HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN MINH LUÂN

N¤NG NGHIÖP TØNH Cµ MAU PH¸T TRIÓN

THEO H¦íNG BÒN V÷NG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ Mã số: 62 31 01 02

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM QUỐC TRUNG HÀ NỘI - 2016

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên c ứu của riêng

tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung th ực và có

nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả luận án

Nguyễn Minh Luân

MỤC LỤC

Trang 1

MỞ ĐẦU Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

4

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Những công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến

đề tài

4 16

1.2. Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu Chương 2: CƠ SỞ LÝ LU ẬN VÀ TH ỰC TI ỄN VỀ NÔNG NGHI ỆP

19

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

2.1. Một số vấn đề lý lu ận về phát tri ển bền vững và nông nghi ệp phát

19 triển bền vững

2.2. Nội dung, tiêu chí và các nhân t ố ảnh hưởng đến nông nghi ệp phát

triển bền vững 33

2.3. Kinh nghi ệm về nông nghi ệp phát tri ển bền vững và bài h ọc đối với

43 Cà Mau về nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững

Chương 3: THỰC TR ẠNG NÔNG NGHI ỆP PHÁT TRI ỂN THEO

61

HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU

3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh t ế, xã h ội ảnh hưởng đến nông nghi ệp phát

61 triển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau

3.2. Th ực tr ạng nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững ở tỉnh Cà

Mau, giai đoạn 1997-2015 72

3.3. Đánh giá chung về nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh

96 Cà Mau, giai đoạn 1997-2015

105 Chương 4: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU XÂY DỰNG NỀN NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO ĐOẠN HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU, GIAI 2016 - 2025

105

4.1. Dự báo nh ững yếu tố có kh ả năng ảnh hưởng đến nông nghi ệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2016 - 2025 4.2. Quan điểm xây dựng nền nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững

ở tỉnh Cà Mau 113

4.3. Ph ương hướng, mục tiêu xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo

hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2016 - 2025 114

4.4. Một số giải pháp ch ủ yếu nhằm xây dựng nền nông nghi ệp phát tri ển

theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2016 - 2025

KẾT LUẬN DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

121 151 153 154

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AFTA : Khu v ực mậu dịch tự do ASEAN

CNH : Công nghi ệp hóa

CNH, HĐH : Công nghi ệp hóa, hiện đại hóa

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP : T ổng sản phẩm quốc nội

GD-ĐT : Giáo d ục và Đào tạo

HDI : Ch ỉ số phát triển con người

HTX : H ợp tác xã

KT-XH : Kinh t ế - xã hội

KT- XH- MT : Kinh t ế - xã hội - môi trường

KH- CN : Khoa h ọc - công nghệ

KH - KT : Khoa h ọc - kỹ thuật

NNPTBV : Nông nghi ệp phát triển bền vững

NNPTTHBV : Nông nghi ệp phát triển theo hướng bền vững

NTTS : Nuôi tr ồng thủy sản

ện trợ phát triển chính thức ODA : Vi

ển bền vững PTBV : Phát tri

ệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP : Hi

UBND : Ủy ban nhân dân

USD : Đô la Mỹ

WTO : T ổ chức thương mại thế giới

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: So sánh một số tiêu chí về biển của tỉnh Cà Mau 63

Bảng 3.2: Diện tích đất tr ồng lúa t ỉnh Cà Mau qua các n ăm 2001 -

2006 - 2015 66

Bảng 3.3: Diện tích nuôi tr ồng th ủy sản tỉnh Cà Mau qua các n ăm

2001, 2006, 20015 chia theo địa phương huyện, thành phố 67

Bảng 3.4: Dân số năm 2015 chia theo huyện, thành phố 68

Bảng 3.5: Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế 69

Bảng 3.6: Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản theo huyện, thành phố 75

Bảng 3.7: Sản lượng tôm nuôi trồng thủy sản phân theo huyện, thành phố 76

Bảng 3.8: Diện tích các loại cây trồng 77

Bảng 3.9: Biến động diện tích một số cây trồng chính (1997 - 2015) 79

Bảng 3.11: Hiện trạng rừng và trồng rừng giai đoạn 2011 - 2013 81

Bảng 3.12: Cơ cấu lao động qua đào tạo hàng năm 84

Bảng 3.13: Số lượng và cơ cấu lao động đang hoạt động kinh tế 85

Bảng 3.14: Lao động ngành ngư nông lâm nghiệp 85

Bảng 3.15: Tỷ lệ hộ có nguồn nước hợp vệ sinh 95

Bảng 4.1: Điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của Cà Mau 112

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3.1: Biểu đồ tăng, giảm (%) của sản lượng khai thác thủy sản biển 73

Biểu đồ 3.2: Sản lượng thủy sản phân theo ngành nuôi trồng của tỉnh Cà Mau 77

Biểu đồ 3.3: Số bác sĩ trên 10.000 dân năm 2013 88

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ học sinh các cấp so với cấp dưới 89

Biểu đồ 4.1: Tỷ trọng đóng góp của các cụm ngành tr ọng điểm vào GDP

của tỉnh 119

Biểu đồ 4.2: Cụm nuôi trồng và chế biến thủy sản 131

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1: Tương tác gi ữa ba hệ thống kinh tế - xã h ội - môi tr ường và

phát triển bền vững 24

Hình 2.2: Mô hình trình t ự đánh giá tiến độ về bền vững 26

Hình 2.3: Khung lý thuy ết về nông nghiệp phát triển bền vững 34

Hình 3.1: Bản đồ địa lý hành chính tỉnh Cà Mau 62

Hình 3.2: Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 của Cà Mau 62

Hình 3.3: Vòng xoáy đói nghèo 83

Hình 4.1: Mô hình liên k ết hướng ly tâm và ly tâm tại Đông Nam Bộ và

Đồng bằng sông Cửu Long 109

Hình 4.2: Nông nghi ệp phát triển theo hướng bền vững 120

Hình 4.3: Bản đồ địa giới hành chính Đồng bằng sông Cửu Long 143

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Là một qu ốc gia nông nghi ệp - sau 30 n ăm đổi mới và phát tri ển, nông

nghiệp Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị thế của mình với việc cung cấp sinh

kế cho 9,53 tri ệu hộ dân nông thôn và 68,2% dân s ố (60 tri ệu ng ười), đóng góp

18%-22% GDP cho n ền kinh t ế và 23%-35% giá tr ị xu ất kh ẩu [91]... Tuy nhiên,

trước bối cảnh đẩy mạnh công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa (CNH, H ĐH) đất nước và

hội nhập sâu rộng, nền kinh t ế nói chung, nông nghi ệp nói riêng đang đứng trước

không ít khó kh ăn, thách th ức, như: áp lực cạnh tranh ngày càng gay g ắt; tác động

ngày càng trực diện của diễn biến kinh tế khu vực, thế giới đến phát triển kinh tế nói

chung, phát triển nông nghiệp nói riêng; đồng thời, nông nghiệp lại là lĩnh vực đang

đối diện với những ảnh hưởng nghiêm tr ọng của biến đổi khí hậu và ô nhi ễm môi

trường...trong khi năng lực sản xuất và mức độ hội nhập của lĩnh vực nông nghi ệp

còn yếu bởi thực tế sản xuất nông nghi ệp Việt Nam hiện nay vẫn phổ biến với quy

mô nhỏ lẻ; tình tr ạng chuyển dịch cơ cấu nông nghi ệp còn mang tính t ự phát, sản

xuất chủ yế`u theo tín hi ệu thị trường ngắn hạn cộng thêm trình độ sản xuất công

nghiệp ch ế bi ến còn th ấp so v ới các n ước và nông nghi ệp Vi ệt Nam v ẫn bị động

trước nh ững tác động, ảnh hưởng từ các y ếu tố khách quan nh ư khí h ậu, dịch

bệnh… Vì v ậy, để nông nghi ệp thực sự là một trụ cột quan tr ọng của nền kinh tế

trong tiến trình CNH, H ĐH và hội nhập quốc tế, thì nông nghi ệp cần hướng tới sự

phát triển mang tính bền vững.

Là tỉnh thuộc trục tam giác kinh t ế trọng điểm của khu vực Đồng bằng sông

Cửu Long ( ĐBSCL), Cà Mau có điều ki ện tự nhiên - xã h ội thu ận lợi và có ti ềm

năng để phát tri ển kinh tế toàn di ện, đặc biệt là kinh t ế nông nghi ệp, ngoài cây lúa

với diện tích khoảng 130.000 ha, Cà Mau còn có khả năng phát triển một số loài cây

trồng khác phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu, môi trường và phát triển chăn nuôi gia

súc, gia cầm... tạo vùng nguyên li ệu cho ngành công nghi ệp chế biến, lương thực,

thực ph ẩm, thì v ới chi ều dài b ờ bi ển 254 km, di ện tích r ừng của Cà Mau kho ảng

110.000 ha, Cà Mau được xem là m ột trong nh ững địa phương có ti ềm năng phát

triển lâm nghiệp, thủy sản lớn so với những tỉnh khác của cả nước. Song cũng chính

những thu ận lợi này l ại đang đặt nông nghi ệp Cà Mau tr ước nh ững thách th ức

không nhỏ đó là tình tr ạng phát tri ển nóng ở một số mô hình nông, lâm, th ủy sản

2

nên gây ra nhiều hệ lụy, như: bất ổn trong thực hiện quy hoạch phát triển và đầu tư,

dẫn đến nông nghiệp Cà Mau ph ải đối diện với tình trạng phát triển trong điều kiện

quy ho ạch thi ếu đồng bộ, kết cấu hạ tầng thi ếu (đặc bi ệt là điện, mạng lưới kênh

dẫn và thoát nước) và các điều kiện về vốn, con giống, thức ăn, rất quan trọng chưa

được đảm bảo...

Từ những thực tế trên cho thấy việc nghiên cứu sinh chọn đề tài: "Nông nghiệp

tỉnh Cà Mau phát tri ển theo hướng bền vững " làm lu ận án ti ến sĩ Kinh tế là có ý

nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc và phù hợp với chuyên ngành Kinh tế chính trị.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa và c ụ th ể hóa cơ sở lý lu ận và th ực tiễn về NNPTTHBV nói

chung và ở tỉnh Cà Mau nói riêng. T ừ đó, cho th ấy vai trò h ết sức to lớn và quan

trọng của nông nghi ệp trong vi ệc góp ph ần phát tri ển kinh tế, ổn định xã hội, đảm

bảo môi trường.

Phân tích quá trình NNPTTHBV ở tỉnh Cà Mau t ừ năm 1997 đến 2015 để

thấy rõ th ực trạng, nh ững thành tựu, hạn ch ế, yếu kém và nguyên nhân; t ừ đó, đề

xuất quan điểm, định hướng và nh ững gi ải pháp nh ằm đưa nông nghi ệp tỉnh Cà

Mau phát triển theo hướng bền vững.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là t ổng thể nền nông nghi ệp của tỉnh Cà

Mau trên phương diện phát tri ển bền vững (PTBV). Đó là quá trình v ận động, phát

triển nội tại của nền nông nghi ệp hướng đến ba mục tiêu cơ bản: bền vững kinh tế,

bền vững xã h ội, và b ền vững môi tr ường. Lu ận án không nghiên c ứu nền nông

nghiệp với các ngành đơn lẻ.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

+ Ph ạm vi n ội dung : Nông nghi ệp tỉnh Cà Mau phát tri ển theo h ướng bền

vững được nghiên cứu trong phạm vi luận án là nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong

đó trọng tâm là ba lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp.

+ Phạm vi không gian : Không gian nông nghi ệp tỉnh Cà Mau, bao g ồm: các

huyện, thành phố và cả vùng biển khu vực Cà Mau.

+ Phạm vi th ời gian: Nghiên cứu của luận án được giới hạn trong ph ạm vi

thời gian từ năm 1997 đến 2015. Ph ạm vi th ời gian này cho phép lu ận án đánh giá

3

thực tr ạng nông nghi ệp Cà Mau t ừ khi tái l ập tỉnh 1997 đến 2015; xác định mục

tiêu, nhiệm vụ và gi ải pháp NNPTTHBV trong m ối quan hệ kinh tế - xã h ội (KT-

XH) của tỉnh đến năm 2025.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, t ư tưởng Hồ Chí

Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản và chính sách, pháp lu ật của Nhà

nước Việt Nam về phát triển kinh tế, PTBV nói chung, NNPTTHBV nói riêng; ch ủ

trương phát triển KT-XH, phát triển nông nghiệp của tỉnh Cà Mau; tiếp thu có chọn

lọc các kết quả nghiên cứu đã công bố về phát triển nông nghiệp, NNPTTHBV của các nhà khoa học trong và ngoài nước. 4.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy

vật lịch sử Mác-Lênin để nghiên cứu, rút ra các k ết luận. Ngoài ra, lu ận án còn s ử

dụng các ph ương pháp nghiên c ứu cụ thể, như: thống kê, nghiên c ứu thực tế, phân

tích đánh giá, t ổng hợp, so sánh, t ổng kết th ực ti ễn…nhằm rút ra nh ững vấn đề

mang tính tổng kết, khái quát m ột giai đoạn phát tri ển nông nghi ệp cả trên ph ương

diện lý luận, lẫn thực tiễn, để vận dụng đánh giá tổng thể thực trạng phát triển nông

nghiệp của tỉnh Cà Mau k ể từ khi tái l ập tỉnh đến 2015, trên c ơ sở đó định hướng

xây dựng nông nghiệp tỉnh Cà Màu phát triển bền vững trong thời gian tới.

5. Đóng góp về khoa học của luận án

- Luận án góp phần làm rõ thêm khung lý thuyết về PTBV, nông nghiệp phát

triển bền vững (NNPTBV).

- Tìm hi ểu kinh nghi ệm một số quốc gia trên th ế giới và một số địa phương

trong nước về NNPTBV, để rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Cà Mau.

- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát tri ển nông nghi ệp ở tỉnh Cà Mau

giai đoạn 1997 - 2015.

- Đề xu ất trên c ơ sở căn cứ khoa h ọc các quan điểm và gi ải pháp ch ủ yếu

nhằm thúc đẩy nông nghi ệp ở tỉnh Cà Mau phát tri ển theo h ướng bền vững trong

những năm tới.

6. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài li ệu tham khảo, nội dung lu ận

án được kết cấu làm 4 chương, 12 tiết.

4

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. NH ỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN C ỨU TRONG N ƯỚC VÀ NGOÀI

NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Xây dựng nền NNPTBV luôn là đòi hỏi tất yếu đối với một nước như Việt

Nam vốn xuất phát từ nền nông nghi ệp lạc hậu, manh mún, nh ỏ lẻ. Nền NNPTBV

làm cho sự liên kết ngày càng b ền chặt trong chu ỗi giá tr ị toàn cầu. Ngày nay, t ư

duy sản xuất nông nghiệp cũng đã có sự chuyển biến nhanh chóng, đi vào chiều sâu

và với quy mô ngày càng r ộng lớn hơn. Những sản phẩm của nông nghi ệp và kinh

tế nông thôn không nh ững đáp ứng nhu cầu sinh ho ạt của đời sống xã hội, mà còn

tạo cơ sở cho các ngành kinh t ế quốc dân khác phát tri ển. Do đó, đối với mọi quốc

gia đi lên t ừ nông nghi ệp, vi ệc đẩy mạnh phát tri ển nền nông nghi ệp hi ện đại là

nhiệm vụ mang tính chi ến lược trong bối cảnh phát tri ển mới, nhằm khai thác hi ệu

quả tiềm năng góp phần kiến tạo vị thế mới cho quốc gia trên trường quốc tế.

Ở Vi ệt Nam, v ấn đề NNPTBV tuy không còn m ới, nh ưng hi ện vẫn nh ận

được sự quan tâm đặc biệt của xã hội bởi để NNPTBV bản thân lĩnh vực này đang

hàm chứa những vấn đề nội tại cả thời điểm trước mắt lẫn lâu dài, ch ẳng hạn như

mâu thuẫn giữa gia tăng năng suất với đảm bảo chất lượng, tăng trưởng sản lượng

nhưng cần bảo vệ môi tr ường; hay mu ốn tăng trưởng sản xuất nhưng không tự chủ

trước những diễn biến khó lường của biến đổi khí hậu… Theo đó, ở "mảng" nghiên

cứu này cũng đã có không ít công trình được công bố và c ũng là l ĩnh vực nghiên

cứu được tiếp cận khá đa dạng. Trong số đó, những nghiên cứu liên quan đến đề tài

luận án có thể kể đến, bao gồm.

1.1.1. Những công trình nghiên c ứu của các tác giả trong nước liên quan

đến đề tài

1.1.1.1. Sách chuyên khảo và tham khảo

Trong những công trình nghiên cứu mà nghiên cứu sinh tham khảo có những

đặc điểm gần nhau, đó là nh ững công trình nghiên c ứu của các tác gi ả Vi ệt Nam

liên quan đến những vấn đề về nông nghi ệp của nước ta và nh ững nghiên cứu liên

quan đến vấn đề nông nghi ệp ở một số nước có n ền nông nghi ệp phát tri ển trong

khu vực và trên thế giới.

5

- "Các gi ải pháp phát tri ển nông nghi ệp ngo ại thành Hà N ội theo h ướng

nông nghiệp sinh thái" của Phạm Văn Khôi [53] đã chỉ rõ, Hà Nội là vùng có nhi ều

tiềm năng để phát tri ển thành ph ố sinh thái g ắn li ền với các ho ạt động sản xu ất

nông, lâm nghiệp như sự phát triển lâu đời của các làng hoa Ng ọc Hà, cá cảnh Yên

Phụ, vùng hoa Nh ật Tân và s ự phát tri ển của các vùng hoa m ới Vĩnh Tuy - Thanh

Trì, Tây Tựu huyện Từ Liêm, vùng lâm nghiệp sinh thái huyện Sóc Sơn và các hoạt

động canh ngư trên hệ thống đầm hồ có ở khắp mọi nơi trên địa bàn Thành phố.

Hiện nay, quá trình đô thị hoá và phát tri ển thành phố Hà Nội đang mở rộng.

Sự phát triển của Thành phố, một mặt đang tạo ra điều kiện và là cơ hội chuyển dịch

nhiều hoạt động kinh tế vươn ra phát triển mạnh ở ngoại thành như dịch vụ đời sống,

du lịch sinh thái, nghỉ ngơi, giải trí cu ối ngày, cuối tuần. Mặt khác, sự phát triển của

công nghiệp và quá trình đô th ị hoá di ễn ra nhanh chóng đã và đang làm cho môi

trường sinh thái ngày càng bị ô nhiễm. Hơn nữa, theo đà phát triển kinh tế, thu nhập và

đời sống của mọi tầng lớp nhân dân Thủ Đô sẽ ngày càng tăng, đòi hỏi chất lượng sống

cũng được nâng lên và đáp ứng kịp thời. Với vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế và

văn hoá của cả nước, Hà Nội phải có sự phát triển tương xứng trên tất cả các mặt với

vị trí của Thủ Đô ngang tầm với các nưóc phát triển trong khu vực.

Trong bối cảnh trên, các ho ạt động sản xuất nông nghi ệp không nh ững vẫn

tiếp tục duy trì mà c ần được đầu tư phát triển theo những yêu cầu và nội dung mới.

Nó không chỉ dừng lại với tính chất của vành đai cung cấp lương thực, thực phẩm ở

trình độ thấp mà hướng tới những yêu cầu phát triển của vùng đô thị hiện đại - nông

nghiệp sinh thái. Để thực hiện phương hướng trên, vấn đề cấp thiết đặt ra cần phải

làm rõ là: nông nghi ệp ngoại thành phát tri ển theo hướng nông nghi ệp sinh thái là

gì? Căn cứ và các tiêu chí để phát tri ển nông nghi ệp ngoại thành theo h ướng nông

nghiệp sinh thái? Hà N ội có nh ững ti ền đề, ti ềm năng và nh ững khó kh ăn gì cho

việc phát tri ển nông nghi ệp sinh thái? Làm th ế nào để thúc đẩy phát tri ển nông

nghiệp ngoại thành theo h ướng nông nghi ệp sinh thái?. Đây là công trình được tác

giả Phạm Văn Khôi nghiên c ứu nhiều năm, có nhi ều nội dung tương đồng, rất bổ

ích cho nghiên cứu sinh trong quá trình hoàn thiện luận án của mình.

- "Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trong thời

kỳ mới" của Lê Quang Phi [69] đã nêu lên yêu cầu bức thiết, bước đi có ý nghĩa quyết

định trong th ời kỳ mới là c ần ph ải CNH, H ĐH nông nghi ệp nông thôn. B ởi nông

6

nghiệp, nông thôn là v ấn đề rộng lớn và ph ức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều

lĩnh vực khác nhau. Nội dung cuốn sách bước đầu tổng kết quá trình lãnh đạo, chỉ đạo

của Đảng, cung cấp thêm những tư liệu tham khảo về đổi mới đối với khu vực này.

- "Chính sách xu ất khẩu nông sản Việt Nam lý lu ận và th ực tiễn" của Trịnh

Thị Ái Hoa [43] đã đề cập đến những cơ sở lý lu ận của chính sách xu ất khẩu nông

sản Việt Nam từ năm 1989 đến nay. Qua đó, tác gi ả đưa ra nh ững quan điểm, giải

pháp, ki ến ngh ị nh ằm kh ắc ph ục nh ững hạn ch ế trong chính sách xu ất kh ẩu nông

sản hiện hành, trong đó có tính đến những cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế

giới (WTO) của nước ta.

Để thúc đẩy và tích c ực tham gia vào quá trình h ội nhập kinh tế khu vực và

thế giới, cuốn sách đã đề cao vai trò c ủa khu vực nông nghiệp, nông thôn, xem đây

là khu vực đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, chính sách đối

với khu vực này, trong đó có chính sách xu ất khẩu nông sản, luôn được chính ph ủ

các nước, từ các nước đang phát triển, đến các nước phát triển quan tâm.

- "Nông nghi ệp, nông dân, nông thôn Vi ệt Nam hôm nay và mai sau " của

Đặng Kim S ơn [78] đã ch ỉ rõ, trong l ịch sử th ế gi ới, quá trình công nghi ệp hóa

(CNH) thường đi kèm v ới những xáo tr ộn to l ớn về kinh tế - xã h ội - môi tr ường

(KT-XH-MT) và nông nghi ệp, nông thôn, nông dân th ường là đối tượng chịu nhiều

hy sinh, thi ệt thòi nh ất. Muốn khắc phục tình tr ạng đó, Nhà nước và nhân dân ph ải

có nh ững quy ết sách đúng đắn, quy ết tâm to l ớn. Chính vì th ế, tác gi ả và nhóm

nghiên cứu mong mu ốn mô t ả nh ững nét c ơ bản về bức tranh hi ện tr ạng nông

nghiệp, nông dân, nông thôn Vi ệt Nam, phân tích m ột cách khoa h ọc, theo ph ương

pháp tiêu chu ẩn, số liệu theo dõi h ệ thống, nhất là về các lĩnh vực thể chế, xã hội,

môi trường nông thôn.

- "Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam" của Vũ Văn Nâm [63] đã đề

cập, ở Việt Nam vấn đề PTBV trong s ản xuất nông nghi ệp vẫn còn là m ột vấn đề

mới. Đặc biệt sau hơn hai mươi năm đổi mới đất nước, bên cạnh những thành tựu

mà chúng ta đạt được thì th ực ti ễn cũng đang đặt ra cho chúng ta r ất nhi ều thách

thức khi xây dựng nền nông nghiệp theo hướng bền vững. Nội dung cuốn sách được

kết cấu thành 3 chương. Chương 1: tác giả tập trung làm rõ các khái niệm về PTBV,

NNPTBV và tìm hi ểu kinh nghi ệm quốc tế về phát triển nông nghi ệp bền vững, đó

là nh ững kinh nghi ệm cho Vi ệt Nam. Ch ương 2: tác gi ả tập trung nghiên c ứu về

7

thực tr ạng phát tri ển nông nghi ệp ở nước ta theo h ướng ti ếp cận vị trí, đặc điểm,

những chuyển biến bao gồm cả thành công và h ạn chế phát tri ển nền nông nghi ệp

nước ta theo h ướng bền vững. Chương 3: Đó là nh ững phương hướng và gi ải pháp

để phát triển nông nghiệp theo xu hướng bền vững, trong đó đặc biệt chú trọng đến

bốn giải pháp theo tác giả đó là những giải pháp cơ bản nhất.

- "Nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nh ập WTO th ời cơ và thách th ức" của

Nguyễn Vĩnh Thanh, Lê S ỹ Th ọ [90] đã ch ỉ rõ vi ệc tham gia WTO Vi ệt Nam có

nhiều cơ hội để xây dựng và phát tri ển đất nước. Vào WTO n ước ta ph ải tuân th ủ

các quy tắc thống nhất về hệ thống chính sách th ương mại, về môi tr ường thể chế

pháp lý, nhưng nền kinh tế nói chung, nền sản xuất nông nghiệp nói riêng thêm điều

kiện tiếp cận thị trường hàng hóa để phát tri ển một cách bình đẳng của một nước

thành viên. Tuy nhiên, n ỗi lo lớn nhất của nền kinh tế vẫn là vấn đề nông nghi ệp,

nông thôn, nông dân. B ởi, nước ta đi lên t ừ nông nghi ệp, trình độ phát tri ển còn

thấp, quy mô s ản xuất nhỏ lẻ, hàng hóa c ạnh tranh kh ốc liệt, khả năng liên kết hạn

chế…đó là những rào cản không nhỏ mà các tác giả cảnh báo trước.

- "Phát tri ển bền vững các trang tr ại ở vùng cây ăn qu ả Bắc Giang " của

Phạm Văn Khôi [54] đã nêu rõ kinh t ế trang trại là một trong các hình th ức tổ chức

sản xu ất tiên ti ến trong nông nghi ệp. Ở Vi ệt Nam kinh t ế trang tr ại đã được th ừa

nhận và tạo những điều kiện thuận lợi để phát tri ển trong nh ững năm đổi mới. Vì

vậy, kinh tế trang tr ại đã có bước phát tri ển nhất định, đã góp ph ần quan tr ọng vào

việc khai thác các ti ềm năng, lợi th ế của nông nghi ệp, nông thôn có hi ệu qu ả, là

hình mẫu tổ chức sản xuất cho các h ộ nông dân trong vùng. B ắc Giang là t ỉnh có

nhiều tiềm năng phát triển kinh tế trang trại, nhất là các trang tr ại trồng cây ăn quả.

Các cấp, các ngành trong t ỉnh đã có nhi ều quan tâm đến sự phát tri ển của kinh tế

trang tr ại. Vì v ậy, kinh t ế trang tr ại đã phát tri ển khá mạnh, tạo nên b ước chuyển

trong sản xuất nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá… trong những năm đổi mới.

Trên th ực tế, sự phát tri ển của trang tr ại ở Bắc Giang nói chung, các trang

trại ở vùng cây ăn quả, nhất là các trang tr ại chuyên canh v ải thiều đã và đang bộc

lộ nhi ều vấn đề ảnh hưởng đến kết qu ả và hi ệu qu ả, đặc bi ệt là đã xu ất hi ện các

nguy cơ đe doạ sự tồn tại của các trang tr ại… cần phải giải quyết. Nhận thức được

vấn đề trên, tỉnh đã đưa ra nhiều biện pháp tháo gỡ và đã góp phần giải quyết những

vấn đề của thực tiễn. Tuy nhiên, các gi ải pháp chú tr ọng nhiều đến kỹ thuật, những

8

vấn đề của tổ chức quản lý chưa được giải quyết một cách đồng bộ và triệt để. Xuất

phát từ vai trò c ủa nông nghi ệp, nông thôn và s ự phát tri ển của nông nghi ệp nói

chung, kinh tế trang trại nói riêng; xuất phát từ thực trạng của những vấn đề đã được

tác giả Phạm Văn Khôi nghiên c ứu, cho thấy có sự liên quan đến đề tài nghiên cứu

sinh đang thực hiện, từ đây sẽ mở ra một cách nhìn đối với địa phương Cà Mau b ổ

ích trong hoàn thiện đề tài.

- "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình t ăng trưởng kinh tế mới

giai đoạn 2011-2020" của Nguyễn Thị Tố Quyên [75] đã được tập thể tác giả trình

bày trong bốn nội dung. Một là, tác giả tiếp cận các lý thuy ết, mô hình th ực tiễn và

kinh nghiệm phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn, nông dân trên th ế giới. Hai là, nêu

lên thực trạng một số điểm trọng tâm, nổi bật về nông nghiệp, nông thôn, nông dân

từ năm 2000 đến nay. Ba là, những cơ hội, thách th ức mới đặt ra cho nông nghi ệp,

nông thôn, nông dân trong mô hình t ăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2020. Bốn

là, một số đề xu ất về chính sách nông nghi ệp hi ện nay. Theo nhóm tác gi ả, nông

nghiệp, nông thôn, nông dân là v ấn đề khá r ộng và còn nhi ều nội dung c ần được

tiếp tục nghiên cứu, trao đổi trong thời gian tới.

- "Công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp, nông thôn v ấn đề và gi ải

pháp" của Lê Quang Lý [58] đã tập trung vào m ấy vấn đề như sau: Thứ nhất, cách

thức tiếp cận mới về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ thực tiễn sinh động của

nền nông nghi ệp nước nhà. Thứ hai , các v ấn đề đặt ra đối với chính sách nông

nghiệp, cơ cấu công - nông nghi ệp trong nền kinh tế. Thứ ba, đánh giá nh ững mặt

được, ch ưa được của CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn trong th ời gian qua và

kiến giải những vấn đề cần thay đổi. Thứ tư, nhận thức mới về sở hữu ruộng đất, về

quan hệ sản xuất do CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đưa đến.

- "Xây dựng nông thôn m ới những vấn đề lý lu ận và th ực tiễn" của Vũ Văn

Phúc [72] bao g ồm các bài vi ết của các nhà khoa h ọc, lãnh đạo các cơ quan trung

ương, các địa phương, các ngành, các c ấp về xây dựng NTM, với những nội dung

chính như sau: Nh ững vấn đề lý lu ận chung và kinh nghi ệm quốc tế về xây dựng

NTM; thực tiễn xây dựng NTM ở Việt Nam.

- "Gỡ khó cho nông nghi ệp, nông dân, nông thôn " của Báo Nhân dân [1] đã

tập hợp các tác ph ẩm báo chí ch ọn lọc hưởng ứng cu ộc thi vi ết về nông nghi ệp,

nông dân, nông thôn đăng trên Báo Nhân dân n ăm 2011-2012. Cuốn sách giới thiệu

9

38 tác ph ẩm báo chí đề cập đến nhi ều lĩnh vực của nông nghi ệp, nông dân, nông

thôn đang được xã h ội quan tâm, nh ư: bàn v ề mô hình s ản xu ất nông nghi ệp phù

hợp với cơ chế thị trường; phát tri ển cơ sở hạ tầng nông thôn, tín d ụng trong nông

nghiệp; xây dựng NTM; phát tri ển nghề cá gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo; cơ

chế, chính sách cho phát tri ển nông nghi ệp, nông dân, nông thôn;…t ừ đó, các bài

viết tổng kết, phân tích, đề xuất những giải pháp giúp Nhà n ước ta tháo g ỡ vướng

mắc trong lĩnh vực này, góp phần thiết thực vào phát triển nông nghiệp và nâng cao

đời sống vật chất, tinh thần cho người dân ở nông thôn.

- "Đảng với vấn đề nông dân, nông nghi ệp và nông thôn 1930-1975 " của Vũ

Quang Hiển [42] đã góp ph ần tái tạo bức tranh KT-XH Vi ệt Nam giai đoạn 1930-

1975, trong đó đặc biệt đi sâu phân tích ch ủ tr ương, chính sách c ủa Đảng đối với

nông dân, nông nghi ệp, nông thôn; t ừ đó, rút ra m ột số nhận xét và nh ững bài học

kinh nghiệm trong việc tiếp tục phát huy vị trí, vai trò, s ức mạnh của giai cấp nông

dân, địa bàn nông thôn và ngành kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay.

- "Chính sách của Nhà nước đối với tiêu th ụ nông sản trong quá trình th ực

hiện cam kết với WTO" của Vũ Văn Hùng [47] đã tập trung ba v ấn đề lớn: Chính

sách tiêu th ụ nông sản trong quá trình th ực hiện cam kết WTO - c ơ sở lý lu ận và

kinh nghiệm quốc tế; thực trạng chính sách tiêu th ụ nông sản Việt Nam trong quá

trình thực hiện cam kết với WTO; quan điểm và gi ải pháp cơ bản hoàn thi ện chính

sách tiêu thụ nông sản Việt Nam trong quá trình thực hiện cam kết WTO.

- "Hợp tác phát tri ển nông nghi ệp ở châu Phi đặc điểm và xu h ướng" của

Trần Thị Lan Hương [49] đã tập trung phân tích th ực trạng phát triển nông nghiệp ở

châu Phi những năm gần đây, những kết quả hợp tác nông nghiệp ban đầu ở châu Phi

với thế giới bên ngoài và những cơ hội hợp tác nông nghiệp ở châu Phi trong hai thập

niên đầu thế kỷ 21. Những phát hiện nghiên cứu này là rất quan trọng để Việt Nam tìm

hướng hợp tác lâu dài, hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp với châu Phi.

- "Một số vấn đề cơ bản về con đường phát tri ển hiện đại của nông nghi ệp

và nông thôn Nh ật Bản" của Dương Minh Tu ấn [93] đã chỉ rõ, trên th ế giới, trong

quá trình CNH, H ĐH không n ước nào có th ể xem nh ẹ sự phát tri ển nông nghi ệp,

nông thôn. S ự phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn Nh ật Bản trong quá trình phát

triển, hiện đại hóa nền kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh mới hiện nay được xem là

một nội dung khá h ấp dẫn thu hút các nhà nghiên c ứu nước ngoài cũng như chính

10

các học giả Nhật Bản. Cuốn sách là công trình nghiên c ứu có đóng góp quan tr ọng

về giá trị nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn Nh ật Bản, trong bối cảnh ở Việt Nam

đây vẫn còn là m ảng nghiên c ứu chưa được tập trung thích đáng, vẫn còn ít công

trình chuyên sâu về vấn đề này. Đặc biệt, nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản để

rút ra các bài h ọc tham kh ảo cho Việt Nam trong quá trình CNH và phát tri ển kinh

tế trong bối cảnh mới hiện nay. Cuốn sách gồm có 3 chương, chương I, tác giả trình

bày tổng quan v ề sự phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn Nh ật Bản, nh ằm nâng lên

những đặt trưng chủ yếu, có tính đặc thù cũng như vai trò c ủa nông nghi ệp đối với

quá trình CNH, HĐH của Nhật Bản. Chương II, trình bày các gi ải pháp chủ yếu đối

với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Nh ật Bản, đặc biệt là các gi ải pháp về đất

đai, về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, về tổ chức quản lý nông nghiệp,

hợp tác qu ốc tế và b ảo hộ nông nghi ệp của Nh ật Bản. Ch ương III, làm rõ nh ững

thành tựu và những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhật

Bản cũng nh ư mô hình và nh ững kinh nghi ệm phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn

Nhật Bản đối với Việt Nam trong quá trình CNH hiện nay.

- "Nông nghiệp Hàn Quốc trên con đường phát triển" của Trần Quang Minh

[61] đã nêu rõ, Hàn Qu ốc đã tr ải qua h ơn nửa th ế kỷ th ực hi ện CNH, H ĐH đất

nước. Trong quá trình này, không ch ỉ các ngành công nghi ệp của Hàn Qu ốc đạt

được những thành tựu phát triển hết sức mạnh mẽ làm nên cái tên g ọi "kỳ tích sông

Hàn", mà ngành nông nghi ệp của Hàn Quốc cũng từng bước đi lên hiện đại, bộ mặt

nông thôn ngày càng được đổi mới. Những kinh nghi ệm của Hàn Qu ốc trong vi ệc

giải quyết vấn đề nông nghi ệp, nông thôn trong quá trình CNH, H ĐH chắc chắn là

những tham khảo rất có giá trị đối với Việt Nam. Cuốn sách tập trung phân tích một

cách toàn di ện tiến trình phát tri ển nông nghi ệp của Hàn Qu ốc từ truyền thống đến

hiện đại; các chính sách và gi ải pháp giải quyết những vấn đề đặt ra trên con đường

phát triển hiện đại của nông nghiệp và nông thôn Hàn Qu ốc và đề xuất một số gợi ý

chính sách cho s ự phát tri ển nông nghi ệp Việt Nam trên c ơ sở những kinh nghi ệm

của Hàn Qu ốc. Chính vì v ậy, việc nghiên cứu và đánh giá nh ững kinh nghi ệm của

Hàn Quốc về phát triển nông nghiệp và nông thôn là h ết sức cần thiết cả về lý luận

và thực tiễn đối với Việt Nam.

- "Quá trình phát tri ển kinh tế - xã hội nông thôn ở Trung Quốc 1978-2008"

của Nguyễn Xuân Cường [22] đã nêu rõ, Trung Qu ốc là nước nông nghi ệp lớn với

11

dân số đông nhất thế giới. Hơn nửa thế kỷ qua, nhất là từ khi tiến hành cải cách mở

cửa năm 1978 đến nay, Trung Qu ốc đã giành được những thành tựu to lớn và toàn

diện, trong đó có lĩnh vực nông nghi ệp, nông thôn. Nh ững kinh nghi ệm của Trung

Quốc trong quá tŕnh cải cách nông nghi ệp, nông thôn; phát tri ển hài hòa gi ữa nông

thôn và thành th ị; phát tri ển cân bằng giữa công nghi ệp và nông nghi ệp; xây dựng

NTM xă hội chủ nghĩa…là những kinh nghiệm hữu ích cho Việt Nam.

- Ngoài ra còn có thể kể đến: "Hàn Quốc đất nước con người" của Trung tâm

Dịch vụ Thông tin h ải ngoại Hàn Qu ốc [92]; "Kinh tế Thái Lan m ột số chính sách

công nghi ệp hóa h ướng về xu ất kh ẩu trong ba th ập niên cu ối th ế kỷ XX" của

Trương Duy Hòa [44]; "Kinh tế thế giới năm 2020: Xu hướng và thách thức" của Tạ

Kim Ngọc [66];"Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, kinh nghi ệm Việt Nam,

kinh nghiệm Trung Quốc" của Trần Hữu Phú [71].

Tổng quan các công trình nghiên c ứu kể trên tập trung đi sâu các đặc trưng

chủ yếu từ điều kiện đất đai, công nghệ, sản phẩm, giá trị và thu nh ập trên lĩnh vực

nông nghiệp của các nước. Từng giai đoạn phát triển, các tác giả đã làm rõ ý nghĩa, tầm

quan trọng và mức độ đóng góp của nền nông nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế và sự

phát triển của mỗi nước. Đặc biệt là đối với Châu Phi như một sự điển hình về duy trì

sự sống, đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội. Bên cạnh những mặt tích cực

và những lợi thế, các nghiên c ứu cũng chỉ ra nhi ều vấn đề nan gi ải trong phát tri ển

nông nghiệp của mỗi quốc gia mà cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết. Từ đó, các tác

giả đã đưa ra nh ững kiến nghị giải pháp khác nhau nh ằm hướng tới tổ chức, quản lý

hiệu quả nền nông nghiệp quốc gia, những kiến nghị, giải pháp này cũng là những bài

học quý giá cho những quốc gia nông nghiệp như Việt Nam.

1.1.1.2. M ột số luận án tiến sĩ

- "Nghiên cứu mô hình s ản xu ất nông nghi ệp bền vững trong vùng d ự án

ngọt hóa Gò Công" của Nguyễn Văn Khang [50] đã lý giải được những mô hình sản

xuất bền vững ở khu vực ngọt hóa Gò Công t ỉnh Tiền Giang, từ đó giúp cho nông

dân lựa chọn được những mô hình có th ể áp d ụng trong quá trình s ản xuất có th ể

mang lại hiệu quả, ít tác động đến môi tr ường sinh thái; đánh giá được những thay

đổi trong s ản xu ất và đời sống của ng ười dân tr ước và sau ng ọt hóa; định hướng

chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo nh ững mục tiêu khác nhau. Nh ững công

trình này có th ể áp dụng được những địa phương khác có điều kiện về địa lý, sản

xuất tương tự trong khu vực.

12

- "Giải pháp nâng cao hi ệu qu ả kinh t ế trong s ử dụng đất nông nghi ệp tại

Yên Bái, giai đoạn 2012-2020" của Bùi Nữ Hoàng Oanh [68] đã đi sâu phân tích cơ

sở lý lu ận và th ực tiễn về đất nông nghi ệp; đề cập hiệu quả kinh tế trong sử dụng

đất, phân tích xu hướng suy giảm đất nông nghiệp và những tác động làm suy thoái

đất trong quá trình s ản xuất. Luận án đã nêu lên một số giải pháp mang tính kh ả thi

nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh, như: nêu lên

giải pháp về quy ho ạch sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học - k ỹ thu ật (KH-KT),

liên kết vùng sản xuất, các điều kiện đảm bảo cho các gi ải pháp th ực hiện được và

trách nhiệm các cấp, các ngành để đảm bảo tính khả thi của luận án.

- "Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện nay ở tỉnh Vĩnh Phúc" của

Bùi Minh Hồng [45] đã phân tích, làm rõ được thị trường quyền sử dụng đất nông

nghiệp, xem đó là thứ hàng hóa đặc biệt, đó là tài sản, là nguồn lực quý giá của mỗi

quốc. Luận án đã tập trung, đi sâu phân tích thực trạng thị trường quyền sử dụng đất

nông nghiệp hiện nay ở tỉnh Vĩnh Phúc, ch ỉ ra nh ững mặt tích cực, những hạn chế,

cũng như những yếu kém của thị trường này. Từ đó, tác giả đề xuất những phương

hướng, gi ải pháp, t ạo môi tr ường thông thoáng cho th ị tr ường quy ền sử dụng đất

nông nghiệp phát triển linh hoạt nhằm khai thác có hi ệu quả nguồn lực đất đai phục

vụ tốt cho CNH, HĐH.

- "Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam" của Nguyễn Hữu Sở [79] đã xoay

quanh vấn đề phát tri ển kinh tế bền vững, luận án đã nhấn mạnh đến khả năng phát

triển liên tục, lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ở những lĩnh

vực khác, nhất là thiên nhiên và xã hội. Phát triển kinh tế mà hủy hoại đến môi trường

là phát triển không bền vững. Phát triển mà chỉ dựa vào lượng tài nguyên sẵn có là phát

triển không thể lâu dài được. Tác giả cũng nêu lên quan điểm cho rằng, phát triển kinh

tế mà để phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực (FDI) cũng là khó bền vững, vì nguồn ấy

có nhiều rủi ro, không chắc chắn. Hai thành tố nòng cốt của phát triển là văn hóa và xã

hội. Để chuyển hóa khái niệm phát triển kinh tế bền vững từ cấp độ lý thuyết áp dụng

vào thực tiễn, khái niệm cần được làm sáng tỏ sau đó áp dụng trực tiếp đối với các lĩnh

vực khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

1.1.1.3. Nh ững công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí, hội thảo

Những năm gần đây, nhất là từ sau Hội nghị lần thứ bảy, Khóa X khi Ngh ị

quyết của BCH TW Đảng về vấn đề nông nghi ệp, nông dân, nông thôn được ban

13

hành và đi vào thực hiện, theo đó đã có ngày càng nhi ều các công trình nghiên c ứu

nhận được sự quan tâm xã h ội, các nhà nghiên c ứu, dưới đây xin nêu m ột số công

trình liên quan như:

- "Quyết định số 153/2004/TTg ban hành văn bản Định hướng Chiến lược phát

triển bền vững ở Việt Nam (gọi tắt là Chương trình Nghị sự 21)" của Thủ tướng Chính

phủ [86]. Theo đó, phát triển bền vững là xu thế chung mà toàn nhân loại đang nỗ lực

thực hiện. Đó cũng là mục tiêu chiến lược quan trọng mà Đảng, Chính phủ và nhân dân

Việt Nam quyết tâm biến thành hành động, ở hiện tại và tương lai.

- "Nông dân và nông nghi ệp Việt Nam nhìn t ừ sản xuất thị trường" của Võ

Tòng Xuân [110] đã cho rằng, hạn ch ế lớn nh ất của nông nghi ệp hi ện nay là s ản

xuất một cách rất tự phát, muốn trồng giống gì thì trồng, muốn sử dụng kỹ thuật thế

nào là tùy ý. Người dân trồng lúa nhưng không biết ai sẽ mua, doanh nghiệp chỉ biết

thương lái, đối tác, bỏ mặc người dân. Đến khi thu ho ạch, tiêu th ụ người dân cũng

không thể quyết định được giá cả, luôn thua lỗ, thiệt thòi. Tác gi ả đề xuất hướng ra

là cần sớm xây d ựng mô hình Công ty c ổ ph ần nông nghi ệp; mạnh dạn chuy ển

hướng phát huy ti ềm năng tự nhiên và ng ười lao động; Nhà n ước cần linh ho ạt

trong điều chuyển cơ chế, chính sách cho phù hợp với thị trường.

- "Tái cơ cấu ngành nông nghi ệp nước ta hi ện nay " của Vương Đình Hu ệ

[42] đã ch ỉ rõ, tr ước bối cảnh phát tri ển kinh t ế luôn bi ến động, có nhi ều cơ hội,

thách thức đan xen cả trong nước và hội nhập quốc tế, bài vi ết đề xuất một số nội

dung và giải pháp cần thiết, cấp bách, góp phần nghiên cứu tiếp tục đổi mới căn bản

và đồng bộ về chiến lược, thể chế và tổ chức trong tái c ơ cấu ngành nông nghi ệp,

nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa X c ủa Ban Ch ấp

hành Trung ương và Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã được phê duyệt.

- "Con đường bền vững nh ất cho nông nghi ệp" của Nguy ễn Qu ốc Vọng

[108] đã nêu rõ, m ột nền nông nghi ệp chất lượng cao là con đường bền vững nhất

để nông nghiệp, nông thôn và nông dân Vi ệt Nam đứng vững và phát triển trong kỷ

nguyên hội nhập. Tác giả cung cấp 5 "luật chơi" của thị trường nông sản thế giới, từ

đó ch ỉ ra nh ững hạn ch ế, yếu kém c ủa nông nghi ệp Vi ệt Nam và nghiên c ứu gi ải

pháp từ Australia để chúng ta có thêm cách nhìn về nền nông nghiệp nước nhà.

- "Phát tri ển nông nghi ệp bền vững - Lý lu ận và th ực ti ễn" của Vũ Tr ọng

Bình [3] đã tập trung giới thiệu khái niệm NNPTBV, các ti ếp cận chiến lược trong

14

NNPTBV, trình bày tóm tắt một số chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững của

một số quốc gia cũng như thực tiễn PTBV ở Việt Nam. Có nhi ều cách tiếp cận cho

PTBV, tuy nhiên, t ất cả để làm thế nào cho ng ười sản xuất thay đổi hành vi của họ

dựa trên các nguyên tắc sản xuất bền vững. Cách tiếp cận của tác giả cho thấy, nước

ta đang rất tích c ực phát tri ển nền nông nghi ệp bền vững. Nhi ều chính sách được

Chính phủ ban hành. Tuy nhiên, cho th ấy giữa hiện thực và chính sách còn kho ảng

cách xa. Chúng ta đang thiếu chuỗi giá trị dựa trên quản trị sản xuất bền vững, thiếu

cơ ch ế chính sách để nông dân th ực hành b ền vững. Khi mà th ực hành s ản xu ất

không bền vững vẫn còn có l ợi ích l ớn hơn, th ậm chí l ớn hơn nhi ều so v ới th ực

hành sản xuất bền vững, thì việc phát triển nông nghiệp bền vững vẫn còn khó khăn.

- "Quyết định 899/QĐ-TTg về tái cơ cấu nông nghi ệp theo hướng nâng cao

giá trị gia tăng và phát tri ển bền vững" của Thủ tướng Chính phủ [87] đây là đề án

tái cơ cấu nông nghi ệp là một hợp ph ần của tái c ơ cấu tổng th ể nền kinh t ế qu ốc

dân, phù h ợp với chi ến lược và k ế ho ạch phát tri ển KT-XH c ủa cả nước, gắn với

phát triển KT-XH và bảo vệ môi trường cho trước mắt và lâu dài.

- "Nông nghi ệp Vi ệt Nam h ướng đến phát tri ển bền vững" của Đỗ Kim

Chung, Kim Th ị Dung [8] đã cho rằng, trong th ời gian qua, ngành nông nghi ệp đạt

được tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế nông nghi ệp chuyển dịch theo hướng

phù hợp hơn với nhu cầu thị trường, giá cả, kim ngạch xuất khẩu đều tăng trưởng ở

mức hợp lý. Tuy nhiên, nông nghi ệp vẫn ch ưa th ực sự phát tri ển bền vững; kh ả

năng cạnh tranh của một số sản phẩm nông sản chưa cao, th ị trường tiêu th ụ thiếu

ổn định, chưa hình thành có hi ệu quả chuỗi giá tr ị nông sản, thu nh ập của cơ dân

nông thôn thấp. Hướng đến sự PTBV, cần có giải pháp phát triển nông nghiệp nước

ta một cách đúng hướng và đồng bộ, đây là câu h ỏi lớn đặt ra cho các nhà nghiên

cứu lý luận, hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn.

Một số bài báo nêu trên t ập trung nghiên c ứu, phân tích nh ững vấn đề mang

tính lý lu ận về NNPTBV ho ặc nh ững vấn đề có liên quan khác đến nông nghi ệp,

đến PTBV và NNPTBV ở nước ta trong nh ững năm gần đây. Trên c ơ sở ch ỉ ra

những thành tựu và hạn chế, yếu kém, các tác gi ả đã đề xuất định hướng, giải pháp

cho NNPTBV. Tuy nhiên, các công trình đăng tải trên các t ạp chí khoa h ọc, số bài

liên quan tr ực tiếp đến NNPTBV tuy nhi ều, nh ưng các bài vi ết ít đi sâu phân tích

các yếu tố đảm bảo cho nền NNPTBV trong xu thế mới dưới góc nhìn kinh tế chính

trị học, cho nên, đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu.

15

1.1.2. Nh ững công trình nghiên c ứu ngoài nước có liên quan đến đề tài

luận án

Cũng như ở Việt Nam, nhi ều nước trên th ế giới đi lên từ nông nghi ệp, hoặc

nông nghiệp có vị trí đặc biệt đối với sự phát triển một quốc gia nào đó, vì thế trong

các nghiên cứu nước ngoài cũng có không ít công trình nghiên c ứu liên quan đến đề

tài lu ận án và các nghiên c ứu này s ẽ là nh ững tài li ệu bổ ích cho nghiên c ứu của

luận án và g ợi mở nh ững bài học kinh nghi ệm quý giá đối với Vi ệt Nam. Một số

nghiên cứu điển hình ở mảng nghiên cứu này có thể kể đến như:

- "Tăng cường nông nghi ệp cho phát tri ển" của Ngân hàng th ế giới [65] đã

nêu bật nông nghiệp là công c ụ phát triển sống còn để đạt mục tiêu phát tri ển thiên

niên kỷ. Báo cáo dài h ơn 500 trang, n ội dung đề cập đến 3 v ấn đề chính, đó là:

Nông nghiệp có thể làm gì để góp phần vào phát tri ển; công cụ hữu hiệu trong việc

sử dụng nông nghi ệp vì sự phát tri ển là gì?; làm th ế nào để thực hiện tốt nhất các

chương trình ngh ị sự nông nghi ệp vì sự phát tri ển. Báo cáo này h ướng dẫn cho các

Chính ph ủ và c ộng đồng qu ốc tế khi thi ết kế và th ực thi các ch ương trình nông

nghiệp cho phát tri ển, mà nh ững ch ương trình này có th ể đổi đời cho hàng tri ệu

người đói nghèo, cơ cực ở nông thôn.

- Nghiên cứu của Quỹ Quốc tế về phát tri ển nông nghi ệp (IFAD): Có nhi ều

tác giả tập trung nghiên cứu về vai trò và ảnh hưởng từ phía chính phủ và các chính

sách hỗ tr ợ phát tri ển nông nghi ệp [64]. Điển hình là nghiên c ứu của Ti ến sỹ

Gertrud Schieder, Tr ường Đại học Hohen - Đức, nghiên cứu về tín dụng cho người

nghèo sống ở nông thôn đất nước Cameroon đã luận giải sự tồn tại tất yếu, khách

quan của 2 bộ phận: tín dụng chính th ức và tín d ụng phi chính th ức. Theo tác gi ả,

thì nhất thiết Chính phủ cần phải cung ứng tín dụng để đảm bảo an toàn lương thực

cho người nghèo ở nông thôn.

- "Nền kinh tế xanh lam " của Gunter Pauli [41] đã hàm ch ứa tầm nhìn khác

thường về những gì chúng ta có th ể làm được trong bối cảnh một nền kinh tế bền

vững. Từ kết quả hấp dẫn của nỗ lực khai thác ti ềm năng đạt tới sự bền vững trong

khắp các hệ sinh thái của tự nhiên, đó cũng là thách th ức lớn nhất của thế giới. Tuy

tác giả giới thiệu về mô hình kinh doanh h ướng đến sự bền vững, nhưng đây là một

nghiên cứu rất có ý nghĩa về kinh tế dưới góc nhìn kinh tế chính trị học.

16

1.2. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ NH ỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA C ẦN TI ẾP TỤC

NGHIÊN CỨU

1.2.1. Đánh giá chung các kết quả nghiên cứu đã công bố

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về NNPTBV đều

có cách ti ếp cận và gi ải quyết vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau. Có th ể nêu lên

mấy vấn đề cơ bản sau:

- Các nghiên c ứu đã làm rõ các khái ni ệm, đặc điểm, vai trò và tính t ất yếu

của PTBV, NNPTBV trong xu th ế toàn cầu hóa hiện nay. Dù là qu ốc gia phát tri ển

hay đang phát triển thì việc đầu tư cho nông nghiệp luôn có tầm quan trọng đặc biệt

trong nền kinh tế của mỗi nước.

- Các nghiên cứu đã làm sáng tỏ, phản ánh được nhiều mặt về bức tranh nông

nghiệp trước yêu cầu PTBV ở một số nước như Hàn Qu ốc, Nhật Bản, Trung Qu ốc

và một số quốc gia khác ở châu Phi, châu Âu… đó là nh ững kinh nghi ệm quý cho

Việt Nam xây dựng và phát triển nền NNPTTHBV.

- Từ những nghiên cứu ở phương diện lý luận và thực tiễn các nghiên cứu đã

có nh ững ki ến ngh ị, đề xu ất ph ương hướng và gi ải pháp phát tri ển nông nghi ệp

trong một thời điểm nhất định, nhất là trong h ội nhập càng ph ải đề cao, xem tr ọng

các yếu tố PTBV.

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra một số kết luận sau:

Một là, các công trình nghiên c ứu trong nước về nông nghiệp, phát triển bền

vững nông nghiệp là một phần quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam

hiện nay. Quá trình ấy, được nghiên cứu trên nhi ều mặt, có mối quan h ệ bền chặt

giữa KT-XH-MT; gi ữa vi ệc xây d ựng một nước Vi ệt Nam phát tri ển, giàu m ạnh,

chủ động hội nhập quốc tế. Những vấn đề các tác giả nghiên cứu, trong đó đáng chú

ý là đã đưa ra nhiều cách gỡ khó cho nông nghi ệp, xác định phát triển nông nghiệp

với mô hình t ăng trưởng bền vững là sự lựa chọn đúng đắn cho tái c ơ cấu lại nông

nghiệp, th ực hi ện CNH, H ĐH đất nước, đưa nông nghi ệp nước nhà h ội nh ập sâu

WTO. Nh ận th ức được điều đó, vi ệc nghiên c ứu, th ực hi ện đề tài nông nghi ệp ở

tỉnh Cà Mau phát triển theo hướng bền vững là việc cụ thể hóa trong thực tiễn ở một

địa phương, là một đòi hỏi bức xúc trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài, góp phần phát

triển KT-XH của tỉnh, rất cần có một đề tài nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề này.

17

Hai là, trong các nghiên c ứu quốc tế có liên quan đến đề tài cho th ấy, trên

thế giới, trong lịch sử phát tri ển của các qu ốc gia, hầu hết các qu ốc gia đều không

xem nhẹ việc đầu tư, phát triển nông nghiệp. Từ các nước sản xuất nông nghiệp đầy

khó khăn như Châu phi, đến những nước có sự đầu tư mạnh vào nông nghi ệp như

Hàn Quốc, Nh ật Bản, Thái Lan, Ixrael…ch ỉ trong một th ời gian nh ất định đã làm

các nước này có s ự thay đổi lớn lao, PTBV, quá trình đó có s ự đóng góp hết sức

quan trọng của nông nghiệp. Chính vì vậy, đề tài nông nghiệp, nông dân, nông thôn

không chỉ nhận được sự quan tâm sâu s ắc của các nhà nghiên c ứu trong nước mà

còn là đề tài luôn có s ức hấp dẫn đối với các nhà nghiên c ứu ngoài nước, kết quả

nghiên cứu của các tác gi ả nước ngoài là nh ững kinh nghi ệm, bài h ọc tham kh ảo

quý đối với Vi ệt Nam nói riêng, các n ền kinh t ế nông nghi ệp nói chung c ả trên

phương diện thành công và thất bại mà một số quốc gia nào đó đã trải qua.

1.2.2. Những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu

Như trình bày ở trên, các nghiên c ứu đã công b ố được đề cập là khá phong

phú, đa dạng về các khía c ạnh phát tri ển của nông nghi ệp, NNPTBV. Tuy nhiên,

trong quá trình tham kh ảo để viết luận án này, nghiên c ứu sinh nh ận thấy hầu hết

các tư liệu tham khảo chủ yếu nghiên cứu nông nghiệp ở tầm lý luận chung, những

vấn đề mang tính nguyên lý ở cấp độ quốc gia, châu lục. Một số công trình khác thì tập

trung nghiên cứu một hoặc một số vấn đề cụ thể của nông nghiệp trong nước. Ngay cả

ba luận án tham kh ảo cũng chỉ đi sâu nghiên cứu mô hình sản xuất ở vùng ngọt hóa,

vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất, thị trường quyền sử dụng đất nông

nghiệp. Với đề tài luận án của nghiên cứu sinh, những công trình trên rất có ý nghĩa ở

chỗ, nó giúp cho nghiên c ứu sinh tiếp cận thuận lợi hơn để giải quyết các vấn đề có

liên quan đến nông nghiệp ở Cà Mau phát triển theo hướng bền vững.

Trên cơ sở việc hệ thống hóa lý thuy ết NNPTTHBV đến cụ thể hóa lý thuy ết

này vào điều kiện cụ thể của tỉnh Cà Mau, lu ận án cần trả lời những câu hỏi lớn và

then chốt về nông nghiệp phát triển sao cho hi ệu quả, bền vững và khả thi. Luận án

không chỉ gắn kết nông nghi ệp với các mục tiêu xây d ựng, phát tri ển KT-XH của

tỉnh trong tương lai, mà còn đưa ra định hướng giúp cho nông nghi ệp của tỉnh tăng

trưởng ổn định, theo hướng bền vững, nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế cạnh tranh,

cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, phát tri ển nông nghi ệp đồng bộ, thúc đẩy liên kết

vùng và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Với tinh thần như vậy, luận án tập trung

18

làm rõ mức độ tác động đến NNPTTHBV của tỉnh trong th ời gian qua, c ả ưu điểm

và hạn chế yếu kém trên ba ph ương diện: thực trạng của nền NNPTTHBV về KT-

XH-MT. Từ đó đưa ra nh ững dự báo đối với NNPTTHBV ở tỉnh Cà Mau đến năm

2025 trên cơ sở những quan điểm, phương hướng, mục tiêu và một số giải pháp cụ

thể nhằm hướng đến một nền NNPTTHBV ở một tỉnh có lợi thế và ti ềm năng dồi

dào cả ngư, nông, lâm nghi ệp; có cả hệ sinh thái m ặn và ng ọt; có cả rừng và bi ển;

có cả nuôi trồng, đánh bắt và chế biến…với những đóng góp của luận án, cho chúng

ta th ấy được bức tranh toàn c ảnh về nông nghi ệp của tỉnh Cà Mau m ột vùng đất

giàu tiềm năng phát triển này.

Cà Mau là m ột tỉnh cực Nam Tổ quốc, tuy có ngu ồn tài nguyên, thiên nhiên

khá phong phú, d ồi dào, nh ưng ngành nông nghi ệp của tỉnh hiện tại vẫn còn ch ậm

phát triển, có nhi ều yếu tố thiếu ổn định, chưa bền vững, thì vi ệc nghiên cứu thúc

đẩy nền nông nghi ệp của tỉnh phát tri ển theo h ướng bền vững là r ất cần thi ết. Vì

vậy, lựa chọn nghiên cứu của Nghiên cứu sinh mong đóng góp một phần nhỏ bé vào

nỗ lực phát tri ển KT-XH của địa phương trên cơ sở khai thác ti ềm năng, thế mạnh

về nông nghiệp của tỉnh.

19

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

2.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ NÔNG

NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

2.1.1. Khái quát chung về phát triển bền vững

2.1.1.1. Khái niệm về phát triển bền vững

Ngày nay, trên bình diện toàn thế giới hay tại mỗi khu vực và ở mỗi quốc gia

xuất hiện biết bao vấn đề bức xúc mang tính ph ổ biến. Kinh tế càng tăng trưởng thì

tình trạng khan hi ếm các lo ại nguyên li ệu, năng lượng do sự cạn kiệt các nguồn tài

nguyên không tái t ạo được ngày càng t ăng thêm, môi tr ường thiên nhiên càng b ị

hủy hoại, cân bằng sinh thái b ị phá vỡ, dẫn tới "sự trả thù" của thiên nhiên gây ra

những thiên tai vô cùng th ảm khốc. Đó là sự tăng trưởng kinh tế không cùng nh ịp

với tiến bộ và phát triển xã hội, đôi khi ngược chiều với phát triển xã hội. Cụ thể là,

có tăng tr ưởng kinh t ế nh ưng không có ti ến bộ và công b ằng xã h ội; tăng tr ưởng

kinh tế theo hướng CNH, đô thị hóa, dẫn tới làm méo mó nông thôn; t ăng trưởng

kinh tế nhưng thu nh ập của người lao động không tăng; tăng trưởng kinh tế nhưng

văn hóa, đạo đức bị suy đồi; tăng trưởng kinh tế lại làm dãn cách h ơn sự phân hóa

giàu nghèo trong xã hội, dẫn tới sự bất ổn trong xã hội và điều này đã trở thành một

trong những vấn đề nóng bỏng ở nhiều quốc gia. Vậy nên, quá trình phát triển có sự

điều tiết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm bình ổn xã hội và bảo vệ môi

trường đang trở thành yêu c ầu bức thiết đối với toàn th ế giới. Theo đó, chiến lược

PTBV ra đời và trở thành chiến lược phát triển toàn cầu những năm cuối của thế kỷ

20 và đang tiếp tục là chiến lược phát triển toàn cầu trong thế kỷ 21.

Mặc dù chi ến lược phát tri ển toàn cầu xuất hiện từ những năm cuối của thế

kỷ 20, song thu ật ngữ "phát tri ển bền vững" là một khái ni ệm dần được hình thành

từ thực tiễn đời sống xã hội và có tính t ất yếu. Tư duy về PTBV manh nha trong c ả

quá trình sản xuất xã hội và bắt đầu từ việc nhìn nh ận tầm quan tr ọng của bảo vệ

môi trường và tiếp đó là nh ận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn trong xã

hội. Chính vì th ế, năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của

Liên hợp quốc được tổ chức ở Ri-ô đơ Gia-nê-rô đề ra Ch ương trình ngh ị sự toàn

cầu cho th ế kỷ XXI, theo đó, PTBV được xác định là: Một sự phát tri ển thỏa mãn

20

những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm h ại đến khả năng đáp ứng những

nhu cầu của thế hệ tương lai. Theo đó, ba trụ cột PTBV được xác định là: Thứ nhất,

bền vững về mặt kinh tế, hay phát tri ển kinh tế bền vững là phát tri ển nhanh và an

toàn, chất lượng; Thứ hai, bền vững về mặt xã hội là công bằng xã hội và phát triển

con người, ch ỉ số phát tri ển con ng ười (HDI) là tiêu chí cao nh ất về phát tri ển xã

hội, bao gồm: thu nh ập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo d ục, sức khỏe,

tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh; Thứ ba, bền vững về sinh thái môi

trường là khai thác và s ử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, b ảo vệ môi trường và

cải thiện chất lượng môi trường sống.

Cho tới nay, quan ni ệm về PTBV trên bình di ện qu ốc tế có được sự th ống

nhất chung và mục tiêu để thực hiện PTBV trở thành mục tiêu thiên niên kỷ.

Ở Việt Nam, ch ủ đề PTBV cũng đã được chú ý nhi ều trong gi ới nghiên cứu

cũng như những nhà hoạch định đường lối, chính sách. Quan niệm về PTBV thường

được tiếp cận theo hai khía cạnh: Một là, PTBV là phát triển trong mối quan hệ duy

trì nh ững giá tr ị môi tr ường sống, coi giá tr ị môi tr ường sinh thái là m ột trong

những yếu tố cấu thành nh ững giá trị cao nh ất cần đạt tới của sự phát tri ển. Hai là,

PTBV là s ự phát tri ển dài h ạn, cho hôm nay và cho mai sau; phát tri ển hôm nay

không làm ảnh hưởng tới mai sau.

Trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, PTBV được định nghĩa: "Phát

triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm

tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp

chặt chẽ, hài hòa gi ữa tăng trưởng kinh t ế, bảo đảm tiến bộ xã h ội và b ảo vệ môi

trường" [74]. Đây là định nghĩa có tính t ổng quát, nêu b ật những yêu c ầu và mục

tiêu trọng yếu nhất của PTBV, phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam.

Từ nội hàm khái ni ệm PTBV, rõ ràng là, để đạt được mục tiêu PTBV c ần

giải quyết hàng loạt các vấn đề thuộc ba lĩnh vực là KT-XH-MT.

Thứ nhất, bền vững kinh t ế. Mỗi nền kinh t ế được coi là b ền vững cần đạt

được những yêu cầu sau:

- Có t ăng tr ưởng GDP và GDP/ng ười đạt mức cao. N ước phát tri ển có thu

nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng, nước càng nghèo, có thu nhập thấp càng

phải tăng trưởng mức độ cao. Các nước đang phát triển trong điều kiện hiện nay cần

tăng tr ưởng GDP vào kho ảng 5%/n ăm thì m ới có th ể xem có bi ểu hi ện PTBV v ề

kinh tế.

21

- Trường hợp có tăng trưởng GDP cao nh ưng mức GDP/người thấp thì vẫn

coi là chưa đạt yêu cầu PTBV.

- Cơ cấu GDP cũng là vấn đề cần xem xét. Chỉ khi tỷ trọng công nghiệp và dịch

vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạt được bền vững.

- Tăng trưởng kinh tế phải là tăng trưởng có hi ệu quả cao, không ch ấp nhận

tăng trưởng bằng mọi giá.

Thứ hai, bền vững về xã hội. Tính bền vững về phát triển xã hội ở mỗi quốc

gia được đánh giá bằng các tiêu chí, như HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu

về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa. Ngoài ra, b ền vững về xã hội

là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có s ự bình đẳng giữa các giai t ầng trong xã

hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không cao quá và có xu h ướng

gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn.

Thứ ba, bền vững về môi tr ường. Quá trình CNH, H ĐH, phát tri ển nông

nghiệp, du l ịch; quá trình đô th ị hóa, xây d ựng NTM,... đều tác động đến môi

trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên. Bền vững về

môi trường là khi s ử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lượng môi tr ường sống của

con ng ười ph ải được bảo đảm. Đó là b ảo đảm sự trong s ạch về không khí, n ước,

đất, không gian địa lý, cảnh quan. Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi

trọng và th ường xuyên được đánh giá ki ểm định theo nh ững tiêu chu ẩn qu ốc gia

hoặc quốc tế.

2.1.1.2. Sự hình thành lý thuyết về phát triển bền vững

Cu ộc cách m ạng công nghi ệp vào đầu th ế kỷ XVIII, đặc bi ệt là cu ộc cách

mạng khoa học và công nghệ từ giữa thế kỷ XX cho đến nay, vấn đề phát triển có một

nội dung thuần túy kinh tế. Cùng với sự phát triển của xã hội, các nhu cầu về vật chất

ngày càng tăng, con người đã tìm nhiều biện pháp thúc đẩy sản xuất, các chính sách KT-

XH, mở mang quốc gia đã có sự quan tâm đặc biệt đến các vấn đề về đầu tư, sản xuất,

tăng trưởng kinh tế đã trở thành mục tiêu trung tâm, ưu tiên hàng đầu trong chiến lược

phát triển của các quốc gia trên thế giới. Lúc bấy giờ phát triển kinh tế (développement

économique) đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế (croissance économique), không có sự

phân biệt, cân nhắc hoặc so sánh giữa phẩm và lượng trong công cuộc mở mang quốc

gia. Riêng đối với các nước chậm tiến có nền kinh tế lạc hậu thì được xem như chỉ có

nhu cầu gia tăng sản xuất, xúc tiến các chương trình nhằm các mục tiêu vừa kể. Kinh tế

22

thế giới lúc bấy giờ tiến lên trong khuôn khổ các chính sách và kế hoạch dựa trên lý luận

kinh tế máy móc, một chiều, hẹp hòi và phiến diện.

Cùng v ới sự phát tri ển kinh tế nhanh chóng thì môi tr ường thiên nhiên c ũng

đang bị tàn phá nghiêm tr ọng. Tr ước nguy c ơ, hi ểm họa ngu ồn tài nguyên thiên

nhiên bị khai thác c ạn ki ệt, tiêu dùng hoang phí, ch ất th ải bừa bãi, t ất cả để đuổi

theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế, thì môi trường tự nhiên đã bị xâm hại, tổn thương

nghiêm trọng. Một khuynh hướng cực đoan chủ trương giảm đến mức tối đa sự tác

động của con người lên tự nhiên đã xuất hiện. Ý tưởng này cho rằng, để bảo vệ môi

trường bằng cách con ng ười không tác động vào tự nhiên. Đây là một ý tưởng hoàn

toàn ảo tưởng, bởi con người không thể chấp nhận một hệ số phát triển bằng không.

Đây là một phản ứng tiêu cực, một sự lựa chọn bế tắc của cuộc sống chính sự tác

động của con người vào thiên nhiên mang lại.

Một khuynh hướng khác cũng hết sức sai lầm, cho rằng cần tăng trưởng kinh

tế trước rồi mới quan tâm bảo vệ môi trường. Nói theo y h ọc, có nghĩa là "bệnh rồi

mới chữa" chứ không phải "phòng bệnh hơn chữa bệnh". Ngược dòng thời gian, có

thể thấy các nhà kinh t ế học như Malthus, D.Ricardo đều có chung quan điểm với

các nhà bảo vệ môi trường đầu tiên ở châu Âu, châu M ỹ và tất cả họ đều có chung

quan điểm là cần tiết kiệm tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên. Song không ít qu ốc

gia, đặc biệt là ở các nước chậm phát triển và đang phát triển, mục tiêu tăng trưởng

kinh tế vẫn chiếm vị trí ưu tiên hơn so với mục tiêu bảo vệ môi tr ường và sử dụng

hợp lý ngu ồn tài nguyên thiên nhiên. B ởi tại các qu ốc gia này gi ải quyết việc làm,

giảm nghèo đói, cải thi ện đời sống ng ười dân, xây d ựng ti ềm lực kinh t ế cho đất

nước vẫn là việc làm chính đáng và cấp thiết.

Vào đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, trước việc sử dụng quá mức tài nguyên

thiên nhiên ph ục vụ cho CNH c ủa nhi ều nước trên th ế gi ới đã hình thành nhi ều

trường phái nghiên c ứu về sự PTBV. Th ực tế đó đã tạo ra sự lo ng ại về triển vọng

phát triển của con ng ười ở hiện tại và tương lai, đã làm cho nh ận thức về tự nhiên,

mối quan hệ giữa tự nhiên với xã hội và con ng ười có nh ững thay đổi. Trong công

trình nghiên cứu của mình, GS. TS Holger Rogall l ấy trường phái định hướng kinh

tế làm tr ọng tâm. Trong khi đó, trường phái Tân c ổ điển coi kinh t ế môi tr ường là

một phần của khoa học bền vững. Còn Câu lạc bộ La Mã (Club de Rome) đã đề cao

quan điểm "Giới hạn của tăng trưởng" đề nghị một hướng đi mới cho sự phát tri ển

và có nh ững nhận thức chính đáng, những nhận định xác th ực về tổ chức kinh tế,

23

đời sống xã hội nên đã có nh ững ảnh hưởng nhất định trong việc cảnh tỉnh thế giới

về nh ững vấn đề liên quan t ới môi tr ường - môi sinh. Câu l ạc bộ La Mã đề ngh ị

chính sách "không t ăng tr ưởng" (croissance zéro) v ới lý do t ăng tr ưởng kinh t ế

nghịch với bảo vệ môi tr ường - môi sinh. Khi Maurice Strong t ổ chức hội thảo với

chủ đề "Phát tri ển và môi tr ường" thì nh ững vấn đề về PTBV bắt đầu thu hút được

sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới.

Tháng 6 n ăm 1972, tuyên bố Stockholm về "Môi trường con người" nêu rõ: Bảo

vệ và cải thiện môi trường là vấn đề lớn có ảnh hưởng tới phúc lợi của mọi dân tộc và

phát triển kinh tế trên toàn thế giới. Đó là khao khát khẩn cấp của các dân tộc trên thế

giới và nhi ệm vụ của mọi chính ph ủ. Điều đó đã cho th ấy thiên nhiên không ph ải là

nguồn của cải vô tận, sẵn có và phục vụ con người vô điều kiện. Con người đã nhận ra

rằng, tự nhiên là thể thống nhất, nhưng nó có giới hạn và sức chịu đựng nhất định trước

con người chứ không phải là vô hạn. Cho nên, bên cạnh việc khai thác tự nhiên phục vụ

cho lợi ích con người thì con người phải biết bảo vệ và cải thiện để nâng cao chất lượng

do tự nhiên ban tặng, nghĩa là phải biết "chung sống hài hòa" với tự nhiên.

Mỗi giai đoạn lịch sử, tư tưởng về phát PTBV ngày càng định hình rõ nét

hơn và thu ật ng ữ ‘Phát tri ển bền vững" lần đầu tiên được sử dụng trong ấn ph ẩm

"Chiến lược bảo tồn thế giới" do Hi ệp hội Bảo tồn thiên nhiên và Tài nguyên thiên

nhiên thế giới phát hành. Chi ến lược này cho r ằng, muốn phát tri ển bền vững cần

tính đến những yếu tố KT - XH - MT.

Chi ến lược "phát tri ển tôn tr ọng môi sinh" b ị các nước đã phát tri ển và giàu

có chống đối mạnh mẽ, bởi vậy cuối cùng hội nghị chỉ thảo luận vấn đề ô nhiễm và

kết thúc với sự tán đồng quan điểm rằng có mối liên hệ và ảnh hưởng tương hỗ giữa

nếp sống của loài ng ười với môi tr ường-môi sinh, gi ữa phát tri ển KT-XH v ới bảo

tồn tài nguyên và ổn định thiên nhiên. Ngoài ra, các n ước cũng thỏa thuận và cam

kết hành động để bảo vệ môi trường - môi sinh và thành l ập những cơ quan quốc tế

và quốc gia có nhi ệm vụ bảo vệ môi tr ường - môi sinh. M ặc dù đề nghị "phát tri ển

tôn trọng môi sinh" không được chấp thuận, nhưng nó đã đánh dấu một bước tiến

quan trọng hướng tới sự khai sinh khái niệm "phát triển bền vững".

Vào đầu những năm 1980, Liên hi ệp Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên là t ổ chức

đã đề khởi khái niệm PTBV. Năm 1981, Robert Riddell đã mô tả PTBV gồm ba yếu

tố cơ bản là: bình đẳng kinh tế, hài hòa xã hội, môi trường cân bằng. Đến năm 1987,

khái niệm PTBV do Ủy ban Th ế giới về Môi tr ường và Phát tri ển đưa ra đã nhận

24

được sự đồng thuận cao từ nhiều quốc gia, các tổ chức môi trường và các nhà khoa

học trên thế giới. Năm 1992 tại Rio de Janeiro, Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất đã

chính thức hóa sự đồng lòng th ỏa thuận của các nước hội viên Liên Hi ệp Quốc về

một chương trình ngh ị sự PTBV gọi là Agenda 21. M ười năm sau, vào n ăm 2002,

Liên Hiệp Quốc đã tổ chức một hội nghị khác tại Johannesburg với tên gọi là "H ội

nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững". Hội nghị Johannesburg đã xác

định phải xúc ti ến và th ực hiện Agenda 21 và đã đề ra các m ục tiêu cho thiên niên

kỷ 21. Theo đó, Hội nghị nhấn mạnh đến việc thiết lập cam kết giữa các chính ph ủ

trên toàn thế giới, nhằm thực hiện kế hoạch Johannesburg.

Trên đây là những tư tưởng tiên phong quan trọng về PTBV, ngoài ra còn có thể

kể đến các tư tưởng khác ở những mức độ khác nhau hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp cũng

có những luận bàn xoay quanh chủ đề phát triển bền vững, chẳng hạn như: Kinh tế sinh

thái, Kinh tế môi trường thế hệ mới, Sinh thái học công nghiệp…là những phương án đối

sánh, cung cấp những đóng góp quan trọng cho khoa học PTBV.

2.1.1.3. M ột số mô hình về phát triển bền vững

Theo Jacobs và Sadler (1990) PTBV là k ết quả dung hòa và thỏa hiệp của ba

hệ thống chủ yếu của thế giới, đó là hệ thống tự nhiên (bao gồm: các hệ sinh thái tự

nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các thành ph ần môi tr ường của trái đất); hệ thống

kinh tế (bao gồm: sản xuất và phân ph ối sản phẩm) và hệ thống xã hội (bao gồm:

Hệ kinh tế

Hệ PTBV

Hệ xã hội

Hệ môi trường

quan hệ con ngýời trong xã hội).

Hình 2.1: Tương tác giữa ba hệ thống kinh tế - xã hội - môi trường

và phát triển bền vững

Nguồn: [60].

25

Theo Hội ngh ị về Môi tr ường Phát tri ển Liên hi ệp qu ốc (UNCED) v ề mô

hình PTBV (1992) nh ấn mạnh các mục tiêu kinh t ế (bao g ồm: nâng cao thu nh ập

của người dân, phát tri ển các ngành kinh t ế và GDP, GNP); m ục tiêu xã h ội (bao

gồm: thỏa mãn các nhu c ầu của con người); mục tiêu môi trường (bao gồm: giữ lâu

dài cân bằng của môi trường sinh thái nuôi dưỡng sự sống) thay cho các hệ KT-XH-

MT. Mô hình này không th ể hiện rõ sự tương tác, phụ thuộc và tính liên kết của các

mục tiêu PTBV.

Ủy ban Môi tr ường và Phát tri ển th ế gi ới (WCED) (1993) đã mở rộng các

lĩnh vực về PTBV bao gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, hành chính, công

nghệ, sản xuất và quốc tế. Thực chất mô hình này xem xét PTBV c ủa một quốc gia,

trước hết phải đảm bảo sự phát tri ển hài hòa c ủa các yếu tố trên, sau đó phải được

xem xét trong s ự PTBV c ủa th ế gi ới và do v ậy, ch ịu sự tác động bởi các y ếu tố

mang tính quốc tế.

Mohan Munasinghe (1993) đưa ra mô hình PTBV còn được gọi là mô hình

ba cực. Một là, cực kinh tế, thể hiện khả năng phát tri ển kinh tế của một quốc gia

dựa trên các yếu tố nguồn nhân lực, vật lực và tài l ực. Hội đủ ba yếu tố này và k ết

hợp một cách hiệu quả là vấn đề rất khó khăn, cần phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế

hiệu quả và ổn định. Hai là, cực xã hội, thể hiện sự phát triển kinh tế phải gắn liền

với sự phát tri ển xã hội, bảo đảm nâng cao ch ất lượng cuộc sống cho tất cả người

dân. Ba là , cực môi tr ường, yêu c ầu quá trình phát tri ển của loài ng ười ph ải coi

trọng và bảo vệ có hiệu quả môi trường chung của thế giới.

Prsscott Allen (1995) v ới mô hình "quả trứng" nhấn mạnh đến tính bền vững

của xã hội. Mô hình này mô t ả rằng hệ con người nằm trong hệ sinh thái gi ống như

lòng đỏ quả trứng nằm bên trong lòng tr ắng của một quả trứng. Quả trứng tốt khi

lòng đỏ và lòng trắng đều tốt cũng như một xã hội bền vững khi cả hai hệ con người

và hệ sinh thái được cải thiện và đảm bảo. Đều đó có ngh ĩa là hệ con ng ười và hệ

sinh thái đều quan trọng như nhau trong điều kiện PTBV.

Hodge (1993,1995) đề xuất mô hình "Trình tự đánh giá tiến bộ về bền vững".

Mô hình này xây dựng dựa trên quá trình trả lời 4 câu hỏi thể hiện mối quan hệ giữa

điều kiện sinh thái với điều kiện con người, đó là: điều kiện hệ sinh thái hiện tại như

thế nào, đã có những thay đổi gì và nguyên nhân d ẫn đến sự thay đổi đó; điều kiện

con người hiện tại như thế nào, đã có những thay đổi gì và nguyên nhân d ẫn đến sự

26

thay đổi đó; có thể đưa ra những kết luận gì về hiện trạng và những tiến bộ; (d) cần

Điều kiện hệ sinh thái

phải làm gì để đạt được những mục tiêu đặt ra?.

Tương lai

Tổng hợp

Điều kiện con người

Chiến lược

Hình 2.2: Mô hình trình tự đánh giá tiến độ về bền vững

Nguồn: [60].

Ở Việt Nam, từ năm 2004 đã xây dựng được chương trình PTBV (mang tên

AGENDA - 21). Mục tiêu tổng quát PTBV của Việt Nam là: Đạt được sự đầy đủ về

vật chất, sự giàu có v ề văn hóa và tinh th ần, sự bình đẳng của các công dân và s ự

đồng thuận của xã hội, sự hài hòa gi ữa con ng ười và tự nhiên; phát tri ển phải kết

hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát tri ển kinh tế, phát tri ển xã hội

và bảo vệ môi tr ường. Mục tiêu tổng quát cho th ấy, PTBV ở nước ta là v ấn đề cốt

lõi, trung tâm của sự kết hợp một cách hài hòa c ả ba mặt tăng trưởng kinh tế, công

bằng xã hội và bảo vệ môi tr ường. Theo đó, mục đích cuối cùng của PTBV là ch ất

lượng cuộc sống người dân được cải thiện ngày càng tốt hơn.

Nh ư vậy, trong tiến trình phát tri ển, PTBV đã được tiếp cận với đa dạng các

mô thức khác nhau. Song, vấn đề cốt lõi của hầu hết các mô thức PTBV đã được đề

cập là sự kết hợp hài hòa của ba nhân tố chính: KT-XH-MT [57].

2.1.2. Khái niệm, đặc điểm nông nghiệp phát triển bền vững

2.1.2.1. Khái niệm nông nghiệp phát triển bền vững

Nông nghi ệp xu ất hi ện từ rất sớm trong đời sống xã h ội loài ng ười. Trong

suốt một th ời gian dài l ịch sử nhân lo ại, ở ph ương Đông cũng nh ư ph ương Tây,

nông nghi ệp là m ột ngành c ực kỳ quan tr ọng, không m ột ngành nào có th ể sánh

được. Ngày nay, nông nghi ệp không còn có được vị trí nh ư tr ước nữa và c ũng là

ngành có trình độ phát triển thấp kém hơn so với một số ngành khác trong n ền kinh

tế. Song với mọi quốc gia ở mọi trình độ phát tri ển, nông nghi ệp và các s ản phẩm

27

của nó luôn đóng một vai trò quan trọng - là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định

sự tồn tại, phát tri ển của con ng ười và phát tri ển KT-XH c ủa mỗi qu ốc gia. Th ực

tiễn lịch sử phát triển của các quốc gia trên th ế giới cũng đã chứng thực rằng chỉ có

thể phát tri ển kinh tế một cách nhanh chóng, ch ừng nào qu ốc gia đó đã có an ninh

lương thực. Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có s ự ổn định chính trị

và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh t ế cho sự phát tri ển, từ đó sẽ làm cho các

nhà kinh doanh không yên tâm b ỏ vốn vào đầu tư dài h ạn. Vì v ậy, phát tri ển nền

nông nghiệp trong hiện tại vẫn là đòi hỏi thiết yếu của hầu hết các quốc gia trên thế

giới. Tuy nhiên, do nh ững yêu cầu ngày càng gay g ắt trong việc bảo vệ môi trường

đất, nguồn tài nguyên nước và điều kiện để canh tác trong sản xuất nông nghiệp nên

ngày nay nông nghiệp cần phải phát triển theo hướng bền vững.

Trong những thập niên cu ối của thế kỷ 20, nh ững vấn đề đặt ra ch ủ yếu của

sản xuất nông nghiệp là: bảo vệ môi trường đất, nguồn tài nguyên nước và điều kiện

để canh tác bền vững. Mục đích của NNPTBV là kiến tạo một hệ thống bền vững về

sinh thái, có ti ềm lực về kinh t ế, có kh ả năng tho ả mãn nh ững nhu c ầu của con

người mà không huỷ diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường.

Do tầm quan trọng của nông nghiệp trong phát triển của mỗi quốc gia, nên phát

triển nông nghiệp nói chung, NNPTBV nói riêng luôn nhận được sự quan tâm sâu rộng

của cộng đồng xã hội. Mặc dù vậy, do phương diện tiếp cận khác nhau, điều kiện thực

tiễn khác nhau mà hiện vẫn chưa có sự đồng thuận cao về khái niệm NNPTBV.

Chẳng hạn, TAC/CGIARC (Ban c ố vấn kỹ thu ật thu ộc nhóm chuyên gia

quốc tế về nghiên c ứu nông nghi ệp của Liên hi ệp qu ốc) đã định ngh ĩa NNPTBV

như sau: NNPTBV ph ải bao hàm s ự qu ản lý thành công tài nguyên thiên nhiên

nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và

gìn gi ữ được tài nguyên thiên nhiên. Hay theo quan ni ệm của FAO (1992),

NNPTBV là quá trình qu ản lý và duy trì s ự thay đổi về tổ chức, kỹ thuật và thể chế

cho nông nghi ệp phát tri ển nh ằm đảm bảo th ỏa mãn nhu c ầu ngày càng t ăng của

con người về nông phẩm và dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau.

Theo tổ chức về môi tr ường sinh thái th ế giới (WOED) cũng đã định nghĩa

NNPTBV như sau: NNPTBV là n ền nông nghi ệp thỏa mãn được các nhu c ầu của

thế hệ hiện nay mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau.

28

Trong mười năm trở lại đây, Việt Nam cũng đã có nhiều tác giả có công trình

nghiên cứu về NNPTBV. Trong s ố các công trình đã được công bố có th ể kể đến

nghiên cứu của tác gi ả Đỗ Kim Chung và c ộng sự (2009). Theo nhóm tác gi ả này:

NNPTBV là quá trình đảm bảo hài hòa ba nhóm m ục tiêu kinh t ế, xã h ội và môi

trường, thỏa mãn nhu cầu về nông nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp

ứng nhu cầu của tương lai. Hoặc nghiên cứu của tác giả Phạm Doãn (2005), tác giả này

cho rằng NNPTBV là quá trình đa chiều, bao gồm: (i) tính bền vững của chuỗi lương

thực (từ người sản xuất đến tiêu thụ, liên quan trực tiếp đến cung cấp đầu vào, chế biến

và thị trường); (ii) tính bền vững trong sử dụng tài nguyên đất và nước về không gian và

thời gian; (iii) khả năng tương tác thương mại trong tiến trình phát triển nông nghiệp và

nông thôn để đảm bảo cuộc sống đủ, an ninh lương thực trong vùng và giữa các vùng.

Trên bình di ện vĩ mô, Quy ết định số 153/QĐ-TTg ngày 17-8-2014 c ủa Thủ

tướng Chính phủ ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam -

Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam. Trong 8 n ội dung của chương trình này, có

nội dung thứ 4 đề cập đến vấn đề NNPTBV ở Việt Nam.

Từ nh ững quan ni ệm nêu trên cho th ấy nhi ều điểm phù h ợp với th ực ti ễn

Việt Nam, có th ể hiểu: NNPTBV là quá trình sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên

nhiên, phải bảo đảm được mục đích là kiến tạo một hệ thống bền vững KT-XH-MT,

nhằm thỏa mãn nhu cầu về phát triển nông nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả

năng đáp ứng nhu cầu của phát triển trong tương lai và được xã hội chấp nhận. Bền

vững về kinh tế, là sản xuất nông nghiệp hướng đến chuỗi giá trị, hiệu quả đạt cao, làm

ra nhiều sản phẩm có ch ất lượng, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, th ức ăn

chăn nuôi, dự trữ lương thực mà còn xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Bền vững về xã

hội, là một nền nông nghiệp PTBV phải đảm bảo cho người nông dân có đầy đủ công

ăn việc làm, có thu nhập ổn định, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng

lên. Bền vững về môi trường, là mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp không hủy hoại

nguồn tài nguyên thiên nhiên và không gây ô nhiễm môi trường.

Đối với từng địa phương, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và

đặc thù của lĩnh vực nông nghi ệp để hướng đến nền NNPTBV trên c ơ sở phát huy

hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương, vừa tuân thủ các yêu cầu ở từng mức

độ khác nhau c ủa nền nông nghi ệp xanh, nông nghi ệp sạch, thân thi ện với môi

trường sinh thái.

29

2.1.2.2. Đặc điểm nông nghiệp phát triển bền vững

Hoạt động sản xuất nông nghi ệp là nh ững tác động của con ng ười lên các đối

tượng thiên nhiên (cây trồng, đất đai...) để tạo ra các sản phẩm (nông sản) nhằm thỏa

mãn các nhu cầu của mình. Những tác động đó của con người nếu như phù hợp với các

quy luật khách quan của thiên nhiên sẽ thúc đẩy sự phát triển của thiên nhiên và tạo ra

nhiều sản ph ẩm có ích cho con ng ười. Ng ược lại, nếu nh ững tác động trong nông

nghiệp cũng như các tác động khác của con người trong các hoạt động sản xuất và đời

sống không phù hợp với các quy luật khách quan của tự nhiên thì thường gây ra những

hậu quả rất nghiêm trọng. Trong những trường hợp này, không những cố gắng của con

người không mang lại kết quả gì, mà nhiều khi còn gây ra những tác động nguy hiểm

đối với sức khỏe, nền an ninh và môi tr ường sống của con ng ười. Và nh ư th ế, con

người và môi trường sinh thái rơi vào tình trạng không an toàn. Cho nên, phải tiến hành

sản xuất nông nghiệp bền vững, nếu không muốn hứng chịu những phản ứng của thiên

nhiên. Những phản ứng này có khi rất lớn và rất nguy hiểm. Trong thực tế cuộc sống

những phản ứng của thiên nhiên được thể hiện ở các loại thiên tai như lụt lũ, hạn hán,

sâu bệnh phát sinh thành d ịch, ô nhi ễm môi tr ường sống, môi tr ường sinh thái

v.v...Cũng từ đó cuộc sống và các hoạt động sản xuất, đời sống, KT-XH của con người

rơi vào tình trạng gặp nhiều biến động, thiếu bền vững.

Vì vậy, sản xuất nông nghiệp bền vững không những hướng tới việc tạo ra các

sản phẩm lành, sạch không gây ra nh ững ảnh hưởng có hại cho sức khỏe người tiêu

dùng, mà c ần đảm bảo không ng ừng tăng năng su ất cây tr ồng, tăng năng su ất đất

đai, năng suất lao động và góp ph ần vào quá trình PTBV c ủa thiên nhiên và xã h ội.

Do đó, NNPTBV thể hiện qua mấy đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, NNPTBV phải đảm bảo nhịp độ tăng trưởng kinh tế ổn định, hiệu

quả, nâng cao chất lượng cuộc sống của khu vực nông nghiệp, nông thôn

Không chỉ riêng trong ngành nông nghi ệp, bất cứ ngành nào trong n ền kinh tế

quốc dân mục tiêu tăng trưởng cũng luôn đặt ở vị trí trung tâm và ph ải có sự quan

tâm đặc bi ệt. Đối với ngành nông nghi ệp, đảm bảo sự tăng tr ưởng ổn định có ý

nghĩa hết sức quan tr ọng, bởi nông nghi ệp là ngành cung c ấp toàn bộ lương thực,

thực phẩm phục vụ cho nhu c ầu tiêu dùng hàng ngày của con người. Hoạt động tiêu

dùng hàng ngày diễn ra liên tục với quy mô dân số ngày càng tăng đòi hỏi quá trình sản

xuất cũng phải có nhịp độ tăng tương ứng. Trước bối cảnh tình hình thế giới có nhiều

30

bất ổn, thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu gây hậu quả khó lường càng đặt ra cho

ngành nông nghiệp nhiều áp lực trong quá trình phát triển. Nếu như ngành nông nghiệp

không tăng trưởng hoặc tăng trưởng chậm hơn so với nhu cầu của con người thì sẽ dẫn

đến sự thiếu hụt lương thực, thực phẩm, sẽ đẩy toàn xã hội đến sự bất ổn.

Nhìn lại nền nông nghi ệp truyền thống, cho th ấy tốc độ tăng trưởng rất thấp,

thậm chí còn làm cho toàn bộ nền kinh tế rơi vào trì trệ, khủng hoảng. Cho nên, việc

đổi mới toàn bộ nền NNPTBV thì mục tiêu tăng trưởng kinh tế là một đặc điểm rất

cơ bản và quan trọng.

Tuy nhiên, không phải tăng trưởng bằng mọi giá nếu như chúng ta phải trả giá

quá đắt. Nói cách khác, tăng trưởng đó phải trên cơ sở hiệu quả, tăng trưởng chỉ thực

sự có ý nghĩa khi đảm bảo PTBV. Hiệu quả của nền NNPTBV thể hiện trên nhiều khía

cạnh khác nhau, nhưng tập trung nhất ở việc các sản phẩm nông nghiệp làm ra sử dụng

ít nhất các yếu tố đầu vào bao gồm cả các nguồn lực con người, kinh tế và tự nhiên. Có

nghĩa là tăng trưởng nông nghiệp là tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu.

Đặc điểm sản xu ất nông nghi ệp là ph ụ thu ộc rất lớn vào điều ki ện tự nhiên,

như thời tiết, khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng…Cho nên, sản xuất nông nghi ệp thường

rơi vào b ấp bênh, thi ếu ổn định. Đối với nền nông nghi ệp truy ền th ống, sản xu ất

dựa vào kinh nghi ệm, kỹ thuật lạc hậu, năng suất thấp, giá tr ị nông sản không cao.

Ngược lại, đặc điểm của nền nông nghiệp hiện đại, yếu tố ổn định, tăng trưởng, bền

vững luôn được đề cao, xem tr ọng. Th ực ra, NNPTBV đã bao hàm t ăng tr ưởng,

điều đó rất có ý ngh ĩa đối với phát tri ển KT-XH và nâng cao ch ất lượng cuộc sống

của khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Thứ hai, NNPTBV góp ph ần gi ải quyết có hi ệu quả các v ấn đề xã h ội trong

nông nghiệp, nông thôn

Thực tế cho thấy, hiện nay tình trạng đói nghèo, lạc hậu, thất nghiệp, phân hóa

giàu nghèo…t ồn tại ch ủ yếu ở nông thôn và chi ếm ph ần lớn tỷ lệ đói nghèo là

những ng ười tham gia vào ho ạt động sản xu ất nông nghi ệp và sinh s ống ở nông

thôn. Đặc biệt với một nền nông nghi ệp truyền thống lạc hậu rất khó để giải quyết

được vấn đề đói nghèo, đây là cái vòng l ẩn quẩn của đói nghèo - l ạc hậu - tàn phá

môi trường sống. Hiện thực này yêu c ầu với một nền NNPTBV cần đảm bảo: tăng

trưởng, ổn định, hiệu quả. Đây sẽ là cơ sở giải quyết vấn đề đói nghèo, lạc hậu, thất

nghiệp, bất bình đẳng trong nông nghi ệp, nông thôn. B ởi lẽ, suy đến cùng, khi

31

NNPTBV sẽ góp phần nâng cao vai trò làm ch ủ của người nông dân, các v ấn đề xã

hội ở nông thôn t ừng bước được giải quyết. Nông nghi ệp chậm phát tri ển thì nông

dân còn đói nghèo, y tế, giáo dục, an sinh xã hội không được đảm bảo, tệ nạn xã hội

gia tăng, năng lực ch ủ th ể của nông dân trong s ản xu ất nông nghi ệp và đời sống

nông thôn bị giảm sút. Với nền nông nghi ệp truyền thống vai trò ch ủ thể của nông

dân gần như không có hoặc có nhưng rất hạn chế, mờ nhạt, ngay cả những quyền ra

các quyết định liên quan trực tiếp đến bản thân.

Trong khi đó, để xây dựng một nền NNPTBV thì ng ười nông dân ph ải được

coi là ch ủ thể của quá trình s ản xuất và xây d ựng NTM. Ng ười nông dân n ắm giữ

quyền trong mọi khâu của quá trình sản xuất và tham gia, quyết định các vấn đề liên

quan đến đời sống cư dân nông thôn. N ền nông nghi ệp phát tri ển càng vững chắc,

trình độ ngày càng cao thì khi đó vai trò chủ thể của người nông dân càng được đảm

bảo ở mức cao nhất.

Một vấn đề khác của nông dân c ũng rất đáng được quan tâm hi ện nay, đó là

vấn đề sở hữu đất nông nghi ệp, tiếp cận nguồn tài nguyên và quy ền phân ph ối các

sản phẩm nông nghi ệp. Tình tr ạng người nông dân b ỏ đất, bán đất, mất đất do quá

trình đô thị hóa, mất tư liệu sản xuất có xu h ướng tăng dần. Tình tr ạng tích tụ, sở

hữu ruộng đất tập trung về một bộ phận người giàu đang đặt ra nhiều vấn đề không

chỉ đơn thu ần là kinh t ế mà còn n ảy sinh nhi ều vấn đề xã h ội; tình tr ạng bất cập

giữa trình độ và kh ả năng hạn chế trong ti ếp cận, khai thác ngu ồn tài nguyên thiên

nhiên đang là rào cản của sự phát triển; tình trạng mất mùa được giá, được mùa mất

giá cho th ấy quyền quyết định trong phân ph ối của người nông dân g ần như bằng

không. Cụ thể ở đây là sự phân phối không công bằng về mặt thu nhập. Phần giá trị

thuộc về nông dân trong tổng giá trị sản phẩm là rất thấp. Phần lớn những giá trị đó

lại thuộc về những chủ thể không trực tiếp tạo ra sản phẩm, đó là những tư thương,

người cung c ấp dịch vụ, doanh nghi ệp…Cho nên, thu nh ập của ng ười nông dân

không được đảm bảo thì khó có thể khuyến khích được việc mở rộng sản xuất, nâng

cao năng suất lao động. Đây là nguyên nhân làm n ảy sinh hàng lo ạt các mâu thu ẫn

trong xã hội, thậm chí làm kéo lùi nền sản xuất đi xuống.

Vì vậy, nền NNPTBV h ướng đến vi ệc làm cho m ọi ch ủ th ể được phân ph ối

thu nh ập công b ằng hơn. Không ch ỉ công b ằng trong thu nh ập mà còn công b ằng

trong việc tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên, công b ằng trong tiếp cận các dịch

32

vụ xã hội và đời sống nông thôn, liên quan tr ực tiếp đến các giá tr ị và sự phát triển

của con người.

Chúng ta hoàn toàn có quy ền hy v ọng ở th ời gian t ương lai, khi mà n ền

NNPTBV đạt được trình độ nhất định thì các vấn đề xã hội của nông nghiệp, nông thôn

được giải quyết tốt hơn, khi đó giá trị và mức sống của cư dân nông thôn đạt đến trình

độ cao, quyền làm chủ của nông dân được đảm bảo, chất lượng đời sống nông dân và

xã hội nông thôn sẽ là môi trường đáng sống, sẽ là sự lựa chọn của nhiều người.

Thứ ba, NNPTBV là một nền nông nghiệp sinh thái

Trong nền kinh tế quốc dân thì ngành nông nghiệp là ngành trực tiếp liên quan

đến môi trường sinh thái nhi ều nhất. Đặc điểm dễ thấy nhất ở một nền nông nghiệp

lạc hậu, đó là trình độ kỹ thuật thấp kém, ph ương thức canh tác th ủ công. Th ực tế

này đã làm cho môi tr ường thiên nhiên b ị tàn phá nghiêm tr ọng, cụ thể đó là tình

trạng di ện tích đất tr ồng cây nông nghi ệp, di ện tích r ừng bị thu h ẹp, thoái hóa,

nguồn lợi thủy sản cạn kiệt, môi trường ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng... Hiện

thực này là hệ lụy do chính con ng ười gây ra và l ại đang trực tiếp tác động đến đời

sống con ng ười. Cho nên, để có một nền NNPTBV tr ước hết phải xem xét l ại việc

khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có để thỏa mãn nhu cầu

con người mà không làm tổn hại cho thế hệ tương lai. Xã hội càng phát triển thì nhu

cầu về nông sản, thực phẩm ngày càng nhiều và yêu cầu ngày càng cao. Do đó, quá

trình tổ chức sản xuất nông nghi ệp phải dựa trên nh ững điều kiện tài nguyên thiên

nhiên hiện có. Hơn nữa, tài nguyên thiên nhiên không là vô t ận, nó rất có giới hạn.

Chính vì vậy, trong quá trình con ng ười tác động vào môi trường tự nhiên phải đảm

bảo sự cân bằng về môi tr ường sinh thái tr ước trong tương quan với những đòi hỏi

thỏa mãn nhu c ầu ngày càng cao c ủa con ng ười. Một đặc điểm nữa của quá trình

sản xuất nông nghiệp truyền thống lạc hậu là khai thác đồng nghĩa với ô nhiễm, hủy

hoại. Cho nên, một nền NNPTBV là ph ải ngăn chặn có hiệu quả việc ô nhiễm, lạm

dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp và bảo quản nông sản. Vấn đề không chỉ

ở nh ận th ức mà cách s ản xu ất, bảo qu ản, kinh doanh thi ếu chuyên nghi ệp, coi

thường sức khỏe người tiêu dùng không ch ỉ làm cho môi tr ường sống bị tổn hại mà

còn đe dọa trực tiếp đến tính mạng con người. Những hệ lụy của ô nhiễm, lạm dụng

hóa chất không th ể phát hi ện, ngăn chặn trong th ời gian ng ắn mà còn để lại những

hậu quả lâu dài. Do v ậy, xây dựng một nền nông nghi ệp thân thi ện với môi tr ường

33

sinh thái dưới sự hỗ trợ của yếu tố KH-KT nhằm đảm bảo tạo ra sản phẩm sạch, có

chất lượng cao, để lại cho thế hệ mai sau những điều tốt nhất [63].

2.2. NỘI DUNG, TIÊU CHÍ VÀ CÁC NHÂN T Ố ẢNH HƯỞNG ĐẾN NÔNG

NGHIỆP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

2.2.1. Nội dung nông nghiệp phát triển bền vững

Nội dung NNPTBV được th ể hi ện trên ba khía c ạnh sau: NNPTBV trên

phương diện kinh tế; NNPTBV trên ph ương diện xã hội và nông nghi ệp phát tri ển

theo hướng bền vững trên phương diện bảo vệ môi trường.

2.2.1.1. Nông nghi ệp phát triển bền vững trên phương diện kinh tế

Trên ph ương di ện kinh t ế, NNPTBV là n ền nông nghi ệp có t ốc độ tăng

trưởng cao, ổn định với cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hợp lý, hiện đại trên

cơ sở phát huy l ợi thế về những điều kiện tự nhiên (ch ất đất, khí hậu…), tập quán,

kinh nghiệm sản xuất, thị trường của nông nghiệp Việt Nam phù hợp với xu hướng

nông nghi ệp và th ị tr ường th ế gi ới. Do đó, NNPTBV trên ph ương di ện kinh t ế là

quá trình phát tri ển đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trên cơ sở chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tiến bộ và dựa vào năng lực nội sinh là

chủ yếu, tránh được suy thoái, đình trệ trong tương lai và không để lại tổn hại cho

các thế hệ mai sau. Vi ệc đầu tư và phát tri ển nói chung và đầu tư để NNPTBV nói

riêng phải đem lại lợi nhuận, gia tăng tổng sản phẩm của ngành trong n ền kinh tế

của qu ốc gia. Có nhi ều ph ương th ức đạt được mục tiêu t ăng tr ưởng kinh t ế nông

nghiệp, tuy nhiên không phải phương thức nào cũng dẫn tới tăng trưởng kinh tế cao,

ổn định và bền vững. Trong xã h ội phát tri ển, tăng trưởng kinh tế nông nghi ệp dựa

trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, CNH, HĐH là một xu thế

tất yếu. Chỉ dựa trên chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tiến bộ thì

mới đạt được tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và vững chắc. Nếu tăng trưởng kinh

tế dựa vào khai thác tài nguyên và bán nông s ản thô thì n ội bộ ngành không có s ự

tăng tr ưởng kinh t ế bền vững và s ẽ làm cho ngu ồn tài nguyên c ạn ki ệt, dẫn đến

nhiều hệ lụy khó lường về môi tr ường và các ảnh hưởng khác về mặt xã hội. Với

mọi quốc gia năng lực nội sinh luôn giữ vai trò chủ yếu để tăng trưởng kinh tế vững

bền, với từng lĩnh vực của nền kinh t ế cũng vậy và vì th ế lĩnh vực nông nghi ệp

không là ngo ại lệ. Điều đó có ngh ĩa rằng, khả năng bên trong, n ội tại, là th ế mạnh

mang tính ch ất tổng lực nội bộ ngành c ủa một quốc gia, nh ư: nguồn nhân lực, tài

34

nguyên thiên nhiên, đất đai, kết cấu hạ tầng, năng lực sáng tạo, KH - CN, m ức độ

tích lũy của mỗi quốc gia…tuy nhiên c ũng cần thiết phải kết hợp cả nguồn lực từ

bên ngoài. B ởi lẽ với một nền nông nghi ệp ch ậm phát tri ển, nội lực hạn ch ế, nên

nếu chỉ dựa vào nội lực thì th ực sự khó kh ăn để có sự bứt phá, nh ưng nếu chỉ dựa

vào nguồn lực bên ngoài thì n ền nông nghi ệp sẽ lại ở trạng thái dễ bị phụ thuộc, tỷ

lệ rủi ro cao, khả năng đề kháng trước những tác động tiêu cực sẽ không còn. Chính

vì thế, năng lực nội sinh của ngành, của quốc gia đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế

nông nghiệp bền vững. Ngược lại, nền NNPTBV sẽ góp phần làm cho năng lực nội

sinh của mỗi quốc gia trở nên mạnh mẽ.

Yếu tố kinh tế - Hiệu quả sản xuất nông nghiệp (Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp …) - Thu nhập và lợi nhuận cư dân nông nghiệp - Du lịch sinh thái kết hợp với nông nghiệp đô thị

Kinh tế

NNPTTHBV

Xã hội Môi trường

Yếu tố phúc lợi xã hội

Yếu tố môi trường và cảnh quan

- Bảo vệ môi trường (nước, không khí…) - Tạo cảnh quan nông thôn và đô thị

- Chất lượng thực phẩm - An toàn thực phẩm - An ninh lương thực - Chất lượng cuộc sống - Hoạt động giải trí, tiêu khiển

Hình 2.3: Khung lý thuyết về nông nghiệp phát triển bền vững

Nguồn: [103].

35

2.2.1.2. Nông nghi ệp phát triển bền vững trên phương diện xã hội

Nông nghiệp PTBV trên ph ương diện xã hội là quá trình phát tri ển vừa đảm

bảo được mục tiêu kinh t ế vừa đảm bảo được mục tiêu th ực hi ện ti ến bộ và công

bằng xã hội, đảm bảo cho mọi người đều có cơ hội học hành và có vi ệc làm, gi ảm

tình trạng đói nghèo, nâng cao trình độ dân trí, tạo sự đồng thuận và an sinh xã h ội.

NNPTBV hướng đến một xã h ội trong đó phát tri ển kinh t ế ph ải đi đôi với công

bằng xã hội, giáo dục, đào tạo, y tế; phúc lợi xã hội phải được chăm lo, các giá tr ị

về văn hóa, đạo đức của dân tộc và cộng đồng phải được bảo vệ và phát huy. Trong

xu thế hiện nay, giá trị của PTBV không bao giờ là một thể độc lập, mà là chuỗi giá

trị có sự gắn kết bền chặt giữa các thành t ố với nhau, trong đó, tăng trưởng kinh tế

là quan trọng và đặt ở vị trí trước nhất. Tăng trưởng kinh tế phải được gắn chặt với

giải quy ết vi ệc làm cho ng ười lao động, nh ất là lao động nông thôn. N ếu tăng

trưởng kinh t ế không đi đôi với gi ải quyết vi ệc làm, để tình tr ạng th ất nghi ệp gia

tăng thì không nh ững gây lãng phí ngu ồn nhân lực mà còn ti ềm ẩn nhiều hệ lụy xã

hội. Một khi nền NNPTBV đạt được những giá tr ị nhất định sẽ giúp cho ng ười lao

động có vi ệc làm ổn định, thì đói nghèo gi ảm, sẽ tạo ra động lực thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế, nguồn lực sản xuất, nguồn lực lao động sẽ phát tri ển cao hơn. Một

xã hội ổn định, phát tri ển hài hòa, đời sống dân cư nông thôn được đảm bảo là sự

phản ảnh sinh động nhất của chất lượng cuộc sống, giá trị của NNPTBV.

2.2.1.3. Nông nghi ệp phát triển bền vững trên phương diện môi trường

Nông nghi ệp PTBV trên ph ương diện môi tr ường là quá trình phát tri ển đạt

được tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, gắn với khai thác h ợp lý, sử dụng tiết kiệm,

có hi ệu qu ả tài nguyên thiên nhiên không làm suy thoái, h ủy hoại môi tr ường mà

còn nuôi dưỡng, cải thiện chất lượng môi trường.

Về ch ất lượng môi tr ường, trong NNPTBV đó là m ột tổng th ể nh ư môi

trường khí h ậu, th ổ nh ưỡng, nước, đất, gi ống, cảnh quan,… nhìn chung không b ị

các hoạt động của con ng ười làm ô nhi ễm; các ngu ồn phế thải phải được xử lý, tái

chế kịp thời. Để đạt được mục tiêu đó, tăng trưởng kinh tế trong nông nghi ệp phải

dựa trên c ơ sở khai thác h ợp lý, s ử dụng ti ết ki ệm, có hi ệu qu ả tài nguyên thiên

nhiên. Có ngh ĩa là ph ải có kế hoạch cân nh ắc, lựa chọn khi ra quy ết định khai thác

tài nguyên để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của cư dân nông thôn.

Xét về hiệu quả KT-XH và môi trường, tăng trưởng kinh tế không làm ô nhiễm, suy

thoái, hủy ho ại môi tr ường là yếu tố bền vững cần được bảo vệ, nếu tăng tr ưởng

36

kinh tế nhưng lại làm ô nhiễm, suy thoái, hủy hoại môi trường thì sẽ đe dọa trực tiếp

cuộc sống của thế hệ hiện tại và của các thế hệ tương lai. Cho nên, tăng trưởng kinh tế

phải gắn liền với nuôi dưỡng, cải thiện chất lượng môi trường để đáp ứng nhu cầu của

thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai.

2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến nông nghiệp phát triển bền vững

Nông nghiệp PTBV ch ịu tác động của nhiều nhân t ố, nhưng khái quát l ại có

bốn nhóm nhân tố chủ yếu sau: điều kiện tự nhiên; điều kiện KT-XH; các nhân tố tổ

chức - kỹ thuật; vai trò của Nhà nước, nông dân và các tổ chức hiệp hội.

2.2.2.1. Nhóm các nhân tố về điều kiện tự nhiên

Những nhân t ố nh ư điều ki ện đất đai, th ời ti ết, khí h ậu, ngu ồn nước, rừng,

khoáng sản, và các y ếu tố sinh h ọc khác… là nh ững nhân t ố thu ộc điều ki ện tự

nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển nông nghiệp bền vững, nhất là đối với các

nước trình độ công nghiệp hóa còn thấp, còn lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên.

Là ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào các yếu tố nh ư khí hậu, đất đai, nguồn

nước… nên có thể nói các nhân tố về điều kiện tự nhiên có tác động trực tiếp tới sự hình

thành, vận động và biến đổi ngành nông nghiệp. Trong các nội dung của NNPTBV đều

chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên. Môi trường sản xuất nông nghiệp cũng do

yếu tố tự nhiên quy định. Mỗi vùng nông nghiệp lại có đặc điểm về tự nhiên riêng, do đó

đặc điểm về xã hội, kết cấu xã hội cũng có những đặc thù riêng tương thích.

Điều kiện tự nhiên cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, nhất là ở những địa

phương thuần nông, nông nghi ệp là ngành chi ếm tỷ trọng lớn và ảnh hưởng rất lớn

đến các ngành khác. Đồng thời, các vùng kinh t ế có điều kiện tự nhiên khác nhau,

do đó quy mô của các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng) và trong

nội bộ ngành nông nghi ệp cũng khác nhau. Điều đó th ể hi ện rõ nét trong c ơ cấu

kinh tế nông nghi ệp giữa các vùng (đồng bằng, trung du, mi ền núi). Theo đó, vùng

có điều kiện tự nhiên thuận lợi có thể phát triển những ngành có lợi thế so với vùng

khác và ng ược lại. Đó là cơ sở tự nhiên để phát tri ển, khai thác các l ợi thế so sánh

của vùng. Sẽ là phát triển không bền vững, nếu không căn cứ vào điều kiện tự nhiên

để xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển.

2.2.2.2. Nhóm nhân tố về điều kiện kinh tế - xã hội

Nhóm nhân tố kinh tế - xã h ội ảnh hưởng tới NNPTBV gồm có: Th ị trường,

hệ thống chính sách v ĩ mô của Nhà nước, hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, mức

37

độ phát triển các khu công nghi ệp, đô thị, dân số, lao động bao gồm cả số lượng và

chất lượng.

Những nhân tố này với vị trí, vai trò c ủa mình đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc

gián ti ếp tới NNPTBV. N ếu th ị tr ường với nh ững nhu c ầu được xác định vừa là

mục tiêu vừa là động lực phát tri ển sản xuất, tác động mạnh mẽ đến sự phát tri ển

nông nghiệp và tính đa dạng của nhu cầu tác động mạnh đến sự biến đổi số lượng

và cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thì hệ thống chính sách vĩ mô của Nhà nước một mặt

điều chỉnh, hỗ trợ các hoạt động sản xuất nông nghiệp theo định hướng mục tiêu đã

lựa chọn, thì hệ thống này cùng v ới thị trường đảm bảo ở mức độ tối ưu nhất các

điều kiện phục vụ sản xuất nông nghi ệp, chẳng hạn, thông qua vi ệc hiện thực hóa

các chủ trương, chính sách và cụ thể hóa vai trò của mình, thị trường không chỉ thực

hiện chức năng tiêu th ụ sản phẩm mà còn th ực hiện chức năng thu hút các y ếu tố

đầu vào của quá trình sản xuất nông nghiệp như: vốn, lao động, vật tư, công nghệ…

đảm bảo sự vận hành của sản xuất nông nghiệp mang tính ổn định, bền vững.

Trong bối cảnh, sự vận hành nền kinh tế nông nghiệp không chỉ phụ thuộc vào

bản thân nền kinh tế quốc gia và cũng không đơn thuần chỉ là sự phát triển của riêng

ngành nông nghiệp thì ngoài ảnh hưởng của thị trường, của hệ thống chính sách vĩ mô

của Nhà nước còn có s ự ảnh hưởng từ những vận động phát triển của khu vực công

nghiệp nói chung, phát triển các cụm, khu công nghiệp nói riêng. Ảnh hưởng này có cả

mặt tích cực lẫn tiêu cực, chẳng hạn, phát triển của công nghiệp chế biến sẽ hỗ trợ đầu

ra cho nông nghi ệp, gia t ăng giá tr ị nông ph ẩm; song nếu sự phát tri ển khu công

nghiệp, chế xuất mà không gắn kết được với sự phát triển của nông nghiệp sẽ không

tạo ra những hỗ trợ cho nông nghiệp phát triển mà thậm chí còn có thể đưa đến những

hệ lụy mà những hệ lụy đó có thể tác động ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp như

phát thải công nghiệp làm ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp.

Nông nghiệp là lĩnh vực chậm phát triển, ngoài những nguyên nhân mang tính

chất đặc thù của ngành còn có nh ững nguyên nhân khác, trong đó nổi bật là nguyên

nhân liên quan đến kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghi ệp. Do nông nghi ệp thường

phát triển trên một không gian r ộng lớn, trong không gian đó, những chi phí đầu tư

cho phát tri ển hệ thống hạ tầng là rất khó kh ăn, trong khi ngu ồn lực trong lĩnh vực

nông nghiệp là hạn chế. Vậy nên, vốn đã lạc hậu hơn so với những lĩnh vực khác,

lại cộng thêm nh ững hạn chế về hạ tầng, tất yếu hiệu quả sản xuất nông nghi ệp sẽ

38

khó có thể đạt được như kỳ vọng. Vì vậy, để PTBV, tất yếu phải phát triển hệ thống

kết cấu hạ tầng bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng KT-XH.

2.2.2.3. Nhóm nhân tố về tổ chức - kỹ thuật

Các nhân tố tổ chức - kỹ thuật gồm các hình th ức tổ chức sản xuất trong nông

nghiệp, sự phát tri ển khoa học - công ngh ệ (KH-CN) và vi ệc áp dụng KH-KT vào

sản xu ất. Vậy nên, s ự tồn tại, vận động và bi ến đổi của nông nghi ệp được quy ết

định bởi sự tồn tại và hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp. Các chủ

thể kinh t ế trong nông nghi ệp tồn tại và ho ạt động qua các hình th ức tổ ch ức sản

xuất với các mô hình tổ chức thích ứng. Do đó, các hình thức tổ chức sản xuất trong

nông nghiệp là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới NNPTBV.

Hiện nay, KH-CN đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sự phát tri ển của

KH-CN và việc ứng dụng vào sản xuất đã trở thành động lực mạnh mẽ để phát triển

xã hội nói chung, nông nghi ệp nói riêng. Vì ti ến bộ KH-CN và ứng dụng vào sản

xuất một mặt làm xu ất hiện nhiều nhu cầu mới, làm thay đổi tốc độ phát tri ển các

ngành; mặt khác, t ạo ra kh ả năng mở rộng sản xuất, chuyên môn hóa cao và phát

triển những ngành nghề đòi hỏi trình độ cao, tốn ít nguyên liệu, nhiên liệu và giảm ô

nhiễm hơn. Do đó, để NNPTBV cần tính tới nhân tố tổ chức - kỹ thuật.

2.2.2.4. Vai trò của Nhà nước, nông dân và các tổ chức hiệp hội, đoàn thể

Nông nghiệp là một ngành kinh t ế, để ngành kinh t ế vận hành ngoài ch ủ th ể

nông dân trực tiếp tham gia các hoạt động kinh tế trong đó, còn có các nhân tố khác

cũng có ảnh hưởng không nh ỏ tới ho ạt động kinh t ế nói chung, phát tri ển kinh t ế

nông nghiệp nói riêng, đó là chủ thể Nhà nước và các tổ chức hiệp hội.

Nhà nước là ng ười ho ạch định chính sách phát tri ển toàn di ện của đất nước

trong đó có chính sách phát tri ển nông nghi ệp. Các chính sách trong l ĩnh vực nông

nghiệp phải phù hợp với thực tiễn, có tác d ụng khuyến khích sản xuất, kinh doanh

và xuất khẩu đối với từng mặt hàng nông sản cụ thể như: Gạo, muối, đường, rau quả

sạch… Có ưu đãi về phí s ử dụng đất, thu ế giá tr ị gia t ăng, thu ế thu nh ập doanh

nghiệp nhằm khuyến khích các doanh nghi ệp đầu tư vào nông nghi ệp, nông thôn,

nhất là nh ững dự án nông nghi ệp công ngh ệ cao, d ự án ch ế bi ến nh ững nông s ản

thực phẩm, dự án tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập trong nông nghiệp, nông thôn...;

rà soát, loại bỏ những lệ phí, những khoản đóng góp chưa hợp lý.

Nếu các chính sách c ủa Nhà nước là ch ủ quan duy ý chí s ẽ gây ra nh ững tổn

thất to lớn không lường trước được. Trong nông nghi ệp, chính sách không phù h ợp

39

sẽ làm cho nó không có điều kiện phát triển, tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất sẽ

bị bỏ hoang, nông dân không thi ết tha đầu tư, tài nguyên thiên nhiên không được

quản lý, sử dụng có hiệu quả, tất yếu dẫn đến khủng hoảng kinh tế, gây mất ổn định

xã hội. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách đúng đắn, phù hợp quy luật khách quan,

tạo điều kiện và khuyến khích nông dân đầu tư vào và khai thác đất đai có hiệu quả.

Nhà nước còn ph ải làm tốt việc hoàn thi ện và tri ển khai th ực hiện quy ho ạch

sản xu ất nông nghi ệp tập trung, phát huy các ngu ồn lực và l ợi th ế vùng để đẩy

nhanh quá trình NNPTBV. Không th ể có PTBV trên nền tảng sản xuất nông nghiệp

thiếu quy ho ạch, không t ập trung. Vi ệc quy ho ạch, hình thành các vùng s ản xu ất

chuyên canh, tập trung quy mô l ớn sẽ giảm chi phí sản xuất, tập trung được đầu tư,

có điều kiện ứng dụng thành tựu KH-CN, CNH, nâng cao n ăng lực cạnh tranh, hiệu

quả sản xuất. Công tác quy ho ạch phát triển nông nghi ệp, nông thôn cần chú ý: Dự

báo nhu cầu thị trường, lợi thế cạnh tranh, khả năng phát triển KH-CN, công nghiệp

chế biến; gắn quy hoạch các vùng sản xuất với đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế và áp

dụng kỹ thu ật mới của nền nông nghi ệp sinh thái, nông nghi ệp sạch, bảo vệ môi

trường vào sản xuất; thực hiện sự kết hợp giữa quy ho ạch vùng sản xuất hàng hóa

nông nghi ệp với sản xu ất nông ph ẩm hàng hóa quy mô l ớn và phát tri ển công

nghiệp chế biến phù hợp.

Nhà nước phải có có cơ chế đặc thù hỗ trợ, thúc đẩy các vùng NNPTBV, g ắn

với chú trọng mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu các sản phẩm chế

biến và chế biến sản phẩm sạch.

Đây là một trong nh ững điều kiện quan tr ọng khuyến khích thúc đẩy chuyển

dịch thành công c ơ cấu kinh t ế nông thôn, góp ph ần thúc đẩy sản xu ất phát tri ển,

đồng th ời đẩy nhanh th ị tr ường tín d ụng. Kiên định mục tiêu chuy ển dịch cơ cấu

kinh tế nông thôn, không phát tri ển tràn lan "cây, con, s ản phẩm" theo phong trào

mà chỉ tập trung phát tri ển những sản phẩm từng địa phương, từng vùng có l ợi thế

so sánh, lợi thế cạnh tranh. Huy động mạnh mẽ sự tham gia c ủa công nghi ệp, KH-

CN, dịch vụ vào sản xuất và đặc biệt là tín d ụng cho phát tri ển các ngành trên. M ở

rộng thị trường tiêu th ụ sản phẩm ở trong nước và qu ốc tế, hướng tới đáp ứng nhu

cầu của thị trường.

Nông dân là l ực lượng chính, là ch ủ th ể quy ết định sự thành b ại của ch ủ

trương chính sách phát tri ển kinh t ế nông nghi ệp. Mu ốn NNPTBV ph ải nâng cao

40

nhận thức và trình độ sản xuất của nông dân, để nông dân tiếp cận và ứng dụng KH-

CN, công nghệ sinh học vào sản xuất để vừa có tăng trưởng, vừa thân thiện với môi

trường. Đồng thời, Nhà nước cũng phải quan tâm đến việc xây dựng nông thôn, xác

định xây dựng NTM là n ền tảng căn bản để nông nghiệp phát triển theo hướng bền

vững. Theo đó, gắn kế hoạch xây dựng NTM với phát triển vùng sản xuất hàng hoá

tập trung, bảo đảm sự phát triển nông nghiệp, nông thôn đồng bộ và bền vững. Mặt

khác, để xây dựng NTM tất yếu phải xây dựng, hoàn chỉnh các quy ho ạch chi tiết ở

các xã, huy động mọi ngu ồn vốn, th ực hi ện hi ệu qu ả các d ự án theo đúng quy

hoạch, chú tr ọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ đời sống, sản xuất, dồn

điền, đổi thửa, xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung v.v... Có thể

nói về cơ bản nội hàm xây d ựng NTM là s ự chu ẩn bị một cách c ăn bản các điều

kiện phục vụ NNPTBV. Và, NNPTBV ch ỉ có th ể đạt kết quả mong đợi khi ng ười

dân ngày càng g ắn bó v ới ho ạt động sản xu ất, kinh doanh trong l ĩnh vực nông

nghiệp. Chính vì v ậy, để NNPTBV cần chú trọng nâng cao đời sống của nông dân,

không ch ỉ về kinh t ế mà ph ải quan tâm các m ặt VH-XH, KH-CN. C ấp bách nh ất

hiện nay là giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động ở nông thôn, nhất là nông

dân không có vi ệc làm ở trong các vùng đô th ị hóa, khu công nghi ệp, th ực hi ện

chương trình xóa đói, giảm nghèo… giảm dần sự cách biệt về thu nhập và đời sống

giữa các t ầng lớp nhân dân ở thành th ị và nông thôn. Có chính sách đầu tư khôi

phục, mở rộng các làng ngh ề truyền thống ở các địa phương nhằm giải quyết việc

làm tại chỗ cho nông dân với phương châm "ly nông, bất ly hương".

Chính đặc tính liên k ết không cao trong s ản xu ất nông nghi ệp đã dẫn đến

những hạn chế nhất định trong phát huy vai trò c ủa chủ thể chính trong phát tri ển

nông nghiệp là nông dân. Do v ậy, nhằm khắc phục hiện thực này, rất cần có sự liên

kết giữa những chủ thể này. Và kinh nghi ệm thành công, c ũng như thất bại từ các

nước công nghiệp hoá đi trước đã chỉ ra rằng, cách duy nh ất để tồn tại và phát triển

là giai cấp nông dân phải huy động nguồn lực dồi dào nhưng phân tán của mình vào

tổ ch ức hi ệp hội quy c ủ. Hi ệp hội đó ph ải ho ạt động có hi ệu qu ả, đủ sức tổ ch ức

nông dân thành l ực lượng th ống nh ất; đủ mạnh để hỗ tr ợ phát tri ển nông nghi ệp

hiện đại, nâng cao đời sống nông dân. Trong đó, các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã

hội, xã hội nghề nghiệp phải đóng vai trò chủ đạo, thực sự là một tổ chức "của nông

dân, do nông dân và vì nông dân".

41

2.2.3. Tiêu chí đánh giá tính bền vững của nông nghiệp

2.2.3.1. Phương pháp đánh giá tính bền vững của nông nghiệp

Phương pháp đánh giá tính bền vững của nông nghiệp dựa trên hai cơ sở, đó

là: các tiêu chí định tính và các tiêu chí định lượng.

Các tiêu chí định tính để mô t ả tính ch ất và phân tích các đặc điểm, đặc

trưng cơ bản của sản phẩm nông nghi ệp, như: mức độ sạch của sản phẩm, trình độ

chuyên môn hóa, trình độ công ngh ệ,.... tiêu chí định tính có ưu th ế là ph ản ánh

đúng bản ch ất của vấn đề nh ưng th ường khó xác định trên th ực tế. Do đó, nó

thường làm cơ sở để tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng trong thực tế.

Các tiêu chí định lượng để thu thập dữ liệu bằng số trong nội bộ ngành nông

nghiệp, như: số lao động nông nghi ệp, tài sản, vốn, doanh thu, l ợi nhuận...tiêu chí

định lượng có thể chứng minh được trong thực tế và mang tính khách quan.

2.2.3.2. Tiêu chí và ch ỉ tiêu đánh giá tính bền vững của nông nghiệp

Với quan ni ệm mới về khái ni ệm và nội dung NNPTBV nh ư đã trình bày ở

trên ta có thể rút ra những tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá như sau:

- Tiêu chí đánh giá NNPTBV trên phương diện kinh tế

Mức độ đóng góp của sản phẩm nông nghiệp vào tăng trưởng kinh tế. Doanh

thu của mặt hàng nông sản là tiêu chí quan trọng, dễ đánh giá mức độ đóng góp của sản

phẩm nông nghiệp vào phát triển kinh tế. Chỉ số đo lường là việc duy trì tốc độ tăng

trưởng sản phẩm hàng hóa nông nghiệp cao, ổn định so với tốc độ tăng trưởng GDP.

Chất lượng sản phẩm nông, lâm, th ủy sản phải bảo đảm phát triển bền vững:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là yêu c ầu để đảm bảo tăng trưởng kinh tế theo hướng

CNH, HĐH và h ội nh ập sâu r ộng với khu v ực và th ế gi ới. Trong đó, quá trình

chuyển dịch cơ cấu hàng hóa nông s ản theo hướng nâng cao giá tr ị gia tăng, hiệu

quả, bền vững. Chỉ số đo lường thể hiện hàng hóa ở dạng thô theo ngành để phục vụ

nhu cầu nội địa và xuất khẩu, đặc biệt khi nước ta gia nhập TPP, xuất khẩu sang các

nước EU, Nhật, Mỹ (có th ể tính ở tiêu chí s ản phẩm đạt tiêu chu ẩn an toàn, ở trình

độ thấp có thể tính bằng tỷ lệ sản phẩm an toàn trên tổng số sản phẩm).

- Tiêu chí đánh giá NNPTBV trên phương diện xã hội

Mức độ cải thi ện đời sống của nhân dân t ừ PTBV s ản ph ẩm nông nghi ệp.

Các tiêu chí đo lường là mức thu nh ập bình quân đầu người trong nông nghi ệp so

với mức thu nhập bình quân của cả nước, tỷ lệ nghèo đói nói chung, tỷ lệ nghèo đói

ở khu vực nông thôn nói riêng.

42

Mức độ tạo việc làm từ việc mở rộng và nâng cao ch ất lượng sản xuất nông

nghiệp. Tiêu chí này th ể hiện ở việc tỷ lệ lao động có việc làm tăng thêm trong s ản

xuất nông nghiệp (kể cả việc làm mới).

Phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn g ắn với công b ằng xã h ội. Tiêu chí này

phản ánh sự tăng trưởng nông nghiệp, xây dựng đời sống NTM, góp ph ần giảm bớt

sự bất bình đẳng trong thu nh ập, đời sống tinh th ần, hưởng th ụ văn hóa, d ịch

vụ...đối với các tầng lớp dân cư, giữa các vùng, khu vực với nhau.

- Tiêu chí đánh giá NNPTBV trên phương diện môi trường

Mức độ cải thiện môi trường nhờ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Chỉ số đo

lường thể hiện ở mức độ ô nhi ễm do quá trình s ản xuất nông nghi ệp gây ra, nh ư:

nồng độ các thành phần không khí, nước, đất...

Mức độ đa dạng sinh học ở các khu vực sản xuất nông, lâm, thủy sản. Chỉ số

này phản ánh mức độ duy trì các nguồn tài nguyên tái tạo được, mức độ khai thác và sử

dụng các nguồn tài nguyên không tái tạo được. Chỉ số đo lường thể hiện mức độ mở

rộng diện tích sản xuất nông nghiệp, chế biến lâm sản, nuôi trồng thủy hải sản...

Mức độ đóng góp của hàng hóa nông, lâm, thủy sản vào kinh phí bảo vệ môi trường.

* V ề mặt kinh tế, để thể hiện một nền NNPTBV người ta dùng chỉ tiêu:

EDP = GDP - (Giá tr ị cạn kiệt tài nguyên + Giá trị suy giảm môi trường)

- Đối với nền NNPTBV ở mức độ phát triển còn thấp thì nên dùng các chỉ tiêu:

Tỷ trọng giá trị sản phẩm đạt tiêu chuẩn EU và Mỹ (sản phẩm an toàn) trong

tổng sản phẩm.

Tỷ trọng nông trại, trang trại nông nghiệp sản xuất bền vững trong tổng số;

Tỷ trọng diện tích nông nghiệp sản xuất bền vững trong tổng diện tích trồng trọt;

Tỷ trọng trang trại chăn nuôi sản xuất bền vững trong tổng trang trại chăn nuôi;

Tổng giá trị tạo ra của nông nghiệp bền vững được tính như sau:

sth= GDP – PTng – PMTi – PCQ

GDP

Trong đó:

GDPsth: Sản phẩm quốc nội của nông nghiệp bền vững

GDP: Sản phẩm quốc nội thông thương trong nông nghiệp

PTng: Giá trị tài nguyên thông thương trong nông nghiệp PMTi: Giá trị môi trường thông thương trong nông nghiệp

PCQ: Giá trị cảnh quan thông thương trong nông nghiệp

43

- Với mỗi địa phương, tùy điều kiện phát triển cụ thể và mục tiêu hướng đến

của NNPTTHBV mà xác định các tiêu chí đánh giá, nhưng cần chú ý trên 2 phương

diện sau:

Thứ nhất, các tiêu chí trên được đánh giá ở mức độ cao về số tuyệt đối nếu

so với nông nghiệp bền vững nói chung ở cùng thời điểm.

Thứ hai, coi trọng hơn về các tiêu chí phản ánh mức độ tăng trưởng, tác động

của biến đổi khí hậu, chi phí trung gian cao (do chi phí vận chuyển, điều kiện địa lý,

thời tiết, thổ nhưỡng, nhân công…) [53].

2.3. KINH NGHI ỆM VỀ NÔNG NGHI ỆP PHÁT TRI ỂN BỀN VỮNG VÀ

BÀI HỌC ĐỐI VỚI CÀ MAU V Ề NÔNG NGHI ỆP PHÁT TRI ỂN THEO HƯỚNG

BỀN VỮNG

2.3.1. Kinh nghiệm về nông nghiệp phát triển bền vững của một số quốc

gia trên thế giới

2.3.1.1. Nông nghiệp phát triển bền vững theo cách làm của Hàn Quốc

Hàn Quốc được biết đến là một đất nước không có nhi ều thuận lợi cho phát

triển nông nghiệp do điều kiện tự nhiên khá khắc nghiệt, tài nguyên thiên nhiên rất hạn

chế, song đất nước này đã có những bước phát triển đáng khích lệ trên nhiều phương

diện, trong đó, phát tri ển nông nghi ệp một cách bền vững là một trong nh ững kinh

nghiệm đáng để nhiều quốc gia khác tham kh ảo. Có th ể khái lược cách làm của Hàn

Quốc để có nền nông nghiệp phát triển bền vững trên những phương diện sau:

Một là, thiết lập hệ thống quản lý nông nghiệp bền vững:

Nông nghiệp PTBV đã bắt đầu được chú ý ở Hàn Quốc vào cuối những năm

1970. Ngay từ đầu, các tổ chức tư nhân, nh ư Hiệp hội các trang tr ại lành mạnh và

Hiệp hội nghiên c ứu nghề nông tr ại hữu cơ (organic farming), ngh ề nông tr ại hữu

cơ đã bắt đầu như một phần của các phong trào tôn giáo. Hiện nay, đã có toàn bộ 13

nhóm tiến hành hoạt động về nông nghiệp bền vững thông qua các tổ chức của quốc

gia hoặc vùng. Các nhóm này bắt đầu tiến hành các hoạt động nông trại bằng việc tổ

chức hiệp hội những người sản xuất và tiêu dùng đối với các sản phẩm nông nghiệp

môi trường từ năm 1994.

Mặc dù có những hoạt động của các nhóm tư nhân như thế, nhưng Chính phủ

Hàn Quốc lại không hưởng ứng nền nông nghi ệp bền vững cho lắm. Bộ Nông lâm

và Thủy sản đã thành lập một ủy ban phát triển nghề nông trại hữu cơ từ năm 1991,

44

và đã sắp đặt các quy định quản lý ngh ề nông tr ại hữu cơ. Vào tháng 10 cùng n ăm

đó, bộ đã khởi động hệ thống cấp chứng chỉ các sản phẩm hữu cơ.

Khi các ch ất thải trong ch ăn nuôi tr ở thành vấn đề xã hội nghiêm tr ọng, bộ

đã hình thành Đạo luật liên quan đến việc đối xử với chất thải, rác vứt ra vào ban

đêm (night-soil) và n ước thải của chăn nuôi vào tháng 9 n ăm 1991. Đạo luật đó đã

được sửa đổi hai lần, vào năm 1993 và 1997, để tăng cường các quy định về quản lý

việc xử lý cụ thể và có thái độ rõ ràng đối với chất thải, rác thải vứt ra vào ban đêm

và nước thải của chăn nuôi và thiết lập các phương tiện cho việc đó.

Năm 1994, cu ối cùng thì b ộ cũng thi ết lập một vụ chuyên trách v ấn đề

NNPTBV. Vụ này được gọi là V ụ Nông nghi ệp bền vững, được giao nhi ệm vụ

hoạch định các chính sách v ề nông nghi ệp bền vững, khuyến khích và h ỗ trợ nghề

nông trại hữu cơ và tự nhiên. Từ năm 1995, vụ này đã bắt đầu có ch ương trình hỗ

trợ đối với các trang tr ại cỡ vừa và nh ỏ để sản xuất ra các s ản phẩm có ch ất lượng

cao. Dự án này có m ục tiêu hỗ trợ các trang tr ại tiến hành nông nghi ệp bền vững ở

những vùng, mà các ngu ồn nước ở đó được bảo vệ cho vi ệc sử dụng bằng đường

ống dẫn nước, và các vùng trung du. Đây là dự án đầu tiên được chính ph ủ hỗ trợ

cho việc khuyến khích nông nghi ệp bền vững. Tuy nhiên, chính ph ủ chưa có những

kế hoạch trung và dài hạn cho nông nghiệp bền vững.

Cuối năm 1995, bộ đã thành lập một ủy ban công tác v ề vấn đề hoạch định

chính sách nông nghi ệp bền vững để phát tri ển kế hoạch hỗn hợp và các h ệ thống

thích hợp đối với nông nghi ệp bền vững. Trên c ơ sở kết qu ả của ủy ban công tác

này, Chính ph ủ Hàn Qu ốc đã lập nên các k ế ho ạch trung và dài h ạn cho nông

nghiệp bền vững vào tháng 7-1996, và tri ển khai khung kh ổ chính th ức cho vi ệc

khuyến khích nông nghi ệp bền vững. Vào tháng m ười cùng năm đó, một kế hoạch

hành động cho chính sách nông nghiệp và môi trường cho thế kỷ XXI cũng đã được

thông qua. D ự án này đã được lên k ế ho ạch và b ắt đầu th ực hi ện theo k ế ho ạch

trung và dài hạn và kế hoạch hành động từ năm 1997.

Mặc dù đã có kế hoạch trung và dài hạn và kế hoạch hành động, nhưng công

luận lại chỉ trích gay gắt tình trạng thiếu những biện pháp chính th ức và thật cụ thể

để dự phòng cho các k ế ho ạch đó. Vào tháng 12-1997, Đạo lu ật về khuyến khích

nông nghiệp bền vững đã được ra đời. Mục đích của đạo luật này là theo đuổi một

nền nông nghi ệp bền vững thân thi ện với môi tr ường bằng cách đề cao ch ức năng

45

bảo vệ môi tr ường của nông nghi ệp, gi ảm ô nhi ễm môi tr ường do s ản xu ất nông

nghiệp gây ra, và khuy ến khích các ch ủ trang trại hướng tới nông nghiệp bền vững.

Đạo luật này mới xác định rõ khái ni ệm về một nền nông nghi ệp bền vững và quy

định vai trò của Chính phủ trung ương, chính phủ địa phương, chủ trang trại, và các

tổ chức tư nhân. Đạo luật này có hiệu lực từ ngày 14-12-1998.

Hai là, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Để giảm ô nhiễm môi tr ường gây ra b ởi các hóa ch ất nông nghi ệp, số lượng

các hóa ch ất sử dụng ph ải được cắt bớt bằng cách s ử dụng có hi ệu qu ả và th ận

trọng. Ch ương trình qu ản lý tích h ợp các loài gây h ại (IPM) đã được đưa ra để

khuyến khích vi ệc sử dụng có hi ệu quả các hóa ch ất. Trong một thời gian ng ắn từ

năm 1992 đã có h ơn 9.000 ng ười được đào tạo thành các hu ấn luy ện viên và các

chủ trang tr ại để áp d ụng ch ương trình IPM. Ch ương trình này kêu g ọi gi ảm số

lượng các bình phun hóa ch ất nông nghi ệp và kh ối lượng sử dụng xu ống còn 1/2

vào năm 2004 thông qua vi ệc kiểm soát một cách kinh t ế các bệnh và loài gây h ại

dựa trên cơ sở các cuộc thử nghiệm khoa học nghiêm ngặt và kiểm soát sinh học sử

dụng các kẻ thù tự nhiên. Các tiêu chu ẩn để sử dụng an toàn các hóa ch ất cũng sẽ

được xây d ựng, và m ột hệ th ống các quy định về hóa ch ất nông nghi ệp cũng sẽ

được áp dụng. Các hóa ch ất có nồng độ độc tố thấp và các hóa ch ất vi sinh cũng sẽ

được phát triển mạnh để hạn chế tối đa các tác hại do sử dụng hóa chất nông nghiệp.

Các phương pháp làm tăng độ màu mỡ đang được khuyến khích áp dụng dựa

trên cơ sở các kết quả khảo sát đất đai để giảm việc sử dụng các lo ại phân hóa h ọc

nhằm bảo vệ đất. Trên cơ sở kết quả khảo sát đất và dự báo cho dinh dưỡng của mỗi

loại cây tr ồng, các lo ại phân bón giàu khoáng ch ất sẽ được cung c ấp để bón m ột

cách tối ưu cho từng mảnh ruộng riêng bi ệt. Hiện nay, có một kế hoạch đang được

xây dựng để thi ết kế một hệ th ống qu ản lý tích h ợp ch ất dinh d ưỡng (INM). Các

phân bón mới và các phương pháp bón phân hợp lý cũng đang được phát triển. Nếu

các loại phân bón có độ phóng thích chậm được sử dụng, thì việc sử dụng phân bón

có thể giảm đi 30% do sự hao phí phân bón sẽ giảm đi đáng kể.

Bởi vì, rất khó có thể giảm các chất thải chăn nuôi phát thải ra trong bối cảnh

hiện nay, những cố gắng đều được tập trung vào việc tăng cường các biện pháp tăng

tỷ lệ xử lý rác th ải ch ăn nuôi và chuy ển giao chúng đến các ngu ồn gây ô nhi ễm.

Chính phủ đang mở rộng các nguồn vốn để xây dựng các thiết bị xử lý nhằm tăng tỷ

46

lệ xử lý rác th ải ch ăn nuôi. Để vận hành có hi ệu qu ả các thi ết bị xử lý này, công

việc đào tạo thêm trình độ cho các chủ trang trại cũng sẽ được tăng cường, và chính

các thiết bị này cũng sẽ được giám định kỹ càng. Rác th ải trong ch ăn nuôi sẽ được

sử dụng để sản xuất các loại phân hữu cơ. Nguồn cung của các vật liệu thứ cấp, như

mùn cưa và rơm rạ là vật liệu xúc tác c ần cho vi ệc làm bi ến đổi các ch ất thải vào

các nguồn, cũng sẽ được sử dụng rộng rãi. Vật liệu thay thế đối với các chất xúc tác

này cũng đang được sản xuất ở Hàn Quốc.

Giá của mỗi đơn vị thu gom nh ựa và các chai l ọ hóa ch ất sẽ tăng lên để có

một mức độ thích hợp trong vi ệc khuyến khích thu gom các lo ại rác th ải dạng này.

Nguồn tái sinh của Hàn Quốc và hiệp hội tái sử dụng thu gom chúng hai đợt trong một

năm, vào mùa xuân và mùa tuyết rơi. Chính phủ áp dụng hệ thống ký quỹ và hình phạt

đối với dầu bôi trơn và các chất thải của hóa chất chống đông trong các linh kiện vứt bỏ

của máy nông nghiệp để khuyến khích việc xúc tiến xử lý chúng bằng cách cho phép

những người có mục đích tái sử dụng các loại rác th ải này. Chính phủ còn có vai trò

trong việc xây dựng trung tâm xử lý các máy nông trại loại thải, ở đó các máy loại thải

được phân lo ại, tháo dở và ép l ại. Chính ph ủ cũng cung cấp vốn ưu đãi cho các ch ủ

trang trại xử lý các máy móc không còn dùng được, cho việc mua các máy móc nông

trại mới. Do vật liệu nhựa nông nghiệp bằng sinh học có th ể phân hủy sẽ được phát

triển, nên ô nhiễm gây ra bởi rác thải nhựa sẽ bị giảm đi đáng kể.

Các thiết bị xử lý rác th ải nông thôn đang được mở rộng. Các thi ết bị xử lý

rác thải trong các hộ gia đình được mở rộng từ năm 1994, tập trung vào các vùng đã

được chọn lựa cho các dự án phát tri ển làng văn hóa. Khoảng 772 thiết bị xử lý rác

thải đã được bố trí từ năm 2004.

Ba là, duy trì và cải thiện các nguồn lực

Đất trồng trọt của Hàn Quốc có độ chua cao, nh ưng hàm lượng các chất hữu

cơ và axit si-lic thì lại ở mức thấp. Axit si-lic được cung cấp cho những đồng lúa mà

hàm lượng axit si-lic có kho ảng 130 ppm ho ặc thấp hơn, và vôi được cung cấp cho

đất đồi mà độ chua của chúng là 6,5 pH ho ặc thấp hơn. Chính phủ Hàn Quốc đã lập

kế hoạch xây dựng các dự án cải tạo đất cho toàn bộ đất trồng trọt ít nhất 6 năm một

lần. Đối với đất trồng trọt có năng suất thấp hoặc đất bị ô nhiễm, đất được lấy từ các

vị trí khác c ũng được tính vào, n ếu hàm lượng đất sét đạt đến 15%. Từ năm 1997,

dự án cải tạo đất cũng được áp dụng cho đất trồng trọt ở các vùng ph ụ cận các mỏ

47

đã ngừng khai thác, đất này cũng có thể được cải tạo. Dự án cải tạo sẽ được thiết kế

cho 200 ha đất trồng trọt bị ô nhiễm bởi kim loại nặng cho đến cuối năm. Việc xây

dựng các dự án kiểu như thế này rất hiệu quả nên sẽ còn được tiếp tục. Những hành

động chưa được đưa ra với đầy đủ mức độ của chúng để đề phòng mất đất từ đất

dốc, nhưng các dự án có mô hình cỡ nhỏ hiện cũng đang được tổng kết.

Để qu ản lý được ch ất lượng nước nông nghi ệp, các địa điểm được đo ch ất

lượng nước đã được tăng lên đáng kể từ 161 lên 534 địa điểm vào năm 2000. Chúng

đóng vai trò nh ư một bộ phận của dự án cải tạo chất lượng nước, các tiêu chu ẩn về

nước cũng được thi ết lập một cách chi ti ết, đội trông nom v ấn đề ô nhi ễm nước

được tổ chức ra cho từng đơn vị hành chính ở cấp huyện. Thêm vào đó, các hiệp hội

khuyến nông và khuy ến lâm lên k ế ho ạch xây d ựng các nhóm đặc nhi ệm về ô

nhiễm để thu thập các trường hợp bị gây hại do ô nhiễm nước và cung cấp các công

nghệ để phục hồi nước ô nhiễm.

Để cung c ấp nước sinh ho ạt cho gia đình đến các vùng nông thôn, mà các

vùng này bị nằm ngoài các dự án của thành phố và các ống cung cấp nước cấp vùng,

các ống nước sẽ được khoan vào các nguồn nước ngầm tại 5.000 làng vào năm 2004 và

2005. Đường kính của ống nước là 200 mm, và được khoan sâu 150 - 200 m dưới mặt

đất. Dự kiến lượng nước cung cấp hàng ngày sẽ là 150 tấn cho mỗi giếng.

Để đáp lại khung khổ của Liên hợp quốc trong Công ước về thay đổi khí hậu

(UNFCCC), mà công ước đó đến nay vẫn đang được tiếp tục đàm phán, Chính ph ủ

Hàn Quốc lên kế hoạch thiết kế các thi ết bị có th ể sử dụng để đo lượng khí mê-tan

phát thải ra b ởi nông nghi ệp. Chính ph ủ đồng thời cũng có k ế ho ạch áp dụng các

biện pháp để cắt bớt lượng phát th ải khí mê-tan. Vùng đất khô dành cho vi ệc gieo

trực ti ếp sẽ được mở rộng từ 57.000 ha lên 500.000 ha vào n ăm 2004, 2005. Để

giảm khí mê-tan phát th ải do vật nuôi, định lượng số đầu gia súc cho m ỗi loài cũng

được xác định. Các vật liệu hóa chất sử dụng trong việc ngăn chặn phát thải của khí

gây lên men trong bộ máy tiêu hóa của vật nuôi cũng được phát triển.

Bốn là, thúc đẩy sự tiến bộ của các dự án khuyến khích nông nghiệp bền vững

Các ch ương trình tr ợ giúp các trang tr ại cỡ vừa và nh ỏ trong vi ệc sản xu ất

các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao đã được khởi xướng từ năm 1995. Dự

tính đến năm 2004, tổng toàn bộ 1.000 tổ hợp ở trên tất các vùng với trên 10.000 ha

đã được tạo ra để sản xu ất các s ản ph ẩm nông nghi ệp ch ất lượng cao, và kho ảng

48

10.000 hộ dự ki ến sẽ tham gia các d ự án này. Hàng n ăm, có tất cả 100 t ổ hợp sẽ

được lựa chọn, và mỗi tổ hợp sẽ được cung cấp một khối lượng tiền khoảng 1,75

triệu Won và cho vay kho ảng 2,5 triệu Won. Mục tiêu của việc trợ giúp bao gồm cả

sản xuất và ti ếp thị các ph ương tiện và thi ết bị cho nông nghi ệp bền vững, như các

thiết bị sản xuất vi sinh tự nhiên, kho thóc và nhà kính, thi ết bị làm lạnh và các loại

xe làm lạnh.

Từ năm 1995, dự án khuyến khích nông nghi ệp bền vững đã được thực hiện

ở các vùng mà ở đó các ngu ồn nước đã được bảo vệ cho vi ệc sử dụng như là nước

có hệ thống đường ống. Hiện nay, dự án này được triển khai tại 5 vùng, bao g ồm

Paldang và Andong, đều có chính quy ền địa ph ương và các hi ệp hội hợp tác xã

(HTX) nông nghi ệp tham gia. D ự án này h ỗ trợ sản xuất, tiếp thị và bán s ản phẩm

của nông nghiệp bền vững với mục đích cung cấp nước sạch và các sản phẩm nông

trại tươi sống cho người tiêu dùng trong vùng.

Các vùng có s ố lượng tới 1 tri ệu ha thì được ch ỉ định là nh ững vùng được

bảo vệ môi tr ường cấp quốc gia, bao g ồm những vùng mà ở đó các ngu ồn nước đã

được bảo vệ cho vi ệc sử dụng như là nước có hệ thống đường ống, vùng Paldang,

vùng Daechong và các v ườn tự nhiên. Toàn b ộ quy mô c ủa đất tr ồng tr ọt tại các

vùng này là 79.000 ha, và s ố các h ộ trang tr ại là 57.000. Vi ệc bắt bu ộc ph ải ch ịu

một giới hạn về bảo vệ môi trường trong vùng đang làm tổn hại đến lợi ích của các

chủ trang trại, nhưng họ không được đền bù một cách thỏa đáng. Chính phủ Hàn Quốc

có kế ho ạch sử dụng hệ th ống thanh toán tr ực tiếp cho các ch ủ trang tr ại, bao gồm

những hộ nằm trong vùng bảo vệ môi trường, chuyển sang nông nghiệp bền vững trong

sự bù lại đối với việc bảo vệ môi trường. Hệ thống này đã được sử dụng như là dự án

thí điểm từ năm 1999, và tiếp tục được nhân rộng ra các địa phương khác.

2.3.1.2. Nông nghiệp phát triển bền vững mang đặc sắc Ixrael

Nói đến Israel là ng ười nghe th ường ngh ĩ ngay đó là m ột qu ốc gia có n ền

nông nghi ệp phát tri ển ở trình độ cao. B ất ch ấp điều ki ện địa lý không thích h ợp

cho nông nghi ệp, Israel vẫn là m ột nhà xu ất kh ẩu lớn của th ế gi ới về nông sản và

đứng hàng đầu về công ngh ệ trong nông nghi ệp. Bởi vậy, học hỏi kinh nghi ệm

trong phát tri ển nông nghi ệp không th ể không bi ết đến các kinh nghi ệm của qu ốc

gia này để kiến tạo nền nông nghiệp bền vững. Những kinh nghiệm đó có thể kể đến

bao gồm:

49

Thứ nh ất, áp d ụng công ngh ệ cao trong s ử dụng nước tưới nông nghi ệp.

Ixrael một đất nước không có tài nguyên n ước nh ưng lại có công ngh ệ ti ết ki ệm

nước, xử lý n ước rất tốt để ph ục vụ cho phát tri ển nông nghi ệp xanh. Đó là cách

người Do Thái làm giàu từ bàn tay trắng hay nói nôm na là "tay không bắt tiền".

Là một đất nước nửa sa mạc ở Trung đông, diện tích chỉ rộng khoảng 25.000

km2, dân số hơn 7 tri ệu người, đất canh tác r ất ít, ch ỉ chiếm 18,3% tổng diện tích,

không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, lượng mưa ít, nhưng Ixrael có nền kinh tế

phát triển với trình độ cao. Riêng lĩnh vực nông nghiệp, Ixrael không những sản xuất

đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu các mặt hàng nông nghiệp và công nghệ

phục vụ sản xuất nông nghiệp ra thế giới. Một trong những công nghệ đó là nhà máy

sản xuất phụ kiện nối ống PE (dùng trong lĩnh vực cấp thoát nước), tất cả các khâu sản

xuất hoàn toàn tự động từ nguyên liệu hạt nhựa PE đầu vào… cho đến đóng thùng -

dán nhãn nơi xuất đến… và chuyển lên kệ chứa chờ ngày xuất kho.

Thứ hai, phát triển nông nghiệp công nghệ cao là ưu tiên hàng đầu

Kinh nghi ệm quan tr ọng nh ất của Israel để xây d ựng được một nền nông

nghiệp hiện đại là hãy đầu tư cho KH-KT. Điều này không m ới, nhưng nếu không

có những quyết sách táo bạo, sự hỗ trợ của Chính phủ thì rất dễ rơi vào cảnh "đánh

trống bỏ dùi". Một con số dễ hình dung về năng lực của "cây đũa thần" khoa học. Năm

1950, một nông dân Israel cung cấp thực phẩm đủ cho 17 người, hiện đã là 90 người.

Một hecta đất hiện cho 3 triệu bông hồng, hay 500 tấn cà chua/vụ. Một con bò cho tới

11 tấn sữa/năm, mức năng suất mà không một nước nào trên thế giới có được [67].

Những thực tế của Ixrael đã đem lại một bài học khác v ề sự phối hợp: nhà

khoa học, nhà doanh nghi ệp có sự tách biệt khó phân định với nhà nông. Một trong

những lợi th ế của sự ph ối hợp gi ữa khoa h ọc và nhà nông t ại Israel là tính c ộng

đồng rất cao. Nhà khoa h ọc rất gần gũi với đồng ruộng và nhi ều trong số họ cũng

chính là nông dân ho ặc gi ữ vai trò t ư vấn tr ực ti ếp cho nông dân. Các trung tâm

nông nghiệp lớn, thậm chí cả các "làng nông nghiệp" (từ địa phương là kibbutz) đều

có sự xuất hiện của các phòng nghiên cứu hoặc đại diện của các viện khoa học [67].

2.3.1.3. Nông nghiệp phát triển bền vững theo cách làm của Thái Lan

Thái Lan là quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp và hiện nay, để hướng đến

một nền nông nghi ệp phát tri ển bền vững nước này đang thực hiện các chính sách

về nông nghiệp mang lại hiệu quả trên nhiều mặt có thể kể đến như sau:

50

Thứ nh ất, về chính sách tr ợ giá nông s ản, Thái Lan đang th ực hi ện tr ợ giá

cho nông dân trên các l ĩnh vực nông s ản ch ủ yếu nh ư sau: g ạo, cao su, trái cây...

Việc trợ giá nông s ản không ch ỉ thực hiện ở việc mua giá ưu đãi của nông dân mà

nông dân tr ồng lúa còn được hưởng những ưu đãi khác nh ư mua phân bón v ới giá

thấp, miễn cước vận chuyển phân bón, được cung cấp giống mới có năng suất cao,

được vay vốn lãi suất thấp từ ngân hàng nông nghiệp .v..v… Ngoài ra, Thái Lan cũng

có hỗ trợ về giá cho nông dân tr ồng 05 loại cây chủ lực là sầu riêng, nhãn, vải, măng

cụt và chôm chôm. Th ực hiện tốt chính sách hỗ trợ này chính phủ Thái Lan đưa các

chuyên viên cao cấp phụ trách chương trình với nhiệm vụ giám sát từ việc sản xuất,

phân phối, chế biến, giá cả cho đến tìm thị trường xuất khẩu mới.

Thứ hai , chính sách công nghi ệp nông thôn, Thái Lan v ốn là n ước nông

nghiệp truyền thống với số dân nông thôn chi ếm khoảng 80%. Do vậy, công nghiệp

nông thôn được coi là nhân t ố quan tr ọng giúp cho Thái Lan nâng cao ch ất lượng

cuộc sống của nông dân. Để th ực hi ện nhi ệm vụ này, chính ph ủ Thái Lan đã tập

trung vào các công vi ệc sau: cơ cấu lại ngành ngh ề phục vụ phát tri ển công nghi ệp

nông thôn, xem xét đầy đủ các ngu ồn tài nguyên, xem xét nh ững kỹ năng truyền

thống, nội lực tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và ti ếp thị. Cụ thể là Thái Lan đã

tập trung phát tri ển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông th ủy, hải sản phục

vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.

Công nghiệp chế biến th ực phẩm Thái Lan phát tri ển mạnh nhờ chính sách

ưu tiên phát triển nông nghiệp với mục đích nâng cao chất lượng các mặt hàng nông

sản gạo, dứa, tôm sú, cà phê bằng một chương trình "Mỗi làng một sản phẩm" (One

tambon, One product - OTOP) t ức là mỗi ngày làm ra m ột sản phẩm tiêu bi ểu, đặc

trưng và có chất lượng cao. Gắn liền với việc xem trọng chất lượng sản phẩm, chính

phủ Thái Lan cũng rất quan tâm đến chính sách đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

Để thực hiện có hiệu quả chính sách này, chính ph ủ Thái Lan đã phát động chương

trình: "Thái Lan là bếp ăn của thế giới" với mục đích khuyến khích các nhà chế biến

và nông dân có nh ững hành động thiết thực có hiệu quả để kiểm soát chất lượng vệ

sinh thực phẩm đảm bảo cho xuất khẩu và người tiêu dùng.

Thứ ba , mở cửa th ị tr ường thích h ợp để thu hút đầu tư mạnh mẽ của nước

ngoài cho nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm. Chính phủ Thái

Lan đã có chính sách tr ợ cấp ban đầu cho các nhà máy ch ế biến và đầu tư trực tiếp

vào các cơ sở hạ tầng như cảng, kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và

51

phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở Thái Lan

xúc tiến công việc này là trách nhi ệm của Cục Xúc tiến Công nghiệp, Cục Xúc tiến

Nông nghi ệp, Cục Hợp tác xã, C ục Th ủy sản, cơ quan tiêu chu ẩn sản ph ẩm công

nghiệp trực thuộc Bộ Công nghiệp và Bộ Nông nghiệp.

2.3.1.4. Nông nghiệp phát triển bền vững theo cách làm của Trung Quốc

Sau cải cách mở cửa, chính sách kh ẳng định ch ủ th ể sản xu ất nông nghi ệp

chủ yếu là nông dân v ới nh ững cải cách kinh t ế ở nông thôn đã tạo ra b ước phát

triển vượt bật trong nông nghi ệp Trung Qu ốc. Nh ất là k ể từ khi gia nh ập WTO,

Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. Trước tiên,

có thể kể đến là chính sách đầu tư xây dựng một cơ chế để phát triển công nghiệp và

đô thị thúc đẩy phát tri ển nông nghi ệp. Sự phân ph ối thu nh ập quốc dân được điều

chỉnh tăng cho nông nghi ệp và nông thôn. H ỗ tr ợ từ vốn Nhà n ước tăng liên t ục.

Trung Quốc cũng rất quan tâm đến cải cách chính sách thuế. Nhiều loại thuế từ năm

2000 đến năm 2004 gi ảm chỉ còn một nửa, việc thiếu hụt ngân sách địa phương do

miễn gi ảm thu ế được trung ương bù. Trung Qu ốc mạnh dạn cắt gi ảm nhi ều lo ại

thuế, chỉ còn ba lo ại thuế chính: thuế nông nghi ệp, phí hành chính và phí th ực hiện

các công việc chung đã giảm bình quân 30% gánh nặng cho nông dân.

Trung Qu ốc là n ước th ực hi ện khá t ốt chính sách h ỗ tr ợ tr ực ti ếp cho s ản

xuất nông nghi ệp, đặc bi ệt là s ản xu ất lương th ực ở các vùng tr ồng lương th ực.

Ngoài ra còn h ỗ trợ cho mua h ạt giống chất lượng cao và máy nông nghi ệp, hỗ trợ

tư liệu sản xuất nông nghiệp. Để đảm bảo nguồn nhân lực, chính sách giáo dục nông

thôn Trung Quốc cũng rất chú trọng. Chính phủ áp dụng chính sách giáo dục bắt buộc

chín năm cho học sinh nông thôn và gi ảm dần gánh nặng giáo dục. Nhà nước đầu tư

nâng cấp các trường nông thôn. Nông dân phải được đào tạo để nâng cao trình độ kỹ

thuật và quản lý kinh tế. Chính sách tín dụng cho nông dân được thực hiện thông qua

thể chế tài chính cộng đồng, mở rộng tín dụng có thế chấp cho hộ nông dân và doanh

nghiệp hướng đến phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững [23].

2.3.2. Kinh nghiệm về nông nghiệp phát tri ển theo hướng bền vững khu

vực Đồng bằng sông Cửu Long

2.3.2.1. Mô hình tôm - lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long hướng đi mới

ứng phó với biến đổi khí hậu

Tại vùng ĐBSCL, hình thức nuôi tôm sú k ết hợp với trồng lúa thời gian qua

phát triển tương đối ổn định, thể hiện tính bền vững, hiệu quả, tăng trưởng nhanh về

52

diện tích, năng suất và sản lượng. Đây là mô hình s ản xuất thông minh, thân thi ện

với môi tr ường trong b ối cảnh tình hình d ịch bệnh trên tôm ngày càng di ễn bi ến

phức tạp, tác động bất lợi của biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt như xâm nhập mặn,

hạn hán, n ước bi ển dâng, môi tr ường bị ô nhi ễm. Nông dân thu v ề hai ngu ồn lợi

kinh tế chủ lực là tôm và lúa trên cùng di ện tích s ản xu ất với mức ổn định 60-70

triệu đồng/ha/năm, giúp xóa đói giảm nghèo nhanh, b ền vững hơn. Hiện nay, hình

thức nuôi ở nhiều tỉnh trong khu vực chủ yếu là luân canh một vụ tôm - một vụ lúa,

với tổng diện tích toàn vùng h ơn 160.000 ha, n ăng suất 300-500 kg/ha, s ản lượng

trên 60.000 tấn/năm. Các tỉnh nuôi tôm - lúa có di ện tích khá l ớn là Bạc Liêu, Sóc

Trăng, Cà Mau và Kiên Giang [91].

Việc đầu tư nuôi tôm - lúa th ấp, ít rủi ro và giá thành s ản xuất thấp hơn so

với nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh, tạo lợi thế tăng khả năng cạnh tranh trên thị

trường, chế biến xuất khẩu. Sản phẩm của hình thức canh tác này là s ản phẩm sạch

đang được ưa chuộng trên thị trường.

Đồng bằng sông Cửu Long có lợi thế về điều kiện tự nhiên với diện tích tôm

- lúa tiềm năng phát triển hơn 250.000 ha, tập trung ở các tỉnh ven biển trong vùng.

Trong kịch bản ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng của ĐBSCL thì mô

hình tôm - lúa được ưu tiên phát triển, nhằm thích ứng với xâm nhập mặn, hạn hán,

nước biển dâng. Đây là mô hình th ủy sản bền vững, giảm thấp rủi ro so v ới những

mô hình nuôi tr ồng khác c ần được quy ho ạch, đầu tư phát tri ển bài b ản và đúng

định hướng trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp [91].

Tuy nhiên, v ẫn còn nhi ều khó kh ăn, bất cập trong s ản xu ất tôm - lúa t ại

ĐBSCL. Nhiều địa phương chưa quy hoạch xong sản xuất tôm - lúa, h ệ thống thủy

lợi, cơ sở hạ tầng thi ếu đầu tư, tôm phát sinh d ịch bệnh và ch ết kéo dài, lây lan

nhưng ch ưa có bi ện pháp kh ắc ph ục hữu hi ệu. Hầu hết các địa ph ương ch ưa ch ủ

động được nguồn tôm giống, phải nhập từ ngoài vùng nhưng khó quản lý, kiểm soát

được chất lượng và giống trôi nổi mang mầm bệnh.

Công tác giám sát vùng nuôi, nh ất là khâu quan trắc, cảnh báo môi trường và

dịch bệnh phục vụ sản xuất tại nhiều địa phương còn ch ưa có ho ặc có nh ưng hoạt

động không hi ệu quả. Nông dân s ản xuất tôm - lúa ph ần lớn là tự phát, ch ưa được

trang bị về kỹ thuật, thiếu vốn đầu tư và thiếu giống lúa chịu mặn, năng suất cao để

gieo trồng. Theo Tổng cục Thủy sản, định hướng phát tri ển sản xuất tôm - lúa giai

53

đoạn 2016 - 2020, t ầm nhìn đến năm 2030 ở ĐBSCL là tăng năng suất tôm nuôi từ

500 kg/ha/v ụ/năm; năm 2020 nâng t ổng di ện tích tôm - lúa lên 200.000 ha, s ản

lượng tôm 100.000-120.000 t ấn/năm và n ăm 2030 là 250.000 ha, s ản lượng tôm

125.000-150.000 tấn/năm [91].

Theo khuy ến cáo t ừ Bộ Nông nghi ệp và Phát tri ển Nông thôn, các địa

phương trong vùng ĐBSCL cần chú trọng công tác quy ho ạch và thực hiện quản lý,

giám sát để đảm bảo đúng định hướng phát tri ển tr ọng tâm c ủa vùng; t ập trung

nguồn lực đầu tư th ủy lợi, phát tri ển cơ sở hạ tầng; tăng cường kỹ thu ật sản xu ất

tôm-lúa, nhất là khâu tôm gi ống chất lượng cao, lúa gi ống chịu mặn và hoàn thi ện

quy trình canh tác chuyển giao cho nông dân.

Công ngh ệ nuôi tôm - lúa c ần nghiên c ứu theo h ướng nâng cao ch ất lượng

sản ph ẩm "tôm s ạch - lúa th ơm", gi ảm thi ểu nh ững tác động tiêu c ực đến môi

trường. Mô hình này được xem là h ướng đi mới, phù hợp với nhiều tỉnh trong khu

vực, nhất là những tỉnh ven biển như Cà Mau.

2.3.2.2. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Trà Vinh

Tỉnh Trà Vinh là địa phương có sự chỉ đạo khá hiệu quả trong việc thực hiện

đồng bộ các chính sách để tái c ơ cấu ngành NNPTTHBV. Th ời gian qua, t ỉnh đã

xác định tập trung th ực hiện 10 chính sách, g ồm: chính sách tín d ụng phục vụ phát

triển nông nghiệp, nông thôn; hỗ trợ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa; hỗ trợ nhằm

giảm tổn th ất trong nông nghi ệp; phát tri ển th ủy sản; đào tạo ngh ề cho lao động

nông thôn; khuyến khích phát tri ển hợp tác, liên k ết sản xuất gắn với tiêu th ụ nông

sản; hỗ trợ nâng cao hi ệu quả chăn nuôi nông h ộ; hỗ trợ chuyển đổi trồng lúa sang

trồng màu; thu mua t ạm trữ lúa g ạo; hỗ tr ợ áp d ụng quy trình th ực hành sản xu ất

nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.

Hướng đến nền NNPTTHBV, Trà Vinh đã triển khai th ực hiện 5 chính sách

ưu đãi trong nông nghi ệp bao gồm: chính sách h ỗ trợ, khuyến khích phát tri ển hợp

tác xã; hỗ trợ đầu tư cho các hoạt động khuyến nông; hỗ trợ đóng mới, cải hoán tàu

cá khai thác hải sản xa bờ; hỗ trợ và quản lý đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ

tầng nông thôn và h ỗ tr ợ, khuyến khích phát tri ển sản xu ất lúa gi ống và lúa hàng

hóa chất lượng cao.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà n ước chi nhánh t ỉnh Trà Vinh, các t ổ chức tín

dụng trong tỉnh đẩy mạnh việc cho vay đối với các chương trình, dự án, chính sách

có liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn.

54

Thực hi ện chính sách tín d ụng ph ục vụ phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn,

đến nay các t ổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đã cho hơn 214.000 khách hàng vay

vốn với tổng dư nợ 7.634 tỷ đồng để phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Từ

nguồn vốn Trung ương phân bổ hơn 160 tỷ đồng về quản lý, sử dụng đất trồng lúa,

tỉnh đã hỗ trợ trực tiếp cho nông dân s ản xuất lúa hơn 80 t ỷ đồng. Số tiền còn lại

được đầu tư xây d ựng, duy tu b ảo dưỡng các công trình th ủy lợi, hỗ tr ợ các ho ạt

động khuyến nông, h ỗ tr ợ gi ống lúa ch ất lượng cao. Th ực hi ện chính sách h ỗ tr ợ

giảm tổn thất trong nông nghiệp, các tổ chức tín dụng đã cho 87 khách hàng vay với

tổng dư nợ hơn 35 tỷ đồng [91].

Đối với chính sách phát triển thủy sản theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP, Ủy ban

nhân dân (UBND) tỉnh đã phê duyệt 178 chủ tàu cá được hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm

thân tàu và 543 ngư dân được mua bảo hiểm thuyền viên, phê duyệt 33 hồ sơ được vay

vốn đóng mới tàu khai thác xa bờ với tổng số tiền cho vay hơn 117 tỷ đồng.

Từ chủ trương thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghi ệp, cơ cấu kinh tế nông

nghiệp của tỉnh Trà Vinh có s ự chuyển biến tích cực. Giá tr ị sản xuất ngành nông

nghiệp năm 2015 đạt 9.216 tỷ đồng, tăng 7% so với năm 2014, đây là mức tăng cao

nhất từ tr ước đến nay. Tuy v ậy, việc th ực hi ện tái c ơ cấu ngành nông nghi ệp của

tỉnh thời gian qua chưa tạo được những chuyển biến mạnh mẽ theo hướng nâng cao

giá trị gia tăng và PTBV và chưa tương xứng với tiền năng, thế mạnh của tỉnh [91].

2.3.2.3. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Bạc Liêu

Tỉnh Bạc Liêu được chia tách từ tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh Cà Mau - B ạc

Liêu vào năm 1997. NNPTTHBV ở tỉnh Bạc Liêu xác định trọng tâm là nâng cao

giá tr ị gia t ăng và PTBV, theo đó, mục tiêu quan tr ọng hàng đầu là duy trì t ăng

trưởng, nâng cao hi ệu qu ả và kh ả năng cạnh tranh thông qua t ăng năng suất, ch ất

lượng và giá tr ị gia tăng; chuyển dịch cơ cấu tổng sản phẩm nội ngành nông, lâm

nghiệp, thủy sản theo hướng duy trì mức tăng trưởng ổn định và phát triển.

Về nuôi trồng thủy sản: xúc tiến đầu tư xây dựng khu nông nghi ệp (thủy sản

nước lợ, mặn) ứng dụng công ngh ệ cao (quy mô 200 ha) và vùng nuôi tr ồng thủy

sản (quy mô 15.000 - 20.000 ha) ứng dụng công ngh ệ cao gắn kết chặt chẽ với chế

biến, tiêu th ụ và du l ịch sinh thái trên địa bàn tỉnh; tập trung đầu tư xây dựng hoàn

chỉnh kết cấu hạ tầng (thủy lợi, giao thông, l ưới điện, chợ thủy sản đầu mối) phục

vụ nuôi tr ồng thủy sản, nhất là các vùng nuôi tôm thâm canh - bán thâm canh t ập

55

trung, đảm bảo điều ki ện nuôi thâm canh, an toàn d ịch bệnh với quy mô kho ảng

15.000 ha; đầu tư xây dựng hoàn ch ỉnh kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư, hình thành

các vùng sản xuất giống thủy sản tập trung nh ằm chuẩn hóa cơ sở vật chất và quy

trình sản xu ất gi ống. Khuy ến khích nuôi thâm canh, áp d ụng quy trình th ực hành

nông nghiệp tốt (VietGAP, GlobalGAP) và th ực hiện Quy trình nuôi tôm khai báo

tại các địa bàn có nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh nh ằm tạo ra các vùng nuôi có

sản lượng hàng hóa lớn, có chất lượng cao và ổn định [91].

Về khai thác th ủy, hải sản: triển khai th ực hi ện có hi ệu qu ả Ch ương trình

khai thác hải sản trong chi ến lược phát tri ển kinh tế biển; thực hiện chuyển đổi đối

tượng, mùa vụ, ngư trường khai thác theo hướng khai thác các loại hải sản có giá trị

kinh tế cao, th ị trường tiêu th ụ tốt, đảm bảo ngu ồn nguyên li ệu ph ục vụ chế biến,

xuất khẩu; huy động mọi nguồn lực để đầu tư xây dựng đội tàu đánh bắt xa bờ có

công suất lớn, được đầu tư trang thi ết bị hiện đại để có th ể khai thác dài ngày trên

biển và nâng cao hi ệu quả khai thác hải sản trên các vùng bi ển xa, góp ph ần bảo vệ

chủ quyền quốc gia trên biển; xây dựng và nhân rộng mô hình liên kết giữa ngư dân

với các cơ sở, doanh nghi ệp thu mua, ch ế biến hải sản; tăng số lượng tàu làm d ịch

vụ trên biển; đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác s ử dụng các dự án khu neo đậu

tránh trú bão, cảng cá, từng bước xây dựng thương hiệu cho sản phẩm khai thác hải

sản, trước hết là các sản phẩm chủ lực của tỉnh như: mực khô, tôm khô, ruốc khô, cá

muối mặn.

Về trồng trọt: ổn định địa bàn sản xuất lúa gắn với đầu tư hoàn thiện kết cấu

hạ tầng, nh ất là h ệ th ống công trình th ủy lợi, th ủy nông n ội đồng, các tr ạm bơm

nước thực hiện điều tiết nước hợp lý, linh ho ạt gắn với điều chỉnh cơ cấu mùa v ụ

phù hợp với điều kiện sinh thái của từng tiểu vùng; tích cực xúc tiến tìm đối tác đầu

tư liên kết, ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông sản với nông dân, gắn

với phát tri ển kinh tế hợp tác, HTX, liên k ết sản xuất theo chu ỗi giá tr ị; từng bước

hình thành vùng s ản xu ất lúa hàng hóa ch ất lượng cao, lúa đặc sản, lúa ch ịu mặn

mang thương hiệu Bạc Liêu, bao g ồm vùng lúa ch ất lượng cao ph ục vụ xuất khẩu

50.000 ha thu ộc tiểu vùng gi ữ ngọt ổn định (trong đó có 10.000 ha ứng dụng công

nghệ cao); vùng lúa đặc sản "Một bụi đỏ" quy mô 35.000 ha thuộc tiểu vùng chuyển

đổi sản xu ất (trong đó có 20.000 ha ứng dụng công ngh ệ cao) và vùng lúa "Tài

nguyên Bạc Liêu" với quy mô 10.000 ha [91].

56

Về ch ăn nuôi : chuyển dịch cơ cấu ch ăn nuôi theo h ướng tăng tỷ tr ọng gia

cầm trong đàn vật nuôi; nâng cao ch ất lượng con giống, xây dựng các cơ sở an toàn

dịch bệnh, đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm; giám sát và kiểm soát dịch

bệnh có hi ệu quả; khuyến khích áp d ụng công ngh ệ cao, tổ chức sản xuất khép kín

hoặc liên kết giữa các khâu trong chu ỗi giá tr ị từ sản xuất giống, thức ăn, đến chế

biến để nâng cao n ăng su ất, rút ng ắn th ời gian nuôi, gi ảm chi phí giá thành ch ăn

nuôi, tăng hiệu quả và giá trị gia tăng; phát triển chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm,

gây nuôi động vật hoang dã theo h ướng trang tr ại, công nghi ệp, bán công nghi ệp

(chiếm khoảng 15 - 20% t ổng đàn th ời điểm năm 2015 và kho ảng 30 - 40% t ổng

đàn vào năm 2020) gắn với các cơ sở giết mổ, chế biến và xử lý chất thải, đảm bảo

an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, nhanh chóng chuyển đổi chăn nuôi nhỏ, lẻ ở

hộ gia đình trong các khu dân c ư tập trung sang ph ương thức chăn nuôi trang tr ại,

gia trại an toàn sinh học ngoài khu dân cư [91].

Về lâm nghiệp: tiếp tục thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy về việc giao doanh

nghiệp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển Đông kết hợp với phát

triển du l ịch sinh thái; khuy ến khích các nhà đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du

lịch, xây dựng thêm một khu du lịch sinh thái (nh ưng không làm phá v ỡ cảnh quan

thiên nhiên) trên chân rừng phòng hộ ven biển từ Nhà Mát đến Gành Hào (kể cả đầu

tư khai thác các khu r ừng đã trồng của các tổ chức và cá nhân) để phục vụ du lịch;

phát triển và tăng cường quản lý hệ sinh thái rừng đặc dụng Vườn chim Bạc Liêu và

khu rừng ấp Canh Điền huyện Đông Hải theo hướng vừa bảo vệ quỹ gien, bảo đảm

đa dạng sinh h ọc, kết hợp du l ịch sinh thái; ch ủ động th ực hi ện công tác phòng

cháy, chữa cháy rừng, đảm bảo kịp thời xử lý các tình hu ống không để xảy ra cháy

rừng trên địa bàn tỉnh, nhất là khu vực Vườn chim Bạc Liêu.

2.3.2.4. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Kiên Giang

Kiên Giang là tỉnh có nhiều điểm tương đồng với tỉnh Cà Mau. NNPTTHBV

ở tỉnh Kiên Giang xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công

nghiệp - nông nghiệp. Để đạt được tăng trưởng bình quân 8%/năm từ năm 2015 đến

năm 2020 theo hướng chuyển dịch như trên, tỉnh đã có nhiều giải pháp chỉ đạo đồng

bộ và có bước đi phù hợp nên Kiên Giang là một trong ba tỉnh được xác định là trục

kinh tế trọng điểm của ĐBSCL (gồm Cần Thơ - Cà Mau - Kiên Giang).

Qua thực tiễn phát triển nông nghiệp của Kiên Giang, có thể nhận thấy một số

số kinh nghiệm quý trong xây dựng nền NNPTTHBV của địa phương này như sau:

57

Một là, khai thác hi ệu quả các ti ềm năng, lợi thế so sánh, đẩy mạnh chuyển

dịch cơ cấu kinh t ế nh ằm nâng cao ch ất lượng tăng tr ưởng, từng bước th ực hi ện

tăng trưởng xanh, hướng đến một nền NNPTTHBV.

Đối với nông nghiệp, tỉnh đã ổn định diện tích trồng lúa khoảng 365.000 ha;

chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng hiệu quả, chất lượng cao; xây dựng vùng lúa

chuyên canh tập trung chất lượng cao theo mô hình cánh đồng mẫu lớn theo hướng

hợp tác, liên k ết sản xu ất gắn với bao tiêu s ản ph ẩm; đẩy mạnh công tác khuy ến

nông, khuyến ng ư, chuyển giao ti ến bộ KH-CN; nâng cao ho ạt động của các lo ại

hình HTX, t ổ hợp tác; t ập trung phát tri ển công nghi ệp ch ế bi ến nông - th ủy sản,

công nghiệp cơ khí. Đầu tư phát tri ển các cụm công nghi ệp theo quy ho ạch, trong

đó hoàn thành 3 c ụm công nghiệp Vĩnh Hòa Hưng Nam, Lình Hu ỳnh và Hà Giang;

tập trung hoàn thành kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư vào 2 khu công nghiệp Thuận

Yên, Thạnh Lộc; phát triển thêm khu công nghiệp Xẻo Rô.

Hai là, phát triển đa dạng các ngành th ương mại, dịch vụ phục vụ khai thác

tiềm năng, thế mạnh trong nông nghiệp của tỉnh.

Phát triển các loại hình thương mại truyền thống và thương mại hiện đại, đẩy

mạnh xã hội hóa trong công tác phát tri ển hạ tầng nông thôn; khuy ến khích và t ạo

mọi điều kiện phát triển và nâng cao ch ất lượng các dịch vụ vận tải, bưu chính viễn

thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… Tập trung phát triển mạnh du lịch trở thành

ngành kinh tế mũi nhọn.

Ba là, phát triển và đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hợp lý, an toàn, hiệu quả.

Duy trì tăng trưởng tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên nh ư nông nghi ệp,

nông thôn, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công

nghệ cao, các ch ương trình th ực hi ện mục tiêu qu ốc gia theo ch ỉ đạo của Chính

phủ,… Ngành tài chính đảm bảo cân đối ngân sách nh ằm hỗ tr ợ, phát tri ển nông

nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng NTM.

2.3.3. Bài học đối với Cà Mau về nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững

Trên cơ sở kinh nghi ệm của một số nước trình bày ở trên, có th ể rút ra m ột

số bào học kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung, Cà Mau nói riêng v ề nông nghiệp

phát triển theo hướng bền vững như sau:

Bài học thứ nhất: phải coi NNPTTHBV là yêu c ầu, điều kiện bắt buộc, đáp

ứng những đòi hỏi khách quan, có ý ngh ĩa vô cùng quan tr ọng đối với địa phương,

nên cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mỗi người dân.

58

Trong thực tế, có nhi ều hình th ức tổ chức sản xuất khác nhau nh ư nông tr ại,

trang trại, trang trại liên doanh, trang trại cổ phần…nhưng từ thực tế ở Cà Mau hình

thức sản xu ất theo ki ểu nông tr ại là ph ổ bi ến nh ất. Nông tr ại gia đình ch ứa đựng

nhiều yếu tố tự thân, phù hợp với điều kiện sinh học, quy mô sản xuất nông nghiệp

ở Cà Mau. Nông tr ại gia đình ở Cà Mau là hình th ức sản xuất chủ yếu, phổ biến,

phù hợp với trình độ canh tác, quy mô v ốn, đất nông nghiệp giao quyền sở hữu cho

nông dân nên mô hình nông tr ại gia đình là mô hình NNPTTHBV c ủa tỉnh có th ể

phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới.

Bài học thứ hai: hỗ trợ tích cực cho nông dân chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp

và chuyển đổi hình thức sản xuất ở nông thôn.

Nông nghiệp tỉnh Cà Mau th ời gian qua có b ước tiến bộ như tăng trưởng về

diện tích, qui mô, s ản lượng, giá tr ị, thậm chí nhi ều nông dân ở Cà Mau đã làm ra

các nông sản xuất khẩu sang thị trường các nước, nhưng về cơ bản thì cơ cấu nông

nghiệp của tỉnh phát triển còn chậm, vẫn chưa có nhiều thay đổi về chất. Sản phẩm

nông nghi ệp do nông dân làm ra được các doanh nghi ệp thu mua xu ất kh ẩu dưới

dạng thô hoặc sơ chế, hàm lượng dinh dưỡng thấp, giá trị hàng hóa vẫn còn bị thua

thiệt. Do vậy, bài học là tới đây tỉnh cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng

nông nghi ệp công ngh ệ cao, giá tr ị cao, c ần ph ải chú tr ọng đầu tư nghiên c ứu và

khuyến khích chuyển giao sử dụng các kết quả KH - CN trong nông nghi ệp, nhất là

công nghệ sinh học.

Phát triển nông nghiệp ngày nay không ch ỉ là áp dụng những tiến bộ của công

nghệ thông tin, t ự động hóa vào ch ăn nuôi và tr ồng trọt, mà còn ph ải thay đổi các

qui trình và công nghệ, qui luật sinh học, tạo ra các cây công nghiệp ngắn ngày, cho

năng suất, chất lượng cao có kh ả năng chống chịu thời tiết khắc nghiệt do bi ến đổi

khí hậu và có sức kháng bệnh tốt. Có như thế tỉnh mới có một nền nông nghiệp cao

và cũng đồng nghĩa chất lượng sản xuất và đời sống nông dân ở bậc cao, phát tri ển

theo hướng bền vững. Để thực hiện hiệu quả từ bài học này ch ỉ ra thì chính quy ền

phải có chính sách h ỗ tr ợ nông dân cách s ử dụng công ngh ệ sinh h ọc từ nh ững

nguyên liệu sẵn có ở địa phương như mía, sắn, ngô, khoai dùng cho công ngh ệ sinh

học, thậm chí là các ch ất tưởng như bỏ đi cũng có th ể dùng vi sinh v ật tạo ra năng

lượng như rơm, rạ, lau sậy, mùn cưa, .v..v...Ở đây chính quy ền cần có trách nhi ệm

chuẩn bị tốt kiến thức để nông dân bắt kịp với nền nông nghiệp hiện đại.

59

Bài học thứ ba: phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với phát triển nông thôn.

Kinh tế nông nghiệp của Cà Mau chủ yếu là tổ chức sản xuất theo lối truyền

thống, chậm đổi mới, hiệu quả thấp. Từ các mô hình kinh t ế mang lại hiệu quả cao,

bền vững, sẽ là cơ sở để phát tri ển kinh tế nông nghi ệp của tỉnh phát tri ển tốt hơn

trong thời gian tới. Quá trình đó có sự gắn kết hài hòa gi ữa phát tri ển kinh tế nông

nghiệp với đời sống nông thôn. Tập trung giải quyết các vấn đề nông thôn đang đặt ra,

như: điều kiện giáo dục, chăm sóc y tế, văn hóa tinh th ần; các vấn đề lao động, việc

làm, tay nghề, thu nhập; an ninh nông thôn, trật tự, an toàn xã hội; giữ gìn và phát huy

các giá tr ị truyền th ống, tập tục của cư dân. Đặc bi ệt, là sự chuyển giao ứng dụng

những tiến bộ KH - CN vào s ản xuất và đời sống, chuyển đổi ngành nghề, phát triển

công nghiệp và dịch vụ trong nông nghiệp một cách hiệu quả, theo hướng bền vững.

Bài học thứ tư: cần có biện pháp hỗ trợ có hiệu quả cho nông dân.

Cũng như những địa phương khác, trong cơ chế thị trường nông dân Cà Mau

luôn là ng ười chịu thiệt và yếu thế trước sự cạnh tranh ngày càng kh ốc liệt. Trong

sản xu ất, sự rủi ro vì bi ến động giá c ả và th ời ti ết, vi ệc đầu tư cho nông nghi ệp

mang lại lợi nhu ận th ấp ít h ấp dẫn các nhà đầu tư là nh ững rào c ản lớn đối với

ngành nông nghiệp, trong khi sản phẩm do người nông dân làm ra luôn đóng vai trò

thiết yếu của đời sống xã hội. Cho nên, chính quy ền địa phương cần linh hoạt trong

vận dụng chủ trương của Chính phủ trong việc thực hiện chính sách ưu đãi, trợ cấp,

trợ giá cho nông dân, nhất là các mặt hàng xuất khẩu mà tỉnh có thế mạnh.

Mặt khác, tỉnh cần tập trung phát triển hạ tầng kỹ thuật thủy sản và mở mang

giao thông nông thôn, đào tạo và nâng cao dân trí, chuy ển dịch lao động nông thôn,

chuyển giao ứng dụng KH - CN h ỗ tr ợ cho vùng khó kh ăn, chi tr ả tr ực ti ếp cho

người sản xuất, trợ cấp chi phí ti ếp thị và vận chuyển trong và ngoài n ước. Hỗ trợ

để thu hẹp khoảng cách thu nh ập và mức sống giữa nông thôn và thành th ị thông

qua các ch ương trình lớn của Chính ph ủ, xem đó là ch ất xúc tác để phát huy hi ệu

quả của các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Bài học th ứ năm: Để NNPTTHBV không ch ỉ ch ọn hình th ức tổ ch ức sản

xuất phù hợp mà còn phải chủ động nguồn lực để đáp ứng những hình thức tổ chức

sản xuất khác nhau.

Nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững gắn li ền với quá trình CNH,

HĐH với trình độ phát tri ển từ thấp đến cao, đó là xu h ướng phát tri ển của nhiều

60

nước. Dù ph ương hướng sản xuất, kinh doanh ở trình độ nào, thì gi ải quyết vấn đề

nguồn lực, đặc biệt là ngu ồn nhân l ực vẫn là đòi hỏi và điều ki ện tiên quy ết. Với

điều ki ện th ực tế của tỉnh Cà Mau vi ệc gi ải quy ết hài hòa các m ối quan h ệ, các

nguồn lực theo k ế ho ạch có ý ngh ĩa rất quan tr ọng trong chuy ển dịch cơ cấu sản

xuất, xác định mô hình t ăng tr ưởng theo c ơ cấu lại nền nông nghi ệp phù h ợp với

yêu cầu mới. Mặt khác, đây cũng là cách ch ủ động trong s ản xu ất tr ước bi ến đổi

ngày càng khó l ường của khí hậu, thời tiết, thiên tai, d ịch bệnh gây bất lợi đối với

nền nông nghiệp của địa phương và cả vùng ĐBSCL.

Bài học thứ sáu: phát triển nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường, sinh thái.

Nông nghiệp phát tri ển mang lại giá tr ị kinh t ế cao và b ền vững là yêu c ầu

không chỉ để đáp ứng cho hi ện tại mà còn đảm bảo cho sự lâu bền của tương lai.

Chính vì th ế, nh ững mô hình kinh t ế xanh, nông nghi ệp sạch, mô hình phát tri ển

thân thiện với môi tr ường được các nhà qu ản lý, các nhà khoa h ọc khuyến cáo. Tài

nguyên thiên nhiên là có h ạn, cho nên để đảm bảo tính bền vững của các thế hệ rất

cần đến một cách qu ản lý, đầu tư, sản xuất kinh doanh có trách nhi ệm, đó là cơ sở

cho sự ổn định an ninh lương thực quốc gia, góp phần vì sự phát triển của con người

và xã hội.

61

Chương 3

THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Ở TỈNH CÀ MAU

3.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN NÔNG

NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU

3.1.1. Đặc điểm tự nhiên

- Vị trí địa lý: Cà Mau là m ột trong 13 t ỉnh thuộc ĐBSCL, qua nhi ều lần chia

tách, sáp nh ập, tỉnh Cà Mau được tái l ập vào ngày 01.01.1997. T ỉnh nằm ở cực Nam của Tổ quốc, có di ện tích tự nhiên 5.195 km 2, chiếm 1,58% di ện tích cả nước

và chiếm 13,6% di ện tích của ĐBSCL, cách thành ph ố Hồ Chí Minh 380 km, cách

thủ đô Hà Nội 2.085 km; phía B ắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh

Bạc Liêu, phía Đông giáp bi ển Đông và phía Tây giáp v ịnh Thái Lan; có chi ều dài bờ biển 254 km, là một ngư trường rộng lớn hơn 100.000 km2 thuộc đặc quyền khai

thác của Việt Nam. Đơn vị hành chính c ủa tỉnh có 8 huy ện và 01 thành ph ố, gồm:

Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc

Hiển và Thành phố Cà Mau [21].

- Khí h ậu, thời tiết: Vùng đất Cà Mau có khí h ậu nhiệt đới gió mùa ổn định

và mang tính đặc trưng phân mùa rõ r ệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10,

mùa khô t ừ tháng 11 đến tháng 4 n ăm sau. L ượng mưa trung bình kho ảng 2.400

mm, trong đó mùa mưa chiếm khoảng 90% lượng mưa cả năm. Nhiệt độ trung bình trong năm là 26,50c; số giờ nắng trung bình năm đạt 2.500 giờ [21].

- Địa hình, thổ nhưỡng: Là vùng đất mới bồi tụ, được hình thành bởi 2 dòng

hải lưu ở Biển Đông và vịnh Thái Lan, đón nhận phù sa của sông Cửu Long bồi đắp

dần theo năm tháng tạo nên. Vì là vùng đất do phù sa l ắng đọng, bồi cao dần, nên

độ cao không chênh lệch mấy so với mặt nước biển; phần lớn đất đai là đồng ruộng

lầy trũng và có nhi ều rừng thiên nhiên ng ập nước rộng lớn, từ đó, tạo ra lợi thế về

trồng tr ọt, ch ăn nuôi và nuôi tr ồng th ủy sản. Lợi th ế này cho phép Cà Mau phát

triển nông, lâm nghiệp đa dạng kết hợp với nuôi trồng và khai thác thủy hải sản ven

bờ, ngoài khơi với quy mô và tốc độ khá nhanh [21].

62

Biển Đông

Hình 3.1: Bản đồ địa lý hành chính tỉnh Cà Mau

Nguồn: [21].

- Tài nguyên thiên nhiên

+ Tài nguyên đất

Tỉnh Cà Mau có 519.501 ha di ện tích đất tự nhiên. Trong đó di ện tích đất

nông nghi ệp là 462.708 ha, chi ếm 67,63%; di ện tích đất lâm nghi ệp có r ừng là

104.816 ha, chi ếm 20,17%; di ện tích đất chuyên dùng là 17.072 ha, chi ếm 3,28%;

diện tích đất ở là 5.502 ha, chiếm 1,05%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá

là 40.773 ha, chiếm 7,84%. Nhìn chung đất ở Cà Mau thuận lợi cho nuôi trồng thủy

sản nhưng ít thuận lợi cho trồng trọt, nhất là canh tác trong điều kiện nhờ nước mưa

và luôn chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn, đặc biệt là khi chuy ển đổi nuôi tôm đã

làm tái nhiễm mặn cả đất ruộng và đất vườn mà hàng trăm năm trước đây nông dân

và chính quyền địa phương đã đầu tư ngăn mặn, giữ ngọt, cải tạo đất để trồng trọt.

Đây là m ột trong nh ững căn cứ quan tr ọng để bố trí s ử dụng đất phát tri ển ng ư,

Đất chưa s ử dụng 8.543ha

Đất phi nông nghiệp 58.236 ha

Đất nông nghiệp 462.708 ha

nông, lâm nghiệp tỉnh Cà Mau trong thời gian tới [21].

Hình 3.2: Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 của Cà Mau

Nguồn: [21].

63

+ Tài nguyên nước

Theo kết quả điều tra, nước ngầm ở tỉnh Cà Mau có trữ lượng lớn, chất lượng

đảm bảo cho sinh ho ạt và sản xuất nông- công nghi ệp. Có 7 t ầng chứa nước dưới đất với tổng tr ữ lượng ti ềm năng kho ảng 6 tri ệu m3/ngày. Hi ện nay nước ng ầm ở tỉnh đang khai thác chủ yếu ở tầng II, tầng III và tầng IV (đối với giếng nước lẻ của hộ dân ch ủ yếu khai thác ở tầng II và t ầng III). Ngoài các gi ếng nước công nghi ệp

tại thành phố Cà Mau, các th ị trấn huyện lỵ, các nhà máy, l ượng giếng nước khoan

ừng

của các hộ dân là trên 26.000 giếng [21]. + Tài nguyên r Ðến năm 2015, tỉnh Cà Mau có 107.804 ha r ừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên

là 17.732 ha, di ện tích rừng trồng là 90.072 ha. R ừng ở tỉnh Cà Mau bao g ồm rừng

ngập mặn ven bi ển (t ập trung ở các huy ện Ng ọc Hi ển, Năm Căn, Đầm Dơi, Phú

Tân) và rừng tràm ng ập úng phèn (t ập trung ở huyện U Minh và Tr ần Văn Thời).

Đây là 2 h ệ sinh thái r ừng đặc thù ở vùng ĐBSCL, có tính đa dạng sinh h ọc cao;

đặc biệt rừng ngập mặn ven bi ển và rừng tràm U Minh h ạ, Khu dự trữ sinh quy ển

thế giới Mũi Cà Mau (Khu Ramsar th ứ 1088 của thế giới) có vai trò cân b ằng sinh

thái vùng ven bi ển, điều hoà khí hậu và phòng hộ ven biển. Ngoài ra, trên c ụm đảo

Hòn Khoai và Hòn Chu ối có 583 ha r ừng cây gỗ quý. Tuy nhiên, giá tr ị thuần kinh

tế của rừng Cà Mau không cao, nh ất là rừng tràm do tr ữ lượng thấp, sản phẩm gỗ

tràm khó tiêu thụ, nguy cơ cháy rừng rất cao [21].

+ Tài nguyên biển

Cà Mau là một trong 28 tỉnh ven biển của cả nước, là tỉnh duy nhất có 3 mặt

tiếp giáp với biển. Lợi thế hàng đầu của tỉnh Cà Mau là thu ỷ sản, với chiều dài bờ biển khoảng 254 km, g ồm Biển Ðông và Bi ển Tây (v ịnh Thái Lan). Bi ển Cà Mau có di ện tích th ăm dò khai thác r ộng kho ảng 100.000 km 2, có các đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Ðá B ạc... rất thuận lợi cho tàu neo đậu, tránh gió và đánh bắt dài

ngày trên biển [103].

Bảng 3.1: So sánh một số tiêu chí về biển của tỉnh Cà Mau

Tỉnh Cà Vùng biển Tiêu chí Cả nước Mau Tây Nam Bộ

Chiều dài bờ biển (km) 254 737 3.260

59,8 30,43 33

Tỷ lệ dân số các huyện ven biển (%) Số km bờ biển/100km2 đất liền 4,76 1,85 1

Nguồn: [103].

64

+ Tài nguyên sinh vật

Với lịch sử khoảng 300 năm hình thành và phát tri ển, sản xuất nông nghi ệp

của Cà Mau đã có t ập đoàn giống cây tr ồng, vật nuôi khá phong phú, c ơ bản đáp

ứng nhu cầu phát triển ngành nông nghi ệp của tỉnh trong thời gian sắp tới. Rừng U

Minh là nơi trưng bày tiêu b ản sống của loài th ực vật thuộc hệ sinh thái ng ập nước

của ĐBSCL và Đông Nam Á, v ới 201 loài th ực vật, trong đó có rất nhiều loài quý

hiếm có giá tr ị khoa học và kinh tế. Rừng ngập mặn Cà Mau có th ảm thực vật gồm

66 loài, trong đó có các loài phổ biến là họ mắm, họ bần, họ đước, nhưng ưu thế vẫn

là cây đước. Sinh sôi phát tri ển vững chắc dưới tán rừng đước là qu ần thể ngư loại

khá phong phú (tôm, cua, ốc, ghẹ, sò…) và động vật có: kh ỉ, chim, rắn, rái cá, c ần

đước, chồn, sóc…Vùng biển Cà Mau có 175 loài cá thuộc 116 giống, 77 họ [103].

+ Tài nguyên du lịch

Cà Mau có ti ềm năng về du l ịch sinh thái n ổi ti ếng với Khu d ự tr ữ sinh

quyển Mũi Cà Mau được UNESCO công nh ận là Khu d ự tr ữ sinh quy ển th ế gi ới

vào năm 2010. Là vùng đất giàu ti ềm năng, các hệ sinh thái đất ngập nước với hệ

động thực vật đa dạng của rừng đước Năm Căn và rừng tràm U Minh. Ngoài các địa

danh nổi tiếng trong đất liền, cách Mũi Cà Mau 20 km còn có đảo Hòn Khoai là một

di tích lịch sử với cuộc khởi nghĩa của anh hùng Phan Ng ọc Hiển, đồng thời Hòn

Khoai còn có v ị trí quan tr ọng là n ằm trên đường hàng h ải qu ốc tế. Ngoài ra, Cà

Mau còn nổi tiếng với các sân chim, nét đặc thù c ủa vùng đất phương Nam, nh ư:

Vườn Quốc gia U Minh h ạ, Hòn Đá Bạc, Bãi Khai Long, Ph ủ thờ Bác Hồ (27 Ph ủ

thờ), Đền thờ vua Hùng Vương, Du lịch lịch sử nhân văn (với 40 di tích lịch sử văn

hóa cấp tỉnh và 5 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia); sân chim Chà Là, sân chim

Ðầm Dơi, sân chim Tân Ti ến... đặc biệt với sân chim Cà Mau n ằm giữa lòng thành

phố thu hút rất nhiều khách thăm quan [103].

+ Tài nguyên khoáng sản

Dầu khí: Ở thềm lục địa Tây nam (Vùng V ịnh Thái Lan) có ti ềm năng lớn về

dầu khí, có nhi ều bể trầm tích có tri ển vọng dầu khí, quan tr ọng nhất là bể Malay -

Thổ Chu gồm nhiều lô thăm dò khai thác d ầu khí vùng th ỏa thuận thương mại Việt Nam - Malaysia, trữ lượng phát hiện khoảng 230 triệu m3 dầu, 212 tỷ m3 khí. Đây là

nguồn tài nguyên quý c ủa đất nước, là điều ki ện để phát tri ển công nghi ệp vùng

ĐBSCL nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng [103].

65

Than bùn: Vùng than bùn U Minh h ạ là một trong nh ững vùng có tr ữ lượng

than bùn lớn nhất Việt Nam, tập trung chủ yếu khu vực Vườn Quốc gia U Minh hạ.

Tổng diện tích có ch ứa than bùn kho ảng 5.640 ha. Đây là đầm than rộng, khá đồng

nhất về điều kiện hình thành c ũng như về chất tạo than nên ch ất lượng than bùn U

Minh Hạ ổn định, có th ể sử dụng sản xu ất ch ất đốt, phân h ữu cơ vi sinh và acid

Humic, than ho ạt tính. Do b ị cháy nhi ều lần nên tr ữ lượng than bùn gi ảm nghiêm

trọng, hi ện còn kho ảng 14,1 tri ệu tấn (gi ảm 12 l ần so v ới năm 1976). Ngu ồn tài

nguyên này cần sớm được nghiên cứu, khai thác, sử dụng hợp lý và hiệu quả.

Sét gạch ngói và sét Ceramic: Là t ỉnh có tiềm năng lớn về sét gạch ngói và sét Ceramic với tổng tr ữ lượng kho ảng 250 tri ệu m3. Về ch ất lượng đạt yêu c ầu sản

xuất gạch ngói xây dựng hoặc làm thân gạch Ceramic khoảng 40% lượng khai thác.

Đây là nguồn nguyên liệu để phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng nên cần được

quy hoạch cụ thể và có giải pháp hạn chế tác động môi trường trong sản xuất [103].

3.1.2. Đặc điểm về kinh tế, xã hội

Đất nông, lâm nghiệp và thủy sản tỉnh Cà Mau có 368.959 ha, được phân theo:

đất sử dụng vào nông nghi ệp 89.672 ha (78.916 ha đất tr ồng cây hàng n ăm và

10.756 ha đất trồng cây lâu năm), chiếm 24,3%; đất lâm nghiệp có 87.429 ha, chiếm

23,7% và đất nuôi tr ồng thủy hải sản có 191.429 ha, chi ếm 52% tổng diện tích đất

nông nghiệp [21].

Chia theo đối tượng sử dụng chủ yếu như sau: Hộ gia đình sử dụng 321.283

ha, doanh nghi ệp 47.020 ha và HTX 656 ha. Bình quân m ột hộ gia đình sử dụng

1,68 ha; 1 HTX s ử dụng 11,93 ha và 1 doanh nghi ệp sử dụng 1.567 ha. Đất nông

nghiệp Cà Mau ch ủ yếu do h ộ nông dân s ử dụng, nếu tính di ện tích đất nông

nghiệp/hộ nông nghi ệp là 2,14 ha, ch ủ yếu là tr ồng lúa. Cả tỉnh có 41.970 h ộ nông

nghiệp, trong đó có 3.883 hộ không sử dụng đất nông nghiệp, chiếm tỷ lệ 9,25%; số

hộ sử dụng trên 3 ha đất nông nghiệp chiếm 14,73%. Tính đến thời điểm năm 2015

số hộ sử dụng đất nông nghi ệp chưa có bi ến động lớn về quy mô so v ới tổng điều

tra đất nông nghiệp năm 2006 [21].

Diện tích đất tr ồng lúa : Trong đất nông nghi ệp thì di ện tích đất tr ồng lúa

chiếm lớn nhất trong số diện tích đất trồng các lo ại cây nông nghi ệp. Hiện nay, có

58.230 hộ dân có sử dụng đất để trồng lúa, bằng 30,43% số hộ nông, lâm, thủy sản.

Tổng diện tích đất trồng lúa là 130,143 nghìn ha, t ăng 14,734 ha, t ăng 12,77% so

66

với kết qu ả điều tra n ăm 2006 và gi ảm 1,427 nghìn ha so v ới năm 2001 (b ằng

1,08%). Nguyên nhân do m ột số diện tích đất trồng lúa ven bi ển năng suất thấp đã

chuyển sang nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi tôm.

Bảng 3.2: Diện tích đất trồng lúa tỉnh Cà Mau qua các năm 2001 - 2006 - 2015

Năm 2015 so sánh tỷ lệ % Huyện, TP

Diện tích lúa (ha) 2006 7.744 31.953 21.593 53.290 783 - 46 - - 115.409 2001 11.333 31.272 38.373 49.130 1.445 - - - 11 131.570 2015 6.783 22.168 30.637 58.286 1.800 - 68 401 - 130.143 2001 59,85 102.87 79,84 118,62 124,57 - - - - 98,92 2006 87,59 100,57 141.88 109,38 229,89 - 147,83 - - 112,77 TP Cà Mau H. U Minh H. Thới Bình H. Tr.V.Thời H. Cái Nước H. Đầm Dơi H. Năm Căn H. Phú Tân H. Ngọc Hiển Tổng số

Nguồn: [21].

Diện tích đất lâm nghi ệp: Năm 2015, có 1.040 h ộ sản xuất lâm nghi ệp, chiếm

0,54% tổng số hộ nông, lâm nghi ệp và th ủy sản. Diện tích rừng đạt 109, 085 nghìn

ha, tăng 12,653 nghìn ha so với 2006. Tính theo số hộ, có 508 hộ không sử dụng đất

chiếm 48,84%; số hộ sử dụng dưới 02 ha có 32 hộ, chiếm 3,08%; số hộ sử dụng trên

10 ha có 50 h ộ, chiếm 4,81% trên tổng số hộ lâm nghi ệp. Xu hướng biến động diện

tích đất lâm nghiệp thể hiện trước hết ở một số huyện như: U Minh, Tr ần Văn Thời,

Thới Bình, Ngọc Hiển, Năm Căn. Nguyên nhân là do chính quyền địa phương tích cực

chỉ đạo trồng lại rừng, đẩy mạnh giao khoán đất lâm ph ần cho hộ nông dân qu ản lý

trồng rừng kinh tế, trồng rừng kết hợp nuôi tôm và các thủy hải sản khác [21].

Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản: Năm 2015, cả tỉnh có 296.174 ha mặt

nước nuôi tr ồng thủy sản, tăng 20.985 ha (b ằng 7,63%) so v ới năm 2006. Hi ện có

148.367 hộ nuôi tr ồng thủy sản, chiếm 77, 53% s ố hộ nông lâm nghi ệp, thủy sản.

Trong số này, có 19.631 h ộ không s ử dụng mặt nước nuôi tr ồng th ủy sản, bằng

13,20%; số hộ sử dụng trên 10 ha m ặt nước nuôi tr ồng thủy sản là 623 h ộ, chiếm

0,42% trên tổng số hộ nuôi trồng thủy sản; nhiều nhất là số hộ sử dụng từ 1 ha đến 2

ha, có 42.679 hộ, chiếm 28,77% [21].

67

So với cả nước và vùng ĐBSCL, Cà Mau có s ố hộ và số lao động nuôi tr ồng

thủy sản nhiều nhất. Theo số liệu thống kê năm 2015, toàn vùng ĐBSCL có 362,3

nghìn hộ, với trên 1 tri ệu lao động, chiếm 50,3% số hộ và 53,26% s ố lao động của

cả nước. Cà Mau là địa phương có nhi ều hộ và lao động nuôi tr ồng thủy sản nhất

của cả nước với 148,367 nghìn h ộ, chi ếm 20% s ố hộ và 394,8 nghìn lao động,

chiếm 20,2% lao động của cả nước. Kế đến là tỉnh Bạc Liêu, với 64,3 nghìn h ộ và

184 nghìn lao động [21].

Bảng 3.3: Diện tích nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau qua các năm 2001, 2006,

2015 chia theo địa phương huyện, thành phố

Năm 2015 so với 2001 và 2006 (ha) Huyện, TP

Diện tích nuôi trồng thủy sản các năm (ha) 2006 11.514 19.291 41.375 28.690 31.626 62.063 24.000 33.495 23.141 275.195 2001 10.332 23.271 35.530 25.610 61.697 51.417 - - 46.334 254.191 2015 12.564 25.295 45.803 29.890 31.827 65.718 25.698 35.156 24.223 296.174 2001 121,60 108,70 128,93 116,71 51,59 127,81 - - 655,34 2006 109,12 131,13 11,72 104,18 100,64 105,89 107,08 104,96 104,64 879,36 TP Cà Mau H. U Minh H. Thới Bình H. Tr.V.Thời H. Cái Nước H. Đầm Dơi H. Năm Căn H. Phú Tân H. Ngọc Hiển Tổng số

Nguồn: [21].

- Dân số, dân tộc

Dân số trung bình n ăm 2015 là 1.227.329 ng ười, so v ới th ời điểm chia tách

tỉnh (1997) là 1.032.405 ng ười. Tỷ lệ tăng dân s ố tự nhiên kho ảng 0,68%, mật độ dân số trung bình là 232 ng ười/1km2, bằng 86% mức bình quân c ủa cả nước (271 người/1km2). Mật độ tăng dân số tính đến năm 2015, Cà Mau luôn th ấp hơn vùng ĐBSCL và c ả nước. Về tăng dân s ố cơ học th ời điểm nh ững năm 1997 t ừ 0,27 -

0,75%o, nhưng những năm gần đây xu hướng giảm dần do sự dịch chuyển lao động

từ Cà Mau đi các khu công nghi ệp Miền đông và Thành phố Hồ Chí Minh và đi lao

động ngoài nước [21].

Dân số thành th ị (thành ph ố, th ị tr ấn) tăng 245.696 ng ười năm 2005 lên

260.475 người năm 2010 và 274.276 ng ười năm 2015. Tỷ lệ tăng bình quân dân s ố

68

thành thị của Cà Mau là 2,49% trong khi đó bình quân chung c ủa vùng ĐBSCL là

3,43%, cả nước là 3,59%. Vi ệc định cư các hộ dân trong t ỉnh chủ yếu ở ven sông

rạch, các vàm sông và d ọc theo các tuy ến đường giao thông. Các c ụm dân cư tập

trung không nhi ều, đa số sống rải rác các địa bàn nông thôn. Đây là t ập quán ảnh

hưởng đến phát tri ển hạ tầng các khu dân c ư, làm hạn chế hiệu quả đầu tư nhất là

các công trình điện, nước, y tế, giáo dục, văn hóa [21],…

Cũng như vùng ĐBSCL và cả nước, Cà Mau có cơ cấu dân số đa dân tộc. Tỉnh

hiện có 20 dân t ộc khác nhau cùng sinh s ống, trong đó người kinh chi ếm chủ yếu,

kế đó là người Khơmer chiếm 3,67%, người Hoa chiếm 0,95%. Những hộ đồng bào

dân tộc Khơmer thường định cư ở địa bàn các xã vùng sâu, vùng xa, đời sống còn

nhiều khó khăn [21].

Bảng 3.4: Dân số năm 2015 chia theo huyện, thành phố

Ðịa bàn

Diện tích tự nhiên (km2)

Số TT

Toàn tỉnh

5,294.87

Dân số trung bình (người) 1,227,329

Tỷ trọng (%) 100

Mật độ dân số (người/km2) 232

1 Thành phố Cà Mau

221,2239

249.29

18.0

887

2 Huyện Thới Bình

636.39

136,540

11.1

215

3 Huyện U Minh

774.14

103,876

8.5

134

4 Huyện Trần Văn Thời

702.72

189,293

15.4

269

5 Huyện Cái Nước

417

140,047

11.4

336

6 Huyện Phú Tân

461.87

105,548

8.6

29

7 Huyện Ðầm Dơi

822.88

184,400

15.0

224

8 Huyện Nãm Căn

495.4

67,145

5.5

136

9 Huyện Ngọc Hiển

735.18

79,241

6.5

108

Nguồn: [103].

- Lao động và nguồn nhân lực

Dân số trong tu ổi lao động năm 1997 là 663,1 nghìn ng ười, chiếm 65,6% dân

số, năm 2005 là 773,5 nghìn ng ười, chi ếm 64,2% dân s ố và n ăm 2015 là 789,65

nghìn ng ười, chi ếm 64,8%, trong đó số có kh ả năng lao động là 780,97 nghìn

người. Theo số liệu điều tra lao động việc làm năm 2012, tỷ lệ nguồn lao động của

tỉnh không hoạt động kinh tế khá cao, chiếm 25,3% (cao nhất ĐBSCL); phần lớn tỷ

lệ lao động nữ nông thôn thường ở nhà nội trợ gia đình. Tỷ lệ sử dụng quỹ thời gian

lao động còn thấp, nhất là sau khi chuyển đổi sản xuất từ trồng lúa sang nuôi tôm thì

69

tình tr ạng thi ếu vi ệc làm ở nông thôn t ăng lên nhi ều (theo ước tính t ỷ lệ sử dụng

thời gian lao động ở nông thôn chỉ đạt khoảng 60% - 65%) [103].

Bảng 3.5 : Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế

Tăng trưởng bình quân năm (%)

Lao động/lĩnh vực

1997

2005 2010 2015 1997-

2006-

2011-

1997-

2005

2010

2015

2015

Lao động (nghìn

6935 652.0 681.2

0.8

1.2

1.3

1.1

537.4

người)

Nông-Lâm-Ngư-

-0.4

-1.4

1.6

-0.3

5037.0 504.4 469.5 501.4

Nghiệp

Công nghiệp-Xây

24.0

31.9 42.8 48.2

4.2

6.1

3.2

4.7

dựng

Dịch vụ

49.1

77.2 139.7 143.6

8.6

12.6

0.0

8.1

Nguồn: [21].

Ch ất lượng đào tạo nghề và cơ cấu nghề đào tạo còn hạn chế nên ch ưa đáp

ứng yêu cầu tuyển dụng lao động. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc ở

các ngành kinh t ế đã qua đào tạo năm 2012 ch ỉ chiếm 5% (ĐBSCL là 9,1%) [21].

Lao động của tỉnh chủ yếu làm nông nghi ệp, quen tác phong làm vi ệc tự do, ý th ức

chấp hành k ỷ luật lao động còn th ấp, rất hạn chế về ngoại ngữ nên gặp nhiều khó

khăn về kh ả năng cạnh tranh trong th ị tr ường lao động xã h ội và phân công lao

động xã hội. Đây là cản trở lớn trong tiến trình thực hiện CNH và h ội nhập quốc tế

về lao động.

3.1.3. Đánh giá về sự tác động của các điều kiện tự nhiên, kinh t ế, xã hội

đến nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Qua phân tích các điều kiện tự nhiên, KT-XH của Cà Mau có th ể rút ra những

tác động tích cực và tiêu cực đến NNPTTHBV của tỉnh trong thời gian tới như sau:

3.1.3.1. Những tác động tích cực

Thứ nhất, Cà Mau có v ị trí địa lý thu ận lợi cho phát tri ển giao thông đa dạng

(đường bộ có Quốc lộ 1, Quản lộ Phụng Hiệp, đường Vành đai ven biển phía Nam,

đường xuyên Á; đường th ủy, có hệ th ống sông ngòi ch ằn chịt, liên thông v ới Bạc

Liêu, Kiên Giang, H ậu Giang; đường biển có ba mặt tiếp giáp bi ển rất thuận lợi để

phát triển cảng biển; đường không có sân bay Cà Mau và sân bay N ăm Căn) vì thế

sẽ rất thuận lợi cho việc tiếp thu KH-CN, giao lưu các yếu tố vật tư, nguyên liệu sản

70

xuất và tiêu th ụ sản phẩm đầu ra. Trên th ực tế quá trình s ản xuất Cà Mau đã khai

thác khá tốt những lợi thế này.

Thứ hai, nông nghi ệp của tỉnh phát tri ển trong điều kiện thời tiết thuận lợi về

chế độ nhiệt, chỉ có hai mùa m ưa nắng, nhờ có hệ thống sông nối liền ra bi ển nên

Cà Mau không bị lũ lụt như một số tỉnh vùng ĐBSCL, cũng rất ít hứng chịu những

cơn bão dữ. Tỉnh có qu ỹ đất tự nhiên dồi dào, thu ận lợi cho phát tri ển nông nghiệp

với nghề nuôi trồng thủy sản, trồng lúa, trồng cây ăn trái, phát triển đàn gia súc, gia

cầm; phát triển lâm nghiệp với nghề trồng cây công nghiệp mà chủ yếu là trồng keo

lai, tràm, đước. Nói tóm l ại, điều ki ện tự nhiên c ủa Cà Mau r ất thu ận lợi để phát

triển cả nông, lâm, th ủy sản nói chung đảm bảo một nền NNPTTHBV tr ước những

tác động của tự nhiên và kinh tế thị trường.

Thứ ba, Cà Mau có hệ thống hạ tầng nông thôn phát triển khá đồng đều với tốc

độ nhanh chóng trong vài n ăm gần đây. Hiện nay, 101/101 xã có đường ô tô về đến

trung tâm, điện lưới quốc gia được phủ kín đến tận xóm, ấp. Do sông ngòi chằng chịt

nên chủ trương của tỉnh phát triển thủy lợi chủ yếu dựa vào tự nhiên nên ít tốn kém. Cà

Mau được quy ho ạch hai vùng n ước mặn - ng ọt phục vụ sản xuất và sinh ho ạt của

người dân. Cạnh đó, nguồn nước ngầm của tỉnh với trữ lượng lớn nên phục vụ khá tốt

cho phát triển công - nông nghiệp và sinh hoạt của người dân. Mặt khác, do tỉnh nằm ở

vị trí rất thuận lợi nên việc triển khai xây dựng điện gió dọc theo 254 km bờ biển sẽ mở

ra một hướng phát triển cho tỉnh và cả vùng ĐBSCL. Việc phát triển kết cấu hạ tầng

trên cơ sở khai thác các yếu tố thuận lợi, khắc phục các bất lợi của tự nhiên, của kinh tế

thị trường là hướng đi đúng cho một nền NNPTTHBV.

Thứ tư, Cà Mau có h ệ th ống dịch vụ nông nghi ệp khá phát tri ển. Tuy t ỉnh

không có nhiều doanh nghiệp sản xuất vật tư nông nghi ệp, nhưng doanh nghiệp làm

chức năng phân phối, đại lý bán lẻ rất nhiều và khá sôi động. Nhất là cung cấp vật tư

nuôi trồng thủy sản, nguyên liệu sản xuất, chế biến nông, lâm, thủy sản, chế biến thực

phẩm, dịch vụ bảo quản, vận chuyển…Các nhà máy chế biến thủy sản ở Cà Mau phát

triển khá mạnh, chính sự năng động, chủ động tìm đầu ra cho các mặt hàng thủy sản

mà các doanh nghi ệp của tỉnh nằm trong tốp dẫn đầu của cả nước về quy mô, s ản

lượng và doanh số xuất khẩu các mặt hàng thủy sản trong nhiều năm trở lại đây.

Thứ năm, cũng như ngành nông nghiệp, nhiều ngành kinh tế của tỉnh đang phát

triển với tốc độ khá đã có tác động tích cực đến NNPTTHBV của tỉnh. Chính sự quan

71

tâm của các cấp, các ngành và các địa phương trong tỉnh đã có tác động tích cực đến sự

tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp. Mặt khác, do yêu cầu của quá trình CNH nền

nông nghiệp ngày càng cao nên chất lượng nguồn nhân lực trên lĩnh vực nông nghiệp

từng bước được nâng lên, tuy v ẫn còn ở mức thấp so với vùng ĐBSCL và cả nước

nhưng sự cải thiện đó là bước tiến đáng ghi nhận cho nền NNPTTHBV.

3.1.3.2. Những tác động tiêu cực

Với điều ki ện tự nhiên KT-XH nêu trên, Cà Mau nh ận được nhi ều tác động

thuận lợi trong phát tri ển nông nghi ệp nói chung, NNPTTHBV nói riêng. Tuy

nhiên, bên cạnh những tác động thuận lợi, NNPTTHBV của Cà Mau ph ải chịu một

số tác động bất lợi, như:

Thứ nhất, mặc dù qu ỹ đất nông nghiệp của Cà Mau v ừa đa dạng, vừa dồi dào

đã tạo điều kiện thuận lợi cho NNPTTHBV, nh ưng hiện nay qu ỹ đất này đã được

giao cho tổ chức, cá nhân quản lý, sản xuất, kinh doanh nên việc điều chỉnh quy mô

hình thành "Cánh đồng mẫu lớn", các nông trại, trang trại, doanh trại…để phát triển

theo hướng ổn định, bền vững là vấn đề không hề dễ. Ngay cả việc chuyển nhượng

hay vận động nhân dân chuy ển đổi hình th ức canh tác, s ản xuất cũng rất khó kh ăn,

bởi lối sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, "ti ểu nông" đã ăn sâu trong n ếp nghĩ, cách làm

của nông dân. Chính áp lực dân số đã trực tiếp ảnh hưởng đến quy mô, diện tích đất

của các hộ cá thể.

Thứ hai, điều kiện tự nhiên tuy có thuận lợi cho NNPTTHBV nhưng diễn biến

thời tiết những năm gần đây phức tạp và chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, đặc biệt là

đối với vùng ĐBSCL, trong đó có Cà Mau ch ịu nhi ều thi ệt hại nh ất. Để

NNPTTHBV, tỉnh phải cần thấy hết những khó kh ăn, mà tr ước hết là có bi ện pháp

giảm nhẹ thiệt hại trước những tai bi ến thiên nhiên. Nh ững tác động trực tiếp như

nắng hạn, nhiễm mặn, lũ lụt, sạt lở đất, nước biển dâng, dịch bệnh, bão, lốc xoáy, kể

cả nguy cơ sóng thần…là những tác động cực đoan đáng lo ngại từ thời tiết, khí hậu

gây tác hại và ảnh hưởng trực tiếp đến NNPTTHBV.

Thứ ba, kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, th ủy lợi, điện, nước phục

vụ cho sản xuất, sinh ho ạt gặp rất nhiều khó kh ăn và tốn kém. Do Cà Mau là vùng

đất mới, ¾ diện tích thuộc sinh thái mặn do phù sa lắng tụ nên chân đất rất yếu, khó

khăn cho phát tri ển giao thông đường bộ, xây d ựng mạng lưới điện ph ục vụ cho

nuôi tôm công nghi ệp. Sông Cà Mau phù sa b ồi lắng rất nhanh nên th ủy lợi cho

72

trồng lúa, nuôi tôm g ặp khó. Trong khi đó, chương trình ng ọt hóa bán đảo Cà Mau

không mang lại hiệu quả như mong muốn, nhiều công trình được đầu tư hàng nghìn

tỷ đồng nhưng đa số không phát huy được tác dụng do chương trình không thể khép

kín được. Điều đó cho th ấy, ch ương trình ng ọt hóa bán đảo Cà Mau hay ch ương

trình xây dựng đê bao từ ven bi ển Đông sang bi ển Tây Cà Mau là khó kh ả thi với

điều kiện tự nhiên như Cà Mau và nguồn vốn Nhà nước có hạn như hiện nay.

Thứ tư, ngu ồn nhân l ực của tỉnh khá d ồi dào v ề số lượng, nh ưng ph ần lớn

trong số đó có trình độ học vấn th ấp, ch ủ yếu là lao động chân tay, th ủ công ch ứ

chưa được đào tạo. Đa số lao động nông thôn, lao động nữ sống thụ động, thời gian

lao động nhàn rỗi nhiều, nhưng ít ch ịu tiếp xúc, ti ếp thu cái m ới, tinh th ần cầu tiến

bộ thấp nên rất ngại tiếp cận với KH-KT, một bộ phận ý thức lao động, thái độ với

việc làm chưa được tốt.

Thứ năm, hệ thống các doanh nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản trên địa bàn

tỉnh khá phát triển, nhưng do phương hướng kinh doanh của các doanh nghiệp chưa

năng động, thiếu đa dạng, sự liên kết "bốn nhà" còn lỏng lẻo nên hiệu quả mang lại

thấp, ch ưa tương xứng với ti ền năng, th ế mạnh của tỉnh. Mặt khác, do d ịch bệnh,

mất mùa, t ỉnh ch ưa quy ho ạch được vùng nguyên li ệu tập trung, s ản xu ất manh

mún, nhỏ lẻ nên các nhà máy ch ế biến chưa sử dụng hết công suất, trong khi đó thị

trường đầu ra gặp nhiều khó kh ăn do ch ủ yếu sản phẩm thô, sơ chế, xuất khẩu gặp

nhiều khó khăn rào cản, sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa thấp ảnh hưởng tiêu

cực đến NNPTTHBV.

3.2. TH ỰC TR ẠNG NÔNG NGHI ỆP PHÁT TRI ỂN THEO H ƯỚNG BỀN

VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU, GIAI ĐOẠN 1997-2015

Nông nghiệp Cà Mau là khu vực kinh tế trọng yếu của tỉnh, kể từ khi chia tách

tỉnh (01/01/1997) đến nay, n ền nông nghi ệp của tỉnh có b ước phát tri ển từ ch ỗ tự

cấp, tự túc là chính chuy ển sang phát tri ển theo hướng hàng hóa gắn với thị trường.

Nét đặc trưng của sản xuất nông, lâm nghi ệp và nuôi tr ồng thủy sản của Cà Mau từ

khi chia tách t ỉnh đến nay là phát tri ển toàn di ện, trong đó trọng tâm là nuôi tr ồng

thủy sản, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và tăng trưởng theo hướng gắn với

xuất khẩu. Một chặng đường khá dài ph ấn đấu liên tục, vượt qua nhi ều khó kh ăn,

thách thức, nhất là sự tàn phá nặng nề của cơn bão số 5 (năm 1997) và sự biến động

thất th ường của th ị tr ường th ế gi ới, nh ất là th ị tr ường xu ất kh ẩu th ủy sản do tác

73

động của kh ủng ho ảng kinh t ế các n ước châu Á (2007-2009) tình hình nông, lâm

nghiệp và th ủy sản tỉnh Cà Mau v ẫn có nhi ều chuyển biến tích cực, tuy khó kh ăn,

yếu kém còn nhiều.

3.2.1. Thực trạng nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà

Mau xét trên phương diện kinh tế

3.2.1.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng các sản phẩm nông nghiệp

Xét về quy mô và tốc độ tăng trưởng, so với các tỉnh vùng ĐBSCL, Cà Mau là

tỉnh có s ản lượng th ủy hải sản đứng th ứ hai. N ăm 2015, s ản lượng th ủy sản của

Kiên Giang đạt 16, 8% s ản lượng th ủy sản vùng ĐBSCL, trong khi đó Cà Mau

chiếm 13,2% và b ằng 7,35% sản lượng của cả nước. Tuy nhiên, v ề sản lượng tôm

Cà Mau là t ỉnh đứng đầu cả nước. Năm 2015, chi ếm 30,1% s ản lượng tôm toàn

vùng ĐBSCL, tiếp đó là Bạc Liêu 19,4%, thứ ba là Sóc Trăng 16,5% [100].

Khai thác thủy sản của Cà Mau tập trung chủ yếu ở mảng khai thác bi ển. Các

hoạt động khai thác th ủy sản nội địa với quy mô s ản xuất nhỏ, ít có tính ch ất sản

xuất hàng hóa. Do v ậy, việc phân tích và tính toán quy ho ạch, đầu tư tỉnh tập trung

vào khai thác thủy hải sản biển là chính.

Cà Mau có lượng tàu thuyền khai thác hải sản khá hùng hậu về cả số lượng và công

suất (đứng thứ hai ĐBSCL, chỉ xếp sau tỉnh Kiên Giang). Năm 2010, có 5.014 chiếc, với

tổng công suất 397.718 CV. Năm 2015, có 4.812 chiếc với tổng công suất 363.822 CV,

giảm trên 200 phương tiện, chủ yếu nhóm tàu có công suất nhỏ, dưới 20 CV [100].

Biểu đồ 3.1: Biểu đồ tăng, giảm (%) của sản lượng khai thác thủy sản biển

Nguồn: [103].

74

Nhìn chung, trong th ời gian 1997 - 2010, đội tàu khai thác th ủy sản liên t ục

tăng (t ăng bình quân 0,93%), lo ại tàu có công su ất <50 CV t ăng 0,38%, lo ại tàu

công su ất lớn hơn 400CV ch ỉ chi ếm 0,95% nh ưng có t ốc độ tăng tr ưởng cao

27,94% [13]. T ừ năm 2010, n ăm có s ố lượng ph ương ti ện đạt mức kỷ lục 5.463

chiếc và 388.258 CV. Sau đó, số lượng phương tiện đánh bắt và công su ất có chiều

hướng giảm dần, tăng 17,8%. Nh ất là từ năm 2011-2013 gi ảm 19,6%, số tàu đánh

bắt tăng mạnh có công su ất từ 20 CV đến 90 CV; số tàu công su ất trên 90 CV t ăng

nhẹ, tăng 0,45% [12]. Năm 2008, thực hiện Quyết định 289-QĐ-TTg của Thủ tướng

Chính phủ về việc hỗ trợ xăng dầu cho ng ư dân nên t ỷ trọng tàu thuy ền công su ất

loại trung bình t ăng mạnh. Tàu có công su ất > 90 CV chi ếm ưu th ế trong c ơ cấu

công su ất, số lượng và t ỷ tr ọng ngày càng t ăng trong giai đoạn 1997 - 2007, t ừ

23,32%, nhưng sau đó mặc dù t ỷ trọng không gi ảm nhưng số lượng giảm theo xu

thế chung.

Nếu lấy mốc thời gian 1997 - 2006, bình quân m ỗi năm tổng sản lượng khai

thác được kho ảng 140 nghìn t ấn/năm, đến năm 2015, đạt 181 nghìn t ấn, trong đó

tôm chiếm 34,5% còn l ại là cá và các loài th ủy sản khác. Tuy s ản lượng khai thác

hàng năm vẫn tăng, nhưng tỷ trọng sản lượng khai thác đang giảm dần do sản lượng

nuôi trồng thủy sản tăng nhanh hơn. Năm 2015, sản lượng khai thác chi ếm 35,7%

tổng sản lượng thủy sản của tỉnh [22].

Trong các loài khai thác chính thì s ản lượng cá, tôm t ăng trưởng ổn định, các

loài thủy sản khác tăng giảm theo mùa vụ.

Nuôi trồng thủy sản, diện tích nuôi tr ồng thủy sản của tỉnh liên tục tăng theo

thời gian từ năm 1997 - 2015. N ăm 2010, di ện tích đạt 296.300 ha, đến năm 2013,

giảm nhẹ còn 295.789 ha. Năm 2000 - 2010, diện tích tăng do chuyển đổi theo Nghị

quyết 09/2000/NQ-CP c ủa Chính ph ủ, tốc độ tăng bình quân di ện tích nuôi tr ồng

thủy sản (NTTS) trong giai đoạn 2000-2010 đạt 1,54%/năm. Đầm Dơi là huy ện có

diện tích NTTS l ớn nh ất tỉnh, trong 5 n ăm 2010 - 2015, di ện tích nuôi tr ồng thủy

sản hàng năm có tăng giảm, nhưng nhìn chung là b ảo hòa, không có s ự biến động

đáng kể.

75

Bảng 3.6: Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản theo huyện, thành phố

Đơn vị tính: ha

1997 2000 2005 2010 2015

Tổng số 154.036 204.381 278.241 296.300 298.202

TP Cà Mau 1.562 1.885 12.727 12.541 13.161

H. Thới Bình 19.806 17.420 41.953 45.505 48.421

H. U Minh 7.194 15.542 22.200 25.200 24.988

H. Tr.V.Thời 13.355 10.811 28.600 29.800 31.114

H. Cái Nước 18.234 69.171 31.626 31.809 30.263

H. Phú Tân 33.495 35.154 - - 35.154

H. Đầm Dơi 38.568 42.452 61.128 65.717 65.717

H. Năm Căn 24.000 25.973 - - 25.594

H. Ngọc Hiển 55.317 47.118 22.512 24.901 23.790

Nguồn: [21].

Diện tích nuôi tôm c ủa tỉnh đạt tỷ trọng lớn, tính thời điểm năm 1997 lúc mới

chia tách tỉnh diện tích chỉ bằng 154.034 ha nhưng đến năm 2015 diện tích tăng gần

gấp 2 lần, đó là ch ưa kể đến mặt nước sông, đầm, kênh, rạch nội địa và mặt nước

ven biển. Tính đến năm 2015, diện tích nuôi tôm c ủa Cà Mau chi ếm hơn 90% diện

tích mặt nước nuôi tr ồng th ủy sản của tỉnh. Mặc dù di ện tích l ớn, song n ăng su ất

trong bình NTTS của tỉnh nói chung và nuôi tôm nói riêng th ấp hơn so với cả nước.

Điều này thể hiện mức độ thâm canh của tỉnh thấp hơn so với các địa phương khác

và vùng ĐBSCL [21].

Sản lượng NTTS của tỉnh Cà Mau n ăm 1997 - 2015, t ăng liên tục từ khi chia

tách tỉnh đến nay. Hầu hết các huy ện trong t ỉnh đều có xu h ướng tăng, các huy ện

đều xem nhiệm vụ phát triển kinh tế trọng tâm là nuôi tr ồng thủy sản nên định suất

đầu tư qua từng năm liên tục tăng, dẫn đến sản lượng cũng tăng theo. Nếu tính riêng

nuôi tôm thì Đầm Dơi là huy ện chiếm tỷ trọng cao nh ất đạt 42.158 t ấn năm 2015

(chiếm 27,2%), kế đến là huyện Phú Tân, Cái Nước, Ngọc Hiển.

76

Bảng 3.7: Sản lượng tôm nuôi trồng thủy sản phân theo huyện, thành phố

Đơn vị tính: Tấn

1997 2000 2005 2010 2015

Tổng số 39.429 49.232 92.884 122.960 166.000

TP Cà Mau 78 521 3.986 4.634 10.780

H. Thới Bình 1.107 1.876 7.304 11.106 13.400

H. U Minh 394 1.057 3.000 5.300 8.600

H. Tr.V.Thời 11.713 2.776 6.910 8.084 15.700

H. Cái Nước 3.892 7.106 10.784 11.247 21.600

H. Phú Tân - - 11.500 19.715 23.505

H. Đầm Dơi 40.187 15.433 25.255 33.669 42.158

H. Năm Căn - - 11.391 11.260 11.207

H. Ngọc Hiển 12.058 20.466 12.790 14.945 19.050

Nguồn: [21].

Diện tích nuôi n ước lợ được phân b ổ ở 9/9 huy ện, thành ph ố, nhi ều nh ất ở

huyện Đầm Dơi với 65.584 ha, th ấp nh ất là thành ph ố Cà Mau 11.871 ha. V ề cơ

bản, tỉnh đã hình thành hai vùng nuôi trồng thủy sản rõ rệt: Vùng phía Nam Cà Mau

chủ yếu là nuôi tôm chuyên canh và nuôi tôm kết hợp trồng rừng; vùng phía Bắc Cà

Mau nuôi tôm chuyên canh và k ết hợp luân canh m ột vụ lúa. Ngoài nuôi tôm, các

hộ nông dân t ừng bước th ực hi ện nuôi đa con k ết hợp với nuôi tôm, nh ư nuôi cá

chẻm, cua, sò huy ết, cá chính, b ống mú, cá kèo, tai t ượng…hiện đang được nhân

rộng [21].

Năm 2015, diện tích nuôi trồng thủy sản ngoài tôm có khoảng 35.000 - 40.000

ha. Trong đó, cá đồng là ngu ồn lợi có ti ếng ở Cà Mau, nh ư cá lóc, cá trê, cá rô, cá

sặc rằn…nhưng từ sau chuy ển đổi sản xu ất, ngu ồn lợi cá đồng di ện tích và s ản

lượng giảm đi nhanh chóng. Những năm gần đây, diện tích nuôi cá nước ngọt, nước

lợ đang được phục hồi. Nhiều hộ đang phát tri ển nuôi các loài cá có giá tr ị kinh tế

cao, địa bàn nuôi t ập trung ở các huy ện được quy ho ạch ng ọt hóa nh ư các huy ện

Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời và một phần thuộc thành phố Cà Mau [21].

77

Đơn vị tính: Tấn

Biểu đồ 3.2: Sản lượng thủy sản phân theo ngành nuôi trồng của tỉnh Cà Mau

Nguồn: [21].

Hiện nay phần lớn tôm được nuôi theo hình thức quảng canh cải tiến với nhiều

mô hình: Nuôi chuyên canh, nuôi chuyên canh tr ồng một vụ lúa, nuôi kết hợp trồng

rừng, nuôi d ưới mương, li ếp vườn…một số hộ nuôi chuy ển sang qu ảng canh c ải

tiến bậc cao với sự hỗ trợ của công tác khuy ến ngư, diện tích nuôi thâm canh, bán

thâm canh (nuôi công nghi ệp, bán công nghi ệp) không l ớn; một số di ện tích nuôi

dạng sinh thái (nuôi kết hợp trồng rừng).

Bảng 3.8: Diện tích các loại cây trồng

Đơn vị tính: ha

Chia ra

Cây hàng năm

Cây lâu năm

Trong đó

Trong đó

Tổng số

Tổng số

Tổng số Cây CN lâu năm

Cây ăn quả

2 3

Cây lương thực 4

1 1997 2000 2005 2010 2015 269.339 233.662 221.116 291.348 262.374 248.542 135.749 119.484 109.861 151.135 134.807 125.897 155.423 139.457 127.987

Cây CN hàng năm 5 5.386 5.936 3.533 1.978 1.839

6 35.667 28.974 16265 16.328 15.966 7 26.559 20.102 9.585 8.080 7.523 9.118 8.872 6.865 8.248 8.443

Nguồn: [21].

78

Trong sản xuất nông nghiệp trồng trọt vẫn là ngành sản xuất chính, năm 2015,

sản lượng chi ếm 61%, gi ảm 71% so v ới 2005 [20]. Tuy nhiên, so v ới cả khu v ực

ngư - nông - lâm nghiệp năm 2015 trồng trọt chỉ chiến tỷ lệ nhỏ 12.3%. Từ khi triển

khai thực hiện Nghị quyết số 09/200/-CP của Chính phủ diện tích các loài cây tr ồng

chính, nhìn chung đã bị giảm và tương đối ổn định trong ba năm gần đây.

Lúa là sản phẩm trồng trọt chính của tỉnh. Tổng diện tích gieo tr ồng lúa năm

2015 là 129.766 ha, n ăng suất lúa bình quân 4.37 t ấn/ha, sản lượng đạt 566.487 tấn

[20]. Th ực hi ện Đề án s ố 01/ ĐA-UBND của Ủy ban Nhân dân t ỉnh về nâng cao

năng suất chất lượng và hiệu quả trong sản xuất tôm, lúa giai đoạn 2009 - 2012 định

hướng đến năm 2015, nhiều tiến bộ kỹ thuật mới đã được ứng dụng trong trồng trọt

như: Chuyển đổi gi ống lúa m ới, ứng dụng kỹ thu ật canh tác "3 gi ảm, 3 t ăng", cơ

giới hóa trong s ản xuất lúa… Đến nay tỷ lệ sử dụng giống cấp xác nh ận, giống lúa

chất lượng cao chiếm tới hơn 80% diện tích giống OM 576 (hầm trâu) chỉ còn dưới

10%. Năng su ất lúa bình quân n ăm 2015 t ăng 5,06% so v ới năm 2010 [15]. Đặc

biệt, Cà Mau hi ện nay là t ỉnh có th ế mạnh về sản xuất một vụ lúa, một vụ tôm có

hiệu qu ả, cung c ấp một lượng lúa s ạch đáng kể cho th ị tr ường lúa g ạo. Di ện tích

một vụ lúa, một vụ tôm có kho ảng trên 40.000 ha t ập trung ở các huyện Thới Bình,

U Minh và Trần Văn Thời.

Ngoài cây lúa, Cà Mau c ũng hình thành vùng s ản xuất nguyên li ệu tập trung

cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu nông sản như: Vùng mía nguyên li ệu 1.762

ha ở các huy ện: Th ới Bình, U Minh; vùng cây ăn qu ả nh ư cây chu ối với kho ảng

5.700 ha, cây dừa 8.069 ha tập trung chủ yếu tại các huyện Trần Văn Thời, U Minh,

Thới Bình [15].

Về thực hiện cánh đồng mẫu lớn, đã triển khai từ năm 2012 đến nay. Toàn tỉnh

đã tổ chức sản xuất quy mô kho ảng 5.200 ha, v ới 4.729 hộ tham gia. Đây là hình

thức sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao về năng suất, chất lượng và giá tr ị bình quân

tăng 15%, tạo bước đột phá, th ực hiện tốt mối liên kết "4 nhà", c ủng cố khối liên

minh công nông trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn.

Bên cạnh đó, về sản xuất lúa hữu cơ ở Cà Mau cũng đã hình thành một dự án

về lúa gạo hoa sữa của Công ty Vi ễn Phú tại huyện U Minh v ới diện tích 320 ha.

Bước đầu cho kết quả khả quan (n ăng suất bình quân 2,7 t ấn/ha/vụ, được cơ quan

kiểm soát chất lượng Hà Lan cấp giấy chứng nhận để xuất khẩu qua thị trường Châu

79

Âu và Mỹ, giá lúa h ữu cơ thu mua hi ện tại cao gấp 3 lần so với giá lúa ch ất lượng

tốt nhất sản xuất theo kiểu không hữu cơ), sản phẩm lúa hữu cơ tạo tiền đề cho định

hướng phát triển trong tương lai.

Bảng 3.9: Biến động diện tích một số cây trồng chính (1997 - 2015)

Đơn vị: ha

Cây ăn quả Lúa Năm Ngô Dừa Mía (DT gieo trồng) khác

1997 220.844 342 21.222 10.041 6.515

2000 248.241 301 20.102 8.833 5.655

2005 109.640 221 9.585 6.680 3.422

2010 125.581 316 8.080 8.248 1.803

2015 136.141 296 8.069 9.166 1.762

Nguồn: [21].

Ngoài ra, t ừ năm 2011 đến nay, đã có nhi ều mô hình s ản xu ất có hi ệu qu ả,

thành công, nhân ra diện rộng, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tăng thu nhập

cho ng ười dân, nh ất là trong th ực hi ện Đề án Tôm - Lúa. Đến năm 2015 đã xây

dựng 38 mô hình s ản xuất lúa với quy mô 13.133 ha; n ăng suất bình quân đạt 5,2

tấn/ha/vụ, tăng 0,7 tấn so với vụ sản xuất của địa phương. Đó là các mô hình: S ản

xuất lúa gi ống năng su ất cao nhân ra c ấp nguyên ch ủng với 67 ha; s ản xu ất lúa

giống nguyên chủng nhân ra cấp xác nhận 1: 1.221 ha; mô hình trình di ễn giống lúa

mới: 115 ha; mô hình nhân gi ống cấp xác nhận ở xã nghèo: 75 ha; sản xuất lúa theo

quy trình GAP: 220 ha; s ản xuất lúa "3 gi ảm, 3 tăng": 300 ha; mô hình nhân gi ống

lúa: 60 ha; sản xuất lúa ghi chép sổ tay theo tiêu chuẩn VietGAP; 100 ha…[21].

Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi trong nông nghi ệp Cà Mau th ời

gian qua di ễn ra hợp lý. Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, cơ cấu các lo ại vật nuôi

cũng có những đặc trưng riêng có của địa bàn, khác với các tỉnh Tây - Bắc ĐBSCL.

Các điều kiện cho ch ăn nuôi đại gia súc có nhi ều khó kh ăn hơn. Đàn trâu, bò giai

đoạn qua gi ảm mạnh, các đàn heo và gia c ầm tăng, giảm thất thường song xu th ế

chung là tăng. Đàn heo tăng từ 285,8 nghìn con năm 2000 lên 495,1 nghìn con n ăm

2013, tương tự đàn gia cầm cũng tăng mạnh từ 2,88 triệu con năm 2000 lên 3,9 triệu

con năm 2013 [13]. Về phân bổ, đàn trâu bò tập trung nhiều ở thành phố Cà Mau và

huyện Thới Bình, đàn heo tập trung nhi ều ở huyện Trần Văn Thời, tiếp đó là Đầm

Dơi và Thới Bình; đàn gia cầm cũng phân bố tương tự.

80

Bảng 3.10: Thực trạng chăn nuôi giai đoạn 1997 - 2015

Đơn vị tính: con

Tăng trưởng

(%/năm)

1997

2000

2005

2010

2015

2006-

2011-

2000-

2010

2015

2005

Trâu, bò 2211 655 923 770 664 -21.6 7.1 -10.4

Heo 285.832 245.924 217.662 517.423 495.115 -3.0 -2.4 31.5

Gia cầm 2.879.337 647.060 1.485.368 3.496.786 3.920.871 -25.8 17.8 38.8

Nguồn: [21].

Toàn tỉnh hiện có 15 cơ sở chế biến giết mổ gia súc, gia cầm (13 điểm gia súc,

02 điểm gia cầm). Ngày 12/9/2013 UBND tỉnh Cà Mau đã phê duyệt Đề án giết mổ

gia súc, gia cầm tập trung giai đoạn 2013 - 2015 và định hướng 2020, với mục tiêu

góp phần đảm bảo an toàn v ệ sinh th ực phẩm và bảo vệ môi tr ường. Theo đó, các

huyện Năm Căn và Đầm Dơi hiện đang tiến hành xây d ựng các lò gi ết mổ gia súc,

gia cầm tập trung [21].

Đầu tư lai tạo giống gia súc, gia c ầm từng bước được cải thi ện, số lượng và

chất lượng giống ngày càng được nâng cao. Các giống địa phương năng suất và chất

lượng kém d ần được thay th ế. Cụ th ể số lượng heo gi ống mới, heo lai gi ống

yorshire, landrat chiếm 98% tổng đàn. Hiện có 7 cơ sở sản xuất tinh và áp dụng thụ

tinh nhân t ạo trên heo chi ếm 30% t ổng đàn nái. Ph ương th ức ch ăn nuôi truy ền

thống góp ph ần tăng thu nh ập và cung c ấp ph ần lớn sản ph ẩm ch ăn nuôi cho th ị

trường tiêu th ụ nội tỉnh. Chăn nuôi có s ự kiểm soát và ch ăn nuôi theo quy mô gia

trại ứng dụng khá tốt các ti ến bộ kỹ thuật mới, tiên ti ến, trong nh ững năm gần đây

đã triển khai một số mô hình ch ăn nuôi an toàn sinh h ọc, đệm lót sinh học… ở một

số địa phương, bước đầu được bà con nông dân đón nhận và mang lại hiệu quả tích

cực, mở ra định hướng phát triển chăn nuôi trong tương lai. Chăn nuôi trang tr ại cơ

bản được hình thành và phát tri ển với sự quan tâm đầu tư khá tốt về giống, chuồng

trại, kỹ thuật và xử lý môi tr ường. Đến nay đã có 18 trang tr ại với tổng đàn 35.000

con heo. Mạng lưới thú y đã phủ kín 96/101 xã, ph ường, thị trấn có nhu c ầu thú y,

trình độ chuyên môn cán b ộ thú y ngày càng được nâng cao ( đại học có 21 ng ười,

cao đẳng 01 ng ười, trung c ấp 37 ng ười, sơ cấp 32 ng ười), góp ph ần quan tr ọng

trong công tác phòng, chống dịch bệnh kịp thời [20].

81

Về lâm nghiệp, năm 2015, tổng diện tích rừng toàn tỉnh có 104,2 nghìn ha trong đó

rừng đặc dụng là 17,8 nghìn ha, rừng phòng hộ ven biển có 26,7 nghìn ha và 59,7 nghìn

ha rừng sản xuất. Trong đó rừng tự nhiên có 9.218 ha, phần còn lại là rừng trồng [20].

Công tác khôi phục rừng trong những năm qua đã được sự quan tâm chú ý, tuy

nhiên chủ yếu chú trọng đến phủ xanh đất trồng và trồng sau khai thác, ch ưa chú ý

nhiều đến chất lượng, giá trị rừng trồng, công tác giống chưa thật sự được quan tâm.

Riêng đối với rừng sản xuất khu vực rừng tràm có được sự hỗ trợ từ nguồn ODA

của Chính ph ủ Nhật Bản đã đầu tư một số mô hình kho ảng 800 ha tr ồng rừng lên

liếp và cây keo lai đã dần dần thay th ế cây tràm truy ền th ống, bước đầu cho hi ệu

quả kinh tế khả quan, mở ra hướng phát triển mới trong thời gian tới.

Bảng 3.11: Hiện trạng rừng và trồng rừng giai đoạn 2011 - 2013

Đơn vị tính: ha

Diện tích có rừng Diện tích Năm Phòng hộ rừng trồng Tổng số Đặc dụng Sản xuất ven biển

2011 26.716 100.387 17.607 56.064 850

2013 26.681 1023.741 17.694 58.366 729

2015 26.641 104.165 17.794 59.730 546

Nguồn: [104].

Trên địa bàn tỉnh hiện có một số cơ sở, HTX ch ế biến lâm sản cung cấp cho

thị trường các mặt hàng gỗ gia dụng (sản phẩm chủ yếu là bàn gh ế gia dụng), than

đước, than hoạt tính.v.v…

Hoạt động phòng chống cháy rừng, thực hiện luật bảo vệ và phát triển rừng đạt

kết quả năm sau tốt hơn năm trước, số vụ vi ph ạm lâm lu ật giảm, số vụ cháy rừng

và thiệt hại do cháy rừng gây ra giảm đáng kể.

3.2.1.2. Về chất lượng sản phẩm nông, lâm, thủy hải sản

Trải qua giai đoạn phát tri ển khá dài 1997 - 2015, Cà Mau đã có nh ững bước

tiến đáng kể trong phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản về tăng trưởng cũng như

chuyển dịch cơ cấu trong n ội bộ khu v ực. Th ực hi ện Ngh ị quy ết số 09/CP ngày

15/6/2000 của Th ủ tướng Chính ph ủ về chuy ển dịch cơ cấu kinh t ế, tiêu th ụ sản

phẩm nông nghiệp, từ cuối năm 2000 tỉnh Cà Mau đã chuyển một phần diện tích đất

trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi thủy sản.

82

Chủ tr ương chuyển đổi cơ cấu sản xu ất nông - ng ư - lâm nghi ệp sang ng ư -

nông - lâm nghi ệp là đúng đắn, kịp thời, phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh và

phù hợp với nguyện vọng của nhân dân được đại bộ phận nhân dân đồng tình; đáp

ứng được đòi hỏi bức xúc của nhân dân mu ốn chuyển đổi nuôi tôm mang l ại hiệu

quả cao hơn trồng lúa. Quá trình chuy ển đổi đã diễn ra đồng loạt (không theo b ước

đi dự ki ến quy ho ạch). Toàn t ỉnh đã chuy ển đổi 157.895 ha đất tr ồng lúa và đất

vườn sang nuôi tr ồng th ủy sản (ch ủ yếu là nuôi tôm n ước lợ), nâng nhanh chóng

diện tích nuôi th ủy sản của tỉnh lên 278.241 ha (chi ếm 52,2 di ện tích tự nhiên của

tỉnh). Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã làm thay đổi cơ bản cơ cấu

sản xuất nông nghiệp, kinh tế thủy sản chiếm tỷ trọng ngày càng lớn và khẳng định

vai trò ngành mũi nhọn trong nền kinh tế tỉnh. Từ năm 2001 - 2005, trong khi ngành

nông nghi ệp, lâm nghi ệp tăng tr ưởng âm thì giá tr ị sản xu ất ngành th ủy sản (giá

ss94) đã tăng bình quân 11,3%/n ăm góp ph ần đưa toàn bộ khu vực ngư, nông, lâm

nghiệp tăng trưởng bình quân 4.8%/n ăm. Cơ cấu giá tr ị sản xuất ngư - nông - lâm

nghiệp của tỉnh cũng đã có thay đổi từ 65,6% - 31,6% - 2,8%/n ăm năm 2000 thành

84,4% - 13,3% - 1,8% [20]. Nhìn chung, quá trình chuy ển đổi đạt kết quả khá cao,

khai thác được tiềm năng kinh tế thủy sản, hầu hết các vùng chuy ển đổi sang nuôi

thủy sản đều đạt hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa, thu nh ập bình quân trên 1 đơn

vị diện tích cao gấp 2 lần so với trước khi chuyển đổi sản xuất. Thông qua đó đã tạo

ra giá trị hàng hóa xuất khẩu lớn, góp phần tăng trưởng kinh tế nhanh, nâng cao đời

sống nhân dân. Giá tr ị hàng hóa xu ất kh ẩu th ủy sản tăng từ 120 tri ệu USD n ăm

1997 lên 509,9 tri ệu USD năm 2005. Sau th ời kỳ thay đổi bùng phát nuôi th ủy sản

không có tốc độ tăng trưởng cao như trước song vẫn là lĩnh vực đóng góp chính cho

tăng trưởng kinh tế khu vực ngư - nông - lâm nghi ệp. Các ngành tr ồng trọt và chăn

nuôi cũng phát triển trở lại. Kinh tế khu vực ngư - nông - lâm nghi ệp phát triển hài

hòa, hợp lý hơn. Mười năm 2006 - 2015, thủy sản tăng trưởng bình quân 8,4%/năm;

trồng trọt 3,6%/n ăm; chăn nuôi 8,4%,. Xu ất kh ẩu thủy sản ti ếp tục tăng, nếu năm

2006 đạt 579,4 tri ệu USD thì n ăm 2015 đạt 1.150 tri ệu USD. Bên c ạnh đó, chuyển

đổi cơ cấu sản xuất đã tác động nhiều mặt đến đời sống xã hội nông thôn, làm thay

đổi ngh ề, tập quán canh tác c ủa nông dân, g ắn sản xu ất với th ị tr ường hàng hóa,

dịch vụ, cải thiện rõ nét về đời sống của người dân. Tuy nhiên, cùng với chuyển đổi

và điều ch ỉnh sản xu ất, nhi ều vấn đề xã h ội ở nông thôn c ũng đã xu ất hi ện, song

83

cũng đã được điều chỉnh và từng bước giải quyết. Như vấn đề không đồng bộ giữa

nhu cầu và kh ả năng về vốn, con gi ống, th ủy lợi ch ưa đáp ứng được đòi hỏi, lao

động dư thừa nhiều.

3.2.2. Thực trạng nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà

Mau xét trên phương diện xã hội

3.2.2.1. Nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững với vấn đề tạo vi ệc

làm và trình độ lao động

Tỷ trọng lao động trong lĩnh vực ngư-nông-lâm nghiệp trong năm 2005, 2010,

2015 lần lượt là 86,44%, 72,41% và 72,46%; trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng

lần lược là 4,4%, 6,23% và 6,94%; trong l ĩnh vực dịch vụ tương ứng là 9,16%,

21,36% và 20,60% [16]. Điều này cho th ấy nguy cơ Cà Mau rơi vào vòng xoáy đói

nghèo là sự cấp thiết phải nhanh chóng thay đổi tỷ lệ lao động trong cơ cấu kinh tế

để tạo ra những động lực phát triển mới.

Thu nhập thấp

Cầu tiêu dùng thấp

Cầu tiêu dùng thấp tiết kiệm thấp

Thu nhập thấp

Không tạo ra việc làm mới

Không tạo ra việc làm mới

Thiếu động lực đầu tư

Thiếu động lực đầu tư Nguồn lực đầu tư thấp

Hình 3.3: Vòng xoáy đói nghèo

Nguồn: [103].

Trình độ và ch ất lượng lao động, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của Cà Mau

vào năm 2015 chỉ đạt 7,5% ; tổng số lao động đang làm việc, thấp hơn rất nhiều so

với mức bình quân của cả nước là 17,9% và bình quân vùng ĐBSCL là 10,4%. Điều

đáng lưu ý là tỷ trọng này rất chậm thay đổi từ năm 2006 đến 2012 tỷ lệ này giảm từ

84

5,3% xuống 5,1% và năm 2015 mới có bước vươn lên 7,5% [21]. Lao động Cà Mau

chủ yếu làm nông nghi ệp, quen tác phong làm vi ệc tự do, ch ưa có tác phong s ản

xuất công nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật lao động thấp, hạn chế về ngoại ngữ nên

gặp khó khăn về cạnh tranh trong thị trường lao động xã hội và phân công lao động xã

hội. Sự yếu kém của lực lượng lao động của Tỉnh một phần nguyên nhân do giáo dục -

đào tạo (GD-ĐT) khó khăn, nhưng phần lớn là do nền kinh tế của tỉnh không hấp thụ

được các lao động có đào tạo của địa phương và từ các địa phương khác đến.

Số lượng lao động phổ thông chưa qua bất kỳ hình thức đào tạo nào năm 2010

lên tới 70%, đến năm 2015 ch ỉ số này có gi ảm nhưng không đáng kể. Số lao động

có trình độ từ Cao đẳng trở lên năm 2010 chỉ đạt 2,7% và năm 2015 đạt 3,6% [20].

Bảng 3.12: Cơ cấu lao động qua đào tạo hàng năm

Đơn vị: %

Tổng số lao

Chia ra

Năm

Truyền nghề

động qua đào tạo

18,79 21,27 23,37 24,37 24,18 30,00 31,51 33,62 33,74 33,86 34,20 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015

Cao đẳng trở lên 0,82 1,00 1,31 1,64 2,15 2,66 2,89 3,27 3,64 3,69 4,01

Chứng chỉ hành nghề 3,12 5,11 5,95 5,85 8,12 10,39 10,95 12,25 13,54 13,11 13,20

12,06 12,11 12,08 11,29 10,72 10,33 10,07 9,68 9,29 9,69 10,50

Trung học, công nhân kỹ thuật 2,79 3,06 4,03 5,04 6,01 6,62 7,59 8,43 9,27 9,35 9,78 Nguồn: [80].

Cơ cấu lao động, tỷ tr ọng lao động trong nông - lâm - ng ư nghi ệp gi ảm từ

86,44% năm 2000 xu ống còn 72,41% trong n ăm 2010 và 69,9% n ăm 2015 [20].

Tuy nhiên, từ năm 2010 tr ở lại đây hầu như không có chuy ển biến tích cực như đã

quan sát th ấy trong giai đoạn 2000-2010. Mặt dù ngành công nghi ệp, xây dựng và

dịch vụ có phát triển và thu hút được số lượng đáng kể lao động trong nông nghiệp.

Sự trì tr ệ này là d ấu hiệu cho th ấy cần phải thay đổi lại cơ cấu kinh tế của tỉnh để

nhanh chóng phục hồi lại đà tăng trưởng.

85

Bảng 3.13: Số lượng và cơ cấu lao động đang hoạt động kinh tế

Đơn vị tính: lao động

Chỉ tiêu Tổng số

Năm 1997 590.668 510.582

Năm 2005 613.456 504.375

Năm 2010 464.551 468.150

Năm 2015 678.713 491.767

25.987

31.893

40.311

47129

54.099

77.188

138.090

139817

86.44

82.22

72.41

72.46

4.40

5.20

6.23

6.94

Ngư nông lâm nghiệp Số lượng công nghiệp và xây dựng Số lượng dịch vụ Số lượng ng ư nông lâm nghiệp Tỷ tr ọng Công nghi ệp và xây dựng (%) Tỷ trọng dịch vụ (%)

9.16

21.36

20.60

12.58 Nguồn: [21].

Cơ cấu lao động ngành ng ư - nông - nghi ệp đang có xu h ướng gi ảm từ

125.658 lao động năm 2005 xu ống còn 102.900 lao động năm 2010 (t ốc độ gi ảm

bình quân 0,7%/n ăm trong giai đoạn 2006-2010) [15]. Lao động ngành ng ư nghiệp

cũng có xu hướng giảm, tuy nhiên, tốc độ giảm bình quân hàng năm thấp hơn (giảm

bình quân kho ảng 0,1%/n ăm trong giai đoạn 2006-2010). Xu h ướng này ph ản ánh

sự dịch chuy ển theo xu h ướng phi nông nghi ệp hóa c ủa Cà Mau trong giai đoạn

này. Tuy nhiên, về số lượng tuyệt đối thì số việc làm trong ngành th ủy sản vẫn tăng

lên; điều này có ngh ĩa là do s ự sụt giảm của ngành công nghi ệp, xây dựng và dịch

vụ làm cho số lượng việc làm trong các ngành này không t ăng đủ hấp thụ số lượng

lao động tăng lên do đó, những lao động này bu ộc phải làm vi ệc trong ngành nông

nghiệp và lâm nghiệp.

Bảng 3.14: Lao động ngành ngư nông lâm nghiệp

Năm 2005 540.375 Năm 2010 468.150 Năm 2015 495.176

Chỉ tiêu Tổng lao động ngư nông lâm nghiệp Thủy sản So với tổng số (%) Nông, lâm nghiệp So với tổng số (%) 378.717 75,1 125.658 24,9 365.160 78 102.990 22 390.225 77,3 115.550 23,6

Nguồn: [21].

86

Tỷ trọng lao động trong ngành th ủy sản tại Cà Mau cao v ượt trội so với cả

nước, cho th ấy đây là ngành có l ợi thế tuyệt đối của Cà Mau và có quy mô l ớn đủ

để phát triển thành các cụm sản xuất chế biến thủy hải sản.

Đặc điểm lao động Cà Mau khá d ồi dào, nh ưng phân tán, ch ất lượng lao

động thấp chủ yếu làm vi ệc trong ngành nông, lâm, ng ư nghiệp. Tỷ trọng lao động

có trình độ chuyên môn k ỹ thuật rất thấp, thấp hơn nhiều so với trung bình c ủa cả

nước. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chưa nhiều, và trong s ố lao động qua đào tạo

chủ yếu thông qua h ọc nghề, truyền nghề, lực lượng công nhân k ỹ thuật được đào

tạo bài bản qua trường lớp còn rất hạn chế.

Cà Mau không phải là nơi tạo ra sức hút lao động, chủ yếu lao động Cà Mau

di cư sang các địa phương khác, đặc biệt là lao động qua đào tạo, có trình độ chuyên

môn kỹ thuật. Lao động tại Cà Mau ch ủ yếu sử dụng lao động tại chỗ, có trình độ

chuyên môn thấp. Số trí thức đầu ngành có trình độ cao và số chuyên gia còn ít, ch ỉ

tập trung vào một số lĩnh vực (Chủ yếu là y tế và giáo dục)

Cà Mau d ường nh ư đang rơi vào vòng lu ẩn qu ẩn nghèo đói. Số lượng các

ngành nghề đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật chiếm tỷ trọng nhỏ trong

toàn bộ nền kinh t ế do đó nhu c ầu về lao động có trình độ chuyên môn k ỹ thu ật

thấp, nhu cầu đào tạo của lao động thấp -> ch ất lượng lao động thấp -> các ngành

đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật kém phát triển.

3.2.2.2. Nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững với vấn đề xóa đói

giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân

Nông nghi ệp phát tri ển làm cho thu nh ập bình quân c ủa hộ từ 278 ngàn

đồng/người/tháng năm 1997 tăng lên 1.350 ngàn đồng/người/tháng năm 2015, tăng

4,7 lần so với năm 1997 tăng bình quân 12,38%/n ăm [20]. Thu nh ập của người dân

tăng, cộng với các chính sách an sinh xã h ội được duy trì và phát tri ển liên tục đã

góp phần cải thiện tình hình nhà ở và ph ương tiện sinh hoạt của dân cư. Điều đáng

lưu ý là ph ần lớn GDP của tỉnh được chuyển ra ngoài t ỉnh (ví dụ: các nhà máy khí

điện đạm có thể tạo ra GDP lớn cho tỉnh nhưng hầu hết giá trị gia tăng của nhà máy

được chuyển ra ngoài t ỉnh, địa ph ương ch ỉ thu được thu ế và m ột số thu nh ập của

người lao động làm trong nhà máy. Hay xu ất khẩu thủy sản, năm 2015 đạt tới 1.150

tỷ USD, nh ưng ph ần lớn trong s ố đó là các thành ph ố lớn nh ư thành ph ố Hồ Chí

Minh, Cần Thơ hưởng lợi, vì đa số các công ty này có địa chỉ đăng ký kinh doanh

gốc đều ở các thành phố lớn).

87

Nhờ những thành quả của phát triển KT-XH, số hộ nghèo liên tục giảm mạnh.

Đến năm 2015 số hộ nghèo toàn tỉnh chỉ còn 3,69% thấp hơn nhiều so với mức bình

quân cả nước (khoảng 9%). Hi ện nay nếu tính t ỷ lệ hộ nghèo theo chu ẩn đa chiều

thì tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh là 9,8% và t ỷ lệ hộ cận nghèo còn 3,3%, điều này cho

thấy quá trình phát tri ển KT-XH của Cà Mau khá đồng đều, mọi tầng lớp nhân dân

đều được hưởng thành quả của sự phát triển. Đến nay, 100% hộ dân có đồ dùng lâu

bền, trong đó 89,68% hộ dân có điện thoại; 86,55% hộ dân có ti vi màu; 47,22% h ộ

dân có xe máy (năm 2005 chỉ có 20%) [20].

Thời điểm mới chia tách t ỉnh, lao động trong khu v ực nông, lâm nghi ệp và

thủy sản năm 1997 chi ếm 83,8% đến năm 2013 gi ảm xuống còn 69,46% khu v ực

công nghiệp và xây dựng năm 1997 chiếm 4,92% đến năm 2015 tăng lên 7,44% khu

vực dịch vụ có chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỷ trọng trong các ngành công

nghiệp, xây dựng và dịch vụ nhưng lao động trong khu vực nông, lâm nghi ệp, thủy

sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn và đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế [16].

Năm 2015, tỉnh có 750 nghìn lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế,

tăng 47,75% (250 ngàn người) so với năm 1997, tốc độ tăng bình quân trên 2,5%/năm,

trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có 492 nghìn lao động, tăng 22,72% so

với năm 1997, tăng bình quân 1,4%/năm, khu vực công nghiệp và xây dựng có 47 ngàn

lao động, tăng 1,7 lần so với năm 1997, tăng bình quân 7%/năm [30].

Tuy nhiên, do xu ất phát điểm là một tỉnh chủ yếu sản xuất nông nghi ệp nên

mặt dù có sự chuyển dịch lao động khá nhanh nh ưng đến năm 2015 lao động trong

khu vực nông, lâm nghi ệp và th ủy sản vẫn còn chi ếm ph ần lớn trong t ổng số lao

động của tỉnh, điều này cho th ấy đời sống của cư dân nông thôn được cải thi ện

nhưng còn chậm, một bộ phận hiện cuộc sống vẫn còn khó khăn, thiếu việc làm, thu

nhập bấp bênh, một số khác bỏ quê lên các t ỉnh Miền đông Nam bộ làm thuê ở các

khu công nghi ệp, khu ch ế xu ất để cải thi ện cu ộc sống, làm cho địa ph ương có

những thời điểm khan hiếm lao động, nhất là các nhà máy chế biến thủy sản khi vào

mùa thu hoạch cao điểm.

3.2.2.3. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững với vấn đề công bằng

xã hội

Chính sách an sinh xã hội, đầu tư phát triển, hỗ trợ người nghèo, gia đình chính

sách, gia đình khó khăn được thực hiện đồng bộ, quyết liệt, đến năm 2015 có 99,46%

88

hộ gia đình đã có điện sinh hoạt và 99% hộ dân thành thị, 85% hộ dân nông thôn sử

dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Đây là những thành tựu đáng ghi nhận của tỉnh, đặc

biệt trong bối cảnh Cà Mau vẫn là một tỉnh phát triển trung bình khá của vùng ĐBSCL.

Công tác ch ăm sóc s ức kh ỏe nhân dân , ch ất lượng khám, ch ữa bệnh cho

người dân địa bàn nông thôn t ừng bước được nâng lên. Tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ và

tỷ lệ xã, ph ường, th ị tr ấn đạt chu ẩn qu ốc gia v ề y t ế đạt 100%. C ơ sở bệnh vi ện

tuyến cơ sở được quan tâm đầu tư, nâng cấp. Năm 2015, toàn tỉnh có 3.292 gi ường

bệnh, tăng gấp 2,2 lần năm 1997; bình quân s ố giường bệnh/1 vạn dân tăng từ 14,3

giường lên 28,9 giường. Số lượng bác sĩ trên một vạn dân của Cà Mau cao thứ nhì so

với các tỉnh khác thuộc ĐBSCL, chỉ đứng sau Cần Thơ là trung tâm văn hóa, chính trị,

khoa học, kinh tế của cả vùng ĐBSCL [21]. Đây là một chỉ số rất đáng khích lệ, cho

thấy mặc dù xuất phát điểm còn thấp nhưng Cà Mau rất quan tâm đến công tác chăm

sóc sức khỏe của người dân, nhất là đối với nông dân thuộc hộ nghèo, đối tượng chính

sách. Điều này thực sự cần thiết khi Cà Mau nằm ở vị trí quá cách xa các trung tâm

y tế lớn của cả nước và khu vực như TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ.

Cạnh đó, hệ thống y tế ngoài công lập khá phát triển, Cà Mau đã tạo điều kiện

cho tư nhân tham gia vào vi ệc cung ứng dịch vụ y tế. Đến nay tỉnh đã có một bệnh

14

12

10

8

6

4

2

0

Cà M au

Long An

Trà Vinh

An Giang

Kiên Giang

viện đa khoa và 9 phòng khám đa khoa tư nhân.

Biểu đồ 3.3: Số bác sĩ trên 10.000 dân năm 2013

Nguồn: [21].

Giáo dục - đào tạo có bước phát tri ển khá, đội ngũ giáo viên v ừa tăng về số

lượng, vừa được đào tạo bồi dưỡng nâng lên v ề trình độ, tổng số giáo viên n ăm

89

2015 là 14.104 ng ười, tăng hơn 5.900 ng ười so v ới năm 1997, nếu tính c ả cán bộ

quản lý và nhân nhiên toàn ngành GD-ĐT của tỉnh hiện nay có 19.465 người, chiếm

hơn 2/3 công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước. Quy mô các bậc học, cấp học

đều tăng: năm học 2014 - 2015 t ổng số có 545 tr ường học các cấp, tăng 233 trường

so với năm 1997. Trong đó có 130 tr ường mầm non, t ăng 97 tr ường; 267 tr ường

tiểu học, tăng 74 tr ường; 117 tr ường trung h ọc cơ sở, tăng 53 tr ường; 32 tr ường

trung học phổ thông, tăng 11 trường [21].

Tổng số học sinh n ăm học 2014 - 2015 là 242.444 em. T ỉ lệ học sinh

THCS/tiểu học và THPT/THCS c ủa Cà Mau th ấp hơn hầu hết các t ỉnh vùng

ĐBSCL và thấp hơn mức trung bình các vùng khác trên c ả nước. Điều này cho thấy

tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường nhưng không đi học ở Cà Mau là khá cao và

cấp học càng cao thì t ỷ lệ càng thấp. Tỷ lệ học sinh bỏ học các cấp học lần lượt là:

80

70

60

50

40

30

20

10

0

N P B

C à M au

L ong A n

Trà Vinh

A n Giang

Kiên Giang

Tây nguyên

Trung du M

cấp tiểu học 0,7%, cấp THCS 1,92% và cấp THPT là 4,3% [20].

THCS/Ti

ểu học THPT/THCS

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ học sinh các cấp so với cấp dưới

Nguồn: [20].

Hi ện nay Cà Mau có 2 tr ường Đại học ngoài công lập mới được thành lập, 3

trường Cao đẳng công l ập và 2 tr ường Trung cấp Chuyên nghi ệp với tổng số sinh

viên hàng năm khoảng 4.500 người.

90

Công tác đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ngày càng được mở rộng, tất cả các

huyện đều có trung tâm giáo dục nghề nghiệp, nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã

tích cực tham gia truyền nghề, bồi dưỡng nghề cho người lao động, tỷ lệ lao động qua

đào tạo, dạy nghề, truyền nghề đã tăng từ 15% (năm 1997) lên trên 34,5% [20].

Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH của tỉnh thì ngành GD- ĐT

Cà Mau còn kém phát tri ển so với các tỉnh vùng ĐBSCL. Năm 2015, số lượng sinh

viên theo h ọc cấp học Cao đẳng và Đại học tại Cà Mau ch ỉ đạt 1.931 sinh viên,

đứng thứ 11/13 trong s ố các tỉnh ĐBSCL. Nếu tính t ỷ lệ sinh viên các tr ường này

trên tổng số lực lượng lao động thì Cà Mau c ũng đứng th ứ 11/13 v ới mức 0,33%

thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân của vùng ĐBSCL là 1,58% kể cả Cần Thơ

và 0.98% nếu không tính C ần Thơ [20]. Điều này cho th ấy ngoài Cần Thơ là trung

tâm GD-ĐT cho cả vùng ĐBSCL, các tỉnh khác trong vùng cũng phát triển giáo dục

cao đẳng và đại học tốt hơn Cà Mau.

Th ực tế cho th ấy hệ đào tạo cao đẳng và đại học địa ph ương chỉ thực hiện

thông qua hình th ức liên k ết đào tạo tại ch ỗ nên ch ủ yếu ch ỉ nh ằm đáp ứng được

nhu cầu bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo chức danh

mà chưa có điều kiện đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn k ỹ thuật đáp

ứng nhu cầu phát triển KT-XH địa phương.

Nếu xét về phát tri ển Trung c ấp chuyên nghi ệp thì số lượng sinh viên n ăm

2015 đạt 2768 sinh viên x ếp thứ 8/13 tỉnh ĐBSCL và t ỷ trọng số lượng sinh viên

trung cấp chuyên nghi ệp so với lực lượng lao động của Cà Mau khá cao đạt 0,48%

đứng thứ 4/13 các t ỉnh ĐBSCL, chỉ sau Cần Thơ, Vĩnh Long và Ti ền Giang. Hơn

nữa, tỷ trọng sinh viên trung c ấp chuyên nghi ệp trên giáo viên c ủa Cà Mau là th ấp

nhất trong các tỉnh ĐBSCL với tỷ lệ 22,69 trong khi t ỷ lệ trung bình của ĐBSCL là

45,14. Dường như Cà Mau không thu hút được số lượng sinh viên trung cấp chuyên

nghiệp như kỳ vọng.

Điều này có nguyên nhân khách quan là do nh ững lĩnh vực đào tạo chuyên

sâu và KH-KT ch ỉ tập trung tại các trung tâm c ủa vùng mà c ụ thể là Cần Thơ. Các

trung tâm này có l ợi th ế là nơi tập trung nh ững giảng viên, chuyên gia gi ỏi và có

điều kiện cơ sở vật chất vượt trội.

Hoạt động văn hóa - th ể thao ngày càng đa dạng, phong phú, góp ph ần giáo

dục chính tr ị tư tưởng, xây dựng đời sống văn hóa, tinh th ần cho nhân dân; phong

91

trào văn hóa - v ăn nghệ quần chúng ngày càng được mở rộng. Tỉnh đã đầu tư xây

dựng, nâng cấp một số trung tâm văn hóa, thể dục - thể thao các cấp, các công trình

di tích lịch sử, công trình ghi công liệt sĩ.

Đến nay các huyện trong tỉnh đã quy hoạch xong trung tâm văn hóa - thể thao

huyện; 39,02% số xã có trung tâm văn hóa - thể thao. Cuộc vận động toàn dân đoàn

kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong sạch

vững mạnh, xây dựng NTM được quan tâm th ực hiện; năm 2015, đã có 63,11% hộ

gia đình, 19,1% khóm ấp được công nhận gia đình đạt chuẩn văn hóa và 19,66% số

xã đạt chuẩn văn hóa NTM [20].

Hoạt động văn nghệ và nghệ thuật quần chúng ngày càng phát triển và mở rộng,

chất lượng và quy mô h ội thi, hội diễn, liên hoan ngh ệ thuật quần chúng ngày càng

được nâng cao, phục vụ nhu cầu đời sống văn hóa, tinh thần của dân cư. Đến nay, 9/9

huyện, thành phố đều có đội văn nghệ quần chúng, bên cạnh đó, các loại hình sinh hoạt

văn hóa - văn nghệ như: đờn ca tài tử, hát với nhau…được duy trì và phát huy tốt.

Hoạt động th ể dục - th ể thao nông dân có nhi ều ti ến bộ, các gi ải th ể thao

phong trào nh ư: bóng đá, bóng chuy ền được tổ chức th ường xuyên. Bên c ạnh đó,

hoạt động thể dục - thể thao cũng được tổ chức thường xuyên trong các ngày lễ hội,

truyền thống của các ngành, địa phương trong tỉnh. Phong trào th ể thao quần chúng

phát triển tương đối khá so với các địa phương khác trong khu vực.

Năm 1997, toàn t ỉnh có 361 câu l ạc bộ, đến năm 2015 tăng lên 1.115 câu l ạc

bộ. Số hộ gia đình đạt tiêu chu ẩn gia đình thể thao ngày m ột tăng, từ 1% vào n ăm

1997 đến nay tăng lên 24%. S ố huy ch ương thể thao thành tích cao đạt được hàng

năm tăng cao: năm 1997 đạt được 5 Huy ch ương vàng, đến năm 2015 đạt được 56

Huy ch ương vàng; Huy ch ương bạc năm 1997 đạt được 5 Huy ch ương, đến năm

2015 đạt được 52 Huy chương; tương tự, Huy chương đồng năm 1997 là 6, đến năm

2015 là 83 Huy chương [15], [20].

Công tác thông tin, truy ền thông có nhi ều đổi mới, th ời lượng phát thanh,

truyền hình và l ượng phát hành các báo t ăng; kịp thời thông tin, tuyên truy ền phổ

biến chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp lu ật của Nhà nước; cổ vũ

phong trào thi đua lao động sản xuất, thúc đẩy KT-XH phát triển; tuyên truyền, vận

động nhân dân phòng, ch ống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh; đấu tranh các

hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, các tệ nạn xã hội.

92

Hoạt động thông tin truy ền thông ngày càng phát tri ển đa dạng, ch ất lượng

dịch vụ được nâng lên. M ạng internet, truy ền hình cáp và m ạng điện thoại di động

phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu chỉ đạo điều hành các cấp, các ngành và nhu c ầu

thông tin liên lạc của nhân dân: bình quân đạt 95 máy điện thoại/100 người.

Công tác qu ản lý các ho ạt động văn hóa, ngh ệ thuật, thông tin, báo chí, xu ất

bản chặt ch ẽ hơn. Đội ng ũ trí th ức, văn ngh ệ sĩ, những người làm báo được quan

tâm quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, phát huy khá t ốt tài năng, trí tuệ, đóng góp hiệu

quả vào sự nghiệp phát triển VH-XH của địa phương.

Hoạt động nghiên, c ứu ứng dụng KH - CN t ừng bước đổi mới, gắn sát h ơn

với thực tiễn sản xuất và đời sống. Đến hết năm 2015 đã triển khai được 350 đề tài,

dự án trong đó có một số đề tài, dự án tập trung nghiên c ứu ứng dụng về sản xuất

giống phục vụ sản xuất ngư - nông - lâm nghi ệp, thử nghiệm nuôi công nghi ệp trên

một số loài thủy sản có giá trị kinh tế cao, đã ứng dụng vào thực tiễn, phát huy hiệu

quả, góp phần vào việc tăng năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, nâng cao giá

trị sản xuất.

Trong cạnh tranh trên th ị tr ường toàn c ầu hóa ngày nay, công tác b ảo vệ

quyền sở hữu trí tu ệ, nh ững ch ỉ dẫn địa lý đóng vai trò c ực kỳ quan tr ọng. Các

doanh nghiệp và tổ chức cá nhân ngày càng có ý th ức hơn với vấn đề bảo vệ quyền

sở hữu trí tu ệ, nhãn hi ệu hàng hóa, ki ểu dáng công nghi ệp và các ch ỉ dẫn địa lý.

Đến nay đã có 258 đơn của các doanh nghi ệp đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tu ệ

và nhãn hiệu hàng hóa và kiểu dáng công nghiệp; có 196 nhãn hiệu và 03 kiểu dáng

công nghiệp được Cục sở hữu trí tu ệ (Bộ khoa học và Công ngh ệ) Cấp giấy chứng

nhận cho các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong tỉnh. Ngoài ra đã xây dựng

các nhãn hiệu tập thể của tỉnh như: Mật ong U Minh hạ, tôm khô Rạch Gốc, cá khô

bổi U Minh, tham gia Ch ương trình đảm bảo quyền sở hữu trí tu ệ giai đoạn 2011 -

2015 gồm: các d ự án tuyên truy ền trên Đài Phát thanh và Truy ền hình, xây d ựng

nhãn hi ệu tập th ể cá chình, cá b ống tượng Tân Thành, ch ỉ dẫn địa lý tôm sú Cà

Mau, sở hữu tập thể khô bổi U Minh, ba khía Rạch Gốc...

Tuy nhiên, do Cà Mau thi ếu vắng các tr ường đại học lớn, các vi ện nghiên

cứu chuyên ngành do đó đội ngũ cán bộ KH - CN c ủa Cà Mau còn r ất mỏng. Điều

này không ch ỉ hạn chế năng lực nghiên cứu và tri ển khai nh ững tiến bộ KH - CN

vào sản xuất mà còn h ạn chế nhu cầu đổi mới công ngh ệ của các doanh nghi ệp và

93

các cơ sở sản xu ất. Chính vì th ế đã làm t ăng rủi ro c ủa ho ạt động sản xu ất kinh

doanh trên thị trường quốc tế. Đặc biệt trong quá trình sản xuất và chế biến thủy hải

sản vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của các thị trường phát triển như

Mỹ, Nhật Bản, EU… rủi ro vào các th ị trường này ngày m ột tăng lên. Sự phối hợp

chặt chẽ giữa các nhà khoa h ọc, các tr ường đại học, các doanh nghi ệp để làm cho

hoạt động nghiên cứu và triển khai những tiến bộ KH-CN vào sản xuất, kinh doanh

đáp ứng những yêu cầu thực tế của thị trường và qua đó tăng nhu cầu về ứng dụng

KH-CN của doanh nghi ệp, và cu ối cùng là để tăng nhu c ầu đầu tư vào các ho ạt

động này là một đòi hỏi cấp bách.

3.2.3. Thực trạng nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà

Mau xét trên phương diện môi trường

3.2.3.1. Nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững với việc duy trì và c ải

thiện tài nguyên đa dạng sinh học

Nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững ở Cà Mau trong nh ững năm

qua đã góp ph ần tích cực vào vi ệc duy trì và phát tri ển đa dạng sinh h ọc của tỉnh

cũng như của vùng ĐBSCL. Hiệu quả kinh tế cao từ các mặt hàng địa phương có

thế mạnh, về thủy sản như tôm, cua, cá các lo ại từ 205.000 tấn năm 2001, tăng lên

250.000 tấn năm 2010 và 280.000 t ấn vào năm 2015; về trồng trọt như lúa, các loại

hoa màu, cây ăn trái t ăng trung bình 12,3% m ỗi năm về sản lượng và ch ất lượng

không ngừng được cải thiện; về lâm nghiệp như keo lai, tràm, đước trung bình tăng

hàng năm 23,0%, nh ững ch ỉ tiêu c ơ bản, nh ư ch ỉ tiêu tr ồng rừng, di ện tích r ừng

công nghi ệp được đầu tư mạnh…đã làm cho ng ười dân quan tâm nhi ều hơn đến

việc phát tri ển sản xuất không ch ỉ để tiêu dùng mà còn xu ất khẩu, cho nên v ấn đề

NNPTTHBV rất được người sản xuất quan tâm, chú tr ọng. Việc mở rộng, tận dụng

diện tích canh tác trên vùng đất trống, đất hoang hóa để trồng rừng, trồng trọt, chăn

nuôi, kể cả tận dụng mặt nước để nuôi thủy sản đã góp phần phủ xanh đất bồi, khôi

phục hệ sinh thái rừng và phòng tránh thiên tai. Việc tăng cường các biện pháp canh

tác khoa học, hạn chế sử dụng phân hóa h ọc, khuyến khích sử dụng phân hữu cơ,

luân canh cây tr ồng, vật nuôi tác d ụng làm t ăng độ màu mỡ cho đất, cân bằng hệ

sinh thái, giảm ô nhiễm cho nguồn nước. Kết quả là trong những năm qua nhiều mô

hình sản xu ất lúa, nuôi tôm, rau s ạch được thí điểm và nhân r ộng ở nhi ều địa

phương trong t ỉnh. Vi ệc khai thác g ắn li ền với bảo tồn gi ống nuôi tr ồng, cây con

94

nhằm mục đích tái tạo đã là một bước tiến bộ về nhận thức của người dân trong việc

bảo tồn và phát tri ển đa dạng sinh h ọc. Vi ệc khai thác các ngu ồn gen quý hi ếm

truyền thống để phát triển các giống cây, con có giá tr ị kinh tế cao như keo lai, tràm

bông vàng, cam, quít, bưởi, ổi, tôm càng xanh, tôm sú, thẻ chân trắng, cá sặc rằn, cá

chẽm, cá kèo, cá b ốp…đã có tác dụng duy trì và phát tri ển tài nguyên đa dạng sinh

học đảm bảo môi trường sinh thái.

Tuy nhiên, quá trình đẩy mạnh phát tri ển nền nông nghi ệp hàng hóa, xu ất

khẩu không được ki ểm soát ch ặt ch ẽ đang làm suy gi ảm tài nguyên đa dạng sinh

học. Đó là vi ệc khai thác nh ằm mục đích th ương mại các s ản ph ẩm đa dạng sinh

học và tài nguyên ng ư - nông - lâm nghi ệp đang phá v ỡ hệ sinh thái trên c ạn và

sông, bi ển. Hệ qu ả là dù di ện tích r ừng tăng (t ừ 22,5% n ăm 1997 lên 38,7% n ăm

2015) nhưng chỉ bằng 65% so v ới trước đây. Chất lượng rừng chưa được cải thiện,

giá trị kinh tế thấp, diện tích bị thu hẹp và đang tiếp tục bị suy giảm. Rừng tràm và

rừng đước mặc dù được bảo vệ nghiêm ngặt nhưng đang đứng trước nguy cơ bị tàn

phá và bi ến đổi do áp l ực phát tri ển kinh t ế. Hi ện tại rừng nguyên sinh ch ỉ còn

khoảng 20-30% trong khi r ừng nghèo, r ừng tái sinh chi ếm khoảng 70% t ổng di ện

tích rừng. Trong khí đó, rừng ng ập mặn đã thu h ẹp nhanh chóng do phá r ừng để

nuôi tôm đã làm cho đa dạng sinh học có sự thay đổi nhanh chóng. T ới thời điểm

này chưa có một công trình nghiên c ứu nào t ới sự thay đổi tính đa dạng sinh h ọc

biến đổi từ việc trồng lúa chuy ển sang nuôi tôm. Có m ột thực tế dễ thấy là tính đa

dạng sinh h ọc bị suy gi ảm nhanh chóng trong nh ững năm gần đây từ nh ững tác

động chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh. Từ thực tế đã qua cho thấy, chuyển dịch cơ

cấu kinh tế là một chủ trương đúng, nhưng cũng chính từ việc chuyển đổi mục đích

sử dụng đất đai, cùng với nạn khai thác, đánh bắt, buôn bán trái phép động vật, thực

vật quý hiếm quá mức đã có tác động trực tiếp đến thay đổi tính đa dạng sinh học.

Cà Mau không có nhi ều tài nguyên khoáng s ản để có th ể tích l ũy tư bản

trong th ời kỳ đầu phát tri ển. Ngu ồn tài nguyên than bùn r ất ti ềm năng nh ưng quá

trình khai thác có th ể ảnh hưởng đến môi tr ường sinh thái c ủa tỉnh. Trong khi đó,

diện tích tràm nguyên sinh ch ỉ có giá tr ị đa dạng sinh học nhưng nếu chuyển sang

trồng cây công nghi ệp đang là thách th ức cần được nghiên c ứu, đánh giá th ật kỹ.

Đất đai Cà Mau không phù h ợp với mục đích nông nghiệp truyền thống, hoặc trồng

cây ăn trái, ch ăn nuôi theo hình th ức trang tr ại. Mặt khác, nền đất yếu, nhiều kênh

95

rạch, đa phần diện tích là h ệ sinh thái m ặn cho nên phát tri ển du lịch vẫn còn ch ưa

được nh ư mong đợi. Cà Mau là t ỉnh ch ịu ảnh hưởng mạnh nh ất của bi ến đổi khí

hậu. Điều này làm cho môi tr ường sinh thái c ủa tỉnh bị nhiều rủi ro và có s ự biến

động lớn. Những chi phí ứng phó với biến đổi khí hậu sẽ là gánh n ặng lớn đối với

ngân sách của địa phương và trung ương.

Bảng 3.15: Tỷ lệ hộ có nguồn nước hợp vệ sinh

Cà Mau

Tỷ lệ hộ có

Tỷ lệ hộ có nguồn nýớc hợp

Vùng

vệ sinh (%)

Khu vực

nguồn nước hợp

vệ sinh (%)

Thành

Ðồng bằng Sông Hồng

98,6

95,5

thị

Trung du và miền núi phía Bắc

80,2

Bắc Trung Bộ và duyên hải

91,0

miền Trung

Nông

81,7

Tây Nguyên

82,8

thôn

Ðông Nam Bộ

98,1

Ðồng bằng sông Cửu Long

81,6

Nguồn: [102].

3.2.3.2. Nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững với vấn đề gìn gi ữ

môi trường sinh thái

Việc ứng dụng KH - CN một cách có hiệu quả sẽ làm giảm đáng kể ô nhiễm

môi trường, hạn chế khai thác ngu ồn tài nguyên thiên nhiên t ự phát, kém hi ệu quả.

Cà Mau hiện có hơn 200 doanh nghiệp, cơ sở mua bán, chế biến mặt hàng thủy sản,

trong đó ch ỉ có 01 doanh nghi ệp có v ốn đầu tư nước ngoài, còn l ại là các doanh

nghiệp, cơ sở kinh doanh trong n ước, trong s ố các doanh nghi ệp có đến 2/3 được

cấp chứng chỉ ISO 14000. Tr ước tình hình nạn tôm chết kéo dài, mặt hàng tôm trên

thị trường thế giới khi tăng khi giảm khó lường, giá cả bấp bênh, áp l ực cạnh tranh

trong th ương mại đối với mặt hàng nông - lâm - th ủy sản ngày càng gay g ắt, số

lượng áp d ụng các bi ện pháp s ản xu ất, kinh doanh m ới, đầu tư áp d ụng các công

nghệ tiên tiến, công nghệ sản xuất sạch, thân thiện với môi trường tăng lên.

Việc dùng vật tư nông nghiệp nuôi thủy sản trong những năm gần đây đã có

bước cải thiện đáng kể, nhất là khâu x ử lý nước, lọc nước, xử lý ph ơi đầm tôm, độ

96

pH trong ao tôm công nghi ệp, xử lý trong lai t ạo bảo quản con giống và chất lượng

giống cây trồng vật nuôi…thì yếu tố môi trường sinh thái luôn được người sản xuất

đặt thành tiêu chí hàng đầu. Ngành chăn nuôi của tỉnh chậm phát triển do điều kiện

tự nhiên không thu ận lợi, ch ỉ có ngành tr ồng tr ọt ch ủ yếu là tr ồng lúa, hoa màu,

trồng cây ăn trái di ện tích không đáng kể. Trong tr ồng lúa và hoa màu l ượng phân

bón, thuốc trừ sâu, hóa chất được sử dụng với liều lượng không lớn, nên nhìn chung

về chất lượng nông sản và mức độ ô nhiễm môi trường cũng không quá lo ngại.

Các khu công nghi ệp của tỉnh được quy ho ạch nhưng chưa được đầu tư xây

dựng, do chưa thu hút được các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư. Có lẽ đây

cũng là lý do dẫn đến số cán bộ có chuyên môn làm công tác bảo vệ môi trường còn

ít. Trong tương lai, vấn đề ô nhiễm môi trường đối với tỉnh sẽ là một thách thức lớn,

nhất là khi tác động của biến đổi khí hậu xảy ra nh ững biến chứng ngày càng khó

lường hơn. Tuy v ậy, đến th ời điểm này n ạn ô nhi ễm môi tr ường sản xu ất và đời

sống ở Cà Mau v ẫn có th ể nằm trong tầm kiểm soát được nếu như chính quy ền có

sự quyết tâm với những giải pháp thiết thực, mạnh mẽ và thực chất hơn.

3.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG

BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU, GIAI ĐOẠN 1997-2015

3.3.1. Những mặt tích cực của nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững

Nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền vững luôn là yêu c ầu tối cao trong

điều kiện khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và sự cạnh tranh của kinh tế thị trường.

Trong bối cảnh đó NNPTTHBV ở Cà Mau có nh ững bi ến đổi theo chi ều hướng

ngày càng tích cực hơn. Có thể đánh giá quá trình biến đổi đó qua các mặt sau:

3.3.1.1. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững xét về mặt kinh tế

Phân tích k ết qu ả và hi ệu qu ả sản xu ất kinh doanh c ủa ng ư - nông - lâm

nghiệp Cà Mau có th ể kết luận, hình th ức tổ chức sản xuất thời gian qua đã hướng

đến bền vững về kinh tế. Giá trị sản xuất ngư - nông - lâm nghiệp có xu hướng tăng,

đặc biệt là nuôi tr ồng thủy sản. NNPTTHBV có th ể thấy rõ qua các mô hình cánh

đồng mẫu lớn, nuôi tôm theo hình th ức kinh tế nông trại, mô hình tôm - lúa k ết hợp

và các hình thức tổ chức sản xuất ở các lâm phần tôm - rừng kết hợp ở các huyện U

Minh, Cái Nước, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển.

Có thể thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ diện tích đa phần là trồng

lúa cho n ăng su ất th ấp sang nuôi tôm đã đạt được nhi ều ti ến bộ to l ớn giai đoạn

97

1997-2015. Tốc độ tăng tr ưởng GDP bình quân đạt 7,5%, đặc bi ệt trong 5 n ăm

2001-2005 (thời kỳ mới vừa chuyển đổi) khu vực ngư - nông - lâm nghiệp có tốc độ

tăng trưởng vượt trội. Kinh tế Cà Mau thoát ra kh ỏi bẫy đói nghèo nhờ khai thác lợi

thế nuôi tr ồng và ch ế biến thủy sản, đầu tư của trung ương và kết cấu hạ tầng, các

chương trình xóa đói giảm nghèo. Ho ạt động xuất nhập khẩu thủy sản là động lực

chính cho kinh tế Cà Mau phát triển. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp nhìn chung

có sự tăng trưởng qua từng năm. Cụ thể giá trị sản xuất (theo giá ss2010) năm 2015

của ngành đạt 8.243.670 triệu đồng, so với năm 1997 tăng 6.544.921 triệu đồng (tốc

độ tăng bình quân hàng n ăm đạt 8,05%). Trong đó, giá tr ị sản xu ất nông nghi ệp

(trồng tr ọt và ch ăn nuôi) t ăng bình quân 5,51%/n ăm; lâm nghi ệp gi ảm bình quân

3,32%/năm; khai thác và nuôi tr ồng thủy sản tăng bình quân 10,26%/n ăm. Từ kết

quả trên cho th ấy, lĩnh vực thủy sản có tốc độ tăng trưởng giá tr ị sản xuất lớn nhất

do đặc thù của tỉnh là địa phương ven biển, có nghề đánh bắt thủy sản lâu đời, cùng

với các chính sách hỗ trợ ngư dân đánh bắt xa bờ nhằm đảm bảo phát triển KT - XH

bền vững, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển [20].

Nông nghiệp và các ngành s ản xuất trong nông nghi ệp của khu vực I (nông-

lâm-thủy sản) so với tổng sản phẩm GDP nền kinh tế tỉnh có xu hướng giảm xuống,

cho thấy tái cơ cấu kinh tế hợp lý, phù h ợp với định hướng phát tri ển KT-XH của

tỉnh và vùng ĐBSCL. Cơ cấu ngành nông nghi ệp năm 2015 là 33,97% gi ảm tỷ

trọng (năm 2004 là 48,80%, gi ảm trung bình 1,48%/n ăm). Cơ cấu nội bộ sản xuất

trong ngành nông nghi ệp cũng có sự thay đổi mạnh mẽ. Tổng giá tr ị sản xuất nông

nghiệp trong 10 n ăm gần đây: cơ cấu th ủy sản tăng 58,55% lên 65,71%; nông

nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) gi ảm từ 37,93% xu ống 32,59%; lâm nghi ệp giảm từ

3,53% xuống 1,7% so v ới tổng giá tr ị ngành nông nghi ệp. Những con số trên đây

cho thấy sự chuyển dịch kinh tế trong lĩnh vực nông nghi ệp là đúng hướng, có sự

thay đổi về lượng và chất, thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh mẽ trong nội bộ ngành và

có đóng góp quan trọng vào nền kinh tế chung của tỉnh [20].

3.3.1.2. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững xét về mặt xã hội

Kinh tế nông nghiệp phát triển thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh phát triển, giá trị

sản xuất tăng, xuất khẩu tăng, nhờ vậy thu nhập bình quân đầu người không ngừng

được cải thiện. Với mức thu nhập bình quân đầu người từ 580.000 đồng/người/năm

(năm 1997), tăng lên 1.890.000/người/năm (năm 2015). Sự gia tăng thu nhập đã tạo

98

điều ki ện cho ng ười dân nâng cao đáng kể mức chi tiêu, góp ph ần gi ảm tỷ lệ đói

nghèo của tỉnh từ 24,5% năm 1997 xuống còn chưa tới 3,67% năm 2015 (Hiện nay

là 9,8% theo chuẩn đa chiều) [16].

Nông nghiệp của tỉnh chuyển dịch cơ cấu có hi ệu quả, không ch ỉ góp ph ần

phát triển ngành công nghi ệp, dịch vụ, mà còn t ạo thêm công ăn việc làm cho lao

động nông nghi ệp. Nh ờ có tăng trưởng sản xuất và xu ất khẩu nông s ản, tỷ lệ thời

gian lao động, phát tri ển ngành ngh ề kinh doanh, d ịch vụ ở nông thôn t ăng lên. Cà

Mau là t ỉnh đạt được nh ững thành t ựu đáng kể về y tế, giáo d ục, trình độ dân trí

được nâng lên, 100% xã nông thôn đạt chuẩn Quốc gia về y tế; tỉnh đã hoàn thành

phổ cập giáo dục THCS năm 2008, tính đến nay đã có 63% thanh niên trong độ tuổi

có trình độ văn hóa THPT và tương đương [16].

3.3.1.3. Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững xét về mặt môi trường

Nông nghi ệp Cà Mau ch ủ yếu là nuôi tr ồng th ủy sản (chi ếm tới 80% di ện

tích đất nông nghi ệp) nên yếu tố bền vững về môi tr ường nuôi th ủy sản có ý ngh ĩa

quyết định đến nền nông nghi ệp của tỉnh. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông -

ngư - lâm nghi ệp sang ng ư - nông - lâm nghi ệp đã tạo lập mối quan h ệ sinh thái

giữa nuôi tr ồng và khai thác có m ối quan hệ ràng bu ộc vừa là điều kiện vừa là kết

quả của quá trình s ản xuất và khai thác. Y ếu tố bền vững đầu vào sản xuất sẽ đảm

bảo cho kết quả theo mong đợi và ng ược lại nếu xem nh ẹ quá trình đầu vào sẽ có

tác động ngoài mong mu ốn trong quá trình s ản xu ất. Đối với nuôi tr ồng th ủy sản

việc tuân thủ nghiêm ngặt xử lý ao đầm, đảm bảo môi trường nước, chất lượng con

giống, kỹ thu ật canh tác thân thi ện với môi tr ường là y ếu tố vô cùng quan tr ọng

trong quy trình s ản xuất. Việc dùng vật tư nông nghi ệp như hóa ch ất, thức ăn thủy

sản…gây ô nhi ễm môi tr ường sang phương thức canh tác an toàn cho s ản xuất, tạo

ra sản phẩm an toàn do sử dụng các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp vừa đảm

bảo chi tiêu ti ết kiệm, vừa đem lại lợi ích kinh t ế thân thi ện với môi tr ường. Thời

gian qua, Cà Mau nhờ làm tốt việc chú trọng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước

ngọt (mặt nước và nước ngầm) và sử dụng hiệu quả vùng ng ập mặn cho phát tri ển

thủy sản, hệ sinh thái r ừng ngập mặn, hệ sinh thái bi ển, ven bi ển, gắn liền với điều

tiết, quan trắc môi trường nước cho sản xuất ngư - nông - lâm nghi ệp cũng như ứng

cứu sự cố môi trường do tác động của biến đổi khí hậu tương đối hiệu quả. Tỉnh đã

có sự chủ động hơn trong vi ệc lồng ghép các y ếu tố môi tr ường vào vi ệc đánh giá

99

kết qu ả tăng tr ưởng trong s ản xu ất nông nghi ệp. Thông qua vi ệc nh ận th ức đúng,

cân đối hài hòa giữa bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế và công bằng xã hội sẽ

là yếu tố quan trọng để Cà Mau xây dựng nền NNPTTHBV.

3.3.2. Tính thiếu bền vững và nguyên nhân

Bên cạnh nh ững kết qu ả đạt được NNPTTHBV Cà Mau còn t ồn tại nh ững

mặt, những phương diện thiếu bền vững, sự phát tri ển thiếu bền vững thể hiện qua

các mặt sau:

3.3.2.1. Tính thiếu bền vững xét về mặt kinh tế

Phần lớn các hình thức sản xuất ngư -nông - lâm nghiệp còn gặp khó khăn do

các yếu tố tự nhiên như địa hình, thời tiết, biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến các

yếu tố khác, như tỉnh chưa có quy ho ạch đất sản xuất, vốn đầu tư xây dựng kết cấu

hạ tầng nông thôn còn ít, quy mô kinh doanh nh ỏ hẹp, KH - CN chưa được áp dụng

rộng rãi, ch ưa đảm bảo quy trình canh tác. Tuy hi ện nay các địa phương trong tỉnh

đã hình thành m ột số mô hình, m ột số vùng sản xuất tập trung nh ư cánh đồng mẫu

lớn, kinh t ế nông tr ại, trang tr ại, kinh t ế hợp tác, HTX, nông tr ường, lâm tr ường

quốc doanh, công ty lâm nghi ệp…theo hình th ức sản xuất hàng hóa điều kiện của

tỉnh có lợi thế, song đa số tồn tại dưới hình th ức tự phát, thiếu quy ho ạch. Chưa có

nhiều vùng sản xuất tập trung gắn với công nghiệp chế biến như khu nuôi tôm công

nghiệp, bán công nghi ệp; vùng mía đường tập trung, vùng nuôi cá n ước ng ọt tập

trung, nuôi cá trên m ặt nước sông, nước biển - đảo; mô hình r ừng - tôm, lúa - tôm

kém hiệu quả…nên ch ất lượng, sức cạnh tranh của hàng hóa ch ưa cao. Một số ưu

việt giữa nuôi trồng, khai thác, ch ế biến chưa được tận dụng có hiệu quả. Hay giữa

khai thác, bảo quản, chế biến cũng đang tồn tại nhiều nhược điểm. Giữa trồng trọt

và ch ăn nuôi tuy Cà Mau không có nhi ều lợi th ế nh ư các t ỉnh trong vùng, nh ưng

không ph ải không phát tri ển được, nh ưng hi ện đang tồn tại rất nh ỏ lẻ, sản lượng,

chất lượng hàng hóa không cao. V ấn đề ở đây là do vẫn duy trì cách s ản xuất manh

mún, thi ếu tập trung, trình d ộ qu ản lý b ất cập, ki ến th ức sản xu ất của ng ười dân

chưa cao, ch ưa chủ động áp dụng tiến bộ KH - CN vào s ản xuất để nâng cao ch ất

lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Hiện nay, kinh t ế Việt Nam đang thoát d ần kh ỏi suy gi ảm tăng trưởng, hội

nhập ASEAN và th ế giới càng sâu sắc, điều đó đồng nghĩa với việc cạnh tranh trên

lĩnh vực kinh tế tầm cỡ địa phương cũng như nước ta ngày càng lớn. Thách thức đối

100

với Cà Mau là t ỉnh không có nhi ều tài nguyên, v ốn đầu tư thiếu, hạ tầng KT - XH

thấp kém, chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, trong khi đó quy trình nuôi

trồng thủy sản còn lạc hậu, rủi ro cao, vệ sinh an toàn thực phẩm, dịch bệnh ở tôm nuôi

đang là thách thức lớn đối với Cà Mau. Hệ thống kênh rạch là lợi thế nhưng nó cũng là

điều kiện thuận lợi cho việc phát tán dịch bệnh cho nuôi trồng thủy sản trên diện rộng.

Quy trình nuôi tr ồng thủy sản cần phải được thực hiện đồng bộ và khép kín

để tối thiểu hóa rủi ro này. Không gi ải quyết được những vấn đề này thì Cà Mau s ẽ

rất khó tận dụng được lợi thế hiếm hoi của mình để bức phá đi lên. Ngoài những bất

lợi rất đặc trưng của Cà Mau, nhìn chung các l ợi thế của tỉnh không ph ải là lợi thế

tuyệt đối mà hầu như các tỉnh ĐBSCL đều có lợi thế tương tự. Do đó, Cà Mau luôn

ở thế yếu trong cạnh tranh về nguồn lực với các tỉnh trong vùng.

3.3.2.2. Tính thiếu bền vững xét về mặt xã hội

Mặc dù đạt được nhiều tiến bộ về mặt xã hội nhưng Cà Mau v ẫn còn nhi ều

thách thức liên quan đến giáo dục, khoa học - xã hội, nghèo đói, chăm sóc sức khỏe và

văn hóa. Mặc dù những hạn chế này có nguyên nhân từ kết quả của trình độ phát triển

kinh tế của tỉnh còn tương đối thấp, song cũng có nhiều nguyên nhân khác ảnh hưởng.

GD - ĐT mặc dù đã được cải thiện đáng kể trong thời gian qua về tỷ lệ nhập

học của học sinh và chất lượng dạy học trong nhà trường, nhưng kết cấu hạ tầng GD

- ĐT của tỉnh còn nhiều yếu kém. Nhiều địa phương còn thiếu phòng học, thư viện,

thí nghiệm, vui chơi; trình độ quản lý, quản trị, kỹ trị, chất lượng dạy và học, nhất là

đào tạo nghề, chuyên nghiệp số lượng ít và chất lượng còn thấp.

Y tế Cà Mau còn khó kh ăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ y tế có

trình độ chuyên môn. Năm 2015, số lượng bác sĩ, dược sĩ trên 1 vạn dân khá hơn so

với một số tỉnh vùng ĐBSCL nh ưng so v ới bình quân c ủa cả nước vẫn còn th ấp.

Một số cán bộ ngành y ch ưa có nhiều kinh nghi ệm đối phó với những vấn đề phức

tạp về chuyên môn hiện nay. Công nghệ và khả năng sử dụng công nghệ của cán bộ

y tế ở các cơ sở chăm sóc sức khỏe trong tỉnh còn nhiều hạn chế.

Việc làm và nghèo đói dù đạt được nhiều kết quả vượt bậc nhưng đang đối

mặt với khả năng tái nghèo và th ất nghiệp cao.Thêm vào đó là ảnh hưởng của biến

đổi khí hậu có thể sẽ làm tăng hơn tỷ lệ tái nghèo ở nông thôn và nông dân.

Văn hóa th ể thao đang bị cản trở bởi hạ tầng còn rất hạn chế, tỉnh hiện nay

chưa có nhà văn hóa, 3/9 huy ện có nhà văn hóa được cải tạo từ các kho lương thực

101

cũ nên không đáp ứng được tối thiểu nhu cầu hoạt động. Có 17/82 xã xây d ựng xã

NTM có nhà văn hóa nhưng hoạt động cầm chừng do không có kinh phí và ph ương

thức hoạt động kém hấp dẫn, không hiệu quả. Truyền thống và văn hóa của tỉnh rất

phong phú nhưng hiện tại chưa có điều kiện phát huy nên r ơi vào mai một. Du lịch

Cà Mau chỉ dừng lại tiềm năng, còn khai thác đang gặp khó và yếu kém.

3.3.2.3. Tính thiếu bền vững xét về mặt môi trường

Mặc dù tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong việc cụ thể hóa chủ trương, chính sách

về bảo vệ môi trường, song trên th ực tế, việc mở rộng các hình th ức sản xuất ngư -

nông - lâm nghi ệp môi tr ường tự nhiên đang bị xâm h ại khá nghiêm tr ọng. Vi ệc

người dân tranh nhau khai thác c ạn ki ệt tài nguyên, thiên nhiên ph ục vụ cho tiêu

dùng và xu ất kh ẩu, cùng v ới đó là các nhà máy ch ế bi ến th ủy sản, ch ế bi ến sản

phẩm nông nghi ệp, lâm nghi ệp làm cho áp l ực gây ô nhi ễm môi tr ường, suy gi ảm

các nguồn tài nguyên và đa dạng sinh học.

Cùng với đó là ý th ức của người dân ch ưa cao, mỗi ngày th ải ra môi tr ường

khoảng 300 - 400 t ấn rác, các tác động từ hóa ch ất do ng ười dân s ử dụng vật tư

nông nghiệp phục vụ trồng trọt, chăn nuôi đang làm cho môi tr ường bị ảnh hưởng

hàng ngày. Mặt khác, sự tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang làm

hệ sinh thái mặn - ngọt của Cà Mau biến đổi nhanh chóng. Tình trạng xâm mặn, khô

hạn, thời tiết cực đoan đã gây thiệt hại to lớn về sản xuất và đời sống của người dân.

Dễ nhận thấy nhất là nạn mất mùa, dịch bệnh ở người (sốt rét, sốt xuất huyết, tay

chân mi ệng, dị ứng th ời tiết…); vật nuôi (tôm ch ết kéo dài, l ở mồm long móng ở

heo, bò, cá nhi ễm bệnh ch ết hàng lo ạt…) và cây tr ồng (đuông dừa, sâu r ầy ở lúa,

cây ăn trái, vàng lá ở rừng tràm, rừng đước…); nguy cơ cháy rừng, tài nguyên c ạn

kiệt, lở đất, lốc xoáy, Mũi Cà Mau không b ồi mà xói l ở, ngược lại với quy lu ật tự

nhiên từ bao đời nay. Do vậy, cần phải chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản xuất từ sản

xuất theo lối truyền thống sang thích ứng với môi trường, khí hậu để giảm bớt thiệt

hại về kinh tế và suy thoái môi trường.

Cà Mau cũng là tỉnh mà CNH và đô thị hóa diễn ra chậm hơn so với một số

địa phương khác trong vùng, nên di ện tích đất nông nghi ệp còn nhi ều và xu h ướng

nông nghiệp đô thị hiện đại chưa được quan tâm. Hi ện nay, xói mòn, b ạc màu đất

và nạn hoang hóa, l ở hóa, khô h ạn, mặn hóa, phèn hóa…c ũng đang diễn ra ở nhiều

nơi. Cà Mau được mệnh danh là vùng đất đa dạng sinh học, nhưng tốc độ suy giảm

102

đa dạng sinh học hiện nay cũng đang đứng trước những báo động, một minh chứng

rõ ràng nh ất là di ện tích rừng ngập mặn ở Cà Mau hi ện nay đã suy gi ảm đến ¾ so

với năm 1976 [64].

3.3.3. Nguyên nhân

3.3.3.1. Nguyên nhân của những mặt tích cực và thành công

* Nguyên nhân bên ngoài

Thành công của NNPTTHBV ở Cà Mau giai đoạn vừa qua phần nào là do sự

đầu tư phát triển chung của ngành nông nghi ệp cả nước, cùng với đó là kết quả của

sự quan tâm đầu tư từ trung ương, kết quả của hoạt động liên kết vùng kinh tế trọng

điểm khu vực ĐBSCL mang lại. Cà Mau đã thu hút nhiều nguồn vốn từ trung ương,

vốn vay quốc tế để đầu tư phát triển ngư - nông - lâm nghi ệp, nhất là việc đầu tư cơ

sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, đầu tư nuôi trồng, đánh bắt xa bờ.

Chính sự hội nhập ngày càng sâu c ủa kinh t ế nước ta đã mở ra c ơ hội hợp

tác, kinh doanh cho các doanh nghi ệp, chính sự năng động từ phía doanh nghi ệp và

kinh tế tư nhân, kinh t ế hộ làm cho hàng hóa xu ất khẩu nội tỉnh chiếm tỷ trọng và

tăng trưởng qua từng năm. Đến năm 2015, xuất khẩu thủy sản nội tỉnh đã đạt 1.150

ngàn USD là một minh chứng cho nỗ lực này [21]. Cũng do hội nhập chủ động hơn

nên mở ra nhiều cơ hội cho các loại thị trường hàng hóa khác, các dịch vụ, vốn, KH

- CN cũng đồng thời có bước phát triển tích cực.

* Nguyên nhân bên trong

Do có sự chỉ đạo, quản lý có hiệu quả của Cấp ủy, Chính quyền trong chuyển

dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình, phương thức sản xuất, là khả năng xúc tiến

đầu tư, xúc ti ến th ương mại thông qua các hình th ức liên k ết, ph ối hợp sản xu ất,

kinh doanh, công tác quy ho ạch, lập kế hoạch trung hạn, dài hạn kịp thời, từng thời

điểm được điều ch ỉnh, bổ sung cho sát v ới yêu c ầu th ực tế. Nh ờ sự cần cù, siêng

năng, sáng tạo của nông dân và h ộ sản xuất; kinh tế trang trại, nông tr ại, HTX phát

triển khá mạnh; khả năng dám ngh ĩ, biết làm của các doanh nghi ệp, nhất là doanh

nghiệp lĩnh vực chế biến thủy hải sản.

3.3.3.2. Nguyên nhân của tính thiếu bền vững

* Nguyên nhân bên ngoài

Mặc dù có nhiều lợi thế, song những điều kiện tự nhiên của tỉnh cũng tồn tại

không ít khó khăn, bất lợi cho phát triển kinh tế nói chung và phát tri ển ngành nông

103

nghiệp của tỉnh nói riêng. Cà Mau có h ệ thống sông rạch chằn chịt, hệ sinh thái đất

đai, nguồn nước thuận lợi cho nuôi thủy sản, nhưng bất lợi cho trồng lúa, cây ăn trái

và chăn nuôi do độ nhiễm mặn, nhiễm phèn nặng làm hạn chế đến năng suất, chất

lượng nông sản. Ngay sau khi chia tách t ỉnh năm 1997, Cà Mau ph ải hứng chịu cơn

bão số 5 (02/11/1997) làm ảnh hưởng, thiệt hại rất nặng nề về người và tài s ản của

Nhà nước và nhân dân. C ơn bão đã cướp sinh mạng gần 5.000 ng ư phủ, hàng ch ục

nghìn tàu, thuy ền đánh bắt bị thiệt hại, tài sản Nhà nước và nhân dân t ổn hại hàng

trăm tỷ đồng.

Ngoài các nguyên nhân t ự nhiên, Cà Mau c ũng gánh ch ịu nh ững vấn đề

chung của cả nước nh ư tình tr ạng giảm phát, kh ủng hoảng tài chính, b ội chi ngân

sách, nợ công…nên đầu tư công gi ảm mạnh, các ngu ồn vốn ODA rất ít, không có

dự án FDI nào được triển khai trên địa bàn; ngoài công trình Khí điện đạm Cà Mau

không có công trình tr ọng điểm quốc gia nào được triển khai. Th ị tr ường tiêu th ụ

nông sản xuất khẩu còn nhi ều rủi ro và b ấp bênh; vi ệc quy ho ạch vùng, quy ho ạch

ngành từ trung ương chưa đồng bộ, chưa theo kịp chuyển đổi, phát triển kinh tế của

tỉnh; các yếu tố KH-CN giữ vai trò quan trọng nhưng tổ chức rất manh mún, nhỏ lẻ;

nhu cầu vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng nông thôn r ất lớn nhưng chưa được trung

ương quan tâm đúng mức. Xét một cách tổng quát, nguyên nhân c ốt yếu nhất là do

sức mạnh kinh tế của tỉnh còn ở mức thấp nên giữa nhu cầu và đầu tư chưa đồng bộ

và tương xứng nên nguồn tài nguyên của tỉnh vẫn chỉ dừng lại ở tiềm năng, làm cho

NNPTTHBV gặp nhiều khó khăn, bất cập.

* Nguyên nhân bên trong

Tỷ lệ tích lũy thấp, đóng góp của ngành nông nghiệp vào nền kinh tế của tỉnh

không cao, một phần do ảnh hưởng của chính sách Nhà n ước đối với nông nghi ệp

làm cho nguồn thu giảm. Thu nhập bình quân đầu người thấp nên ảnh hưởng nhiều

đến phát triển kinh tế của Tỉnh thời gian qua. Các chỉ số năng lực cạnh tranh PCI và

PAPI cũng cho thấy môi trường đầu tư của tỉnh nói chung trên lĩnh vực nông nghiệp

nói riêng còn y ếu kém so v ới vùng ĐBSCL. Th ứ bậc xếp hạng về năng lực cạnh

tranh của Cà Mau n ăm 2015 đứng th ứ 59/63 t ỉnh, thành (tu ột 01 b ậc so v ới năm

2014) đã nói rõ điều này. Nh ững ch ỉ số thành ph ần cũng cho th ấy Cà Mau còn

nhiều yếu kém cần khắc phục, như: cần cố gắng hơn nữa nâng cao ch ất lượng đào

tạo lao động, dịch vụ công ho ạt động kém hi ệu quả, mất nhiều thời gian, cải cách

104

hành chính chuyển biến chậm, giao thông vận tải yếu kém, doanh nghiệp đầu tư vào

lĩnh vực nông nghi ệp còn ít, ho ạt động kém hi ệu qu ả. Kết cấu hạ tầng nông thôn

chậm được đầu tư, công tác quy ho ạch còn nhi ều bất cập, yếu kém nh ưng ch ậm

khắc phục, chưa theo kịp sự phát tri ển; nguồn lao động tuy dồi dào nh ưng chủ yếu

là lao động ph ổ thông, tay ngh ề th ấp, lao động nhàn r ỗi còn nhi ều; doanh nghi ệp

trên địa bàn ch ủ yếu là doanh nghi ệp vừa và nh ỏ, sức cạnh tranh th ấp, dễ bị rủi ro,

đổ vỡ; công nghiệp và dịch vụ trong nông nghiệp chậm phát triển; liên kết giữa nhà

nước, nhà khoa h ọc, nhà nông, nhà doanh nghi ệp không hi ệu quả; sản lượng, chất

lượng nông nghi ệp tăng ch ậm, giá tr ị gia t ăng hàng hóa nông, lâm, th ủy sản còn

thấp, chưa được bảo hộ nên sức cạnh tranh không cao, làm cho giá tr ị sản xuất nông

nghiệp không lớn.

105

Chương 4

QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU XÂY

DỰNG NỀN NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở

TỈNH CÀ MAU, GIAI ĐOẠN 2016 - 2025

4.1. DỰ BÁO NHỮNG YẾU TỐ CÓ KHẢ NĂNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN NÔNG

NGHIỆP PHÁT TRI ỂN THEO H ƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU, GIAI

ĐOẠN 2016 - 2025

4.1.1. Dự báo nh ững yếu tố quốc tế có kh ả năng ảnh hưởng đến Cà Mau

và nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau

Những yếu tố bên ngoài có th ể ảnh hưởng đến KT - XH và NNPTTHBV ở

tỉnh Cà Mau: tình hình phát tri ển kinh t ế của các n ước đối tác chính cho các m ặt

hàng xuất khẩu chính của Cà Mau và nhà đầu tư tiềm năng vào Cà Mau; xu h ướng

chuyển dịch dòng vốn FDI; nh ững hiệp định về kinh tế, thương mại và đầu tư của

Việt Nam với các đối tác nước ngoài; các cú sốc bên ngoài.

Trên cơ sở nghiên cứu của một số nhà khoa h ọc, nhà quản lý, nh ững năm tới,

bối cảnh quốc tế và khu vực có những biến đổi theo xu hướng sau:

- Tăng trưởng kinh tế thế giới trong th ời gian tới dự báo kinh t ế Trung Qu ốc

và Ấn Độ có th ể tăng tr ưởng ch ậm lại; các n ước ASEAN v ẫn ti ếp tục đà tăng

trưởng khả quan hơn đặc biệt là ba n ước Lào, Campuchia và Myanmar; các n ước

EU chậm chạp thoát ra khỏi khủng hoảng; Mỹ và khu vực Bắc Mỹ vẫn trên đà phục

hồi tuy còn khá nhi ều bất định; Nhật Bản vẫn tiếp tục đường lối chính sách kinh t ế

mở và nới lỏng tiền tệ Abenomics. Tình hình c ăng thẳng giữa Nga và Ph ương Tây

trong vấn đề Ucraina, Syria bu ộc nước Nga ráo ri ết th ực hi ện chi ến lược hướng

Đông; căng thẳng trên biển Đông tồn tại nhiều yếu tố bất ổn, khó lường, ảnh hưởng

trực tiếp đến kinh tế các nước châu Á, đặc biệt là các nước Đông nam Á.

- Dịch chuyển FDI có sự trồi sụt khá mạnh từ năm 2000 đến nay, tuy nhiên t ỷ

trọng FDI mà các n ước châu Á nh ận được luôn có xu h ướng tăng rõ rệt. Đặc biệt,

các nước Đông Nam Á ngày càng là điểm đến tập trung cho FDI. N ăm 2000, các

nước Đông Nam Á ch ỉ nh ận được 1,6% t ổng FDI toàn c ầu thì n ăm 2015 lên đến

9,08% và đã cao hơn Trung Qu ốc [91]. Tuy nhiên, trong khu v ực hiện nay đã nổi

lên nhi ều đối th ủ cạnh tranh ngu ồn vốn FDI v ới Vi ệt Nam nh ư Indonesia,

106

Myanmar, Malaysia, Philippines…Do đó, nếu Việt Nam không cải thiện môi trường

đầu tư, giảm chi phí kinh doanh thì Việt Nam có nguy cơ đứng ngoài xu hướng tăng

thu hút FDI của cả khu vực.

- Hiệp định kinh tế thương mại mà Việt Nam đã ký kết như khu vực mậu dịch

tự do ASEAN (AFTA), WTO…th ị trường đã có nhi ều thay đổi mạnh mẽ và có tác

động tr ực ti ếp đến phát tri ển kinh t ế đất nước. Ch ẳng hạn nh ư: ngay sau khi hi ệp

định FTA có hi ệu lực thì 80% hàng hóa Vi ệt Nam vào th ị trường chung này được

hưởng thuế suất 0%. Ở nước Nga, họ đã đặc biệt quan tâm đến hàng hóa nông s ản

của Việt Nam để thay th ế các ngu ồn hàng từ phía Tây do Nga c ấm nhập khẩu các

mặt hàng này t ừ phương Tây. Đây là điều kiện thuận lợi cho Vi ệt Nam và Cà Mau

đẩy mạnh xu ất kh ẩu hàng nông, th ủy hải sản vào th ị trường có h ơn 200 tri ệu dân

này. Hiệp định TPP Việt Nam cũng mới vừa ký kết ngày 04/02/2016 vừa qua. Hiệp

định trở thành cứ điểm quan tr ọng thay th ế Trung Qu ốc sản xuất các hàng hóa có

nguồn gốc nội khối TPP để xuất khẩu nội khối. Đây là một cơ hội rất lớn cho Vi ệt

Nam. Những ngành Vi ệt Nam có l ợi thế cạnh tranh nh ư da gi ầy, dệt may, cà phê,

thủy sản…sẽ được hưởng lợi đầu tiên.

- Hợp tác v ới Trung Qu ốc ngày càng sâu r ộng hơn. Nước ta có đường biên

giới với Trung Qu ốc dài 1.150 km, d ự báo đến năm 2025 Trung Qu ốc có th ể tr ở

thành cường quốc kinh tế số 1 trên thế giới. Với sự cam kết của Chính phủ hai nước

về hợp tác kinh tế sẽ có sự tác động tích cực đến phát triển KT - XH của nước ta trong

đó có Cà Mau. Với vị trí địa lý liền kề nhau, do đó hàng nông sản của nước ta và vùng

ĐBSCL xuất khẩu sang Trung Quốc có nhiều thuận lợi, ít chi phí nên tác động tích cực

đến hàng hóa trong nước. Tuy nhiên, hợp tác với Trung Quốc có nhiều thách thức và

rủi ro nên khi ký kết hợp đồng kinh tế cần phải thận trọng, khôn khéo.

Thị trường hàng nông s ản của Việt Nam và th ủy sản của Cà Mau s ẽ có nhi ều

triển vọng và kh ả quan v ới điều kiện đó là s ản phẩm sạch bởi nhu c ầu ngày càng

tăng trên th ị tr ường th ế gi ới. Đối với Cà Mau đây là s ản ph ẩm chi ến lược bởi nó

phát triển dựa trên nh ững điều kiện tự nhiên của tỉnh và gi ải quyết đầu ra cho nuôi

trồng và khai thác th ủy hải sản, giải quyết nhiều việc làm cho nông dân và tác động

tích cực làm thay đổi di ện mạo nông thôn. D ự báo kh ả năng của th ị tr ường sản

phẩm này vẫn còn nhiều tiềm năng và tiếp tục được mở rộng bởi sản phẩm tôm của

tỉnh đã có thị trường ổn định, khối lượng xuất khẩu lớn như thị trường các nước EU,

107

Mỹ, Nhật Bản, Trung Qu ốc, Australia…nhất là trong tình hình ngu ồn lợi thủy sản

tự nhiên trên th ế giới ngày càng gi ảm sút và nhu c ầu nhập khẩu hàng th ủy sản trên

thế giới vẫn tiếp tục tăng. Dự báo giá hàng th ủy sản trên th ế giới vẫn tiếp tục tăng

như những năm vừa qua, mức tăng giá bình quân có thể ở mức 3,7 - 4%/năm.

Kinh tế Việt Nam hi ện nay đã hội nhập sâu vào kinh t ế thế giới do đó bị ảnh

hưởng rất lớn đối với các cú s ốc kinh tế từ bên ngoài. C ăn thẳng địa chính tr ị giữa

Nhật Bản với Trung Quốc nếu xấu đi nghiêm trọng có thể làm cho tình hình kinh t ế

khu vực trở nên bất ổn. Quan hệ không yên ả giữa Việt Nam với Trung Quốc xoay

quanh vấn đề Bi ển Đông có th ể đặt kinh t ế nước ta vào nh ững khó kh ăn lớn khi

quan hệ này trở nên xấu đi. Những tranh chấp trên biển Đông trong thời gian tới có

khả năng tr ở nên c ăng th ẳng hơn khi Vi ệt Nam bu ộc ph ải kh ởi ki ện Trung Qu ốc

trong thời hiệu khởi kiện 50 năm kể từ năm 1974. Nh ững căng thẳng này có th ể sẽ

làm cho môi trường đầu tư xấu đi và làm ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế Việt Nam

và xuất khẩu thủy sản của Cà Mau. Nền kinh tế nước ta bước đầu đã thoát ra thời kỳ

khó khăn của giảm phát, tái cơ cấu nền kinh tế và tái cơ cấu ngành nông nghi ệp đạt

được những kết quả nhất định.

4.1.2. Dự báo nh ững yếu tố trong n ước có kh ả năng ảnh hưởng đến Cà

Mau và nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau

Nền kinh tế nước ta bước đầu đã thoát ra th ời kỳ khó kh ăn của giảm phát, tái

cơ cấu nền kinh t ế và tái c ơ cấu ngành nông nghi ệp đạt được những kết quả nhất

định bước đầu. Lạm phát được kiềm chế ở mức thấp, dự trữ ngoại hối tăng mạnh,

cán cân thương mại chuyển từ thâm hụt sang thặng dư, cán cân thanh toán th ặng dư

lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế mặc dù chưa lấy lại được đà tăng trưởng đầu những

năm 2000 nhưng có dấu hiệu tăng dần lên.

Cà Mau có mối liên hệ chặt chẽ với vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL và là trục

tam giác kinh tế trọng điểm của vùng (gồm 3 tỉnh, thành: Cần Thơ - Cà Mau - Kiên

Giang) có 120 km Quốc lộ 1A, 130 km Quốc lộ 63, 150 km Quản lộ Phụng Hiệp và

hơn 100 km đường xuyên Á. V ới lợi thế 3 mặt tiếp giáp bi ển, có bờ biển dài h ơn

254 km rất thuận lợi để phát triển cảng biển. Mô hình tái cơ cấu kinh tế nước ta hiện

nay trọng tâm là chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình t ăng

trưởng kết hợp hài hòa gi ữa tăng trưởng theo chi ều rộng và chi ều sâu, tăng trưởng

dựa vào tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, lấy tốc độ tăng năng suất lao động làm

108

mục tiêu, xóa b ỏ các rào c ản đối với việc sử dụng ngu ồn lực, thúc đẩy tăng năng

suất, xây dựng thương hiệu quốc gia cho các sản phẩm. Cũng như cả nước, Cà Mau

có những ngành có l ợi thế so sánh nh ư nông, lâm, th ủy hải sản, chế biến thủy sản,

tăng trưởng xanh…có kh ả năng giải quyết việc làm lớn đã được khuyến khích phát

triển. Thời gian tới, Nhà nước sẽ từng bước rút dần ra kh ỏi vai trò làm kinh t ế trực

tiếp mà chuy ển sang vai trò c ủa một Nhà nước kiến tạo, hỗ trợ thị trường thực thi

các chức năng của nó và đảm bảo thị trường cạnh tranh một cách trật tự. Kinh tế tư

nhân và kinh t ế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ là xu th ế, chiếm vai trò quan

trọng trong tạo việc làm, thu nhập cho người dân và nguồn thu cho ngân sách.

Để trở thành một điểm đến tốt cho đầu tư trong và ngoài n ước, Cà Mau c ần

phải cạnh tranh v ới các t ỉnh, thành trong khu v ực về môi tr ường kinh doanh, kh ả

năng tiếp cận ngu ồn lực sản xuất ch ất lượng cao v ới giá thành h ợp lý. T ự do hóa

thương mại, tài chính và các th ị tr ường khác gia t ăng, thì vi ệc các n ước sử dụng

ngày càng nhiều các chính sách b ảo hộ và các rào c ản kỹ thuật tinh vi càng tr ở nên

phổ biến. Hoạt động xuất khẩu hàng hóa c ủa Cà Mau ch ưa có được quy mô t ương

xứng với tiềm năng, chưa tận dụng được các cơ hội và phát huy l ợi thế của mình.

Thời gian qua, c ũng nh ư vài n ăm tới, Cà Mau phát tri ển nền kinh t ế ch ủ yếu lấy

điều kiện tự nhiên sẵn có làm chủ đạo. Trong giai đoạn này, các lợi thế cạnh tranh là

điều kiện sẵn có nh ư vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên và ch ỉ số lao động thấp.

Nền kinh tế của tỉnh mà ở đây trực tiếp là các sản phẩm hàng hóa nông nghiệp, một

vài năm tới vẫn phải dựa vào điều kiện sẵn có ch ủ yếu dựa trên chi phí đầu vào và

không tiếp cận được trực tiếp người tiêu dùng cu ối cùng. Do đó, cũng như cả nước

nền kinh tế thường rất nhạy cảm với chu kỳ kinh tế toàn cầu và khu vực, phụ thuộc

giá cả hàng hóa và biến động tỷ giá.

Ngoài ra, biến đổi khí hậu sẽ làm cho nước biển dâng và thay đổi điều kiện tự

nhiên của Cà Mau. Quá trình phát tri ển của tỉnh phải đảm bảo thích nghi với những

tai biến của thời tiết được dự báo với nhiều kịch bản khác nhau có th ể xảy ra với

những thiệt hại to lớn và khó lường.

4.1.3. Đánh giá những tác động trong và ngoài nước ảnh hưởng đến phát triển

kinh tế, xã hội và nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau

Trên cơ sở phân tích, dự báo những tác động trong và ngoài nước, có thể nhận

thấy những tiềm năng, lợi thế và khó kh ăn, thách th ức đến sự phát tri ển KT - XH

109

của tỉnh và nền NNPTTHBV ở Cà Mau từ nay đến 2025 và ti ền đề cho những năm

tiếp theo như sau:

4.1.3.1. Những tiềm năng, lợi thế

Nhìn tổng thể, có th ể khẳng định Cà Mau có nh ững tiềm năng, lợi thế cơ bản

cho phát triển KT - XH nói chung, NNPTBV nói riêng.

Thứ nhất, điều kiện tự nhiên của tỉnh là một lợi thế quan tr ọng cho phát tri ển

KT - XH của địa phương nói riêng, NNPTTHBV nói chung. T ỉnh nằm trên bán đảo

Cà Mau, miền đất cuối của vùng ĐBSCL và đất nước, cách không xa các n ước khu

vực Đông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapo) nên là đầu mối của

hai hành lang phát tri ển kinh tế quan tr ọng của ĐBSCL và Ti ểu vùng Mekong m ở

rộng (GMS), cũng là đầu mối quan trọng của nhiều tuyến đường bộ, đường thủy và

Cụm 1

Bình Dương

Đồng Nai

Đồng Tháp

TP HCM

Long An

hàng không trong khu vực.

Cần Thơ

Bà Rịa VT

Tiền Giang

Kiên Giang

Hậu

Vĩnh Long

Bến tre

Bạc

Trà Vinh

Sóc Trăng

Cà Mau

Cụm 2

Hình 4.1: Mô hình liên kết hướng ly tâm và ly tâm tại Đông Nam Bộ

và Đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn: [103].

Với 254 km bờ biển và khoảng hơn 100.000 km2 mặt nước là lợi thế lớn trong

phát triển nuôi trồng, khai thác, đánh bắt thủy sản trước mắt và lâu dài của Cà Mau.

Hiện tại tỉnh có 295,8 nghìn ha nuôi tr ồng th ủy sản (có 28,5 nghìn ha n ước ng ọt,

68,8 nghìn ha n ước lợ và 198,5 nghìn ha n ước mặn). Đó là ch ưa kể đến 7.000 km

sông và hàng chục nghìn km kênh, rạch, đầm, hồ [103].

110

Cà Mau có mật độ dân cư thấp nên thuận lợi cho huy động đất để phát triển, nhất

là các ngành phi nông nghiệp, sự phát triển của các ngành sản xuất phi nông nghiệp tạo

điều kiện hỗ trợ cho phát tri ển nông nghiệp. Thực tế có nhi ều khu công nghiệp lớn ở

tỉnh và huyện được quy hoạch, trong đó có một số bắt đầu đi vào hoạt động.

Hệ sinh thái đa dạng, diện tích rừng ngập nước (mặn và ngọt) lớn, bờ biển dài,

biển Cà Mau có 3 c ụm đảo lớn rất có ti ềm năng về du lịch sinh thái, du l ịch biển;

tiềm năng du lịch của Cà Mau là sự kết nối quan trọng đối với phát triển du lịch của

vùng và du lịch biển đảo Phú Quốc trong tương lai.

Thứ hai, tri ển vọng phát tri ển KT - XH c ủa tỉnh từ nay đến 2025 cũng là một

lợi thế để nông nghiệp Cà Mau phát triển theo hướng bền vững.

Trên cơ sở định hướng phát tri ển KT-XH, NNPTTHBV ở Cà Mau đến năm

2025 với 3 giai đoạn phát tri ển: (i) th ực hiện tái cấu trúc nền nông nghi ệp của địa

phương nhằm cải thiện những hạn chế về vốn, nguồn lực, nhất là thiếu nguồn nhân

lực có chất lượng, chủ động trước những tác động, ảnh hưởng từ điều kiện tự nhiên,

đồng thời tiếp tục duy trì, phát tri ển yếu tố truyền thống, từng bước phát triển, nâng

cao hiệu quả hoạt động của công nghi ệp trong nông nghi ệp. Quá trình CNH nông

nghiệp những năm này tập trung vào xây d ựng nhà máy, thành l ập những công ty,

tìm mô hình, hướng đi thích hợp với điều kiện mới nhằm tạo công ăn việc làm cho

người lao động dư th ừa ch ủ yếu ở nông thôn, t ạo kh ả năng cạnh tranh d ựa trên

chiến lược chi phí thấp, tạo dựng và tích lũy cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp

làm tiền đề cho giai đoạn tiếp theo. (ii) áp dụng chính sách tăng trưởng nhanh trên cơ

sở năng suất lao động và đổi mới công nghệ. Do các nguồn lực tự nhiên, đất đai và lao

động xã hội giảm dần và trở nên đắt đỏ hơn nên ngành nông nghiệp vận hành dựa trên

lợi thế tài nguyên, lao động sẽ giảm dần tỷ trọng nên để tiếp tục phát triển thì các khâu

thương mại, dịch vụ, chất lượng hàng hóa cần trải qua nhiều công đoạn chế biến tinh vi

để có được các sản phẩm đảm bảo yêu cầu ngày càng cao về chất lượng. (iii) nền nông

nghiệp từng bước được hiện đại hóa, công nghệ tiên tiến được áp dụng rộng rãi, năng

suất lao động tăng, sản phẩm hàng hóa, nhất là các mặt hàng xuất khẩu có sự cải thiện

đáng kể về thương hiệu sản phẩm, các dịch vụ cung ứng phát triển mạnh mẽ, lợi thế

vốn, công nghệ hơn hẳn lợi thế về lao động.

Với định hướng phát tri ển nêu trên, có th ể coi đây là m ột ti ền đề, một ti ềm

năng căn bản giúp cho Cà Mau thu ận lợi trong thúc đẩy NNPTTHBV trên c ơ sở

phát huy một cách hiệu quả nội lực của địa phương.

111

4.1.3.2. Những khó khăn, thách thức chủ yếu

Bên cạnh những thuận lợi, những tiềm năng, lợi thế, NNPTTHBV ở Cà Mau

có thể gặp những khó khăn, thách thức sau:

- Địa hình và khí h ậu: Cao trình th ấp, địa chất yếu, sông, kênh r ạch chằn chịt

là những điều khó kh ăn, tốn kém cho đầu tư phát tri ển nông nghi ệp; địa bàn rộng

(thứ 2 vùng ĐBSCL sau Kiên Giang) b ờ bi ển dài, ba m ặt ti ếp giáp bi ển, là m ột

trong những tỉnh ở Việt Nam phải gánh chịu tác động lớn nhất của biến đổi khí hậu,

nước biển dâng.

- Điều ki ện th ổ nh ưỡng của Cà Mau không thu ận lợi cho nông nghi ệp năng

suất cao. Năng suất lúa năm 2015, chỉ bằng 78% năng suất bình quân c ủa cả nước;

năng suất ngô bằng 82%, năng suất mía cao h ơn nhưng diện tích không l ớn, giá cả

bấp bênh nên nông dân phá mía để nuôi trồng thủy sản.

- Các lợi thế về qu ỹ đất còn lớn phục vụ cho sản xuất công nghi ệp và đô thị,

nguồn lao động dồi dào, người dân có truyền thống cần cù, siêng năng, sáng tạo trong

lao động sản xuất. Nông nghiệp phát triển sẽ hỗ trợ cho công nghiệp và dịch vụ phát

triển. Tuy nhiên, quá trình đó sẽ tạo ra nh ững ảnh hưởng tiêu c ực đối với

NNPTTHBV như nông dân sẽ mất đất sản xuất, phá vỡ kết cấu hạ tầng nông nghiệp,

đời sống nông thôn có nhiều biến đổi, môi trường sản xuất và đời sống bị ô nhiễm…

- Khó kh ăn về ngu ồn nhân l ực: Cùng v ới cải thi ện thu nh ập, đầu tư lớn của

Nhà nước vào GD - ĐT nguồn nhân lực của Cà Mau nói riêng và c ủa cả nước nói

chung liên tục được cải thiện. Tuy nhiên, như phân tích ở trên, tỷ lệ học sinh học lên

cấp cao hơn ở Cà Mau đạt tỷ lệ thấp hơn các tỉnh khác vùng ĐBSCL và cả nước.

Do đó, nếu xu h ướng này ti ếp tục kéo dài thì ch ất lượng ngu ồn nhân l ực của Cà

Mau sẽ chậm cải thiện hơn các tỉnh khác và Cà Mau sẽ khó cạnh tranh được với các

tỉnh để thu hút đầu tư. Có th ể thấy trong nh ững năm tới, Cà Mau r ất khó cải thiện

nhanh được chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo. Chỉ trừ khi nhu cầu qua đào tạo

tăng lên, chiến lược nguồn nhân lực của tỉnh được phát huy, kinh phí có s ự chuyển

biến mạnh mẽ, thì những lao động chưa qua đào tạo sẽ phải tham gia các khóa h ọc

nghề và qua đó cải thiện được chất lượng của lao động.

- Khó kh ăn về khoa học công ngh ệ và qu ản lý: Ngu ồn nhân lực về KH - CN

và quản lý của Cà Mau còn rất hạn chế; cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính đầu tư

vào lĩnh vực này cũng rất hạn hẹp. Các nhu cầu về KH - CN và quản lý của Cà Mau

112

là rất cần thiết nhưng việc thúc đẩy rất chậm. Các thông tin khoa h ọc, điều kiện và

khả năng tiếp cận, mức độ cạnh tranh về kinh tế rất hạn chế; trong qu ản lý yếu tố

KH - CN ít được xem trọng, ngay cả việc kết nối giữa địa phương với các trung tâm

KH - CN, các tr ường đại học trong và ngoài n ước để thúc đẩy, chuyển giao kết quả

cũng rất hạn chế.

- Cơ sở dịch vụ nông nghi ệp khá phát tri ển, nhưng sự gắn kết các cơ sở này

trong sản xuất chưa được chặt chẽ. Đặc biệt là sự phát tri ển kinh tế hợp tác, HTX

dịch vụ nông nghi ệp, công ty lâm nghi ệp, lâm tr ường, nông tr ường đang gặp nhiều

khó khăn. Vai trò c ủa Nhà nước trong hỗ trợ các mô hình, lo ại hình sản xuất nông

nghiệp làm ăn có hiệu quả còn mờ nhạt, những khó khăn về vốn và việc tháo gỡ khó

khăn vướng mắc phát sinh trong th ực tiễn thường chậm, kéo dài, tốn kém thời gian,

công sức, tiền của của Nhà nước và nhân dân.

Bảng 4.1: Điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của Cà Mau

Điểm mạnh

- Vị trí chiến lược quan trọng phát triển kinh tế. - Nguồn dầu khí tự nhiên dồi dào. - Diện tích lớn, rất thuận lợi phát triển thủy sản. - Quỹ đất phát triển phi nông nghiệp lớn. - Tài nguyên nước và tài nguyên biển dồi dào. - Hệ thống giao thông hứa hẹn thuận lợi. - Nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ.

Điểm yếu - Điều kiện thổ nhưỡng không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. - Hạ tầng kỹ thuật đường bộ, đường thủy còn nhiều khó khăn. - Thiếu vốn sản xuất. - Lao động có tay nghề thấp. - Người giỏi chuyển đi nơi khác nhiều. - Trang thiết bị y tế, giáo dục còn nhiều khó khăn.

Thách thức

- Biển đổi khí hậu Tỉnh phải đối mặt với nhiều thách thức.

- Thách thức thu hút vốn đầu tư nhiều hạn chế.

- KH-CN chậm phát triển, chưa đồng đều.

- Chất lượng nguồn nhân lực thấp.

- Đội ngủ CBQL và công chức, viên chức bất cập.

- Cải cách hành chính hiệu quả thấp

Cơ hội - Các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ đã hoàn thành. - Đường hành lang ven biển phía Nam được mở rộng. - Du lịch nhiều tiềm năng. -Nhiều chương trình trọng điểm được xác lập và triển khai, khí điện đạm, điện gió, sân bay, cảng biển Hòn Khoai sắp được khởi công , … - Cơ hội hợp tác quốc tế về kinh tế nhiều triển vọng. - Liên kết vùng ĐBSCL chuyển động tích cực.

- Nhiều nhóm tiêu chí thành phần NLCT, PAPI của Cà Mau thứ hạn thấp…

Nguồn: [103].

113

4.2. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG NỀN NÔNG NGHI ỆP PHÁT TRI ỂN THEO

HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU

Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững ở tỉnh Cà Mau, giai đoạn (2016-

2025) quán triệt các quan điểm sau:

Quan điểm th ứ nh ất: NNPTTHBV là c ần ph ải phát huy t ối đa nội lực, tập

trung khai thác ti ềm năng và lợi thế so sánh, t ăng cường liên kết phát tri ển, nhất là

liên kết vùng ĐBSCL, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặt nhiệm vụ phát tri ển

nông nghiệp của tỉnh trong chi ến lược phát tri ển nông nghi ệp của cả nước và vùng

ĐBSCL. Quán tri ệt quan điểm này, cần phải vận dụng các lý thuy ết lợi thế so sánh

để phân tích và t ập trung đầu tư cho nh ững nông sản có ưu th ế trong s ản xu ất và

xuất khẩu phù h ợp với từng vùng sinh thái trong t ỉnh (mặn, lợ, ngọt) có kh ả năng

đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Quan điểm th ứ hai: NNPTTHBV là quá trình b ảo đảm gắn kết ch ặt ch ẽ với

thực hi ện chi ến lược phát tri ển KT - XH, hài hòa và đồng bộ với quy ho ạch phát

triển KT - XH, quy ho ạch phát tri ển kinh tế vùng, nâng cao v ị thế cạnh tranh của

tỉnh. Đáp ứng những nhu cầu hiện tại, nhưng không gây tr ở ngại cho đáp ứng nhu

cầu của thế hệ tương lai, tăng trưởng kinh tế góp phần thực hiện các mục tiêu xã hội

như góp ph ần đảm bảo an ninh l ương th ực qu ốc gia, t ạo nhi ều vi ệc làm, xóa đói

giảm nghèo và đảm bảo sự công bằng xã hội. Quan điểm này yêu cầu NNPTTHBV

phải đảm bảo thêm nhi ều vi ệc làm cho ng ười lao động, góp ph ần nâng cao ch ất

lượng lao động và cải thiện đời sống của nông dân, đồng thời giảm bớt sự bất bình

đẳng trong thu nhập giữa các tầng lớp dân cư.

Quan điểm th ứ ba: NNPTTHBV trên c ơ sở khai thác h ợp lý các ngu ồn tài

nguyên thiên nhiên, th ực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, làm t ổn hại trong sử dụng

các ngu ồn lực tự nhiên có s ẵn để phát tri ển các ngành t ỉnh có l ợi th ế. Kh ắc ph ục

những nhược điểm, phát huy tối đa lợi thế tự nhiên của tỉnh theo hướng tăng trưởng

xanh, bền vững, khơi dậy tiềm năng, lợi thế về kinh tế biển và cảng biển, xác định

Cà Mau là c ửa chính quan tr ọng của các tỉnh Tây Nam B ộ ra bi ển. Xây dựng tỉnh

thành cửa ngõ, lối ra hướng đông nam của đất nước, thành điểm kết nối Việt Nam

với các n ước trong khu v ực Đông Nam Á và th ế gi ới và c ửa ngõ xu ất kh ẩu hàng

hóa nông sản của vùng ĐBSCL, thành địa điểm động lực kinh tế vùng ĐBSCL.

114

Quan điểm thứ tư: NNPTTHBV cần có chính sách h ỗ trợ của trung ương và

địa phương đồng bộ, phù hợp với điều kiện và yêu cầu phát triển của tỉnh. Tận dụng

mọi chính sách của Nhà nước để khai thác tối đa các nguồn lực, coi vốn đầu tư của

Nhà nước là vốn kích ho ạt đầu tư của tư nhân và c ủa nước ngoài. Trong b ối cảnh

Việt Nam đã ký kết và đang thực hiện các cam k ết trong các hi ệp định thương mại

song phương và đa phương, việc điều chỉnh các chính sách, bi ện pháp đối với hàng

nông sản ph ải được đặt trong xu h ướng hội nh ập qu ốc tế hướng theo nh ững quy

định về tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu của thị trường.

Quan điểm thứ năm: NNPTTHBV trên cơ sở huy động tối đa các nguồn lực xã

hội, các thành phần kinh tế, sự trợ giúp của các tổ chức trong và ngoài nước và của các

ngành các cấp từ tỉnh đến cơ sở. Quan điểm này yêu cầu sự kết hợp giữa các thành phần

tham gia vào chuỗi giá trị hàng nông sản trên cơ sở đảm bảo hài hòa về lợi ích, mang lại

hiệu quả kinh tế, lợi thế cạnh tranh trên thị trường và sự hướng dẫn của Nhà nước.

Quan điểm thứ sáu: NNPTTHBV ph ải gắn chặt với xây dựng NTM, cải thiện

cuộc sống của người dân. Quá trình đó là sự liên kết bền chặt, hướng tới một nền

nông nghi ệp phát tri ển, tăng tr ưởng ổn định, theo chi ều sâu, c ải tổ khu v ực nông

nghiệp, nông thôn, di ện mạo nông thôn thay đổi, chất lượng cuộc sống của người

dân, đặc biệt là nh ững người dân vùng nông thôn ngày càng được nâng lên. T ạo ra

hiệu ứng nhiều lĩnh vực của đời sống, không khí lao động, sản xuất, đáp ứng những

đòi hỏi xây dựng NTM, trên cơ sở đảm bảo hài hòa, bền vững cả ba mặt KT - XH -

MT khu vực nông thôn.

4.3. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU XÂY DỰNG NỀN NÔNG NGHIỆP PHÁT

TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU, GIAI ĐOẠN 2016 - 2025

4.3.1. Ph ương hướng xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng

bền vững ở tỉnh Cà Mau

4.3.1.1. Những căn cứ xây dựng phương hướng

Để đảm bảo tính khả thi, phương hướng xây dựng nền NNPTTHBV ở tỉnh Cà

Mau dựa trên những căn cứ sau:

- Chiến lược và nhiệm vụ phát triển KT-XH của đất nước đến năm 2020;

- Kết luận số 29-KL/TW ngày 14/8/2012 c ủa Bộ Chính tr ị về phương hướng,

nhiệm vụ, gi ải pháp phát tri ển KT-XH và đảm bảo an ninh qu ốc phòng vùng

ĐBSCL đến năm 2020;

115

- Quy ết định số 939/Q Đ-TTg ngày 19/7/2012 c ủa Th ủ tướng Chính ph ủ về

Phê duyệt Quy hoạch phát triển KT-XH vùng ĐBSCL đến năm 2020;

- Quyết định số 245/QĐ-TTg, ngày 12/02/2014 c ủa Thủ tướng Chính ph ủ về

Phê duyệt Quy hoạch phát tri ển KT-XH vùng Kinh t ế trọng điểm ĐBSCL đến năm

2020, định hướng đến năm 2030;

- Quy ết định số 163/2008/Q Đ-TTg, ngày 11/12/2008 c ủa Th ủ tướng Chính

phủ về Phê duyệt Quy hoạch phát triển KT-XH tỉnh Cà Mau đến năm 2020;

- Quy ết định số 1581/Q Đ-TTg, ngày 09/10/2009, Phê duy ệt Quy ho ạch xây

dựng vùng ĐBSCL đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050;

- Quyết định số 339/QĐ-TTg, ngày 09/10/2009 c ủa Thủ tướng Chính ph ủ về

Phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình t ăng

trưởng theo hướng nâng cao ch ất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn

2013 - 2020;

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015-2020.

- Các Ngh ị quyết, Chương trình hành động, Kế hoạch của HĐND và UBND

tỉnh Cà Mau thực hiện các Chiến lược, Quyết định, kết luận nêu trên.

4.3.1.2. Phương hướng xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng

bền vững ở tỉnh Cà Mau

* Phương hướng xây dựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững

trên phương diện kinh tế

Tập trung khai thác và t ận dụng lợi thế vùng; xây dựng và phát tri ển các vùng

chuyên canh quy mô l ớn theo hình th ức tập trung, trang tr ại, gia tr ại, đạt các tiêu

chuẩn phổ biến về an toàn v ệ sinh th ực ph ẩm; gắn với công nghi ệp chế biến, bảo

quản để tạo các s ản phẩm chất lượng cao cho tiêu dùng trong n ước và xu ất kh ẩu,

nhất là những ngành hàng có s ức cạnh tranh cao ho ặc có ti ềm năng trong tương lai

như: tôm sú, tôm th ẻ chân trắng, gạo hữu cơ; phát triển nhóm sản phẩm có nhu cầu

nội địa lớn nhưng khả năng cạnh tranh trung bình như: lúa gạo, chuối, cua, sò huyết,

cá đồng (cá bổi, cá chình, cá b ống tượng…), các sản phẩm lâm nghi ệp (đồ gỗ gia

dụng, than cũi và chất đốt dạng viên nén…); đồng thời duy trì và nâng cao hi ệu quả

sản xu ất phù h ợp với điều ki ện từng vùng đối với các s ản ph ẩm ch ăn nuôi (gây,

nuôi động vật hoang dã), cây gỗ địa phương, và các loại thủy sản khác.

116

Cà Mau c ần ph ải phát tri ển mô hình kinh t ế thu hút được lao động dư th ừa

trong khu v ực nông nghi ệp vào khu v ực doanh nghi ệp thuộc công nghi ệp và d ịch

vụ. Vì th ế đòi hỏi năng suất lao động tại khu vực công nghi ệp và dịch vụ phải cao

hơn năng suất lao động hiện nay trong khu v ực ngư - nông - lâm nghi ệp. Điều này

chỉ đạt được khi Cà Mau đầu tư có trọng tâm vào những ngành kinh tế có lợi thế lớn

nhất của tỉnh, cần hướng đến các mũi đột phá sau đây:

Thứ nhất, cải thiện môi tr ường kinh doanh n ội tỉnh để thúc đẩy sự phát tri ển

các nông tr ại, doanh tr ại, liên kết, hợp tác và các doanh nghi ệp tư nhân, đặc biệt là

các doanh nghi ệp siêu nh ỏ, nhỏ và vừa. Tốc độ phát tri ển doanh nghi ệp phải nằm

trong tốp ba tỉnh dẫn đầu vùng ĐBSCL. Mũi đột phá này nh ằm doanh nghi ệp hóa

các ho ạt động kinh t ế, tạo môi tr ường sản xu ất hàng hóa n ăng động, nuôi d ưỡng

tinh thần doanh nhân của tỉnh, thu hút sức lao động dư thừa khu vực nông thôn.

Thứ hai, tối ưu hóa lợi thế tự nhiên của Cà Mau; kêu g ọi sự hỗ trợ của trung

ương trong việc khai thác lợi thế của tỉnh cho tương xứng những đóng góp của tỉnh

trong th ặng dư th ương mại, bảo vệ ngu ồn gen và h ệ sinh thái quý hi ếm của tỉnh.

Tận dụng tối đa mọi chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với tỉnh và vùng ĐBSCL

để nhanh chóng khắc phục điểm yếu về kinh tế và ngành nông nghiệp của tỉnh.

Thứ ba, xây dựng nền nông nghiệp phát triển hài hòa cả bề rộng và chiều sâu,

nhất là lĩnh vực tỉnh có lợi thế lớn như khai thác bi ển, nuôi tr ồng và ch ế biến thủy

sản. Tạo các doanh nghi ệp vệ tinh, các ngành công nghi ệp phụ trợ cho ngành ch ế

biến thủy sản cao cấp, đáp ứng cao nhất tiêu chuẩn xuất khẩu. Nuôi tôm chuyển dần

từ nuôi qu ảng canh sang nuôi công nghi ệp để đảm bảo đáp ứng yêu c ầu về sản

lượng cho các nhà máy chế biến trên địa bàn. Chỉ đến khi các nhà máy chế biến này

hoạt động đủ công suất (hiện nay 6 tháng đầu năm nguyên liệu tôm nội tỉnh chỉ đáp

ứng được 30% - 40% công suất, 6 tháng cuối năm đáp ứng khoảng 60% - 70% công

suất, nguyên li ệu tôm bù đắp thi ếu hụt ph ải mua các t ỉnh ngoài và các n ước Thái

Lan, Ấn Độ…) thì kh ả năng kết nối gi ữa ng ười dân, doanh nghi ệp, nhà khoa

học…trong việc nâng cao quy trình k ỹ thuật, sản lượng, chất lượng sản phẩm mới

được chú tr ọng và phát tri ển. Đồng thời, phải đảm bảo không phát tri ển nuôi công

nghiệp quá nhanh có thể ảnh hưởng đến môi trường và giá cả của sản phẩm làm ra.

Thứ tư, khuyến khích các ngành thâm dụng nhân công, sự phát triển các doanh

nghiệp hộ gia đình, doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo việc làm cho người lao động tại

nông thôn.

117

Thứ năm, tích cực khuyến khích các doanh nghi ệp trong và ngoài n ước đầu tư

vào Cà Mau. Có chính sách ưu tiên, định hướng đầu tư theo cụm liên kết vào ngành,

lĩnh vực tỉnh có lợi thế như nuôi trồng, chế biến thủy sản; đối với những ngành, lĩnh

vực còn lại mà tỉnh không có lợi thế thì tỉnh cần kết nối các trung tâm kinh t ế trong

khu vực. Ví dụ, ngành du l ịch tỉnh cần phải kết nối với ngành du l ịch Tp. Hồ Chí

Minh và Cần Thơ để tạo chuỗi sản phẩm du lịch thu hút khách.

* Phương hướng xây dựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững

trên phương diện xã hội

Tăng thu nhập cho người sản xuất nông nghiệp trên cơ sở tạo điều kiện cho tất

cả các thành ph ần kinh t ế, nh ất là nhóm: ng ười nghèo và c ận nghèo ở nông thôn,

người dân vùng sâu, vùng xa không thuận tiện với điều kiện đất đai, sinh thái, nhóm

đồng bào dân t ộc và ph ụ nữ tham gia vào quá trình t ăng trưởng nông nghi ệp thông

qua hỗ trợ giảm nghèo, hỗ trợ duy trì s ản xuất và thu nh ập, tăng khả năng tiếp cận

thị tr ường lao động phi nông nghi ệp, đa dạng hóa sinh k ế cho c ư dân nông thôn,

giải quyết tốt vấn đề an ninh l ương th ực. Phát tri ển hướng tới th ực hi ện các m ục

tiêu ưu tiên về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng.

Để gi ải quy ết tốt các v ấn đề xã h ội đảm bảo nền NNPTTHBV đối với điều

kiện cụ thể của tỉnh, cần xây dựng mô hình tăng trưởng trong nội bộ ngành. Cần tập

trung đầu tư và có chính sách khuyến khích đầu tư cho các ngành có lợi thế hơn hẳn

so với các địa phương khác trong vùng ĐBSCL. Tăng nhanh khu v ực có năng suất

lao động cao và hi ệu quả lớn có sức cạnh tranh trên có s ở hình thành rõ nét nh ững

ngành, lĩnh vực động lực, mũi nhọn. Tăng tỷ trọng phân ngành có giá tr ị gia tăng và

có lợi thế cạnh tranh cao, trọng tâm là ưu tiên phát triển các ngành sản phẩm có khả

năng tham gia vào m ạng sản xuất và chu ỗi giá tr ị toàn cầu và gi ảm tỷ trọng những

ngành gia công, sơ chế có giá trị gia tăng thấp, tập trung khai thác tài nguyên.

Nông nghiệp phát tri ển theo hướng bền vững là tập trung đẩy mạnh sản xuất

nông nghi ệp hàng hóa, s ản xu ất hàng hóa theo h ướng CNH, H ĐH gắn với năng

suất, ch ất lượng, hi ệu qu ả và kh ả năng cạnh tranh cao; t ạo th ương hi ệu sản ph ẩm

sạch, thân thiện với môi trường, có năng suất cao và có giá tr ị lớn; gắn sản xuất với

chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Vấn đề nông dân, nông nghi ệp, nông thôn trong m ối quan hệ hài hòa, g ắn kết

chặt chẽ, trước mắt Cà Mau ph ải làm tốt việc điều chỉnh cơ cấu ngành nông nghi ệp

118

của tỉnh theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, cây trồng có giá trị kinh tế cao, dịch vụ

nông nghiệp, nông nghi ệp sinh thái, nông nghi ệp với du lịch sinh thái và phát tri ển

làng nghề truyền thống phục vụ du lịch thân thi ện với môi tr ường; tái cơ cấu trồng

trọt từ sản xuất lương thực là chính sang rau đậu, quả thực phẩm, hoa và cây cảnh.

Thông qua vi ệc phát tri ển các lĩnh vực kinh tế thủy sản có tr ọng tâm, hợp lý,

theo hướng bền vững, hiệu quả, cùng với đó cần đa dạng sản phẩm, ưu tiên các lĩnh

vực nhi ều lợi th ế nh ằm đưa Cà Mau th ực sự tr ở thành trung tâm s ản xu ất gi ống,

thức ăn, khoa học công nghệ, chế biến, xuất khẩu thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề

cá của vùng Tây Nam B ộ. Làm tốt nh ững định hướng này, ng ười dân s ẽ có được

việc làm, đời sống được cải thiện, các vấn đề về nghèo đói, an ninh tr ật tự và đời

sống nông thôn sẽ bền vững hơn.

* Phương hướng xây dựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo hướng bền vững

trên phương diện môi trường

Giảm thiểu các hoạt động bất lợi đến môi trường trong khai thác các ngu ồn lực

cho sản xu ất ng ư, nông, lâm s ản; tăng hi ệu qu ả qu ản lý và s ử dụng các ngu ồn tài

nguyên; tăng cường các biện pháp giảm phát thải; quản lý và sử dụng hiệu quả an toàn

các loại hóa chất, thuốc trừ sâu, chất thải từ chăn nuôi, trồng trọt, công nghiệp chế biến

và làng ngh ề; bảo tồn đa dạng sinh học. Khuyến khích áp d ụng các tiêu chu ẩn môi

trường kèm cơ chế giám sát chặt chẽ để thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp.

Để làm t ốt vi ệc bảo vệ môi tr ường, quan tr ọng nh ất là x ử lý, kh ắc ph ục ô

nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và ch ặt phá

rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

Bảo vệ môi trường là một trong ba yếu tố cấu thành của phát triển theo hướng bền

vững. Vấn đề đặt ra đối với Cà Mau là không thể xem nhẹ, hoặc coi trọng một trong ba

vấn đề (bảo vệ môi trường, hay phát triển kinh tế hoặc phát triển xã hội) mà trong quá

trình hoạch định chính sách, đặt ra các quy định thực thi pháp luật, tỉnh cần phải đảm bảo

hài hòa việc phát triển theo hướng bền vững cả ba yếu tố này. Đây là một bài toán khó

không chỉ đối với Cà Mau mà còn đối với nước ta. Trong thời gian tới, quá trình CNH,

đô thị hóa, phát tri ển nông nghi ệp, du lịch, xây dựng NTM,... đều tác động đến môi

trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên. Bền vững về môi

trường là khi sử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người

phải được bảo đảm. Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa

119

lý, cảnh quan đối với Cà Mau trước biến đổi khí hậu và nước biển dâng cần phải được

đánh giá, tiên lượng và định hướng bằng những giải pháp hết sức cơ bản, thực chất thì

mới có th ể giảm thiểu được thiệt hại trong sản xuất và đời sống của người dân. Ch ất

lượng của các yếu tố trên đối với một tỉnh phải chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí

hậu như Cà Mau luôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo

100%

17.5

80%

15.1 3

16.3 4.5

7

Thương mại, du lịch

22.2

21.5

60%

21

Vận tải, hậu cần

Điện, hóa chất

40%

Thủy sản

44.6

42.7

39.6

20%

0%

2015

2020

2025

những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế.

Biểu đồ 4.1: Tỷ trọng đóng góp của các cụm ngành trọng điểm vào GDP của tỉnh

Nguồn: [103].

4.3.2. Mục tiêu xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo h ướng bền

vững ở tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2016-2025

4.3.2.1. Mục tiêu tổng quát

Thông qua vi ệc phát tri ển các lĩnh vực kinh tế thủy sản có tr ọng tâm, hợp lý,

theo hướng bền vững, hi ệu qu ả, cùng v ới đó cần đa dạng sản ph ẩm, ưu tiên xây

dựng tỉnh Cà Mau thành tỉnh phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực KT-VH-XH

theo hướng phát huy nh ững tiềm năng, lợi thế của tỉnh, đồng thời quán tri ệt đầy đủ

chức năng, nhiệm vụ của một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL đối với cả

nước, đó là trung tâm l ớn về nuôi tr ồng, khai thác và ch ế biến thủy sản; trung tâm

năng lượng và cung cấp khí đốt từ các mỏ khí Tây Nam, điện gió Khai Long; trung

tâm dịch vụ du lịch; làm cầu nối trong hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vị trí quan trọng

về quốc phòng, an ninh của cả nước. Đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của

vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL và trở thành một tỉnh phát triển khá vùng ĐBSCL;

hoàn thiện môi tr ường đầu tư, kinh doanh, tái c ơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình

tăng trưởng theo chi ều sâu, tham gia nhi ều hơn vào các chu ỗi giá tr ị với trọng tâm

là các ngành trọng điểm của tỉnh.

Phát triển hài hòa gi ữa thành th ị và nông thôn, huy động tối đa các ngu ồn lực

xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân; bảo vệ môi trường

120

sinh thái, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, ch ủ động phòng tránh và ứng phó bi ến đổi

khí hậu; kết hợp phát triển kinh tế với giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội; đảm

bảo quốc phòng, an ninh, GD - ĐT, y tế, KH - CN, v ăn hóa, gi ải quyết việc làm,

giảm nghèo bền vững, từng bước nâng cao đời sống nhân dân.

Xây dựng nền NNPTTHBV cả về KT-XH-MT; nâng cao năng suất, chất lượng,

giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp;

xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, chất lượng và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu ngày

càng cao của người tiêu dùng, góp phần phát triển nguồn lực xây dựng NTM.

Mục tiêu kinh tế - Tăng trưởng - Hiệu quả - Ổn định

Kinh tế

Xã hội

Môi trường

Mục tiêu xã hội - Việc làm đầy đủ - Công bằng - Giáo dục - Y tế - Tham gia của ND - Văn hóa

Mục tiêu môi trường ường lành - Môi tr mạnh cho con người - Sử dụng hợp lý tài nguyên tái tạo - Bảo tồn tài nguyên không tái tạo

Hình 4.2: Nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững

Nguồn: [64].

Huy động và th ực hiện đa dạng hoá các ngu ồn lực đầu tư cho phát tri ển nông

nghiệp, nông thôn; ngân sách Nhà n ước hỗ trợ tạo điều kiện huy động, thúc đẩy các

nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ hợp tác, HTX, hộ gia đình đầu tư phát triển sản xuất.

Xây dựng, hoàn thiện và phát triển hình thức hợp tác liên kết trong tổ chức sản xuất

theo chuỗi giá trị đối với các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của tỉnh.

4.3.2.2. M ục tiêu cụ thể

* Mục tiêu kinh tế

- Phấn đấu đến năm 2020 GDP bình quân đầu người đạt khoảng 70 - 72 tri ệu

đồng (2.550 - 2.660 USD) t ương đương 60% mức vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL

121

và đến năm 2025 t ương đương (78 - 80%) m ức vùng kinh t ế tr ọng điểm ĐBSCL

(5.200 - 5.300 USD)

- GDP t ăng tr ưởng với nh ịp độ bình quân (so sánh n ăm 2010) kho ảng 7 -

7,5%/năm thời kỳ 2016 - 2020 và 8 -8,5%/năm thời kỳ 2020 - 2025 [30].

- Xuất khẩu thủy sản đạt 1.150 nghìn USD n ăm 2015, ph ấn đấu 1.500 nghìn

USD vào năm 2020 và 1.750 nghìn USD vào năm 2025.

- Thu ngân sách đạt 7.000 t ỷ vào n ăm 2020 và 10.000 t ỷ vào n ăm 2025.

Chuyển dịch cơ cấu kinh t ế theo h ướng ti ếp tục khai thác nh ững lợi th ế về nuôi

trồng và đánh bắt thủy sản. Cơ cấu kinh tế ngư - nông - lâm 38,1% n ăm 2015 giảm

xuống còn 32% năm 2020 và 22% năm 2025.

- Tốc độ đổi mới công ngh ệ, thiết bị đạt 8 - 10% m ột số lĩnh vực quan tr ọng

thời điểm năm 2015, tăng lên 15-20% năm 2020 và 28-30% vào năm 2025 [30].

* Mục tiêu xã hội

- Th ất nghi ệp ở thành th ị dưới 3,4% vào n ăm 2020, qu ỹ th ời gian lao động

nhàn rỗi ở nông thôn gi ảm xuống còn 50% vào n ăm 2020 và còn 30-35% vào n ăm

2025; mỗi năm đào tạo nghề cho 5.000 lao động.

- Mỗi năm giảm nghèo theo chu ẩn đa chiều 2%; t ỷ lệ qua đào tạo th ời điểm

2020 là 48%, năm 2025 là 60%.

- Thanh niên trong độ tuổi có trình độ THPT; phấn đấu có 25 bác sĩ và 5 dược

sĩ/1 vạn dân [30].

* Mục tiêu môi trường

- Đến năm 2020 có 100% doanh nghi ệp, khu đô th ị mới có h ệ th ống xử lý

nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.

- Đến năm 2020 ch ất thải rắn, chất thải y tế 100% được thu gom, x ử lý đúng

quy định.

- Không còn nhà tạm, di dời nhà trên sông, ven sông khu vực đô thị và hạn chế

đến mức thấp nhất nhà trên sông, rạch; giảm tối đa ảnh hưởng của thiên tai biến đổi

khí hậu và nước biển dâng.

4.4. MỘT SỐ GI ẢI PHÁP CH Ủ YẾU NH ẰM XÂY D ỰNG NỀN NÔNG

NGHIỆP PHÁT TRI ỂN THEO H ƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH CÀ MAU, GIAI

ĐOẠN 2016 - 2025

Trên cơ sở những đánh giá v ề thực tr ạng NNPTTHBV ở tỉnh Cà Mau; đồng

thời trên tinh th ần nghị quyết TW7 (khóa X) v ề nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

122

Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04-06-2010 c ủa Thủ tưởng Chính ph ủ phê duy ệt

Chương trình mục tiêu Qu ốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020 và quan

điểm ch ỉ đạo để NNPTTHBV trên địa bàn t ỉnh Cà Mau, lu ận án đề cập một số

nhóm giải pháp cơ bản sau:

4.4.1. Nhóm gi ải pháp v ề cơ ch ế, chính sách nh ằm hỗ tr ợ tích c ực cho

nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững

Th ực hi ện ch ủ tr ương của Đảng và Nhà n ước, nh ững năm qua Cà Mau đã

dành nhi ều sự quan tâm để phát tri ển nông nghi ệp, nông thôn. Tuy nhiên, nhi ều

chính sách ch ưa đồng bộ dẫn tới phát tri ển thi ếu bền vững. Để xây d ựng nông

nghiệp, nông thôn phát triển bền vững, cần chú ý một số chính sách sau đây:

4.4.1.1. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển nông nghiệp theo hướng

tạo điều kiện để nông nghiệp phát triển bền vững

Việc rà soát, điều chỉnh Quy hoạch phát triển Nông nghiệp tỉnh Cà Mau giai

đoạn 2011 - 2020 đã được UBND tỉnh phê duy ệt tại Quyết định 1586/Q Đ-UBND

ngày 13/10/2011 (tr ừ lĩnh vực nuôi tr ồng thủy sản đã có Quy ho ạch riêng) cho phù

hợp với Đề án của UBND tỉnh về tái cơ cấu ngành nông nghi ệp tỉnh Cà Mau. Theo

đó, nh ằm thúc đẩy nông nghi ệp Cà Mau phát tri ển theo h ướng bền vững, chính

quyền địa ph ương cần tích c ực th ực hi ện vi ệc rà soát, điều ch ỉnh quy ho ạch phát

triển nông nghiệp của tỉnh, trong đó chú trọng các phương diện cụ thể sau:

Rà soát, điều ch ỉnh Quy ho ạch bảo vệ và phát tri ển rừng tỉnh Cà Mau đến

năm 2020 tại Quyết định số 1200/QĐ-UBND ngày 21 tháng 8 n ăm 2012 của Chủ

tịch UBND t ỉnh Cà Mau cho phù h ợp với tình hình m ới nh ằm nâng cao hi ệu qu ả

thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau.

Ngành nông nghiệp cần tiếp tục thực hiện việc rà soát, điều chỉnh (hoặc xây

dựng mới) các quy hoạch chi tiết theo từng lĩnh vực của ngành; triển khai xây dựng

các ch ương trình, d ự án, đề án chuyên sâu để phát tri ển theo t ừng lĩnh vực, từng

ngành hàng cụ thể; có kế hoạch trung hạn, dài hạn cho phù hợp với Đề án, kế hoạch

đã được UBND tỉnh phê duyệt theo hướng ưu tiên các ngành, m ặt hàng mà t ỉnh có

lợi thế xuất khẩu.

Ngành nông nghi ệp cần sớm đề xuất UBND tỉnh phê duy ệt Quy ho ạch phát

triển giống cây nông, lâm nghi ệp, giống vật nuôi và gi ống thủy sản đến năm 2020

và định hướng đến năm 2025; Sở Kế hoạch và đầu tư tiếp tục làm tốt đầu mối để rà

123

soát, bổ sung các quy ho ạch trên các l ĩnh vực (nh ất là quy ho ạch nuôi tôm công

nghiệp, tôm quảng canh cải tiến, quy hoạch sản xuất lúa - tôm) cho phù hợp với tình

hình th ực tế trong điều ki ện ch ịu tác động của bi ến đổi khí h ậu, nước bi ển dâng

ngày càng có dấu hiệu phức tạp và nghiêm trọng hơn.

Ủy ban nhân dân t ỉnh cần sớm điều ch ỉnh, bổ sung Quy ết định số 06/Q Đ-

2011/UBND ngày 05 tháng 4 n ăm 2011 của UBND tỉnh Cà Mau v ề Quy định Cơ

chế phát triển Cụm nuôi tôm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Từng cấp chính quyền cần xiết chặt quản lý sản xuất theo quy hoạch, có biện

pháp chấn chỉnh sản xuất tự phát, gây khó khăn cho quản lý, khống chế dịch bệnh ở

cây trồng, vật nuôi. Theo phân cấp quản lý, tỉnh cần giao cho UBND huyện quản lý

chặt ch ẽ vùng s ản xu ất chuyên lúa, tránh để ng ười dân t ự ti ện đưa nước mặn vào

đồng ruộng để nuôi tôm, làm phá vỡ quy hoạch, nhằm ổn định diện tích canh tác lúa

theo quy hoạch.

Trên cơ sở Đề án tái cấu trúc ngành nông nghiệp, từng sở ngành có liên quan

và UBND các huy ện, thành ph ố chủ động ban hành k ế hoạch thực hiện chăn nuôi

theo định hướng tái c ơ cấu; ngành th ủy lợi sớm tham m ưu cấp th ẩm quy ền điều

chỉnh, bổ sung quy ho ạch hệ th ống th ủy lợi tỉnh Cà Mau đến năm 2020 và định

hướng đến năm 2025 và nh ững năm ti ếp theo. Đồng th ời đổi mới công tác quy

hoạch thủy lợi theo hướng: Quy ho ạch thủy lợi gắn chặt với tái cơ cấu ngành nông

nghiệp; áp dụng tiến bộ KH - CN thủy lợi và tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp.

Quy hoạch phát triển thủy lợi gắn với nâng cao hiệu quả quản lý khai thác hệ thống

công trình thủy lợi, nâng cao hi ệu quả cung cấp dịch vụ nước có thu, khuy ến khích

hợp tác đầu tư công - t ư, tạo nguồn lực cho phát tri ển thủy lợi. Nâng cao n ăng lực

nghiên cứu, dự báo tác động của biến đổi khí hậu và các tác động bất lợi trong quá

trình phát tri ển KT - XH để đề xuất các gi ải pháp gi ảm thiệt hại. Coi các gi ải pháp

phi công trình là gi ải pháp quan tr ọng trong quy ho ạch, xây d ựng kế ho ạch phát

triển thủy lợi.

Đánh giá và điều chỉnh nhiệm vụ hệ thống công trình th ủy lợi bao gồm: Cơ

sở hạ tầng, phương thức tổ chức quản lý khai thác, n ăng lực của đội ngũ cán bộ -

công nhân viên. Th ực hiện đánh giá các công trình th ủy lợi trên ph ạm vi toàn t ỉnh

làm căn cứ để điều chỉnh nhiệm vụ hệ thống công trình th ủy lợi. Rà soát quy ho ạch

thủy lợi theo m ục tiêu tái c ơ cấu ngành nông nghi ệp trong điều ki ện bi ến đổi khí

124

hậu với nhiệm vụ trọng tâm là: Quy ho ạch thủy lợi phục vụ nuôi tr ồng thủy sản ở

vùng Nam Cà Mau; điều chỉnh quy hoạch thủy lợi theo hướng phục vụ đa mục tiêu

(cho hệ sinh thái ngọt, mặn và lợ đan xen) ở vùng Bắc Cà Mau.

Quy ho ạch và k ế ho ạch phòng, ch ống thiên tai: Ban ch ỉ đạo phòng ch ống

thiên tai cần thực hiện tốt Chiến lược phòng, ch ống và giảm nhẹ thiên tai giai đoạn

2010-2020; điều chỉnh, bổ sung kế hoạch phòng, ch ống và gi ảm nhẹ thiên tai cho

phù hợp với tình hình m ới. Trọng tâm là xây d ựng kế hoạch quản lý sạt lở các cửa

sông, các điểm dân cư ven sông và quy ho ạch qu ản lý rủi ro thiên tai cho các địa

phương; xây dựng lộ trình th ực hiện và theo dõi, ki ểm tra, giám sát qua b ộ chỉ số

đánh giá.

Đối với dịch vụ hậu cần nghề cá: Đáp ứng cho nhu cầu trước mắt và lâu dài,

tỉnh cần có chỉ đạo tổ chức lại hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá, xây dựng và phát

triển các mô hình liên k ết, liên doanh, gắn kết các khâu trong quá trình s ản xuất, từ

khai thác, bảo quản đến chế biến và tiêu th ụ sản phẩm phù hợp với từng nghề, từng

vùng biển và từng địa phương, theo hướng chia sẻ lợi ích gi ữa ngư dân với các tổ

chức, doanh nghi ệp, bảo đảm tiêu th ụ sản phẩm ổn định, nâng cao giá tr ị của sản

phẩm và lợi nhuận cho ngư dân. Củng cố, phát triển các cơ sở đóng, sửa tàu cá, sản

xuất ng ư lưới cụ, trang thi ết bị máy móc khai thác trên tàu cá t ại các Trung tâm

nghề cá lớn, cảng cá, bến cá của mỗi địa phương. Tỉnh cần nghiên cứu đề xuất với

trung ương xây d ựng cảng bi ển nước sâu trên đảo Hòn Khoai để xu ất kh ẩu hàng

nông sản, là trạm trung chuyển cho một số nước khu vực Đông Nam á.

4.4.1.2. Hoàn thi ện cơ chế hỗ trợ phát tri ển sản xuất nông nghi ệp hướng

tới phát triển bền vững

Vận dụng các chính sách c ủa trung ương, UBND tỉnh cần tiếp tục thực hiện

một số giải pháp hỗ trợ sản xuất, nhất là đối với nuôi trồng, khai thác, đánh bắt thủy

sản, hỗ trợ kịp thời những hộ nông dân bị thiệt hại do trận hạn hán lịch sử giữa năm

2016; hỗ trợ hình thành, phát tri ển những ngành, những khu công nghi ệp mới, dịch

vụ chất lượng cao, nh ững ngành có kh ả năng phát tri ển KT-XH, nh ất là thâm d ụng

lao động, có chính sách h ỗ tr ợ các t ổ ch ức, cá nhân đầu tư sản xu ất công nghi ệp

nông thôn và các d ịch vụ khuyến công theo quy ho ạch phát triển công nghiệp nông

thôn và các d ịch vụ khuyến công theo quy ho ạch phát tri ển công nghi ệp của tỉnh,

huyện, thành phố và các vùng kinh t ế trọng điểm của tỉnh. Thực hiện tốt chính sách

125

khuyến công sẽ góp ph ần vào chuy ển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH,

trước hết là công nghi ệp hóa nông nghi ệp, nông thôn, t ạo việc làm, tăng thu nh ập,

thực hiện phân công lao động hợp lý và hiệu quả hơn. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho các

tổ ch ức, cá nhân thu ộc mọi thành ph ần kinh t ế đầu tư phát tri ển sản xu ất công

nghiệp nông thôn m ột cách b ền vững, nâng cao n ăng lực cạnh tranh, th ực hiện có

hiệu quả lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Tỉnh cần có chính sách ưu đãi mặt bằng đầu tư, tạo ngu ồn nguyên li ệu tại

chỗ, tạo mặt bằng thông thoáng cho doanh nghi ệp đầu tư, chính sách ưu đãi về vốn,

thuế, máy móc thi ết bị đầu tư cho sản xuất, kinh doanh trên l ĩnh vực nông nghi ệp,

nông thôn; chính sách đầu tư tàu thuy ền đánh bắt xa b ờ; đầu tư trung tâm nghiên

cứu, dự báo, các trung tâm giống, cây trồng, vật nuôi…. khuyến công trong các lĩnh

vực ch ế bi ến nông, lâm, th ủy sản; sản xu ất sản ph ẩm sử dụng nguyên li ệu tại địa

phương, sử dụng nhiều lao động; sản xuất máy móc, thi ết bị, sửa chữa máy cơ khí

nông nghiệp; sản xuất, gia công, bán thành phẩm, dịch vụ thay thế hàng nhập khẩu.

4.4.1.3. Hỗ tr ợ các hình th ức tổ ch ức sản xu ất nông nghi ệp theo h ướng

bền vững

Liên minh HTX t ỉnh cần tăng cường củng cố và phát tri ển kinh t ế tập thể,

với nòng c ốt là HTX, nh ất là ở vùng nuôi tr ồng, đánh bắt th ủy sản, tr ồng tr ọt,

chăn nuôi chuyên môn hóa l ớn, phát tri ển các làng ngh ề th ủ công. Thông qua

kinh tế hợp tác, cung c ấp các d ịch vụ sản xu ất, ký k ết hợp đồng tiêu th ụ sản

phẩm với các doanh nghi ệp, làm đầu mối thông tin th ị tr ường, hướng dẫn kỹ

thuật mới; đẩy mạnh phát tri ển kinh t ế hộ, kinh t ế nông tr ại, trang tr ại, khuy ến

khích đầu tư sản xuất kinh doanh. Đây là nhu c ầu rất quan tr ọng trong điều kiện

sản ph ẩm sản xu ất ra trên địa bàn c ần cạnh tranh ngay c ả trên th ị tr ường trong

nước, chưa kể ở thị trường nước ngoài.

Đối với lĩnh vực phi nông nghi ệp, chính quy ền địa phương cần có gi ải pháp

khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình bằng các chính sách hỗ trợ đào tạo, cung

cấp các dịch vụ tư vấn, giúp đỡ để tiếp cận các ch ương trình vay v ốn ưu đãi. Đẩy

mạnh cổ phần hóa và các hình th ức sở hữu các doanh nghi ệp kinh doanh trên l ĩnh

vực nông nghi ệp do Nhà n ước quản lý. Tăng cường vai trò qu ản lý Nhà n ước trên

cơ sở phát tri ển các doanh nghi ệp công ích đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời các

dịch vụ xã hội.

126

4.4.1.4. Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

Đối với ngành công th ương cần đồng bộ hóa các gi ải pháp và th ực hiện có

hiệu quả cơ chế, chính sách tiêu th ụ hàng hóa nông s ản, chống buôn l ậu, gian lận

thương mại kết hợp với các bi ện pháp gi ảm giá thành và nâng cao ch ất lượng sản

phẩm để tăng sức cạnh tranh trên th ị trường. Phát tri ển và củng cố các cơ sở kinh

doanh mặt hàng nông sản xuất khẩu có thể khép kín từ khâu nguyên liệu - chế biến -

xuất khẩu để ổn định đầu vào và đầu ra. Phát tri ển mạng lưới chợ nông thôn và c ơ

sở dịch vụ thu mua nông sản ở các huyện vùng sâu. Hình thành các khu, c ụm, điểm

kinh tế tổng hợp trên các địa bàn để tạo ra các mô hình phát tri ển kinh t ế và các

điểm thu mua và cung ứng vật tư nông nghiệp, hàng hóa, dịch vụ cho nông dân.

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chỉ đạo của tỉnh, căn cứ vào điều kiện

cụ thể của từng địa phương (vùng ngọt hóa, vùng nước mặn, nước lợ) chính quyền địa

phương cần giúp đỡ nông dân chuyển đổi và nâng cao hiệu quả các HTX dịch vụ đảm

bảo cung ứng đầu vào có chất lượng và tiêu thụ tốt sản phẩm cho nông dân.

Trung tâm xúc ti ến thương mại của tỉnh cần có các bi ện pháp khuy ến khích

và hỗ tr ợ doanh nghi ệp, các thành ph ần kinh t ế xúc ti ến th ương mại, xây d ựng

thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp; tìm kiến phát triển thị

trường xu ất kh ẩu thông qua các ch ương trình xúc ti ến th ương mại, hội ch ợ, tri ển

lãm, hội thảo, du lịch… chủ động nắm bắt thị trường, tìm kiếm đối tác, thu hút đầu

tư từ các t ổ ch ức, doanh nghi ệp trong và ngoài n ước vào các l ĩnh vực theo danh

mục mời gọi đầu tư của UBND tỉnh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025.

4.4.1.5. Huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp

Để đạt được mục tiêu NNPTTHBV, trên cơ sở đánh giá khả năng tích lũy do

thu nhập ngày một tăng của dân cư, xác định nguồn tích lũy bao gồm từ kinh tế Nhà

nước, các doanh nghiệp và hộ gia đình. Theo đánh giá tích lũy từ nội bộ nền kinh tế

Cà Mau th ời kỳ 2011 - 2020 có th ể đảm bảo 75 - 76% t ổng nhu cầu đầu tư. 5 năm

tiếp theo có th ể đạt xấp xỉ 80%, nh ư vậy, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách t ỉnh giai

đoạn 2021 - 2025 có t ăng trưởng từ 12-13%. Ngu ồn vốn hộ gia đình thời gian hiện

nay khá cao 38 - 39%, trong t ương lai tỷ trọng này gi ảm dần khoảng 25 - 30% do

quy mô đầu tư thông thường tăng lên. Với khả năng tích lũy nội bộ nền kinh tế 20 -

28%, nhu c ầu đầu tư theo c ơ cấu ngành, thì ngành nông nghi ệp có kh ả năng huy

động được 32 - 38% tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội [100].

127

Thực tế hiện nay của tỉnh, tỷ trọng nguồn vốn từ ngân sách chỉ chiếm từ 20 -

23% và chủ yếu để đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng KT - XH, phát tri ển nguồn

nhân lực, ch ăm sóc s ức kh ỏe nhân dân, đảm bảo an sinh xã h ội và b ảo vệ môi

trường. Để huy động nguồn vốn từ ngân sách trung ương thì tỉnh cần làm tốt công

tác quy ho ạch và qu ản lý quy ho ạch. Quan tâm đúng mức quy ho ạch phát tri ển

ngành, đặc biệt là ngành có thế mạnh của tỉnh như phát triển ngư, nông, lâm nghiệp.

Muốn vậy, tỉnh cần chuẩn bị danh mục chương trình, dự án có tính kh ả thi cao, sắp

xếp theo th ứ tự ưu tiên, đề xuất cụ thể, phân kỳ đầu tư ngắn hạn, trung hạn và dài

hạn, thời gian khoảng 5 đến 10 năm cho một chương trình, kế hoạch. Mặt khác, cần

làm tốt việc huy động nguồn vốn tín dụng Nhà nước để phát triển nông nghiệp, như

các dự án sử dụng công ngh ệ sạch, bảo vệ môi tr ường, giải quyết việc làm, hỗ trợ

đào tạo…tuy mức đầu tư từ nguồn vốn này không lớn, nhưng có ý nghĩa quan trọng

trong việc đào tạo, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội.

Cạnh đó, việc đẩy mạnh thu ngân sách, qu ản lý, nuôi d ưỡng các ngu ồn thu

thuế và phát tri ển th ị trường tài chính, tín d ụng đáp ứng nhu c ầu về vốn cho phát

triển nông nghiệp, giải pháp này nếu được thực hiện tốt thông qua vi ệc phổ biến về

đầu tư các dự án siêu nh ỏ, vừa và nh ỏ để thu hút các ngu ồn vốn của mọi tầng lớp

nhân dân trong t ỉnh sẽ mở ra một cách làm hi ệu quả trong vi ệc huy động vốn vào

mục đích xây dựng một nền NNPTTHBV của tỉnh.

4.4.2. Nhóm các gi ải pháp xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo

hướng bền vững trên phương diện kinh tế

4.4.2.1. Xây d ựng các ngành kinh t ế nông nghi ệp đáp ứng yêu c ầu nông

nghiệp phát triển theo hướng bền vững

Để lĩnh vực NNPTTHBV thì các ngành kinh t ế thuộc lĩnh vực nông nghi ệp

cần đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Do vậy, xét trên phương diện kinh tế, cần

chú trọng thực hiện các giải pháp sau:

- Phát tri ển ngành tr ồng tr ọt, hình thành vùng s ản xu ất hàng hóa t ập trung,

đầu tư thâm canh, tăng vụ, giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao.

Cây lúa: Quy hoạch của Cà Mau thời gian tới không mở rộng diện tích trồng

lúa nhưng chú tr ọng đến công tác th ủy lợi, thủy nông nội đồng, dồn điền, đổi thửa,

cải tạo giống lúa, nâng cao năng suất và chất lượng; tận dụng bờ vuông, vườn tạp để

canh tác, cải thiện đời sống. Chính quyền địa phương cần tăng cường quản lý và đề

128

xuất với trung ương để thực hiện tốt công tác quy ho ạch, có chính sách bảo đảm lợi

ích cho người trồng lúa ở các vùng ngọt hóa để giúp người dân yên tâm sản xuất, ổn

định cuộc sống, tránh tự phát chuyển đổi diện tích tr ồng lúa sang nuôi tôm, phá v ỡ

quy hoạch.

Cây ăn quả: Trong những năm tới ngành nông nghi ệp cần mở rộng diện tích

các loại cây ăn quả có lợi thế vùng ngọt hóa Bán đảo Cà Mau, cây ăn quả trồng trên

bờ vuông nuôi tôm và trên di ện tích vườn tạp, hoang hóa. Các loại cây thích ứng tốt

với vùng đất nhiễm mặn của Cà Mau, như: cây xoài, đu đủ, mận, thanh long, chuối,

mít… trồng mau thu ho ạch, cho năng suất khá, hi ệu quả kinh tế tương đối cao đối

với nhà nông bên cạnh con tôm, cây lúa.

Cây mía: T ỉnh cần sớm điều ch ỉnh quy ho ạch, có c ơ ch ế, chính sách cho

người nông dân ổn định di ện tích hi ện có và được tr ồng nhi ều ở các huy ện Th ới

Bình, U Minh và Trần Văn Thời. Chính quyền địa phương cần phát động người dân

chú trọng trồng thâm canh, đầu tư, nâng cấp hệ thống tưới tiêu, sử dụng giống mới

cho năng suất, trữ lượng đường cao và rải vụ. Tiếp tục đầu tư vùng nguyên liệu phù

hợp với quy mô công su ất nhà máy đường ở địa phương theo quy hoạch của tỉnh đã

được phê duyệt.

Cây dừa: Về lâu dài, chính quy ền địa phương cần khôi ph ục lại vườn dừa ở

các huy ện Phú Tân, Tr ần Văn Th ời, Cái N ước, Th ới Bình, U Minh. T ừng địa

phương cần quy ho ạch vùng nguyên li ệu tập trung, s ử dụng gi ống dừa cho n ăng

suất và ch ất lượng cao; khuy ến khích các c ơ sở thủ công m ỹ ngh ệ làm t ừ nguyên

liệu dừa và xây d ựng nhà máy ch ế biến các mặt hàng làm t ừ dừa phù hợp với điều

kiện của tỉnh.

Rau các loại: Chính quyền và các đoàn thể tìm biện pháp phù hợp phát động

nhân dân tr ồng các lo ại rau s ạch, rau ch ất lượng cao, an toàn v ệ sinh th ực ph ẩm,

phát triển măng, nấm, đậu tương ở vùng ng ọt hóa và ven các kênh, m ương, vuông

tôm, vườn tạp, chủ yếu để giảm bớt một phần thiếu hụt cho nhu cầu trong tỉnh, giảm

bớt nhập khẩu từ ngoài tỉnh.

Nghề làm muối: Ngành nông nghiệp cần sớm tham mưu, đề xuất UBND tỉnh

quan tâm c ải thi ện đời sống diêm dân, ch ủ yếu là khu v ực xã Tân Thu ận, huy ện

Đầm Dơi và ven sông Gành Hào. Hình thành vùng nguyên li ệu muối tập trung, từng

bước hi ện đại hóa quy trình làm mu ối, sản xu ất bằng công ngh ệ tiên ti ến, để đạt

129

năng suất và ch ất lượng cao, giá thành h ạ; nâng cao n ăng lực chế biến muối, đảm

bảo đáp ứng đủ cho cơ sở sản xuất và ch ế biến muối của địa phương để góp ph ần

đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

- Phát triển nhanh ngành chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công

nghiệp, an toàn dịch bệnh, phát huy lợi thế của từng địa phương trong tỉnh

Phát tri ển gia súc, gia c ầm theo h ướng sản xu ất hàng hóa, hình thành các

vùng chăn nuôi tập trung theo hình thức trang trại, nuôi công nghiệp, gắn với các cơ

sở chế biến và xử lý chất thải.

Nuôi heo: Phát tri ển đàn heo phù hợp với điều kiện của tỉnh. Hiện tỉnh chưa

có trang tr ại nuôi heo t ập trung, nên 85% th ịt heo nh ập từ các tỉnh ĐBSCL, mi ền

đông Nam bộ, do đó, phát tri ển đàn heo, gắn với việc làm tốt quy ho ạch, tạo điều

kiện cho ng ười ch ăn nuôi có l ời, nh ất là điều ki ện về vệ sinh môi tr ường, phòng

chống dịch bệnh cho đàn heo.

Nuôi bò, nuôi dê: Với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu như Cà

Mau không thuận lợi cho nuôi bò, nuôi dê theo hình th ức trang trại, nhưng các ngành

chức năng vẫn có thể khuyến khích nuôi được ở một số huyện như Thới Bình, U Minh,

Trần Văn Thời và thành phố Cà Mau nằm trong vùng ngọt hóa của tỉnh.

Gia cầm: Từng địa phương phát tri ển đàn gia cầm để đáp ứng nhu cầu thịt,

trứng cho tiêu dùng trong tỉnh. Với điều kiện của tỉnh, có thể phát triển mạnh ngành

chăn nuôi gà, vịt chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh, xuất khẩu

thịt, tr ứng, lông. Ngành ch ức năng cần làm t ốt công tác thú y, t ừng bước cải ti ến

phương thức chăn nuôi để chống và ngăn ngừa dịch bệnh.

- T ập trung phát triển lâm nghiệp toàn diện

Ngành nông nghiệp cần huy động các nguồn lực tập trung bảo vệ rừng hiện

có, nhất là rừng tràm ở Vườn quốc gia U Minh hạ, rừng đước ở Vườn quốc gia Mũi

Cà Mau và Khu d ự tr ữ sinh quy ển thế giới Mũi Cà Mau. Ti ếp tục làm giàu r ừng,

bảo vệ cho được rừng phòng h ộ, rừng đặc dụng. Hoàn ch ỉnh quy ho ạch để hình

thành các vùng nguyên li ệu gắn với các cơ sở chế biến; ứng dụng công ngh ệ nuôi

cấy mô, hom và nh ững ph ương pháp nhân gi ống tiên ti ến khác để rừng Cà Mau

ngày càng phát triển đa dạng, đem lại lợi ích kinh tế cao.

Hoàn thi ện chính sách để ng ười tr ồng, ch ăm sóc r ừng đảm bảo được cu ộc

sống và có th ể làm giàu t ừ ngh ề rừng; khuy ến khích các h ộ nông dân, lâm ng ư

130

trường, công ty lâm s ản mua máy móc, thi ết bị, th ực hi ện cơ gi ới hóa các khâu

trồng, khai thác, v ận chuyển và ch ế biến gỗ, lâm sản; phát tri ển các cơ sở sản xuất

giấy, bột giấy, ván nhân tạo, đồ gia dụng và thủ công mỹ nghệ làm bằng gỗ.

- Tiếp tục triển khai có hi ệu quả chương trình nuôi trồng, khai thác đánh bắt,

chế biến, xuất khẩu các mặt hàng thủy hải sản

Tiếp tục đầu tư tăng nhanh sản lượng nuôi tr ồng thủy sản, nhất là nuôi th ủy

sản mặt nước sông, ao, đầm, ven biển; phát triển nuôi trồng thủy sản vùng ngọt hóa

Quản lộ Phụng Hiệp trong các ao, đầm, ruộng, sông, kênh mương. Vùng nuôi trồng

thủy hải sản nước mặn tập trung ở các huyện: Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển, Cái

Nước, Phú Tân, m ột ph ần của huyện Tr ần Văn Th ời và thành ph ố Cà Mau; vùng

nuôi trồng thủy sản nước ngọt tập trung ở các huyện: Thới Bình, U Minh, Trần Văn

Thời, một phần của Cái Nước và Thành phố Cà Mau. Sản phẩm thủy sản nước mặn,

tập trung là: tôm sú, tôm th ẻ, cua, cá ch ẽm, cá kèo, ốc len, nghêu, sò huy ết, cá biển

các loại… còn sản phẩm chủ yếu nuôi nước ngọt là: cá lóc, cá rô, cá trê, cá s ặc rằn,

cá chình, tai t ượng, tôm càng xanh… Xác định nhóm đối tượng thủy sản nuôi ch ủ

lực phù hợp với điều kiện sinh thái c ủa địa phương và nhu c ầu của thị trường. Đầu

tư xây dựng các vùng nuôi công nghi ệp tập trung, áp dụng tiêu chuẩn vùng nuôi tạo

sản phẩm an toàn v ệ sinh th ực phẩm, tăng cường bảo vệ môi tr ường sinh thái, đa

dạng, chuyển đổi cơ cấu theo quy hoạch để đạt hiệu quả kinh tế cao.

Đẩy mạnh đầu tư phát tri ển nuôi tr ồng th ủy sản trên bi ển và các h ải đảo

thuộc tỉnh, chủ yếu là nuôi tr ồng thủy hải sản trên đảo Hòn Khoai, đảo Hòn Chu ối

và Hòn Đá Bạc nh ằm phát huy l ợi th ế, ti ềm năng của các h ải đảo ven bi ển, đưa

nghề nuôi hải sản trên biển trở thành một ngành chủ lực của tỉnh trong tương lai.

131

Các thể chế hợp tác

Chính phủ Cơ quan quản lý nguồn lợi TS Bộ NN & PTNT

Các thể chế hợp tác khác

Các cơ sở đào tạo và Viện nghiên cứu

Các ngành công nghiệp hỗ trợ

Các ngành CN liên quan

Ngư dân

Nông dân

Tàu đánh bắt

Tài chính, ngân hàng

Chế biến thực phẩm

Bảo hiểm

Lưới cá

Các cơ sở thu gom

Nuôi tôm

Đóng gói

Nhà máy chế biến

Trồng vườn

Đông lạnh

Vận tải và thủ tục vận tải

Cung cấp năng lượng

Thị trường cuối cùng

Du lịch

SX thức ăn

Thị trường quốc tế

Thị trường trong nước

Xây dựng/kỹ thuật/sửa chữa chữa

Biểu đồ 4.2: Cụm nuôi trồng và chế biến thủy sản

Nguồn: [103].

Khai thác thủy sản: Thực hiện chủ trương của Chính phủ về đầu tư đánh bắt

xa bờ, UBND tỉnh cần chỉ đạo quyết liệt việc chuyển đổi nhanh nghề khai thác thủy

sản ven bờ, giúp ng ư dân sớm ổn định cuộc sống. Tỉnh cần tiếp tục đầu tư đội tàu

đánh bắt xa bờ có công su ất từ 90 CV tr ở lên, hạn chế tối đa đánh bắt gần bờ, theo

kiểu hủy diệt con gi ống; quản lý, khai thác có hi ệu quả vùng Bãi b ồi Mũi Cà Mau

132

rộng lớn, để nơi đây thực sự là ng ư trường phong phú v ề các lo ại giống thủy sản.

Những ngư dân không có điều kiện thì tổ chức dạy nghề, chuyển đổi nghề nghiệp,

tạo điều kiện cho ngư dân ổn định cuộc sống, tìm việc làm mới.

Tỉnh cần làm tốt khâu quy ho ạch, đầu tư cảng cá, bến bãi, hệ thống hậu cần

dịch vụ nghề cá kể cả dịch vụ đánh bắt và tiêu th ụ thủy sản. Quan tâm đầu tư đúng

mức công nghi ệp ch ế bi ến, xu ất kh ẩu th ủy sản. Tỉnh cần vận dụng tốt các chính

sách của Nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghi ệp chế biến, xuất

khẩu thủy sản. Đổi mới thiết bị công nghệ theo hướng hiện đại; chủ động triển khai

một bước các công trình gi ảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường nông thôn, ng ăn chặn và khắc phục ô

nhiễm môi trường đang ngày càng gia tăng.

- Phát triển công nghiệp nông thôn

Phát triển công nghi ệp nông thôn là m ột trong nh ững nhi ệm vụ quan tr ọng

nhằm thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn. Phát triển công nghiệp nông

thôn là một nội dung của NNPTTHBV, cho nên tỉnh cần đầu tư theo hướng:

Điện: Phát huy t ối đa hi ệu quả của Nhà máy điện Cà Mau I và Cà Mau II;

phấn đấu 100% hộ dân trong t ỉnh có điện sử dụng (hiện 95%); đầu tư điện lưới ba

pha đủ điện phục vụ nuôi tôm công nghi ệp, nâng cao chất lượng cung cấp điện, bảo

đảm an toàn thiết bị điện. Sớm hoàn thành dự án điện gió Khai Long - Đất Mũi đáp

ứng nhu cầu về điện phục vụ sản xuất, sinh hoạt của tỉnh và cả khu vực ĐBSCL.

Cơ khí: Ngành tiểu thủ công nghiệp trong quá trình s ản xuất, chế tạo gắn kết

chặt ch ẽ với tổ ch ức sản xu ất nông nghi ệp, trong định hướng phát tri ển, tỉnh cần

chọn lọc đầu tư một số phân ngành, một số loại cơ khí như máy động lực, thiết bị cơ

giới hóa khâu làm đất, công đoạn sản xuất, thu ho ạch, chế biến, bảo quản sau thu

hoạch; đa dạng về quy mô, chủng loại, trình độ công nghệ, phù hợp tập quán và khả

năng ứng dụng của người dân.

Hóa chất: Các cấp, các ngành chức năng và các địa phương trong tỉnh cần làm

tốt công tác xã hội hóa cung cấp những sản phẩm hóa chất cơ bản cho trồng trọt, chăn

nuôi, thủy sản và bảo vệ môi tr ường. Với nhà máy đạm Cà Mau công su ất 800.000

tấn/năm và sắp tới, khi Nhà máy hóa chất Cà Mau đi vào hoạt động, sẽ có gần 40 mặt

hàng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cụ thể như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,

hóa chất xử lý kỹ thuật nuôi trồng thủy hải sản, chất bảo quản sau thu hoạch…

133

Công nghiệp chế biến nông, lâm, th ủy sản: UBND tỉnh cần sớm hoàn thi ện

quy hoạch các vùng s ản xuất tập trung, có l ợi thế so sánh v ề vùng nguyên li ệu so

với các t ỉnh trong khu v ực (vùng sinh thái m ặn, bao g ồm: nuôi tôm công nghi ệp,

nuôi thủy sản dưới chân rừng ngập mặn, nuôi trên mặt cửa sông, cửa biển và ven biển,

đảo; vùng ngọt hóa, bao gồm: trồng lúa, tr ồng cây ăn trái, hoa màu, ch ăn nuôi). Xây

dựng hệ thống giao thông nông thôn, hệ thống điện, nước, thủy lợi hoàn chỉnh phục vụ

cho trồng trọt, chăn nuôi, vận chuyển và ch ế biến sản phẩm nông nghi ệp tạo thành

hệ thống liên hoàn, khép kín tất cả các huyện, vùng quy hoạch của tỉnh.

Tiểu thủ công nghi ệp: Gắn với quy ho ạch NTM, từng địa phương trong tỉnh

cần phát triển ngành nghề thủ công trong phát triển nông nghiệp, công nghiệp và thị

trường tiêu th ụ sản phẩm. Tập trung phát tri ển các ngành ngh ề thủ công có l ợi thế

phát tri ển của tỉnh. Lựa ch ọn công ngh ệ và thi ết bị phù h ợp, kết hợp công ngh ệ

truyền thống với công nghệ tiên tiến. Đầu tư nâng cao chất lượng, phát triển các mặt

hàng mới phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của thị trường, chú tr ọng xây dựng thương

hiệu sản phẩm. Kết hợp hài hòa nhi ều quy mô, nhi ều loại hình t ổ chức và sở hữu

trong phát triển tiểu thủ công nghiệp

4.4.2.2. Giải pháp phát triển dịch vụ nông nghiệp

- Dịch vụ cung ứng vật tư máy móc: Các cơ sở sản xuất, kinh doanh phát huy

sự năng động, sáng tạo của mình nh ằm cung ứng các thi ết bị máy móc, thi ết bị cơ

khí, ph ương ti ện sản xu ất nông nghi ệp và ch ế bi ến nông lâm, th ủy sản; máy b ơm

nước, máy sục khí ô xy để nuôi tôm, máy n ổ, máy phát điện, máy nghi ền thức ăn

gia súc, gia c ầm và th ức ăn tôm; máy cày, máy kéo, xe t ải nhẹ…với giá cả hợp lý,

chất lượng đảm bảo. Dịch vụ này nh ư cầu nối, giúp ng ười nông dân ti ếp cận với

công nghệ ngày càng hiện đại trong sản xuất nông nghiệp.

- Dịch vụ giống cây tr ồng, vật nuôi: Gi ống cây tr ồng, vật nuôi đóng vai trò

vô cùng quan tr ọng trong sản xuất nông nghi ệp. Giống tốt coi nh ư một trợ thủ đắc

lực nh ất giúp nông nghi ệp tăng nhanh h ơn về sản lượng và ch ất lượng nông s ản.

Sản phẩm nông nghiệp ở Cà Mau lợi thế cạnh tranh hiện nay là con tôm nhưng đang

đứng tr ước th ử thách l ớn về ch ất lượng, giá c ả, ngay c ả th ị tr ường trong n ước và

quốc tế. Cho nên, khi hội nhập WTO, TPP tỉnh phải nhanh chóng tính đến phát triển

nông nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao.

134

- Dịch vụ phân bón, th ức ăn ch ăn nuôi: Trong ho ạt động sản xu ất nông

nghiệp, ngoài gi ống cây tr ồng, vật nuôi thì phân bón, th ức ăn ch ăn nuôi và thu ốc

bảo vệ thực vật đóng vai trò quan tr ọng không kém. Trong tr ồng trọt việc sử dụng

phân bón hợp lý, ch ất lượng cao và áp d ụng đúng cách các bi ện pháp bảo vệ thực

vật sẽ làm tăng năng suất cây tr ồng, đem lại hiệu quả cao cho ho ạt động sản xuất.

Trong chăn nuôi, nhất là đối với nuôi tôm quản canh cải tiến, nuôi tôm công nghiệp,

nếu biết chọn lọc, lựa chọn thức ăn cho vật nuôi có ch ất lượng, phù h ợp với từng

giống vật nuôi s ẽ đem lại năng su ất cao cho ng ười nông dân. Khi s ản xu ất nông

nghiệp của tỉnh ra kh ỏi sản xuất theo ki ểu truyền thống, tự cấp, tự túc, ở trình độ

còn thấp như hiện nay, thì d ịch vụ cung ứng phân bón, th ức ăn chăn nuôi và thu ốc

bảo vệ thực vật là dịch vụ tiện ích hỗ trợ tích cực cho người nông dân trong sản xuất

nông nghiệp. Tuy nhiên, khi trình độ sản xuất ở cấp độ cao, ti ến tới sản xuất nông

nghiệp xanh, nông nghi ệp sạch, thân thi ện với môi tr ường, khi công ngh ệ sinh học

được ứng dụng phổ biến thì vi ệc người nông dân s ử dụng phân bón, th ức ăn chăn

nuôi, thuốc bảo vệ thực vật không còn là phổ biến nữa.

- Dịch vụ cho vay v ốn hỗ trợ sản xuất: sản xuất nông nghi ệp có được thành

công một phần nhờ nguồn vốn từ dịch vụ cho vay h ỗ trợ sản xuất nông nghi ệp. Tỷ

trọng dư nợ cho vay dịch vụ nông nghiệp của tỉnh có chiều hướng tăng dần qua các

năm gần đây. Dịch vụ cho vay trong chu ỗi giá tr ị sản xu ất và tiêu th ụ sản ph ẩm

nông nghi ệp, các mô hình ứng dụng KH-CN trong s ản xu ất nông nghi ệp ti ếp tục

được tỉnh quan tâm đầu tư, khuy ến khích. V ới hướng đi này, trong th ời gian t ới,

không chỉ doanh nghiệp mà các hộ nông dân, HTX đại diện cho nông dân đẩy mạnh

các ho ạt động liên k ết theo chu ỗi sản xu ất, tiêu th ụ sản ph ẩm nông nghi ệp, gi ải

quyết tốt các v ấn đề đầu tư tín d ụng nông nghi ệp sẽ là cách góp ph ần điều ch ỉnh

hướng sản xu ất nông nghi ệp nh ỏ lẻ, manh mún sang s ản xu ất nông nghi ệp hàng

hóa, quy mô l ớn, liên kết hiệu quả, có tính c ạnh tranh cao, t ừng bước nâng cao đời

sống của người nông dân và thực hiện mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM.

4.4.2.3. Gi ải pháp m ở rộng hợp tác liên k ết với khu v ực ĐBSCL và h ội

nhập kinh tế quốc tế

Trong xu th ế ngày nay, vi ệc tham gia vào th ị trường cả vùng, cả nước, khu

vực và thế giới là một tất yếu khách quan. H ội nhập kinh tế thúc đẩy cạnh tranh và

nâng cao hi ệu qu ả các ngành và toàn b ộ nền kinh t ế của tỉnh là m ột trong nh ững

135

điểm trọng tâm để chấp nhận cạnh tranh thành công. Tr ước hết, cần phải cải thiện

năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, theo đó, cần đảm bảo môi trường thể chế đồng bộ, tạo

điều kiện để khuyến khích cạnh tranh với kinh tế các tỉnh bạn, đặc biệt tạo điều kiện

tăng cường khả năng cạnh tranh của các mặt hàng có kh ả năng cạnh tranh cao, có

điều kiện và hạn chế đến mức thấp nhất sự thua thiệt đối với những mặt hàng có khả

năng cạnh tranh yếu. Khai thác tốt các nguồn lực nội tỉnh, đẩy mạnh chuyển dịch cơ

cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi tỉnh có thế mạnh theo hướng hài hoà, hợp lý,

bền vững, tích cực mở rộng các thị trường hàng hóa, trong nước và quốc tế.

Hình 4.3: Bản đồ địa giới hành chính Đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn: [21].

Tỉnh cần chú tr ọng hơn đến hợp tác kinh t ế, nâng cao ho ạt động kinh tế đối

ngoại và hợp tác đầu tư trong và ngoài n ước, địa phương của từng nước có trình độ

phát triển cao hơn và có tiềm năng thị trường và trình độ KH-CN phát triển. Hợp tác

để cập nhật được thông tin th ị trường, để nâng cao ch ất lượng công tác d ự báo hỗ

trợ cho doanh nghi ệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và ng ười dân. Đặc biệt là cần có

biện pháp tiếp cận nhiều hơn nguồn vốn ODA, FDI để khai thác các lĩnh vực tỉnh có

tiềm năng, thế mạnh mà nhà đầu tư nước ngoài đang quan tâm. Mu ốn vậy, tỉnh cần

xây dựng các ch ương trình, dự án để chủ động trong hợp tác xúc ti ến đầu tư. Tăng

136

cường quảng bá hình ảnh Cà Mau đến với các đối tác và cung c ấp thông tin đầy đủ

về chính sách kêu gọi đầu tư, các điều kiện về KT-XH, tăng thêm nhiều kênh quảng

bá, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài có mối liên hệ, làm ăn với tỉnh.

Mặt khác, h ợp tác để đào tạo cán b ộ quản lý và k ỹ thu ật gi ỏi, chuyển giao

KH-CN, gắn với các ch ương trình xúc ti ến thương mại và đầu tư của quốc gia và

những chương trình hợp tác của tỉnh với các đối tác.

Đối với vùng ĐBSCL và cả nước cần xây dựng chương trình hợp tác vùng,

nhằm huy động các nguồn lực khai thác tốt các lợi thế so sánh của tỉnh, đặc biệt đối

với các cụm ngành trọng điểm. Tạo nên sức mạnh cho tỉnh cũng như các tỉnh tham

gia hợp tác trên cơ sở khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế của từng tỉnh, mở rộng các

chuỗi giá tr ị, hình thành s ự phân công, chuyên môn hóa sâu trong quá trình th ực

hiện hợp tác và phát triển giữa Cà Mau và các đối tác.

4.4.3. Nhóm các gi ải pháp xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo

hướng bền vững trên phương diện xã hội

4.4.3.1. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực

Với trình độ phát triển hiện tại của Cà Mau, nhu cầu nhân lực có kỹ năng được

đào tạo phù hợp với nhu c ầu thị trường là quan tr ọng nhất. Phát tri ển nguồn nhân

lực là giải pháp có tính quy ết định trong phát tri ển KT-XH của tỉnh trong giai đoạn

phát triển tới theo hướng cải thiện môi tr ường đầu tư kinh doanh, h ội nhập kinh tế

quốc tế. Vì thế việc xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để đào tạo nguồn nhân lực

có tay ngh ề đáp ứng yêu cầu phát tri ển KT - XH c ủa tỉnh được xem là v ấn đề cấp

bách hiện nay. Đối với nhân lực chất lượng cao, Cà Mau tr ước mắt có thể huy động

từ các trung tâm như Cần Thơ, Tp. Hồ Chí Minh.

Trong th ời gian t ới, tỉnh cần sắp xếp lại các tr ường ngh ề, xây d ựng đội ng ũ

cán bộ hoạch định chính sách có chất lượng cao. Gắn quá trình đào tạo với quá trình

sản xuất, phù h ợp với các ngành ngh ề mà các doanh nghi ệp sản xuất yêu cầu. Cơ

chế, chính sách phát tri ển nguồn nhân lực vừa phải mở rộng quy mô, đa dạng hóa

loại hình và nâng cao ch ất lượng đào tạo nguồn nhân lực, vừa phải tạo điều kiện và

môi trường làm việc tốt sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đã được đào tạo, đảm

bảo những người đã được đào tạo phát huy t ối đa năng lực của mình, đồng thời, có

cơ hội thường xuyên học hỏi, nâng cao n ăng lực làm vi ệc của mình. Mở ra cơ chế

137

thu hút nhân tài, áp d ụng hình th ức khuyến khích bổ nhiệm và cấp đất, cấp nhà ở

cho các đối tượng có bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ từ nơi khác đến phục vụ.

Trong những năm tới việc tăng cường hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực để

đáp ứng các đòi hỏi của việc tăng cường tái cơ cấu kinh tế đến những bộ phận có ưu

thế như ngành công nghi ệp, dịch vụ, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, các

tiểu vùng kinh tế trọng điểm vừa là mong mu ốn, vừa là yêu cầu cấp thiết. Phát huy

cao hơn nữa vai trò tác động của lao động đến tái cơ cấu kinh tế. Cần tăng kinh phí

đào tạo từ nguồn ngân sách Nhà n ước, nhất là đào tạo mới và đào tạo bổ sung đội

ngũ lao động hiện có trong m ột số ngành ngh ề mới, với trình độ công ngh ệ cao để

hỗ trợ đắc lực cho NNPTTHBV c ủa tỉnh. Đặc biệt chú tr ọng đào tạo đội ngũ công

nhân lành ngh ề, gi ỏi vi ệc; ti ếp thu và làm ch ủ được nh ững công ngh ệ mới. Đồng

thời đào tạo nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ quản lý kinh t ế để có nhi ều giám

đốc giỏi, cán b ộ quản lý gi ỏi trong t ất cả các ngành, c ần thi ết nhất trong l ĩnh vực

sản xuất, kinh doanh nông nghiệp.

4.4.3.2. Giải pháp về tăng cường các hình thức đào tạo nghề ở nông thôn

Đối tượng dạy nghề là lao động nông thôn trong độ tuổi lao động chưa qua

đào tạo nghề, có nhu c ầu học nghề, đủ điều kiện xét tuy ển vào các khóa h ọc nghề

theo quy định. Ưu tiên cho lao động bị mất đất sản xu ất do Nhà n ước thu h ồi,

chuyển đổi mục đích sử dụng đất; lao động thuộc diện chính sách, dân t ộc thiểu số,

lao động nữ và lao động chưa có vi ệc làm. Tăng cường công tác v ận động, tuyên

truyền để cho nông dân hi ểu rõ về mục tiêu, lợi ích của các ch ương trình dạy nghề

cho lao động nông thôn. Cùng v ới đó khuyến khích sự tham gia c ủa nông dân vào

quá trình đào tạo nghề, để nông dân nh ận thức được vai trò và trách nhi ệm của họ

đối với công tác dạy nghề. Chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội đóng

vai trò định hướng, tư vấn về ngh ề nghi ệp, hỗ tr ợ và t ổ ch ức dạy ngh ề, nâng cao

năng lực làm việc cho lao động nông thôn.

Xây dựng ch ương trình, giáo trình d ạy ngh ề trình độ sơ cấp cho lao động

nông thôn; tư vấn học nghề và việc làm cho lao động nông thôn; ki ểm tra, giám sát

tình hình th ực hiện dạy nghề cho lao động nông thôn ở các huy ện, thành ph ố. Tập

trung đào tạo nghề lao động nông thôn làm k ỹ thuật viên ngành nông nghi ệp (trồng

trọt, ch ăn nuôi, th ủy sản) có ch ứng ch ỉ ngh ề; đào tạo cho lao động của các xã có

quy hoạch phát tri ển sản xuất, xây dựng NTM; tập trung dạy các ngh ề chính, thi ết

138

thực phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương; tiếp tục thực hiện phương thức

dạy nghề đa dạng và linh ho ạt, đào tạo lý thuyết gắn với thực hành… Rà soát, đánh

giá lại thực trạng về số lượng, chất lượng lao động trong khu vực nông thôn để làm

cơ sở xây dựng kế hoạch đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghi ệp và

chuyển dịch lao động sang khu v ực phi nông nghi ệp.Tập trung đào tạo lao động

theo hướng phục vụ phát triển ngành nghề chủ lực đã được xác định. Nâng cao chất

lượng dạy nghề trên cơ sở cải tiến phương pháp đào tạo sao cho phù h ợp với trình

độ, điều kiện sản xuất, sinh hoạt của người dân. Đào tạo theo nhu cầu thị trường lao

động, đào tạo theo đặt hàng để đáp ứng các cơ sở sản xuất, kinh doanh trong l ĩnh

vực nông nghiệp.

Các huy ện, thành ph ố trong t ỉnh, hàng n ăm cân đối ngu ồn ngân sách địa

phương, các nguồn ngân sách t ỉnh, trung ương và huy động đóng góp khác để thực

hiện kế ho ạch dạy ngh ề cho lao động nông thôn, phù h ợp với quy ho ạch và phát

triển nguồn nhân lực của địa phương.

4.4.3.3. Gi ải pháp v ề ứng dụng khoa h ọc công ngh ệ nh ằm thúc đẩy nông

nghiệp phát triển theo hướng bền vững

Đối với lĩnh vực nông nghi ệp (tr ồng tr ọt): Đẩy mạnh áp d ụng quy trình s ản

xuất lúa "3 gi ảm, 3 tăng"; thâm canh lúa c ải tiến (SRI), Qu ản lý dịch hại tổng hợp

IPM; ứng dụng công ngh ệ cao vào s ản xu ất lúa g ạo hữu cơ; phát tri ển di ện tích

trồng chu ối, mía, d ừa… tập trung g ắn kết vùng nguyên li ệu với công nghi ệp ch ế

biến; phát tri ển vùng sản xuất rau màu chuyên canh: tr ồng rau trong nhà l ưới, nhà

kính, áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP, GlobalGAP),

quy trình kỹ thuật canh tác tiên tiến có hệ thống, công nghệ, kỹ thuật khép kín, kiểm

soát một số yếu tố môi trường. Sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, đẩy

mạnh việc ứng dụng các sản phẩm có ngu ồn gốc sinh học, công ngh ệ sinh thái để

bảo vệ môi trường… Ứng dụng đồng bộ cơ giới hoá vào sản xuất (từ khâu làm đất,

gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến) trên một số loại cây trồng nhằm giảm giá

thành sản xuất, gia tăng giá tr ị nông sản. Áp dụng chăn nuôi gia súc, gia c ầm theo

quy trình an toàn sinh h ọc, sử dụng đệm lót sinh học, chăn nuôi theo quy trình khép

kín giảm thiểu ô nhi ễm môi tr ường. Đầu tư phát tri ển các mô hình nông nghi ệp đô

thị, nông nghi ệp ven đô, nông nghi ệp công ngh ệ cao nh ằm tăng giá tr ị nông s ản,

giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng có hiệu quả đất đai, nguồn lao động và tạo

139

cảnh quan môi tr ường xanh, sạch, đẹp. Phát tri ển mô hình sản xuất nông nghi ệp và

ngành nghề nông thôn kết hợp với dịch vụ phục vụ nhu cầu du lịch, giải trí.

Đối với nuôi trồng thủy sản: Xây dựng các quy trình công ngh ệ nuôi tr ồng an

toàn sinh h ọc, công ngh ệ sạch, ít x ả th ải và đảm bảo an toàn v ệ sinh th ực ph ẩm,

công nghệ nuôi mới thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Nghiên cứu

giải pháp ki ểm soát d ịch bệnh, phòng tr ừ dịch bệnh hi ệu qu ả đối với các b ệnh

thường gặp. Công tác phòng ch ống dịch bệnh trong nuôi tr ồng thủy sản lấy phòng

bệnh là chính, phòng ch ống bệnh gắn chặt, không tách r ời với quản lý nuôi tr ồng,

thông qua qu ản lý gi ống tốt, sạch bệnh, quản lý môi tr ường vùng nuôi và áp d ụng

công nghệ nuôi tr ồng tiên ti ến. Phát triển các vùng nuôi tôm công nghi ệp tập trung

sử dụng công ngh ệ cao, giảm thiểu tối đa các tiêu c ực từ việc xả thải, gây ô nhi ễm

môi trường và dịch bệnh; giám sát chặt chẽ công tác sên vét, cải tạo ao, đầm.

Đối với khai thác và b ảo vệ nguồn lợi thủy sản: Ứng dụng các công ngh ệ và

thiết bị bảo quản trên tàu phù h ợp với từng loại nghề, từng loại đối tượng khai thác

để nâng cao ch ất lượng sản phẩm, hiệu quả sau khai thác. Áp d ụng các mô hình t ổ

chức khai thác k ết hợp dịch vụ trên bi ển nhằm giảm chi phí s ản xuất và tăng chất

lượng sản phẩm sau khai thác. Áp d ụng các công ngh ệ tin học, viễn thám, sử dụng

vệ tinh để theo dõi, quản lý nguồn lợi thủy sản và đội tàu khai thác thủy sản.

Về chế biến thuỷ sản: UBND tỉnh cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công

nghệ mới, đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm chế biến xuất khẩu; các loại sản phẩm

giá trị gia tăng, giảm tối đa tỷ trọng hàng sơ chế, hàng có giá tr ị gia tăng thấp, phù

hợp với thị hiếu tiêu dùng và nhu cầu của từng thị trường nhập khẩu.

Đối với lâm nghiệp: Ngành nông nghi ệp cần đẩy mạnh ứng dụng chuyển giao

KH-CN trong lâm nghi ệp, công tác khuy ến lâm vào s ản xuất. Nghiên c ứu các mô

hình qu ản lý, h ạn ch ế sạt lở và phát tri ển dải rừng phòng h ộ bi ển. Rà soát, điều

chỉnh, bổ sung c ơ ch ế, chính sách để tạo động lực cho phát tri ển sản xu ất lâm

nghiệp. Ứng dụng công ngh ệ tin h ọc, vi ễn thám h ệ th ống thông tin địa lý vào

trong công tác theo dõi di ễn biến tài nguyên r ừng, qu ản lý bảo vệ rừng, theo dõi

diễn biến đường bờ biển dọc theo dải rừng phòng hộ. Tập trung ưu tiên đầu tư kỹ

thuật tiên ti ến vào l ĩnh vực sản xuất giống cây tr ồng lâm nghi ệp chất lượng cao,

chế bi ến lâm s ản từ ngu ồn nguyên li ệu gỗ rừng tr ồng. Lồng ghép các ch ương

trình, dự án trong và ngoài n ước cho vi ệc bảo vệ và phát tri ển rừng, bảo tồn đa

140

dạng sinh học, quản lý r ừng bền vững, xây d ựng mô hình qu ản lý r ừng bền vững

và cấp chứng chỉ rừng FSC.

Ứng dụng ti ến bộ kỹ thu ật về gi ống cây tr ồng, vật nuôi ch ất lượng cao:

Đẩy mạnh công tác nghiên c ứu, kh ảo nghi ệm đưa vào c ơ cấu sản xu ất các

giống cây trồng, vật nuôi như: giống lúa, mía, dừa, chuối, rau màu, cây lâm nghi ệp,

giống gia súc, gia c ầm,…có năng suất chất lượng cao thích ứng với từng vùng sinh

thái; chú tr ọng phục tráng, bảo tồn các gi ống cây tr ồng, vật nuôi bản địa làm cơ sở

bảo tồn ngu ồn gen quý hi ếm, ch ỉ gi ới địa lý v ới nh ững cây tr ồng, vật nuôi đặc

trưng. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi chất lượng

cao và phát tri ển kết cấu hạ tầng sản xu ất gi ống cây tr ồng, vật nuôi đảm bảo tiêu

chuẩn Quốc gia. Khuyến khích các doanh nghi ệp đầu tư nghiên cứu, sản xuất giống

cây trồng, vật nuôi phục vụ nhu cầu trong tỉnh.

Đẩy mạnh nghiên cứu công ngh ệ sản xuất giống thủy sản các đối tượng nuôi

chủ lực, sạch bệnh, phù hợp với thị trường, đặc biệt là các đối tượng nuôi, trồng mới

có giá tr ị kinh tế để chủ động sản xuất. Tiếp tục đầu tư nâng cấp mở rộng các tr ại

thực nghiệm, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản hiện có; tăng cường năng

lực về trang thi ết bị, máy móc, nhà kho,.. đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao

đáp ứng được yêu cầu cho công tác nghiên cứu, khảo nghiệm giống.

Đào tạo nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất cho nông dân: Ph ối hợp với địa

phương đánh giá nhu c ầu và năng lực của người dân, phân lo ại nhóm nông dân để

có phương pháp đào tạo phù h ợp đáp ứng yêu c ầu thực tiễn. Tăng cường phương

pháp tập huấn đào tạo hiện trường có mô hình th ực tế, trang thi ết bị dụng cụ, mẫu

vật, sơ đồ minh họa. Ngoài nội dung chuyên môn c ũng cần chú tr ọng trang bị cho

người dân ki ến thức cơ bản về thị trường, kinh tế, mô hình s ản xuất gia tr ại, trang

trại, công ngh ệ mới, cảnh báo th ời tiết, thiên tai, d ịch bệnh, máy móc trang thi ết bị

mới ứng dụng vào sản xuất trên từng lĩnh vực.

4.4.3.4. Chú tr ọng đúng mức trong phát tri ển các vùng khó kh ăn để hỗ trợ

nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững

Tỉnh cần tiếp tục thực hiện các chính sách h ỗ trợ phát tri ển trực tiếp từ ngân

sách cho các vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn. Đối với những vùng kinh tế khó

khăn và đặc biệt khó khăn, 13 xã thu ộc chương trình 135 và 7 xã bãi ngang c ần tập

trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng như đường giao thông, trường học, trạm y tế,

nhà bưu điện văn hóa xã, chợ, nước sạch sinh hoạt.

141

Trong những năm tới nguồn vốn Nhà nước cần kết hợp đầu tư các công trình

dân sinh với đầu tư các công trình l ớn. Ngân sách nhà n ước tập trung xử lý ngay từ

đầu nh ững bất cập nảy sinh và nh ững khó kh ăn của đời sống ng ười dân, c ần có

chính sách ưu đãi về thuế, giá thuê đất, trợ cấp phát triển kết cấu hạ tầng, trợ giá cho

vận chuy ển sản ph ẩm hàng hóa tiêu th ụ cho các ti ểu vùng này. Có th ể th ực hi ện

Nhà nước cho thuê đất đối với các nhà đầu tư với giá thuê bằng 0% trong su ốt thời

gian cho thuê đất, nh ững nhà đầu tư được quyền đưa giá tr ị đất vào giá tr ị doanh

nghiệp sau khi đã đầu tư với giá trị thị trường.

Khuyến khích đặc biệt về chế độ đãi ngộ đối với nguồn nhân lực có trình độ,

có chất lượng cao đến các vùng khó kh ăn, trong đó thực hiện ưu đãi đối với những

người đến vùng này làm việc về nhà ở, đất ở, tiền lương, bố trí công tác chuyển vùng

sau khi đóng góp một số năm tại vùng khó khăn. Thực hiện chính sách đòn bẩy lợi ích

nếu đầu tư vào các vùng ít lợi thế, những người chuyển giao công nghệ cho vùng kinh

tế kém ưu thế được hưởng những lợi ích tại các vùng có ưu thế như được hưởng ưu đãi

về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở những vùng trọng điểm.

4.4.4. Nhóm các gi ải pháp xây d ựng nền nông nghi ệp phát tri ển theo

hướng bền vững xét trên phương diện môi trường

Triển khai nhi ệm vụ bảo vệ môi tr ường và để duy trì ch ất lượng cu ộc sống

của người dân, giám sát vi ệc thực thi các quy định pháp lu ật về môi tr ường, về quy

hoạch phát triển bền vững nông nghiệp của tỉnh. UBND Tỉnh đã xây dựng kế hoạch

chỉ đạo các ngành liên quan ph ối hợp kiểm tra, giám sát ho ạt động sản xuất của các

đơn vị, cá nhân trong vi ệc quản lý môi tr ường, về sử dụng nguồn tài nguyên n ước

ngầm, quản lý vi ệc xử lý ch ất thải, thực hiện bảo vệ đa dạng sinh học và phát tri ển

cây xanh…

Để thực hiện tốt các chỉ tiêu đã đề ra, góp ph ần thực hiện nội dung phát tri ển

bền vững về môi tr ường, ngoài các gi ải pháp bảo đảm môi tr ường đã được thể hiện

trong từng gi ải pháp v ề kinh t ế, xã h ội phát tri ển nông nghi ệp bền vững. Trên

phương diện xã hội luận án hướng đến các giải pháp sau:

4.4.4.1. Bảo vệ môi tr ường là yêu c ầu bắt bu ộc trong m ọi chi ến lược, kế

hoạch phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh

Bảo vệ môi trường là nội dung không thể thiếu của các quy hoạch và kế hoạch

phát triển KT-XH, vì vậy cần xem xét, đánh giá một cách khoa học, cân đối các yếu

142

tố sản xuất, kể cả những đòi hỏi của các điều kiện cụ thể. Việc lồng ghép các yếu tố

môi trường trong các ch ủ trương, chính sách, quy ho ạch và kế hoạch phát tri ển cần

được quán triệt tới tất cả các cấp, các ngành trong tỉnh.

Bảo vệ môi tr ường phải trên cơ sở tăng cường quản lý Nhà n ước, thể chế và

pháp luật đi đôi với việc nâng cao nh ận thức và ý th ức trách nhi ệm của mọi người

dân, của toàn xã hội về bảo vệ môi trường.

Về cơ bản, cho đến th ời điểm hiện tại hầu hết các chi ến lược quy ho ạch, kế

hoạch phát tri ển KT-XH của tỉnh từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 ở

chừng mực nào đó đã đảm bảo sự cân đối chung giữa các yếu tố, các khía cạnh cũng

như các ngành và l ĩnh vực của nền kinh tế kể cả những khả năng phải "đánh đổi"

những nguy cơ về môi trường để đảm bảo khả năng tích lũy và tăng trưởng cho nền

kinh tế với nh ững điều ki ện, và giai đoạn nh ất định, song v ề cơ bản bảo vệ môi

trường là một trong nh ững yêu cầu bắt buộc được chú tr ọng. Theo đó, yêu cầu bảo

vệ môi tr ường trong các chi ến lược, quy ho ạch, kế hoạch phát tri ển của tỉnh được

triển khai thực hiện theo những phương hướng sau:

Trước hết, đó là vi ệc cụ thể hóa Ch ỉ thị 36/CT-TW của Bộ Chính tr ị, với yêu

cầu đặt ra là: công tác b ảo vệ môi tr ường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và

toàn quân, là nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế

hoạch phát triển KT-XH của tất cả các cấp, các ngành; là cơ sở quan trọng đảm bảo

PTBV th ực hi ện th ắng lợi sự nghi ệp CNH, H ĐH đất nước; bảo vệ môi tr ường là

đảm bảo các điều kiện về PTBV, nói cách khác là đảm bảo khả năng hưởng thụ lâu

dài cho nh ững th ế hệ mai sau c ủa đất nước. Tuy nhiên, v ề ng ắn hạn có th ể ch ấp

nhận những giải pháp ít hi ệu quả hơn, nhưng có th ể khắc phục trong t ương lai và

đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, từng bước củng cố bền vững sức mạnh

kinh tế của tỉnh.

Trong giai đoạn từ nay đến năm 2025, khi mà ý th ức tự giác v ề bảo vệ môi

trường của toàn xã hội chưa cao thì việc tăng cường pháp chế về bảo vệ môi trường

là giải pháp trọng tâm. Nêu cao vai trò c ủa các cấp chính quyền của tỉnh trong công

việc định hướng, tổ chức và giám sát việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường trên

phạm vị toàn t ỉnh. Xây d ựng hệ th ống qu ản lý môi tr ường từ tỉnh đến huy ện, th ị

trấn, các xã, ph ường, thôn, ấp…đủ mạnh kể cả về lượng và ch ất, đặc bi ệt là l ực

lượng thanh tra môi tr ường; đẩy mạnh vi ệc xử ph ạt vi ph ạm hành chính, đưa dần

143

các quy định truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm môi trường của Bộ Luật hình

sự áp d ụng trên th ực tế nh ằm đảm bảo th ực thi nghiêm ch ỉnh Lu ật bảo vệ môi

trường và các văn bản pháp luật có liên quan.

Coi phòng ngừa là chính, kết hợp kiểm soát ô nhi ễm với xử lý, khắc phục suy

thoái, cải thi ện ch ất lượng môi tr ường; ti ến hành quy ho ạch có tr ọng tâm, tr ọng

điểm; coi ứng dụng KH-CN là công cụ hiện hữu trong bảo vệ môi trường.

Việc khắc phục ô nhiễm, suy thoái và s ự cố môi trường là rất khó khăn và tốn

kém, th ậm chí trong nhi ều tr ường hợp không th ể th ực hi ện được. Vì v ậy, phòng

ngừa ô nhi ễm, ngăn chặn có hi ệu quả suy thoái môi tr ường có th ể được coi là bi ện

pháp hữu hiệu, phù hợp với mọi nơi, mọi chỗ. Hạn chế tối đa việc cho phép đầu tư

xây dựng các công trình d ự án có ảnh hưởng đến môi trường hoặc tiềm ẩn nguy cơ

ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường cao. Tiến hành kiểm soát và tiến tới xử

lý tri ệt để ho ặc lo ại bỏ các c ơ sở sản xu ất kinh doanh gây ô nhi ễm môi tr ường

nghiêm trọng hoặc các cơ sở khai thác ngu ồn tài nguyên trái phép. Đẩy mạnh việc

áp dụng công nghệ sạch, dây chuyền sản xuất sạch hơn, sử dụng nguyên liệu, nhiên

liệu ít gây ô nhiễm và thân thiện với môi trường.

4.4.4.2. Dự phòng những lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ cao đối với môi trường

Trong vận hành của mỗi ngành, lĩnh vực ở những chừng mức nhất định đều có

khả năng gây nên nh ững hệ lụy đối với môi tr ường nếu không có nh ững quan tâm

cần thiết trên ph ương diện môi tr ường. Vì vậy, quan tâm h ơn về đánh giá tác động

môi trường trong mỗi giai đoạn phát triển để có những dự liệu về những ngành, lĩnh

vực có nguy cơ cao, trên cơ sở đó hướng tới các phương án dự phòng đảm bảo cho

nông nghi ệp của tỉnh phát tri ển theo h ướng bền vững. Ki ểm nghi ệm th ực tế cho

thấy có những ngành, lĩnh vực sau cần được quan tâm đánh giá tác động môi trường

để có những dự phòng cần thiết:

Một là, hoạt động xây dựng các công trình phúc lợi, công ích, quá trình đô thị hóa;

phát triển các ngành công nghiệp khai thác tài nguyên (quặng, than bùn, cát, đất), chế

biến thức ăn chăn nuôi, các ngành cơ khí, hóa chất, làng nghề, cụm công nghiệp…

Hai là, hoạt động xây d ựng và hoàn thi ện kết cấu hạ tầng nh ư đường bộ,

đường thủy, đặc biệt là hệ thống thủy lợi, các công trình xử lý môi trường tập trung;

các trại chăn nuôi gia súc, gia c ầm, các trang tr ại giống thủy sản, ao đầm nuôi tôm,

cá công nghiệp...

144

Ba là, hoạt động của những khu du lịch sinh thái, nh ững nơi nhạy cảm với tác

động môi tr ường, như du lịch khu dự trữ sinh quy ển Mũi Cà Mau, V ườn Quốc gia

U Minh hạ, Lâm trường Sông Trẹm, Hòn Đá Bạc…

Khi triển khai các ho ạt động kể trên ho ặc trực tiếp hoặc gián ti ếp đều có nảy

sinh nh ững vấn đề môi tr ường cần xử lý, nh ững vấn đề môi tr ường phát sinh đó

hoặc ít, hoặc nhiều đều có những tác động nhất định đến môi trường tự nhiên, trong

đó có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và phát triển nền nông nghiệp của tỉnh.

4.4.4.3. Giảm thiểu những tác động gây ô nhi ễm môi tr ường góp phần phát

triển nông nghiệp theo hướng bền vững

Giảm thiểu ô nhi ễm môi tr ường đất: Vi ệc sử dụng phân bón hóa ch ất, thuốc

bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghi ệp, trong nuôi tr ồng thủy sản hiện đang là

những nguyên nhân chính gây ô nhi ễm đất ở nhiều nơi trong tỉnh. Để tiếp tục phát

huy những lợi th ế về nông nghi ệp cần áp d ụng nh ững kỹ thu ật canh tác phù h ợp,

xây dựng nh ững mô hình sinh thái - kinh t ế phù h ợp với từng ti ểu vùng sinh thái

trong tỉnh nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng vẫn đảm bảo khả năng cải tạo

và nâng cao độ phì nhiêu của đất.

Khuyến khích đầu tư thâm canh tăng vụ bằng các biện pháp bón phân cân đối,

trực tiếp với từng loại cây trồng và từng loại đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, luân

canh đất theo hướng nâng cao hi ệu quả sử dụng đất. Nghiên cứu và ứng dụng công

nghệ sinh h ọc vào các khâu c ủa quá trình s ản xu ất, đặc bi ệt là khâu t ạo gi ống có

năng suất cao, ch ống được sâu bệnh. Từng bước hình thành các t ập đoàn cây phù

hợp với từng tiểu vùng sinh thái, xây dựng các mô hình sản xuất xanh, sạch.

Giảm thi ểu ô nhi ễm môi tr ường nước do n ước th ải: Vùng đất Cà Mau th ấp,

sông rạch nhi ều, vi ệc xử lý n ước th ải cần được quan tâm l ấy ý th ức tự giác c ủa

người dân là chính. Từng khu, cụm công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh cần đầu tư hệ

thống xử lý nước thải. Những nhà máy có nguy c ơ gây ô nhi ễm môi tr ường nước

cao như chế biến thực phẩm, thủy sản, thức ăn gia súc, gia cầm, lò giết mổ, các chợ,

các cơ sở sản xuất, kinh doanh… n ơi cần thiết phải xây dựng hệ thống xử lý nước

thải. Nước thải sau khi xử lý phải đạt tiêu chuẩn B trước khi thải ra môi trường.

Đối với các nước thải đô thị có thể xử lý bằng các hồ sinh học. Xây dựng mới

hoặc nâng cấp hệ thống thu gom, thoát n ước thải không làm ô nhi ễm nước sau khi

145

xử lý. Đối với các th ị tr ấn mới xây d ựng theo quy ho ạch cần có h ệ th ống cấp và

thoát nước ngay từ khâu thiết kế đến thi công.

Không thận trọng khi khai thác các t ầng nước ngầm trên địa bàn t ỉnh có th ể

làm chúng b ị ô nhi ễm, hay nhi ễm mặn. Vì v ậy, cần có các bi ện pháp gi ữ gìn v ệ

sinh, tiết kiệm, tránh gây ô nhi ễm, bảo vệ tốt nguồn nước ngầm tại các khu đô thị,

cụm công nghi ệp, làng ngh ề. Kiểm soát ch ặt chẽ việc khoan gi ếng riêng lẻ theo hộ

gia đình, khai thác bừa bãi các tầng nước ngầm.

Tăng cường qu ản lý, giám sát các mô hình phát tri ển xanh, s ạch: Quá trình

ứng dụng các lo ại giống cây tr ồng, vật nuôi có n ăng suất cao, kh ả năng chịu bệnh

tốt, phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh cần phải được kiểm nghiệm, quản lý,

giám sát ch ặt chẽ về đảm bảo môi tr ường. Xác định các loài cây, con ch ủ lực của

tỉnh (lúa, ngô, mía, gia c ầm, cá, tôm, nuôi tr ồng thủy sản…) để đầu tư đồng bộ về

giống, chuyển giao k ỹ thuật theo hướng sản ph ẩm sạch, xây d ựng thương hiệu và

tìm th ị tr ường tiêu th ụ. Các mô hình s ản xu ất luân canh, thâm canh c ần đảm bảo

tính hài hòa, xanh, b ền vững. Đẩy nhanh chuyển giao kỹ thuật, chuyển giao các mô

hình đã được tổng kết, đánh giá cho nông dân.

4.4.4.4. Nâng cao ý th ức của người dân về bảo vệ môi trường

Có thể nói, môi tr ường ở quanh mỗi người và ở trong mỗi người. Mọi hoạt

động của con người đều có liên quan đến các yếu tố của môi trường. Sự tác động đó

theo hai chi ều thu ận - ngh ịch. Chi ều thu ận là làm cho môi tr ường phát tri ển toàn

diện và chi ều nghịch là nh ững tác động làm cho môi tr ường bị ô nhi ễm, suy thoái.

Có thể thấy, ở mọi lúc, mọi nơi con ng ười đều có tác động đến môi tr ường, chẳng

hạn, như: con ng ười trong sinh ho ạt, con ng ười lúc ngh ỉ ngơi, vui ch ơi giải trí, lúc

lao động, sản xu ất, th ậm chí lúc con ng ười ch ết đi… đều có tác động đến môi

trường. Cho nên, cần làm cho người dân hiểu rõ, môi trường ở quanh ta, nhưng môi

trường không của riêng ai, có tác động đến cộng đồng, đến từng địa phương, từng

quốc gia, từng vùng lãnh thổ và rộng hơn là nó tác động ở phạm vi toàn cầu, theo đó

mỗi ng ười dân c ần có trách nhi ệm với vi ệc bảo vệ môi tr ường, rằng bảo về môi

trường chính là b ảo về sự sống của chính mình, b ảo vệ môi tr ường là ngh ĩa vụ và

cũng là quyền lợi của mỗi người dân.

Bảo vệ môi trường là quyền lợi của mỗi người dân: Cần tuyên truyền để mỗi

người dân ph ải hiểu, phải làm để bảo vệ môi tr ường cho chính b ản thân mình, gia

146

đình mình, cho c ộng đồng mà mình đang sống. Nếu môi tr ường bị ô nhi ễm, ảnh

hưởng đầu tiên của sự ô nhi ễm ấy là đến ngay bản thân mình, gia đình mình, cộng

đồng của mình đang sống. Cần đẩy mạnh tuyên truyền để người dân thấy cái quyền

lợi môi trường đem đến là nguồn sống, là cơm ăn, áo mặc, nước để uống, không khí

để thở. Cái quyền lợi quý giá của thiên nhiên ban t ặng cho từng người để duy trì sự

sống. Quyền lợi đó còn có ý ngh ĩa đối với sự phát tri ển trong tương lai mà th ế hệ

con cháu chúng ta sau này được thừa hưởng.

Bảo vệ môi trường là nghĩa vụ của mỗi người dân: Vận động nhân dân sống và

làm việc theo pháp luật, thực hiện tốt những điều luật quy định về bảo vệ môi trường.

Từng người dân, tr ước hết là cán b ộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các t ổ ch ức

đoàn thể quần chúng phải gương mẫu thực hiện những mục tiêu, đường lối, chủ trương

của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường bền vững. Nếu mỗi người và từng gia đình

có ý thức bảo vệ môi trường sống trong sạch đó là lối sống vì mọi người.

Làm sao để trách nhi ệm, ngh ĩa vụ bảo vệ môi tr ường của từng ng ười dân

phải trở thành sức mạnh của cả tập thể. Để giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ nguồn

tài nguyên đất, rừng, nước và khoáng sản, tiến tới phát triển môi trường bền vững là

công việc của cả cộng đồng, của từng địa phương, của tỉnh và cả nước.

4.4.5. Nhóm các gi ải pháp khác đảm bảo cho nông nghi ệp ở Cà Mau phát

triển theo hướng bền vững

Vấn đề nổi lên hi ện nay đối với tỉnh là cần phải khẩn trương hoàn thi ện chủ

trương tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình t ăng trưởng theo hướng nâng

cao chất lượng, hi ệu qu ả và năng lực cạnh tranh, trong đó trọng tâm là tái c ơ cấu

ngành nông nghiệp, nhằm mục tiêu tăng giá trị gia tăng, theo hướng PTBV. Theo đó

cần quan tâm thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, Đổi mới GD - ĐT theo nhu cầu phát triển của xã hội. Nâng cao chất

lượng theo yêu c ầu chu ẩn hóa ph ục vụ đắc lực cho phát tri ển KT - XH c ủa địa

phương; đẩy mạnh xã h ội học tập, nhanh chóng ch ấn ch ỉnh một số vấn đề tồn tại

trong giáo d ục hi ện nay: (i) s ự bất cập của đội ng ũ cán b ộ qu ản lý và giáo viên;

chưa đảm bảo quyền tự chủ, nghĩa vụ giải trình và qu ản lý chất lượng giáo dục; (ii)

GD-ĐT chưa gắn với yêu cầu, đòi hỏi về nguồn nhân lực của xã hội; (iii) tình tr ạng

học lệch, cách dạy học khép kín, chuy ển mạnh quá trình giáo d ục từ chủ yếu trang

bị kiến thức sang phát tri ển toàn di ện năng lực và ph ẩm chất người học; (iv) chính

147

sách, cơ chế chính sách ch ưa khuyến khích được các đối tượng người học có hoàn

cảnh khó kh ăn, vùng sâu, đồng bào dân t ộc thiểu số, dẫn đến tỷ lệ học sinh bỏ học

từng cấp học tăng dần và hiện nay tỷ lệ học sinh bỏ học từng cấp của tỉnh (như nêu

ở trên) là cao nhất vùng ĐBSCL. Vì vậy, xây dựng lộ trình thống nhất trong đào tạo

nguồn nhân lực thì vấn đề GD-ĐT cần được đặt ở vị trí tiên quyết.

Thứ hai, quan tâm đầu tư cải tiến công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp

Xây dựng hệ thống đổi mới công ngh ệ của tỉnh với hệ thống trường đại học,

các phòng thí nghiệm đổi mới và cải tiến công nghệ trước hết phục vụ ngành ưu tiên

phát triển đã được chọn, thế mạnh của tỉnh, như (lai tạo giống thủy sản, lai tạo tập đoàn

cây giống sinh thái mặn, lợ, ngọt; giống gia súc, gia cầm…) có điều kiện thuận lợi triển

khai và áp dụng các kết quả nghiên cứu, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.

Thứ ba, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp

Thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài n ước đầu tư vào lĩnh vực nông nghi ệp

bằng những cơ chế minh bạch, thông thoáng và những ưu đãi tạo được động lực cho

họ. Mặt khác, tỉnh cũng cần có kế hoạch quảng bá thông qua danh mục thu hút đầu tư

cụ thể, bằng nhiều cách liên kết, phối hợp và tranh th ủ sự ủng hộ của các Bộ, Ngành

Trung ương và Chính phủ để khai thác tốt vị trí, tiềm năng, thế mạnh của tỉnh.

Thứ tư, tăng cường xúc ti ến thương mại, khuyến khích xu ất khẩu nhằm kích

thích phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững

Trong nh ững năm tới cần tăng cường các ho ạt động xúc ti ến th ương mại,

khuyến khích xu ất kh ẩu, nghiên c ứu tìm th ị tr ường nh ằm tranh th ủ ti ềm lực vốn,

công nghệ, kỹ thuật hiện đại để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, hướng đến

chuỗi giá trị liên hoàn dọc theo bờ biển và kinh tế biển với một cơ cấu kinh tế từng

bước hiện đại, nhất là hi ện đại về kết cấu hạ tầng, sản xuất sản phẩm nông nghi ệp

đa dạng phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu.

Thứ năm, liên kết ngành c ần được coi là khâu đột phá trong phát tri ển nông

nghiệp theo hướng bền vững

Xác định khâu đột phá trong nông nghi ệp, đó là xây d ựng các c ụm liên k ết

ngành với các ngành có l ợi thế ngay tại Cà Mau và k ết nối các ngành khác c ủa Cà

Mau với những cụm ngành vùng ĐBSCL ho ặc Đông Nam Bộ. Cần quy ho ạch lại

ngành nuôi tr ồng và ch ế biến thủy sản theo mô hình khép kín t ừ khâu gi ống, thức

ăn, chăm sóc, thu ho ạch, chế biến và xuất khẩu. Khuyến khích nông dân nuôi tr ồng

148

công nghiệp, bằng các giải pháp như ưu đãi bảo hiểm đối với nuôi tôm công nghiệp.

Trước mắt xây d ựng bộ tiêu chu ẩn cho t ừng công đoạn từ gi ống, nuôi… đến xu ất

khẩu và quy chế giám sát từng công đoạn. Khuyến khích sự tham gia của các trường

đào tạo nhân lực, các cơ quan khoa học trong việc tham gia cụm sản xuất thủy sản.

Ưu tiên cao nh ất xây d ựng tại Cà Mau c ụm nuôi tr ồng ch ế bi ến th ủy sản tầm cỡ

hàng đầu của cả nước. Các cơ quan qu ản lý Nhà n ước giữ vai trò c ầu nối giữa các

bên trong cụm này nhưng không can thiệp vào quá trình hoạt động của cụm.

4.4.6. M ột số kiến nghị

4.4.6.1. Đối với Trung ương

Cần đánh giá lại hiệu quả đầu tư Chương trình ngọt hóa Bán đảo Cà Mau để

dẫn nước ngọt từ Sông Hậu theo Quản lộ Phụng Hiệp về tỉnh, cụ thể là tập trung các

huyện Th ới Bình, U Minh, Tr ần Vãn Th ời và m ột ph ần Thành ph ố Cà Mau. Xác

định lại xem có ti ếp tục đầu tư hay dừng chương trình này. Trên c ơ sở đó, tỉnh sẽ

thực hi ện chuy ển dịch cơ cấu kinh t ế theo quy ho ạch, chuy ển đổi cây tr ồng, vật

nuôi, tạo vùng nguyên li ệu tập trung v ề nông s ản, nh ư: th ực hi ện mô hình Cánh

đồng mẫu lớn, phục hồi nghề nuôi cá n ước ngọt, ngành ngh ề truyền thống, cây ăn

trái cho năng suất cao, mô hình nông nghiệp xanh.

Cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân bị thiệt hại do dịch bệnh nuôi trồng,

đánh bắt th ủy sản, không ch ỉ riêng Cà Mau mà c ả vùng ĐBSCL. Mặt khác, Trung

ương cần có sự chỉ đạo làm rõ nguyên nhân gây bệnh trên tôm nuôi kéo dài t ừ nhiều

năm nay, đưa ra quy trình nuôi an toàn để hướng dẫn người dân phát triển sản xuất.

Cần đầu tư đê biển Đông - Tây khép kín để chủ động đối phó v ới biến đổi

khí hậu và nước biển dâng; cần hoàn chỉnh chính sách về đất đai, quản lý mặt nước

sông, biển; điều chỉnh những tiêu chí xây d ựng NTM không phù h ợp với tỉnh, như

tiêu chí về thủy lợi, xây dựng chợ nông thôn, mỗi xã phải có nghĩa trang nhân dân.

Cà Mau là m ột trong 3 t ỉnh trong "tam giác kinh t ế" tr ọng điểm khu v ực

ĐBSCL, do đó, Chính ph ủ cần có đầu tư tương xứng, nh ất là đầu tư các d ự án

đường cao tốc nhằm rút ng ắn khoảng cách đi lại từ Cà Mau đến các thành ph ố lớn

trong khu v ực nh ư thành ph ố Cà Th ơ, thành ph ố Hồ Chí Minh; đầu tư vào công

nghiệp gắn với công trình khí - điện - đạm; đầu tư phát triển kinh tế biển mà tỉnh có

thế mạnh, nhất là cảng biển, đội tàu đánh bắt xa bờ, công nghi ệp chế biến thủy sản

và công nghiệp khoáng sản khai thác từ thềm lục địa Tây nam.

149

4.4.6.2. Khuyến nghị đối với tỉnh Cà Mau

Cần có đánh giá đầy đủ về tiềm năng, lợi thế cũng như những khó khăn trong

nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh. Đẩy nhanh tiến độ tái cơ cấu ngành nông

nghiệp, sớm hoàn thiện quy hoạch phát triển KT - XH đến năm 2020, tầm nhìn đến

2030. Trên cơ sở đó, phát huy m ọi tiềm năng, lợi thế để NNPTTHBV và xây d ựng

NTM, xem đây là một trong ba trụ cột để phát triển KT - XH ở địa phương. Nghiên

cứu và xác định rõ các cây trồng, vật nuôi chủ lực, lợi thế của tỉnh để tập trung triển

khai thực hiện.

Có gi ải pháp đồng bộ, cụ th ể ứng phó v ới bi ến đổi khí h ậu và n ước bi ển

dâng. Cà Mau là một trong 28 tỉnh ven biển chịu thiệt hại nặng nề nhất của cả nước

về những tác động này cho nên ph ải có sự chuẩn bị thật chủ động và hi ệu quả để

giảm thiệt hại cho người dân.

Cần rà soát để có quy ho ạch phù hợp đảm bảo phát tri ển hài hòa gi ữa nông

nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, du lịch, cụ thể hóa trên từng địa bàn, tránh gây cản

trở, chồng chéo trong quá trình phát triển.

Cần đẩy mạnh phát triển kinh tế biển cả đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Yêu

cầu hiện nay đang đặt ra là cần thiết phải nâng cao ch ất lượng, hiệu quả đánh bắt để

phát triển bền vững và xin cơ chế để ban hành nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ

cho các tàu đánh bắt xa bờ để tránh việc khai thác quá mức các nguồn lợi ven bờ.

Tỉnh, huyện cần lựa chọn phát triển nuôi các sản phẩm có tính chủ lực, là lợi

thế của địa phương, như: tôm sú, tôm thẻ, hào, sò, nghêu, cá chình, cá tai tượng, các

loại cá đồng… được vậy, cần có bi ện pháp PTBV, nh ất là vi ệc lựa ch ọn các lo ại

giống tốt, phổ biến áp dụng các quy trình nuôi phù hợp, cơ sở hạ tầng đồng bộ…

Chỉ đạo, rà soát kỹ để hướng dẫn người dân phát triển cây trồng, vật nuôi chủ

lực trên t ừng địa bàn phù h ợp với điều ki ện tự nhiên đa dạng của tỉnh, đồng th ời

hướng dẫn đẩy mạnh việc ứng dụng KH - CN trong chăn nuôi và trồng trọt, đặc biệt

là trong chăn nuôi để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả; cần thiết thành lập các

trung tâm gi ống th ủy sản để ch ủ động về gi ống; nâng cao ch ất lượng, hi ệu qu ả

Trung tâm ki ểm dịch ch ất lượng th ủy sản. Hoàn thi ện vi ệc quy ho ạch, đồ án quy

hoạch, tiếp tục hướng dẫn lựa chọn các nội dung ưu tiên để thực hiện, nhất là nội

dung liên quan đến phát triển sản xuất.

150

Tăng cường các bi ện pháp bảo vệ và phát tri ển rừng và đạt độ che ph ủ rừng

cao, sớm hoàn thành việc khoán rừng, giao đất, giao rừng cho hộ nông dân sản xuất.

Tỉnh cần có chính sách thu hút doanh nghi ệp và cá nhân có v ốn đầu tư vào tr ồng

rừng, khai thác lâm s ản; tập trung vào m ột số lo ại cây t ỉnh có l ợi th ế, nh ư: tràm,

đước, keo lai, bạch đàn,…

Hội đồng nhân dân tỉnh cần khẩn trương sửa đổi Nghị quyết số 21/2013/NQ-

HĐND về chính sách h ỗ tr ợ kinh phí đào tạo và thu hút ngu ồn nhân l ực cho phù

hợp với quy định của pháp lu ật hiện hành, vì t ại khoản 3, Điều 34 Lu ật viên ch ức

quy định: Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng viên chức do viên ch ức, nguồn tài chính của

đơn vị sự nghiệp công lập và các nguồn khác bảo đảm. Theo Nghị quyết 21 của Hội

đồng Nhân dân tỉnh, ngân sách lo toàn bộ kinh phí đào tạo, do ngân sách không đảm

bảo và như thế cũng trái với Luật viên chức và Điều 35 Nghị định số 29/2012/NĐ-

CP của Chính ph ủ. Trước yêu cầu mới hiện nay, tỉnh cần có chính sách ưu đãi tốt

hơn để thu hút ngu ồn nhân lực, nhất là tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ có trình

độ sau đại học, cán bộ kỹ thuật trên lĩnh vực nông nghi ệp đảm bảo để ngành nông

nghiệp của tỉnh phát tri ển nhanh, bền vững góp ph ần cùng cả nước thực hiện thành

công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

151

KẾT LUẬN

Nông nghiệp phát tri ển theo hướng bền vững có vị trí, vai trò r ất quan tr ọng

trong quá trình thực hiện CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nông nghiệp là cơ

sở, là nguồn lực quan trọng để phát triển KT - XH bền vững, giữ vững ổn định chính

trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp góp phần giữ gìn,

phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển.

Đối với quá trình CNH, HĐH nước ta hiện nay cũng như quá trình phát tri ển

KT-XH của tỉnh Cà Mau thì vi ệc đảm bảo để NNPTTHBV là nhi ệm vụ quan trọng

hàng đầu, là c ơ sở để giải quyết căn bản, phù h ợp vấn đề nông nghi ệp, nông dân,

nông thôn. NNPTTHBV nông dân là ch ủ th ể của quá trình đó, đây là khâu then

chốt, do đó, cần quy ho ạch một cách căn bản gắn với xây dựng cơ sở công nghi ệp,

dịch vụ và phát tri ển đô th ị. Vì th ế, cần nh ấn mạnh các điều ki ện, ph ương hướng

giải quy ết vấn đề nông nghi ệp một cách c ăn cơ, vừa đảm bảo cho yêu c ầu tr ước

mắt, vừa đáp ứng cho chiến lược phát triển lâu dài.

Cà Mau là địa ph ương nông nghi ệp gi ữ vai trò ch ủ đạo, đồng th ời nông

nghiệp của Cà Mau mang nh ững nét đặc thù riêng, đặc thù đó hàm ch ứa không ít

các nguy cơ tác động bất lợi tới môi trường sinh thái. Vì v ậy, nông nghiệp Cà Mau

phát triển theo hướng bền vững là một vấn đề cấp thiết. Nhằm góp ph ần giải quyết

vấn đề cấp thiết này, cần phải nghiên cứu một cách toàn di ện, vận dụng một cách

sáng tạo các vấn đề về PTBV, NNPTTHBV.

Từ nhận thức nêu trên và trên tinh th ần nỗ lực thực hiện các quan điểm, chủ

trương của Đảng, chính sách, pháp lu ật của Nhà n ước về PTBV, trong quá trình

phát triển KT-XH nói chung, phát tri ển nông nghi ệp nói riêng, t ỉnh Cà Mau đã có

sự nhận thức đúng đắn, đã cụ thể hoá vào các ch ương trình, đề án, kế hoạch, quy

hoạch phát tri ển và đạt được nhiều thành tựu khá toàn di ện cả kinh tế, văn hoá, xã

hội, môi trường…Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, trong tiến trình phát triển nông

nghiệp tỉnh Cà Mau cũng còn những hạn chế đang thách thức sự PTBV, như: nông

nghiệp vẫn bị động trong ứng phó với biến đổi khí hậu; kết cấu hạ tầng KT - XH

nông nghiệp, nông thôn còn l ạc hậu, chưa đồng bộ; khoa h ọc công ngh ệ chưa tạo

được sự đột phá về sản xuất nông nghiệp; sản xuất vẫn còn manh mún, nhỏ bé trong

điều kiện thị trường cạnh tranh rộng lớn; một số vấn đề xã hội bức xúc ở nông thôn

152

chậm được gi ải quyết; vấn đề suy thoái tài nguyên đất, ô nhi ễm môi tr ường nông

thôn và những hạn chế trong chính sách, yếu kém về năng lực quản lý v.v… Nh ững

hạn chế đó đã làm cho nông nghiệp Cà Mau phát triển thiếu bền vững. Vì vậy, đòi hỏi

phải có sự quan tâm, nỗ lực chung của tất cả các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở.

Từ nhìn nhận trên, luận án tiếp cận nghiên cứu và đề xuất hệ thống quan điểm,

phương hướng và hệ thống giải pháp tổng thể từ xây dựng chính sách, đến các biện

pháp về KT - XH, b ảo vệ môi tr ường và các điều kiện đảm bảo khác để xây dựng

NNPTTHBV với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé để xây dựng nông nghiệp

tỉnh Cà Mau PTBV trong thời gian tới./.

153

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

1. Nguyễn Minh Luân (2013), "Bàn v ề phát tri ển nông nghi ệp bền vững ở tỉnh

Cà Mau", Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (13).

2. Nguyễn Minh Luân (2013), "Xây d ựng nông thôn m ới ở Cà Mau", Tạp chí

Kinh tế và Dự báo, (14).

3. Nguyễn Minh Luân (2013), "T ỉnh Cà Mau th ực hi ện ch ương trình xây d ựng

nông thôn mới", Tạp chí Lịch sử Đảng, (8).

4. Nguyễn Minh Luân (2014), "Tái cơ cấu ngành nông nghi ệp tỉnh Cà Mau theo

hướng nâng cao giá tr ị gia tăng và phát tri ển bền vững, giai đoạn 2014-

2020", Tạp chí Kinh tế và Quản lý, (10).

5. Nguyễn Minh Luân (2016), "M ột số gi ải pháp phát tri ển nông nghi ệp bền

vững ở tỉnh Cà Mau", Tạp chí Kinh tế và Quản lý, (01).

6. Nguyễn Minh Luân (2016), "Nông nghi ệp Cà Mau "v ượt khó" để phát tri ển",

Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (08).

154

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo Nhân dân (2013), Gỡ khó cho nông nghi ệp, nông dân, nông thôn , Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Nguyễn Văn Bích, Chu T ấn Quang (1996), Chính sách kinh t ế và vai trò c ủa

nó đối với phát triển triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3. Vũ Tr ọng Bình (2013), "Phát tri ển nông nghi ệp bền vững - Lý lu ận và th ực

tiễn", Tạp chí Kinh tế và phát triển, (196), tr.37-45.

4. Nguyễn Đình Bồng (2013), Quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên đất đai ứng

phó với biến đổi khí hậu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Các Mác (1995), Tư bản, Quyển 4, Phần 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Lê Thạc Cán (2004), Phát triển nông thôn b ền vững, Nxb Chính tr ị quốc gia,

Hà Nội.

7. Trần Xuân Châu (2000), Những gi ải pháp c ơ bản nh ằm đẩy nhanh s ự phát

triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

8. Đỗ Kim Chung, Kim Th ị Dung (2015), "Nông nghi ệp Vi ệt Nam h ướng đến

phát triển bền vững", Tạp chí Cộng sản, (868), tr.41-43.

9. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2005), Phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau giai

đoạn 2001 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, Cà Mau.

10. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2007), Niên giám thống kê 2006, Cà Mau.

11. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2008), Niên giám thống kê 2007, Cà Mau.

12. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2009), Niên giám thống kê 2008, Cà Mau.

13. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2010), Niên giám thống kê 2009, Cà Mau.

14. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2011), Niên giám thống kê 2010, Cà Mau.

15. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2011), Nông nghiệp tỉnh Cà Mau, giai đoạn 1975

- 2010, Cà Mau.

16. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2011), Thực trạng kinh tế-xã hội tỉnh Cà Mau 15

năm tái lập tỉnh (1997-2011), Cà Mau.

17. Cục Th ống kê t ỉnh Cà Mau (2011), Nông nghi ệp Cà Mau 35 n ăm sau gi ải

phóng (1976-2010), Cà Mau.

155

18. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2012), Niên giám thống kê 2011, Cà Mau.

19. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2013), Kết quả điều tra nông thôn, nông nghi ệp,

thủy sản năm 2011, Cà Mau.

20. Cục Th ống kê t ỉnh Cà Mau (2015), Cà Mau 40 n ăm xây d ựng và phát tri ển

(1976-2015), Cà Mau

21. Cục Thống kê tỉnh Cà Mau (2016), Niên giám thống kê 2015, Cà Mau.

22. Nguyễn Xuân Cường (2010), Quá trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở

Trung Quốc 1978-2008, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

23. Nguyễn Diên (1996), Kinh tế hợp tác nông nghi ệp, nông thôn trên th ế giới và

Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội.

24. Đặng Ngọc Dinh (Chủ biên) (1997), Vấn đề phát triển công nghiệp nông thôn

nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

25. Bùi Đại Dũng (2012), Công bằng trong phân ph ối cơ sở để phát tri ển bền

vững, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

26. Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2000), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XII, nhi ệm

kỳ 2000 - 2005, Ca Mau.

27. Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2005), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII, nhiệm

kỳ 2005 - 2010, Cà Mau.

28. Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2008), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cà Mau, giai đoạn 1925 -

2007, Nxb Mũi Cà Mau, Cà Mau.

29. Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2011), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIV, nhiệm

kỳ 2011 - 2015, Cà Mau.

30. Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2016), Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XV, nhi ệm

kỳ 2015 - 2020, Cà Mau.

31. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.

32. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VII, Nxb Sự thật, Hà Nội.

33. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

34. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

156

35. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần th ứ năm Ban Ch ấp

hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

36. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

37. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam (2008), Văn ki ện Hội ngh ị lần th ứ bảy Ban Ch ấp

hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

38. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

39. Nguyễn Điền (1997), Công nghi ệp hoá nông nghi ệp, nông thôn các n ước

Châu Á và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

40. Nguyễn Hữu Đức (1996), Tác động của cơ ch ế quản lý kinh t ế với việc thúc

đẩy chuy ển dịch cơ cấu kinh t ế nông nghi ệp, Lu ận án Phó ti ến sĩ khoa

học kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

41. Gunter Pauli (2014), Nền kinh tế xanh lam, Nxb Thời đại, Hà Nội.

42. Vũ Quang Hiển (2013), Đảng với vấn đề nông dân, nông nghi ệp và nông thôn

1930-1975, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

43. Trịnh Thị Ái Hoa (2007), Chính sách xuất khẩu nông sản Việt Nam lý lu ận và

thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

44. Trương Duy Hòa (2009), Kinh tế Thái Lan m ột số chính sách công nghi ệp hóa

hướng về xuất khẩu trong ba thập niên cuối thế kỷ XX, Nxb Thế giới, Hà Nội.

45. Bùi Minh Hồng (2014), Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện nay ở

tỉnh Vĩnh Phúc, Luận án ti ến sĩ Kinh tế, Học viện Chính tr ị quốc gia Hồ

Chí Minh, Hà Nội.

46. Vương Đình Hu ệ (2013), "Tái c ơ cấu ngành nông nghi ệp nước ta hi ện nay",

Tạp chí Tài chính, (854), tr.37-39.

47. Vũ Văn Hùng (2013), Chính sách c ủa Nhà n ước đối với tiêu th ụ nông s ản

trong quá trình th ực hiện cam kết với WTO, Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội, Hà Nội.

48. Lâm Quang Huyên (2002), Nông nghiệp, nông thôn Nam B ộ hướng tới thế kỷ

XXI, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

49. Trần Thị Lan Hương (2009), Hợp tác phát tri ển nông nghi ệp ở Châu Phi đặc

điểm và xu hướng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

157

50. Nguyễn Văn Khang (2012), Nghiên cứu mô hình s ản xu ất nông nghi ệp bền

vững trong vùng d ự án ng ọt hóa Gò Công , Lu ận án ti ến sĩ Kinh t ế,

Trường Đại học Kinh tế, Hà Nội.

51. Phạm Th ị Khanh (2010), Chuyển dịch cơ cấu kinh t ế theo h ướng phát tri ển

bền vững ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

52. Trần Khải, Lương Xuân Qu ỳ (1995), Những vất đề rút ra t ừ Hội khoa h ọc -

Chuyển đổi cơ cấu kinh t ế nông nghi ệp, nông thôn Vi ệt Nam , Kỷ yếu

khoa học cấp Bộ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội.

53. Phạm Văn Khôi (2004), Các giải pháp phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà

Nội theo hướng nông nghiệp sinh thái, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

54. Phạm Văn Khôi (2011), Phát triển bền vững các trang trại ở vùng cây ăn quả Bắc

Giang, Báo cáo đề tài khoa học cấp bộ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội.

55. Phạm Văn Khôi (2015), Sử dụng bền vững tài nguyên nước và đất bãi bồi ven

biển vào s ản xu ất nông nghi ệp vùng Đồng bằng Sông H ồng, Nxb Đại

học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

56. Vũ Xuân Ki ều (1996), Những vấn đề có tính quy lu ật trong vi ệc xác l ập và

chuyển dịch cơ cấu kinh t ế nông thôn Vi ệt Nam , Kỷ yếu khoa h ọc cấp

Bộ, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội.

57. Nguyễn Đình Long (1995), "Th ị tr ường - y ếu tố quy ết định tới quá trình

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta", Tạp chí Nghiên cứu kinh

tế, (7), tr.43-45.

58. Lê Quang Lý (2012), Công nghiệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp, nông thôn

vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

59. Nông Đức Mạnh (2007), Bài phát bi ểu tại lễ khai mạc Hội ngh ị lần thứ bảy

Ban Chấp hành Trung ương (khóa X), Hà Nội.

60. Ngô Thị Tuyết Mai (2011), Phát triển bền vững hàng nông sản xuất khẩu của

Việt Nam trong điều kiện hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

61. Trần Quang Minh (2010), Nông nghiệp Hàn Qu ốc trên con đường phát tri ển,

Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

62. Phạm Xuân Nam (Ch ủ biên) (1997), Phát triển nông thôn, Nxb Khoa h ọc xã

hội, Hà Nội.

63. Vũ Văn Nâm (2009), Phát triển nông nghi ệp bền vững ở Việt Nam, Nxb Th ời

đại, Hà Nội.

158

64. Ngân hàng th ế gi ới (2005), Báo cáo phát tri ển th ế gi ới 2005 , Nxb V ăn hóa

thông tin, Hà Nội.

65. Ngân hàng th ế gi ới (2008), Về tăng cường nông nghi ệp cho phát tri ển, Nxb

Văn hóa thông tin, Hà Nội.

66. Tạ Kim Ng ọc (2004), Kinh tế th ế gi ới năm 2020: Xu h ướng và thách th ức,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

67. Phẩm An Ninh (1999), Xu hướng chuy ển dịch cơ cấu kinh t ế nông nghi ệp

trong quá trình công nghi ệp hoá, hi ện đại hoá ở Đồng Nai , Lu ận văn

tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

68. Bùi Nữ Hoàng Oanh (2013), Giải pháp nâng cao hi ệu qu ả kinh t ế trong s ử

dụng đất nông nghi ệp tại Yên Bái, giai đoạn 2012-2020, Luận án ti ến sĩ

Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

69. Lê Quang Phi (2007), Đẩy mạnh công nghi ệp hóa, hi ện đại hóa nông nghi ệp

nông thôn trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

70. Lê Du Phong, Nguyễn Thành Độ (Đồng chủ biên) (1999), Chuyển dịch cơ cấu

kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và th ế giới, Nxb Chính tr ị

quốc gia, Hà Nội.

71. Trần Hữu Phú (2009), Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, kinh nghi ệm

Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

72. Vũ Văn Phúc (2012), Xây dựng nông thôn m ới những vấn đề lý lu ận và th ực

tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

73. Vũ Văn Phúc (2013), Khoa học - công ngh ệ trong phát tri ển nông nghi ệp bền

vững vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

74. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật Bảo vệ môi

trường năm 2015, Hà Nội.

75. Nguyễn Th ị Tố Quyên (2012), Nông nghi ệp, nông dân, nông thôn trong mô

hình tăng trưởng kinh t ế mới giai đoạn 2011-2020, Nxb Chính tr ị quốc

gia, Hà Nội.

76. Chu Hữu Quý (1996), Phát tri ển toàn di ện kinh t ế xã h ội nông thôn, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

77. Nguyễn Hồng Sơn (2013), Môi trường đầu tư hướng tới phát tri ển bền vững

tại Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

159

78. Đặng Kim Sơn (2008), Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Vi ệt Nam hôm nay

và mai sau, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

79. Nguyễn Hữu Sở (2009), Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam, Luận án tiến

sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

80. Sở Lao động Thương binh và Xã h ội tỉnh Cà Mau (2015), Báo cáo tổng năm

2015, Cà Mau.

81. Lê Qu ốc Sử (2001), Chuyển dịch cơ cấu và xu h ướng phát tri ển của kinh t ế

nông nghiệp Việt Nam theo h ướng công nghi ệp hoá, hi ện đại hoá từ thế

kỷ XX đến thế kỷ XXI trong "Th ời đại kinh t ế tri th ức", Nxb Th ống kê,

Hà Nội.

82. Nguyễn Vĩnh Thanh, Lê S ỹ Th ọ (2010), Nông nghi ệp Vi ệt Nam sau khi gia

nhập WTO thời cơ và thách thức, Nxb Lao động - xã hội.

83. Hà Ti ến Th ăng (2006), Chuyển dịch cơ cấu cây tr ồng vật nuôi để phát tri ển

nông nghiệp hàng hoá ở tỉnh Thái Bình , Luận văn thạc sĩ Kinh t ế, Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

84. Lê Đình Thắng (1998), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn - nh ững vấn đề

lý luận và thực tiễn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

85. Bùi Tất Thắng (Chủ biên) (1997), Các nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ

cấu ngành kinh t ế trong th ời kỳ công nghi ệp hoá, hi ện đại hoá ở Vi ệt

Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

86. Thủ tướng Chính ph ủ (2004), Quyết định số 153/2004/TTg ngày 17/8/2004

ban hành v ăn bản định hướng Chi ến lược phát tri ển bền vững ở Vi ệt

Nam (gọi tắt là Chương trình Nghị sự 21), Hà Nội.

87. Thủ tướng Chính ph ủ (2013), Quyết định 899/Q Đ-TTg về Tái c ơ cấu nông

nghiệp theo hướng nâng cao giá tr ị gia tăng và phát tri ển bền vững, Hà

Nội.

88. Nguyễn Th ị Thu Th ủy (2015), Tác động của xu ất kh ẩu hàng hóa t ới tăng

trưởng kinh tế Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

89. Đoàn Xuân Thủy (2011), Chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

90. Nguyễn Văn Tiêm (Chủ biên) (1997), Báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện dự án

điều tra khảo sát thực trạng và tìm gi ải pháp đối với hộ nông dân không

160

có đất để sản xuất nông nghiệp ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Trung tâm

Tư vấn phát triển nông nghiệp nông thôn, Cà Mau.

91. Tổng cục Thống kê (2015), Niên giám thống kê năm 2015, Nxb Thống kê, Hà Nội.

92. Trung tâm Dịch vụ Thông tin hải ngoại Hàn Quốc (1998), Hàn Quốc đất nước

con người, Hà Nội.

93. Trần Văn Trường (2006), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ở huyện

Hoà Vang - Thành ph ố Đà Nẵng, Lu ận văn th ạc sĩ Kinh t ế, Học vi ện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

94. Dương Minh Tuấn (2012), Một số vấn đề cơ bản về con đường phát triển hiện

đại của nông nghi ệp và nông thôn Nh ật Bản, Nxb T ừ điển Bách khoa,

Hà Nội.

95. Đỗ Thế Tùng (1996), Khái niệm, nội dung và nh ững đặc điểm cơ bản của cơ

cấu kinh tế nông thôn, Kỷ yếu khoa học cấp Bộ, Bộ Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn, Hà Nội.

96. Nguyễn Từ (Chủ biên) (2008), Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với

phát triển nông nghiệp Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

97. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Trường Đại học Kinh tế quốc dân (1995), Chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Vi ệt Nam, Hội thảo nghiên cứu khoa học,

Hà Nội.

98. Ủy ban nhân dân t ỉnh Cà Mau (2002), Báo cáo quy ho ạch sử dụng đất đến

2010, Cà Mau.

99. Ủy ban nhân dân t ỉnh Cà Mau (2006), Chương trình phát tri ển giáo dục - đào

tạo tỉnh Cà Mau giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến 2015, Cà Mau.

100. Ủy ban nhân dân t ỉnh Cà Mau (2006), Báo cáo tóm t ắt quy ho ạch tổng th ể

phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2015 và định hướng đến

2020, Cà Mau.

101. Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau (2007), Kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau thời kỳ đổi

mới 1986 - 2005, Cà Mau.

102. Ủy ban nhân dân t ỉnh Cà Mau (2012), Chương trình điều tra, đánh giá tác

động sức khỏe, môi trường tỉnh Cà Mau, Cà Mau.

103. Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau (2015), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã

hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, Cà Mau.

161

104. Ủy ban nhân dân t ỉnh Cà Mau (2015), Quyết định về vi ệc công nh ận số li ệu

diện tích rừng và đất lâm nghiệp tỉnh Cà Mau năm 2015, Cà Mau.

105. Hồ Trọng Viện (1997), Chuyển dịch cơ cấu sản xuất và lao động ở nông thôn

miền Đông Nam Bộ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Học viện

Chính tr ị qu ốc gia H ồ Chí Minh - Phân vi ện Thành ph ố Hồ Chí Minh,

Thành phố Hồ Chí Minh.

106. Hoàng Việt (Chủ biên) (1999), Vấn đề sở hữu, sử dụng đất trong nền kinh tế

hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

107. Hà Vinh (1999), Nông nghi ệp Vi ệt Nam trong b ước chuy ển sang kinh t ế th ị

trường, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.

108. Nguyễn Quốc Vọng (2013), "Con đường bền vững nhất cho nông nghi ệp", tại

trang http://baochinhphu.vn/Tra-loi-cong-dan/Con-duong-ben-vung-nhat

-cho-nong-nghiep/172696.vgp, [truy cập 6/7/2016].

109. Võ Tòng Xuân (2008), Nông nghiệp và nông dân Việt Nam phải làm gì để hội

nhập kinh tế quốc tế, Hà Nội.

110. Võ Tòng Xuân (2010), "Nông dân và nông nghi ệp Việt Nam nhìn t ừ sản xuất

thị trường, Tạp chí Cộng sản, (12), tr.27-29.

111. Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.