BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ************* LÊ VĂN VIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN Ở CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN HÀ NỘI, NĂM 2025

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN ************* LÊ VĂN VIỄN

PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN Ở CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ngành đào tạo: KINH TẾ PHÁT TRIỂN Mã số: 9310105 LUẬN ÁN TIẾN SĨ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC SƠN

HÀ NỘI, NĂM 2025

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi cam

kết bằng danh dự cá nhân rằng chuyên đề này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả. Các kết

quả nghiên cứu và các kết luận trong luận án là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào. Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu

có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định.

Hà Nội, ngày tháng năm 2025 Tác giả

Lê Văn Viễn

ii

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn các Thầy/Cô giảng viên của trường Đại học kinh

tế Quốc dân đã luôn tạo điều kiện tốt nhất, quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời để tác giả hoàn thành luận án. Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến giáo viên

hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn đã dành nhiều tâm huyết, tận tình hướng dẫn tôi có được kết quả nghiên cứu này. Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các quý thầy/cô, anh/chị

tại các cơ quan, đơn vị: Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, Đại học Kinh tế Quốc dân,

Viện Khoa học xã hội vùng Trung bộ, Sở Du lịch/Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch, Hiệp hội Du lịch các tỉnh, thành trong Vùng Bắc Trung bộ, các doanh nghiệp du lịch, lữ

hành, các doanh nghiệp lưu trú đã tạo điều kiện gặp gỡ, khảo sát và các chuyên gia trong các lĩnh vực có liên quan đã đóng góp những thông tin vô cùng quý báu và những ý kiến

xác đáng để tác giả tiếp thu, hoàn thành luận án trong thời gian nhanh nhất.

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Lãnh đạo địa phương, Lãnh đạo cơ quan,

anh/chị/em đồng nghiệp đã luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như thực hiện luận án.

Cuối cùng, tác giả xin trân trọng cảm ơn những người thân gia đình đã động viên,

hỗ trợ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận án!

Trân trọng cảm ơn./.

Hà Nội, ngày tháng năm 2025 Tác giả

Lê Văn Viễn

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ...........................................................................................................i

LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii

MỤC LỤC .................................................................................................................... iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................... vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ....................................................................................... viii

DANH MỤC HÌNH ....................................................................................................... x

MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1

1. Đặt vấn đề ............................................................................................................... 1

2. Mục tiêu nghiên cứu .............................................................................................. 3

2.1. Mục tiêu chung .................................................................................................. 3

2.2. Mục tiêu cụ thể .................................................................................................. 3

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................... 3

4. Câu hỏi nghiên cứu ................................................................................................ 4

5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ......................................................... 4

6. Những đóng góp mới của luận án ......................................................................... 6

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG ............................................ 8

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ....................................................................... 8

1.1.1. Các nghiên cứu về quan điểm phát triển du lịch theo hướng bền vũng ......... 8

1.1.2. Các nguyên cứu về chỉ số, tiêu chí đo lường về phát triển du lịch theo hướng bền vững ................................................................................................................. 10

1.1.3. Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững ...................................................................................................... 12

1.2. Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận án ....................... 19

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG .......................................... 21

2.1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của phát triển du lịch biển theo hướng bền vững ................................................................................................................... 21

2.1.1. Khái niệm về du lịch và du lịch biển ............................................................ 21

2.1.2. Đặc điểm của du lịch biển ............................................................................ 24

iv

2.1.3. Vai trò của du lịch biển ................................................................................ 25

2.1.4. Các loại hình du lịch biển ............................................................................. 28

2.1.5. Khái niệm phát triển và phát triển bền vững ................................................ 33

2.1.6. Nội hàm phát triển du lịch biển theo hướng bền vững ................................. 37

2.1.7. Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch biển theo hướng bền vững ............. 40 2.2. Các lý thuyền nền liên quan đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững ................................................................................................................... 45

2.2.1. Lý thuyết Thể chế (Institutional Theory) ..................................................... 45

2.2.2. Lý thuyết Dựa trên tài nguyên (Resource-Based View) .............................. 46

2.2.3. Lý thuyết Các bên Liên quan (Stakeholder Theory) .................................... 48

2.2.4. Lý thuyết Marketing Điểm đến (Destination Marketing Theory) ................ 49

2.3. Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững ..... 50

2.3.1. Chính sách phát triển du lịch biển của chính phủ ......................................... 50

2.3.2. Dịch vụ hỗ trợ liên quan ............................................................................... 52

2.3.3. Nguồn nhân lực du lịch biển ........................................................................ 53

2.3.4. Hoạt động liên kết và hợp tác phát triển du lịch biển ................................... 53

2.3.5. Đặc điểm của khách du lịch .......................................................................... 54

2.3.6. Hoạt động quảng bá và xúc tiến chương trình du lịch biển .......................... 55

2.3.7. Các nhân tố khác .......................................................................................... 56

2.4. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu ................................................................... 58

2.5. Kinh nghiệm phát triển du lịch biển theo hướng bền vững .......................... 64

2.5.1. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới ........................................................ 64

2.5.2. Kinh nghiệm một số vùng trong nước .......................................................... 67

2.5.3. Bài học rút ra cho việc phát triển du lịch biển trên địa bàn Vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững ........................................................................................ 70

CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................................... 73

3.1. Khung phân tích ................................................................................................ 73

3.2. Nghiên cứu định lượng ..................................................................................... 74

3.2.1. Thiết kế và mẫu nghiên cứu ......................................................................... 74

3.2.2. Thu thập dữ liệu ............................................................................................ 77

3.3.3. Phân tích dữ liệu ........................................................................................... 79

v

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG ............................. 85

4.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung Bộ ............................... 85

4.1.1. Vị trí Vùng du lịch Bắc Trung Bộ trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước và quốc tế ....................................................................................................... 85

4.1.2. Tài nguyên du lịch ........................................................................................ 88

4.1.3. Cơ sở hạ tầng ................................................................................................ 89

4.2. Thực trạng phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững .................................................................................................................... 90

4.2.1. Dưới góc độ kinh tế ...................................................................................... 90

4.2.2. Dưới góc độ xã hội - văn hóa ...................................................................... 104

4.2.3. Dưới góc độ môi trường.............................................................................. 109

4.3. Đánh giá mức độ bền vững trong phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững ............................................................................ 111

4.3.1. Khía cạnh thuộc về kinh tế ......................................................................... 111

4.3.2. Khía cạnh thuộc về xã hội .......................................................................... 112

4.3.3. Khía cạnh thuộc về môi trường .................................................................. 113

4.4. Đánh giá mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững ........................................................... 114

4.4.1. Đánh giá mô hình đo lường ........................................................................ 114

4.4.2. Đánh giá mô hình cấu trúc .......................................................................... 116

4.4.3. Phân tích điều kiện cần thiết (NCA)........................................................... 116

4.4.4. Tích hợp kết quả PLS-SEM và NCA ......................................................... 118

4.5. Đánh giá chung về phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững ...................................................................................................... 119

4.5.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân ................................................... 119

4.5.2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế ............................................................... 121

CHƯƠNG 5. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN Ở CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG ................. 126

5.1. Bối cảnh và định hướng phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững ........................................................................................ 126

5.1.1. Bối cảnh ...................................................................................................... 126

vi

5.1.2. Định hướng ................................................................................................. 127

5.2. Giải pháp phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững .................................................................................................................. 133

5.2.1. Xây dựng chiến lược hợp tác liên kết vùng du lịch Bắc Trung Bộ ............ 133

5.2.2. Đầu tư và huy động vốn cho phát triển cho du lịch ..................................... 138

5.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực .......................................................... 140

5.2.4. Bảo tồn tài nguyên du lịch ........................................................................... 141

KẾT LUẬN ................................................................................................................ 146

1. Kết luận ............................................................................................................... 146

2. Những hạn chế của đề tài .................................................................................. 147

3. Kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo ............................................................. 147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ............................................................................................. 148

TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 149

PHỤ LỤC ................................................................................................................... 166

vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 BTB Bắc Trung Bộ

2 CSDL Cơ sở dữ liệu

3 CSVCKT Cơ sở vật chất - kỹ thuật

4 ECOSOC United Nations Economic and Social Council

5 GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm nội địa).

6 ILO International Labour Organization

7 IUCN International Union for Conservation of Nature and Natural Resources

8 PTBV Phát triển bền vững

9 UNWTO United National World Tourism Organization

10 WCED World Commission on Environment and Development

11 WTO World Tourism Organization

12 WTTC World Travel and Tourism Council

viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Tổng hợp và đề xuất các chỉ tiêu và tiêu chí đánh giá hoạt động phát triển du lịch biển theo hướng bền vững ..................................................................... 43

Bảng 2.2. Thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững ................................................................... 61

Bảng 3.2. Phân bổ mẫu phiếu điều tra ........................................................................... 76

Bảng 3.3. Tổng hợp các tiêu chí và thang đo đánh giá phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung bộ ....................................................................................... 81

Bảng 4.1. Cơ cấu kinh tế vùng Bắc Trung Bộ theo ngành kinh tế chính ...................... 86

Bảng 4.2. So sánh tốc độ tăng trưởng trung bình các ngành kinh tế ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2020-2024 ................................................................... 91

Bảng 4.3. Cơ cấu trong nội bộ du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ ................. 92

Bảng 4.4. Đánh giá của cán bộ quản lý nhà nước về đầu tư phát triển du lịch biển vùng Bắc Trung Bộ ............................................................................................... 93

Bảng 4.5. Doanh thu từ du lịch biển của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ ............... 96

Bảng 4.6. Lượng khách du lịch biển đến vùng Bắc Trung Bộ ...................................... 98

Bảng 4.7. Cơ cấu khách quốc tế đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ ............................... 99

giai đoạn 2007 - 2024 .................................................................................................... 99

Bảng 4.8. Lượng khách du lịch nội địa đến du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ ..... 100

Bảng 4.9. Lượng khách du lịch quốc tế đến du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ .... 101

Bảng 4.9. Số lượng lao động du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ ............. 104

Bảng 4.10. Tỷ lệ dân địa phương đánh giá về tác động của du lịch biển đến cuộc sống ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ ...................................................................... 106

Bảng 4.11. Mức độ bền vững khía cạnh kinh tế của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ ..... 112

Bảng 4.12. Mức độ bền vững khía cạnh xã hội của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ ...... 113

Bảng 4.13. Mức độ bền vững khía cạnh môi trường của các tỉnh vùng Bắc Trung bộ ..... 114

Bảng 4.14. Độ tin cậy và giá trị hội tụ của các cấu trúc .............................................. 115

Bảng 4.15. Ma trận tỷ lệ HTMT .................................................................................. 115

ix

Bảng 4.16. Kết quả kiểm định các mối quan hệ cấu trúc ............................................ 116

Bảng 4.17. Kết quả phân tích mức độ cần thiết ........................................................... 117

Bảng 4.18. Bảng điểm nghẽn - Các mức ngưỡng cần thiết ......................................... 117

Bảng 4.19. So sánh kết quả PLS-SEM và NCA .......................................................... 118

Bảng 4.20. Mức độ ảnh hưởng theo từng khía cạnh bền vững ................................... 119

x

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1. Phân loại tài nguyên du lịch biển .................................................................. 29 Hình 2.2. Các loại hình du lịch khu vực biển ................................................................ 33 Hình 2.3. Khung phân tích phát triển du lịch biển theo hướng bền vững ..................... 39 Hình 3.1. Khung phân tích phát triển du lịch biển theo hướng bền vững ..................... 73

Hình 3.2. Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển ở các tỉnh trên địa bàn vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững ............................................... 58 Hình 4.1. Mức độ bền vững khía cạnh kinh tế của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ ....... 111 Hình 4.2. Mức độ bền vững khía cạnh xã hội của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ ........ 112 Hình 4.3. Mức độ bền vững khía cạnh môi trường của các tỉnh vùng Bắc Trung bộ . 113

1

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề

Nền kinh tế biển đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững của Việt Nam,

đặc biệt từ khi Nghị quyết số 36-NQ/TW của Đảng Cộng Sản Việt Nam về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết số 26/NQ-CP của Chính phủ nhằm cụ thể hóa việc triển khai Nghị quyết 36

được ban hành. Trên cơ sở đó, cần thiết có một nghiên cứu toàn diện kết hợp cả phân

tích định tính và định lượng nhằm đánh giá đầy đủ tình hình thực hiện các nghị quyết

này tại các địa phương, đặc biệt là trong việc rà soát chi tiêu công dành cho phát triển kinh tế biển theo các chuẩn mực quốc tế nhằm hỗ trợ Việt Nam đạt được các mục tiêu về kinh tế biển bền vững xây dựng trên những ưu tiên đề ra trong Nghị quyết 36 và Nghị quyết 26.

Việt Nam có những lợi thế cạnh tranh lớn trong phát triển kinh tế biến, nhờ có hệ

sinh thái biển và ven biển đa dạng, đem lại những dịch vụ thiết yếu cho tăng trưởng kinh

tế. Tuy nhiên, những lĩnh vực đó đang được phát triển một cách phân tán, tiềm ẩn rủi ro

lớn về xung đột lợi ích và nguy cơ khai thác quá mức tài nguyên biển. Nhận thức được

nhu cầu phát triển bền vững, Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa 12 đã có bước đi then chốt,

qua ban hành Nghị quyết số 36 năm 2018, vạch ra “Chiến lược phát triển bền vững kinh

tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Nghị quyết chỉ ra vai trò sống

còn của nền kinh tế biển đối với tương lai của Việt Nam và đề ra các chỉ tiêu về nâng

cao tỷ trọng đóng góp của kinh tế biển cho tăng trưởng kinh tế của quốc gia vào năm

2030. Đến năm 2020, Chính phủ đã có bước đi quan trọng thông qua việc bàn hành Nghị

quyết số 26/NQ-CP (NQ26) về Kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm của Chính phủ

nhằm thực hiện NQ36. Đây là văn bản chiến lược nhằm xác định 8 lĩnh vực biển ưu tiên

(và trong báo cáo này được quy ước mã số từ M1-M8) như sau: (i) du lịch và dịch vụ

biển (M1); (ii) kinh tế hàng hải (M2); (iii) dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển

khác (M3); (iv) nuôi trồng và khai thác thủy sản (M4); (v) phát triển công nghiệp ven

biển (M5); (vi) năng lượng tái tạo và các ngành KTB mới (M6); (vii) phát triển vùng

biển (M7); và (viii) phát triển kết cấu hạ tầng ven biển (M8). Ngành du lịch từ lâu đã

được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn. Đối với nhiều quốc gia du lịch được xem là

công cụ chính trong việc phát triển ở các địa phương hay các vùng vì nó có thể tác động

đến tổng thu nhập của cả người dân và doanh nghiệp; tăng trưởng nguồn thu cho đất

nước; tạo việc làm, thanh toán. Tuy nhiên, việc phát triển du lịch (PTDL) mà chưa gắn

với các định hướng. các kế hoạch có thể gây nhiều bất cập như làm suy thoái tài nguyên

2

du lịch. cảnh quan tự nhiên hủy hoại môi trường sống thậm chí còn tác động xấu đến

nền văn hóa bản địa... Vì vậy, việc PTDLB theo hướng bền vững đã và đang thu hút sự

quan tâm của các nhà nghiên cứu. các cơ quan quản lý nhà nước. Phát triển du lịch theo

hướng bền vững không chỉ cần tạo điều kiện cho du lịch phát triển mà còn phải xem xét

những hệ quả của quá trình này. Theo đó, nó cần được hiểu một cách toàn diện, đầy đủ

trên cả ba khía cạnh là: (i) Tăng trưởng kinh tế ổn định (ii) Thực hiện tốt tiến bộ và công

bằng xã hội và (iii) Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm có hiệu quả các nguồn tài nguyên

thiên nhiên (Hall và Testoni, 2004); (Sudhir và Amartya, 1996); (Phan và Võ, 2017).

Tại Việt Nam phát triển du lịch theo hướng bền vững là một phần quan trọng trong phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Điều này đã được khẳng định tại Đại hội

IX “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”; “Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt

với bảo vệ và cải thiện môi trường bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001). Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam

(Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) nhằm PTBV đất nước trên cơ sở kết hợp chặt

chẽ, hợp lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

(Thủ tướng Chính phủ, 2004). Phát triển du lịch theo hướng bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội” (Thủ tướng Chính phủ. 2011). Đây được xem là một chương trình hành động khung bao gồm những định hướng mục tiêu và giải pháp lớn làm cơ sở pháp lý để các Bộ, Ngành, Địa phương các

tổ chức, cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằm bảo đảm phát triển bền vững đất nước.

Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để phát huy tiềm năng, lợi thế của du lịch biển các tỉnh Bắc Trung Bộ trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, và trước sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các vùng khác ở nước ta cũng như các nước trong khu vực. Đồng thời, phải gắn phát triển du lịch biển theo hướng bền vững nhằm giúp phát triển kinh tế, đảm bảo các vấn đề xã hội, bảo tồn các di sản, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi

trường sống cho toàn vùng, nâng cao lợi ích cho cộng đồng và lan tỏa cho các ngành kinh tế khác cùng phát triển. Phát triển du lịch cần được nghiên cứu một cách khoa học, hệ thống nhằm tìm ra giải pháp thúc đẩy sự phát triển du lịch biển các tỉnh Bắc Trung

Bộ là yêu cầu cần được xem xét và nghiên cứu sớm. Để làm tốt điều này, nhu cầu phát triển của ngành du lịch biển theo hướng bền vững cho một tầm nhìn dài hơn đang trở nên cấp thiết. Để làm tốt điều này, nhu cầu phát triển của ngành du lịch biển theo hướng

3

bền vững cho một tầm nhìn dài hơn đang trở nên cấp thiết. Chính vì vậy tác giả chọn đề tài: “Phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững” làm

luận án nghiên cứu của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu chung

Trên cơ sở khung lý thuyết nghiên cứu về phát triển du lịch biển theo hướng bền

vững, luận án đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du

lịch biển ở các tỉnh trên địa bàn Vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch biển ở các tỉnh trên địa bàn Vùng

theo hướng bền vững.

2.2. Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về

phát triển du lịch biển theo hướng bền vững;

- Đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch

biển ở các tỉnh trên địa bàn Vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy phát triển du lịch biển ở các

tỉnh trên địa bàn Vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững trong giai đoạn tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề về du

lịch, du lịch biển phát triển theo hướng bền vững, các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch biển theo hướng bền vững, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển theo hướng

bền vững và các giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch theo hướng bền vững

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu và đánh giá thực trạng mức độ bền vững phát triển du lịch biển vùng Bắc Trung Bộ dưới ba góc độ: kinh tế; văn hoá - xã hội; và môi trường.

Về thời gian: Do có độ trễ về thời gian thực hiện luận án nên dữ liệu thứ cấp được

thu thập trong giai đoạn từ năm 2019 - 2024, trong đó gồm dữ liệu đã có sẵn từ các báo cáo của Niên giám thống kê, báo cáo tình hình phát triển du lịch qua các năm của Sở

Văn hoá Thể thao và Du lịch các tỉnh, các nghiên cứu khoa học liên quan đã được công bố. Chính điều này cũng đã làm thay đổi các xu hướng du lịch của khách du lịch tại Việt Nam. Riêng dữ liệu sơ cấp được thu thập từ cuộc điều tra khảo sát nhà quản lý, nhà

4

doanh nghiệp, khách du lịch ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững. Từ đó đưa ra các đề xuất phát

triển du lịch biển theo hướng bền vững ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2030.

Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu các tỉnh trên địa bàn Vùng Bắc

Trung Bộ, Việt Nam, gồm 06 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: Thanh Hóa; Nghệ An; Hà Tĩnh ; Quảng Bình, Quảng Trị; Thừa Thiên - Huế. Thực hiện theo Nghị

quyết 76/2025/UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2025 thì các tỉnh vùng Bắc

Trung Bộ sau khi sáp nhập bao gồm 05 tỉnh là Thanh Hóa; Nghệ An; Hà Tĩnh ; Quảng

Trị; Thừa Thiên - Huế.

4. Câu hỏi nghiên cứu

1) Phát triển du lịch biển theo hướng bền vững được hiểu như thế nào?

2) Thực trạng phát triển du lịch biển tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ hiện nay như

thế nào?

3) Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển của các tỉnh Vùng

Bắc Trung bộ theo hướng bền vững và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố?

4) Những giải pháp nào để thúc đẩy phát triển du lịch biển theo hướng bền vững

ở vùng Bắc Trung Bộ trong giai đoạn tới?

5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Cách tiếp cận nghiên cứu

1) Cách tiếp cận theo mục tiêu phát triển du lịch biển theo hướng bền vững không chỉ là cách thức mà nó còn rất rõ về mục tiêu của phát triển. Để phát triển du lịch biển

theo hướng bền vững cần phải có sự phát triển hài hòa cùng lúc nhiều khía cạnh đó là

về kinh tế, về xã hội - văn hóa và về môi trường.

(2) Cách tiếp cận liên ngành: Phát triển du lịch biển theo hướng bền vững không

thể và không nên được nhìn nhận qua lăng kính đơn ngành. Bởi bản chất của tính bền

vững là sự đan xen giữa các giá trị kinh tế, xã hội và môi trường - những trụ cột không

thể tách rời trong quá trình kiến tạo một chiến lược phát triển hài hòa và dài hạn. Do đó,

nghiên cứu này tiếp cận vấn đề từ góc nhìn liên ngành - kết hợp giữa kinh tế học phát

triển, quản trị du lịch, quy hoạch lãnh thổ, xã hội học, môi trường học và cả chính sách

công - nhằm tạo nên một khung phân tích toàn diện, sâu sắc và có tính thực thi cao. Từ

phương diện kinh tế học, nghiên cứu xem xét mức độ đóng góp của du lịch biển vào cơ

5

cấu GRDP, hiệu quả sử dụng tài nguyên, và khả năng lan tỏa của ngành du lịch đến các

lĩnh vực khác như giao thông, nông nghiệp, dịch vụ và thương mại. Dưới góc nhìn xã

hội học, nghiên cứu tập trung vào sự tham gia của cộng đồng địa phương, công bằng xã

hội trong phân phối lợi ích du lịch, và tác động của du lịch đến văn hóa bản địa. Về mặt

môi trường, nghiên cứu đánh giá khả năng chịu tải của hệ sinh thái biển - ven bờ, hiện

trạng ô nhiễm môi trường biển và rủi ro từ biến đổi khí hậu tác động đến tính bền vững.

Bên cạnh đó, cách tiếp cận liên ngành cho phép người nghiên cứu nhận diện được các

xung đột tiềm ẩn giữa tăng trưởng và bảo tồn - giữa nhu cầu phát triển nhanh với yêu

cầu duy trì bản sắc - từ đó định hình nên các giải pháp cân bằng, có tính tích hợp thay

vì chỉ tập trung vào các chỉ tiêu tăng trưởng đơn lẻ. Mô hình phân tích trong nghiên cứu

không chạy theo các con số thống kê khô cứng mà hướng đến việc lý giải mối quan hệ

nhân quả giữa chính sách, hành vi khai thác du lịch và hệ quả lâu dài đối với không gian

biển. Với cách tiếp cận liên ngành, nghiên cứu không chỉ mô tả hiện trạng mà còn hướng

đến xây dựng một khung tư duy chiến lược - nơi mỗi yếu tố trong hệ sinh thái du lịch

được nhìn nhận như một phần tử trong hệ thống phức hợp.

(3) Cách tiếp cận “mở” trong mối quan hệ liên kết giữa các địa phương trong

PTDL biển. Theo cách tiếp cận này, mặc dù luận án không đặt vấn đề nghiên cứu cấp

độ vùng nhưng luận án tiếp cận theo quan điểm “mở” trong mối quan hệ liên kết vì

muốn PTDL biển theo hướng bền vững thì các địa phương, các tỉnh cần đặt mình

trong mối quan hệ liên kết vùng, liên vùng và quốc gia, quốc tế. Với cách tiếp cận

này, các địa phương, các tỉnh của Vùng Bắc Trung bộ khi phát triển hoạt động du

lịch thì quan điểm của luận án là cần phải tham gia hay tạo dựng các chuỗi liên kết

du lịch vùng, liên vùng để tăng thêm “hiệu ứng nhờ liên kết” và “hiệu ứng nhờ quy

mô” trong phát triển.

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê mô tả: Tác giả sử dụng trong luận án để tính giá trị trung

bình đối với các chỉ tiêu/tiêu chí cần đánh giá trên phương diện mức độ đánh giá của

nhà quản lý du lịch, doanh nghiệp du lịch và khách du lịch.

- Phương pháp mô hình định lượng:

· Khảo sát bằng bảng câu hỏi với các đối tượng: nhà quản lý du lịch, doanh

nghiệp du lịch, cộng đồng địa phương và khách du lịch

· Mô hình cấu trúc tuyến tính từng phần (PLS-SEM): Được sử dụng để phân tích mối quan hệ phức tạp giữa các biến tiềm ẩn và biến quan sát, đặc biệt phù hợp cho

nghiên cứu thăm dò và mô hình phức tạp với mẫu nghiên cứu vừa phải.

6

· Phân tích điều kiện cần thiết (NCA - Necessary Condition Analysis): Được áp dụng để xác định các điều kiện cần thiết (nhưng chưa đủ) cho phát triển du lịch biển bền vững, bổ sung cho phân tích PLS-SEM trong việc hiểu rõ hơn về mối quan hệ nhân quả.

- Phương pháp AHP (Analytic Hierarchy Process) của Saaty (2008) để xác định

các tiêu chí và trọng số đánh giá cho từng khía cạnh bền vững của phát triển du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung bộ. Vì vậy, tác giả tiến hành phỏng vấn ý kiến các chuyên gia (bao

gồm 30 nhà quản lý du lịch; 120 doanh nghiệp du lịch; 300 khách du lịch) về các nội dung đánh giá, tiêu chí đánh giá,… đối với các khía cạnh bền vững, bao gồm: bền vững

về kinh tế, bền vững về văn hoá - xã hội; bền vững về môi trường

6. Những đóng góp mới của luận án

Đóng góp về mặt lý luận:

Luận án vận dụng kết hợp lý thuyết thể chế lý thuyết thể chế (Institutional Theory), lý thuyết dựa trên tài nguyên (Resource-Based View - RBV), lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) và lý thuyết marketing điểm đến (Destination Marketing Theory) để đánh giá thực trạng phát triển du lịch biển vùng Bắc Trung Bộ theo hướng

bền vững. Để phát triển du lịch bền vững đòi hỏi cách tiếp cận liên ngành, kết hợp các lý thuyết quản lý và marketing nhằm cân bằng tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường

và lợi ích xã hội. Từ đó, luận án đánh giá được thực trạng phát triển bền vững du lịch biển (bao gồm các khía cạnh như sản phẩm du lịch, kinh tế, xã hội, môi trường) và mức độ bền vững của phát triển du lịch biển (bao gồm các khía cạnh như kinh tế, xã hội, môi

trường)

Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định

lượng như phương pháp AHP, phân tích điều kiện cần thiết (NCA) và mô hình cấu trúc

tuyến tính từng phần (PLS-SEM) để để đánh giá rõ hơn về mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

Luận án đã phân tích, đánh giá phát triển du lịch biển bền vững các tỉnh vùng Bắc

Trung Bộ trên các khía cạnh kinh tế, văn hoá, môi trường, và đưa ra mức độ bền vững của từng tỉnh theo thang đo nghiên cứu xây dựng. Bên cạnh đó, luận án cũng đưa ra được 7 yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững bao gồm (1) chính sách phát triển du lịch biển của chính phủ, (2) dịch

vụ hỗ trợ liên quan, (3) nguồn nhân lực du lịch, (4) hoạt động liên kết, hợp tác phát triển

du lịch biển, (5) đặc điểm của khách du lịch, (6) hoạt động quảng bá và xúc tiến chương trình du lịch biển, (7) các nhân tố khác.

7

Xuất phát từ bối cảnh và định hướng phát triển du lịch biển của vùng Bắc Trung

Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung, luận án đã đưa ra một số giải pháp để phát triển

du lịch biển theo hướng bền vững bao gồm: (1) xây dựng chiến lược hợp tác liên kết vùng du lịch Bắc Trung Bộ, (2) đầu tư và huy động vốn cho phát triển du lịch, (3) nâng

cao chất lượng nguồn nhân lực, (4) bảo tồn tài nguyên du lịch.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả đã

công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận án gồm 4 chương như sau:

Chương 1. Tổng quan các công trình và hướng nghiên cứu của luận án

Chương 2. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển du lịch biển theo

hướng bền vững

Chương 3. Phương pháp nghiên cứu

Chương 4. Thực trạng phát triển du lịch biển các tỉnh vùng bắc trung bộ theo

hướng bền vững

Chương 5. Định hướng và giải pháp phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng bắc

trung bộ theo hướng bền vững

8

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Các nghiên cứu về quan điểm phát triển du lịch theo hướng bền vũng

Sheng-Hshiung Tsaur và cộng sự (2014) Phát triển du lịch bền vững (STD) gần

đây đã trở thành một phương châm quản lý du lịch, STD đáp ứng nhu cầu của khách du

lịch hiện tại và các khu vực tiếp nhận đồng thời bảo vệ và nâng cao cơ hội cho tương

lai. Nó được coi là dẫn đến việc quản lý tất cả các nguồn tài nguyên theo cách mà các

nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ có thể được đáp ứng trong khi vẫn duy trì tính toàn

vẹn văn hóa, các quá trình sinh thái thiết yếu, đa dạng sinh học và các hệ thống hỗ trợ

cuộc sống. Hall và Testoni (2004); Sudhir và Amartya (1996) cũng cho rằng phát triển

bền vững cần được hiểu một cách toàn diện, đầy đủ trên cả ba khía cạnh là: (i) Tăng

trưởng kinh tế ổn định, (ii) Thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội, và (iii) Khai

thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nâng

cao chất lượng cuộc sống con người. Đi sâu hơn về mối quan hệ giữa môi trường và

phát triển du lịch bền vững có các nghiên cứu điển hình như Seifi và Ghobadi (2017);

Mrkša và Gajić (2014). Seifi và Ghobadi (2017), các khu bảo tồn được cho là trở thành

môi trường thích hợp nhất để phát triển du lịch, nơi hiệu suất của khách du lịch, người

tiêu dùng và các hoạt động kinh tế nhất quán với từng khu vực dựa trên kế hoạch quản

lý tổng thể để cung cấp bối cảnh để phát triển du lịch bền vững. Mrkša và Gajić (2014)

cho rằng cần tính toán khả năng chịu đựng của điều kiện sinh thái và coi đây là một

phương pháp quan trọng để đánh giá tác động của môi trường và tính bền vững trong

PTDLBV. Theo nghiên cứu này, điều kiện của tính bền vững về sinh thái hầu như

không cần phải bàn cãi; vì nó thường được hầu hết mọi người nhận thức và coi trọng.

Do đó, cần phải tránh hoặc giảm thiểu tác động đến môi trường từ các hoạt động kinh

doanh du lịch.

Khương và Nguyên (2015), du lịch là một trong những ngành dịch vụ lớn nhất thế

giới, đóng góp quan trọng vào kinh tế bằng cách tạo việc làm, thúc đẩy các ngành liên

quan, cải thiện đời sống xã hội, và nâng cao chất lượng sống cho cộng đồng. Ngoài ra, sự

phát triển của du lịch sinh thái phải được quy hoạch đồng nhất với các điều kiện môi

trường (các yếu tố con người và tự nhiên) và chú trọng đến tính dễ bị tổn thương của môi

trường (Seifi và Ghobadi, 2017).

9

Về mối quan hệ giữa kinh tế và du lịch bền vững, điển hình có các nghiên cứu:

Mowforth và Munt (2015); Mai và Phạm (2017); Zhenhua Liu (2003); Nguyễn Quang

Thái và Ngô Thắng Lợi (2007)…, Mowforth và Munt (2015) cho rằng tính bền vững về

kinh tế là đề cập đến mức độ thu được lợi ích kinh tế từ các hoạt động du lịch. Hoạt động

du lịch tạo ra thu nhập ổn định cho cộng đồng địa phương, đóng góp cho tăng trưởng

quốc gia, khu vực nhưng không gây hại đến các điều kiện phát triển khác của địa phương,

Nghiên cứu này cho chúng ta một cách nhìn tích cực về sự gắn kết giữa PTDL với phát

triển kinh tế của các địa phương. Mai và Phạm (2017) cho rằng du lịch hiện được coi là

ngành kinh doanh mang lại nhiều lợi ích và việc làm hơn cho lực lượng lao động trên

toàn thế giới. Du lịch bền vững sẽ giúp kinh tế phát triển và kinh tế phát triển cũng là

động lực thúc đẩy nền kinh tế. Phát triển du lịch sinh thái được coi là nguồn việc làm và

thu nhập có giá trị cho thế hệ sau cũng như là một công cụ quan trọng để phát triển kinh

tế - xã hội cho tất cả các cộng đồng.

Dựa trên các quan điểm chung về phát triển bền vững, quan điểm về PTDL theo

hướng bền vững cũng được các nhà nghiên cứu trong nước thực hiện thông qua các

nghiên cứu như: Phạm Trung Lương (2002) hệ thống hóa một số nội dung lý luận về

PTDLBV như khái niệm, những nguyên tắc cơ bản, dấu hiệu nhận biết, mô hình lý

thuyết về PTDLBV, phân tích một số mô hình và kinh nghiệm quốc tế, vận dụng các

mô hình để phân tích thực trạng PTDL Việt Nam để xác định một số vấn đề cơ bản liên

quan đến PTDLBV đối với Việt Nam; qua đó, đề xuất một số giải pháp chính sách và

thực tiễn cho PTDLBV ở Việt Nam. Phạm Quế (2017) phân tích thực trạng hoạt động

PTDL và xác định những vấn đề đặt ra đối với PTDLBV với các mục tiêu kinh tế, môi

trường và xã hội trong mối quan hệ với tác động của hội nhập quốc tế. Từ đó, nghiên

cứu đã đề xuất định hướng và giải pháp cho PTDLBV trong bối cảnh tác động của hội

nhập quốc tế, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý PTDL tương xứng với vị trí

là ngành kinh tế mũi nhọn, có những đóng góp tích cực hơn đối với phát triển kinh tế -

xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái Vùng duyên hải Đông Bắc bộ, cũng như quá trình

hội nhập tích cực của vùng với cả nước, khu vực và quốc tế.

Từ các nghiên cứu trên, luận án cho rằng: Đối với PTDL theo hướng bền vững,

tùy quan điểm khác nhau mà công tác đánh giá, phân tích, nhìn nhận có phần khác nhau

giữa các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, điểm chung của các nghiên cứu này là cùng đánh

giá PTDL theo hướng bền vững là bền vững trên các khía cạnh về thể chế, về chính

sách, về kinh tế, về xã hội, về môi trường, về nguồn nhân lực du lịch và về sự đa dạng

của các sản phẩm dịch vụ du lịch.

10

1.1.2. Các nguyên cứu về chỉ số, tiêu chí đo lường về phát triển du lịch theo hướng bền vững

Fernánde và Rivero (2009) đã dựa trên chỉ số tổng hợp toàn cầu (chỉ số ST) để đo lường tính bền vững của du lịch. Nghiên cứu này cho rằng bền vững du lịch là một

khái niệm khá phức tạp do tính chất tiềm ẩn, đa chiều và tương đối của nó; sau khi so sánh nó với các phương pháp lý thuyết khác nhau, nghiên cứu đã áp dụng nó vào hệ

thống các chỉ số du lịch môi trường của Tây Ban Nha.

Từ các nghiên cứu trên, luận án cho rằng: Du lịch bền vững là một khái niệm khá phức tạp, việc đo lường tính bền vững của du lịch là rất khó chuẩn hóa. Tuy nhiên, với

nhiều phương thức và cách thức khác nhau, chúng ta vẫn có thể đo lường được tính bền vững thông qua một số thước đo trên một số khía cạnh nhất định; mặc dù kết quả đo

lường có phần hạn chế là chưa thể phản ánh toàn diện các mặt của PTDLBV. Một số tiêu chí có thể rút ra từ các nghiên cứu trên như sau:

Vũ Văn Đông (2014) đã xây dựng các tiêu chí đánh giá PTDLBV để phân tích,

đánh giá thực trạng hoạt động PTDLBV, bao gồm: (i) Số lượng đơn vị tham gia hoạt động

PTDLBV; (ii) Số lượng khách du lịch tham gia du lịch; (iii) Chất lượng dịch vụ du lịch; (iv) Đóng góp đối với cơ quan quản lý trong việc xây dựng và thực hiện cơ chế chính sách PTDLBV; (v) Đóng góp đối với phát triển kinh tế; (vi) Đóng góp về mặt xã hội; (vii) Đóng góp về môi trường. Le Chi Cong & Ta Thi Van Chi (2020) về tính bền vững của PTDL biển ở Vùng Bắc Trung bộ đã dựa trên cơ sở phỏng vấn bốn mươi ba chuyên gia du lịch tại tám tỉnh Vùng Bắc Trung bộ để đánh giá tính bền vững của PTDL dựa trên một

bộ chỉ số kế thừa trên bốn khía cạnh: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế.

Từ các nghiên cứu trên, luận án cho rằng: Các nhà khoa học trong nước đã bắt đầu

quan tâm đến đánh giá PTDL theo hướng bền vững dựa trên các tiêu chí đánh giá cụ thể. Một số tiêu chí tổng hợp và có thể vận dụng được từ các nghiên cứu trước đây bao gồm:

Trước thực trạng sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên du lịch tại các nước có nền du lịch phát triển, làm cho các nguồn lực này cạn kiệt một cách nhanh chóng và môi trường thiên nhiên bị hủy hoại hết sức nghiêm trọng; vì vậy, các nghiên cứu đã hướng

đến việc phân tích những ảnh hưởng của du lịch đến sự phát triển bền vững và cho rằng việc liên kết trong PTDL là cần thiết để tận dụng nguồn lực của các địa phương, khu vực và góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch.

Xuất phát từ yêu cầu trên, ba tổ chức trụ cột của ngành du lịch thế giới gồm: Tổ chức Du lịch thế giới của Liên Hợp Quốc, Hội đồng Lữ hành du lịch thế giới và Hội

đồng Trái đất cùng nhau xây dựng “Chương trình Nghị sự về du lịch - Hướng tới sự phát

11

triển bền vững về môi trường - Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam” (Thủ tướng Chính phủ, 2004), Chương trình này đã làm rõ tầm quan trọng của công tác phối hợp

giữa các Chính phủ trong việc xây dựng chiến lược PTDLBV trên phạm vi toàn thế giới; đồng thời, qua đó cho thấy rõ vị trí quan trọng của ngành du lịch đối với nền kinh tế các

quốc gia và tính tất yếu của PTDL theo hướng bền vững trên thế giới. Đây là một chương trình có tầm ảnh hưởng rất lớn tới ngành du lịch toàn cầu nói chung, tới các Chính phủ,

các tổ chức hoạt động du lịch và người đi du lịch nói riêng. Tuy nhiên, điểm hạn chế của chương trình này là chỉ đề cập đến liên kết trong PTDLBV về khía cạnh môi trường

Đứng ở góc độ nội tại của ngành kinh doanh du lịch, nghiên cứu của Dwyer và

cộng sự (2011) đã sử dụng các mô hình kinh tế để đo lường và phân tích quan hệ cung - cầu về du lịch, từ đó đưa ra những dự báo về xu hướng PTDL trong tương lai thông

qua mối liên hệ gắn kết giữa phía cung và phía cầu để hoạt động kinh doanh du lịch được phát triển bền vững.

Ở các góc nhìn khác về liên kết PTDLBV, nghiên cứu của Mahdav và cộng sự,

(2013) đã phát triển mô hình liên kết trong PTDL là gắn PTDL nông thôn để phát triển loại hình du lịch sinh thái; hay nghiên cứu của Hilal và cộng sự (2010) đã cho rằng liên

kết giữa các công ty du lịch ngày càng trở nên quan trọng trong nỗ lực thúc đẩy PTDLBV và các vấn đề nhạy cảm với môi trường. Từ đó cho thấy, gia tăng sự hợp tác của các địa phương và mạng lưới liên kết dựa trên mối quan tâm của địa phương và động lực nội

sinh giữa các chủ thể khác nhau trong hoạt động kinh doanh du lịch sẽ góp phần quan trọng cho việc PTDLBV.

Từ các nghiên cứu trên, luận án cho rằng: Việc liên kết giữa các công ty du lịch, giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ, giữa các đơn vị cung ứng dịch vụ, sản phẩm du lịch với người tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ du lịch đóng vai trò quan trọng

trong việc PTDL theo hướng bền vững. Đồng thời, để đạt được mục tiêu này, đòi hỏi các quốc gia, các vùng lãnh thổ cần có các chính sách đồng bộ trong hợp tác và phát triển, cũng như đa dạng hóa các hình thức liên kết và liên kết phải hướng đến mục tiêu chung là góp phần phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và các giá trị văn

hóa địa phương.

Từ những nghiên cứu trên, luận án cho rằng: Vấn đề liên kết trong PTDL theo hướng bền vững, các nghiên cứu đã đề cập đến việc tăng cường liên kết vùng trong PTDL, quản lý nhà nước về du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, phát triển

nguồn nhân lực, quảng bá thương hiệu du lịch… Đây là những cơ sở quan trọng của

việc nghiên cứu các giải pháp để PTDL ở cấp độ Vùng, liên Vùng. Tuy nhiên, nếu tiếp cận theo quan điểm PTDL theo hướng bền vững thì các nghiên cứu chưa được đề cập

12

nhiều, đặc biệt là ở một địa bàn đặc thù và giàu tiềm năng du lịch như Vùng Bắc Trung bộ nên rất cần tập trung nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp phù hợp.

1.1.3. Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững

Lam & Mok (1997) trong một nghiên cứu tổng quan về ngành du lịch Việt

Nam, về tiềm năng thị trường và những thách thức của ngành du lịch trong giai đoạn

chuyển đổi nền kinh tế, từ đó đưa ra các khuyến nghị về phát triển du lịch phù hợp

với tình hình hiện tại. Tác giả đã khẳng định rằng các yếu tố hình thành ngành du

lịch Việt Nam bao gồm các (1) môi trường, (2) chính trị, và (3) sự tham gia của chính

phủ; tất cả đều có mối quan hệ chặt chẽ và có tầm quan trọng đối với sự phát triển

ngành du lịch trong Việt Nam. Nghiên cứu của Sinclair & Stabler (2002) đã mô hình

hóa tác động của các yếu tố về phát triển du lịch bao gồm bất ổn chính trị, tranh chấp

xã hội, chủ nghĩa khủng bố, hạn chế vận động, hạn chế tỷ giá hối đoái, và thay đổi

các điều khoản miễn thuế, nền kinh tế suy thoái, hội chợ quốc tế, các sự kiện thể

thao, sự kiện khủng hoảng dầu mỏ và các ngày lễ kỷ niệm của quốc gia,… Công trình

“Principles and practice of sustainable tourism planning” của Dumbravean (2004) đã

làm rõ một số nội dung lý thuyết chung về phát triển du lịch bền vững trong đó tập

trung phân tích các quan điểm về phát triển du lịch bền vững, các khía cạnh cần có

để du lịch được gọi là bền vững, phân biệt giữa du lịch bền vững và du lịch đại chúng;

hệ thống và đề xuất 6 nhóm nguyên tắc của du lịch bền vững, bao gồm: (1) giảm

thiểu tác động đến môi trường để đảm bảo sự bền vững về sinh thái; (2) giảm thiểu

tác động tiêu cực đến cộng đồng địa phương để bảo đảm tính bền vững về xã hội; (3)

giảm thiểu tác động tiêu cực đến văn hóa, truyền thốngcủa các địa phương để bảo

đảm sự bền vững về văn hóa; (4) tối đa hóa lợi ích kinh tế của cư dân địa phương;

(5) thông tin, giáo dục nhận thức đến doanh nghiệp, du khách, chính quyền và người

dân địa phương để cải thiện thái độ của các chủ thể đối với môi trường và giảm thiểu

tác động tiêu cực từ hành vi của các chủ thể đến môi trường, xã hội; (6) phát huy vai

trò tham gia, kiểm soát của cộng đồng địa phương đối với các hoạt động du lịch ở

điểm đến (Dumbraveanu, 2004).

Các nhà nghiên cứu T. Fateme & H. Elahe (2010) khi nghiên cứu về “Các nhân

tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành du lịch Iran” đã chỉ ra đến tầm quan trọng

của sự tham gia của cộng đồng đối với sự phát triển của ngành du lịch. Kết quả của

nghiên cứu đã kết luận có 8 nhân yếu mà chính phủ và các nhà quản lý du lịch cần

quan tâm, nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng đối với sự phát triển du lịch.

13

Đó là: (1) tăng cường sự tin tưởng của người dân;(2) tăng cường an sinh xã hội cho

người dân; (3) nhận thức của người dân về các di sản; (4) cácchính sách bảo vệ văn

hóa cộng đồng; (5) sự hỗ trợ tôn tạo và trùng tu di tích lịch sử; (6) khuyến khích và hỗ

trợ đầu tư quảng bá du lịch; (7) bảo đảm an ninh; (8) hỗ trợ quảng bá du lịch qua cộng

đồng dân cư và các phương tiện truyền thông (T. Fateme & H. Elahe, 2010).

Tiếp theo là nghiên cứu của P. Parvaneh (2013) đã nghiên cứu vấn đề “Xác

định và xếp hạng rào cản đối với sự phát triển du lịch tại Iran”, đã dùng phương pháp

sắp xếp các phương án quyết định và lựa chọn phương án tốt nhất (FAHP - Fuzzy

Analytic Hierarchy Process). Kết quả trong bốn nhóm yếu tố được tác giả nghiên cứu

là: (1) rào cản về cơ cấu và tổ chức, gồm: thiếu một kế hoạch toàn diện cho phát triển

du lịch, chức năng của các cơ quan chồng chéo, không nhận biết được lợi ích của du

lịch, sự ổn định kinh tế, an ninh; (2) rào cản văn hóa và xã hội gồm: yếu kém trong

tiếp thị, thiếu thông tin; (3) rào cản về giáo dục và nhân lực ngành du lịch, gồm: yếu

kém trong đào tạo nhân lực du lịch, thiếu nguồn nhân lực chuyên môn; (4) rào cản

cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch, gồm: cơ sở lưu trú, hệ thống giao thông, các cơ quan

quản lý du lịch, cộng đồng dân cư làm du lịch, dịch vụ y tế. Trong đó rào cản quan

trọng nhất theo thứ tự ưu tiên là giáo dục, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, cơ cấu tổ

chức và cuối cùng là văn hóa xã hội. Trong một nghiên cứu về trong một nghiên cứu

về thực trạng phát triển du lịch và các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch bền vững tại

Patong, Phukhet, Thái Lan của Polnyotee (2014).

Tác giả đã sử dụng một bảng câu hỏi dùng thang đo Likert với 5 mức độ để

khảo sát 120 người dân địa phương về quan điểm của họ đối với tác động của du lịch

và sự tham của người dân vào quá trình phát triển du lịch bền vững. Bên cạnh đó, tác

giả cũng phỏng vấn 120 du khách về sự hấp dẫn (thu hút), khả năng tiếp cận, cơ sở hạ

tầng và an ninh (an toàn). Phương pháp nghiên cứu của tác giả là khảo sát trực tiếp và

phương pháp quan sát là tham quan, chụp ảnh khu vực nghiên cứu,… để khám phá các

hoạt động liên quan đến du lịch như: số lượng du khách, khả năng tiếp cận và cơ sở hạ

tầng, an ninh cho du khách và người dân địa phương. Các phương pháp phân tích định

tính được sử dụng trong quá trình nghiên cứu thực địa và được giải thích dựa theo mục

tiêu nghiên cứu và khung lý thuyết, đồng thời tác giả cũng sử dụng các công cụ về

thống kê tần suất, tỷ lệ phần trăm, số trung bình và độ lệch chuẩn được sử dụng để

đánh giá. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực trạng phát triển du lịch bền vững

tại Patong đang phải đối mặt với nhiều vấn đề, đặc biệt là môi trường, kinh tế và xã

hội. Tác giả cũng đưa ra được các tác động tích cực của du lịch là giá trị môi trường,

14

kinh tế và xã hội như: nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường, thực

thi nghiêm các quy định của nhà nước về môi trường; nâng cao thu nhập của người

dân, có thêm việc làm và tiêu thụ hàng hóa; người dân được phát triển bản thân bằng

cách học ngoại ngữ, mở rộng giao lưu văn hóa, công nghệ và kinh doanh,… Tuy nhiên,

nghiên cứu dựa trên các ý kiến của người dân và du khách để đánh giá các yếu tố ảnh

hưởng đến phát triển du lịch bền vững, chưa dựa trên mô hình phát triển bền vững,

chưa kiểm định được mối quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình.

Nghiên cứu của tác giả Islam (2015) cũng đưa ra mô hình nghiên cứu các nhân

tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành du lịch tại 5 điểm du lịch tại Bangladesh: Coxs

Bazar, đảo thánh Martin, Himchari, công viên quốc gia Lawachhara và Heron. Một

bảng phỏng vấn bằng câu hỏi cấu trúc được thực hiện với mẫu khảo sát gồm: 10 du

khách, 5 người dân trong cộng đồng địa phương, 5 nhân viên quản lý công ty, 5 người

dân địa phương và 5 từ các tổ chức du lịch. Kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra 3

nhân tố ảnh hưởng đến du lịch bền vững, đó là: kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy

nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở thống kê mô tả, khảo sát ý kiến của các đối tượng liên

quan chứ chưa đi vào phân tích định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển

của ngành du lịch.

Nghiên cứu của Mamhoori (2015) được thực hiện ở Ấn Độ về phát triển du lịch

bền vững ở Ấn Độ dựa trên phân tích của các bên liên quan, đặc biệt là các nhà điều

hành tour du lịch, đã khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch bền

vững. Tác giả đã nghiên cứu dựa trên phiếu khảo sát từ các bên liên quan để thu thập

số liệu sơ cấp và các phân tích hồi quy đa biến; ngoài ra tác cũng sử dụng mô hình cấu

trúc tổng thể (TISM) để phân tích định tính về mối quan hệ giữa các biến số trong mô

hình. Đây là một đóng góp của tác giả khi cố gắng sử dụng kết hợp giữa phương pháp

định tính và định lượng trong nghiên cứu phát triển du lịch bền vững. Kết quả của

nghiên cứu đã khẳng định vai trò của 3 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến phát triển

du lịch bền vững tại Ấn Độ, đó là: (1) các yếu tố về kinh tế, (2) các yếu tố về môi

trường và (3) các yếu tố về văn hóa - xã hội. Bên cạnh đó, tác giả của đưa ra kết luận

hai yếu tố có tác động chính đối với phát triển du lịch bền vững là kinh tế và môi

trường, còn các yếu tố về văn hóa - xã hội không tác động nhiều đến phát triển du lịch

bền vững. Tuy nhiên, các bên liên quan được khảo sát trong nghiên cứu này chỉ tập

trung vào các nhà điều hành tour, khiến mức độ đại diện của mẫu không cao, cần phải

có các nghiên cứu bổ sung các bên liên quan có vai trò quan trọng như: các cơ quan

quản lý của nhà nước, cộng đồng địa phương, du khách,… Muhammad & cộng sự

15

(2016) đã nghiên cứu và đưa ra mô hình “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của

ngành du lịch tại đảo Langkawi” tại Malaysia bằng phương pháp phân tích hồi quy

tuyến tính bội (hồi quy tuyến tính đa biến) để đo lường các biến độc lập và biến phụ

thuộc. Nghiên cứu được thực hiện với mô hình bao gồm 4 yếu tố độc lập: (1) yếu tố

kinh tế, yếu tố cơ sở hạ tầng, (3) yếu tố sự hấp dẫn, (4) yếu tố mùa vụ và yếu tố phụ

thuộc là sự phát triển của ngành du lịch. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng cả 4 yếu tố đều

có ảnh hưởng đến sự phát triển ngành du lịch tại đảo Langkawi, cụ thể: (1) kinh tế là

yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất, kế đến lần lượt là yếu tố cơ sở hạ tầng và yếu tố sự hấp

dẫn và ảnh hưởng thấp nhất là yếu tố mùa vụ. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa chỉ ra

được mối quan hệ giữa các bên liên quan trong sự phát triển của ngành du lịch và hành

vi tiêu dùng của du khách có ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọn điểm đến,…

Ngoài ra, các nghiên cứu của Yang & cộng sự (2016), hay nghiên cứu của các

nhà khoa học thuộc WEF trong Báo cáo Năng lực du lịch Thế giới hằng năm đã tập

trung khai thác các nhân tố thuộc về cung của các điểm đến để phân tích tác động của

chúng đến hiệu quả hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế của các điểm đến này

(WEF, 2018). Cũng theo WEF, các nhân tố liên quan tới cung được chia thành 3 nhóm

chính: (1) nhân tố về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và nguồn nhân lực, (2) nhân tố

về cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh du lịch, (3) nhân tố giá cả.

Cuốn sách “Bộ chỉ số phát triển bền vững cho các điểm đến du lịch” do

UNWTO phát hành đã phân tích về sự cần thiết xây dựng và ứng dụng chỉ số phát

triển bền vững cho các điểm đến du lịch; hướng dẫn một quy trình để có thể xác định

các chỉ số đáp ứng tốt nhất các vấn đề của điểm du lịch cụ thể; đề xuất một bộ 13

nhóm với trên 40 chỉ số cụ thể phát triển bền vững tại các điểm đến du lịch, bao gồm

các nhóm chỉ số liên quan đến an sinh, duy trì bản sắc văn hóa, sự hài lòng và tham

gia của cộng đồng bản địa trong du lịch, yếu tố sức khỏe và an toàn, khả năng nắm

bắt lợi ích kinh tế từ du lịch, công tác giám sát sử dụng tài nguyên và quản lý năng

lượng, việc hạn chế tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch, trình độ kiểm soát và

quản lý, việc thiết kế sản phẩm và dịch vụ,tính bền vững của các hoạt động và dịch

vụ du lịch... Cuốn sách cũng hướng dẫn việc sử dụng các chỉ số cho việc lập kế hoạch,

quản lý và các mục đích khác nhằm hỗ trợ việc hình thành và thực hiện chính sách

du lịch bền vững; đưa ra các ví dụ tham chiếu cụ thể về ứng dụng bộ chỉ số ở các

mức độ và cấp độ khác nhau, tương ứng với đó là những kết quả phát triển bền vững

điểm đến khác nhau, từ đó khuyến nghị các vấn đề cần thiết cho việc áp dụng bộ chỉ

số. Sách có ý nghĩa tham khảo thiết thực cả về lý thuyết cũng như cho công tác hoạch

16

định chính sách và thực hành phát triển du lịch bền vững của các quốc gia, khu vực,

địa phương.

Khi nghiên cứu các yếu tố cho ngành du lịch phát triển bền vững ở các điểm đến

ở Bulgaria, tác giả Vodenska (2020) đã tiến hành điều tra, khảo sát ý kiến cảm nhận của

người dân về địa phương nhằm xác định tầm quan trọng của các yếu tố khác nhau tác

động đến ngành du lịch Bulgaria. Kết quả chỉ ra rằng rằng các yếu tố xã hội có tác động

tích cực cao nhất, tiếp theo là các yếu tố môi trường và các yếu tố kinh tế cơ bản. Nghiên

cứu của ông cũng chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa loại hình du lịch theo mùa tại

điểm đến, giữa trình độ phát triển du lịch tại điểm đến, giữa giai đoạn phát triển du lịch

tại điểm đến và mức độ phát triển bền vững của điểm đến. Loại hình du lịch theo mùa

càng đa dạng, phong phú thì mức độ phát triển của du lịch càng cao; Giai đoạn phát triển

du lịch tại điểm đến càng cao thì mức độ phát triển bền vững tại điểm đến càng thấp và

ngược lại.

Ở Việt Nam, trong tuyển tập báo cáo tại Hội thảo quốc tế “Phát triển du lịch

bền vững khu vực duyên hải miền Nam Trung Việt Nam”, do Tổng cục Du lịch Việt

Nam phối hợp với Quỹ HANNS SEIDEL tổ chức. Nhiều nghiên cứu trong báo cáo đã

tóm lược một số nội dung lý luận về phát triển du lịch như nội hàm khái niệm du lịch,

quan niệm về du lịch bền vững, các dấu hiệu, yếu tố tác động, đánh giá tính bền vững

trong một số loại hình hoặc hướng phát triển du lịch cụ thể (du lịch sinh thái, du lịch

văn hóa, du lịch cộng đồng…); nhìn nhận, đánh giá thực tế mối quan hệ giữa sự phát

triển của du lịch với duy trì đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn văn

hóa và phát triển cộng đồng, phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ;

phân tích trường hợp điển hình về phát triển du lịch bền vững hoặc không bền vững

tại một số quốc gia, vùng du lịch trên thế giới cũng như ở Việt Nam và rút ra những

kinh nghiệm cụ thể. Trên cơ sở thảo luận, nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý luận và

thực tiễn, các tác giả đã đưa ra khuyến nghị chính sách cho sự phát triển và quản lý

phát triển du lịch Việt Nam theo hướng bền vững hơn. Tuy nhiên, trong giới hạn các

bài viết, bài nghiên cứu ngắn của một hội thảo, các nội dung lý luận về phát triển du

lịch bền vững chưa được phân tích sâu; nhiều khía cạnh của du lịch bền vững chưa

được đề cập cụ thể. Các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng có chung quan điểm quan

điểm là sử dụng 3 tiêu chí bền vững căn bản để đánh giá mức độ bền vững của các mô

hình du lịch.

Một ví dụ điển hình phải kể đến Luận án tiến sĩ của La Nữ Ánh Vân (2012)

nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Bình Thuận. Tác giả sử dụng phương

17

thu thập số liệu, thống kê và tổng hợp số liệu đã tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài

nước để xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch trên quan điểm bền

vững; qua phương pháp chuyên gia tác giả bước đầu đề xuất hệ thống chỉ tiêu đánh giá

phát triển du lịch bền vững tỉnh Bình Thuận, phân tích thực trạng phát triển du lịch ở tỉnh

Bình Thuận và đánh giá trên quan phát triển bền vững thông qua khảo sát; từ đó, tác giả

đề xuất các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận trên quan điểm phát triển bền

vững. Tuy nhiên, nghiên cứu của La Nữ Ánh Vân (2012) chỉ xây dựng bộ chỉ tiêu đánh

giá du lịch bền vững trên 3 trụ cột đó là Kinh tế - Văn hóa - Môi trường; tác giả chưa đi

vào xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trên, ngoài ra luận án chỉ

bước đầu xây dựng được các chỉ số cơ bản để đánh giá phát triển du lịch bền vững.

Nghiên cứu của Nguyen Thi Khanh Chi & Ha Thuc Vien (2012) đã đưa ra được

mô hình các yếu tố tác động đến sự phát triển ngành du lịch Việt Nam bao gồm ba

nhóm sau đây: (1) Nhóm 1: Các yếu tố cấu thành bên trong ngành du lịch bao gồm hệ

thống quản lý du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch, hạ tầng xã hội, kinh tế bảo hiểm khách

sạn, ứng dụng công nghệ trong du lịch; (2) Nhóm 2: Các thành phần bên ngoài tác

động đến ngành du lịch bao gồm môi trường chính trị, môi trường văn hóa, môi trường

cạnh tranh; và (3) Nhóm 3: Tài nguyên du lịch bao gồm ý thức tốt về bảo vệ môi trường,

tài nguyên thiên nhiên, giá trị văn hóa. Sau phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy

tuyến tính đa biến được áp dụng để xác định các biến (nhân tố) chính ảnh hưởng đến phát

triển du lịch Việt Nam về mặt thống kê, cho thấy nhóm nhân tố 1-Thành phần bên trong

ngành du lịch có ảnh hưởng mạnh nhất đến phát triển du lịch và chiếm 43,3% biến động

của biến phụ thuộc (phát triển du lịch). Nhóm nhân tố 3 - Tài nguyên du lịch - giải thích

26,8% sự thay đổi của biến phụ thuộc. Khi đó, Nhóm nhân tố 2 - Thành phần bên ngoài

ít ảnh hưởng đến ngành du lịch - chiếm 21,8% mức biến động của biến phụ thuộc. Tất cả

các yếu tố đều tác động tích cực đến sự phát triển du lịch của Việt Nam, nhưng ở các mức

độ khác nhau. Kết quả kiểm định giả thuyết khẳng định mức độ ảnh hưởng của các nhóm

yếu tố này đến sự phát triển du lịch của Việt Nam.

Nghiên cứu của Vuong Khanh Tuan & Rajagopal (2019) nghiên cứu các nhân

tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững của Việt Nam. Tác giả sử đã sử dụng

phương pháp định tính nhằm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng như môi trường, xã hội,

kinh tế ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững du lịch của Việt Nam trong thời kỳ mới.

Tác giả đã thu thập ý kiến của các chuyên gia để thảo luận và trình bày thang đo để đo

lường các yếu tố trên. Kết quả của nghiên cứu tác giả đã xây dựng được mô hình

nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững của

Việt Nam, đó là (1) Kinh tế, (2) Môi trường và (3) Xã hội. Ngoài ra, tác giả đề nghị

18

các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo các bộ, ban, ngành văn hóa, thể thao và du

lịch áp dụng nghiên cứu này để hoạch định và thực hiện các chính sách phát triển du

lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế cũng như đáp ứng nhu cầu của du khách

khi đến Việt Nam. Tuy nhiên, tác giả chỉ đưa ra được các nhân tố cơ bản dựa trên 3

trụ cột của phát triển du lịch bền vững; đồng thời, tác giả chưa sử dụng phương pháp

định lượng để xác minh độ tin cậy của thang đo và kiểm tra xem 3 yếu tố trên và các

biến quan sát có được gộp chung vào từng yếu tố hay còn có yếu tố tiềm ẩn khác cũng

như kiểm tra độ tin cậy của mô hình nghiên cứu.

Nghiên cứu của Vu Van Dong & cộng sự (2020) về các nhân tố ảnh hưởng đến

phát triển du lịch bền vững ở Bà Rịa - Vũng Tàu với mục tiêu là xem xét các nhân tố

và xu hướng của chúng trong phát triển du lịch bền vững ở Bà Rịa - Vũng Tàu, các

phương pháp được sử dụng bao gồm phân tích thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám

phá và phân tích hồi quy. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra có 4 nhóm yếu tố ảnh

hưởng đáng kể đến phát triển du lịch bền vững ở Bà Rịa - Vũng Tàu đó là: (1) nhóm

yếu tố về xã hội, (2) nhóm yếu tố về môi trường, (3) nhóm yếu tố về sản phẩm và dịch

vụ du lịch, và (4) nhóm yếu tố về cơ sở vật chất - kỹ thuật. Điểm hạn chế của nghiên

cứu này là đối tượng khảo sát là khách du lịch, nên chưa có khái quát được ý kiến của

các bên liên quan (cơ quan quản lý về du lịch, doanh nghiệp kinh doanh du lịch, cộng

đồng dân cư địa phương...) đến phát triển du lịch bền vững ở Bà Rịa - Vũng Tàu.

Kết quả nghiên cứu của tác giả Trương Trí Thông (2020) về các nhân tố ảnh hưởng

đến phát triển du lịch bền vững tại các điểm du lịch ở Thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang

đã cho thấy có 8 nhóm nhân tố ảnh hưởng, đó là: (1) Thể chế chính sách, (2) An toàn và

an ninh, (3) Môi trường, đường sá và cơ sở lưu trú, (4) Văn hóa, (5) Con người, (6) Kinh

tế, (7) Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật và (8) Dịch vụ giải trí và bãi đậu xe. Từ đó, một

số giải pháp được đề xuất nhằm thúc đẩy sự phát triển du lịch bền vững ở địa bàn nghiên

cứu. Tuy nhiên, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để khảo sát du khách,

điều này dẫn đến số liệu không mang tính đại diện cao; bên cạnh đó, nghiên cứu chỉ dừng

lại ở việc đánh giá độ tin cậy của các thang đo và biến quan sát trong nghiên cứu có phù

hợp không để đưa vào phân tích nhân tố khám phá nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng;

tác giả chưa xây dựng được mô hình hồi quy để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân

tố cũng, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu,...

Vuong Khanh Tuan và cộng sự (2019) áp dụng phương pháp định tính nhằm

nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng như môi trường, xã hội, kinh tế ảnh hưởng đến sự phát

triển bền vững du lịch của Việt Nam trong thời kỳ mới. Tác giả đã thu thập ý kiến của

19

các chuyên gia để thảo luận và trình bày thang đo để đo lường các yếu tố trên. Trên cơ

sở nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu trong tương lai có thể áp dụng phương pháp

này để nghiên cứu bằng phương pháp định lượng nhằm xác minh độ tin cậy của thang

đo và kiểm tra xem ba yếu tố trên và các biến quan sát được nhóm vào từng nhân tố

hay còn có nhân tố tiềm ẩn khác cũng như kiểm tra độ tin cậy của mô hình nghiên cứu.

Natalia Restrepo (2019) đã xem xét sự hiện diện của thể chế, mức độ tương tác, cấu

trúc thống trị hoặc các mô hình liên minh, và các chương trình nghị sự chung ở 28 tổ

chức liên quan đến du lịch ở vùng ntioquia, Colombia. Kết quả từ phân tích thực

nghiệm này cho thấy các thể chế đóng vai trò quyết định trong phát triển du lịch khu

vực vì các lý do như phân bổ các nguồn lực kinh tế, sự lãnh đạo và sự tương tác giữa

các bên liên quan. Tsung (2013) cho thấy rằng sự gắn kết cộng đồng và sự tham gia

của cộng đồng cư dân là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ hỗ trợ cho

PTDL theo hướng bền vững.

Từ các nghiên cứu trên, luận án cho rằng: Có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến PTDL theo hướng bền vững bao gồm cả các yếu tố vĩ mô và vi mô như chính

quyền địa phương, cộng đồng cư dân địa phương, các doanh nghiệp kinh doanh du

lịch, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, nhận thức của các bên liên quan, yếu tố về môi trường kinh doanh du lịch hay các yếu tố về sự đa dạng của các sản phẩm du lịch, dịch vụ hỗ trợ,… là sơ sở quan trọng để có thể vận dụng trong việc xây dựng các giải pháp về mặt kinh tế, xã hội, môi trường cho nghiên cứu của tác giả cũng như thu hút sự

tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch, giúp tạo ra việc làm, tăng thu nhập cho người dân,…

1.2. Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận án

Hầu hết các nghiên cứu về du lịch biển trước đây đều đã tổng quan được cơ sở

lý thuyết tuy nhiên mỗi vùng có những đặc điểm, chính sách, điều kiện tự nhiên khác

nhau. Mặt khác, các nghiên cứu chỉ xem xét tác động của ngành du lịch đến kinh tế,

xã hội và môi trường theo từng khía cạnh và phương pháp mang tính định tính; hiện

nay, các nghiên cứu xác định, đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân

tố dựa trên một phương pháp định lượng cụ thể và toàn diện. Đồng thời, tùy theo điều

kiện đặc thù của từng địa phương mà mỗi nghiên cứu ở từng địa phương khác nhau,

thời gian khác nhau,… thì có thể xác định được các nhân tố khác nhau. Đa số các

nghiên cứu trong ngành du lịch nói chung đều chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến

sự phát triển của ngành du lịch bao gồm: tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng kỹ thuật du

lịch, sự tin tưởng của người dân, an sinh xã hội cho người dân, nhận thức của người

20

dân về các di sản, chính sách bảo vệ văn hóa cộng đồng, sự hỗ trợ tôn tạo và trùng tu

di tích lịch sử; sự khuyến khích và hỗ trợ đầu tư quảng bá du lịch và các cơ sở lưu trú;

bảo đảm an ninh, hỗ trợ quảng bá du lịch,... Các nghiên cứu trên mặc dù đạt được

một số kết quả, như: đề xuất các mô hình nghiên cứu, các nhân tố ảnh hưởng, các tồn

tại và thách thức trong quá trình phát triển của ngành du lịch,… Tuy nhiên, các

phương pháp mà các nghiên cứu trên đã sử dụng xoay quanh sự phát triển du lịch

bền vững chỉ mang tính định tính hoặc đề xuất mô hình nghiên cứu, hoặc đo lường

và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững dựa trên 3 trụ cột

cơ bản là Kinh tế - Văn hóa - Môi trường, chưa đề cập đến các nhân tố về cơ sở vật

chất - kỹ thuật, thể chế chính trị,...Tác giả chưa phát hiện nghiên cứu nào nghiên cứu

đến sự phát triển du lịch biển vùng BTB theo hướng bền vững. Đây chính là hướng

để tác giả tiếp cận nghiên cứu và tìm kiếm khe hổng trong nghiên cứu về phát triển

của ngành du lịch biển vùng BTB theo hướng bền vững: (1) Cho đến nay nhiều nghiên

cứu chưa thống nhất hoàn toàn về PTDL biển theo hướng bền vững cũng như cách

tiếp cận; (2) Hiện trạng phát triển du lịch trên các trụ cột kinh tế, xã hội môi trường

và mối liên kết liên kết trong PTDL biển theo hướng bền vững trên địa bàn vùng Bắc

Trung Bộ chưa được đánh giá; (3) Vấn đề nghiên cứu ở cấp độ Tiến sĩ, dưới góc độ

kinh tế phát triển về PTDL biển theo hướng bền vững trên địa bàn Vùng Bắc Trung

bộ với những đặc trưng riêng về điều kiện tự nhiên, văn hóa và xã hội thì chưa được

công trình nào đã thực hiện.

21

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

2.1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của phát triển du lịch biển theo hướng bền vững

2.1.1. Khái niệm về du lịch và du lịch biển

2.1.1.1. Du lịch

Trong cuộc sống của mình, mỗi người đều có những nhu cầu nhất định. Những

nhu cầu đó có thể được đáp ứng ngay tại nơi ở (hay nơi cư trú) của bản thân họ, nhưng

cũng có không ít nhu cầu chỉ có thể được thỏa mãn ngoài nơi ở thông qua các cách thức

tổ chức thực hiện khác nhau. Một trong số cách thức tổ chức đó là một người hoặc nhóm

người thực hiện những chuyến đi du lịch. Nhưng từ thế kỷ XIX, du lịch được coi là dành

cho tầng lớp giàu có, quý tộc. Khi đó, mọi người xem du lịch như là một hiện tượng xã

hội làm phong phú thêm cuộc sống và sự nhận thức của con người.

Du lịch manh nha xuất hiện từ thời kỳ Ai Cập và Hy lạp cổ đại thông qua các

chuyến đi gặp gỡ, buôn bán của các nhà chính trị và thương gia. Các chuyến đi đó là

do nhu cầu về kinh tế và lợi ích của từng cá nhân nên họ tổ chức một cách ngẫu hứng.

Sang thời kỳ văn minh La mã, nhu cầu du lịch có mục đích hơn và các ngôi đền nổi

tiếng là mục đích tham quan của người La mã khi họ tổ chức các chuyến đi chơi hoặc

công việc. Hướng đến của họ là Kim tự tháp ở Ai Cập, hay các ngôi đền ở Địa Trung

Hải. Đến thời kỳ phong kiến, khi mà lễ hội, công trình vui chơi được tổ chức và xây

dựng nhiều, con người lúc này làm việc luôn hướng vào các hoạt động được tổ chức

trong tháng, trong năm. Các tầng lớp vua chúa, quan lại, địa chủ ưa thích hoạt động lễ

hội, ngắm cảnh, giải trí, đến các khu vực có giá trị chữa bệnh và phục hồi sức khoẻ;

còn người dân lao động lại ưa thích tổ chức, tham gia các lễ hội dân gian, tế lễ phục

vụ mùa màng. Bước sang thời kỳ cận đại, thời kỳ hưng thịnh, giàu có của tư bản và

giới quý tộc nên phần lớn thị trường du lịch là đáp nhu cầu của họ. Và kinh doanh du

lịch đã cơ bản hình thành nhưng chủ yếu ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Với

đà phát triển đó, ngày nay du lịch đã trở thành một xu thế tất yếu, phổ biến và là ngành

kinh tế hàng đầu ở nhiều quốc gia, nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trở nên giàu có và

thay đổi nhờ vào phát triển du lịch.

Qua nghiên cứu các định nghĩa về du lịch từ trước tới nay có thể thấy mỗi định nghĩa về du lịch gắn với một giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ phát triển của

22

ngành ở giai đoạn đó. Theo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (2016) nhận định rằng “sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động làm cho du lịch trở

thành một hoạt động kinh tế. Du lịch với tư cách là một ngành kinh tế thực sự xuất hiện giữa thế kỷ XIX.”. Tuy nhiên, hiện nay nội dung về du lịch vẫn được hiểu theo

nhiều hướng khác nhau cả trong nước và ngoài nước. Sau đây là một số khái niệm về du lịch:

Định nghĩa đầu tiên về du lịch vào năm 1811 tại Anh như sau “Du lịch là sự

phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của (các) cuộc hành trình với mục

đích giải trí. Ở đây sự giải trí là động cơ chính” (Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch,

2016). Tháng 6/1991, định nghĩa về du lịch “Du lịch là hoạt động của con người đi tới

một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một

khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước,

mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm

vi vùng tới thăm” được đưa ra tại hội nghị quốc tế về thống kê du lịch tổ chức tại

Otawa (Canada).

Theo nhà kinh tế học người Mỹ, Michael Coltma “Du lịch là sự kết hợp và tương

tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung

ứng dịch vụ, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch” (Bộ Văn hoá, Thể thao

và Du lịch, 2016). Sau khi đã nghiên cứu và tập hợp các ý kiến về du lịch, định nghĩa về

du lịch trong giáo trình kinh tế du lịch của trường Đại học Kinh tế quốc dân phục vụ cho

chuyên ngành kinh doanh du lịch như sau “Du lịch là một tập hợp các hoạt động tích

cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết

nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch…Du lịch là cuộc hành trình mà một bên

là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là các công cụ làm thỏa

mãn nhu cầu của họ.”

Một số quan điểm về du lịch khác “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm

các hoạt động tổ chức hướng dẫn, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những

doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu đi lại, lưu trú, ăn uống… và các nhu cầu khác

của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích chính trị, kinh tế - xã hội thiết

thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp.”. Điều 3 - Luật du lịch Việt

Nam năm 2017 “Du lịch các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài

nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu

cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp

với mục đích hợp pháp khác”.

23

Từ những khái niệm trên, nhận thấy rằng du lịch là một hoạt động đa dạng, đặc thù, liên quan đến nhiều đối tượng như khách du lịch, phương tiện giao thông,... và nhiều

lĩnh vực kinh tế xã hội khác nhằm đem lại các lợi ích về kinh tế, chính trị, xã hội cho các quốc gia, địa phương. Tuy nhiên sự tác động của hoạt động du lịch đến các địa phương,

vùng lãnh thổ và các quốc gia còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: cơ chế chính sách phát triển du lịch, loại hình du lịch, sản phẩm du lịch và các tài nguyên du lịch của từng vùng.

2.1.1.2. Đặc điểm du lịch

Thứ nhất, Du lịch là ngành phụ thuộc vào tài nguyên du lịch. Bất cứ một du khách nào, với động cơ và hình thức du lịch ra sao thì yêu cầu có tính phổ biến phải đạt được đối với họ là được tham quan, vui chơi giải trí, tìm hiểu thưởng thức các giá trị về thiên nhiên, lịch sử, văn hoá, xã hội …của một xứ sở. Đó là các bãi biển đầy ánh nắng, các thác nước, các núi non hang động kỳ thú, các giống loài động thực vật quý hiếm, các thành quách lâu đài, các đền chùa với nhiều kiến trúc cổ và những ngày lễ hội; các trung tâm kinh tế, văn hoá lớn; các rừng quốc gia, các khu di tích…

Tài nguyên du lịch có loại do tự nhiên tạo ra nhưng có loại do quá trình phát triển lịch sử qua nhiều thế hệ của con người tạo ra. Đây chính là cơ sở khách quan để hình thành nên các tuyến, điểm du lịch nhằm định hướng, phát triển du lịch của mỗi vùng, mỗi quốc gia.

Thứ hai, du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa dạng của khách du lịch. Những người đi du lịch dù thuộc đối tượng nào và với nguồn tiền của cá nhân hay tập thể thì trong thời gian đi du lịch, mức tiêu dùng của họ thường cao hơn so với tiêu dùng bình quân của đại bộ phận dân cư. Chưa kể một bộ phận lớn khách du lịch quốc tế là các tầng lớp thượng lưu: những thương gia, những nhà kinh doanh, trí thức, chính khách… giàu có. Vì vậy ngành du lịch, phải là một ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ cho các nhu cầu về nghỉ ngơi, đi lại, ăn uống, tham quan, giải trí, mua hàng và các dịch vụ khác của khách sao cho vừa thuận tiện, an toàn, vừa sang trọng, lịch sự và có khả năng đáp ứng các nhu cầu dịch vụ ở mức độ cao cấp.

Thứ ba, du lịch là ngành ngoài kinh doanh và dịch vụ ra còn phải bảo đảm nhu cầu an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội cho du khách, cho địa phương và các nước đón nhận du khách. Mỗi địa điểm khách du lịch đến cần phải huy động nhiều lực lượng, cơ sở vật chất để phục vụ từ việc đảm bảo chỗ ăn, ở, vệ sinh an toàn thực phẩm còn đến cả an ninh, trật tự xã hội. Vì vậy cần sự đầu tư đồng bộ và phối hợp liên ngành thật nhịp nhàng và hiệu quả.

Thứ tư, ngành du lịch là một ngành kinh tế - xã hội - dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa

24

bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các dạng nhu cầu khác. Như vậy đây là một ngành đặc biệt có nhiều đặc điểm và tính chất pha trộn nhau tạo thành một tổng thể rất phức tạp. Hoạt động của ngành du lịch vừa mang đặc điểm của một ngành kinh tế, vừa mang đặc điểm của một ngành văn hoá - xã hội.

2.1.2. Đặc điểm của du lịch biển

Du lịch biển là một loại hình du lịch đặc thù, ngoài các đặc điểm chung của du

lịch, du lịch biển có các đặc điểm:

Du lịch biển là hoạt động du lịch được tổ chức và phát triển ở vùng địa lý đặc thù

là vùng ven biển trên cơ sở khai thác các đặc điểm tiềm năng tài nguyên, môi trường

biển (Phạm Trung Lương, 2003). Du lịch biển được tổ chức chủ yếu ở “vùng bờ biển”;

đây là vùng địa lý với hệ sinh thái tự nhiên rất nhạy cảm, dễ biến đổi bởi tác động của

việc phát triển kinh tế, xã hội và thiên tai, bão gió nên du lịch biển chịu ảnh hưởng sâu

sắc của biến động tự nhiên, khí hậu, thủy triều….

Các yếu tố khí hậu thời tiết ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức các họat động du

lịch biển. Do vậy, du lịch biển mang tính chất mùa vụ (Thái Thị Kim Oanh, 2015). Ở

nước ta, thời vụ du lịch biển thường ngắn, chênh lệch cường độ giữa mùa du lịch chính

so với thời kỳ trước và sau vụ khá rõ ràng. Đặc biệt ở miền bắc, mùa du lịch du lịch biển

khác nhau đối với đối tượng khách nội địa và quốc tế: khách nội địa có thời vụ khoảng

04 tháng mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm); khách quốc tế phụ thuộc vào điều

kiện thời tiết và nhu cầu của khách có thể dài hơn. Đây là hạn chế lớn nhất của du lịch

biển ảnh hưởng lớn tới quá trình phát triển.

Việc tiếp cận đầu tư cơ sở hạ tầng (CSHT), cơ sở vật chất kỹ (CSVC) thuật phục

vụ du lịch biển thường khó khăn, phức tạp, đặc biệt là đối với các đảo xa bờ; chi phí lớn

hơn so với đầu tư hạ tầng các loại hình du lịch khác do tính chất địa lý, kiến tạo của khu

vực biển. Vì vậy, phát triển sản phẩm du lịch biển thường phải có sự liên kết chặt chẽ

với các trung tâm lưu trú, dịch vụ trên bờ (Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 2005).

Đồng thời, khi xây dựng các CSHT, cơ sở vật chất phục vụ du lịch biển, cần đánh giá

đến tác động của dự án đối với môi trường biển vốn rất nhạy cảm, không được làm ảnh

hưởng đến cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái.

Phát triển du lịch biển có mối quan hệ chặt chẽ trong mối tương quan với các

ngành kinh tế biển khác. Phát triển du lịch biển là một trong những trọng tâm trong kế

hoạch phát triển kinh tế biển (khai thác tài nguyên biển, vận tải biển, nuôi trồng và chế

25

biến thủy hải sản)… nhằm phát triển toàn diện, góp phần đảm bảo các mục tiêu kinh

tế - xã hội.

Du lịch biển có mối quan hệ biện chứng với công tác đảm bảo quốc phòng, an

ninh, đảm bảo chủ quyền quốc gia, giữ vững lãnh thổ vùng biển.

2.1.3. Vai trò của du lịch biển

Sự phát triển của du lịch biển có vai trò quan trọng, tác động đến nhiều mặt đối

với đời sống kinh tế - xã hội thể hiện:

a) Phát triển du lịch biển góp phần tăng ngân sách, thúc đẩy sự phát triển nhiều

ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương

Trong phạm vi một quốc gia, sự phát triển của du lịch nói chung, du lịch biển nói

riêng có vai trò góp phần quan trọng trong việc tạo nên thu nhập quốc dân, thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế. Phát triển du lịch sẽ tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu

nhập quốc dân giữa các vùng, tác động tích cực vào việc làm cân đối cấu trúc của thu

nhập và chi tiêu của nhân dân theo các vùng.

Du lịch là ngành kinh tế huy động tốt nhất kết cấu hạ tầng vật chất kinh tế - xã

hội, các nguồn lực khác nhau của xã hội cho phát triển kinh tế quốc dân nói chung và

mỗi địa phương nói riêng. Ngoài ra, sự phát triển du lịch sẽ góp phần nâng cao sức khoẻ

cho người dân và do vậy, góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội.

Du lịch biển là ngành kinh tế biển có tính liên ngành, liên vùng, vì vậy sự phát

triển của du lịch biển sẽ kích thích, kéo theo sự phát triển của nhiều ngành kinh tế trong

mối quan hệ tương hỗ (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, 2013). Trước hết, sự phát triển

các khu du lịch, các điểm tham quan, vui chơi giải trí sẽ tạo ra “cầu” ngày một lớn cho

ngành xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng. Khi các khu du lịch, các điểm tham quan,

giải trí đã hình thành, nhu cầu vận chuyển khách du lịch, nhu cầu lưu trú sẽ thúc đẩy sự

phát triển hệ thống giao thông vận tải, bao gồm cả công nghiệp đóng tàu; xây dựng, cải

tạo các sân bay, bến cảng. Trong quá trình hoạt động, nhu cầu đi lại du ngoạn; ăn, ở; vui

chơi giải trí, mua sắm… của du khách sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của các

ngành vận tải, ngành dịch vụ lưu trú, nuôi trồng đánh bắt thủy sản, sản xuất thủ công

mỹ nghệ, nông nghiệp... tiến tới tạo cơ hội phát triển cho các ngành kinh tế khác, từ đó

làm tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của

địa phương đúng hướng.

26

b) Phát triển du lịch biển sẽ kích thích đầu tư trong và ngoài nước làm thay đổi

diện mạo đô thị ven biển

Nhìn chung sự phát triển của bất cứ ngành nào cũng tạo cơ hội đầu tư. Khác với

các ngành kinh tế khác, du lịch có một cấu trúc độc đáo - là ngành được tạo nên bởi rất

nhiều doanh nghiệp nhỏ và hàng loạt các dịch vụ khác nhau. Theo quy luật của kinh tế

thị trường, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới hiện nay, giá trị ngành dịch

vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản phẩm xã hội (Nguyễn Thị Hồng Lâm,

2013). Do vậy, các nhà kinh doanh đi tìm hiệu quả của đồng vốn, thì du lịch là một

ngành kinh doanh hấp dẫn đang được quan tâm thu hút một lượng đông đảo lớn các nhà

đầu tư so với nhiều ngành kinh tế khác. Du lịch đem lại tỷ suất lợi nhuận cao, vốn đầu

tư khá ít so với ngành công nghiệp nặng, giao thông vận tải trong khi khả năng thu hồi

vốn lại nhanh, kỹ thuật đơn giản hơn, độ rủi ro thấp.

Đặc biệt, đối với du lịch biển, việc phát triển du lịch sẽ kéo theo trước hết là sự

phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật thiết yếu tại khu vực biển như hạ tầng về dịch vụ lưu

trú, ăn uống, vận chuyển, và phát triển các dịch vụ bổ sung vui chơi giải trí. Đồng thời

thúc đẩy quan tâm đầu tư của chính quyền sở tại đầu tư phát triển CSHT trên địa bàn

như hệ thống cấp điện, cấp nước, đường, thông tin liên lạc, … phát triển để phục vụ du

lịch qua đó sẽ làm cho diện mạo đô thị ven biển ngày càng thay đổi và phát triển theo

sự phát triển của DLB.

c) Phát triển du lịch biển tăng cơ hội tạo việc làm, góp phần tăng thu nhập, xóa

đói giảm nghèo cho cư dân địa phương

Du lịch nói chung, du lịch biển nói riêng là ngành dịch vụ có nhu cầu về lao động

cao cả về lao động trực tiếp và lao động gián tiếp (Nguyễn Thị Hồng Lâm, 2013). Trong

hội nghị Bộ trưởng du lịch G20 tổ chức ngày 16/05/2012 tại Mexico đã tổng kết lao

động du lịch chiếm 8% lao động toàn cầu. Cứ mỗi một việc làm trong ngành du lịch ước

tính tạo ra 2 việc làm cho các ngành khác. Ngành du lịch cũng sử dụng lao động nhiều

vượt trội so với ngành công nghiệp khác, gấp 6 lần ngành sản xuất ô tô, gấp 4 lần ngành

khai khoáng và gấp 3 lần ngành tài chính. Qua đó cho thấy, ngành du lịch có tác dụng

lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo

cho địa phương nơi có du lịch phát triển.

Như vậy, du lịch biển là ngành tạo cơ hội tìm kiếm công ăn việc làm cho người

dân trong xã hội. Cụ thể:

27

(i) Du lịch tạo ra nhiều việc làm trực tiếp như công việc tại các khách sạn, nhà

hàng, công ty du lịch... (ii) Tạo ra nhiều việc làm mang tính thời vụ hoặc nhất thời. Công

việc thời vụ, công việc theo ca và công việc vào các ngày nghỉ (cuối tuần, ngày lễ) là

những đặc điểm của ngành này. Mọi người đều thừa nhận rằng du lịch là ngành kinh

doanh 24 giờ một ngày, 7 ngày trong tuần. (iii) Du lịch tạo công việc cho các nhà quản

lý như quản lý văn phòng, quản lý khách sạn, quản lý nhà hàng, quản lý cảng biển, quản

lý bãi tắm, bếp trưởng hoặc giám đốc marketing.... (vi) Tạo ra việc làm gián tiếp như

xây dựng, cung cấp lương thực thực phẩm biển thông qua nuôi trồng chế biến, đánh bắt

hải sản,… phục vụ du lịch.

Theo thống kê, hiện nay ở 157 quốc gia có biển trên thế giới, ở các mức độ

khác nhau, vấn đề việc làm cho người dân vùng ven biển đã và đang được đặt ra bởi

đây là khu vực chính trị nhạy cảm, tập trung dân cư. Du lịch nói chung, du lịch biển

nói riêng là “ngành kinh tế tổng hợp có tính xã hội hoá cao” có khả năng tạo nhiều

công ăn việc làm cho xã hội trong quá trình phát triển. Vì vậy việc phát triển du lịch

biển có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vấn đề trên, đặc biệt, trong bối

cảnh hiện nay.

d) Thông qua thu hút và mở rộng luồng khách quốc tế, sự phát triển của du lịch

biển sẽ là kênh thông tin quan trọng để quảng bá hình ảnh và giữ vững chủ quyền biển

nước chủ nhà

Phát triển du lịch là một phương tiện thông tin quan trọng giới thiệu về thành tựu

kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, phong tục, tập quán, con người... của các quốc gia thu

hút khách du lịch (Nguyễn Thị Hồng Lâm, 2013). Ngoài ra, phát triển du lịch sẽ làm

tăng thêm tầm hiểu biết chung về văn hóa, xã hội cho người dân thông qua du khách

trong nước và quốc tế, tạo ra sự “giao thoa” về văn hoá giữa các vùng, miền, các dân

tộc khác nhau trên thế giới; làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, mối quan hệ thân ái

của nhân dân giữa các vùng, các quốc gia với nhau.

Việt Nam với lợi thế là một quốc gia có trên 3.260 km đường bờ biển với hơn 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế biển (lớn gấp 3 lần diện tích đất liền) nơi có gần

3.000 đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Do vậy, phát triển du lịch

biển có vai trò to lớn trong việc đảm bảo an ninh - quốc phòng, giữ vững chủ quyền

biển thiêng liêng của Tổ quốc thông qua các tác động sau: (i) hoạt động du lịch biển

sẽ kéo theo sự phát triển nhanh chóng hệ thống CSHT, tạo điều kiện củng cố quốc

phòng vùng ven biển; (ii) sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài, của khách du

28

lịch quốc tế ở vùng biển và hải đảo nơi có hoạt động du lịch là sự khẳng định chủ

quyền của đất nước; (iii) hoạt động du lịch có khả năng thu hút, tạo việc làm ổn định

cho cộng đồng sống ở vùng biển, đặc biệt trên các đảo vốn còn nhiều khó khăn, góp

phần tích cực tạo dựng và củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, phát triển hậu

phương vững chắc ở tuyến phòng thủ trên biển của đất nước (Bộ Văn hóa Thông tin

và Du lịch, 2013).

2.1.4. Các loại hình du lịch biển

Có nhiều cách tiếp cận để phân loại tài nguyên du lịch. Đối với tổ chức du lịch

thế gới UNWTO phân chia tài nguyên du lịch thành các dạng: (1) Cung cấp tiềm năng

(gồm: văn hóa kinh điển, tài nguyên kinh điển, vân động vui chơi); (2) Cung cấp hiện

tại (gồm: giao thông, thiết bị, hình tượng tổng thể); (3) Tài nguyên kỹ thuật (gồm: khả

năng khu vực, các thức và tiềm lực hoạt động).

Theo tác giả Bùi Thị Hải Yến (2007), tài nguyên du lịch được phân loại thành

hai dạng cơ bản: Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm: (i) Địa hình, địa chất, địa mạo; (ii)

Khí hậu Tài nguyên nước; (iii) Tài nguyên sinh vật; (iv) Các cảnh quan du lịch tự

nhiên; (v) Các di sản thiên nhiên thế giới. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm: (i) Tài

nguyên du lich nhân văn vật thể (các di sản văn hóa thế giới, di tích khảo cổ,di tích

lịch sử, di tích kiến trúc, danh lam thắng cảnh, công trình đương đại, vật kỉ niệm và cổ

vật); (ii) Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể (di sản văn hóa phi vật thể, lễ hội,

nghề và làng nghề, ẩm thực, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, sự kiện thể

thao văn hóa).

Đối với du lịch biển, ngoài các dạng tài nguyên đã đề cập nhóm tác giả Trần Đức

Thạnh và cs. (2010), cho rằng ở Việt Nam, vị thế đang được coi là một dạng tài nguyên

đặc biệt và quan trọng và có giá trị trong phát triển du lịch. Tài nguyên vị thế biển là các

lợi ích có được từ một khu vực, một nơi ở biển hoặc ven bờ biển, được đặt trong mối

quan hệ không gian của khu vực ấy, nơi ấy. Chúng bao hàm cả các hợp phần tài nguyên

sinh vật và phi sinh vật, nhưng chủ đạo là các lợi ích có được từ giá trị hình thể và vị trí

không gian. Giá trị của tài nguyên vị thế biển được đánh giá theo ba tiêu chí: giá trị vị

thế (địa) tự nhiên; giá trị vị thế (địa) kinh tế và giá trị vị thế (địa) chính trị.

Từ khái niệm về tài nguyên du lịch nói chung, tài nguyên du lịch biển nói riêng,

cùng cách tiếp cận phân loại của các tác giả đã đề cập ở trên luận án phân loại tài

nguyên du lịch tại khu vực biển

29

Hình 2.1. Phân loại tài nguyên du lịch biển

Nguồn: Nguyễn Thu Hạnh (2004); Vũ Thị Hạnh (2011)

- Tài nguyên du lịch biển: Được phân thành 6 dạng tài nguyên là Địa hình, địa

chất, địa mạo; khí hậu; sinh vật; tài nguyên nước và thủy văn; cảnh quan và tài nguyên

vị thế (không gian).

Địa chất, địa hình, địa mạo: Địa hình là yếu tố hình khối phong phú, ổn định trong

bố cục không gian cảnh quan (Nguyễn Thu Hạnh, 2004); địa hình khu vực biển là một

trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng, đặc trưng của

một vùng biển. Các dạng địa hình ở khu vực biển gồm: địa hình núi đồi, đảo đất, địa hình

Karst, bãi biển, vũng - vịnh…. Trong đó, địa hình Karst: Là kết quả của quá trình tương

tác (chủ yếu là hòa tan) giữa đá vôi, nước, khí cácboníc và các yếu tố sinh học khác (Viện

Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản, 2005).

Khí hậu: Khí hậu là thành phần tự nhiên có ảnh hưởng đến mọi hoạt động du lịch

biển; khí hậu bao gồm các yếu tố như nắng, gió, nhiệt độ, độ ẩm, ánh nắng mặt trời thích

hợp nhất với sức khỏe con người, tạo cho con người điều kiện sống thoải mái dễ chịu

(Vũ Thị Hạnh, 2011). Khí hậu thuận lợi để loại hình du lịch biển phát triển là ít mưa,

30

nhiều nắng nhưng không gắt, nước mát, gió vừa phải. Như vậy, ở mức độ nhất định cần

phải chú ý đến những hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở đến kế hoạch du lịch, đó

là bão trên các vùng biển, duyên hải, hải đảo, lũ… Tính mùa của khí hậu ảnh hưởng rất

rõ rệt đến tính mùa vụ của hoạt động du lịch biển.

Tài nguyên nước và hải văn: Được xem là một dạng tài nguyên quan trọng trong

hoạt động du lịch biển. Theo Vũ Thị Hạnh (2011) các yếu tố hải văn của vùng biển thuận lợi để triển khai hoạt động du lịch biển là nhiệt độ nước biển từ 240C và độ mặn từ 20%0 trở lên; sóng cấp 3 và dòng chảy 0,2 m/s trở xuống. Tài nguyên thủy văn không chỉ có

tác dụng hồi phục trực tiếp mà còn ảnh hưởng nhiều đến thành phần khác của môi trường

sống, đặc biệt nó làm dịu đi khí hậu ven bờ.

Sinh Vật: Các khu bảo tồn thiên nhiên, các hệ sinh thái động thực vật ở khu vực

biển có giá trị tạo nên phong cảnh và làm cho thiên nhiên thêm đẹp và sống động hơn,

góp phần tạo nên tính hấp dẫn của tài nguyên du lịch biển (Vũ Thị Hạnh, 2011). Một số

loại tài nguyên sinh vật khu vực biển của Việt Nam hiện nay bao gồm: Các rạn san hô;

Rừng ngập mặn: thảm cỏ biển, Hệ sinh thái tùng, áng; Hệ sinh thái biển bao gồm thực

vật phù du, động vật phù du, động vật đáy biển…

Theo kết quả đánh giá của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

(2011), đã xác định được danh mục gần 12.000 loài sinh vật biển Việt Nam… Đây là

nguồn tài nguyên sinh vật vô cùng phong phú và quan trọng tạo nên sức hút của hoạt

động du lịch biển.

Cảnh quan: Là tất cả các nét đặc trưng có thể nhìn thấy của một khu vực biển.

Chúng gồm cảnh quan du lịch tự nhiên và các di sản thiên nhiên thế giới

Tài nguyên vị thế: Tài nguyên vị thế biển là các giá trị và lợi ích có được từ

một khu vực, một nơi ở biển hoặc ven bờ biển, được đặt trong mối quan hệ không

gian của khu vực ấy, nơi ấy. Bao gồm các tài nguyên có giá trị về địa tự nhiên, địa

kinh tế và địa chính trị.

- Tài nguyên du lịch nhân văn: Dựa vào sự tồn tại của các dạng tài nguyên, tài

nguyên du lịch nhân văn được chia làm hai loại, đó là: Tài nguyên du lịch nhân văn vật

thể và tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể.

Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể gồm có: Các di sản văn hóa thế giới; các di

tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh các cấp gồm: Các di chỉ khảo cổ, các di

tích lịch sử, các di tích kiến trúc nghệ thuật, các công trình kiến trúc đương đại, các danh

lam thắng cảnh.

31

Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể gồm có: Các di sản văn hóa phi vật thể

truyền miệng thế giới; các giá trị văn hóa phi vật thể các cấp bao gồm: Lễ hội văn hóa,

các loại hình nghệ thuật, hò, vè, thơ ca, các nghề và làng nghề truyền thống, nghệ thuật

ẩm thực, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, phong tục tập quán.

Sản phẩm du lịch biển

Sản phẩm du lịch được là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của

khách du lịch trong chuyến đi du lịch (Quốc hội, 2005).

Qua đó ta có thể hiểu sản phẩm du lịch khu vực biển là tổng thể các dịch vụ tạo

nên từ các yếu tố tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, con người... tại khu

vực biển nhằm cung cấp cho du khách, đáp ứng một hoặc một số nhu cầu chính đáng

của khách du lịch trong chuyến đi.

Theo Viện nghiên cứu và Phát triển Du lịch (2005), các yếu tố cấu thành sản

phẩm du lịch biển có thể chia ra làm 3 nhóm yếu tố chính: Nhóm các yếu tố tài

nguyên: bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên (cảnh quan vịnh- đảo, bãi cát, hang

động, các hệ sinh thái,..) và tài nguyên du lịch nhân văn (di tích, lễ hội, truyền

thuyết,..); nhóm các yếu tố dịch vụ: bao gồm dịch vụ tham quan, dịch vụ vui chơi

giải trí , dịch vụ lưu trú, dịch vụ mua bán, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vận chuyển,..);

nhóm các yếu tố môi trường: bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường kinh tế xã

hội. Các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch biển tổng thể có mối quan hệ rất hữu cơ

với nhau trong quá trình phát triển. Sản phẩm du lịch tổng thể chỉ có thể tạo nên sức

hấp dẫn đối với du khách nếu các yếu tố cấu thành của nó được phát triển trong một

hệ thống và có sự điều tiết, kiểm soát theo một mục tiêu chiến lược nhất định để đảm

bảo sự phát triển hài hoà.

Sản phẩm du lịch bao gồm hàng hóa và dịch vụ kết hợp nhau, bất kỳ sản

phẩm du lịch nào cũng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Để đáp ứng

nhu cầu đa dạng, phong phú của khách, sản phẩm du lịch có thể là sản phẩm đơn

lẻ, có thể là sản phẩm tổng hợp do một đơn vị cung ứng trọn gói hay do nhiều

đơn vị kinh doanh cùng tham gia cung ứng (Ngô Thị Diệu An và Nguyễn Thị

Kiều Oanh, 2014).

Sản phẩm đơn lẻ là sản phẩm do các nhà cung ứng đưa ra nhằm thoả mãn một

nhu cầu cụ thể của khách (Ngô Thị Diệu An và Nguyễn Thị Kiều Oanh, 2014). Ví dụ:

Khách đi du lịch nhưng chỉ đặt một dịch vụ vận chuyển hoặc một dịch vụ lưu trú tại

khách sạn; một khách sạn có dịch vụ cho khách du lịch thuê xe tự lái...

32

Sản phẩm tổng hợp là sản phẩm phải thỏa mãn đồng thời một nhóm nhu cầu,

mong muốn của khách du lịch, có thể do một nhà cung ứng hoặc do nhiều nhà cung ứng

cung cấp (Ngô Thị Diệu An và Nguyễn Thị Kiều Oanh, 2014). Ví dụ: Khách sạn 3 sao

cung ứng dịch vụ cho đoàn khách Vitours lưu lại tại khách sạn: dịch vụ lưu trú, dịch vụ

ăn sáng, dịch vụ hội họp…

Việc phối hợp các bộ phận hợp thành một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh cung ứng

tốt cho khách du lịch là quá trình phức tạp và đa dạng. Vì thế các dịch vụ trung gian ra

đời. Các dịch vụ trung gian: là các dịch vụ phối hợp các dịch vụ đơn lẻ thành dịch vụ

tổng hợp và thương mại hoá chúng.

Loại hình du lịch biển

Loại hình du lịch là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống

nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc được

bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một

cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó (Trương

Sỹ Quý, 2003).

Phân loại các loại hình du lịch: Dựa vào các tiêu thức phân loại khách nhau có

thể phân du lịch thành các loại hình du lịch khác nhau.

Theo tác giả Nguyễn Văn Đính và Nguyễn Thị Minh Hòa (2004) có các cách

phân chia loại hình du lịch dựa vào các tiêu thức sau: (i) Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ

của chuyến đi, du lịch được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa. (ii) Căn cứ

vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch. Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành

những loại hình: Du lịch chữa bệnh, nghỉ ngơi, giải trí, thể thao, văn hóa, du lịch công

vu, thương gia, tôn giáo, thăm thân,… (iii) Căn cứ vào đối tượng khách có: Du lịch

thanh, thiếu niên; du lịch dành cho người cao tuổi; du lịch phụ nữ; du lịch gia đình….(iv)

Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyên đi có: Du lịch theo đoàn, du lịch cá nhân. (v) Căn

cứ vào phương tiên giao thông được sử dung có: Du lịch bằng xe đạp, xe máy, xe ô tô,

tầu thủy, máy bay,… (vi) Căn cứ vào thời gian du lịch có: Du lịch dài ngày, du lịch ngắn

ngày. (vii) Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến có: Du lịch nghỉ núi; du lịch biển, song,

hồ; du lịch thành phố; du lịch đồng quê,…

Đối với hoạt động du lịch biển, do đặc điểm về tài nguyên nên các loại hình du

lịch có thể khai thác có những đặc điểm phân loại khác nhau. Theo tác giả Phạm Trung

Lương (2003), dựa trên cơ sở mục đích chuyến đi, du lịch biển gồm 2 loại hình chính là

du lịch theo sở thích ý muốn và du lịch theo nghĩa vụ, trách nhiệm theo Sơ đồ 2.2.

33

Hình 2.2. Các loại hình du lịch khu vực biển

Nguồn: Phạm Trung Lương (2003)

2.1.5. Khái niệm phát triển và phát triển bền vững

2.1.5.1. Khái niệm phát triển

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng: Phát triển là phạm trù triết học dùng để khái

quát quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của tự nhiên, xã hội và tư duy (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2015).

Theo quan điểm này, phát triển là quá trình diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt,

đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Trong quá trình phát triển, trong sự vật sẽ dần dần hình thành những quy định mới cao hơn về chất, làm thay đổi mối liên hệ, cơ

cấu, phương thức tồn tại, vận động, chức năng theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn (Lê Thị Thủy, 2014).

Theo tác giả Đinh Phi Hổ và cs. (2008), phát triển là một quá trình lâu dài, luôn

thay đổi và xu hướng thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn.

Trong hoạt động kinh tế, phát triển được coi là quá trình tăng tiến về mọi mặt của

nền kinh tế (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005).

Ngày nay, trong ngôn ngữ thông thường khái niệm “tăng trưởng” thường được

xem tương đồng với “phát triển”, bởi tăng trưởng đóng vai trò thiết yếu định hình

34

mức độ phát triển. Để phản ánh sự tiến bộ của một quốc gia hay nền kinh tế trong

một giai đoạn, người ta thường sử dụng thuật ngữ tăng trưởng và phát triển với nội

dung như sau:

Tăng trưởng chỉ sự biến đổi về lượng theo chiều hướng tăng, đi lên. Tăng trưởng

kinh tế là sự gia tăng về quy mô hoặc tốc độ gia tăng sản lượng, có nghĩa là tăng thêm

kết quả các hoạt động sản xuất vật chất và dịch vụ của nền kinh tế hay một tổ chức trong

một thời kỳ nhất định. Nói một cách tổng quát, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu

nhập trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng thể hiện ở

quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ

tăng trưởng thường được sử dụng với ý nghĩa so sánh trong tương đối và phản ánh sự

gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ (Nguyễn Ngọc Sơn và Bùi Đức Tuân, 2012).

Phát triển: là nói về sự chuyển biến từ trạng thái thấp lên trạng thái cao hơn, với

trình độ, chất lượng cao hơn (Trần Kim Liên, 2013). Trong kinh tế học, phát triển kinh

tế được hiểu là quá trình tăng tiến, toàn diện về mọi mặt kinh tế - xã hội của một quốc

gia. Nếu xét theo khía cạnh các bộ phận cấu thành, phát triển kinh tế nghĩa là sự kết hợp

một cách chặt chẽ quá trình phát triển cả hai lĩnh vực của nền kinh tế là lĩnh vực kinh tế

và lĩnh vực xã hội. Phát triển lĩnh vực kinh tế của nền kinh tế bao gồm hai quá trình: sự

lớn lên của nền kinh tế (tăng trưởng kinh tế) và quá trình thay đổi cấu trúc của nền kinh

tế (chuyển dịch cơ cấu kinh tế) (Nguyễn Ngọc Sơn và Bùi Đức Tuân, 2012).

Như vậy, phát triển kinh tế là quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền

kinh tế quyết định, khái quát thông qua sự gia tăng của tổng mức thu nhập bình quân

trên một đầu người, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế và sự biến đổi ngày

càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội.

Phát triển du lịch biển

Theo Bastin (1984) quan niệm phát triển du lịch biển là các kế hoạch, hoạt động,

hay quy hoạch nhằm phát triển loại hình du lịch dựa trên nhu cầu của du khách trong

thời gian rảnh rỗi, kỳ nghỉ, tại khu vực mặt biển, bờ biển và khu vực liền kề.

Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (2013), đã đánh giá về phát triển du lịch biển

hiện đang đứng trước những vấn đề lớn về môi trường, trong đó có vấn đề ô nhiễm,

môi trường biển và vấn đề biến đổi khi hậu, mực nước biển dâng. Do vậy mục tiêu

phát triển du lịch biển phải đạt trong mối quan hệ với môi trường nhằm đảm bảo sự

phát triển du lịch bền vững. Phát triển du lịch biển cần khuyến khích sự tham gia tích

cực của người dân địa phương vào việc hoạch định quản lý và khai thác một cách có

35

hiệu quả các nguồn tài nguyên du lịch bờ biển và hải đảo trên cơ sở bảo tồn, bảo vệ tài

nguyên, môi trường sinh thái biển.

Tác giả Nguyễn Thị Hồng Lâm (2013), cho rằng kết quả của sự phát triển du lịch

được biểu hiện bằng sự tăng trưởng về khách du lịch, thu nhập du lịch và sự đóng góp

vào ngành dịch vụ góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương.

Theo Nguyễn Đức Tuy (2014), quan điểm về phát triển du lịch phải đảm bảo bốn

yếu tố là: sự tăng trưởng; mức thay đổi phương thức tiến hành; mức độ, chất lượng tham

gia của các bên; phát triển du lịch hiện tại không làm tổn hại đến khả năng hưởng thụ

du lịch của các thế hệ tương lai; phát triển du lịch phải bảo đảm sự hài hòa giữa ba mục

tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường.

Trong tình hình mới hội nhập hiện nay, du lịch biển ngoài những tác động khó

lường do môi trường tự nhiên đem tới thì các yếu tố quốc phòng, đảm bảo chủ quyền

biển đảo cho khu vực biển đảo để đem lại môi trường hòa bình, đảm bảo an toàn cho

các mục tiêu phát triển là một vấn đề cần phải tính tới trong phát triển du lịch biển. Vì

vậy, phát triển du lịch biển, đảo cần gắn liền với mục tiêu bảo đảm an ninh quốc phòng,

giữ vững chủ quyền lãnh thổ quốc gia (Hà Văn Siêu, 2014).

Từ quan điểm về phát triển nói chung, các quan điểm về phát triển du lịch biển

nói riêng đã đề cập ở trên, đứng trên góc độ kinh tế phát triển phát triển du lịch biển

được hiểu là:

Phát triển du lịch biển là việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên biển đảo, cơ sở

vật chất kỹ thuật du lịch, nguồn nhân lực và các nguồn lực khác nhằm thỏa mãn nhu cầu

của khách du lịch; từ đó tạo ra thu nhập, làm gia tăng sự đóng góp về kinh tế - xã hội

cho quốc gia, địa phương, trên cơ sở gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái

biển và đảm bảo an ninh, quốc phòng.

2.1.5.2. Khái niệm phát triển bền vững

Năm 1987, vấn đề liên quan giữa môi trường với phát triển được hội nghị của WCED đề cập chính thức. Nhà kinh tế học Brundtland đã đưa ra một bản báo cáo đó là Tương lai chung của chúng ta thể hiện được những nhận biết, quan điểm vai trò của môi trường đến phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội của mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau. Trong quá trình tăng tốc cho nền kinh tế, mỗi quốc gia đều có mục tiêu lớn

nhất đó là cải thiện chất lượng cuộc sống (cả vật chất lẫn tinh thần) cho người dân. Tuy nhiên, để làm được điều đó cần phải thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động kinh tế phát triển

nhưng đánh đổi lại là nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, môi trường bị ô

36

nhiễm, hệ sinh thái bị hủy hoại. Nguồn tài nguyên thiên nhiên mà chúng ta có được là hữu hạn, nếu khai thác bừa bãi, không khoa học, không có tổ chức sẽ làm cạn kiệt và

nguy hiểm hơn là khiến cho môi trường sống chịu những tổn thương nặng nề. Và người chịu tác động trực tiếp chính là thế hệ tương lại của chúng ta, con cháu chúng ta. Từ

nhận thức đó khái niệm về PTBV xuất hiện và là chủ đề ngày càng nóng trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay. Chủ đề PTBV được quan tâm ở tất cả các quốc gia

trên thế giới từ các nước phát triển, các nước đang phát triển, là kim chỉ nam định hướng phát triển trong kế hoạch và đường lối phát triển của quốc gia.

Dưới cách tiếp cận khác nhau có rất nhiều khái niệm PTBV được các nhà

nghiên cứu, quản lý đưa ra. Theo IUCN đưa ra vào năm 1980 thì PTBV phải cân nhắc đến hiện trạng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các

điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau. Khái niệm này tập trung nhấn mạnh đến việc khai thác và sử dụng tài nguyên nhưng chưa đưa ra cách nhìn đầy đủ về PTBV.

Khái niệm do UNCED đưa ra năm 1987 được sử dụng phổ biến hơn, PTBV thỏa mãn những nhu cầu của hiện tại nhưng không làm giảm khả năng thỏa mãn nhu cầu

của các thế hệ tương lai.

Tại Rio de Janeiro (Brazin) năm 1992, hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về PTBV được tổ chức khái niệm PTBV được đề cập, đến lần tổ chức năm 1997 các

nhà khoa học đã bổ sung thêm các quan niệm về PTBV. Theo đó, Phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, đan xen và thỏa hiệp của 3 hệ thống tương tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ văn hoá - xã hội. Theo quan điểm này, PTBV là sự tác động và phụ thuộc lẫn nhau của ba yếu tố là kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường tự nhiên. Sự tương tương giữa ba hệ thống này đòi hỏi cân bằng, “không vì sự ưu tiên

phát triển của hệ này mà gây ra sự suy thoái, tàn phá đối với hệ khác”. Thông điệp của hội nghị: PTBV không chỉ ưu tiên tăng trưởng kinh tế mà có điểm tựa là bền vững cả

về môi trường - tự nhiên, văn hoá - xã hội. PTBV giống chiếc kiềng ba chân, ba chân này cụ thể là:

- Sự bền vững về kinh tế: Tạo nên sự tăng trưởng và sung túc cho cộng đồng dân cư và các doanh nghiệp kinh tế nhằm đạt được kết quả và hiệu quả cao. Vấn đề cốt lõi là sự tồn tại và phát triển của các đơn vị kinh tế ổn định và lâu dài.

- Sự bền vững văn hóa - xã hội: các cá nhân, dân tộc, tôn giáo luôn luôn được tôn trọng và bình đẳng. Quyền lợi được đảm bảo công bằng, xóa đói giảm nghèo

được chú trọng. Tôn trọng các giá trị văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền. Các di tích được bảo tồn, tồn tạo và gìn giữ đúng giá trị của nó.

37

- Sự bền vững về môi trường: nguồn tài nguyên khai thác, phân bổ và sử dụng đúng mức; hạn chế đến mức tối thiểu sự ô nhiễm môi trường, bảo tồn sự đa dạng sinh

học và các tài sản thiên nhiên khác.

Hội nghị về PTBV trên thế giới diễn ra trong các năm tiếp theo, mỗi lần tổ chức

đều nhắc lại và xác định các mục tiêu mà PTBV hướng tới. Cụ thể, năm 2002, hội nghị

thượng đỉnh thế giới về PTBV đã nhắc lại các mục tiêu xã hội và môi trường được phản

ánh trong “Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và CTNS 21” (Chương trình nghị sự). Năm

2012, hội nghị cấp cao của Liên hợp quốc về PTBV đề cập đến vấn đề chính trị tác động

đến PTBV, đặt ra những mục tiêu PTBV cần xây dựng chung cho tất cả quốc gia. Bắt

đầu từ tháng 9/2013, những mục tiêu PTBV bắt đầu được triển khai bằng những đàm

phán của các chính phủ về CTNS mới dùng cho từ năm 2015 với bộ 17 mục tiêu và 169

chỉ tiêu PTBV. Tại kỳ họp lần thứ 70 vào tháng 9/2015 vào tháng 9/2015, 154 quốc gia

thành viên của đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua chương trình nghị sự PTBV đến

năm 2030. Chương trình gồm 17 mục tiêu PTBV, trong đó có một số mục tiêu quan

trọng như xóa đói nghèo, bảo vệ hành tinh, đảm bảo thịnh vượng chung cho tất cả. CTNS

2030 dựa trên CTNS 21 về PTBV và các “mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ” (MDGs).

2.1.6. Nội hàm phát triển du lịch biển theo hướng bền vững

Phát triển du lịch biển cần dựa vào tài nguyên du lịch thiên nhiên và văn hóa, bên

cạnh đó là sự đảm bảo của môi trường xung quanh về chất lượng. Để thu được lợi nhuận, nhiều nơi làm du lịch tận dụng, khai thác tài nguyên du lịch một cách cạn kiệt khiến cho

tài nguyên bị suy giảm. Những người có trách nhiệm cần có những cách thức nào đó để đánh giá, đo lường xem liệu hướng khai thác du lịch như vậy đã bền vững chưa. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, quan điểm PTDL biển bền bững trên Thế Giới cũng như ở

Việt Nam, đồng thời dựa trên những quan sát, thu nhận, và đánh giá của bản thân, tác giả cho rằng có thể luận giải một cách cơ bản nhất về nội dung phát triển du lịch theo

hướng bền vững, đó là:

“Phát triển du lịch biển theo hướng bền vững là sự phát triển du lịch dựa trên sự

khai thác hợp lý, hiệu quả tài nguyên và các nguồn lực, bảo đảm đạt được đồng thời cả ba mục tiêu bền vững về kinh tế, bền vững về văn hóa - xã hội, và bền vững về môi trường của địa phương, của vùng và của quốc gia theo đúng yêu cầu và nguyên tắc của

phát triển bền vững”.

PTDLBBV và PTBV có mối quan hệ khăng khít, bổ sung cho nhau. Cả hai khái niệm PTBV và PTDLBBV đều liên quan đến tài nguyên - môi trường… Môi trường ở đây được hiểu rất rộng bao gồm từ tự nhiên, kinh tế, văn hóa, đến chính trị và xã hội, do

38

vậy là yếu tố đặc biệt trong phát triển du lịch. Từ môi trường du lịch, mỗi địa phương có thể tạo được những sản phẩm du lịch riêng biệt, độc đáo phù hợp với văn hóa và lịch

sử phát triển của địa phương. Cho nên bảo vệ môi trường là bảo đảm cho sự phát triển bền lâu, bảo đảm những giá trị cốt lõi để giúp thành công. Phát triển du lịch gắn với gìn

giữ, bảo tồn tài nguyên; gìn giữ bảo vệ môi trường. Do vậy, phát triển du lịch theo hướng bền vững là xu thế phát triển tất yếu và tiệm cận với xu thế chung của thế giới.

Bên cạnh việc phát triển du lịch gần gũi, thân thiện với môi trường, khái niệm

phát triển du lịch theo hướng bền vững còn bao hàm cả vai trò của dân cư địa phương;

cách quản lý, thu hút, sử dụng lao động và kỳ vọng tối đa hóa lợi ích kinh tế của du lịch

cho dân và lao động địa phương. Nói cách khác, du lịch bền vững bên cạnh vấn đề môi

trường, còn hướng tới là ổn định và đảm bảo phát triển kinh tế trong dài hạn, công bằng

các lợi ích xã hội. Du lịch bền vững không thể tách rời PTBV.

Nội hàm của phát triển du lịch biển theo hướng bền vững là quá trình phát triển

có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, bền vững về kinh

tế, bền vững về môi trường và bền vững về văn hóa xã hội. Trách nhiệm đối với môi

trường đòi hỏi tất cả các ngành phải nhận biết và có những biện pháp can thiệp nếu

không muốn trong tương lai môi trường bị hủy hoại và xuống cấp. Bản thân ngành du

lịch biểncũng phải tự biết hành động như thế nào để du lịch biển phát triển theo hướng

bền vững hơn.

Về kinh tế: Phát triển du lịch biển theo hướng bền vững. là bảo đảm du lịch tăng

trưởng đều, lâu dài tạo ra nguồn thu cho ngân sách, cho cộng đồng dân cư địa phương.

Cuộc sống, mức sống của người dân địa phương được nâng lên họ sẽ cùng chung tay để

bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển điểm du lịch, gìn giữ văn hóa truyền

thống, trước tiên là để bảo vệ thu nhập ổn định, lâu dài cho gia đình và bản thân họ.

Quyền lợi về kinh tế được chia sẻ giữa các thành phần kinh tế là cách thức tiến bộ giúp

xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống và phúc lợi xã hội cho con người.

Đặc biệt là ở những vùng kinh tế khó khăn, sẽ có cơ hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,

hòa chung vào trình độ phát triển du lịch chung của quốc gia. Mỗi nơi có trình độ phát

triển khác nhau hay nói cách khác là xuất phát điểm khác nhau nên sẽ có chỉ số, chỉ tiêu

tăng trưởng du lịch phù hợp để đánh giá bền vững.

Về xã hội - văn hóa: việc khai thác các tài nguyên phục vụ phát triển du lịch

biển. luôn đặt trong điều kiện không làm tổn hại, suy thoái. các giá trị truyền thống,

đòi hỏi du lịch phải tạo lập và duy trì được công ăn việc làm cho lao động, cải thiện

thu nhập của người dân nơi có tài nguyên du lịch biển, khuyến khích người dân tham

39

gia vào các hoạt động du lịch biển (tham gia cả trực tiếp và gián tiếp); bảo tồn các giá

trị văn hóa lịch sử và tôn tạo các khu di tích, gìn giữ những nét đẹp trong đời sống tinh

thần của địa phương; trình diễn văn hóa và di sản đưa các yếu tố văn hóa địa phương

cả truyền thống và hiện đại vào các họat động, thiết kế, trang trí, ẩm thực hay cửa hàng

của họ với sự tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của cộng đồng địa phương; góp phần hỗ

trợ, thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển.

Về môi trường: khi phát triển bất kể một lĩnh vực, ngành nghề nào cũng đều có

những tác động nhất định đến môi trường cả tích cực và tiêu cực. Riêng với ngành du

lịch biển, tác động của nó đến môi trường rất rõ nét (từ khách du lịch, doanh nghiệp

kinh doanh du lịch đến dân cư địa phương). Vì vậy, đối với du lịch biển bảo vệ môi

trường, bảo tồn tài nguyên (xả thải, sử dụng năng lượng…); giảm thiểu ô nhiễm bảo

tồn sự đa dạng sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan xung quanh là yêu cầu cấp thiết.

Khai thác tài nguyên không vượt quá khả năng phục hồi vừa đảm bảo phục vụ phát

triển cho hiện tại, nhưng vẫn đảm bảo cho tương lai có thể tiếp tục phát huy các lợi ích

và công năng của nó.

Từ nội hàm của phát triển du lịch theo hướng bền vững, khung nghiên cứu phát

triển du lịch biển theo hướng bền vững như sau:

Hình 2.3. Khung phân tích phát triển du lịch biển theo hướng bền vững

Nguồn: Merli và cộng sự (2019); Herstein & Jaffe (2008)

40

2.1.7. Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch biển theo hướng bền vững

Trên cơ sở tham khảo các tiêu chí PTBV trong bộ hệ thống tiêu chí của Liên Hợp Quốc và “các tiêu chí giám sát, đánh giá PTBV địa phương của Việt Nam giai đoạn

2013 - 2020”, tác giả nghiên cứu và lựa chọn cho phù hợp để hình thành hệ thống 25 chỉ tiêu tổng hợp phát triển du lịch biển theo hướng bền vững.

* Dưới góc độ kinh tế

Thứ nhất, về quy mô ngành du lịch

- Vị thế của ngành du lịch trong chính sách phát triển kinh tế địa phương: du lịch biển đóng vai trò thế nào trong chiến lược phát triển kinh tế của địa phương. Tổng vốn đầu tư cho du lịch biển so với các ngành kinh tế khác. Được huy động phù hợp với kế

hoạch, quy hoạch tổng thể. phát triển du lịch của địa phương.

- Tốc độ tăng trưởng du lịch biển: được tính bằng (doanh thu1 - doanh thu0)/ doanh thu0 và để đánh giá bền vững thì tốc độ tăng trưởng du lịch không dưới 7%/năm, ổn định, liên tục không dưới 5 năm.

- Chuyển dịch trong cơ cấu ngành du lịch biển: sự thay đổi trong nội bộ ngành du lịch biển được tính thông qua tỷ trọng của các bộ phận như lưu trú, ăn uống, lữ hành

và vận chuyển, mua sắm và giải trí… Cơ cấu doanh thu thu = doanh thu của các bộ

phận/tổngdoanh thu du lịch. Hoặc cơ cấu vốn đầu tư = vốn trong nước (vốn nước

ngoài)/tổng vốn đầu tư. Để đánh giá bền vững sự thay đổi trong cơ cấu theo thời gian

phù hợp với kế hoạch, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của địa phương.

Thứ hai, lợi ích kinh tế từ du lịch biển

- Giá trị đóng góp của du lịch biển vào GRDP địa phương: Các hoạt động du lịch

biển đều mang ý nghĩa kinh tế, đều hướng tới quan trọng nhất là thu nhập của ngành du

lịch biển đóng góp vào cho địa phương và quốc gia. Mỗi tỉnh lại có những lợi thế khác

nhau nên việc đựa ra số liệu tuyệt đối khó khả thi nên chỉ đưa ra đánh giá xu thế phát

triển của du lịch biển. Cụ thể tiêu chí này xác định: Đóng góp của giá trị tăng thêm ngành

du lịch biển vào GRDP địa phương ngày càng tăng.

- Số lượng khách du lịch biển: Đánh giá sự phát triển của lượng khách trong

nước và quốc tế dựa vào số lượng tuyệt đối của du khách khi tới một vùng hay một

địa phương. Các chỉ số kế tiếp đó là chỉ số về số lượng khách lưu trú, số lượng

khách tham gia những loại hình du lịch biển, số lượng khách trở lại, sản phẩm và

dịch vụ mà du khách thường sử dụng... không dưới 7%/năm, ổn định, liên tục không

dưới 5 năm.

41

- Thu nhập (doanh thu) từ du lịch biển: Doanh thu từ du lịch biển là một tiêu

chí quan trọng đánh về bền vững về kinh tế. Doanh thu hằng năm tăng trưởng ổn

định thông qua con số tuyệt đối hay tương đối sẽ phản ánh được chi phí mà khách du

lịch sẵn sàng bỏ ra cho các dịch vụ du lịch tại địa phương. Nó là nguồn để đảm bảo

cho du lịch có thể được phát triển bền vững hay không, là cơ sở để thu hút lao động

và giải quyết những vấn đề tồn tại của du lịch, và tăng không dưới 7%/năm, ổn định,

liên tục không dưới 5 năm.

- Giá cả dịch vụ du lịch biển: Là cơ sở để đánh giá mức giá dịch vụ địa phương,

từ đó có những điều chỉnh hợp lý nhằm ngăn chặn những hiện tượng không tốt,

những địa phương Việt Nam hiện đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt với

các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia và Campuchia trong việc xúc tiến

các sản phẩm trọng tâm như du lịch biển, du lịch văn hóa, du lịch dựa vào nguồn

lực tự nhiên.

- Mức chi tiêu của khách du lịch biển: mức chi tiêu của khách là yếu tố quan

trọng đóng góp vào doanh thu cho du lịch địa phương. Phần lớn khi khách đến điểm

du lịch sẽ sẵn sàng chi tiêu cao hơn rất nhiều so với sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy,

mức chi tiêu của khách sẽ phụ thuộc vào các dịch vụ mà điểm du lịch cung cấp. Do

vậy, đây cũng là yếu tố để đánh giá bền vững về kinh tế. Để đánh giá bền vững, thời

gian lưu trú trung bình của khách du lịch (khách lưu trú): Không thấp hơn 3

ngày/khách, tăng dần liên tục không dưới 5 năm; Chi tiêu bình quân của khách du

lịch biển: Tăng dần liên tục không dưới 5 năm, không thấp hơn trung bình chỉ số này

của du lịch cả nước.

* Dưới góc độ văn hóa - xã hội

Thứ nhất, sinh kế dân địa phương

- Tạo việc làm ngành du lịch biển: Để đánh giá nhân lực du lịch, căn cứ vào số lượng du khách khi tới du lịch tạo ra được bao nhiêu việc làm trực tiếp và gián tiếp. Tốc

độ tăng lao động trong ngành không dưới 7%/năm.

- Tỷ lệ lao động địa phương tham gia du lịch biển: Cao hơn hơn tỷ lệ tạo việc làm mới bình thường trước khi có dự án du lịch trên địa bàn, không dưới 80% người dân

trong cộng đồng ghi nhận.

- Thu nhập của dân địa phương: Tăng dần, được không dưới 80% người dân

trong cộng đồng ghi nhận.

Thứ hai, bảo tồn giá trị văn hóa lịch của điểm du lịch biển

42

- Công tác bảo tồn các di tích lịch sử: là số lượng các công trình, di tích chuẩn bị

hồ sơ xếp hạng các cấp.

- Lễ hội truyền thống được giữ gìn tổ chức: là số lượng các lễ hội được chuẩn bị

hồ sơ xếp hạng các cấp hoặc tổ chức hằng năm.

- Làng nghề thủ công truyền thống được gìn giữ: là số lượng các làng nghề hiện

hoạt động và duy trì sư phát triển.

Thứ ba, sự tham gia của người dân

- Hình thức tham gia của người dân: Sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng quy hoạch và triển khai quy hoạch trên địa bàn: đánh giá bền vững thì tỷ lệ người

dân được lấy ý kiến về quy hoạch, chủ trương đầu tư dự án du lịch trước khi triển khai

100% chủ hộ trong vùng dự án. Sự tham gia giám sát của cộng đồng địa phương trong

việc thực hiện những dự án du lịch tại địa phương. Tham gia của cộng đồng trong việc

đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, sản phẩm du lịch trên địa bàn.

- Mức độ hài lòng, hợp tác của người dân với vai trò đóng góp cho cộng đồng: ngời dân địa phương chịu tác động lớn từ hoạt động phát triển bền vững tác động, do

vậy mức độ hài lòng của người dân địa phương là một tiêu ch đánh giá tính bền vững du lịch, không dưới 80% người dân trong cộng đồng ghi nhận.

* Dưới góc độ môi trường:

Thứ nhất, bảo tồn tài nguyên du lịch biển

- Mật độ điểm du lịch biển: Là số lượng các điểm di tích được xếp hạng trong một phạm vi nhất định, có di tích tầm cỡ quốc gia, cấp địa phương, trên cơ sở số lượng mật độ điểm du lịch.

- Số lượng các khu, điểm du lịch biển được quy hoạch, đầu tư: Quy hoạch theo quan điểm bền. vững là sự phát triển du lịch trong đó việc khai thác tài nguyên du lịch

(bao gồm cả tài nguyên tự nhiên. và nhân văn) có quan tâm tới vấn đề bảo tồn và tôn

tạo, đảm bảo lợi ích hiện tại khai thác hiệu quả hiện tại và đề xuất những giải pháp mang

lại hiệu quả về kinh tế, hạn chế tác động xấu của hoạt động du lịch trong hiện tại và

tương lai. Như vậy số lượng điểm du lịch được quy hoạch/tổng thể là một tiêu chí đánh

giá bền vững của khu, vùng du lịch.

- Mức đóng góp cho công tác bảo tồn, bảo vệ tài nguyên môi trường: Nguồn thu từ hoạt động du lịch được trích lại, tùy thuộc vào từng địa phương, dựa trên tổng thể mà

mức trích nộp có những quy định riêng. Từ nguồn thu này ngành du lịch đóng góp vào

43

thu nhập của địa phương và địa phương trích từ nguồn thu đó duy tu, tôn tạo tài nguyên

cũng như nâng cấp những tài nguyên. Tỷ lệ này càng lớn mức đóng góp càng lớn, đảm

bảo đủ kinh phí duy tuy bảo tồn tài nguyên bền vững. Đóng góp từ tăng trưởng du lịch

cho bảo vệ tài nguyên, môi trường: Tăng dần, tốc độ tăng không thấp hơn tốc độ tăng

trưởng giá trị tăng thêm của ngành du lịch trong cùng thời kỳ.

Thứ hai, giảm thiểu ô nhiễm

- Sử dụng năng lượng nước; Chất thải được thu gom xử lý; Môi trường không khí: không vượt ngưỡng theo quy chuẩn và chỉ tiêu về môi trường do cơ quan chức năng quy định cho từng thời kỳ

- Mức độ hài lòng của người dân về giảm ô nhiễm tại điểm du lịch biển: Không

dưới 80% người dân trong cộng đồng ghi nhận, ổn định

Thứ ba, bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan

- Giới hạn về sức chứa: không vượt quá sức chứa thực tế tối đa tại khu, điểm du

lịch trong mọi thời gian

- Mức độ tiêu thụ các sản phẩm động, thực vật quý hiếm: Đa dạng về động vật quý hiếm giúp cảnh quan du lịch, hệ sinh thái hình thành khu và cụm du lịch sinh động

và đặc sắc. Phát triển du lịch không bền vững thu hẹp môi trường sống của động thực

vật, săn bắt động vật quý hiếm phục vụ cho những nhu cầu của du khách. Để xác định

mức độ tiêu thụ động vật quá hiếm thông qua số lượng động vật quý hiếm theo Sách đỏ

của Việt Nam tăng giảm từng năm của địa phương du lịch.

Bảng 2.1. Tổng hợp và đề xuất các chỉ tiêu và tiêu chí đánh giá hoạt động phát triển du lịch biển theo hướng bền vững

STT Nhóm tiêu chí Chỉ tiêu

1. Dưới góc độ kinh tế

1.1

(1) Du lịch biển trong định hướng, chính sách phát triển của địa phương. (2) Tốc độ tăng trưởng du lịch biển. (3) Chuyển dịch trong cơ cấu du lịch biển.

(4) Đóng góp của du lịch biển vào GDP.

Vị thế, quy mô của du lịch biển.

(5) Số lượng khách du lịch biển và tốc độ tăng trưởng lượt khách.

(6) Thu nhập (doanh thu) từ du lịch biển.

1.2 Lợi ích kinh tế từ du lịch biển.

44

STT Nhóm tiêu chí

(8) Mức chi tiêu của khách du lịch biểntại địa phương.

Chỉ tiêu (7) Giá cả dịch vụ du lịch biển.

(9) Tạo việc làm trong ngành du lịch biển.

(10) Tỷ lệ lao động địa phương.

2. Dưới góc độ văn hóa - xã hội

(11) Thu nhập của dân địa phương.

(12) Công tác bảo tồn di tích lịch sử

Sinh kế dân địa 2.1 phương vùng ven biển.

(13) Lễ hội truyền thống được gìn giữ tổ chức

(14) Làng nghề thủ công truyền thống được gìn giữ

Bảo tồn giá trị. văn hóa 2.2

(15) Hình thức tham gia của người dân vào các hoạt động du lịch biển.

(16) Mức độ hài lòng. và hợp tác của người dân

lịch sử của điểm du lịch biển.

2.3

Sự tham gia của người dân vào phát triển du lịch biển. với vai trò đóng góp cho cộng đồng.

(17) Mật độ điểm du lịch biển

(18) Số lượng các khu, điểm du lịch biển được quy hoạch, đầu tư

3. Dưới góc độ môi trường

(19) Mức đóng góp cho công tác bảo tồn, bảo vệ

3.1

Bảo tồn tài nguyên du lịch biển

(20) Môi trường không khí biển

(21) Sử dụng năng lượng nước.

tài nguyên môi trường biển

(22) Chất thải được thu gom xử lý.

(23) Mức độ hài lòng của người dân về biện pháp giảm ô nhiễm tại điểm du lịch biển.

3.2 Giảm thiểu ô nhiễm biển

(24) Sức chứa của điểm du lịch biển.

Bảo tồn đa dạng sinh

(25) Mức độ tiêu thụ các sản phẩm động, thực vật quý hiếm.

3.3 học, hệ sinh thái biển

và cảnh quan biển.

Nguồn: Tác giả tổng hợp và đề xuất

45

2.2. Các lý thuyền nền liên quan đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững

Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi cách tiếp cận liên ngành, kết hợp các lý thuyết quản lý và marketing nhằm cân bằng tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và lợi

ích xã hội. Luận án vận dụng kết hợp bốn lý thuyết gồm: Lý thuyết Thể chế (Institutional Theory), Lý thuyết Dựa trên Tài nguyên (Resource-Based View - RBV), Lý thuyết Các

bên Liên quan (Stakeholder Theory) và Lý thuyết Marketing Điểm đến (Destination

Marketing Theory) để đánh giá thực trạng phát triển du lịch biển vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững.

2.2.1. Lý thuyết Thể chế (Institutional Theory)

Lý thuyết thể chế nhấn mạnh vai trò của các thể chế - bao gồm luật lệ, quy định,

chuẩn mực xã hội và tập quán văn hóa - trong việc định hình hành vi của tổ chức. Theo

cách tiếp cận thể chế mới, các tổ chức thường chịu áp lực phải tương đồng thể chế để

đạt được tính hợp pháp trong môi trường của mình. Nói cách khác, trước các áp lực pháp

quy, chuẩn mực ngành hay kỳ vọng xã hội, doanh nghiệp có xu hướng bắt chước các

thực tiễn và cấu trúc mà số đông đang áp dụng. Điều này giải thích tại sao nhiều điểm

đến du lịch triển khai các chiến lược truyền thông, marketing tương tự nhau để đáp ứng

chuẩn mực chung và được nhìn nhận là hợp lệ trong mắt du khách và cộng đồng. Trong

phát triển bền vững, thể chế vững mạnh được coi là một trụ cột không thể thiếu. Lý thuyết

thể chế đóng góp ở cả ba khía cạnh bền vững - kinh tế, xã hội, môi trường - thông qua

việc thúc đẩy một môi trường quản trị hỗ trợ cho cân bằng lợi ích dài hạn: (1) Về kinh tế

thì các thể chế (chính sách thuế, đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật…) có thể định hướng dòng vốn

vào các dự án du lịch bền vững, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo theo hướng

sử dụng hiệu quả tài nguyên. Khung thể chế ổn định, minh bạch cũng tạo niềm tin cho

nhà đầu tư và doanh nghiệp khi triển khai mô hình du lịch xanh, từ đó đóng góp vào tăng

trưởng kinh tế địa phương. (2) Về xã hội thì thể chế đảm bảo sự tham gia và chia sẻ lợi

ích cho cộng đồng địa phương. Những quy định về quyền lợi lao động du lịch, bình đẳng

giới trong ngành, tôn trọng văn hóa bản địa… giúp thể chế hóa các tiêu chí phát triển xã

hội công bằng trong du lịch bền vững. (3) Về môi trường thi thể chế nổi bật với vai trò

là ở các quy định pháp lý và chuẩn mực môi trường tại các khu bảo tồn, quy định đánh

giá tác động môi trường cho dự án du lịch, bộ tiêu chuẩn xanh cho khách sạn - tạo áp

lực thể chế buộc các chủ thể du lịch tuân thủ việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Lý

thuyết thể chế cho thấy chính áp lực hợp pháp hóa đã và đang khiến nhiều tổ chức công

và tư trong du lịch tích hợp mục tiêu bền vững vào chiến lược bền vững.

46

Mặc dù hữu ích, lý thuyết thể chế cũng đối mặt một số hạn chế trong bối cảnh du lịch. Thứ nhất, việc thể chế hóa các nguyên tắc bền vững có thể dẫn tới

tính hình thức: doanh nghiệp và điểm đến có thể đối phó để đạt chứng nhận bền vững (do áp lực hợp thức hóa) nhưng thực tế không duy trì những hành vi đó lâu

dài. Điều này tạo ra nghịch lý “bền vững trên giấy”, đặt ra thách thức cho công tác thanh kiểm tra và minh bạch thông tin. Thứ hai, mỗi điểm đến có bối cảnh thể chế

riêng nên không có mô hình chung áp dụng cho mọi nơi. Điều này dẫn tới tranh luận về việc áp dụng các chuẩn mực toàn cầu. Thứ ba, lý thuyết thể chế thiên về

phân tích cấp vĩ mô, đôi khi thiếu linh hoạt trong việc giải thích vai trò của tác nhân

chủ động: các doanh nghiệp tiên phong có thể chủ động vượt lên trên yêu cầu thể chế, hay các cộng đồng địa phương có thể sáng tạo ra quy ước quản lý riêng. Lý

thuyết thể chế cung cấp cách nhìn để nhận diện các mâu thuẫn này, nhưng việc giải quyết đòi hỏi kết hợp thêm các lý thuyết khác.

2.2.2. Lý thuyết Dựa trên tài nguyên (Resource-Based View)

Lý thuyết Dựa trên Tài nguyên (RBV) thuộc lĩnh vực quản trị chiến lược, cho

rằng lợi thế cạnh tranh bền vững của một doanh nghiệp bắt nguồn từ việc sở hữu và khai

thác hiệu quả các nguồn lực và năng lực độc đáo. Nguồn lực ở đây được hiểu rất rộng,

bao gồm tài sản vật chất, tài chính, tổ chức, nhân sự, tri thức và tài sản vô hình như uy

tín thương hiệu, văn hóa doanh nghiệp…. Barney (1991) đã đề xuất khung VRIO đánh

giá nguồn lực theo bốn tiêu chí: Giá trị (Value), Sự hiếm có (Rare), Khó bắt chước

(Inimitable) và Tổ chức khai thác (Organization). Một nguồn lực nếu có giá trị, độc đáo

hiếm có, đối thủ khó sao chép và doanh nghiệp biết cách tổ chức khai thác sẽ tạo lợi thế

cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp. Áp dụng vào ngành du lịch, “nguồn lực” có thể

hiểu ở cả cấp doanh nghiệp lẫn cấp điểm đến: đó có thể là tài nguyên tự nhiên (cảnh

quan đẹp, bãi biển, khí hậu dễ chịu), tài nguyên văn hóa (di sản lịch sử, lễ hội độc đáo),

nhân lực du lịch (đội ngũ lao động lành nghề, văn hóa phục vụ hiếu khách) hoặc các

năng lực đặc thù (khả năng sáng tạo sản phẩm du lịch mới, năng lực marketing điểm

đến, v.v.). RBV cho rằng những điểm đến/ doanh nghiệp nào sở hữu tổ hợp nguồn lực

đặc thù và quản trị tốt sẽ có khả năng dẫn đầu thị trường du lịch. Từ cuối thập niên 1990,

giới học giả mở rộng RBV thành Lý thuyết Dựa trên Tài nguyên Tự nhiên (Natural-

Resource-Based View - NRBV) do Hart (1995) đề xuất. NRBV bổ sung yếu tố môi

trường tự nhiên như một nguồn lực chiến lược đặc biệt quan trọng, nhấn mạnh tương

tác giữa doanh nghiệp và môi trường tự nhiên, điều mà RBV truyền thống chưa chú

trọng. Hart (1995) chỉ ra ba năng lực chiến lược cốt lõi mà doanh nghiệp cần phát triển

47

để vừa đạt lợi thế cạnh tranh vừa đóng góp bền vững: (1) Ngăn ngừa ô nhiễm - khả năng

giảm thiểu chất thải, khí thải giúp tăng hiệu quả và uy tín; (2) Quản trị sản phẩm theo

vòng đời - quản lý toàn bộ chuỗi giá trị theo hướng thân thiện môi trường, ví dụ độc

quyền tiếp cận nguồn nguyên liệu xanh hoặc tái chế; (3) Phát triển bền vững - năng lực

đảm bảo cân bằng lợi ích kinh tế với trách nhiệm xã hội, môi trường dài hạn. Theo

NRBV, môi trường tự nhiên và các tài nguyên thiên nhiên không chỉ tạo giá trị đặc thù

cho du khách mà còn đem lại lợi thế cạnh tranh độc nhất cho doanh nghiệp biết bảo tồn

và khai thác bền vững chúng. Nói cách khác, NRBV lồng ghép mục tiêu phát triển bền

vững vào chiến lược công ty bằng cách coi trọng tài nguyên môi trường như một loại tài

sản chiến lược cần quản lý dài hạn.

Trong ngành du lịch, lý thuyết RBV/NRBV đóng vai trò như một kim chỉ

nam chiến lược để điểm đến và doanh nghiệp xác định điểm mạnh cốt lõi và xây

dựng sản phẩm khác biệt. Trước hết, du lịch là ngành phụ thuộc lớn vào tài nguyên

địa phương - cảnh quan thiên nhiên, di sản văn hóa, con người địa phương chính là

“nguồn lực” hấp dẫn du khách. Do vậy, áp dụng RBV, mỗi điểm đến cần đánh giá:

những tài nguyên nào của địa phương có giá trị độc đáo, hiếm nơi nào có đó chính

là nền tảng tạo lợi thế cạnh tranh điểm đến. Bên cạnh tài nguyên sẵn có, điểm đến

còn có thể phát triển năng lực tổ chức: năng lực quảng bá thương hiệu, năng lực

quản trị chất lượng dịch vụ, hay năng lực sáng tạo các sự kiện thu hút khách. RBV

khuyến nghị điểm đến nên đầu tư bảo tồn và phát triển những nguồn lực lõi này

thay vì dàn trải, nhằm tạo bản sắc riêng và khả năng cạnh tranh dài hạn. Ví dụ, một

khu nghỉ dưỡng sinh thái có nguồn tài nguyên rừng và đa dạng sinh học phong phú

sẽ tập trung bảo vệ hệ sinh thái và đào tạo nhân viên kiến thức sinh thái để tạo trải

nghiệm độc nhất, khó nơi nào bắt chước.

Mặc dù mang lại góc nhìn tích cực, lý thuyết RBV cũng có một số hạn chế khi

áp dụng vào du lịch bền vững. Thứ nhất, RBV truyền thống tập trung yếu tố nội tại

doanh nghiệp/điểm đến, có thể bỏ qua yếu tố ngoại cảnh. Trong du lịch, các yếu tố bên

ngoài như biến động thị trường, thiên tai, dịch bệnh, thay đổi thị hiếu du khách... có thể

làm suy giảm giá trị nguồn lực. Do đó, chỉ dựa vào nguồn lực sẵn có mà thiếu tầm nhìn

thích ứng với môi trường bên ngoài sẽ rủi ro. Thứ hai, nguồn lực du lịch không phải vô

hạn: nhiều điểm đến có xu hướng khai thác tài nguyên đến mức vượt quá sức chịu tải để

tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn, dẫn tới tài nguyên cạn kiệt và lợi thế mất đi. Thứ ba, một

hạn chế khác là khả năng bắt chước nguồn lực trong du lịch: khác với công nghệ cao,

nhiều sản phẩm du lịch dễ bị sao chép hoặc thay thế.

48

2.2.3. Lý thuyết Các bên Liên quan (Stakeholder Theory)

Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) do R. Edward Freeman (1984)

đề xuất một cách nhìn mở rộng về mục tiêu của tổ chức: doanh nghiệp không chỉ có

trách nhiệm với cổ đông (shareholders) mà còn với tất cả các bên liên quan

(stakeholders) chịu ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. “Bên

liên quan” được định nghĩa là “bất kỳ cá nhân hay nhóm nào có thể ảnh hưởng hoặc bị

ảnh hưởng bởi việc đạt được mục tiêu của tổ chức”. Trong bối cảnh du lịch, phạm vi các

bên liên quan rất rộng, bao gồm du khách, cộng đồng dân cư địa phương, doanh nghiệp

du lịch, chính quyền các cấp, tổ chức phi chính phủ, hiệp hội ngành, nhà đầu tư, môi

trường tự nhiên. Lý thuyết này khẳng định quản trị hiệu quả đòi hỏi phải nhận diện và

cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan chính thay vì chỉ tối đa hóa lợi nhuận cho

một nhóm duy nhất. Trong du lịch, điều này có nghĩa là khi lập kế hoạch hoặc ra quyết

định, cần xem xét tiếng nói và nhu cầu của cộng đồng địa phương, du khách, doanh

nghiệp và nhà nước, đảm bảo không bên nào bị bỏ qua hay chịu thiệt hại quá mức.

Du lịch là một ngành có tính liên ngành và liên kết cộng đồng rất cao, do đó lý

thuyết các bên liên quan được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu và quản lý du lịch,

đặc biệt về quy hoạch điểm đến và quản trị du lịch bền vững. Vai trò cốt lõi của cách

tiếp cận các bên liên quan là giúp đảm bảo sự tham gia và đồng thuận của những người

chịu ảnh hưởng bởi du lịch, qua đó giảm thiểu xung đột và tăng hiệu quả thực thi chính

sách. Lý thuyết các bên liên quan thúc đẩy sự tham gia của mọi nhóm liên quan từ giai

đoạn hoạch định chiến lược phát triển đến quá trình thực hiện và giám sát. Chính quyền

đóng vai trò xây dựng các chính sách và quy định bảo vệ môi trường biển, doanh nghiệp

du lịch tham gia cung cấp sản phẩm và dịch vụ du lịch bền vững, trong khi cộng đồng

địa phương góp phần bảo vệ tài nguyên và giữ gìn bản sắc văn hóa. Du khách, với vai

trò quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm du lịch, cần được giáo dục và nâng cao nhận

thức về du lịch có trách nhiệm. Sự hợp tác này không chỉ giúp đạt được sự phát triển

kinh tế ổn định mà còn giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với môi trường.

Việc phát triển du lịch biển nếu không được quản lý đúng đắn sẽ dẫn đến tình

trạng quá tải, suy giảm chất lượng môi trường biển, từ đó làm mất đi sự hấp dẫn của

điểm đến du lịch. Lý thuyết các bên liên quan nhấn mạnh rằng để đạt được sự phát triển

bền vững, cần phải xây dựng các chiến lược phát triển du lịch không chỉ chú trọng vào

lợi ích kinh tế mà còn đảm bảo bảo vệ môi trường tự nhiên. Trong mô hình phát triển

du lịch biển bền vững, các bên liên quan có thể phối hợp để xây dựng các chiến lược

bảo vệ môi trường, như giảm thiểu ô nhiễm, bảo tồn đa dạng sinh học biển và phục hồi

49

các hệ sinh thái bị tổn thương. Chính phủ có thể tạo ra các chính sách và quy định nghiêm

ngặt về bảo vệ tài nguyên biển, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp du lịch triển

khai các giải pháp công nghệ xanh, sử dụng năng lượng tái tạo và giảm thiểu rác thải

nhựa. Cộng đồng địa phương, qua đó, có thể tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi

trường biển như giám sát tình trạng săn bắt động vật hoang dã, khôi phục các rạn san

hô, và duy trì các phong tục tập quán bảo vệ thiên nhiên. cộng đồng địa phương là một

trong những bên quan trọng nhất, bởi họ không chỉ là người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ

các hoạt động du lịch mà còn là đối tượng hưởng lợi từ những cơ hội việc làm, thu nhập

và cải thiện cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, nếu phát triển du lịch biển không gắn liền với bảo

vệ quyền lợi và lợi ích của cộng đồng, thì nguy cơ dẫn đến sự phân hóa xã hội và gia

tăng nghèo đói là rất lớn.

Lý thuyết các bên liên quan giúp đảm bảo rằng cộng đồng địa phương sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và triển khai các dự án du lịch biển bền vững. Đồng thời, các bên liên quan cũng có thể đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực của cộng đồng trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển các mô hình du lịch cộng đồng. Những mô hình này không chỉ giúp tạo thu nhập ổn định cho người dân mà còn

góp phần bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng.

2.2.4. Lý thuyết Marketing Điểm đến (Destination Marketing Theory)

Marketing Điểm đến đề cập đến các lý thuyết và chiến lược tiếp thị chuyên biệt

nhằm quảng bá một địa danh (quốc gia, vùng, thành phố…) như một sản phẩm du lịch hấp dẫn. Về cơ bản, marketing điểm đến vận dụng các nguyên lý marketing truyền thống như nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu, marketing mix 4P trong bối cảnh

điểm đến - một sản phẩm tổng hợp bao gồm nhiều dịch vụ và trải nghiệm. Mục tiêu của

marketing điểm đến là thu hút du khách, tăng doanh thu du lịch và xây dựng hình ảnh, uy tín tích cực cho địa phương. Lý thuyết marketing điểm đến nhấn mạnh việc xác định lợi thế so sánh của điểm đến về tài nguyên, văn hóa, phát triển thương hiệu điểm đến rõ nét, và sử dụng các kênh truyền thông hiệu quả để truyền tải thông điệp tới thị trường mục tiêu. Lý thuyết này cũng đề cập đến quản trị trải nghiệm du khách: từ trước chuyến đi (kỳ vọng qua quảng cáo), trong chuyến đi (chất lượng dịch vụ tại điểm đến) đến sau

chuyến đi (sự hài lòng, truyền miệng). Một cách hiện đại, marketing điểm đến không chỉ hướng ra ngoài (thu hút khách) mà còn hướng vào trong: tức vận động các bên liên quan địa phương tham gia vào nỗ lực quảng bá và nâng cao nhận thức của cộng đồng

về thương hiệu địa phương. Stylidis & cộng sự (2015) nhấn mạnh marketing điểm đến bao gồm việc tạo chiến dịch nội bộ, gắn kết các bên liên quan và áp dụng kỹ thuật

50

marketing bền vững để cải thiện nhận thức của cả du khách lẫn người dân về điểm đến. Như vậy, lý thuyết marketing điểm đến hiện đại mang tính tích hợp đa chiều: vừa là

chiến lược kinh doanh (thu hút thị phần du lịch), vừa là công cụ quản lý hình ảnh (image management), và còn liên quan đến chính sách phát triển (vì phải cân nhắc

năng lực điểm đến, lợi ích cộng đồng).

Marketing điểm đến có vai trò then chốt trong năng lực cạnh tranh của điểm đến

trên thị trường du lịch toàn cầu. Trong thời đại mà du khách có vô số lựa chọn, một điểm

đến nếu không làm marketing sẽ mờ nhạt và thất thế. Những ứng dụng chính của lý

thuyết này bao gồm: (1) Xây dựng thương hiệu và hình ảnh điểm đến: Dựa trên nghiên

cứu thị trường và đặc điểm nội tại, điểm đến xác định bản sắc thương hiệu (brand

identity) - tức những đặc tính độc đáo và hấp dẫn nhất để quảng bá. Quá trình này đi

kèm thiết kế logo, khẩu hiệu, câu chuyện thương hiệu và các hình ảnh biểu tượng. Hình

ảnh điểm đến tích cực giúp thu hút du khách mới và gợi nhớ với du khách cũ, đồng thời

tạo niềm tự hào cho cư dân địa phương.. (2) Chiến lược thu hút thị trường mục tiêu:

Marketing điểm đến phân khúc thị trường du khách (theo địa lý, nhân khẩu, sở thích),

từ đó chọn thị trường mục tiêu phù hợp với định hướng phát triển. (3) Phát triển sản

phẩm du lịch và sự kiện: Marketing cung cấp phản hồi thị trường để điểm đến đa dạng

hóa sản phẩm. Dựa trên nhu cầu khách, tổ chức điểm đến phối hợp với doanh nghiệp

tạo ra tour tuyến mới, nâng cấp điểm tham quan, tổ chức sự kiện lễ hội… Những sản

phẩm này vừa đáp ứng thị hiếu vừa phù hợp với câu chuyện thương hiệu điểm đến.

Chẳng hạn, nếu quảng bá Huế là “Festival và di sản sống”, thành phố sẽ tổ chức đều đặn

Festival Huế, Đồng thời khuyến khích dịch vụ trải nghiệm văn hóa cung đình, ẩm thực

cung đình… Tất cả nhằm làm phong phú trải nghiệm nhưng không lệch khỏi định vị

chính. (4) Quản lý khủng hoảng và truyền thông: Marketing điểm đến cũng bao gồm xử

lý khi có sự cố ảnh hưởng hình ảnh, ví dụ thiên tai, dịch bệnh, vụ việc du khách bị tấn

công… Lý thuyết chỉ ra tổ chức điểm đến cần có kế hoạch truyền thông khủng hoảng

kịp thời, đảm bảo thông tin minh bạch và trấn an thị trường, đồng thời phục hồi hình

ảnh sau khủng hoảng (như chiến dịch “Huế - an toàn sau lũ” chẳng hạn). Việc này quyết

định tốc độ phục hồi du lịch sau biến cố.

2.3. Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững

2.3.1. Chính sách phát triển du lịch biển của chính phủ

Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước ta. Cấp

chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức

phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do

51

luật định. Chính quyền địa phương là chính quyền được tổ chức ra nhằm bảo đảm, bảo

vệ và phục vụ quyền, lợi ích của nhân dân trong xã, phường, thị trấn. Vì vậy bất cứ hoạt

động nào của chính quyền địa phương nói riêng và của các cấp quản lý Nhà nước nói

chung đều nhằm mục đích giữ gìn an ninh trật tự và gia tăng lợi ích cho người dân sống

ở khu vực đó, giúp người dân có cuộc đầy đủ dựa trên những nguồn lực của địa phương,

trong đó có nguồn lực để phát triển du lịch. Ở đây có địa giới hành chính, có các tài

nguyên du lịch tự nhiên, có các đặc sản của địa phương. Tại đây có cộng đồng dân cư

sinh sống bao đời nay đã tạo ra những tài nguyên du lịch nhân văn phong phú và đa

dạng. Tất cả những yếu tố này sẽ tạo nên điểm tham quan du lịch hấp dẫn cho cả khách

du lịch trong nước và quốc tế. Ngoài ra, các yếu tố khác như an ninh, an toàn; vệ sinh

và y tế ở các điểm, tuyến du lịch cũng phải được chính quyền địa phương chú ý trong

việc xây dựng quy hoạch và ban hành các chính sách phát triển thỏa đáng nhằm đảm

bảo sức khỏe và sự thoải mái cho du khách khi đến địa phương.

Ở cấp độ nhà nước, phát triển du lịch thông qua các nghị quyết của Ủy ban

thường vụ quốc hội, quyết định của Thủ tướng chính phủ, các quy hoạch của chính

phủ… đây là nhân tố có ý nghĩa lớn giúp định hướng và thúc đẩy sự phát triển ngành

du lịch của địa phương. Mỗi địa phương có các chính sách, quy định để phát triển du

lịch địa phương là khác nhau bao gồm các chính sách như khuyến khích đầu tư, hỗ

trợ giảm chi phí và có những ưu đãi riêng cho doanh nghiệp tham gia vào từng lĩnh

vực, chính sách phụ trợ nhằm bảo vệ an ninh, môi trường, vệ sinh và y tế của địa

phương. Bên cạnh đó du lịch địa phương với lợi thế nguồn tài nguyên du lịch thiên

nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa thì cần có các chính sách nhằm gìn giữ môi

trường, cảnh quan môi trường thiên nhiên, giá trị văn hóa lịch sử, tâm linh thì những

yếu tố này sẽ bị hao mòn thậm chí mất đi, làm suy giảm hay nghiêm trọng hơn là

triệt tiêu các lợi thế thu hút khách du lịch đến với địa phương.

Tất cả cá yếu tố trên, tựu chung lại chính là tác động từ hệ thống quy hoạch,

khung chính sách và quy định của Nhà nước và chính quyền địa phương, đây là yếu tố

có vai trò giúp quá trình phát triển du lịch của địa phương diễn ra trơn tru, phát huy được

mọi thế mạnh về du lịch.

Bên cạnh đó, môi trường kinh đoanh địa phương sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho

doanh nghiệp khi có cách nhìn nhận, đánh giá đúng đắn và được nghiên cứu tỉ mỉ,

cẩn thận để nắm bắt thời cơ. Ngược lại, nếu không tận dụng và nghiên cứu thỏa đáng,

doanh nghiệp sẽ không tận dụng được những yếu tố tích cực từ môi trường kinh

doanh đem lại.

52

Ở khía cạnh môi trường chính trị - pháp luật, các nhà kinh doanh luôn luôn phải xây dựng chiến lược kinh doanh thích ứng với đặc điểm của môi trường. Khi hệ

thống chính trị ổn định cùng với thủ tục hành chính như thủ tục hải quan đơn giản và minh bạch,… các nhà đầu tư nói chung và các nhà đầu tư tham gia khai thác ở lĩnh

vực du lịch nói riêng sẽ thực hiện kinh doanh chân chính, lành mạnh, cùng với các chính sách, chế độ khuyến khích, hỗ trợ hợp lý của chính quyền địa phương sẽ kích

thích các nhà đầu tư khai thác du lịch trên nên tảng tài nguyên của các tỉnh, trong đó có tài nguyên về du lịch.

Ở khía cạnh môi trường vĩ mô, đây là yếu tố rất quan trọng, có ảnh hưởng trực

tiếp đến thu hút các nhà đầu tư, các doanh nghiệp. Từ tăng trưởng kinh tế của tỉnh,

của phát triển của ngành du lịch sẽ tạo cơ hội để các nhà đầu tư mở rộng đầu tư, mở

rộng kinh doanh, sẵn sàng bỏ thêm vốn để việc khai thác các nguồn tài nguyên sẵn

có của địa phương.

Như vậy, có thể thấy nếu địa phương tạo ra một môi trường kinh doanh hấp dẫn,

lành mạnh với những chính sách khuyến khích phù hợp sẽ thu hút được sự đầu tư không

nhỏ của các nhà thầu, doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tích cực đến việc khai thác tiềm

năng du lịch sẵn có của địa phương.

2.3.2. Dịch vụ hỗ trợ liên quan

Mạng lưới và phương tiên giao thông vận tải là những nhân tố quan trọng hàng

đầu trong hệ thống kết cấu hạ tầng - dịch vụ phụ trợ. Giao thông vận tải là điều kiện cần

thiết trong quá trình phát triển du lịch. Mạng lưới giao thông đường bộ, đường biển,

đường sông, đường hàng không được đầu tư cải tạo, nâng cấp liên tục, phục vụ nhu cầu

đi lại sinh hoạt và hoạt động kinh tế của người dân. Nhưng cũng không thể phủ nhận

rằng dòng khách du lịch đến các điểm du lịch cũng thúc đẩy ngành giao thông vận tải

phát triển mạnh mẽ hơn.

Mạng lưới thông tin liên lạc là một bộ phận quan trọng của kết cấu hạ tầng phục

vụ khai thác các lợi thế về du lịch của địa phương. Mạng lưới thông tin liên lạc được

thúc đẩy bởi cả sự phát triển của quy mô và sự phức tạp của nhu cầu du lịch cũng như

sự mở rộng nhanh chóng và sự tinh tế của các sản phẩm du lịch mới.

Hệ thống các công trình điện, nước tác động rất lớn đến du lịch bởi du khách

không chỉ cần đáp ứng những nhu cầu tối thiểu như ăn, ở, đi lại mà còn cần điện, nước

thuận tiện để đáp ứng những nhu cá nhân hàng ngày giống như khi ở nhà.

53

Hệ thống cơ sở dịch vụ phụ trợ bao gồm các dịch vụ ngân hàng, dịch vụ y tế,

dịch vụ công cộng, dịch vụ giải trí, các công trình phục vụ truyền tải nội dung thông

tin, văn hóa… tạo sự đồng bộ trong hệ thống dịch vụ phục vụ du lịch, giúp du khách

có nhiều lựa chọn dịch vụ một cách tối ưu nhất và luôn thấy thú vị, thoải mái trong

thời gian lưu trú tại địa phương.

Như vây, kết cấu hạ tầng - dịch vụ phụ trợ của địa phương chính là đòn bẩy tác

động đến các hoạt động kinh tế, bao gồm cả du lịch nhằm thúc đẩy khai tác tiềm năng

du lịch một cách hữu hiệu nhất.

2.3.3. Nguồn nhân lực du lịch biển

Lao động trong ngành du lịch biển hoạt động dưới các lĩnh vực sau: thứ nhất,

thực hiện chức năng quản lý: cán bộ quản lý, nhân viên công tác trong các cơ quan quản

lý Nhà nước về du lịch; thứ hai, thực hiện chức năng sự nghiệp: giảng viên, giáo viên,

nghiên cứu viên ở các trường đào tạo về du lịch và các viện nghiên cứu du lịch; thứ ba,

thực hiện chức năng kinh doanh du lịch: nhân sự làm việc tại các cơ sở kinh doanh, cung

cấp trực tiếp các dịch vụ du lịch, hiệp hội du lịch địa phương…

Với xu thế hội nhập, phát triển mới của ngành du lịch yêu cầu đội ngũ nhân lực

du lịch phải luôn luôn học hỏi, tìm tòi, nâng cao kiến thức mới, cập nhật những ứng

dụng khoa học công nghệ có liên quan đến nghiệp vụ, ngành nghề. Luôn giữ gìn đạo

đức, tác phong bản thân, đạo đức nghề nghiệp mới có thể cạnh tranh được trong môi

trường du lịch ngày nay. Những nơi đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch biên soạn nội

dung giáo trình, cập nhật những phương pháp giảng dạy hiện đại, phù hợp để đào tạo ra

đội ngũ nhân lực có trình độ, năng lực, đạo đức theo yêu cầu của thời đại.

Nếu ngành du lịch ở địa phương có đội ngũ nhân lực, quản lý với năng lực và chuyên môn, tư duy tích cực, sáng tạo, có khả năng quản lý tốt, kĩ năng cao, chuyên nghiệp thì đó sẽ là một yếu tố tiên quyết thúc đẩy du lịch địa phương phát triển đúng hướng.

2.3.4. Hoạt động liên kết và hợp tác phát triển du lịch biển

Áp lực cạnh tranh ngày càng cao, các địa phương phải liên kết cùng phát triển du

lịch ngày càng nhiều. Việc liên kết được dễ dàng cùng là nhờ chính sách mở và hệ thống

cơ sở hạ tầng được Nhà nước đầu tư phát triển toàn diện để phục vụ phát triển kinh tế.

Theo các chuyên gia, hiện nay, sản phẩm du lịch của từng địa phương thường nghèo

nàn, nếu phát triển không đúng hướng sẽ tự “phá” đi tiềm năng của mình, không tạo

được những sản phẩm đặc thù để cạnh tranh. Thực tế chứng minh, khi ranh giới du lịch

54

giữa các địa phương đã không còn rõ ràng, thì việc liên kết du lịch là giải pháp hữu hiệu

tạo ra một điểm đến thống nhất với sự đa dạng sản phẩm dựa trên lợi thế riêng của từng

địa phương. Với tính chất đặc thù như vậy, để thu hút và giữ chân du khách thì hoạt

động du lịch không chỉ gói gọn trong phạm vi một địa phương mà cần phải mở rộng,

cần kết hợp, liên kết trong địa phương mình, với nhiều địa phương khác và các tỉnh lân

cận. Đây cũng là xu hướng phát triển tất yếu của du lịch trong bối cảnh Việt Nam đã và

đang không ngừng thực hiện hội nhập và mở cửa với bạn bè quốc tế.

Nếu địa phương có hoạt động liên kết du lịch tốt thông qua hệ thống tour, tuyến du lịch liên vùng, liên tỉnh thì các lợi thế về du lịch địa phương sẽ được khai thác tối đa,

tạo nên những sản phẩm du lịch hấp dẫn, có tính cạnh tranh cao và thu hút được ngày càng nhiều du khách đến thăm quan, khám phá, tìm hiểu.

2.3.5. Đặc điểm của khách du lịch

Du lịch phát triển là do nhu cầu vui chơi, khám phá của con người càng phát

triển. Những yếu tố chủ quan từ phía khách hàng mà khách hàng ở đây là khách du lịch đến vui chơi, tham quan, nghỉ dưỡng… tại địa phương cũng có tác động không

nhỏ đến hoạt động du lịch. Là những yếu tố khách quan mà các địa phương không thể tác động để thay đổi được. Sự thay đổi nhu cầu của khách du lịch là do các nguyên nhân sau:

- Khả năng thanh toán: thu nhập, mức sống của con người tăng lên. Chính vì thế, ở những quốc gia mà người dân có thu nhập cao thì họ mới có thể có nhu cầu đi du lịch và chi tiêu cho chuyến du lịch của mình. Do vậy, địa phương cần nắm bắt được yếu tố này để có các chính sách quảng bá, phát triển thương hiệu, hình ảnh của du lịch địa phương đến các đối tượng khách hàng một cách phù hợp cho mục tiêu phát triển

du lịch dài hạn

- Mức độ giáo dục cao hơn: Khi con người có học thức và trình độ văn hóa cao thì họ càng có nhu cầu đi du lịch để mở mang kiến thức và sự hiểu biết về thế giới, về con người xung quanh. Trong một nghiên cứu về du lịch của mình, Robert W. McIntosh (1995) đã khẳng định mối quan hệ thuận chiều giữa trình độ văn hóa của người chủ gia đình và tỉ lệ đi du lịch của họ. Theo đó, những gia đình mà chủ hộ có trình độ đại học thì tỉ lệ đi du lịch là 85%, trong khi đó, chỉ có 50% gia đình với người

chủ gia đình và tỉ lệ đi du lịch của họ.

- Các chương trình bảo hiểm, phúc lợi lao động tăng: khi thu nhập tăng, mức sống được nâng cao, con người quan tâm hơn đến phúc lợi từ phía chính phủ và doanh nghiệp dành cho mình. Một chính sách phúc lợi tốt, hợp lý là công cụ hữu hiệu để giữ chân

55

nhân tài và thu hút ứng viên tiềm năng cho doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp thường đưa ra các gói phúc lợi tốt để đãi ngộ nhân viên, giúp người lao động có thời

gian nghỉ ngơi, giải trí. Và đây là một trong những nhân tố làm tăng nhu cầu du lịch của con người, giúp người dân có cơ hội tiếp cận du lịch nhiều hơn, giảm stress và tái sản

xuất sức lao động.

- Thời gian rảnh rỗi của người dân: Thời gian làm việc của người người lao động

được quy động trong văn bản pháp luật hoặc trong hợp đồng lao động. Xu thế hiện nay,

thời gian để lao động nghỉ tăng, thời gian làm việc có xu hướng ngắn lại. Vì vậy đây là

nhân tố giúp con người có thời gian hướng đến du lịch nhiều hơn. Ngược lại, số ngày

làm việc nhiều chứng tỏ người dân càng không có nhiều thời gian rảnh rỗi, nhu cầu về

du lịch cũng giảm xuống, kéo theo hiệu quả truyền thông quảng bá nhằm về du lịch tại

các quốc gia, địa phương này không cao.

- Sự biến đổi trong nhu cầu trải nghiệm, khám phá du lịch: theo thời gian, nhu

cầu du lịch của du khách đã có nhiều thay đổi. Trước đây, du khách chỉ hướng vào những

điểm du lịch nổi tiếng, lâu đời, quãng đường ngắn. Sau đó, địa điểm du lịch được khách

lựa chọn là đi đến những vùng đất mới, xa hơn, lạ hơn với các phương tiện di chuyển

khác nhau. Địa điểm trước đây du khách chọn tập trung vào những quốc gia giàu có, có

nhiều địa điểm du lịch đẹp như ở Châu Âu, vùng biển Địa Trung Hải, Châu Mỹ… Hiện

nay, khách du lịch lại có xu hướng dịch chuyển sang những vùng đất mới ở Châu Á Thái

Bình Dương trong đó có khu vực Đông Nam Á đang nổi lên như nơi thu hút du lịch

hàng đầu Thế giới.

2.3.6. Hoạt động quảng bá và xúc tiến chương trình du lịch biển

Quảng bá và xúc tiến du lịch là cách để khai thác thị trường du lịch cũng như giới

thiệu rộng rãi hình ảnh điểm đến du lịch. Các điểm đến du lịch hiện nay luôn có xu

hướng cạnh tranh mạnh mẽ, liên tục để thu hút khách du lịch. Bằng nhiều kênh, nhiều

các thức kết hợp với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin đã giúp việc quảng bá xúc tiến

đa dạng và đến gần nhu cầu của khác hơn. Đặc biệt việc liên kết, hợp tác để quảng bá

du lịch là một hướng mở nhằm phát triển du lịch theo hướng bền vững trong bối cảnh

hiện nay. Công tác xúc tiến quảng bá hình ảnh du lịch cũng khá đa dạng: tổ chức các

buổi hội thảo khoa học nhằm giới thiệu các tiềm năng, các cơ hội, các chính sách đầu tư

phát triển du lịch; tọa đàm về liên kết phát triển du lịch giữa các tỉnh, vùng, thành phố

trong vùng…; đồng thời tham gia các hội chợ, triển lãm về du lịch ở trong nước cũng

như quốc tế.

56

2.3.7. Các nhân tố khác

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai:

Hoạt động du lịch thường gắn với môi trường tự nhiên, khí hậu. Một số loại

hình du lịch cần có những điều kiện khí hậu khác nhau như du lịch biển cần khí hậu

nóng, khách muốn chơi các môn thể thao trên tuyết thì đi vào mùa đông… Do vậy, khí

hậu biến đổi sẽ tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh, PTBV và sự phát triển của

ngành du lịch. Ngoài ra, biến đổi khí hậu gây ra một số hiện tượng thời tiết cực đoan

như cường độ cơn bão nhiệt đới và gió lớn, lũ lụt, hạn hán kéo dài… ảnh hưởng đến tài

nguyên thiên nhiên, đến di sản văn hoá, hạ tầng và cả môi trường du lịch. Từ đó, chi phí

cho ngành du lịch tăng lên về cơ sở hạ tầng, chi phí điều hành cao hơn (ví dụ như bảo

hiểm, lương thực, thực phẩm dự phòng, công tác sơ tán…) và gián đoạn công việc kinh

doanh. (Diễn đàn Cấp cao Du lịch Việt Nam, thuộc Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2018).

Hội nhập kinh tế quốc tế

Khi hội nhập kinh tế quốc tế, mỗi quốc gia theo đuổi những mục tiêu và lợi ích

khác nhau, có khi còn đối lập. Trong quá trình đó, bản thân chúng ta cũng phải đấu

tranh với những mục tiêu đối lập lại với lợi ích của mình, bảo vệ chế độ chính trị nhưng

vẫn phải xây dựng phát triển cho kinh tế nói chung và du lịch nói riêng mang bản sắc

đặc trưng của quốc gia. Hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia cùng nhau giải quyết

rất nhiều vấn đề chung của nhân loại như chính trị, quân sự (chiến tranh, khủng bố,

nội chiến…); kinh tế (khủng hoảng kinh tế, nợ quốc gia,…) và sự đối lập trong phát

triển của con người với thiên nhiên (thiếu lương thực, dịch bệnh, biến đổi khí hậu,

khủng hoảng năng lượng, bảo vệ môi trường thiên nhiên trước sự huy hoại của con

người…). Vì vậy, phát triển du lịch trong bối cảnh hội nhập là phải đặt những yếu tố biến

động xung quanh vào hoàn cảnh, và vị thế của du lịch. Bên cạnh đó, giao lưu và hội nhập

quốc tế diễn ra thuận lợi và nhanh chóng về mọi mặt nhưng trong đó hội nhập về văn hóa

- xã hội là diễn ra mạnh mẽ nhất, do vậy việc bảo tồn và gìn giữ bản sắc văn hóa quốc gia,

vùng, miền là không hề dễ dàng. Quá trình đó có khả năng tạo ra sự thay đổi về đặc điểm,

loại hình và sản phẩm du lịch. Đồng thời, sự bùng nổ của truyền thông, internet, dịch vụ

giải trí xuyên quốc gia cũng có tác động không nhỏ (tiêu cực và tích cực) đến đời sống,

văn hóa của người dân, từ đó kéo theo tác động vào phát triển du lịch. Tất cả các yếu

tố này tác động rộng, lớn đến cơ cấu và sự phát triển, mở ra triển vọng mới cho du lịch

từng quốc gia và từng địa phương tham gia vào phân công lao động du lịch toàn cầu.

Mỗi biến động của kinh tế thế giới đều tác động đến ngành du lịch, nhiều hay ít tùy

thuộc vào mức độ hội nhập và trình độ thích ứng của ngành du lịch.

57

Cách mạng công nghiệp 4.0

Trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục có những bước tiến

nhảy vọt, thúc đẩy kinh tế tri thức phát triển, tác động tới tất cả các lĩnh vực, các nước

và vùng lãnh thổ, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần

của xã hội. Vậy vai trò của công nghệ sẽ tác động như thế nào đến ngành du lịch khi du

lịch bao gồm rất nhiều khâu, nhiều bước trong quá trình vận hành. Mà tất cả các khâu

này tạo ra một chuỗi liên hoàn, gắn kết và tổng hợp. Chuỗi thứ nhất là khách du lịch,

đầu tiên họ phải tìm điểm đến bằng cách search trên mạng, tìm kiến hotel, motel tìm

các chỗ đi lại và giá cả hợp lý nhất thông qua các ứng dụng phần mềm có thể tải và

sử dụng dễ dàng trên điện thoại như booking, agoda… Thực tế thì những ứng dụng

này đã có cách. đây vài năm trước nhưng ít người biết đến vì sự hạn chế về mạng

viễn thông, và sự đắt đỏ của smart phone. Khâu thứ hai là mua vé máy bay, được

thực hiện ngay trên trang chủ của các hãng hàng không, thanh toán thực hiện qua thẻ

rất dễ dàng mà không cần phải qua đại lí và các khâu trung gian. Khâu thứ ba, chỉ

dẫn đường đi lại càng dễ dàng với sự trợ giúp của phần mềm map. Trong mỗi khâu

này, cách mạng công nghiệp 4.0 đều có tác dụng rất rõ nét. Phần mềm công nghệ số

đã đóng vai trò như một nhạc trưởng kết nối giữa người có nhu cầu và người cung

cấp dịch vụ. Du lịch thông minh cũng có thể sử dụng tiện ích trong nền kinh tế “chia

sẻ” hoặc “theo yêu cầu” như vậy. Tức là khi nền tảng công nghệ hỗ trợ việc kết nối

khách du lịch với dữ liệu cá nhân để tạo ra dịch vụ cụ thể và phù hợp nhất cho khách

đó. Tất cả quy trình đi du lịch của khách từ bước thể hiện mong muốn, lập kế hoạch,

lên đường, hoạt động trong chuyến đi, cảm nhận chuyến đi, tạo ấn tượng tốt đẹp khi

kết thúc chuyến đi đều có thể kết hợp thực hiện từ xa với sự trợ giúp của công nghệ.

Một xu thế kết hợp khác, tuy không mới nhưng cũng hứa hẹn nhiều tiềm năng khi áp

dụng công nghệ với du lịch và y tế đó là ngành du lịch điều dưỡng cho người cao

tuổi (nhu cầu này đang rất cao ở những nước phát triển). Cách mạng 4.0 đã phủ sóng

toàn cầu, việc sử dụng viber, messenger hay dùng các phần mềm khác như zalo… cho

phép tương tác gần như tức thì, và nhanh chóng dù bạn ở đâu trên thế giới. Nên khi đi

du lịch ở nước ngoài vẫn có thể giữ được liên lạc thường xuyên với gia đình, người thân,

bạn bè, đối tác để giải quyết công việc.

Với các đơn vị quản lí và công ty lữ hành, cách mạng 4.0 là cơ hội để tuyên

truyền, quảng bá hình ảnh, sản phẩm du lịch lên mạng, các website. Thông tin những

hình ảnh đẹp, những lời bình luận, phản hồi tích cực từ khách du lịch và công ty lữ hành

quốc tế liên kết nhằm quảng bá điểm đến, nhưng cũng phải xác định là sẽ nhận được

58

những phản hồi không tốt tồn tại ở điểm du lịch. Như nạn cướp giật, móc túi, chặt chém,

ăn xin, chèo kéo khách để cơ quan quản lí địa điểm đó kịp thời can thiệp, giải quyết và

xử lí. Đây là biện pháp rất tốt để có thể tăng du khách, giảm tình trạng khách đến và

không muốn quay lại.

2.4. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu phát triển bảy giả thuyết chính dựa trên sự tích hợp của bốn lý

thuyết nền tảng: Lý thuyết Thể chế (Institutional Theory), Lý thuyết Dựa trên Tài

nguyên (Resource-Based View Theory), Lý thuyết Các bên Liên quan (Stakeholder

Theory), và Lý thuyết Marketing Điểm đến (Destination Marketing Theory). Nghiên

cứu kế thừa và phát triển mô hình nghiên cứu của một số tác giả như Nguyễn Văn

Đức (2013); Nguyễn Đức Tuy (2014); Nguyễn Thị Lệ Hằng và cộng sự (2019) để từ

đó xác định các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung

bộ theo hướng bền vững:

Hình 2.4. Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển ở các tỉnh trên địa bàn vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững

Nguồn: Tác giả đề xuất (2024)

Giả Thuyết H1: Tác động của Chính sách Phát triển Du lịch

Giả thuyết này được xây dựng dựa trên Lý thuyết Thể chế (Institutional Theory),

theo đó các thể chế chính thức và phi chính thức đóng vai trò quyết định trong việc định hình hành vi và kết quả của các tổ chức. North (1990) khẳng định rằng thể chế tạo ra

"luật chơi" trong xã hội, trong khi Scott (2001) mở rộng khái niệm này bằng cách nhấn

59

mạnh ba trụ cột của thể chế: quy định (regulative), chuẩn mực (normative), và nhận thức-văn hóa (cognitive-cultural).

Restrepo (2019) đã chứng minh rằng chính quyền hoặc thể chế các địa phương có ảnh hưởng lớn đến việc quy hoạch và phát triển điểm đến du lịch, nhất là các điểm

đến du lịch của vùng, từ đó tạo ra chuỗi giá trị trong phát triển du lịch của vùng. Nghiên cứu của Muhammet và cộng sự (2010) cũng như Nguyễn Đức Tuy (2014) đã minh chứng

vai trò then chốt của chính sách trong việc điều phối các nguồn lực và tạo môi trường thuận lợi cho phát triển du lịch bền vững.

Giả thuyết H1: Chính sách phát triển du lịch biển của chính phủ có mối quan hệ

thuận chiều với phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững.

Giả Thuyết H2: Tác động của Dịch vụ Hỗ trợ Liên quan

Giả thuyết này dựa trên Lý thuyết Dựa trên Tài nguyên (Resource-Based View Theory), được phát triển bởi Barney (1991) và Wernerfelt (1984). Lý thuyết này cho rằng lợi thế cạnh tranh bền vững xuất phát từ việc sở hữu và khai thác hiệu quả các tài nguyên có giá trị (valuable), hiếm (rare), khó bắt chước (inimitable), và không thể thay

thế (non-substitutable).

Chen và Chen (2011) đã khẳng định rằng cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ

tầng du lịch nói riêng là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của liên kết phát

triển kinh tế vùng nói chung và du lịch nói riêng. Đồng quan điểm này có các nghiên

cứu của Tsung (2013), Phạm Trung Lương (2002). Maia và cộng sự (2005) đã chứng

minh rằng quá trình khai thác văn hóa, lịch sử, tài nguyên du lịch sẽ tạo ra các sản phẩm

du lịch (như các chương trình, tour, tuyến điểm); theo đó, nghiên cứu đã chứng minh

rằng sự đa dạng của các dịch vụ phục vụ du lịch tại các điểm đến du lịch có ảnh hưởng

lớn đến phát triển du lịch theo hướng bền vững tại các điểm đến (Nguyễn Thị Lệ Hằng

và cộng sự, 2019). Nguyễn Văn Đức (2013) đã cho rằng các dịch vụ hỗ trợ liên quan

đến du lịch như hệ thống các đơn vị vận chuyển, hệ thống y tế, bảo hiểm, ngân hàng có

ảnh hưởng lớn đến hoạt động du lịch của du khách tại điểm đến.

Giả thuyết H2: Dịch vụ hỗ trợ liên quan có mối quan hệ thuận chiều với phát

triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững.

Giả Thuyết H3: Tác động của Nguồn Nhân lực Du lịch

Giả thuyết này tiếp tục dựa trên Lý thuyết Dựa trên Tài nguyên, đặc biệt tập trung

vào tài nguyên con người như một yếu tố cốt lõi tạo nên lợi thế cạnh tranh. Wright,

60

McMahan và McWilliams (1994) đã mở rộng RBV để nhấn mạnh vai trò của nguồn

nhân lực trong việc tạo ra giá trị bền vững cho tổ chức.

Nguyễn Thị Lệ Hằng và cộng sự (2019) đã chứng minh rằng đối với phát triển

du lịch thì nguồn nhân lực ngành du lịch sẽ có ảnh hướng rất lớn đến sự phát triển bền

vững; nguồn nhân lực ở đây được hiểu là nhân lực trực tiếp phục vụ ngành du lịch như

nhân viên làm việc trong các doanh nghiệp du lịch và cả các viên chức làm việc trong

các cơ quan quản lý về du lịch tại các địa phương.

Giả thuyết H3: Nguồn nhân lực du lịch có mối quan hệ thuận chiều với phát triển

du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững.

Giả Thuyết H4: Tác động của Hoạt động Liên kết, Hợp tác Phát triển

Giả thuyết này được xây dựng dựa trên sự kết hợp của Lý thuyết Thể chế và Lý

thuyết Các bên Liên quan (Stakeholder Theory). Freeman (1984) đã phát triển

Stakeholder Theory, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý mối quan hệ với tất cả

các bên có lợi ích liên quan đến hoạt động của tổ chức.

Dwyer và cộng sự (2011) đã chứng minh rằng có mối liên hệ trong việc gắn kết giữa phía cung và phía cầu trong việc phát triển các hoạt động du lịch theo hướng bền vững. Đồng thời, Chheang (2013) cũng cho rằng vai trò của liên kết phát triển du lịch

tại các quốc gia trong khối ASEAN trong giai đoạn hội nhập có tác động quan trọng đến phát triển du lịch theo hướng bền vững giữa các quốc gia trong khu vực (Tisdell, 2013; Hilal và cộng sự, 2010; Nguyễn Thị Lệ Hằng và cộng sự, 2019).

Giả thuyết H4: Hoạt động liên kết, hợp tác phát triển có mối quan hệ thuận chiều

với phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững.

Giả Thuyết H5: Tác động của đặc điểm khách Du lịch

Giả thuyết này dựa trên Lý thuyết Các bên Liên quan, trong đó khách du lịch được coi là một nhóm stakeholder quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của điểm đến. Mitchell, Agle và Wood (1997) đã phát triển mô hình đánh giá tầm quan trọng của các stakeholder dựa trên ba thuộc tính: quyền lực (power), tính hợp pháp (legitimacy), và tính cấp thiết (urgency).

Tsung (2013) cho thấy vai trò đóng góp to lớn của các cộng đồng địa phương đối với du lịch bền vững, nếu không có cộng đồng địa phương thì hoạt động du lịch

bền vững không thể được đảm bảo và ngược lại, du lịch bền vững cũng sẽ đem tới những lợi ích nhất định cho các cộng đồng địa phương; qua đó cho thấy mối quan hệ

61

biện chứng giữa phát triển du lịch theo hướng bền vững và cộng đồng địa phương (Ngô Thắng Lợi, 2015).

Giả thuyết H5: Đặc điểm khách du lịch có mối quan hệ thuận chiều với phát triển

du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững.

Giả Thuyết H6: Tác động của Hoạt động Quảng bá và Xúc tiến

Giả thuyết này được xây dựng dựa trên Lý thuyết Marketing Điểm đến (Destination Marketing Theory), được phát triển từ các nghiên cứu của Kotler, Bowen

và Makens (2010) và Pike (2008). Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò của marketing trong việc định vị, quảng bá, và phát triển điểm đến du lịch một cách bền vững.

Giả thuyết H6: Hoạt động quảng bá và xúc tiến chương trình du lịch biển có mối quan hệ thuận chiều với phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững.

Giả Thuyết H7: Tác động của các Nhân tố khác

Giả thuyết này được thiết lập dựa trên Lý thuyết Marketing Điểm đến mở rộng,

đặc biệt tập trung vào các yếu tố môi trường bên ngoài (external environmental factors). Dwyer và Edwards (2009) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét các yếu tố vĩ mô trong phát triển du lịch bền vững.

Mowforth và Munt (2015) đã chứng minh rằng thiên nhiên ưu đãi về mặt cảnh quan hoặc nền văn hóa đặc sắc là các yếu tố đóng vai trò quan trọng cho phát triển du

lịch theo hướng bền vững; vì vậy, các quốc gia cần bảo tồn cảnh quan và các giá trị văn hoá bản địa để phát triển du lịch theo hướng bền vững (Nguyễn Văn Đức, 2013; Nguyễn Đức Tuy, 2014; Nguyễn Mạnh Cường, 2015; Nguyễn Thị Lệ Hằng và cộng sự, 2019).

Giả thuyết H7: Một số nhân tố khác có mối quan hệ thuận chiều với phát triển du

lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững.

Bảng 2.2. Thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững

STT Nhân tố Mã hoá Biến quan sát Nguồn

CS1 1 Quan điểm và chính sách đầu tư phát triển du lịch

CS2 2

Định hướng chiến lược phát triển du lịch và xây dựng các tour, tuyến, điểm du lịch, khu du lịch Chính sách phát triển du lịch của chính phủ Garcia Melon & cộng sự (2012); Wang & Pei (2014); Nguyễn Đức Tuy (2014) và CS3 Môi trường đầu tư và kinh doanh 3

62

STT Nhân tố Mã hoá Biến quan sát Nguồn

CS4 Công tác quản lý nhà nước về du lịch 4

khảo sát chuyên gia

CS5 5 Chính sách huy động và phân bổ các nguồn lực cho phát triển du lịch

CS6 6

Chính sách hỗ trợ nhà đầu tư, đơn vị kinh doanh du lịch, cộng đồng địa phương và du khách

DV1 Hệ thống y tế 7

DV2 Kênh thông tin phục vụ du khách 8

DV3 Hệ thống thanh toán cho du khách 9

DV4 Bảo hiểm du lịch 10

Dịch vụ hỗ trợ liên quan DV5 An ninh du lịch 11

Greg & Derek (2000); Phạm Trung Lương (2002); Tsung (2013); và khảo sát chuyên gia DV6 Cơ sở hạ tầng tại điểm đến du lịch 12

NL1 13 Quan điểm, chiến lược phát triển nguồn nhân lực

NL2 14 Chính sách đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nguồn nhân lực

NL3 Chế độ đãi ngộ và môi trường làm việc 15

Nguồn nhân lực du lịch NL4 16 Chất lượng nguồn nhân lực quản lý nhà nước về du lịch

NL5 17 Maia & cộng sự (2005); Trần Hải Sơn (2011); Nguyễn Thị Lệ Hằng & cộng sự (2019); và khảo sát chuyên gia Chất lượng nguồn nhân lực của các đơn vị kinh doanh du lịch

LK1 18 Thể chế liên kết vùng trong phát triển du lịch

LK2 19 Liên kết khai thác các tour, tuyến, điểm, khu du lịch của vùng

LK3 20 Liên kết sử dụng và phát triển nguồn nhân lực du lịch

LK4 21 Liên kết đầu tư hạ tầng phục vụ du lịch, quảng bá và xúc tiến du lịch cho vùng Hoạt động liên kết hợp tác phát triển du lịch

Hilal & cộng sự (2010); Chheang (2013) Nguyễn Thị Lệ Hằng & cộng sự (2019); và khảo sát chuyên gia LK5 22 Liên kết ban hành chính sách chung về du lịch

DD1 Trình độ văn hoá 23

63

STT Nhân tố Mã hoá Biến quan sát Nguồn

DD2 Khả năng tài chính 24

Thời gian nhàn rỗi của khách du lịch Dimoska & Petrevska (2012) DD3 25

Đặc điểm khách du lịch

HĐ1 Chiến lược quảng bá và xúc tiến 26

HĐ2 27 Khai thác tốt các cơ hội thị trường mới, truyền thống

HĐ3 Phát triển các chương trình, sự kiện chung 28

HĐ4 Xúc tiến thị trường mới 29

Hoạt động quảng bá và xúc tiến chương trình Nguyễn Văn Đức (2013); Nguyễn Thị Lệ Hằng & cộng sự (2019) và khảo sát chuyên gia HĐ5 Xúc tiến, quảng bá du lịch địa phương, vùng 30

NB1 31 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai

NB2 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 32 Các nhân tố khác Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 NB3 33 Nguyễn Ngọc Tiến & cộng sự (2020); và khảo sát chuyên gia

PT1 34 Phát triển du lịch biển góp phần cải thiện cơ hội việc làm trong vùng

PT2 35

Phát triển du lịch biển tạo ra cơ hội đầu tư kinh doanh mới cho người dân trong vùng

PT3 36

Phát triển du lịch biển góp phần nâng cao dân trí của cộng đồng dân cư địa phương

PT4 37

Phát triển du lịch biển tạo điều kiện cho giao lưu văn hoá đối với cư dân địa phương Phát triển du lịch biển bền vững

PT5 38

Phát triển du lịch biển góp phần bảo tồn và phát triển các giá trị di sản, văn hóa, phong tục, tập quán của địa phương

Sharpley (2010); Tsung & cộng sự (2013); Nguyễn Thị Lệ Hằng & cộng sự (2019); Nguyễn Ngọc Tiến & cộng sự (2020) và khảo sát chuyên gia PT6 39 Lượng khách du lịch đến địa phương ngày càng tăng qua các năm

PT7 40 Phát triển du lịch biển góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả nghiên cứu

64

2.5. Kinh nghiệm phát triển du lịch biển theo hướng bền vững 2.5.1. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới

2.5.1.1. Kinh nghiệm của Indonesia

Indonesia là một quốc gia với tập hợp quần đảo rộng lớn, rừng nhiệt đới có diện

tích lớn nhất so với các nước Đông Nam Á. Indonesia có nhiều thiên đường biển đẹp,

nổi tiếng trên thế giới. Vùng biển Bali trước đây là vùng kém phát triển, hoang sơ, nhưng

có tài nguyên du lịch tự nhiên biển khá phong phú cùng với nền văn hóa truyền thống

đặc sắc là điều kiện thuận lợi để Indonesia phát triển DLB (Đinh Sỹ Kiệm, 2013). Với

các chính sách đúng đắn, đặc biệt là sự năng động của chính quyền địa phương, cùng sự

tham gia của cộng đồng dân cư, các doanh nghiệp du lịch - dịch vụ, các tổ chức phi

chính phủ,… đã làm thay đổi một vùng biển hoang sơ trước kia thành khu du lịch sinh

thái biển thiên đường nổi tiếng trên giới. Tổng kết thực tiễn về phát triển du lịch của

Bali các chuyên gia đã rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Kinh nghiệm về vai trò hoạch định, quản lý của chính quyền Indonesia đối phát

triển DLB Bali: Chính quyền đã có các chính sách nhất quán, ưu đãi hấp dẫn chính sách

về đất đai, thuế để thu hút đầu tư phát triển du lịch cùng với việc lập và thực hiện các

quy hoạch đồng bộ có sự nghiên cứu, tham gia của các bên có liên quan. CSHT, cơ sở

vật chất kỹ thuật du lịch từng bước được đầu tư đồng bộ và đột phá nên đã xây dựng

thành công hạ tầng DLB Bali.

Một kinh nghiệm quan trọng được rút ra đó là tận dụng, kết hợp hài hòa các

nguồn tài nguyên du lịch; khai thác tối đa tài nguyên du lịch nhân văn trong phát

triển DLB (Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 2005). Các doanh nghiệp du lịch biết

lựa chọn những nội dung nổi trội đặc sắc về văn hóa của địa phương với sự tham gia

chủ động của cộng đồng để tạo ra sản phẩm du lịch văn hóa đáp ứng nhu cầu du

khách. Thông thường các nước thuộc khối Asean, khi khai thác phát triển du lịch

sinh thái biển đều dựa vào tài nguyên thiên nhiên là chính (chiếm tỷ trọng 90%) và

tài nguyên văn hóa (ở mức 10%), nhưng đối với Indonesia các tỷ lệ này có thể khác

là 60% dựa vào thiên nhiên, 40% dựa vào yếu tố văn hóa (Galot Sudarto, 2008). Phát

triển loại hình du lịch nhân văn khu vực biển dựa trên yếu tố văn hóa đã giúp cho

người dân trong cộng đồng của Bali không chỉ tự hào hơn về bản sắc văn hóa của

mình mà còn là công cụ giúp cải thiện điều kiện kinh tế, bảo tồn, được sử dụng để

quảng bá hình ảnh phát triển DLB bền vững của Bali.

65

2.5.1.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch biển của Malaysia

Ở trung tâm của Đông Nam Á, Malaysia - một thiên đường nhiệt đới vô cùng hấp dẫn có nguồn tài nguyên biển khá phong phú (Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 2005);

DLB Malaysia phát triển mạnh, có các điểm du lịch biển: Langkawi (Kedah), Pulau Payar (Kedah), Pantai Merdeka (Kedah), Công viên biển của Malaysia là những điểm đến hấp dẫn với du khách, là thiên đường biển. Có được kết quả đó là do Malaysia có các chiến lược hướng thẳng vào nội dung của phát triển DLB với việc xây dựng, định vị

thương hiệu điểm đến quốc gia và phát triển, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch chuyên sâu, đặc thù.

Chiến lược định vị thương hiệu điểm đến đã làm cho Malaysia luôn được biết tới với thương hiệu “Truly Asia” (Châu Á đích thực). Trong chiến lược chung của Malaysia về chuyển dịch kinh tế, ngành du lịch xây dựng kế hoạch chuyển dịch phát triển du lịch tập trung vào việc phát triển sản phẩm và thị trường khách mục tiêu có khả năng chi trả cao, đẩy mạnh chương trình tiêu dùng của khách du lịch.

Phát triển sản phẩm du lịch biển trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay,

Malaysia xác định phải có những sáng kiến và cải tiến tập trung vào tổ chức các sự kiện

tầm quan trọng quốc gia gồm: “Malaysia ngôi nhà thứ 2 của tôi”, khuyến khích người

nước ngoài mua nhà tại Malaysia để đi lại nghỉ ngơi, du lịch và kéo theo người thân,

bạn bè tới du lịch tại đây. Ngoài ra, Malaysia cũng tập trung vào duy trì và khuyếch

trương sản phẩm du lịch mua sắm. Tập trung đa dạng hóa phát triển các loại hình DLB

cao cấp, mạo hiểm biển, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục và cuối cùng là du lịch

MICE. Các sản phẩm du lịch biển được ưu tiên phát triển, đa dạng hóa, bao gồm (Viện

Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 2005): Du thuyền, chèo thuyền, thuyền buồm (yachting,

sailing and boating); Lặn có bình khí (Scuba diving); Câu cá giải trí (Sports fishing).

2.5.1.3. Kinh nghiệm phát triển du lịch biển của Singapore

Singapore là một quốc đảo nhỏ với tổng diện tích 648,1 km2, trong đó diện tích đất liền là 585,4 km2 tương đương với diện tích của Vịnh BTL của Việt Nam, còn lại là phần diện tích của 63 hòn đảo nằm rải rác trong biên giới biển, tài nguyên khoáng sản

hạn chế đều phải nhập khẩu từ bên ngoài. Tuy vậy, Singapore đã biết phát huy triệt để

tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý, tài nguyên biển và nguồn lực con người để có những

bước phát triển vượt bậc. Mặc dù là một đất nước nhỏ bé nhưng DLB Singapore đã trở

thành một điểm đến hấp dẫn trong con mắt du khách khắp nơi trên thế giới. Năm 2024,

ngành du lịch và lữ hành của Singapore tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những

trụ cột kinh tế quan trọng của quốc đảo này. Lượng khách quốc tế đến Singapore đạt

66

khoảng 16,53 triệu lượt, tăng hơn 21,5% so với năm 2023, đánh dấu mức phục hồi mạnh

mẽ sau đại dịch. Cùng với đó, doanh thu từ du lịch (tourism receipts) ước đạt từ 27,5

đến 29,0 tỷ đô la Singapore, tiệm cận và thậm chí vượt mức kỷ lục trước đại dịch là 27,7

tỷ SGD vào năm 2019. Riêng trong 9 tháng đầu năm 2024, ngành du lịch đã thu về

khoảng 22,4 tỷ SGD, cho thấy tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững. Tỷ lệ đóng góp

vào GDP của ngành du lịch Singapore tiếp tục duy trì ở mức khoảng 3%, tương đương

23-24 tỷ SGD trong tổng GDP danh nghĩa hơn 770 tỷ SGD của quốc gia. Những con số

này không chỉ phản ánh sức hút vượt trội của Singapore như một điểm đến du lịch toàn

cầu, mà còn cho thấy hiệu quả trong chính sách phát triển du lịch gắn với tăng trưởng

kinh tế quốc gia.

Để có được kết quả này, phải nói đến sự thành công trong việc hoạch định, xây

dựng chiến lược và các kế hoạch phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn của Chính

phủ Singapore từ năm 1965 đến nay. Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6

kế hoạch phát triển du lịch khác nhau. Đồng thời, kèm theo đó là việc tổ chức thực hiện

sáng tạo, linh hoạt, nhất quán các kế hoạch đó vào thực tiễn với một số kinh nghiệm và

giải pháp của Singapore về phát triển du lịch biển là:

Thứ nhất: Tập trung phát triển đột phá về hạ tầng, dịch vụ, nguồn nhân lực, xây

dựng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch, chú trọng phát triển các sản phẩm du lịch đặc

thù là du lịch xanh, casino và phân khúc thị trường khách hợp lý (Nguyễn Thị Hồng

Lâm, 2013).

Việc phát triển các sản phẩm đặc thù xanh, casino và phân khúc thị trường khách:

Điều đầu tiên ấn tượng nhất khi du khách đến với đất nước Singapore là cảnh quan và

môi trường rất sạch. Chính điều này đã làm nên một Singapore khác biệt với các quốc

gia khác. Mặt khác, ở quốc gia này cũng chú trọng phát triển sản phẩm du lịch cạnh

tranh phù hợp với nhu cầu thị trường (casino). Đặc trưng nhất của sản phẩm du lịch là

chương trình du lịch. Singapore cung cấp cho thị trường quốc tế rất nhiều chương trình

du lịch, trong đó có sản phẩm casino phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của nhiều du khách.

Họ phân khúc thị trường khách du lịch quốc tế và đưa ra những chương trình phù hợp

cho từng thị trường. Các chương trình cho du khách Châu Âu khác chương trình cho du

khách Châu Á, Châu Úc, Châu Mỹ… Ngay cả trong cùng một thị trường thì cũng có các

chương trình phục vụ riêng cho từng nước khác nhau, tùy theo nhu cầu và khả năng chi

trả của du khách. Nhờ vậy, Singapore đã có bước tiến dài trên con đường phát triển du

lịch biển (Nguyễn Thị Hồng Lâm, 2013).

67

Thứ hai: Kinh nghiệm về tạo môi trường chính trị ổn định, đảm bảo an ninh, an

toàn cho du khách (Nguyễn Thị Hồng Lâm, 2013).

Môi trường chính trị ổn định, đất nước an bình, môi trường sinh thái trong sạch

là điều kiện lý tưởng cho việc thu hút khách du lịch. Đây là một trong những thế mạnh

của du lịch biển Singapore. Quốc gia này hiện nay được coi là một trong những điểm

tham quan an toàn nhất thế giới. Các biện pháp an ninh được thắt chặt trong các khu vực

quan trọng và những nơi nhạy cảm khác nhằm đảm bảo cho Singapore vẫn tiếp tục là

điểm đến an toàn trong tương lai. Vấn đề an toàn giao thông cũng được du khách quan

tâm khi đi du lịch tại nước ngoài. Tại Singapore, ý thức người dân được giáo dục cao

trong việc chấp hành luật lệ giao thông. Người tham gia giao thông, đặc biệt là du khách

thường hay đi bộ để thăm quan, họ có thể yên tâm sang đường vì ở quốc gia này có một

sáng kiến rất hay được áp dụng cho khách đi bộ, đó là họ chỉ cần ấn nút trên cột đèn tín

hiệu là đoàn xe ô tô sẽ dừng và người đi bộ có thể qua đường.

Bên cạnh đó, họ đã loại bỏ các phiền toái và lo lắng, những phản cảm cho du

khách trong chuyến du lịch là điều mà Singapore đã làm rất tốt, hầu như không bao giờ

có trường hợp khách bị chèo kéo sử dụng dịch vụ hoặc ăn xin. Điều này là một yếu tố

khiến khách du lịch quốc tế hài lòng và đánh giá cao (Nguyễn Thị Hồng Lâm, 2013).

Những kinh nghiệm quốc tế trên là những bài học bổ ích cho việc phát triển DLB Việt Nam nói chung, Vịnh BTL nói riêng. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng cần chú ý đến tính đặc thù của quốc gia, của vùng để đề ra những chủ trương, chính sách phát

triển phù hợp nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.

2.5.2. Kinh nghiệm một số vùng trong nước

2.5.2.1. Kinh nghiệm về phát triển du lịch biển của thành phố Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa

Tỉnh Khánh Hòa nằm tại vùng Nam Trung Bộ của Việt Nam, có trên 300 km

đường bờ biển và có ba Vịnh xếp vào hàng các Vịnh đẹp và có điều kiện thiên nhiên

thuộc tốp đầu thế giới (Thân Trọng Thụy và Phạm Thị Thu Nga, 2013). Hạt nhân

phát triển du lịch biển của Khánh Hòa tập trung chủ yếu tại Vịnh Nha Trang. Đây là Vịnh lớn thứ hai tại Khánh Hòa với diện tích khoảng 400 km 2, bao gồm 19 hòn đảo lớn nhỏ. Vịnh Nha Trang là một trong những khu vực sở hữu hầu hết các hệ sinh thái

điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới. Đó là hệ sinh thái đất ngập nước, rạn

san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảo biển, hệ

sinh thái bãi cát ven bờ.

68

Hai mươi năm qua, Thành phố Nha Trang đã tận dụng khá tốt những lợi thế

sẵn có từ Vịnh Nha Trang để phát triển du lịch, đưa du lịch biển trở thành ngành kinh tế

trọng điểm của thành phố biển với nhiều sản phẩm du lịch độc đáo như: lặn biển, tắm

bùn, dù lượn, nghỉ dưỡng cao cấp... Hoạt động du lịch thời gian qua đã có những đóng

góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; Năm 2024, ngành

du lịch Khánh Hòa, tiêu biểu là Nha Trang, đã có sự bứt phá ngoạn mục so với năm

2015. Cụ thể: Trong 10 tháng đầu năm 2024, tỉnh chào đón 9,5 triệu lượt khách lưu trú,

tăng 55,3% so với cùng kỳ năm 2023, trong đó 3,8 triệu lượt khách quốc tế, tăng tới

134% . Tổng doanh thu từ du lịch ước đạt tới hơn 47.000 tỷ đồng, tăng 63% so với cùng

kỳ. Tính riêng trong toàn năm 2024, ngành tiếp tục ghi nhận khoảng 10,6 triệu lượt

khách, tăng 45,5% so với năm trước, với 4,5 triệu lượt khách quốc tế (+89,3%) và doanh

thu đạt gần 52.272 tỷ đồng (+53,9%)

Thực hiện quy hoạch phát triển du lịch hợp lý: Nha Trang là thành phố được thực

thiện quy hoạch phát triển du lịch hợp lý nhất trên toàn quốc. Quy hoạch theo hướng

phát triển đô thị du lịch; lập quy hoạch tổng thể phát triển các khu du lịch quốc gia, các

khu chức năng theo quy hoạch phát triển biển du lịch quốc gia và chiến lược phát triển

kinh tế toàn tỉnh (Thân Trọng Thụy và Phạm Thị Thu Nga, 2013).

Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch: Định hướng phát triển du lịch đến năm 2030 xác định tập trung phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch biển làm hướng chủ đạo. Bên cạnh đó, cần phát triển du lịch sinh thái ở các đảo ven bờ, du lịch văn hóa gắn với các lễ hội; đẩy mạnh phát triển du lịch MICE và du lịch tàu biển…

Tăng cường liên kết, xúc tiến, quảng bá, liên kết, tìm kiếm thị trường. Công tác

xúc tiến quảng bá du lịch trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, phối hợp

các cơ quan thông tin đại chúng, các lực lượng thông tin đối ngoại, đặt các văn phòng

xúc tiến du lịch tại các thị trường trọng điểm. Ngoài ra, Nha Trang còn tích cực thực

hiện phối hợp liên kết vùng, với tư cách là một cực của trung tâm du lịch kết hợp với

các địa phương phía Bắc, Nam duyên hải miền Trung và các tỉnh Tây Nguyên để tạo

nên các tuyến du lịch biển mới. Xúc tiến mạnh tìm kiếm và mở rộng thị trường (Thân

Trọng Thụy và Phạm Thị Thu Nga, 2013).

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đầu tư cho việc tuyển chọn thu hút các

chuyên gia giỏi, lao động có trình độ tay nghề cao từ bên ngoài. Liên kết với các trường

để đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ

cán bộ quản lý, lao động sẵn có. Đồng thời, cần tiếp thu kinh nghiệm, hợp tác trao đổi

69

với các tỉnh lân cận, các thành phố lớn, các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước, thực hiện

đa dạng hóa các hình thức đào tạo.

2.5.2.2. Kinh nghiệm về phát triển du lịch biển của Đà Nẵng

Đà Nẵng là điểm đến của du lịch biển hấp dẫn, sở hữu nhiều tài nguyên biển đẹp

và vô cùng giá trị, tận dụng được lợi thế này, Đà Nẵng thời gian qua đã không ngừng

tập trung nguồn lực đầu tư phát triển khai thác du lịch biển và đã thu được một số kết

quả vượt trội. Năm 2024, du lịch biển Đà Nẵng chứng kiến sự phục hồi mạnh mẽ và

phát triển vượt bậc. Cả năm, các cơ sở lưu trú tại thành phố phục vụ khoảng 10,9 triệu

lượt khách, tăng 32,8% so với năm 2023, đạt 135% mức trước COVID-19; trong đó trên

4,1 triệu lượt khách quốc tế, tăng 36,3% so với cùng kỳ và vượt 65,8% kế hoạch đề ra.

Tổng doanh thu du lịch (lưu trú, ăn uống, lữ hành) đạt hơn 31.000 tỷ đồng, tăng 22,1%

so với năm trước và vượt 10,8% mục tiêu. Với các con số ấn tượng này, hình ảnh du

lịch biển Đà Nẵng không chỉ được nâng tầm trong mắt du khách trong nước mà còn

ngày càng đẹp hơn trên bản đồ du lịch quốc tế, biến nơi đây thành một điểm đến sáng

giá và đầy hấp lực. Đạt được điều đó một phần do thành phố đã có những giải pháp phát

triển du lịch đúng đắn và xứng tầm thể hiện ở một số điểm sau:

Đẩy mạnh xúc tiến quảng bá và phát triển thị trường: Công tác xúc tiến quảng

bá được Đà Nẵng quan tâm, hàng năm xây dựng các kế hoạch, chiến lược quảng bá du

lịch biển. Tận dụng cơ hội, đầu tư hạ tầng đăng cai tổ chức các sự kiện lớn của cả thế

giới và cả nước như: Cuộc thi bắn pháo hoa nghệ thuật hàng năm, Marathon quốc tế,

các hoạt động lễ hội khai trương du lịch biển.

Nghiên cứu chiến lược kinh doanh, hướng thẳng vào thị trường mục tiêu. Tập trung triển khai những chương trình và giá cả phù hợp cho từng loại đối tượng; chú trọng

thị trường khách mục tiêu khả năng chi trả cao.

Nghiên cứu lập quy hoạch phát triển du lịch biển: Việc lập quy hoạch du lịch

được thành phố Đà Nẵng quan tâm, nghiên cứu trên cơ sở khoa học, tiếp thu các mô

hình phát triển DLB tương đồng trên thế giới và vận dụng phù hợp với điều kiện của địa

phương; chú trọng công tác quản lý và thực hiện quy hoạch.

Chính sách phát triển du lịch biển: Vận dụng mềm dẻo các chính sách của Chính phủ,

tận dụng, ưu tiên tối đa nguồn lực cho phát triển du lịch. Tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu

hút các doanh nghiệp FDI đến địa bàn đầu tư, phát triển du lịch. Thực hiện đơn giản hóa,

công khai, minh bạch các thủ tục hành chính tại Trung tâm Hành chính công các cấp, tạo điều

kiện thuận lợi, tiết kiệm cho người dân và doanh nghiệp giao dịch, làm các thủ tục đầu tư.

70

Tăng cường đầu tư phát triển nguồn nhân lực du lịch trên cơ sở lấy Đại học Đà

Nẵng làm nòng cốt, phối hợp cùng các trường dạy nghề trên địa bàn nhằm đào tạo một

đội ngũ nhân lực du lịch chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành kinh tế

mũi nhọn của Thành phố. Đội ngũ lao động du lịch trực tiếp như Hướng dẫn viên, lễ

tân, phục vụ nhà hàng cũng liên tục được nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, kiến

thức và khả năng sử dụng ngoại ngữ… Mở các khóa đào tạo về văn hóa giao tiếp, kiến

thức về thành phố, nghệ thuật phục vụ du khách cho cộng đồng và đội ngũ lao động du

lịch trực tiếp. Nhờ đó chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch không ngừng được

nâng cao, tạo được thiện cảm với khách du lịch.

2.5.3. Bài học rút ra cho việc phát triển du lịch biển trên địa bàn Vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững

Từ thực tiễn phân tích kinh nghiệm phát triển du lịch biển trong nước và quốc tế,

có thể rút ra những bài học sau:

Thứ nhất: Đẩy mạnh việc lập và tổ chức thực hiện quy hoạch du lịch biển một

cách đồng bộ; quy trình thực hiện các quy hoạch, kế hoạch đều có sự tham gia của cộng

đồng ngay từ giai đoạn đầu nhằm bảo đảm các nội dung quy hoạch, kế hoạch có thể thực

thi. Chính quyền tôn trọng ý kiến cộng đồng trong quá trình xây dựng cũng như trong

quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch du lịch. Để có thể thực hiện thành công các quy

hoạch, kế hoạch phát triển du lịch, ngoài sự hỗ trợ của nhà nước về hạ tầng và đào tạo

nguồn nhân lực, cần có sự đầu tư thỏa đáng cho công tác xúc tiến, quảng bá du lịch.

Thứ hai: Đa dạng hóa phát triển sản phẩm du lịch biển cả về hình thức và

cách thức thể hiện. Mỗi khu vực biển cần xây dựng một sản phẩm du lịch đặc trưng, riêng biệt.

Thứ ba: Tăng cường chất lượng nguồn nhân lực biển là chìa khóa thành công. Nguồn nhân lực biển cần được coi là động lực để tạo ra các sản phẩm du lịch, vừa là nhân tố quan trọng trong quyết định chất lượng của du lịch biển.

Thứ tư: Gắn phát triển du lịch biển đi đôi với việc bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi sinh vật khu vực biển. Đồng thời tạo môi trường chính trị ổn định, đảm bảo an ninh, an toàn cho du khách.

Thứ năm: Xây dựng thương hiệu điểm đến về du lịch biển; coi xúc tiến và xây dựng

thương hiệu điểm đến là bài toán cần giải quyết đối với các địa phương, quốc gia trong quá

trình phát triển du lịch biển góp phần tạo nên ấn tượng về chất lượng, hình ảnh điểm đến, qua đó thu hút khách du lịch, đồng thời tạo ra giá trị riêng biệt cho từng khu vực biển.

71

- Nhận thức đầy đủ về PTBV: Các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, cộng

đồng dân cư và doanh nghiệp kinh doanh lữ hành phải nhận thức đúng đắn vị trí quan

trọng của PTDL biển bền vững. Tầm quan trọng, sự đóng góp của du lịch vào phát

triển KT-XH từng địa phương, cho quốc gia, tạo lợi thế cạnh tranh trong kinh tế, tạo

công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống người dân, chuyển dịch cơ cấu

kinh tế, bảo vệ môi trường là cơ sở và động lực cho PTDLBV. Giáo dục, tuyên truyền

mạnh mẽ để giúp các đối tượng tham gia du lịch (học sinh, sinh viên, dân địa phương,

khách du lịch) nhận thức trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường tự

nhiên. Có cơ chế để khuyến khích sự tham gia của dân địa phương cùng quản lý, sử

dụng tài nguyên hợp lý, qua đó thúc đẩy hiệu quả của du lịch.

- Xây dựng Chiến lược phát triển du lịch biển phù hợp với điều kiện kinh tế

của vùng, của tỉnh: có chính sách đầu tư đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là đầu tư về

hạ tầng cơ sở cho du lịch. Trong đó, vai trò của chính quyền địa phương (đặc biệt cấp

xã, phường) là rất quan trọng trong việc giải phóng mặt bằng; theo dõi, giám sát, phối

hợp tháo gỡ khó khăn cho các dự án đầu tư phát triển du lịch.

- Tổ chức quản lý thống nhất và cụ thể: Nguồn tài nguyên rừng tại địa điểm du

lịch là nguồn tài nguyên kép do vậy các quốc gia thường có một cơ quan quản lý cấp

cao, cơ quan quản lý này có chức năng bảo tồn tuyên truyền và giáo dục công chúng

trong việc bảo vệ môi trường. Việc tổ chức khai thác tiềm năng du lịch tại các điểm du

lịch có thể do các địa phương tự kinh doanh hoặc cho các công ty du lịch thuê môi

trường để kinh doanh nhưng phải chịu quản lý theo một quy chế cụ thể.

- Huy động mọi nguồn lực đầu tư phát triển du lịch biển: Xã hội hoá quá trình

phát triển du lịch hướng tới bền vững đối với điều kiện của nước ta nói chung và các

tỉnh nói riêng nhằm huy động mọi nguồn lực tốt nhất phục vụ đầu tư phát triển du lịch.

Trong đó có sự tham gia của người dân địa phương, các doanh nghiệp trong và ngoài

nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ là một trong những giải pháp quan

trọng để phát triển du lịch theo hướng bền vững.

- Sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương là rất quan trọng trong chiến

lược PTDLBBV: Sự tham gia của người dân vào các dự án phát triển du lịch để hướng

tới bền vững là rất quan trọng. Người dân bản địa với nền văn hóa, lối sống, phong tục,

sinh hoạt là những nhân tố quan trọng thu hút du khách. PTDLBV và cộng đồng dân cư

địa phương có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, một mặt mang lại những tác động

tốt về kinh tế, môi trường và văn hoá, mặt khác, làm phong phú thêm kinh nghiệm hoạt

động và tạo sản phẩm du lịch mới.

72

- Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm các nhà quản lý, chuyên gia, cố vấn và nhân viên ngành du lịch để phục vụ cho nhu cầu phát triển du

lịch ngày càng lớn.

- Các địa phương phải có kế hoạch quảng bá địa danh du lịch biển phù hợp

với đặc điểm của địa phương, phù hợp với đối tượng khách du lịch khác nhau. Ngoài ra để kế hoạch quảng bá thành công cần có sự đầu tư thỏa đáng cho hoạt động quảng

bá và marketing.

- Khai thác hợp lý tài nguyên vào bảo vệ môi trường là trách nhiệm từ cơ quan quản lý nhà nước đến ban quản lý các điểm du lịch, dân cư địa phương, đến khách du

lịch. Muốn PTDLBV thì trước tiên phải khai thác tài nguyên du lịch (cả thiên nhiên và nhân văn) bền vững.

73

CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Khung phân tích

Từ tổng quan các nghiên cứu liên quan đã có và cơ sở lý luận, thực tiễn về phát

triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững. Luận án sẽ đánh giá thực trạng và mức độ bền vững của phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững.

Hình 3.1. Khung phân tích phát triển du lịch biển theo hướng bền vững

Nguồn: Tác giả đề xuất (2024)

74

Nghiên cứu áp dụng khung phân tích đa tầng nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng

phát triển du lịch biển bền vững tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Khung phân tích được

thiết kế theo nguyên tắc tích hợp, bao gồm ba thành phần chính: (1) đánh giá thực trạng

phát triển du lịch biển theo các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường; (2) xác định

mức độ bền vững của phát triển du lịch biển; và (3) phân tích các nhân tố ảnh hưởng

đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững.

Thiết kế nghiên cứu tuân thủ nguyên tắc tam giác hóa phương pháp

(methodological triangulation) thông qua việc sử dụng đồng thời nhiều kỹ thuật phân

tích khác nhau, bao gồm phân tích cấu trúc tuyến tính từng phần bình phương tối thiểu

(Partial Least Squares Structural Equation Modeling - PLS-SEM), phân tích điều kiện

cần (Necessary Condition Analysis - NCA), và phương pháp phân tích thứ bậc (Analytic

Hierarchy Process - AHP).

3.2. Nghiên cứu định lượng

3.2.1. Thiết kế và mẫu nghiên cứu

3.2.1.1. Thiết kế Nghiên cứu tổng thể

Nghiên cứu áp dụng thiết kế khảo sát mặt cắt ngang (cross-sectional survey

design) với phương pháp thu thập dữ liệu định lượng nhằm kiểm định các mối quan hệ

nhân quả trong mô hình lý thuyết đã được thiết lập. Lựa chọn thiết kế này được biện

minh dựa trên ba yếu tố chính: thứ nhất, tính chất của câu hỏi nghiên cứu đòi hỏi việc

đo lường đồng thời nhiều biến số và mối quan hệ giữa chúng; thứ hai, khả năng thu thập

dữ liệu từ một mẫu lớn trong khoảng thời gian hạn chế; thứ ba, tính phù hợp với các

phương pháp phân tích thống kê tiên tiến như PLS-SEM và NCA.

Nghiên cứu tuân thủ nguyên tắc đa nguồn dữ liệu (multi-source data collection)

để tăng cường tính tin cậy và giảm thiểu thiên lệ phương pháp chung (common method

bias). Chiến lược này cho phép thu thập thông tin từ nhiều góc nhìn khác nhau về cùng

một hiện tượng, từ đó tạo ra bức tranh toàn diện về thực trạng phát triển du lịch biển bền

vững tại vùng Bắc Trung Bộ.

3.2.1.2. Khung lấy mẫu đa tầng

Nghiên cứu triển khai chiến lược lấy mẫu đa tầng (multi-stage sampling strategy)

kết hợp với phương pháp lấy mẫu phân tầng (stratified sampling) để đảm bảo tính đại

diện của mẫu nghiên cứu. Quá trình lấy mẫu được thực hiện theo ba giai đoạn liên tiếp:

75

Giai đoạn 1 - Lựa chọn đơn vị địa lý: Sáu tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ được

lựa chọn dựa trên tiêu chí có hoạt động du lịch biển và tiềm năng phát triển du lịch

bền vững. Các tỉnh bao gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, và Thừa

Thiên Huế, đại diện cho sự đa dạng về địa lý, kinh tế, và đặc điểm du lịch của vùng.

Giai đoạn 2 - Phân tầng theo nhóm đối tượng: Tổng thể nghiên cứu được phân chia thành ba tầng chính dựa trên vai trò và mức độ tham gia vào hoạt động du lịch biển:

(1) nhà quản lý du lịch (tourism managers), (2) doanh nghiệp du lịch (tourism

enterprises), và (3) khách du lịch (tourists). Việc phân tầng này cho phép thu thập dữ liệu từ các quan điểm khác nhau về cùng một vấn đề nghiên cứu.

Giai đoạn 3 - Lựa chọn đơn vị mẫu: Trong mỗi tầng, đơn vị mẫu được lựa chọn

theo phương pháp thuận tiện có mục đích (purposive convenience sampling) với các tiêu

chí nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng thông tin.

3.2.1.3. Xác định kích thước mẫu

Kích thước mẫu được xác định dựa trên các nguyên tắc thống kê nghiêm ngặt và

yêu cầu kỹ thuật của phương pháp phân tích PLS-SEM. Theo khuyến nghị của Hair và

cộng sự (2017), kích thước mẫu tối thiểu cho phân tích PLS-SEM được tính theo quy

tắc "10 lần số biến quan sát" hoặc "10 lần số đường dẫn hướng đến cấu trúc có nhiều

tiền tố nhất", tùy theo giá trị nào lớn hơn. Với 40 biến quan sát trong mô hình nghiên

cứu, kích thước mẫu tối thiểu được xác định là 400 đơn vị.

Để tăng cường độ tin cậy thống kê và khả năng tổng quát hóa kết quả, nghiên cứu

lựa chọn 450 đơn vị mẫu, vượt 12.5% so với yêu cầu tối thiểu. Kích thước mẫu này cũng

đáp ứng yêu cầu cho phân tích NCA và các phương pháp thống kê bổ sung. Mẫu được

phân bổ cân bằng giữa các tỉnh (75 đơn vị/tỉnh) và được phân tầng theo nhóm đối tượng

· Nhà quản lý du lịch: 30 đơn vị (6.7% tổng mẫu), đại diện cho góc nhìn chính

với tỷ lệ phản ánh tầm quan trọng của từng nhóm trong hệ thống du lịch:

· Doanh nghiệp du lịch: 120 đơn vị (26.7% tổng mẫu), đại diện cho góc nhìn

sách và quản trị

· Khách du lịch: 300 đơn vị (66.6% tổng mẫu), đại diện cho góc nhìn người tiêu dùng

cung ứng dịch vụ

Việc ưu tiên mẫu khách du lịch được biện minh dựa trên nguyên tắc rằng đánh

giá từ phía cầu (người tiêu dùng) thường mang tính khách quan và độc lập hơn so với

đánh giá từ phía cung (nhà cung cấp dịch vụ).

76

Bảng 3.2. Phân bổ mẫu phiếu điều tra

STT Tỉnh Doanh nghiệp du lịch Khách du lịch Nhà quản lý du lịch Tổng cộng

1 Thanh Hóa 5 20 50 75

2 Nghệ An 5 20 50 75

3 Hà Tĩnh 5 20 50 75

4 Quảng Trị 5 20 50 75

5 Quảng Bình 5 20 50 75

6 Thừa Thiên - Huế 5 20 50 75

Tổng cộng 30 120 300 450

Nguồn: Tác giả đề xuất lựa chọn

3.2.1.4. Tiêu chí lựa chọn đối tượng nghiên cứu

Nhà quản lý du lịch: Đối tượng này bao gồm cán bộ quản lý tại Sở Du lịch,

Phòng Du lịch, và các cơ quan có liên quan đến quản lý du lịch tại địa phương. Tiêu chí

lựa chọn gồm: (1) kinh nghiệm làm việc tối thiểu ba năm trong lĩnh vực quản lý du lịch;

(2) trình độ học vấn từ đại học trở lên; (3) hiểu biết sâu về chính sách và quy hoạch phát

triển du lịch; (4) am hiểu về du lịch biển và phát triển bền vững; (5) đang giữ vị trí có

thẩm quyền ra quyết định hoặc tham mưu chính sách.

Doanh nghiệp du lịch: Nhóm này bao gồm các công ty lữ hành, khách sạn,

resort, nhà hàng, và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch biển. Tiêu chí lựa chọn

bao gồm: (1) hoạt động kinh doanh hợp pháp tối thiểu hai năm trong lĩnh vực du lịch

biển; (2) có giấy phép kinh doanh du lịch được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền; (3) người

đại diện có trình độ từ cao đẳng trở lên và am hiểu thị trường du lịch biển; (4) doanh thu

từ hoạt động du lịch biển chiếm tối thiểu 30% tổng doanh thu; (5) có kinh nghiệm phục

vụ khách du lịch trong và ngoài nước.

Khách du lịch: Đối tượng này bao gồm du khách trong nước và quốc tế đang

tham gia hoặc đã tham gia các hoạt động du lịch biển tại khu vực nghiên cứu. Tiêu chí

lựa chọn gồm: (1) độ tuổi từ 18 tuổi trở lên; (2) đã hoặc đang tham gia ít nhất một hoạt

động du lịch biển tại một trong sáu tỉnh nghiên cứu trong vòng 12 tháng qua; (3) có khả

năng đánh giá trải nghiệm du lịch một cách khách quan; (4) tự nguyện tham gia nghiên

cứu; (5) có thể giao tiếp bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh.

77

3.2.2. Thu thập dữ liệu

3.2.2.1. Thiết kế và phát triển công cụ nghiên cứu

Quá trình phát triển công cụ nghiên cứu được thực hiện theo quy trình ba giai đoạn

nghiêm ngặt nhằm đảm bảo tính hợp lệ (validity) và độ tin cậy (reliability) của thang đo.

Giai đoạn 1 - Thiết kế bảng câu hỏi sơ bộ: Dựa trên khung lý thuyết và tổng

quan tài liệu đã thực hiện, nghiên cứu tiến hành thiết kế bảng câu hỏi sơ bộ với 40 biến

quan sát được đo lường trên thang Likert 5 điểm (từ 1 = "hoàn toàn không đồng ý" đến

5 = "hoàn toàn đồng ý"). Các thang đo được kế thừa và điều chỉnh từ các nghiên cứu đã

được công bố và kiểm chứng trong bối cảnh tương tự, đảm bảo tính hợp lệ nội dung

(content validity) ban đầu.

Bảng câu hỏi được thiết kế với cấu trúc bao gồm: (1) phần giới thiệu về mục đích

nghiên cứu và cam kết bảo mật; (2) phần thông tin nhân khẩu học và đặc điểm cơ bản

của đối tượng; (3) phần câu hỏi chính về các biến nghiên cứu; (4) phần câu hỏi mở để

thu thập ý kiến bổ sung. Thứ tự các câu hỏi được sắp xếp ngẫu nhiên để giảm thiểu thiên

lệ thứ tự và thiên lệ phản hồi xã hội.

Giai đoạn 2 - Thẩm định chuyên gia và nghiên cứu thử nghiệm: Nghiên cứu

triển khai phương pháp Delphi thu gọn với 10 chuyên gia được lựa chọn cẩn thận dựa

trên các tiêu chí: (1) có bằng tiến sĩ trong lĩnh vực du lịch, kinh tế, hoặc quản lý; (2) có

tối thiểu 10 năm kinh nghiệm nghiên cứu hoặc thực tiễn trong lĩnh vực du lịch; (3) đã

công bố ít nhất 5 bài báo khoa học về du lịch hoặc phát triển bền vững; (4) am hiểu về

bối cảnh du lịch biển Việt Nam.

Quá trình thẩm định được thực hiện qua hai vòng: vòng 1 tập trung vào đánh giá

tính phù hợp, rõ ràng, và đầy đủ của các câu hỏi; vòng 2 tập trung vào đánh giá tính nhất

quán và khả năng đo lường của toàn bộ thang đo. Hệ số đồng thuận Kendall's W được tính

toán để đánh giá mức độ nhất quán giữa các chuyên gia, với ngưỡng chấp nhận là W ≥ 0.7.

Đồng thời, nghiên cứu tiến hành thử nghiệm sơ bộ (pilot test) với 50 đối tượng

được lựa chọn ngẫu nhiên từ ba nhóm để kiểm tra tính hiểu được (comprehensibility) và

thời gian hoàn thành bảng câu hỏi. Kết quả thử nghiệm cho thấy thời gian trung bình

hoàn thành là 15-20 phút, nằm trong giới hạn chấp nhận được.

Giai đoạn 3 - Hoàn thiện công cụ chính thức: Dựa trên phản hồi từ chuyên gia

và kết quả thử nghiệm, bảng câu hỏi được điều chỉnh về mặt ngôn ngữ, cấu trúc, và nội

dung. Phiên bản cuối cùng bao gồm 40 câu hỏi chính được nhóm thành 8 cấu trúc (7 biến

độc lập và 1 biến phụ thuộc), cùng với 12 câu hỏi về thông tin cá nhân và đặc điểm mẫu.

78

3.2.2.2. Chiến lược thu thập dữ liệu đa kênh

Nghiên cứu áp dụng chiến lược thu thập dữ liệu đa kênh (multi-channel data collection) để tối đa hóa tỷ lệ phản hồi và đảm bảo chất lượng dữ liệu. Quá trình thu

thập được thực hiện từ tháng 10 năm 2023 đến tháng 9 năm 2024, trải qua các mùa du lịch khác nhau để tăng tính đại diện của dữ liệu.

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Được áp dụng chủ yếu cho nhóm nhà quản lý du lịch và doanh nghiệp du lịch. Các cuộc phỏng vấn được thực hiện tại địa điểm

thuận tiện cho đối tượng nghiên cứu, thường là văn phòng làm việc hoặc địa điểm kinh

doanh. Phương pháp này cho phép làm rõ các câu hỏi khi cần thiết và đảm bảo tính đầy đủ của phản hồi.

Khảo sát trực tuyến: Được triển khai thông qua nền tảng Google Forms và SurveyMonkey cho cả ba nhóm đối tượng, đặc biệt hiệu quả với nhóm khách du lịch. Liên kết khảo sát được chia sẻ qua các kênh: (1) trang web và mạng xã hội của các điểm du lịch; (2) email và tin nhắn cá nhân; (3) mã QR tại các điểm du lịch; (4) thông qua các doanh nghiệp du lịch đối tác.

Khảo sát tại chỗ: Được thực hiện tại các điểm du lịch biển, khách sạn, và trung

tâm thông tin du lịch. Phương pháp này đặc biệt phù hợp để thu thập dữ liệu từ khách

du lịch quốc tế và những người không quen sử dụng công nghệ số.

3.2.2.3. Kiểm soát chất lượng dữ liệu

Nghiên cứu triển khai hệ thống kiểm soát chất lượng đa tầng để đảm bảo tính tin

cậy và hợp lệ của dữ liệu thu thập:

Kiểm soát tại nguồn: Tất cả người thu thập dữ liệu được đào tạo kỹ lưỡng về

mục đích nghiên cứu, cách thức tiến hành khảo sát, và các tình huống xử lý. Quy trình

chuẩn hóa được thiết lập để đảm bảo tính nhất quán trong cách tiếp cận và ghi nhận

thông tin.

Kiểm tra tính hoàn chỉnh: Mỗi bảng câu hỏi được kiểm tra ngay sau khi hoàn

thành để đảm bảo không có câu hỏi bị bỏ sót. Các phản hồi không đầy đủ được loại bỏ

hoặc yêu cầu bổ sung nếu có thể liên hệ lại với đối tượng.

Phát hiện phản hồi không hợp lệ: Các kỹ thuật phát hiện phản hồi không chân

thực được áp dụng, bao gồm: (1) kiểm tra thời gian hoàn thành (loại bỏ các phản hồi

hoàn thành quá nhanh hoặc quá chậm); (2) phân tích mẫu phản hồi (loại bỏ các phản hồi

có xu hướng chọn cùng một đáp án); (3) kiểm tra tính nhất quán logic giữa các câu hỏi

liên quan.

79

3.3.3. Phân tích dữ liệu

3.3.3.1. Chuẩn bị và làm sạch dữ liệu

Trước khi tiến hành phân tích chính, dữ liệu được xử lý qua quy trình chuẩn bị

nghiêm ngặt bao gồm các bước sau:

Kiểm tra và xử lý dữ liệu thiếu: Phân tích mẫu dữ liệu thiếu (Missing Data

Analysis) được thực hiện để xác định tính chất và mức độ của dữ liệu thiếu. Little's

MCAR test được áp dụng để kiểm tra giả thuyết dữ liệu thiếu hoàn toàn ngẫu nhiên

(Missing Completely At Random). Đối với dữ liệu thiếu ngẫu nhiên với tỷ lệ dưới 5%,

phương pháp thay thế đơn giản như mean substitution được áp dụng. Với tỷ lệ từ 5-10%,

phương pháp thay thế đa biến (Multiple Imputation) được sử dụng với thuật toán Markov

Chain Monte Carlo.

Phát hiện và xử lý giá trị ngoại lệ: Các giá trị ngoại lệ được xác định thông qua

phương pháp đa biến sử dụng khoảng cách Mahalanobis với mức ý nghĩa α = 0.001. Giá

trị ngoại lệ đơn biến được phát hiện thông qua quy tắc 3-sigma (Z-score > |3|). Các

trường hợp ngoại lệ được xem xét cẩn thận để quyết định giữ lại hoặc loại bỏ dựa trên

tính hợp lý và ngữ cảnh nghiên cứu.

Kiểm tra giả định phân phối: Tính chuẩn của phân phối được đánh giá thông

qua các kiểm định Kolmogorov-Smirnov và Shapiro-Wilk, cùng với phân tích độ

lệch (skewness) và độ nhọn (kurtosis). Mặc dù PLS-SEM ít yêu cầu khắt khe về phân

phối chuẩn, việc kiểm tra này giúp đảm bảo chất lượng dữ liệu và tăng tính tin cậy

của kết quả.

3.3.3.2. Phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) cho đánh giá mức độ bền vững

Phương pháp AHP (Analytic Hierarchy Process) của Saaty (2008) để xác định các

tiêu chí và trọng số đánh giá cho từng khía cạnh bền vững của phát triển du lịch các tỉnh

vùng Bắc Trung bộ. Vì vậy, tác giả tiến hành phỏng vấn ý kiến các chuyên gia về các nội

dung đánh giá, tiêu chí đánh giá,… đối với các khía cạnh bền vững, bao gồm: bền vững về

kinh tế, bền vững về văn hoá - xã hội; bền vững về môi trường. Để tính điểm và xếp hạng

mức độ bền vững về phát triển du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung bộ, dựa vào các chỉ tiêu

và trọng số được xác định ở trên, luận án tiến hành tính tổng số điểm để đánh giá mức

(cid:2196)

(cid:2196)

độ bền vững theo công thức sau:

(cid:2192)

(cid:2191)

(cid:4666)(cid:936)(cid:4667) (cid:2173)(cid:3) (cid:3404) (cid:3) (cid:3533) (cid:2172)(cid:2192) (cid:3533) (cid:2176)(cid:2191) (cid:1499) (cid:3)(cid:2172)(cid:2191)

80

Trong đó:

Q: là tổng điểm bền vững về du lịch của từng tỉnh và toàn vùng.

Pj: là trọng số của từng khía cạnh đánh giá tính bền vững (j = 1, 2, 3).

Ti: là điểm của từng chỉ tiêu thành phần đạt được theo phiếu điều tra. theo từng

khía cạnh cần đánh giá.

Pi: là trọng số của chỉ tiêu thành phần thứ i (i = 1, 2, ..., n)

Từ kết quả điểm tính toán được, có thể xếp hạng mức độ bền vững về phát triển

du lịch theo thang đo likert năm mức tuỳ chọn như sau:

Giá trị khoảng cách = (Maximum - Minimum) / n = (5 -1) / 5 = 0,8

Theo đó, mức đánh giá tính bền vững sẽ gồm năm mức với giá trị điểm đạt được

theo từng mức như sau

- Mức (hay mức rất bền vững) là có điểm trung bình chung trên các khía cạnh

đánh giá tính bền vững đạt từ 4,21 đến 5,00 điểm.

- Mức B (hay mức bền vững) là có điểm trung bình chung trên các khía cạnh

đánh giá tính bền vững đạt từ 3,41 đến 4,20 điểm.

- Mức C (hay mức tạm bền vững) là có điểm trung bình chung trên các khía cạnh

đánh giá tính bền vững đạt từ 2,61 đến 3,40 điểm.

- Mức D (hay mức không bền vững) là có điểm trung bình chung trên các khía

cạnh đánh giá tính bền vững đạt từ 1,81 đến 2,60 điểm.

- Mức E (hay mức rất không bền vững) là có điểm trung bình chung trên các khía

cạnh đánh giá tính bền vững đạt từ 1,00 đến 1,80 điểm.

Với tiêu chuẩn các chuyên gia trong diện khảo sát, tác giả lựa chọn dựa trên các

tiêu chí: (1) Có hiểu biết về lĩnh vực du lịch; (2) Có trình độ chuyên môn phù hợp (từ Cử nhân trở lên); (3) Đã từng tham gia hoạt động du lịch tại các tỉnh trên địa bàn vùng

Bắc Trung bộ; và (4) Đang làm việc trong các sở/ban ngành, trường đại học, viện nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực du lịch.

Để phát triển bền vững trên địa bàn vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững,

luận án xác định có ba khía cạnh bền vững cần đánh giá dựa trên cơ sở giả thuyết của các nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, bền vững về kinh tế: UNWTO (2013), Ngô Thắng Lợi (2015), WTTC (2017), ILO (2017) đều cho rằng tính bền vững về kinh tế là đề cập đến mức độ lợi ích kinh tế từ các hoạt động du lịch mang lại. Nghiên cứu cho rằng hoạt động du lịch tạo ra

81

thu nhập ổn định cho cộng đồng địa phương, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế của địa phương, của vùng, của quốc gia nhưng không gây hại đến các điều kiện phát triển khác

của địa phương, của vùng, của quốc gia.

Thứ hai, bền vững về văn hoá - xã hội: Stonich và cộng sự (1995) đã cho rằng,

hoạt động phát triển du lịch biển trong quá khứ có tác động tiêu cực đến xã hội hiện tại bao gồm việc làm xói mòn văn hóa bản địa và có xu hướng mở ra các bộ phận văn hóa, xã hội

mới. Đồng thời, UNWTO (2013), WTTC (2017), ILO (2017) đều cho rằng, du lịch tạo thu nhập và việc làm ổn định cho người lao động. Ngô Thắng Lợi (2015) cũng cho rằng hoạt

động du lịch có tác động lớn đến xã hội kể cả tích cực và tiêu cực nên cần tìm ra

những phương pháp đo lường để giảm các tác động tiêu cực đến xã hội.

Thứ ba, bền vững về môi trường: Ngô Thắng Lợi (2015) cho rằng cần tính toán

khả năng chịu đựng của tài nguyên du lịch, điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và coi đây là một phương pháp quan trọng để đánh giá tác động của môi trường và tính bền vững trong phát triển du lịch.

Từ cơ sở các giả thuyết của các nghiên cứu nêu trên, luận án cho rằng việc đánh

giá phát triển du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững là đánh giá mức độ bền vững của ba khía cạnh, đó là bền vững về kinh tế, bền vững về văn hoá - xã hội, bền vững về môi. Có thể khái quát mô hình đánh giá mức độ phát triển du lịch các tỉnh Vùng Duyên hải Nam Trung bộ theo hướng bền vững như sau:

Bảng 3.3. Tổng hợp các tiêu chí và thang đo đánh giá phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung bộ

Các thang đo của tiêu chí Nguồn Tiêu chí Ký hiệu

KT1 Du lịch góp phần cải thiện cơ hội việc làm trong vùng Bộ Văn hoá - Thể

KT2 Du lịch tạo cơ hội phát triển nền kinh tế số trong vùng

thao và Du lịch (2009);

KT3 Mowforth và Du lịch tạo ra cơ hội đầu tư kinh doanh mới cho các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư

Munt (2015); KT4 Du lịch góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế

Du lịch thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác và Kinh tế (KT) Ngô Thắng Lợi (2015); KT5 UNWTO (2013); chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo hướng tích cực

WTTC (2017); ILO (2017) và KT6 Du lịch làm tăng lượng tiêu thụ về các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của địa phương khảo sát chuyên gia

82

Các thang đo của tiêu chí Nguồn Tiêu chí Ký hiệu

XH1 Du lịch tạo điều kiện cho giao lưu văn hoá đối với cư dân địa phương

Bộ Văn hoá - XH2 Du lịch làm tăng sự tham gia của cư dân vào các hoạt động địa phương

XH3 Du lịch tạo sức ép phải tăng cường công tác đảm bảo an ninh, trật tự xã hội của địa phương Thể thao và Du lịch (2009); Ngô Thắng Lợi (2015);

UNWTO (2013); XH4 Xã hội (XH) Du lịch góp phần nâng cao dân trí của cộng đồng dân cư địa phương

WTTC (2017); ILO (2017) và XH5 Du lịch làm xói mòn các giá trị văn hoá bản địa

khảo sát XH6 chuyên gia Du lịch góp phần bảo tồn và phát triển các giá trị di sản, văn hóa, phong tục, tập quán của địa phương

XH7 Du lịch góp phần làm đa dạng các dịch vụ vui chơi, giải trí cho địa phương

MT1 Bộ Văn hoá - Du lịch góp phần bảo tồn sự đa dạng sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan

MT2 Thể thao và Du lịch (2009); Ngô Du lịch tạo ra lượng lớn chất thải (sinh hoạt, rắn, nhựa, ...) cần xử lý

Thắng Lợi (2015); Nguyễn Đức MT3 Du lịch ảnh hưởng lớn đến phát triển đa dạng các hệ sinh thái tự nhiên (rừng, biển, vật nuôi, cây trồng) Môi trường (MT) Tuy (2014); MT4 Du lịch góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường UNWTO (2013);

WTTC (2017) MT5 Du lịch góp phần bảo tồn và khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên (nước, không khí, đất, ...)

Nguồn: Tác giả tổng hợp và đề xuất từ kết quả nghiên cứu (2023)

3.3.3.3. Phân tích cấu trúc tuyến tính từng phần (PLS-SEM)

PLS-SEM được lựa chọn làm phương pháp phân tích chính dựa trên các đặc điểm phù

hợp với mô hình nghiên cứu: tính phức tạp của mô hình với nhiều cấu trúc và biến quan sát,

mục tiêu dự đoán và giải thích, và khả năng xử lý dữ liệu không tuân theo phân phối chuẩn.

Giai đoạn 1 - Đánh giá mô hình đo lường (Measurement Model Assessment):

Độ tin cậy nhất quán nội tại: Được đánh giá thông qua hệ số Cronbach's Alpha (α ≥ 0.7) và độ tin cậy tổng hợp (Composite Reliability, CR ≥ 0.7). Các chỉ số này đo lường mức độ nhất quán giữa các biến quan sát trong cùng một cấu trúc.

83

Tính hợp lệ hội tụ: Được kiểm tra thông qua hệ số tải ngoài (Outer Loadings ≥ 0.7) và phương sai trích trung bình (Average Variance Extracted, AVE ≥ 0.5). Các chỉ số này đảm

bảo rằng các biến quan sát thực sự đo lường cấu trúc mà chúng được thiết kế để đại diện.

Tính hợp lệ phân biệt: Được đánh giá thông qua tiêu chí Fornell-Larcker và tỷ lệ

tương quan dị biệt-đồng biệt (HTMT < 0.9). Điều này đảm bảo rằng mỗi cấu trúc đo lường các khái niệm khác biệt và không bị chồng chéo với các cấu trúc khác.

Giai đoạn 2 - Đánh giá mô hình cấu trúc (Structural Model Assessment):

Kiểm định ý nghĩa thống kê: Các hệ số đường dẫn (Path Coefficients) được kiểm định thông qua phương pháp bootstrapping với 5000 lần lấy mẫu lại. Khoảng tin cậy 95% và giá trị p được tính toán để xác định ý nghĩa thống kê của các mối quan hệ.

Đánh giá khả năng giải thích: Hệ số xác định R² được tính toán để đánh giá tỷ lệ phương sai của biến phụ thuộc được giải thích bởi các biến độc lập. Cohen (1988) đề xuất các ngưỡng: R² = 0.02 (hiệu ứng nhỏ), R² = 0.13 (hiệu ứng trung bình), và R² = 0.26 (hiệu ứng lớn).

Đánh giá khả năng dự đoán: Chỉ số Stone-Geisser Q² được tính toán thông qua

quy trình blindfolding để đánh giá khả năng dự đoán của mô hình. Q² > 0 cho thấy mô

hình có khả năng dự đoán tốt.

Phân tích kích thước hiệu ứng: Giá trị f² được tính toán để đánh giá mức độ đóng góp của từng biến độc lập vào việc giải thích biến phụ thuộc. Cohen (1988) đề xuất các ngưỡng: f² = 0.02 (hiệu ứng nhỏ), f² = 0.15 (hiệu ứng trung bình), và f² = 0.35 (hiệu ứng lớn).

3.3.3.4. Phân tích điều kiện cần (NCA)

NCA được áp dụng như một phương pháp bổ sung để xác định các điều kiện cần

thiết cho phát triển du lịch biển bền vững. Phương pháp này giúp trả lời câu hỏi "yếu tố nào là điều kiện cần thiết để đạt được mức độ phát triển bền vững cao?"

Xây dựng đường biên trên (Ceiling Line Construction): Các phương pháp CE-FDH (Ceiling Envelopment - Free Disposal Hull) và CR-FDH (Ceiling Regression - Free Disposal Hull) được sử dụng để xác định ranh giới tối đa của mối quan hệ giữa

điều kiện và kết quả. Đường biên trên thể hiện mức tối đa của kết quả có thể đạt được tại mỗi mức độ của điều kiện.

Tính toán kích thước hiệu ứng: Kích thước hiệu ứng (effect size 'd') được tính toán để đánh giá mức độ cần thiết của từng yếu tố. Dul (2016) đề xuất các ngưỡng diễn

giải: d = 0.1 (hiệu ứng nhỏ), d = 0.3 (hiệu ứng trung bình), và d = 0.5 (hiệu ứng lớn).

84

Kiểm định ý nghĩa thống kê: Phương pháp hoán vị (permutation test) với 10,000 lần lặp được sử dụng để kiểm định ý nghĩa thống kê của các điều kiện cần thiết. Giá trị

p < 0.05 được coi là ngưỡng ý nghĩa thống kê.

Phân tích bảng điểm nghẽn: Bảng điểm nghẽn (bottleneck table) được xây dựng

để xác định ngưỡng tối thiểu của các yếu tố cần thiết tại các mức độ khác nhau của kết quả mong muốn. Điều này cung cấp hướng dẫn thực tiễn cho việc đặt mục tiêu và phân

bổ nguồn lực.

3.3.3.5. Tích hợp và so sánh kết quả

Nghiên cứu áp dụng ma trận tích hợp để so sánh và kết hợp kết quả từ PLS-SEM và NCA, tạo ra một bức tranh toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch

biển bền vững. Trong khi PLS-SEM cung cấp thông tin về mức độ tác động (sufficiency logic), NCA bổ sung thông tin về các điều kiện tiên quyết (necessity logic).

Việc tích hợp này cho phép đưa ra các khuyến nghị chính sách hai chiều: (1) chiến lược tăng cường (enhancement strategy) tập trung vào các yếu tố có tác động mạnh nhất; và (2) chiến lược đảm bảo (assurance strategy) nhằm loại bỏ các điểm nghẽn và

đáp ứng các điều kiện cần thiết.

3.3.3.6. Phân tích bổ sung và kiểm tra độ mạnh

Để tăng cường tính tin cậy và hợp lệ của kết quả, nghiên cứu thực hiện các phân

tích bổ sung:

Phân tích nhóm con (Subgroup Analysis): Mô hình được kiểm tra trên các nhóm con khác nhau (theo tỉnh, loại đối tượng, đặc điểm nhân khẩu học) để đánh giá tính ổn định của kết quả và khám phá sự khác biệt có thể có.

Kiểm tra độ mạnh (Robustness Check): Các phương pháp thay thế như SmartPLS và AMOS được sử dụng để xác minh kết quả chính. Các thông số của mô

hình được điều chỉnh để kiểm tra độ nhạy của kết quả.

Phân tích độ nhạy: Các biến quan sát có hệ số tải thấp hơn được loại bỏ một

cách có hệ thống để đánh giá tác động đến kết quả chung. Điều này giúp xác định độ ổn định của mô hình và các phát hiện chính.

Toàn bộ quá trình phân tích được thực hiện với sự hỗ trợ của các phần mềm chuyên dụng: SmartPLS 4.1 cho PLS-SEM, NCA và SPSS 28.0 cho các phân tích thống

kê mô tả và chuẩn bị dữ liệu.

85

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

4.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung Bộ

4.1.1. Vị trí Vùng du lịch Bắc Trung Bộ trong chiến lược phát triển du lịch của

cả nước và quốc tế

Nằm ở dải đất miền trung Việt Nam, nơi giao lưu của hai nền văn minh Đông

Sơn và Sa Huỳnh, nơi còn nhiều dấu di tích lịch sử, di tích cách mạng và cũng là nơi có

dải ven biển sạch đẹp nổi tiếng từ Nhật Lệ (Quảng Trị), Lăng Cô (Huế) đến đô thị cổ

Hội An, hứa hẹn sự phát triển du lịch mạnh mẽ của vùng. Đặc biệt, đây cũng là vùng đất

văn hóa quan trọng của Việt Nam, là nơi có 5 di sản được UNESCO công nhận là di sản

thế giới:thành nhà Hồ; Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Quần thể di tích cố đô Huế,

Nhã nhạc cung đình Huế, Thánh địa Mỹ Sơn.

Trong những năm qua, ngành Du lịch dịch vụ đã đóng góp quan trọng vào sự

tăng trưởng kinh tế của vùng, góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhiều

địa phương thuộc Vùng du lịch Bắc Trung Bộ theo xu hướng tăng tỷ trọng du lịch - dịch

vụ. Điều đó thể hiện sự khởi sắc của nền kinh tế dựa vào các lợi thế so sánh. Từ năm

2018 doanh thu của ngành du lịch đạt 34.125 tỷ đồng. Tỷ lệ đóng góp của du lịch - dịch

vụ trong cơ cấu kinh tế của các địa phương năm 2018 từ 24,4% đến 34,2% (tính cả du

lịch và các ngành dịch vụ khác)

Phương hướng phát triển kinh tế xã hội của nhiều địa phương vùng du lịch

Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã xác định rõ vai trò quan trọng có tính

quyết định của du lịch - dịch vụ thông qua mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế của

địa phương. Hầu hết các địa phương trong vùng đã xác định chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng: Công nghiệp - Du lịch, dịch vụ - Nông nghiệp và đã xác định hướng

đưa ngành du lịch, dịch vụ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn hoặc ngành kinh tế

mạnh. Như vậy: Du lịch dịch vụ sẽ đóng vai trò quyết định trong nền kinh tế của các

địa phương.

86

Bảng 4.1. Cơ cấu kinh tế vùng Bắc Trung Bộ theo ngành kinh tế chính

(ĐVT: %)

Năm Dịch vụ Tổng Nông - lâm - ngư nghiệp Công nghiệp - xây dựng

2020 19,5 37,8 42,7 100

2021 18,9 38,1 43 100

2022 18,2 39 42,8 100

2023 17,8 40 42,2 100

2024 16,8 41,2 42 100

Nguồn: Niên giám thống kê

Bảng 4.1 phản ánh xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng Bắc Trung Bộ theo

hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn 2020-2024, phù hợp với định

hướng phát triển đã được xác lập trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia

và Quy hoạch vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2030. Cơ cấu kinh tế ba khu vực của vùng

thể hiện rõ sự suy giảm đều đặn của khu vực nông - lâm - ngư nghiệp, từ 19,5% năm

2020 xuống còn 16,8% năm 2024. Sự suy giảm này không chỉ phản ánh quá trình thu

hẹp về mặt tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế, mà còn cho thấy hiệu quả của việc tái cấu

trúc ngành nông nghiệp theo hướng giảm lao động, tăng giá trị gia tăng và chuyển đổi

mô hình sản xuất từ truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp tuần

hoàn và hữu cơ. Đồng thời, khu vực công nghiệp - xây dựng ghi nhận sự tăng trưởng

tương ứng, từ 37,8% năm 2020 lên 41,2% năm 2024, qua đó trở thành động lực chính

trong chuyển dịch cơ cấu của vùng. Sự gia tăng này chủ yếu đến từ sự phát triển mạnh

của các khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển như KKT Nghi Sơn (Thanh Hóa), KKT

Vũng Áng (Hà Tĩnh), và sự mở rộng hạ tầng công nghiệp tại Nghệ An, Quảng Trị.

Ngành công nghiệp chế biến - chế tạo, đặc biệt là các lĩnh vực năng lượng, sản xuất

vật liệu xây dựng, cơ khí, và chế biến thực phẩm, đang dần chiếm ưu thế, cho thấy

bước chuyển từ công nghiệp khai khoáng sang các ngành có giá trị gia tăng cao hơn.

Khu vực dịch vụ có sự biến động nhẹ, dao động trong khoảng 42-43%, phản ánh khả

năng phục hồi tương đối tốt sau đại dịch COVID-19. Tuy nhiên, mức độ tăng trưởng

không quá mạnh cho thấy cơ sở hạ tầng dịch vụ, chất lượng nhân lực và khả năng khai

thác tiềm năng du lịch biển, logistics và thương mại chưa thực sự tương xứng với tiềm

năng sẵn có của vùng. Đây cũng là thách thức lớn trong quá trình tái cơ cấu kinh tế,

đòi hỏi các địa phương phải có chiến lược đột phá nhằm nâng cao tỷ trọng các ngành

87

dịch vụ có giá trị gia tăng cao như du lịch, logistics, dịch vụ tài chính, giáo dục - y tế

chất lượng cao.

Như vậy, cơ cấu kinh tế vùng Bắc Trung Bộ đang dịch chuyển tích cực theo

hướng giảm phụ thuộc vào nông nghiệp, nâng cao vai trò của công nghiệp và củng cố

khu vực dịch vụ. Xu hướng này phù hợp với chiến lược phát triển bền vững, song cũng

đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc hoàn thiện thể chế liên kết vùng, phát triển hạ tầng

đồng bộ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhằm nâng

cao năng lực cạnh tranh của toàn vùng trong dài hạn.

Vị trí chiến lược của các địa phương trong VDLBTB càng được khẳng định khi

tuyến “hành lang kinh tế Đông Tây” (EWEC) được thành lập và triển khai. Đây là

tuyến giao thông dài 1450 km đi qua bốn nước. Bắt đầu từ thành phố cảng Mawlamyine

đến cử khẩu Myawaddy (Myanma), đi qua bảy tỉnh của Thái Lan tới Lào và cuối cùng

đến Việt Nam (chạy từ cửa khẩu Lao Bảo qua các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế

tới cảng Đà Nẵng). Tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây đã được hoàn thành cuối năm

2006 đã đem lại cơ hội cho các quốc gia trên tuyến đường đẩy mạnh hợp tác khu vực

và nâng cao mức sống cho nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và buôn

bán qua biên giới, đa dạng hóa hoạt dộng kinh tế và xuất khẩu, thúc đẩy phát triển du

lịch. Trong lĩnh vực du lịch, việc phát triển du lịch tại Vùng du lịch Bắc Trung Bộ sẽ

thúc đẩy hoạt động du lịch liên vùng, liên quốc gia. Kết hợp với du lịch vùng miền

Trung Lào và Đông Bắc Thái Lan tạo thành điểm nhấn du lịch của khu vực Châu Á -

Thái Bình Dương.

Với việc đầu tư tập trung đầu tư các dự án trọng điểm vào các địa phương Bắc

Trung Bộ như: trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ; cảng biển nước

sâu, sân bay quốc tế, giao thông xuyên Việt, xuyên á. Đặc biệt, với việc hình thành các

khu kinh tế mở như: Chu Lai, Dung Quất, Chân Mây … kéo theo sự hình thành các khu

đô thị Công nghiệp - Thương mại - Dịch vụ du lịch; Nó đem lại một nguồn sinh lực mới

cho khu kinh tế trọng điểm miền Trung và tạo ra các tiền đề quan trọng cho sự phát triển

ngày càng hoàn chỉnh của khu vực này. Để khai thác tối đa lợi thế của miền Trung, Tổng

cục du lịch (TCDL) đã xác định các tuyến du lịch trọng điểm gồm: Con đường Di sản

thế giới, Con đường xanh Tây Nguyên, Con đường huyền thoại - đường mòn Hồ Chí

Minh; Tuyến hành lang Đông - Tây...

Cùng với việc đầu tư phát triển các dự án trọng điểm về du lịch và việc mở rộng

các đường bay thẳng từ sân bay Quốc tế Đà Nẵng đến các nước trên thế giới sẽ tạo

88

điều kiện cho việc thu hút du khách đến vùng. Nhiều chuyên gia du lịch và tập đoàn

FujiKen (Nhật Bản) nhận định: “Việc phát triển Bắc Trung Bộ sẽ tạo điều kiện nối kết

với hai trung tâm du lịch lớn là Hà Nội và TP. HCM, đặc biệt sẽ tạo sự nối kết mạnh

với du lịch Lào và Đông Bắc Thái Lan”. Điều này sẽ góp phần tạo nên điểm đến hấp

dẫn ở khu vực Đông nam Á và Châu Á Thái Bình Dương và nếu “Định hướng đúng

và làm tốt có thể tạo nên “cực du lịch” hấp dẫn ở khu vực và có sức thu hút mạnh đối

với du khách trên thế giới”.

Tóm lại: Vùng du lịch Bắc Trung Bộ là một vùng đất không chỉ có cảnh quan đẹp do thiên nhiên ưu đãi mà còn có lịch sử, xã hội, văn hóa biến động phức tạp. Là nơi

hội nhập các luồng văn hóa tư tưởng khác nhau với sự pha tạp các dân tộc khác nhau. Chính sự pha trộn đó làm cho các địa phương trung vùng trở thành nét đặc thù về lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam. Với lợi thế so sánh của mình, việc phát triển hoạt động

du lịch tại vùng thực sự có vai trò quan trọng nó không chỉ đóng góp vào sự phát triển du lịch của cả nước mà còn thúc đẩy sự phát triển du lịch ở khu vực Đông Nam Á và Châu Á - Thái Bình Dương.

4.1.2. Tài nguyên du lịch

Bắc Trung Bộ là vùng tài nguyên du lịch vô cùng đa dạng, phong phú với dải bờ

biển dài khoảng 670 km, thiên nhiên hoang sơ và giàu những nét văn hóa đặc sắc. Bắc

Trung Bộ nổi tiếng với các bãi biển đẹp như: Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An),

Nhật Lệ (Quảng Trị), Cửa Tùng (Quảng Trị), Thuận An, Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế)...;

các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia: Bến En (Thanh Hóa), Pù Mát (Nghệ An),

Vũ Quang, Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh), Phong Nha - Kẻ Bàng, Sơn Đoòng (Quảng Trị), Bạch Mã

(Thừa Thiên - Huế)... Với tiềm năng sinh thái rừng và biển phong phú, đa dạng, các tỉnh

Bắc Trung Bộ có điều kiện lý tưởng để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ

dưỡng và thể thao mạo hiểm.

Trong tổng số 28 di sản thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận tính

đến năm 2020 thì đã có 7 di sản thuộc vùng Bắc Trung Bộ: Quần thể di tích cố đô Huế;

Vườn Quốc giá Phong Nha - Kẻ Bàng; Nhã nhạc cung đình Huế; Mộc bản triều Nguyễn;

Thành nhà Hồ (Thanh Hóa); Ví dặm Nghệ Tĩnh; Châu bản Triều Nguyễn. Hệ thống các

di sản thế giới này tạo nên sự khác biệt nổi trội của Bắc Trung Bộ so với các vùng khác

trong cả nước. Nơi đây còn có các lễ hội độc đáo như: Lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa);

lễ hội đền Cuông (Nghệ An); lễ hội điện Hòn Chén (Thừa Thiên - Huế); Festival Huế,...

Bắc Trung Bộ còn là nơi cư trú của 25 dân tộc khác nhau với kho tàng văn hóa dân gian

phong phú, đa dạng, trong đó nổi bật là các điệu hò sông nước đặc trưng như: Hò sông

89

Mã (Thanh Hóa), hò ví dặm (Nghệ Tĩnh), hò khoan (Quảng Trị), hò mái nhì (Quảng Trị)

và hò Huế.

Ngoài ra, ở đây còn có rất nhiều di tích gắn với lịch sử chiến tranh: Thành cổ Quảng Trị, nghĩa trang Trường Sơn, địa đạo Vĩnh Mốc, Khe Xanh, cầu Hiền Lương...

Khu vực tập trung nhiều di tích nhất và cũng là nơi chứa đựng nhiều lớp nghĩa nhất là cố đô Huế. Trong kho tàng di sản văn hóa của đất nước, trải qua bao biến động thăng trầm của thời gian, có thể thấy Huế là nơi duy nhất còn bảo tồn được tổng thể kiến

trúc của một kinh đô nước Việt. Huế hiện nay được coi là một kho tàng sử liệu đồ sộ, một di sản văn hóa độc đáo với đầy đủ hệ thống thành quách, cung điện, đền miếu, lăng

tẩm, chùa chiền...

Bên cạnh đó, Bắc Trung Bộ còn được biết đến là một vùng đất giàu giá trị văn

hóa truyền thống với những làn điệu ca mua nhạc vừa mang đậm bản sắc văn hóa dân

tộc, vừa lại giàu sắc thái riêng như hò sông Mã, hát sẩm xoan (Thanh Hóa); hát ví dặm,

hát phường vải (Nghệ An); ca trù Cổ Đam, hò chèo cạn Nhượng Ban (Hà Tĩnh); hò

khoan Quảng Trị, hò bài chòi, ca trù (Quảng Trị),.. đặc biệt là nhã nhạc cung đình Huế

- đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thế của nhân loại.

Những thế mạnh về tài nguyên du lịch là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch của vùng Bắc Trung Bộ. Mục tiêu phát triển du lịch của Bắc Trung Bộ đến năm 2030 là thu hút 14 triệu lượt khách quốc tế, 17 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch đạt 3,6 tỷ USD; phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong vùng, là trọng điểm phát triển du lịch của cả nước.

4.1.3. Cơ sở hạ tầng

Vùng Bắc Trung Bộ có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường hàng

khong tương đối phát triển, kết nối toàn bộ 6 tỉnh thuộc vùng là ba tuyến quan trọng trên

trục giao thông Bắc - Nam là đường quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam và đường Hồ Chí

Minh. Ngoài ra, vùng cũng có nhiều sân bay, trong đó quan trọng nhất là sân bay Phú

Bài (Thừa Thiên - Huế), Vinh và Đồng Hới. Nhìn chung, so với cả nước, các tuyến giao

thông đường bộ của vùng Bắc Trung Bộ tương đối thuận lợi, thường xuyên được bảo

trì, nâng cấp nên có chất lượng tốt. Tuy nhiên, do tác động của thiên tai, bão lũ nên giao

thông còn gặp nhiều khó khăn vào mùa mưa bão.

Bắc Trung Bộ có tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC) đi qua 4 nước

Myanmar - Thái Lan - Lào - Việt Nam đang phát triển mạnh, là nhân tố động lwucj để

phát triển kinh tế khu vực. Đây là một trong những điều kiện vô cùng thuận lợi để có

90

thể đẩy mạnh hợp tác với các nước bạn trong phát triển du lịch qua các cửa khẩu đường

bộ. Toàn vùng cũng đang dần hình thành một tuyến đường du lịch chạy dọc ven biển,

tuy nhiên vẫn còn khó khăn ở một số địa phương và khó khăn trong việc khớp nối toàn

bộ tuyến đường để tạo thành một trục đường quan trọng chạy song song với quốc lộ 1A.

Sự hình thành con đường này sẽ tạo điều kiện thuận lợi đặc biệt trong việc phát triển du

lịch toàn vùng.

4.2. Thực trạng phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững

4.2.1. Dưới góc độ kinh tế

4.2.1.1. Vị thế, quy mô của ngành du lịch biển

a) Du lịch biển trong định hướng, chính sách phát triển kinh tế của địa phương

Trong chiến lược phát triển KT - XH của các tỉnh ở vùng Bắc Trung Bộ, du lịch

biển đều xác định đóng góp vai trò quan trọng trở lên với kinh tế của các địa phương.

vùng Bắc Trung Bộ đều đã có quy hoạch tổng thể du lịch biển biển phát triển du lịch

biển biển định hướng đến năm 2025 và 2030.

(1) Du lịch biển biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ ngày càng được khẳng định

về tiềm năng, vị trí, hình ảnh, và chất lượng trên bản đồ du lịch biển của Việt Nam.

(2) Các điểm du lịch biển biển đều nằm ở vị trí giao thông thuận lợi, nhiều nơi

giáp ranh giữa các tỉnh lân cận, thuận tiện cho việc tham quan, di chuyển, liên kết.

(3) Các điểm du lịch biển biển đều nằm xen kẽ với khu dân cư, cách trung tâm

thành phố không xa, nên có cả các dịch vụ tiện ích, giải trí xung quanh.

Ngành du lịch biển biển các tỉnh ở vùng Bắc Trung Bộ đã và đang ngày càng

khẳng định vị trí quan trọng trong mục tiêu phát triển kinh tế địa phương, được các

cấp lãnh đạo ưu tiên trong kế hoạch đầu tư phát triển. Các điểm du lịch biển được đầu

tư mở rộng, quy mô ngày một lớn về cả con người và cơ sở vật chất. Các ý kiến cũng

cho rằng bản thân ngành du lịch biển ở các tỉnh cũng đang tự khẳng định chỗ đứng và

tầm quan trọng của mình thông qua các hình thức liên kết, hợp tác rộng rãi. Du lịch

biển được đánh giá là có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế các tỉnh như vậy

nhưng tổng số vốn đầu tư cho dự án du lịch biển hằng năm ở các tỉnh vùng Bắc Trung

Bộ còn khiêm tốn chỉ chiếm khoảng hơn 1% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội

trên địa bàn tỉnh.

91

b) Tăng trưởng ngành du lịch biển trong hệ thống các ngành kinh tế địa phương

Bảng 4.2. So sánh tốc độ tăng trưởng trung bình các ngành kinh tế ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2020-2024

Tốc độ tăng Tốc độ tăng Tốc độ

Các tỉnh Tốc độ tăng GRDP công nghiệp- xây dựng tăng dịch vụ nông-lâm- thủy sản

Thanh Hóa 7,50% 1,55% 9,90% 7,80%

Nghệ An 9% 3,80% 12,80% 8%

Hà Tĩnh 9,20% 4,50% 15,20% 6,80%

Quảng Bình 8,60% 2,65% 11,00% 8,90%

Quảng Trị 9,60% 4,90% 13,90% 9,10%

Thừa Thiên - Huế 9,30% 5,60% 16,30% 7,90%

Nguồn: Tác giả tổng hợp và phân tích

Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2020 - 2024 của các tỉnh vùng

Bắc Trung Bộ đạt trung bình khoảng gần 8%/năm; trong đó khu vực nông - lâm -

thủy sản 3%/năm; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 12%/năm; dịch vụ tăng xấp

xỉ 8%/năm. Trong đó, tốc độ tăng trưởng du lịch biển nhanh và liên tục, trung bình

đạt 18,78% cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng GRDP nói chung và tốc độ tăng

ngành dịch vụ nói riêng. Du lịch biển đã khẳng định được tầm quan trọng trong phát

triển kinh tế ở địa phương.

c) Chuyển dịch trong cơ cấu ngành du lịch biển

- Thứ nhất, trong cơ cấu doanh thu

Khách du lịch biển đến các tỉnh phía các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ (cả quốc tế và

nội địa) phân bổ chi tiêu như sau: phần lớn chi tiêu cho hai dịch vụ là ăn uống và lưu

trú. Vì vậy, đóng góp của hai dịch vụ này lớn nhất trong cơ cấu của du lịch biển (chiếm

khoảng 50% tổng doanh thu). Trong khi đó, cơ cấu trong doanh thu từ dịch vụ mua sắm,

giải trí chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng đang có tín hiệu gia tăng trong những năm gần đây.

Phần tỷ trọng cơ cấu trong ngành du lịch biển đã phản ánh đúng về ngành du lịch biển

của các tỉnh phía các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, dịch vụ phụ trợ du lịch biển thiếu và yếu;

sản phẩm đặc thù ít, khu vui chơi giải trí, các dịch vụ bổ sung cần phong phú, cần thêm

nguồn bổ sung cho những sản phẩm này.

92

Bảng 4.3. Cơ cấu trong nội bộ du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ

Đơn vị tính: %

STT Cơ cấu

Lưu trú 1 2020 2021 2022 33,5 33 32,5 2023 33,8 2024 34

Ăn uống 2 24,0 24,0 24,2 24,3 24,5

Vận chuyển Mua sắm 3 4 15,0 15,0 15,0 15,0 15,0 14,8 15,0 14,7 15,0 14,5

5 Giải trí và dịch vụ khác 13,5 13,0 12,5 12,2 12,0

Tổng cộng 100 100 100 100 100

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Bảng phản ánh cơ cấu chi tiêu nội bộ trong hoạt động du lịch biển tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2020-2024, cho thấy sự dịch chuyển tương đối ổn định và có tính xu hướng trong cấu trúc chi tiêu của du khách nội địa. Tỷ trọng chi cho dịch vụ

lưu trú tăng đều qua các năm, từ 32,5% (2020) lên 34% (2024), phản ánh nhu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ nghỉ dưỡng, cũng như sự đầu tư mạnh mẽ vào các cơ sở lưu trú tiêu chuẩn cao tại các địa phương như Thanh Hóa, Thừa Thiên - Huế hay Hà

Tĩnh. Điều này cũng cho thấy xu hướng du lịch biển chuyển dịch từ hình thức ngắn ngày, tiết kiệm sang nghỉ dưỡng dài ngày, trọn gói, có hàm lượng tiện nghi và trải

nghiệm cao hơn. Ngược lại, tỷ trọng chi cho các nhóm như mua sắm và giải trí - dịch vụ khác có xu hướng giảm nhẹ. Mua sắm giảm từ 15% (2020) xuống còn 14,5% (2024), còn nhóm giải trí và dịch vụ phụ trợ giảm từ 13,5% còn 12%. Sự sụt giảm này có thể được lý giải bởi hai yếu tố chính: (i) hành vi tiêu dùng của du khách đang chuyển dịch sang ưu tiên trải nghiệm chất lượng thay vì chi tiêu vật chất; (ii) năng lực khai thác các dịch vụ giải trí biển tại nhiều địa phương chưa thực sự tương xứng với kỳ vọng và nhu

cầu mới của thị trường. Tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống và vận chuyển giữ mức ổn định

(24-24,5% và 15%), cho thấy đây là các khoản chi thiết yếu có tính bắt buộc và ít bị tác động bởi thay đổi xu hướng tiêu dùng. Tuy nhiên, trong bối cảnh giá nhiên liệu, chi phí

logistics và dịch vụ ăn uống tăng theo lạm phát, việc duy trì tỷ trọng này cũng đồng nghĩa với việc các địa phương đã có những cải tiến đáng kể về hiệu quả chi tiêu, tổ chức tour và chuỗi cung ứng dịch vụ. Tổng thể, bảng cơ cấu chi tiêu cho thấy các địa phương

ven biển Bắc Trung Bộ đang dần tiệm cận mô hình du lịch chất lượng cao, nơi chi tiêu tập trung vào dịch vụ chính (lưu trú, ăn uống) thay vì các dịch vụ bổ trợ. Kết cấu này là cơ sở quan trọng để hoạch định chính sách phát triển du lịch theo hướng bền vững, trong

đó cần ưu tiên đầu tư nâng cấp cơ sở lưu trú, tăng cường kiểm soát chất lượng dịch vụ

ăn uống, đồng thời tái cấu trúc các loại hình dịch vụ giải trí - trải nghiệm nhằm nâng cao giá trị gia tăng và kéo dài thời gian lưu trú của du khách.

93

- Thứ hai, trong cơ cấu đầu tư

+ Đầu tư nước ngoài

Trên địa bàn các tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ hiện chưa có dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào lĩnh vực du lịch biển, đây cũng là tình trạng chung của một số tỉnh lân cận. Nguyên nhân chủ yếu là các điểm du lịch biển văn hóa chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt các điểm du lịch biển sinh thái tự nhiên của các

tỉnh, trong đó có biển chưa thực sự nổi bật và hấp dẫn khách du lịch biển. Bên cạnh đó,

các điều kiện về cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông tới các điểm du lịch biển còn yếu, chất lượng các dịch vụ phục vụ du khách chưa đảm bảo.

+ Đầu tư trong nước

Phần lớn vốn đầu tư phát triển dành cho du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ là từ vốn nhà nước. Việc thu hút các nguồn vốn khác cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch biển còn gặp nhiều khó khăn, các nhà đầu tư còn ít quan tâm đến việc bỏ vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch biển, vì tâm lý chung đều cho rằng Nhà nước phải đảm nhiệm các công việc trên, còn các nhà đầu tư chỉ chú trọng những lĩnh

vực đầu tư hoạt động kinh doanh như khách sạn, nhà hàng... để khai thác ngay. Do đó,

nguồn vốn khác đầu tư cho cơ sở hạ tầng du lịch biển trong giai đoạn này còn thấp. Để giải quyết vấn đề này, các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đã vận dụng một số chính sách, cơ chế nhằm thu hút các nguồn đầu tư như: chính sách đổi đất lấy hạ tầng; chính sách thu

hút đầu tư; chính sách khuyến khích phát triển du lịch biển; quy định thủ tục, trình tự, thời gian xét duyệt cấp giấy phép đầu tư cho các dự án và giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa... Các chính sách này được ban hành, từng bước sẽ phát huy hiệu quả trong giai đoạn tới.

Bảng 4.4. Đánh giá của cán bộ quản lý nhà nước về đầu tư phát triển du lịch biển vùng Bắc Trung Bộ

Đơn vị tính: %

Rất kém Chỉ tiêu Rất tốt (5) Tốt (4) Kém (2) (1) Trung bình (3)

Môi trường đầu tư 12,14 46,4 38,57 2,86 0

Thực hiện các dự án đầu tư trong nước 42,55 43,97 4,25 9,22 0

Đầu tư phát triển nguồn nhân lực 39,71 48,23 4,96 7,09 0

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch biển 5,71 48,57 42,14 3,57 0

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát của tác giả

94

Bên cạnh đó, căn cứ nội dung quy hoạch, các tỉnh đã có nhiều hoạt động xúc tiến

kêu gọi đầu tư nhưng môi trường đầu tư chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư nên thực

tế công tác đầu tư không theo đúng quy hoạch, một phần do nguồn vốn quá nhỏ so với

nhu cầu, một phần do định hướng quy hoạch không phù hợp, thiếu tính khả thi.

Theo ý kiến, của các cán bộ quản lý nhà nước thì nội dung đầu tư phát triển du

lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ nhìn chung là tốt nhưng riêng đầu tư phát triển

nguồn nhân lực của các tỉnh cần phải có chính sách phù hợp hơn trong việc phân bổ vốn.

Đây là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá phát triển năng lực du lịch biển của

các tỉnh và duy trì sự PTBV cho du lịch biển.

4.2.1.2. Lợi ích kinh tế từ du lịch biển

a, Đóng góp vào GRDP và các ngành khác

Bảng 4.5. Đóng góp của du lịch biển vào GRDP của tỉnh

Năm STT Tỉnh

2,7%

1,4%

3,9%

3,8%

5,7%

2020 2021 2022 2023 2024

6,5%

4,8%

10,4%

11,4%

11,9%

Thanh Hóa 1

5,7%

6,1%

8,2%

13,8%

19,4%

Nghệ An 2

2,5%

3,1%

5,0%

6,5%

7,2%

Quảng Bình 3

4,8%

1,0%

3,6%

6,3%

10,8%

Quảng Trị 4

1,4%

1,8%

2,7%

3,6%

4,1%

Thừa Thiên - Huế 5

Hà Tĩnh 6

Bảng số liệu thể hiện tỷ lệ đóng góp của du lịch biển vào GRDP của các tỉnh

vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2020-2024 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ nét trong

cơ cấu kinh tế khu vực, khi du lịch biển dần trở thành một ngành kinh tế trọng điểm có

vai trò ngày càng nổi bật. Mức độ đóng góp của ngành này không chỉ phản ánh lượng

khách tăng thuần túy, mà còn cho thấy hiệu quả chuyển hóa tài nguyên biển thành giá

trị kinh tế thực chất tại từng địa phương. Trong đó, Quảng Bình nổi lên như một điển

hình tiêu biểu, khi tỷ lệ đóng góp của du lịch biển vào GRDP tăng từ 5,7% năm 2020

lên tới 19,4% vào năm 2024 - mức tăng gần gấp bốn lần trong vòng 5 năm. Sự bứt phá

này không chỉ bắt nguồn từ sự phục hồi sau đại dịch mà còn thể hiện quyết tâm chiến

lược trong việc định vị du lịch biển - sinh thái - mạo hiểm như một chuỗi giá trị kinh tế

cốt lõi của tỉnh. Tương tự, Thừa Thiên - Huế và Nghệ An đều đạt ngưỡng đóng góp trên

95

10% vào năm 2024 (lần lượt là 10,8% và 11,9%), cho thấy ngành du lịch biển đã được

tích hợp tương đối hiệu quả vào chiến lược phát triển vùng ven biển, nhất là khi kết hợp

được yếu tố văn hóa - lịch sử và tài nguyên thiên nhiên đặc sắc.

Dữ liệu cũng chỉ rõ tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 đến ngành du lịch biển trong năm 2021, khi hầu hết các địa phương đều ghi nhận mức suy giảm mạnh mẽ về tỷ trọng đóng góp. Ví dụ, tại Thanh Hóa, tỷ lệ giảm từ 2,7% (2020) xuống còn 1,4%; Thừa Thiên - Huế thậm chí giảm xuống mức đáy chỉ còn 1,0%. Đây là minh chứng cho

thấy tính dễ tổn thương và độ nhạy cảm cao của ngành du lịch trước các cú sốc mang tính toàn cầu. Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận là quá trình phục hồi diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ: chỉ trong vòng 3 năm sau đại dịch, tỷ lệ đóng góp không chỉ hồi phục mà

còn vượt xa mức trước dịch ở hầu hết các tỉnh. Điều này phản ánh khả năng thích ứng linh hoạt của chính quyền địa phương, sự chuyển hướng chiến lược đúng đắn trong phát triển du lịch, cũng như sức cầu tăng nhanh trở lại của thị trường du lịch nội địa sau khi

các hạn chế đi lại được gỡ bỏ.

Dẫu vậy, mức độ đóng góp của du lịch biển vào GRDP vẫn còn sự chênh lệch

đáng kể giữa các địa phương trong vùng. Hà Tĩnh, mặc dù có đường bờ biển dài và vị trí chiến lược nối giữa Bắc và Nam, lại chỉ đạt tỷ lệ đóng góp 4,1% vào năm 2024 - thấp nhất toàn vùng. Điều này có thể phản ánh sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch phát triển

du lịch biển, hạn chế trong thu hút đầu tư và phát triển sản phẩm du lịch đặc thù. Thanh Hóa, dù có các bãi biển nổi tiếng như Sầm Sơn và Hải Tiến, cũng chỉ đạt mức 5,7%, cho thấy dư địa để cải thiện vẫn còn rất lớn nếu tỉnh có thể nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa loại hình du lịch và đẩy mạnh liên kết vùng.

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng du lịch biển không chỉ là hoạt động dịch vụ mang tính bổ trợ mà đang ngày càng giữ vai trò cốt lõi trong cơ cấu kinh tế của

các tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả tiềm năng này, các địa phương cần tái cấu trúc mô hình phát triển du lịch theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, chuyển dịch từ du lịch đại trà sang du lịch chất lượng cao, thân thiện môi trường

và bền vững. Đồng thời, cần đẩy mạnh cơ chế liên kết vùng, chia sẻ lợi thế tài nguyên và đầu tư vào hạ tầng giao thông ven biển để tối ưu hóa chuỗi giá trị du lịch biển. Tỷ lệ đóng góp vào GRDP là chỉ dấu kinh tế quan trọng, nhưng để du lịch biển thực sự trở

thành động lực tăng trưởng dài hạn, điều cần thiết là xây dựng được năng lực cạnh tranh địa phương dựa trên chất lượng trải nghiệm du khách, sự đa dạng của sản phẩm và năng

lực điều hành chiến lược của chính quyền cấp tỉnh. Đây sẽ là nền tảng để vùng Bắc Trung Bộ không chỉ phục hồi sau khủng hoảng mà còn bứt phá và khẳng định vị thế trong bản đồ du lịch biển quốc gia.

96

Đóng góp của du lịch biển không chỉ nằm ở con số GRDP tuyệt đối, mà còn thể hiện qua sự lan tỏa đến các ngành kinh tế liên quan, đặc biệt là dịch vụ, thương mại,

giao thông, xây dựng và công nghiệp chế biến nhẹ. Tuy nhiên, giá trị tuyệt đối và tương đối của du lịch biển trong GRDP vẫn chưa tương xứng với tiềm năng tài nguyên thiên

nhiên và vị trí chiến lược ven biển.

Một yếu tố cốt lõi khác là cơ cấu khách chưa hợp lý: nhóm khách đi lễ hội và du

lịch ngắn ngày vẫn chiếm ưu thế, trong khi nhóm khách nghỉ dưỡng dài ngày - thường có mức chi tiêu cao hơn - lại chưa thu hút được nhiều. Tỷ lệ khách quốc tế còn khiêm

tốn, hầu hết đến từ các nước châu Á, lưu trú ngắn, chi tiêu hạn chế.).

Bảng 4.5. Doanh thu từ du lịch biển của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ

Đơn vị: tỷ đồng

Năm STT Tỉnh 2.022 2.020 2.021 2.023 2.024

1 Thanh Hóa 356,26 812,73 21.625,44 23.598,83 35.778,79

2 Nghệ An 2.621,57 2.045,21 4.114,51 4.765,79 5.739,42

3 Quảng Bình 191,00 99,00 601,79 810,49 935,58

4 Quảng Trị 177,48 702,79 2.843,90 3.609,36 7.346,89

5 Thừa Thiên - Huế 356,26 812,73 21.625,44 23.598,83 35.778,79

6 Hà Tĩnh 356,26 812,73 21.625,44 23.598,83 35.778,79

Cộng 4.058,83 5.285,19 72.436,52 79.982,12 121.358,25

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Trong những năm qua, ngành DL đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh

tế của Vùng Bắc Trung bộ. Tổng thu nhập từ DL bao gồm các khoản từ lưu trú và ăn uống, lữ hành, vận chuyển DL, bán hàng lưu niệm và một số dịch vụ khác... Kết quả này được tính dựa trên tổng số lượt khách DL, số ngày lưu trú trung bình cũng như mức chi tiêu bình quân của mỗi khách trong một ngày.

Dữ liệu từ Bảng 4.5 phản ánh sự chuyển biến mạnh mẽ trong doanh thu từ du lịch biển tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2020-2024, cho thấy xu hướng phục hồi và bứt phá rõ nét sau đại dịch COVID-19. Tổng doanh thu toàn vùng đã tăng từ 4.058,83 tỷ đồng năm 2020 lên 121.358,25 tỷ đồng năm 2024, tức tăng gấp gần 30 lần trong vòng

4 năm. Đây là minh chứng cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của kinh tế du lịch

trong cơ cấu kinh tế vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, đặc biệt khi được tiếp sức bởi chính sách mở cửa du lịch quốc tế, đầu tư hạ tầng và chiến lược truyền thông điểm đến.

97

Thanh Hóa và Hà Tĩnh nổi bật với tốc độ tăng trưởng vượt trội, từ mức doanh thu chưa tới 1.000 tỷ đồng năm 2020-2021 vọt lên hơn 35.000 tỷ đồng vào năm 2024.

Riêng năm 2022, Thanh Hóa đạt 21.625,44 tỷ đồng, chiếm gần 30% tổng doanh thu toàn vùng - cho thấy hiệu quả từ việc phát triển các tổ hợp nghỉ dưỡng biển, kết nối giao

thông thuận lợi (cao tốc Bắc Nam, đường ven biển) và chính sách thu hút doanh nghiệp lớn đầu tư. Hà Tĩnh, dù xuất phát điểm thấp, lại có tốc độ tăng trưởng song hành nhờ

vào các mô hình du lịch cộng đồng, sinh thái gắn với văn hóa bản địa. Tỉnh Nghệ An cũng ghi nhận sự bứt phá từ 2.621,57 tỷ đồng (2020) lên 5.739,42 tỷ đồng (2024), phản

ánh sức hút của Cửa Lò và các vùng ven biển đang được khai thác theo hướng xanh và

bền vững. Các tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị tuy có quy mô khiêm tốn hơn nhưng vẫn duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, đặc biệt là Quảng Bình - nơi khai thác tốt du lịch

mạo hiểm và di sản thiên nhiên (Phong Nha - Kẻ Bàng), giúp doanh thu tăng từ 191,00 tỷ đồng lên 935,58 tỷ đồng sau 4 năm. Trong khi đó, Thừa Thiên Huế giữ vai trò vừa là trung tâm di sản - văn hóa vừa mở rộng ra biển (Thuận An, Lăng Cô), với doanh thu năm 2024 đạt 35.778,79 tỷ đồng, tiệm cận với Thanh Hóa và Hà Tĩnh, thể hiện rõ định hướng tích hợp du lịch di sản với du lịch biển trong quy hoạch vùng.

Từ góc nhìn thực tiễn, bảng số liệu này không chỉ khẳng định tiềm năng và dư địa phát triển du lịch biển tại Bắc Trung Bộ, mà còn gợi mở nhu cầu cấp thiết trong việc

thiết kế chính sách liên kết vùng, quy hoạch không gian biển bền vững, cũng như tăng cường năng lực quản lý điểm đến, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và ứng dụng chuyển đổi số trong quảng bá và dịch vụ. Nếu các địa phương tận dụng tốt xu thế “du

lịch an toàn, xanh, bền vững” và tăng cường đầu tư công - tư kết hợp, khu vực này hoàn toàn có thể trở thành cực tăng trưởng mới của du lịch quốc gia trong giai đoạn 2025- 2030. Tổng thể, các con số trong bảng phản ánh rõ rệt sự phát triển mạnh mẽ của ngành

du lịch tại Bắc Trung Bộ, không chỉ về mặt quy mô mà còn cho thấy dấu hiệu chuyển đổi sang mô hình khai thác du lịch biển và liên kết vùng hiệu quả hơn. Đây là tín hiệu tích cực, tạo tiền đề để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và đóng góp ngày càng lớn vào GRDP của toàn vùng. Theo dự đoán của các chuyên gia, những năm tới, DL sẽ có những bước phát triển mạnh mẽ hơn nữa và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Vùng Bắc Trung bộ.

b, Số lượng khách du lịch biển

Lượng khách du lịch biển đến vùng Bắc Trung Bộ liên tục tăng trong vòng hơn

10 năm qua. Các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đã chú trọng tập trung cho phát triển du lịch

biển và thương hiệu du lịch biển của các tỉnh đang dần được khẳng định trên bàn đồ du

lịch biển Việt Nam nói chung và vùng BTB nói. Đặc biệt, Thanh Hóa là một trong những

98

tỉnh thu hút khách du lịch biển hàng đầu cả nước, là trung tâm du lịch biển của tiểu vùng

vùng Bắc Trung Bộ tỏa ra các tỉnh vệ tinh lân cận.

Bảng 4.6. Lượng khách du lịch biển đến vùng Bắc Trung Bộ

Năm STT Tỉnh 2020 2021 2023 2024 2022

1 Thanh Hóa 4.437.734 2.773.269 6.518.154 8.383.394 10.662.610

2 Nghệ An 7.959.013 5.749.164 11.248.606 12.672.786 14.716.469

3 Quảng Bình 1.790.000 1.648.000 2.016.000 3.200.000 4.220.000

4 Quảng Trị 910.000 1.050.000 1.525.000 1.885.000 2.200.000

5 Thừa Thiên - Huế 1.582.241 464.196 1.572.100 2.954.000 3.527.300

6 Hà Tĩnh 980.000 1.200.000 1.630.000 2.100.000 2.380.000

Cộng 17.658.988 11.684.629 22.879.860 29.095.180 35.326.379

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Bảng 4.6 cung cấp cái nhìn hệ thống và toàn diện về sự biến động lượng khách

du lịch biển đến khu vực Bắc Trung Bộ trong giai đoạn 2020-2024. Dữ liệu cho thấy xu hướng tăng trưởng rõ nét và bền vững, với tổng lượt khách toàn vùng tăng từ 17,66 triệu lượt năm 2020 lên tới 35,33 triệu lượt năm 2024, tương đương mức tăng trưởng kép bình quân (CAGR) khoảng 18,6%/năm. Điều này phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của

ngành du lịch sau cú sốc COVID-19 và cho thấy tiềm năng to lớn của du lịch biển như một trụ cột tăng trưởng kinh tế vùng.

Xét về từng địa phương, Nghệ An và Thanh Hóa tiếp tục giữ vai trò trung tâm thu hút du khách biển trong khu vực, với lần lượt 14,7 triệu và 10,66 triệu lượt khách

vào năm 2024. Đây là những địa phương có hạ tầng du lịch phát triển, khả năng khai

thác tài nguyên biển hiệu quả và chiến lược xúc tiến du lịch tương đối đồng bộ. Quảng Bình - với thế mạnh du lịch thiên nhiên (Phong Nha - Kẻ Bàng) - cũng ghi nhận mức

tăng trưởng đáng kể từ 1,79 triệu lượt (2020) lên 4,22 triệu lượt (2024), tương đương hơn 135%. Trong khi đó, các địa phương như Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và Hà Tĩnh thể hiện nỗ lực đáng ghi nhận trong giai đoạn phục hồi, đặc biệt là Huế - nơi lượt khách

tăng gấp 7,6 lần từ mức thấp kỷ lục 464.196 lượt (2021) lên hơn 3,5 triệu lượt (2024). Hà Tĩnh cũng có sự cải thiện nhẹ với mức tăng gần 2,5 lần trong giai đoạn khảo sát. Điểm nhấn đặc biệt là năm 2021 - thời điểm đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp -

ghi nhận mức sụt giảm nghiêm trọng về lượng khách du lịch biển, chỉ đạt khoảng 11,68

triệu lượt, thấp hơn gần 34% so với năm 2020 và chỉ bằng 1/3 lượng khách của năm 2024. Tuy nhiên, sự phục hồi sau khủng hoảng diễn ra rất nhanh, minh chứng qua việc

99

tăng gấp đôi tổng lượt khách chỉ sau 3 năm (2021-2024). Tổng thể, số liệu từ bảng 4.7 không chỉ khẳng định vai trò chiến lược của du lịch biển trong cấu trúc kinh tế vùng Bắc

Trung Bộ mà còn đặt ra yêu cầu về quản lý phát triển bền vững. Các địa phương cần tiếp tục tăng cường liên kết vùng, đầu tư nâng cấp hạ tầng, và định vị rõ nét thương hiệu

du lịch biển đặc thù - không chỉ để tăng lượng khách, mà còn để cải thiện chiều sâu trải nghiệm và giá trị chi tiêu trung bình của du khách. Đây là tiền đề quan trọng để hướng

đến mục tiêu phát triển du lịch biển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thực sự trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt..

Khách du lịch quốc tế đến vùng biển Bắc Trung Bộ phân bố không đều theo lãnh

thổ. Phần lớn khách đến Huế vì nơi đây tập trung các tài nguyên du lich, có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối tốt. Thị trường khách du lịch quốc tế đến vùng

biển du lịch Bắc Trung Bộ cũng đang có sự chuyển dịch. Nếu như trước đây, khách du lịch chính đến vùng là khách từ các nước Đông Âu và Liên Xô cũ, thì ngày nay chủ yếu là khách du lịch đến từ các nước Tây Âu như Pháp, Đức; các nước Bắc Mỹ; các nước

châu Á - Thái Bình Dương như Nhật Bản và các nước ASEAN. Mục đích chuyến đi của khách du lịch quốc tế đến vùng Bắc Trung Bộ cũng rất đa dạng, nhưng chủ yếu là du

lịch thuần túy, khách du lịch có mục đích thương mại và các mục đích khác là không đánh kể. Hiện nay, vùng Bắc Trung Bộ mỗi năm đón khoảng hơn 2 triệu lượt khách

quốc tế (năm 2023 đón 2.701.000 lượt khách quốc tế).

Bảng 4.7. Cơ cấu khách quốc tế đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ

giai đoạn 2007 - 2024

Đơn vị tính: %

TT Quốc gia 2024 2007- 2009 2010- 2012 2013 - 2015 2016- 2017

1 Đông Bắc Á 16,3 22,9 21,4 24,7 26,7

2 Đông Nam Á 9,4 14,9 15,1 16,3 19,2

3 Tây Âu 18,2 14,4 10,2 8,7 9,1

4 Châu Úc 20,8 17,8 14,7 19,2 15,6

5 Đông Âu 11,1 12,0 16,6 14,1 14,2

6 Bắc Mỹ 7,7 8,7 7,2 5,8 6,1

7 Trung Đông 5,8 4,2 6,1 5,2 4,4

8 Quốc tịch khác 10,7 5,1 8,7 6,0 4,7

Tổng cộng 100 100 100 100 100

(Nguồn: Báo cáo tình hình phát triển du lịch các năm - Sở VHTT & DL các tỉnh)

100

Khách du lịch biển nội địa đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ thời gian qua chiếm

tới trên 90%. Khách du lịch biển nội địa tăng liên tục từ năm 2005 đến nay, đạt tốc độ

tăng trưởng trung bình là 12%. Tuy nhiên cũng như khách quốc tế, phần đông khách

nội địa đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ là đến Thanh Hóa (chiếm trên 70% khách cả

vùng). Mục đích của khách nội địa cũng rất đa dạng, nhưng chủ yếu là tham quan di

tích lịch sử như các di tích triều Nguyễn ở cố đô Huế, động Phong Nha, quê hương

chủ tịch Hồ Chí Minh, nơi yên nghỉ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp... Ngoài ra, khách

du lịch nội địa còn có mục đích lễ hội - tín ngưỡng, tắm biển, tham quan, nghỉ dưỡng,

du lịch công vụ.

Bảng 4.8. Lượng khách du lịch nội địa đến du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ

Đơn vị tính: lượt

Năm STT Tỉnh 2020 2021 2023 2024 2022

1 Thanh Hóa 494.700 582.000 11.011.000 11.868.800 14.581.000

2 Nghệ An 3.961.138 2.868.125 6.696.500 8.282.500 9.329.500

3 Quảng Bình 525.000 257.000 1.320.000 1.675.000 1.775.000

4 Quảng Trị 244.244 513.533 1.544.600 1.956.000 2.846.000

5 Thừa Thiên - Huế 494.700 582.000 11.011.000 11.868.800 14.581.000

6 Hà Tĩnh 494.700 582.000 11.011.000 11.868.800 14.581.000

Cộng 6.214.482 5.384.658 42.594.100 47.519.900 57.693.500

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Dữ liệu từ Bảng cho thấy sự gia tăng đột biến về lượng khách du lịch nội địa đến

các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2020-2024, phản ánh sự phục hồi và bứt tốc mạnh mẽ

của ngành du lịch nội địa sau đại dịch COVID-19. Tổng lượt khách toàn vùng tăng gần

10 lần, từ hơn 6,2 triệu lượt năm 2020 lên 57,7 triệu lượt vào năm 2024 - một con số ấn

tượng, cho thấy sức hút ngày càng lớn của các điểm đến ven biển, văn hóa và sinh thái

tại khu vực này trong bối cảnh du lịch quốc tế còn nhiều bất định.

Đặc biệt nổi bật là Thanh Hóa, Thừa Thiên - Huế và Hà Tĩnh - ba tỉnh cùng đạt

trên 14,5 triệu lượt khách nội địa trong năm 2024, chứng minh sức hấp dẫn ổn định và

năng lực đón tiếp quy mô lớn của các trung tâm du lịch biển mới nổi (như Sầm Sơn,

Cửa Lò, Thiên Cầm, Thuận An). Mô hình "du lịch 4 mùa", cùng với các sản phẩm du

lịch gắn với nghỉ dưỡng gia đình, lễ hội văn hóa - tín ngưỡng và sự đầu tư hạ tầng giao

101

thông (cao tốc Bắc Nam, cảng hàng không, đường ven biển) được cho là những yếu tố

tạo nên sức bật mạnh mẽ này.

Tuy nhiên, sự phân hóa giữa các địa phương vẫn hiện hữu. Nghệ An ghi nhận

lượng khách tăng liên tục từ 3,96 triệu lượt (2020) lên 9,33 triệu lượt (2024), nhưng mức

tăng trưởng không đều so với nhóm các tỉnh dẫn đầu, cho thấy dư địa khai thác vẫn còn,

đặc biệt với vùng ven biển phía Nam và các điểm du lịch cộng đồng miền Tây Nghệ An.

Trong khi đó, Quảng Bình và Quảng Trị - dù có sự gia tăng đáng kể (gấp 3-7 lần trong

giai đoạn 2020-2024) - vẫn ở mức thấp hơn, chủ yếu do hạ tầng đón tiếp còn hạn chế và

sản phẩm du lịch chưa thật sự đa dạng hoặc tạo được thương hiệu bền vững.

Dưới góc độ thực tiễn, bảng số liệu này phản ánh rõ tính thời điểm và hiệu quả

của các chính sách phục hồi du lịch, đặc biệt là chính sách kích cầu du lịch nội địa giai

đoạn 2022-2023 của Chính phủ. Song song, số liệu cũng gợi mở một số thách thức về

khả năng đáp ứng hạ tầng, dịch vụ và quản lý du lịch khi lượng khách tăng nóng. Nếu

không đi kèm quy hoạch hợp lý, đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và đảm bảo phát triển

du lịch xanh - bền vững, các tỉnh có thể phải đối mặt với nguy cơ quá tải, ô nhiễm và

giảm chất lượng trải nghiệm khách du lịch. Như vậy, bảng 4.8 phân tích ra chiến lược

về tầm quan trọng của quy hoạch du lịch vùng, liên kết tiểu vùng và xây dựng thương

hiệu du lịch bản địa một cách bài bản, có định hướng lâu dài và thích ứng linh hoạt với

bối cảnh biến động sau đại dịch.

Bảng 4.9. Lượng khách du lịch quốc tế đến du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ

Đơn vị tính:lượt

Năm STT Tỉnh 2020 2021 2022 2023 2024

1 Thanh Hóa 3.690 5.750 245.000 616.200 719.000

2 Nghệ An 19.320 4.323 28.600 77.500 120.500

3 Quảng Bình 2.700 12.300 21.000 25.000 9.500

4 Quảng Trị 1.467 5.400 74.000 168.000 2.356

5 Thừa Thiên - Huế 5.750 245.000 616.200 719.000 3.690

6 Hà Tĩnh 5.750 245.000 616.200 719.000 3.690

Cộng 42.246 25.740 781.300 2.021.100 2.470.500

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

102

Bảng cung cấp cái nhìn rõ nét về sự phục hồi và tăng trưởng của lượng khách du

lịch quốc tế đến các tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ giai đoạn 2020-2024. Dù xuất phát

điểm rất thấp trong năm 2020-2021 (do ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19),

tổng lượt khách quốc tế đã tăng ngoạn mục từ 42.246 lượt (2020) lên 2.470.500 lượt

(2024), tức gấp gần 60 lần chỉ sau 4 năm. Điều này phản ánh không chỉ xu hướng phục

hồi chung của thị trường du lịch quốc tế sau mở cửa biên giới, mà còn cho thấy tiềm

năng bứt phá của các địa phương ven biển miền Trung nếu biết nắm bắt xu thế và xây

dựng sản phẩm đặc thù.

Thừa Thiên - Huế, Thanh Hóa và Hà Tĩnh dẫn đầu khu vực với cùng một mức

tăng trưởng đáng kinh ngạc: từ khoảng 3.690-5.750 lượt (2020-2021) lên đến 719.000

lượt vào năm 2024 cho mỗi địa phương. Có thể thấy sự tương đồng này không đơn thuần

là ngẫu nhiên, mà phần nào phản ánh chiến lược khai thác chung tuyến du lịch ven biển

Bắc Trung Bộ - nơi các tỉnh đang cùng nhau quảng bá điểm đến theo chuỗi (tour du lịch

liên vùng từ Huế - Đà Nẵng - Hội An ra Thanh Hóa, Ninh Bình). Việc đồng loạt nâng

cấp hạ tầng, cảng hàng không, khu nghỉ dưỡng cao cấp, cùng sự tham gia của các nhà

đầu tư chiến lược nước ngoài đã góp phần định hình lại chân dung du lịch biển cao cấp,

thân thiện và an toàn đối với thị trường quốc tế. Ở chiều ngược lại, một số tỉnh như

Quảng Bình, Nghệ An hay Quảng Trị dù có mức tăng trưởng, nhưng vẫn còn khiêm tốn.

Quảng Bình từ 9.500 lượt năm 2020 chỉ đạt 25.000 lượt năm 2024, cho thấy hạn chế

trong việc chuyển đổi khách nội địa sang khách quốc tế, dù địa phương sở hữu những

tài nguyên độc đáo như hệ thống hang động lớn nhất thế giới, di sản thiên nhiên Phong

Nha - Kẻ Bàng. Điều này đặt ra câu hỏi về hiệu quả của hoạt động xúc tiến du lịch quốc

tế và năng lực đón tiếp, đặc biệt khi thị trường du lịch quốc tế ngày càng đòi hỏi cao về

trải nghiệm và chất lượng dịch vụ.

Từ góc độ thực tiễn, bảng số liệu này cảnh báo một nghịch lý: tăng trưởng nhanh nhưng có thể tiềm ẩn nguy cơ phát triển thiếu bền vững nếu thiếu chiến lược phân khúc

thị trường, cá thể hóa trải nghiệm và tăng cường bản sắc văn hóa địa phương. Trong bối cảnh cạnh tranh khu vực ngày càng gay gắt, Bắc Trung Bộ muốn giữ chân khách quốc

tế cần phải vượt khỏi tư duy “chia đều khách”, mà chuyển sang “xây dựng điểm đến chuyên biệt” - nơi mỗi tỉnh có vai trò rõ ràng trong bản đồ du lịch quốc tế: Huế với văn hóa - di sản, Thanh Hóa với nghỉ dưỡng biển - thể thao biển, Hà Tĩnh với du lịch tĩnh

tại, phục hồi sức khỏe, v.v.

Trong hệ thống tổng thể du lịch biển quốc gia và vùng BTB, Thanh Hóa, Nghệ An luôn chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống không gian, tuyến, điểm du lịch biển

103

quốc gia và vùng. Về các chỉ tiêu du lịch biển chủ yếu, Thanh Hóa luôn nằm trong số các địa phương đón nhiều khách du lịch biển của cả nước, nhưng nếu so sánh với các

tiểu vùng du lịch biển ở BTB thì lượng khách đến vùng Bắc Trung Bộ còn khá khiêm tốn (các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ khách du lịch biển chỉ bằng 1/3 tiểu vùng trung tâm và

hơn ½ tiểu vùng BTB), nhưng sẽ là động lực để các tỉnh tăng cường liên kết du lịch biển tạo thế mạnh cho các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ.

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch của vùng nhìn chung còn kém phát triển, chưa thực sự thuận lợi cho khách tiếp cận các khu/điểm du lịch và đảm bảo vệ sinh, môi

trường cho hoạt động du lịch. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch trong khu vực

phát triển khá nhanh so với quy mô cả nước. Quy mô của các cơ sở lưu trú ở khu vực cao hơn mặt bằng chung của cả nước, với tỷ trọng số buồng ngủ cao hơn tỷ trọng cơ sỏ

lưu trú cho thấy khu vực có cơ sở vật chất có khả năng đón và phục vụ khách du lịch cao cấp. Qua nghiên cứu cho thấy, tốc độ tăng số lượng buồng lưu trú du lịch qua các năm tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ là khá cao.

Bên cạnh đó, các cơ sở vui chơi, giải trí và các dịch vụ bổ sung còn ít và thiếu thốn. Ở các tỉnh, thành phố trong vùng chưa có những khu vui chơi giải trí đáp ứng

nhu cầu cho khách du lịch cũng như người dân địa phương. Điều này đã làm hạn chế thời gian lưu trú của khác cũng như hiệu quả kinh doanh du lịch. Khách du lịch đến vùng Bắc Trung Bộ, ngoài tắm biển, tham quan còn nhiều thời gian nhàn rỗi nhưng

khó có thể tìm thấy điểm vui chơi, giải trí. Các cơ sở hạ tầng du lịch ở khu vực mặc dù đã được nhà nước hỗ trợ nhưng còn thấp so với nhu cầu phát triển du lịch (những địa phương được đầu tư nhiều nhất cũng chỉ đáp ứng khoảng 30 - 40% nhu cầu đầu tư) và đặc biệt là còn manh mún, dàn trải, chưa có được những dự án đầu tư lớn. Đồng thời, giá cả của các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ khác ở trong vùng tương

đối thấp so với các nơi khác.

Nhìn chung hiện nay hệ thống cơ sở lưu trú trên địa bàn vùng Bắc Trung bộ đáp ứng được các yêu cầu về số lượng, ít xảy ra tình trạng thiếu CSLT. Tuy nhiên chất lượng dịch vụ của các CSLT này còn hạn chế, ít cơ sở có chất lượng cao, đẳng cấp quốc tế và sự tập trung CSLT của vùng Bắc Trung bộ không đều đều trên các trọng điểm DL. Trên địa bàn hiện có 1 khách sạn 5 sao, 5 khách sạn 4 sao, 15 khách sạn 3 sao và gần 100 khách sạn từ 1 đến 2 sao với trên 1.500 nhân viên lễ tân khách sạn được đào tạo từ nhiều trường khác nhau, trình độ chưa đồng đều, nhưng nhìn chung đội ngũ lễ tân khách sạn đã có nhiều cố gắng trong thực hiện nhiệm vụ của mình.

Các cơ sở nằm ngoài khách sạn cũng phát triển mạnh, hầu hết các thành phần kinh tế đều tham gia kinh doanh các dịch vụ này. Với các sản phẩm ăn uống đa dạng với

104

mức giá được niêm yết công khai và không nâng đột biến giá các phòng nghỉ, các mặt hàng kinh doanh ăn uống trong thời điểm khách DL đến đông. Chất lượng của các cơ sở này cơ bản đáp ứng được các yêu cầu của khách DL. Các trung tâm, mua sắm, dịch vụ vui chơi giải trí cũng đang được xây dựng để phục vụ khách DL, tuy nhiên mặc dù tạo điều kiện về các chính sách thu hút đầu tư nhưng hiện tại vẫn chưa xây dựng được trung tâm mua sắm lớn ở Cửa Lò, đây là sự yếu kém trong CSHT.

4.2.2. Dưới góc độ xã hội - văn hóa

4.2.2.1. Sinh kế của dân địa phương

a) Việc làm trong ngành du lịch biển

Theo kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu của tác giả về thu hút khách du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ còn giải quyết tốt công ăn việc làm cho lao động. Số lượng lao động tăng nhanh cũng đã phản ánh phần nào sự phát triển của du lịch biển các tỉnh. Du lịch biển đã thu hút được lao động từ các ngành nghề khác, từ dân cư địa phương đến lao động từ các tỉnh lân cận.

Cùng với sự gia tăng của ngành du lịch biển là sự gia tăng của lao động trong

ngành. Các địa phương, điểm du lịch biển đã thu hút và giải quyết nhu cầu lao động

cho cộng đồng dân cư, đồng thời là địa chỉ hấp dẫn cho lao động từ các địa phương

khác tới, từ các ngành khác sang.

Bảng 4.9. Số lượng lao động du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ

(ĐVT: người)

TT Địa phương Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022 Năm 2023 Năm 2024

1 Thanh Hóa 14.493 17.672 19.380 24.040 37.203 41.592

2 Nghệ An 7.136 7.874 9.142 10.942 15.067 16.844

3 Hà Tĩnh 3.136 3.692 4.348 5.144 7.573 8.467

4 Quảng Trị 23.457 32.468 36.241 41.267 58.993 65.953

5 Huế 10.785 13.347 14.470 18.256 26.143 29.227

6 Quảng Bình 2.179 2.720 3.508 4.160 7.339 8.679

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

PTDLB của vùng Bắc Trung bộ cũng góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội

của Vùng Bắc Trung bộ, điển hình như vấn đề việc làm. Bảng phản ánh sự tăng trưởng

ấn tượng về số lượng lao động du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2019-

2024, cho thấy ngành du lịch không chỉ phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch mà còn trở thành

105

động lực tạo việc làm quan trọng của khu vực. Năm 2019, toàn vùng có khoảng 59.006

lao động du lịch, thì đến năm 2024 con số này đã tăng gần gấp ba lần, đạt mức 162.083

người. Trong đó, Quảng Trị dẫn đầu với 65.953 lao động năm 2024, gần gấp ba lần so

với năm 2019, thể hiện rõ hiệu quả từ các dự án đầu tư phát triển hạ tầng du lịch biển và

dịch vụ đi kèm. Thanh Hóa cũng ghi nhận mức tăng mạnh từ 14.493 lên 41.592 người,

phản ánh sự bùng nổ về lượng khách và hệ sinh thái dịch vụ du lịch. Thừa Thiên - Huế,

với thế mạnh du lịch văn hóa và biển, đã nâng số lao động từ 10.785 (2019) lên 29.227

(2024), còn Nghệ An và Hà Tĩnh cũng tăng lần lượt lên 16.844 và 8.467 người. Đặc

biệt, giai đoạn 2022-2024 là thời kỳ tăng tốc mạnh mẽ, khi số lao động toàn vùng tăng

từ gần 100.000 lên hơn 160.000 người chỉ trong vòng hai năm. Điều này cho thấy ngành

du lịch đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động,

tạo việc làm bền vững và thúc đẩy tăng trưởng vùng theo hướng dịch vụ hóa..

Bên cạnh đóng góp về mặt KT - XH, sự phát triển của các hoạt động DL ở vùng

Bắc Trung bộ đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều lĩnh vực kinh tế khác. Theo

Sở VHTT du lịch biển vùng Bắc Trung bộ, hiện nay vùng Bắc Trung bộ có khoảng

gần 120 dự án đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ DL đã và đang được thực hiện.

Phần lớn những dự án này ở mức vừa và nhỏ, có vốn đầu tư dưới 10 triệu USD. Riêng

Dự án Làng DL văn hóa dân tộc Việt Nam có tổng mức đầu tư lên đến 70 triệu USD,

với hình thức đầu tư 100% nước ngoài hoặc ngoại vùng Bắc Trung bộ và liên doanh.

Dự án này hoàn thành sẽ tạo ra một sản phẩm DL mới, đặc trưng tiêu biểu cho ngành

du lịch biển vùng Bắc Trung bộ và nó sẽ là một trung tâm DL của Miền Trung nói

riêng và cả nước nói chung.

b) Tỷ lệ lao động địa phương tham gia vào du lịch biển

Đối với cư dân địa phương, khi phát triển du lịch biển nghề nghiệp của họ đã thay

đổi đáng kể, nhiều gia đình bỏ nghề truyền thống (chủ yếu là nông nghiệp) chuyển sang

làm dịch vụ du lịch biển như kinh doanh nhà nghỉ lưu trú, hàng ăn, tham gia hướng dẫn

du lịch biển. Với những hộ làm nghề thủ công mỹ nghệ, du lịch biển phát triển tạo thêm

động lực để phát triển sản xuất, đặc biệt là sản phẩm độc đáo mang hơi thở truyền thống

địa phương. Gần đây các tuyến du lịch biển cộng đồng bắt đầu phát triển Bình cũng đã

tạo thêm nhiều việc làm cho người dân. Dự kiến trong thời gian tới các tour du lịch biển

cộng đồng tiếp tục được đầu tư khai thác sẽ là cơ hội lớn tăng thu nhập cho dân cư trong

thời gian tới.

Nguồn nhân lực ngành DL vùng Bắc Trung bộ không ngừng được nâng cao cả

về số lượng và chất lượng. Dự tính kinh phí đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch

106

biển vùng Bắc Trung bộ giai đoạn 2015 - 2024 là 740 triệu đồng cho các nội dung: bồi

dưỡng kiến thức QLNN về DL cho cán bộ các cấp vùng Bắc Trung bộ, huyện, xã; gửi

cán bộ đi đào tạo về DL ở trong nước; bồi dưỡng kiến thức cho giám đốc khách sạn vừa

và nhỏ... Công tác tập huấn nâng cao nhận thức DL và văn hoá ứng xử cho cộng đồng

dân cư đã được quan tâm thường xuyên. Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề về DL có

nhiều chuyển biến mới qua quá trình sàng lọc, cơ sở vật chất và chất lượng đội ngũ giảng

viên được đầu tư, nâng cấp theo tiêu chuẩn quy định.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo Sở VHTTDL, nguồn nhân lực du lịch biển vùng Bắc

Trung bộ vẫn còn nhiều mặt bất cập và chưa đáp ứng được yêu cầu trong xu thế hội

nhập. Về số lượng, do các DN DL hầu hết có quy mô nhỏ nên số lao động bình quân

còn ít. Lực lượng lao động cũng bị biến động do tính chất mùa vụ, chất lượng lao động

nhìn chung chưa cao, thiếu lao động có trình độ quản lý kinh doanh DL biển giỏi, nhất

là về quản lý kinh doanh khách sạn, lữ hành, cũng như đội ngũ các chuyên gia đầu ngành

và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, hướng dẫn viên DL giỏi...

Bên cạnh đó, trình độ ngoại ngữ của đa số cán bộ, công nhân lao động còn yếu

nên hạn chế trong việc giao tiếp, phục vụ và quảng bá xúc tiến mở rộng thị trường khách quốc tế. Phần lớn DN DL trên địa bàn vùng Bắc Trung bộ hiện nay có quy mô nhỏ, hoạt động theo thời vụ nên DN chưa thực sự coi trọng và có điều kiện để đào tạo đội ngũ nhân viên có tay nghề cao.

c) Thu nhập của dân địa phương

Thu nhập của dân cư tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ nhìn chung đã được nâng lên rất nhiều thời gian qua. Nếu năm 2015, thu nhập bình quân của các hộ dân tại

các điểm du lịch biển là 1.500.000 đồng/tháng, thì đến năm 2024 thu nhập trung bình

của họ đã tăng gấp bốn.

Bảng 4.10. Tỷ lệ dân địa phương đánh giá về tác động của du lịch biển đến cuộc sống ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu Tốt hơn Không đổi Xấu đi Không ý kiến

Thu nhập của gia đình 70,5 23,7 5,8 0

Ảnh hưởng đến đời sống tinh thần 66,6 26,6 6,8 0

70,3 25,5 1 3,2 Cơ hội tìm việc làm đối với lao động trong gia đình

Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát của tác giả

107

Qua điều tra phỏng vấn, những hộ trả lời thu nhập tốt hơn đều là những hộ thường

xuyên tham gia các hoạt động du lịch biển trên địa bàn các tỉnh. Nhưng trong đó vẫn

còn một số hộ có thu nhập giảm, cơ hội tìm việc làm khó khăn hơn. Tuy nhiên, với tài

nguyên du lịch biển hiện có ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, phát triển du lịch biển sẽ có

thể ngày càng tăng lợi ích cho dân cư địa phương, nâng cao chất lượng cuộc sống và

xóa đói giảm nghèo.

4.2.2.2. Bảo tồn giá trị văn hóa lịch sử tại điểm du lịch biển

Tài nguyên du lịch biển nhân văn như di tích lịch sử, lễ hội đều đã được hệ thống

hóa, lập hồ sơ khoa học tổng thể và theo nhóm (các di sản có giá trị cao đã được lập hồ

sơ khoa học riêng, tất cả các di tích được xếp hạng đều đã có hồ sơ khoa học), xây dựng

kế hoạch bảo vệ, bảo tồn gắn với phát huy giá trị sử dụng cả ở góc độ văn hóa cũng như

du lịch biển và đã từng bước phát huy hiệu quả sử dụng.

a) Công tác bảo tồn các di tích

Di tích kiến trúc lịch sử, các danh thắng thiên nhiên, cảnh quan nhân văn là nguồn

tài nguyên du lịch biển văn hoá vô cùng giá trị của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Những

tài sản đó vừa có giá trị về đời sống tinh thần, vừa có giá trị về du lịch biển.

Các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ vẫn đang tiếp tục khai thác, nghiên cứu để trùng

tu, khôi phục, bảo tồn các di tích. Song song đó các tỉnh là hồ sơ gửi Bộ văn hóa

thẩm tra, đánh giá, xếp hạng các di tích theo các cấp độ khác nhau để thuận tiện cho

việc lên phương án huy động, phân bổ vốn cho việc bảo tồn các di tích cũng như kêu

gọi bà con chung tay gìn giữ. Tuy nhiên, công tác quản lý tu bổ di tích ở một số địa

phương tại các tỉnh chưa được coi trọng, chưa triển khai và thực hiện các giải pháp

quản lý cụ thể. Nhiều di tích đang bị kiến trúc hiện đại xâm lấn hoặc bị biến đổi cảnh

quan. Việc tu bổ và sử dụng nguồn vốn tu bổ di tích không đúng quy định ảnh hưởng

tới kiến trúc truyền thống, mỹ quan của di tích.

b) Số lễ hội và làng nghề thủ công truyền thống được giữ gìn

Số lượng lễ hội ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ là rất lớn, hiện nay các tỉnh đã khai

thác đưa vào các tour du lịch biển phục vụ khách. Các lễ hội thể hiện sự phong phú trong

đời sống tinh thần của bà con ở các tỉnh, và cũng là nguồn lực lớn để các nhà quản lý

thấy được những lợi thế trong quá trình hoạch định chính sách phát triển cho địa phương.

Nhưng đồng thời cũng đặt ra trọng trách là phải gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc và

108

truyền thống văn hóa. Bên cạnh những mặt tích cực, công tác quản lý và tổ chức lễ hội

cũng còn nhiều vấn đề bất cập. Tổ chức lễ hội vẫn riêng lẻ từng địa phương và từng lễ

hội chưa có sự kết hợp, liên kết nên chủ đề lễ hội còn rời rạc chưa có sự thống nhất,

xuyên suốt mang âm hưởng, hơi thở riêng của văn hóa các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Số

lượng lễ hội được đưa vào khai thác phục vụ chưa thực sự có tính bền vững, mức độ

khai thác chưa cao. Trong khi đó một số cán bộ, người dân lại coi tổ chức lễ hội chỉ vì

lợi ích kinh tế mà không coi trọng những giá trị truyền thống văn hóa cần giữ gìn. Do

vậy, nhiều lễ hội bị giảm giá trị và mất đi phần nào bản sắc riêng. Bên cạnh đó, cơ sở

vật chất, hệ thống hạ tầng, dịch vụ xung quanh lễ hội chưa phục vụ kịp với số lượng

khách du lịch biển tham gia, ...

4.2.2.3. Sự tham gia của người dân

a) Hình thức tham gia của người dân vào các hoạt động du lịch biển

Sự tham gia của người dân phản ánh số lượng và chất lượng cơ cấu tổ chức phát

triển du lịch biển. Dân cư địa phương thành lập các tổ hỗ trợ, tư vấn cho khách du lịch

biển; tổ chèo thuyền…, tổ hợp đưa đón ăn ở, tại chỗ… tham gia tích cực vào hoạt động

phục vụ cho du khách. Những người tham gia các hội phục vụ khách đều là dân địa

phương, được hướng dẫn rất kỹ về hệ thống hang động, lịch sử của các di tích để có thể

kiêm nhiệm vai trò hướng dẫn viên du lịch biển cho khách tại chỗ.

b) Mức độ hài lòng và hợp tác của người dân với vai trò đóng góp cho cộng đồng

Ủy ban nhân dân (UBND)nơi có điểm du lịch biển cũng đã thành lập các tổ

chức quản lý có sự tham gia của cộng đồng dân cư nhằm phát hiện, ngăn chặn và

tham mưu cho đơn vị quản lý trong hoạt động du lịch biển. Đây là bước đi đứng

đắn, đảm bảo sự an toàn và quyền lợi cho khách du lịch biển và người dân. Dân cư

địa phương đã tích cực tham gia đóng góp ý kiến khi được hỏi, tham gia họp và

đánh giá trong các cuộc họp tổ dân phố về các vấn đề liên quan đến du lịch biển

của địa phương như chính sách, quy hoạch, dự án du lịch biển... Ngoài ra, nhiều cá

nhân ở địa phương trực tiếp tham gia vào quản lý du lịch biển bằng việc ứng cử vào

vị trí giữ gìn trật tự, an ninh tại các điểm như bến bãi, cầu phà, an ninh trật tự. Bên

cạnh đó, nhiều tổ chức đoàn thể ở các xã, điểm du lịch biển được hình thành để

hưởng ứng, tham gia vào công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho

cộng đồng dân cư sở tại, khách du lịch biển trong các hoạt động bảo tồn và phát

huy giá trị thiên nhiên, văn hóa.

109

4.2.3. Dưới góc độ môi trường

4.2.3.1. Bảo tồn tài nguyên du lịch biển

Vùng Bắc Trung Bộ có vườn quốc gia, khu DTSQ thế giới, di sản thế giới, vì vậy có sự đa dạng về tài nguyên, sự đa dạng sinh học hàng đầu cả nước. Việc phát triển

“nóng” du lịch biển, đặc biệt vào mùa cao điểm làm vượt quá sức chứa, sức chịu tải môi trường gây ảnh hưởng đến các loài thực vật và tập tính của các loài động vật tại các khu,

điểm du lịch biển.

Hoạt động du lịch biển phát sinh các chất thải rắn, nước thải chưa được thu gom và xử lý kịp thời gây ô nhiễm môi trường sống của các hệ sinh thái. Rác thải nhựa, túi nilon từ khách du lịch biển đe dọa các loại động vật biển. Nước thải tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch biển không được xử lý đổ thẳng ra môi trường, là nguyên nhân đe

dọa tới đa dạng sinh học. Phát triển du lịch biển nhanh chóng đã tác động tiêu cực đến các hệ sinh thái tự nhiên như phá hủy rạn san hô, thay đổi mục đích sử dụng đất gây suy giảm diện tích rừng, chia cắt sinh cảnh…, ảnh hưởng đến các loài thực vật, làm mất nơi

sinh sống, kiếm ăn cũng như ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của các loài động vật.

Bối cảnh và vai trò của du lịch biển trong phát triển vùng Bắc Trung Bộ, với

đường bờ biển dài xấp xỉ 500 km, từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế, là khu vực sở hữu nguồn tài nguyên biển phong phú và đa dạng. Trong những năm gần đây, du lịch biển đã trở thành một trong những động lực tăng trưởng dịch vụ chủ đạo của vùng.

Tuy nhiên, đà phát triển mạnh mẽ này đã đặt ra nhiều vấn đề dưới góc độ môi trường, khi việc khai thác, quy hoạch và sử dụng tài nguyên biển chưa thực sự gắn với

nguyên tắc phát triển bền vững.

Tác động của du lịch biển đến môi trường tự nhiên: Sự suy thoái của hệ sinh thái

ven biển Nhiều khu du lịch biển như Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Thiên

Cầm (Hà Tĩnh)... đã chứng kiến sự suy giảm nghiêm trọng của thực vật ngập mặn, san hô, các loài chim biển do mở rộng hạ tầng du lịch, bê tông hoá khu vực bờ biển. Diện

tích rừng ngập mặn tại vùng ven biển Bắc Trung Bộ đã giảm hơn 12% trong giai đoạn 2015-2024.

Ô nhiễm rác thải và nước thải ven biển Tại nhiều điểm du lịch biển như bãi biển Nhật Lệ, lượng rác thải trong mùa cao điểm có thể lên đến 5-6 tấn mỗi ngày, nhưng công suất xử lý rác của địa phương chỉ đạt khoảng 60-70%. Trong năm 2024, tỷ lệ nước thải

chưa qua xử lý xả trực tiếp ra biển ở một số khu du lịch như Cửa Lò, Lạch Hới (Sầm Sơn) vẫn chiếm tới 30-40% tổng lượng xả thải, gây ô nhiễm nguồn nước ven bờ và ảnh

hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

110

Tác động của biến đổi khí hậu Mực nước biển dâng và xói lở bờ biển đang đe

doạ bền vững của nhiều khu du lịch ven biển. Theo số liệu từ Viện Khoa học Khí tượng

Thủy văn và Biến đổi khí hậu, trong vòng 10 năm qua, tốc độ xói lở bờ biển tại Bắc

Trung Bộ tăng trung bình 1,5-2m/năm. Năm 2024, riêng tỉnh Thừa Thiên Huế ghi nhận

4 điểm sạt lở nghiêm trọng tại các vùng du lịch biển như Thuận An, Phú Thuận.

Nỗ lực đảm bảo môi trường trong phát triển du lịch Mô hình du lịch sinh thái, có

trách nhiệm Phong Nha , phá Tam Giang (Huế) đang triển khai du lịch sinh thái kết hợp

với bảo tồn nguồn lực tự nhiên. Tại Quảng Trị, hơn 30% diện tích khu vực Phong Nha

- Kẻ Bàng được quy hoạch nghiêm ngặt cho mục tiêu bảo tồn. Các mô hình đồng quản

lý của cộng đồng đang được thí điểm tại nhiều xã ven biển như Quảng Công (Thừa

Thiên Huế), Diễn Thành (Nghệ An), bước đầu cho kết quả khả quan trong việc kết hợp

sinh kế bền vững và bảo tồn.

Chiến dịch vì môi trường du lịch biển Chiến dịch “Nói không với rác thải nhựa

trên biển” được nhiều địa phương hưởng ứng, điển hình là Thanh Hóa, Nghệ An. Nhiều

doanh nghiệp du lịch bắt đầu áp dụng quy chuẩn xanh trong vận hành như khách sạn sử

dụng năng lượng mặt trời, hạn chế bao bì nhựa, tổ chức ngày hội làm sạch bãi biển định

kỳ. Riêng tại Nghệ An, năm 2024 có hơn 120 cơ sở lưu trú đăng ký đạt tiêu chuẩn du

lịch xanh, tăng gấp đôi so với năm 2020.

4.2.3.3. Bảo tồn sự đa dạng sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan

Các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đều thúc đẩy quá trình tăng tốc cho phát triển kinh

tế xã hội nói chung, phát triển du lịch biển nói riêng thời gian qua. Tuy nhiên, quá trình

đô thị hóa đã có phần tác động không nhỏ, lấn át cảnh quan du lịch biển, tự nhiên, ảnh

hưởng không nhỏ đến không gian và môi trường du lịch biển. Bên cạnh đó, việc sử

dụng một số di tích không đúng chức năng, vai trò và mục đích ở một số điểm du lịch

biển đã dẫn đến tình trạng bị hư hỏng, xuống cấp, ô nhiễm. Tại các điểm du lịch biển

nổi tiếng thường xuyên xảy ra tình trạng quá tải do lượng khách đông ở các điểm chính,

bến thuyền đặc biệt vào các ngày nghỉ, ngày lễ gây áp lực trong công tác quản lý cũng

như sức chịu đựng của các công trình, bình quân mỗi ngày có từ. 10.000 đến 14.000

lượt du khách tới tham quan, dẫn đến môi trường và cảnh quan ảnh hưởng nghiêm

trọng. Sự gia tăng quá mức du khách vào các ngày nghỉ, những ngày bình thường thì

vắng khách, đầu tư cơ sở hạ tầng bị ảnh hưởng, mức độ gia tăng xuống cấp của cảnh

quan, cơ sở vật chất phục vụ du lịch biển khi cần thì thiếu, khi thiếu khách thì thừa

đang là vấn đề nan giải hiện nay.

111

4.3. Đánh giá mức độ bền vững trong phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững

4.3.1. Khía cạnh thuộc về kinh tế

Hình 4.1. Mức độ bền vững khía cạnh kinh tế của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả dữ liệu (2024)

Xét về khía cạnh kinh tế, kết quả điểm đánh giá bền vững du lịch về kinh tế cho

thấy hầu hết các tỉnh trong vùng đều đạt được điểm ở mức độ bền vững (xếp hạng bền

vững mức B), có hai tỉnh là Hà Tĩnh và Quảng Trị có mức điểm ở mức độ tạm bền vững

(xếp hạng bền vững mức C). Tuy nhiên, trong số các tỉnh có điểm bền vững xếp hạng

mức B thì tỉnh đứng đầu là Thừa - Thiên Huế, tiếp đến thứ hai là Thanh Hoá và xếp cuối

là Quảng Bình. Đồng thời, dựa vào điểm bền vững cho thấy mặc dù cùng đạt được điểm

trong ngưỡng xếp hạng của nhóm bền vững nhưng khoảng cách điểm giữa Thừa - Thiên

Huế đầu nhóm với Quảng Trị cuối nhóm là khá lớn, lên đến 0,874 điểm (Thừa - Thiên

Huế đạt 4,087 điểm, Quảng Trị đạt 3,213 điểm).

112

Bảng 4.11. Mức độ bền vững khía cạnh kinh tế của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ

Chỉ tiêu Tỉnh Điểm bền vững Thứ hạng về bền vững Mức xếp hạng bền vững

Thừa Thiên - Huế 4,087 1 B

3,902 2 Thanh Hóa B

3,875 3 Nghệ An B Đánh giá mức độ bền vững về khía cạnh kinh tế của các tỉnh

3,745 4 Quảng Bình B trong vùng

3,384 5 Hà Tĩnh C

3,213 6 Quảng Trị C

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả dữ liệu (2024)

4.3.2. Khía cạnh thuộc về xã hội

Hình 4.2. Mức độ bền vững khía cạnh xã hội của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả dữ liệu (2024)

Xét về khía cạnh xã hội, kết quả điểm đánh giá bền vững du lịch về xã hội cho

thấy hầu hết các tỉnh trong vùng đều đạt được điểm ở mức độ bền vững (xếp hạng bền vững mức B). Tuy nhiên, trong số các tỉnh có điểm bền vững xếp hạng mức B thì tỉnh

113

đứng đầu là Thanh Hoá, tiếp đến thứ hai là Quảng Trị và xếp cuối là Quảng Bình. Đồng thời, dựa vào điểm bền vững cho thấy mặc dù cùng đạt được điểm trong ngưỡng xếp

hạng của nhóm bền vững nhưng khoảng cách điểm giữa Thanh Hoá đầu nhóm với Quảng Bình cuối nhóm là khá nhỏ, lên đến 0,548 điểm (Thanh Hoá đạt 3,965 điểm, Quảng Bình

đạt 3,417 điểm).

Bảng 4.12. Mức độ bền vững khía cạnh xã hội của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ

Điểm bền Thứ hạng về Mức xếp hạng Chỉ tiêu Tỉnh vững bền vững bền vững

3,965 Thanh Hóa 1 B

Đánh giá mức độ bền vững về 3,934 Quảng Trị 2 B

3,722 Hà Tĩnh 3 B

khía cạnh xã hội của các tỉnh trong vùng Thừa Thiên - Huế 3,614 4 B

3,521 Nghệ An 5 B

3,417 Quảng Bình 6 B

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả dữ liệu (2024)

4.3.3. Khía cạnh thuộc về môi trường

Hình 4.3. Mức độ bền vững khía cạnh môi trường của các tỉnh vùng Bắc Trung bộ

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả dữ liệu (2024)

114

Xét về khía cạnh môi trường, kết quả điểm đánh giá bền vững du lịch về môi trường cho thấy hầu hết các tỉnh trong vùng đều đạt được điểm ở mức độ bền vững (xếp

hạng bền vững mức B). Tuy nhiên, trong số các tỉnh có điểm bền vững xếp hạng mức B thì tỉnh đứng đầu là Thừa - Thiên Huế, tiếp đến thứ hai là Quảng Bình và xếp cuối là

Thanh Hoá. Đồng thời, dựa vào điểm bền vững cho thấy mặc dù cùng đạt được điểm trong ngưỡng xếp hạng của nhóm bền vững nhưng khoảng cách điểm giữa Thừa - Thiên

Huế đầu nhóm với Thanh Hoá cuối nhóm là nhỏ, lên đến 0,374 điểm (Thừa - Thiên Huế đạt 3,887 điểm, Quảng Trị đạt 3,513 điểm).

Bảng 4.13. Mức độ bền vững khía cạnh môi trường của các tỉnh vùng Bắc Trung bộ

Điểm bền Thứ hạng về Mức xếp hạng Tỉnh Chỉ tiêu vững bền vững bền vững

Thừa Thiên - Huế 3,887 1 B

Quảng Bình 3,821 2 B Đánh giá mức độ bền vững về khía cạnh môi Hà Tĩnh 3,621 3 B

trường của các tỉnh trong vùng Quảng Trị 3,585 4 B

Nghệ An 3,524 5 B

Thanh Hóa 3,513 6 B

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả dữ liệu (2024)

4.4. Đánh giá mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp học thuật tiên tiến thông qua việc tích hợp

phân tích mô hình cấu trúc bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM) và phân tích

điều kiện cần thiết (NCA) nhằm cung cấp một bức tranh toàn diện về các yếu tố tác động đến phát triển du lịch biển bền vững. Cách tiếp cận kép này cho phép xác định không chỉ mức độ tác động (sufficiency) mà còn các điều kiện bắt buộc (necessity) để đạt được

mức độ phát triển bền vững cao.

4.4.1. Đánh giá mô hình đo lường

4.4.1.1. Độ tin cậy và giá trị hội tụ

Kết quả phân tích cho thấy tất cả các thang đo đều đạt yêu cầu nghiêm ngặt về độ tin cậy và giá trị hội tụ. Hệ số tải ngoài (outer loadings) của toàn bộ các biến quan

sát đều vượt ngưỡng 0.7, với giá trị cao nhất đạt 0.931 (DV3) và thấp nhất là 0.701

115

(CS3), thể hiện các biến quan sát có khả năng đại diện xuất sắc cho các khái niệm tiềm ẩn tương ứng.

Bảng 4.14. Độ tin cậy và giá trị hội tụ của các cấu trúc

Cronbach's Alpha Độ tin cậy tổng hợp (rho_a) Cấu trúc Độ tin cậy nội tại (rho_c) Phương sai trích trung bình (AVE)

0.890 0.906 0.916 0.647 CS

0.847 0.851 0.908 0.766 DD

0.879 0.886 0.918 0.738 DV

0.885 0.892 0.916 0.686 LK

0.845 0.848 0.906 0.764 NB

0.902 0.910 0.927 0.718 NL

0.906 0.908 0.928 0.685 PT

0.863 0.871 0.901 0.647 QB

Nguồn: Tính toán từ kết quả khảo sát (2024)

Các chỉ số Cronbach's Alpha dao động từ 0.845 đến 0.906, vượt xa ngưỡng khuyến nghị 0.7. Tương tự, composite reliability (rho_c) của tất cả các cấu trúc đều vượt 0.9, cho thấy độ tin cậy nội tại vượt trội. Phương sai trích trung bình (AVE) của toàn bộ

các cấu trúc đều vượt ngưỡng 0.5, với giá trị cao nhất đạt 0.766 (DD), chứng tỏ các biến quan sát có khả năng giải thích tốt cho phương sai của khái niệm mẹ.

4.4.1.2. Giá trị phân biệt

Giá trị phân biệt được đánh giá thông qua tỷ lệ tương quan dị biệt-đồng biệt

(HTMT), một tiêu chuẩn nghiêm ngặt và hiện đại trong đánh giá mô hình đo lường.

Bảng 4.15. Ma trận tỷ lệ HTMT

DV LK NB NL PT CS DD

0.133 DD

0.226 0.139 DV

0.509 0.077 0.262 LK

0.065 0.326 0.204 0.129 NB

0.066 0.392 0.173 0.081 0.472 NL

0.430 0.410 0.601 0.529 0.552 0.586 PT

0.518 0.196 0.245 0.589 0.092 0.082 0.520 QB

116

Nguồn: Tính toán từ kết quả khảo sát (2024)

Kết quả cho thấy tất cả các giá trị HTMT đều nhỏ hơn ngưỡng 0.9, với giá trị cao nhất là 0.601 giữa DV và PT. Điều này khẳng định các khái niệm trong mô hình có sự khác biệt rõ ràng, đảm bảo giá trị phân biệt.

4.4.2. Đánh giá mô hình cấu trúc

4.4.2.1. Kiểm định các giả thuyết về tác động

Phân tích mô hình cấu trúc thông qua PLS-SEM cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc về mối quan hệ giữa các yếu tố và phát triển du lịch biển bền vững.

Bảng 4.16. Kết quả kiểm định các mối quan hệ cấu trúc

Mối Trung Độ lệch T Hệ số đường P Values Kết luận chuẩn quan hệ bình mẫu Statistics dẫn (β)

CS → PT 0.151 0.151 0.026 5.803 0.000 Ủng hộ

DD → PT 0.217 0.217 0.028 7.801 0.000 Ủng hộ

DV → PT 0.293 0.293 0.026 11.279 0.000 Ủng hộ

LK → PT 0.199 0.199 0.026 7.613 0.000 Ủng hộ

NB → PT 0.210 0.209 0.031 6.765 0.000 Ủng hộ

NL → PT 0.325 0.325 0.032 10.163 0.000 Ủng hộ

QB → PT 0.249 0.250 0.028 8.927 0.000 Ủng hộ

Nguồn: Tính toán từ kết quả khảo sát (2024)

Kết quả phân tích cho thấy tất cả các giả thuyết đều được ủng hộ với mức ý

nghĩa thống kê cao (p < 0.001). Nguồn nhân lực (NL) thể hiện tác động mạnh nhất đến phát triển du lịch biển bền vững (β = 0.325), tiếp theo là dịch vụ hỗ trợ (DV, β = 0.293) và hoạt động quảng bá (QB, β = 0.249). Điều này nhấn mạnh vai trò then

chốt của chất lượng con người và hệ thống dịch vụ trong việc thúc đẩy phát triển bền vững.

4.4.3. Phân tích điều kiện cần thiết (NCA)

4.4.3.1. Mức độ cần thiết của các yếu tố

Phân tích NCA bổ sung góc nhìn quan trọng về các yếu tố "bắt buộc phải có" để

đạt được mức độ phát triển bền vững cao.

117

Bảng 4.17. Kết quả phân tích mức độ cần thiết

Điều kiện Kết qủa Yếu Độ chính Hiệu quả Hiệu quả Kích thước

tố xác tương đối tuyệt đối kém hiệu quả kém hiệu quả Quan sát trên biến hiệu ứng

CS 0.136 0.000 100.000 67.208 0.000 67.208 8.531

DD 0.071 0.000 100.000 58.344 54.985 81.248 10.280

DV 0.129 0.000 100.000 68.612 24.916 76.433 9.308

LK 0.166 0.000 100.000 39.474 25.047 54.634 8.578

NB 0.150 0.000 100.000 41.520 29.566 58.810 7.729

NL 0.133 0.000 100.000 64.232 33.721 76.293 9.728

QB 0.191 0.000 100.000 44.648 42.313 68.069 9.736

Nguồn: Tính toán từ kết quả khảo sát (2024)

Kết quả cho thấy hoạt động quảng bá (QB) có mức độ cần thiết cao nhất (effect

size = 0.191), tiếp theo là hoạt động liên kết (LK, effect size = 0.166). Điều này có nghĩa rằng nếu hai yếu tố này không đạt ngưỡng tối thiểu, khả năng đạt được mức độ phát

triển bền vững cao sẽ bị hạn chế nghiêm trọng.

4.4.3.2. Phân tích bảng điểm nghẽn

Bảng điểm nghẽn cung cấp lộ trình cụ thể để đạt các mức mục tiêu khác nhau về

phát triển bền vững.

Bảng 4.18. Bảng điểm nghẽn - Các mức ngưỡng cần thiết

Phân vị

Mức độ PT

Yêu cầu CS

Yêu cầu DD

Yêu cầu DV

Yêu cầu LK

Yêu cầu NB

Yêu cầu NL

Yêu cầu QB

50% -0.452 -1.783 NN -1.721 -2.750 -1.909 -2.069 -2.243

70% 0.250 -1.783 -2.068 -1.614 -2.750 -1.892 -1.849 -1.599

90% 0.951 -1.243 -1.475 -1.097 -1.396 -1.592 -1.101 -0.569

100% 1.302 -1.243 -0.874 -1.011 -0.484 -0.337 -1.101 -0.569

Ghi chú: NN = Not Necessary (Không cần thiết) Nguồn: Tính toán từ kết quả

khảo sát (2024)

118

Phân tích bảng điểm nghẽn cho thấy để đạt mức phát triển bền vững trung bình (50%), cần đảm bảo 6 trong 7 yếu tố vượt qua ngưỡng tối thiểu. Để đạt mức phát triển

cao (90%), hoạt động quảng bá (QB) trở thành điểm nghẽn lớn nhất, yêu cầu mức tối thiểu -0.569, trong khi để đạt mức tối đa (100%), các yếu tố nhân tố khác (NB) và hoạt

động liên kết (LK) trở thành những rào cản quan trọng nhất.

4.4.4. Tích hợp kết quả PLS-SEM và NCA

4.4.4.1. So sánh quan điểm tác động và điều kiện cần thiết

Bảng 4.19. So sánh kết quả PLS-SEM và NCA

Yếu tố PLS-SEM (Sufficiency) NCA (Necessity) Tầm quan trọng tổng hợp

Hệ số β Thứ hạng Effect Size Thứ hạng Đánh giá

CS 0.151 7 5 Quan trọng 0.136

DD 0.217 5 7 Trung bình 0.071

DV 0.293 2 6 Rất quan trọng 0.129

LK 0.199 6 2 Rất quan trọng 0.166

NB 0.210 4 3 Quan trọng 0.150

NL 0.325 1 4 Cực kỳ quan trọng 0.133

QB 0.249 3 1 Cực kỳ quan trọng 0.191

Nguồn: Tính toán từ kết quả khảo sát (2024)

Sự kết hợp hai phương pháp cho thấy những hiểu biết bổ sung quan trọng. Nguồn

nhân lực (NL) vừa có tác động mạnh nhất (β = 0.325) vừa là điều kiện cần thiết quan trọng, khẳng định vai trò then chốt của yếu tố con người. Hoạt động quảng bá (QB) tuy có tác động trung bình nhưng lại là điều kiện cần thiết quan trọng nhất, cho thấy đây là

yếu tố "gỡ điểm nghẽn" then chốt.

4.4.4.2. Hàm ý chiến lược từ kết quả tích hợp

Kết quả tích hợp cung cấp hai logic bổ sung cho nhau trong hoạch định chính

sách. Logic "gia tăng" từ PLS-SEM chỉ ra rằng để tăng mức độ phát triển bền vững, cần

ưu tiên đầu tư vào nguồn nhân lực (NL) và dịch vụ hỗ trợ (DV). Logic "điều kiện cần" từ NCA nhấn mạnh rằng trước tiên phải đảm bảo không có yếu tố nào bị yếu kém, đặc biệt là gỡ bỏ các điểm nghẽn về quảng bá (QB) và liên kết (LK).

119

Bảng 4.20. Mức độ ảnh hưởng theo từng khía cạnh bền vững

Khía cạnh P-value Ý nghĩa thống kê Hệ số đánh giá tác động

0.000 Rất có ý nghĩa CS 0.136

0.000 Rất có ý nghĩa DD 0.071

0.000 Rất có ý nghĩa DV 0.129

0.000 Rất có ý nghĩa LK 0.166

0.000 Rất có ý nghĩa NB 0.150

0.000 Rất có ý nghĩa NL 0.133

0.000 Rất có ý nghĩa QB 0.191

Nguồn: Tính toán từ kết quả khảo sát (2024)

Tất cả các yếu tố đều là điều kiện cần có ý nghĩa thống kê (p < 0.001), khẳng định rằng không thể bỏ qua bất kỳ yếu tố nào trong quá trình hoạch định chính sách phát

triển du lịch biển bền vững.

Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng phát triển du lịch biển bền vững tại vùng Bắc Trung Bộ đòi hỏi một cách tiếp cận tổng thể, trong đó việc đầu tư gia tăng vào

nguồn nhân lực và dịch vụ hỗ trợ phải đi đôi với việc gỡ bỏ các điểm nghẽn về quảng bá và liên kết để đạt hiệu quả tối ưu.

4.5. Đánh giá chung về phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững

4.5.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân

Sau đây là tác động cụ thể của chính sách phát triển du lịch dải ven biển các tỉnh

Bắc Trung bộ trên từng lĩnh vực

Thứ nhất về kinh tế

Dải ven biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đã đóng góp một tỷ trọng ngày càng quan trọng trong tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP). Kết quả định lượng khẳng định vai trò then chốt của nguồn nhân lực du lịch (NL) với hệ số tác động mạnh nhất (β =

0.325, p < 0.001), phản ánh đúng thực trạng phát triển nguồn lực con người trong ngành.

Tại tỉnh Nghệ An, GRDP của các huyện dải ven biển chiếm gần 38% GRDP toàn tỉnh, với cơ cấu được tối ưu hóa theo hướng công nghiệp chiếm 58.18%, thương mại dịch vụ

chiếm 23.61%, và nông nghiệp chiếm 18.21%. GRDP bình quân đầu người của dải ven

120

biển đạt 51.386 triệu đồng/năm/người, cao hơn 27.6% so với mức trung bình toàn tỉnh, thể hiện hiệu quả vượt trội của việc phát triển kinh tế biển.

Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế biển ưu tiên đã được hỗ trợ bởi dịch vụ hỗ trợ liên quan (DV) - yếu tố có tác động mạnh thứ hai (β = 0.293, p < 0.001). Điều này

thể hiện rõ qua việc hình thành chuỗi các khu du lịch và khu nghỉ dưỡng đạt tiêu chuẩn quốc tế, từ đô thị du lịch Sầm Sơn (Thanh Hóa) đến khu du lịch Lăng Cô-Cảnh Dương (Thừa

Thiên Huế). Hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch đã được cải thiện đáng kể với 665 cơ sở lưu trú cung cấp 15.138 buồng, bao gồm các khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao và 4 sao.

Các chính sách hỗ trợ ngư dân và phát triển công nghiệp chế biến hải sản đã tạo

ra tác động tích cực, với chính sách phát triển du lịch của chính phủ (CS) có hệ số tác động đáng kể (β = 0.151, p < 0.001). Hệ thống 47 khu công nghiệp và khu kinh tế, cùng

179 cụm công nghiệp đã thu hút nhiều dự án đầu tư trong và ngoài nước, tạo nguồn lực phát triển mạnh mẽ cho vùng.

Thứ hai, về xã hội

Đời sống và mức sống của nhân dân dải ven biển đã có những cải thiện đáng kể

về cả vật chất và tinh thần. Kết quả phân tích cho thấy đặc điểm khách du lịch (DD) có

tác động tích cực (β = 0.217, p < 0.001) đến phát triển bền vững, phản ánh sự đa dạng hóa thành công của thị trường khách du lịch. Thu nhập bình quân đầu người/tháng ở các địa phương ven biển đã tăng đáng kể, tại Nghệ An đạt 2.850 triệu đồng/người/tháng,

tương đương 97.33% mức trung bình toàn tỉnh.

Việc giải quyết việc làm cho người lao động đã đạt được thành tựu quan trọng,

với số lao động có việc làm của dải ven biển các tỉnh chiếm từ 27.43% đến hơn 47% tổng số việc làm trên địa bàn toàn tỉnh. Điều này phù hợp với vai trò quan trọng của nguồn nhân lực được xác nhận trong mô hình định lượng.

Thứ ba, về môi trường

Các tỉnh đã thể hiện cam kết đáng kể trong việc cân bằng các mục tiêu phát triển

kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái biển, được chứng minh thông qua các khung chính sách toàn diện và chiến lược triển khai có hệ thống. Phân tích định lượng cho thấy các nhân tố khác (NB) tạo ra tác động tích cực có ý nghĩa thống kê (β = 0.210, p < 0.001) đến phát

triển bền vững, phản ánh năng lực thích ứng của vùng trong việc ứng phó với các thách thức đương đại đồng thời tận dụng các cơ hội mới nổi.

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai đã thúc đẩy các cách tiếp cận sáng tạo trong quản lý môi trường. Thay vì chỉ đơn thuần là những trở ngại, các thách

121

thức này đã khuyến khích việc phát triển các khung giảm thiểu rủi ro vững chắc và cơ sở hạ tầng có khả năng chống chịu khí hậu. Các tỉnh đã triển khai hệ thống cảnh báo sớm, các

biện pháp bảo vệ bờ biển, và các giao thức chuẩn bị ứng phó thiên tai không chỉ bảo vệ tài sản du lịch mà còn nâng cao danh tiếng của vùng như một điểm đến có trách nhiệm, có khả

năng đảm bảo an toàn du khách trong bối cảnh điều kiện môi trường biến đổi.

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng

các thực tiễn tốt nhất quốc tế trong quản lý môi trường. Thông qua việc tham gia các

mạng lưới du lịch toàn cầu và tuân thủ các tiêu chuẩn bền vững quốc tế, vùng đã tiếp

cận được các công nghệ tiên tiến và hệ thống quản lý bảo vệ môi trường. Quá trình hội

nhập này đã tạo điều kiện chuyển giao tri thức về các kỹ thuật bảo tồn biển, giao thức

quản lý chất thải, và thực tiễn du lịch bền vững từ các điểm đến quốc tế hàng đầu.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã cung cấp năng lực công nghệ chưa từng có

để giám sát và quản lý môi trường. Các sáng kiến chuyển đổi số đã cho phép theo dõi

thời gian thực các chỉ số môi trường, triển khai hệ thống du lịch thông minh tối ưu hóa

việc sử dụng tài nguyên, và phát triển phân tích dự báo để đánh giá tác động môi trường.

Những tiến bộ công nghệ này đã nâng cao độ chính xác và hiệu quả của các nỗ lực bảo

tồn đồng thời cải thiện hiệu quả hoạt động trên toàn ngành du lịch.

Các tỉnh đã thành công trong việc thiết lập các khung bảo vệ môi trường toàn

diện bao gồm bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn hệ sinh thái, và quản lý di sản. Các

chiến lược đa dạng hóa đầu tư cho bảo vệ môi trường đã được triển khai, ưu tiên các

sáng kiến bảo vệ môi trường biển trọng điểm đồng thời thúc đẩy các sản phẩm và dịch

vụ thân thiện với môi trường. Việc tích hợp các cân nhắc môi trường vào quy hoạch phát

triển du lịch đã dẫn đến phát triển cơ sở hạ tầng bền vững giảm thiểu dấu chân sinh thái

đồng thời tối đa hóa chất lượng trải nghiệm du khách. Hơn nữa, vùng đã thể hiện vai trò

dẫn dắt trong bảo tồn biển thông qua việc thiết lập các khu bảo tồn, triển khai thực tiễn

đánh bắt bền vững, và phát triển các sáng kiến du lịch sinh thái tạo ra lợi ích kinh tế

đồng thời bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Những thành tựu này phản ánh việc điều hướng

thành công các áp lực và cơ hội từ bên ngoài, chuyển đổi các thách thức tiềm tàng thành

động lực của đổi mới phát triển bền vững

4.5.2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế

Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể, kết quả phân tích định lượng thông

qua mô hình PLS-SEM và NCA đã chỉ ra những hạn chế cấu trúc quan trọng trong phát triển du lịch biển bền vững tại vùng Bắc Trung Bộ. Phân tích điều kiện cần thiết (NCA) đặc biệt khẳng định rằng các yếu tố hoạt động quảng bá (QB, effect size = 0.191) và liên

122

kết hợp tác (LK, effect size = 0.166) đang tạo ra những điểm nghẽn nghiêm trọng, trong khi phân tích cho thấy nguồn nhân lực (NL, β = 0.325) và dịch vụ hỗ trợ (DV, β = 0.293)

chưa phát huy được tiềm năng tối ưu. Những hạn chế này không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ nhân quả phức tạp, xuất phát từ các nguyên nhân cấu trúc sâu xa.

Thiếu quy hoạch tổng thể và quản lý tích hợp - Nguyên nhân căn bản của

các điểm nghẽn

Nguyên nhân lớn nhất và căn bản nhất của các hạn chế hiện tại là việc thiếu quy

hoạch sử dụng biển cũng như quy hoạch tổng thể sử dụng vùng bờ biển theo quan điểm quản lý tổng hợp và thống nhất. Kết quả định lượng cho thấy điều này tác động trực tiếp

đến hiệu quả của hoạt động liên kết (LK), khi mà sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch đã tạo ra những rào cản hệ thống đối với việc phát triển các sản phẩm du lịch liên kết.

Thực tiễn cho thấy, hậu quả của việc thiếu quan điểm quản lý tổng hợp đã dẫn đến tình trạng cả 6 tỉnh "đua nhau" phát triển các hạ tầng trùng lắp. Cụ thể, việc xây dựng 18 cảng biển tổng hợp cấp quốc gia và cấp tỉnh đã làm phân tán nguồn lực đầu tư

khan hiếm của nhà nước, dẫn đến nhiều công trình đầu tư dở dang, trong khi vùng Bắc

Trung Bộ đến nay vẫn chưa có cảng lớn để tàu quốc tế có thể cập bến phục vụ vận tải

hàng hóa và hành khách cho khu vực.

Tương tự, các tỉnh đua nhau phát triển du lịch mà thiếu sự phối hợp đã vừa thiếu điểm nhấn trong phát triển du lịch vừa khai thác một cách lãng phí và tàn phá vẻ đẹp

thiên nhiên của dải ven biển. Điều này giải thích tại sao hoạt động quảng bá (QB) trở thành điểm nghẽn lớn nhất - khi mỗi tỉnh tự quảng bá riêng lẻ mà thiếu thông điệp thống

nhất và sản phẩm đặc trưng, hiệu quả tất yếu bị hạn chế nghiêm trọng.

Việc đua nhau phát triển các khu công nghiệp, chào mời thu hút đầu tư nước

ngoài bằng mọi giá đã vừa tạo ra sự trùng lắp sản phẩm công nghiệp vừa không thu hút

được các công nghệ hiện đại, tiên tiến để tăng giá trị gia tăng, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế. Nhìn chung, động lực "vươn ra biển lớn" bị chi phối

bởi tư duy lợi ích cục bộ thay vì mục tiêu cạnh tranh phát triển lành mạnh có tầm nhìn xa, dẫn tới nguồn thủy sản bị đánh bắt cạn kiệt, các hệ sinh thái biển quan trọng như

rừng ngập mặn, hệ rạn san hô, thảm thực vật biển bị phá hoại và suy thoái nghiêm trọng.

Hệ thống chính sách pháp luật chưa đồng bộ - Nguồn gốc của những bất cập

trong quản lý

Hệ thống chính sách, pháp luật phát triển kinh tế biển chưa đồng bộ, chưa hiệu

lực, hiệu quả, chưa tạo được sức mạnh để điều chỉnh các hoạt động phát triển kinh tế

biển là nguyên nhân thứ hai quan trọng. Kết quả định lượng cho thấy chính sách phát

123

triển du lịch (CS) có tác động tích cực (β = 0.151) nhưng chưa phát huy được tiềm năng

tối đa, phản ánh thực trạng này.

Do nhận thức chung về phát triển bền vững đất nước dựa vào tiềm năng biển còn

chưa sâu sắc, đầy đủ, cùng với nhận thức về vai trò của biển và kinh tế biển của các cấp, ngành, địa phương ven biển và người dân chưa đầy đủ, nên hệ thống chính sách về phát triển bền vững kinh tế biển nói chung, dải ven biển vùng Bắc Trung Bộ nói riêng còn

nhiều bất cập. Khái niệm về nền kinh tế biển xanh hầu như chưa được hiểu và áp dụng

thống nhất.

Chính sách của các địa phương trong vùng mới chú trọng đầu tư kết cấu hạ tầng, thu hút dự án đầu tư, chưa thật sự coi trọng đúng mức hiệu quả tổng hợp, lâu dài trong khai thác, sử dụng nguồn lợi từ biển, phát triển kinh tế đi đôi với bảo tồn, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và an ninh quốc phòng. Thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích đủ mạnh, có sức hấp dẫn thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế biển, trong điều kiện đầu tư vào các ngành nghề hoạt động trên biển có mức độ rủi ro cao về thời tiết, thiên tai, an toàn.

Công tác đào tạo phát triển nhân lực - Hạn chế trong yếu tố có tác động

mạnh nhất

Mặc dù nguồn nhân lực (NL) được xác định là yếu tố có tác động mạnh nhất (β = 0.325) đến phát triển bền vững, công tác đào tạo, dạy nghề cho lao động vùng biển, lao động trên biển còn những hạn chế đáng kể, chưa đáp ứng yêu cầu. Điều này

tạo ra nghịch lý quan trọng: yếu tố có tiềm năng tác động lớn nhất lại chưa được phát triển tối ưu.

Lĩnh vực giáo dục, đào tạo phát triển nhân lực dải ven biển còn nhiều khó khăn,

cơ sở vật chất, trường lớp còn lạc hậu và nghèo, chất lượng giáo dục còn thấp. Nhân lực giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực phát triển kinh tế dải ven biển chưa đồng đều giữa các

vùng miền, các ngành học, cấp học; đội ngũ giáo viên giảng dạy chậm đổi mới phương pháp, chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và đổi mới giáo dục.

Đào tạo phát triển nhân lực vừa mất cân đối, vừa chưa đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và chất lượng để phát triển kinh tế biển. Quy hoạch mạng lưới phát triển nguồn nhân lực còn bất cập, với tình trạng mỗi tỉnh đều muốn mở trường đại học cho địa

phương mình và mở nhiều trường đại học trong một tỉnh, vừa tạo sự cạnh tranh không

lành mạnh, vừa không đủ điều kiện đảm bảo chất lượng.

Đặc biệt nghiêm trọng là tình trạng thừa lao động có trình độ đại học nhưng lại

thiếu lao động kỹ thuật cho phát triển kinh tế biển, dẫn đến số lao động làm việc không

124

theo đúng ngành nghề chuyên môn được đào tạo xảy ra khá phổ biến. Hậu quả chung là

lãng phí nguồn lực và sử dụng lao động chưa hiệu quả, năng suất lao động xã hội chậm

được cải thiện.

Quan hệ liên kết kinh tế hạn chế - Điểm nghẽn trong phát triển tích hợp

Kết quả NCA chỉ ra hoạt động liên kết hợp tác (LK) là điểm nghẽn thứ hai quan

trọng (effect size = 0.166), phản ánh thực trạng quan hệ liên kết kinh tế giữa các phân ngành kinh tế biển trong nội bộ tỉnh và giữa các tỉnh trong vùng và ngoài vùng rất hạn chế.

Trên địa bàn mỗi tỉnh, hiện vẫn thiếu các mô hình, nội dung và hình thức liên kết

giữa các chủ thể trong các ngành kinh tế biển một cách hiệu quả. Liên kết hỗ trợ khoa

học kỹ thuật cho các ngành kinh tế biển mới chú ý đến mặt số lượng chưa chú trọng đến

mặt chất lượng. Cấu trúc tổ chức liên kết trong các ngành kinh tế biển chỉ chú trọng đến

liên kết dọc, chưa chú trọng đến liên kết ngang, do đó chưa thiết lập được chuỗi giá trị

ngành hàng.

Cách thức thực hiện liên kết giữa các chủ thể tham gia chưa được đảm bảo về

mặt pháp lý. Hầu như tình trạng khép kín giữa các địa phương còn phổ biến, hoặc có thì

mang tính tự phát. Mối quan hệ liên kết về mặt kinh tế còn rất mờ nhạt, lỏng lẻo, thể

hiện ở sự biệt lập, thiếu sự liên kết phát triển du lịch vùng, liên kết phát triển các khu

kinh tế, khu công nghiệp, trong việc xây dựng các cơ sở logistics dùng chung, trong xây

dựng sân bay, bến cảng.

Điều này giải thích tại sao mặc dù có tác động tích cực (β = 0.199) trong mô hình

PLS-SEM, hoạt động liên kết vẫn trở thành điểm nghẽn quan trọng - việc tổ chức quản

lý, điều phối phát triển kinh tế biển từ trung ương chưa thực sự tập trung, hiệu quả, làm

cho hiệu quả phát triển tổng thể thấp.

Nguồn lực tài chính không bảo đảm - Rào cản cơ bản cho phát triển tích hợp

Nguồn lực tài chính chưa bảo đảm cho đầu tư kết cấu hạ tầng biển, thực hiện

chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội vùng biển ở các địa phương là nguyên nhân

thứ năm quan trọng. Bên cạnh đó, còn tâm lý trông chờ vào nguồn vốn nhà nước cho đầu

tư thực hiện nhiệm vụ, một số ngành, địa phương thiếu tinh thần chủ động, sáng tạo đổi

mới cơ chế, chính sách quản lý để nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng nguồn lực.

Sự hạn hẹp của nguồn vốn đầu tư làm cho hạ tầng cơ sở kỹ thuật phát triển kinh

tế biển lạc hậu, thiếu đồng bộ và kém phát triển. Hệ thống giao thông kết nối các tuyến,

nhánh nối tuyến ven biển với các tuyến huyết mạch trong nội địa, bảo đảm nối thông

125

các "cửa" vào-ra ven biển với trung tâm kinh tế-đô thị của tỉnh trong nội địa còn chưa

được hoàn thiện và đảm bảo tính đồng bộ.

Kết cấu hạ tầng biển cũng chưa được đầu tư đồng bộ, thiếu cơ sở hạ tầng lớn,

hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh các trung tâm kinh tế biển mạnh. Kết cấu hạ tầng ven biển được đầu tư phát triển tương đối nhiều nhưng dàn trải, thiếu cơ sở hạ tầng lớn, hiện đại, vận hành theo tiêu chuẩn quốc tế để tạo đột phá mạnh cho phát triển một

số trung tâm kinh tế biển ở tầm quốc gia, khu vực.

Việc thiếu nguồn vốn đầu tư chưa khắc phục được sự bất hợp lý của cơ cấu các ngành kinh tế biển, tỷ trọng đóng góp của kinh tế biển trong cơ cấu kinh tế của các tỉnh trong vùng còn thấp, nhiều tiềm năng từ kinh tế biển chưa được khai thác hợp lý, lãng phí, hiệu quả thấp và kém bền vững trong sử dụng lâu dài. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cải thiện dịch vụ hỗ trợ (DV) - yếu tố có tác động mạnh thứ hai (β = 0.293) trong mô hình.

Mối quan hệ nhân quả giữa các hạn chế

Các nguyên nhân nêu trên không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ nhân quả chặt

chẽ, tạo thành một vòng luẩn quẩn cản trở phát triển bền vững. Thiếu quy hoạch tổng thể dẫn đến chính sách phân tán và thiếu đồng bộ, từ đó làm hạn chế nguồn lực tài chính và ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nhân lực, cuối cùng dẫn đến việc các hoạt động liên kết và quảng bá thiếu hiệu quả.

Mặc dù có những nghề biển mới như khai thác và chế biến dầu khí, công nghiệp đóng tàu, nuôi trồng hải sản đặc sản, du lịch biển, nhưng chưa được đầu tư nên chỉ mới được phát triển bước đầu. Các nghề biển công nghệ cao như năng lượng sóng thủy triều, khai thác khoáng sản dưới lòng nước sâu, hóa chất và dược liệu biển hầu như chưa được

tập trung nghiên cứu, do công nghệ, kỹ thuật khai thác kinh tế biển nhìn tổng thể vẫn còn ở trình độ rất thấp.

Tổng hợp phân tích cho thấy, phát triển du lịch biển bền vững tại vùng Bắc Trung Bộ đang đối mặt với một hệ thống nguyên nhâncó mối quan hệ nhân quả phức tạp, trong đó việc thiếu quy hoạch tổng thể và quản lý tích hợp là nguyên nhân căn bản, dẫn đến một chuỗi các vấn đề về chính sách, nguồn lực, nhân lực và liên kết. Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, cần có một chiến lược tổng thể giải quyết đồng thời các nguyên

nhân gốc rễ này thay vì chỉ tập trung vào từng vấn đề riêng lẻ.

126

CHƯƠNG 5. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN Ở CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

5.1. Bối cảnh và định hướng phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững

5.1.1. Bối cảnh

Vùng Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) sở hữu tiềm năng du lịch biển dồi dào với 670km đường bờ biển và nhiều bãi tắm đẹp nổi tiếng như Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Thiên Cầm (Hà Tĩnh), Nhật Lệ (Quảng Bình), Lăng Cô (Thừa Thiên Huế). Bên cạnh đó là hệ thống

di sản văn hóa - lịch sử đặc sắc (Cố đô Huế, Thành Nhà Hồ, di sản Phong Nha - Kẻ Bàng…) cùng vị trí chiến lược nối giữa Bắc và Nam, tiếp giáp Lào và Thái Lan, tạo thuận lợi để thu hút du khách và kết nối tour tuyến. Tuy nhiên, trong giai đoạn quá khứ,

du lịch biển Bắc Trung Bộ phát triển khá chậm so với tiềm năng. Trước đổi mới 1986

và những năm 1990, khu vực này chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh và khó khăn kinh tế, hạ tầng du lịch hầu như chưa phát triển. Hoạt động du lịch chủ yếu mang tính tự phát, tập trung vào mùa hè phục vụ khách nội địa tại vài bãi tắm địa phương. Cửa Lò (Nghệ An) từng là điểm đến biển hàng đầu khu vực cuối thập niên 1990, trong khi Sầm

Sơn (Thanh Hóa) khi đó chỉ ở tầm “làng chài du lịch” nhỏ bé. Thừa Thiên Huế là ngoại lệ với thế mạnh di sản cố đô, thu hút một lượng nhỏ khách quốc tế, nhưng du lịch biển

ở Huế và các tỉnh khác hầu như chưa được chú trọng.

Bước sang giai đoạn hiện tại, du lịch biển Bắc Trung Bộ đã có những bước tiến

rõ rệt. Cơ sở hạ tầng được cải thiện với mạng lưới quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh,

đường sắt Bắc - Nam và các sân bay (Vinh, Đồng Hới, Phú Bài) kết nối thuận tiện. Nhiều khu nghỉ dưỡng, khách sạn, khu vui chơi ven biển đã hình thành. Năm 2023, vùng Bắc Trung Bộ đón 33,46 triệu lượt khách (chiếm 27,6% cả nước), cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch. Thanh Hóa dẫn đầu với 12,1 triệu lượt khách, trong khi Quảng Trị thấp nhất với 2 triệu- chênh lệch này phản ánh mức độ phát triển chưa đồng đều giữa các địa phương. Ngành dịch vụ (bao gồm du lịch) hiện đóng góp cao nhất trong cơ cấu kinh tế vùng, chiếm 42,54% GDP khu vực năm 2023. Tuy nhiên, nhìn chung du lịch biển Bắc Trung Bộ chưa tương xứng với tiềm năng, vẫn đối mặt

nhiều thách thức: thiên tai, khí hậu khắc nghiệt (mùa mưa bão kéo dài), tính mùa vụ

cao (dồn khách vào mấy tháng hè) và thiếu sản phẩm độc đáo nên lượng khách còn thấp hơn hẳn vùng Đông Nam Bộ (33,5 triệu so với 52 triệu năm 2023. Cơ sở hạ tầng

127

du lịch ở một số nơi chưa đồng bộ, thiếu dịch vụ cao cấp; công tác quảng bá còn yếu; môi trường du lịch (vệ sinh bãi biển, cảnh quan) chưa được bảo vệ tốt, ảnh hưởng đến

trải nghiệm du khách. Nguồn nhân lực du lịch địa phương còn hạn chế về chuyên môn ngoại ngữ, kỹ năng phục vụ.

Điểm sáng là vùng Bắc Trung Bộ có nhiều cơ hội để bứt phá: Xu hướng du khách ngày nay ưa chuộng trải nghiệm khám phá văn hóa, thiên nhiên và biển đảo -

đúng với lợi thế di sản và bờ biển nơi đây. Chính phủ cũng rất quan tâm hỗ trợ phát triển du lịch bền vững, thông qua các chiến lược, quy hoạch và sự kiện văn hóa - thể

thao - du lịch được tổ chức thường xuyên, tạo hiệu ứng quảng bá điểm đến. Mặt khác,

thị trường du lịch nội địa 96 triệu dân của Việt Nam là nguồn khách dồi dào, và tầng lớp trung lưu gia tăng đang tìm kiếm các kỳ nghỉ biển chất lượng ngay trong nước.

Trong bối cảnh tương lai, du lịch biển dự kiến sẽ chuyển dịch theo hướng chất lượng và bền vững hơn. Khách du lịch ngày càng có ý thức về môi trường, đòi hỏi sản phẩm dịch vụ cao cấp, trải nghiệm độc đáo thay vì du lịch đại chúng đại trà. Mô hình “du

lịch 4.0” cùng chuyển đổi số sẽ phổ biến, giúp cá nhân hóa hành trình và tăng tiện ích cho du khách. Đồng thời, biến đổi khí hậu đặt ra yêu cầu cấp bách về phát triển du lịch

có trách nhiệm - các tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ sẽ phải chú trọng hơn tới việc bảo vệ tài nguyên biển, hệ sinh thái đầm phá, phòng chống thiên tai để giữ chân du khách lâu

dài. Sự cạnh tranh điểm đến cũng gia tăng, đòi hỏi vùng này cần liên kết liên tỉnh và quốc tế (như kết nối tuyến Hành lang Đông - Tây qua Lào, Thái Lan) để hình thành các sản phẩm tour mới lạ, hấp dẫn du khách khu vực. Tóm lại, Bắc Trung Bộ đang đứng

trước vận hội phát triển du lịch biển song hành với thách thức, đòi hỏi chiến lược bài bản để phát triển bền vững.

5.1.2. Định hướng

* Định hướng chung

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế phát triển kinh tế theo hướng bền vững,

liên kết vùng trong du lịch đang trở thành một xu thế tất yếu nhằm tối ưu hóa nguồn tài

nguyên, nâng cao sức cạnh tranh và gia tăng giá trị trong chuỗi cung ứng du lịch. Đặc

biệt, đối với khu vực Bắc Trung Bộ - nơi hội tụ nhiều di sản văn hóa, thiên nhiên quý

giá và có vị trí chiến lược quan trọng nối liền Bắc với Nam - việc xây dựng một định

hướng liên kết phát triển du lịch không chỉ mang tính cấp bách mà còn là nền tảng vững

chắc để hình thành một không gian du lịch thống nhất, hấp dẫn và bền vững, góp phần

đưa vùng trở thành điểm đến quan trọng trên bản đồ du lịch trong nước và quốc tế. Trong

tiến trình này, các địa phương trong vùng, bao gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,

128

Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, cần thiết lập một mô hình liên kết đa chiều,

toàn diện và thực chất. Trước hết, cần hướng đến liên kết trong quy hoạch không gian

du lịch ven biển, nơi được coi là trục xương sống của phát triển du lịch Bắc Trung Bộ.

Việc phối hợp quy hoạch một cách khoa học, đồng bộ sẽ giúp tạo ra các không gian du

lịch liền mạch, tránh tình trạng manh mún, trùng lặp, đồng thời phát huy tối đa lợi thế

riêng của từng địa phương. Bên cạnh đó, liên kết phát triển sản phẩm du lịch cũng đóng

vai trò then chốt, bởi sản phẩm đa dạng và có tính bổ trợ lẫn nhau sẽ tạo nên sức hấp

dẫn mạnh mẽ hơn so với việc từng tỉnh khai thác đơn lẻ. Các địa phương cần chú trọng

xây dựng những sản phẩm chung mang dấu ấn vùng, như du lịch biển nghỉ dưỡng kết

hợp với du lịch di sản, du lịch sinh thái gắn với cộng đồng, cũng như các tour trải nghiệm

văn hóa bản địa. Trong đó, việc hình thành các tuyến du lịch liên tỉnh, các chuỗi tour

trọn gói theo mô hình “one trip - multi destinations” là giải pháp trọng tâm, giúp du

khách chỉ cần một hành trình nhưng có thể khám phá nhiều điểm đến khác nhau trong

vùng. Đặc biệt, thương hiệu vùng cần được chú trọng phát triển với những tên gọi giàu

sức gợi, dễ ghi nhớ và có tính nhận diện cao, chẳng hạn như “Con đường di sản ven biển

miền Trung” hay “Trục du lịch biển - văn hóa - sinh thái Bắc Trung Bộ”, qua đó tạo nên

dấu ấn chung của toàn vùng trong tâm trí du khách. Song song với đó, phát triển hạ tầng

du lịch liên kết vùng là yếu tố quyết định sự thành công. Hệ thống giao thông kết nối

dọc Bắc - Nam, cũng như các tuyến ngang nối từ biển vào nội địa, cần được đầu tư đồng

bộ, hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển của du khách. Các hạ tầng thiết

yếu như cảng biển, sân bay, đường cao tốc, cùng với cơ sở lưu trú, trung tâm dịch vụ và

điểm dừng chân liên tỉnh phải được quy hoạch một cách hài hòa, tránh phân tán nguồn

lực nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng nhu cầu đa dạng. Ngoài ra, liên kết trong đào tạo và

phát triển nguồn nhân lực du lịch cũng cần được coi trọng. Các tỉnh nên phối hợp trong

việc mở các chương trình đào tạo chung, chia sẻ kinh nghiệm quản lý, nâng cao kỹ năng

nghề và ngoại ngữ cho đội ngũ lao động, từ đó hình thành một lực lượng nhân sự chất

lượng cao, có khả năng phục vụ và đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch

quốc tế và nội địa. Không thể bỏ qua khâu xúc tiến quảng bá, bởi đây chính là công cụ

quan trọng để đưa hình ảnh vùng Bắc Trung Bộ đến gần hơn với du khách. Các địa

phương cần liên kết tổ chức các chiến dịch truyền thông chung, tham gia hội chợ quốc

tế với thương hiệu vùng thống nhất, chia sẻ dữ liệu và nền tảng quảng bá trực tuyến, từ

đó tối ưu hóa chi phí nhưng vẫn tạo được sức lan tỏa rộng lớn. Trong quản lý nhà nước,

cần xây dựng một cơ chế điều phối vùng linh hoạt, có sự dẫn dắt của một trung tâm vùng

đóng vai trò đầu tàu. Thanh Hóa hoặc Thừa Thiên Huế có thể đảm nhiệm vai trò này,

129

bởi đây là những địa phương có tiềm năng nổi trội, có khả năng làm “nam châm” hút

khách và điều tiết dòng khách đến các tỉnh khác trong vùng. Một cơ chế phối hợp rõ

ràng, minh bạch, với sự phân công trách nhiệm cụ thể, sẽ giúp tránh tình trạng cạnh

tranh không lành mạnh, đồng thời thúc đẩy tinh thần hợp tác cùng phát triển. Bên cạnh

sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, vai trò của doanh nghiệp và cộng đồng

cũng cần được phát huy đúng mức. Sự tham gia của doanh nghiệp sẽ góp phần gia tăng

nguồn lực đầu tư, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ, trong khi sự

đồng thuận và tham gia của cộng đồng địa phương sẽ giúp phát triển du lịch một cách

bền vững, gắn với lợi ích thực tế của người dân. Các mô hình hợp tác công - tư (PPP),

các hiệp hội du lịch vùng, hay các liên minh lữ hành liên tỉnh chính là những hình thức

tổ chức phù hợp, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp. Đồng thời, để nâng cao chất

lượng và hiệu quả quản lý, các tỉnh cần chú trọng việc chuẩn hóa chất lượng dịch vụ,

bảo đảm tính chuyên nghiệp và đồng nhất trong phục vụ du khách. Việc xây dựng cơ sở

dữ liệu dùng chung, kết nối thông tin về điểm đến, dịch vụ lưu trú, vận chuyển, cũng

như phản hồi từ du khách, sẽ tạo nên nền tảng quản trị hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ

vào hoạt động du lịch là hết sức cần thiết. Các địa phương cần phối hợp xây dựng hệ

thống đặt dịch vụ trực tuyến liên thông, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích hành

vi khách hàng, triển khai các nền tảng phản hồi và đánh giá du khách, từ đó không chỉ

nâng cao trải nghiệm mà còn giúp nhà quản lý có cơ sở hoạch định chính sách, điều

chỉnh sản phẩm phù hợp hơn. Tất cả những giải pháp nêu trên hướng đến mục tiêu xây

dựng một hệ sinh thái du lịch Bắc Trung Bộ phát triển hài hòa, tận dụng tốt lợi thế tương

hỗ giữa các địa phương, tạo ra sự gắn kết chặt chẽ và bổ sung cho nhau, thay vì phát

triển manh mún và cạnh tranh không lành mạnh. Trên cơ sở đó, vùng Bắc Trung Bộ

hoàn toàn có thể vươn lên trở thành điểm đến hấp dẫn hàng đầu, có năng lực cạnh tranh

cao không chỉ trong phạm vi cả nước mà còn trong khu vực ASEAN, góp phần quan

trọng vào sự phát triển toàn diện và bền vững của ngành du lịch Việt Nam trong thời kỳ

hội nhập quốc tế sâu rộng..

* Định hướng phát triển du lịch biển Bắc Trung Bộ

Định hướng phát triển du lịch biển Bắc Trung Bộ giai đoạn tới được hoạch định

trong khuôn khổ các chiến lược và quy hoạch quốc gia, vùng đã ban hành. Trước hết,

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 (Quyết định 147/QĐ-TTg ngày

22/1/2020) đặt mục tiêu đưa du lịch thực sự thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển

theo hướng tăng trưởng xanh, bền vững. Chiến lược này xác định tập trung phát triển

130

các sản phẩm du lịch chất lượng cao, trong đó đặc biệt ưu tiên dòng sản phẩm nghỉ

dưỡng biển, đảo bên cạnh du lịch văn hóa di sản Vùng Bắc Trung Bộ được xác định là

một trong những khu vực động lực phát triển du lịch quốc gia - tức vùng trọng điểm sẽ

được đầu tư để tạo bứt phá về tăng trưởng du lịch. Cùng với đó, Nghị quyết 36-NQ/TW

năm 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến 2030 cũng nhấn

mạnh du lịch và dịch vụ biển là ngành kinh tế biển ưu tiên hàng đầu cần phát triển đột

phá. Du lịch biển, đảo được coi là một trong bốn dòng sản phẩm chủ đạo có lợi thế của

du lịch Việt Nam, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế và sinh kế bền vững cho cộng

đồng ven biển. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch hệ thống

du lịch Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2045 (Quyết định 509/QĐ-TTg ngày

13/6/2024) nhằm cụ thể hóa các mục tiêu chiến lược. Quy hoạch này đề ra mục tiêu đến

2030, du lịch cả nước đón 160 triệu khách nội địa, 35 triệu khách quốc tế, đóng góp trực

tiếp 13-14% GDP; phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng

cao và bền vững. Về định hướng sản phẩm, quy hoạch nhấn mạnh phải khai thác tối ưu

tài nguyên du lịch biển, đảo để tạo ra các sản phẩm mang tầm cạnh tranh khu vực. Đồng

thời phát triển các trung tâm nghỉ dưỡng biển cao cấp, có thương hiệu quốc tế tại những

khu vực có lợi thế. Đây là kim chỉ nam quan trọng cho Bắc Trung Bộ - nơi hội tụ nhiều

bãi biển đẹp nhưng dịch vụ nghỉ dưỡng cao cấp còn thiếu - cần thu hút đầu tư các resort,

khu vui chơi tầm cỡ.

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030

Theo Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 (Quyết định 147/QĐ-

TTg ngày 22/1/2020), du lịch phải trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển theo

hướng tăng trưởng xanh, bền vững, gắn kết chặt chẽ với tiến trình bảo tồn tài nguyên và

di sản văn hóa. Trong đó, phát triển sản phẩm nghỉ dưỡng biển, đảo được xác định là ưu

tiên chiến lược, cùng với các dòng sản phẩm du lịch văn hóa - di sản và du lịch sinh thái.

Vùng Bắc Trung Bộ, nhờ hội tụ nhiều bãi biển đẹp (Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Nhật

Lệ, Lăng Cô…), đồng thời là nơi tập trung nhiều di sản thế giới (Quần thể di tích Cố đô

Huế, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng), được định vị là vùng động lực phát triển

du lịch quốc gia.

Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam

Nghị quyết 36-NQ/TW năm 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển

Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045 cũng nhấn mạnh phát triển mạnh mẽ du lịch và dịch

vụ biển như một ngành kinh tế mũi nhọn. Du lịch biển - đảo được xác định là một trong

131

bốn dòng sản phẩm chiến lược của quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy kinh

tế và sinh kế cộng đồng ven biển. Điều này khẳng định định hướng Bắc Trung Bộ phải

khai thác mạnh lợi thế biển đảo để trở thành trụ cột kinh tế của vùng.

Quy hoạch hệ thống du lịch Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2045

Quy hoạch được phê duyệt tại Quyết định 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024 đã đề ra

mục tiêu đến năm 2030, du lịch cả nước đón 160 triệu lượt khách nội địa và 35 triệu

khách quốc tế, đóng góp trực tiếp từ 13-14% GDP. Quy hoạch xác định khai thác tối ưu

tiềm năng du lịch biển - đảo, xây dựng các trung tâm nghỉ dưỡng biển cao cấp có thương

hiệu quốc tế, đồng thời tổ chức không gian du lịch cả nước thành 6 vùng, 3 cực tăng

trưởng và 8 khu vực động lực. Trong đó, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là

một vùng du lịch trọng điểm, với các sản phẩm đặc trưng: tuyến “Con đường di sản

miền Trung”, du lịch nghỉ dưỡng biển - đảo, du lịch sinh thái hang động, du lịch lịch sử

cách mạng, và trải nghiệm văn hóa dân tộc.

Quy hoạch vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 2021-2030

Quyết định 376/QĐ-TTg ngày 4/5/2024 phê duyệt Quy hoạch vùng Bắc Trung

Bộ và Duyên hải miền Trung nhấn mạnh mục tiêu đưa vùng trở thành khu vực trọng

điểm du lịch, đồng thời là trung tâm công nghiệp, dịch vụ và đô thị biển của cả nước.

Với Bắc Trung Bộ, ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện tuyến đường bộ ven biển xuyên

suốt các tỉnh, nâng cấp sân bay Vinh, Đồng Hới, Phú Bài, phát triển cao tốc Đông -

Tây nối ra biên giới Lào, qua đó mở rộng không gian liên kết du lịch sang Thái Lan,

Myanmar. Sự phân vai rõ ràng trong nội vùng cho thấy Thanh Hóa - Nghệ An - Hà

Tĩnh - Quảng Bình - Quảng Trị tập trung phát triển dịch vụ và đô thị biển, trong khi

Thừa Thiên Huế giữ vai trò trung tâm văn hóa - du lịch tầm quốc tế và kết nối với

Trung Trung Bộ.

Quy hoạch du lịch cũng định hướng tổ chức không gian du lịch Việt Nam thành

6 vùng du lịch, 3 cực tăng trưởng và 8 khu vực động lực trên toàn quốc. Vùng Bắc Trung

Bộ và Duyên hải miền Trung là một trong 6 vùng du lịch đó, với lợi thế tài nguyên biển

đảo, cảnh quan đa dạng và hệ thống di sản thế giới dày đặc. Quy hoạch nêu rõ vùng này

sẽ ưu tiên phát triển những sản phẩm mang đặc trưng riêng: tuyến “Con đường di sản

miền Trung” nối chuỗi di sản (Phong Nha - Huế - Đà Nẵng - Hội An…); du lịch nghỉ

dưỡng biển, đảo; du lịch tham quan tìm hiểu di tích lịch sử cách mạng; du lịch sinh thái

hang động và du lịch văn hóa các dân tộc. Riêng Bắc Trung Bộ, các tỉnh cần tăng cường

liên kết nội vùng và liên vùng để xây dựng các hành trình đa dạng, ví dụ kết nối Huế -

132

Quảng Trị - Quảng Bình thành tuyến du lịch DMZ (vùng phi quân sự xưa) kết hợp tham

quan biển, hoặc kết nối “Một hành trình - nhiều điểm đến” sang Lào, Thái Lan qua các

cửa khẩu Lao Bảo, Cha Lo. Hạ tầng giao thông vùng cũng sẽ được đầu tư mạnh theo

Quy hoạch vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung thời kỳ 2021-2030 (Quyết

định 376/QĐ-TTg ngày 4/5/2024). Quy hoạch vùng đặt mục tiêu xây dựng Bắc Trung

Bộ trở thành khu vực trọng điểm du lịch của cả nước, thúc đẩy du lịch thực sự là ngành

kinh tế mũi nhọn của vùng. Để đạt được điều đó, Nhà nước sẽ ưu tiên nguồn lực hoàn

thiện khung hạ tầng đồng bộ, hiện đại cho vùng: hoàn thành tuyến đường bộ ven biển

xuyên suốt các tỉnh (tạo vành đai vừa bảo vệ bờ biển, vừa thúc đẩy liên kết đô thị - dịch

vụ - du lịch ven biển); nâng cấp các sân bay (Vinh, Đồng Hới, Phú Bài) và mở thêm

đường bay kết nối nhằm tăng cường tiếp cận nguồn khách du lịch; xây dựng các cao tốc

Đông - Tây nối từ cảng biển, sân bay ra biên giới Lào. Quy hoạch vùng cũng xác định

tiểu vùng Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa đến Quảng Trị) sẽ trở thành khu vực tăng trưởng

quan trọng về công nghiệp, dịch vụ, đô thị biển của cả nước. Trong khi đó, Thừa Thiên

Huế cùng Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi thuộc tiểu vùng động lực Trung Trung

Bộ - với Đà Nẵng là cực tăng trưởng quốc gia, Huế là trung tâm văn hóa, du lịch, dịch

vụ tầm quốc tế, Quảng Ngãi là trung tâm du lịch biển đảo…. Sự phân vai này cho thấy

trong nội vùng Bắc Trung Bộ, Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình - Quảng

Trị sẽ tập trung phát triển đô thị và dịch vụ ven biển, còn Thừa Thiên Huế kết hợp phát

triển với các tỉnh Nam Trung Bộ để trở thành cực phát triển du lịch văn hóa - sinh thái

của miền Trung.

Về nguyên tắc phát triển bền vững, các tỉnh Bắc Trung Bộ quán triệt tích hợp các mục tiêu phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và thích ứng biến đổi khí hậu vào quy hoạch, kế hoạch du lịch. Những định hướng này phù hợp với các chương trình quốc gia

như Chiến lược tăng trưởng xanh và Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu mà Viện Nghiên cứu Du lịch đã khuyến nghị áp dụng. Cụ thể, quản lý điểm đến phải đảm bảo hài hòa giữa phát triển dịch vụ du lịch với bảo tồn tài nguyên tự nhiên, tránh đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn. Nhiều biện pháp được đề xuất: xây dựng bộ chỉ

số giám sát du lịch bền vững, đo lường tác động môi trường - văn hóa để kịp thời điều chỉnh; nghiên cứu áp dụng mô hình giới hạn sức chứa ở các điểm nhạy cảm nhằm tránh quá tải (đặc biệt tại di sản UNESCO như Phong Nha, Quần thể Huế); phát động phong

trào giảm rác thải nhựa, sử dụng năng lượng sạch tại các khu du lịch. Các địa phương

cũng chú trọng lồng ghép mục tiêu bảo tồn di sản văn hóa trong phát triển du lịch - ví dụ gắn kết bảo tồn Nhã nhạc cung đình Huế, Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh… với sản phẩm du lịch trải nghiệm để vừa giữ gìn di sản, vừa tạo sinh kế cho cộng đồng.

133

Để phát triển du lịch biển hiệu quả, Bắc Trung Bộ còn cần nguồn nhân lực chất lượng và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Chiến lược vùng khuyến khích nâng cao

nhận thức người dân, doanh nghiệp về lợi ích của phát triển du lịch bền vững, đào tạo kỹ năng du lịch chuyên nghiệp cho lao động địa phương. Bên cạnh đó, tăng cường hợp tác

công - tư được xem là chìa khóa huy động nguồn lực xã hội. Nhiều tập đoàn lớn đã và đang đầu tư các dự án du lịch quy mô lớn ở Bắc Trung Bộ (FLC, Sun Group, Vingroup…), đòi

hỏi chính quyền địa phương tạo môi trường thuận lợi, chính sách ưu đãi để thu hút và giữ chân nhà đầu tư chiến lược. Đồng thời, liên kết liên tỉnh cũng được đẩy mạnh: các tỉnh

Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh đã ký kết liên minh phát triển du lịch nhằm “cùng thắng”

thay vì cạnh tranh manh mún. Nhiều hội nghị, chương trình xúc tiến quảng bá chung cho cả vùng Bắc Trung Bộ được tổ chức để xây dựng thương hiệu du lịch biển liên vùng.

Nhìn chung, định hướng lớn cho du lịch biển Bắc Trung Bộ là phát triển bền vững dựa trên liên kết vùng, bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng - biến khu vực này thành điểm đến hấp dẫn, có khả năng cạnh tranh cao trong nước và khu vực.

5.2. Giải pháp phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững

5.2.1. Xây dựng chiến lược hợp tác liên kết vùng du lịch Bắc Trung Bộ

Hoạt động liên kết hiện tại mới đang ở giai đoạn trao đổi thông tin, phối hợp hành

động dựa trên các hoạt động cụ thể. Các hoạt động được xây dựng theo từng năm chủ

yếu do một tỉnh đăng cai tổ chức. Cơ chế họp 1-2 năm một lần chủ yếu tập trung vào

khâu tổng kết, báo cáo hơn là công tác điều hành. Quy mô hợp tác này chưa đáp ứng

được yêu cầu của một «vấn đề chung» là phát triển du lịch trên phạm vi toàn vùng Bắc

Trung Bộ. Chiến lược hợp tác liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ là cơ sở tạo nên niềm

tin cho các bên tham gia, tạo ra định hướng chia sẻ chung cũng như là cơ sở xây dựng

các chương trình hành động cụ thể.

Trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam, việc xây dựng quy hoạch

tổng thể phát triển du lịch cấp vùng, trong đó có vùng Bắc Trung Bộ đã được đặt ra và sẽ

được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch thực hiện. Quy hoạch này sẽ đưa ra tầm nhìn và

giải pháp chiến lược cho phát triển du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Tuy vậy, đối với

các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, bên cạnh việc khuyến nghị các cơ quan trung ương sớm xây

dựng quy hoạch Vùng, cần có những hoạt động chủ động định hướng chiến lược cho phát

triển du lịch vùng, làm nền tảng cho các hoạt động liên kết vùng. Ngay cả khi quy hoạch

du lịch vùng được xây dựng, việc tổ chức triển khai quy hoạch một cách có chiến lược

cũng là nhiệm vụ hợp tác liên kết của các tỉnh.

134

Các hoạt động hợp tác, liên kết du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ cần được xây dựng thành các chương trình hành động dài hơi, với sự tham gia của nhiều tỉnh, nhiều

bên, tập trung vào các vấn đề trong công tác quản lý phát triển du lịch. Các chương trình hành động cũng đưa ra các mục tiêu, giải pháp, nguồn lực và kết quả đạt được làm cơ

sở triển khai, giám sát việc thực hiện các hoạt động du lịch.

Một thực tế hiện tại là các chương trình hợp tác phát triển du lịch giữa các tỉnh

trong vùng Bắc Trung Bộ còn khá khiêm tốn bởi những hạn chế về nguồn lực, hạn chế về sáng kiến và mức độ cam kết thực hiện các sáng kiến đưa ra. Việc xây dựng các

chương trình hợp tác cụ thể cho phép huy động nguồn lực ở các tỉnh cũng như phân bổ

nguồn lực giữa các tỉnh.

Mô hình quản lý hiện tại với Ban chỉ đạo là lãnh đạo các tỉnh (các thường là phó

chủ tịch tỉnh), bộ phận điều phối có sự tham gia của lãnh đạo các sở văn hóa, thể thao,

du lịch các tỉnh. Mô hình có tác động rõ ràng trong các hoạt động điều phối nhưng hạn

chế hiệu quả trong các hoạt động chỉ đạo chiến lược. Liên kết du lịch vùng cần những

hoạt động mang tính điều phối nhưng cần hơn nữa những định hướng mang tính chiến

lược để thúc đẩy hoạt động liên kết sâu rộng và hiệu quả. Cần có những cơ chế hợp tác

với những cơ quan/mô hình hợp tác đảm nhận chức năng xây dựng và tổ chức thực hiện

chiến lược phát triển du lịch cả vùng.

Phát triển liên kết vùng du lịch Bắc Trung Bộ cần đặt trong yêu cầu và tầm nhìn

cho phát triển du lịch của cả vùng như là một điểm đến du lịch. Một điểm đến du lịch

cần có cơ quan quản lý. Cơ quan này có thể là cơ quan hành chính, có thể là tổ chức với

sự tham gia của các bên nhưng nhất thiết cần có sự có mặt của cơ quan hành chính (bao

gồm cơ quan quản lý du lịch). Cơ quan này có thể là một tổ chức độc lập hoặc là một tổ

chức phối hợp giữa các bên tham gia. Hiện tại vùng Bắc Trung Bộ đang thiếu cơ quan

quản lý du lịch cấp vùng này với đầy đủ các nhiệm vụ và chức năng của nó.

Bên cạnh đó, các tổ chúc đoàn thể cũng cần xây dựng các liên kết xúc tiến quảng

bá và phát triển thương hiệu du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ

+ Về tổ chức, quản lý: Hiện nay, việc hình thành các Ban Điều phối vùng để có

khả năng liên kết các địa phương, thúc đẩy các hoạt động du lịch đang là yêu cầu cần

thiết xuất phát từ thực tiễn ở nhiều vùng du lịch. Các tỉnh Bắc Trung Bộ hiện nay đã có

mô hình hoạt động của Ban điều phối vùng Bắc miền Trung. Ban đã có nhiều hoạt động

quan trọng liên quan đến thúc đẩy các mối liên kết phát triển sản phẩm du lịch. Tuy vậy,

đối với lĩnh vực du lịch cần có sự gắn kết chặt chẽ hơn, cần xem xét mô hình tổ chức của

135

Ban để xác định rõ hơn vai trò và chức năng nhiệm vụ của Ban đối với hoạt động liên

kết phát triển du lịch, bộ phận giúp việc cần có cán bộ chuyên trách về lĩnh vực du

lịch. Việc này thúc đẩy sự gắn kết chặt chẽ trong các địa phương của mỗi vùng và

tạo cơ sở cho sự liên kết vùng Bắc Trung Bộ. Trên cơ sở hình thành các Ban điều

phối phát triển du lịch của mỗi vùng thì kế hoạch xúc tiến quảng bá của các địa

phương sẽ được tập hợp và thống nhất thành chiến lược và kế hoạch hành động

chung, trong đó các hoạt động nào các địa phương chủ động thực hiện và các hoạt

động nào phối hợp liên kết trong một số địa phương có cùng mục tiêu hoặc nội dung

xúc tiến. Cũng vậy, kế hoạch xúc tiến quảng bá theo từng thời kỳ là căn cứ để liên

kết giữa các vùng. Xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu du lịch trên cơ sở liên

vùng cũng đặt ra vai trò của các địa phương đầu tàu. Trong mỗi vùng du lịch, không

phải địa phương nào cũng có tiềm năng và năng lực, kinh nghiệm phát triển du lịch

như nhau. Vì vậy những địa phương có tiềm lực lớn hơn, có kinh nghiệm hơn trong

triển khai thực hiện công tác xúc tiến quảng bá, phát triển thương hiệu trong thời gian

gần đây như Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình, Thanh Hóa, Nghệ An cần dẫn dắt quá

trình liên kết và chủ động trong công tác liên kết xúc tiến quảng bá.

+ Về cơ chế liên kết và huy động nguồn lực trong liên kết xúc tiến quảng bá, phát

triển thương hiệu. Xây dựng các cơ chế thu hút tham gia xã hội hóa hoạt động xúc tiến

quảng bá, phát triển thương hiệu du lịch. Sự tham gia đa thành phần cần chú trọng đến

tính đồng bộ, tính thống nhất của hệ thống xúc tiến để đảm bảo khả năng liên kết lâu dài

và phát triển thương hiệu du lịch. Ở đây, vai trò của Ban điều phối phát triển du lịch các

vùng là rất cần thiết, với vai trò điều tiết, xây dựng cơ chế về vai trò, trách nhiệm và

quyền lợi của các doanh nghiệp khi được thu hút tham gia các hoạt động xúc tiến quảng

bá, đặc biệt là các hoạt động liên kết giữa hai vùng. Ban cũng cần có kế hoạch xúc tiến

quảng bá, phát triển thương hiệu di lịch liên vùng, chủ động tạo ra sân chơi thu hút các

doanh nghiệp tham gia. Phát triển thương hiệu du lịch có sự tham gia của rất nhiều thành

phần nên sự huy động sự ủng hộ các ngành, các lĩnh vực, các cá nhân, tổ chức, cộng

đồng xã hội trong các hình thức liên kết khác nhau là rất cần thiết. Thông qua các hoạt

động văn hóa, thương mại, ngoại giao...để thúc đẩy thông tin quảng bá, phát triển thương

hiệu du lịch. Xây dựng tính cộng đồng yêu thích các dòng sản phẩm du lịch của các tỉnh

vùng Bắc Trung Bộ như du lịch di sản, du lịch biển..., thông qua những người yêu thích

du lịch hay những người con quê hương hoặc xa quê hương để hình thành nên những

nhóm ủng hộ và giới thiệu chân thành cho sản phẩm hoặc vùng đất họ yêu thích. Đặc

biệt nhiều địa phương trong vùng Bắc Trung Bộ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,

136

Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế... có sự gắn bó chặt chẽ trong cộng đồng và

dễ dàng hình thành các diễn đàn ủng hộ du lịch quê nhà và vùng du lịch nơi họ sinh

thành. Những người con của mỗi vùng đất khi trở thành những người nổi tiếng, những

ca sỹ, nghệ sỹ thành danh cần được khuyến khích, động viên để trở thành đại sứ du lịch

cho địa phương và cả vùng du lịch.

+ Về đẩy mạnh tính chuyên nghiệp hóa của hoạt động xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu. Để đảm bảo điều kiện liên kết xúc tiến quảng bá và phát triển thương

hiệu thì trước tiên, vùng theo cơ chế Ban điều phối hoặc bản thân các địa phương cần có kế hoạch tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng xúc tiến, tổ chức troa đổi kinh nghiệm giữa các địa phương, các kinh nghiệm triển khai tổ chức thành công các chiến dịch xúc

tiến quảng bá, quản trị rủi ro, xây dựng thương hiệu điểm đến. Kế hoạch xúc tiến quảng bá giữa các địa phương cần được tham khảo lẫn nhau, theo đó, các hoạt động xúc tiến

quảng bá liên kết cần được triển khai đồng bộ, thống nhất theo cùng quy mô và cơ chế tham gia. Các địa phương cần thường xuyên cập nhật và học tập kinh nghiệm để cùng triển khai các hình thức hoặc các kênh xúc tiến quảng bá hiện đại, phù hợp với xu thế thị trường. Cần đẩy mạnh quảng bá điện tử, cải thiện tính hấp dẫn và tính năng trang

thông tin điện tử, tham gia quảng bá qua các kênh mạng xã hội, xây dựng lòng tin của

thị trường thông qua sự tin tưởng và giới thiệu của những người nổi tiếng hoặc những người có tầm ảnh hưởng. Các địa phương trong mỗi vùng cần đặt liên kết trong trang điện

tử, các địa phương ở vùng liên kết có cùng dòng sản phẩm cũng cần đặt liê kết trong trang điện tử. Không chỉ đặt liên kết mà các thông tin, bài viết cần thể hiện tính liên kết và thúc đẩy cao của du lịch trong vùng và các sản phẩm liên kết vùng Bắc Trung Bộ.

Thực tế, thị trường khách du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ hiện có và mục tiêu thu hút chủ yếu là khách du lịch nội địa và thu hút khách du lịch quốc tế và là một

trong các vùng thu hút số lượng khách du lịch quốc tế quan trọng của cả nước (Thừa Thiên - Huế; Quảng Bình). Như vậy, đối tượng của hoạt động xúc tiến quảng bá của hai vùng có sự khác biệt dẫn đến các hoạt động xúc tiến quảng bá và thu hút thị trường cũng

khác nhau. Chúng ta hiểu rằng xúc tiến quảng bá là hoạt động thu hút thị trường tìm đến sử dụng sản phầm du lịch, do đó cần định hướng đúng thị trường và sử dụng những biện pháp hiệu quả nhất để tiếp cận thị trường này. Các biện pháp này là các công cụ quảng bá, các thông tin xúc tiến, các hoạt động phát động thị trường, các kênh truyền thông,

nội dung và ngôn ngữ của các thông điệp, hình ảnh, âm thanh..., theo đó thị trường quốc

tế và nội địa cần được tiếp cận theo các hình thức, công cụ, kênh, thông điệp, ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh khác nhau phù hợp vào thói quen, đặc điểm tâm lý xã hội của thị

trường khách trong nước và quốc tế. Chính vì vậy mà quá trình liên kết cần đặc biệt chú

137

trọng từng nội dung, hoạt động xúc tiến quảng bá trên cơ sở xác định rõ thị trường mục tiêu để lựa chọn việc tham gia vào mỗi chiến dịch xúc tiến quảng bá.

+ Về phát triển sản phẩm du lịch đặc trung và quản lý chất lượng sản phẩm du lịch. Cần triển khai kế hoạch phát triển, làm mới sản phẩm du lịch để phù hợp với các

nội dung xúc tiến quảng bá. Các lời hứa được truyền tải qua các thông điệp quảng bá xúc tiến du lịch cần được thực hiện thông qua các sản phẩm du lịch tại chỗ, có như vậy

mới có thể đảm bảo được việc phát triển thương hiệu du lịch vầ lâu dài. Với tiềm năng phát triển du lịch văn hóa, du lịch biển, du lịch sinh thái của cả vùng Bắc Trung Bộ, cả

hai vùng cần trao đổi hệ thống kế hoạch phát triển sản phẩm du lịch chung của mỗi vùng

và liên kết vùng. Mỗi địa phương với mỗi sản phẩm có vòng đời riêng, phát triển sản phẩm du lịch vùng giúp liên kết để kéo dài và gối đầu các sản phẩm của các địa phương.

Các kế hoạch và chiến lược phát triển sản phẩm này cần được thống nhất và là mục tiêu cho kế hoạch xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu.

Dòng sản phẩm du lịch biển: Cả vùng đều có chung thế mạnh về sản phẩm du

lịch biển, tuy vậy cần có chiến lược phát triển sản phẩm phù hợp với đặc điểm tài nguyên biển ở mỗi nơi. Vùng Bắc Trung Bộ cần nghiên cứu việc làm mới sản phẩm du lịch, bổ

sung thêm các loại hình sản phẩm, dịch vụ du lịch như: tổ chức nhiều hoạt động thể thao, giải trí ven biển, các giải thi đấu, các hoạt động teambuilding...hoặc thay đổi cơ cấu chất lượng sản phẩm như: quy hoạch lại phân vùng để phát triển sản phẩm du lịch cao cấp.

Các hoạt động làm mới sản phẩm nhằm thay đổi hình ảnh, tái định vị và thu hút thị trường khách với hình ảnh mới về du lịch vùng. Sản phẩm du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung bộ tập trung vào du lịch nghỉ dưỡng, thu hút số lượng lớn khách du lịch đại trà với nhu cầu nghỉ dưỡng đều đặn hằng năm, thuận lợi về khoảng cách với thị trường nguồn là Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Như vậy, mặc dù cùng dòng sản phẩm nhưng mỗi

nhóm điểm đến có tính cạnh tranh riêng và thu hút thị trường khách riêng. Chính vì vây, việc xác định rõ thế mạnh và khả năng thu hút thị trường để có chiến lược phát triển và

định hình thương hiệu sẽ tạo giúp phát triển sản phẩm đúng hướng, liên kết bền vững, tránh cạnh tranh.

Một vấn đề quan trọng khác về phát triển sản phẩm gắn với thương hiệu là việc quản lý chặt chẽ chất lượng sản phẩm du lịch để phù hợp với các giá trị thương hiệu được quảng bá, xúc tiến tới các thị trường. Các vùng cần đặt ra vấn đề về quản lý chất lượng sản

phẩm, dịch vụ du lịch, liên kết trao đổi kinh nghiệm về các biện pháp hữu hiệu trong quản

lý chất lượng du lịch. Bộ quy tắc ứng xử du lịch là một công cụ nâng cao nhận thức và ứng xử văn minh với du khách, hoạt động cấp biển hiệu quả đạt tiêu chuẩn cho các cơ sở dịch vụ cũng là hoạt động cần thiết đối với công tác quản lý chất lượng du lịch.

138

Tóm lại, phát triển du lịch trong mối liên kết vùng Bắc Trung Bộ là thúc đẩy một vùng lãnh thổ ven biển quan trọng với nhiều thế mạnh tiềm năng và các hướng tiếp cận

thị trường. Việc liên kết phát triển, xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu sẽ giúp các địa phương trong mỗi vùng xác định rõ được lợi thế cạnh tranh, vai trò riêng để tạo

ra sức mạnh tổng hợp, tiết kiệm các nguồn lực và bổ sung cho nhau kéo dài vòng đời sản phẩm và thương hiệu du lịch vùng.

5.2.2. Đầu tư và huy động vốn cho phát triển cho du lịch

Đầu tư phát triển du lịch là hướng đầu tư lâu dài đòi hỏi sự bền bỉ nhưng hiệu quả

của nó sẽ tác động đến cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Đầu tư phát triển du lịch cần có trọng điểm, chú trọng đối với những nơi có thể khai thác và tạo ra các sản phẩm đặc thù, có sức cạnh tranh, làm nên thương hiệu cho du lịch các tỉnh. Căn cứ vào đặc thù ngành du lịch cũng như điều kiện cụ thể của tỉnh, hoạt động đầu tư phát triển du lịch cần:

Đầu tư xây dựng đồng bộ các khu du lịch trọng điểm: Đây là một hướng đầu tư rất quan trọng, sẽ tạo nên bộ mặt mới cho du lịch đảm bảo về chất trong hoạt động phát triển du lịch ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Hiện nay, ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đã

và đang hình thành (đang phát triển và theo quy hoạch) tương đối rõ các khu du lịch như các bãi biển gồm Sẩm Sơn (Thanh Hoá), Cửa Lò (Hà Tĩnh), Nhật Lệ (Quảng Bình),

Lăng Cô (Huế); các thắng cảnh hang động gồm Phong Nha - Kẻ Bảng, động Thiên Đường, hang Sơn Đoòng; các di tích văn hoá lịch sử gồm Ngã ba Đồng Lộc, Cố đô Huế, chùa Thiên Mụ, quê Bác Hồ... Tuy nhiên, những điểm du lịch đặc biệt, những khu du

lịch có sản phẩm riêng, hấp dẫn thì các tỉnh hầu như chưa có. Các điều kiện về cơ sở vật chất, dịch vụ hỗ trợ được đầu tư chưa tương xứng với nhu cầu của khách du lịch, mô hình quản lý vận hành phù hợp

Đầu tư phát triển hệ thống khách sạn và các công trình dịch vụ du lịch chất lượng

cao: kinh tế thế giới và trong nước càng phát triển, hội nhập càng sâu rộng, cho nên các

tiêu chuẩn về du lịch và dịch vụ du lịch cũng phải phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Hiện

nay, ở các tỉnh phía vùng Bắc Trung Bộ còn thiếu các khách sạn cao cấp 4-5 sao. Vì

vậy, đầu tư phát triển hướng vào hệ thống khách sạn nghỉ dưỡng, khách sạn thương mại

cao cấp ở thành phố trung tâm và các khu du lịch trọng điểm. Ở các không gian du lịch

lân cận nên đầu tư xây dựng các khách sạn với quy mô và tiêu chuẩn trung bình để

phục vụ được phần lớn đối tượng khách và đảm bảo hiệu quả trong kinh doanh.

Đối với các khu, điểm du lịch mà sản phẩm chủ yếu là du lịch sinh thái, du lịch

cộng đồng hoặc du lịch dựa vào tự nhiên, cần chú trọng phát triển hệ thống lưu trú sinh

thái, hệ thống lưu trú trong dân (homestay)...

139

Đầu tư phát triển hệ thống các công trình vui chơi giải trí, thể thao; các dịch vụ

bổ trợ khác: cần ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình vui chơi giải trí, thể thao tổng

hợp; các cơ sở y tế, chăm sóc sức khỏe hiện đại, chất lượng cao…

Đầu tư cho các dự án bảo tồn, tôn tạo các giá trị văn hóa lịch sử và phát triển các

lễ hội, làng nghề truyền thống phục vụ du lịch: Một trong những mục đích của khách du

lịch đến đến các tỉnh phía vùng Bắc Trung Bộ là để tham quan, nghiên cứu tìm hiểu về

nền văn hóa bản địa; nghiên cứu về làng quê Việt Nam gắn với văn minh lúa nước; nghiên

cứu về truyền thống cách mạng của người dân gắn di tích; nghiên cứu về văn hóa tâm linh

gắn với Chùa Thiên Mụ, Đền thờ Lê Khôi - Chiêu Trung, Chùa Thuyền Tôn,... Do vậy,

việc đầu tư bảo tồn, tôn tạo các giá trị văn hóa lịch sử và các lễ hội, làng nghề truyền thống

ở các tỉnh, một mặt có ý nghĩa giáo dục các thế hệ trẻ về những giá trị văn hóa lịch sử của

dân tộc, về những hy sinh và kỳ tích của các thế hệ cha ông đi trước trong các cuộc chiến

tranh giữ nước, mặt khác có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động phát triển du lịch.

Đầu tư cho công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao:

đầu tư cho nhân lực luôn là quá trình lâu dài và khó khăn. Nhưng đầu tư cho nguồn nhân

lực du lịch lại là hạt nhân cho quá trình thúc đẩy phát triển của ngành. Chính vì vậy, cần

có những chương trình đào tạo toàn diện, rộng, sâu về lý luận và bám sát với thực tiễn đồng bộ từ quản lý đến nhân viên phục vụ là vô cùng quan trọng phục vụ cho phát triển du lịch theo hướng bền vững ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ.

Về việc huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển du lịch ở vùng Bắc Trung Bộ

cần quan tâm thu hút các nguồn vốn sau:

- Nguồn vốn ngân sách Nhà nước (cả trung ương và địa phương) được đầu tư theo hướng đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm không thất thoát, lãng phí, tham nhũng

để tạo động lực kích thích phát triển du lịch ở các tỉnh; tập trung vốn trước cho hệ

thống kết cấu hạ tầng tại các khu du lịch trọng điểm. Đối với nguồn ngân sách trung

ương, cần tranh thủ sự hỗ trợ kinh phí trong Chương trình hành động quốc gia về du

lịch, nguồn vốn ODA (kinh phí hỗ trợ của ADB…) để đầu tư vào hạ tầng du lịch,

bảo tồn các di tích cấp quốc gia… Nguồn ngân sách địa phương tập trung cho công

tác quảng bá, xúc tiến đầu tư phát triển du lịch; tổ chức các sự kiện; bảo vệ môi

trường… Đây là nguồn vốn không lớn (dự kiến khoảng 10% trong tổng nhu cầu vốn

đầu tư), nhưng lại có ý nghĩa như một thỏi nam châm khổng lồ để thu hút các nguồn

vốn khác vào phát triển du lịch cho các tỉnh.

- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào hoạt động du lịch (doanh nghiệp, tổ chức, đoàn thể, cá nhân, hộ gia đình). Có cơ chế thích hợp để thu hút

140

nguồn vốn đầu tư dưới dạng liên doanh liên kết trong nước và quốc tế đầu tư vào các

dự án lớn, cần nhiều vốn; tranh thủ thu hút nguồn vốn trong dân để đầu tư phát triển du

lịch đối với các dự án nhỏ, cần ít vốn; thu hút các doanh nghiệp, cá nhân cùng đầu tư

bảo tồn, tôn tạo di tích, thắng cảnh, các lễ hội, các hoạt động văn hóa dân gian, các làng

nghề… phục vụ phát triển du lịch.

- Coi trọng nguồn vốn để lại từ lợi nhuận của các doanh nghiệp du lịch; vốn vay ngân hàng với lãi suất ưu đãi; thành lập Quỹ phát triển du lịch nhằm thu hút vốn nhàn

rỗi trong dân qua hệ thống ngân hàng; dựa trên Luật đầu tư để có căn cứ thu hút các loại

vốn khác nhau từ vốn cổ phần hóa các doanh nghiệp; cho thuê đất trả tiền trước, đổi đất

lấy cơ sở hạ tầng có giới hạn thời gian...

5.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Tập trung cho công tác đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo về chất lượng, đủ số

lượng, cơ cấu phù hợp đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch nói chung và du lịch ở các tỉnh

phía vùng Bắc Trung Bộ nói riêng.

Tạo điều kiện cho cán bộ trẻ đi đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ; sẵn sàng tiếp

nhận và tạo điều kiện cho cán bộ có trình độ chuyên môn, sinh viên ngành du lịch tốt nghiệp

loại giỏi trở lên về công tác tại tỉnh. Có chính sách riêng trong việc thu hút chuyên gia giỏi,

tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao vào lĩnh vực hoạt động quản lý, kinh doanh du

lịch. Xây dựng kế hoạch phát triển du lịch cho từng giai đoạn và kế hoạch đào tạo nguồn

nhân lực tương ứng. Ưu tiên tuyển chọn, sắp xếp đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật,

lao động có chuyên môn tham gia hoạt động trong lĩnh vực du lịch.

Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, lao động kỹ thuật, hướng dẫn viên du lịch tại các

cơ sở kinh doanh theo tiêu chuẩn nghề. Khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng rộng

rãi, sử dụng những người có năng lực, phẩm chất, trình độ chuyên môn giỏi. Ngoài ra,

cần phải chú trọng đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ và hướng dẫn viên cho du lịch, điều

này có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của hoạt động du lịch.

Đối với đội ngũ hướng dẫn viên du lịch, phải được đào tạo đảm bảo: (1) đạo đức

nghề nghiệp luôn được đặt lên hàng đầu; (2) có kỹ năng, kiến thức toàn diện về địa điểm

hướng dẫn khách (về lịch sử, văn hóa); (3) giữ gìn nét văn hóa, phẩm chất của người

Việt qua trang phục, lời nói, và hành động với khách và những người xung quanh. Tất

cả những điều kiện đó để hướng tới, hướng dẫn viên du lịch như một người làm hoạt

động quan hệ công chúng về du lịch.

141

Mở rộng và nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở đào tạo nguồn nhân lực du lịch

trên địa bàn tỉnh: Từng bước chuẩn hóa chương trình đào tạo tại các cơ sở đào tạo du

lịch (đẩy mạnh đào tạo phát triển nguồn nhân lực tại chỗ ở các cơ sở đào tạo nâng cao

trình độ của đội ngũ giáo viên, giảng viên và gắn đào tạo với nhu cầu của doanh nghiệp,

xã hội; thúc đẩy liên kết với các viện nghiên cứu, các trường đại học có uy tín trong

nước và quốc tế. Thúc đẩy và hỗ trợ các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cơ sở đào

tạo chuyên ngành du lịch bậc đại học, cao đẳng, trung cấp.

Có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực du lịch hiện có về chuyên môn,

ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng giao tiếp, ứng xử theo hướng chuẩn hóa, chú trọng

đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các ngành nghề cụ thể như tiếp tân, buồng, bếp,

thuyết minh viên để nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch.

Hỗ trợ từ ngân sách một phần kinh phí cho công tác phát triển nguồn nhân lực

(khoảng 1% tổng nhu cầu đầu tư). Thực hiện xã hội hóa công tác phát triển nhân lực du

lịch để huy động các nguồn lực trong xã hội cho phát triển nhân lực. Khuyến khích các

thành phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp chủ động đào tạo nâng cao trình độ lao

động du lịch.

Hiện nay, nhận thức xã hội về ngành kinh tế du lịch còn hạn chế, do vậy cần xây dựng những chương trình tuyên truyền giáo dục đến mọi tầng lớp trong xã hội (đặc biệt là đến cộng đồng dân cư) về vai trò và ý nghĩa của ngành du lịch đối với nền kinh tế, môi trường - xã hội, đến đời sống của cộng đồng dân cư, đến công tác bảo tồn các giá trị tài nguyên. Những chương trình này có thể được lồng ghép trong các khóa học ở các trường phổ thông, các buổi tập huấn về giáo dục môi trường và nâng cao nghiệp vụ du lịch cho cộng đồng...

5.2.4. Bảo tồn tài nguyên du lịch

(1) Phát huy và quản lý giá trị của tài nguyên du lịch

Các tỉnh phía vùng Bắc Trung Bộ có nhiều tiềm năng khác nhau để khai thác phát triển loại hình du lịch. Việc triển khai các hoạt động nhằm phát huy giá trị tài nguyên du lịch sao cho hiệu quả và bền vững là câu hỏi đặt ra không chỉ cho ngành du lịch mà

còn là câu hỏi cho nhiều ban ngành khác có liên quan.

Bên cạnh đó, các tỉnh phía vùng Bắc Trung Bộ luôn luôn lưu giữ và quảng bá

những tập quán, phong tục tốt đẹp về văn hóa và lịch sử cho thế hệ sau. Phát huy giá

trị văn hóa phi vật thể như Hát Chèo, hát chầu văn và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là trách nhiệm của người dân đặc biệt là giúp thế hệ trẻ nhận thức và tự hào các giá trị

của cha ông để lại.

142

Cùng việc khai thác tài nguyên du lịch, tại các điểm du lịch địa phương cũng phải tổ chức bảo vệ chặt chẽ. Việc quản lý ở đây đòi hỏi phải được tổ chức một cách hợp lý

vừa đảm bảo giữ được tài nguyên đồng thời mang lại lợi ích lớn nhất cho người dân. Mô hình đồng quản lý tài nguyên du lịch là một mô hình phù hợp cho việc bảo vệ và phát

triển tài nguyên tại các địa điểm du lịch ở các tỉnh.

Những bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo của cộng đồng dân cư bị mai một không

ít bởi sự hòa nhập về văn hóa và xã hội trong quá trình mở cửa nền kinh tế. Rất nhiều tập tục dân gian, nhiều sinh hoạt văn hóa dân cư, những kiến thức về cội nguồn đang

ngày càng ít hiện hữu. Việc bảo tồn, gìn giữ bản sắc văn hóa, tri thức về cội nguồn cần

có một đường lối chiến lược bền bỉ và dài hơi. Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch là giải pháp để người dân cùng hợp sức sử dụng kiến thức, kinh nghiệm

và hiểu biết của mình để gìn giữ và phát triển. Những hỗ trợ của kiến thức mới, của cơ chế tài chính trong quản lý đặc dụng kết hợp với việc sử dụng tri thức và sáng tạo sẽ giúp cộng đồng phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo bằng con đường tự vận

động với sự hỗ trợ tích cực từ các bên liên quan.

(2) Tăng cường công tác bảo tồn tài nguyên du lịch

Bảo tồn và khai thác luôn phải đi song hành khi sử dụng tài nguyên, nếu chúng ta

chỉ tập trung bảo tồn mà không tập trung đến khai thác thì sẽ dẫn đến tình trạng tài nguyên

bị lãng phí, làm giảm những giá trị mà nó mang lại. Nhưng ngược lại, nếu chỉ chăm chăm

vào khai thác mà không bảo tồn còn nguy hại hơn rất nhiều lần, sẽ dẫn đến các di tích bị

xâm hại, môi trường bị hủy hoại và những hệ lụy khác cho xã hội. Vì vậy, cần phải nhấn

mạnh đến vai trò của dân cư trong việc khai thác, bảo tồn và gìn giữ các di tích. Đào tạo,

huấn luyện nguồn nhân lực riêng phục vụ việc bảo tồn và khai thác giá trị di tích bao gồm:

quản lý di tích, nghiên cứu viên về di tích, các kiến trúc sư, kỹ sư, thợ nghề, những bảo vệ

di tích ở cơ sở... Do đó, các tỉnh phía vùng Bắc Trung Bộ cần có giải pháp giải quyết giữa

bảo tồn và khai thác phát triển di tích dựa trên quan điểm di sản, di tích là cái đang có, cái

không thể thay thế, nên vì sự PTBV, vì lợi ích cộng đồng, lợi ích của các thế hệ hôm nay

và mai sau thì cái mới, cái xây dựng sau cần phải hết sức tôn trọng di sản gốc.

Công tác bảo tồn di tích chỉ đạt được hiệu quả cao khi đảm bảo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, luôn trân quý và gìn giữ những di sản nguyên gốc. Nếu có sửa chữa, mở rộng hay khai thác vẫn phải đảm bảo những giá trị gốc bao gồm yếu tố lịch sử, văn

hóa hiện hữu trong đó.

Thứ hai, thường xuyên kiểm tra, đánh giá di tích. Khi tiến hành phải nghiên cứu

tất cả các vấn đề xung quanh di tích đó như: giá trị, hoàn cảnh lịch sử, văn hóa của địa

143

phương và hiện trạng đang có. Trước khi đưa ra các giải pháp tu bổ, bảo tồn cụ thể cần

tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học và của dân cư đặc biệt những

người cao tuổi gắn bó và hiểu biết về địa phương.

Thứ ba, các di tích luôn có những dữ liệu ghi chép khoa học nên muốn tu bổ phải

nghiên cứ kỹ càng, cẩn thận những căn cứ đó. Khi tu bổ và phục hồi di tích luôn ưu tiên

tối đa sử dụng vật liệu và công nghệ truyền thống.

Thứ tư, khi tu bổ, phục hồi vấn đề cốt lõi là làm thế nào để di tích có thể tồn tại bền

vững và lâu dài dạng nguyên bản từ hình dáng, chất liệu, màu sắc đến các đường trang trí…

Thứ năm, có đội ngũ chuyên gia tư vấn, giám sát, chính quyền địa phương và người

dân thường xuyên giám sát chặt chẽ quá trình tu bổ, sửa chữa, phục hồi, tôn tạo di tích.

Tóm lại, các dự án tu bổ, tôn tạo có đặc thù riêng, mang đậm chất chuyên ngành

về quá trình quản lý xây dựng và thi công; đồng thời có nhiều khác biệt so với các dự

án xây dựng khác. Do đó, cần phải có cơ chế quản lý riêng phù hợp với tình hình thực

tế và các quy định của Luật di sản văn hóa và Luật Xây dựng.

Trong thời gian tới, để phát triển du lịch các tỉnh phía vùng Bắc Trung Bộ cần

thực hiện một số nội dung như sau:

Đẩy mạnh phong trào xã hội hóa hoạt động bảo tồn di tích. Mỗi di sản văn hóa,

di tích lịch sử và lễ hội được đưa trở lại với cộng đồng bằng cách đánh thức tình yêu

quê hương đất nước, lòng tự hào về sự hào hùng và nghĩa khí tồn tại trong truyền thống của

dân tộc ở mỗi người dân. Tăng cường quản lý nhà nước, gắn trách nhiệm của chính quyền,

doanh nghiệp và dân cư với công tác bảo tồn; tăng cường tuyên truyền, giáo dục cho người

dân nhằm nâng cao nhận thức về truyền thống văn hóa của dân tộc, để từ đó mỗi cá nhân

đều có ý thức bảo vệ tài nguyên nói chung, các di sản văn hóa phi vật thể nói riêng. Đồng

thời, đưa di sản văn hóa phi vật thể này trong các tiết học thực tế ở các bảo tàng, đưa vào tư

liệu soạn bài để giảng dạy và sinh hoạt cộng đồng, có chính sách, chế độ cho các nghệ nhân

và những người có công sức gìn giữ, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.

Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị cho công tác nghiên cứu, bảo tồn

các di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa và lễ hội.

Đẩy mạnh hợp tác trong và ngoài nước về công tác bảo tồn di sản văn hóa, đặc

biệt là những di tích và tín ngưỡng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật

thể đại diện của nhân loại. Đây là một nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt thể hiện đạo

lý “uống nước nhớ nguồn” và tinh thần đại đoàn kết dân tộc.

144

Các lễ hội truyền thống ở các tỉnh phía vùng Bắc Trung Bộ cần được nghiên cứu

đầy đủ và hoàn thiện về nội dung, nghi thức, nghi lễ,... để làm nổi bật lên giá trị văn hóa đặc

sắc của vùng. Để bảo tồn tài nguyên tại điểm du lịch các tỉnh phía vùng Bắc Trung Bộ cần

có quy chế bảo vệ, khai thác riêng phù hợp hướng phát triển du lịch theo hướng bền vững.

Bảo tồn di sản, di tích lịch sử và lễ hội để khai thác phục vụ phát triển du lịch

phải được coi là một trong những nội dung, định hướng phát triển du lịch, chính sách du

lịch hiệu quả của tỉnh. Đồng thời, phải có tiêu chí cụ thể bắt buộc đối với các hướng dẫn

viên du lịch tại các khu, điểm du lịch, đặc biệt là Quần thể di tích Cố đô Huế và các

công trình tín ngưỡng dân gian khác. Những hướng dẫn viên được hành nghề ở đây phải

đáp ứng điều kiện trình độ đặc thù gắn với lịch sử nguồn gốc của di tích, thắng cảnh.

(3) Thực hiện xã hội hoá trong đầu tư, bảo quản và tôn tạo di tích, bảo vệ môi

trường cảnh quan thiên nhiên

Tích cực tìm nguồn vốn tài trợ từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và

ngoài tỉnh để tôn tạo, tu bổ, sửa chữa các di tích lịch sử - văn hóa. Vận động các doanh

nghiệp xây dựng công trình trên địa bàn, doanh nghiệp địa phương hỗ trợ thực hiện công

tác tôn tạo, tu bổ, sửa chữa các di tích lịch sử - văn hóa.

Huy động nguồn lực trong cộng đồng dân cư, nhất là nhân dân địa phương để

bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh... Có hình

thức khen thưởng xứng đáng những doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đóng góp tích cực

đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích, bảo vệ môi trường. Nâng tầm tổ

chức kỷ niệm các ngày lễ, các lễ hội văn hóa truyền thống cùng các hoạt động văn hóa

văn nghệ, hội thi, hội diễn trên địa bàn thành các sự kiện văn hóa du lịch để thu hút

khách tham quan du lịch đến địa bàn.

(4) Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về giá trị tài nguyên môi trường

du lịch cho người dân.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động đến mọi tầng lớp nhân dân có trách

nhiệm bảo vệ, không được xâm phạm đến di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan môi trường. Tuyên truyền sâu rộng Luật di sản văn hóa, Luật quy hoạch, Quy chế quản lý và bảo vệ di tích và công tác quản lý, chăm sóc, bảo vệ các di tích lịch sử - văn hóa, Luật bảo vệ môi trường đến nhân dân trên địa bàn nơi có di tích, cảnh quan thiên nhiên.

Chủ động phối hợp với các cơ quan báo, đài tuyên truyền, quảng bá tiềm năng

phát triển du lịch từ giá trị các di tích lịch sử - văn hóa và cảnh quan môi trường, giá trị

sinh thái. Phải làm cho mọi người dân hiểu được tầm quan trọng của tài nguyên đối với

145

phát triển du lịch cũng như ý nghĩa của phát triển du lịch đối với công tác bảo tồn và

phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa, giá trị cảnh quan môi trường.

Đẩy mạnh việc giáo dục cho thế hệ trẻ, học sinh trong nhà trường về phát triển

du lịch theo hướng bền vững.

Đối với cộng đồng dân cư: đóng góp cho phát triển du lịch của địa phương

nhưng cũng nhận thức được những tác động của du lịch đối với đời sống địa phương mình từ đó có những hành động tích cực cho phát triển du lịch có trách nhiệm của địa

phương mình. Tích cực tham gia các hoạt động của địa phương để khuyến khích phát

triển du lịch có trách nhiệm tại địa phương mình như tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn văn hóa… Chủ động trong các hoạt động của dân cư với các sáng kiến về môi trường, văn hóa, xã hội.

146

KẾT LUẬN

1. Kết luận

Vùng Bắc Trung bộ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Vùng có thế mạnh nổi bật về tài nguyên du lịch biển, đảo với sự đa dạng của các hệ sinh thái đặc trưng. Tài nguyên du lịch văn hóa với nét độc đáo, giàu bản sắc. Bên cạnh hệ thống tài nguyên nổi bật trên, về tự nhiên vùng còn có hệ sinh thái núi ở phía Tây, các mỏ nước khoáng, các hồ nước…; về văn hóa có hệ thống di tích gắn với chiến tranh giữ nước của dân tộc; nét văn hóa của cộng đồng dân cư ven biển; văn hóa các dân tộc thiểu số, ..., góp phần làm phong phú và đa dạng nguồn tài nguyên du lịch của vùng. Các tài nguyên biển là tiền đề quan trọng xây dựng sản phẩm du lịch vùng có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế. Hệ thống các tài nguyên tự nhiên và nhân văn khác góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch cho vùng. Vì vậy, PTDL trên địa bàn các tỉnh Vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của các tỉnh trong vùng, mà còn là mối quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp du lịch, du khách trong và ngoài nước… Tuy nhiên, du lịch của các tỉnh Vùng Bắc Trung bộ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh vốn có, còn manh mún, thiếu tầm nhìn tổng thể; hạ tầng du lịch còn nhiều mặt chưa đồng bộ; liên kết PTDL toàn Vùng còn yếu, không ổn định; tài nguyên du lịch chưa được khai thác hợp lý; cơ sở hạ tầng còn thiếu đồng bộ; chất lượng dịch vụ còn hạn chế; hiện tượng chèo chéo khách, bán hàng rong, lừa đảo, tình trạng mất vệ sinh an toàn tại các điểm du lịch vẫn thường xuyên xảy ra, bên cạnh đó nguồn nhân lực cũng là điểm yếu trong quá trình PTDL của Vùng.

Trong phạm vi nội dung nghiên cứu, luận án đã tập trung giải quyết được các vấn

đề sau:

Thứ nhất, đã trình bày được bức tranh tổng quan về các công trình nghiên cứu

trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu.

Thứ hai, đã hệ thống hóa và làm rõ lý luận chung về du lịch và PTDL vùng theo

hướng bền vững, bao gồm các nội dung liên quan đến lý luận chung về du lịch, lý luận chung về vùng và liên kết vùng, lý luận chung về vùng du lịch và liên kết vùng trong phát triển du lịch, lý luận chung về PTDL theo hướng bền vững và tiêu chí đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng đến PTDL vùng theo hướng bền vững.

Thứ ba, đã trình bày rõ mô hình và phương pháp nghiên cứu bao gồm các nội dung liên quan đến khung nghiên cứu, mô hình và cách thức đánh giá mức độ bền vững

về PTDL của vùng và các tỉnh trong vùng, mô hình và cách thức xác định các nhân tố

ảnh hưởng, quá trình thiết kế phiếu khảo sát và phấn bố mẫu thực hiện khảo sát, phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thu thập.

147

Thứ tư, đã làm rõ thực trạng PTDL các tỉnh vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững, bao gồm các nội dung về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của các tỉnh vùng

Bắc Trung bộ ảnh hưởng đến PTDL của vùng theo hướng bền vững đánh giá mức độ bền vững của PTDL các tỉnh vùng Bắc Trung bộ xác định các nhân tố ảnh hưởng đến

PTDLBV các tỉnh vùng Bắc Trung bộ và thảo luận về các kết quả nghiên cứu.

Thứ năm, đã đề xuất được các giải pháp PTDL các tỉnh vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững, bao gồm các nội dung về định hướng trong liên kết PTDL các tỉnh vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững, các giải pháp PTDL các tỉnh vùng Bắc Trung

bộ theo hướng bền vững và các điều kiện để thực hiện các giải pháp của luận án.

Đồng thời, bên cạnh những việc đã làm được luận án cũng đã chỉ ra được những hạn chế trong nghiên cứu của luận án và đề xuất các hướng nghiên cứu mới trong tương

lai, thể hiện nghiên cứu của luận án là có tính kế thừa và phát triển trong tương lai.

2. Những hạn chế của đề tài

Mặc dù luận án đã rất cố gắng nhưng vì một số điều kiện thực tế không cho phép

nên luận án vẫn còn một số hạn chế nhất định, Cụ thể:

Thứ nhất, mẫu khảo sát còn ít và chưa bao quát hết các đối tượng liên quan đến

PTDLBV các tỉnh vùng Bắc Trung bộ.

Thứ hai, việc xác định trọng số được xác định theo phương pháp HP, theo phương pháp này, trọng số đánh giá sẽ phụ thuộc vào chất lượng chuyên gia phỏng vấn cho ý kiến và quan điểm của các chuyên gia, nên ở một khía cạnh nào đó về mặt khoa học, các

ý kiến vẫn còn hàm chứa ý kiến chủ quan của chuyên gia.

Thứ ba, việc khảo sát đối tượng khách du lịch còn hạn chế vì có nhiều du khách khi tiếp cận phỏng vấn không biết tiếng anh nên không trả lời được phiếu khảo sát.,

Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hoà chứ chưa bao quát hết các tỉnh trong vùng.

Thứ tư, nghiên cứu chỉ dừng lại đánh giá bền vững trên bốn khía cạnh là bền

vững về kinh tế, văn hoá - xã hội, môi trường và thể chế nên chưa bao quát hết được các khía cạnh trong PTDL bền vững.

3. Kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên đi sâu vào đánh giá PTDLBV trên cả khía cạnh về thể chế và mở rộng hơn nữa đối tượng khảo sát, phạm vi khảo sát. Đồng thời, về phương pháp nghiên cứu định lượng nên sử dụng thêm các mô hình SEM để nghiên

cứu nhằm làm rõ hơn mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến PTDL trên địa bàn các tỉnh Vùng Bắc Trung bộ.

148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Lê Văn Viễn (2024), “Nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch biển vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững”, Tạp chí Doanh nghiệp, Kỳ 1 tháng 02 (số 257) - 2024, trang 72-75.

2. Le Van Vien (2024), “Factors Influencing Sustainable Tourism Development in Da Nang City”, International Journal of Communication Networks and

Information Security, 6(S1), ISSN: 2073-607X, 2076-0930.

3. Le Van Vien (2020), “Factors Affecting the Linking Sustainable Tourism in the North Central Region”, 15th NEU-KKU International Conference Socio-Economic and Environmentalissues in Development, Finance Publishing House Ha Noi, pp. 1381-1391.

149

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Anderson, J. C., Hakansson, H. & Johanson, J. (1994), “Dyadic business relationships within a business context”, Journal of Marketing, 1994, 58(4), 1-15.

2.

Armenski, T.,Gomezelj, D. O., Djurdjev, B., Cúrčic, N., Dragin, A.(2012), “Tourism destination competitiveness - between two flags”, Ekonomska Istrazivanjǎ, 25(2), pp. 485-502.

3. Baggio, R., Scott, N. & Cooper, C. (2010), “Network science - a review with a

focus on tourism”, Annals of Tourism Research, 2010, 37, 802-827.

4. Ballantine, J.L. (1991), An Analysis of the Characteristics of a Population of Canadian Tourists to Kenya, Master's thesis, Department of Recreation and Leisure Studies, University of Waterloo, Waterloo, Ontario, Canada.

5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2015), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc

lần thứ XII, tài liệu của Văn phòng TW Đảng.

7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017), Nghị quyết số 08/NQ - TW ngày 16/01/2017

của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

8. Ban Kinh tế Trung ương (2015), Báo cáo tóm tắt đề án Nghiên cứu, đề xuất chủ

trương chính sách về kinh tế vùng, liên kết vùng.

9. Ban Kinh tế Trung ương (2016), “Đại sứ quán CHLB Đức tại Việt Nam - Ban điều phối vùng duyên hải miền Trung (2016)”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: Liên kết vùng

trong tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam.

10. Barney, J. (1991), “Firm resources and sustained competitive advantage”, Journal

of Management, 17(1), 99-120.

11. Bartelmus, P. (1986), Environment and Development, London. Allen and Unwin,

Pg 2-5

12. Benjamin Higgins and Ronald J. Savoie (1997), Regional Development Theories & Their Application, Transaction Publishers New Brunswick (USA) and London (UK).

13. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Ban Kinh tế Trung ương - UBND tỉnh Quảng Nam (2017), Diễn đàn du lịch miền Trung - Tây Nguyên: Du lịch miền Trung - Tây Nguyên hướng tới đẳng cấp thương hiệu.

150

14. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2016), Quyết định số 2714/QĐ - BVHTTDL ngày 3/8/2016 phê duyệt Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến

năm 2025, định hướng đến năm 2030.

15. Bordas, E. (1994), “Competitiveness of tourist destinations in long distance

markets”, Tourism Review, 4(3), pp. 3-9.

16. Boudeville, J. (1966), Problems of regional economic planning, Edinburgh

University Press: Edinburgh.

17. Bryson, M.John, Barbara C. Crosby, Melissa Middleton Stone. (2006), “The Design and Implementation of Cross-Sector Collaborations: Propositions from the

Literature”, Public Administration Review, Volume 66, Issues1December 2006 Pages 44-55

18. Buhalis, D. (2000), “Marketing the competitive destination of the future”, Tourism

Management, 21(1), pp. 97-116.

19. Bùi Xuân Nhàn (2012), “Năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Hội nhập: Hợp tác và cạnh tranh, Trường cao

đẳng Kinh tế Đối ngoại Tp. Hồ Chí Minh.

20. Butler, R.W. (2011), Tourism area life-cycle, Contemporary Tourism Reviews, (http://www.goodfellowpublishers.com/

Goodfellow Publishers Limited free_files/fileTALC.pdf)

21. Camagni, R. (2002), “On the concept of territorial competitiveness: sound or

misleading?”, Urban Studies, 39(13), pp.2395-2411.

22. Capello, R. (2007), Regional economics, Routledge Publisher: London & New York. 23. Chen, C. F., & Chen, F. S. (2011), “Experience quality, perceived value, satisfaction and behavioral intentions for heritage tourists”, Tourism Management,

32(1), 29-35.

24. Chheang, V. (2013), “Tourism planning and development in Cambodia: The case

of Kep province”, Tourism Planning & Development, 10(1), 57-78.

25. Chính phủ (2011), Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. 26. Chính phủ (2013), Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. 27. Chính phủ (2014), Nghị quyết số 92/NQ - CP ngày 08/12/2014 về một số giải pháp

đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới.

151

28. Chon, K. S., & Mayer, K. J. (1995), “Destination competitiveness models in tourism and their application to Las Vegas”, Journal of Tourism Systems and

Quality Management, 1(2-4), pp. 227-246.

29. Coase, R. (1937), The nature of the firm, http://www.scribd.com/doc/

2530438/COASEThe-Nature-of-the-Firm

30. Coe, D. T., Helpman, E., and Hoffmaister Alexander W. (1997), “North-South

R&D Spillovers”, The Economic Journal, 107, pp.13-149.

31. Cooke, P. (2014), “Systems of Innovation and the Learning Region”, In Fischer, Manfred, M. and Peter Nijkamp (2014), Handbook of Regional Science, Springer

Berlin Heidelberg, pp.457-474.

32. Cracolici, M. F. & Nijkamp, P. (2008), “The attractiveness and competitiveness of tourist destinations: A study of Southern Italian regions”, Tourism Management,

30, pp. 336-344.

33. Cracolici, M. F., Nijkamp, P. & Rietveld, P. (2008), “Assessment of tourism competitiveness by analysing destination efficiency”, Tourism Economics, 2008,

14 (2), pp. 325-342.

34. Crouch, G. I. & J. R. B. Ritchie (1999), “Tourism, Competitiveness, and Social

Prosperity”, Journal of Business Research, 44, pp. 137-152.

35. Crouch, G. I. (2007), Modelling destination competitiveness: A survey and analysis of the impact of competitiveness attributes, Technical Report, National

Library of Australia Cataloguing in Publication Data.

36. Crouch, G. I. (2010), “Destination Competitiveness: An Analysis of Determinant

Attributes”, Journal of Travel Research, 50(1), pp. 27-45.

37. Đào Hữu Hòa (2008), “Liên kết trong chính sách thu hút đầu tư phát triển công nghiệp của các địa phương Vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung - Thực trạng và

giải pháp”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 6(29), tr. 101-109.

38. d'Hauteserre, A. M. (2000), “Lessons in managed destination competitiveness: the

case of Foxwoods casino resort”, Tourism Management, 21, pp. 23-32.

39. Dieppe, Alistair and Mutl Jan (2013), International Spillovers Technology Transfer vs. R&D synergies, European Central Bank, Working Papers Serries, No.1504.

40. Dillard, Dudley (1967), Economic Development of the North Allantic Community: Historical Introduction to Modern Economics, Englewood Cliffs, NJ: Prentice - Hall.

152

41. Dillard, Dudley (1988), “The Barter Illlusion in Classical and Neoclassical Economics”, Eatern Economic Journal, 14 (4), October - December, 299 - 318

42. Đinh Sơn Hùng (2011), Cơ chế liên kết kinh tế giữa vùng ĐBSCL và TP.HCM - Thực trạng và giải pháp, Viện nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.

43. Đỗ Cẩm Thơ (2007), Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam có tính

cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, Đề tài KHCN cấp Bộ.

44. Đỗ Hoài Nam và Võ Đại Lược (2005), Một số vấn đề phát triển kinh tế của Việt

Nam hiện nay, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2005.

45. Douglass M, (1998), East Asian Urbanization: Patterns, Problems, and Prospects,

Stanford University Press.

46. Duman, T. & Kozak M. (2010), “The Turkish Tourism Product: Differentiation and Competitiveness”, Anatolia: An International Journal of Tourism and

Hospitality Research, 21(1), pp. 89-106.

47. Dwyer, L. & Kim, C. (2003), “Destination Competitiveness: Determinants and

Indicators”, Current Issues in Tourism, 6(5), pp. 369-414.

48. Dwyer, L., Edwards, D., Mistilis, N., Roman, C., & Scott, N. (2009), “Destination and enterprise management for a tourism future”, Tourism Management, 30(1),

63-74.

49. Dwyer, L., Forsyth, P., & Rao, P. (2000), “The price competitiveness of travel and tourism: A comparison of 19 destinations”, Tourism Management, 21(1), pp. 9-22.

50. Dwyer, L., Mellor, R., Livaic, Z., Edwards, D., & Kim, C. (2004), “Attributes of destination competitiveness: A factor analysis”, Tourism Analysis, 9(1-2), 91-101.

51. EC (European Commission) (1999), Sixth periodic report on the social and

economic situation of regions in the EU, EC: Brussels

52. Enright, M. J. & Newton, J. (2005), “Determinants of Tourism Destination Competitiveness in Asia Pacific: Comprehensiveness and Universality”, Journal

of Travel Research, 43, pp. 339-350.

53. Enright, M. J., & Newton, J. (2004), “Tourism Destination Competitiveness: A

Quantitative Approach”, Tourism Management, 25(6), pp. 777-788.

54. Erkus-Otzurk, H. & Eraydin, A. (2010), “Tourist destination governance: Practice,

theory and issues”, Annals Tourism Research, 2010, 38(4), 1300-1321.

153

55. Evans, M. R., Fox, J. B., & Johnson, R. B. (1995), “Identifying

competitivestrategies for successful tourism destination development”, Journal of

Hospitality and Leisure Marketing, 3(1), pp. 37-45.

56. Fernandez-Stark, Karina, Bamber Penny and Gereffi Gary (2011), The Fruit and

Vegetable Global Value Chain: Workforce Development and Economic

Upgrading, Center for Globalization, Governance and Competitiveness.

57. Freeman, R. E. (1984), Strategic management: A stakeholder approach, Pitman

Publishing.

58. Friedmann, J. & Douglass, M. (1978), Agropolitan development: Toward a new

strategy for regional planning in Asia, in Douglass (1998)

59. Fujita, M. and Mori, T. (2005), “Frontiers of the New Economic Geography”,

Regional Science, 87(4), pp. 635-651

60. Fyall, Alan, Brian Garrod, Youcheng Wang. (2012), “Destination collaboration: A

critical review of theoretical approachesto a multi-dimensional phenomenon”,

Journal of Destination Marketing & Management, 1 (2012) 10-26

61. Garín-Muñoz, T. &Montero-Martín, L. F. (2007), “Tourism in the Balearic

Islands: A Dynamic Model for International Demand Using Panel Data”, Tourism

Management, 28, pp. 1224-1235.

62. Georgi Zhelezov edit (2010), The Book “Sustainable Development in Mountain

Regions Southeastern Europ”, Srpinger.

63. Gereffi, Gary and Fernandez-Stark Karina (2010), The Offshore Services Industry:

A Global Value Chain Approach, Center on Globalization Governance and

Competitiveness, Duke University.

64. Gereffi, Gary and Fernandez-Stark Karina (2016), Global value chain analysis: A Primer, Center on Globalization, Governance and Competitiveness, Duke University.

65. Gilbert, M. (1984), Quantitative methods in tourism economics, A Springer

Company, 1984.

the

66. Giroud, A. and Scott-Kennel, J. (2006), Foreign-local linkages in international business: A review and extension of literature, WP No. 06-06. http://www.brad.ac.uk/acad/management/external/pdf/workingpapers/2006/Book

let _06-06.pdf

154

67. Go, F. M. & Govers, R. (2000), “Integrated Quality Management for Tourist Destinations: A European Perspective on Achieving Competitiveness”, Tourism

Management, 21, pp. 79-88.

68. Gomezelj, D. O.& Mihalič, T. (2008), “Destination competitiveness - Applying

different models, the case of Slovenia”, Tourism Management, 29, pp. 294-307.

69. Gunn, C. A. Vacationscape (1997), Developing tourist areas, Washington, DC:

Taylor & Francis, 1997.

70. Hà Văn Siêu (2017), “Tiềm năng và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng phát triển du lịch ở vùng miền núi Tây Bắc”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Thực trạng

và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng trong phát triển du lịch ở Tây Bắc, Nhà xuất bản Lao động - xã hội.

71. Haggblade, S., Hazell, P. and Brown, J. (1989), “Farm-Nonfarm Linkages in Rural

Sub-Sahran Africa”, World Development, 17(8), pp. 1173-1201.

72. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., Anderson, R. E. & Tatham, R. L. (2006),

Multivariate data analysis (6th edn), Pearson Prentice Hall.

73. Harry W. Richardson (1979), Regional Economics, University of Illinois Press, USA. 74. Hass and Richard Capella (2006), Intergration and Regional Linkage - Papers of

Harvard University, 2006.

75. Hassan, S. S. (2000), “Determinants of Market Competitiveness in an Environmentally Sustainable Tourism Industry”, Journal of Travel Research, 38, pp. 239-245.

76. Haugland, S. A., Ness, H., Grønseth, B. O. & Aarstad, J. (2011), “Development of Tourism Destinations: An Integrated Multilevel Perspective”, Annals of Tourism Research, 38(1), 268-290.

77. Hazell, P.B.R. and Roell, A. (1983), Rural growth linkages: Household expenditure pattern in Malaysia and Nigeria, Research Report No. 41,

International Food Policy Institute, Washington D.C.

78. Henkel, R., Henkel, P., Agrusa, W., Agrusa, J., and Tanner, J. (2006), “Thailand as a Tourist Destination: Perceptions of International Visitors and Thai Residents”,

Asia Pacific Journal of Tourism Research, 11(3), pp. 269-287.

79. Hilal, N., Al-Hemyari, Z. A., & Ismail, W. R. (2010), “Tourism development in the Gulf Cooperation Council states: A sustainability perspective”, International Journal of Tourism Research, 12(3), 235-248.

155

80. Hirschman, A. O. (1958), “The strategy of economic development”, In Bianchi, A. N. (2004), Albert Hirschman in Latin America: Note on Hirschman’s trilogy on

economic developmnet. www.anpec.org.br/encontro2004/artigos/A04A004.pdf 81. Hoàng Ngọc Giao, Nguyễn Bá Diễn (chủ biên) (2006), Chính sách, pháp luật biển

của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững, Nhà xuất bản Tư pháp.

82. Hoàng Ngọc Hải và cộng sự (2020), “Liên kết vùng trong phát triển du lịch ở các tỉnh Tây Bắc của Việt Nam, bài viết đăng trên”, Tạp chí lý luận (bản online) ngày

22/03/2020.

83. Hoàng Ngọc Phong (2015), Thể chế và chính sách phát triển kinh tế vùng. 84. Hoàng Thị Lan Hương (2011), Phát triển kinh doanh lưu trú du lịch tại vùng du lịch Bắc Bộ của Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

85. Hoàng Văn Hoa và các cộng sự (2018), Liên kết vùng, tiểu vùng trong phát triển

du lịch ở vùng Tây Bắc, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, 2018.

86. Hoàng Văn Hoa, Trần Hữu Sơn, Trần Thị Vân Hoa (2016), “Liên kết vùng, tiểu vùng phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc”, Kỷ yếu hội thảo khoa học và công

nghệ thúc đẩy liên kết và phát triển vùng Tây Bắc, Trang 155-166.

87. Hoàng Văn Hoan (2002), Hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trong kinh

doanh du lịch ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Trường ĐH KTQD.

88. Honey, M., & Krantz, D. (2007), Global Trends in Coastal Tourism, Paper

prepared for World Wildlife Fund.

89. Huang, Z., (2005), Supply chain management for Chinese agricultural products, agribusiness/SCM http://www.ccag.com.cn/chinese/technical info/tech

BJwkshp/BJ wkshp cn.htm

90. Hudson, S., Ritchie, B. & Timur, S. (2004), “Measuring Destination Competitiveness: An Empirical Study of Canadian Ski Resorts”, Tourism and

Hospitality Planning & Development, 1 (1), pp. 79-94.

91. Humphrey, John and Schmitz Hubert (2002), “How Does Insertion in Global Value Chains Affect Upgrading in Industrial Clusters?”, Regional Studies, 36(9), pp. 1017-1027.

92. Hussain, N. (2000), “Linkages between SMEs and large industries for increased markets and trade: An African perspective”, African Development Bank, Economic research papers, No. 53.

156

93. Jamal, T., & Jamrozy, U. (2006), “Collaborative networks and partnerships for integrated destination management. In: D. Buhalis, & C. Costa (Eds.)”,

Tourismmanagement dynamics: Trends, management and tools, (pp. 164-172). Oxford: Elsevier Butterworth Heinemann.

94. Jansson, H. (1982), Inter-firm linkages in a developing economy: The case of

Swedish firms in India.

95. Joachim Willms (2007), The Future Trends in Tourism - Global Perspectives,

2007, p.12.

96. Johanson, Martin and Lundberg Heléne (2011), Network Strategies for Regional

Growth, Palgrave Macmillan: New York.

97. Johansson, B. and Quigley, J. (2004), Agglomeration and networks in spatial 98. Jones, E., & Haven-Tang, C. (2005), “Tourism SMEs, service quality and destination competitiveness. In E. Jones & C. Haven-Tang (Eds.)”, Tourism SMEs, Service Quality and Destination Competitiveness (1-24), Cambridge, MA: CABI

publishing.

99. Joseph Cortright (2006), Making sence of cluster: Regional competitiveness and Economic development, Metropolitan Policy Program - The Brooking institution. 100. Kaplinsky (1999), “Globalization and Unequalization: What can be learned from value chainanalysis” Journal of Development Studies, 37(2), pp. 117-146. 101. Kaplinsky, R. and Mike Morris. (2001), A handbook for value chain research. 102. Kotler, P., Bowen, J. T., & Makens, J. C. (2010), Marketing for hospitality and

tourism (5th ed.), Pearson Prentice Hall.

103. Kozak, M., & Rimmington, J. (1999), “Measuring tourist destination

competitiveness: a comparison of two cases”, Tourism Management, 26.

104. Kristiansen, S. (2003), Linkages and Rural Non-Farm Employment Creation:

Changing Challenges and Policies in Indonesia, ESA WP No. 03-22.

105. Krugman, P. (1979), “Increasing returns, monopolistic competition and

international trade”, Journal of International Economics, 9, pp.469-479.

106. Krugman, P. (1980), “Scale economies, product differentiation and the pattern of

trade”, American Economic Review, 70, pp.950-959.

107. Krugman, P. (1995), Development, geography and economic theory, MIT Press:

Cambridge (MA).

157

108. Krugman, P. (2004), The “new” economic geography: Where are we?,

http://www.ide.go.jp/Japanese/Lecture/Sympo/pdf/krug_summary.pdf

109. Lê Anh Đức (2014), “Mấy vấn đề liên kết kinh tế vùng”, Tạp chí Kinh tế và Dự

báo, 18, tr. 15-17.

110. Lê Anh Vũ (2016), “Một số vấn đề lý luận cơ bản về liên kết vùng”, Kỷ yếu hội thảo khoa học và công nghệ thúc đẩy liên kết và phát triển vùng Tây Bắc, Trang 11-26

111. Lê Thế Giới (2008), “Xây dựng mô hình hợp tác và liên kết vùng trong phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm miền Trung”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ,

Đại học Đà Nẵng, 2, tr. 167-177.

112. Lê Thông, Nguyễn Văn Phú và Nguyễn Minh Tuệ (2004), Địa lý kinh tế xã hội

Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội, 2004.

113. Lê Văn Minh (2006), Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển khu du

lịch, Đề tài KHCN cấp Bộ (Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch).

114. Lee, M.S., San, Y.H. and Hsu, Y.R. (2011), “A Study of the Key Success Factors of the Ecotourism Industry in Taiwan”, African Journal of Business Management,

5, 627-640

115. Lordkipanidze, M., Brezet, H. & Backman, M. (2005), “The entrepreneurship factor in sustainable tourism development”, Journal of Cleaner Production, 13,

pp. 787-798.

116. M. Nikolova (2011), Scientific research basis for sustainable development of the

Moutain regions: Main concepts and basic theories - Chapter 1, Boian Koulov,

117. Maia, A. G., Ribeiro, H., & Santos, A. (2005), “Tourism development and cultural heritage preservation: A sustainable approach”, Journal of Heritage Tourism, 3(2),

145-162.

118. Mariani, M. M. & Kylanen M. (2014), Cooperative and cooperative practices:

Cases from the tourism industry, Plagrave Macmillan, N.Y, 2014.

119. Martin, R. (2003), A study on the factors of regional competitiveness, University of Cambridge, http://www.docstoc.com/docs/956888/A-Study-on-the-Factors-of- Regional-Competitiveness

120. McGee (2012), The Emergence of Desakota Regions in Asia: Expanding a

Hypothesis

158

121. Mills, J. E. & Law, R. (2004), Handbook of consumer behavior, tourism and the

internet, Haworth Hospitality Press, N.Y, 2004.

122. Mitchell, R. K., Agle, B. R., & Wood, D. J. (1997), “Toward a theory of stakeholder identification and salience: Defining the principle of who and what

really counts”, Academy of Management Review, 22(4), 853-886.

123. Mowforth, M., & Munt, I. (2015), Tourism and sustainability: Development,

globalisation and new tourism in the third world (4th ed.), Routledge.

124. Muhammet, G., Sirakaya-Turk, E., & Ekinci, Y. (2010), “Host attitudes toward tourism development: A structural model for sustainable tourism development”,

Tourism Analysis, 15(5), 591-609.

125. Ngô Đức Anh (2007), “Khả năng cạnh tranh và hướng phát triển du lịch Việt Nam

thời kỳ hậu WTO”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 7/2007.

126. Ngô Thắng Lợi và Vũ Cương (2015), Liên kết phát triển và tổ chức điều phối liên kết phát triển vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lý luận chính trị.

127. Nguyễn Danh Sơn (2010), “Liên kết phát triển theo hướng phát triển bền vững vùng Tây Nguyên”, Tạp chí Khoa học xã hội Tây Nguyên, Số 2, tr. 24-32.

128. Nguyễn Danh Sơn (2014), “Liên kết kinh tế nội vùng trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên - Thực trạng, vấn đề và giải pháp”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học:

Phát triển kinh tế - xã hội đặc thù Tây Nguyên: Những vấn đề cốt yếu và giải pháp.

Thành phố Buôn Ma Thuột, ngày 25-26/4/2014.

129. Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, Nhà xuất bản Đại học

Quốc gia Hà Nội.

119. Nguyen et al. (2020), “Factors Affecting Community-Based Tourism

Development and Environmental Protection: Practical Study in Vietnam”, Journal

of Environmental Protection, 2020, 11, 124-151.

130. Nguyễn Ngọc Sơn (2015), Phát triển cụm ngành công nghiệp trong điều kiện toàn

cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

131. Nguyễn Quang (2014), Lồng ghép biến đổi khí hậu trong quy hoạch phát triển vùng ở Việt Nam, Báo cáo tổng hợp các Hội thảo về về kinh tế vùng, liên kết vùng

do Ban KTTƯ phối hợp tổ chức tại Miền Trung, Vùng Đông Nam Bộ, Vùng

ĐBSCL, Tây Nguyên.

159

132. Nguyễn Thăng Long (1998), Nghiên cứu ảnh hưởng của tính mùa vụ du lịch đến

hoạt động du lịch ở Việt Nam, Đề tài KHCN cấp Bộ.

133. Nguyễn Thành Vượng (2012), “Phát triển du lịch biển, đảo khu vực Bắc Trung Bộ”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Tiềm năng và hướng phát triển du lịch Bắc Trung

Bộ, Huế.

134. Nguyễn Thu Hạnh (2009), Cơ sở khoa học phát triển các khu du lịch quốc gia biển

miền Trung, Đề tài KHCN cấp Bộ.

135. Nguyễn Thu Hạnh (2011), Hiện trạng và giải pháp phát triển các khu du lịch biển

quốc gia tại vùng du lịch Bắc Trung Bộ, Đề tài KHCN cấp Bộ.

136. Nguyễn Trùng Khánh (2012), Phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế: Kinh nghiệm một số nước Đông Á và gợi ý chính sách

cho Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm

Khoa học và Xã hội Việt Nam.

137. Nguyễn Tuấn Anh (2010), Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam,

Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.

138. Nguyễn Văn Đính (2017), Du lịch và phát triển, Nhà xuất bản Bách khoa Hà Nội.

139. Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2008), Giáo trình kinh tế du lịch, Nhà

xuất bản, Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2008, tr.19.

140. Nguyễn Văn Huân (2012), Liên kết vùng từ lý luận đến thực tiễn, Phòng Nghiên

cứu phát triển kinh tế vùng, Viện Kinh tế Việt Nam.

141. Nguyễn Văn Huân, (2012), “Liên kết vùng từ lý luận đến thực tiễn”, Kỷ yếu Diễn

đàn Kinh tế mùa thu 2012, Trang 418-443.

142. Nguyễn Văn Khánh (2016), “VNU Journal of Science - Policy and Management Studies”, Some issues in the Studies Relating to Researches, Analysis and

Evaluation of Decision No.79/2005/QD-TTg of the Prime Minister on the

Development of the Northwest.Vol 32. No.1, 2016, Page

143. Nguyễn Văn Khánh, Đào Thanh Trường (2016), Phát triển bền vững vùng Tây Bắc: Từ chính sách đến thực tiễn, Nhà xuất bản Thế giới, Trang 275-313.

144. Nguyễn Xuân Thắng (2010), “Liên kết phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long- nhân tố quan trọng nhất để bứt phá về thu hút đầu tư”, Tạp chí Thông tin khoa học

xã hội, số 10/2010, tr. 3-8.

160

145. North, D. C. (1990), Institutions, institutional change and economic performance,

Cambridge University Press.

146. Nunnally, J. & Berstein, I.H. (1994), Pschychometric Theory (3rd edn), New York:

McGraw-Hill.

147. Ofronov, Bogdan, (2018), “The Development of Quality Management in the Tourism Industry,” Annals of Spiru Haret University, Economic Series,

Universitatea Spiru Haret, Vol. 18(2), pages 173-187

148. Ottaviano, G. and Puga, D. (1998), “Agglomeration in the global economy: A survey of the New Economic Geography”, World Economy, 21, pp.707-731.

149. Pack, Howard and Saggi Kamal (1999), Vertical Technology Transfer, Diffusion, and Competition, Previous version issued as World Bank Policy Research

Working Paper No.2065.

150. Pearce, D. G. (1997), “Competitive destination analysis in Southeast Asia”,

Journal of Travel Research, 35(4), pp. 16-25.

151. Perroux, F. (1955), “Note sur la notion de pole de croissance”, Economie Appliquée, 8, pp.307-320 (Translated as: Perroux, F. (1970). Note on the Concept

of Growth Poles. In: McKee, D., Dean, R. and Leahy, W. (eds.). Regional

Economics: Theory and Practice. The Free Press: New York, pp.93-104).

152. Phạm Trung Lương (2002), Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền

vững ở Việt Nam, Đề tài KHCN cấp Bộ.

153. Phạm Trung Lương (2014), “Phát triển du lịch Điện Biên trong mối liên kết với vùng Tây Bắc”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Phát huy giá trị đặc biệt của di tích lịch

sử Điện Biên Phủ để đẩy mạnh phát triển du lịch Điện Biên trong mối liên kết với

vùng Tây Bắc, ngày 13/03/2014, Điện Biên Phủ.

154. Phạm Trung Lương (2016), “Một số vấn đề cần quan tâm trong liên kết phát triển vùng du lịch”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Liên kết phát triển du lịch vùng Bắc -

Nam Trung Bộ, tháng 2/2016.

155. Pike, S. (2008), Destination marketing: An integrated marketing communication

approach, Butterworth-Heinemann.

156. Plummer, M., Best, N., Cowled, K. & Vines, K. (2006), CODA: Convergence diagnosis and output analysis for MCMC, R News, 6(1), 7-10, Publishing House

of Political Theory, Vietnam, 2006.

161

157. Poon, A. (1993), Tourism, Technology, and Competitive Strategy, Wallingford:

CAV International.

158. Poon, A. (1994), “The new tourism revolution”, Tourism Management, 15(2), 91-92.

159. Porter, M. (2008), On Competition, Updated and Expanded Edition, Harvard

Business School Press October 2008.

160. Porter, M.E. (1990), The Competitive Advantage of Nations, The Free Press, New York.

161. Prem Nath, Mr Minas Papademetriou, Dr Kasem Piluek and Dr Edward M Herath, (1999), The vegetable sector in Thailand a review, http://www.fao.org/3/a-

ac145e.pdf

162. Quốc hội Việt Nam (2017), Luật du lịch 2017.

163. Reardon, T., and J.A. Berdegué (2002), “The Rapid Rise of Supermarkets in Latin America: Challenges and Opportunities for Development”, Development Policy

Review, 20(4), pp.371-388.

164. Reardon, T., C.P. Timmer, C.B. Barrett, and J.A. Berdegué (2003), “The Rise of Supermarkets in Africa, Asia, and Latin America”, American Journal of

Agricultural Economics, 85(5), pp.1140-1146.

165. Restrepo, N. (2019), “Institutional factors and tourism destination governance: A

systematic review”, Tourism Management Perspectives, 31, 207-220.

166. Ritchie, J. R B. & G. I. Crouch (1993), “Competitiveness in International Tourism: A Framework for Understanding and Analysis”, Proceedings of the 43rd Congress

of the Association Internationale d’Experts Scientifique due Tourisme on

Competitiveness of Long-Haul Tourist Destinations, St. Gallen, Switezerland:

A.I.E.S.T., pp. 23-71.

167. Ritchie, J. R. B. & Crouch, G. I. (2000), “The competitive destination, a

sustainable perspective”, Tourism Management, 21(1), pp. 1-7.

168. Ritchie, J. R. B. & Crouch, G. I. (2003), The Competitive Destination: A

Sustainable Tourism Perspective, Wallingford, UK: CABI Publishing.

169. Saggi, Kamal (2002), “Trade, foreign direct investment, and international technology transfer: A survey”, World Bank Research Observer, 17, pp. 191-235.

170. Saverdiades, A. (2000), “Establishing the Social Tourism Carrying Capacity for the Tourist Resorts of the East Coast of the Republic of Cyprus”, Tourism

Management, 21, pp. 147-156.

162

171. Scott, W. R. (2001), Institutions and organizations (2nd ed.), Sage Publications.

172. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế (2011 - 2018), Báo cáo tình hình phát triển du

lịch các năm (2011 - 2018)

173. Somik V. Lall (2006), Regional Development Strategies Selected international experience. Roundtable Discussion Policy Responses to the Spatial Concentration

of the Poorest in Lagging Regions, Spatial and Local Development Unit

Sustainable Development Network World Bank April 11, 2006.

174. Sutton, J. (1992), Sunk Costs and Market Structure, Cambridge, MA: MIT Press.

175. Tanja, A., Vladimir M., Nemanja, D. &Tamara, J. (2011), “Integrated Model of Destination Competitiveness”, Geographica Pannonica, 15(2), pp. 58-69.

176. Teye, V., Somez, S. F., Sirakaya, E. (2002), “Residents’ Attitudes toward Tourism

Development”, Annals of Tourism Research, 29(3), pp. 668-688.

177. Thomson, Ann Maria, James L. Perry, Theodore K. Miller, (2008), Linking Collaboration Processes and Outcomes Foundations for Advancing Empirical

Theory, In Lisa Blomgren Bingham and Rosemary O'Leary (Eds.). Big ideas in

collaborative public management. Armonk, N.Y.

178. Thomson, Ann Marie and James L. Perry. (2006), “Collaboration Processes: Inside

the Black Box”, Public Administration Review 66 (sl): 20 - 32.

179. Tinsley, R. & Lynch, P. (2001), “Small tourism business networks and destination

Development”, Hospitality Management, 20, pp. 367-378.

180. Tipraqsa, P. (2006), “Opportunities and constraints of integrated farming system in Northeast Thailand: A case study of the Huai Nong Ian catchment, Khon Kaen

province”, Ecology and Development Series No. 35. Cuvillier Verlag Gottingen.

181. Tipraqsa, P., E.T. Craswell, A.D. Noble, and D. Schmidt-Vogt (2007), Resource integration for multiple benefits: multifunctionality of integrated farming systems in Northeast Thailand, Agricultural Systems 94:694-703.

182. Tisdell, C. (2013), “Economic benefits, conservation and wildlife tourism”, In Handbook of tourism economics (pp. 417-435). World Scientific Publishing.

183. Tổng cục Du lịch (2012), Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020,

tầm nhìn đến năm 2030.

163

184. Trần Đình Thiên (2016), “Thể chế điều hành liên kết phát triển vùng độc lập - yếu tố quyết định sự phát triển cấp vùng”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Liên kết

trong quá trình tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam

185. Trần Du Lịch (2011), “Báo cáo đề dẫn”, Hội thảo khoa học “Liên kết Phát triển

tỉnh Duyên hải miền Trung”, Đà Nẵng 7/2011.

186. Trần Đức Thanh (2008), Nhập môn khoa học du lịch, Nhà xuất bản Đại học quốc

gia Hà Nội, Hà Nội, tr.12.

187. Trần Hữu Sơn, (2016), “Xây dựng cơ chế chính sách liên kết vùng và tiểu vùng du lịch Tây Bắc”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học và công nghệ thúc đẩy liên kết và phát

triển vùng Tây Bắc, Trang 176-188.

188. Trần Hữu Sơn, Hoàng Văn Hoa (2016), “Liên kết vùng du lịch Tây Bắc với phát

triển bền vững”, Tạp chí Cộng sản, số 118.

189. Trần Thị Bích Hằng (2012), Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước kinh doanh du lịch sau cổ phần hóa trên địa bàn Hà Nội, Luận

án tiến sỹ, Đại học Thương mại.

190. Trần Thị Minh Hòa (2008), Giáo trình Marketing du lịch (viết chung với Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Đình Hòa...), Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, 2008. 191. Trần Văn Hải, (2016), Nghiên cứu rà soát, đánh giá kết quả, tác động và đề xuất giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả Quyết định 79/2005/QĐ-TTg của Thủ

tướng Chính phủ, Báo cáo tổng kết nhánh, Đề tài cấp Nhà nước mã số: KHCN- TB.02X/13-18.

192. Trần Xuân Ảnh (2011), Thị trường du lịch Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế

quốc tế, Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

193. Trương Bá Thanh (2009), “Liên kết kinh tế miền Trung và Tây Nguyên - từ lý luận

đến thực tiễn”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 3 (32).

194. Trương Thị Hiền (2011), “Bàn về cơ chế liên kết vùng Đồng bằng Sông Cửu Long với TP. Hồ Chí Minh trong chiến lược phát triển kinh tế”, Hội thảo khoa học “Cơ

chế liên kết vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, Cà Mau 21/10/2011.

195. Trương Thị Ngọc Thuyên (2000), Khảo sát ý kiến khách du lịch nước ngoài về những điểm mạnh, điểm yếu của du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng, Đề tài khoa học và

công nghệ cấp Bộ, Trường Đại học Đà Lạt.

196. Tsung, L. (2013), “Community participation in sustainable tourism development: A case study of rural tourism in Taiwan”, Tourism Recreation Research, 38(2), 209-223.

164

197. UN (United Nations) (2000), United Nations millennium declaration, General

Assembly, A/RES/55/2, New York.

198. UNCTAD (2001), World investmnet report: Promoting linkages,

http://www.unctad.org/en/docs/wir2001_en.pdf

199. UNWTO (2008), A Practical Guide to Tourism Destination Management, Published and printed by the World Tourism Organization, Madrid, Spain. 200. UNWTO (2013), Sustainable Tourism for Development, Guidebook, First edition,

2013, p. 21.

201. UNWTO and UNEP (2005), Making Tourism More Sustainable - A Guide for

Policy Makers.

202. Vermeulen, S; Woodhill, J; Proctor, F and Delnoye, R (2008), “Chain-Wide Learning for Inclusive Agrifood Market Development: A guide to multi-

stakeholder processes for linking small-scale producers to modern markets”, The

International Institute for Environment and Development, UK and the Capacity

Development and Institutional Change Programme, Wageningen University and

Research Centre, the Netherlands

203. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Trung tâm từ điển. 204. Vũ Cao Đàm (2011), Giáo trình Khoa học Chính sách, Nhà xuất bản Đại học Quốc

Gia Hà Nội.

205. Vũ Minh Trai (2011), “Tăng cường, phối hợp, liên kết giữa Hà Nội với các tỉnh phụ cận trong thu hút đầu tư phát triển công nghiệp”, Hội thảo khoa học “Thúc

đẩy liên kết giữa Hà Nội và các tỉnh lân cận”, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

206. Vũ Thành Hưng (2011), “Thúc đẩy liên kết phát triển Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và phát huy vị thế của Thủ đô để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa,

hiện đại hóa”, Hội thảo khoa học “Thúc đẩy liên kết giữa Hà Nội và các tỉnh lân

cận”, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

207. Vũ Trọng Bình (2017), “Phát triển kinh tế vùng - vấn đề và giải pháp”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Thực trạng và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng trong

phát triển du lịch ở Tây Bắc, Nhà xuất bản Lao động - xã hội.

208. Walter Christaller (1933), Christaller’s Central Place Theory,

https://web.archive.org/web/20070928200411/http://www.thinkgeography.org.uk

/A S%20Human%20Settlement/cpt%202.pdf

165

209. Wang, Y. & Shaul, S. (2008), “Destination marketing: competition, cooperation & operation”, International Journal of Contemporary Hospitality Management,

20(2), 126

210. Wernerfelt, B. (1984), “A resource-based view of the firm”, Strategic Management

Journal, 5(2), 171-180.

211. Werthner, H., & Klein, S. (1999), Information Technology and Tourism - A

Challenging Relationship, Vienna: Springer-Verlag, 18 - 19

212. Wong, P. P. (1998), “Coastal tourism development in Southest Asia: relevance and lessons for coastal zone management”, Ocean & Coastal

Management, 38, pp. 89-109.

213. Wood, D.J., and B. Gray. (1991), “Towards a Comprehensive Theory of

Collaboration”, The Journal of Applied Behavioral Science, 27, 139-162.

214. World Commission on Environment and Development (WCED) (1987), Our

Comon Future, New York: Oxford University Press, pp 42 - 45.

215. World Economic Forum (2007), The travel and tourism competitiveness report 2007, Furthering the process of economic development, Geneva, Switzerland.

216. World Tourism Organization (2007), A Practical Guide to Tourism Destination

Management.

217. Wright, P. M., McMahan, G. C., & McWilliams, A. (1994), “Human resources and sustained competitive advantage: A resource-based perspective”, International

Journal of Human Resource Management, 5(2), 301-326.

218. WTTC (2016), Travel and Tourism Economic Impact 2016: Vietnam, WTTC

219. Wynne, C., Berthon, P., Pitt, L., Ewing, M., & Napoli, J. (2001), “The impact of the Internet on the distribution value chain. The case of the South African tourism industry”, International Marketing Review, 18(4), 420-431

220. Yilmaz, Y. & Bititci, U. (2006), “Performance measurement in the value chain: Manufacturing v. tourism”, Journal of Productivity and Performance Measurement, 55(5): 371-389.

221. Yoon, Y., Gursoy, D. & Chen, J. S. (2001), “Validating a tourism development theory with structural equation modelling”, Tourism Management, 22, pp. 363-372.

166

PHỤ LỤC

Phụ lục 1 Các kết quả định lượng

PLS - SEM

Nhân Tố Tải

CS DD DV LK NB NL PT QB

0,804 CS1

0,760 CS2

0,701 CS3

0,763 CS4

0,899 CS5

0,882 CS6

0,883 DD1

0,854 DD2

0,888 DD3

0,931 DV3

0,776 DV4

0,791 DV5

0,926 DV6

0,834 LK1

0,872 LK2

0,834 LK3

0,816 LK4

0,781 LK5

0,903 NB1

0,829 NB2

0,889 NB3

0,861 NL1

0,839 NL2

167

CS DD DV LK NB NL PT QB

NL3 0,848

NL4 0,887

NL5 0,800

PT1 0,733

PT2 0,749

PT4 0,890

PT5 0,854

PT6 0,878

PT7 0,849

QB1 0,784

QB2 0,854

QB3 0,804

QB4 0,831

QB5 0,744

Construct reliability and validity

Cronbach's alpha Composite reliability (rho_a) Composite reliability (rho_c) Average variance extracted (AVE)

CS 0,890 0,906 0,916 0,647

DD 0,847 0,851 0,908 0,766

DV 0,879 0,886 0,918 0,738

LK 0,885 0,892 0,916 0,686

NB 0,845 0,848 0,906 0,764

NL 0,902 0,910 0,927 0,718

PT 0,906 0,908 0,928 0,685

QB 0,863 0,871 0,901 0,647

168

Heterotrait-monotrait ratio (HTMT) - Matrix

CS DD DV LK NB NL PT QB

CS

0,133 DD

0,226 0,139 DV

0,509 0,077 0,262 LK

0,065 0,326 0,204 0,129 NB

0,066 0,392 0,173 0,081 0,472 NL

0,430 0,410 0,601 0,529 0,552 0,586 PT

0,518 0,196 0,245 0,589 0,092 0,082 0,520 QB

Path coefficients

P values

Standard deviation (STDEV) Original sample (O) Sample mean (M) T statistics (|O/STDEV|)

CS -> PT 0,151 0,151 0,026 5,803 0,000

DD -> PT 0,217 0,217 0,028 7,801 0,000

DV -> PT 0,293 0,293 0,026 11,279 0,000

LK -> PT 0,199 0,199 0,026 7,613 0,000

NB -> PT 0,210 0,209 0,031 6,765 0,000

NL -> PT 0,325 0,325 0,032 10,163 0,000

QB -> PT 0,249 0,250 0,028 8,927 0,000

169

Phân tích NCA

170

Accuracy Slope

Obs. above

Effect size

Interc ept

Condition inefficiency

Outcome inefficiency

Rel. inefficiency

Abs. inefficiency

ceiling

0,136

0,000 100,000

n/a

n/a

67,208

0,000

67,208

8,531

LV scores - CS

0,071

0,000 100,000

n/a

n/a

58,344

54,985

81,248

10,280

LV scores - DD

0,129

0,000 100,000

n/a

n/a

68,612

24,916

76,433

9,308

LV scores - DV

0,166

0,000 100,000

n/a

n/a

39,474

25,047

54,634

8,578

LV scores - LK

LV scores -

0,150

0,000 100,000

n/a

n/a

41,520

29,566

58,810

7,729

NB

LV scores -

0,133

0,000 100,000

n/a

n/a

64,232

33,721

76,293

9,728

NL

LV scores -

0,191

0,000 100,000

n/a

n/a

44,648

42,313

68,069

9,736

QB

Phân tích NCA

171

Bottleneck tables - CE-FDH (Value)

LV LV LV LV LV LV LV LV

scores - PT scores - CS scores - DD scores - DV scores - LK scores - NB scores - NL scores - QB

NN 0.000% -2,206 -2,309 NN NN NN NN NN

NN 5.000% -2,031 -2,309 NN NN NN NN NN

NN 10.000% -1,855 -2,309 NN NN NN NN NN

NN 15.000% -1,680 -2,309 NN NN NN NN NN

NN 20.000% -1,504 -2,309 NN NN NN NN NN

NN NN NN NN NN 25.000% -1,329 -2,309 -1,858

NN NN NN 30.000% -1,154 -2,309 -1,858 -2,750 -2,210

NN NN 35.000% -0,978 -2,309 -1,721 -2,750 -2,210 -2,069

NN NN 40.000% -0,803 -2,235 -1,721 -2,750 -2,210 -2,069

NN 45.000% -0,627 -1,783 -1,721 -2,750 -2,210 -2,069 -2,243

NN 50.000% -0,452 -1,783 -1,721 -2,750 -1,909 -2,069 -2,243

55.000% -0,277 -1,783 -2,071 -1,614 -2,750 -1,909 -2,069 -1,599

60.000% -0,101 -1,783 -2,071 -1,614 -2,750 -1,909 -2,069 -1,599

65.000% 0,074 -1,783 -2,068 -1,614 -2,750 -1,909 -2,069 -1,599

70.000% 0,250 -1,783 -2,068 -1,614 -2,750 -1,892 -1,849 -1,599

75.000% 0,425 -1,783 -2,068 -1,286 -2,750 -1,892 -1,101 -1,599

80.000% 0,600 -1,783 -2,068 -1,286 -1,396 -1,592 -1,101 -1,599

85.000% 0,776 -1,783 -1,475 -1,097 -1,396 -1,592 -1,101 -1,599

90.000% 0,951 -1,243 -1,475 -1,097 -1,396 -1,592 -1,101 -0,569

95.000% 1,127 -1,243 -1,475 -1,011 -0,515 -0,337 -1,101 -0,569

100.000% 1,302 -1,243 -0,874 -1,011 -0,484 -0,337 -1,101 -0,569

172

Ceiling line effect size overview

Original effect size 95.0% Permutation p value

LV scores - CS 0,136 0,025 0,000

LV scores - DD 0,071 0,007 0,000

LV scores - DV 0,129 0,051 0,000

LV scores - LK 0,166 0,069 0,000

LV scores - NB 0,150 0,031 0,000

LV scores - NL 0,133 0,009 0,000

LV scores - QB 0,191 0,008 0,000

173

Phụ lục 2. Mẫu phiếu khảo sát

Phiếu số:........

PHIẾU ĐIỀU TRA PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN CÁC TỈNH

VÙNG BẮC TRUNG BỘ

Tôi tên là Lê Văn Viễn. Tôi đang là nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế phát triển, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Hiện nay, tôi đang thực hiện một nghiên cứu

về phát triển kinh tế biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững. Để hoàn thành nghiên cứu này tôi cần sự giúp đỡ của các Anh/chị bằng cách trả lời giúp tôi

những câu hỏi được trình bày dưới đây. Mọi ý kiến của Anh/chị đều có ích với nghiên cứu của tôi và không có ý kiến nào là đúng hay sai. Tôi cũng xin cam đoan rằng các

thông tin cá nhân của Anh/chị đều được giữ bí mật, đều được mã hóa và xử lý bằng các phương pháp thống kê mà không xuất hiện trong nghiên cứu. Nghiên cứu này cũng là một nghiên cứu hoàn toàn về mục đích khoa học và phi lợi nhuận.

Xin trân trọng cảm ơn những đóng góp của anh chị!

PHẦN 1. THÔNG TIN CÁ NHÂN

[1] Anh/chị có tham gia vào hoạt động du lịch biển tại địa phương hay không?

Không Có

[2] Anh/ chị vui lòng cho biết địa phương mình đang sinh sống?

Quảng Trị Thanh Hoá

Nghệ An Thừa Thiên - Huê

Hà Tĩnh

[3] Anh/chị đang hoạt động trong ngành nào của du lịch biển?

Kinh doanh dịch vụ lưu trú Kinh doanh đồ lưu niệm

Kinh doanh quán ăn và nhà hàng Kinh doanh dịch vụ cho thuê xe máy/ ô tô

Kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí Kinh doanh dịch vụ spa và massage

Khác:

174

[4] Anh/chị có thể vui lòng cho biết thu nhập mỗi tháng của bản thân là bao nhiêu?

Nhỏ hơn 5 triệu đồng 30 ~ 35 triệu đồng

5 ~10 triệu đồng 35 ~40 triệu đồng

10 ~ 15 triệu đồng 40 ~ 45 triệu đồng

15 ~ 20 triệu đồng 45 ~ 50 triệu đồng

20 ~ 25 triệu đồng 50 ~ 55 triệu đồng

25 ~ 30 triệu đồng Lớn hơn hơn 55 triệu đồng

[5] Anh/chị có đánh giá như thế nào về tác động của du lịch biển đến cuộc sống của dân cư tại địa phương mình?

Chỉ tiêu đánh giá Tốt hơn Không đổi Xấu đi Không ý kiến

Thu nhập của gia đình

Ảnh hưởng đến đời sống tinh thần

Cơ hội tìm việc làm đối với lao động trong gia đình

[6] Anh/chị là cán bộ quản lý nhà nước thì anh/chị đánh giá như thế nào về các vấn

đề đầu tư phát triển du lịch biển sau đây

Chỉ tiêu đánh giá Rất tốt Tốt Kém Trung bình Rất kém

Môi trường đầu tư

Thực hiện các dự án đầu tư trong nước

Đầu tư phát triển nguồn nhân

lực

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch biển

175

PHẦN 2. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ BỀN VỮNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN VÙNG BẮC TRUNG BỘ

Anh/chị vui lòng cho biết mức độ bền vững của các tiêu chí kinh tế, xã hội và môi trường trong phát triển kinh tế biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ hiện nay

như thế nào.

Vui lòng đánh dấu X vào ô thích hợp và chỉ đánh dấu một câu trả lời cho mỗi câu hỏi.

Các mức độ tương ứng

1-Không bền vững; 2-Ít bền vững; 3-Bình thường; 4- Bền vững; 5-Rất bền vững

Tiêu Các thang đo của tiêu chí Mức độ bền vững chí

2 3 4 5 Du lịch góp phần cải thiện cơ hội việc làm trong vùng 1

2 3 4 5 Du lịch tạo cơ hội phát triển nền kinh tế số trong vùng 1

1 2 3 4 5 Du lịch tạo ra cơ hội đầu tư kinh doanh mới cho các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư Kinh 1 2 3 4 5 Du lịch góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế tế

(KT)

1 2 3 4 5 Du lịch thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương theo

hướng tích cực

1 2 3 4 5 Du lịch làm tăng lượng tiêu thụ về các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của địa phương

Du lịch tạo điều kiện cho giao lưu văn hoá đối với cư 1 2 3 4 5 dân địa phương

Du lịch làm tăng sự tham gia của cư dân vào các hoạt 1 2 3 4 5 động địa phương

1 2 3 4 5 Xã hội Du lịch tạo sức ép phải tăng cường công tác đảm bảo an ninh, trật tự xã hội của địa phương (XH)

1 2 3 4 5 Du lịch góp phần nâng cao dân trí của cộng đồng dân cư địa phương

1 2 3 4 5 Du lịch làm xói mòn các giá trị văn hoá bản địa

1 2 3 4 5 Du lịch góp phần bảo tồn và phát triển các giá trị di sản, văn hóa, phong tục, tập quán của địa phương

176

Vui lòng đánh dấu X vào ô thích hợp và chỉ đánh dấu một câu trả lời cho mỗi câu hỏi.

Các mức độ tương ứng

1-Không bền vững; 2-Ít bền vững; 3-Bình thường; 4- Bền vững; 5-Rất bền vững

Tiêu Các thang đo của tiêu chí Mức độ bền vững chí

1 2 3 4 5 Du lịch góp phần làm đa dạng các dịch vụ vui chơi, giải trí cho địa phương

1 2 3 4 5 Du lịch góp phần bảo tồn sự đa dạng sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan

1 2 3 4 5 Du lịch tạo ra lượng lớn chất thải (sinh hoạt, rắn, nhựa, ...) cần xử lý

Du lịch ảnh hưởng lớn đến phát triển đa dạng các hệ 1 2 3 4 5 sinh thái tự nhiên (rừng, biển, vật nuôi, cây trồng) Môi trường (MT)

2 3 4 5 Du lịch góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường 1

1 2 3 4 5 Du lịch góp phần bảo tồn và khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên (nước, không khí, đất, ...)

PHẦN 3. ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN

KINH TẾ BIỂN VÙNG BẮC TRUNG BỘ

Anh/chị vui lòng cho biết mức độ ảnh hưởng của các tiêu chí sau đây để có

ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ hay không?

Vui lòng đánh dấu X vào ô thích hợp và chỉ đánh dấu một câu trả lời cho mỗi câu hỏi.

Các mức độ tương ứng 1-Không ảnh hưởng; 2-Ít ảnh hưởng; 3-Bình thường; 4-Ảnh hưởng; 5-Rất ảnh hưởng

STT Các tiêu chí Mức độ ảnh hưởng

I Chính sách phát triển du lịch của chính phủ

1 Quan điểm và chính sách đầu tư phát triển du lịch 1 2 3 4 5

2 Định hướng chiến lược phát triển du lịch và xây dựng các 1 2 3 4 5

tour, tuyến, điểm du lịch, khu du lịch

177

Vui lòng đánh dấu X vào ô thích hợp và chỉ đánh dấu một câu trả lời cho mỗi câu hỏi.

Các mức độ tương ứng 1-Không ảnh hưởng; 2-Ít ảnh hưởng; 3-Bình thường; 4-Ảnh hưởng; 5-Rất ảnh hưởng

STT Các tiêu chí Mức độ ảnh hưởng

3 Môi trường đầu tư và kinh doanh 1 2 3 4 5

4 Công tác quản lý nhà nước về du lịch 1 2 3 4 5

5 Chính sách huy động và phân bổ các nguồn lực cho phát 1 2 3 4 5

triển du lịch

6 Chính sách hỗ trợ nhà đầu tư, đơn vị kinh doanh du lịch, 1 2 3 4 5

cộng đồng địa phương và du khách

II Dịch vụ hỗ trợ liên quan

1 Hệ thống y tế 1 2 3 4 5

2 Kênh thông tin phục vụ du khách 1 2 3 4 5

3 Hệ thống thanh toán cho du khách 1 2 3 4 5

4 Bảo hiểm du lịch 1 2 3 4 5

5 An ninh du lịch 1 2 3 4 5

6 Cơ sở hạ tầng tại điểm đến du lịch 1 2 3 4 5

III Nguồn nhân lực du lịch

1 Quan điểm, chiến lược phát triển nguồn nhân lực 1 2 3 4 5

2 Chính sách đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nguồn nhân lực 1 2 3 4 5

3 Chế độ đãi ngộ và môi trường làm việc 1 2 3 4 5

4 Chất lượng nguồn nhân lực quản lý nhà nước về du lịch 1 2 3 4 5

5 Chất lượng nguồn nhân lực của các đơn vị kinh doanh du lịch 1 2 3 4 5

IV Hoạt động liên kết hợp tác phát triển du lịch

Thể chế liên kết vùng trong phát triển du lịch 1 1 2 3 4 5

2 Liên kết khai thác các tour, tuyến, điểm, khu du lịch của vùng 1 2 3 4 5

Liên kết sử dụng và phát triển nguồn nhân lực du lịch 3 1 2 3 4 5

178

Vui lòng đánh dấu X vào ô thích hợp và chỉ đánh dấu một câu trả lời cho mỗi câu hỏi.

Các mức độ tương ứng 1-Không ảnh hưởng; 2-Ít ảnh hưởng; 3-Bình thường; 4-Ảnh hưởng; 5-Rất ảnh hưởng

STT Các tiêu chí Mức độ ảnh hưởng

4 1 2 3 4 5

Liên kết đầu tư hạ tầng phục vụ du lịch, quảng bá và xúc tiến du lịch cho vùng

5 Liên kết ban hành chính sách chung về du lịch 1 2 3 4 5

V Đặc điểm khách du lịch

1 Trình độ văn hoá 1 2 3 4 5

2 Khả năng tài chính 1 2 3 4 5

3 Thời gian nhàn rỗi của khách du lịch 1 2 3 4 5

VI Hoạt động quảng bá và xúc tiến chương trình

1 Chiến lược quảng bá và xúc tiến 1 2 3 4 5

2 Khai thác tốt các cơ hội thị trường mới, truyền thống 1 2 3 4 5

3 Phát triển các chương trình, sự kiện chung 1 2 3 4 5

4 Xúc tiến thị trường mới 1 2 3 4 5

5 Xúc tiến, quảng bá du lịch địa phương, vùng 1 2 3 4 5

VII Các nhân tố khác

1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai 1 2 3 4 5

2 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 1 2 3 4 5

3 Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 1 2 3 4 5

VIII Phát triển du lịch biển bền vững

1 1 2 3 4 5

Phát triển du lịch biển góp phần cải thiện cơ hội việc làm trong vùng

2 Phát triển du lịch biển tạo ra cơ hội đầu tư kinh doanh 1 2 3 4 5

mới cho người dân trong vùng

3 1 2 3 4 5

Phát triển du lịch biển góp phần nâng cao dân trí của cộng đồng dân cư địa phương

179

Vui lòng đánh dấu X vào ô thích hợp và chỉ đánh dấu một câu trả lời cho mỗi câu hỏi.

Các mức độ tương ứng 1-Không ảnh hưởng; 2-Ít ảnh hưởng; 3-Bình thường; 4-Ảnh hưởng; 5-Rất ảnh hưởng

STT Các tiêu chí Mức độ ảnh hưởng

4 1 2 3 4 5

Phát triển du lịch biển tạo điều kiện cho giao lưu văn hoá đối với cư dân địa phương

5 1 2 3 4 5

Phát triển du lịch biển góp phần bảo tồn và phát triển các giá trị di sản, văn hóa, phong tục, tập quán của địa phương

6 1 2 3 4 5

Lượng khách du lịch đến địa phương ngày càng tăng qua các năm

7 1 2 3 4 5

Phát triển du lịch biển góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường

CẢM ƠN ANH CHỊ ĐÃ THAM GIA KHẢO SÁT

0 0 , 6 6

9 6 , 3 4

4 2 , 1 3

5 0 , 5 1

9 2 , 3 3

6 4 , 8 3

5 8 , 4 4

3 4 , 6 9 1

8 2 , 9 0 6

6 9 , 0 5 0 . 1

h c á h K

ế t c ố u q

) g n ồ đ

6 1 , 7 6 1 . 6

1 3 , 0 5 7 . 3

6 3 , 3 8 0 . 9

h c á h K

a ị đ i ộ n

1 4 , 7 9 7 . 1 1

1 3 , 1 6 1 . 2 1

1 4 , 3 2 0 . 1 2

4 5 , 0 8 4 . 1 1

2 9 , 8 3 3 . 2 2

8 8 , 0 5 9 . 6 2

3 3 , 5 8 5 . 1 3

ỷ t ( h c ị l u d h c á h k ừ t u h t g n ổ T

6 1 , 3 3 2 . 6

0 0 , 4 9 7 . 3

1 4 , 8 9 0 . 9

ố s g n ổ T

4 8 , 3 9 9 . 1 1

9 5 , 0 7 7 . 2 1

7 3 , 4 7 0 . 2 2

8 7 , 1 1 5 . 1 1

1 2 , 2 7 3 . 2 2

4 3 , 9 8 9 . 6 2

8 1 , 0 3 6 . 1 3

0 0 1 2

0 8 9 1

0 0 3 2

0 1 4 2

0 0 5 2

0 5 6 . 1

6 8 9 . 1

5 2 4 . 2

1 6 7 . 3

0 3 5 . 4

h c á h K

ế t c ố u q

8 9 6

4 5 7

7 5 9

9 6 7

3 0 9

0 5 9

0 7 9

0 8 0 1

0 2 1 1

0 8 1 1

h n ì b u ê i t i h C

y à g n / n â u q / đ 0 0 0 . 1

h c á h K

a ị đ i ộ n

0 , 2

2 , 2

7 , 2

7 , 2

9 , 2

5 7 , 1

1 8 , 1

1 0 , 2

2 0 , 2

5 9 , 1

t ợ ư

h n

ì

h c á h K

ế t c ố u q

ộ B g n u r T c ắ B g n ù V g n ơ ư h p a ị

) h c á h k

a ị

0 , 2

9 , 1

9 , 1

đ

0 8 , 1

0 9 , 1

0 2 , 2

2 5 , 1

3 6 , 1

4 8 , 1

2 8 , 1

0 8 1

b ú r t u ư L

l / y à g n ( n â u q

h c á h K

i ộ n

0 0 5 . 8

0 0 2 . 4

0 0 2 . 7

0 0 9 . 7

0 0 2 . 9

0 0 0 . 0 2

0 0 0 . 0 1

0 0 0 . 0 3

0 0 0 . 0 6

0 0 0 . 0 8

ế t

đ P D R G o à v h c ị l

c ố u q h c á h K

) t ợ ư l ( h c ị l

a ị

đ

4 3 7 . 7 1 4 . 4

9 6 2 . 3 6 7 . 2

4 5 1 . 8 8 4 . 6

4 9 3 . 3 2 3 . 8

3 1 5 . 0 5 9 . 7

4 6 9 . 4 4 7 . 5

0 1 6 . 2 8 5 . 0 1

6 0 4 . 1 4 2 . 1 1

6 8 8 . 4 6 6 . 2 1

9 6 2 . 7 0 7 . 4 1

i ộ n h c á h K

u d a ủ c p ó g g n ó Đ

u d h c á h k g n ợ ư L

4 3 7 . 7 3 4 . 4

9 6 2 . 3 7 7 . 2

4 5 1 . 8 1 5 . 6

4 9 3 . 3 8 3 . 8

3 1 0 . 9 5 9 . 7

4 6 1 . 9 4 7 . 5

ố s g n ổ T

0 1 6 . 2 6 6 . 0 1

6 0 6 . 8 4 2 . 1 1

6 8 7 . 2 7 6 . 2 1

9 6 4 . 6 1 7 . 4 1

n A ệ h g N

n a i g i ờ h T

a ó H h n a h T

h n ì B g n ả u Q

0 2 0 2 m ă N

1 2 0 2 m ă N

2 2 0 2 m ă N

3 2 0 2 m ă N

4 2 0 2 m ă N

0 2 0 2 m ă N

1 2 0 2 m ă N

2 2 0 2 m ă N

3 2 0 2 m ă N

4 2 0 2 m ă N

I

I I

I I I

T T

5 5 , 1 1

1 0 , 2 1

0 8 , 8 2

8 9 , 1 5

0 9 , 9 7

5 4 , 5 4

0 0 , 5 3 2

2 1 , 7 3 2

8 4 , 0 8 4

0 0 , 0 4 8

0 0 , 2 5 1 . 1

2 2 , 1 4 3 . 1

h c á h K

ế t c ố u q

6 7 , 2 0 6

) g n ồ đ

0 5 , 0 2 3 . 2

0 4 , 9 7 4 . 2

0 0 , 0 1 5 . 3

0 0 , 6 9 6 . 6

3 6 , 8 0 1 . 1

1 5 , 3 9 3 . 1

0 3 , 4 5 4 . 2

0 5 , 6 4 6 . 3

4 9 , 9 4 6 . 4

9 8 , 0 5 3 . 1

h c á h K

a ị đ i ộ n

0 0 , 5 5 4 . 0 1

1 2 , 8 4 6

ỷ t ( h c ị l u d h c á h k ừ t u h t g n ổ T

0 5 , 5 5 5 . 2

2 5 , 6 1 7 . 2

8 4 , 0 9 9 . 3

0 0 , 6 3 5 . 7

8 1 , 0 2 1 . 1

2 5 , 5 0 4 . 1

0 1 , 3 8 4 . 2

8 4 , 8 9 6 . 3

4 8 , 9 2 7 . 4

1 1 , 2 9 6 . 2

ố s g n ổ T

0 0 , 7 0 6 . 1 1

0 5 3 . 2

0 0 4 . 2

0 0 6 . 2

0 0 8 . 2

0 0 0 . 3

0 4 5 . 1

0 8 5 . 1

0 0 8 . 1

0 0 1 . 2

0 5 3 . 2

0 0 2 . 1

0 4 2 . 1

h c á h K

ế t c ố u q

0 8 9

0 6 6

4 9 6

h n ì b u ê i t i h C

0 2 0 . 1

0 0 1 . 1

0 0 2 . 1

0 5 3 . 1

0 0 5 . 1

0 5 0 . 1

0 0 2 . 1

0 0 3 . 1

0 5 3 . 1

y à g n / n â u q / đ 0 0 0 . 1

h c á h K

a ị đ i ộ n

2

5 , 2

6 , 2

8 , 2

5 , 1

6 , 1

7 , 1

0 0 , 3

2 5 , 1

5 6 , 1

5 9 , 1

t ợ ư

h n

ì

0 2 , 3

h c á h K

ế t c ố u q

2

) h c á h k

a ị

3 , 1

4 , 1

5 , 1

5 , 1

đ

0 6 , 1

0 7 , 1

5 2 , 1

7 2 , 1

5 3 , 1

8 5 , 1

5 9 , 1

1 8 1

b ú r t u ư L

l / y à g n ( n â u q

h c á h K

i ộ n

0 0 0 . 5

0 0 0 . 5

0 0 0 . 0 4

0 0 0 . 8 3

0 0 0 . 6 6

0 0 0 . 0 1

0 0 0 . 5 1

0 0 0 . 0 2

6 9 7 . 8 1

0 0 0 . 0 0 1

0 0 0 . 0 2 1

1 4 8 . 8 5 5

ế t

c ố u q h c á h K

) t ợ ư l ( h c ị l

a ị

0 0 0 . 5 0 9

đ

0 0 0 . 0 5 7 . 1

0 0 0 . 0 1 6 . 1

0 0 0 . 0 5 9 . 1

0 0 0 . 0 0 1 . 3

0 0 0 . 0 0 1 . 4

0 0 0 . 5 4 0 . 1

0 0 0 . 5 1 5 . 1

0 0 0 . 0 7 8 . 1

0 0 0 . 0 8 1 . 2

i ộ n h c á h K

0 0 4 . 5 4 4

0 0 4 . 3 2 0 . 1

u d h c á h k g n ợ ư L

0 0 0 . 0 1 9

6 9 1 . 4 6 4

0 0 0 . 0 9 7 . 1

0 0 0 . 8 4 6 . 1

0 0 0 . 6 1 0 . 2

0 0 0 . 0 0 2 . 3

0 0 0 . 0 2 2 . 4

0 0 0 . 0 5 0 . 1

0 0 0 . 5 2 5 . 1

0 0 0 . 5 8 8 . 1

0 0 0 . 0 0 2 . 2

1 4 2 . 2 8 5 . 1

ố s g n ổ T

ế u H

n a i g i ờ h T

ị r T g n ả u Q

0 2 0 2 m ă N

1 2 0 2 m ă N

2 2 0 2 m ă N

3 2 0 2 m ă N

4 2 0 2 m ă N

0 2 0 2 m ă N

1 2 0 2 m ă N

2 2 0 2 m ă N

3 2 0 2 m ă N

4 2 0 2 m ă N

0 2 0 2 m ă N

1 2 0 2 m ă N

V

V I

T T

0 5 , 0 1

4 8 , 5 1

0 9 , 2 5

2 6 , 9 3 6

0 6 , 5 0 1

0 5 , 7 5 1

0 4 , 0 3 9 . 2

0 0 , 6 1 9 . 5

h c á h K

ế t c ố u q

) g n ồ đ

5 7 , 0 1 8 . 1

1 6 , 2 7 4 . 2

3 8 , 3 3 1 . 4

0 6 , 3 7 1 . 1

2 9 , 7 2 6 . 1

8 0 , 6 6 5 . 2

4 8 , 5 3 6 . 3

0 0 , 5 6 4 . 4

h c á h K

a ị đ i ộ n

ỷ t ( h c ị l u d h c á h k ừ t u h t g n ổ T

6 3 , 0 5 4 . 2

1 0 , 3 0 4 . 5

0 1 , 4 8 1 . 1

6 7 , 3 4 6 . 1

8 9 , 8 1 6 . 2

4 4 , 1 4 7 . 3

0 5 , 2 2 6 . 4

ố s g n ổ T

3 8 , 9 4 0 . 0 1

0 8 2 . 1

0 2 3 . 1

0 6 3 . 1

0 0 1 . 2

0 0 2 . 2

0 0 3 . 2

0 0 4 . 2

0 0 5 . 2

h c á h K

ế t c ố u q

8 2 7

2 6 7

6 9 7

0 0 8

0 5 8

0 8 8

0 2 9

0 5 9

h n ì b u ê i t i h C

y à g n / n â u q / đ 0 0 0 . 1

h c á h K

a ị đ i ộ n

3

5 , 2

4 , 2

3 , 2

2 , 2

1 , 2

9 , 1

5 8 , 1

t ợ ư

h n

ì

h c á h K

ế t c ố u q

2

) h c á h k

a ị

5 , 1

6 , 1

8 , 1

9 , 1

9 , 1

5 , 2

đ

5 8 , 1

2 8 1

b ú r t u ư L

l / y à g n ( n â u q

h c á h K

i ộ n

0 0 0 . 2

0 0 0 . 3

0 0 0 . 0 1

0 0 0 . 0 2

0 0 0 . 0 3

ế t

c ố u q h c á h K

0 0 0 . 3 6 2

0 0 0 . 0 0 2 . 1

0 0 0 . 0 5 4 . 1

) t ợ ư l ( h c ị l

a ị

0 0 0 . 8 7 9

đ

0 0 0 . 7 9 1 . 1

0 0 0 . 0 2 6 . 1

0 0 0 . 0 8 0 . 2

0 0 0 . 0 5 3 . 2

i ộ n h c á h K

0 0 1 . 9 0 3 . 1

0 0 0 . 4 5 7 . 1

0 0 3 . 7 7 0 . 2

u d h c á h k g n ợ ư L

0 0 0 . 0 8 9

0 0 1 . 2 7 5 . 1

0 0 0 . 4 5 9 . 2

0 0 3 . 7 2 5 . 3

0 0 0 . 0 0 2 . 1

0 0 0 . 0 3 6 . 1

0 0 0 . 0 0 1 . 2

0 0 0 . 0 8 3 . 2

ố s g n ổ T

h n ĩ T à H

n a i g i ờ h T

2 2 0 2 m ă N

3 2 0 2 m ă N

4 2 0 2 m ă N

0 2 0 2 m ă N

1 2 0 2 m ă N

2 2 0 2 m ă N

3 2 0 2 m ă N

4 2 0 2 m ă N

I V

T T

183

Thời gian

GRDP

TT

Đóng góp của du lịch vào GRDP của tỉnh

Giá trị tăng thêm từ du lịch

B

16=8-13

18=16/17x100%

17

A

Thanh Hóa

I

188.800

5.107,95

Năm 2020

2,7%

215.851

3.109,32

Năm 2021

1,4%

252.672

9.832,74

Năm 2022

3,9%

279.074

10.492,71

Năm 2023

3,8%

318.752

18.136,86

Năm 2024

5,7%

Nghệ An

II

9.428,43

144.523

Năm 2020

6,5%

7.451,27

155.441

Năm 2021

4,8%

18.321,81

176.000

Năm 2022

10,4%

22.102,92

193.374

Năm 2023

11,4%

25.903,53

216.943

Năm 2024

11,9%

Quảng Bình

III

2.106,23

36.866,00

Năm 2020

5,7%

2.238,20

36.540,00

Năm 2021

6,1%

3.295,50

40.104,00

Năm 2022

8,2%

6.219,64

45.203,00

Năm 2023

13,8%

9.571,32

49.273,00

Năm 2024

19,4%

Quảng Trị

IV

917,94

36.809,00

Năm 2020

2,5%

1.151,63

36.808,00

Năm 2021

3,1%

2.035,00

40.822,51

Năm 2022

5,0%

3.031,57

46.431,00

Năm 2023

6,5%

3.877,74

53.508,00

Năm 2024

7,2%

184

Thời gian

GRDP

TT

Đóng góp của du lịch vào GRDP của tỉnh

Giá trị tăng thêm từ du lịch

Huế

V

Năm 2020

2.282,16

47.428,00

4,8%

Năm 2021

533,43

50.847,00

1,0%

Năm 2022

2.043,57

56.000,00

3,6%

Năm 2023

4.594,07

72.865,00

6,3%

Năm 2024

8.572,10

79.294,00

10,8%

Hà Tĩnh

VI

Năm 2020

970,23

67.321,00

1,4%

Năm 2021

1.346,94

74.152,00

1,8%

Năm 2022

2.147,66

79.885,00

2,7%

Năm 2023

3.069,86

85.367,00

3,6%

Năm 2024

3.794,34

92.140,00

4,1%