BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ

NGUYỄN ĐĂNG HẢI LIÊN KẾT VIỆN - TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC KỸ THUẬT - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUÂN SỰ HÀ NỘI - NĂM 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ

HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN ÁN NGUYỄN ĐĂNG HẢI TÊN Đ

LIÊN KẾT VIỆN - TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC KỸ THUẬT - CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Chuyên ngành: Chỉ huy, quản lý kỹ thuật Mã số:

62.86.02.14

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUÂN SỰ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TSKH Phạm Thế Long HÀ NỘI - NĂM 2014

i

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Những nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu sáng tạo trong

luận án là hoàn toàn trung thực và chưa có tác giả nào công bố

trong bất cứ một công trình nào khác.

Tác giả Luận án NGUYỄN ĐĂNG HẢI

ii

MỤC LỤC Nội dung

5 6

Trang Mục i Lời cam đoan ………....…………….………………….………….…... ii Mục lục………….………………….……………………....………….. Danh mục các từ viết tắt …………..…………………….…………….. vi Danh mục các bảng…………...……..…………………..……………... vii Danh mục các hình vẽ…………………..……………….….…………. vii 1 MỞ ĐẦU…………………….……………………….………………... CHƯƠNG I. TỔNG QUAN…………………...………………………………... 5 Nghiên cứu liên kết giữa các Trường Đại học với các Viện nghiên 1.1. cứu ở nước ngoài ………………….……………………………….…. 1.1.1 Những nghiên cứu về vai trò, vị trí của liên kết Viện-Trường………… 1.1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến quan hệ liên kết,

đối tác Viện-Trường………….……………………………………....... 11 1.1.2.1 Những nghiên cứu về đối tác và nội dung liên kết…….………………. 11 1.1.2.2 Những nghiên cứu về tổ chức và mô hình liên kết…………………….. 11 1.1.2.3 Nghiên cứu về liên kết ảo……………………………………………… 13 1.1.2.4 Liên kết quốc tế………………………………………………………... 13 1.1.2.5 Nghiên cứu liên quan đến hoàn thiện quan hệ đối tác, cộng tác………. 14 1.1.3 Những nghiên cứu liên quan đến cơ chế chính sách của Nhà nước đối với liên kết Viện-Trường…..…………………………………………... 16

1.1.4 Một số nghiên cứu về những liên kết cụ thể của các tổ chức, doanh

nghiệp………………………………………………………………….. 18 1.1.5 Một số vấn đề rút ra từ nghiên cứu liên kết Viện-Trường ở nước ngoài…... 19 Nghiên cứu liên kết Viện - Trường của Việt Nam và Quân đội…… 19 1.2 1.2.1 Một số nghiên cứu về liên kết Viện-Trường ở Việt Nam……………... 20 1.2.2 Liên kết Viện-Trường trong Quân đội Nhân dân Việt Nam…………... 22 1.2.3 Một số vấn đề rút ra từ nghiên cứu liên kết Viện-Trường ở Việt Nam…..... 22 Phương hướng nghiên cứu của Luận án……………………………. 23 1.3 Kết luận chương I…………………………………………………….. 24 CHƯƠNG II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG LIÊN KẾT VIỆN-TRƯỜNG……..…………...……………………………………………... 25 2.1

Chủ trương của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng về liên kết Viện-Trường……..……………………………………………………. 25 2.1.1 Chủ trương của Đảng………………………………………………….. 26 2.1.2 Một số chính sách quan trọng của Nhà nước………………………….. 26

iii

Trang Mục Nội dung 2.1.3 Chủ trương của Bộ Quốc phòng……………………………………….. 28 Cơ sở lý luận về liên kết Viện-Trường……………………………… 28 2.2 2.2.1 Khái niệm về liên kết Viện-Trường…..……………………………….. 28 2.2.2 Bản chất của liên kết Viện-Trường…..………………………………... 30 2.2.2.1 Liên kết Viện-Trường với tư cách là một tổ chức khoa học và công nghệ 30 2.2.2.2 Xây dựng quan hệ liên kết viện trường bền vững……………………... 31 2.2.3 Những nguyên tắc cơ bản của liên kết Viện-Trường…..……………… 37 2.2.3.1 Liên kết phải có tính mở……………………………………………….. 37 2.2.3.2 Liên kết phải dựa trên cơ sở tự nguyện………………………………... 38 2.2.3.3 Liên kết từ trong ra ngoài; từ cụ thể, đơn giản đến phức tạp………….. 38 2.2.3.4 Nguyên tắc lợi ích và sự công bằng trong phân chia lợi ích…………... 39 2.2.3.5 Đảm bảo tính tự chủ của mỗi đơn vị thành viên liên kết……………… 39 2.2.3.6 Nguyên tắc chịu trách nhiệm trong liên kết…………………………… 40 2.2.3.7 Linh hoạt, mềm dẻo trong liên kết…………………………………….. 40 2.2.3.8 Đảm bảo sự hỗ trợ của chính quyền các cấp…………………………... 41 Cơ sở thực tiễn về liên kết Viện-Trường…..………………………... 42 2.3 2.3.1 Liên kết Viện-Trường ở một số cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học

quan trọng của Việt Nam………...…………………………………….. 42 2.3.2 Liên kết Viện-Trường thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn…. 45 2.3.3 Liên kết Viện-Trường của Bộ Quốc phòng….……………..………….. 51 2.4

Những hạn chế và các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết Viện-Trường ở Việt Nam ............................................................................................. 63 2.4.1 Những hạn chế trong liên kết Viện-Trường và nguyên nhân…..……… 63 2.4.2 Những đặc điểm của viện, trường ở Việt Nam và trong Quân đội có

ảnh hưởng đến liên kết Viện-Trường …………………………………. 65 Kết luận chương II…………………………………………………… 69 CHƯƠNG III. PHÁT TRIỂN LIÊN KẾT VIỆN-TRƯỜNG Ở VIỆT NAM……… 70 Định hướng phát triển liên kết Viện-Trường ở Việt Nam………..... 70 3.1 3.1.1 Mô hình liên kết Viện-Trường ở Việt Nam……………..…………….. 70 3.1.2 Xác định mục tiêu, yêu cầu, nội dung liên kết và các bước đi thích hợp

đối với liên kết Viện-Trường ở Việt Nam……..………………………… 74 3.1.3 Tổ chức hoạt động Khoa học và công nghệ trong liên kết Viện-Trường…. 76 3.1.4 Công tác chuẩn bị thiết lập mối quan hệ liên kết……………………… 81 3.1.4.1 Xác định những điều kiện giúp cho liên kết có hiệu quả……………… 81 3.1.4.2 Điều tra khảo sát về môi trường liên kết………………………………. 81

iv

Trang Mục Nội dung 3.1.4.3 Xem xét các đối tác tiềm năng………………………………………… 82 3.1.4.4 Hiểu biết về bản chất của quan hệ đối tác……………………………... 82 3.1.4.5 Xác định những nội dung sẽ thực hiện liên kết………………………... 83 3.1.4.6 Kiểm tra các điều kiện để thành lập quan hệ liên kết………………….. 83 3.1.4.7 Đánh giá sự sẵn sàng về nhân sự, tổ chức và cộng đồng……………… 84 3.1.4.8 Lựa chọn người lãnh đạo cho mỗi quan hệ đối tác cụ thể……………... 84 3.1.4.9 Trao đổi thông tin……………………………………………………… 84 3.1.5 Các giai đoạn triển khai nhiệm vụ liên kết trong quan hệ đối tác Viện-

Trường ở Việt Nam……………………………………………………. 84 3.1.5.1 Giai đoạn triển khai ban đầu…………………………………………… 84 3.1.5.2 Giai đoạn triển khai công việc…………………………………………. 86 3.1.5.3 Giai đoạn đánh giá và thiết lập định hướng tương lai…………………. 87 3.1.6 Giải quyết tranh chấp trong quan hệ hợp tác / đối tác…………………. 88 3.2 91

Các nhóm giải pháp thúc đẩy phát triển liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực Khoa học kỹ thuật do Bộ Quốc phòng quản lý……. 3.2.1 Nhóm giải pháp tăng cường vai trò của Nhà nước đối với liên kết Viện-Trường…………………………………………………………... 91

3.2.1.1 Nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm về sự cần thiết và định hướng phát triển liên kết Viện-Trường………………………………… 91

3.2.1.2 Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động liên kết

trong Hệ thống đổi mới quốc gia………………………………………. 92 3.2.1.3 Hoàn thiện quá trình hoạch định chính sách ĐMST và liên kết……….. 93 3.2.1.4 Hoàn thiện môi trường trực tiếp cho đổi mới và liên kết……………… 96 3.2.2 Nhóm giải pháp thúc đẩy liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực Khoa học kỹ thuật của Bộ Quốc phòng……………………………... 98

3.2.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể của Bộ Quốc phòng về liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực ĐT-NCKH-SXKD……..……………. 98

3.2.2.2 Nghiên cứu vận dụng đúng và sáng tạo lý luận và phương pháp luận về liên kết Viện-Trường trong điều kiện của Bộ Quốc phòng……………... 99

3.2.2.3 Thực hiện những bước đi cụ thể trong thực hiện chiến lược phát triển liên kết Viện-Trường…………………………………………………... 103

3.2.2.4 Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan Bộ Quốc phòng đối với phát triển liên kết Viện - Trường……………………………………………. 105

3.2.2.5 Phối hợp thực hiện chiến lược phát triển liên kết trong Đào tạo-

Nghiên cứu khoa học-Sản xuất kinh doanh………………..…………... 109 Kết luận chương III…………………...……………………………… 113

v

Nội dung

Trang Mục CHƯƠNG IV. KIỂM TRA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 114 Kiểm tra kết quả nghiên cứu………………………………………… 114 4.1 4.1.1 Về tham khảo tài liệu………………………………………………….. 114 4.1.2 Các hình thức, nội dung thẩm định bằng phương pháp chuyên gia…… 114 Bàn luận…………………………..…………………………………... 117 4.2 4.2.1 Về việc vận dụng lý luận chung về liên kết Viện-Trường vào điều kiện 117 Việt Nam………………………………………………………………..

4.2.2 Nghiên cứu tiếp thu và phát triển lý luận về liên kết Viện-Trường…… 118 4.2.3 Vận dụng lý luận và kinh nghiệm liên kết Viện-Trường để xây dựng mô hình và các định hướng phát triển liên kết Viện-Trường ở Việt Nam và trong Quân đội………………………………………………... 119

4.2.4 Đề xuất các giải pháp thúc đẩy sự phát triển liên kết Viện-Trường

trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật do Bộ Quốc phòng quản lý…………. 120 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……………………………………. 122 Kết luận……………………………………………………………….. 122 Những kết quả đạt được của Luận án………………………………….. 122 Các đóng góp mới của Luận án………………………………………... 123 Hướng nghiên cứu tiếp theo…………………………………………… 123 Khuyến nghị…………………………………………………………... 124 Đối với Chính phủ và các cơ quan chức năng Nhà nước……………… 124 Đối Thủ trưởng và các cơ quan BQP………………………………….. 124 Đối với Viện, Trường trong Quân đội…………………………………. 124 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ…………………... 126 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………… 127 PHỤ LỤC……………………………………………………………… 135

1 1.1 1.2 1.3 2 2.1 2.2 2.3

vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Giải nghĩa Từ viết tắt

Tiếng Việt

Bộ Quốc phòng BQP

Chuyển giao công nghệ CGCN

Công nghiệp hóa CNH

Giáo dục và Đào tạo GD&ĐT

Hiện đại hóa HĐH

Hệ thống Đổi mới Quốc gia HTĐMQG

Khoa học và Công nghệ KH&CN

KH&CNQS Khoa học và công nghệ Quân sự

Kỹ thuật Quân sự KTQS

Kinh tế - xã hội KT-XH

Nghiên cứu và phát triển NC&PT

Nghiên cứu khoa học NCKH

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Phát triển công nghệ PTCN

Sở hữu trí tuệ SHTT

Sản xuất kinh doanh SXKD

Tiếng Anh

EU European Union - Liên minh châu Âu

GRID

Network science research, graphically organized in various countries of Asia - Pacific - Mạng NCKH, tổ chức theo các dạng đồ hình khác nhau (Graphic Design) của các nước Châu Á - Thái Bình Dương

OECD Organization for Economic Cooperation and development - Tổ chức Liên kết kinh tế và phát triển

R&D Research and Development - Nghiên cứu và Phát triển hay Nghiên cứu và Triển khai

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng Giải thích Trang

Bảng 2.1: Số liệu điều tra về Liên kết Viện - Trường của Bộ NN&PTNT 46 giai đoạn 2006 - 2009.

Bảng 2.2: Theo tỷ lệ số đơn vị thực hiện / tổng số đơn vị của khối ngành 47 được khảo sát (ĐT).

Bảng 2.3: Theo tỷ lệ số đơn vị thực hiện / tổng số đơn vị của khối ngành 48 được khảo sát (NCKH, CGCN).

Bảng 2.4: Hợp tác quốc tế theo khối ngành giai đoạn 2006 - 2009 49

Bảng 2.5: Khái quát hóa kết quả điều tra một số viện, trường KHKT quân 59 sự trong giai đoạn 2008-2011

Bảng 4.1: Tổng hợp ý kiến đóng góp trong Hội thảo luận án 116

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình vẽ Giải thích Trang

31 Hình 2.1: Mô hình liên kết Nhà nước, các cơ quan hàn lâm và ngành công nghiệp trong Hệ thống Đổi mới và Liên kết Quốc gia.

Hình 2.2: Mô hình Hệ thống chính sách Đổi mới. 32

Hình 2.3: Mô hình chi tiết Hệ thống Đổi mới Quốc gia. 34

Hình 3.1: Mô hình liên kết Viện-Trường đa cấp Việt Nam. 71

Hình 3.2: Trình tự thông thường thực hiện liên kết Viện-Trường. 73

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục Giải thích Trang

134 Phụ lục 1: Các mẫu phiếu điều tra về Liên kết Viện-Trường dùng cho cơ quan. [Mẫu 1, 2, 3]

142 Phụ lục 2: Các mẫu phiếu điều tra về Liên kết Viện-Trường dùng cho chuyên gia. [Mẫu 1, 2]

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Từ cuối thế kỷ XX, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu không thể đảo ngược, kéo theo sự hội nhập về giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) và khoa học và công nghệ (KH&CN). Tác giả Thomas L.Friedman, trong“Thế giới phẳng” đã chỉ rõ những thể hiện của xu thế hội nhập quốc tế đang diễn ra một cách tự nhiên trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) của tất cả các nước. Thông qua hội nhập, các nước phát triển có thể tận dụng được nhân công rẻ, tài nguyên thiên nhiên của các nước chậm phát triển, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh. Mặt khác, qua hội nhập quốc tế các nước này có thể xuất khẩu được các mặt hàng truyền thống, phát huy được nguồn trí lực và vật lực đã phát triển của mình. Ngược lại, qua hội nhập, các nước kém và đang phát triển cũng có thể tận dụng được vốn, kỹ thuật và trí tuệ như năng lực về KH&CN, năng lực quản lý của các nước phát triển, tạo ra công ăn việc làm, thu nhập cho người dân và đất nước, khắc phục những yếu kém về nguồn nhân lực, tài lực và vật lực,…

Ở tầm vi mô, mỗi tổ chức, doanh nghiệp đều có những khó khăn nhất định trong việc phát triển bản thân tổ chức mình. Những khó khăn này chủ yếu là do hạn chế và yếu kém về nguồn lực như nhân lực, vật lực, tài lực,… và không chỉ đối với các tổ chức, doanh nghiệp ở các nước đang phát triển mà còn đối với các tổ chức, doanh nghiệp của các nước phát triển, vì nguồn lực luôn luôn là yếu tố có hạn mà nhu cầu phát triển thì mỗi ngày một tăng. Liên kết, nói đơn giản, là hình thức cùng góp chung các dạng nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực và tin lực) để thực hiện những công việc, nhiệm vụ mà các bên đều quan tâm, trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận và cùng có lợi. Liên kết nhờ đó sẽ làm tăng thêm sức mạnh của mỗi đơn vị và tạo ra những khả năng tốt hơn cho việc thực hiện các nhiệm vụ và phát triển mới.

Trong một quốc gia, sản xuất kinh doanh (SXKD), đào tạo nguồn nhân lực và hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH), phát triển công nghệ (PTCN) là những lĩnh vực vực chủ chốt, có tầm ảnh hưởng sâu rộng và có tính quyết định đến sự phát triển của đất nước. Vì vậy, liên kết giữa các viện nghiên cứu, các trường đại học và các doanh nghiệp trong môi trường pháp lý và xã hội do Nhà nước tạo ra và hỗ trợ, được coi là trụ cột của sự phát triển của mỗi lĩnh vực và của cả đất nước. Nói cách khác, xu thế hội nhập nói chung và xu thế liên kết là có tính tất yếu, tính thời đại rõ rệt và là nhu cầu của tất cả các quốc gia, các tổ chức.

2

Đối với Việt Nam, theo Website Chính Phủ [41], những cơ hội khi hội nhập kinh tế quốc tế là rất lớn, nhưng cũng phải đối mặt với không ít thách thức như: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng và sâu hơn; vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia,... cũng trở nên phức tạp và cấp bách hơn. Để vượt qua những thách thức này, KH&CN giữ vai trò động lực, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 Khóa VIII (1996), kết luận của Hội nghị Trung ương 6 Khóa IX (2002) của Đảng, và Luật KH&CN năm 2000 đã khẳng định: “KH&CN là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nền tảng và động lực thúc đẩy xã hội phát triển”.

Tầm quan trọng của KH&CN là như vậy, nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát triển KH&CN, đưa nhanh những thành tựu KH&CN tiên tiến vào sản xuất, tạo ra và sử dụng tốt nhất nguồn nhân lực, vật lực, tài chính và thông tin, trong khi các nguồn lực KH&CN của chúng ta còn nhiều hạn chế? Mặt khác, bối cảnh hiện đại hóa (HĐH) Quân đội và chiến tranh hiện đại đòi hỏi phải có những vũ khí, khí tài và trang thiết bị quân sự tiên tiến phục vụ cho nghệ thuật quân sự Việt Nam một cách có hiệu quả. Điều này lại đặt ra vấn đề làm thế nào để có thể tăng cường năng lực KH&CN thông qua đào tạo, NCKH để cải tiến và nâng cao năng lực sản xuất quốc phòng, chế tạo vũ khí, khí tài mới đồng thời với khai thác và sử dụng có hiệu quả vũ khí khí tài hiện có và trên cơ sở đó tạo điều kiện để phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam lên tầm cao mới?

Trả lời cho những vấn đề đặt ra trên đây chính là thực hiện liên kết giữa các Viện nghiên cứu với các trường đại học và cơ sở SXKD. Nói cách khác, liên kết Viện-Trường, thể hiện qua liên kết ĐT-NCKH-SXKD là tất yếu và cấp bách không những đối với Nhà nước mà còn đối với Quân đội ta hiện nay. Tuy nhiên, thực tế những năm qua việc triển khai thực hiện liên kết Viện - Trường nói chung, liên kết giữa nghiên cứu và đào tạo nói riêng ở Việt Nam mới chỉ đạt được những kết quả hạn chế ở một vài lĩnh vực hoặc một vài đơn vị cụ thể. Thực trạng này có một phần lí do về tổ chức: Hệ thống trường và viện, nhất là các trường viện hàng đầu cơ bản vẫn là các hệ thống tách rời nhau; có một phần lí do về cơ chế, chính sách chưa phù hợp và đồng bộ, chưa được xây dựng trên những cơ sở lí luận và thực tiễn được nghiên cứu một cách hệ thống và khoa học. Vì vậy, nghiên cứu “Liên kết Viện- Trường trong lĩnh vực Khoa học kỹ thuật - Cơ sở khoa học, thực tiễn và định hướng phát triển” của đề tài Luận án, với hy vọng góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và phương pháp luận xây dựng và thực hiện liên kết Viện-Trường ở Việt Nam nói

3

chung và trong Quân đội nói riêng, là có ý nghĩa khoa học, thực tiễn và cấp bách.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phương pháp luận chung về liên kết, làm rõ những những nội dung lý luận và đặc điểm liên kết Viện-Trường ở Việt Nam và trong Quân đội; đề xuất mô hình định hướng phát triển liên kết phù hợp với điều kiện Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp để phát triển và duy trì liên kết Viện-Trường bền vững trong điều kiện Quân đội.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan về liên kết Viện-Trường trên thế giới và trong nước.

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên kết Viện-Trường ở Việt Nam.

- Nghiên cứu định hướng phát triển liên kết Viện-Trường ở Việt Nam.

- Đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển liên kết Viện-Trường một cách bền

vững trong lĩnh vực KHKT do BQP quản lý.

4. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của Luận án là lý luận về liên kết Viện-Trường thông qua liên kết ĐT-NCKH-SXKD và định hướng phát triển bền vững và hiệu quả liên kết Viện-Trường và ứng dụng trong lĩnh vực KHKT quân sự Việt Nam.

5. Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu lý luận của Luận án hạn chế trong phạm vi liên kết của các nhà trường và viện nghiên cứu thuộc lĩnh vực KHKT ở Việt Nam, không đề cập đến liên kết Viện-Trường thuộc lĩnh vực Khoa học Xã hội, Nhân văn và Quân sự. Vận dụng lý luận về liên kết Viện-Trường bền vững ở Việt Nam vào liên kết Viện- Trường trong lĩnh vực KHKT do BQP quản lý.

6. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn; nghiên cứu tài liệu và phương pháp chuyên gia, trên tinh thần quán triệt các cách tiếp cận Duy vật- Biện chứng, Lịch sử-Lôgic và Hệ thống-Cấu trúc để có các số liệu trung thực, chính xác và đầy đủ. Trên cơ sở đó tiến hành phân tích, tổng hợp và lập luận lôgic để có được những kết luận khách quan và khoa học, làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp chính sách phát triển liên kết Viện-Trường bền vững và hiệu quả.

7. Đóng góp mới của Luận án

- Phân tích và làm rõ cơ sở lý luận về liên kết Viện-Trường với những đóng

4

góp khoa học mới: Xây dựng khái niệm về liên kết Viện-Trường; Bản chất, những nguyên tắc cơ bản và nội dung chủ yếu của liên kết Viện-Trường.

- Phân tích và đánh giá thực tiễn của việc xác định những quan điểm, mục tiêu đối với hoạt động liên kết Viện-Trường ở cơ quan và một số đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) và Bộ Quốc phòng (BQP).

- Đề xuất định hướng liên kết Viện-Trường ở Việt Nam với việc xác định mô

hình liên kết, mục tiêu, yêu cầu, nội dung và lộ trình thực hiện liên kết.

- Đề xuất hệ thống các giải pháp thúc đẩy, phát triển liên kết trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật do Bộ Quốc phòng quản lý. Các giải pháp đề xuất góp phần định hướng cho hoạt động đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động R&D, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra trong tình hình hiện nay đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học.

8. Cấu trúc của Luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án được cấu trúc thành 4 chương:

Chương 1 trình bày một cách tổng quan lịch sử nghiên cứu và phát triển (NC&PT) liên kết giữa các Trường Đại học và các Viện nghiên cứu thông qua liên kết thực hiện nhiệm vụ ĐT-NCKH-SXKD trên thế giới và trong nước, chỉ ra thực trạng, các lĩnh vực và định hướng nghiên cứu về lý luận và phương pháp luận liên kết đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm giải quyết; rút ra những kết luận cần thiết để xác định hướng và nội dung nghiên cứu cụ thể của đề tài.

Chương 2 tập trung nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng liên kết Viện-Trường. Cùng với việc làm sáng tỏ bản chất của liên kết Viện-Trường cùng những nguyên tắc xây dựng và duy trì liên kết Viện-Trường bền vững, nội dung của chương cũng tập trung trình bày thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc liên kết Viện-Trường ở Việt Nam và trong Quân đội.

Chương 3 nghiên cứu đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể để phát triển liên kết Viện-Trường ở Việt Nam nói chung và trong Quân đội nói riêng một cách bền vững và có hiệu quả.

Chương 3 Kiểm tra kết quả nghiên cứu và bàn luận.

Toàn bộ nội dung luận án được trình bày theo một lôgic thống nhất cả về nội dung và kết cấu; gắn kết lý luận với thực tiễn xây dựng và duy trì liên kết bền vững. Các kết quả chính của Luận án được phản ánh trong các bài báo khoa học, đăng trên các tạp chí của Nhà nước và Quân đội.

5

Chương I TỔNG QUAN

Liên kết, hợp tác giữa trường đại học, các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực, NCKH và chuyển giao công nghệ (CGCN) có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của cả ba lĩnh vực. Liên kết cho phép khắc phục những yếu kém của mỗi thành viên về nhân lực, nhất là nhân lực trình độ cao; vật lực, tài lực, tin lực thông qua việc sử dụng kết hợp các nguồn lực này của các đơn vị thành viên. Liên kết còn cho phép thực hiện được những nhiệm vụ phức tạp mà riêng từng thành viên không có điều kiện thực hiện; cho phép tập trung trí tuệ của các chuyên gia giỏi để đặt ra các bài toán, những nhiệm vụ có giá trị khoa học và thực tiễn cao. Liên kết quốc tế còn cho phép mở rộng các ưu việt trên đây trên phạm vi quốc tế, tận dụng được những tài sản khoa học và công nghệ cao. Liên kết, hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu với các đơn vị SXKD có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong việc phát triển KT-XH và là một bộ phận cốt lõi của Hệ thống đổi mới quốc gia (HTĐMQG) của các nước. Vì vậy, liên kết và hợp tác không những được các tổ chức khoa học và doanh nghiệp quan tâm mà chính phủ các nước cũng luôn khuyến khích thúc đẩy các hoạt động liên kết này vì mục tiêu phát triển của xã hội. Tuy vậy, xây dựng và thực thi quan hệ liên kết cũng phải đối mặt với nhiều thách thức như những vấn đề về lợi ích, về sở hữu trí tuệ (SHTT) và những vấn đề liên quan đến quản lý, điều hành thực hiện các nhiệm vụ liên kết.

Đối với Việt Nam, liên kết đã được nhắc đến như một phương thức hoạt động quan trọng để giải quyết những khó khăn, trước hết là về nguồn lực và trên thực tế liên kết đã được các viện nghiên cứu và các trường đại học thực hiện trong cả đào tạo, nghiên cứu và CGCN.

Tổng quan về nghiên cứu liên kết Viện-Trường trên thế giới và trong nước để

có được cái nhìn tổng thể, rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu phát triển.

1.1. Nghiên cứu liên kết giữa các Trường Đại học với các Viện nghiên cứu

ở nước ngoài

Hoạt động liên kết Viện-Trường là một lĩnh vực hoạt động xã hội rất rộng, liên quan đến lý luận về tổ chức, cơ chế hoạt động, quản lý và điều hành quá trình hoạt động của quan hệ liên kết, đến chính sách hỗ trợ và thúc đẩy các mối quan hệ liên kết này phát triển và duy trì bền vững đối với liên kết nội bộ trong mỗi đơn vị, liên kết trong nước và liên kết quốc tế.

6

Tổng quan về liên kết Viện-Trường sẽ tiến hành với quan điểm hệ thống, toàn diện và theo các hướng căn bản sau: (1) Vai trò, vị trí của quan hệ liên kết Viện- Trường; (2) Những nghiên cứu liên quan đến bản chất của xây dựng và hoạt động liên kết Viện-Trường; (3) Nghiên cứu về vai trò, chính sách thúc đẩy liên kết Viện- Trường của Nhà nước; (4) Một số trường hợp liên kết cụ thể của các tổ chức, doanh nghiệp.

1.1.1. Những nghiên cứu về vai trò, vị trí của liên kết Viện-Trường

Nguồn lực của một quốc gia, một tổ chức luôn luôn là hữu hạn, bị hạn chế trong thực hiện các mục tiêu KT-XH và KH&CN. Trong khi đó, liên kết Viện- Trường là sự hình thành một tổ chức chung của hai hay nhiều tổ chức thành viên tham gia với sự đóng góp một tỷ lệ nguồn lực và chia sẻ trách nhiệm theo thỏa thuận để thực hiện các nhiệm vụ chung, phục vụ lợi ích của các bên [57, 65].

Trong các tài liệu trên, nhiều lý luận và kinh nghiệm về liên kết Viện-Trường được tổng kết và hệ thống hóa. Đặc biệt các tài liệu này đã xem xét các liên kết và quan hệ đối tác trong bối cảnh của chuỗi giá trị; xem xét các khái niệm về hợp tác công bằng và hợp tác không công bằng, là hai loại chính của liên kết. Ngoài ra, trong các tài liệu này, vấn đề về các quy định quốc gia và quốc tế và những vấn đề về thành lập, quản lý rủi ro,… được xác định là những vấn đề có thể ảnh hưởng đến việc hình thành và thực hiện các liên kết và được trình bày một cách chi tiết.

Người ta ngày càng nhận ra tầm quan trọng của việc liên kết trong nghiên cứu và đào tạo vì qua đó, nhà khoa học có thể sử dụng kiến thức và những nguồn lực của đơn vị khác một cách có hiệu quả [74]. Để làm rõ tại sao lại phải liên kết Viện- Trường, tác giả HU Feng đã chỉ ra rằng các trường đại học rất khác với các viện nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ. Nhiều nghiên cứu khoa học và đổi mới đều xẩy ra tại trường đại học, từ đó có thể chuyển hóa thành sản phẩm để sử dụng trong sản xuất và đời sống xã hội thông qua quan hệ liên kết Viện-Trường. Với ý nghĩa đó, Trung Quốc đã tích cực thúc đẩy sự liên kết, hợp tác giữa các trường đại học, các viện nghiên cứu và các ngành công nghiệp nhằm đẩy mạnh sự phát triển của KH&CN [58].

Về vai trò của liên kết Viện-Trường, tác giả Paul A. Agrenti đã khẳng định rằng trong liên kết Viện-Trường, nguồn lực của các thành viên được tích hợp một cách hài hòa; sự tích hợp tạo nên sức mạnh vượt trội so với tổng của các sức mạnh thành phần [47].

7

R&D là hoạt động chủ yếu để phát triển KH&CN và trực tiếp đổi mới công nghệ doanh nghiệp. Liên kết là phương thức hoạt động quan trọng trong R&D, qua đó tận dụng được sức mạnh của các dạng nguồn lực. Trên thực tế, hoạt động liên kết có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực cho sự phát triển của nhiều lĩnh vực. Trong ngành công nghiệp, liên kết là nhân tố phát huy mạnh mẽ việc phát triển nghiên cứu R&D, thúc đẩy đổi mới công nghệ. Một nghiên cứu năm 2011 của Đại học McGill cho biết, đã đề xuất một tầm nhìn mới cho quan hệ đối tác ngành công nghiệp-trường đại học, có thể phục vụ như là một mô hình quốc gia để thúc đẩy nghiên cứu của Canada và đã thành công. Quan hệ đối tác này lấp đầy cái gọi là “thung lũng chết” của NCKH và PTCN, của việc đưa tiến bộ KH&CN vào thực tiễn và của sự đổi mới, đồng thời đưa ra những giải pháp để các tổ chức khác nhau có thể làm việc cùng nhau và cùng ngành công nghiệp, phục vụ cho lợi ích của mỗi tổ chức đó và của quốc gia [83].

Ngày nay, đổi mới đang là một định hướng và phương thức phát triển trong mọi lĩnh vực. Đổi mới và liên kết là có mối quan hệ chặt chẽ. Liên kết vừa là công cụ và phương thức quan trọng để đổi mới vừa là đối tượng của đổi mới. Tác giả K. Ramanathan đã khẳng định, các viện nghiên cứu và các trường đại học là động lực thúc đẩy đổi mới và CGCN, đồng thời ông cũng đề cập đến vấn đề xây dựng quan hệ đối tác Viện-Trường để CGCN và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, nhấn mạnh vai trò của HTĐMQG trong việc thúc đẩy và tạo ra các mối liên kết Viện-Trường và liên kết quốc tế [99]. Ngoài ra K. Ramanathan (2012) còn nghiên cứu về cấu trúc của HTĐMQG trong mối liên hệ với liên kết và quan hệ đối tác giữa các viện nghiên cứu, các trường đại học và các doanh nghiệp vừa và nhỏ [63]. Tác giả Adam Holbrook, trong bài “Đổi mới trong hệ thống: Áp dụng đối với khoa học, công nghệ và chính sách đổi mới” đã trình bày về vấn đề đổi mới trong khoa học, công nghệ và liên quan đến những đổi mới này là chính sách của Nhà nước và nhấn mạnh rằng trong HTĐMQG các tổ chức hàn lâm (viện nghiên cứu và các trường đại học), các doanh nghiệp và Nhà nước và mối quan hệ cộng tác, liên kết của các tổ chức này tạo thành một hệ thống hữu cơ, bổ trợ cho nhau trong thực thi những định hướng đổi mới quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn đến KT-XH của Nhà nước. Trong HTĐMQG, Nhà nước cần phải đảm bảo môi trường pháp lý, KT-XH và xây dựng một hệ thống chính sách và cơ chế thích hợp để đổi mới và liên kết phát triển bền vững [45].

Nhiều tác giả đã chú ý đến vai trò của liên kết trong phát triển R&D, đưa

8

nhanh kết quả nghiên cứu vào SXKD cũng như phát triển trí thức mới. Tác giả Zita P. Corria đã trình bày quá trình chuẩn bị điều kiện để phát triển một tổ chức liên kết trong một tổ chức kỹ thuật R&D. Kết quả của một cuộc khảo sát trực tuyến đã làm rõ các yêu cầu cơ bản đối với nhiệm vụ phát triển cơ sở hạ tầng và các công cụ cho tổ chức cộng tác loại này [52]. Một tiểu ban của nhóm làm việc đặc biệt về hoạt động liên kết dài hạn theo thỏa thuận của New Zealand (2008) đã có một báo cáo về “Cộng tác trong nghiên cứu và phát triển đối với công nghệ hiện có, công nghệ mới và công nghệ đổi mới, bao gồm cả các giải pháp cùng thắng” đã chỉ rõ môi trường được phép áp dụng là môi trường thế nào; chỉ rõ nội dung hoạt động liên kết R&D đối với công nghệ hiện đại, mới và đổi mới cũng như vai trò của cơ quan hữu quan trong việc thúc đẩy các quan hệ hợp tác R&D này [67]. Cũng về liên kết trong hoạt động R&D, tác giả Ilkka Vaananen đã bàn đến sự phát triển các mô hình đối với việc nghiên cứu, tích hợp R&D trong tạo ra tri thức mới [107]. Trong bài “Intel Labs europe” đã cho thấy một mạng các phòng thí nghiệm R&D của Intel trên toàn Châu Âu được liên kết lại nhằm nắm bắt những yêu cầu, đặc điểm khách hàng của từng nước, từng khu vực để hoạt động R&D đáp ứng không những yêu cầu về phát triển sản phẩm mới, nâng cao chất lượng và đổi mới sản phẩm mà còn tạo nên một sức mạnh mới cho Intel trong việc kết hợp hoạt động của mạng các phòng thí nghiệm đó. Điều này cũng thể hiện rõ vai trò quan trọng của liên kết trong việc tạo ra sản phẩm mới, đổi mới sản phẩm để đáp ứng ứng nhu cầu của khách hàng tại mỗi nước [2].

Trong lĩnh vực GD&ĐT, liên kết cho phép tận dụng các nguồn nhân lực, vật lực và tài chính để làm cho hoạt động GD&DT đạt được những kết quả tốt hơn, đồng thời cũng đảm bảo các kết quả nghiên cứu có chất lượng cao, tác động đến chính sách giáo dục, làm cho chính sách giáo dục và những vấn đề quản lý GD&ĐT có tính thực tiễn cao hơn [48]. Tác giả Susan K. Patterson, trong bài “Public School and University Partnership: Problems and Possibilities” đã đề cập đến quan hệ đối tác giữa các trường đại học và các trường trung học công, trong đó đã làm rõ những vấn đề đặt ra cần giải quyết cũng như những khả năng cho việc thiết lập và quản lý, điều hành hiệu quả mối quan hệ này [96]. Viện Meiji Institute of advanced Study of Mathematic Science, với công trình “Education & Research Exhanges” (2003), đã dựa trên mô hình hóa và phân tích một phần mạng toàn cầu để xác định các điều kiện và tham số cho tăng cường công tác đào tạo và thúc đẩy NCKH theo phương thức hợp tác [85]. Tác giả Elizabeth l. Hale, trong “Preparing school principles: A

9

national perspective on policy and program innovative” (2003), cho rằng để bước vào thế kỷ 21, đối với ngành giáo dục đòi hỏi phải khắc phục nhiều yếu tố thể hiện sự yếu kém trước đây bằng việc chuẩn bị các yếu tố cho đổi mới trong lãnh đạo các nhà trường thông qua các chính sách của Nhà nước và để làm tốt điều này thì phải xây dựng quan hệ đối tác giữa nhà trường với các lĩnh vực khác và cuối cùng cần có sự quan tâm và hỗ trợ của Nhà nước [62].

Trên phạm vi quốc tế, liên kết là phương thức để các nước có thể tận dụng sức mạnh của nhau, phổ biến kiến thức công nghệ và CGCN để góp phần làm cho kinh tế phát triển. Tổ chức APEC, năm 1998 đã đưa ra một kịch bản về liên kết của ngành công nghiệp về KH&CN trong thể kỷ 21, trong đó đã nêu tầm nhìn, những nguyên tắc của việc xây dựng quan hệ liên kết và hoạt động nghiên cứu trong liên kết; cơ chế hoạt động liên kết trong tiếp cận thông tin, phát triển nguồn nhân lực, cải thiện bầu không khí làm việc, tăng cường đối thoại chính sách và quan điểm; tạo thuận lợi cho hoạt động của mạng và quan hệ đối tác [46]. Vấn đề liên kết quốc tế cũng đã được nhiều tác giả khác quan tâm nghiên cứu. Tác giả Magnus Korlson, với “The Internationalization of corporation R&D” cho biết, xu hướng hiện đại chỉ ra rằng các tập đoàn đa quốc gia đang xây dựng các mạng R&D phân bố (IBM, Microsoft, Ericsson,.) và do đó việc quản lý hoạt động của các cơ sở này gặp nhiều trở ngại. Nghiên cứu để hoàn thiện tổ chức và cơ chế điều hành các hoạt động này trên cơ sở liên kết là một vấn đề rất được quan tâm [69]. Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 12 về cấu trúc khái niệm, tác giả Aldo de Moor với bài “Improve the Testbed development process in collabortories” (2004), đã trình bày vấn đề cộng tác trong việc tạo ra môi trường của sự liên kết, để đảm bảo một môi trường cho phép các nhà khoa học sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả hơn [86]. Các tác giả Stuart Macdonal và Tom Chrisp, trong bài “Nhận thức rõ mục đích của quan hệ đối tác” cho biết, một công ty dược phẩm của Anh đã thiết lập quan hệ đối tác với tổ chức từ thiện quốc gia, qua đó xây dựng quan hệ với công chúng và để hoàn thiện việc sản xuất thuốc. Nhưng do nhận thức về mục đích của quan hệ đối tác là chưa đầy đủ, chưa gắn nhiệm vụ với mục đích của quan hệ đối tác này nên nhiều lợi ích của cả cá nhân, xã hội và của công ty đã bị bỏ qua [80].

Trong một nỗ lực làm rõ vai trò của liên kết quốc tế đối với đối với việc phổ biến công nghệ trên phạm vi rộng lớn, tác giả Sorin M.S. Krammer (2009) trong bài “Liên minh quốc tế và phổ biến công nghệ” đã tiến hành phân tích ngành công nghệ toàn cầu. Qua đó, đã đánh giá các yếu tố quyết định các hiệp định công nghệ quốc

10

tế trong ngành công nghiệp toàn cầu giai đoạn 1985-1996. Nghiên cứu này đã đưa ra các số liệu về việc thành lập, CGCN và hoạt động liên kết trong ngành công nghiệp. Nghiên cứu cũng cho thấy các thành phần tham gia liên kết trong công nghiệp và trong lĩnh vực sản xuất, sự kết hợp kinh nghiệm của họ về liên kết, sự gắn bó chính thức đang tồn tại đã khuyến khích CGCN. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra những khác biệt trong bảo vệ quyền SHTT, trong sự dân chủ về chính trị và sự khác nhau trong chuẩn mực lao động giữa bên nhận và bên giao và cho thấy là những khác biệt này có tác động không tốt lên tỷ lệ các hợp đồng trong khi các rào cản thương mại lại làm tăng tỷ lệ này [73]. Cũng với mục đích phổ biến kiến thức và kinh nghiệm về xây dựng, điều hành hoạt động liên kết, tác giả K. Pavitt trong “Public policies to support basic research: What can the rest of the World learn from US theory and practice”, đã trình bày mô hình lý thuyết hỗ trợ công đối với nghiên cứu cơ bản được phát triển ở Mỹ vào cuối những năm 50. Mô hình đã giúp rất nhiều cho kinh nghiệm thực tiễn và hoạch định chính sách về liên kết. Tác giả cũng trình bày những khó khăn, thách thức trong việc hoạch định chính sách nhà nước đối với vấn đề này, nhưng khẳng định, những kinh nghiệm của Mỹ và các nước Bắc Âu là những bài học quý cho những ai quan tâm [97].

Ngày nay, xây dựng quan hệ liên kết, đối tác đã là một lĩnh vực chiến lược quan trọng của các nước, qua đó định hướng hoạt động liên kết cho tất cả các viện nghiên cứu, trường đại học và lĩnh vực SXKD, đồng thời cũng định hướng cho việc hoạch định chính sách quốc gia và quốc tế. Tháng 10 năm 2003, Tổ chức SHTT thế giới (WIPO), với sự tài trợ của Quỹ Nhật Bản-In-Trust, đưa một loạt các nghiên cứu quốc gia trong bảy quốc gia châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc, Singapore và Thái Lan) về "Phát triển quan hệ đối tác trường Đại học- Ngành Công nghiệp nhằm thúc đẩy đổi mới và chuyển giao công nghệ". Mục tiêu là tìm hiểu sự phát triển hiện tại trong lĩnh vực này ở mỗi nước. Thông qua các báo cáo quốc gia này, người ta tổng kết và rút ra kết luận chung về các yếu tố chứng minh là quan trọng trong việc tăng cường quan hệ liên kết trường đại học-ngành công nghiệp. Cuối cùng, những kinh nghiệm đã rút ra sẽ được sử dụng để phục vụ cho việc hoạch định chính sách để phát triển quan hệ liên kết trường đại học-ngành công nghiệp nhằm thúc đẩy đổi mới và CGCN [111].

Qua khảo sát một số công trình nghiên cứu được công bố trên đây, có thể khẳng định, quan hệ liên kết, đối tác đã thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực hoạt động nghiên cứu, sản xuất, đào tạo trong phạm vi mỗi quốc gia và cả trên phạm vi

11

quốc tế. Các nghiên cứu đều khẳng định vai trò quan trọng của liên kết trong việc khắc phục sự thiếu thốn hay yếu kém về nguồn lực như nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực; khẳng định sự thành công trong nhiều lĩnh vực như SXKD, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu R&D, CGCN trong phạm vi các doanh nghiệp, quốc gia và quốc tế; khẳng định rằng chính liên kết đã cho phép sử dụng và phát huy các nguồn lực của các đối tác một cách có hiệu quả hơn. Đồng thời, qua nghiên cứu cũng cho thấy, liên kết còn có vai trò to lớn trong HTĐMQG và là một phương thức quan trọng trong thực hiện đổi mới của mỗi nước. Mặt khác, qua nghiên cứu cũng khẳng định, để liên kết thành công, vai trò của Nhà nước và chính quyền các cấp trong việc tạo ra môi trường pháp lý, KT-XH và hỗ trợ cho liên kết là có tính quyết định đến sự thành công của hoạt động liên kết.

1.1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến quan hệ liên

kết, đối tác Viện-Trường

1.1.2.1. Những nghiên cứu về đối tác và nội dung liên kết

Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, trong đó tài liệu “Business and Service, Allance & Parnership”-Web CSEM-2013 đã trình bày mục tiêu, đặc điểm của quan hệ liên kết của các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học và các đối tác công nghiệp; làm rõ các đặc điểm về nội dung và mục tiêu của từng loại quan hệ đối tác; trình bày các sáng kiến quốc gia và các sáng kiến của liên minh Châu Âu như những thí dụ điển hình về quan hệ đối tác giữa các trường đại học và các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp [65].

1.1.2.2. Những nghiên cứu về tổ chức và mô hình liên kết

Tổ chức và mô hình liên kết là những nội dung nền tảng, là xương sống của mọi quan hệ liên kết, trên cơ sở đó, các hoạt động liên kết diễn ra. Cơ cấu tổ chức và mô hình thực tế thực hiện liên kết do đó được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu phát triển. Tác giả Jonathon N. Cummings, trong bài “Collaborative Research Across Disciplinary and organizational Boundaries” coi khái niệm về khoa học và kỹ thuật bao hàm sự cộng tác liên bộ môn và đôi khi phải liên kết nhiều tổ chức. Bài báo cũng trình bày những vấn đề thuộc về điều hành mối quan hệ liên kết này; chỉ ra phương thức điều hành để đạt hiệu quả cao. Để có cách tiếp cận đúng đắn khi xây dựng một quan hệ đối tác, người ta cũng cần xác định dạng thức của các quan hệ đối tác [53]. Về khía cạnh này, tác giả Rob Kling trong “Scientiffic Collaboratories as Socio-Technical Interaction Netwworks” khi xem xét cách tiếp

12

cận đã coi các tổ chức liên kết như một mạng tích hợp xã hội-kỹ thuật và đưa ra một mô hình thực hiện mô hình hóa mạng tương tác xã hội-kỹ thuật, giúp hoàn chỉnh hơn sự hiểu biết về các điều kiện và các hoạt động nâng cao tính bền vững của mạng [71]. Tác giả Thomas A. Finholt trong “Collaboratories as a new form of scientific organization” cũng coi các tổ chức liên kết như một tổ chức khoa học mới [59]. Tác giả Yarime Masaru trong “Institutionalizing Substanability Innovation” coi các trường đại học như nền tảng để liên kết [81].

Cùng với việc xác định quan hệ liên kết như những tổ chức hay mạng các tổ chức khoa học, các nhà khoa học còn đi sâu nghiên cứu và phát triển về các mô hình liên kết cho việc thực hiện các nhiệm vụ liên kết cụ thể. Tác giả Ilkka Waanamen, trong “Development of Models for R&D intergrated learning in knowledge production” đã nghiên cứu phát triển các mô hình liên kết trong hoạt động R&D sản sinh ra tri thức [107]. Cũng với quan điểm rằng mạng các quan hệ liên kết là một mạng tích hợp xã hội-kỹ thuật, tác giả Brian Wixted với bài “The Structures, Purpose and Funding of Academic Research Network” đã đặt ra nhiệm vụ đánh giá về cấu trúc và chức năng của các mạng nghiên cứu hàn lâm ở các lĩnh vực có liên quan (quản lý, kinh tế,…) ở một số nước như Úc, Châu Âu, Mỹ,… [110], còn tác giả Mark Lundy với công trình “Learning alliance with development partners. A framework for outscaling research outputs” đã trình bày những kiến thức cơ bản về quan hệ liên kết giữa các nhà nghiên cứu R&D trong một liên minh nghiên cứu với các đối tác khác; chỉ ra những mô hình khác nhau của sự liên kết nhằm làm tăng giá trị cho đào tạo và nghiên cứu [78]. Tác giả Richard J. Masika trong “Collaboration Models in Training of Engineering personnel” (2010) đã trình bày các mô hình liên kết đào tạo cán bộ kỹ thuật ở đại học [82], trong khi James A. Severson với bài “Models of University-Industry Cooperation”, (2004) lại đưa ra mô hình kết nối văn hóa giữa trường đại học và ngành công nghiệp trong liên kết theo định hướng thương mại hóa các công nghệ mới, công nghệ hữu ích và trình bày các phương pháp CGCN giữa trường đại học và ngành công nghiệp; trình bày đạo luật nổi tiếng và được vận dụng nhiều về vấn đề này là đạo luật Bayh-Dole của Mỹ cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ đối tác giữa trường đại học và ngành công nghiệp [101]. Cuối cùng, phải kể đến công trình của Paula Allen Meares và đồng nghiệp, trong công trình “Using Collaboratory Model to Translate Social work Research into practice and Policy” (2009) đã đánh giá 10 dự án cộng tác về trẻ em và thanh niên, áp dụng các nguyên tắc của quan hệ liên kết trong

13

nghiên cứu cùng các giải pháp kỹ thuật tương ứng [84].

1.1.2.3. Nghiên cứu về liên kết ảo

Với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống máy tính, truyền thông kỹ thuật số và công nghệ lập trình, làm việc trong không gian ảo là một thế mạnh của thời đại kỹ thuật số. Nhiều nhà khoa học và các tổ chức nhà nước, tư nhân đã dành nhiều công sức và trí tuệ để xây dựng và nghiên cứu về không gian ảo và liên kết ảo. Tác giả Zita P.Corria trong “Building a Collaboratory in an engineering R&D organization” đã nghiên cứu và trình bày các kết quả đạt được cho đến nay trong quá trình chuẩn bị điều kiện để phát triển một tổ chức cộng tác trong một tổ chức R&D kỹ thuật. Kết quả của việc khảo sát trực tuyến đã làm rõ các yêu cầu cơ bản đối với nhiệm vụ phát triển cơ sở hạ tầng và các công cụ cho tổ chức cộng tác [52]. Tác giả Gary M. Olsson trong bài “Collaboratory in Internet” cũng đã chỉ ra những thuận lợi và khó khăn cần phải giải quyết khi xây dựng và sử dụng quan hệ cộng tác trên internet; trình bày xu hướng phát triển của lĩnh vực này [94].

1.1.2.4. Liên kết quốc tế

Nghiên cứu về liên kết quốc tế là một xu hướng ngày càng có nhu cầu lớn và việc nghiên cứu về quan hệ liên kết quốc tế ngày càng quan trọng. Tác giả Jiatao Li trong bài “Global R&D Alliances in China: Collaborations with Universities and Research Institutes” đã nghiên cứu để xác định xem trong hợp tác quốc tế, các doanh nghiệp, các viện nghiên cứu và các trường đại học nước ngoài thường lựa chọn đơn vị khoa học nào để liên kết và chỉ rõ, các trường đại học và sau đó là các viện nghiên cứu thường là đối tượng được lựa chọn [75]. Tác giả Bary Moris trong bài “Internationalizing the University: Theory, practices, orgaization and Execution” lại nghiên cứu về việc quốc tế hóa trường đại học trên bình diện chung nhất. Trong đó chú ý làm rõ những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc quốc tế hóa trường đại học; những biện pháp chủ yếu cho sự thành công; những hoạt động cần thiết cơ bản để nâng cao hiệu quả của việc quốc tế hóa này; vấn đề lập kế hoạch chiến lược cho việc quốc tế hóa; kiến thức, kỹ năng và thái độ cơ bản trong quốc tế hóa trường đại học; sự tương tác giữa quốc tế hóa và chủ nghĩa đa văn hóa; các mô hình quốc tế hóa thường gặp; những thách thức và cơ hội xung quanh việc nghiên cứu các chương trình nước ngoài và cuối cùng đã tổng quan về các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực này của Mỹ [87]. Trong khi đó, tác giả Aileen Kennedy trong bài “Strategic Partnerships and the Internationalization process of Software SMEs” lại nghiên cứu

14

về đối tác chiến lược và quá trình quốc tế hóa các doanh nghiệp phần mềm vừa và nhỏ; chỉ rõ những động cơ của họ khi tham gia vào quan hệ đối tác chiến lược như là một phần của quá trình quốc tế hóa; chỉ rõ những lợi ích cốt lõi có thể đạt được và những thách thức cơ bản phải đối mặt trong quan hệ đối tác này [70].

1.1.2.5. Nghiên cứu liên quan đến hoàn thiện quan hệ đối tác, cộng tác

Xây dựng quan hệ đối tác và điều hành quá trình hoạt động của nó sao cho có hiệu quả và bền vững là một quá trình phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Vì vậy nghiên cứu để hoàn thiện lý luận và phương pháp luận cũng như những kinh nghiệm thực tiễn là việc được nhiều tác giả quan tâm. Trong “Cooperation on Research and Development of Curent, new and innovative technologies, including win-win solutions”, tiểu ban của nhóm công tác đặc biệt về hoạt động liên kết đã đưa ra những nguyên tắc trong xây dựng và thực hiện quan hệ liên kết và hướng dẫn, có tác động tích cực và lâu dài [67].

Để có thể hoàn thiện quan hệ liên kết trong hoạt động thực tiễn, tác giả Jeffrey H. Dyer và đồng nghiệp trong bài “Determinants of success in R&D Alliance” đã nghiên cứu về các yếu tố quyết định của sự thành công trong quan hệ liên kết và chỉ rõ, để thành công thì cần đảm bảo một loạt các yếu tố thuộc cơ cấu tổ chức, lãnh đạo, sự quan tâm và hỗ trợ của chính phủ cũng như duy trì sự trao đổi thường xuyên [56]. Tác giả Kazuyuki Motohashi, trong bài “Fostering University-Industry Relation” đã tập trung vào việc đổi mới trong liên kết với việc quản lý CGCN; nghiên cứu các xu hướng đổi mới mở, trong đó đi sâu vào trường hợp của Nhật Bản về cộng tác R&D; nhấn mạnh vấn đề hiểu biết rõ về động lực của các doanh nghiệp đối với việc thiết lập liên kết với các trường và viện nghiên cứu,… [88]. Tác giả Toshiya Watanabe, khi nghiên cứu về “Liên kết Trường đại học-Ngành công nghiệp: Tác động của chuyển giao các sáng chế độc quyền và nhượng quyền sử dụng đến hoạt động liên kết” đã làm tổng quan về liên kết nghiên cứu giữa đại học và ngành công nghiệp ở Nhật Bản, tập trung vào việc quản lý chuyển giao các sáng chế độc quyền và nhượng quyền sử dụng do các trường đại học tiến hành. Thống kê chứng tỏ rằng liên kết nghiên cứu bị tác động lớn bởi sự quản lý các sáng chế độc quyền của các trường đại học. Các sáng chế độc quyền và việc chuyển nhượng có tác động tốt đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng ít tác động đến các tập đoàn kinh tế lớn [109].

Các yếu tố thuộc CGCN và SHTT có tác động mạnh mẽ đến quan hệ đối tác

15

Viện-Trường-Doanh nghiệp. Nghiên cứu làm rõ những ảnh hưởng từ hai khía cạnh này có ý nghĩa thực tiễn cao trong thời đại ngày nay. Cơ quan về Quyền SHTT thế giới (WIPO), năm 2007 đã xuất bản tài liệu về “Quyền SHTT và quan hệ đối tác giữa các trường đại học và ngành công nghiệp: Kinh nghiệm từ Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc, Singapore và Thái Lan” trong đó đã nhấn mạnh rằng SHTT là yếu tố có ảnh hưởng lớn và quyết định đến thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu; chính sách của Chính phủ là môi trường gắn kết các trường đại học và ngành công nghiệp để thực hiện CGCN. Đồng thời đã tập trung phân tích kỹ các quan hệ liên kết giữa trường đại học và ngành công nghiệp trong mối quan tâm đến CGCN ở Châu Á nhằm rút ra những kinh nghiệm và bài học cho tương lai [68]. Cũng đề cập đến vấn đề SHTT, tác giả Toshiya wantanabe trong bài “Management of Academic intellectual assets” đã đánh giá tầm quan trọng của SHTT như là những yếu tố tác động đến đổi mới công nghệ và phát triển kinh tế, trong đó quản trị quyền SHTT được đánh giá như một điều kiện quan trọng để đảm bảo cho liên kết thành công và thúc đẩy CGCN [108].

Nghiên cứu chi tiết hơn về các yếu tố giúp cho việc duy trì bền vững quan hệ đối tác Viện-Trường, tác giả James J. Cassey trong “Long-Term Univerrsity- Indusstry collaborations” đã trình bày một số dự án cộng tác điển hình giữa trường đại học và ngành công nghiệp, đồng thời đưa ra những nguyên tắc cho sự thắng lợi: Kết hợp nhiệm vụ với nhu cầu; sự đam mê và hoàn thiện kỹ thuật, kỹ năng; tránh sao nhãng, thiếu quan tâm thường xuyên và phải tìm mọi cách theo đuổi hợp tác quốc tế nếu có thể [50]. Tác giả Julio A. Perturé, với bài “Best practices for University-Industry collaboration” đã nghiên cứu các khía cạnh của quan hệ liên kết Trường đại học-Ngành công nghiệp, qua đó đề xuất và thảo luận những vấn đề quan trọng tác động đến quan hệ đối tác như: Những mục tiêu tìm kiếm, những vấn đề nghiên cứu cũng như đề cập đến mối quan hệ quan trọng giữa Nhà nước, Trường đại học và ngành công nghiệp đối với sự phát triển KT-XH và KH&CN [98].

Kỹ năng tổ chức điều hành hoạt động liên kết đòi hỏi có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và biết kết hợp lý luận với kinh nghiệm. Trong hoạt động của mình, cơ quan NASA của Mỹ với “Collaboration Handbook” và tác giả Flo Frank với “The Partnership handbook” đã rút ra kinh nghiệm từ việc điều hành thực tiễn và tổng hợp các lý luận và phương pháp luận trong việc xây dựng và điều hành hoạt động liên kết và trình bày một hướng dẫn có tính chất kỹ năng trong xây dựng và điều hành liên kết có giá trị thực tiễn cao [92, 60].

16

Từ một giác độ khác, nghiên cứu hoạt động liên kết của các doanh nghiệp giúp cho trường đại học, viện nghiên cứu hiểu về doanh nghiệp và do đó có cách tiếp cận đúng hơn trong liên kết với doanh nghiệp. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này, trong đó tác giả John Hagedoora trong bài “Strategic Research partnership: Inter-firm R&D Partnership: An overview of major trends and Paterns Since 1960” đã giải thích rõ về quan hệ liên kết R&D giữa các doanh nghiệp và chỉ rõ các hình mẫu trong các quan hệ đối tác này [61]. Tác giả F.Vincent và S.Wu trong bài “An Empirical Study of Univerrsity-Industry research cooperation-The case of Taiwan” cho thấy Đài Loan khuyến khích hợp tác nghiên cứu Viện-Trường, coi đây là biện pháp chính để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế, đổi mới công nghệ doanh nghiệp, hoàn thiện và đổi mới sản phẩm, tăng cường khả năng cạnh tranh và thu hút các nhà khoa học từ nước ngoài đến làm việc. Nghiên cứu cũng chỉ ra những nguyên nhân cụ thể dẫn đến việc thúc đẩy hợp tác Viện-Trường từ phía ngành công nghiệp và từ phía trường đại học. Một số trường hợp cụ thể về liên kết đại học-công nghiệp đã được xem xét. Lý luận và thực tiễn của Đài Loan có thể đi đến kết luận rằng, liên kết đại học-công nghiệp có tầm quan trọng rất lớn, song vẫn còn là vấn đề mới đối với Đài Loan, đòi hỏi cả các cơ quan Nhà nước, các trường đại học và ngành công nghiệp đều phải quan tâm nghiên cứu về quan hệ liên kết này [106].

1.1.3. Những nghiên cứu liên quan đến cơ chế chính sách của Nhà nước

đối với liên kết Viện-Trường

Trong HTĐMQG, liên kết viện-trường-doanh nghiệp là những mắt xích chủ chốt, trong đó Nhà nước tạo ra môi trường cho đổi mới và liên kết. Vì vậy, để liên kết và các quan hệ đối tác phát triển bền vững, nghiên cứu về vai trò của Nhà nước, về cơ chế chính sách đối với đổi mới và liên kết có ý nghĩa quan trọng và được Nhà nước, các nhà khoa học quan tâm. Một trong các công trình như vậy là “Tổng quan về cộng tác bền chặt hơn giữa các trường đại học và các cơ quan nghiên cứu công lập chủ yếu” [54] của Chính phủ Úc. Theo quan điểm của Tổng quan này thì chính là thông qua việc thúc đẩy liên kết mà Đổi mới trong hoạt động NCKH có thể đạt được một cách tốt nhất. Thông qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn, bản tổng quan đã đưa ra nhiều khuyến nghị về chính sách của Nhà nước. Đó là:

- Tư vấn chiến lược cho Chính phủ về nỗ lực và đầu tư vốn vào nghiên cứu ở

những nơi có thể mang lại lợi nhuận hay lợi ích lớn nhất;

17

- Chỉ rõ những lĩnh vực hay công nghệ nổi trội trong nước và quốc tế và thay đổi cách thức cấp vốn để tập hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nghiên cứu nhằm sáng tạo ra những công việc và mục tiêu cần thiết;

- Đảm bảo các phương tiện nghiên cứu và cơ sở hạ tầng một cách có hệ thống

hơn thông qua việc khuyến khích và mở rộng liên kết vùng.

Một công trình nghiên cứu khác của Canada là “University-Industry partnership: An emerging model efficiently supporting and enhencing participation in R&D in Canada” thực hiện năm 2011 về các quan hệ đối tác Trường đại học-Ngành công nghiệp, tập trung vào vai trò và chính sách thúc đẩy liên kết và đã cho rằng sự hợp tác của các trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp là chìa khóa trong việc Canada cạnh tranh tốt hơn trong tương lai. Ngoài ra, chính phủ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng cường tác động tới hoạt động R&D thông qua cung cấp kinh phí cho R&D và mua sản phẩm. Ngoài ra, bài báo còn đề xuất một tầm nhìn mới cho quan hệ đối tác ngành công nghiệp-trường đại học, có thể phục vụ như là một mô hình quốc gia để thúc đẩy nghiên cứu.

Quan tâm đến chính sách của Nhà nước về liên kết ĐT-NCKH-SXKD và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, tác giả Hongryel Felix Choi-Korea với bài “Support mechanism for commercialization of public R&D outputs in Korea” [51] và Sun Slusareck trong bài “Collaborations between Universities and Industry based on Experience of the Silesian University of Technology” [103] đã đề cập đến việc lồng ghép các cơ chế chính sách của nhà nước về liên kết giữa nhà nước, doanh nghiệp và trường đại học trong các chương trình thuộc chiến lược tăng trưởng kinh tế, trong đó cả nội dung thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, thực hiện R&D hay xây dựng quan hệ liên kết Viện-Trường-SXKD có tính chất lâu dài.

Tác giả của công trình nghiên cứu “The Funding and Development of Community university research partnerships in Canada” về đầu tư và phát triển các quan hệ đối tác của các trường dựa trên cộng đồng tại Canada đã đề xuất một hệ thống các giải pháp liên quan đến chính sách của nhà nước, các trường đại học nhằm phát triển các quan hệ liên kết và duy trì hoạt động của các quan hệ liên kết này một cách có hiệu quả [93].

Do tầm quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng thể hiện rõ và do những đặc điểm riêng của loại doanh nghiệp này, việc liên kết với các viện nghiên cứu và trường đại học để đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất

18

lượng sản phẩm có ý nghĩa to lớn. Quan tâm đến vấn đề chính sách của Nhà nước đối với nội dung này, tác giả Sun Jianxxin trong bài “Các công cụ chính sách thúc đẩy quan hệ liên kết giữa các thành phần đổi mới” đã giới thiệu về đổi mới công nghệ doanh nghiệp; trình bày khái niệm về đổi mới, các thành phần của hệ thống đổi mới quốc gia của Trung Quốc và nhấn mạnh chính sách của Nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt đến việc thiết lập và duy trì các quan hệ liên kết Viện-Trường một công cụ quan trọng để thực hiện các mục tiêu quốc gia [76].

Chính sách đổi với các quan hệ liên kết Trường đại học-Viện nghiên cứu- doanh nghiệp còn được các cơ quan của cộng đồng quốc tế quan tâm phát triển. Tháng 10 năm 2003, Tổ chức SHTT thế giới (WIPO), trong “Technology transfer, Intellectual property Rights and Universsity-Industry Partnerships: The Experiences of China, India,...” đã tiến hành xem xét, đánh giá lại hoạt động liên kết giữa trường đại học và ngành công nghiệp của các nước này; rút kinh nghiệm và đề ra đường lối, chính sách phát triển các quan hệ liên kết Trường đại học-Viện nghiên cứu- Ngành công nghiệp [111].

1.1.4. Một số nghiên cứu về những liên kết cụ thể của các tổ chức, doanh

nghiệp

Sau đây là một số thí dụ về áp dụng liên kết một cách có kết quả. Năm 2006, Viện CIMA (The Chartered Institute of Management Accountants) xây dựng quan hệ đối tác về đào tạo trình độ Cao học với Trường ESC Lille của Pháp-một trong những trường thương mại hàng đầu của Châu Âu, cho các thành viên của CIMA. Bài báo cũng cho biết, mối quan hệ liên kết này đã được phát triển và được mở rộng với các trường đại học khác trên thế giới. Đại học Công nghệ Cyprus giới thiệu về Conrsortium SmartEN ITN, nổi tiếng với các thành viên quan hệ đối tác là các tổ chức trong EU, trên thế giới và 9 nhà khoa học đến từ Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Công và Úc. Với tư cách là nhóm nghiên cứu hàn lâm, tổ chức này có 9 tổ chức thành viên thuộc 7 nước Châu Âu, điều hành 6 tổ chức thương mại [95].

Công trình nghiên cứu “Lồng ấp khởi nghiệp” (Stard-up Incubator) giới thiệu quan hệ liên kết của 4 phòng thí nghiệm Châu Âu, gồm: Commissariat à l' Energie Atomique (CEA-Pháp), Fraunhofer Verbund Mikroelektronik (FHG-Đức), le Centre Suisse d' Electronique et de Microtechnique SA (CSEM-Thụy Sĩ) và Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật của Phần Lan (Technical Research centre of Filand-VTT) dưới sự bảo trợ của một Thỏa thuận liên minh chung gọi là Liên minh Công nghệ

19

không đồng nhất (Heterogeneous Technology Alliance-HTA). Bốn phòng thí nghiệm này đặt tại Geneva-Thụy Sĩ để cung cấp các giá trị đặc biệt cho các công ty công nghiệp [66].

1.1.5. Một số vấn đề rút ra từ nghiên cứu liên kết Viện-Trường ở nước

ngoài

Liên kết Viện-Trường thể hiện qua các liên kết ĐT-NCKH-SXKD ở các nước phát triển đã được nghiên cứu, áp dụng và phát triển một cách hệ thống từ nhiều giác độ: Vai trò, vị trí của liên kết; nội dung, hình thức, các lĩnh vực liên kết, các mô hình liên kết, môi trường và ảnh hưởng của môi trường tổ chức, môi trường KT-XH; nghiên cứu liên kết trong hoạt động R&D, đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực liên kết đào tạo, nghiên cứu, sản xuất kinh doanh để thúc đẩy và phát triển liên kết nội bộ giữa các doanh nghiệp, giữa các viện nghiên cứu, giữa các trường và liên kết quốc tế. Kinh nghiệm, các hướng dẫn chi tiết về thủ tục và kỹ năng xây dựng và điều hành hoạt động liên kết cũng đã được nghiên cứu và rút ra thành các bài học. Nhờ đó, liên kết trên thế giới đã phát triển từ trong nội bộ các tổ chức viện, trường tới liên kết trong quốc gia và quốc tế. Nhiều nghiên cứu cho thấy liên kết đã giải quyết được nhiều nhiệm vụ KH&CN phức tạp, phát huy tốt nhất năng lực trí tuệ và vật chất của các thành viên liên kết và đã mang lại nhiều kết quả to lớn mà một đơn vị riêng lẻ khó có thể đạt được.

Một điểm cần lưu ý là liên kết ở các nước phát triển thường đề cập nhiều đến liên kết Trường đại học (hay các cơ quan hàn lâm) với ngành công nghiệp (doanh nghiệp) vì ở các nước đó các Viện nghiên cứu chủ yếu nằm trong các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp. Cơ quan nghiên cứu của nhà nước chủ yếu là nghiên cứu chính sách công. Trong khi ở Việt Nam, các viện nghiên cứu R&D và các trường đại học, cao đẳng lại chủ yếu là công lập. Đó là sự khác nhau rất quan trọng liên quan đến việc nghiên cứu về liên kết Viện-Trường ở Việt Nam, đòi hỏi có sự vận dụng sáng tạo những lý luận và phương pháp luận xây dựng và quản lý các quan hệ liên kết của nước ngoài vào việc xây dựng và quản lý quan hệ liên kết Viện-Trường của Việt Nam. Điều này cũng nói lên ý nghĩa thực tiễn của việc lựa chọn đề tài này.

1.2. Nghiên cứu liên kết Viện-Trường của Việt Nam và Quân đội

Từ nhiểu năm nay, Nhà nước đã chủ trương liên kết ĐT-NCKH-SXKD nhằm tăng cường năng lực phát triển và đổi mới của cả ba lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), Nghiên cứu khoa học và Sản xuất kinh doanh, phát huy trí tuệ và năng

20

lực sáng tạo của các tổ chức, cá nhân; đưa nhanh tiến bộ KH&CN vào thực tiễn sản xuất. Gần đây nhất, ngày 22 và 23 tháng 12/2010, Trung tâm thông tin Bộ KH&CN đã tổ chức Hội thảo về “Phương thức hợp tác giữa các tổ chức KH&CN, viện, trường đại học và doanh nghiệp để thúc đẩy đổi mới và CGCN” [43, 26] và nhiều hoạt động thực tiễn của các Bộ, ngành và các tổ chức KH&CN khác có liên quan là những minh chứng về chủ trương này.

Trên thực tế, các hình thức liên kết về đào tạo Đại học và sau Đại học giữa các trường và các viện đã được hình thành và đi vào cuộc sống, mang lại những kết quả nhất định. Số cán bộ của các viện tham gia đào tạo tại các trường cũng như thực hiện nhiệm vụ đào tạo tại cơ sở mình ngày một tăng và có chất lượng; những kiến thức nghiên cứu đã được đưa vào đào tạo kịp thời hơn. Mặt khác, một số nhiệm vụ nghiên cứu cũng đã có sự hợp tác giữa viện và trường. Những thành tựu này đặc biệt nổi trội ở ngành Y-Dược và Nông nghiệp.

Để thực hiện chủ trương liên kết của Nhà nước, ngay từ năm 2006, Bộ Nông nghiệp, nay là Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định số 98/2006/QĐ-BNN ngày 30 tháng 10 năm 2006 về Quy chế kết hợp giữa các Trường đại học và viện nghiên cứu thuộc Bộ trong đào tạo và NCKH. Sau ba năm theo dõi hoạt động liên kết, Bộ NN&PTNT đã tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm, xác định những bất cập trong khâu tổ chức thực hiện, điều hành và trong cơ chế chính sách để khắc phục và cuối cùng đã ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện mới nhằm đẩy nhanh hoạt động liên kết Viện-Trường trong Bộ.

Trong ngành Y tế, hoạt động liên kết trong đào tạo, nghiên cứu khoa học diễn ra thường xuyên giữa các Học viện, Đại học Y, Dược với các bệnh viện lớn như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, 103, Bệnh viện Y Thái Bình, các Công ty Dược Trung ương,... qua đó nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, quốc gia và khu vực đã được thực hiện thành công.

1.2.1. Một số nghiên cứu về liên kết Viện-Trường ở Việt nam

Điểm lại những nghiên cứu lý luận về liên kết Viện-Trường trong thời gian qua cho thấy, tuy liên kết là một chủ trương lớn và quan trọng, song hoạt động nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam còn rất hạn chế cả về số lượng và nội dung khoa học. Sau đây là một số tác giả đã đề cập đến vấn đề này.

- Tác giả Nguyễn Quốc Anh đã trình bày quan điểm của tác giả về vai trò của

21

hợp tác trong NCKH nhìn từ góc độ một nhà kinh tế học. Qua đó, tác giả đưa ra định hướng một số chính sách cần có để thúc đẩy hợp tác khoa học ở nước ta. Trong đó tác giả đã nhận định rằng song song với xu hướng chuyên môn hóa, xu hướng nghiên cứu xuyên ngành khoa học và khoa học hiện đại đang chuyển vận theo xu hướng hợp tác nghiên cứu giữa nhiều nhà khoa học. Những ngành nghiên cứu mang tính lý thuyết cũng dần theo xu hướng hợp tác. Bên cạnh đó, việc hợp tác giữa các nhà khoa học lý thuyết và thí nghiệm trở nên rất quan trọng; điều kiện quan trọng nhất thúc đẩy hợp tác khoa học lên tầm cao là sự tập trung đồng nghiệp hàng đầu trong ngành [1].

- Tác giả Nguyễn Xuân Long tiến hành khảo sát những nhân tố ảnh hưởng tới liên kết viện, trường với doanh nghiệp Việt Nam, đã chỉ ra rằng mối quan hệ liên kết giữa viện, trường với doanh nghiệp ở nước ta còn khá hạn chế, thiếu chặt chẽ do gặp phải nhiều trở ngại về hành chính và cơ chế tài chính. Bên cạnh đó, những chuyển giao, đổi mới về công nghệ thời gian qua còn dừng lại ở khâu tiếp nhận, vận hành chứ chưa tạo ra được mối quan hệ chặt chẽ giữa doanh nghiệp với các cơ quan NC&PT công nghệ. Tác giả cũng đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến liên kết viện, trường với doanh nghiệp của Việt Nam, trong đó có các yếu tố từ phía doanh nghiệp như: Nhu cầu liên kết của doanh nghiệp không cao; khả năng liên kết của doanh nghiệp với viện, trường hạn chế và hạn chế liên quan đến bảo mật của doanh nghiệp. Còn các ảnh hưởng tới liên kết từ phía viện, trường bao gồm: Nhu cầu và khả năng liên kết với doanh nghiệp của viện, trường không cao; hạn chế liên quan tới vấn đề hàng rào chức năng và phi chức năng. Tác giả cũng đề cập đến các ảnh hưởng từ phía Nhà nước, bao gồm: 1) Quan hệ bao cấp, bảo hộ bất hợp lý, nhiều đặc quyền… khiến viện, trường và doanh nghiệp không tích cực tìm đến nhau; các chính sách liên quan tới khuyến khích đổi mới công nghệ của Nhà nước còn tỏ ra thiếu hiệu quả. 2) Còn thiếu sự đảm bảo từ phía Nhà nước đối với việc thiết lập và duy trì quan hệ hợp tác về KH&CN. 3) Mức độ ưu tiên đối với liên kết viện, trường với doanh nghiệp của các chính quyền địa phương chưa cao. 4) Mặc dù đã có các chương trình tác động đến liên kết thông qua Nghị định số 119/1999/NĐ-CP; Quyết định số 54/1998/QĐ-TTg ngày 3/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình Kinh tế-Kỹ thuật,… nhưng các chính sách và văn bản này vẫn còn nhiều mặt hạn chế [27].

- Ngay cả trên các phương tiện thông tin đại chúng, các trang Website như http://www.baomoi.com; http://www.nhandan.com.vn;... đã phản ánh khá đầy đủ về

22

hoạt động liên kết của các viện, trường thuộc Bộ Y tế và Đại học Quốc gia Hà Nội và đề cập đến tầm quan trọng của liên kết viện-trường và doanh nghiệp [15, 16, 20].

- Tác giả Lê Thị Khánh Vân trong nghiên cứu tình hình liên kết giữa các viện nghiên cứu, các trường đại học và các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam, đã trình bày một cách tương đối có hệ thống thực trạng liên kết ở Việt Nam với những thành tựu đáng ghi nhận và những bất cập cần được quan tâm giải quyết tiếp, song do đây là một bài báo cáo trong hội thảo khoa học do vậy chủ yếu mới đề cập một cách khái quát, chưa có đề cập về mặt lý luận và phương pháp luận xây dựng liên kết một cách tổng thể và bền vững [43].

1.2.2. Liên kết Viện-Trường trong Quân đội Nhân dân Việt Nam

Trong Bộ Quốc phòng, hoạt động liên kết diễn ra tương tự như ở các Trường

và Viện nghiên cứu của Nhà nước. Hoạt động phối hợp giữa Học viện Kỹ thuật

Quân sự (KTQS), Học viện Phòng không-Không Quân, Học viện Kỹ thuật Mật mã

với Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự (KH&CNQS), Viện Kỹ thuật Hàng

không,v.v… cũng như giữa Học viện Quân y với các Bệnh viện 108, 103, 175 và

Viện Y học cổ truyền Quân đội,… trong đào tạo và nghiên cứu đã được duy trì

nhiều năm nay và mang lại kết quả thiết thực, nâng cao chất lượng đào tạo về số

lượng cũng như chất lượng trong đào tạo và NCKH. Nhờ đó, các viện nghiên cứu,

học viện và các trường này luôn giữ được vai trò đầu tàu và vị trí cao của mình

không những trong hệ thống viện, trường trong Quân đội mà còn trong cả nước,

đồng thời không ngừng mở rộng các quan hệ quốc tế. Không những thế, các học

viện, nhà trường và các viện nghiên cứu của Quân đội còn mở rộng liên kết với các

trường đại học và viện nghiên cứu ngoài Nhà nước, các sở KH&CN của các tỉnh và

ngày càng tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế cả về chiều rộng và chiều sâu. Tuy

vậy, cũng không khó để nhận xét rằng phần lớn các liên kết là trong lĩnh vực đào

tạo, mà chủ yếu là đào tạo sau đại học.

1.2.3. Một số vấn đề rút ra từ nghiên cứu liên kết Viện-Trường ở Việt

Nam

Chủ trương của Nhà nước về liên kết NCKH-ĐT-SXKD là rõ ràng và đã có

những chính sách có tác động khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động liên kết phát triển. Tuy vậy, do nhận thức chung của các viện nghiên cứu và các Trường Đại học về liên kết Viện-Trường còn bị hạn chế nên các công trình

23

nghiên cứu về liên kết Viện-Trường ở Việt Nam nói chung hầu như mới chỉ bắt đầu: Các công trình nghiên cứu chủ yếu mới dừng lại ở phản ánh tình hình liên kết

và đưa ra một số nhân định về các yếu tố tác động là nguyên nhân của sự chưa khởi sắc cũng như một vài giải pháp khắc phục. Chưa có các nghiên cứu sâu về lý luận

và phương pháp luận liên kết theo các khía cạnh sâu như nguyên tắc, mô hình, nội dung liên kết hay công tác tổ chức và các kỹ năng thực hiện liên kết,…

Trên phương diện nhà nước, Bộ, ngành còn thiếu các nghiên cứu về chính sách, về các quy định cụ thể đối với liên kết Viện-Trường, về SHTT, CGCN liên quan đến liên kết trong nước và với nước ngoài của Việt Nam.

Rõ ràng, nghiên cứu về liên kết Viện-Trường một cách căn bản làm cơ sở để khắc phục những yếu kém trên đây, thúc đẩy liên kết là một vấn đề có tính khoa học và thực tiễn cao, rất cần được quan tâm.

1.3. Phương hướng nghiên cứu của Luận án

Những vấn đề rút ra từ nghiên cứu về liên kết Viện-Trường trên thế giới và trong nước cho thấy cần tiến hành đi sâu vào nghiên cứu về Cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết Viện-Trường gắn với HTĐMQG, gắn với việc đảm bảo quyền

SHTT và các điều kiện khác để đảm bảo liên kết bền vững và hiệu quả trong điều kiện của Việt Nam; đề xuất các nguyên tắc căn bản, mô hình phát triển liên kết theo

các mức (cấp) độ khác nhau; vận dụng những lý luận đã đạt được vào việc đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển liên kết Viện-Trường một cách bền vững trong lĩnh vực Khoa học kỹ thuật do Bộ Quốc phòng quản lý.

Để đạt được mục tiêu, nội dung đề ra, Luận án xác định tiến hành các nội

dung nghiên cứu tiếp theo như sau:

- Nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng liên kết Viện-Trường ở

Việt Nam.

- Nghiên cứu định hướng phát triển liên kết Viện-Trường ở Việt Nam.

- Đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển liên kết Viện-Trường trong lĩnh

vực Khoa học kỹ thuật do Bộ Quốc phòng quản lý.

24

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Nghiên cứu khái quát về liên kết giữa các Viện nghiên cứu, trường đại học và

doanh nghiệp cho thấy:

- Liên kết Viện-Trường thông qua liên kết giữa các lĩnh vực NCKH, đào tạo nguồn nhân lực và SXKD có ý nghĩa và vai trò to lớn đối với việc khắc phục những khó khăn trở ngại về nguồn lực, phát huy các nguồn lực này một cách có hiệu quả trên phạm vi một tổ chức, doanh nghiệp, một quốc gia hay quốc tế.

- Liên kết giữa các Viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp là nhu cầu thường xuyên và cũng là xu thế tất yếu của thực tiễn phát triển KT-XH của tất cả các nước.

- Ở các nước phát triển, liên kết Viện-Trường mà thể hiện cụ thể qua liên kết giữa ĐT-NCKH-SXKD đã được các nhà khoa học, các chính phủ và các tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu trên tất cả các khía cạnh như: vai trò của liên kết Viện- Trường, các khía cạnh liên quan đến tổ chức và kỹ năng thực hiện liên kết, các mô hình liên kết, vai trò của Nhà nước đối với liên kết; liên kết Viện-Trường trong HTĐMQG và các yếu tố chủ yếu có ảnh hưởng đến liên kết Viện-Trường.

Trên con đường hội nhập và phát triển của mình, Việt Nam cũng phải thực hiện liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và các doanh nghiệp nhằm khắc phục những yếu kém về nguồn lực cho sự phát triển. Hệ thống viện, trường ở Việt Nam có những đặc điểm khác với hệ thống viện, trường của các nước phát triển, trong khi việc nghiên cứu về lý luận và phương pháp luận xây dựng và thực thi liên kết Viện-Trường còn rất hạn chế. Do đó, nghiên cứu về liên kết Viện- Trường một cách toàn diện, đầy đủ là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách đối với Việt Nam. Để liên kết Viện-Trường đi vào cuộc sống, đòi hỏi có sự tham gia của toàn xã hội, từ Nhà nước, các Bộ, ngành và các địa phương đến các tổ chức cơ sở như các viện nghiên cứu, trường đại học và hệ thống các doanh nghiệp.

Liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực KHKT do BQP quản lý còn có những đặc thù riêng của lĩnh vực hoạt động quân sự. Để vận dụng lý luận về liên kết Viện- Trường vào lĩnh vực này một cách có hiệu quả đòi hỏi có sự nghiên cứu toàn diện với sự sáng tạo cao. Trước hết, cần nâng cao hơn nữa nhận thức và hiểu biết về lý luận và phương pháp luận liên kết; gắn liên kết Viện-Trường với kế hoạch phát triển và thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị; đề xuất được các giải pháp và biện pháp thực thi liên kết thông qua những chính sách và các chương trình hành động cụ thể.

25

Chương II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG

LIÊN KẾT VIỆN-TRƯỜNG

Để có thể thiết lập và duy trì quan hệ liên kết Viện-Trường bền vững và mang lại hiệu quả cao, cần thiết phải xây dựng được lý luận và phương pháp luận liên kết Viện-Trường trên cơ sở nền tảng là chủ trương và đường lối của Đảng và Nhà nước về liên kết Viện-Trường. Tiếp thu lý luận và kinh nghiệm quốc tế, vận dụng sáng tạo vào điều kiện của Việt Nam cho thấy, xây dựng và duy trì liên kết Viện-Trường ở Việt Nam bền vững và hiệu quả cần phải nghiên cứu nắm vững chủ trương của Đảng và Nhà nước, những nguyên tắc cơ bản, bản chất của liên kết Viện-Trường cũng như những cơ sở thực tiễn quan trọng của liên kết Viện-Trường.

2.1. Chủ trương của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng về liên kết Viện-

Trường

Chủ trương chung của Đảng, Nhà nước về liên kết Viện-Trường (thông qua liên kết giữa NCKH, đào tạo và SXKD) là kim chỉ nam, là động lực và yếu tố đảm bảo về cơ sở pháp lý và nhiều mặt khác cho liên kết Viện-Trường hình thành và phát triển. Vì vậy, quán triệt và vận dụng các chủ trương này vào thực tiễn là điều hết sức quan trọng. Mặt khác, việc vận dụng những lý luận và phương pháp luận chung về liên kết Viện-Trường vào điều kiện của Việt Nam đòi hỏi có sự sáng tạo cho phù hợp với điều kiện chung của hệ thống các viện, trường và bối cảnh KT-XH của Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu thực trạng hoạt động liên kết cũng như các yếu tố xã hội, tác động đến hoạt động liên kết cũng sẽ cung cấp những thông tin quan trọng cho việc nghiên cứu phát triển liên kết Viện-Trường một cách có hiệu quả.

Với mục đích trên đây, luận án sẽ khái quát về chủ trương chung của Nhà nước, nghiên cứu về những nguyên tắc đảm bảo xây dựng và duy trì liên kết bền vững, nghiên cứu về bản chất của liên kết viện-trường và lược lại những nét chung về việc thực thi hoạt động liên kết của một số viện, trường, đặc biệt sẽ nghiên cứu kỹ trường hợp của Bộ NN&PTNT như một điển hình mang tính phổ quát chung cho liên kết Viện-Trường ở Việt Nam; tiến hành điều tra, khảo sát về hoạt động liên kết Viện-Trường của các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường Quân đội. Kết quả từ khảo sát thực tiễn kết hợp với lý luận chung về liên kết Viện-Trường sẽ là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp và biện pháp thúc đẩy liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực KHKT quân sự phát triển bền vững và hiệu quả.

26

2.1.1. Chủ trương chung của Đảng

Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6, Khóa XI của Đảng ngày 07/11/2012 về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa (CNH), HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế [31], đã nhấn mạnh: “Tăng cường liên kết giữa tổ chức KH&CN với doanh nghiệp trong việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực. Thí điểm thực hiện cơ chế hợp tác công-tư, đồng tài trợ thực hiện nhiệm vụ KH&CN”. Trong hợp tác và hội nhập quốc tế thì “Triển khai hợp tác KH&CN tầm quốc gia với các nước tiên tiến về KH&CN, là đối tác chiến lược của Việt Nam. Tăng cường hợp tác giữa các trung tâm nghiên cứu trong nước với các tổ chức nghiên cứu KH&CN nước ngoài. Nghiên cứu hình thành một số trung tâm khoa học công nghệ hiện đại có liên kết với các tổ chức khoa học tiên tiến nước ngoài”.

2.1.2. Một số chính sách quan trọng của Nhà nước

Tuy trong hệ thống văn bản chính sách chính thức không có văn bản nào đề cập riêng về liên kết Viện-Trường, nhưng chủ trương liên kết ĐT-NCKH-SXKD là rõ ràng như Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã khẳng định “…Để đổi mới, trước hết cần thay đổi tư duy, quản lý theo hiệu quả đầu ra.” và “Cần đẩy mạnh tạo ra hiệu ứng liên kết hệ thống, giữa các cơ quan nghiên cứu với các trường và doanh nghiệp”. Với chủ trương như vậy, trong một số chính sách quan trọng của Nhà nước, định hướng liên kết Viện-Trường biểu hiện qua liên kết ĐT-NCKH-SXKD cũng được thể hiện rõ, như:

1. Quyết định số 1244/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ KH&CN chủ yếu giai đoạn 2011-2015 [36].

Trong Điều 1 mục 4 về Phương hướng, mục tiêu, đã chỉ rõ: “Nâng cao tiềm lực KH&CN quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu và sản xuất, phát triển thị trường KH&CN”. Biện pháp để thúc đẩy định hướng trên đây cũng được làm rõ là “…Gắn kết chặt chẽ giữa ĐT, NCKH và SXKD theo hướng tập trung ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, hình thành doanh nghiệp KH&CN trong các trường đại học, viện nghiên cứu. Phát triển mạnh các hoạt động xúc tiến chuyển giao, thương mại hóa công nghệ, hỗ trợ đăng ký, khai thác sáng chế trong các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp”.

27

2. Các văn bản khác của Nhà nước như Quyết định số 375/QĐ-TTg ngày 18/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án hội nhập quốc tế về KH&CN đến năm 2020 hay Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ Quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập và Nghị định 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN, tuy không trực tiếp chỉ ra vấn đề liên kết ĐT-NCKH-SXKD, nhưng đều là những thiết chế có tác động thúc đẩy và tạo điều kiện cho hoạt động liên kết phát triển.

3. Quyết định số 19/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/6/2005 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT “Quy định về hoạt động KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng trực thuộc Bộ GD&ĐT” là một văn bản thể hiện rất rõ chủ trương, nội dung và biện pháp liên kết trong các trường và viện thuộc Bộ, như quy định tại Điều 5 của Quyết định này:

(1) Trường đại học ưu tiên thực hiện nhiệm vụ NCKH kết hợp đào tạo nguồn nhân lực và SXKD phục vụ trực tiếp nhu cầu của doanh nghiệp, nhu cầu phát triển KT-XH của địa phương, nâng cao chất lượng và khả năng thương mại hoá sản phẩm KH&CN.

(2) Trường đại học phối hợp với các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp, khai thác tiềm năng đội ngũ cán bộ và trang thiết bị hiện đại phục vụ nghiên cứu và đào tạo của trường.

Điều 14 của Quy định nhấn mạnh về hợp tác quốc tế: “Trường đại học chủ động xây dựng và thực hiện kế hoạch hợp tác quốc tế về KH&CN”. Đồng thời thúc đẩy hoạt động liên kết bằng việc yêu cầu các trường đại học, học viện, trường cao đẳng, các viện và trung tâm nghiên cứu trực thuộc báo cáo tình hình và kết quả hợp tác nghiên cứu chung song phương, đa phương từ năm 2000 đến nay và đề xuất kế hoạch hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của đơn vị đến năm 2020 [39].

Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành các nghị định về Quỹ phát triển KH&CN của Nhà nước, của các Bộ, Tỉnh, Thành phố và của các tổ chức KH&CN và doanh nghiệp; đề ra nhiều chương trình phát triển KH&CN của Nhà nước như: Chương trình Phát triển thị trường công nghệ; Chương trình quốc gia về đổi mới công nghệ; Chương trình Sản phẩm trọng điểm quốc gia; Chương trình Phát triển công nghệ cao; Chương trình quốc gia về năng suất, chất lượng,….

Qua đó đã tạo điều kiện cho liên kết Viện-Trường phát triển và đã đạt nhiều

tiến bộ quan trọng.

28

2.1.3. Chủ trương của Bộ Quốc phòng

Trên cơ sở chủ trương của Đảng và Nhà nước về tăng cường liên kết giữa tổ chức KH&CN với doanh nghiệp trong việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực và giữa các trung tâm nghiên cứu với các tổ chức nghiên cứu khoa học nước ngoài như đã nêu trên đây và đã được khẳng định lại bằng các Nghị quyết số 27-NQ/TW (khóa IX) và Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về “Xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đến 2020 và những năm tiếp theo” [32, 30]. Để cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Bộ Quốc phòng cũng chủ trương đẩy mạnh liên kết giữa các Viện nghiên cứu, trường Đại học và các cơ sở SXKD trong Bộ. Điều này đã được thể hiện trong báo cáo về “Phương hướng nhiệm vụ công tác KHCN&MT giai đoạn 2011-2015” của Cục KHCN&MT nay là Cục Khoa học Quân sự, trong đó Cục đã đề xuất và kiến nghị với Bộ “Cho phép các cơ quan, viện nghiên cứu, các Học viện, Nhà trường mở rộng hợp tác trong nước,…”. Trên thực tế, thực hiện chủ trương của Bộ Quốc phòng, các học viện, nhà trường, các viện nghiên cứu của Bộ đã triển khai nhiều hoạt động liên kết Viện-Trường trong nội bộ mỗi đơn vị và giữa các đơn vị trong quân đội, với các viện nghiên cứu và các trường đại học ngoài Nhà nước và với các tổ chức KH&CN quốc tế trên các lĩnh vực NCKH, đào tạo nguồn nhân lực và CGCN và đã đem lại những kết quả tốt đẹp.

2.2. Cơ sở lý luận về liên kết Viện-Trường

Cơ sở lý luận là những kiến thức có tính quy luật đã được khám phá, đã được chấp nhận để sử dụng như những chuẩn mực trong nghiên cứu phát triển và ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống. Liên quan đến liên kết Viện-Trường, cơ sở lý luận được thể hiện bằng những nội dung kiến thức sau đây.

2.2.1. Khái niệm về liên kết Viện-Trường

Trong tiếng Anh, để chỉ liên kết có nhiều từ đồng nghĩa như Alliance (Liên minh), Collaboration (Cộng tác), Cooperation (Hợp tác), Partneship (Đối tác),… Tuy về ngữ nghĩa các từ trên có những khác biệt nhất định, song trong phạm vi nghiên cứu của luận án có thể coi các từ đó là tương đương và sẽ sử dụng các thuật ngữ như “liên kết”, “hợp tác”, “cộng tác” với nghĩa chung nhất, tương đương và “đối tác” như sự liên kết để thực thi những nhiệm vụ đã được xác định cụ thể.

Với quan niệm trên đây, “Liên kết” được định nghĩa như “Là một mối quan hệ, trong đó các bên tự nguyện tham gia có các mục đích tương thích cam kết cùng

29

nhau hợp lực (đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực và tin lực) để thực hiện những công việc hay nhiệm vụ mà các bên đều quan tâm, đồng thời cam kết chia sẻ lợi ích và rủi ro theo thỏa thuận mà các bên đều chấp thuận”. Như vậy, quan hệ liên kết là mối quan hệ cùng làm việc và cùng có lợi, trong khi nếu làm một mình thì khó có thể đạt được mục tiêu đó. Quan hệ liên kết thực hiện chia sẻ các nguồn lực, công việc, trách nhiệm, quản lý điều hành, lợi ích, rủi ro,…

Khi cùng nhau thực thi một nhiệm vụ cụ thể thông qua một hợp đồng thì quan hệ liên kết khi đó thường được thay thế bằng khái niệm “Quan hệ đối tác”, với đóng góp và chia sẻ trách nhiệm, lợi ích một cách cụ thể. Trong liên kết Viện-Trường, quan hệ đối tác thường thực hiện các hợp đồng cụ thể như: Nghiên cứu sáng tạo, đào tạo nguồn nhân lực, tìm giải pháp áp dụng kỹ thuật mới, phát triển sản phẩm mới, khám phá phương pháp tiếp cận toàn diện và cải thiện hoạt động kinh doanh,...

Với các mục đích khác nhau, mỗi quan hệ liên kết/đối tác sẽ cần phải xác định một cơ cấu tổ chức khác nhau dưới dạng các dạng tổ chức chuẩn: Cơ học, hữu cơ hay tổ chức ảo hoặc kết hợp từ các dạng này. Một số quan hệ liên kết/đối tác khác có thể có lợi nhuận hoặc mục tiêu lợi nhuận và do đó sẽ đòi hỏi một cấu trúc liên quan đến SXKD.

Liên kết Viện-Trường là một dạng liên kết, trong đó, các đối tác tham gia có thể là các Viện nghiên cứu và các trường đại học hoặc các bộ phận làm công tác đào tạo, NCKH, SXKD hay dịch vụ thuộc viện hoặc trường. Liên kết Viện-Trường thực hiện mọi chức năng thuộc nội hàm của liên kết. Liên kết Viện-Trường là loại liên kết có nội hàm rộng, bao gồm liên kết để thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, NCKH, CGCN hay SXKD. Do mỗi lĩnh vực khoa học có thể có những đặc thù liên kết riêng và cũng do phạm vi xem xét cụ thể, Luận án này nhấn mạnh đến các viện, trường trong lĩnh vực KHKT do BQP quản lý. Tuy vậy, cơ sở lý luận chung hoàn toàn có thể có ích và vận dụng một cách sáng tạo trong các lĩnh vực khoa học khác.

Liên kết nói chung và liên kết Viện-Trường nói riêng có nhiều mặt tích cực, song cũng có những mặt tiêu cực nhất định mà mỗi thành viên muốn tham gia cần nhận thức rõ.

- Các mặt tích cực của liên kết Viện-Trường được thể hiện ở khả năng tập hợp và phát huy được tốt hơn các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực của cả viện và trường để giải quyết các nhiệm vụ; cho phép mở rộng phạm vi nghiên cứu, đào tạo, giải quyết những vấn đề KH&CN to lớn và có ý nghĩa thực tiễn hơn; đa dạng

30

hoá các loại hình hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, nâng cao năng lực thực tiễn và năng lực khoa học, phục vụ hoạt động thực tiễn tốt hơn; làm cho hệ thống KH&CN trở thành một hệ thống thống nhất, qua đó dễ dàng và có đầy đủ năng lực gắn kết, hợp tác với các ngành công nghiệp, đưa nhanh tiến bộ KH&CN vào thực tiễn, phục vụ cho KT-XH nhiều hơn, tốt hơn; thông qua liên kết, hợp tác, viện, trường còn có thể khắc phục hiện tượng thiếu giảng viên, nhất là giảng viên có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu và và thực tiễn hơn; các trường có điều kiện cập nhật những thành tựu khoa học mới trong mỗi lĩnh vực vào nghiên cứu và giảng dạy; viện nghiên cứu có điều kiện nâng cao năng lực sư phạm, năng lực thuyết trình của cán bộ, tạo điều kiện để những kiến thức khoa học cơ bản và cơ sở được vận dụng trong thực tiễn tốt hơn với hy vọng tạo ra những bước chuyển lớn về KH&CN; làm tăng khả năng tìm kiếm giải pháp cho vấn đề phức tạp thông qua chia sẻ bí quyết và ý tưởng; thực hiện các sản phẩm sơ khởi (prototypes), các quy trình mới,.. và theo kinh nghiệm của NASA liên kết làm tăng khả năng thành công của các dự án [92]; tạo ra động lực mạnh mẽ để hỗ trợ cho sự đổi mới và phát triển.

- Các mặt tiêu cực và khó khăn của liên kết thể hiện ở chỗ: Các tổ chức, cá nhân thường không có cùng giá trị và lợi ích, nên việc thỏa thuận về mục tiêu của quan hệ đối tác có thể có khó khăn; phải chia sẻ hoặc thiệt hại tài chính có thể xẩy ra; có thể có những xung đột về một vấn đề này hay vấn đề khác và các cá nhân có thể không được đào tạo để xác định trước hoặc giải quyết xung đột một cách tốt nhất; phải chia sẻ quyền lực, chia sẻ lợi ích hay quyền sở hữu trí tuệ-là những vấn đề nhạy cảm dễ tổn thương; tổ chức và cơ chế làm việc của các thành viên liên kết có thể khác nhau; việc kết hợp các "văn hóa của tổ chức" khác nhau là không dễ dàng; công nghệ của các thành viên có thể không tương thích,...

Như vậy, nắm chắc những mặt mạnh, mặt tiêu cực của quan hệ liên kết có thể

giúp cho liên kết thành công.

2.2.2. Bản chất của liên kết Viện-Trường

2.2.2.1. Liên kết Viện-Trường với tư cách là một tổ chức khoa học và công nghệ

Tổ chức KH&CN là một bộ phận của hoạt động liên kết. Tùy từng trường hợp, tổ chức KH&CN trong liên kết có thể có hình thức khác nhau để có hiệu quả cao hơn. Các loại hình tổ chức KH&CN cơ bản của Việt Nam đã được chỉ ra trong Luật KH&CN Việt Nam năm 2000, được sửa đổi vào năm 2005, bao gồm: Các tổ chức NCKH, tổ chức NCKH & PTCN; trường đại học, học viện, trường cao đẳng

31

(gọi chung là trường Đại học); tổ chức dịch vụ KH&CN. Các tổ chức này lại có thể là độc lập hay nằm trong một viện nghiên cứu hay một trường đại học, là công lập hay tư nhân. Vì vậy, nghiên cứu về tổ chức KH&CN trong liên kết Viện-Trường trong điều kiện Việt Nam sẽ mang lại những nhận thức mới, cần thiết cho việc xây dựng và duy trì hoạt động liên kết bền vững.

2.2.2.2. Xây dựng quan hệ liên kết Viện-Trường bền vững

Khi xây dựng một quan hệ liên kết bền vững và có hiệu quả, bên cạnh những vấn đề cốt lõi như lựa chọn đối tác, xây dựng tổ chức và cơ chế, chính sách, điều hành hoạt động liên kết,... còn cần phải chú ý đến những vấn đề dưới đây.

a. Nâng cao vai trò của Nhà nước, Bộ, Ngành và địa phương đối với liên kết

Viện-Trường

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học [58, 79, 99, 63] cho thấy, Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thiết lập và duy trì các quan hệ liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và ngành công nghiệp - Ba nhân tố trọng yếu của liên kết và đổi mới. Từ đầu những năm 2000, Etzkowitz và Leydesdorff (2000) đã đưa ra mô hình tương tác giữa Nhà nước, các cơ quan hàn lâm (V-T: viện nghiên cứu và các trường đại học) và ngành công nghiệp như hình 2.1:

NN

CN V-T

Hình 2.1. Mô hình liên kết Nhà nước, các cơ quan hàn lâm và ngành công nghiệp trong hệ thống đổi mới và liên kết quốc gia

Mô hình này cho thấy, một mặt Nhà nước có vai trò lớn hơn trước đây đối với liên kết và đổi mới, được thể hiện bằng việc tạo ra môi trường pháp lý và môi trường xã hội thuận lợi để liên kết và đổi mới sáng tạo phát triển [72, 93, 76, 99, 79, 58]. Mặt khác, mô hình này cũng cho thấy vai trò tích cực và chủ động của các cơ quan hàn lâm và ngành công nghiệp trong việc tổ chức và tham gia vào hoạt động liên kết và đổi mới.

32

Trong sơ đồ hình 2.1, Nhà nước, bao gồm tất cả các Bộ, Ngành hay các địa phương, có những nhiệm vụ cụ thể như đề ra những chủ trương, định hướng cho việc phát triển KH&CN, phát triển KT-XH, xây dựng tiềm lực KH&CN cho định hướng phát triển của cả ba thực thể: doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học. Những chủ trương, định hướng này cần thống nhất và được thể hiện qua chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển KH&CN, phát triển KT-XH; nghiên cứu xây dựng và ban hành hệ thống chính sách thúc đẩy đổi mới và liên kết như những phương thức và công cụ thực hiện các chủ trương và kế hoạch phát triển KT-XH; xây dựng các chương trình KH&CN cho phát triển KT-XH, kết hợp thúc đẩy liên kết; ban hành và thực thi chính sách về phát triển nguồn nhân lực, quản trị tài chính nói chung và tài chính công, tài chính cho KH&CN nói riêng, thúc đẩy đổi mới, khuyến khích liên kết; đề ra chủ trương, chính sách thúc đẩy liên kết quốc tế; tổ chức đánh giá, thẩm định tác động của các chương trình hỗ trợ và liên kết đối với KT-XH và KH&CN để hoàn thiện chủ trương, chính sách;

Chính sách đổi mới của Nhà nước có quan hệ mật thiết với thúc đẩy liên kết Viện-Trường. Theo Edquist (2001), chính sách đổi mới bao gồm: Chính sách NC&PT, chính sách công nghệ, chính sách cơ sở hạ tầng, chính sách vùng và chính sách giáo dục như mô hình của Uỷ ban Châu Âu và Ngân hàng thế giới (WB) như Hình 2.2 dưới đây. Điều này có nghĩa là chính sách đổi mới đã vượt ra khỏi phạm vi của chính sách KH&CN, ảnh hưởng đến đổi mới từ bên cung và bên cầu. Như vậy, chính sách đổi mới cũng còn thể hiểu là những chính sách tạo điều kiện thuận lợi và môi trường thúc đẩy liên kết Viện-Trường phát triển.

Đào tạo

Tài chính

NC&PT

CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI

Thương mại

Khác

Công nghiệp

Nguồn: Innovation policy- Guide for developing countries, WB, 2010

Hình 2.2: Mô hình Hệ thống chính sách đổi mới

Hệ thống chính sách đổi mới của Nhà nước tập trung vào những hướng sau:

+ Đổi mới trong các trường Đại học và các viện nghiên cứu

33

Trong đó, đối tượng của đổi mới trong trường Đại học và viện nghiên cứu là rất đa dạng. Vì vậy, nội dung, phương pháp và kỹ năng đổi mới cũng rất đa dạng, phong phú.

+ Đổi mới trong sản xuất kinh doanh

Đổi mới trong SXKD là động lực đổi mới quốc gia, trong đó trường đại học và viện nghiên cứu tham gia vào đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm và dịch vụ, làm tăng năng suất chất lượng sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp thông qua sáng tạo công nghệ mới và đổi mới quy trình sản xuất, quy trình và cơ chế quản lý,… Chính sách cần tập trung vào việc tạo điều kiện và thúc đẩy đổi mới và liên kết để thực hiện những nhiệm vụ này.

+ Đổi mới trong hoạch định chính sách

Để đổi mới và thúc đẩy đổi mới trên bình diện xã hội, bản thân công tác hoạch định chính sách cũng cần phải được đổi mới theo hướng chuyển dịch từ cung cấp sang cho phép. Nhà nước có thể thúc đẩy đổi mới thông qua chính sách hỗ trợ việc hợp tác, liên kết trong sử dụng nguồn lực, phân bổ tài chính và phân chia lợi ích và các chính sách khác. Ngược lại, liên kết, hợp tác thành công lại là động lực thúc đẩy đổi mới hoạch định chính sách.

b. Lồng ghép một cách hữu cơ liên kết Viện-Trường trong hệ thống đổi mới quốc gia

Theo Dr. Mikko Koria, Đại học Alto, Phần Lan [72] thì nghiên cứu về liên kết Viện-Trường cần được đặt trong mối gắn kết biện chứng với đổi mới. Nội hàm của đổi mới phải bao gồm một quan niệm mới, trên cơ sở đó hình thành một sáng tạo sản phẩm và cuối cùng khai thác sản phẩm sáng tạo để mang lại lợi ích, theo công thức sau:

Đổi mới = Quan niệm (Conception) + sáng tạo (Invention) + khai thác

(exploitation).

Sự tương tác giữa đổi mới và liên kết nói chung và liên kết Viện-Trường nói riêng được thể hiện rõ trong mô hình chi tiết của HTĐMQG [104], thể hiện ở hình 2.3. Theo đó, HTĐMQG được xem như là “Tập hợp các tổ chức, cá nhân cùng nhau đóng góp vào sự phát triển, cung cấp và phổ biến các công nghệ mới trong khuôn khổ các chính sách của chính phủ có ảnh hưởng đến quá trình đổi mới. Đó là một hệ thống các tổ chức liên kết với nhau để tạo ra, lưu trữ và chuyển giao kiến thức, kỹ năng và các công cụ xác định các công nghệ mới” (Metcalfe, 1995).

34

HỆ THỐNG ĐỔI MỚI QUỐC GIA

MÔI TRƯỜNG QUỐC TẾ (Sự cạnh tranh, Toàn cầu hóa, Nghĩa vụ/Thỏa thuận Quốc tế- Môi trường, thương mại, v.v…)

SỰ THIẾT LẬP CHÍNH SÁCH CHÍNH PHỦ

Lịch sử xã hội

Văn hóa con người

 Các mục tiêu và chiến lược (ngắn hạn, trung và dài hạn)  Khung chính sách  Chính sách của các Bộ và Sở (Khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, thương mại, tài chính, luật pháp, các ngành công nghiệp, môi trường, v.v…

* Tư vấn, cố vấn, người xuất vốn, liên doanh tư bản và các công ty, luật sư Sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và các trung tâm kiểm tra, cơ quan chứng nhận, trung tâm đào tạo kỹ thuật, công nghệ thông tin và dịch vụ kinh doanh cung cấp tình báo, v.v…

HỆ SINH THÁI CẢI TIẾN

Lãnh đạo thị trường Quốc tế

Khả năng cạnh tranh doanh nghiệp vừa và nhỏ

ĐIỀU KIỆN CƠ SỞ HẠ TẦNG (Bảo hiểm, du lịch, v.v…)

Sát nhập và mua lại

Công nghệ quốc tế và liên minh kinh doanh.

Các ngành công nghiệp (Sản xuất và dịch vụ)

Các Tổ chức NC & phát triển và Trường Đại học

Thương mại hóa các sản phẩm và

dịch vụ mới.

CỤM TIỂU QUỐC GIA, KHU VỰC

Các mục tiêu NIS

Lãnh đạo công nghệ

Các công ty đa quốc gia

Vốn đầu tư nước ngoài

TRUNG GIAN CƠ SỞ HẠ TẦNG (Đường bộ, đường sắt, hàng không, công viên KHCN, khu vực kinh tế/XNK đặc biệt, v.v…)

Hình 2.3: Mô hình chi tiết Hệ thống Đổi mới Quốc gia (HTĐMQG)

Như vậy, liên kết Viện-Trường là một phương thức quan trọng để thực hiện đổi mới. Ngược lại, đổi mới thành công lại tạo ra các nguồn lực và đặt ra những nhiệm vụ mới cho liên kết. Theo tài liệu của Chính phủ Úc [54], khi mà việc nghiên cứu đa ngành đã trở thành mục tiêu thì liên kết sẽ trở nên quan trọng hơn đối với các nhà nghiên cứu nhằm đạt được một khuôn khổ rộng hơn trong những nỗ lực nghiên cứu của họ.

Theo Julio A. Pertuzé và đồng nghiệp [98], sự liên kết Nhà nước-Cơ quan hàn lâm-ngành công nghiệp là một dạng tổ chức chia sẻ về đổi mới, trong đó các đối tác

35

liên kết lại thành một mạng lưới các nhà nghiên cứu, ở đó họ phát triển những giá trị của riêng họ, phát triển các chuẩn mực và vốn tri thức.

Nghiên cứu về đổi mới và liên kết cho thấy mỗi thực thể phải trải qua những thay đổi để đảm bảo rằng liên kết được thực hiện một cách thuận lợi. Trong đó, vai trò của Nhà nước là tạo ra một khung chính sách để thúc đẩy việc liên kết.

Từ những khẳng định trên cho thấy, lồng ghép một cách hữu cơ các quan hệ liên kết trong HTĐMQG là một phương thức quan trọng để đẩy mạnh liên kết và là yếu tố đảm bảo để đổi mới thành công.

c. Xây dựng kế hoạch liên kết có kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ thường xuyên

và lâu dài

Muốn liên kết với các đơn vị, tổ chức khác có hiệu quả, trước tiên cần phải xác định rõ mục tiêu liên kết của đơn vị mình. Xác định mục tiêu cần đạt được trước hết là mục tiêu chung của tổ chức mình trong giai đoạn trước mắt và trong tương lai. Đó chính là các mục tiêu của kế hoạch chiến lược phát triển tổ chức.

Trên cơ sở các mục tiêu đã được xác định rõ, cần vạch ra kế hoạch nhiệm vụ cụ thể, được phân loại, xếp thứ tự ưu tiên để có thể tập trung nguồn lực cho những nhiệm vụ quan trọng; xem xét các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện: Nhân lực, tài lực, vật lực và tin lực của tổ chức mình. Điều quan trọng là phải làm rõ nội dung, mục tiêu cụ thể, phương thức thực hiện liên kết và cuối cùng là xác định các đối tác tiềm năng có thể liên kết. Để xây dựng một quan hệ liên kết, cần thiết phải tìm hiểu đối tác về chức năng nhiệm vụ chính của họ, những thành tựu mà họ đã đạt được, truyền thống hoạt động và văn hóa tổ chức, năng lực thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt là những nhiệm vụ mà mình quan tâm, khả năng về nhân lực, tài chính, vật tư thiết bị, đảm bảo thông tin và quan hệ của họ. Cuối cùng, tổng hợp toàn bộ các thông tin và điều kiện trên đên đây để xây dựng một kế hoạch liên kết với đơn vị đã được chọn.

d. Làm tốt vấn đề sở hữu trí thuệ trong liên kết Viện-Trường

Kinh nghiệm cho thấy, quyền SHTT là vấn đề nhạy cảm, có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng và duy trì bền vững mối quan hệ liên kết Viện-Trường [49, 77, 89]. Những yếu tố thuộc SHTT có ảnh hưởng không tốt đến liên kết phải kể đến sự thiếu hiểu biết về quyền và nghĩa vụ trong sử dụng quyền SHTT và sự yếu kém về quản lý nhà nước về SHTT.

Mặt khác, cũng cần nhận thức rằng quản lý quyền SHTT trong liên kết là phức tạp và đa dạng, nhưng lại không thể né tránh. Chỉ có làm rõ được vấn đề này một

36

cách thỏa đáng cho mỗi trường hợp thì việc liên kết mới có thể tốt đẹp và phát triển bền vững. Nói cách khác, quản lý quyền SHTT trong liên kết Viện-Trường có vai trò sống còn đối với liên kết và là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển bền vững của nó.

e. Khắc phục tư tưởng ngại thay đổi và xây dựng lòng tin

Trong xây dựng quan hệ liên kết Viện-Trường thường nẩy sinh tư tưởng ngại thay đổi và thiếu lòng tin vào bản thân và đối tác. Một tổ chức xưa nay chưa có quan hệ liên kết với một tổ chức khác sẽ tạo nên một thói quen khó sửa là rất ngại thay đổi cơ chế, chế độ làm việc, quản lý và thực thi nhiệm vụ khi buộc phải xử lý mọi vấn đề có liên quan đến người khác, tức là ngại đổi mới. Theo Paul Sloane (2010) thì con người tự nhiên thường e ngại, đặc biệt khi tổ chức của họ đã có những thành công nhất định [102].

Vượt qua sự e ngại ban đầu đối với sự thay đổi để thiết lập các quan hệ liên

kết là một mục tiêu quan trọng đối với các viện, trường.

Lòng tin cũng có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong xây dựng và thực thi quan hệ liên kết Viện-Trường. Lòng tin cần được hiểu theo các khía cạnh là tin vào chính bản thân, vào tổ chức của mình, vào mục tiêu, nội dung và chương trình hành động của tổ chức mình: Niềm tin này có ý nghĩa to lớn, nó giúp ta tự tin, tự chủ khi đặt vấn đề liên kết với đối tác. Tất nhiên, niềm tin phải được xây dựng trên cơ sở kiến thức, năng lực của mỗi cá nhân, tổ chức; trên cơ sở mục tiêu, nội dung và chương trình hành động được xây dựng một cách khoa học, có tính khả thi và hứa hẹn mang lại những thành quả quan trọng cho tập thể.

Có thể khẳng định, không có lòng tin lẫn nhau thì không thể làm được gì. Nhưng lòng tin chỉ có thể được củng cố qua những công việc cụ thể và được tích lũy theo thời gian và qua nhiều công việc hợp tác thành công. Tuy vậy, công việc đôi khi lại không thể chờ đợi để có lòng tin đầy đủ. Vì vậy, liên kết và nhất là đi đến quan hệ đối tác của nhau trước hết phải có sự tìm hiểu ban đầu. Tiếp đến phải từng bước xây dựng lòng tin thông qua từng công việc cụ thể trong tiếp xúc ban đầu, trong bàn bạc xây dựng kế hoạch hợp tác, trong sự tôn trọng, chân thành, trong sáng và vì lợi ích của cả hai bên theo tiêu chí cùng thắng. Đó là một cách tiếp cận xây dựng và củng cố lòng tin tốt nhất.

f. Yếu tố văn hóa tổ chức

Văn hóa tổ chức được thể hiện ở nhiều khía cạnh, từ phong cách làm việc có

37

chiến lược, kế hoạch; duy trì nền nếp làm việc khoa học và văn minh đến những quy định, tập quán tốt đẹp của tổ chức được tập thể công nhân viên chức của tổ chức chấp nhận và tự nguyện chấp hành. Văn hóa tổ chức ngày nay còn thể hiện ở thái độ, tác phong trong quan hệ công tác, thực hiện nhiệm vụ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa đồng nghiệp với nhau trên tinh thần tôn trọng, bình đẳng và hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc.

Trong xu thế hội nhập, trong một tổ chức có thể xuất hiện sự đa văn hóa của các dân tộc khác nhau mà việc xây dựng văn hóa tổ chức không thể không tính đến yếu tố đó cũng như những khác biệt về tập quán, lối sống và những sở thích có tính riêng biệt của từng cá nhân trong tổ chức. Rõ ràng, ngày nay xây dựng văn hóa tổ chức hiện đại, văn minh và khoa học sẽ góp phần làm cho hoạt động của tổ chức phát triển và bền vững, nhất là trong thời đại hội nhập và cạnh tranh hiện nay và là mục tiêu và trách nhiệm của mọi tổ chức.

Ngoài ra, để liên kết Viện-Trường bền vững luôn phải lấy hiệu quả, lợi ích mang lại làm mục tiêu; phải lấy hợp tác với doanh nghiệp làm trọng, bởi doanh nghiệp vừa là nơi đặt hàng, đưa ra những yêu cầu về chất lượng đầu ra của liên kết và có khả năng cũng cấp kinh phí cho các hoạt động của Liên kết. Như vậy, liên kết Viện-Trường phải coi trọng hợp tác với doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp làm đối tượng phục vụ và làm động lực thúc đẩy hoạt động liên kết.

2.2.3. Những nguyên tắc cơ bản của liên kết Viện-Trường

Kết hợp lý luận về liên kết Viện-Trường với những đặc điểm của Việt Nam, trong mục này, Luận án nghiên cứu và đề xuất những nguyên tắc căn bản của liên kết Viện-Trường ở Việt Nam mà việc tuân thủ những nguyên tắc này sẽ góp phần đảm bảo cho việc xây dựng và duy trì liên kết Viện-Trường bền vững. Những nguyên tắc đó là:

2.2.3.1. Liên kết phải có tính mở

Tất cả các viện, trường đều phải có cơ hội tham gia Liên kết theo điều kiện của mình. Quan hệ liên kết giữa hai đối tác thường được tổ chức theo hai cấp: Liên kết trên nguyên tắc chung, thể hiện ý chí, nguyện vọng của các bên đối tác đối với việc thiết lập mối quan hệ liên kết giữa hai bên và Liên kết thực hiện các nhiệm vụ cụ thể (trở thành đối tác của nhau) trên những nguyên tắc và nội dung nhất định, được hai bên thống nhất bằng các hợp đồng rất cụ thể, trong đó xác định mục tiêu, mục đích, nội dung, trách nhiệm và quyền lợi mỗi bên, thời hạn bắt đầu và kết thúc,

38

các biện pháp thực hiện,… Sự phát triển từ liên kết trên nguyên tắc chung sang liên kết cụ thể là sự phát triển có tính chất tự nhiên, theo nguyện vọng và ý chí của các bên liên kết.

Các hoạt động liên kết cần được khuyến khích trong mọi lĩnh vực: NCKH, PTCN, Đào tạo và CGCN, giữa viện và trường và cho đối tượng thứ ba, chú ý đến thương mại hóa sản phẩm do liên kết mà có.

Nói tóm lại, quan hệ liên kết của một tổ chức phải có tính mở, là một quan hệ động, có thể thay đổi, phát triển theo thời gian, tùy thuộc vào sự hiệu quả của các mối quan hệ đã được thiết lập hay mới. Theo thời gian có thể phát triển thêm các quan hệ liên kết mới, cũng có thể kết thúc các mối quan hệ không mang lại lợi ích [109];

2.2.3.2. Liên kết phải dựa trên cơ sở tự nguyện

Liên kết, hợp tác phải trên tinh thần tự nguyện. Tự nguyện phải được thực hiện không những trong lựa chọn đối tượng để liên kết chiến lược (lâu dài) mà còn trong liên kết thực hiện từng nhiệm vụ cụ thể. Liên kết với ai, liên kết về vấn đề gì, khi nào,... trước hết phải dựa trên nhu cầu và khả năng của bản thân mỗi tổ chức, đơn vị và của đối tác; sự lựa chọn đối tác để liên kết còn phụ thuộc vào nội dung những vấn đề muốn liên kết, khoảng cách địa lý, truyền thống, văn hóa của các tổ chức và sự tin cậy lẫn nhau. Liên kết phải thực chất vì công việc và phải mang lại lợi ích và có hiệu quả cao hơn không liên kết, tuyệt đối không mang tính hình thức.

2.2.3.3. Liên kết từ trong ra ngoài; từ cụ thể, đơn giản đến phức tạp

Liên kết nội bộ có nhiều thuận lợi và là cơ sở để liên kết với các đơn vị bên ngoài. Liên kết nội bộ có tốt mới có thể liên kết hiệu quả với bên ngoài. Vì vậy, điều đầu tiên các đơn vị phải nghĩ đến là tiến hành liên kết nội bộ và phát huy mối liên kết này một cách hiệu quả nhất. Chỉ trên cơ sở liên kết nội bộ có hiệu quả thì liên kết với bên ngoài mới nhanh chóng phát huy tác dụng.

Về trình tự thực hiện liên kết, trước hết cần thiết lập quan hệ liên kết chung, có tính nguyên tắc. Trên cơ sở đó xây dựng lòng tin và phát triển thành các quan hệ đối tác cụ thể cho từng công việc, thông qua những hợp đồng cụ thể thực hiện từng nhiệm vụ liên kết.

Tùy theo nhu cầu, năng lực và sự tin cậy lẫn nhau đến mức nào mà mở rộng các lĩnh vực và độ phức tạp, tầm quan trọng của các nhiệm vụ liên kết trên nguyên tắc liên kết đi từ đơn giản đến phức tạp theo quy luật của nhận thức và hiệu quả thực tế.

39

2.2.3.4. Nguyên tắc lợi ích và sự công bằng trong phân chia lợi ích

Đây là nguyên tắc hết sức quan trọng, mà việc tuân thủ nó có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng và duy trì liên kết Viện-Trường bền vững và có hiệu quả. Lợi ích bao gồm lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, là mục tiêu của bất kỳ tổ chức nào khi liên kết với một đơn vị khác. Không có lợi ích thì không thể hợp tác. Vì vậy, liên kết là phải mang lại lợi ích cho tất cả các thành viên liên kết.

Lợi ích vật chất được thể hiện cụ thể bằng thu nhập do thực hiện các nhiệm vụ liên kết mang lại hay làm tăng số lượng và chất lượng của nguồn lực vật chất, con người [46, 57, 65].

Trong thời đại KH&CN là động lực chủ yếu để phát triển KT-XH và trong môi trường hội nhập và cạnh tranh thì quyền SHTT là một lợi thế to lớn của người sáng tạo. Vì vậy, sự tường minh trong xác định quyền SHTT là một trong những yếu tố tác động lớn đến sự thiết lập và sự bền vững của hoạt động liên kết [90, 99]. Các đối tác có trách nhiệm đàm phán và thỏa thuận trước bằng văn bản về quyền SHTT đối với các thành quả có thể do hợp tác hay phát sinh từ hợp tác mang lại, dựa trên Luật SHTT quốc gia, quốc tế và những thỏa thuận cụ thể khác. Ngoài ra, còn có các lợi ích khác như sự vinh danh hay uy tín được nâng cao,…

Việc phân chia lợi ích phải dân chủ, công khai minh bạch, công bằng, phù hợp với công sức đóng góp của mỗi thành viên. Phân chia lợi ích phải đi đôi với xác định nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp của mỗi bên và ghi trong các hợp đồng cụ thể thực hiện các nhiệm vụ liên kết.

2.2.3.5. Đảm bảo tính tự chủ của mỗi đơn vị thành viên liên kết

Hợp tác, liên kết là để tăng thêm khả năng thực hiện những nhiệm vụ mà qua

đó các bên đối tác đều đạt được mục tiêu căn bản của mình, song không vì thế mà

làm mất đi quyền tự chủ, sự năng động sáng tạo của các thành viên trong hoạt động

thực hiện chức năng của mỗi đơn vị. Liên kết và hợp tác cần trên cơ sở tôn trọng và

hỗ trợ lẫn nhau, không làm cản trở đến những hoạt động bình thường của mỗi thành

viên liên kết.

Trong kế hoạch của mọi thành viên liên kết, các nhiệm vụ liên kết phải được

lồng ghép một cách khoa học và có tính hệ thống trong một kế hoạch thống nhất của

đơn vị, trong đó kết hợp cả các nhiệm vụ trước mắt và lâu dài.

40

2.2.3.6. Nguyên tắc chịu trách nhiệm trong liên kết

Nguyên tắc chịu trách nhiệm trong liên kết được thể hiện trước hết ở sự phân

chia quyền lực trong các hoạt động liên kết, quyền lực phải đi đôi với trách nhiệm.

Ở tầm vĩ mô, trước khi thực hiện liên kết với một tổ chức nhất định, phải nghiên cứu nhu cầu liên kết của đơn vị mình, xem xét khả năng do liên kết có thể mang lại cả trên phương diện đảm bảo nguồn nhân lực, tri thức, tài chính, vật tư, thiết bị và các điều kiện khác; lựa chọn đơn vị liên kết và bàn bạc về việc thiết lập mối liên kết. Một khi mối quan hệ đối tác đã được thiết lập thì một điều quan trọng là các bên đối tác phải duy trì một tinh thần trách nhiệm cao đối với vấn đề đã cam kết. Ý thức trách nhiệm xây dựng liên kết phải cụ thể thông qua việc tập trung trí tuệ và sức lực để hoàn thành tốt nhất những nhiệm vụ được phân công; xây dựng lòng tin và xây dựng văn hóa của tổ chức liên kết.

Ở tầm vi mô, mức độ trách nhiệm của tổ chức và cá nhân phụ thuộc vào vai trò, vị trí được phân công trong các hoạt động cụ thể, vị trí đảm nhiệm trong từng công việc. Quyền lực trong mỗi nhiệm vụ liên kết là vấn đề quan trọng và nhạy cảm đối với mỗi bên đối tác. Vì vậy, phân công trách nhiệm là công việc cần được bàn bạc kỹ lưỡng giữa các đối tác để đi đến thống nhất trên cơ sở đảm cho công việc tiến hành được thuận lợi.

Thông qua ý thức trách nhiệm cao, mọi vấn đề nẩy sinh trong hoạt động liên kết, kể cả những vấn đề xung đột lợi ích kinh tế hay vấn đề về SHTT, vấn đề quyền lực trong liên kết,… đều sẽ được giải quyết một cách thỏa đáng.

2.2.3.7. Linh hoạt, mềm dẻo trong liên kết

Hoạt động liên kết thông thường là để thực thi các nhiệm vụ NCKH, PTCN, tiến hành các công việc liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực hay thực hiện chuyển giao kiến thức, CGCN giữa các đối tác liên kết hay cho đối tác thứ ba. Quản lý các hoạt động này thực chất là quản lý các hoạt động KH&CN, đòi hỏi có tính mềm dẻo cao, phù hợp với lao động trí óc, có tính rủi ro cao. Do đó, quản lý trước hết phải trên cơ sở kế hoạch, lấy việc thực hiện kế hoạch làm mục tiêu tối thượng, nhưng lại phải biết mềm dẻo, linh hoạt khi có những tình huống mới xuất hiện.

Tính linh hoạt, mềm dẻo cần được quán triệt cả trong các lĩnh vực như:

- Xây dựng nhiệm vụ, mục tiêu của hoạt động liên kết;

- Tổ chức thực thi và quản lý việc nhiệm vụ;

- Giải quyết các xung đột lợi ích và các xung đột khác nếu xẩy ra;

41

- Thiết lập và chấm dứt các hợp đồng liên kết,…

Sự linh hoạt mềm dẻo trong quản lý hoạt động liên kết phải trên cơ sở lấy kết

quả và hiệu quả công việc làm mục tiêu.

2.2.3.8. Đảm bảo sự hỗ trợ của chính quyền các cấp

Quan hệ liên kết Viện-Trường là một bộ phận của hệ thống hoạt động KH&CN, là bộ phận quan trọng trong HTĐMQG, có quan hệ không chỉ giữa viện và trường mà còn quan hệ tới các hoạt động xã hội khác mà trước hết là SXKD trong môi trường pháp lý Nhà nước. Vì vậy, liên kết Viện-Trường cần được sự hỗ trợ của chính quyền các cấp có liên quan. Trong đó Nhà nước nói chung hay chính quyền địa phương nói riêng cần:

- Xây dựng và ban hành các luật, chính sách và các văn bản quy phạm pháp

luật khác một cách phù hợp nhất đối với hoạt động liên kết.

- Thúc đẩy đổi mới để tăng cường các hoạt động ứng dụng và thương mại hóa các thành tựu KH&CN trong nền kinh tế quốc dân, qua đó thúc đẩy và tạo điều kiện để hình thành và duy trì bền vững các quan hệ liên kết.

- Tạo điều kiện hỗ trợ cho việc xây dựng, thúc đẩy các mối liên kết thông qua

các chương trình phát triển KT-XH cụ thể.

- Phát triển nguồn nhân lực: Cùng với phát triển nguồn nhân lực nói chung, Nhà nước và chính quyền các địa phương cần duy trì và cải thiện năng lực của viện, trường cũng như của các tổ chức R&D thuộc doanh nghiệp.

- Cải thiện môi trường kinh doanh: Liên kết Viện-Trường sẽ phát triển bền vững trong một môi trường kinh doanh năng động, thúc đẩy và tạo dựng năng lực sáng tạo trong khu vực, tăng cường hợp tác công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa công nghệ và phát triển mạng lưới KH&CN khu vực.

Lĩnh vực quan trọng để cải thiện môi trường kinh doanh bao gồm: quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và đo lường, bảo đảm an toàn, đầu tư và tài trợ, thị trường vốn liên doanh, hoạt động liên doanh, bảo vệ môi trường và cả khả năng luân chuyển của các nhà nghiên cứu.

- Tăng cường đối thoại chính sách và đánh giá: Đối thoại chính sách thường xuyên ở tất cả các cấp liên quan đến hoạt động nghiên cứu, đào tạo và CGCN, đảm bảo quyền SHTT,… sẽ cung cấp cơ hội thảo luận về mối quan tâm và các lợi ích chung. Từ đó có thể đi đến việc tiêu chuẩn hóa hoặc hợp lý hoá các quy định liên quan đến dòng chảy của công nghệ.

42

- Tạo thuận lợi hình thành các mạng hỗ trợ hoạt động liên kết:

Bên cạnh sự hỗ trợ chung của Nhà nước, mỗi địa phương có những đặc điểm riêng về KT-XH, có những nhu cầu và điều kiện riêng. Do đó, chính quyền địa phương có thể thông qua những chính sách hợp lý tạo điều kiện cho sự hình thành các quan hệ liên kết Viện-Trường. Trong quan hệ với địa phương, các viện và trường cũng phải biết lấy việc phục vụ sự phát triển KH&CN, phát triển KT-XH của địa phương làm mục tiêu phục vụ.

Sự kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các ngành KT-XH của địa phương với các viện, trường trên địa bàn là điều kiện quan trọng để đảm bảo cho liên kết Viện-Trường phát triển bền vững.

Những nguyên tắc trên đây có vai trò cực kỳ tích cực mà việc tuân thủ các

nguyên tắc này sẽ giúp cho việc xây dựng duy trì liên kết bền vững và hiệu quả.

2.3. Cơ sở thực tiễn về liên kết Viện-Trường

Để phục vụ cho việc xây dựng lý luận và mô hình liên kết Viện-Trường ở Việt Nam, cùng với việc nghiên cứu vận dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm của nước ngoài, khảo sát thực tiễn về thực trạng liên kết Viện-Trường ở Việt Nam và ý kiến của các viện, trường cùng các chuyên gia về vấn đề này là một cơ sở thực tiễn quan trọng. Trong phần này sẽ tiến hành khảo sát thực trạng liên kết Viện-Trường của ĐHQGHN và ĐHBKHN, đồng thời khảo sát hoạt động liên kết của một số đơn vị thuộc lĩnh vực KHKT và ý kiến các chuyên gia có uy tín về liên kết Viện-Trường trong Quân đội.

2.3.1. Liên kết Viện-Trường ở một số cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa

học quan trọng của Việt Nam

2.3.1.1. Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN)

Theo tài liệu [14], GS.TS Mai Trọng Nhuận-Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: “Từ lâu, ĐHQG Hà Nội coi sự hợp tác Trường-Viện nghiên cứu- Doanh nghiệp như là một đặc trưng của mô hình đại học nghiên cứu. Đó vừa là phương thức, vừa là mục tiêu hướng tới sự phát triển của từng đối tác và cả sự phát triển chung của ba bên”.

Thực hiện chủ trương có tính chiến lược trên đây, ĐHQGHN đã thực hiện mô hình khoa, bộ môn, phòng thí nghiệm phối thuộc để phát huy thế mạnh chuyên môn của mỗi đơn vị thành viên, tạo điều kiện sử dụng hiệu quả các nguồn lực chung, tích hợp được sự giao thoa của các trí tuệ liên ngành. ÐHQGHN xác định phải đẩy

43

mạnh hợp tác Trường đại học-Viện nghiên cứu-Doanh nghiệp trực thuộc, coi đây là đặc trưng của mô hình đại học định hướng nghiên cứu.

Các trường thành viên thuộc ĐHQGHN cũng đã thực hiện liên kết trong NCKH, đào tạo và CGCN với các viện nghiên cứu, doanh nghiệp bên ngoài như: Viện KH&CNQS, các đơn vị của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện KH&CN Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam và với Bệnh viện Bạch Mai [23],…

- Trong phát triển liên kết Viện-Trường:

Trường Đại học Công nghiệp (ĐHCN) thuộc ĐHQGHN tiếp tục khẳng định hiệu quả mô hình liên kết Trường đại học- Viện nghiên cứu-Doanh nghiệp với chương trình hợp tác giữa Trường Đại học Công nghiệp, Viện Cơ học và Tập đoàn IMI; ký kết hợp tác với Tập đoàn IBM triển khai xây dựng CoE-IBM, với tập đoàn HiPT triển khai nghiên cứu, thực tập cho sinh viên,… triển khai Phòng thí nghiệm (PTN) Toshiba-Coltech với tập đoàn Toshiba…; Trường cũng ký thỏa thuận hợp tác với nhiều doanh nghiệp mới như Ngân hàng Sacombank, Khu công nghiệp Vũng Áng-Hà Tĩnh.

Ngoài ra, Đại học Quốc gia Hà Nội còn hợp tác với nhiều địa phương và phục

vụ cộng đồng đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH.

- Hoạt động hợp tác với nước ngoài:

Trong những năm qua, ĐHQGHN đã tổ chức các sự kiện quan trọng và có tầm ảnh hưởng lớn để thúc đẩy, tạo điều kiện phát triển, liên kết, hợp tác trong tất cả các hoạt động đào tạo, NCKH, dịch vụ như: Đại học Khoa học tự nhiên thỏa thuận hợp tác với các trường đại học của Đức, Hungary, Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan…; Trường Đại học Ngoại ngữ ký kết hợp tác với các cơ quan phát triển quốc tế Tây Ban Nha (AECID), Đại học Chosun, Đại học Cyber,… Trường Đại học Kỹ thuật (ĐHKT) tiếp tục mở rộng quan hệ và ký kết hợp tác với các trường đại học có uy tín trên thế giới (Đại học Sydney, Đại học Ykohame) và một số tổ chức quốc tế UNDP, Công ty ACCA…; Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) tiếp tục là đại điện duy nhất cho Quỹ học bổng NAGAO (Nhật Bản) tại Việt Nam…

Trên cơ sở các quan hệ liên kết nói trên, ĐHQGHN đã thực hiện nhiều dự án về đào tạo nguồn nhân lực và NCKH, góp phần nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên của Trường [9].

44

2.3.1.2. Đại học Bách khoa Hà Nội (ĐHBKHN)

Là trường Đại học về KH&CN lớn nhất cả nước, có lịch sử phát triển lâu đời và là trung tâm KH&CN của cả nước, với sứ mạng là “đem lại cho xã hội và cộng đồng các lợi ích với chất lượng tốt nhất từ các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và dịch vụ, góp phần đắc lực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn an ninh quốc phòng và phát triển hệ thống giáo dục đại học Việt Nam”. Tại Quyết định số 668/QD-BGĐT ngày 01/02/2007 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt Đề án: "Quy hoạch tổng thể xây dựng và phát triển trường Đại học Bách khoa giai đoạn 2006-2030", theo đó, mục tiêu trong 50 năm tới là: "Xây dựng ĐHBKHN thành trường đại học nghiên cứu trọng điểm quốc gia về khoa học và công nghệ, đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, đạt trình độ và chất lượng khu vực và thế giới; là địa chỉ tin cậy, hấp dẫn đối với xã hội và các nhà đầu tư phát triển công nghệ, giới doanh nghiệp, tài chính trong và ngoài nước”. Để đạt được mục tiêu này, ĐHBKHN đã xây dựng Đề án quy hoạch tổng thể, nhằm tăng cường gắn kết giữa Nhà trường và môi trường KT-XH, giữa đào tạo, NCKH với SXKD (Website của ĐHBKHN 2/2014).

- Trong phát triển liên kết Viện-Trường:

Để thực hiện được sử mạng và đạt được mục tiêu của mình, ĐHBKHN đã xây dựng một hệ thống tổ chức gồm 3 khoa (Giáo dục Quốc phòng, Giáo dục Thể chất và Lý luận Chính trị), 24 Viện chuyên ngành, làm công tác nghiên cứu và đào tạo; một trường Cao đằng nghề và 01 Chương trình Hợp tác đào tạo quốc tế Bách khoa Genetic, chuyên đào tạo trong hai lĩnh vực Công nghệ thông tin và Quản trị khinh doanh; 7 công ty làm nhiện vụ sản xuất kinh doanh và thực hiện chức năng liên kết giữa hoạt động NCKH, PTCN và đào tạo của Trường với doanh nghiệp và xã hội nói chung. Tất cả tạo thành một hệ thống liên kết hoàn chỉnh trong nội bộ của Trường, làm cơ sở để liên kết với bên ngoài và liên kết quốc tế.

- Hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế:

Cũng theo Website của Trường, ĐHBKHN đã và đang triển khai quan hệ hợp

tác về đào tạo và NCKH với hơn 300 trường đại học và viện nghiên cứu, các công

ty trong và ngoài nước. Hiện ĐHBKHN là Chủ tịch Câu lạc bộ các Trường Đại học

Kỹ thuật của cả nước [22], là đơn vị đi tiên phong trong thực hiện hoạt động liên kết

giữa các trường đại học, sớm đưa được các kết quả nghiên cứu vào đời sống KT-

XH. Hiện nay, ĐHBKHN là thành viên của 8 tổ chức và mạng lưới đại học quốc tế

45

và có quan hệ hợp tác đào tạo, NCKH với 200 trường đại học lớn, viện nghiên cứu,

công ty của 32 nước như Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Anh, Hàn Quốc, Trung Quốc,

Singapore,… Mục tiêu của các chương trình hợp tác quốc tế là đào tạo nguồn nhân

lực khoa học, công nghệ và quản lý trình độ cao theo chuẩn mực quốc tế; góp phần

đào tạo và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ giảng dạy, NCKH; từng bước góp phần

hiện đại hoá chương trình và phương pháp giảng dạy; tăng cường cơ sở vật chất

phục vụ giảng dạy và tái sản xuất đào tạo.

2.3.2. Liên kết Viện-Trường thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông

thôn

Về phương diện khoa học, Nông, Lâm và Ngư nghiệp, Thủy lợi được xác định

là các ngành nghề kỹ thuật (Engineering), với việc nghiên cứu phát triển, ứng dụng

KH&CN rộng rãi trong sản xuất kinh doanh (SXKD) và CGCN là phương thức

quan trọng để đổi mới công nghệ đảm bảo nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm.

Bộ NN&PTNT là Bộ duy nhất có Quyết định 98/2006/QĐ-BNN về liên kết Viện-

Trường và đã được tổng kết đánh giá một cách tương đối toàn diện, là bài học

chung khi nghiên cứu về liên kết Viện-Trường ở Việt Nam.

2.3.2.1. Khái quát về Quyết định 98/2006/QĐ-BNN ngày 30/10/2006 của Bộ

Nông nghiệp, nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT)

Quyết định số 98/2006/QĐ-BNN, ngày 30 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng

Bộ Nông nghiệp về Quy chế kết hợp giữa các Trường đại học và Viện nghiên cứu

thuộc thuộc Bộ NN&PTNT, quy định nguyên tắc, nội dung, hình thức tổ chức cũng

như trách nhiệm của các trường, viện và các cơ quan quản lý của Bộ trong việc xây

dựng và thực thi hoạt động liên kết Viện-Trường của Bộ. Tháng 8 năm 2009 Bộ đã

tổ chức đánh giá kết quả thực hiện Quyết định này nhằm rút kinh nghiệm, khắc

phục những tồn tại nhằm đẩy mạnh liên kết Viện-Trường của Bộ trong những năm

tiếp theo.

Quyết định số 98/2006/QĐ-BNN của Bộ NN&PTNT đã đề ra những mục tiêu

rất cụ thể, phù hợp với lý luận chung về liên kết. Đó là:

+ Nâng cao chất lượng và hiệu quả NCKH và đào tạo; tăng khả năng ứng

dụng và chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn đời sống.

+ Tạo sự gắn kết chặt chẽ, lâu dài giữa các trường đại học và các viện nghiên

cứu trong ĐT, NCKH và ứng dụng kết quả nghiên cứu.

46

+ Nâng cao năng lực cán bộ giảng dạy và NCKH.

2.3.2.2. Kết quả khảo sát đánh giá hai năm thực hiện liên kết Viện-Trường

của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Theo Báo cáo điều tra khảo sát của Bộ về thực hiện Quyết định số 98/2006

của Bộ [6], một số kết quả quan trọng có thể khái quát như sau:

 Về nhận thức và nhu cầu liên kết:

Tất cả các viện, trường của Bộ đều cho rằng, liên kết trong Đào tạo và NCKH

là một nhu cầu có thật, là có lợi, tập hợp và tận dụng, phát huy được lực lượng cán

bộ KH&CN và điều kiện vật chất, kỹ thuật, thông tin để giải quyết nhiều vấn đề mà

nếu không liên kết sẽ gặp nhiều khó khăn. Vấn đề còn lại và thường vướng mắc là

làm sao có một cơ chế thích hợp để việc liên kết diễn ra một cách thuận lợi và mang

lại lợi ích cho tất cả các bên liên kết.

 Về hiện trạng liên kết đào tạo:

- Tổng hợp số liệu điều tra theo các khối viện, trường: Thủy sản, Nông nghiệp,

Thủy lợi và Lâm nghiệp như Bảng 2.1 dưới đây.

Bảng 2.1: Số liệu điều tra về liên kết Viện-Trường tại Bộ NN&PTNT giai đoạn 2006-2009

TT Nội dung thực hiện Thủy sản Thuỷ lợi

1 1 trong 3 đơn vị có làm Thông báo kế hoạch hàng năm cho T-V khác 2 trong 6 đơn vị có làm Nông nghiệp 1 trong 3 đơn vị có làm Lâm nghiệp Cả 2 đơn vị đều có làm

Không Không Không 2 Ký kế hoạch liên kết hàng năm với đối tác 1 trong 3 đơn vị có Ban kết hợp (ĐH Thuỷ lợi)

3 Công tác kiêm nhiệm Không Không Không Không

Qua đây cho thấy, việc thông báo kế hoạch hàng năm cho đơn vị khác đã có

một vài đơn vị thực hiện, trong khi việc ký kết một hợp đồng nguyên tắc về liên kết

và việc nhận hay cử cán bộ kiêm nhiệm tại đơn vị đối tác thì cơ bản chưa thực hiện.

- Những nội dung thể hiện sự liên kết trong đào tạo phân theo ngành có thể

tóm tắt như Bảng 2.2 dưới đây:

47

Bảng 2.2: Theo tỷ lệ số đơn vị có thực hiện/Tổng số đơn vị của Khối ngành được khảo sát

TT Nội dung Thủy sản Thuỷ lợi Nông nghiệp Lâm nghiệp

1 Cán bộ của đối tác tham gia Hội đồng 3/5 đơn vị có 1/3 đơn vị có 2/3 đơn vị có 1/2 đơn vị có

2 Mời đối tác giảng dạy 3/5 đơn vị có 2/3 đơn vị có 2/3 đơn vị có 1/2 đơn vị có

3 Phối hợp viết tài liệu 3/5 đơn vị có 3/3 đơn vị có 2/3 đơn vị có 2/2 đơn vị có

4 (61 người) (2 người) (53 người) - Cán bộ của đối tác hướng dẫn NCS, Cao học

5 TT: 1060 TN: 2893 TT: 123 TN: 63 TT: 212 TN: 125 TT: 140 TN: 93 Số sinh viên thực tập (TT) và làm tốt nghiệp (TN) tại Viện

Nhận xét:

+ Khoảng 50% số trường và viện có mời đối tác tham gia các dạng Hội đồng Khoa học và tương đối đều trong cả 4 khối ngành. Điều này cho thấy liên kết Viện- Trường, mà chủ yếu là trong đào tạo cũng được duy trì ở một mức độ nhất định.

+ Vấn đề phối hợp viết giáo trình, tài liệu phục vụ đào tạo được thực hiện trong hầu hết viện, trường của Bộ, trong đó khối Nông nghiệp và Lâm nghiệp là đạt 100%;

+ Số cán bộ tham gia hướng dẫn cao học cho đối tác trong mỗi khối ngành

cũng cỡ hàng chục (Khối ngành Lâm nghiệp không có số liệu).

+ Trong sự liên kết đào tạo, các luận văn, luận án được các viện hướng dẫn

thường có kết hợp với hoạt động nghiên cứu.

+ Về số sinh viên đã được thực tập giáo trình hay thực tập tốt nghiệp tại các viện cũng là một con số đáng kể, thể hiện việc gắn học với hành, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho người học. Con số này, theo trình tự ngành: Thuỷ sản, Nông nghiệp, Thuỷ lợi và Lâm nghiệp lần lượt như sau:

++ Thực tập giáo trình: 1060, 123, 212, 140;

++ Thực tập tốt nghiệp: 2893, 63, 125, 93.

Nói chung, việc kết hợp trong đào tạo diễn ra tương đối đồng đều ở các trường và các viện trong cả 4 lĩnh vực ngành. Tuy vậy, vẫn cần nhắc lại là quy mô liên kết

48

còn nhỏ bé so với tiềm năng và diễn ra theo nhu cầu tự nhiên và không theo một kế hoạch có tính phối hợp nguồn lực một cách có ý thức đầy đủ của tinh thần liên kết.

 Hiện trạng liên kết NCKH và chuyển giao kết quả nghiên cứu

Kết quả điều tra cho thấy, liên kết trong lĩnh vực NCKH và CGCN thì không được thuận lợi như liên kết trong đào tạo. Tổng kết thực trạng liên kết nghiên cứu có thể khái quát lại như bảng 2.3 dưới đây.

Bảng 2.3: Theo tỷ lệ số đơn vị thực hiện/Tổng số đơn vị của Khối ngành

TT Nội dung Thủy sản Nông nghiệp Thuỷ lợi Lâm nghiệp

1 4/5 3/3 2/3 2/2 Phối hợp tuyển chọn đề tài nghiên cứu khoa học.

2 4/5 3/3 2/3 2/2 Mời đối tác tham gia thẩm định đề cương nghiên cứu.

3 Cùng thực hiện một đề tài. 2/5 2/3 2/3 1/2

4 5/5 3/3 2/3 1/2 Cùng tổ chức Hội nghị, Hội thảo khoa học

5 5/5 2/3 2/3 2/2 Nhận chuyển giao kết quả cho đối tác

6 3/5 2/3 2/3 1/2 Phối hợp chuyển giao kết quả cho SXKD.

7 Vườn ươm công nghệ. Không Không Không Không

8 Xây dựng doanh nghiệp KH&CN. Không Không Không Không

Từ bảng 2.3 có thể có các nhận xét sau:

Các viện và trường đã có những hoạt động mang tính liên kết như phối hợp chọn đề tài hay chọn người chủ nhiệm đề tài. Tuy vậy, hoạt động này còn rất ít mà lý do là số lượng đề tài cấp Nhà nước và cấp bộ vừa ít, lại phải đấu thầu. Một số viện lớn với số đề tài hàng năm nhiều thì có nhu cầu liên kết, thí dụ: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II hay Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam,… Nhưng, thí dụ đối với khối ngành Lâm nghiệp, số lượng đề tài ít, trường rất khó giành được đề tài nghiên cứu và do đó liên kết nghiên cứu trong lĩnh vực Lâm nghiệp là khó có điều kiện thực hiện. Thông thường, các viện hoặc trường thường thực hiện các phần khác nhau của một chương trình hay đề tài lớn đã được tách bạch, không thể hiện được tính chất liên kết nhân lực, tài lực, vật lực và hình thành một tổ chức thống

49

nhất. CGCN cho nhau, theo nghĩa sử dụng kết quả nghiên cứu trong bài giảng hay các công trình đã được công bố, được các viện và trường thực hiện thường xuyên, song việc chuyển giao một sản phẩm công nghệ hay phối hợp chuyển giao cho cơ sở sản xuất thì tuy là có nhưng rất ít và còn nhiều trở ngại. Kết quả điều tra cũng cho thấy, về cơ bản các viện, trường chưa quan tâm đến xây dựng vườn ươm công nghệ hay doanh nghiệp KH&CN, mặc dù một số viện, trường đã hoặc sắp chuyển sang thực hiện Nghị định 115/CP.

Tóm lại, sự liên kết trong NCKH giữa các viện và trường đã có, nhưng nhỏ,

manh mún, chưa tương xứng với tiềm năng và đòi hỏi của thực tiễn.

 Thực hiện hợp tác quốc tế và liên kết với các đơn vị ngoài Bộ

Căn cứ theo báo cáo điều tra, hầu hết các viện và trường lớn của Bộ NN&PTNT đều thực hiện và duy trì quan hệ quốc tế từ lâu và phát triển ngày càng sâu rộng hơn. Dưới dạng khái quát, sự hợp tác đó theo ngành như thống kê trong Bảng 2.4 sau:

Bảng 2.4: Hợp tác quốc tế theo khối ngành giai đoạn 2006-2009

TT Nhóm ngành Thủy sản Nông nghiệp Thuỷ lợi Lâm nghiệp

1 Số lượng tổ chức quốc tế đang hợp tác 42 28 - 10

4/5 2/3 - 1/2 2 Tỷ lệ đơn vị có Hợp tác cùng thực hiện nhiệm vụ/tổng đơn vị được khảo sát.

4/5 1/3 - 2/2 3 Tỷ lệ đơn vị cử cán bộ đi học theo nội dung hợp tác/tổng đơn vị khảo sát

4/5 1/3 - 2/2 4 Tỷ lệ đơn vị cử cán bộ đi tham quan theo Chương trình hợp tác/tổng đơn vị khảo sát

5/5 3/3 3/3 2/2 5 Tỷ lệ đơn vị có Hợp tác với cơ quan ngoài Bộ/tổng đơn vị khảo sát.

Trong đó, nhóm ngành Thuỷ lợi trong báo cáo không thấy ghi rõ vấn đề hợp

tác quốc tế của Viện Khoa học Thuỷ lợi và Đại học Thuỷ lợi. Liên kết với các viện,

trường ngoài Bộ, tuy được các viện, trường quan tâm, nhưng chưa gắn bó chặt chẽ

như Quyết định 98/BNN mong muốn.

50

2.3.2.3. Nhận xét khái quát về những tồn tại và nguyên nhân

Tuy Quyết định 98/2006 của Bộ NN&PTNT đã có những tác dụng thúc đẩy

liên kết Viện-Trường trong Bộ. Tất cả các viện và trường đều nhận thức đầy đủ về

sự cần thiết của Liên kết cả trong NCKH, đào tạo và CGCN nhằm sử dụng hiệu quả

những nguồn lực còn hiếm hoi và nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm, nhưng

vẫn còn nhiều tồn tại như: (1) Cơ chế chính sách về tổ chức, quản lý nhân sự, tài

chính cho nghiên cứu KH&CN, và về lâu dài vấn đề SHTT và lợi ích trong hợp tác

cũng như văn hóa hợp tác là những vấn đề cần giải quyết sớm mới tạo điều kiện để

liên kết phát triển và duy trì bền vững; (2) Liên kết nội bộ giữa các đơn vị nghiên

cứu, đào tạo và dịch vụ của một viện, trường về cơ bản chưa được tổ chức một cách

bài bản và do đó hầu như chưa có quy chế, quy định hay hướng dẫn về vấn đề này;

(3) Trong phạm vi Bộ NN&PTNT và trong cả nước, nghiên cứu lý luận về liên kết

chưa được coi trọng đúng mức.

Những tồn tại trên đây có những nguyên nhân cơ bản của nó như: Vai trò của

Nhà nước, Bộ, ngành hay chính quyền địa phương đối với hoạt động liên kết còn

mờ nhạt, rất hạn chế; chưa có những chương trình hành động cụ thể cả về tổ chức,

kế hoạch hành động tương xứng; không có các quy định cụ thể về quản lý, đánh giá,

kiểm tra đôn đốc của các cấp đối với hoạt động liên kết; nhận thức của lãnh đạo các

viện, trường về liên kết chưa sâu sắc, cả trên phương diện lý luận lẫn hoạt động thực

tiễn; hệ thống chính sách chưa đủ mạnh và còn nhiều bất cập, chưa tạo điều kiện

thuận lợi cho liên kết phát triển và duy trì bền vững, đặc biệt là chính sách về tài

chính, quản trị nhân lực, sử dụng chung phòng thí nghiệm, trang thiết bị và cơ sở

vật chất kỹ thuật khác; chính sách về phân chia lợi ích và đảm bảo quyền Sở hữu trí

tuệ trong liên kết; hệ thống các Chương trình, Đề tài, Dự án phát triển KH&CN,

phát triển KT-XH còn ít, tầm cỡ nhỏ và chưa dự tính đến việc hỗ trợ và tạo điều

kiện cho phát triển và thúc đẩy hoạt động liên kết; nguồn lực của các viện, trường

còn nhỏ bé, tính ỳ của cán bộ còn lớn và thiếu những cán bộ có khả năng và uy tín

trong tổ chức và thực thi những nhiệm vụ liên kết phức tạp, tài chính eo hẹp cùng

với các cơ chế chưa được đổi mới một cách thích hợp.

Cuối cùng, có thể nói, thực trạng hoạt động liên kết Viện-Trường của Bộ NN&PTNT cũng là thực trạng chung của liên kết Viện-Trường của hệ thống viện, trường của cả nước.

51

2.3.3. Liên kết Viện-Trường của Bộ Quốc phòng

Trên cơ sở chủ trương của Đảng và Nhà nước là: “Tăng cường liên kết giữa tổ chức khoa học và công nghệ với doanh nghiệp trong việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực. Thí điểm thực hiện cơ chế hợp tác công-tư, đồng tài trợ thực hiện nhiệm vụ KH&CN”; “Tăng cường hợp tác giữa các trung tâm nghiên cứu trong nước với các tổ chức nghiên cứu KH&CN nước ngoài. Nghiên cứu hình thành một số trung tâm KH&CN hiện đại có liên kết với các tổ chức khoa học tiên tiến nước ngoài” [13, 31] và đã được khẳng định rõ trong Nghị quyết số 27-NQ/TW (khóa IX) và Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) về “Xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đến 2020 và những năm tiếp theo” [30, 32], BQP chủ trương đẩy mạnh liên kết giữa các Viện nghiên cứu, trường ĐH và các cơ sở SXKD trong Bộ. Quán triệt tinh thần đó, các học viện, nhà trường KHKT, trong đó có KHKT Y dược Quân đội đã triển khai nhiều hoạt động liên kết và đã đem lại những kết quả tốt đẹp. Tuy vậy, để liên kết của các Viện nghiên cứu và nhà trường Quân đội đi vào thực tiễn một cách vững chắc và có hiệu quả, nghiên cứu về thực trạng hoạt động liên kết của các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu KHKT của Quân đội sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc đề xuất các biện pháp chính sách thúc đẩy phát triển hoạt động liên kết trong thời gian tới.

2.3.3.1. Nhu cầu và điều kiện liên kết Viện-Trường của Bộ Quốc phòng

Nhu cầu về nghiên cứu KH&CN, đào tạo cán bộ và sản xuất, chế tạo vũ khí, khí tài hiện đại phục vụ chính quy hóa và hiện đại hóa Quân đội đang là một vấn đề cấp bách. Thống kê về số lượng và tính chất của các đề tài nghiên cứu của Bộ trong lĩnh vực KHKT trong 5 năm giai đoạn 2006-2010 [8] cho thấy: Tổng số đề tài nghiên cứu là 209, trong đó có: 35 đề tài cấp Nhà nước; 28 đề tài thuộc chương trình KH&CN, 24 đề tài thuộc Nghị định thư và 122 đề tài cấp BQP. Số tài liệu biện soạn là 2781, trong đó số tài liệu huấn luyện là 1528 và số tài liệu giảng dạy là 1253.

Những số liệu thống kê trên đây phần nào cũng cho thấy nhu cầu cũng như tiền đề của liên kết trong lĩnh vực KHKT của BQP là rất lớn. Bên cạnh đó, hàng chục dự án phòng thí nghiệm dùng chung đã được xây dựng, là cơ sở cho việc thúc đẩy phát triển liên kết, hợp tác giữa các tổ chức KH&CN trong Quân đội; số lượng và chất lượng của nhân lực KH&CN của Bộ đến tháng 7/2011 có 17 GS, 245 PGS, 1284 TS (CK2), 4106 Thạc sỹ (CK1) và hàng ngàn kỹ sư, là cơ sở quan trọng cho

52

hoạt động liên kết, nhưng vẫn còn quá mỏng so với yêu cầu giải quyết các nhiệm vụ KH&CN từ A đến Z của Quân đội.

Về mặt chủ trương, trong báo cáo về “Phương hướng nhiệm vụ công tác KHCN&MT giai đoạn 2011-2015”, Cục KHCN&MT nay là Cục KHQS đã một lần nữa đề xuất và nhấn mạnh: “Cho phép các Cơ quan, Viện nghiên cứu, các Học viện, Nhà trường mở rộng sự hợp tác trong nước,…”.

Như vậy, liên kết là một nhu cầu tất yếu, một chủ trương nhất quán của Bộ và

hoàn toàn có đủ kiều kiện để phát triển.

2.3.3.2. Thực trạng hoạt động liên kết của một số Viện nghiên cứu, Học

viện, Nhà trường Quân đội

a. Học viện Kỹ thuật Quân sự (HVKTQS)

Học viện KTQS, được thành lập vào 28/10/1966, là Học viện hàng đầu có chức năng đào tạo bậc đại học và sau đại học về KHKT cho Quân đội và cho nền kinh tế quốc dân. Trong giao dịch quốc tế Học viện còn có tên gọi Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn. Học viện có 10 khoa đào tạo kỹ sư, 5 khoa hỗ trợ đào tạo. Ngoài ra có 3 viện đã được thành lập gồm: Viện Tích hợp hệ thống, Viện Công nghệ mô phỏng, Viện Công trình đặc biệt và 2 trường đang chuẩn bị thành lập gồm: Đại học Công nghệ Việt Nga (VRUT), Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông [19, 22].

- Về hợp tác nghiên cứu

Thực hiện chức năng trung tâm nghiên cứu KH&CN đa ngành của Quân đội và Quốc gia, chỉ trong giai đoạn 2001 đến 2005, Học viện KTQS đã tiến hành nghiên cứu và phối hợp nghiên cứu với Viện KH&CNQS, Học viện Phòng không Không quân; Học viện Không quân Nha Trang, Trường Sĩ quan thông tin (Trước đây) và nhiều Viện nghiên cứu và các Trường đại học của Nhà nước, thực hiện hơn 1.000 đề tài khoa học, trong đó có 29 đề tài, dự án cấp nhà nước, 50 đề tài cấp bộ, 20 đề tài cấp ngành, 136 đề tài cấp học viện...

- Về hợp tác đào tạo

Phối hợp cùng các viện và trường nói trên trong việc đào tạo trình độ cao học, nghiên cứu sinh hệ Quân sự và dân sự. Học viện đã xây dựng kế hoạch hợp tác với Quân chủng Phòng không - Không quân (PK-KQ), Quân chủng Hải quân về đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu, khai thác làm chủ các vũ khí trang bị kỹ thuật mới, tham gia dự án cải tiến tên lửa, ra đa, tích hợp hệ thống (tích hợp vũ khí trên tàu chiến, tự động hóa chỉ huy…). Trong năm 2009, Học viện đã phối hợp với Quân

53

chủng PK-KQ tổ chức thành công lớp bổ túc kỹ sư về khai thác tổ hợp tên lửa S300 cho các cán bộ kỹ thuật của Quân chủng và Học viện…

- Về hợp tác quốc tế

Đối tác quốc tế truyền thống của Học viện KTQS là Lào và Campuchia. Hàng năm Học viện đào tạo giúp Quân đội bạn kỹ sư các chuyên ngành kỹ thuật quân sự và quản lý KH&CN, ký kết nhiều hợp tác quốc tế về KH&CN cấp Nhà nước theo Nghị định thư với Liên bang Nga và Ucraina; đã ký kết văn kiện hợp tác và triển khai các nội dung cụ thể với các đối tác có công nghệ nguồn về vũ khí trang bị kỹ thuật như Belarus, Cộng hòa Séc, Cộng hòa Slovakia…. Học viện cũng đã xây dựng và thực hiện Chương trình liên kết đào tạo hai giai đoạn với Trường Đại học Kỹ thuật Tổng hợp Bauman (LB Nga) và Đại học Hàng không Matxcơva. Hiện nay, đã thực hiện được 3 khóa đào tạo liên kết với tổng số 74 học viên. Ngoài ra, Học viện đã ký thỏa thuận hợp tác về đào tạo, trao đổi học thuật, hợp tác NCKH và CGCN với một số trường đại học lớn của Liên bang Nga như Đại học Kỹ thuật Tổng hợp Bauman, Đại học Hàng không Matxcơva; Đại học KHCN Nam Kinh, Đại học Giao thông Tây An, Đại học Khoa học Công nghệ Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa và với Học viện Quốc phòng Bruno-Cộng hòa Séc; cử nhiều học viên đi học theo các chương trình đào tạo dài hạn, nghiên cứu sinh, thực tập sinh ở các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nga; tổ chức đào tạo kỹ sư quân sự cho nước bạn Lào và Campuchia,...

b. Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự (KH&CNQS)

Viện KH&CNQS hiện có 10 viện và một trung tâm nghiên cứu, một tập đoàn và 3 công ty, một phòng đào tạo và một phân viện phía Nam. Nhiệm vụ chính của Viện là NCKH và PTCN phục vụ HĐH quân đội, đào tạo cán bộ trình độ thạc sỹ và tiến sỹ. Để thu hút được trí tuệ và các nguồn lực khác của các tổ chức khoa học và cơ quan Nhà nước và Quân đội, Viện KH&CNQS đã tiến hành hợp tác, liên kết trong NCKH, Đào tạo và CGCN với Học Viện KTQS, các Trường lớn của Nhà nước như ĐHQGHN, ĐHQG Tp HCM và các trung tâm nghiên cứu của các Bộ, ngành và địa phương,...

Viện KH&CNQS, trong giai đoạn 2006-2011, với sự hỗ trợ của Sở KH&CN

TP. Hồ Chí Minh, đã triển khai nghiên cứu khoa học hơn 50 đề tài, dự án và áp

dụng thành công các kết quả nghiên cứu vào hoạt động huấn luyện sẵn sàng chiến

đấu, cải tiến vũ khí trang bị, chăm sóc và đảm bảo sức khỏe bộ đội... [28]. Ngày

54

24/6/2012, Viện KH&CNQS đã ký Thỏa thuận Hợp tác về KH&CN với ÐHQGHN

[16] và với ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh. Đánh giá về sự hợp tác giữa hai cơ

quan, Giám đốc Sở KH&CN TP. Hồ Chí Minh, cho biết: “Sự phối hợp giữa hai cơ

quan là một điển hình hợp tác có hiệu quả trong các lĩnh vực KH&CN, nhất là ứng

dụng KH&CN phục vụ các nhiệm vụ quốc phòng an ninh và phát triển KT-XH của

TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam”. Trong giai đoạn tiếp theo, hai bên sẽ tiếp

tục hợp tác trên nhiều lĩnh vực như quốc phòng an ninh, công nghệ thông tin, bảo

vệ môi trường và công nghiệp vật liệu,… Hai bên cùng nhau thảo luận và thống

nhất ký kết văn bản thỏa thuận hợp tác giữa Khu Công nghệ Phầm mềm ĐGQG-

TP.Hồ Chí Minh và Viện KH&CNQS. Theo thỏa thuận đó, hai bên sẽ liên kết, hợp

tác thực hiện nhiều nhiệm vụ KH&CN mới, trong đó tận dụng được thế mạnh của

cả hai bên và sức mạnh nguồn lực trong nước và quốc tế [40].

Trong lĩnh vực đào tạo, Viện KH&CNQS đã hợp tác chặt chẽ với Học viện KTQS trong việc đào tạo cán bộ trình độ cao học và tiến sỹ cho Quân đội và Nhà nước, thông qua những hoạt động hợp tác thực hiện nhiệm vụ đào tạo, tham gia các Hội đồng tư vấn KH&CN cũng như trực tiếp giảng các chuyên đề cho cán bộ của cả hai đơn vị.

c. Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga

Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga được coi là nền tảng hợp tác giữa hai nước

trong lĩnh vực KH&CN. Theo đánh giá chung của giới chuyên môn, cho đến nay,

trung tâm này là tổ chức hợp tác KH&CN bền chặt, lâu dài nhất giữa hai nước và là

mô hình hợp tác KH&CN quốc tế điển hình chưa từng có tiền lệ giữa hai nước. Các

đề tài và chương trình nghiên cứu của trung tâm vừa mang tính cơ bản vừa mang

tính ứng dụng cao. Những năm gần đây, định hướng ứng dụng càng trở nên rõ rệt,

phục vụ hiệu quả cho quốc phòng, kinh tế, góp phần vào sự nghiệp CNH, HĐH đất

nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển [33].

Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga phát triển và thành công là do có sự quan tâm

và ủng hộ của Chính phủ hai nước; xây dựng được tổ chức và các nguyên tắc và cơ

chế hoạt động hợp lý; có chương trình hoạt động phù hợp với sự mong muốn của cả

hai bên cũng như sự tin cậy lẫn nhau về chính trị, ý thức và trách nhiệm trong hợp

tác ngày càng bền chặt và cuối cùng là lợi ích khoa học, KT-XH của hai bên được

đảm bảo.

55

d. Học viện Quân y (HVQY)

Hiện nay, Học viện Quân y là một tổ hợp Đào tạo, NCKH và CGCN, bao gồm gần 100 Khoa, Bộ môn; 7 trung tâm, 2 bệnh viện thực hành (Bệnh viện 103 và Viện Bỏng Quốc gia), 1 Trường Trung cấp y và các phòng trực thuộc. Trên 90% cán bộ, giảng viên của Học viện đạt trình độ sau đại học, trong đó có 156 Tiến sĩ; 5 Nhà giáo Nhân dân; 6 Thầy thuốc Nhân dân; 29 Nhà giáo Ưu tú; 100 Thầy thuốc Ưu tú; 36 Giáo sư và 102 Phó Giáo sư. Học viện là một trung tâm có sự liên kết nội bộ chặt chẽ giữa các đơn vị thực hiện chức năng Đào tạo, Nghiên cứu khoa học và Điều trị [17, 12].

- Về liên kết nội bộ

Với 2 Bệnh viện điều trị và nghiên cứu khoa học và Trung tâm Công nghệ phôi, Học viện trở thành một trong những cơ sở thực hiện liên kết nội bộ một cách chặt chẽ và thường xuyên trong NCKH, đào tạo nguồn nhân lực và CGCN, đưa nhanh tiến bộ KH&CN vào thực tiễn khám và điều trị bệnh.

- Về hợp tác trong nước và quốc tế

Từ năm 1954, Học viện đã tiếp nhận đào tạo những quân y sĩ đầu tiên cho Quân giải phóng Nhân dân Lào; năm 1964, triển khai các khóa đào tạo bác sĩ cho Campuchia; năm 1989, triển khai đào tạo Bác sĩ Chuyên khoa cấp I, Y học dân tộc cho Cu Ba [24].

Học viện Quân y có quan hệ hợp tác với tất cả các bệnh viện của Quân đội, với nhiều bệnh viện của ngành Y tế, Sở Y tế Hà Nội và hầu hết các trường đại học Y- Dược trong nước; có quan hệ hợp tác với các trường đại học Y-Dược, các bệnh viện, các cơ sở khoa học của 25 nước có trình độ Y học tiên tiến trên thế giới [17, 21].

e. Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (TƯQĐ 108)

Là bệnh viện tuyến cuối toàn quân, Bệnh viện TƯQĐ 108 là một khu liên hợp phục vụ điều trị, phòng thí nghiệm, nghiên cứu khoa học, giảng dạy với 1.500 giường bệnh và gần 2000 nhân viên y tế hoạt động ở 18 khoa nội, 17 khoa ngoại và chuyên khoa, 19 khoa cận lâm sàng, 3 viện, 4 trung tâm, 9 bộ môn đào tạo tiến sĩ... vào loại hiện đại nhất của đất nước. Trong số 436 bác sĩ, có tới 22 giáo sư, phó giáo sư, 79 tiến sĩ, hơn 220 thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa I và II [29].

- Về liên kết nội bộ

Với cơ cấu tổ chức gồm Bệnh viện khám và điều trị, các viện nghiên cứu và Trung tâm đào tạo như trên, lại được trang bị bằng những kỹ thuật và công nghệ

56

tiến tiến, Bệnh viện TƯQĐ 108 thực sự trở thành một trung tâm liên kết NCKH, Đào tạo, CGCN và sử dụng công nghệ cao trong ngành y của Việt Nam. Các bác sỹ vừa thực hành điều trị, sử dụng trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ, vừa NCKH và đào tạo cán bộ khoa học cao cấp. Trong mối liên kết này, cán bộ KH&CN có điều kiện phát huy hết khả năng sáng tạo, đi từ nghiên cứu đến thực nghiệm để khẳng định những phương pháp khoa học mới, các sản phẩm mới cũng như những phác đồ điều trị hiệu quả. Bên cạnh đó, nhờ liên kết nội bộ, nguồn đầu tư được tập trung cho những mục tiêu có tính chiến lược. Đồng thời cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc thiết bị được tận dụng khai thác cho cả mục đích nghiên cứu, đào tạo và điều trị. Đây còn là một mô hình điểm về phát triển quân dân y trong việc ứng dụng kỹ thuật hiện đại, kỹ thuật chuyên sâu hàng đầu về chấn thương, chỉnh hình, kỹ thuật hạt nhân, ứng dụng tế bào gốc, hệ thống labo xét nghiệm sinh học phân tử; trung tâm gia tốc, phương tiện siêu âm hiện đại giúp chẩn đoán và điều trị các bệnh về ung thư, các bệnh tim mạch, u não... hiện đại ngang tầm khu vực.

- Về hợp tác trong nước và quốc tế

Bệnh viện TƯQĐ 108 đã có liên kết, hợp tác với hầu hết các Bệnh viện lớn

trong cả nước như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Việt Đức và các bệnh viện trong

Quân đội, từ tuyến Trung ương đến các bệnh viện cấp dưới trong cả nước như Bệnh

viện 175 Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Y Thái Bình, Học viện Quân Y, Viện

Y học Dân tộc Quân đội,... Hoạt động liên kết diễn ra trên cả ba lĩnh vực NCKH,

ĐT, chấn đoán và điều trị bệnh. Các cán bộ khoa học của Bệnh viện thường xuyên

duy trì mối liên hệ mật thiết với các nhà khoa học và các cơ quan chức năng của các

bệnh viện, học viện khác để duy trì hội chẩn, hỗ trợ kỹ thuật,... và thực hiện liên kết

nghiên cứu và đánh giá các kết quả NCKH và Đào tạo.

Theo tinh thần của Quyết định 266/2003/QĐ-BQP ngày 18/3/2003 của Bộ

trưởng BQP về việc giao nhiệm vụ cho các bệnh viện quân y tuyến trên giúp đỡ các

bệnh viện, bệnh xá quân y tuyến dưới, trong nhiều năm qua, Bệnh viện TƯQĐ 108

đã có nhiều hình thức chuyển giao kỹ thuật cho Bệnh viện 211 và đã xây dựng được

mô hình liên kết ổn định và hiệu quả.

f. Viện Y học cổ truyền Quân đội (YHCTQĐ)

Theo Thiếu tướng PGS.TS Nguyễn Minh Hà-Giám đốc Viện YHCTQĐ, Viện

đã phát triển theo mô hình Viện-Trường tại hai cơ sở Miền Bắc và Miền Nam [18].

57

- Về liên kết nội bộ

Với tư cách là một cơ sở điều trị, nghiên cứu và đào tạo liên hoàn, viện YHCTQĐ đã thực hiện trong nghiên cứu có đào tạo, đào tạo để nghiên cứu và điều trị bệnh tốt hơn. Sự gắn kết này được lưu ý thực hiện trong từng bộ phận của Viện và ngay trong từng cá nhân bác sỹ-nhà khoa học.

- Hợp tác trong nước và quốc tế

Viện cũng đã cử hàng chục cán bộ đi đào tạo tại các cơ sở trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, Viện cũng là cơ sở thực hành lâm sàng cho Học viện Quân y, Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam.

Viện đã hợp tác với Trung Quốc trong điều trị có hiệu quả trên 50 mặt bệnh bằng phương pháp kết hợp Đông-Tây y, trong đó có một số bệnh đang là thế mạnh của Viện như: gút, đột quỵ não, viêm tắc động mạch chi, viêm gan mãn, bệnh về xương khớp, các bệnh về hậu môn trực tràng, nam khoa.

Cùng với quan hệ chặt chẽ với các cơ sở khoa học lớn trong nước Viện thường xuyên tiếp xúc, trao đổi với các đoàn quân, dân y của một số nước như: Cuba, Hàn Quốc, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Pháp, Tổ chức Y tế Thế giới. Đặc biệt, hàng năm đơn vị đều tổ chức hội nghị trao đổi học thuật với Trung Quốc.

Viện cũng đã thực hiện liên kết với các cơ sở khoa học trong nước có uy tín như: Học viện Quân y, Viện Quân y 103, Viện Bỏng Quốc gia, Bệnh viện TƯ Quân đội 108, Đại học Y Hà Nội, Đại học Dược Hà Nội, Viện Kiểm nghiệm Dược-Bộ Y tế và các nhà khoa học trong và ngoài quân đội.

g. Bệnh viện Quân đội 175 (BVQĐ 175)

Theo [7], Bệnh viện 175 là bệnh viện chiến lược, tuyến cuối, trung tâm y học quân sự của Quân đội ở phía Nam. Hiện tại, Bệnh viện có 17 Tiến sĩ, 41 Thạc sĩ y khoa, 50 Bác sĩ chuyên khoa cấp II, 84 Bác sĩ chuyên khoa cấp I, hơn 100 cán bộ y dược có trình độ đại học và cao đẳng...

- Liên kết nội bộ.

Bệnh viện 175 gồm nhiều chuyên khoa khác nhau đồng thời đảm nhiệm các chức năng điều trị, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo cán bộ ngành Y cho Phía Nam. Trong hoạt động chuyên môn, Bệnh viện chú ý sự liên kết, hợp tác trước hết trong chính nội bộ Bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn trí lực, tài lực, vật chất kỹ thuật của Bệnh viện để khắc phục những thiếu thốn về nhân lực và các dạng nguồn lực khác. Nhờ vậy, các lĩnh vực kỹ thuật về nội

58

khoa, ngoại khoa và sử dụng kỹ thuật mới đã đạt được nhiều tiến bộ, làm chủ được nhiều kỹ thuật tiên tiến. Chỉ tính riêng trong 5 năm gần đây, Bệnh viện đã thực hiện 3 dự án khoa học công nghệ, 8 đề tài nghiên cứu cấp bộ, 144 đề tài nghiên cứu cấp cơ sở.

- Liên kết trong nước và quốc tế

Bệnh viện Quân y 175 có quan hệ chuyên môn chặt chẽ với Bênh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện Y Thái Bình, Học viện quân Y, Viện Y học Cổ truyền Quân đội và các bệnh viện dân y lớn như Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Việt-Đức,... trong chẩn đoán, điều trị bệnh, NCKH và Đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực cao cấp.

Trong những năm gần đây, được sự giúp đỡ, chuyển giao kỹ thuật của Bệnh viện Chợ Rẫy, đội ngũ bác sĩ, kỹ thuật viên của Bệnh viện đã làm chủ kỹ thuật mổ tim hở.

Về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, Bệnh viện đã phối hợp với Học viện Quân y và Trường Trung cấp Quân y 2 để liên kết đào tạo theo các chương trình sau đại học, đào tạo hệ trung cấp, các chuyên ngành dược và điều dưỡng nhằm bảo đảm nhân lực cho yêu cầu phát triển của Bệnh viện 175 cũng như của các tuyến quân y, các cơ sở điều trị, các bệnh viện quân và dân y ở khu vực phía Nam.

Bệnh viện thường xuyên duy trì tốt chế độ sinh hoạt chuyên môn, tăng cường hội thảo, trao đổi thông tin, cập nhật kiến thức kỹ thuật, công nghệ mới trong y học; đẩy mạnh hợp tác với quân y các nước Ôxtrâylia, Pháp, Hoa Kỳ; đẩy mạnh nghiên cứu và quản lý các đề tài NCKH. Bệnh viện 175 đã hỗ trợ và giúp đỡ Bệnh viện Preahketmealea của Quân đội Hoàng gia Campuchia đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ bác sỹ [24]. Ngoài ra, Bệnh viện 175 thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo trong nước và quốc tế nhằm trao đổi kinh nghiệm và hội thảo kỹ thuật ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị. Những năm qua, Bệnh viện cũng đã làm tốt việc chuyển giao nhiều kỹ thuật ngoại khoa cho các bệnh viện tuyến dưới.

 Tóm lại, có thể khái quát hoạt động liên kết trong lĩnh vực KH&KT Quân sự như sau: Ở hầu hết tất cả các đơn vị, liên kết giữa các bộ phận làm công tác ĐT, NCKH và SXKD thuộc nội bộ mỗi đơn vị đã được tiến hành một cách tích cực, ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; trên cơ sở liên kết nội bộ tốt, các học viện, nhà trường, các viện nghiên cứu,... đã triển khai nhiều liên kết với các trường và các viện nghiên cứu cũng như các cơ sở SXKD ngoài đơn vị mình, nhằm tận dụng tốt

59

nhất các điều kiện về nhân lực trình độ cao, cơ sở vật chất và tài chính. Những cơ sở có hoạt động liên kết với bên ngoài có kết quả phải kể đến Viện KH&CNQS, Học viện KTQS, Học viện Quân Y, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Viện Y học cổ truyền Quân đội; liên kết quốc tế cũng đã được quan tâm thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ nghị định thư và liên kết với các cơ sở có tiềm năng KH&CN thích hợp cho việc phát triển, cải tiến vũ khí, khí tài của Quân đội ta.

2.3.3.3. Khảo sát ý kiến Viện, Trường và chuyên gia Quân đội về liên kết

Viện-Trường

Để có được dữ liệu về hoạt động liên kết trong lĩnh vực KHKT quân sự, một cuộc điều tra theo mẫu biểu tại Phụ lục 1, 2 đã được tiến hành tại 7 đơn vị điển hình như: Học viện KTQS, Viện KH&CNQS, Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga, Học viện Quân Y, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Viện Y học Cổ truyền Quân đội, Bệnh viện Quân đội 175 Thành phố hồ Chí Minh,… và 8 các nhà khoa học có uy tín trong Quân đội về ba lĩnh vực chính là: 1) Thực trạng liên kết Viện-Trường; 2) Ý kiến về những vấn đề của liên kết Viện-Trường và 3) Kiến nghị với Nhà nước và Bộ Quốc phòng.

Khái quát hóa kết quả điều tra được trình bày trong Bảng 2.5 dưới đây. Bảng 2.5: Khái quát hóa kết quả điều tra một số viện, trường KHKT quân sự trong giai đoạn 2008-2011

NỘI DUNG ĐIỀU TRA KẾT QUẢ

Có 100%

TT A THỰC TRẠNG LIÊN KẾT VIỆN TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2008-2011 1 Liên kết với viện/trường khác (Có/Không?) 2 Lĩnh vực liên kết (Có/Không?) + Đào tạo + Nghiên cứu khoa học Có 100% Có 100%

+ Chuyền giao công nghệ Có 100%

3 Loại hình liên kết cụ thể về đào tạo (Có/Không?) + Đào tạo Đại học cho đối tác + Đào tạo Thạc sỹ (CK1) + Đào tạo Tiến sỹ (CK2) + Hướng dẫn thực tập/Tốt nghiệp Có 57,14% Có 71,43% Có 100% Có 85,71%

Có 85,71%

+ Tham gia Hội đồng KH&CN của đối tác 4 Liên kết nghiên cứu khoa học (Có/Không?) + Đề tài, dự án cấp Nhà nước Có 71,42%

60

NỘI DUNG ĐIỀU TRA KẾT QUẢ

TT + Đề tài, dự án câp Bộ + Nghị định thư Có 65,71% Có 57,14%

+ Cùng liên kết với đơn vị thứ ba Có 71,43%

5 Chuyển giao công nghệ hoặc kiến thức (Có/ Không?) + Trong nước + Với nước ngoài (nhận hoặc cho) Có 42,85% Có 71,43%

Cần 100%

Không 100%

Cần 100%

Đồng ý 100%

Đồng ý 100% B Ý KIẾN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA LIÊN KẾT 1 Về sự cần thiết của Liên kết Viện-Trường-DN (Cần/ Không) 2 Những nội dung liên quan đến thực thi hoạt động liên kết + Tổ chức và cơ chế hoạt động của viện, trường thích hợp cho hoạt động liên kết (Có/Không) + Cần/không cần có bộ phận phụ trách hoạt động liên kết. + Có thể giao cho Phòng/Bộ phận phụ trách đào tạo hoặc NCKH quản lý hoạt động liên kết (Đồng ý/Không) + Cần xác định tỷ lệ giờ tham gia NCKH và đào tạo của cán bộ của cả viện và trường một cách hợp lý (Đồng ý/ Không)

3 Về mặt tài chính

+ Quy định chi tiêu hiện có phù hợp hay kho đối với liên kết? Không 100% + Cần bổ sung các khoản chi phù hợp với hoạt động liên kết? Cần 100% Đồng ý 100% + Cần tăng mức chi trả trong hoạt động liên kết?

Chưa 100%

4 Về cơ chế, chính sách hoạt động liên kết Đồng ý 100%

Đồng ý 100% + Cơ chế chính sách của Nhà nước (Phù hợp/chưa?) + Cần ưu tiên lựa chọn đơn vị cá nhân chủ trì thực hiện đề tài, dự án có TMĐT-DA gắn với đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ và gắn với liên kết với đơn vị khác (Đồng ý/không?) + Cần đưa thành tích hoạt động liên kết vào tiêu chuẩn thi đua hàng năm của Viện, trường (Đồng ý/Không?)

5 Về Sở hữu trí tuệ (SHTT) Đồng ý 100%

Đồng ý 100%

+ Trong liên kết, cần xử lý tốt vấn đề Sở hữu trí tuệ (Đồng ý/ Không?) + Trong liên kết, hai bên đối tác cần trao đổi để đi đến thống nhất về vấn đề Sở hữu trí tuệ đối với các kết quả nghiên cứu, các sáng chế công nghệ và những vấn đề khác liên quan đến quyền SHTT (Đồng ý/ Không?)

6 Về tác dụng của liên kết đối với các đơn vị

61

NỘI DUNG ĐIỀU TRA

TT + Khắc phục hiện tượng thiếu nhân lực bậc cao? + Khắc phục một phần vốn cho nghiên cứu và đào tạo? KẾT QUẢ Đồng ý 100% Đồng ý 100%

+ Sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng, máy móc, thiết bị? Đồng ý 100% Đồng ý 100% + Tăng khả năng đổi mới, sáng tạo cho đơn vị? Đồng ý 100% + Giúp hoạt động liên kết quốc tế thuận lợi hơn? Đồng ý 100%

7 Liên quan đền đề tài cấp Bộ và cấp Nhà nước Đồng ý 100%

Đồng ý 100% + Số lượng đề tài ít và nhỏ cản trở hoạt động liên kết? + Vẫn còn hiện tượng thiếu công bằng trong xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự án? + Xây dựng các chương trình KH&CN trong phát triển KT-XH nhưng trực tiếp hỗ trợ và khuyến khích liên kết?

C VỀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ BỘ QUỐC PHÒNG 1 Đối với Nhà nước: Đồng ý 100%

Đồng ý 100%

- Xem xét hoàn thiện cơ chế, chính sách xét duyệt và quản lý đề tài, dự án theo hướng khuyến khích liên kết - Xây dựng các chương trình phát triển KT-XH kèm theo kế hoạch tài chính phù hợp nhưng có khả năng thúc đẩy và hỗ trợ liên kết? 2 Đối với Bộ quốc phòng Đồng ý 100%

Đồng ý 100%

Đồng ý 100% - Xác định và chỉ đạo thực hiện liên kết là một phương thức tăng cường và sử dụng nguồn lực hiệu quả? - Chú trọng xây dựng các chương trình KH&CN phục vụ HĐH quân đội có định hướng thúc đẩy và hỗ trợ liên kết? - Cần xây dựng và ban hành quyết định và hướng dẫn thực hiện liên kết trong Quân đội?

3 Đối với các cơ quan hữu quan của Bộ Quốc phòng Đồng ý 100%

Đồng ý 100%

Đồng ý 100% - Giúp Bộ xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp xây dựng và duy trì bền vững hoạt động liên kết? - Chủ trì biện soạn các quy phạm pháp luật cụ thể liện quan đến liên kết trong Quân đội trình Bộ phê duyệt? - Theo dõi, kiểm tra đôn đốc và rút kinh nghiệm theo định kỹ để đề xuất việc hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đên liên kết?

4 Đối với Viện và Trường Đồng ý 100%

- Nghiên cứu và vận dụng liên kết như một phương thức hoạt động quan trọng của đơn vị mình? - Nghiên cứu thành lập các bộ phận tham mưu cho Viện Đồng ý 100%

62

TT KẾT QUẢ

Đồng ý 100%

Đồng ý 100%

Đồng ý 100%

NỘI DUNG ĐIỀU TRA trưởng, Hiệu trưởng và quản lý hoạt động liên kết của viện, trường? - Xây dựng quy chế hoạt động và chi tiêu nội bộ có tính đến hoạt động liên kết? - Chủ động tìm hiểu các viện, trường khác trong và ngoài nước, nhanh chóng xác định đối tác liên kết của mình? - Nghiên cứu xác định điểm mạnh, điểm yếu của mình, xác định những vấn đề, nhiệm vụ cần liên kết với các đối tác cụ thể để chuẩn bị sẵn sàng cho liên kết và duy trì liên kết bền vững?

Nhận xét:

Từ bảng khái quát hóa này cho thấy: 100% viện trường trong Quân đội đã tiến hành liên kết trong cả ba lĩnh vực NCKH, đào tạo và CGCN, trong đó liên kết đào tạo theo lĩnh vực số đơn vị thực hiện tăng dần từ liên kết đào tạo đại học (57,14%)- đào tạo thạc sỹ/CK1 (71,43%)-hướng dẫn tốt nghiệp và tham gia hội đồng (đều 85,71%) và đến đào tạo tiến sỹ/CK2 (100%).

Về liên kết trong NCKH: Sự liên kết trong thực hiện các đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, nghị định thư và trong liên kết với đơn vị thứ ba, số đơn vị có thực hiện liên kết đều đạt tối thiểu từ 57,14% (thực hiện nghị định thư) đến cao nhất là 85,75% (thực hiện đề tài cấp Bộ).

Về liên kết trong hoạt động CGCN có phần thấp hơn, trong đó liên kết CGCN

trong nước số đơn vị thực hiện đạt 42,85% và với nước ngoài đạt 71,43%.

Điều tra về những vấn đề chung của liên kết Viện-Trường, 100% số viện, trường và các nhà khoa học được hỏi đều cho rằng liên kết Viện-Trường là cần thiết, giúp khắc phục những hạn chế về nguồn lực-là điều luôn luôn xẩy ra và sẽ phát huy tác dụng tốt trong nâng cao chất lượng, hiệu quả cả trong đào tạo, NCKH và SXKD. Về một số nội dung liên quan đến hoạt động liên kết; về cơ chế tài chính; cơ chế chính sách đối với hoạt động liên kết; về quản lý SHTT trong liên kết và về sự cần thiết của việc xây dựng các chương trình đề tài KH&CN cấp Bộ và cấp Nhà nước có tính đến việc hỗ trợ, thúc đẩy liên kết thì 100% số đơn vị và các nhà khoa học được hỏi đều thống nhất về sự bất cập và cần thiết phải hoàn thiện những vấn đề đã được hỏi như trong bảng tổng hợp 2.5 trên đây.

Kết quả điều tra ý kiến về kiến nghị đối với Nhà nước về việc hoàn thiện cơ chế chính sách, lồng ghép các yếu tố khuyến khích liên kết Viện-Trường và đối với

63

các cấp lãnh đạo của BQP về việc xác định rõ vai trò, vị trí của liên kết Viện- Trường trong chiến lược phát triển cũng như những giải pháp cụ thể để thúc đẩy sự phát triển của liên kết Viện-Trường cũng được 100% đơn vị, các nhà khoa học nhất trí ủng hộ. Đặc biệt những kiến nghị về những thay đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ và các biện pháp của các Viện nghiên cứu, trường đại học nhằm làm cho liên kết Viện-Trường được thực thi trên thực tế cũng đã đạt được sự đồng thuận 100% của các đối tượng được hỏi.

Cuối cùng, từ kết quả kết quả khảo sát và tham khảo ý kiến chuyên gia có thể nói, liên kết Viện-Trường trong Quân đội, tương tự như đối với liên kết Viện- Trường dân sự, đã được thực hiện trên cả ba lĩnh vực đào tạo, NCKH và SXKD và đạt được những kết quả bước đầu, nhưng mức độ, tầm cỡ và tính khoa học trong hoạt động này còn hạn chế, như đánh giá về kết quả thực hiện công tác khoa học, công nghệ và môi trường năm 2006-2010 của Bộ đã chỉ rõ “Việc gắn kết giữa nghiên cứu với ứng dụng chưa thật chặt chẽ, kết quả nghiên cứu chưa được kịp thời ứng dụng trong các cơ sở sản xuất quốc phòng và trong các đơn vị làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu” [8].

2.4. Những hạn chế và các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết Viện-Trường ở

Việt Nam

2.4.1. Những hạn chế trong liên kết Viện-Trường và nguyên nhân

Việc khảo sát về liên kết Viện-Trường dân sự và quân sự của Việt nam cho

thấy liên kết Viện-Trường ở nước ta đang còn nhiều hạn chế. Từ nhận thức đến chủ

trương và các hoạt động cụ thể trong phạm vi và qui mô khác nhau ít nhiều đều đã

được đề cập, tuy nhiên không có điều gì được thực hiện một cách bài bản và bền

vững; việc mở rộng qui mô và chiều sâu liên kết Viện-Trường không nằm trong kế

hoạch dài hạn hoặc chiến lược phát triển của các viện, trường, còn mang tính tùy

tiện, được đâu hay đó; việc thực hiện liên kết chưa được triển khai một cách rộng

rãi như là một đòi hỏi không thể thiếu của các tổ chức đào tạo và KHCN. Do đó, có

thể nói, liên kết nói chung và liên kết Viện-Trường nói riêng vẫn còn là một điểm

tối trong hoạt động đào tạo, NCKH và SXKD của Việt Nam.

Phân tích về những hạn chế trong hoạt động liên kết Viện-Trường ở Việt Nam nói chung và trong Bộ Quốc phòng nói riêng có thể chỉ ra những nguyên nhân cơ bản sau đây:

(1) Nhận thức về tầm quan trọng của liên kết Viện-Trường chưa đầy đủ, chưa

64

sâu sắc. Do đó liên kết Viện-Trường về cơ bản chưa chuyển biến thành hành động ở tất cả các cấp.

(2) Chủ trương của Đảng, Nhà nước chưa được triển khai thành hệ thống cơ

chế, chính sách và các kế hoạch hành động cụ thể và có hiệu quả.

(3) Việc cho đến nay mới chỉ có Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định về việc thực hiện liên kết Viện-Trường đối với hệ thống viện, trường của Bộ thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền về liên kết Viện-Trường còn chưa sát xao, chưa cụ thể và tất nhiên, với điều kiện như vậy, tất cả các cấp đều chưa có các biện pháp mạnh mẽ để thúc đẩy vấn đề liên kết. Việc chỉ dừng lại ở chủ trương mà không có các hướng dẫn cụ thể khiến cho việc liên kết không có động lực thúc đẩy và đương nhiên tạo điều kiện để những tư tưởng trì trệ có đất tồn tại.

(4) Hệ thống chính sách như chính sách chi tiêu tài chính, quản lý KH&CN, chính sách về quản lý nhân sự, tổ chức và tạo môi trường KT-XH, hiện đang có hiệu lực, không tạo ra được môi trường tích cực cho việc hình thành các mối liên kết, chưa thể hiện được việc khuyến khích, thúc đẩy liên kết Viện-Trường phát triển và duy trì bền vững. Các nhà hoạch định chính sách chưa coi liên kết Viện-Trường như một đối tượng mà việc hoạch định các chính sách có liên quan phải quan tâm.

(5) Ảnh hưởng từ nếp làm việc theo kiểu bao cấp còn nặng nề, ngại thay đổi nếp nghĩ, cách thức làm việc cũ để đến với cách thức làm việc tích cực mới-làm việc với đối tác.

(6) Năng lực, trình độ của cán bộ KH&CN, cán bộ lãnh đạo các cấp còn nhiều hạn chế cả về phương diện quản lý, chuyên môn lẫn tinh thần và ý chí vươn lên. Những hạn chế về các dạng nguồn lực khác như tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, thông tin không đầy đủ cũng là những cản trở không nhỏ đối với việc nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về xây dựng các quan hệ liên kết Viện-Trường.

(7) Thói quen làm việc thiếu kế hoạch chiến lược, thiếu tầm nhìn xa của các viện, trường, làm việc theo kiểu gặp gì làm nấy, được đâu hay đấy và chủ yếu chỉ tập trung vào những nhiệm vụ trước mắt là những cản trở mang tính chiến lược khiến liên kết Viện-Trường chưa trở thành phương thức và nội dung được các viện, trường vận dụng thường xuyên.

(8) Ý thức và năng lực đổi mới sáng tạo của đội ngũ cán bộ khoa học và quản lý chưa cao, trình độ và năng lực chuyên môn có hạn làm hạn chế nhu cầu và khả năng liên kết, dẫn đến tư tưởng ngại thay đổi tư duy, phương thức và văn hóa làm

65

việc tập thể với đối tác trong liên kết, đặc biệt trong liên kết với viện, trường ngoài đơn vị mình và quốc tế.

Để liên kết Viện trường ở Việt Nam và trong Quân đội phát triển và trở thành một phương thức quan trọng trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và CGCN, phục vụ SXKD, phục vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu của Quân đội thì những nguyên nhân của những yếu kém trên đây phải được khắc phục một cách thích cực và đồng bộ.

2.4.2. Những đặc điểm của viện, trường ở Việt Nam và trong Quân đội có

ảnh hưởng đến liên kết Viện-Trường

Xây dựng quan hệ liên kết Viện-Trường không thể không tính đến các đặc điểm có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động liên kết. Ở Việt Nam, khi xây dựng quan hệ liên kết, phải tính tới các đặc điểm của hệ thống Viện Trường của Việt Nam. Quân đội là một tổ chức đặc biệt, các yếu tố tác động mạnh đến xây dựng và quản lý quan hệ liên kết Viện-Trường còn có những đặc thù riêng.

2.4.2.1. Những đặc điểm của hệ thống viện, trường của Việt Nam

a. Sự giao thoa về chức năng nhiệm vụ của viện và trường vừa có tính cản trở,

vừa có tính thúc đẩy liên kết, nhưng ở Việt Nam, tính cản trở đang còn trội hơn

Cùng với phát triển của KT-XH và KH&CN, chức năng của viện, trường trên thế giới cũng như của Việt Nam đến nay đã có nhiều thay đổi: Từ chỗ Viện nghiên cứu chỉ thực hiện chức năng NCKH, PTCN và trường đại học chỉ thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực đến chỗ cả viện và trường đều có các chức năng tương tự nhau, chỉ khác nhau về nhiệm vụ trọng tâm mà thôi, trong đó, viện, trường đều có cả ba chức năng: Đào tạo, NCKH và CGCN (dịch vụ), nhưng chức năng chủ yếu của viện là NCKH, còn chức năng chủ yếu của trường là đào tạo. Từ sự giao thoa về chức năng, nhiệm vụ, trên phương diện kinh tế thị trường thì viện và trường có hàm chứa các yếu tố cạnh tranh để giành được “thị phần” nhiều hơn và do đó có hàm chứa tính cản trở liên kết. Mặt khác, chính sự giao thoa về các chức năng của viện và trường trong NCKH, Đào tạo và CGCN cũng lại là cơ hội để viện và trường tìm thấy mục đích chung trong nhiều hoạt động và do đó lại là cơ hội cho liên kết. Tùy theo điều kiện cụ thể về KT-XH của mỗi nước mà tính cản trở hay liên kết trội hơn. Ở Việt Nam, do số lượng đề tài ít, lại manh mún; công việc giảng dạy cũng không nhiều mà đôi khi giảng dạy còn là công việc mưu sinh,.. Điều này hạn chế một phần ý tưởng liên kết. Vì vậy, khía cạnh cản trở liên kết hiện đang còn nổi trội.

66

Tuy vậy, xét về lâu dài, khả năng liên kết là chiếm ưu thế, vì những khác nhau về trang thiết bị, máy móc phục vụ nghiên cứu, đào tạo cũng là lý do và động lực để liên kết Viện-Trường phát triển bền vững và phát huy hiệu quả trong việc khai thác thế mạnh của nhau. Viện, với chức năng chính là nghiên cứu chuyên ngành thường được trang bị các máy móc thiết bị chuyên sâu, có khả năng nghiên cứu những vấn đề phức tạp có tính chuyên ngành, đạt trình độ tinh vi và hiện đại. Điều này có thể sẽ là sự hỗ trợ, bù đắp quan trọng cho hệ thống phòng thí nghiệm, tuy hiện đại, nhưng chủ yếu dùng cho đào tạo, tính chuyên ngành bị hạn chế, tính đa năng nhiều hơn. Hơn thế nữa, cán bộ khoa học của viện và trường cũng là những lực lượng có thể bổ sung cho nhau về kiến thức: Mặc dù ngày nay, cán bộ của các viện nghiên cứu và trường đại học đều hướng đến kiến thức toàn diện cả về lý luận và thực tiễn, nhưng dù sao, cán bộ khoa học của các trường đại học vẫn dành nhiều thời gian hơn cho nghiên cứu cơ bản, cơ sở, còn cán bộ của các viện, thời gian dành cho nghiên cứu để tạo ra sản phẩm cụ thể, đổi mới sản phẩm chuyên ngành vẫn là ưu tiên số một. Hai đội ngũ cán bộ này nếu liên kết thì kiến thức có thể bổ sung cho nhau và tạo nên một tập thể vững mạnh toàn diện. Ngoài ra, vấn đề tài chính, trao đổi thông tin KH&CN,… cũng có thể tạo ra những khả năng mới nếu được liên kết.

Hệ thống viện và trường ở Việt nam cho đến nay còn có đặc điểm riêng so với nhiều nước khác. Đó là hầu hết đều là công lập, đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước, các bộ, ngành tương ứng và được bao cấp. Đặc điểm này sẽ tác động không nhỏ đến việc thiết lập, duy trì hoạt động bền vững của các quan hệ liên kết, ảnh hưởng đến các giải pháp chính sách trong tạo dựng, thúc đẩy và phát triển liên kết mà khi vận dụng lý luận chung về liên kết Viện-Trường vào điều kiện Việt Nam đòi hỏi có sự sáng tạo đáng kể.

b. Thói quen hoạt động độc lập, thiếu gắn kết giữa ĐT-NCKH-SXKD là yếu tố

đặc trưng của viện và trường ở Việt Nam

Việt Nam đã trải qua một thời kỳ dài thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa, trong đó, tất cả các viện nghiên cứu và các trường đại học đều thuộc Nhà nước. Chế độ “kế hoạch hóa từ Trung ương” và “cơ chế bao cấp” trước đây đã tạo ra thói quen hoạt động mang tính cô lập, riêng rẽ, ít có sự liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp. Yếu tố đặc trưng này cũng ảnh hưởng và thể hiện rõ ở sự chuyển biến chạm chạp trong thực thi Nghị định 115/CP và Nghị định 80/CP [1, 42].

c. Nhân lực vừa thiếu vừa yếu, không đồng bộ, phân tán.

Là những tổ chức KH&CN công lập, các viện và trường ở Việt Nam đều chịu

67

sự quản lý của các cơ quan Nhà nước. Nhân lực của các tổ chức này cũng phụ thuộc vào kế hoạch của Nhà nước, mà nhân lực KH&CN Việt Nam trong những năm qua, tuy đã có nhiều phát triển nhưng còn nhiều yếu kém, thiếu về số lượng, non về chất lượng, không đồng bộ và phân bổ không đều [10, 41]; thiếu cán bộ đầu đàn giỏi, các "tổng công trình sư", đặc biệt là thiếu cán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao [41, 27, 15, 6].

d. Viện, trường thiếu nhiệm vụ nghiên cứu

Theo báo cáo về điều tra việc thực hiện Nghị định 98/2006/NĐ-BNN của Bộ trưởng Bộ NNN&PTNT về liên kết Viện-Trường trong Bộ [6] và Bản tin về Hợp tác NCKH của Đại học Quốc gia Hà Nội [20] thì một trong những nguyên nhân quan trọng khiến hoạt động liên kết không được đẩy mạnh chính là thiếu nhiệm vụ nghiên cứu. Viện, trường chỉ nhận được một vài đề tài, dự án với tầm cỡ nhỏ, không đủ việc làm và về khoa học, công nghệ hầu như không đòi hỏi phải liên kết.

e. Tài chính cho các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học vừa hạn hẹp,

vừa dàn trải và nhiều bất cập

Tuy từ năm 2000 trở lại đây, đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho KH&CN cơ bản đạt cỡ 2% tổng chi ngân sách Nhà nước và về giá trị tuyệt đối, từ 1996 đến 2009 tăng lên gấp 7 lần. Tuy vậy, so với quốc tế và cả khu vực, đầu tư cho KH&CN của Việt Nam còn kém xa.

Tỷ lệ đầu tư từ doanh nghiệp cho KH&CN còn quá nhỏ bé, tới nay chỉ chiếm 12,07% tổng chi cho nghiên cứu phát triển (450/3.727 tỷ), trong khi ở các nước phát triển số này là cỡ 6570%. Vốn từ nước ngoài, theo Bộ Tài chính, hàng năm ước tính cỡ khoảng 20 tỷ đồng. Các Quỹ phát triển KH&CN của Nhà nước, Bộ, ngành, địa phương và của cá nhân, tuy đã có nhưng chưa phát huy tốt tác dụng do còn nhiều bất cập liên quan đến thủ tục vay vốn ưu đãi [43, 39]. Có thể nói, những bất hợp lý về quản lý tài chính và sự rắc rối trong cấp kinh phí và thanh quyết toán là rào cản không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của NCKH, đồng thời không thúc đẩy, khuyến khích liên kết Viện-Trường trong đào tạo và nghiên cứu, như Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân chỉ rõ: “Hiện tại, cơ chế về tài chính là một trong những rào cản lớn nhất ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và sự phát triển của KH&CN” [34].

f. Cơ chế, chính sách quản lý hoạt động KH&CN nói chung và liên kết Viện-

Trường nói riêng chưa tạo điều kiện thúc đẩy liên kết.

Bộ KH&CN đã chỉ ra những bất cập chủ yếu của cơ chế quản lý KH&CN trong

68

những năm qua [5], làm ảnh hưởng nhiều đến liên kết Viện-Trường, trong đó đòi hỏi giải quyết các mối quan hệ trong đào tạo, NCKH và CGCN phức tạp hơn bình thường. Trực tiếp quan hệ đến liên kết Viện-Trường, có thể thấy cơ chế chính sách còn thiếu và chưa đủ mạnh để thúc đẩy liên kết như: chủ trương liên kết Viện-Trường của Nhà nước chưa được thể chế hóa bằng các chính sách và các kế hoạch chiến lược với các mục tiêu cụ thể về thời gian cần đạt được; chưa có những quy định, hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục, nội dung liên kết, cơ chế và chế độ nhân sự, chế độ tài chính,... tương ứng; Nhà nước và các bộ, ngành chưa có những chương trình KH&CN định hướng phát triển hình thức liên kết; chưa có biện pháp lồng ghép những yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện đề tài, dự án đối với liên kết về đào tạo hay nghiên cứu với các đơn vị khác; các chế độ về nhân sự, tài chính trong hoạt động liên kết về đào tạo, NCKH và CGCN chưa được cụ thể hóa, trong khi vận dụng các quy định chung khác về các lĩnh vực này trong liên kết còn nhiều bất cập. Cuối cùng là thiếu các tổ chức chịu trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc hoạt động liên kết.

Tóm lại, công tác quản lý Nhà nước về KH&CN còn chưa chú trọng tới thúc đẩy hoạt động liên kết Viện-Trường; chưa đủ mạnh để làm cho liên kết Viện- Trường đi vào đời sống.

2.4.2.2. Những đặc điểm riêng của Viện, Trường trong Quân đội

Quân đội nhân dân Việt Nam là một tổ chức đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng và Quân ủy Trung ương, có kỷ luật chặt chẽ và nghiêm minh, mọi hoạt động của các đơn vị như viện, trường đều phải được quản lý chặt chẽ; cơ cấu tổ chức được xác định rõ, không thể tùy tiện thiết lập hay bãi bỏ. Mặt khác, Quân đội Nhân dân Việt Nam hoạt động theo pháp luật và trong môi trường KT-XH của Việt Nam, liên kết Viện-Trường trong Quân đội cũng chịu những tác động chung của điều kiện KT-XH của Nhà nước. Những đặc điểm riêng viện, trường trong Quân đội có ảnh hưởng đến liên kết Viện-Trường phải kể đến:

- Sự quản lý chặt chẽ về tổ chức, con người và nhiệm vụ sẽ cần có cách tiếp

cận thích hợp.

- Việc quản lý chặt chẽ và nghiêm minh đối với các tổ chức trong Quân đội cũng tạo điều kiện để phát triển quan hệ liên kết mạnh mẽ, bởi một khi quyết định của BQP về liên kết Viện-Trường được ban hành thì nó sẽ được chấp hành một cách nghiêm túc.

- Ý thức tổ chức và ý chí chiến đấu cao của các tổ chức và quân nhân cho mục tiêu của Quân đội là một yếu tố quan trọng đảm bảo cho liên kết Viện-Trường thành công một khi được cấp trên cho phép và được động viên, hỗ trợ kịp thời-Tiến hành liên kết cũng là một nhiệm vụ chiến đấu.

69

KẾT LUẬN CHƯƠNG II

Xây dựng và duy trì hoạt động liên kết Viện-Trường là việc làm phức tạp, liên quan đến nhận thức về tầm quan trọng, cơ cấu nội dung liên kết, cơ cấu tổ chức, quy trình thực thi liên kết và những nguyên tắc quan trọng đảm bảo cho liên kết không chỉ hình thành mà còn được duy trì và phát triển bền vững; liên quan đến trình độ và năng lực cán bộ cũng như phương thức và văn hóa làm việc. Vì vậy, xây dựng cơ sở lý luận để làm sáng tỏ những vấn đề này là điều phải làm trước tiên, trước khi đi vào xây dựng quan hệ liên kết một cách bài bản và có hiệu quả. Bên cạnh đó, mọi xuất phát điểm của việc xây dựng liên kết Viện-Trường cũng cần dựa trên thực trạng hiện có, cả về nhận thức và thực tiễn hoạt động liên kết. Các kết quả chính của chương có thể tóm tắt như sau:

- Chỉ ra bản chất của liên kết Viện-Trường vừa là một khâu không thể thiếu vừa là một phương thức quan trọng trong HTĐMQG hay nói cách khác, liên kết Viện-Trường vừa là đối tượng, vừa là công cụ của đổi mới. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vai trò to lớn của Nhà nước cũng như vấn đề SHTT và yếu tố văn hóa tổ chức có ảnh hưởng không nhỏ đến sự bền vững của liên kết Viện-Trường.

- Đưa ra 8 nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho việc xây dựng và duy trì liên kết

Viện-Trường bền vững.

- Chỉ ra các mặt tích cực và những hạn chế cùng các yếu tố ảnh hưởng tới liên kết Viện-Trường ở Việt Nam và trong BQP, tạo cơ sở để việc ra các quyết định về liên kết Viện-Trường sát với điều kiện cụ thể của Việt Nam và Quân đội.

Các kết quả trên là sự đảm bảo những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn cho xây dựng định hướng phát triển liên kết Viện-Trường ở Việt Nam cũng như đề xuất các giải pháp cho liên kết Viện-Trường trong Quân đội trong các chương tiếp theo của Luận án.

70

Chương III PHÁT TRIỂN LIÊN KẾT VIỆN-TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

Liên kết Viện-Trường là một phương thức hoạt động quan trọng của hệ thống viện nghiên cứu và trường đại học để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo, NCKH và CGCN, khắc phục những yếu kém và tăng hiệu quả sử dụng các dạng nguồn lực, trực tiếp góp phần làm cho cả ba lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo và SXKD đều phát triển. Liên kết Viện-Trường cũng là một khâu trong HTĐMQG, là đối tượng của đổi mới và cũng là phương thức để đổi mới, trong đó Nhà nước giữ vai trò chỉ đạo, định hướng và tạo môi trường cho hoạt động đổi mới sáng tạo và liên kết. Trong những năm qua, Liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực KHKT quân sự đã đạt được những tiến bộ nhất định, nhưng để thúc đẩy sự phát triển của liên kết Viện-Trường cần thiết phải có các giải pháp toàn diện, khoa học, thực tiễn và khả thi. Căn cứ vào lý luận và thực tiễn liên kết Viện-Trường, những khảo sát về những nguyên nhân yếu kém và các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động liên kết Viện-Trường của Việt Nam nêu trong chương 2, trong chương này sẽ trình bày những định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển liên kết Viện-Trường nói chung và trong lĩnh vực KHKT do Bộ Quốc phòng quản lý nói riêng.

3.1. Định hướng phát triển liên kết Viện-Trường ở Việt Nam

3.1.1. Mô hình liên kết Viện-Trường ở Việt Nam

Từ lý luận chung về liên kết Viện-Trường và những yếu tố đặc thù của liên kết Viện-Trường ở Việt Nam, có thể đề xuất mô hình và trình tự thực hiện liên kết Viện-Trường ở Việt Nam như sau đây.

3.1.1.1. Mô hình Liên kết

Đó là mô hình đa cấp, với các tính chất đặc thù là gắn với liên kết ĐT-NCKH-

SXKD và đặt trong HTĐMQG.

a. Các cấp liên kết: Lần lượt là: Liên kết nội bộ; Liên kết trong nước và Liên

kết quốc tế (xem Hình 3.1).

Trong đó:

- Liên kết nội bộ: Là liên kết Viện-Trường trong nội bộ giữa các tổ chức thành phần của viện hoặc trường, được thể hiện thông qua các liên kết cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, NCKH hoặc CGCN,… của viện/trường. Liên kết nội bộ là

71

hình thức liên kết cơ bản nhất, quan trọng nhất để phát huy tối đa các dạng nguồn lực của viện/trường nhằm đạt chất lượng và hiệu quả công việc tốt nhất có thể được. Để liên kết nội bộ cũng phải xây dựng quy chế liên kết nội bộ và thực hiện các nguyên tắc cơ bản của liên kết; thực hiện đóng góp nguồn lực và phân chia lợi ích theo thỏa thuận trên cơ sở quy chế liên kết nội bộ.

Hình 3.1: Mô hình liên kết Viện-Trường đa cấp Việt Nam

Liên kết nội bộ có những thuận lợi như có sự thống nhất về lãnh đạo, chỉ đạo trong hệ thống của trường /viện; mục tiêu của mỗi đơn vị thành viên nằm trong mục tiêu chung của toàn tổ chức; chế độ, chính sách cơ bản đối với nhân sự là thống nhất, do đó dễ dàng điều cán bộ chuyển giữa các tổ chức mà không vướng nhiều hệ lụy về thủ tục, chế độ,…; cơ sở vật chất, kỹ thuật và các mặt khác, do có sự chỉ đạo thống nhất, nên dễ dàng phối hợp, điều động; chế độ hưởng thụ, đãi ngộ đối với các hoạt động khoa học, giáo dục, thực nghiệm,… được thực hiện theo một quy định chung thống nhất.

Với những ưu điểm trên, liên kết trong nội bộ trong một viện, trường là một tất yếu để thực hiện mục tiêu chung của tổ chức, tận dụng và phát huy sức mạnh tinh thần, trí tuệ và vật chất của mọi cá nhân, đơn vị trong tổ chức cho sự nghiệp phát triển chung và của mỗi đơn vị thành viên. Điều quan trọng là để thiết lập được các hoạt động liên kết nội bộ, trường/viện cần đề ra được hệ thống các nhiệm vụ mang tính liên kết và xây dựng được quy chế hoạt động nội bộ, đảm bảo lợi ích chung và lợi ích của từng bộ phận.

Tuy nhiên, sự hạn chế trong mối liên kết này là chỉ sử dụng nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực,…) của bản thân đơn vị mình, không có được những sức sống mới

72

từ các đơn vị khác. Do đó, bên cạnh việc phát huy tối đa khả năng liên kết nội bộ, viện và trường cần ra sức mở rộng liên kết với các đơn vị bên ngoài và với quốc tế.

- Liên kết trong nước: là liên kết Viện-Trường giữa các viện, trường trong một quốc gia. Việc xây dựng và mọi hoạt động liên kết đều tuân thủ pháp luật, quy định của Nhà nước và của các Bộ, ngành, là cơ quan chủ quản tương ứng của viện và trường, về liên kết Viện-Trường. Liên kết trong nước thường được thực hiện giữa các viện, trường có các nhiệm vụ tương thích, có thể hỗ trợ cho nhau, cộng lực để tạo nên năng lực thực hiện nhiệm vụ lớn hơn. Số lượng viện trường trong một liên kết có thể từ hai trở lên. Điều quan trọng là phải đảm bao nguyên tắc tự nguyện và nguyên tắc lợi ích.

Liên kết Viện-Trường cấp quốc gia có các đặc điểm như: tận dụng được nguồn nhân lực, nhất là nhân lực cao cấp của đối tác để khắc phục vấn đề thiếu nhân lực của cả trường và viện; tạo điều kiện để hình thành và thực hiện những nhiệm vụ KH&CN phức tạp, có tầm cỡ và sức ảnh hưởng lớn đến nền KT-XH.

- Liên kết quốc tế: là liên kết giữa một đơn vị viện/trường hay giữa một quan hệ liên kết trong nước với một viện, trường hay một quan hệ liên kết đã có của nước ngoài. Xây dựng và mọi hoạt động của liên kết cấp quốc tế cần phải tuân thủ luật pháp quốc tế có liên quan và luật pháp quốc gia của các bên đối tác. Liên kết quốc tế có thể thực hiện bằng liên kết ảo qua các mạng nghiên cứu quốc tế.

Cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá về kinh tế và KH&CN, liên kết quốc tế về KH&CN, về GD&ĐT cũng như mở rộng đối ngoại quốc phòng gắn với hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu và ngày càng phát triển mạnh mẽ [3, 44]. Xu thế này được thúc đẩy bởi các yếu tố như nhu cầu về đổi mới công nghệ doanh nghiệp. Từ đó dẫn đến nhu cầu trao đổi về KH&CN và nhu cầu về giao lưu kiến thức, đào tạo nhân lực để có trình độ quốc tế. Ngoài ra, các công ty lớn hay các công ty đa quốc gia thường phải tiến hành việc nghiên cứu và phát triển công nghệ không những ở chính quốc mà còn ở ngay tại các nước mà họ đầu tư sản xuất. Những nhu cầu khách quan trên đây càng trở nên cấp thiết do các dạng nguồn lực luôn là có hạn [2].

b. Gắn liên kết Viện-Trường với các liên kết cụ thể thuộc ĐT-NCKH-SXKD,

lấy SXKD làm mục tiêu phục vụ

Mục đích của chủ yếu của viện, trường là đào tạo, NCKH để phục vụ cho phát triển KT-XH. Liên kết là để nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ, sử dụng hiệu

73

quả các dạng nguồn lực, khắc phục những yếu kém và tăng khả năng đổi mới sáng tạo. Để đạt được các mục tiêu trên đây, liên kết không thể không gắn với SXKD, bởi doanh nghiệp chính là nơi đặt ra yêu cầu cho NCKH và đào tạo nhân lực, doanh nghiệp cũng là nơi cung cấp tài chính và là nơi tiếp nhận các sản phẩm cuối cùng của viện và trường. Chỉ có gắn với SXKD mới đảm bảo cho cả ba lĩnh vực đều phát triển và liên kết Viện-Trường mới phát triển bền vững.

c. Đặt liên kết Viện-Trường trong Hệ thống đổi mới Quốc gia

Đổi mới là xu thế tất yếu và là phương thức để phát triển. Liên kết Viện- Trường mà thực chất là liên kết để thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, NCKH và CGCN cho SXKD, trong HTĐMQG vừa là công cụ để đổi mới vừa là đối tượng của đổi mới. Là công cụ bởi bằng cách liên kết chúng ta tập hợp được lực lượng và các dạng nguồn lực cần thiết cho đổi mới. Mặt khác, bản thân hoạt động liên kết cũng cần phải luôn được đặt trong bối cảnh đổi mới vì liên kết Viện-Trường liên quan đến cơ chế, tổ chức, đến nội dung và phương thức hoạt động và đến chính sách phục vụ cho liên kết. Vì vậy, liên kết Viện-Trường là đối tượng của đổi mới.

3.1.1.2. Trình tự thực hiện liên kết

Xác định trình tự thực hiện đối với các cấp của liên kết Viện-Trường đồng thời cũng thể hiện tính ưu tiên trong xây dựng và thực hiện liên kết. Trong bối cảnh thông thường, việc thực hiện liên kết nên theo thứ tự: từ liên kết nội bộ đến liên kết trong nước và rồi đến liên kết quốc tế (Hình 3.2).

Liên kết nội bộ

Liên kết quốc tế

Liên kết trong nước

Hình 3.2: Trình tự thông thường thực hiện Liên kết Viện-Trường

Trình tự thông thường này xuất phát từ lập luận cho rằng, muốn liên kết với người khác một cách có hiệu quả thì bản thân đơn vị mình cần phải biết tổ chức và sử dụng lực lượng sẵn có của mình một cách tối ưu nhất. Vì vậy, phải tổ chức liên kết trong nội bộ trước. Tổ chức liên kết nội bộ còn là cơ hội để rèn luyện nề nếp, thói quen làm việc tập thể, làm việc với người khác cả trên phương diện cá nhân cán bộ và cả trên phương diện điều hành tổ chức. Qua đó rút kinh nghiệm về tổ chức liên kết.

Trước khi tổ chức liên kết quốc tế, trước hết phải tìm kiếm các liên kết trong

74

nước, bởi liên kết trong nước thường thuận lợi hơn. Mặt khác, về mặt chiến lược, liên kết trong nước là để tạo ra nội lực quốc gia, đồng thời cũng phù hợp với quan niệm quốc gia có mạnh mới đặt được các quan hệ quốc tế có giá trị, mới có khả năng tiếp nhận, thiếp thu KH&CN cao của thế giới, mới có khả năng đổi mới sáng tạo thành công và liên kết quốc tế mới có hiệu quả.

Trên đây là trình tự thông thường, trong thực tiễn, sự “vượt rào” vẫn có thể xẩy ra như có thể liên kết với đơn vị bên ngoài trước khi có được các liên kết trong nước và nội bộ, trong một số trường hợp và điều kiện cụ thể, “liên kết ngoài” lại chính là tác nhân “buộc” các “liên kết trong” phát triển. Tuy nhiên, trình tự trên đây là một đảm bảo cho mọi liên kết dễ dàng thành công và việc khai thác các quan hệ liên kết có hiệu quả cao.

3.1.2. Xác định mục tiêu, yêu cầu, nội dung liên kết và các bước đi thích

hợp đối với liên kết Viện-Trường ở Việt Nam

Liên kết Viện-Trường nói chung có nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Việc lựa chọn mức độ hay hình thức liên kết cần dựa trên các căn cứ nội tại và khách quan đối với mỗi đơn vị. Các yếu tố nội tại như chức năng, nhiệm vụ, chiến lược phát triển, nguồn lực, kinh nghiệm tổ chức, quản lý,… có vai trò quyết định đến việc lựa chọn hình thức và mức độ cũng như lĩnh vực ưu tiên liên kết. Bên cạnh những yếu tố nội tại, còn cần xem xét các căn cứ bên ngoài từ phía đối tác như số lượng và đặc điểm các viện/trường có khả năng liên kết, năng lực của họ, truyền thống và thành tích trong NCKH, đào tạo,… uy tín trong và ngoài nước,… và các yếu tố về môi trường KT-XH có liên quan như chính sách của Nhà nước, các chương trình của Nhà nước, trong đó, đặc biệt có ý nghĩa là các yếu tố tác động đến nhu cầu phát triển và đổi mới công nghệ trong kinh tế, quân sự hay chủ trương về hợp tác quốc tế của Nhà nước và BQP như tài liệu [16, 20, 31] đã chỉ ra.,...

Khi xem xét những căn cứ nội bộ và bối cảnh môi trường trên đây sẽ cho thấy thuận lợi và khó khăn trong việc tiến hành xây dựng cũng như duy trì các hoạt động liên kết, trên cơ sở đó, quyết định hình thức và mức độ liên kết phù hợp với mỗi đơn vị. Mặt khác, trên phương diện quản lý sẽ nhận rõ những vấn đề cần có biện pháp khắc phục để thúc đẩy liên kết Viện-Trường tại Việt Nam.

Sau khi đã quyết định xây dựng quan hệ liên kết, cần làm rõ mục tiêu, yêu cầu của liên kết Viện-Trường đối với đơn vị mình. Trong bối cảnh hiện nay, liên kết Viện-Trường cần đạt được những mục tiêu và yêu cầu căn bản chung sau đây:

75

a. Mục tiêu:

Biến nhận thức về liên kết Viện-Trường trở thành một nếp nghĩ, phương thức hoạt động quan trọng đối với các Viện nghiên cứu và các trường Đại học; tập hợp và tổ chức lực lượng, tăng cường và sử dụng nguồn lực hiệu quả tạo ra năng lực thực hiện những nhiệm vụ KH&CN mang tính tổng hợp, đa ngành và có ý nghĩa KH&CN và KT-XH lớn. Trước mắt, góp phần nâng cao chất lượng thực hiện những nhiệm vụ thường xuyên của viện và trường;

b. Yêu cầu:

Liên kết phải thực chất và hiệu quả; phát triển bền vững, với phương châm thận trọng và chắc chắn; đối tượng, hình thức và nội dung liên kết phù hợp với từng viện/trường và với từng giai đoạn.

c. Xác định nội dung liên kết:

Nội dung liên kết đối với các viện nghiên cứu và các trường đại học của Việt

Nam thường thuộc các lĩnh vực chính sau đây:

- Liên kết trong đào tạo nguồn nhân lực: Các viện nghiên cứu có chuyên môn gần gũi với các chuyên ngành đào tạo của trường đại học có thể thiết lập liên kết trên nguyên tắc chung về liên kết trong đào tạo, trong đó các viện nghiên cứu có thể cử cán bộ tham gia đào tạo tại Trường với một chuyên đề có sở trường và có kiến thức sâu, đặc biệt theo định hướng nghiên cứu sát với nhu cầu của thực tiễn với tư cách mời giảng, thỉnh giảng hay kiêm nhiệm. Đối với cán bộ khoa học đầu ngành của viện nghiên cứu cũng có thể tham gia ở trường với tư cách một thành viên kiêm nhiệm. Viện còn có thể phối hợp với trường trong việc hướng dẫn thực tập, tốt nghiệp cho sinh viên tại các cơ sở khoa học hay phòng thí nghiệm của Viện. Cán bộ của viện còn có thể hướng dẫn cao học, hay nghiên cứu sinh của các trường và tham gia các hội đồng khoa học. Qua các hoạt động này, viện phát huy hiệu suất sử dụng được nhân lực, vật lực, còn trường có thêm được nguồn nhân lực tài năng quý giá, góp phần quan trọng vào việc thực hiện học gắn với hành, gắn với thực tiễn.

Đối vớí cán bộ khoa học của Trường, có thể tham gia đọc các chuyên đề, đặc biệt là những vấn đề lý luận mới, những vấn đề thuộc khoa học cơ sở và cơ bản liên quan cho cán bộ của Viện hay tham gia vào các hội đồng xét duyệt đề tài, đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học để nâng cao chất lượng khoa học của các đề tài.

- Liên kết trong nghiên cứu khoa học: Viện và trường đều có nhu cầu về NCKH. Do ở Việt Nam, nguồn đề tài ít nên các đơn vị thường không muốn chia sẻ

76

với nhau về đề tài, mặc dù trên thực tế, nếu viện trường kết hợp với nhau thì khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ nghiên cứu sẽ tăng lên rất nhiều. Đây là bài toán thực tiễn khá khó giải. Nhưng nếu nhận thức chung về việc phân chia lợi ích một cách công bằng thì việc góp chung sức người, sức của; việc phân bổ nhân lực, vật lực và tài lực cho từng đề tài, dự án một cách tối ưu sẽ mang lại thuận lợi và do đó lợi ích cho cả viện và trường. Vì vậy, liên kết trong thực hiện các đề tài, dự án vẫn luôn là phương thức tốt cho cả viện và trường. Tuy nhiên, để thúc đẩy liên kết, nhất là giai đoạn ban đầu, rất cần có sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho các đề tài dự án có sự liên kết và gắn với đào tạo nhân lực cao cấp.

- Liên kết trong CGCN hay truyền thụ kiến thức cho các đối tượng trong lĩnh

vực sản xuất kinh doanh, là thế mạnh của các tổ chức hàn lâm.

- Trong thời đại ngày nay, sự liên kết trong nước có thể và cần phải trở thành cơ sở nền tảng để phát triển và tăng chiều sâu cho các liên kết quốc tế, qua đó cả trường và viện hợp sức để cùng các đối tác quốc tế giải quyết những nhiệm vụ có tầm cỡ lớn hơn cả về khoa học, kỹ thuật và kinh tế.

d. Các bước đi cơ bản: Thông thường các bước đi được thực hiện đi từ liên kết nội bộ đến liên kết trong nước và quốc tế. Viện hay trường trước hết nên xem xét lại việc liên kết theo tất cả các lĩnh vực trên đây giữa các thành phần thuộc viện/trường của mình. Nói cách khác, việc tổ chức công việc, việc phối hợp thực hiện các nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ có liên quan đến nhiều bộ phận phải được thực hiện một cách có bài bản và khoa học, tận dụng hết sức người, sức của của chính đơn vị mình với một năng suất và hiệu quả cao nhất có thể được. Khi đã làm được điều đó thì việc phát triển liên kết ra bên ngoài sẽ thuận lợi và có hiệu quả, bởi đã có kinh nghiệm phối hợp, có thói quen làm việc cộng tác và có kinh nghiệm điều hành cũng như văn hóa liên kết đúng đắn.

3.1.3. Tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ trong liên kết Viện-Trường

Tổ chức hoạt động KH&CN trong liên kết Viện-Trường là linh hồn của công tác quản lý liên kết. Các nội dung cơ bản của Tổ chức hoạt động KH&CN trong liên kết Viện-Trường bao gồm xây dựng tổ chức và xác định các lĩnh vực liên kết chính.

3.1.3.1. Xây dựng tổ chức quản lý hoạt động liên kết Viện-Trường

Để quản lý chung hoạt động liên kết, Viện/Trường đều phải thành lập một tổ chức để quản lý hoạt động này. Từ nghiên cứu lý luận và bài học thực tiễn, có thể khẳng định những vấn đề sau đây:

77

a. Yêu cầu: Tổ chức này phải là một bộ phận cấu thành hữu cơ của hệ thống tổ chức vốn có của viện/trường. Không nên tổ chức một cơ quan quản lý trùm lên các viện, trường như trong tài liệu [35, 6] kiến nghị. Tổ chức quản lý hoạt động liên kết Viện-Trường phải trực tiếp là cơ quan tham mưu cho lãnh đạo của viện hoặc trường, đồng thời thay mặt lãnh đạo quản lý trực tiếp các hoạt động này.

Trong điều kiện của Việt Nam, Tổ chức quản lý hoạt động liên kết của

viện/trường có thể là:

- Một ban trực thuộc phòng đào tạo hoặc phòng quản lý KH&CN của Trường hay thuộc phòng đào tạo sau Đại học hoặc phòng nghiên cứu và hợp tác quốc tế của Viện. Ưu điểm của phương án này là ít thay đổi về tổ chức và cơ chế làm việc. Nhược điểm là công tác quản lý của viện/trường đối với Ban không trực tiếp đối với ban mà qua phòng.

- Ban độc lập trực thuộc Ban giám hiệu Trường/Ban giám đốc Viện. Phương án này cũng có ưu điểm là cơ cấu tổ chức ít thay đổi, chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ viện trưởng/hiệu trưởng nên sẽ có hiệu quả hơn. Nhược điểm là có sự thay đổi cơ chế làm việc và sinh tổ chức mới.

- Phòng độc lập trực thuộc Ban Giám hiệu trường/Ban Giám đốc viện. Đây là trường hợp mà hoạt động liên kết của trường/viện được đề cao nhất, có điều kiện phát huy năng lực quản lý và điều hành liên kết tốt nhất. Song đó cũng là trường hợp thay đổi cơ cấu tổ chức nhiều nhất và đòi hỏi phải xây dựng cơ chế hoạt động mới của viện, trường. Phương án này thích hợp đối với trường hợp khi hoạt động liên kết phát triển tốt cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

- Thành lập “Phòng quan hệ và hợp tác quốc tế”, vì bản chất của hợp tác quốc tế là liên kết, hợp tác. Phòng này sẽ có chức năng liên kết, hợp tác cả trong và ngoài nước.

Cơ cấu phòng hay ban có dạng cơ cấu chung, với số cán bộ, nhân viên thích

hợp tùy theo trường/viện và từng thời kỳ.

b. Chức năng cơ bản của Tổ chức quản lý hoạt động liên kết. Dù là ban hay

phòng đều có các chức năng cơ bản sau đây:

- Tư vấn, tham mưu cho viện trưởng/hiệu trưởng trong việc hoạch định kế hoạch chiến lược phát triển và đề xuất các nhiệm vụ hoạt động liên kết; trực tiếp quản lý các hoạt động liên kết;

- Phối hợp với các đơn vị khác trong đơn vị để tổ chức xây dựng và thực hiện

78

các nhiệm vụ liên kết với tất cả các đối tác, kể cả trong nước và ngoài nước;

- Theo dõi, phối hợp, kiểm tra, điều chỉnh các hoạt động thực hiện các nhiệm

vụ liên kết theo quyền hạn được giao;

- Tổ chức rút kinh nghiệm, kịp thời phát hiện các nhiệm vụ, các mối liên kết mới, xin ý kiển chỉ đạo của lãnh đạo viện/trường về phương hướng và biện pháp giải quyết nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả liên kết.

c. Nhiệm vụ chung của cơ quan quản lý hoạt động liên kết Viện-Trường:

- Giúp Viện trưởng/Hiệu trưởng hoạch định kế hoạch chiến lược và kế hoạch

liên kết hàng năm;

- Chuẩn bị và tổ chức để các bên đối tác ký “Hợp đồng trách nhiệm trong liên

kết” hàng năm và các hợp đồng cụ thể thực hiện nhiệm vụ liên kết.

- Phối hợp với các đơn vị chuyên môn thuộc Viện/Trường và với đối tác để xác định các nhiệm vụ liên kết cụ thể trong tất cả các lĩnh vực Đào tạo, NCKH, PTCN và chuyển thành các hợp đống đối tác để thực hiện.

- Thường xuyên quản lý, kiểm tra các hoạt động liên kết, kịp thời điều chỉnh, bổ sung, điều phối trong phạm vi quyền hạn được phân công hoặc phản ảnh lên giám đốc viện hay hiệu trưởng trường để kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh.

- Tổ chức rút kinh nghiệm thành công và thất bại của các quan hệ liên kết và các nhiệm vụ đã được thực hiện. Thực hiện tìm kiếm, mở rộng các liên kết mới và hoàn thiện các quan hệ liên kết đã có.

- Giúp hiệu trưởng/viện trưởng phổ biến, duy trì và phát triển văn hóa tổ chức,

văn hóa liên kết lành mạnh, xây dựng lòng tin giữa các đối tác.

3.1.3.2. Các lĩnh vực liên kết chính

Với chức năng và nhiệm vụ của viện và trường, các lĩnh vực nhiệm vụ liên kết

cơ bản bao gồm:

a. Hoạt động NCKH và PTCN (R&D): Thực hiện các đề tài, dự án; sản xuất loạt nhỏ đối với công nghệ mới, sản phẩm mới khi chưa hình thành dây chuyền công nghiệp; ươm tạo công nghệ; tham gia các hội đồng khoa học xác định nhiệm vụ hay đánh giá kết quả nghiên cứu.

b. Hoạt động Đào tạo: Giảng dạy, hướng dẫn thực tập, làm thí nghiệm, làm luận văn, luận án cho sinh viên, học viên cao học; hướng dẫn NCS; đọc các chuyên đề khoa học mang tính mới, mở rộng kiến thức cho các đối tượng khác nhau; tham

79

gia các hội đồng đánh giá luận văn, luận án; phối hợp viết tài liệu, giáo trình...

Nhiệm vụ đào tạo trong liên kết Viện-Trường có thể xuất phát từ trường, viện

hoặc từ một đối tác thứ 3 (doanh nghiệp, tổ chức khoa học, xã hội khác).

c. Hoạt động chuyển giao kiến thức và công nghệ: Chuyển giao kiến thức và công nghệ giữa viện và trường; hợp tác tìm kiếm cơ hội, tư vấn môi giới và thực hiện CGCN; liên kết trong thực hiện các dịch vụ NCKH, Đào tạo hoặc CGCN cho đối tác thứ ba.

Để thực thi các nhiệm vụ liên kết, cần soạn thảo một bản hợp đồng thực hiện nhiệm vụ. Sau đó, thành lập tổ chức để thực hiện đề tài/dự án. Tham gia vào tổ chức này có thể gồm cán bộ, nhân viên của cả viện và trường, đặt dưới sự quản lý điều hành của chủ nhiệm đề tài/dự án. Ban quản lý dự án có trách nhiệm quản lý và phân công nhiệm vụ, theo dõi quá trình thực hiện nhiệm vụ, kịp thời phát huy năng lực cán bộ, chấn chỉnh những yếu kém, sai sót nếu có, đồng thời thực hiện nhận xét, đánh giá cán bộ theo định kỳ và gửi về cơ quan chủ quản của cán bộ đó. Mọi hoạt động thực hiện nhiệm vụ liên kết phải tuân theo các quy định của pháp luật, các quy định có liên quan của Bộ ngành về tổ chức, nhân sự, tài chính và quan hệ quốc tế.

Những nhiệm vụ liên quan đến quyền SHTT, cần được các bên đối tác thảo luận thống nhất và ghi trong văn bản hợp đồng. Ngoài những nội dung thường gặp trong một hợp đồng, hợp đồng thực hiện nhiệm vụ liên kết cần xác định rõ chức trách, nhiệm vụ mỗi bên, mỗi bộ phận: Nội dung công việc được phân công hay phối hợp, nhiệm vụ từng người/bộ phận và yêu cầu về thời gian thực hiện, đặc tính của sản phẩm trong từng công đoạn cần phải đạt được; kinh phí dự kiến tối đa cho phép cho từng nhiệm vụ. Đồng thời quy định về quyền lợi của các cá nhân, tập thể, viện, trường.

Một quan hệ liên kết Viện-Trường với tư cách là một cơ quan hàn lâm lại có thể liên kết với doanh nghiệp. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển bền vững của liên kết và phát triển KT-XH. Những công việc liên kết trong trường hợp này có thể thấy trong các tài liệu [66, 75, 8, 4] như sau:

+ Các Hợp đồng nghiên cứu triển khai (R&D contracts): Việc hợp tác với doanh nghiệp, cả trong và ngoài nước, cho phép áp dụng những công nghệ mới nhất cho các ứng dụng đang tồn tại hay là các ứng dụng mới với tất cả tầm cỡ và các loại công nghệ đa dạng khác nhau.

Hợp tác với doanh nghiệp là thế mạnh của viện, trường cũng như tổ chức liên

80

kết Viện-Trường, trong đó cung cấp những dịch vụ R&D mới nhất để mang lại lợi ích cho các đối tác công nghiệp. Những kinh nghiệm hoạt động đa chuyên môn được tích lũy thông qua R&D quốc tế và khả năng đổi mới sáng tạo đã được ứng dụng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng công nghiệp thông qua CGCN và thành lập các doanh nghiệp phù trợ (Spin-off) và các doanh nghiệp mới khởi nghiệp (Start-up Ventures).

Ở giai đoạn phát triển ban đầu của sự cộng tác và cung cấp các dịch vụ theo nhu cầu của các khách hàng, có thể thực hiện những nội dung như: Nghiên cứu tính khả thi (Feasibility Study) áp dụng công nghệ mới; thiết kế ý tưởng (Concept Design) cụ thể; cung cấp sản phẩm sơ khởi hoặc phát triển sản phẩm đầy đủ; chuyển giao quyền sử dụng quyền SHTT,...

Như vậy, liên kết Viện-Trường có thể cung cấp những giải pháp có mục tiêu

và có giá trị cho khách hàng.

+ Sản xuất loạt nhỏ: Các hệ thống vi mô được sử dụng như cơ sở nền tảng cho đổi mới, là sự bổ sung cho các hoạt động chính và đảm bảo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các hệ thống này do các cơ quan hàn lâm tạo ra, thường có một diện hoạt động rộng thông qua cách tiếp cận đa ngành và các bộ phận trong cơ cấu nội tại định hướng công nghiệp, chuyên tạo ra các sản phẩm sơ khởi và sản xuất loạt nhỏ của các tổ chức này. Trong lĩnh vực này, liên kết Viện-Trường thường nghiên cứu phát triển, sản xuất và tích hợp các hệ thống đổi mới như các hệ thống micro, nano và hệ thống kết nối chúng theo mô hình của người sử dụng hay mang tính chuẩn mực, trong đó khai thác những công nghệ tiên tiến để cung cấp những giải pháp mới cho các khách hàng công nghiệp.

+ Chuyển giao công nghệ: CGCN có vị trí trung tâm trong nhiệm vụ của tổ chức hàn lâm, góp phần tăng thêm giá trị đối với kết quả NCKH và PTCN. Những nội dung CGCN có thể là: Chuyển giao bí quyết (know-how) sang công nghệ ứng dụng; đảm bảo hỗ trợ đổi mới cho các khách hàng bằng việc sử dụng các cơ sở kỹ thuật và công nghệ tiên tiến; thành lập các cơ sở khởi nghiệp với các sản phẩm đổi mới để thực hiện những ý tưởng mới còn chưa được doanh nghiệp quan tâm nhiều.

+ Các doanh nghiệp khởi nghiệp: Với tư cách là một vườn ươm công nghệ, quan hệ liên kết Viện-Trường có thể tạo ra các doanh nghiệp khởi nghiệp để tạo ra việc làm và thúc đẩy việc đưa nhanh tiến bộ KH&CN vào SXKD, thương mại hóa các công nghệ mới.

81

d. Liên kết xây dựng các tổ chức KH&CN mới: Hình thành các vườn ươm công nghệ, doanh nghiệp KH&CN và hình thành các mạng liên kết ảo phục vụ nghiên cứu, đào tạo và truyền bá kiến thức.

e. Hoạt động hợp tác quốc tế: Cùng với doanh nghiệp liên kết, hợp tác thực

hiện các các nhiệm vụ, chương trình hợp tác quốc tế về KH&CN,…

3.1.4. Công tác chuẩn bị thiết lập mối quan hệ liên kết

Tài liệu hướng dẫn về cộng tác của NASA [92] và nhiều công trình nghiên cứu đã vạch ra những nội dung và trình tự chuẩn bị thiết lập quan hệ đối tác cũng như những kỹ năng cần thiết để duy trì quan hệ liên kết/đối tác bền vững. Khái quát những nội dung về chuẩn bị xây dựng quan hệ liên kết/đối tác có thể như sau:

3.1.4.1. Xác định những điều kiện giúp cho liên kết có hiệu quả

Mặc dù tham gia vào liên kết là một việc làm tự nguyện, nhưng một trong những cách để làm việc với những người khác là phải luôn hướng tới một mục đích chung. Hợp tác không phải là cách duy nhất và trong một số trường hợp, đó cũng không phải là cách tốt nhất để đạt mục đích. Vì vậy, chuẩn bị xây dựng hay tham gia liên kết cần thiết phải làm rõ tính khả thi và xem có đáng để hình thành một quan hệ đối tác hay không.

Trước khi bắt đầu triển khai quan hệ đối tác, hãy làm rõ những yếu tố để xác định xem liệu việc lựa chọn liên kết có phải là cách tốt nhất để đạt được những gì mong muốn hay không. Đầu tiên cần xem xét là có hay không những người có thể chia sẻ lợi ích và mối quan tâm với mình và lập danh sách những người cần quan tâm. Sau đó, tìm hiểu để nhận biết được những đối tượng có khả năng liên kết và nên tập trung vào các đối tác có cam kết mạnh mẽ và trong đó có thể có vị thế cao và nổi tiếng.

3.1.4.2. Điều tra khảo sát về môi trường liên kết

Môi trường liên kết là môi trường xã hội mà trong đó một quan hệ liên kết hoạt động, chịu ảnh hưởng và cũng tác động lại môi trường. Như vậy, môi trường này có liên quan đến cá nhân, tổ chức và cộng đồng của các bên tham gia liên kết. Vì vậy, sự hiểu biết về môi trường, nhất là về các khả năng hỗ trợ, là rất quan trọng đối với việc thiết lập quan hệ liên kết. Cần tìm hiểu rõ ai, tổ chức nào có thể đáp ứng vấn đề của mình hoặc cơ hội cho thiết lập quan hệ đối tác; kinh nghiệm của các đối tác tiềm năng và nhận thức của cộng đồng hoặc tổ chức của mình về quan hệ liên kết sắp được thiết lập như thế nào.

82

Những thông tin về môi trường liên kết là cần thiết để giúp quyết định xem liệu thiết lập một quan hệ đối tác cụ thể có là cách tốt nhất để giải quyết vấn đề của tổ chức của mình hay không.

3.1.4.3. Xem xét các đối tác tiềm năng

Có thể có nhiều đối tác có thể thiết lập quan hệ liên kết nên việc xem xét và nhìn nhận đúng đắn để hiểu về đối tác là rất quan trọng. Những vấn đề của đối tác cần quan tâm và xác định giá trị sớm là: Lịch sử về quan hệ đối tác của họ, vì lịch sử này sẽ có tác động nhất định, tích cực hoặc tiêu cực, đến quan hệ đối tác mới. Vì vậy, cần tìm hiểu để có thể sử dụng tốt nhất những kinh nghiệm đã đạt được và để tránh những mặt tiêu cực [60]. Trong việc xem xét các đối tác tiềm năng, cần hiểu tại sao người ta lại tham gia quan hệ đối tác với mình hay không muốn tham gia vào quan hệ đối tác với mình vì như phương châm đã nói “Biết địch, biết ta trăm trận đánh trăm trận thắng”.

3.1.4.4. Hiểu biết về bản chất của quan hệ đối tác

Để xây dựng quan hệ liên kết, sự hiểu biết chung về quan hệ hợp tác và những gì nó có thể và không thể làm là rất quan trọng. Quyền lực, lợi ích và nguồn lực là ba yếu tố cơ bản để thiết lập một quan hệ đối tác. Trước khi một quan hệ đối tác được thành lập, điều quan trọng là làm rõ ai có quyền và chia sẻ quyền lực trong điều hành hoạt động liên kết như thế nào và những lợi ích cá nhân hay chuyên môn gì sẽ có được và những nguồn lực nào sẽ cần phải được dùng cho quan hệ đối tác.

a. Quyền lực: Đã là một quan hệ đối tác-tức một tập thể cùng nhau làm việc thì nhất thiết phải có lãnh đạo, thì phải nói tới quyền lực: Quyền lực cá nhân và quyền lực tập thể. Quyền lực là luôn luôn hiện diện và hiếm khi ngang bằng đối với mọi người. Một quan hệ đối tác thành công là phải biết giá trị và công khai thừa nhận các loại quyền lực khác nhau mà mỗi cá nhân hoặc tổ chức nắm giữ. Bằng cách thừa nhận nó, quan hệ đối tác mới không vướng vào những mâu thuẫn sinh ra từ việc sử dụng quyền lực.

b. Lợi ích riêng: Lợi ích có lợi ích kinh tế hay lợi ích chuyên môn, lợi ích tinh thần. Vì vậy, cần nhận dạng trước các lợi ích có thể có và nên nói về các lợi ích này một cách công khai. Điều này sẽ giúp cho việc xây dựng một quan hệ đối tác được thuận lợi hơn. Lợi ích là động lực đầu tiên đối mọi người và tổ chức và cần được công nhận. Vì vậy, nên khuyến khích thảo luận về việc một quan hệ đối tác dự định sẽ mang lại những lợi ích gì cho mỗi người cũng như cho tổ chức.

83

c. Nguồn lực: Mọi người /tổ chức đều có nguồn lực, song sự sẵn sàng hoặc có thể đóng góp cho quan hệ đối tác lại là một vấn đề khác. Thời gian, tri thức chuyên môn, máy móc thiết bị và tài chính không tự nhiên được cống hiến một cách tự động khi hình thành quan hệ đối tác. Điều quan trọng là phải làm rõ, cần các tổ chức và cá nhân đóng góp những gì và những tài nguyên nào mà quan hệ đối tác có thể sử dụng.

d. Điều chỉnh nếp nghĩ, cách làm việc: Việc xây dựng và duy trì quan hệ đối tác đều là những thách thức, vì phải xây dựng các quan hệ làm việc mới và phải xây dựng những kế hoạch công việc mới. Một số điều chỉnh trong hoạt động của cá nhân và tổ chức sẽ có thể lường trước, nhưng một số khác sẽ chỉ xẩy ra trong quá trình thực hiện quan hệ hợp tác.

Chia sẻ quyền lực, rủi ro và uy tín là dễ hiểu về mặt lý thuyết, nhưng trong thực tế thường là khó khăn hơn. Làm việc trong quan hệ đối tác thường buộc phải suy xét các giả định về mọi điều nên được làm như thế nào. Nhận thức đúng về sự thay đổi và về cách tiếp cận mới đối với công việc trong hợp tác là điều quan trọng đối với sự tồn tại của quan hệ đối tác.

3.1.4.5. Xác định những nội dung sẽ thực hiện liên kết

Trong mục 3.1.3.2 đã đề cập đến “Các lĩnh vực liên kết chính” trong quan hệ đối tác. Tùy theo đối tác là ai, những đặc điểm thế mạnh của đối tác trong quan hệ với tổ chức mình và khả năng đối tác có thể đóng góp cho việc thực hiện những nhiệm vụ liên kết để xác định từng nội dung liên kết với từng đối tác cụ thể. Chỉ có lựa chọn vấn đề hay nhiệm vụ cụ thể, thích hợp với từng đối tác mới có thể mang lại lợi ích lớn và hiệu quả cao, nhờ đó mà quan hệ đối tác mới được duy trì bền vững và ngày càng phát triển.

3.1.4.6. Kiểm tra các điều kiện để thành lập quan hệ liên kết

Để xác định xem các điều kiện thành lập quan hệ liên kết đã sẵn sàng chưa,

cần thu thập đầy đủ thông tin để trả lời các câu hỏi sau đây:

Đã có các cá nhân hoặc tổ chức có chung mối quan tâm với đơn vị mình chưa? Họ liệu có thể cùng nhau làm việc? Họ có hiểu biết chung về quan hệ đối tác hay không? Nếu xây dựng quan hệ đối tác với họ thì đơn vị mình và họ sẽ có được những lợi ích gì? Liệu họ có cởi mở để thay đổi và thực hiện công việc theo những cách khác nhau không?

Nếu câu trả lời là có cho tất cả các câu hỏi trên thì có nghĩa là tồn tại các yếu

84

tố để thành lập quan hệ liên kết. Tuy nhiên, nếu câu trả lời cho một số câu hỏi ở trên là không, thì cần suy nghĩ nghiêm túc xem liệu có nên thiết lập quan hệ liên kết vào thời gian này và/hoặc có nên dành thời gian và sức lực của mình cho việc thúc đẩy môi trường quan hệ đối tác này không? Muốn vậy, cần tạo ra cơ hội thảo luận về mối quan tâm của họ khi làm việc cùng nhau và tìm hiểu thêm về phương thức hợp tác, tránh bỏ lỡ những cơ hội tốt.

3.1.4.7. Đánh giá sự sẵn sàng về nhân sự, tổ chức và cộng đồng

Nếu tồn tại các điều kiện chung để thiết lập quan hệ liên kết tiếp theo cần đánh giá sự sẵn sàng của các cá nhân, tổ chức và của cộng đồng có ảnh hưởng đối với quan hệ đối tác. Kinh nghiệm cho biết rằng những đánh giá nói trên là cần thiết và là cơ sở nền tảng vững chắc cho sự thành công.

3.1.4.8. Lựa chọn người lãnh đạo cho mỗi quan hệ đối tác cụ thể

Khi các điều kiện và sự sẵn sàng liên kết đã được đánh giá tốt thì sẽ phải quyết định về việc tham gia quan hệ đối tác. Tại thời điểm này, điều quan trọng là xác định ai là người sẽ dẫn dắt quá trình quan hệ đối tác cho mỗi công việc liên kết. Sẽ phải cần một cá nhân có quyết tâm, có tầm nhìn xa, có khả năng tập hợp lực lượng để thực hiện cam kết về quan hệ đối tác. Việc lựa chọn người lãnh đạo thích hợp là rất quan trọng, vì khi quan hệ đối tác phát triển, rất cần người có năng lực lãnh đạo để thực hiện các mục tiêu và duy trì đà phát triển.

3.1.4.9. Trao đổi thông tin

Một số quan hệ đối tác thu hút nhiều sự chú ý và tạo ra vô số các mối quan hệ khác trong quá trình thực hiện mục tiêu của mình. Từ đó, giao tiếp tốt là điều cần thiết cho sự thành công và cần được nhấn mạnh việc trao đổi thông tin cả trong nội bộ và với bên ngoài nhóm thực thi nhiệm vụ. Thông tin trao đổi cần rõ ràng, ngắn gọn, kịp thời và có liên quan.

3.1.5. Các giai đoạn triển khai nhiệm vụ liên kết trong quan hệ đối tác

Viện-Trường ở Việt Nam

Quá trình triển khai một quan hệ đối tác thường phải trải qua ba giai đoạn.

Mỗi giai đoạn có những đặc thù riêng mà người lãnh đạo cần quán triệt.

3.1.5.1. Giai đoạn triển khai ban đầu.

Trong giai đoạn triển khai ban đầu bao gồm các nội dung cơ bản sau:

a. Xác định tầm nhìn quan hệ đối tác:

85

Đó là việc nhận định và phát biểu một cách ngắn gọn hy vọng những gì quan hệ đối tác sẽ mang lại, những vấn đề căn bản quan trọng nào cần thực hiện, những hy vọng gì về việc tăng cường nguồn lực và năng lực thực hiện nhiệm vụ và những khó khăn trở ngại nào có thể xẩy ra cùng các giải pháp và biện pháp giải quyết những trở ngại đó.

Tuyên bố tầm nhìn phải được tất cả các thành viên đối tác ủng hộ. Sau khi phát biểu tầm nhìn, các thành viên của quan hệ đối tác cần thảo luận về những giá trị và nguyên tắc cần thiết để duy trì hoạt động đối tác.

b. Xác định mục tiêu của quan hệ đối tác:

Cần xác định những mục tiêu rất cụ thể dựa trên việc phân tích tầm nhìn và hiện trạng hiện tại; xác định những mục tiêu ấy nằm ở những lĩnh vực nào và dự định thời gian có thể đạt mục tiêu. Đồng thời cũng cần cân nhắc lựa chọn mục tiêu, không nên đề ra quá nhiều mục tiêu. Cần phải đảm bảo rằng các mục tiêu có thể đạt được và có ý nghĩa cho tất cả các thành viên đối tác.

c. Đánh giá cụ thể tình hình hiện tại:

Thông qua thẩm định để thu thập thông tin về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và các rào cản đổi với công việc sắp thực hiện. Để có những thông tin này, có thể sử dụng phương pháp phân tích S.W.O.T trong đó, đặt câu hỏi:

- Những điểm mạnh là gì (S-Strengths)?

- Những điểm yếu là gì (W-Weaknesses)?

- Những cơ hội từ nội bộ và từ bên ngoài là gì (O-Opportunities)?

- Những thách thức từ nội bộ và từ bên ngoài là gì (T-Threats)?

Tùy thuộc vào nhu cầu và sự phức tạp của tình hình để quyết định xem ai sẽ

đảm nhiệm công việc gì và những thông tin nào sẽ được sử dụng.

d. Kết luận cam kết về quan hệ đối tác:

Sau khi tầm nhìn và mục tiêu được xác lập thì các thành viên cũng cần thể hiện rõ quyết tâm của họ trong tiến hành công việc với đối tác và một văn bản cam kết chung nếu có được cũng là điều tốt. Điều này sẽ chính thức hóa sự tham gia của các thành viên và khẳng định rằng tất cả đều quyết tâm thực hiện những mục tiêu chung. Trên cơ sở đó có thể chuyển sang giai đoạn 2 của quá trình triển khai quan hệ đối tác. Đó là giai đoạn "Triển khai công việc” sẽ được trình bày dưới đây.

e. Đánh giá những ảnh hưởng của quan hệ đối tác:

86

Để hiểu đánh giá được những tác động của quan hệ đối tác phải đặt ra những câu hỏi về các vấn đề pháp lý và các tác động khác của sự hình thành quan hệ đối tác, qua đó tất cả thành viên hiểu được sự cam kết về thời gian, trách nhiệm của họ và các khía cạnh quy phạm pháp luật của quan hệ đối tác hay những xung đột lợi ích gì có thể xẩy ra. Những vấn đề như SHTT, sự tác động lên uy tín nghề nghiệp; những tác động tầm xa đối với cuộc sống cá nhân hoặc nghề nghiệp; quyền tác giả; quản lý tài chính và việc giải thể của quan hệ đối tác,… cũng cần được lưu ý.

3.1.5.2. Giai đoạn triển khai công việc

Là giai đoạn chuyển quan hệ đối tác từ lý thuyết sang thực hành và gồm

những nội dung sau đây:

a. Triển khai kế hoạch hành động thực hiện các mục tiêu:

Kế hoạch hành động vạch ra những gì sẽ được thực hiện và làm như thế nào để đạt được từng mục tiêu. Nó xác định các bước cần được thực hiện và nguồn lực cần thiết cho từng giai đoạn, ai làm, phương pháp gì, khi nào và công tác kiểm tra, đánh giá.

Để một kế hoạch hành động có tính khả thi và có khả năng thành công cao thì phải có các tính chất: Cụ thể, đo lường được, khả thi, có tính thực tiễn và có sự hỗ trợ cần thiết.

b. Nguồn lực/Tài nguyên:

Tài nguyên bao gồm nhân lực, tài chính và cơ sở hạ tầng. Bước đầu tiên là phải quyết định xem những gì là quan trọng cho sự thành công của công việc. Tiếp theo là xây dựng một kế hoạch nguồn lực, hướng tới những yêu cầu về vật chất, tài chính và nguồn nhân lực của quan hệ đối tác.

Nhu cầu nguồn nhân lực có thể bao gồm những người có tay nghề, bổ nhiệm cán bộ và lồng ghép kế hoạch đào tạo với xây dựng năng lực; nhu cầu vật chất như văn phòng, thiết bị để hoạt động, mà quan trọng là phải xác định được những gì là cần thiết và từ đâu mà có được; nhu cầu về tài chính để trả lương và chi phí cho cơ sở hạ tầng, thực hiện dự án và cho hoạt động của quan hệ đối tác.

c. Vai trò và trách nhiệm:

Việc xác định vai trò và trách nhiệm liên quan đến việc phân công trách nhiệm cho mỗi tổ chức, cá nhân tham gia đối tác. Đến lượt mình việc phân công trách nhiệm lại phải xem xét đến khả năng, trình độ và sự đóng góp của tổ chức, cá nhân cho công việc. Thiết lập vai trò và trách nhiệm là kết quả của sự chuẩn bị kế hoạch

87

hành động, do đó trong quá trình lập kế hoạch cần phải làm rõ vai trò và trách nhiệm đối với các bộ phận và các vị trí; thiết lập các nguyên tắc, các chuẩn mực cơ bản của nhóm làm việc; xác định cách thức thực hiện các quyết định; hình thành các bộ phận cần thiết; đảm bảo mỗi cá nhân hiểu rõ trách nhiệm của mình và lên kế hoạch các cuộc họp, các chương trình nghị sự.

Việc đạt được thoả thuận về cách ứng xử với nhau trong quan hệ đối tác là yếu tố quan trọng để thành công. Các cách ứng xử này cũng phải dựa trên những quy tắc nền tảng, quy định những hành vi chấp nhận được và không thể chấp nhận được. Một số quy tắc nền tảng có thể là về tự do chia sẻ những thông tin; xử lý kịp thời những vấn đề nảy sinh; giải thích và lắng nghe ý kiến của nhau và không làm phức tạp hóa vấn đề,…

Việc cùng nhau làm việc trong một tổ chức liên quan đến việc đàm phán và đạt thỏa hiệp về những gì cần phải được thực hiện, ai và bằng cách nào. Để có cách ứng xử đúng, nên biết điểm mạnh và điểm yếu của các thành viên cũng như khả năng hạn chế của họ xung quanh sự tham gia và đóng góp. Đánh giá về sự đóng góp cũng cần có cái nhìn đúng đắn vì không phải đóng góp nào cũng dễ dàng nhìn thấy và mặc dù đóng góp của mỗi đối tác có thể không bằng nhau, nhưng mỗi đóng góp đều sẽ giúp tạo ra thành công.

d. Xây dựng năng lực:

Năng lực được hiểu là khả năng của cá nhân, nhóm và tổ chức về lập kế hoạch, thực hiện và quản lý quan hệ đối tác của riêng mình. Đa phần năng lực của liên kết được quyết định bởi kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ liên kết, tinh thần, ý chí quyết tâm, khả năng lãnh đạo, điều hành, khả năng thích ứng những thay đổi của những người tham gia; cơ sở hạ tầng, nguồn tài chính; các chính sách và hệ thống thiết chế liên quan.

Việc xây dựng năng lực cần có sự thừa nhận, quan tâm của lãnh đạo và xây dựng trên cơ sở các điểm mạnh và khả năng nội tại của quan hệ đối tác hiện có, đồng thời khắc phục những điểm yếu. Nó đòi hỏi có thời gian và sự nỗ lực cần thiết.

3.1.5.3. Giai đoạn đánh giá và thiết lập định hướng tương lai

a. Đánh giá:

Đánh giá liên quan đến việc thẩm định tiến trình và kết quả thực hiện. Trước khi tiến hành đánh giá cần phải xây dựng tiêu chí đánh giá gắn với các mục tiêu. Việc đánh giá là một quá trình tiếp diễn liên tục cả trong và khi kết thúc công việc

88

trong đó làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, tiến độ, mức độ hoàn thành và chất lượng công việc,… Đánh giá phải đi đôi với khắc phục điểm yếu, phát huy điểm mạnh và kết quả của đánh giá được dùng để tiếp tục xây dựng kế hoạch và xúc tiến quan hệ đối tác tiếp theo.

b. Thiết lập định hướng tương lai:

Kết quả đánh giá thực trạng công việc và kết quả của quan hệ đối tác sẽ giúp xác định trọng tâm của hoạt động tương lai. Trên cơ sở đánh giá hàng năm nên xem xét ba câu hỏi quan trọng sau đây:

- Quan hệ đối tác đã đạt được những gì?

- Chúng ta muốn gì để đạt được trong năm tiếp theo?

- Cần phải cải thiện những gì cho tương lai?

Trả lời cho những câu hỏi trên có thể đòi hỏi ta phải có cách tiếp cận mới, khẳng định việc đang đi đúng hướng hoặc làm xuất hiện một số suy nghĩ về những gì cần phải sửa đổi, điều chỉnh hay làm thay đổi mối quan hệ đối tác như gia hạn, đổi mới cũng như khép lại một quan hệ đối tác.

Khi khép lại một quan hệ đối tác, dù đó là sự kết thúc công việc một cách tốt đẹp hay phải chấm dứt khi quan hệ đối tác không mang lại kết quả mong muốn, cần yêu cầu các thành viên xem xét những thành công mà quan hệ đối tác đã đạt được; những khó khăn đã gặp phải và đã được khắc phục; sự đóng góp của mỗi người hoặc tổ chức; những bài học có thể rút ra và những vấn đề khác liên quan đến nhóm và đến bên ngoài.

Ba giai đoạn cơ bản để triển khai một quan hệ đối tác trên đây, mỗi giai đoạn có một vai trò, ý nghĩa và nội dung riêng, góp phần quan trọng cho sự thành công khi triển khai một quan hệ đối tác. Nắm chắc và vận dụng một cách sáng tạo các nội dung và kỹ năng thực hiện trong mỗi giai đoạn không chỉ là công việc của các cấp lãnh đạo mà còn là của mỗi thành viên tham gia vào liên kết, nhờ đó tạo nên một số thống nhất từ nhận thức đến hành động và đó là cơ sở để liên kết thành công.

3.1.6. Giải quyết tranh chấp trong quan hệ hợp tác/đối tác

Những vấn đề liên quan đến chia sẻ nguồn lực, quyền lực và ra quyết định và vấn đề về phân bổ tài chính như phân bổ cho ai, đơn vị nào và phân bổ như thế nào đều là vấn đề phức tạp, trong đó xung đột lợi ích là vấn đề quan trọng và đòi hỏi những kỹ năng giải quyết vấn đề một cách hoàn hảo.

89

3.1.6.1. Những lợi ích có khả năng xung đột trong liên kết

Nghiên cứu về xung đột lợi ích trong hoạt động KH&CN nói chung và trong liên kết Viện-Trường nói riêng cho thấy, tranh chấp có thể là tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh tế.

 Tranh chấp dân sự là tranh chấp mang yếu tố phi lợi nhuận, chịu sự điều tiết của Bộ Luật Dân sự. Tranh chấp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN ở giai đoạn chưa thương mại hóa là các tranh chấp thuộc loại này.

Trong quan hệ đối tác, có thể có các tranh chấp dân sự như tranh chấp quyền tác giả, đồng tác giả, tranh chấp hợp đồng thực hiện nhiệm vụ KH&CN; tranh chấp về Sở hữu công nghiệp (SHCN) và Giống cây trồng; tranh chấp hợp đồng CGCN.

Khi thực hiện CGCN cho nhau hay cho bên thứ ba, bên nhận công nghệ và bên giao công nghệ phải ký kết hợp đồng CGCN theo các nội dung do Luật CGCN quy định. Trong việc ký kết hợp đồng CGCN với bên thứ ba, có thể nẩy sinh tranh chấp về quyền chuyển giao, trách nhiệm và quyền lợi trong chuyển giao giữa hai chủ thể giao công nghệ. Trong trường hợp CGCN cho nhau giữa hai đối tác cũng cần ký kết hợp đồng CGCN. Tuy đã thỏa thuận trước khi ký kết, nhưng trong quá trình thực hiện có những nẩy sinh về bất cứ nội dung nào của hợp đồng giữa bên giao và bên nhận công nghệ mà các bên có thể hiểu khác nhau. Từ đó dẫn đến tranh chấp.

 Tranh chấp hợp đồng chuyển giao quyền SHCN: Đó là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng với nhau và với bên thứ ba trong quan hệ pháp luật về SHCN. Nội dung tranh chấp hợp đồng chuyển giao quyền SHCN bao gồm: Tranh chấp về nội dung và phương thức thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện hợp đồng; về phạm vi, đối tượng bảo hộ, quyền và trách nhiệm trả thù lao cho tác giả đối tượng SHCN được chuyển giao và về giới hạn quyền sử dụng các đối tượng SHCN trong quá trình thực hiện hợp đồng như số lượng sản phẩm, thời hạn buôn bán sản phẩm mang yếu tố SHCN sau khi hợp đồng hết hiệu lực.

 Tranh chấp kinh tế là tranh chấp giữa các chủ thể khi tham gia các quan hệ kinh tế với nhau mà có ít nhất một bên chủ thể là tổ chức kinh kế có tư cách pháp nhân, mà mục đích của các chủ thể khi tham gia mối quan hệ này mang tính lợi nhuận, chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại là chủ yếu, bên cạnh quy định của Bộ Luật Dân sự. Tranh chấp trong quá trình thương mại hóa kết quả hoạt động

90

nghiên cứu KH&CN, phân chia quyền lợi, trách nhiệm thực hiện các loại hợp đồng thuộc loại này.

3.1.6.2. Những nguyên tắc và hình thức giải quyết tranh chấp trong quan

hệ hợp tác/đối tác hiệu quả

Việc giải quyết tranh chấp trong quá trình hợp tác, liên kết thực hiện nhiệm vụ chung cần được thống nhất và ghi rõ trong mỗi hợp đồng thực hiện nhiệm vụ. Nhìn chung, tranh chấp phát sinh trong hoạt động hợp tác/liên kết mà các bên là tổ chức, cá nhân Việt Nam thì giải quyết theo quy định của Luật KH&CN, Luật CGCN, Luật SHTT và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động hợp tác/liên kết mà một bên là tổ chức, cá nhân nước ngoài thì các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp và pháp luật áp dụng theo quy định ghi tại hợp đồng để giải quyết tranh chấp. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động hợp tác/liên kết mà các bên không có thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng thì giải quyết theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Pháp luật hiện hành công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp trong quan hệ dân sự và giao dịch kinh tế (hợp đồng chuyển nhượng, chuyển giao quyền) gồm: Thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án, theo đó, khi xẩy ra tranh chấp các bên có thể giải quyết thông qua việc trực tiếp thương lượng với nhau. Đối với các quan hệ hợp tác/đối tác, đây phải là hình thức được ưu tiên hàng đầu. Trong trường hợp không thương lượng được, việc giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua phương thức hòa giải, trọng tài hoặc tòa án. Vấn đề lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp cần được các bên cân nhắc, lựa chọn phù hợp dựa trên các yếu tố như mục tiêu đạt được, bản chất của tranh chấp, mối quan hệ hợp tác giữa các bên, thời gian và chi phí dành cho việc giải quyết tranh chấp.

Có 4 bước cơ bản để giải quyết tranh chấp/xung đột là:

(1) Xác định bản chất vấn đề xung đột là gì.

(2) Tìm hiểu kỹ nguyên nhân, nội dung và mức độ của vấn đề đó và những

người có liên quan.

(3) Xác định những phương thức giải quyết có thể áp dụng

(4) Lựa chọn phương thức và hành động theo phương thức đó.

Tất nhiên, cuối cùng, sau khi phân tích và đánh giá các giải pháp và các biện pháp

đi kèm, cần phải xác định giải pháp và các biện pháp để giải quyết vấn đề cụ thể đó.

91

3.2. Các nhóm giải pháp thúc đẩy phát triển liên kết Viện-Trường trong

lĩnh vực Khoa học kỹ thuật do Bộ Quốc phòng quản lý

Trong thực hiện bất kỳ nhiệm vụ nào, cùng với việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp thực hiện một cách khoa học và chính xác thì việc đề ra các giải pháp thực hiện lại có ý nghĩa quyết định sự thành công. Giải pháp phải mang tính hệ thống, toàn diện, đầy đủ và khả thi. Người ta thường nói, “nhiệm vụ một thì giải pháp mười”, với nghĩa là giải pháp phải phong phú, lường được các tình huống khác nhau để linh hoạt trong thực hiện, đảm bảo tính hiệu quả của công việc. Trong phần này của chương, Luận án tập trung trình bày các giải pháp chủ yếu để phát triển liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực KHKT do BQP quản lí.

3.2.1. Nhóm giải pháp tăng cường vai trò của Nhà nước đối với liên kết

Viện-Trường

3.2.1.1. Nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm về sự cần thiết và định

hướng phát triển liên kết Viện-Trường

Trong tiết 2.1 của Luận án đã trình bày chủ trương của Đảng và Nhà nước về

liên kết Viện-Trường. Nhưng để các chủ trương trên đây đi vào cuộc sống thì điều

trước tiên và căn bản là phải có nhận thức sâu sắc, đúng đắn và thống nhất về chủ

trương này; phải nâng nhận thức về liên kết Viện-Trường lên một tầm cao mới, phải

coi liên kết, đổi mới như một phương thức quan trọng, một nhiệm vụ thường xuyên

mà các viện, trường đều phải quan tâm và gắn liên kết với kế hoạch thực thi nhiệm

vụ thường xuyên và các nhiệm vụ chiến lược của tổ chức mình. Trên cơ sở đó, phải

đạt đến sự thống nhất về quan điểm là liên kết là cách thức để viện, trường cùng

khắc phục những điểm yếu của mình, đặc biệt về nguồn lực và cùng phát triển.

Nhận thức và quan điểm này cần được quán triệt từ các cơ quan của Bộ, tới các cơ

quan quản lý, các đơn vị cơ sở viện, trường cho đến từng nhà khoa học và nhà giáo

dục, đào tạo và việc đẩy nhanh tốc độ liên kết là một nhu cầu cấp bách.

Cần thống nhất rằng càng chậm tiến hành liên kết Viện-Trường trong đào tạo,

NCKH và CGCN thì viện, trường càng bất lợi và sẽ bỏ lỡ cơ hội để trở thành những

viện, trường đạt tiêu chuẩn tiên tiến của thế giới. Có sự thống nhất về nhận thức và

quan điểm như trên mới tạo ra sự đồng thuận để thúc đẩy sự phát triển liên kết

Viện-Trường. Sự thống nhất này là động lực để các viện và trường đẩy nhanh tiến

độ vận dụng liên kết với một ý thức và sự cố gắng rõ rệt để tạo ra đột biến.

92

3.2.1.2. Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động liên kết

trong Hệ thống đổi mới quốc gia

Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, khi phát biểu về đổi mới sáng tạo đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, hoạt động KH&CN”, và “…Để đổi mới, trước hết cần thay đổi tư duy, quản lý theo hiệu quả đầu ra.” và “Cần đẩy mạnh tạo ra hiệu ứng liên kết hệ thống, giữa các cơ quan nghiên cứu với các trường và doanh nghiệp” [37]. Trong việc đảm bảo cho đổi mới và liên kết phát triển, rõ ràng Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng, tạo môi trường KT-XH và môi trường chính sách thúc đẩy, hỗ trợ đổi mới nói chung và liên kết Viện-Trường nói riêng. Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước rõ ràng có tính quyết định đến sự phát triển bền vững của liên kết Viện- Trường.

Trong quan hệ đến liên kết Viện-Trường, vai trò quản lý của Nhà nước cần

được thể hiện trong các vấn đề sau đây:

- Coi liên kết NCKH-ĐT-SXKD là một bộ phận quan trọng có tính cốt lõi của HTĐMQG, gắn kết đổi mới sáng tạo và liên kết trong cùng một hệ thống chính sách;

- Định hướng liên kết, lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện;

- Lồng ghép kế hoạch chiến lược về liên kết, hợp tác ĐT-NCKH-SXKD trong

các kế hoạch phát triển KT-XH một cách cụ thể;

- Xây dựng và thực thi hệ thống chính sách toàn diện thúc đẩy đổi mới sáng tạo và liên kết, trong đó có xây dựng tổ chức KH&CN, tổ chức liên kết, quản lý hoạt động liên kết và cơ chế hoạt động của các dạng tổ chức này; đào tạo, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực; tạo nguồn và xây dựng cơ chế và chính sách phân bổ, sử dụng tài chính phù hợp trong lĩnh vực hoạt động đổi mới sáng tạo và liên kết; xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng thông tin, cơ chế hoạt động thông tin đảm bảo cho hoạt động đổi mới sáng tạo và liên kết; xây dựng và ban hành các chính sách về NCKH, PTCN, SHTT, CGCN và về phát triển thị trường, đổi mới sản phẩm và các chính sách khác, có tính đến việc thúc đẩy hoạt động liên kết ĐT-NCKH-SXKD;

- Xây dựng các chương trình quốc gia về phát triển KT-XH và KH&CN, gắn kết các hoạt động nghiên cứu, đào tạo và thúc đẩy ứng dụng các thành tựu KH&CN vào SXKD, đổi mới sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh của nền kinh tế. Thực hiện đánh giá ảnh hưởng của các chương trình về

93

KT-XH và KH&CN;

- Khuyến khích và tạo điều kiện cho việc mở rộng hợp tác quốc tế về NCKH, đào tạo và CGCN thông qua việc thiết lập các quan hệ quốc tế cấp chính phủ, cấp Bộ ngành, địa phương và cơ sở; xây dựng các chương trình liên kết quốc tế thiết thực và cụ thể;

- Thúc đẩy nghiên cứu và ban hành hướng dẫn chỉ rõ trình tự thủ tục thiết lập,

tiến hành hợp tác, liên kết với một tổ chức trong nước và với tổ chức nước ngoài;

- Thúc đẩy nghiên cứu và ban hành hướng dẫn chỉ rõ những lĩnh vực, vấn đề,

nội dung khuyến khích, hạn chế hay cấm; vấn đề bảo mật;

- Thúc đẩy nghiên cứu và ban hành hướng dẫn về kỹ năng trong CGCN,

SHTT, xây dựng văn hóa ứng xử và văn hoá tổ chức trong liên kết,…

Cùng với Nhà nước, các Bộ, ngành liên quan của Nhà nước, BQP, các cơ quan của Bộ, lãnh đạo các đơn vị cơ sở viện, trường, doanh nghiệp trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động đổi mới sáng tạo và liên kết của Bộ cần: Đề ra chủ trương, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; tổ chức, quản lý và lãnh đạo trong quá trình thực thi; tổ chức đánh giá và thường xuyên rút kinh nghiệm. Tuy mỗi thực thể giữ một vai trò riêng không thể thay thế, nhưng có sự tác động qua lại như một thể thống nhất. Bộ và các cơ quan Bộ là những thực thể có tính định hướng cho hoạt động chung, tạo ra môi trường (vật chất, chính sách, cơ chế, tổ chức và thông tin) và phối hợp, điều hòa hành vi của các tổ chức cơ sở, tạo ra các yếu tố kích thích để đạt được mục tiêu chung thông qua các định hướng đổi mới và liên kết toàn diện.

3.2.1.3. Hoàn thiện quá trình hoạch định chính sách đổi mới sáng tạo và

liên kết

Chính sách đổi mới quốc gia và có tác động trực tiếp đến hoạt động liên kết. Ngày nay, các nước đều nhận thức sâu sắc và không ngừng đẩy mạnh việc nghiên cứu hoàn thiện lý luận và phương pháp luận đổi mới, thúc đẩy liên kết Viện-Trường [27, 83, 82, 111]. Bộ Quốc phòng, các cơ quan của Bộ và các đơn vị cơ sở cần quan tâm và tham gia một cách tích cực trong khả năng và phạm vi của mình vào quá trình đổi mới và hoạch định chính sách của Nhà nước. Tuy quá trình xây dựng chính sách đổi mới, liên kết của mỗi nước có khác nhau nhưng đều đề cập đến những vấn đề chủ yếu sau đây.

a. Xác định cách tiếp cận đổi mới, gắn với liên kết.

94

Xét theo khía cạnh hành chính, việc hoạch định và điều phối chính sách đổi

mới của mỗi quốc gia có thể theo những cách tiếp cận khác nhau:

- Tiếp cận theo chức năng và mang tính hiện đại: Xem chính sách đổi mới như một yếu tố cấu thành của chính sách công, chính sách liên kết và như vậy, việc điều phối chính sách đổi mới và liên kết sẽ do một cơ quan cấp bộ chịu trách nhiệm (Đan Mạch, Hàn Quốc, Canada, Malaysia,…).

- Cách tiếp cận truyền thống: Xem đổi mới và liên kết như là giai đoạn cuối cùng và là một phương thức thực hiện quá trình NC&PT. Do đó, muốn thúc đẩy đổi mới và liên kết cần có chính sách NCKH, PTCN, chính sách GD&ĐT cũng như chính sách đẩy nhanh các ứng dụng KH&CN vào thực tiễn cuộc sống một cách thích hợp (Hà Lan, CHLB Đức, Tây Ban Nha do Bộ Kinh tế hay Bộ Công nghiệp và Thương mại phụ trách).

Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, chỉ riêng cơ cấu tổ chức “cứng” không tạo nên sự khác biệt giữa các quốc gia mà chính là quá trình hoạch định chính sách theo cách tiếp cận hệ thống với sự tham gia đầy đủ của các nhân tố cấu thành ở các giai đoạn khác nhau cũng như nội dung chính sách đổi mới được ban hành, điều phối và thực hiện trên thực tế mới tạo nên sự khác biệt.

b. Vấn đề phân cấp chính sách đổi mới và liên kết.

Việc phân cấp thể hiện ở trách nhiệm của các cấp quản lý khác nhau: Quốc gia, Bộ ngành, địa phương và tổ chức chịu trách nhiệm về đổi mới và liên kết. Điều quan trọng là làm thế nào để “ghép nối” các chính sách khác nhau và ở các cấp khác nhau, hình thành hệ thống chính sách chung thống nhất của quốc gia theo hướng thúc đẩy đổi mới và liên kết?

c. Thực hiện việc thẩm định, đánh giá chính sách đổi mới và liên kết.

Cần thiết phải đưa vào kế hoạch việc thẩm định và đánh giá chính sách đổi mới và liên kết trong tất cả các khâu từ xây dựng chính sách đến thẩm định, đánh giá ảnh hưởng của chính sách thông qua các phản hồi từ việc thực thi chính sách để có thể điều chỉnh, hoàn thiện chính sách đổi mới và liên kết cho phù hợp với tình hình thực tiễn, đặc biệt là phản hồi từ kết quả tác động của chính sách lên KT-XH, môi trường,… và việc thực thi các cơ chế chính sách liên quan đến đào tạo và sử dụng nguồn lực trong liên kết, liên quan đến lợi ích vật chất và tinh thần, SHTT trong quan hệ đối tác. Nghiên cứu và vận dụng những nội dung thẩm định này trong BQP là cách để đảm bảo thông tin tin cậy cho các quyết sách của Bộ về liên kết và

95

về những vấn đề khác.

d. Chính sách đổi mới và liên kết cần thể hiện rõ vai trò của quản lý Nhà

nước, vai trò chủ động, sáng tạo của các thành phần thực hiện đổi mới và liên kết

Thông qua hệ thống chính sách, Nhà nước có thể hỗ trợ và phát triển một môi trường thuận lợi cho hoạt động đổi mới và liên kết thông qua việc tích hợp các lực lượng trong một hệ thống có lợi cho đổi mới và liên kết. Thông qua hệ thống chính sách về Đào tạo, NCKH và CGCN cũng như những chính sách khác có liên quan, Nhà nước khuyến khích tính chủ động và sáng tạo của các thành phần đổi mới và liên kết. Nhà nước có thể hỗ trợ tạo ra tri thức thông qua các chương trình phát triển KT- XH và truyền bá tri thức từ những kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất trong nước và quốc tế về đổi mới và liên kết.

Chính sách của Nhà nước cần thể hiện rõ việc việc khuyến khích tính chủ động sáng tạo của các tổ chức nghiên cứu, đào tạo và SXKD trong một môi trường pháp lý thuận lợi và được hỗ trợ. Tính chủ động này phải được thể chế hóa bằng các thiết chế xã hội thuận lợi trong việc thiết lập các tổ chức và cơ chế hoạt động, việc tạo dựng và sử dụng các nguồn kinh phí trên cơ sở quản lý đầu vào, đầu ra của nhiệm vụ KH&CN; trong việc nâng cao quyền của tổ chức cơ sở về tuyển dụng và sử dụng cán bộ nhân viên cũng như trong mở rộng các nhiệm vụ thuộc chức năng và phạm vi chuyên môn của tổ chức; trong mở rộng hợp tác quốc tế trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

e. Hoạch định các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, phát triển khoa

học và công nghệ gắn với liên kết, đổi mới

Trong các chương trình này cần hội tụ đủ các điều kiện để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và liên kết ĐT-NCKH-SXKD như đòi hòi NCKH, PTCN có gắn với đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ; thực hiện CGCN, phát triển sản phẩm mới, đổi mới sáng tạo và đảm bảo quyền SHTT. Những kinh nghiệm của các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Ấn Độ, Thái Lan, Philippine về liên kết giữa các cơ quan hàn lâm với ngành công nghiệp; về các chủ trương, chính sách của các nước này mà các tác giả trong tài liệu [111] đã giới thiệu thực sự là những bài học cho Việt Nam nói chung và cho Quân đội nói riêng trong việc hoạch định các chương trình phát triển KT-XH, phát triển KH&CN, trong đó lấy đổi mới sáng tạo và liên kết làm nòng cốt.

f. Hoạch định chính sách phát triển và quản lý khoa học và công nghệ cần

96

chú ý đến bốn mặt của chính sách khoa học và công nghệ.

Đó là các mặt: Khoa học đối với chính sách, công nghệ đối với chính sách, chính sách đối với khoa học và chính sách đối với công nghệ. Việc hiểu rõ các mặt này của chính sách có thể giúp cho các nhà hoạch định chính sách về đổi mới và liên kết có được các quyết định tốt hơn. Mặt khác, điều này cũng đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải tham khảo ý kiến về chính sách từ cộng đồng KH&KT như thế nào [91, 105].

3.2.1.4. Hoàn thiện môi trường trực tiếp cho đổi mới và liên kết

Điều cốt yếu và có tác động mạnh mẽ đến đổi mới và liên kết từ cấp Nhà nước chính là môi trường trực tiếp phục vụ hoạt động đổi mới, liên kết. Trong đó, Nhà nước thường tập trung vào những vấn đề then chốt sau đây:

a. Đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ

Quyền SHTT và sử dụng sáng chế là vấn đề có ý nghĩa quan trọng để đổi mới và liên kết bền vững. Trong liên kết, khi quyền lợi về SHTT được xác định rõ ràng và công bằng thì sẽ tạo ra động cơ tốt để thực hiện liên kết bền vững. Vì vậy, chính sách đổi mới, liên kết cần qui định cụ thể về quyền SHTT phù hợp với đổi mới sáng tạo và liên kết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của chủ nhân sáng chế, đồng thời khuyến khích hoạt động nghiên cứu đổi mới sáng tạo và liên kết.

b. Các biện pháp tài chính cho hoạt động đổi mới và liên kết

Tài chính có vai trò hết sức quan trọng đối với đổi mới và liên kết. Các giải pháp tài chính nhằm hỗ trợ quá trình đổi mới sáng tạo và liên kết có thể là khuyến khích và tăng cường đầu tư mạo hiểm; linh hoạt trong cung cấp tài chính cho các hoạt động nghiên cứu đổi mới sáng tạo nói chung và trong liên kết nói riêng như cấp theo khối công việc, thời hạn thanh quyết toán đủ lớn (3 năm như ở Úc [54]),…; xã hội hóa đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, để tăng nhu cầu liên kết ĐT-NCKH-SXKD trong xã hội.

c. Hình thành và phát triển doanh nghiệp dựa trên công nghệ mới

Doanh nghiệp dựa trên công nghệ mới (doanh nghiệp đổi mới, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp KH&CN) có vai trò quan trọng như một kênh thúc đẩy đổi mới và liên kết. Để phục vụ cho mục tiêu này, trong chính sách đổi mới và liên kết cần có các biện pháp khuyến khích và hỗ trợ tạo ra các ý tưởng kinh doanh từ hoạt động nghiên cứu, chuyển các ý tưởng sang xây dựng vườn ươm doanh nghiệp công nghệ,…

97

d. Chú trọng chính sách “cụm” và “mạng lưới quan hệ”

Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy, điểm yếu của các doanh nghiệp này còn do “vị trí đơn độc” của nó. Vì vậy, chính sách “cụm”- các doanh nghiệp liên kết theo ngành và không gian và “mạng lưới quan hệ”- tập hợp các doanh nghiệp không nhất thiết phải ở cùng một nơi nhưng họ hợp tác chặt chẽ với nhau, có vai trò quan trọng để phát huy vị thế của các doanh nghiệp Việt Nam.

e. Hình thành và phát triển cơ sở hạ tầng hỗ trợ đổi mới, liên kết

Cơ sở hạ tầng bao gồm các trung tâm CGCN, công viên khoa học, thành phố khoa học, vườn ươm công nghệ, trung tâm đổi mới, sàn giao dịch công nghệ, trung tâm xuất sắc,… có ý nghĩa to lớn trong việc thúc đẩy liên kết nói chung và liên kết Viện-Trường nói riêng. Một số quốc gia Châu Âu như: Anh, Pháp, Thụy Điển,… đã xem các hình thức tổ chức kiểu này như trọng tâm của chiến lược hỗ trợ quá trình liên kết và thương mại hoá kết quả nghiên cứu khoa học.

f. Phát triển nguồn nhân lực theo hướng phục vụ sản xuất kinh doanh

Phát triển nguồn nhân lực và văn hoá đổi mới, văn hóa liên kết nói chung và đổi mới công nghệ nói riêng phải có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc thiết kế và thực hiện chính sách đổi mới và liên kết. Các biện pháp chính sách này có thể thực hiện thông qua cải tiến hệ thống đào tạo, hướng đến đổi mới và liên kết bằng việc bổ sung vào các chương trình đào tạo kỹ năng giao tiếp xã hội và kỹ năng làm việc nhóm,...

g. Làm cho giới doanh nghiệp hiểu rõ về sáng tạo đổi mới và liên kết

Giới doanh nhân vừa là người đặt hàng, vừa là người tiêu thụ sản phẩm và là người tài trợ. Vì vậy, nhận thức của họ, sự hiểu biết của họ về đổi mới và liên kết là vô cùng quan trọng cho sự thành công của liên kết và đổi mới sáng tạo. Vì vậy, Nhà nước cũng cần làm cho giới doanh nhân hiểu được những biện pháp chính sách của Nhà nước và lợi ích của liên kết, đổi mới.

Tóm lại, để chủ trương đổi mới sáng tạo và liên kết đi vào cuộc sống đòi hỏi một hệ thống các giải pháp toàn diện, khoa học và có tính khả thi cao. Nhà nước có vai trò chủ yếu trong định hướng đổi mới, liên kết và điều hành các hoạt động này để đạt mục tiêu quốc gia, đồng thời qua đó mục tiêu của các thành phần đổi mới và liên kết cũng sẽ thành công. Bộ Quốc phòng, các cơ quan chức năng và các đơn vị cơ sở của Bộ cần nhận thức rõ vai trò to lớn của Nhà nước để có thể tận dụng được

98

tốt nhất các điều kiện do Nhà nước mang lại, mặt khác có thể phát huy tính chủ động, đổi mới sáng tạo của mình để tham gia với Nhà nước trong hoạch định cơ chế, chính sách đối với đổi mới sáng tạo và liên kết, phù hợp với thực tiễn khách quan của hoạt động này trong Quân đội.

3.2.2. Nhóm giải pháp thúc đẩy liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực

Khoa học kỹ thuật của Bộ Quốc phòng

3.2.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể của Bộ Quốc phòng về liên

kết Viện-Trường trong lĩnh vực ĐT-NCKH-SXKD

Quân đội là một tổ chức thống nhất, một nhất thể liên kết chặt chẽ về tất cả các phương diện về chính trị tư tưởng, tổ chức, chức năng nhiệm vụ, mục tiêu, chuyên môn và tổ chức hành động dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Lãnh đạo BQP. Vì vậy, bên cạnh những khó khăn trở ngại chung của cả hệ thống nhà nước, đối với liên kết, môi trường Quân đội có đặc điểm mang những đặc thù riêng, cho phép vận dụng sáng tạo lý luận và phương pháp luận liên kết để đạt hiệu quả cao hơn. Những đặc điểm chủ yếu phải kể đến:

- Sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của BQP đối với các tổ chức Viện/Trường là

điều kiện thuận lợi cho tổ chức liên kết.

- Mục tiêu tối thượng của của viện, trường Khoa học kỹ thuật trong Quân đội là có sự tập trung thống nhất-phục vụ cho chính quy hóa và hiện đại hóa quân đội, là điều kiện thuận lợi cho lựa xác định, chọn mục tiêu, nhiệm vụ liên kết.

- Các chương trình khoa học kỹ thuật phục vụ hiện đại hóa Quân đội là rất phong phú và có tầm xa, hàm chứa trong mỗi chương trình nhiều lĩnh vực khoa học, công nghệ; các lĩnh vực khoa học, công nghệ của các học viện, nhà trường và các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự vốn có mối quan hệ gần gũi, được xây dựng thành hệ thống phục vụ các mục tiêu chung-đặt tiền đề cho liên kết;

- Cán bộ KH&CN quân sự vốn có bản lĩnh chính trị, tính kỷ luật và tình thần hợp đồng chiến đấu cao, là tiền đề trí tuệ và tinh thần cho liên kết phát triển và bền vững.

- Bên cạnh những thuận lợi nói trên, việc liên kết của các đơn vị trong Quân đội cũng phải tuân thủ những nguyên tắc, quy định riêng, đòi hỏi có sự nghiên cứu vận dụng và đổi mới cơ chế chính sách cho mục đích liên kết một cách sáng tạo và hiệu quả.

Từ những đặc điểm trên đây, một lần nữa lại cho thấy, tăng cường sự lãnh

99

đạo, chỉ đạo của Bộ Quốc phòng là yếu tố quyết định sự thành công của liên kết Viện-Trường.

3.2.2.2. Nghiên cứu vận dụng đúng và sáng tạo lý luận và phương pháp

luận về liên kết Viện-Trường trong điều kiện của Bộ Quốc phòng

Để thiết lập và duy trì liên kết Viện-Trường phát triển bền vững, cần phải nắm vững lý luận và phương pháp luận liên kết và không ngừng hoàn thiện để phù hợp với điều kiện của Quân đội trong từng giai đoạn. Trong đó, đối với các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu trực thuộc Bộ Quốc phòng trước hết cần chú ý những nội dung sau đây:

a. Về nguyên tắc liên kết

Dù rằng hoạt động Đào tạo, NCKH và CGCN của các viện và trường thuộc BQP có những đặc trưng riêng, song liên kết Viện-Trường của Bộ vẫn phải tuân thủ những lý luận và phương pháp luận chung về liên kết. Do đó, tất cả các nguyên tắc về thiết lập các quan hệ liên kết Viện-Trường đã trình bày trong chương 2 của luận án này đều cần phải được tôn trọng. Tuy vậy, do nhiệm vụ chung của các viện nghiên cứu, các học viện, nhà trường trong lĩnh vực KHKT quân sự đều là phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa Quân đội nên mục tiêu của đào tạo và nghiên cứu của các viện và trường đều nhằm đến những định hướng mục tiêu lớn của Bộ. Mặt khác, viện trường đều đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện và trực tiếp của Quân ủy Trung ương và BQP nên một số nguyên tắc liên kết sẽ trở nên dễ thực hiện hơn. Nhưng dù dễ đến mức nào thì vẫn luôn luôn phải tính đến tất cả các nguyên tắc và việc vận dụng một cách tốt nhất các nguyên tắc này vẫn là một điều cần khuyến khích.

b. Về mục tiêu của liên kết

Những mục tiêu chính mà liên kết Viện-Trường trong Quân đội cần đạt được phải là tăng cường và sử dụng có hiệu quả các dạng nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực và tổ chức,…) của Nhà nước và Quốc tế mà trước hết là của Quân đội để phục vụ sự nghiệp chính quy hóa và HĐH Quân đội; nâng cao năng lực, chất lượng và hiệu quả hoạt động NCKH, đào tạo và đưa tiến bộ KH&CN vào phục vụ huấn luyện và chiến đấu của Quân đội; tạo điều kiện hình thành tập thể các nhà khoa học mạnh theo các định hướng phát triển KH&CN, phát triển vũ khí, khí tài của Quân đội, đủ sức gánh vác và thực thi mọi nhiệm vụ, tạo tiềm lực mạnh cho Quân đội về lâu dài và có khả năng tiếp cận KHKT hiện đại, tạo khả năng giải quyết những vấn đề KH&CN phức tạp, liên ngành; làm chủ vũ khí, khí tài hiện đại và có năng lực đổi

100

mới sáng tạo; trên cơ sở liên kết, hợp tác về nguồn lực, xây dựng các chương trình KH&CN quân sự dài hơi, dựa trên công nghệ cao, tích hợp hệ thống theo định hướng hiện HĐH trang thiết bị, vũ khí, khí tài quân sự; tạo tiềm lực và năng lực thực tế cho liên kết, hợp tác quốc tế về KHKT quân sự.

c. Về nội dung liên kết, hợp tác

Liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực KHKT quân sự thuộc BQP có thể tiến

hành trên các nội dung chủ yếu sau:

- Nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ (NCKH, PTCN)

+ Liên kết nghiên cứu thực hiện các đề tài dự án cấp nhà nước, cấp BQP về

KH&CN, ứng dụng công nghệ vào mục đích quân sự và phát triển KT-XH.

+ Liên kết hình thành các tổ chức NCKH hay PTCN để đón đầu hay chuẩn bị cho các hướng KH&CN dài hơi và tiên tiến phục vụ sự nghiệp phát triển khoa học, kỹ thuật quân sự.

+ Hợp tác trong NCKH, PTCN và Đào tạo với đối tác thứ ba, trong đó có đối

tác quốc tế.

+ Hợp tác trong nghiên cứu đề xuất và thẩm định các dự án lớn của Bộ, đảm bảo tính thực tiễn, khoa học, khả thi và tính kế hoạch của các dự án, phục vụ hoạch định chính sách.

+ Hợp tác trong nghiên cứu đánh giá tác động, ảnh hưởng của các dự án phát triển KHKT đến trang thiết bị vũ khí, khí tài quân đội, đến sức mạnh của Quân đội cũng như những yếu tố đảm bảo và sẵn sàng chiến đấu, nâng cao hiệu quả tác chiến của Quân đội, nâng cao trình độ và năng lực của công nghiệp quốc phòng; tạo cơ sở để tham mưu cho Lãnh đạo Bộ trong xác định các định hướng nghiên cứu, đào tạo tiếp theo.

+ Liên kết, hợp tác trong việc hình thành các “Vườn ươm công nghệ”, thành lập “Doanh nghiệp KH&CN” quân sự phục vụ các mục tiêu phát triển kỹ thuật quân sự và phục vụ nền kinh tế quốc dân.

+ Liên kết trong việc tham gia các chương trình, dự án cấp nhà nước.

- Đào tạo nguồn nhân lực

+ Hợp tác trong đánh giá thực trạng nguồn nhân lực KHKT quân sự và đề xuất các định hướng và giải pháp đào tạo, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực KHKT quân sự phục vụ chiến lược phát triển và HĐH Quân đội;

101

+ Hợp tác liên kết trong đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, nhất là nhân lực trình độ cao, đảm bảo việc tiếp thu, làm chủ, sử dụng có hiệu quả và tiến tới thực hiện đổi mới, sáng tạo KHKT quân sự, góp phần đào tạo nguồn nhân lực Quốc gia.

+ Hợp tác, liên kết đảm bảo cập nhật kiến thức và đào tạo các lớp đặc biệt của Quân đội mang tính liên ngành, có tính lý luận, và tính thực tiễn cao, đáp ứng những yêu cầu đột xuất trong xây dựng và phát triển của Quân đội.

+ Đảm bảo khai thác hiệu quả nhân lực KHKT cao cấp trong và ngoài Quân

đội phục vụ sự nghiệp đào tạo có hiệu quả và chất lượng cao.

+ Hình thành các tổ chức, các nhóm, trường phái khoa học kỹ thuật quân sự

mạnh, đảm bảo phát triển vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật quân sự hiện đại.

- Chuyển giao công nghệ (CGCN)

+ Liên kết Viện-Trường sẽ đảm bảo chuyển giao kiến thức và công nghệ nội bộ giữa các thành viên liên kết và chuyển giao những công nghệ được tạo ra từ việc thực hiện các nhiệm vụ liên kết, là thế mạnh của trường hoặc viện, cho đối tác là các đơn vị trong Quân đội và các tổ chức KT-XH của Nhà nước;

+ Hợp tác CGCN với nước ngoài một cách có hiệu quả.

- Liên kết với các viện, trường khác trong nước và quốc tế

Hai đối tác trong cùng một liên kết có thể cùng nhau liên kết với một đối tác thứ ba, nhất là với đối tác nước ngoài. Điều này thường thích hợp khi nhiệm vụ hợp tác mang tính chất liên ngành và phức tạp mà một đơn vị đơn lẻ khó có khả năng thực hiện tốt.

d. Các bước chuẩn bị cho việc ký kết một quan hệ liên kết trong lĩnh vực

KHKT của Bộ Quốc phòng

- Xác định mô hình, trình tự ưu tiên trong xây dựng quan hệ liên kết, hợp tác

Viện-Trường:

Đối với Quân đội, mô hình liên kết Viện-Trường ở Việt Nam đã đề xuất trên đây sẽ được vận dụng theo 4 cấp: Liên kết nội bộ - Liên kết với các đơn vị khác trong Quân đội - Liên kết với các viện, trường ngoài dân sự - Liên kết với viện, trường nước ngoài.

Các viện, trường trong lĩnh vực KHKT do BQP quản lý cần coi liên kết nội bộ là quan trọng số một, vì chỉ khi bản thân đơn vị mình “khỏe’ thì việc khai thác các đơn vị khác qua liên kết mới có hiệu quả. Liên kết nội bộ tốt là điều kiện cần để

102

liên kết với viện trường khác của Quân đội, với các viện, trường bên ngoài và sau đó là liên kết quốc tế. Việc liên kết với các viện, trường của ngoài dân sự và đặc biệt với các tổ chức KHKT của nước ngoài cần phải tuân thủ các quy định của BQP về xây dựng quan hệ liên kết.

- Liên kết với các viện/trường bên ngoài và quốc tế:

+ Cần xác định hai mức độ thỏa thuận sau:

(1) Thỏa thuận liên kết có tính nguyên tắc chung:

Là thỏa thuận thiết lập quan hệ liên kết chung nhất, có tính nguyên tắc và là văn bản ghi nhớ để trên cơ sở đó hai bên tìm kiếm, xác định các nhiệm vụ liên kết cụ thể. Đối với loại thỏa thuận liên kết này cần mở rộng nhất có thể được nhằm tạo ra các khả năng tìm kiếm cơ hội chuyển sang thoả thuận theo hình thức đối tác thực hiện một nhiệm vụ cụ thể. Tất nhiên, không phải bất cứ quan hệ liên kết có tính nguyên tắc nào cũng sẽ dẫn đến quan hệ đối tác cụ thể, nhưng nó lại là cơ sở nền tảng quan trọng để các bên tìm kiếm cơ hội ở nhau.

(2) Thoả thuận theo hình thức đối tác để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể:

Thỏa thuận theo hình thức đối tác là sự thỏa thuận đi đến một hợp đồng thực hiện nhiệm vụ, dù đó là nhiệm vụ Đào tạo, NCKH hay CGCN, trong đó xác định rõ cả trách nhiệm, quyền lợi, quan hệ giữa hai bên như quan hệ về lãnh đạo chỉ huy, đảm trách công việc cho từng vị trí; xác định nghĩa vụ đóng góp về nhân lực, vật lực, tài lực và việc chia sẻ quyền lợi. Để có được một thoả thuận theo hình thức đối tác cần tuân thủ trình tự chuẩn bị triển khai một quan hệ đối tác như đã trình bày trong mục 3.1 của chương này.

Việc thực thi các nhiệm vụ đối tác đòi hỏi có những kỹ năng nhất định để đảm bảo việc thực thi nhiệm vụ được thuận lợi và làm cho quan hệ liên kết bền vững như kỹ năng xây dựng lòng tin, xây dựng văn hóa tổ chức, kỹ năng lãnh đạo và xây dựng các nhóm công tác,…

 Kiến thức: hàm ý là những kiến thức phù trợ nhưng rất quan trọng cho quan hệ liên kết. Ví dụ, kiến thức về động lực nhóm, tiếp thị, pháp luật, đưa tiến bộ KH&CN vào thực tiễn huấn luyện và chiến đấu, phát triển kinh doanh, các vấn đề cơ bản của kinh tế học hoặc phát triển xã hội, môi trường trong đó liên kết hoạt

+ Quán triệt những yếu tố cần thiết khác cho thiết lập và duy trì liên kết bền vững: Kiến thức, thái độ và kỹ năng là những yếu tố cần thiết trong thiết lập và duy trì quan hệ đối tác bền vững và hiệu quả. Trong đó:

103

 Thái độ: Thái độ liên quan đến các quyết định và hành động của chúng ta trong liên kết. Thái độ có thể là của cá nhân, của nhóm hay của tổ chức. Thái độ cũng đồng thời là văn hóa ứng xử. Trong quan hệ đối tác, thái độ cần thiết là: tôn trọng những người liên quan và mục tiêu chung; ý thức trách nhiệm về sự cam kết; sự cởi mở để làm việc cộng tác; sự nhẫn nại, kiên trì; khả năng chấp nhận rủi ro và sự tin tưởng và tự tin. Chất lượng của quan hệ đối tác phần lớn phụ thuộc vào thái độ, giá trị và nhận thức về các kỹ năng và kiến thức mà chúng ta đem vào quan hệ đối tác.

 Kỹ năng: Kỹ năng là những gì cần cho việc chuyển từ lý thuyết, kiến thức và thái độ thành hành động một cách có kết quả. Thường kỹ năng liên quan đến việc thực hiện các nhiệm vụ tinh thần hoặc vật chất. Kỹ năng là thứ có thể nắm bắt, có khả năng đo lường và có thể lặp lại. Đối với quan hệ liên kết, những kỹ năng cơ bản là: Kỹ năng quản lý quan hệ đối tác, đàm phán, xây dựng quy trình nhóm và thực hiện nhiệm vụ, lập kế hoạch, đánh giá, giải quyết vấn đề và giải quyết xung đột, quản lý thời gian, quản lý tài chính, quản lý trợ giúp bên ngoài, và kỹ năng năng quản lý áp lực,…

động,… là những lĩnh vực có giá trị đối với việc thiết lập và duy trì bền vững một quan hệ liên kết.

3.2.2.3. Thực hiện những bước đi cụ thể trong thực hiện chiến lược phát

triển liên kết Viện-Trường

a. Tạo cơ sở pháp lý cho liên kết Viện-Trường.

Liên kết Viện-Trường sẽ có cơ hội và điều kiện lý tưởng để phát triển nếu có một cơ sở pháp lý mạnh mẽ, vững chắc. Điều này sẽ trở thành hiện thực nếu Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ban hành chủ trường chính thức bằng văn bản về liên kết, mà một quyết định về việc thực thi liên kết Viện-Trường đối với các học viện, nhà trường, các viện nghiên cứu trong Đào tạo, NCKH và SXKD là sự triển khai của chủ trương đó.

Việc ban hành chủ trương và ra quyết định về liên kết Viện-Trường-Doanh nghiêp thể hiện rõ chủ trương và quyết tâm của Bộ về thiết lập các quan hệ liên kết Viện-Trường, trong đó làm rõ mục tiêu, đối tượng điều chỉnh, các nguyên tắc cơ bản của quan hệ liên kết, đối tác, nội dung và hình thức hoạt động liên kết; các biện pháp cơ bản trong xây dựng và duy trì quan hệ liên kết, đối tác; trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị đối với việc thực thi liên kết Viện-Trường,… Cơ sở pháp lý này sẽ

104

là động lực quan trọng nhất cho liên kết Viện-Trường phát triển.

b. Tăng cường hỗ trợ chính sách để đảm bảo việc thực thi quyết định của Bộ

về liên kết Viện-Trường một cách có kết quả

Rà soát lại toàn bộ cơ chế, chính sách về tổ chức và nhân sự, cơ chế hoạt động của tổ chức, chính sách về tài chính liên quan đến Đào tạo, NCKH, CGCN trong liên kết và liên quan đến tài sản liên kết để có hướng hoàn thiện, bổ sung đủ mạnh để biến cơ cấu Viện-Trường-Doanh nghiệp trong nội bộ mỗi đơn vị thành một nhất thể đối với Đào tạo, NCKH và CGCN, đồng thời thúc đẩy liên kết với các viện, trường bên ngoài và quốc tế ngày càng phát triển và hiệu quả, trong khi vẫn phải đảm bảo tính độc lập, tự chủ của các thành viên liên kết.

c. Xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan Bộ trong mối quan hệ với liên kết Viện-Trường như của Cục Cán bộ, Cục Tài chính, Cục Khoa học Quân sự, Cục Nhà Trường, Cục Đối ngoại, Cục Quân lực,...

d. Thành lập hoặc giao nhiệm vụ cho một trong các cơ quan của Bộ trên đây chịu trách nhiệm chính quản lý hoạt động liên kết Viện-Trường trong Quân đội, phối hợp với các cơ quan khác thực hiện các chức năng có liên quan.

e. Tổ chức các cuộc hội thảo với sự tham gia của các trường, viện và doanh

nghiệp trong toàn quân, khách mời ngoài Quân đội.

Hội thảo sẽ để trao đổi về liên kết nhằm thống nhất và thể hiện quyết tâm về việc hình thành các quan hệ liên kết Viện-Trường; bàn về những khó khăn trở ngại trong việc thiết lập, duy trì hoạt động bền vững và trong thực thi nhiệm vụ liên kết và phương hướng giải quyết; trao đổi về định hướng chính sách khắc phục trở ngại đối với hoạt động liên kết trong NCKH, Đào tạo và CGCN, đặc biệt là về tài chính, tổ chức và quản lý nhân sự; đề xuất những kiến nghị cần thiết đối với Nhà nước, Bộ và các cơ quan hữu quan của Bộ; đề xuất những kiến nghị cần thực hiện đối với các viện và trường cũng như đối với cá nhân các nhà khoa học;…

f. Xây dựng hướng dẫn về hoạt động liên kết đối với các tổ chức KHKT thuộc

BQP, từ liên kết nội bộ đến liên kết trong nước và với nước ngoài.

g. Xây dựng các quy chế, quy định liên quan đến đảm bảo lợi ích vật chất, quyền SHTT và văn hóa liên kết trong quan hệ hợp tác; các quy định về tổ chức, cơ chế hoạt động và những vấn đề thuộc về tài chính, nhân sự liên quan đến liên kết, hợp tác trên cơ sở tôn trọng chính sách và quy định chung của Nhà nước.

h. Đưa hoạt động liên kết, đối tác thành một nội dung được xem xét, đánh giá

105

hàng năm của các đơn vị và của Bộ cùng các kiến nghị có liên quan để tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và nội dung liên kết.

i. Xây dựng các chương trình KHKT và Công nghệ phục vụ NCKH, PTCN và ứng dụng các tiến bộ KH&CN nội sinh và quốc tế vào việc phục vụ chính quy hóa và hiện đại hóa Quân đội, trong đó lồng ghép các nội dung và điều kiện để khuyến khích và thúc đẩy liên kết, nhằm từng bước biến liên kết, hợp tác thành các hoạt động thường xuyên và có kế hoạch của các đơn vị.

Những đề tài hay dự án có tầm cỡ lớn, có tính đa ngành, trình độ khoa học, kỹ thuật và công nghệ cao, khối lượng công việc và đầu tư lớn luôn đòi hỏi có sự liên kết Viện-Trường-Doanh nghiệp. Sự thúc đẩy liên kết còn nằm ở tầm cỡ tài chính đầu tư, thời hạn và phương thức đầu tư như đầu tư đủ và thời hạn quyết toán đối với các dự án lớn có thể khoảng 3 năm như kinh nghiệm của Chính phủ Úc, giúp cho các chủ nhiệm đề tài có kế hoạch dài hơi và không thụ động hay quá vội vàng về sử dụng kinh phí.

j. Khuyến khích và ban hành chính sách cụ thể hỗ trợ việc xây dựng vườn ươm công nghệ, doanh nghiệp KH&CN, gắn với liên kết Viện-Trường, có sự tham gia của cơ sở SXKD. Hoàn thiện, bổ sung chính sách về tài chính phục vụ liên kết trong Đào tạo, NCKH và CGCN.

k. Thành lập các tổ chức quản lý Quyền SHTT và CGCN từ Bộ xuống đến các đơn vị cơ sở để một mặt vừa thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong liên kết, mặt khác giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động liên kết liên quan đến CGCN và quyền SHTT.

3.2.2.4. Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan Bộ Quốc phòng đối với

phát triển liên kết Viện-Trường

Coi liên kết Viện-Trường-Doanh nghiệp là một phương thức hoạt động quan trọng, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển chung, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan thuộc Bộ cũng cần có sự thay đổi, bổ sung tương ứng. Những hay đổi bổ sung có thể là:

a. Cục Cán bộ

Nghiên cứu ban hành chế độ chính sách cụ thể đối với cán bộ kiêm nhiệm ở trường và viện, phù hợp với điều kiện của BQP và không trái với chính sách chung của Nhà nước về chế độ kiêm nhiệm. Trong đó chú trọng chính sách về chế độ phụ cấp, chính sách về thành tích trong liên kết và kiêm nhiệm khi xem xét đề bạt, khen

106

thưởng và trong việc xem xét thành tích để phong học hàm và các chức danh khoa học khác.

Việc quy định về cân đối giữa nhiệm vụ chính và nhiệm vụ liên kết một cách chính thức và hợp lý sẽ là một động lực để cán bộ nhiệt tình tham gia hoạt động liên kết. Vì vậy, việc hoạch định chế độ chính sách cần hướng đến việc tăng quyền lợi của người làm công tác liên kết, kiêm nhiệm, đủ sức hấp dẫn để khuyến khích việc này, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà việc thực hiện liên kết còn chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến chưa tận dụng được năng lực của nhân tài.

b. Cục KHQS và Cục Nhà trường

Nghiên cứu hoàn thiện chính sách để tham mưu cho Bộ về quy chế, quy định về thực hiện và vận dụng chủ trương tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập theo Nghị định 115/CP; trong việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức của các viện, trường; hình thành các doanh nghiệp KH&CN thuộc viện, trường theo Nghị định 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 về Doanh nghiệp KHCN và TTLT số 06/2008/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ngày 13/9/2008 về Hướng dẫn thi hành Nghị định 80/CP và Quyết định 15/2005/QĐ-BKH&CN ngày 13/9/2005 Quy định tạm thời về tổ chức thực hiện nhiệm vụ ươm tạo công nghệ trong các trường Đại học, áp dụng đối với các tổ chức khoa học, nhóm nghiên cứu và các cá nhân thực hiện ươm tạo công nghệ trong các trường có sử dụng kinh phí nhà nước với sự tham gia của các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp; hình thành và nhanh chóng đưa Quỹ phát triển KH&CN của Bộ và của viện, trường vào hoạt động để hỗ trợ cho hoạt động liên kết Viện-Trường.

- Tham mưu cho Bộ soạn thảo quyết định về liên kết Viện-Trường trong Quân đội và việc đưa quyết định này vào thực tiễn NCKH, Đào tạo và CGCN của các viện và trường KHKT trong toàn quân.

- Giúp Bộ theo dõi và chỉ đạo việc đổi mới, cải tiến chương trình ở các trường và hoạt động nghiên cứu ở các viện thuộc Bộ theo hướng gắn kết với ĐT-NCKH- SXKD.

- Đưa vào tiêu chuẩn thi đua và nội dung báo cáo kết quả hoạt động hàng năm đối với trường và viện những nội dung của liên kết trong Đào tạo, NCKH và CGCN, qua đó thúc đẩy sự quan tâm của các viện và trường đến chủ trương lớn và quan trọng về liên kết của Bộ.

- Thực hiện kiểm tra định kỳ và đánh giá kết quả hoạt động liên kết hàng năm,

107

báo cáo Bộ. Kiểm tra là một biện pháp nhắc nhở thường xuyên đồng thời kiểm tra phải đi đôi với việc xem xét, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc để mọi công việc được tiến hành một cách trôi chảy.

- Phối hợp với Cục Cán bộ, Cục Quân lực trong việc nghiên cứu cách thức vận dụng Nghị định 115/CP vào việc chuyển các viện, trường sang các dạng hoạt động phù hợp, phục vụ việc đẩy mạnh liên kết;

- Tham mưu cho Bộ trong việc xây dựng kế hoạch đề tài, dự án phát triển KH&CN phục vụ xây dựng Quân đội, sản xuất kinh doanh thuộc các lĩnh vực ngành nghề thuộc Bộ và phương thức tuyển chọn tổ chức cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ; khuyến khích việc kết hợp giữa trường và viện với doanh nghiệp trong và ngoài Quân đội trên các lĩnh vực: Hoàn thiện tri thức, sáng tạo quy trình công nghệ và sản phẩm mới, đề xuất mô hình quản lý, mô hình kỹ thuật, mô hình sinh thái, mô hình sản xuất mới; hoàn thiện chương trình, quy trình đào tạo; chuyển giao công nghệ và phương thức thực hiện.

- Nghiên cứu xây dựng quy chế sử dụng chung các phòng thí nghiệm của viện/trường nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các trang thiết bị, máy móc được trang bị để khắc phục một phần sự thiếu hụt điều kiện thực hành trong nghiên cứu và đào tạo, qua đó thúc đẩy liên kết.

- Phối hợp cùng Cục Cán bộ theo dõi quá trình thực hiện hoạt động liên kết theo tinh thần Quyết định của Bộ về hoạt động liên kết, kịp thời phát hiện những yếu kém, những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực thi Quyết định và đề xuất giải pháp, biện pháp khắc phục.

c. Cục Tài chính

Kết hợp với Cục Khoa học Quân sự, Cục Nhà trường trong xây dựng kế hoạch nhiệm vụ; kế hoạch tài chính hàng năm và tìm kiếm nguồn tài chính tài trợ cho các vườm ươm công nghệ và các đề tài dự án liên kết; quy định việc chi tiêu tài chính phù hợp với điều kiện nghiên cứu và đào tạo trong liên kết,...

d. Cục Quân lực

Nghiên cứu về các hình thức tổ chức đổi mới và liên kết trong lĩnh vực KHKT phù hợp với các quy định của Quân đội, giúp cho việc hình các tổ chức liên kết, nhất là liên kết mềm trong nội bộ các tổ chức và các tổ chức của viện, trường trong Quân đội, với các tổ chức ngoài Quân đội và với quốc tế,...

e. Cục Đối ngoại

108

- Tăng cường quan hệ quốc tế, tạo điều kiện để các viện và trường có cơ hội

tiếp xúc quốc tế, nhất là đối với các viện và trường nhỏ.

- Nghiên cứu hoàn thiện và trình Bộ phê duyệt các chính sách, cơ chế hợp tác quốc tế về giao lưu trao đổi khoa học, thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, thực hiện các dự án chung, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế về khoa học, tài chính và thiết bị máy móc. Đặc biệt chú trọng công tác đào tạo cán bộ KH&CN, trong đó có cán bộ đầu đàn. Kết hợp đào tạo cán bộ đầu đàn với đào tạo cán bộ trẻ có chú ý đến năng lực làm việc nhóm, năng lực tổ chức và quản lý hoạt động liên kết.

f) Tổng cục Kỹ thuật và Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng

Tổng cục Kỹ thuật là cơ quan đầu ngành kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam có chức năng tham mưu, bảo đảm kỹ thuật cho quân đội, có các cục chức năng chịu trách nhiệm về bảo đảm kỹ thuật cho các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng. Bên cạnh các cơ quan lãnh đạo, quản lý chuyên ngành, Tổng Cục còn có hệ thống các viện, trường kỹ thuật chuyên ngành, nhà máy, xí nghiệp sửa chữa vũ khí, và các các công ty.

Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng là cơ quan trực thuộc Bộ Quốc phòng, có chức năng tổ chức, quản lý các cơ sở CNQP nòng cốt, bao gồm các viện nghiên cứu thiết kế, công nghệ vũ khí, các nhà máy, các liên hiệp xí nghiệp chế tạo vũ khí, trang bị và các phương tiện kỹ thuật quân sự, đảm bảo cho Quân đội Nhân dân Việt Nam chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Với chức năng nhiệm vụ được giao, ngoài các cơ quan lãnh đạo và quản lý, Tổng cục còn có một hệ thống các viện nghiên cứu, các nhà trường và đặc biệt, hệ thống các nhà máy quốc phòng, đảm nhiệm công tác sản xuất trang thiết bị, vụ khí, quân trang, quân dụng cho tất cả các Quân binh chủng của Quân đội.

Vì vậy, Tổng Cục Kỹ thuật và Tổng Cục Công nghiệp Quốc phòng cùng với các Viện nghiên cứu, các Học viện, Nhà trường khác tạo thành một hệ thống nòng cốt của Quân đội trong việc nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, thiết kế, khai thác, bảo trì vũ khí khí tài, sản xuất vụ khí, trang thiết bị quân sự, đảm bảo sức mạnh chiến đầu cho Quân đội.

Trong việc hình thành, phát triển của liên kết Viện-Trường-Doanh nghiệp nói chung, liên kết Viện-Trường nói riêng, hai Tổng cục có vai trò hết sức quan trọng trong tham mưu cho Bộ, trong việc đề ra các nhiệm vụ, tiếp nhận sản phẩm và đưa vào sản xuất hoặc huấn luyện và chiến đấu của Quân đội. Vì vậy, hai Tổng Cục có trách nhiệm:

- Tham mưu cho Bộ về cơ chế, chính sách đối với hoạt động liên kết Viện-

109

Trường, liên kết Viện-Trường-Doanh nghiệp để thúc đẩy liên kết Viện-Trường phát triển và trở thành một phương thức hoạt động thường xuyên của viện, trường;

- Phối hợp giữa hai Tổng cục trong việc tham mưu hoạch định Chiến lược phát triển vũ khí, khí tài quân sự, trong khai thác, bảo dưỡng, bảo trì vũ khí, trang thiết bị nhằm và khai thác hiệu quả và đảm bảo sẵn sàng chiến đấu cao; hình thành những nhiện vụ KHKT tầm cỡ phục vụ hiện đại hóa Quân đội, có tính đến nguồn lực do liên kết Viện-Trường mang lại. Qua đó, thúc đẩy liên kết Viện-Trường hình thành và phát triển bền vững;

- Khuyến khích các tổ chức, đơn vị của hai Tổng cục trực tiếp tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo, CGCN hay sản xuất, gắn với liên kết giữa viện và trường như: Nghiên cứu khai thác làm chủ VKTBKT có ứng dụng công nghệ cao, nghiên cứu thiết kế ngược để giải mã, thiết kế phục vụ sản xuất vật tư kỹ thuật, xây dựng quy trình sửa chữa... vũ khí trang bị kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ cao, nhằm tận dụng tốt nhất mọi nguồn lực của Tổng cục và của các viện, trường và như một động lực thức thúc đẩy liên kết Viện-Trường phát triển.

3.2.2.5. Phối hợp thực hiện chiến lược phát triển liên kết trong Đào tạo-

Nghiên cứu khoa học-Sản xuất kinh doanh

a. Nhận thức đầy đủ và sâu sắc về đổi mới sáng tạo và mối quan hệ giữa đổi

mới sáng tạo và liên kết và vai trò của liên kết với sự phát triển của viện, trường.

Nghiên cứu tiếp thu và phát triển lý luận và phương pháp luận đổi mới sáng tạo và

liên kết và vận dụng sáng tạo vào điều kiện của Việt Nam và của Quân đội.

b. Làm rõ trách nhiệm và quyền hạn chung của viện và trường đối với hoạt

động liên kết, hợp tác

1. Trách nhiệm chung:

- Cộng tác chặt chẽ cùng các cơ quan và Lãnh đạo Bộ, Ngành nhằm đưa hoạt

động liên kêt phát triển và mang lại hiệu quả cao hơn đối với ĐT, NCKH và CGCN

cho cả viện và trường.

- Không ngừng nghiên cứu đổi mới về hình thức, nội dung và cơ chế liên kết

để làm cho hoạt động liên kết ngày càng có hiệu quả. Chú trọng các hình thức liên

kết, từ liên kết nội bộ đến liên kết với các viện, trường bên ngoài và với quốc tế.

- Nâng cao tình thần trách nhiệm và thực hiện nghiêm túc những nội dung đã

được lãnh đạo hai bên đối tác thống nhất và đã ghi vào Kế hoạch liên kết hàng năm

và các hợp đồng cụ thể đã được ký kết;

110

- Thực hiện công tác kiểm tra thường xuyên; tổ chức rút kinh nghiệm và đề

xuất ý tưởng mới về liên kết Viện-Trường nhằm ngày càng hoàn thiện về cơ chế,

phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu của hoạt động liên kết.

2. Về quyền hạn chung:

- Được tự chủ đề xuất các nội dung, phương thức kết hợp và lựa chọn đối tác

sao cho phù hợp và mang lại hiệu quả cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của

đơn vị mình, trên nguyên tắc lấy kết quả và hiệu quả công việc làm chính.

- Trong quá trình thực thi các nhiệm vụ liên kết có quyền yêu cầu bên đối tác

thực hiện đầy đủ và đúng kế hoạch những nội dung liên kết đã được thống nhất và

ghi vào kế hoạch năm.

- Trong quá trình thực thi nhiệm vụ liên kết, mỗi bên đều có quyền đề xuất

những nội dung kết hợp mới hay thay đổi những nội dung đã ghi trong kế hoạch

liên kết khi có những biến động về mục tiêu, tổ chức, nguồn lực,... Những ý kiến

thay đổi, bổ sung đó phải được hai bên trao đổi đi đến thống nhất. Những nội dung

được hai bên thống nhất thì lập thành văn bản chính thức để quản lý.

- Có quyền được hưởng thụ xứng đáng những thành quả do liên kết mang lại

theo các quy định hiện hành của Bộ và Nhà nước.

- Có quyền đề đạt, kiến nghị với Bộ về hoàn thiện và xây dựng các cơ chế

chính sách mới phù hợp với từng giai đoạn phát triển của hoạt động liên kết, phù

hợp với từng điều kiện cụ thể của Ngành và đơn vị mình.

- Có quyền được đề nghị khen thưởng khi có nhiều thành tích trong hoạt động

liên kết.

c. Nhiệm vụ cụ thể của Viện đối với hoạt động liên kết Viện-Trường

- Chủ động và tích cực phát triển quan hệ liên kết với các trường trong Quân

đội, trong và ngoài nước; xây dựng chiến lược liên kết lâu dài và kế hoạch liên kết

Viện-Trường hàng năm của viện.

- Tạo điều kiện và động viên đội ngũ cán bộ quan tâm đến lý luận và rèn

luyện kỹ năng và xây dựng văn hóa liên kết trong viện, trong từng đơn vị cơ sở và

đối với từng cán bộ.

- Thực hiện liên kết Viện-Trường-Doanh nghiệp nội bộ và không ngừng hoàn

thiện và nâng cao hiệu quả của quan hệ liên kết này.

111

- Thành lập tổ chức quản lý hoạt động liên kết theo hướng dẫn của Bộ và xây

dựng quy chế kết hợp Viện-Trường của viện mình, phù hợp với Quyết định và

những hướng dẫn mà Bộ ban hành.

- Thực hiện chủ trương và yêu cầu của Bộ về việc mời giảng viên của trường

tham gia các đề tài dự án có liên quan và có khả năng mang lại lợi ích chung; đề ra

chỉ tiêu đào tạo tiến sỹ, thạc sỹ, thực tập sinh khoa học gắn với đề tài, dự án và thực

hiện thông báo hoặc báo cáo kết quả nghiên cứu có thông báo cho đối tác tham dự.

- Tạo điều kiện cho sinh viên, học viên của các trường đến thực hành, thực

tập; cán bộ khoa học của các trường tiến hành thí nghiệm khoa học tại các phòng thí

nghiệm, các cơ sở thực nghiệm và SXKD của viện.

- Sẵn sàng cử cán bộ tham gia hợp tác nghiên cứu khi được Trường mời.

- Xác định thời lượng tham gia giảng dạy đối với các cán bộ nghiên cứu của

viện theo tiêu chuẩn chung của Nhà nước và Bộ: Cán bộ có học hàm, học vị từ tiến

sỹ, phó giáo sư, giáo sư mỗi năm đảm bảo giảng dạy từ 30 tiết trở lên; các cán bộ

khoa học khác dành 30% quỹ thời gian cho công tác đào tạo.

- Hàng năm rà soát lại lực lượng cán bộ, khối lượng công việc của viện cần

đảm bảo hoàn thành làm cơ sở cho việc đàm phán liên kết.

- Nghiên cứu hoàn thiện và phát triển các trung tâm nghiên cứu, các cơ sở sản

xuất thực nghiệm vừa phục vụ nghiên cứu vừa phục vụ đào tạo.

- Nghiên cứu đề xuất những nội dung hoạt động liên kết lâu dài và ngắn hạn

với các trường (hoặc viện khác).

- Đề nghị cán bộ NCKH, nhất là cán bộ có học hàm, học vị đăng ký dạy từ 1

đến 2 môn/người ở một trường cùng ngành, hướng dẫn nghiên cứu sinh, luận văn

thạc sĩ, hướng dẫn sinh viên thực tập NCKH hoặc tham gia nghiên cứu trong một đề

tài nghiên cứu của mình, đăng ký hướng dẫn sinh viên thực tập, kiến tập: ngành

nghề hay công nghệ về số lượng sinh viên có thể thực tập theo các đợt, đăng ký

tham gia dưới dạng cán bộ kiêm nhiệm tại trường (ngắn hạn, dài hạn); đăng ký làm

nghiên cứu sinh tại các trường do cán bộ của trường hướng dẫn chính, đề xuất ý kiến

về liên kết nội bộ, với các trường/viện trong và ngoài nước và cùng trường nghiên cứu

khả năng thành lập Trung tâm ươm tạo công nghệ hoặc hoặc Doanh nghiệp

KH&CN với sự tham gia của các trường và các đơn vị SXKD, phù hợp với lĩnh vực

chuyên môn và khả năng của viện mình.

112

d. Nhiệm vụ cụ thể của Trường đối với hoạt động liên kết Viện-Trường

Chủ động và tích cực phát triển quan hệ liên kết với các viện trong và ngoài nước; xây dựng chiến lược liên kết lâu dài và kế hoạch liên kết Viện-Trường hàng năm của trường; tạo điều kiện và động viên đội ngũ giáo viên, cán bộ khoa học của trường quan tâm đến lý luận, rèn luyện kỹ năng và xây dựng văn hóa liên kết trong trường, trong từng đơn vị cơ sở và đối với từng cán bộ; thực hiện liên kết Viện- Trường-Doanh nghiệp nội bộ và không ngừng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của quan hệ liên kết này; thành lập tổ chức quản lý hoạt động liên kết của trường và xây dựng Quy chế liên kết của trường mình, phù hợp với Quyết định và những hướng dẫn do Bộ ban hành; tạo điều kiện tốt để các cán bộ khoa học của các viện có điều kiện tham gia công tác giảng dạy, đặc biệt đối với các môn học chuyên ngành theo chế độ thỉnh giảng hoặc kiêm nhiệm; tham gia hướng dẫn tốt nghiệp, hướng dẫn cao học và đọc các chuyên đề tiến sỹ; tham gia các loại hội đồng khoa học của trường; rà soát lại các chương trình đào tạo ngành, các đề cương môn học cần hoàn chỉnh về kết cấu và bổ sung những vấn đề khoa học và thực tế nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Chủ động mời các cán bộ khoa học của viện có chuyên môn phù hợp, có trình độ tham gia phản biện và cùng viết giáo trình, tài liệu phục vụ đào tạo; tìm hiểu các viện, trước hết là các viện thuộc ngành về khả năng tiếp nhận sinh viên thực tập các loại: thực tập chương trình và kiến tập, thực tập tốt nghiệp và tham gia NCKH. Chủ động liên hệ với các viện bố trí việc thực tập, kiến tập và làm tốt nghiệp của sinh viên, học viên cao học tại cơ sở nghiên cứu của các viện; tìm hiểu những nội dung mà viện có khả năng phụ trách và phù hợp với các môn học của trường, chú trọng các môn chuyên ngành và các môn đặc thù liên quan đến các hướng chuyên môn của viện và đưa vào kế hoạch đàm phán với các viện về vấn đề hợp tác; chủ động xem xét việc mời cán bộ của viện tham gia các đề tài nghiên cứu của trường có khả năng mang lại lợi ích chung và nâng cao chất lượng sản phẩm; thực hiện gắn kết chặt chẽ việc thực hiện đề tài, dự án với đào tạo tiến sỹ, thạc sỹ và thực tập sinh khoa học; thực hiện báo cáo kết quả nghiên cứu có thông báo để đối tác tham dự; đề nghị cán bộ giảng dạy, nhất là cán bộ có học hàm, học vị đề xuất ý kiến về liên kết nội bộ, với các trường/viện trong và ngoài nước và tham gia kiêm nhiệm tại viện; nghiên cứu khả năng tổ chức hay tham gia liên kết cùng trường thành lập Trung tâm ươm tạo công nghệ hoặc hoặc Doanh nghiệp KH&CN với sự tham gia của các trường và các đơn vị sản xuất kinh doanh, phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của viện mình và chủ động kết hợp cùng các viện trong thực hiện các nhiệm vụ trong quan hệ quốc tế.

113

KẾT LUẬN CHƯƠNG III

Việc nghiên cứu các định hướng và các giải pháp phát triển liên kết Viện-

Trường phù hợp với điều kiện của Việt Nam sao cho liên kết đó đi vào cuộc sống là

vấn đề không đơn giản. Để giải quyết vấn đề này, Luận án đã lựa chọn cách tiếp cận

kết hợp việc nghiên cứu phát triển lý luận, phương pháp luận xây dựng và duy trì

liên kết bền vững với việc xem xét những điều kiện và mô hình cụ thể cũng như

những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động liên kết Viện-Trường của Việt

Nam nói chung và BQP nói riêng. Các kết quả chính của chương là:

- Nghiên cứu định hướng phát triển liên kết Viện-Trường ở Việt Nam. Trong đó: Xác định mô hình mục tiêu, yêu cầu, nội dung và các bước đi thích hợp để thiết lập và triển khai phát triển liên kết Viện-Trường một cách chung nhất cho các quan hệ liên kết. Trình bày một cách cụ thể quy trình triển khai nhiệm vụ liên kết cũng như những vấn đề khó khăn có thể xảy ra trong quá trình thực hiện liên kết và các biện pháp tháo gỡ để duy trì liên kết Viện-Trường bền vững.

- Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển liên kết Viện- Trường trong lĩnh vực KHKT do BQP quản lý. Các giải pháp được chia thành hai cụm lớn: Giải pháp liên quan đến Nhà nước và các giải pháp trong phạm vi BQP. Trong các giải pháp này, vai trò quản lí Nhà nước; sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và BQP; việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách vĩ mô, môi trường pháp lí, môi trường SHTT cũng như điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chức năng và xác định rõ trách nhiệm của viện và trường với tư cách là đối tượng điều chỉnh của chủ trương liên kết có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển của liên kết Viện-Trường.

114

Chương IV

KIỂM TRA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

4.1. Kiểm tra kết quả nghiên cứu

Như trong phần mở đầu đã trình bày, để thực hiện nghiên cứu theo những nhiệm vụ và nội dung đã đề ra trong Luận án “Liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật - Cơ sở khoa học, thực tiễn và định hướng phát triển”, nhằm thực hiện được các mục tiêu đã đề ra, luận án đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, trong đó các phương pháp chủ chốt đã được thực hiện là thu thập, đọc và phân tích tài liệu trong và ngoài nước, phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia, điều tra bằng bảng câu hỏi và phương pháp hội thảo khoa học nhằm thẩm định những ý tưởng và kết quả nghiên cứu trong từng giai đoạn thực hiện luận án.

4.1.1. Về tham khảo tài liệu

Bằng cách thu thập một số lượng tương đối phong phú và nhiều mặt các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan, với tổng cộng 111 tài liệu khoa học, trong đó có 44 tài liệu trong nước và 67 tài liệu nước ngoài. Số lượng tài liệu tương đối lớn phản ánh về nhiều mặt của liên kết Viện-Trường là một yếu tố giúp cho những nhận định, kết luận trong các phần của luận án có đủ độ tin cậy về cập nhật những kiến thức và ý tưởng khoa học mới nhất về liên kết Viện-Trường và là cơ sở để vận dụng sáng tạo trong đề xuất các khái niệm, các nguyên tắc, mô hình, mục tiêu, nội dung và trình tự các bước tiến hành trong xây dựng và thực thi liên kết Viện-Trường ở Việt Nam, những vấn đề nêu ra và thảo luận trong luận án là phù hợp với lý luận và thực tiễn chung.

4.1.2. Các hình thức, nội dung thẩm định bằng phương pháp chuyên gia

Các kết quả nghiên cứu trong từng giai đoạn và kết quả cuối cùng của luận án đã được tác giả thẩm định bằng phương pháp chuyên gia trên ba hình thức: trao đổi trực tiếp, tổ chức hội thảo, điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến.

1) Với hình thức trao đổi trực tiếp: trong quá trình thực hiện luận án, các ý tưởng khoa học đã được tác giả trao đổi rộng rãi với các nhà khoa học; các cán bộ giảng dạy và quản lý thuộc Học viện KTQS, Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự, Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga, Học viện Quân y và Bệnh viện quân y 103, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện 175 - Thành phố Hồ Chí Minh; một số cán bộ khoa học, các giáo sư, phó giáo sư thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học

115

Bách khoa Hà Nội, các cán bộ của các vụ Quản lý Khoa học và Công nghệ, Phòng Đào tạo thuộc Vụ tổ chức Cán bộ - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các nhà khoa học thuộc một số Viện nghiên cứu và trường đại học thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; một số cán bộ của các Cục Nhà Trường, Cục Khoa học Quân sự,… Các chủ đề được trao đổi xoay quanh những nội dung như: Vai trò, vị trí của Liên kết Viện-Trường trong đào tạo, NCKH và phục vụ SXKD; Nội hàm của liên kết Viện-Trường; Những nguyên tắc trong xây dựng và duy trì các quan hệ liên kết Viện-Trường bền vững; Các bước và nội dung các bước tiến hành xây dựng quan hệ liên kết Viện-Trường; Định hướng phát triển cho liên kết Viện-Trường ở Việt Nam, những khó khăn có thể gặp phải và những giải pháp khắc phục.

Thông qua trao đổi, khảo sát tác giả luận án đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu về những vấn đề đã nêu trên, giúp tác giả có cái nhìn rõ, bao quát và cụ thể hơn trong việc xác định nội dung những vấn đề cần nghiên cứu của Luận án.

2) Cùng với việc trao đổi trực tiếp, luận án đã sử dụng Phiếu điều tra về Liên kết Viện-Trường dùng cho cơ quan và cho các chuyên gia về ba lĩnh vực chính: Đánh giá thực trạng liên kết; Những vấn đề chung của liên kết Viện-Trường và Kiến nghị với các cấp lãnh đạo (Phụ luc 1 và Phụ lục 2 của Luận án ). Thông qua những phiếu điều tra này, tác giả nhận thức rõ hơn về thực trạng liên kết Viện- Trường trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật do Bộ Quốc phòng quản lý, hiểu rõ hơn về định hướng phát triển sắp tới đối với liên kết Viện-Trường ở Việt Nam và trong Quân đội cũng như những giải pháp cần đề cập nhằm thúc đẩy liên kết Viện-Trường phát triển.

3) Bằng nghiên cứu và vận dụng sáng tạo lý luận về xây dựng và duy trì liên kết Viện-Trường bền vững, Luận án đã viết và cho đăng 10 bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học của Nhà nước và trên tạp chí chuyên ngành về Khoa học Kỹ thuật của Bộ Quốc phòng với các nội dung gắn chặt với những vấn đề chủ yếu và nổi cộm của liên kết Viện-Trường nói chung của Việt Nam và trong Quân đội nói riêng. Những công trình khoa học đó đồng thời cũng thể hiện cái mới, tính sáng tạo cũng như những cống hiến khoa học, minh chứng cho những sáng tạo khoa học mới của Luận án.

4) Sau khi hoàn thành dự thảo Luận án tiến sỹ, tác giả đã phối hợp với Khoa Chỉ huy Tham mưu Kỹ thuật và Phòng Sau đại học của Học viện Kỹ thuật Quân sự tổ chức Hội thảo khoa học với các khách mời chính thức là các nhà khoa học và các

116

chuyên gia có trình độ khoa học cao và có nhiều kinh nghiệm hoạt động thực tiễn đào tạo, nghiên cứu khoa học, đến từ các viện nghiên cứu, các trường đại học lớn của Quân đội và các trường đại học lớn của Miền Bắc cùng đông đảo cán bộ, giáo viên của Học viện Kỹ thuật Quân sự.

Nội dung hội thảo được tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:

a) Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.

b) Góp ý về mặt nội dung: Tổng thể nội dung đã làm để đảm bảo mục tiêu đặt ra; tính logic, hợp lý trong kết cấu của toàn luận án, của từng chương, mục; sự chính xác của các ý tứ, ngôn từ trong diễn đạt nội dung.

c) Về chất lượng các bài báo thuộc Luận án đã được đăng.

d) Về những đóng góp mới của Luận án.

đ) Các ý kiến khác.

e) Đánh giá về Luận án so với yêu cầu chung.

Kết quả ý kiến đóng góp trực tiếp bằng văn bản của 21 chuyên gia hàng đầu, các nhà khoa học tại Hội thảo về nội dung nghiên cứu của luận án có thể khái quát hóa như trong Bảng 4.1

Bảng 4.1: Tổng hợp ý kiến đóng góp trong hội thảo luận án

Ý kiến đóng góp (%)

TT

NỘI DUNG XIN Ý KIẾN

Hợp lý

Chưa hợp lý Bổ sung

1 100 0 0 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của Luận án

2 100 0 0 Về khối lượng và chất lượng chung đối với yêu cầu của Luận án

3 76,2 14,3 9,5 Về tính logic và nội dung của các chương, mục của dự thảo Luận án

4 Về cách diễn đạt 80 20 0

5 Về chất lượng các bài báo của Luận án 100 0 0

6 Về các đóng góp mới của Luận án 100 0 0

7 Ý kiến khác

Như vậy, qua hội thảo cho thấy, những vấn đề cơ bản và quan trọng của Luận án đã được các nhà khoa học chấp thuận và đánh giá tốt. Những ý kiến về “chưa

117

hợp lý” chủ yếu liên quan đến thay đổi kết cấu cụ thể của chương, mục để có tính lôgic và chặt chẽ hơn; về cơ bản không phải thay đổi hay bổ sung về nội dung. Một số ít ý kiến cho rằng nên bổ sung và thay đổi cách viết của các kết luận chương và kết luận Luận án cho gọn và làm nổi bật vấn đề cống hiến. Những nội dung khác đã được sự đồng thuận tương đối lớn.

Qua hội thảo, tác giả luận án đã tiếp thu, nghiên cứu nghiêm túc những ý kiến đóng góp quý báu của các chuyên gia và đã có những thay đổi thích hợp về kết cấu luận án theo các chương và cả trong nội bộ từng chương, khắc phục việc diễn đạt để làm rõ mục tiêu, nội dung và phạm vi nghiên cứu, khắc phục các sai sót về quy cách trình bày,....

4.2. Bàn luận

Nghiên cứu về “Liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật - Cơ sở khoa học, thực tiễn và định hướng phát triển” là một nội dung rất rộng và phức tạp. Tác giả Luận án hiểu rõ những khó khăn đó, nhưng vẫn quyết tâm thực hiện vì cho rằng, lý luận và định hướng phát triển liên kết Viện-Trường ở Việt Nam đến nay hầu như vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện và điều này dẫn đến việc cần thiết phải đề cập đến một diện rộng các vấn đề cốt lõi của liên kết Viện-Trường trong Luận án. Đó là điều khó khăn, nhưng với mong muốn rằng Luận án sẽ mang lại một ích lợi gì đó trong những bước đi đầu tiên nghiên cứu về liên kết Viện-Trường ở Việt Nam, tác giả luận án vẫn quyết tâm theo hướng đã định. Vì vậy, có thể nói, nội dung của Luận án gần như đã đề cập đến hầu hết những vấn đề quan trọng liên quan đến xây dựng và duy trì liên kết Viện-Trường bền vững, trong khi vẫn cố gắng để đạt được mức độ sâu kỹ năng nhất định.

Nhìn lại toàn bộ kết quả nghiên cứu của Luận án một cách hệ thống, có thể

nhấn mạnh thêm một số vấn đề sau đây:

4.2.1. Về việc vận dụng lý luận chung về liên kết Viện-Trường vào điều

kiện Việt Nam

Do có sự khác nhau giữa hệ thống viện, trường của Việt Nam và của các nước khác nên việc làm rõ sự khác nhau này cũng như những đặc điểm khác có liên quan là cơ sở quan trọng để vận dụng sáng tạo lý luận chung về liên kết Viện-Trường vào Việt Nam. Theo tinh thần đó, trên cơ sở tổng quan toàn bộ hoạt động nghiên cứu về liên kết Viện-Trường trên thế giới và trong nước, Luận án đã nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết Viện-Trường ở Việt Nam và trong lĩnh vực KHKT của

118

Bộ Quốc phòng; nghiên cứu về phát triển liên kết Viện-Trường ở Việt Nam và cuối cùng đã đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực KHKT do Bộ Quốc phòng quản lý. Những vận dụng sáng tạo của luận án đã được thể hiện qua các bài báo khoa học đã được đăng tải.

4.2.2. Nghiên cứu tiếp thu và phát triển lý luận về liên kết Viện-Trường

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn là một nội dung có ý nghĩa khoa học đối với việc nghiên cứu xây dựng lý luận về liên kết Viện-Trường ở Việt Nam. Về cơ sở lý luận của liên kết Viện-Trường, Luận án quan tâm nghiên cứu và phát triển mới những vấn đề thuộc những nguyên tắc của liên kết Viện-Trường và đi sâu vào bản chất của liên kết Viện-Trường nhìn từ góc độ tổ chức KH&CN và những vấn đề giúp cho xây dựng và duy trì liên kết Viện-Trường bền vững và hiệu quả. Về khía cạnh này, cần hết sức quan tâm tới những nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng và duy trì bền vững, có hiệu quả liên kết Viện-Trường. Các nguyên tắc đó đã được trình bày một cách cụ thể trong chương II của Luận án. Cũng cần lưu ý các nguyên tắc quan trọng này thường bị bỏ qua hoặc không xem xét một cách đầy đủ khi xây dựng các quan hệ liên kết ở Việt Nam. Cùng với việc nghiên cứu về các nguyên tắc xây dựng và duy trì bền vững và hiệu quả quan hệ liên kết Viện-trường, những vấn đề khoa học thuộc bản chất của liên kết Viện-Trường như liên kết Viện-Trường với tư cách là một tổ chức KH&CN cũng đã được đề cập tới trong Luận án, phục vụ cho việc lựa chọn và quản lý loại hình tổ chức này một cách hiệu quả nhất. Những vấn đề cần phải quan tâm khi xây dựng liên kết Viện-Trường đó là phải tăng cường vai trò của Nhà nước đối với liên kết Viện-Trường vì Nhà nước tạo ra cơ sở pháp lý, tạo ra môi trường cho liên kết tồn tại và hoạt động, hỗ trợ liên kết,… Nhà nước cần lồng ghép liên kết Viện-Trường trong HTĐMQG để vừa thực hiện đổi mới chính hoạt động liên kết vừa sử dụng liên kết như một công cụ để thực hiện đổi mới thành công. Bên cạnh đó, cần thiết phải xây dựng các chương trình KH&CN tầm cỡ quốc gia có gắn với các điều kiện để thúc đẩy liên kết phát triển hay phải quan tâm và có biện pháp đảm bảo quyền SHTT trong hoạt động liên kết. Đây là những yếu tố góp phần quan trọng đảm bảo liên kết thành công và bền vững. Trong xây dựng và duy trì liên kết Viện-Trường bền vững, cần khắc phục tư tưởng ngại thay đổi về tổ chức, thói quen hay tác phong và văn hóa làm việc. Quan tâm tới những vấn đề cụ thể này chắc chắn sẽ làm cho việc vận dụng lý luận liên kết vào thực tiễn có được động lực mới, dễ dàng và có chất lượng hơn.

119

4.2.3. Vận dụng lý luận và kinh nghiệm liên kết Viện-Trường để xây dựng mô hình và các định hướng phát triển liên kết Viện-Trường ở Việt Nam và trong Quân đội

Để đưa ra được các định hướng phát triển liên kết Viện-Trường, cần có sự kết hợp một cách sáng tạo giữa lý thuyết về liên kết Viện-Trường với những đặc điểm về hệ thống viện trường, về thói quen trong công tác của con người Việt Nam cũng như những điều kiện KT-XH trực tiếp ảnh hưởng đến liên kết đó. Luận án đã đề xuất mô hình liên kết Viện-Trường ba cấp với tính chất là gắn với và lấy SXKD làm mục tiêu phục vụ và đặt trong HTĐMQG. Mô hình này đảm bảo tính khoa học, thực tiễn và khả thi. Trong Luận án xác định trình tự ưu tiên thực hiện các cấp liên kết đối với mô hình đã đề xuất, đó là lấy liên kết nội bộ làm tâm điểm và khởi đầu của quá trình mở rộng liên kết. Mô hình này sẽ mang lại một cái nhìn mới và đầy đủ hơn về liên kết Viện-Trường ở Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, trong một số điều kiện cụ thể, việc liên kết với bên ngoài (ví dụ: hợp tác quốc tế, hợp tác thực hiện các chương trình/dự án lớn,…) cũng có thể đóng vai trò thúc đẩy các hoạt động liên kết nội bộ.

Để phát triển liên kết ở Việt Nam cũng như trong Quân đội, trước hết phải xác định thật rõ mục tiêu, yêu cầu, nội dung của liên kết. Nắm vững mục tiêu, yêu cầu và nội dung liên kết Viện-Trường sẽ giúp cho việc xây dựng quan hệ liên kết mang tính thực tiễn, khả thi và hiệu quả. Hơn thế nữa, để quản lý, điều hành các mối liên kết đã được xác lập, lại phải biết cách tổ chức hoạt động KH&CN trong thực hiện các nhiệm vụ liên kết. Nội hàm của hoạt động KH&CN trong liên kết bao gồm hai phần: Xây dựng tổ chức quản lý hoạt động liên kết và xác định các lĩnh vực và nội dung hoạt động liên kết của các viện, trường trong lĩnh vực KHKT. Về mặt tổ chức quản lý hoạt động liên kết, Luận án đề xuất thành lập một cơ quan trực thuộc Viện trưởng/Hiệu trưởng, giúp cho Viện/Hiệu trưởng xây dựng và quản lý các hoạt động liên kết một cách hiệu quả. Đề xuất này được đưa ra dựa trên cơ sở lý luận quản lý và kinh nghiệm rút ra từ khảo sát thực tiễn. Những gợi ý về hình thức, cơ cấu, chức năng của tổ chức này theo một số khả năng cho phép các viện, trường lựa chọn, tùy theo điều kiện cụ thể của mình. Những lĩnh vực và nội dung KH&CN mà một liên kết Viện-Trường có thể thực hiện được đề cập trong Luận án một cách khá chi tiết và sát với nhu cầu liên kết trên thực tế. Luận án cũng đề cập và giải quyết những vấn đề đặt ra khi xây dựng quan hệ liên kết, giúp cho việc tham khảo và vận dụng được dễ dàng và nhanh chóng. Theo đó, để xây dựng một quan hệ liên kết không

120

phải đơn giản mà phải có công tác chuẩn bị cho việc thiết lập mối quan hệ này. Công việc chuẩn bị bao gồm một loạt việc phải làm, liên quan đến việc xem lại mình về những hiểu biết và chuẩn bị cho liên kết, đánh giá đối tác tiềm năng và sự sẵn sàng của mình cho một quan hệ đối tác mới. Khi mọi việc chuẩn bị đã sẵn sàng việc triển khai có thể được tiến hành theo ba bước: Bước triển khai ban đầu, bước triển khai công việc và bước đánh giá và chuẩn bị cho một liên kết mới. Trong Luận án, nội dung mỗi bước đã được trình bày một cách chi tiết dưới dạng kỹ năng thực hiện, theo trình tự lôgic và do đó, hi vọng, sẽ có giá trị thực tiễn cao. Cuối cùng, để liên kết Viện-Trường đạt được chiều sâu cần quan tâm tới các nguyên tắc và hình thức giải quyết các tranh chấp trong quan hệ đối tác. Trong Luận án, những vấn đề và các nội dung có thể xẩy ra tranh chấp đã được đề cập một cách chi tiết cả trên phương diện lý luận và thực tiễn cùng 4 bước để giải quyết các tranh chấp.

4.2.4. Đề xuất các giải pháp thúc đẩy sự phát triển liên kết Viện-Trường

trong lĩnh vực Khoa học kỹ thuật do Bộ Quốc phòng quản lý

Để xây dựng quan hệ liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực KHKT quân sự cần phải có các giải pháp mang tính toàn diện, khoa học và thực tiễn cao, phù hợp với những quy định về thể chế, hoạt động và chức năng nhiệm vụ của các đơn vị Quân đội. Vì vậy, Luận án đã tiến hành điều tra ý kiến của một số viện, trường quan trọng và các nhà khoa học về ba lĩnh vực: Thực trạng hoạt động liên kết của các viện, trường trong lĩnh vực KHKT quân sự; những vấn đề chung thuộc liên kết Viện- Trường và cuối cùng là những kiến nghị với các cấp lãnh đạo. Trên cơ sở đó, kết hợp với việc vận dụng lý luận về liên kết Viện-Trường, Luận án đã xác định mô hình liên kết 4 cấp đối với viện, trường trong Quân đội, các định hướng phát triển và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của Liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực KHKT do BQP quản lý. Các giải pháp này bao gồm: Cụm giải pháp liên quan đến Nhà nước và cụm giải pháp liên quan đến BQP.

Cụ thể:

- Về phía Nhà nước, cần nâng cao nhận thức và thống nhất quan điểm về liên kết Viện-Trường để tạo ra pháp lý và động lực cho phát triển liên kết; phát huy hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động liên kết trong HTĐMQG, thực hiện liên kết vừa là đối tượng của đổi mới vừa là công cụ để đổi mới thành công; hoàn thiện quá trình hoạch định chính sách về đổi mới sáng tạo và liên kết nhằm làm cho các chính sách quán triệt được những khía cạnh quan trọng, thúc đẩy sự

121

phát triển của liên kết Viện-Trường và cuối cùng là hoàn thiện môi trường trực tiếp cho đổi mới và liên kết, trong đó nhấn mạnh đến môi trường SHTT, đảm bảo phát triển các dạng nguồn lực cho liên kết. Các giải pháp đối với Nhà nước mang tính quyết định đến thành bại của chủ trương liên kết Viện-Trường, mang tính vĩ mô, liên quan đến hoạt động của nhiều Bộ, ngành trong hệ thống Nhà nước. Vì vậy, sự quan tâm của Chính phủ đến hoạt động liên kết sẽ là sự đảm bảo để liên kết phát triển.

- Về phía BQP cần quan tâm tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và BQP, đây là yếu tố quyết định và là động lực để liên kết thành công; chú trọng đến việc vận dụng đúng và sáng tạo lý luận và phương pháp luận về liên kết Viện-Trường trong điều kiện của BQP; thực hiện những bước đi cụ thể trong thực hiện chiến lược phát triển liên kết Viện-Trường của Bộ. Đây là những bước đi cơ bản và quan trọng, không thể bỏ qua. Trong luận án cũng đã đề xuất giải pháp về việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan của Bộ có liên quan, các giải pháp về bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền và trách nhiệm của viện và trường với tư cách là đối tượng điều chỉnh của chủ trương liên kết Viện- Trường.

Nếu mô hình liên kết, các nguyên tắc xây dựng quan hệ liên kết và các giải pháp được tôn trọng và thực thi một cách đầy đủ, liên kết Viện-Trường sẽ phát triển và ngày càng phát huy tác dụng tốt đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng các dạng nguồn lực của cả viện, trường và hệ thống doanh nghiệp, góp phần tích cực vào việc phát triển KT-XH và hiện đại hóa Quân đội.

122

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. KẾT LUẬN

Liên kết Viện-Trường mà nội hàm chính là thực hiện liên kết ĐT-NCKH- SXKD là một phương thức hoạt động hiện đại, ngày càng phát triển cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Liên kết Viện-Trường gắn với HTĐMQG với tư cách vừa là đối tượng của đổi mới, vừa là công cụ để đổi mới thành công. Nghiên cứu nắm vững lý luận, phương pháp luận liên kết giúp cho việc xây dựng và duy trì liên kết bền vững và có hiệu quả. Luận án đã nghiên cứu và vận dụng một cách sáng tạo lý luận về xây dựng và duy trì liên kết Viện-Trường bền vững trong điều kiện Việt Nam và của Quân đội và đã hoàn thành toàn bộ mục tiêu và nội dung đã đề ra với tổng cộng 10 công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp, đã được công bố trên các tạp chí có uy tín của Nhà nước và Quân đội.

1.1. Những kết quả đạt được của Luận án:

- Thực hiện tổng quan về nghiên cứu lý luận và phương pháp luận Liên kết Viện-Trường trên thế giới và trong nước. Qua đó làm rõ vai trò, vị trí của liên kết ĐT-NCKH-SXKD, chứng tỏ liên kết vừa là một nhu cầu vừa là xu thế tất yếu của thời đại, đồng thời chỉ ra những tồn tại trong nghiên cứu về liên kết Viện-Trường trên thế giới và ở Việt Nam còn tiếp tục phải được nghiên cứu.

- Nghiên cứu và trình bày một cách hệ thống lý luận và phương pháp luận xây dựng và duy trì liên kết ĐT-NCKH-SXKD bền vững, chú trọng đến liên kết trong các điều kiện của Việt Nam. Trong đó làm rõ bản chất, nguyên tắc và nội dung của liên kết Viện-Trường cùng những vấn đề liên quan đảm bảo để liên kết Viện-Trường phát triển bền vững.

- Nghiên cứu thực trạng liên kết Viện-Trường ở Việt Nam nói chung và trong Quân đội nói riêng, qua đó làm rõ những tiến bộ đã đạt được và những bất cập cần khắc phục cùng các yếu tố ảnh hưởng để đảm bảo việc xây dựng và duy trì liên kết Viện-Trường bền vững và hiệu quả.

- Đề xuất mô hình liên kết Viện-Trường chung ở Việt Nam và riêng cho lĩnh vực KHKT quân sự; đưa ra định hướng phát triển cùng hệ thống các giải pháp chính sách cấp Nhà nước và cấp BQP mang tính toàn diện và có tính khả thi cao để thúc đẩy phát triển liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực KHKT do BQP quản lý.

123

1.2. Các đóng góp mới của Luận án

Những dự kiến về cống hiến khoa học đã được Luận án thể hiện bằng những

nội dung của các công trình khoa học sau đây:

- Phân tích và làm rõ cơ sở lý luận về liên kết Viện-Trường, trong đó đã làm rõ khái niệm về liên kết Viện-Trường; bản chất và những nguyên tắc cơ bản của liên kết Viện-Trường [Công trình số 8].

- Phân tích và đánh giá kết quả thực tiễn xây dựng, duy trì và phát triển bền vững quan hệ liên kết Viện-Trường ở Việt Nam và trong lĩnh vực KHKT quân sự thông qua nghiên cứu hoạt động liên kết Viện-Trường ở một số cơ sở viện, trường thuộc Bộ NN&PTNT và Bộ Quốc phòng; phân tích những yếu tố tác động đến liên kết Viện-Trường ở Việt Nam làm cơ sở cho định hướng phát triển và đề xuất các giải pháp đối với liên kết Viện-Trường ở Việt Nam và trong Quân đội [Công trình số 7 và 10].

- Đề xuất các định hướng liên kết Viện-Trường ở Việt Nam với việc xác định mô hình liên kết Viện-Trường ở Việt Nam và trong Quân đội; xác định quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, nội dung liên kết trong mối quan hệ đối với HTĐMQG và quản lý KH&CN [Công trình số 3, 4, 5 và 6]; đề xuất lộ trình thực hiện liên kết Viện- Trường [Công trình số 9].

- Đề xuất hệ thống các giải pháp thúc đẩy, phát triển liên kết Viện-Trường trong lĩnh vực KHKT quân sự. Các giải pháp mà Luận án đề xuất có tính toàn diện, hệ thống và có tính khả thi cao, góp phần thúc đẩy nhanh chóng việc thực thi hoạt động liên kết Viện-Trường trong BQP, góp phần định hướng cho đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động NCKH, PTCN, đáp ứng yêu cầu hiện nay và trong tương lai của BQP [Công trình số 11 và 12].

1.3. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đã đạt được của Luận án, có thể phát triển

để giải quyết các vấn đề sau:

- Nghiên cứu sâu hơn về quan hệ Viện-Trường trong HTĐMQG, trong đó chú trọng đến cơ chế vận hành hệ thống và việc xây dựng hệ thống chính sách nhằm đảm bảo đổi mới và liên kết hiệu quả.

- Nghiên cứu liên kết Viện nghiên cứu-Trường đại học-Doanh nghiệp, trong đó viện, trường có thể như những thực thể độc lập hay thực thể liên kết trong Hệ thống Đổi mới Quốc gia.

124

- Nghiên cứu liên kết Viện-Trường-Doanh nghiệp trong các lĩnh vực như Y

dược, Khoa học Xã hội và Nhân văn,…

- Nghiên cứu vấn đề liên kết Quốc tế nói chung và liên kết qua mạng điện tử một cách thực chất và hiệu quả, đi sâu vào cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động nhằm phát huy hiệu quả của liên kết.

2. KHUYẾN NGHỊ

Việc triển khai thực hiện hoạt động liên kết nói chung cũng như hoạt động liên kết Viện-Trường nói riêng cần phải được tiến hành đồng bộ thống nhất từ trên xuống dưới; từ chủ trương đường lối, chính sách, nhận thức đến cách thức, biện pháp... Do đó, để tiếp tục triển khai hoạt động liên kết Viện-Trường vào thực tiễn hiệu quả và bền vững đáp ứng yêu cầu KT-XH ngày càng cao, nghiên cứu sinh đề xuất một số vấn đề sau:

2.1. Đối với Chính phủ và các cơ quan chức năng Nhà nước

Tiếp tục quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước một cách sâu sắc hơn; Chỉ đạo các Bộ, Ngành chức năng của Nhà nước tiếp tục nghiên cứu, triển khai ban hành các Thông tư, hướng dẫn, quy định cụ thể tạo hành lang pháp lý và cơ chế phù hợp để hoạt động liên kết Viện-trường thực sự tham gia và phát huy hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động KT-XH trong đó có hoạt động đào tạo, NCKH, CGCN và SXKD.

2.2. Đối Thủ trưởng và các cơ quan BQP

Cần tiếp tục cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về hoạt động liên kết nhằm phát huy tối đa nguồn lực quốc phòng trong điều kiện hiện nay; tuyên truyền giáo dục cao hơn nữa nhận thức của cán bộ chỉ huy các cấp, nhất là các cấp có thẩm quyền và trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động liên kết trên các lĩnh vực đào tạo, NCKH, CGCN hay SXKD trong một thời gian ngắn nhất có thể được, đồng thời chỉ đạo các cơ quan chức năng tiếp tục nghiên cứu, tham mưu cho Bộ ban hành các quy định hướng dẫn cụ thể, phù hợp với quy định Nhà nước và điều kiện riêng của Quân đội nhằm tạo điều kiện phát huy tối đa hiệu quả hoạt động liên kết Viện-Trường trong BQP. Nghiên cứu vận dụng lý luận và mô hình liên kết trong các lĩnh vực Khoa học Quân sự và Khoa học XH&NV.

2.3. Đối với Viện, Trường trong Quân đội

Lãnh đạo đơn vị cần tiếp tục bám sát quy định, hướng dẫn của Bộ, không ngừng quán triệt sâu sắc hơn nữa cho cán bộ các cấp trực thuộc về vai trò, hiệu quả

125

của hoạt động liên kết Viện-Trường trong các lĩnh vực đào tạo, NCKH và CGCN; Chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu xây dựng quy chế, quy định về hoạt động liên kết phù hợp với đặc điểm tình hình, chức năng nhiệm vụ, tiềm lực và định hướng phát triển của đơn vị, đồng thời hướng dẫn, triển khai cụ thể việc thực hiện liên kết tới từng tập thể, cá nhân các nhà khoa học nhằm ngày càng tăng cường quy mô, chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, NCKH và CGCN... thông qua hoạt động liên kết mà trước hết là liên kết nội bộ; Quán triệt tinh thần làm tốt từ liên kết nội bộ đến liên kết ngoài, từ liên kết trên nguyên tắc đến cụ thể, từ đơn giản đến phức tạp và thường xuyên có sự đánh giá rút kinh nghiệm nhằm đưa hoạt động liên kết ngày càng đi vào thường xuyên và hiệu quả hơn.

126

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

1. Nguyễn Duy Bảo, Trần Văn Phác, Nguyễn Đăng Hải (2003), “Vì sao KH&CN nước ta chưa đưa vào cuộc sống”, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, Số 23-2003 (228) ngày 05/12/2003, tr.14-15.

2. Nguyễn Đăng Hải (2011), “Bàn về các khái niệm trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”, Tạp chí Hoạt động Khoa học (Bộ KHCN), Số tháng 4.2011 (623) năm thứ 52, tr.41-44.

3. Nguyễn Đăng Hải (2011), “Tổ chức KH&CN nhìn từ góc độ liên kết NCKH - Đào tạo - Sản xuất kinh doanh”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, Năm thứ mười bảy, Số 169 (II) tháng 7/2011, tr.71-75.

4. Nguyễn Đăng Hải, Phạm Thế Long (2011), “Tổ chức hoạt động KH&CN trong liên kết Viện - Trường”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, Năm thứ mười bảy, Số 172 tháng 10/2011, tr.15-19.

5. Nguyễn Đăng Hải, Nguyễn Duy Bảo (2012), “Sở hữu trí tuệ trong liên kết viện trường và các giải pháp quản lý”, Tạp chí Hoạt động Khoa học (Bộ KHCN), Số tháng 6.2012 (637) năm thứ 53, tr.57-60

6. Nguyễn Đăng Hải, Hướng Xuân Thạch (2012), “Liên kết Viện - Trường trong hệ thống đổi mới Quốc gia: Những nguyên tắc, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, Năm thứ mười tám, Số 185 tháng 11/2012, tr.133-138.

7. Nguyễn Đăng Hải, Hướng Xuân Thạch (2012), “Những yếu tố đặc thù tác động đến xây dựng quan hệ liên kết/hợp tác viện trường ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, Năm thứ mười tám, Số 186 tháng 12/2012, tr.129-133.

8. Nguyễn Đăng Hải, Phạm Thế Long (2013), “Những nguyên tắc căn bản của liên kết Viện -Trường ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Thương mại, Năm thứ 12, Số 55 tháng 3/2013, tr.54-58.

9. Nguyễn Đăng Hải, Phạm Thế Long (2013), “Quá trình triển khai quan hệ đối tác trong hoạt động liên kết trường đại học - viện nghiên cứu ở Việt Nam mô hình và phương pháp nghiên cứu”, Tạp chí Khoa học Thương mại, Năm thứ 12, Số 56 tháng 4/2013, tr.68-72.

10. Nguyễn Đăng Hải (2013), “Nghiên cứu thực trạng kiên kết trong lĩnh vực KHKT Quân sự”, Tạp chí Kỹ thuật & Trang bị - TCKT, Năm thứ 14, Số 153 tháng 6/2013, tr.25-30.

11. Nguyễn Đăng Hải (2013), “Các giải pháp thúc đẩy liên kết Viện - Trường trong Quân đội”, Tạp chí Kỹ thuật & Trang bị - TCKT, Năm thứ 14, Số 159 tháng 12/2013, tr.27-32.

12. Nguyễn Đăng Hải (2013),“Vai trò của Nhà nước trong hoạt động đổi mới và liên kết” Tạp chí Khoa học Thương mại, Năm thứ 12, Số 59 tháng 7/2013, tr.58-64.

127

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt [1]. Đỗ Quốc Anh (2010), “Hợp tác trong khoa học”, Tạp chí HĐ Khoa học, 6/2010. [2]. Nguyễn Duy Bảo (2013), Bản dịch tiếng việt “Quốc tế hóa các trường đại học: Lý thuyết, thực hành, Tổ chức, Thực hiện”, Journal of emerging knowledge on emerging markets, 2009, tr. 143-151, USA.

[3]. Nguyễn Duy Bảo (2012), Bản dịch tiếng Việt từ nguyên bản “Internationalizing the University: Theory, practices, organiztion and execution. Journal of Emerging knowledge on Emerging markets. Vol. 1, issue 1, November 2009” của Barry J. Morris. [4]. Bộ NN&PTNT (2008), “Đề án tăng cường năng lực KH&CN của Bộ -2008”,

Cổng thông tin điện tử Bộ NN&PTNT, 2008.

[5]. Bộ KH&CN Việt Nam (2009), “Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. Thực trạng khoa học và công nghệ Việt Nam”, Cổng thông tin điện tử Bộ KH&CN, 04/12/2009. [6]. Bộ NN&PTNT (2009), “Báo cáo Điều tra khảo sát về hai năm việc thực hiện Nghị định 98/2006/NĐ-BNN&PTNT năm 2006 của Bộ Trưởng Bộ NN&PTNT về liên kết viện-trường”, Bộ NN&PTNT, 9/2009.

[7]. Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng Việt Nam (2012), “Giới thiệu Bệnh

viện Quân đội 175”, 29/09/2012

[8]. Cục KHCN&MT-BQP (2010), “Tổng kết công tác khoa học, công nghệ và Môi trường 5 năm 2006-2010, phương hướng nhiệm vụ công tác KHCN&MT giai đoạn 2011-2015”, Báo cáo số 352/BC-KHCN&MT, 12/4/2010.

[9]. Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), “Xây dựng mô hình hợp tác giữa các Trường đại học-Viện nghiên cứu-Doanh nghiệp”, Hội thảo Quốc gia “Hợp tác Đại học-Viện nghiên cứu-Doanh nghiệp”, Hà-Nội, 6/2010.

[10]. Bùi Tiến Dũng (2012), “Chuyên đề Quản lý nguồn nhân lực KH&CN địa

phương”, MTI, 2012.

[11]. Jian Cheng Guan, Richard CM Yam, Chiu Kam Mok (2012), “Hợp tác giữa ngành công nghiệp và các viện nghiên cứu”, Đại học về đổi mới công nghiệp Bắc Kinh, Trung Quốc, 2012.

[12]. Nguyễn Hoàng Hải (2007), “Đôi điều về thống kê nhân lực khoa học công

nghệ”, Tạp chí Hoạt động KH&CN, 4/2007.

[13]. Vân Hạnh (2012), “Thực hiện Nghị định 115/CP và Nghị định 80/CP: Khí thế mới cho Tổ chức KH&CN”, Tạp chí Khoa học và phát triển, 30/7/2012. [14]. Phan Huy Hiền (2012), “Liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và

doanh nghiệp”, Cổng điện tử Báo Mới, 2012.

[15]. http://www.Baomoi.com/lien-ket-giua-truong-dai hoc-vien- nghien-cuu- vâ- doanh-nghiep (2013), “Liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp”, Khi cả ba cùng vào cuộc-Báo Mới điện tử, 2013.

128

[16]. http://nhandan.com.vn/tinbai (2012), “Xây dựng mô hình hợp tác giữa các Trường đại học-Viện NC-Doanh nghiệp”, Báo Nhân Dân điện tử, 2012. [17]. http://www.hocvienquany.vn/khcnmt (2008),“Giới thiệu về Học viện Quân y”,

Phòng Chính trị Học viện Quân Y, 23/12/2008.

[18]. http://www.yhoccotruyenqd.vn (2011), “Giới thiệu về Viện Y học Cổ truyền

Quân đội”, Y học Cổ truyền Quân đội, 22/01/2011.

[19]. http://www.mta.edu.vn. (2013), “Giới thiệu về Học viện KTQS và Đại học Lê Quý Đôn”, Cổng thông tin điện tử Học viện KTQS, 2013.

[20]. http://www.nhandan.com.vn/tinbai (2013), “Xây dựng mô hình hợp tác giữa các Trường đại học-Viện nghiên cứu-Doanh nghiệp”, Hợp tác NCKH của Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 2013.

[21]. http://www.quangninh.org.vn, (2010), “Hội nghị kết hợp Viện-Trường trong đào tạo Bác sĩ CKI, II và Bác sĩ nội trú”, Văn phòng Ban chỉ đạo CNTT-Vụ Khoa học và Đào tạo-Bộ Y tế, 20/7/2010.

[22]. http://www.mta.edu.vn/ (2012), “Hội thảo Câu lạc bộ Khoa học Công nghệ các trường đại học kỹ thuật lần thứ 41”, Cổng thông tin điện tử Đại học Lê Quý Đôn, 06/11/2012.

[23]. http://www.vnu.edu.vn/home/?c2088: (2012), “Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bệnh

viện Bạch Mai và ĐHQGHN”, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012.

[24]. http://www.bienphongvietnam.vn/cong-tac-bien-phong/doi-ngoai-bien-phong/

590-doingoai.html

[25]. http://www.chinhphu.vn/ (2006), “Gia nhập WTO, cơ hội-thách thức và hành động của chúng ta”, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, 07/11/2006.

[26]. Sun Jianxin (2010), “Các công cụ chính sách thúc đẩy các mối liên kết và quan hệ đối tác trong viện R&D, học viện và doanh nghiệp vừa và nhỏ-Linkages and Partnerships among Enterprises, R&D Institutions and Academia to Foster Innovation and Transfer of Technology National Workshop Organized by APCTT- ESCAP and NASATI-MOST”, Government of Viet Nam, 22-23 December 2010.

[27]. Hoàng Xuân Long (2009), “Những nhân tố ảnh hưởng tới liên kết viện, trường

với doanh nghiệp Việt Nam”, By Civillawinfor, 31/05/2009.

[28]. Duy Minh (2012), “Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự: Hợp tác thực hiện

nhiều đề tài khoa học hiệu quả”, Cổng thông tin điện tử QĐND, 16/03/2012.

[29]. Nhật Minh (2011), “Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 sẽ trở thành tổ hợp y

học hiện đại”, QĐND, 24/11/2011; http://www.qdnd.vn/qdndsite.

[30]. Nghị quyết 06-NQ/TW, “Xây dựng và phát triển CNQP đến 2020 và những

năm tiêp theo”, Bộ Chính trị, BCH TW Đảng (khóa XI), 16/7/2011;

[31]. Nghị quyết (2012). “Về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Hội nhập quốc tế”, Nghị quyết số 20/NQ-TW, 07/11/2012.

129

[32]. Nghị Quyết của Bộ Chính trị, “Xây dựng và phát triển công nghiệp quốc

phòng”, Nghị Quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX).

[33]. Mai Nguyên (2012), “Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga: Nền tảng hợp tác Khoa học Công nghệ Việt - Nga”, www.baomoi.com/nen-tang-hop-tac-khoa-học- cong-nghe-vietnga/122/801-3900.epi, QĐND 7/3/2012.

[34]. Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân (2012), “Tháo gỡ “nút thắt” tài chính cho KH&CN phát triển”, Theo Ngũ Hiệp trong “Khoa học-Công nghệ và Đời sống”, 19/07/2012.

[35]. Quyết định 98/2006/QĐ-BNN&PTNT (2009), “Quy chế kết hợp giữa các trường Đại học và Viện nghiên cứu thuộc Bộ NN&PTNT trong đào tạo và NCKH”, Quyết định 98/2006/QĐ-BNN&PTNT, 30 /10/ 2006.

[36]. Quyết định số 1244/QĐ-TTg (2011), “Phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2011-2015”, Quyết định số 1244/QĐ-TTg, Ngày 25/7/2011.

[37]. Sở KH&CN Thái Nguyên (2012), “Bản tin KH&CN phục vụ lãnh đạo”, Đường lối, chính sách, số tháng 1/2012.

[38]. Tạp chí Y học Quân sự (2011), “Giới thiệu Bệnh viện Quân đội 175”, Tạp chí

Y học Quân sự số 269 (3-4/2011), 29/12/2012.

[39]. Thông tư (2012), “Về việc xây dựng chương trình hợp tác nghiên cứu chung song phương và đa phương về KH&CN”, Thông tư số: 8264/BGDĐT- KHCNMT, (10) Bộ GDĐT, 03/12/2012.

[40]. Nguyễn Thị Anh Thu (2006), “Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN-Bộ KH&CN. Đổi mới cơ chế chính sách đối với KH&CN”, Tạp chí Hoạt động Khoa học, 3/2006.

[41]. Nguyễn Thị Tiền (2009), “Thoả thuận hợp tác giữa Khu Công nghệ Phần mềm ĐHQG-HCM và Viện Khoa học & Công nghệ Quân sự Bộ Quốc phòng”, Viện Khoa học & Công nghệ Quân sự-BQP, 25/2/2009.

[42]. Nguyễn Quốc Triệu (2009), “Việt Nam trong tiến trình hội nhập và phát triển- Thành tựu y tế giai đoạn đầu hội nhập-Những vấn đề cơ bản và định hướng chiến lược y tế đến năm 2020, tầm nhìn 2031”, Toàn cảnh Y tế Việt Nam giai đoạn đầu hội nhập WTO-Bộ Y tế, Nxb Y học, 2009.

[43]. Lê thị Khánh Vân (2010), “Tình hình liên kết giữa các viện nghiên cứu, các trường đại học và các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam-Linkages and Partnerships among Enterprises, R&D Institutions and Academia to Foster Innovation and Transfer of Technology”, National Workshop Organized by APCTT-ESCAP and NASATI-MOST, Government of Viet Nam, Hà Nội, 22-23 December 2010.

[44]. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh (2012), “Đối ngoại quốc phòng trong thời kỳ

đẩy mạnh hội nhập quốc tế”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, 2012.

130

Tiếng Anh

[45]. Holbrook J. Adam (2005), "Innovation Happens in Systems: Implications for Science, Technology and Innovation Policy", Centre for Policy Research on Science and Technology Simon Fraser University, Vancouver, Canada-2005.

[46]. APEC (2012), "APEC Agenda for Science and Technology industry cooperation into 21st century", ADDENDUM TO APEC SELECTED DOCUMENTS 1998, Industrial Science and Technology: APEC Agenda, 2012.

[47]. Paul A. Argenti (2009), "The Power of Integration: Building a Corporate Communication Function. That is Greater Than the Sum of its Parts. 10th Conference on Reputation, Image, Identity and Competitiveness", The Tuck School of Business at Dartmouth. paul.argenti@dartmouth.edu, 2009. [48]. Arizona State University (2010), "Education Policy Alliance", Arizona State

University, 2010.

[49]. Bénédicte Callan (2000), "A COMPARATIVE OVERVIEW", Workshop on the management of intellectual property rights from public research, Canada, 2000. [50]. James J. Casey (2007), "Long-Term University-Industry collaborations Maintaining university collaborations with industry requires continual interactions, execution, and, most-of-all, passion", Issue of R&D Magazine Academic Sourcebook, June 2007.

[51]. Hongryel Felix Choi - Korea "Support mechanism (2010),

for commercialization of Public R&D outputs in Korea. Linkages and Partnerships among Enterprises, R&D Institutions and Academia to Foster Innovation and Transfer of Technology", National Workshop Organized by APCTT-ESCAP and NASATI-MOST, Government of Viet Nam 22-23 December 2010.

[52]. Zita P. Correia, Catarina Egreja e Maria Joaquina Barrulas (2010), "Building a collaboratory in an engineering R&D organization INETI-Instituto Nacional de Engenharia", Tecnologia e Inovação, IP Estrada do Paço do Lumiar, 22, Edº J-1649-038 Lisboa, Portugal.

[53]. Jonathon N. Cummings, Sara Kiesler (2008), "Collaborative Research Across Disciplinary and Organizational Boundaries", Massachusetts Institute of Technology And Sara Kiesler Carnegie Mellon University In Press, Social Studies of Science, 2008.

[54]. Department of Education, Science and Training (2004), "Review of Closer Collaboration between Universities and Major Publicly Funded Research Agencies", Australian Government, Mach 2004

[55]. Yves L. Doz, Câtrrina Egrrẹa e Maria Joaquina (2010), "Building a collaboratory in an Engineering R&D organization", INETI-Instituto Natinal de Engenharia, tecnologia e inovacao, IP Estrada do Paco do lumiar, 22, Ed0 J-1649-038. Lisboa, Portugal. Rui Gil Diogo R. Perreira. INOV-INESC Inocacao.

131

[56]. Jeffrey H. Dyer Benjamin C. Powell Mariko Sakakibara, Andrew J. Wang (2010), "Determinants of Success in R&D Alliances, CED 22010.TE 2CHNOLOGY P RAM NISTIR 7323", National Institute of Standards and Technology • Technology Administration • U.S, Department of Commerce, 2010.

[57]. Edinburgh Business School (2008), "Alliances and Partnerships", Edinburgh Business School, 2008.

[58]. HU Feng (2012), "Industry-academia-research, Universities and Technological Innovation in China", Zhejiang Gongshang University, P.R. China, 2012. [59]. Thomas A. Finholt (2010), "Collaboatries as a new form of Scientific

organisation" , The Academy of Management Journal, 2010.

[60]. Flo Frank and Anne Smith (2000), "The Partnership handbook", Minister of

Public Works and Government Services Canada, 2000, Canada.

[61]. John Hagedoorn (2001), "Strategic Research Partnership: Inter-Firm R&D Partnership-An Overview of Major Trends and Patterns Since 1960", Proceeding from an National Science Fuondation Workshop, Arlington, VA (NSF 01-336), August 2001, Maastricht University.

[62]. Elizabeth L. Hale and other (2007), "Preparing Schools Principals: A National Perspective on Policy and Program Innovation", Danish Techological institute, March 2007.

[63]. Ramanathan K. Head, APCTT-ESCAP (2012), "Structuring a National Innovation System (NIS) to Foster Linkages and Partnerships among R&D Institutions, Academia, and SMEs", Hội thảo vè Liên kết viện nghiên cứu, trường đại học và cácc doanh nghiệp, Hà Nội, 2012.

[64]. http://www.cimaglobal.com (2006), "New accelated Masters Degree partnership

between CIMA and leading French Business School", Web CIMA, 19/10/2006.

[65]. http://www.csem.ch/site/card.asp?nav (2013),"Business and Service, Alliance

& Partnership", Web CSEM, 2013.

[66]. http://www.csem.ch/site/card.asp?nav (2012), “Start-up incubator”, Web CSEM, 2012 [67]. http://www.newzealandeducated.com (2008), "Cooperation on research and development of current, new and innovative technologies, including win-win solutions", A submission to the Ad hoc Working Group on Long term Cooperative Action under the Convention New Zealand, 30 September 2008.

[68]. Kamil Idris Director General, WIPO (2007), "Technology Transfer, Intellectual Property Rights and University-Industry Partnerships: The Experience of China, India, Japan, Philippines, the Republic of Korea, Singapore and Thailand", World intellectual pproperty organization, 2007.

[69]. Magnus Karlsson, editor (2006), "The Internationalization of Corporate R&D-Leveraging the Changing Geography of Innovation", www.itps.se. ISSN 1652-0483 Elanders, Stockholm 2006

132

[70]. Aileen Kennedy (2006), "Strategic Partnerships and the Internationalisation Process of Software SMEs", Dublin Institute of Technology ARROW@DIT Conference papers School of Marketing, Section 1-5, 1/1/2006.

[71]. Rob Kling, Geoffrey McKim, Joanna Fortuna, and Adam King (2012), "Scientific Collaboratories as Socio-Technical Interaction Networks: A Theoretical Approach", Indiana University School of Library and Information Science, 10th & Jordan, Bloomington, IN 47405 USA +1 812 855 5113 kling@indiana.edu. [72]. Mikko Koria (2010), "Khái niệm về đổi mới, đổi mới trong trường Đại học, đổi mới chính sách và đổi mới trong thương mại", Hội thảo quốc tế về liên kết viện-trường-doanh nghiệp, 22-23/12/2010 (Bản tiếng anh).

[73]. Sorin M.S. Kramer (2009). "International Alliances and technology

diffusion", An analysis of the global tire industry, December 2009. [74]. Judith Lamon (2002), "Collaboration and R&D", Zentek, January 2002. [75]. Jiatao Li (2010), "Global R&D Alliances in China: Collaborations With Universities and Research Institutes", IEEE Transactions on engineẻing management, vol. 57, N0. 1, February 2010.

[76]. Sun Lianxxin, Kỹ sư cao cấp Trung tâm phát triển công nghệ cao-Bộ KH&CN Trung Quốc (2012), "Các công cụ chính sách thúc đẩy các mối liên kết/các quan hệ đối tác giữa những thành phần đổi mới", Hội thảo Liên kết Viện-Trường-Doanh nghiệp, Hà Nội, 22/12/2010 (Bản tiếng Anh).

[77]. James R. Lincoln Walter A. Haas (2012), "Strategic Alliances in the Japanese Economy:Types, Critiques, Embeddedness, and Change School of Business University of California Berkeley", Web HAAS.BERKELEY, CA 94702, 2012. [78]. Mark Lundy (2002), "Learning alliance with Development Partners. A framework for outscaling Research outputs", Rural Agroenterprise Development Project CIAT Annual Review, December 2002. CIAT Annual Review.

[79]. Mark Lundy, Maria Veronica Gottret and Jacqueline Ashby (2008), "Learning alliances: An approach for building multistakeholder innovation systems", Tue, 12/09/2008-10:57-Cristina Sette

[80]. Stuart Macdonald, Tom Chrips (2011), "Acknowledging thepurpoes of partnering",

University of Sheffield, England, Email: s.macdonald@sheffield.ac.uk.

[81]. Yarime Masaru (2009), "Institutionalizing Sustainability Innovation: Universities

as a platform for Stakeholder Collaboration", University Tokio, 2009.

[82]. Richard J. Masika and other (2010), "Collaboration Models in Training of Engineering personnel", Case of DIT-Dar es Slaam Institute of Technology, 12-2010.

[83]. McGill University and École de technologie supérieur (2011), "University- Industry partnerships: An emerging model efficiently supporting and enhancing participation in R&D in Canada", Joint submission made by

133

McGill University and École de technologie supérieure (ÉTS) to the Federal Expert Review Panel on Research and Development, February 18, 2011. [84]. Paula Allen Meares and other (2009), "Using a Collaboatry Model to Translate Social work Research into Practice and Policy", University of Michigan, 2009. [85]. Meiji Institute for advanced Study of Mathematic Science (2003), "Education & Research Echanges", Meiji Institute for advanced Study of Mathematic Science, 2003.

[86]. Aldo de Moor (2004), "Improving the Testbed Development Process in

Collaboratories", Tibburg University of Netherland, 14 pages, 2004.

[87]. Barry J. Morris (2009), "Internationalizing the University: Theory, Practices, organization and Execcution", Journal of Emerging knowledge on Emerging Markets, Vol. 1, issue 1, November 2009.

[88]. Kazuyuki Motohashi (2012), "Fostering University-Industry Relation",

http://www.mo.t.u-tokyo.ac.jp, 2012.

[89]. James W. Murray (2000), "Những thí dụ về những bài học thực tiễn tốt nhất",

Xây dựng thiết chế (Bản tiếng Anh), Canada-2000.

[90]. F. Muscat (2005), "Intellectual Property Management: Key to Successful R&D Strategies”, Intellectual Property and Economic Development Division Roya Ghafele, e-mail: roya.ghafele@wipo.int, February 16, 2005.

[91]. Nanjing University of China (2009), "Business and industry-Key Exchange",

Nanjing University of China, 2009.

[92]. NASA Collaboration Handbook (2005), "Collaboration handbook: Principles and Best Practices", NASA Collaboration Handbook, 22/6/2005.

[93]. Office of Community-Based Research-University of Victoria (2009), "The funding and Development of community university research parnerships in Canada", University of Victoria, 5-2009.

[94]. Gary M. Olson (2008), "Scientific Collaboration on the Internet", Masachusetts Institute of Technology, 2008.

[95]. Toula Onoufriou (2010), "SmartEN ITN Coordinator", Cyprus University

of Technology-Coordination Institution, Partners-2010.

[96]. Susan K. Patterson (2010), "Public Schools and University Partnerships: Problems and Possibilities", Economic journal for the intergration of technology in Education, Vol. 1. N0 1. 2010

[97]. K. Pavitt (2010), "Public Policies to support Dasic Research: What can the Rest of the world learn from US theory and Practice (and what they should not learn)", Journal of Economic Geography, 2010.

[98]. Julio A. Pertuzé, Edward S. Calder, Edward M. Greitzer and William A. Lucas (2010), "Best Practices for Industry-University Collaboration", Government-university-industry Partnerships, June 26, 2010.

134

[99]. K. Ramanathan (2010), "Liên kết và quan hệ đối tác giữa các doanh nghiệp, các viện nghiên cứu & triển khai và các học viện để thúc đẩy đổi mới và chuyển giao công nghệ", Hội thảo quốc gia do APCTT-ESCAP và NASATI- MOST, Chính phủ Việt Nam 22-23/12/2010 (Tiếng Anh).

[100]. Mónica Salazar-Acosta and Adam Holbrook (2002), "Some notes on theories of technology, society and innovation systems for science and technology policy studies with editorial comments by Glenda Shaw-Garlock Centre for policy research on science and technology", Simon Fraser University, Vancouver BC. Report 08-02.

[101]. James A. Severson, Ph.D, Vice Provost for Intellectual Property and Technology Transfer (2004), "Models of University-Industry Cooperation", UW TechTransfer, December 13, 2004

[102]. Paul Sloane(2010), "Innovation strategy", Fight the fear of change, 2010. [103]. Jan Slusareck (2010), "Collaboration between Universities and Industry Based on Experience of the Silesian University of Technology", Silesian University of Technology, July 18-22, 2010, Gliwice, Poland.

[104]. N.Srinivasan (2012), "Các thành phần chính của hệ thống đổi mới quốc gia (NIS) và sự thúc đẩy của NIS trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương", Vai trò của APCTT (Bản tiếng anh)", Hội thảo quốc gia về mối liên hệ và quan hệ đối tác giữa các doanh nghiệp, các viện nghiên cứu và phát triển, và học viện/ trường Đại học nhằm bồi dưỡng đổi mới và CGCN, Việt Nam, 2012.

[105]. Deborah D. Stine, Specialist in S&T policy (2009), "Science and Technology policymaking: A primer", CRS Report for Congress, May 27, 2009, USA. [106]. F. Vincent, S. Wu, (2000), "An Empirical Study of University-Industry Research cooperation-The case of Taiwan", Hội thảo của OECD-NIS Focus Group, Rome, 02-03/10/2000.

[107]. Ilkka Waananen Finland (2010), "Development of Models for R&D intergrated

learning in knowledge production", Lahti Universiry of Applied Sciences, 2010.

[108]. Toshiya Watanabe (2010), "Management of Academic intellectual assets, Research Center for Advanced Science and Technology", The University of Tokyo, 2010. [109]. Toshiya Watanabe (2012), "Special Feature: Public-Private R&D Collaboration:

University-industry collaboration", The University of Tokyo, 2012.

[110]. Brian Wixted (2006), "The Structures, Purpose and Funding of Academic Research Networks", CPROST Report, 2006-2008.

[111]. World intellectual property organization (2007), "Technology Transfer, Intellectual Property Rights and University-Industry Partnerships: The Experience of China, India, Japan, Philippines, the Republic of Korea, Singapore and Thailand", WIPO preface, 2007.

135

Phụ lục 1 CÁC MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA VỀ LIÊN KẾT VIỆN-TRƯỜNG DÙNG CHO CƠ QUAN

Mẫu 1. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG LIÊN KẾT (Dùng cho Cơ quan)

1. Tên Viện/Trường: ..……………...…….…………...……………………… 2. Thông tin dùng liên lạc:

- Địa chỉ: ………………………………………. - Số Fax: ……………………………………….. Số điện thoại: ...…………… Email: ……...……………...

3. Nội dung thông tin chuyên môn, nghiệp vụ của đơn vị: 3.1. Chức năng, nhiệm vụ được giao: 3.1.1. Chức năng đào tạo:

1 + Cao đẳng: Có (cid:0) Không (cid:0)

2 + Đại học: Có (cid:0) Không (cid:0)

3 + Thạc sỹ: Có (cid:0) Không (cid:0)

4 + Tiến sỹ: Có (cid:0) Không (cid:0)

3.1.2. Chức năng nghiên cứu Khoa học, Phát triển Công nghệ:

1 + NC cơ bản: Có (cid:0) Không (cid:0)

2 + NC ứng dụng: Có (cid:0) Không (cid:0)

3 + Phát triển CN: Có (cid:0) Không (cid:0)

4 + Tiến sỹ: Có (cid:0) Không (cid:0)

3.1.3. Chức năng sản xuất kinh doanh:

1 + Chức năng SXKD: Có (cid:0) Không (cid:0)

3.1.4. Chức năng CGCN:

1 + Chức năng CGCN: Có (cid:0) Không (cid:0)

3.2. Xin cho biết ý kiến của Quí cơ quan về sự cần thiết thiết liên kết giữa

Trường-Viện-Doanh nghiệp đối với Quí đơn vị theo các mô hình liên kết sau: N0 MÔ HÌNH LIÊN KẾT Ý KIẾN

1 Giữa Trường với Trường Có (cid:0) Không (cid:0)

2 Giữa Trường với Viện Có (cid:0) Không (cid:0)

3 Giữa Trường với Doanh nghiệp Có (cid:0) Không (cid:0)

136

N0 MÔ HÌNH LIÊN KẾT Ý KIẾN

4 Có (cid:0) Không (cid:0) Giữa Viện với Viện (cùng lĩnh vực chuyên môn)

5 Giữa Viện với Doanh nghiệp Có (cid:0) Không (cid:0)

6 Có (cid:0) Không (cid:0) Đồng thời liên kết tay ba Viện -Trường- Doanh nghiệp

4. Thông tin về thực trạng liên kết Viện-Trường của quí đơn vị

TT NỘI DUNG ĐIỀU TRA Ý KIẾN

1 Liên kết với viện/trường khác Có (cid:0) Không (cid:0)

2 Lĩnh vực liên kết

+ Đào tạo Có (cid:0) Không (cid:0)

+ Nghiên cứu khoa học Có (cid:0) Không (cid:0)

+ Chuyền giao công nghệ Có (cid:0) Không (cid:0)

3 Loại hình liên kết cụ thể về đào tạo

+ Đào tạo Đại học cho đối tác Có (cid:0) Không (cid:0)

+ Đào tạo Thạc sỹ (CK1) Có (cid:0) Không (cid:0)

+ Đào tạo Tiến sỹ (CK2) Có (cid:0) Không (cid:0)

+ Hướng dẫn thực tập/Tốt nghiệp Có (cid:0) Không (cid:0)

+ Tham gia Hội đồng KH&CN của đối tác Có (cid:0) Không (cid:0)

4 Liên kết nghiên cứu khoa học

+ Đề tài, dự án cấp Nhà nước Có (cid:0) Không (cid:0)

+ Đề tài, dự án cấp Bộ Có (cid:0) Không (cid:0)

+ Nghị định thư Có (cid:0) Không (cid:0)

+ Cùng liên kết với đơn vị thứ ba Có (cid:0) Không (cid:0)

5 Chuyển giao công nghệ hoặc kiến thức

+ Trong nước Có (cid:0) Không (cid:0)

+ Với nước ngoài (nhận hoặc cho) Có (cid:0) Không (cid:0)

Hà Nội, ngày…....tháng…....năm 20…... Thủ trưởng đơn vị (Ký, đóng dấu)

137

Mẫu 2. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA LIÊN KẾT (Dùng cho Cơ quan)

1. Tên Viện/Trường: ..……………...…….…………...……………………… 2. Thông tin dùng liên lạc:

- Địa chỉ: ………………………………………. - Số Fax: ……………………………………….. Số điện thoại: ...…………… Email: ……...……………...

3. Nội dung thông tin chuyên môn, nghiệp vụ của đơn vị: 3.1. Chức năng, nhiệm vụ được giao: 3.1.1. Chức năng đào tạo:

1 + Cao đẳng: Có (cid:0) Không (cid:0)

2 + Đại học: Có (cid:0) Không (cid:0)

3 + Thạc sỹ: Có (cid:0) Không (cid:0)

4 + Tiến sỹ: Có (cid:0) Không (cid:0)

3.1.2. Chức năng nghiên cứu Khoa học, Phát triển Công nghệ:

1 + NC cơ bản: Có (cid:0) Không (cid:0)

2 + NC ứng dụng: Có (cid:0) Không (cid:0)

3 + Phát triển CN: Có (cid:0) Không (cid:0)

4 + Tiến sỹ: Có (cid:0) Không (cid:0)

3.1.3. Chức năng sản xuất kinh doanh:

1 + Chức năng SXKD: Có (cid:0) Không (cid:0)

3.1.4. Chức năng CGCN:

1 + Chức năng CGCN: Có (cid:0) Không (cid:0)

3.2. Xin cho biết ý kiến của Quí cơ quan về sự cần thiết thiết liên kết giữa

MÔ HÌNH LIÊN KẾT Ý KIẾN

Trường-Viện-Doanh nghiệp đối với Quí đơn vị theo các mô hình liên kết sau: N0 1 Giữa Trường với Trường Có (cid:0) Không (cid:0)

2 Giữa Trường với Viện Có (cid:0) Không (cid:0)

3 Giữa Trường với Doanh nghiệp Có (cid:0) Không (cid:0)

4 Có (cid:0) Không (cid:0) Giữa Viện với Viện (cùng lĩnh vực chuyên môn)

5 Giữa Viện với Doanh nghiệp Có (cid:0) Không (cid:0)

138

MÔ HÌNH LIÊN KẾT Ý KIẾN N0

6 Có (cid:0) Không (cid:0) Đồng thời liên kết tay ba Viện - Trường-Doanh nghiệp

4. Nội dung ý kiến về những vấn đề chung của liên kết Viện-Trường

Ý KIẾN N0 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA LIÊN KẾT

1 Về sự cần thiết của Liên kết Viện- Cần (cid:0) Không cần (cid:0) Trường-DN

2 Những nội dung liên quan đến thực

Có (cid:0) Không (cid:0)

Cần (cid:0) Không cần (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) thi hoạt động liên kết + Tổ chức và cơ chế hoạt động của viện, trường thích hợp cho hoạt động liên kết + Cần/không cần có bộ phận phụ trách hoạt động liên kết. + Có thể giao cho Phòng/Bộ phận phụ trách đào tạo hoặc NCKH quản lý hoạt động liên kết + Cần xác định tỷ lệ giờ tham gia NCKH và đào tạo của cán bộ của cả viện và trường một cách hợp lý

3 Về mặt tài chính Có (cid:0) Không (cid:0)

Cần (cid:0) Không cần (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Quy định chi tiêu hiện có phù hợp hay không đối với liên kết ? + Cần bổ sung các khoản chi phù hợp với hoạt động liên kết? + Cần tăng mức chi trả trong hoạt động liên kết?

4 Về cơ chế, chính sách hoạt động liên kết

+ Cơ chế chính sách của Nhà nước Phù hợp (cid:0) Chưa phù hợp (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Cần ưu tiên lựa chọn đơn vị cá nhân chủ trì thực hiện đề tài, dự án có TMĐT- DA gắn với đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ và gắn với liên kết với đơn vị khác + Cần đưa thành tích hoạt động liên kết vào tiêu chuẩn thi đua ang năm của Viện, trường

139

N0 Ý KIẾN

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA LIÊN KẾT 5 Về Sở hữu trí tuệ (SHTT) Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

+ Trong liên kết, cần xử lý tốt vấn đề Sở hữu trí tuệ + Trong liên kết, hai bên đối tác cần trao đổi để đi đến thống nhất về vấn đề Sở hữu trí tuệ đối với các kết quả nghiên cứu, các ang chế công nghệ và những vấn đề khác liên quan đến quyền SHTT

6 Về tác dụng của liên kết đối với các

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) đơn vị + Khắc phục hiện tượng thiếu nhân lực bậc cao? + Khắc phục một phần vốn cho nghiên cứu và đào tạo? + Sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng, máy móc, thiết bị? + Tăng khả năng đổi mới, ang tạo cho đơn vị?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Giúp hoạt động liên kết quốc tế thuận lợi hơn?

7 Liên quan đền đề tài cấp Bộ và cấp

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Nhà nước + Số lượng đề tài ít và nhỏ cản trở hoạt động liên kết? + Vẫn còn hiện tượng thiếu công bằng trong xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự án? trình + Xây dựng các chương KH&CN trong phát triển KT-XH nhưng trực tiếp hỗ trợ và khuyến khích liên kết?

Hà Nội, ngày…....tháng…....năm 20…... Thủ trưởng đơn vị (Ký, đóng dấu)

140

Mẫu 3. KIẾN NGHỊ VỚI CÁC CẤP LÃNH ĐẠO (Dùng cho Cơ quan)

1. Tên Viện/Trường: ..……………...…….…………...……………………… 2. Thông tin dùng liên lạc:

- Địa chỉ: ………………………………………. - Số Fax: ……………………………………….. Số điện thoại: ...…………… Email: ……...……………...

3. Nội dung thông tin chuyên môn, nghiệp vụ của đơn vị: 3.1. Chức năng, nhiệm vụ được giao: 3.1.1. Chức năng đào tạo:

1 + Cao đẳng: Có (cid:0) Không (cid:0)

2 + Đại học: Có (cid:0) Không (cid:0)

3 + Thạc sỹ: Có (cid:0) Không (cid:0)

4 + Tiến sỹ: Có (cid:0) Không (cid:0)

3.1.2. Chức năng nghiên cứu Khoa học, Phát triển Công nghệ:

1 + NC cơ bản: Có (cid:0) Không (cid:0)

2 + NC ứng dụng: Có (cid:0) Không (cid:0)

3 + Phát triển CN: Có (cid:0) Không (cid:0)

4 + Tiến sỹ: Có (cid:0) Không (cid:0)

3.1.3. Chức năng sản xuất kinh doanh:

1 + Chức năng SXKD: Có (cid:0) Không (cid:0)

3.1.4. Chức năng CGCN:

1 + Chức năng CGCN: Có (cid:0) Không (cid:0)

3.2. Xin cho biết ý kiến của Quí cơ quan về sự cần thiết thiết liên kết giữa

Trường-Viện-Doanh nghiệp đối với Quí đơn vị theo các mô hình liên kết sau: N0 MÔ HÌNH LIÊN KẾT Ý KIẾN

1 Giữa Trường với Trường Có (cid:0) Không (cid:0)

2 Giữa Trường với Viện Có (cid:0) Không (cid:0)

3 Giữa Trường với Doanh nghiệp Có (cid:0) Không (cid:0)

4 Có (cid:0) Không (cid:0) Giữa Viện với Viện (cùng lĩnh vực chuyên môn)

5 Giữa Viện với Doanh nghiệp Có (cid:0) Không (cid:0)

141

N0 MÔ HÌNH LIÊN KẾT Ý KIẾN

6 Có (cid:0) Không (cid:0) Đồng thời liên kết tay ba Viện - Trường-Doanh nghiệp

4. Thông tin về kiến nghị đối với các cấp lãnh đạo

N0 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC CẤP Ý KIẾN

1 Đối với Nhà nước:

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) - Xem xét hoàn thiện cơ chế, chính sách xét duyệt và quản lý đề tài, dự án theo hướng khuyến khích liên kết.

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

- Xây dựng các chương trình phát triển KT-XH kèm theo kế hoạch tài chính phù hợp nhưng có khả năng thúc đẩy và hỗ trợ liên kết?

2 Đối với Bộ quốc phòng

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) - Xác định và chỉ đạo thực hiện liên kết là một phương thức tăng cường và sử dụng nguồn lực hiệu quả?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

- Chú trọng xây dựng các chương trình KH&CN phục vụ HĐH quân đội có định hướng thúc đẩy và hỗ trợ liên kết?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) - Cần xây dựng và ban hành quyết định và hướng dẫn thực hiện liên kết trong Quân đội?

3 Đối với các cơ quan hữu quan của Bộ Quốc phòng

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) - Giúp Bộ xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp xây dựng và duy tŕ bền vững hoạt động liên kết?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) - Chủ trì biện soạn các quy phạm pháp luật cụ thể liện quan đến liên kết trong Quân đội trình Bộ phê duyệt?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

- Theo dõi, kiểm tra đôn đốc và rút kinh nghiệm theo định kỹ để đề xuất việc hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đên liên kết?

142

N0 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC CẤP Ý KIẾN

4 Đối với Viện và Trường

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) - Nghiên cứu và vận dụng liên kết như một phương thức hoạt động quan trọng của đơn vị mình?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

- Nghiên cứu thành lập các bộ phận tham mưu cho Viện trưởng, Hiệu trưởng và quản lý hoạt động liên kết của viện, trường?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) - Xây dựng quy chế hoạt động và chi tiêu nội bộ có tính đến hoạt động liên kết?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

- Chủ động tìm hiểu các viện, trường khác trong và ngoài nước, nhanh chóng xác định đối tác liên kết của mình?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

- Nghiên cứu xác định điểm mạnh, điểm yếu của mình, xác định những vấn đề, nhiệm vụ cần liên kết với các đối tác cụ thể để chuẩn bị sẵn sàng cho liên kết và duy trì liên kết bền vững?

Hà Nội, ngày…....tháng…....năm 20…... Thủ trưởng đơn vị (Ký, đóng dấu)

143

Phụ lục 2 CÁC MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA VỀ LIÊN KẾT VIỆN-TRƯỜNG DÙNG CHO CHUYÊN GIA

Mẫu 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA LIÊN KẾT (Dùng cho Chuyên gia)

1. Họ và tên chuyên gia: …..……….………………………………………… 2. Học hàm: ……………………. Học vị:………….………………………… 3. Nghề nghiệp: ………………………………………….…………………… 3. Đơn vị công tác: ……………………………………………..…………….. 4. Thông tin dùng liên lạc:

- Địa chỉ: ………………………………………. - Số Fax: ……………………………………….. Số điện thoại: ...…………… Email: …………...………...

5. Xin đồng chí cho biết ý kiến về những vấn đề sau đây: 5.1. Về sự cần thiết thiết liên kết giữa Trường-Viện-Doanh nghiệp theo các

mô hình liên kết sau: N0 MÔ HÌNH LIÊN KẾT Ý KIẾN

1 Giữa Trường với Trường Có (cid:0) Không (cid:0)

2 Giữa Trường với Viện Có (cid:0) Không (cid:0)

3 Giữa Trường với Doanh nghiệp Có (cid:0) Không (cid:0)

4 Có (cid:0) Không (cid:0) Giữa Viện với Viện (cùng lĩnh vực chuyên môn)

5 Giữa Viện với Doanh nghiệp Có (cid:0) Không (cid:0)

6 Có (cid:0) Không (cid:0) Đồng thời liên kết tay ba Viện - Trường-Doanh nghiệp

5.2. Ý kiến về những vấn đề chung của Liên kết Viện-Trường

Ý KIẾN N0 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA LIÊN KẾT

1 Về sự cần thiết của Liên kết Viện- Cần (cid:0) Không cần (cid:0) Trường-Doanh nghiệp

2 Những nội dung liên quan đến thực thi hoạt động liên kết

Có (cid:0) Không (cid:0) + Tổ chức và cơ chế hoạt động của viện, trường thích hợp cho hoạt động liên kết

144

N0 Ý KIẾN NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA LIÊN KẾT

Cần (cid:0) Không cần (cid:0) + Cần/không cần có bộ phận phụ trách hoạt động liên kết.

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Có thể giao cho Phòng/Bộ phận phụ trách đào tạo hoặc NCKH quản lý hoạt động liên kết

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Cần xác định tỷ lệ giờ tham gia NCKH và đào tạo của cán bộ của cả viện và trường một cách hợp lý

3 Về mặt tài chính

Có (cid:0) Không (cid:0) + Quy định chi tiêu hiện có phù hợp hay không đối với liên kết ?

Cần (cid:0) Không cần (cid:0) + Cần bổ sung các khoản chi phù hợp với hoạt động liên kết?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Cần tăng mức chi trả trong hoạt động liên kết?

4 Về cơ chế, chính sách hoạt động liên kết

+ Cơ chế chính sách của Nhà nước Phù hợp (cid:0) Chưa phù hợp (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

+ Cần ưu tiên lựa chọn đơn vị cá nhân chủ trì thực hiện đề tài, dự án có TMĐT-DA gắn với đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ và gắn với liên kết với đơn vị khác.

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Cần đưa thành tích hoạt động liên kết vào tiêu chuẩn thi đua hàng năm của Viện, trường

5 Về Sở hữu trí tuệ (SHTT)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Trong liên kết, cần xử lý tốt vấn đề Sở hữu trí tuệ

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

+ Trong liên kết, hai bên đối tác cần trao đổi để đi đến thống nhất về vấn đề Sở hữu trí tuệ đối với các kết quả nghiên cứu, các ang chế công nghệ và những vấn đề khác liên quan đến quyền SHTT

145

N0 Ý KIẾN NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA LIÊN KẾT

6 Về tác dụng của liên kết đối với các đơn vị

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Khắc phục hiện tượng thiếu nhân lực bậc cao?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Khắc phục một phần vốn cho nghiên cứu và đào tạo?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng, máy móc, thiết bị?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Tăng khả năng đổi mới, ang tạo cho đơn vị?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Giúp hoạt động liên kết quốc tế thuận lợi hơn?

7 Liên quan đền đề tài cấp Bộ và cấp Nhà nước

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Số lượng đề tài ít và nhỏ cản trở hoạt động liên kết?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) + Vẫn còn hiện tượng thiếu công bằng trong xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì đề tài, dự án?

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

+ Xây dựng các chương trình KH&CN trong phát triển KT-XH nhưng trực tiếp hỗ trợ và khuyến khích liên kết?

Hà Nội, ngày ...... tháng ...... năm 20...... Người được điều tra (Ký và ghi rõ họ tên)

146

Mẫu 2. KIẾN NGHỊ VỚI CÁC CẤP LÃNH ĐẠO (Dùng cho Chuyên gia)

1. Họ và tên chuyên gia: …..……….………………………………………… 2. Học hàm: ……………………. Học vị:………….………………………… 3. Nghề nghiệp: ………………………………………….…………………… 3. Đơn vị công tác: ……………………………………………..…………….. 4. Thông tin dùng liên lạc:

- Địa chỉ: ………………………………………. - Số Fax: ………………………………………..

Số điện thoại: ...…………… Email: …………...………... 5. Xin cho biết ý kiến của đồng chí về những vấn đề sau đây của liên kết Viện- Trường.

5.1. Về sự cần thiết thiết liên kết giữa Trường-Viện-Doanh nghiệp theo các

MÔ HÌNH LIÊN KẾT Ý KIẾN

mô hình liên kết sau: N0 1 + Giữa Trường với Trường

2 + Giữa Trường với Viện

3 + Giữa Trường với Doanh nghiệp Có (cid:0) Có (cid:0) Có (cid:0) Không (cid:0) Không (cid:0) Không (cid:0)

+ Giữa Viện với Viện (cùng lĩnh vực 4 Có (cid:0) Không (cid:0) chuyên môn)

5 + Giữa Viện với Doanh nghiệp Có (cid:0) Không (cid:0)

+ Đồng thời liên kết tay ba Viện - 6 Có (cid:0) Không (cid:0) Trường-Doanh nghiệp

5.2. Ý kiến về những kiến nghị với các cấp lãnh đạo:

Ý KIẾN

N0 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC CẤP 1 Đối với Nhà nước: Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

- Xem xét hoàn thiện cơ chế, chính sách xét duyệt và quản lý đề tài, dự án theo hướng khuyến khích liên kết - Xây dựng các chương trình phát triển KT-XH kèm theo kế hoạch tài chính phù hợp nhưng có khả năng thúc đẩy và hỗ trợ liên kết?

2 Đối với Bộ quốc phòng Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) - Xác định và chỉ đạo thực hiện liên kết là một phương thức tăng cường và sử dụng nguồn lực hiệu quả?

147

Ý KIẾN

N0 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC CẤP Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0) - Chú trọng xây dựng các chương trình KH&CN phục vụ HĐH quân đội có định hướng thúc đẩy và hỗ trợ liên kết? - Cần xây dựng và ban hành quyết định và hướng dẫn thực hiện liên kết trong Quân đội?

3 Đối với các cơ quan hữu quan của

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Bộ Quốc phòng - Giúp Bộ xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp xây dựng và duy trì bền vững hoạt động liên kết? - Chủ trì biện soạn các quy phạm pháp luật cụ thể liện quan đến liên kết trong Quân đội trình Bộ phê duyệt? - Theo dõi, kiểm tra đôn đốc và rút kinh nghiệm theo định kỹ để đề xuất việc hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đên liên kết?

4 Đối với Viện và Trường Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

Đồng ý (cid:0) Không đồng ý (cid:0)

- Nghiên cứu và vận dụng liên kết như một phương thức hoạt động quan trọng của đơn vị mình? - Nghiên cứu thành lập các bộ phận tham mưu cho Viện trưởng, Hiệu trưởng và quản lý hoạt động liên kết của viện, trường? - Xây dựng quy chế hoạt động và chi tiêu nội bộ có tính đến hoạt động liên kết? - Chủ động tìm hiểu các viện, trường khác trong và ngoài nước, nhanh chóng xác định đối tác liên kết của mình? - Nghiên cứu xác định điểm mạnh, điểm yếu của mình, xác định những vấn đề, nhiệm vụ cần liên kết với các đối tác cụ thể để chuẩn bị sẵn sàng cho liên kết và duy trì liên kết bền vững?

Hà Nội, ngày ...... tháng ...... năm 20...... Người được điều tra (Ký và ghi rõ họ tên)