hàng loạt các vấn đề thuộc ba lĩnh vực là KT-XH-MT.
Thứ nhất, bền vững kinh t ế. Mỗi nền kinh t ế được coi là b ền vững cần đạt
được những yêu cầu sau:
- Có t ăng tr ưởng GDP và GDP/ng ười đạt mức cao. N ước phát tri ển có thu
nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghèo, có thu nhập thấp càng
phải tăng trưởng mức độ cao. Các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay cần
tăng tr ưởng GDP vào kho ảng 5%/n ăm thì m ới có th ể xem có bi ểu hi ện PTBV v ề
kinh tế.
21
- Trường hợp có tăng trưởng GDP cao nh ưng mức GDP/người thấp thì vẫn
coi là chưa đạt yêu cầu PTBV.
- Cơ cấu GDP cũng là vấn đề cần xem xét. Chỉ khi tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạt được bền vững.
- Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hi ệu quả cao, không ch ấp nhận
tăng trưởng bằng mọi giá.
Thứ hai, bền vững về xã hội. Tính bền vững về phát triển xã hội ở mỗi quốc
gia được đánh giá bằng các tiêu chí, như HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu
về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa. Ngoài ra, b ền vững về xã hội
là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có s ự bình đẳng giữa các giai t ầng trong xã
hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không cao quá và có xu h ướng
gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn.
Thứ ba, bền vững về môi tr ường. Quá trình CNH, H ĐH, phát tri ển nông
nghiệp, du l ịch; quá trình đô th ị hóa, xây d ựng NTM,... đều tác động đến môi
trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên. Bền vững về
môi trường là khi s ử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lượng môi tr ường sống của
con ng ười ph ải được bảo đảm. Đó là b ảo đảm sự trong s ạch về không khí, n ước,
đất, không gian địa lý, cảnh quan. Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi
trọng và th ường xuyên được đánh giá ki ểm định theo nh ững tiêu chu ẩn qu ốc gia
hoặc quốc tế.
2.1.1.2. Sự hình thành lý thuyết về phát triển bền vững
Cu ộc cách m ạng công nghi ệp vào đầu th ế kỷ XVIII, đặc bi ệt là cu ộc cách
mạng khoa học và công nghệ từ giữa thế kỷ XX cho đến nay, vấn đề phát triển có một
nội dung thuần túy kinh tế. Cùng với sự phát triển của xã hội, các nhu cầu về vật chất
ngày càng tăng, con người đã tìm nhiều biện pháp thúc đẩy sản xuất, các chính sách KT-
XH, mở mang quốc gia đã có sự quan tâm đặc biệt đến các vấn đề về đầu tư, sản xuất,
tăng trưởng kinh tế đã trở thành mục tiêu trung tâm, ưu tiên hàng đầu trong chiến lược
phát triển của các quốc gia trên thế giới. Lúc bấy giờ phát triển kinh tế (développement
économique) đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế (croissance économique), không có sự
phân biệt, cân nhắc hoặc so sánh giữa phẩm và lượng trong công cuộc mở mang quốc
gia. Riêng đối với các nước chậm tiến có nền kinh tế lạc hậu thì được xem như chỉ có
nhu cầu gia tăng sản xuất, xúc tiến các chương trình nhằm các mục tiêu vừa kể. Kinh tế
22
thế giới lúc bấy giờ tiến lên trong khuôn khổ các chính sách và kế hoạch dựa trên lý luận
kinh tế máy móc, một chiều, hẹp hòi và phiến diện.
Cùng v ới sự phát tri ển kinh tế nhanh chóng thì môi tr ường thiên nhiên c ũng
đang bị tàn phá nghiêm tr ọng. Tr ước nguy c ơ, hi ểm họa ngu ồn tài nguyên thiên
nhiên bị khai thác c ạn ki ệt, tiêu dùng hoang phí, ch ất th ải bừa bãi, t ất cả để đuổi
theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế, thì môi trường tự nhiên đã bị xâm hại, tổn thương
nghiêm trọng. Một khuynh hướng cực đoan chủ trương giảm đến mức tối đa sự tác
động của con người lên tự nhiên đã xuất hiện. Ý tưởng này cho rằng, để bảo vệ môi
trường bằng cách con ng ười không tác động vào tự nhiên. Đây là một ý tưởng hoàn
toàn ảo tưởng, bởi con người không thể chấp nhận một hệ số phát triển bằng không.
Đây là một phản ứng tiêu cực, một sự lựa chọn bế tắc của cuộc sống chính sự tác
động của con người vào thiên nhiên mang lại.
Một khuynh hướng khác cũng hết sức sai lầm, cho rằng cần tăng trưởng kinh
tế trước rồi mới quan tâm bảo vệ môi trường. Nói theo y h ọc, có nghĩa là "bệnh rồi
mới chữa" chứ không phải "phòng bệnh hơn chữa bệnh". Ngược dòng thời gian, có
thể thấy các nhà kinh t ế học như Malthus, D.Ricardo đều có chung quan điểm với
các nhà bảo vệ môi trường đầu tiên ở châu Âu, châu M ỹ và tất cả họ đều có chung
quan điểm là cần tiết kiệm tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên. Song không ít qu ốc
gia, đặc biệt là ở các nước chậm phát triển và đang phát triển, mục tiêu tăng trưởng
kinh tế vẫn chiếm vị trí ưu tiên hơn so với mục tiêu bảo vệ môi tr ường và sử dụng
hợp lý ngu ồn tài nguyên thiên nhiên. B ởi tại các qu ốc gia này gi ải quyết việc làm,
giảm nghèo đói, cải thi ện đời sống ng ười dân, xây d ựng ti ềm lực kinh t ế cho đất
nước vẫn là việc làm chính đáng và cấp thiết.
Vào đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, trước việc sử dụng quá mức tài nguyên
thiên nhiên ph ục vụ cho CNH c ủa nhi ều nước trên th ế gi ới đã hình thành nhi ều
trường phái nghiên c ứu về sự PTBV. Th ực tế đó đã tạo ra sự lo ng ại về triển vọng
phát triển của con ng ười ở hiện tại và tương lai, đã làm cho nh ận thức về tự nhiên,
mối quan hệ giữa tự nhiên với xã hội và con ng ười có nh ững thay đổi. Trong công
trình nghiên cứu của mình, GS. TS Holger Rogall l ấy trường phái định hướng kinh
tế làm tr ọng tâm. Trong khi đó, trường phái Tân c ổ điển coi kinh t ế môi tr ường là
một phần của khoa học bền vững. Còn Câu lạc bộ La Mã (Club de Rome) đã đề cao
quan điểm "Giới hạn của tăng trưởng" đề nghị một hướng đi mới cho sự phát tri ển
và có nh ững nhận thức chính đáng, những nhận định xác th ực về tổ chức kinh tế,
23
đời sống xã hội nên đã có nh ững ảnh hưởng nhất định trong việc cảnh tỉnh thế giới
về nh ững vấn đề liên quan t ới môi tr ường - môi sinh. Câu l ạc bộ La Mã đề ngh ị
chính sách "không t ăng tr ưởng" (croissance zéro) v ới lý do t ăng tr ưởng kinh t ế
nghịch với bảo vệ môi tr ường - môi sinh. Khi Maurice Strong t ổ chức hội thảo với
chủ đề "Phát tri ển và môi tr ường" thì nh ững vấn đề về PTBV bắt đầu thu hút được
sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới.
Tháng 6 n ăm 1972, tuyên bố Stockholm về "Môi trường con người" nêu rõ: Bảo
vệ và cải thiện môi trường là vấn đề lớn có ảnh hưởng tới phúc lợi của mọi dân tộc và
phát triển kinh tế trên toàn thế giới. Đó là khao khát khẩn cấp của các dân tộc trên thế
giới và nhi ệm vụ của mọi chính ph ủ. Điều đó đã cho th ấy thiên nhiên không ph ải là
nguồn của cải vô tận, sẵn có và phục vụ con người vô điều kiện. Con người đã nhận ra
rằng, tự nhiên là thể thống nhất, nhưng nó có giới hạn và sức chịu đựng nhất định trước
con người chứ không phải là vô hạn. Cho nên, bên cạnh việc khai thác tự nhiên phục vụ
cho lợi ích con người thì con người phải biết bảo vệ và cải thiện để nâng cao chất lượng
do tự nhiên ban tặng, nghĩa là phải biết "chung sống hài hòa" với tự nhiên.
Mỗi giai đoạn lịch sử, tư tưởng về phát PTBV ngày càng định hình rõ nét
hơn và thu ật ng ữ ‘Phát tri ển bền vững" lần đầu tiên được sử dụng trong ấn ph ẩm
"Chiến lược bảo tồn thế giới" do Hi ệp hội Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên
nhiên thế giới phát hành. Chi ến lược này cho r ằng, muốn phát tri ển bền vững cần
tính đến những yếu tố KT - XH - MT.
Chi ến lược "phát tri ển tôn tr ọng môi sinh" b ị các nước đã phát tri ển và giàu
có chống đối mạnh mẽ, bởi vậy cuối cùng hội nghị chỉ thảo luận vấn đề ô nhiễm và
kết thúc với sự tán đồng quan điểm rằng có mối liên hệ và ảnh hưởng tương hỗ giữa
nếp sống của loài ng ười với môi tr ường-môi sinh, gi ữa phát tri ển KT-XH v ới bảo
tồn tài nguyên và ổn định thiên nhiên. Ngoài ra, các n ước cũng thỏa thuận và cam
kết hành động để bảo vệ môi trường - môi sinh và thành l ập những cơ quan quốc tế
và quốc gia có nhi ệm vụ bảo vệ môi tr ường - môi sinh. M ặc dù đề nghị "phát tri ển
tôn trọng môi sinh" không được chấp thuận, nhưng nó đã đánh dấu một bước tiến
quan trọng hướng tới sự khai sinh khái niệm "phát triển bền vững".
Vào đầu những năm 1980, Liên hi ệp Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên là t ổ chức
đã đề khởi khái niệm PTBV. Năm 1981, Robert Riddell đã mô tả PTBV gồm ba yếu
tố cơ bản là: bình đẳng kinh tế, hài hòa xã hội, môi trường cân bằng. Đến năm 1987,
khái niệm PTBV do Ủy ban Th ế giới về Môi tr ường và Phát tri ển đưa ra đã nhận
24
được sự đồng thuận cao từ nhiều quốc gia, các tổ chức môi trường và các nhà khoa
học trên thế giới. Năm 1992 tại Rio de Janeiro, Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất đã
chính thức hóa sự đồng lòng th ỏa thuận của các nước hội viên Liên Hi ệp Quốc về
một chương trình ngh ị sự PTBV gọi là Agenda 21. M ười năm sau, vào n ăm 2002,
Liên Hiệp Quốc đã tổ chức một hội nghị khác tại Johannesburg với tên gọi là "H ội
nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững". Hội nghị Johannesburg đã xác
định phải xúc ti ến và th ực hiện Agenda 21 và đã đề ra các m ục tiêu cho thiên niên
kỷ 21. Theo đó, Hội nghị nhấn mạnh đến việc thiết lập cam kết giữa các chính ph ủ
trên toàn thế giới, nhằm thực hiện kế hoạch Johannesburg.
Trên đây là những tư tưởng tiên phong quan trọng về PTBV, ngoài ra còn có thể
kể đến các tư tưởng khác ở những mức độ khác nhau hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp cũng
có những luận bàn xoay quanh chủ đề phát triển bền vững, chẳng hạn như: Kinh tế sinh
thái, Kinh tế môi trường thế hệ mới, Sinh thái học công nghiệp…là những phương án đối
sánh, cung cấp những đóng góp quan trọng cho khoa học PTBV.
2.1.1.3. M ột số mô hình về phát triển bền vững
Theo Jacobs và Sadler (1990) PTBV là k ết quả dung hòa và thỏa hiệp của ba
hệ thống chủ yếu của thế giới, đó là hệ thống tự nhiên (bao gồm: các hệ sinh thái tự
nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các thành ph ần môi tr ường của trái đất); hệ thống
kinh tế (bao gồm: sản xuất và phân ph ối sản phẩm) và hệ thống xã hội (bao gồm:
Hệ kinh tế
Hệ PTBV
Hệ xã hội
Hệ môi trường
quan hệ con ngýời trong xã hội).
Hình 2.1: Tương tác giữa ba hệ thống kinh tế - xã hội - môi trường
và phát triển bền vững
Nguồn: [60].
25
Theo Hội ngh ị về Môi tr ường Phát tri ển Liên hi ệp qu ốc (UNCED) v ề mô
hình PTBV (1992) nh ấn mạnh các mục tiêu kinh t ế (bao g ồm: nâng cao thu nh ập
của người dân, phát tri ển các ngành kinh t ế và GDP, GNP); m ục tiêu xã h ội (bao
gồm: thỏa mãn các nhu c ầu của con người); mục tiêu môi trường (bao gồm: giữ lâu
dài cân bằng của môi trường sinh thái nuôi dưỡng sự sống) thay cho các hệ KT-XH-
MT. Mô hình này không th ể hiện rõ sự tương tác, phụ thuộc và tính liên kết của các
mục tiêu PTBV.
Ủy ban Môi tr ường và Phát tri ển th ế gi ới (WCED) (1993) đã mở rộng các
lĩnh vực về PTBV bao gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, hành chính, công
nghệ, sản xuất và quốc tế. Thực chất mô hình này xem xét PTBV c ủa một quốc gia,
trước hết phải đảm bảo sự phát tri ển hài hòa c ủa các yếu tố trên, sau đó phải được
xem xét trong s ự PTBV c ủa th ế gi ới và do v ậy, ch ịu sự tác động bởi các y ếu tố
mang tính quốc tế.
Mohan Munasinghe (1993) đưa ra mô hình PTBV còn được gọi là mô hình
ba cực. Một là, cực kinh tế, thể hiện khả năng phát tri ển kinh tế của một quốc gia
dựa trên các yếu tố nguồn nhân lực, vật lực và tài l ực. Hội đủ ba yếu tố này và k ết
hợp một cách hiệu quả là vấn đề rất khó khăn, cần phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế
hiệu quả và ổn định. Hai là, cực xã hội, thể hiện sự phát triển kinh tế phải gắn liền
với sự phát tri ển xã hội, bảo đảm nâng cao ch ất lượng cuộc sống cho tất cả người
dân. Ba là , cực môi tr ường, yêu c ầu quá trình phát tri ển của loài ng ười ph ải coi
trọng và bảo vệ có hiệu quả môi trường chung của thế giới.
Prsscott Allen (1995) v ới mô hình "quả trứng" nhấn mạnh đến tính bền vững
của xã hội. Mô hình này mô t ả rằng hệ con người nằm trong hệ sinh thái gi ống như
lòng đỏ quả trứng nằm bên trong lòng tr ắng của một quả trứng. Quả trứng tốt khi
lòng đỏ và lòng trắng đều tốt cũng như một xã hội bền vững khi cả hai hệ con người
và hệ sinh thái được cải thiện và đảm bảo. Đều đó có ngh ĩa là hệ con ng ười và hệ
sinh thái đều quan trọng như nhau trong điều kiện PTBV.
Hodge (1993,1995) đề xuất mô hình "Trình tự đánh giá tiến bộ về bền vững".
Mô hình này xây dựng dựa trên quá trình trả lời 4 câu hỏi thể hiện mối quan hệ giữa
điều kiện sinh thái với điều kiện con người, đó là: điều kiện hệ sinh thái hiện tại như
thế nào, đã có những thay đổi gì và nguyên nhân d ẫn đến sự thay đổi đó; điều kiện
con người hiện tại như thế nào, đã có những thay đổi gì và nguyên nhân d ẫn đến sự
26
thay đổi đó; có thể đưa ra những kết luận gì về hiện trạng và những tiến bộ; (d) cần
Điều kiện hệ sinh thái
phải làm gì để đạt được những mục tiêu đặt ra?.
Tương lai
Tổng hợp
Điều kiện con người
Chiến lược
Hình 2.2: Mô hình trình tự đánh giá tiến độ về bền vững
Nguồn: [60].
Ở Việt Nam, từ năm 2004 đã xây dựng được chương trình PTBV (mang tên
AGENDA - 21). Mục tiêu tổng quát PTBV của Việt Nam là: Đạt được sự đầy đủ về
vật chất, sự giàu có v ề văn hóa và tinh th ần, sự bình đẳng của các công dân và s ự
đồng thuận của xã hội, sự hài hòa gi ữa con ng ười và tự nhiên; phát tri ển phải kết
hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát tri ển kinh tế, phát tri ển xã hội
và bảo vệ môi tr ường. Mục tiêu tổng quát cho th ấy, PTBV ở nước ta là v ấn đề cốt
lõi, trung tâm của sự kết hợp một cách hài hòa c ả ba mặt tăng trưởng kinh tế, công
bằng xã hội và bảo vệ môi tr ường. Theo đó, mục đích cuối cùng của PTBV là ch ất
lượng cuộc sống người dân được cải thiện ngày càng tốt hơn.
Nh ư vậy, trong tiến trình phát tri ển, PTBV đã được tiếp cận với đa dạng các
mô thức khác nhau. Song, vấn đề cốt lõi của hầu hết các mô thức PTBV đã được đề
cập là sự kết hợp hài hòa của ba nhân tố chính: KT-XH-MT [57].
2.1.2. Khái niệm, đặc điểm nông nghiệp phát triển bền vững
2.1.2.1. Khái niệm nông nghiệp phát triển bền vững
Nông nghi ệp xu ất hi ện từ rất sớm trong đời sống xã h ội loài ng ười. Trong
suốt một th ời gian dài l ịch sử nhân lo ại, ở ph ương Đông cũng nh ư ph ương Tây,
nông nghi ệp là m ột ngành c ực kỳ quan tr ọng, không m ột ngành nào có th ể sánh
được. Ngày nay, nông nghi ệp không còn có được vị trí nh ư tr ước nữa và c ũng là
ngành có trình độ phát triển thấp kém hơn so với một số ngành khác trong n ền kinh
tế. Song với mọi quốc gia ở mọi trình độ phát tri ển, nông nghi ệp và các s ản phẩm
27
của nó luôn đóng một vai trò quan trọng - là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định
sự tồn tại, phát tri ển của con ng ười và phát tri ển KT-XH c ủa mỗi qu ốc gia. Th ực
tiễn lịch sử phát triển của các quốc gia trên th ế giới cũng đã chứng thực rằng chỉ có
thể phát tri ển kinh tế một cách nhanh chóng, ch ừng nào qu ốc gia đó đã có an ninh
lương thực. Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có s ự ổn định chính trị
và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh t ế cho sự phát tri ển, từ đó sẽ làm cho các
nhà kinh doanh không yên tâm b ỏ vốn vào đầu tư dài h ạn. Vì v ậy, phát tri ển nền
nông nghiệp trong hiện tại vẫn là đòi hỏi thiết yếu của hầu hết các quốc gia trên thế
giới. Tuy nhiên, do nh ững yêu cầu ngày càng gay g ắt trong việc bảo vệ môi trường
đất, nguồn tài nguyên nước và điều kiện để canh tác trong sản xuất nông nghiệp nên
ngày nay nông nghiệp cần phải phát triển theo hướng bền vững.
Trong những thập niên cu ối của thế kỷ 20, nh ững vấn đề đặt ra ch ủ yếu của
sản xuất nông nghiệp là: bảo vệ môi trường đất, nguồn tài nguyên nước và điều kiện
để canh tác bền vững. Mục đích của NNPTBV là kiến tạo một hệ thống bền vững về
sinh thái, có ti ềm lực về kinh t ế, có kh ả năng tho ả mãn nh ững nhu c ầu của con
người mà không huỷ diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường.
Do tầm quan trọng của nông nghiệp trong phát triển của mỗi quốc gia, nên phát
triển nông nghiệp nói chung, NNPTBV nói riêng luôn nhận được sự quan tâm sâu rộng
của cộng đồng xã hội. Mặc dù vậy, do phương diện tiếp cận khác nhau, điều kiện thực
tiễn khác nhau mà hiện vẫn chưa có sự đồng thuận cao về khái niệm NNPTBV.
Chẳng hạn, TAC/CGIARC (Ban c ố vấn kỹ thu ật thu ộc nhóm chuyên gia
quốc tế về nghiên c ứu nông nghi ệp của Liên hi ệp qu ốc) đã định ngh ĩa NNPTBV
như sau: NNPTBV ph ải bao hàm s ự qu ản lý thành công tài nguyên thiên nhiên
nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và
gìn gi ữ được tài nguyên thiên nhiên. Hay theo quan ni ệm của FAO (1992),
NNPTBV là quá trình qu ản lý và duy trì s ự thay đổi về tổ chức, kỹ thuật và thể chế
cho nông nghi ệp phát tri ển nh ằm đảm bảo th ỏa mãn nhu c ầu ngày càng t ăng của
con người về nông phẩm và dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau.
Theo tổ chức về môi tr ường sinh thái th ế giới (WOED) cũng đã định nghĩa
NNPTBV như sau: NNPTBV là n ền nông nghi ệp thỏa mãn được các nhu c ầu của
thế hệ hiện nay mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau.
28
Trong mười năm trở lại đây, Việt Nam cũng đã có nhiều tác giả có công trình
nghiên cứu về NNPTBV. Trong s ố các công trình đã được công bố có th ể kể đến
nghiên cứu của tác gi ả Đỗ Kim Chung và c ộng sự (2009). Theo nhóm tác gi ả này:
NNPTBV là quá trình đảm bảo hài hòa ba nhóm m ục tiêu kinh t ế, xã h ội và môi
trường, thỏa mãn nhu cầu về nông nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp
ứng nhu cầu của tương lai. Hoặc nghiên cứu của tác giả Phạm Doãn (2005), tác giả này
cho rằng NNPTBV là quá trình đa chiều, bao gồm: (i) tính bền vững của chuỗi lương
thực (từ người sản xuất đến tiêu thụ, liên quan trực tiếp đến cung cấp đầu vào, chế biến
và thị trường); (ii) tính bền vững trong sử dụng tài nguyên đất và nước về không gian và
thời gian; (iii) khả năng tương tác thương mại trong tiến trình phát triển nông nghiệp và
nông thôn để đảm bảo cuộc sống đủ, an ninh lương thực trong vùng và giữa các vùng.
Trên bình di ện vĩ mô, Quy ết định số 153/QĐ-TTg ngày 17-8-2014 c ủa Thủ
tướng Chính phủ ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam -
Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam. Trong 8 n ội dung của chương trình này, có
nội dung thứ 4 đề cập đến vấn đề NNPTBV ở Việt Nam.
Từ nh ững quan ni ệm nêu trên cho th ấy nhi ều điểm phù h ợp với th ực ti ễn
Việt Nam, có th ể hiểu: NNPTBV là quá trình sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên
nhiên, phải bảo đảm được mục đích là kiến tạo một hệ thống bền vững KT-XH-MT,
nhằm thỏa mãn nhu cầu về phát triển nông nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả
năng đáp ứng nhu cầu của phát triển trong tương lai và được xã hội chấp nhận. Bền
vững về kinh tế, là sản xuất nông nghiệp hướng đến chuỗi giá trị, hiệu quả đạt cao, làm
ra nhiều sản phẩm có ch ất lượng, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, th ức ăn
chăn nuôi, dự trữ lương thực mà còn xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Bền vững về xã
hội, là một nền nông nghiệp PTBV phải đảm bảo cho người nông dân có đầy đủ công
ăn việc làm, có thu nhập ổn định, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng
lên. Bền vững về môi trường, là mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp không hủy hoại
nguồn tài nguyên thiên nhiên và không gây ô nhiễm môi trường.
Đối với từng địa phương, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và
đặc thù của lĩnh vực nông nghi ệp để hướng đến nền NNPTBV trên c ơ sở phát huy
hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương, vừa tuân thủ các yêu cầu ở từng mức
độ khác nhau c ủa nền nông nghi ệp xanh, nông nghi ệp sạch, thân thi ện với môi
trường sinh thái.
29
2.1.2.2. Đặc điểm nông nghiệp phát triển bền vững
Hoạt động sản xuất nông nghi ệp là nh ững tác động của con ng ười lên các đối
tượng thiên nhiên (cây trồng, đất đai...) để tạo ra các sản phẩm (nông sản) nhằm thỏa
mãn các nhu cầu của mình. Những tác động đó của con người nếu như phù hợp với các
quy luật khách quan của thiên nhiên sẽ thúc đẩy sự phát triển của thiên nhiên và tạo ra
nhiều sản ph ẩm có ích cho con ng ười. Ng ược lại, nếu nh ững tác động trong nông
nghiệp cũng như các tác động khác của con người trong các hoạt động sản xuất và đời
sống không phù hợp với các quy luật khách quan của tự nhiên thì thường gây ra những
hậu quả rất nghiêm trọng. Trong những trường hợp này, không những cố gắng của con
người không mang lại kết quả gì, mà nhiều khi còn gây ra những tác động nguy hiểm
đối với sức khỏe, nền an ninh và môi tr ường sống của con ng ười. Và nh ư th ế, con
người và môi trường sinh thái rơi vào tình trạng không an toàn. Cho nên, phải tiến hành
sản xuất nông nghiệp bền vững, nếu không muốn hứng chịu những phản ứng của thiên
nhiên. Những phản ứng này có khi rất lớn và rất nguy hiểm. Trong thực tế cuộc sống
những phản ứng của thiên nhiên được thể hiện ở các loại thiên tai như lụt lũ, hạn hán,
sâu bệnh phát sinh thành d ịch, ô nhi ễm môi tr ường sống, môi tr ường sinh thái
v.v...Cũng từ đó cuộc sống và các hoạt động sản xuất, đời sống, KT-XH của con người
rơi vào tình trạng gặp nhiều biến động, thiếu bền vững.
Vì vậy, sản xuất nông nghiệp bền vững không những hướng tới việc tạo ra các
sản phẩm lành, sạch không gây ra nh ững ảnh hưởng có hại cho sức khỏe người tiêu
dùng, mà c ần đảm bảo không ng ừng tăng năng su ất cây tr ồng, tăng năng su ất đất
đai, năng suất lao động và góp ph ần vào quá trình PTBV c ủa thiên nhiên và xã h ội.
Do đó, NNPTBV thể hiện qua mấy đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, NNPTBV phải đảm bảo nhịp độ tăng trưởng kinh tế ổn định, hiệu
quả, nâng cao chất lượng cuộc sống của khu vực nông nghiệp, nông thôn
Không chỉ riêng trong ngành nông nghi ệp, bất cứ ngành nào trong n ền kinh tế
quốc dân mục tiêu tăng trưởng cũng luôn đặt ở vị trí trung tâm và ph ải có sự quan
tâm đặc bi ệt. Đối với ngành nông nghi ệp, đảm bảo sự tăng tr ưởng ổn định có ý
nghĩa hết sức quan tr ọng, bởi nông nghi ệp là ngành cung c ấp toàn bộ lương thực,
thực phẩm phục vụ cho nhu c ầu tiêu dùng hàng ngày của con người. Hoạt động tiêu
dùng hàng ngày diễn ra liên tục với quy mô dân số ngày càng tăng đòi hỏi quá trình sản
xuất cũng phải có nhịp độ tăng tương ứng. Trước bối cảnh tình hình thế giới có nhiều
30
bất ổn, thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu gây hậu quả khó lường càng đặt ra cho
ngành nông nghiệp nhiều áp lực trong quá trình phát triển. Nếu như ngành nông nghiệp
không tăng trưởng hoặc tăng trưởng chậm hơn so với nhu cầu của con người thì sẽ dẫn
đến sự thiếu hụt lương thực, thực phẩm, sẽ đẩy toàn xã hội đến sự bất ổn.
Nhìn lại nền nông nghi ệp truyền thống, cho th ấy tốc độ tăng trưởng rất thấp,
thậm chí còn làm cho toàn bộ nền kinh tế rơi vào trì trệ, khủng hoảng. Cho nên, việc
đổi mới toàn bộ nền NNPTBV thì mục tiêu tăng trưởng kinh tế là một đặc điểm rất
cơ bản và quan trọng.
Tuy nhiên, không phải tăng trưởng bằng mọi giá nếu như chúng ta phải trả giá
quá đắt. Nói cách khác, tăng trưởng đó phải trên cơ sở hiệu quả, tăng trưởng chỉ thực
sự có ý nghĩa khi đảm bảo PTBV. Hiệu quả của nền NNPTBV thể hiện trên nhiều khía
cạnh khác nhau, nhưng tập trung nhất ở việc các sản phẩm nông nghiệp làm ra sử dụng
ít nhất các yếu tố đầu vào bao gồm cả các nguồn lực con người, kinh tế và tự nhiên. Có
nghĩa là tăng trưởng nông nghiệp là tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu.
Đặc điểm sản xu ất nông nghi ệp là ph ụ thu ộc rất lớn vào điều ki ện tự nhiên,
như thời tiết, khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng…Cho nên, sản xuất nông nghi ệp thường
rơi vào b ấp bênh, thi ếu ổn định. Đối với nền nông nghi ệp truy ền th ống, sản xu ất
dựa vào kinh nghi ệm, kỹ thuật lạc hậu, năng suất thấp, giá tr ị nông sản không cao.
Ngược lại, đặc điểm của nền nông nghiệp hiện đại, yếu tố ổn định, tăng trưởng, bền
vững luôn được đề cao, xem tr ọng. Th ực ra, NNPTBV đã bao hàm t ăng tr ưởng,
điều đó rất có ý ngh ĩa đối với phát tri ển KT-XH và nâng cao ch ất lượng cuộc sống
của khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Thứ hai, NNPTBV góp ph ần gi ải quyết có hi ệu quả các v ấn đề xã h ội trong
nông nghiệp, nông thôn
Thực tế cho thấy, hiện nay tình trạng đói nghèo, lạc hậu, thất nghiệp, phân hóa
giàu nghèo…t ồn tại ch ủ yếu ở nông thôn và chi ếm ph ần lớn tỷ lệ đói nghèo là
những ng ười tham gia vào ho ạt động sản xu ất nông nghi ệp và sinh s ống ở nông
thôn. Đặc biệt với một nền nông nghi ệp truyền thống lạc hậu rất khó để giải quyết
được vấn đề đói nghèo, đây là cái vòng l ẩn quẩn của đói nghèo - l ạc hậu - tàn phá
môi trường sống. Hiện thực này yêu c ầu với một nền NNPTBV cần đảm bảo: tăng
trưởng, ổn định, hiệu quả. Đây sẽ là cơ sở giải quyết vấn đề đói nghèo, lạc hậu, thất
nghiệp, bất bình đẳng trong nông nghi ệp, nông thôn. B ởi lẽ, suy đến cùng, khi
31
NNPTBV sẽ góp phần nâng cao vai trò làm ch ủ của người nông dân, các v ấn đề xã
hội ở nông thôn t ừng bước được giải quyết. Nông nghi ệp chậm phát tri ển thì nông
dân còn đói nghèo, y tế, giáo dục, an sinh xã hội không được đảm bảo, tệ nạn xã hội
gia tăng, năng lực ch ủ th ể của nông dân trong s ản xu ất nông nghi ệp và đời sống
nông thôn bị giảm sút. Với nền nông nghi ệp truyền thống vai trò ch ủ thể của nông
dân gần như không có hoặc có nhưng rất hạn chế, mờ nhạt, ngay cả những quyền ra
các quyết định liên quan trực tiếp đến bản thân.
Trong khi đó, để xây dựng một nền NNPTBV thì ng ười nông dân ph ải được
coi là ch ủ thể của quá trình s ản xuất và xây d ựng NTM. Ng ười nông dân n ắm giữ
quyền trong mọi khâu của quá trình sản xuất và tham gia, quyết định các vấn đề liên
quan đến đời sống cư dân nông thôn. N ền nông nghi ệp phát tri ển càng vững chắc,
trình độ ngày càng cao thì khi đó vai trò chủ thể của người nông dân càng được đảm
bảo ở mức cao nhất.
Một vấn đề khác của nông dân c ũng rất đáng được quan tâm hi ện nay, đó là
vấn đề sở hữu đất nông nghi ệp, tiếp cận nguồn tài nguyên và quy ền phân ph ối các
sản phẩm nông nghi ệp. Tình tr ạng người nông dân b ỏ đất, bán đất, mất đất do quá
trình đô thị hóa, mất tư liệu sản xuất có xu h ướng tăng dần. Tình tr ạng tích tụ, sở
hữu ruộng đất tập trung về một bộ phận người giàu đang đặt ra nhiều vấn đề không
chỉ đơn thu ần là kinh t ế mà còn n ảy sinh nhi ều vấn đề xã h ội; tình tr ạng bất cập
giữa trình độ và kh ả năng hạn chế trong ti ếp cận, khai thác ngu ồn tài nguyên thiên
nhiên đang là rào cản của sự phát triển; tình trạng mất mùa được giá, được mùa mất
giá cho th ấy quyền quyết định trong phân ph ối của người nông dân g ần như bằng
không. Cụ thể ở đây là sự phân phối không công bằng về mặt thu nhập. Phần giá trị
thuộc về nông dân trong tổng giá trị sản phẩm là rất thấp. Phần lớn những giá trị đó
lại thuộc về những chủ thể không trực tiếp tạo ra sản phẩm, đó là những tư thương,
người cung c ấp dịch vụ, doanh nghi ệp…Cho nên, thu nh ập của ng ười nông dân
không được đảm bảo thì khó có thể khuyến khích được việc mở rộng sản xuất, nâng
cao năng suất lao động. Đây là nguyên nhân làm n ảy sinh hàng lo ạt các mâu thu ẫn
trong xã hội, thậm chí làm kéo lùi nền sản xuất đi xuống.
Vì vậy, nền NNPTBV h ướng đến vi ệc làm cho m ọi ch ủ th ể được phân ph ối
thu nh ập công b ằng hơn. Không ch ỉ công b ằng trong thu nh ập mà còn công b ằng
trong việc tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên, công b ằng trong tiếp cận các dịch
32
vụ xã hội và đời sống nông thôn, liên quan tr ực tiếp đến các giá tr ị và sự phát triển
của con người.
Chúng ta hoàn toàn có quy ền hy v ọng ở th ời gian t ương lai, khi mà n ền
NNPTBV đạt được trình độ nhất định thì các vấn đề xã hội của nông nghiệp, nông thôn
được giải quyết tốt hơn, khi đó giá trị và mức sống của cư dân nông thôn đạt đến trình
độ cao, quyền làm chủ của nông dân được đảm bảo, chất lượng đời sống nông dân và
xã hội nông thôn sẽ là môi trường đáng sống, sẽ là sự lựa chọn của nhiều người.
Thứ ba, NNPTBV là một nền nông nghiệp sinh thái
Trong nền kinh tế quốc dân thì ngành nông nghiệp là ngành trực tiếp liên quan
đến môi trường sinh thái nhi ều nhất. Đặc điểm dễ thấy nhất ở một nền nông nghiệp
lạc hậu, đó là trình độ kỹ thuật thấp kém, ph ương thức canh tác th ủ công. Th ực tế
này đã làm cho môi tr ường thiên nhiên b ị tàn phá nghiêm tr ọng, cụ thể đó là tình
trạng di ện tích đất tr ồng cây nông nghi ệp, di ện tích r ừng bị thu h ẹp, thoái hóa,
nguồn lợi thủy sản cạn kiệt, môi trường ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng... Hiện
thực này là hệ lụy do chính con ng ười gây ra và l ại đang trực tiếp tác động đến đời
sống con ng ười. Cho nên, để có một nền NNPTBV tr ước hết phải xem xét l ại việc
khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có để thỏa mãn nhu cầu
con người mà không làm tổn hại cho thế hệ tương lai. Xã hội càng phát triển thì nhu
cầu về nông sản, thực phẩm ngày càng nhiều và yêu cầu ngày càng cao. Do đó, quá
trình tổ chức sản xuất nông nghi ệp phải dựa trên nh ững điều kiện tài nguyên thiên
nhiên hiện có. Hơn nữa, tài nguyên thiên nhiên không là vô t ận, nó rất có giới hạn.
Chính vì vậy, trong quá trình con ng ười tác động vào môi trường tự nhiên phải đảm
bảo sự cân bằng về môi tr ường sinh thái tr ước trong tương quan với những đòi hỏi
thỏa mãn nhu c ầu ngày càng cao c ủa con ng ười. Một đặc điểm nữa của quá trình
sản xuất nông nghiệp truyền thống lạc hậu là khai thác đồng nghĩa với ô nhiễm, hủy
hoại. Cho nên, một nền NNPTBV là ph ải ngăn chặn có hiệu quả việc ô nhiễm, lạm
dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp và bảo quản nông sản. Vấn đề không chỉ
ở nh ận th ức mà cách s ản xu ất, bảo qu ản, kinh doanh thi ếu chuyên nghi ệp, coi
thường sức khỏe người tiêu dùng không ch ỉ làm cho môi tr ường sống bị tổn hại mà
còn đe dọa trực tiếp đến tính mạng con người. Những hệ lụy của ô nhiễm, lạm dụng
hóa chất không th ể phát hi ện, ngăn chặn trong th ời gian ng ắn mà còn để lại những
hậu quả lâu dài. Do v ậy, xây dựng một nền nông nghi ệp thân thi ện với môi tr ường
33
sinh thái dưới sự hỗ trợ của yếu tố KH-KT nhằm đảm bảo tạo ra sản phẩm sạch, có
chất lượng cao, để lại cho thế hệ mai sau những điều tốt nhất [63].
2.2. NỘI DUNG, TIÊU CHÍ VÀ CÁC NHÂN T Ố ẢNH HƯỞNG ĐẾN NÔNG
NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
2.2.1. Nội dung nông nghiệp phát triển bền vững
Nội dung NNPTBV được th ể hi ện trên ba khía c ạnh sau: NNPTBV trên
phương diện kinh tế; NNPTBV trên ph ương diện xã hội và nông nghi ệp phát tri ển
theo hướng bền vững trên phương diện bảo vệ môi trường.
2.2.1.1. Nông nghi ệp phát triển bền vững trên phương diện kinh tế
Trên ph ương di ện kinh t ế, NNPTBV là n ền nông nghi ệp có t ốc độ tăng
trưởng cao, ổn định với cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hợp lý, hiện đại trên
cơ sở phát huy l ợi thế về những điều kiện tự nhiên (ch ất đất, khí hậu…), tập quán,
kinh nghiệm sản xuất, thị trường của nông nghiệp Việt Nam phù hợp với xu hướng
nông nghi ệp và th ị tr ường th ế gi ới. Do đó, NNPTBV trên ph ương di ện kinh t ế là
quá trình phát tri ển đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trên cơ sở chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tiến bộ và dựa vào năng lực nội sinh là
chủ yếu, tránh được suy thoái, đình trệ trong tương lai và không để lại tổn hại cho
các thế hệ mai sau. Vi ệc đầu tư và phát tri ển nói chung và đầu tư để NNPTBV nói
riêng phải đem lại lợi nhuận, gia tăng tổng sản phẩm của ngành trong n ền kinh tế
của qu ốc gia. Có nhi ều ph ương th ức đạt được mục tiêu t ăng tr ưởng kinh t ế nông
nghiệp, tuy nhiên không phải phương thức nào cũng dẫn tới tăng trưởng kinh tế cao,
ổn định và bền vững. Trong xã h ội phát tri ển, tăng trưởng kinh tế nông nghi ệp dựa
trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, CNH, HĐH là một xu thế
tất yếu. Chỉ dựa trên chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tiến bộ thì
mới đạt được tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và vững chắc. Nếu tăng trưởng kinh
tế dựa vào khai thác tài nguyên và bán nông s ản thô thì n ội bộ ngành không có s ự
tăng tr ưởng kinh t ế bền vững và s ẽ làm cho ngu ồn tài nguyên c ạn ki ệt, dẫn đến
nhiều hệ lụy khó lường về môi tr ường và các ảnh hưởng khác về mặt xã hội. Với
mọi quốc gia năng lực nội sinh luôn giữ vai trò chủ yếu để tăng trưởng kinh tế vững
bền, với từng lĩnh vực của nền kinh t ế cũng vậy và vì th ế lĩnh vực nông nghi ệp
không là ngo ại lệ. Điều đó có ngh ĩa rằng, khả năng bên trong, n ội tại, là th ế mạnh
mang tính ch ất tổng lực nội bộ ngành c ủa một quốc gia, nh ư: nguồn nhân lực, tài
34
nguyên thiên nhiên, đất đai, kết cấu hạ tầng, năng lực sáng tạo, KH - CN, m ức độ
tích lũy của mỗi quốc gia…tuy nhiên c ũng cần thiết phải kết hợp cả nguồn lực từ
bên ngoài. B ởi lẽ với một nền nông nghi ệp ch ậm phát tri ển, nội lực hạn ch ế, nên
nếu chỉ dựa vào nội lực thì th ực sự khó kh ăn để có sự bứt phá, nh ưng nếu chỉ dựa
vào nguồn lực bên ngoài thì n ền nông nghi ệp sẽ lại ở trạng thái dễ bị phụ thuộc, tỷ
lệ rủi ro cao, khả năng đề kháng trước những tác động tiêu cực sẽ không còn. Chính
vì thế, năng lực nội sinh của ngành, của quốc gia đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế
nông nghiệp bền vững. Ngược lại, nền NNPTBV sẽ góp phần làm cho năng lực nội
sinh của mỗi quốc gia trở nên mạnh mẽ.
Yếu tố kinh tế - Hiệu quả sản xuất nông nghiệp (Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp …) - Thu nhập và lợi nhuận cư dân nông nghiệp - Du lịch sinh thái kết hợp với nông nghiệp đô thị
Kinh tế
NNPTTHBV
Xã hội Môi trường
Yếu tố phúc lợi xã hội
Yếu tố môi trường và cảnh quan
- Bảo vệ môi trường (nước, không khí…) - Tạo cảnh quan nông thôn và đô thị
- Chất lượng thực phẩm - An toàn thực phẩm - An ninh lương thực - Chất lượng cuộc sống - Hoạt động giải trí, tiêu khiển
Hình 2.3: Khung lý thuyết về nông nghiệp phát triển bền vững
Nguồn: [103].
35
2.2.1.2. Nông nghi ệp phát triển bền vững trên phương diện xã hội
Nông nghiệp PTBV trên ph ương diện xã hội là quá trình phát tri ển vừa đảm
bảo được mục tiêu kinh t ế vừa đảm bảo được mục tiêu th ực hi ện ti ến bộ và công
bằng xã hội, đảm bảo cho mọi người đều có cơ hội học hành và có vi ệc làm, gi ảm
tình trạng đói nghèo, nâng cao trình độ dân trí, tạo sự đồng thuận và an sinh xã h ội.
NNPTBV hướng đến một xã h ội trong đó phát tri ển kinh t ế ph ải đi đôi với công
bằng xã hội, giáo dục, đào tạo, y tế; phúc lợi xã hội phải được chăm lo, các giá tr ị
về văn hóa, đạo đức của dân tộc và cộng đồng phải được bảo vệ và phát huy. Trong
xu thế hiện nay, giá trị của PTBV không bao giờ là một thể độc lập, mà là chuỗi giá
trị có sự gắn kết bền chặt giữa các thành t ố với nhau, trong đó, tăng trưởng kinh tế
là quan trọng và đặt ở vị trí trước nhất. Tăng trưởng kinh tế phải được gắn chặt với
giải quy ết vi ệc làm cho ng ười lao động, nh ất là lao động nông thôn. N ếu tăng
trưởng kinh t ế không đi đôi với gi ải quyết vi ệc làm, để tình tr ạng th ất nghi ệp gia
tăng thì không nh ững gây lãng phí ngu ồn nhân lực mà còn ti ềm ẩn nhiều hệ lụy xã
hội. Một khi nền NNPTBV đạt được những giá tr ị nhất định sẽ giúp cho ng ười lao
động có vi ệc làm ổn định, thì đói nghèo gi ảm, sẽ tạo ra động lực thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, nguồn lực sản xuất, nguồn lực lao động sẽ phát tri ển cao hơn. Một
xã hội ổn định, phát tri ển hài hòa, đời sống dân cư nông thôn được đảm bảo là sự
phản ảnh sinh động nhất của chất lượng cuộc sống, giá trị của NNPTBV.
2.2.1.3. Nông nghi ệp phát triển bền vững trên phương diện môi trường
Nông nghi ệp PTBV trên ph ương diện môi tr ường là quá trình phát tri ển đạt
được tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, gắn với khai thác h ợp lý, sử dụng tiết kiệm,
có hi ệu qu ả tài nguyên thiên nhiên không làm suy thoái, h ủy hoại môi tr ường mà
còn nuôi dưỡng, cải thiện chất lượng môi trường.
Về ch ất lượng môi tr ường, trong NNPTBV đó là m ột tổng th ể nh ư môi
trường khí h ậu, th ổ nh ưỡng, nước, đất, gi ống, cảnh quan,… nhìn chung không b ị
các hoạt động của con ng ười làm ô nhi ễm; các ngu ồn phế thải phải được xử lý, tái
chế kịp thời. Để đạt được mục tiêu đó, tăng trưởng kinh tế trong nông nghi ệp phải
dựa trên c ơ sở khai thác h ợp lý, s ử dụng ti ết ki ệm, có hi ệu qu ả tài nguyên thiên
nhiên. Có ngh ĩa là ph ải có kế hoạch cân nh ắc, lựa chọn khi ra quy ết định khai thác
tài nguyên để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của cư dân nông thôn.
Xét về hiệu quả KT-XH và môi trường, tăng trưởng kinh tế không làm ô nhiễm, suy
thoái, hủy ho ại môi tr ường là yếu tố bền vững cần được bảo vệ, nếu tăng tr ưởng
36
kinh tế nhưng lại làm ô nhiễm, suy thoái, hủy hoại môi trường thì sẽ đe dọa trực tiếp
cuộc sống của thế hệ hiện tại và của các thế hệ tương lai. Cho nên, tăng trưởng kinh tế
phải gắn liền với nuôi dưỡng, cải thiện chất lượng môi trường để đáp ứng nhu cầu của
thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai.
2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến nông nghiệp phát triển bền vững
Nông nghiệp PTBV ch ịu tác động của nhiều nhân t ố, nhưng khái quát l ại có
bốn nhóm nhân tố chủ yếu sau: điều kiện tự nhiên; điều kiện KT-XH; các nhân tố tổ
chức - kỹ thuật; vai trò của Nhà nước, nông dân và các tổ chức hiệp hội.
2.2.2.1. Nhóm các nhân tố về điều kiện tự nhiên
Những nhân t ố nh ư điều ki ện đất đai, th ời ti ết, khí h ậu, ngu ồn nước, rừng,
khoáng sản, và các y ếu tố sinh h ọc khác… là nh ững nhân t ố thu ộc điều ki ện tự
nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển nông nghiệp bền vững, nhất là đối với các
nước trình độ công nghiệp hóa còn thấp, còn lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên.
Là ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào các yếu tố nh ư khí hậu, đất đai, nguồn
nước… nên có thể nói các nhân tố về điều kiện tự nhiên có tác động trực tiếp tới sự hình
thành, vận động và biến đổi ngành nông nghiệp. Trong các nội dung của NNPTBV đều
chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên. Môi trường sản xuất nông nghiệp cũng do
yếu tố tự nhiên quy định. Mỗi vùng nông nghiệp lại có đặc điểm về tự nhiên riêng, do đó
đặc điểm về xã hội, kết cấu xã hội cũng có những đặc thù riêng tương thích.
Điều kiện tự nhiên cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, nhất là ở những địa
phương thuần nông, nông nghi ệp là ngành chi ếm tỷ trọng lớn và ảnh hưởng rất lớn
đến các ngành khác. Đồng thời, các vùng kinh t ế có điều kiện tự nhiên khác nhau,
do đó quy mô của các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng) và trong
nội bộ ngành nông nghi ệp cũng khác nhau. Điều đó th ể hi ện rõ nét trong c ơ cấu
kinh tế nông nghi ệp giữa các vùng (đồng bằng, trung du, mi ền núi). Theo đó, vùng
có điều kiện tự nhiên thuận lợi có thể phát triển những ngành có lợi thế so với vùng
khác và ng ược lại. Đó là cơ sở tự nhiên để phát tri ển, khai thác các l ợi thế so sánh
của vùng. Sẽ là phát triển không bền vững, nếu không căn cứ vào điều kiện tự nhiên
để xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển.
2.2.2.2. Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội
Nhóm nhân tố kinh tế - xã h ội ảnh hưởng tới NNPTBV gồm có: Th ị trường,
hệ thống chính sách v ĩ mô của Nhà nước, hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, mức
37
độ phát triển các khu công nghi ệp, đô thị, dân số, lao động bao gồm cả số lượng và
chất lượng.
Những nhân tố này với vị trí, vai trò c ủa mình đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián ti ếp tới NNPTBV. N ếu th ị tr ường với nh ững nhu c ầu được xác định vừa là
mục tiêu vừa là động lực phát tri ển sản xuất, tác động mạnh mẽ đến sự phát tri ển
nông nghiệp và tính đa dạng của nhu cầu tác động mạnh đến sự biến đổi số lượng
và cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thì hệ thống chính sách vĩ mô của Nhà nước một mặt
điều chỉnh, hỗ trợ các hoạt động sản xuất nông nghiệp theo định hướng mục tiêu đã
lựa chọn, thì hệ thống này cùng v ới thị trường đảm bảo ở mức độ tối ưu nhất các
điều kiện phục vụ sản xuất nông nghi ệp, chẳng hạn, thông qua vi ệc hiện thực hóa
các chủ trương, chính sách và cụ thể hóa vai trò của mình, thị trường không chỉ thực
hiện chức năng tiêu th ụ sản phẩm mà còn th ực hiện chức năng thu hút các y ếu tố
đầu vào của quá trình sản xuất nông nghiệp như: vốn, lao động, vật tư, công nghệ…
đảm bảo sự vận hành của sản xuất nông nghiệp mang tính ổn định, bền vững.
Trong bối cảnh, sự vận hành nền kinh tế nông nghiệp không chỉ phụ thuộc vào
bản thân nền kinh tế quốc gia và cũng không đơn thuần chỉ là sự phát triển của riêng
ngành nông nghiệp thì ngoài ảnh hưởng của thị trường, của hệ thống chính sách vĩ mô
của Nhà nước còn có s ự ảnh hưởng từ những vận động phát triển của khu vực công
nghiệp nói chung, phát triển các cụm, khu công nghiệp nói riêng. Ảnh hưởng này có cả
mặt tích cực lẫn tiêu cực, chẳng hạn, phát triển của công nghiệp chế biến sẽ hỗ trợ đầu
ra cho nông nghi ệp, gia t ăng giá tr ị nông ph ẩm; song nếu sự phát tri ển khu công
nghiệp, chế xuất mà không gắn kết được với sự phát triển của nông nghiệp sẽ không
tạo ra những hỗ trợ cho nông nghiệp phát triển mà thậm chí còn có thể đưa đến những
hệ lụy mà những hệ lụy đó có thể tác động ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp như
phát thải công nghiệp làm ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp.
Nông nghiệp là lĩnh vực chậm phát triển, ngoài những nguyên nhân mang tính
chất đặc thù của ngành còn có nh ững nguyên nhân khác, trong đó nổi bật là nguyên
nhân liên quan đến kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghi ệp. Do nông nghi ệp thường
phát triển trên một không gian r ộng lớn, trong không gian đó, những chi phí đầu tư
cho phát tri ển hệ thống hạ tầng là rất khó kh ăn, trong khi ngu ồn lực trong lĩnh vực
nông nghiệp là hạn chế. Vậy nên, vốn đã lạc hậu hơn so với những lĩnh vực khác,
lại cộng thêm nh ững hạn chế về hạ tầng, tất yếu hiệu quả sản xuất nông nghi ệp sẽ
38
khó có thể đạt được như kỳ vọng. Vì vậy, để PTBV, tất yếu phải phát triển hệ thống
kết cấu hạ tầng bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng KT-XH.
2.2.2.3. Nhóm nhân tố về tổ chức - kỹ thuật
Các nhân tố tổ chức - kỹ thuật gồm các hình th ức tổ chức sản xuất trong nông
nghiệp, sự phát tri ển khoa học - công ngh ệ (KH-CN) và vi ệc áp dụng KH-KT vào
sản xu ất. Vậy nên, s ự tồn tại, vận động và bi ến đổi của nông nghi ệp được quy ết
định bởi sự tồn tại và hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp. Các chủ
thể kinh t ế trong nông nghi ệp tồn tại và ho ạt động qua các hình th ức tổ ch ức sản
xuất với các mô hình tổ chức thích ứng. Do đó, các hình thức tổ chức sản xuất trong
nông nghiệp là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới NNPTBV.
Hiện nay, KH-CN đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sự phát tri ển của
KH-CN và việc ứng dụng vào sản xuất đã trở thành động lực mạnh mẽ để phát triển
xã hội nói chung, nông nghi ệp nói riêng. Vì ti ến bộ KH-CN và ứng dụng vào sản
xuất một mặt làm xu ất hiện nhiều nhu cầu mới, làm thay đổi tốc độ phát tri ển các
ngành; mặt khác, t ạo ra kh ả năng mở rộng sản xuất, chuyên môn hóa cao và phát
triển những ngành nghề đòi hỏi trình độ cao, tốn ít nguyên liệu, nhiên liệu và giảm ô
nhiễm hơn. Do đó, để NNPTBV cần tính tới nhân tố tổ chức - kỹ thuật.
2.2.2.4. Vai trò của Nhà nước, nông dân và các tổ chức hiệp hội, đoàn thể
Nông nghiệp là một ngành kinh t ế, để ngành kinh t ế vận hành ngoài ch ủ th ể
nông dân trực tiếp tham gia các hoạt động kinh tế trong đó, còn có các nhân tố khác
cũng có ảnh hưởng không nh ỏ tới ho ạt động kinh t ế nói chung, phát tri ển kinh t ế
nông nghiệp nói riêng, đó là chủ thể Nhà nước và các tổ chức hiệp hội.
Nhà nước là ng ười ho ạch định chính sách phát tri ển toàn di ện của đất nước
trong đó có chính sách phát tri ển nông nghi ệp. Các chính sách trong l ĩnh vực nông
nghiệp phải phù hợp với thực tiễn, có tác d ụng khuyến khích sản xuất, kinh doanh
và xuất khẩu đối với từng mặt hàng nông sản cụ thể như: Gạo, muối, đường, rau quả
sạch… Có ưu đãi về phí s ử dụng đất, thu ế giá tr ị gia t ăng, thu ế thu nh ập doanh
nghiệp nhằm khuyến khích các doanh nghi ệp đầu tư vào nông nghi ệp, nông thôn,
nhất là nh ững dự án nông nghi ệp công ngh ệ cao, d ự án ch ế bi ến nh ững nông s ản
thực phẩm, dự án tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập trong nông nghiệp, nông thôn...;
rà soát, loại bỏ những lệ phí, những khoản đóng góp chưa hợp lý.
Nếu các chính sách c ủa Nhà nước là ch ủ quan duy ý chí s ẽ gây ra nh ững tổn
thất to lớn không lường trước được. Trong nông nghi ệp, chính sách không phù h ợp
39
sẽ làm cho nó không có điều kiện phát triển, tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất sẽ
bị bỏ hoang, nông dân không thi ết tha đầu tư, tài nguyên thiên nhiên không được
quản lý, sử dụng có hiệu quả, tất yếu dẫn đến khủng hoảng kinh tế, gây mất ổn định
xã hội. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách đúng đắn, phù hợp quy luật khách quan,
tạo điều kiện và khuyến khích nông dân đầu tư vào và khai thác đất đai có hiệu quả.
Nhà nước còn ph ải làm tốt việc hoàn thi ện và tri ển khai th ực hiện quy ho ạch
sản xu ất nông nghi ệp tập trung, phát huy các ngu ồn lực và l ợi th ế vùng để đẩy
nhanh quá trình NNPTBV. Không th ể có PTBV trên nền tảng sản xuất nông nghiệp
thiếu quy ho ạch, không t ập trung. Vi ệc quy ho ạch, hình thành các vùng s ản xu ất
chuyên canh, tập trung quy mô l ớn sẽ giảm chi phí sản xuất, tập trung được đầu tư,
có điều kiện ứng dụng thành tựu KH-CN, CNH, nâng cao n ăng lực cạnh tranh, hiệu
quả sản xuất. Công tác quy ho ạch phát triển nông nghi ệp, nông thôn cần chú ý: Dự
báo nhu cầu thị trường, lợi thế cạnh tranh, khả năng phát triển KH-CN, công nghiệp
chế biến; gắn quy hoạch các vùng sản xuất với đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế và áp
dụng kỹ thu ật mới của nền nông nghi ệp sinh thái, nông nghi ệp sạch, bảo vệ môi
trường vào sản xuất; thực hiện sự kết hợp giữa quy ho ạch vùng sản xuất hàng hóa
nông nghi ệp với sản xu ất nông ph ẩm hàng hóa quy mô l ớn và phát tri ển công
nghiệp chế biến phù hợp.
Nhà nước phải có có cơ chế đặc thù hỗ trợ, thúc đẩy các vùng NNPTBV, g ắn
với chú trọng mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu các sản phẩm chế
biến và chế biến sản phẩm sạch.
Đây là một trong nh ững điều kiện quan tr ọng khuyến khích thúc đẩy chuyển
dịch thành công c ơ cấu kinh t ế nông thôn, góp ph ần thúc đẩy sản xu ất phát tri ển,
đồng th ời đẩy nhanh th ị tr ường tín d ụng. Kiên định mục tiêu chuy ển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn, không phát tri ển tràn lan "cây, con, s ản phẩm" theo phong trào
mà chỉ tập trung phát tri ển những sản phẩm từng địa phương, từng vùng có l ợi thế
so sánh, lợi thế cạnh tranh. Huy động mạnh mẽ sự tham gia c ủa công nghi ệp, KH-
CN, dịch vụ vào sản xuất và đặc biệt là tín d ụng cho phát tri ển các ngành trên. M ở
rộng thị trường tiêu th ụ sản phẩm ở trong nước và qu ốc tế, hướng tới đáp ứng nhu
cầu của thị trường.
Nông dân là l ực lượng chính, là ch ủ th ể quy ết định sự thành b ại của ch ủ
trương chính sách phát tri ển kinh t ế nông nghi ệp. Mu ốn NNPTBV ph ải nâng cao
40
nhận thức và trình độ sản xuất của nông dân, để nông dân tiếp cận và ứng dụng KH-
CN, công nghệ sinh học vào sản xuất để vừa có tăng trưởng, vừa thân thiện với môi
trường. Đồng thời, Nhà nước cũng phải quan tâm đến việc xây dựng nông thôn, xác
định xây dựng NTM là n ền tảng căn bản để nông nghiệp phát triển theo hướng bền
vững. Theo đó, gắn kế hoạch xây dựng NTM với phát triển vùng sản xuất hàng hoá
tập trung, bảo đảm sự phát triển nông nghiệp, nông thôn đồng bộ và bền vững. Mặt
khác, để xây dựng NTM tất yếu phải xây dựng, hoàn chỉnh các quy ho ạch chi tiết ở
các xã, huy động mọi ngu ồn vốn, th ực hi ện hi ệu qu ả các d ự án theo đúng quy
hoạch, chú tr ọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ đời sống, sản xuất, dồn
điền, đổi thửa, xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung v.v... Có thể
nói về cơ bản nội hàm xây d ựng NTM là s ự chu ẩn bị một cách c ăn bản các điều
kiện phục vụ NNPTBV. Và, NNPTBV ch ỉ có th ể đạt kết quả mong đợi khi ng ười
dân ngày càng g ắn bó v ới ho ạt động sản xu ất, kinh doanh trong l ĩnh vực nông
nghiệp. Chính vì v ậy, để NNPTBV cần chú trọng nâng cao đời sống của nông dân,
không ch ỉ về kinh t ế mà ph ải quan tâm các m ặt VH-XH, KH-CN. C ấp bách nh ất
hiện nay là giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động ở nông thôn, nhất là nông
dân không có vi ệc làm ở trong các vùng đô th ị hóa, khu công nghi ệp, th ực hi ện
chương trình xóa đói, giảm nghèo… giảm dần sự cách biệt về thu nhập và đời sống
giữa các t ầng lớp nhân dân ở thành th ị và nông thôn. Có chính sách đầu tư khôi
phục, mở rộng các làng ngh ề truyền thống ở các địa phương nhằm giải quyết việc
làm tại chỗ cho nông dân với phương châm "ly nông, bất ly hương".
Chính đặc tính liên k ết không cao trong s ản xu ất nông nghi ệp đã dẫn đến
những hạn chế nhất định trong phát huy vai trò c ủa chủ thể chính trong phát tri ển
nông nghiệp là nông dân. Do v ậy, nhằm khắc phục hiện thực này, rất cần có sự liên
kết giữa những chủ thể này. Và kinh nghi ệm thành công, c ũng như thất bại từ các
nước công nghiệp hoá đi trước đã chỉ ra rằng, cách duy nh ất để tồn tại và phát triển
là giai cấp nông dân phải huy động nguồn lực dồi dào nhưng phân tán của mình vào
tổ ch ức hi ệp hội quy c ủ. Hi ệp hội đó ph ải ho ạt động có hi ệu qu ả, đủ sức tổ ch ức
nông dân thành l ực lượng th ống nh ất; đủ mạnh để hỗ tr ợ phát tri ển nông nghi ệp
hiện đại, nâng cao đời sống nông dân. Trong đó, các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã
hội, xã hội nghề nghiệp phải đóng vai trò chủ đạo, thực sự là một tổ chức "của nông
dân, do nông dân và vì nông dân".
41
2.2.3. Tiêu chí đánh giá tính bền vững của nông nghiệp
2.2.3.1. Phương pháp đánh giá tính bền vững của nông nghiệp
Phương pháp đánh giá tính bền vững của nông nghiệp dựa trên hai cơ sở, đó
là: các tiêu chí định tính và các tiêu chí định lượng.
Các tiêu chí định tính để mô t ả tính ch ất và phân tích các đặc điểm, đặc
trưng cơ bản của sản phẩm nông nghi ệp, như: mức độ sạch của sản phẩm, trình độ
chuyên môn hóa, trình độ công ngh ệ,.... tiêu chí định tính có ưu th ế là ph ản ánh
đúng bản ch ất của vấn đề nh ưng th ường khó xác định trên th ực tế. Do đó, nó
thường làm cơ sở để tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng trong thực tế.
Các tiêu chí định lượng để thu thập dữ liệu bằng số trong nội bộ ngành nông
nghiệp, như: số lao động nông nghi ệp, tài sản, vốn, doanh thu, l ợi nhuận...tiêu chí
định lượng có thể chứng minh được trong thực tế và mang tính khách quan.
2.2.3.2. Tiêu chí và ch ỉ tiêu đánh giá tính bền vững của nông nghiệp
Với quan ni ệm mới về khái ni ệm và nội dung NNPTBV nh ư đã trình bày ở
trên ta có thể rút ra những tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá như sau:
- Tiêu chí đánh giá NNPTBV trên phương diện kinh tế
Mức độ đóng góp của sản phẩm nông nghiệp vào tăng trưởng kinh tế. Doanh
thu của mặt hàng nông sản là tiêu chí quan trọng, dễ đánh giá mức độ đóng góp của sản
phẩm nông nghiệp vào phát triển kinh tế. Chỉ số đo lường là việc duy trì tốc độ tăng
trưởng sản phẩm hàng hóa nông nghiệp cao, ổn định so với tốc độ tăng trưởng GDP.
Chất lượng sản phẩm nông, lâm, th ủy sản phải bảo đảm phát triển bền vững:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là yêu c ầu để đảm bảo tăng trưởng kinh tế theo hướng
CNH, HĐH và h ội nh ập sâu r ộng với khu v ực và th ế gi ới. Trong đó, quá trình
chuyển dịch cơ cấu hàng hóa nông s ản theo hướng nâng cao giá tr ị gia tăng, hiệu
quả, bền vững. Chỉ số đo lường thể hiện hàng hóa ở dạng thô theo ngành để phục vụ
nhu cầu nội địa và xuất khẩu, đặc biệt khi nước ta gia nhập TPP, xuất khẩu sang các
nước EU, Nhật, Mỹ (có th ể tính ở tiêu chí s ản phẩm đạt tiêu chu ẩn an toàn, ở trình
độ thấp có thể tính bằng tỷ lệ sản phẩm an toàn trên tổng số sản phẩm).
- Tiêu chí đánh giá NNPTBV trên phương diện xã hội
Mức độ cải thi ện đời sống của nhân dân t ừ PTBV s ản ph ẩm nông nghi ệp.
Các tiêu chí đo lường là mức thu nh ập bình quân đầu người trong nông nghi ệp so
với mức thu nhập bình quân của cả nước, tỷ lệ nghèo đói nói chung, tỷ lệ nghèo đói
ở khu vực nông thôn nói riêng.
42
Mức độ tạo việc làm từ việc mở rộng và nâng cao ch ất lượng sản xuất nông
nghiệp. Tiêu chí này th ể hiện ở việc tỷ lệ lao động có việc làm tăng thêm trong s ản
xuất nông nghiệp (kể cả việc làm mới).
Phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn g ắn với công b ằng xã h ội. Tiêu chí này
phản ánh sự tăng trưởng nông nghiệp, xây dựng đời sống NTM, góp ph ần giảm bớt
sự bất bình đẳng trong thu nh ập, đời sống tinh th ần, hưởng th ụ văn hóa, d ịch
vụ...đối với các tầng lớp dân cư, giữa các vùng, khu vực với nhau.
- Tiêu chí đánh giá NNPTBV trên phương diện môi trường
Mức độ cải thiện môi trường nhờ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Chỉ số đo
lường thể hiện ở mức độ ô nhi ễm do quá trình s ản xuất nông nghi ệp gây ra, nh ư:
nồng độ các thành phần không khí, nước, đất...
Mức độ đa dạng sinh học ở các khu vực sản xuất nông, lâm, thủy sản. Chỉ số
này phản ánh mức độ duy trì các nguồn tài nguyên tái tạo được, mức độ khai thác và sử
dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo được. Chỉ số đo lường thể hiện mức độ mở
rộng diện tích sản xuất nông nghiệp, chế biến lâm sản, nuôi trồng thủy hải sản...
Mức độ đóng góp của hàng hóa nông, lâm, thủy sản vào kinh phí bảo vệ môi trường.
* V ề mặt kinh tế, để thể hiện một nền NNPTBV người ta dùng chỉ tiêu:
EDP = GDP - (Giá tr ị cạn kiệt tài nguyên + Giá trị suy giảm môi trường)
- Đối với nền NNPTBV ở mức độ phát triển còn thấp thì nên dùng các chỉ tiêu:
Tỷ trọng giá trị sản phẩm đạt tiêu chuẩn EU và Mỹ (sản phẩm an toàn) trong
tổng sản phẩm.
Tỷ trọng nông trại, trang trại nông nghiệp sản xuất bền vững trong tổng số;
Tỷ trọng diện tích nông nghiệp sản xuất bền vững trong tổng diện tích trồng trọt;
Tỷ trọng trang trại chăn nuôi sản xuất bền vững trong tổng trang trại chăn nuôi;
Tổng giá trị tạo ra của nông nghiệp bền vững được tính như sau:
sth= GDP – PTng – PMTi – PCQ
GDP
Trong đó:
GDPsth: Sản phẩm quốc nội của nông nghiệp bền vững
GDP: Sản phẩm quốc nội thông thương trong nông nghiệp
PTng: Giá trị tài nguyên thông thương trong nông nghiệp PMTi: Giá trị môi trường thông thương trong nông nghiệp
PCQ: Giá trị cảnh quan thông thương trong nông nghiệp
43
- Với mỗi địa phương, tùy điều kiện phát triển cụ thể và mục tiêu hướng đến
của NNPTTHBV mà xác định các tiêu chí đánh giá, nhưng cần chú ý trên 2 phương
diện sau:
Thứ nhất, các tiêu chí trên được đánh giá ở mức độ cao về số tuyệt đối nếu
so với nông nghiệp bền vững nói chung ở cùng thời điểm.
Thứ hai, coi trọng hơn về các tiêu chí phản ánh mức độ tăng trưởng, tác động
của biến đổi khí hậu, chi phí trung gian cao (do chi phí vận chuyển, điều kiện địa lý,
thời tiết, thổ nhưỡng, nhân công…) [53].
2.3. KINH NGHI ỆM VỀ NÔNG NGHI ỆP PHÁT TRI ỂN BỀN VỮNG VÀ
BÀI HỌC ĐỐI VỚI CÀ MAU V Ề NÔNG NGHI ỆP PHÁT TRI ỂN THEO HƯỚNG
BỀN VỮNG
2.3.1. Kinh nghiệm về nông nghiệp phát triển bền vững của một số quốc
gia trên thế giới
2.3.1.1. Nông nghiệp phát triển bền vững theo cách làm của Hàn Quốc
Hàn Quốc được biết đến là một đất nước không có nhi ều thuận lợi cho phát
triển nông nghiệp do điều kiện tự nhiên khá khắc nghiệt, tài nguyên thiên nhiên rất hạn
chế, song đất nước này đã có những bước phát triển đáng khích lệ trên nhiều phương
diện, trong đó, phát tri ển nông nghi ệp một cách bền vững là một trong nh ững kinh
nghiệm đáng để nhiều quốc gia khác tham kh ảo. Có th ể khái lược cách làm của Hàn
Quốc để có nền nông nghiệp phát triển bền vững trên những phương diện sau:
Một là, thiết lập hệ thống quản lý nông nghiệp bền vững:
Nông nghiệp PTBV đã bắt đầu được chú ý ở Hàn Quốc vào cuối những năm
1970. Ngay từ đầu, các tổ chức tư nhân, nh ư Hiệp hội các trang tr ại lành mạnh và
Hiệp hội nghiên c ứu nghề nông tr ại hữu cơ (organic farming), ngh ề nông tr ại hữu
cơ đã bắt đầu như một phần của các phong trào tôn giáo. Hiện nay, đã có toàn bộ 13
nhóm tiến hành hoạt động về nông nghiệp bền vững thông qua các tổ chức của quốc
gia hoặc vùng. Các nhóm này bắt đầu tiến hành các hoạt động nông trại bằng việc tổ
chức hiệp hội những người sản xuất và tiêu dùng đối với các sản phẩm nông nghiệp
môi trường từ năm 1994.
Mặc dù có những hoạt động của các nhóm tư nhân như thế, nhưng Chính phủ
Hàn Quốc lại không hưởng ứng nền nông nghi ệp bền vững cho lắm. Bộ Nông lâm
và Thủy sản đã thành lập một ủy ban phát triển nghề nông trại hữu cơ từ năm 1991,
44
và đã sắp đặt các quy định quản lý ngh ề nông tr ại hữu cơ. Vào tháng 10 cùng n ăm
đó, bộ đã khởi động hệ thống cấp chứng chỉ các sản phẩm hữu cơ.
Khi các ch ất thải trong ch ăn nuôi tr ở thành vấn đề xã hội nghiêm tr ọng, bộ
đã hình thành Đạo luật liên quan đến việc đối xử với chất thải, rác vứt ra vào ban
đêm (night-soil) và n ước thải của chăn nuôi vào tháng 9 n ăm 1991. Đạo luật đó đã
được sửa đổi hai lần, vào năm 1993 và 1997, để tăng cường các quy định về quản lý
việc xử lý cụ thể và có thái độ rõ ràng đối với chất thải, rác thải vứt ra vào ban đêm
và nước thải của chăn nuôi và thiết lập các phương tiện cho việc đó.
Năm 1994, cu ối cùng thì b ộ cũng thi ết lập một vụ chuyên trách v ấn đề
NNPTBV. Vụ này được gọi là V ụ Nông nghi ệp bền vững, được giao nhi ệm vụ
hoạch định các chính sách v ề nông nghi ệp bền vững, khuyến khích và h ỗ trợ nghề
nông trại hữu cơ và tự nhiên. Từ năm 1995, vụ này đã bắt đầu có ch ương trình hỗ
trợ đối với các trang tr ại cỡ vừa và nh ỏ để sản xuất ra các s ản phẩm có ch ất lượng
cao. Dự án này có m ục tiêu hỗ trợ các trang tr ại tiến hành nông nghi ệp bền vững ở
những vùng, mà các ngu ồn nước ở đó được bảo vệ cho vi ệc sử dụng bằng đường
ống dẫn nước, và các vùng trung du. Đây là dự án đầu tiên được chính ph ủ hỗ trợ
cho việc khuyến khích nông nghi ệp bền vững. Tuy nhiên, chính ph ủ chưa có những
kế hoạch trung và dài hạn cho nông nghiệp bền vững.
Cuối năm 1995, bộ đã thành lập một ủy ban công tác v ề vấn đề hoạch định
chính sách nông nghi ệp bền vững để phát tri ển kế hoạch hỗn hợp và các h ệ thống
thích hợp đối với nông nghi ệp bền vững. Trên c ơ sở kết qu ả của ủy ban công tác
này, Chính ph ủ Hàn Qu ốc đã lập nên các k ế ho ạch trung và dài h ạn cho nông
nghiệp bền vững vào tháng 7-1996, và tri ển khai khung kh ổ chính th ức cho vi ệc
khuyến khích nông nghi ệp bền vững. Vào tháng m ười cùng năm đó, một kế hoạch
hành động cho chính sách nông nghiệp và môi trường cho thế kỷ XXI cũng đã được
thông qua. D ự án này đã được lên k ế ho ạch và b ắt đầu th ực hi ện theo k ế ho ạch
trung và dài hạn và kế hoạch hành động từ năm 1997.
Mặc dù đã có kế hoạch trung và dài hạn và kế hoạch hành động, nhưng công
luận lại chỉ trích gay gắt tình trạng thiếu những biện pháp chính th ức và thật cụ thể
để dự phòng cho các k ế ho ạch đó. Vào tháng 12-1997, Đạo lu ật về khuyến khích
nông nghiệp bền vững đã được ra đời. Mục đích của đạo luật này là theo đuổi một
nền nông nghi ệp bền vững thân thi ện với môi tr ường bằng cách đề cao ch ức năng
45
bảo vệ môi tr ường của nông nghi ệp, gi ảm ô nhi ễm môi tr ường do s ản xu ất nông
nghiệp gây ra, và khuy ến khích các ch ủ trang trại hướng tới nông nghiệp bền vững.
Đạo luật này mới xác định rõ khái ni ệm về một nền nông nghi ệp bền vững và quy
định vai trò của Chính phủ trung ương, chính phủ địa phương, chủ trang trại, và các
tổ chức tư nhân. Đạo luật này có hiệu lực từ ngày 14-12-1998.
Hai là, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Để giảm ô nhiễm môi tr ường gây ra b ởi các hóa ch ất nông nghi ệp, số lượng
các hóa ch ất sử dụng ph ải được cắt bớt bằng cách s ử dụng có hi ệu qu ả và th ận
trọng. Ch ương trình qu ản lý tích h ợp các loài gây h ại (IPM) đã được đưa ra để
khuyến khích vi ệc sử dụng có hi ệu quả các hóa ch ất. Trong một thời gian ng ắn từ
năm 1992 đã có h ơn 9.000 ng ười được đào tạo thành các hu ấn luy ện viên và các
chủ trang tr ại để áp d ụng ch ương trình IPM. Ch ương trình này kêu g ọi gi ảm số
lượng các bình phun hóa ch ất nông nghi ệp và kh ối lượng sử dụng xu ống còn 1/2
vào năm 2004 thông qua vi ệc kiểm soát một cách kinh t ế các bệnh và loài gây h ại
dựa trên cơ sở các cuộc thử nghiệm khoa học nghiêm ngặt và kiểm soát sinh học sử
dụng các kẻ thù tự nhiên. Các tiêu chu ẩn để sử dụng an toàn các hóa ch ất cũng sẽ
được xây d ựng, và m ột hệ th ống các quy định về hóa ch ất nông nghi ệp cũng sẽ
được áp dụng. Các hóa ch ất có nồng độ độc tố thấp và các hóa ch ất vi sinh cũng sẽ
được phát triển mạnh để hạn chế tối đa các tác hại do sử dụng hóa chất nông nghiệp.
Các phương pháp làm tăng độ màu mỡ đang được khuyến khích áp dụng dựa
trên cơ sở các kết quả khảo sát đất đai để giảm việc sử dụng các lo ại phân hóa h ọc
nhằm bảo vệ đất. Trên cơ sở kết quả khảo sát đất và dự báo cho dinh dưỡng của mỗi
loại cây tr ồng, các lo ại phân bón giàu khoáng ch ất sẽ được cung c ấp để bón m ột
cách tối ưu cho từng mảnh ruộng riêng bi ệt. Hiện nay, có một kế hoạch đang được
xây dựng để thi ết kế một hệ th ống qu ản lý tích h ợp ch ất dinh d ưỡng (INM). Các
phân bón mới và các phương pháp bón phân hợp lý cũng đang được phát triển. Nếu
các loại phân bón có độ phóng thích chậm được sử dụng, thì việc sử dụng phân bón
có thể giảm đi 30% do sự hao phí phân bón sẽ giảm đi đáng kể.
Bởi vì, rất khó có thể giảm các chất thải chăn nuôi phát thải ra trong bối cảnh
hiện nay, những cố gắng đều được tập trung vào việc tăng cường các biện pháp tăng
tỷ lệ xử lý rác th ải ch ăn nuôi và chuy ển giao chúng đến các ngu ồn gây ô nhi ễm.
Chính phủ đang mở rộng các nguồn vốn để xây dựng các thiết bị xử lý nhằm tăng tỷ
46
lệ xử lý rác th ải ch ăn nuôi. Để vận hành có hi ệu qu ả các thi ết bị xử lý này, công
việc đào tạo thêm trình độ cho các chủ trang trại cũng sẽ được tăng cường, và chính
các thiết bị này cũng sẽ được giám định kỹ càng. Rác th ải trong ch ăn nuôi sẽ được
sử dụng để sản xuất các loại phân hữu cơ. Nguồn cung của các vật liệu thứ cấp, như
mùn cưa và rơm rạ là vật liệu xúc tác c ần cho vi ệc làm bi ến đổi các ch ất thải vào
các nguồn, cũng sẽ được sử dụng rộng rãi. Vật liệu thay thế đối với các chất xúc tác
này cũng đang được sản xuất ở Hàn Quốc.
Giá của mỗi đơn vị thu gom nh ựa và các chai l ọ hóa ch ất sẽ tăng lên để có
một mức độ thích hợp trong vi ệc khuyến khích thu gom các lo ại rác th ải dạng này.
Nguồn tái sinh của Hàn Quốc và hiệp hội tái sử dụng thu gom chúng hai đợt trong một
năm, vào mùa xuân và mùa tuyết rơi. Chính phủ áp dụng hệ thống ký quỹ và hình phạt
đối với dầu bôi trơn và các chất thải của hóa chất chống đông trong các linh kiện vứt bỏ
của máy nông nghiệp để khuyến khích việc xúc tiến xử lý chúng bằng cách cho phép
những người có mục đích tái sử dụng các loại rác th ải này. Chính phủ còn có vai trò
trong việc xây dựng trung tâm xử lý các máy nông trại loại thải, ở đó các máy loại thải
được phân lo ại, tháo dở và ép l ại. Chính ph ủ cũng cung cấp vốn ưu đãi cho các ch ủ
trang trại xử lý các máy móc không còn dùng được, cho việc mua các máy móc nông
trại mới. Do vật liệu nhựa nông nghiệp bằng sinh học có th ể phân hủy sẽ được phát
triển, nên ô nhiễm gây ra bởi rác thải nhựa sẽ bị giảm đi đáng kể.
Các thiết bị xử lý rác th ải nông thôn đang được mở rộng. Các thi ết bị xử lý
rác thải trong các hộ gia đình được mở rộng từ năm 1994, tập trung vào các vùng đã
được chọn lựa cho các dự án phát tri ển làng văn hóa. Khoảng 772 thiết bị xử lý rác
thải đã được bố trí từ năm 2004.
Ba là, duy trì và cải thiện các nguồn lực
Đất trồng trọt của Hàn Quốc có độ chua cao, nh ưng hàm lượng các chất hữu
cơ và axit si-lic thì lại ở mức thấp. Axit si-lic được cung cấp cho những đồng lúa mà
hàm lượng axit si-lic có kho ảng 130 ppm ho ặc thấp hơn, và vôi được cung cấp cho
đất đồi mà độ chua của chúng là 6,5 pH ho ặc thấp hơn. Chính phủ Hàn Quốc đã lập
kế hoạch xây dựng các dự án cải tạo đất cho toàn bộ đất trồng trọt ít nhất 6 năm một
lần. Đối với đất trồng trọt có năng suất thấp hoặc đất bị ô nhiễm, đất được lấy từ các
vị trí khác c ũng được tính vào, n ếu hàm lượng đất sét đạt đến 15%. Từ năm 1997,
dự án cải tạo đất cũng được áp dụng cho đất trồng trọt ở các vùng ph ụ cận các mỏ
47
đã ngừng khai thác, đất này cũng có thể được cải tạo. Dự án cải tạo sẽ được thiết kế
cho 200 ha đất trồng trọt bị ô nhiễm bởi kim loại nặng cho đến cuối năm. Việc xây
dựng các dự án kiểu như thế này rất hiệu quả nên sẽ còn được tiếp tục. Những hành
động chưa được đưa ra với đầy đủ mức độ của chúng để đề phòng mất đất từ đất
dốc, nhưng các dự án có mô hình cỡ nhỏ hiện cũng đang được tổng kết.
Để qu ản lý được ch ất lượng nước nông nghi ệp, các địa điểm được đo ch ất
lượng nước đã được tăng lên đáng kể từ 161 lên 534 địa điểm vào năm 2000. Chúng
đóng vai trò nh ư một bộ phận của dự án cải tạo chất lượng nước, các tiêu chu ẩn về
nước cũng được thi ết lập một cách chi ti ết, đội trông nom v ấn đề ô nhi ễm nước
được tổ chức ra cho từng đơn vị hành chính ở cấp huyện. Thêm vào đó, các hiệp hội
khuyến nông và khuy ến lâm lên k ế ho ạch xây d ựng các nhóm đặc nhi ệm về ô
nhiễm để thu thập các trường hợp bị gây hại do ô nhiễm nước và cung cấp các công
nghệ để phục hồi nước ô nhiễm.
Để cung c ấp nước sinh ho ạt cho gia đình đến các vùng nông thôn, mà các
vùng này bị nằm ngoài các dự án của thành phố và các ống cung cấp nước cấp vùng,
các ống nước sẽ được khoan vào các nguồn nước ngầm tại 5.000 làng vào năm 2004 và
2005. Đường kính của ống nước là 200 mm, và được khoan sâu 150 - 200 m dưới mặt
đất. Dự kiến lượng nước cung cấp hàng ngày sẽ là 150 tấn cho mỗi giếng.
Để đáp lại khung khổ của Liên hợp quốc trong Công ước về thay đổi khí hậu
(UNFCCC), mà công ước đó đến nay vẫn đang được tiếp tục đàm phán, Chính ph ủ
Hàn Quốc lên kế hoạch thiết kế các thi ết bị có th ể sử dụng để đo lượng khí mê-tan
phát thải ra b ởi nông nghi ệp. Chính ph ủ đồng thời cũng có k ế ho ạch áp dụng các
biện pháp để cắt bớt lượng phát th ải khí mê-tan. Vùng đất khô dành cho vi ệc gieo
trực ti ếp sẽ được mở rộng từ 57.000 ha lên 500.000 ha vào n ăm 2004, 2005. Để
giảm khí mê-tan phát th ải do vật nuôi, định lượng số đầu gia súc cho m ỗi loài cũng
được xác định. Các vật liệu hóa chất sử dụng trong việc ngăn chặn phát thải của khí
gây lên men trong bộ máy tiêu hóa của vật nuôi cũng được phát triển.
Bốn là, thúc đẩy sự tiến bộ của các dự án khuyến khích nông nghiệp bền vững
Các ch ương trình tr ợ giúp các trang tr ại cỡ vừa và nh ỏ trong vi ệc sản xu ất
các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao đã được khởi xướng từ năm 1995. Dự
tính đến năm 2004, tổng toàn bộ 1.000 tổ hợp ở trên tất các vùng với trên 10.000 ha
đã được tạo ra để sản xu ất các s ản ph ẩm nông nghi ệp ch ất lượng cao, và kho ảng
48
10.000 hộ dự ki ến sẽ tham gia các d ự án này. Hàng n ăm, có tất cả 100 t ổ hợp sẽ
được lựa chọn, và mỗi tổ hợp sẽ được cung cấp một khối lượng tiền khoảng 1,75
triệu Won và cho vay kho ảng 2,5 triệu Won. Mục tiêu của việc trợ giúp bao gồm cả
sản xuất và ti ếp thị các ph ương tiện và thi ết bị cho nông nghi ệp bền vững, như các
thiết bị sản xuất vi sinh tự nhiên, kho thóc và nhà kính, thi ết bị làm lạnh và các loại
xe làm lạnh.
Từ năm 1995, dự án khuyến khích nông nghi ệp bền vững đã được thực hiện
ở các vùng mà ở đó các ngu ồn nước đã được bảo vệ cho vi ệc sử dụng như là nước
có hệ thống đường ống. Hiện nay, dự án này được triển khai tại 5 vùng, bao g ồm
Paldang và Andong, đều có chính quy ền địa ph ương và các hi ệp hội hợp tác xã
(HTX) nông nghi ệp tham gia. D ự án này h ỗ trợ sản xuất, tiếp thị và bán s ản phẩm
của nông nghiệp bền vững với mục đích cung cấp nước sạch và các sản phẩm nông
trại tươi sống cho người tiêu dùng trong vùng.
Các vùng có s ố lượng tới 1 tri ệu ha thì được ch ỉ định là nh ững vùng được
bảo vệ môi tr ường cấp quốc gia, bao g ồm những vùng mà ở đó các ngu ồn nước đã
được bảo vệ cho vi ệc sử dụng như là nước có hệ thống đường ống, vùng Paldang,
vùng Daechong và các v ườn tự nhiên. Toàn b ộ quy mô c ủa đất tr ồng tr ọt tại các
vùng này là 79.000 ha, và s ố các h ộ trang tr ại là 57.000. Vi ệc bắt bu ộc ph ải ch ịu
một giới hạn về bảo vệ môi trường trong vùng đang làm tổn hại đến lợi ích của các
chủ trang trại, nhưng họ không được đền bù một cách thỏa đáng. Chính phủ Hàn Quốc
có kế ho ạch sử dụng hệ th ống thanh toán tr ực tiếp cho các ch ủ trang tr ại, bao gồm
những hộ nằm trong vùng bảo vệ môi trường, chuyển sang nông nghiệp bền vững trong
sự bù lại đối với việc bảo vệ môi trường. Hệ thống này đã được sử dụng như là dự án
thí điểm từ năm 1999, và tiếp tục được nhân rộng ra các địa phương khác.
2.3.1.2. Nông nghiệp phát triển bền vững mang đặc sắc Ixrael
Nói đến Israel là ng ười nghe th ường ngh ĩ ngay đó là m ột qu ốc gia có n ền
nông nghi ệp phát tri ển ở trình độ cao. B ất ch ấp điều ki ện địa lý không thích h ợp
cho nông nghi ệp, Israel vẫn là m ột nhà xu ất kh ẩu lớn của th ế gi ới về nông sản và
đứng hàng đầu về công ngh ệ trong nông nghi ệp. Bởi vậy, học hỏi kinh nghi ệm
trong phát tri ển nông nghi ệp không th ể không bi ết đến các kinh nghi ệm của qu ốc
gia này để kiến tạo nền nông nghiệp bền vững. Những kinh nghiệm đó có thể kể đến
bao gồm:
49
Thứ nh ất, áp d ụng công ngh ệ cao trong s ử dụng nước tưới nông nghi ệp.
Ixrael một đất nước không có tài nguyên n ước nh ưng lại có công ngh ệ ti ết ki ệm
nước, xử lý n ước rất tốt để ph ục vụ cho phát tri ển nông nghi ệp xanh. Đó là cách
người Do Thái làm giàu từ bàn tay trắng hay nói nôm na là "tay không bắt tiền".
Là một đất nước nửa sa mạc ở Trung đông, diện tích chỉ rộng khoảng 25.000
km2, dân số hơn 7 tri ệu người, đất canh tác r ất ít, ch ỉ chiếm 18,3% tổng diện tích,
không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, lượng mưa ít, nhưng Ixrael có nền kinh tế
phát triển với trình độ cao. Riêng lĩnh vực nông nghiệp, Ixrael không những sản xuất
đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp và công nghệ
phục vụ sản xuất nông nghiệp ra thế giới. Một trong những công nghệ đó là nhà máy
sản xuất phụ kiện nối ống PE (dùng trong lĩnh vực cấp thoát nước), tất cả các khâu sản
xuất hoàn toàn tự động từ nguyên liệu hạt nhựa PE đầu vào… cho đến đóng thùng -
dán nhãn nơi xuất đến… và chuyển lên kệ chứa chờ ngày xuất kho.
Thứ hai, phát triển nông nghiệp công nghệ cao là ưu tiên hàng đầu
Kinh nghi ệm quan tr ọng nh ất của Israel để xây d ựng được một nền nông
nghiệp hiện đại là hãy đầu tư cho KH-KT. Điều này không m ới, nhưng nếu không
có những quyết sách táo bạo, sự hỗ trợ của Chính phủ thì rất dễ rơi vào cảnh "đánh
trống bỏ dùi". Một con số dễ hình dung về năng lực của "cây đũa thần" khoa học. Năm
1950, một nông dân Israel cung cấp thực phẩm đủ cho 17 người, hiện đã là 90 người.
Một hecta đất hiện cho 3 triệu bông hồng, hay 500 tấn cà chua/vụ. Một con bò cho tới
11 tấn sữa/năm, mức năng suất mà không một nước nào trên thế giới có được [67].
Những thực tế của Ixrael đã đem lại một bài học khác v ề sự phối hợp: nhà
khoa học, nhà doanh nghi ệp có sự tách biệt khó phân định với nhà nông. Một trong
những lợi th ế của sự ph ối hợp gi ữa khoa h ọc và nhà nông t ại Israel là tính c ộng
đồng rất cao. Nhà khoa h ọc rất gần gũi với đồng ruộng và nhi ều trong số họ cũng
chính là nông dân ho ặc gi ữ vai trò t ư vấn tr ực ti ếp cho nông dân. Các trung tâm
nông nghiệp lớn, thậm chí cả các "làng nông nghiệp" (từ địa phương là kibbutz) đều
có sự xuất hiện của các phòng nghiên cứu hoặc đại diện của các viện khoa học [67].
2.3.1.3. Nông nghiệp phát triển bền vững theo cách làm của Thái Lan
Thái Lan là quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp và hiện nay, để hướng đến
một nền nông nghi ệp phát tri ển bền vững nước này đang thực hiện các chính sách
về nông nghiệp mang lại hiệu quả trên nhiều mặt có thể kể đến như sau:
50
Thứ nh ất, về chính sách tr ợ giá nông s ản, Thái Lan đang th ực hi ện tr ợ giá
cho nông dân trên các l ĩnh vực nông s ản ch ủ yếu nh ư sau: g ạo, cao su, trái cây...
Việc trợ giá nông s ản không ch ỉ thực hiện ở việc mua giá ưu đãi của nông dân mà
nông dân tr ồng lúa còn được hưởng những ưu đãi khác nh ư mua phân bón v ới giá
thấp, miễn cước vận chuyển phân bón, được cung cấp giống mới có năng suất cao,
được vay vốn lãi suất thấp từ ngân hàng nông nghiệp .v..v… Ngoài ra, Thái Lan cũng
có hỗ trợ về giá cho nông dân tr ồng 05 loại cây chủ lực là sầu riêng, nhãn, vải, măng
cụt và chôm chôm. Th ực hiện tốt chính sách hỗ trợ này chính phủ Thái Lan đưa các
chuyên viên cao cấp phụ trách chương trình với nhiệm vụ giám sát từ việc sản xuất,
phân phối, chế biến, giá cả cho đến tìm thị trường xuất khẩu mới.
Thứ hai , chính sách công nghi ệp nông thôn, Thái Lan v ốn là n ước nông
nghiệp truyền thống với số dân nông thôn chi ếm khoảng 80%. Do vậy, công nghiệp
nông thôn được coi là nhân t ố quan tr ọng giúp cho Thái Lan nâng cao ch ất lượng
cuộc sống của nông dân. Để th ực hi ện nhi ệm vụ này, chính ph ủ Thái Lan đã tập
trung vào các công vi ệc sau: cơ cấu lại ngành ngh ề phục vụ phát tri ển công nghi ệp
nông thôn, xem xét đầy đủ các ngu ồn tài nguyên, xem xét nh ững kỹ năng truyền
thống, nội lực tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và ti ếp thị. Cụ thể là Thái Lan đã
tập trung phát tri ển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông th ủy, hải sản phục
vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.
Công nghiệp chế biến th ực phẩm Thái Lan phát tri ển mạnh nhờ chính sách
ưu tiên phát triển nông nghiệp với mục đích nâng cao chất lượng các mặt hàng nông
sản gạo, dứa, tôm sú, cà phê bằng một chương trình "Mỗi làng một sản phẩm" (One
tambon, One product - OTOP) t ức là mỗi ngày làm ra m ột sản phẩm tiêu bi ểu, đặc
trưng và có chất lượng cao. Gắn liền với việc xem trọng chất lượng sản phẩm, chính
phủ Thái Lan cũng rất quan tâm đến chính sách đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Để thực hiện có hiệu quả chính sách này, chính ph ủ Thái Lan đã phát động chương
trình: "Thái Lan là bếp ăn của thế giới" với mục đích khuyến khích các nhà chế biến
và nông dân có nh ững hành động thiết thực có hiệu quả để kiểm soát chất lượng vệ
sinh thực phẩm đảm bảo cho xuất khẩu và người tiêu dùng.
Thứ ba , mở cửa th ị tr ường thích h ợp để thu hút đầu tư mạnh mẽ của nước
ngoài cho nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm. Chính phủ Thái
Lan đã có chính sách tr ợ cấp ban đầu cho các nhà máy ch ế biến và đầu tư trực tiếp
vào các cơ sở hạ tầng như cảng, kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và
51
phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở Thái Lan
xúc tiến công việc này là trách nhi ệm của Cục Xúc tiến Công nghiệp, Cục Xúc tiến
Nông nghi ệp, Cục Hợp tác xã, C ục Th ủy sản, cơ quan tiêu chu ẩn sản ph ẩm công
nghiệp trực thuộc Bộ Công nghiệp và Bộ Nông nghiệp.
2.3.1.4. Nông nghiệp phát triển bền vững theo cách làm của Trung Quốc
Sau cải cách mở cửa, chính sách kh ẳng định ch ủ th ể sản xu ất nông nghi ệp
chủ yếu là nông dân v ới nh ững cải cách kinh t ế ở nông thôn đã tạo ra b ước phát
triển vượt bật trong nông nghi ệp Trung Qu ốc. Nh ất là k ể từ khi gia nh ập WTO,
Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. Trước tiên,
có thể kể đến là chính sách đầu tư xây dựng một cơ chế để phát triển công nghiệp và
đô thị thúc đẩy phát tri ển nông nghi ệp. Sự phân ph ối thu nh ập quốc dân được điều
chỉnh tăng cho nông nghi ệp và nông thôn. H ỗ tr ợ từ vốn Nhà n ước tăng liên t ục.
Trung Quốc cũng rất quan tâm đến cải cách chính sách thuế. Nhiều loại thuế từ năm
2000 đến năm 2004 gi ảm chỉ còn một nửa, việc thiếu hụt ngân sách địa phương do
miễn gi ảm thu ế được trung ương bù. Trung Qu ốc mạnh dạn cắt gi ảm nhi ều lo ại
thuế, chỉ còn ba lo ại thuế chính: thuế nông nghi ệp, phí hành chính và phí th ực hiện
các công việc chung đã giảm bình quân 30% gánh nặng cho nông dân.
Trung Qu ốc là n ước th ực hi ện khá t ốt chính sách h ỗ tr ợ tr ực ti ếp cho s ản
xuất nông nghi ệp, đặc bi ệt là s ản xu ất lương th ực ở các vùng tr ồng lương th ực.
Ngoài ra còn h ỗ trợ cho mua h ạt giống chất lượng cao và máy nông nghi ệp, hỗ trợ
tư liệu sản xuất nông nghiệp. Để đảm bảo nguồn nhân lực, chính sách giáo dục nông
thôn Trung Quốc cũng rất chú trọng. Chính phủ áp dụng chính sách giáo dục bắt buộc
chín năm cho học sinh nông thôn và gi ảm dần gánh nặng giáo dục. Nhà nước đầu tư
nâng cấp các trường nông thôn. Nông dân phải được đào tạo để nâng cao trình độ kỹ
thuật và quản lý kinh tế. Chính sách tín dụng cho nông dân được thực hiện thông qua
thể chế tài chính cộng đồng, mở rộng tín dụng có thế chấp cho hộ nông dân và doanh
nghiệp hướng đến phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững [23].
2.3.2. Kinh nghiệm về nông nghiệp phát tri ển theo hướng bền vững khu
vực Đồng bằng sông Cửu Long
2.3.2.1. Mô hình tôm - lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long hướng đi mới
ứng phó với biến đổi khí hậu
Tại vùng ĐBSCL, hình thức nuôi tôm sú k ết hợp với trồng lúa thời gian qua
phát triển tương đối ổn định, thể hiện tính bền vững, hiệu quả, tăng trưởng nhanh về
52
diện tích, năng suất và sản lượng. Đây là mô hình s ản xuất thông minh, thân thi ện
với môi tr ường trong b ối cảnh tình hình d ịch bệnh trên tôm ngày càng di ễn bi ến
phức tạp, tác động bất lợi của biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt như xâm nhập mặn,
hạn hán, n ước bi ển dâng, môi tr ường bị ô nhi ễm. Nông dân thu v ề hai ngu ồn lợi
kinh tế chủ lực là tôm và lúa trên cùng di ện tích s ản xu ất với mức ổn định 60-70
triệu đồng/ha/năm, giúp xóa đói giảm nghèo nhanh, b ền vững hơn. Hiện nay, hình
thức nuôi ở nhiều tỉnh trong khu vực chủ yếu là luân canh một vụ tôm - một vụ lúa,
với tổng diện tích toàn vùng h ơn 160.000 ha, n ăng suất 300-500 kg/ha, s ản lượng
trên 60.000 tấn/năm. Các tỉnh nuôi tôm - lúa có di ện tích khá l ớn là Bạc Liêu, Sóc
Trăng, Cà Mau và Kiên Giang [91].
Việc đầu tư nuôi tôm - lúa th ấp, ít rủi ro và giá thành s ản xuất thấp hơn so
với nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh, tạo lợi thế tăng khả năng cạnh tranh trên thị
trường, chế biến xuất khẩu. Sản phẩm của hình thức canh tác này là s ản phẩm sạch
đang được ưa chuộng trên thị trường.
Đồng bằng sông Cửu Long có lợi thế về điều kiện tự nhiên với diện tích tôm
- lúa tiềm năng phát triển hơn 250.000 ha, tập trung ở các tỉnh ven biển trong vùng.
Trong kịch bản ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng của ĐBSCL thì mô
hình tôm - lúa được ưu tiên phát triển, nhằm thích ứng với xâm nhập mặn, hạn hán,
nước biển dâng. Đây là mô hình th ủy sản bền vững, giảm thấp rủi ro so v ới những
mô hình nuôi tr ồng khác c ần được quy ho ạch, đầu tư phát tri ển bài b ản và đúng
định hướng trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp [91].
Tuy nhiên, v ẫn còn nhi ều khó kh ăn, bất cập trong s ản xu ất tôm - lúa t ại
ĐBSCL. Nhiều địa phương chưa quy hoạch xong sản xuất tôm - lúa, h ệ thống thủy
lợi, cơ sở hạ tầng thi ếu đầu tư, tôm phát sinh d ịch bệnh và ch ết kéo dài, lây lan
nhưng ch ưa có bi ện pháp kh ắc ph ục hữu hi ệu. Hầu hết các địa ph ương ch ưa ch ủ
động được nguồn tôm giống, phải nhập từ ngoài vùng nhưng khó quản lý, kiểm soát
được chất lượng và giống trôi nổi mang mầm bệnh.
Công tác giám sát vùng nuôi, nh ất là khâu quan trắc, cảnh báo môi trường và
dịch bệnh phục vụ sản xuất tại nhiều địa phương còn ch ưa có ho ặc có nh ưng hoạt
động không hi ệu quả. Nông dân s ản xuất tôm - lúa ph ần lớn là tự phát, ch ưa được
trang bị về kỹ thuật, thiếu vốn đầu tư và thiếu giống lúa chịu mặn, năng suất cao để
gieo trồng. Theo Tổng cục Thủy sản, định hướng phát tri ển sản xuất tôm - lúa giai
53
đoạn 2016 - 2020, t ầm nhìn đến năm 2030 ở ĐBSCL là tăng năng suất tôm nuôi từ
500 kg/ha/v ụ/năm; năm 2020 nâng t ổng di ện tích tôm - lúa lên 200.000 ha, s ản
lượng tôm 100.000-120.000 t ấn/năm và n ăm 2030 là 250.000 ha, s ản lượng tôm
125.000-150.000 tấn/năm [91].
Theo khuy ến cáo t ừ Bộ Nông nghi ệp và Phát tri ển Nông thôn, các địa
phương trong vùng ĐBSCL cần chú trọng công tác quy ho ạch và thực hiện quản lý,
giám sát để đảm bảo đúng định hướng phát tri ển tr ọng tâm c ủa vùng; t ập trung
nguồn lực đầu tư th ủy lợi, phát tri ển cơ sở hạ tầng; tăng cường kỹ thu ật sản xu ất
tôm-lúa, nhất là khâu tôm gi ống chất lượng cao, lúa gi ống chịu mặn và hoàn thi ện
quy trình canh tác chuyển giao cho nông dân.
Công ngh ệ nuôi tôm - lúa c ần nghiên c ứu theo h ướng nâng cao ch ất lượng
sản ph ẩm "tôm s ạch - lúa th ơm", gi ảm thi ểu nh ững tác động tiêu c ực đến môi
trường. Mô hình này được xem là h ướng đi mới, phù hợp với nhiều tỉnh trong khu
vực, nhất là những tỉnh ven biển như Cà Mau.
2.3.2.2. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Trà Vinh
Tỉnh Trà Vinh là địa phương có sự chỉ đạo khá hiệu quả trong việc thực hiện
đồng bộ các chính sách để tái c ơ cấu ngành NNPTTHBV. Th ời gian qua, t ỉnh đã
xác định tập trung th ực hiện 10 chính sách, g ồm: chính sách tín d ụng phục vụ phát
triển nông nghiệp, nông thôn; hỗ trợ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa; hỗ trợ nhằm
giảm tổn th ất trong nông nghi ệp; phát tri ển th ủy sản; đào tạo ngh ề cho lao động
nông thôn; khuyến khích phát tri ển hợp tác, liên k ết sản xuất gắn với tiêu th ụ nông
sản; hỗ trợ nâng cao hi ệu quả chăn nuôi nông h ộ; hỗ trợ chuyển đổi trồng lúa sang
trồng màu; thu mua t ạm trữ lúa g ạo; hỗ tr ợ áp d ụng quy trình th ực hành sản xu ất
nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.
Hướng đến nền NNPTTHBV, Trà Vinh đã triển khai th ực hiện 5 chính sách
ưu đãi trong nông nghi ệp bao gồm: chính sách h ỗ trợ, khuyến khích phát tri ển hợp
tác xã; hỗ trợ đầu tư cho các hoạt động khuyến nông; hỗ trợ đóng mới, cải hoán tàu
cá khai thác hải sản xa bờ; hỗ trợ và quản lý đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ
tầng nông thôn và h ỗ tr ợ, khuyến khích phát tri ển sản xu ất lúa gi ống và lúa hàng
hóa chất lượng cao.
Cùng với đó, Ngân hàng Nhà n ước chi nhánh t ỉnh Trà Vinh, các t ổ chức tín
dụng trong tỉnh đẩy mạnh việc cho vay đối với các chương trình, dự án, chính sách
có liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn.
54
Thực hi ện chính sách tín d ụng ph ục vụ phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn,
đến nay các t ổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đã cho hơn 214.000 khách hàng vay
vốn với tổng dư nợ 7.634 tỷ đồng để phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Từ
nguồn vốn Trung ương phân bổ hơn 160 tỷ đồng về quản lý, sử dụng đất trồng lúa,
tỉnh đã hỗ trợ trực tiếp cho nông dân s ản xuất lúa hơn 80 t ỷ đồng. Số tiền còn lại
được đầu tư xây d ựng, duy tu b ảo dưỡng các công trình th ủy lợi, hỗ tr ợ các ho ạt
động khuyến nông, h ỗ tr ợ gi ống lúa ch ất lượng cao. Th ực hi ện chính sách h ỗ tr ợ
giảm tổn thất trong nông nghiệp, các tổ chức tín dụng đã cho 87 khách hàng vay với
tổng dư nợ hơn 35 tỷ đồng [91].
Đối với chính sách phát triển thủy sản theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP, Ủy ban
nhân dân (UBND) tỉnh đã phê duyệt 178 chủ tàu cá được hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm
thân tàu và 543 ngư dân được mua bảo hiểm thuyền viên, phê duyệt 33 hồ sơ được vay
vốn đóng mới tàu khai thác xa bờ với tổng số tiền cho vay hơn 117 tỷ đồng.
Từ chủ trương thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghi ệp, cơ cấu kinh tế nông
nghiệp của tỉnh Trà Vinh có s ự chuyển biến tích cực. Giá tr ị sản xuất ngành nông
nghiệp năm 2015 đạt 9.216 tỷ đồng, tăng 7% so với năm 2014, đây là mức tăng cao
nhất từ tr ước đến nay. Tuy v ậy, việc th ực hi ện tái c ơ cấu ngành nông nghi ệp của
tỉnh thời gian qua chưa tạo được những chuyển biến mạnh mẽ theo hướng nâng cao
giá trị gia tăng và PTBV và chưa tương xứng với tiền năng, thế mạnh của tỉnh [91].
2.3.2.3. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Bạc Liêu
Tỉnh Bạc Liêu được chia tách từ tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh Cà Mau - B ạc
Liêu vào năm 1997. NNPTTHBV ở tỉnh Bạc Liêu xác định trọng tâm là nâng cao
giá tr ị gia t ăng và PTBV, theo đó, mục tiêu quan tr ọng hàng đầu là duy trì t ăng
trưởng, nâng cao hi ệu qu ả và kh ả năng cạnh tranh thông qua t ăng năng suất, ch ất
lượng và giá tr ị gia tăng; chuyển dịch cơ cấu tổng sản phẩm nội ngành nông, lâm
nghiệp, thủy sản theo hướng duy trì mức tăng trưởng ổn định và phát triển.
Về nuôi trồng thủy sản: xúc tiến đầu tư xây dựng khu nông nghi ệp (thủy sản
nước lợ, mặn) ứng dụng công ngh ệ cao (quy mô 200 ha) và vùng nuôi tr ồng thủy
sản (quy mô 15.000 - 20.000 ha) ứng dụng công ngh ệ cao gắn kết chặt chẽ với chế
biến, tiêu th ụ và du l ịch sinh thái trên địa bàn tỉnh; tập trung đầu tư xây dựng hoàn
chỉnh kết cấu hạ tầng (thủy lợi, giao thông, l ưới điện, chợ thủy sản đầu mối) phục
vụ nuôi tr ồng thủy sản, nhất là các vùng nuôi tôm thâm canh - bán thâm canh t ập
55
trung, đảm bảo điều ki ện nuôi thâm canh, an toàn d ịch bệnh với quy mô kho ảng
15.000 ha; đầu tư xây dựng hoàn ch ỉnh kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư, hình thành
các vùng sản xuất giống thủy sản tập trung nh ằm chuẩn hóa cơ sở vật chất và quy
trình sản xu ất gi ống. Khuy ến khích nuôi thâm canh, áp d ụng quy trình th ực hành
nông nghiệp tốt (VietGAP, GlobalGAP) và th ực hiện Quy trình nuôi tôm khai báo
tại các địa bàn có nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh nh ằm tạo ra các vùng nuôi có
sản lượng hàng hóa lớn, có chất lượng cao và ổn định [91].
Về khai thác th ủy, hải sản: triển khai th ực hi ện có hi ệu qu ả Ch ương trình
khai thác hải sản trong chi ến lược phát tri ển kinh tế biển; thực hiện chuyển đổi đối
tượng, mùa vụ, ngư trường khai thác theo hướng khai thác các loại hải sản có giá trị
kinh tế cao, th ị trường tiêu th ụ tốt, đảm bảo ngu ồn nguyên li ệu ph ục vụ chế biến,
xuất khẩu; huy động mọi nguồn lực để đầu tư xây dựng đội tàu đánh bắt xa bờ có
công suất lớn, được đầu tư trang thi ết bị hiện đại để có th ể khai thác dài ngày trên
biển và nâng cao hi ệu quả khai thác hải sản trên các vùng bi ển xa, góp ph ần bảo vệ
chủ quyền quốc gia trên biển; xây dựng và nhân rộng mô hình liên kết giữa ngư dân
với các cơ sở, doanh nghi ệp thu mua, ch ế biến hải sản; tăng số lượng tàu làm d ịch
vụ trên biển; đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác s ử dụng các dự án khu neo đậu
tránh trú bão, cảng cá, từng bước xây dựng thương hiệu cho sản phẩm khai thác hải
sản, trước hết là các sản phẩm chủ lực của tỉnh như: mực khô, tôm khô, ruốc khô, cá
muối mặn.
Về trồng trọt: ổn định địa bàn sản xuất lúa gắn với đầu tư hoàn thiện kết cấu
hạ tầng, nh ất là h ệ th ống công trình th ủy lợi, th ủy nông n ội đồng, các tr ạm bơm
nước thực hiện điều tiết nước hợp lý, linh ho ạt gắn với điều chỉnh cơ cấu mùa v ụ
phù hợp với điều kiện sinh thái của từng tiểu vùng; tích cực xúc tiến tìm đối tác đầu
tư liên kết, ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông sản với nông dân, gắn
với phát tri ển kinh tế hợp tác, HTX, liên k ết sản xuất theo chu ỗi giá tr ị; từng bước
hình thành vùng s ản xu ất lúa hàng hóa ch ất lượng cao, lúa đặc sản, lúa ch ịu mặn
mang thương hiệu Bạc Liêu, bao g ồm vùng lúa ch ất lượng cao ph ục vụ xuất khẩu
50.000 ha thu ộc tiểu vùng gi ữ ngọt ổn định (trong đó có 10.000 ha ứng dụng công
nghệ cao); vùng lúa đặc sản "Một bụi đỏ" quy mô 35.000 ha thuộc tiểu vùng chuyển
đổi sản xu ất (trong đó có 20.000 ha ứng dụng công ngh ệ cao) và vùng lúa "Tài
nguyên Bạc Liêu" với quy mô 10.000 ha [91].
56
Về ch ăn nuôi : chuyển dịch cơ cấu ch ăn nuôi theo h ướng tăng tỷ tr ọng gia
cầm trong đàn vật nuôi; nâng cao ch ất lượng con giống, xây dựng các cơ sở an toàn
dịch bệnh, đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm; giám sát và kiểm soát dịch
bệnh có hi ệu quả; khuyến khích áp d ụng công ngh ệ cao, tổ chức sản xuất khép kín
hoặc liên kết giữa các khâu trong chu ỗi giá tr ị từ sản xuất giống, thức ăn, đến chế
biến để nâng cao n ăng su ất, rút ng ắn th ời gian nuôi, gi ảm chi phí giá thành ch ăn
nuôi, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng; phát triển chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm,
gây nuôi động vật hoang dã theo h ướng trang tr ại, công nghi ệp, bán công nghi ệp
(chiếm khoảng 15 - 20% t ổng đàn th ời điểm năm 2015 và kho ảng 30 - 40% t ổng
đàn vào năm 2020) gắn với các cơ sở giết mổ, chế biến và xử lý chất thải, đảm bảo
an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, nhanh chóng chuyển đổi chăn nuôi nhỏ, lẻ ở
hộ gia đình trong các khu dân c ư tập trung sang ph ương thức chăn nuôi trang tr ại,
gia trại an toàn sinh học ngoài khu dân cư [91].
Về lâm nghiệp: tiếp tục thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy về việc giao doanh
nghiệp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển Đông kết hợp với phát
triển du l ịch sinh thái; khuy ến khích các nhà đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du
lịch, xây dựng thêm một khu du lịch sinh thái (nh ưng không làm phá v ỡ cảnh quan
thiên nhiên) trên chân rừng phòng hộ ven biển từ Nhà Mát đến Gành Hào (kể cả đầu
tư khai thác các khu r ừng đã trồng của các tổ chức và cá nhân) để phục vụ du lịch;
phát triển và tăng cường quản lý hệ sinh thái rừng đặc dụng Vườn chim Bạc Liêu và
khu rừng ấp Canh Điền huyện Đông Hải theo hướng vừa bảo vệ quỹ gien, bảo đảm
đa dạng sinh h ọc, kết hợp du l ịch sinh thái; ch ủ động th ực hi ện công tác phòng
cháy, chữa cháy rừng, đảm bảo kịp thời xử lý các tình hu ống không để xảy ra cháy
rừng trên địa bàn tỉnh, nhất là khu vực Vườn chim Bạc Liêu.
2.3.2.4. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Kiên Giang
Kiên Giang là tỉnh có nhiều điểm tương đồng với tỉnh Cà Mau. NNPTTHBV
ở tỉnh Kiên Giang xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công
nghiệp - nông nghiệp. Để đạt được tăng trưởng bình quân 8%/năm từ năm 2015 đến
năm 2020 theo hướng chuyển dịch như trên, tỉnh đã có nhiều giải pháp chỉ đạo đồng
bộ và có bước đi phù hợp nên Kiên Giang là một trong ba tỉnh được xác định là trục
kinh tế trọng điểm của ĐBSCL (gồm Cần Thơ - Cà Mau - Kiên Giang).
Qua thực tiễn phát triển nông nghiệp của Kiên Giang, có thể nhận thấy một số
số kinh nghiệm quý trong xây dựng nền NNPTTHBV của địa phương này như sau:
57
Một là, khai thác hi ệu quả các ti ềm năng, lợi thế so sánh, đẩy mạnh chuyển
dịch cơ cấu kinh t ế nh ằm nâng cao ch ất lượng tăng tr ưởng, từng bước th ực hi ện
tăng trưởng xanh, hướng đến một nền NNPTTHBV.
Đối với nông nghiệp, tỉnh đã ổn định diện tích trồng lúa khoảng 365.000 ha;
chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng hiệu quả, chất lượng cao; xây dựng vùng lúa
chuyên canh tập trung chất lượng cao theo mô hình cánh đồng mẫu lớn theo hướng
hợp tác, liên k ết sản xu ất gắn với bao tiêu s ản ph ẩm; đẩy mạnh công tác khuy ến
nông, khuyến ng ư, chuyển giao ti ến bộ KH-CN; nâng cao ho ạt động của các lo ại
hình HTX, t ổ hợp tác; t ập trung phát tri ển công nghi ệp ch ế bi ến nông - th ủy sản,
công nghiệp cơ khí. Đầu tư phát tri ển các cụm công nghi ệp theo quy ho ạch, trong
đó hoàn thành 3 c ụm công nghiệp Vĩnh Hòa Hưng Nam, Lình Hu ỳnh và Hà Giang;
tập trung hoàn thành kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư vào 2 khu công nghiệp Thuận
Yên, Thạnh Lộc; phát triển thêm khu công nghiệp Xẻo Rô.
Hai là, phát triển đa dạng các ngành th ương mại, dịch vụ phục vụ khai thác
tiềm năng, thế mạnh trong nông nghiệp của tỉnh.
Phát triển các loại hình thương mại truyền thống và thương mại hiện đại, đẩy
mạnh xã hội hóa trong công tác phát tri ển hạ tầng nông thôn; khuy ến khích và t ạo
mọi điều kiện phát triển và nâng cao ch ất lượng các dịch vụ vận tải, bưu chính viễn
thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… Tập trung phát triển mạnh du lịch trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn.
Ba là, phát triển và đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hợp lý, an toàn, hiệu quả.
Duy trì tăng trưởng tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên nh ư nông nghi ệp,
nông thôn, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công
nghệ cao, các ch ương trình th ực hi ện mục tiêu qu ốc gia theo ch ỉ đạo của Chính
phủ,… Ngành tài chính đảm bảo cân đối ngân sách nh ằm hỗ tr ợ, phát tri ển nông
nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng NTM.
2.3.3. Bài học đối với Cà Mau về nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững
Trên cơ sở kinh nghi ệm của một số nước trình bày ở trên, có th ể rút ra m ột
số bào học kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung, Cà Mau nói riêng v ề nông nghiệp
phát triển theo hướng bền vững như sau:
Bài học thứ nhất: phải coi NNPTTHBV là yêu c ầu, điều kiện bắt buộc, đáp
ứng những đòi hỏi khách quan, có ý ngh ĩa vô cùng quan tr ọng đối với địa phương,
nên cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mỗi người dân.
58
Trong thực tế, có nhi ều hình th ức tổ chức sản xuất khác nhau nh ư nông tr ại,
trang trại, trang trại liên doanh, trang trại cổ phần…nhưng từ thực tế ở Cà Mau hình
thức sản xu ất theo ki ểu nông tr ại là ph ổ bi ến nh ất. Nông tr ại gia đình ch ứa đựng
nhiều yếu tố tự thân, phù hợp với điều kiện sinh học, quy mô sản xuất nông nghiệp
ở Cà Mau. Nông tr ại gia đình ở Cà Mau là hình th ức sản xuất chủ yếu, phổ biến,
phù hợp với trình độ canh tác, quy mô v ốn, đất nông nghiệp giao quyền sở hữu cho
nông dân nên mô hình nông tr ại gia đình là mô hình NNPTTHBV c ủa tỉnh có th ể
phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới.
Bài học thứ hai: hỗ trợ tích cực cho nông dân chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
và chuyển đổi hình thức sản xuất ở nông thôn.
Nông nghiệp tỉnh Cà Mau th ời gian qua có b ước tiến bộ như tăng trưởng về
diện tích, qui mô, s ản lượng, giá tr ị, thậm chí nhi ều nông dân ở Cà Mau đã làm ra
các nông sản xuất khẩu sang thị trường các nước, nhưng về cơ bản thì cơ cấu nông
nghiệp của tỉnh phát triển còn chậm, vẫn chưa có nhiều thay đổi về chất. Sản phẩm
nông nghi ệp do nông dân làm ra được các doanh nghi ệp thu mua xu ất kh ẩu dưới
dạng thô hoặc sơ chế, hàm lượng dinh dưỡng thấp, giá trị hàng hóa vẫn còn bị thua
thiệt. Do vậy, bài học là tới đây tỉnh cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng
nông nghi ệp công ngh ệ cao, giá tr ị cao, c ần ph ải chú tr ọng đầu tư nghiên c ứu và
khuyến khích chuyển giao sử dụng các kết quả KH - CN trong nông nghi ệp, nhất là
công nghệ sinh học.
Phát triển nông nghiệp ngày nay không ch ỉ là áp dụng những tiến bộ của công
nghệ thông tin, t ự động hóa vào ch ăn nuôi và tr ồng trọt, mà còn ph ải thay đổi các
qui trình và công nghệ, qui luật sinh học, tạo ra các cây công nghiệp ngắn ngày, cho
năng suất, chất lượng cao có kh ả năng chống chịu thời tiết khắc nghiệt do bi ến đổi
khí hậu và có sức kháng bệnh tốt. Có như thế tỉnh mới có một nền nông nghiệp cao
và cũng đồng nghĩa chất lượng sản xuất và đời sống nông dân ở bậc cao, phát tri ển
theo hướng bền vững. Để thực hiện hiệu quả từ bài học này ch ỉ ra thì chính quy ền
phải có chính sách h ỗ tr ợ nông dân cách s ử dụng công ngh ệ sinh h ọc từ nh ững
nguyên liệu sẵn có ở địa phương như mía, sắn, ngô, khoai dùng cho công ngh ệ sinh
học, thậm chí là các ch ất tưởng như bỏ đi cũng có th ể dùng vi sinh v ật tạo ra năng
lượng như rơm, rạ, lau sậy, mùn cưa, .v..v...Ở đây chính quy ền cần có trách nhi ệm
chuẩn bị tốt kiến thức để nông dân bắt kịp với nền nông nghiệp hiện đại.
59
Bài học thứ ba: phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với phát triển nông thôn.
Kinh tế nông nghiệp của Cà Mau chủ yếu là tổ chức sản xuất theo lối truyền
thống, chậm đổi mới, hiệu quả thấp. Từ các mô hình kinh t ế mang lại hiệu quả cao,
bền vững, sẽ là cơ sở để phát tri ển kinh tế nông nghi ệp của tỉnh phát tri ển tốt hơn
trong thời gian tới. Quá trình đó có sự gắn kết hài hòa gi ữa phát tri ển kinh tế nông
nghiệp với đời sống nông thôn. Tập trung giải quyết các vấn đề nông thôn đang đặt ra,
như: điều kiện giáo dục, chăm sóc y tế, văn hóa tinh th ần; các vấn đề lao động, việc
làm, tay nghề, thu nhập; an ninh nông thôn, trật tự, an toàn xã hội; giữ gìn và phát huy
các giá tr ị truyền th ống, tập tục của cư dân. Đặc bi ệt, là sự chuyển giao ứng dụng
những tiến bộ KH - CN vào s ản xuất và đời sống, chuyển đổi ngành nghề, phát triển
công nghiệp và dịch vụ trong nông nghiệp một cách hiệu quả, theo hướng bền vững.
Bài học thứ tư: cần có biện pháp hỗ trợ có hiệu quả cho nông dân.
Cũng như những địa phương khác, trong cơ chế thị trường nông dân Cà Mau
luôn là ng ười chịu thiệt và yếu thế trước sự cạnh tranh ngày càng kh ốc liệt. Trong
sản xu ất, sự rủi ro vì bi ến động giá c ả và th ời ti ết, vi ệc đầu tư cho nông nghi ệp
mang lại lợi nhu ận th ấp ít h ấp dẫn các nhà đầu tư là nh ững rào c ản lớn đối với
ngành nông nghiệp, trong khi sản phẩm do người nông dân làm ra luôn đóng vai trò
thiết yếu của đời sống xã hội. Cho nên, chính quy ền địa phương cần linh hoạt trong
vận dụng chủ trương của Chính phủ trong việc thực hiện chính sách ưu đãi, trợ cấp,
trợ giá cho nông dân, nhất là các mặt hàng xuất khẩu mà tỉnh có thế mạnh.
Mặt khác, tỉnh cần tập trung phát triển hạ tầng kỹ thuật thủy sản và mở mang
giao thông nông thôn, đào tạo và nâng cao dân trí, chuy ển dịch lao động nông thôn,
chuyển giao ứng dụng KH - CN h ỗ tr ợ cho vùng khó kh ăn, chi tr ả tr ực ti ếp cho
người sản xuất, trợ cấp chi phí ti ếp thị và vận chuyển trong và ngoài n ước. Hỗ trợ
để thu hẹp khoảng cách thu nh ập và mức sống giữa nông thôn và thành th ị thông
qua các ch ương trình lớn của Chính ph ủ, xem đó là ch ất xúc tác để phát huy hi ệu
quả của các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Bài học th ứ năm: Để NNPTTHBV không ch ỉ ch ọn hình th ức tổ ch ức sản
xuất phù hợp mà còn phải chủ động nguồn lực để đáp ứng những hình thức tổ chức
sản xuất khác nhau.
Nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững gắn li ền với quá trình CNH,
HĐH với trình độ phát tri ển từ thấp đến cao, đó là xu h ướng phát tri ển của nhiều
60
nước. Dù ph ương hướng sản xuất, kinh doanh ở trình độ nào, thì gi ải quyết vấn đề
nguồn lực, đặc biệt là ngu ồn nhân l ực vẫn là đòi hỏi và điều ki ện tiên quy ết. Với
điều ki ện th ực tế của tỉnh Cà Mau vi ệc gi ải quy ết hài hòa các m ối quan h ệ, các
nguồn lực theo k ế ho ạch có ý ngh ĩa rất quan tr ọng trong chuy ển dịch cơ cấu sản
xuất, xác định mô hình t ăng tr ưởng theo c ơ cấu lại nền nông nghi ệp phù h ợp với
yêu cầu mới. Mặt khác, đây cũng là cách ch ủ động trong s ản xu ất tr ước bi ến đổi
ngày càng khó l ường của khí hậu, thời tiết, thiên tai, d ịch bệnh gây bất lợi đối với
nền nông nghiệp của địa phương và cả vùng ĐBSCL.
Bài học thứ sáu: phát triển nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường, sinh thái.
Nông nghiệp phát tri ển mang lại giá tr ị kinh t ế cao và b ền vững là yêu c ầu
không chỉ để đáp ứng cho hi ện tại mà còn đảm bảo cho sự lâu bền của tương lai.
Chính vì th ế, nh ững mô hình kinh t ế xanh, nông nghi ệp sạch, mô hình phát tri ển
thân thiện với môi tr ường được các nhà qu ản lý, các nhà khoa h ọc khuyến cáo. Tài
nguyên thiên nhiên là có h ạn, cho nên để đảm bảo tính bền vững của các thế hệ rất
cần đến một cách qu ản lý, đầu tư, sản xuất kinh doanh có trách nhi ệm, đó là cơ sở
cho sự ổn định an ninh lương thực quốc gia, góp phần vì sự phát triển của con người
và xã hội.
61
Chương 3
THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
Ở TỈNH CÀ MAU
3.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN NÔNG
NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên
- Vị trí địa lý: Cà Mau là m ột trong 13 t ỉnh thuộc ĐBSCL, qua nhi ều lần chia
tách, sáp nh ập, tỉnh Cà Mau được tái l ập vào ngày 01.01.1997. T ỉnh nằm ở cực Nam của Tổ quốc, có di ện tích tự nhiên 5.195 km 2, chiếm 1,58% di ện tích cả nước
và chiếm 13,6% di ện tích của ĐBSCL, cách thành ph ố Hồ Chí Minh 380 km, cách
thủ đô Hà Nội 2.085 km; phía B ắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh
Bạc Liêu, phía Đông giáp bi ển Đông và phía Tây giáp v ịnh Thái Lan; có chi ều dài bờ biển 254 km, là một ngư trường rộng lớn hơn 100.000 km2 thuộc đặc quyền khai
thác của Việt Nam. Đơn vị hành chính c ủa tỉnh có 8 huy ện và 01 thành ph ố, gồm:
Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc
Hiển và Thành phố Cà Mau [21].
- Khí h ậu, thời tiết: Vùng đất Cà Mau có khí h ậu nhiệt đới gió mùa ổn định
và mang tính đặc trưng phân mùa rõ r ệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10,
mùa khô t ừ tháng 11 đến tháng 4 n ăm sau. L ượng mưa trung bình kho ảng 2.400
mm, trong đó mùa mưa chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm. Nhiệt độ trung bình trong năm là 26,50c; số giờ nắng trung bình năm đạt 2.500 giờ [21].
- Địa hình, thổ nhưỡng: Là vùng đất mới bồi tụ, được hình thành bởi 2 dòng
hải lưu ở Biển Đông và vịnh Thái Lan, đón nhận phù sa của sông Cửu Long bồi đắp
dần theo năm tháng tạo nên. Vì là vùng đất do phù sa l ắng đọng, bồi cao dần, nên
độ cao không chênh lệch mấy so với mặt nước biển; phần lớn đất đai là đồng ruộng
lầy trũng và có nhi ều rừng thiên nhiên ng ập nước rộng lớn, từ đó, tạo ra lợi thế về
trồng tr ọt, ch ăn nuôi và nuôi tr ồng th ủy sản. Lợi th ế này cho phép Cà Mau phát
triển nông, lâm nghiệp đa dạng kết hợp với nuôi trồng và khai thác thủy hải sản ven
bờ, ngoài khơi với quy mô và tốc độ khá nhanh [21].
62
Biển Đông
Hình 3.1: Bản đồ địa lý hành chính tỉnh Cà Mau
Nguồn: [21].
- Tài nguyên thiên nhiên
+ Tài nguyên đất
Tỉnh Cà Mau có 519.501 ha di ện tích đất tự nhiên. Trong đó di ện tích đất
nông nghi ệp là 462.708 ha, chi ếm 67,63%; di ện tích đất lâm nghi ệp có r ừng là
104.816 ha, chi ếm 20,17%; di ện tích đất chuyên dùng là 17.072 ha, chi ếm 3,28%;
diện tích đất ở là 5.502 ha, chiếm 1,05%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá
là 40.773 ha, chiếm 7,84%. Nhìn chung đất ở Cà Mau thuận lợi cho nuôi trồng thủy
sản nhưng ít thuận lợi cho trồng trọt, nhất là canh tác trong điều kiện nhờ nước mưa
và luôn chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn, đặc biệt là khi chuy ển đổi nuôi tôm đã
làm tái nhiễm mặn cả đất ruộng và đất vườn mà hàng trăm năm trước đây nông dân
và chính quyền địa phương đã đầu tư ngăn mặn, giữ ngọt, cải tạo đất để trồng trọt.
Đây là m ột trong nh ững căn cứ quan tr ọng để bố trí s ử dụng đất phát tri ển ng ư,
Đất chưa s ử dụng 8.543ha
Đất phi nông nghiệp 58.236 ha
Đất nông nghiệp 462.708 ha
nông, lâm nghiệp tỉnh Cà Mau trong thời gian tới [21].
Hình 3.2: Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 của Cà Mau
Nguồn: [21].
63
+ Tài nguyên nước
Theo kết quả điều tra, nước ngầm ở tỉnh Cà Mau có trữ lượng lớn, chất lượng
đảm bảo cho sinh ho ạt và sản xuất nông- công nghi ệp. Có 7 t ầng chứa nước dưới đất với tổng tr ữ lượng ti ềm năng kho ảng 6 tri ệu m3/ngày. Hi ện nay nước ng ầm ở tỉnh đang khai thác chủ yếu ở tầng II, tầng III và tầng IV (đối với giếng nước lẻ của hộ dân ch ủ yếu khai thác ở tầng II và t ầng III). Ngoài các gi ếng nước công nghi ệp
tại thành phố Cà Mau, các th ị trấn huyện lỵ, các nhà máy, l ượng giếng nước khoan
ừng
của các hộ dân là trên 26.000 giếng [21]. + Tài nguyên r Ðến năm 2015, tỉnh Cà Mau có 107.804 ha r ừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên
là 17.732 ha, di ện tích rừng trồng là 90.072 ha. R ừng ở tỉnh Cà Mau bao g ồm rừng
ngập mặn ven bi ển (t ập trung ở các huy ện Ng ọc Hi ển, Năm Căn, Đầm Dơi, Phú
Tân) và rừng tràm ng ập úng phèn (t ập trung ở huyện U Minh và Tr ần Văn Thời).
Đây là 2 h ệ sinh thái r ừng đặc thù ở vùng ĐBSCL, có tính đa dạng sinh h ọc cao;
đặc biệt rừng ngập mặn ven bi ển và rừng tràm U Minh h ạ, Khu dự trữ sinh quy ển
thế giới Mũi Cà Mau (Khu Ramsar th ứ 1088 của thế giới) có vai trò cân b ằng sinh
thái vùng ven bi ển, điều hoà khí hậu và phòng hộ ven biển. Ngoài ra, trên c ụm đảo
Hòn Khoai và Hòn Chu ối có 583 ha r ừng cây gỗ quý. Tuy nhiên, giá tr ị thuần kinh
tế của rừng Cà Mau không cao, nh ất là rừng tràm do tr ữ lượng thấp, sản phẩm gỗ
tràm khó tiêu thụ, nguy cơ cháy rừng rất cao [21].
+ Tài nguyên biển
Cà Mau là một trong 28 tỉnh ven biển của cả nước, là tỉnh duy nhất có 3 mặt
tiếp giáp với biển. Lợi thế hàng đầu của tỉnh Cà Mau là thu ỷ sản, với chiều dài bờ biển khoảng 254 km, g ồm Biển Ðông và Bi ển Tây (v ịnh Thái Lan). Bi ển Cà Mau có di ện tích th ăm dò khai thác r ộng kho ảng 100.000 km 2, có các đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Ðá B ạc... rất thuận lợi cho tàu neo đậu, tránh gió và đánh bắt dài
ngày trên biển [103].
Bảng 3.1: So sánh một số tiêu chí về biển của tỉnh Cà Mau
Tỉnh Cà Vùng biển Tiêu chí Cả nước Mau Tây Nam Bộ
Chiều dài bờ biển (km) 254 737 3.260
59,8 30,43 33
Tỷ lệ dân số các huyện ven biển (%) Số km bờ biển/100km2 đất liền 4,76 1,85 1
Nguồn: [103].
64
+ Tài nguyên sinh vật
Với lịch sử khoảng 300 năm hình thành và phát tri ển, sản xuất nông nghi ệp
của Cà Mau đã có t ập đoàn giống cây tr ồng, vật nuôi khá phong phú, c ơ bản đáp
ứng nhu cầu phát triển ngành nông nghi ệp của tỉnh trong thời gian sắp tới. Rừng U
Minh là nơi trưng bày tiêu b ản sống của loài th ực vật thuộc hệ sinh thái ng ập nước
của ĐBSCL và Đông Nam Á, v ới 201 loài th ực vật, trong đó có rất nhiều loài quý
hiếm có giá tr ị khoa học và kinh tế. Rừng ngập mặn Cà Mau có th ảm thực vật gồm
66 loài, trong đó có các loài phổ biến là họ mắm, họ bần, họ đước, nhưng ưu thế vẫn
là cây đước. Sinh sôi phát tri ển vững chắc dưới tán rừng đước là qu ần thể ngư loại
khá phong phú (tôm, cua, ốc, ghẹ, sò…) và động vật có: kh ỉ, chim, rắn, rái cá, c ần
đước, chồn, sóc…Vùng biển Cà Mau có 175 loài cá thuộc 116 giống, 77 họ [103].
+ Tài nguyên du lịch
Cà Mau có ti ềm năng về du l ịch sinh thái n ổi ti ếng với Khu d ự tr ữ sinh
quyển Mũi Cà Mau được UNESCO công nh ận là Khu d ự tr ữ sinh quy ển th ế gi ới
vào năm 2010. Là vùng đất giàu ti ềm năng, các hệ sinh thái đất ngập nước với hệ
động thực vật đa dạng của rừng đước Năm Căn và rừng tràm U Minh. Ngoài các địa
danh nổi tiếng trong đất liền, cách Mũi Cà Mau 20 km còn có đảo Hòn Khoai là một
di tích lịch sử với cuộc khởi nghĩa của anh hùng Phan Ng ọc Hiển, đồng thời Hòn
Khoai còn có v ị trí quan tr ọng là n ằm trên đường hàng h ải qu ốc tế. Ngoài ra, Cà
Mau còn nổi tiếng với các sân chim, nét đặc thù c ủa vùng đất phương Nam, nh ư:
Vườn Quốc gia U Minh h ạ, Hòn Đá Bạc, Bãi Khai Long, Ph ủ thờ Bác Hồ (27 Ph ủ
thờ), Đền thờ vua Hùng Vương, Du lịch lịch sử nhân văn (với 40 di tích lịch sử văn
hóa cấp tỉnh và 5 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia); sân chim Chà Là, sân chim
Ðầm Dơi, sân chim Tân Ti ến... đặc biệt với sân chim Cà Mau n ằm giữa lòng thành
phố thu hút rất nhiều khách thăm quan [103].
+ Tài nguyên khoáng sản
Dầu khí: Ở thềm lục địa Tây nam (Vùng V ịnh Thái Lan) có ti ềm năng lớn về
dầu khí, có nhi ều bể trầm tích có tri ển vọng dầu khí, quan tr ọng nhất là bể Malay -
Thổ Chu gồm nhiều lô thăm dò khai thác d ầu khí vùng th ỏa thuận thương mại Việt Nam - Malaysia, trữ lượng phát hiện khoảng 230 triệu m3 dầu, 212 tỷ m3 khí. Đây là
nguồn tài nguyên quý c ủa đất nước, là điều ki ện để phát tri ển công nghi ệp vùng
ĐBSCL nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng [103].
65
Than bùn: Vùng than bùn U Minh h ạ là một trong nh ững vùng có tr ữ lượng
than bùn lớn nhất Việt Nam, tập trung chủ yếu khu vực Vườn Quốc gia U Minh hạ.
Tổng diện tích có ch ứa than bùn kho ảng 5.640 ha. Đây là đầm than rộng, khá đồng
nhất về điều kiện hình thành c ũng như về chất tạo than nên ch ất lượng than bùn U
Minh Hạ ổn định, có th ể sử dụng sản xu ất ch ất đốt, phân h ữu cơ vi sinh và acid
Humic, than ho ạt tính. Do b ị cháy nhi ều lần nên tr ữ lượng than bùn gi ảm nghiêm
trọng, hi ện còn kho ảng 14,1 tri ệu tấn (gi ảm 12 l ần so v ới năm 1976). Ngu ồn tài
nguyên này cần sớm được nghiên cứu, khai thác, sử dụng hợp lý và hiệu quả.
Sét gạch ngói và sét Ceramic: Là t ỉnh có tiềm năng lớn về sét gạch ngói và sét Ceramic với tổng tr ữ lượng kho ảng 250 tri ệu m3. Về ch ất lượng đạt yêu c ầu sản
xuất gạch ngói xây dựng hoặc làm thân gạch Ceramic khoảng 40% lượng khai thác.
Đây là nguồn nguyên liệu để phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng nên cần được
quy hoạch cụ thể và có giải pháp hạn chế tác động môi trường trong sản xuất [103].
3.1.2. Đặc điểm về kinh tế, xã hội
Đất nông, lâm nghiệp và thủy sản tỉnh Cà Mau có 368.959 ha, được phân theo:
đất sử dụng vào nông nghi ệp 89.672 ha (78.916 ha đất tr ồng cây hàng n ăm và
10.756 ha đất trồng cây lâu năm), chiếm 24,3%; đất lâm nghiệp có 87.429 ha, chiếm
23,7% và đất nuôi tr ồng thủy hải sản có 191.429 ha, chi ếm 52% tổng diện tích đất
nông nghiệp [21].
Chia theo đối tượng sử dụng chủ yếu như sau: Hộ gia đình sử dụng 321.283
ha, doanh nghi ệp 47.020 ha và HTX 656 ha. Bình quân m ột hộ gia đình sử dụng
1,68 ha; 1 HTX s ử dụng 11,93 ha và 1 doanh nghi ệp sử dụng 1.567 ha. Đất nông
nghiệp Cà Mau ch ủ yếu do h ộ nông dân s ử dụng, nếu tính di ện tích đất nông
nghiệp/hộ nông nghi ệp là 2,14 ha, ch ủ yếu là tr ồng lúa. Cả tỉnh có 41.970 h ộ nông
nghiệp, trong đó có 3.883 hộ không sử dụng đất nông nghiệp, chiếm tỷ lệ 9,25%; số
hộ sử dụng trên 3 ha đất nông nghiệp chiếm 14,73%. Tính đến thời điểm năm 2015
số hộ sử dụng đất nông nghi ệp chưa có bi ến động lớn về quy mô so v ới tổng điều
tra đất nông nghiệp năm 2006 [21].
Diện tích đất tr ồng lúa : Trong đất nông nghi ệp thì di ện tích đất tr ồng lúa
chiếm lớn nhất trong số diện tích đất trồng các lo ại cây nông nghi ệp. Hiện nay, có
58.230 hộ dân có sử dụng đất để trồng lúa, bằng 30,43% số hộ nông, lâm, thủy sản.
Tổng diện tích đất trồng lúa là 130,143 nghìn ha, t ăng 14,734 ha, t ăng 12,77% so
66
với kết qu ả điều tra n ăm 2006 và gi ảm 1,427 nghìn ha so v ới năm 2001 (b ằng
1,08%). Nguyên nhân do m ột số diện tích đất trồng lúa ven bi ển năng suất thấp đã
chuyển sang nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi tôm.
Bảng 3.2: Diện tích đất trồng lúa tỉnh Cà Mau qua các năm 2001 - 2006 - 2015
Năm 2015 so sánh tỷ lệ % Huyện, TP
Diện tích lúa (ha) 2006 7.744 31.953 21.593 53.290 783 - 46 - - 115.409 2001 11.333 31.272 38.373 49.130 1.445 - - - 11 131.570 2015 6.783 22.168 30.637 58.286 1.800 - 68 401 - 130.143 2001 59,85 102.87 79,84 118,62 124,57 - - - - 98,92 2006 87,59 100,57 141.88 109,38 229,89 - 147,83 - - 112,77 TP Cà Mau H. U Minh H. Thới Bình H. Tr.V.Thời H. Cái Nước H. Đầm Dơi H. Năm Căn H. Phú Tân H. Ngọc Hiển Tổng số
Nguồn: [21].
Diện tích đất lâm nghi ệp: Năm 2015, có 1.040 h ộ sản xuất lâm nghi ệp, chiếm
0,54% tổng số hộ nông, lâm nghi ệp và th ủy sản. Diện tích rừng đạt 109, 085 nghìn
ha, tăng 12,653 nghìn ha so với 2006. Tính theo số hộ, có 508 hộ không sử dụng đất
chiếm 48,84%; số hộ sử dụng dưới 02 ha có 32 hộ, chiếm 3,08%; số hộ sử dụng trên
10 ha có 50 h ộ, chiếm 4,81% trên tổng số hộ lâm nghi ệp. Xu hướng biến động diện
tích đất lâm nghiệp thể hiện trước hết ở một số huyện như: U Minh, Tr ần Văn Thời,
Thới Bình, Ngọc Hiển, Năm Căn. Nguyên nhân là do chính quyền địa phương tích cực
chỉ đạo trồng lại rừng, đẩy mạnh giao khoán đất lâm ph ần cho hộ nông dân qu ản lý
trồng rừng kinh tế, trồng rừng kết hợp nuôi tôm và các thủy hải sản khác [21].
Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản: Năm 2015, cả tỉnh có 296.174 ha mặt
nước nuôi tr ồng thủy sản, tăng 20.985 ha (b ằng 7,63%) so v ới năm 2006. Hi ện có
148.367 hộ nuôi tr ồng thủy sản, chiếm 77, 53% s ố hộ nông lâm nghi ệp, thủy sản.
Trong số này, có 19.631 h ộ không s ử dụng mặt nước nuôi tr ồng th ủy sản, bằng
13,20%; số hộ sử dụng trên 10 ha m ặt nước nuôi tr ồng thủy sản là 623 h ộ, chiếm
0,42% trên tổng số hộ nuôi trồng thủy sản; nhiều nhất là số hộ sử dụng từ 1 ha đến 2
ha, có 42.679 hộ, chiếm 28,77% [21].
67
So với cả nước và vùng ĐBSCL, Cà Mau có s ố hộ và số lao động nuôi tr ồng
thủy sản nhiều nhất. Theo số liệu thống kê năm 2015, toàn vùng ĐBSCL có 362,3
nghìn hộ, với trên 1 tri ệu lao động, chiếm 50,3% số hộ và 53,26% s ố lao động của
cả nước. Cà Mau là địa phương có nhi ều hộ và lao động nuôi tr ồng thủy sản nhất
của cả nước với 148,367 nghìn h ộ, chi ếm 20% s ố hộ và 394,8 nghìn lao động,
chiếm 20,2% lao động của cả nước. Kế đến là tỉnh Bạc Liêu, với 64,3 nghìn h ộ và
184 nghìn lao động [21].
Bảng 3.3: Diện tích nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau qua các năm 2001, 2006,
2015 chia theo địa phương huyện, thành phố
Năm 2015 so với 2001 và 2006 (ha) Huyện, TP
Diện tích nuôi trồng thủy sản các năm (ha) 2006 11.514 19.291 41.375 28.690 31.626 62.063 24.000 33.495 23.141 275.195 2001 10.332 23.271 35.530 25.610 61.697 51.417 - - 46.334 254.191 2015 12.564 25.295 45.803 29.890 31.827 65.718 25.698 35.156 24.223 296.174 2001 121,60 108,70 128,93 116,71 51,59 127,81 - - 655,34 2006 109,12 131,13 11,72 104,18 100,64 105,89 107,08 104,96 104,64 879,36 TP Cà Mau H. U Minh H. Thới Bình H. Tr.V.Thời H. Cái Nước H. Đầm Dơi H. Năm Căn H. Phú Tân H. Ngọc Hiển Tổng số
Nguồn: [21].
- Dân số, dân tộc
Dân số trung bình n ăm 2015 là 1.227.329 ng ười, so v ới th ời điểm chia tách
tỉnh (1997) là 1.032.405 ng ười. Tỷ lệ tăng dân s ố tự nhiên kho ảng 0,68%, mật độ dân số trung bình là 232 ng ười/1km2, bằng 86% mức bình quân c ủa cả nước (271 người/1km2). Mật độ tăng dân số tính đến năm 2015, Cà Mau luôn th ấp hơn vùng ĐBSCL và c ả nước. Về tăng dân s ố cơ học th ời điểm nh ững năm 1997 t ừ 0,27 -
0,75%o, nhưng những năm gần đây xu hướng giảm dần do sự dịch chuyển lao động
từ Cà Mau đi các khu công nghi ệp Miền đông và Thành phố Hồ Chí Minh và đi lao
động ngoài nước [21].
Dân số thành th ị (thành ph ố, th ị tr ấn) tăng 245.696 ng ười năm 2005 lên
260.475 người năm 2010 và 274.276 ng ười năm 2015. Tỷ lệ tăng bình quân dân s ố
68
thành thị của Cà Mau là 2,49% trong khi đó bình quân chung c ủa vùng ĐBSCL là
3,43%, cả nước là 3,59%. Vi ệc định cư các hộ dân trong t ỉnh chủ yếu ở ven sông
rạch, các vàm sông và d ọc theo các tuy ến đường giao thông. Các c ụm dân cư tập
trung không nhi ều, đa số sống rải rác các địa bàn nông thôn. Đây là t ập quán ảnh
hưởng đến phát tri ển hạ tầng các khu dân c ư, làm hạn chế hiệu quả đầu tư nhất là
các công trình điện, nước, y tế, giáo dục, văn hóa [21],…
Cũng như vùng ĐBSCL và cả nước, Cà Mau có cơ cấu dân số đa dân tộc. Tỉnh
hiện có 20 dân t ộc khác nhau cùng sinh s ống, trong đó người kinh chi ếm chủ yếu,
kế đó là người Khơmer chiếm 3,67%, người Hoa chiếm 0,95%. Những hộ đồng bào
dân tộc Khơmer thường định cư ở địa bàn các xã vùng sâu, vùng xa, đời sống còn
nhiều khó khăn [21].
Bảng 3.4: Dân số năm 2015 chia theo huyện, thành phố
Ðịa bàn
Diện tích tự nhiên (km2)
Số TT
Toàn tỉnh
5,294.87
Dân số trung bình (người) 1,227,329
Tỷ trọng (%) 100
Mật độ dân số (người/km2) 232
1 Thành phố Cà Mau
221,2239
249.29
18.0
887
2 Huyện Thới Bình
636.39
136,540
11.1
215
3 Huyện U Minh
774.14
103,876
8.5
134
4 Huyện Trần Văn Thời
702.72
189,293
15.4
269
5 Huyện Cái Nước
417
140,047
11.4
336
6 Huyện Phú Tân
461.87
105,548
8.6
29
7 Huyện Ðầm Dơi
822.88
184,400
15.0
224
8 Huyện Nãm Căn
495.4
67,145
5.5
136
9 Huyện Ngọc Hiển
735.18
79,241
6.5
108
Nguồn: [103].
- Lao động và nguồn nhân lực
Dân số trong tu ổi lao động năm 1997 là 663,1 nghìn ng ười, chiếm 65,6% dân
số, năm 2005 là 773,5 nghìn ng ười, chi ếm 64,2% dân s ố và n ăm 2015 là 789,65
nghìn ng ười, chi ếm 64,8%, trong đó số có kh ả năng lao động là 780,97 nghìn
người. Theo số liệu điều tra lao động việc làm năm 2012, tỷ lệ nguồn lao động của
tỉnh không hoạt động kinh tế khá cao, chiếm 25,3% (cao nhất ĐBSCL); phần lớn tỷ
lệ lao động nữ nông thôn thường ở nhà nội trợ gia đình. Tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian
lao động còn thấp, nhất là sau khi chuyển đổi sản xuất từ trồng lúa sang nuôi tôm thì
69
tình tr ạng thi ếu vi ệc làm ở nông thôn t ăng lên nhi ều (theo ước tính t ỷ lệ sử dụng
thời gian lao động ở nông thôn chỉ đạt khoảng 60% - 65%) [103].
Bảng 3.5 : Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế
Tăng trưởng bình quân năm (%)
Lao động/lĩnh vực
1997
2005 2010 2015 1997-
2006-
2011-
1997-
2005
2010
2015
2015
Lao động (nghìn
6935 652.0 681.2
0.8
1.2
1.3
1.1
537.4
người)
Nông-Lâm-Ngư-
-0.4
-1.4
1.6
-0.3
5037.0 504.4 469.5 501.4
Nghiệp
Công nghiệp-Xây
24.0
31.9 42.8 48.2
4.2
6.1
3.2
4.7
dựng
Dịch vụ
49.1
77.2 139.7 143.6
8.6
12.6
0.0
8.1
Nguồn: [21].
Ch ất lượng đào tạo nghề và cơ cấu nghề đào tạo còn hạn chế nên ch ưa đáp
ứng yêu cầu tuyển dụng lao động. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc ở
các ngành kinh t ế đã qua đào tạo năm 2012 ch ỉ chiếm 5% (ĐBSCL là 9,1%) [21].
Lao động của tỉnh chủ yếu làm nông nghi ệp, quen tác phong làm vi ệc tự do, ý th ức
chấp hành k ỷ luật lao động còn th ấp, rất hạn chế về ngoại ngữ nên gặp nhiều khó
khăn về kh ả năng cạnh tranh trong th ị tr ường lao động xã h ội và phân công lao
động xã hội. Đây là cản trở lớn trong tiến trình thực hiện CNH và h ội nhập quốc tế
về lao động.
3.1.3. Đánh giá về sự tác động của các điều kiện tự nhiên, kinh t ế, xã hội
đến nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Qua phân tích các điều kiện tự nhiên, KT-XH của Cà Mau có th ể rút ra những
tác động tích cực và tiêu cực đến NNPTTHBV của tỉnh trong thời gian tới như sau:
3.1.3.1. Những tác động tích cực
Thứ nhất, Cà Mau có v ị trí địa lý thu ận lợi cho phát tri ển giao thông đa dạng
(đường bộ có Quốc lộ 1, Quản lộ Phụng Hiệp, đường Vành đai ven biển phía Nam,
đường xuyên Á; đường th ủy, có hệ th ống sông ngòi ch ằn chịt, liên thông v ới Bạc
Liêu, Kiên Giang, H ậu Giang; đường biển có ba mặt tiếp giáp bi ển rất thuận lợi để
phát triển cảng biển; đường không có sân bay Cà Mau và sân bay N ăm Căn) vì thế
sẽ rất thuận lợi cho việc tiếp thu KH-CN, giao lưu các yếu tố vật tư, nguyên liệu sản
70
xuất và tiêu th ụ sản phẩm đầu ra. Trên th ực tế quá trình s ản xuất Cà Mau đã khai
thác khá tốt những lợi thế này.
Thứ hai, nông nghi ệp của tỉnh phát tri ển trong điều kiện thời tiết thuận lợi về
chế độ nhiệt, chỉ có hai mùa m ưa nắng, nhờ có hệ thống sông nối liền ra bi ển nên
Cà Mau không bị lũ lụt như một số tỉnh vùng ĐBSCL, cũng rất ít hứng chịu những
cơn bão dữ. Tỉnh có qu ỹ đất tự nhiên dồi dào, thu ận lợi cho phát tri ển nông nghiệp
với nghề nuôi trồng thủy sản, trồng lúa, trồng cây ăn trái, phát triển đàn gia súc, gia
cầm; phát triển lâm nghiệp với nghề trồng cây công nghiệp mà chủ yếu là trồng keo
lai, tràm, đước. Nói tóm l ại, điều ki ện tự nhiên c ủa Cà Mau r ất thu ận lợi để phát
triển cả nông, lâm, th ủy sản nói chung đảm bảo một nền NNPTTHBV tr ước những
tác động của tự nhiên và kinh tế thị trường.
Thứ ba, Cà Mau có hệ thống hạ tầng nông thôn phát triển khá đồng đều với tốc
độ nhanh chóng trong vài n ăm gần đây. Hiện nay, 101/101 xã có đường ô tô về đến
trung tâm, điện lưới quốc gia được phủ kín đến tận xóm, ấp. Do sông ngòi chằng chịt
nên chủ trương của tỉnh phát triển thủy lợi chủ yếu dựa vào tự nhiên nên ít tốn kém. Cà
Mau được quy ho ạch hai vùng n ước mặn - ng ọt phục vụ sản xuất và sinh ho ạt của
người dân. Cạnh đó, nguồn nước ngầm của tỉnh với trữ lượng lớn nên phục vụ khá tốt
cho phát triển công - nông nghiệp và sinh hoạt của người dân. Mặt khác, do tỉnh nằm ở
vị trí rất thuận lợi nên việc triển khai xây dựng điện gió dọc theo 254 km bờ biển sẽ mở
ra một hướng phát triển cho tỉnh và cả vùng ĐBSCL. Việc phát triển kết cấu hạ tầng
trên cơ sở khai thác các yếu tố thuận lợi, khắc phục các bất lợi của tự nhiên, của kinh tế
thị trường là hướng đi đúng cho một nền NNPTTHBV.
Thứ tư, Cà Mau có h ệ th ống dịch vụ nông nghi ệp khá phát tri ển. Tuy t ỉnh
không có nhiều doanh nghiệp sản xuất vật tư nông nghi ệp, nhưng doanh nghiệp làm
chức năng phân phối, đại lý bán lẻ rất nhiều và khá sôi động. Nhất là cung cấp vật tư
nuôi trồng thủy sản, nguyên liệu sản xuất, chế biến nông, lâm, thủy sản, chế biến thực
phẩm, dịch vụ bảo quản, vận chuyển…Các nhà máy chế biến thủy sản ở Cà Mau phát
triển khá mạnh, chính sự năng động, chủ động tìm đầu ra cho các mặt hàng thủy sản
mà các doanh nghi ệp của tỉnh nằm trong tốp dẫn đầu của cả nước về quy mô, s ản
lượng và doanh số xuất khẩu các mặt hàng thủy sản trong nhiều năm trở lại đây.
Thứ năm, cũng như ngành nông nghiệp, nhiều ngành kinh tế của tỉnh đang phát
triển với tốc độ khá đã có tác động tích cực đến NNPTTHBV của tỉnh. Chính sự quan
71
tâm của các cấp, các ngành và các địa phương trong tỉnh đã có tác động tích cực đến sự
tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp. Mặt khác, do yêu cầu của quá trình CNH nền
nông nghiệp ngày càng cao nên chất lượng nguồn nhân lực trên lĩnh vực nông nghiệp
từng bước được nâng lên, tuy v ẫn còn ở mức thấp so với vùng ĐBSCL và cả nước
nhưng sự cải thiện đó là bước tiến đáng ghi nhận cho nền NNPTTHBV.
3.1.3.2. Những tác động tiêu cực
Với điều ki ện tự nhiên KT-XH nêu trên, Cà Mau nh ận được nhi ều tác động
thuận lợi trong phát tri ển nông nghi ệp nói chung, NNPTTHBV nói riêng. Tuy
nhiên, bên cạnh những tác động thuận lợi, NNPTTHBV của Cà Mau ph ải chịu một
số tác động bất lợi, như:
Thứ nhất, mặc dù qu ỹ đất nông nghiệp của Cà Mau v ừa đa dạng, vừa dồi dào
đã tạo điều kiện thuận lợi cho NNPTTHBV, nh ưng hiện nay qu ỹ đất này đã được
giao cho tổ chức, cá nhân quản lý, sản xuất, kinh doanh nên việc điều chỉnh quy mô
hình thành "Cánh đồng mẫu lớn", các nông trại, trang trại, doanh trại…để phát triển
theo hướng ổn định, bền vững là vấn đề không hề dễ. Ngay cả việc chuyển nhượng
hay vận động nhân dân chuy ển đổi hình th ức canh tác, s ản xuất cũng rất khó kh ăn,
bởi lối sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, "ti ểu nông" đã ăn sâu trong n ếp nghĩ, cách làm
của nông dân. Chính áp lực dân số đã trực tiếp ảnh hưởng đến quy mô, diện tích đất
của các hộ cá thể.
Thứ hai, điều kiện tự nhiên tuy có thuận lợi cho NNPTTHBV nhưng diễn biến
thời tiết những năm gần đây phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, đặc biệt là
đối với vùng ĐBSCL, trong đó có Cà Mau ch ịu nhi ều thi ệt hại nh ất. Để
NNPTTHBV, tỉnh phải cần thấy hết những khó kh ăn, mà tr ước hết là có bi ện pháp
giảm nhẹ thiệt hại trước những tai bi ến thiên nhiên. Nh ững tác động trực tiếp như
nắng hạn, nhiễm mặn, lũ lụt, sạt lở đất, nước biển dâng, dịch bệnh, bão, lốc xoáy, kể
cả nguy cơ sóng thần…là những tác động cực đoan đáng lo ngại từ thời tiết, khí hậu
gây tác hại và ảnh hưởng trực tiếp đến NNPTTHBV.
Thứ ba, kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, th ủy lợi, điện, nước phục
vụ cho sản xuất, sinh ho ạt gặp rất nhiều khó kh ăn và tốn kém. Do Cà Mau là vùng
đất mới, ¾ diện tích thuộc sinh thái mặn do phù sa lắng tụ nên chân đất rất yếu, khó
khăn cho phát tri ển giao thông đường bộ, xây d ựng mạng lưới điện ph ục vụ cho
nuôi tôm công nghi ệp. Sông Cà Mau phù sa b ồi lắng rất nhanh nên th ủy lợi cho
72
trồng lúa, nuôi tôm g ặp khó. Trong khi đó, chương trình ng ọt hóa bán đảo Cà Mau
không mang lại hiệu quả như mong muốn, nhiều công trình được đầu tư hàng nghìn
tỷ đồng nhưng đa số không phát huy được tác dụng do chương trình không thể khép
kín được. Điều đó cho th ấy, ch ương trình ng ọt hóa bán đảo Cà Mau hay ch ương
trình xây dựng đê bao từ ven bi ển Đông sang bi ển Tây Cà Mau là khó kh ả thi với
điều kiện tự nhiên như Cà Mau và nguồn vốn Nhà nước có hạn như hiện nay.
Thứ tư, ngu ồn nhân l ực của tỉnh khá d ồi dào v ề số lượng, nh ưng ph ần lớn
trong số đó có trình độ học vấn th ấp, ch ủ yếu là lao động chân tay, th ủ công ch ứ
chưa được đào tạo. Đa số lao động nông thôn, lao động nữ sống thụ động, thời gian
lao động nhàn rỗi nhiều, nhưng ít ch ịu tiếp xúc, ti ếp thu cái m ới, tinh th ần cầu tiến
bộ thấp nên rất ngại tiếp cận với KH-KT, một bộ phận ý thức lao động, thái độ với
việc làm chưa được tốt.
Thứ năm, hệ thống các doanh nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản trên địa bàn
tỉnh khá phát triển, nhưng do phương hướng kinh doanh của các doanh nghiệp chưa
năng động, thiếu đa dạng, sự liên kết "bốn nhà" còn lỏng lẻo nên hiệu quả mang lại
thấp, ch ưa tương xứng với ti ền năng, th ế mạnh của tỉnh. Mặt khác, do d ịch bệnh,
mất mùa, t ỉnh ch ưa quy ho ạch được vùng nguyên li ệu tập trung, s ản xu ất manh
mún, nhỏ lẻ nên các nhà máy ch ế biến chưa sử dụng hết công suất, trong khi đó thị
trường đầu ra gặp nhiều khó kh ăn do ch ủ yếu sản phẩm thô, sơ chế, xuất khẩu gặp
nhiều khó khăn rào cản, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa thấp ảnh hưởng tiêu
cực đến NNPTTHBV.
3.2. TH ỰC TR ẠNG NÔNG NGHI ỆP PHÁT TRI ỂN THEO H ƯỚNG BỀN
VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU, GIAI ĐOẠN 1997-2015
Nông nghiệp Cà Mau là khu vực kinh tế trọng yếu của tỉnh, kể từ khi chia tách
tỉnh (01/01/1997) đến nay, n ền nông nghi ệp của tỉnh có b ước phát tri ển từ ch ỗ tự
cấp, tự túc là chính chuy ển sang phát tri ển theo hướng hàng hóa gắn với thị trường.
Nét đặc trưng của sản xuất nông, lâm nghi ệp và nuôi tr ồng thủy sản của Cà Mau từ
khi chia tách t ỉnh đến nay là phát tri ển toàn di ện, trong đó trọng tâm là nuôi tr ồng
thủy sản, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và tăng trưởng theo hướng gắn với
xuất khẩu. Một chặng đường khá dài ph ấn đấu liên tục, vượt qua nhi ều khó kh ăn,
thách thức, nhất là sự tàn phá nặng nề của cơn bão số 5 (năm 1997) và sự biến động
thất th ường của th ị tr ường th ế gi ới, nh ất là th ị tr ường xu ất kh ẩu th ủy sản do tác
73
động của kh ủng ho ảng kinh t ế các n ước châu Á (2007-2009) tình hình nông, lâm
nghiệp và th ủy sản tỉnh Cà Mau v ẫn có nhi ều chuyển biến tích cực, tuy khó kh ăn,
yếu kém còn nhiều.
3.2.1. Thực trạng nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà
Mau xét trên phương diện kinh tế
3.2.1.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng các sản phẩm nông nghiệp
Xét về quy mô và tốc độ tăng trưởng, so với các tỉnh vùng ĐBSCL, Cà Mau là
tỉnh có s ản lượng th ủy hải sản đứng th ứ hai. N ăm 2015, s ản lượng th ủy sản của
Kiên Giang đạt 16, 8% s ản lượng th ủy sản vùng ĐBSCL, trong khi đó Cà Mau
chiếm 13,2% và b ằng 7,35% sản lượng của cả nước. Tuy nhiên, v ề sản lượng tôm
Cà Mau là t ỉnh đứng đầu cả nước. Năm 2015, chi ếm 30,1% s ản lượng tôm toàn
vùng ĐBSCL, tiếp đó là Bạc Liêu 19,4%, thứ ba là Sóc Trăng 16,5% [100].
Khai thác thủy sản của Cà Mau tập trung chủ yếu ở mảng khai thác bi ển. Các
hoạt động khai thác th ủy sản nội địa với quy mô s ản xuất nhỏ, ít có tính ch ất sản
xuất hàng hóa. Do v ậy, việc phân tích và tính toán quy ho ạch, đầu tư tỉnh tập trung
vào khai thác thủy hải sản biển là chính.
Cà Mau có lượng tàu thuyền khai thác hải sản khá hùng hậu về cả số lượng và công
suất (đứng thứ hai ĐBSCL, chỉ xếp sau tỉnh Kiên Giang). Năm 2010, có 5.014 chiếc, với
tổng công suất 397.718 CV. Năm 2015, có 4.812 chiếc với tổng công suất 363.822 CV,
giảm trên 200 phương tiện, chủ yếu nhóm tàu có công suất nhỏ, dưới 20 CV [100].
Biểu đồ 3.1: Biểu đồ tăng, giảm (%) của sản lượng khai thác thủy sản biển
Nguồn: [103].
74
Nhìn chung, trong th ời gian 1997 - 2010, đội tàu khai thác th ủy sản liên t ục
tăng (t ăng bình quân 0,93%), lo ại tàu có công su ất <50 CV t ăng 0,38%, lo ại tàu
công su ất lớn hơn 400CV ch ỉ chi ếm 0,95% nh ưng có t ốc độ tăng tr ưởng cao
27,94% [13]. T ừ năm 2010, n ăm có s ố lượng ph ương ti ện đạt mức kỷ lục 5.463
chiếc và 388.258 CV. Sau đó, số lượng phương tiện đánh bắt và công su ất có chiều
hướng giảm dần, tăng 17,8%. Nh ất là từ năm 2011-2013 gi ảm 19,6%, số tàu đánh
bắt tăng mạnh có công su ất từ 20 CV đến 90 CV; số tàu công su ất trên 90 CV t ăng
nhẹ, tăng 0,45% [12]. Năm 2008, thực hiện Quyết định 289-QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ về việc hỗ trợ xăng dầu cho ng ư dân nên t ỷ trọng tàu thuy ền công su ất
loại trung bình t ăng mạnh. Tàu có công su ất > 90 CV chi ếm ưu th ế trong c ơ cấu
công su ất, số lượng và t ỷ tr ọng ngày càng t ăng trong giai đoạn 1997 - 2007, t ừ
23,32%, nhưng sau đó mặc dù t ỷ trọng không gi ảm nhưng số lượng giảm theo xu
thế chung.
Nếu lấy mốc thời gian 1997 - 2006, bình quân m ỗi năm tổng sản lượng khai
thác được kho ảng 140 nghìn t ấn/năm, đến năm 2015, đạt 181 nghìn t ấn, trong đó
tôm chiếm 34,5% còn l ại là cá và các loài th ủy sản khác. Tuy s ản lượng khai thác
hàng năm vẫn tăng, nhưng tỷ trọng sản lượng khai thác đang giảm dần do sản lượng
nuôi trồng thủy sản tăng nhanh hơn. Năm 2015, sản lượng khai thác chi ếm 35,7%
tổng sản lượng thủy sản của tỉnh [22].
Trong các loài khai thác chính thì s ản lượng cá, tôm t ăng trưởng ổn định, các
loài thủy sản khác tăng giảm theo mùa vụ.
Nuôi trồng thủy sản, diện tích nuôi tr ồng thủy sản của tỉnh liên tục tăng theo
thời gian từ năm 1997 - 2015. N ăm 2010, di ện tích đạt 296.300 ha, đến năm 2013,
giảm nhẹ còn 295.789 ha. Năm 2000 - 2010, diện tích tăng do chuyển đổi theo Nghị
quyết 09/2000/NQ-CP c ủa Chính ph ủ, tốc độ tăng bình quân di ện tích nuôi tr ồng
thủy sản (NTTS) trong giai đoạn 2000-2010 đạt 1,54%/năm. Đầm Dơi là huy ện có
diện tích NTTS l ớn nh ất tỉnh, trong 5 n ăm 2010 - 2015, di ện tích nuôi tr ồng thủy
sản hàng năm có tăng giảm, nhưng nhìn chung là b ảo hòa, không có s ự biến động
đáng kể.
75
Bảng 3.6: Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản theo huyện, thành phố
Đơn vị tính: ha
1997 2000 2005 2010 2015
Tổng số 154.036 204.381 278.241 296.300 298.202
TP Cà Mau 1.562 1.885 12.727 12.541 13.161
H. Thới Bình 19.806 17.420 41.953 45.505 48.421
H. U Minh 7.194 15.542 22.200 25.200 24.988
H. Tr.V.Thời 13.355 10.811 28.600 29.800 31.114
H. Cái Nước 18.234 69.171 31.626 31.809 30.263
H. Phú Tân 33.495 35.154 - - 35.154
H. Đầm Dơi 38.568 42.452 61.128 65.717 65.717
H. Năm Căn 24.000 25.973 - - 25.594
H. Ngọc Hiển 55.317 47.118 22.512 24.901 23.790
Nguồn: [21].
Diện tích nuôi tôm c ủa tỉnh đạt tỷ trọng lớn, tính thời điểm năm 1997 lúc mới
chia tách tỉnh diện tích chỉ bằng 154.034 ha nhưng đến năm 2015 diện tích tăng gần
gấp 2 lần, đó là ch ưa kể đến mặt nước sông, đầm, kênh, rạch nội địa và mặt nước
ven biển. Tính đến năm 2015, diện tích nuôi tôm c ủa Cà Mau chi ếm hơn 90% diện
tích mặt nước nuôi tr ồng th ủy sản của tỉnh. Mặc dù di ện tích l ớn, song n ăng su ất
trong bình NTTS của tỉnh nói chung và nuôi tôm nói riêng th ấp hơn so với cả nước.
Điều này thể hiện mức độ thâm canh của tỉnh thấp hơn so với các địa phương khác
và vùng ĐBSCL [21].
Sản lượng NTTS của tỉnh Cà Mau n ăm 1997 - 2015, t ăng liên tục từ khi chia
tách tỉnh đến nay. Hầu hết các huy ện trong t ỉnh đều có xu h ướng tăng, các huy ện
đều xem nhiệm vụ phát triển kinh tế trọng tâm là nuôi tr ồng thủy sản nên định suất
đầu tư qua từng năm liên tục tăng, dẫn đến sản lượng cũng tăng theo. Nếu tính riêng
nuôi tôm thì Đầm Dơi là huy ện chiếm tỷ trọng cao nh ất đạt 42.158 t ấn năm 2015
(chiếm 27,2%), kế đến là huyện Phú Tân, Cái Nước, Ngọc Hiển.
76
Bảng 3.7: Sản lượng tôm nuôi trồng thủy sản phân theo huyện, thành phố
Đơn vị tính: Tấn
1997 2000 2005 2010 2015
Tổng số 39.429 49.232 92.884 122.960 166.000
TP Cà Mau 78 521 3.986 4.634 10.780
H. Thới Bình 1.107 1.876 7.304 11.106 13.400
H. U Minh 394 1.057 3.000 5.300 8.600
H. Tr.V.Thời 11.713 2.776 6.910 8.084 15.700
H. Cái Nước 3.892 7.106 10.784 11.247 21.600
H. Phú Tân - - 11.500 19.715 23.505
H. Đầm Dơi 40.187 15.433 25.255 33.669 42.158
H. Năm Căn - - 11.391 11.260 11.207
H. Ngọc Hiển 12.058 20.466 12.790 14.945 19.050
Nguồn: [21].
Diện tích nuôi n ước lợ được phân b ổ ở 9/9 huy ện, thành ph ố, nhi ều nh ất ở
huyện Đầm Dơi với 65.584 ha, th ấp nh ất là thành ph ố Cà Mau 11.871 ha. V ề cơ
bản, tỉnh đã hình thành hai vùng nuôi trồng thủy sản rõ rệt: Vùng phía Nam Cà Mau
chủ yếu là nuôi tôm chuyên canh và nuôi tôm kết hợp trồng rừng; vùng phía Bắc Cà
Mau nuôi tôm chuyên canh và k ết hợp luân canh m ột vụ lúa. Ngoài nuôi tôm, các
hộ nông dân t ừng bước th ực hi ện nuôi đa con k ết hợp với nuôi tôm, nh ư nuôi cá
chẻm, cua, sò huy ết, cá chính, b ống mú, cá kèo, tai t ượng…hiện đang được nhân
rộng [21].
Năm 2015, diện tích nuôi trồng thủy sản ngoài tôm có khoảng 35.000 - 40.000
ha. Trong đó, cá đồng là ngu ồn lợi có ti ếng ở Cà Mau, nh ư cá lóc, cá trê, cá rô, cá
sặc rằn…nhưng từ sau chuy ển đổi sản xu ất, ngu ồn lợi cá đồng di ện tích và s ản
lượng giảm đi nhanh chóng. Những năm gần đây, diện tích nuôi cá nước ngọt, nước
lợ đang được phục hồi. Nhiều hộ đang phát tri ển nuôi các loài cá có giá tr ị kinh tế
cao, địa bàn nuôi t ập trung ở các huy ện được quy ho ạch ng ọt hóa nh ư các huy ện
Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời và một phần thuộc thành phố Cà Mau [21].
77
Đơn vị tính: Tấn
Biểu đồ 3.2: Sản lượng thủy sản phân theo ngành nuôi trồng của tỉnh Cà Mau
Nguồn: [21].
Hiện nay phần lớn tôm được nuôi theo hình thức quảng canh cải tiến với nhiều
mô hình: Nuôi chuyên canh, nuôi chuyên canh tr ồng một vụ lúa, nuôi kết hợp trồng
rừng, nuôi d ưới mương, li ếp vườn…một số hộ nuôi chuy ển sang qu ảng canh c ải
tiến bậc cao với sự hỗ trợ của công tác khuy ến ngư, diện tích nuôi thâm canh, bán
thâm canh (nuôi công nghi ệp, bán công nghi ệp) không l ớn; một số di ện tích nuôi
dạng sinh thái (nuôi kết hợp trồng rừng).
Bảng 3.8: Diện tích các loại cây trồng
Đơn vị tính: ha
Chia ra
Cây hàng năm
Cây lâu năm
Trong đó
Trong đó
Tổng số
Tổng số
Tổng số Cây CN lâu năm
Cây ăn quả
2 3
Cây lương thực 4
1 1997 2000 2005 2010 2015 269.339 233.662 221.116 291.348 262.374 248.542 135.749 119.484 109.861 151.135 134.807 125.897 155.423 139.457 127.987
Cây CN hàng năm 5 5.386 5.936 3.533 1.978 1.839
6 35.667 28.974 16265 16.328 15.966 7 26.559 20.102 9.585 8.080 7.523 9.118 8.872 6.865 8.248 8.443
Nguồn: [21].
78
Trong sản xuất nông nghiệp trồng trọt vẫn là ngành sản xuất chính, năm 2015,
sản lượng chi ếm 61%, gi ảm 71% so v ới 2005 [20]. Tuy nhiên, so v ới cả khu v ực
ngư - nông - lâm nghiệp năm 2015 trồng trọt chỉ chiến tỷ lệ nhỏ 12.3%. Từ khi triển
khai thực hiện Nghị quyết số 09/200/-CP của Chính phủ diện tích các loài cây tr ồng
chính, nhìn chung đã bị giảm và tương đối ổn định trong ba năm gần đây.
Lúa là sản phẩm trồng trọt chính của tỉnh. Tổng diện tích gieo tr ồng lúa năm
2015 là 129.766 ha, n ăng suất lúa bình quân 4.37 t ấn/ha, sản lượng đạt 566.487 tấn
[20]. Th ực hi ện Đề án s ố 01/ ĐA-UBND của Ủy ban Nhân dân t ỉnh về nâng cao
năng suất chất lượng và hiệu quả trong sản xuất tôm, lúa giai đoạn 2009 - 2012 định
hướng đến năm 2015, nhiều tiến bộ kỹ thuật mới đã được ứng dụng trong trồng trọt
như: Chuyển đổi gi ống lúa m ới, ứng dụng kỹ thu ật canh tác "3 gi ảm, 3 t ăng", cơ
giới hóa trong s ản xuất lúa… Đến nay tỷ lệ sử dụng giống cấp xác nh ận, giống lúa
chất lượng cao chiếm tới hơn 80% diện tích giống OM 576 (hầm trâu) chỉ còn dưới
10%. Năng su ất lúa bình quân n ăm 2015 t ăng 5,06% so v ới năm 2010 [15]. Đặc
biệt, Cà Mau hi ện nay là t ỉnh có th ế mạnh về sản xuất một vụ lúa, một vụ tôm có
hiệu qu ả, cung c ấp một lượng lúa s ạch đáng kể cho th ị tr ường lúa g ạo. Di ện tích
một vụ lúa, một vụ tôm có kho ảng trên 40.000 ha t ập trung ở các huyện Thới Bình,
U Minh và Trần Văn Thời.
Ngoài cây lúa, Cà Mau c ũng hình thành vùng s ản xuất nguyên li ệu tập trung
cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu nông sản như: Vùng mía nguyên li ệu 1.762
ha ở các huy ện: Th ới Bình, U Minh; vùng cây ăn qu ả nh ư cây chu ối với kho ảng
5.700 ha, cây dừa 8.069 ha tập trung chủ yếu tại các huyện Trần Văn Thời, U Minh,
Thới Bình [15].
Về thực hiện cánh đồng mẫu lớn, đã triển khai từ năm 2012 đến nay. Toàn tỉnh
đã tổ chức sản xuất quy mô kho ảng 5.200 ha, v ới 4.729 hộ tham gia. Đây là hình
thức sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao về năng suất, chất lượng và giá tr ị bình quân
tăng 15%, tạo bước đột phá, th ực hiện tốt mối liên kết "4 nhà", c ủng cố khối liên
minh công nông trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn.
Bên cạnh đó, về sản xuất lúa hữu cơ ở Cà Mau cũng đã hình thành một dự án
về lúa gạo hoa sữa của Công ty Vi ễn Phú tại huyện U Minh v ới diện tích 320 ha.
Bước đầu cho kết quả khả quan (n ăng suất bình quân 2,7 t ấn/ha/vụ, được cơ quan
kiểm soát chất lượng Hà Lan cấp giấy chứng nhận để xuất khẩu qua thị trường Châu
79
Âu và Mỹ, giá lúa h ữu cơ thu mua hi ện tại cao gấp 3 lần so với giá lúa ch ất lượng
tốt nhất sản xuất theo kiểu không hữu cơ), sản phẩm lúa hữu cơ tạo tiền đề cho định
hướng phát triển trong tương lai.
Bảng 3.9: Biến động diện tích một số cây trồng chính (1997 - 2015)
Đơn vị: ha
Cây ăn quả Lúa Năm Ngô Dừa Mía (DT gieo trồng) khác
1997 220.844 342 21.222 10.041 6.515
2000 248.241 301 20.102 8.833 5.655
2005 109.640 221 9.585 6.680 3.422
2010 125.581 316 8.080 8.248 1.803
2015 136.141 296 8.069 9.166 1.762
Nguồn: [21].
Ngoài ra, t ừ năm 2011 đến nay, đã có nhi ều mô hình s ản xu ất có hi ệu qu ả,
thành công, nhân ra diện rộng, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tăng thu nhập
cho ng ười dân, nh ất là trong th ực hi ện Đề án Tôm - Lúa. Đến năm 2015 đã xây
dựng 38 mô hình s ản xuất lúa với quy mô 13.133 ha; n ăng suất bình quân đạt 5,2
tấn/ha/vụ, tăng 0,7 tấn so với vụ sản xuất của địa phương. Đó là các mô hình: S ản
xuất lúa gi ống năng su ất cao nhân ra c ấp nguyên ch ủng với 67 ha; s ản xu ất lúa
giống nguyên chủng nhân ra cấp xác nhận 1: 1.221 ha; mô hình trình di ễn giống lúa
mới: 115 ha; mô hình nhân gi ống cấp xác nhận ở xã nghèo: 75 ha; sản xuất lúa theo
quy trình GAP: 220 ha; s ản xuất lúa "3 gi ảm, 3 tăng": 300 ha; mô hình nhân gi ống
lúa: 60 ha; sản xuất lúa ghi chép sổ tay theo tiêu chuẩn VietGAP; 100 ha…[21].
Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi trong nông nghi ệp Cà Mau th ời
gian qua di ễn ra hợp lý. Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, cơ cấu các lo ại vật nuôi
cũng có những đặc trưng riêng có của địa bàn, khác với các tỉnh Tây - Bắc ĐBSCL.
Các điều kiện cho ch ăn nuôi đại gia súc có nhi ều khó kh ăn hơn. Đàn trâu, bò giai
đoạn qua gi ảm mạnh, các đàn heo và gia c ầm tăng, giảm thất thường song xu th ế
chung là tăng. Đàn heo tăng từ 285,8 nghìn con năm 2000 lên 495,1 nghìn con n ăm
2013, tương tự đàn gia cầm cũng tăng mạnh từ 2,88 triệu con năm 2000 lên 3,9 triệu
con năm 2013 [13]. Về phân bổ, đàn trâu bò tập trung nhiều ở thành phố Cà Mau và
huyện Thới Bình, đàn heo tập trung nhi ều ở huyện Trần Văn Thời, tiếp đó là Đầm
Dơi và Thới Bình; đàn gia cầm cũng phân bố tương tự.
80
Bảng 3.10: Thực trạng chăn nuôi giai đoạn 1997 - 2015
Đơn vị tính: con
Tăng trưởng
(%/năm)
1997
2000
2005
2010
2015
2006-
2011-
2000-
2010
2015
2005
Trâu, bò 2211 655 923 770 664 -21.6 7.1 -10.4
Heo 285.832 245.924 217.662 517.423 495.115 -3.0 -2.4 31.5
Gia cầm 2.879.337 647.060 1.485.368 3.496.786 3.920.871 -25.8 17.8 38.8
Nguồn: [21].
Toàn tỉnh hiện có 15 cơ sở chế biến giết mổ gia súc, gia cầm (13 điểm gia súc,
02 điểm gia cầm). Ngày 12/9/2013 UBND tỉnh Cà Mau đã phê duyệt Đề án giết mổ
gia súc, gia cầm tập trung giai đoạn 2013 - 2015 và định hướng 2020, với mục tiêu
góp phần đảm bảo an toàn v ệ sinh th ực phẩm và bảo vệ môi tr ường. Theo đó, các
huyện Năm Căn và Đầm Dơi hiện đang tiến hành xây d ựng các lò gi ết mổ gia súc,
gia cầm tập trung [21].
Đầu tư lai tạo giống gia súc, gia c ầm từng bước được cải thi ện, số lượng và
chất lượng giống ngày càng được nâng cao. Các giống địa phương năng suất và chất
lượng kém d ần được thay th ế. Cụ th ể số lượng heo gi ống mới, heo lai gi ống
yorshire, landrat chiếm 98% tổng đàn. Hiện có 7 cơ sở sản xuất tinh và áp dụng thụ
tinh nhân t ạo trên heo chi ếm 30% t ổng đàn nái. Ph ương th ức ch ăn nuôi truy ền
thống góp ph ần tăng thu nh ập và cung c ấp ph ần lớn sản ph ẩm ch ăn nuôi cho th ị
trường tiêu th ụ nội tỉnh. Chăn nuôi có s ự kiểm soát và ch ăn nuôi theo quy mô gia
trại ứng dụng khá tốt các ti ến bộ kỹ thuật mới, tiên ti ến, trong nh ững năm gần đây
đã triển khai một số mô hình ch ăn nuôi an toàn sinh h ọc, đệm lót sinh học… ở một
số địa phương, bước đầu được bà con nông dân đón nhận và mang lại hiệu quả tích
cực, mở ra định hướng phát triển chăn nuôi trong tương lai. Chăn nuôi trang tr ại cơ
bản được hình thành và phát tri ển với sự quan tâm đầu tư khá tốt về giống, chuồng
trại, kỹ thuật và xử lý môi tr ường. Đến nay đã có 18 trang tr ại với tổng đàn 35.000
con heo. Mạng lưới thú y đã phủ kín 96/101 xã, ph ường, thị trấn có nhu c ầu thú y,
trình độ chuyên môn cán b ộ thú y ngày càng được nâng cao ( đại học có 21 ng ười,
cao đẳng 01 ng ười, trung c ấp 37 ng ười, sơ cấp 32 ng ười), góp ph ần quan tr ọng
trong công tác phòng, chống dịch bệnh kịp thời [20].
81
Về lâm nghiệp, năm 2015, tổng diện tích rừng toàn tỉnh có 104,2 nghìn ha trong đó
rừng đặc dụng là 17,8 nghìn ha, rừng phòng hộ ven biển có 26,7 nghìn ha và 59,7 nghìn
ha rừng sản xuất. Trong đó rừng tự nhiên có 9.218 ha, phần còn lại là rừng trồng [20].
Công tác khôi phục rừng trong những năm qua đã được sự quan tâm chú ý, tuy
nhiên chủ yếu chú trọng đến phủ xanh đất trồng và trồng sau khai thác, ch ưa chú ý
nhiều đến chất lượng, giá trị rừng trồng, công tác giống chưa thật sự được quan tâm.
Riêng đối với rừng sản xuất khu vực rừng tràm có được sự hỗ trợ từ nguồn ODA
của Chính ph ủ Nhật Bản đã đầu tư một số mô hình kho ảng 800 ha tr ồng rừng lên
liếp và cây keo lai đã dần dần thay th ế cây tràm truy ền th ống, bước đầu cho hi ệu
quả kinh tế khả quan, mở ra hướng phát triển mới trong thời gian tới.
Bảng 3.11: Hiện trạng rừng và trồng rừng giai đoạn 2011 - 2013
Đơn vị tính: ha
Diện tích có rừng Diện tích Năm Phòng hộ rừng trồng Tổng số Đặc dụng Sản xuất ven biển
2011 26.716 100.387 17.607 56.064 850
2013 26.681 1023.741 17.694 58.366 729
2015 26.641 104.165 17.794 59.730 546
Nguồn: [104].
Trên địa bàn tỉnh hiện có một số cơ sở, HTX ch ế biến lâm sản cung cấp cho
thị trường các mặt hàng gỗ gia dụng (sản phẩm chủ yếu là bàn gh ế gia dụng), than
đước, than hoạt tính.v.v…
Hoạt động phòng chống cháy rừng, thực hiện luật bảo vệ và phát triển rừng đạt
kết quả năm sau tốt hơn năm trước, số vụ vi ph ạm lâm lu ật giảm, số vụ cháy rừng
và thiệt hại do cháy rừng gây ra giảm đáng kể.
3.2.1.2. Về chất lượng sản phẩm nông, lâm, thủy hải sản
Trải qua giai đoạn phát tri ển khá dài 1997 - 2015, Cà Mau đã có nh ững bước
tiến đáng kể trong phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản về tăng trưởng cũng như
chuyển dịch cơ cấu trong n ội bộ khu v ực. Th ực hi ện Ngh ị quy ết số 09/CP ngày
15/6/2000 của Th ủ tướng Chính ph ủ về chuy ển dịch cơ cấu kinh t ế, tiêu th ụ sản
phẩm nông nghiệp, từ cuối năm 2000 tỉnh Cà Mau đã chuyển một phần diện tích đất
trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi thủy sản.
82
Chủ tr ương chuyển đổi cơ cấu sản xu ất nông - ng ư - lâm nghi ệp sang ng ư -
nông - lâm nghi ệp là đúng đắn, kịp thời, phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh và
phù hợp với nguyện vọng của nhân dân được đại bộ phận nhân dân đồng tình; đáp
ứng được đòi hỏi bức xúc của nhân dân mu ốn chuyển đổi nuôi tôm mang l ại hiệu
quả cao hơn trồng lúa. Quá trình chuy ển đổi đã diễn ra đồng loạt (không theo b ước
đi dự ki ến quy ho ạch). Toàn t ỉnh đã chuy ển đổi 157.895 ha đất tr ồng lúa và đất
vườn sang nuôi tr ồng th ủy sản (ch ủ yếu là nuôi tôm n ước lợ), nâng nhanh chóng
diện tích nuôi th ủy sản của tỉnh lên 278.241 ha (chi ếm 52,2 di ện tích tự nhiên của
tỉnh). Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã làm thay đổi cơ bản cơ cấu
sản xuất nông nghiệp, kinh tế thủy sản chiếm tỷ trọng ngày càng lớn và khẳng định
vai trò ngành mũi nhọn trong nền kinh tế tỉnh. Từ năm 2001 - 2005, trong khi ngành
nông nghi ệp, lâm nghi ệp tăng tr ưởng âm thì giá tr ị sản xu ất ngành th ủy sản (giá
ss94) đã tăng bình quân 11,3%/n ăm góp ph ần đưa toàn bộ khu vực ngư, nông, lâm
nghiệp tăng trưởng bình quân 4.8%/n ăm. Cơ cấu giá tr ị sản xuất ngư - nông - lâm
nghiệp của tỉnh cũng đã có thay đổi từ 65,6% - 31,6% - 2,8%/n ăm năm 2000 thành
84,4% - 13,3% - 1,8% [20]. Nhìn chung, quá trình chuy ển đổi đạt kết quả khá cao,
khai thác được tiềm năng kinh tế thủy sản, hầu hết các vùng chuy ển đổi sang nuôi
thủy sản đều đạt hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa, thu nh ập bình quân trên 1 đơn
vị diện tích cao gấp 2 lần so với trước khi chuyển đổi sản xuất. Thông qua đó đã tạo
ra giá trị hàng hóa xuất khẩu lớn, góp phần tăng trưởng kinh tế nhanh, nâng cao đời
sống nhân dân. Giá tr ị hàng hóa xu ất kh ẩu th ủy sản tăng từ 120 tri ệu USD n ăm
1997 lên 509,9 tri ệu USD năm 2005. Sau th ời kỳ thay đổi bùng phát nuôi th ủy sản
không có tốc độ tăng trưởng cao như trước song vẫn là lĩnh vực đóng góp chính cho
tăng trưởng kinh tế khu vực ngư - nông - lâm nghi ệp. Các ngành tr ồng trọt và chăn
nuôi cũng phát triển trở lại. Kinh tế khu vực ngư - nông - lâm nghi ệp phát triển hài
hòa, hợp lý hơn. Mười năm 2006 - 2015, thủy sản tăng trưởng bình quân 8,4%/năm;
trồng trọt 3,6%/n ăm; chăn nuôi 8,4%,. Xu ất kh ẩu thủy sản ti ếp tục tăng, nếu năm
2006 đạt 579,4 tri ệu USD thì n ăm 2015 đạt 1.150 tri ệu USD. Bên c ạnh đó, chuyển
đổi cơ cấu sản xuất đã tác động nhiều mặt đến đời sống xã hội nông thôn, làm thay
đổi ngh ề, tập quán canh tác c ủa nông dân, g ắn sản xu ất với th ị tr ường hàng hóa,
dịch vụ, cải thiện rõ nét về đời sống của người dân. Tuy nhiên, cùng với chuyển đổi
và điều ch ỉnh sản xu ất, nhi ều vấn đề xã h ội ở nông thôn c ũng đã xu ất hi ện, song
83
cũng đã được điều chỉnh và từng bước giải quyết. Như vấn đề không đồng bộ giữa
nhu cầu và kh ả năng về vốn, con gi ống, th ủy lợi ch ưa đáp ứng được đòi hỏi, lao
động dư thừa nhiều.
3.2.2. Thực trạng nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà
Mau xét trên phương diện xã hội
3.2.2.1. Nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững với vấn đề tạo vi ệc
làm và trình độ lao động
Tỷ trọng lao động trong lĩnh vực ngư-nông-lâm nghiệp trong năm 2005, 2010,
2015 lần lượt là 86,44%, 72,41% và 72,46%; trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng
lần lược là 4,4%, 6,23% và 6,94%; trong l ĩnh vực dịch vụ tương ứng là 9,16%,
21,36% và 20,60% [16]. Điều này cho th ấy nguy cơ Cà Mau rơi vào vòng xoáy đói
nghèo là sự cấp thiết phải nhanh chóng thay đổi tỷ lệ lao động trong cơ cấu kinh tế
để tạo ra những động lực phát triển mới.
Thu nhập thấp
Cầu tiêu dùng thấp
Cầu tiêu dùng thấp tiết kiệm thấp
Thu nhập thấp
Không tạo ra việc làm mới
Không tạo ra việc làm mới
Thiếu động lực đầu tư
Thiếu động lực đầu tư Nguồn lực đầu tư thấp
Hình 3.3: Vòng xoáy đói nghèo
Nguồn: [103].
Trình độ và ch ất lượng lao động, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của Cà Mau
vào năm 2015 chỉ đạt 7,5% ; tổng số lao động đang làm việc, thấp hơn rất nhiều so
với mức bình quân của cả nước là 17,9% và bình quân vùng ĐBSCL là 10,4%. Điều
đáng lưu ý là tỷ trọng này rất chậm thay đổi từ năm 2006 đến 2012 tỷ lệ này giảm từ
84
5,3% xuống 5,1% và năm 2015 mới có bước vươn lên 7,5% [21]. Lao động Cà Mau
chủ yếu làm nông nghi ệp, quen tác phong làm vi ệc tự do, ch ưa có tác phong s ản
xuất công nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật lao động thấp, hạn chế về ngoại ngữ nên
gặp khó khăn về cạnh tranh trong thị trường lao động xã hội và phân công lao động xã
hội. Sự yếu kém của lực lượng lao động của Tỉnh một phần nguyên nhân do giáo dục -
đào tạo (GD-ĐT) khó khăn, nhưng phần lớn là do nền kinh tế của tỉnh không hấp thụ
được các lao động có đào tạo của địa phương và từ các địa phương khác đến.
Số lượng lao động phổ thông chưa qua bất kỳ hình thức đào tạo nào năm 2010
lên tới 70%, đến năm 2015 ch ỉ số này có gi ảm nhưng không đáng kể. Số lao động
có trình độ từ Cao đẳng trở lên năm 2010 chỉ đạt 2,7% và năm 2015 đạt 3,6% [20].
Bảng 3.12: Cơ cấu lao động qua đào tạo hàng năm
Đơn vị: %
Tổng số lao
Chia ra
Năm
Truyền nghề
động qua đào tạo
18,79 21,27 23,37 24,37 24,18 30,00 31,51 33,62 33,74 33,86 34,20 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015
Cao đẳng trở lên 0,82 1,00 1,31 1,64 2,15 2,66 2,89 3,27 3,64 3,69 4,01
Chứng chỉ hành nghề 3,12 5,11 5,95 5,85 8,12 10,39 10,95 12,25 13,54 13,11 13,20
12,06 12,11 12,08 11,29 10,72 10,33 10,07 9,68 9,29 9,69 10,50
Trung học, công nhân kỹ thuật 2,79 3,06 4,03 5,04 6,01 6,62 7,59 8,43 9,27 9,35 9,78 Nguồn: [80].
Cơ cấu lao động, tỷ tr ọng lao động trong nông - lâm - ng ư nghi ệp gi ảm từ
86,44% năm 2000 xu ống còn 72,41% trong n ăm 2010 và 69,9% n ăm 2015 [20].
Tuy nhiên, từ năm 2010 tr ở lại đây hầu như không có chuy ển biến tích cực như đã
quan sát th ấy trong giai đoạn 2000-2010. Mặt dù ngành công nghi ệp, xây dựng và
dịch vụ có phát triển và thu hút được số lượng đáng kể lao động trong nông nghiệp.
Sự trì tr ệ này là d ấu hiệu cho th ấy cần phải thay đổi lại cơ cấu kinh tế của tỉnh để
nhanh chóng phục hồi lại đà tăng trưởng.
85
Bảng 3.13: Số lượng và cơ cấu lao động đang hoạt động kinh tế
Đơn vị tính: lao động
Chỉ tiêu Tổng số
Năm 1997 590.668 510.582
Năm 2005 613.456 504.375
Năm 2010 464.551 468.150
Năm 2015 678.713 491.767
25.987
31.893
40.311
47129
54.099
77.188
138.090
139817
86.44
82.22
72.41
72.46
4.40
5.20
6.23
6.94
Ngư nông lâm nghiệp Số lượng công nghiệp và xây dựng Số lượng dịch vụ Số lượng ng ư nông lâm nghiệp Tỷ tr ọng Công nghi ệp và xây dựng (%) Tỷ trọng dịch vụ (%)
9.16
21.36
20.60
12.58 Nguồn: [21].
Cơ cấu lao động ngành ng ư - nông - nghi ệp đang có xu h ướng gi ảm từ
125.658 lao động năm 2005 xu ống còn 102.900 lao động năm 2010 (t ốc độ gi ảm
bình quân 0,7%/n ăm trong giai đoạn 2006-2010) [15]. Lao động ngành ng ư nghiệp
cũng có xu hướng giảm, tuy nhiên, tốc độ giảm bình quân hàng năm thấp hơn (giảm
bình quân kho ảng 0,1%/n ăm trong giai đoạn 2006-2010). Xu h ướng này ph ản ánh
sự dịch chuy ển theo xu h ướng phi nông nghi ệp hóa c ủa Cà Mau trong giai đoạn
này. Tuy nhiên, về số lượng tuyệt đối thì số việc làm trong ngành th ủy sản vẫn tăng
lên; điều này có ngh ĩa là do s ự sụt giảm của ngành công nghi ệp, xây dựng và dịch
vụ làm cho số lượng việc làm trong các ngành này không t ăng đủ hấp thụ số lượng
lao động tăng lên do đó, những lao động này bu ộc phải làm vi ệc trong ngành nông
nghiệp và lâm nghiệp.
Bảng 3.14: Lao động ngành ngư nông lâm nghiệp
Năm 2005 540.375 Năm 2010 468.150 Năm 2015 495.176
Chỉ tiêu Tổng lao động ngư nông lâm nghiệp Thủy sản So với tổng số (%) Nông, lâm nghiệp So với tổng số (%) 378.717 75,1 125.658 24,9 365.160 78 102.990 22 390.225 77,3 115.550 23,6
Nguồn: [21].
86
Tỷ trọng lao động trong ngành th ủy sản tại Cà Mau cao v ượt trội so với cả
nước, cho th ấy đây là ngành có l ợi thế tuyệt đối của Cà Mau và có quy mô l ớn đủ
để phát triển thành các cụm sản xuất chế biến thủy hải sản.
Đặc điểm lao động Cà Mau khá d ồi dào, nh ưng phân tán, ch ất lượng lao
động thấp chủ yếu làm vi ệc trong ngành nông, lâm, ng ư nghiệp. Tỷ trọng lao động
có trình độ chuyên môn k ỹ thuật rất thấp, thấp hơn nhiều so với trung bình c ủa cả
nước. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chưa nhiều, và trong s ố lao động qua đào tạo
chủ yếu thông qua h ọc nghề, truyền nghề, lực lượng công nhân k ỹ thuật được đào
tạo bài bản qua trường lớp còn rất hạn chế.
Cà Mau không phải là nơi tạo ra sức hút lao động, chủ yếu lao động Cà Mau
di cư sang các địa phương khác, đặc biệt là lao động qua đào tạo, có trình độ chuyên
môn kỹ thuật. Lao động tại Cà Mau ch ủ yếu sử dụng lao động tại chỗ, có trình độ
chuyên môn thấp. Số trí thức đầu ngành có trình độ cao và số chuyên gia còn ít, ch ỉ
tập trung vào một số lĩnh vực (Chủ yếu là y tế và giáo dục)
Cà Mau d ường nh ư đang rơi vào vòng lu ẩn qu ẩn nghèo đói. Số lượng các
ngành nghề đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật chiếm tỷ trọng nhỏ trong
toàn bộ nền kinh t ế do đó nhu c ầu về lao động có trình độ chuyên môn k ỹ thu ật
thấp, nhu cầu đào tạo của lao động thấp -> ch ất lượng lao động thấp -> các ngành
đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật kém phát triển.
3.2.2.2. Nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững với vấn đề xóa đói
giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân
Nông nghi ệp phát tri ển làm cho thu nh ập bình quân c ủa hộ từ 278 ngàn
đồng/người/tháng năm 1997 tăng lên 1.350 ngàn đồng/người/tháng năm 2015, tăng
4,7 lần so với năm 1997 tăng bình quân 12,38%/n ăm [20]. Thu nh ập của người dân
tăng, cộng với các chính sách an sinh xã h ội được duy trì và phát tri ển liên tục đã
góp phần cải thiện tình hình nhà ở và ph ương tiện sinh hoạt của dân cư. Điều đáng
lưu ý là ph ần lớn GDP của tỉnh được chuyển ra ngoài t ỉnh (ví dụ: các nhà máy khí
điện đạm có thể tạo ra GDP lớn cho tỉnh nhưng hầu hết giá trị gia tăng của nhà máy
được chuyển ra ngoài t ỉnh, địa ph ương ch ỉ thu được thu ế và m ột số thu nh ập của
người lao động làm trong nhà máy. Hay xu ất khẩu thủy sản, năm 2015 đạt tới 1.150
tỷ USD, nh ưng ph ần lớn trong s ố đó là các thành ph ố lớn nh ư thành ph ố Hồ Chí
Minh, Cần Thơ hưởng lợi, vì đa số các công ty này có địa chỉ đăng ký kinh doanh
gốc đều ở các thành phố lớn).
87
Nhờ những thành quả của phát triển KT-XH, số hộ nghèo liên tục giảm mạnh.
Đến năm 2015 số hộ nghèo toàn tỉnh chỉ còn 3,69% thấp hơn nhiều so với mức bình
quân cả nước (khoảng 9%). Hi ện nay nếu tính t ỷ lệ hộ nghèo theo chu ẩn đa chiều
thì tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh là 9,8% và t ỷ lệ hộ cận nghèo còn 3,3%, điều này cho
thấy quá trình phát tri ển KT-XH của Cà Mau khá đồng đều, mọi tầng lớp nhân dân
đều được hưởng thành quả của sự phát triển. Đến nay, 100% hộ dân có đồ dùng lâu
bền, trong đó 89,68% hộ dân có điện thoại; 86,55% hộ dân có ti vi màu; 47,22% h ộ
dân có xe máy (năm 2005 chỉ có 20%) [20].
Thời điểm mới chia tách t ỉnh, lao động trong khu v ực nông, lâm nghi ệp và
thủy sản năm 1997 chi ếm 83,8% đến năm 2013 gi ảm xuống còn 69,46% khu v ực
công nghiệp và xây dựng năm 1997 chiếm 4,92% đến năm 2015 tăng lên 7,44% khu
vực dịch vụ có chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỷ trọng trong các ngành công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ nhưng lao động trong khu vực nông, lâm nghi ệp, thủy
sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn và đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế [16].
Năm 2015, tỉnh có 750 nghìn lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế,
tăng 47,75% (250 ngàn người) so với năm 1997, tốc độ tăng bình quân trên 2,5%/năm,
trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có 492 nghìn lao động, tăng 22,72% so
với năm 1997, tăng bình quân 1,4%/năm, khu vực công nghiệp và xây dựng có 47 ngàn
lao động, tăng 1,7 lần so với năm 1997, tăng bình quân 7%/năm [30].
Tuy nhiên, do xu ất phát điểm là một tỉnh chủ yếu sản xuất nông nghi ệp nên
mặt dù có sự chuyển dịch lao động khá nhanh nh ưng đến năm 2015 lao động trong
khu vực nông, lâm nghi ệp và th ủy sản vẫn còn chi ếm ph ần lớn trong t ổng số lao
động của tỉnh, điều này cho th ấy đời sống của cư dân nông thôn được cải thi ện
nhưng còn chậm, một bộ phận hiện cuộc sống vẫn còn khó khăn, thiếu việc làm, thu
nhập bấp bênh, một số khác bỏ quê lên các t ỉnh Miền đông Nam bộ làm thuê ở các
khu công nghi ệp, khu ch ế xu ất để cải thi ện cu ộc sống, làm cho địa ph ương có
những thời điểm khan hiếm lao động, nhất là các nhà máy chế biến thủy sản khi vào
mùa thu hoạch cao điểm.
3.2.2.3. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững với vấn đề công bằng
xã hội
Chính sách an sinh xã hội, đầu tư phát triển, hỗ trợ người nghèo, gia đình chính
sách, gia đình khó khăn được thực hiện đồng bộ, quyết liệt, đến năm 2015 có 99,46%
88
hộ gia đình đã có điện sinh hoạt và 99% hộ dân thành thị, 85% hộ dân nông thôn sử
dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Đây là những thành tựu đáng ghi nhận của tỉnh, đặc
biệt trong bối cảnh Cà Mau vẫn là một tỉnh phát triển trung bình khá của vùng ĐBSCL.
Công tác ch ăm sóc s ức kh ỏe nhân dân , ch ất lượng khám, ch ữa bệnh cho
người dân địa bàn nông thôn t ừng bước được nâng lên. Tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ và
tỷ lệ xã, ph ường, th ị tr ấn đạt chu ẩn qu ốc gia v ề y t ế đạt 100%. C ơ sở bệnh vi ện
tuyến cơ sở được quan tâm đầu tư, nâng cấp. Năm 2015, toàn tỉnh có 3.292 gi ường
bệnh, tăng gấp 2,2 lần năm 1997; bình quân s ố giường bệnh/1 vạn dân tăng từ 14,3
giường lên 28,9 giường. Số lượng bác sĩ trên một vạn dân của Cà Mau cao thứ nhì so
với các tỉnh khác thuộc ĐBSCL, chỉ đứng sau Cần Thơ là trung tâm văn hóa, chính trị,
khoa học, kinh tế của cả vùng ĐBSCL [21]. Đây là một chỉ số rất đáng khích lệ, cho
thấy mặc dù xuất phát điểm còn thấp nhưng Cà Mau rất quan tâm đến công tác chăm
sóc sức khỏe của người dân, nhất là đối với nông dân thuộc hộ nghèo, đối tượng chính
sách. Điều này thực sự cần thiết khi Cà Mau nằm ở vị trí quá cách xa các trung tâm
y tế lớn của cả nước và khu vực như TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ.
Cạnh đó, hệ thống y tế ngoài công lập khá phát triển, Cà Mau đã tạo điều kiện
cho tư nhân tham gia vào vi ệc cung ứng dịch vụ y tế. Đến nay tỉnh đã có một bệnh
14
12
10
8
6
4
2
0
Cà M au
Long An
Trà Vinh
An Giang
Kiên Giang
viện đa khoa và 9 phòng khám đa khoa tư nhân.
Biểu đồ 3.3: Số bác sĩ trên 10.000 dân năm 2013
Nguồn: [21].
Giáo dục - đào tạo có bước phát tri ển khá, đội ngũ giáo viên v ừa tăng về số
lượng, vừa được đào tạo bồi dưỡng nâng lên v ề trình độ, tổng số giáo viên n ăm
89
2015 là 14.104 ng ười, tăng hơn 5.900 ng ười so v ới năm 1997, nếu tính c ả cán bộ
quản lý và nhân nhiên toàn ngành GD-ĐT của tỉnh hiện nay có 19.465 người, chiếm
hơn 2/3 công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước. Quy mô các bậc học, cấp học
đều tăng: năm học 2014 - 2015 t ổng số có 545 tr ường học các cấp, tăng 233 trường
so với năm 1997. Trong đó có 130 tr ường mầm non, t ăng 97 tr ường; 267 tr ường
tiểu học, tăng 74 tr ường; 117 tr ường trung h ọc cơ sở, tăng 53 tr ường; 32 tr ường
trung học phổ thông, tăng 11 trường [21].
Tổng số học sinh n ăm học 2014 - 2015 là 242.444 em. T ỉ lệ học sinh
THCS/tiểu học và THPT/THCS c ủa Cà Mau th ấp hơn hầu hết các t ỉnh vùng
ĐBSCL và thấp hơn mức trung bình các vùng khác trên c ả nước. Điều này cho thấy
tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường nhưng không đi học ở Cà Mau là khá cao và
cấp học càng cao thì t ỷ lệ càng thấp. Tỷ lệ học sinh bỏ học các cấp học lần lượt là:
80
70
60
50
40
30
20
10
0
N P B
C à M au
L ong A n
Trà Vinh
A n Giang
Kiên Giang
Tây nguyên
Trung du M
cấp tiểu học 0,7%, cấp THCS 1,92% và cấp THPT là 4,3% [20].
THCS/Ti
ểu học THPT/THCS
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ học sinh các cấp so với cấp dưới
Nguồn: [20].
Hi ện nay Cà Mau có 2 tr ường Đại học ngoài công lập mới được thành lập, 3
trường Cao đẳng công l ập và 2 tr ường Trung cấp Chuyên nghi ệp với tổng số sinh
viên hàng năm khoảng 4.500 người.
90
Công tác đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ngày càng được mở rộng, tất cả các
huyện đều có trung tâm giáo dục nghề nghiệp, nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã
tích cực tham gia truyền nghề, bồi dưỡng nghề cho người lao động, tỷ lệ lao động qua
đào tạo, dạy nghề, truyền nghề đã tăng từ 15% (năm 1997) lên trên 34,5% [20].
Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH của tỉnh thì ngành GD- ĐT
Cà Mau còn kém phát tri ển so với các tỉnh vùng ĐBSCL. Năm 2015, số lượng sinh
viên theo h ọc cấp học Cao đẳng và Đại học tại Cà Mau ch ỉ đạt 1.931 sinh viên,
đứng thứ 11/13 trong s ố các tỉnh ĐBSCL. Nếu tính t ỷ lệ sinh viên các tr ường này
trên tổng số lực lượng lao động thì Cà Mau c ũng đứng th ứ 11/13 v ới mức 0,33%
thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân của vùng ĐBSCL là 1,58% kể cả Cần Thơ
và 0.98% nếu không tính C ần Thơ [20]. Điều này cho th ấy ngoài Cần Thơ là trung
tâm GD-ĐT cho cả vùng ĐBSCL, các tỉnh khác trong vùng cũng phát triển giáo dục
cao đẳng và đại học tốt hơn Cà Mau.
Th ực tế cho th ấy hệ đào tạo cao đẳng và đại học địa ph ương chỉ thực hiện
thông qua hình th ức liên k ết đào tạo tại ch ỗ nên ch ủ yếu ch ỉ nh ằm đáp ứng được
nhu cầu bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo chức danh
mà chưa có điều kiện đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn k ỹ thuật đáp
ứng nhu cầu phát triển KT-XH địa phương.
Nếu xét về phát tri ển Trung c ấp chuyên nghi ệp thì số lượng sinh viên n ăm
2015 đạt 2768 sinh viên x ếp thứ 8/13 tỉnh ĐBSCL và t ỷ trọng số lượng sinh viên
trung cấp chuyên nghi ệp so với lực lượng lao động của Cà Mau khá cao đạt 0,48%
đứng thứ 4/13 các t ỉnh ĐBSCL, chỉ sau Cần Thơ, Vĩnh Long và Ti ền Giang. Hơn
nữa, tỷ trọng sinh viên trung c ấp chuyên nghi ệp trên giáo viên c ủa Cà Mau là th ấp
nhất trong các tỉnh ĐBSCL với tỷ lệ 22,69 trong khi t ỷ lệ trung bình của ĐBSCL là
45,14. Dường như Cà Mau không thu hút được số lượng sinh viên trung cấp chuyên
nghiệp như kỳ vọng.
Điều này có nguyên nhân khách quan là do nh ững lĩnh vực đào tạo chuyên
sâu và KH-KT ch ỉ tập trung tại các trung tâm c ủa vùng mà c ụ thể là Cần Thơ. Các
trung tâm này có l ợi th ế là nơi tập trung nh ững giảng viên, chuyên gia gi ỏi và có
điều kiện cơ sở vật chất vượt trội.
Hoạt động văn hóa - th ể thao ngày càng đa dạng, phong phú, góp ph ần giáo
dục chính tr ị tư tưởng, xây dựng đời sống văn hóa, tinh th ần cho nhân dân; phong
91
trào văn hóa - v ăn nghệ quần chúng ngày càng được mở rộng. Tỉnh đã đầu tư xây
dựng, nâng cấp một số trung tâm văn hóa, thể dục - thể thao các cấp, các công trình
di tích lịch sử, công trình ghi công liệt sĩ.
Đến nay các huyện trong tỉnh đã quy hoạch xong trung tâm văn hóa - thể thao
huyện; 39,02% số xã có trung tâm văn hóa - thể thao. Cuộc vận động toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong sạch
vững mạnh, xây dựng NTM được quan tâm th ực hiện; năm 2015, đã có 63,11% hộ
gia đình, 19,1% khóm ấp được công nhận gia đình đạt chuẩn văn hóa và 19,66% số
xã đạt chuẩn văn hóa NTM [20].
Hoạt động văn nghệ và nghệ thuật quần chúng ngày càng phát triển và mở rộng,
chất lượng và quy mô h ội thi, hội diễn, liên hoan ngh ệ thuật quần chúng ngày càng
được nâng cao, phục vụ nhu cầu đời sống văn hóa, tinh thần của dân cư. Đến nay, 9/9
huyện, thành phố đều có đội văn nghệ quần chúng, bên cạnh đó, các loại hình sinh hoạt
văn hóa - văn nghệ như: đờn ca tài tử, hát với nhau…được duy trì và phát huy tốt.
Hoạt động th ể dục - th ể thao nông dân có nhi ều ti ến bộ, các gi ải th ể thao
phong trào nh ư: bóng đá, bóng chuy ền được tổ chức th ường xuyên. Bên c ạnh đó,
hoạt động thể dục - thể thao cũng được tổ chức thường xuyên trong các ngày lễ hội,
truyền thống của các ngành, địa phương trong tỉnh. Phong trào th ể thao quần chúng
phát triển tương đối khá so với các địa phương khác trong khu vực.
Năm 1997, toàn t ỉnh có 361 câu l ạc bộ, đến năm 2015 tăng lên 1.115 câu l ạc
bộ. Số hộ gia đình đạt tiêu chu ẩn gia đình thể thao ngày m ột tăng, từ 1% vào n ăm
1997 đến nay tăng lên 24%. S ố huy ch ương thể thao thành tích cao đạt được hàng
năm tăng cao: năm 1997 đạt được 5 Huy ch ương vàng, đến năm 2015 đạt được 56
Huy ch ương vàng; Huy ch ương bạc năm 1997 đạt được 5 Huy ch ương, đến năm
2015 đạt được 52 Huy chương; tương tự, Huy chương đồng năm 1997 là 6, đến năm
2015 là 83 Huy chương [15], [20].
Công tác thông tin, truy ền thông có nhi ều đổi mới, th ời lượng phát thanh,
truyền hình và l ượng phát hành các báo t ăng; kịp thời thông tin, tuyên truy ền phổ
biến chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp lu ật của Nhà nước; cổ vũ
phong trào thi đua lao động sản xuất, thúc đẩy KT-XH phát triển; tuyên truyền, vận
động nhân dân phòng, ch ống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh; đấu tranh các
hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, các tệ nạn xã hội.
92
Hoạt động thông tin truy ền thông ngày càng phát tri ển đa dạng, ch ất lượng
dịch vụ được nâng lên. M ạng internet, truy ền hình cáp và m ạng điện thoại di động
phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu chỉ đạo điều hành các cấp, các ngành và nhu c ầu
thông tin liên lạc của nhân dân: bình quân đạt 95 máy điện thoại/100 người.
Công tác qu ản lý các ho ạt động văn hóa, ngh ệ thuật, thông tin, báo chí, xu ất
bản chặt ch ẽ hơn. Đội ng ũ trí th ức, văn ngh ệ sĩ, những người làm báo được quan
tâm quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, phát huy khá t ốt tài năng, trí tuệ, đóng góp hiệu
quả vào sự nghiệp phát triển VH-XH của địa phương.
Hoạt động nghiên, c ứu ứng dụng KH - CN t ừng bước đổi mới, gắn sát h ơn
với thực tiễn sản xuất và đời sống. Đến hết năm 2015 đã triển khai được 350 đề tài,
dự án trong đó có một số đề tài, dự án tập trung nghiên c ứu ứng dụng về sản xuất
giống phục vụ sản xuất ngư - nông - lâm nghi ệp, thử nghiệm nuôi công nghi ệp trên
một số loài thủy sản có giá trị kinh tế cao, đã ứng dụng vào thực tiễn, phát huy hiệu
quả, góp phần vào việc tăng năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, nâng cao giá
trị sản xuất.
Trong cạnh tranh trên th ị tr ường toàn c ầu hóa ngày nay, công tác b ảo vệ
quyền sở hữu trí tu ệ, nh ững ch ỉ dẫn địa lý đóng vai trò c ực kỳ quan tr ọng. Các
doanh nghiệp và tổ chức cá nhân ngày càng có ý th ức hơn với vấn đề bảo vệ quyền
sở hữu trí tu ệ, nhãn hi ệu hàng hóa, ki ểu dáng công nghi ệp và các ch ỉ dẫn địa lý.
Đến nay đã có 258 đơn của các doanh nghi ệp đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tu ệ
và nhãn hiệu hàng hóa và kiểu dáng công nghiệp; có 196 nhãn hiệu và 03 kiểu dáng
công nghiệp được Cục sở hữu trí tu ệ (Bộ khoa học và Công ngh ệ) Cấp giấy chứng
nhận cho các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong tỉnh. Ngoài ra đã xây dựng
các nhãn hiệu tập thể của tỉnh như: Mật ong U Minh hạ, tôm khô Rạch Gốc, cá khô
bổi U Minh, tham gia Ch ương trình đảm bảo quyền sở hữu trí tu ệ giai đoạn 2011 -
2015 gồm: các d ự án tuyên truy ền trên Đài Phát thanh và Truy ền hình, xây d ựng
nhãn hi ệu tập th ể cá chình, cá b ống tượng Tân Thành, ch ỉ dẫn địa lý tôm sú Cà
Mau, sở hữu tập thể khô bổi U Minh, ba khía Rạch Gốc...
Tuy nhiên, do Cà Mau thi ếu vắng các tr ường đại học lớn, các vi ện nghiên
cứu chuyên ngành do đó đội ngũ cán bộ KH - CN c ủa Cà Mau còn r ất mỏng. Điều
này không ch ỉ hạn chế năng lực nghiên cứu và tri ển khai nh ững tiến bộ KH - CN
vào sản xuất mà còn h ạn chế nhu cầu đổi mới công ngh ệ của các doanh nghi ệp và
93
các cơ sở sản xu ất. Chính vì th ế đã làm t ăng rủi ro c ủa ho ạt động sản xu ất kinh
doanh trên thị trường quốc tế. Đặc biệt trong quá trình sản xuất và chế biến thủy hải
sản vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của các thị trường phát triển như
Mỹ, Nhật Bản, EU… rủi ro vào các th ị trường này ngày m ột tăng lên. Sự phối hợp
chặt chẽ giữa các nhà khoa h ọc, các tr ường đại học, các doanh nghi ệp để làm cho
hoạt động nghiên cứu và triển khai những tiến bộ KH-CN vào sản xuất, kinh doanh
đáp ứng những yêu cầu thực tế của thị trường và qua đó tăng nhu cầu về ứng dụng
KH-CN của doanh nghi ệp, và cu ối cùng là để tăng nhu c ầu đầu tư vào các ho ạt
động này là một đòi hỏi cấp bách.
3.2.3. Thực trạng nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà
Mau xét trên phương diện môi trường
3.2.3.1. Nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững với việc duy trì và c ải
thiện tài nguyên đa dạng sinh học
Nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững ở Cà Mau trong nh ững năm
qua đã góp ph ần tích cực vào vi ệc duy trì và phát tri ển đa dạng sinh h ọc của tỉnh
cũng như của vùng ĐBSCL. Hiệu quả kinh tế cao từ các mặt hàng địa phương có
thế mạnh, về thủy sản như tôm, cua, cá các lo ại từ 205.000 tấn năm 2001, tăng lên
250.000 tấn năm 2010 và 280.000 t ấn vào năm 2015; về trồng trọt như lúa, các loại
hoa màu, cây ăn trái t ăng trung bình 12,3% m ỗi năm về sản lượng và ch ất lượng
không ngừng được cải thiện; về lâm nghiệp như keo lai, tràm, đước trung bình tăng
hàng năm 23,0%, nh ững ch ỉ tiêu c ơ bản, nh ư ch ỉ tiêu tr ồng rừng, di ện tích r ừng
công nghi ệp được đầu tư mạnh…đã làm cho ng ười dân quan tâm nhi ều hơn đến
việc phát tri ển sản xuất không ch ỉ để tiêu dùng mà còn xu ất khẩu, cho nên v ấn đề
NNPTTHBV rất được người sản xuất quan tâm, chú tr ọng. Việc mở rộng, tận dụng
diện tích canh tác trên vùng đất trống, đất hoang hóa để trồng rừng, trồng trọt, chăn
nuôi, kể cả tận dụng mặt nước để nuôi thủy sản đã góp phần phủ xanh đất bồi, khôi
phục hệ sinh thái rừng và phòng tránh thiên tai. Việc tăng cường các biện pháp canh
tác khoa học, hạn chế sử dụng phân hóa h ọc, khuyến khích sử dụng phân hữu cơ,
luân canh cây tr ồng, vật nuôi tác d ụng làm t ăng độ màu mỡ cho đất, cân bằng hệ
sinh thái, giảm ô nhiễm cho nguồn nước. Kết quả là trong những năm qua nhiều mô
hình sản xu ất lúa, nuôi tôm, rau s ạch được thí điểm và nhân r ộng ở nhi ều địa
phương trong t ỉnh. Vi ệc khai thác g ắn li ền với bảo tồn gi ống nuôi tr ồng, cây con
94
nhằm mục đích tái tạo đã là một bước tiến bộ về nhận thức của người dân trong việc
bảo tồn và phát tri ển đa dạng sinh h ọc. Vi ệc khai thác các ngu ồn gen quý hi ếm
truyền thống để phát triển các giống cây, con có giá tr ị kinh tế cao như keo lai, tràm
bông vàng, cam, quít, bưởi, ổi, tôm càng xanh, tôm sú, thẻ chân trắng, cá sặc rằn, cá
chẽm, cá kèo, cá b ốp…đã có tác dụng duy trì và phát tri ển tài nguyên đa dạng sinh
học đảm bảo môi trường sinh thái.
Tuy nhiên, quá trình đẩy mạnh phát tri ển nền nông nghi ệp hàng hóa, xu ất
khẩu không được ki ểm soát ch ặt ch ẽ đang làm suy gi ảm tài nguyên đa dạng sinh
học. Đó là vi ệc khai thác nh ằm mục đích th ương mại các s ản ph ẩm đa dạng sinh
học và tài nguyên ng ư - nông - lâm nghi ệp đang phá v ỡ hệ sinh thái trên c ạn và
sông, bi ển. Hệ qu ả là dù di ện tích r ừng tăng (t ừ 22,5% n ăm 1997 lên 38,7% n ăm
2015) nhưng chỉ bằng 65% so v ới trước đây. Chất lượng rừng chưa được cải thiện,
giá trị kinh tế thấp, diện tích bị thu hẹp và đang tiếp tục bị suy giảm. Rừng tràm và
rừng đước mặc dù được bảo vệ nghiêm ngặt nhưng đang đứng trước nguy cơ bị tàn
phá và bi ến đổi do áp l ực phát tri ển kinh t ế. Hi ện tại rừng nguyên sinh ch ỉ còn
khoảng 20-30% trong khi r ừng nghèo, r ừng tái sinh chi ếm khoảng 70% t ổng di ện
tích rừng. Trong khí đó, rừng ng ập mặn đã thu h ẹp nhanh chóng do phá r ừng để
nuôi tôm đã làm cho đa dạng sinh học có sự thay đổi nhanh chóng. T ới thời điểm
này chưa có một công trình nghiên c ứu nào t ới sự thay đổi tính đa dạng sinh h ọc
biến đổi từ việc trồng lúa chuy ển sang nuôi tôm. Có m ột thực tế dễ thấy là tính đa
dạng sinh h ọc bị suy gi ảm nhanh chóng trong nh ững năm gần đây từ nh ững tác
động chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh. Từ thực tế đã qua cho thấy, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế là một chủ trương đúng, nhưng cũng chính từ việc chuyển đổi mục đích
sử dụng đất đai, cùng với nạn khai thác, đánh bắt, buôn bán trái phép động vật, thực
vật quý hiếm quá mức đã có tác động trực tiếp đến thay đổi tính đa dạng sinh học.
Cà Mau không có nhi ều tài nguyên khoáng s ản để có th ể tích l ũy tư bản
trong th ời kỳ đầu phát tri ển. Ngu ồn tài nguyên than bùn r ất ti ềm năng nh ưng quá
trình khai thác có th ể ảnh hưởng đến môi tr ường sinh thái c ủa tỉnh. Trong khi đó,
diện tích tràm nguyên sinh ch ỉ có giá tr ị đa dạng sinh học nhưng nếu chuyển sang
trồng cây công nghi ệp đang là thách th ức cần được nghiên c ứu, đánh giá th ật kỹ.
Đất đai Cà Mau không phù h ợp với mục đích nông nghiệp truyền thống, hoặc trồng
cây ăn trái, ch ăn nuôi theo hình th ức trang tr ại. Mặt khác, nền đất yếu, nhiều kênh
95
rạch, đa phần diện tích là h ệ sinh thái m ặn cho nên phát tri ển du lịch vẫn còn ch ưa
được nh ư mong đợi. Cà Mau là t ỉnh ch ịu ảnh hưởng mạnh nh ất của bi ến đổi khí
hậu. Điều này làm cho môi tr ường sinh thái c ủa tỉnh bị nhiều rủi ro và có s ự biến
động lớn. Những chi phí ứng phó với biến đổi khí hậu sẽ là gánh n ặng lớn đối với
ngân sách của địa phương và trung ương.
Bảng 3.15: Tỷ lệ hộ có nguồn nước hợp vệ sinh
Cà Mau
Tỷ lệ hộ có
Tỷ lệ hộ có nguồn nýớc hợp
Vùng
vệ sinh (%)
Khu vực
nguồn nước hợp
vệ sinh (%)
Thành
Ðồng bằng Sông Hồng
98,6
95,5
thị
Trung du và miền núi phía Bắc
80,2
Bắc Trung Bộ và duyên hải
91,0
miền Trung
Nông
81,7
Tây Nguyên
82,8
thôn
Ðông Nam Bộ
98,1
Ðồng bằng sông Cửu Long
81,6
Nguồn: [102].
3.2.3.2. Nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững với vấn đề gìn gi ữ
môi trường sinh thái
Việc ứng dụng KH - CN một cách có hiệu quả sẽ làm giảm đáng kể ô nhiễm
môi trường, hạn chế khai thác ngu ồn tài nguyên thiên nhiên t ự phát, kém hi ệu quả.
Cà Mau hiện có hơn 200 doanh nghiệp, cơ sở mua bán, chế biến mặt hàng thủy sản,
trong đó ch ỉ có 01 doanh nghi ệp có v ốn đầu tư nước ngoài, còn l ại là các doanh
nghiệp, cơ sở kinh doanh trong n ước, trong s ố các doanh nghi ệp có đến 2/3 được
cấp chứng chỉ ISO 14000. Tr ước tình hình nạn tôm chết kéo dài, mặt hàng tôm trên
thị trường thế giới khi tăng khi giảm khó lường, giá cả bấp bênh, áp l ực cạnh tranh
trong th ương mại đối với mặt hàng nông - lâm - th ủy sản ngày càng gay g ắt, số
lượng áp d ụng các bi ện pháp s ản xu ất, kinh doanh m ới, đầu tư áp d ụng các công
nghệ tiên tiến, công nghệ sản xuất sạch, thân thiện với môi trường tăng lên.
Việc dùng vật tư nông nghiệp nuôi thủy sản trong những năm gần đây đã có
bước cải thiện đáng kể, nhất là khâu x ử lý nước, lọc nước, xử lý ph ơi đầm tôm, độ
96
pH trong ao tôm công nghi ệp, xử lý trong lai t ạo bảo quản con giống và chất lượng
giống cây trồng vật nuôi…thì yếu tố môi trường sinh thái luôn được người sản xuất
đặt thành tiêu chí hàng đầu. Ngành chăn nuôi của tỉnh chậm phát triển do điều kiện
tự nhiên không thu ận lợi, ch ỉ có ngành tr ồng tr ọt ch ủ yếu là tr ồng lúa, hoa màu,
trồng cây ăn trái di ện tích không đáng kể. Trong tr ồng lúa và hoa màu l ượng phân
bón, thuốc trừ sâu, hóa chất được sử dụng với liều lượng không lớn, nên nhìn chung
về chất lượng nông sản và mức độ ô nhiễm môi trường cũng không quá lo ngại.
Các khu công nghi ệp của tỉnh được quy ho ạch nhưng chưa được đầu tư xây
dựng, do chưa thu hút được các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư. Có lẽ đây
cũng là lý do dẫn đến số cán bộ có chuyên môn làm công tác bảo vệ môi trường còn
ít. Trong tương lai, vấn đề ô nhiễm môi trường đối với tỉnh sẽ là một thách thức lớn,
nhất là khi tác động của biến đổi khí hậu xảy ra nh ững biến chứng ngày càng khó
lường hơn. Tuy v ậy, đến th ời điểm này n ạn ô nhi ễm môi tr ường sản xu ất và đời
sống ở Cà Mau v ẫn có th ể nằm trong tầm kiểm soát được nếu như chính quy ền có
sự quyết tâm với những giải pháp thiết thực, mạnh mẽ và thực chất hơn.
3.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG
BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU, GIAI ĐOẠN 1997-2015
3.3.1. Những mặt tích cực của nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững
Nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững luôn là yêu c ầu tối cao trong
điều kiện khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và sự cạnh tranh của kinh tế thị trường.
Trong bối cảnh đó NNPTTHBV ở Cà Mau có nh ững bi ến đổi theo chi ều hướng
ngày càng tích cực hơn. Có thể đánh giá quá trình biến đổi đó qua các mặt sau:
3.3.1.1. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững xét về mặt kinh tế
Phân tích k ết qu ả và hi ệu qu ả sản xu ất kinh doanh c ủa ng ư - nông - lâm
nghiệp Cà Mau có th ể kết luận, hình th ức tổ chức sản xuất thời gian qua đã hướng
đến bền vững về kinh tế. Giá trị sản xuất ngư - nông - lâm nghiệp có xu hướng tăng,
đặc biệt là nuôi tr ồng thủy sản. NNPTTHBV có th ể thấy rõ qua các mô hình cánh
đồng mẫu lớn, nuôi tôm theo hình th ức kinh tế nông trại, mô hình tôm - lúa k ết hợp
và các hình thức tổ chức sản xuất ở các lâm phần tôm - rừng kết hợp ở các huyện U
Minh, Cái Nước, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển.
Có thể thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ diện tích đa phần là trồng
lúa cho n ăng su ất th ấp sang nuôi tôm đã đạt được nhi ều ti ến bộ to l ớn giai đoạn
97
1997-2015. Tốc độ tăng tr ưởng GDP bình quân đạt 7,5%, đặc bi ệt trong 5 n ăm
2001-2005 (thời kỳ mới vừa chuyển đổi) khu vực ngư - nông - lâm nghiệp có tốc độ
tăng trưởng vượt trội. Kinh tế Cà Mau thoát ra kh ỏi bẫy đói nghèo nhờ khai thác lợi
thế nuôi tr ồng và ch ế biến thủy sản, đầu tư của trung ương và kết cấu hạ tầng, các
chương trình xóa đói giảm nghèo. Ho ạt động xuất nhập khẩu thủy sản là động lực
chính cho kinh tế Cà Mau phát triển. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp nhìn chung
có sự tăng trưởng qua từng năm. Cụ thể giá trị sản xuất (theo giá ss2010) năm 2015
của ngành đạt 8.243.670 triệu đồng, so với năm 1997 tăng 6.544.921 triệu đồng (tốc
độ tăng bình quân hàng n ăm đạt 8,05%). Trong đó, giá tr ị sản xu ất nông nghi ệp
(trồng tr ọt và ch ăn nuôi) t ăng bình quân 5,51%/n ăm; lâm nghi ệp gi ảm bình quân
3,32%/năm; khai thác và nuôi tr ồng thủy sản tăng bình quân 10,26%/n ăm. Từ kết
quả trên cho th ấy, lĩnh vực thủy sản có tốc độ tăng trưởng giá tr ị sản xuất lớn nhất
do đặc thù của tỉnh là địa phương ven biển, có nghề đánh bắt thủy sản lâu đời, cùng
với các chính sách hỗ trợ ngư dân đánh bắt xa bờ nhằm đảm bảo phát triển KT - XH
bền vững, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển [20].
Nông nghiệp và các ngành s ản xuất trong nông nghi ệp của khu vực I (nông-
lâm-thủy sản) so với tổng sản phẩm GDP nền kinh tế tỉnh có xu hướng giảm xuống,
cho thấy tái cơ cấu kinh tế hợp lý, phù h ợp với định hướng phát tri ển KT-XH của
tỉnh và vùng ĐBSCL. Cơ cấu ngành nông nghi ệp năm 2015 là 33,97% gi ảm tỷ
trọng (năm 2004 là 48,80%, gi ảm trung bình 1,48%/n ăm). Cơ cấu nội bộ sản xuất
trong ngành nông nghi ệp cũng có sự thay đổi mạnh mẽ. Tổng giá tr ị sản xuất nông
nghiệp trong 10 n ăm gần đây: cơ cấu th ủy sản tăng 58,55% lên 65,71%; nông
nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) gi ảm từ 37,93% xu ống 32,59%; lâm nghi ệp giảm từ
3,53% xuống 1,7% so v ới tổng giá tr ị ngành nông nghi ệp. Những con số trên đây
cho thấy sự chuyển dịch kinh tế trong lĩnh vực nông nghi ệp là đúng hướng, có sự
thay đổi về lượng và chất, thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh mẽ trong nội bộ ngành và
có đóng góp quan trọng vào nền kinh tế chung của tỉnh [20].
3.3.1.2. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững xét về mặt xã hội
Kinh tế nông nghiệp phát triển thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh phát triển, giá trị
sản xuất tăng, xuất khẩu tăng, nhờ vậy thu nhập bình quân đầu người không ngừng
được cải thiện. Với mức thu nhập bình quân đầu người từ 580.000 đồng/người/năm
(năm 1997), tăng lên 1.890.000/người/năm (năm 2015). Sự gia tăng thu nhập đã tạo
98
điều ki ện cho ng ười dân nâng cao đáng kể mức chi tiêu, góp ph ần gi ảm tỷ lệ đói
nghèo của tỉnh từ 24,5% năm 1997 xuống còn chưa tới 3,67% năm 2015 (Hiện nay
là 9,8% theo chuẩn đa chiều) [16].
Nông nghiệp của tỉnh chuyển dịch cơ cấu có hi ệu quả, không ch ỉ góp ph ần
phát triển ngành công nghi ệp, dịch vụ, mà còn t ạo thêm công ăn việc làm cho lao
động nông nghi ệp. Nh ờ có tăng trưởng sản xuất và xu ất khẩu nông s ản, tỷ lệ thời
gian lao động, phát tri ển ngành ngh ề kinh doanh, d ịch vụ ở nông thôn t ăng lên. Cà
Mau là t ỉnh đạt được nh ững thành t ựu đáng kể về y tế, giáo d ục, trình độ dân trí
được nâng lên, 100% xã nông thôn đạt chuẩn Quốc gia về y tế; tỉnh đã hoàn thành
phổ cập giáo dục THCS năm 2008, tính đến nay đã có 63% thanh niên trong độ tuổi
có trình độ văn hóa THPT và tương đương [16].
3.3.1.3. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững xét về mặt môi trường
Nông nghi ệp Cà Mau ch ủ yếu là nuôi tr ồng th ủy sản (chi ếm tới 80% di ện
tích đất nông nghi ệp) nên yếu tố bền vững về môi tr ường nuôi th ủy sản có ý ngh ĩa
quyết định đến nền nông nghi ệp của tỉnh. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông -
ngư - lâm nghi ệp sang ng ư - nông - lâm nghi ệp đã tạo lập mối quan h ệ sinh thái
giữa nuôi tr ồng và khai thác có m ối quan hệ ràng bu ộc vừa là điều kiện vừa là kết
quả của quá trình s ản xuất và khai thác. Y ếu tố bền vững đầu vào sản xuất sẽ đảm
bảo cho kết quả theo mong đợi và ng ược lại nếu xem nh ẹ quá trình đầu vào sẽ có
tác động ngoài mong mu ốn trong quá trình s ản xu ất. Đối với nuôi tr ồng th ủy sản
việc tuân thủ nghiêm ngặt xử lý ao đầm, đảm bảo môi trường nước, chất lượng con
giống, kỹ thu ật canh tác thân thi ện với môi tr ường là y ếu tố vô cùng quan tr ọng
trong quy trình s ản xuất. Việc dùng vật tư nông nghi ệp như hóa ch ất, thức ăn thủy
sản…gây ô nhi ễm môi tr ường sang phương thức canh tác an toàn cho s ản xuất, tạo
ra sản phẩm an toàn do sử dụng các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp vừa đảm
bảo chi tiêu ti ết kiệm, vừa đem lại lợi ích kinh t ế thân thi ện với môi tr ường. Thời
gian qua, Cà Mau nhờ làm tốt việc chú trọng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước
ngọt (mặt nước và nước ngầm) và sử dụng hiệu quả vùng ng ập mặn cho phát tri ển
thủy sản, hệ sinh thái r ừng ngập mặn, hệ sinh thái bi ển, ven bi ển, gắn liền với điều
tiết, quan trắc môi trường nước cho sản xuất ngư - nông - lâm nghi ệp cũng như ứng
cứu sự cố môi trường do tác động của biến đổi khí hậu tương đối hiệu quả. Tỉnh đã
có sự chủ động hơn trong vi ệc lồng ghép các y ếu tố môi tr ường vào vi ệc đánh giá
99
kết qu ả tăng tr ưởng trong s ản xu ất nông nghi ệp. Thông qua vi ệc nh ận th ức đúng,
cân đối hài hòa giữa bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế và công bằng xã hội sẽ
là yếu tố quan trọng để Cà Mau xây dựng nền NNPTTHBV.
3.3.2. Tính thiếu bền vững và nguyên nhân
Bên cạnh nh ững kết qu ả đạt được NNPTTHBV Cà Mau còn t ồn tại nh ững
mặt, những phương diện thiếu bền vững, sự phát tri ển thiếu bền vững thể hiện qua
các mặt sau:
3.3.2.1. Tính thiếu bền vững xét về mặt kinh tế
Phần lớn các hình thức sản xuất ngư -nông - lâm nghiệp còn gặp khó khăn do
các yếu tố tự nhiên như địa hình, thời tiết, biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến các
yếu tố khác, như tỉnh chưa có quy ho ạch đất sản xuất, vốn đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng nông thôn còn ít, quy mô kinh doanh nh ỏ hẹp, KH - CN chưa được áp dụng
rộng rãi, ch ưa đảm bảo quy trình canh tác. Tuy hi ện nay các địa phương trong tỉnh
đã hình thành m ột số mô hình, m ột số vùng sản xuất tập trung nh ư cánh đồng mẫu
lớn, kinh t ế nông tr ại, trang tr ại, kinh t ế hợp tác, HTX, nông tr ường, lâm tr ường
quốc doanh, công ty lâm nghi ệp…theo hình th ức sản xuất hàng hóa điều kiện của
tỉnh có lợi thế, song đa số tồn tại dưới hình th ức tự phát, thiếu quy ho ạch. Chưa có
nhiều vùng sản xuất tập trung gắn với công nghiệp chế biến như khu nuôi tôm công
nghiệp, bán công nghi ệp; vùng mía đường tập trung, vùng nuôi cá n ước ng ọt tập
trung, nuôi cá trên m ặt nước sông, nước biển - đảo; mô hình r ừng - tôm, lúa - tôm
kém hiệu quả…nên ch ất lượng, sức cạnh tranh của hàng hóa ch ưa cao. Một số ưu
việt giữa nuôi trồng, khai thác, ch ế biến chưa được tận dụng có hiệu quả. Hay giữa
khai thác, bảo quản, chế biến cũng đang tồn tại nhiều nhược điểm. Giữa trồng trọt
và ch ăn nuôi tuy Cà Mau không có nhi ều lợi th ế nh ư các t ỉnh trong vùng, nh ưng
không ph ải không phát tri ển được, nh ưng hi ện đang tồn tại rất nh ỏ lẻ, sản lượng,
chất lượng hàng hóa không cao. V ấn đề ở đây là do vẫn duy trì cách s ản xuất manh
mún, thi ếu tập trung, trình d ộ qu ản lý b ất cập, ki ến th ức sản xu ất của ng ười dân
chưa cao, ch ưa chủ động áp dụng tiến bộ KH - CN vào s ản xuất để nâng cao ch ất
lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Hiện nay, kinh t ế Việt Nam đang thoát d ần kh ỏi suy gi ảm tăng trưởng, hội
nhập ASEAN và th ế giới càng sâu sắc, điều đó đồng nghĩa với việc cạnh tranh trên
lĩnh vực kinh tế tầm cỡ địa phương cũng như nước ta ngày càng lớn. Thách thức đối
100
với Cà Mau là t ỉnh không có nhi ều tài nguyên, v ốn đầu tư thiếu, hạ tầng KT - XH
thấp kém, chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, trong khi đó quy trình nuôi
trồng thủy sản còn lạc hậu, rủi ro cao, vệ sinh an toàn thực phẩm, dịch bệnh ở tôm nuôi
đang là thách thức lớn đối với Cà Mau. Hệ thống kênh rạch là lợi thế nhưng nó cũng là
điều kiện thuận lợi cho việc phát tán dịch bệnh cho nuôi trồng thủy sản trên diện rộng.
Quy trình nuôi tr ồng thủy sản cần phải được thực hiện đồng bộ và khép kín
để tối thiểu hóa rủi ro này. Không gi ải quyết được những vấn đề này thì Cà Mau s ẽ
rất khó tận dụng được lợi thế hiếm hoi của mình để bức phá đi lên. Ngoài những bất
lợi rất đặc trưng của Cà Mau, nhìn chung các l ợi thế của tỉnh không ph ải là lợi thế
tuyệt đối mà hầu như các tỉnh ĐBSCL đều có lợi thế tương tự. Do đó, Cà Mau luôn
ở thế yếu trong cạnh tranh về nguồn lực với các tỉnh trong vùng.
3.3.2.2. Tính thiếu bền vững xét về mặt xã hội
Mặc dù đạt được nhiều tiến bộ về mặt xã hội nhưng Cà Mau v ẫn còn nhi ều
thách thức liên quan đến giáo dục, khoa học - xã hội, nghèo đói, chăm sóc sức khỏe và
văn hóa. Mặc dù những hạn chế này có nguyên nhân từ kết quả của trình độ phát triển
kinh tế của tỉnh còn tương đối thấp, song cũng có nhiều nguyên nhân khác ảnh hưởng.
GD - ĐT mặc dù đã được cải thiện đáng kể trong thời gian qua về tỷ lệ nhập
học của học sinh và chất lượng dạy học trong nhà trường, nhưng kết cấu hạ tầng GD
- ĐT của tỉnh còn nhiều yếu kém. Nhiều địa phương còn thiếu phòng học, thư viện,
thí nghiệm, vui chơi; trình độ quản lý, quản trị, kỹ trị, chất lượng dạy và học, nhất là
đào tạo nghề, chuyên nghiệp số lượng ít và chất lượng còn thấp.
Y tế Cà Mau còn khó kh ăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ y tế có
trình độ chuyên môn. Năm 2015, số lượng bác sĩ, dược sĩ trên 1 vạn dân khá hơn so
với một số tỉnh vùng ĐBSCL nh ưng so v ới bình quân c ủa cả nước vẫn còn th ấp.
Một số cán bộ ngành y ch ưa có nhiều kinh nghi ệm đối phó với những vấn đề phức
tạp về chuyên môn hiện nay. Công nghệ và khả năng sử dụng công nghệ của cán bộ
y tế ở các cơ sở chăm sóc sức khỏe trong tỉnh còn nhiều hạn chế.
Việc làm và nghèo đói dù đạt được nhiều kết quả vượt bậc nhưng đang đối
mặt với khả năng tái nghèo và th ất nghiệp cao.Thêm vào đó là ảnh hưởng của biến
đổi khí hậu có thể sẽ làm tăng hơn tỷ lệ tái nghèo ở nông thôn và nông dân.
Văn hóa th ể thao đang bị cản trở bởi hạ tầng còn rất hạn chế, tỉnh hiện nay
chưa có nhà văn hóa, 3/9 huy ện có nhà văn hóa được cải tạo từ các kho lương thực
101
cũ nên không đáp ứng được tối thiểu nhu cầu hoạt động. Có 17/82 xã xây d ựng xã
NTM có nhà văn hóa nhưng hoạt động cầm chừng do không có kinh phí và ph ương
thức hoạt động kém hấp dẫn, không hiệu quả. Truyền thống và văn hóa của tỉnh rất
phong phú nhưng hiện tại chưa có điều kiện phát huy nên r ơi vào mai một. Du lịch
Cà Mau chỉ dừng lại tiềm năng, còn khai thác đang gặp khó và yếu kém.
3.3.2.3. Tính thiếu bền vững xét về mặt môi trường
Mặc dù tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong việc cụ thể hóa chủ trương, chính sách
về bảo vệ môi trường, song trên th ực tế, việc mở rộng các hình th ức sản xuất ngư -
nông - lâm nghi ệp môi tr ường tự nhiên đang bị xâm h ại khá nghiêm tr ọng. Vi ệc
người dân tranh nhau khai thác c ạn ki ệt tài nguyên, thiên nhiên ph ục vụ cho tiêu
dùng và xu ất kh ẩu, cùng v ới đó là các nhà máy ch ế bi ến th ủy sản, ch ế bi ến sản
phẩm nông nghi ệp, lâm nghi ệp làm cho áp l ực gây ô nhi ễm môi tr ường, suy gi ảm
các nguồn tài nguyên và đa dạng sinh học.
Cùng với đó là ý th ức của người dân ch ưa cao, mỗi ngày th ải ra môi tr ường
khoảng 300 - 400 t ấn rác, các tác động từ hóa ch ất do ng ười dân s ử dụng vật tư
nông nghiệp phục vụ trồng trọt, chăn nuôi đang làm cho môi tr ường bị ảnh hưởng
hàng ngày. Mặt khác, sự tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang làm
hệ sinh thái mặn - ngọt của Cà Mau biến đổi nhanh chóng. Tình trạng xâm mặn, khô
hạn, thời tiết cực đoan đã gây thiệt hại to lớn về sản xuất và đời sống của người dân.
Dễ nhận thấy nhất là nạn mất mùa, dịch bệnh ở người (sốt rét, sốt xuất huyết, tay
chân mi ệng, dị ứng th ời tiết…); vật nuôi (tôm ch ết kéo dài, l ở mồm long móng ở
heo, bò, cá nhi ễm bệnh ch ết hàng lo ạt…) và cây tr ồng (đuông dừa, sâu r ầy ở lúa,
cây ăn trái, vàng lá ở rừng tràm, rừng đước…); nguy cơ cháy rừng, tài nguyên c ạn
kiệt, lở đất, lốc xoáy, Mũi Cà Mau không b ồi mà xói l ở, ngược lại với quy lu ật tự
nhiên từ bao đời nay. Do vậy, cần phải chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản xuất từ sản
xuất theo lối truyền thống sang thích ứng với môi trường, khí hậu để giảm bớt thiệt
hại về kinh tế và suy thoái môi trường.
Cà Mau cũng là tỉnh mà CNH và đô thị hóa diễn ra chậm hơn so với một số
địa phương khác trong vùng, nên di ện tích đất nông nghi ệp còn nhi ều và xu h ướng
nông nghiệp đô thị hiện đại chưa được quan tâm. Hi ện nay, xói mòn, b ạc màu đất
và nạn hoang hóa, l ở hóa, khô h ạn, mặn hóa, phèn hóa…c ũng đang diễn ra ở nhiều
nơi. Cà Mau được mệnh danh là vùng đất đa dạng sinh học, nhưng tốc độ suy giảm
102
đa dạng sinh học hiện nay cũng đang đứng trước những báo động, một minh chứng
rõ ràng nh ất là di ện tích rừng ngập mặn ở Cà Mau hi ện nay đã suy gi ảm đến ¾ so
với năm 1976 [64].
3.3.3. Nguyên nhân
3.3.3.1. Nguyên nhân của những mặt tích cực và thành công
* Nguyên nhân bên ngoài
Thành công của NNPTTHBV ở Cà Mau giai đoạn vừa qua phần nào là do sự
đầu tư phát triển chung của ngành nông nghi ệp cả nước, cùng với đó là kết quả của
sự quan tâm đầu tư từ trung ương, kết quả của hoạt động liên kết vùng kinh tế trọng
điểm khu vực ĐBSCL mang lại. Cà Mau đã thu hút nhiều nguồn vốn từ trung ương,
vốn vay quốc tế để đầu tư phát triển ngư - nông - lâm nghi ệp, nhất là việc đầu tư cơ
sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, đầu tư nuôi trồng, đánh bắt xa bờ.
Chính sự hội nhập ngày càng sâu c ủa kinh t ế nước ta đã mở ra c ơ hội hợp
tác, kinh doanh cho các doanh nghi ệp, chính sự năng động từ phía doanh nghi ệp và
kinh tế tư nhân, kinh t ế hộ làm cho hàng hóa xu ất khẩu nội tỉnh chiếm tỷ trọng và
tăng trưởng qua từng năm. Đến năm 2015, xuất khẩu thủy sản nội tỉnh đã đạt 1.150
ngàn USD là một minh chứng cho nỗ lực này [21]. Cũng do hội nhập chủ động hơn
nên mở ra nhiều cơ hội cho các loại thị trường hàng hóa khác, các dịch vụ, vốn, KH
- CN cũng đồng thời có bước phát triển tích cực.
* Nguyên nhân bên trong
Do có sự chỉ đạo, quản lý có hiệu quả của Cấp ủy, Chính quyền trong chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình, phương thức sản xuất, là khả năng xúc tiến
đầu tư, xúc ti ến th ương mại thông qua các hình th ức liên k ết, ph ối hợp sản xu ất,
kinh doanh, công tác quy ho ạch, lập kế hoạch trung hạn, dài hạn kịp thời, từng thời
điểm được điều ch ỉnh, bổ sung cho sát v ới yêu c ầu th ực tế. Nh ờ sự cần cù, siêng
năng, sáng tạo của nông dân và h ộ sản xuất; kinh tế trang trại, nông tr ại, HTX phát
triển khá mạnh; khả năng dám ngh ĩ, biết làm của các doanh nghi ệp, nhất là doanh
nghiệp lĩnh vực chế biến thủy hải sản.
3.3.3.2. Nguyên nhân của tính thiếu bền vững
* Nguyên nhân bên ngoài
Mặc dù có nhiều lợi thế, song những điều kiện tự nhiên của tỉnh cũng tồn tại
không ít khó khăn, bất lợi cho phát triển kinh tế nói chung và phát tri ển ngành nông
103
nghiệp của tỉnh nói riêng. Cà Mau có h ệ thống sông rạch chằn chịt, hệ sinh thái đất
đai, nguồn nước thuận lợi cho nuôi thủy sản, nhưng bất lợi cho trồng lúa, cây ăn trái
và chăn nuôi do độ nhiễm mặn, nhiễm phèn nặng làm hạn chế đến năng suất, chất
lượng nông sản. Ngay sau khi chia tách t ỉnh năm 1997, Cà Mau ph ải hứng chịu cơn
bão số 5 (02/11/1997) làm ảnh hưởng, thiệt hại rất nặng nề về người và tài s ản của
Nhà nước và nhân dân. C ơn bão đã cướp sinh mạng gần 5.000 ng ư phủ, hàng ch ục
nghìn tàu, thuy ền đánh bắt bị thiệt hại, tài sản Nhà nước và nhân dân t ổn hại hàng
trăm tỷ đồng.
Ngoài các nguyên nhân t ự nhiên, Cà Mau c ũng gánh ch ịu nh ững vấn đề
chung của cả nước nh ư tình tr ạng giảm phát, kh ủng hoảng tài chính, b ội chi ngân
sách, nợ công…nên đầu tư công gi ảm mạnh, các ngu ồn vốn ODA rất ít, không có
dự án FDI nào được triển khai trên địa bàn; ngoài công trình Khí điện đạm Cà Mau
không có công trình tr ọng điểm quốc gia nào được triển khai. Th ị tr ường tiêu th ụ
nông sản xuất khẩu còn nhi ều rủi ro và b ấp bênh; vi ệc quy ho ạch vùng, quy ho ạch
ngành từ trung ương chưa đồng bộ, chưa theo kịp chuyển đổi, phát triển kinh tế của
tỉnh; các yếu tố KH-CN giữ vai trò quan trọng nhưng tổ chức rất manh mún, nhỏ lẻ;
nhu cầu vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng nông thôn r ất lớn nhưng chưa được trung
ương quan tâm đúng mức. Xét một cách tổng quát, nguyên nhân c ốt yếu nhất là do
sức mạnh kinh tế của tỉnh còn ở mức thấp nên giữa nhu cầu và đầu tư chưa đồng bộ
và tương xứng nên nguồn tài nguyên của tỉnh vẫn chỉ dừng lại ở tiềm năng, làm cho
NNPTTHBV gặp nhiều khó khăn, bất cập.
* Nguyên nhân bên trong
Tỷ lệ tích lũy thấp, đóng góp của ngành nông nghiệp vào nền kinh tế của tỉnh
không cao, một phần do ảnh hưởng của chính sách Nhà n ước đối với nông nghi ệp
làm cho nguồn thu giảm. Thu nhập bình quân đầu người thấp nên ảnh hưởng nhiều
đến phát triển kinh tế của Tỉnh thời gian qua. Các chỉ số năng lực cạnh tranh PCI và
PAPI cũng cho thấy môi trường đầu tư của tỉnh nói chung trên lĩnh vực nông nghiệp
nói riêng còn y ếu kém so v ới vùng ĐBSCL. Th ứ bậc xếp hạng về năng lực cạnh
tranh của Cà Mau n ăm 2015 đứng th ứ 59/63 t ỉnh, thành (tu ột 01 b ậc so v ới năm
2014) đã nói rõ điều này. Nh ững ch ỉ số thành ph ần cũng cho th ấy Cà Mau còn
nhiều yếu kém cần khắc phục, như: cần cố gắng hơn nữa nâng cao ch ất lượng đào
tạo lao động, dịch vụ công ho ạt động kém hi ệu quả, mất nhiều thời gian, cải cách
104
hành chính chuyển biến chậm, giao thông vận tải yếu kém, doanh nghiệp đầu tư vào
lĩnh vực nông nghi ệp còn ít, ho ạt động kém hi ệu qu ả. Kết cấu hạ tầng nông thôn
chậm được đầu tư, công tác quy ho ạch còn nhi ều bất cập, yếu kém nh ưng ch ậm
khắc phục, chưa theo kịp sự phát tri ển; nguồn lao động tuy dồi dào nh ưng chủ yếu
là lao động ph ổ thông, tay ngh ề th ấp, lao động nhàn r ỗi còn nhi ều; doanh nghi ệp
trên địa bàn ch ủ yếu là doanh nghi ệp vừa và nh ỏ, sức cạnh tranh th ấp, dễ bị rủi ro,
đổ vỡ; công nghiệp và dịch vụ trong nông nghiệp chậm phát triển; liên kết giữa nhà
nước, nhà khoa h ọc, nhà nông, nhà doanh nghi ệp không hi ệu quả; sản lượng, chất
lượng nông nghi ệp tăng ch ậm, giá tr ị gia t ăng hàng hóa nông, lâm, th ủy sản còn
thấp, chưa được bảo hộ nên sức cạnh tranh không cao, làm cho giá tr ị sản xuất nông
nghiệp không lớn.
105
Chương 4
QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU XÂY
DỰNG NỀN NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở
TỈNH CÀ MAU, GIAI ĐOẠN 2016 - 2025
4.1. DỰ BÁO NHỮNG YẾU TỐ CÓ KHẢ NĂNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN NÔNG
NGHIỆP PHÁT TRI ỂN THEO H ƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU, GIAI
ĐOẠN 2016 - 2025
4.1.1. Dự báo nh ững yếu tố quốc tế có kh ả năng ảnh hưởng đến Cà Mau
và nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau
Những yếu tố bên ngoài có th ể ảnh hưởng đến KT - XH và NNPTTHBV ở
tỉnh Cà Mau: tình hình phát tri ển kinh t ế của các n ước đối tác chính cho các m ặt
hàng xuất khẩu chính của Cà Mau và nhà đầu tư tiềm năng vào Cà Mau; xu h ướng
chuyển dịch dòng vốn FDI; nh ững hiệp định về kinh tế, thương mại và đầu tư của
Việt Nam với các đối tác nước ngoài; các cú sốc bên ngoài.
Trên cơ sở nghiên cứu của một số nhà khoa h ọc, nhà quản lý, nh ững năm tới,
bối cảnh quốc tế và khu vực có những biến đổi theo xu hướng sau:
- Tăng trưởng kinh tế thế giới trong th ời gian tới dự báo kinh t ế Trung Qu ốc
và Ấn Độ có th ể tăng tr ưởng ch ậm lại; các n ước ASEAN v ẫn ti ếp tục đà tăng
trưởng khả quan hơn đặc biệt là ba n ước Lào, Campuchia và Myanmar; các n ước
EU chậm chạp thoát ra khỏi khủng hoảng; Mỹ và khu vực Bắc Mỹ vẫn trên đà phục
hồi tuy còn khá nhi ều bất định; Nhật Bản vẫn tiếp tục đường lối chính sách kinh t ế
mở và nới lỏng tiền tệ Abenomics. Tình hình c ăng thẳng giữa Nga và Ph ương Tây
trong vấn đề Ucraina, Syria bu ộc nước Nga ráo ri ết th ực hi ện chi ến lược hướng
Đông; căng thẳng trên biển Đông tồn tại nhiều yếu tố bất ổn, khó lường, ảnh hưởng
trực tiếp đến kinh tế các nước châu Á, đặc biệt là các nước Đông nam Á.
- Dịch chuyển FDI có sự trồi sụt khá mạnh từ năm 2000 đến nay, tuy nhiên t ỷ
trọng FDI mà các n ước châu Á nh ận được luôn có xu h ướng tăng rõ rệt. Đặc biệt,
các nước Đông Nam Á ngày càng là điểm đến tập trung cho FDI. N ăm 2000, các
nước Đông Nam Á ch ỉ nh ận được 1,6% t ổng FDI toàn c ầu thì n ăm 2015 lên đến
9,08% và đã cao hơn Trung Qu ốc [91]. Tuy nhiên, trong khu v ực hiện nay đã nổi
lên nhi ều đối th ủ cạnh tranh ngu ồn vốn FDI v ới Vi ệt Nam nh ư Indonesia,
106
Myanmar, Malaysia, Philippines…Do đó, nếu Việt Nam không cải thiện môi trường
đầu tư, giảm chi phí kinh doanh thì Việt Nam có nguy cơ đứng ngoài xu hướng tăng
thu hút FDI của cả khu vực.
- Hiệp định kinh tế thương mại mà Việt Nam đã ký kết như khu vực mậu dịch
tự do ASEAN (AFTA), WTO…th ị trường đã có nhi ều thay đổi mạnh mẽ và có tác
động tr ực ti ếp đến phát tri ển kinh t ế đất nước. Ch ẳng hạn nh ư: ngay sau khi hi ệp
định FTA có hi ệu lực thì 80% hàng hóa Vi ệt Nam vào th ị trường chung này được
hưởng thuế suất 0%. Ở nước Nga, họ đã đặc biệt quan tâm đến hàng hóa nông s ản
của Việt Nam để thay th ế các ngu ồn hàng từ phía Tây do Nga c ấm nhập khẩu các
mặt hàng này t ừ phương Tây. Đây là điều kiện thuận lợi cho Vi ệt Nam và Cà Mau
đẩy mạnh xu ất kh ẩu hàng nông, th ủy hải sản vào th ị trường có h ơn 200 tri ệu dân
này. Hiệp định TPP Việt Nam cũng mới vừa ký kết ngày 04/02/2016 vừa qua. Hiệp
định trở thành cứ điểm quan tr ọng thay th ế Trung Qu ốc sản xuất các hàng hóa có
nguồn gốc nội khối TPP để xuất khẩu nội khối. Đây là một cơ hội rất lớn cho Vi ệt
Nam. Những ngành Vi ệt Nam có l ợi thế cạnh tranh nh ư da gi ầy, dệt may, cà phê,
thủy sản…sẽ được hưởng lợi đầu tiên.
- Hợp tác v ới Trung Qu ốc ngày càng sâu r ộng hơn. Nước ta có đường biên
giới với Trung Qu ốc dài 1.150 km, d ự báo đến năm 2025 Trung Qu ốc có th ể tr ở
thành cường quốc kinh tế số 1 trên thế giới. Với sự cam kết của Chính phủ hai nước
về hợp tác kinh tế sẽ có sự tác động tích cực đến phát triển KT - XH của nước ta trong
đó có Cà Mau. Với vị trí địa lý liền kề nhau, do đó hàng nông sản của nước ta và vùng
ĐBSCL xuất khẩu sang Trung Quốc có nhiều thuận lợi, ít chi phí nên tác động tích cực
đến hàng hóa trong nước. Tuy nhiên, hợp tác với Trung Quốc có nhiều thách thức và
rủi ro nên khi ký kết hợp đồng kinh tế cần phải thận trọng, khôn khéo.
Thị trường hàng nông s ản của Việt Nam và th ủy sản của Cà Mau s ẽ có nhi ều
triển vọng và kh ả quan v ới điều kiện đó là s ản phẩm sạch bởi nhu c ầu ngày càng
tăng trên th ị tr ường th ế gi ới. Đối với Cà Mau đây là s ản ph ẩm chi ến lược bởi nó
phát triển dựa trên nh ững điều kiện tự nhiên của tỉnh và gi ải quyết đầu ra cho nuôi
trồng và khai thác th ủy hải sản, giải quyết nhiều việc làm cho nông dân và tác động
tích cực làm thay đổi di ện mạo nông thôn. D ự báo kh ả năng của th ị tr ường sản
phẩm này vẫn còn nhiều tiềm năng và tiếp tục được mở rộng bởi sản phẩm tôm của
tỉnh đã có thị trường ổn định, khối lượng xuất khẩu lớn như thị trường các nước EU,
107
Mỹ, Nhật Bản, Trung Qu ốc, Australia…nhất là trong tình hình ngu ồn lợi thủy sản
tự nhiên trên th ế giới ngày càng gi ảm sút và nhu c ầu nhập khẩu hàng th ủy sản trên
thế giới vẫn tiếp tục tăng. Dự báo giá hàng th ủy sản trên th ế giới vẫn tiếp tục tăng
như những năm vừa qua, mức tăng giá bình quân có thể ở mức 3,7 - 4%/năm.
Kinh tế Việt Nam hi ện nay đã hội nhập sâu vào kinh t ế thế giới do đó bị ảnh
hưởng rất lớn đối với các cú s ốc kinh tế từ bên ngoài. C ăn thẳng địa chính tr ị giữa
Nhật Bản với Trung Quốc nếu xấu đi nghiêm trọng có thể làm cho tình hình kinh t ế
khu vực trở nên bất ổn. Quan hệ không yên ả giữa Việt Nam với Trung Quốc xoay
quanh vấn đề Bi ển Đông có th ể đặt kinh t ế nước ta vào nh ững khó kh ăn lớn khi
quan hệ này trở nên xấu đi. Những tranh chấp trên biển Đông trong thời gian tới có
khả năng tr ở nên c ăng th ẳng hơn khi Vi ệt Nam bu ộc ph ải kh ởi ki ện Trung Qu ốc
trong thời hiệu khởi kiện 50 năm kể từ năm 1974. Nh ững căng thẳng này có th ể sẽ
làm cho môi trường đầu tư xấu đi và làm ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế Việt Nam
và xuất khẩu thủy sản của Cà Mau. Nền kinh tế nước ta bước đầu đã thoát ra thời kỳ
khó khăn của giảm phát, tái cơ cấu nền kinh tế và tái cơ cấu ngành nông nghi ệp đạt
được những kết quả nhất định.
4.1.2. Dự báo nh ững yếu tố trong n ước có kh ả năng ảnh hưởng đến Cà
Mau và nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau
Nền kinh tế nước ta bước đầu đã thoát ra th ời kỳ khó kh ăn của giảm phát, tái
cơ cấu nền kinh t ế và tái c ơ cấu ngành nông nghi ệp đạt được những kết quả nhất
định bước đầu. Lạm phát được kiềm chế ở mức thấp, dự trữ ngoại hối tăng mạnh,
cán cân thương mại chuyển từ thâm hụt sang thặng dư, cán cân thanh toán th ặng dư
lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế mặc dù chưa lấy lại được đà tăng trưởng đầu những
năm 2000 nhưng có dấu hiệu tăng dần lên.
Cà Mau có mối liên hệ chặt chẽ với vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL và là trục
tam giác kinh tế trọng điểm của vùng (gồm 3 tỉnh, thành: Cần Thơ - Cà Mau - Kiên
Giang) có 120 km Quốc lộ 1A, 130 km Quốc lộ 63, 150 km Quản lộ Phụng Hiệp và
hơn 100 km đường xuyên Á. V ới lợi thế 3 mặt tiếp giáp bi ển, có bờ biển dài h ơn
254 km rất thuận lợi để phát triển cảng biển. Mô hình tái cơ cấu kinh tế nước ta hiện
nay trọng tâm là chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình t ăng
trưởng kết hợp hài hòa gi ữa tăng trưởng theo chi ều rộng và chi ều sâu, tăng trưởng
dựa vào tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, lấy tốc độ tăng năng suất lao động làm
108
mục tiêu, xóa b ỏ các rào c ản đối với việc sử dụng ngu ồn lực, thúc đẩy tăng năng
suất, xây dựng thương hiệu quốc gia cho các sản phẩm. Cũng như cả nước, Cà Mau
có những ngành có l ợi thế so sánh nh ư nông, lâm, th ủy hải sản, chế biến thủy sản,
tăng trưởng xanh…có kh ả năng giải quyết việc làm lớn đã được khuyến khích phát
triển. Thời gian tới, Nhà nước sẽ từng bước rút dần ra kh ỏi vai trò làm kinh t ế trực
tiếp mà chuy ển sang vai trò c ủa một Nhà nước kiến tạo, hỗ trợ thị trường thực thi
các chức năng của nó và đảm bảo thị trường cạnh tranh một cách trật tự. Kinh tế tư
nhân và kinh t ế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ là xu th ế, chiếm vai trò quan
trọng trong tạo việc làm, thu nhập cho người dân và nguồn thu cho ngân sách.
Để trở thành một điểm đến tốt cho đầu tư trong và ngoài n ước, Cà Mau c ần
phải cạnh tranh v ới các t ỉnh, thành trong khu v ực về môi tr ường kinh doanh, kh ả
năng tiếp cận ngu ồn lực sản xuất ch ất lượng cao v ới giá thành h ợp lý. T ự do hóa
thương mại, tài chính và các th ị tr ường khác gia t ăng, thì vi ệc các n ước sử dụng
ngày càng nhiều các chính sách b ảo hộ và các rào c ản kỹ thuật tinh vi càng tr ở nên
phổ biến. Hoạt động xuất khẩu hàng hóa c ủa Cà Mau ch ưa có được quy mô t ương
xứng với tiềm năng, chưa tận dụng được các cơ hội và phát huy l ợi thế của mình.
Thời gian qua, c ũng nh ư vài n ăm tới, Cà Mau phát tri ển nền kinh t ế ch ủ yếu lấy
điều kiện tự nhiên sẵn có làm chủ đạo. Trong giai đoạn này, các lợi thế cạnh tranh là
điều kiện sẵn có nh ư vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên và ch ỉ số lao động thấp.
Nền kinh tế của tỉnh mà ở đây trực tiếp là các sản phẩm hàng hóa nông nghiệp, một
vài năm tới vẫn phải dựa vào điều kiện sẵn có ch ủ yếu dựa trên chi phí đầu vào và
không tiếp cận được trực tiếp người tiêu dùng cu ối cùng. Do đó, cũng như cả nước
nền kinh tế thường rất nhạy cảm với chu kỳ kinh tế toàn cầu và khu vực, phụ thuộc
giá cả hàng hóa và biến động tỷ giá.
Ngoài ra, biến đổi khí hậu sẽ làm cho nước biển dâng và thay đổi điều kiện tự
nhiên của Cà Mau. Quá trình phát tri ển của tỉnh phải đảm bảo thích nghi với những
tai biến của thời tiết được dự báo với nhiều kịch bản khác nhau có th ể xảy ra với
những thiệt hại to lớn và khó lường.
4.1.3. Đánh giá những tác động trong và ngoài nước ảnh hưởng đến phát triển
kinh tế, xã hội và nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau
Trên cơ sở phân tích, dự báo những tác động trong và ngoài nước, có thể nhận
thấy những tiềm năng, lợi thế và khó kh ăn, thách th ức đến sự phát tri ển KT - XH
109
của tỉnh và nền NNPTTHBV ở Cà Mau từ nay đến 2025 và ti ền đề cho những năm
tiếp theo như sau:
4.1.3.1. Những tiềm năng, lợi thế
Nhìn tổng thể, có th ể khẳng định Cà Mau có nh ững tiềm năng, lợi thế cơ bản
cho phát triển KT - XH nói chung, NNPTBV nói riêng.
Thứ nhất, điều kiện tự nhiên của tỉnh là một lợi thế quan tr ọng cho phát tri ển
KT - XH của địa phương nói riêng, NNPTTHBV nói chung. T ỉnh nằm trên bán đảo
Cà Mau, miền đất cuối của vùng ĐBSCL và đất nước, cách không xa các n ước khu
vực Đông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapo) nên là đầu mối của
hai hành lang phát tri ển kinh tế quan tr ọng của ĐBSCL và Ti ểu vùng Mekong m ở
rộng (GMS), cũng là đầu mối quan trọng của nhiều tuyến đường bộ, đường thủy và
Cụm 1
Bình Dương
Đồng Nai
Đồng Tháp
TP HCM
Long An
hàng không trong khu vực.
Cần Thơ
Bà Rịa VT
Tiền Giang
Kiên Giang
Hậu
Vĩnh Long
Bến tre
Bạc
Trà Vinh
Sóc Trăng
Cà Mau
Cụm 2
Hình 4.1: Mô hình liên kết hướng ly tâm và ly tâm tại Đông Nam Bộ
và Đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn: [103].
Với 254 km bờ biển và khoảng hơn 100.000 km2 mặt nước là lợi thế lớn trong
phát triển nuôi trồng, khai thác, đánh bắt thủy sản trước mắt và lâu dài của Cà Mau.
Hiện tại tỉnh có 295,8 nghìn ha nuôi tr ồng th ủy sản (có 28,5 nghìn ha n ước ng ọt,
68,8 nghìn ha n ước lợ và 198,5 nghìn ha n ước mặn). Đó là ch ưa kể đến 7.000 km
sông và hàng chục nghìn km kênh, rạch, đầm, hồ [103].
110
Cà Mau có mật độ dân cư thấp nên thuận lợi cho huy động đất để phát triển, nhất
là các ngành phi nông nghiệp, sự phát triển của các ngành sản xuất phi nông nghiệp tạo
điều kiện hỗ trợ cho phát tri ển nông nghiệp. Thực tế có nhi ều khu công nghiệp lớn ở
tỉnh và huyện được quy hoạch, trong đó có một số bắt đầu đi vào hoạt động.
Hệ sinh thái đa dạng, diện tích rừng ngập nước (mặn và ngọt) lớn, bờ biển dài,
biển Cà Mau có 3 c ụm đảo lớn rất có ti ềm năng về du lịch sinh thái, du l ịch biển;
tiềm năng du lịch của Cà Mau là sự kết nối quan trọng đối với phát triển du lịch của
vùng và du lịch biển đảo Phú Quốc trong tương lai.
Thứ hai, tri ển vọng phát tri ển KT - XH c ủa tỉnh từ nay đến 2025 cũng là một
lợi thế để nông nghiệp Cà Mau phát triển theo hướng bền vững.
Trên cơ sở định hướng phát tri ển KT-XH, NNPTTHBV ở Cà Mau đến năm
2025 với 3 giai đoạn phát tri ển: (i) th ực hiện tái cấu trúc nền nông nghi ệp của địa
phương nhằm cải thiện những hạn chế về vốn, nguồn lực, nhất là thiếu nguồn nhân
lực có chất lượng, chủ động trước những tác động, ảnh hưởng từ điều kiện tự nhiên,
đồng thời tiếp tục duy trì, phát tri ển yếu tố truyền thống, từng bước phát triển, nâng
cao hiệu quả hoạt động của công nghi ệp trong nông nghi ệp. Quá trình CNH nông
nghiệp những năm này tập trung vào xây d ựng nhà máy, thành l ập những công ty,
tìm mô hình, hướng đi thích hợp với điều kiện mới nhằm tạo công ăn việc làm cho
người lao động dư th ừa ch ủ yếu ở nông thôn, t ạo kh ả năng cạnh tranh d ựa trên
chiến lược chi phí thấp, tạo dựng và tích lũy cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp
làm tiền đề cho giai đoạn tiếp theo. (ii) áp dụng chính sách tăng trưởng nhanh trên cơ
sở năng suất lao động và đổi mới công nghệ. Do các nguồn lực tự nhiên, đất đai và lao
động xã hội giảm dần và trở nên đắt đỏ hơn nên ngành nông nghiệp vận hành dựa trên
lợi thế tài nguyên, lao động sẽ giảm dần tỷ trọng nên để tiếp tục phát triển thì các khâu
thương mại, dịch vụ, chất lượng hàng hóa cần trải qua nhiều công đoạn chế biến tinh vi
để có được các sản phẩm đảm bảo yêu cầu ngày càng cao về chất lượng. (iii) nền nông
nghiệp từng bước được hiện đại hóa, công nghệ tiên tiến được áp dụng rộng rãi, năng
suất lao động tăng, sản phẩm hàng hóa, nhất là các mặt hàng xuất khẩu có sự cải thiện
đáng kể về thương hiệu sản phẩm, các dịch vụ cung ứng phát triển mạnh mẽ, lợi thế
vốn, công nghệ hơn hẳn lợi thế về lao động.
Với định hướng phát tri ển nêu trên, có th ể coi đây là m ột ti ền đề, một ti ềm
năng căn bản giúp cho Cà Mau thu ận lợi trong thúc đẩy NNPTTHBV trên c ơ sở
phát huy một cách hiệu quả nội lực của địa phương.
111
4.1.3.2. Những khó khăn, thách thức chủ yếu
Bên cạnh những thuận lợi, những tiềm năng, lợi thế, NNPTTHBV ở Cà Mau
có thể gặp những khó khăn, thách thức sau:
- Địa hình và khí h ậu: Cao trình th ấp, địa chất yếu, sông, kênh r ạch chằn chịt
là những điều khó kh ăn, tốn kém cho đầu tư phát tri ển nông nghi ệp; địa bàn rộng
(thứ 2 vùng ĐBSCL sau Kiên Giang) b ờ bi ển dài, ba m ặt ti ếp giáp bi ển, là m ột
trong những tỉnh ở Việt Nam phải gánh chịu tác động lớn nhất của biến đổi khí hậu,
nước biển dâng.
- Điều ki ện th ổ nh ưỡng của Cà Mau không thu ận lợi cho nông nghi ệp năng
suất cao. Năng suất lúa năm 2015, chỉ bằng 78% năng suất bình quân c ủa cả nước;
năng suất ngô bằng 82%, năng suất mía cao h ơn nhưng diện tích không l ớn, giá cả
bấp bênh nên nông dân phá mía để nuôi trồng thủy sản.
- Các lợi thế về qu ỹ đất còn lớn phục vụ cho sản xuất công nghi ệp và đô thị,
nguồn lao động dồi dào, người dân có truyền thống cần cù, siêng năng, sáng tạo trong
lao động sản xuất. Nông nghiệp phát triển sẽ hỗ trợ cho công nghiệp và dịch vụ phát
triển. Tuy nhiên, quá trình đó sẽ tạo ra nh ững ảnh hưởng tiêu c ực đối với
NNPTTHBV như nông dân sẽ mất đất sản xuất, phá vỡ kết cấu hạ tầng nông nghiệp,
đời sống nông thôn có nhiều biến đổi, môi trường sản xuất và đời sống bị ô nhiễm…
- Khó kh ăn về ngu ồn nhân l ực: Cùng v ới cải thi ện thu nh ập, đầu tư lớn của
Nhà nước vào GD - ĐT nguồn nhân lực của Cà Mau nói riêng và c ủa cả nước nói
chung liên tục được cải thiện. Tuy nhiên, như phân tích ở trên, tỷ lệ học sinh học lên
cấp cao hơn ở Cà Mau đạt tỷ lệ thấp hơn các tỉnh khác vùng ĐBSCL và cả nước.
Do đó, nếu xu h ướng này ti ếp tục kéo dài thì ch ất lượng ngu ồn nhân l ực của Cà
Mau sẽ chậm cải thiện hơn các tỉnh khác và Cà Mau sẽ khó cạnh tranh được với các
tỉnh để thu hút đầu tư. Có th ể thấy trong nh ững năm tới, Cà Mau r ất khó cải thiện
nhanh được chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo. Chỉ trừ khi nhu cầu qua đào tạo
tăng lên, chiến lược nguồn nhân lực của tỉnh được phát huy, kinh phí có s ự chuyển
biến mạnh mẽ, thì những lao động chưa qua đào tạo sẽ phải tham gia các khóa h ọc
nghề và qua đó cải thiện được chất lượng của lao động.
- Khó kh ăn về khoa học công ngh ệ và qu ản lý: Ngu ồn nhân lực về KH - CN
và quản lý của Cà Mau còn rất hạn chế; cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính đầu tư
vào lĩnh vực này cũng rất hạn hẹp. Các nhu cầu về KH - CN và quản lý của Cà Mau
112
là rất cần thiết nhưng việc thúc đẩy rất chậm. Các thông tin khoa h ọc, điều kiện và
khả năng tiếp cận, mức độ cạnh tranh về kinh tế rất hạn chế; trong qu ản lý yếu tố
KH - CN ít được xem trọng, ngay cả việc kết nối giữa địa phương với các trung tâm
KH - CN, các tr ường đại học trong và ngoài n ước để thúc đẩy, chuyển giao kết quả
cũng rất hạn chế.
- Cơ sở dịch vụ nông nghi ệp khá phát tri ển, nhưng sự gắn kết các cơ sở này
trong sản xuất chưa được chặt chẽ. Đặc biệt là sự phát tri ển kinh tế hợp tác, HTX
dịch vụ nông nghi ệp, công ty lâm nghi ệp, lâm tr ường, nông tr ường đang gặp nhiều
khó khăn. Vai trò c ủa Nhà nước trong hỗ trợ các mô hình, lo ại hình sản xuất nông
nghiệp làm ăn có hiệu quả còn mờ nhạt, những khó khăn về vốn và việc tháo gỡ khó
khăn vướng mắc phát sinh trong th ực tiễn thường chậm, kéo dài, tốn kém thời gian,
công sức, tiền của của Nhà nước và nhân dân.
Bảng 4.1: Điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của Cà Mau
Điểm mạnh
- Vị trí chiến lược quan trọng phát triển kinh tế. - Nguồn dầu khí tự nhiên dồi dào. - Diện tích lớn, rất thuận lợi phát triển thủy sản. - Quỹ đất phát triển phi nông nghiệp lớn. - Tài nguyên nước và tài nguyên biển dồi dào. - Hệ thống giao thông hứa hẹn thuận lợi. - Nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ.
Điểm yếu - Điều kiện thổ nhưỡng không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. - Hạ tầng kỹ thuật đường bộ, đường thủy còn nhiều khó khăn. - Thiếu vốn sản xuất. - Lao động có tay nghề thấp. - Người giỏi chuyển đi nơi khác nhiều. - Trang thiết bị y tế, giáo dục còn nhiều khó khăn.
Thách thức
- Biển đổi khí hậu Tỉnh phải đối mặt với nhiều thách thức.
- Thách thức thu hút vốn đầu tư nhiều hạn chế.
- KH-CN chậm phát triển, chưa đồng đều.
- Chất lượng nguồn nhân lực thấp.
- Đội ngủ CBQL và công chức, viên chức bất cập.
- Cải cách hành chính hiệu quả thấp
Cơ hội - Các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ đã hoàn thành. - Đường hành lang ven biển phía Nam được mở rộng. - Du lịch nhiều tiềm năng. -Nhiều chương trình trọng điểm được xác lập và triển khai, khí điện đạm, điện gió, sân bay, cảng biển Hòn Khoai sắp được khởi công , … - Cơ hội hợp tác quốc tế về kinh tế nhiều triển vọng. - Liên kết vùng ĐBSCL chuyển động tích cực.
- Nhiều nhóm tiêu chí thành phần NLCT, PAPI của Cà Mau thứ hạn thấp…
Nguồn: [103].
113
4.2. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG NỀN NÔNG NGHI ỆP PHÁT TRI ỂN THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU
Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau, giai đoạn (2016-
2025) quán triệt các quan điểm sau:
Quan điểm th ứ nh ất: NNPTTHBV là c ần ph ải phát huy t ối đa nội lực, tập
trung khai thác ti ềm năng và lợi thế so sánh, t ăng cường liên kết phát tri ển, nhất là
liên kết vùng ĐBSCL, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặt nhiệm vụ phát tri ển
nông nghiệp của tỉnh trong chi ến lược phát tri ển nông nghi ệp của cả nước và vùng
ĐBSCL. Quán tri ệt quan điểm này, cần phải vận dụng các lý thuy ết lợi thế so sánh
để phân tích và t ập trung đầu tư cho nh ững nông sản có ưu th ế trong s ản xu ất và
xuất khẩu phù h ợp với từng vùng sinh thái trong t ỉnh (mặn, lợ, ngọt) có kh ả năng
đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Quan điểm th ứ hai: NNPTTHBV là quá trình b ảo đảm gắn kết ch ặt ch ẽ với
thực hi ện chi ến lược phát tri ển KT - XH, hài hòa và đồng bộ với quy ho ạch phát
triển KT - XH, quy ho ạch phát tri ển kinh tế vùng, nâng cao v ị thế cạnh tranh của
tỉnh. Đáp ứng những nhu cầu hiện tại, nhưng không gây tr ở ngại cho đáp ứng nhu
cầu của thế hệ tương lai, tăng trưởng kinh tế góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội
như góp ph ần đảm bảo an ninh l ương th ực qu ốc gia, t ạo nhi ều vi ệc làm, xóa đói
giảm nghèo và đảm bảo sự công bằng xã hội. Quan điểm này yêu cầu NNPTTHBV
phải đảm bảo thêm nhi ều vi ệc làm cho ng ười lao động, góp ph ần nâng cao ch ất
lượng lao động và cải thiện đời sống của nông dân, đồng thời giảm bớt sự bất bình
đẳng trong thu nhập giữa các tầng lớp dân cư.
Quan điểm th ứ ba: NNPTTHBV trên c ơ sở khai thác h ợp lý các ngu ồn tài
nguyên thiên nhiên, th ực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, làm t ổn hại trong sử dụng
các ngu ồn lực tự nhiên có s ẵn để phát tri ển các ngành t ỉnh có l ợi th ế. Kh ắc ph ục
những nhược điểm, phát huy tối đa lợi thế tự nhiên của tỉnh theo hướng tăng trưởng
xanh, bền vững, khơi dậy tiềm năng, lợi thế về kinh tế biển và cảng biển, xác định
Cà Mau là c ửa chính quan tr ọng của các tỉnh Tây Nam B ộ ra bi ển. Xây dựng tỉnh
thành cửa ngõ, lối ra hướng đông nam của đất nước, thành điểm kết nối Việt Nam
với các n ước trong khu v ực Đông Nam Á và th ế gi ới và c ửa ngõ xu ất kh ẩu hàng
hóa nông sản của vùng ĐBSCL, thành địa điểm động lực kinh tế vùng ĐBSCL.
114
Quan điểm thứ tư: NNPTTHBV cần có chính sách h ỗ trợ của trung ương và
địa phương đồng bộ, phù hợp với điều kiện và yêu cầu phát triển của tỉnh. Tận dụng
mọi chính sách của Nhà nước để khai thác tối đa các nguồn lực, coi vốn đầu tư của
Nhà nước là vốn kích ho ạt đầu tư của tư nhân và c ủa nước ngoài. Trong b ối cảnh
Việt Nam đã ký kết và đang thực hiện các cam k ết trong các hi ệp định thương mại
song phương và đa phương, việc điều chỉnh các chính sách, bi ện pháp đối với hàng
nông sản ph ải được đặt trong xu h ướng hội nh ập qu ốc tế hướng theo nh ững quy
định về tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu của thị trường.
Quan điểm thứ năm: NNPTTHBV trên cơ sở huy động tối đa các nguồn lực xã
hội, các thành phần kinh tế, sự trợ giúp của các tổ chức trong và ngoài nước và của các
ngành các cấp từ tỉnh đến cơ sở. Quan điểm này yêu cầu sự kết hợp giữa các thành phần
tham gia vào chuỗi giá trị hàng nông sản trên cơ sở đảm bảo hài hòa về lợi ích, mang lại
hiệu quả kinh tế, lợi thế cạnh tranh trên thị trường và sự hướng dẫn của Nhà nước.
Quan điểm thứ sáu: NNPTTHBV ph ải gắn chặt với xây dựng NTM, cải thiện
cuộc sống của người dân. Quá trình đó là sự liên kết bền chặt, hướng tới một nền
nông nghi ệp phát tri ển, tăng tr ưởng ổn định, theo chi ều sâu, c ải tổ khu v ực nông
nghiệp, nông thôn, di ện mạo nông thôn thay đổi, chất lượng cuộc sống của người
dân, đặc biệt là nh ững người dân vùng nông thôn ngày càng được nâng lên. T ạo ra
hiệu ứng nhiều lĩnh vực của đời sống, không khí lao động, sản xuất, đáp ứng những
đòi hỏi xây dựng NTM, trên cơ sở đảm bảo hài hòa, bền vững cả ba mặt KT - XH -
MT khu vực nông thôn.
4.3. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU XÂY DỰNG NỀN NÔNG NGHIỆP PHÁT
TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU, GIAI ĐOẠN 2016 - 2025
4.3.1. Ph ương hướng xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng
bền vững ở tỉnh Cà Mau
4.3.1.1. Những căn cứ xây dựng phương hướng
Để đảm bảo tính khả thi, phương hướng xây dựng nền NNPTTHBV ở tỉnh Cà
Mau dựa trên những căn cứ sau:
- Chiến lược và nhiệm vụ phát triển KT-XH của đất nước đến năm 2020;
- Kết luận số 29-KL/TW ngày 14/8/2012 c ủa Bộ Chính tr ị về phương hướng,
nhiệm vụ, gi ải pháp phát tri ển KT-XH và đảm bảo an ninh qu ốc phòng vùng
ĐBSCL đến năm 2020;
115
- Quy ết định số 939/Q Đ-TTg ngày 19/7/2012 c ủa Th ủ tướng Chính ph ủ về
Phê duyệt Quy hoạch phát triển KT-XH vùng ĐBSCL đến năm 2020;
- Quyết định số 245/QĐ-TTg, ngày 12/02/2014 c ủa Thủ tướng Chính ph ủ về
Phê duyệt Quy hoạch phát tri ển KT-XH vùng Kinh t ế trọng điểm ĐBSCL đến năm
2020, định hướng đến năm 2030;
- Quy ết định số 163/2008/Q Đ-TTg, ngày 11/12/2008 c ủa Th ủ tướng Chính
phủ về Phê duyệt Quy hoạch phát triển KT-XH tỉnh Cà Mau đến năm 2020;
- Quy ết định số 1581/Q Đ-TTg, ngày 09/10/2009, Phê duy ệt Quy ho ạch xây
dựng vùng ĐBSCL đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 339/QĐ-TTg, ngày 09/10/2009 c ủa Thủ tướng Chính ph ủ về
Phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình t ăng
trưởng theo hướng nâng cao ch ất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn
2013 - 2020;
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015-2020.
- Các Ngh ị quyết, Chương trình hành động, Kế hoạch của HĐND và UBND
tỉnh Cà Mau thực hiện các Chiến lược, Quyết định, kết luận nêu trên.
4.3.1.2. Phương hướng xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng
bền vững ở tỉnh Cà Mau
* Phương hướng xây dựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững
trên phương diện kinh tế
Tập trung khai thác và t ận dụng lợi thế vùng; xây dựng và phát tri ển các vùng
chuyên canh quy mô l ớn theo hình th ức tập trung, trang tr ại, gia tr ại, đạt các tiêu
chuẩn phổ biến về an toàn v ệ sinh th ực ph ẩm; gắn với công nghi ệp chế biến, bảo
quản để tạo các s ản phẩm chất lượng cao cho tiêu dùng trong n ước và xu ất kh ẩu,
nhất là những ngành hàng có s ức cạnh tranh cao ho ặc có ti ềm năng trong tương lai
như: tôm sú, tôm th ẻ chân trắng, gạo hữu cơ; phát triển nhóm sản phẩm có nhu cầu
nội địa lớn nhưng khả năng cạnh tranh trung bình như: lúa gạo, chuối, cua, sò huyết,
cá đồng (cá bổi, cá chình, cá b ống tượng…), các sản phẩm lâm nghi ệp (đồ gỗ gia
dụng, than cũi và chất đốt dạng viên nén…); đồng thời duy trì và nâng cao hi ệu quả
sản xu ất phù h ợp với điều ki ện từng vùng đối với các s ản ph ẩm ch ăn nuôi (gây,
nuôi động vật hoang dã), cây gỗ địa phương, và các loại thủy sản khác.
116
Cà Mau c ần ph ải phát tri ển mô hình kinh t ế thu hút được lao động dư th ừa
trong khu v ực nông nghi ệp vào khu v ực doanh nghi ệp thuộc công nghi ệp và d ịch
vụ. Vì th ế đòi hỏi năng suất lao động tại khu vực công nghi ệp và dịch vụ phải cao
hơn năng suất lao động hiện nay trong khu v ực ngư - nông - lâm nghi ệp. Điều này
chỉ đạt được khi Cà Mau đầu tư có trọng tâm vào những ngành kinh tế có lợi thế lớn
nhất của tỉnh, cần hướng đến các mũi đột phá sau đây:
Thứ nhất, cải thiện môi tr ường kinh doanh n ội tỉnh để thúc đẩy sự phát tri ển
các nông tr ại, doanh tr ại, liên kết, hợp tác và các doanh nghi ệp tư nhân, đặc biệt là
các doanh nghi ệp siêu nh ỏ, nhỏ và vừa. Tốc độ phát tri ển doanh nghi ệp phải nằm
trong tốp ba tỉnh dẫn đầu vùng ĐBSCL. Mũi đột phá này nh ằm doanh nghi ệp hóa
các ho ạt động kinh t ế, tạo môi tr ường sản xu ất hàng hóa n ăng động, nuôi d ưỡng
tinh thần doanh nhân của tỉnh, thu hút sức lao động dư thừa khu vực nông thôn.
Thứ hai, tối ưu hóa lợi thế tự nhiên của Cà Mau; kêu g ọi sự hỗ trợ của trung
ương trong việc khai thác lợi thế của tỉnh cho tương xứng những đóng góp của tỉnh
trong th ặng dư th ương mại, bảo vệ ngu ồn gen và h ệ sinh thái quý hi ếm của tỉnh.
Tận dụng tối đa mọi chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với tỉnh và vùng ĐBSCL
để nhanh chóng khắc phục điểm yếu về kinh tế và ngành nông nghiệp của tỉnh.
Thứ ba, xây dựng nền nông nghiệp phát triển hài hòa cả bề rộng và chiều sâu,
nhất là lĩnh vực tỉnh có lợi thế lớn như khai thác bi ển, nuôi tr ồng và ch ế biến thủy
sản. Tạo các doanh nghi ệp vệ tinh, các ngành công nghi ệp phụ trợ cho ngành ch ế
biến thủy sản cao cấp, đáp ứng cao nhất tiêu chuẩn xuất khẩu. Nuôi tôm chuyển dần
từ nuôi qu ảng canh sang nuôi công nghi ệp để đảm bảo đáp ứng yêu c ầu về sản
lượng cho các nhà máy chế biến trên địa bàn. Chỉ đến khi các nhà máy chế biến này
hoạt động đủ công suất (hiện nay 6 tháng đầu năm nguyên liệu tôm nội tỉnh chỉ đáp
ứng được 30% - 40% công suất, 6 tháng cuối năm đáp ứng khoảng 60% - 70% công
suất, nguyên li ệu tôm bù đắp thi ếu hụt ph ải mua các t ỉnh ngoài và các n ước Thái
Lan, Ấn Độ…) thì kh ả năng kết nối gi ữa ng ười dân, doanh nghi ệp, nhà khoa
học…trong việc nâng cao quy trình k ỹ thuật, sản lượng, chất lượng sản phẩm mới
được chú tr ọng và phát tri ển. Đồng thời, phải đảm bảo không phát tri ển nuôi công
nghiệp quá nhanh có thể ảnh hưởng đến môi trường và giá cả của sản phẩm làm ra.
Thứ tư, khuyến khích các ngành thâm dụng nhân công, sự phát triển các doanh
nghiệp hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo việc làm cho người lao động tại
nông thôn.
117
Thứ năm, tích cực khuyến khích các doanh nghi ệp trong và ngoài n ước đầu tư
vào Cà Mau. Có chính sách ưu tiên, định hướng đầu tư theo cụm liên kết vào ngành,
lĩnh vực tỉnh có lợi thế như nuôi trồng, chế biến thủy sản; đối với những ngành, lĩnh
vực còn lại mà tỉnh không có lợi thế thì tỉnh cần kết nối các trung tâm kinh t ế trong
khu vực. Ví dụ, ngành du l ịch tỉnh cần phải kết nối với ngành du l ịch Tp. Hồ Chí
Minh và Cần Thơ để tạo chuỗi sản phẩm du lịch thu hút khách.
* Phương hướng xây dựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững
trên phương diện xã hội
Tăng thu nhập cho người sản xuất nông nghiệp trên cơ sở tạo điều kiện cho tất
cả các thành ph ần kinh t ế, nh ất là nhóm: ng ười nghèo và c ận nghèo ở nông thôn,
người dân vùng sâu, vùng xa không thuận tiện với điều kiện đất đai, sinh thái, nhóm
đồng bào dân t ộc và ph ụ nữ tham gia vào quá trình t ăng trưởng nông nghi ệp thông
qua hỗ trợ giảm nghèo, hỗ trợ duy trì s ản xuất và thu nh ập, tăng khả năng tiếp cận
thị tr ường lao động phi nông nghi ệp, đa dạng hóa sinh k ế cho c ư dân nông thôn,
giải quyết tốt vấn đề an ninh l ương th ực. Phát tri ển hướng tới th ực hi ện các m ục
tiêu ưu tiên về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng.
Để gi ải quy ết tốt các v ấn đề xã h ội đảm bảo nền NNPTTHBV đối với điều
kiện cụ thể của tỉnh, cần xây dựng mô hình tăng trưởng trong nội bộ ngành. Cần tập
trung đầu tư và có chính sách khuyến khích đầu tư cho các ngành có lợi thế hơn hẳn
so với các địa phương khác trong vùng ĐBSCL. Tăng nhanh khu v ực có năng suất
lao động cao và hi ệu quả lớn có sức cạnh tranh trên có s ở hình thành rõ nét nh ững
ngành, lĩnh vực động lực, mũi nhọn. Tăng tỷ trọng phân ngành có giá tr ị gia tăng và
có lợi thế cạnh tranh cao, trọng tâm là ưu tiên phát triển các ngành sản phẩm có khả
năng tham gia vào m ạng sản xuất và chu ỗi giá tr ị toàn cầu và gi ảm tỷ trọng những
ngành gia công, sơ chế có giá trị gia tăng thấp, tập trung khai thác tài nguyên.
Nông nghiệp phát tri ển theo hướng bền vững là tập trung đẩy mạnh sản xuất
nông nghi ệp hàng hóa, s ản xu ất hàng hóa theo h ướng CNH, H ĐH gắn với năng
suất, ch ất lượng, hi ệu qu ả và kh ả năng cạnh tranh cao; t ạo th ương hi ệu sản ph ẩm
sạch, thân thiện với môi trường, có năng suất cao và có giá tr ị lớn; gắn sản xuất với
chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Vấn đề nông dân, nông nghi ệp, nông thôn trong m ối quan hệ hài hòa, g ắn kết
chặt chẽ, trước mắt Cà Mau ph ải làm tốt việc điều chỉnh cơ cấu ngành nông nghi ệp
118
của tỉnh theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, cây trồng có giá trị kinh tế cao, dịch vụ
nông nghiệp, nông nghi ệp sinh thái, nông nghi ệp với du lịch sinh thái và phát tri ển
làng nghề truyền thống phục vụ du lịch thân thi ện với môi tr ường; tái cơ cấu trồng
trọt từ sản xuất lương thực là chính sang rau đậu, quả thực phẩm, hoa và cây cảnh.
Thông qua vi ệc phát tri ển các lĩnh vực kinh tế thủy sản có tr ọng tâm, hợp lý,
theo hướng bền vững, hiệu quả, cùng với đó cần đa dạng sản phẩm, ưu tiên các lĩnh
vực nhi ều lợi th ế nh ằm đưa Cà Mau th ực sự tr ở thành trung tâm s ản xu ất gi ống,
thức ăn, khoa học công nghệ, chế biến, xuất khẩu thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề
cá của vùng Tây Nam B ộ. Làm tốt nh ững định hướng này, ng ười dân s ẽ có được
việc làm, đời sống được cải thiện, các vấn đề về nghèo đói, an ninh tr ật tự và đời
sống nông thôn sẽ bền vững hơn.
* Phương hướng xây dựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững
trên phương diện môi trường
Giảm thiểu các hoạt động bất lợi đến môi trường trong khai thác các ngu ồn lực
cho sản xu ất ng ư, nông, lâm s ản; tăng hi ệu qu ả qu ản lý và s ử dụng các ngu ồn tài
nguyên; tăng cường các biện pháp giảm phát thải; quản lý và sử dụng hiệu quả an toàn
các loại hóa chất, thuốc trừ sâu, chất thải từ chăn nuôi, trồng trọt, công nghiệp chế biến
và làng ngh ề; bảo tồn đa dạng sinh học. Khuyến khích áp d ụng các tiêu chu ẩn môi
trường kèm cơ chế giám sát chặt chẽ để thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp.
Để làm t ốt vi ệc bảo vệ môi tr ường, quan tr ọng nh ất là x ử lý, kh ắc ph ục ô
nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và ch ặt phá
rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.
Bảo vệ môi trường là một trong ba yếu tố cấu thành của phát triển theo hướng bền
vững. Vấn đề đặt ra đối với Cà Mau là không thể xem nhẹ, hoặc coi trọng một trong ba
vấn đề (bảo vệ môi trường, hay phát triển kinh tế hoặc phát triển xã hội) mà trong quá
trình hoạch định chính sách, đặt ra các quy định thực thi pháp luật, tỉnh cần phải đảm bảo
hài hòa việc phát triển theo hướng bền vững cả ba yếu tố này. Đây là một bài toán khó
không chỉ đối với Cà Mau mà còn đối với nước ta. Trong thời gian tới, quá trình CNH,
đô thị hóa, phát tri ển nông nghi ệp, du lịch, xây dựng NTM,... đều tác động đến môi
trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên. Bền vững về môi
trường là khi sử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người
phải được bảo đảm. Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa
119
lý, cảnh quan đối với Cà Mau trước biến đổi khí hậu và nước biển dâng cần phải được
đánh giá, tiên lượng và định hướng bằng những giải pháp hết sức cơ bản, thực chất thì
mới có th ể giảm thiểu được thiệt hại trong sản xuất và đời sống của người dân. Ch ất
lượng của các yếu tố trên đối với một tỉnh phải chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí
hậu như Cà Mau luôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo
100%
17.5
80%
15.1 3
16.3 4.5
7
Thương mại, du lịch
22.2
21.5
60%
21
Vận tải, hậu cần
Điện, hóa chất
40%
Thủy sản
44.6
42.7
39.6
20%
0%
2015
2020
2025
những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế.
Biểu đồ 4.1: Tỷ trọng đóng góp của các cụm ngành trọng điểm vào GDP của tỉnh
Nguồn: [103].
4.3.2. Mục tiêu xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền
vững ở tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2016-2025
4.3.2.1. Mục tiêu tổng quát
Thông qua vi ệc phát tri ển các lĩnh vực kinh tế thủy sản có tr ọng tâm, hợp lý,
theo hướng bền vững, hi ệu qu ả, cùng v ới đó cần đa dạng sản ph ẩm, ưu tiên xây
dựng tỉnh Cà Mau thành tỉnh phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực KT-VH-XH
theo hướng phát huy nh ững tiềm năng, lợi thế của tỉnh, đồng thời quán tri ệt đầy đủ
chức năng, nhiệm vụ của một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL đối với cả
nước, đó là trung tâm l ớn về nuôi tr ồng, khai thác và ch ế biến thủy sản; trung tâm
năng lượng và cung cấp khí đốt từ các mỏ khí Tây Nam, điện gió Khai Long; trung
tâm dịch vụ du lịch; làm cầu nối trong hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vị trí quan trọng
về quốc phòng, an ninh của cả nước. Đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của
vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL và trở thành một tỉnh phát triển khá vùng ĐBSCL;
hoàn thiện môi tr ường đầu tư, kinh doanh, tái c ơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình
tăng trưởng theo chi ều sâu, tham gia nhi ều hơn vào các chu ỗi giá tr ị với trọng tâm
là các ngành trọng điểm của tỉnh.
Phát triển hài hòa gi ữa thành th ị và nông thôn, huy động tối đa các ngu ồn lực
xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân; bảo vệ môi trường
120
sinh thái, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, ch ủ động phòng tránh và ứng phó bi ến đổi
khí hậu; kết hợp phát triển kinh tế với giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội; đảm
bảo quốc phòng, an ninh, GD - ĐT, y tế, KH - CN, v ăn hóa, gi ải quyết việc làm,
giảm nghèo bền vững, từng bước nâng cao đời sống nhân dân.
Xây dựng nền NNPTTHBV cả về KT-XH-MT; nâng cao năng suất, chất lượng,
giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp;
xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, chất lượng và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của người tiêu dùng, góp phần phát triển nguồn lực xây dựng NTM.
Mục tiêu kinh tế - Tăng trưởng - Hiệu quả - Ổn định
Kinh tế
Xã hội
Môi trường
Mục tiêu xã hội - Việc làm đầy đủ - Công bằng - Giáo dục - Y tế - Tham gia của ND - Văn hóa
Mục tiêu môi trường ường lành - Môi tr mạnh cho con người - Sử dụng hợp lý tài nguyên tái tạo - Bảo tồn tài nguyên không tái tạo
Hình 4.2: Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững
Nguồn: [64].
Huy động và th ực hiện đa dạng hoá các ngu ồn lực đầu tư cho phát tri ển nông
nghiệp, nông thôn; ngân sách Nhà n ước hỗ trợ tạo điều kiện huy động, thúc đẩy các
nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ hợp tác, HTX, hộ gia đình đầu tư phát triển sản xuất.
Xây dựng, hoàn thiện và phát triển hình thức hợp tác liên kết trong tổ chức sản xuất
theo chuỗi giá trị đối với các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của tỉnh.
4.3.2.2. M ục tiêu cụ thể
* Mục tiêu kinh tế
- Phấn đấu đến năm 2020 GDP bình quân đầu người đạt khoảng 70 - 72 tri ệu
đồng (2.550 - 2.660 USD) t ương đương 60% mức vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL
121
và đến năm 2025 t ương đương (78 - 80%) m ức vùng kinh t ế tr ọng điểm ĐBSCL
(5.200 - 5.300 USD)
- GDP t ăng tr ưởng với nh ịp độ bình quân (so sánh n ăm 2010) kho ảng 7 -
7,5%/năm thời kỳ 2016 - 2020 và 8 -8,5%/năm thời kỳ 2020 - 2025 [30].
- Xuất khẩu thủy sản đạt 1.150 nghìn USD n ăm 2015, ph ấn đấu 1.500 nghìn
USD vào năm 2020 và 1.750 nghìn USD vào năm 2025.
- Thu ngân sách đạt 7.000 t ỷ vào n ăm 2020 và 10.000 t ỷ vào n ăm 2025.
Chuyển dịch cơ cấu kinh t ế theo h ướng ti ếp tục khai thác nh ững lợi th ế về nuôi
trồng và đánh bắt thủy sản. Cơ cấu kinh tế ngư - nông - lâm 38,1% n ăm 2015 giảm
xuống còn 32% năm 2020 và 22% năm 2025.
- Tốc độ đổi mới công ngh ệ, thiết bị đạt 8 - 10% m ột số lĩnh vực quan tr ọng
thời điểm năm 2015, tăng lên 15-20% năm 2020 và 28-30% vào năm 2025 [30].
* Mục tiêu xã hội
- Th ất nghi ệp ở thành th ị dưới 3,4% vào n ăm 2020, qu ỹ th ời gian lao động
nhàn rỗi ở nông thôn gi ảm xuống còn 50% vào n ăm 2020 và còn 30-35% vào n ăm
2025; mỗi năm đào tạo nghề cho 5.000 lao động.
- Mỗi năm giảm nghèo theo chu ẩn đa chiều 2%; t ỷ lệ qua đào tạo th ời điểm
2020 là 48%, năm 2025 là 60%.
- Thanh niên trong độ tuổi có trình độ THPT; phấn đấu có 25 bác sĩ và 5 dược
sĩ/1 vạn dân [30].
* Mục tiêu môi trường
- Đến năm 2020 có 100% doanh nghi ệp, khu đô th ị mới có h ệ th ống xử lý
nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.
- Đến năm 2020 ch ất thải rắn, chất thải y tế 100% được thu gom, x ử lý đúng
quy định.
- Không còn nhà tạm, di dời nhà trên sông, ven sông khu vực đô thị và hạn chế
đến mức thấp nhất nhà trên sông, rạch; giảm tối đa ảnh hưởng của thiên tai biến đổi
khí hậu và nước biển dâng.
4.4. MỘT SỐ GI ẢI PHÁP CH Ủ YẾU NH ẰM XÂY D ỰNG NỀN NÔNG
NGHIỆP PHÁT TRI ỂN THEO H ƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU, GIAI
ĐOẠN 2016 - 2025
Trên cơ sở những đánh giá v ề thực tr ạng NNPTTHBV ở tỉnh Cà Mau; đồng
thời trên tinh th ần nghị quyết TW7 (khóa X) v ề nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
122
Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04-06-2010 c ủa Thủ tưởng Chính ph ủ phê duy ệt
Chương trình mục tiêu Qu ốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020 và quan
điểm ch ỉ đạo để NNPTTHBV trên địa bàn t ỉnh Cà Mau, lu ận án đề cập một số
nhóm giải pháp cơ bản sau:
4.4.1. Nhóm gi ải pháp v ề cơ ch ế, chính sách nh ằm hỗ tr ợ tích c ực cho
nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững
Th ực hi ện ch ủ tr ương của Đảng và Nhà n ước, nh ững năm qua Cà Mau đã
dành nhi ều sự quan tâm để phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn. Tuy nhiên, nhi ều
chính sách ch ưa đồng bộ dẫn tới phát tri ển thi ếu bền vững. Để xây d ựng nông
nghiệp, nông thôn phát triển bền vững, cần chú ý một số chính sách sau đây:
4.4.1.1. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển nông nghiệp theo hướng
tạo điều kiện để nông nghiệp phát triển bền vững
Việc rà soát, điều chỉnh Quy hoạch phát triển Nông nghiệp tỉnh Cà Mau giai
đoạn 2011 - 2020 đã được UBND tỉnh phê duy ệt tại Quyết định 1586/Q Đ-UBND
ngày 13/10/2011 (tr ừ lĩnh vực nuôi tr ồng thủy sản đã có Quy ho ạch riêng) cho phù
hợp với Đề án của UBND tỉnh về tái cơ cấu ngành nông nghi ệp tỉnh Cà Mau. Theo
đó, nh ằm thúc đẩy nông nghi ệp Cà Mau phát tri ển theo h ướng bền vững, chính
quyền địa ph ương cần tích c ực th ực hi ện vi ệc rà soát, điều ch ỉnh quy ho ạch phát
triển nông nghiệp của tỉnh, trong đó chú trọng các phương diện cụ thể sau:
Rà soát, điều ch ỉnh Quy ho ạch bảo vệ và phát tri ển rừng tỉnh Cà Mau đến
năm 2020 tại Quyết định số 1200/QĐ-UBND ngày 21 tháng 8 n ăm 2012 của Chủ
tịch UBND t ỉnh Cà Mau cho phù h ợp với tình hình m ới nh ằm nâng cao hi ệu qu ả
thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau.
Ngành nông nghiệp cần tiếp tục thực hiện việc rà soát, điều chỉnh (hoặc xây
dựng mới) các quy hoạch chi tiết theo từng lĩnh vực của ngành; triển khai xây dựng
các ch ương trình, d ự án, đề án chuyên sâu để phát tri ển theo t ừng lĩnh vực, từng
ngành hàng cụ thể; có kế hoạch trung hạn, dài hạn cho phù hợp với Đề án, kế hoạch
đã được UBND tỉnh phê duyệt theo hướng ưu tiên các ngành, m ặt hàng mà t ỉnh có
lợi thế xuất khẩu.
Ngành nông nghi ệp cần sớm đề xuất UBND tỉnh phê duy ệt Quy ho ạch phát
triển giống cây nông, lâm nghi ệp, giống vật nuôi và gi ống thủy sản đến năm 2020
và định hướng đến năm 2025; Sở Kế hoạch và đầu tư tiếp tục làm tốt đầu mối để rà
123
soát, bổ sung các quy ho ạch trên các l ĩnh vực (nh ất là quy ho ạch nuôi tôm công
nghiệp, tôm quảng canh cải tiến, quy hoạch sản xuất lúa - tôm) cho phù hợp với tình
hình th ực tế trong điều ki ện ch ịu tác động của bi ến đổi khí h ậu, nước bi ển dâng
ngày càng có dấu hiệu phức tạp và nghiêm trọng hơn.
Ủy ban nhân dân t ỉnh cần sớm điều ch ỉnh, bổ sung Quy ết định số 06/Q Đ-
2011/UBND ngày 05 tháng 4 n ăm 2011 của UBND tỉnh Cà Mau v ề Quy định Cơ
chế phát triển Cụm nuôi tôm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
Từng cấp chính quyền cần xiết chặt quản lý sản xuất theo quy hoạch, có biện
pháp chấn chỉnh sản xuất tự phát, gây khó khăn cho quản lý, khống chế dịch bệnh ở
cây trồng, vật nuôi. Theo phân cấp quản lý, tỉnh cần giao cho UBND huyện quản lý
chặt ch ẽ vùng s ản xu ất chuyên lúa, tránh để ng ười dân t ự ti ện đưa nước mặn vào
đồng ruộng để nuôi tôm, làm phá vỡ quy hoạch, nhằm ổn định diện tích canh tác lúa
theo quy hoạch.
Trên cơ sở Đề án tái cấu trúc ngành nông nghiệp, từng sở ngành có liên quan
và UBND các huy ện, thành ph ố chủ động ban hành k ế hoạch thực hiện chăn nuôi
theo định hướng tái c ơ cấu; ngành th ủy lợi sớm tham m ưu cấp th ẩm quy ền điều
chỉnh, bổ sung quy ho ạch hệ th ống th ủy lợi tỉnh Cà Mau đến năm 2020 và định
hướng đến năm 2025 và nh ững năm ti ếp theo. Đồng th ời đổi mới công tác quy
hoạch thủy lợi theo hướng: Quy ho ạch thủy lợi gắn chặt với tái cơ cấu ngành nông
nghiệp; áp dụng tiến bộ KH - CN thủy lợi và tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp.
Quy hoạch phát triển thủy lợi gắn với nâng cao hiệu quả quản lý khai thác hệ thống
công trình thủy lợi, nâng cao hi ệu quả cung cấp dịch vụ nước có thu, khuy ến khích
hợp tác đầu tư công - t ư, tạo nguồn lực cho phát tri ển thủy lợi. Nâng cao n ăng lực
nghiên cứu, dự báo tác động của biến đổi khí hậu và các tác động bất lợi trong quá
trình phát tri ển KT - XH để đề xuất các gi ải pháp gi ảm thiệt hại. Coi các gi ải pháp
phi công trình là gi ải pháp quan tr ọng trong quy ho ạch, xây d ựng kế ho ạch phát
triển thủy lợi.
Đánh giá và điều chỉnh nhiệm vụ hệ thống công trình th ủy lợi bao gồm: Cơ
sở hạ tầng, phương thức tổ chức quản lý khai thác, n ăng lực của đội ngũ cán bộ -
công nhân viên. Th ực hiện đánh giá các công trình th ủy lợi trên ph ạm vi toàn t ỉnh
làm căn cứ để điều chỉnh nhiệm vụ hệ thống công trình th ủy lợi. Rà soát quy ho ạch
thủy lợi theo m ục tiêu tái c ơ cấu ngành nông nghi ệp trong điều ki ện bi ến đổi khí
124
hậu với nhiệm vụ trọng tâm là: Quy ho ạch thủy lợi phục vụ nuôi tr ồng thủy sản ở
vùng Nam Cà Mau; điều chỉnh quy hoạch thủy lợi theo hướng phục vụ đa mục tiêu
(cho hệ sinh thái ngọt, mặn và lợ đan xen) ở vùng Bắc Cà Mau.
Quy ho ạch và k ế ho ạch phòng, ch ống thiên tai: Ban ch ỉ đạo phòng ch ống
thiên tai cần thực hiện tốt Chiến lược phòng, ch ống và giảm nhẹ thiên tai giai đoạn
2010-2020; điều chỉnh, bổ sung kế hoạch phòng, ch ống và gi ảm nhẹ thiên tai cho
phù hợp với tình hình m ới. Trọng tâm là xây d ựng kế hoạch quản lý sạt lở các cửa
sông, các điểm dân cư ven sông và quy ho ạch qu ản lý rủi ro thiên tai cho các địa
phương; xây dựng lộ trình th ực hiện và theo dõi, ki ểm tra, giám sát qua b ộ chỉ số
đánh giá.
Đối với dịch vụ hậu cần nghề cá: Đáp ứng cho nhu cầu trước mắt và lâu dài,
tỉnh cần có chỉ đạo tổ chức lại hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá, xây dựng và phát
triển các mô hình liên k ết, liên doanh, gắn kết các khâu trong quá trình s ản xuất, từ
khai thác, bảo quản đến chế biến và tiêu th ụ sản phẩm phù hợp với từng nghề, từng
vùng biển và từng địa phương, theo hướng chia sẻ lợi ích gi ữa ngư dân với các tổ
chức, doanh nghi ệp, bảo đảm tiêu th ụ sản phẩm ổn định, nâng cao giá tr ị của sản
phẩm và lợi nhuận cho ngư dân. Củng cố, phát triển các cơ sở đóng, sửa tàu cá, sản
xuất ng ư lưới cụ, trang thi ết bị máy móc khai thác trên tàu cá t ại các Trung tâm
nghề cá lớn, cảng cá, bến cá của mỗi địa phương. Tỉnh cần nghiên cứu đề xuất với
trung ương xây d ựng cảng bi ển nước sâu trên đảo Hòn Khoai để xu ất kh ẩu hàng
nông sản, là trạm trung chuyển cho một số nước khu vực Đông Nam á.
4.4.1.2. Hoàn thi ện cơ chế hỗ trợ phát tri ển sản xuất nông nghi ệp hướng
tới phát triển bền vững
Vận dụng các chính sách c ủa trung ương, UBND tỉnh cần tiếp tục thực hiện
một số giải pháp hỗ trợ sản xuất, nhất là đối với nuôi trồng, khai thác, đánh bắt thủy
sản, hỗ trợ kịp thời những hộ nông dân bị thiệt hại do trận hạn hán lịch sử giữa năm
2016; hỗ trợ hình thành, phát tri ển những ngành, những khu công nghi ệp mới, dịch
vụ chất lượng cao, nh ững ngành có kh ả năng phát tri ển KT-XH, nh ất là thâm d ụng
lao động, có chính sách h ỗ tr ợ các t ổ ch ức, cá nhân đầu tư sản xu ất công nghi ệp
nông thôn và các d ịch vụ khuyến công theo quy ho ạch phát triển công nghiệp nông
thôn và các d ịch vụ khuyến công theo quy ho ạch phát tri ển công nghi ệp của tỉnh,
huyện, thành phố và các vùng kinh t ế trọng điểm của tỉnh. Thực hiện tốt chính sách
125
khuyến công sẽ góp ph ần vào chuy ển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH,
trước hết là công nghi ệp hóa nông nghi ệp, nông thôn, t ạo việc làm, tăng thu nh ập,
thực hiện phân công lao động hợp lý và hiệu quả hơn. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho các
tổ ch ức, cá nhân thu ộc mọi thành ph ần kinh t ế đầu tư phát tri ển sản xu ất công
nghiệp nông thôn m ột cách b ền vững, nâng cao n ăng lực cạnh tranh, th ực hiện có
hiệu quả lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tỉnh cần có chính sách ưu đãi mặt bằng đầu tư, tạo ngu ồn nguyên li ệu tại
chỗ, tạo mặt bằng thông thoáng cho doanh nghi ệp đầu tư, chính sách ưu đãi về vốn,
thuế, máy móc thi ết bị đầu tư cho sản xuất, kinh doanh trên l ĩnh vực nông nghi ệp,
nông thôn; chính sách đầu tư tàu thuy ền đánh bắt xa b ờ; đầu tư trung tâm nghiên
cứu, dự báo, các trung tâm giống, cây trồng, vật nuôi…. khuyến công trong các lĩnh
vực ch ế bi ến nông, lâm, th ủy sản; sản xu ất sản ph ẩm sử dụng nguyên li ệu tại địa
phương, sử dụng nhiều lao động; sản xuất máy móc, thi ết bị, sửa chữa máy cơ khí
nông nghiệp; sản xuất, gia công, bán thành phẩm, dịch vụ thay thế hàng nhập khẩu.
4.4.1.3. Hỗ tr ợ các hình th ức tổ ch ức sản xu ất nông nghi ệp theo h ướng
bền vững
Liên minh HTX t ỉnh cần tăng cường củng cố và phát tri ển kinh t ế tập thể,
với nòng c ốt là HTX, nh ất là ở vùng nuôi tr ồng, đánh bắt th ủy sản, tr ồng tr ọt,
chăn nuôi chuyên môn hóa l ớn, phát tri ển các làng ngh ề th ủ công. Thông qua
kinh tế hợp tác, cung c ấp các d ịch vụ sản xu ất, ký k ết hợp đồng tiêu th ụ sản
phẩm với các doanh nghi ệp, làm đầu mối thông tin th ị tr ường, hướng dẫn kỹ
thuật mới; đẩy mạnh phát tri ển kinh t ế hộ, kinh t ế nông tr ại, trang tr ại, khuy ến
khích đầu tư sản xuất kinh doanh. Đây là nhu c ầu rất quan tr ọng trong điều kiện
sản ph ẩm sản xu ất ra trên địa bàn c ần cạnh tranh ngay c ả trên th ị tr ường trong
nước, chưa kể ở thị trường nước ngoài.
Đối với lĩnh vực phi nông nghi ệp, chính quy ền địa phương cần có gi ải pháp
khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình bằng các chính sách hỗ trợ đào tạo, cung
cấp các dịch vụ tư vấn, giúp đỡ để tiếp cận các ch ương trình vay v ốn ưu đãi. Đẩy
mạnh cổ phần hóa và các hình th ức sở hữu các doanh nghi ệp kinh doanh trên l ĩnh
vực nông nghi ệp do Nhà n ước quản lý. Tăng cường vai trò qu ản lý Nhà n ước trên
cơ sở phát tri ển các doanh nghi ệp công ích đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời các
dịch vụ xã hội.
126
4.4.1.4. Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
Đối với ngành công th ương cần đồng bộ hóa các gi ải pháp và th ực hiện có
hiệu quả cơ chế, chính sách tiêu th ụ hàng hóa nông s ản, chống buôn l ậu, gian lận
thương mại kết hợp với các bi ện pháp gi ảm giá thành và nâng cao ch ất lượng sản
phẩm để tăng sức cạnh tranh trên th ị trường. Phát tri ển và củng cố các cơ sở kinh
doanh mặt hàng nông sản xuất khẩu có thể khép kín từ khâu nguyên liệu - chế biến -
xuất khẩu để ổn định đầu vào và đầu ra. Phát tri ển mạng lưới chợ nông thôn và c ơ
sở dịch vụ thu mua nông sản ở các huyện vùng sâu. Hình thành các khu, c ụm, điểm
kinh tế tổng hợp trên các địa bàn để tạo ra các mô hình phát tri ển kinh t ế và các
điểm thu mua và cung ứng vật tư nông nghiệp, hàng hóa, dịch vụ cho nông dân.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chỉ đạo của tỉnh, căn cứ vào điều kiện
cụ thể của từng địa phương (vùng ngọt hóa, vùng nước mặn, nước lợ) chính quyền địa
phương cần giúp đỡ nông dân chuyển đổi và nâng cao hiệu quả các HTX dịch vụ đảm
bảo cung ứng đầu vào có chất lượng và tiêu thụ tốt sản phẩm cho nông dân.
Trung tâm xúc ti ến thương mại của tỉnh cần có các bi ện pháp khuy ến khích
và hỗ tr ợ doanh nghi ệp, các thành ph ần kinh t ế xúc ti ến th ương mại, xây d ựng
thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp; tìm kiến phát triển thị
trường xu ất kh ẩu thông qua các ch ương trình xúc ti ến th ương mại, hội ch ợ, tri ển
lãm, hội thảo, du lịch… chủ động nắm bắt thị trường, tìm kiếm đối tác, thu hút đầu
tư từ các t ổ ch ức, doanh nghi ệp trong và ngoài n ước vào các l ĩnh vực theo danh
mục mời gọi đầu tư của UBND tỉnh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025.
4.4.1.5. Huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp
Để đạt được mục tiêu NNPTTHBV, trên cơ sở đánh giá khả năng tích lũy do
thu nhập ngày một tăng của dân cư, xác định nguồn tích lũy bao gồm từ kinh tế Nhà
nước, các doanh nghiệp và hộ gia đình. Theo đánh giá tích lũy từ nội bộ nền kinh tế
Cà Mau th ời kỳ 2011 - 2020 có th ể đảm bảo 75 - 76% t ổng nhu cầu đầu tư. 5 năm
tiếp theo có th ể đạt xấp xỉ 80%, nh ư vậy, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách t ỉnh giai
đoạn 2021 - 2025 có t ăng trưởng từ 12-13%. Ngu ồn vốn hộ gia đình thời gian hiện
nay khá cao 38 - 39%, trong t ương lai tỷ trọng này gi ảm dần khoảng 25 - 30% do
quy mô đầu tư thông thường tăng lên. Với khả năng tích lũy nội bộ nền kinh tế 20 -
28%, nhu c ầu đầu tư theo c ơ cấu ngành, thì ngành nông nghi ệp có kh ả năng huy
động được 32 - 38% tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội [100].
127
Thực tế hiện nay của tỉnh, tỷ trọng nguồn vốn từ ngân sách chỉ chiếm từ 20 -
23% và chủ yếu để đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng KT - XH, phát tri ển nguồn
nhân lực, ch ăm sóc s ức kh ỏe nhân dân, đảm bảo an sinh xã h ội và b ảo vệ môi
trường. Để huy động nguồn vốn từ ngân sách trung ương thì tỉnh cần làm tốt công
tác quy ho ạch và qu ản lý quy ho ạch. Quan tâm đúng mức quy ho ạch phát tri ển
ngành, đặc biệt là ngành có thế mạnh của tỉnh như phát triển ngư, nông, lâm nghiệp.
Muốn vậy, tỉnh cần chuẩn bị danh mục chương trình, dự án có tính kh ả thi cao, sắp
xếp theo th ứ tự ưu tiên, đề xuất cụ thể, phân kỳ đầu tư ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn, thời gian khoảng 5 đến 10 năm cho một chương trình, kế hoạch. Mặt khác, cần
làm tốt việc huy động nguồn vốn tín dụng Nhà nước để phát triển nông nghiệp, như
các dự án sử dụng công ngh ệ sạch, bảo vệ môi tr ường, giải quyết việc làm, hỗ trợ
đào tạo…tuy mức đầu tư từ nguồn vốn này không lớn, nhưng có ý nghĩa quan trọng
trong việc đào tạo, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội.
Cạnh đó, việc đẩy mạnh thu ngân sách, qu ản lý, nuôi d ưỡng các ngu ồn thu
thuế và phát tri ển th ị trường tài chính, tín d ụng đáp ứng nhu c ầu về vốn cho phát
triển nông nghiệp, giải pháp này nếu được thực hiện tốt thông qua vi ệc phổ biến về
đầu tư các dự án siêu nh ỏ, vừa và nh ỏ để thu hút các ngu ồn vốn của mọi tầng lớp
nhân dân trong t ỉnh sẽ mở ra một cách làm hi ệu quả trong vi ệc huy động vốn vào
mục đích xây dựng một nền NNPTTHBV của tỉnh.
4.4.2. Nhóm các gi ải pháp xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo
hướng bền vững trên phương diện kinh tế
4.4.2.1. Xây d ựng các ngành kinh t ế nông nghi ệp đáp ứng yêu c ầu nông
nghiệp phát triển theo hướng bền vững
Để lĩnh vực NNPTTHBV thì các ngành kinh t ế thuộc lĩnh vực nông nghi ệp
cần đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Do vậy, xét trên phương diện kinh tế, cần
chú trọng thực hiện các giải pháp sau:
- Phát tri ển ngành tr ồng tr ọt, hình thành vùng s ản xu ất hàng hóa t ập trung,
đầu tư thâm canh, tăng vụ, giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao.
Cây lúa: Quy hoạch của Cà Mau thời gian tới không mở rộng diện tích trồng
lúa nhưng chú tr ọng đến công tác th ủy lợi, thủy nông nội đồng, dồn điền, đổi thửa,
cải tạo giống lúa, nâng cao năng suất và chất lượng; tận dụng bờ vuông, vườn tạp để
canh tác, cải thiện đời sống. Chính quyền địa phương cần tăng cường quản lý và đề
128
xuất với trung ương để thực hiện tốt công tác quy ho ạch, có chính sách bảo đảm lợi
ích cho người trồng lúa ở các vùng ngọt hóa để giúp người dân yên tâm sản xuất, ổn
định cuộc sống, tránh tự phát chuyển đổi diện tích tr ồng lúa sang nuôi tôm, phá v ỡ
quy hoạch.
Cây ăn quả: Trong những năm tới ngành nông nghi ệp cần mở rộng diện tích
các loại cây ăn quả có lợi thế vùng ngọt hóa Bán đảo Cà Mau, cây ăn quả trồng trên
bờ vuông nuôi tôm và trên di ện tích vườn tạp, hoang hóa. Các loại cây thích ứng tốt
với vùng đất nhiễm mặn của Cà Mau, như: cây xoài, đu đủ, mận, thanh long, chuối,
mít… trồng mau thu ho ạch, cho năng suất khá, hi ệu quả kinh tế tương đối cao đối
với nhà nông bên cạnh con tôm, cây lúa.
Cây mía: T ỉnh cần sớm điều ch ỉnh quy ho ạch, có c ơ ch ế, chính sách cho
người nông dân ổn định di ện tích hi ện có và được tr ồng nhi ều ở các huy ện Th ới
Bình, U Minh và Trần Văn Thời. Chính quyền địa phương cần phát động người dân
chú trọng trồng thâm canh, đầu tư, nâng cấp hệ thống tưới tiêu, sử dụng giống mới
cho năng suất, trữ lượng đường cao và rải vụ. Tiếp tục đầu tư vùng nguyên liệu phù
hợp với quy mô công su ất nhà máy đường ở địa phương theo quy hoạch của tỉnh đã
được phê duyệt.
Cây dừa: Về lâu dài, chính quy ền địa phương cần khôi ph ục lại vườn dừa ở
các huy ện Phú Tân, Tr ần Văn Th ời, Cái N ước, Th ới Bình, U Minh. T ừng địa
phương cần quy ho ạch vùng nguyên li ệu tập trung, s ử dụng gi ống dừa cho n ăng
suất và ch ất lượng cao; khuy ến khích các c ơ sở thủ công m ỹ ngh ệ làm t ừ nguyên
liệu dừa và xây d ựng nhà máy ch ế biến các mặt hàng làm t ừ dừa phù hợp với điều
kiện của tỉnh.
Rau các loại: Chính quyền và các đoàn thể tìm biện pháp phù hợp phát động
nhân dân tr ồng các lo ại rau s ạch, rau ch ất lượng cao, an toàn v ệ sinh th ực ph ẩm,
phát triển măng, nấm, đậu tương ở vùng ng ọt hóa và ven các kênh, m ương, vuông
tôm, vườn tạp, chủ yếu để giảm bớt một phần thiếu hụt cho nhu cầu trong tỉnh, giảm
bớt nhập khẩu từ ngoài tỉnh.
Nghề làm muối: Ngành nông nghiệp cần sớm tham mưu, đề xuất UBND tỉnh
quan tâm c ải thi ện đời sống diêm dân, ch ủ yếu là khu v ực xã Tân Thu ận, huy ện
Đầm Dơi và ven sông Gành Hào. Hình thành vùng nguyên li ệu muối tập trung, từng
bước hi ện đại hóa quy trình làm mu ối, sản xu ất bằng công ngh ệ tiên ti ến, để đạt
129
năng suất và ch ất lượng cao, giá thành h ạ; nâng cao n ăng lực chế biến muối, đảm
bảo đáp ứng đủ cho cơ sở sản xuất và ch ế biến muối của địa phương để góp ph ần
đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
- Phát triển nhanh ngành chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công
nghiệp, an toàn dịch bệnh, phát huy lợi thế của từng địa phương trong tỉnh
Phát tri ển gia súc, gia c ầm theo h ướng sản xu ất hàng hóa, hình thành các
vùng chăn nuôi tập trung theo hình thức trang trại, nuôi công nghiệp, gắn với các cơ
sở chế biến và xử lý chất thải.
Nuôi heo: Phát tri ển đàn heo phù hợp với điều kiện của tỉnh. Hiện tỉnh chưa
có trang tr ại nuôi heo t ập trung, nên 85% th ịt heo nh ập từ các tỉnh ĐBSCL, mi ền
đông Nam bộ, do đó, phát tri ển đàn heo, gắn với việc làm tốt quy ho ạch, tạo điều
kiện cho ng ười ch ăn nuôi có l ời, nh ất là điều ki ện về vệ sinh môi tr ường, phòng
chống dịch bệnh cho đàn heo.
Nuôi bò, nuôi dê: Với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu như Cà
Mau không thuận lợi cho nuôi bò, nuôi dê theo hình th ức trang trại, nhưng các ngành
chức năng vẫn có thể khuyến khích nuôi được ở một số huyện như Thới Bình, U Minh,
Trần Văn Thời và thành phố Cà Mau nằm trong vùng ngọt hóa của tỉnh.
Gia cầm: Từng địa phương phát tri ển đàn gia cầm để đáp ứng nhu cầu thịt,
trứng cho tiêu dùng trong tỉnh. Với điều kiện của tỉnh, có thể phát triển mạnh ngành
chăn nuôi gà, vịt chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh, xuất khẩu
thịt, tr ứng, lông. Ngành ch ức năng cần làm t ốt công tác thú y, t ừng bước cải ti ến
phương thức chăn nuôi để chống và ngăn ngừa dịch bệnh.
- T ập trung phát triển lâm nghiệp toàn diện
Ngành nông nghiệp cần huy động các nguồn lực tập trung bảo vệ rừng hiện
có, nhất là rừng tràm ở Vườn quốc gia U Minh hạ, rừng đước ở Vườn quốc gia Mũi
Cà Mau và Khu d ự tr ữ sinh quy ển thế giới Mũi Cà Mau. Ti ếp tục làm giàu r ừng,
bảo vệ cho được rừng phòng h ộ, rừng đặc dụng. Hoàn ch ỉnh quy ho ạch để hình
thành các vùng nguyên li ệu gắn với các cơ sở chế biến; ứng dụng công ngh ệ nuôi
cấy mô, hom và nh ững ph ương pháp nhân gi ống tiên ti ến khác để rừng Cà Mau
ngày càng phát triển đa dạng, đem lại lợi ích kinh tế cao.
Hoàn thi ện chính sách để ng ười tr ồng, ch ăm sóc r ừng đảm bảo được cu ộc
sống và có th ể làm giàu t ừ ngh ề rừng; khuy ến khích các h ộ nông dân, lâm ng ư
130
trường, công ty lâm s ản mua máy móc, thi ết bị, th ực hi ện cơ gi ới hóa các khâu
trồng, khai thác, v ận chuyển và ch ế biến gỗ, lâm sản; phát tri ển các cơ sở sản xuất
giấy, bột giấy, ván nhân tạo, đồ gia dụng và thủ công mỹ nghệ làm bằng gỗ.
- Tiếp tục triển khai có hi ệu quả chương trình nuôi trồng, khai thác đánh bắt,
chế biến, xuất khẩu các mặt hàng thủy hải sản
Tiếp tục đầu tư tăng nhanh sản lượng nuôi tr ồng thủy sản, nhất là nuôi th ủy
sản mặt nước sông, ao, đầm, ven biển; phát triển nuôi trồng thủy sản vùng ngọt hóa
Quản lộ Phụng Hiệp trong các ao, đầm, ruộng, sông, kênh mương. Vùng nuôi trồng
thủy hải sản nước mặn tập trung ở các huyện: Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển, Cái
Nước, Phú Tân, m ột ph ần của huyện Tr ần Văn Th ời và thành ph ố Cà Mau; vùng
nuôi trồng thủy sản nước ngọt tập trung ở các huyện: Thới Bình, U Minh, Trần Văn
Thời, một phần của Cái Nước và Thành phố Cà Mau. Sản phẩm thủy sản nước mặn,
tập trung là: tôm sú, tôm th ẻ, cua, cá ch ẽm, cá kèo, ốc len, nghêu, sò huy ết, cá biển
các loại… còn sản phẩm chủ yếu nuôi nước ngọt là: cá lóc, cá rô, cá trê, cá s ặc rằn,
cá chình, tai t ượng, tôm càng xanh… Xác định nhóm đối tượng thủy sản nuôi ch ủ
lực phù hợp với điều kiện sinh thái c ủa địa phương và nhu c ầu của thị trường. Đầu
tư xây dựng các vùng nuôi công nghi ệp tập trung, áp dụng tiêu chuẩn vùng nuôi tạo
sản phẩm an toàn v ệ sinh th ực phẩm, tăng cường bảo vệ môi tr ường sinh thái, đa
dạng, chuyển đổi cơ cấu theo quy hoạch để đạt hiệu quả kinh tế cao.
Đẩy mạnh đầu tư phát tri ển nuôi tr ồng th ủy sản trên bi ển và các h ải đảo
thuộc tỉnh, chủ yếu là nuôi tr ồng thủy hải sản trên đảo Hòn Khoai, đảo Hòn Chu ối
và Hòn Đá Bạc nh ằm phát huy l ợi th ế, ti ềm năng của các h ải đảo ven bi ển, đưa
nghề nuôi hải sản trên biển trở thành một ngành chủ lực của tỉnh trong tương lai.
131
Các thể chế hợp tác
Chính phủ Cơ quan quản lý nguồn lợi TS Bộ NN & PTNT
Các thể chế hợp tác khác
Các cơ sở đào tạo và Viện nghiên cứu
Các ngành công nghiệp hỗ trợ
Các ngành CN liên quan
Ngư dân
Nông dân
Tàu đánh bắt
Tài chính, ngân hàng
Chế biến thực phẩm
Bảo hiểm
Lưới cá
Các cơ sở thu gom
Nuôi tôm
Đóng gói
Nhà máy chế biến
Trồng vườn
Đông lạnh
Vận tải và thủ tục vận tải
Cung cấp năng lượng
Thị trường cuối cùng
Du lịch
SX thức ăn
Thị trường quốc tế
Thị trường trong nước
Xây dựng/kỹ thuật/sửa chữa chữa
Biểu đồ 4.2: Cụm nuôi trồng và chế biến thủy sản
Nguồn: [103].
Khai thác thủy sản: Thực hiện chủ trương của Chính phủ về đầu tư đánh bắt
xa bờ, UBND tỉnh cần chỉ đạo quyết liệt việc chuyển đổi nhanh nghề khai thác thủy
sản ven bờ, giúp ng ư dân sớm ổn định cuộc sống. Tỉnh cần tiếp tục đầu tư đội tàu
đánh bắt xa bờ có công su ất từ 90 CV tr ở lên, hạn chế tối đa đánh bắt gần bờ, theo
kiểu hủy diệt con gi ống; quản lý, khai thác có hi ệu quả vùng Bãi b ồi Mũi Cà Mau
132
rộng lớn, để nơi đây thực sự là ng ư trường phong phú v ề các lo ại giống thủy sản.
Những ngư dân không có điều kiện thì tổ chức dạy nghề, chuyển đổi nghề nghiệp,
tạo điều kiện cho ngư dân ổn định cuộc sống, tìm việc làm mới.
Tỉnh cần làm tốt khâu quy ho ạch, đầu tư cảng cá, bến bãi, hệ thống hậu cần
dịch vụ nghề cá kể cả dịch vụ đánh bắt và tiêu th ụ thủy sản. Quan tâm đầu tư đúng
mức công nghi ệp ch ế bi ến, xu ất kh ẩu th ủy sản. Tỉnh cần vận dụng tốt các chính
sách của Nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghi ệp chế biến, xuất
khẩu thủy sản. Đổi mới thiết bị công nghệ theo hướng hiện đại; chủ động triển khai
một bước các công trình gi ảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường nông thôn, ng ăn chặn và khắc phục ô
nhiễm môi trường đang ngày càng gia tăng.
- Phát triển công nghiệp nông thôn
Phát triển công nghi ệp nông thôn là m ột trong nh ững nhi ệm vụ quan tr ọng
nhằm thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn. Phát triển công nghiệp nông
thôn là một nội dung của NNPTTHBV, cho nên tỉnh cần đầu tư theo hướng:
Điện: Phát huy t ối đa hi ệu quả của Nhà máy điện Cà Mau I và Cà Mau II;
phấn đấu 100% hộ dân trong t ỉnh có điện sử dụng (hiện 95%); đầu tư điện lưới ba
pha đủ điện phục vụ nuôi tôm công nghi ệp, nâng cao chất lượng cung cấp điện, bảo
đảm an toàn thiết bị điện. Sớm hoàn thành dự án điện gió Khai Long - Đất Mũi đáp
ứng nhu cầu về điện phục vụ sản xuất, sinh hoạt của tỉnh và cả khu vực ĐBSCL.
Cơ khí: Ngành tiểu thủ công nghiệp trong quá trình s ản xuất, chế tạo gắn kết
chặt ch ẽ với tổ ch ức sản xu ất nông nghi ệp, trong định hướng phát tri ển, tỉnh cần
chọn lọc đầu tư một số phân ngành, một số loại cơ khí như máy động lực, thiết bị cơ
giới hóa khâu làm đất, công đoạn sản xuất, thu ho ạch, chế biến, bảo quản sau thu
hoạch; đa dạng về quy mô, chủng loại, trình độ công nghệ, phù hợp tập quán và khả
năng ứng dụng của người dân.
Hóa chất: Các cấp, các ngành chức năng và các địa phương trong tỉnh cần làm
tốt công tác xã hội hóa cung cấp những sản phẩm hóa chất cơ bản cho trồng trọt, chăn
nuôi, thủy sản và bảo vệ môi tr ường. Với nhà máy đạm Cà Mau công su ất 800.000
tấn/năm và sắp tới, khi Nhà máy hóa chất Cà Mau đi vào hoạt động, sẽ có gần 40 mặt
hàng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cụ thể như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,
hóa chất xử lý kỹ thuật nuôi trồng thủy hải sản, chất bảo quản sau thu hoạch…
133
Công nghiệp chế biến nông, lâm, th ủy sản: UBND tỉnh cần sớm hoàn thi ện
quy hoạch các vùng s ản xuất tập trung, có l ợi thế so sánh v ề vùng nguyên li ệu so
với các t ỉnh trong khu v ực (vùng sinh thái m ặn, bao g ồm: nuôi tôm công nghi ệp,
nuôi thủy sản dưới chân rừng ngập mặn, nuôi trên mặt cửa sông, cửa biển và ven biển,
đảo; vùng ngọt hóa, bao gồm: trồng lúa, tr ồng cây ăn trái, hoa màu, ch ăn nuôi). Xây
dựng hệ thống giao thông nông thôn, hệ thống điện, nước, thủy lợi hoàn chỉnh phục vụ
cho trồng trọt, chăn nuôi, vận chuyển và ch ế biến sản phẩm nông nghi ệp tạo thành
hệ thống liên hoàn, khép kín tất cả các huyện, vùng quy hoạch của tỉnh.
Tiểu thủ công nghi ệp: Gắn với quy ho ạch NTM, từng địa phương trong tỉnh
cần phát triển ngành nghề thủ công trong phát triển nông nghiệp, công nghiệp và thị
trường tiêu th ụ sản phẩm. Tập trung phát tri ển các ngành ngh ề thủ công có l ợi thế
phát tri ển của tỉnh. Lựa ch ọn công ngh ệ và thi ết bị phù h ợp, kết hợp công ngh ệ
truyền thống với công nghệ tiên tiến. Đầu tư nâng cao chất lượng, phát triển các mặt
hàng mới phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của thị trường, chú tr ọng xây dựng thương
hiệu sản phẩm. Kết hợp hài hòa nhi ều quy mô, nhi ều loại hình t ổ chức và sở hữu
trong phát triển tiểu thủ công nghiệp
4.4.2.2. Giải pháp phát triển dịch vụ nông nghiệp
- Dịch vụ cung ứng vật tư máy móc: Các cơ sở sản xuất, kinh doanh phát huy
sự năng động, sáng tạo của mình nh ằm cung ứng các thi ết bị máy móc, thi ết bị cơ
khí, ph ương ti ện sản xu ất nông nghi ệp và ch ế bi ến nông lâm, th ủy sản; máy b ơm
nước, máy sục khí ô xy để nuôi tôm, máy n ổ, máy phát điện, máy nghi ền thức ăn
gia súc, gia c ầm và th ức ăn tôm; máy cày, máy kéo, xe t ải nhẹ…với giá cả hợp lý,
chất lượng đảm bảo. Dịch vụ này nh ư cầu nối, giúp ng ười nông dân ti ếp cận với
công nghệ ngày càng hiện đại trong sản xuất nông nghiệp.
- Dịch vụ giống cây tr ồng, vật nuôi: Gi ống cây tr ồng, vật nuôi đóng vai trò
vô cùng quan tr ọng trong sản xuất nông nghi ệp. Giống tốt coi nh ư một trợ thủ đắc
lực nh ất giúp nông nghi ệp tăng nhanh h ơn về sản lượng và ch ất lượng nông s ản.
Sản phẩm nông nghiệp ở Cà Mau lợi thế cạnh tranh hiện nay là con tôm nhưng đang
đứng tr ước th ử thách l ớn về ch ất lượng, giá c ả, ngay c ả th ị tr ường trong n ước và
quốc tế. Cho nên, khi hội nhập WTO, TPP tỉnh phải nhanh chóng tính đến phát triển
nông nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao.
134
- Dịch vụ phân bón, th ức ăn ch ăn nuôi: Trong ho ạt động sản xu ất nông
nghiệp, ngoài gi ống cây tr ồng, vật nuôi thì phân bón, th ức ăn ch ăn nuôi và thu ốc
bảo vệ thực vật đóng vai trò quan tr ọng không kém. Trong tr ồng trọt việc sử dụng
phân bón hợp lý, ch ất lượng cao và áp d ụng đúng cách các bi ện pháp bảo vệ thực
vật sẽ làm tăng năng suất cây tr ồng, đem lại hiệu quả cao cho ho ạt động sản xuất.
Trong chăn nuôi, nhất là đối với nuôi tôm quản canh cải tiến, nuôi tôm công nghiệp,
nếu biết chọn lọc, lựa chọn thức ăn cho vật nuôi có ch ất lượng, phù h ợp với từng
giống vật nuôi s ẽ đem lại năng su ất cao cho ng ười nông dân. Khi s ản xu ất nông
nghiệp của tỉnh ra kh ỏi sản xuất theo ki ểu truyền thống, tự cấp, tự túc, ở trình độ
còn thấp như hiện nay, thì d ịch vụ cung ứng phân bón, th ức ăn chăn nuôi và thu ốc
bảo vệ thực vật là dịch vụ tiện ích hỗ trợ tích cực cho người nông dân trong sản xuất
nông nghiệp. Tuy nhiên, khi trình độ sản xuất ở cấp độ cao, ti ến tới sản xuất nông
nghiệp xanh, nông nghi ệp sạch, thân thi ện với môi tr ường, khi công ngh ệ sinh học
được ứng dụng phổ biến thì vi ệc người nông dân s ử dụng phân bón, th ức ăn chăn
nuôi, thuốc bảo vệ thực vật không còn là phổ biến nữa.
- Dịch vụ cho vay v ốn hỗ trợ sản xuất: sản xuất nông nghi ệp có được thành
công một phần nhờ nguồn vốn từ dịch vụ cho vay h ỗ trợ sản xuất nông nghi ệp. Tỷ
trọng dư nợ cho vay dịch vụ nông nghiệp của tỉnh có chiều hướng tăng dần qua các
năm gần đây. Dịch vụ cho vay trong chu ỗi giá tr ị sản xu ất và tiêu th ụ sản ph ẩm
nông nghi ệp, các mô hình ứng dụng KH-CN trong s ản xu ất nông nghi ệp ti ếp tục
được tỉnh quan tâm đầu tư, khuy ến khích. V ới hướng đi này, trong th ời gian t ới,
không chỉ doanh nghiệp mà các hộ nông dân, HTX đại diện cho nông dân đẩy mạnh
các ho ạt động liên k ết theo chu ỗi sản xu ất, tiêu th ụ sản ph ẩm nông nghi ệp, gi ải
quyết tốt các v ấn đề đầu tư tín d ụng nông nghi ệp sẽ là cách góp ph ần điều ch ỉnh
hướng sản xu ất nông nghi ệp nh ỏ lẻ, manh mún sang s ản xu ất nông nghi ệp hàng
hóa, quy mô l ớn, liên kết hiệu quả, có tính c ạnh tranh cao, t ừng bước nâng cao đời
sống của người nông dân và thực hiện mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM.
4.4.2.3. Gi ải pháp m ở rộng hợp tác liên k ết với khu v ực ĐBSCL và h ội
nhập kinh tế quốc tế
Trong xu th ế ngày nay, vi ệc tham gia vào th ị trường cả vùng, cả nước, khu
vực và thế giới là một tất yếu khách quan. H ội nhập kinh tế thúc đẩy cạnh tranh và
nâng cao hi ệu qu ả các ngành và toàn b ộ nền kinh t ế của tỉnh là m ột trong nh ững
135
điểm trọng tâm để chấp nhận cạnh tranh thành công. Tr ước hết, cần phải cải thiện
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, theo đó, cần đảm bảo môi trường thể chế đồng bộ, tạo
điều kiện để khuyến khích cạnh tranh với kinh tế các tỉnh bạn, đặc biệt tạo điều kiện
tăng cường khả năng cạnh tranh của các mặt hàng có kh ả năng cạnh tranh cao, có
điều kiện và hạn chế đến mức thấp nhất sự thua thiệt đối với những mặt hàng có khả
năng cạnh tranh yếu. Khai thác tốt các nguồn lực nội tỉnh, đẩy mạnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi tỉnh có thế mạnh theo hướng hài hoà, hợp lý,
bền vững, tích cực mở rộng các thị trường hàng hóa, trong nước và quốc tế.
Hình 4.3: Bản đồ địa giới hành chính Đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn: [21].
Tỉnh cần chú tr ọng hơn đến hợp tác kinh t ế, nâng cao ho ạt động kinh tế đối
ngoại và hợp tác đầu tư trong và ngoài n ước, địa phương của từng nước có trình độ
phát triển cao hơn và có tiềm năng thị trường và trình độ KH-CN phát triển. Hợp tác
để cập nhật được thông tin th ị trường, để nâng cao ch ất lượng công tác d ự báo hỗ
trợ cho doanh nghi ệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và ng ười dân. Đặc biệt là cần có
biện pháp tiếp cận nhiều hơn nguồn vốn ODA, FDI để khai thác các lĩnh vực tỉnh có
tiềm năng, thế mạnh mà nhà đầu tư nước ngoài đang quan tâm. Mu ốn vậy, tỉnh cần
xây dựng các ch ương trình, dự án để chủ động trong hợp tác xúc ti ến đầu tư. Tăng
136
cường quảng bá hình ảnh Cà Mau đến với các đối tác và cung c ấp thông tin đầy đủ
về chính sách kêu gọi đầu tư, các điều kiện về KT-XH, tăng thêm nhiều kênh quảng
bá, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài có mối liên hệ, làm ăn với tỉnh.
Mặt khác, h ợp tác để đào tạo cán b ộ quản lý và k ỹ thu ật gi ỏi, chuyển giao
KH-CN, gắn với các ch ương trình xúc ti ến thương mại và đầu tư của quốc gia và
những chương trình hợp tác của tỉnh với các đối tác.
Đối với vùng ĐBSCL và cả nước cần xây dựng chương trình hợp tác vùng,
nhằm huy động các nguồn lực khai thác tốt các lợi thế so sánh của tỉnh, đặc biệt đối
với các cụm ngành trọng điểm. Tạo nên sức mạnh cho tỉnh cũng như các tỉnh tham
gia hợp tác trên cơ sở khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế của từng tỉnh, mở rộng các
chuỗi giá tr ị, hình thành s ự phân công, chuyên môn hóa sâu trong quá trình th ực
hiện hợp tác và phát triển giữa Cà Mau và các đối tác.
4.4.3. Nhóm các gi ải pháp xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo
hướng bền vững trên phương diện xã hội
4.4.3.1. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
Với trình độ phát triển hiện tại của Cà Mau, nhu cầu nhân lực có kỹ năng được
đào tạo phù hợp với nhu c ầu thị trường là quan tr ọng nhất. Phát tri ển nguồn nhân
lực là giải pháp có tính quy ết định trong phát tri ển KT-XH của tỉnh trong giai đoạn
phát triển tới theo hướng cải thiện môi tr ường đầu tư kinh doanh, h ội nhập kinh tế
quốc tế. Vì thế việc xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để đào tạo nguồn nhân lực
có tay ngh ề đáp ứng yêu cầu phát tri ển KT - XH c ủa tỉnh được xem là v ấn đề cấp
bách hiện nay. Đối với nhân lực chất lượng cao, Cà Mau tr ước mắt có thể huy động
từ các trung tâm như Cần Thơ, Tp. Hồ Chí Minh.
Trong th ời gian t ới, tỉnh cần sắp xếp lại các tr ường ngh ề, xây d ựng đội ng ũ
cán bộ hoạch định chính sách có chất lượng cao. Gắn quá trình đào tạo với quá trình
sản xuất, phù h ợp với các ngành ngh ề mà các doanh nghi ệp sản xuất yêu cầu. Cơ
chế, chính sách phát tri ển nguồn nhân lực vừa phải mở rộng quy mô, đa dạng hóa
loại hình và nâng cao ch ất lượng đào tạo nguồn nhân lực, vừa phải tạo điều kiện và
môi trường làm việc tốt sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đã được đào tạo, đảm
bảo những người đã được đào tạo phát huy t ối đa năng lực của mình, đồng thời, có
cơ hội thường xuyên học hỏi, nâng cao n ăng lực làm vi ệc của mình. Mở ra cơ chế
137
thu hút nhân tài, áp d ụng hình th ức khuyến khích bổ nhiệm và cấp đất, cấp nhà ở
cho các đối tượng có bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ từ nơi khác đến phục vụ.
Trong những năm tới việc tăng cường hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực để
đáp ứng các đòi hỏi của việc tăng cường tái cơ cấu kinh tế đến những bộ phận có ưu
thế như ngành công nghi ệp, dịch vụ, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, các
tiểu vùng kinh tế trọng điểm vừa là mong mu ốn, vừa là yêu cầu cấp thiết. Phát huy
cao hơn nữa vai trò tác động của lao động đến tái cơ cấu kinh tế. Cần tăng kinh phí
đào tạo từ nguồn ngân sách Nhà n ước, nhất là đào tạo mới và đào tạo bổ sung đội
ngũ lao động hiện có trong m ột số ngành ngh ề mới, với trình độ công ngh ệ cao để
hỗ trợ đắc lực cho NNPTTHBV c ủa tỉnh. Đặc biệt chú tr ọng đào tạo đội ngũ công
nhân lành ngh ề, gi ỏi vi ệc; ti ếp thu và làm ch ủ được nh ững công ngh ệ mới. Đồng
thời đào tạo nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ quản lý kinh t ế để có nhi ều giám
đốc giỏi, cán b ộ quản lý gi ỏi trong t ất cả các ngành, c ần thi ết nhất trong l ĩnh vực
sản xuất, kinh doanh nông nghiệp.
4.4.3.2. Giải pháp về tăng cường các hình thức đào tạo nghề ở nông thôn
Đối tượng dạy nghề là lao động nông thôn trong độ tuổi lao động chưa qua
đào tạo nghề, có nhu c ầu học nghề, đủ điều kiện xét tuy ển vào các khóa h ọc nghề
theo quy định. Ưu tiên cho lao động bị mất đất sản xu ất do Nhà n ước thu h ồi,
chuyển đổi mục đích sử dụng đất; lao động thuộc diện chính sách, dân t ộc thiểu số,
lao động nữ và lao động chưa có vi ệc làm. Tăng cường công tác v ận động, tuyên
truyền để cho nông dân hi ểu rõ về mục tiêu, lợi ích của các ch ương trình dạy nghề
cho lao động nông thôn. Cùng v ới đó khuyến khích sự tham gia c ủa nông dân vào
quá trình đào tạo nghề, để nông dân nh ận thức được vai trò và trách nhi ệm của họ
đối với công tác dạy nghề. Chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội đóng
vai trò định hướng, tư vấn về ngh ề nghi ệp, hỗ tr ợ và t ổ ch ức dạy ngh ề, nâng cao
năng lực làm việc cho lao động nông thôn.
Xây dựng ch ương trình, giáo trình d ạy ngh ề trình độ sơ cấp cho lao động
nông thôn; tư vấn học nghề và việc làm cho lao động nông thôn; ki ểm tra, giám sát
tình hình th ực hiện dạy nghề cho lao động nông thôn ở các huy ện, thành ph ố. Tập
trung đào tạo nghề lao động nông thôn làm k ỹ thuật viên ngành nông nghi ệp (trồng
trọt, ch ăn nuôi, th ủy sản) có ch ứng ch ỉ ngh ề; đào tạo cho lao động của các xã có
quy hoạch phát tri ển sản xuất, xây dựng NTM; tập trung dạy các ngh ề chính, thi ết
138
thực phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương; tiếp tục thực hiện phương thức
dạy nghề đa dạng và linh ho ạt, đào tạo lý thuyết gắn với thực hành… Rà soát, đánh
giá lại thực trạng về số lượng, chất lượng lao động trong khu vực nông thôn để làm
cơ sở xây dựng kế hoạch đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghi ệp và
chuyển dịch lao động sang khu v ực phi nông nghi ệp.Tập trung đào tạo lao động
theo hướng phục vụ phát triển ngành nghề chủ lực đã được xác định. Nâng cao chất
lượng dạy nghề trên cơ sở cải tiến phương pháp đào tạo sao cho phù h ợp với trình
độ, điều kiện sản xuất, sinh hoạt của người dân. Đào tạo theo nhu cầu thị trường lao
động, đào tạo theo đặt hàng để đáp ứng các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong l ĩnh
vực nông nghiệp.
Các huy ện, thành ph ố trong t ỉnh, hàng n ăm cân đối ngu ồn ngân sách địa
phương, các nguồn ngân sách t ỉnh, trung ương và huy động đóng góp khác để thực
hiện kế ho ạch dạy ngh ề cho lao động nông thôn, phù h ợp với quy ho ạch và phát
triển nguồn nhân lực của địa phương.
4.4.3.3. Gi ải pháp v ề ứng dụng khoa h ọc công ngh ệ nh ằm thúc đẩy nông
nghiệp phát triển theo hướng bền vững
Đối với lĩnh vực nông nghi ệp (tr ồng tr ọt): Đẩy mạnh áp d ụng quy trình s ản
xuất lúa "3 gi ảm, 3 tăng"; thâm canh lúa c ải tiến (SRI), Qu ản lý dịch hại tổng hợp
IPM; ứng dụng công ngh ệ cao vào s ản xu ất lúa g ạo hữu cơ; phát tri ển di ện tích
trồng chu ối, mía, d ừa… tập trung g ắn kết vùng nguyên li ệu với công nghi ệp ch ế
biến; phát tri ển vùng sản xuất rau màu chuyên canh: tr ồng rau trong nhà l ưới, nhà
kính, áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP, GlobalGAP),
quy trình kỹ thuật canh tác tiên tiến có hệ thống, công nghệ, kỹ thuật khép kín, kiểm
soát một số yếu tố môi trường. Sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, đẩy
mạnh việc ứng dụng các sản phẩm có ngu ồn gốc sinh học, công ngh ệ sinh thái để
bảo vệ môi trường… Ứng dụng đồng bộ cơ giới hoá vào sản xuất (từ khâu làm đất,
gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến) trên một số loại cây trồng nhằm giảm giá
thành sản xuất, gia tăng giá tr ị nông sản. Áp dụng chăn nuôi gia súc, gia c ầm theo
quy trình an toàn sinh h ọc, sử dụng đệm lót sinh học, chăn nuôi theo quy trình khép
kín giảm thiểu ô nhi ễm môi tr ường. Đầu tư phát tri ển các mô hình nông nghi ệp đô
thị, nông nghi ệp ven đô, nông nghi ệp công ngh ệ cao nh ằm tăng giá tr ị nông s ản,
giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng có hiệu quả đất đai, nguồn lao động và tạo
139
cảnh quan môi tr ường xanh, sạch, đẹp. Phát tri ển mô hình sản xuất nông nghi ệp và
ngành nghề nông thôn kết hợp với dịch vụ phục vụ nhu cầu du lịch, giải trí.
Đối với nuôi trồng thủy sản: Xây dựng các quy trình công ngh ệ nuôi tr ồng an
toàn sinh h ọc, công ngh ệ sạch, ít x ả th ải và đảm bảo an toàn v ệ sinh th ực ph ẩm,
công nghệ nuôi mới thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Nghiên cứu
giải pháp ki ểm soát d ịch bệnh, phòng tr ừ dịch bệnh hi ệu qu ả đối với các b ệnh
thường gặp. Công tác phòng ch ống dịch bệnh trong nuôi tr ồng thủy sản lấy phòng
bệnh là chính, phòng ch ống bệnh gắn chặt, không tách r ời với quản lý nuôi tr ồng,
thông qua qu ản lý gi ống tốt, sạch bệnh, quản lý môi tr ường vùng nuôi và áp d ụng
công nghệ nuôi tr ồng tiên ti ến. Phát triển các vùng nuôi tôm công nghi ệp tập trung
sử dụng công ngh ệ cao, giảm thiểu tối đa các tiêu c ực từ việc xả thải, gây ô nhi ễm
môi trường và dịch bệnh; giám sát chặt chẽ công tác sên vét, cải tạo ao, đầm.
Đối với khai thác và b ảo vệ nguồn lợi thủy sản: Ứng dụng các công ngh ệ và
thiết bị bảo quản trên tàu phù h ợp với từng loại nghề, từng loại đối tượng khai thác
để nâng cao ch ất lượng sản phẩm, hiệu quả sau khai thác. Áp d ụng các mô hình t ổ
chức khai thác k ết hợp dịch vụ trên bi ển nhằm giảm chi phí s ản xuất và tăng chất
lượng sản phẩm sau khai thác. Áp d ụng các công ngh ệ tin học, viễn thám, sử dụng
vệ tinh để theo dõi, quản lý nguồn lợi thủy sản và đội tàu khai thác thủy sản.
Về chế biến thuỷ sản: UBND tỉnh cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công
nghệ mới, đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm chế biến xuất khẩu; các loại sản phẩm
giá trị gia tăng, giảm tối đa tỷ trọng hàng sơ chế, hàng có giá tr ị gia tăng thấp, phù
hợp với thị hiếu tiêu dùng và nhu cầu của từng thị trường nhập khẩu.
Đối với lâm nghiệp: Ngành nông nghi ệp cần đẩy mạnh ứng dụng chuyển giao
KH-CN trong lâm nghi ệp, công tác khuy ến lâm vào s ản xuất. Nghiên c ứu các mô
hình qu ản lý, h ạn ch ế sạt lở và phát tri ển dải rừng phòng h ộ bi ển. Rà soát, điều
chỉnh, bổ sung c ơ ch ế, chính sách để tạo động lực cho phát tri ển sản xu ất lâm
nghiệp. Ứng dụng công ngh ệ tin h ọc, vi ễn thám h ệ th ống thông tin địa lý vào
trong công tác theo dõi di ễn biến tài nguyên r ừng, qu ản lý bảo vệ rừng, theo dõi
diễn biến đường bờ biển dọc theo dải rừng phòng hộ. Tập trung ưu tiên đầu tư kỹ
thuật tiên ti ến vào l ĩnh vực sản xuất giống cây tr ồng lâm nghi ệp chất lượng cao,
chế bi ến lâm s ản từ ngu ồn nguyên li ệu gỗ rừng tr ồng. Lồng ghép các ch ương
trình, dự án trong và ngoài n ước cho vi ệc bảo vệ và phát tri ển rừng, bảo tồn đa
140
dạng sinh học, quản lý r ừng bền vững, xây d ựng mô hình qu ản lý r ừng bền vững
và cấp chứng chỉ rừng FSC.
Ứng dụng ti ến bộ kỹ thu ật về gi ống cây tr ồng, vật nuôi ch ất lượng cao:
Đẩy mạnh công tác nghiên c ứu, kh ảo nghi ệm đưa vào c ơ cấu sản xu ất các
giống cây trồng, vật nuôi như: giống lúa, mía, dừa, chuối, rau màu, cây lâm nghi ệp,
giống gia súc, gia c ầm,…có năng suất chất lượng cao thích ứng với từng vùng sinh
thái; chú tr ọng phục tráng, bảo tồn các gi ống cây tr ồng, vật nuôi bản địa làm cơ sở
bảo tồn ngu ồn gen quý hi ếm, ch ỉ gi ới địa lý v ới nh ững cây tr ồng, vật nuôi đặc
trưng. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi chất lượng
cao và phát tri ển kết cấu hạ tầng sản xu ất gi ống cây tr ồng, vật nuôi đảm bảo tiêu
chuẩn Quốc gia. Khuyến khích các doanh nghi ệp đầu tư nghiên cứu, sản xuất giống
cây trồng, vật nuôi phục vụ nhu cầu trong tỉnh.
Đẩy mạnh nghiên cứu công ngh ệ sản xuất giống thủy sản các đối tượng nuôi
chủ lực, sạch bệnh, phù hợp với thị trường, đặc biệt là các đối tượng nuôi, trồng mới
có giá tr ị kinh tế để chủ động sản xuất. Tiếp tục đầu tư nâng cấp mở rộng các tr ại
thực nghiệm, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản hiện có; tăng cường năng
lực về trang thi ết bị, máy móc, nhà kho,.. đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao
đáp ứng được yêu cầu cho công tác nghiên cứu, khảo nghiệm giống.
Đào tạo nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất cho nông dân: Ph ối hợp với địa
phương đánh giá nhu c ầu và năng lực của người dân, phân lo ại nhóm nông dân để
có phương pháp đào tạo phù h ợp đáp ứng yêu c ầu thực tiễn. Tăng cường phương
pháp tập huấn đào tạo hiện trường có mô hình th ực tế, trang thi ết bị dụng cụ, mẫu
vật, sơ đồ minh họa. Ngoài nội dung chuyên môn c ũng cần chú tr ọng trang bị cho
người dân ki ến thức cơ bản về thị trường, kinh tế, mô hình s ản xuất gia tr ại, trang
trại, công ngh ệ mới, cảnh báo th ời tiết, thiên tai, d ịch bệnh, máy móc trang thi ết bị
mới ứng dụng vào sản xuất trên từng lĩnh vực.
4.4.3.4. Chú tr ọng đúng mức trong phát tri ển các vùng khó kh ăn để hỗ trợ
nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững
Tỉnh cần tiếp tục thực hiện các chính sách h ỗ trợ phát tri ển trực tiếp từ ngân
sách cho các vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn. Đối với những vùng kinh tế khó
khăn và đặc biệt khó khăn, 13 xã thu ộc chương trình 135 và 7 xã bãi ngang c ần tập
trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng như đường giao thông, trường học, trạm y tế,
nhà bưu điện văn hóa xã, chợ, nước sạch sinh hoạt.
141
Trong những năm tới nguồn vốn Nhà nước cần kết hợp đầu tư các công trình
dân sinh với đầu tư các công trình l ớn. Ngân sách nhà n ước tập trung xử lý ngay từ
đầu nh ững bất cập nảy sinh và nh ững khó kh ăn của đời sống ng ười dân, c ần có
chính sách ưu đãi về thuế, giá thuê đất, trợ cấp phát triển kết cấu hạ tầng, trợ giá cho
vận chuy ển sản ph ẩm hàng hóa tiêu th ụ cho các ti ểu vùng này. Có th ể th ực hi ện
Nhà nước cho thuê đất đối với các nhà đầu tư với giá thuê bằng 0% trong su ốt thời
gian cho thuê đất, nh ững nhà đầu tư được quyền đưa giá tr ị đất vào giá tr ị doanh
nghiệp sau khi đã đầu tư với giá trị thị trường.
Khuyến khích đặc biệt về chế độ đãi ngộ đối với nguồn nhân lực có trình độ,
có chất lượng cao đến các vùng khó kh ăn, trong đó thực hiện ưu đãi đối với những
người đến vùng này làm việc về nhà ở, đất ở, tiền lương, bố trí công tác chuyển vùng
sau khi đóng góp một số năm tại vùng khó khăn. Thực hiện chính sách đòn bẩy lợi ích
nếu đầu tư vào các vùng ít lợi thế, những người chuyển giao công nghệ cho vùng kinh
tế kém ưu thế được hưởng những lợi ích tại các vùng có ưu thế như được hưởng ưu đãi
về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở những vùng trọng điểm.
4.4.4. Nhóm các gi ải pháp xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo
hướng bền vững xét trên phương diện môi trường
Triển khai nhi ệm vụ bảo vệ môi tr ường và để duy trì ch ất lượng cu ộc sống
của người dân, giám sát vi ệc thực thi các quy định pháp lu ật về môi tr ường, về quy
hoạch phát triển bền vững nông nghiệp của tỉnh. UBND Tỉnh đã xây dựng kế hoạch
chỉ đạo các ngành liên quan ph ối hợp kiểm tra, giám sát ho ạt động sản xuất của các
đơn vị, cá nhân trong vi ệc quản lý môi tr ường, về sử dụng nguồn tài nguyên n ước
ngầm, quản lý vi ệc xử lý ch ất thải, thực hiện bảo vệ đa dạng sinh học và phát tri ển
cây xanh…
Để thực hiện tốt các chỉ tiêu đã đề ra, góp ph ần thực hiện nội dung phát tri ển
bền vững về môi tr ường, ngoài các gi ải pháp bảo đảm môi tr ường đã được thể hiện
trong từng gi ải pháp v ề kinh t ế, xã h ội phát tri ển nông nghi ệp bền vững. Trên
phương diện xã hội luận án hướng đến các giải pháp sau:
4.4.4.1. Bảo vệ môi tr ường là yêu c ầu bắt bu ộc trong m ọi chi ến lược, kế
hoạch phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh
Bảo vệ môi trường là nội dung không thể thiếu của các quy hoạch và kế hoạch
phát triển KT-XH, vì vậy cần xem xét, đánh giá một cách khoa học, cân đối các yếu
142
tố sản xuất, kể cả những đòi hỏi của các điều kiện cụ thể. Việc lồng ghép các yếu tố
môi trường trong các ch ủ trương, chính sách, quy ho ạch và kế hoạch phát tri ển cần
được quán triệt tới tất cả các cấp, các ngành trong tỉnh.
Bảo vệ môi tr ường phải trên cơ sở tăng cường quản lý Nhà n ước, thể chế và
pháp luật đi đôi với việc nâng cao nh ận thức và ý th ức trách nhi ệm của mọi người
dân, của toàn xã hội về bảo vệ môi trường.
Về cơ bản, cho đến th ời điểm hiện tại hầu hết các chi ến lược quy ho ạch, kế
hoạch phát tri ển KT-XH của tỉnh từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 ở
chừng mực nào đó đã đảm bảo sự cân đối chung giữa các yếu tố, các khía cạnh cũng
như các ngành và l ĩnh vực của nền kinh tế kể cả những khả năng phải "đánh đổi"
những nguy cơ về môi trường để đảm bảo khả năng tích lũy và tăng trưởng cho nền
kinh tế với nh ững điều ki ện, và giai đoạn nh ất định, song v ề cơ bản bảo vệ môi
trường là một trong nh ững yêu cầu bắt buộc được chú tr ọng. Theo đó, yêu cầu bảo
vệ môi tr ường trong các chi ến lược, quy ho ạch, kế hoạch phát tri ển của tỉnh được
triển khai thực hiện theo những phương hướng sau:
Trước hết, đó là vi ệc cụ thể hóa Ch ỉ thị 36/CT-TW của Bộ Chính tr ị, với yêu
cầu đặt ra là: công tác b ảo vệ môi tr ường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và
toàn quân, là nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế
hoạch phát triển KT-XH của tất cả các cấp, các ngành; là cơ sở quan trọng đảm bảo
PTBV th ực hi ện th ắng lợi sự nghi ệp CNH, H ĐH đất nước; bảo vệ môi tr ường là
đảm bảo các điều kiện về PTBV, nói cách khác là đảm bảo khả năng hưởng thụ lâu
dài cho nh ững th ế hệ mai sau c ủa đất nước. Tuy nhiên, v ề ng ắn hạn có th ể ch ấp
nhận những giải pháp ít hi ệu quả hơn, nhưng có th ể khắc phục trong t ương lai và
đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, từng bước củng cố bền vững sức mạnh
kinh tế của tỉnh.
Trong giai đoạn từ nay đến năm 2025, khi mà ý th ức tự giác v ề bảo vệ môi
trường của toàn xã hội chưa cao thì việc tăng cường pháp chế về bảo vệ môi trường
là giải pháp trọng tâm. Nêu cao vai trò c ủa các cấp chính quyền của tỉnh trong công
việc định hướng, tổ chức và giám sát việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường trên
phạm vị toàn t ỉnh. Xây d ựng hệ th ống qu ản lý môi tr ường từ tỉnh đến huy ện, th ị
trấn, các xã, ph ường, thôn, ấp…đủ mạnh kể cả về lượng và ch ất, đặc bi ệt là l ực
lượng thanh tra môi tr ường; đẩy mạnh vi ệc xử ph ạt vi ph ạm hành chính, đưa dần
143
các quy định truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm môi trường của Bộ Luật hình
sự áp d ụng trên th ực tế nh ằm đảm bảo th ực thi nghiêm ch ỉnh Lu ật bảo vệ môi
trường và các văn bản pháp luật có liên quan.
Coi phòng ngừa là chính, kết hợp kiểm soát ô nhi ễm với xử lý, khắc phục suy
thoái, cải thi ện ch ất lượng môi tr ường; ti ến hành quy ho ạch có tr ọng tâm, tr ọng
điểm; coi ứng dụng KH-CN là công cụ hiện hữu trong bảo vệ môi trường.
Việc khắc phục ô nhiễm, suy thoái và s ự cố môi trường là rất khó khăn và tốn
kém, th ậm chí trong nhi ều tr ường hợp không th ể th ực hi ện được. Vì v ậy, phòng
ngừa ô nhi ễm, ngăn chặn có hi ệu quả suy thoái môi tr ường có th ể được coi là bi ện
pháp hữu hiệu, phù hợp với mọi nơi, mọi chỗ. Hạn chế tối đa việc cho phép đầu tư
xây dựng các công trình d ự án có ảnh hưởng đến môi trường hoặc tiềm ẩn nguy cơ
ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường cao. Tiến hành kiểm soát và tiến tới xử
lý tri ệt để ho ặc lo ại bỏ các c ơ sở sản xu ất kinh doanh gây ô nhi ễm môi tr ường
nghiêm trọng hoặc các cơ sở khai thác ngu ồn tài nguyên trái phép. Đẩy mạnh việc
áp dụng công nghệ sạch, dây chuyền sản xuất sạch hơn, sử dụng nguyên liệu, nhiên
liệu ít gây ô nhiễm và thân thiện với môi trường.
4.4.4.2. Dự phòng những lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ cao đối với môi trường
Trong vận hành của mỗi ngành, lĩnh vực ở những chừng mức nhất định đều có
khả năng gây nên nh ững hệ lụy đối với môi tr ường nếu không có nh ững quan tâm
cần thiết trên ph ương diện môi tr ường. Vì vậy, quan tâm h ơn về đánh giá tác động
môi trường trong mỗi giai đoạn phát triển để có những dự liệu về những ngành, lĩnh
vực có nguy cơ cao, trên cơ sở đó hướng tới các phương án dự phòng đảm bảo cho
nông nghi ệp của tỉnh phát tri ển theo h ướng bền vững. Ki ểm nghi ệm th ực tế cho
thấy có những ngành, lĩnh vực sau cần được quan tâm đánh giá tác động môi trường
để có những dự phòng cần thiết:
Một là, hoạt động xây dựng các công trình phúc lợi, công ích, quá trình đô thị hóa;
phát triển các ngành công nghiệp khai thác tài nguyên (quặng, than bùn, cát, đất), chế
biến thức ăn chăn nuôi, các ngành cơ khí, hóa chất, làng nghề, cụm công nghiệp…
Hai là, hoạt động xây d ựng và hoàn thi ện kết cấu hạ tầng nh ư đường bộ,
đường thủy, đặc biệt là hệ thống thủy lợi, các công trình xử lý môi trường tập trung;
các trại chăn nuôi gia súc, gia c ầm, các trang tr ại giống thủy sản, ao đầm nuôi tôm,
cá công nghiệp...
144
Ba là, hoạt động của những khu du lịch sinh thái, nh ững nơi nhạy cảm với tác
động môi tr ường, như du lịch khu dự trữ sinh quy ển Mũi Cà Mau, V ườn Quốc gia
U Minh hạ, Lâm trường Sông Trẹm, Hòn Đá Bạc…
Khi triển khai các ho ạt động kể trên ho ặc trực tiếp hoặc gián ti ếp đều có nảy
sinh nh ững vấn đề môi tr ường cần xử lý, nh ững vấn đề môi tr ường phát sinh đó
hoặc ít, hoặc nhiều đều có những tác động nhất định đến môi trường tự nhiên, trong
đó có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và phát triển nền nông nghiệp của tỉnh.
4.4.4.3. Giảm thiểu những tác động gây ô nhi ễm môi tr ường góp phần phát
triển nông nghiệp theo hướng bền vững
Giảm thiểu ô nhi ễm môi tr ường đất: Vi ệc sử dụng phân bón hóa ch ất, thuốc
bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghi ệp, trong nuôi tr ồng thủy sản hiện đang là
những nguyên nhân chính gây ô nhi ễm đất ở nhiều nơi trong tỉnh. Để tiếp tục phát
huy những lợi th ế về nông nghi ệp cần áp d ụng nh ững kỹ thu ật canh tác phù h ợp,
xây dựng nh ững mô hình sinh thái - kinh t ế phù h ợp với từng ti ểu vùng sinh thái
trong tỉnh nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng vẫn đảm bảo khả năng cải tạo
và nâng cao độ phì nhiêu của đất.
Khuyến khích đầu tư thâm canh tăng vụ bằng các biện pháp bón phân cân đối,
trực tiếp với từng loại cây trồng và từng loại đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, luân
canh đất theo hướng nâng cao hi ệu quả sử dụng đất. Nghiên cứu và ứng dụng công
nghệ sinh h ọc vào các khâu c ủa quá trình s ản xu ất, đặc bi ệt là khâu t ạo gi ống có
năng suất cao, ch ống được sâu bệnh. Từng bước hình thành các t ập đoàn cây phù
hợp với từng tiểu vùng sinh thái, xây dựng các mô hình sản xuất xanh, sạch.
Giảm thi ểu ô nhi ễm môi tr ường nước do n ước th ải: Vùng đất Cà Mau th ấp,
sông rạch nhi ều, vi ệc xử lý n ước th ải cần được quan tâm l ấy ý th ức tự giác c ủa
người dân là chính. Từng khu, cụm công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh cần đầu tư hệ
thống xử lý nước thải. Những nhà máy có nguy c ơ gây ô nhi ễm môi tr ường nước
cao như chế biến thực phẩm, thủy sản, thức ăn gia súc, gia cầm, lò giết mổ, các chợ,
các cơ sở sản xuất, kinh doanh… n ơi cần thiết phải xây dựng hệ thống xử lý nước
thải. Nước thải sau khi xử lý phải đạt tiêu chuẩn B trước khi thải ra môi trường.
Đối với các nước thải đô thị có thể xử lý bằng các hồ sinh học. Xây dựng mới
hoặc nâng cấp hệ thống thu gom, thoát n ước thải không làm ô nhi ễm nước sau khi
145
xử lý. Đối với các th ị tr ấn mới xây d ựng theo quy ho ạch cần có h ệ th ống cấp và
thoát nước ngay từ khâu thiết kế đến thi công.
Không thận trọng khi khai thác các t ầng nước ngầm trên địa bàn t ỉnh có th ể
làm chúng b ị ô nhi ễm, hay nhi ễm mặn. Vì v ậy, cần có các bi ện pháp gi ữ gìn v ệ
sinh, tiết kiệm, tránh gây ô nhi ễm, bảo vệ tốt nguồn nước ngầm tại các khu đô thị,
cụm công nghi ệp, làng ngh ề. Kiểm soát ch ặt chẽ việc khoan gi ếng riêng lẻ theo hộ
gia đình, khai thác bừa bãi các tầng nước ngầm.
Tăng cường qu ản lý, giám sát các mô hình phát tri ển xanh, s ạch: Quá trình
ứng dụng các lo ại giống cây tr ồng, vật nuôi có n ăng suất cao, kh ả năng chịu bệnh
tốt, phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh cần phải được kiểm nghiệm, quản lý,
giám sát ch ặt chẽ về đảm bảo môi tr ường. Xác định các loài cây, con ch ủ lực của
tỉnh (lúa, ngô, mía, gia c ầm, cá, tôm, nuôi tr ồng thủy sản…) để đầu tư đồng bộ về
giống, chuyển giao k ỹ thuật theo hướng sản ph ẩm sạch, xây d ựng thương hiệu và
tìm th ị tr ường tiêu th ụ. Các mô hình s ản xu ất luân canh, thâm canh c ần đảm bảo
tính hài hòa, xanh, b ền vững. Đẩy nhanh chuyển giao kỹ thuật, chuyển giao các mô
hình đã được tổng kết, đánh giá cho nông dân.
4.4.4.4. Nâng cao ý th ức của người dân về bảo vệ môi trường
Có thể nói, môi tr ường ở quanh mỗi người và ở trong mỗi người. Mọi hoạt
động của con người đều có liên quan đến các yếu tố của môi trường. Sự tác động đó
theo hai chi ều thu ận - ngh ịch. Chi ều thu ận là làm cho môi tr ường phát tri ển toàn
diện và chi ều nghịch là nh ững tác động làm cho môi tr ường bị ô nhi ễm, suy thoái.
Có thể thấy, ở mọi lúc, mọi nơi con ng ười đều có tác động đến môi tr ường, chẳng
hạn, như: con ng ười trong sinh ho ạt, con ng ười lúc ngh ỉ ngơi, vui ch ơi giải trí, lúc
lao động, sản xu ất, th ậm chí lúc con ng ười ch ết đi… đều có tác động đến môi
trường. Cho nên, cần làm cho người dân hiểu rõ, môi trường ở quanh ta, nhưng môi
trường không của riêng ai, có tác động đến cộng đồng, đến từng địa phương, từng
quốc gia, từng vùng lãnh thổ và rộng hơn là nó tác động ở phạm vi toàn cầu, theo đó
mỗi ng ười dân c ần có trách nhi ệm với vi ệc bảo vệ môi tr ường, rằng bảo về môi
trường chính là b ảo về sự sống của chính mình, b ảo vệ môi tr ường là ngh ĩa vụ và
cũng là quyền lợi của mỗi người dân.
Bảo vệ môi trường là quyền lợi của mỗi người dân: Cần tuyên truyền để mỗi
người dân ph ải hiểu, phải làm để bảo vệ môi tr ường cho chính b ản thân mình, gia
146
đình mình, cho c ộng đồng mà mình đang sống. Nếu môi tr ường bị ô nhi ễm, ảnh
hưởng đầu tiên của sự ô nhi ễm ấy là đến ngay bản thân mình, gia đình mình, cộng
đồng của mình đang sống. Cần đẩy mạnh tuyên truyền để người dân thấy cái quyền
lợi môi trường đem đến là nguồn sống, là cơm ăn, áo mặc, nước để uống, không khí
để thở. Cái quyền lợi quý giá của thiên nhiên ban t ặng cho từng người để duy trì sự
sống. Quyền lợi đó còn có ý ngh ĩa đối với sự phát tri ển trong tương lai mà th ế hệ
con cháu chúng ta sau này được thừa hưởng.
Bảo vệ môi trường là nghĩa vụ của mỗi người dân: Vận động nhân dân sống và
làm việc theo pháp luật, thực hiện tốt những điều luật quy định về bảo vệ môi trường.
Từng người dân, tr ước hết là cán b ộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các t ổ ch ức
đoàn thể quần chúng phải gương mẫu thực hiện những mục tiêu, đường lối, chủ trương
của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường bền vững. Nếu mỗi người và từng gia đình
có ý thức bảo vệ môi trường sống trong sạch đó là lối sống vì mọi người.
Làm sao để trách nhi ệm, ngh ĩa vụ bảo vệ môi tr ường của từng ng ười dân
phải trở thành sức mạnh của cả tập thể. Để giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ nguồn
tài nguyên đất, rừng, nước và khoáng sản, tiến tới phát triển môi trường bền vững là
công việc của cả cộng đồng, của từng địa phương, của tỉnh và cả nước.
4.4.5. Nhóm các gi ải pháp khác đảm bảo cho nông nghi ệp ở Cà Mau phát
triển theo hướng bền vững
Vấn đề nổi lên hi ện nay đối với tỉnh là cần phải khẩn trương hoàn thi ện chủ
trương tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình t ăng trưởng theo hướng nâng
cao chất lượng, hi ệu qu ả và năng lực cạnh tranh, trong đó trọng tâm là tái c ơ cấu
ngành nông nghiệp, nhằm mục tiêu tăng giá trị gia tăng, theo hướng PTBV. Theo đó
cần quan tâm thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, Đổi mới GD - ĐT theo nhu cầu phát triển của xã hội. Nâng cao chất
lượng theo yêu c ầu chu ẩn hóa ph ục vụ đắc lực cho phát tri ển KT - XH c ủa địa
phương; đẩy mạnh xã h ội học tập, nhanh chóng ch ấn ch ỉnh một số vấn đề tồn tại
trong giáo d ục hi ện nay: (i) s ự bất cập của đội ng ũ cán b ộ qu ản lý và giáo viên;
chưa đảm bảo quyền tự chủ, nghĩa vụ giải trình và qu ản lý chất lượng giáo dục; (ii)
GD-ĐT chưa gắn với yêu cầu, đòi hỏi về nguồn nhân lực của xã hội; (iii) tình tr ạng
học lệch, cách dạy học khép kín, chuy ển mạnh quá trình giáo d ục từ chủ yếu trang
bị kiến thức sang phát tri ển toàn di ện năng lực và ph ẩm chất người học; (iv) chính
147
sách, cơ chế chính sách ch ưa khuyến khích được các đối tượng người học có hoàn
cảnh khó kh ăn, vùng sâu, đồng bào dân t ộc thiểu số, dẫn đến tỷ lệ học sinh bỏ học
từng cấp học tăng dần và hiện nay tỷ lệ học sinh bỏ học từng cấp của tỉnh (như nêu
ở trên) là cao nhất vùng ĐBSCL. Vì vậy, xây dựng lộ trình thống nhất trong đào tạo
nguồn nhân lực thì vấn đề GD-ĐT cần được đặt ở vị trí tiên quyết.
Thứ hai, quan tâm đầu tư cải tiến công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp
Xây dựng hệ thống đổi mới công ngh ệ của tỉnh với hệ thống trường đại học,
các phòng thí nghiệm đổi mới và cải tiến công nghệ trước hết phục vụ ngành ưu tiên
phát triển đã được chọn, thế mạnh của tỉnh, như (lai tạo giống thủy sản, lai tạo tập đoàn
cây giống sinh thái mặn, lợ, ngọt; giống gia súc, gia cầm…) có điều kiện thuận lợi triển
khai và áp dụng các kết quả nghiên cứu, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.
Thứ ba, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp
Thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài n ước đầu tư vào lĩnh vực nông nghi ệp
bằng những cơ chế minh bạch, thông thoáng và những ưu đãi tạo được động lực cho
họ. Mặt khác, tỉnh cũng cần có kế hoạch quảng bá thông qua danh mục thu hút đầu tư
cụ thể, bằng nhiều cách liên kết, phối hợp và tranh th ủ sự ủng hộ của các Bộ, Ngành
Trung ương và Chính phủ để khai thác tốt vị trí, tiềm năng, thế mạnh của tỉnh.
Thứ tư, tăng cường xúc ti ến thương mại, khuyến khích xu ất khẩu nhằm kích
thích phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
Trong nh ững năm tới cần tăng cường các ho ạt động xúc ti ến th ương mại,
khuyến khích xu ất kh ẩu, nghiên c ứu tìm th ị tr ường nh ằm tranh th ủ ti ềm lực vốn,
công nghệ, kỹ thuật hiện đại để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, hướng đến
chuỗi giá trị liên hoàn dọc theo bờ biển và kinh tế biển với một cơ cấu kinh tế từng
bước hiện đại, nhất là hi ện đại về kết cấu hạ tầng, sản xuất sản phẩm nông nghi ệp
đa dạng phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu.
Thứ năm, liên kết ngành c ần được coi là khâu đột phá trong phát tri ển nông
nghiệp theo hướng bền vững
Xác định khâu đột phá trong nông nghi ệp, đó là xây d ựng các c ụm liên k ết
ngành với các ngành có l ợi thế ngay tại Cà Mau và k ết nối các ngành khác c ủa Cà
Mau với những cụm ngành vùng ĐBSCL ho ặc Đông Nam Bộ. Cần quy ho ạch lại
ngành nuôi tr ồng và ch ế biến thủy sản theo mô hình khép kín t ừ khâu gi ống, thức
ăn, chăm sóc, thu ho ạch, chế biến và xuất khẩu. Khuyến khích nông dân nuôi tr ồng
148
công nghiệp, bằng các giải pháp như ưu đãi bảo hiểm đối với nuôi tôm công nghiệp.
Trước mắt xây d ựng bộ tiêu chu ẩn cho t ừng công đoạn từ gi ống, nuôi… đến xu ất
khẩu và quy chế giám sát từng công đoạn. Khuyến khích sự tham gia của các trường
đào tạo nhân lực, các cơ quan khoa học trong việc tham gia cụm sản xuất thủy sản.
Ưu tiên cao nh ất xây d ựng tại Cà Mau c ụm nuôi tr ồng ch ế bi ến th ủy sản tầm cỡ
hàng đầu của cả nước. Các cơ quan qu ản lý Nhà n ước giữ vai trò c ầu nối giữa các
bên trong cụm này nhưng không can thiệp vào quá trình hoạt động của cụm.
4.4.6. M ột số kiến nghị
4.4.6.1. Đối với Trung ương
Cần đánh giá lại hiệu quả đầu tư Chương trình ngọt hóa Bán đảo Cà Mau để
dẫn nước ngọt từ Sông Hậu theo Quản lộ Phụng Hiệp về tỉnh, cụ thể là tập trung các
huyện Th ới Bình, U Minh, Tr ần Vãn Th ời và m ột ph ần Thành ph ố Cà Mau. Xác
định lại xem có ti ếp tục đầu tư hay dừng chương trình này. Trên c ơ sở đó, tỉnh sẽ
thực hi ện chuy ển dịch cơ cấu kinh t ế theo quy ho ạch, chuy ển đổi cây tr ồng, vật
nuôi, tạo vùng nguyên li ệu tập trung v ề nông s ản, nh ư: th ực hi ện mô hình Cánh
đồng mẫu lớn, phục hồi nghề nuôi cá n ước ngọt, ngành ngh ề truyền thống, cây ăn
trái cho năng suất cao, mô hình nông nghiệp xanh.
Cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân bị thiệt hại do dịch bệnh nuôi trồng,
đánh bắt th ủy sản, không ch ỉ riêng Cà Mau mà c ả vùng ĐBSCL. Mặt khác, Trung
ương cần có sự chỉ đạo làm rõ nguyên nhân gây bệnh trên tôm nuôi kéo dài t ừ nhiều
năm nay, đưa ra quy trình nuôi an toàn để hướng dẫn người dân phát triển sản xuất.
Cần đầu tư đê biển Đông - Tây khép kín để chủ động đối phó v ới biến đổi
khí hậu và nước biển dâng; cần hoàn chỉnh chính sách về đất đai, quản lý mặt nước
sông, biển; điều chỉnh những tiêu chí xây d ựng NTM không phù h ợp với tỉnh, như
tiêu chí về thủy lợi, xây dựng chợ nông thôn, mỗi xã phải có nghĩa trang nhân dân.
Cà Mau là m ột trong 3 t ỉnh trong "tam giác kinh t ế" tr ọng điểm khu v ực
ĐBSCL, do đó, Chính ph ủ cần có đầu tư tương xứng, nh ất là đầu tư các d ự án
đường cao tốc nhằm rút ng ắn khoảng cách đi lại từ Cà Mau đến các thành ph ố lớn
trong khu v ực nh ư thành ph ố Cà Th ơ, thành ph ố Hồ Chí Minh; đầu tư vào công
nghiệp gắn với công trình khí - điện - đạm; đầu tư phát triển kinh tế biển mà tỉnh có
thế mạnh, nhất là cảng biển, đội tàu đánh bắt xa bờ, công nghi ệp chế biến thủy sản
và công nghiệp khoáng sản khai thác từ thềm lục địa Tây nam.
149
4.4.6.2. Khuyến nghị đối với tỉnh Cà Mau
Cần có đánh giá đầy đủ về tiềm năng, lợi thế cũng như những khó khăn trong
nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh. Đẩy nhanh tiến độ tái cơ cấu ngành nông
nghiệp, sớm hoàn thiện quy hoạch phát triển KT - XH đến năm 2020, tầm nhìn đến
2030. Trên cơ sở đó, phát huy m ọi tiềm năng, lợi thế để NNPTTHBV và xây d ựng
NTM, xem đây là một trong ba trụ cột để phát triển KT - XH ở địa phương. Nghiên
cứu và xác định rõ các cây trồng, vật nuôi chủ lực, lợi thế của tỉnh để tập trung triển
khai thực hiện.
Có gi ải pháp đồng bộ, cụ th ể ứng phó v ới bi ến đổi khí h ậu và n ước bi ển
dâng. Cà Mau là một trong 28 tỉnh ven biển chịu thiệt hại nặng nề nhất của cả nước
về những tác động này cho nên ph ải có sự chuẩn bị thật chủ động và hi ệu quả để
giảm thiệt hại cho người dân.
Cần rà soát để có quy ho ạch phù hợp đảm bảo phát tri ển hài hòa gi ữa nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, du lịch, cụ thể hóa trên từng địa bàn, tránh gây cản
trở, chồng chéo trong quá trình phát triển.
Cần đẩy mạnh phát triển kinh tế biển cả đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Yêu
cầu hiện nay đang đặt ra là cần thiết phải nâng cao ch ất lượng, hiệu quả đánh bắt để
phát triển bền vững và xin cơ chế để ban hành nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ
cho các tàu đánh bắt xa bờ để tránh việc khai thác quá mức các nguồn lợi ven bờ.
Tỉnh, huyện cần lựa chọn phát triển nuôi các sản phẩm có tính chủ lực, là lợi
thế của địa phương, như: tôm sú, tôm thẻ, hào, sò, nghêu, cá chình, cá tai tượng, các
loại cá đồng… được vậy, cần có bi ện pháp PTBV, nh ất là vi ệc lựa ch ọn các lo ại
giống tốt, phổ biến áp dụng các quy trình nuôi phù hợp, cơ sở hạ tầng đồng bộ…
Chỉ đạo, rà soát kỹ để hướng dẫn người dân phát triển cây trồng, vật nuôi chủ
lực trên t ừng địa bàn phù h ợp với điều ki ện tự nhiên đa dạng của tỉnh, đồng th ời
hướng dẫn đẩy mạnh việc ứng dụng KH - CN trong chăn nuôi và trồng trọt, đặc biệt
là trong chăn nuôi để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả; cần thiết thành lập các
trung tâm gi ống th ủy sản để ch ủ động về gi ống; nâng cao ch ất lượng, hi ệu qu ả
Trung tâm ki ểm dịch ch ất lượng th ủy sản. Hoàn thi ện vi ệc quy ho ạch, đồ án quy
hoạch, tiếp tục hướng dẫn lựa chọn các nội dung ưu tiên để thực hiện, nhất là nội
dung liên quan đến phát triển sản xuất.
150
Tăng cường các bi ện pháp bảo vệ và phát tri ển rừng và đạt độ che ph ủ rừng
cao, sớm hoàn thành việc khoán rừng, giao đất, giao rừng cho hộ nông dân sản xuất.
Tỉnh cần có chính sách thu hút doanh nghi ệp và cá nhân có v ốn đầu tư vào tr ồng
rừng, khai thác lâm s ản; tập trung vào m ột số lo ại cây t ỉnh có l ợi th ế, nh ư: tràm,
đước, keo lai, bạch đàn,…
Hội đồng nhân dân tỉnh cần khẩn trương sửa đổi Nghị quyết số 21/2013/NQ-
HĐND về chính sách h ỗ tr ợ kinh phí đào tạo và thu hút ngu ồn nhân l ực cho phù
hợp với quy định của pháp lu ật hiện hành, vì t ại khoản 3, Điều 34 Lu ật viên ch ức
quy định: Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng viên chức do viên ch ức, nguồn tài chính của
đơn vị sự nghiệp công lập và các nguồn khác bảo đảm. Theo Nghị quyết 21 của Hội
đồng Nhân dân tỉnh, ngân sách lo toàn bộ kinh phí đào tạo, do ngân sách không đảm
bảo và như thế cũng trái với Luật viên chức và Điều 35 Nghị định số 29/2012/NĐ-
CP của Chính ph ủ. Trước yêu cầu mới hiện nay, tỉnh cần có chính sách ưu đãi tốt
hơn để thu hút ngu ồn nhân lực, nhất là tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ có trình
độ sau đại học, cán bộ kỹ thuật trên lĩnh vực nông nghi ệp đảm bảo để ngành nông
nghiệp của tỉnh phát tri ển nhanh, bền vững góp ph ần cùng cả nước thực hiện thành
công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
151
KẾT LUẬN
Nông nghiệp phát tri ển theo hướng bền vững có vị trí, vai trò r ất quan tr ọng
trong quá trình thực hiện CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nông nghiệp là cơ
sở, là nguồn lực quan trọng để phát triển KT - XH bền vững, giữ vững ổn định chính
trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp góp phần giữ gìn,
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển.
Đối với quá trình CNH, HĐH nước ta hiện nay cũng như quá trình phát tri ển
KT-XH của tỉnh Cà Mau thì vi ệc đảm bảo để NNPTTHBV là nhi ệm vụ quan trọng
hàng đầu, là c ơ sở để giải quyết căn bản, phù h ợp vấn đề nông nghi ệp, nông dân,
nông thôn. NNPTTHBV nông dân là ch ủ th ể của quá trình đó, đây là khâu then
chốt, do đó, cần quy ho ạch một cách căn bản gắn với xây dựng cơ sở công nghi ệp,
dịch vụ và phát tri ển đô th ị. Vì th ế, cần nh ấn mạnh các điều ki ện, ph ương hướng
giải quy ết vấn đề nông nghi ệp một cách c ăn cơ, vừa đảm bảo cho yêu c ầu tr ước
mắt, vừa đáp ứng cho chiến lược phát triển lâu dài.
Cà Mau là địa ph ương nông nghi ệp gi ữ vai trò ch ủ đạo, đồng th ời nông
nghiệp của Cà Mau mang nh ững nét đặc thù riêng, đặc thù đó hàm ch ứa không ít
các nguy cơ tác động bất lợi tới môi trường sinh thái. Vì v ậy, nông nghiệp Cà Mau
phát triển theo hướng bền vững là một vấn đề cấp thiết. Nhằm góp ph ần giải quyết
vấn đề cấp thiết này, cần phải nghiên cứu một cách toàn di ện, vận dụng một cách
sáng tạo các vấn đề về PTBV, NNPTTHBV.
Từ nhận thức nêu trên và trên tinh th ần nỗ lực thực hiện các quan điểm, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp lu ật của Nhà n ước về PTBV, trong quá trình
phát triển KT-XH nói chung, phát tri ển nông nghi ệp nói riêng, t ỉnh Cà Mau đã có
sự nhận thức đúng đắn, đã cụ thể hoá vào các ch ương trình, đề án, kế hoạch, quy
hoạch phát tri ển và đạt được nhiều thành tựu khá toàn di ện cả kinh tế, văn hoá, xã
hội, môi trường…Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, trong tiến trình phát triển nông
nghiệp tỉnh Cà Mau cũng còn những hạn chế đang thách thức sự PTBV, như: nông
nghiệp vẫn bị động trong ứng phó với biến đổi khí hậu; kết cấu hạ tầng KT - XH
nông nghiệp, nông thôn còn l ạc hậu, chưa đồng bộ; khoa h ọc công ngh ệ chưa tạo
được sự đột phá về sản xuất nông nghiệp; sản xuất vẫn còn manh mún, nhỏ bé trong
điều kiện thị trường cạnh tranh rộng lớn; một số vấn đề xã hội bức xúc ở nông thôn
152
chậm được gi ải quyết; vấn đề suy thoái tài nguyên đất, ô nhi ễm môi tr ường nông
thôn và những hạn chế trong chính sách, yếu kém về năng lực quản lý v.v… Nh ững
hạn chế đó đã làm cho nông nghiệp Cà Mau phát triển thiếu bền vững. Vì vậy, đòi hỏi
phải có sự quan tâm, nỗ lực chung của tất cả các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở.
Từ nhìn nhận trên, luận án tiếp cận nghiên cứu và đề xuất hệ thống quan điểm,
phương hướng và hệ thống giải pháp tổng thể từ xây dựng chính sách, đến các biện
pháp về KT - XH, b ảo vệ môi tr ường và các điều kiện đảm bảo khác để xây dựng
NNPTTHBV với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé để xây dựng nông nghiệp
tỉnh Cà Mau PTBV trong thời gian tới./.
153
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
1. Nguyễn Minh Luân (2013), "Bàn v ề phát tri ển nông nghi ệp bền vững ở tỉnh
Cà Mau", Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (13).
2. Nguyễn Minh Luân (2013), "Xây d ựng nông thôn m ới ở Cà Mau", Tạp chí
Kinh tế và Dự báo, (14).
3. Nguyễn Minh Luân (2013), "T ỉnh Cà Mau th ực hi ện ch ương trình xây d ựng
nông thôn mới", Tạp chí Lịch sử Đảng, (8).
4. Nguyễn Minh Luân (2014), "Tái cơ cấu ngành nông nghi ệp tỉnh Cà Mau theo
hướng nâng cao giá tr ị gia tăng và phát tri ển bền vững, giai đoạn 2014-
2020", Tạp chí Kinh tế và Quản lý, (10).
5. Nguyễn Minh Luân (2016), "M ột số gi ải pháp phát tri ển nông nghi ệp bền
vững ở tỉnh Cà Mau", Tạp chí Kinh tế và Quản lý, (01).
6. Nguyễn Minh Luân (2016), "Nông nghi ệp Cà Mau "v ượt khó" để phát tri ển",
Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (08).
154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo Nhân dân (2013), Gỡ khó cho nông nghi ệp, nông dân, nông thôn , Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Nguyễn Văn Bích, Chu T ấn Quang (1996), Chính sách kinh t ế và vai trò c ủa
nó đối với phát triển triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Vũ Tr ọng Bình (2013), "Phát tri ển nông nghi ệp bền vững - Lý lu ận và th ực
tiễn", Tạp chí Kinh tế và phát triển, (196), tr.37-45.
4. Nguyễn Đình Bồng (2013), Quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên đất đai ứng
phó với biến đổi khí hậu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Các Mác (1995), Tư bản, Quyển 4, Phần 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Lê Thạc Cán (2004), Phát triển nông thôn b ền vững, Nxb Chính tr ị quốc gia,
Hà Nội.
7. Trần Xuân Châu (2000), Những gi ải pháp c ơ bản nh ằm đẩy nhanh s ự phát
triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
8. Đỗ Kim Chung, Kim Th ị Dung (2015), "Nông nghi ệp Vi ệt Nam h ướng đến
phát triển bền vững", Tạp chí Cộng sản, (868), tr.41-43.
9. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2005), Phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau giai
đoạn 2001 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, Cà Mau.
10. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2007), Niên giám thống kê 2006, Cà Mau.
11. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2008), Niên giám thống kê 2007, Cà Mau.
12. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2009), Niên giám thống kê 2008, Cà Mau.
13. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2010), Niên giám thống kê 2009, Cà Mau.
14. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2011), Niên giám thống kê 2010, Cà Mau.
15. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2011), Nông nghiệp tỉnh Cà Mau, giai đoạn 1975
- 2010, Cà Mau.
16. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2011), Thực trạng kinh tế-xã hội tỉnh Cà Mau 15
năm tái lập tỉnh (1997-2011), Cà Mau.
17. Cục Th ống kê t ỉnh Cà Mau (2011), Nông nghi ệp Cà Mau 35 n ăm sau gi ải
phóng (1976-2010), Cà Mau.
155
18. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2012), Niên giám thống kê 2011, Cà Mau.
19. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2013), Kết quả điều tra nông thôn, nông nghi ệp,
thủy sản năm 2011, Cà Mau.
20. Cục Th ống kê t ỉnh Cà Mau (2015), Cà Mau 40 n ăm xây d ựng và phát tri ển
(1976-2015), Cà Mau
21. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2016), Niên giám thống kê 2015, Cà Mau.
22. Nguyễn Xuân Cường (2010), Quá trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở
Trung Quốc 1978-2008, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
23. Nguyễn Diên (1996), Kinh tế hợp tác nông nghi ệp, nông thôn trên th ế giới và
Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội.
24. Đặng Ngọc Dinh (Chủ biên) (1997), Vấn đề phát triển công nghiệp nông thôn
nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
25. Bùi Đại Dũng (2012), Công bằng trong phân ph ối cơ sở để phát tri ển bền
vững, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
26. Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2000), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XII, nhi ệm
kỳ 2000 - 2005, Ca Mau.
27. Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2005), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII, nhiệm
kỳ 2005 - 2010, Cà Mau.
28. Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2008), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cà Mau, giai đoạn 1925 -
2007, Nxb Mũi Cà Mau, Cà Mau.
29. Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2011), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIV, nhiệm
kỳ 2011 - 2015, Cà Mau.
30. Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2016), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XV, nhi ệm
kỳ 2015 - 2020, Cà Mau.
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
32. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII, Nxb Sự thật, Hà Nội.
33. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
34. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
156
35. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần th ứ năm Ban Ch ấp
hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
36. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
37. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam (2008), Văn ki ện Hội ngh ị lần th ứ bảy Ban Ch ấp
hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
38. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
39. Nguyễn Điền (1997), Công nghi ệp hoá nông nghi ệp, nông thôn các n ước
Châu Á và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
40. Nguyễn Hữu Đức (1996), Tác động của cơ ch ế quản lý kinh t ế với việc thúc
đẩy chuy ển dịch cơ cấu kinh t ế nông nghi ệp, Lu ận án Phó ti ến sĩ khoa
học kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
41. Gunter Pauli (2014), Nền kinh tế xanh lam, Nxb Thời đại, Hà Nội.
42. Vũ Quang Hiển (2013), Đảng với vấn đề nông dân, nông nghi ệp và nông thôn
1930-1975, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
43. Trịnh Thị Ái Hoa (2007), Chính sách xuất khẩu nông sản Việt Nam lý lu ận và
thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
44. Trương Duy Hòa (2009), Kinh tế Thái Lan m ột số chính sách công nghi ệp hóa
hướng về xuất khẩu trong ba thập niên cuối thế kỷ XX, Nxb Thế giới, Hà Nội.
45. Bùi Minh Hồng (2014), Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện nay ở
tỉnh Vĩnh Phúc, Luận án ti ến sĩ Kinh tế, Học viện Chính tr ị quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội.
46. Vương Đình Hu ệ (2013), "Tái c ơ cấu ngành nông nghi ệp nước ta hi ện nay",
Tạp chí Tài chính, (854), tr.37-39.
47. Vũ Văn Hùng (2013), Chính sách c ủa Nhà n ước đối với tiêu th ụ nông s ản
trong quá trình th ực hiện cam kết với WTO, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, Hà Nội.
48. Lâm Quang Huyên (2002), Nông nghiệp, nông thôn Nam B ộ hướng tới thế kỷ
XXI, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
49. Trần Thị Lan Hương (2009), Hợp tác phát tri ển nông nghi ệp ở Châu Phi đặc
điểm và xu hướng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
157
50. Nguyễn Văn Khang (2012), Nghiên cứu mô hình s ản xu ất nông nghi ệp bền
vững trong vùng d ự án ng ọt hóa Gò Công , Lu ận án ti ến sĩ Kinh t ế,
Trường Đại học Kinh tế, Hà Nội.
51. Phạm Th ị Khanh (2010), Chuyển dịch cơ cấu kinh t ế theo h ướng phát tri ển
bền vững ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
52. Trần Khải, Lương Xuân Qu ỳ (1995), Những vất đề rút ra t ừ Hội khoa h ọc -
Chuyển đổi cơ cấu kinh t ế nông nghi ệp, nông thôn Vi ệt Nam , Kỷ yếu
khoa học cấp Bộ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội.
53. Phạm Văn Khôi (2004), Các giải pháp phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà
Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
54. Phạm Văn Khôi (2011), Phát triển bền vững các trang trại ở vùng cây ăn quả Bắc
Giang, Báo cáo đề tài khoa học cấp bộ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội.
55. Phạm Văn Khôi (2015), Sử dụng bền vững tài nguyên nước và đất bãi bồi ven
biển vào s ản xu ất nông nghi ệp vùng Đồng bằng Sông H ồng, Nxb Đại
học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
56. Vũ Xuân Ki ều (1996), Những vấn đề có tính quy lu ật trong vi ệc xác l ập và
chuyển dịch cơ cấu kinh t ế nông thôn Vi ệt Nam , Kỷ yếu khoa h ọc cấp
Bộ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội.
57. Nguyễn Đình Long (1995), "Th ị tr ường - y ếu tố quy ết định tới quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta", Tạp chí Nghiên cứu kinh
tế, (7), tr.43-45.
58. Lê Quang Lý (2012), Công nghiệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp, nông thôn
vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
59. Nông Đức Mạnh (2007), Bài phát bi ểu tại lễ khai mạc Hội ngh ị lần thứ bảy
Ban Chấp hành Trung ương (khóa X), Hà Nội.
60. Ngô Thị Tuyết Mai (2011), Phát triển bền vững hàng nông sản xuất khẩu của
Việt Nam trong điều kiện hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
61. Trần Quang Minh (2010), Nông nghiệp Hàn Qu ốc trên con đường phát tri ển,
Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
62. Phạm Xuân Nam (Ch ủ biên) (1997), Phát triển nông thôn, Nxb Khoa h ọc xã
hội, Hà Nội.
63. Vũ Văn Nâm (2009), Phát triển nông nghi ệp bền vững ở Việt Nam, Nxb Th ời
đại, Hà Nội.
158
64. Ngân hàng th ế gi ới (2005), Báo cáo phát tri ển th ế gi ới 2005 , Nxb V ăn hóa
thông tin, Hà Nội.
65. Ngân hàng th ế gi ới (2008), Về tăng cường nông nghi ệp cho phát tri ển, Nxb
Văn hóa thông tin, Hà Nội.
66. Tạ Kim Ng ọc (2004), Kinh tế th ế gi ới năm 2020: Xu h ướng và thách th ức,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
67. Phẩm An Ninh (1999), Xu hướng chuy ển dịch cơ cấu kinh t ế nông nghi ệp
trong quá trình công nghi ệp hoá, hi ện đại hoá ở Đồng Nai , Lu ận văn
tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
68. Bùi Nữ Hoàng Oanh (2013), Giải pháp nâng cao hi ệu qu ả kinh t ế trong s ử
dụng đất nông nghi ệp tại Yên Bái, giai đoạn 2012-2020, Luận án ti ến sĩ
Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
69. Lê Quang Phi (2007), Đẩy mạnh công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp
nông thôn trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
70. Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ (Đồng chủ biên) (1999), Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và th ế giới, Nxb Chính tr ị
quốc gia, Hà Nội.
71. Trần Hữu Phú (2009), Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, kinh nghi ệm
Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
72. Vũ Văn Phúc (2012), Xây dựng nông thôn m ới những vấn đề lý lu ận và th ực
tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
73. Vũ Văn Phúc (2013), Khoa học - công ngh ệ trong phát tri ển nông nghi ệp bền
vững vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
74. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật Bảo vệ môi
trường năm 2015, Hà Nội.
75. Nguyễn Th ị Tố Quyên (2012), Nông nghi ệp, nông dân, nông thôn trong mô
hình tăng trưởng kinh t ế mới giai đoạn 2011-2020, Nxb Chính tr ị quốc
gia, Hà Nội.
76. Chu Hữu Quý (1996), Phát tri ển toàn di ện kinh t ế xã h ội nông thôn, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
77. Nguyễn Hồng Sơn (2013), Môi trường đầu tư hướng tới phát tri ển bền vững
tại Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
159
78. Đặng Kim Sơn (2008), Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Vi ệt Nam hôm nay
và mai sau, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
79. Nguyễn Hữu Sở (2009), Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam, Luận án tiến
sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
80. Sở Lao động Thương binh và Xã h ội tỉnh Cà Mau (2015), Báo cáo tổng năm
2015, Cà Mau.
81. Lê Qu ốc Sử (2001), Chuyển dịch cơ cấu và xu h ướng phát tri ển của kinh t ế
nông nghiệp Việt Nam theo h ướng công nghi ệp hoá, hi ện đại hoá từ thế
kỷ XX đến thế kỷ XXI trong "Th ời đại kinh t ế tri th ức", Nxb Th ống kê,
Hà Nội.
82. Nguyễn Vĩnh Thanh, Lê S ỹ Th ọ (2010), Nông nghi ệp Vi ệt Nam sau khi gia
nhập WTO thời cơ và thách thức, Nxb Lao động - xã hội.
83. Hà Ti ến Th ăng (2006), Chuyển dịch cơ cấu cây tr ồng vật nuôi để phát tri ển
nông nghiệp hàng hoá ở tỉnh Thái Bình , Luận văn thạc sĩ Kinh t ế, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
84. Lê Đình Thắng (1998), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn - nh ững vấn đề
lý luận và thực tiễn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
85. Bùi Tất Thắng (Chủ biên) (1997), Các nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh t ế trong th ời kỳ công nghi ệp hoá, hi ện đại hoá ở Vi ệt
Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
86. Thủ tướng Chính ph ủ (2004), Quyết định số 153/2004/TTg ngày 17/8/2004
ban hành v ăn bản định hướng Chi ến lược phát tri ển bền vững ở Vi ệt
Nam (gọi tắt là Chương trình Nghị sự 21), Hà Nội.
87. Thủ tướng Chính ph ủ (2013), Quyết định 899/Q Đ-TTg về Tái c ơ cấu nông
nghiệp theo hướng nâng cao giá tr ị gia tăng và phát tri ển bền vững, Hà
Nội.
88. Nguyễn Th ị Thu Th ủy (2015), Tác động của xu ất kh ẩu hàng hóa t ới tăng
trưởng kinh tế Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
89. Đoàn Xuân Thủy (2011), Chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
90. Nguyễn Văn Tiêm (Chủ biên) (1997), Báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện dự án
điều tra khảo sát thực trạng và tìm gi ải pháp đối với hộ nông dân không
160
có đất để sản xuất nông nghiệp ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Trung tâm
Tư vấn phát triển nông nghiệp nông thôn, Cà Mau.
91. Tổng cục Thống kê (2015), Niên giám thống kê năm 2015, Nxb Thống kê, Hà Nội.
92. Trung tâm Dịch vụ Thông tin hải ngoại Hàn Quốc (1998), Hàn Quốc đất nước
con người, Hà Nội.
93. Trần Văn Trường (2006), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ở huyện
Hoà Vang - Thành ph ố Đà Nẵng, Lu ận văn th ạc sĩ Kinh t ế, Học vi ện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
94. Dương Minh Tuấn (2012), Một số vấn đề cơ bản về con đường phát triển hiện
đại của nông nghi ệp và nông thôn Nh ật Bản, Nxb T ừ điển Bách khoa,
Hà Nội.
95. Đỗ Thế Tùng (1996), Khái niệm, nội dung và nh ững đặc điểm cơ bản của cơ
cấu kinh tế nông thôn, Kỷ yếu khoa học cấp Bộ, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Hà Nội.
96. Nguyễn Từ (Chủ biên) (2008), Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với
phát triển nông nghiệp Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
97. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Trường Đại học Kinh tế quốc dân (1995), Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Vi ệt Nam, Hội thảo nghiên cứu khoa học,
Hà Nội.
98. Ủy ban nhân dân t ỉnh Cà Mau (2002), Báo cáo quy ho ạch sử dụng đất đến
2010, Cà Mau.
99. Ủy ban nhân dân t ỉnh Cà Mau (2006), Chương trình phát tri ển giáo dục - đào
tạo tỉnh Cà Mau giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến 2015, Cà Mau.
100. Ủy ban nhân dân t ỉnh Cà Mau (2006), Báo cáo tóm t ắt quy ho ạch tổng th ể
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2015 và định hướng đến
2020, Cà Mau.
101. Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau (2007), Kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau thời kỳ đổi
mới 1986 - 2005, Cà Mau.
102. Ủy ban nhân dân t ỉnh Cà Mau (2012), Chương trình điều tra, đánh giá tác
động sức khỏe, môi trường tỉnh Cà Mau, Cà Mau.
103. Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau (2015), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã
hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, Cà Mau.
161
104. Ủy ban nhân dân t ỉnh Cà Mau (2015), Quyết định về vi ệc công nh ận số li ệu
diện tích rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Cà Mau năm 2015, Cà Mau.
105. Hồ Trọng Viện (1997), Chuyển dịch cơ cấu sản xuất và lao động ở nông thôn
miền Đông Nam Bộ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Học viện
Chính tr ị qu ốc gia H ồ Chí Minh - Phân vi ện Thành ph ố Hồ Chí Minh,
Thành phố Hồ Chí Minh.
106. Hoàng Việt (Chủ biên) (1999), Vấn đề sở hữu, sử dụng đất trong nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
107. Hà Vinh (1999), Nông nghi ệp Vi ệt Nam trong b ước chuy ển sang kinh t ế th ị
trường, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.
108. Nguyễn Quốc Vọng (2013), "Con đường bền vững nhất cho nông nghi ệp", tại
trang http://baochinhphu.vn/Tra-loi-cong-dan/Con-duong-ben-vung-nhat
-cho-nong-nghiep/172696.vgp, [truy cập 6/7/2016].
109. Võ Tòng Xuân (2008), Nông nghiệp và nông dân Việt Nam phải làm gì để hội
nhập kinh tế quốc tế, Hà Nội.
110. Võ Tòng Xuân (2010), "Nông dân và nông nghi ệp Việt Nam nhìn t ừ sản xuất
thị trường, Tạp chí Cộng sản, (12), tr.27-29.
111. Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.

