HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

BÙI ANH TUẤN

thÈm tra, x¸c minh trong c«ng t¸c kiÓm tra

cña ®¶ng giai ®o¹n hiÖn nay

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Chuyên ngành: Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 62 31 23 01

Ng ười hướng dẫn khoa học: 1. PGS, TS. NGÔ HUY TIẾP

2. TS. NGÔ KIM NGÂN

HÀ NỘI - 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên c ứu của

riêng tôi. Các s ố li ệu, kết qu ả nêu trong lu ận án là trung

thực, có ngu ồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo

quy định.

Tác giả

Bùi Anh Tuấn

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Trang 1 6

Chương 1: THẨM TRA, XÁC MINH TRONG CÔNG TÁC KI ỂM TRA CỦA ĐẢNG - NH ỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LU ẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Khái quát về công tác kiểm tra của Đảng 1.2. Thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng 31 31 39

73 Chương 2: THẨM TRA, XÁC MINH TRONG CÔNG TÁC KI ỂM TRA CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN HI ỆN NAY - TH ỰC TR ẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM

2.1. Th ực trạng hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm

tra của Đảng hiện nay 73

2.2. Nguyên nhân th ực tr ạng ho ạt động th ẩm tra, xác minh trong

công tác kiểm tra của Đảng hiện nay 89

2.3. Một số kinh nghi ệm và vấn đề đặt ra qua th ực trạng hoạt động

thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng 103

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ M ỘT SỐ GI ẢI PHÁP NH ẰM

112

THỰC HI ỆN TỐT HO ẠT ĐỘNG TH ẨM TRA, XÁC MINH TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

3.1. Dự báo một số tình hình có liên quan và phương hướng hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng trong thời gian tới 112

3.2. Một số gi ải pháp nh ằm th ực hi ện tốt ho ạt động th ẩm tra, xác

minh trong công tác kiểm tra của Đảng 118

119

KẾT LUẬN DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA H ỌC CỦA TÁC GI Ả LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

152 153 172

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt

quan tâm công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Đảng ta luôn khẳng

định: lãnh đạo mà không ki ểm tra thì coi nh ư không lãnh đạo; ki ểm tra là

chức năng lãnh đạo của Đảng, là một nội dung của phương thức lãnh đạo, là

bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng.

Trong quá trình ti ến hành công tác ki ểm tra c ủa Đảng, th ẩm tra, xác

minh là m ột khâu ho ạt động rất quan tr ọng. Th ực ti ễn cho th ấy, nếu ch ưa

thẩm tra, xác minh hoặc thẩm tra, xác minh chưa rõ ràng, chu đáo thì chưa thể

kết thúc kiểm tra và như thế cũng có nghĩa là chưa thể kết luận, xử lý đối với

nội dung và đối tượng ki ểm tra. Ch ất lượng và k ết qu ả của hoạt động th ẩm

tra, xác minh có ý ngh ĩa quyết định trực tiếp đến việc kết luận và quyết định

xử lý c ủa tổ ch ức đảng có th ẩm quyền đối với đối tượng ki ểm tra. Ph ương

châm “công minh, chính xác, k ịp thời” của việc thi hành k ỷ luật trong Đảng

được thực hiện tốt hay không, đạt được đến mức độ nào đều phụ thuộc vào

mức độ, hiệu quả của hoạt động thẩm tra, xác minh.

Nhiều năm qua, nh ất là t ừ khi đất nước bước vào công cu ộc đổi mới

toàn diện và sâu sắc trong nhiều lĩnh vực, công tác kiểm tra nói chung và hoạt

động thẩm tra, xác minh nói riêng c ủa các tổ chức đảng và ủy ban ki ểm tra

các cấp đã đạt được nhiều kết quả quan tr ọng, góp ph ần tích cực trong công

tác xây dựng Đảng. Khi tiến hành th ẩm tra xác minh trong công tác ki ểm tra

của Đảng, cán bộ kiểm tra các cấp đã bám sát và tuân th ủ thực hiện đúng các

nguyên tắc thẩm tra, xác minh, bám sát n ội dung kiểm tra; thực hiện dân chủ,

khách quan, công khai; th ực hiện đúng các nguyên tắc, quy định của Đảng và

phương pháp công tác ki ểm tra của Đảng. Do làm tốt thẩm tra, xác minh nên

nhiều cuộc kiểm tra kết luận chính xác, đối tượng được kiểm tra “tâm ph ục”,

2

“khẩu phục”, nhiều vụ việc được xử lý công minh, chính xác, k ịp thời, có tác

dụng góp ph ần nâng cao trách nhi ệm, chất lượng công tác xây d ựng Đảng ở

nơi được kiểm tra.

Tuy nhiên, bên c ạnh nh ững ưu điểm, nh ững kết qu ả đạt được, ho ạt

động th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra c ũng đã và đang bộc lộ

những khó khăn, hạn chế cần nhanh chóng được khắc phục. Một số cấp ủy, tổ

chức đảng, ủy ban kiểm tra và cán bộ trực tiếp tiến hành kiểm tra chưa thật sự

quan tâm, coi trọng vị trí, vai trò của hoạt động thẩm tra, xác minh. Một số vụ

việc tiến hành thẩm tra, xác minh không kỹ, không đầy đủ, chưa sâu, chưa tìm

được bằng chứng xác thực, làm ảnh hưởng đến tính chính xác, khách quan khi

kết luận nội dung ki ểm tra. Chất lượng chứng cứ sau một số cuộc thẩm tra,

xác minh không đầy đủ và xác đáng để làm cơ sở kết luận nội dung và đối

tượng kiểm tra. Ho ạt động th ẩm tra, xác minh - theo nguyên t ắc và ph ương

pháp công tác đảng - ph ải lấy vi ệc tự phê bình và phê bình làm bi ện pháp

chính; tuy nhiên, trong th ực tế, hiệu quả của việc thực hiện biện pháp chính

yếu này không ph ải là nh ư nhau và lúc nào c ũng có vai trò tích c ực, nhất là

trong bối cảnh nh ững tổ ch ức đảng mất đoàn kết nội bộ, ý th ức đảng ch ưa

cao. Đặc biệt, nhiều vụ việc, hành vi c ủa đối tượng kiểm tra không ch ỉ dừng

trong nội bộ Đảng, mà còn liên quan đến pháp luật, đến nhiều lĩnh vực khác,

kể cả nh ững mối quan h ệ xã h ội của đối tượng ki ểm tra… Điều đó đòi hỏi

hoạt động thẩm tra, xác minh muốn có hiệu quả cần phải có sự cộng tác, phối

hợp của nhi ều ho ạt động, nhi ều tổ ch ức và mang tính nghi ệp vụ cao. Bi ện

pháp tự phê bình và phê bình trong nội bộ tổ chức đảng để tiến hành thẩm tra,

xác minh cũng cần được hoàn thiện, phát triển phù hợp với tình hình thực tiễn

hiện nay trên cơ sở đặc điểm thực trạng của tổ chức cơ sở đảng có đối tượng

kiểm tra.

Những hạn chế trong hoạt động thẩm tra, xác minh dẫn đến quyết định

xử lý không chu ẩn xác như oan sai, bỏ lọt các hành vi và đối tượng vi phạm,

3

tiêu cực ho ặc không b ảo vệ được chân lý và các nhân t ố tích c ực… Nh ững

hạn ch ế trên xu ất phát t ừ nhi ều nguyên nhân nh ư: tính ph ức tạp của các vụ

việc, sự yếu kém về tính tự giác của đối tượng kiểm tra, th ực trạng nội bộ tổ

chức đảng thiếu tính chi ến đấu,... song nguyên nhân c ơ bản là về quan điểm

và phương pháp, nghi ệp vụ của đội ngũ cán bộ kiểm tra cũng như quy trình

tiến hành th ẩm tra, xác minh ch ưa có s ự đổi mới, nâng cao ch ất lượng cho

phù hợp với tình hình mới.

Để tiếp tục phát huy kết quả cũng như góp phần khắc phục những mặt

hạn ch ế, yếu kém trong công tác ki ểm tra nói chung và ho ạt động thẩm tra,

xác minh nói riêng thời gian qua nhằm đáp ứng những yêu cầu của công cuộc

đổi mới và công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới, việc nghiên cứu đề tài

“Thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng giai đoạn hiện nay”

là rất cấp thiết.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở luận giải làm rõ nh ững vấn đề lý lu ận và th ực tiễn, đề xuất

một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hoạt động thẩm tra, xác minh trong công

tác kiểm tra của Đảng giai đoạn hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ nh ững vấn đề cơ bản về lý lu ận và th ực ti ễn của hoạt động

thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng.

- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân, khái quát m ột số kinh

nghiệm tiến hành th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng giai

đoạn hiện nay.

- Phân tích nh ững nhân tố tác động, đề xuất phương hướng và một số

giải pháp nh ằm th ực hi ện tốt ho ạt động th ẩm tra, xác minh trong công tác

kiểm tra của Đảng giai đoạn hiện nay.

4

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm

tra của Đảng.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về lĩnh vực nghiên cứu, luận án đi sâu nghiên c ứu thẩm tra, xác minh

trong công tác ki ểm tra của Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương trên tất cả các đối

tượng, nhiệm vụ kiểm tra.

Phạm vi nghiên c ứu của lu ận án v ề th ời gian t ừ năm 2001 đến nay;

phương hướng giải pháp của luận án có giá trị định hướng đến năm 2020.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1. Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về công tác ki ểm tra, về hoạt

động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng; nghiên cứu một số

Luật, văn bản dưới Luật liên quan đến hoạt động thẩm tra, xác minh trong công

tác kiểm tra của Đảng, như: Luật Tố cáo; Lu ật Khiếu nại; Luật Phòng, ch ống

tham nhũng; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính… Luận án còn kế thừa kết quả

nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đã được công bố.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp lu ận của chủ nghĩa

Mác - Lênin, s ử dụng tổng hợp các ph ương pháp nghiên c ứu của khoa h ọc

chuyên ngành và liên ngành, trong đó chú tr ọng việc tổng kết thực tiễn, điều

tra, khảo sát, phương pháp chuyên gia, hệ thống, kết hợp chặt chẽ lôgíc - lịch

sử, phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh.

5. Đóng góp khoa học của luận án

- Luận giải, làm rõ hơn, sâu sắc hơn những vấn đề lý lu ận về công tác

kiểm tra của Đảng, trong đó tập trung vào hoạt động thẩm tra, xác minh trong

công tác kiểm tra của Đảng.

5

- Trên c ơ sở đánh giá th ực tr ạng ho ạt động th ẩm tra, xác minh trong

công tác kiểm tra của Đảng, khái quát một số kinh nghiệm tiến hành thẩm tra,

xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng.

- Đề xuất một số nội dung, biện pháp có tính khả thi nhằm thực hiện tốt hoạt

động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng giai đoạn hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án là tài li ệu tham khảo có giá tr ị đối với

ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra

của Đảng; trong bồi dưỡng, huấn luyện nghi ệp vụ cho cán b ộ làm công tác

kiểm tra của Đảng. Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng

làm tài li ệu tham kh ảo trong nghiên c ứu, giảng dạy, học tập môn xây d ựng

Đảng và chính quyền Nhà nước trong các học viện, nhà trường trong cả nước.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận các danh muc công trình c ủa tác gi ả liên

quan đến đề tài, danh m ục tài li ệu tham kh ảo và ph ụ lục, nội chính của luận

án gồm 3 chương, 7 tiết.

6

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Ở NƯỚC NGOÀI VÀ CÁC NGHIÊN CỨU VỀ KINH NGHIỆM CỦA NƯỚC NGOÀI

1.1.1. Các công trình nghiên cứu có tác giả là người nước ngoài

Lý Quang Di ệu trong " Bí quy ết hóa r ồng - L ịch sử Singapore 1965-

2000" [59], trong bài vi ết chủ đề “Xây dựng một Chính ph ủ trong sạch”, tác

giả - Th ủ tướng đầu tiên (t ừ năm 1959-1990) và là ng ười có vai trò to l ớn

trong vi ệc thay đổi và phát tri ển đất nước Singapore tr ở thành m ột trong

những “con r ồng Châu Á” - đã kh ẳng định và nêu b ật quyết tâm c ủa Đảng

Hành động Nhân dân (tên vi ết tắt ti ếng Anh là PAP) khi lên n ắm chính

quyền vào n ăm 1959, là đã xác định và b ắt tay xây d ựng một chính quy ền

trong sạch. Một trong nh ững “công c ụ được mài nh ọn” để có th ể ng ăn

chặn, phát hi ện và cản trở những thủ đoạn tham nh ũng là cơ quan trọng yếu

thực hi ện nhi ệm vụ này: Ban Điều tra hành vi tham nh ũng (tên vi ết tắt

tiếng Anh là CPIB), có quy ền hạn được điều tra b ất kỳ viên ch ức hay vị Bộ

trưởng nào. Nhân viên c ủa Ban c ũng được ủng hộ để thực thi lu ật, không e

dè hay thiên vị.

Đến năm 1960, chính quy ền của Đảng PAP th ực hi ện vi ệc nới rộng

quyền lực của các điều tra viên, k ể cả quyền bắt giữ, khám xét, thanh tra tài

khoản, sổ ghi tiền gửi ngân hàng của những kẻ bị tình nghi cũng như của vợ,

con và thuộc hạ của họ. Một sự thay đổi nữa là cho phép nh ững người xét xử

xem những ch ứng cứ cho th ấy người bị tố cáo đang sống ở mức sống vượt

quá khả năng kinh tế của họ hoặc có những tài sản mà thu nhập của họ không

thể gi ải thích, là b ằng ch ứng xác th ực ch ứng minh r ằng ng ười bị tố cáo đã

nhận hối lộ.

7

Tác gi ả Lý Quang Di ệu rút ra nh ận định ở cu ối bài vi ết: “H ệ th ống

được lập ra điều tra và báo cáo trung th ực sẽ chứng minh hệ thống ấy công

minh và hiệu quả, không ai ở ngoài lưới pháp luật cả” [59, tr.175].

Hồng Vĩ trong " Các bi ện pháp ch ống tham nh ũng ở Trung Qu ốc"

[197] đã nghiên cứu và trình bày r ất sâu sắc về nạn tham nhũng, về cuộc đấu

tranh chống tham nhũng ở Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Trung Quốc và vai trò lĩnh ấn tiên phong của Uỷ ban Kiểm tra Kỷ luật Trung

ương trong cuộc đấu tranh khắc nghiệt này.

Sau khi phân tích nh ững khó kh ăn trong vi ệc ch ống tham nh ũng, tác

giả cho rằng, các cơ quan ch ức năng phải không ng ừng tăng cường công tác

điều tra xử lý các vụ án lớn, nghiêm trọng để trừng phạt nghiêm khắc và gây

sức ép mạnh mẽ, quy ết không cho phép nh ững ph ần tử tham nh ũng ẩn náu

trong Đảng. Theo tác gi ả, Đảng Cộng sản Trung Qu ốc, Uỷ ban Ki ểm tra Kỷ

luật Trung ương ưu tiên, đặt trọng tâm là ph ải điều tra tỷ mỉ và xử lý nghiêm

các vụ án cán b ộ lãnh đạo lợi dụng chức quyền mưu lợi cá nhân, coi th ường

chức trách, cương vị công tác, gây th ất thoát nghiêm tr ọng tài sản nhà nước;

điều tra thận trọng và xử lý các vụ án cán bộ cấp cơ sở nông thôn vi ph ạm kỷ

cương, lu ật pháp... Để làm được vi ệc này, bên c ạnh vi ệc th ực hi ện một số

biện pháp, ph ải tăng cường sự phối hợp giữa các ngành ki ểm tra kỷ luật, tòa

án, kiểm sát, giám sát, thẩm duyệt trong quá trình điều tra, xử lý các vụ án.

Tại Đại hội Đại bi ểu toàn qu ốc lần th ứ XVIII c ủa Đảng Cộng sản

Trung Qu ốc (tháng 11-2012), Ủy ban Ki ểm tra K ỷ lu ật Trung ương Đảng

Cộng sản Trung Qu ốc đã trình bày Báo cáo v ề tình hình công tác 5 n ăm

(2007-2012) và ki ến nghị công tác th ời gian tới [188], báo cáo đã được Đại

hội thẩm tra và thông qua. Trong Báo cáo có một số nội dung về công tác điều

tra trong Đảng như:

Kiên quyết điều tra xử lý nh ững vụ án vi ph ạm pháp lu ật, bảo vệ tính

nghiêm túc của kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đặt việc điều tra xử lý

8

các vụ án lên v ị trí quan tr ọng, điều tra x ử lý tr ọng điểm những vụ án l ạm

dụng chức quyền, tham ô hối lộ, tha hóa biến chất, không làm tròn chức trách

của cơ quan lãnh đạo và cán b ộ lãnh đạo, những vụ án mà nh ững người liên

quan tuy cấp bậc không cao nh ưng số tiền lớn, ảnh hưởng nghiêm tr ọng, và

những vụ án tham nh ũng nảy sinh bên c ạnh quần chúng… Tăng cường công

tác thẩm tra, xét x ử khiếu nại, điều tra lại và qu ản lý giám sát v ụ án, bảo vệ

quyền lợi hợp pháp của cán bộ, đảng viên. Cơ chế tổ chức phối hợp điều tra

vụ án ngày càng kiện toàn hơn. Các chức năng trị tận gốc, trong đó có điều tra

xử lý vụ án ngày càng được phát huy.

Báo cáo cũng nhận định: Hành vi tham nh ũng ngày càng ph ức tạp, kín

đáo, độ khó của việc phát hiện và điều tra ngày càng tăng …

Báo cáo đã nêu lên b ảy kinh nghi ệm cơ bản trong công tác xây d ựng

tác phong Đảng liêm chính và ch ống tham nh ũng, trong đó có kinh nghi ệm

(thứ năm): Kiên quyết điều tra xử lý những vụ án vi ph ạm kỷ luật, pháp luật,

đặc biệt là phải làm tốt việc điều tra xử lý các vụ án lớn, quan trọng…

Qua Báo cáo, U ỷ ban Ki ểm tra Kỷ luật Trung ương đã đề xuất 8 ki ến

nghị với với Đại hội XVIII, trong đó: Kiến nghị thứ nhất: Ủy ban kiểm tra kỷ

luật các cấp phải nghiêm khắc điều tra xử lý hành vi vi phạm kỷ luật chính trị,

kiên quyết bảo vệ sự tập trung thống nhất của Đảng; kiến nghị thứ tư tập trung

nhấn mạnh: Đẩy mạnh công tác điều tra, xử lý nh ững vụ án vi ph ạm kỷ luật,

pháp luật, bảo đảm xu th ế trừng trị tham nh ũng mạnh mẽ; kiến nghị thứ năm

nêu: Tăng cường kiểm tra, giám sát tình hình th ực hiện, nghiêm túc điều tra

hành vi vi ph ạm và nâng cao n ăng lực thực hiện chế độ liêm khi ết; kiến nghị

thứ sáu : Phát huy h ơn nữa vai trò giám sát c ủa ch ế độ tu ần th ị, tăng cường

năng lực phát hi ện vấn đề. Kiên trì làm t ốt việc thẩm tra trách nhi ệm kinh tế

của cán bộ lãnh đạo chủ ch ốt và nhân viên lãnh đạo công ty nhà n ước, tăng

cường thẩm tra đối với vốn chuyên đề trọng điểm và công trình đầu tư lớn; kiến

nghị thứ tám nhấn mạnh về công tác xây d ựng đội ngũ cán bộ kiểm tra cả về

9

bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, trong đó: Cán bộ kiểm

tra, giám sát cần phải nắm vững mấu chốt là xây d ựng, tăng cường năng lực

điều tra, phương pháp và trình độ thực hiện chức trách một cách khoa học…

Tác gi ả Phuth ắc Phítthanuson trong “Công tác ki ểm tra c ủa Đảng

Nhân dân Cách mạng Lào trong giai đoạn hiện nay” [137], tại chương 2, khi

đánh giá ưu điểm trong công tác ki ểm tra c ủa Đảng Nhân dân Cách m ạng

Lào, tác giả viết: …Khi kiểm tra và xử lý kỷ luật đã làm tốt công tác thẩm tra,

xác minh… Tuy nhiên, ở phần đánh giá nhược điểm, tác giả cũng thẳng thắn

thừa nhận: …Uỷ ban ki ểm tra ch ưa đủ mạnh, chưa có ph ương pháp, ph ương

thức tiếp cận. Cho nên, trong th ời gian qua, ch ỉ khi có vi ph ạm nghiêm trọng

đến mức phạm pháp thì mới tiến hành kiểm tra, thẩm tra, xác minh và ph ải tổ

chức thành đoàn kiểm tra theo chỉ thị, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương

Đảng mới tiến hành ki ểm tra được, nhất là cán b ộ là ủy viên ban ch ấp hành

tỉnh ủy, huyện ủy…

Trong chương 3, ở giải pháp thứ hai (Kiện toàn bộ máy ủy ban kiểm tra

và đào tạo, bồi dưỡng đội ng ũ cán b ộ ki ểm tra), tác gi ả nêu: Ng ười cán b ộ

kiểm tra là người có khả năng triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ lập kế hoạch,

thẩm tra, xác minh, viết báo cáo, văn bản, theo dõi thực hiện quyết định và lập

hồ sơ lưu trữ;… Ở giải pháp thứ tư, tác giả đề xuất: phải phát huy trách nhiệm

xây dựng Đảng của quần chúng nhân dân, tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở,

tạo điều kiện để quần chúng tham gia ý ki ến, phản ảnh về đối tượng kiểm tra;

tuy nhiên, những ý kiến đó phải được chọn lọc, kiểm tra, xác minh.

Tác giả Chănsyseng Sômphu trong “Chất lượng công tác ki ểm tra của

ủy ban ki ểm tra Đảng và Nhà n ước cấp tỉnh ở các tỉnh phía Bắc nước Cộng

hoà Dân ch ủ Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay” [143], tác giả luận án

đã đề xuất giải pháp “N ắm vững và th ực hiện tốt phương pháp, nguyên t ắc,

hình thức kiểm tra, thực hiện dân chủ hóa, công khai hóa công tác ki ểm tra”,

trong đó phải làm tốt công tác th ẩm tra, xác minh. Yêu c ầu đặt ra khi đánh

10

giá, kết lu ận nh ững ưu điểm và khuy ết điểm của cán b ộ, đảng viên ho ặc tổ

chức đảng được kiểm tra ph ải đúng với bản chất của sự việc, sự kiện, do đó

trong quá trình ki ểm tra nh ất thiết phải có khâu th ẩm tra, xác minh. Tác gi ả

cũng đặt ra yêu cầu là cần xác định đúng về đối tượng thẩm tra, xác minh và

phân bi ệt gi ữa đối tượng ki ểm tra v ới đối tượng th ẩm tra, xác minh; ch ọn

đúng nội dung, đồng th ời ph ải có ph ương pháp th ẩm tra, xác minh h ết sức

khoa học, tinh vi m ới đảm bảo hiệu quả, đáp ứng yêu cầu công tác ki ểm tra

Đảng và Nhà nước giai đoạn mới hiện nay.

1.1.2. Các công trình có tác gi ả là ng ười Vi ệt Nam nghiên c ứu về

kinh nghiệm của nước ngoài

Sách "Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của một số nước trên thế

giới" của Ban Nội chính Trung ương [33], đã nêu và phân tích kinh nghi ệm

của một số nước trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, trong đó có

những kinh nghiệm về biện pháp kiểm tra, điều tra của Đảng cầm quyền, như:

Lào th ực hi ện nh ất th ể các ch ức danh lãnh đạo Đảng và Nhà n ước;

kiểm tra Đảng và thanh tra Chính ph ủ sáp nh ập thành Ban Ki ểm tra Đảng

Nhân dân Cách m ạng Lào. Do đó, việc phối, kết hợp giữa kiểm tra đảng và

thanh tra nhà n ước phát huy và khai thác được kh ả năng cán b ộ, hỗ tr ợ, bổ

sung cho nhau v ề kết qu ả th ẩm tra, xác minh trong quá trình th ực hi ện các

cuộc kiểm tra và thanh tra để kịp thời và đồng bộ trong xử lý.

Các đảng cầm quyền ở Australia luôn đề cao cơ chế bảo đảm sự liêm

chính trong t ổ ch ức và ho ạt động của các c ơ quan công quy ền; áp d ụng kỹ

thuật điều tra đặc biệt, các phiên điều trần theo quy định của luật pháp. Bên

cạnh đó, coi trọng công luận và dư luận quần chúng trong vi ệc giám sát hành

vi của công ch ức, khuyến khích và phát huy vai trò báo chí có tính độc lập

tương đối trong điều tra, phòng, chống tham nhũng và công chức có sai phạm.

Đảng Hành động Nhân dân Singapore (là Đảng duy nhất nắm quyền ở

Singapore suốt từ thời lập quốc đến nay) xác định xem xét cả các đơn thư tố

11

giác không ghi tên người gửi, thậm chí xem xét cả các cuộc điện thoại gọi tới.

Khi xem xét, phải quyết định có tiến hành điều tra hay không, nếu có thì phải

điều tra ngay (không được để quá 4 ngày). Vì h ọ cho rằng, thư nặc danh là

một nguồn thông tin, còn kết luận công chức có sai phạm, có tham nhũng hay

không thuộc nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền.

Bên cạnh đó, nhi ều nước cho phép c ơ quan ch ức năng được sử dụng

một số bi ện pháp đặc bi ệt nh ư nghe điện tho ại bí m ật, xây d ựng cơ sở bí

mật... để phát hiện công chức sai phạm, tham nhũng.

Trong "Báo cáo khảo sát, nghiên cứu về công tác kiểm tra, kỷ luật của

Đảng và công tác đấu tranh phòng, ch ống tham nh ũng tại Trung Qu ốc" của

các đoàn công tác c ủa Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương, Ban Đối ngo ại Trung

ương, Văn phòng Ban Ch ỉ đạo Trung ương về phòng, ch ống tham nh ũng -

Ban Nội chính Trung ương, Thanh tra Chính phủ (giai đoạn 2008-2014) [182]

đã tổng hợp rất sâu sắc nhiều nội dung như:

Uỷ ban kiểm tra kỷ luật Đảng Cộng sản Trung Quốc có các quyền hạn:

Quyền giám sát, quyền kiểm tra, quyền điều tra, quyền kiến nghị và quyền xử

lý kỷ luật. Nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra, kỷ luật trong công tác kiểm tra vụ việc

có nội dung: điều tra rõ sự việc; thu thập chứng cứ xác đáng, đầy đủ; người vi

phạm bị kỷ luật và trừng trị thích đáng; người không vi phạm không bị truy cứu.

Yêu cầu đặt ra là sự thật rõ ràng; chứng cứ xác đáng, chuẩn xác (rất quan trọng);

xử lý đúng mức; thủ tục hoàn chỉnh và trình tự phải hợp pháp.

Uỷ ban ki ểm tra k ỷ lu ật Đảng Cộng sản Trung Qu ốc rất chú tr ọng

những kỹ năng cơ bản của công tác kiểm tra, cụ thể là 4 kỹ năng: Kỹ năng kết

hợp gi ữa ti ến hành th ẩm tra, xác minh tr ực ti ếp, công khai v ới gián ti ếp, bí

mật; Kỹ năng kết hợp công tác t ư tưởng để phát huy tính t ự giác c ủa đối

tượng ki ểm tra v ới th ẩm tra, xác minh, tìm b ằng ch ứng; Kỹ năng nắm tình

hình tại chỗ (qua việc thành lập các tổ thị sát) và Kỹ năng xem xét nguồn gốc

phát sinh sai phạm ("trị tận gốc, trị lý tổng hợp, coi trọng phòng ngừa").

12

Trình tự và ph ương pháp khi x ử lý một vụ án của uỷ ban ki ểm tra kỷ

luật Đảng Cộng sản Trung Quốc được tiến hành theo các bước như sau:

Thứ nhất, thụ lý vụ án

Sau khi xem xét sơ bộ tài liệu và tiến hành xử lý, nếu tài liệu cán bộ bị

xử lý thu ộc thẩm quyền của ủy ban ki ểm tra kỷ luật thì xác định có th ể điều

tra xử lý trực tiếp, làm rõ vấn đề có lập án không; những tài liệu ủy ban kiểm

tra kỷ luật đang làm rõ bước đầu, lập án ph ải chuyển các đội điều tra chuyên

môn. Tài liệu phát hiện chưa rõ dấu hiệu vi phạm chuyển ủy ban kiểm tra kỷ

luật cấp dưới làm rõ hơn; tài liệu không cụ thể, không có khả năng điều tra thì

lưu trữ lại.

Thứ hai, xác minh, làm rõ bước đầu

Về trình t ự trong xác minh: Ủy ban ki ểm tra k ỷ luật, cơ quan thanh

tra quy ết định lập tổ làm rõ b ước đầu, làm rõ b ước đầu tài li ệu tố cáo, đơn

khiếu nại trước khi lập án (v ấn đề trong đơn thư có th ật hay không, có c ần

xử lý k ỷ lu ật đối với đối tượng được ph ản ánh trong đơn th ư không; cung

cấp được chứng cứ cho vi ệc lập án hay không). Giai đoạn này ph ải điều tra

lấy ch ứng cứ cho ch ặt ch ẽ, ph ải gi ữ gìn bí m ật với bên ngoài và trong n ội

bộ. Nếu đủ chứng cứ thì lập án, n ếu chưa đủ thì ch ưa lập án. Trong tài li ệu

phản ánh cán b ộ có nhi ều vấn đề, ti ến hành làm rõ v ấn đề chính, n ếu thu

thập một ch ứng cứ khi trao đổi tr ực ti ếp với đối tượng, họ không khai thì

tìm gi ải pháp khác; nh ững vấn đề chính tìm ra càng nhi ều ch ứng cứ càng

tốt. Quá trình làm rõ b ước đầu, chú ý nhân v ật đặc biệt, vi ệc đặc biệt, th ời

điểm đặc bi ệt. Kiên trì nguyên t ắc th ực sự cầu th ị, kh ẳng định rõ có ho ặc

không. Vì đối tượng điều tra là cán b ộ đảm nhi ệm ch ức vụ nh ất định, để

tránh hi ệu ứng tiêu c ực không c ần thi ết, chú tr ọng xử lý khéo léo. Có gi ải

pháp điều tra h ợp lý, điều tra c ấp trên ti ến hành t ừ cấp dưới, bên trong t ừ

bên ngoài, điều tra đối tượng A t ừ đối tượng B, qua đó nắm bắt được nhiều

chứng cứ.

13

Về xử lý kết quả xác minh: Khi kết thúc làm rõ bước đầu, đánh giá kết

quả làm rõ, đưa ra ki ến nghị xử lý. Nếu phát hi ện có hành vi vi ph ạm, phải

truy cứu thì lập án để điều tra sâu hơn.

Thứ ba, lập án để điều tra

Chỉ ủy ban ki ểm tra, k ỷ lu ật theo th ẩm quy ền quy định của Điều lệ

Đảng phát hi ện tổ chức đảng, đảng viên có vi ph ạm phải truy cứu thì quy ết

định lập án để điều tra.

Thứ tư, điều tra sau khi lập án

Thông qua điều tra làm rõ v ấn đề trái kỷ luật đối với những vấn đề đã

được lập án. Hi ệu quả của vụ án ph ụ thuộc vào giai đoạn điều tra. Th ời hạn

điều tra là 3 tháng, n ếu vụ án ph ức tạp có th ể kéo dài thêm 1 tháng, gia h ạn

thêm không quá 3 tháng (không vượt thời hạn điều tra trong 6 tháng).

Trình tự điều tra theo 3 bước sau:

Một là, bước chuẩn bị:

Thành lập tổ điều tra vụ án: trong khi lập tổ điều tra vụ án phải bổ sung

thêm cán bộ tham gia để điều tra các mặt vi ph ạm của cán bộ. Trong tổ điều

tra án chuyên môn có 3 ti ểu tổ: tiểu tổ trao đổi trực tiếp với đối tượng chính;

tiểu tổ điều tra những vấn đề phản ánh và ti ểu tổ tổng hợp. Tiến hành nghiên

cứu về những tình ti ết, thiết kế, xây dựng, xem xét ph ương án điều tra, trong

đó chú ý quy ết định bước đi, công tác tr ọng điểm. Khi ph ương án điều tra

được phê duyệt thì chuyển sang bước thực thi.

Hai là, bước thực thi:

Công bố quyết định lập án: Sau khi có quy ết định lập án ph ải công bố

quyết định này trước đối tượng bị kiểm tra. Tổ điều tra ph ải tỏ rõ thái độ lập

án, nêu yêu c ầu đối với đối tượng kiểm tra về: tích cực phối hợp làm rõ v ấn

đề của mình; đối xử đúng đắn, không có hành vi câu k ết với ng ười khác,

không có thái độ phản ứng, thiếu hợp tác ho ặc tiêu hủy chứng cứ; không tr ả

thù người tố cáo (tổ điều tra phải coi trọng việc bảo vệ người tố cáo trong quá

trình điều tra, không để lộ cho người bị điều tra biết).

14

Thu thập, điều tra ch ứng cứ một cách toàn di ện: thu th ập nhân ch ứng,

vật chứng, tài li ệu tố cáo; xem xét, phân tích hi ện trường thông qua k ỹ thuật

hiện đại. Yêu cầu đối với việc điều tra ph ải toàn di ện, khách quan, ph ải thực

sự cầu thị, không được chủ quan; không chỉ thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ

hành vi trái kỷ luật, pháp luật của đối tượng bị điều tra, mà phải thu thập, tổng

hợp cả tài liệu chứng minh hành vi không trái kỷ luật, pháp luật của đối tượng

bị điều tra. Vi ệc điều tra lấy chứng cứ, lực lượng chủ chốt là cán b ộ trong tổ

điều tra chuyên môn, đồng th ời chú tr ọng huy động nhân dân tham gia vào

việc điều tra. Khi xảy ra vụ việc sẽ để lại chứng cứ, sẽ có người biết việc, nên

yêu cầu công tác điều tra ph ải đi sâu h ơn, kỹ lưỡng hơn. Vì vậy, trong quá

trình điều tra thu thập chứng cứ, cần yêu cầu cơ quan hữu quan giúp đỡ, phối

hợp (cơ quan thu ế vụ điều tra nộp thu ế của đối tượng; trung tâm ch ống rửa

tiền điều tra ti ền vốn của đối tượng…). Thông qua s ự cố gắng chung, ph ối

hợp cơ quan hữu quan làm rõ sự thật, chứng cứ của vụ án.

Ba là, bước cuối cùng (bước kết thúc):

Phân tích v ụ án, tìm ra s ự th ật hành vi sai trái, cho ng ười bị điều tra

xem xét lại nội dung hành vi vi phạm; đưa ra ý kiến thẩm định và đề xuất việc

xem xét, x ử lý. Hoàn ch ỉnh báo cáo x ử lý, đồng th ời hoàn ch ỉnh giai đoạn

điều tra, chuyển cơ quan hữu quan. Giai đoạn điều tra xử lý vụ án có nhiều cơ

quan hữu quan, nh ư: cơ quan ti ếp dân ti ếp nh ận khi ếu nại, tố cáo của qu ần

chúng; cơ quan phụ trách vụ án; đơn vị làm rõ sơ bộ, lập án điều tra. Khi kết

thúc điều tra lập án, chuyển hồ sơ, tài liệu điều tra sang văn phòng xét x ử vụ

án; văn phòng xét xử vụ án căn cứ tình tiết vi phạm, đưa ra kiến nghị xử lý.

Các biện pháp điều tra được sử dụng, bao gồm:

Một là , các bi ện pháp điều tra chung: Song quy (yêu c ầu đảng viên

trong vụ án trình bày rõ v ấn đề trong th ời gian quy định, địa điểm quy định;

đồng th ời, yêu c ầu cơ quan, t ổ ch ức hữu quan, cá nhân cung c ấp ch ứng cứ

đúng sự thật, tài liệu liên quan đến vụ án, không được từ chối, quấy nhiễu vụ

15

án); ghi âm, ch ụp ảnh, quay phim về những nhân viên, vụ việc liên quan đến

vụ án khi c ần thi ết (hình th ức này làm ch ặt ch ẽ ch ứng cứ thu th ập được và

giám sát ch ặt ch ẽ cán b ộ xử lý v ụ án); th ẩm tra tài li ệu và sao tài li ệu liên

quan (khi cần thiết có th ể ti ến hành niêm phong tài li ệu); điều tra tài kho ản

đơn vị và nhân viên liên quan (có th ể mời tòa án phong t ỏa tài khoản của cán

bộ bị điều tra tại ngân hàng); mời cơ quan hữu quan thực hiện việc giám định

kỹ thuật những vấn đề về chuyên môn nghiệp vụ.

Hai là, biện pháp điều tra đột phá vụ án quan trọng, vụ án lớn:

Công tác chính trong xử lý vụ án phải tập trung đối thoại với đối tượng

bị điều tra, tranh thủ đột phá vào trung tâm. Thực tiễn phải dựa vào "4 dùng":

dùng sức đe dọa của kỷ luật đảng; dùng thuy ết minh chính sách; dùng quan

điểm tính nhân văn; dùng chính tr ị của mình. Phải nắm bắt trạng thái tâm lý,

hiểu mong mu ốn, nỗi sợ, suy ngh ĩ của đối tượng điều tra. Tr ường hợp đối

tượng bị điều tra cố tình không khai báo, tổ điều tra phải tự tiến hành việc thu

thập chứng cứ và đề phòng họ có nhi ều hình th ức biện bạch về vi ph ạm của

mình. Đối tượng - kể cả là cán bộ lãnh đạo - càng cố giấu hành vi vi phạm của

mình, mặc dù họ chưa khai báo, qua ch ứng cứ chặt chẽ thu được vẫn làm rõ

được sự thật. Yêu cầu quá trình x ử lý vụ án ph ải trọng chứng cứ, không ch ỉ

dựa vào lời khai, đây là hai mặt của vụ án. Xử lý quá trình trung tâm rút ng ắn

thời gian xử lý vụ án và giảm chi phí là rất quan trọng.

Đột phá không lời khai cung phải đầu tư nhiều sức người, tiền của, tốn

kém thời gian. Nếu để thời gian kéo dài gây hi ệu ứng tiêu cực cho quá trình

xử lý v ụ án. Vì v ậy, khi c ần thi ết ph ải dựa vào trinh sát điều tra thu th ập

chứng cứ để đột phá nhanh vào trung tâm.

Khi kết thúc điều tra, cho đối tượng bị điều tra xem tài li ệu thu th ập

được và cho các đối tượng này gặp nhau để họ thực sự tâm phục, khẩu phục.

Nếu các đối tượng điều tra có ý ki ến bất đồng đúng đắn thì chấp nhận, không

đúng đắn thì gi ải thích lại, đồng thời tiếp tục nghiên cứu, xác định tính ch ất

16

trái kỷ lu ật của họ, đưa ra ki ến ngh ị kết qu ả xử lý thích h ợp. Sau đó, hoàn

thành báo cáo, chuyển cơ quan có chức năng xử lý.

Như vậy, có th ể thấy trong trình t ự và ph ương pháp ki ểm tra xử lý vụ

án (vụ việc), ủy ban kiểm tra kỷ luật Đảng Cộng sản Trung Quốc rất quan tâm

và tôn trọng các bước thẩm tra, xác minh từ khâu ban đầu đến khi kết thúc vụ

việc. Trong thông tin ban đầu là cơ sở để lập hồ sơ điều tra vụ án, vì vậy đây

được coi là khâu quan tr ọng có tính quy ết định tới các bước tiếp theo. Trong

khi điều tra vụ án ph ải tuân theo nguyên t ắc và trình t ự điều tra vụ án (trình

tự, thủ tục thẩm tra, xác minh) để làm rõ vụ việc.

1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC

1.2.1. Các đề tài khoa học

Tác giả Nguyễn Anh Liên trong “Cơ sở lý lu ận, thực tiễn đổi mới và

nâng cao hi ệu qu ả th ẩm tra - xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng”

[115], đây là đề tài khoa h ọc đầu tiên v ề th ẩm tra, xác minh trong công tác

kiểm tra của Đảng. Đề tài được thực hiện với mục tiêu tập trung đề xuất, kiến

nghị nh ững gi ải pháp đổi mới về ph ương pháp, nghi ệp vụ và quy trình ti ến

hành thẩm tra xác minh, nh ằm nâng cao hi ệu quả phục vụ nhiệm vụ kiểm tra

Đảng. Các tác giả của đề tài đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và

thực tiễn của hoạt động thẩm tra, xác minh và c ũng là đóng góp mới về khoa

học và thực tiễn, như: đã luận giải có sức thuyết phục tư tưởng Hồ Chí Minh

về tự phê bình và phê bình là cơ sở phương pháp luận của hoạt động thẩm tra,

xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng; do vậy, hoạt động thẩm tra, xác

minh trong công tác kiểm tra của Đảng phải lấy tự phê bình và phê bình trong

tổ chức đảng làm biện pháp chính yếu; đã đi sâu nghiên cứu những khái niệm

như "thẩm tra - xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng"; những vấn đề về

quan niệm như: "trọng chứng", "trọng cung", "án t ại hồ sơ"… trong công tác

kiểm tra của Đảng; làm nổi bật được hoạt động thẩm tra, xác minh trong công

tác ki ểm tra của Đảng nhất thiết và ch ủ yếu ph ải dựa vào h ệ th ống tổ ch ức

17

đảng; người được kiểm tra cũng đồng thời là người kiểm tra; đã đề xuất được

ba giải pháp hợp lý, có tính kh ả thi nhằm đổi mới và nâng cao hi ệu quả, chất

lượng thẩm tra, xác minh...

Tuy nhiên, vì m ột số lý do, đề tài có th ể cần phân tích sâu h ơn mối

quan hệ giữa hoạt động thẩm tra, xác minh và các ho ạt động khác, trong đó

chú trọng hoạt động phát huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên,

của ph ương pháp c ơ bản trong công tác ki ểm tra c ủa Đảng, có nh ững ki ến

nghị cụ thể hơn việc áp dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động thực tiễn của

ủy ban ki ểm tra các cấp, góp ph ần theo dõi, giúp đỡ ủy ban kiểm tra các cấp

vận dụng quy trình trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài…

Mặc dù vậy, tuy có dung lượng không lớn (khoảng 60 trang đánh máy)

nhưng đây là lần đầu tiên, một đề tài đã nêu lên nh ững vấn đề rất mới mẻ,

khái quát một cách có h ệ thống, luận chứng khá sâu s ắc, cụ thể về thẩm tra,

xác minh trong công tác ki ểm tra c ủa Đảng. Nh ững nội dung, ki ến th ức,

những luận cứ khoa học, những vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài là nguồn

tham khảo hết sức quý báu, hữu ích và sát thực cho luận án.

Tác giả Phạm Thị Ngạn trong “Hệ thống kỹ năng nghiệp vụ trong công

tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng” [121], đã phân tích cụ thể hệ thống kỹ

năng nghiệp vụ kiểm tra, bao gồm: các kỹ năng chung của công tác ki ểm tra,

kỷ lu ật đảng và các k ỹ năng th ực hi ện nhiệm vụ kiểm tra theo quy định tại

Điều 32 Điều lệ Đảng. Trong các k ỹ năng chung có: K ỹ năng giao ti ếp; kỹ

năng vận động, thuyết phục và cảm hóa con ng ười; kỹ năng phối hợp nhóm;

kỹ năng thu thập và xử lý thông tin; kỹ năng thẩm tra, xác minh.

Tác gi ả Tô Quang Thu trong “Thực tr ạng và gi ải pháp nâng cao k ỹ

năng nghiệp vụ cho cán b ộ kiểm tra trong giai đoạn mới” [157], đã đề xuất

các nhóm giải pháp nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ kiểm tra, trong đó

có kỹ năng thẩm tra, xác minh, qua việc đào tạo, bồi dưỡng và tự đào tạo, bồi

dưỡng (về nghiệp vụ) và vi ệc rèn luy ện trong th ực tiễn (trong quá trình gi ải

18

quyết vụ việc của các đoàn kiểm tra; rèn luy ện phương pháp tư duy, ph ương

pháp làm việc khoa học; tổng kết kinh nghiệm,…).

1.2.2. Sách

Tác gi ả Nguyễn Th ị Doan trong “Đổi mới công tác ki ểm tra, k ỷ lu ật

nhằm nâng cao s ức chi ến đấu của Đảng trong giai đoạn cách m ạng mới”

[60], trong chương 3, phần "Quan điểm và định hướng đổi mới công tác kiểm

tra, kỷ luật đảng", các tác giả cuốn sách khẳng định: Khi kiểm tra phải làm tốt

thẩm tra, xác minh, ch ưa thẩm tra, xác minh để có ch ứng cứ cụ thể, rõ ràng

bảo đảm tính pháp lý, h ợp lý thì ch ưa kết luận. Về yêu cầu đổi mới công tác

kiểm tra, kỷ luật trong Đảng, cụ thể là đổi mới phương thức hoạt động kiểm

tra trong Đảng, các tác gi ả đã nh ấn mạnh tính đặc tr ưng của ph ương pháp

kiểm tra, nh ất là ph ương pháp nghi ệp vụ tiến hành th ẩm tra, xác minh - m ột

khâu trọng yếu có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động kiểm tra và bảo

đảm ph ương châm "công minh, chính xác, k ịp th ời" trong vi ệc thi hành k ỷ

luật. Theo các tác gi ả, hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra

của Đảng rất quan tr ọng bởi trong giai đoạn cách mạng mới, dưới tác động

của các mặt tiêu cực, tính tự giác và tự phê bình của một số cán bộ, đảng viên

giảm sút, trong khi cơ chế, chính sách chưa đầy đủ, thậm chí không có, không

đồng bộ nên thiếu chuẩn mực để xem xét, kết luận.

Ở chương 4, vấn đề lý lu ận th ứ năm được các tác gi ả rút ra qua ho ạt

động th ực ti ễn là: Nắm vững và th ực hi ện tốt ph ương pháp c ơ bản có tính

nguyên tắc của công tác ki ểm tra, trong đó có vi ệc làm tốt công tác th ẩm tra,

xác minh. Các tác giả cho rằng: Trong các phương pháp cơ bản, thẩm tra, xác

minh là phương pháp đặc biệt quan trọng, nhất là trong điều kiện hiện nay…

Chưa thẩm tra, xác minh thì chưa thể kết luận. Trường hợp tự phê bình và phê

bình càng yếu, tự giác càng kém thì đòi hỏi thẩm tra, xác minh càng phải công

phu, tỷ mỉ, thận trọng, chính xác. M ặt khác, th ẩm tra, xác minh c ũng là một

biện pháp nhằm hỗ trợ nâng cao tính tự giác của tổ chức đảng và đảng viên…

19

Tác giả Bùi Văn Thể trong “Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao

chất lượng tự phê bình và phê bình trong công tác ki ểm tra, kỷ lu ật đảng”

[147], trong chương 1, các tác gi ả cuốn sách nhận định: Để thực hiện tốt việc

phê bình, ch ủ thể kiểm tra ph ải nắm vững: mục đích, yêu cầu cuộc kiểm tra;

nội dung cần kiểm tra, thẩm tra, xác minh; chủ trương, đường lối, chính sách,

nghị quyết, chỉ thị… có liên quan đến các vấn đề cần thẩm tra, xác minh để

làm cơ sở cho việc thẩm tra, xác minh.

Ở chương 2, khi đề cập về vai trò c ủa thẩm tra, xác minh đối với việc

thực hiện tự phê bình và phê bình trong công tác ki ểm tra, kỷ luật đảng, các

tác giả cho rằng: Nhiều chứng cứ thu thập được qua thẩm tra, xác minh đã có

sức thuy ết ph ục trong đấu tranh phê bình v ới nh ững đảng viên vi ph ạm kỷ

luật đảng, pháp luật của Nhà nước.

Ở chương 3, trong gi ải pháp th ứ năm, các tác gi ả nhấn mạnh: Trường

hợp đối tượng kiểm tra tính chiến đấu kém, không thành khẩn, thiếu tự giác tự

phê bình, c ố tình không nh ận thi ếu sót, khuy ết điểm, vi ph ạm, trong khi

chứng lý c ủa ch ủ th ể ki ểm tra đưa ra ch ưa ch ắc ch ắn, ch ưa đủ sức thuy ết

phục, thì phải kết hợp chặt chẽ với công tác thẩm tra, xác minh để thu thập, tài

liệu, chứng lý có c ơ sở vững chắc để kết luận vụ việc, đồng thời, phải chú ý

phát huy trách nhi ệm phê bình, góp ý c ủa tổ chức đảng và đảng viên có liên

quan đến đối tượng kiểm tra để làm rõ trách nhiệm, thiếu sót, vi phạm của đối

tượng kiểm tra...

Tác gi ả Lê H ồng Liêm trong “Một số gi ải pháp c ơ bản tháo g ỡ khó

khăn, trở ngại khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng

viên khi có d ấu hiệu vi ph ạm của ủy ban ki ểm tra các c ấp” [112], ở chương

II, khi đề cập đến khó kh ăn, trở ngại trong th ực hiện phương pháp, quy trình

kiểm tra khi có d ấu hiệu vi ph ạm, các tác gi ả cuốn sách đã đánh giá: …Việc

phối hợp trao đổi thông tin, đánh giá nh ận định dấu hiệu vi ph ạm có tr ường

hợp "trống đánh xuôi, kèn th ổi ngược", có trường hợp không cung cấp thông

20

tin cho là "b ảo mật", gây tr ở ng ại cho công tác th ẩm tra, xác minh do ch ạy

theo thành tích, b ảo vệ lẫn nhau, ng ại va ch ạm, có tr ường hợp thi ếu trách

nhiệm đến mức né tránh, vòng vo, không h ợp tác theo yêu c ầu của uỷ ban

kiểm tra… Khi đề cập đến nguyên nhân những khó khăn, trở ngại của uỷ ban

kiểm tra các c ấp khi th ực hiện nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và

đảng viên khi có d ấu hiệu vi ph ạm, ban ch ủ nhiệm đề tài đã cho rằng: Việc

kiểm tra ph ải đúng nguyên tắc, phương pháp công tác đảng, không được sử

dụng các phương pháp thẩm tra, xác minh của các cơ quan tư pháp, thanh tra

nhà nước,... Một trong những bài học kinh nghiệm qua tháo gỡ khó khăn, trở

ngại của uỷ ban ki ểm tra các c ấp khi th ực hi ện nhi ệm vụ ki ểm tra t ổ ch ức

đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm - theo các tác giả - là: Uỷ

ban kiểm tra các cấp vừa phải chủ động làm tốt công tác tư tưởng đối với đối

tượng ki ểm tra, v ừa nêu cao ý th ức tự phê bình và phê bình, đồng th ời coi

trọng nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, xác minh.

Ở chương III, khi phân tích các giải pháp, các tác giả đã đề cập đến việc:

Đổi mới và tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm tra (kể cả kỹ năng

nghiệp vụ) cho tổ chức đảng, cán bộ kiểm tra các cấp, trong đó có kỹ năng thu

thập thông tin, nh ận biết, phân tích d ấu hiệu vi ph ạm; kỹ năng thẩm tra, xác

minh, thu thập chứng cứ; kỹ năng thiết lập các báo cáo thẩm tra, xác minh;…

Tác giả Lê Hồng Liêm với “Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với

phòng, ch ống tham nh ũng trong tình hình hi ện nay - Th ực tr ạng và gi ải

pháp” [113], trong ch ương 2, ph ần về bài h ọc kinh nghi ệm, các tác gi ả đã

khẳng định: Việc tổ chức thu th ập thông tin ph ải nhiều phía, ki ểm tra xử lý

chọn lọc thông tin để phục vụ kiểm tra, giám sát ch ống tham nh ũng có hi ệu

quả, việc lưu trữ thông tin rất cần quy củ, khoa học để khai thác khi cần thiết.

Thực tế cho thấy, cần chú tr ọng chọn lọc các thông tin v ề quan hệ nhiều mặt

của cán bộ, đảng viên và thân nhân,... khi có d ấu hiệu bất minh cần có bi ện

pháp thẩm tra, xác minh thích hợp, chặt chẽ, kịp thời.

21

Tác giả Lê Văn Giảng trong “Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao

chất lượng thực hiện dân chủ trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ

luật trong Đảng” [94], đã đánh giá vi ệc thực hi ện dân ch ủ qua các ph ương

pháp, quy trình ki ểm tra, k ỷ lu ật đảng, các tác gi ả cu ốn sách đã nh ận định:

Một nội dung cơ bản trong ph ương pháp ki ểm tra của Đảng là th ực hiện dân

chủ trong công tác th ẩm tra, xác minh... Qua công tác ki ểm tra, nhi ều đoàn

kiểm tra đã thực hiện tốt dân chủ trong thẩm tra, xác minh. Việc chủ động thu

thập bằng chứng, chứng cứ được thực hiện bằng nhiều cách nh ư nghiên cứu

hồ sơ, tài li ệu có liên quan; ti ếp xúc đối với tổ chức đảng và cá nhân để yêu

cầu, động viên họ cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan đến nội dung kiểm

tra để có cơ sở loại bỏ những thông tin sai s ự thật, những chứng cứ giả hoặc

không đủ cơ sở để kết luận, gây oan ức cho đối tượng kiểm tra… Trường hợp

giữa cấp uỷ, tổ ch ức đảng và đoàn ki ểm tra có v ấn đề ch ưa th ống nh ất thì

đoàn kiểm tra yêu cầu cung cấp thêm bằng chứng để cùng trao đổi, thảo luận

hoặc tiếp tục thẩm tra, xác minh làm rõ.

Tác giả Cao Văn Thống trong “Những vấn đề cơ bản về công tác kiểm

tra, giám sát và k ỷ luật của Đảng” [154], tác gi ả đã dành riêng m ột chương

(chương 8) để bàn về thẩm tra, xác minh - nghi ệp vụ quan trọng, cơ bản của

công tác ki ểm tra. Trong Ch ương này, tác gi ả đã nêu lên m ột số khái ni ệm

(thẩm tra; xác minh; thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng…);

phân tích đặc điểm, vị trí, ý nghĩa, tác dụng của thẩm tra, xác minh trong công

tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng; nội dung, đối tượng và phương pháp thẩm tra,

xác minh. Ở cu ối ch ương, tác gi ả cũng nêu lên nh ững vấn đề cần lưu ý và

nắm vững khi tiến hành thẩm tra, xác minh.

Các tác gi ả đã kh ẳng định: Công tác ki ểm tra c ủa ủy ban ki ểm tra là

công tác đảng, có đặc thù riêng là tiến hành kiểm tra, kết luận, xử lý hoặc giúp

cấp ủy xử lý kỷ luật những trường hợp có vi ph ạm đến mức phải xử lý. Đặc

thù này không nh ững khác v ới các ban c ủa cấp ủy mà còn khác v ới các c ơ

22

quan bảo vệ pháp luật của Nhà nước (điều tra, truy tố, xét xử đều do từng cơ

quan độc lập ti ến hành). Vì v ậy, bên c ạnh vi ệc coi tr ọng và làm t ốt các

phương pháp cơ bản của công tác đảng, cần đặc biệt coi trọng và làm tốt công

tác th ẩm tra, xác minh để ph ục vụ cho vi ệc ki ểm tra, k ết lu ận, xử lý được

công minh, chính xác, kịp thời.

Nguyễn Công Học trong “Một số giải pháp đảm bảo việc chấp hành kỷ

luật và vi ệc thi hành k ỷ luật đảng trong tình hình hi ện nay” [98], tại chương

1, các tác gi ả cuốn sách đã nêu một số quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

và Đảng Cộng sản Việt Nam khi xem xét, thi hành k ỷ luật Đảng là: phải điều

tra, nghiên c ứu kỹ càng, th ận trọng, đi sâu tìm hi ểu bản ch ất và c ăn cứ vào

những bằng chứng xác thực.

Ở chương 3, trong Nhóm giải pháp bảo đảm việc thi hành kỷ luật trong

Đảng, tại giải pháp thứ 3, các tác gi ả đề xuất: Trong điều kiện tự phê bình và

phê bình của đối tượng kiểm tra ngày càng gi ảm sút, ph ải đề cao và làm t ốt

khâu thẩm tra, xác minh;... Chú tr ọng công tác th ẩm tra, xác minh để làm rõ

đúng, sai, xác định cụ thể chứng lý, với thái độ công tâm, khách quan, th ận

trọng và ch ặt ch ẽ, bảo đảm việc thi hành k ỷ lu ật và gi ải quyết khi ếu nại kỷ

luật đảng được dân chủ, chính xác, công bằng, nghiêm minh.

Các tác gi ả Cao V ăn Th ống - Đỗ Xuân Tu ất trong “Nâng cao ch ất

lượng kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm”

[156], đã phân tích c ả về lý lu ận lẫn thực tiễn, đánh giá th ực trạng hay đề ra

các gi ải pháp để nâng cao ch ất lượng vi ệc th ực hi ện nhi ệm vụ ki ểm tra t ổ

chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có d ấu hi ệu vi ph ạm, các tác gi ả đều

nhấn mạnh một vấn đề quan trọng là: Chỉ được khẳng định tổ chức đảng hoặc

đảng viên có vi ph ạm khi được tổ ch ức đảng có th ẩm quyền qua ki ểm tra,

xem xét, kết luận. Do vậy, phải hết sức coi trọng công tác thẩm tra, xác minh,

chưa thẩm tra, xác minh thì chưa được kết luận.

23

1.2.3. Luận án, luận văn

Tác giả Trương Thị Thông trong “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ

kiểm tra chuyên trách của Đảng trong tình hình hiện nay” [148], ở chương 1,

tác giả cho rằng một trong nh ững yêu cầu của tình hình m ới là sự phát tri ển

của xã hội đòi hỏi đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách phải thực sự có năng

lực, có ph ẩm chất, có bản lĩnh vững vàng để phân bi ệt rõ cái đúng - cái sai,

cái tiến bộ - cái lạc hậu…

Ở ch ương 2, khi đánh giá nguyên nhân khách quan c ủa nh ững khó

khăn, trở ngại về đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách, tác gi ả có đề cập đến

việc hệ thống luật pháp, nhiều chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước chưa

theo kịp sự phát triển của công cuộc đổi mới, chưa đồng bộ, thống nhất, thậm

chí mâu thuẫn nhau; chuẩn mực để phân biệt đúng - sai chưa rõ ràng và thi ếu

nhất quán. Cũng trong chương này, tác giả đã chỉ ra bảy bài học kinh nghiệm

qua thực tiễn hoạt động của uỷ ban ki ểm tra các c ấp và của đội ngũ cán bộ

kiểm tra chuyên trách trong nh ững năm qua, trong đó có kinh nghi ệm thứ tư:

Phải nắm vững và chấp hành đúng phương pháp, quy trình công tác ki ểm tra.

Tác gi ả phân tích: Trong quá trình ki ểm tra, không được lẫn lộn và thay

phương pháp ki ểm tra của Đảng với phương pháp ki ểm tra của các cơ quan

Nhà nước, các c ơ quan b ảo vệ pháp lu ật. Vận dụng ph ương pháp ki ểm tra

phải linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với nội dung, đối tượng kiểm tra và tình hình

cụ thể của đơn vị đó, nhưng dù linh ho ạt đến đâu công tác ki ểm tra cũng phải

dựa vào tổ chức đảng, phát huy tinh thần tự giác của đảng viên để làm tốt công

tác thẩm tra, xác minh. Tính tự giác của tổ chức đảng và đảng viên càng yếu, đòi

hỏi công tác thẩm tra, xác minh phải tỷ mỉ và chính xác mới bảo đảm cho những

đánh giá, kết luận, xử lý có căn cứ xác đáng, khách quan và khoa học.

Luận án thực sự đã đóng góp vào công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết

thực tiễn công tác xây d ựng Đảng nói chung, xây d ựng đội ngũ cán bộ kiểm

tra chuyên trách nói riêng, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.

24

Lê Tiến Hào trong “Công tác kiểm tra của Thành uỷ Hà Nội trong giai

đoạn hiện nay” [95], đã phân tích những quan điểm cơ bản về lý luận và thực

tiễn về công tác ki ểm tra c ủa Đảng và công tác ki ểm tra c ủa Thành ủy Hà

Nội; quan ni ệm và m ột số tiêu chí đánh giá ch ất lượng, hi ệu qu ả công tác

kiểm tra của Thành ủy Hà Nội... Luận án đánh giá th ực trạng công tác ki ểm

tra của Thành ủy Hà Nội trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ

XII, XIII (1996 - 2002), trong đó có việc thực hiện các phương pháp công tác

kiểm tra của Đảng; tổng kết một số kinh nghiệm về công tác kiểm tra... Trong

các giải pháp tác gi ả đưa ra, đáng chú ý có gi ải pháp th ứ ba, nâng cao ch ất

lượng các cu ộc kiểm tra của Thành ủy, chú tr ọng về các ph ương pháp ki ểm

tra, trong đó trọng tâm là phương pháp thẩm tra, xác minh.

Luận án thực sự đã có những đóng góp mới về mặt khoa học, góp phần

vào công tác nghiên c ứu lý lu ận, tổng kết thực tiễn về công tác ki ểm tra của

Đảng nói chung, công tác kiểm tra của Thành ủy Hà Nội nói riêng, nhằm thúc

đẩy công tác ki ểm tra c ủa Thành ủy Hà N ội trong th ời gian sau đạt được

những kết quả tốt hơn.

Tác gi ả Nguy ễn Th ế Tư trong “Nâng cao ch ất lượng ki ểm tra đảng

viên khi có d ấu hiệu vi ph ạm của uỷ ban ki ểm tra huy ện uỷ ở các tỉnh duyên

hải miền Trung hiện nay” [162], đã phân tích những vấn đề cơ bản về lý luận

và thực tiễn về kiểm tra đảng viên khi có d ấu hiệu vi ph ạm; thực trạng công

tác kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của ủy ban kiểm tra huyện ủy

ở các tỉnh duyên hải miền Trung, ch ỉ ra nh ững nguyên nhân và bài h ọc kinh

nghiệm. Từ những cơ sở trên, cùng v ới việc chỉ rõ mục tiêu, ph ương hướng

và quan điểm chỉ đạo, tác gi ả luận án đã đề ra sáu gi ải pháp nh ằm nâng cao

chất lượng kiểm tra đảng viên khi có d ấu hiệu vi ph ạm của ủy ban ki ểm tra

huyện ủy ở các tỉnh Duyên hải miền Trung thời gian tới, trong đó có giải pháp

thứ tư: chủ động phát hiện sớm dấu hiệu vi phạm, kiên quyết đấu tranh làm rõ

đúng, sai, kết luận chính xác, k ịp thời, đã đề cập sâu đến phương pháp th ẩm

tra, xác minh.

25

Tác giả Nguyễn Hoàng Minh trong “Công tác ki ểm tra, giám sát c ủa

Đảng bộ tỉnh Bình Thu ận trong giai đoạn hi ện nay theo t ư tưởng Hồ Chí

Minh” [120], đã khẳng định, trong quá trình tiến hành thẩm tra, xác minh, cán bộ

ủy ban kiểm tra phải biết tranh thủ ý kiến của cả đảng viên và quần chúng ngoài

Đảng, biết phát huy vai trò xây d ựng Đảng của quần chúng nhân dân để phân

tích, tổng hợp, góp phần kết luận các vấn đề kiểm tra thật sự khách quan, chính

xác về các hiện tượng vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước.

1.2.4. Các bài báo khoa học

Tác gi ả Lê Kh ắc Khoa trong “V ề ngôn ng ữ nói trong th ẩm tra, xác

minh” [100], tác giả viết: Lời nói tr ở thành một cơ sở không thể thiếu và hết

sức quan tr ọng để dùng làm c ăn cứ xác th ực chứng tỏ sự việc với tính chân

thật khách quan, từ đó làm căn cứ kết luận đúng sai. Đặc biệt, tác giả còn nêu

lên hai ví d ụ thực tiễn sinh động: trường hợp thứ nhất, dấu hiệu vi ph ạm của

đối tượng ki ểm tra ch ỉ là nh ững ch ỉ đạo bằng mi ệng, “kh ẩu dụ”, không có

bằng ch ứng, dấu vết bằng ch ữ viết, nhưng dựa vào cơ sở lập luận, lý l ẽ sắc

bén, qua đấu tranh, cán bộ kiểm đã khiến đối tượng kiểm tra thừa nhận vi phạm

của mình; trường hợp thứ hai, đối tượng kiểm tra không th ừa nhận lời nói của

mình, nhưng nhờ việc ghi âm công khai hội nghị kiểm điểm đã trở thành chứng

cứ quan trọng để bác bỏ nội dung khiếu nại của đối tượng kiểm tra.

Để “lời nói… gió không bay”, theo tác gi ả: phải áp dụng các ph ương

pháp lưu trữ lời nói bằng cách ghi biên bản, ghi âm, ghi hình.

Tác giả Phạm Đình Phi trong “Kinh nghi ệm thẩm tra, xác minh trong

giải quy ết khi ếu nại kỷ lu ật đảng” [136], đã kh ẳng định: Để th ực hi ện tốt

công tác thẩm tra, xác minh trong gi ải quyết khiếu nại kỷ luật đảng, cần thực

hiện tốt các ph ương pháp thu th ập chứng cứ; nghiên cứu, phân tích, xử lý tài

liệu, thông tin; tr ưng cầu giám định của các cơ quan chuyên môn nghi ệp vụ

đối với những vấn đề cần thiết. Trên cơ sở đó, tổ chức đảng có th ẩm quyền

xem xét, đánh giá, kết luận những nội dung vi ph ạm, quy trình, nguyên t ắc,

26

thủ tục và phương hướng, phương châm thi hành kỷ luật của tổ chức đảng cấp

dưới trong quá trình xem xét, x ử lý k ỷ lu ật và gi ải quy ết khi ếu nại kỷ lu ật

đảng. Khi thu thập tài liệu, bằng chứng, cán bộ kiểm tra phải trực tiếp gặp đối

tượng, trực tiếp đọc những thông tin, tài liệu, nhìn thấy các vật chứng, nếu cần

thì đến tận nơi xảy ra sự việc để thẩm tra, xác minh; không được chỉ nghe qua

người khác, d ư lu ận. Muốn đánh giá đúng sự thật, ph ải thu th ập được bằng

chứng xác thực qua các tài liệu, thông tin nhiều phía, nhiều kênh, nhiều chiều

có liên quan đến sự việc cần làm rõ.

Tác giả còn nêu thêm m ột kinh nghi ệm rằng: Việc thu th ập đầy đủ tài

liệu, thông tin, b ằng ch ứng là r ất quan tr ọng, nh ưng vi ệc nghiên c ứu, phân

tích, xử lý tài li ệu, thông tin, bằng chứng ấy một cách khoa h ọc, khách quan,

chính xác lại càng quan trọng, vì đó là cơ sở để kết luận và xử lý đúng.

Tác giả Đỗ Hùng Cường trong “Một số vấn đề về thẩm tra, xác minh

trong công tác ki ểm tra” [56], đã nhận định: Kết quả và chất lượng của thẩm

tra, xác minh có ý ngh ĩa quyết định việc kết luận và xử lý đối với đối tượng

kiểm tra; đồng thời chỉ ra: Một thực tế cho thấy thực trạng tình hình vi ph ạm,

tiêu cực nhất là tệ tham nhũng đã, đang và sẽ vẫn tiếp tục xảy ra nghiêm trọng,

có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng có một nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất đó

là khâu th ẩm tra, xác minh còn m ột số bất cập; nổi lên là không tìm ra được

chứng cứ vững chắc để kết luận vụ việc và quyết định xử lý kỷ luật.

Tác giả kết luận: Phương pháp tư duy khoa học làm cho quá trình thẩm

tra, xác minh được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, phương pháp, biện pháp

rõ ràng, khoa học và được thực hiện một cách khách quan, linh ho ạt, sáng tạo

để có thể đưa ra các kết luận chính xác.

Tác giả Phạm Thành Đồng trong “Chứng cứ trong kiểm tra dấu hiệu vi

phạm khi ph ải tiến hành tr ưng cầu giám định” [93], tác giả cho rằng: chứng

cứ là nh ững gì có th ật được thu thập theo trình t ự, thủ tục pháp lu ật để từ đó

các cơ quan ti ến hành t ố tụng làm c ăn cứ xác định hành vi vi ph ạm và t ội

27

phạm. Chứng cứ được xác định bằng vật chứng, lời khai của bị can, bị cáo,

của những người liên quan, ng ười biết sự việc, kết luận giám định, các biên

bản và những tài liệu thu thập trong quá trình th ẩm tra, xác minh. Mỗi chứng

cứ phải được đánh giá để xác định tính hợp pháp, khách quan, toàn di ện và

đầy đủ các tình tiết.

Tác giả cũng kiến nghị với Uỷ ban Kiểm tra Trung ương một số vấn đề về

việc đề nghị trưng cầu giám định chứng cứ trong quá trình thẩm tra, xác minh.

Tác giả Phạm Thị Ngạn trong“Các yếu tố cấu thành trình độ nghiệp vụ

thẩm tra, xác minh của cán bộ kiểm tra” [122], theo tác giả: Hiện nay, các vi

phạm của tổ chức đảng và đảng viên đang có xu h ướng gia tăng về số lượng

và đa dạng, phức tạp hơn về nội dung, tính chất với nhiều hình thức tinh vi và

cách thức khôn khéo. Để phân định rõ đúng sai, kết luận chính xác và x ử lý

nghiêm minh các trường hợp vi phạm, đòi hỏi đội ngũ cán bộ kiểm tra phải có

nghiệp vụ vững vàng, trong đó khả năng thẩm tra, xác minh, tìm ch ứng cứ để

kết lu ận ki ểm tra có ý ngh ĩa quy ết định. Trình độ nghi ệp vụ th ẩm tra, xác

minh của mỗi cán bộ kiểm tra được cấu thành bởi 5 yếu tố chủ yếu: Kiến thức

và vốn sống th ực ti ễn; mức độ nắm vững và kh ả năng vận dụng lý lu ận về

thẩm tra, xác minh; kh ả năng vận dụng phương pháp thẩm tra, xác minh; vốn

kinh nghiệm cá nhân về thẩm tra, xác minh; phong cách làm việc của cá nhân.

Các yếu tố đó có mối liên kết chặt chẽ và tác động lẫn nhau. Mỗi yếu tố vừa

là một bộ phận trong tổng thể, vừa có vai trò h ỗ trợ cho sự phát triển và phát

huy tác dụng của các yếu tố khác; nếu có một yếu tố bị thiếu hoặc yếu thì các

yếu tố còn lại sẽ khó phát huy tác dụng.

Vũ Đình Lợi trong “Thẩm tra, xác minh - m ột khâu quan tr ọng trong

giải quyết tố cáo” [116], tác gi ả khẳng định: Chỉ khi làm t ốt công tác th ẩm

tra, xác minh, trên c ơ sở bằng chứng xác th ực thì vi ệc kết luận giải quyết tố

cáo mới chính xác. Trong bài báo, tác gi ả nêu lên kinh nghi ệm thực tiễn qua

một vụ vi ệc gi ải quy ết tố cáo c ụ th ể (v ề vi ệc gi ả mạo bằng cấp). Qua d ẫn

28

chứng đó, tác giả càng khẳng định thẩm tra, xác minh làm m ột khâu rất quan

trọng trong toàn b ộ quá trình th ực hiện các nhi ệm vụ kiểm tra của Đảng nói

chung, đặc biệt trong việc giải quyết đơn thư tố cáo nói riêng.

Tác giả rút ra: Để việc thẩm tra, xác minh trong gi ải quyết tố cáo đạt

kết quả, cán bộ giải quyết tố cáo phải có quyết tâm cao, th ể hiện rõ bản lĩnh,

chính ki ến, nh ạy bén tr ước mọi tình hu ống xảy ra; có k ỹ năng nghi ệp vụ

thuần th ục. Đặc bi ệt, ph ải có đầu óc phán đoán đề ra ph ương án, k ế ho ạch

thẩm tra, xác minh tối ưu, phù hợp với nội dung tố cáo cần giải quyết, nhất là

đối với những đơn thư có nội dung tố cáo phức tạp, kéo dài, th ời gian xảy ra

đã lâu, gây nhi ều bức xúc trong cán b ộ, đảng viên và qu ần chúng nhân dân,

liên quan đến đội ngũ cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền các cấp.

Tác gi ả Nguy ễn Trung Dong trong “Kinh nghi ệm về th ẩm tra, xác

minh trong gi ải quyết tố cáo đối với đảng viên là cán b ộ diện Bộ Chính tr ị,

Ban Bí th ư quản lý” [61], tác gi ả thẳng thắn nhận định: Thẩm tra, xác minh

trong giải quyết tố cáo đảng viên là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản

lý trên địa bàn Vụ Địa phương III, Cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Trung ương gặp

rất nhiều khó kh ăn, vì: đối tượng bị tố cáo, nội dung tố cáo rất đa dạng; một

số vụ tố cáo với tính chất phức tạp, nhiều nội dung, sự việc, có liên quan đến

nhiều ng ười, nhi ều cấp, nhất là cán b ộ qu ản lý nhà n ước, quản lý tài chính,

phụ trách công trình, dự án, đất đai,… Một số cán bộ bị tố cáo có thái độ phản

ứng, đối phó, bất hợp tác, không nhận khuyết điểm, vi phạm hoặc tuy có nhận

nhưng ch ưa tương xứng với tính ch ất, mức độ, tác h ại, nguyên nhân c ủa vi

phạm, thậm chí có trường hợp còn “tố cáo ngược” cán bộ giải quyết tố cáo.

Tác gi ả cũng rút ra m ột số kinh nghi ệm về th ẩm tra, xác minh trong

giải quyết tố cáo đảng viên là cán b ộ diện Bộ Chính tr ị, Ban Bí th ư quản lý,

đồng th ời nh ấn mạnh: Khâu th ẩm tra, xác minh để tìm ra ch ứng cứ là m ột

khâu có tính quy ết định tr ực ti ếp đến nhi ệm vụ giải quyết tố cáo. Hi ệu qu ả

của việc giải quyết tố cáo phụ thuộc rất lớn vào việc tìm ra hay không tìm ra

29

chứng cứ. Mọi kết lu ận đúng, sai, có vi ph ạm hay không vi ph ạm của đối

tượng bị tố cáo đều bắt bu ộc ph ải dựa trên nh ững ch ứng cứ xác th ực, liên

quan. Qua đó, tác gi ả cũng đề xu ất một số gi ải pháp nh ằm nâng cao ch ất

lượng thẩm tra, xác minh trong gi ải quyết tố cáo đảng viên là cán b ộ diện Bộ

Chính trị, Ban Bí thư quản lý trong thời gian tới.

Tóm lại, các công trình nghiên c ứu nêu trên đều là nh ững sản ph ẩm

khoa học trí tuệ, nghiêm túc, chất lượng, hết sức có giá trị dù ở những mức độ

khác nhau. Các công trình ho ặc nghiên cứu bình di ện chung, mang tính t ổng

thể, hoặc đi sâu vào m ột lĩnh vực cụ thể trong công tác ki ểm tra của Đảng.

Mỗi công trình đều có đề cập đến hoạt động thẩm tra, xác minh - một phương

pháp, một nghi ệp vụ rất quan tr ọng trong công tác ki ểm tra của Đảng. Tuy

nhiên, các công trình đều chỉ nghiên cứu về thẩm tra, xác minh ở những khía

cạnh, góc độ nhất định, một “bộ phận” cần phân tích, đánh giá trong tổng thể

chung về công tác ki ểm tra, kỷ luật của Đảng. Ngoại trừ Đề tài khoa học cấp

Bộ KHBĐ-0015 “Cơ sở lý luận, thực tiễn đổi mới và nâng cao hiệu quả thẩm

tra - xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng”, đến nay chưa có công trình

nào nghiên cứu chuyên sâu, chuyên bi ệt về thẩm tra, xác minh. M ặc dù, nội

dung Đề tài KHB Đ-0015 rất có giá tr ị, cung cấp nhiều luận cứ, luận chứng,

luận điểm để tác gi ả luận án lĩnh hội, tiếp thu, song do th ời gian nghiên c ứu

(từ năm 2000-2001) so với tình hình thực tế hiện tại đã có nhiều thay đổi, ảnh

hưởng, tác động đến công tác kiểm tra nói chung, đến hoạt động thẩm tra, xác

minh nói riêng nên một số điểm cần nhìn nhận, đánh giá, phân tích, lu ận giải

thêm. Mặt khác, do y ếu tố đặc thù và m ột số điều ki ện, dung l ượng nghiên

cứu của đề tài KHBĐ-0015 nêu trên cũng cần được bổ sung, hoàn chỉnh thêm.

Ở một bình di ện khác, v ấn đề về th ẩm tra, xác minh trong công tác

kiểm tra của Đảng Cộng sản cầm quyền nói riêng, của các đảng chính trị cầm

quyền nói chung một phần do hoàn cảnh, điều kiện, yếu tố chính trị, một phần

do điều kiện sưu tầm, tìm tòi, thu th ập (cả ở trong nước và ngoài n ước) còn

30

hạn chế, nên cho th ấy các công trình nghiên c ứu về vấn đề này không nhi ều.

Các tài liệu đề cập đến chủ yếu qua hình thức các giáo trình, bài giảng, tài liệu

huấn luyện nghiệp vụ về kiểm tra, điều tra vụ việc, được các đoàn nghiên cứu

của các c ơ quan h ữu quan c ủa Đảng, Nhà n ước ta t ổng hợp lại; ho ặc được

giới thiệu một cách sơ lược, khái quát trong m ột số tài li ệu của các cơ quan

chức năng của các nước bạn khi tham dự các cuộc hội đàm, hội thảo. Một vấn

đề nữa cũng cần đặt ra là, do đặc điểm, hoàn cảnh, yếu tố, thể chế chính tr ị

(ngay cả trong nh ững nước có Đảng Cộng sản lãnh đạo, cầm quy ền) khác

nhau, nên kinh nghi ệm, bài học của mỗi nước cũng có nh ững điểm đặc thù,

không thể tiếp nhận, tiếp thu một cách tuyệt đối, máy móc, cơ học mà đòi hỏi có

sự gạn lọc, đánh giá, suy xét hợp lý để cùng trao đổi, thực hiện cho phù hợp.

Tình hình nghiên c ứu trên đặt ra cho tác gi ả lu ận án yêu c ầu ph ải

nghiên cứu một cách cơ bản, toàn di ện hơn, hệ th ống cả về phương diện lý

luận cũng như hoạt động nghiệp vụ thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm

tra của Đảng Cộng sản Việt Nam; việc tiến hành hoạt động thẩm tra, xác minh

cả trong vi ệc thực hiện các nhi ệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng cũng

như trong th ực hiện nhiệm vụ cấp ủy giao của ủy ban ki ểm tra các cấp. Tình

hình mới với những đặc điểm, hoàn cảnh mới tác động đến công tác kiểm tra,

đến hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng cũng là

vấn đề, yêu cầu nhiệm vụ xuyên suốt mà luận án sẽ phải giải quyết.

31

Chương 2

THẨM TRA, XÁC MINH TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA

CỦA ĐẢNG - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN

VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG

2.1.1. Khái niệm, vị trí, vai trò công tác kiểm tra của Đảng

2.1.1.1. Khái niệm về công tác kiểm tra của Đảng

* Khái niệm kiểm tra

Theo Từ điển Ti ếng Vi ệt, ki ểm tra là "xem xét tình hình th ực tế để

đánh giá, nhận xét" [196, tr.523]. Từ điển Luật học nêu: kiểm tra là "xem xét

tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung

hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét" [135, tr.265].

Còn theo Sách tra c ứu các mục từ về tổ chức thì kiểm tra là: "Xem xét

tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung

hay một công tác c ụ thể được giao của một cơ quan, đơn vị hoặc một người

để đánh giá, nh ận xét ch ất lượng hoạt động của cơ quan, đơn vị hoặc người

đó" [126, tr.468]. Như vậy, kiểm tra cũng là công tác thu ộc nhiệm vụ của cơ

quan nhà nước, của tổ chức đảng, đoàn thể cấp trên đối với cấp dưới, của thủ

trưởng hoặc người lãnh đạo đối với nhân viên dưới quyền.

* Khái niệm kiểm tra của Đảng

Theo Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát

và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI

(ban hành kèm theo Quy ết định số 46-Q Đ/TW, ngày 01-11-2011 c ủa Ban

Chấp hành Trung ương):

Kiểm tra c ủa Đảng là m ột trong nh ững ch ức năng lãnh đạo của

Đảng, là vi ệc các tổ ch ức đảng xem xét, đánh giá, k ết lu ận về ưu

điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới

32

và đảng viên trong vi ệc ch ấp hành C ương lĩnh chính tr ị, Điều lệ

Đảng, ch ủ tr ương, ngh ị quy ết, ch ỉ th ị của Đảng và pháp lu ật của

Nhà nước [20, tr.02].

* Khái niệm công tác kiểm tra của Đảng

Theo Từ điển Tiếng Việt, “công tác” được hiểu là “công vi ệc của nhà

nước ho ặc của đoàn th ể” [196, tr.48]. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam là m ột tổ

chức chính tr ị, một bộ phận trong hệ thống chính tr ị Việt Nam, đồng thời có

vai trò lãnh đạo hệ th ống chính tr ị, lãnh đạo toàn xã h ội. Công tác ki ểm tra

của Đảng có th ể được hiểu là: việc chủ thể kiểm tra thông qua th ực hiện các

phương pháp, hình th ức, bi ện pháp để xem xét tình hình th ực tế, nh ận xét,

đánh giá, k ết lu ận về ưu điểm, khuy ết điểm ho ặc vi ph ạm (n ếu có) c ủa đối

tượng kiểm tra trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ

trương, ngh ị quy ết, ch ỉ th ị của Đảng, pháp lu ật của Nhà n ước và đưa ra

những yêu cầu, kiến nghị với đối tượng kiểm tra, các tổ chức, cá nhân có liên

quan theo mục tiêu, yêu cầu đã đề ra.

Từ khái niệm nêu trên, có thể nhận thức về công tác kiểm tra của Đảng

ở một số điểm cụ thể như sau:

Một là, công tác kiểm tra là nhiệm vụ của toàn Đảng. Điều lệ Đảng quy

định tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát; tổ chức đảng và

đảng viên phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng.

Chủ th ể ki ểm tra là t ổ ch ức đảng có th ẩm quy ền ki ểm tra đối với tổ

chức đảng và đảng viên theo ch ức năng, nhi ệm vụ, quy ền hạn được giao

thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý. Đối tượng kiểm tra là tổ chức đảng và đảng

viên chịu sự kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền. Các tổ chức đảng vừa

là ch ủ thể kiểm tra (có trách nhi ệm tiến hành công tác ki ểm tra), vừa là đối

tượng kiểm tra (ch ịu sự kiểm tra của tổ chức đảng có th ẩm quyền cấp trên).

Do các t ổ ch ức đảng có ch ức năng, nhi ệm vụ, quy ền hạn khác nhau, nên

phạm vi trách nhi ệm, nội dung, đối tượng, cách tiến hành kiểm tra của các tổ

chức đảng được quy định cũng khác nhau.

33

Hai là, công tác kiểm tra là một chức năng lãnh đạo của Đảng, là công

tác xây dựng Đảng, sinh hoạt nội bộ Đảng, do các tổ chức đảng tiến hành căn

cứ theo ch ức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và th ẩm quyền được Điều lệ Đảng

quy định. Do đó, ti ến hành công tác ki ểm tra ph ải theo đúng nguyên t ắc tổ

chức và sinh ho ạt đảng, đúng tính chất công tác đảng, đúng tư tưởng chỉ đạo,

phương pháp cơ bản tiến hành công tác ki ểm tra, đúng phạm vi trách nhi ệm

của từng tổ chức đảng và đều phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và công tác

xây dựng Đảng, nhằm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ và công tác ấy.

Ba là, qua việc thực hiện hệ thống các cách thức, biện pháp mà chủ thể

và đối tượng kiểm tra ph ải tuân th ủ trong quá trình th ực hiện nhiệm vụ công

tác ki ểm tra, ph ải xem xét đúng tình hình th ực tế khách quan; phát hi ện ưu

điểm để phát huy, thiếu sót, khuyết điểm, lệch lạc để uốn nắn, khắc phục, sửa

chữa; làm rõ đúng sai, nhận xét, đánh giá chính xác có vi ph ạm hay không vi

phạm để kết luận rõ ràng, một mặt để tiếp tục kiện toàn, củng cố, phát huy tổ

chức và cá nhân, m ặt khác để ch ấn ch ỉnh, xử lý k ịp th ời, nghiêm minh vi

phạm; cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa tổ chức đảng và đảng viên vi phạm. Bên

cạnh đó, qua công tác kiểm tra, phát hiện những sơ hở, thiếu sót, bất cập trong

các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ

chức thực hiện để kịp thời sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với tình

hình th ực tế, góp ph ần không ng ừng nâng cao ch ất lượng và hi ệu qu ả ho ạt

động lãnh đạo, quản lý.

2.1.1.2. Vị trí, vai trò công tác kiểm tra của Đảng

Một là, kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng.

Thực ti ễn đã kh ẳng định, lãnh đạo không ch ỉ là đề ra ch ủ tr ương,

đường lối, tổ chức thực hiện, bố trí cán b ộ, động viên tư tưởng, mà còn ph ải

kiểm tra, giám sát. Không nh ững kiểm tra, giám sát vi ệc thực hiện đường lối,

Cương lĩnh chính tr ị, ch ủ tr ương, chính sách, mà ki ểm tra ngay t ừ chính

Cương lĩnh chính trị, đường lối, chính sách đó và kiểm tra cả các tổ chức tiến

34

hành kiểm tra nhằm bảo đảm đường lối, chính sách được xác định đúng, được

quán triệt và thực hiện thắng lợi trong thực tiễn. Đó là vấn đề có tính nguyên

tắc; vừa là ch ức năng lãnh đạo, vừa là trách nhi ệm, nội dung, ph ương pháp,

quy trình lãnh đạo của Đảng.

V.I.Lênin đã khẳng định: khi đường lối, chính sách đã được xác định,

phương hướng đã được thông qua thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải đặt lên

hàng đầu và s ự lãnh đạo ph ải "chuy ển tr ọng tâm t ừ vi ệc so ạn th ảo các s ắc

lệnh và mệnh lệnh sang vi ệc lựa chọn người và ki ểm tra sự thực hiện" [105,

tr.450]. Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành

công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa

chọn cán b ộ và do n ơi ki ểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng

mấy cũng vô ích" [118, tr.520].

Đảng ta luôn xác định kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo

của Đảng. Trong suốt quá trình hoạt động, Đảng không những luôn coi trọng,

mà xác định ki ểm tra là ch ức năng, nội dung lãnh đạo của Đảng. Công tác

kiểm tra là khâu r ất quan tr ọng vì nó là nhi ệm vụ thường xuyên của các cơ

quan lãnh đạo và ch ỉ đạo. Trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quy ền càng

phải tăng cường công tác kiểm tra của Đảng.

Hai là, kiểm tra là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây

dựng Đảng.

Xây dựng Đảng ta vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức luôn là

đòi hỏi cấp thiết và có tính khách quan. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:

“Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên, cán bộ làm trọn nhiệm

vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó,

mà góp ph ần vào vi ệc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức” [118, tr.133].

Qua thực tiễn, Đảng ta đã kết luận: công tác ki ểm tra là “m ột bộ phận quan

trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng” [81, tr.122], là "một khâu quan

trọng của tổ chức thực hiện” [81, tr.123].

35

Ba là, công tác ki ểm tra là nhi ệm vụ của toàn Đảng; là nhi ệm vụ trực

tiếp, thường xuyên của mọi tổ chức đảng và đảng viên.

Công tác ki ểm tra là công tác đảng, là nhi ệm vụ của toàn Đảng, được

tiến hành đối với tổ chức đảng và đảng viên. Trong quá trình lãnh đạo cách

mạng, Đảng ta luôn xác định: "Kiểm tra và giữ gìn kỷ luật của Đảng là nhiệm

vụ của toàn Đảng. Các tổ chức đảng, trước hết là các c ấp uỷ đảng, Bộ Chính

trị và các ban th ường vụ cấp uỷ, cần tự mình ti ến hành ki ểm tra và s ử dụng

các ban để tổ chức thường xuyên nhiệm vụ kiểm tra" [82, tr.150-151]. Để bảo

đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi các cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm

tra các cấp phải chú trọng và thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra các tổ

chức đảng và đảng viên ch ấp hành Cương lĩnh chính tr ị, Điều lệ Đảng, nghị

quyết, chỉ thị của Đảng.

2.1.2. Nội dung, phương pháp công tác kiểm tra của Đảng

2.1.2.1. Nội dung công tác kiểm tra

Nội dung công tác ki ểm tra của Đảng bao gồm kiểm tra việc thực hiện

Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên

tắc tổ ch ức và ho ạt động của Đảng... - nh ững vấn đề có tính nguyên t ắc đã

được Đảng xác định, mọi tổ chức đảng và đảng viên phải tuân thủ, chấp hành

và trở thành nội dung kỷ luật của Đảng. Tuy nhiên, Cương lĩnh chính trị, Điều

lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng cũng như nguyên tắc tổ chức

và ho ạt động của Đảng bao g ồm nhi ều vấn đề lớn, rất rộng. Mặt khác, do

chức năng, nhi ệm vụ và ph ạm vi ki ểm tra của mỗi tổ ch ức đảng khác nhau

nên khi tiến hành kiểm tra các tổ chức đảng phải căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn

kiểm tra c ủa cấp mình và tình hình, đặc điểm, yêu c ầu của vi ệc th ực hi ện

nhiệm vụ chính tr ị và công tác xây d ựng Đảng của địa phương, đơn vị trong

từng thời gian và tr ọng tâm, tr ọng điểm lãnh đạo của mình để xác định nội

dung kiểm tra phù hợp.

36

Tóm lại, nội dung ki ểm tra là ki ểm tra việc thực hiện những nhiệm vụ

chính trị, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng có quan hệ đến chức trách, nhiệm

vụ, quyền hạn của tổ chức đảng và đảng viên. Mỗi tổ chức đảng phải căn cứ

chức năng, nhi ệm vụ, quy ền hạn của mình và ch ức năng, nhi ệm vụ, quy ền

hạn của tổ ch ức đảng và đảng viên thu ộc phạm vi qu ản lý của mình để xác

định nội dung ki ểm tra cụ th ể, phù hợp. Trong điều ki ện Đảng cầm quyền,

việc chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật của các đoàn thể chính trị - xã hội

cũng là một nội dung kỷ luật của Đảng, đương nhiên tr ở thành một nội dung

kiểm tra đối với mọi tổ chức đảng và đảng viên.

2.1.2.2. Phương pháp công tác kiểm tra

Phương pháp công tác kiểm tra của Đảng là hệ thống các cách thức tiến

hành trong ho ạt động kiểm tra của Đảng mà mọi tổ chức đảng và đảng viên

(chủ thể, đối tượng) phải tuân thủ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác

kiểm tra. Khi ti ến hành công tác ki ểm tra, ph ải sử dụng đồng bộ, linh ho ạt

năm phương pháp cơ bản có mối quan hệ mật thiết, không tách r ời của công

tác kiểm tra đảng.

Thứ nhất: Dựa vào tổ chức đảng

Đây vừa là phương pháp cơ bản, vừa là vấn đề có tính nguyên tắc trong

công tác xây d ựng Đảng nói chung. T ổ chức đảng là cơ quan lãnh đạo, quản

lý, giám sát, giáo dục, rèn luyện đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới; nơi nắm

vững tình hình, đặc điểm của tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên; nơi tổ chức

thực hiện và lãnh đạo thực hiện các nhi ệm vụ chính trị và công tác xây d ựng

Đảng, các kết luận kiểm tra, giám sát c ủa tổ chức đảng cấp trên; là n ơi chịu

trách nhi ệm tr ước tổ ch ức đảng cấp trên v ề ho ạt động của tổ ch ức đảng và

đảng viên thuộc phạm vi quản lý của mình. Do đó, dựa vào tổ chức đảng quản

lý đối tượng kiểm tra vừa có tính nguyên tắc vừa đảm bảo tính hiệu quả, thực

tiễn của công tác ki ểm tra. Có d ựa vào t ổ ch ức đảng và đảng viên, ch ủ th ể

kiểm tra m ới hi ểu rõ đặc điểm tình hình, điều ki ện, hoàn c ảnh, khó kh ăn,

37

thuận lợi, ưu điểm, khuyết điểm trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền

hạn của đối tượng kiểm tra để có cơ sở nhận xét, đánh giá, xem xét, k ết luận

một cách chính xác.

Thứ hai: Phát huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên

Đảng Cộng sản Vi ệt Nam là đội tiên phong c ủa giai c ấp công nhân,

đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam;

đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và

của dân tộc. Đội ngũ đảng viên bao gồm những phần tử tiên tiến, giác ngộ lý

tưởng, giác ngộ giai cấp, tự nguyện đứng trong hàng ng ũ của Đảng; là những

chiến sĩ cách mạng phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng. Đó là cơ sở tư

tưởng và t ổ ch ức để tổ ch ức đảng và đảng viên t ự giác ch ấp hành Điều lệ

Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp lu ật của Nhà nước

và nhiệm vụ được giao; tự giác tự kiểm tra và ch ịu sự kiểm tra, giám sát c ủa

tổ chức đảng có thẩm quyền.

Phát huy tinh th ần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên cũng là một

vấn đề có tính nguyên t ắc. Vì vậy, tiến hành công tác ki ểm tra, thi hành k ỷ

luật đảng, chủ thể kiểm tra cần coi trọng và làm tốt công tác tư tưởng đối với

đối tượng kiểm tra, dựa vào tính t ự giác của đối tượng kiểm tra để giúp cho

việc xem xét, kết luận được khách quan, chu ẩn xác. Đồng thời, không ngừng

xây dựng, phát huy và nâng cao tinh th ần tự giác, t ự phê bình và phê bình,

tính chi ến đấu của đối tượng ki ểm tra là m ục đích của công tác xây d ựng

Đảng. Đối với những trường hợp quanh co, gi ấu diếm sai lầm, khuyết điểm,

cần kiên trì động viên, thuy ết phục, kết hợp với đấu tranh phê bình và công

tác thẩm tra, xác minh để làm rõ đúng sai, giúp vi ệc kết luận và xử lý được

chuẩn xác.

Thứ ba: Phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của nhân dân

Cách mạng là s ự nghi ệp của nhân dân d ưới sự lãnh đạo của Đảng.

Đảng không có m ục đích tự thân, mục đích của Đảng là ph ụng sự Tổ quốc,

38

phụng sự nhân dân. M ột trong nh ững ph ương châm xây d ựng Đảng là t ổ

chức, động viên qu ần chúng tham gia xây d ựng Đảng, góp ph ần ki ểm tra,

giám sát hoạt động của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên.

Mọi hoạt động của tổ chức đảng và cán b ộ, đảng viên luôn được nhân

dân quan tâm, nh ận biết và giám sát, ki ểm tra. Th ực tiễn đã chứng minh có

nhiều vụ việc tiêu cực xảy ra trong n ội bộ Đảng là do nhân dân phát hi ện và

phản ảnh với tổ chức đảng có th ẩm quyền. Vì vậy, tiến hành công tác ki ểm

tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng phải coi trọng việc phát huy tinh thần trách

nhiệm xây dựng Đảng của nhân dân. Nh ững ý ki ến nhân dân đóng góp đúng

phải trân tr ọng tiếp thu, khuy ến khích, cổ vũ; nếu có ý ki ến chưa đúng phải

giải thích để nhân dân hi ểu rõ, tạo nên sự đoàn kết, thống nhất giữa tổ chức

đảng, đảng viên với quần chúng.

Thứ tư: Làm tốt công tác thẩm tra, xác minh

Một trong nh ững yêu c ầu cơ bản của công tác ki ểm tra là ph ải làm

rõ đúng, sai; đánh giá, k ết luận đúng ưu điểm, khuy ết điểm, vi ph ạm (nếu

có) của tổ ch ức đảng và đảng viên được ki ểm tra để có quy ết định chính

xác. Ngoài vi ệc phải dựa vào t ổ chức đảng, phát huy tinh th ần tự giác c ủa

tổ chức đảng và đảng viên được ki ểm tra, phát huy trách nhi ệm xây d ựng

Đảng của nhân dân, ph ải hết sức coi tr ọng và làm t ốt công tác th ẩm tra,

xác minh.

Thực hi ện tốt công tác th ẩm tra, xác minh chính là th ực hi ện tốt mối

quan hệ gi ữa tự giác và b ắt bu ộc trong công tác ki ểm tra, thi hành k ỷ lu ật

đảng. Trong điều ki ện tính t ự giác, tự phê bình và phê bình trong Đảng nói

chung, trong không ít t ổ chức đảng và đảng viên nói riêng b ị giảm sút, tính

chiến đấu không cao, có n ơi bị tê li ệt, để làm rõ đúng sai, ph ải, trái, tìm ra

chứng lý của vụ việc, làm rõ vi ph ạm của tổ chức đảng và đảng viên, đòi hỏi

phải làm tốt công tác thẩm tra, xác minh.

39

Thứ năm: Khi tiến hành công tác ki ểm tra, cần có sự phối hợp giữa ủy

ban kiểm tra với các tổ chức đảng, thanh tra nhà nước, thanh tra nhân dân và

các đoàn thể chính trị - xã hội có liên quan

Một trong nh ững phương pháp cơ bản của công tác ki ểm tra, thi hành

kỷ luật đảng là ph ải phối hợp chặt chẽ với công tác thanh tra c ủa Nhà nước,

thanh tra nhân dân, công tác ki ểm tra của các đoàn thể chính tr ị - xã h ội, xã

hội ngh ề nghi ệp và ph ối hợp với các ban, ngành có liên quan c ủa Đảng và

Nhà nước.

Đảng ta là đảng cầm quyền, có đặc điểm đảng viên vừa là thành viên

của Đảng, vừa là công dân, là thành viên c ủa tổ chức nhà nước và các đoàn

thể chính trị - xã hội do Đảng lãnh đạo. Vì vậy, nếu không có cơ chế phối hợp

chặt chẽ, phù hợp, nhất là trong công tác ki ểm tra, thi hành k ỷ luật đảng đối

với cán bộ, đảng viên của Đảng dễ dẫn đến tình tr ạng thiếu tập trung, th ống

nhất, ch ồng chéo, s ơ hở, ki ểm tra, gi ải quyết vụ vi ệc không k ịp th ời, chính

xác. Sự phối hợp trong công tác ki ểm tra, thi hành k ỷ luật đảng với công tác

thanh tra nhà n ước, thanh tra c ủa đoàn thể chính tr ị - xã h ội và các t ổ ch ức

đảng trong khối nội chính đã trở thành tất yếu. Để công tác kiểm tra, thi hành

kỷ luật đảng bảo đảm có chất lượng và hiệu quả, phải có sự phối hợp chặt chẽ

giữa công tác kiểm tra, thi hành kỷ luật của Đảng với thanh tra của Nhà nước,

thanh tra nhân dân, thanh tra của các đoàn thể chính trị - xã hội, phối hợp giữa

uỷ ban ki ểm tra với các ban c ủa cấp uỷ, với tổ chức đảng trong các c ơ quan

bảo vệ pháp luật.

2.2. THẨM TRA, XÁC MINH TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG

2.2.1. Khái niệm thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng

2.2.1.1. Khái niệm thẩm tra trong công tác kiểm tra của Đảng

Thẩm tra là "điều tra, xem xét lại có đúng, có chính xác không một vấn

đề, một sự việc nào đó" [196, tr.922], hay diễn đạt một cách khác, là “điều tra,

tìm hiểu để xem xét lại điều đã kết luận hoặc khai báo trước có đúng, có chính

40

xác không ” [198, tr.541]. Theo T ừ điển Bách khoa Công an nhân dân Vi ệt

Nam: “Thẩm tra là điều tra, xem xét l ại kỹ lưỡng trên cơ sở tài liệu đã có, để

xác định rõ và có k ết luận chính xác về một người, một việc, một hiện tượng

theo yêu cầu nhất định” [193, tr.1079]. Trong đó, điều tra là tìm h ỏi, xem xét

để biết rõ sự thật. Như vậy, thẩm tra là ho ạt động tìm ki ếm, dò hỏi, thu th ập

thông tin, ch ứng cứ liên quan đến vụ vi ệc cần th ẩm tra để sự vi ệc đó được

chứng minh là đúng hay không.

Thẩm tra là một hoạt động rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, trong đó có các

lĩnh vực thu ộc công tác công an, ho ạt động kinh tế (th ẩm tra d ự án đầu tư,

thẩm tra d ự toán), công tác đảng (thẩm tra lý l ịch đảng viên), công tác làm

luật (thẩm tra dự án luật: là một bước (khâu) trong quá trình làm luật)…

Trong công tác ki ểm tra của Đảng, thẩm tra là ho ạt động của tổ chức

đảng tiến hành n ắm tình hình, tìm ki ếm, thu th ập thông tin, tài li ệu để xem

xét, nghiên c ứu về nh ững thông tin, s ự ki ện, sự vi ệc có liên quan đến nội

dung, đối tượng kiểm tra. Thực chất của hoạt động thẩm tra là ti ếp xúc v ới

các đối tượng cần thiết để tìm ki ếm, thu th ập thông tin, t ư liệu, tiếp cận hồ

sơ, nắm bắt thông tin, tìm ki ếm nh ững cơ sở ban đầu về những ch ứng cứ,

nhân ch ứng, vật ch ứng… để ph ục vụ cho vi ệc xác minh, th ẩm định, kết

luận sau này.

2.2.1.2. Khái niệm xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng

Xác minh là "làm cho rõ s ự thật qua th ực tế và ch ứng cứ cụ thể" [196,

tr.1140], hay “làm rõ thực chất sự việc với những chứng cớ cụ thể” [198, tr.1848].

Cũng như thẩm tra, xác minh là một hoạt động có trong nhiều lĩnh vực,

như: công tác đảng (xác minh lý lịch đảng viên), công tác công an (ho ạt động

xác minh đối tượng kiểm tra nghiệp vụ: “là quá trình điều tra nghiên cứu, làm

rõ trong quá trình ki ểm tra nghi ệp vụ nh ằm kết lu ận nh ững vấn đề về đối

tượng nghi có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia” [193, tr.1318]; hay hoạt

động xác minh hiềm nghi: “là quá trình điều tra nghiên cứu cụ thể và kết luận,

41

làm rõ thực chất vấn đề nghi vấn về đối tượng để kết luận chính xác đối tượng

có phạm tội hay không” [193, tr.1319])…

Còn trong công tác ki ểm tra của Đảng, xác minh là ti ến hành các ho ạt

động mang tính xem xét, tra cứu, phân tích, so sánh, thẩm định, đối chiếu các

chứng cứ thu thập được trong quá trình thẩm tra với thực tế, với các quy định

của Đảng, Nhà n ước để tìm ra các ch ứng cứ liên quan đến nội dung, đối

tượng kiểm tra.

Xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng là những hoạt động diễn ra

tiếp theo ho ạt động th ẩm tra. Nh ưng, không ph ải lúc nào c ũng cứng nh ắc

thẩm tra tr ước, xác minh sau, mà trong th ực tế hoạt động thẩm tra cùng đan

xen với hoạt động xác minh. Hai hoạt động này có quan hệ mật thiết với nhau,

hoạt động này b ổ sung cho ho ạt động kia và ng ược lại, nh ằm làm rõ h ơn

những thông tin, s ự vi ệc, sự ki ện thông qua nhân ch ứng, vật ch ứng đã thu

thập được ở khâu thẩm tra để đối chiếu, so sánh, sàng l ọc nhằm tìm ra ch ứng

cứ xác thực, đúng đắn; phân biệt rõ đúng sai và kết luận một cách khách quan,

chính xác về con người và sự việc kiểm tra.

2.2.1.3. Khái niệm thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng

Thẩm tra, xác minh là hai khái ni ệm không đồng nhất nhưng thường đi

kèm và quan hệ mật thiết với nhau. Thực tiễn công tác kiểm tra của Đảng cho

thấy, khái ni ệm thẩm tra, xác minh được dùng với tư cách là m ột khái ni ệm

ghép để chỉ một hoạt động có tính tổng hợp, hệ thống trong công tác ki ểm tra

của Đảng.

Theo Đề tài khoa h ọc (mã số KHBĐ-0015, do Nguy ễn Anh Liên làm

Chủ nhiệm), thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng là:

quá trình th ực hi ện các ho ạt động tìm ki ếm, phát hi ện, thu th ập,

xem xét, tra c ứu, th ẩm định, đánh giá và s ử dụng các ch ứng cứ;

phân tích sự liên hệ và sự phù hợp giữa các ch ứng cứ với nhau và

với vụ việc theo ph ương pháp công tác đảng, để tìm ra s ự thật, chỉ

42

rõ bản chất của sự việc và hành vi của các đối tượng được kiểm tra

để kết luận rõ đúng sai [115, tr.31]

Khái niệm trên đây có điểm chưa đầy đủ, chưa rõ nh ư: chưa xác định

được chủ thể tiến hành ho ạt động thẩm tra, xác minh. Bên c ạnh đó, việc nêu

cụ thể hoạt động mang tính li ệt kê, chỉ việc là chưa bao quát được vấn đề, dễ

thiếu, sót nội dung cần định nghĩa.

Theo Tài li ệu hướng dẫn nghi ệp vụ ban hành n ăm 2012 c ủa Uỷ ban

Kiểm tra Trung ương:

Thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng là vi ệc chủ

thể kiểm tra ti ến hành các ho ạt động phát hi ện, tìm ki ếm, thu th ập,

xem xét, tra c ứu, thẩm định, đánh giá và s ử dụng những chứng cứ,

phân tích thông tin, tài li ệu đã thu th ập được liên quan đến vụ việc

kiểm tra; phân tích mối liên hệ và sự phù hợp giữa các chứng cứ với

nhau và v ới vụ vi ệc ki ểm tra theo các nguyên t ắc, ph ương pháp

công tác Đảng để tìm ra sự thật, chỉ đúng bản chất thông tin, chứng

cứ đó nhằm chứng minh đối tượng được kiểm tra có hay không có

khuyết điểm hoặc vi ph ạm, giúp cho vi ệc kết luận, xử lý bảo đảm

công minh, chính xác, kịp thời [175, tr.79].

Khái ni ệm này khá dài, mang tính gi ải thích, ch ỉ ra cách làm c ụ th ể,

hoặc có ch ỗ chưa rõ nh ư: cho rằng chủ thể kiểm tra ti ến hành các ho ạt động

phát hi ện, tìm ki ếm… là ch ưa đúng th ực tế, bởi ch ủ th ể ki ểm tra (là ban

thường vụ cấp uỷ, uỷ ban ki ểm tra…) ch ưa bao gi ờ tiến hành các công vi ệc

việc cụ thể đó, mà do các cán b ộ thừa hành th ực hiện, trên cơ sở giao nhi ệm

vụ và chỉ đạo, điều hành của ban thường vụ, thường trực cấp uỷ, hoặc uỷ ban,

thường trực uỷ ban kiểm tra.

Từ khái niệm chung về thẩm tra, xác minh, k ế thừa quan điểm của các

tác giả và thực tiễn vừa qua, tác gi ả luận án đưa ra khái ni ệm như sau: Thẩm

tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng là ho ạt động nghiệp vụ khi

43

tiến hành công tác ki ểm tra c ủa Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo, ch ỉ đạo, điều

hành của chủ thể kiểm tra, được thực hiện thông qua một số cán bộ, nhằm tìm

ra các bằng chứng, chứng cứ cụ thể, xác thực, qua đó thẩm định, phân tích để

làm rõ sự thật, làm căn cứ để chủ thể kiểm tra nhận xét, đánh giá, kết luận và

xử lý công minh, chính xác đối tượng kiểm tra.

Khái niệm trên đây làm rõ được bản chất của thẩm tra, xác minh như vị

trí, tính chất, chủ thể chỉ đạo, chủ thể thực hiện, mục tiêu của hoạt động thẩm

tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng. Hoạt động thẩm tra, xác minh

là hoạt động nghiệp vụ, mang tính đặc thù của công tác ki ểm tra, là cách ti ến

hành bước đi cụ th ể để tìm ki ếm chứng cứ, làm rõ đúng, sai của đối tượng

kiểm tra, đòi hỏi phải có kỹ năng, trình độ, kinh nghiệm. Việc tiến hành thẩm

tra, xác minh trực tiếp do đội ngũ cán bô kiểm tra tiến hành, theo kế hoạch và

sự chỉ đạo, điều hành của đại diện chủ thể kiểm tra. Bản ch ất, mục tiêu của

thẩm tra, xác minh là để ch ủ th ể ki ểm tra xem xét, k ết lu ận, xử lý k ết qu ả

kiểm tra một cách công minh, chính xác.

Như vậy, có thể nói, hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm

tra của Đảng thực chất là sự tìm ki ếm, thu th ập, tra cứu, đánh giá các ch ứng

cứ bằng ph ương pháp phân tích, đối chi ếu, so sánh m ột cách khoa h ọc sâu

sắc, có h ệ th ống và có định hướng vào quá trình gi ải quy ết nội dung, đối

tượng kiểm tra nhằm làm rõ bản chất của vụ việc, giúp cho đối tượng kiểm tra

nhận thức rõ nh ững khuyết điểm, vi ph ạm và tham mưu giúp cấp ủy, ủy ban

kiểm tra các c ấp kết luận, xử lý vụ việc một cách công minh, chính xác; đối

tượng ki ểm tra “tâm ph ục khẩu phục”, góp ph ần xây d ựng Đảng ngày càng

trong sạch, vững mạnh.

Có thể xem xét, phân tích khái ni ệm thẩm tra, xác minh từ một số khía

cạnh chủ yếu sau:

Một là, thẩm tra, xác minh như là một công cụ quan trọng, một nguyên

tắc cơ bản trong khâu tìm ki ếm, phát hi ện, thu th ập thông tin, ch ứng cứ liên

44

quan đến nội dung, đối tượng cần thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra

của Đảng. Đây cũng là ph ương pháp hi ệu quả để tìm ra s ự thật, bản chất sự

việc giúp các cấp ủy, tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét kết luận, xử lý một

cách nghiêm minh, chính xác đối với các nội dung và đối tượng vi phạm.

Hai là, hoạt động thẩm tra, xác minh là khâu r ất quan trọng trong công

tác kiểm tra của Đảng, nhưng phải luôn thực hiện công khai, dân ch ủ, tự phê

bình và phê bình để xem xét, tra c ứu, th ẩm định, đánh giá, phân tích và s ử

dụng các chứng cứ nhằm làm rõ bản chất của sự việc và hành vi, nội dung và

đối tượng kiểm tra để kết luận rõ đúng sai đảm bảo đúng nguyên tắc, phương

pháp công tác đảng.

Ba là, mục đích, yêu cầu cơ bản của thẩm tra, xác minh là tìm ra b ản

chất, làm rõ s ự th ật bằng ch ứng cứ xác th ực trên c ơ sở khoa h ọc, khách

quan. Từ chứng cứ qua th ẩm tra, xác minh đã được thẩm định giúp cho các

tổ chức đảng có th ẩm quyền kết luận và ra quy ết định đối với các nội dung,

đối tượng kiểm tra. Độ chính xác và hiệu quả của các kết luận, quyết định xử

lý của tổ chức đảng có th ẩm quyền đối với đối tượng ki ểm tra ch ủ yếu tùy

thuộc vào kết quả và độ chính xác của các chứng cứ thu thập được qua thẩm

tra, xác minh.

Ngoài ra, khi bàn đến ho ạt động th ẩm tra, xác minh trong công tác

kiểm tra của Đảng, có một khái niệm cũng rất cần được đề cập đến, bởi nó có

ý nghĩa rất quan trọng và là yếu tố tất yếu phải tìm ki ếm, phải thu th ập được

mới đem lại kết quả trong hoạt động thẩm tra, xác minh, đó là chứng cứ.

Từ điển Tiếng Việt do Vi ện Ngôn ng ữ học xuất bản định nghĩa chứng

cứ là “cái được dẫn ra để làm căn cứ xác định điều gì đó là có th ật” [196,

tr.192]; Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên định nghĩa chứng cứ

là “cái được dẫn ra để dựa vào đó mà xác định điều gì đó đúng hay sai, th ật

hay giả” [198, tr.415]. Qua đó có th ể hi ểu, chứng cứ chính là nh ững cái có

thật, được dùng làm c ơ sở để xem xét, k ết lu ận về một hành vi hay m ột sự

45

việc. Chứng cứ là cái đã xảy ra, là th ực tế khách quan, t ồn tại ngoài ý mu ốn

của con ng ười. Mọi sự suy di ễn, phỏng đoán hay tưởng tượng… đều không

thể thay cho chứng cứ.

Trong hoạt động tố tụng hình sự, chứng cứ là những tài liệu thực tế mà

các cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án làm căn cứ theo trình tự luật định để xác

định có hay không có hành vi ph ạm tội, người thực hiện hành vi ph ạm tội và

những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án. Chứng

cứ được xác định bằng: vật ch ứng; lời khai c ủa ngu ời làm ch ứng, ng ười bị

hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; kết

luận giám định; biên bản về hoạt động điều tra, xét x ử và các tài li ệu khác.

Chứng cứ là ph ương tiện để xác minh s ự thật về vụ án. Lu ật có một số yêu

cầu đối với chứng cứ nhằm bảo đảm tính xác thực, cũng như kiểm tra và đánh

giá đúng đắn ch ứng cứ: ch ứng cứ phải ch ứa đựng nh ững tài li ệu th ực tế có

liên quan đến vụ án cụ thể; phải được rút ra từ những nguồn do luật quy định.

Trong công tác kiểm tra của Đảng, khi tiến hành kiểm tra tổ chức đảng

hoặc đảng viên khi có d ấu hiệu vi phạm; giải quyết đơn thư tố cáo, khiếu nại

hay kết thúc m ột cu ộc ki ểm tra ch ấp hành thì ph ải kết lu ận được vi ệc làm

đúng, sai của đối tượng kiểm tra để quyết định xử lý hoặc đề nghị cấp có thẩm

quyền xử lý kỷ luật một cách thỏa đáng. Vì vậy, trong hoạt động thẩm tra, xác

minh không chỉ tìm chứng cứ để kết luận hành vi của đối tượng kiểm tra có vi

phạm hay không, mà còn ph ải tìm cả nh ững ch ứng cứ để kết lu ận vi ệc làm

đúng, tốt của đối tượng kiểm tra. Đó chính là nh ững điểm cơ bản của chứng

cứ trong hoạt động kiểm tra của Đảng.

Vậy, chứng cứ trong hoạt động thẩm tra xác minh trong công tác ki ểm

tra của Đảng là những sự vật, hiện tượng có thật, liên quan đến nội dung, đối

tượng kiểm tra; gi ải quyết tố cáo, khi ếu nại kỷ luật đảng, được các tổ chức

đảng, ủy ban ki ểm tra các c ấp thu th ập trong quá trình th ẩm tra, xác minh,

dùng làm căn cứ để kết luận việc làm đúng, sai của đối tượng kiểm tra.

46

2.2.2. Vị trí, vai trò, đặc điểm của thẩm tra, xác minh trong công

tác kiểm tra của Đảng

2.2.2.1. Vị trí, vai trò của thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra

của Đảng

Trong công tác kiểm tra, giám sát, kiểm kê, kiểm soát, V.I.Lênin rất coi

trọng công tác th ẩm tra, xác minh; coi tr ọng phương pháp đối chiếu, so sánh,

cụ thể, tỉ mỉ với công việc, xem xét, cụ thể trên hồ sơ, tài liệu, sổ sách, chứng

từ, làm rõ đúng, sai, ph ải trái, làm rõ ch ứng lý để kết luận được chuẩn xác.

Người phê phán thái độ kiểm tra, giám sát quan liêu, thiếu dân chủ, không sâu

sát, trực tiếp tại chỗ, không xem xét c ụ thể hồ sơ, tài liệu, sổ sách, không coi

trọng thực hiện công tác th ẩm tra, xác minh, mà ch ỉ nghe báo cáo trên gi ấy.

Lênin chỉ rõ: "các ủy ban nhà máy đang muốn có một sự kiểm soát thật sự của

công nhân, chứ không phải là một sự kiểm soát trên giấy tờ" [105, tr.303]. Và

Người yêu cầu: phải "thực sự cầu thị, bằng cách hỏi han tỉ mỉ, kiểm tra các

con số, chứ không ch ỉ tin vào l ời nói..." [109, tr.389]. V.I.Lênin nêu rõ cách

thức thực hiện công tác thẩm tra, xác minh là phải:

đưa ra các tài li ệu cụ th ể, th ực tế, có s ố li ệu, về nh ững lực lượng

nào (trước hết là các đảng viên, sau đến nh ững người ngoài Đảng

nhưng phải tuyệt đối trung th ực) mà chúng ta có để tiến hành một

cuộc kiểm tra th ực tế. Số lượng chuyên gia ở các ngành, s ố lượng

đồng chí có kinh nghi ệm trong công tác hành chính, trong công tác

quản lý [107, tr.417].

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh v ề công tác ki ểm tra, ph ương pháp thi

hành kỷ luật đảng, Người cho rằng: để thi hành k ỷ luật bảo đảm công minh,

chính xác, kịp thời, đúng phương châm, nguyên tắc, thủ tục thì phải coi trọng

công tác kiểm tra và người đi kiểm tra phải chú trọng khâu thẩm tra, xác minh

để xem xét s ự việc, làm rõ đúng, sai, nội dung, tính ch ất, mức độ, tác hại và

nguyên nhân của vi phạm, giúp cho việc kết luận và xử lý vi phạm được chuẩn

47

xác. Hồ Chí Minh chỉ rõ: "…cần phải phân tách rõ ràng cái cớ sai lầm, phải xét

kỹ lưỡng việc nặng hay nhẹ, phải dùng xử phạt cho đúng" [118, tr.284].

Trong công tác ki ểm tra, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đề cao vị trí,

vai trò của thẩm tra, xác minh. V ề phương châm, ph ương pháp xem xét, thi

hành kỷ luật, Điều lệ Đảng Cộng sản Đông Dương được thảo luận và thông

qua tại Hội ngh ị lần th ứ nhất Ban Ch ấp hành Trung ương Đảng tháng 10-

1930 ghi rõ: “Tr ước khi quyết định kỷ luật, tổ chức của Đảng phải điều tra,

nghiên cứu tại chỗ cho rõ ràng s ự thực, tập hợp đầy đủ chứng cớ mọi mặt,

trên cơ sở đó mà phân tích m ột cách c ụ thể, toàn di ện và khách quan , xác

định đúng mức độ, tính ch ất, nguyên nhân” [128, tr.376]. Tại Đại hội đại

biểu toàn qu ốc lần th ứ III, Đảng ta đã ch ỉ rõ khuynh h ướng lệch lạc trong

thi hành k ỷ luật:

Một số đồng chí trong các c ấp ủy khi thi hành k ỷ lu ật đảng viên,

không chú ý làm công tác t ư tưởng một cách sâu sắc và tỉ mỉ, thiếu

nhẫn nại, kiên trì thuyết phục, thiếu phân tích tính chất sai lầm, làm

rõ nguồn gốc sai lầm và vạch rõ ph ương pháp sửa chữa, sau đó lại

không theo dõi, giúp đỡ, tạo điều kiện cho đảng viên ph ạm lỗi tiến

bộ [92, tr.165].

Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III

đã quy định: “Vi ệc thi hành k ỷ lu ật là để đảm bảo cho k ỷ lu ật của Đảng

được nghiêm minh… phải điều tra nghiên cứu kỹ càng và căn cứ vào những

bằng ch ứng xác th ực” [92, tr.812]. Đến Đại hội lần th ứ IV, Điều lệ Đảng

quy định: “Việc thi hành kỷ luật của Đảng phải đảm bảo chặt chẽ, kịp thời…

phải hết sức th ận tr ọng; ph ải điều tra, nghiên c ứu kỹ càng, đi sâu tìm hi ểu

bản ch ất, tránh ch ỉ nhìn hi ện tượng và ph ải căn cứ vào nh ững bằng ch ứng

xác thực” [79, tr.298].

Có thể nhìn nhận thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng

ở một số vị trí, vai trò sau:

48

Một là, th ẩm tra, xác minh là khâu quan tr ọng, không th ể thiếu được

trong toàn bộ quy trình thực hiện công tác kiểm tra của Đảng

Yêu cầu của công tác ki ểm tra, giám sát và k ỷ lu ật đảng là xem xét

khách quan, kết luận chính xác, xử lý nghiêm minh. Để đạt mục đích đó, phải

tiến hành thẩm tra, xác minh để thu thập chứng cứ, chuẩn bị chứng lý sắc bén

cho các kết luận kiểm tra. Muốn tìm được chứng cứ, xây dựng được chứng lý

chỉ có thể thực hiện được sau khi đã tiến hành thẩm tra, xác minh.

Trong thực tiễn hiện nay, các vi phạm đang có xu hướng ngày càng gia

tăng với biểu hiện rất đa dạng, nội dung và tính ch ất phức tạp, thủ đoạn tinh

vi, quy mô rộng cộng với tính tự giác, trung thực, tinh thần tự phê bình và phê

bình của một bộ phận cán bộ, đảng viên gi ảm sút làm cho công tác ki ểm tra

gặp nhi ều khó kh ăn. Tình hình đó đòi hỏi ph ải hết sức chú tr ọng công tác

thẩm tra, xác minh, coi đó là khâu then ch ốt trong công tác ki ểm tra c ủa

Đảng; nếu chưa thẩm tra, xác minh hoặc thẩm tra, xác minh chưa rõ ràng, chu

đáo thì chưa chưa được kết luận, xử lý đối với nội dung và đối tượng kiểm tra.

Thẩm tra, xác minh t ốt, có ch ất lượng góp ph ần có tính quy ết định đến kết

quả kiểm tra, ngược lại sẽ ảnh hưởng đến công tác kiểm tra, làm cho công tác

kiểm tra hạn chế, khuyết điểm, thậm chí yếu kém.

Hai là, ch ất lượng và kết quả của ho ạt động thẩm tra, xác minh tr ực

tiếp quyết định độ chính xác c ủa các kết luận và độ xác đáng của các quy ết

định xử lý của tổ chức đảng có thẩm quyền đối với đối tượng kiểm tra

Mục đích, yêu cầu của công tác ki ểm tra là phải xem xét, đánh giá, kết

luận chính xác ưu điểm, khuyết điểm, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân

vi ph ạm của tổ ch ức đảng và đảng viên được ki ểm tra để quyết định xử lý

theo thẩm quyền. Chất lượng, hiệu quả, hiệu lực công tác ki ểm tra tu ỳ thuộc

rất lớn vào việc đánh giá, kết luận đó. Muốn vậy, việc thẩm tra, xác minh phải

có ch ất lượng, hi ệu qu ả, ph ải tìm ra được các b ằng ch ứng khách quan, xác

đáng để chứng minh cho các kết luận kiểm tra. Kết quả thẩm tra, xác minh là

49

căn cứ, cơ sở để tổ chức đảng có th ẩm quyền có đầy đủ thông tin đánh giá,

nhận xét, quyết định đến vấn đề, nội dung ki ểm tra; điều đó cũng ảnh hưởng

đến sinh mệnh chính trị của đối tượng kiểm tra.

Ba là, thẩm tra, xác minh góp phần giúp công tác kiểm tra giữ gìn tính

nghiêm minh c ủa kỷ lu ật đảng, bảo đảm sự công b ằng trong t ổ ch ức, xây

dựng nội bộ đoàn kết, trong sạch, vững mạnh

Hoạt động thẩm tra, xác minh ph ải đi đến cùng để nhằm làm rõ đúng,

sai, vi ph ạm hay không vi ph ạm của đối tượng được ki ểm tra; thanh minh

cho nh ững đảng viên, t ổ ch ức đảng bị oan, sai, x ử lý nghiêm minh, chính

xác nh ững cán b ộ, đảng viên và t ổ ch ức đảng có vi ph ạm. Th ẩm tra, xác

minh tốt còn góp ph ần ngăn ngừa, giáo dục cán bộ, đảng viên trong t ổ chức

đảng được kiểm tra có vi ph ạm, tiêu cực và cả những tổ chức đảng và đảng

viên chưa được kiểm tra. Mặt khác, qua th ẩm tra, xác minh, ch ỉ ra cái đúng,

mặt ưu điểm, vi ệc nghiêm túc ch ấp hành các quy định của tổ ch ức đảng,

đảng viên để công khai, phát huy. Ho ạt động công tác ki ểm tra nói chung,

hoạt động th ẩm tra xác minh nói riêng đều nhằm góp ph ần xây d ựng Đảng

trong sạch, vững mạnh.

Để thực hiện phương châm "công minh, chính xác, kịp thời" trong việc

thi hành kỷ luật của Đảng, phải quan tâm đến khâu thẩm tra, xác minh. Th ực

tiễn đã chứng minh, nhi ều vụ việc sau ki ểm tra kết lu ận, xử lý không chính

xác, xử lý oan, sai gây hậu quả nghiêm trọng đến sinh mệnh chính trị của cán

bộ, đảng viên, ng ược lại nhi ều tr ường hợp xử lý không nghiêm có nguyên

nhân từ khâu thẩm tra, xác minh. Th ực tiễn cũng chỉ rõ tình hình tiêu c ực, vi

phạm nhất là tệ tham nhũng đã, đang và vẫn tiếp tục xảy ra ngày càng nghiêm

trọng do nhi ều nguyên nhân, m ột trong nh ững nguyên nhân c ơ bản là khâu

thẩm tra, xác minh còn nhi ều hạn chế, bất cập, không tìm ra được chứng cứ,

nên không có cơ sở vững chắc để xem xét, quyết định xử lý.

50

Bốn là, th ẩm tra, xác minh góp ph ần thúc đẩy tính tự giác, trung th ực

tiên phong của đảng viên

Thẩm tra, xác minh t ốt không những thể hiện trách nhiệm, chất lượng,

hiệu quả của hoạt động kiểm tra mà còn góp ph ần thúc đẩy tính tự giác của

đảng viên. Hoạt động thẩm tra, xác minh có ch ất lượng sẽ chỉ ra đúng những

mặt tốt cũng nh ư nh ững mặt thi ếu sót, h ạn ch ế từ nh ững ch ứng cứ cụ th ể,

những kết quả tìm thấy, những luận giải có lý, có tình. Qua đó, cán bộ, đảng

viên, tổ chức đảng nhìn lại mình, soi chi ếu mình rõ h ơn, có trách nhi ệm hơn

với tổ chức và với những việc do bản thân mình làm để nghiêm túc nhìn nhận,

đánh giá, tự phê bình một cách chân thành, thẳng thắn, nghiêm túc, cầu thị về

cả nh ững ưu điểm và khuy ết điểm. Bên c ạnh đó, th ẩm tra, xác minh còn

khuyến khích quần chúng nâng cao trách nhiệm tham gia xây dựng Đảng, góp

ý cho tổ chức đảng và cán b ộ, đảng viên nh ằm giữ uy tín c ủa Đảng và nâng

cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng.

2.2.2.2. Đặc điểm của thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng

Một là, thẩm tra, xác minh là ho ạt động trong nội bộ Đảng, liên quan

đến sự lãnh đạo, thực hiện và kỷ luật đảng, chủ yếu giữa các tổ chức đảng và

từng đảng viên. Tuy nhiên, do Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn bộ

xã hội, nên nhi ều vấn đề trong nội bộ Đảng cũng liên quan đến quần chúng

nhân dân, đến các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.

So với các ho ạt động nghiệp vụ khác của các cơ quan điều tra, thanh

tra, nội chính, tư pháp, giữa hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm

tra với ho ạt động thẩm tra, xác minh trong công tác b ảo vệ chính tr ị nội bộ

của Đảng có khá nhi ều nét t ương đồng vì đây đều là các ho ạt động nội bộ

Đảng, với mục đích củng cố tổ chức, nội bộ trong sạch, vững mạnh. Còn khi

so sánh với các hoạt động nghiệp vụ khác, hoạt động thẩm tra, xác minh trong

công tác kiểm tra của Đảng cũng như hoạt động điều tra hình sự và thanh tra

của Nhà nước có nh ững điểm tương đồng ở chỗ, đều có mục đích chung là

51

thông qua ho ạt động tìm tòi, thu th ập, tra cứu, phân tích, đối chiếu, so sánh,

thẩm định,… để làm rõ s ự thật của sự việc, hiện tượng để kết luận rõ đúng,

sai; phát huy nh ững nhân tố tích cực, phát hi ện, phòng ng ừa, xử lý vi ph ạm,

góp phần cho ho ạt động lãnh đạo, quản lý đạt hiệu quả, có tr ật tự, nền nếp,

theo khuôn kh ổ, từ đó, tạo điều ki ện để từng bước hoàn thi ện cơ ch ế lãnh

đạo, quản lý, tăng cường kỷ cương, kỷ luật để xây dựng tổ chức trong sạch,

vững mạnh.

Chủ thể chính ch ỉ đạo và tr ực tiếp thực hiện thẩm tra, xác minh trong

công tác kiểm tra là cấp ủy, ủy ban kiểm tra, cán bộ kiểm tra; còn trong công

tác bảo vệ chính trị nội bộ là ban tổ chức, cán bộ tổ chức của cấp ủy; còn chủ

thể thanh tra là các c ơ quan qu ản lý Nhà n ước; chủ thể trong ho ạt động điều

tra gồm có: c ơ quan điều tra trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân,

Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực

lượng Cảnh sát biển.

Hai là, nội dung th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng

là xem xét, đánh giá những vi phạm trong việc thực hiện Cương lĩnh chính trị,

Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng,

pháp luật của Nhà nước của các tổ chức đảng và đảng viên để kết luận và kiến

nghị xử lý kỷ luật. Trong khi đó, nội dung thanh tra là xem xét, đánh giá, xử

lý việc thực hiện chính sách, pháp lu ật. Nội dung của hoạt động điều tra hình

sự là điều tra, xác minh t ổ chức và cá nhân vi ph ạm pháp luật của Nhà nước,

nghĩa vụ của công dân…

Đối tượng th ẩm tra, xác minh có liên quan đến các c ấp ủy, tổ ch ức

đảng, đảng viên; đối tượng thanh tra liên quan đến các cơ quan, tổ chức, cá

nhân chịu sự quản lý; còn đối tượng điều tra liên quan đến các loại tội phạm.

Ba là, thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng được tiến

hành theo nguyên t ắc và ph ương pháp công tác đảng: công khai, dân ch ủ,

dựa vào t ổ chức đảng, phát huy tính t ự giác của tổ chức đảng và đảng viên,

52

phát huy trách nhi ệm xây d ựng Đảng của qu ần chúng, đối tượng ki ểm tra

đồng th ời là ch ủ th ể ki ểm tra nên v ừa có quy ền, vừa có trách nhi ệm tự

kiểm tra.

Phương pháp thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng - là

hoạt động nội bộ của Đảng - nên, ph ải lấy tự phê bình và phê bình làm bi ện

pháp chính yếu. Khi tiến hành thẩm tra, xác minh phải dùng phương pháp vận

động, thuyết phục, cảm hoá, nêu gương là chủ yếu, không được “cài bẫy”, ép

buộc hoặc hứa hẹn vô nguyên tắc.

Phương pháp thẩm tra, xác minh trong công tác b ảo vệ chính trị nội bộ

để làm rõ về lịch sử chính trị và chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên được

thực hi ện qua: thu th ập thông tin, tài li ệu; nghiên c ứu, phân tích, đánh giá,

phát hiện vấn đề cần xem xét v ề chính tr ị nội bộ. Việc nghiên cứu hồ sơ, lý

lịch của cán bộ, đảng viên chủ yếu thực hiện theo phương pháp nghiên cứu tại

chỗ. Trong quá trình th ực hiện, hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác

bảo vệ chính tr ị nội bộ còn có th ể thông qua c ơ quan ch ủ trì yêu c ầu các cơ

quan tra cứu, cung cấp thông tin từ tàng thư hồ sơ nghiệp vụ an ninh, cảnh sát,

quân đội, hồ sơ ta thu được của địch, tàng thư căn cước, trích xuất thông tin từ

các cơ sở dữ li ệu qu ản lý h ộ chi ếu, xu ất nh ập cảnh, đăng ký và qu ản lý

phương ti ện giao thông, thu ế, hải quan, ngân hàng…; đồng thời, có th ể yêu

cầu cán bộ, đảng viên gi ải trình, ti ếp xúc nhân ch ứng, người có trách nhi ệm,

quyền lợi liên quan, ng ười tố cáo, tố giác… ho ặc đề nghị các cơ quan ch ức

năng phối hợp, xác minh làm rõ một số nội dung, kể cả xác minh sự việc, con

người có liên quan đến yếu tố nước ngoài.

Trong khi đó, ho ạt động thanh tra ph ải th ực hi ện theo trình t ự, th ủ

tục, thẩm quyền được quy định tại Luật Thanh tra và các quy định khác của

pháp lu ật. Trong công tác thanh tra, ph ương pháp c ơ bản cũng dựa trên s ự

động viên, khuy ến khích, thuy ết ph ục nh ưng còn được sử dụng quy ền lực

hành chính.

53

Bốn là, trong quá trình th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của

Đảng không sử dụng các bi ện pháp nghi ệp vụ của các cơ quan bảo vệ pháp

luật như sử dụng cơ sơ bí mật, đặc tình, ngoại tuyến…

Trong hoạt động điều tra, cơ quan điều tra được áp dụng mọi biện pháp

do Bộ luật Tố tụng hình s ự quy định để xác định tội phạm và người đã thực

hiện hành vi ph ạm tội, lập hồ sơ đề ngh ị truy t ố. Trong điều tra hình s ự,

ngoài vi ệc gi ải thích, giáo d ục, thuy ết ph ục kẻ ph ạm tội, cơ quan điều tra

còn được áp d ụng các bi ện pháp nh ư trinh sát, đặc tình và các bi ện pháp

ngăn chặn khác.

Năm là , ho ạt động th ẩm tra, xác minh được th ực hiện theo các khâu:

lập kế ho ạch thẩm tra, xác minh, ti ến hành th ẩm tra, xác minh, báo cáo k ết

quả thẩm tra, xác minh và s ử dụng kết quả thẩm tra, xác minh để kết luận và

xử lý (nếu có vi phạm) theo thẩm quyền được quy định trong Điều lệ Đảng và

các quy định khác trong Đảng.

Về sử dụng các k ết qu ả thu được: kết qu ả th ẩm tra, xác minh trong

công tác ki ểm tra đảng được báo cáo trình t ập th ể cấp ủy, tổ chức đảng, ủy

ban kiểm tra xem xét, kết luận theo thẩm quyền; nếu không thuộc thẩm quyền

thì báo cáo c ấp có th ẩm quyền xem xét, x ử lý theo quy định. Đối với thanh

tra, sau khi có k ết quả thanh tra ph ải báo cáo, trình th ủ trưởng cơ quan xem

xét, ra kết luận và xử lý theo thẩm quyền. Đối với cơ quan điều tra, sau khi có

kết lu ận điều tra ph ải chuy ển hồ sơ sang c ơ quan ki ểm sát cùng c ấp để ra

quyết định truy tố bị can, chuyển hồ sơ sang Tòa án xét x ử; nếu chưa đủ yếu

tố cấu thành tội phạm phải có quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra.

Hoạt động điều tra hình s ự có nhi ệm vụ tiếp tục và mở rộng công tác

điều tra vụ án, vì đây là hoạt động đấu tranh chống tội phạm. Hoạt động thẩm

tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng chỉ được tiến hành theo đúng

nội dung đã đề ra trong kế hoạch, nội dung tố cáo, khiếu nại; không được làm

những việc ngoài kế hoạch hoặc ngoài nội dung tố cáo, khiếu nại. Tuy nhiên,

54

trong quá trình ti ến hành thẩm tra, xác minh, nếu phát hiện nội dung, tình ti ết

mới phải báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quy ết định; nếu cần giám định

kỹ thuật thì phải tiến hành trưng cầu giám định.

2.2.3. Nguyên tắc và th ẩm quyền, trách nhi ệm thẩm tra, xác minh

trong công tác kiểm tra của Đảng

2.2.3.1. Nguyên tắc thẩm tra, xác minh

Hiện nay ch ưa có văn bản chính th ống nào xác định nguyên tắc công

tác kiểm tra cũng như nguyên tắc hoạt động thẩm tra, xác minh. T ừ nguyên

tắc tổ chức sinh hoạt đảng và thực trạng vừa qua, tác giả luận án cho rằng quá

trình thẩm tra, xác minh phải thực hiện các nguyên tắc sau đây:

Một là, phải bám sát mục đích, yêu cầu, nội dung kiểm tra.

Thẩm tra, xác minh là m ột khâu trong quá trình ti ến hành cu ộc ki ểm

tra, nhằm phục vụ cuộc kiểm tra. Mục đích cuối cùng của hoạt động thẩm tra,

xác minh là tìm được chứng cứ xác thực, phải làm rõ sự thật, để kết luận nội

dung, đối tượng ki ểm tra, vì v ậy ph ải căn cứ và th ực hi ện bằng được mục

đích, yêu cầu cuộc kiểm tra mà chủ thể kiểm tra đã xác định. Có bám vào mục

đích, yêu cầu, nội dung ki ểm tra thì m ới có cơ sở từ khâu chu ẩn bị đến quá

trình thực hiện, là căn cứ để xác định đối tượng, phương pháp, cách thức thẩm

tra, xác minh. N ội dung ki ểm tra là c ơ sở, cái gốc, là yếu tố để xác định đối

tượng thẩm tra, xác minh. Nếu không bám vào nội dung kiểm tra thì quá trình

thẩm tra, xác minh s ẽ ch ệch hướng, tràn lan. Khi đã xác định rõ đối tượng

thẩm tra, xác minh s ẽ thuận lợi cho quá trình thu th ập tài liệu, chứng cứ, tiếp

cận đúng các cá nhân, t ổ chức có liên quan và d ự kiến các tình hu ống xảy ra

để giải quyết, hướng đến việc tìm ra bản chất, chỉ đúng sự thật bằng chứng cứ

và đã được kiểm chứng trở thành chứng lý kiểm tra.

Hai là, tiến hành thẩm tra, xác minh phải dân chủ, công khai, thận trọng,

chặt chẽ, công tâm, khách quan; không bị chi phối bởi bất kỳ sức ép nào

Dân chủ, công khai, thận trọng, chặt chẽ, công tâm, khách quan là điều

bắt buộc trong quá trình thẩm tra, xác minh, là quy định trong sinh hoạt đảng.

55

Có dân chủ thì mới phát huy được trí tuệ, sức mạnh của tổ chức đảng và đảng

viên, mới giúp cho vi ệc th ẩm tra, xác minh th ực hi ện nhanh chóng, có k ết

quả. Khi dân ch ủ trong Đảng, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình được

phát huy thì chất lượng công tác kiểm tra nói chung và thẩm tra, xác minh nói

riêng sẽ được nâng lên. Công tác kiểm tra liên quan đến sứ mạng chính trị của

tổ chức đảng và đảng viên, vì v ậy cần phải tiến hành th ận trọng, chặt chẽ và

hết sức khách quan, công tâm, không được thiên vị, mang động cơ cá nhân.

Hoạt động thẩm tra, xác minh phải công khai, minh bạch, không được bí mật,

vì đối tượng kiểm tra cũng đồng thời là chủ thể kiểm tra hoặc chủ thể tự kiểm

tra, họ biết và có trách nhiệm với các hành vi của mình.

Công tác kiểm tra nói chung và quá trình ti ến hành thẩm tra, xác minh

nói riêng là công việc phức tạp, đầy khó khăn, liên quan trực tiếp đến tổ chức

đảng và cán b ộ, đảng viên, nh ất là đối với cán b ộ có ch ức quy ền. Vì v ậy,

trong chừng mực nhất định sẽ có thể bị chi phối bởi những sức ép vô hình và

hữu hình từ tâm lý, tình c ảm, quyền lực. Nếu bị các sức ép chi ph ối, cán bộ

kiểm tra sẽ giảm sút ý chí, trắng đen lẫn lộn, tiến hành không khách quan, "dĩ

hoà vi quý", kết quả thẩm tra, xác minh không đúng sự thật, không đúng bản

chất. Để tiến hành tốt thẩm tra, xác minh, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu

quả công tác ki ểm tra, cán b ộ kiểm tra ph ải đề cao trách nhi ệm, có bản lĩnh

vững vàng trước mọi cám dỗ, có dũng khí, không sợ và không được để bất cứ

sức ép nào tác động, chi phối trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

Ba là, th ực hiện đúng các nguyên t ắc, quy định của Đảng và ph ương

pháp công tác kiểm tra đảng

Thẩm tra, xác minh là công việc trong nội bộ Đảng vì vậy phải tuân thủ

các nguyên tắc, quy định của Đảng và ph ương pháp công tác ki ểm tra. Các

nguyên tắc, quy định là căn cứ, nền tảng để quá trình th ẩm tra, xác minh d ựa

vào đó xem xét, đối chiếu, so sánh, nhận xét, kết luận. Phương pháp công tác

kiểm tra đã được đúc kết từ th ực ti ễn, từ nguyên t ắc xây dựng Đảng, mang

56

tính Đảng, khác v ới ph ương pháp công tác c ủa cơ quan b ảo vệ pháp lu ật.

Phương pháp đó cũng cần được ch ứng minh b ằng phép suy lu ận khoa h ọc,

bằng tư duy lãnh đạo, bằng đạo đức kiểm tra đảng, phân tích khoa học trên cơ

sở tư duy lý trí và tư duy pháp lý phù hợp với nguyên tắc đảng.

Ở một góc độ khác, hoạt động thẩm tra, xác minh nhất thiết và chủ yếu

phải dựa vào h ệ th ống tổ ch ức đảng, ti ến hành ho ạt động đa ph ương gồm

nhiều ch ủ th ể, trong đó đối tượng ki ểm tra c ũng được đồng th ời là ch ủ th ể

kiểm tra. Quá trình th ẩm tra, xác minh không được cản tr ở vi ệc th ực hi ện

nhiệm vụ chính trị, hoạt động bình thường, cũng như hạn chế tính năng động,

sáng tạo, nhân tố phát triển của các tổ chức và cá nhân liên quan.

2.2.3.2. Thẩm quyền, trách nhiệm thẩm tra, xác minh

Thẩm quy ền tức là quy ền quy ết định một vấn đề nào đó, nh ư th ẩm

quyền quyết định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, giải quyết tố cáo, thi hành

kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên. Th ẩm quyền thẩm tra, xác minh g ắn liền

với th ẩm quy ền ki ểm tra. T ổ ch ức đảng nào quy ết định ki ểm tra thì th ẩm

quyền thẩm tra, xác minh thu ộc tổ chức đó. Khi quyết định kiểm tra một đối

tượng nào đó thì chủ thể kiểm bao giờ cũng quyết định kế hoạch kiểm tra và

trong kế hoạch kiểm tra có khâu th ẩm tra, xác minh ở trong bước tiến hành

kiểm tra. Ch ủ thể kiểm tra có trách nhi ệm tổ chức, chỉ đạo, điều hành, xử lý

mọi vấn đề trong quá trình ki ểm tra, t ổ ch ức lực lượng, nh ư lập đoàn (t ổ)

kiểm tra, việc thẩm tra, xác minh và xem xét, k ết luận nội dung thẩm tra, xác

minh. Tuy nhiên, việc chỉ đạo, điều hành, tiến hành kiểm tra được phân công,

phân nhi ệm cho th ường tr ực của ch ủ th ể ki ểm tra, nh ư th ường tr ực cấp uỷ,

thường tr ực tổ ch ức đảng, th ường tr ực uỷ ban ki ểm tra, còn vi ệc ti ến hành

kiểm tra, tiến hành thẩm tra, xác minh thì giao cho m ột số cán bộ, thông qua

đoàn (tổ) kiểm tra. Nh ư vậy, việc quyết định và ch ỉ đạo thẩm tra, xác minh

thuộc thẩm quyền của chủ thể kiểm tra, còn việc tiến hành thẩm tra, xác minh

do đội ngũ cán bộ kiểm tra thực hiện.

57

Đối với đoàn (t ổ) và cán b ộ ki ểm tra ph ải có trách nhi ệm th ực hi ện

đúng mục đích, yêu cầu cuộc kiểm tra và s ự chỉ đạo của chủ thể kiểm tra về

hoạt động thẩm tra, xác minh. Th ẩm tra, xác minh không đầy đủ, chính xác,

trung thực là trách nhiệm của cán bộ và đoàn (tổ) kiểm tra.

2.2.4. Nội dung, đối tượng, quy trình, ph ương pháp th ẩm tra, xác

minh trong công tác kiểm tra của Đảng

Mỗi cuộc kiểm tra có nhiệm vụ, nội dung, đối tượng cụ thể khác nhau.

Mặt khác, trong m ỗi nhiệm vụ kiểm tra, tu ỳ thuộc nội dung, đối tượng kiểm

tra mà có nội dung, đối tượng thẩm tra, xác minh khác nhau. Do đó, công tác

thẩm tra, xác minh trong quá trình thực hiện từng nhiệm vụ kiểm tra lại có nội

dung, đối tượng cụ thể khác nhau.

2.2.4.1. Nội dung thẩm tra, xác minh

Nội dung thẩm tra, xác minh là nh ững nội dung kiểm tra có vấn đề cần

được xem xét, làm rõ. Mỗi nhiệm vụ kiểm tra và vụ việc kiểm tra có nội dung

riêng nên n ội dung th ẩm tra, xác minh r ất đa dạng, tùy thu ộc vào n ội dung

kiểm tra. Nội dung kiểm tra rất rộng, ở nhiều lĩnh vực khác nhau và liên quan

đến nhiều người, nhiều cấp, nhiều ngành trong xã h ội. Do vậy, việc xác định

nội dung th ẩm tra, xác minh c ần tập trung vào nh ững nội dung tr ọng tâm,

trọng điểm để tránh lan man, không xác định đúng bản chất của vấn đề. Tuy

nhiên, không được bỏ sót nội dung thẩm tra, xác minh d ẫn đến không làm rõ

được nội dung kiểm tra. Việc xác định nội dung thẩm tra, xác minh chuẩn xác

là điều kiện bảo đảm chất lượng, hiệu quả của quá trình thẩm tra, xác minh.

Nội dung th ẩm tra, xác minh bao g ồm: những mâu thu ẫn giữa sự việc

so với các quy định của Đảng, pháp lu ật của Nhà nước; những vấn đề có tố

cáo, hoặc phát hi ện có dấu hiệu vi ph ạm Điều lệ Đảng, các ngh ị quyết, quy

định của Đảng, pháp luật của Nhà nước cần đi sâu nghiên cứu; những vấn đề

đã gợi ý ki ểm điểm, giải trình nh ưng chưa được các đối tượng kiểm tra báo

cáo, làm rõ.

58

2.2.4.2. Đối tượng thẩm tra, xác minh

Cần phân bi ệt đối tượng ki ểm tra v ới đối tượng th ẩm tra, xác minh.

Đối tượng kiểm tra là những tổ chức đảng, đảng viên có vấn đề cần xem xét,

làm rõ, còn đối tượng thẩm tra, xác minh là nh ững thông tin, tư liệu, sự việc,

hiện vật và các t ổ chức, cá nhân có liên quan đến đối tượng và nội dung cần

kiểm tra.

Như vậy, đối tượng thẩm tra, xác minh bao giờ cũng rộng hơn, đa dạng

và phức tạp hơn. Giữa đối tượng kiểm tra và đối ượng thẩm tra, xác minh bao

giờ cũng có m ối quan h ệ qua l ại, mối quan h ệ nhân qu ả. Vi ệc làm c ủa đối

tượng kiểm tra thường thông qua, th ể hiện qua đối tượng thẩm tra, xác minh.

Vì vậy, xác định đúng đối tượng th ẩm tra, xác minh, nh ất là đối tượng ch ủ

yếu trong quá trình tiến hành nhiệm vụ là rất quan trọng, vì đó là những điểm

cần tập trung để nhanh chóng làm rõ sự thật.

Quá trình thu th ập tài li ệu, thông tin, qua s ự am hi ểu, tinh t ường và

nhạy cảm của cán bộ kiểm tra mà xác định mối liên hệ, tính chất của sự việc,

phát hiện những điểm mâu thuẫn, bất hợp lý, những điều chưa rõ ràng, những

dấu hiệu của sự bưng bít, che gi ấu... để xác định sự liên hệ, các đối tượng và

nội dung cần thẩm tra, xác minh.

2.2.4.3. Quy trình tiến hành thẩm tra, xác minh

Quy trình th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra c ủa Đảng là

những quy định về trình tự thủ tục các ho ạt động chủ yếu để tiến hành xem

xét, tra cứu, thẩm định nhằm mục tiêu tìm ra s ự thật của những thông tin, s ự

kiện, hành vi có liên quan đến nội dung và đối tượng kiểm tra của Đảng.

Trong quy trình thẩm tra, xác minh có nhi ều khâu, nhiều động tác hoạt

động và có th ể chia thành nhi ều bước cụ thể. Tuy nhiên, quy trình ti ến hành

thẩm tra, xác minh hiện nay vẫn thường được quy tụ và thực hiện theo 3 bước

cơ bản mang tính tổng quát như sau:

59

Bước thứ nhất, chuẩn bị và xây dựng kế hoạch

Là bước có ý ngh ĩa hết sức quan tr ọng nhằm xác định mục đích, yêu

cầu, nội dung, ph ương pháp th ẩm tra, xác minh, th ời gian, tổ chức lực lượng

tiến hành thẩm tra, xác minh; xác định những đối tượng thẩm tra, xác minh: tổ

chức, cá nhân c ần tiếp xúc; nh ững thông tin, ch ứng cứ cần thu th ập,... và dự

kiến nh ững tình hu ống có th ể phát sinh và cách gi ải quyết. Trong b ước này

cần tiến hành khảo sát tình hình v ề đối tượng kiểm tra và các t ổ chức, đơn vị

liên quan; nghiên c ứu xác định mục đích, yêu c ầu, nội dung, ph ương pháp

thẩm tra, xác minh; lập kế hoạch cụ thể: dự kiến về thời gian, lực lượng, phân

công, phân nhi ệm; dự định những đối tượng cần gặp, những tổ chức cần tiếp

xúc, những thông tin cần tiếp cận, những chứng cứ cần thu thập…

Bước thứ hai, tiến hành các hoạt động thẩm tra, xác minh

Đây là bước, công đoạn quan tr ọng nhất. Kết qu ả th ẩm tra, xác minh

chủ yếu phục thuộc vào bước này.

Trước hết, đoàn (t ổ) ki ểm tra thông báo v ới tổ ch ức, cá nhân có liên

quan về kế hoạch thẩm tra, xác minh; nghe báo cáo v ề các nội dung cần thẩm

tra, xác minh.

Tiếp xúc đối tượng kiểm tra. Yêu cầu đối tượng kiểm tra báo cáo ki ểm

điểm tường trình và cung cấp thông tin, chứng cứ liên quan nội dung kiểm tra.

Làm tốt công tác t ư tưởng và hướng dẫn đối tượng báo cáo t ường trình, gi ải

trình, kiểm điểm trên tinh th ần tự phê bình trung th ực, tự giác và nghiêm túc

của đối tượng kiểm tra là khâu quan tr ọng hàng đầu của hoạt động thẩm tra,

xác minh.

Tiếp xúc các t ổ ch ức đảng có liên quan (chi b ộ, đảng uỷ, ban cán s ự

đảng...). Yêu cầu cấp uỷ lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành sinh ho ạt tự phê bình và

phê bình trong tổ chức đảng một cách nghiêm túc; yêu cầu lãnh đạo giáo dục,

đôn đốc đối tượng kiểm tra nghiêm túc, t ự giác, tự phê bình; đề nghị cấp uỷ

phối hợp trách nhiệm tiến hành thẩm tra, xác minh và lãnh đạo, chỉ đạo các tổ

60

chức, cá nhân cán b ộ đảng viên có liên quan cung c ấp tài li ệu, hồ sơ, chứng

cứ phục vụ hoạt động th ẩm tra, xác minh và c ấp uỷ có v ăn bản tỏ rõ chính

kiến về những nội dung kiểm tra và về đối tượng kiểm tra.

Tiến hành các bi ện pháp thu th ập ch ứng cứ nh ư: ti ếp cận các ngu ồn

thông tin; ti ếp xúc các đối tượng liên quan g ồm các cá nhân cán b ộ, đảng

viên, quần chúng hoặc tổ chức đảng, cơ quan Nhà nước có liên quan, liên đới

hoặc đã được chứng kiến; tiếp cận các ngu ồn thông tin, s ự kiện, hành vi c ủa

đối tượng kiểm tra.

Tiến hành phân tích các chứng cứ để tìm ra chứng lý kiểm tra như: thực

hiện đối chứng giữa các ch ứng cứ với ý ki ến báo cáo gi ải trình, tự phê bình

của đối tượng kiểm tra và ý ki ến phê bình cung c ấp của tập thể, tổ chức với

các thông tin, ch ứng cứ thu thập được để sàng lọc, xác định tính hợp pháp và

tính hợp lý của chứng cứ kiểm tra. Đối chứng giữa các thông tin, chứng cứ có

dấu hi ệu sai ph ạm, khuyết điểm, đối chi ếu với chu ẩn mực, tiêu chí c ủa các

chủ trương, nghị quyết, nguyên tắc của Đảng và pháp lu ật của Nhà nước để

rút ra kết luận là đối tượng kiểm tra có vi ph ạm hay không vi ph ạm, hoặc vi

phạm đến mức độ nào...

Bước thứ ba, thống nhất nội dung báo cáo thẩm tra, xác minh trình cấp

có thẩm quyền kết luận

Trao đổi với đối tượng ki ểm tra và t ổ ch ức đảng có liên quan v ề dự

kiến báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh nhất là những nội dung liên quan trực

tiếp đến đối tượng kiểm tra. Ghi rõ ý ki ến đồng ý, không đồng ý và ý ki ến

khác của đối tượng được kiểm tra và tổ chức có liên quan.

Viết báo cáo th ẩm tra, xác minh: Trên c ơ sở những tài li ệu, thông tin,

bằng chứng đã thu thập được, qua giám định của cơ quan chuyên môn, nghiệp

vụ (nếu có), qua trao đổi với các tổ chức có liên quan, qua phân tích, đánh giá,

nếu thấy đủ cơ sở kết luận thì vi ết báo cáo th ẩm tra, xác minh. Rà soát, xem

xét lại lần cuối kết quả thẩm tra, xác minh, n ếu thấy chỗ nào ch ưa đủ, chưa

61

chính xác thì tiếp tục thẩm tra, xác minh, tìm kiếm, thu thập thêm chứng cứ để

bổ sung vào báo cáo. Báo cáo do cán b ộ được phân công th ẩm tra, xác minh

viết và chịu trách nhiệm trước uỷ ban kiểm tra cấp mình. Trường hợp cán bộ

do vụ, phòng hoặc tổ phân công th ẩm tra, xác minh thì tr ước khi báo cáo v ới

uỷ ban, ph ải tham kh ảo ý ki ến của vụ trưởng, tr ưởng phòng ho ặc tổ tr ưởng

phụ trách địa bàn.

Theo Quy trình ki ểm tra đảng viên, tổ ch ức đảng khi có d ấu hi ệu vi

phạm; giải quyết tố cáo; giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng… (ban hành kèm theo

Quyết định số 1084-Q Đ/UBKTTW, ngày 05-12-2012 c ủa Uỷ ban Ki ểm tra

Trung ương), sau khi làm vi ệc với đại diện tổ ch ức đảng có liên quan và đối

tượng được kiểm tra để triển khai quyết định, kế hoạch kiểm tra; thống nhất lịch

trình tiến hành; yêu cầu đối tượng được kiểm tra chu ẩn bị báo cáo gi ải trình;

cung cấp tài li ệu, phối hợp kiểm tra, đoàn kiểm tra sẽ tiến hành th ẩm tra, xác

minh. Bước thẩm tra, xác minh bao gồm những nội dung cụ thể sau: Thu thập tài

liệu, chứng cứ, gặp các tổ chức, cá nhân có liên quan; nghiên cứu báo cáo giải

trình và các văn bản, tài liệu. Nếu cần bổ sung nội dung kiểm tra hoặc giám định

kỹ thuật, chuyên môn thì trưởng đoàn (là một đồng chí thành viên uỷ ban) xem

xét, quyết định. Đoàn kiểm tra trao đổi với đối tượng được kiểm tra những nội

dung cần bổ sung, làm rõ. Nếu thấy khuyết điểm đã rõ, vi phạm đến mức phải thi

hành kỷ luật và đối tượng được kiểm tra nh ận có vi ph ạm thì báo cáo th ường

trực uỷ ban cho kết hợp làm quy trình xem xét, thi hành kỷ luật.

Sau khi ti ến hành th ẩm tra, xác minh, đoàn kiểm tra tổ chức hội nghị

các tổ chức đảng có liên quan. T ại hội nghị, đoàn kiểm tra thông báo k ết quả

thẩm tra, xác minh bằng văn bản; hội nghị thảo luận, nhận xét và đề nghị; bỏ

phiếu đề nghị hoặc tự nhận hình thức kỷ luật (nếu có).

Đoàn kiểm tra tiếp tục thẩm tra, xác minh những nội dung chưa rõ (nếu

có); chuẩn bị báo cáo k ết quả kiểm tra; trao đổi với đối tượng được kiểm tra

và đại diện tổ chức đảng có liên quan về kết quả kiểm tra.

62

Trong quá trình th ực hi ện, các n ội dung trong k ế ho ạch có th ể được

điều chỉnh, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tế.

2.2.4.4. Phương pháp tiến hành thẩm tra, xác minh

Một là, thu thập bằng chứng:

"Bằng ch ứng" theo T ừ điển Ti ếng Vi ệt được hi ểu là "V ật ho ặc vi ệc

dùng làm b ằng để ch ứng tỏ sự vi ệc là có th ật" [196, tr.34]. Như vậy, bằng

chứng trong th ẩm tra, xác minh khi ti ến hành công tác ki ểm tra gồm người,

hiện vật, tài li ệu, địa điểm, thời gian,... tồn tại khách quan liên quan đến sự

việc, dùng làm c ăn cứ để ch ứng tỏ sự vi ệc là có th ật. Bằng ch ứng th ường

được thu thập, sưu tầm, khai thác từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, nh ư từ

tổ chức hoặc cá nhân gây ra s ự việc đó, từ tổ chức hoặc cá nhân có liên quan

hay biết rõ sự việc đó; những hiện vật, tài li ệu có liên quan đến sự việc, như

đất đã chiếm dụng, nhà đã xây trái phép, tiền, tài sản dùng làm quà tặng, biếu

dưới dạng hối lộ đã được trao nhận, tài liệu, sổ sách, chứng từ, hoá đơn, băng

ghi âm, ghi hình, các phương tiện mang tin khác,...

Cách thu th ập bằng chứng: tr ước hết là nghiên c ứu, nắm chắc các hồ

sơ, tài li ệu đã có, đánh giá tính khách quan, liên quan, h ợp lý, hợp pháp của

các hồ sơ, tài liệu đã có (tài li ệu đã có là bản chính hay bản sao, tài li ệu gốc,

xác th ực hay đã được hợp th ức hoá ho ặc gi ả mạo; th ẩm quyền của tổ ch ức

hoặc cá nhân đã ký các tài liệu ấy có phù hợp với quy định không v.v...). Trên

cơ sở đó, thu thập những tài li ệu gốc, những bản chính, nh ững tài liệu có giá

trị chứng cứ và những tài liệu còn đang thiếu.

Tiếp xúc với các tổ chức đảng hoặc cá nhân đảng viên gây ra s ự việc,

yêu cầu họ cung cấp những thông tin, tài li ệu, chứng cứ có liên quan đến nội

dung ki ểm tra, kể cả những chứng cứ chứng minh vi ệc làm đúng của mình,

bác bỏ những nội dung tố cáo không đúng, những kết luận không đúng hoặc

để chứng minh cho việc xử lý là oan, sai. Khi c ần, gặp những tổ chức, những

người có liên quan đến sự việc hoặc hiểu rõ sự việc để thu thập thêm tài liệu,

63

chứng cứ giúp cho vi ệc nh ận xét, đánh giá, kết lu ận được chính xác, khách

quan. Vi ệc ti ếp xúc v ới nh ững đối tượng trên, c ần ti ến hành v ới từng đối

tượng; không nh ất thi ết ph ải theo m ột tr ật tự cứng nh ắc ho ặc ph ải ch ờ thu

thập đầy đủ hồ sơ, tài liệu rồi mới tiếp xúc. Có thể tiếp xúc với mỗi đối tượng

một lần hoặc một số lần, nhưng cố gắng tiếp xúc một lần mà thu th ập được

các thông tin, tài li ệu, bằng ch ứng cần thi ết để tránh gây phi ền hà cho đối

tượng và gây khó khăn cho việc đi lại của cán bộ kiểm tra. Tiếp xúc với các tổ

chức đảng có liên quan (chi bộ, chi ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn,...) để yêu

cầu cấp uỷ lãnh đạo, chỉ đạo sinh hoạt tự phê bình và phê bình trong t ổ chức

đảng một cách nghiêm túc.

Trong thực tế, có thể gặp cấp ủy, tổ chức đảng trong quá trình thẩm tra,

xác minh hoặc sau phân tích những vấn đề đã được thẩm tra, xác minh để cấp

uỷ, tổ chức đảng cung cấp tình hình, tài li ệu, chứng cứ hoặc thống nhất nội

dung, diễn biến, tình ti ết của sự việc. Trường hợp giữa cấp ủy, tổ chức đảng

và cán bộ kiểm tra có vấn đề chưa thống nhất thì yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng

cung cấp thêm tài liệu, bằng chứng để cùng trao đổi, thảo luận. Nếu vẫn còn ý

kiến chưa thống nhất, cán bộ kiểm tra ph ải báo cáo trung th ực, đầy đủ để ủy

ban kiểm tra xem xét, kết luận.

Trước khi tiếp xúc với từng đối tượng, phải chuẩn bị kế hoạch chu đáo,

xác định rõ nh ững vấn đề cần đi sâu khai thác, d ự kiến những tình hu ống có

thể phát sinh và cách giải quyết. Quá trình tiếp xúc với các đối tượng phải giữ

vững nguyên tắc và phương pháp công tác đảng, coi trọng và làm tốt công tác

tư tưởng, tâm lý, động viên trách nhi ệm, nghĩa vụ, tinh th ần tự giác của đối

tượng. Biết vận động, thuyết phục, tự kiềm chế, khiêm tốn, lắng nghe, nhưng

không bị chi ph ối tr ước cám d ỗ của vật ch ất, quy ền uy, th ế lực. Bi ết đấu

tranh, lập luận sắc bén, đúng nguyên tắc, thấu tình, đạt lý, nêu đúng vấn đề để

giáo dục, thuy ết ph ục, nh ất là khi đối tượng không t ự giác, có thái độ cực

đoan, động cơ không lành m ạnh. Tuy ệt đối không được đe dọa, cưỡng ép,

64

dùng th ủ đoạn đối phó, cài b ẫy ho ặc hữu khuynh, h ứa hẹn vô nguyên t ắc.

Không được sử dụng các bi ện pháp nghi ệp vụ của các cơ quan bảo vệ pháp

luật (như tạm giữ, tạm giam, cưỡng chế, bí mật theo dõi,...) để thay ph ương

pháp thẩm tra, xác minh của Đảng. Có thể và cần sử dụng các phương tiện kỹ

thuật hiện đại (như ghi âm, ghi hình, vi tính) để nâng cao hiệu quả, chất lượng

của thẩm tra, xác minh. Các thông tin được cung cấp bằng lời phải được ghi

lại thành văn bản và có chữ ký xác nhận của người đã cung cấp.

Ngoài những tài li ệu, bằng chứng nêu trên, c ần chú ý thu th ập nh ững

nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và Nhà n ước có liên quan đến vấn đề

thẩm tra, xác minh, vì đó là một trong nh ững căn cứ quan tr ọng để kết luận

đúng, sai đối với tổ chức đảng và đảng viên. Nghị quyết, chỉ thị, quy định, về

một nội dung nào đó có th ể được bổ sung, sửa đổi nhiều lần, bằng nhiều văn

bản khác nhau, th ậm chí có tr ường hợp văn bản này ph ủ định văn bản khác.

Vì vậy, phải thu thập đủ để có điều kiện đối chiếu, phân tích, đánh giá.

Khi thu th ập tài li ệu chứng cứ, cán bộ kiểm tra ph ải trực tiếp gặp đối

tượng, tr ực ti ếp đọc nh ững thông tin, tài li ệu, tr ực ti ếp nhìn th ấy các v ật

chứng, nếu cần thì trực tiếp đến tận nơi xảy ra sự việc để thẩm tra, xác minh.

Không được chỉ nghe qua ng ười khác, nghe d ư luận, có nhi ều người biết sự

việc nhưng chỉ nghe một vài người hoặc chỉ coi trọng những gì đã được nghe,

được đọc, nhìn lần đầu mà coi nhẹ những gì được thu thập về sau. Mọi thông

tin, tài li ệu, bằng chứng thu th ập được ban đầu, dù phong phú, có độ tin cậy

cao, nhưng thường là ở một phía, một kênh, một chiều. Muốn đánh giá đúng

sự thật, phải thu thập được bằng chứng xác thực qua các tài li ệu, thông tin từ

nhiều phía, nhiều kênh, nhiều chiều có liên quan đến sự việc cần làm rõ.

Hai là, nghiên cứu, phân tích, x ử lý tài li ệu, thông tin, b ằng chứng đã

thu thập được:

Việc thu th ập đầy đủ tài li ệu, thông tin, ch ứng cứ là r ất quan tr ọng,

nhưng việc nghiên cứu, phân tích, xử lý những tài liệu, thông tin, bằng chứng

65

ấy một cách chính xác, khách quan l ại càng quan trọng vì đó là cơ sở tin cậy,

xác thực, khách quan để kết luận và xử lý đúng.

Việc nghiên cứu, phân tích, xử lý tài liệu, thông tin, bằng chứng là một

quá trình liên t ục từ khi bắt đầu đến khi kết thúc vi ệc làm rõ s ự thật, không

chia tách, cắt khúc ho ặc phân đoạn một cách máy móc. Khi đọc một tài li ệu,

tiếp nhận một thông tin, ti ếp xúc một đối tượng, tham dự một cuộc họp... cán

bộ ki ểm tra ph ải nh ạy cảm, suy ngh ĩ, phân tích, đánh giá th ực ch ất của sự

việc, hiện tượng, tình tiết, phát hiện kịp thời những mâu thuẫn, những vấn đề

không hợp lý, chưa rõ hoặc có dấu hiệu đang tiềm ẩn đằng sau đó một sự thật

để vừa tiếp tục thu thập tài liệu, thông tin, bằng chứng khác, vừa thuyết phục,

gợi ý đấu tranh, cung cấp bằng chứng để đối tượng được kiểm tra từng bước

tự nhận ra sự thật hoặc gần với sự thật hơn.

Sau khi thu th ập đầy đủ tài li ệu, thông tin, b ằng ch ứng, ph ải nghiên

cứu, phân tích, đánh giá lại tính khách quan, xác th ực, hợp lý, hợp pháp của

từng tài li ệu, thông tin, b ằng chứng và của toàn bộ những vấn đề đã thu th ập

được. Trên c ơ sở đó, bằng ph ương pháp phân tích, so sánh, đối chi ếu, quy

nạp, với quan điểm lịch sử, cụ thể và bằng kiến thức, kinh nghi ệm sống, sự

tinh tường, nhạy cảm của mình, cán bộ kiểm tra phải lật đi, lật lại từng vấn đề,

nêu lên những giả thiết và với tài liệu, thông tin, bằng chứng đã thu thập được

để ch ứng minh cho s ự đúng, sai c ủa từng gi ả thi ết, lo ại dần các gi ả thi ết

không hợp lý để cuối cùng có một kết luận đúng với sự thật. Đây là khâu quan

trọng nh ất, khó kh ăn nh ất, đòi hỏi cán b ộ ki ểm tra ph ải có tinh th ần trách

nhiệm cao, tác phong t ỷ mỉ, cụ thể, phương pháp khoa h ọc và một trình độ,

kiến thức cần thiết.

Ba là, trưng cầu ý ki ến giám định của các cơ quan nghi ệp vụ đối với

những vấn đề cần thiết:

Tiến hành thẩm tra, xác minh, có nhiều vấn đề liên quan đến nhiều lĩnh

vực hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, của các cơ quan bảo vệ pháp

66

luật, trong đó có nh ững nội dung cán b ộ hoặc cơ quan ki ểm tra không th ể tự

mình làm sáng t ỏ được. Vì vậy, trong tr ường hợp cần thiết, phải trưng cầu ý

kiến giám định của cơ quan nghiệp vụ, chuyên môn có th ẩm quyền. Ví dụ cơ

quan y tế giám định trạng thái tâm thần của một người; cơ quan công an giám

định chữ viết, chữ ký, con dấu; cơ quan công chứng nhà nước thẩm định giấy

tờ, văn bản; cơ quan tư tưởng, văn hoá, thông tin th ẩm định một bài báo, một

tác ph ẩm có liên quan đến công tác ki ểm tra... Các v ăn bản giám định phải

được cấp có thẩm quyền ký và đóng dấu.

Bốn là, khi tiến hành thẩm tra, xác minh, ch ủ thể kiểm tra phải thường

xuyên tiếp xúc v ới tổ chức đảng, đảng viên có liên quan và đối tượng kiểm

tra, vì vậy, đòi hỏi chủ thể kiểm tra phải thực hiện nghiêm túc vi ệc phê bình.

Phương pháp phê bình của chủ thể kiểm tra thường sử dụng như sau:

Thứ nhất, gợi ý những nội dung cần tìm hiểu, thẩm tra, xác minh để các

tổ ch ức đảng có liên quan và đối tượng ki ểm tra trình bày cho sát v ới mục

đích, yêu cầu, nội dung cần kiểm tra.

Thứ hai, động viên, thuyết phục để đối tượng được kiểm tra bình tĩnh,

tự giác… trình bày rõ ràng, đầy đủ các nội dung cần được thẩm tra, xác minh.

Thứ ba , đối với nh ững tr ường hợp cố tình che gi ấu thi ếu sót, khuy ết

điểm, thiếu tự giác thì cần thể hiện phương pháp phê bình "c ứng rắn" để yêu

cầu đối tượng được kiểm tra ph ải nghiêm túc th ực hiện yêu cầu của chủ thể

kiểm tra.

Để thực hiện tốt việc phê bình, ch ủ thể kiểm tra ph ải nắm vững: mục

đích, yêu cầu cuộc kiểm tra; nội dung cần kiểm tra, th ẩm tra, xác minh; ch ủ

trương, đường lối, chính sách, ngh ị quyết, chỉ thị… có liên quan đến các vấn

đề cần thẩm tra, xác minh để làm cơ sở cho việc thẩm tra, xác minh.

Phương pháp phê bình của chủ thể kiểm tra tốt nhất là đi vào từng vấn

đề cần th ẩm tra, xác minh, tránh đi lan man để vi ệc kết lu ận được đầy đủ,

chính xác đúng trọng tâm.

67

Năm là, thẩm định, rà soát lại và trao đổi một số nội dung liên quan:

Tiến hành th ẩm định bằng cơ chế tập th ể để ch ấp thuận nh ững thông

tin, ch ứng cứ và ch ứng lý ki ểm tra đã được làm sáng tỏ, minh b ạch. Đồng

thời, thống nh ất ph ủ định, lo ại bỏ các thông tin, ch ứng cứ không h ợp pháp,

bất hợp lý hoặc không đủ độ tin cậy, xác thực. Trong khâu th ẩm định hết sức

coi trọng những ý ki ến mang tính ph ản biện, ngược chiều để đi đến kết luận

có sự thống nhất và đạt được độ chuẩn xác cao.

Tiến hành đối thoại dân chủ với đối tượng kiểm tra về dự kiến kết luận

thẩm tra, xác minh nhất là những nội dung kết luận liên quan trực tiếp đến đối

tượng kiểm tra.

Tiến hành trao đổi, thảo lu ận với các tổ chức đảng liên quan để cùng

thống nh ất, đánh giá v ề dự ki ến kết lu ận th ẩm tra, xác minh và nh ững nội

dung chủ yếu của văn bản báo cáo trình lên tổ chức đảng có thẩm quyền.

Sáu là, viết báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh:

Tiến hành dự thảo văn bản và trình t ự hoàn thi ện văn bản báo cáo k ết

luận thẩm tra, xác minh, ki ến nghị các bi ện pháp xử lý trình cấp thẩm quyền

xem xét, quy ết định. Nội dung báo cáo c ần nêu rõ: Nh ững vấn đề cần thẩm

tra, xác minh (như nội dung tố cáo, nội dung khiếu nại, nội dung kiểm tra,...);

kết quả thẩm tra, xác minh từng nội dung (đối với những nội dung quan trọng,

phức tạp, cần nêu rõ n ội dung, tính ch ất, diễn biến, tình ti ết của sự việc, thời

gian, không gian di ễn ra s ự vi ệc; họ tên, địa ch ỉ nh ững đối tượng có liên

quan); nhận xét và đề ngh ị (c ần kh ẳng định sự vi ệc có hay không có, đúng

hay sai, khuyết điểm hay vi phạm; nếu vi phạm thì nêu rõ nội dung, tính chất,

mức độ, tác hại, nguyên nhân vi ph ạm của từng cá nhân và t ừng tổ chức; ý

kiến đề nghị giải quyết).

Họp tổ ch ức có th ẩm quyền (u ỷ ban ki ểm tra, cấp uỷ...) xem xét báo

cáo kết quả thẩm tra, xác minh, k ết luận, quyết định xử lý, ch ỉ đạo các ho ạt

động tiếp theo.

68

2.2.5. Tiêu chí đánh giá ho ạt động thẩm tra, xác minh trong công

tác kiểm tra của Đảng

Hoạt động thẩm tra, xác minh tốt hay không th ể hiện qua kết quả, hiệu

quả thực hiện từng cuộc kiểm tra cụ thể cũng như chất lượng công tác ki ểm

tra nói chung. Thẩm tra, xác minh phải làm rõ được nội dung, đối tượng kiểm

tra, tức là ph ải thu th ập được các ch ứng cứ để tìm ra s ự thật, chỉ rõ bản chất

về hành vi của đối tượng kiểm tra giúp vi ệc xem xét, kết luận đúng sai, xử lý

nghiêm minh, chính xác (n ếu có vi ph ạm). Kết qu ả, hi ệu qu ả th ẩm tra, xác

minh là những gì đạt được theo mục tiêu, yêu cầu đã đề ra, tác động trực tiếp

đến kết qu ả công tác ki ểm tra, góp ph ần th ực hi ện nhi ệm vụ công tác xây

dựng Đảng. Có thể đánh giá hoạt động thẩm tra, xác minh qua một số tiêu chí

sau đây:

Một là, hoạt động thẩm tra, xác minh ph ải thực hiện đúng nguyên tắc,

theo kế hoạch đã được xác định.

Hoạt động thẩm tra, xác minh có ch ất lượng tốt hay không tốt, ngay từ

đầu th ể hi ện ở vi ệc có bám sát m ục đích, yêu c ầu, nội dung ki ểm tra hay

không. Bám sát m ục đích yêu cầu, nội dung ki ểm tra sẽ tạo ti ền đề, căn cứ

cho việc xác định đúng nội dung, đối tượng thẩm tra, xác minh và các b ước

tiếp theo, làm cơ sở cho việc tiến hành thẩm tra, xác minh đúng hướng; đồng

thời, đây cũng là dấu hiệu, tiêu chí minh ch ứng cho ho ạt động thẩm tra, xác

minh có ch ất lượng, hi ệu qu ả cao. Bên c ạnh đó, trong quá trình ti ến hành

thẩm tra, xác minh đảm bảo dân ch ủ, khách quan, công khai; th ực hiện đúng

các nguyên tắc, quy định của Đảng.

Hai là, nắm chắc nội dung ki ểm tra để xác định và lựa chọn đúng nội

dung, đối tượng thẩm tra, xác minh.

Hoạt động thẩm tra, xác minh có chất lượng tốt hay không còn thể hiện

ở việc đoàn (tổ) kiểm tra có l ựa chọn, xác định đúng, cụ thể các nội dung và

đối tượng cần tập trung th ẩm tra, xác minh và d ự kiến các đối tượng có th ể

69

phát sinh khác. Xác định đúng nội dung th ẩm tra, xác minh ở chỗ biết đâu là

vấn đề cần xem xét, làm rõ, đâu là trọng tâm, trọng điểm, mang tính bản chất

cần tập trung "gi ải mã", đảm bảo không dàn tr ải nh ưng cũng không b ỏ sót.

Bên cạnh đó, xác định đúng thông tin, t ư liệu, sự việc, hiện vật để tìm, phát

hiện và ch ứng minh cho n ội dung cần làm rõ, l ựa chọn đúng các tổ chức, cá

nhân cần làm việc, có liên quan đến đối tượng và nội dung cần kiểm tra.

Ba là, thực hiện đúng quy trình, phương pháp thẩm tra, xác minh trong

công tác kiểm tra của Đảng.

Một cuộc thẩm tra, xác minh có ch ất lượng phải tiến hành đầy đủ các

bước, thủ tục trong quy trình th ẩm tra, xác minh, th ậm chí, có nh ững trường

hợp phải thực hiện tiếp khi ch ưa đủ yếu tố vững chắc cho kết luận của cuộc

kiểm tra. Bên c ạnh đó, trong quá trình th ẩm tra, xác minh tuân th ủ ph ương

pháp công tác Đảng, là công tác n ội bộ trong Đảng; tích cực động viên, phát

huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên; phát huy được tinh thần,

trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng nhân dân; ph ối hợp giữa ủy ban

kiểm tra với các cơ quan thanh tra nhà nước, thanh tra nhân dân, thanh tra của

các đoàn th ể chính tr ị - xã h ội và các ban, ngành có liên quan nh ằm tạo và

phát huy ưu thế tổng hợp, toàn diện để nhanh chóng đạt mục đích đề ra trong

mỗi cuộc thẩm tra, xác minh.

Bốn là, tìm ra các ch ứng cứ xác đáng, khách quan, làm c ăn cứ, cơ sở

chính xác đảm bảo cho kết luận kiểm tra và quyết định xử lý của chủ thể kiểm

tra được đúng đắn.

Hoạt động thẩm tra, xác minh có ch ất lượng rõ nét nhất ở chỗ là tìm ra

được các chứng cứ xác đáng. Các chứng cứ tìm được qua thẩm tra, xác minh

nếu phản ánh đúng bản chất sự việc, đảm bảo tính khách quan, hợp pháp, hợp

lý sẽ góp ph ần làm cho cu ộc kiểm tra đạt kết quả cao và c ũng thể hiện hoạt

động th ẩm tra, xác minh đúng đắn. Qua th ẩm tra, xác minh, không b ỏ sót

chứng cứ, bỏ lọt vi ph ạm, từ đó đi đến kết lu ận ki ểm tra chính xác, khách

70

quan, xử lý công minh, chính xác, k ịp th ời, không để oan sai. Khi ch ủ th ể

kiểm tra kết luận chính xác các n ội dung và đối tượng kiểm tra, sẽ giúp cho

đối tượng ki ểm tra th ấy rõ ưu điểm, nh ất là khuy ết điểm, vi ph ạm và trách

nhiệm của mình, quy ết tâm sữa ch ữa, khắc ph ục, đồng th ời có tác d ụng lan

tỏa tích cực đến tổ ch ức đảng và đảng viên khác, góp ph ần xây dựng Đảng

trong sạch, vững mạnh. Đây được coi là tiêu chí quan tr ọng nhất để đánh giá

chất lượng hoạt động thẩm tra, xác minh.

Năm là, góp phần tác động đến chất lượng hoạt động và việc thực hiện

nhiệm vụ chính trị của các tổ chức đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức

chiến đấu của Đảng

Bên cạnh các tiêu chí trên, còn có th ể nhìn nh ận về ch ất lượng ho ạt

động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng ở góc độ mà qua

thẩm tra, xác minh, phát hi ện nh ững sơ hở, thiếu sót v ề cơ ch ế, chính sách,

nhất là về kinh tế - xã hội, kịp thời kiến nghị các cấp có thẩm quyền của Đảng

và Nhà nước bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành mới, bảo đảm chủ trương đường

lối của Đảng, chính sách, pháp lu ật của Nhà nước thực sự đi vào cu ộc sống.

Chất lượng thẩm tra, xác minh còn được thể hiện không làm ảnh hưởng đến

hoạt động, đến vi ệc th ực hi ện nhi ệm vụ chính tr ị của đối tượng ki ểm tra,

không lãng phí th ời gian, ti ền của, công sức của cán bộ kiểm tra và c ơ quan

kiểm tra.

Xét một cách tổng quát, toàn diện, tiêu chí để đánh giá hoạt động thẩm

tra, xác minh được thể hiện, nhìn nhận qua chất lượng, hiệu quả, hiệu lực của

một cuộc kiểm tra nói riêng và công tác kiểm tra nói chung.

Ti ểu kết chương 2

Công tác kiểm tra là một chức năng lãnh đạo của Đảng, là công tác xây

dựng Đảng, sinh hoạt nội bộ Đảng. Một trong những yêu cầu cơ bản của công

tác kiểm tra là phải làm rõ đúng, sai; đánh giá, kết luận đúng ưu điểm, khuyết

71

điểm, vi ph ạm (nếu có) c ủa tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra để có

quyết định chính xác. Ti ến hành công tác ki ểm tra ph ải theo đúng nguyên

tắc tổ chức và sinh ho ạt đảng, đúng tính ch ất công tác đảng, đúng tư tưởng

chỉ đạo, ph ương pháp c ơ bản tiến hành công tác ki ểm tra. Ph ương pháp có

vai trò quan tr ọng hàng đầu để thực hiện được yêu cầu nhiệm vụ ấy là thẩm

tra, xác minh.

Thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra c ủa Đảng là ho ạt động

nghiệp vụ khi tiến hành công tác kiểm tra của Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ

đạo, điều hành của chủ thể kiểm tra, được thực hiện thông qua một số cán bộ,

nhằm tìm ra các b ằng ch ứng, ch ứng cứ cụ th ể, xác th ực, qua đó thẩm định,

phân tích để làm rõ sự thật, làm căn cứ để chủ thể kiểm tra nhận xét, đánh giá,

kết luận và xử lý công minh, chính xác đối tượng kiểm tra.

Thẩm tra, xác minh là khâu quan tr ọng, không th ể thi ếu được trong

toàn bộ quy trình th ực hi ện công tác ki ểm tra c ủa Đảng. Ch ất lượng và k ết

quả của hoạt động thẩm tra, xác minh tr ực tiếp quyết định độ chính xác c ủa

các kết lu ận và độ xác đáng của các quy ết định xử lý c ủa tổ ch ức đảng có

thẩm quyền đối với đối tượng kiểm tra. Ti ến hành th ẩm tra, xác minh trong

công tác ki ểm tra của Đảng phải bám sát m ục đích, yêu cầu, nội dung ki ểm

tra; thực hiện dân chủ, công khai, th ận trọng, chặt chẽ, khách quan, đúng các

nguyên tắc, quy định của Đảng và phương pháp công tác kiểm tra.

Nội dung thẩm tra, xác minh là nh ững nội dung kiểm tra có vấn đề cần

được xem xét, làm rõ. Đối tượng th ẩm tra, xác minh là nh ững thông tin, t ư

liệu, sự việc, hiện vật và các t ổ chức, cá nhân có liên quan đến đối tượng và

nội dung cần kiểm tra. Thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng

được ti ến hành theo trình t ự th ủ tục các ho ạt động ch ủ yếu để xem xét, tra

cứu, th ẩm định nh ằm mục tiêu tìm ra s ự th ật của nh ững thông tin, s ự ki ện,

hành vi có liên quan đến nội dung và đối tượng kiểm tra của Đảng, theo các

phương pháp như: Thu thập bằng chứng; nghiên cứu, phân tích, xử lý tài liệu,

72

thông tin, bằng chứng đã thu th ập được; trưng cầu ý ki ến giám định của các

cơ quan nghi ệp vụ đối với nh ững vấn đề cần thi ết; ti ếp xúc v ới đối tượng

kiểm tra, ti ến hành tự phê bình và phê bình; th ẩm định, rà soát và xây d ựng

báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh.

Cơ sở để đánh giá ho ạt động thẩm tra, xác minh d ựa trên một số tiêu

chí như: việc thực hiện nguyên tắc, kế hoạch đã được xác định; nắm chắc nội

dung kiểm tra để xác định và lựa chọn đúng nội dung, đối tượng thẩm tra, xác

minh; th ực hi ện đúng quy trình, ph ương pháp và quan tr ọng là tìm ra các

chứng cứ xác đáng, khách quan, làm căn cứ, cơ sở chính xác đảm bảo cho kết

luận kiểm tra và quyết định xử lý của chủ thể kiểm tra được đúng đắn.

Hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng có một

số điểm tương đồng nhưng đồng thời có những điểm khác biệt với hoạt động

thẩm tra, xác minh trong công tác b ảo vệ chính tr ị nội bộ; với ho ạt động

nghiệp vụ thanh tra của Nhà nước, điều tra của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

73

Chương 3

THẨM TRA, XÁC MINH TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA

CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - THỰC TRẠNG,

NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM

3.1. TH ỰC TR ẠNG HO ẠT ĐỘNG TH ẨM TRA, XÁC MINH TRONG

CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

3.1.1. Những ưu điểm của hoạt động thẩm tra, xác minh trong công

tác kiểm tra của Đảng

Thứ nhất, chủ thể kiểm tra, cán bộ trực tiếp tiến hành kiểm tra đã từng

bước có nh ận thức đúng về vị trí, vai trò c ủa thẩm tra, xác minh trong công

tác ki ểm tra của Đảng, làm ti ền đề để lãnh đạo, chỉ đạo và th ực hiện th ẩm

tra, xác minh

Các cấp ủy, tổ ch ức đảng và đảng viên vừa là ch ủ th ể kiểm tra và t ự

kiểm tra, đồng thời là đối tượng kiểm tra, là ch ỗ dựa khi cấp trên ti ến hành

kiểm tra đã từng bước nhận thức đúng và rõ hơn về vị trí, vai trò, ý ngh ĩa của

hoạt động thẩm tra, xác minh khi ti ến hành các cu ộc kiểm tra. Từ thực tế kết

quả các cuộc kiểm tra đem lại, các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên đã nhận

thức khi tiến hành kiểm tra thì đương nhiên phải thẩm tra, xác minh; thẩm tra,

xác minh là vi ệc tất yếu, chuyện bình th ường khi ki ểm tra. Từ nhận thức đó,

các cấp ủy khi là ch ủ th ể th ực hi ện ki ểm tra các t ổ ch ức đảng cấp dưới và

đảng viên đã quán tri ệt và lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng trực tiếp kiểm tra ti ến

hành thẩm tra, xác minh m ột cách chu đáo, chặt chẽ, cụ thể để xem xét, k ết

luận cuộc kiểm tra khách quan, chính xác. Mặt khác, từ nhận thức đó, các cấp

ủy, tổ chức đảng khi được cấp trên ki ểm tra, tr ở thành đối tượng kiểm tra đã

chấp hành, tự giác, tự kiểm tra, giải trình nội dung kiểm tra, đồng thời tạo mọi

điều ki ện thu ận lợi để cấp trên ti ến hành th ẩm tra, xác minh, ph ục vụ cu ộc

điều tra đạt kết quả cao nhất.

74

Đối với ủy ban ki ểm tra và cán b ộ kiểm tra các c ấp là lực lượng trực

tiếp, nòng cốt tiến hành các cuộc kiểm tra đã nghiêm túc quán tri ệt mục đích,

ý ngh ĩa, vai trò, v ị trí c ủa vi ệc th ẩm tra, xác minh. Cán b ộ ki ểm tra đã coi

thẩm tra, xác minh là khâu có tính quy ết định về chất lượng, hiệu quả, hiệu

lực của cuộc kiểm tra nói riêng và công tác ki ểm tra nói chung. Do thấy được

vị trí, tầm quan tr ọng của công tác th ẩm tra, các minh nên trong các tài li ệu

hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các lớp tập huấn, các lớp cử nhân kiểm

tra, tài liệu thi chuyển ngạch kiểm tra viên, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đều

biên so ạn các bài gi ảng về th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra c ủa

Đảng, đã xác định rất rõ vị trí, ý nghĩa, nội dung, đối tượng, phương pháp tiến

hành và cả những vấn đề cần lưu ý khi thẩm tra, xác minh và bố trí giảng viên

có kinh nghi ệm lên l ớp trong các đợt bồi dưỡng, tập hu ấn nghi ệp vụ. Hội

đồng khoa học cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương và tập thể các tác giả là

cán bộ cơ quan đã đề xuất và được Hội đồng Khoa học các ban Đảng Trung

ương đồng ý cho tiến hành nghiên cứu các đề tài liên quan đến công tác kiểm

tra, xác minh như: cơ sở lý luận, thực tiễn đổi mới và nâng cao hiệu quả thẩm

tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng; một số giải pháp tháo gỡ khó

khăn, trở ngại của ủy ban kiểm tra các cấp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra

khi có dấu hiệu vi ph ạm; kỹ năng nâng cao nghi ệp vụ công tác ki ểm tra. Từ

đây giúp cho cán bộ kiểm tra các cấp từng bước nâng dần trình độ nhận thức,

có cách vận dụng thực hiện tốt trong công tác thẩm tra xác minh.

Thứ hai, luôn bám sát n ội dung kiểm tra, từ đó xác định chính xác nội

dung, đối tượng thẩm tra, xác minh

Để việc thẩm tra, xác minh có k ết quả tốt, dưới sự chỉ đạo của chủ thể

kiểm tra, các đoàn (tổ) kiểm tra đã căn cứ nội dung và đối tượng kiểm tra để

lựa chọn, xác định đúng, cụ thể các nội dung và đối tượng cần tập trung thẩm

tra, xác minh và d ự ki ến các đối tượng có th ể phát sinh khác. Có th ể th ấy

trong một trường hợp cụ thể, khi kiểm tra một đồng chí bí th ư cấp ủy với nội

75

dung cần làm rõ và kết luận là có dấu hiệu mất đoàn kết trong ban thường vụ

cấp ủy; để làm rõ nội dung có mất đoàn kết không, thực tế phải tiến hành làm

rõ các n ội dung nh ư: quan h ệ của đồng chí bí th ư với từng đồng chí trong

thường trực, các đồng chí trong th ường vụ cấp ủy, đoàn kiểm tra ph ải đi tìm

các chứng cứ về lời nói, vi ệc làm, các hành động cụ thể của đồng chí bí th ư

với các đồng chí trong thường vụ cấp ủy. Đoàn kiểm tra đã làm việc với nhiều

đối tượng để làm rõ nh ư gặp các đồng chí trong ban th ường vụ, các đồng chí

khác có liên quan ở văn phòng cấp ủy, các ban c ủa cấp ủy, các đồng chí cấp

ủy viên, cán bộ chủ chốt cấp dưới để tìm hiểu, thu thập chứng cứ mà họ nghe

được, biết được về mối quan h ệ của đồng chí bí th ư với các đồng chí khác.

Cán bộ kiểm tra đã chú trọng thu thập, sàng lọc, phân tích các thông tin từ các

tổ chức đảng cấp dưới, các đảng viên từ các cấp ủy, các cơ quan tham m ưu,

giúp việc cấp ủy, chi bộ, từ các đoàn thể; cán bộ kiểm tra đã phải nghiên cứu

các biên bản họp, hội ý thường trực cấp ủy và ban th ường vụ cấp ủy để thấy

có sự mâu thuẫn, căng thẳng giữa bí thư với các đồng chí trong th ường trực,

thường vụ cấp ủy. Rõ ràng để có chứng cứ xem xét và k ết luận một đồng chí

về một nội dung nào đó thì th ẩm tra xác minh r ất cụ th ể, công phu, m ất

nhiều công sức và th ời gian. Các đoàn (tổ) kiểm tra đã chú ý thu th ập thông

tin từ nhi ều kênh, nhi ều ngu ồn khác nhau để có c ăn cứ phân tích, so sánh,

lựa chọn những thông tin có độ tin cậy cao nhằm bảo đảm tính xác đáng của

các chứng cứ.

Thứ ba, th ực hiện đúng nguyên t ắc, ph ương pháp, cách th ức, thủ tục

thẩm tra, xác minh

Cấp uỷ và ủy ban kiểm tra đã chỉ đạo khi tiến hành thẩm tra, xác minh

phải luôn bám ch ắc và th ực hi ện đúng các ph ương pháp công tác ki ểm tra;

quán triệt và ch ấp hành đúng phương pháp th ẩm tra, xác minh ph ải tuân th ủ

phương pháp công tác Đảng, là công tác n ội bộ trong Đảng. Quá trình th ẩm

tra, xác minh cán b ộ kiểm tra đã luôn lấy tổ ch ức đảng làm ch ỗ dựa để thu

76

thập các tài liệu, bằng chứng có liên quan đến nội dung, đối tượng kiểm tra; tổ

chức các cuộc họp của tổ chức đảng nghe kết quả thẩm tra, xác minh để từ đó

góp ý, nh ận xét, phê bình, đấu tranh làm rõ các v ấn đề, tìm ra nguyên nhân,

nhận xét, đánh giá nội dung và đối tượng kiểm tra.

Khi thẩm tra, xác minh, đoàn (tổ) kiểm tra đã tích cực động viên, phát

huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên là đối tượng kiểm tra để

đối tượng kiểm tra cung cấp tài liệu, tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm (nếu

có). Do có ph ương pháp kh ơi gợi, động viên hợp tình, hợp lý có đối tượng

kiểm tra lúc đầu chưa nhận nhưng từng bước đã tự giác nh ận rõ vi ph ạm và

trách nhiệm của mình, từ đó giúp cho cu ộc kiểm tra kết thúc nhanh chóng và

đạt kết quả theo yêu c ầu đề ra. Cùng v ới việc dựa vào tổ chức đảng và phát

huy tinh thần tự giác của tổ chức và đảng viên, quá trình th ẩm tra, xác minh,

đoàn (tổ) kiểm tra đã luôn bi ết dựa, biết phát huy tinh th ần, trách nhi ệm xây

dựng Đảng của quần chúng nhân dân. Đoàn (tổ) kiểm tra đã giữ mối quan hệ,

đi sát quần chúng nhân dân n ơi đối tượng kiểm tra sinh ho ạt, hoạt động hoặc

nơi cư trú để thu thập tài liệu, nghe thông tin d ư luận, động viên họ cung cấp

chứng cứ phục vụ cho việc thẩm tra xác minh, không ít thông tin, d ư luận của

quần chúng sau khi phân tích, sàng lọc trở thành chứng cứ quan trọng để phục

vụ việc xem xét và kết luận nội dung và đối tượng kiểm tra.

Trong công tác ki ểm tra nói chung và vi ệc th ẩm tra, xác minh nói

riêng, Ban Bí thư và các cấp uỷ, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ủy ban kiểm

tra các cấp rất quan tâm và coi trọng sự phối hợp giữa ủy ban kiểm tra với các

cơ quan thanh tra nhà n ước, thanh tra nhân dân, thanh tra c ủa các đoàn th ể

chính trị - xã h ội và các ban, ngành có liên quan. Trong nhi ệm kỳ Đại hội X

và những năm đầu nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XI của Đảng, Ủy ban Ki ểm tra

Trung ương đã tham mưu giúp Ban Bí th ư ban hành 22 Quy ch ế ph ối hợp

công tác ki ểm tra gi ữa Ủy ban Ki ểm tra Trung ương với các tổ chức đảng ở

các cơ quan nêu trên. C ăn cứ tính ch ất, vị trí, ch ức năng, nhiệm vụ của mỗi

77

đơn vị trong c ơ quan Ủy ban Ki ểm tra Trung ương và các t ổ ch ức đảng có

liên quan, cán b ộ, kiểm tra viên trong c ơ quan đã quán tri ệt và th ực hiện các

quy định của quy chế một cách thiết thực và có hi ệu quả. Quá trình th ẩm tra,

xác minh, đoàn (t ổ) ki ểm tra đã tích c ực, ch ủ động ph ối hợp, làm vi ệc với

từng cơ quan phù hợp với nội dung cần làm rõ, để các tổ chức cung cấp thông

tin, tài liệu, chứng cứ phục vụ các cuộc kiểm tra.

Từ nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã ban

hành và tham m ưu, giúp B ộ Chính tr ị, Ban Bí th ư, ban hành các Quy trình

kiểm tra của Bộ Chính tr ị, Ban Bí th ư và Ủy ban Ki ểm tra Trung ương. Căn

cứ các quy trình của Trung ương, ủy ban kiểm tra các cấp đã xây dựng và ban

hành các quy trình v ề kiểm tra, trong đó có 3 bước: bước chuẩn bị, bước tiến

hành kiểm tra và bước kết thúc. Hoạt động thẩm tra, xác minh được xác định

là khâu quan trọng trong bước tiến hành kiểm tra. Khi Ủy ban Kiểm tra Trung

ương và ủy ban ki ểm tra các c ấp quyết định một cuộc kiểm tra bao gi ờ cũng

ban hành kèm theo k ế ho ạch ki ểm tra. Kế ho ạch ki ểm tra xác định 3 b ước,

trong đó nêu rất cụ thể từng việc làm ở bước tiến hành mà tập trung vào khâu

thẩm tra, xác minh. Căn cứ kế hoạch kiểm tra, đoàn (tổ) kiểm tra đã chủ động

xây dựng kế hoạch thẩm tra, xác minh của mình. Kế hoạch thẩm tra, xác minh

đã bám sát k ế ho ạch kiểm tra và được xác định ba bước: bước xây dựng kế

hoạch, bước tiến hành thẩm tra, xác minh và b ước thống nhất, hoàn chỉnh nội

dung báo cáo. Cán bộ kiểm tra đã coi bước tiến hành thẩm tra xác minh là khâu

quan trọng nhất, quyết định đến kết quả thẩm tra, xác minh, sẽ góp ph ần nâng

cao chất lượng, hiệu quả của cuộc kiểm tra; còn bước hoàn chỉnh báo cáo là sản

phẩm, là công sức của quá trình chuẩn bị và tiến hành thẩm tra, xác minh. Nhiều

đoàn kiểm tra đã xác định rất cụ thể, tỉ mỉ từng việc làm cụ thể của từng bước.

Quá trình thực hiện thẩm tra, xác minh, đoàn kiểm tra luôn bám vào kế hoạch,

đồng thời linh ho ạt bổ sung nh ững vấn đề mới phát sinh để kết qu ả thẩm tra,

xác minh tốt hơn, phục vụ kịp thời và có chất lượng cuộc kiểm tra.

78

Thứ tư, trình độ nghiệp vụ, vốn sống thực tiễn, phong cách làm vi ệc, ý

chí quy ết tâm và tinh th ần trách nhi ệm của đội ng ũ cán b ộ ki ểm tra được

nâng lên, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Nhìn chung, đại đa số cán bộ kiểm tra đều chú tr ọng nghiên cứu, tiếp

thu lý lu ận nghiệp vụ ki ểm tra nói chung và lý lu ận th ẩm tra, xác minh nói

riêng; có tác phong sâu sát, tìm cách thâm nhập thực tiễn để nắm bắt thông tin

đa dạng, đa chiều trong quá trình th ẩm tra, xác minh. Khi th ẩm tra, xác minh

đã chú ý b ắt đầu từ cơ sở, từ nơi xảy ra di ễn biến sự việc để nắm tình hình

một cách khách quan, chính xác nên luôn ở th ế ch ủ động, tự tin trong quá

trình làm vi ệc với đối tượng ki ểm tra. Do ý th ức tuân th ủ nguyên t ắc và

phương pháp công tác c ộng với thế mạnh về vốn sống thực tiễn nên ph ương

pháp tiếp cận nguồn thông tin c ủa đội ngũ cán bộ kiểm tra có ưu điểm như:

nắm vững và tuân th ủ nguyên t ắc, ph ương pháp công tác đảng nên không

cưỡng ép, đe dọa, cài bẫy hoặc hứa hẹn vô nguyên t ắc với đối tượng. Phong

cách giao ti ếp khiêm t ốn, chân thành nên th ường tạo được ni ềm tin và s ự

nhiệt tình cung c ấp thông tin t ừ đối tượng. Sự chân thành xu ất phát từ "tâm"

của cán bộ kiểm tra, từ sự tôn tr ọng đối tượng tiếp xúc và mong mu ốn nhận

được sự hợp tác của họ. Đội ngũ cán bộ kiểm tra đã tuân thủ đúng nguyên tắc

và phương pháp công tác, coi tr ọng cách làm vi ệc thận trọng và nghiêm túc,

cách xem xét, kết luận có lý, có tình và tôn tr ọng đối tượng tiếp xúc. Đã tiến

hành thu th ập thông tin t ừ nhiều kênh, nhi ều nguồn khác nhau để có căn cứ

phân tích, so sánh, lựa chọn những thông tin có độ tin cậy cao nhằm bảo đảm

tính xác đáng của chứng cứ. Khi đánh giá chứng cứ đã chú ý tính khách quan,

hợp pháp, hợp lý của tài liệu để loại bỏ những tài liệu giả, tài liệu đã hợp thức

hóa do các đối tượng có liên quan đến sai phạm thực hiện.

Khi tiến hành thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng, cán

bộ kiểm tra các c ấp đã luôn bám sát và tuân th ủ thực hiện đúng các nguyên

tắc thẩm tra, xác minh, đó là: Bám sát nội dung kiểm tra; phải dân chủ, khách

79

quan, công khai; ph ải thực hiện đúng các nguyên t ắc, quy định của Đảng và

phương pháp công tác ki ểm tra của Đảng. Quá trình th ẩm tra, xác minh m ột

vụ việc nào đó, cán bộ kiểm tra đã tìm các ch ứng cứ liên quan đến nội dung

kiểm tra. Do v ậy đã ch ỉ ra được hành vi sai trái, h ậu qu ả, nguyên nhân và

trách nhiệm của tổ chức và cá nhân để từ đó sửa chữa, khắc phục, phấn đấu,

tiến bộ. Mặt khác giúp cho các đối tượng khác chưa được kiểm tra thấy đây là

bài học để tự cảnh tỉnh, giữ gìn không dẫn đến vi phạm. Do làm tốt thẩm tra,

xác minh nên nhiều cuộc kiểm tra kết luận chính xác, đối tượng được kiểm tra

“tâm phục”, “khẩu phục”, nhiều vụ việc được xử lý công minh, chính xác, kịp

thời, có tác d ụng góp ph ần nâng cao trách nhi ệm, ch ất lượng công tác xây

dựng Đảng ở nơi được kiểm tra.

Quá trình thẩm tra, xác minh, để làm rõ nội dung kiểm tra, cán bộ kiểm

tra các cấp đã thực hiện yêu cầu và nguyên t ắc là ph ải khách quan, dân ch ủ,

công khai. Để thực hiện yêu cầu đó, khi thẩm tra xác minh cán bộ kiểm tra đã

sưu tầm, tìm kiếm bằng được các chứng cứ đúng hoặc sai của đối tượng kiểm

tra. Khi tìm ch ứng cứ cán bộ kiểm tra đã thể hiện “mục sở thị”, là “mắt thấy,

tai nghe, tay c ầm được”, không bao gi ờ chỉ nghe nói; ph ải người th ực, việc

thực; khi tìm, đối chiếu văn bản phải là văn bản gốc, văn bản còn giá trị pháp

lý khi hành vi của đối tượng kiểm tra xảy ra. Khi làm việc với đối tượng thẩm

tra, xác minh và đối tượng kiểm tra luôn để họ được tự do thông tin, báo cáo,

cung cấp tài liệu, công khai những ý kiến, quan điểm của họ; cán bộ thẩm tra,

xác minh không gò ép, áp đặt, hai bên cùng trao đổi, phân tích tìm ra ch ứng

cứ xác thực những vấn đề liên quan đến nội dung, đối tượng kiểm tra.

Thứ năm, qua thẩm tra, xác minh đã làm rõ, kết luận và xử lý nhi ều vụ,

việc vi phạm phức tạp, củng cố niềm tin cho đảng viên và quần chúng nhân dân

Để hoạt động thẩm tra, xác minh có kết quả, tìm được chứng cứ là một

quá trình ph ức tạp, mất nhiều công sức, thời gian, không ít v ụ việc xảy ra từ

lâu, tài liệu, hồ sơ không còn đầy đủ, đã thất lạc, có khi đối tượng kiểm tra do

80

biết trước đã tìm cách ém nh ẹm, che gi ấu, mặt khác đã trao đổi, thông đồng

hoặc đe dọa các đối tượng có liên quan trong vi ệc hợp tác với cơ quan ki ểm

tra; tìm cách đối phó v ới lực lượng ki ểm tra, trong khi t ổ ch ức đảng, đảng

viên ở đó lại “đứng ngoài cu ộc”. Chính vì v ậy, có nh ững vụ việc lực lượng

kiểm tra ph ải “đơn th ương độc mã” trong s ưu tìm tài li ệu, chứng cứ. Nhiều

đối tượng ki ểm tra ph ải qua nhi ều lần động viên, thuy ết ph ục ho ặc có bi ện

pháp “c ứng rắn” thì t ừng bước mới cung c ấp tài li ệu, ch ứng cứ. Khi đã có

chứng cứ nh ưng để đối tượng th ừa nh ận trách nhi ệm lại ph ải qua m ột quá

trình phân tích, đấu tranh, vừa tình cảm vừa lý trí, là m ột cuộc đấu tranh phê

bình trong nội bộ, đấu tranh với đối tượng kiểm tra để làm chuyển biến nhận

thức, nâng dần tính tự giác, tự nhận lỗi. Đây là nh ững lúc căng thẳng, người

cán bộ kiểm tra phải có bản lĩnh, phải vững vàng, nhưng đồng thời cũng phải

mềm mỏng, linh hoạt, xử trí tế nhị và khéo léo.

Một số đối tượng kiểm tra lúc đầu còn biểu hiện e ngại, thiếu tin tưởng,

không tự giác, tự phê bình, t ự nhận khuyết điểm, có vi ph ạm còn ph ản ứng,

đối phó; khuyết điểm, sai lầm “lộ” đến đâu thì nhận đến đó, thậm chí cố tình

không nhận khuyết điểm, vi phạm, còn quanh co đổ lỗi cho tập thể, cho khách

quan, cho người khác, nhưng khi được cán bộ kiểm tra kiên trì bằng mọi biện

pháp động viên, gi ải thích thuy ết ph ục, cảm hóa cùng v ới vi ệc đưa ra các

chứng cứ, từ đó đối tượng đã chuyển từ nhận thức chưa đúng sang nhận thức

đúng, từ thiếu tự giác sang t ự giác một phần, từng bước cộng tác với cán bộ

kiểm tra để ti ến hành th ẩm tra, xác minh t ốt hơn. Chính vì v ậy, nhiều cu ộc

kiểm tra phải mất nhiều thời gian, có khi hai, ba tháng mới kết thúc. Vừa qua,

Ủy ban Ki ểm tra Trung ương đã ti ến hành nhi ều cu ộc ki ểm tra khi có d ấu

hiệu vi ph ạm cùng một lúc có ba đối tượng là cán b ộ diện Trung ương quản

lý, với nhiều nội dung ở các lĩnh vực khác nhau, t ừ nguyên tắc tổ chức sinh

hoạt đảng, kinh tế tài chính, phẩm chất đạo đức, lối sống, đoàn kết nội bộ. Để

hoàn thành nh ững cu ộc ki ểm tra nh ư th ế, lực lượng ki ểm tra có lúc t ừ 5-7

81

đồng chí và phải có sự phối hợp lực lượng của các cơ quan có liên quan nh ư:

Ban Tổ chức Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Thanh tra Chính ph ủ,

Bộ Công an, Bộ Tài chính,…

Theo số liệu từ Văn phòng và Vụ Tổng hợp của Cơ quan Ủy ban Kiểm

tra Trung ương, trong nhiệm kỳ Đại hội IX và Đại hội X của Đảng (từ 2001-

2010), ủy ban ki ểm tra các c ấp đã tiến hành th ẩm tra, xác minh để xem xét,

kết lu ận ho ặc giúp Ban Bí th ư, Bộ Chính tr ị và các c ấp ủy kết lu ận: trên

170.300 lượt đảng viên và 30.700 tổ chức đảng được kiểm tra khi có dấu hiệu

vi ph ạm; 1.570 t ổ ch ức đảng và 53.800 đảng viên có t ố cáo; x ử lý k ỷ lu ật

3.200 tổ ch ức đảng và trên 114.000 đảng viên; gi ải quyết 4.960 tr ường hợp

đảng viên khi ếu nại kỷ luật đảng. Ủy ban ki ểm tra các c ấp đã thẩm tra, xác

minh để đánh giá, kết luận khi ki ểm tra vi ệc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và

thi hành kỷ luật trong Đảng đối với 328.000 tổ chức đảng và kiểm tra thu chi

ngân sách, thu nộp, quản lý, sử dụng đảng phí ở 388.000 tổ chức đảng...

Đối với tổ ch ức đảng, nội dung đã th ẩm tra, xác minh t ập trung vào

việc ch ấp hành Điều lệ Đảng, ngh ị quy ết, ch ỉ th ị, quy định của Đảng gần

20.000 tr ường hợp; th ực hi ện nguyên t ắc tập trung dân ch ủ trên 7.780

trường hợp; vi ệc ra quy ết định và t ổ ch ức th ực hi ện quy ết định của cấp

mình 8.900 tr ường hợp; đoàn kết nội bộ 3.890 tr ường hợp; thi ếu trách

nhiệm để xảy ra vi ph ạm trong đơn vị 1.780 tr ường hợp; các n ội dung khác

1.500 tr ường hợp (m ột tổ ch ức có th ể có 2 ho ặc 3 n ội dung d ấu hi ệu vi

phạm). Tổ chức đảng được kiểm tra khi có d ấu hiện vi ph ạm gồm: ban cán

sự đảng, đảng đoàn cấp tỉnh và t ương đương 71 tr ường hợp; ban th ường vụ

huyện ủy và tương đương 243 tr ường hợp; đảng ủy và ban th ường vụ đảng

ủy cơ sở 5.620 tr ường hợp; chi b ộ 24.660 tr ường hợp. Qua th ẩm tra, xác

minh đã kết lu ận số tổ ch ức đảng có vi ph ạm 16.750 tr ường hợp (chi ếm

54,6% số tổ ch ức được ki ểm tra), ph ải thi hành k ỷ lu ật 2.365 tr ường hợp

(chiếm 77% số được kiểm tra).

82

Trong ki ểm tra đảng viên khi có d ấu hi ện vi ph ạm đã th ẩm tra, xác

minh tập trung chủ yếu vào: nguyên tắc tập trung dân chủ 11.905 trường hợp;

chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng 54.150 trường hợp; đoàn kết

nội bộ 9.595 trường hợp; thiếu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ 48.725;

tham nhũng lãng phí 4.385 trường hợp; quản lý sử dụng đất đai, nhà đất 7.752

trường hợp; cố ý làm trái 20.818 tr ường hợp; về phẩm chất, đạo đức, lối sống

23.064 trường hợp… Qua thẩm tra, xác minh, đã kết luận 72,8% số đảng viên

được kiểm tra có vi ph ạm, trong đó phải thi hành kỷ luật chiếm tới 40,9% số

được kiểm tra.

Trong ba năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XI của Đảng, cấp uỷ các cấp đã

chỉ đạo thẩm tra, xác minh để xem xét, k ết luận khi ki ểm tra ch ấp hành đối

với trên 877.000 l ượt đảng viên và trên 161.300 l ượt tổ chức đảng, trong đó

có gần 6.800 đảng viên và 4.600 tổ chức vi phạm kỷ luật. Uỷ ban kiểm tra các

cấp đã chỉ đạo tiến hành th ẩm tra, xác minh để kết luận đối với trên 40.100

đảng viên và gần 14.800 tổ chức đảng được kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm;

giải quyết tố cáo trên 10.500 đảng viên; xử lý và giúp cấp uỷ các cấp xử lý kỷ

luật gần 44.500 đảng viên; xem xét, gi ải quyết trên 850 tr ường hợp khiếu nại

kỷ luật Đảng, trong đó có tới gần 34% phải thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ

luật; ki ểm tra trên 3.700 t ổ ch ức đảng về qu ản lý tài chính đảng và trên

146.600 tổ chức đảng về thu nộp, quản lý, sử dụng đảng phí...

Qua thực tiễn, có th ể nêu lên m ột số vụ, việc phức tạp trong rất nhiều

cuộc kiểm tra mà Ủy ban Ki ểm tra Trung ương đã tiến hành tổ chức chỉ đạo

thẩm tra, xác minh, k ết lu ận để xử lý nh ư các tr ường hợp: các đồng chí

nguyên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân t ỉnh Hà Giang, Uỷ ban nhân dân t ỉnh Đắk

Lắk, Uỷ ban nhân dân t ỉnh Bình Ph ước; Thứ tr ưởng Bộ Y t ế; nguyên Tổng

giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam;… ho ặc các vụ việc được cán bộ, đảng

viên quan tâm, đó là: các đồng chí chủ chốt của Tỉnh uỷ Ninh Bình. Tháng 6-

2010, Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương đã tiến hành ki ểm tra khi có d ấu hiệu vi

83

phạm đối với các đồng chí trong Th ường thực Tỉnh uỷ Ninh Bình v ới 12 nội

dung cụ th ể. Đoàn ki ểm tra g ồm 6 đồng chí do đồng chí V ụ tr ưởng làm

trưởng đoàn, đồng chí Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương trực tiếp

chỉ đạo cu ộc ki ểm tra. Sau 3 tháng ki ểm tra, Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương

xem xét, kết luận tất cả các nội dung, tuy mức độ khác nhau nhưng cả ba đồng

chí trong thường trực và các nội dung nào cũng đều vi phạm, có nội dung xảy

ra từ năm 2006. Các sai ph ạm đã gây hậu quả nghiêm tr ọng, làm th ất thoát,

lãng phí tiền, tài sản, đất đai của Nhà nước. Căn cứ nguyên nhân, tính chất và

mức độ vi ph ạm, theo th ẩm quy ền, Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương đã quy ết

định thi hành k ỷ lu ật bằng hình th ức cảnh cáo đối với đồng chí Phó Bí th ư

Thường trực Tỉnh uỷ; kỷ luật khiển trách đối với đồng chí Phó Bí th ư Tỉnh

uỷ, Bí th ư Ban cán s ự đảng, Ch ủ tịch Uỷ ban nhân dân t ỉnh; báo cáo và đề

nghị Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành Trung ương thi hành kỷ luật cảnh cáo,

đồng thời cho rút khỏi Trung ương đối với đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ.

Thời gian g ần đây, đã kiểm tra và hu ỷ khen th ưởng đối với đồng chí

nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Thừa Thiên - Hu ế

vi phạm trong việc kê khai thành tích cá nhân để được phong tặng danh hiệu

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Để kết lu ận được vấn đề phức tạp

này thật không đơn giản, phải làm rất công phu và m ất nhiều thời gian, vì s ự

việc xảy ra đã trên 40 năm, phải tìm nhiều hồ sơ, tài liệu, làm việc với nhiều

cơ quan, gặp nhiều nhân chứng qua các th ời kỳ, cả trực tiếp và gián ti ếp biết

hoặc liên quan đến bản thân c ũng nh ư quá trình tham gia chi ến đấu, ho ạt

động của đồng chí nguyên Bí th ư Tỉnh ủy để tìm ra s ự thật, trong khi nhi ều

nội dung đồng chí vẫn cho mình là đúng và không nh ận sai. Gần đây nhất là

vụ việc ki ểm tra khi có d ấu hi ệu vi ph ạm về nhà, đất của đồng chí nguyên

Tổng Thanh tra Chính ph ủ, phải thẩm tra, xác minh rất thận trọng, qua nhiều

lần, qua nhi ều địa ph ương, nhi ều cơ quan, vì v ấn đề nhà đất rất ph ức tạp,

nhạy cảm...

84

Tóm lại, quá trình th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra, uỷ ban

kiểm tra và đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp đã khắc phục khó khăn, làm việc

khách quan, th ận trọng, có quy ết tâm, có b ản lĩnh, dũng khí, công tâm; b ằng

mọi cách tìm được chứng cứ để giúp tập thể uỷ ban ki ểm tra và c ấp uỷ xem

xét, kết luận và xử lý nhiều vụ việc phức tạp.

3.1.2. Nh ững hạn ch ế, khuy ết điểm của ho ạt động th ẩm tra, xác

minh trong công tác kiểm tra của Đảng

Thực tế tiến hành công tác ki ểm tra và k ỷ luật của Đảng cho th ấy yếu

tố hàng đầu ảnh hưởng đến ti ến độ và ch ất lượng gi ải quyết vụ vi ệc là b ản

lĩnh chính tr ị và tính chi ến đấu của cán b ộ ki ểm tra. Tuy v ậy, nếu bản lĩnh

chính trị vững vàng và tính chi ến đấu cao nh ưng nghiệp vụ yếu thì dù mu ốn

cũng không th ể đảm bảo ch ất lượng và ti ến độ gi ải quy ết vụ vi ệc. Trong

những năm qua, việc thực hiện tốt thẩm tra, xác minh đã góp phần quan trọng

vào ch ất lượng, hi ệu qu ả các cu ộc kiểm tra, nh ưng nghiêm túc nhìn l ại vẫn

còn một số hạn chế, khuyết điểm sau đây:

Một là, sau khi có k ế hoạch ki ểm tra, chưa quan tâm đến vi ệc lập kế

hoạch thẩm tra, xác minh; k ế hoạch không cụ thể, tỷ mỉ, chính xác, d ẫn đến

khó khăn khi thực hiện, hạn chế kết quả thẩm tra, xác minh

Kế hoạch thẩm tra, xác minh là căn cứ để tiến hành thẩm tra, xác minh;

kết quả thẩm tra, xác minh ph ụ thuộc rất nhiều vào vi ệc xây dựng kế hoạch.

Vẫn còn trình tr ạng nhiều đoàn kiểm tra không xây d ựng kế hoạch thẩm tra,

xác minh, ho ặc có xây d ựng nh ưng sơ sài, thi ếu cụ th ể. Kế hoạch th ẩm tra,

xác minh ch ưa căn cứ và ch ưa bám vào n ội dung ki ểm tra, nội dung tố cáo,

khiếu nại cần giải quyết về lĩnh vực cụ thể nào đó của đời sống xã hội. Trong

kế hoạch chưa làm rõ v ấn đề gì cần gợi ý để đối tượng kiểm tra tự báo cáo,

giải trình, vấn đề gì cần tìm kiếm thu thập; chưa xác định cần sưu tầm những

văn bản nào c ủa Đảng, Nhà n ước có liên quan đến nội dung th ẩm tra, xác

minh. Kế hoạch thẩm tra, xác minh ch ưa xác định rõ đối tượng, tổ chức cần

85

tiếp xúc, trao đổi; những thông tin, văn bản, tài liệu, chứng cứ cần thu thập; chưa

dự ki ến những tình hu ống có th ể phát sinh và cách gi ải quyết. Vẫn còn trình

trạng xác định nội dung th ẩm tra, xác minh ch ưa chuẩn xác dẫn đến kết qu ả

thẩm tra, xác minh để phục vụ cho kết luận từng nội dung kiểm tra không đầy đủ

nên sau khi thẩm tra, xác minh không đủ căn cứ để kết luận có hay không có vi

phạm. Mặt khác, nhiều trường hợp chọn đối tượng thẩm tra, xác minh quá nhiều,

không cần thiết và xác định nội dung thẩm tra, xác minh không đúng trọng tâm,

trọng điểm làm lệch hướng thẩm tra, xác minh. Những đối tượng, nội dung kiểm

tra phức tạp đáng ra phải hết sức chú ý, chuẩn bị kỹ kế hoạch nhưng chưa được

quan tâm, còn chủ quan, đơn giản trong xây dựng kế hoạch thẩm tra, xác minh,

trong khi mọi sự chủ quan, đơn giản dù chỉ là trong từng chi tiết nhỏ của vụ việc

cũng có thể đẫn đến thiếu căn cứ để kết luận nội dung kiểm tra.

Hai là, vi ệc thu th ập thông tin, tài li ệu, bằng ch ứng còn lúng túng,

chưa linh hoạt, nhiều trường hợp không đủ, không chính xác

Bằng ch ứng gồm ng ười, hi ện vật, văn bản, tài li ệu, địa điểm, th ời

gian,... tồn tại một cách khách quan, có liên quan đến sự việc, con ng ười cụ

thể, dùng làm căn cứ để chứng tỏ sự việc là có thật. Khi thu thập thông tin, tài

liệu, chứng cứ, cán bộ kiểm tra nhi ều lúc ch ưa biết khai thác t ừ nhiều nguồn

khác nhau nh ư tổ chức hoặc cá nhân gây ra s ự việc, tổ chức, cá nhân có liên

quan ho ặc bi ết rõ s ự vi ệc, nh ững hi ện vật, tài li ệu có liên quan đến sự vi ệc

như đất đã chiếm dụng, nhà xây trái phép, tài li ệu, sổ sách, băng ghi âm, ghi

hình, chứng từ, hoá đơn, công cụ, phương tiện... Quá trình thu thập chứng cứ,

cán bộ kiểm tra chưa linh hoạt, sáng tạo, thiếu mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm,

dám chịu trách nhi ệm nên còn c ứng nhắc, không linh ho ạt, vận dụng và tìm

các cách làm cụ thể phù hợp thực tế.

Kỹ năng giao tiếp xã hội của một số cán bộ kiểm tra còn nhiều hạn chế.

Mặt khác, kỹ năng của cán bộ kiểm tra khi phân tích tâm lý, n ắm bắt tâm tư,

tình cảm của đối tượng cung cấp thông tin để có biện pháp tác động phù hợp

86

còn nhiều hạn chế. Biểu hiện rõ nhất là khi gặp những người ít cởi mở, thiếu

nhiệt tình, cán b ộ ki ểm tra ch ưa tìm cách g ợi mở, ch ưa có hình th ức, bi ện

pháp tác động phù hợp để từng bước làm thay đổi thái độ của họ, làm cho họ

nhiệt tình trao đổi, cung cấp thông tin. Quá trình làm vi ệc với các tổ chức và

cá nhân chưa chủ động, tích cực tìm cách vận động, thuyết phục, cảm hoá con

người nên hi ệu quả phát huy tính t ự giác của các tổ chức đảng và đảng viên

chưa cao. Cán b ộ kiểm tra ch ưa tạo được không khí giao ti ếp thoải mái, cởi

mở, tin cậy lẫn nhau. Khuyết điểm này hạn chế tính tự giác, tính tích cực đấu

tranh và sự nhiệt tình phối hợp trong cung cấp thông tin của các tổ chức đảng

và cá nhân có liên quan. Không ít cán b ộ kiểm tra còn lúng túng, b ị động về

phương pháp nắm tình hình, ph ương pháp ti ếp cận đối tượng không tốt, làm

cho đối tượng mặc cảm, khó gần, thậm chí phản ứng không hợp tác.

Quá trình thu thập thông tin, tài liệu còn có tình trạng thu thập tràn lan,

không sát v ới nội dung ki ểm tra, do đó mất nhi ều th ời gian đọc, ch ọn lọc,

phân loại. Khi nh ận báo cáo gi ải trình của đối tượng kiểm tra, một số cán bộ

kiểm tra chưa xác định đầy đủ các loại văn bản, tài liệu mà từng đối tượng cần

cung cấp nên yêu c ầu và ti ếp nh ận trùng l ặp. Ng ược lại, có tài li ệu cần thu

thập lại không bi ết để đề ngh ị cung cấp, nên ph ải đi lại nhi ều lần, mất th ời

gian, công sức. Hoặc có đối tượng liên quan, trong tay n ắm nhiều tài li ệu có

giá trị nhưng lại bị bỏ qua.

Khi làm việc với các tổ chức đảng để nghe kết quả thẩm tra, xác minh,

cán bộ ki ểm tra còn lúng túng, ch ưa mạnh dạn, ch ưa phân tích, làm rõ các

hành vi của đối tượng kiểm tra. Gặp nh ững tổ chức đảng vì căn bệnh thành

tích hoặc tính chiến đấu kém, mu ốn bảo vệ cho đối tượng kiểm tra, mu ốn xử

lý nội bộ, cán bộ kiểm tra tỏ ra "khó xử". Những lúc đó, cán bộ kiểm tra chưa

có dũng khí, thi ếu chính ki ến, chưa mạnh dạn đấu tranh, phân tích ph ải trái,

có lúc có thái độ xuôi chiều, chấp nhận đề nghị của tổ chức đảng hoặc của đối

tượng kiểm tra.

87

Ba là, việc nghiên cứu, phân tích, xử lý các văn bản, tài liệu, thông tin,

bằng chứng không kỹ, không sâu dẫn đến nhiều cuộc kiểm tra bị kéo dài, kết

luận nội dung và đối tượng kiểm tra không chính xác

Việc thu thập đầy đủ văn bản, tài liệu, thông tin, bằng chứng là rất quan

trọng, nhưng việc nghiên cứu, phân tích, xử lý những văn bản, tài liệu, thông

tin, bằng chứng ấy một cách chính xác, khách quan l ại càng quan tr ọng vì đó

là cơ sở tin cậy, xác thực, khách quan để kết luận và xử lý đúng. Thực tế vừa

qua, có nhiều vụ việc sau kiểm tra kết luận không chính xác, tổ chức đảng và

đảng viên "vi ph ạm một đằng, kết luận một nẻo", do kết luận không đúng sự

việc nên đã "sai một ly đi một dặm"; có nhi ều trường hợp kiểm tra xong k ết

luận chung chung, "vô th ưởng vô ph ạt", nhiều tr ường hợp gi ải quyết tố cáo

không kết luận rõ đúng sai mà chỉ kết luận "chưa có căn cứ", "chưa đủ chứng

cứ" hoặc "không có c ơ sở", làm cho cán b ộ, đảng viên không đồng tình. Cá

biệt có cuộc kiểm tra đã không thực hiện đúng quy định trong việc trưng cầu

giám định của các cơ quan nghiệp vụ đối với những vấn đề cần thiết. Vì vậy,

có cuộc kiểm tra khi báo cáo tr ước hội nghị uỷ ban kiểm tra phải dừng lại để

thẩm tra, xác minh, xác nhận giám định của cơ quan có thẩm quyền.

Tình trạng tài liệu, thông tin thu nhận được rất nhiều nhưng do trình độ,

năng lực, kỹ năng phân tích hạn chế nên bị “rối”, không tìm ra được tính xác

thực, hợp lý, hợp pháp của từng văn bản, tài liệu, thông tin, bằng chứng; việc

đối chiếu, so sánh chưa thành thạo và thiếu nhạy cảm, sắc sảo trong việc lật đi

lật lại vấn đề để nắm bắt và kết luận đúng bản chất sự việc. Khi phân tích tài

liệu, chứng cứ cán bộ kiểm tra chưa phát hiện kịp thời những mâu thuẫn, tính

phi lôgic, không h ợp lý, mối quan hệ tác động qua lại của chứng cứ, những

vấn đề chưa rõ hoặc có dấu hiệu đang tiềm ẩn đằng sau đó một sự thật để vừa

tiếp tục thu th ập văn bản, tài li ệu, thông tin, b ằng ch ứng khác, v ừa thuy ết

phục, gợi ý, đấu tranh để đối tượng kiểm tra từng bước tự nhận ra sự thật hoặc

gần với sự thật hơn. Còn trình trạng sử dụng chứng cứ thiếu căn cứ, chỉ nghe

88

người khác, qua d ư luận, qua ph ương tiện thông tin đại chúng, báo cáo m ột

chiều, ch ưa làm vi ệc, trao đổi tr ực ti ếp với đối tượng ki ểm tra ho ặc các t ổ

chức, cá nhân có liên quan, không đến tận nơi xảy ra sự việc, không nhìn tận

mắt tài li ệu, ch ứng cứ, do đó nh ận định, đánh giá, quy k ết sai l ệch, không

đúng sự thật, bản chất sự việc. Qua xem xét, gi ải quyết khiếu nại kỷ luật của

đảng viên trong nhi ệm kỳ Đại hội IX và Đại hội X của Đảng, tỷ lệ thay đổi,

xoá bỏ tương ứng là 26% và 37% so v ới số đã giải quyết; riêng 3 n ăm đầu

nhiệm kỳ Đại hội XI tỷ lệ này là 34%. Trong s ố thay đổi, xoá bỏ chủ yếu là

do thẩm tra, xác minh không đúng, khi thẩm tra, xác minh đã bỏ sót chứng cứ,

không tìm được ch ứng cứ ho ặc ch ứng cứ thi ếu chính xác. Quá trình nghiên

cứu, phân tích thông tin, tài li ệu chưa phát huy h ết khả năng, trí tu ệ của tập

thể trong lực lượng kiểm tra, có khi ch ỉ là ý ki ến phân tích, đánh giá của một

người nên vừa không chính xác v ừa không khách quan. Khi đối tượng kiểm

tra có vị trí công tác, chức vụ cao, cán bộ kiểm tra dễ mặc cảm, e ngại, quá tin

vào sự tự giác, vào gi ải trình c ủa đối tượng nên đã ch ấp nh ận một chi ều,

không muốn làm đến cùng, không phân tích tìm ra sự thật.

Bốn là, ch ất lượng báo cáo k ết quả thẩm tra, xác minh ch ưa tốt, chưa

chuyển tải hết các ch ứng cứ để phục vụ việc kết luận nội dung ki ểm tra, làm

hạn chế kết quả, chất lượng công tác kiểm tra.

Báo cáo k ết qu ả th ẩm tra, xác minh là s ản ph ẩm cu ối cùng c ủa quá

trình tiến hành th ẩm tra, xác minh. N ếu báo cáo không t ốt, không rõ ràng s ẽ

ảnh hưởng, hạn chế kết quả thẩm tra, xác minh; khuyết điểm của thẩm tra xác,

minh nhiều lúc còn b ắt nguồn từ cách tổng hợp, báo cáo th ẩm tra, xác minh.

Xây dựng báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh, ngoài việc đòi hỏi người cán bộ

phải có vốn kiến thức chuyên môn, ngôn ng ữ, văn bản, kinh nghiệm viết báo

cáo… mà còn phải có khả năng phân tích, tổng hợp, biết xây dựng bố cục hợp

lý, lựa chọn ý tứ, câu từ, trích dẫn rõ ràng để lột tả, làm rõ, nêu b ật được nội

dung cần phân tích, c ần báo cáo. Th ực tế vừa qua, quá trình th ẩm tra, xác

89

minh tìm được nhiều chứng cứ có giá trị để chứng minh hành vi của đối tượng

kiểm tra nh ưng báo cáo lan man, dài dòng, khó hi ểu, dẫn dắt không lôgíc,

không đầy đủ, nội dung phân tích không rõ, có chứng cứ cần phân tích sâu thì

lại viết sơ sài, dẫn chứng chứng cứ có lúc mâu thu ẫn, hoặc không đúng chỗ,

thiếu thống nhất giữa phần kết quả thẩm tra, xác minh với những nhận xét, đề

xuất, kiến nghị; nhiều báo cáo ch ỉ liệt kê, trích dẫn quá nhiều mà không rõ ý,

nhận xét, thiếu rõ ràng, ch ặt chẽ, sắc nét, không rõ chính ki ến của đoàn kiểm

tra; mặt khác một số báo cáo lại đưa ra nhiều nhận xét, đánh giá chung chung,

mang tính ch ủ quan, không đưa ra được các ch ứng cứ ch ứng minh có s ức

thuyết phục. Khuyết điểm, hạn chế của thẩm tra, xác minh có ph ần tác động

không nhỏ từ việc tưởng chừng như không lớn này. Vì vậy cùng với trình độ,

năng lực, kinh nghiệm nghiệp vụ để tiến hành thẩm tra xác minh, đòi hỏi cán

bộ ki ểm tra ph ải nâng cao c ả trình độ tổng hợp, kh ả năng báo cáo k ết qu ả

thẩm tra, xác minh.

3.2. NGUYÊN NHÂN TH ỰC TR ẠNG HO ẠT ĐỘNG TH ẨM TRA, XÁC

MINH TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

3.2.1. Nguyên nhân ưu điểm

3.2.1.1. Nguyên nhân khách quan

Một là, cu ộc đấu tranh phòng, ch ống tham nh ũng thời gian qua được

Đảng và Nhà nước tiến hành quyết liệt đã có ảnh hưởng và tác động tích cực,

thúc đẩy công tác ki ểm tra của Đảng, trong đó có việc thẩm tra, xác minh có

chất lượng, hiệu quả hơn.

Thời gian qua nhi ều vụ tham nhũng đã được các cơ quan pháp lu ật xét

xử nghiêm minh, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Qu ần chúng nhân dân

ngày càng đòi hòi Đảng phải có bi ện pháp đấu tranh mạnh mẽ hơn để chống

suy thoái trong Đảng, phải làm cho Đảng ta th ật sự trong s ạch, vững mạnh.

Đây là điều kiện, là “s ức ép” để cấp uỷ và uỷ ban ki ểm tra các cấp phải tăng

cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, xử lý nghiêm minh

90

các vụ vi ph ạm kỷ luật trong Đảng. Tác động trên đã làm chuy ển biến nhận

thức và việc tổ chức thực hiện của những người làm công tác ki ểm tra, giám

sát, thi hành k ỷ lu ật trong Đảng, từ đó, khi xem xét ph ải kiên quy ết, khách

quan, chính xác. Mu ốn vậy, đương nhiên ho ạt động thẩm tra, xác minh ph ải

làm tốt hơn.

Cùng với các quy định của Đảng, Quốc hội và Chính ph ủ tiếp tục ban

hành nhiều văn bản quy ph ạm pháp lu ật trên rất nhiều lĩnh vực, nh ất là các

luật về Phòng, ch ống tham nh ũng; Lu ật Th ực hành ti ết ki ệm; Lu ật Tố cáo,

Luật Khiếu nại; Luật Thanh tra; Luật Công chức... Các quy định của Đảng và

Nhà nước là cơ sở để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, làm tiêu chí, chu ẩn

mực hành động của cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng tạo hành lang pháp lý

để tiến hành nhiệm vụ kiểm tra và hoạt động thẩm tra, xác minh; tạo điều kiện

tháo gỡ khó khăn, bế tắc trong quá trình thẩm tra, xác minh vì không có chuẩn

mực để phân biệt rạch ròi, kết luận dứt điểm các biểu hiện đúng, sai, tích cực

với tiêu cực trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế đầy biến động

và phức tạp.

Hai là, xu th ế dân ch ủ, công khai, minh b ạch trong đời sống xã h ội,

trong cơ quan Nhà n ước ngày càng phát tri ển, nhất là tình hình và k ết qu ả

chất vấn trong Qu ốc hội, hội đồng nhân dân các c ấp; vi ệc các ph ương tiện

truyền thông đại chúng đưa tin công khai nhi ều vụ việc đã có tác động tích

cực đến công tác xây d ựng, củng cố Đảng, đến công tác ki ểm tra nói chung

và hoạt động thẩm tra, xác minh nói riêng.

Dân ch ủ, công khai, minh b ạch càng được mở rộng và phát huy giúp

cho qu ần chúng nhân dân n ắm bắt, hi ểu bi ết, được ti ếp cận tình hình trong

Đảng và các c ơ quan Nhà n ước nhiều hơn. Nhiều khuyết điểm, yếu kém của

cơ quan qu ản lý được lộ rõ khi được chất vấn và tr ả lời chất vấn trong Qu ốc

hội, hội đồng nhân dân các cấp. Đặc biệt, thời gian qua, phương tiện thông tin

đại chúng đã phanh phui nhi ều vụ việc tiêu cực, một mặt tác động mạnh mẽ

91

trong xã hội, mặt khác tác động tích cực vào công tác xây dựng Đảng, đòi hỏi

công tác ki ểm tra ph ải nhanh chóng xem xét, k ết lu ận và công khai rõ h ơn

những vụ việc đã có kết quả thẩm tra, xác minh.

Ba là, có sự phối hợp, cộng tác tích cực của các cơ quan bảo vệ pháp

luật, các đoàn th ể nhân dân trong h ệ thống chính tr ị và các ban, ngành có

liên quan trong quá trình kiểm tra, nhất là khi thẩm tra, xác minh.

Thời gian qua, nh ận th ấy được tầm quan tr ọng của sự ph ối hợp gi ữa

công tác ki ểm tra của Đảng với công tác thanh tra, ki ểm toán của Nhà nước,

thanh tra nhân dân, công tác ki ểm tra, giám sát của các đoàn thể chính trị - xã

hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp và các ban, ngành có liên quan, Trung ương

đã ban hành các quy ch ế phối hợp ở các cơ quan Trung ương, trên cơ sở đó

các địa phương đã vận dụng và ban hành thực hiện. Do có sự phối hợp nên đã

hạn ch ế tình tr ạng thiếu tập trung, thi ếu thống nhất, chồng chéo, sơ hở, giải

quyết vụ việc không kịp thời, chính xác. Các kết luận của thanh tra, kiểm toán

nhà nước là cơ sở để giúp cho t ổ chức đảng nghiên cứu, thẩm tra, xác minh,

kết luận và xử lý vi ph ạm của tổ chức đảng và đảng viên được cụ thể, chính

xác, nhanh chóng, toàn diện và khách quan hơn.

3.2.1.2. Nguyên nhân chủ quan

Một là, Ban Ch ấp hành Trung ương, Bộ Chính tr ị, Ban Bí th ư và cấp

uỷ các cấp đã kịp thời ban hành các ngh ị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế và

luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác ki ểm tra và k ỷ

luật trong Đảng, từ đó tạo đà để việc thẩm tra, xác minh tốt hơn.

Thời gian qua, công tác ki ểm tra của Đảng nói chung, ho ạt động thẩm

tra, xác minh nói riêng có nhi ều thuận lợi, được các tổ chức đảng, đảng viên,

quần chúng nhân dân quan tâm và ủng hộ. Trong các v ăn kiện của Đảng đã

xác định nhiều quan điểm, chủ trương về công tác ki ểm tra, giám sát, k ỷ luật

của Đảng. Đại hội đại biểu toàn qu ốc lần thứ X của Đảng đã bổ sung nhi ệm

vụ giám sát đối với tổ chức đảng, tăng nhiệm vụ, quyền hạn cho uỷ ban kiểm

92

tra. Lần đầu tiên Ban Ch ấp hành Trung ương (khoá X) đã ra Ngh ị quyết về

tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Nghị quyết đã xác định mục

tiêu, nhiệm vụ, trách nhiệm của các tổ chức đảng trong việc lãnh đạo, tổ chức

thực hiện công tác ki ểm tra, giám sát. Ban Ch ấp hành Trung ương, Bộ Chính

trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã có Nghị quyết và nhiều quyết

định, quy định, quy chế, hướng dẫn thực hiện công tác ki ểm tra, giám sát, thi

hành kỷ luật trong Đảng, như: Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm; Quy

định về những điều đảng viên không được làm; Quy định giám sát trong Đảng

và giám sát cán b ộ diện Trung ương quản lý; Quy ch ế chất vấn trong Đảng,

chất vấn trong c ấp uỷ; Quy trình ti ến hành công tác ki ểm tra, giám sát, thi

hành kỷ lu ật trong Đảng; Quy định về tổ chức và ho ạt động của đoàn kiểm

tra... Cuối nhiệm kỳ Đại hội IX và nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội X và XI, Bộ

Chính trị và Ban Bí th ư đã tiến hành ki ểm tra quy ết liệt nhiều tổ chức đảng

cấp dưới trực tiếp về nhiều nội dung quan tr ọng và nổi cộm; thực hiện quyết

định của Trung ương, các cấp uỷ, tổ chức đảng đã tiến hành sâu rộng công tác

kiểm tra và đạt nhiều kết quả.

Tổ ch ức bộ máy và đội ng ũ cán b ộ ki ểm tra các c ấp được quan tâm

kiện toàn, ch ất lượng cán b ộ được nâng lên; ch ế độ, chính sách, điều ki ện

phương tiện, cơ sở vật chất được ưu tiên và t ăng cường đáng kể, từ đó động

viên, thu hút cán b ộ có ph ẩm chất, năng lực làm công tác ki ểm tra. Sự phối

hợp gi ữa cơ quan ki ểm tra và các c ơ quan, t ổ ch ức có liên quan được tăng

cường và có kết quả hơn.

Các cấp ủy ngày càng nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò của công tác kiểm

tra và giữ gìn kỷ luật trong Đảng, nhất là trong bối cảnh, tình hình mới; từ đó, đã

xác định rõ phương hướng, nội dung, phạm vi trách nhiệm kiểm tra của các cấp

uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp, tạo cơ sở để thực hiện nhiệm vụ kiểm

tra đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban

kiểm tra các cấp, của chi bộ và chấp hành nghiêm túc khi được kiểm tra.

93

Hai là, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và uỷ ban kiểm tra các cấp đã xác

định được trách nhiệm là cơ quan chuyên trách về công tác kiểm tra của Đảng,

từng bước hoàn thiện và đổi mới quy trình, phương pháp công tác, tích cực chỉ

đạo việc thẩm tra, xác minh để thực hiện có kết quả các cuộc kiểm tra.

Uỷ ban ki ểm tra các c ấp đã tự nhận thấy mình là l ực lượng nòng cốt,

trực tiếp thực hiện công tác ki ểm tra; chất lượng, hiệu quả cuộc kiểm tra một

phần quan tr ọng do kết quả thẩm tra, xác minh; vì v ậy, đã tập trung tổ chức,

chỉ đạo chặt chẽ quá trình ti ến hành cuộc kiểm tra, nhất là khâu th ẩm tra, xác

minh. Đồng chí thành viên Ủy ban ph ụ trách và th ường trực ủy ban ki ểm tra

đã thường xuyên ch ỉ đạo, hướng dẫn cụ thể, sát sao ho ạt động của đoàn (tổ)

kiểm tra. Không ít tr ường hợp gặp nh ững đối tượng ki ểm tra và n ội dung

phức tạp, các đồng chí lãnh đạo trong Ủy ban đã trực tiếp “ra tay”, gặp và làm

việc với đối tượng được kiểm tra, nhất là các tổ chức đảng và đảng viên là cán

bộ có vị trí quan trọng.

Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã từng bước đổi mới quy trình ki ểm tra,

để nhằm nâng cao ch ất lượng, kết quả thẩm tra, xác minh. T ừ nhiệm kỳ Đại

hội IX của Đảng trở về trước, khi cần thiết, nhất là đối với các nội dung phức

tạp, Ủy ban Ki ểm tra Trung ương và ủy ban ki ểm tra các c ấp mới lập đoàn

(tổ) kiểm tra, còn những vụ, việc khác không lập đoàn (tổ) kiểm tra. Từ nhiệm

kỳ Đại hội X của Đảng đến nay, Ủy ban Ki ểm tra Trung ương đã ban hành

quy định khi u ỷ ban ki ểm tra th ực hi ện tất cả các nhi ệm vụ ph ải thành l ập

đoàn kiểm tra. Trong quy trình ki ểm tra có nh ững quy định cụ th ể như: kết

quả thẩm tra, xác minh phải được trao đổi, thảo luận, bàn bạc trong đoàn kiểm

tra. Sau khi kết thúc thẩm tra, xác minh, trước khi chuẩn bị báo cáo tập thể Ủy

ban, đoàn kiểm tra ph ải tranh th ủ ý ki ến của lãnh đạo Vụ phụ trách địa bàn,

lĩnh vực của đối tượng ki ểm tra. Từ nhi ệm kỳ Đại hội XI đến nay, Ủy ban

Kiểm tra Trung ương còn quy định khi ki ểm tra đối tượng là c ấp ủy, ban

thường vụ cấp ủy trực thuộc Trung ương, các đồng chí là Ủy viên Trung ương

Đảng, hoặc kiểm tra các đồng chí đảng viên là cán b ộ chủ chốt địa phương,

94

bộ, ngành Trung ương, cán bộ diện Trung ương quản lý thì trưởng đoàn kiểm

tra là một đồng chí thành viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Ba là, trình độ, năng lực và trách nhiệm của cán bộ trực tiếp làm công

tác kiểm tra đã được nâng lên một bước, góp phần có tính quyết định đến kết

quả thẩm tra, xác minh.

Do được quan tâm, chú ý đến việc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công

tác kiểm tra nói chung và nghi ệp vụ cụ thể về thẩm tra, xác minh nói riêng

nên cán bộ kiểm tra có nhận thức, phương pháp, kinh nghiệm tốt hơn khi tiến

hành thẩm tra, xác minh. Vào đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng, Ủy ban Ki ểm tra

Trung ương đều biên soạn và ban hành tài liệu nghiệp vụ về công tác kiểm tra,

giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng. Tài liệu đó được biên soạn cho cấp cơ

sở và cấp trên cơ sở. Ủy ban Ki ểm tra Trung ương đã phối hợp với Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các Học viện Chính trị khu vực tổ chức các

lớp cử nhân kiểm tra, mở nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ,

nhất là số cán bộ mới chuyển về cơ quan ủy ban kiểm tra công tác.

Đội ngũ cán bộ kiểm tra nói chung, cán bộ trực tiếp tiến hành thẩm tra,

xác minh nói riêng đã có một bước trưởng thành đáng kể. Đại bộ phận cán bộ

kiểm tra có ph ẩm ch ất chính tr ị vững vàng, đạo đức, lối sống lành m ạnh,

trong sáng, trung thực, công tâm, khách quan. Trình độ lý luận chính trị, kinh

tế, pháp luật, ngoại ngữ, tin học, trình độ nghiệp vụ và kinh nghi ệm thẩm tra,

xác minh của cán bộ được nâng cao. Đa số cán bộ kiểm tra có kinh nghi ệm

thực tiễn, có tư duy mới về công tác ki ểm tra của Đảng. Mặt khác, nhiều cán

bộ đã cần mẫn suy ngh ĩ, tìm tòi nh ững hình th ức, ph ương pháp, năng động

sáng tạo tiến hành thẩm tra, xác minh phù hợp tình hình, hoàn cảnh mới. Nhờ

đó, trước khó kh ăn phức tạp của nhiệm vụ công tác ki ểm tra và thi hành k ỷ

luật trong Đảng, đội ngũ cán bộ kiểm tra đã nỗ lực phấn đấu thực hiện có kết

quả một khối lượng lớn nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có

dấu hiệu vi phạm, giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật, xem xét xử lý hoặc đề

95

nghị cấp ủy xử lý k ỷ luật theo th ẩm quyền, trong đó có nhi ều vụ việc được

quần chúng, đảng viên đồng tình, hoan nghênh.

3.2.2. Nguyên nhân hạn chế, khuyết điểm

3.2.2.1. Nguyên nhân khách quan

Một là, nội dung, đối tượng kiểm tra, thẩm tra, xác minh ngày càng đa

dạng, phong phú, ph ức tạp, vi ph ạm và cách th ức vi ph ạm trong Đảng ngày

càng tinh vi, khó lường.

Thời gian qua, càng đi sâu vào quá trình đổi mới, phát triển kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta bên c ạnh mặt tốt, tích cực đã

phát sinh nh ững mặt trái, tiêu c ực tác động vào nh ận thức và ho ạt động của

mọi người trong xã h ội, trong đó có cán b ộ, đảng viên. Vi ph ạm của tổ chức

đảng và đảng viên ngày càng tinh vi, có sự liên kết, lôi kéo, móc nối, khó phát

hiện. Qua tiến hành công tác ki ểm tra và xử lý kỷ luật đảng viên trong những

năm qua, nhận thấy những nội dung chủ yếu trong các l ĩnh vực của đời sống

xã hội đều có vi ph ạm và có xu h ướng tăng nhanh. Nhi ều trường hợp đảng

viên, cán bộ vi ph ạm không đơn thuần thể hiện ở phạm vi một lĩnh vực, một

địa chỉ mà có liên quan móc xích, ch ồng chéo, ở nhi ều nơi, nhiều cấp, nhiều

ngành; vừa biểu hiện hành vi vi phạm cụ thể, vừa thể hiện ở sự dao động chính

trị, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng và suy thoái phẩm chất, đạo đức.

Kinh tế thị trường ngoài mặt tích cực, thì mặt trái của nó cùng với ảnh

hưởng bởi toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã tác động, tạo đà phát triển, làm

cho vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên hết sức tinh vi, đa dạng, phức tạp.

Thực tế tiến hành công tác ki ểm tra và thi hành k ỷ luật trong Đảng thời gian

qua cho th ấy, tình hình vi ph ạm kỷ luật của tổ chức đảng và đảng viên hi ện

nay đang có nh ững diễn biến phức tạp cả về đối tượng, nội dung, tính ch ất,

cách thức và quy mô vi phạm. Đa số đối tượng vi phạm là cán bộ có chức vụ,

quyền lực, trình độ, giàu kinh nghiệm sống, kinh nghiệm công tác và quan h ệ

xã hội rộng. Khi trình độ, kinh nghi ệm, quyền lực và các m ối quan hệ được

96

kết hợp nhằm lợi dụng kẽ hở của luật pháp và những hạn chế, bất cập của các

quy định hiện hành để che ch ắn, hợp lý hoá sai ph ạm, thậm chí đối phó với

kiểm tra thì sẽ gây nhiều khó khăn cho cán bộ kiểm tra khi thẩm tra, xác minh.

Cách thức vi phạm ngày càng đa dạng, tinh vi hơn và được tính toán, che giấu

bằng nhiều chiêu thức tinh vi, khó phát hiện, khó xử lý. Từ việc lợi dụng kẽ hở

của chính sách, pháp lu ật, lợi dụng vị trí, quyền hạn, lợi dụng sự yếu kém của

công tác quản lý, lợi dụng các khâu của công tác cán bộ đến lợi dụng các mối

quan hệ đều được tính toán kỹ lưỡng để thực hiện các hành vi sai phạm.

Đối tượng kiểm tra có ch ức vụ, vị trí, có kinh nghi ệm, trình độ, có vị

thế trong c ơ quan, đơn vị, cán b ộ ch ủ ch ốt, có khi ng ười đó nắm sứ mạng

chính trị của cả cán bộ kiểm tra. Thông th ường, khi bi ết kiểm tra, đối tượng

kiểm tra lại nặng nề, có mặc cảm, không mu ốn cộng tác, tìm cách che gi ấu,

hoặc hợp thức hoá, đối phó, quá trình th ực hiện hành vi nào đó có khi đã tính

toán, tìm sơ hở để “lách” các quy định; mặt khác, họ phối hợp với cấp dưới

tìm cách che ch ắn, phản ứng quyết liệt, có khi d ựa vào cấp trên để được bao

che, ủng hộ, vì những bản thân những cán bộ đó cũng liên quan, có phần trách

nhiệm; gần đây, có sự cấu kết giữa cán bộ đảng viên với doanh nghi ệp, bọn

tội ph ạm hoạt động mang tính xã h ội đen, vừa khó phát hi ện vừa khó kh ăn

trong kiểm tra, xem xét, k ết luận, xử lý, trong khi công tác ki ểm tra là công

việc nội bộ Đảng, phải th ực hiện theo nguyên t ắc và ph ương pháp công tác

đảng. Bên cạnh tiêu cực, vi ph ạm của đảng viên, cán b ộ thì tình hình khi ếu

kiện, tố cáo gay gắt, quyết liệt của nhân dân càng làm cho hoạt động thẩm tra,

xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng trở nên khó khăn rất nhiều.

Hai là, s ự ph ối hợp gi ữa công tác ki ểm tra c ủa Đảng với công tác

thanh tra, kiểm toán Nhà nước, công tác ki ểm tra, giám sát c ủa các đoàn thể

chính trị - xã hội, các ban, ngành có liên quan chưa tốt, chưa hiệu quả.

Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong công tác ki ểm

tra của Đảng là một trong nh ững phương pháp cơ bản của công tác ki ểm tra,

97

càng không th ể thiếu trong quá trình th ẩm tra, xác minh. Th ời gian qua, Ủy

ban Kiểm tra Trung ương đã tham mưu để Ban Bí th ư ban hành các quy ch ế

phối hợp công tác ki ểm tra, giám sát và thi hành k ỷ luật trong Đảng giữa Ủy

ban Kiểm tra Trung ương với các tổ chức đảng ở các cơ quan Trung ương có

liên quan; căn cứ các quy ch ế của Trung ương, cấp ủy các cấp đã ban hành

quy chế phối hợp ở địa phương, đơn vị mình để th ực hiện. Tuy nhiên, vi ệc

triển khai thực hiện các quy chế phối hợp còn nhiều hạn chế, chưa đạt kết quả

như mong mu ốn. Thông báo k ết lu ận của Ban Bí th ư về th ực hiện các Quy

chế phối hợp nêu trên (Thông báo số 71-TB/TW, ngày 12-01-2012) đã chỉ rõ:

Việc thực hiện nội dung, trách nhi ệm, phương pháp phối hợp trong

Quy ch ế có lúc, có vi ệc ch ưa ch ặt ch ẽ, đầy đủ và th ường xuyên,

như trao đổi thông tin, phát hi ện dấu hiệu vi ph ạm để xây dựng kế

hoạch kiểm tra, giám sát chưa kịp thời; phối hợp xem xét giải quyết

tố cáo, khi ếu nại, xử lý k ỷ lu ật có tr ường hợp còn kéo dài và còn

chồng chéo trong th ực hi ện kế ho ạch ki ểm tra, thanh tra, ki ểm

toán… việc phối hợp chỉ đạo điều tra, gi ải quyết đối với một số vụ

việc vi ph ạm pháp lu ật của các c ơ quan t ố tụng còn ch ậm, ảnh

hưởng đến việc phối hợp trong xem xét trách nhi ệm, xử lý kỷ luật,

hạn chế tác dụng giáo dục, răn đe đối với tổ chức đảng và đảng viên

vi phạm. Có những vấn đề nảy sinh trong thực tế do chưa được quy

định trong Quy ch ế ph ối hợp nên còn lúng túng, ch ưa ch ủ động

trong việc thông báo, trao đổi thông tin v ề tổ chức đảng, đảng viên

không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý [18, tr.02-03].

Như vậy, có thể thấy mặc dù đã có các quy chế phối hợp trong công tác

kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng giữa ủy ban kiểm tra các cấp với các cơ quan

chức năng có liên quan, nhất là các cơ quan thanh tra, kiểm toán, công an, tòa

án, kiểm sát… và đạt được kết quả nhất định, nhưng công tác phối hợp cụ thể

trong hoạt động thẩm tra, xác minh còn b ất cập, chưa rõ ràng, nhi ều vấn đề

98

thực tế phát sinh chưa được quy định. Việc triển khai thực hiện phối hợp chưa

được quan tâm đúng mức, chưa thường xuyên, ổn định, vẫn có tính sự vụ, khi

sự việc phát sinh m ới tìm cách liên h ệ bằng văn bản xin cung c ấp hồ sơ tài

liệu, mới đề nghị, yêu cầu được làm vi ệc, gặp gỡ, trao đổi, cung cấp và chia

sẻ thông tin…; th ủ tục hành chính trong ph ối hợp còn nặng nề, rườm rà qua

nhiều cấp xem xét, có ý ki ến… Mặt khác, chưa cụ thể hóa trách nhi ệm, cách

thức phối hợp giữa đơn vị tham mưu, chức năng của các cơ quan ph ối hợp,

các đoàn ki ểm tra, cán b ộ ki ểm tra theo dõi địa bàn… c ủa hai c ơ quan.

Nguyên nhân trên đã phần nào làm cho ho ạt động thẩm tra, xác minh trong

công tác kiểm tra của Đảng có nhiều khuyết điểm, hạn chế, lúng túng.

Ba là, các quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước chưa đầy đủ, đồng

bộ, còn chồng chéo, làm ảnh hưởng đến quá trình th ực hiện và kết quả thẩm

tra, xác minh.

Một nguyên nhân không nh ỏ nữa là mặc dù nh ững năm qua Đảng và

Nhà nước đã chủ trương tiến hành cải cách hành chính và tích c ực ban hành

nhiều văn bản pháp quy, nh ưng trong th ực tế còn nhi ều lĩnh vực ho ạt động

vẫn còn tình trạng “trắng luật” hoặc có luật nhưng đã lạc hậu, không đồng bộ

dẫn đến thực trạng hoạt động của nhiều tổ chức, nhiều cán bộ quản lý ở các

đơn vị theo d ạng “v ừa thi công v ừa thi ết kế”, th ậm chí “thi công không có

thiết kế” (như quy định về đấu thầu và đấu thầu hạn chế cũng còn nhiều sơ hở

từ đó cán bộ đã lợi dụng làm sai dẫn đến tiêu cực…).

Khi các quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước còn thiếu, chưa đầy

đủ, rõ ràng làm cho ho ạt động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của

Đảng gặp nhi ều khó kh ăn, tr ở ng ại, ch ứng cứ xem xét, k ết lu ận hành vi vi

phạm phải căn cứ nhiều điều kiện, cơ sở, trước hết là các quy định mang tính

pháp quy. Kết quả của công tác kiểm tra nói chung và hoạt động thẩm tra, xác

minh nói riêng ph ải tìm ra s ự thật, phân tích, mổ xẻ, tìm ra b ản chất của vấn

đề, nh ưng căn cứ, ch ỗ dựa lại ch ưa đầy đủ, rõ ràng, s ử dụng th ế nào c ũng

99

được, vì vậy kết quả thẩm tra, xác minh còn khuy ết điểm, hạn chế sẽ không

tránh khỏi.

3.2.2.2. Nguyên nhân chủ quan

Một là, nh ận thức của cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên, trong đó có

ủy ban ki ểm tra và cán b ộ kiểm tra nói chung và cán b ộ trực tiếp tiến hành

thẩm tra, xác minh chưa tốt, chưa đầy đủ.

Do nhận thức chưa đầy đủ, chưa tốt về vị trí, vai trò của công tác kiểm

tra là nội dung quan tr ọng trong công tác xây d ựng Đảng, bảo đảm cho ch ủ

trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định của Đảng, của cấp

ủy và pháp lu ật Nhà nước được chấp hành nghiêm ch ỉnh và th ực hiện thắng

lợi trong thực tiễn, do đó, một số cấp ủy chưa thật sự quan tâm tự mình kiểm

tra hoặc chỉ đạo cơ quan tham mưu kiểm tra theo ch ức năng, nhiệm vụ. Quá

trình tổ ch ức th ực hi ện các cu ộc ki ểm tra c ủa mình, n ếu cấp ủy thi ếu kiên

quyết sẽ dẫn đến vi ệc ch ỉ đạo th ẩm tra, xác minh không t ốt, không làm rõ

được nội dung kiểm tra, kết luận thiếu chính xác dẫn đến chất lượng, hiệu quả

cuộc kiểm tra không cao, thậm chí còn ngược lại.

Nhận thức của tổ chức đảng và đảng viên về công tác ki ểm tra, giám

sát và thi hành kỷ luật đảng nói chung và về hoạt động thẩm tra, xác minh nói

riêng còn hạn chế, phần nào gây cản trở cho công tác kiểm tra. Tổ chức đảng,

nhất là ng ười đứng đầu cấp uỷ do ch ưa nh ận th ức đúng đắn đầy đủ về tính

quyết định của kết quả thẩm tra, xác minh đến kết quả kiểm tra nên nhiều lúc

chưa tạo điều ki ện thuận lợi, ủng hộ cho ho ạt động th ẩm tra, xác minh. T ừ

nhận thức đó, khi cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên là đối tượng kiểm tra của

cấp trên thì thi ếu sự cộng tác, ph ối hợp trong quá trình ki ểm tra, dẫn đến né

tránh trong cung c ấp thông tin, tài li ệu, cấp trên “h ỏi” đến đâu thì cung c ấp

đến đó. Khi gi ải trình các n ội dung ki ểm tra ch ỉ nêu chung chung, không t ự

giác, tự phê bình, t ự nh ận khuyết điểm, thậm chí còn che gi ấu tài li ệu, hợp

thức hóa các hành vi sai ph ạm làm cho vi ệc thẩm tra, xác minh c ủa cấp trên

100

khó khăn. Khi cấp trên kiên quy ết tiến hành th ẩm tra, xác minh, làm đến nơi

đến ch ốn thì cho r ằng cán b ộ ki ểm tra “v ạch lá tìm sâu”, t ừ đó gây cản trở

cuộc ki ểm tra. Khi c ấp ủy, tổ ch ức đảng không ph ải là đối tượng ki ểm tra

nhưng trong tổ chức mình có đảng viên, cán bộ được kiểm tra lẽ ra phải là chỗ

dựa tin cậy của cấp trên nh ưng lại giữ “im lặng”, không “v ạch áo cho ng ười

xem lưng” vì s ợ mất uy tín, m ất thành tích, t ừ đó cấp trên không còn ch ỗ

dựa, không phát huy được tinh th ần xây d ựng Đảng của các t ổ chức đó. Là

đảng viên được ki ểm tra do nh ận th ức không t ốt nên m ặc cảm, định ki ến

với cán b ộ kiểm tra, thi ếu sự cộng tác, th ậm chí đe dọa nh ững ng ười khác

trao đổi, cung c ấp tài li ệu cho cán b ộ kiểm tra. Khi c ấp trên cung c ấp các

tài liệu, chứng cứ chứng minh khuy ết điểm vi ph ạm của đối tượng kiểm tra

để cấp ủy, đảng viên góp ý nh ận xét thì không có tinh th ần đấu tranh phê

bình, né tránh, bao che, ch ỉ phát bi ểu chung chung, nhi ều lúc l ại ca ng ợi

thành tích, không đề cập, nh ận xét gì v ề khuy ết điểm, vi ph ạm và trách

nhiệm của đối tượng kiểm tra. Rõ ràng nh ững lý do trên làm cho ho ạt động

thẩm tra, xác minh c ủa cấp trên g ặp rất nhi ều khó kh ăn, hạn ch ế đến ch ất

lượng kết quả thẩm tra, xác minh.

Hai là, chất lượng đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác ki ểm tra nhìn

chung còn bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công tác

kiểm tra nói chung và hoạt động thẩm tra, xác minh nói riêng.

Một khó kh ăn cũng là nguyên nhân quan tr ọng khác, đó là yêu c ầu

vượt qua chính bản thân mình của cán bộ kiểm tra về khoảng cách giữa trình

độ, năng lực, kinh nghi ệm, bản lĩnh trước tính ph ức tạp của nội dung và đối

tượng ki ểm tra. N ội dung ki ểm tra càng nhi ều, càng ph ức tạp thì càng khó

khăn, bởi trình độ cán bộ có hạn, nhiều lĩnh vực chưa am hiểu, chưa tiếp cận,

cọ xát với thực tế; đối tượng kiểm tra có ch ức vụ cao, từng trải, “có uy l ớn”

thì cán bộ kiểm tra dễ “ngợp” và “choáng”, do đó nếu không có bản lĩnh, trình

độ thì cán b ộ sẽ rất khó kh ăn khi ti ến hành th ẩm tra, xác minh. Ki ểm tra tổ

101

chức đảng cấp dưới và đảng viên là c ấp ủy viên, cán b ộ do cấp ủy cùng cấp

quản lý khi có d ấu hiệu vi phạm, giải quyết tố cáo, giải quyết khiếu nại, xem

xét để xử lý kỷ luật theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp ủy xử lý kỷ luật đảng

viên, tổ chức đảng là những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, căng thẳng, tế nhị.

Đối tượng kiểm tra thông th ường có vị trí, cương vị, kinh nghi ệm, quá trình

công tác, nhi ều trường hợp hơn cán bộ trực tiếp kiểm tra. Dấu hiệu vi ph ạm

và vi ph ạm của tổ ch ức đảng và đảng viên trong b ối cảnh hi ện nay r ất đa

dạng, ph ức tạp, tinh vi, nhi ều nội dung và cách th ức vi ph ạm mới, nh ất là

trong bối cảnh đi sâu vào nền kinh tế thị trường, quan hệ hội nhập quốc tế sâu

rộng. Nhiều cuộc kiểm tra với nội dung cần xem xét, kết luận rất rộng, lại đòi

hỏi th ời gian g ấp để phục vụ công tác xây d ựng Đảng. Vấn đề nổi lên hi ện

nay là trình độ, năng lực của cán bộ kiểm tra ch ưa theo kịp và đáp ứng tính

chất, quy mô và yêu c ầu của công tác ki ểm tra, nh ất là trình độ hiểu biết về

kinh tế, xã hội, về quản lý kinh tế - xã hội, hiểu biết pháp luật. Các quan điểm,

chủ trương, chính sách, quy định về kinh tế - xã h ội luôn thay đổi, trong khi

cán bộ kiểm tra không được cập nh ật, nghiên c ứu kịp th ời, do v ậy trình độ

nắm, hiểu của cán bộ kiểm tra không theo k ịp, lạc hậu so với tình hình th ực

tiễn. Những hạn chế, bất cập của cán bộ kiểm tra về trình độ, năng lực hiện

nay ở một số nơi đang ch ậm được kh ắc phục sẽ là điều cản tr ở lâu dài đến

hoạt động thẩm tra, xác minh.

Một vấn đề quan tr ọng khác là, cán b ộ ki ểm tra còn h ạn ch ế về kinh

nghiệm, vốn sống thực tiễn, phương pháp, phong cách, k ỹ năng nghiệp vụ và

cả thái độ ứng xử trước những yêu cầu của tình hình m ới và ho ạt động thẩm

tra, xác minh. H ạn ch ế, yếu kém trong th ẩm tra, xác minh ch ứng tỏ trong

nhiều trường hợp cán bộ kiểm tra thiếu kiến thức chuyên môn trong l ĩnh vực

xảy ra về nội dung ki ểm tra. Tình tr ạng này đã hạn chế chất lượng, hiệu quả

thẩm tra, xác minh và do đó ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của các cuộc

kiểm tra nói chung.

102

Ba là, nguyên tắc, phương pháp, quy trình công tác kiểm tra nói chung

và trong ho ạt động th ẩm tra, xác minh còn thi ếu cụ th ể, bất cập, ch ưa phù

hợp thực tế trong nội bộ Đảng hiện nay.

Hiện nay, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương cũng chưa xác định nguyên tắc

và phương pháp riêng cho hoạt động thẩm tra, xác minh mà chỉ trên cơ sở dựa

vào các nguyên tắc và phương pháp công tác đảng để vận dụng thực hiện; mới

chỉ có quy trình ki ểm tra, còn th ẩm tra, xác minh đã có hướng dẫn cách ti ến

hành nhưng chưa có quy trình riêng.

Đây là một trong các nguyên nhân r ất quan tr ọng làm cho ho ạt động

thẩm tra, xác minh có nh ững khuyết điểm, hạn chế, yếu kém. Thực tiễn công

tác xây dựng Đảng nói chung và công tác kiểm tra thời gian qua nói riêng cho

thấy nguyên tắc và các phương pháp trên có nhiều hạn chế, bất cập, không đạt

kết quả như mong mu ốn. Nguyên tắc tập trung dân ch ủ trong Đảng đang có

nhiều vi phạm, tình trạng dân chủ hình thức còn phổ biến. Thực hành dân chủ

trong Đảng không được phát huy và b ảo đảm; vẫn còn tình tr ạng độc đoán,

chuyên quy ền, bóp ngh ẹt dân ch ủ. Bi ểu hi ện rõ nét ở th ực tr ạng đảng viên

không dám phê bình th ẳng th ắn nh ững khuyết điểm, vi ph ạm của lãnh đạo,

nhất là người đứng đầu vì sợ trù đập. Có nơi cả ban thường vụ, cả tập thể cấp

uỷ không ai dám nói trái ý ki ến bí thư cấp uỷ. Khi đảng viên không dám phát

biểu, nêu hết, nói h ết, trình bày h ết các quan điểm, chính ki ến của mình thì

mọi vi ệc sẽ một chi ều, theo ý ki ến lãnh đạo, cấp trên không n ắm được tình

hình, làm cho cán b ộ kiểm tra khó khai thác, khó được cung cấp các ch ứng

cứ. Khi th ẩm tra, xác minh là ph ải dựa vào tổ chức đảng, vào cấp ủy, nhưng

cấp ủy, tổ chức đảng không tích cực phối hợp trong quá trình ki ểm tra, trong

cung cấp thông tin, tài li ệu, có lúc l ại che chắn; tính chi ến đấu, phê bình làm

rõ nội dung vi phạm và trách nhiệm của đối tượng kiểm tra lại rất yếu, “dĩ hòa

vi quý”, e dè, nể nang, khen là chính, tư tưởng “dễ người, dễ ta”, sợ mất thành

tích. Hoạt động thẩm tra, xác minh của Đảng lấy tự phê bình và phê bình làm

103

biện pháp chính yếu nhưng thực trạng của tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi

chỉ là hình th ức. Không ít tr ường hợp đảng viên, cán b ộ, kể cả cán b ộ lãnh

đạo thi ếu gương mẫu, không nghiêm túc t ự phê bình, còn s ợ “v ạch áo cho

người xem lưng”, có khi trong phê bình l ại tìm cách h ợp pháp hóa sai ph ạm,

tiêu cực, thậm chí còn làm đảo lộn đúng sai, tốt xấu, tạo điều kiện cho phần tử

tiêu cực thoái hóa được dung túng, bao che và có ch ỗ dựa để trù dập, ức hiếp

những đảng viên chân chính, trung th ực, từ đó mà t ạo ra tâm lý “ đấu tranh

tránh đâu”, đây là một cản trở, chướng ngại rất lớn trong công tác kiểm tra và

hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra.

Thẩm tra, xác minh là m ột khâu quan tr ọng, khâu chính y ếu trong các

phương pháp công tác ki ểm tra của Đảng nhưng chưa có quy trình riêng c ụ

thể, mới ch ỉ đề cập một điểm trong b ước ti ến hành c ủa quy trình công tác

kiểm tra. Do ch ưa có quy trình c ụ thể nên cách th ức thực hiện thẩm tra, xác

minh còn lúng túng, th ực tế ch ỉ dựa vào kinh nghi ệm của từng cán b ộ tr ực

tiếp kiểm tra, từ đó kết quả thẩm tra xác minh không t ốt, dẫn đến những yếu

kém, hạn chế nhất định.

3.3. MỘT SỐ KINH NGHI ỆM VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA QUA TH ỰC TR ẠNG

HOẠT ĐỘNG THẨM TRA, XÁC MINH TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG

3.3.1. Một số kinh nghiệm tiến hành thẩm tra, xác minh trong công

tác kiểm tra của Đảng

Để làm t ốt vi ệc th ẩm tra, xác minh, xu ất phát t ừ th ực ti ễn công tác

kiểm tra trong Đảng thời gian qua, rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu sau đây:

Một là, ban th ường vụ cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng,

ủy ban ki ểm tra và cán b ộ tr ực ti ếp làm công tác ki ểm tra các c ấp ph ải có

nhận th ức đúng, đầy đủ về mục đích, ý ngh ĩa, vị trí, vai trò c ủa ho ạt động

thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng.

Khi cấp ủy và ng ười đứng đầu cấp ủy có nh ận th ức đúng, đầy đủ về

thẩm tra, xác minh s ẽ quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các cu ộc kiểm tra của cấp

104

ủy, sẽ chỉ đạo, định hướng lực lượng tiến hành th ẩm tra xác minh m ột cách

kiên quyết, cụ thể; mặt khác sẽ tạo điều kiện, phối hợp với cấp trên tiến hành

thẩm tra, xác minh khi ki ểm tra b ản thân tổ ch ức mình ho ặc ki ểm tra đảng

viên, cán b ộ sinh ho ạt tại địa ph ương, đơn vị mình. Đồng th ời, sẽ tạo điều

kiện thuận lợi cho ủy ban kiểm tra ti ến hành th ẩm tra, xác minh khi ki ểm tra

các cấp ủy tr ực thu ộc và đảng viên là cán b ộ do c ấp ủy qu ản lý. Mu ốn có

nhận thức đúng về hoạt động thẩm tra, xác minh tr ước hết phải có nh ận thức

đúng về công tác ki ểm tra. Khi th ấy được công tác ki ểm tra là b ộ phận quan

trọng trong toàn b ộ công tác xây d ựng Đảng, là nhi ệm vụ tr ực ti ếp, th ường

xuyên của cấp ủy, mục tiêu của công tác ki ểm tra là nh ằm nâng cao năng lực

lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng thì cấp ủy sẽ quan tâm và chỉ đạo thực hiện

tốt công tác ki ểm tra. Nếu cấp ủy nhận thấy muốn công tác ki ểm tra có hi ệu

quả, hi ệu lực và để vi ệc thi hành k ỷ lu ật được “công minh, chính xác, k ịp

thời” thì không có cách nào khác là phải làm tốt thẩm tra, xác minh, làm rõ và

kết luận đúng các nội dung kiểm tra.

Đối với ủy ban kiểm tra và cán bộ làm công tác ki ểm tra, là người trực

tiếp ch ỉ đạo và tổ chức th ực hiện các cu ộc ki ểm tra, trong đó cốt lõi là ti ến

hành thẩm tra, xác minh, nếu uỷ ban kiểm tra và cán bộ kiểm tra có nhận thức

đúng sẽ chu ẩn bị tốt từ kế ho ạch ki ểm tra, k ế ho ạch th ẩm tra xác minh, t ổ

chức th ực hiện có kết qu ả thẩm tra, xác minh; tìm cách kh ắc phục mọi khó

khăn, sáng t ạo, linh ho ạt trong th ực hi ện ph ương pháp, quy trình ki ểm tra.

Thực tế vừa qua, ở cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương có nhiều vụ việc rất

khó khăn, phức tạp cả về đối tượng và nội dung ki ểm tra nh ưng do có nh ận

thức đúng trong cơ quan và sự nỗ lực cố gắng của những cán bộ trực tiếp tiến

hành thẩm tra, xác minh nên cuộc kiểm tra đã đạt kết quả tốt, giúp cho tập thể

Ủy ban Kiểm tra Trung ương xem xét, kết luận, xử lý kịp thời nghiêm minh,

kể cả những trường hợp phải trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, kết luận,

quyết định xử lý kỷ luật theo thẩm quyền.

105

Hai là, ph ải luôn có s ự quan tâm ch ỉ đạo cụ thể, kịp th ời, sát sao và

kiên quy ết của th ường tr ực cấp ủy, th ường tr ực ủy ban ki ểm tra trong quá

trình thẩm tra, xác minh.

Chủ thể các cuộc kiểm tra thông th ường là ban th ường vụ cấp ủy hoặc

của ủy ban kiểm tra. Để tiến hành cuộc kiểm tra thì ban thường vụ cấp ủy, ủy

ban kiểm tra lập ra các đoàn (tổ) kiểm tra, đây là nh ững cán bộ trực tiếp tiến

hành thẩm tra, xác minh. Ch ất lượng, kết quả cuộc kiểm tra tốt hay không tốt

sẽ gắn với trách nhiệm của ban thường vụ hoặc của ủy ban kiểm tra. Để cuộc

kiểm tra đạt kết quả thì ph ải có s ự quan tâm ch ỉ đạo, tổ chức thực hiện của

thường trực cấp ủy, là nh ững người giúp ban th ường vụ hoàn thành t ốt cuộc

kiểm tra. T ương tự nh ư vậy, cu ộc ki ểm tra là c ủa tập th ể ủy ban ki ểm tra,

nhưng thường trực uỷ ban ki ểm tra (g ồm chủ nhiệm và các phó ch ủ nhiệm)

được ủy nhi ệm thay m ặt tập th ể ủy ban ch ỉ đạo, điều hành các công vi ệc,

trong đó có các cu ộc ki ểm tra. Tr ước khó kh ăn khi ti ến hành th ẩm tra, xác

minh, không th ể thiếu sự chỉ đạo, phó mặc cho lực lượng trực tiếp thẩm tra,

xác minh, tự tiến hành “tác chiến”. Không ít đối tượng kiểm tra và các tổ chức

cá nhân có liên quan không c ộng tác, ph ối hợp, còn ch ần ch ừ, kéo dài vi ệc

cung cấp tài liệu, hồ sơ nhưng khi có ý ki ến chỉ đạo kịp thời của thường trực

cấp ủy và ủy ban ki ểm tra thì các đối tượng nghiêm túc th ực hiện; có nh ững

trường hợp vi phạm đã được làm rõ nhưng không chịu kiểm điểm, chỉ đến khi

có sự ch ỉ đạo của th ường tr ực cấp ủy ho ặc ủy ban ki ểm tra m ới vi ết ki ểm

điểm và g ửi cho đoàn ki ểm tra. Nhi ều cu ộc ki ểm tra khó kh ăn, ph ức tạp,

thường trực cấp ủy và ủy ban kiểm tra đã nghe đoàn kiểm tra báo cáo tiến độ,

kết quả thẩm tra, xác minh b ước đầu để cho ý ki ến, tháo gỡ khó kh ăn, định

hướng những việc cần làm tiếp. Thực tế chứng minh cuộc kiểm tra nào có s ự

quan tâm tích cực, theo dõi, chỉ đạo quyết liệt thì tiến độ, kết quả kiểm tra và

thẩm tra, xác minh được tiến hành nhanh, gọn, bảo đảm có chất lượng, không

để kéo dài, phải thẩm tra, xác minh nhiều lần.

106

Ba là, bám sát n ội dung, đối tượng thẩm tra, xác minh; quá trình ti ến

hành th ẩm tra, xác minh ph ải năng động, sáng tạo, linh ho ạt trong ph ương

pháp, cách thức tiến hành.

Như trên đã xác định, nội dung th ẩm tra, xác minh là nh ững nội dung

kiểm tra có vấn đề cần được xem xét, làm rõ để kết luận. Mỗi nhiệm vụ kiểm

tra của cấp uỷ và u ỷ ban ki ểm tra có n ội dung, đối tượng cụ thể khác nhau.

Trong mỗi cuộc kiểm tra, tuỳ nội dung, đối tượng và tình th ực tế của vụ việc

mà có nội dung, đối tượng thẩm tra, xác minh khác nhau. Như vậy, muốn làm

rõ nội dung kiểm tra thì không có cách nào khác là phải bám vào các nội dung

cần thẩm tra, xác minh đã được xác định. Mỗi đối tượng thẩm tra, xác minh

lại liên quan ch ặt ch ẽ đến nội dung ki ểm tra, nh ằm chứng minh, làm rõ n ội

dung kiểm tra đúng, sai ra sao. Chứng cứ nằm ở đối tượng thẩm tra, xác minh;

có bám sát đối tượng thẩm tra, xác minh thì mới nhanh chóng tìm được chứng

cứ. Quá trình th ẩm tra, xác minh n ếu quan liêu, ti ếp cận không t ốt các đối

tượng th ẩm tra, xác minh thì s ẽ khó kh ăn trong vi ệc tìm ra ch ứng cứ. Để

nhanh chóng tìm ra ch ứng cứ, quá trình th ẩm tra, xác minh, cán b ộ kiểm tra

phải linh hoạt, năng động và sáng tạo từ việc tiếp cận, thu thập, khai thác thông

tin từ các đối tượng. Thực tế, nếu cán bộ nào có ph ương pháp tốt thì kết quả

thẩm tra, xác minh sẽ tốt. Vì vậy, hoàn thiện, đổi mới phương pháp, cách thức,

tác phong công tác của cán bộ kiểm tra là rất cần thiết trong thời gian tới.

Bốn là, có đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác kiểm tra đủ “tâm”, đủ

“tầm”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, tính ph ức tạp của công tác ki ểm tra nói

chung và việc thực hiện thẩm tra, xác minh nói riêng.

Trong ph ần nguyên nhân c ủa ưu điểm đã xác định trình độ, năng lực

cán bộ là một nguyên nhân quan trọng, có tính quyết định đến những ưu điểm,

kết quả của hoạt động thẩm tra, xác minh. Đây cũng là kinh nghi ệm hết sức

quan trọng rút ra t ừ thực tiễn thời gian qua. Cán b ộ là một trong nh ững nhân

tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng và

107

chế độ, là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh

khẳng định: “Cán bộ là cái g ốc của mọi công vi ệc” [119, tr.269], " công việc

thành công ho ặc thất bại đều do cán b ộ tốt hay kém". Không có đội ngũ cán

bộ tốt thì đường lối, nhi ệm vụ chính tr ị đúng cũng không th ể trở hành hi ện

thực được.

Muốn nâng cao ch ất lượng, hi ệu qu ả công tác ki ểm tra nói chung và

việc thẩm tra, xác minh nói riêng thì đội ngũ cán bộ kiểm tra ph ải có ph ẩm

chất, trình độ, năng lực, phải là những người vững vàng về chính trị, giương

mẫu về đạo đức, trong sáng v ề lối sống, có phong cách t ốt, có ki ến th ức

chuyên môn và n ăng lực th ực ti ễn. Có th ể kh ẳng định, số lượng và ch ất

lượng cán b ộ là một trong các c ơ sở, điều ki ện ch ủ quan, n ội tại, điều ki ện

chủ yếu, có tính quy ết định đến chất lượng, hiệu quả, hiệu lực của công tác

kiểm tra c ủa ủy ban ki ểm tra các c ấp, trong đó có k ết qu ả th ẩm tra, xác

minh. Nh ư ở ph ần trên đã đề cập, V.I.Lênin và Ch ủ tịch Hồ Chí Minh r ất

quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác ki ểm tra của Đảng.

Đó là nh ững ng ười mẫu mực nh ất, không th ể chê trách được; đủ kinh

nghiệm và uy tín, giàu n ăng lực; có ý th ức tổ chức kỷ luật cao; chí công vô

tư, không thiên v ị, không thành ki ến. Đội ngũ cán bộ đó, phải qua l ựa chọn

cẩn thận, sát hạch, thanh tra k ỹ, được đặc biệt tin cẩn và được huấn luyện rất

công phu.

Chúng ta không quan tr ọng hoá, đề cao cán b ộ làm công tác ki ểm tra.

Cán bộ làm công tác ki ểm tra, giám sát là đội ngũ cán bộ của Đảng, yêu cầu

tiêu chuẩn cán bộ kiểm tra, giám sát nằm trong những quy định tiêu chuẩn cán

bộ của Đảng. Tuy nhiên, do tính chất nhiệm vụ, do yêu cầu của công tác kiểm

tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, là nhiệm vụ hết sức quan trọng, liên quan

đến sứ mệnh chính tr ị của tổ ch ức đảng và đảng viên, vì v ậy, ph ải đủ số

lượng, có phẩm chất, đạo đức, năng lực, trình độ toàn diện, kinh nghiệm thực

tiễn phong phú, có uy tín, phải có “tâm” và có “tầm”.

108

3.3.2. Một số vấn đề đặt ra qua hoạt động thẩm tra, xác minh trong

công tác kiểm tra của Đảng

Thực trạng hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của

Đảng thời gian qua có nhiều vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu, làm rõ để giải

quyết và th ực hiện tốt hơn trong th ời gian tới; trước mắt xin nêu m ột số nội

dung sau đây:

Một là, cần nghiên cứu, làm rõ s ự bất cập và hạn chế của nguyên tắc,

phương pháp thẩm tra, xác minh để vận dụng, thực hiện cho phù hợp với tình

hình thực tế trong Đảng hiện nay.

Hoạt động thẩm tra, xác minh là ho ạt động trong nội bộ Đảng và ph ải

tuân theo các nguyên t ắc của Đảng nh ư nguyên t ắc tập trung dân ch ủ. Tuy

nhiên thực tế trong Đảng hiện nay có nhiều hạn chế, bất cập khi thực hiện các

nguyên tắc. Do là công vi ệc nội bộ nên dễ dẫn đến khép kín, nội bộ che giấu,

bao bọc cho nhau. Nguyên tắc dân chủ, công khai trong công tác kiểm tra làm

cho vi ệc th ẩm tra, xác minh khó kh ăn hơn vì đối tượng ki ểm tra có th ể lợi

dụng để quanh co, l ẩn tránh, che gi ấu hoặc hợp thức hóa vi ph ạm. Khi ki ểm

tra ban thường vụ cấp uỷ thì chỉ trong ban thường vụ biết, cấp uỷ không biết,

cán bộ, công chức người thường xuyên tiếp xúc, bi ết công vi ệc cụ thể nhưng

không được biết, được nói, từ đó hạn chế tính công khai, hạn chế nguồn cung

cấp thông tin, chứng cứ. Tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình có nhi ều

vi ph ạm, chỗ dựa quan tr ọng của ho ạt động th ẩm tra, xác minh ít tác d ụng.

Tình hình, điều kiện hiện nay rất khó khăn trong việc tìm chứng cứ; chứng cứ

bị bóp méo, không chính xác. Th ực trạng này đặt ra cho công tác th ẩm tra,

xác minh phải đổi mới nếu muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả.

Hai là, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ tr ực ti ếp làm công tác

kiểm tra đang hạn chế, bất cập trước yêu cầu, nhiệm vụ là làm rõ các hành vi

vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên khi tiến hành thẩm tra, xác minh.

"Cán bộ nào, phong trào đó". Chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra gắn

liền và có mối quan hệ nhân quả với chất lượng thẩm tra, xác minh, trong khi

109

cán bộ không am hi ểu sâu về kinh tế, pháp luật. Mặt khác hoạt động thu thập

thông tin, ch ứng cứ khi th ẩm tra, xác minh l ại tiến hành ch ủ yếu bằng cách

vận động, thuyết phục, cảm hoá, nêu gương nên đòi hỏi cán bộ kiểm tra phải

nâng cao phẩm chất, năng lực, nghiệp vụ. Trong khi nội dung vi ph ạm của tổ

chức đảng và đảng viên rất tinh vi và ngày càng ph ức tạp, vì vậy vấn đề cấp

bách là phải rà soát, có chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực, trình

độ, có kỹ năng nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu của công tác kiểm tra trong điều

kiện mới.

Ba là, cần có sự giám sát quá trình thẩm tra, xác minh và phản biện kết

quả thẩm tra, xác minh, coi đây là nhân tố tác động quan tr ọng để nâng cao

chất lượng thẩm tra, xác minh nói riêng và công tác kiểm tra nói chung.

Một mặt, do n ăng lực, kinh nghi ệm cán b ộ ki ểm tra còn có h ạn nên

trong nhiều trường hợp chưa làm rõ được nội dung kiểm tra cần kết luận, mặt

khác có th ể do nguyên nhân khác tác động như có mối quan hệ, do nể nang,

né tránh, ng ại va ch ạm nên không dám m ạnh dạn và kiên quy ết trong th ẩm

tra, xác minh để tìm ra chứng cứ và trong đề xuất, kiến nghị khi kết thúc kiểm

tra. Vì vậy, nên có sự giám sát quá trình th ẩm tra, xác minh và ph ản biện kết

quả thẩm tra, xác minh tr ước và trong khi báo cáo để tập thể uỷ ban kiểm tra

nghe nhiều chiều, có thêm cơ sở, căn cứ xem xét, kết luận. Giám sát và ph ản

biện có tác dụng “cảnh tỉnh”, do đó cán bộ và đoàn kiểm tra nhất định sẽ làm

tốt hơn, khách quan hơn, nâng cao được trách nhiệm trong thẩm tra, xác minh

và báo cáo kết quả kiểm tra.

Bốn là, ph ải coi th ẩm tra, xác minh là k ỹ năng nghi ệp vụ mang tính

khoa học và thực tiễn, cần được nghiên cứu, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để

ngày càng làm tốt hơn trong thời gian tới.

Vấn đề quan trọng nhất trong cách thức tiến hành thẩm tra, xác minh là

xác định những gì có th ể làm ch ứng cứ xác th ực cho từng nội dung ki ểm tra

và tìm cách thu th ập chứng cứ đó theo nguyên t ắc và ph ương pháp công tác

110

Đảng. Th ẩm tra, xác minh không đơn gi ản th ực hành theo ch ủ ngh ĩa kinh

nghiệm mà là ho ạt động có ph ương pháp khoa h ọc với sự kết hợp nhu ần

nhuyễn gi ữa lý lu ận và th ực ti ễn. Không được lấy vị th ế của cấp trên, c ủa

người đi kiểm tra mà áp đặt chủ quan duy ý chí. Ph ải trên cơ sở khoa học để

tiến hành tổng kết từ thực tiễn, rút ra bài h ọc kinh nghiệm để tiến hành th ẩm

tra, xác minh tốt hơn.

Tiểu kết chương 3

Hoạt động thẩm tra, xác minh th ời gian qua n ằm trong bối cảnh công

tác ki ểm tra, giám sát và k ỷ lu ật trong Đảng được tăng cường, có nhi ều

chuyển biến, tiến bộ. Ban Ch ấp hành Trung ương, Bộ Chính tr ị, Ban Bí th ư,

Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương và cấp uỷ các cấp có nhi ều văn bản quy định,

hướng dẫn và tổ chức thực hiện quyết liệt về công tác kiểm tra, giám sát và thi

hành kỷ lu ật trong Đảng. Tuy nhiên, bên c ạnh thu ận lợi cũng có nhi ều khó

khăn, nhất là đối tượng kiểm tra phần lớn là cán bộ có chức vụ, quyền hạn, nội

dung kiểm tra phải làm rõ lại rất phức tạp, đa dạng, vi phạm của tổ chức đảng và

đảng viên ngày càng tinh vi, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, trong khi

trình độ, năng lực, nghiệp vụ của cán bộ kiểm tra còn hạn chế, bất cập.

Ban thường vụ cấp uỷ và nh ất là uỷ ban ki ểm tra các c ấp đã tích cực

chỉ đạo tiến hành thẩm tra, xác minh đạt nhiều kết quả nhất định, phục vụ kết

luận các cu ộc kiểm tra theo ch ương trình, kế hoạch đã được xác định. Trong

đó đặc biệt quan tâm vi ệc phải thực hiện đúng nguyên tắc, phương pháp, quy

trình th ẩm tra, xác minh. Quá trình th ẩm tra xác minh đã luôn bám vào n ội

dung kiểm tra, tuân th ủ các nguyên tắc, phương pháp công tác ki ểm tra, phát

huy dân chủ, khách quan, công khai, bi ết dựa và phát huy tinh th ần xây dựng

Đảng của tổ chức đảng, đảng viên và quần chúng, tích cực phối hợp với các tổ

chức đảng trong các c ơ quan bảo vệ pháp lu ật, tích cực phối hợp với các tổ

chức trong hệ chính trị.

111

Hoạt động th ẩm tra, xác minh th ời gian qua đã nâng d ần được ch ất

lượng, giúp cho cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp xem xét, kết luận, xử lý một

khối lượng lớn nội dung, đối tượng được kiểm tra khi có d ấu hiệu vi ph ạm,

giải quyết tố cáo, gi ải quyết khiếu nại và xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng

viên vi ph ạm, góp ph ần nâng cao ch ất lượng, hiệu quả công tác ki ểm tra, xử

lý kỷ luật trong Đảng. Hoạt động thẩm tra, xác minh đạt được kết quả trên là

do có sự lãnh đạo, chỉ đạo của ban thường vụ cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra, nhất là

thường trực cấp uỷ, thường trực uỷ ban kiểm tra các cấp và trình độ, năng lực,

phẩm chất đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác kiểm tra được nâng lên một bước.

Tuy nhiên, hoạt động thẩm tra, xác minh th ời gian qua cũng còn nhiều

khuyết điểm, hạn chế. Trong đó, nổi bật là tiến hành thẩm tra, xác minh ch ưa

kỹ, không sâu, ch ưa đầy đủ và chính xác, vì v ậy ch ất lượng th ẩm tra, xác

minh chưa đáp ứng một trong các yêu c ầu của công tác ki ểm tra là xem xét,

kết luận và xử lý nghiêm vi phạm nếu có. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến

nhiều cuộc kiểm tra chưa đạt kết quả cao, xử lý các v ụ vi ph ạm kỷ luật chưa

công minh, chính xác, k ịp th ời. Nguyên nhân khuy ết điểm, hạn ch ế trên có

phần bắt ngu ồn từ khó kh ăn trong vi ệc làm rõ tính ch ất, mức độ các v ụ vi

phạm kỷ luật trong Đảng, từ thực hiện yêu cầu của công tác ki ểm tra, kỷ luật

và nh ững hạn ch ế, bất cập trong m ột số nội dung c ủa nguyên t ắc, ph ương

pháp công tác kiểm tra. Bên cạnh đó, điều quan trọng là trình độ, năng lực của

cán bộ kiểm tra chưa theo kịp tình hình hiện nay.

Từ thực trạng trên, vấn đề đặt ra cần quan tâm là d ự báo một số tình

hình có liên quan tác động đến công tác kiểm tra, từ đó xác định đúng phương

hướng và các gi ải pháp tối ưu để thực hiện tốt hoạt động thẩm tra, xác minh

nhằm ph ục vụ, góp ph ần nâng cao ch ất lượng, hi ệu qu ả, hi ệu lực công tác

kiểm tra của Đảng.

112

Chương 4

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP

NHẰM THỰC HIỆN TỐT HOẠT ĐỘNG THẨM TRA, XÁC MINH

TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

4.1. DỰ BÁO M ỘT SỐ TÌNH HÌNH CÓ LIÊN QUAN VÀ PH

ƯƠNG

ỂM

HƯỚNG HO ẠT ĐỘNG TH ẨM TRA, XÁC MINH TRONG CÔNG TÁC KI TRA CỦA ĐẢNG TRONG THỜI GIAN TỚI

4.1.1. Dự báo một số tình hình có liên quan

4.1.1.1. Những nhân tố tác động, làm nảy sinh và gia t ăng vi ph ạm

kỷ luật của tổ chức đảng và đảng viên trong thời gian tới

Từ nay đến năm 2020, tình hình th ế giới, khu vực và trong nước sẽ có

nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng, khó l ường. Điều đó tạo ra cả thuận

lợi, thời cơ và khó kh ăn, thách th ức đan xen, đặt ra nhi ều vấn đề mới, phức

tạp hơn đối với sự nghiệp đổi mới và sự lãnh đạo của Đảng. Trong bối cảnh

đó, có nh ững nhân tố, điều ki ện tác động đến Đảng, làm nảy sinh, gia t ăng

tình hình vi phạm của kỷ luật của tổ chức đảng và đảng viên:

Một là, những mặt trái, tiêu cực của nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội ch ủ ngh ĩa với nhi ều thành ph ần kinh t ế, công cu ộc đẩy mạnh công

nghiệp hoá, hiện đại hoá cùng với quá hội nhập, mở rộng hợp tác, đa phương,

đa dạng hóa đang hàng ngày, hàng gi ờ tác động vào nhận thức và hành động

của cán bộ, đảng viên.

Nền kinh t ế th ị tr ường là n ền kinh t ế tự do, c ạnh tranh, coi tr ọng lợi

nhuận, do đó cũng làm xu ất hi ện tâm lý tính toán thi ệt hơn, tình tr ạng phe

cánh, lợi ích cá nhân, l ợi ích nhóm. T ừ đây, tình đồng chí, tình c ảm cách

mạng sẽ bị tác động, làm thay đổi nh ận th ức, hành vi, xa r ời nh ững chu ẩn

mực đạo đức tốt đẹp vốn có. Nhiều vấn đề phức tạp về an ninh - chính trị, trật

tự xã hội, về văn hóa, xã hội, về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công

113

chức và nhân dân... nảy sinh; sự phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo (kể cả

trong cán bộ, đảng viên), khoảng cách giữa các thế hệ; làm thay đổi hệ thống

các giá trị đạo đức, lối sống và dẫn tới những diễn biến hết sức phức tạp trên

tất cả các lĩnh vực, tạo ra nhiều vấn đề bức xúc trong xã h ội; tình trạng khiếu

kiện, đình công có thể gia tăng.

Hai là, trong điều kiện Đảng ta là Đảng cầm quyền, là Đảng duy nh ất

lãnh đạo toàn bộ xã hội, đang còn thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực, nhân dân

giám sát cán bộ, đảng viên, bên cạnh thuận lợi là cơ bản cũng nảy sinh nhiều

nguy cơ như: chủ quan, tự mãn, kiêu ng ạo, xa dân, độc đoán, chuyên quyền,

đặc quyền đặc lợi, có th ể dẫn đến tha hóa, bi ến chất, mất lòng tin; xu ất hiện

tâm lý hoài nghi mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Tình hình hiện nay trong Đảng

khác hẳn trước đây; hội nhập, tư nhân hóa, đầu tư nước ngoài mở rộng sẽ là

"mảnh đất" thuận lợi để tham nhũng, quan liêu, mất dân chủ, mất đoàn kết nội

bộ, đấu đá, tranh giành quy ền lực càng nghiêm tr ọng và tinh vi. Tình hình t ổ

chức đảng còn yếu kém, chưa đủ sức giải quyết hoặc chậm khắc phục những

vấn đề nảy sinh từ cuộc sống; một bộ phận tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên

hạn chế về năng lực, trình độ, bản lĩnh, ý chí chi ến đấu, tự phê bình và phê

bình yếu kém, sự đoàn kết, thống nhất, việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị của

Đảng, ý th ức tổ ch ức kỷ lu ật th ấp, không nghiêm; ch ưa th ực hi ện tốt các

nguyên tắc tổ chức và ho ạt động của Đảng, nhất là nguyên t ắc tập trung dân

chủ; nói không đi đôi với làm còn di ễn ra khá ph ổ biến. Tệ quan liêu, tham

nhũng, lãng phí, s ự suy thoái v ề tư tưởng chính tr ị, đạo đức, lối sống, ch ạy

theo chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng của một bộ phận cán bộ, đảng viên

với tính chất, mức độ nghiêm trọng hơn, gây hậu quả xấu, làm giảm niềm tin

của nhân dân, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Tham nhũng quyền lực

có thể phát triển mạnh, nếu không có cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc thực thi

quyền lực và việc lạm dụng quyền lực sẽ tạo điều kiện cho bọn cơ hội chính

trị và các thế lực thù địch lợi dụng chống phá Đảng, Nhà nước ta từ bên trong.

114

Tình trạng xử lý chậm, thậm chí thiếu minh bạch, công bằng đối với những vi

phạm kỷ lu ật của Đảng, pháp lu ật của Nhà n ước ch ưa th ể kh ắc ph ục được

ngay. Một số chủ trương của Đảng cụ thể hóa thành cơ chế, chính sách, pháp

luật của Nhà nước còn thi ếu đồng bộ, sơ hở, thậm chí trái ngh ị quyết, quyết

định của Đảng, của cơ quan nhà nước cấp trên.

Ba là, các thế lực thù địch, phản động quốc tế sẽ tăng cường cấu kết với

các tổ chức phản động trong nước để tiếp tục thực hiện “diễn biến hòa bình”,

làm diễn biến, chuyển hóa (kể cả tự diễn biến, tự chuyển hóa) từ trong nội bộ

Đảng, tr ước hết là chuy ển hóa v ề tư tưởng chính tr ị. Chúng ti ếp tục dùng

chiêu bài tự do, dân ch ủ, nhân quyền để tấn công, ép bu ộc ta, lợi dụng chiêu

bài dân ch ủ, đấu tranh ch ống tham nhũng, tiêu cực để kích động các ph ần tử

cực đoan, bất mãn ch ống đối, chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, chia r ẽ

khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Các loại tội ph ạm có chi ều hướng gia tăng, có sự cấu kết ngoài n ước

với trong nước, ngoài xã hội với trong nội bộ Đảng, chính quyền, chính trị với

kinh tế, quyền lực với quyền lợi, với sự bao che, ti ếp tay của một số cán bộ,

đảng viên thoái hóa, bi ến chất, dẫn đến vi phạm với nhiều lỗi phạm mới, tinh

vi, phức tạp, khó lường hơn.

Bốn là, quá trình th ực hiện thí điểm một số chủ trương, chính sách v ề

quản lý hành chính, v ề sản xuất, kinh doanh, n ếu không có c ơ chế phân cấp,

phân quyền, quản lý, ki ểm soát, ki ểm tra, giám sát ch ặt chẽ, kịp thời để điều

chỉnh, chấn chỉnh cho phù hợp trong quá trình th ực hiện sẽ tạo điều kiện cho

một bộ ph ận tổ ch ức đảng, cán bộ, đảng viên lợi dụng để làm trái, tr ục lợi,

gây thất thoát, thiệt hại cho lợi ích của Đảng, Nhà nước, của nhân dân.

Việc xây dựng Nhà nước pháp quy ền xã hội chủ nghĩa Việt Nam gắn

với mở rộng và phát huy dân ch ủ trong Đảng và trong xã hội. Cơ cấu tổ chức

đảng và đảng viên sẽ có sự thay đổi theo sự phát triển của cấu trúc xã hội và

cơ cấu kinh tế - xã h ội; vai trò, s ức chiến đấu, hoạt động của tổ chức đảng,

115

đảng viên ở nước ngoài, trong các doanh nghi ệp, nhất là doanh nghi ệp ngoài

nhà nước rất khó khăn, hạn chế. Sẽ xuất hiện nhiều đảng viên làm kinh t ế tư

nhân và các ch ủ doanh nghi ệp tư nhân đủ điều kiện được kết nạp vào Đảng,

tham gia hoạt động trong các cơ quan quyền lực (đại biểu Quốc hội, hội đồng

nhân dân các cấp), Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, xã hội

nghề nghiệp... tác động đến việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng,

chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Năm là, tình trạng các quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước chồng

chéo, thiếu đồng bộ, không bao quát h ết các hành vi, t ạo khuôn kh ổ pháp lý

để cán b ộ, đảng viên tuân theo; trong khi, m ột số cán b ộ, đảng viên l ại lợi

dụng kẽ hở, “lách luật” để không làm hoặc làm sai.

Bên cạnh đó, việc xử lý kỷ luật không nghiêm, không đủ sức răn đe đã

góp phần hình thành tâm lý không sợ bị kỷ luật, làm “nhờn thuốc” trong “điều

trị bệnh”, làm “bà đỡ” cho phát sinh vi phạm cả bề rộng và chiều sâu.

Những nhân tố trên có th ể tác động, làm nảy sinh và gia t ăng vi ph ạm

kỷ luật của tổ chức đảng và đảng viên trong thời gian tới, đặt ra cho công tác

kiểm tra nói chung, hoạt động thẩm tra, xác minh nói riêng kh ối lượng nhiệm

vụ nặng nề hơn, yêu cầu chủ động hơn trong vi ệc nắm bắt, nhận dạng để có

biện pháp đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý thích hợp, hiệu quả.

4.1.1.2. Tình hình vi ph ạm kỷ luật của tổ chức đảng và đảng viên và

sự tác động đến hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của

Đảng trong thời gian tới

- Tình hình vi ph ạm kỷ luật của tổ chức đảng và đảng viên sẽ diễn ra

hết sức đa dạng, phức tạp, tinh vi và có chi ều hướng gia tăng ở các tất cả các

lĩnh vực, nhất là lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, lĩnh vực tư pháp, lĩnh

vực dịch vụ công, s ản xu ất - kinh doanh, th ực hi ện chính sách an sinh, xã

hội... di ễn ra ở tất cả các c ấp, các ngành, các khu v ực, cả ở trong n ước và

ngoài nước.

116

- Vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên sẽ diễn ra ở phạm vi rộng, ở

tất cả các l ĩnh vực, sẽ xu ất hi ện nh ững nội dung vi ph ạm mới trong nh ững

lĩnh vực hoạt động mối của đời sống xã hội. Cùng với vi ph ạm về các ngh ị

quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, các nguyên t ắc tổ chức và ho ạt động của

Đảng, vi phạm, chính sách, pháp lu ật của Nhà nước cũng gia tăng, nhất là về

thiếu trách nhi ệm, cố ý làm trái, ban hành quy ết định trái quyết định của cấp

trên, về tham nhũng, lãng phí; vi phạm về đạo đức, lối sống cũng gia tăng với

tính ch ất tinh vi, m ức độ nghiêm tr ọng hơn. Nguyên nhân d ẫn đến vi ph ạm

cũng đa dạng hơn.

- Cùng với các vi ph ạm mang tính cá nhân, s ẽ xuất hiện vi ph ạm theo

nhóm, mang tính tập thể, có tổ chức, cấu kết theo chuỗi (cán bộ chính quyền,

doanh nghi ệp, xã h ội đen...) cũng gia t ăng với tính ch ất, mức độ nghiêm

trọng, phức tạp, thủ đoạn vi phạm ngày càng tinh vi, liên quan đến nhiều cấp,

nhiều ngành, nhi ều lo ại đối tượng. Có s ự bao che c ủa một số cán b ộ, đảng

viên thoái hóa, bi ến chất, gây khó kh ăn, trở ngại cho vi ệc kiểm tra, giám sát,

thanh tra, điều tra, xử lý. Đối tượng vi phạm tìm mọi cách để che giấu hành vi

vi phạm, tẩu tán tài sản.

Những xu hướng, dấu hiệu vi ph ạm kỷ luật như trên của một bộ phận

cán bộ, đảng viên sẽ khiến cho ho ạt động thẩm tra, xác minh trong công tác

kiểm tra của Đảng gặp nhiều khó kh ăn, phức tạp hơn, đòi hỏi phải được tiến

hành công phu, k ỹ lưỡng hơn, với phạm vi, nội dung, đối tượng rộng hơn và

yêu cầu có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên hơn.

4.1.2. Phương hướng hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác

kiểm tra của Đảng trong thời gian tới

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn qu ốc lần th ứ XI; Ngh ị quyết Hội ngh ị

lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá X về tăng cường công tác kiểm

tra, giám sát c ủa Đảng; Kết lu ận số 72-KL/TW, ngày 17-5-2010 c ủa Bộ

Chính trị về Chiến lược công tác ki ểm tra, giám sát c ủa Đảng đến năm 2020

117

và một số văn bản khác của Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát là căn

cứ, định hướng cho công tác ki ểm tra nói chung, cho ho ạt động thẩm tra, xác

minh trong công tác ki ểm tra của Đảng nói riêng. Trên c ơ sở đó và xuất phát

từ thực trạng thời gian qua, ho ạt động thẩm tra, xác minh trong th ời gian tới

cần quán triệt và thực hiện phương hướng sau đây:

Một là, tiếp tục nâng cao nh ận thức về hoạt động thẩm tra, xác minh;

bổ sung, hoàn thi ện và đổi mới ph ương pháp, quy trình, ph ấn đấu nâng cao

hơn nữa chất lượng thẩm tra, xác minh để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của

công tác kiểm tra là xem xét, kết luận đúng, kịp thời và xử lý nghiêm minh vi

phạm trong Đảng. Đề cao trách nhiệm của chủ thể kiểm tra và cán bộ kiểm tra

được giao nhiệm vụ trực tiếp tiến hành thẩm tra, xác minh.

Hai là, hoạt động th ẩm tra, xác minh ph ải gắn li ền với các ph ương

pháp công tác ki ểm tra của Đảng, luôn bảo đảm sự chỉ đạo của thường trực

cấp uỷ và th ường trực uỷ ban ki ểm tra, bám sát m ục tiêu, yêu cầu cuộc kiểm

tra, thực hiện đúng các nguyên t ắc sinh ho ạt trong Đảng. Quá trình th ẩm tra,

xác minh phải phục vụ và nhằm đạt mục tiêu, yêu cầu cuộc kiểm tra đã được

xác định, đồng thời phải tuân thủ các nguyên tắc, quy định và sự chỉ đạo, điều

hành của chủ thể kiểm tra.

Ba là, tập trung cao độ xác định rõ ch ứng cứ, có cơ sở pháp lý, ch ứng

lý, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả thẩm tra, xác minh, nh ằm làm rõ

được đúng, sai nội dung ki ểm tra, để xem xét, kết luận rõ ràng, chính xác ưu

điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) và xử lý kịp thời đối tượng kiểm tra theo

quy định của Đảng, góp ph ần làm tốt công tác ki ểm tra của Đảng trong tình

hình mới.

Để thực hiện tốt phương hướng trên đây, cần thực hiện một số yêu cầu

sau đây:

- Tăng cường tuyên truy ền, quán tri ệt nâng cao nh ận th ức tư tưởng,

trách nhi ệm của ch ủ th ể ki ểm tra và đội ng ũ cán b ộ tr ực ti ếp làm công tác

118

kiểm tra trong việc thẩm tra, xác minh. Phải làm cho mỗi cán bộ kiểm tra hiểu

hơn ai hết tầm quan tr ọng của thẩm tra, xác minh thì có m ới cách th ực hiện

tốt, đây là yêu c ầu th ường xuyên và luôn ph ải có để nh ằm th ực hi ện tốt

phương hướng nêu trên.

- Phải từng bước hoàn thiện và đổi mới phương pháp và cách thức thẩm

tra, xác minh g ắn liền với đổi mới, cải tiến phương pháp, quy trình công tác

kiểm tra; xây d ựng và ban hành quy trình th ẩm tra, xác minh, làm c ơ sở cho

hoạt động này đi vào chiều sâu. Để thực hiện tốt thẩm tra, xác minh, ngoài ý

chí và trách nhi ệm, yêu cầu phải có ph ương pháp và cách làm khoa h ọc, phù

hợp với thực tế, phải luôn sáng tạo, năng động để đi đến kết quả tốt nhất.

- Trong mỗi cuộc, vụ, việc kiểm tra, quá trình th ẩm tra, xác minh c ần

phải được tiến hành một cách chính xác, khách quan, công tâm, th ận trọng, tỷ

mỉ, chặt chẽ, đúng quy định, kiên quyết và kịp thời.

4.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NH ẰM THỰC HIỆN TỐT HOẠT ĐỘNG THẨM

TRA, XÁC MINH TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA ĐẢNG

Xuất phát từ thực trạng thuận lợi, tiến bộ cũng như khó khăn, yếu kém

của hoạt động thẩm tra, xác minh thời gian qua và căn cứ các quan điểm định

hướng của Đảng về nhiệm vụ kiểm tra trong tình hình mới, tác giả luận án xin

đề xu ất một số gi ải pháp nh ằm th ực hi ện tốt ho ạt động th ẩm tra, xác minh

trong công tác kiểm tra của Đảng thời gian tới như sau:

4.2.1. Nâng cao nh ận thức của cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban ki ểm

tra các cấp và cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò c ủa thẩm tra, xác minh

trong công tác kiểm tra của Đảng

Việc nâng cao nhận thức cho cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các

cấp và cán bộ, đảng viên về về vị trí, vai trò của thẩm tra, xác minh là đòi hỏi

tất yếu trong công tác ki ểm tra nói riêng và công tác xây d ựng Đảng nói

chung. Có nhận thức đúng mới thấm nhuần sâu sắc, từ đó có hành động đúng

và có kết quả trong công tác kiểm tra, phục vụ thực hiện nhiệm vụ chính trị và

119

công tác xây d ựng Đảng của từng cấp uỷ, tổ ch ức đảng. Từ đó, cấp uỷ, tổ

chức đảng, uỷ ban ki ểm tra các cấp, cán bộ, đảng viên mới coi tr ọng và th ực

hiện tốt ho ạt động th ẩm tra, xác minh, góp ph ần làm cho công tác ki ểm tra

ngày càng đi vào nền nếp, có chất lượng, hiệu quả và hiệu lực.

Một trong những mục tiêu, nhiệm vụ của công tác kiểm tra là giữ vững

kỷ cương, kỷ lu ật của Đảng, phòng ng ừa, ng ăn ch ặn suy thoái trong Đảng.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “M ột số

vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã nhận định:

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng

viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy

thoái về tư tưởng chính tr ị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện

khác nhau về sự phai nh ạt lý tưởng, sa vào ch ủ nghĩa cá nhân ích

kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh l ợi, tiền tài, kèn c ựa địa vị,

cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc… [91, tr.25].

Các cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp và cán bộ, đảng viên

một mặt thấy được thực tế trong Đảng, mặt khác cần nhận rõ một trong những

yêu cầu của công tác ki ểm tra là ph ải làm rõ đúng sai, ưu điểm, khuyết điểm,

vi ph ạm của tổ ch ức đảng và đảng viên v ề các nội dung được ki ểm tra. Rõ

ràng, đây là nhiệm vụ nặng nề, phức tạp của công tác kiểm tra mà mỗi tổ chức

đảng, mỗi cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra và từng đảng viên phải nhận thức một cách

sâu sắc. Để kết luận chính xác, đúng sự thật hành vi vi phạm của tổ chức đảng

và đảng viên thì ph ải tiến hành thẩm tra, xác minh. Hơn nữa, hoạt động thẩm

tra, xác minh phải thực hiện công phu, chặt chẽ, thận trọng. Cấp uỷ và uỷ ban

kiểm tra phải thấy hết tính phức tạp trong việc làm rõ vi ph ạm của đối tượng

kiểm tra. Quá trình thẩm tra, xác minh là quá trình đấu tranh quyết liệt, không

có chỗ cho tư tưởng nể nang, dĩ hoà vi quý.

Mặt khác, cần quán triệt hoạt động kiểm tra, kỷ luật trong Đảng là công

tác đảng và là ho ạt động lãnh đạo của cấp uỷ đảng, tổ chức đảng; có nh ững

120

đặc trưng cơ bản, trước hết là đối tượng kiểm tra trong Đảng được đồng thời

là chủ thể kiểm tra; phương thức cơ bản của hoạt động kiểm tra, kỷ luật trong

Đảng là tiến hành kiểm tra phải gắn quyện với tự kiểm tra; phải sử dụng bốn

chỗ dựa chủ yếu để tiến hành th ẩm tra, xác minh, đó là: sự tự giác phê bình,

tự ki ểm tra c ủa đối tượng ki ểm tra; ý ki ến phê bình, đấu tranh c ủa tập th ể

đảng viên trong tổ chức đảng; chính kiến của cấp uỷ đảng quản lý đảng viên,

cán bộ là đối tượng kiểm tra; ý kiến phê bình, xây dựng của quần chúng nhân

dân liên quan đến nội dung và đối tượng kiểm tra… Bi ện pháp chính y ếu để

tiến hành ki ểm tra là th ẩm tra, xác minh và t ự phê bình và phê bình trong t ổ

chức đảng. Phải nắm vững và sử dụng đúng đắn, sáng tạo phương pháp suy

luận logic biện chứng, tranh luận bằng tư duy khoa học và kết luận phải bằng

cơ chế tập thể đa số; phương pháp th ẩm định phải bằng tư duy pháp lý c ộng

với tư duy lãnh đạo và lương tâm đạo đức kiểm tra của Đảng. Tính ch ất kỷ

luật của Đảng là k ỷ lu ật sắt, nghĩa là "nghiêm túc và t ự giác", trong đó "t ự

giác" đóng vai trò quyết định, "bắt buộc" có vai trò quan trọng. Giữa "tự giác"

và "bắt buộc" có mối quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó "tự giác" không ch ỉ

là phương tiện mà là tính đảng và mục đích của công tác xây dựng Đảng. Cần

quán triệt mối quan hệ này trong công tác ki ểm tra, kỷ luật của Đảng, lấy phê

bình và tự phê bình làm phương pháp cơ bản trong công tác kiểm tra, kỷ luật,

đồng thời gắn với thẩm tra, xác minh, nh ất là trong điều kiện tự giác, tự phê

bình và phê bình giảm sút và hệ thống chính sách còn nhiều kẻ hở dễ lợi dụng

như hiện nay.

Phải tuyên truyền để tổ chức đảng và đảng viên thấy được thẩm tra, xác

minh là để làm rõ s ự thật, chỉ ra đúng tính ch ất, mức độ vi ph ạm, đồng thời

minh oan cho những trường hợp không vi phạm. Phải đấu tranh khắc phục tư

tưởng mặc cảm, phản ứng, có suy nghĩ xấu về công tác kiểm tra nói chung và

hoạt động thẩm tra, xác minh nói riêng, nh ư cho rằng kiểm tra hoặc khi thẩm

tra, xác minh kỹ, thận trọng thì cho đó là "vạch lá tìm sâu", "bới bèo ra bọ"…

121

Để nâng cao nh ận th ức cho c ấp ủy, tổ ch ức đảng, cán bộ, đảng viên,

cán bộ kiểm tra các c ấp về hoạt động thẩm tra, xác minh, c ần thực hiện một

số nội dung, biện pháp sau:

Thứ nhất, cấp ủy các cấp, trong đó ủy ban ki ểm tra ph ải làm nòng c ốt

tích cực th ực hi ện Thông báo s ố 226-TB/TW, ngày 03-03-2009 c ủa Ban Bí

thư về tăng cường tuyên truy ền, ph ổ bi ến công tác ki ểm tra, giám sát c ủa

Đảng và hướng dẫn của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương; trong đó, chỉ đạo tăng

cường tuyên truy ền, phổ biến vị trí, vai trò, ý ngh ĩa, tác dụng của việc thẩm

tra, xác minh trên các ph ương ti ện truyền thông đại chúng b ằng nhi ều hình

thức, qua các tin, bài trên báo, đài Trung ương và địa phương.

Thứ hai, Tạp chí Kiểm tra mở chuyên mục nghiên cứu, trao đổi những

vấn đề về ho ạt động th ẩm tra, xác minh; gi ải đáp kịp th ời các khó kh ăn,

vướng mắc, trở ngại; bi ểu dương, phổ biến kinh nghi ệm những nơi làm tốt;

góp ý đối với những nơi còn chưa làm tốt.

Thứ ba, thường xuyên cập nhật, cung cấp các văn bản về công tác kiểm

tra, kỷ luật đảng; thông tin các bài vi ết trao đổi, phản ảnh về công tác ki ểm

tra, trong đó có kết quả hoạt động thẩm tra, xác minh… qua trang Thông tin

điện tử của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương (hiện nay đang vận hành trên Trang

thông tin diện rộng của Đảng).

Thứ tư, công khai k ết quả kiểm tra, xử lý các v ụ việc để kịp thời giáo

dục, răn đe, rút kinh nghi ệm, nhằm góp phần thúc đẩy kết quả công tác ki ểm

tra nói chung và hoạt động thẩm tra, xác minh nói riêng.

4.2.2. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ ch ức đảng, ủy ban

kiểm tra; s ự ch ỉ đạo, hướng dẫn, giám sát c ủa th ường tr ực cấp ủy và

thường trực uỷ ban kiểm tra đối với hoạt động thẩm tra, xác minh

Đây là gi ải pháp h ết sức quan tr ọng, có tính quy ết định đến kết qu ả

thẩm tra, xác minh. Th ẩm tra, xác minh là vi ệc rất khó kh ăn, vì vậy đòi hỏi

phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của chủ thể kiểm tra. Cấp ủy, ủy ban

122

kiểm tra, th ường trực cấp ủy và ủy ban ki ểm tra căn cứ đối tượng, nội dung

kiểm tra, nhất là những vấn đề kiểm tra phức tạp, đối tượng kiểm tra có vị trí

quan trọng để có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát hợp, kịp thời.

Ủy ban, th ường trực ủy ban ki ểm tra các c ấp phải thường xuyên quan

tâm chú ý, lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, t ạo điều kiện, hỗ trợ cho các đoàn (tổ)

kiểm tra, một mặt để định hướng, uốn nắn giúp hoạt động của đoàn (tổ) kiểm

tra đi đúng hướng, đúng trọng tâm, trọng điểm, thực hiện đúng quy trình, quy

định, cụ thể những trường hợp nào cần tập trung th ẩm tra, xác minh k ỹ, sâu;

mặt khác, kịp thời tháo gỡ những khó kh ăn, vướng mắc trong quá trình ti ến

hành thẩm tra, xác minh để vụ việc được kiểm tra sớm hoàn thành và đạt kết

quả cao.

Thực trạng quá trình th ẩm tra, xác minh cho th ấy, ở đâu có sự chỉ đạo,

hướng dẫn kịp thời, chặt chẽ của uỷ ban kiểm tra mà tr ực tiếp, thường xuyên

là th ường trực uỷ ban ki ểm tra thì ở đó ho ạt động thẩm tra, xác minh s ẽ có

chất lượng, hiệu quả cao; ngược lại, nếu không có sự quan tâm chỉ đạo, hướng

dẫn thì th ẩm tra, xác minh s ẽ gặp khó kh ăn. Ho ạt động th ẩm tra, xác minh

phải đối mặt với nhiều vấn đề gai góc, xử lý nhiều tình huống phức tạp, vì vậy

đòi hỏi phải có sự chỉ đạo, hướng dẫn của chủ thể kiểm tra. Để thực hiện có

kết quả công tác kiểm tra nói chung và chỉ đạo tốt việc thẩm tra, xác minh nói

riêng, trước hết uỷ ban và thường trực uỷ ban kiểm tra phải có quyết tâm cao,

dám làm, dám ch ịu trách nhi ệm, không e ng ại, nể nang, nh ất là khi xác định

nội dung, đối tượng và kết luận kiểm tra; ph ải quán tri ệt tinh th ần không có

“vùng cấm” trong công tác ki ểm tra và k ỷ luật của Đảng. Thực tế trong th ời

gian qua, sau khi ban hành quy ết định kiểm tra, lập đoàn kiểm tra ở một nơi

nào đó, uỷ ban và thường trực uỷ ban kiểm tra ít quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn

việc thẩm tra, xác minh mà thông thường phó mặc cho đồng chí thành viên uỷ

ban phụ trách cu ộc kiểm tra và đoàn kiểm tra, ch ỉ đến khi báo cáo tr ước tập

thể uỷ ban mới có ý ki ến, hỏi, chất vấn, đương nhiên đồng chí thành viên u ỷ

123

ban cũng có khả năng và trách nhi ệm nhưng sẽ hạn chế so với tập thể một số

đồng chí trong th ường trực, vì vậy kết quả còn ch ưa như mong mu ốn, nhiều

trường hợp thẩm tra, xác minh không đạt yêu cầu phải làm lại, làm ti ếp, mất

thời gian, công sức, ảnh hưởng đến công tác của đối tượng kiểm tra và các cá

nhân, tổ chức có liên quan.

Nội dung ch ỉ đạo, hướng dẫn của uỷ ban và th ường trực uỷ ban ki ểm

tra về th ẩm tra, xác minh c ần tập trung vào các v ấn đề nh ư: yêu c ầu đoàn

kiểm tra th ực hi ện đúng nguyên t ắc, ph ương pháp, quy trình th ẩm tra, xác

minh, ph ải bám vào n ội dung ki ểm tra, n ội dung, đối tượng th ẩm tra, xác

minh; chỉ đạo đoàn kiểm tra ph ải tiến hành th ận trọng, chặt chẽ, khách quan

và kiên quy ết trong quá trình th ẩm tra, xác minh; yêu c ầu đoàn và các thành

viên trong đoàn kiểm tra ph ải giữ nghiêm kỷ luật, chấp hành đúng quy định

về quy chế hoạt động của đoàn kiểm tra

Đại di ện th ường tr ực uỷ ban ki ểm tra ph ải ch ỉ đạo, hướng dẫn đoàn

kiểm tra từ việc xây dựng kế hoạch hết sức tỷ mỉ, càng cụ thể càng thuận lợi

trong quá trình th ẩm tra, xác minh, d ự ki ến vi ệc xử lý các tình hu ống phát

sinh khi thẩm tra, xác minh. Khi đoàn kiểm tra gặp khó khăn, vướng mắc thì

báo cáo k ịp th ời để th ường tr ực ủy ban có ý ki ến tháo g ỡ, động viên. G ặp

những đối tượng kiểm tra và đối tượng thẩm tra, xác minh gây khó kh ăn, cản

trở thì các đồng chí trong th ường trực, thậm chí đồng chí ch ủ nhiệm uỷ ban

phải trực tiếp “ra tay”, “chia l ửa”, như trực tiếp gặp các đối tượng, yêu cầu

phải hợp tác, ph ối hợp theo ý ki ến của đoàn ki ểm tra. Khi g ặp nh ững tình

huống khó khăn, phức tạp, đoàn kiểm tra cần báo cáo kịp thời để cấp trên có ý

kiến chỉ đạo. Tuy nhiên, c ũng tránh tình tr ạng thụ động, trông ch ờ, ỷ lại cấp

trên, không chủ động của đoàn kiểm tra khi mới gặp vướng mắc ban đầu.

Về cách th ức, phương pháp ch ỉ đạo, hướng dẫn của uỷ ban và th ường

trực uỷ ban cần tiến hành linh ho ạt như: chỉ đạo qua đồng chí thành viên u ỷ

ban tr ực ti ếp ph ụ trách đoàn ki ểm tra, qua tr ưởng đoàn; vi ệc ch ỉ đạo ph ải

124

được chú ý từ khâu chuẩn bị đến quá trình thẩm tra, xác minh. Trước khi đoàn

kiểm tra tri ển khai hế hoạch kiểm tra, đại diện thường trực cần gặp gỡ, quán

triệt, xác định trách nhi ệm, đặt ra các yêu c ầu, hướng dẫn xử lý các tình

huống phát sinh, động viên cán b ộ ti ến hành t ốt nhi ệm vụ được giao. Quá

trình th ẩm tra, xác minh, m ột số đồng chí trong th ường tr ực uỷ ban có th ể

nghe tiến độ, kết quả bước đầu và sau đó nghe kết quả khi kết thúc th ẩm tra,

xác minh, n ếu có v ấn đề gì ch ưa rõ, ch ưa đầy đủ thì yêu c ầu th ẩm tra, xác

minh thêm. Đối với những vụ việc phức tạp, tập thể thường trực nghe kết quả

thẩm tra, xác minh tr ước khi đưa vụ việc ra báo cáo u ỷ ban kiểm tra để tránh

tình trạng có thể phải làm tiếp sau khi đưa ra uỷ ban thảo luận, xem xét.

Cùng với ch ỉ đạo, hướng dẫn, th ường tr ực uỷ ban và đồng chí thành

viên uỷ ban kiểm tra phải thường xuyên giám sát đoàn (tổ) kiểm tra. Quá trình

chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát ho ạt động thẩm tra, xác minh n ếu thấy đoàn

kiểm tra có ưu điểm thì bi ểu dương, động viên, ng ược lại th ấy thi ếu sót,

khuyết điểm thì nhắc nhở, phê bình, nếu làm chưa tốt, chưa đạt yêu cầu thì chỉ

đạo làm ti ếp. Nếu có s ự quan tâm và tích c ực ch ỉ đạo, hướng dẫn nh ư trên

nhất định chất lượng thẩm tra, xác minh sẽ được nâng lên, góp phần nâng cao

kết quả, hiệu lực công tác kiểm tra của Đảng.

4.2.3. Ti ếp tục bổ sung, hoàn thi ện và đổi mới ph ương pháp, quy

trình, các quy định, hướng dẫn tiến hành thẩm tra, xác minh trong công

tác kiểm tra của Đảng

4.2.3.1. Về phương pháp

Thời gian qua phương pháp hoạt động thẩm tra, xác minh luôn tuân thủ

và th ực hi ện theo nguyên t ắc và ph ương pháp công tác ki ểm tra c ủa Đảng.

Các phương pháp công tác ki ểm tra đã giúp cho vi ệc thẩm tra, xác minh có

nhiều ưu điểm, kết quả, góp phần quan trọng vào kết quả chung của công tác

kiểm tra; tuy nhiên c ũng có nhi ều hạn ch ế, bất cập, ch ưa phù h ợp đã ảnh

hưởng đến ch ất lượng thẩm tra, xác minh, mà n ổi lên là s ức chiến đấu, tinh

125

thần tự phê bình và phê bình không t ốt, giảm sút nghiêm tr ọng. Vì vậy phải

xem xét, rà soát một cách nghiêm túc, chỗ nào chưa tốt thì phải hoàn thiện, bổ

sung cách th ức mới, phù hợp với hoàn cảnh, thực tại trong Đảng hiện nay và

yêu cầu đặt ra đối với th ẩm tra, xác minh. Th ời gian t ới cần th ực hi ện bảy

phương pháp đặc trưng, cụ thể:

Một là, trực tiếp, tại chỗ, “mắt thấy, tai nghe”

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu c ầu: “Cán bộ tỉnh phải đến tận các huy ện,

các xã. Cán bộ huyện phải đến tận các xã, các thôn. Cán b ộ phải chân đi, mắt

thấy, tai nghe, mi ệng nói, tay làm, óc nghĩ’’ [119, tr.711]. Công tác ki ểm tra

khác với công tác giám sát, bao giờ cũng phải tiến hành trực tiếp; khi cấp trên

tiến hành ki ểm tra c ấp dưới đều ph ải xu ống làm vi ệc trục tiếp với tổ chức

đảng và đảng viên, tr ực ti ếp thông báo quy ết định, nghe báo cáo k ết qu ả.

Đây là phong cách, l ề lối làm vi ệc của tổ chức đảng và đảng viên, c ũng là

phương pháp công tác ki ểm tra. Ph ương pháp này kh ẳng định khi th ẩm tra,

xác minh ph ải sát th ực tế, đến tận nơi; ph ải tr ực ti ếp thu th ập tài li ệu,

chứng cứ, không được quan liêu, bàn gi ấy, nghe báo cáo m ột chi ều. Mắt

phải th ấy tài li ệu, hi ện vật, tai ph ải nghe ph ản ảnh, báo cáo, h ạn ch ế vi ệc

che giấu, báo cáo sai s ự thật.

Thông tin trong th ẩm tra, xác minh khi ti ến hành công tác ki ểm tra là

những tin tức có ích, làm sâu thêm nh ận thức của người nhận tin, được người

nhận tin đánh giá, xử lý và được coi là có ích trong quá trình ra quy ết định.

Đối với công tác ki ểm tra của Đảng thì "thông tin" chính là nh ững tin tức có

ích về đối tượng kiểm tra cần được thu thập, xử lý để làm rõ bản chất của vụ

việc, của đối tượng, thông qua nh ững thông tin đó, có th ể có căn cứ để kết

luận đúng sai, tốt xấu, thậm chí lượng hoá tính ch ất, mức độ đúng sai mà lựa

chọn và đề xuất giải pháp giải quyết, hình thức xử lý phù hợp.

Để thẩm tra, xác minh, cán b ộ kiểm tra có thể thu thập thông tin từ các

nguồn sau: thông tin t ừ cấp tr ực ti ếp qu ản lý giao nhi ệm vụ; văn bản của

126

Đảng và Nhà n ước quy định điều chỉnh những vấn đề liên quan đến việc đối

tượng kiểm tra thực hiện; dư luận của quần chúng, cơ quan có liên quan ho ặc

các cơ quan ngôn lu ận ph ản ánh d ư lu ận từ nội bộ, từ bên ngoài ho ặc từ

những người tố cáo, khiếu nại, từ chính bản thân đối tượng kiểm tra cung cấp,

giải trình. Đây là những nguồn thông tin khi tiến hành hoạt động thẩm tra, xác

minh người cán bộ kiểm tra ph ải quan tâm không th ể xem nh ẹ hoặc bỏ qua

bất cứ một nguồn nào để từ đó biết chọn lựa định hướng đúng khi thu thập và

xử lý thông tin. Cán b ộ kiểm tra phải hiểu mọi việc đều có liên quan ch ặt chẽ

đến quá trình thu thập và xử lý thông tin, kể cả khi người cán bộ kiểm tra hoạt

động đơn lẻ, độc lập cũng như khi theo đoàn kiểm tra. Do vậy, thu thập và xử

lý thông tin là công vi ệc thường xuyên và rất quan trọng trong các ho ạt động

nghiệp vụ kiểm tra.

Hai là, kết hợp thẩm tra, xác minh của cấp trên với tự vấn, tự kiểm tra

của đối tượng kiểm tra

Đây là phương pháp có tác động qua lại, cộng tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa

chủ th ể và đối tượng ki ểm tra, nhanh chóng tìm ra các ch ứng cứ, đây cũng

xuất phát từ phương pháp công tác kiểm tra là phát huy sự tự giác của tổ chức

đảng và đảng viên khi là đối tượng kiểm tra. Ph ải tôn tr ọng kết quả tự kiểm

tra của tổ ch ức đảng và đảng viên. Đặc bi ệt lưu ý đến nh ững quan điểm, ý

kiến trái chiều để đối chiếu tìm ra sự thật.

Cách ti ếp cận đối tượng cũng cần được hết sức quan tâm. Đối tượng

của ho ạt động th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra c ủa Đảng là

những tổ chức đảng, đảng viên thu ộc nhiều lĩnh vực và địa vị xã h ội khác

nhau. Do đó, mỗi đối tượng có tâm lý khác nhau. Nhi ệm vụ của cán b ộ

làm công tác th ẩm tra, xác minh là ph ải tìm hi ểu nội tâm c ủa đối tượng và

đề ra được ph ương pháp ti ếp cận thích h ợp để hoàn thành t ốt nhi ệm vụ

được giao. Quá trình th ẩm tra, xác minh c ủa cấp trên ph ải gợi ý, động

viên để đối tượng ki ểm tra t ự th ấy các hành vi c ủa mình, t ừng bước tự

127

giác nh ận rõ khuy ết điểm, trách nhi ệm của bản thân, t ừ đó có cách s ửa

chữa, khắc phục.

Ba là, động viên, đối thoại, chất vấn, đối chất trong quá trình thu th ập,

phân tích chứng cứ

Đối ch ất là một ho ạt động trong quá trình th ẩm tra, xác minh c ủa cơ

quan kiểm tra, được tiến hành bằng cách hỏi hai người cùng một lúc về cùng

một vấn đề trong nội dung thẩm tra, xác minh một vụ việc, nhằm làm rõ hoặc

giải quyết những mâu thuẫn tồn tại trong lời trình bày của họ. Khi không còn

cách th ẩm tra, xác minh nào t ốt hơn thì m ới ch ọn ph ương pháp đối ch ất.

Trong thực tiễn có hai loại hình đối chất:

- Đối chất do cán bộ kiểm tra tổ chức:

Cán bộ kiểm tra cần nắm vững những điều kiện để tiến hành một cuộc

đối chất là: Khi các l ời trình bày đã cơ bản thống nhất chỉ còn mâu thu ẫn về

một hoặc một số tình ti ết có ý ngh ĩa quyết định đối với thẩm tra, xác minh,

kết luận, xử lý vụ việc thì không nên đưa ra đối chất những vấn đề không liên

quan một cách thi ết th ực đối với th ẩm tra, xác minh, k ết lu ận, xử lý ho ặc

những vấn đề chi tiết vụn vặt không có ý nghĩa quan trọng đối với vụ việc.

Khi uỷ ban kiểm tra có khả năng tổ chức và điều kiện để tiến hành cuộc

đối chất chắc chắn sẽ đạt kết quả thì cần xác định rõ những người có thể đưa

ra đối chất. Để cuộc đối chất đạt kết quả, cán bộ kiểm tra cần nghiên cứu kỹ

hồ sơ vụ việc, các thông tin, tài li ệu có liên quan, phát hi ện những vấn đề còn

mâu thu ẫn, xem xét k ỹ lại một lần cu ối xem nh ững vấn đề có th ật sự mâu

thuẫn không; phân tích các mâu thu ẫn để xác định mâu thu ẫn nào c ần gi ải

quyết bằng đối chất. Cán bộ kiểm tra cần tìm hi ểu tâm lý, tình c ảm, quan hệ

xã hội, hoàn cảnh gia đình của đối tượng dự kiến đưa ra đối chất; tìm hiểu các

nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn trong lời trình bày của họ. Từ đó, lập kế hoạch

đối chất, xác định mục đích, yêu cầu, phương pháp ti ến hành báo tr ước hoặc

bất ngờ; thứ tự và nội dung các s ự việc cần đưa ra đối chất. Dự kiến các câu

128

hỏi và câu tr ả lời; chu ẩn bị các ph ương ti ện, tài li ệu, ch ứng cứ sẽ sử dụng

trong cuộc đối chất; thời gian và địa điểm tiến hành. Trong quá trình đối chất

cán bộ ki ểm tra ph ải biết kh ơi dậy trong các đối tượng tham gia đối ch ất ý

thức, trách nhi ệm, tinh th ần tự giác, thái độ đúng đắn, trung th ực của người

đảng viên và có cách ứng xử linh ho ạt, phù h ợp với các tình hu ống xảy ra

trong quá trình tiến hành đối chất.

- Đối chất trong sinh hoạt của tổ chức đảng:

Trong quá trình gi ải quyết tố cáo, khi ếu nại, kiểm tra đảng viên và t ổ

chức đảng cấp dưới khi có d ấu hiệu vi ph ạm, việc thực hiện tự phê bình và

phê bình trong sinh ho ạt của tổ ch ức đảng là c ơ hội để gi ải quy ết nh ững ý

kiến còn khác nhau về một sự việc giữa người bị tố cáo, người tố cáo và đảng

viên biết vụ việc, đảng viên có liên quan, đồng thời cũng là thành viên của tổ

chức đảng.

Phương pháp hỏi người làm ch ứng, đối chất phải tiến hành công khai,

dân ch ủ theo nguyên t ắc của Đảng. Không dùng các th ủ thu ật, bi ện pháp

nghiệp vụ bí mật của cơ quan điều tra đối với đảng viên và t ổ chức đảng là

đối tượng ki ểm tra. Để cu ộc đối ch ất đạt kết qu ả, cán b ộ ki ểm tra c ần ch ủ

động phối hợp với người chủ trì làm tốt công tác tư tưởng, nêu cao tính đảng,

thực hiện tốt việc tự phê bình và phê bình với thái độ chân thành trong nội bộ

tổ chức đảng cũng như chuẩn bị tốt chương trình, nội dung, những vấn đề cần

gợi ý, cách tiến hành cuộc đối chất.

Cán bộ trực tiếp tiến hành thẩm tra, xác minh cần hiểu tâm lý đối tượng

kiểm tra và đối tượng thẩm tra, xác minh, đối thoại, khơi gợi, động viên để họ

cung cấp tài liệu, chứng cứ và những vấn đề cần thiết theo yêu cầu. Mặt khác,

cũng phải kiên quy ết khi trao đổi, chất vấn, yêu cầu phải trả lời và cung c ấp

tài li ệu, hồ sơ có liên quan, th ậm chí ph ải ti ến hành đối ch ất gi ữa các đối

tượng có liên quan khi c ần thiết để tìm ra sự thật. Cần thống nhất quan niệm,

hoạt động thẩm tra, xác minh của Đảng không có độc thoại mà phải tiến hành

129

đối tho ại. Khi c ần có th ể ti ến hành đối ch ứng và đối ch ất, nh ưng ph ải có

nguyên tắc, để nhằm mục đích phân tích, sàng lọc công khai các nguồn thông

tin từ dư lu ận, công lu ận, từ tố cáo, ph ản ảnh ho ặc tài li ệu do các c ơ quan

cung cấp cho kiểm tra. Đối thoại, đối chất có nguyên tắc sẽ có tác dụng và sức

mạnh nh ư cu ộc đấu lý và đấu trí công khai, dân ch ủ, có tác d ụng làm đối

tượng “đuối lý” từ đó dễ đạt tới “tâm phục khẩu phục”.

Việc đối tho ại, đối ch ất, khai thác thông tin t ừ nh ững ng ười bi ết sự

việc, ng ười làm ch ứng là ng ười bi ết được nh ững tình ti ết của vụ vi ệc đang

tiến hành thẩm tra, xác minh được tổ chức đảng có thẩm quyền gặp để hỏi về

những hiểu biết của họ theo trình tự, thủ tục đã được quy định.

Bốn là, công khai, minh bạch các tài liệu, chứng cứ trước tổ chức đảng

và đối tượng kiểm tra để thảo luận, xem xét, có chính kiến nhận xét, đề nghị

Phương pháp này đòi hỏi cán bộ kiểm tra phải cung cấp mọi vấn đề đã

thẩm tra, xác minh được và yêu cầu tổ chức nơi đối tượng kiểm tra sinh ho ạt

động hoặc tổ chức đó được kiểm tra ( chi b ộ, cấp uỷ, ban th ường vụ cấp uỷ,

ban cán s ự đảng, đảng đoàn...) ph ải làm rõ và nh ận trách nhi ệm tr ước mọi

thông tin, vụ việc, hành vi của đối tượng kiểm tra bằng phương pháp tập thể,

công khai, từ đó phải có chính ki ến rõ ràng, d ứt khoát, có k ết luận đúng, sai

nguyên nhân, trách nhiệm và hình thức xử lý...

Năm là, phải quan niệm đúng về “án tại hồ sơ”, “trọng chứng hơn trọng

cung”, nhưng coi trọng cả “chứng” lẫn “cung”

Hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng rất coi

trọng “án tại hồ sơ”, nghĩa là thông tin, tài li ệu, hiện vật… phải có trong h ồ

sơ. Mọi hành vi vi phạm của đối tượng kiểm tra phải được thể hiện rõ ràng, cụ

thể trên hồ sơ, nếu chưa thể hiện đầy đủ, chính xác thì chưa kết luận, chưa xử

lý. Tuy nhiên, quy ết định của án không ph ải duy nh ất ở hồ sơ mà ở sự thật,

bởi sự thật chỉ là một, còn hồ sơ giả, không đúng sự thật có thể có hàng trăm,

hàng ngàn…

130

Tiêu điểm cuối cùng của thẩm tra, xác minh là tìm ra ch ứng cứ. Nếu

không có ch ứng cứ mà dùng ph ương pháp suy lu ận dễ rơi vào tình tr ạng suy

diễn, áp đặt, quy kết, cực đoan, sẽ khó tránh kh ỏi không chính xác,oan, sai.

Khi ch ứng cứ đã phù h ợp với các điều ki ện, yếu tố khác, còn cung có ch ỗ

chưa rõ, ch ưa thuyết ph ục thì ph ải coi ch ứng cứ quan tr ọng hơn. Ch ứng cứ

bao giờ cũng tin cậy hơn lời nói chưa được kiểm chứng. Song, không bao giờ

tuyệt đối hoá chứng cứ, vì chứng cứ có khi cũng có độ dung sai nhất định, có

lúc tạo dựng xuyên tạc sự th ật; cứ và cung b ổ sung cho nhau, nhi ều tr ường

hợp cung chuyển hoá thành cứ, do đó phải coi trọng cả “chứng” lẫn “cung”.

Sáu là, phân tích, đánh giá chứng cứ với tư duy lôgíc biện chứng mang

tính pháp lý và th ực tiễn; luôn nghi ng ờ các tài li ệu, hồ sơ, chứng cứ với tinh

thần cầu thị, khoa học, phát hiện mâu thuẫn, giải quyết mâu thuẫn, tìm ra bản

chất và sự thật, tránh cực đoan, một chiều, duy ý chí.

Quá trình thẩm tra, xác minh vừa coi trọng các căn cứ, cơ sở mang tính

khẳng định vừa chú ý đến các căn cứ, cơ sở mang tính ph ản biện, phủ định.

Phải phân tích các khía c ạnh, góc độ và c ấp độ của vấn đề thì m ới khách

quan, toàn diện, tránh chủ quan, phiến diện. Quá trình thẩm tra, xác minh phải

tìm ra các chứng cứ “buộc tội”, đồng thời không xem nhẹ tìm ra các chứng cứ

“gỡ tội” và cả những tình ti ết tăng nặng hoặc giảm nhẹ. Trong th ẩm tra, xác

minh phải coi trọng ý kiến số đông, khi đã biểu quyết phải phục tùng nguyên

tắc theo đa số, biết dựa vào tập thể, nhưng không tuyệt đối hoá số đông và ý

kiến đa số, bởi vì không phải bất cứ mọi trường hợp sự thật, chân lý thuộc về

đa số. Trong tình hu ống đó ph ải lưu ý nh ững ý ki ến trái chi ều, nh ất là ph ải

bảo lưu những ý kiến đó để tiếp tục thẩm tra, xác minh, làm rõ.

Phương pháp suy lu ận theo t ư duy lôgíc bi ện ch ứng: Trong th ẩm tra,

xác minh của Đảng không được suy di ễn để quy kết, áp đặt nhưng quá trình

xem xét rất coi tr ọng suy lu ận để nghiên cứu, phân tích, phán đoán tìm đến

bản chất bằng suy luận hợp lôgíc. Trong thẩm tra, xác minh không được lấy ý

131

kiến một cá nhân, ý ki ến một phía, một chi ều để xem xét, k ết luận mà ph ải

tranh luận, thảo luận của nhiều người, nhiều phía, nhiều chiều. Việc tiến hành

tranh luận phải trên cơ sở tư duy pháp lý k ể cả pháp lý Nhà n ước và pháp lý

nguyên tắc của Đảng chứ không phải tranh luận theo cảm tính, chủ quan. Việc

kết luận trong th ẩm tra, xác minh đối với tất cả các nội dung, đối tượng đều

phải bằng cơ chế tập thể, quyết định bằng đa số, không được chi phối, sức ép

bởi một cá nhân nào, dù cá nhân có c ương vị trọng trách c ủa tổ ch ức đảng

hoặc cơ quan Nhà nước.

Phương pháp thẩm định bằng tư duy pháp lý c ộng với tư duy lãnh đạo

và cộng với lương tâm đạo đức ki ểm tra c ủa Đảng. Trong quá trình th ẩm

tra, xác minh có th ể thu nh ận được nhi ều thông tin, ch ứng cứ thông qua

nhiều kênh, nhi ều chi ều, nhi ều nguồn, nh ưng để thẩm định lại tất cả thông

tin, ch ứng cứ đi đến kết luận cuối cùng thì ph ải sử dụng tư duy pháp lý và

tư duy lãnh đạo của cán bộ lãnh đạo đồng thời phải cộng với lương tâm đạo

đức ki ểm tra Đảng (t ư duy pháp lý + t ư duy lãnh đạo + đạo đức ki ểm tra

Đảng), thì s ự th ẩm định kết lu ận mới đạt độ chu ẩn xác đáng tin c ậy của

kiểm tra đảng.

Bảy là , tổ ch ức giám sát ch ặt ch ẽ quá trình th ẩm tra, xác minh để

bảo đảm tính chính xác, khách quan, h ạn ch ế các khuy ết điểm trong th ẩm

tra, xác minh.

Thực tế vừa qua, chất lượng thẩm tra, xác minh còn nhiều khuyết điểm,

hạn ch ế có nguyên nhân do n ăng lực, trình độ ho ặc do n ể nang, tình c ảm

của cán b ộ trực tiếp kiểm tra, trong khi l ại thiếu sự chỉ đạo, giám sát, thi ếu

sự góp ý, vì v ậy phải giám sát th ường xuyên. Khi đã tiến hành ki ểm tra thì

thường tr ực uỷ ban ki ểm tra ph ải phân công đại di ện th ường xuyên theo

dõi, nh ất là t ừ bước thẩm tra, xác minh. M ặt khác có th ể phối hợp với cán

bộ của các ban đảng để theo dõi, n ếu phát hi ện có gì ch ưa tốt thì ph ản ảnh

với uỷ ban kiểm tra.

132

Tóm lại, bảy phương pháp trên đây được xác định là phương pháp quan

trọng, thi ết yếu để nh ằm nh ấn mạnh tính đặc thù và tính nguyên t ắc của

phương pháp công tác kiểm tra, phương pháp công tác đảng, hoạt động của tổ

chức đảng, đối tượng là cán b ộ, đảng viên của Đảng. Đặc trưng nổi bật của

hoạt động kiểm tra Đảng là không ph ải chỉ có cấp trên ki ểm tra cấp dưới, tổ

chức kiểm tra cá nhân, mà là ki ểm tra g ắn quy ện với tự kiểm tra. T ổ chức

đảng và cán b ộ, đảng viên khi được ki ểm tra, v ừa là đối tượng vừa là ch ủ

thể ki ểm tra và t ự ki ểm tra. V ới đặc tr ưng này không được phép l ẫn lộn

giữa các ho ạt động th ẩm tra, xác minh c ủa Đảng với ph ương pháp ho ạt

động th ẩm tra, xác minh c ủa các c ơ quan pháp lu ật Nhà n ước. Ti ến hành

thẩm tra, xác minh trong Đảng có th ể có nhi ều bi ện pháp, có vi ệc gần

giống các bi ện pháp nghi ệp vụ ki ểm tra, điều tra c ủa cơ quan pháp lu ật,

nhưng cần phân bi ệt sự gi ống nhau ch ỉ ở hình th ức, động tác, còn v ề bản

chất, nguyên t ắc là phải khác nhau.

Khi ti ến hành ho ạt động th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra

Đảng rất cần và có th ể học tập, vận dụng, phối hợp các ph ương pháp nghi ệp

vụ thẩm tra, xác minh của các cơ quan Nhà nước nhưng không được áp dụng

dập khuôn, đặc biệt là không được sử dụng các ph ương pháp đó để thay th ế

cho các ph ương pháp ho ạt động của th ẩm tra, xác minh trong Đảng. Trong

các ph ương pháp nêu trên ph ải luôn nh ận th ức đúng và ch ấp hành nghiêm

nguyên tắc tập trung dân ch ủ của Đảng, luôn th ực hiện dân ch ủ tối đa và kỷ

cương nghiêm ng ặt trong mọi khâu, mọi bước, mọi động tác trong quá trình

hoạt động th ẩm tra, xác minh. Đây là quan điểm, một trong nh ững yêu c ầu

cao nhất trong công tác ki ểm tra nói chung và ho ạt động thẩm tra, xác minh

nói riêng.

4.2.3.2. Về quy trình

Từ trước đến nay Uỷ ban ki ểm tra Trung ương chỉ mới ban hành quy

trình các cu ộc kiểm tra, ch ưa ban hành quy định về quy trình th ẩm tra, xác

133

minh. Vì vậy, khi các đoàn kiểm tra tiến hành thẩm tra, xác minh đều tự tiến

hành theo cách th ức riêng, theo kinh nghi ệm của cán bộ, do đó rất cần thiết

phải có quy định chính th ức về quy trình th ẩm tra, xác minh. C ần nhận thức

quy trình thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng là nh ững quy

định về trình tự, thủ tục, cách tiến hành của cán bộ trong hoạt động nghiệp vụ

cụ thể để tìm ki ếm chứng cứ xác th ực, làm rõ s ự thật, là căn cứ để kết luận

kiểm tra.

Quy trình tổng quát gồm có ba bước:

Thứ nhất là bước chuẩn bị (gồm chuẩn bị kế hoạch và phân công cán bộ).

Thứ hai là bước tiến hành thẩm tra, xác minh (Tiếp cận đối tượng kiểm

tra, đối tượng thẩm tra, xác minh, qu ần chúng nhân dân để thu th ập tài li ệu,

thông tin, ch ứng cứ, giám định, phân tích ch ứng cứ, giải trình của đối tượng

kiểm tra, trao đổi với các tổ chức đảng, tiếp tục thẩm tra, xác minh...). Đây là

bước rất quan tr ọng, có tính quy ết định đến ch ất lượng ho ạt động th ẩm tra,

xác minh.

Thứ ba là b ước tổng hợp kết qu ả thẩm tra, xác minh (soát xét l ại các

chứng cứ thu th ập được đối chi ếu với từng nội dung ki ểm tra để nh ận xét,

đánh giá, tiếp tục thẩm tra, xác minh…).

4.2.3.3. Thực hiện tốt 3 ch ỗ dựa, 2 ph ối hợp, 5 khâu trong khi ti ến

hành thẩm tra, xác minh

Thứ nhất, thực hiện tốt ba chỗ dựa chủ yếu:

Một là, sự tự giác, tự phê bình, nhận khuyết điểm, vi phạm của tổ chức

đảng và đảng viên cán bộ là đối tượng kiểm tra

Hai là, tinh th ần đấu tranh, phê bình, góp ý, chính ki ến, kết lu ận của

đảng viên, c ủa tập th ể cấp uỷ, ban th ường vụ cấp uỷ, tổ ch ức đảng nơi đối

tượng kiểm tra sinh hoạt

Ba là, tinh thần, trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng nhân dân

nơi đối tượng kiểm tra hoạt động, công tác và cư trú. Trong nền dân chủ và cơ

134

chế thị trường không thể thiếu tiếng nói của nhân dân, đó là vũ khí sắc bén, hỗ

trợ đắc lực cho hoạt động thảm tra, xác minh.

Thứ hai, thực hiện tốt hai phối hợp quan trọng:

Một là, phối hợp tốt với các cơ quan chuyên môn trong h ệ thống hành

pháp, tư pháp như: thanh tra, kiểm toán, cơ quan phòng chống tham nhũng, cơ

quan tố tụng, cơ quan thuế... và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã

hội để trao đổi và phân tích thông tin, tài li ệu, chứng cứ trong việc uỷ nhiệm

thẩm tra, xác minh một số nội dung cần thiết.

Hai là, phối hợp tốt với các cơ quan thông tin, ngôn lu ận. Trong tình

hình hiện nay, đây là địa chỉ đáng tin cậy, quan trọng và cần thiết để trao đổi,

cung cấp, tìm kiếm chứng cứ.

Thứ ba, thực hiện tốt năm khâu chủ yếu:

Một là, động viên, khơi gợi tinh thần tự giác, tự phê bình của đối tượng

kiểm tra; hai là, tổ chức, tiến hành sinh ho ạt phê bình, góp ý c ủa các tổ chức

đảng có liên quan; ba là, phát động ý th ức, trách nhi ệm, tinh th ần đấu tranh

xây dựng Đảng của quần chúng nhân dân; bốn là, tiếp cận, tiếp xúc đối tượng

thẩm tra, xác minh để thu th ập, tiếp nhận, trao đổi thông tin, tài li ệu, chứng

cứ; năm là , ti ến hành phân tích ch ứng cứ tìm ra ch ứng lý để nh ận xét có

khuyết điểm, vi ph ạm hay không có vi ph ạm, mức độ, tính ch ất, hậu qu ả,

nguyên nhân vi phạm và trách nhiệm của đối tượng kiểm tra.

4.2.3.4. Ban hành m ột số quy định để làm c ơ sở th ực hi ện tốt vi ệc

thẩm tra, xác minh

Để có thêm c ơ sở thực hiện tốt việc thẩm tra, xác minh, c ần ban hành

một số quy định như:

- Quy định chế tài xử lý nghiêm các tr ường hợp là đối tượng kiểm tra,

đối tượng thẩm tra, xác minh c ố tình trì hoãn ho ặc kéo dài vi ệc cung cấp tài

liệu, báo cáo, giải trình những vấn đề có liên quan đến nội dung kiểm tra.

135

- Quy định bảo vệ nhân chứng, bảo vệ người cung cấp thông tin, chứng

cứ, người tố giác hành vi vi phạm.

- Quy định phối hợp trong việc uỷ nhiệm cho cơ quan chức năng thẩm

tra, xác minh, giám định một số nội dung nh ư tính hợp pháp, hợp lệ của tài

liệu, hoá đơn, chứng từ, chữ viết, tiếng nói, hình ảnh... mà lực lượng kiểm tra

không có điều kiện xác định.

- Quy định thí điểm sử dụng một số biện pháp nghi ệp vụ của cơ quan

bảo vệ pháp luật.

- Quy định tổ chức phản biện kết quả thẩm tra, xác minh…

Để hạn chế đối tượng kiểm tra cùng các đối tượng khác tìm cách h ợp

thức hoá sai ph ạm, hoặc tiêu hu ỷ chứng cứ, cần có bi ện pháp ng ăn chặn kịp

thời, không chỉ cần thiết cho thẩm tra, xác minh mà còn bảo đảm tính nghiêm

minh của kỷ luật Đảng, do vậy cần ti ến hành thí điểm sử dụng một số bi ện

pháp nghiệp vụ của cơ quan bảo vệ pháp luật như: Niêm phong hồ sơ, tài liệu,

sổ sách kế toán, tài khoản vào thời điểm cần thiết và giao cho một số cá nhân

hoặc tổ chức có th ẩm quyền và trách nhi ệm quản lý; Cấm chuyển dịch, thay

đổi hiện trạng tài sản có liên quan đến kiểm tra; Khi c ần thi ết phong tỏa tài

sản, tiền gửi của đối tượng kiểm tra (nếu có).

4.2.4. Xây dựng đội ngũ cán bộ ki ểm tra trong s ạch, có năng lực,

đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra

của Đảng giai đoạn hiện nay

Đảng ta đã xác định: Cán b ộ là nhân t ố quyết định sự thành b ại của

cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu

then ch ốt trong công tác xây d ựng Đảng. Cán b ộ ki ểm tra là m ột bộ ph ận

trong đội ng ũ cán b ộ của Đảng, là cán b ộ làm công tác xây d ựng Đảng,

chuyên trách v ề công tác ki ểm tra. Đội ngũ cán bộ kiểm tra là lực lượng chủ

công, là nhân t ố quyết định việc thực hiện nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra các

cấp. Vì v ậy, cần quan tâm và luôn coi tr ọng xây d ựng đội ngũ cán bộ kiểm

136

tra có phẩm chất chính trị tốt, công tâm, trong s ạch, đủ năng lực, kể cả năng

lực kiểm tra vi ệc chấp hành đường lối, chính sách c ủa Đảng. Xây d ựng đội

ngũ cán b ộ kiểm tra c ủa Đảng là vi ệc quan tr ọng và c ấp bách c ả trước mắt

và lâu dài.

Cán bộ kiểm tra (nh ất là cán b ộ trực tiếp tham gia th ẩm tra, xác minh

các vụ việc) là một bộ phận trong đội ngũ cán bộ của Đảng, là lực lượng trực

tiếp và chủ công tiến hành công tác kiểm tra của Đảng, góp phần thực hiện tốt

nhiệm vụ xây dựng Đảng và phòng, chống tham nhũng. Nhận thức đúng vị trí,

vai trò của cán bộ kiểm tra nói chung; cán bộ trực tiếp làm nhiệm vụ thẩm tra,

xác minh nói riêng, từ đó nêu cao trách nhiệm, thường xuyên coi trọng và tiến

hành công tác cán b ộ làm công tác ki ểm tra một cách đúng đắn. Để nâng cao

chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp, nhất là cán bộ trực tiếp thực hiện

thẩm tra, xác minh các vụ việc cần thực hiện một số nội dung sau đây:

- Làm t ốt vi ệc quy ho ạch cán b ộ ki ểm tra là n ội dung tr ọng yếu để

nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra. Phải căn cứ vào nhiệm vụ, yêu

cầu xây d ựng Đảng nói chung và công tác ki ểm tra; căn cứ vào quy mô, c ơ

cấu tổ ch ức, biên ch ế cán b ộ; căn cứ vào tiêu chu ẩn và th ực tr ạng đội ng ũ

cán bộ kiểm tra để quy ho ạch đội ng ũ cán b ộ. Về nội dung c ần quy ho ạch

tổng thể đội ngũ cán bộ từ cấp huyện và tương đương trở lên; quy ho ạch cán

bộ ủy ban ki ểm tra, tạo nguồn cán bộ đầu ngành, ở mỗi cấp có từ 2-3 độ tuổi

kế tiếp nhau.

- Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện để đội ngũ cán bộ có trình độ

chuyên môn và kinh nghi ệm về những lĩnh vực công tác c ần thiết khi được

giao nhiệm vụ đột xuất hoặc cần chuyên môn sâu để thẩm tra, xác minh. Đào

tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức về các chủ trương, nghị quyết, nguyên tắc,

quy chế, quy định của Đảng, chính sách, pháp lu ật của Nhà nước. Coi tr ọng

nâng cao trình độ lý luận chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, kinh tế, nhạy

bén, tinh thông nghi ệp vụ th ẩm tra, xác minh, có đủ kh ả năng nghiên c ứu,

137

phân tích vấn đề, thông báo chính xác các d ấu hiệu và kết luận các vụ việc,

nhất là trong các lĩnh vực có nhiều vấn đề nổi cộm, bức xúc hiện nay như: đất

đai, xây dựng cơ bản, khai thác tài nguyên, khoáng s ản, tài chính, ngân hàng,

thương mại, xu ất nh ập kh ẩu, th ực hi ện các ch ương trình d ự án, trong ho ạt

động tư pháp và nh ất là trong công tác t ổ chức, cán bộ… Hàng năm, cấp ủy,

ủy ban ki ểm tra các c ấp cần xây dựng kế hoạch học tập cho từng đối tượng

cán bộ thuộc quyền về chuyên môn nh ất là các bi ện pháp nghi ệp vụ về thẩm

tra, xác minh.

- Gi ải pháp c ơ bản và lâu dài là ti ến hành nghiên c ứu xây d ựng tiêu

chuẩn hoá cán b ộ ki ểm tra Đảng nói chung, cán b ộ tr ực ti ếp th ẩm tra, xác

minh nói riêng phù hợp với giai đoạn mới. Trên cơ sở tiêu chuẩn hoá cán bộ,

xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ và phẩm chất cho

đội ngũ cán bộ hiện có; đồng thời tiến hành sàng l ọc, chuyển đổi vị trí công

tác đối với những cán bộ không đủ tiêu chuẩn và không còn tri ển vọng phấn

đấu vươn lên đáp ứng yêu cầu mới. Cũng trên cơ sở tiêu chu ẩn hoá cán b ộ

kiểm tra của Đảng mà có bi ện pháp mạnh dạn phát hi ện, tìm ngu ồn đào tạo

cho lâu dài; đồng th ời, phát hi ện, tìm ngu ồn bồi dưỡng bổ sung ngay cho

trước mắt.

+ Về tiêu chuẩn, phẩm chất của cán bộ kiểm tra đảng nói chung, cán bộ

trực tiếp thẩm tra, xác minh nói riêng đều nằm trong tiêu chu ẩn của đội ngũ

cán bộ xây dựng Đảng, tiêu chuẩn cấp uỷ viên của Đảng, song trong tình hình

mới cần đặc biệt nhấn mạnh những đức tính, ph ẩm chất mang tính đặc trưng

đối với nhiệm vụ kiểm tra của Đảng. Cán bộ kiểm tra của Đảng thời kỳ đổi

mới nhất thiết phải có cả "đức" lẫn "tài", cả 3 mặt: phẩm chất chính tr ị, đạo

đức lối sống và năng lực thực tiễn. "Đức" và "tài" cũng như phẩm chất chính

trị và năng lực, trình độ phải gắn quyện vào nhau và được thể hiện cụ thể ở

hiệu quả nhiệm vụ công tác được giao, ở sự tín nhiệm của tập thể, của tổ chức

và của quần chúng nhân dân. Gi ữa "đức" và "tài" thì lấy "đức" làm gốc, giữa

138

phẩm chất và năng lực thì coi phẩm chất là hàng đầu. Phẩm chất hàng đầu của

cán bộ kiểm tra của Đảng là bản lĩnh chính tr ị vững vàng, trung thành tuy ệt

đối với Đảng, với đường lối đổi mới, với chủ nghĩa Mác - Lênin và t ư tưởng

Hồ Chí Minh. Lòng trung thành ph ải th ể hi ện ở đức tính trung th ực; trung

thực với tổ chức đảng, trung th ực trong nhi ệm vụ kiểm tra Đảng, trung th ực

trong hoạt động thẩm tra, xác minh, trung th ực với đồng chí, với tập thể, với

nhân dân mà tr ước hết là trung th ực với chính bản thân mình. Đức tính trung

thực gắn liền với đức tính công tâm, khách quan, vô t ư trong công tác, không

thiên vị cá nhân, c ục bộ, không định kiến, cơ hội, vụ lợi. Lòng trung thành,

đức tính trung th ực của cán bộ kiểm tra của Đảng còn thể hiện sự tâm huyết,

tận tâm, tận lực với nhi ệm vụ ki ểm tra của Đảng, với công cu ộc xây dựng,

chỉnh đốn Đảng. Còn thể hiện ở bản lĩnh kiểm tra vững vàng dám đương đầu

với mọi sức ép, giữ vững chính kiến, đấu tranh đến cùng để chống các hành vi

tiêu cực, vi ph ạm, thoái hoá bi ến chất và bảo vệ chân lý, b ảo vệ sự thật, bảo

vệ nhân tố tích cực.

Tiêu chu ẩn ph ẩm chất đội ng ũ cán bộ kiểm tra của Đảng còn đòi hỏi

thể hiện ở phong cách công tác sâu sát, khiêm t ốn. Phải có tính đảng cao, tình

đồng chí sâu s ắc, và có động cơ xây d ựng, "tr ị bệnh cứu ng ười". Bi ết căm

phẫn những hành vi sai ph ạm cố ý, nh ưng biết cảm thông, chia sẻ với những

sai phạm lỡ lầm, khách quan, bất khả kháng. Biết thấu đau những nỗi đau oan

trái về sinh mệnh chính trị của đảng viên, cán bộ. Không dung thứ các trường

hợp ngoan cố, nhưng độ lượng với các trường hợp ăn năn, hối lỗi, tự giác, tự

phê bình và kiên quyết sửa chữa, tiến bộ. Phong cách công tác đúng mực, thái

độ khiêm tốn, không "đao to, búa l ớn", truy bức ép cung, m ớm cung, nh ưng

phân tích sắc sảo, thâu lý đạt tình, tâm phục khẩu phục. Không dùng thủ đoạn

cài bẫy, hù dọa đối với đồng chí nhưng cũng không hữu khuynh, cả tin, vị nể.

Kiên quyết đấu tranh không khoan nh ượng với nh ững hành vi tha hoá, bi ến

chất. Không bị sức ép từ nhiều phía, cả sức ép hữu hình lẫn vô hình chi ph ối.

139

Cán bộ kiểm tra của Đảng phải luôn gi ữ vững vị thế, uy tín và b ản lĩnh kiểm

tra. Luôn mẫu mực về đạo đức, lối sống. Luôn luôn khiêm tốn và nghiêm túc,

tự giác tự kiểm tra bản thân, hết sức tránh thái độ “kiêu ngạo kiểm tra”.

+ Về tiêu chu ẩn năng lực cán b ộ ki ểm tra Đảng, đòi hỏi th ể hi ện ở

trình độ tư duy pháp lý và t ư duy lãnh đạo trong quá trình th ực hiện nhiệm

vụ thẩm tra, xác minh. Quá trình th ực hiện th ẩm tra, xác minh là quá trình

sử dụng kiến thức pháp lý bao g ồm pháp lý Nhà n ước và pháp lý v ề nguyên

tắc, quy định của Đảng để tư duy, nghiên c ứu, phân tích, th ẩm định, kết

luận. Tuy nhiên, n ếu chỉ có trình độ tư duy pháp lý mà thi ếu hoặc yếu trình

độ tư duy lãnh đạo, tức là thi ếu kiến thức, kinh nghi ệm về các mặt công tác

xây dựng Đảng: tư tưởng, tổ ch ức cán b ộ, bảo vệ chính tr ị nội bộ, dân

vận...; thi ếu hi ểu bi ết về ph ương th ức ho ạt động lãnh đạo của các t ổ ch ức

đảng, các c ấp uỷ đảng trên các l ĩnh vực: kinh t ế xã h ội, chính tr ị, qu ốc

phòng, an ninh... thì ch ất lượng và hi ệu quả hoạt động của cán bộ thẩm tra,

xác minh cũng sẽ bị hạn chế. Ngoài t ư duy pháp lý, t ư duy lãnh đạo, cán bộ

kiểm tra đảng trong tình hình hi ện nay c ần đặc biệt phải có l ương tâm, đạo

đức ki ểm tra c ủa Đảng. Trên c ơ sở đó, tạo điều ki ện cho cán b ộ ki ểm tra

phấn đấu, tu d ưỡng rèn luy ện, nâng cao trình độ, nhạy bén chính tr ị và giác

quan nh ạy cảm, tinh t ế với th ực ti ễn cu ộc sống đời th ường tạo nên ph ẩm

chất tốt và n ăng lực gi ỏi của ng ười cán b ộ tr ực ti ếp ti ến hành ho ạt động

thẩm tra, xác minh.

Bên cạnh đó, cần đặc biệt quan tâm đến chế độ, chính sách đối với cán

bộ kiểm tra để tạo điều kiện cho họ và gia đình ổn định cuộc sống, yên tâm

công tác; đồng thời thu hút nh ững người có đủ đức, đủ tài, có tâm huy ết, bản

lĩnh để làm công tác ki ểm tra. Tổ chức thực hiện tốt "Quy định về tiêu chuẩn

chức danh cán b ộ kiểm tra của Đảng"; có ch ế độ tiền lương, phụ cấp ưu đãi

nghề mang tính đặc thù đối với cán bộ kiểm tra. Sớm có chính sách, ch ế độ

hợp lý đối với cán bộ kiểm tra đảng ở cơ sở; nghiên cứu việc bố trí cán b ộ

140

kiểm tra Đảng chuyên trách ở xã, ph ường, th ị tr ấn; các thành viên ủy ban

kiểm tra đảng ủy cơ sở có chế độ phụ cấp trách nhiệm hợp lý.

+ Đổi mới và t ăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghi ệp vụ cho cán b ộ

kiểm tra

Cần đổi mới việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ kiểm tra bằng

nhiều hình th ức thích h ợp nh ư: gửi đi đào tạo dài h ạn trong n ước và n ước

ngoài; bồi dưỡng, tập hu ấn ng ắn ngày; t ổ ch ức rút kinh nghi ệm theo t ừng

chuyên đề. Cấp uỷ và uỷ ban ki ểm tra có ch ương trình, kế hoạch, nội dung,

thời gian đào tạo, bồi dưỡng cụ thể, phù hợp với từng đối tượng. Định kỳ tổ

chức cập nhật các kiến thức về kinh tế, pháp luật, các kiến thức chung...

Hiện nay, kỹ năng nghiệp vụ kiểm tra còn là khâu yếu, khó khăn của uỷ

ban kiểm tra. Vì v ậy, phải ch ỉ đạo nghiên cứu hệ thống kỹ năng nghiệp vụ,

biên soạn thành sách d ưới dạng "cẩm nang bỏ túi" phát cho u ỷ ban ki ểm tra

các cấp nghiên c ứu, vận dụng th ực hi ện trong th ực ti ễn để nâng cao ch ất

lượng công tác.

4.2.5. Tăng cường ph ối hợp, phát huy vai trò c ủa các cơ quan, tổ

chức trong hệ thống chính trị để tiến hành thẩm tra, xác minh

Trong điều kiện một đảng cầm quyền, tổ chức đảng và đảng viên được

phân công lãnh đạo, ho ạt động ở mọi lĩnh vực, với ch ức năng, nhi ệm vụ,

quyền hạn khác nhau, ngành ngh ề khác nhau, thậm chí trong cùng một ngành

cũng có nhi ều chuyên môn khác nhau. Do đó, khi ti ến hành ki ểm tra tổ chức

đảng, đảng viên, nh ất là nh ững vấn đề liên quan đến nhi ều nội dung, có

chuyên môn, nghi ệp vụ khác nhau, ở các l ĩnh vực công tác khác nhau thì

thường gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng, từ việc thẩm tra, xác minh, đến kết

luận, xử lý. Tr ước một sự vi ệc lại có s ự đánh giá khác nhau, trong nhi ều

trường hợp phát hiện được dấu hiệu vi phạm nhưng không đi đến kết luận, xử

lý tho ả đáng để nh ắc nhở, ng ăn ch ặn. Để kh ắc ph ục tình tr ạng trên, nh ất là

trong tình hình mới, khi quan h ệ kinh tế, quan hệ xã hội đang có sự biến đổi

141

mạnh mẽ, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa uỷ ban ki ểm tra các cấp với các

ban đảng và các c ơ quan ch ức năng của Nhà nước trong quá trình ki ểm tra,

xem xét, đánh giá tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng.

Phối hợp trong th ực hi ện th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra

của Đảng là sự gắn kết các mặt công tác với nhau để bổ sung, hỗ trợ cho nhau

giữa các tổ chức đảng là chủ thể thẩm tra, xác minh với các tổ chức thanh tra

nhà nước, thanh tra nhân dân, các đoàn thể chính tr ị - xã h ội, tổ chức xã hội

nghề nghiệp, các tổ chức đảng, ban, ngành có liên quan để vừa thực hiện tốt

yêu cầu thẩm tra, xác minh xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng, vừa

đảm bảo nguyên tắc hoạt động của mỗi tổ chức. Nói cách khác, việc phối hợp

trong thực hiện thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng với hoạt

động thanh tra của nhà nước, thanh tra nhân dân, điều tra của các cơ quan tố

tụng, công tác kiểm tra của các đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề

nghiệp th ực hi ện theo ch ức năng, nhi ệm vụ của từng tổ ch ức tùy theo m ục

đích, yêu cầu, điều kiện của từng vụ việc, từng vấn đề cụ thể cần phải làm rõ

do chủ thể kiểm tra quyết định.

Đối tượng phối hợp trong hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác

kiểm tra c ủa Đảng bao g ồm: các c ơ quan, t ổ ch ức nhà n ước (thanh tra nhà

nước, kiểm toán, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân, cơ quan điều tra...);

các đoàn thể chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên

Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông

dân, Tổng Liên đoàn Lao động); các t ổ ch ức xã h ội ngh ề nghi ệp (H ội Nhà

báo, Hội Luật gia, Liên đoàn Luật sư,…); thanh tra nhân dân.

Việc phối hợp có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hoạt động thẩm tra,

xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng, vì đó là một trong nh ững khâu

của phương thức, phương pháp, quy trình thực hiện thẩm tra, xác minh, nhằm

huy động mọi nguồn lực, tạo sức mạnh tổng hợp bảo đảm thực hiện thẩm tra,

xác minh một cách thận trọng, chặt chẽ.

142

Quá trình th ực hi ện th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra c ủa

Đảng, nếu chỉ mình chủ thể thẩm tra, xác minh tiến hành mà không có sự phối

hợp với hoạt động thanh tra của Nhà nước, thanh tra nhân dân, công tác ki ểm

tra, giám sát c ủa các đoàn thể chính tr ị - xã h ội, tổ chức xã hội nghề nghiệp,

nghiệp vụ của các cơ quan tố tụng pháp luật, với các cơ quan, tổ chức có liên

quan thì s ẽ gặp nh ững khó kh ăn, vướng mắc, tr ở ng ại, ảnh hưởng đến ch ất

lượng, hi ệu qu ả th ẩm tra, xác minh. Do đó, th ực hi ện ph ối hợp trong ho ạt

động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng sẽ giúp cho kết quả

thẩm tra, xác minh khách quan, trung th ực, chính xác dù xét dưới góc độ nào,

qua đó, kết luận vụ việc kiểm tra tập trung, thống nhất, đồng bộ, khắc phục sự

sơ hở, thiếu sót, chủ quan, phiến diện, thiếu dân chủ có thể có.

- Vi ệc ph ối hợp trong ho ạt động th ẩm tra, xác minh trong công tác

kiểm tra của Đảng nh ằm nâng cao ch ất lượng, hi ệu lực, hi ệu qu ả th ực hiện

hoạt động này trong điều kiện nếu chỉ mình ch ủ thể thẩm tra, xác minh th ực

hiện thì vừa không đủ sức, không đủ lực lượng, chuyên môn, nghiệp vụ, kinh

nghiệm, không bảo đảm chất lượng, hiệu quả thẩm tra, xác minh...

Thực hiện phối hợp dựa trên việc trao đổi, cung cấp thông tin, hồ sơ, tài

liệu các vụ việc kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, giải quyết khiếu nại

kỷ luật đảng; về lĩnh vực kinh tế - xã hội, nội chính, tài sản của Đảng có liên

quan đến công tác ki ểm tra, giám sát, k ỷ luật đảng; các đơn thư tố cáo, khiếu

nại kỷ luật đảng thuộc thẩm quyền của các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm

tra các cấp; thực hiện các biện pháp tác nghiệp đặc thù của mỗi cơ quan; thẩm

định, kết luận và có ý kiến phúc đáp chủ thể thẩm tra, xác minh về các vấn đề,

nội dung được đề nghị phối hợp thẩm tra, xác minh…

Trách nhi ệm, quyền hạn của ch ủ th ể ki ểm tra và l ực lương tham gia

thẩm tra, xác minh:

- Ch ủ th ể ki ểm tra (c ấp uỷ, tổ ch ức đảng, uỷ ban ki ểm tra) ph ải ch ủ

động xây dựng kế hoạch, có văn bản đề nghị với các tổ chức có liên quan phối

143

hợp cung cấp thông tin, tài liệu hoặc nhận xét, nêu các ý kiến về các nội dung

cần thẩm tra, xác minh; đề nghị cử cán bộ tham gia l ực lượng thẩm tra, xác

minh do chủ thể kiểm tra chủ trì. Tuỳ đối tượng và nội dung kiểm tra, chủ thể

kiểm tra trao đổi kết quả sau khi kiểm tra cho các tổ chức có liên quan.

- Lực lượng tham gia phối hợp: Khi được chủ thể kiểm tra đề nghị cung

cấp, trao đổi thông tin, tài li ệu, tình hình ho ặc cử cán bộ tham gia th ẩm tra,

xác minh, ph ải kh ẩn trương đáp ứng yêu cầu, tạo điều kiện để cán b ộ tham

gia. Cán bộ của các c ơ quan, tổ ch ức khi tham gia th ẩm tra, xác minh ph ải

chấp hành đúng các quy định của Đảng, chịu sự điều hành của chủ thể kiểm

tra; nếu có ý ki ến khác trong quá trình th ẩm tra, xác minh, ch ỉ có quy ền báo

cáo với chủ thể kiểm tra xem xét, quyết định.

Trong quá trình thực hiện phối hợp cần đảm bảo những vấn đề sau:

- Phải căn cứ vào các quy định của Đảng, quy định pháp lu ật của Nhà

nước và quy định của các đoàn thể chính trị - xã hội, nghề nghiệp.

- Ủy ban ki ểm tra các c ấp ch ủ động tham mưu cấp ủy cho ý ki ến chỉ

đạo đối với những vấn đề hệ trọng, vượt quá th ẩm quyền nhưng cần sự phối

hợp trong quá trình tiến hành thẩm tra, xác minh những vụ việc vụ thể.

- Quá trình ph ối hợp phải trên cơ sở hợp tác, hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều

kiện thuận lợi cho nhau v ừa thực hiện tốt nhiệm vụ thẩm tra, xác minh, v ừa

thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan trong quá trình

phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Khi có yêu c ầu phối hợp thực hiện (hoặc tham

gia ý ki ến), cả cơ quan đề nghị và cơ quan được đề nghị có văn bản yêu cầu

và trả lời chính thức.

- Vi ệc ph ối hợp ph ải bằng quy ch ế, quy định cụ th ể về ch ủ th ể, đối

tượng, phạm vi, nguyên t ắc, nội dung, trách nhi ệm, phương thức và tổ chức

thực hiện việc phối hợp.

- Nâng cao trách nhiệm và chất lượng trao đổi, cung cấp thông tin (nhất

là về tổ chức đảng, đảng viên khi có d ấu hiệu vi ph ạm) giữa ủy ban kiểm tra

144

với các tổ chức đảng, chi bộ, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể

chính trị - xã hội, các cơ quan báo chí trong hoạt động thẩm tra, xác minh, tuy

nhiên vẫn phải đảm bảo nghiêm túc các nguyên tắc đã đề ra.

- Làm tốt việc sơ kết, tổng kết việc thực hiện các quy chế phối hợp giữa

Ủy ban Kiểm tra Trung ương với các ban đảng, các tổ chức đảng, các cơ quan

ở Trung ương đã được ký kết để hoàn thi ện, nâng cao tính kh ả thi. Ch ỉ đạo

các cấp ủy cấp dưới ban hành các quy ch ế, quy định theo th ẩm quyền ở cấp

mình, là cơ sở để thực hiện tốt công tác ki ểm tra nói chung, trong đó có hoạt

động thẩm tra, xác minh nói riêng.

4.2.6. Tăng cường nghiên cứu khoa học, tổng kết kinh nghiệm thực

tiễn về hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng

Công tác kiểm tra, giám sát và k ỷ luật của Đảng thời gian qua đã được

quan tâm nghiên c ứu, nhi ều đề tài đã ti ếp cận một cách công phu và đang

được áp dụng. Tuy nhiên, vấn đề hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác

kiểm tra lại chưa được thực sự coi trọng trong công tác nghiên c ứu, tổng kết,

trong khi đó lại là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng, hiệu quả của

một cuộc kiểm tra.

Thẩm tra, xác minh là m ột trong nh ững phương pháp cơ bản của công

tác kiểm tra, là k ỹ năng nghiệp vụ yêu cầu tính chính xác cao, n ội dung, sự

việc lại có yếu tố lịch sử và hi ện tại, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đòi

hỏi tính khoa h ọc trong th ực hiện, vì vậy cần được tổ chức tiến hành nghiên

cứu một cách th ật cơ bản và có h ệ th ống, xây d ựng nh ững tài li ệu lý lu ận

nghiệp vụ chuyên sâu giúp cho cán b ộ ki ểm tra nghiên c ứu, học tập, tham

khảo, vận dụng vào th ực tiễn. Hướng nghiên cứu cần tập trung vào đổi mới,

tìm ra cách tiến hành thẩm tra, xác minh thực sự khoa học, sáng tạo, thích hợp

với nội dung, đối tượng kiểm tra trong tình hình hiện nay.

Việc tổng kết, nghiên cứu cần luận giải rõ các v ấn đề trong ho ạt động

thẩm tra, xác minh, nh ư: Khâu ti ếp cận các đối tượng kiểm tra và vi ệc khai

145

thác, nghiên cứu, phân tích, xử lý các nguồn thông tin, hồ sơ, tài liệu để tìm ra

chứng cứ, ch ứng lý là m ột khâu r ất quan tr ọng của hoạt động thẩm tra, xác

minh đòi hỏi trình độ trí tu ệ, khả năng nhận thức và lý lu ận nghiệp vụ kiểm

tra. Cần nh ận th ức, làm rõ gi ữa hi ện tượng với bản ch ất, hình th ức và n ội

dung, giữa khách quan và ch ủ quan, chính y ếu và th ứ yếu, hệ thống và nh ất

thời, cái chung và cái riêng, s ố đông và số ít... Trong thực tiễn, việc phân tích

tài liệu, hồ sơ phải qua nhi ều bước, bước đầu mới chỉ là dự cảm, phán đoán

theo các hướng đặt ra các gi ả thiết, giả định để suy lu ận, phân tích, sàng l ọc.

Quá trình x ử lý thông tin ph ụ thu ộc rất nhi ều vào trình độ tư duy, ph ương

pháp nghi ệp vụ và giác quan nh ạy cảm, tinh t ế của cán b ộ ki ểm tra đảng;

đồng thời, khắc phục cách tiến hành thẩm tra, xác minh theo kinh nghiệm chủ

quan, thậm chí duy ý chí. Lý luận về thẩm tra, xác minh, nhất là: mối quan hệ

giữa thẩm tra và xác minh; khi nào th ẩm tra, khi nào ph ải xác minh; bản chất

của thẩm tra, xác minh là gì; sự giống và khác nhau về các phương pháp khác

trong công tác ki ểm tra và ph ương phương pháp th ẩm tra, xác minh;… Th ực

tế vừa qua, sở dĩ có tình tr ạng nhận thức chưa đầy đủ, thực hiện chưa đúng,

chất lượng thẩm tra, xác minh ch ưa tốt vì chúng ta ch ưa làm rõ, ch ưa có quy

định rõ ràng trên cơ sở tổng kết thực tiễn về hoạt động thẩm tra, xác minh.

Cần đẩy mạnh vi ệc nghiên c ứu các công trình khoa h ọc theo h ướng

trên, nhất là các d ạng đề tài, đề án, các báo cáo v ề kỹ năng nghiệp vụ thẩm

tra, xác minh, đi sâu vào nghiên c ứu, tổng kết cả lý luận và thực tiễn, đúc rút

kinh nghi ệm để xây d ựng thành các cu ốn "c ẩm nang" có tính ch ất ch ỉ đạo,

hướng dẫn hoạt động tác nghiệp thẩm tra, xác minh, trang bị cho cán bộ trong

toàn ngành Ki ểm tra, nh ất là nh ững cán bộ trực tiếp nắm tình hình, n ắm địa

bàn, trực tiếp tiến hành thẩm tra, xác minh.

Để việc nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn về công tác kiểm tra

nói chung, về hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng

nói riêng có kết quả tốt, thiết thực, hiệu quả, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp

146

uỷ cần chỉ đạo Hội đồng Lý luận Trung ương và các cơ quan khoa học có liên

quan quan tâm và có ch ương trình, kế hoạch, nội dung nghiên c ứu khoa học,

tổng kết thực tiễn những vấn đề đặt ra của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật

đảng trong điều kiện mới. Cần nghiên cứu lý luận về công tác ki ểm tra trong

điều kiện một Đảng cầm quyền, vấn đề giám sát quyền lực, cơ chế tổ chức, bộ

máy cơ quan kiểm tra chuyên trách, mối quan hệ giữa cơ quan kiểm tra đảng

với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị…

Trong thời gian tới, Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương và uỷ ban ki ểm tra

các cấp cần chú trọng một số việc sau đây:

- Chỉ đạo Hội đồng Khoa học cơ quan tổ chức nghiên cứu sâu về thẩm

tra, xác minh dưới dạng các đề tài khoa học, đề án, các báo cáo chuyên đề về

thẩm tra, xác minh, v ề kỹ năng nghi ệp vụ th ẩm tra, xác minh. Trên c ơ sở

nghiên cứu lý lu ận, tăng cường tổng kết kinh nghi ệm phong phú, b ổ ích t ừ

thực tiễn, xây dựng quy định, quy trình về thẩm tra, xác minh.

- Chỉ đạo và quy định hóa về yêu cầu trao đổi, rút kinh nghi ệm trong

nội bộ đoàn (t ổ) ki ểm tra v ề tình hình, k ết qu ả, nguyên nhân, bài h ọc vi ệc

thực hiện thẩm tra, xác minh qua t ừng vụ việc (kiểm tra ch ấp hành, ki ểm tra

khi có dấu hiệu vi phạm, giải quyết tố cáo, kiểm tra tài chính đảng, giải quyết

khiếu nại kỷ luật đảng,...) để phát huy ưu điểm, khắc phục thiếu sót, khuy ết

điểm, hạn chế.

- Tiến hành sơ kết trước hết trong từng đơn vị của cơ quan (vụ, phòng)

về vi ệc th ực hi ện công tác th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra nói

chung, theo từng nhiệm vụ kiểm tra nói riêng để hoàn thi ện lý lu ận, nguyên

tắc, phương pháp, quy trình thẩm tra, xác minh phù hợp với tình hình thực tế.

Khắc ph ục tình tr ạng làm vi ệc theo l ối mòn, thi ếu năng động, sáng t ạo khi

tình hình thực tế đã thay đổi.

- Yêu cầu và hướng dẫn cán bộ kiểm tra tự học hỏi kinh nghi ệm kiểm

tra qua các bài báo v ề công tác ki ểm tra, thanh tra; trao đổi kinh nghi ệm với

147

đồng nghiệp về phương pháp, cách thức giải quyết các vấn đề, các tình huống,

nhất là các cu ộc kiểm tra có nội dung phức tạp, khó kh ăn. Khuyến khích cán

bộ ki ểm tra các c ấp tự nghiên c ứu tìm tòi, sáng t ạo đề xu ất nh ững ph ương

pháp, cách th ức gi ải quyết vấn đề, xử lý các tình hu ống để đạt kết qu ả cao

nhất trong thẩm tra, xác minh.

- Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết kinh nghi ệm về thẩm tra, xác minh

để xác định các bi ện pháp th ực hiện có hi ệu quả, đồng thời qua đó rèn luyện

kỹ năng nghiệp vụ thẩm tra, xác minh dưới nhiều hình thức như hội thảo, tổng

kết chuyên đề...

- Tăng cường trao đổi, nghiên cứu kinh nghi ệm công tác ki ểm tra, kỷ

luật trong và ngoài n ước (có thể nghiên cứu, tham khảo cả kinh nghiệm công

tác ki ểm tra, kỷ luật của các đảng cộng sản, đảng dân ch ủ, đảng xã hội dân

chủ, đảng cầm quyền ở một số nước trên thế giới và trong khu vực) để học tập

kinh nghiệm, vận dụng phù hợp với thực tiễn, đặc điểm, điều kiện, hoàn cảnh

của Đảng ta, của uỷ ban kiểm tra các cấp.

- Bên c ạnh đó, cơ quan Nhà n ước cần có k ế ho ạch bố trí ngân sách,

thông qua Văn phòng Trung ương Đảng dự trù, cấp kinh phí để tổ chức đảng

và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương tổ chức thực hiện.

Tiểu kết chương 4

Thẩm tra, xác minh là m ột khâu quan tr ọng trong quá trình ti ến hành

kiểm tra, là điều kiện có tính quy ết định đến kết quả, hiệu quả của công tác

kiểm tra. Hoạt động thẩm tra, xác minh ph ải quán triệt mục tiêu của công tác

kiểm tra đã được Ngh ị quy ết Hội ngh ị lần th ứ năm Ban Ch ấp hành Trung

ương (khóa X) về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng chỉ ra là:

Kịp thời đánh giá đúng ưu điểm của tổ chức đảng và đảng viên để

phát huy, phát hiện, làm rõ thiếu sót, khuyết điểm để uốn nắn, khắc

phục và x ử lý nghiêm minh khi có vi ph ạm, góp ph ần xây d ựng

148

Đảng trong sạch, vững mạnh; phục vụ việc tổng kết thực tiễn, nhân

rộng những nhân t ố mới, bổ sung, hoàn thi ện và phát tri ển đường

lối, ch ủ tr ương của Đảng, chính sách, pháp lu ật của Nhà n ước;

chống tư tưởng bảo th ủ, trì tr ệ, cục bộ, bản vị, ch ống quan liêu,

tham nhũng, tiêu cực [88, tr.112].

Để thực hiện tốt hoạt động thẩm tra, xác minh, đáp ứng nhiệm vụ công

tác kiểm tra, cần thực hiện đồng bộ các gi ải pháp: Một là, nâng cao h ơn nữa

nhận thức của cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp, của người đứng

đầu (trước hết là ủy ban ki ểm tra) và cán b ộ, đảng viên về vị trí, vai trò c ủa

thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra của Đảng (đây là tiền đề, điều kiện

để lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện có kết quả quá trình th ẩm tra, xác minh). Hai

là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra, sự chỉ

đạo, hướng dẫn, giám sát của thường trực cấp ủy và thường trực uỷ ban kiểm

tra đối với hoạt động thẩm tra, xác minh; qua đó, tạo thuận lợi, tháo gỡ khó

khăn, vướng mắc trong quá trình th ẩm tra, xác minh. Ba là, tiếp tục bổ sung,

hoàn thiện và đổi mới phương pháp, quy trình, các quy định, hướng dẫn, tạo

hành lang pháp lý ti ến hành th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của

Đảng. Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra trong sạch, có năng lực, đáp

ứng yêu cầu nhiệm vụ thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng

giai đoạn hiện nay. Muốn công tác kiểm tra nói chung và ho ạt động thẩm tra,

xác minh nói riêng có kết quả, chất lượng tốt phải có đội ngũ cán bộ có phẩm

chất, năng lực. Năm là, tăng cường phối hợp, phát huy vai trò, sức mạnh tổng

hợp của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính tr ị để thực hiện tốt thẩm

tra, xác minh. Sáu là, tăng cường nghiên cứu khoa học, tổng kết kinh nghiệm

thực tiễn về hoạt động thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng,

nhằm làm sáng tỏ những vấn đề còn vướng mắc.

149

KẾT LUẬN

1. Công tác ki ểm tra của uỷ ban ki ểm tra là công tác đảng, có đặc thù

riêng là ti ến hành ki ểm tra, k ết lu ận, xử lý ho ặc giúp c ấp uỷ xử lý k ỷ lu ật

những trường hợp có vi ph ạm đến mức phải xử lý. Đặc thù này không nh ững

khác với các ban c ủa cấp uỷ mà còn khác v ới các cơ quan bảo vệ pháp lu ật

của Nhà n ước (điều tra, truy t ố, xét x ử đều do t ừng cơ quan độc lập ti ến

hành). Vì v ậy, bên c ạnh vi ệc coi tr ọng và làm t ốt các ph ương pháp c ơ bản

khác của công tác đảng, cần đặc biệt coi trọng và làm tốt hoạt động thẩm tra,

xác minh để phục vụ cho việc kiểm tra, kết luận, xử lý được công minh, chính

xác, kịp thời.

Thẩm tra, xác minh là khâu đặc bi ệt quan tr ọng và mang tính quy ết

định trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kiểm tra của Đảng. Thẩm tra, xác minh

trong công tác ki ểm tra của Đảng là những hoạt động mang tính xem xét, tra

cứu, thẩm định để tìm ra sự thật, chỉ đúng bản chất các thông tin, vụ việc cũng

như hành vi của đối tượng kiểm tra, bằng chứng cứ và chứng lý thẩm tra, xác

minh. Trên cơ sở chứng cứ và chứng lý thẩm tra, xác minh, các t ổ chức đảng

có thẩm quyền quyết định kết luận xử lý đối với các nội dung và đối tượng

kiểm tra. Ph ương châm "ch ủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả" của công

tác kiểm tra đảng và “công minh, chính xác, k ịp thời” trong thi hành k ỷ luật

đảng phụ thuộc phần lớn vào độ chính xác và hi ệu quả của hoạt động thẩm

tra, xác minh.

2. Việc thực hiện thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng

trong thời gian qua đã có nhiều tiến bộ, ưu điểm: Các cấp ủy, tổ chức đảng và

đảng viên đã từng bước nhận thức đúng và rõ h ơn về vị trí, vai trò, ý ngh ĩa

của hoạt động thẩm tra, xác minh khi ti ến hành các cu ộc kiểm tra. Trình độ

nghiệp vụ của đa số cán bộ kiểm tra ngày càng được nâng cao, vốn sống thực

tiễn phong phú, phong cách làm vi ệc khoa h ọc, khách quan, công tâm, có

150

chính kiến trong công việc. Khi tiến hành thẩm tra, xác minh, cán bộ kiểm tra

các cấp đã luôn bám sát, tuân th ủ các nguyên t ắc thẩm tra, xác minh; c ơ bản

đã lựa ch ọn, xác định và th ực hi ện đúng nội dung, đối tượng th ẩm tra, xác

minh; việc thực hiện phương pháp, cách thức, thủ tục thẩm tra, xác minh được

đảm bảo thận trọng, chính xác, t ỷ mỉ. Qua th ẩm tra, xác minh, đã tìm được

nhiều chứng cứ xác đáng, chứng lý sắc bén, góp ph ần quyết định để uỷ ban

kiểm tra các cấp có căn cứ, cơ sở xem xét, đánh giá, kết luận cuộc kiểm tra.

Tuy nhiên, th ẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng cũng

còn không ít hạn chế: Một số cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra và cán bộ

trực tiếp tiến hành ki ểm tra ch ưa quan tâm, ch ưa thật sự coi tr ọng vị trí, vai

trò của ho ạt động th ẩm tra, xác minh; trong nhi ều cu ộc ki ểm tra, vi ệc lựa

chọn nội dung và đối tượng thẩm tra, xác minh nhi ều lúc không đúng, không

đầy đủ, thiếu tập trung, lan man, dẫn đến khó khăn, lúng túng khi thu th ập tài

liệu, ch ứng cứ, dẫn đến kéo dài th ời gian và h ạn ch ế kết qu ả th ẩm tra, xác

minh; tiến hành th ẩm tra, xác minh không k ỹ, chưa sâu, ch ưa tìm được bằng

chứng xác th ực; chứng cứ nhiều khi không đầy đủ và chính xác; ch ất lượng

báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh chưa tốt, chưa chuyển tải hết các chứng cứ

để phục vụ việc kết luận nội dung ki ểm tra, làm h ạn chế kết quả, chất lượng

công tác kiểm tra.

3. Để làm tốt thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng cần

thực hi ện các gi ải pháp mang tính h ệ thống và đặc thù sau: Thứ nhất, nâng

cao nhận thức của cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban ki ểm tra các c ấp và cán b ộ,

đảng viên về vị trí, vai trò của thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của

Đảng. Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm

tra; sự chỉ đạo, hướng dẫn, giám sát của thường trực cấp ủy và thường trực uỷ

ban kiểm tra đối với hoạt động thẩm tra, xác minh. Thứ ba, tiếp tục bổ sung,

hoàn thiện và đổi mới phương pháp, quy trình, các quy định, hướng dẫn tiến

hành thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng. Thứ tư, xây dựng

151

đội ngũ cán bộ kiểm tra trong s ạch, có năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng giai đoạn hiện nay. Thứ

năm, tăng cường phối hợp, phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức trong hệ

thống chính tr ị để ti ến hành th ẩm tra, xác minh. Thứ sáu , nghiên c ứu khoa

học, tổng kết kinh nghi ệm th ực ti ễn về ho ạt động th ẩm tra, xác minh trong

công tác kiểm tra của Đảng.

4. Để hoạt động thẩm tra, xác minh có ch ất lượng, hiệu quả hơn trong

tình hình mới vừa là một yêu cầu đúng đắn, nhưng đồng thời cũng là một đòi

hỏi hết sức khó khăn. Luận án - trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận về

công tác ki ểm tra, v ề th ẩm tra, xác minh và đánh giá th ực tr ạng ho ạt động

thẩm tra, xác minh trong công tác ki ểm tra của Đảng trong thời gian qua - đã

đề xu ất một số gi ải pháp ch ủ yếu vừa mang tính c ấp bách tr ước mắt, vừa

mang tính cơ bản lâu dài đối với hoạt động kiểm tra của Đảng nói chung, hoạt

động thẩm tra, xác minh nói riêng. Vi ệc thực hiện một cách đồng bộ các giải

pháp sẽ là ti ền đề góp ph ần thực hiện tốt hoạt động thẩm tra, xác minh trong

công tác kiểm tra của Đảng trong thời gian tới.

152

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Bùi Anh Tuấn (2009), Tự phê bình và phê bình trong công tác ki ểm tra,

kỷ luật của Đảng, Bùi Văn Thể (chủ biên), Nhà xu ất bản Chính tr ị

quốc gia, Hà Nội.

2. Bùi Anh Tu ấn (2009), "Đảng bộ thành ph ố Hải Phòng đổi mới ph ương

thức kiểm tra, giám sát", Tạp chí Lịch sử Đảng, (8), tr.75.

3. Bùi Anh Tu ấn (2011), Công tác ki ểm tra, giám sát c ủa Đảng với phòng

chống tham nh ũng ở nước ta hi ện nay , TS Lê H ồng Liêm (ch ủ

biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Bùi Anh Tuấn (2014), "Bồi dưỡng nghiệp vụ thẩm tra, xác minh cho cán

bộ kiểm tra", Tạp chí Kiểm tra, (5), tr.47.

153

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Bí thư (2007), Quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị

nội bộ giữa Ban Tổ ch ức Trung ương với Uỷ ban Ki ểm tra Trung

ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Đảng uỷ Quân sự Trung ương,

Đảng uỷ Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Bộ Ngoại giao (ban

hành kèm theo Quyết định số 69-QĐ/TW, ngày 25-7-2007), Hà Nội.

2. Ban Bí th ư (2009), Quy định số 222-Q Đ/TW, ngày 08-5-2009 v ề ch ức

năng, nhi ệm vụ, tổ ch ức bộ máy c ơ quan chuyên trách tham m ưu,

giúp việc tỉnh uỷ, thành uỷ (nay là Quy định số 219-QĐ/TW, ngày

27-12-2013), Hà Nội.

3. Ban Bí th ư (2009), Thông báo số 226-TB/TW, ngày 03-03-2009 v ề tăng

cường tuyên truyền, phổ biến công tác ki ểm tra, giám sát c ủa Đảng,

Hà Nội.

4. Ban Bí thư (2011), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

với Ban Đối ngoại Trung ương trong công tác kiểm tra, giám sát, thi

hành kỷ lu ật đảng (ban hành kèm theo Quy ết định số 23-Q Đ/TW,

ngày 19-7-2011), Hà Nội.

5. Ban Bí thư (2011), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

với Ban cán s ự đảng Bộ Nội vụ trong công tác ki ểm tra, giám sát,

thi hành k ỷ lu ật đảng (ban hành kèm theo Quy ết định số 24-

QĐ/TW, ngày 19-7-2011), Hà Nội.

6. Ban Bí th ư (2012), Hướng dẫn số 01-HD/TW, ngày 05-01-2012 v ề một

số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng, Hà Nội.

7. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

với Đảng uỷ Khối các cơ quan Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ

kiểm tra, giám sát và thi hành k ỷ lu ật đảng (ban hành kèm theo

Quyết định số 136-QĐ/TW, ngày 02-10-2012), Hà Nội.

154

8. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

với Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp Trung ương trong thực hiện nhiệm

vụ kiểm tra, giám sát và thi hành k ỷ luật Đảng (ban hành kèm theo

Quyết định số 137-QĐ/TW, ngày 02-10-2012), Hà Nội.

9. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

với Ban Tuyên giáo Trung ương trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra,

giám sát và thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số

145-QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội.

10. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với

Đảng đoàn Quốc hội trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và

thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 146-QĐ/TW,

ngày 09-11-2012), Hà Nội.

11. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

với Đảng uỷ Công an Trung ương trong th ực hi ện nhi ệm vụ ki ểm

tra, giám sát và thi hành k ỷ lu ật đảng (ban hành kèm theo Quy ết

định số 147-QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội.

12. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

với Ban cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ

kiểm tra, giám sát và thi hành k ỷ lu ật đảng (ban hành kèm theo

Quyết định số 148-QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội.

13. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

với Quân u ỷ Trung ương trong th ực hiện nhi ệm vụ ki ểm tra, giám

sát và thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số 149-

QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội.

14. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

với Ban cán sự đảng Thanh tra Chính phủ trong thực hiện nhiệm vụ

kiểm tra, giám sát và thi hành k ỷ lu ật đảng (ban hành kèm theo

Quyết định số 150-QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội.

155

15. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

với Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện nhiệm vụ

kiểm tra, giám sát và thi hành k ỷ lu ật đảng (ban hành kèm theo

Quyết định số 151-QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội.

16. Ban Bí thư (2012), Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương

với Ban cán s ự đảng Chính ph ủ trong th ực hiện nhiệm vụ kiểm tra,

giám sát và thi hành kỷ luật đảng (ban hành kèm theo Quyết định số

152-QĐ/TW, ngày 09-11-2012), Hà Nội.

17. Ban Bí th ư (2012), Quy định số 55-Q Đ/TW, ngày 10-01-2012 v ề công

tác kiểm tra của tố chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luy ện đạo

đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, Hà Nội.

18. Ban Bí thư (2012), Thông báo Kết luận số 71-TB/TW, ngày 12-01-2012 về

thực hiện Quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Kiểm tra Trung ương với tổ

chức có liên quan trong th ực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi

hành kỷ luật đảng, Hà Nội.

19. Ban Bí thư (2012), Thông báo Kết luận số 115-TB/TW, ngày 17-12-2012

về Đề án "Phát hiện, xác định, quyết định kiểm tra tổ chức đảng cấp

dưới, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm", Hà Nội.

20. Ban Chấp hành Trung ương (2011), Hướng dẫn thực hiện các quy định

về công tác ki ểm tra, giám sát và k ỷ luật của Đảng trong Ch ương

VII và Ch ương VIII Điều lệ Đảng khoá XI (ban hà nh kèm theo

Quyết định số 46-QĐ/TW, ngày 01-11-2011), Hà Nội.

21. Ban Ch ấp hành Trung ương (2011), Quy định số 45-Q Đ/TW, ngày 01-

11-2011 về thi hành Điều lệ Đảng, Hà Nội.

22. Ban Ch ấp hành Trung ương (2011), Quy định số 47-Q Đ/TW, ngày 01-

11-2011 về những điều đảng viên không được làm, Hà Nội.

23. Ban Chấp hành Trung ương (2012), Kết luận số 21-KL/TW, ngày 21-5-

2012 tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI

156

về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp

hành Trung ương khoá X v ề tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối

với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Hà Nội.

24. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2007), Giương

cao ngọn cờ vĩ đại chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, phấn đấu

giành thắng lợi mới trong xây d ựng toàn di ện xã hội khá gi ả (Báo

cáo trình Đại hội đại bi ểu toàn qu ốc lần th ứ XVII Đảng Cộng sản

Trung Qu ốc, ngày 15-10-2007), B ản dịch của Vụ Trung Qu ốc -

Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương, Trung Quốc.

25. Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương tổng kết thực hiện Chỉ thị 09-CT/TW

và pháp lu ật về khiếu nại, tố cáo (2012), Tài liệu Hội nghị tổng kết

thực hiện Chỉ thị 09-CT/TW của Ban Bí thư và pháp luật về khiếu nại,

tố cáo, tập I, Hà Nội.

26. Ban Chỉ đạo Tổng kết lý luận (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý

luận - th ực ti ễn qua 20 n ăm đổi mới (1986-2006) , Nhà xu ất bản

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

27. Ban Ch ỉ đạo Trung ương 6 (2) (2003), Tiếp tục th ực hi ện Ngh ị quy ết

Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng,

chỉnh đốn Đảng, chống tham nh ũng, lãng phí , Nhà xu ất bản Chính

trị quốc gia, Hà Nội.

28. Ban Ch ỉ đạo Trung ương 6 (2) (2004), Kinh nghi ệm và gi ải pháp xây

dựng, chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí rút ra

từ các vụ án kinh t ế - xã hội và kết quả thanh tra, ki ểm tra, Kỷ yếu

hội thảo, Hà Nội.

29. Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (2) (2005), Đảng, Bác Hồ về tự phê bình và

phê bình, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

30. Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (2) (2005), Tệ quan liêu, lãng phí và m ột số

giải pháp phòng chống, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

157

31. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, ch ống tham nh ũng (2010), Báo cáo

số 70-BC/BC Đ, ngày 09-12-2010 t ổng kết công tác phòng, ch ống

tham nhũng trong nhiệm kỳ Đại hội X, Hà Nội.

32. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (2011), Báo cáo số

01-BC/BCĐ, ngày 28-01-2011 về kết quả công tác phòng, chống tham

nhũng năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011, Hà Nội.

33. Ban Nội chính Trung ương (2005), Kinh nghi ệm phòng, ch ống tham

nhũng của một số nước trên th ế gi ới, (Sách tham kh ảo), Nhà xu ất

bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

34. Bộ Chính trị (2007), Quy chế về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán

bộ (ban hành kèm theo Quyết định số 58-QĐ/TW, ngày 07-5-2007),

Hà Nội.

35. Bộ Chính tr ị (2008), Quy trình ki ểm tra c ủa Bộ Chính tr ị, Ban Bí th ư

(ban hành kèm theo Quy ết định số 173-QĐ/TW, ngày 08-7-2008),

Hà Nội.

36. Bộ Chính tr ị (2008), Quy trình xem xét, thi hành k ỷ lu ật và gi ải quy ết

khiếu nại kỷ luật đảng của Ban Ch ấp hành Trung ương, Bộ Chính

trị, Ban Bí th ư (ban hành kèm theo Quy ết định số 174-Q Đ/TW,

ngày 08-7-2008), Hà Nội.

37. Bộ Chính tr ị (2008), Quy trình Ban Ch ấp hành Trung ương xem xét, thi

hành kỷ lu ật đối với đảng viên là U ỷ viên Ban Ch ấp hành Trung

ương thay th ế Quy trình Ban Ch ấp hành Trung ương xem xét, thi

hành kỷ lu ật đối với đảng viên là U ỷ viên Ban Ch ấp hành Trung

ương đã ban hành t ại Quy ết định số 174-QĐ/TW, ngày 08-7-2008

của Bộ Chính tr ị (ban hành kèm theo Quy ết định số 195-Q Đ/TW,

ngày 19-11-2008), Hà Nội.

38. Bộ Chính trị (2008), Thông báo Kết luận số 130-TB/TW, ngày 10-1-2008

về tình hình, k ết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2006 đến

nay và giải pháp trong thời gian tới, Hà Nội.

158

39. Bộ Chính tr ị (2010), Kết lu ận số 72-KL/TW, ngày 17-5-2010 v ề Chi ến

lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2020, Hà Nội.

40. Bộ Chính trị (2010), Quy chế đánh giá cán bộ, công chức (ban hành kèm

theo Quyết định số 286-QĐ/TW, ngày 08-02-2010), Hà Nội.

41. Bộ Chính trị (2010), Quy trình giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng của Ban

Chấp hành Trung ương, Bộ Chính tr ị, Ba n Bí th ư (ban hành kèm

theo Quyết định số 321-QĐ/TW, ngày 06-8-2010), Hà Nội.

42. Bộ Chính trị (2011), Thông báo Kết luận số 68-TB/TW, ngày 30-12-2011

sơ kết trên 4 n ăm thực hi ện Ng hị quyết Trung ương 5 (khoá X) v ề

tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, Hà Nội.

43. Bộ Chính trị (2012), Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 24-02-2012 về việc thực

hiện Ngh ị quy ết Hội ngh ị lần th ứ tư Ban Ch ấp hành Trung ương

Đảng (khoá XI) "M ột số vấn đề cấp bách v ề xây d ựng Đảng hi ện

nay", Hà Nội.

44. Bộ Chính tr ị (2013), Quy định số 181-QĐ/TW, ngày 30-3-2013 v ề xử lý

kỷ luật đảng viên vi phạm, Hà Nội.

45. Bộ Chính trị (2013), Quy định giải quyết tố cáo đối với đảng viên là cán

bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí th ư quản lý (ban hành kèm theo

Quyết định số 210-QĐ/TW, ngày 08-11-2013), Hà Nội.

46. Bộ phận Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (2) (2005), Dự thảo Báo

cáo giải pháp phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh

đốn Đảng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, Hà Nội.

47. Nguyễn Văn Chi (2008), Công tác ki ểm tra, giám sát góp ph ần đổi mới

phương thức lãnh đạo của Đảng, Nhà xu ất bản Chính tr ị quốc gia,

Hà Nội.

48. Trường Chinh (1962), Công tác tư tưởng của Đảng, Nxb Sự thật, Hà Nội.

49. Chính phủ (2008), Báo cáo số 135/BC/CP, ngày 19-9-2008 v ề công tác

phòng, chống tham nhũng năm 2008, (Báo cáo Quốc hội), Hà Nội.

159

50. Chính phủ (2009), Báo cáo số 157/BC/CP, ngày 02-10-2009 về công tác

phòng, chống tham nhũng năm 2009, (Báo cáo Quốc hội), Hà Nội.

51. Chính phủ (2010), Báo cáo số 103/BC/CP, ngày 01-9-2010 v ề công tác

phòng, chống tham nhũng năm 2010, (Báo cáo Quốc hội), Hà Nội.

52. Chính ph ủ (2013), Nghị định số 78/2013/N Đ-CP, ngày 17-7-2013 v ề

minh bạch tài sản, thu nhập, Hà Nội.

53. Chính ph ủ (2013), Nghị định số 91/2013/N Đ-CP, ngày 12-8-2013 quy

định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân, Hà Nội.

54. Phạm Th ị Hải Chuy ền (Ch ủ biên) (2010), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí

Minh về công tác ki ểm tra, giám sát và k ỷ luật đảng, Nhà xu ất bản

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

55. Phạm Hồng Ch ương (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh v ề dân ch ủ, Nhà

xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội.

56. Đỗ Hùng C ường (2012), “M ột số vấn đề về th ẩm tra, xác minh trong

công tác kiểm tra”, Tạp chí Kiểm tra, (10), tr.46.

57. Bùi Mạnh Cường (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh với vấn đề chống tham

nhũng, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội.

58. Giang Trạch Dân (2003), Bàn về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Qu ốc,

Tập I-II, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

59. Lý Quang Di ệu (2001), Bí quy ết hóa r ồng - L ịch sử Singapore: 1965-

2000, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

60. Nguyễn Thị Doan (Chủ biên) (2006), Đổi mới công tác ki ểm tra, kỷ luật

nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng

mới, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

61. Nguyễn Trung Dong (2014), “Kinh nghi ệm về thẩm tra, xác minh trong

giải quyết tố cáo đối với đảng viên là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban

Bí thư quản lý”, Tạp chí Kiểm tra, (4), tr.36.

62. Nguyễn Ngọc Đán - Cao Văn Thống (Đồng chủ biên) (2012), Cẩm nang

về kỹ năng gi ải quy ết khi ếu nại kỷ lu ật của Đảng, Nhà xu ất bản

Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

160

63. Nguyễn Ngọc Đán - Cao Văn Thống (Đồng chủ biên) (2012), Cẩm nang

về kỹ năng gi ải quy ết tố cáo trong Đảng, Nhà xu ất bản Chính tr ị

quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

64. Đảng Cộng sản Trung Qu ốc (1997), Điều lệ công tác điều tra, Bản dịch

của Vụ Trung Quốc - Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương.

65. Đảng Cộng sản Trung Quốc (1997), Những chuẩn tắc liêm chính và điều

khoản liên quan , Bản dịch của Vụ Trung Qu ốc - Đông Bắc Á, Ban

Đối ngoại Trung ương.

66. Đảng Cộng sản Trung Qu ốc (1997), Quy định về vi ệc cán b ộ lãnh đạo

báo cáo nh ững vấn đề có liên quan đến bản thân, Bản dịch của Vụ

Trung Quốc - Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương.

67. Đảng Cộng sản Trung Qu ốc (2000), Một số chuẩn mực về cán bộ lãnh

đạo, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc làm việc liêm khiết, Bản

dịch của Vụ Trung Quốc - Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương.

68. Đảng Cộng sản Trung Qu ốc (2000), Một số quy định cán b ộ lãnh đạo

doanh nghiệp nhà nước làm việc liêm khiết, Bản dịch của Vụ Trung

Quốc - Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương.

69. Đảng Cộng sản Trung Qu ốc (2004), Điều lệ giám sát n ội bộ (thi hành

thử), Bản dịch của Vụ Trung Qu ốc - Đông Bắc Á, Ban Đối ngo ại

Trung ương.

70. Đảng Cộng sản Trung Qu ốc (2004), Điều lệ xử lý kỷ luật, Bản dịch của

Vụ Trung Quốc - Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương.

71. Đảng Cộng sản Trung Quốc (2005), Đề cương thực thi xây dựng, kiện toàn

hệ thống trừng trị và phòng ngừa tham nhũng, Bản dịch của Vụ Trung

Quốc - Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương.

72. Đảng Cộng sản Trung Qu ốc (2006), Quy định tạm th ời về tăng cường

quản lý đối với nhân viên công tác nhà n ước có vợ (chồng), con cái

định cư ở nước ngoài, Bản dịch của Vụ Trung Quốc - Đông Bắc Á,

Ban Đối ngoại Trung ương.

161

73. Đảng Cộng sản Trung Qu ốc (2008), Điều lệ công tác tu ần th ị Đảng

Cộng sản Trung Quốc (thi hành th ử), Bản dịch của Vụ Trung Quốc

- Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương.

74. Đảng Cộng sản Trung Quốc (2008), Điều lệ tạm thời về chế độ nhiệm kỳ

đối với Đại hội đại biểu toàn quốc và đại hội đại biểu các cấp, Bản

dịch của Vụ Trung Quốc - Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương.

75. Đảng Cộng sản Trung Qu ốc (2008), Thông tư về in phát "Quy ho ạch

công tác 2008-2012 xây dựng, kiện toàn hệ thống trừng trị và phòng

ngừa tham nh ũng", Bản dịch của Vụ Trung Qu ốc - Đông Bắc Á,

Ban Đối ngoại Trung ương.

76. Đảng Cộng sản Trung Quốc (2010), Chống tham nhũng và xây dựng liêm

khiết ở Trung Qu ốc, (Sách tr ắng), Bản dịch của Vụ Trung Qu ốc -

Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương.

77. Đảng Cộng sản Trung Qu ốc (2010), Quy định về thực hiện chế độ trách

nhiệm xây d ựng liêm chính trong Đảng, Bản dịch của Vụ Trung

Quốc - Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương.

78. Đảng Cộng sản Trung Quốc (2011), Quy định tạm thời về thực hiện chất

vấn trách nhi ệm đối với cán b ộ lãnh đạo Đảng, chính quy ền, Bản

dịch của Vụ Trung Quốc - Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương.

79. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn ki ện Đại hội đại biểu toàn qu ốc

lần thứ IV, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội.

80. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn ki ện Đại hội đại biểu toàn qu ốc

lần thứ VI, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội.

81. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn ki ện Đại hội đại biểu toàn qu ốc

lần thứ VII, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội.

82. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn ki ện Đại hội đại biểu toàn qu ốc

lần thứ VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

83. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp

hành Trung ương khóa VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

162

84. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn ki ện Đại hội đại biểu toàn qu ốc

lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

85. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp

hành Trung ương khóa IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

86. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp

hành Trung ương khóa IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

87. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn ki ện Đại hội đại biểu toàn qu ốc

lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

88. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp

hành Trung ương khóa X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

89. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Điều lệ (thông qua tại Đại hội biểu toàn

quốc lần thứ XI), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

90. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn ki ện Đại hội đại biểu toàn qu ốc

lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

91. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp

hành Trung ương khóa XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

92. Đảng Lao động Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn qu ốc

lần thứ III, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội.

93. Phạm Thành Đồng (2012), “Chứng cứ trong kiểm tra dấu hiệu vi phạm khi

phải tiến hành trưng cầu giám định”, Tạp chí Kiểm tra, (11-221), tr.42.

94. Lê Văn Gi ảng (Ch ủ biên) (2011), Nâng cao ch ất lượng dân ch ủ trong

công tác ki ểm tra, giám sát và thi hành k ỷ lu ật trong Đảng, Nhà

xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

95. Lê Tiến Hào (2004), Công tác ki ểm tra của Thành uỷ Hà Nội trong giai

đoạn hiện nay, Luận án Tiến sỹ Khoa học chính trị, Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

96. Đỗ Trung Hiếu (2004), Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân ch ủ ở Việt

Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

97. Mai Thanh Hiếu - Nguyễn Chí Công (2008), Trình tự, thủ tục giải quyết

các vụ án hình sự, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội.

163

98. Nguyễn Công H ọc (Ch ủ biên) (2012), Một số gi ải pháp b ảo đảm vi ệc

chấp hành kỷ luật và thi hành kỷ luật trong Đảng hiện nay, Nhà xuất

bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

99. Hội đồng Khoa h ọc các c ơ quan Đảng Trung ương (2010), Công tác

tham mưu tại các cơ quan Đảng Trung ương - Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

100. Lê Khắc Khoa (2010), “Về ngôn ngữ nói trong thẩm tra, xác minh”, Tạp

chí Kiểm tra, (2), tr.48.

101. V.I.Lênin (1970), Toàn tập, tập 31, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva.

102. V.I.Lênin (1970), Toàn tập, tập 32, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva.

103. V.I.Lênin (1974), Toàn tập, tập 37, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva.

104. V.I.Lênin (1974), Toàn tập, tập 39, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva.

105. V.I.Lênin (1976), Toàn tập, tập 41, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva.

106. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 42, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva.

107. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 43, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva.

108. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 44, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva.

109. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 45, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva.

110. V.I.Lênin - I.V.Xtalin (1974), Về dân ch ủ là k ỷ lu ật trong Đảng, Nhà

xuất bản Sự thật, Hà Nội.

111. V.I.Lênin (1998), Bàn về ki ểm kê, ki ểm soát , Nhà xu ất bản Chính tr ị

quốc gia, Hà Nội.

112. Lê Hồng Liêm (Chủ biên) (2010), Một số giải pháp tháo gỡ khó khăn, trở

ngại của uỷ ban ki ểm tra các cấp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra

khi có dấu hiệu vi phạm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

113. Lê Hồng Liêm (Chủ biên) (2011), Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

với phòng, ch ống tham nh ũng ở nước ta hi ện nay , Nhà xu ất bản

Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

114. Liên hợp quốc (2003), Công ước về chống tham nhũng.

164

115. Nguyễn Anh Liên (Ch ủ nhiệm) (2001), Cơ sở lý lu ận, thực tiễn đổi mới

và nâng cao hi ệu quả thẩm tra - xác minh trong công tác ki ểm tra

của Đảng, Đề tài khoa học cấp Ban Đảng Trung ương, Ủy ban Kiểm

tra Trung ương.

116. Vũ Đình Lợi (2013), “Th ẩm tra, xác minh - m ột khâu quan tr ọng trong

giải quyết tố cáo”, Tạp chí Kiểm tra, (9), tr.49.

117. C.Mác - Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nhà xu ất bản Chính tr ị

quốc gia, Hà Nội.

118. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nhà xu ất bản Chính tr ị quốc gia,

Hà Nội.

119. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 12, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,

Hà Nội.

120. Nguyễn Hoàng Minh (2011), Công tác ki ểm tra, giám sát c ủa Đảng bộ

tỉnh Bình Thu ận trong giai đoạn hi ện nay theo t ư tưởng Hồ Chí

Minh, Lu ận văn Th ạc sỹ Khoa h ọc chính tr ị, Học vi ện Chính tr ị -

Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

121. Phạm Thị Ngạn (Chủ nhiệm) (2007), Hệ thống kỹ năng nghiệp vụ trong

công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, Đề tài khoa học cấp Bộ,

Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Hà Nội.

122. Phạm Thị Ngạn (2013), “Các y ếu tố cấu thành trình độ nghiệp vụ thẩm

tra, xác minh của cán bộ kiểm tra”, Tạp chí Kiểm tra, (6), tr.45.

123. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2001), Tổ chức và hoạt động thanh tra,

kiểm tra, giám sát của một số nước trên thế giới, Hà Nội.

124. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2004), Các nghị quyết của Trung ương

Đảng 2001 - 2004 , (Sách ph ục vụ th ảo lu ận các d ự th ảo văn ki ện

Đại hội X), Hà Nội.

125. Nhà xuất bản Chính tr ị quốc gia (2004), Xây dựng đảng cầm quyền: Kinh

nghiệm của Việt Nam - Kinh nghiệm của Trung Quốc, Hội thảo lý luận

giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hà Nội.

165

126. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2004), Sách tra cứu các mục từ về tổ

chức, Hà Nội.

127. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2005), Một số văn bản của Nhà nước về

phòng, chống tham nhũng, Hà Nội.

128. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2005), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 1,

Hà Nội.

129. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng

Cộng sản Việt Nam, Hà Nội.

130. Nhà xu ất bản Công an nhân dân (2005), Từ điển Bách khoa Công an

nhân dân Việt Nam, Hà Nội.

131. Nhà xuất bản Sự thật (1970), Bộ Quốc triều hình luật, Hà Nội.

132. Nhà xu ất bản Thanh tra (2002), Chủ tịch Hồ Chí Minh v ới công tác

Thanh tra, Hà Nội.

133. Nhà xu ất bản Thông t ấn (2006), Học cách ch ống tham nh ũng - Kinh

nghiệm của báo chí nước ngoài, Hà Nội.

134. Nhà xuất bản Tư pháp (2006), Các quy định pháp lu ật về khiếu nại, tố

cáo và thanh tra, Hà Nội.

135. Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa - Nhà xuất bản Tư pháp (2006), Từ điển

Luật học, Hà Nội.

136. Phạm Đình Phi (2010), “Kinh nghi ệm th ẩm tra, xác minh trong gi ải

quyết khiếu nại kỷ luật đảng”, Tạp chí Kiểm tra, (8), tr.39.

137. Phuthắc Phítthanuson (2003), Công tác ki ểm tra c ủa Đảng Nhân dân

Cách mạng Lào trong giai đoạn hiện nay, Luận án ti ến sĩ Khoa học

chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

138. Quốc hội (2005) , Luật Phòng, ch ống tham nh ũng năm 2005 , Nhà xu ất

bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

139. Quốc hội (2005), Luật Thanh tra, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

140. Quốc hội (2012), Luật Khiếu nại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

141. Quốc hội (2012), Luật Tố cáo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

166

142. Phạm Đăng Quyền - Đặng Thị Thanh (2011), Sổ tay chiến thuật điều tra

hình sự, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.

143. Chănsyseng Sômphu (2011), Ch ất lượng công tác ki ểm tra c ủa ủy ban

kiểm tra Đảng và Nhà nước cấp tỉnh ở các tỉnh phía Bắc nước Cộng

hoà Dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến

sỹ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ

Chí Minh, Hà Nội.

144. Bùi Ngọc Thanh (2008), Một số vấn đề về xây d ựng Đảng và công tác

cán bộ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

145. Thanh tra Chính phủ (2008), Cải cách cơ chế kiểm tra tính hợp pháp của

các văn bản hành chính ở Trung Quốc, Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia, Hà Nội.

146. Thanh tra Nhà nước (1999), Những điều cần biết về pháp luật khiếu nại,

tố cáo, Công ty In Công đoàn Việt Nam, Hà Nội.

147. Bùi Văn Thể (Chủ biên) (2009), Giải pháp nâng cao ch ất lượng tự phê

bình và phê bình trong công tác ki ểm tra, giám sát và k ỷ luật đảng,

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

148. Trương Thị Thông (1996), Nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra

chuyên trách của Đảng trong tình hình hiện nay, Luận án Phó Tiến sỹ

Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

149. Thông tấn xã Nam Ninh (2003), Những vấn đề nóng bỏng của các cấp

lãnh đạo Trung Qu ốc sau Đại hội XVI (ph ần I) , (Tài li ệu tham

khảo), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

150. Cao Văn Th ống (2009), Tăng cường ki ểm tra, giám sát ph ục vụ nhi ệm

chính trị và công tác xây d ựng Đảng, Nhà xu ất bản Chính tr ị quốc

gia, Hà Nội.

151. Cao Văn Thống (Chủ biên) (2012), Cẩm nang về kỹ năng kiểm tra khi có

dấu hiệu vi phạm, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

152. Cao Văn Thống (Chủ biên) (2012), Đổi mới phương thức kiểm tra, giám

sát của Đảng giai đoạn hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia -

Sự thật, Hà Nội.

167

153. Cao Văn Th ống (2013), Kinh nghi ệm và gi ải pháp gi ải quy ết tố cáo

trong Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

154. Cao Văn Th ống (Ch ủ biên) (2011), Những vấn đề cơ bản về công tác

kiểm tra, giám sát và k ỷ lu ật của Đảng, Nhà xu ất bản Chính tr ị -

Hành chính, Hà Nội.

155. Cao Văn Thống (chủ biên) (2011), Tư tưởng Hồ Chí Minh v ề kiểm tra,

giám sát, k ỷ lu ật của Đảng, Nhà xu ất bản Chính tr ị qu ốc gia - S ự

thật, Hà Nội.

156. Cao Văn Thống - Đỗ Xuân Tuất (Đồng chủ biên) (2012), Nâng cao chất

lượng kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có d ấu hiệu

vi phạm, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, Hà Nội.

157. Tô Quang Thu (Chủ nhiệm) (2008), Thực trạng và giải pháp nâng cao kỹ

năng nghi ệp vụ cho cán b ộ ki ểm tra , Đề tài khoa h ọc cấp Bộ, Ủy

ban Kiểm tra Trung ương, Hà Nội.

158. Nguyễn Huy Thuật (2009), Sổ tay điều tra các tội phạm về trật tự xã hội,

(Sách chuyên kh ảo - L ưu hành n ội bộ), (Tái b ản, có ch ỉnh lý, b ổ

sung), Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.

159. Nguyễn Huy Thu ật (2010), Chiến thu ật điều tra hình s ự (Sách chuyên

khảo - Lưu hành nội bộ), Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.

160. Nguyễn Thành Ti ến (Biên d ịch) (2001), Trung Qu ốc được mùa ch ống

tham nhũng, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.

161. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình thanh tra và gi ải quyết

khiếu nại, tố cáo, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.

162. Nguyễn Thế Tư (2004), Nâng cao ch ất lượng kiểm tra đảng viên khi có

dấu hiệu vi phạm của uỷ ban kiểm tra huyện uỷ ở các tỉnh duyên hải

miền Trung hiện nay, Luận án Tiến sĩ Khoa học Chính trị, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

168

163. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Yên Bái (2004), Kết hợp giải quyết tố cáo với

kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm ở Đảng

bộ tỉnh Yên Bái, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

164. Ủy ban Kiểm tra Trung ương (2003), Báo cáo số 133-BC/KTTW, ngày 02-

10-2003 về ki ểm điểm công tác ki ểm tra và k ỷ luật của Đảng giữa

nhiệm kỳ, Hà Nội.

165. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2005), Báo cáo số 358-BC/KTTW, ngày

13-6-2005 về tổng kết thực hiện công tác kiểm tra của Đảng trong

gần 20 năm đổi mới, Hà Nội.

166. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2006), Báo cáo số 425-BC/KTTW, ngày

02-3-2006 về tổng kết công tác kiểm tra của ủy ban kiểm tra các cấp

nhiệm kỳ 2001 - 2005, Hà Nội.

167. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2007), Hướng dẫn số 07-HD/UBKTTW,

ngày 11-9-2007 th ực hi ện Quy ch ế về ch ế độ ki ểm tra, giám sát

công tác cán b ộ (ban hành kèm theo Quy ết định số 58-Q Đ/TW,

ngày 07-5-2007 của Bộ Chính trị), Hà Nội.

168. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2007), Hướng dẫn số 08-HD/UBKTTW,

ngày 28-9-2007 thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp

hành Trung ương Đảng (khoá X) v ề tăng cường công tác ki ểm tra,

giám sát của Đảng, Hà Nội.

169. Ủy ban Ki ểm tra Trung ương (2008), Báo cáo s ố 220-BC/UBKTTW,

ngày 15-12-2008 về kết quả thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và

kỷ luật đảng; việc thực hiện Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra

Trung ương trong nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng, Hà Nội.

170. Ủy ban Kiểm tra Trung ương (2008), Nâng cao chất lượng chấp hành kỷ

luật và vi ệc thi hành k ỷ luật trong Đảng khu vực miền Trung - Tây

Nguyên từ năm 2001-2008, Báo cáo chuyên đề, Hà Nội.

171. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2008), 60 năm truyền thống Ngành ki ểm

tra Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

169

172. Uỷ ban Kiểm tra Trung ương (2008), Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với

công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng, Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

173. Ủy ban Kiểm tra Trung ương (2009), Công tác phục vụ đại hội đảng của

uỷ ban kiểm tra các cấp, Nhà xuất bản Thời đại, Hà Nội.

174. Ủy ban Ki ểm tra Trung ương (2010), Báo cáo s ố 390-BC/UBKTTW,

ngày 05-10-2010 tổng kết công tác kiểm tra của ủy ban kiểm tra các

cấp nhiệm kỳ 2006-2010, Hà Nội.

175. Ủy ban Kiểm tra Trung ương (2012), Công tác ki ểm tra, giám sát và thi

hành kỷ luật trong Đảng (Tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ), Nhà xu ất

bản Tài chính, Hà Nội.

176. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2012), Hướng dẫn số 03-HD/UBKTTW,

ngày 15-3-2012 thực hiện Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01-11-2011

của Ban Ch ấp hành Trung ương về nh ững điều đảng viên không

được làm, Hà Nội.

177. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2012), Hướng dẫn số 04-HD/UBKTTW,

ngày 15-3-2012 về công tác kiểm tra, giám sát thực hiện Nghị quyết

Hội ngh ị lần th ứ tư Ban Ch ấp hành Trung ương Đảng (khoá XI)

"Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", Hà Nội.

178. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2012), Hướng dẫn số 05-HD/UBKTTW,

ngày 17-4-2012 thực hiện Quy định về công tác kiểm tra của tổ chức

đảng đối với vi ệc tu d ưỡng, rèn l uyện đạo đức của cán b ộ, đảng

viên, Hà Nội.

179. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2012), Kế ho ạch số 52-HD/UBKTTW,

ngày 23-3-2012 th ực hiện Thông báo k ết luận của Bộ Chính tr ị sơ

kết trên 4 năm thực hiện nghị quyết Trung ương 6 (khoá X) v ề tăng

cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, Hà Nội.

180. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2012), Quy trình tiến hành công tác ki ểm

tra, giám sát và thi hành k ỷ luật đảng của Uỷ ban Ki ểm tra Trung

170

ương (ban hành kèm theo Quy ết định số 1084-QĐ/UBKTTW, ngày

05-12-2012), Hà Nội.

181. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2013), 65 năm truyền thống Ngành ki ểm

tra Đảng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

182. Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Các Báo cáo của các đoàn công tác Uỷ ban

Kiểm tra Trung ương về kết qu ả nghiên cứu, học tập, trao đổi kinh

nghiệm về công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng tại Trung Quốc, Lào;

về phòng, ch ống tham nh ũng tại Trung Qu ốc, Australia, Singapore,

Đức, Italia, Pháp, Hàn Quốc,… kết quả tham dự các Hội thảo quốc tế

về công tác phòng, chống tham nhũng tại Mỹ, Anh, Malaysia...

183. Uỷ ban Kiểm tra Trung ương (2013), Hệ thống mẫu văn bản nghiệp vụ về

công tác kiểm tra, giám sát và thi hành k ỷ luật đảng (ban hành kèm

theo Quyết định số 1403-QĐ/UBKTTW, ngày 29-7-2013), Hà Nội.

184. Uỷ ban Kiểm tra Trung ương (2013), Hướng dẫn số 09-HD/UBKTTW, ngày

06-6-2013 thực hiện một số điều của Quy định số 181-QĐ/TW, ngày

30-3-2013 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm Hà Nội.

185. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2013), Quy định về phát hi ện, xác định

dấu hiệu vi phạm, quyết định kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới, đảng

viên khi có d ấu hi ệu vi ph ạm (ban hành kèm theo Quy ết định số

1319-QĐ/UBKTTW, ngày 10-6-2013), Hà Nội.

186. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2013), Quy định số 08-Q Đ/UBKTTW,

ngày 18-6-2013 về tổ chức, hoạt động của đoàn kiểm tra, giám sát

của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, Hà Nội.

187. Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương (2013), Thông báo K ết lu ận số 433-

TB/UBKTTW, ngày 09-5-2013 làm rõ m ột số vấn đề về công tác

kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, Hà Nội.

188. Uỷ ban Ki ểm tra K ỷ lu ật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Qu ốc

(2012), Báo cáo công tác trình Đại hội Đảng toàn qu ốc lần th ứ

XVIII (thông qua tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng

171

Cộng sản Trung Qu ốc, ngày 14-11-2012) , Bản dịch của Vụ Trung

Quốc - Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương.

189. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2005), Pháp lệnh Chống tham nhũng và văn

bản hướng dẫn thi hành, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội.

190. Uỷ ban Th ường vụ Quốc hội (2008), Báo cáo kết quả giám sát vi ệc thi

hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo, Hà Nội.

191. Văn phòng Ban C hỉ đạo Trung ương về phòng, ch ống tham nh ũng

(2009), Một số văn bản của Đảng và Nhà n ước về phòng, ch ống

tham nhũng, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.

192. Văn phòng Ban Ch ỉ đạo Trung ương về phòng, ch ống tham nh ũng, Bản

tin phòng, ch ống tham nh ũng, số 31 (tháng 2/2010), s ố 32 (tháng

8/2010) số 34 (10/2010), số 37 (01/2011), số 38 (02/2011).

193. Viện Chiến lược và Khoa học Công an (2005), Từ điển Bách khoa Công

an nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.

194. Viện Khoa học Pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển

bách khoa - Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội.

195. Viện Nghiên c ứu Khoa h ọc Công an (1977), Từ điển Nghi ệp vụ ph ổ

thông, Hà Nội.

196. Viện Ngôn ngữ học (2000), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng.

197. Hồng Vĩ (2004), Các biện pháp ch ống tham nhũng ở Trung Quốc (Sách

tham khảo), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

198. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1999), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn

hóa Thông tin, Hà Nội.

172

PHỤ LỤC

1. Nguồn: Các Báo cáo c ủa Uỷ ban Ki ểm tra Trung ương về tổng kết

công tác ki ểm tra của ủy ban ki ểm tra các c ấp nhi ệm kỳ Đại hội IX (2001-

2006), nhiệm kỳ Đại hội X (2006-2011), năm 2011, năm 2012, năm 2013.

2. Chú thích các chữ viết tắt trong phần Phụ lục:

BTV : ban th ường vụ

THKL : thi hành k ỷ luật

UBKT : u ỷ ban kiểm tra