BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ NGỌ

THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ

TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2022

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ NGỌ

THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ

TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY

: Triết học Ngành

: 9.22.90.01 Mã số

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS,TS. Lê Văn Lợi

PGS,TS. Nguyễn Minh Hoàn

HÀ NỘI - 2022

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,

kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đã

đƣợc trích dẫn đầy đủ theo quy định.

Hà Nội, ngày……..tháng…….năm 2022

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Ngọ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng

CNXH : Chủ nghĩa xã hội

DCCS : DCCS

HĐND : Hội đồng nhân dân

HTCT : Hệ thống chính trị

NTM : Nông thôn mới

QCDC : Quy chế dân chủ

UBND : Ủy ban nhân dân

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ................................................................... 8 1.1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng ..................... 8 1.2. Khái quát kết quả chủ yếu của những công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết ......... 31 Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG ............................. 36 2.1. Quan niệm cơ bản về thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ..................................................................................................... 36 2.2. Chủ thể, nội dung, hình thức thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ............................................................................................ 55 2.3. Vai trò và những yếu tố tác động đến thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng hiện nay ............................... 65 Chƣơng 3: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY ........................................................... 76 3.1. Khái quát đặc điểm vùng đồng bằng sông Hồng tác động đến thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới .................................. 76 3.2. Thực trạng thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng ....................................................................... 80 3.3. Nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra hiện nay .................................................................................................... 109 Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƢỚNG, MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƢỜNG THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG THỜI GIAN TỚI .......................................................................................................... 125 4.1. Quan điểm định hƣớng tăng cƣờng thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng ................................ 125 4.2. Một số giải pháp chủ yếu tăng cƣờng thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng ......................... 136 KẾT LUẬN ....................................................................................................... 163 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ........................................................................................ 165 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 166 PHỤ LỤC .......................................................................................................... 181

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.2.1a: Mức độ hiệu quả hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng,

chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-

xã hội trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM ............. 84

Biểu đồ 3.2.1b: Tƣơng quan địa phƣơng khảo sát và đánh giá ngƣời dân thực

hiện nhận thức về vai trò chủ thể trong thực hiện quyền “dân

biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ

hƣởng” trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM .......... 89

Biểu đồ 3.2.2a: Mức độ công khai nội dung trong xây dựng NTM mà ngƣời

dân đã nhận định .................................................................... 93

Biểu đồ 3.2.2b: Mức độ thực hiện tổ chức cho ngƣời dân đƣợc tham gia bàn

những nội dung cụ thể trong xây dựng NTM ...................... 94

Biểu đồ 3.2.2c: Mức độ ngƣời dân đƣợc tham gia làm những nội dung trong

xây dựng NTM ....................................................................... 95

Biểu đồ 3.2.2d: Mức độ ngƣời dân đƣợc tham gia kiểm tra, giám sát những

nội dung trong xây dựng NTM ........................................... 100

Biểu đồ 3.2.2e: Đánh giá mức độ ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng những thành

quả gì từ thực hành DCCS trong xây dựng NTM ............. 103

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam vấn đề dân chủ

luôn là mục tiêu, động lực của sự phát triển đất nƣớc tiến tới xây dựng và hoàn

thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đối với mỗi giai đoạn phát triển

của xã hội, dân chủ đều mang những bản chất và đặc trƣng riêng; mỗi bƣớc tiến

của lịch sử xã hội đều bao gồm những tiến bộ nhất định về dân chủ. Dân chủ là

xu hƣớng và khát vọng giải phóng, hƣớng tới tự do và làm chủ của con ngƣời.

Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam, chế độ dân

chủ XHCN đƣợc dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí

Minh cùng với quá trình vận dụng vào thực tiễn dân chủ; trong đó, dân chủ cơ sở

(DCCS) luôn đƣợc xác định là nhiệm vụ cốt lõi, trọng tâm góp phần xây dựng và

hoàn thiện nền dân chủ XHCN ở Việt Nam. Trải qua quá trình vận dụng vào

thực tiễn DCCS, Đảng, Nhà nƣớc ta đã ban hành những Chỉ thị, Quy chế, Nghị

định nhằm hƣớng dẫn, chỉ đạo thực hiện DCCS: Chỉ thị số 30- CT/TW của Bộ

chính trị ngày 18/2/1998 về “xây dựng, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”;

Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 1998 về việc ban hành Quy

chế thực hiện dân chủ ở xã; Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH ngày 20 tháng 4

năm 2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phƣờng, thị trấn, nhằm nâng cao hiệu lực,

hiệu quả thực hành DCCS, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh

vực kinh tế- chính trị- văn hóa- xã hội. Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta khẳng

định: “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần

Cƣơng lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất

cả quyền lực nhà nƣớc thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ

trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Làm tốt, có hiệu quả

phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ

hưởng””. Điều này cho thấy, Đảng ta ngày càng nhận thức sâu sắc và toàn diện

hơn về DCCS và thực hành DCCS nhằm hƣớng đến mục tiêu xây dựng, hoàn

thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm ngƣời dân đƣợc thực hiện quyền

làm chủ, quyết định trực tiếp các vấn đề vận mệnh của đất nƣớc.

2

Thực hiện chiến lƣợc phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc, Đảng, Nhà

nƣớc ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn; coi đó

là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của cả hệ thống chính trị từ Trung ƣơng đến cơ

sở; xây dựng nông thôn mới (NTM) nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần

cho ngƣời dân, cải thiện diện mạo nông thôn, rút ngắn khoảng cách giữa khu vực

thành thị và nông thôn. Đảng, Nhà nƣớc ta đã ban hành Nghị quyết số 26- NQ/TW

ngày 05 tháng 8 năm 2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chƣơng trình

mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010- 2020; 2016- 2020; 2021-

2025 tạo bƣớc đột phá, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp phát triển kinh tế- xã

hội của đất nƣớc. Đồng thời, Nghị quyết TW 5 Khóa XIII, Đảng ta xác định: “Nông

nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lƣợc lâu dài trong sự nghiệp đổi mới,

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở và lực lƣợng quan trọng để phát triển nhanh,

bền vững kinh tế- xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh,

bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con ngƣời Việt Nam, bảo vệ môi

trƣờng sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế”.

Trong đó, Đảng ta nhấn mạnh, xây dựng NTM phải lấy ngƣời dân là trung tâm,

phát huy quyền làm chủ của ngƣời dân, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân

chung sức, tham gia xây dựng NTM; đề cao vấn đề phát huy dân chủ và thực hành

dân chủ, coi đó là nhiệm vụ quan trọng, then chốt trong chiến lƣợc phát triển kinh tế

đất nƣớc. Thực hành DCCS và xây dựng NTM là hai nhiệm vụ có mối quan hệ tác

động qua lại với nhau, là điều kiện, tiền đề cho nhau để thực hiện nhiệm vụ kinh tế

và chính trị quan trọng của đất nƣớc. Thực hành DCCS theo phƣơng châm “dân

biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” là điều kiện để

thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng NTM; xây dựng thành công NTM bảo đảm

cho quyền dân chủ đƣợc thực hiện trên thực tế.

Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là vùng kinh tế trọng điểm của cả nƣớc,

có điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông

thôn; là vùng có sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hƣớng hiện đại, công

nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển. Đây cũng là vùng có tốc độ xây dựng NTM

nhanh nhất cả nƣớc; điều này cho thấy, việc triển khai thực hiện DCCS trong

3

xây dựng NTM đạt đƣợc nhiều thành tựu, phát huy đƣợc vai trò chủ thể của

ngƣời dân trong tham gia xây dựng NTM; kịp thời phát hiện những sai phạm

trong quá trình thực hiện dân chủ, những hiện tƣợng quan liêu, tham nhũng, trục

lợi cá nhân trong thực hiện xây dựng NTM.

Thực tế cho thấy, bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc vấn đề thực hành

DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH vẫn còn một số tồn tại, hạn chế:

quyền làm chủ của nhân dân chƣa đƣợc thực hiện một cách hiệu quả, một số địa

phƣơng để xảy ra vi phạm quyền dân chủ trong thực hiện xây dựng NTM; tồn tại

các vụ việc tham ô, tham nhũng; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của ngƣời dân

liên quan đến những nội dung xây dựng NTM còn chƣa thỏa đáng; gây ảnh

hƣởng đến niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nƣớc ta và ảnh hƣởng đến chất

lƣợng xây dựng NTM. Cho đến nay, cũng chƣa có công trình nào đi sâu nghiên

cứu vấn đề thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Xuất phát từ

thực tế đó, tác giả quyết định chọn: “Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng

nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay” làm đề tài luận án tiến

sĩ chuyên ngành Triết học.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của thực hành DCCS

trong xây dựng nông thôn mới ở vùng ĐBSH, luận án đề xuất quan điểm định

hƣớng, một số giải pháp chủ yếu tăng cƣờng thực hành DCCS trong xây dựng

nông thôn mới ở vùng ĐBSH hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu, luận án tập trung thực hiện một số

nhiệm vụ cụ thể nhƣ sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến thực hành DCCS trong

xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

- Làm rõ một số cơ sở lý luận của thực hành DCCS trong xây dựng nông

thôn mới ở vùng đồng bằng.

4

- Phân tích thực trạng thực hành DCCS trong xây dựng nông thôn mới ở

vùng ĐBSH và những vấn đề đặt ra hiện nay.

- Nêu quan điểm định hƣớng, đề xuất một số giải pháp chủ yếu tăng cƣờng

thực hành DCCS trong xây dựng nông thôn mới ở vùng ĐBSH thời gian tới.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là thực hành DCCS trong xây dựng

nông thôn mới ở vùng ĐBSH hiện nay.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt nội dung: Luận án đi vào nghiên cứu thực hành DCCS trong xây

dựng NTM ở vùng ĐBSH theo hai nội dung nhƣ sau:

Một là, nghiên cứu vấn đề thực hành DCCS theo Quy chế DCCS gắn với

phƣơng châm Đại hội XIII của Đảng ta:“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm

tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Hai là, nghiên cứu nội dung thực hiện xây dựng NTM gắn với thực hiện

những tiêu chí cơ bản sau: 1- nhóm tiêu chí quy hoạch (quy hoạch và thực hiện

quy hoạch); 2- nhóm tiêu chí hạ tầng kinh tế- xã hội (giao thông, thủy lợi, trƣờng

học, cơ sở vật chất văn hóa); 3- nhóm tiêu chí về văn hóa- xã hội- môi trƣờng

(giáo dục, y tế, văn hóa, môi trƣờng); 4- nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị.

- Về không gian: Luận án đi vào nghiên cứu khảo sát thực tiễn 3 tỉnh

thuộc vùng ĐBSH về vấn thực hành DCCS trong xây dựng NTM đó là: Vĩnh

Phúc, Bắc Ninh, Nam Định và nghiên cứu ở phạm vi cấp xã. Trong đó, Nam

Định là một trong hai tỉnh về đích NTM đầu tiên của cả nƣớc có kết quả xây

dựng NTM cao nhất trong vùng và đang triển khai xây dựng NTM kiểu mẫu,

NTM nâng cao; tỉnh Vĩnh Phúc là tỉnh đầu tiên, khởi nguồn cho tƣ tƣởng khóan

nông và cũng là tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn, là cầu

nối các tỉnh Tây Bắc với ĐBSH; Bắc Ninh là tỉnh tập trung nhiều khu công

nghiệp, có sự chuyển đổi mạnh mẽ theo hƣớng CNH, HĐH đặt ra nhiều vấn đề

trong thực hành dân chủ gắn với thực hiện tiêu chí quy hoạch và môi trƣờng.

5

- Về mặt thời gian: Luận án nghiên cứu vấn đề thực hành DCCS trong xây

dựng nông thông mới ở vùng ĐBSH từ năm 2016 đến nay, theo Quyết định số

1600/ QĐ- TTg, ngày 8/6/2016, Phê duyệt chƣơng trình mục tiêu quốc gia về

xây dựng NTM giai đoạn 2016- 2020 và Quyết định số 263/QĐ- TTg, ngày 22

tháng 2 năm 2022, Phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM

giai đoạn 2021- 2025.

4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án

4.1. Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ

Chí Minh, những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc ta về

thực hành DCCS và xây dựng NTM. Đồng thời, kế thừa, vận dụng lý thuyết

khoa học liên ngành có liên quan đến đề tài luận án để luận giải, làm sáng tỏ mục

đích, nhiệm vụ, nội dung của luận án.

4.2. Cơ sở thực tiễn

Luận án chú trọng kế thừa những kết quả của các nghiên cứu lý luận và

thực tiễn có liên quan đến đề tài của các tác giả đi trƣớc. Các báo cáo tổng kết

kết quả thực hiện Quy chế DCCS ở các địa phƣơng, báo cáo tổng kết quá trình

thực hiện xây dựng NTM. Ngoài ra luận án cũng thực hiện khảo sát thực tiễn 03

tỉnh thuộc vùng ĐBSH thời gian qua.

4.3. Phương pháp nghiên cứu

Tác giả luận án sử dụng phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện

chứng, duy vật lịch sử; đồng thời kết hợp sử dụng phƣơng pháp phân tích và

tổng hợp; khái quát hóa, trừu tƣợng hóa, cụ thể hóa; lô-gic và lịch sử; quy nạp-

diễn dịch.

Tác giả luận án cũng sử dụng phƣơng pháp khảo sát điều tra xã hội học

bằng bảng hỏi để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ của luận án cụ thể: tác giả

luận án tiến hành khảo sát 600 phiếu khảo sát dành cho 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc

Ninh và Nam Định dƣới 2 hình thức khảo sát online và phát phiếu trực tiếp tại

địa bàn các tỉnh khảo sát; đối tƣợng khảo sát là những cán bộ, ngƣời dân sinh

sống trên địa bàn; thời gian khảo sát đƣợc thực hiện tháng 2 năm 2022.

6

5. Đóng góp mới của luận án

Luận án có một số đóng góp sau đây:

- Thứ nhất, luận án góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về dân chủ,

DCCS, thực hành DCCS và thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Luận án tập

trung làm rõ hoạt động của chủ thể, nội dung, hình thức của thực hành DCCS trong

xây dựng NTM ở vùng đồng bằng; đồng thời, xác định rõ vai trò và những yếu tố

tác động đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng.

- Thứ hai, luận án đi vào khái quát những đặc điểm vùng ĐBSH; chỉ ra

những yếu tố đặc thù của vùng ĐBSH tác động đến thực hành DCCS trong xây

dựng NTM ở vùng ĐBSH; tập trung phân tích, đánh giá thực trạng thực hành

DCCS trong xây dựng NTM trên cơ sở đánh giá những thành tựu, hạn chế; chỉ ra

nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với thực

hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH giai đoạn hiện nay cần tập

trung giải quyết.

- Thứ ba, luận án đƣa ra một số quan điểm định hƣớng và đề xuất giải

pháp tăng cƣờng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH trong

thời gian tới.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1. Về lý luận

- Ở một mức độ nhất định, luận án góp phần làm sáng tỏ lý luận về thực

hành DCCS; đặc biệt làm rõ việc thực hiện “quyền giám sát” và “quyền thụ

hƣởng” gắn với nội dung, tiêu chí trong xây dựng NTM.

- Luận án có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,

giảng dạy Triết học Mác- Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học về vấn đề dân chủ

và phát huy DCCS; bằng phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,

duy vật lịch sử để nghiên cứu ý nghĩa, tầm quan trọng của thực hành DCCS, là

điều kiện, tiền đề để tiến tới xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ

nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.

7

6.2. Về thực tiễn

- Luận án đã có đánh giá khách quan về việc thực hành DCCS trong quá

trình xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh ĐBSH và đề xuất đƣợc một số giải

pháp khả thi tăng cƣờng thực hành DCCS trong xây dựng nông thôn mới ở vùng

ĐBSH trong thời gian tới.

- Luận án có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng,

hoạch định chiến lƣợc phát huy DCCS và chiến lƣợc xây dựng NTM ở Việt Nam

trong những giai đoạn tiếp theo.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận

án có kết cấu gồm 4 chƣơng 10 tiết nhƣ sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến thực hành dân

chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng.

Chương 2: Cơ sở lý luận của thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng

nông thôn mới ở vùng đồng bằng.

Chương 3: Thực trạng thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn

mới ở vùng đồng bằng sông Hồng và những vấn đề đặt ra hiện nay.

Chương 4: Quan điểm định hƣớng, một số giải pháp chủ yếu tăng cƣờng

thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông

Hồng trong thời gian tới.

8

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN

MỚI Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

1.1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến thực hành dân chủ

cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng

1.1.1. Những công trình nghiên cứu trong nước

1.1.1.1. Những công trình đề cập đến lý luận về thực hành dân chủ cơ sở

trong xây dựng nông thôn mới

Dân chủ là vấn đề đƣợc các nhà kinh điển mác xít đề cập đến từ rất sớm

khi nghiên cứu về sự vận động phát triển của xã hội và bản chất của nhà nƣớc.

Các công trình của các nhà khoa học nghiên cứu những quan điểm của C. Mác

và Ph. Ăngghen về dân chủ phải kể đến nhƣ:

Tác giả Dƣơng Trung Ý (2013) có bài viết: “Quan điểm của V.I.Lênin về

dân chủ và phát huy dân chủ trong Đảng”[166]. Tác giả đã khái quát nội dung

quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ và tầm quan trọng của việc thực hiện dân

chủ đối với các đảng chính trị thuộc giai cấp công nhân; tập trung phân tích

những luận điểm của V.I.Lênin về phát huy dân chủ trong Đảng đặc biệt là

nguyên tắc tập trung dân chủ. Dân chủ trong Đảng phải gắn liền với tập trung, đi

đến tập trung, thống nhất trong tổ chức Đảng. Đảng ta tiếp tục hoàn thiện, cụ thể

hóa, quy chế hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cƣờng tính công khai, minh

bạch trong hoạt động của các cấp ủy, tổ chức Đảng và cơ quan nhà nƣớc; thực

hiện dân chủ, công khai trong bầu cử và công tác cán bộ, tiếp tục đẩy mạnh thực

hiện phê bình và tự phê bình, xóa bỏ những bất bình đẳng, chênh lệch về chế độ,

chính sách trong Đảng, Nhà nƣớc và các tổ chức chính trị xã hội.

Tác giả Nguyễn Đình Minh (2014) với bài viết:“Sự lãnh đạo của Đảng

Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định chế độ dân chủ ở nước ta hiện

nay”[84]. Trong bài viết, tác giả trình bày những yếu tố tác động đến tình hình

đất nƣớc ta; các thế lực thù địch chống phá hoạt động lãnh đạo của Đảng. Đảng

phải biết phát huy sức mạnh của nhân dân, tập hợp quần chúng nhân dân tham

gia đóng góp ý kiến.

9

Tác giả Trần Thị Minh Tuyết, Vũ Thị Thanh Huyền (2016) với bài viết

“Vai trò của dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong Văn kiện

Đại hội lần thứ XII của Đảng”[147]. Bài viết trình bày quan điểm của Hồ Chí

Minh về vai trò của dân chủ, tác giả đi vào phân tích sự vận dụng của Đảng

Cộng sản Việt Nam về dân chủ theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh theo tinh thần Đại

hội XII. Đảng ta luôn lấy chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh làm nền

tảng tƣ tƣởng, kim chỉ nam cho hành động, lãnh đạo cách mạng Việt Nam và

xây dựng đất nƣớc đi lên CNXH; đề ra những phƣơng hƣớng và nhiệm vụ cụ thể

nhằm thực thi dân chủ; nhấn mạnh quyền làm chủ của ngƣời dân trên tất cả các

mặt của đời sống xã hội.

Tác giả Nguyễn Tất Viễn (2017) có bài viết: “Phê phán quan điểm cho

rằng thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ chỉ dẫn đến tập trung quan liêu,

mất dân chủ”[159]. Tác giả đã khái quát những quan điểm cơ bản của C.Mác và

Ph. Ăngghen khởi thảo sau này đƣợc V.I.Lênin khái quát về nguyên tắc tập

trung dân chủ và đƣợc xác định là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng Cộng sản.

Tác giả đã phân tích những luận điểm của C.Mác và Ph. Ăngghen về dân chủ chỉ

ra bản chất, nguồn gốc của dân chủ; cơ chế thực hành nền dân chủ XHCN; tính

giai cấp của nền dân chủ XHCN; vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản.

Cuốn sách của tác giả Nguyễn Tài Đông, Trần Tuấn Phong, Cao Thu

Hằng (Đồng chủ biên) (2018), Tư tưởng của C. Mác về công bằng xã hội với dân

chủ và ý nghĩa hiện thời của nó [44]. Cuốn sách tập trung vào ba phần chính đó là:

Quan niệm của C. Mác về công bằng xã hội và dân chủ; giá trị và sự vận dụng

phát triển quan niệm của C. Mác về công bằng xã hội, dân chủ vào thực tiễn Việt

Nam; kinh nghiệm quốc tế về việc vận dụng phát triển quan niệm của C. Mác về

công bằng xã hội, dân chủ. Tác giả đã nêu lên ý nghĩa lý luận, luận điểm của C.

Mác về công bằng xã hội, dân chủ và những quan niệm của C. Mác về công bằng

xã hội và dân chủ; từ đó tổng kết cơ sở đƣa ra những giá trị và sự vận dụng phát

triển quan niệm của C. Mác vào thực tiễn Việt Nam và trên thế giới.

Tác giả Tạ Ngọc Tấn (2018) có bài viết: “Từ tư tưởng của C.Mác về dân

chủ đến xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”[115].

Tác giả Tạ Ngọc Tấn đã phân tích tƣ tƣởng của C. Mác về bản chất của dân chủ,

với tính chất là một chế độ nhà nƣớc, trong đó nhân dân giữ vai trò trung tâm; sự

10

khác biệt về bản chất giữa chế độ dân chủ với chế độ quân chủ; sự tham gia

chính trị của nhân dân là yếu tố cốt lõi, quyết định đối với vai trò làm chủ của

nhân dân trong chế độ nhà nƣớc dân chủ; quy luật vận động, phát triển của xã

hội trong đó kinh tế là một yếu tố quan trọng.

Tiếp theo đó, bài viết: “Chủ nghĩa Mác- Lênin về dân chủ xã hội chủ

nghĩa: giá trị bền vững và những luận điểm cần làm sáng tỏ”[105] của tác giả

Nguyễn Văn Quyết, Hà Minh Hoàn (2019) cũng phân tích những quan điểm của

C.Mác và Ph. Ăngghen về dân chủ và đƣa ra nhận định dân chủ XHCN là những

nội dung cốt lõi trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH.

Tác giả tập trung phân tích những giá trị cốt lõi về dân chủ XHCN cần phải bổ

sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện hiện nay.

Bài viết của Lê Minh Quân (2021), “Quan điểm của các nhà kinh điển

chủ nghĩa Mác- Lênin về dân chủ và ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới ở Việt

Nam”[99]. Tác giả đƣa ra và phân tích tƣ tƣởng của C. Mác, Ph.Ăngghen và

V.I.Lênin về dân chủ với những giá trị khoa học mang tính thực tiễn đó là: nhận

thức về dân chủ trên lập trƣờng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa

duy vật lịch sử, tạo ra sự thay đổi có tính cách mạng trong nhận thức và thực

hành dân chủ; xác định giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của dân chủ tƣ sản trên

tinh thần khoa học và cách mạng; hình thành quan điểm về dân chủ nhằm giải

quyết những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng vô sản và sự nghiệp xây dựng chủ

nghĩa xã hội (CNXH).

Bài viết của tác giả Trần Thanh Giang (2021), “Quan điểm của Đảng

Cộng sản Việt Nam về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm

chủ của nhân dân trong giai đoạn hiện nay”[46]. Tác giả đã trình bày những

nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát huy dân chủ XHCN. Đồng thời,

phân tích thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của thực hiện dân chủ XHCN ở

Việt Nam. Từ đó, tác giả chỉ ra những định hƣớng của Đảng trong việc phát huy

dân chủ XHCN, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong thời gian tới.

Những công trình đề cập đến lý luận về DCCS và thực hành DCCS

Cuốn sách: “Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về dân chủ trực tiếp, DCCS

trên thế giới và Việt Nam” của tác giả Đào Trí Úc và các cộng sự (2014)[148].

Cuốn sách gồm tập hợp những bài tham luận tại Hội thảo “Dân chủ trực tiếp,

11

DCCS trên thế giới và ở Việt Nam”. Các bài viết đều tập trung đƣa ra quan niệm

về dân chủ; dân chủ trực tiếp, DCCS; đồng thời, có bài viết tập trung phân tích

các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp, DCCS. Có bài viết phân tích về thực

hiện DCCS của các nƣớc trên thế giới, mô hình thực hiện dân chủ của các nƣớc

trên thế giới; qua đó, tham chiếu với thực tiễn thực hiện DCCS ở Việt Nam.

Đồng thời, cuốn sách cũng phân tích thực trạng vấn đề DCCS và đƣa ra những

giải pháp nâng cao chất lƣợng thực hiện DCCS ở Việt Nam.

Bài viết của tác giả Đoàn Mạnh Hùng (2018): “Thực hành dân chủ trong

di sản tư tưởng Hồ Chí Minh” [57]. Thực hành dân chủ là một trong những nội

dung cốt lõi trong di sản dân chủ của Hồ Chí Minh đƣợc thể hiện ở cả hai mặt lý

luận và thực tiễn thực hành dân chủ. Tác giả đã trình bày những nội dung cốt lõi

về thực hành dân chủ của Hồ Chí Minh thể hiện ở các khía cạnh: mục đích thực

hành dân chủ; nội dung thực hành dân chủ trên lĩnh vực chính trị; thực hành dân

chủ trong Đảng; những điều kiện thực hành dân chủ; những giá trị về thực hành

dân chủ trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh đã để lại cho sự nghiệp xây dựng đất nƣớc

của Đảng và Nhà nƣớc ta.

Tác giả Nguyễn Văn Thâm (2019) với bài viết “Một số vấn đề lý luận về

DCCS và vai trò của DCCS”, Tạp chí Tổ chức nhà nƣớc [124]. Theo đó, tác giả

đƣa ra những quan niệm của các nhà khoa học khác nhau về dân chủ và DCCS,

từ đó rút ra khái niệm cơ bản về dân chủ và DCCS; vai trò của DCCS có ảnh

hƣởng mạnh mẽ đến quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN.

Trong bài viết, tác giả đã nêu lên vấn đề đặt ra để đảm bảo ngƣời dân đƣợc thực

hiện quyền dân chủ và DCCS của mình; ngƣời dân đƣợc hƣớng dẫn nhƣ thế nào

để hiểu rõ giới hạn, nội dung quyền dân chủ của mình và làm thế nào để ngƣời

dân nhận thức đúng đắn về quyền dân chủ của mình.

Bài viết: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ, dân chủ ở xã,

phường, thị trấn và đơn vị sự nghiệp công lập” [102] của tác giả Nguyễn Đình

Quyền (2019) đã trình bày khái quát một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân

chủ, về dân chủ ở xã, phƣờng, thị trấn và trong đơn vị sự nghiệp công lập, về kết

quả đạt đƣợc cũng nhƣ những hạn chế, bất cập trong thời gian qua: dân chủ

mang tính hình thức; chƣa đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, liên tục; nhiều nơi còn

xảy ra hiện tƣợng vi phạm quyền dân chủ của ngƣời dân.

12

Tổng kết quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, tác giả Ngô Văn Sỹ

(2021) có bài viết: “Nhìn lại 20 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”[113].

Tác giả đã trình bày những thành tựu nổi bật về việc thực hiện Quy chế dân chủ ở

cơ sở sau hơn 20 năm Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 30 về xây dựng và thực

hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; vai trò, tính tích cực, chủ động của nhân dân trong

việc tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến vào những công việc của địa phƣơng

trong việc xây dựng và hoạch định chính sách; nhân dân tham gia vào giải quyết

những khó khăn trong việc thực hiện cơ chế, chính sách trong quá trình xây dựng

và phát triển kinh tế- xã hội và hạn chế trong việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ

sở. Đồng thời, tác giả cũng đƣa ra một số phƣơng hƣớng, nhiệm vụ trọng tâm

nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, khắc phục

đƣợc những hạn chế, yếu kém vẫn còn tồn tại trong thời gian qua.

Cuốn sách của tác giả Đỗ Thị Kim Hoa (2022): “Tư tưởng Hồ Chí Minh

về dân chủ và thực hành dân chủ”[52]. Tác giả tập trung nghiên cứu cơ sở lý

luận và thực tiễn cho sự hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về dân chủ; chỉ ra bản

chất, vai trò, phƣơng thức biểu hiện dân chủ và phƣơng pháp thực hành dân chủ;

đồng thời, nêu bật ý nghĩa hiện thời của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về dân chủ ở Việt

Nam hiện nay đối với việc hình thành quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

về dân chủ và định hƣớng cho hoạt động thực tiễn về hoàn thiện hệ thống chính

trị, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, văn hóa- xã hội.

Cuốn sách của tác giả Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Thị Ngọc Anh (2022):

“Vai trò của các tổ chức xã hội trong thực hiện DCCS ở khu vực đồng bằng sông

Cửu Long” [24]. Tác giả đã tập trung nghiên cứu một số nội dung: cơ sở lý luận và

thực tiễn về vai trò của các tổ chức xã hội trong thực hiện DCCS (trong đó có nêu

vai trò của các tổ chức xã hội trong thực hiện DCCS ở một số nƣớc và gợi mở cho

đồng bằng sông Cửu Long); vai trò của các tổ chức xã hội trong thực hiện DCCS ở

khu vực đồng bằng sông Cửu Long: thực trạng và vấn đề đặt ra; đề ra phƣơng

hƣớng và giải pháp phát huy vai trò của các tổ chức xã hội trong thực hiện DCCS ở

khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

- Những công trình đề cập đến lý luận về NTM

Vấn đề nông thôn và xây dựng nông thôn mới luôn là vấn đề đƣợc Đảng,

Nhà nƣớc ta đề cao, chú trọng xây dựng phát triển nông thôn trong chiến lƣợc

13

phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về

vấn đề nông thôn, xây dựng NTM nhƣ:

Cuốn sách:“Nông thôn, nông dân, nông nghiệp Việt Nam- Hôm nay và

mai sau” [109] của tác giả Đặng Kim Sơn (2008) đã mô tả về bức tranh hiện

trạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới. Tác

giả đã tổng kết quá trình phát triển kinh tế sản xuất, chuyển dịch cơ cấu và tốc độ

tăng trƣởng của nông nghiệp; khảo sát tình trạng lao động việc làm, các vấn đề

liên quan đến sản xuất, vật tƣ, các trang thiết bị, phƣơng tiện kỹ thuật phục vụ

cho hoạt động sản xuất của ngƣời dân. Đồng thời, tác giả chỉ ra mối quan hệ, tác

động qua lại giữa nông thôn, nông dân và nông nghiệp Việt Nam, những nét đặc

thù của nông thôn Việt Nam và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế của

đất nƣớc.

Cuốn sách “Một số vấn đề cấp thiết trong phát triển xã hội và quản lý xã

hội ở nông thôn nước ta hiện nay”[31] của tác giả Nguyễn Chí Dũng (2010).

Tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận về phát triển xã hội và quản lý phát

triển xã hội. Những yếu tố tác động đến sự phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội

bao gồm cả những tác động tích cực và những yếu tố tác động tiêu cực ảnh

hƣởng đến sự phát triển xã hội và quản lý xã hội ở nông thôn nƣớc ta. Đồng thời,

tác giả cũng tập trung vào đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát

triển và quản lý xã hội ở nông thôn nƣớc ta hiện nay.

Cuốn sách của tác giả Nguyễn Thị Tố Quyên (2012) (chủ biên): “Nông

nghiệp, nông dân, nông thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn

2011- 2020”[101]. Cuốn sách chỉ ra vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông

thôn đối với tăng trƣởng kinh tế; phân tích thực trạng vấn đề nông nghiệp, nông

dân, nông thôn giai đoạn 2011-2020 với những kết quả đáng kể, những triển

vọng trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đồng thời, tác giả cũng

đƣa ra những giải pháp phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm phát

triển mô hình tăng trƣởng kinh tế mới trong những năm tiếp theo.

Tác giả Nguyễn Văn Quyết (2013): ““Xây dựng nông thôn mới- Một số

vấn đề đặt ra hiện nay”[103] đã chỉ ra những vấn đề đặt ra đối với xây dựng

NTM và đề xuất những giải pháp cho những vấn đề đang tồn tại trong xây dựng

NTM. Tiếp theo, bài viết:“Kết quả thực hiện Nghị quyết về nông nghiệp, nông

14

dân, nông thôn và những vấn đề đặt ra trong xây dựng nông thôn mới”[120] của

tác giả Đỗ Thị Thạch- Nguyễn Văn Quyết (2014) đã tổng kết những thành tựu

đạt đƣợc sau 05 năm thực hiện Nghị quyết TW 7 khóa X. Bài viết tập trung

nghiên cứu những vấn đề đặt ra trong từng giai đoạn phát triển nhất định nhằm

đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển nông nghiệp, nông dân,

nông thôn đối với mỗi giai đoạn cần có cơ chế, chính sách sao cho phù hợp với

bối cảnh và tình hình thực tiễn của đất nƣớc, kịp thời sửa đổi, khắc phục những

hạn chế còn tồn tại để nâng cao hiệu quả xây dựng NTM.

Cuốn sách “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng đồng bằng

sông Hồng trong bối cảnh hội nhập quốc tế” [77] của tác giả Nguyễn Thị Thanh

Loan (2016) đi sâu nghiên cứu một số nội dung: vấn đề lý luận và thực tiễn về

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế;

phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp vùng ĐBSH

trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế với những mối quan hệ chủ yếu, chỉ ra

những vấn đề đặt ra; từ đó, đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm đẩy

mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng ĐBSH trong bối cảnh hội

nhập quốc tế.

Bài viết “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ

trong nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng” [51] của tác giả Phạm Văn Hiển

(2016) khẳng định việc đẩy mạnh nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong

phát triển nông nghiệp là yêu cầu cơ bản và là giải pháp chủ yếu để thực hiện

thành công tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hƣớng nâng giá trị gia tăng và

phát triển bền vững ở nƣớc ta nói chung và ở ĐBSH nói riêng. Qua đánh giá

thực trạng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp ở các địa

phƣơng vùng ĐBSH về mặt cơ cấu, số lƣợng, chất lƣợng, tác giả bài viết đã đề

xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực khoa học

và công nghệ vùng ĐBSH thời gian tới.

Bài viết “Vấn đề phát triển nông nghiệp công nghệ cao vùng đồng bằng

sông Hồng” của tác giả Trần Xuân Hòa (2016) [53] khẳng định phát triển nông

nghiệp công nghệ cao sẽ tạo nền tảng quan trọng góp phần đƣa nền nông nghiệp

vùng ĐBSH lên tầm cao mới. Hiện nay, vùng ĐBSH đã hình thành một số khu

nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhƣng hiệu quả đạt đƣợc chƣa cao. Nguyên

15

nhân chủ yếu là do: chính quyền cơ sở chƣa đủ quyết tâm; lựa chọn mô hình, sản

phẩm để sản xuất chƣa phù hợp; khả năng tài chính chƣa đủ mạnh để thực hiện đầu

tƣ hạ tầng và thu hút doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, tác giả đã đã đề xuất một số giải

pháp cơ bản nhằm phát triển nông nghiệp công nghệ cao vùng ĐBSH trong bối cảnh

CMCN 4.0.

Tác giả Khuất Thị Vân (2017) trong bài viết “Phát huy vị thế chủ thể của

nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông

Hồng hiện nay”[156] khẳng định ĐBSH là một trong những vùng kinh tế trọng

điểm, trung tâm chính trị, văn hóa của cả nƣớc. Việc phát huy vị thế, vai trò chủ

thể của nông dân trong quá trình CNH, HĐH ở vùng ĐBSH có ý nghĩa vô cùng

quan trọng. Từ đó, tác giả đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vị thế

của nông dân vùng ĐBSH trong quá trình CNH, HĐH.

Bài viết “Về phát triển nông thôn và vai trò của văn hóa trong phát triển

nông thôn ở nước ta”[145] của tác giả Trƣơng Xuân Trƣờng (2019); tác giả

Nguyễn Thị Ánh (2020) với bài viết “Phát triển nông nghiệp, nông thôn bền

vững ở nước ta” [5]. Các tác giả đều nêu bật lên mục tiêu, nguyên tắc và khẳng

định vai trò của phát triển nông thôn, xây dựng NTM đối với sự phát triển kinh

tế- xã hội của đất nƣớc nói chung. Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Ánh cũng tập

trung vào những giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững ở

nƣớc ta.

Đỗ Xuân Tuất (2020) với bài viết:“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Việt Nam chuyển mình trong đổi mới và phát triển”[146]. Bài viết thể hiện tầm

quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với sự nghiệp cách mạng

XHCN của dân tộc ta. Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết TW 7

khóa X đất nƣớc ta cũng đạt đƣợc những thành tựu và hạn chế nhất định trong

quá trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn; đồng thời, cũng nêu ra

những vấn đề tồn tại chủ yếu và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế;

những cơ hội, thách thức đặt ra đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong

giai đoạn tăng trƣởng kinh tế.

Tác giả Đào Hồng Lan (2021) với bài viết “Bài học từ công nghiệp hóa

nông nghiệp, hiện đại hóa nông thôn tỉnh Bắc Ninh”[66]. Công nghiệp hóa, hiện

đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một chủ trƣơng lớn của Đảng và Nhà nƣớc ta.

16

Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh luôn quan tâm xây dựng, triển khai

thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân,

nông thôn; nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại hóa

nông thôn; hoàn thành sớm Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông

thôn mới. Tác giả đều phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp, nông thôn ở

địa phƣơng và đề xuất những giải pháp trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Những công trình đề cập đến lý luận về thực hành DCCS trong xây dựng NTM

Cuốn sách: “Dân chủ và DCCS ở nông thôn trong tiến trình đổi mới”[14]

của Hoàng Chí Bảo (2007). Nội dung cuốn sách trình bày ý thức dân chủ của

ngƣời Việt Nam từ lịch sử đến hiện đại, nêu bật tầm quan trọng của dân chủ và

DCCS; vai trò của phát triển nông thôn; vấn đề thực hiện quyền làm chủ của

nhân dân, đặc biệt là DCCS ở nông thôn nƣớc ta hiện nay. Tác giả nêu ra quan

hệ giữa thể chế chính thống và phi chính thống trong việc củng cố, xây dựng hệ

thống chính trị ở cơ sở nông thôn hiện nay.

Tác giả Lê Xuân Huy (2012) với bài viết: “Pháp luật với vấn đề thực

hành dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay”[59]. Tác giả đã chỉ ra vai trò

quan trọng của pháp luật đối với việc thực hiện dân chủ ở nông thôn ở nƣớc ta

hiện nay, thông qua những chủ trƣơng, đƣờng lối, chỉ thị, hƣớng dẫn thực hiện

dân chủ, nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ, đồng thời góp phần cải tạo

tâm lý tiểu nông, các thói quen lạc hậu cũng nhƣ đấu tranh khắc phục tệ quan

liêu của một số cán bộ cơ sở.

Bài viết: “Vai trò của việc thực hiện DCCS ở cấp xã đối với xây dựng nông

thôn mới ở nước ta hiện nay”[94] của tác giả Ngọ Văn Nhân (2018) đã đánh giá

tầm quan trọng của việc thực hiện DCCS trong xây dựng nông thôn mới nhằm phát

huy quyền làm chủ của nhân dân; nhân dân thể hiện quyền và nghĩa vụ dân chủ của

mình trong thực hiện xây dựng NTM; nhân dân đƣợc tham gia bàn bạc, đóng góp ý

kiến và giám sát quá trình thực hiện xây dựng NTM.

Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Ngọc Anh (2020), “Sự tham gia của người

dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Cửu

Long”[23]. Các tác giả trình bày bốn nội dung chính: (i) Cơ sở lý luận về sự tham

gia của ngƣời dân trong quá trình xây dựng NTM; sự tham gia của ngƣời dân

trong quá trình xây dựng NTM ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt

17

Nam; sự tham gia của ngƣời dân trong quá trình xây dựng NTM ở khu vực đồng

bằng sông Cửu Long: Thực trạng và những vấn đề đặt ra; quan điểm và giải pháp

nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của ngƣời dân trong quá trình xây dựng NTM ở

khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, tác giả cũng có những bài viết,

công trình liên quan đến đề tài nhƣ: “Các hình thức tham gia của người dân trong

quá trình chính sách công theo quan điểm của John Thomas”[16]; “Một số lý

thuyết về sự tham gia của người dân trong hành chính công”[17]; “Nâng cao hiệu

quả tham gia của người dân trong quá trình xây dựng NTM ở khu vực đồng bằng

sông Cửu Long”[20]. Tất cả các công trình của tác giả đều đề cập đến sự tham gia

của ngƣời dân trên phƣơng diện lý thuyết và qua các hình thức cụ thể.

Đoàn Minh Huấn (2022), “Đổi mới tư duy phát triển nông nghiệp, nông

dân, nông thôn- nhìn từ sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của hệ thống chính trị và

phát huy dân chủ ở nông thôn”[55]. Tác giả đã tập trung phân tích những nội

dung sau: thứ nhất, chỉ ra bƣớc phát triển trong đổi mới tƣ duy của Đảng ta từ

quan niệm “tam nông” sang phát triển “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại,

nông dân văn minh”- tƣ tƣởng “tam nông” trong thời kỳ mới; thứ hai, phát triển

“tam nông” theo tƣ duy đổi mới từng bƣớc tiếp cận trình độ phát triển văn minh

và nền kinh tế thị trƣờng hiện đại, đầy đủ, hội nhập quốc tế; thứ ba, sự lãnh đạo

của Đảng và phát huy đầy đủ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đóng vai trò

quyết định bảo đảm chuyển đổi thành công từ quan niệm “tam nông” truyền

thống sang tƣ duy phát triển “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông

dân văn minh”; thứ tư, phát huy dân chủ, xây dựng khối đại đoàn kết nông thôn,

tăng cƣờng quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân bắt đầu từ chăm lo những

vấn đề thiết thực của đời sống dân sinh, ngăn chặn những xung đột trong xã hội

nông thôn.

1.1.1.2. Những công trình đề cập đến thực trạng thực hành dân chủ cơ sở

trong xây dựng nông thôn mới

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng vấn đề thực hành dân chủ và DCCS là

một vấn đề rất cần thiết đối với các nhà khoa học, góp phần nhìn nhận đúng

những thành tựu và hạn chế, bất cập còn tồn tại. Từ đó, đƣa ra đƣợc những

nhiệm vụ và giải pháp cụ thể trong thực hiện dân chủ và DCCS phù hợp với tình

hình cụ thể, đáp ứng đòi hỏi trong bối cảnh hiện nay.

18

Những công trình đề cập đến thực trạng thực hành dân chủ

Tác giả Lê Minh Quân (2021), “Quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa

Mác- Lênin về dân chủ và ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam [99]. Tác

giả đƣa ra những quan điểm, chủ trƣơng của Đảng ta trong việc định hƣớng việc

xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi

mới qua các Văn kiện Đại hội Đảng: VI, VII, VIII, IX, X, XI và phân tích quá trình

xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Lý Hoàng Ánh, Ông Văn Năm (2013), “Phản biện xã hội- một phương

thức thực thi dân chủ ở Việt Nam”[6]. Tác giả cũng đặt tƣơng quan so sánh giữa

hai khái niệm phản biện xã hội và phản biện khoa học, chỉ ra điểm giống và khác

nhau về bản chất, đối tƣợng, khách thể thực hiện phản biện. Đồng thời, tác giả

cũng chỉ ra ý nghĩa của phản biện xã hội: đối với phát huy và mở rộng dân chủ,

phản biện xã hội là phƣơng thức quan trọng để đạt đƣợc đồng thuận xã hội, góp

phần xây dựng cơ chế thực thi dân chủ và tránh đƣợc hiện tƣợng bàng quan

chính trị trong dân chúng; hoạt động phản biện xã hội là nhu cầu tự thân đối với

việc nâng cao chất lƣợng lãnh đạo của Đảng.

Tác giả Lê Hữu Nghĩa (2016), “Thực hành và phát huy dân chủ qua 30

năm đổi mới”[93]. Tác giả trình bày lý luận của các nhà kinh điển Mác- Lênin

về dân chủ, sự cần thiết phải thực hiện dân chủ và nhận thức của Đảng ta về dân

chủ và phát huy dân chủ XHCN trong thời kỳ đổi mới. Tác giả đánh giá thực

trạng thực hành và phát huy dân chủ trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội qua việc chỉ ra những thành tựu, hạn chế, yếu kém, nguyên nhân của hạn

chế yếu kém; chỉ ra những vấn đề đặt ra để tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ

những vấn đề lý luận về dân chủ, thực hành dân chủ; đề xuất những giải pháp

nhằm nâng cao hiệu quả thực hành và phát huy dân chủ trong thời gian tới.

Tác giả Nguyễn Quốc Sửu (2016) có bài viết: “Phát huy dân chủ xã hội

chủ nghĩa ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng”[112].

Tác giả cũng đánh giá thực trạng thực hành, phát huy dân chủ trong những năm

qua mà Văn kiện Đại hội XII đã nhận định qua việc phân tích những thành tựu

và hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém. Đồng thời, chỉ ra phƣơng

hƣớng, nhiệm vụ, giải pháp phát huy dân chủ XHCN theo tinh thần Nghị quyết

Đại hội XII.

19

Tác giả Nguyễn Thế Trung (2019) với bài viết:“Thực hiện phát huy dân

chủ ở nước ta hiện nay: Thực trạng và giải pháp”[143]. Tác giả đã đánh giá

thực trạng thực hiện phát huy dân chủ ở nƣớc ta trên những mặt: phát huy dân

chủ trong Đảng, trong Nhà nƣớc và trong các tổ chức chính trị- xã hội. Từ đó

làm cơ sở để tác giả đƣa ra những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất

cập, nâng cao hiệu quả quá trình thực hiện dân chủ ở nƣớc ta trong thời gian tới.

Mai Hải Oanh (2020), “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

hiện nay” [95]. Bài viết tác giả tập trung làm rõ những quan niệm cơ bản về

dân chủ, dân chủ XHCN, nâng cao nhận thức về dân chủ và phát huy dân chủ

XHCN. Tác giả cũng đƣa ra nội dung về nhận thức của Đảng ta về thực hành

dân chủ, đồng thời nêu ra quan niệm về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo phƣơng

châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” vào cuộc sống ở cơ sở. Tuy

nhiên, bài viết mới chỉ dừng lại ở một số nội dung đƣa ra các quan niệm và nội

dung cơ bản về vấn đề dân chủ, thực hiện DCCS, chƣa đánh giá đƣợc thực

trạng và những yếu tố tác động đến dân chủ và phát huy dân chủ XHCN; do

vậy mà bài viết cũng chƣa thể hiện rõ những giải pháp mang tính chất đột phá

nhằm nâng cao hiệu quả phát huy dân chủ XHCN.

- Những công trình đề cập đến thực trạng thực hành DCCS

Cuốn sách nghiên cứu về thực hiện dân chủ ở sở của các tác giả Nguyễn

Văn Sáu, Hồ Văn Thông (2003),“ Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính

quyền cấp xã ở nước ta hiện nay”[107]. Cuốn sách đã nêu bật những nội dung,

hình thức về thực hiện Quy chế dân chủ (QCDC) và nội dung xây dựng chính

quyền cơ sở, việc phát huy các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cơ sở. Bên

cạnh đó, tác giả cũng nêu bật những hạn chế, khuyết điểm còn tồn tại trong quá

trình thực hiện QCDC, trong quá trình xây dựng, chính quyền cơ sở còn bộc lộ

một số những khuyết điểm, yếu kém trong công tác lãnh đạo, tổ chức và vận

động nhân dân. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao

hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nƣớc ta

hiện nay.

Đề tài khoa học cấp Bộ: “Thực hiện quy chế dân chủ ở các doanh nghiệp

nhà nước trên địa bàn Hà Nội. Thực trạng và giải pháp”[2] của Lƣu Văn An

(2006). Trên cơ sở trình bày những lý luận về dân chủ, DCCS và đặc điểm tình

20

hình các doanh nghiệp nhà nƣớc trên địa bàn thành phố Hà Nội; Từ đó, đề tài tiến

hành khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng triển khai xây dựng và thực hiện

QCDC ở các doanh nghiệp nhà nƣớc trên địa bàn Hà Nội với những thành tựu và

hạn chế nhất định; đề tài rút ra nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và

những bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện QCDC ở doanh nghiệp nhà

nƣớc trên địa bàn Hà Nội và đƣa ra những quan điểm, phƣơng hƣớng và giải pháp

để thực hiện có hiệu quả QCDC ở doanh nghiệp nhà nƣớc trên địa bàn Hà Nội.

Luận án tiến sĩ Trần Văn Khuyên (2016), “Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở

ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”[64]. Luận án tổng kết nghiên cứu lý luận về

dân chủ, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, nhân dân đƣợc phát huy quyền làm chủ

của mình theo phƣơng châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Tuy

nhiên, quá trình thực hiện Quy chế DCCS ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn tồn tại

một số hạn chế, khuyết điểm làm ảnh hƣởng đến hiệu quả thực hiện Quy chế DCCS.

Tác giả cũng nêu lên những vấn đề đặt ra và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu

quả thực hiện Quy chế DCCS ở thành phố Hồ Chí Minh.

Những công trình đề cập đến thực trạng xây dựng NTM

Tác giả Phạm Di (2008) với cuốn sách “ Xây dựng nông thôn mới ở Việt

Nam hiện nay: Nghiên cứu vùng duyên hải Nam Trung Bộ”[30]. Tác giả chỉ rõ

vai trò, tầm quan trọng của phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn đối

với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc, góp phần vào sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc. Trong cuốn sách tác giả đã tổng quan về công tác xây dựng

nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay, kinh nghiệm xây dựng NTM ở địa phƣơng

và một số nƣớc trên thế giới, nghiên cứu việc xây dựng nông thôn mới của vùng

duyên hải Nam Trung Bộ, phân tích thực trạng thực hiện các tiêu chí trong xây

dựng NTM ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ phát hiện những khó khăn, vấn

đề mới phát sinh, rút ra bài học kinh nghiệm, từ đó đƣa ra một số định hƣớng và

giải pháp nhằm thực hiện tốt chủ trƣơng về xây dựng NTM.

Nguyễn Trần Minh Trí (2018): “Thành công và bài học về xây dựng nông

thôn mới ở Hà Nội”[141]. Bài viết đánh giá kết quả nổi bật Hà Nội đã đạt đƣợc

trong việc thực hiện Chƣơng trình hành động số 02/CTr-TU, ngày 31-10-2008

và Chƣơng trình số 02/ CTr-TU, ngày 26-4-2016, của Thành ủy Hà Nội Về phát

triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân cho

21

các giai đoạn 2011- 2015 và 2016- 2020; Trên cơ sở đó, bài viết cũng đƣa ra

những bài học quan trọng trong công tác xây dựng và phát triển NTM trên địa

Hà Nội.

Đoàn Hồng Phong (2019)“Nam Định- điểm sáng trong xây dựng nông

thôn mới” [96]. Tác giả đã nêu bật những kết quả đã đạt đƣợc của tỉnh Nam

Định sau gần 9 năm thực hiện Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông

thôn mới giai đoạn 2010- 2020 của Thủ tƣớng Chính Phủ. Trên cơ sở tổng kết

những thành tựu trong xây dựng nông thôn mới của tỉnh, tác giả cũng rút ra bài

học kinh nghiệm, có ý nghĩa then chốt quyết định sự thành công trong quá trình

xây dựng nông thôn mới với phƣơng châm: “Dân cần, dân biết, dân bàn, dân

làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”.

Tác giả Nguyễn Văn Quyết- Nguyễn Minh Tiến (2019) với bài viết: “Xây

dựng nông thôn mới vùng đồng bằng sông Hồng- thành tựu và những vấn đề đặt

ra”[106]. Trong bài viết tác giả đã phân tích thực trạng xây dựng và phát triển

NTM ở vùng ĐBSH qua việc nêu lên những thành tựu và hạn chế trong 10 năm

xây dựng NTM; những vấn đề đặt ra trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH cần

phải giải quyết. Từ đó, tác giả kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy

mạnh xây dựng NTM vùng ĐBSH theo hƣớng bền vững. Cùng nghiên cứu về

xây dựng NTM tác giả có bài viết “Xây dựng nông thôn mới- một số vấn đề đặt

ra”. Ở mỗi bài viết tác giả đều tiến hành khảo sát trên mỗi phạm vi nghiên cứu

khác nhau và đƣa ra những đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng

NTM qua việc phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế.

Trần Thị Vân (2021): “Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh tích cực chủ động, sáng tạo

trong xây dựng nông thôn mới”[157], tác giả nhận định vai trò của xây dựng

NTM đối với sự phát triển Kinh tế- xã hội của tỉnh Bắc Ninh. Tác giả tập trung

nêu bật những thành tựu của phụ nữ tỉnh Bắc Ninh trong việc tham gia, đóng góp

vào xây dựng chƣơng trình NTM của tỉnh theo các tiêu chí xây dựng NTM; đồng

thời cũng đề ra đƣợc những nhiệm vụ chủ yếu nhằm phát triển NTM trong thời

kỳ mới. Tác giả bài viết chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong quá trình thực hiện

xây dựng NTM trong địa bàn tỉnh và nét đặc thù của tỉnh; do đó cần đƣợc nghiên

cứu bổ sung thêm.

22

Những công trình đề cập đến thực trạng thực hành DCCS trong xây

dựng NTM

Cuốn sách: “Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện

nay”[108] của Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông (2003). Trên cơ sở tổng hợp,

khái quát và kế thừa những vấn đề lý luận và thực tiễn về DCCS ở một số nƣớc,

các tác giả tập trung nghiên cứu vấn đề dân chủ và hệ thống chính trị Việt;

những thành tựu và hạn chế của nông nghiệp Việt Nam sau 20 năm đổi mới,

đồng thời khẳng định vai trò của việc thƣc hiện QCDC đối với việc ổn định và

phát triển nông thông Việt Nam, một số vấn đề nâng cao chất lƣợng của hệ thống

chính trị và đội ngũ cán bộ cơ sở; một số hoạt động nhƣ quản lý xã hội, kinh tế,

quản lý tài chính, thực hiện chƣơng trình xóa đói giảm nghèo nhằm phát triển

nông thôn trong giai đoạn mới.

Bài viết của tác giả Phạm Xuân Thiên, Nguyễn Thị Mai (2017):“Thực

hiện DCCS trong xây dựng nông thôn mới ở Hải Dương”[126]. Trong bài viết

tác giả chỉ ra ý nghĩa, tầm quan trọng của phát huy DCCS trong xây dựng nông

thôn mới; vai trò chủ thể của nhân dân trong xây dựng nông thông mới thể hiện

ở chỗ ngƣời dân chính là ngƣời tham gia xây dựng kế hoạch, chƣơng trình và tổ

chức thực hiện việc xây dựng nông thôn mới.

Nguyễn Mạnh Khôi (2021), “Thực hiện tốt quy chế DCCS trong xây dựng

NTM ở Huyện Nghi Lộc”[63]. Tác giả đã nêu lên những thành tựu nổi bật trong

xây dựng NTM mà Huyện Nghi Lộc đã đạt đƣợc trong năm 2020. Trong bài viết,

tác giả nêu rõ vai trò của các tổ chức chính trị xã hội, Mặt trận Tổ quốc, các cấp

ủy Đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quy chế DCCS trong xây dựng

NTM trên địa bàn Huyện.

1.1.1.3. Những công trình đề cập đến giải pháp tăng cường thực hành

dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới

Những công trình đề cập đến giải pháp tăng cường thực hành dân chủ

Cùng với những công trình nghiên cứu lý luận về dân chủ, thực trạng thực

hành dân chủ, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đề cập đến

giải pháp nâng cao chất lƣợng thực hành dân chủ. Cụ thể nhƣ sau:

Bài viết:“Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm bảo

đảm quyền làm chủ của nhân dân”[98] của tác giả Lê Minh Quân (2013). Tác

23

giả bài viết nhấn mạnh vai trò làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực và

đƣợc kiểm soát qua các kênh khác nhau. Tác giả cho rằng, việc xây dựng và

hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm phát huy và bảo đảm quyền làm

chủ của nhân dân đƣợc thực hiện một cách có hiệu quả, đúng đắn, công khai,

minh bạch; góp phần thực hiện có hiệu quả dân chủ trong Đảng, Nhà nƣớc và

nhân dân, một trong những khâu quan trọng để đảm bảo quyền làm chủ của nhân

dân đƣợc thực hiện có hiệu quả.

Tác giả Đỗ Thị Thạch- Nguyễn Văn Quyết (2014) với bài viết: “Xây dựng

nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam qua gần 30 năm đổi mới”[121]. Các

tác giả đã chỉ ra sự phát triển về lý luận, thực tiễn thực hiện dân chủ XHCN ở

Việt Nam trong khoảng 10 năm trở lại đây; Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có

những bƣớc phát triển, đổi mới về nhận thức và thực tiễn về xây dựng nền dân

chủ XHCN. Bên cạnh đó, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục;

các tác giả cũng rút ra những vấn đề cần phải tiếp tục làm sáng tỏ và đề ra những

giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam, khắc

phục đƣợc những tồn tại, hạn chế.

Bài viết: “Phát huy dân chủ và phát triển bền vững kinh tế- xã hội ở Việt

Nam hiện nay”[45] của tác giả Đỗ Hƣơng Giang, Võ Châu Thịnh (2018) đã

khẳng định giá trị của dân chủ và phát triển đối với đời sống xã hội nói chung và

đối với từng cá nhân mỗi ngƣời nói riêng; đồng thời khẳng định mối quan hệ

biện chứng, tác động qua lại giữa dân chủ và phát triển. Do đó, tác giả nhấn

mạnh để nâng cao hiệu quả phát huy dân chủ và phát triển bền vững kinh tế- xã

hội cần phải thực hiện đồng bộ, song song, không đƣợc xem nhẹ mặt nào trong

suốt quá trình CNH, HĐH đất nƣớc và tiến lên CNXH.

Những công trình đề cập đến giải pháp tăng cường thực hành DCCS

Lƣu Ngọc Tố Tâm (2017): “Một số giải pháp phát huy dân chủ ở cơ

sở”[116]. Phát huy DCCS là nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nƣớc ta trong

quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN. Bài viết nhấn mạnh vào những hạn chế,

yếu kém còn tồn tại. Trên cơ sở đó, tác giả bài viết đề xuất một số kiến nghị, giải

pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát huy dân chủ ở cơ sở.

Tác giả Đỗ Thị Thạch- Nguyễn Thị Thu Huyền (2019): “Nêu cao trách

nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc thực hiện Quy

24

chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội”[119]. Tác giả bài viết nhấn

mạnh vai trò của ngƣời đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc thực hiện

Quy chế DCCS- đó là một trong những yếu tố quyết định chất lƣợng, hiệu quả

việc xây dựng, thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Tuy nhiên, trong quá trình

thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, ngƣời đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp

vẫn còn chƣa giải quyết triệt để đƣợc những bức xúc, khiếu nại, một số kiến nghị

chƣa đƣợc quan tâm giải quyết; đó là một số hạn chế cần đƣợc khắc phục và giải

quyết. Vì vậy, tác giả đƣa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

phát huy vai trò của ngƣời đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong thực hành

dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Liên quan đến các bài viết về các địa phƣơng thuộc ĐBSH có bài viết:

“Vĩnh Phúc nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”[91] của tác

giả Hoàng Nga (2015); tác giả Đức Thiện (2021) với bài viết: “Trực Ninh nâng

cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”[127]. Các tác giả đã tập trung

phân tích thực trạng thực hiện quy chế DCCS gắn với tình hình thực tiễn từng

địa phƣơng. Qua đó, đề ra những nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu quả thực

hiện DCCS nhằm tháo gỡ khó khăn, hạn chế còn tồn tại ở địa phƣơng mình. Qua

bài viết tác giả luận án có thể nghiên cứu, hiểu thêm về tình hình thực hiện Quy

chế DCCS ở các địa phƣơng mà tác giả khảo sát; làm cơ sở để hoàn thiện cho

nghiên cứu luận án của mình.

Ban Dân vận Trung ƣơng, Ban Chỉ đạo Trung ƣơng (2019): “Báo cáo Hội

nghị tổng kết việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở năm 2019, triển khai nhiệm vụ

năm 2020”[10]. Thông qua báo cáo, tác giả luận án nắm đƣợc những kết quả đạt

đƣợc trong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở năm 2019 với những thành tựu đạt

đƣợc và những hạn chế, yếu kém còn tồn tại. Qua đó, tác giả luận án cũng nắm

đƣợc chủ trƣơng, đƣờng lối cũng nhƣ nhiệm vụ của thực hiện DCCS năm 2020 và

những năm tiếp theo, từ đó, tác giả luận án có thể nghiên cứu, vận dụng phát triển

nội dung Thực hành DCCS gắn với xây dựng NTM bằng nhiều phƣơng pháp, hình

thức và nhận thức việc thực hiện dân chủ gắn liền với kỷ cƣơng xã hội.

Những công trình đề cập đến giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng NTM

Bùi Thị Ngọc Lan (2007) với cuốn sách “Việc làm của nông dân đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [65]. Tác giả đã

25

làm rõ một số khái niệm cơ bản và phân tích các nhân tố tác động đến giải quyết việc làm cho nông dân vùng ĐBSH; đánh giá thực trạng và triển vọng giải quyết việc làm cho nông dân; từ đó đề xuất phƣơng hƣớng cơ bản và giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm cho nông dân vùng ĐBSH. Giải quyết vấn đề việc làm cho ngƣời dân là một trong những điều kiện để phát huy vai trò của gia đình trong xây dựng NTM hiệu quả, bền vững.

Bài viết của tác giả Trần Công Chánh (2016), “Tạo bước đột phá trong phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại gắn với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hậu Giang”[28]. Xuất phát từ tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh Hậu Giang, thực tiễn kết quả xây dựng NTM mà tỉnh đã đạt đƣợc trong 05 năm thực hiện Chƣơng trình hành động về phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng NTM tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2011- 2015 và những bất cập, hạn chế còn tồn tại. Tác giả đã đƣa ra một số bài học kinh nghiệp trong quá trình thực hiện Chƣơng trình hành động về phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng NTM tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2011- 2015; đồng thời có những định hƣớng phát triển trong thời gian tới nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đột phá trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2016- 2020.

Bài viết: “Nâng cao hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới” của tác giả Đoàn Ngọc Xuân (2016) [165]. Xây dựng NTM là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế- xã hội của Đảng, Nhà nƣớc ta. Bài viết đã tổng kết những thành tựu, hạn chế sau 05 năm thực hiện Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, chỉ ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan của những bất cập hạn chế; đồng thời, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng NTM trong thời gian tới. Đánh giá về bài viết, tác giả luận án cho rằng trong các giải pháp mà tác giả bài viết đƣa ra chƣa đề cập đến vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nƣớc và các tổ chức chính trị- xã hội, đây cũng là điểm mà luận án cần lƣu ý.

Luận án Nguyễn Minh Huệ (2019), “Gia đình vùng đồng bằng sông Hồng trong xây dựng nông thôn mới hiện nay”[56]. Tác giả đã tập trung nghiên cứu những nội dung sau: cơ sở lý luận và những yếu tố tác động đến gia đình vùng ĐBSH trong xây dựng NTM; phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với gia đình vùng ĐBSH trong xây dựng NTM; quan điểm và giải pháp nhằm phát huy vai trò của gia đình vùng ĐBSH trong xây dựng NTM.

26

Bên cạnh đó, cũng có một số bài viết đi sâu vào nội dung xây dựng NTM

ở một số địa phƣơng nhƣ: tác giả Đình Vũ (2019), “Một số kinh nghiệm trong

chỉ đạo và thực hiện xây dựng nông thôn mới ở huyện Quốc Oai”[163]; bài viết:

“Bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của huyện ủy

Kinh Môn” của tác giả Đoàn Nam Đàn (2019) [43]; “Nâng cao hiệu quả chương

trình xây dựng nông thôn mới ở Hưng Yên”[48] của tác giả Phạm Hà (2018).

Các tác giả đều tập trung nêu bật những thành tựu trong xây dựng NTM ở địa

phƣơng; đồng thời, đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả xây

dựng NTM, coi đây là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế-

xã hội của địa phƣơng nói riêng và của cả nƣớc nói chung.

Tác giả Thanh Nga (2021) với bài viết: “Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông

thôn mới nâng cao, nông thôn mới theo chuẩn vùng đồng bằng sông Hồng”[92].

Bài viết tác giả tập trung nhấn mạnh vai trò của xây dựng NTM đối với sự phát

triển kinh tế- xã hội và tầm quan trọng của việc đẩy nhanh nhiệm vụ xây dựng

NTM nâng cao. Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

xây dựng NTM nâng cao. Bài viết là nguồn tài liệu tham khảo cho tác giả luận án

phục vụ nghiên cứu xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Những công trình đề cập đến giải tăng cường thực hành DCCS trong xây

dựng NTM

Nguyễn Trọng Bình (2019): “Đổi mới thể chế nhằm phát huy dân chủ và

sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới hiện

nay”[21]. Bài viết tác giả đã trình bày các nội dung của phƣơng thức đổi mới thể

chế nhằm nâng cao hiệu quả phát huy dân chủ và sự tham gia của ngƣời dân

trong quá trình xây dựng nông thôn mới cần tập trung vào nội dung những giải

pháp sau: thể chế hóa quan điểm “lấy nhân dân làm trung tâm” trong quá trình

xây dựng nông thôn mới; nhận thức rõ sự tham gia của ngƣời dân là yếu tố then

chốt, quyết định để đảm bảo vai trò chủ thể của cƣ dân nông thôn trong quá trình

xây dựng NTM; tiếp tục đổi mới tƣ duy, nhận thức về các trụ cột trong phát triển

nông thôn nói chung và trong xây dựng NTM nói riêng.

Luận án Nguyễn Văn Vƣơng (2020): “Thực hiện pháp lệnh dân chủ ở xã,

phường, thị trấn trong xây dựng nông thôn mới ở khu vực Tây Nguyên hiện

nay”[164]. Luận án tập trung nghiên cứu khung lý thuyết về thực hiện pháp

27

lệnh dân chủ trong xây dựng nông thôn mới; phân tích thực trạng thực hiện

pháp lệnh DCCS trong xây dựng nông thôn mới ở Tây Nguyên, luận án chỉ ra

những vấn đề đặt ra; đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện

pháp lệnh dân chủ ở xã, phƣờng, thị trấn trong xây dựng nông thôn mới ở khu

vực Tây Nguyên.

Phƣơng Loan (2020): “Bình Xuyên thực hiện quy chế dân chủ trong xây

dựng nông thôn mới” [78]. Bên cạnh những kết quả đã đạt đƣợc, bài viết tập trung

vào những giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ trong xây

dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bình Xuyên nâng cao vai trò làm chủ của

nhân dân với phƣơng châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; Qua bài

viết, tác giả luận án có đƣợc phần nào số liệu về kết quả đạt đƣợc trong quá trình

xây dựng NTM ở huyện Bình Xuyên; đồng thời, căn cứ vào các giải pháp mà tác

giả đƣa ra có thể tham khảo sử dụng trong luận án để sát với tình hình thực tiễn.

Phạm Lê (2021): “Thực hiện tốt quy chế DCCS trong xây dựng nông thôn

kiểu mẫu ở xã Hòa Phong, thị xã Mỹ Hào”[68]. Bài viết tập trung nêu cao nhiệm

vụ thực hiện chủ trƣơng và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên, Đảng ủy và chính

quyền xã Hòa Phong, thị xã Mỹ Hào đặc biệt chú trọng đến công tác dân vận và

thực hiện quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở. Từ đó, đã góp phần tạo ra những

chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế, xã hội của địa phƣơng chính quyền

xã đã đổi mới tƣ duy cách làm trong huy động các nguồn lực thực hiện đồng bộ

các tiêu chí NTM và NTM nâng cao.

1.1.2. Những công trình nghiên cứu nước ngoài

1.2.1.1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề dân chủ và

thực hành dân chủ cơ sở

Robert Alan, Dalh (1991) với cuốn sách: Democracy and its Critics (Dân

chủ và sự phê phán)[173] đã xác định quyền lực Nhà nƣớc bắt nguồn từ quyền lực

của nhân dân và phải đƣợc cụ thể hóa và bảo đảm thực thi bằng pháp luật và có sự

chế ƣớc giữa các chủ thể trong xã hội và phải bảo đảm các tiêu chí nhƣ: 1- công

dân phải có quyền bình đẳng để thể hiện nguyện vọng của mình; 2- công dân phải

đƣợc bình đẳng thông qua bầu cử; 3- công dân có quyền bình đẳng, lựa chọn lợi

ích tốt nhất phục vụ cho họ; 4- có cơ hội quyết định những vấn đề chính trị; 5-

công dân có cổ phần hợp pháp trong chính trị và bình đẳng ở tất cả công dân.

28

Virginia Beramandi, Andrew Elis và các tác giả (2014) với cuốn sách:

“Dân chủ trực tiếp: Sổ tay IDEA Quốc tế”[162] đã đƣa ra các kiến nghị, một số

bài học về thực tiễn vận dụng dân chủ trực tiếp ở tất cả các vùng trên thế giới;

công trình đánh giá ở 06 quốc gia điểm hình nhƣ: Thụy Sĩ, Hungary, Hoa Kỳ

(bang Oregan), Venezuela, và Uruguay với các hoạt động trƣng cầu dân ý, sáng

kiến của công dân, sáng kiến chƣơng trình nghị sự và bãi miễn.

1.2.1.2. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nông thôn

mới và thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới

Dự án MISPA (2006) với vấn đề “Lý luận và thực tiễn xây dựng nông

thôn mới xã hội chủ nghĩa”[144] đã tập trung nghiên cứu nội dung xây dựng

nông thôn XHCN ở Trung Quốc ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau: các quan

điểm, lý luận về xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa; hệ thống các chỉ tiêu đánh giá

quá trình xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa: tiêu chuẩn, mục tiêu, chỉ tiêu đánh

giá quá trình xây dựng NTM xã hội chủ nghĩa và lựa chọn các chỉ tiêu cho từng

khu vực; phƣơng pháp, nguyên tắc thực hiện các kế hoạch xây dựng NTM; cơ

chế trao vốn, thể chế quản lý, các chỉ tiêu đánh giá hiệu ích kinh tế, cơ chế giám

sát đảm bảo sự nghiệp xây dựng NTM…

Tác giả Sachika Hirokawa (2010) với bài viết: Promoting Sustainable

Agriculture Development and Farmer Empowerment in Northeast Thailand

(Thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững và trao quyền nông dân ở Đông Bắc

Thái Lan) [174], đã khẳng định đất nƣớc Thái Lan đã và đang tổ chức, triển khai,

thực hiện có hiệu quả về chiến lƣợc quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn

tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững nông nghiệp. Việc áp dụng

những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật vào sản xuất ở Thái Lan đã đạt đƣợc kết

quả quan trọng nhƣ: Nâng cao năng suất, chất lƣợng sản phẩm tốt, tăng nguồn

thu nhập cho nông dân, giải quyết đƣợc việc làm, góp phần xóa đói, giảm nghèo

và bảo vệ môi trƣờng hiệu quả.

Bài viết: The process of implementing grassroots democracy in new rural

construction through the practice of Guangdong, China (quy trình thực hiện

DCCS trong xây dựng nông thôn mới qua thực tiễn Quảng Đông, Trung Quốc)

của Từ Vân Toàn (2016) [175] đã cụ thể hóa, hiện thực hóa các nội dung, hình

thức, quy định của pháp luật về các quyền công dân khi biết, bàn, kiểm tra, giám

29

sát và hƣởng thụ. Vấn đề thực hiện QCDC trong xây dựng NTM đƣợc xác định

nhƣ sau: 1- xác định dân chủ là rất quan trọng, vừa là mục tiêu vừa là động lực,

là giải pháp quyết định sự thành công trong xây dựng NTM; 2- đây là quá trình

đổi mới sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực ở nông thôn theo hƣớng hiện đại

nhằm phát triển nông thôn bền vững, nâng cao đời sống cho nông dân; coi nông

dân là chủ thể, nông dân là lực lƣợng chủ chốt và tham gia ngay từ đầu vào xây

dựng NTM; dân chủ trong xây dựng NTM phải có tính nề nếp bắt buộc.

Bài viết: Highlighting the role of the people, really promoting democracy

at grassroots level, then building new rural areas will be successful (Đề cao vai

trò của người dân, thực sự phát huy dân chủ ở cơ sở, thì ở đó, xây dựng NTM sẽ

đạt được thành công) của Les Donaldson, Edward E.Scannell (2016) [172], đã

khẳng định thực hiện phát huy dân chủ luôn đƣợc coi là “chìa khóa vạn năng”

của thành công. Thực tiễn xây dựng NTM những năm gần đây ở các nƣớc trên

thế giới nhƣ ở Hà Lan, Pháp, Mỹ, Thái lan…cho thấy, ở đâu đề cao vai trò của

ngƣời dân, thực sự phát huy dân chủ ở cơ sở thì ở đó, xây dựng NTM sẽ đạt

đƣợc thành công và đi vào thực chất. Ngƣời dân là chủ thể của quá trình xây

dựng NTM; đồng thời, làm tốt công tác công khai, minh bạch, dân chủ bàn bạc,

lắng nghe nhân dân, chính vì thế quá trình xây dựng NTM mới không phát sinh

khiếu kiện, bức xúc.

Tác giả Jehoon Sung (2018) trong bài viết “The Fourth Industrial

Revolution and Precision Agriculture” (Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ

và nông nghiệp. chính xác)[169] đã khẳng định CMCN 4.0 mang đến cơ hội

nông nghiệp và cơ hội khắc phục các điểm yếu về cấu trúc của hệ thống nông

nghiệp hiện tại và các giới hạn của nông nghiệp thâm canh. Tác giả đƣa ra ba

bƣớc để tạo ra sự thay đổi, bao gồm: 1- Phân tích tác động của CMCN 4.0 đến

hệ sinh thái nông nghiệp trên tất cả các mặt trận của nông nghiệp, các tác động

đến đời sống nông thôn và nông nghiệp, và các tác động đến cấu trúc và công

việc nông nghiệp; 2- Xem xét việc quản lý dữ liệu và ảnh hƣởng của nó vì trong

tƣơng lai, dữ liệu sẽ là một tài nguyên và dữ liệu cần đƣợc chuẩn hóa để dữ liệu

nông nghiệp chất lƣợng có thể đƣợc sản xuất và quản lý liên tục; 3- Tạo điều

kiện cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng hỗ trợ nông nghiệp dựa trên công nghệ

hiện đại.

30

Các tác giả Tejas G. Patil, Sanjay P. Shekhaw (2019) trong bài viết

“Industry 4.0 implications on Agriculture Sector: An Overview” (Ý nghĩa của

công nghiệp 4.0 đối với ngành nông nghiệp: Tổng quan) [171] đã chỉ ra những

ứng dụng công nghệ cơ bản của CMCN 4.0 trong lĩnh vực nông nghiệp nhƣ

robot nông nghiệp, nông nghiệp chính xác, bluetooth “đèn hiệu”, GPS trong

nông nghiệp, RFID trong nông nghiệp. Đồng thời, các tác giả nêu ra năm lợi ích

của công nghiệp 4.0 trong lĩnh vực nông nghiệp: dữ liệu đƣợc thu thập bởi các

cảm biến nông nghiệp thông minh; kiểm soát tốt hơn các quy trình sản xuất nông

nghiệp và do đó, rủi ro sản xuất thấp hơn; quản lý chi phí và giảm chất thải nhờ

tăng cƣờng kiểm soát sản xuất; tăng hiệu quả kinh doanh thông qua quá trình tự

động hóa; tăng số lƣợng và chất lƣợng nông sản.

Food and Agriculture Organization of the United Nations (Tổ chức Nông

lƣơng Liên hợp quốc) (2019) trong bản báo cáo “Digital technologies in

agriculture and rural areas status” (Hiện trạng công nghệ số trong nông nghiệp

và nông thôn) [168] đã khẳng định chuyển đổi số trong nông nghiệp và nông

thôn là xu hƣớng tất yếu khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa và CMCN 4.0.

Điều kiện cơ bản để chuyển đổi số trong nông nghiệp, nông thôn, bao gồm: cơ

sở hạ tầng và mạng công nghệ thông tin ở khu vực nông thôn; trình độ học vấn,

kỹ năng số và việc làm trong các cộng đồng nông thôn; các chính sách và

chƣơng trình hỗ trợ nông nghiệp kỹ thuật số. Bên cạnh đó, Tổ chức Nông lƣơng

Liên hợp quốc cũng chỉ rõ những động lực cơ bản để chuyển đổi số nông nghiệp,

nông thôn bao gồm: khả năng sử dụng công nghệ số của ngƣời dân nông thôn;

kỹ năng số của cƣ dân nông thôn; doanh nghiệp nông nghiệp kỹ thuật số và sự

đổi mới văn hóa; công nghệ kỹ thuật số đƣợc ứng dụng rộng rãi vào phát triển

nông nghiệp, nông thôn bao gồm: thiết bị di động và phƣơng tiện truyền thông

xã hội; nông nghiệp chính xác và công nghệ viễn thám, dữ liệu lớn, đám mây,

phân tích và an ninh mạng; tích hợp và phối hợp; hệ thống thông minh (máy học

và trí tuệ nhân tạo).

Nhóm các tác giả Rajesh Singh, Amit Kumar Thakur, Anita Gehlot, Ajay

Kumar Kaviti (2021) trong cuốn sách “Internet of Things for Agriculture 4.0

Impact and Challenges” (Internet vạn vật cho nông nghiệp 4.0 Tác động và

thách thức) [170] đã cung cấp các ứng dụng và cách sử dụng đa dạng của wifi và

31

Internet of Things (IoT) trong nông nghiệp. Với việc truyền thông hỗ trợ internet

ngày càng phổ biến rộng rãi, các trang trại và cơ sở sản xuất có thể tận dụng các

công nghệ mới cho một loạt các trang trại hoạt động, không hạn chế nhƣ cây

trồng quản lý, theo dõi nông trại, quản lý nuôi, giám sát lƣu trữ…Thu thập dữ

liệu từ các thiết bị này có thể đƣợc lƣu trữ trong hệ thống đám mây hoặc máy

chủ và ngƣời dân có thể truy cập thông qua internet hoặc điện thoại di động.

Cuốn sách này chỉ ra nhiều lợi ích cho nông dân từ áp dụng IoT, bao gồm toàn

quyền sử dụng thông tin tốt hơn để giám sát cây trồng, tối ƣu hóa việc sử dụng

nƣớc, lập kế hoạch chiến lƣợc và phân tích hiệu quả, tiết kiệm thời gian và giảm

chi phí vận hành.

1.2. Khái quát kết quả chủ yếu của những công trình khoa học đã

công bố có liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra luận án tiếp

tục giải quyết

1.2.1. Khái quát kết quả chủ yếu những công trình công bố có liên

quan đến đề tài luận án

Qua tổng quan những công trình có liên quan đến thực hành DCCS trong

xây dựng NTM ở vùng ĐBSH, tác giả luận án khái quát một số kết quả nhƣ sau:

Thứ nhất, về cơ sở lý luận của thực hành DCCS trong xây dựng nông

thôn mới

Các công trình nghiên cứu: sách, đề tài khoa học, luận án, bài viết của các

tác giả đều đƣa ra những quan niệm của các nhà kinh điển C. Mác, Ph.Ăngghen,

V.I.Lênin về dân chủ và Hồ Chí Minh về DCCS. Trên cơ sở phân tích những

quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các tác giả đƣa ra

những quan niệm về dân chủ, DCCS, vai trò của DCCS, tính tất yếu của thực

hiện DCCS, tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Đối

với nội dung nông thôn mới, xây dựng NTM; các tác giả cũng đƣa ra khái niệm

về nông thôn, NTM, đặc điểm vùng nông thôn, xây dựng và phát triển kinh tế

nông thôn, mối quan hệ tác động qua lại của nông nghiệp, nông dân, nông thôn

đối với việc xây dựng NTM và vai trò của xây dựng NTM đối với sự phát triển

kinh tế- xã hội.

Về chủ thể, nội dung, hình thức thực hành DCCS trong xây dựng

NTM cũng có những công trình đề cập đến. Một số tác giả đề cập đến vai trò

32

chủ thể trong thực hiện DCCS, hình thức thực hiện DCCS gắn với thực hiện

các tiêu chí xây dựng NTM; các hình thức tham gia của ngƣời dân, những

yếu tố ảnh hƣởng, các tiêu chí đánh giá hiệu quả sự tham gia của ngƣời dân

trong quá trình xây dựng NTM. Đồng thời, một số công trình nghiên cứu của

các tác giả cũng có sự tham chiếu vấn đề thực hiện dân chủ và xây dựng

nông thôn ở các nƣớc khác, các tác giả cũng đề cập đến những điều kiện bảo

đảm cho sự tham gia của ngƣời dân trong quá trình xây dựng NTM.

Tuy nhiên, các công trình chƣa đề cập, phân tích một cách đầy đủ về

hoạt động của các chủ thể trong thực hiện QCDC cơ sở, các hình thức, cách

thức để đạt kết quả thực hành DCCS trong xây dựng NTM mới chỉ mang tính

chất gợi mở, chƣa đi sâu vào nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng. Bên

cạnh đó, cũng chƣa có công trình nào nghiên cứu vấn đề thực hành DCCS

trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH, chƣa chỉ ra những yếu tố tác động đến

thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng theo cả hai phƣơng

diện tích cực và tiêu cực.

Thứ hai, về thực trạng thực hành DCCS trong xây dựng nông thôn mới

Qua nghiên cứu những công trình liên quan đến thực trạng thực hành

DCCS trong xây dựng NTM có thể thấy, các công trình nghiên cứu đi sâu khảo

sát, phân tích thực trạng phát huy dân chủ, DCCS, xây dựng NTM và thực trạng

về sự tham gia của ngƣời dân trong quá trình xây dựng NTM. Các tác giả nêu bật

những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu hạn chế; từ đó, chỉ

ra những vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu.

Mặc dù vậy, hầu hết các công trình đều nghiên cứu, khảo sát ở những

khía cạnh nhất định, chƣa đi vào chuyên sâu nghiên cứu vấn đề thực hành

DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH cụ thể: thực trạng về hoạt động của

chủ thể, thực trạng về nội dung, hình thức thực hành DCCS trong xây dựng

NTM…; Các công trình chƣa đi sâu phân tích thực trạng thực hiện “dân giám

sát, dân thụ hƣởng” gắn với nội dung xây dựng NTM. Và cho đến nay, cũng

chƣa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về thực trạng thực hành DCCS trong

xây dựng NTM ở vùng ĐBSH, những nét đặc thù, yếu tố cơ bản của vùng

ĐBSH ảnh hƣởng đến những thành tựu và hạn chế trong thực hành DCCS

trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

33

Thứ ba, về quan điểm, một số giải pháp tăng cường thực hành DCCS

trong xây dựng nông thôn mới

Các công trình nghiên cứu bài báo, luận án, tập trung đi vào phân tích khá

cụ thể những quan điểm: quán triệt sâu sắc những quan điểm, chủ trƣơng, đƣờng

lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc trong thực hành DCCS và

trong xây dựng NTM. Đồng thời, các tác giả cũng nêu lên những giải pháp nhằm

nâng cao hiệu quả phát huy DCCS, xây dựng NTM và hiệu quả sự tham gia của

ngƣời dân trong xây dựng NTM.

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu có liên quan đến giải pháp nâng

cao hiệu quả thực hành DCCS trong xây dựng NTM đều đƣa ra nhiều giảp pháp

nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, cho đến nay, cũng chƣa có công

trình nghiên cứu cụ thể về vấn đề thực hành DCCS trong xây dựng NTM, chƣa

gắn yếu tố đặc thù của ĐBSH trong việc đƣa ra những giải pháp tăng cƣờng thực

hành DCCS trong xây dựng NTM. Hiện nay, cũng chƣa có công trình nghiên

cứu nào đi vào đề xuất những giải pháp mang tính chiến lƣợc gắn với tình hình

cụ thể vùng ĐBSH nhằm tăng cƣờng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở

vùng ĐBSH trong thời gian tới.

Nhƣ vậy, qua phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu có liên quan

có thể khẳng định đề tài: “Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn

mới ở vùng đồng bằng sông Hồng” là đề tài mới, không trùng lặp với các kết

quả nghiên cứu trƣớc đó, đây cũng là vùng có nhiều vấn đề cần đƣợc nghiên cứu

và giải quyết nhằm xây dựng và phát triển NTM.

1.2.2. Những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết

Qua nghiên cứu, phân tích các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề

tài, tác giả nhận thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề thực hiện dân

chủ, DCCS, NTM và thực hiện dân chủ cơ sở trong xây dựng NTM ở nhiều khía

cạnh, trên nhiều phƣơng diện khác nhau. Tuy nhiên, vấn đề thực hành DCCS

trong xây dựng nông thôn mới ở vùng ĐBSH hiện nay vẫn còn khoảng trống, cần

đƣợc tiếp tục bổ sung, làm rõ và hiện cũng chƣa có công trình nào nghiên cứu về

vấn đề này. Vì vậy, luận án tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:

Thứ nhất, luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận của thực hành DCCS

trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng hiện nay. Tác giả luận án tập trung

34

nghiên cứu làm rõ những quan niệm cơ bản về dân chủ, DCCS, thực hành DCCS,

NTM, xây dựng NTM và thực hành DCCS trong xây dựng NTM; làm rõ hoạt

động chủ thể, nội dung, hình thức thực hành DCCS trong xây dựng NTM; phân

tích vai trò và những yếu tố tác động (theo 2 hƣớng tích cực và tiêu cực) của

thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng.

Thứ hai, luận án đi vào khái quát đặc điểm vùng ĐBSH, những yếu tố đặc

thù của vùng ĐBSH ảnh hƣởng đến những thành tựu và hạn chế trong thực hành

DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH; trên cơ sở đó, nghiên cứu, phân tích

đánh giá kết quả khảo sát điều tra xã hội học về vấn đề thực hành DCCS trong

xây dựng NTM (tiến hành khảo sát ở 3 tỉnh thuộc vùng ĐBSH: Vĩnh Phúc, Bắc

Ninh, Nam Định). Luận án tiến hành đánh giá thực trạng vấn đề thực hành

DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH qua việc chỉ ra những thành tựu và

hạn chế (hoạt động của chủ thể, nội dung, hình thức). Từ đó, luận án chỉ ra

những nguyên nhân của thành tựu, hạn chế và vấn đề đặt ra đối với việc thực

hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH hiện nay.

Thứ ba, về quan điểm, một số giải pháp tăng cƣờng thực hành DCCS

trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Đối với việc nêu ra những quan điểm, luận

án tập trung đề ra những quan điểm định hƣớng dựa trên chủ trƣơng, đƣờng lối

của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc về thực hành DCCS và xây dựng

NTM; những chủ trƣơng, chính sách của vùng ĐBSH trong thực hành DCCS và

xây dựng NTM. Đồng thời, luận án đề xuất 6 giải pháp cụ thể nhằm nâng cao

chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Các giải pháp

đƣợc đƣa ra phù hợp với điều kiện cụ thể của vùng ĐBSH nhằm phát huy những

thành tựu đã đạt đƣợc, khắc phục những hạn chế, giải quyết những vấn đề đặt ra

nhằm tăng cƣờng thực hành DCCS và xây dựng NTM ở vùng ĐBSH trong thời

gian tới.

Tiểu kết chƣơng 1

Trong chƣơng 1, luận án tập trung tổng quan các công trình nghiên cứu có

liên quan đến luận án theo tuyến vấn đề mà luận án thực hiện nhƣ sau: Thứ nhất,

các công trình nghiên cứu về lý luận thực hành DCCS trong xây dựng NTM: chỉ

ra các quan niệm về dân chủ, DCCS, thực hiện QCDC cơ sở, nông thôn mới, xây

dựng NTM. Thứ hai, các công trình nghiên cứu thực trạng thực hành DCCS trong

35

xây dựng NTM: phân tích thực trạng việc phát huy DCCS, thực trạng xây dựng

NTM; các vấn đề đặt ra cần phải giải quyết. Thứ ba, các công trình nghiên cứu

giải pháp tăng cƣờng thực hành DCCS trong xây dựng NTM: nghiên cứu các giải

pháp tăng cƣờng thực hành DCCS, nâng cao hiệu quả xây dựng NTM, tăng cƣờng

sự tham gia của ngƣời dân trong xây dựng NTM. Kết quả khái quát cho thấy,

những nội dung các nghiên cứu đã đề cập và những nội dung các công trình

nghiên cứu chƣa đề cập đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Qua đó, tác giả có cái nhìn đầy đủ hơn để phục vụ cho nghiên cứu luận án.

Trên cơ sở khái quát những công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án,

tác giả tiếp tục thực hiện nghiên cứu vấn đề thực hành DCCS trong xây dựng

NTM ở vùng ĐBSH hiện nay: Một là, cơ sở lý luận về thực hành DCCS trong xây

dựng NTM ở vùng ĐBSH. Hai là, thực trạng thực hành DCCS trong xây dựng

NTM ở vùng ĐBSH và những vấn đề đặt ra hiện nay. Ba là, quan điểm, một số

giải pháp tăng cƣờng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

36

Chƣơng 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ

TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG

2.1. Quan niệm cơ bản về thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng

nông thôn mới

2.1.1. Khái niệm về dân chủ cơ sở và thực hành dân chủ cơ sở

2.1.1.1. Khái niệm về dân chủ cơ sở

* Khái niệm về dân chủ

Trong bối cảnh thế giới ngày nay, trƣớc những biến đổi sâu sắc về mọi

phƣơng diện của đời sống xã hội, với những biểu hiện vô cùng đa dạng về diện

mạo xã hội ở mỗi quốc gia, một lần nữa những vấn đề về dân chủ tiếp tục đƣợc

bàn luận sôi nổi cả về mặt lý luận và thực tiễn. Mặc dù dân chủ mang đậm tính

khách quan, vừa có giá trị chung của nhân loại, vừa có tính lịch sử, tính dân tộc

và tính thời đại, tuy nhiên trong mỗi chế độ xã hội, dân chủ đều có những đặc

trƣng của nó. Đối với Việt Nam trong quá trình xây dựng CNXH, chế độ dân

chủ XHCN đƣợc dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí

Minh, cùng với thực tiễn xây dựng và hoàn thiện chế độ dân chủ XHCN.

Trƣớc hết, tƣ tƣởng của C. Mác về dân chủ là một bƣớc ngoặt quan trọng

trong nhận thức về dân chủ, chỉ ra bản chất của dân chủ với tính chất là một chế

độ nhà nƣớc, trong đó nhân dân giữ vai trò trung tâm; sự tham gia của nhân dân

là yếu tố cốt lõi quyết định vai trò làm chủ của nhân dân trong chế độ nhà nƣớc

dân chủ; dân chủ đƣợc dựa trên cơ sở quy luật vận động, phát triển của xã hội.

Nhân dân là cơ sở quyết định, là lý do tồn tại của nhà nƣớc. Trong tác phẩm Góp

phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen (năm 1843), C.Mác đã chỉ ra

dấu hiệu đặc trƣng cơ bản của chế độ dân chủ và so sánh sự khác biệt về bản

chất giữa chế độ dân chủ với chế độ quân chủ: “Dƣới chế độ dân chủ, không

phải con ngƣời tồn tại vì luật pháp, mà luật pháp tồn tại vì con ngƣời; ở đây sự

tồn tại của con ngƣời là luật pháp, trong khi đó thì dƣới những hình thức khác của

chế độ nhà nƣớc, con ngƣời lại là tồn tại đƣợc quy định bởi luật pháp”[80, tr.350].

Đồng thời, Ông tiếp tục khẳng định đích đến của chế độ dân chủ là con ngƣời, nhà

nƣớc và luật pháp tồn tại vì con ngƣời: “Trong chế độ dân chủ thì bản thân chế độ

37

nhà nƣớc thể hiện ra là một trong những tính quy định, cụ thể là sự tự quy định

của nhân dân. Trong chế độ quân chủ, chúng ta có nhân dân của chế độ nhà nƣớc;

trong chế độ dân chủ, chúng ta có chế độ nhà nƣớc của nhân dân”[80, 349].

C.Mác chỉ rõ, chế độ dân chủ xuất phát từ con ngƣời và biến nhà nƣớc thành con

ngƣời đƣợc khách thể hóa. Hay, chính con ngƣời, chính nhân dân là chủ thể tạo ra

chế độ nhà nƣớc dân chủ theo ý chí, nguyện vọng của mình. Có thể nói, tƣ tƣởng

của C.Mác về dân chủ thì nhân dân là điều kiện, tiêu chí quyết định bản chất dân

chủ của chế độ nhà nƣớc: “…chế độ nhà nƣớc, một khi không còn biểu hiện thật

sự của ý chí của nhân dân nữa thì trở thành một cái hữu danh vô thực”[80, tr.394].

C.Mác và Ph.Ănghhen cũng cho rằng một nền dân chủ thực sự chân chính

và có thể thực hiện đƣợc chỉ có ở xã hội cộng sản chủ nghĩa, đó là nền dân chủ

của đại đa số nhân dân lao động. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (1845)

C.Mác và Ph.Ănghhen viết:

“Trong khuôn khổ của xã hội cộng sản chủ nghĩa, cái xã hội duy nhất

mà trong đó sự phát triển độc đáo và tự do của các cá nhân không

còn là lời nói suông- sự phát triển ấy chính là do mối liên hệ giữa

những cá nhân quyết định, mối liên hệ đƣợc biểu hiện một phần

trong những tiền đề kinh tế, một phần trong sự cố kết tất yếu của sự

phát triển tự do của mọi ngƣời, và cuối cùng trong tính chất phổ biến

của hoạt động của các cá nhân, trên cơ sở lực lƣợng sản xuất hiện

có”[81, tr.644].

Kế thừa quan điểm của C.Mác và Ph. Ăngghen, V.I.Lênin cũng đƣa ra

những quan điểm về dân chủ và phát triển hoàn thiện hơn qua mỗi giai đoạn. Ở

giai đoạn đầu xây dựng Nhà nƣớc Xô Viết, trong tác phẩm Nhà nƣớc và Cách

mạng, V.I.Lênin viết: “ Chế độ dân chủ có một ý nghĩa lớn lao trong cuộc đấu

tranh tự giải phóng của giai cấp công nhân chống bọn tƣ bản”[71, tr.122]. Sau

chiến thắng của Cách mạng Tháng Mƣời, Ông tiếp tục khẳng định: “ Chế độ dân

chủ xô- viết hay dân chủ vô sản đã phát sinh ở Nga. So với Công xã Pa-ri thì đó

là bƣớc thứ hai có một ý nghĩa lịch sử toàn thế giới”[74, tr.368]; vì, “Lần đầu

tiên trên thế giới, nền dân chủ xô- viết hay dân chủ vô sản đã kiến tập chế độ dân

chủ cho quần chúng, cho công nhân và tiểu nông”[74, tr.369]. Điều này cho thấy,

việc giành chính quyền, giành dân chủ là bƣớc đầu tiên, song xây dựng và tổ

38

chức thực hiện chính quyền, dân chủ thế nào mới là điều quan trọng. Trong

Cƣơng lĩnh của Đảng Cộng sản Nga, V.I.Lênin nhấn mạnh:

“Chế độ dân chủ vô sản hay chế độ dân chủ xô- viết đã biến các tổ chức

quần chúng của chính những giai cấp bị chủ nghĩa tƣ bản áp bức, của

những ngƣời vô sản và những ngƣời nông dân nghèo- những ngƣời nửa

vô sản, nghĩa là của đại đa số dân cƣ, thành một nền tảng vĩnh viễn và

duy nhất của toàn bộ bộ máy nhà nƣớc, từ địa phƣơng đến trung ƣơng,

từ dƣới lên trên. Nhƣ vậy, tức Nhà nƣớc xô- viết đã thực hiện- và thực

hiện trên một quy mô rộng lớn hơn bất kỳ ở một nơi nào- chế độ tự

quản địa phƣơng và tự quản khu vực, không có một sự áp đặt chính

quyền nào từ trên xuống cả. Nhiệm vụ của đảng là phải cố gắng không

mệt mỏi nhằm thực sự thực hiện đầy đủ kiểu dân chủ cao nhất ấy, một

kiểu dân chủ đòi hỏi phải thƣờng xuyên nâng cao trình độ văn hóa, tính

tổ chức và tính chủ động của quần chúng để nó thực hiện đƣợc chức

năng đúng đắn của mình”[74, tr.506- 507].

Điều này cho thấy, chế độ dân chủ ở Nga là chế độ dân chủ cho số đông,

cho toàn thể những ngƣời lao động và đƣợc bảo đảm thực hiện trên thực tiễn.

Chế độ này khác hẳn về chất so với chế độ dân chủ tƣ sản. Chế độ dân chủ theo

V.I.Lênin là một nền dân chủ trực tiếp điển hình, không có sự áp đặt chính

quyền nào từ trên xuống, mà đƣợc ngƣời dân trực tiếp bầu ra, dựa trên cuộc bầu

cử trực tiếp của ngƣời dân.

Ở giai đoạn ba năm nội chiến, V.I.Lênin đã kịp thời đề xuất và điều chỉnh

việc thực hiện dân chủ cùng kết hợp với kỷ luật sắt của giai cấp vô sản. Ông

nhấn mạnh đến “chế độ thủ trƣởng” đối với toàn bộ cơ cấu kinh tế và “tập trung

hóa việc quản lý kinh tế quốc hữu hóa” [73, tr.762]. Đồng thời, căn cứ vào tình

hình thực tiễn lúc bấy giờ, V.I.Lênin lần đầu tiên đề xuất nguyên tắc “tập trung

dân chủ”, kết hợp thống nhất biện chứng giữa dân chủ với tập trung và đặt ra

yêu cầu cần phải tăng cƣờng ý chí thống nhất của giai cấp vô sản nhƣ một kỷ

luật sắt: “Các đảng gia nhập Quốc tế cộng sản phải đƣợc xây dựng theo nguyên

tắc tập trung dân chủ. Trong thời kỳ nội chiến gay gắt hiện nay, đảng cộng sản

chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình nếu đảng đƣợc tổ chức một cách tập

trung nhất, nếu trong đảng có một kỷ luật sắt, gần giống nhƣ kỷ luật quân sự, và

39

nếu Trung ƣơng đảng là một cơ quan uy tín mạnh mẽ, có quyền lực rộng rãi,

đƣợc toàn thể đảng viên tin cậy”[76, tr.253]. Nhƣ vậy, ở giai đoạn này, tƣ tƣởng

của V.I.Lênin về dân chủ là đề cập và nhấn mạnh đến nguyên tắc tập trung dân

chủ, thiết lập một thể chế kinh tế và chính trị tập trung cao độ.

Bƣớc sang giai đoạn thực hiện Chính sách kinh tế mới (NEP), V.I.Lênin

cho rằng, phải có một cuộc cải tổ chế độ chính trị đồng bộ với hệ thống kinh tế

thì mới có thể chiến thắng triệt để với chủ nghĩa quan liêu ngày càng gia tăng và

mở rộng, thực hiện đƣợc những nội dung trong Cƣơng lĩnh của Đảng, cũng tức

là thực hiện đƣợc nền dân chủ xã hội chủ nghĩa kiểu mới, vƣợt qua đƣợc nền dân

chủ tƣ bản chủ nghĩa; thực hiện phƣơng pháp kết hợp giám sát bên trong và bên

ngoài của bộ máy Đảng, Nhà nƣớc và tăng cƣờng giám sát đối với lãnh đạo cao

nhất; thực hiện nền dân chủ XHCN gắn chặt với quần chúng nhân dân. Ông nhấn

mạnh: “Dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân”[70, tr.109], là kết quả của quá

trình đấu tranh trong trƣờng kỳ lịch sử của nhân loại vì sự tiến bộ, văn minh.

Tiếp tục quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về dân chủ. Dân chủ trong

tƣ tƣởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh từ tƣ tƣởng truyền thống dân tộc và sự nhận

thức sâu sắc về vai trò của nhân dân trong lịch sử xã hội loài ngƣời. Với ý nghĩa

đó, Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết, là tối

thƣợng”, rằng “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới

không có gì mạnh bằng lực lƣợng đoàn kết của nhân dân” [87; tr.276]. Đồng thời

với việc khẳng định về vai trò chủ thể lịch sử của nhân dân, Hồ Chí Minh đã

khái quát: “Dân là gốc của nƣớc, của cách mạng”, “Cách mạng là sự nghiệp của

quần chúng nhân dân”, “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm đƣợc. Dân

chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên” [85; tr.293]; “Nƣớc lấy dân

làm gốc. Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” [85;

tr.409- 410]. Quan niệm về vai trò chủ thể của nhân dân trong tƣ tƣởng Hồ Chí

Minh là cơ sở lý luận cho sự hình thành nên phƣơng pháp luận đối với sự nghiệp

cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở đó cũng hình thành nên phƣơng châm hành

động trong cách mạng để huy động và tập hợp sức mạnh vô cùng to lớn của nhân

dân. Trong quá trình xây dựng đất nƣớc, Hồ Chí Minh khẳng định nhà nƣớc ta là

nhà nƣớc “của dân, do dân, vì dân”. Ngay từ đầu, Ngƣời đã xác định nhiệm vụ

phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, cán bộ nhà nƣớc phải là công bộc của

40

dân, gần dân, tin dân, và “ Nhà nƣớc ta là nhà nƣớc của đại đa số nhân dân…”

[85, tr. 216], “nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu

thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”[85, tr. 218]. Hồ Chí

Minh thể hiện bản lĩnh chính trị và sự tin tƣởng vào sức mạnh của nhân dân

trong việc xây dựng một nhà nƣớc dân chủ, nhà nƣớc của dân, do dân, vì dân.

Từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh

về dân chủ, có thể rút ra khái niệm dân chủ nhƣ sau: dân chủ là hình thức tổ

chức thiết chế chính trị của xã hội bảo đảm quyền làm chủ, quyền tự do, bình

đẳng của nhân dân; nhân dân giữ vai trò là vị trí trung tâm, cốt lõi quyết định

quyền làm chủ của mình trong một chế độ xã hội thông qua nhà nước. Dân chủ

mang bản chất giai cấp, tồn tại và phát triển theo quy luật vận động, phát triển

của xã hội.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa

và phát huy những giá trị quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí

Minh về dân chủ sao cho phù hợp với tình hình và điều kiện lịch sử cụ thể của

Việt Nam. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà chúng ta xây dựng là nền

dân chủ tiến bộ, nhân văn, của toàn thể nhân dân lao động, thể hiện quyền làm

chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nền dân chủ

XHCN đƣợc bảo đảm bằng hệ thống pháp luật, bằng hệ thống tổ chức nhà nƣớc

do nhân dân bầu ra, do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thuật ngữ Dân chủ xã hội chủ

nghĩa đƣợc Đảng ta đề cập trong Văn kiện Đại hội VI (năm 1986): “nhà nƣớc

chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa” [35, tr. 451].

Đặc biệt trong Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), nhận thức về dân chủ ở Việt Nam đã có

bƣớc tiến dài khi Đảng ta khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của

chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nƣớc. Xây dựng

và từng bƣớc hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ đƣợc

thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ

gắn liền với kỷ luật, kỷ cƣơng và phải đƣợc thể chế hóa bằng pháp luật, đƣợc

pháp luật bảo đảm…”[38, tr.84- 85]. Đến năm 2016, tại Đại hội XII của Đảng,

thành tố dân chủ xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên đã đƣợc đƣa vào tên của chủ đề

Đại hội, đồng thời trong văn kiện đã giành một mục riêng bàn về vấn đề dân chủ

41

với tên gọi: “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm

chủ của nhân dân” [39, tr.166- 167]. Điều này thể hiện sự nhận thức sâu sắc,

đầy đủ của Đảng không chỉ về bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, mà

còn về vai trò to lớn của dân chủ, vì không phát huy dân chủ, không phát huy

quyền làm chủ của nhân dân sẽ không có chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở bám sát

thực tiễn, xu hƣớng phát triển của đất nƣớc và thế giới, Báo cáo Chính trị tại Đại

hội XIII (2021) đã đề ra định hƣớng phát triển đất nƣớc thời kỳ 2021- 2030,

Đảng ta đã tiếp tục nhấn mạnh: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội

chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; củng cố, nâng cao

niềm tin của nhân dân, tăng cƣờng đồng thuận xã hội”[40, tr. 38].

Như vậy, dân chủ XHCN ở nước ta do Đảng ta định hướng, đề ra và lãnh

đạo ngày càng hoàn thiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; nền dân chủ

của toàn thể nhân dân lao động; coi đó là mục tiêu, động lực của đổi mới, của

quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều này đã được đúc rút dựa trên cơ sở lý luận

của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta

qua các thời kỳ phát triển của xã hội.

Nhận thức về xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN là một trong

những thành tựu to lớn về lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, góp phần quan

trọng vào việc hình thành và phát triển đƣờng lối đổi mới của Đảng vì mục tiêu

“dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đáp ứng đƣợc khát vọng

của nhân dân, phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn Việt Nam. Nền dân

chủ XHCN mà chúng ta đang xây dựng là nền dân chủ tiến bộ, nhân văn, của

toàn thể nhân dân lao động, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các

lĩnh vực của đời sống xã hội. Nền dân chủ XHCN đƣợc bảo đảm bằng hệ thống

pháp luật, bằng hệ thống tổ chức nhà nƣớc do nhân dân bầu ra, do Đảng Cộng

sản lãnh đạo.

* Khái niệm về dân chủ cơ sở

Cơ sở là đơn vị cấp dƣới cùng trong HTCT Việt Nam, nơi trực tiếp thực

hiện các hoạt động nhƣ sản xuất, công tác … của một hệ thống tổ chức trong

quan hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên. Cơ sở là địa bàn cƣ trú của nhân dân,

nơi diễn ra các hoạt động sinh sống và làm ăn của nhân dân lao động. Vì vậy, nói

42

tới cơ sở là nói tới vai trò chủ thể của ngƣời dân và hình thức tổ chức các hoạt

động của cộng đồng, các mối quan hệ xã hội.

Cơ sở là nơi trực tiếp nhất của thực tiễn, thể hiện ý thức và năng lực làm

chủ của nhân dân bằng cả phƣơng thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp,

cũng là nơi đầu tiên đối mặt với những thắc mắc, kiến nghị của nhân dân, hoặc

những xung đột trong cuộc sống hằng ngày. Cơ sở tuy là cấp thấp nhất nhƣng lại

là cấp đầu tiên và trực tiếp nhất với vai trò nền tảng xây dựng chế độ dân chủ của

toàn hệ thống chính trị, là tầng sâu nhất và là địa chỉ quan trọng nhất để thực

hiện những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nƣớc

ta; là nơi mà các tổ chức chính trị- xã hội cần phải tuyên truyền, vận động đƣờng

lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc làm cho dân hiểu, dân tin và thực hiện các

hoạt động cộng đồng xã hội.

Để hƣớng tới xây dựng và hoàn thiện dân chủ XHCN, dân chủ cần phải

đƣợc thực hiện từ cấp cơ sở và trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

DCCS là quá trình hiện thực hóa của dân chủ XHCN. Đây là hạt nhân, là điều

kiện để thực hiện một nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân

đƣợc thực hiện trên thực tế, nhân dân là chủ thể quyết định các vấn đề trọng đại

của đất nƣớc. Thực tế cho thấy, thực hiện tốt DCCS sẽ giúp ngƣời dân đƣợc trao

quyền làm chủ đối với những vấn đề chung của đất nƣớc, tạo niềm tin cho cộng

đồng, góp phần xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN; và ngƣợc lại,

DCCS không đƣợc thực hiện sẽ ảnh hƣởng đến việc thực hiện chính sách không

mang lại hiệu quả, ảnh hƣởng đến quyền lợi của nhân dân và hiệu quả xây dựng

nền dân chủ XHCN.

Nhƣ vậy, dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng

Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về dân chủ và dân chủ XHCN; đồng thời

qua phản ánh thực tiễn đời sống dân chủ ở cơ sở, có thể rút ra khái niệm về

DCCS nhƣ sau: DCCS là hình thức tổ chức thiết chế trong cấu trúc của HTCT

Việt Nam từ Trung ương đến cơ sở nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân

trên địa bàn cơ sở ở xã, phường, thị trấn. Người dân thực hiện quyền làm chủ

của mình trên mọi mặt của đời sống xã hội. DCCS được thực hiện theo phương

châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng gắn

với trật tự kỷ cương, pháp luật của Nhà nước.

43

Qua thực tiễn thực hiện DCCS, Đảng, Nhà nƣớc ta đã đúc rút và hình

thành nên Quy chế DCCS. Quy chế dân chủ cơ sở là bƣớc tiến quan trọng trong

tƣ duy của Đảng về dân chủ, đã hoạch định ra “một trật tự xã hội dân chủ”, đƣợc

quy định nhiều nội dung cơ bản trong mối quan hệ giữa các chủ thể thực hiện dân

chủ trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý, Nhân dân làm chủ” phải là

ba chân kiềng vững chắc của sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc, đất nƣớc ta trên

mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Quy chế DCCS và DCCS đều hƣớng đến phạm

vi thực hiện dân chủ ở địa bàn cơ sở; tuy nhiên, Quy chế DCCS là những chủ

trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về DCCS và đƣợc thể chế hóa

bằng những quy định, quy chế, những văn bản hƣớng dẫn về thực hiện DCCS.

Còn DCCS là quá trình thực hiện dân chủ trên thực tế ở địa bàn cơ sở, thực hiện

theo những chủ trƣơng, đƣờng lối, quy định, quy chế của Đảng, Nhà nƣớc về thực

hiện DCCS. Hay nói cách khác, Quy chế DCCS đƣợc hiểu những quy định, hƣớng

dẫn cụ thể về mặt lý thuyết bằng văn bản, còn DCCS là hiện thực hóa những chủ

trƣơng, văn bản, Quy chế DCCS trên thực tế.

Có thể nói, về mặt bản chất DCCS là phát huy quyền làm chủ mọi mặt của

ngƣời dân ở cơ sở, đây đƣợc coi là một điều kiện, tiền đề để thực hiện dân chủ

trong toàn xã hội. DCCS là một đòi hỏi tất yếu của quá trình thực hiện và phát

huy dân chủ ở Việt Nam hiện nay.

2.1.1.2. Khái niệm về thực hành dân chủ cơ sở

Thực hành DCCS là một vấn đề quan trọng, cốt lõi trong xây dựng và phát

huy nền dân chủ XHCN ở nƣớc ta, đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm.

Kế thừa những tƣ tƣởng của những ngƣời sáng lập chủ nghĩa Mác- Lênin, Chủ

tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề thực hành dân chủ với mục đích làm cho

nhân dân ai cũng đƣợc hƣởng tự do. Thực hành dân chủ là phát huy dân chủ

ngày càng đúng đắn, đầy đủ và thực chất hơn. Ngƣời cho rằng: “Có phát huy dân

chủ đến cao độ thì mới động viên đƣợc tất cả lực lƣợng của nhân dân đƣa cách

mạng tiến lên”[88, tr.376]. Thực hành dân chủ là điều kiện cơ bản để tạo động

lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, Ngƣời nhấn mạnh: “… thực hành dân chủ là

cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”[89, tr.325]. Ngƣời đặc

biệt quan tâm đến thực hành dân chủ cần đƣợc hiện thực hóa, phải đƣợc thực

hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội; phải làm sao cho dân tin, dân hiểu và

44

dân nắm đƣợc quyền và nghĩa vụ dân chủ của mình; phải làm cho dân hiểu Nhà

nƣớc là của dân, cán bộ công bộc là phục vụ nhân dân và bảo đảm trên thực tế

quyền lực thuộc về nhân dân. Cơ sở mà Hồ Chí Minh căn cứ cho khẳng định về

địa vị làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân trong thực hành dân chủ, nó luôn

đƣợc xác định là bản chất của chế độ dân chủ của Việt Nam, và là giá trị cao

nhất, thể hiện cho đặc trƣng của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân.

Trên cơ sở kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng

Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về dân chủ và vận dụng vào điều kiện cụ thể

của đất nƣớc. Đại hội XIII của Đảng ta khẳng định: ““Thực hành và phát huy rộng

rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; củng

cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cƣờng đồng thuận xã hội”[40, tr. 38].

Đồng thời, tại Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh thực hành dân chủ theo phƣơng

châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hƣởng”

Có thể hiểu, “thực hành” là hoạt động của các chủ thể thực hiện, vận dụng

đƣa lý thuyết vào thực tế nhằm kiểm chứng tính đúng đắn, khoa học của lý

thuyết. Thông qua thực hành để tổng kết, đánh giá tính hiệu quả của lý thuyết

nhằm đƣa ra những kết luận khoa học, chính xác nhất.

Để thực hành dân chủ đƣợc thực hiện trong toàn xã hội cần phải tiến hành

thực hiện dân chủ từ cấp cơ sở và bám sát nội dung, quy định cụ thể trong Quy

chế dân chủ ở cơ sở. Quy chế dân chủ ở cơ sở đã quy định những vấn đề liên quan

đến đời sống, các hoạt động của nhân dân và các mối quan hệ của các cấp ủy,

chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã hội. Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị

số 30- CT/TW ngày 18 tháng 02 năm 1998 “Về xây dựng và thực hiện quy chế

dân chủ ở cơ sở” và Chính Phủ cũng ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP,

ngày 11-5-1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã. Quy chế dân

chủ ở cơ sở đƣợc hình thành là điều kiện “cần và đủ” để ngƣời dân thực hành dân

chủ, thực hiện quyền làm chủ của mình trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

ngay tại cơ sở, xã, phƣờng, thị trấn (nơi ngƣời dân sinh sống và làm việc).

Nhƣ vậy, thực hành DCCS là quá trình thực hiện quyền làm chủ của nhân

dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội ở cấp xã, phường, thị trấn với phương

châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”,

đề cao trách nhiệm của nhân dân, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

45

Thực hành DCCS đƣợc biểu hiện trên hai phƣơng diện lý luận và thực tiễn.

Về mặt lý luận, đó là sự kế thừa Chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh,

quan điểm của Đảng ta; về mặt thực tiễn, là quá trình vận dụng thực tiễn DCCS

nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội tiến

tới xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN.

Trong quá trình thực hiện DCCS, qua thực tiễn thực hiện quyền làm chủ

của nhân dân, Đảng, Nhà nƣớc ta đã tổng kết, đúc rút và xây dựng Quy chế dân

chủ ở cơ sở nhằm tạo cơ sở pháp lý, bảo đảm cho quyền làm chủ của nhân dân

đƣợc thực hiện trên thực tế. Theo đó, nội dung Quy chế DCCS đƣợc thể hiện

nhƣ sau:

Thứ nhất, chính quyền địa phƣơng có trách nhiệm thông tin kịp thời và

công khai để nhân dân biết những công việc đƣợc quy định tại Điều 4 của Quy

chế: Công khai chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc; các quy định của Nhà

nƣớc và chính quyền địa phƣơng về thủ tục hành chính và giải quyết những

công việc liên quan đến dân; kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội dài hạn và

hàng năm của xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; dự toán và quyết toán

ngân sách; các khoản thu- chi các dự án, đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng,

công trình phúc lợi và kết quả thực hiện; chính sách xóa đói, giảm nghèo; điều

chỉnh địa giới hành chính và các đơn vị hành chính liên quan đến xã; kết quả

thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của các cán bộ

xã, thôn, làng, ấp, bản; công tác văn hóa, xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội,

giữ gìn an ninh trật tự, an toàn của xã; sơ kết, tổng kết các hoạt động của Hội

đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) xã. Nhân dân đƣợc công

khai bằng hình thức thông qua các văn bản; niêm yết công khai tại trụ sở

UBND xã và các trung tâm dân cƣ, văn hóa; hệ thống truyền thanh xã, thôn,

làng, ấp, bản và các tổ chức văn hóa, thông tin, tuyên truyền cơ sở; các cuộc

tiếp xúc cử tri; các kỳ họp của HĐND xã, các cuộc họp của Ủy ban Mặt trận Tổ

quốc, các đoàn thể, các cuộc họp của thôn, làng, ấp, bản.

Thứ hai, những nội dung cho dân bàn và quyết định trực tiếp bao gồm những

nội dung đƣợc quy định tại Điều 6: Chủ trƣơng và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ

tầng, các công trình phúc lợi công cộng (điện, đƣờng, trƣờng học, trạm xã, nghĩa

trang, các công trình văn hóa, thể thao…); lập thu- chi các loại quỹ theo khuôn khổ

46

pháp luật; xây dựng hƣơng ƣớc, quy ƣớc làng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn

trật tự, bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội; thành lập ban giám sát

công trình xây dựng do dân đóng góp. Hình thức dân bàn và quyết định trực tiếp

thông qua các cuộc họp dân ở thôn, làng, ấp, bản thảo luận và biểu quyết công khai

hoặc bỏ phiếu kín, lập biên bản gửi UBND xã; họp chủ hộ bàn biểu quyết công khai

hoặc bỏ phiếu kín; phát phiếu lấy ý kiến đến hộ gia đình.

Thứ ba, những nội dung cho nhân dân bàn, tham gia ý kiến, HĐND,

UBND xã quyết định đƣợc quy định tại Điều 9: Dự thảo quy hoạch, kế hoạch

phát triển kinh tế- xã hội dài hạn, hàng năm của xã, phƣơng án chuyển đổi cơ

cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất và phƣơng án phát triển ngành nghề, giải quyết việc

làm cho ngƣời lao động; dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở địa

phƣơng và việc quản lý sử dụng có hiệu quả quỹ đất công ích ở địa phƣơng; dự

thảo quy hoạch khu dân cƣ và đề án định canh, định cƣ vùng kinh tế mới, kế

hoạch dự án huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân để xây dựng

cơ sở hạ tầng; dự thảo đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính; chủ

trƣơng, phƣơng án đề bù giải phóng mặt bằng; giới thiệu ngƣời ứng cử đại biểu

HĐND xã. Thông qua các hình thức nhƣ: phát phiếu thăm dò ý kiến từng hộ gia

đình; họp nhân dân hoặc chủ hộ thôn, làng, ấp, bản; họp đoàn thể, các tổ chức

kinh tế để thảo luận; thông qua hòm thƣ góp ý.

Thứ tư, những nội dung nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát đƣợc quy

định tại Điều 11 nhƣ sau: Hoạt động của HĐND và UBND xã; kết quả thực hiện

Nghị quyết của HĐND và quyết định UBND xã; hoạt động của đại biểu HĐND,

cán bộ UBND, công chức Nhà nƣớc hoạt động tại địa phƣơng; giải quyết khiếu

nại, tố cáo của ngƣời dân; dự toán và quyết toán ngân sách xã; kết quả nghiệm thu

và quyết toán công trình do nhân dân đóng góp xây dựng và các chƣơng trình dự

án do Nhà nƣớc, các tổ chức và cá nhân đầu tƣ tài trợ cho xã; quản lý và sử dụng

đất đai; thu, chi các loại quỹ và lệ phí theo quy định của Nhà nƣớc, các khoản

đóng góp của nhân dân; kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực,

tham nhũng liên quan đến cán bộ xã; việc thực hiện chính sách ƣu đãi, chăm sóc,

giúp đỡ thƣơng binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những ngƣời và gia đình có công

với nƣớc, chính sách bảo hiểm xã hội. Nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát qua

hình thức: qua các kỳ họp của HĐND xã mời đại diện các tổ chức đoàn thể tham

47

dự và đại diện nhân dân; thông qua các tổ chức: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh

niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội cựu chiến

binh, Hội Ngƣời cao tuổi; thông qua ban thanh tra nhân dân đƣợc thành lập và

hoạt động theo pháp luật.

Thực hành dân chủ ở cơ sở là thực hiện và bảo đảm quyền lợi của nhân

dân theo phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát,

dân thụ hưởng”. Thực hiện tốt thực hành DCCS là điều kiện để đổi mới nâng

cao chất lƣợng hệ thống chính trị ở xã, phƣờng, thị trấn, là yêu cầu khách quan

để thực hiện dân chủ trong toàn xã hội.

2.1.2. Khái niệm về xây dựng nông thôn mới và thực hành dân chủ cơ

sở trong xây dựng nông thôn mới

2.1.2.1. Khái niệm xây dựng nông thôn mới

Khái niệm nông thôn

Nông thôn là vấn đề đƣợc rất nhiều nhà khoa học, nghiên cứu trên các

lĩnh vực, khía cạnh khác nhau. Cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau về nông

thôn, vùng nông thôn có thể đƣợc định nghĩa bởi quy mô định cƣ, mật độ dân số,

khoảng cách đến những vùng thành thị, phân chia hành chính và tầm quan trọng

của nông nghiệp; dựa vào trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là ở

vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị; dựa vào chỉ

tiêu trình độ tiếp cận thị trƣờng, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn

vì cho rằng vùng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận

thị trƣờng thấp hơn so với đô thị. Có ý kiến cho rằng: vùng nông thôn là vùng đa

số ngƣời dân làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn thu nhập chính của các

cƣ dân là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp [109]. Một số nhà nghiên cứu khác

lại cho rằng: “Nông thôn là kiểu cộng đồng lãnh thổ- xã hội nhất định có tính

lịch sử, hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội. Nông thôn có đặc

điểm là dân số không đông, mật độ dân số tƣơng đối thấp, quy mô nhỏ, lao động

nông nghiệp đóng vai trò đáng kể, phân hóa nghề nghiệp thấp” [27].

Theo Thông tƣ số 54/2009/ TT- BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn, khái niệm “nông thôn” đƣợc quy định tại Điều 1, cụ

thể nhƣ sau: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành

phố, thị xã, thị trấn đƣợc quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã”.

48

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học khác, có hai hƣớng tiếp cận khác nhau khi quan niệm về nông thôn. Thứ nhất, tiếp cận so sánh sự khác nhau giữa nông thôn và đô thị thì: “Nông thôn là khu vực không gian lãnh thổ mà ở đó cộng đồng cƣ dân có cách sống và lối sống riêng, lấy sản xuất nông nghiệp làm hoạt động kinh tế chủ yếu và sống chủ yếu dựa vào nghề nông (nông, lâm, ngƣ nghiệp); có mật độ dân cƣ thấp và quần cƣ theo hình thức làng xã; có cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội kém phát triển, trình độ về dân trí, trình độ khoa học kỹ thuật cũng nhƣ tƣ duy sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trƣờng là thấp kém hơn so với đô thị; có những mối quan hệ bền chặt giữa các cƣ dân dựa trên bản sắc văn hóa , phong tục tập quán cổ truyền về tín ngƣỡng, tôn giáo…”[160, tr.9]. Thứ hai, theo hƣớng tiếp cận phân biệt các khái niệm: “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân thì Nông thôn là lãnh thổ mà ở đó có những cộng đồng cƣ dân sinh sống với những lối sống, cách sống cùng các hoạt động sống riêng. Những lối sống, cách sống và các hoạt động sống của mỗi cộng đồng dân cƣ khác nhau ở những vùng nông thôn khác nhau ít nhiều có những khác nhau” [160, tr.10].

Từ những khái niệm về nông thôn có thể hiểu khái quát về nông thôn nhƣ sau: Nông thôn là khu vực thuộc cấp xã và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. Trong đó, hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính, người dân sống chủ yếu dựa vào nghề nông và các ngành nghề truyền thống. Người dân ở nông thôn có mối quan hệ gắn bó, tình làng nghĩa xóm, dựa trên những hương ước làng xã và được quản lý bởi cấp xã.

Theo quan niệm truyền thống và ngày nay, nông thôn là nơi định cƣ của những ngƣời sống chủ yếu bằng nghề nông, đất đai là tƣ liệu sản xuất chủ yếu, một số ít ngƣời sống bằng nghề phi nông nghiệp, thƣờng là nghề truyền thống do cha ông để lại và phân công lao động chƣa cao, trình độ chuyên môn thấp, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Nông thôn là nơi lƣu giữ và bảo tồn những di sản văn hóa quốc gia nhƣ phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, tín ngƣỡng, hƣơng ƣớc làng xã, làng nghề truyền thống, sản xuất nông nghiệp. Cƣ dân nông thôn có mối quan hệ gia đình, làng xóm gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong mối quan hệ ứng xử giữa con ngƣời với con ngƣời thì những hành vi ứng xử đƣợc đặt trong các thiết chế xã hội (gia đình, dòng họ, làng xóm…) điều này đã tạo nên sự đoàn kết, tình làng nghĩa xóm và sự cố kết cộng đồng.

49

Khái niệm nông thôn mới

Có rất nhiều quan niệm về nông thôn mới (NTM) đƣợc các nhà nghiên cứu

đƣa ra với các cách tiếp cận khác nhau: Có quan điểm cho rằng: NTM phải chú

trọng xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo động lực cho phát triển kinh tế- xã hội; NTM là

phải xây dựng hoàn thành đƣợc 19 tiêu chí do Chính phủ ban hành; NTM phải đảm

bảo đƣợc môi trƣờng sinh thái; NTM phải ứng dụng thành công khoa học, kỹ thuật,

nâng cao trình độ lao động, sản xuất, nâng cao thu nhập cho nhân dân [111].

Trong cuốn sách: “Phát triển nông thôn Việt Nam: Từ làng xã truyền

thống đến văn minh thời đại” của tác giả Vũ Trọng Khải cho rằng: “Nông thôn

mới là nông thôn văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp của truyền

thống Việt Nam”[61, tr.25].

Theo Nghị quyết số 26- NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp

hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa X) thì nông thôn mới đƣợc

hiểu là khu vực “có kết cấu hạ tầng- kinh tế xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các

hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công

nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn

hóa dân tộc; dân trí đƣợc nâng cao, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ, hệ thống

chính trị ở nông thôn dƣới sự chỉ đạo của Đảng đƣợc tăng cƣờng” [11, tr.126].

Nhƣ vậy, có thể rút ra khái niệm về NTM nhƣ sau: NTM là nông thôn có

nền kinh tế phát triển bền vững, có cơ sở hạ tầng mới, quy hoạch mới, văn hóa

mới; đời sống văn hóa và tinh thần của người dân được nâng cao; môi trường

đảm bảo, an ninh, trật tự ổn định; giữ gìn và phát huy được những giá trị tốt đẹp

của xã hội nông thôn truyền thống.

Trong những năm gần đây, Đảng, Nhà nƣớc đã ban hành nhiều chủ trƣơng,

chính sách hỗ trợ các vùng nông thôn trên cả nƣớc đẩy mạnh phát triển kinh tế-

xã hội. Những chính sách này có tác động tích cực làm thay đổi cơ bản bộ mặt

kinh tế- xã hội của nhiều vùng nông thôn nƣớc ta. Việc đánh giá những kết quả

và hạn chế của mô hình phát triển nông thôn mới những năm qua sẽ là căn cứ

chủ yếu để xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới trong tƣơng lai.

Xây dựng nông thôn mới

Xây dựng NTM không chỉ là vấn đề kinh tế- xã hội, mà còn là vấn đề kinh

tế- chính trị có tác động tổng hợp đến mọi mặt của vùng nông thôn. Xây dựng

50

NTM là cuộc vận động lớn để cộng đồng nông thôn tham gia vào xây dựng, phát

triển toàn diện trên các lĩnh vực làm thay đổi bộ mặt xã hội nông thôn, giảm sự

chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và

tinh thần cho ngƣời dân, môi trƣờng và an ninh đƣợc đảm bảo. Xây dựng NTM là

sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị (HTCT)

cần đƣợc thực hiện thống nhất, đồng bộ từ Trung ƣơng đến cơ sở. Nhận thức rõ

tầm quan trọng của việc xây dựng NTM, Đảng và Nhà nƣớc ta đã khẳng định yêu

cầu tất yếu, cần thiết để xây dựng NTM. Vì thế, Đảng và Nhà nƣớc ta đã chủ

trƣơng ban hành nhiều Nghị quyết, Quyết định về xây dựng NTM:

Theo Nghị quyết số 26 (Khóa X) của Trung ƣơng, xây dựng NTM có năm

nội dung cơ bản: Một là, nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện

đại. Hai là, sản xuất bền vững, theo hƣớng sản xuất hàng hóa lớn. Ba là, đời

sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao. Bốn là, bản

sắc văn hóa dân tộc đƣợc giữ gìn và phát triển. Năm là, xã hội nông thôn đƣợc

quản lý tốt và dân chủ. Những nội dung đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau,

đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ và toàn diện nhằm khơi dậy và phát huy tốt vai

trò ngƣời nông dân trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở nƣớc ta ngày

càng văn minh, hiện đại.

Ngày 04/6/2010, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-

TTg phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010-

2020, với mục tiêu chung đƣợc xác định là: “Xây dựng NTM có kết cấu kinh tế,

hạ tầng kinh tế- xã hội từng bƣớc hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức

sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn

phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định,

giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; an ninh trật tự

đƣợc giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng

cao; theo định hƣớng XHCN”[130].

Quyết định số 1600/QĐ- TTg ngày 08/6/2016 của Thủ tƣớng Chính phủ

phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2016-

2020, với mục tổng quát xây dựng NTM giai đoạn này là: “ Xây dựng nông

thôn mới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân; có kết cấu

hạ tầng kinh tế- xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản

51

xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát

triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu

bản sắc văn hóa dân tộc; môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; quốc phòng, an

ninh, trật tự đƣợc giữ vững”[131].

Quyết định số 263/ QĐ- TTg, ngày 22/02/2022 của Thủ tƣớng Chính phủ

phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn

2021- 2025, với mục tiêu tổng quát là: “Tiếp tục triển khai Chƣơng trình gắn với

thực hiện có hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn,

quá trình đô thị hóa, đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững; thực hiện xây dựng

nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu và nông thôn mới cấp thôn,

bản. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân nông thôn, thúc đẩy

bình đẳng giới. Xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội nông thôn đồng bộ và từng

bƣớc hiện đại, bảo đảm môi trƣờng, cảnh quan nông thôn sáng, xanh, sạch, đẹp,

an toàn, giàu bản sắc văn hóa truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu và

phát triển bền vững”[133].

Từ các Nghị quyết, Quyết định nêu trên, có thể rút ra khái niệm xây dựng

NTM nhƣ sau:

Xây dựng NTM là cuộc vận động và phát huy sức mạnh của toàn dân

tham gia xây dựng phát triển nông thôn trên các lĩnh vực, đi vào chiều sâu, hiệu

quả bền vững; gắn với những nội dung, tiêu chí cụ thể. Nâng cao đời sống vật

chất và tinh thần cho người dân. Xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội đồng bộ và

từng bước hiện đại; bảo đảm môi trường, cảnh quan nông thôn sáng, xanh, sạch,

đẹp, an toàn, giàu bản sắc văn hóa truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu

và phát triển bền vững.

Xây dựng NTM là nhiệm vụ cần phải đƣợc thực hiện thƣờng xuyên trong

chiến lƣợc phát triển kinh tế- xã hội của nƣớc ta. Ở mỗi giai đoạn phát triển kinh

tế- xã hội nhất định, Đảng, Nhà nƣớc ta đƣa ra những chủ trƣơng, đƣờng lối, xác

định mục tiêu xây dựng NTM phù hợp với tình hình phát triển kinh tế- xã hội

của đất nƣớc; cải thiện diện mạo nông thôn; nâng cao đời sống vật chất và tinh

thần cho ngƣời dân khu vực nông thôn; rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và

khu vực nông thôn.

52

Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa

XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045

chỉ rõ: Phát triển hài hòa giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền; gắn

kết chặt chẽ giữa công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp, giữa phát triển nông

thôn bền vững với quá trình đô thị hóa theo hƣớng “nông nghiệp sinh thái; nông

thôn hiện đại, nông dân văn minh”.

Nội dung xây dựng NTM

Theo Quyết định số 800/QĐ- TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tƣớng Chính phủ

Phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn

2010- 2020. Đây là chƣơng trình mang tính tổng hợp, sâu, rộng có nội dung toàn

diện, bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, an ninh, quốc phòng,

bao gồm 11 nội dung: Quy hoạch xây dựng NTM; phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội;

chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; giảm nghèo và an sinh xã

hội; đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn;

phát triển giáo dục- đào tạo ở nông thôn; phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cƣ dân

nông thôn; xây dựng đời sống văn hóa thông tin và truyền thông nông thôn; cấp

nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng nông thôn; nâng cao chất lƣợng tổ chức Đảng,

chính quyền, đoàn thể chính trị xã hội trên địa bàn.

Theo Quyết định số 491/QĐ- TTg, ngày 16/4/2009 về việc Ban hành Bộ

tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới. Bộ tiêu chí có 19 tiêu chí và đƣợc chia

thành 5 nhóm: Nhóm tiêu chí về Quy hoạch (Quy hoạch và thực hiện quy

hoạch); nhóm tiêu chí hạ tầng kinh tế- xã hội (giao thông, thủy lợi, điện, trƣờng

học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bƣu điện, nhà ở dân cƣ); nhóm tiêu

chí kinh tế và tổ chức sản xuất (thu nhập, hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức

tổ chức sản xuất); nhóm tiêu chí văn hóa- xã hội- môi trƣờng (giáo dục, y tế, văn

hóa, môi trƣờng); nhóm tiêu chí hệ thống chính trị (hệ thống tổ chức chính trị xã

hội vững mạnh; an ninh, trật tự xã hội).

Theo Quyết định số 1980/ QĐ- TTg, của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành

Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016- 2020, với những nội

dung tiêu chí, nhóm tiêu chí cụ thể nhƣ: Nhóm tiêu chí Quy hoạch; nhóm tiêu

chí hạ tầng kinh tế- xã hội (giao thông, thủy lợi, điện, trƣờng học, cơ sở vật chất

văn hóa, cơ sở hạ tầng thƣơng mại nông thôn, thông tin và truyền thông, nhà ở

53

dân cƣ); nhóm tiêu chí kinh tế và tổ chức sản xuất (thu nhập, hộ nghèo, lao động

có việc làm, tổ chức sản xuất); nhóm tiêu chí văn hóa- xã hội- môi trƣờng (giáo

dục và đào tạo, y tế, văn hóa, môi trƣờng và an toàn thực phẩm); hệ thống chính

trị (hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật, quốc phòng và an ninh).

Theo Quyết định số 318/QĐ-TTg, của Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Bộ

tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn

2021- 2025. Trong đó, Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2021-

2025 bao gồm một số nội dung, tiêu chí sau: Nhóm tiêu chí Quy hoạch; nhóm

tiêu chí hạ tầng kinh tế- xã hội (giao thông, thủy lợi và phòng chống thiên tai,

điện, trƣờng học, cơ sở vật chất văn hóa, cơ sở hạ tầng thƣơng mại nông thôn,

thông tin và truyền thông, nhà ở dân cƣ); nhóm tiêu chí kinh tế và tổ chức sản xuất

(thu nhập, nghèo đa chiều, lao động, tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế nông

thôn); nhóm tiêu chí văn hóa- xã hội- môi trƣờng (giáo dục và đào tạo, y tế, văn

hóa, môi trƣờng và an toàn thực phẩm); hệ thống chính trị (hệ thống chính trị và

tiếp cận pháp luật, quốc phòng và an ninh).

Trên cơ sở tổng kết quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới gắn với

mỗi tiêu chí cụ thể. Ở mỗi giai đoạn, Đảng, Nhà nƣớc ta đều có những điều

chỉnh về mục tiêu xây dựng NTM với mỗi tiêu chí sao cho phù hợp với tình

hình, kết quả xây dựng NTM. Các nội dung trong nhóm tiêu chí đều liên quan,

bổ sung cho nhau nằm trong tổng thể phát triển kinh tế- xã hội; tạo động lực phát

triển kinh tế nông thôn; thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, dân

chủ, công bằng, văn minh.

2.1.2.2. Khái niệm về thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới

Thực hành DCCS là chìa khóa mở ra hƣớng đi mới góp phần thực hiện

thành công chƣơng trình xây dựng NTM; muốn xây dựng thành công NTM đòi

hỏi phải bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở. Xây dựng NTM là một chủ trƣơng,

đƣờng lối lớn của Đảng, Nhà nƣớc ta góp phần vào thực hiện chiến lƣợc phát triển

kinh tế xã hội của đất nƣớc; NTM đóng vai trò là thực hiện nhiệm vụ kinh tế, thực

hành DCCS đóng vai trò là thực hiện nhiệm vụ chính trị và cần đƣợc thực hiện

song song hai nhiệm vụ trọng tâm. Về mặt bản chất, đó là quá trình triển khai thực

hiện QCDC cơ sở trong đời sống xã hội để nâng cao hiệu quả xây dựng NTM.

54

Thực hành DCCS và xây dựng NTM là hai nội dung có quan hệ chặt chẽ

với nhau, bổ sung, tác động qua lại, biện chứng với nhau. Thực hành DCCS tạo

động lực to lớn góp phần thành công vào công cuộc xây dựng NTM; ngƣợc lại,

thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng NTM là cơ sở, điều kiện để ngƣời dân

đƣợc thực hiện quyền làm chủ của mình, đƣợc tham gia, đƣợc giám sát vào quá

trình xây dựng NTM. Qua đó, phát huy vai trò tích cực, chủ động của ngƣời dân,

đồng thời góp phần hạn chế nguy cơ tham nhũng, lãng phí, dân chủ hình thức.

Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục cụ thể hóa,

hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong

thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp

năm 2013, bảo đảm tất cả các quyền lực nhà nƣớc đều thuộc về nhân dân. Đảng

ta nhấn mạnh: “Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện,

đặc biệt là DCCS. Thực hiện tốt, có hiệu quả phƣơng châm “dân biết, dân bàn,

dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[40, tr.173]. Vì thế, thực

hành DCCS trong xây dựng NTM phải gắn với phƣơng châm “dân biết, dân bàn,

dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Như vậy, thực hành DCCS trong xây dựng nông thôn mới là quá trình

thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở cấp xã, theo phương châm “dân biết,

dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” gắn với nội dung

tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho

người dân. Xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội đồng bộ và từng bước hiện đại; bảo

đảm môi trường và cảnh quan nông thôn, giàu bản sắc văn hóa truyền thống,

thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối

với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nƣớc ta; tác động mạnh mẽ

đến xã hội, làm thay đổi mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, nhân dân đƣợc

thực hiện quyền và nghĩa vụ dân chủ của mình qua phƣơng châm “dân biết, dân

bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong quá trình xây dựng

NTM nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho ngƣời dân, thay đổi bộ mặt xã

hội nông thôn, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, độ chênh lệch giữa thành thị và

nông thôn; là điều kiện để thực hiện dân chủ trong toàn xã hội. Thực hiện phát huy

dân chủ, xây dựng khối đại đoàn kết nông thôn, tăng cƣờng quan hệ mật thiết giữa

55

Đảng với nhân dân bắt đầu từ chăm lo những vấn đề thiết thực của đời sống dân

sinh, phát triển nông thôn, kịp thời phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý từ sớm,

từ gốc, từ xa các yếu tố tiềm ẩn gây nguy cơ xung đột xã hội nông thôn.

Phát huy dân chủ, xây dựng khối đại đoàn kết nông thôn dựa trên mẫu số

chung là cùng chung tay xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại,

nông dân văn minh. Đó là hƣớng đến sản xuất theo chuỗi giá trị; nâng cao đời sống

nông dân khá giả, văn minh; phát triển nông thôn hiện đại, giàu bản sắc văn hóa dân

tộc. Tuyên truyền, giáo dục, tổ chức, vận động nông dân chuyển mạnh từ nền nông

nghiệp truyền thống sang nông nghiệp sinh thái. Đoàn kết và dân chủ phải dựa trên

cơ sở không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân nông

thôn, xây dựng đội ngũ nhà nông thế hệ mới chuyên nghiệp, thích ứng với nền sản

xuất thị trƣờng hiện đại. Xây dựng nông dân văn minh và nông thôn hiện đại trên cơ

sở kế thừa chọn lọc các giá trị truyền thống tốt đẹp và gạn lọc, loại bỏ các hủ tục đè

nặng lên ngƣời nông dân, từ ăn, ở, sinh hoạt, vệ sinh, tổ chức gia đình, ngõ xóm,

làng, bản gắn với thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống

văn hóa ở khu dân cƣ”. Điều này thể hiện khát vọng xây dựng chủ nghĩa xã hội

(CNXH) ở nƣớc ta, xây dựng đất nƣớc phát triển toàn diện theo hƣớng dân giàu,

nƣớc mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vì cuộc sống ấm no, công bằng,

bình đẳng cho nhân dân.

2.2. Chủ thể, nội dung, hình thức thực hành dân chủ cơ sở trong xây

dựng nông thôn mới

2.2.1. Chủ thể thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM là nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu của cả hệ thống chính trị cơ sở nhằm thực thi chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc ta ở cấp xã, phƣờng, thị trấn. Thực hành DCCS và xây dựng NTM có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau: thực hành DCCS tạo nên động lực to lớn, phát huy sức mạnh của ngƣời dân với vai trò là chủ thể thực hiện thắng lợi Chƣơng trình xây dựng NTM; ngƣợc lại, thực hiện thắng lợi Chƣơng trình xây dựng NTM tạo điều kiện thuận lợi để triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở, đem lại quyền làm chủ cho ngƣời dân, đƣa ngƣời dân trở thành chủ thể của quá trình phát triển kinh tế- xã hội.

56

Nói đến chủ thể thực hành DCCS trong xây dựng NTM đƣợc hiểu là những tổ chức, cơ quan, đơn vị, hay những cá nhân (ngƣời dân) ở cơ sở trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia thực hiện những chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc và có vai trò quan trọng quyết định, đảm bảo thực hiện thắng lợi những chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc bao gồm: Tổ chức đảng; chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội (bao gồm Hội phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh); đội ngũ cán bộ, đảng viên, và ngƣời dân. Hay nói cách khác, chủ thể thực hành DCCS trong xây dựng NTM bao gồm toàn bộ hệ thống chính trị (HTCT) ở cơ sở tham gia thực hiện theo những Quy chế, quy định về DCCS gắn với chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc ta về xây dựng NTM nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nƣớc; góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng NTM.

Đối với tổ chức cơ sở đảng: Tổ chức đảng là hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết ở cơ sở đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần phát huy vai trò là hạt nhân lãnh đạo, đề ra những đƣờng lối, chủ trƣơng nhằm chỉ đạo thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, thực hiện đổi mới phƣơng thức lãnh đạo, tăng cƣờng công tác kiểm tra, giám sát, phê bình và tự phê bình đối với những biểu hiện mất dân chủ, hay tham ô, tham nhũng, lãng phí trong thực hiện xây dựng NTM.

Đối với chính quyền cơ sở: Chính quyền cơ sở có vai trò quan trọng trong

quản lý, triển khai, thực hiện, cụ thể hóa những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính

sách của Đảng, Nhà nƣớc về thực hành DCCS trong xây dựng NTM; thực hiện

tốt cơ chế, chính sách về DCCS với phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm,

dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong xây dựng NTM, quan tâm đến

lợi ích của ngƣời dân. Thực hiện công khai cho ngƣời dân đƣợc biết những nội

dung, chƣơng trình thực hiện NTM; tổ chức cho ngƣời dân tham gia thảo luận,

đóng góp ý kiến và quyết định những nội dung trong xây dựng NTM theo khuôn

khổ pháp luật quy định. Cần phải tiến hành kiểm tra, giám sát quá trình thực hành

57

DCCS; kiểm tra việc thực hiện theo các tiêu chí, tiến độ thực hiện quá trình xây

dựng nông thôn mới. Chính quyền cơ sở cần làm tốt công tác tổng kết lý luận và

thực tiễn việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM; xây dựng quy chế thi đua

khen thƣởng đối với những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác

xây dựng NTM nhằm động viên, khích lệ cán bộ, ngƣời dân thực hành DCCS,

chung sức tham gia xây dựng thành công NTM.

Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội: Mặt trận Tổ

quốc đóng vai trò là nòng cốt đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân

dân; phát huy vai trò xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ

vận động các tầng lớp nhân dân tham gia thực hành DCCS trong xây dựng NTM;

phát động các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở

khu dân cƣ”, cuộc vận động “Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới”. Mặt

trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội phát huy vai trò giám sát và phản

biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền thông qua các cuộc tiếp xúc cử

tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp. Đồng thời, phát huy vai trò của

các ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tƣ của cộng đồng ở các xã, thị trấn;

ban Quản lý dự án xây dựng NTM. Có thể nói, Mặt trận Tổ quốc các cấp có một

vị trí hết sức quan trọng trong việc tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc ở địa phƣơng,

đặc biệt là công tác tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trƣơng,

đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, tích cực tham gia xây

dựng Đảng, chính quyền và các phong trào ở địa phƣơng. Phát huy tinh thần sáng

tạo và tự quản của nhân dân, triển khai thực hiện các cuộc vận động, các phong

trào thi đua yêu nƣớc, tiếp tục duy trì, nâng cao các mô hình khu dân cƣ tự quản ở

địa phƣơng thực hiện thành công Chƣơng trình xây dựng NTM, nâng cao đời sống

vật chất và tinh thần cho ngƣời dân.

Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở: Đội ngũ cán bộ, đảng viên

đóng vai trò quan trọng đối với việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

Cán bộ, đảng viên gƣơng mẫu, đi đầu trong mọi lĩnh vực, phải là ngƣời biết

tuyên truyền, giác ngộ cho nhân dân hiểu đƣợc mục đích, ý nghĩa, quyền và

nghĩa vụ của ngƣời dân đối với việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM;

cùng nhân dân tham gia, triển khai xây dựng NTM; biết khơi dậy tính tự lực, tự

cƣờng, chủ động tích cực của ngƣời dân, đa dạng hóa các nguồn lực, tạo sự thống

58

nhất và đồng thuận trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Mỗi cán bộ,

đảng viên, công chức ở cơ sở phải biết phát huy tối đa vai trò chủ thể của mình,

cùng nhân dân thực hiện thắng lợi đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách,

pháp luật của Nhà nƣớc về thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Đồng thời,

mỗi cán bộ, đảng viên, công chức đều phải đi sâu sát vào quần chúng, lắng nghe

tâm tƣ, nguyện vọng, hoàn cảnh của quần chúng nhân dân, kịp thời hỗ trợ ngƣời

dân có hoàn cảnh khó khăn, tôn trọng nhân dân, vì lợi ích chính đáng của nhân

dân; tạo nên sức mạnh đoàn kết trong toàn dân ở cơ sở để nâng cao hiệu quả thực

hành DCCS và xây dựng NTM.

Đối với nhân dân: Ngƣời dân đóng vai trò là chủ thể trực tiếp tham gia

vào quá trình thực hành DCCS và xây dựng NTM. Đối với quá trình thực hành

DCCS trong xây dựng NTM, với vai trò là chủ thể- ngƣời dân trực tiếp thể hiện

quyền dân chủ của mình với phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân

kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Ngƣời dân cần phát huy vai trò chủ thể

của mình trong thực hiện Chƣơng trình xây dựng NTM, chủ động, tích cực tham

gia các tiêu chí xây dựng NTM gắn với thực hiện cuộc vận động “toàn dân đoàn

kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”. Ngƣời dân là ngƣời trực tiếp

tham gia vào quá trình xây dựng NTM: công tác quy hoạch, tham gia “hiến kế,

hiến của, hiến công”, đóng góp ý kiến với cấp ủy, chính quyền địa phƣơng cái gì

làm trƣớc, cái gì làm sau, cái gì không nên làm; tích cực dồn điền đổi thửa, tích tụ

ruộng đất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi thích hợp, xây dựng cơ sở hạ

tầng, xây dựng cánh đồng lớn, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa

nông nghiệp; xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp theo hƣớng hàng hóa;

xây dựng mô hình kinh tế trang trại, gia trại, kinh tế tập thể. Vì vậy, cần phải phát

huy tối đa vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân đối với việc thực hành

DCCS trong xây dựng NTM, khích lệ, động viên ngƣời dân tham gia tích cực vào

xây dựng NTM; đồng thời, tạo điều kiện cho nhân dân hiểu rõ hơn vai trò chủ thể

của mình, quyền làm chủ của mình trong thực hành DCCS. Nhƣ Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã dạy: “Dễ mƣời lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng

xong”[89, tr.280].

Có thể nói, chủ thể của thực hành DCCS trong xây dựng NTM có vai trò

đặc biệt quan trọng đối với việc thực hiện thắng lợi DCCS và xây dựng NTM.

59

Mỗi chủ thể đều có những vai trò, nhiệm vụ khác nhau nhƣng đều có mối liên hệ,

gắn bó mật thiết với nhau; đòi hỏi quá trình thực hành DCCS trong xây dựng

NTM cần phải phát huy tối đa vai trò của các chủ thể nhằm tạo nên sức mạnh,

đoàn kết, tạo sự đồng thuận trong xã hội; thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng

nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) và phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc

trong thời kỳ đổi mới.

2.2.2. Nội dung, hình thức thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng

nông thôn mới

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM là một nội dung kép bao gồm

thực hành DCCS và xây dựng NTM. Đối với nội dung của thực hành DCCS

trong xây dựng NTM là thực hiện đảm bảo quyền, nghĩa vụ làm chủ của ngƣời

dân gắn liền với việc thực hiện Quy chế DCCS, với phƣơng châm mà Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra,

dân giám sát, dân thụ hưởng”[40, tr.173]; đồng thời gắn với việc thực hiện các

những tiêu chí trong xây dựng NTM nhƣ sau: 1-nhóm tiêu chí về quy hoạch (quy

hoạch và sử dụng quy hoạch); 2- nhóm tiêu chí về hạ tầng- xã hội (giao thông,

thủy lợi, trƣờng học, cơ sở vật chất văn hóa); 3- nhóm tiêu chí văn hóa- xã hội-

môi trƣờng (giáo dục, y tế, văn hóa, môi trƣờng); 4- nhóm tiêu chí về HTCT

(HTCT vững mạnh, an ninh, trật tự).

Thứ nhất, nội dung, hình thức tổ chức cho “dân biết, dân bàn, dân làm”

những nội dung trong xây dựng NTM

Đối với nhóm tiêu chí về quy hoạch: Quy hoạch là tiêu chí đóng vai trò làm

nền tảng trong xây dựng NTM, là điều kiện để thực hiện các tiêu chí khác. Quy

hoạch nông thôn phải theo tiêu chí riêng, phù hợp với đặc thù của từng địa phƣơng.

Quy hoạch nông thôn góp phần hạn chế và giảm thiểu các quy hoạch chắp vá, tuỳ

tiện; giữ gìn và phát huy không gian kiến trúc truyền thống vốn có của nông thôn

Việt Nam; đồng thời, đáp ứng yêu cầu của Chính phủ và địa phƣơng về xây dựng

NTM thời kỳ CNH, HĐH. Vì thế, ngƣời dân đƣợc biết, đƣợc công khai những nội

dung liên quan đến vấn đề quy hoạch và sử dụng quy hoạch; đƣợc cung cấp đầy đủ

về chủ trƣơng, chính sách về thực hiện quy hoạch, dự án quy hoạch, vốn sử dụng

cho quy hoạch, đƣợc công khai phƣơng án đền bù, giải phóng mặt bằng… Ngƣời

dân đƣợc cung cấp thông tin một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác những nội

60

dung trong xây dựng NTM. Ngƣời dân có đƣợc biết và hiểu rõ về tiêu chí quy

hoạch thì mới đƣa ra đƣợc những ý kiến đóng góp, những phân tích phù hợp với

tình hình thực tế của khu vực ngƣời dân sinh sống góp phần vào thành công xây

dựng NTM.

Đồng thời, phải thực hiện thăm dò, khảo sát ý kiến của ngƣời dân về dự

thảo quy hoạch và sử dụng quy hoạch; đƣa ra thảo luận, bàn bạc, kỹ lƣỡng với

nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, lấy đó làm căn cứ tham khảo để xây

dựng kế hoạch quy hoạch và thực hiện quy hoạch một cách kỹ càng, cụ thể.

Ngƣời dân đƣợc tham gia thảo luận, dự thảo về kế hoạch thu hồi đất; tham gia

đóng góp ý kiến về phƣơng án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng. Và ngƣời dân

đƣợc quyết định nội dung về quy hoạch và sử dụng quy hoạch; quyết định

nguồn vốn và kinh phí đầu tƣ, mức đóng góp cho các dự án giao thông, thủy

lợi, điện, đƣờng, trƣờng, trạm… các chính sách hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo,

chăm sóc y tế cho ngƣời dân; dự thảo quyết định hành chính của Ủy ban nhân

dân cấp xã có liên quan và những nội dung khác cần lấy ý kiến nhân dân theo

quy định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã. Điều

này cũng thể hiện rất rõ quyền lợi, trách nhiệm của ngƣời dân đối với việc xây

dựng NTM

Việc tổ chức cho ngƣời dân thực hiện quyền “dân biết, dân bàn, dân làm”

đối với nhóm tiêu chí quy hoạch và thực hiện quy hoạch đóng vai trò quan trọng

đối với việc thực hiện các tiêu chí khác trong xây dựng NTM; thực hiện tuyên

truyền, vận động quần chúng nhân dân nhận thức rõ đƣợc quyền lợi, trách

nhiệm của mình, phát huy vai trò tích cực của quần chúng nhằm huy động

đƣợc đông ngƣời dân tham gia xây dựng NTM với phƣơng châm “hiến kế,

hiến của, hiến công”.

Đối với nhóm tiêu chí về hạ tầng kinh tế- xã hội (giao thông, thủy lợi, điện,

trường học, cơ sở vật chất văn hóa): Đây là tiêu chí đóng vai trò quyết định đến

sự thành công hay thất bại của quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Ở nhóm tiêu chí

này, ngƣời dân đƣợc công khai những nội dung cụ thể trong từng tiêu chí: giao

thông, thủy lợi, trƣờng học, cơ sở vật chất văn hóa. Ngƣời dân có quyền đƣợc biết

một cách công khai, minh bạch về chủ trƣơng, kế hoạch xây dựng hạ tầng kinh tế-

xã hội; dự toán nguồn vốn đầu tƣ và kinh phí đóng góp cho xây dựng cơ sở hạ

61

tầng để phục vụ cho xây dựng, phát triển nông thôn. tổ chức cho ngƣời dân tham

gia thảo luận, đóng góp ý kiến về nội dung, kế hoạch thực hiện xây dựng phát

triển kinh tế- xã hội theo từng giai đoạn cụ thể; tham gia thảo luận, đóng góp ý

kiến về nguồn kinh phí cho thực hiện các tiêu chí này; quyết định mức đóng góp

cho việc xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi, cơ sở vật chất văn hóa.

Thực hiện tốt việc công khai cho ngƣời dân biết, tham gia thảo luận và

quyết định các nội dung trong tiêu chí này giúp cho ngƣời dân hiểu rõ đƣợc chủ

trƣơng, kế hoạch, kinh phí đầu tƣ cho việc xây dựng các hạng mục NTM; từ đó,

ngƣời dân tích cực tham gia đóng góp vật chất và công sức trong xây dựng tiêu

chí này; hiểu đƣợc lợi ích của xây dựng NTM cũng nhƣ những gì mà ngƣời dân

đƣợc hƣởng từ thành quả xây dựng NTM; tạo niềm tin, khích lệ ngƣời dân tham

gia xây dựng NTM.

Đối với nhóm tiêu chí về văn hóa- xã hội- môi trường ( bao gồm những

tiêu chí: giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường): Nhóm tiêu chí này đóng vai trò

quan trọng đến đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân, thay đổi diện mạo,

cảnh quan khu vực nông thôn. Chính quyền địa phƣơng thực hiện những nội

dung sau: Một là, tổ chức công khai cho ngƣời dân nắm rõ thông tin về chủ

trƣơng, kế hoạch, nguồn vốn thu- chi; công khai mức đóng góp cho việc xây

dựng và phát triển giáo dục, y tế, chế độ chăm sóc sức khỏe cho các hộ nghèo,

dự án xây dựng làng văn hóa và các dự án bảo vệ môi trƣờng. Qua đó, ngƣời dân

hiểu đƣợc mục đích của việc thực hiện những tiêu chí về văn hóa- xã hội- môi

trƣờng và tích cực tham gia đóng góp xây dựng những tiêu chí NTM. Hai là, tổ

chức cho ngƣời dân đƣợc tham gia, đóng góp ý kiến để xây dựng kế hoạch, vốn

đầu tƣ và nguồn vốn đóng góp từ nhân dân đối với những dự án xây dựng đầu tƣ

hỗ trợ giáo dục, xây dựng cơ sở y tế, chính sách chăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân,

đặc biệt là đối với gia đình có hoàn cảnh khó khăn và gia đình chính sách; chính

sách và kinh phí đầu tƣ cho xây dựng làng văn hóa, nhà văn hóa; dự án và kinh

phí xây dựng và bảo vệ môi trƣờng nhằm chống lại những thiên tai, dịch bệnh,

đóng góp ý kiến để cải tạo xây dựng các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn

về môi trƣờng, tham gia quy hoạch hệ thống nghĩa trang, cải tạo và nâng cấp hệ

thống nƣớc thải, thu gom và xử lý chất thải theo đúng quy định.

62

Đối với nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị (hệ thống tổ chức chính trị xã hội

vững mạnh; an ninh, trật tự xã hội): HTCT vững mạnh là yếu tố cơ bản và cần thiết

để thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Ngƣời dân đƣợc biết đầy đủ thông tin về

những tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực đối với cán bộ ở cơ sở mà ngƣời dân tham

gia bầu vào hệ thống chính trị cơ sở nhằm xây dựng một hệ thống chính trị cơ sở

trong sạch, vững mạnh: cán bộ xã phải đạt chuẩn về phẩm chất, năng lực, trình độ;

đảng bộ, chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh; an ninh trật tự xã hội đƣợc giữ

vững, ổn định; hiểu đƣợc cơ chế hoạt động của bộ máy cơ quan hành chính tại cơ sở

thông qua hoạt động quản lý, điều hành, tiếp dân… Để đảm bảo tính dân chủ, công

khai, minh bạch trong HTCT, các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, chính quyền cơ sở tổ

chức cho ngƣời dân tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến để xây dựng nội dung

hƣơng ƣớc, quy ƣớc của thôn, tổ dân phố; thảo luận về tiêu chuẩn đối với đội ngũ

cán bộ cấp cơ sở; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trƣởng thôn, Tổ trƣởng tổ dân phố,

thành viên Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tƣ của cộng đồng. Đồng thời,

tổ chức cho ngƣời dân tham gia bàn bạc xây dựng các phƣơng án, biện pháp nhằm

giữ gìn trật tự an toàn xã hội, giảm thiểu những tệ nạn xã hội, các biện pháp đấu

tranh phòng chống tội phạm, phƣơng pháp vận động những đối tƣợng ra đầu thú để

đƣợc hƣởng sự khoan hồng của pháp luật. Bên cạnh đó, các cấp ủy, tổ chức đảng,

chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội; thực hiện

nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách;

triển khai cụ thể hóa, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện những chủ trƣơng,

đƣờng lối về thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Qua đó, ngƣời dân mới có

kiến thức để lựa chọn, bầu ra đội ngũ cán bộ cấp cơ sở có đủ phẩm chất, năng lực

hoạt động trong HTCT, góp phần xây dựng HTCT trong sạch, vững mạnh; bảo đảm

DCCS và xây dựng thành công NTM.

Việc tổ chức cho ngƣời dân thực hiện quyền “dân biết, dân bàn, dân làm”

đƣợc tiến hành bằng các hình thức:

Một là, hình thức tổ chức cho “dân biết”: tổ chức họp dân, tổ chức hội

nghị trao đổi, đối thoại giữa Ủy ban nhân dân cấp xã với Nhân dân; công khai

thông tin trên hệ thống truyền thanh của cấp xã và các phƣơng tiện truyền thông

đại chúng của địa phƣơng; đăng tải thông tin trên Cổng thông tin điện tử, trang

thông tin điện tử của HĐND, Ủy ban nhân dân cấp xã; niêm yết công khai thông

63

tin tại trụ sở HĐND, Ủy ban nhân dân cấp xã, nhà văn hóa thôn, tổ dân phố và

điểm sinh hoạt cộng đồng.

Hai là, hình thức tổ chức cho “dân bàn”: tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử

tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; thực hiện phát phiếu

lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình.

Ba là, hình thức tổ chức cho “dân làm”: Tổ chức họp thôn, tổ dân phố; tổ

chức hội nghị đối thoại giữa nhân dân với Ủy ban nhân dân cấp xã; phát phiếu lấy

ý kiến cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; thông qua hòm thƣ góp ý. Đối với

quyền bầu cử, ngƣời dân đƣợc trực tiếp bầu cử thông qua hình thức bỏ phiếu để

bầu ra cho mình những đại biểu đủ tín nhiệm, đại diện cho quyền lợi của nhân dân,

bầu ra Ban Thanh tra nhân dân để, Ban Giám sát đầu tƣ cộng đồng, Ban quản lý

xây dựng NTM. Đối với quyền ứng cử, ngƣời dân từ 21 tuổi trở lên có quyền ứng

cử vào HĐND, Ban Thanh tra nhân dân, Ban Quản lý xây dựng NTM.

Thứ hai, nội dung, hình thức tổ chức cho người dân thực hiện quyền

“kiểm tra, giám sát” với những nội dung, tiêu chí xây dựng NTM

Công tác “kiểm tra, giám sát” đƣợc thực hiện song song với nhau trong

suốt quá trình xây dựng NTM, để đảm bảo việc thực hành DCCS trong việc

công khai, bàn bạc quyết định những công việc, những nội dung, kế hoạch và

tiến trình thực hiện các tiêu chí về xây dựng NTM. Ngƣời dân tham gia vào

kiểm tra đánh giá hiệu quả, chất lƣợng những nội dung trong xây dựng NTM,

kiểm tra việc thực hiện quy hoạch và sử dụng quy hoạch có đúng với mục

đích và kế hoạch đề ra hay không, kiểm tra việc sử dụng các nguồn vốn, kinh

phí cho việc xây dựng các hạng mục trong xây dựng NTM để phát hiện những

sai phạm, cắt xén, tham nhũng; giám sát tiến độ và chất lƣợng thực hiện

những hạng mục cơ sở hạ tầng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xây dựng văn hóa-

xã hội và môi trƣờng, xây dựng hệ thống chính trị, giám sát vai trò thực hiện

của các cấp ủy đảng, tổ chức đảng, chính quyền, Ban Thanh tra nhân dân, Ban

chỉ đạo xây dựng NTM.

Việc tổ chức cho dân thực hiện quyền “kiểm tra, giám sát” thông qua các

hình thức: Nhân dân trực tiếp thực hiện việc giám sát, kiểm tra thông qua quyền

64

khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; Nhân

dân thực hiện kiểm tra, giám sát thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân,

Ban giám sát đầu tƣ của cộng đồng; thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc

Việt Nam và các tổ chức chính trị- xã hội trong việc thực hiện giám sát và phản

biện xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

Đồng thời, nhân dân cần có cơ chế kiểm tra, giám sát hệ thống chính trị cấp cơ sở,

các tổ chức đại diện do nhân dân bầu ra trong việc thực thi các chính sách về xây

dựng NTM để tránh việc lạm quyền, tham ô, tham nhũng; đồng thời, cũng để đảm

bảo sự tham gia tích cực và chủ động của nhân dân trong xây dựng NTM.

Thứ ba, tổ chức cho người dân được thực hiện quyền “thụ hưởng” trong

xây dựng NTM

“Dân thụ hưởng” là ngƣời dân đƣợc hƣởng những thành quả của quá

trình xây dựng NTM. Thành quả của quá trình xây dựng NTM đƣợc thể hiện ở

hai phƣơng diện: Thứ nhất, ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng từ hiệu quả của việc

thực thi những chính sách, chủ trƣơng trong xây dựng NTM, khi những chủ

trƣơng, chính sách đƣợc ban hành, phổ biến, đƣợc tuyên truyền rộng rãi tới

ngƣời dân và đƣợc thực hành hiệu quả; thứ hai, ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng cơ

sở vật chất hiện đại từ thành quả xây dựng NTM, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng

khang trang, hệ thống giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế hiện đại, môi trƣờng

xanh sạch, đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân không ngừng đƣợc cải

thiện nâng cao. Điều này càng làm cho ngƣời dân có thêm động lực, tinh thần

để tham gia tích cực vào quá trình xây dựng NTM. Cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng,

chính quyền cần phải có những cơ chế, chính sách hợp lý, trao quyền tự chủ

cho ngƣời dân, nhấn mạnh trách nhiệm và phát huy sáng tạo của ngƣời đứng

đầu để đảm bảo quyền lợi cho ngƣời dân đƣợc “thụ hƣởng” thành quả của mình

một cách công bằng, bình đẳng, xứng đáng với những công sức của ngƣời dân,

tránh tình trạng quyền lợi chỉ tập trung vào một số ít ngƣời; bảo đảm tốt an sinh

xã hội góp phần gắn kết tình làng nghĩa xóm, giữ gìn ổn định trật tự an toàn xã

hội, xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, bao phủ toàn dân.

65

2.3. Vai trò và những yếu tố tác động đến thực hành dân chủ cơ sở

trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng hiện nay

2.3.1. Vai trò của thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn

mới ở vùng đồng bằng

2.3.1.1. Thực hành dân chủ cơ sở góp phần đảm bảo quyền, nghĩa vụ và

lợi ích hợp pháp của người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở vùng

đồng bằng

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM vừa đảm bảo quyền, nghĩa vụ

thực hiện dân chủ và lợi ích chính đáng của ngƣời dân trong xây dựng NTM.

Đây chính là mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nƣớc ta đã đề ra nhằm xây dựng

nền dân chủ XHCN tạo động lực để phát triển kinh tế toàn diện, nâng cao đời

sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân. Thực hiện DCCS là đảm bảo quyền lợi,

và nghĩa vụ của ngƣời dân trong xây dựng NTM đƣợc thực hiện trên thực tế,

giúp ngƣời dân hiểu đƣợc quyền và nghĩa vụ thực hiện dân chủ của mình trong

xây dựng NTM. Ngƣời dân có quyền đƣợc cung cấp thông tin, đƣợc tham gia

bàn bạc, đóng góp ý kiến vào đề án quy hoạch và thực hiện quy hoạch; tham gia

vào các khâu của quá trình xây dựng NTM. Trong quá trình xây dựng NTM cần

phải có sự tham gia của ngƣời dân vào các tiêu chí xây dựng NTM: Xây dựng cơ

sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi, điện, đƣờng, trƣờng, nhà văn hóa… thì các công

trình đó mới nhanh chóng đƣợc triển khai và có hiệu quả. Đồng thời, nhân dân

cũng ý thức đƣợc trách nhiệm của mình trong việc tham gia kiểm tra, giám sát

quá trình thực hiện xây dựng NTM, kịp thời giải quyết các khiếu nại, tố cáo liên

quan đến các tổ chức, cá nhân để không xảy ra những mâu thuẫn bất đồng gây

ảnh hƣởng đến hiệu quả xây dựng NTM.

Nhận thức đƣợc vai trò của thực hành DCCS trong xây dựng NTM, Đảng,

Nhà nƣớc ta ban hành nhiều chủ trƣơng, đƣờng lối về thực hiện DCCS. Điều này

càng chứng tỏ rằng, Đảng ta rất quan tâm đến thực hiện quyền làm chủ của nhân

dân, tạo điều kiện cho nhân dân đƣợc thực hiện quyền làm chủ của mình theo

các quy định của pháp luật, nhân dân đƣợc đảm bảo các quyền tự do dân chủ cơ

bản nhƣ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Từ đó, là cơ sở tạo nên niềm tin

của nhân dân đối với Đảng, Nhà nƣớc ta, tăng cƣờng khối đại đoàn kết, tạo sự

đồng thuận trong xã hội.

66

Bên cạnh đó, chính sách xây dựng NTM của Đảng, Nhà nƣớc ta cũng

hƣớng đến việc phát triển kinh tế nông thôn, mọi chính sách đều hƣớng đến phục

vụ lợi ích cho nhân dân, xây dựng NTM phát triển và để ngƣời dân đƣợc hƣởng

chính thành quả của mình, ngƣời dân hiểu rõ đƣợc quyền lợi và nghĩa vụ, từ đó

thể hiện trách nhiệm của mình đối với việc xây dựng NTM. Đồng thời, kiên

quyết chống lại những hành vi tham nhũng, mất dân chủ đối với những cán bộ,

đảng viên vi phạm nguyên tắc; chống lại những âm mƣu chống phá của các thế

lực thù địch làm cản trở quá trình xây dựng NTM.

2.3.1.2. Thực hành dân chủ cơ sở góp phần nâng cao ý thức, tinh thần trách

nhiệm, tăng cường sự đoàn kết của nhân dân, sự thống nhất giữa “ý Đảng và lòng

dân” trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng

Ý thức, tinh thần trách nhiệm, sự đoàn kết của ngƣời dân có vai trò đặc

biệt quan trọng, là điều kiện để tiến hành xây dựng thành công NTM ở vùng

đồng bằng. Thực hành dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân góp phần

tạo động lực huy động ngƣời dân tham gia lao động sản xuất, thực hiện phát

triển kinh tế, văn hóa, xã hội; phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, sự thống nhất

bền chặt giữa “ý Đảng và lòng dân” là động lực để thực hiện thắng lợi sự nghiệp

xây dựng NTM. Thông qua thực hành DCCS, nhân dân hiểu rõ quyền lợi của

mình, mọi đƣờng lối, chủ trƣơng chính sách đều hƣớng đến nhân dân. Vì thế,

nhân dân có niềm tin, nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm trong xây

dựng NTM; đồng thời, ngƣời dân cũng có những hành động lan tỏa đến đông đảo

quần chúng nhân dân, huy động đƣợc nhân dân, phát huy tinh thần sức mạnh, sự

đoàn kết trong nhân dân để cùng thực hiện chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng trong

xây dựng NTM. Điều này đã đƣợc chứng minh qua một số tỉnh thuộc ĐBSH:

Nam Định, Hƣng Yên, Hải Dƣơng…. Điển hình, Nam Định là tỉnh đã đạt kết quả

cao trong việc thực hiện Kết luận số 120- KL/TW, ngày 07/01/2016 của Bộ Chính

trị (khóa XI) “Về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả việc xây dựng

và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”. Việc thực hiện dân chủ, công khai, minh

bạch các chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc liên quan đến quyền, nghĩa

vụ của công dân đã làm nâng cao ý thức của ngƣời dân, tạo sự đồng thuận, tinh

thần đoàn kết, sáng tạo góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng NTM của

tỉnh. Năm 2019, tỉnh Nam Định đƣợc Thủ tƣớng công nhận hoàn thành nhiệm vụ

67

xây dựng NTM, về đích sớm hơn 1,5 năm so với mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh

lần thứ XIX đề ra; là một trong hai tỉnh đầu tiên của cả nƣớc hoàn thành nhiệm vụ

xây dựng NTM.

Kết quả này càng khẳng định vai trò của thực hành DCCS góp phần tạo động

lực trong nhân dân, nêu cao tinh thần trách nhiệm của ngƣời dân, phát huy sức

mạnh đoàn kết của nhân dân, tạo nên thành công trong công cuộc xây dựng NTM.

2.3.1.3. Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới góp phần

nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, hiệu quả làm việc, nâng cao phẩm chất

đạo đức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong Hệ thống chính trị cơ sở

Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh là một trong các tiêu chí xây dựng

NTM trong đó quan trọng nhất là phát huy dân chủ, tăng cƣờng phát huy quyền

làm chủ của nhân dân trong xây dựng NTM. Điều này đã làm cho nhân dân tích

cực tham gia đóng góp ý kiến, tham gia bàn bạc xây dựng các chủ trƣơng, chính

sách về xây dựng NTM cùng với các cơ quan, tổ chức; tạo cơ sở để cho các chính

sách của Đảng, Nhà nƣớc thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, hƣớng đến

nhân dân, phục vụ nhân dân; thúc đẩy hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, đảng

viên công chức thực hiện tốt trách nhiệm của mình. Họ là những ngƣời làm việc

trong hệ thống chính trị, luôn đi đầu trong công tác tuyên truyền, vận động quần

chúng nhân dân, gần dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, tôn trọng nhân dân và

thực hiện những quyền lợi của nhân dân.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền cơ sở nâng cao nhận thức và năng

lực lãnh đạo của mình trong việc lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân, phát huy quyền làm

chủ của nhân dân, tuyên truyền vận động nhân dân thực hành dân chủ, tham gia

xây dựng NTM, đóng góp sức ngƣời, sức của vào xây dựng NT. Qua đó, tạo

niềm tin vào tổ chức đảng, chính quyền, tích cực tham gia xây dựng HTCT cơ sở

trong sạch, vững mạnh.

Thực tế cho thấy, quá trình thực hành dân chủ ở các tỉnh thuộc ĐBSH đã

góp phần làm cho HTCT trở nên vững mạnh, các cơ chế, chính sách trong xây

dựng NTM đều hƣớng đến phục vụ lợi ích của nhân dân và cộng đồng; cán bộ,

đảng viên, công chức luôn nêu gƣơng góp phần hạn chế những biểu hiện tiêu cực:

tham nhũng, quan liêu, thiếu trách nhiệm, xa dân, thờ ơ, vô cảm trƣớc những khó

khăn và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

68

2.3.1.4. Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới góp phần

phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã

hội trên địa bàn nông thôn

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM là động lực góp phần thúc đẩy sự

phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho

nhân dân; giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn

nông thôn. Thông qua thực hành DCCS, ngƣời dân đƣợc phát huy quyền làm

chủ của mình, đƣợc tham gia bàn bạc, đóng góp ý kiến vào đề án, chƣơng trình

phát triển kinh tế trong xây dựng NTM: đề án quy hoạch, chính sách phát triển

kinh tế- xã hội, giao thông, điện, đƣờng, trƣờng, trạm, các cơ sở văn hóa, chuyển

đổi cơ cấu kinh tế; nhằm phát huy đƣợc tính sáng tạo, tích cực của ngƣời dân

trong tham gia xây dựng NTM làm thay đổi diện mạo nông thôn, nâng cao đời

sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân.

Khi đời sống nhân dân đƣợc cải thiện, nhân dân ngày càng ý thức hơn

đƣợc vai trò, trách nhiệm chủ thể và trung tâm của mình trong xây dựng NTM.

Điều này đã tạo sức lan tỏa trong cộng đồng ngƣời dân, huy động đƣợc đông đảo

quần chúng nhân dân tham gia phát triển kinh tế- xã hội; quan tâm xây dựng đời

sống văn hóa cho ngƣời dân; phát huy tinh thần đoàn kết, tƣơng trợ gắn bó với

nhau trong lao động sản xuất, xây dựng các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp

của nông thôn. Từ đó làm cơ sở củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà

nƣớc, tin tƣởng vào chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc; phát

huy ý chí, sức mạnh toàn dân tộc, sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng dân”, tạo sự

đồng thuận, tăng cƣờng khối đại đoàn kết dân tộc góp phần thực hiện thắng lợi

sự nghiệp xây dựng NTM; bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.

Cùng với quá trình xây dựng, phát triển kinh tế- xã hội, nhân dân còn tích

cực tham gia giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn.

Ngƣời dân hiểu rõ đƣợc vai trò chủ thể của mình trong xây dựng NTM, tham gia

đấu tranh các hành động gây rối trật tự an ninh thôn xóm, bài trừ các tệ nạn xã

hội : cờ bạc, rƣợu chè, ma túy… Ngƣời dân tích cực tham gia xây dựng các đội

tự quản tại địa phƣơng nhƣ thôn, xóm, làng nhằm nâng cao hiệu quả giữ gìn an

ninh trật tự, an toàn xã hội.

69

Có thể nói, thực hành DCCS trong xây dựng NTM có vai trò vô cùng quan trọng trong đƣờng lối phát triển kinh tế- xã hội nƣớc ta nói chung và đối với vùng ĐBSH nói riêng. Qua đó, ngƣời dân đƣợc nâng cao nhận thức về quyền làm chủ của mình, nhận thức rõ đƣợc vai trò chủ thể, trung tâm của ngƣời dân trong thực hiện xây dựng NTM; phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo của của nhân dân, tham gia phát triển kinh tế, cải thiện diện mạo NTM; nâng cao đời sống, vật chất và tinh thần cho ngƣời dân; xây dựng khối đại đoàn kết văn hóa khu dân cƣ; đảm bảo ổn định an ninh, trật tự an toàn xã hội, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống nông thôn.

2.3.2. Những yếu tố tác động đến thực hành dân chủ cơ sở trong xây

dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng

2.3.2.1. Sự tác động của các yếu tố chính trị đến thực hành dân chủ cơ sở

trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng

Thứ nhất, sự tác động của những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đến hiệu quả thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng.

Tác động tích cực Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM, Đảng, Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, Quy định, Quy chế liên quan đến thực hành DCCS nhƣ sau: Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 30- CT/ TW ngày 18 tháng 02 năm 1998 về “ Xây dựng và thực hiện quy chế DCCS”, Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/ PL- UBTVQH11 ngày 20 tháng 4 năm 2007, Pháp lệnh “thực hiện dân chủ ở xã, phƣờng, thị trấn”… Trong Chƣơng trình xây dựng NTM cũng có nhiều Quyết định, Thông tƣ ban hành hƣớng dẫn, xây dựng NTM: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tƣ số 54/ 2009/ TT- BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 “Hƣớng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”; Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 491/ QĐ- TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 “Về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”. Hầu hết, các văn bản đã đƣợc ban hành nhiều năm nay. Quyết định số 1980/ QĐ- TTg, ngày 17/10/2016, về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016- 2020 Quyết định số 318/ QĐ- TTg, ngày 08/3/2022, về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021- 2025... Các chủ trƣơng,

70

đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc có tác động tích cực trong chỉ đạo, hƣớng dẫn, triển khai thực hiện DCCS trong xây dựng NTM; các văn bản đƣợc triển khai có hiệu quả, kịp thời; giúp tăng cƣờng nhận thức về quyền làm chủ của ngƣời dân trong tham gia xây dựng NTM; phát huy đƣợc tính chủ động, tích cực của ngƣời dân trong việc phản ánh những vấn đề bức xúc trong quá trình thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

Tác động tiêu cực Tuy nhiên, việc ban hành và triển khai những văn bản về thực hành DCCS và xây dựng NTM còn chƣa thực sự hiệu quả và đồng bộ. Ở một số địa phƣơng khi triển khai thực hiện DCCS chƣa đạt hiệu quả cao trong thực hiện quyền dân biết, dân bàn, dân giám sát; việc ngƣời dân nhận thức về quyền và nghĩa vụ làm chủ của mình còn chƣa đƣợc đầy đủ, chƣa hiểu biết nhiều về quyền và nghĩa vụ làm chủ của mình. Quyền dân chủ của ngƣời dân nhiều khi còn bị vi phạm, chƣa có chế tài xử lý nghiêm đối với những cơ quan, cá nhân vi phạm thực hành DCCS; xuất hiện nhiều bức xúc giữa ngƣời dân với chính quyền hình thành nên những “điểm nóng” chính trị nhƣ ở: Hà Nội, Nam Định, Vĩnh Phúc.... Đồng thời, các Thông tƣ, Quyết định về hƣớng dẫn xây dựng NTM đã ban hành nhƣng cũng gặp phải một số khó khăn trong quá trình thực thi chính sách. Trong quá trình thực hiện nhiều địa phƣơng còn áp dụng máy móc quy trình, cách thức xây dựng NTM của địa phƣơng khác nên chƣa đem lại hiệu quả cao. Vì vậy, nếu thực hành DCCS kém thì sẽ dẫn đến quá trình xây dựng NTM kém hiệu quả và ngƣợc lại, nếu xây dựng NTM không thành công thì quyền dân chủ của ngƣời dân cũng không đƣợc thực hiện một một cách hiệu quả.

Nhƣ vậy, để đạt hiệu quả cao đối với việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động sức mạnh của nhân dân trong xây dựng NTM, tạo lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nƣớc ta thì cần có những chủ trƣơng, đƣờng lối đúng đắn, phƣơng thức triển khai phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phƣơng.

Thứ hai, sự tác động về vai trò của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính

quyền cơ sở và vai trò của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức.

Tác động tích cực Thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng có thành công hay không phụ thuộc vào vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, tổ

71

chức chính trị- xã hội. Các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng phải nêu cao năng lực lãnh đạo, thực hiện tốt đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, thực hành DCCS theo đúng phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Chính quyền cơ sở và các tổ chức chính trị- xã hội thực hiện tốt vai trò tuyên truyền, vận động nhân dân tham phát huy quyền làm chủ của mình, tích cực tham gia, đóng góp trong xây dựng NTM.

Đồng thời, Ngƣời đứng đầu là ngƣời chịu trách nhiệm cao nhất trong các

tổ chức (cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị) trong lãnh đạo, chỉ đạo đối với

các nhiệm vụ đƣợc giao; là những ngƣời gần gũi, trực tiếp tiếp xúc với nhân dân

nên vai trò của ngƣời đứng đầu cấp cơ sở có ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả

thực hiện DCCS trong xây dựng NTM. Khi ngƣời đứng đầu có phẩm chất, năng

lực, trình độ, càng gƣơng mẫu, uy tín; càng am hiểu và thực hiện dân chủ tốt

chừng nào thì càng là động lực triển khai có hiệu quả xây dựng NTM. Trong

thực hành DCCS thì:“ Ngƣời đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phƣơng, cơ quan,

đơn vị cũng thƣờng xuyên giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, tiếp thu, lắng

nghe ý kiến của nhân dân; thực hiện công tác tiếp dân theo quy định. Các kiến

nghị, khiếu nại, tố cáo của ngƣời dân đều đƣợc giải quyết kịp thời và dứt điểm

ngay từ cơ sở, góp phần hạn chế tới mức thấp nhất việc phát sinh “điểm nóng”,

khiếu kiện đông ngƣời, kéo dài” [119, tr.102].

Tác động tiêu cực

Một số cơ quan lãnh đạo nhà nƣớc vẫn chƣa phát huy đƣợc hết vai trò

lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện dân chủ; việc thực hiện dân chủ còn mang

tính hình thức nhiều tổ chức, cá nhân còn lạm quyền, nhũng nhiễu nhân dân;

không lắng nghe tâm tƣ nguyện vọng của nhân dân làm ảnh hƣởng đến quá trình

thực thi dân chủ ở cơ sở và hiệu quả xây dựng NTM. Bên cạnh đó, một số cán bộ,

đảng viên còn lạm dụng chức quyền, vi phạm nguyên tắc thực hành DCCS, chƣa

quan tâm đến quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân; điều này làm ảnh hƣởng

đến hiệu quả xây dựng NTM.

2.3.2.2. Sự tác động của các yếu tố kinh tế đến thực hành dân chủ cơ sở

trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng

Thứ nhất, sự tác động của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và

quá trình hội nhập quốc tế.

72

Tác động tích cực Kinh tế thị trƣờng là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng. Phát triển kinh tế thị trƣờng, định hƣớng XHCN, đẩy mạnh hội nhập quốc tế tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế- xã hội ở nƣớc ta nói chung và ở vùng đồng bằng nói riêng. Kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN và hội nhập quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bằng, thu hút đầu tƣ, áp dụng khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế; tạo cơ hội cho ngƣời dân đƣợc trao đổi kinh nghiệm, học hỏi, áp dụng các thành tựu trong sản xuất vào xây dựng NTM. Đồng thời, tạo điều kiện cho ngƣời dân đƣợc tham gia nhiều hơn các hoạt động kiểm tra, giám sát, phản biện quá trình thực thi chính sách xây dựng NTM do Đảng, Nhà nƣớc đã ban hành. “Kinh tế thị trƣờng đòi hỏi một chính phủ có hiệu quả, có hạn, liêm chính, đặc biệt là một chính phủ trao nhiều quyền cho thị trƣờng và xã hội, đòi hỏi chính phủ chuyển từ phƣơng thức quản trị truyền thống sang hiện đại, đó chính là quản trị tốt” [83, tr.69]. Thực hiện đúng đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về thực hành DCCS có tác động tích cực đến ngƣời dân góp phần triển khai có hiệu quả chính sách xây dựng NTM.

Tác động tiêu cực Từ thực tế trên cho thấy, cần vận dụng tốt quy luật phát triển của kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN và hội nhập quốc tế. Bởi, sự phát triển của kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN và hội nhập quốc tế cũng tạo những nguy cơ, thách thức đối với việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng: đòi hỏi về trình độ năng lực, phẩm chất của ngƣời đứng đầu cơ quan, tổ chức, trình độ dân trí của ngƣời dân, sự phân hóa giàu nghèo, công bằng bình đẳng trong xã hội; làm băng hoại giá trị đạo đức của một số cán bộ, đảng viên, các thế lực thù địch mua chuộc nhân dân chống phá chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc. Điều này đã làm ảnh hƣởng không nhỏ đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng.

Thứ hai, sự tác động của việc triển khai các nguồn lực trong xây dựng

NTM và những thành tựu của xây dựng NTM.

Tác động tích cực Việc thực hiện có hiệu quả các nguồn lực (con ngƣời, vốn) trong xây

dựng NTM có ảnh hƣởng không nhỏ đến việc thực hiện DCCS trong xây dựng

73

NTM. Thực hiện tốt vấn đề dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của ngƣời dân là

điều kiện cơ bản để huy động đƣợc sự ủng hộ của nhân dân về sức ngƣời và sức

của cho xây dựng NTM. Đời sống vật chất của nhân dân vùng đồng bằng cũng

cao hơn những vùng khác, điều này có lợi thế cho việc huy động các nguồn lực

của nhân dân để thực hiện xây dựng NTM. Đồng thời, mục đích của xây dựng

NTM nhằm mang lại đời sống ngày càng tƣơi đẹp cho nhân dân nông thôn cả về

vật chất và tinh thần. Không những thế, NTM còn là “hình mẫu” để tạo niềm tin,

động lực để nhân dân tin tƣởng và chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng. Để nhân dân tự

giác, tích cực tham gia xây dựng NTM đạt chuẩn theo quy định, NTM phải đƣợc

phát huy ở nhiều nơi. Càng nhiều địa phƣơng xây dựng thành công NTM thì càng

tăng thêm động lực, niềm tin cho nhân dân. Thực hiện xây dựng thành công NTM

điều đó thể hiện vấn đề thực hành DCCS đƣợc đảm bảo.

Tác động tiêu cực

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM mà không phát huy đƣợc quyền làm

chủ của nhân dân sẽ không huy động đƣợc các nguồn lực cho xây dựng NTM. Bên

cạnh đó, trong vùng vẫn còn một số địa phƣơng chƣa xây dựng thành công NTM,

chất lƣợng xây dựng NTM chƣa đạt hiệu quả cao; vấn đề thực hành DCCS chƣa

đƣợc thực hiện trong nhân dân, còn mang tính hình thức. Điều này sẽ làm giảm tính

điển hình, nhân dân giảm niềm tin và thiếu động lực trong xây dựng NTM; ảnh

hƣởng đến kết quả quá trình thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

2.3.2.3. Sự tác động của các yếu tố văn hóa- xã hội đến thực hành dân

chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng

Thứ nhất, trình độ nhận thức, ý thức tự giác của người dân về thực hành

DCCS trong xây dựng NTM

Tác động tích cực

Trình độ nhận thức, ý thức tự giác của ngƣời dân là yếu tố ảnh hƣởng

không nhỏ đến chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng đồng

bằng. So với ngƣời dân ở vùng núi thì ngƣời dân đồng bằng có trình độ dân trí cao

hơn, có điều kiện, khả năng tiếp cận và có ý thức tự giác trong việc thực hiện

những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc ta về thực hành

DCCS và xây dựng NTM. Qua đó, ngƣời dân nhận thức đƣợc quyền và nghĩa vụ

trong thực hiện dân chủ, tích cực tham gia xây dựng NTM, tham gia vào kiểm tra,

74

giám sát, kịp thời phát hiện và phản ánh những sai phạm trong quá trình xây dựng

NTM. Đồng thời, những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc ta

về thực hành DCCS và xây dựng NTM đƣợc ngƣời dân tham gia thảo luận, đóng

góp ý kiến sẽ đƣợc sự ủng hộ của nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội, sự

thống nhất giữa “ý Đảng và lòng dân”; từ đó góp phần nâng cao chất lƣợng thực

hành DCCS và xây dựng NTM.

Tác động tiêu cực

Hiện nay, một bộ phận không nhỏ ngƣời dân vùng đồng bằng còn chƣa nhận

thức đƣợc hoặc nhận thức không đúng về những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách

của Đảng, Nhà nƣớc về thực hành DCCS và xây dựng NTM gây ảnh hƣởng đến

chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Do có điều kiện tiếp cận thông

tin thông qua nhiều hình thức khác nhau nên một bộ phận ngƣời dân còn có những

hành động lạm dụng quyền dân chủ để gây nhũng nhiễu, khó khăn cho cán bộ,

chính quyền địa phƣơng trong thực hiện dân chủ và xây dựng NTM.

Thứ hai, thói quen dân chủ làng xã, tâm lý nông dân vùng đồng bằng và

ảnh hưởng hai mặt của nó đến xây dựng NTM.

Đặc điểm của ngƣời dân Việt Nam nói chung và ngƣời dân ở đồng bằng

nói riêng là tinh thần đoàn kết, chịu thƣơng, chịu khó, luôn biết khắc phục những

khó khăn, gian khổ, có kinh nghiệm trong lao động sản xuất. Ngƣời dân rất coi

trọng sức mạnh tập thể, cộng đồng, lối sống linh hoạt, trọng tình, dân chủ, có ý

thức tham gia vào công việc chung của tập thể, vì lợi ích của tập thể. Điều này,

có tác động tích cực trong việc thực hiện dân chủ và xây dựng NTM, phát huy

tinh thần đoàn kết, chung sức của ngƣời dân trong xây dựng NTM. Vì vậy,

những ngƣời đứng đầu tổ chức, chính quyền phải nắm bắt đƣợc đặc điểm của

ngƣời dân cũng nhƣ tâm tƣ, nguyện vọng của nhân dân, biết khai thác và phát

huy đúng chỗ, đúng lúc các thuộc tính tâm lý, đặc điểm đó sẽ tạo động lực cho

quá trình thực hành DCCS trong xây dựng NTM đạt tới thành công.

Tuy nhiên, chính những đặc điểm trên của ngƣời dân cũng có những tác

động tiêu cực, hạn chế gây cản trở quá trình thực hành DCCS trong xây dựng

NTM. Đó là tâm lý áp đặt, tuỳ tiện, coi thƣờng phép nƣớc, “phép vua thua lệ

làng”- đây là sự biểu hiện của dân chủ làng xã; ảnh hƣởng của phong tục, tập

quán truyền thống hình thành nên tâm lý ngại tiếp nhận cái mới, bị động, trông

75

chờ. Bên cạnh đó, ngƣời dân còn có tâm lý dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, vào số

đông, chƣa phát huy đƣợc ý thức, tinh thần và trách nhiệm của cá nhân. Đây

cũng là một thách thức đối với Đảng, Nhà nƣớc ta, đòi hỏi phải vận dụng linh

hoạt những đặc điểm thói quen của ngƣời dân, phát huy những mặt tích cực, chú

trọng giải quyết những mặt trái nhằm phát huy có hiệu quả thực hành DCCS, xây

dựng NTM đạt kết quả cao.

Có thể nói, những yếu tố tác động đến thực hành DCCS trong xây dựng

NTM ở vùng đồng bằn đƣợc biểu hiện ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Đòi hỏi,

HTCT cấp cơ sở cần nhìn nhận một cách đầy đủ những mặt tích cực và tiêu cực

tác động đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM vùng đồng bằng để có

những chủ trƣơng, chính sách phát huy những tác động tích cực và đƣa ra những

giải pháp khắc phục những mặt tiêu cực, hạn chế của các yếu tố trên để tăng

cƣờng thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

Tiểu kết chƣơng 2

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở có vai trò đặc biệt quan trọng

đối với sự phát triển kinh tế- xã hội đất nƣớc nói chung và đối với vùng đồng

bằng nói riêng; góp phần vào sự ổn định hệ thống chính trị, giữ gìn an ninh trật

tự, kỷ luật, kỷ cƣơng xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc. Điều đó

đòi hỏi cần phải thực hành DCCS gắn với xây dựng NTM, là nhiệm vụ đang

đƣợc toàn HTCT và Nhân dân thực hiện.

Trong chƣơng này, luận án tập trung chủ yếu nghiên cứu lý luận về thực

hành dân chủ và xây dựng NTM, đƣa ra một số khái niệm cơ bản: dân chủ, thực

hành dân chủ, thực hành DCCS, nông thôn, nông thôn mới, xây dựng nông thôn

mới, thực hành DCCS trong xây dựng nông thôn mới. Trên cơ sở phân tích làm rõ

chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nƣớc về Quy chế

DCCS và Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM.

Luận án phân tích làm rõ chủ thể, nội dung, hình thức thực hành DCCS trong

xây dựng NTM; phân tích vai trò và những yếu tố tác động (theo hƣớng tích cực và

tiêu cực) đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng.

Những nội dung trên là cơ sở, khung lý thuyết quan trọng cho tác giả luận

án đi vào nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hành DCCS trong xây dựng NTM

ở vùng đồng bằng.

76

Chƣơng 3

THỰC TRẠNG THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY

3.1. Khái quát đặc điểm vùng đồng bằng sông Hồng tác động đến

thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới

3.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế- chính trị

Vùng ĐBSH có 11 tỉnh, thành phố, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dƣơng,

Hƣng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình,

Quảng Ninh. Toàn vùng có diện tích 23.336 km², chiếm khoảng 7,1% diện tích của

cả nƣớc. Phía bắc và đông bắc vùng ĐBSH là vùng Đông Bắc (Việt Nam), phía tây

và tây nam là vùng Tây Bắc, phía đông là vịnh Bắc Bộ và phía nam là vùng Bắc

Trung Bộ. Vùng có thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và là địa

bàn chiến lƣợc đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an

ninh, đối ngoại của cả nƣớc. Theo Báo cáo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở

ngày 01/4/2019, dân số của vùng là 22.543.607 ngƣời (chiếm 23,4% dân số cả nƣớc). Đây cũng là vùng có mật độ dân số cao nhất cả nƣớc (1.060 ngƣời/km2)[7, tr.60, 55]. Dân số đông đem lại lợi thế nguồn lao động dồi dào. Lực lƣợng lao động

từ 15 tuổi trở lên của vùng ĐBSH sơ bộ năm 2019 là 12.438,2 nghìn ngƣời (chiếm

khoảng 54,1% dân số của vùng)[138, tr.152,162]. Trong đó, cơ cấu dân số nông

thôn trong vùng ở Bắc Ninh là 51,4%, Vĩnh Phúc 75%, Nam Định 81,25% [139].

Về điều kiện tự nhiên, ĐBSH là vùng có phù sa màu mỡ, điều kiện tự

nhiên, khí hậu thuận lợi cho phát triển cây nông nghiệp; hệ thống giao thông,

thủy lợi, cơ sở hạ tầng phát triển là đầu mối nối các tỉnh thành trong cả nƣớc;

có nhiều khu công nghiệp trong vùng phát triển; cơ cấu ngành nghề có sự

chuyển dịch theo hƣớng công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), giảm tỷ

trọng nông- lâm- ngƣ nghiệp. Tạo điều kiện và động lực cho vùng ĐBSH thực

hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông dân, nông thôn hƣớng đến xây dựng NTM

nâng cao, NTM bền vững.

Về kinh tế, đây là vùng tập trung nhiều khu công nghiệp, doanh nghiệp

đầu tƣ nƣớc ngoài, trung tâm kinh tế lớn của cả nƣớc. Quy mô kinh tế của vùng

77

ĐBSH đứng thứ 2 của cả nƣớc, sau vùng Đông Nam Bộ, chiếm 35,8% GDP của

cả nƣớc, thu ngân sách chiếm gần 34% và xuất khẩu hàng năm chiếm xấp xỉ 35%.

Theo báo cáo của các địa phƣơng, tốc độ tăng trƣởng kinh tế toàn vùng 6 tháng

đầu năm 2019 đạt 7,59%, cao hơn mức tăng trƣởng chung của cả nƣớc (6,67%).

Một số địa phƣơng có mức tăng trƣởng cao hơn dự kiến là Hải Phòng 16,3%,

Vĩnh Phúc 8,52% [139]. Kinh tế vùng ĐBSH phát triển góp phần nâng cao đời

sống vật chất, tinh thần của ngƣời dân, trình độ dân trí của ngƣời dân đƣợc nâng

cao; từ đó, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nƣớc. Đây là động lực

góp phần thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Khi kinh tế phát

triển, ngƣời dân tích cực tham gia vào lao động sản xuất trên các lĩnh vực, chủ

động đóng góp ý kiến, công sức và tiền của để đầu tƣ cho chiến lƣợc phát triển

kinh tế vùng; từ đó, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, bảo đảm quyền

làm chủ của nhân dân.

ĐBSH vùng có dân số đông, nguồn lao động dồi dào, đặc biệt là nguồn

lao động có trình độ và kinh nghiệm cao. ĐBSH là vùng có quá trình đô thị hóa

và CNH diễn ra nhanh hơn, điều này đã tạo cơ hội cho nông thôn xích lại gần

với đô thị hơn Dân cƣ vùng ĐBSH có trình độ dân trí cao; trình độ chuyên

môn, nghiệp vụ, kỹ thuật của ngƣời lao động cao. Là vùng tập trung trung tâm

văn hóa, chính trị, kinh tế, của cả nƣớc; tập trung nhiều các trƣờng Đại học,

Cao đẳng, Trung cấp dạy nghề. Điều đó đã tạo điều kiện cho ĐBSH có một

nguồn nhân lực chất lƣợng cao, tiếp cận đƣợc khoa học kỹ thuật hiện đại,

chuyên nghiệp; đây là nguồn lao động chất lƣợng trong xây dựng NTM; tạo

điều kiện cho ngƣời dân tiếp cận và thụ hƣởng những thành quả chung của quá

trình phát triển.

Về chính trị, ĐBSH là trung tâm chính trị lớn nhất cả nƣớc, có HTCT kiện

toàn, nơi tập trung các cơ quan đầu não ban hành những chủ trƣơng, đƣờng lối,

chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nƣớc về thực hiện DCCS và xây dựng NTM.

Bên cạnh đó, ĐBSH còn tập trung đội ngũ cán bộ, lãnh đạo có trình độ chuyên

môn, nghiệp vụ. Điều này, tạo điều kiện cho vùng thực hiện tốt những chủ

trƣơng, chính sách, của Đảng, Nhà nƣớc về thực hành DCCS và xây dựng NTM.

Đảng, Nhà nƣớc ta chủ trƣơng ban hành nhiều chính sách phát triển kinh tế- xã

hội vùng ĐBSH nhƣ: Nghị quyết sô 54- NQ/TW, ngày 14-9-2005, của Bộ Chính

78

trị Khóa IX về phát triển kinh tế- xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng

ĐBSH đến năm 2010 và định hƣớng đến năm 2020; Quyết định số 795/ QĐ-

TTg ngày 23/5/2013, phê duyệt tổng thể phát triển kinh tế- xã hội vùng ĐBSH

đến năm 2020; Quyết định số 492/ QĐ- TTg, ngày 19/4/2022, phê duyệt nhiệm

vụ lập Quy hoạch vùng ĐBSH thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn 2050. Những chủ

trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc ta có tác động đến các cấp ủy,

tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội

vùng ĐBSH cụ thể hóa, triển khai thực hiện trên thực tế, thúc đẩy đầu tƣ, xây

dựng cơ sở vật chất, hạ tầng, kỹ thuật; tập trung phát triển kinh tế vùng ĐBSH

nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân. Thực hiện tốt

những chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc tạo điều kiện cho vùng phát

huy đƣợc những thế mạnh, tiềm năng để phát triển kinh tế- xã hội, có tác động

tích cực trong việc hoàn thiện những tiêu chí xây dựng NTM và bảo đảm cho

DCCS đƣợc thực hiện.

Bên cạnh đó, những đặc điểm trên cũng có những tác động tiêu cực ảnh hƣởng đến chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH: Một là, do mật độ dân số vùng ĐBSH đông đúc, chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giới trẻ có xu hƣớng bỏ nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc. Điều này, làm nảy sinh vấn đề phân bổ nguồn lao động, tìm kiếm việc làm và các chính sách cho ngƣời dân; gây khó khăn cho việc thực hiện DCCS và thực hiện những tiêu chí trong xây dựng NTM. Hai là, một bộ phận dân cƣ, nguồn lao động ở các vùng nông thôn có trình độ tay nghề thấp, chủ yếu là những kinh nghiệm tích lũy đƣợc trong quá trình sản xuất, lao động đa phần là thuần nông, buôn bán nhỏ, lẻ. Do đó, việc ứng dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học- kỹ thuật hiện đại trong xây dựng NTM hạn chế gây ảnh hƣởng đến chất lƣợng xây dựng NTM hiện đại, thông minh. Ba là, do quá trình đô thị hóa và CNH diễn ra nhanh chóng nên cũng xuất hiện nhiều tác động tiêu cực: việc giải quyết vấn đề thu hồi đất, đền bù và giải phóng mặt bằng cho ngƣời dân chƣa đƣợc thỏa đáng làm xuất hiện những khiếu kiện, tranh chấp xuất hiện nhiều điểm nóng nhƣ Nam Định, Vĩnh Phúc, Mỹ Đức (Hà Nội) ảnh hƣởng đến chất lƣợng thực hiện DCCS; vấn đề ô nhiễm môi trƣờng và biến đổi khí hậu; tệ nạn xã hội, mê tín, dị đoan… gây ảnh hƣởng đến việc hoàn thiện một số tiêu chí trong xây dựng NTM. Bốn là,

79

Do tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế vì thế đã tạo nên sự chênh lệch khoảng cách giàu nghèo giữa các địa phƣơng trong vùng còn khá lớn, cơ sở hạ tầng còn thiếu đồng bộ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Chính những điều này đã làm ảnh hƣởng lớn đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM vùng ĐBSH: việc sử dụng và huy động các nguồn lực cho xây dựng NTM gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là nguồn lực kinh tế, con ngƣời; việc thực hiện các tiêu chí xây dựng NTM còn gặp nhiều khó khăn, không phát huy đƣợc tính chủ động, tích cực của ngƣời dân trong thực hành DCCS và trong xây dựng NTM.

3.1.2. Đặc điểm về văn hóa- xã hội Thứ nhất, truyền thống văn hóa, lịch sử hình thành, tâm lý tiểu nông, cộng

đồng làng xã là đặc điểm nổi bật ở vùng ĐBSH.

ĐBSH có truyền thống văn hóa, lịch sử hình thành và phát triển lâu đời cùng với quá trình đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc. Điều này đã tạo cho vùng ĐBSH có những nét đặc trƣng văn hóa truyền thống yêu nƣớc, tinh thần đoàn kết, chịu thƣơng, chịu khó, luôn biết khắc phục những khó khăn, gian khổ, có kinh nghiệm trong lao động sản xuất. Ngƣời dân rất coi trọng sức mạnh tập thể, cộng đồng, lối sống linh hoạt, trọng tình, dân chủ; có ý thức tham gia vào những công việc chung của tập thể, trình độ dân trí của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao. Ngƣời dân vùng ĐBSH có ý thức giữ gìn những phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Điều này đã tạo thuận lợi trong việc huy động sức mạnh tập thể, tinh thần đoàn kết trong xây dựng NTM, giữ gìn những giá trị truyền thống; đồng thời, phát huy đƣợc tinh thần tôn trọng tập thể, năng lực nhận thức của ngƣời dân có ảnh hƣởng tích cực đến việc phát huy vai trò chủ thể của ngƣời dân trong xây dựng NTM.

Bên cạnh đó, chính những đặc điểm trên của ngƣời dân cũng có những tác động tiêu cực, hạn chế gây cản trở quá trình thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Ngƣời dân còn có tâm lý dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, vào số đông, chƣa phát huy đƣợc ý thức, tinh thần và trách nhiệm của cá nhân. Do ảnh hƣởng của văn hóa truyền thống lâu đời, tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ hình thành nên tƣ tƣởng bảo thủ, lạc hậu, tâm lý tùy tiện, vô nguyên tắc, vô tổ chức, coi trọng tục lệ “phép vua thua lệ làng”, tâm lý cục bộ, địa phƣơng, ngại thay đổi, tiếp thu cái mới có tác động tiêu cực đối với việc thực hiện DCCS và làm ảnh hƣởng đến chiến lƣợc xây dựng NTM trong bối cảnh công nghiệp 4.0.

80

Thứ hai, đặc điểm về gia đình, dòng họ cũng có tác động đến thực hành

DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Đặc điểm về gia đình, dòng họ ở vùng ĐBSH gắn liền với quá trình lịch

sử hình thành, có tác động tích cực trong việc giữ gìn, kế thừa truyền thống văn

hóa tốt đẹp vùng ĐBSH từ thế hệ này sang thế hệ khác, các gia đình, dòng họ

luôn phát huy đƣợc tinh thần đoàn kết, ý thức tự giác, tích cực, giữ vững truyền

thống yêu nƣớc, hiếu học trong gia đình, dòng tộc. Điều này góp phần phát huy

tính chủ động, tích cực của gia đình, dòng tộc trong tham gia xây dựng NTM.

Tuy nhiên, những đặc trƣng về gia đình, dòng họ cũng có những tác động

tiêu cực đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH: yếu tố gia

đình, dòng tộc tạo nên mặt trái đó là sự chuyên quyền, độc đoán trong thực hiện

DCCS, ở địa phƣơng, dòng tộc nào to, lớn mạnh hơn thì có tiếng nói đối với

những vấn đề ở địa phƣơng, hình thành tƣ tƣởng “một ngƣời làm quan cả họ

đƣợc nhờ”. Điều này tạo nên sự mất dân chủ, cục bộ, lợi ích nhóm, gia đình

trong thực hiện những chủ trƣơng, chính sách của địa phƣơng về thực hành

DCCS và xây dựng NTM.

3.2. Thực trạng thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn

mới ở vùng đồng bằng sông Hồng

3.2.1. Thực trạng hoạt động của các chủ thể trong thực hành dân chủ

cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng

3.2.1.1. Những thành tựu chủ yếu

Hoạt động của các chủ thể trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở

vùng ĐBSH đạt đƣợc những thành tựu chủ yếu nhƣ sau:

Thứ nhất, các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện tốt công tác lãnh đạo, chỉ

đạo, ban hành những chủ trương, đường lối, chính sách về thực hành DCCS

trong xây dựng NTM; chính quyền cơ sở thực hiện tốt việc triển khai cụ thể hóa

những chủ trương, đường lối về thực hành DCCS trong xây dựng NTM

Đảng, Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách

phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt là quyền làm chủ của nhân dân ở

cơ sở: Chỉ thị số 30- CT/ TW ngày 18 tháng 02 năm 1998 về xây dựng và thực

hiện quy chế DCCS; Pháp lệnh số 34/2007/ PL- UBTVQH11, ngày 20 tháng 4

năm 2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phƣờng, thị trấn. Điển hình nhƣ ở Nam

81

Định, ngay sau khi Bộ Chính trị (Khóa XI) ban hành Kết luận số 120- KL/ TW,

ngày 07/01/ 2016 “Về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả việc xây

dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”, Ban Thƣờng vụ Tỉnh ủy đã tổ chức

hội nghị quán triệt tới Ban chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở của tỉnh. Đồng thời,

ban hành Công văn số 57- CV/TU, ngày 08/3/2016 về triển khai thực hiện Kết

luận số 120- KL/TW và Kết luận số 114- KL/TW. Các huyện ủy, thành ủy và

đảng ủy trực thuộc tỉnh đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, quán triệt các văn bản chỉ

đạo của Trung ƣơng, của tỉnh về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở gắn với

triển khai thực hiện các kế hoạch, chƣơng trình mục tiêu về xây dựng NTM. Kết

quả có 16/16 huyện ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc tỉnh; 229/229 đảng ủy xã,

phƣờng, thị trấn đều tổ chức quán triệt Kết luận số 120- KL/ TW [136]. Song

song với việc thực hiện quy chế DCCS là chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây

dựng NTM. Tỉnh Nam Định đã xác định đƣợc ý nghĩa và tầm quan trọng của

nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX

(nhiệm kỳ 2015- 2020) đề ra mục tiêu đẩy mạnh CNH, HĐH, triển khai toàn

diện Đề án tái cơ cấu nông nghiệp gắn với Chƣơng trình xây dựng NTM, xác

định đây là một định hƣớng phát triển cơ bản và lâu dài của tỉnh; phấn đấu đến

năm 2020 đạt tiêu chí “Tỉnh nông thôn mới”. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã

ban hành Nghị quyết số 04- NQ/ TU ngày 20/4/2016 về xây dựng NTM giai

đoạn 2016- 2020 với tám nhiệm vụ giải pháp chủ yếu. Kết luận tập trung lãnh

đạo nhiệm vụ phát triển nông nghiệp và xây dựng NTM. Hội đồng nhân dân tỉnh

đã ban hành 23 Nghị quyết về nội dung liên quan đến nông nghiệp, nông dân,

nông thôn, trong đó có một số Nghị quyết về cơ chế chính sách xây dựng NTM, là

cơ sở để Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh xây dựng kế hoạch và huy động nguồn

lực triển khai thực hiện. Đồng thời, Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh đã xây dựng

kế hoạch và tổ chức giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND tỉnh về

phát triển kinh tế- xã hội, trong đó có chƣơng trình xây dựng NTM. Sau 5 năm,

UBND tỉnh đã ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện 52 Kế hoạch, 79 Quyết định

về công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý Chƣơng trình xây dựng NTM. Trong đó,

có một số Kế hoạch trọng tâm nhƣ: Kế hoạch số 52/ KH-UBND ngày 09/6/2016

về xây dựng NTM giai đoạn 2016- 2020; Kế hoạch số 32/ KH- UBND ngày

07/4/2017 về xây dựng NTM năm 2017, định hƣớng năm 2018; Kế hoạch số 110/

82

KH- UBND ngày 12/12/2018 về thực hiện chƣơng trình mỗi xã 01 sản phẩm

(OCOP) [150]…Qua đó, tỉnh Nam Định đã quan tâm, tập trung chỉ đạo, điều hành,

đôn đốc, đánh giá, tổng kết quá trình xây dựng NTM; tiếp nhận và triển khai tích

cực những văn bản, chỉ thị từ Trung ƣơng; đảm bảo những chủ trƣơng, đƣờng lối

của Đảng, Nhà nƣớc đƣợc phổ biến rộng rãi đến địa phƣơng, cơ sở và nhân dân

lao động. Điều này cho thấy, nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng cũng nhƣ

trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị về dân chủ đƣợc nâng lên,

nhất là về cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý, nhân dân làm chủ”; phát

huy quyền làm chủ của nhân dân trong tình hình mới, góp phần thực hiện thắng

lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế- xã hội, đặc biệt là thắng lợi sự nghiệp xây

dựng NTM, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng

và sự quản lý của chính quyền các cấp.

Ở tỉnh Bắc Ninh, Ban Thƣờng vụ Tỉnh ủy chỉ đạo Ban Chỉ đạo thực hiện

QCDC tỉnh đã ban hành Công văn số 01- CV/ BCĐ, ngày 10/3/2016 chỉ đạo các

huyện ủy, thị ủy, thành ủy; các sở, ban, ngành, tổ chức chính trị- xã hội từ tỉnh

đến cơ sở nghiêm túc tổ chức phổ biến, quán triệt Kết luận số 120- KL/ TW,

ngày 07/01/2016, về “tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây

dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” đến 100% các chi bộ, đảng bộ trong

tỉnh; tỷ lệ đảng viên tham gia học tập, quán triệt ở xã, phƣờng, thị trấn đạt 90%;

cán bộ, đảng viên trong cơ quan nhà nƣớc đạt 98%, lãnh đạo các doanh nghiệp

đạt 75% [135]. Trên cơ sở đó, các ngành, các cấp tập trung cụ thể hóa, triển khai

thực hiện phù hợp các văn bản có liên quan tới tình hình thực tế của địa phƣơng,

cơ sở; đánh giá cao vai trò của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở; là điều kiện để

phát triển kinh tế xã hội, xây dựng NTM trong tỉnh đạt kết quả cao. Cùng với

việc thực hiện DCCS, ngay sau khi có Quyết định số 800/ QĐ- TTg ngày

04/6/2010 và Quyết định số 1600/ QĐ- TTg, ngày 16/8/2016 của Thủ tƣớng

Chính phủ về việc phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông

thôn mới giai đoạn 2010- 2020. Tỉnh Bắc Ninh đã kịp thời ban hành các văn bản

triển khai thực hiện xây dựng chƣơng trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng

NTM. Quyết định của UBND tỉnh số 367/QĐ- UBND, ngày 26/7/2017 về việc

ban hành bộ tiêu chí xã nông thôn mới tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016- 2020; Kế

hoạch của UBND tỉnh số 222/ KH- UBND, ngày 26/7/2017 về việc triển khai

83

chƣơng trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016- 2020; Quyết định

của UBND tỉnh số 134/ QĐ- UBND, ngày 09/3/2018, về việc ban hành Đề án

xây dựng, quản lý và quảng bá thƣơng hiệu cho một số sản phẩm nông nghiệp và

làng nghề tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2018- 2020; Quyết định của UBND tỉnh số

2132/ QĐ- UBND ngày 16/11/2018, về việc phê duyệt Đề án “Chƣơng trình mỗi

xã, phƣờng, thị trấn một sản phẩm” tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2018- 2020, định

hƣớng đến năm 2030. Cùng với quyết tâm của cán bộ, nhân dân tỉnh Bắc Ninh

đã đạt đƣợc kết quả cao trong xây dựng nông thôn mới, đến năm 2020 đạt trên

60% tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM. Phấn đấu đến đến hết năm 2020 tỉnh Bắc Ninh có

trên 80% số xã đạt chuẩn NTM; 4/6 huyện và thị xã Từ Sơn, thành phố Bắc Ninh

về đích nông thôn mới; số tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới bình quân trên 1 xã

đạt 18 tiêu chí[149]. Nhƣ vậy, việc ban hành cơ chế chính sách của tỉnh Bắc

Ninh về thực hiện QCDC cơ sở cùng với những cơ chế chính sách trong xây

dựng NTM đã kịp thời hƣớng dẫn, phổ biến khuyến khích các địa phƣơng, cơ sở

và ngƣời dân bƣớc đầu đã chủ động nắm đƣợc và tích cực tham gia hƣởng ứng

phong trào xây dựng NTM, phát huy quyền làm chủ của ngƣời dân lao động;

phát triển kinh tế nâng cao thu nhập, đóng góp vật chất và tinh thần vào phong

trào xây dựng NTM ở địa phƣơng.

Cùng với Nam Định, Bắc Ninh, tỉnh Vĩnh Phúc cũng có những văn bản chỉ

đạo kịp thời nhằm phổ biến, thực hiện những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của

Đảng, Nhà nƣớc về thực hiện QCDC cơ sở gắn với xây dựng NTM. Các văn bản, cơ

chế, chính sách đƣợc ban hành, triển khai trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Ban Chỉ đạo

thực hiện các Chƣơng trình MTQG tỉnh đƣợc thành lập theo Quyết định số 528/ QĐ-

UBND ngày 17/02/2017, gồm 39 thành viên; thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, điều

hành, triển khai cụ thể hóa đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc,

triển khai thực hiện có hiệu quả việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Chính

quyền tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến cho ngƣời dân về thực

hành DCCS gắn với xây dựng NTM góp phần nâng cao nhận thức về thực hành

DCCS trong xây dựng NTM, nâng cao trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và huy

động toàn bộ ngƣời dân tham gia vào quá trình xây dựng NTM; ý thức trách nhiệm

của ngƣời dân tham gia xây dựng NTM đƣợc nâng lên, tạo sự đồng thuận trong xã

hội; thực hành dân chủ góp phần huy động mọi nguồn lực tham gia xây dựng NTM.

84

Kết quả khảo sát 3 tỉnh điển hình thuộc ĐBSH cho thấy: tỷ lệ ngƣời dân trả lời các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở đã thực hiện hoàn toàn hiệu quả việc đề ra những chủ trƣơng, đƣờng lối trong chỉ đạo thực hành DCCS trong xây dựng NTM là 15,5% và phần lớn hiệu quả là 48,8%. Cùng với đó, chính quyền cơ sở cũng thực hiện quản lý, điều hành triển khai cụ thể hóa những đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về thực hành DCCS trong xây dựng NTM hoàn toàn có hiệu quả là 17,7% và phần lớn có hiệu quả là 50% (Biểu đồ 3.2.1a). Các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở đã thực hiện tốt việc ban hành những chủ trƣơng, đƣờng lối; triển khai thực hiện có hiệu quả việc triển khai cho ngƣời dân về chủ trƣơng, chính sách thực hành DCCS trong xây dựng NTM; góp phần nâng cao hiệu quả, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở ĐBSH.

Biểu đồ 3.2.1a: Mức độ hiệu quả hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM (%)

Thứ hai, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội thực hiện tốt việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hành DCCCS trong xây dựng NTM; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân

Trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội

đã tích cực xây dựng hệ thống chính trị; cùng với các cấp ủy đảng, chính quyền,

85

các tổ chức chính trị- xã hội ở ĐBSH thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động

nhân dân thực hành DCCS, phát huy khối đại đoàn kết dân tộc, huy động sức dân

trong xây dựng NTM. Mặt trận Tổ quốc cùng với các tổ chức chính trị- xã hội: Hội

Phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh,… vận động nhân dân tham gia các

phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư”, phong trào

“Phụ nữ chung sức xây dựng nông thôn mới”, … Mặt trận Tổ quốc phát huy tốt vai

trò giám sát và phản biện xã hội trong thực hành dân chủ cơ sở gắn với xây dựng

NTM; đổi mới nội dung và phƣơng thức hoạt động, thể hiện rõ trách nhiệm: trực

tiếp sinh hoạt, trao đổi và cùng với nhân dân tháo gỡ những khó khăn, vƣớng mắc ở

cơ sở, động viên đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các

cuộc vận động, phong trào thi đua ở cơ sở. Đồng thời, tham gia các hoạt động giám

sát của chính quyền cơ sở, các nội dung giám sát đều tập trung vào những vấn đề

liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân trong quá trình xây dựng NTM

làm thay đổi bộ mặt nông thôn.

Điển hình nhƣ ở Nam Định- là một trong hai tỉnh đầu tiên trong cả nƣớc về

đích NTM cùng với việc thực hiện QCDC cơ sở. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các

đoàn thể chính trị- xã hội các cấp tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân tích

cực phát huy vai trò làm chủ của mình trong xây dựng NTM, thực hiện Pháp lệnh

DCCS; phát huy tinh thần chủ động, tích cực trong xây dựng NTM với các phong

trào, cuộc vận động thiết thực, hiệu quả nhƣ: “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM,

đô thị văn minh”, gắn với cuộc vận động xây dựng khu dân cƣ 5 không”; “Hội

cựu chiến binh chung sức xây dựng NTM, đô thị văn minh”; “Nông dân sản xuất

kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu, giảm nghèo bền vững”, “Phụ nữ

Nam Định chung sức xây dựng NTM” gắn với cuộc vận động “Xây dựng gia đình

5 không 3 sạch”…

Hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tƣ cộng đồng đạt

hiệu quả cao; công tác kiểm tra, giám sát ở cơ sở đƣợc tăng cƣờng góp phần ổn

định tình hình an ninh chính trị và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Ban

Thanh tra nhân dân phát huy ngày càng có hiệu quả vai trò giám sát việc thực

hiện chính sách pháp luật, giải quyết các khiếu nại, tố cáo việc thực hiện quy chế

DCCS trong xây dựng NTM, góp phần phát huy dân chủ, đấu tranh chống tham

nhũng, tiêu cực, bảo vệ quyền lợi chính đáng của ngƣời dân trong tham gia xây

86

dựng NTM; tích cực hoàn thiện về mặt thể chế, thiết chế và các điều kiện bảo

đảm, tăng cƣờng phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội

thực hiện có hiệu quả quy chế DCCS; thực hiện cơ chế: “dân biết, dân bàn, dân

làm, dân kiểm tra” trong chƣơng trình xây dựng NTM nhằm tạo lập không khí

dân chủ, minh bạch, thu hút đƣợc nhân lực và vật lực đầu tƣ cho xây dựng NTM,

nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân, tạo nên sự đồng thuận

trong xã hội. Ở một số tỉnh ở ĐBSH: Nam Định, Thái Bình… đã thực hiện hiệu

quả cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”, tổ chức tiếp dân, giải quyết các

khiếu nại của dân liên quan đến vấn đề xây dựng NTM, góp phần khắc phục

những phiền hà và giảm bớt thời gian giao dịch và tiết kiệm chi phí cho ngân

sách; thực hiện công khai, minh bạch các nguồn quỹ do nhân dân đóng góp,

công khai các dự án, công trình có liên quan đến phát triển kinh tế- xã hội, xây

dựng NTM; các cơ quan thực hiện công khai niêm yết thủ tục hành chính, thuận

tiện cho ngƣời dân.

Theo kết quả khảo sát, tỷ lệ ngƣời dân trả lời Mặt trận Tổ quốc và các tổ

chức chính trị- xã hội đã thực hiện hoàn toàn có hiệu quả vai trò nòng cốt, bảo vệ

lợi ích của nhân dân trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH là 18,1% và phần lớn

thực hiện có hiệu quả là 53% (Biểu đồ 3.2.1a). Điều đó, chứng minh kết quả đã

đạt đƣợc của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội trong việc thực

hiện nhiệm vụ trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

Thứ ba, người đứng đầu cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn phát huy

tinh thần tự giác, gương mẫu, đi đầu trong thực hiện Quy chế DCCS gắn với xây

dựng NTM

Quán triệt sâu sắc quan điểm, đƣờng lối, quy chế, quy định của Đảng,

chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, ngƣời đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị,

cán bộ, đảng viên vùng ĐBSH luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực

hiện công tác dân vận, gƣơng mẫu đi đầu thực hiện Quy chế DCCS trong xây

dựng NTM; thực hiện phong cách trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách

nhiệm với dân và nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin; quyết liệt đổi mới lề lối

làm việc, lãnh đạo, chỉ đạo cải cách hành chính. Trong làm việc với nhân dân, cán bộ,

đảng viên luôn chấn chỉnh, sửa đổi thái độ phục vụ nhân dân; tăng cƣờng tiếp xúc,

đối thoại trực tiếp với nhân dân, lắng nghe dân giải quyết kịp thời những bức xúc và

87

tâm tƣ, nguyện vọng của nhân dân, thực sự coi công tác dân vận là nhiệm vụ quan

trọng, thƣờng xuyên của cơ quan, địa phƣơng mình. Nhờ đó mà trong công tác xây

dựng NTM ở ĐBSH đã huy động đƣợc sức mạnh toàn dân đoàn kết, chung tay xây

dựng NTM; ngƣời dân có niềm tin vào cán bộ, đảng viên; nhận thấy đƣợc tinh thần

trách nhiệm, lòng nhiệt huyết của mỗi cán bộ, đảng viên tin tƣởng Chƣơng trình Mục

tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới của Đảng, Nhà nƣớc ta, đem lại hiệu quả

cao trong xây dựng NTM. Vì thế, Theo bảng số liệu thống kê của Văn phòng Điều

phối NTM Trung ƣơng về số đơn vị cấp huyện đạt chuẩn NTM giai đoạn 2015-

7/2019 nhƣ sau: Năm 2015, cả nƣớc có 15 huyện đạt chuẩn NTM, trong đó vùng

ĐBSH có 5 huyện đạt chuẩn NTM; tháng 7/2019, cả nƣớc có 82 huyện đạt chuẩn

NTM, ĐBSH chiếm 34 huyện đạt chuẩn NTM[158]. Nhƣ vậy, vùng ĐBSH luôn đạt

mức dẫn đầu cả nƣớc về số huyện đạt NTM cho tới thời điểm tháng 7/ 2019.

Ở Nam Định, công tác xây dựng NTM luôn xác định rõ vai trò, trách

nhiệm của ngƣời đứng đầu cấp ủy, cán bộ, đảng viên, công chức. Tỉnh ủy đã ra

văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện Quyết định số 11- QĐ/ TW, ngày

18/02/2019 của Bộ Chính trị về “trách nhiệm của ngƣời đứng đầu cấp ủy trong

việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của

dân”. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức luôn gƣơng mẫu đi đầu trong thực hiện

nhiệm vụ xây dựng NTM, luôn gần dân, hiểu dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân,

học dân. Cấp ủy, chính quyền cơ sở luôn coi trọng ý kiến đề xuất, kiến nghị của

ngƣời dân tại các buổi đối thoại trực tiếp với chính quyền. Đến nay, toàn tỉnh đã

có 186/226 xã xây dựng quy chế đối thoại của ngƣời đứng đầu cấp ủy với nhân

dân (đạt 82,30%)[136].

Kết quả khảo sát về phát huy vai trò ngƣời đứng đầu cấp ủy, cán bộ, đảng

viên, công chức trong tham gia xây dựng NTM ở vùng ĐBSH cho thấy: tỷ lệ

ngƣời dân nhận trả lời ngƣời đứng đầu cấp ủy, cán bộ, đảng viên, công chức luôn

gƣơng mẫu, đi đầu trong thực hiện DCCS trong xây dựng NTM là 93,6%; cán bộ,

đảng viên, công chức luôn trọng dân, gần dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân là

95,8%; có tinh thần trách nhiệm, tự giác là 92,1% và dám nghĩ, dám làm, dám

chịu trách nhiệm là 89,2% (Biểu đồ 3.2.1b) (Phụ lục 1). Kết quả cho thấy, ngƣời

đứng đầu cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức luôn phát huy vai trò trong

thực hành DCCS trong xây dựng NTM, gƣơng mẫu đi đầu trong vận động quần

88

chúng nhân dân thực hành DCCS trong xây dựng NTM; góp phần tạo nên thành

công của xây dựng NTM ở vùng ĐBSH và bảo đảm cho DCCS đƣợc thực hiện

trên thực tế.

Thứ tư, nhân dân thực hiện tốt vai trò chủ thể trong thực hành DCCS trong

xây dựng NTM, thực hiện tốt quyền làm chủ trong xây dựng NTM

Dƣới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, các cấp chính

quyền về tuyên truyền đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của

Nhà nƣớc về thực hiện Pháp lệnh DCCS gắn với mục tiêu xây dựng NTM; Mặt

trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội phát huy tốt vai trò trong việc hiện

thực hóa đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nƣớc; cán bộ,

đảng viên luôn gƣơng mẫu, đi đầu trong thực hiện DCCS gắn với nhiệm vụ xây

dựng NTM. Qua đó, ngƣời dân đã nhận thức đƣợc vai trò, trách nhiệm của mình

trong tham gia xây dựng NTM. Ngƣời dân tích cực tham gia “chung sức xây dựng

NTM”; tham gia đóng góp ý kiến, đề xuất để xây dựng NTM. Ngƣời dân tham gia

bầu cử trực tiếp Chủ tịch HĐND, UBND; bầu ban Thanh tra nhân dân để đại diện

nhân dân giải quyết các đơn thƣ, khiếu nại cũng nhƣ đại diện cho quyền lợi của

nhân dân trong xây dựng NTM; đóng góp nguồn lực một cách tự nguyện và tự

quản trong thực hiện một số công việc trong xây dựng NTM. Theo Báo cáo của

Văn phòng Điều phối NTM Trung ƣơng về nguồn lực huy động cho xây dựng

NTM giai đoạn 2011- 2018, ở vùng ĐBSH có tổng là 292.573 tỷ đồng trong đó:

nguồn vốn đầu tƣ cộng đồng là 37.771 tỷ đồng chiếm 12,9% đứng thứ tƣ trong

tổng số ngân sách đầu tƣ cho xây dựng NTM[158]. Cũng theo kết quả khảo sát

cho thấy, tỷ lệ trung bình ngƣời dân 3 tỉnh thuộc vùng ĐBSH trả lời ngƣời dân

hoàn toàn thực hiện nhận thức đƣợc về vai trò chủ thể trong thực hiện quyền “dân

biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hƣởng” là 35,5% và tỷ

lệ ngƣời dân phần lớn nhận thức đƣợc với tỷ lệ bình quân là 35,6% (trong đó, ở

Vĩnh Phúc kết quả tƣơng ứng là 45,7% và 21,3%, Nam Định là 20,5% và 44,7%,

Bắc Ninh là 39,5% và 41%) (Biểu đồ 3.2.1b). Với kết quả này cho thấy, ngƣời dân

cơ bản đã nhận thức đƣợc vai trò chủ thể đối với việc phát huy quyền làm chủ

trong thực hiện xây dựng NTM. Điều này quyết định không nhỏ đến kết quả thực

hiện thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

89

Biểu đồ 3.2.1b: Tương quan địa phương khảo sát và đánh giá người dân thực hiện nhận thức về vai trò chủ thể trong thực hiện quyền “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM

3.2.1.2. Những hạn chế chủ yếu Bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc về thực hiện hoạt động của các chủ thể trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM, ta thấy vẫn còn tồn tại một số hạn chế chủ yếu nhƣ sau:

Một là, chưa có sự quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện DCCS trong xây dựng NTM ở một số cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền cơ sở. Việc triển khai các văn bản, hướng dẫn về Quy chế DCCS, xây dựng NTM còn chậm, chưa rõ ràng và cụ thể tới người dân.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện QCDC cơ sở trong xây dựng NTM của một số cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng và hệ thống chính trị còn chƣa thực sự quyết liệt; việc thành lập, kiện toàn và nâng cao chất lƣợng hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC ở một số đơn vị cơ sở chất lƣợng chƣa cao; các thành viên Ban Chỉ đạo chƣa phát huy hết vai trò, trách nhiệm trong chỉ đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở trong xây dựng NTM. Theo kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ ngƣời dân trả lời các cấp ủy, tổ chức Đảng thực hiện hiệu quả ở mức trung bình việc đề ra những chủ trƣơng, đƣờng lối thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH chiếm 27%, phần lớn không hiệu quả chiếm 5,7% và hoàn toàn không hiệu quả là 2,9% (Biểu đồ 3.2.1a). Kết quả này cho thấy, vai trò của các

90

cấp ủy, tổ chức Đảng còn biểu hiện một số hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo; ảnh hƣởng đến chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Việc ban hành các văn bản chỉ đạo ở chính quyền cơ sở còn mang tính rập khuôn hình thức, chung chung, chƣa sát, chƣa kịp thời và chƣa phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế của từng địa phƣơng làm ảnh hƣởng đến hiệu quả thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Việc xây dựng, rà soát, bổ sung, điều chỉnh nội quy, quy chế, quy ƣớc, hƣơng ƣớc ở cơ sở còn lúng túng, chƣa kịp thời, còn hình thức, chƣa phù hợp với tình hình thực tế. Chƣa có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị ở địa phƣơng trong việc tuyên truyền, thực hiện chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc về thực hành dân chủ ở cơ sở trong xây dựng NTM.

Công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các chủ trƣơng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc ở một số chính quyền địa phƣơng còn chậm, chƣa đạt hiệu quả cao; còn chƣa thấy đƣợc hết ý nghĩa thiết thực của việc tuyên truyền, quán triệt phổ biến các văn bản, quy định về thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Việc thực hiện tuyên truyền còn mang tính hình thức, làm cho có. Cũng theo kết quả khảo sát, tỷ lệ ngƣời dân trả lời chính quyền cơ sở thực hiện tuyên truyền, phổ biến những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách, chỉ thị về thực hành DCCS trong xây dựng NTM đạt hiệu quả ở mức trung bình chiếm 26,9%, phần lớn không hiệu quả và hoàn toàn không hiệu quả là 2,7% (Biểu đồ 3.2.1a).

Với kết quả khảo sát trên cho thấy việc phát huy vai trò của các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở còn nhiều hạn chế: công tác lãnh đạo, chỉ đạo chƣa thực sự đi vào trọng tâm, sâu sát, quản lý, điều hành chƣa thực sự quyết liệt làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng thực hành DCCS và kết quả xây dựng NTM ở vùng ĐBSH trong thời gian qua. Qua đó, đòi hỏi phải có những giải pháp phát huy vai trò của các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở trong thực hành DCCS gắn với xây dựng NTM.

Hai là, sự phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM còn thiếu chặt chẽ, chưa chú trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện, chưa thực sự công khai, minh bạch kết quả kiểm tra, giám sát.

Hoạt động công khai các nôi dung liên quan đến thực hiện DCCS trong xây dựng NTM ở một số địa phƣơng, cơ sở còn chƣa tạo thuận lợi cho ngƣời dân tiếp

91

cận thông tin. Hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tƣ cộng đồng, tổ hòa giải, tổ nhân dân tự quản ở một số cơ sở xã, phƣờng, thị trấn còn chƣa đạt hiệu quả cao, mang tính hình thức. Một số nơi chƣa thực hiện phổ biến đầy đủ tới ngƣời dân một số nội dung liên quan đến chủ trƣơng, chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc. Việc thực hiện cho nhân dân tham gia bàn và quyết định; tham gia ý kiến còn mang tính hình thức nhất là trong công khai hỗ trợ giải phóng mặt bằng, thu, chi tài chính, về quy hoạch, bổ nhiệm… gây bức xúc, khiếu kiện trong nhân dân. Việc tổ chức họp dân ở một số khu dân cƣ còn khó khăn, một số địa phƣơng chƣa tập hợp đƣợc ngƣời dân tham gia.

Ba là, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện lợi dụng chức vụ vi phạm dân

chủ, tham ô, tham nhũng trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

Việc chủ động nắm bắt tâm tƣ, nguyện vọng của nhân dân nhiều lúc còn chƣa kịp thời, chƣa thực sự hiểu dân, trọng dân; vẫn còn tình trạng nhũng nhiễu, cậy chức, cậy quyền, coi thƣờng, hạch sách gây phiền hà cho ngƣời dân. Một số cán bộ, đảng viên chƣa gƣơng mẫu đi đầu trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM; chƣa nhận thức đƣợc vai trò của thực hành DCCS đối với mục tiêu xây dựng NTM, vi phạm quyền dân chủ. Vì thế mà không tạo đƣợc sự tin tƣởng của ngƣời dân, không tập hợp đƣợc sức mạnh của nhân dân trong tham gia xây dựng NTM gây ảnh hƣởng đến chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

Bốn là, nhận thức của một bộ phận người dân về thực hành DCCS trong

xây dựng NTM còn hạn chế, tâm lý bị động, ỷ lại vào chính quyền

Một bộ phận không nhỏ ngƣời dân chƣa biết đến Quy chế DCCS ở xã, phƣờng, thị trấn; chƣa thực sự hiểu hết quyền và nghĩa vụ của mình trong xây dựng NTM dẫn đến việc thực hiện dân chủ ở cơ sở còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, quyền làm chủ của ngƣời dân bị xâm phạm, gây bức xúc, ảnh hƣởng đến hiệu quả xây dựng NTM. Ngƣời dân vẫn còn tâm lý bị động, trông chờ, ỷ lại vào Nhà nƣớc, các cơ quan công quyền trong xây dựng NTM. Ý thức tham gia xây dựng NTM của ngƣời dân chƣa cao, chƣa có quyết tâm cải thiện bộ mặt xã hội nông thôn, chƣa nhận thấy đƣợc tầm quan trọng và ý nghĩa của sự nghiệp xây dựng NTM. Đặc biệt là đối với ngƣời dân tộc thiểu ở một số địa phƣơng, ngƣời theo đạo thiên chúa nhƣ ở Nam Định, Vĩnh Phúc.

Theo kết quả khảo sát tƣơng quan 3 tỉnh thuộc ĐBSH cho thấy: tỷ lệ ngƣời dân chƣa nhận thức đƣợc và nhận thức hạn chế việc phát huy vai trò chủ

92

thể trong thực hiện quyền làm chủ đối với vấn đề thực hành DCCS trong xây dựng NTM còn cao. Trong đó, tỷ lệ ngƣời dân chƣa nhận thức đƣợc ở mức trung bình là 24,8%, phần lớn không nhận thức đƣợc là 2,5% và hoàn toàn không nhận thức đƣợc là 1,5% (Biểu đồ 3.2.1c) (Phụ lục 1). Điều này cho thấy, nhận thức về vai trò của ngƣời dân còn hạn chế ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng thực hành DCCS và kết quả xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Đây cũng là vấn đề đặt ra cần phải có những giải pháp nhằm nâng cao trình độ nhận thức cho ngƣời dân về thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH trong thời gian tới.

3.2.2. Thực trạng về nội dung, hình thức thực hành dân chủ cơ sở trong

xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng

3.2.2.1. Những thành tựu chủ yếu Thứ nhất, về nội dung, hình thức tổ chức cho “dân biết, dân bàn, dân làm”

Về nội dung tổ chức cho “dân biết, dân bàn, dân làm” gắn với những

những nội dung trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng. tiêu chí xây dựng NTM:

Thực hiện Quy chế DCCS gắn với thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới ở vùng ĐBSH, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện công tác tuyên truyền, thực hiện công khai nội dung thông tin về xây dựng NTM để đảm bảo quyền “dân biết, dân bàn, dân làm”, đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của ngƣời dân; công khai cho ngƣời dân đƣợc biết nội dung về Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM; tham gia thảo luận, bàn bạc, đóng góp ý kiến dự thảo và quyết định những vấn đề có liên quan trong nội dung xây dựng NTM: chƣơng trình, kế hoạch xây dựng NTM; công khai thông tin dự án về quy hoạch, sử dụng quy hoạch để phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội; phát triển sản xuất; công khai thông tin về vấn đề đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cƣ; dự thảo và quyết định nguồn vốn thu- chi dành cho xây dựng NTM; cơ chế, chính sách bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng, tái định cƣ để ngƣời dân hiểu rõ đƣợc chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về công tác quy hoạch, tạo sự đồng thuận trong xã hội; từ đó, tạo đƣợc sự ủng hộ của ngƣời dân, tự nguyện giao đất, hiến đất góp phần hoàn thành dự án quy hoạch trong xây dựng NTM. Đối với nhóm tiêu chí về Quy hoạch. Điển hình nhƣ ở tỉnh Vĩnh Phúc, công tác quy hoạch và giải phóng mặt bằng xây dựng xã nông thôn giai đoạn 2011- 2020

93

phủ kín 112/112 xã, đến năm 2020, sáp nhập 105 xã và đạt tiêu chí nông thôn mới 100% (có 6 xã đƣợc công nhận đạt tiêu chí đô thị loại V theo chƣơng trình phát triển đô thị của tỉnh); tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016- 2020 cũng hoàn thành tiêu chí quy hoạch, có 97/97 xã (tỷ lệ 100%) đạt chuẩn tiêu chí quy hoạch. Xác định quy hoạch là cơ sở quan trọng để xây dựng NTM, UBND tỉnh Nam Định đã giao các huyện, thành phố chỉ đạo lập quy hoạch các vùng, rà soát quy hoạch cấp xã, hỗ trợ kinh phí cho các địa phƣơng để khảo sát hiện trạng, lập rà soát các quy hoạch. Đến năm 2020, tỉnh Nam Định đã hoàn thành cơ bản dự án quy hoạch.

Theo kết quả khảo sát 3 tỉnh thuộc vùng ĐBSH cho thấy; ở mức độ

ngƣời dân đƣợc hoàn toàn thực hiện công khai nội dung liên quan đến nhóm

tiêu chí về quy hoạch và thực hiện quy hoạch chiếm tỷ lệ 22,8% và phần lớn

thực hiện công khai là 40,7% (Biểu đồ 3.2.2a). Qua đó ta thấy, chính quyền địa

phƣơng đã thực hiện tốt việc công khai thông tin cho ngƣời dân nắm đƣợc nội

dung về dự án quy hoạch và thực hiện quy hoạch phục vụ cho xây dựng cơ sở

hạ tầng, phát triển sản xuất, tái định cƣ… đồng thời, thực hiện tốt cơ chế đền

bù, giải phóng mặt bằng tạo sự đồng thuận trong nhân dân để ngƣời dân ủng hộ

chính quyền trong thực hiện công tác quy hoạch.

Biểu đồ 3.2.2a: Mức độ công khai nội dung trong xây dựng NTM mà người

dân đã nhận định (%)

Các cấp ủy, chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chức

chính trị- xã hội thực hiện tốt việc khảo sát ý kiến ngƣời dân về vấn đề quy

hoạch và sử dụng quy hoạch trong công tác xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

94

Trong báo cáo xây dựng NTM ở tỉnh Nam Định xác định: “Quy hoạch là cơ

sở quan trọng để xây dựng NTM, cần phải đi trƣớc một bƣớc”[149]. Đây là

khâu đầu tiên cần đƣợc thực hiện để đi đến thảo luận, đóng góp ý kiến để

xây dựng dự thảo về kế hoạch thực hiện quy hoạch, lên phƣơng án đền bù,

hỗ trợ giải phóng mặt bằng. Kết quả khảo sát cho thấy, chính quyền phần lớn

thực hiện khảo sát ý kiến ngƣời dân về quy hoạch và sử dụng quy hoạch

trong công tác xây dựng NTM tỷ lệ là 48,3%; phần lớn thực hiện cho ngƣời

dân tham gia đóng góp ý kiến vào dự thảo kế hoạch, chƣơng trình, phƣơng

án hỗ trợ đền bù, giải phóng mặt bằng tỷ lệ là 47,8% (Biểu đồ 3.2.2 b).

Biểu đồ 3.2.2b: Mức độ thực hiện tổ chức cho người dân được tham gia bàn

những nội dung cụ thể trong xây dựng NTM (%)

Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền địa phƣơng vùng ĐBSH thực

hiện bảo đảm cho ngƣời dân đƣợc hoàn toàn tham gia vào triển khai thực hiện

các tiêu chí trên thực tế của quá trình xây dựng NTM, đƣợc quyết định chủ

trƣơng, mức đóng góp cho việc thực hiện các tiêu chí về cơ sở hạ tầng, văn

hóa, xã hội, môi trƣờng… trong xây dựng NTM. Qua khảo sát cho thấy, tỷ lệ

ngƣời dân đƣợc hoàn toàn tham gia dự thảo, quyết định mức đóng góp, thu-

chi cho các hạng mục xây dựng NTM ở vùng ĐBSH là 11,8% và phần lớn

ngƣời dân đƣợc tham gia là 30,1%; tỷ lệ ngƣời dân đƣợc hoàn toàn tham gia

xây dựng các dự án quy hoạch phát triển khu dân cƣ mới, xây dựng khu dân

95

cƣ mới văn minh là 10,8% và phần lớn ngƣời dân đƣợc tham gia là 31,8%; tỷ

lệ ngƣời dân đƣợc hoàn toàn tham gia xây dựng các dự án hạ tầng phát triển

kinh tế- xã hội là 10,3% và phần lớn đƣợc tham gia là 32,1%; tỷ lệ ngƣời dân

hoàn toàn tham gia xây dựng dự án quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng cho phát

triển sản xuất là 10,5% và phần lớn ngƣời dân đƣợc tham gia là 27,7%.

Biểu đồ 3.2.2c: Mức độ người dân được tham gia làm những nội dung trong

xây dựng NTM (%)

Có thể nói, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc tổ chức tốt cho ngƣời dân tham

gia làm, quyết định các nội dung, tiêu chí trong xây dựng NTM. Vì thế, ĐBSH

đƣợc coi là khu vực có tốc độ xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng nhanh nhất cả

nƣớc. Các hệ thống đƣờng, điện, và trạm y tế, nhà văn hóa cộng đồng tích cực đƣợc

đẩy mạnh. Với hệ thống đƣờng trục thôn đƣợc rải nhựa hoặc bê tông hóa toàn vùng

có 1.879 xã (98,84%) đáp ứng nhu cầu; có 1.427 xã (75%) đƣợc bê tông hóa hay rải

nhựa là 100%. Trƣờng học cũng là một trong những tiêu chí quan trọng trong xây

dựng NTM, 100% các xã có trƣờng Mầm non và Tiểu học, 98,32% các xã có

trƣờng Trung học cơ sở (Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Nam Định là 100%). Nam Định là

tỉnh đi đầu về tỷ lệ trƣờng Mầm non kiên cố 98,32%, chỉ có 1,78% là bán kiên cố[8].

Đối với nhóm tiêu chí về hạ tầng Kinh tế- xã hội. Các cấp ủy, tổ chức cơ

sở đảng, chính quyền đã thực hiện tốt công tác công khai cho ngƣời dân nội

96

dung về dự án cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội; trong đó bao gồm công khai cả

nguồn vốn dự chi cho phát triển các hạng mục nhƣ: dự án phát triển giao thông,

thủy lợi, điện, trƣờng học, cơ sở vật chất văn hóa. Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ

lệ ngƣời dân đƣợc hoàn toàn công khai nội dung thông tin dự án về cơ sở hạ

tầng kinh tế- xã hội là 22,8% và phần lớn đƣợc thực hiện công khai là 42,6%

(Biểu đồ 3.2.2a).

Đồng thời, tổ chức thực hiện tốt cho ngƣời dân tham gia, thảo luận, đóng

góp ý kiến trong việc xây dựng, hoạch định các dự án xây dựng và phát triển cơ sở

hạ tầng, văn hóa, xã hội, môi trƣờng: giao thông, thủy điện, trƣờng học, bƣu điện,

nhà văn hóa, chính sách phát triển giáo dục, y tế, môi trƣờng… Ngƣời dân đƣợc

tham gia họp bàn, dự thảo, quyết định các nguồn vốn chi cho những hạng mục

trong xây dựng NTM. Báo cáo Kết quả xây dựng NTM tỉnh Vĩnh Phúc xác định:

“đảm bảo cho ngƣời dân tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo những

tiêu chí xây dựng NTM, nhằm tập trung huy động tối đa sự tham gia của ngƣời

dân trong xây dựng NTM”[152]. Qua khảo sát cho thấy, chính quyền địa phƣơng

đã hoàn toàn tổ chức cho ngƣời dân tham gia dự thảo đóng góp ý kiến về dự thảo,

quyết định mức chi, đóng góp cho những hạng mục trong xây dựng NTM: điện,

đƣờng, trƣờng, giao thông, thủy lợi, phát triển giáo dục, y tế… là 18,9% và phần

lớn thực hiện cho ngƣời dân tham gia dự thảo, đóng góp ý kiến là 44,9% (Biểu đồ

3.2.2b). Thực hiện tốt tiêu chí này góp phần giúp ngƣời dân hiểu rõ đƣợc lợi ích

của việc xây dựng NTM, tạo đƣợc sự ủng hộ, niềm tin của nhân dân vào chủ

trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc trong xây dựng NTM.

Đối với nhóm tiêu chí về Văn hóa- xã hội- môi trường. Thực hiện tốt công

khai nội dung nhóm tiêu chí đến cho ngƣời dân giúp ngƣời dân hiểu đƣợc mục đích,

ý nghĩa của việc thực hiện những dự án phát triển về văn hóa- xã hội- môi trƣờng cụ

thể là: chính sách phát triển giáo dục, chính sách phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe,

dự án bảo vệ môi trƣờng… Nhằm thay đổi chất lƣợng ngƣời dân vùng nông thôn.

Tỉnh Nam Định, nhờ thực hiện tốt công khai nội dung nhóm tiêu chí này đến ngƣời

dân nên đã đạt đƣợc nhiều kết quả quan trọng: công tác giáo dục đào tạo đƣợc chú

trọng toàn diện về quy mô và chất lƣợng, liên tục nằm trong nhóm tỉnh đứng đầu cả

nƣớc; cơ sở vật chất đƣợc đầu tƣ, công tác xã hội hóa giáo dục đƣợc đẩy mạnh.

Năm 2018, Nam Định đƣợc công nhận phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ em 5

97

tuổi; Tiểu học cấp độ 3, Trung học cơ sở mức độ 2; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp Trung

học phổ thông, bổ túc trung cấp đến năm 2019 đạt trên 92%. Công tác giáo dục sức

khỏe, vệ sinh môi trƣờng đƣợc triển khai; năm 2019, tỷ lệ ngƣời tham gia bảo hiểm

y tế đạt 88,83%; năm 2018 có 100% số xã đạt tiêu chí Y tế, tăng 25,8% so với giai

đoạn 2015[149]. Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ thực hiện hoàn toàn công khai cho

ngƣời dân đƣợc biết nội dung nhóm tiêu chí về văn hóa- xã hội- môi trƣờng là

25,7% và phần lớn thực hiện công khai là 43,4% (Biểu đồ 3.2.2a).

Đối với nhóm tiêu chí về Hệ thống chính trị. Các cấp ủy đảng, chính

quyền cơ sở đã thực hiện công khai cho ngƣời dân về nội dung, cơ chế hoạt động

của HTCT cơ sở, cơ chế hoạt động quản lý, điều hành, nguyên tắc, quy định của

cán bộ trong quá trình làm việc với ngƣời dân. Theo kết quả khảo sát 3 tỉnh

thuộc ĐBSH, tỷ lệ ngƣời dân khẳng định đƣợc công khai hoàn toàn nội dung

nhóm tiêu chí về HTCT là 22,1% và phần lớn thực hiện công khai là 41,4%

(Biểu đồ 3.2.2a). Điển hình nhƣ ở Vĩnh Phúc 100% cán bộ, công chức xã đạt

chuẩn theo quy định, toàn tỉnh có 1.971/1.971 cán bộ, công chức xã đạt chuẩn và

trên chuẩn theo quy định [152].

Bên cạnh đó, ngƣời dân cũng đƣợc tham gia thảo luận, góp ý về việc dự thảo

thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính; thảo

luận một số vấn đề liên quan đến quyền lợi, các chế độ phúc lợi xã hội, những quy

định cộng đồng chung ở địa phƣơng: xây dựng hƣơng ƣớc làng, xã…; tham gia

thảo luận, ý kiến việc bầu, bãi nhiệm thành viên Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám

sát đầu tƣ của cộng đồng. Thực hiện tốt quyền tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến

của ngƣời dân trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH góp phần tạo sự ủng hộ, đồng

thuận trong nhân dân, nói lên ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đem lại thành công

trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Phát huy vai trò của ngƣời dân trong tham gia xây dựng HTCT ở vùng

ĐBSH là điều kiện cần thiết góp phần xây dựng HTCT trong sạch, vững mạnh,

giữ vững ổn định trật tự xã hội, tạo niềm tin của ngƣời dân vào bộ máy hoạt

động của HTCT cơ sở, là điều kiện để DCCS đƣợc thực hiện một cách thực chất

hơn. Thông qua những ý kiến đóng góp, xây dựng của ngƣời dân, giúp cho việc

xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền vững mạnh, cơ chế hoạt động công

khai, có hiệu quả; đội ngũ cán bộ cơ sở đƣợc chuẩn hóa, có đủ năng lực chỉ đạo,

98

thực hiện Chƣơng trình xây dựng NTM; tác phong, lề lối làm việc của cán bộ,

công chức hƣớng tới mục đích phục vụ nhân dân, vì nhân dân. Điển hình ở Nam

Định, là địa phƣơng đi đầu trong vùng về đạt chuẩn tiêu chí HTCT và tiếp cận

pháp luật 107/107 xã (tỷ lệ 100%) đạt chuẩn tiêu chí HTCT, tăng 1,9% so với

năm 2016 [149]. Ở Vĩnh Phúc, đến năm 2020, 100% cán bộ, công chức xã đạt

chuẩn theo quy định; các huyện, thành phố thực hiện kiện toàn các chức danh,

đào tạo, bồi dƣỡng chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tình hình

mới, toàn tỉnh có 1.971/ 1.971 cán bộ, công chức xã đạt chuẩn và trên chuẩn theo

quy định; 105/105 xã (100%) kiện toàn tổ chức theo quy định, các tổ chức chính

trị đạt 100% từ khá trở lên, 100% Đảng bộ, chính quyền các xã trên địa bàn tỉnh

đều xếp loại Hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên [152].

Việc tổ chức cho “dân biết, dân bàn, dân làm” gắn với thực hiện những tiêu

chí xây dựng NTM đƣợc tiến hành bằng các hình thức:

Các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức

chính trị- xã hội ở các địa phƣơng vùng ĐBSH đã sử dụng các hình thức trong thực

công khai thông tin cho ngƣời dân về các nội dung trong xây dựng NTM: tổ chức

họp dân, tiếp xúc cử tri; niêm yết thông tin tại trụ sở cơ quan (HĐND, UBND, địa

điểm tiếp công dân); thông qua các hoạt động của chính quyền, các tổ chức chính trị-

xã hội, trƣởng thôn, tổ trƣởng dân phố (phát phiếu, văn bản đến các hộ gia đình);

công khai qua hệ thống thông tin nội bộ, cổng thông tin của địa phƣơng… Kết quả

khảo sát cho thấy, tỷ lệ ngƣời dân trả lời chính quyền thực hiện có kết quả tốt, khá

các hình thức công khai thông tin ở 3 tỉnh ĐBSH (Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Nam Định)

tƣơng ứng là: Họp dân, tiếp xúc cử tri 19,9% và 46,5%; niêm yết thông tin tại trụ sở

là 20,1% và 42,3%; thông qua chính quyền, các tổ chức chính trị- xã hội là 21% và

43,8%; thông qua trƣởng thôn, tổ trƣởng dân phố là 22,2% và 47,5%; thông qua hệ

thống thông tin nội bộ, cổng thông tin của địa phƣơng là 21% và 42,4% (Biểu đồ

3.2.2a1) (Phụ lục 1). Chính quyền cơ sở cũng tăng cƣờng ứng dụng công nghệ thông

tin nhằm thực hiện có hiệu quả việc công khai thông tin đến cho ngƣời dân những

nội dung tiêu chí xây dựng NTM. Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ sử dụng các

phƣơng tiện truyền thông đại chúng, công nghệ thông tin, mạng xã hội trong thực

hành DCCS trong xây dựng NTM đem lại kết quả tốt là 22,1%, kết quả khá là

45,1% (Biểu đồ 3.2.2a2) (Phụ lục 1).

99

Bên cạnh đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và

các tổ chức chính trị- xã hội vùng ĐBSH hội đã sử dụng đồng thời, có hiệu quả

các hình thức bảo đảm cho ngƣời dân tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến và

quyết định những nội dung trong xây dựng NTM. Tỷ lệ ngƣời dân trả lời chính

quyền thực hiện các hình thức đem lại kết quả tốt, khá việc cho ngƣời dân tham

gia thảo luận, đóng góp ý kiến tƣơng ứng là: họp dân, tiếp xúc cử tri, lấy ý kiến

của ngƣời dân, bỏ phiếu kín là 19,3% và 43,5%; phát phiếu lấy ý kiến đến từng

gia đình là 19,9% và 41,2%; thông qua Mặt trận Tổ quốc và các Tổ chức chính

trị- xã hội là 19,6% và 43,2%; thông qua việc tổ chức hòm thƣ góp ý là 20,7% và

39,6% (biểu đồ 3.2.2.b1) (Phụ lục 1).

Thứ hai, về nội dung, hình thức tổ chức cho “dân kiểm tra, dân giám sát”

những nội dung tiêu chí xây dựng NTM

Thực hiện quyền của ngƣời dân trong “kiểm tra, giám sát” là một trong

những điều kiện để phát huy DCCS; “kiểm tra, giám sát” là một trong những khâu

quan trọng trong thực hiện DCCS với phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm,

dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Thông qua kiểm tra, giám sát, ngƣời

dân có thể nắm rõ đƣợc những hoạt động, tiến độ, đánh giá đƣợc chất lƣợng quy

trình thực hiện các nội dung trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Đối với nhóm tiêu chí về Quy hoạch. Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị đã tổ chức cho ngƣời dân tham gia giám sát việc thực hiện công khai những nội dung liên quan đến tiêu chí quy hoạch, thực hiện quy hoạch. Qua đó, ngƣời dân đánh giá đƣợc chất lƣợng, hiệu quả trong thực hiện đề án quy hoạch trong xây dựng NTM, kiểm tra việc sử dụng quy hoạch có đúng mục đích nhƣ dự án đề ra, kiểm tra việc thu- chi nguồn vốn dành cho các dự án quy hoạch, việc bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng có thỏa mãn nhu cầu của ngƣời dân, có nhận đƣợc sự ủng hộ của ngƣời dân. Qua công tác kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện quy hoạch nhằm phát hiện ra những vấn đề bất cập, chƣa phù hợp để đƣa ra những điều chỉnh, bổ sung sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phƣơng. Sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc khẳng định: “Kịp thời công bố, công khai minh bạch quy hoạch, tạo điều kiện cho ngƣời dân và doanh nghiệp tiếp cận quy hoạch để triển khai thực hiện. Thƣờng xuyên rà soát, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quy hoạch; kịp thời phát hiện những vƣớng mắc để

100

tổng hợp nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp”[114]. Đồng thời, giám sát việc thực hiện cho ngƣời dân tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến, bàn bạc những vấn đề liên quan đến quy hoạch, những ý kiến đóng góp của ngƣời dân đƣợc tiếp thu, điều chỉnh; từ đó, tạo sự ủng hộ, đồng thuận của ngƣời dân trong việc thực hiện quy hoạch. Theo kết quả khảo sát 3 tỉnh ở ĐBSH, tỷ lệ ngƣời dân trả lời chính quyền địa phƣơng đã hoàn toàn thực hiện cho ngƣời dân tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện công khai cho ngƣời dân những nội dung trong xây dựng NTM: công khai về quy hoạch, sử dụng quy hoạch, vốn sử dụng trong quy hoạch, giải phóng mặt bằng… là 13,2%; tỷ lệ ngƣời dân trả lời đƣợc hoàn toàn tham gia kiểm tra, giám sát nguồn vốn, thu- chi các loại quỹ trong thực hiện xây dựng NTM là 16,6% và phần lớn ngƣời dân đƣợc tham gia là 47,8% (Biểu đồ 3.2.2.d).

Biểu đồ 3.2.2d: Mức độ người dân được tham gia kiểm tra, giám sát những nội dung trong xây dựng NTM (%)

Đối với nhóm tiêu chí về cơ sở hạ tầng, kinh tế; văn hóa- xã hội- môi trường. Ngƣời dân đƣợc tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện công khai nguồn vốn cho việc sử dụng xây dựng các hạng mục NTM: giao thông, thủy lợi, trƣờng học, cơ sở vật chất văn hóa…; ngƣời dân đƣợc tham gia thảo luận, bàn bạc và quyết định những vấn đề nội dung trong xây dựng NTM, đặc biệt là việc quyết định mức đóng góp cho xây dựng các hạng mục NTM. Kết quả khảo sát cho thấy, ngƣời dân đƣợc hoàn toàn tham gia giám sát quá trình thực hiện quyền tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến về những nội dung trong xây dựng NTM ở

101

vùng ĐBSH là 14,5% và phần lớn ngƣời dân đƣợc tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến những nội dung trong xây dựng NTM là 45,8% (Biểu đồ 3.2.2.d). Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội đã tạo điều kiện cho ngƣời dân thực hiện tốt chức năng kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện những tiêu chí trong xây dựng NTM; ngƣời dân đƣợc tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện tiến độ, chất lƣợng trong xây dựng các tiêu chí về giao thông, thủy lợi, trƣờng học, cơ sở vật chất văn hóa … ; ngƣời dân tham gia giám sát nguồn vốn, kinh phí đầu tƣ cho xây dựng các hạng mục về cơ sở hạ tầng, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trƣờng để bảo đảm sự công khai minh bạch trong xây dựng NTM, tạo sự tin tƣởng của ngƣời dân vào chính quyền; kịp thời phát hiện, khắc phục những hạn chế về tham nhũng, lãng phí ngân sách trong quá trình thực hiện xây dựng NTM.

Nhờ thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát góp phần giúp các địa phƣơng

vùng ĐBSH tháo gỡ khó khăn, vƣớng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện góp phần

hoàn thành thắng lợi mục tiêu; các tiêu chí về văn hóa- xã hội- môi trƣờng cũng đạt

đƣợc kết quả đáng kể: Đến năm 2020, ở Bắc Ninh có 97/97 xã (100%) đạt tiêu chí

về Giáo dục và đào tạo, tiêu chí về Y tế, văn hóa; riêng tiêu chí Môi trƣờng và An

toàn thực phẩm có 96/97 xã (98,97%)[149]. Ở Nam Định, năm 2019, tỷ lệ hộ nông

dân nông thôn sử dụng nƣớc hợp vệ sinh đạt 99,85%, tăng 6,65% so với năm 2015;

tỷ lệ hộ nông dân nông thôn sử dụng nƣớc sạch đạt 75,6%; trên 80% số hộ chăn nuôi

có chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trƣờng; trên 90% số hộ gia đình có

nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nƣớc sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo 3 sạch; 100% số

xã, thị trấn tổ chức hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt với sự tham gia của cộng

đồng[150].

Đối với nhóm tiêu chí về Hệ thống chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính

quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội cũng thực hiện tạo điều

kiện cho ngƣời dân hoàn toàn đƣợc tham gia công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của

HTCT; giám sát việc thực hiện công khai thông tin cho ngƣời dân; tổ chức cho ngƣời

dân đƣợc tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến để xây dựng HTCT cơ sở trong sạch,

vững mạnh bao gồm những nội dung về cơ chế hoạt động, công tác lãnh đạo, chỉ đạo,

điều hành của HTCT, quy trình bổ nhiệm, hoạt động tiếp công dân, việc giải quyết

khiếu nại, tố cáo của ngƣời dân. Qua khảo sát 3 tỉnh ở ĐBSH cho thấy, các cấp ủy, tổ

102

chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội đã thực hiện

cho ngƣời dân hoàn toàn tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của HTCT là 18,2% và

phần lớn ngƣời dân đƣợc tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của HTCT là 47,1%

(Biểu đồ 3.2.2.d).

Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức

chính trị- xã hội sử dụng có hiệu quả các hình thức bảo đảm cho ngƣời dân thực

hiện quyền kiểm tra, giám sát những nội dung trong xây dựng NTM. Kết quả khảo

sát 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Nam Định cho thấy, tỷ lệ ngƣời dân trả lời chính

quyền sử dụng các hình thức cho ngƣời dân tham gia kiểm tra, giám sát đem lại kết

quả tốt, khá tƣơng ứng là: thông qua chính quyền, hoạt động của Hội đồng nhân dân

(giải quyết thủ tục hành chính, công tác tiếp dân) là 17,9% và 43,1%; thông qua

Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát và đầu tƣ cộng đồng là 18,4% và 43,2%;

thông qua quyền khiếu nại, tố cáo là 18,9% và 43,2%; qua hình thức giám sát trực

tiếp là 20,4% và 42,2% (Biểu đồ 3.2.2c1) (Phụ lục 1).

Thứ ba, về nội dung, hình thức tổ chức cho người dân được “thụ hưởng”

những thành quả xây dựng NTM

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH hƣớng tới mục

đích cuối cùng là ngƣời dân đƣợc “thụ hƣởng” thành quả quá trình xây dựng

NTM. Dân “thụ hƣởng” là một nội dung biểu hiện quyền lợi của ngƣời dân trong

quá trình xây dựng NTM bên cạnh việc thực hiện quyền làm chủ. Theo đó,

ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng thành quả xây dựng NTM ở hai khía cạnh chính đó là:

ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng hiệu quả việc thực hiện chủ trƣơng, đƣờng lối, cơ chế

chính sách về thực hành DCCS trong xây dựng NTM; và ngƣời dân đƣợc thụ

hƣởng thành quả xây dựng NTM đời sống vật chất và tinh thần đƣợc nâng cao.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ

chức chính trị- xã hội đã thực hiện tốt có hiệu quả việc ban hành những chủ

trƣơng, đƣờng lối, chính sách về thực hành DCCS trong xây dựng NTM; thực

hiện lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hóa những chủ trƣơng, đƣờng lối, cơ chế, chính

sách xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Kết quả xây dựng NTM ở ĐBSH thể hiện

tính đúng đắn, khoa học, hiệu quả của cơ chế, chính sách; mọi cơ chế, chính sách

đều hƣớng đến quyền, lợi ích chính đáng của ngƣời dân, phục vụ nhân dân. Theo

kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ ngƣời dân trả lời chính quyền hoàn toàn thực

103

hiện cho ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng hiệu quả việc thực hiện chủ trƣơng, cơ chế,

chính sách về thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở 3 tỉnh vùng ĐBSH là

19,6% và phần lớn thực hiện là 42,7% (Biểu đồ 3.2.2.e)

Biểu đồ 3.2.2e: Đánh giá mức độ người dân được thụ hưởng những thành

quả gì từ thực hành DCCS trong xây dựng NTM (%)

Việc ban hành và thực hiện có hiệu quả cơ chế, chính sách trong xây dựng

NTM ở vùng ĐBSH tạo điều kiện cho ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng những thành

quả xây dựng NTM; góp phần tạo động lực thúc đẩy thành công nhiệm vụ xây

dựng NTM; tạo niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ

chức đảng, chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã

hội luôn quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo triển khai Chƣơng trình xây dựng NTM ở

vùng ĐBSH và đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng, làm thay đổi diện mạo

NTM, khang trang, sạch đẹp; các công trình hạ tầng cơ sở đƣợc quan tâm đầu tƣ,

nâng cấp, đã và đang hỗ trợ tốt cho việc tổ chức sản xuất và sinh hoạt cho ngƣời

dân ở nông thôn. Thực hiện xây dựng thành công Chƣơng trình mục tiêu quốc

gia về NTM tạo điều kiện cho ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng những thành quả từ

chính quá trình xây dựng NTM: hệ thống giao thông, thủy lợi, nhà văn hóa, điện,

đƣờng, chính sách phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, văn hóa, giáo dục, y

104

tế, môi trƣờng và trật tự xã hội đƣợc ổn định… Qua đó, đời sống vật chất và tinh

thần của ngƣời dân đƣợc nâng lên, thực hiện công bằng, bình đẳng trong xã hội.

Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ ngƣời dân trả lời đƣợc thụ hƣởng hoàn toàn

những thành quả từ xây dựng NTM nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh

thần cho ngƣời dân ở vùng ĐBSH: hệ thống giao thông thủy lợi, điện, đƣờng,

trƣờng, … là 23,4%; chính sách xóa đói, giảm nghèo, lao động việc làm là

22,2%; chính sách giáo dục, văn hóa, y tế là 24% (Biểu đồ 3.2.2.e). Điều này

chứng tỏ, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ

chức chính trị- xã hội đã thực hiện tốt cho ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng những

thành quả của xây dựng NTM, qua đó, đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời

dân đƣợc cải thiện, tạo hiệu ứng tích cực cho ngƣời dân tham gia xây dựng NTM;

tin tƣởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của bộ máy chính quyền cơ sở. Đây chính là

điều kiện để ngƣời dân ĐBSH có điều kiện nâng cao mức sống, thu nhập cũng

nhƣ đời sống tinh thần của ngƣời dân cao hơn so với các vùng khác.

3.2.2.2. Những hạn chế chủ yếu

Bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc về nội dung, hình thức thực hành

DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH cũng còn những hạn chế gây ảnh

hƣởng đến chất lƣợng thực hành DCCS và kết quả xây dựng NTM ở vùng

ĐBSH nhƣ sau:

Thứ nhất, về nội dung, hình thức tổ chức cho “dân biết, dân bàn, dân

làm” gắn với một số tiêu chí xây dựng NTM còn nhiều bất cập, hạn chế:

Đối với việc thực hiện nội dung tổ chức cho “dân biết, dân bàn, dân làm”

gắn với một số tiêu chí xây dựng NTM còn một số hạn chế chủ yếu:

Vùng ĐBSH là vùng diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh, phát triển CNH,

HĐH ngày càng mạnh mẽ đòi hỏi cần phải thực hiện tốt công tác quy hoạch, đền

bù, giải phóng mặt bằng. Tuy nhiên, việc thực hiện công tác này ở một số địa

phƣơng còn nhiều bất cập: công khai những nội dung trong tiêu chí Quy hoạch

và thực hiện Quy hoạch kém hiệu quả, ngƣời dân chƣa nắm rõ, hiểu rõ đƣợc chủ

trƣơng, đƣờng lối, mục đích việc thực hiện quy hoạch; các chính sách hỗ trợ giải

phóng mặt bằng, đền bù cho ngƣời dân chƣa đƣợc công khai một cách triệt để

làm ảnh hƣởng đến hiệu quả việc thực hiện tiêu chí này; chƣa tạo đƣợc sự đồng

thuận, ủng hộ của ngƣời dân trong việc tình nguyện hiến đất, hiến của đối với

105

việc thực hiện các dự án Quy hoạch trong xây dựng NTM. Theo kết quả khảo sát

cho thấy, tỷ lệ ngƣời dân trả lời việc chính quyền thực hiện công khai ở mức

trung bình nội dung trong nhóm tiêu chí về quy hoạch và sử dụng quy hoạch là

28,5% và phần lớn không thực hiện công khai là 5,4% (Biểu đồ 3.2.2a). Đây là

một vấn đề đặt ra đối với quá trình xây dựng NTM ở ĐBSH cần phải đƣợc giải

quyết đối với công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch nhằm tạo sự ủng hộ

của ngƣời dân. Quá trình thực hiện công khai các nguồn vốn, kinh phí đầu tƣ các

hạng mục trong xây dựng NTM còn chƣa đƣợc triệt để, xảy ra tình trạng bức xúc,

thắc mắc, khiếu kiện của ngƣời dân về thực hiện vốn xây dựng NTM là nguyên

nhân dẫn đến tình trạng tham ô, tham nhũng của một bộ phận cán bộ làm công tác

xây dựng NTM. Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ ngƣời dân trả lời chính quyền

không thực hiện công khai nội dung về nguồn vốn huy động, kinh phí, các khoản

thu- chi các hạng mục xây dựng NTM ở 3 tỉnh thuộc ĐBSH là 4,7% và thực hiện

công khai ở mức trung bình là 25,8% (Biểu đồ 3.2.2a).

Trong tổ chức thực hiện việc khảo sát, thăm dò ý kiến của ngƣời dân về

vấn đề quy hoạch và thực hiện quy hoạch trong xây dựng NTM còn thấp. Kết

quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ ngƣời dân trả lời chính quyền không thực hiện khảo

sát, thăm dò ý kiến của ngƣời dân về vấn đề quy hoạch và thực hiện quy hoạch ở

3 tỉnh vùng ĐBSH là 2,9%, phần lớn không thực hiện là 4,7% và thực hiện ở

mức trung bình là 30,9% (Biểu đồ 3.2.2b). Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính

quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội cấp cơ sở còn

chƣa coi trọng việc nêu sáng kiến của ngƣời dân bàn bạc của ngƣời dân đối với

chính quyền về các dự án xây dựng NTM; do đó, nhiều hạng mục đƣợc xây

dựng nhƣng chƣa phát huy đƣợc công năng sử dụng, gây lãng phí. Đặc biệt, là

việc đảm bảo quyền quyết định những nội dung quan trọng nhƣ mức đóng góp,

nguồn vốn thu- chi cho các hạng mục xây dựng NTM của ngƣời dân chƣa đƣợc

coi trọng, tỷ lệ thấp.

Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ ngƣời dân trả lời hoàn toàn không đƣợc

tham gia bàn bạc, quyết định những nội dung về mức đóng góp cho việc thực

hiện xây dựng NTM, dự toán ngân sách, thu- chi ở 3 tỉnh vùng ĐBSH là 19,3%

và phần lớn không đƣợc tham gia là 11,7%; tỷ lệ ngƣời dân hoàn toàn không

đƣợc tham gia xây dựng dự án quy hoạch là 18,1%; các dự án phát triển hạ tầng

106

kinh tế- xã hội là 15,7% (Biểu đồ 3.2.2c). Nhiều nội dung thuộc thẩm quyền của

ngƣời dân nhƣng ngƣời dân lại không đƣợc “quyết” mà do chính quyền “quyết”.

Đây là nguyên nhân quan trọng làm giảm niềm tin của ngƣời dân vào chính

quyền; ảnh hƣởng đến sự tự nguyện đóng góp những nguồn lực của ngƣời dân

trong quá trình xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Đặc biệt là chƣa tập hợp đƣợc

những ý kiến, đóng góp của ngƣời dân đối với dự thảo về phƣơng án đền bù, hỗ

trợ giải phóng mặt bằng và mức chi, đóng góp cho các hạng mục xây dựng NTM.

Chất lƣợng xây dựng những hạng mục về cơ sở hạ tầng: giao thông, thủy lợi,

trƣờng học, cơ sở vật chất còn kém chất lƣợng, nhiều công trình đƣợc xây dựng

nhƣng không đƣa vào sử dụng; bên cạnh đó, còn tình trạng mất dân chủ, dân chủ

hình thức, độc đoán, những ý kiến đóng góp của ngƣời dân không đƣợc ghi nhận,

còn tình trạng lấp liếm, bao che; những vấn đề liên quan đến nguồn vốn thu- chi

cho việc xây dựng các hạng mục không đƣợc đƣa ra công khai cho ngƣời dân thảo

luận, đóng góp ý kiến; ảnh hƣởng đến chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng

NTM ở ĐBSH.

Đối với việc sử dụng những hình thức tổ chức cho “dân biết, dân bàn, dân

làm” còn một số hạn chế:

Quá trình sử dụng các hình thức công khai cho ngƣời dân đƣợc biết những

nội dung thông tin về quy chế DCCS gắn với xây dựng NTM ở vùng ĐBSH còn

hạn chế hiệu quả thấp, mang tính hình thức, ở một số địa phƣơng chỉ chú trọng

thực hiện một số hình thức cũ, chƣa có sự mở rộng, đa dạng hóa; gây ảnh hƣởng

đến việc tiếp nhận thông tin của ngƣời dân về thực hiện quyền làm chủ đối với

những nội dung trong xây dựng NTM. Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ ngƣời dân

trả lời việc chính quyền thực hiện các hình thức công khai thông tin cho ngƣời

dân ở mức trung bình, yếu, kém nhƣ sau: hình thức họp dân, tiếp xúc cử tri đem

lại kết quả ở mức trung bình là 20,7% và yếu, kém là 1,9%; niêm yết tại trụ sở

kết quả trung bình là 32,8%, yếu, kém là 2,1% và 2,7%; thông qua chính quyền

và các tổ chức chính trị- xã hội kết quả trung bình là 30,6%, yếu, kém là 2,2% và

2,4%; thông qua trƣởng thôn, tổ trƣởng dân phố kết quả trung bình là 26,1%; qua

hệ thống thông tin nội bộ kết quả trung bình là 30,7% (Biểu đồ 3.2.2a1).

Hoạt động tham gia, thảo luận, đóng góp ý kiến, nêu sáng kiến và quyền

quyết định của ngƣời dân đối với những nội dung xây dựng NTM chƣa có sự phối

107

hợp một cách hiệu quả, đồng bộ, linh hoạt giữa các hình thức và chƣa đạt kết quả

cao. Kết quả thực hiện những hình thức cho ngƣời dân thực hiện quyền “dân bàn,

dân làm” chƣa đạt kết quả cao thể hiện: hình thức họp dân, tiếp xúc cử tri, lấy ý

kiến ngƣời dân, bỏ phiếu kín; phát phiếu lấy ý kiến đến từng gia đình; thông qua

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội; tổ chức hòm thƣ góp ý cho kết

quả mức trung bình khoảng 31% và kết quả yếu, kém từ 3% đến 8,7% (Biểu đồ

3.2.2b1) (Phụ lục 1).

Thứ hai, việc tổ chức thực hiện cho “dân kiểm tra, giám sát” những nội

dung trong xây dựng NTM còn nhiều bất cập, mang tính hình thức, xuất hiện nhiều

lỗ hổng trong quản lý và thực hiện xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

Trên thực tế, quyền “kiểm tra, giám sát” của ngƣời dân trong xây dựng

NTM vẫn chƣa đƣợc thực hiện có hiệu quả. Theo kết quả khảo sát, tỷ lệ ngƣời

dân trả lời hoàn toàn không tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện công khai

những nội dung trong tiêu chí xây dựng NTM là 2,9% và phần lớn không tham

gia là 4,7%; tỷ lệ ngƣời dân hoàn toàn không tham gia kiểm tra, giám sát việc

thực hiện cho ngƣời dân thảo luận, đóng góp ý kiến những nội dung xây dựng

NTM là 3,2% và phần lớn không tham gia là 6,1%; tỷ lệ ngƣời dân không tham

gia kiểm tra, giám sát việc thu- chi những nội dung trong xây dựng NTM tƣơng

ứng là 2,4% và 5,1%... (Biểu đồ 3.2.2d). Việc tổ chức cho ngƣời dân đƣợc tham

gia giám sát quá trình ngƣời dân thảo luận, đóng góp ý kiến những nội dung trong

xây dựng NTM: vấn đề quy hoạch, thực hiện quy hoạch, xây dựng các dự án giao

thông, thủy lợi, văn hóa, … còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là giám sát việc thực hiện

thảo luận, đóng góp ý kiến đối với việc huy động các nguồn vốn, thu- chi trong

xây dựng NTM. Điều này là nguyên nhân xảy ra tình trạng kém chất lƣợng trong

việc xây dựng các hạng mục giao thông, thủy lợi, cơ sở vật chất văn hóa, tình

trạng thất thóat kinh phí, tham ô, tham nhũng của một số cá nhân, tổ chức làm

công tác xây dựng NTM; ảnh hƣởng đến chất lƣợng xây dựng NTM; gây mất

niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền.

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội, Ban

Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tƣ của cộng đồng còn nhiều hạn chế, chƣa

phát huy đƣợc vai trò là đại diện cho nhân dân tổ chức cho nhân dân thực hiện

quyền giám sát trực tiếp của mình thông qua khiếu nại, tố cáo. Việc giải quyết

108

những khó khăn, thắc mắc, khiếu nại, tố cáo của ngƣời dân còn hạn chế. Đặc biệt

là giám sát hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân về thu- chi ngân sách liên

quan đến những nội dung xây dựng NTM; tổ chức và hoạt động của tổ chức

Đảng, chính quyền và đội ngũ cán bộ, công chức; về thực hiện quy chế DCCS

con chƣa đƣợc coi trọng. Điều đó là nguyên nhân nảy sinh những mâu thuẫn

giữa ngƣời dân và các tổ chức, chính quyền; gây bức xúc trong cộng đồng; ảnh

hƣởng đến ổn định trật tự xã hội.

Chính quyền địa phƣơng chƣa chú trọng đến việc áp dụng các hình thức

cụ thể cho ngƣời dân tham gia kiểm tra, giám sát; việc tổ chức giải quyết khiếu

nại, tố cáo của ngƣời dân còn chậm trễ, chƣa thỏa đáng; một số địa phƣơng xảy

ra tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm đối với những vấn đề nhạy cảm. Các

thủ tục giải quyết những thắc mắc, kiến nghị của ngƣời dân còn rƣờm rà, gây

khó khăn cho ngƣời dân trong quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát thông qua

hình thức giám sát trực tiếp đối với những nội dung trong xây dựng NTM. Qua

khảo sát ta thấy, tỷ lệ ngƣời dân ở 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Nam Định trả lời

việc chính quyền thực hiện các hình thức cho ngƣời dân tham gia kiểm tra, giám

sát có kết quả trung bình khoảng 32% và kết quả yếu, kém khoảng 3%. Kết quả

khảo sát cho thấy, kết quả thực hiện cho ngƣời dân tham gia kiểm tra, giám sát

chƣa cao, xuất hiện nhiều sai phạm trong thực hiện xây dựng NTM (Biểu đồ

3.2.2c1) (Phụ lục 1). Điều này đã làm ảnh hƣởng không nhỏ đến niềm tin của nhân

dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền địa phƣơng trong việc bảo đảm

quyền kiểm tra, giám sát của ngƣời dân; do đó dẫn đến việc xuất hiện ngày càng

nhiều những đơn thƣ, khiếu nại, tố cáo của ngƣời dân; những phản ứng bức xúc

của ngƣời dân đối với chính quyền gây ảnh hƣởng đến chất lƣợng xây dựng NTM.

Thứ ba, việc thực hiện quyền “thụ hưởng” cho người dân trong thực thi

chính sách còn nhiều bất cập, một số kết quả thực hiện tiêu chí xây dựng NTM

chưa phục vụ cho người dân

Trong quá trình thực thi chính sách còn mang tính hình thức, các quyền

của ngƣời dân đƣợc thực hiện trên thực tế chƣa cao, vẫn còn tồn tại hiện tƣợng

mất dân chủ, dân chủ hình thức. Điển hình, trong thực hiện cho ngƣời dân bàn

bạc, thảo luận, lắng nghe ý kiến góp ý của ngƣời dân còn nhiều hạn chế dẫn

đến việc ban hành chủ trƣơng, chính sách chƣa phù hợp với thực tế, chƣa đáp

109

ứng đƣợc tâm tƣ, nguyện vọng của ngƣời dân. Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ

ngƣời dân trả lời không đƣợc thụ hƣởng hiệu quả việc thực thi chính sách thực

hành DCCS trong xây dựng NTM là 3,3% và phần lớn không đƣợc thụ hƣởng

là 2,4%; hoàn toàn không thực hiện việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần

cho ngƣời dân là 3,4% và phần lớn không thực hiện là 3,9% (Biểu đồ 3.2.2e).

Điều này gây ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả việc thực thi chính sách và

kết quả thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức

chính trị xã hội trong thực hiện quyền thụ hƣởng về nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần cho ngƣời dân còn chƣa công bằng, thỏa đáng. Theo đó, ngƣời dân

chƣa đƣợc thụ hƣởng một cách thích đáng đối với những thành quả từ xây dựng

NTM: chất lƣợng xây dựng các hạng mục giao thông, thủy lợi, trƣờng học chƣa

đƣợc đảm bảo; phát triển kinh tế còn chƣa đem lại hiệu quả cho ngƣời dân, thu

nhập bình quân đầu ngƣời nhiều địa phƣơng còn thấp, chƣa có sự đồng đều

giữa các vùng, địa phƣơng, dẫn đến tình trạng chênh lệch giàu nghèo diễn ra ở

ĐBSH. Đặc biệt, trong thực hiện phân phối, điều hòa các lợi ích của ngƣời dân

chƣa đƣợc thực hiện một cách công bằng; xảy ra tình trạng quyền lợi tập trung

vào một số cán bộ, lãnh đạo còn ngƣời dân chƣa đƣợc hƣởng một cách xứng

đáng những thành quả mà đã tham gia xây dựng. Kết quả khảo sát 3 tỉnh Vĩnh

Phúc, Bắc Ninh, Nam Định cho thấy tỷ lệ ngƣời dân trả lời ngƣời dân hoàn

toàn không đƣợc thụ hƣởng một cách công bằng những thành quả trong xây

dựng NTM là 2,8% và phần lớn không đƣợc thụ hƣởng là 3,7% (Biểu đồ

3.2.2e). Qua đó ta thấy, việc bảo đảm quyền “thụ hƣởng” của ngƣời dân ở vùng

ĐBSH còn nhiều hạn chế, việc thụ hƣởng những thành quả xây dựng NTM

chƣa tƣơng xứng với công sức của ngƣời dân; điều này làm ảnh hƣởng đến chất

lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

3.3. Nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt

ra hiện nay

3.3.1. Nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế

3.3.1.1. Nguyên nhân của những thành tựu

Những kết quả đạt đƣợc trong quá trình thực hành DCCS trong xây dựng

NTM ở vùng ĐBSH đều xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau:

110

Thứ nhất, do nhận thức được rõ tầm quan trọng của thực hành DCCS

trong xây dựng NTM nên HTCT cấp cơ sở tích cực triển khai thực hiện công tác

lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành quyết liệt trong thực hành DCCS trong xây

dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Để đạt đƣợc những thành tựu đáng kể trong thực hành DCCS trong xây dựng

NTM ở vùng ĐBSH là do có sự vào cuộc mạnh mẽ của toàn bộ HTCT cấp cơ sở

luôn phát huy tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành, triển khai thực hiện

có hiệu quả vấn đề thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

Đối với hoạt động các cấp ủy, tổ chức đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng

thực hiện tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt thực hiện những chủ trƣơng,

đƣờng lối, văn bản, chỉ thị của Đảng về thực hiện Quy chế DCCS; xây dựng kế

hoạch triển khai thực hiện đến các cấp cơ sở trong địa bàn trên cơ sở thực hiện

đúng tinh thần Nghị quyết, quy định của Đảng, Nhà nƣớc đã ban hành. Đảng bộ

tỉnh, các cấp, các ngành ở vùng ĐBSH thực hiện quán triệt sâu sắc về ý nghĩa,

vai trò của thực hành DCCS trong xây dựng NTM; luôn bám sát chỉ đạo quá

trình thực hành DCCS và xây dựng NTM. Đồng thời, Đảng bộ tỉnh, các cấp, các

ngành cũng xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu của thực hành DCCS trong xây dựng

NTM: thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng NTM; xây dựng,

cải thiện diện mạo nông thôn, tập trung phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời

sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân; giữ gìn và phát huy truyền thống văn

hóa của dân tộc; bảo đảm ổn định trật tự, an toàn xã hội.

Đối với công tác quản lý, điều hành của chính quyền cấp cơ sở. Chính

quyền cơ sở thực hiện tốt sự quản lý, điều hành quyết liệt đối với vấn đề thực

hành DCCS gắn với thực hiện xây dựng NTM. Chính quyền các cấp, từ cấp tỉnh

đến cấp xã vùng ĐBSH đã ban hành nhiều Quyết định, Nghị quyết, Văn bản, Chỉ

thị để triển khai thực hiện những chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về

thực hiện DCCS và Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM sao cho

phù hợp với điều kiện cụ thể từng địa phƣơng. Thực hiện tốt DCCS theo cơ chế

“Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lý, Nhân dân làm chủ”, bảo đảm phƣơng châm

“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hƣởng”. Ngay

sau khi những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về thực

hiện DCCS và Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM đƣợc ban

111

hành đã đƣợc bộ máy chính quyền vùng ĐBSH tiếp nhận đầy đủ, sâu sắc, toàn

diện và triển khai kịp thời trong địa bàn. Nhiều chủ trƣơng, chính sách đƣợc cụ

thể hóa, nhanh chóng đƣợc thực hiện ở vùng ĐBSH trên cơ sở bám sát các văn

bản chỉ đạo của Trung ƣơng nhằm thực hiện đồng bộ hai nhiệm vụ thực hành

DCCS và xây dựng NTM; hƣớng tới thực hiện quyền làm chủ của nhân dân,

nhân dân quyết định và tham gia trực tiếp vào những vấn đề lớn của đất nƣớc;

huy động sức mạnh của toàn bộ HTCT cấp cơ sở vùng ĐBSH vào xây dựng

NTM, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng NTM. Tổ chức thực hiện tốt công

khai những nội dung thông tin đến cho ngƣời dân đƣợc biết, tổ chức cho ngƣời

dân tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến, quyết định, tham gia kiểm tra, giám sát

những nội dung tiêu chí xây dựng NTM; và bảo đảm quyền thụ hƣởng cho ngƣời

dân một cách thực chất. Thực hiện tăng cƣờng đối thoại trực tiếp với nhân dân;

đối thoại giải quyết khiếu nại tố cáo của ngƣời dân theo quy định của pháp luật;

thực hiện có hiệu quả việc ban hành, sửa đổi, bổ sung đồng bộ nhiều cơ chế, chính

sách thúc đẩy kinh tế- xã hội và thực hiện QCDC. Điều này thể hiện qua kết quả

khảo sát tỷ lệ ngƣời dân nhận định việc chính quyền địa phƣơng thƣờng xuyên

thực hiện tốt bổ sung, chỉnh sửa Hệ thống văn bản, quy định của pháp luật là

21,8% và kết quả khá là 44,3% (Biểu đồ 3.3.1a) (Phụ lục 1).

Đối với sự phối hợp đồng bộ, sự vào cuộc mạnh mẽ của Mặt trận Tổ quốc

và các tổ chức chính trị- xã hội. Thành tựu về thực hành DCCS trong xây dựng

NTM ở vùng ĐBSH không thể thiếu sự phối hợp đồng bộ, sự tham gia của Mặt

trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức

chính trị- xã hội đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nâng

cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của thực hành DCCS đối với sự thành công của

xây dựng NTM. Mặt trận Tổ quốc phối hợp với các tổ chức chính trị- xã hội: Hội

Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí

Minh… tập hợp, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia thực hành

DCCS, giáo dục nâng cao nhận thức cho ngƣời dân về thực hiện quyền làm chủ

của nhân dân trong xây dựng NTM; vận động ngƣời dân tích cực tham gia các

phong trào xây dựng NTM. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc thực hiện tốt vai trò

nòng cốt, phát huy có hiệu quả phƣơng thức giám sát và phản biện xã hội; phối

hợp với Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tƣ của cộng đồng thực hiện tốt

112

việc giải quyết những khiếu nại, tố cáo của ngƣời dân; bảo đảm quyền, lợi ích hợp

pháp của nhân dân trong xây dựng NTM. Điều này đƣợc chứng minh qua kết quả

khảo sát tỷ lệ ngƣời dân ghi nhận mức độ hoạt động mang lại hiệu quả tốt của Ban

Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát Đầu tƣ của cộng đồng, Ban Quản lý Dự án xây

dựng NTM là 35,8% và hiệu quả khá là 37,7% (Biểu đồ 3.3.1b) (Phụ lục 1).

Có thể nói, với sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, sự quản lý, điều

hành quyết liệt của bộ máy chính quyền cơ sở và sự vào cuộc mạnh mẽ của các

tổ chức chính trị- xã hội đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng

cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân về thực hành

DCCS; nhằm tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của cán bộ và các

tầng lớp nhân dân về xây dựng NTM; vận động các tầng lớp nhân dân tham gia

hƣởng ứng phong trào “Cả nƣớc chung sức xây dựng NTM”; góp phần tạo nên

những thành tựu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, nâng cao nhận

thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, đem lại những thành quả nhất

định trong công tác thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

Việc triển khai kịp thời những chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách,

pháp luật của Nhà nƣớc về thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tiễn đặt ra góp phần thực hiện chiến lƣợc phát triển kinh

tế- xã hội của vùng ĐBSH nói riêng và trên cả nƣớc nói chung; bảo đảm quyền làm

chủ của nhân dân hƣớng tới xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ XHCN.

Thứ hai, bộ máy chính quyền cấp cơ sở thực hiện tốt công tác tuyên truyền,

giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò,

ý nghĩa của thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

Nhận thức rõ việc thực hiện công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân là điều kiện để thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH đạt kết quả tốt. Bộ máy chính quyền cấp cơ sở đã thực hiện tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân thông qua những hình thức: đài truyền thanh xã, các phƣơng tiện truyền thông đại chúng; tổ chức hội nghị, các buổi sinh hoạt; thông qua các tổ chức chính trị- xã hội; phát văn bản đến hộ gia đình… Bên cạnh đó, bộ máy chính quyền cấp cơ sở còn triển khai nhiều cuộc thi tìm hiểu về Quy chế DCCS, các buổi trao đổi kinh nghiệm, nhân rộng những điển hình, cách làm hay trong xây dựng NTM. Qua

113

đó, làm gia tăng khả năng tiếp nhận thông tin, nhận thức về vai trò, ý nghĩa của thực hành DCCS trong xây dựng NTM; từ đó, ngƣời dân có thái độ tích cực, ý thức tự giác, nghiêm chỉnh chấp hành thực hiện theo quy định về DCCS và tích cực tham gia xây dựng NTM. Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ ngƣời dân nhận định chính quyền thực hiện tốt tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về thực hành DCCS trong xây dựng NTM đạt kết quả tốt là 21,6% và kết quả khá là 3,6% (Biểu đồ 3.2.2.a2) (Phụ lục 1).

Thứ ba, do năng lực nhận thức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên vùng ĐBSH đối với vấn đề thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

ĐBSH mang những đặc thù là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị lớn nhất của cả nƣớc, nơi tập trung nhiều các cơ quan Trung ƣơng, các công ty, doanh nghiệp lớn, có nhiều trƣờng Cao đẳng, Đại học trọng điểm trên địa bàn; do đó, đây là vùng tập trung nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ có trình độ năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, tiếp nhận và thực hiện tốt những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về thực hành DCCS và xây dựng NTM. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức là lực lƣợng tiên phong, gƣơng mẫu đi đầu trong thực hiện DCCS trong xây dựng NTM, đem lại những thành tựu nhất định trong thực hiện DCCS gắn với xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Đây là đội ngũ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, là lực lƣợng trực tiếp tham gia vào tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Đồng thời, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức cũng là lực lƣợng gần dân, tiếp xúc trực tiếp với nhân dân, lắng nghe tâm tƣ, nguyện vọng của nhân dân, tôn trọng nhân dân, là cầu nối giữa nhân dân với chính quyền. Đồng thời, đội ngũ cán bộ, đảng viên có khả năng thích ứng nhanh, ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hành DCCS và ứng dụng những khoa học kỹ thuật hiện đại vào thực hiện xây dựng NTM. Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ ngƣời dân nhận định đội ngũ cán bộ, đảng viên thực hiện tốt nâng cao phẩm chất năng lực, trình độ chuyên môn; tinh thần tự giác, trách nhiệm nêu gƣơng trong công việc; trọng dân, gần dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân đạt kết quả tốt lần lƣợt là 33,6%, 35,5%, 37,7% và kết quả khá lần lƣợt là 40,7%, 40%, 39% (Biểu đồ 3.3.1d) (Phụ lục 1). Nhƣ vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức đóng góp một phần không nhỏ tạo nên những kết quả đạt đƣợc trong quá trình thực hành DCCS gắn với xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

114

Thứ tư, người dân vùng ĐBSH luôn có tinh thần đoàn kết, cần cù, chịu

khó, sự đồng tình, ủng hộ của người dân đối với việc thực hành DCCS trong xây

dựng NTM.

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM là thực hiện nhiệm vụ chính trị và

kinh tế của đất nƣớc. Thực hành DCCS góp phần bảo đảm quyền làm chủ của

nhân dân, là điều kiện để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng NTM. Qua đó,

thể hiện tinh thần yêu nƣớc, sự tin tƣởng vào chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách,

pháp luật của Đảng, Nhà nƣớc, tạo sự thống nhất giữa “ý Đảng và lòng dân”.

Ngƣời dân vùng ĐBSH luôn có truyền thống đoàn kết, cần cù, chịu khó, có ý chí

phấn đấu vƣơn lên trong cuộc sống, hiểu đƣợc ý nghĩa, tầm quan trọng của thực

hành DCCS trong xây dựng NTM. Đây là yếu tố góp phần tạo nên những thành

tựu về thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Khi ngƣời dân

nhận thức đƣợc tầm quan trọng của việc thực hiện những chủ trƣơng, đƣờng lối,

chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về thực hành DCCS, ý nghĩa của việc xây dựng

NTM, ngƣời dân sẽ tích cực, chủ động tham gia thực hiện quyền đƣợc biết, thảo

luận, đóng góp ý kiến và quyết định những vấn đề liên quan đến nội dung, tiêu

chí xây dựng NTM. Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ ngƣời dân thực hiện tốt việc

nâng cao trình độ hiểu biết, hiểu rõ pháp luật; nắm đƣợc quyền, nghĩa vụ trong

thực hành DCCS và xây dựng NTM; tích cực tham gia vào các khâu kiểm tra,

giám sát quá trình thực hành DCCS và xây dựng NTM vào đạt kết quả tốt

khoảng 32% và kết quả khá là 41% (Biểu đồ 3.3.1f) (Phụ lục 1). Điều này chứng

minh hoạt động của ngƣời dân góp phần tạo nên những thành tựu về thực hành

DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

3.3.1.2. Nguyên nhân của những hạn chế

Những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong triển khai thực hành DCCS trong

xây dựng NTM ở vùng ĐBSH chủ yếu bắt nguồn những nguyên nhân cơ bản

nhƣ sau:

Một là, công tác thực hiện, triển khai thực hành DCCS trong xây dựng

NTM ở một số địa phương vùng ĐBSH còn chưa thực sự thống nhất đồng bộ từ

cấp trên xuống cơ sở, đôi khi còn mang tính hình thức, đối phó.

Các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các

tổ chức chính trị- xã hội chƣa hiểu hết vai trò của thực hành DCCS trong xây

115

dựng NTM dẫn đến tình trạng buông lỏng trong quản lý, điều hành; chƣa thực

sự quyết liệt, chính quyền chƣa tập trung chỉ đạo, thiếu kiểm tra, đôn đốc; một

số địa phƣơng còn mang tính hình thức, áp đặt, chƣa coi trọng ý kiến đóng góp

của ngƣời dân, xảy ra hiện tƣợng vi phạm dân chủ gây nên nhiều mâu thuẫn,

xung đột giữa chính quyền với ngƣời dân ảnh hƣởng đến chất lƣợng thực hành

DCCS và kết quả xây dựng NTM vùng ĐBSH; Ở một số địa phƣơng vùng

ĐBSH trong tổ chức, triển khai thực hành DCCS trong xây dựng NTM còn

mang tính rập khuôn, máy móc theo những mô hình đi trƣớc mà không căn cứ

vào tình hình thực tiễn cụ thể của từng vùng, địa phƣơng làm ảnh hƣởng đến

chất lƣợng xây dựng NTM; chƣa phân định rõ vai trò, trách nhiệm của cán bộ

làm công tác thực hiện DCCS và cán bộ tham gia thực hiện những nhiệm vụ

xây dựng NTM. Một số địa phƣơng khác lại chạy theo thành tích trong xây

dựng NTM, không quan tâm đến vấn đề bảo đảm quyền làm chủ của ngƣời dân

trong quá trình xây dựng NTM.

Việc giải quyết những khiếu nại, tố cáo của ngƣời dân đối với những vấn

đề thực hành DCCS và xây dựng NTM còn chƣa thực sự thỏa đáng, gây nên

nhiều bức xúc giữa ngƣời dân với chính quyền. Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ

ngƣời dân đánh giá chính quyền giải quyết đơn thƣ, khiếu nại tố cáo của ngƣời

dân ở mức trung bình ở 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Nam Định, Bắc Ninh lần lƣợt là

26,9%, 14,2% và 20,5% (Biểu đồ 3.3.1c) (Phụ lục 1). Qua đó ta thấy, ngƣời dân

chƣa đánh giá cao hoạt động của chính quyền trong việc giải quyết những thắc

mắc của ngƣời dân, bảo đảm quyền, lợi ích cho nhân dân dẫn đến những hạn chế

trong việc triển khai thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội chƣa phát

huy đƣợc tối đa nguồn lực của nhân dân trong xây dựng NTM; phƣơng thức vận

động, tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong thực hiện DCCS và xây

dựng NTM vẫn chƣa theo kịp với yêu cầu mới, một số cuộc vận động, phong

trào thi đua còn mang tính hình thức, chƣa đem lại hiệu quả cao, chƣa cải thiện

đƣợc nhiều những khó khăn, vƣớng mắc ở cơ sở, năng lực phản biện xã hội còn

hạn chế.

Hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tƣ của cộng

đồng, Ban Quản lý Dự án xây dựng NTM còn buông lỏng, chƣa sâu sát, chƣa có

116

sự phối hợp đồng bộ; phân công nhiệm vụ chƣa rõ ràng nên xảy ra tình trạng

chồng chéo, nhiều khi chỉ tập trung vào một số tiêu chí xây dựng NTM, năng lực

của cán bộ làm công tác xây dựng NTM chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu, nhiệm vụ

đề ra; xử lý một số tình huống còn lúng túng. Kinh phí hỗ trợ cho hoạt động của

Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tƣ của cộng đồng chƣa đƣợc hỗ trợ

thỏa đáng.

Công tác chỉ đạo, xử lý đối với những cá nhân, tổ chức vi phạm nội quy,

quy chế thực hiện DCCS trong xây dựng NTM chƣa đƣợc kịp thời, thỏa đáng;

chƣa có sự thống nhất, đồng bộ từ cấp trên xuống cơ sở, dẫn đến tình trạng ở trên

nghiêm nhƣng cơ sở không nghiêm. Báo cáo của UBND tỉnh Bắc Ninh có nêu:

“sự lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền còn chƣa quyết liệt, một bộ

phận lại quá nôn nóng, chạy theo thành tích; chƣa chú trọng đến lợi ích thiết thực

của ngƣời dân, chƣa thực sự coi trọng nông dân là chủ thể của quá trình xây

dựng NTM; sự tham gia của một số tổ chức cơ sở Đảng và đoàn thể còn hạn chế.

Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành đôi lúc còn thiếu kịp thời, chặt chẽ”[135].

Hai là, do ảnh hưởng yếu tố gia đình, dòng họ, họ tộc khiến cho một bộ

phận cán bộ, đảng viên còn mang tư tưởng cục bộ, vi phạm nguyên tắc dân chủ

là một trong những nguyên nhân của những hạn chế về thực hành DCCS trong

xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Do ảnh hƣởng bởi yếu tố gia đình, dòng họ một bộ phận đội ngũ cán bộ,

đảng viên còn có tƣ tƣởng cục bộ, chủ quan, chuyên quyền, độc đoán trong thực

hiện dân chủ. Một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên lợi dụng chức vụ để lôi kéo

đƣa ngƣời nhà vào làm việc trong các cơ quan, tổ chức với tƣ tƣởng “một ngƣời

làm quan, cả họ đƣợc nhờ”; xảy ra tình trạng bao che cho những khuyết điểm,

sai lầm của ngƣời thân dẫn đến nhiều sai phạm trong thực hiện dân chủ, vi phạm

nguyên tắc dân chủ. Bên cạnh đó, yếu tố dòng họ cũng có tác động không nhỏ

đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM, với quan niệm dòng họ nào to đƣợc

quyết định những vấn đề, nội dung của làng, xã. Điều đó dẫn đến tình trạng mất

dân chủ, xảy ra nhiều bức xúc, khiếu kiện; là nguyên nhân dẫn đến những tồn tại,

hạn chế trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên có một bộ phận không nhỏ chƣa

nhận thức đƣợc ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hành DCCS trong xây dựng

117

NTM; một số cán bộ, đảng viên ngại tham gia ý kiến đóng góp với lãnh đạo cấp

ủy, chính quyền cơ sở về vấn đề thực hành DCCS; chƣa chú trọng thực hiện vai

trò của mình đối với việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Trong thực hiện

DCCS và xây dựng NTM còn chƣa phát huy đƣợc tinh thần chủ động, tích cực, có

tƣ tƣởng trông chờ, ỷ lại vào tổ chức và cấp trên. Năng lực của một số cán bộ,

đảng viên trong thực hiện QCDC và xây dựng NTM ở một số địa phƣơng còn hạn

chế, đặc biệt là đối với những địa phƣơng có đặc thù đa dạng thành phần dân tộc

sinh sống trên địa bàn nhƣ ở Vĩnh Phúc.

Một số cán bộ, đảng viên khi thực hiện nhiệm vụ còn có thái độ nhũng

nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho ngƣời dân; một số có những biểu hiện suy

thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chỉ quan tâm đến quyền lợi cá nhân mà

coi nhẹ nghĩa vụ, trách nhiệm, thậm chí còn lợi dụng dân chủ, gây rối trật tự, coi

thƣờng kỷ cƣơng, pháp luật; việc bảo đảm cho lợi ích của ngƣời dân bị xâm

phạm, không quan tâm đến ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Báo cáo của

UBND tỉnh Bắc Ninh khi chỉ ra nguyên nhân của hạn chế cũng nêu: đội ngũ cán

bộ cơ sở còn hạn chế về trình độ chuyên môn, kiến thức kinh nghiệm về xây

dựng NTM. Bộ phận giúp việc cho Ban Chỉ đạo các cấp chủ yếu là kiêm nhiệm

(nhất là ở cơ sở), số lƣợng biên chế ít, gây ảnh hƣởng không nhỏ đến kết quả xây

dựng NTM [135].

Ba là, do ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông, làng xã, sản xuất nhỏ, năng lực

nhận thức của người dân vùng ĐBSH còn hạn chế trong thực hành DCCS trong

xây dựng NTM.

Sự hiểu biết, năng lực nhận thức của ngƣời dân trên địa bàn vùng ĐBSH

đóng vai trò quyết định chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Tuy

nhiên, thực tế cho thấy, trình độ nhận thức của ngƣời dân đang là một vấn đề gây

ảnh hƣởng đến chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Do yếu tố đặc thù của vùng ĐBSH, ngƣời dân trong vùng có lịch sử thâm

canh nông nghiệp lâu đời, với tâm lý sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; ngƣời dân

vùng ĐBSH có tâm lý bảo thủ, trì trệ, ngại thay đổi, tiếp nhận những cái mới,

tiên tiến hiện đại. Đồng thời, do ảnh hƣởng của tâm lý làng xã đã ăn sâu bám rễ

vào trong tiềm thức của ngƣời dân vùng ĐBSH, họ có thói quen và hành động

tuân theo phong tục, tập quán của địa phƣơng nên khi triển khai thực hiện dân

118

chủ ngƣời dân chƣa nhận thức đƣợc đầy đủ, toàn diện về chủ trƣơng, đƣờng lối,

chính sách của Đảng, Nhà nƣớc; ngƣời dân bị ảnh hƣởng của quan niệm “phép

vua thua lệ làng”. Điều này là nguyên nhân dẫn đến tồn tại những hạn chế về

thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Bên cạnh đó, sự chênh lệch về trình độ nhận thức của ngƣời dân, sự phân

tầng xã hội, sự phân hóa giàu nghèo gia tăng giữa các vùng, các dân tộc trong địa

phƣơng cũng ảnh hƣởng đến chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

Ở nhiều vùng nông thôn, do điều kiện kinh tế khó khăn, ngƣời dân không có cơ

hội cũng nhƣ không có điều kiện để tiếp cận thông tin, hiểu rõ quyền làm chủ

trong xây dựng NTM; đồng thời, cơ hội đƣợc tham gia thảo luận, đóng góp ý

kiến vào những chính sách xây dựng NTM cũng khó thực hiện. Điều này gây

ảnh hƣởng đến chất lƣợng xây dựng NTM. Ngƣời dân chƣa hiểu hết quyền,

nghĩa vụ đi đôi với trách nhiệm trong thực hành DCCS; chƣa hiểu đƣợc ý nghĩa

của việc thực hiện Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM dẫn đến

việc trông chờ, ỷ lại vào sự điều hành của các cơ quan, tổ chức; chƣa phát huy

quyền làm chủ trong việc tham gia, thảo luận và quyết định những vấn đề liên

quan đến chính sách xây dựng NTM. Điều đó là nguyên nhân nảy sinh những

mâu thuẫn giữa chính quyền với ngƣời dân, dẫn đến quyền dân chủ bị xâm phạm.

3.3.2. Những vấn đề đặt ra hiện nay

3.3.2.1. Mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng cao về công tác lãnh đạo, chỉ

đạo, triển khai trong thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở

vùng đồng bằng sông Hồng với hoạt động còn kém hiệu quả của hệ thống chính

trị cấp cơ sở

Thứ nhất, yêu cầu ngày càng cao về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai

thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

Thực tế cho thấy, các cấp ủy, tổ chức Đảng có vai trò quan trọng trong việc

lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng,

Nhà nƣớc về thực hiện Quy chế DCCS gắn với Chƣơng trình mục tiêu xây dựng

NTM; coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt của toàn HTCT. Quá trình CNH,

HĐH và hội nhập quốc tế cũng tạo cho đất nƣớc ta những thời cơ và thách thức

trong phát triển kinh tế- xã hội. Do đó, cần thực hiện tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo

của các cấp ủy, tổ chức Đảng trong thực hiện Quy chế DCCS, lấy dân chủ trong

119

Đảng là trọng tâm; thực hiện tốt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn

với những nội dung tiêu chí xây dựng NTM. Với vai trò là vùng kinh tế trọng

điểm, trung tâm chính trị của cả nƣớc, ĐBSH cần thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh

đạo, Nhà nƣớc quản lý, Nhân dân làm chủ” gắn với thực hiện xây dựng NTM.

Thành tựu và hạn chế về vấn đề thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở

vùng ĐBSH đã chứng minh: ở địa phƣơng nào có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo

sâu sát, quyết liệt và sự vào cuộc mạnh mẽ của toàn bộ HTCT cấp cơ sở về thực

hành DCCS trong xây dựng NTM thì có kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh

thần của ngƣời dân đƣợc nâng cao, tình hình trật tự, chính trị và an toàn xã hội ổn

định; quyền làm chủ của nhân dân đƣợc bảo đảm và ngƣợc lại. Vì vậy, cần phải

thực hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ của HTCT cấp cơ sở ở

vùng ĐBSH nhƣ thế nào để phát huy hoạt động của HTCT ở vùng ĐBSH nhằm

tăng cƣờng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH là một vấn đề

đang đặt ra và cần đƣợc quan tâm giải quyết.

Thứ hai, hoạt động của HTCT cấp cơ sở còn biểu hiện nhiều những hạn

chế, bất cập trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

Trong quá trình triển khai thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng

ĐBSH, HTCT cơ sở (các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc

và các tổ chức chính trị- xã hội) cũng còn biểu hiện một số hạn chế, bất cập

trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hành DCCS trong xây dựng

NTM: chƣa thực sự quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành thực hiện QCDC cơ sở và

xây dựng NTM, chƣa có sự đầu tƣ về đổi mới nội dung, hình thức triển khai thực

hiện DCCS và xây dựng NTM; còn biểu hiện trông chờ, ỷ lại vào nguồn lực từ

Trung ƣơng; khả năng khai thác, phát huy thế mạnh của từng vùng, địa phƣơng

còn hạn chế, phƣơng án để khắc phục những khó khăn mang tính đặc thù của địa

phƣơng chƣa thực sự đem lại hiệu quả.

Việc triển khai công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ,

đảng viên, công chức và nhân dân còn chƣa thực sự hiệu quả, một số địa phƣơng

còn mang tính hình thức, còn lúng túng, chƣa có sự phối hợp đồng nhất trong

toàn bộ HTCT cấp cơ sở; vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ

quốc còn hạn chế, hoạt động của các tổ chức chính trị- xã hội chƣa đem lại hiệu

quả cao không phát huy đƣợc những sáng kiến, nguồn lực của ngƣời dân trong

120

thực hiện DCCS và xây dựng NTM. Công tác kiểm tra, giám sát chƣa đem lại

hiệu quả cao, vẫn còn tình trạng tham ô, tham nhũng; việc giải quyết khiếu nại,

tố cáo của ngƣời dân chƣa thực sự thỏa đáng gây nên những bức xúc giữa ngƣời

dân và chính quyền, xuất hiện những điểm nóng chính trị ảnh hƣởng đến niềm

tin của nhân dân vào chính quyền. Vì thế, vấn đề tiếp theo đặt ra là làm thế nào

để nâng cao hiệu quả hoạt động của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền địa

phƣơng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội nhằm tăng cƣờng thực

hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

3.3.2.2. Mâu thuẫn giữa yêu cầu về thực hành dân chủ cơ sở trong xây

dựng nông thôn mới với hạn chế trong nhận thức về vai trò của một bộ phận chủ

thể trong thực hành DCCS trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng

sông Hồng

Thứ nhất, yêu cầu về thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH là nhiệm vụ trọng

tâm trong chiến lƣợc phát triển kinh tế- xã hội vùng; góp phần vào xây dựng và

hoàn thiện nền dân chủ XHCN, thực hiện thắng lợi sự nghiệp phát triển kinh tế- xã

hội của đất nƣớc, đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ mới đặt ra. Thực hành DCCS

trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH cần phải nhận thức đúng đắn, đầy đủ những

chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc ta về Quy chế DCCS và Chƣơng trình

mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM. Coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều

hành triển khai có hiệu quả QCDC cơ sở và thực hiện xây dựng NTM; thực hiện tốt

công tác tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy khối đại đoàn kết dân tộc, phát

huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện xây dựng NTM theo phƣơng

châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Trong bối cảnh hiện nay càng đặt ra yêu cầu nhận thức đúng và sâu sắc về

thực hành DCCS trong xây dựng NTM để phát huy quyền làm chủ trực tiếp của

nhân dân, nhân dân có quyền quyết định những công việc hệ trọng của đất nƣớc

hƣớng tới xây dựng nông thôn mới hiện đại, nông dân văn minh. Do đó, cần phải

tiếp tục thực hiện có hiệu quả thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng

ĐBSH là một trong những điều kiện để phát triển kinh tế- xã hội đất nƣớc.

Thứ hai, hạn chế trong nhận thức về vai trò của một bộ phận chủ thể đối

với vấn đề thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

121

Một bộ phận các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền địa phƣơng vùng

ĐBSH chƣa nhận thức đƣợc hết ý nghĩa, tầm quan trọng của thực hành DCCS

trong xây dựng NTM, chƣa chú trọng phát huy vai trò chủ thể của thực hành

DCCS trong xây dựng NTM. Việc triển khai thực hiện các nội dung thực hành

DCCS trong xây dựng NTM chỉ chú trọng vào một số tiêu chí, hình thức triển

khai thực hành DCCS còn thiếu hiệu quả, chƣa chú trọng công tác tuyên truyền,

giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về thực

hành DCCS trong xây dựng NTM.

Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức có biểu hiện suy thoái về phẩm

chất đạo đức, chính trị; lập trƣờng tƣ tƣởng không vững vàng dễ bị kích động, có

thái độ ỷ lại vào cấp trên; trong thực hiện nhiệm vụ, tiếp dân còn có thái độ

nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho ngƣời dân; lợi dụng chức vụ để trục lợi,

tham ô, tham nhũng gây thất thóat về mặt kinh tế.

Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ ngƣời dân đặc biệt là dân tộc thiểu

số trình độ dân trí thấp, năng lực nhận thức về thực hành DCCS trong xây dựng

NTM còn hạn chế dẫn đến việc không ý thức đƣợc quyền, nghĩa vụ và trách

nhiệm của mình trong thực hiện DCCS và xây dựng NTM đối với địa phƣơng.

Một bộ phận ngƣời dân ở các địa phƣơng: Nam Định, Vĩnh Phúc lợi dụng yếu tố

đặc thù về dân tộc, tôn giáo có thái độ ỷ lại vào chính quyền, coi nhẹ việc thực

hiện quy định về DCCS, lợi dụng quyền dân chủ đòi hỏi những quyền lợi không

đúng theo quy định, gây khó khăn cho chính quyền.

Vì vậy, làm thế nào để nâng cao trình độ nhận thức, chuyên môn, nghiệp vụ

cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân về thực

hiện Quy chế DCCS và xây dựng NTM; góp phần tăng cƣờng thực hành DCCS

trong xây dựng NTM ở ĐBSH đang là vấn đề đặt ra hiện nay.

3.3.2.3. Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao chất lượng quá trình thực hành

dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới với hiện thực cuộc sống đang diễn

biến phức tạp, những cản trở, bất cập, nghịch lý đang tồn tại ở vùng đồng bằng

sông Hồng

Thứ nhất, yêu cầu cần phải nâng cao chất lượng thực hành DCCS trong

xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

122

ĐBSH là một trong những vùng kinh tế trọng điểm, có nhiều tiềm năng,

thế mạnh để phát triển kinh tế- xã hội trở thành động lực góp phần thúc đẩy kinh

tế- xã hội của đất nƣớc. Đảng, Nhà nƣớc ta luôn chú trọng đề ra những chủ

trƣơng, chính sách phát triển kinh tế vùng nhằm phát huy những tiềm năng, thế

mạnh của vùng để phát triển đất nƣớc. Việc nâng cao chất lƣợng thực hành

DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH là một nhiệm vụ trọng tâm, then chốt

trong chiến lƣợc phát triển kinh tế vùng. Tuy nhiên, việc thực hiện Quy chế

DCCS và xây dựng NTM ở vùng ĐBSH còn nhiều hạn chế, bất cập: kết quả xây

dựng NTM ở các địa phƣơng trong vùng diễn ra không đồng đều; chƣa huy động

đƣợc các nguồn lực tham gia vào xây dựng NTM; việc công khai thông tin cho

ngƣời dân chƣa thực sự hiệu quả; việc tổ chức cho ngƣời dân tham gia thảo luận,

đóng góp ý kiến còn mang tính hình thức; công tác kiểm tra, giám sát chƣa đƣợc

thực hiện triệt để. Chính những điều này là nguyên nhân ảnh hƣởng đến chất

lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Do đó, cần phải có

những giải pháp khắc phục những hạn chế, bất cập để nâng cao chất lƣợng thực

hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nƣớc ta đã đề ra chiến lƣợc phát triển kinh tế- xã

hội giai đoạn mới; trong đó ban hành: Quyết định số 263/ QĐ- TTg, ngày

22/2/2022 của Thủ tƣớng Chính Phủ phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu quốc gia

về xây dựng NTM giai đoạn 2021- 2025; Quyết định số 318/ QĐ- TTg ngày

08/3/2022 về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí

quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021- 2025; Quyết định số

924/ QĐ- TTg, ngày 02/8/2022, phê duyệt chƣơng trình chuyển đổi số trong xây

dựng nông thôn mới, hƣớng tới nông thôn mới thông minh giai đoạn 2021- 2025.

Việc nâng cao chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

hƣớng tới xây dựng NTM nâng cao, hiện đại là thực hiện đúng chủ trƣơng,

đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc ta.

Thứ hai, những yếu tố “cản trở, bất cập, nghịch lý” đang tồn tại gây ảnh

hưởng đến chất lượng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

Bên cạnh những lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội đem

lại những thuận lợi cho thực hành DCCS trong xây dựng NTM vùng ĐBSH cũng

có những tác động cản trở, gây ảnh hƣởng đến chất lƣợng thực hành DCCS

123

trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH: quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng

nên xảy ra vấn đề mất cân đối về sự phát triển giữa thành thị và nông thôn; sự

chênh lệch giàu nghèo giữa các địa phƣơng trong vùng; giới trẻ có xu hƣớng

rời nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm và sinh sống dẫn đến sự mất

cân đối giữa lao động và việc làm. Bên cạnh đó, do ảnh hƣởng của quá trình

CNH, HĐH và Hội nhập quốc tế diễn ra nhanh chóng cũng đặt ra những thách

thức cho ĐBSH phải thích ứng kịp thời, nhiều khu công nghiệp đƣợc xây

dựng dẫn đến vấn đề đặt ra đối với công tác quy hoạch, đền bù, giải phóng

mặt bằng và việc thực hiện cơ chế đền bù, giải phóng mặt bằng có thỏa đáng

cho ngƣời dân; giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trƣờng; xã hội phát triển dẫn

đến xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội đe dọa an ninh, trật tự xã hội, văn hóa làng

xã truyền thống bị mai một. Ở một số địa phƣơng vẫn chịu ảnh hƣởng của

những phong tục lạc hậu, vùng dân tộc thiểu số (ở Vĩnh Phúc), vùng có nhiều

ngƣời dân theo đạo (ở Nam Định). Đồng thời, ĐBSH cũng là vùng chịu rủi ro

thiên tai, bão lụt, biến đổi khí hậu, nƣớc biển dâng, dịch bệnh.

Mặt khác, để khắc phục đƣợc những rào cản trên cũng cần huy động

nguồn kinh phí để phục vụ cho công tác thực hiện DCCS, đặc biệt là phục vụ

cho xây dựng NTM. Vấn đề về nguồn lực kinh phí phục vụ cho thực hành DCCS

trong xây dựng NTM cũng là một trong những nguyên nhân cản trở việc thực

hiện DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tìm kiếm những giải pháp nhằm khắc

phục những cản trở về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội gây ảnh hƣởng

đến chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM phù hợp với đặc điểm

tình hình cụ thể của từng địa phƣơng ở vùng ĐBSH nhằm hƣớng tới xây dựng

NTM hiện đại, NTM nâng cao; bảo đảm thực hành DCCS đƣợc thực hiện trên

thực tế.

Tiểu kết chƣơng 3

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở ĐBSH là một nhiệm vụ quan

trọng của Đảng, Nhà nƣớc ta trong thực hiện Quy chế DCCS, là điều kiện để xây

dựng thành công NTM; góp phần vào thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội

của đất nƣớc, vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ công bằng văn minh.

Trong chƣơng này, tác giả luận án tập trung vào làm rõ một số vấn đề sau:

124

Thứ nhất, phân tích thực trạng vấn đề thực hành DCCS trong xây dựng

NTM ở vùng ĐBSH (thực trạng về vai trò, chủ thể, nội dung, phƣơng thức, điều

kiện bảo đảm trong thực hành dân chủ), trên cơ sở đánh giá những thành tựu,

hạn chế vấn đề thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Từ đó,

chuyên đề chỉ rõ nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế của vấn đề thực

hành DCCS trong xây dựng NTM.

Thứ hai, chỉ ra những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết của vấn đề thực

hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH: vấn đề đặt ra đối với công tác

lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức Đảng, quản lý nhà nƣớc của chính

quyền cơ sở, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội trong

tổ chức, thực hiện, triển khai thực hành DCCS trong xây dựng NTM; vấn đề đặt

ra đối với việc nâng cao trình độ nhận thức, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ

cán bộ, đảng viên, công chức; nâng cao trình độ dân trí cho ngƣời dân trong thực

hành DCCS trong xây dựng NTM; vấn đề đặt ra đối với việc giải quyết mối quan

hệ giữa ngƣời dân với chính quyền trong thực hiện những nội dung, phƣơng thức

thực hành DCCS trong xây dựng NTM; việc giải quyết những yếu tố về điều

kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nảy sinh tác động đến thực hành

DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Đây là cơ sở để tác giả đƣa ra quan điểm và đề xuất những giải pháp

nhằm nâng cao chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

trong thời gian tới.

125

Chƣơng 4

QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƢỚNG, MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

TĂNG CƢỜNG THỰC HÀNH DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

TRONG THỜI GIAN TỚI

4.1. Quan điểm định hƣớng tăng cƣờng thực hành dân chủ cơ sở

trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng

4.1.1. Thực hành dân chủ cơ sở trong xây nông thôn mới ở vùng đồng

bằng sông Hồng phải bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, quản lý

của chính quyền và quyền làm chủ của nhân dân

Sự lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp luôn đóng

vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội đất nƣớc nói chung và đối

với sự phát triển kinh tế- xã hội vùng ĐBSH nói riêng. Đảng, Nhà nƣớc ta luôn

coi thực hành DCCS là nhiệm vụ trọng tâm, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm

vụ xây dựng nền dân chủ XHCN. Để thực hành DCCS trong xây dựng NTM

đem lại hiệu quả cao đòi hỏi phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo của các. cấp ủy, tổ

chức đảng, sự quản lý của chính quyền và quyền làm chủ của nhân dân đƣợc

thực hiện.

Thứ nhất, thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH phải đảm

bảo sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, quản lý của chính quyền

Sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, quản lý của chính

quyền là điều kiện quan trọng đảm bảo cho thực hành dân chủ và xây dựng NTM

đƣợc thực hiện. Trong đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền cơ sở thực hiện

những chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc và ban hành những văn bản

chỉ đạo, hƣớng dẫn để thực hiện cụ thể những chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng,

Nhà nƣớc tại địa phƣơng, cơ sở. Xuất phát từ điều kiện tình hình thực tiễn phát

triển kinh tế- xã hội vùng ĐBSH là vùng kinh tế trọng điểm của cả nƣớc, Đảng,

Nhà nƣớc ta luôn quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo nhằm đƣa ra những chủ trƣơng,

đƣờng lối, chính sách phát triển kinh tế vùng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng

và phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc.

126

Đảng, Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị về thực hiện

QCDC, DCCS, xây dựng nông thôn mới cụ thể nhƣ: Trong chỉ đạo thực hiện

DCCS, Đảng ta ban hành Chỉ thị số 30- CT/ TW, ngày 18 tháng 02 năm 1998

“về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”; Ủy ban thƣờng vụ Quốc

hội ra pháp lệnh số 34/ 2007/ PL- UBTVQH 11, ngày 20 tháng 4 năm 2007,

“Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”; ngày 04 tháng 3 năm

2022, Chính Phủ gửi trình Quốc hội số 57/ TTr- CP về dự án Luật Thực hiện dân

chủ ở cơ sở. Cùng với việc thực hiện DCCS, Đảng, Nhà nƣớc ta cũng xác định

nông nghiệp, nông dân, nông thôn cũng là một trong chiến lƣợc phát triển kinh

tế- xã hội quan trọng của đất nƣớc. Trong đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày

5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ƣơng Khóa X “Về nông nghiệp, nông dân,

nông thôn” là một bƣớc đột phá, sáng tạo của Đảng ta trong lĩnh vực nông

nghiệp, triển khai thực hiện thắng lợi nghị quyết này là nhân tố quan trọng để

phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.

Về xây dựng NTM, Thủ tƣớng đã ban hành Quyết định số 8000/ QĐ- TTg ngày

04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tƣớng Chính Phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu

quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020; đặc biệt, Quyết định

số 263/ QĐ- TTg ngày 22 tháng 2 năm 2022 của Thủ tƣớng Chính Phủ phê duyệt

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021- 2025;

Quyết định số 318/ QĐ- TTg ngày 8 tháng 3 năm 2022 của Thủ tƣớng Chính phủ

ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã

nông thôn mới nâng cao, nhằm đƣa ra những định hƣớng, chỉ đạo, hƣớng dẫn thực

hiện xây dựng NTM ở những giai đoạn tiếp theo. Ngay sau khi những văn bản, chỉ

thị của Đảng, Nhà nƣớc ban hành; các tỉnh vùng ĐBSH tiếp nhận và triển khai

chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách; ban hành nhiều văn bản hƣớng dẫn, chỉ đạo

thực hiện QCDC ở cơ sở và xây dựng NTM. Điển hình nhƣ tỉnh Nam Định, Bắc

Ninh, Vĩnh Phúc đã ban hành văn bản về triển khai thực hiện Kết luận số 120-

KL/TW “về tiếp tục đẩy mạnh nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và

thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”. Cùng với đó, tỉnh Nam Định cũng ban hành

Nghị quyết số 04- NQ/ TU ngày 20/4/2016 về xây dựng NTM giai đoạn 2016-

2020 với tám nhiệm vụ giải pháp chủ yếu; UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành Quyết

định số 367/QĐ- UBND, ngày 26/7/2017 về việc ban hành bộ tiêu chí xã nông

127

thôn mới tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016- 2020; Kế hoạch của UBND tỉnh số 222/

KH- UBND, ngày 26/7/2017 về việc triển khai chƣơng trình MTQG xây dựng

nông thôn mới giai đoạn 2016- 2020.

Có thể nói, để thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH đạt

chất lƣợng ngày càng cao cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ

chức Đảng và sự quản lý của chính quyền. Căn cứ vào tình hình cụ thể, đặc thù

của vùng ĐBSH mà các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền đề ra những chủ

trƣơng, chính sách, những văn bản, chỉ thị hƣớng dẫn ngƣời dân thực hiện DCCS

và xây dựng NTM; làm cho những chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc

ta đƣợc thực hiện và đi vào thực tiễn đời sống ở từng địa phƣơng. Kết quả việc

thực hiện DCCS trong xây dựng NTM vùng ĐBSH phụ thuộc vào vai trò lãnh

đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng và sự điều hành quyết liệt của chính quyền cơ

sở, sự vào cuộc mạnh mẽ của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội

nhằm phát huy tốt vai trò chủ thể thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và phát

triển kinh tế- xã hội vùng ĐBSH.

Thứ hai, thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH phải đảm

bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ƣơng Khóa XIII đƣa

ra quan điểm: “Nông dân là chủ thể, là trung tâm của quá trình phát triển. Nâng

cao trình độ, năng lực làm chủ của nông dân theo hƣớng phát triển toàn diện, văn

minh, có tinh thần yêu nƣớc, đoàn kết, tự chủ, sáng tạo, ý chí tự lực tự cƣờng,

khát vọng xây dựng quê hƣơng, đất nƣớc; có trình độ tổ chức sản xuất tiên tiến,

nếp sống văn minh, trách nhiệm xã hội, tôn trọng pháp luật, bảo vệ môi trƣờng,

đƣợc thụ hƣởng thành tựu phát triển kinh tế- xã hội và tiếp cận các dịch vụ tiệm

cận với đô thị” [41].

Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc, Đảng ta luôn xác định ngƣời dân là trung tâm, vì lợi ích của nhân dân; nhân dân có vai trò quyết định đến sự thành công của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nƣớc. Vì vậy, trong quá trình xây dựng NTM ở vùng ĐBSH cần coi trọng việc thực hành dân chủ, cần phải đảm bảo quyền làm chủ của ngƣời dân bao gồm quyền đƣợc công khai, tiếp cận thông tin; đƣợc thảo luận đóng góp ý kiến và quyết định những vấn đề liên quan đến xây dựng NTM; đƣợc tham gia kiểm tra, giám

128

sát quá trình và kết quả xây dựng NTM; đồng thời đƣợc thụ hƣởng những thành quả từ việc xây dựng NTM. Thực hành dân chủ là yếu tố cốt lõi của xây dựng NTM. Việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân là nội dung quan trọng, quyết định đến chất lƣợng và hiệu quả xây dựng NTM để đảm bảo ngƣời dân có thực sự đƣợc phát huy quyền làm chủ.

Đảng ta luôn nhấn mạnh một nguyên tắc quan trọng đó là “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần, trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; đảm bảo tốt quyền và lợi ích của nhân dân. Trong công cuộc xây dựng NTM cần thực hiện nguyên tắc “lấy nhân dân làm trung tâm”, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm mọi kế hoạch, chủ trƣơng, chính sách, dự án về NTM cần phải đƣợc công khai và vì lợi ích của ngƣời dân, xuất phát từ nhu cầu của ngƣời dân; xây dựng NTM phải thực sự hƣớng đến mục tiêu cốt lõi và hàng đầu là quyền làm chủ của ngƣời dân. Chỉ khi ngƣời dân đƣợc phát huy quyền làm chủ của mình, đƣợc bày tỏ ý kiến, quan điểm, tán thành hay không tán thành, hài lòng hay không hài lòng thì mới có thể đánh giá đƣợc các nội dung liên quan đến xây dựng NTM, thúc đẩy quá trình xây dựng NTM đạt hiệu quả và chất lƣợng.

4.1.2. Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng NTM ở vùng đồng bằng sông Hồng phải gắn với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội trong xây dựng nông thôn mới

Trong bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, dân chủ và kỷ cƣơng là hai mặt thống nhất trong chỉnh thể cơ chế vận hành đúng đắn, lành mạnh của xã hội, nghĩa là: trong yếu tố dân chủ thực sự đã bao hàm cả yếu tố kỷ cƣơng và kỷ cƣơng để bảo đảm cho tính dân chủ đƣợc vững chắc; trong yếu tố kỷ cƣơng đã bao hàm cả tính chất dân chủ của nó. Vì vậy, trong nhận thức và hành động, phải luôn tuân thủ tính biện chứng của mối quan hệ này, muốn thực hành dân chủ thực sự hiệu quả, phải tăng cƣờng pháp chế, bảo đảm kỷ cƣơng xã hội; mặt khác, muốn tăng cƣờng pháp chế, bảo đảm kỷ cƣơng xã hội thật tốt, phải thực hành dân chủ thật sự, dân chủ đích thực, đó là dân chủ rộng rãi và đúng hƣớng. Chống biểu hiện độc đoán, gia trƣởng, hoặc dân chủ “vô chính phủ”, dân chủ quá trớn.

Quan niệm về dân chủ gắn liền với tăng cƣờng pháp chế, bảo đảm kỷ

cƣơng xã hội đƣợc Đảng ta đề cập qua các kỳ Đại hội và ngày càng khẳng định

129

tính đúng đắn về bản chất của mối quan hệ giữa thực hành dân chủ gắn liền với

tăng cƣờng pháp chế, bảo đảm kỷ cƣơng xã hội. Cƣơng lĩnh năm 2011 xác định:

“Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động

lực của sự phát triển đất nƣớc. Xây dựng và từng bƣớc hoàn thiện nền dân chủ xã

hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ đƣợc thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp,

trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cƣơng và phải đƣợc thể

chế bằng pháp luật, đƣợc pháp luật bảo đảm” [38, tr. 84]. Đến Đại hội XII (2016),

Đảng ta nhấn mạnh: “Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cƣờng pháp chế, đề

cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cƣơng và đề cao đạo đức xã

hội”[39, tr. 170]. Tại Đại hội XIII, Đảng ta đã bổ sung và làm rõ hơn mối quan hệ

giữa “thực hành dân chủ và tăng cƣờng pháp chế, bảo đảm kỷ cƣơng xã hội” đó là:

“dân chủ” đi liền với “kỷ cƣơng”, “tự do” không tách rời “trách nhiệm”.

Quá trình xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,

việc nhận thức, thực hành dân chủ phải trên cơ sở nghiêm chỉnh chấp hành pháp

luật và bảo đảm kỷ cƣơng xã hội. Yêu cầu đó không chỉ đƣợc đặt ra đối với Nhà

nƣớc, pháp luật mà đối với tất cả mọi cá nhân. Nhận thức và thực hành DCCS

phải dựa trên nguyên tắc của Nhà nƣớc pháp quyền: nguyên tắc công bằng, nhân

đạo; nguyên tắc bình đẳng; tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền tự do của con

ngƣời và công dân; nguyên tắc làm những gì mà pháp luật không cấm; nguyên

tắc công khai, minh bạch. Pháp chế và kỷ cƣơng xã hội là điều kiện cần thiết để

duy trì dân chủ trên cả hai bình diện: các giá trị, nguyên tắc dân chủ, định chế

dân chủ. Bởi dân chủ không thể tồn tại nếu thiếu một môi trƣờng pháp lý, khung

pháp luật. Dân chủ chỉ có thể đƣợc đảm bảo và thực thi trên thực tế khuôn khổ

pháp luật, một chế độ pháp chế vững chắc. Tuân thủ pháp luật là điều kiện tiên

quyết để thực hành dân chủ đƣợc rộng rãi và đi vào thực tế đời sống. Do đó, cần

phải tôn trọng và thực hiện các nghĩa vụ pháp lý và chịu trách nhiệm khi vi phạm

pháp luật trong quá trình thực hiện dân chủ.

Trong nhận thức và thực tiễn thực hành DCCS gắn với xây dựng NTM

cần phải đảm bảo nguyên tắc dân chủ gắn liền với tăng cƣờng pháp chế, bảo đảm

kỷ cƣơng xã hội. Bên cạnh việc ngƣời dân đƣợc phát huy quyền làm chủ theo

phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ

hưởng” cần gắn liền với thực hiện tăng cƣờng pháp chế, bảo đảm kỷ cƣơng xã

130

hội; phải phù hợp với nguyên tắc quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm.

Thực hành dân chủ gắn liền với kỷ cƣơng trong xây dựng NTM là biểu hiện của

tự do theo nghĩa vận hành trong một xã hội lành mạnh. Quyền, nghĩa vụ, tự do đi

liền với trách nhiệm- đó là tiền đề, là điều kiện để bảo đảm cuộc sống của mỗi

ngƣời dân, bảo đảm thực hiện xây dựng thành công NTM. Thực hiện nghĩa vụ

pháp lý là thành tố quan trọng trong mối quan hệ giữa nhà nƣớc, pháp luật và cá

nhân; nếu thiếu nó thì sẽ không có sự cân bằng trong mối quan hệ xã hội, các loại

lợi ích trong hoạt động xã hội và môi trƣờng xã hội; là mặt thứ hai của một thể

thống nhất biện chứng quyền và nghĩa vụ. Trong xây dựng NTM, bên cạnh việc

thực hiện quyền làm chủ, quyền tự do, cần phải đảm bảo tuân thủ những quy định,

chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc; thực hiện nghĩa vụ pháp lý, nhất là nghĩa vụ

hiến định để tránh sự độc đoán, tuỳ tiện, tránh những tiêu cực, sai phạm trong quá

trình xây dựng NTM. Bảo đảm kỷ cƣơng gắn liền với pháp chế, mà pháp chế ở

Việt Nam là pháp chế trong sự quản lý của Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa

của dân, do dân, vì dân; pháp luật là tối thƣợng trong xã hội. Vì vậy, cần xây dựng

hệ thống pháp luật, những quy định trong xây dựng NTM một cách đầy đủ, kịp

thời, lấy quyền và lợi ích chính đáng của ngƣời dân làm trung tâm; gắn kết chặt

chẽ giữa xây dựng pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật DCCS; phát hiện, phòng

ngừa và đấu tranh có hiệu quả những sai phạm, giải quyết kịp thời những sai phạm,

những khiếu kiện về thực hành DCCS trong quá trình xây dựng NTM. Thực hiện

tốt mối quan hệ giữa thực hành DCCS gắn với tăng cƣờng pháp chế, bảo đảm kỷ

cƣơng xã hội trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH tạo điều kiện cho pháp luật giữ

vai trò tối thƣợng trong quản lý xã hội; làm tăng cƣờng vai trò của pháp luật trong

bảo vệ quyền, lợi ích của cƣ dân nông thôn; tăng cƣờng ý thức, trách nhiệm trong

thực hiện pháp quyền của đội ngũ cán bộ và ngƣời dân cơ sở vùng nông thôn.

4.1.3. Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở vùng

đồng bằng sông Hồng phải bảo đảm giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của

dân tộc, phát huy đoàn kết dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội

Xây dựng NTM là chủ trƣơng lớn của Đảng, Nhà nƣớc ta trong chiến lƣợc

phát triển kinh tế- xã hội; có ý nghĩa to lớn làm thay đổi căn bản đời sống nhân

dân, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn; trong đó, giữ

gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc,

131

tạo sự đồng thuận trong xã hội luôn là nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nƣớc ta đặt ra

trong quá trình xây dựng và phát triển đất nƣớc.

Thứ nhất, thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH phải đảm

bảo giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc

Muốn xây dựng nông thôn hiện đại, cần phải có cƣ dân nông thôn hiện đại,

muốn có cƣ dân nông thôn hiện đại cần phải coi trọng xây dựng văn hóa ở khu

vực nông thôn. Xây dựng văn hóa ở vùng nông thôn là phải đảm bảo tăng cƣờng

giáo dục ý thức cho ngƣời dân; thông qua tuyên truyền và hoạt động của các

thiết chế văn hóa để từng bƣớc hạn chế những ảnh hƣởng tiêu cực trong tâm lý

của ngƣời dân; làm cho ngƣời dân ý thức đƣợc rõ quyền và nghĩa vụ của mình.

Trong quá trình xây dựng NTM ở vùng ĐBSH cần phải quán triệt quan điểm kế

thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của địa

phƣơng; coi trọng những thiết chế cộng đồng, hƣơng ƣớc làng xã của địa phƣơng.

Bởi, nông thôn Việt Nam là không gian lƣu giữ nhiều kho tàng văn hóa vô cùng

quý giá của cha ông, chứa đựng những giá trị văn hóa lâu đời, triết lý sống, cốt

cách của ngƣời dân gắn với đặc thù của từng vùng miền. Trong xây dựng NTM,

cần phải hiểu đúng bản chất của quá trình hiện đại hóa nông thôn là quá trình

phát triển toàn diện có kế thừa. Khi xây dựng nông thôn mới, trách nhiệm của

mỗi chúng ta là phải giữ gìn và phát huy những di sản quý giá đó để tạo nên hồn

cốt, bản sắc của của dân tộc. Văn hóa truyền thống là nền văn hóa gắn chặt với gia

đình, cộng đồng, làng, xã; nó trở thành phong tục, tập quán, ăn sâu vào hồn cốt

của ngƣời dân Việt Nam, mang đặc thù của ngƣời dân Việt Nam. Cần thực hiện

tốt mối quan hệ giữa xây dựng đời sống văn hóa với xây dựng NTM vì công tác

xây dựng đời sống văn hóa góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của ngƣời dân

tại cộng đồng địa phƣơng, đời sống tinh thần của ngƣời dân đƣợc nâng lên; các

thiết chế văn hóa làng, xã đƣợc quan tâm xây dựng, thu hút ngƣời dân tham gia; từ

đó, nâng cao ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống; coi trọng việc phát huy

giá trị cốt lõi của truyền thống văn hiến trên quê hƣơng nhằm nâng cao năng lực

cộng đồng và đời sống tinh thần của ngƣời dân, góp phần giúp từng địa phƣơng

trở thành những vùng quê giàu truyền thống văn hóa, cách mạng. Cần có sự kết

nối, liên thông giữa các chiến lƣợc, các chƣơng trình phát triển nông thôn.

Chƣơng trình phát triển văn hóa nông thôn phải đƣợc đặt trong mối quan hệ với

132

các chƣơng trình phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và cùng phải đƣợc đặt

trong tổng thể Chiến lƣợc phát triển nông thôn. Nhƣ vậy mới bảo đảm đƣợc sự

nhất quán, mạch lạc trong phân bổ các nguồn lực cũng nhƣ tránh sự lãng phí,

chồng chéo trong triển khai thực hiện. Do đó, đòi hỏi phải huy động nguồn lực

tổng hợp, trong đó có nguồn lực văn hóa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phải

vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng nông nghiệp

sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh.

Thứ hai, thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH phải bảo

đảm phát huy đoàn kết dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội

Sức mạnh đoàn kết dân tộc đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc

Việt Nam ta từ xƣa đến nay. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, đoàn kết

tạo nên sức mạnh chiến thắng mọi kẻ thù xâm lƣợc, chiến thắng thiên tai, dịch

bệnh. Thực hiện đoàn kết toàn dân tộc trở thành mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu

trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nƣớc ta; đoàn kết là giá trị cốt lõi,

là động lực, cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII, Đảng ta

đƣa ra quan điểm: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nƣớc phồn vinh, hạnh phúc,

ý chí tự cƣờng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc” [40, tr. 215]

Đối với sự nghiệp xây dựng NTM ở nƣớc ta nói chung và ở vùng ĐBSH nói riêng, đòi hỏi phải phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội mới có thể đem lại hiệu quả và chất lƣợng trong xây dựng NTM. Thực tế cho thấy, tinh thần đoàn kết toàn dân chung sức tham gia xây dựng NTM quyết định đến thành công hay thất bại của quá trình xây dựng NTM. Quá trình xây dựng NTM ở vùng ĐBSH cần phải tiếp tục thực hiện theo phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Xây dựng cơ chế, chính sách để nhân dân đƣợc phát huy quyền làm chủ trong xây dựng NTM; tạo động lực, phát triển tài năng, trí tuệ, sức sáng tạo của nhân dân, huy động đông đảo quần chúng nhân dân tham gia xây dựng NTM. Thực hiện tốt phƣơng châm “nghe dân nói, nói dân nghe” trong triển khai chủ trƣơng, chính sách xây dựng NTM, phải cho ngƣời dân thấy đƣợc lợi ích của việc xây dựng NTM, tôn trọng dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân; vận động, tập hợp quần chúng nhân dân tham gia phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; “cả nước chung sức

133

xây dựng nông thôn mới”; làm cho ngƣời dân tin tƣởng vào chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc trong xây dựng NTM; phát huy tinh thần tự nguyện của ngƣời dân tham gia “hiến của, hiến công”; tạo sự đồng thuận trong cộng đồng, xã hội; chung sức tham gia xây dựng NTM. Nhƣ vậy, phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội là điều kiện bảo đảm cho thực hành DCCS, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng NTM vì mục tiêu: dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

4.1.4. Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới phải hướng tới thực hiện mục tiêu phát triển nông thôn hiện đại, nông dân văn minh; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân

Trong chiến lƣợc phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc, Đảng ta luôn đặt lợi ích của nhân dân làm nhiệm vụ hàng đầu. Văn kiện Đại hội XIII, Đảng đƣa ra quan điểm chỉ đạo: “Phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân” [40; tr.262]. Thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH phải gắn liền với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội; cải thiện bộ mặt nông thôn; lấy việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho ngƣời dân là đích đến cuối cùng trong quá trình xây dựng NTM.

Sau gần 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, với sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, sự chung sức, đồng lòng của toàn dân, nƣớc ta đã đạt đƣợc nhiều thành tựu to lớn, toàn diện trong cơ cấu lại nông nghiệp, xây dựng NTM, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và cải thiện đời sống của ngƣời dân, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội. Niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nƣớc ngày càng đƣợc nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc, nông nghiệp phát triển còn thiếu bền vững, tốc độ tăng trƣởng có xu hƣớng giảm, tổ chức sản xuất chủ yếu vẫn dựa vào nông hộ nhỏ, thiếu liên kết trong sản xuất kinh doanh, kinh tế tập thể, hợp tác xã chậm phát triển. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 khẳng định vị trí quan trọng của phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đƣa ra quan điểm: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lƣợc lâu dài trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở và lực lƣợng quan trọng để phát

134

triển nhanh, bền vững kinh tế- xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con ngƣời Việt Nam, bảo vệ môi trƣờng sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH, HĐH đất nƣớc. Nhà nƣớc tiếp tục ƣu tiên đầu tƣ cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Phát triển hài hòa giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền; gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp, giữa phát triển nông thôn bền vững với quá trình đô thị hóa theo hƣớng “nông nghiệp sinh thái; nông thôn hiện đại, nông dân văn minh””[41].

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH phải nhằm thực

hiện mục tiêu phát triển nông thôn, nâng cao đời sống vật chất cho ngƣời dân.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Khóa XIII đƣa

ra quan điểm: “ Xây dựng nông thôn hiện đại, phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ,

văn minh, có kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đồng bộ, kết nối với đô thị; đời sống

văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc; môi trƣờng xanh, sạch, đẹp; an ninh

chính trị, trật tự an toàn xã hội đƣợc bảo đảm. Quy hoạch phát triển kinh tế- xã

hội cần chú trọng phát triển đồng bộ cả nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ gắn

với cơ cấu lại lao động, tạo sinh kế, việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập cho

nông dân và ngƣời dân nông thôn. Xây dựng nông thôn mới đi vào chiều sâu,

hiệu quả, bền vững. Quản lý, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi

trƣờng, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững các hệ sinh thái. Chủ động

phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, nâng cao khả năng chống

chịu, bảo đảm an toàn cho ngƣời dân”[41]; đồng thời, “Phát triển nông nghiệp,

nông thôn phải hƣớng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và

ngƣời dân nông thôn, lấy lợi ích của ngƣời dân là mục tiêu cao nhất”[41]. Về

mặt bản chất chính là thực hiện hài hòa nhiệm vụ chính trị gắn với nhiệm vụ phát

triển kinh tế. Trong đó, thực hành DCCS là thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát

huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện công khai thông tin cho ngƣời dân,

tạo điều kiện cho ngƣời dân nắm đƣợc chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của

Đảng, Nhà nƣớc ta trong xây dựng NTM; thực hành dân chủ theo phƣơng châm

“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” gắn

với nội dung xây dựng NTM để hƣớng tới mục tiêu xây dựng phát triển nông

135

thôn mới theo hƣớng hiện đại. Bảo đảm ngƣời dân đƣợc công khai thông tin; đƣợc

tham gia, thảo luận, đóng góp ý kiến; đƣợc quyết định những nội dung trong xây

dựng NTM; nhân dân là chủ thể tham gia vào kiểm tra, giám sát quá trình xây

dựng NTM. Động viên, khích lệ nhân dân tham gia quá trình xây dựng NTM, đảm

bảo cho ngƣời dân vừa là chủ thể tham gia xây dựng NTM vừa là chủ thể thụ

hƣởng những thành quả xây dựng NTM. Cần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội

ở vùng ĐBSH. Nền kinh tế nông thôn phát triển càng cao, thì chính quyền càng

có nguồn lực để tăng cƣờng đầu tƣ phát triển kinh tế nông thôn; tạo điều kiện để

nâng cao mức sống của ngƣời dân. Khi ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng thành quả từ

xây dựng NTM, đời sống vật chất đƣợc nâng lên, sẽ tạo điều kiện cho ngƣời dân

nâng cao nhận thức về quyền và trách nhiệm khi tham gia xây dựng NTM; từ đó,

tạo niềm tin, sự ủng hộ của ngƣời dân vào Đảng, Nhà nƣớc; góp phần thực hiện

thắng lợi sự nghiệp xây dựng NTM ở vùng ĐBSH; tạo nên sự thành công trong

quá trình xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc.

Bên cạnh mục tiêu nâng cao đời sống vật chất cho ngƣời dân, thực hành

DCCS trong xây dựng NTM cần bảo đảm nâng cao đời sống tinh thần, an sinh

xã hội cho ngƣời dân vùng ĐBSH. Cần xây dựng các thiết chế văn hóa, các hoạt

động văn nghệ, thể thao, vui chơi, giải trí; bảo đảm ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng

những thành quả của quá trình xây dựng NTM về y tế, giáo dục, chăm sóc sức

khỏe, môi trƣờng, kết cấu hạ tầng văn hóa- xã hội; chú trọng bảo tồn, gìn giữ và

phát huy nét văn hóa đặc thù của từng địa phƣơng. Các cấp ủy, tổ chức đảng và

chính quyền cần có chính sách quan tâm, đầu tƣ để nâng cao mức hƣởng thụ văn

hóa cho ngƣời dân; động viên, khích lệ ngƣời dân tích cực tham gia các phong

trào văn hóa, văn nghệ. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội cần

phát huy vai trò đại diện cho quyền lợi của nhân dân; phát động nhân dân tham

gia phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới”; nâng cao ý

thức xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần của ngƣời dân. Bảo đảm đấu tranh,

ngăn chặn, lên án những hành vi vi phạm đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục,

xây dựng xã hội văn minh, dân chủ, tiến bộ.

ĐBSH là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của cả nƣớc, luôn đi

đầu trong công cuộc xây dựng NTM. Vì thế, Đảng, Nhà nƣớc ta đặc biệt quan tâm

đến mục tiêu phát triển nông thôn, lấy việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần

136

cho ngƣời dân là đích cuối cùng. Cần có cơ chế, chính sách phát triển kinh tế- xã

hội phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phƣơng trong vùng; bảo đảm phát

huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng NTM; tạo nên bầu không khí

phấn khởi, tin tƣởng, đoàn kết, đồng thuận trong nhân dân và trong toàn xã hội;

tạo thế và động lực cho sự phát triển NTM thành công, hiệu quả, bền vững.

4.2. Một số giải pháp chủ yếu tăng cƣờng thực hành dân chủ cơ sở

trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng

4.2.1. Đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, quản lý

nhà nước của chính quyền cơ sở trong việc thực hành dân chủ cơ sở trong

xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH những năm qua đã

đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng. Trong đó, phải kể đến vai trò lãnh đạo của

các cấp ủy đảng, sự quản lý nhà nƣớc của chính quyền cơ sở trong việc lãnh đạo,

chỉ đạo thực hiện, triển khai những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng,

Nhà nƣớc ta về thực hành DCCS và xây dựng NTM. Đây là một trong những

yếu tố quan trọng đầu tiên quyết định đến thành công và hạn chế của việc thực

hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Để phát huy có hiệu quả hơn

nữa việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM, hƣớng tới mục tiêu xây dựng

vùng trọng điểm hàng đầu của cả nƣớc trong xây dựng NTM; thực hiện mục tiêu

xây dựng NTM nâng cao, hiện đại cần tập trung thực hiện nhƣ sau:

Thứ nhất, đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối

với thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

Thực trạng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH đã

chứng minh vai trò, tầm quan trọng của các cấp ủy đảng trong việc lãnh đạo, chỉ

đạo triển khai thực hành DCCS trong xây dựng NTM. ĐBSH là vùng có mức độ

xây dựng NTM hiệu quả cao nhất cả nƣớc. Điển hình nhƣ ở tỉnh Nam Định, nhờ

thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Quy chế DCCS gắn

với thực hiện chƣơng trình mục tiêu xây dựng NTM đã đƣa Nam Định trở thành

một trong hai tỉnh đầu tiên về đích NTM của cả nƣớc. Nhƣ vậy, ở nơi nào thực

hiện tốt việc lãnh đạo, chỉ đạo triển khai Quy chế DCCS, phát huy quyền làm

chủ của nhân dân; từ đó, tạo động lực xây dựng thành công NTM, thúc đẩy kinh

tế- xã hội phát triển.

137

Hội nghị Trung ƣơng 5 Khóa XIII đã nhấn mạnh: “đổi mới nội dung,

phƣơng thức, phong cách lãnh đạo, lề lối làm việc, nâng cao tinh thần trách

nhiệm, năng lực của cấp ủy, bí thƣ cấp ủy cơ sở, bảo đảm vai trò hạt nhân và

lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở. Cấp ủy trực tiếp phải nắm tình hình và

phân công cấp ủy viên phụ trách, dự sinh hoạt với tổ chức đảng ở cơ sở. Lấy

hiệu quả hoạt động của tổ chức cơ sở đảng là một trong những căn cứ để đánh

giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy cấp trên trực tiếp và cấp ủy viên

đƣợc phân công phụ trách”[42]. Các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng cần tăng cƣờng

đổi mới phƣơng thức lãnh đạo, phát huy dân chủ trong đảng, nâng cao chất

lƣợng sinh hoạt trong cấp ủy, tổ chức đảng, chi bộ; xây dựng và triển khai ban

hành Nghị quyết thực hành DCCS về xây dựng NTM; tăng cƣờng công tác kiểm

tra, giám sát việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM; kịp thời khen thƣởng

và biểu dƣơng những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc; đồng thời, kiên

quyết xử lý những trƣờng hợp vi phạm việc thực hành DCCS, lợi dụng chức vụ

tham ô, tham nhũng trong xây dựng NTM ở khu vực ĐBSH.

Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng về vai trò lãnh đạo,

chỉ đạo trong triển khai thực hiện DCCS trong xây dựng NTM; thực hiện ban hành

những nội dung, chƣơng trình, kế hoạch trong triển khai thực hành DCCS trong xây

dựng NTM; lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục, tập huấn, bồi dƣỡng

kiến thức về thực hành DCCS trong xây dựng NTM; góp phần nâng cao nhận thức

về thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, Mặt trận

Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội trong việc tuyên truyền, vận động, nâng cao

ý thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân trong thực hành DCCS trong xây dựng

NTM ở vùng ĐBSH. Chú trọng công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong thực hành DCCS

nhằm khắc phục ảnh hƣởng của yếu tố cộng đồng làng xã, dòng tộc, độc đoán,

chuyên quyền làm mất đi tính dân chủ trong cộng đồng ở vùng ĐBSH. Coi trọng

đúng mức công tác đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp trên cơ sở

đổi mới nội dung và hình thức đào tạo nhằm nâng cao nhận thức về thực hành

DCCS trong xây dựng NTM; nâng cao trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ phục vụ

nhân dân; tôn trọng và bảo vệ lợi ích công; công bằng trong thực hiện nhiệm vụ;

phát huy dân chủ và công khai, minh bạch. Tăng cƣờng các hoạt động kiểm tra,

giám sát đối với hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, ngƣời đứng đầu;

138

đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hƣớng đánh giá đúng cán bộ và sử dụng

đúng cán bộ. Kiên quyết đƣa những ngƣời không đủ tiêu chuẩn ra khỏi Đảng, nhất

là đảng viên thoái hóa về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức lối sống, quan liêu, tham

nhũng, lãng phí, cố tình vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nƣớc.

Thứ hai, đổi mới, nâng cao vai trò quản lý nhà nước của chính quyền cơ

sở trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM

Để những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về thực

hành DCCS trong xây dựng NTM đƣợc đi vào thực tiễn; qua đó, khẳng định tính

đúng đắn của những chủ trƣơng, đƣờng lối, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà

nƣớc về thực hành DCCS trong xây dựng NTM thì không thể thiếu vai trò quản

lý nhà nƣớc của chính quyền cơ sở. Thông qua chính quyền cơ sở mà những chủ

trƣơng, đƣờng lối về thực hành DCCS trong xây dựng NTM đƣợc triển khai,

thực hiện. Vì vậy, chính quyền cơ sở cần phát huy vai trò trong việc tuyên truyền,

triển khai những văn bản, chỉ thị, lồng ghép linh hoạt vấn đề thực hành DCCS

trong xây dựng NTM; xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, cần đƣợc thực hiện

thƣờng xuyên, liên tục. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung

ƣơng Đảng Khóa XIII đề ra giải pháp nhấn mạnh: “Hoàn thiện các quy định về

thực hiện dân chủ ở cơ sở, sớm ban hành Luật Thực hiện dân chủ ở xã, phƣờng,

thị trấn để ngƣời dân tham gia thực chất trong xây dựng, triển khai thực hiện kế

hoạch, chƣơng trình, dự án phát triển kinh tế- xã hội tại địa phƣơng, bảo đảm

quyền làm chủ của ngƣời dân theo phƣơng châm “Dân biết, dân bàn, dân làm,

dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hƣởng”. Phát huy tinh thần đoàn kết, tƣơng

thân, tƣơng ái trong cộng đồng dân cƣ”[41].

Chính quyền cơ sở cần tăng cƣờng đổi mới nội dung, phƣơng thức lãnh

đạo, chỉ đạo việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM; xác định rõ trách

nhiệm ngƣời đứng đầu các tổ chức trong HTCT, và trách nhiệm của đội ngũ cán

bộ, công chức khi triển khai thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Hoàn thiện

cơ chế phối hợp thực hành dân chủ giữa các cơ quan, tổ chức hành chính, Mặt

trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội; gắn trách nhiệm của các cơ quan,

tổ chức trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Tiến hành đổi mới cơ quan

hành chính theo mô hình hành chính “mở”. Để thực hiện hành chính nhà nƣớc

“mở”, cơ quan hành chính nhà nƣớc cần thực hiện tốt việc công khai thông tin;

139

phát huy vai trò tƣ vấn, tôn trọng và bảo đảm sự tham gia của ngƣời dân; thực

hiện sự kết hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nƣớc với doanh nghiệp, các

đoàn thể xã hội trong quản lý thực hành DCCS trong xây dựng NTM; khắc phục

tình trạng độc quyền nhà nƣớc.

Đổi mới phƣơng thức triển khai chính sách xây dựng NTM theo

phƣơng thức lấy ngƣời dân làm trung tâm trong xây dựng NTM. Việc triển

khai chính sách xây dựng NTM lấy ngƣời dân làm trung tâm có nghĩa là, cơ

quan hành chính nhà nƣớc và đội ngũ cán bộ, công chức cần phải nghiêm túc

thực hiện thực hành DCCS, không đƣợc chạy theo thành tích, hình thức trong

xây dựng NTM; việc hoạch định kế hoạch, dự án, chính sách về xây dựng

NTM đều phải vì lợi ích của nhân dân; xây dựng NTM phải thật sự hƣớng đến

mục tiêu cốt lõi, hàng đầu đó là thực hiện tốt quyền và lợi ích hợp pháp của

ngƣời dân. Cần thực hiện tốt cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân

trong xây dựng NTM nhằm tạo đƣợc sự ủng hộ của ngƣời dân vùng ĐBSH

trong công tác dồn điền, đổi thửa; khắc phục tâm lý làng xã, sản xuất manh

mún, nhỏ lẻ của ngƣời dân trong vùng.

Chính quyền cơ sở tăng cƣờng đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền,

triển khai thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Thực hiện tốt việc công khai

thông tin trong tất cả các khâu của quá trình xây dựng NTM; bảo đảm ngƣời dân

đƣợc tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến và quyết định những vấn đề liên quan

đến công tác quy hoạch, dự án, vốn, quá trình thực hiện; kiểm tra, đánh giá kết quả

quá trình thực hiện xây dựng NTM; thực hiện sự phối hợp có hiệu quả giữa cơ

quan hành chính nhà nƣớc, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong xây dựng

NTM. Chính quyền cần bảo đảm cho ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng những thành quả

từ quá trình xây dựng NTM một cách công bằng, công khai, minh bạch.

Thực hiện tăng cƣờng cán bộ, công chức cho cơ sở; có đề án đƣa cán bộ,

công chức về công tác ở cấp xã. Sự nghiệp xây dựng NTM đang đặt ra yêu cầu

cấp bách đối với việc tăng cƣờng cán bộ, công chức cho vùng ĐBSH. Do xu

hƣớng đô thị hóa ngày một gia tăng, nguồn nhân lực có trình độ ở khu vực nông

thôn đang có xu hƣớng di chuyển ra đô thị làm việc; số lƣợng ngƣời có trình độ

làm việc ở khu vực nông thôn không nhiều. Do đó, cần có biện pháp bổ sung cán

bộ, công chức cho cấp xã, cấp thôn vùng ĐBSH. Tập trung xây dựng đội ngũ cán

140

bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực hoàn thành các nhiệm vụ quản lý Nhà

nƣớc theo chức danh và chế độ thực thi công vụ. Triệt để cải cách thủ tục hành

chính nhằm giảm bớt sự phiền hà đối với công dân, xử lý đúng đắn, nhanh gọn

những vấn đề có liên quan đến đời sống lợi ích của nhân dân trong xây dựng NTM.

Thực hiện tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm phát huy quyền

làm chủ của nhân dân trong tham gia xây dựng NTM; giải quyết tốt mối quan

hệ giữa thực hành DCCS gắn với thực hiện tăng cƣờng pháp chế, kỷ cƣơng xã

hội; xây dựng cơ chế chính sách bảo đảm “không có tham nhũng, không cần

tham nhũng”; nghiêm cấm, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật

về thực hành DCCS, những hành vi tham ô, tham nhũng trong xây dựng NTM.

Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng với

chính quyền cơ sở trong triển khai việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

Các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng đóng vai trò là hạt nhân trong lãnh đạo, chỉ đạo,

triển khai những chủ trƣơng, đƣờng lối; ban hành những văn bản, chỉ thị thực

hiện việc triển khai thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Chính quyền cơ sở

thực hiện tốt việc tuyên truyền, triển khai thực hiện những chủ trƣơng, đƣờng lối,

những văn bản, chỉ thị của các cấp ủy, tổ chức đảng. Cần xác định rõ vai trò,

nhiệm vụ đối với việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM tránh để xảy ra

tình trạng đùn đẩy trách nhiệm.

Thực tế chứng minh, ngƣời dân chỉ có thể thực sự phát huy quyền làm chủ

của mình trong xây dựng NTM khi có sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức

cơ sở đảng và sự quản lý nhà nƣớc của chính quyền cơ sở. Vì thế, trong quá trình

xây dựng NTM ở vùng ĐBSH luôn luôn phải bảo đảm nguyên tắc “Đảng lãnh

đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Qua đó, góp phần nâng cao chất

lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

4.2.2. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

nhằm nâng cao chất lượng thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông

thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội đóng vai trò là nòng cốt đại

diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân lao động; thực hiện công tác tuyên

truyền, vận động, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân tham gia thực hiện chủ

trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc về thực hành

141

DCCS trong xây dựng NTM. Thực hiện chức năng giám sát những nội dung công

khai cho dân đƣợc biết, dân đƣợc bàn; giám sát đội ngũ cán bộ, công chức, viên

chức; giám sát việc tổ chức giải quyết khiếu nại, tố cáo của ngƣời dân; đồng thời,

thực hiện có hiệu quả chức năng phản biện xã hội. ĐBSH cũng là vùng có tốc độ

xây dựng NTM cao nhất cả nƣớc, xây dựng NTM đang bƣớc sang giai đoạn cao

hơn, là vùng diễn ra quá trình CNH, HĐH mạnh mẽ; do đó, Mặt trận Tổ quốc và

các tổ chức chính trị- xã hội cần phải tăng cƣờng thực hiện chức năng giám sát đối

với những nội dung liên quan đến quy hoạch, đền bù, giải phóng mặt bằng để giải

quyết những khiếu nại, thắc mắc của ngƣời dân và tăng cƣờng năng lực phản biện

xã hội đối với những chủ trƣơng, chính sách về thực hiện DCCS và xây dựng NTM

ở vùng ĐBSH để bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng cho ngƣời dân vùng ĐSBH.

Thực tế cho thấy, tiếng nói của ngƣời dân đối với những cơ quan quản lý

Nhà nƣớc thƣờng có ảnh hƣởng yếu. Nếu thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ

chức chính trị- xã hội thì tiếng nói của ngƣời dân trở nên có hiệu quả hơn, đƣợc

chính quyền coi trọng hơn. Tuy nhiên, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ

chức chính trị- xã hội ở ĐBSH còn đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết nhƣ:

công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng NTM còn chƣa đạt

hiệu quả, việc giải quyết những khiếu nại, tố cáo của ngƣời dân còn chƣa kịp

thời, thỏa đáng; chƣa phát huy có hiệu quả chức năng giám sát và phản biện xã hội;

một số hoạt động phong trào trong xây dựng NTM còn chƣa thực sự hiệu quả. Vì

vậy, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội ở vùng ĐBSH cần phải phát

huy hơn nữa hiệu quả công tác hoạt động; tăng cƣờng các hoạt động với nhân dân

nhằm giáo dục và bồi dƣỡng kỹ năng thực hành dân chủ cho ngƣời dân; củng cố

niềm tin của ngƣời dân đối với chính quyền; tăng cƣờng đối thoại với nhân dân,

kịp thời giải quyết những khiếu nại, tố cáo của ngƣời dân. Đồng thời, tổ chức

tuyên truyền, giáo dục, triển khai thực hiện những chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng,

Nhà nƣớc cho đội ngũ cán bộ về thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Tạo môi

trƣờng thuận lợi cho việc thành lập các tổ chức chính trị xã hội, tích cực giúp đỡ

các hoạt động xã hội trong xây dựng NTM, coi các tổ chức chính trị- xã hội vừa là

“đối tƣợng”, vừa là “đối tác” trong quá trình hoạt động.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội cần thực hiện nhất quán

chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc; phát huy có hiệu quả quyền làm chủ

142

của nhân dân, bảo đảm quyền và lợi ích chính đang cho ngƣời dân, thực hiện

phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ

hƣởng”. Đổi mới nội dung, phƣơng thức nhằm phát huy có hiệu quả việc tập hợp,

vận động quần chúng nhân dân tham gia xây dựng NTM, nâng cao nhận thức

thực hành dân chủ cho ngƣời dân; khai thác các nguồn lực cho xây dựng NTM,

tập trung các nguồn lực xã hội hóa cho phát triển NTM; vận động nhân dân tham

gia hiến của, hiến công, đóng góp của cải và sức lực để chung sức tham gia xây

dựng NTM. Đồng thời, quan tâm đến việc “thụ hƣởng” những thành quả của quá

trình xây dựng NTM cho ngƣời dân một cách công bằng, xứng đáng; thành lập

“Quỹ vì ngƣời nghèo” để tạo nguồn kinh phí hỗ trợ ngƣời dân có hoàn cảnh khó

khăn, để ngƣời dân tin tƣởng vào chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc.

Kiến nghị với các cấp ủy, chính quyền cơ sở thực hiện tốt công tác dân vận, làm

cho ngƣời dân hiểu rõ ý nghĩa của quá trình tham gia xây dựng NTM; khơi dậy

lòng yêu nƣớc, khát vọng và có trách nhiệm xây dựng làng xóm, quê hƣơng giàu

đẹp. Từ đó, tích cực, tự nguyện tham gia đóng góp sức ngƣời, sức của xây dựng

NTM kiểu mới, NTM nâng cao; cũng nhƣ thực hiện quyền theo dõi, giám sát

chính quyền địa phƣơng khi tổ chức thực hiện chủ trƣơng của Đảng, và chính

sách, pháp luật của nhà nƣớc về xây dựng NTM.

Mặt trận Tổ quốc cần đổi mới, tăng cƣờng giáo dục cho các cán bộ làm

công tác Mặt trận nhằm nâng cao nhận thức thực hành DCCS trong xây dựng

NTM, bồi dƣỡng cán bộ, đoàn viên, hội viên trở thành lực lƣợng nòng cốt, đi đầu

trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở địa phƣơng các vùng ĐBSH. Tăng

cƣờng đổi mới, nâng cao chất lƣợng hoạt động của các chi hội, có cơ chế để phát

huy các tổ chức xã hội trong thể chế về xây dựng NTM; có cơ chế để phát huy vai

trò của các tổ chức chính trị- xã hội, thiết chế cộng đồng trong vận động nhân dân

tham gia thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Đẩy mạnh các cuộc vận động

“Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” qua đó củng cố

khối đại đoàn kết dân tộc. Để phong trào xây dựng NTM phát triển sâu rộng và

hiệu quả, Mặt trận Tổ quốc cần phối hợp với các tổ chức lồng ghép nội dung

tuyên truyền vào các phong trào nhƣ: “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh

giỏi” “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch”. Bên cạnh đó, cần coi trọng đổi mới về

nội dung, phƣơng thức hoạt động; khắc phục những biểu hiện “hành chính hóa”;

143

coi trọng việc thực hiện chức năng nêu sáng kiến chính sách, tƣ vấn giám định,

phản biện chính sách, giám sát và đánh giá hiệu quả việc thực hiện chính sách; coi

trọng việc phản ánh chính xác, nhanh chóng đầy đủ tâm tƣ, nguyện vọng của các

tầng lớp nhân dân đối với tổ chức Đảng, Nhà nƣớc.

Tăng cƣờng giám sát, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Thanh tra

nhân dân, Ban giám sát đầu tƣ của cộng đồng; làm rõ vai trò, trách nhiệm của

ngƣời đứng đầu mỗi tổ chức trong việc thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở

vùng ĐBSH. Thống nhất cơ chế quản lý, tổ chức; phát động các phong trào thi

đua, chung sức tham gia xây dựng NTM; góp phần vào thành công của xây dựng

NTM nâng cao ở vùng ĐBSH nói riêng và trong cả nƣớc nói chung; thắt chặt

mối quan hệ đoàn kết trong cộng đồng khu dân cƣ; củng cố niềm tin giữa ngƣời

dân với Đảng, chính quyền.

4.2.3. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức thực hành dân chủ cơ sở

trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng

Nội dung, phƣơng thức thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng

ĐBSH đóng vai trò quan trọng, là cốt lõi trong việc triển khai thực hành DCCS

trong xây dựng NTM; quyết định đến sự thành công của công cuộc xây dựng

NTM. Những thành tựu về xây dựng NTM ở ĐBSH thời gian qua đã chứng

minh tính đúng đắn, khoa học trong thực hiện nội dung, phƣơng thức thực hành

DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Để nâng cao chất lƣợng xây dựng

NTM, phát huy quyền làm chủ của nhân dân tiến tới công cuộc xây dựng NTM

nâng cao, nông thôn hiện đại ở vùng ĐBSH trong những giai đoạn tiếp theo cần

tập trung thực hiện đồng bộ những giải pháp đổi mới nội dung, phƣơng thức

nhƣ sau:

Thứ nhất, tăng cường công khai những nội dung thông tin, đa dạng hóa các

hình thức công khai thông tin trong quá trình xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

Thực hiện công khai thông tin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là yêu

cầu đảm bảo một trong những quyền cơ bản của ngƣời dân đó là quyền đƣợc

tiếp cận thông tin; là cơ sở để đảm bảo quyền tham gia của ngƣời dân trong

xây dựng NTM. Chính quyền và đội ngũ cán bộ, công chức phải nêu cao

hiệu quả thực hiện công khai, cần phải xem việc thực hiện công khai thông

tin là một trách nhiệm quan trọng; cần thực hiện nội dung công khai theo các

144

nội dung quy định gắn với tiêu chí xây dựng NTM. Trong đó, cần chú trọng

công khai thông tin liên quan đến kế hoạch, quy hoạch xây dựng nông thôn

mới; dự án nông thôn mới; thu- chi ngân sách, huy động vốn thực hiện cho

xây dựng NTM. Công khai kết quả bầu cử, kết quả giải quyết những khiếu

nại, tố cáo của ngƣời dân trong quá trình xây dựng NTM.

Chú trọng đổi mới những hình thức công khai nội dung thông tin xây dựng

NTM cho ngƣời dân ngoài những hình thức công khai mà đƣợc quy định trong

các văn bản pháp luật về Quy chế DCCS; coi trọng các hình thức công khai thông

tin qua hoạt động đối thoại giữa đại biểu dân cử, chính quyền với ngƣời dân; tăng

cƣờng thực hiện đối thoại với nhân dân; công khai thông tin qua việc gửi văn bản,

báo cáo đầy đủ, kịp thời cho Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị- xã hội; công

khai thông tin qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát và đầu tƣ

cộng đồng, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh… mở rộng phạm vi công khai nhằm

phát huy có hiệu quả hoạt động công khai cho ngƣời dân.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, thông tin truyền thông tác

động mạnh mẽ đến ngƣời dân vùng ĐBSH, cần tăng cƣờng ứng dụng công nghệ

thông tin trong thực hiện công khai thông tin trên các cổng thông tin điện tử của

chính quyền cấp xã, xây dựng chính quyền điện tử; công khai thông tin trên các

điểm công cộng có đông dân cƣ để giúp lan tỏa cho ngƣời dân tiếp cận một cách

tốt hơn, thuận lợi và hiệu quả hơn.

Thứ hai, tăng cường nội dung và hoạt động nêu sáng kiến, thảo luận, và

quyết định của người dân trong quá trình xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

Cần khẳng định rõ việc bảo đảm ngƣời dân tham gia thảo luận, đóng góp ý

kiến với tất cả những vấn đề có liên quan đến lợi ích của ngƣời dân trong xây dựng

NTM; thảo luận việc thu- chi đối với những nội dung trong xây dựng NTM…; chỉ

rõ nội dung, phạm vi và hình thức thực hiện quyền thảo luận của ngƣời dân trong

xây dựng NTM. Chính quyền có thể thông qua các hình thức thảo luận, đóng góp ý

kiến của ngƣời dân thông qua hội nghị tiếp dân; phát phiếu đến cử tri hoặc cử tri đại

diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; thực hiện việc thảo luận và nêu

ý kiến thông qua cổng thông tin điện tử của chính quyền xã.

Ngƣời dân vùng ĐBSH có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, hiểu đƣợc nét

đặc thù về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và đặc điểm về sản xuất nông nghiệp. Vì

145

thế, cần coi trọng việc phát huy tinh thần tích cực, chủ động của ngƣời dân trong

việc nêu sáng kiến. Bởi, trong xây dựng NTM, ngƣời dân là ngƣời trực tiếp tham

gia các hoạt động phát triển nông nghiệp, nông thôn; là ngƣời có kinh nghiệm trong

lao động sản xuất, am hiểu những điều kiện, đặc điểm tình hình của địa phƣơng; họ

nằm trong quần chúng nhân dân; cho nên, sáng kiến của ngƣời dân là rất cần thiết;

góp phần vào thành công của công cuộc xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Bên cạnh

đó, ngƣời dân vùng ĐBSH hiện nay có tri thức, họ là những nông dân mới có học

thức, có trí tuệ, không còn là hình mẫu lão nông tri điền sống bằng kinh nghiệm. Vì

thế, cần có cơ chế, chính sách để động viên, khuyến khích ngƣời dân tham gia nêu

sáng kiến; cần cho ngƣời dân nắm đƣợc những kênh thông tin để có thể thực hiện

quyền nêu sáng kiến. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội cần thực

hiện tốt vai trò đại diện cho tiếng nói của nhân dân trong việc đƣa ra những sáng

kiến của nhân dân một cách đầy đủ, trung thành với ý nguyện của ngƣời dân, đối

với tổ chức đảng và chính quyền trong xây dựng NTM.

Chính quyền cơ sở cần tôn trọng và bảo đảm quyền “quyết định” của

ngƣời dân đối với những vấn đề quan trọng trong quá trình xây dựng NTM.

Tạo điều kiện cho nhân dân có quyền quyết định những nội dung trong xây

dựng NTM; cần xác định rõ hơn phạm vi và nội dung thực hiện quyền quyết

định của ngƣời dân. Cần coi trọng việc trao quyền đủ mức cho cấp dƣới, không

can thiệp một cách không đáng có đối với các hoạt động của cấp dƣới và tự

quản của ngƣời dân; chú trọng việc đảm bảo quyền quyết định của ngƣời dân

đối với các dự án xây dựng NTM; quyết định các vấn đề liên quan đến quy

hoạch, đền bù, giải phóng mặt bằng; mức đóng góp để thực hiện các dự án xây

dựng NTM.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả giám sát và đa dạng hóa các hình thức giám

sát của người dân trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

Vai trò giám sát của ngƣời dân trong xây dựng NTM đóng vai trò quan

trọng quyết định thành công công cuộc xây dựng NTM; thông qua giám sát, ngƣời

dân có thể nắm đƣợc chất lƣợng xây dựng NTM, giám sát việc thực hiện của

chính quyền trong xây dựng NTM có diễn ra đúng theo nhƣ kế hoạch, phát hiện

đƣợc những sai phạm để kịp thời kiến nghị, xử lý. Trong xây dựng NTM, ngƣời

dân có thể thực hiện quyền giám sát qua thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; thực

146

hiện quyền giám sát thông qua Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tƣ

của cộng đồng; thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội. Cần

tăng cƣờng nhận thức cho ngƣời dân hiểu rõ đƣợc quyền giám sát của mình theo

quy định; hiểu rõ nội dung và phạm vi thực hiện quyền giám sát trong xây dựng

NTM. Chính quyền cơ sở, đội ngũ cán bộ, công chức cần phải có trách nhiệm giải

đáp kịp thời những ý kiến thắc mắc, kiến nghị và phản ánh của ngƣời dân; thực

hiện tốt trách nhiệm tiếp công dân, có thái độ phục vụ nhân dân tận tuỵ, tránh gây

phiền hà, khó khăn cho ngƣời dân.

Tăng cƣờng công tác tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

cho cán bộ, thành viên thuộc Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tƣ của

cộng đồng. Bảo đảm kinh phí cho hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban

Giám sát đầu tƣ của cộng đồng hoạt động có hiệu quả.

Cần đa dạng hóa các hình thức để ngƣời dân thực hiện quyền khiếu nại, tố

cáo. Ngoài việc gửi đơn thƣ, khiếu nại, tố cáo, phản ánh trực tiếp, ngƣời dân cần

thực hiện qua các hình thức khiếu nại, tố cáo thông qua “hòm thƣ điện tử”,

“đƣờng dây nóng” để thực hiện quyền giám sát; phát huy vai trò của các tổ chức

chính trị- xã hội; thƣờng xuyên tổ chức Hội nghị đối thoại trực tiếp với dân có sự

tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các Tổ chức chính trị- xã hội, Ban Thanh tra

nhân dân, Ban Giám sát và đầu tƣ của cộng đồng.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả thụ hưởng của người dân trong quá trình xây

dựng NTM ở vùng ĐBSH

Mục tiêu cuối cùng của xây dựng NTM là hƣớng đến lợi ích của nhân

dân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân; ngƣời dân đƣợc thụ

hƣởng những thành quả từ việc xây dựng NTM. Về mặt lý luận, ngƣời dân

đƣợc thụ hƣởng những thành quả từ việc thực thi có hiệu quả cơ chế, chính

sách, chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc; những chỉ thị, văn bản hƣớng

dẫn triển khai thực hiện NTM ở vùng ĐBSH. Về mặt thực tiễn, ngƣời dân đƣợc

thụ hƣởng toàn bộ những thành quả cơ sở vật chất, kinh tế, văn hóa, xã hội từ

việc xây dựng NTM. Do đó, để nâng cao hiệu quả thụ hƣởng của ngƣời dân

trong quá trình xây dựng NTM cần tập trung thực hiện những giải pháp:

Tăng cƣờng điều chỉnh, bổ sung cơ chế, chính sách trong xây dựng NTM;

đặc biệt quan tâm, chú trọng đến lợi ích của ngƣời dân, mọi cơ chế, chính sách

147

xây dựng đều dựa trên nguyên tắc “phục vụ nhân dân, vì nhân dân”. Căn cứ vào

đặc thù của từng vùng, từng địa phƣơng mà chính quyền cần đƣa ra cơ chế, chính

sách cho phù hợp dựa trên những quy định về thực hành DCCS gắn với chƣơng

trình mục tiêu quốc gia giai đoạn mới 2021- 2205.

Nâng cao chất lƣợng xây dựng NTM, tập trung xây dựng và phát triển

những cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế- xã hội; phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội;

chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần cho ngƣời dân; quan tâm phát triển giáo

dục, chăm sóc y tế, bồi dƣỡng đời sống văn hóa tinh thần cho ngƣời dân. Bảo

đảm cho ngƣời dân đƣợc thụ hƣởng những thành quả từ xây dựng NTM; tránh

hiện tƣợng quyền lợi chỉ tập trung vào một số ít ngƣời; tham ô, tham nhũng

quyền lợi kinh tế của ngƣời dân.

Tăng cƣờng đánh giá mức độ thụ hƣởng của ngƣời dân thông qua các hình

thức lắng nghe ý kiến của ngƣời dân trong các Hội nghị, đối thoại, qua thƣ viện

điện tử, hòm thƣ góp ý; thông qua những tổ chức đại diện cho quyền lợi, tiếng nói

của ngƣời dân: Mặt trận Tổ quốc, Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tƣ

của cộng đồng, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân…

Thực hiện tốt quyền “thụ hƣởng” của ngƣời dân là hƣớng tới đích cuối

cùng của quá trình xây dựng NTM. Bảo đảm cho quyền làm chủ của ngƣời dân

đƣợc thực hiện trên thực tế, đề cao trực tiếp quyền làm chủ của nhân dân, nhân

dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời nhân dân thấy đƣợc mục

đích, động lực thực sự, cuối cùng của chủ trƣơng, chính sách, pháp luật mà Đảng,

Nhà nƣớc đề ra và tổ chức thực hiện đều vì con ngƣời, vì nhân dân; từ đó, lan tỏa

giá trị tiến bộ, nhân văn, phẩm giá con ngƣời, bản chất chất của chế độ xã hội.

Thứ năm, giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống gắn với

việc gạt bỏ những yếu tố tiêu cực, lạc hậu ở vùng ĐBSH trong thực hành DCCS

trong xây dựng NTM.

Hệ giá trị văn hóa truyền thống góp phần khơi dậy nhân cách ngƣời nông

dân, là màng lọc để điều chỉnh hành vi ứng xử của mỗi ngƣời trƣớc tác động của

cơ chế thị trƣờng và những biến đổi xã hội. Thực hành DCCS trong xây dựng

NTM ở vùng ĐBSH cần phải gìn giữ, phát huy những giá trị tốt đẹp, những

chuẩn mực trong gia đình, dòng họ, cộng đồng: đạo lý uống nƣớc nhớ nguồn,

hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, tình làng, nghĩa xóm, phát huy tinh thần đoàn kết.

148

Phát động thực hiện những phong trào: “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống

văn hóa”, phong trào “cả nƣớc chung sức xây dựng nông thôn mới”; nhân rộng

những mô hình “ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền”, “gia đình khuyến học”,

“dòng họ khuyến học”.

Bên cạnh đó, cũng cần phải biết gạt bỏ những yếu tố tiêu cực, lạc hậu

không còn phù hợp gây ảnh hƣởng đến chất lƣợng thực hành DCCS trong xây

dựng NTM ở vùng ĐBSH. Tâm lý tiểu nông, bình quân chủ nghĩa, tính cục bộ

làng xã, thói làm ăn tuỳ tiện, manh mún, nhỏ lẻ … vẫn đang ảnh hƣởng đến quá

trình xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Hơn nữa, bối cảnh mới trong phát triển

nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang làm nảy sinh những giá trị mới và cả

những phản giá trị. Do đó, cần phải có sự định hƣớng, giữ gìn và phát huy những

giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp gắn liền với việc gạt bỏ những cái lạc hậu,

lỗi thời và tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ, hình thành nên những giá trị

văn hóa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

4.2.4. Nâng cao ý thức tự giác, học tập, rèn luyện phẩm chất và năng

lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hành dân chủ cơ sở trong xây

dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng

Thực trạng vấn đề thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

đã chứng minh vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong thực hiện

Quy chế DCCS và xây dựng NTM. Theo đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công

chức là một trong những điều kiện quyết định chất lƣợng thực hành DCCS trong

xây dựng NTM, là đội ngũ luôn đi đầu trong triển khai thực hiện những chủ

trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về thực hành DCCS và xây

dựng NTM.

Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức luôn phát huy

tinh thần tự giác, gƣơng mẫu, trách nhiệm, đi đầu trong thực hiện những chủ trƣơng,

đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc trong thực hiện Quy chế DCCS, tuân thủ

pháp luật trong thực hiện DCCS, luôn trọng dân, gần dân, tạo điều kiện giúp đỡ

nhân dân tham gia thực hành dân chủ; luôn phát huy tinh thần trách nhiệm, tuyên

truyền, giáo dục ý thức cho ngƣời dân về thực hiện Chƣơng trình mục tiêu quốc gia

về xây dựng NTM. Bên cạnh kết quả đạt đƣợc, một bộ phận ngũ cán bộ, đảng viên,

công chức cũng biểu hiện một số tồn tại, hạn chế gây ảnh hƣởng đến chất lƣợng

149

thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Để khắc phục những tồn tại,

hạn chế trong một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong thực hành

DCCS trong xây dựng NTM cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc

và các tổ chức chính trị- xã hội cần chú trọng công tác tuyên truyền nâng cao

nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức về thực hành DCCS trong

xây dựng NTM.

Các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ

chức chính trị- xã hội cần tăng cƣờng công tác tuyên truyền, giáo dục cho đội ngũ

cán bộ, đảng viên, công chức về chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà

nƣớc về thực hiện DCCS và Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai

đoạn 2010- 2020 và 2021- 2025; thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho đội ngũ cán

bộ, đảng viên, công chức nhận thức rõ việc thực hiện và phát huy quyền làm chủ

của nhân dân trong xây dựng NTM gắn với thực hiện phƣơng châm “Dân biết, dân

bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hƣởng”. Theo đó, đội ngũ cán bộ,

đảng viên, công chức cần nắm rõ chủ trƣơng, quy định, về DCCS, quyền, trách

nhiệm và nghĩa vụ trong thực hiện DCCS; đồng thời, nắm đƣợc những kế hoạch,

chƣơng trình, nhiệm vụ xây dựng NTM để triển khai thực hành DCCS trong xây

dựng NTM. Bên cạnh đó, cần tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, bản lĩnh

chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức nhằm củng cố lập trƣờng tƣ

tƣởng, đạo đức, lối sống tránh những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi

phạm dân chủ và các sai phạm trong quá trình thực hiện xây dựng NTM.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên vùng ĐBSH cần nhận thức rõ tầm quan trọng

của thực hành DCCS, luôn gƣơng mẫu, đi đầu trong thực hiện dân chủ; tránh

trƣờng hợp cán bộ sợ dân, né tránh dân, không giải đáp những thắc mắc của ngƣời

dân. Đồng thời, phát huy sự sáng tạo của bản thân trong thực hiện DCCS, biết vận

dụng yếu tố tinh thần đoàn kết của ngƣời dân vùng ĐBSH để huy động sức mạnh

tập thể, động viên nhân dân, lắng nghe dân, lãnh đạo dân thực hiện dân chủ trong

xây dựng NTM. Các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở cần sử dụng linh

hoạt, đa dạng các hình thức và phƣơng pháp tuyên truyền nhằm nâng cao hiệu

quả tuyên truyền cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong thực hành

DCCS trong xây dựng NTM. Cần chú trọng sử dụng kết hợp các phƣơng pháp

150

tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, công chức; tổ

chức các lớp tập huấn, bồi dƣỡng, các buổi sinh hoạt chuyên đề; các cuộc thi tìm

hiểu Pháp luật về DCCS, các phong trào thi đua xây dựng NTM. Bên cạnh đó,

cần chú trọng sử dụng kết hợp các hình thức tuyên truyền thông qua đài truyền

thanh, các phƣơng tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội, cổng thông tin điện

tử nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục cho đội ngũ cán bộ, đảng viên,

công chức nhận thức sâu sắc đƣợc tầm quan trọng, ý nghĩa của thực hành DCCS

trong xây dựng NTM.

Thứ hai, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc

và các tổ chức chính trị- xã hội cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng

cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức về

thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

Mặt trái của kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN, quá trình CNH, HĐH

đã tác động không nhỏ đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng

ĐBSH. Các cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã

hội cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao trình độ chuyên môn,

nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong thực hành dân chủ

trong xây dựng NTM; bảo đảm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức đƣợc

trang bị vững chắc kiến thức về thực hành DCCS, kinh nghiệm, kiến thức, kỹ

năng trong xây dựng NTM góp phần triển khai thực hiện có hiệu quả thực hành

DCCS trong xây dựng NTM. Tăng cƣờng mở rộng các lớp tập huấn, lớp bồi

dƣỡng; chú trọng thực hiện phƣơng pháp trao đổi kinh nghiệm thực hành DCCS,

kinh nghiệm xây dựng NTM góp phần nâng cao chất lƣợng thực hành DCCS

trong xây dựng NTM. Đội ngũ cán bộ, đảng viên vùng ĐBSH cần tăng cƣờng

học tập, giao lƣu học hỏi, trao đổi kinh nghiệm của các vùng khác về thực hành

DCCS trong xây dựng NTM; giữ gìn bản sắc dân tộc không làm phá vỡ cảnh

quan của vùng ĐBSH. Đồng thời, cán bộ, đảng viên phải gƣơng mẫu, đi đầu kêu

gọi doanh nghiệp, các nhà đầu tƣ vào lĩnh vực xây dựng NTM ở vùng ĐBSH;

thƣờng xuyên tổ chức hội họp, trao đổi ý kiến với quần chúng nhân dân, lãnh

đạo, định hƣớng cho quần chúng nhân dân thực hiện dân chủ trong xây dựng

NTM; đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có tâm và có tầm, tránh trƣờng hợp cán bộ

theo đuôi quần chúng.

151

Các cấp ủy, tổ chức Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã

hội cần có những chủ trƣơng, cơ chế, chính sách tạo điều kiện, hỗ trợ cho cán bộ,

đảng viên, công chức tham gia đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;

đặc biệt là chính sách hỗ trợ kinh phí cho cán bộ tham gia đào tạo, bồi dƣỡng để

đội ngũ cán bộ tham gia đào tạo có thể yên tâm học tập nâng cao trình độ, kiến

thức, kỹ năng về thực hành DCCS, xây dựng NTM. Đồng thời, cũng cần có

những quy định đối với cán bộ tham gia đào tạo, bồi dƣỡng; khen thƣởng đối với

những cá nhân có thành tích xuất sắc trong học tập và kịp thời nhắc nhở đối với

những cá nhân không chấp hành nội quy, quy định học tập, bồi dƣỡng. Qua đó,

nhằm phát huy tinh thần tích cực, tự giác của cán bộ, đảng viên, công chức tham

gia học tập, bồi dƣỡng nâng cao trình độ; góp phần tạo ra một đội ngũ có trình

độ, chuyên môn trong thực hành DCCS và công tác xây dựng NTM.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội cũng cần quan tâm chú

trọng đào tạo, bổ sung đội ngũ có kinh nghiệm, kỹ năng trong công tác Mặt trận

cũng nhƣ trong các tổ chức đoàn thể xã hội nhằm củng cố đội ngũ cán bộ có

trình độ, chuyên môn, kinh nghiệm trong tuyên truyền những chủ trƣơng, đƣờng

lối đến cho ngƣời dân. Bởi, hiện nay ĐBSH nói riêng và cả nƣớc nói chung đang

thiếu hụt đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong công tác

Mặt trận cũng nhƣ trong các tổ chức đoàn thể xã hội; làm ảnh hƣởng đến hiệu

quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội. Chính vì

vậy, cần tăng cƣờng các biện pháp nhằm củng cố trình độ lý luận chính trị cũng

nhƣ chuyên môn, nghiệp vụ; có cơ chế chính sách, hỗ trợ kinh phí đối với cán bộ

tham gia công tác Mặt trận và các tổ chức đoàn thể xã hội trong thực hành DCCS

và xây dựng NTM.

Có thể nói, việc nâng cao trình độ nhận thức, chuyên môn, nghiệp vụ cho

đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong thực hành DCCS trong xây dựng

NTM là điều kiện cần thiết, nhằm tạo nên một đội ngũ cán bộ, đảng viên, công

chức có trình độ nhận thức, chuyên môn, nghiệp vụ về thực hành DCCS và xây

dựng NTM; luôn đi đầu trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực

hiện chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về thực hành DCCS

và xây dựng NTM; góp phần nâng cao chất lƣợng thực hành DCCS trong xây

dựng NTM ở vùng ĐBSH.

152

4.2.5. Nâng cao trình độ dân trí, bồi dưỡng tinh thần, phát huy vai trò

chủ thể của nhân dân, tăng cường các điều kiện bảo đảm thực hành dân chủ

cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng

Trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn nhấn mạnh

vai trò vị trí trung tâm của nhân dân, nhân dân là chủ thể của quá trình xây dựng và

phát triển đất nƣớc; Nhà nƣớc ta là Nhà nƣớc “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân

dân”. Thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở ĐBSH có ý nghĩa to lớn về mặt lý

luận và thực tiễn, khẳng định vai trò chủ thể của nhân dân, là điều kiện để nâng cao

chất lƣợng xây dựng NTM. Về mặt lý luận, thực hành dân chủ là mục tiêu và động

lực của sự phát triển xã hội, phát triển nông thôn và xây dựng NTM. Thực hành

DCCS, phát huy quyền làm chủ, vai trò chủ thể của nhân dân trong quá trình xây

dựng NTM góp phần khẳng định quyền dân chủ của ngƣời dân, phát triển năng lực

cá nhân của ngƣời dân, bảo đảm ổn định và sự đồng thuận xã hội, xây dựng HTCT

trong sạch, vững mạnh. Về mặt thực tiễn, thực hành dân chủ, phát huy quyền làm

chủ, vai trò chủ thể của nhân dân trong xây dựng NTM là một nhân tố quan trọng

bảo đảm sự thành công của xây dựng NTM và tính bền vững của xây dựng NTM ở

vùng ĐBSH.

Trong quá trình xây dựng NTM ở vùng ĐBSH, các cấp ủy, tổ chức cơ sở

đảng, chính quyền ở các tỉnh, địa phƣơng đều chú trọng công tác tuyên truyền,

giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho ngƣời dân về thực hành DCCS trong xây

dựng NTM; ngƣời dân cơ bản đã nhận thức rõ đƣợc quyền, nghĩa vụ làm chủ

trong xây dựng NTM; thực hiện quyền làm chủ đi đôi với việc thực hiện nghĩa

vụ pháp chế, kỷ cƣơng xã hội. Tuy nhiên, trong công tác tuyên truyền, giáo dục

ý thức cho ngƣời dân về quyền và nghĩa vụ làm chủ ở ĐBSH trong xây dựng

NTM vẫn còn tồn tại một số hạn chế điển hình nhƣ: ngƣời dân chƣa nhận thức đƣợc

rõ quyền, nghĩa vụ trong xây dựng NTM, chƣa phát huy đƣợc tính chủ động còn ỷ

lại, trông chờ vào Nhà nƣớc, các tổ chức chính trị- xã hội; một số địa phƣơng ngƣời

dân chƣa hiểu rõ đƣợc hết chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về xây dựng

NTM dẫn đến thái độ thờ ơ của ngƣời dân trong thực hiện xây dựng NTM gây ảnh

hƣởng đến chất lƣợng xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Do đó, các cấp ủy, tổ chức cơ

sở đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội cần phải

nâng cao trình độ dân trí, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, tăng cƣờng các

153

điều kiện bảo đảm nhằm nâng cao chất lƣợng thực hành DCCS góp phần đem lại

thành công trong công cuộc xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Nghị quyết Hội nghị

lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Khóa XIII đƣa ra giải pháp thực

hiện: “Đào tạo, nâng cao trình độ, năng lực làm chủ của nông dân và ngƣời dân

nông thôn là nhiệm vụ ƣu tiên, xuyên suốt quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông

thôn. Tăng cƣờng giáo dục, đào tạo, truyền thông nâng cao nhận thức, trình độ theo

hƣớng “trí thức hóa nông dân” để có thể làm chủ công nghệ trong sản xuất, chế biến

thƣơng mại và làm giàu từ nông nghiệp”[41].

Thứ nhất, nâng cao trình độ dân trí, bồi dưỡng tinh thần và ý thức; phát huy

vai trò chủ thể của nhân dân trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM

Các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, chính quyền cơ sở, các tổ chức chính trị-

xã hội cần tập trung huy động các nguồn lực bao gồm: cán bộ, công chức, viên

chức, trƣởng thôn, lựa chọn những ngƣời có uy tín, trình độ, năng lực tham gia

tuyên truyền, giáo dục nâng cao trình độ dân trí, ý thức cho ngƣời dân về phát

huy quyền làm chủ trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Nhận thức, ý thức về

vai trò chủ thể của nhân dân là một trong những điều kiện để nâng cao hiệu quả

thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

Vai trò chủ thể của nhân dân trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM

đƣợc thể hiện: ngƣời dân có quyền đƣợc biết, đƣợc công khai quyền và nghĩa vụ

của mình theo quy định của pháp luật, đƣợc công khai những nội dung về dự án

quy hoạch và và thực hiện quy hoạch; đƣợc tham gia thảo luận và quyết định các

vấn đề, nội dung trong xây dựng NTM; tham gia kiểm tra, giám sát quá trình thực

hiện và kết quả xây dựng NTM và đƣợc “thụ hƣởng” những thành quả từ xây

dựng NTM. Bên cạnh đó, ngƣời dân có ý thức tham gia những công việc liên quan

trong quá trình xây dựng NTM; có ý thức đề cao, tôn trọng và bảo vệ lợi ích của

cộng đồng; có tinh thần dũng cảm để đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật;

biết sử dụng các phƣơng thức để giải quyết những xung đột một cách hiệu quả.

Nhận thức của ngƣời dân là một trong những điều kiện bảo đảm cho việc thực

hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện xây dựng NTM. Do

đó, cần tập trung vào những giải pháp nhằm nâng cao trình độ dân trí, bồi dƣỡng

tinh thần, ý thức về vai trò chủ thể của ngƣời dân nhƣ sau:

154

Một là, cần tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho ngƣời dân ở

vùng ĐBSH về quyền và nghĩa vụ thực hành DCCS. Đặc điểm của ngƣời dân

vùng ĐBSH ảnh hƣởng bởi tâm lý làng xã, cố kết cộng đồng, dòng tộc; trong sản

xuất nông nghiệp đậm tính chủ nghĩa kinh nghiệm đặc thù, ngại thay đổi tƣ duy,

ngại tiếp nhận cái mới dẫn đến việc tiếp nhận những chủ trƣơng của Đảng, Nhà

nƣớc về thực hành DCCS và xây dựng NTM kém hiệu quả. Vì thế, cần tuyên

truyền, giáo dục ý thức cho ngƣời dân hiểu rõ bản chất về thực hành DCCS theo

phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ

hƣởng”. Tuyên truyền, phổ biến cho ngƣời dân nắm đƣợc chủ trƣơng, đƣờng lối,

chính sách của Đảng, Nhà nƣớc ta về Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng

NTM, bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM; giáo dục nâng cao nhận thức cho

ngƣời dân vùng ĐBSH về thực hành dân chủ và xây dựng NTM giúp ngƣời dân

dần thay đổi tƣ duy, nhận thức, hành động về thực hành DCCS. Từ đó, ngƣời dân

hiểu rõ đƣợc ý nghĩa của việc xây dựng NTM đối với đời sống của ngƣời dân ở

vùng ĐBSH nói riêng và với sự phát triển kinh tế- xã hội cả nƣớc nói chung.

Hai là, tăng cƣờng giáo dục nâng cao trình độ nhận thức cho ngƣời dân,

đề cao trách nhiệm công dân trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở

vùng ĐBSH. Vận động ngƣời dân phát huy tinh thần trách nhiệm đối với việc

thực hiện những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc về thực

hành DCCS và xây dựng NTM làm cho ngƣời dân thay đổi thói quen tâm lý sản

xuất nhỏ, tiểu nông truyền thống, ủng hộ chủ trƣơng dồn điền đổi thửa để phục

vụ sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện ứng dụng KHCN vào nông nghiệp để tạo

ra những sản phẩm năng suất, chất lƣợng tốt góp phần thực hiện thắng lợi xây

dựng NTM ở vùng ĐBSH. Đồng thời, phát huy vai trò của các thiết chế trong

việc nâng cao trình độ văn hóa, nhận thức cho ngƣời dân; coi trọng thiết chế làng

xã ở vùng ĐBSH. Coi trọng việc thực hiện dân chủ hóa trong các hoạt động của

các thiết chế, các tổ chức chính trị- xã hội, góp phần hình thành nhân cách độc

lập, có tƣ duy phê phán và tinh thần trách nhiệm ở mỗi công dân. Qua đó, ngƣời

dân nâng cao nhận thức về thực hành DCCS trong xây dựng NTM, tiếp thu

những cái mới nhằm xây dựng quê hƣơng giàu đẹp, văn minh, giàu bản sắc,

mang đậm nét văn hóa truyền thống, thấm đẫm hồn quê vùng ĐBSH.

155

Ba là, cần coi trọng vai trò, chức năng của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức

chính trị- xã hội trong việc bồi dƣỡng, nâng cao ý thức cho ngƣời dân; cần làm

cho Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội trở thành địa chỉ tin cậy

trong việc giáo dục, nâng cao nhận thức về vai trò chủ thể của nhân dân trong

thực hành DCCS và trong xây dựng NTM; coi trọng giáo dục “quyền, nghĩa vụ

và trách nhiệm” của ngƣời dân.

Bốn là, đề cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc bồi dƣỡng,

nâng cao nhận thức cho ngƣời dân về vai trò chủ thể. Trong đó, phƣơng thức quan

trọng nhất đó là kiên trì, hƣớng dẫn cho ngƣời dân tích cực tham gia vào những

công việc chung trong xây dựng NTM. Thông qua đó, ngƣời dân mới thấy đƣợc

giá trị của bản thân; đồng thời, từng bƣớc nâng cao nhận thức về vai trò chủ thể

trong xây dựng NTM, từng bƣớc học đƣợc những kỹ năng và phƣơng pháp thực

hành DCCS. Vì thế, chính quyền và đội ngũ cán bộ công chức, viên chức cần thực

hiện tốt nội dung công khai nội dung thông tin về xây dựng NTM để bảo đảm

“quyền đƣợc biết” của ngƣời dân; tôn trọng và bảo đảm quyền tham gia của ngƣời

dân. Đội ngũ cán bộ, công chức cần phải nêu gƣơng về dân chủ và thực hành

DCCS, có quan niệm đúng đắn và tuân thủ đúng trình tự trong thực thi công vụ và

trong tiếp xúc, làm việc với nhân dân.

Năm là, cần tăng cƣờng đổi mới, quy định các hình thức nhằm nâng cao

vai trò chủ thể của ngƣời dân trong tham gia thực hành DCCS trong xây dựng

NTM. Cần tổ chức họp dân, thông qua các Hội nghị của thôn, xóm để có

những hình thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức cho ngƣời dân; tổ

chức các cuộc thi tìm hiểu về Quy chế DCCS; tăng cƣờng các hoạt động phổ

biến, tuyên truyền Pháp lệnh DCCS trong xây dựng NTM qua các Đài Truyền

thanh, Truyền hình cấp xã; thực hiện giáo dục, công khai, tuyên truyền trên cổng

thông tin điện tử của chính quyền và trên các phƣơng tiện truyền thông đại chúng

khác. Thực hiện thăm dò ý kiến của ngƣời dân qua hộp thƣ điện tử, bảng hỏi,

mạng internet; chủ động tham vấn ý kiến của ngƣời dân, thực hiện trƣng cầu dân ý

về những nội dung liên quan đến xây dựng NTM; ngƣời dân nêu sáng kiến, ý kiến,

kiến nghị, phản biện và đánh giá qua cổng thông tin điện tử của chính quyền, hòm

thƣ góp ý; thực hiện chức năng tƣ vấn thông qua các thiết chế và ngƣời đại diện.

Cần triển khai những văn bản, hƣớng dẫn ngƣời dân thực hiện dân chủ trong xây

156

dựng NTM ở vùng ĐBSH; lấy mức độ thực hành dân chủ của ngƣời dân trong quá

trình xây dựng NTM làm một trong các tiêu chí để đánh giá kết quả xây dựng

NTM ở vùng ĐBSH.

Thứ hai, tiếp tục tăng cường các điều kiện bảo đảm nhằm nâng cao chất

lượng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

Các điều kiện bảo đảm cho thực hành DCCS trong xây dựng NTM đƣợc

thực hiện đó là: sự hoạt động có hiệu quả của bộ máy chính quyền cơ sở bao gồm

cấp ủy đảng, tổ chức cơ sở đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội

trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách

của Đảng, Nhà nƣớc về thực hành DCCS trong xây dựng NTM; phẩm chất, năng

lực trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình làm việc, tiếp xúc với

ngƣời dân; trình độ dân trí của ngƣời dân trong việc nhận thức về vấn đề thực

hành DCCS trong xây dựng NTM; hệ thống các văn bản, quy định pháp luật bảo

đảm tính pháp lý trong quá trình thực hành DCCS trong xây dựng NTM; sự phát

triển của công nghệ thông tin và các phƣơng tiện truyền thông đại chúng. Thực

hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH trong những năm qua đã đạt

đƣợc nhiều kết quả đáng kể, là vùng đứng đầu cả nƣớc về chất lƣợng xây dựng

NTM. Có đƣợc thành tựu nhƣ vậy là nhờ thực hiện tốt việc huy động các nguồn

lực, điều kiện nhằm nâng cao chất lƣợng thực hành DCCS và xây dựng NTM.

Tuy nhiên, việc phát huy các điều kiện đối với thực hành DCCS trong xây dựng

NTM vẫn còn tồn tại một số hạn chế, chƣa phát huy đƣợc tối đa hiệu quả để nâng

cao chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Vì thế, cần

tập trung thực hiện những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các

điều kiện bảo đảm dẫn tới thành công của xây dựng NTM.

Một là, tập trung phát huy có hiệu quả các điều kiện bảo đảm cho chủ thể

tham gia vào thực hành DCCS trong xây dựng NTM: i) hoạt động của các cấp ủy,

tổ chức đảng, bộ máy chính quyền cấp cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức

chính trị- xã hội trong việc tuyên truyền, triển khai, thực hiện những chủ trƣơng,

đƣờng lối, chính sách về DCCS và xây dựng NTM. Cần đổi mới, nâng cao hiệu

quả hoạt động của bộ máy chính quyền, có sự chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc về

kế hoạch tuyên truyền; tăng cƣờng sự quản lý nhà nƣớc của bộ máy chính quyền

các cấp trong việc triển khai thực hiện DCCS trong xây dựng NTM. Có sự phối

157

hợp thống nhất, đồng bộ giữa cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, chính quyền với Mặt

trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội trong việc triển khai những nội

dung liên quan đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM, nhằm thực hiện tốt

phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ

hưởng”. Coi hiệu quả xây dựng NTM là điều kiện, mục tiêu để phát triển kinh

tế- xã hội; bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong thực hành DCCS là điều

kiện để cho xã hội phát triển ổn định, bền vững. ii) Quán triệt, nâng cao tinh thần,

ý thức thái độ trong hoạt động công của đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phƣờng,

thị trấn; có ý thức trách nhiệm trong tham gia đào tạo, bồi dƣỡng kiến thức, nâng

cao năng lực, phá huy vai trò tiên phong, chủ động, tích cực trong thực hiện Quy

chế DCCS và trong xây dựng NTM. Cần đề ra những quy định, quy chế về tác

phong, phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm việc tại các cơ

quan công quyền trong quá trình làm việc với ngƣời dân, trong tiếp dân; giải

quyết những thủ tục hành chính, những khiếu nại, thắc mắc của ngƣời dân; luôn

có tinh thần thái độ trọng dân, tin dân, gần dân, lắng nghe tâm tƣ, nguyện vọng

của nhân dân; thực hiện tốt phƣơng châm “nghe dân nói, nói dân tin”. Thƣờng

xuyên tổ chức những lớp bồi dƣỡng nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, công

chức về thực hành DCCS và ý nghĩa của xây dựng NTM; bồi dƣỡng phƣơng

pháp, kỹ năng tuyên truyền, hoạt động cho cán bộ, công chức nhằm phát huy có

hiệu quả vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức trong tham gia thực hành DCCS

trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. iii) Trình độ dân trí của ngƣời dân là một

trong những điều kiện để bảo đảm cho thực hành DCCS trong xây dựng NTM;

cần nhận thức đƣợc quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm tham gia xây dựng NTM; từ

đó, nâng cao ý thức thực hành DCCS, tích cực tham gia xây dựng NTM; tạo

niềm tin, sự ủng hộ của nhân dân vào chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng về Pháp

lệnh DCCS và xây dựng NTM.

Hai là, cần đổi mới, tăng cƣờng hoàn thiện hệ thống văn bản, quy định

pháp luật bảo đảm tính pháp lý về thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng

ĐBSH. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức

chính trị- xã hội cần phải thƣờng xuyên rà soát, kiến nghị hoàn thiện, chỉnh sửa

hệ thống văn bản pháp lý trên cơ sở đúc rút những kinh nghiệm thực tiễn về thực

hành DCCS trong xây dựng NTM để chỉnh sửa, hoàn thiện hệ thống văn bản sao

158

cho phù hợp với điều kiện tình hình thực tế. Chú trọng, bổ sung và hoàn thiện

những quy định về bầu cử theo quy định của pháp luật, bổ sung những nội dung,

hình thức, mở rộng phạm vi trong thực hiện quyền “dân biết, dân làm”; bổ sung về

nội dung và hình thức về tự quản ở cơ sở “dân làm” cũng nhƣ “quản lý dân chủ” ở

cơ sở; bổ sung hoạt động giám sát theo hƣớng mở rộng đối tƣợng giám sát, nội

dung giám sát và các hình thức giám sát; quy định cụ thể về trách nhiệm của bộ

máy chính quyền, HTCT cấp cơ sở trong thực hành DCCS gắn với xây dựng NTM.

Các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức

chính trị- xã hội cần chủ động, tích cực nghiên cứu và cập nhật những hệ thống văn

bản của Đảng, Nhà nƣớc ban hành để chủ động tìm hiểu và có hƣớng dẫn cụ thể về

cơ sở; chủ động nghiên cứu Dự thảo Luật thực hiện DCCS mà Chính Phủ trình

Quốc hội ngày 22/3/2022 để kịp thời có những phƣơng hƣớng, chỉ đạo thực hiện

khi Luật thực hiện DCCS đƣợc ban hành; kịp thời nắm bắt, nghiên cứu Chƣơng

trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021- 2025; Bộ tiêu

chí quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng

cao giai đoạn 2021- 2025 để triển khai thực hiện ở vùng ĐBSH.

Ba là, nâng cao hiệu quả sử dụng Công nghệ thông tin, sử dụng các phƣơng tiện truyền thông đại chúng là một trong những điều kiện bảo đảm cho thực hành DCCS trong xây dựng NTM. Sự phát triển của công nghệ thông tin mà đặc biệt là mạng xã hội đã tác động và ảnh hƣởng rất lớn đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Sự phát triển của công nghệ thông tin giúp cho ngƣời dân đƣợc tiếp cận thông tin tốt hơn, nhanh hơn; góp phần nâng cao tính minh bạch của chính quyền, mở rộng quyền đƣợc biết cũng nhƣ quyền tham gia giám sát của ngƣời dân. Sự phát triển công nghệ thông tin và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc tạo cơ hội thuận lợi để thực hiện “dân chủ điện tử”, “dân chủ từ xa”; giám sát việc thực hiện chính sách, tạo điều kiện để ngƣời dân đánh giá các hoạt động của chính quyền. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng chính quyền điện tử chƣa thực sự trở thành kênh thông tin để ngƣời dân có thể dễ dàng tiếp cận, có sự chênh lệch giữa các vùng làm ảnh hƣởng đến việc nâng cao hiệu quả thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Vì vậy, cần phải coi trọng, nâng cao hiệu quả sử dụng công nghệ thông tin;

159

đầu tƣ mạnh mẽ hơn nữa cho lĩnh vực công nghệ thông tin ở vùng nông thôn; có đề án nâng cao hiệu quả sử dụng chính quyền điện tử ở khu vực nông thôn, ƣu tiên việc xây dựng mỗi xã một cổng thông tin điện tử, phát triển mô hình “công sở thông minh”. Tiến hành bồi dƣỡng, nâng cao trình độ sử dụng công nghệ thông tin cho ngƣời dân, cán bộ ở thôn, xã.

Thực hiện tốt các điều kiện trên góp phần bảo đảm cho thực hành DCCS gắn với xây dựng NTM ở vùng ĐBSH đƣợc thực hiện một cách có hiệu quả, chất lƣợng; khắc phục đƣợc những hạn chế, tồn tại; góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng NTM ở ĐBSH trong những giai đoạn tiếp theo, bảo đảm DCCS đƣợc thực hiện.

4.2.6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện sơ kết, tổng kết nhằm nâng cao chất lượng thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở vùng đồng bằng sông Hồng

Việc thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện sơ kết, tổng kết đối với thực hành DCCS trong xây dựng NTM có ý nghĩa quan trọng. Kiểm tra, giám sát là công việc cần đƣợc thực hiện trong quá trình xây dựng NTM; thông qua kiểm tra, giám để đánh giá quá trình thực hiện và kết quả thực hiện xây dựng NTM; là điều kiện để thực hiện quyền làm chủ của ngƣời dân. Qua đó, khắc phục đƣợc những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện xây dựng NTM; kịp thời phát hiện và xử lý những vi phạm về lợi dụng chức vụ, quyền hạn, tham ô, tham nhũng làm thất thóat kinh tế trong xây dựng NTM.

Thứ nhất, cần tập trung tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nâng cao

chất lượng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Tăng cƣờng công tác kiểm tra, giám sát tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở,

cán bộ, công chức ở cấp xã, phƣờng, thị trấn trong thực hiện công khai thông tin

cho ngƣời dân, bảo đảm quyền đƣợc biết, đƣợc tham gia thảo luận, đóng góp ý

kiến và quyết định những nội dung liên quan đến xây dựng NTM. Coi trọng hoạt

động giám sát việc thực hiện trách nhiệm công khai thông tin và bảo đảm sự

tham gia của ngƣời dân của UBND, chính quyền xã thông qua các hình thức

giám sát khác nhau; kiểm tra việc thực hiện pháp luật công khai thông tin và quy

chế DCCS ở cấp xã.

160

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội cần tăng cƣờng vai trò

giám sát việc thực hiện pháp luật về công khai thông tin và thực hiện quy chế dân

chủ ở xã gắn với nội dung xây dựng NTM. Thực hiện giám sát việc giải quyết

những khiếu nại, tố cáo của ngƣời dân; công khai kết quả khiếu nại, tố cáo của

ngƣời dân về những nội dung liên quan đến xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Thực

hiện giám sát hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tƣ của

cộng đồng trong hoạt động, đại diện cho tiếng nói, lợi ích của ngƣời dân trong xây

dựng NTM. Đồng thời, thực hiện tốt chức năng phản biện xã hội đối với những

vấn đề cần trao đổi liên quan đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM.

Dƣới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, vùng ĐBSH là

vùng có điều kiện phát triển mạnh về khoa học, công nghệ thông tin trong cả

nƣớc, ngƣời dân trong vùng có điều kiện tiếp cận với khoa học, công nghệ,

thông tin, truyền thông; mạng xã hội vào thực hiện DCCS và xây dựng NTM.

Do đó, cần phải nâng cao hiệu quả giám sát cộng đồng bằng công nghệ thông tin,

mạng xã hội ở mọi lúc, mọi nơi, tăng cƣờng chuyển đổi số; đồng thời, ứng dụng

khoa học công nghệ vào xây dựng NTM ở vùng ĐBSH. Tăng cƣờng vai trò giám

sát của mạng xã hội, cơ quan báo chí, truyền thông đối với việc thực hiện dân

chủ trong xây dựng NTM. Kịp thời phát hiện, phản ánh trung thực, khách quan

những sự việc vi phạm Pháp lệnh DCCS, vi phạm quy định trong xây dựng

NTM. Thực hiện tốt vai trò là một công cụ hữu hiệu trong việc tham gia giám sát

giúp cơ quan nhà nƣớc kịp thời nắm bắt và xử lý những sai phạm trong thực hiện

DCCS và trong xây dựng NTM. Quan tâm, đào tạo đội ngũ làm công tác báo chí,

nâng cao phẩm chất, năng lực giúp cho những nhà báo có đủ khả năng, bản lĩnh,

dám đƣa những sai phạm ra ánh sáng; qua đó, giúp hạn chế tình trạng tham ô,

tham nhũng, lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thực thi DCCS.

Thứ hai, tăng cường công tác sơ kết, tổng kết theo định kỳ, theo từng giai đoạn

nhằm nâng cao chất lượng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH

Sơ kết, tổng kết là nhiệm vụ cần đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục trong

thực hành DCCS và trong xây dựng NTM. Thông qua hoạt động sơ kết, tổng kết sẽ

đánh giá đƣợc những thành tựu đạt đƣợc và những hạn chế trong thực hiện DCCS

gắn với xây dựng NTM ở vùng ĐBSH; từ đó, xác định đƣợc những nguyên nhân

161

của thành tựu, hạn chế, những vấn đề đặt ra để tiếp tục triển khai và khắc phục

những hạn chế cũng nhƣ nghiên cứu, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu

quả xây dựng NTM trong những giai đoạn tiếp theo.

Tăng cƣờng công tác sơ kết, tổng kết theo từng giai đoạn để đánh giá những

kết quả đã đạt đƣợc trong xây dựng NTM. Lấy kết quả xây dựng NTM ở ĐBSH để

đánh giá mức độ thực hành DCCS. Công tác sơ kết, tổng kết cần đƣợc thực hiện

một cách chính xác, hiệu quả, phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo để kịp thời

điều chỉnh, bổ sung những cơ chế, chính sách cho hợp lý; tránh trƣờng hợp thực

hiện sơ kết, tổng kết mang tính hình thức, làm cho có, báo cáo kết quả không chính

xác… làm ảnh hƣởng đến hiệu quả xây dựng NTM.

Trong mỗi đợt sơ kết, tổng kết cần có những chế độ, chính sách khen

thƣởng đối với những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong thực hiện

DCCS và trong xây dựng NTM; khen thƣởng, biểu dƣơng những cá nhân có sáng

kiến, đóng góp thành tích trong công cuộc xây dựng NTM; đồng thời, kịp thời phê

bình, xử lý những cá nhân, tập thể vi phạm quy định, nguyên tắc thực hành dân

chủ và vi phạm những quy định, xảy ra những sai phạm trong quá trình xây dựng

NTM. Từ đó, làm củng cố niềm tin của nhân dân vào chính quyền, vào Đảng, Nhà

nƣớc; khích lệ tinh thần chủ động, tích cực của ngƣời dân, hăng hái tham gia, cống

hiến sức ngƣời, sức của xây dựng NTM.

Trƣớc khi tiến hành Hội nghị sơ kết, tổng kết, chính quyền cần lấy ý

kiến phản hồi của ngƣời dân để đánh giá mức độ hài lòng của ngƣời dân đối

với kết quả xây dựng NTM. Việc tổ chức lấy ý kiến phải thông qua bảng hỏi

hoặc phiếu điều tra; tổ chức đối thoại với ngƣời dân, qua hòm thƣ, cổng thông

tin điện tử chính quyền cấp xã. Việc lấy ý kiến phản hồi của ngƣời dân cũng

cần đƣợc thực hiện thƣờng xuyên theo định kỳ, đối với từng giai đoạn của quá

trình xây dựng NTM để đánh giá một cách tốt nhất hiệu quả xây dựng NTM.

Qua đó, đƣa ra những điều chỉnh kịp thời, hợp lý cho những giai đoạn tiếp theo

nhằm nâng cao chất lƣợng thực thi chính sách xây dựng NTM; bảo đảm phát

huy quyền làm chủ của ngƣời dân.

162

Tiểu kết chƣơng 4

Qua nghiên cứu thực trạng vấn đề thực hành DCCS trong xây dựng NTM

ở vùng ĐBSH, bên cạnh những thành tựu đáng kể đạt đƣợc cũng còn tồn tại một

số hạn chế làm ảnh hƣởng đến hiệu quả xây dựng NTM cũng nhƣ việc phát huy

quyền làm chủ của ngƣời dân ở vùng ĐBSH. Vấn đề đặt ra với thực hành DCCS

trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH là: cần phải có hệ thống các cấp ủy, tổ chức

Đảng, chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội lãnh

đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của

Đảng, Nhà nƣớc về thực hành DCCS trong xây dựng NTM thực sự hiệu quả; cần

nâng cao trình độ nhận thức, chuyên môn, nghiệp vụ đội ngũ cán bộ, đảng viên,

công chức và nhân dân về thực hành DCCS trong xây dựng NTM; cần giải quyết

tốt mối quan hệ giữa chính quyền với ngƣời dân trong thực hành DCCS trong

xây dựng NTM và giải quyết các yếu tố điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế, văn

hóa tác động đến thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH.

Từ đó, tác giả đƣa ra những quan điểm và đề xuất giải pháp nhằm nâng

cao chất lƣợng thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH: đổi mới,

nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, quản lý nhà nƣớc của

chính quyền cơ sở; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân

dân; nâng cao trình độ nhận thức, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ,

đảng viên, công chức; nâng cao trình độ dân trí, bồi dƣỡng tinh thần, phát huy

vai trò chủ thể của nhân dân, tăng cƣờng các điều kiện bảo đảm; đổi mới nội

dung, phƣơng thức thực hành DCCS; tăng cƣờng công tác kiểm tra, giám sát,

thực hiện sơ kết, tổng kết nhằm nâng cao chất lƣợng thực hành DCCS trong xây

dựng NTM ở vùng ĐBSH trong thời gian tới.

163

KẾT LUẬN

Dân chủ và thực hành DCCS là vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa về mặt lý

luận và thực tiễn. Đảng ta trong quá trình lãnh đạo luôn đặt vấn đề dân chủ là

nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân, góp phần thực hiện dân giàu nƣớc

mạnh, dân chủ công bằng, văn minh. Bên cạnh thực hiện nhiệm vụ chính trị, bảo

đảm quyền làm chủ của nhân dân, Đảng, Nhà nƣớc ta luôn chú trọng đến thực

hiện xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc; trong đó, xây dựng NTM

là một trong những nhiệm vụ chiến lƣợc, quan trọng. Thực hành DCCS và xây

dựng NTM là hai nhiệm vụ kinh tế và chính trị quan trọng, có ý nghĩa chiến lƣợc

trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, thực hành DCCS là điều

kiện quan trọng, cần thiết để thực hiện thắng lợi xây dựng NTM; thành tựu xây

dựng NTM góp phần bảo đảm cho quyền làm chủ của nhân dân đƣợc thực hiện.

Thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH là thực hiện quyền

làm chủ của nhân dân trong xây dựng NTM: ngƣời dân đƣợc công khai, tham gia

thảo luận, đóng góp ý kiến và quyết định những nội dung trong xây dựng NTM ở

vùng ĐBSH; tạo cơ chế, diễn đàn để ngƣời dân đƣợc bày tỏ ý chí, nguyện vọng,

đƣợc nêu những sáng kiến, những phát minh và đƣợc tôn trọng ý kiến trong quá

trình thực hiện xây dựng NTM; tham gia kiểm tra, giám sát tiến độ, quá trình và

kết quả thực hiện xây dựng NTM và đƣợc thụ hƣởng những thành quả từ công

cuộc xây dựng NTM góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho ngƣời

dân, cải thiện diện mạo nông thôn vùng ĐBSH. Từ đó, nâng cao ý thức tự chủ,

tích cực, tạo động lực, niềm tin cho ngƣời dân tham gia phát triển kinh tế- xã hội

góp phần thực hiện thắng lợi Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM,

NTM nâng cao trong giai đoạn hiện nay.

Nhƣ vậy, thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng ĐBSH có vai trò

quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội ở vùng ĐBSH nói riêng và đối

với cả nƣớc nói chung; bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân đƣợc thực hiện

trên thực tế; góp phần phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông

dân văn minh; tiếp thu có hiệu quả những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại

trong xây dựng NTM, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt

164

đẹp đặc trƣng của vùng ĐBSH, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nƣớc đang trong quá trình hội

nhập và phát triển thì vấn đề thực hành DCCS trong xây dựng NTM ở vùng

ĐBSH ngày càng đƣợc Đảng ta quan tâm, chú trọng; thực hành DCCS gắn với

thực hiện tốt phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám

sát, dân thụ hưởng”; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, sự thống nhất

giữa “ý Đảng và lòng dân”, xây dựng đất nƣớc phát triển vững mạnh, công bằng,

dân chủ, văn minh; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân,

hƣớng tới xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN ở Việt Nam.

165

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1. Nguyễn Thị Ngọ (2022), “Thực hành dân chủ cơ sở theo tinh thần Nghị quyết

Đại hội XIII”, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, số 4, 2022,

tr.16- 21, ISSN: 1859- 1485.

2. Nguyễn Thị Ngọ (2022), “Thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới”,

Tạp Chí Cộng sản, https://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 18-7, 2022.

3. Nguyễn Thị Ngọ (2022), “Thực hiện dân chủ cơ sở ở địa phƣơng trong xây

dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Tạp chí Lý luận Chính

trị, số 534, tháng 8, 2022, tr.123- 129, ISSN 2525- 2585.

4. Nguyễn Thị Ngọ (2022), “Một số thành tựu cơ bản trong xây dựng nông thôn

mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu ở tỉnh Nam Định”, Báo Nông

nghiệp Việt Nam, https://nongnghiep.vn, ngày 10-10, 2022.

166

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

*Tài liệu tiếng Việt

1. Lƣu Văn An (2000), “Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cấp xã với việc triển

khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, Tạp chí Dân vận, số 5.

2. Lƣu Văn An (2006), Thực hiện quy chế dân chủ ở các doanh nghiệp Nhà

nước trên địa bàn Hà Nội. Thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học

cấp Bộ.

3. Lƣu Thế Anh (2022), “Những vấn đề đặt ra cho phát triển nông nghiệp, nông

thôn và nông dân trƣớc tác động của biến đổi khí hậu”, Tạp chí Cộng

sản, Chuyên đề số 4, tr.114- 124.

4. Minh Anh (2010), Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

5. Nguyễn Thị Ánh (2020), “Phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững ở nƣớc

ta”, Tạp chí Cộng sản, tháng 10.

6. Lý Hoàng Ánh, Ông Văn Nam (2013), “Phản biện xã hội- một phƣơng thức thực

thi dân chủ ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 850, tháng 8, tr.70- 74.

7. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ƣơng (2019), Kết quả tổng điều

tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2019, Nxb Thống kê, Hà Nội.

8. Ban chỉ đạo Trung ƣơng (2019), Báo cáo Hội nghị tổng kết Chương trình mục

tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 vùng

ĐBSH và Bắc Trung Bộ, Hà Nội.

9. Ban Dân vận Trung ƣơng, Ban chỉ đạo Trung ƣơng về thực hiện Quy chế

DCCS (2018), Báo cáo tổng kết việc xây dựng và thực hiện quy chế dân

chủ ở cơ sở năm 2017, Hội nghị tổng kết việc xây dựng và thực hiện

Quy chế dân chủ ở cơ sở năm 2017, ngày 11/01/2018, Hà Nội.

10. Ban Dân vận Trung ƣơng, Ban Chỉ đạo Trung ƣơng về thực hiện Quy chế

DCCS (2019), Báo cáo tổng kết việc xây dựng và thực hiện quy chế

DCCS năm 2019, triển khai nhiệm vụ năm 2020, Hội nghị tổng kết

việc thực hiện quy chế DCCS năm 2019, triển khai nhiệm vụ năm 2020,

ngày 13 tháng 01 năm 2020, Hà Nội.

167

11. Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Nghị quyết số

26- NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7

Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X về nông

nghiệp, nông dân, nông thôn, Hà Nội.

12. Ban chỉ đạo Trung ƣơng các chƣơng trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-

2020 (2019), Hội nghị tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia xây

dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 vùng ĐBSH và Bắc Trung

Bộ, Hà Nội.

13. Ban chỉ đạo Trung ƣơng các chƣơng trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-

2020 (2019), Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình mục

tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020, Hà Nội.

14. Hoàng Chí Bảo (2007), Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tiến

trình đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

15. Nguyễn Trọng Bình (2014), “Vai trò của các tổ chức xã hội trong quản trị

công ở các nƣớc trên thế giới hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.

16. Nguyễn Trọng Bình (2016), “Các hình thức tham gia của ngƣời dân trong

quá trình chính sách công theo quan điểm của John Thomas”, Tạp chí

Tổ chức Nhà nước, tháng 6/2016.

17. Nguyễn Trọng Bình (2018), “Một số lý thuyết về sự tham gia của ngƣời dân

trong hành chính công”, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, tháng 2/2018.

18. Nguyễn Trọng Bình (2018), “Nguyên tắc và giải pháp xây dựng đạo đức

công vụ”, Tạp chí Quản lý Nhà nước.

19. Nguyễn Trọng Bình (2018), “Về nội dung và hình thức tham gia của ngƣời

dân ở cơ sở trong quá trình xây dựng nông thôn mới”, Thông tin Khoa

học Xã hội, (3).

20. Nguyễn Trọng Bình (2019), Nâng cao hiệu quả tham gia của người dân

trong quá trình xây dựng NTM ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long,

Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ năm 2019.

21. Nguyễn Trọng Bình (2019), “Đổi mới thể chế nhằm phát huy dân chủ và sự

tham gia của ngƣời dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới hiện

nay”, Trang Thông tin điện tử, Hội đồng Lý luận Trung ƣơng, hdll.vn,

ngày 03 tháng 9.

168

22. Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Ngọc Anh (2018), “Vai trò của Mặt trận Tổ

quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội trong quản trị địa

phƣơng hiện nay”, Tạp chí Mặt trận, (8).

23. Nguyễn Trọng Bình- Nguyễn Ngọc Anh (2020), Sự tham gia của người dân

trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở đồng bằng sông Cửu Long,

Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội.

24. Nguyễn Trọng Bình- Nguyễn Ngọc Anh (2022), Vai trò của các tổ chức xã

hội trong thực hiện DCCS khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Nxb

Khoa học xã hội.

25. Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Văn Thắng (2019), “Sự tham gia của Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội trong quá trình xây dựng

nông thôn mới ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Lý luận

chính trị, (11).

26. Đỗ Lê Chi (2022), “Vấn đề bảo đảm an ninh nông thôn trong bối cảnh mới”,

Tạp chí Cộng sản, Chuyên đề số 4, tr. 125- 131.

27. Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà (2005), Giáo trình phát triển nông thôn,

Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

28. Trần Công Chánh (2016), “Tạo bƣớc đột phá trong phát triển nông nghiệp

theo hƣớng hiện đại gắn với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hậu

Giang”, Tạp chí Cộng sản, số 884, tháng 6, tr.92- 96.

29. Nguyễn Hồng Chuyên (2013), Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã

phục vụ xây dựng nông thôn mới, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội.

30. Phạm Di (Chủ biên) (2008), Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay:

Nghiên cứu vùng duyên hải Nam Trung Bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

31. Nguyễn Chí Dũng (2010), Một số vấn đề cấp thiết trong phát triển xã hội và

quản lý xã hội ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Chính trị- Hành

chính, Hà Nội.

32. Hà Thị Thùy Dƣơng (2019), Ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến

thực hành dân chủ ở cơ sở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết

học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

33. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Chỉ thị 30 CT/TW của Bộ Chính trị “về

xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, Hà Nội.

169

34. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Báo cáo tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30 CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Hà Nội.

35. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng Đại hội VI toàn tập, tập 47,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

36. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng Đại hội VII, toàn tập, tập

51, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

37. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008

về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Hà Nội.

38. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần

thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

39. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần

thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

40. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần

thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

41. Đảng Cộng sản Việt Nam (2022), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội.

42. Đảng Cộng sản Việt Nam (2022), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, Hà Nội.

43. Đoàn Nam Đàn (2019), Bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng nông

thôn mới của huyện ủy Kinh Môn, Tạp chí Cộng sản, tháng 11, tr.90-94.

44. Nguyễn Tài Đông, Trần Tuấn Phong, Cao Thu Hằng (2018), Tư tưởng của C.Mác về công bằng xã hội với dân chủ và ý nghĩa hiện thời của nó, Kỷ yếu hội thảo Khoa học quốc tế, NXB Khoa học xã hội.

45. Đỗ Hƣơng Giang, Võ Châu Thịnh (2018), “Phát huy dân chủ và phát triển bền vững kinh tế- xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Thông tin chuyên đề, Học viện Báo chí và Tuyên truyền số tháng 5.

46. Trần Thanh Giang (2021), “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân”, Tạp chí Triết học, số 5 (360), tháng 5, tr.20- 26.

170

47. Nguyễn Ngọc Hà (2022), “Vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông

thôn trong thời kỳ phát triển mới của đất nƣớc”, Tạp chí Cộng sản

Chuyên đề, số 4, tr.12-18.

48. Phạm Hà (2018), “Nâng cao hiệu quả chƣơng trình xây dựng nông thôn mới

ở Hƣng Yên”, Báo Nhân dân, nhandan.vn, ngày 23 tháng 7.

49. Vũ Thị Phƣơng Hậu (2022), “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

trong phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân

văn minh”, Tạp chí Cộng sản, Chuyên đề số 4, tr.109-113.

50. Vũ Văn Hiền (2004), Quy chế dân chủ ở cơ sở vấn đề lý luận và thực tiễn,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

51. Phạm Văn Hiển (2016), “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực khoa học và

công nghệ trong nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí

Nghiên cứu Đông Nam Á, (9), tr.80- 84.

52. Đỗ Thị Kim Hoa (2022), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành

dân chủ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

53. Trần Xuân Hòa (2016), “Vấn đề phát triển nông nghiệp công nghệ cao vùng

đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí Tài chính online, tai trang

https://tapchitaichinh.vn/ nghien-cuu-trao-doi/trao-doi-binh-luan/van-

de-phat-trien-nong-nghiep-cong-nghe-cao-vung-dong-bang-song-hong-

111217.html.

54. Nguyễn Minh Hoàn (2020), “Những sáng tạo của V.I.Lênin về xây dựng chế

độ dân chủ vô sản”, Tạp chí Chủ nghĩa xã hội- Lý luận và thực tiễn, số

4, tháng 8, tr.03- 9.

55. Đoàn Minh Huấn (2022), “Đổi mới tƣ duy phát triển nông nghiệp, nông dân,

nông thôn- nhìn từ sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của hệ thống chính trị

và phát huy dân chủ ở nông thôn”, Tạp chí Cộng sản, Chuyên đề số 4,

tr.100- 108.

56. Nguyễn Minh Huệ (2019), Gia đình vùng đồng bằng sông Hồng trong xây

dựng nông thôn mới hiện nay, LATS, Hà Nội.

57. Đoàn Mạnh Hùng (2018), “Thực hành dân chủ trong di sản tƣ tƣởng Hồ Chí

Minh”, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 271, tháng 01.

171

58. Vƣơng Đình Huệ (2019), “Xây dựng nông thôn mới năm 2019- giữ vững

chất lƣợng, bứt phá về đích”, Tạp chí Cộng sản, số 917, tháng 3, tr.3- 9.

59. Lê Xuân Huy (2012), “Pháp luật với vấn đề thực hành dân chủ ở nông thôn

Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, tháng 01.

60. Lê Thị Thanh Hƣơng (2015), Một số yếu tố tâm lý của người nông dân ảnh

hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới, Nxb. Khoa học Xã hội,

Hà Nội.

61. Vũ Trọng Khải (2004), Phát triển nông thông Việt Nam từ truyền thống đến

văn minh thời hiện đại, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

62. Nguyễn Linh Khiếu (2017), “Vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng

nông thôn mới”, Tạp chí Cộng sản, tại trang

http:///www.tapchicongsan.org.vn/Nghien-cuu-trao-doi.

63. Nguyễn Mạnh Khôi (2021), “Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở trong xây dựng

NTM ở Huyện Nghi Lộc”, Nghean.dcs.vn, ngày 09 tháng 02 năm 2021.

64. Trần Văn Khuyên (2016), Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hồ

Chí Minh hiện nay, LATS.

65. Bùi Ngọc Lan (Chủ biên) (2007), Việc làm của nông dân vùng đồng bằng

sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Lý

luận Chính trị, Hà Nội.

66. Đào Hồng Lan (2021), “Bài học từ công nghiệp hóa nông nghiệp, hiện đại

hóa nông thôn tỉnh Bắc Ninh”, Tapchicongsan.org.vn, ngày 9 tháng 4.

67. Vũ Trọng Lâm (2022), “Nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan

hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cƣờng pháp chế, bảo đảm kỷ cƣơng xã

hội ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 987, tháng 4, tr.40- 49.

68. Phạm Lê (2021), “Thực hiện tốt quy chế DCCS trong xây dựng nông thôn

kiểu mẫu ở xã Hòa Phong, thị xã Mỹ Hào”, Ban Dân vận tỉnh ủy Hƣng

Yên, danvanhungyen.vn, ngày 08 tháng 4.

69. V. I. Lênin (1974), Toàn tập, tập 4, Nxb Tiến bộ, Matxcơva.

70. V. I. Lênin (2005), Toàn tập, tập 32, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

71. V.I. Lênin (1976), Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Matxơcơva.

72. V.I. Lênin (2005), Toàn tập, tập 27, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

73. V.I. Lênin (2005), Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

172

74. V.I. Lênin (2005), Toàn tập, tập 38, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

75. V.I. Lênin (2005), Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

76. V.I. Lênin (2005), Toàn tập, tập 41, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

77. Nguyễn Thị Thanh Loan (2016), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Nxb.

Chính trị Quốc gia- Sự thật, Hà Nội.

78. Phƣơng Loan (2020), “Bình Xuyên thực hiện quy chế dân chủ trong xây

dựng nông thôn mới”, Baovinhphuc.com.vn, ngày 11 tháng 11.

79. Quý Long- Kim Thƣ (2009) (Sƣu tầm và hệ thống hóa), Tiêu chuẩn, quy

chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn mới, Nxb

Nông nghiệp, Tp. Hồ Chí Minh.

80. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự

thật, Hà Nội.

81. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự

thật, Hà Nội.

82. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự

thật, Hà Nội.

83. Mao Shou- long (2014), “Kinh tế thị trƣờng và sự thay đổi phƣơng thức

quản trị của chính phủ”, Tạp chí Học viện Hành chính Giang Tô.

84. Nguyễn Đình Minh (2014), “Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam-

nhân tố quyết định chế độ dân chủ ở nƣớc ta hiện nay”, Tạp chí Cộng

sản, số 856, tháng 02, tr.50-78.

85. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

86. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

87. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

88. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

89. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

90. Bùi Nga và các cộng sự (2019), “Giải pháp thúc đẩy hiệu quả liên kết chuỗi

giá trị nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới ở đồng bằng sông

Hồng”, Tài liệu Hội nghị tổng kết Chương trình mục tiêu Quốc gia về

xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020 vùng ĐBSH và Bắc Trung

Bộ, Nghệ An, tr.242-277.

173

91. Hoàng Nga (2015), “Vĩnh Phúc nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân

chủ ở cơ sở”, Baovinhphuc.com.vn, ngày 14 tháng 8 năm 2015. 92. Thanh Nga (2021), “Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới nâng cao,

nông thôn mới theo chuẩn vùng đồng bằng sông Hồng”,

Vinhphuc.gov.vn, ngày 29 tháng 3.

93. Lê Hữu Nghĩa (2016), “Thực hành và phát huy dân chủ qua 30 năm đổi

mới”, Tạp chí Cộng sản, số 880, tháng 02, tr.68-74.

94. Ngọ Văn Nhân (2018), “Vai trò của việc thực hiện dân chủ cơ sở ở cấp xã

đối với xây dựng nông thôn mới ở nƣớc ta hiện nay”, Tạp chí Dân chủ

và Pháp luật, tháng 7.

95. Mai Hải Oanh (2020), “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện

nay”, Tạp chí cộng sản, tháng 8/ 2020.

96. Đoàn Hồng Phong (2019), “Nam Định- điểm sáng trong xây dựng nông thôn

mới”, Tạp chí Cộng sản, số 929, tháng 11, tr.88- 93.

97. Nguyễn Phƣơng (2018) (Hệ thống), Cẩm nang xây dựng nông thôn mới

chính sách phát triển ngành nghề, nông nghiệp, nông thôn, Nxb Nông

nghiệp, Tp. Hồ Chí Minh.

98. Lê Minh Quân (2013), “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực

nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân”, Tạp chí Cộng sản, số 852,

tháng 10

99. Lê Minh Quân (2021), “Quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-

Lênin về dân chủ và ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam”,

Tapchicongsan.org.vn, ngày 08 tháng 4 năm 2021.

100. Nguyễn Tử Quỳnh (2017), “Bắc Ninh- điểm sáng trong xây dựng nông

thôn mới của cả nƣớc”, Tạp chí Cộng sản, số 900, tháng 10, tr.90-95.

101. Nguyễn Thị Tố Quyên (Chủ biên) (2012), Nông nghiệp, nông dân, nông

thôn trong mô hình tăng trưởng kinh tế mới giai đoạn 2011- 2020, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

102. Nguyễn Đình Quyền (2019), “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ,

dân chủ ở xã, phƣờng, thị trấn và đơn vị sự nghiệp công lập”, Cổng

Thông tin điện tử Sở Nội vụ Bắc Giang, tháng 10.

103. Nguyễn Văn Quyết (2013), “Xây dựng nông thôn mới- Một số vấn đề đặt ra

hiện nay”, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông, tháng 5 năm 2013.

174

104. Nguyễn Văn Quyết (2015), “Một số luận điểm của C.Mác và Ph. Ăngghen về dân chủ xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay”, Thông tin khoa học lý luận chính trị, số 3(4), tr.98-102.

105. Nguyễn Văn Quyết, Hà Minh Hoàn (2019), “Chủ nghĩa Mác- Lênin về dân chủ xã hội chủ nghĩa: giá trị bền vững và những luận điểm cần làm sáng tỏ”, Trang Thông tin điện tử Học viện Báo chí và Tuyên truyền, tháng 12. 106. Nguyễn Văn Quyết- Nguyễn Minh Tiến, (2019), “Xây dựng nông thôn mới vùng đồng bằng sông Hồng- những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Chủ nghĩa xã hội khoa học- Lý luận và thực tiễn, tháng 3.

107. Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông (2003), Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

108. Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông (2005), Thể chế dân chủ và phát triển nông thông Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 109. Đặng Kim Sơn (2008), Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam- Hôm

nay và mai sau, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

110. Phan Xuân Sơn (2010), “Quan điểm của V.I. Lênin về chế độ dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ”, Tạp chí Ban Tuyên giáo Trung ương, tháng 4.

111. Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh (2008), Xây dựng mô hình nông thôn mới ở

nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản.

112. Nguyễn Quốc Sửu (2016), “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 887, tháng 9, tr.63-68.

113. Ngô Văn Sỹ (2021), “Nhìn lại 20 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”,

Tạp chí Cộng sản, tháng 02.

114. Nguyễn Đức Tài (2022), Thực trạng và định hướng đồng bộ các quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị phục vụ phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Hội thảo Khoa học cấp Bộ, tháng 5 năm 2022.

115. Tạ Ngọc Tấn (2018), “Từ tƣ tƣởng của C.Mác về dân chủ đến xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 1.

175

116. Lƣu Ngọc Tố Tâm (2017), “Một số giải pháp phát huy dân chủ ở cơ sở”,

Tạp chí Lý luận chính trị, số tháng 4.

117. Đỗ Thị Thạch (2014), “Dân chủ ở cơ sở và một số vấn đề cần tiếp tục

nghiên cứu”, Tạp chí Quản lý nhà nước.

118. Đỗ Thị Thạch (2015), Nghiên cứu, tổng kết làm sáng tỏ những vấn đề lý

luận về xây dựng dân chủ XHCN trong công cuộc đổi mới, Đề tài khoa

học cấp bộ, học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

119. Đỗ Thị Thạch- Nguyễn Thu Huyền (2019), “Nêu cao trách nhiệm của

ngƣời đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc thực hiện quy

chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Tạp chí Cộng sản,

số 932, tháng 12, tr.101-105.

120. Đỗ Thị Thạch- Nguyễn Văn Quyết (2014), “Kết quả thực hiện Nghị quyết

về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và những vấn đề đặt ra trong xây

dựng nông thôn mới”, Tạp chí Triết học.

121. Đỗ Thị Thạch- Nguyễn Văn Quyết (2014), “Xây dựng nền dân chủ xã hội

chủ nghĩa ở Việt Nam qua gần 30 năm đổi mới”, Tạp chí Triết học, số

4(275), tr.3-9.

122. Nguyễn Vĩnh Thanh, Nguyễn Quang Hồng (2017), “Liên kết kinh tế trong

thị trƣờng nông thôn ở đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí Giáo dục lý luận,

(259), tr.55-61.

123. Nguyễn Tiến Thành (2016), Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ

cơ sở ở Việt Nam hiện nay, LATS.

124. Nguyễn văn Thâm (2019), “Một số vấn đề lý luận về dân chủ cơ sở và vai trò

của dân chủ cơ sở”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, online, ngày 19 tháng 4.

125. Lê Thi (2009), “Thực hiện dân chủ ở cơ sở và vấn đề tăng cƣờng ý thức

trách nhiệm của nhà nƣớc”, Tạp chí Triết học, (8).

126. Phạm Xuân Thiên, Nguyễn Thị Mai (2017), “Thực hiện dân chủ cơ sở

trong xây dựng nông thôn mới ở Hải Dƣơng”, Tạp chí Văn hóa nghệ

thuật, tháng 6/ 2017, tr.100-102.

127. Đức Thiện (2021), “Trực Ninh nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân

chủ ở cơ sở”, Baonamdinh.vn, ngày 04 tháng 6.

176

128. Nguyễn Minh Tiến (2022), “Kinh tế nông thôn trong phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh”, Tạp chí Cộng sản, Chuyên đề số 4, tr. 65-73.

129. Thủ tƣớng Chính phủ (2009), Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 về Ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, Hà Nội.

130. Thủ tƣớng Chính phủ (2010), Quyết định số 800/ QĐ- TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020, Hà Nội.

131. Thủ tƣởng Chính phủ, Quyết định số 1600/QĐ- TTg ngày 08/6/2016, Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016- 2020.

132. Thủ tƣớng Chính phủ (2016), Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 về Ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới giai đoan 2016-2020, Hà Nội.

133. Thủ tƣớng Chính phủ (2022), Quyết định số 263/ QĐ- TTg ngày 22 tháng 02 năm 2022 về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021- 2025, Hà Nội.

134. Thủ tƣớng Chính phủ (2022), Quyết định số 318/ QĐ- TTg ngày 08 tháng 3 năm 2022 về Ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021- 2015, Hà Nội. 135. Tỉnh ủy Bắc Ninh (2021), Báo cáo kết quả 05 năm thực hiện Kết luận số 120- KL/TW, ngày 07/01/2016 của Bộ Chính trị khóa XI “Về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”, số 51- BC/ TU, ngày 11 tháng 6 năm 2021. 136. Tỉnh ủy Nam Định (2021), Báo cáo sơ kết 05 năm thực hiện Kết luận số 120- KL/TW, ngày 07/01/ 2016 của Bộ Chính trị (Khóa XI) “Về tiếp tục đẩy mạnh nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” Tỉnh ủy Nam Định Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở số 01- BC/ BCĐ, ngày 25 tháng 5 năm 2021.

137. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2022), Đề tài khoa học cấp Bộ: Cải thiện môi trường

đầu tư, khai thông nguồn lực, tháo gỡ nút thắt trong phát triển kinh tế

của tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.

177

138. Tổng cục Thống kê (2019), Niên giám thống kê 2019, Nxb Thống kê.

139. Tổng cục Thống kê (2020), Tư liệu kinh tế- xã hội 63 tỉnh, thành phố trực

thuộc Trung ương, Hà Nội.

140. Tổng cục Thống kê (2021), Kết quả sơ bộ khảo sát mức sống năm 2020,

Nxb Thống kê.

141. Nguyễn Trần Minh Trí (2018), “Thành công và bài học về xây dựng nông

thôn mới ở Hà Nội”, Tạp chí Cộng sản, số 912, tháng 10, tr.90-95.

142. Bảo Trung, Hoàng Hùng, Tuấn Ngọc và Vĩnh Phƣơng (2018), “Mô hình

nông nghiệp công nghệ cao ở đồng bằng sông Hồng”, Báo Nhân dân, tại

trang https://nhandan.vn.

143. Nguyễn Thế Trung (2019), “Thực hiện phát huy dân chủ ở nƣớc ta hiện nay:

Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Cộng sản, số 925, tháng 9, tr.44-50.

144. Trung tâm Phát triển nông thôn, Dự án MISPA (2006), Lý luận và thực tiễn

xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa, Viện Nghiên cứu quản lý kinh

tế Trung ƣơng, Hà Nội.

145. Trƣơng Xuân Trƣờng (2019), “Phát triển nông thôn và vai trò của văn hóa

trong phát triển nông thôn ở nƣớc ta”, Tapchicongsan.org.vn, ngày 28

tháng 10.

146. Đỗ Xuân Tuất (2020), “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam chuyển

mình trong đổi mới và phát triển”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 24 tháng 01.

147. Trần Thị Minh Tuyết, Vũ Thị Thanh Huyền (2016), “Vai trò của dân chủ

theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong Văn kiện Đại hội lần

thứ XII của Đảng”, Tạp chí Khoa học Chính trị, số 8- tr.16- 21.

148. Đào Trí Úc và các cộng sự (2014), Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về dân

chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội.

149. UBND tỉnh Bắc Ninh (2020), Báo cáo tổng kết, đánh giá Chương trình MTQG

xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016- 2020 và đề xuất thực hiện giai

đoạn 2021- 2025. Số 36/ BC- UBND, ngày 20 tháng 3 năm 2020.

150. UBND tỉnh Nam Định (2020), Báo cáo tổng kết, đánh giá Chương trình

MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016- 2020 và đề xuất thực hiện

giai đoạn 2021- 2025. Số 38/ BC- UBND, ngày 12 tháng 3 năm 2020.

178

151. UBND tỉnh Nam Định (2021), Báo cáo đánh giá thực hiện các quy định về

quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các Chương trình mục tiêu

quốc gia giai đoạn 2016- 2020, Số 41/ BC- UBND, ngày 23 tháng 3

năm 2021.

152. UBND tỉnh Nam Định (2021), Một số kết quả chủ yếu trong xây dựng nông

thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu năm 2021 trên địa bàn

tỉnh; mục tiêu, nhiệm vụ trong thời gian tới. Số 22/BC- UBND, tháng

01 năm 2022.

153. UBND tỉnh Vĩnh Phúc (2021), Báo cáo Kết quả chương trình mục tiêu

quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2020; nhiệm vụ, giải pháp năm

2021. Số 51/ BC- UBND, ngày 31 tháng 3 năm 2021.

154. UBND tỉnh Vĩnh Phúc (2021), Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu

quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2021, số 97/KH- UBND, ngày

23 tháng 4 năm 2021.

155. Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội khóa XI (2007), Pháp lệnh số 34/2007/PL-

UBTVQH 11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Pháp lệnh thực hiện

dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Hà Nội.

156. Khuất Thị Vân (2017), “Phát huy vị thế chủ thể của nông dân trong quá

trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng hiện

nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận, (268), tr.84-88.

157. Trần Thị Vân (2021), “Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh tích cực chủ động, sáng tạo

trong xây dựng nông thôn mới”, Tapchicongsan.org.vn, ngày 8 tháng 5.

158. Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ƣơng.

159. Nguyễn Tất Viễn (2017), “Phê phán quan điểm cho rằng thực hiện nguyên

tắc tập trung dân chủ chỉ dẫn đến tập trung quan liêu, mất dân chủ”,

Tạp chí Cộng sản, số tháng 7, tr.69-74.

160. Hoàng Việt, Vũ Đình Thắng (2013), Đề tài Giáo trình kinh tế nông thôn,

Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân.

161. Chí Vịnh, Thái Sơn (2017), “Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao ở vùng

đồng bằng sông Hồng”, Báo Nhân dân, tại trang https://nhandan.vn.

162. Virginia Beramandi, Andrew Elis và các tác giả khác (2014), Dân chủ trực

tiếp: Sổ tay IDEA Quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

179

163. Đình Vũ (2019), “Một số kinh nghiệm trong chỉ đạo và thực hiện xây dựng

nông thôn mới ở huyện Quốc Oai”, Tạp chí Cộng sản, số 924, tháng 8,

tr.91- 95.

164. Nguyễn Văn Vƣơng (2020), Thực hiện pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị

trấn trong xây dựng nông thôn mới ở khu vực Tây Nguyên hiện nay, LATS.

165. Đoàn Ngọc Xuân (2016), “Nâng cao hiệu quả chƣơng trình mục tiêu quốc

gia về xây dựng nông thôn mới”, Tạp chí Cộng sản, tháng 7, tr45-49.

166. Dƣơng Trung Ý (2013), “Quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ và phát huy

dân chủ trong Đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 4- tr.61- 66.

167. Trần Minh Yến (Chủ biên) (2013), Xây dựng nông thôn mới - Khảo sát và

đánh giá, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

*Tài liệu Tiếng Anh

168. Food and Agriculture Organization of the United Nations (Tổ chức Nông

lƣơng Liên hợp quốc) (2019), Digital technologies in agriculture and

rural areas status report (Báo cáo thực trạng công nghệ số trong nông

nghiệp và nông thôn), Retrieved from

http://www.fao.org/3/ca4985en/ca4985en.pdf.

169. Jehoon Sung (2018), “The Fourth Industrial Revolution and Precision

Agriculture” (Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ và nông nghiệp

chính xác), https://researchgate.net/publication/323775842_The

Fourth- Industrial-Revolution-and-Prescision-Agriculture.

170. Rajesh Singh, Amit Kumar Thakur, Anita Gehlot, Ajay Kumar Kaviti

(2021), Internet of Things for Agriculture 4.0 Impact and Challenges

(Internet vạn vật cho nông nghiệp 4.0 Tác động và thách thức), Apple

Academic Press (ISBN 9781774630020).

171. Tejas G. Patil, Sanjay P. Shekhaw (2019), “Industry 4.0 implications on

Agriculture Sector: An Overview” ( Ý nghĩa của công nghiệp 4.0 đối

với ngành nông nghiệp: Tổng quan), International Journal of

Management, Technology And Engineering ( Tạp chí Quốc tế về Quản

lý, Công nghệ và Kỹ thuật), (IX), tr.1512- 1524.

172. Les Donaldson, Edward E.Scannell (2016), “Highlighting the role of the people,

really promoting democracy at grassroots level, then building new rural

areas will be successful”, Massachusetts: Addision- Wesley publishing.

180

173. Robert Alan. Dalh (1991), Democracy and its Critics, New Haven: Yale

University Press.

174. Sachika Hirokawa (2010), Promoting Sutainable Agriculture Development

and Farmer Empowerment in Northeast Thailand, Forth Asian Rural

Sociology Association International conference.

175. Tu Van Toan (2016), “The process of implementing grassroots democracy

in new rural construction through the practice of Guangdong, China”,

Chiness Studies review, (3/199).

II. CÁC TRANG WEB

1. Báo Nhân dân điện tử https://nhandan.vn

2. Tạp chí Cộng sản https:///www.tapchicongsan.org.vn

3. Tạp chí Tổ chức Nhà nƣớc https://tcnn.vn

4. Tạp chí Xây dựng Đảng https://www.xaydungdang.org.vn

5. Trang thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Phúc http://www.vinhphuc.gov.vn

6. Trang thông tin điện tử tỉnh Nam Định http://www.namdinh.gov.vn

7. Trang thông tin điện tử Bắc Ninh http://www.bacninh.gov.vn

181

PHỤ LỤC

Phụ lục 01

BẢNG KHẢO SÁT VÀ KẾT QUẢ KHẢO SÁT CỦA NGƢỜI DÂN 03

TỈNH VĨNH PHÚC, BẮC NINH, NAM ĐỊNH

PHẦN 1: THÔNG TIN CÁ NHÂN

Họ và tên (Không bắt buộc trả lời): …………………………………………….

Giới tính:……………. Độ tuổi:……………………………

Dân tộc: …………………………………………………………

Trình độ học vấn: ……………………………………………….

Nơi cƣ trú: ………………………………………………………

182

a4. Tinh khao sat

Cumulative Percent

33.3 65.4 100.0

Valid Vinh Phuc Nam Dinh Bac Ninh Total

Frequency Percent Valid Percent 33.3 32.1 34.6 100.0

33.3 32.1 34.6 100.0

197 190 205 592

183

PHẦN 2: THÔNG TIN CÂU HỎI

Xin ông/ bà đọc và trả lời những câu hỏi sau:

Câu 1 Xin ông/ bà cho biết người đứng đầu cấp ủy, cán bộ, đảng viên thực hiện

vai trò trong thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới như

thế nào?(chọn nhiều phương án)

Luôn gƣơng mẫu, đi đầu

1

Có tinh thần trách nhiệm, tự giác

2

Trọng dân, gần dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân

3

Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm

4

184

Câu 2 Xin ông/ bà cho biết người dân thực hiện nhận thức về vai trò chủ thể

của mình về trong thực hiện quyền “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm

tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong thực hành dân chủ cơ sở trong

xây dựng nông thôn mới? (chọn 1 phương án)

Nhận thức tốt

1

Nhận thức nhƣng còn hạn chế

2

Chƣa nhận thức

3

Câu 3 Xin ông/ bà cho biết hình thức tổ chức tuyên truyền, giáo dục,

phổ biến Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở cơ sở và nội dung

chương trình xây dựng NTM được thực hiện thế nào? (Chọn

nhiều phương án)

Đài truyền thanh xã, các phƣơng tiện truyền thông

1

Tổ chức hội nghị quán triệt, các buổi sinh hoạt

2

Thông qua các tổ chức chính trị- xã hội

3

Phát văn bản đến các hộ gia đình

4

185

Câu 4 Xin ông/ bà cho biết hoạt động của các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng,

chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội

trong thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng NTM được thể hiện như

thế nào? Mức độ thực hiện như thế nào? (1. Không hiệu quả; 2. Phần

lớn không hiệu quả; 3. Hiệu quả ở mức trung bình; 4. Hiệu quả; 5. Rất

hiệu quả)

1

Các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng thực hiện lãnh đạo, chỉ

(1)

(2)

(3)

(4) (5)

đạo ban hành những chủ trƣơng, đƣờng lối trong chỉ

đạo thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng NTM.

2

Chính quyền cơ sở thực hiện quản lý, điều hành,

triển khai, cụ thể hóa những đƣờng lối, chủ trƣơng,

chính sách, chỉ thị về thực hành dân chủ cơ sở trong

xây dựng NTM.

3 Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội

tuyên truyền, vận động nhân dân, bảo vệ quyền, lợi

ích hợp pháp của nhân dân trong xây dựng NTM.

186

Mô tả thống kê điểm số trung bình mức độ hiệu quả thực hiện hoạt động của

các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các tổ

chức chính trị- xã hội trong thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng NTM

(1. Hoàn toàn không hiệu quả; 2. Phần lớn không hiệu quả; 3. Hiệu quả mức

trung bình; 4. Phần lớn hiệu quả; 5. Hoàn toàn không hiệu quả)

Nhỏ

Lớn

Trung

Độ lệch

Tổng

nhất

nhất

bình

chuẩn

Các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng

thực hiện lãnh đạo, chỉ đạo ban

hành những chủ trƣơng, đƣờng

592

1.00

5.00

3.6841

.90302

lối trong chỉ đạo thực hành dân

chủ cơ sở trong xây dựng NTM.

Chính quyền cơ sở thực hiện

quản lý, điều hành, triển khai,

cụ thể hóa những đƣờng lối, chủ

592

1.00

5.00

3.7736

.86448

trƣơng, chính sách, chỉ thị về

thực hành dân chủ cơ sở trong

xây dựng NTM.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức

chính trị xã hội tuyên truyền,

vận động nhân dân, bảo vệ

592

1.00

5.00

3.8108

.85774

quyền, lợi ích hợp pháp của

nhân dân trong xây dựng NTM.

Valid N (listwise)

592

187

Câu 5 Xin ông/ bà cho biết ông/ bà đã được CÔNG KHAI những nội dung nào

trong xây dựng NTM và mức độ thực hiện như thế nào? (1. Không thực

hiện công khai; 2. Phần lớn không thực hiện; 3. Thực hiện ở mức trung

bình; 4. Phần lớn có thực hiện; 5. Hoàn toàn công khai)

1

Nội dung quy hoạch và sử dụng quy

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

hoạch: quy hoạch và sử dụng đất, quy

hoạch cơ sở hạ tầng, quy hoạch phát triển

sản xuất, các khu dân cƣ, phƣơng án đền

bù, thu hồi đất…

2

Dự án cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội nhƣ

giao thông, thủy lợi, điện, cơ sở vật chất

văn hóa…

3

Dự án phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục

các chính sách chăm sóc y tế, ngƣời có

công với cách mạng

4

Cơ chế chính sách xóa đói giảm nghèo, chủ

trƣơng, tiêu chuẩn hỗ trợ vay vốn cho ngƣời

188

dân

5

Cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị,

hoạt động quản lý, điều hành của cán bộ

trong làm việc với ngƣời dân

6

Các nguồn vốn huy động cho xây dựng

NTM (bao gồm vốn đầu tƣ và vốn do

ngƣời dân đóng góp), các khoản thu, chi,

trong xây dựng NTM

7

Kết quả bầu cử Hội đồng nhân dân, Ban

Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tƣ

của cộng đồng

8

Kết quả kiểm tra, thanh tra, giải quyết các

vụ việc tiêu cực, những khiếu nại, tố cáo

của ngƣời dân liên quan đến xây dựng

NTM

189

(2)

(4)

(3)

(1)

(5)

1

Câu 6 Xin ông/ bà cho biết địa phương ông/ bà đã tổ chức cho người dân được tham gia BÀN những nội dung nào trong xây dựng NTM và mức độ thực hiện như thế nào? (1. Không thực hiện; 2. Phần lớn không thực hiện; 3. Thực hiện ở mức trung bình; 4. Phần lớn có thực hiện; 5. Hoàn toàn thực hiện) Khảo sát ý kiến ngƣời dân về quy hoạch và sử dụng quy hoạch trong công tác xây dựng NTM

2

Dự thảo kế hoạch sử dụng đất quy hoạch trong phát triển sản xuất, quy hoạch dân cƣ phƣơng án điều chỉnh việc quản lý, sử dụng đất

3

Dự thảo kế hoạch, chƣơng trình, phƣơng án hỗ trợ giải phóng mặt bằng, đền bù, tái định cƣ

4

Dự thảo kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, văn hóa- xã hội, môi trƣờng, giáo dục, y tế

5

Dự thảo kế hoạch chƣơng trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo, đối tƣợng đƣợc hỗ trợ

6

Dự thảo mức chi, mức đóng góp cho các hạng mục trong xây dựng NTM: giao thông, thủy lợi, trƣờng học, …

7 Một số vấn đền liên quan đến quyền lợi và cuộc sống của ngƣời dân, phúc lợi xã hội, những quy định cộng đồng chung tại địa phƣơng

8

Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tƣ của cộng đồng

9

Dự thảo thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính

190

Câu 7 Xin ông/ bà cho biết ông/ bà đã được tham gia LÀM những nội dung

nào trong xây dựng NTM và mức độ thực hiện như thế nào? (1. Không

tham gia; 2. Phần lớn không tham gia; 3. Tham gia ở mức trung bình; 4.

Phần lớn có tham gia; 5. Hoàn toàn tham gia

1

Xây dựng dự án quy hoạch sử dụng đất và

(1)

(2)

(3) (4)

(5)

hạ tầng cho phát triển sản xuất nông

nghiệp, hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ

công nghiệp, dịch vụ, quy hoạch khu dân

2

Xây dựng các dự án hạ tầng phát triển kinh

tế- xã hội: giao thông, thủy lợi, điện, trƣờng

học, nhà văn hóa

3

Xây dựng các dự án quy hoạch phát triển

191

khu dân cƣ mới, thực hiện kế hoạch xây

dựng khu dân cƣ mới văn minh

4

Tham gia dự thảo, quyết định mức đóng

góp, thu- chi các hạng mục trong xây dựng

NTM

Câu 8

Xin ông/ bà cho biết ông/ bà đã được tham gia KIỂM TRA, GIÁM

SÁT những nội dung trong xây dựng NTM và mức độ thực hiện như

thế nào? (1. Không tham gia; 2. Phần lớn không tham gia; 3. Tham

gia ở mức trung bình; 4. Phần lớn có tham gia; 5. Hoàn toàn tham

gia)

1

Giám sát quá trình thực hiện công khai

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

cho ngƣời dân những nội dung trong

xây dựng NTM: công khai về quy

192

hoạch, sử dụng quy hoạch; vốn sử dụng

trong quy hoạch, giải phóng mặt bằng;

kết quả kiểm tra, giám sát;…

2

Quá trình thực hiện cho ngƣời dân

đƣợc tham gia thảo luận, đóng góp ý

kiến những nội dung trong xây dựng

NTM

3

Quá trình thực hiện cho ngƣời dân

đƣợc tham gia làm và quyết định

những nội dung trong xây dựng NTM

4

Việc huy động các nguồn vốn, thu- chi

các loại quỹ trong thực hiện những nội

dung trong xây dựng NTM

5

Hoạt động của hệ thống chính trị: bổ

nhiệm cán bộ, hoạt động tiếp dân, việc

giải quyết khiếu nại, tố cáo của ngƣời

dân

193

Câu 9

Xin ông/ bà cho biết ở địa phương ông/ bà người dân đã được THỤ

HƯỞNG những thành quả gì từ thực hành dân chủ cơ sở trong xây

dựng NTM? Và mức độ thụ hưởng như thế nào? (1. Không được thụ

hưởng; 2. Phần lớn không được thụ hưởng; 3. Thụ hưởng ở mức trung

bình; 4. Phần lớn được thụ hưởng; 5. Thụ hưởng hoàn toàn)

1

Hiệu quả việc thực hiện chủ trƣơng, cơ

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

chế, chính sách về thực hành dân chủ

cơ sở trong xây dựng NTM

2

Hệ thống giao thông, thủy lợi, điện,

đƣờng, nhà văn hóa, chợ, bƣu điện …

3

Chính sách xóa đói giảm nghèo, thu

nhập bình quân đầu ngƣời, lao động,

việc làm

4

Chính sách giáo dục, chăm sóc sức

khoẻ, y tế, môi trƣờng

194

5

Đời sống văn hóa, tinh thần của ngƣời

dân đƣợc nâng cao.

6

Thực hiện công bằng cho ngƣời dân

đƣợc hƣởng thành quả của xây dựng

NTM đúng đối tƣợng

Câu 10

Xin ông/ bà cho biết ở địa phương ông/ bà đã thực hiện công khai

những nội dung trong tiêu chí xây dựng NTM dưới hình thức nào? kết

quả đạt được như thế nào? (1. Không mang lại kết quả; 2. Phần lớn

không mang lại kết quả; 3. Đạt kết quả ở mức trung bình; 4. Phần lớn

mang lại kết quả; 5. Mang lại kết quả cao)

Họp dân, tiếp xúc cử tri

(1)

(2)

(3) (4) (5)

1

Niêm yết tại trụ sở

2

Thông qua chính quyền, các tổ chức

3

chính trị- xã hội

4

Thông qua trƣởng thôn, tổ trƣởng dân

195

phố

5

Công khai qua hệ thống thông tin nội bộ,

cổng thông tin của địa phƣơng

Câu

Xin ông/ bà cho biết ở địa phương ông/ bà đã thực hiện cho dân

11

BÀN và LÀM những nội dung trong tiêu chí xây dựng NTM dưới

hình thức nào? kết quả đạt được như thế nào? (1. Không mang

lại kết quả; 2. Phần lớn không mang lại kết quả; 3. Đạt kết quả ở

mức trung bình; 4. Phần lớn mang lại kết quả; 5. Mang lại kết quả

cao)

1

Họp dân, tiếp xúc cử tri, lấy ý kiến của

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

ngƣời dân, bỏ phiếu kín

Phát phiếu lấy ý kiến đến từng gia đình

2

Thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ

3

chức chính trị- xã hội

4

Tổ chức hòm thƣ góp ý

196

Câu

Xin ông/ bà cho biết ở địa phương ông/ bà đã thực hiện cho dân

12

KIỂM TRA, GIÁM SÁT những nội dung trong tiêu chí xây dựng

NTM dưới hình thức nào? kết quả đạt được như thế nào? (1. Không

mang lại kết quả; 2. Phần lớn không mang lại kết quả; 3. Đạt kết quả

ở mức trung bình; 4. Phần lớn mang lại kết quả; 5. Mang lại kết quả

cao)

1

Thông qua chính quyền, hoạt động của

(1)

(2)

(3)

(4) (5)

Hội đồng nhân dân

2

Ban Thanh tra nhân dân, Ban Quản lý

dự án xây dựng NTM, Ban Giám sát và

đầu tƣ cộng đồng

Thông qua quyền khiếu nại, tố cáo

3

Giám sát trực tiếp

4

197

Câu 13

Xin ông/ bà cho biết ở địa phương ông/ bà đã sử dụng cách thức nào để nâng cao chất lượng thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng NTM dưới hình thức nào? kết quả đạt được như thế nào? (1. Không mang lại kết quả; 2. Phần lớn không mang lại kết quả; 3. Đạt kết quả ở mức trung bình; 4. Phần lớn mang lại kết quả; 5. Mang lại kết quả cao)

(1)

(2)

(3)

(4) (5)

1

Đổi mới công tác lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, tăng cƣờng sự quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở

Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho

2

cán bộ, đảng viên và nhân dân

3

Phát huy vai trò phƣơng thức giám sát- phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc

Sử dụng các phƣơng tiện truyền thông

4

đại chúng, công nghệ thông tin, mạng xã hội trong thực hành DCCS trong xây dựng NTM

198

Câu

Xin ông/ bà cho biết ở địa phương ông/ bà việc ban hành Hệ thống

14

văn bản, quy định pháp luật như thế nào để đem lại kết quả thực hành

dân chủ cơ sở trong xây dựng NTM? Và kết quả thực hiện như thế

nào? (1. Kết quả yếu; 2. Kết quả kém; 3. Trung bình; 4. Kết quả khá; 5.

Kết quả tốt)

Ban hành kịp thời, đảm bảo tính pháp lý

(1)

(2)

(3) (4) (5)

1

Quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của

2

ngƣời dân trong thực hành dân chủ cơ sở

3

Phải thƣờng xuyên đƣợc bổ sung, chỉnh sửa

hợp lý

199

Câu

Xin ông/ bà cho biết đội ngũ cán bộ, đảng viên thực hiện những điều

15

kiện gì để đem lại những thành tựu thực hành dân chủ cơ sở trong

xây dựng NTM? Và mức độ thực hiện như thế nào? (1. Kết quả yếu;

2. Kết quả kém; 3. Trung bình; 4. Kết quả khá; 5. Kết quả tốt)

1

Nâng cao phẩm chất năng lực, trình độ

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

chuyên môn, nghiệp vụ

2

Tinh thần tự giác, nêu gƣơng, trách nhiệm

trong công việc

3

Trọng dân, tin dân, gần dân, lắng nghe ý

kiến của nhân dân

200

Câu 16

Xin ông/ bà cho biết ở địa phương ông/ bà người dân đã thực hiện

những điều kiện để đem lại những thành tựu thực hành dân chủ cơ

sở trong xây dựng NTM? Và mức độ thực hiện như thế nào? (1. Kết

quả yếu; 2. Kết quả kém; 3. Trung bình; 4. Kết quả khá; 5. Kết quả tốt)

1

Nâng cao trình độ hiểu biết, hiểu rõ pháp

(1)

(2) (3)

(4)

(5)

luật

2

Nắm đƣợc quyền và nghĩa vụ làm chủ của

mình trong thực hành dân chủ cơ sở trong

xây dựng NTM

3

Tích cực tham gia vào xây dựng, kiểm tra,

giám sát quá trình xây dựng NTM

201

Câu 17

Xin ông/ bà cho biết việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại

chúng, công nghệ thông tin như thể nào để đem lại những thành tựu

về thực hành dân chủ cơ sở trong xây dựng NTM? Và kết quả như thế

nào? (1. Kết quả yếu; 2. Kết quả kém; 3. Trung bình; 4. Kết quả khá; 5.

Kết quả tốt)

1

Thực hiện ứng dụng CNTT rộng rãi trong

(1)

(2)

(3)

(4) (5)

các cơ quan, chính quyền cơ sở

2

Thực hiện đảm bảo tuyên truyền, phổ biến

thông tin đến ngƣời dân một cách nhanh

nhất, chính xác nhất

3

Là kênh thông tin đảm bảo cho ngƣời dân

đƣợc bày tỏ quan điểm, ý kiến và đƣợc xử

lý kịp thời

202

Câu 18 Xin ông/ bà cho biết thủ tục cải cách hành chính ở địa

phương đạt kết quả như thế nào? (chọn 1 phương án)

1

Kết quả tốt

2

Kết quả khá

3

Trung bình

4

Kết quả kém

5

Kết quả yếu

203

Câu 19 Xin ông/ bà hãy đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động của Ban

Thanh tra nhân dân, Ban Quản lý dự án xây dựng NTM và

Ban Giám sát đầu tư cộng đồng trong xây dựng NTM ở địa

phương ông/ bà? (chọn 1 phương án)

1

Hiệu quả tốt

2

Hiệu quả khá

3

Hiệu quả trung bình

4

Hiệu quả yếu

5

Hiệu quả kém

204

Câu 20 Xin ông/ bà cho biết chính quyền địa phương đã thực

hiện giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo cho người dân

trong xây dựng NTM như thế nào? (chọn 1 phương án)

1

Hiệu quả tốt

2

Hiệu quả khá

3

Trung bình

4

Hiệu quả kém

5

Hiệu quả yếu

205

Xin trân trọng Scảm ơn các ông/ bà!

206

Phụ lục 02

TỔNG HỢP KẾT QUẢ THỰC HIỆN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

GIAI ĐOẠN 2010- 2019 VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

Bảng 1: Kết quả huy động nguồn lực xây dựng NTM

giai đoạn 2010- 2019

STT Nội dung

Giai đoạn 2010- 2015

Giai đoạn 2016- 2019

Vốn (tr.đồng)

Tỷ lệ

Vốn

Tỷ lệ

(%)

(tr.đồng)

(%)

Tổng cộng

136.038.297

272.821.511

1 Ngân sách Trung ƣơng 2.239.015

1,6%

2.320.196

0,9%

Vốn đầu tƣ phát triển

1.677.133

1.656.838

Vốn sự nghiệp

561.882

663.358

2 Ngân sách địa phƣơng 29.428.107

21,6% 79.651.869

29,2%

3 Vốn lồng ghép

16.850.618

12,4% 24.805.886

9,1%

4

Tín dụng

57.147.281

42,0% 103.922.002 38,1%

5 Doanh nghiệp

7.015.586

5,2%

32.865.612

12,0%

6 Ngƣời dân và cộng

23.357.691

17,2% 29.255.946

10,7%

đồng đóng góp

207

Bảng 2: Bảng tổng hợp kết quả thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về xây

dựng nông thôn mới 2010- 2019

Đơn vị:%

TT

Tiêu chí

31/12/2010

21/12/2015

30/7/2019

Cả

Cả

Cả

ĐBSH

ĐBSH

ĐBSH

nƣớc

nƣớc

nƣớc

99.6

99.8

1 Quy hoạch

28.3

41.4

98.7

100.0

63.7

91.2

2 Giao thông

3.2

4.9

36.4

58.0

90.7

97.4

3

Thủy lợi

15.7

12.5

61.4

65.3

90.0

99.9

4 Điện

44.8

64.2

82.4

96.5

62.8

81.5

Trƣờng học

12.2

20.5

42.1

60.4

5

6

Cơ sở vật chất văn

2.3

4.3

34.6

59.9

60.3

82.6

hóa

7

Cơ sở hạ tầng

12.8

16.3

58.0

78.6

85.5

94.5

TMNT

8

Thông tin và

48.6

68.9

90.9

97.8

89.7

99.9

Truyền thông

9 Nhà ở dân cƣ

17.9

35.6

61.3

92.4

75.6

98.1

10 Thu nhập

8.0

9.3

56.5

72.2

67.3

92.9

11 Hộ nghèo

11.9

11.9

53.4

66.9

67.5

93.1

12 Lao động có việc

10.9

21.1

85.5

95.0

97.6

99.3

làm

13 Hình thức tổ chức

41.7

65.1

75.7

96.5

78.7

97.4

sx

14 Giáo dục và Đào

24,0

34.7

77.9

93.5

88.9

99.0

tạo

15 Y tế

45.1

41.9

67.1

85.2

82.6

94.2

208

16 Văn hóa

34.0

39.2

65.6

80.3

81.6

95.6

17 Môi trƣờng và

6.7

12.7

42.4

69.4

61.1

87.6

ATTP

18 Hệ thống chính trị

và tiếp cận pháp

48.1

63.4

75.2

93.6

78.4

94.5

luật

19 Quốc phòng và an

76.1

79.3

93.7

98.1

91.6

96.9

ninh

Đạt chuẩn NTM

0

0

17.1

27.2

50.26

82.7

209

Phụ lục 03

TỔNG HỢP KẾT QUẢ THỰC HIỆN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

GIAI ĐOẠN 2010- 2019 TỈNH BẮC NINH

Bảng 1: Kết quả huy động nguồn lực thực hiện xây dựng nông thôn mới

tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011- 2019

ĐVT: Vốn (triệu đồng); tỷ lệ (%)

STT Nội dung

Giai đoạn 2011- 2015

Giai đoạn 2016-

2019

Vốn

Tỷ lệ

Vốn

Tỷ lệ

TỔNG CỘNG

4.021.852 100

8.632.877

100

1

Ngân sách trung ƣơng

54.000

1,34

15.000

0,17

Vốn đầu tư phát triển

54.000

15.000

Vốn sự nghiệp

0

0

Ngân sách địa phƣơng

3.041.882 75,64

7.329.725

84,91

2

Vốn lồng ghép

171.422

4,26

14.000

0,16

3

Vốn tín dụng

333.423

8,29

1.195.749

13,85

4

Vốn doanh nghiệp hỗ trợ

137.640

3,42

7.535

0,09

5

Vốn nhân dân đóng góp

283.486

7,05

70.868

0,82

6

210

Bảng 2: Tổng hợp kết quả thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng

nông thôn mới tỉnh Bắc Ninh 2010- 2019

TT Tiêu chí

31/12/2010

21/12/2015

30/7/2019

Bắc

Bắc

Bắc

ĐBSH

ĐBSH

ĐBSH

Ninh

Ninh

Ninh

Quy hoạch

41.4

77,3

100.0

100

100

99.8

1

7,2

58.0

55,7

97,9

91.2

Giao thông

4.9

2

83,5

65.3

74,2

100

97.4

Thủy lợi

12.5

3

88,7

96.5

100

100

99.9

Điện

64.2

4

55,7

60.4

58,8

94,8

81.5

Trƣờng học

20.5

5

Cơ sở vật

6

chất văn

4.3

18,6

59.9

67,0

82.6

100

hóa

7

Cơ sở hạ

16.3

56,7

78.6

91,8

94.5

100

tầng

TMNT

8

Thông tin

và Truyền

68.9

78,4

97.8

100

99.9

100

thông

9

Nhà ở dân

35.6

36,1

92.4

100

98.1

100

10 Thu nhập

9.3

24,7

72.2

69,1

92.9

100

11 Hộ nghèo

11.9

11,3

66.9

61,9

93.1

100

12 Lao động

21.1

9,3

95.0

99,0

99.3

100

có việc làm

13 Hình thức

65.1

72,2

96.5

97,9

97.4

100

tổ chức sx

211

14 Giáo dục

34.7

8,2

93.5

97,9

99.0

100

và Đào tạo

15 Y tế

41.9

11,3

85.2

71,1

94.2

100

16 Văn hóa

39.2

57,7

80.3

69,1

95.6

99,0

17 Môi trƣờng

12.7

8,2

69.4

75,3

87.6

97,9

và ATTP

18 Hệ thống

chính trị và

63.4

84,5

93.6

90,7

94.5

95,9

tiếp cận

pháp luật

19 Quốc

phòng và

79.3

93,8

98.1

95,9

96.9

99,0

an ninh

Đạt chuẩn

0

0

27.2

36,08

82.7

91,75

NTM

212

PHỤ LỤC 04 KẾT QUẢ ĐẠT CHUẨN NÔNG THÔN MỚI TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2016- 2020 VÀ DỰ KIẾN MỤC TIÊU GIAI ĐOẠN 2021- 2025

TT

Đối tƣợng

ĐVT

Tính hết 31/12/2019

Tính hết 31/12/2020

Dự kiến mục tiêu 2021- 2025

Cấp xã

I

Tổng số xã

207

204

204

1

Số xã đạt 19 tiêu chí

207

204

204

2

207

204

204

Trong đó số xã có Quyết định công nhận đạt chuẩn

3

Số xã theo nhóm tiêu chí

Số xã đạt từ 15- 18 tiêu chí

0

0

0

Số xã đạt từ 10- 14 tiêu chí

Số xã đạt dƣới 10 tiêu chí

4

42

143

Số xã đƣợc công nhận đạt chuẩn nâng cao

5

0

51

Số xã đƣợc công nhận đạt chuẩn kiểu mẫu

II Đơn vị cấp huyện

1

10

huyện

10

Đơn vị cấp huyện đạt chuẩn, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM

huyện

10

Trong đó đã có quyết định công nhận

2

5

huyện

Đơn vị cấp huyện đạt chuẩn NTM nâng cao

3

1

huyện

Đơn vị cấp huyện đạt chuẩn NTM kiểu mẫu