BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN VĨNH DIỆN
VÊN §Ò THùC THI QUYÒN Së H÷U TRÝ TUÖ Cã YÕU Tè
N¦íC NGOµI CñA LùC L¦îNG C¤NG AN NH¢N D¢N VIÖT NAM
TRONG GIAI §O¹N HIÖN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN VĨNH DIỆN
VÊN §Ò THùC THI QUYÒN Së H÷U TRÝ TUÖ Cã YÕU Tè
N¦íC NGOµI CñA LùC L¦îNG C¤NG AN NH¢N D¢N VIÖT NAM
TRONG GIAI §O¹N HIÖN NAY
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 62 38 01 08
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: 1. PGS.TS. PHÙNG THẾ VẮC
2. PGS.TS. HOÀNG PHƯỚC HIỆP
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Những thông tin, số liệu nêu trong Luận án là trung thực, khách quan và
những kết quả nghiên cứu của Luận án chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả của luận án
Nguyễn Vĩnh Diện
MỤC LỤC
Trang
01 MỞ ĐẦU
06 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở CÁC
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
06 Tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới 1.1
11 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 1.2
19 1.3 Vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu đối với đề tài Luận án
26 Chương 2 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU
TRÍ TUỆ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN
2.1 Một số vấn đề lý luận về quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu 26
trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
2.2 Một số vấn đề lý luận về thực thi quyền sở hữu trí tuệ và thực 51
thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
2.3 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân 64
trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam
78 Chương 3 THỰC TIỄN THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CÓ
YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM CỦA LỰC
LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN
3.1 Thực trạng pháp luật và vi phạm pháp luật về quyền sở hữu trí 78
tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
3.2 Thực tiễn hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố 111
nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân
132 Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG
AN NHÂN DÂN
4.1 Dự báo về tình hình quốc tế và trong nước liên quan đến thực 132
thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của
lực lượng Công an nhân dân
4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở 144
hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng
Công an nhân dân
164 KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC
GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ANQG ANND BLDS BLTTDS BLHS BLTTHS CHXHCN CAND CSND CQHQ ĐƯQT NXB NN&PTNN QTG QLQ QSHCN QĐVGCT QLTT SHTT SHCN WTO WIPO TAND TPHN TPHCM TTATXH TNHH UBND VH -TT-DL An ninh quốc gia An ninh nhân dân Bộ luật Dân sự Bộ luật Tố tụng dân sự Bộ luật Hình sự Bộ luật Tố tụng hình sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Công an nhân dân Cảnh sát nhân dân Cơ quan Hải quan Điều ước quốc tế Nhà xuất bản Nông nghiệp và phát triển nông thôn Quyền tác giả Quyền liên quan Quyền sở hữu công nghiệp Quyền đối với giống cây trồng Quản lý thị trường Sở hữu trí tuệ Sở hữu công nghiệp Tổ chức Thương mại thế giới Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội Thành phố Hồ Chí Minh Trật tự an toàn xã hội Trách nhiệm hữu hạn Ủy ban nhân dân Văn hóa, Thể thao và Du lịch
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Luận án
Trong tác phẩm “Sở hữu trí tuệ - Một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế”
do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) phát hành, Kamil Idris khẳng định: “Tài
sản hữu hình như đất đai, lao động và tiền vốn đã từng là tiêu chuẩn so sánh tình
trạng kinh tế, điều đó nay không đúng nữa. Động lực mới tạo ra sự thịnh vượng
trong xã hội đương thời là tài sản dựa trên trí thức...” [63, tr.7].
Nhận định trên đây đã phản ánh chân thực về vai trò của tài sản trí tuệ đối
với đời sống vật chất và tinh thần của con người, đồng thời tác giả cũng dự báo về
xu hướng phát triển tất yếu của xã hội loài người dựa trên nền tảng kinh tế trí thức.
Với vị trí, vai trò quan trọng của tài sản trí tuệ như đã nêu, nên từ rất lâu
nhiều nước trên thế giới, nhất là các cường quốc như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Anh,
Pháp, Đức, Thụy Sĩ… đã dành sự quan tâm đặc biệt cho lĩnh vực sở hữu trí tuệ
(SHTT), coi đây là nền tảng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Vì
vậy, vấn đề thực thi pháp luật, chống lại hành vi xâm phạm quyền SHTT luôn được
các quốc gia chú trọng khi thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu quốc tế.
Từ một nước có xuất phát điểm thấp khi tham gia hội nhập quốc tế, Việt
Nam muốn phát triển nhanh, bền vững về mọi mặt, từng bước khẳng định vị thế
của mình trong cộng đồng quốc tế, thì cần phải đặc biệt quan tâm đến thị trường
khoa học, công nghệ, phải đẩy mạnh các hoạt động thực thi quyền SHTT, trong đó
có cả quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Tuy nhiên, làm thế nào để
vừa giữ vững an ninh quốc gia (ANQG), bảo đảm trật tự an toàn xã hội
(TTATXH), tiếp thu được trí tuệ nhân loại để phát triển đất nước… là những vấn
đề lớn đặt ra đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Đáp ứng những yêu cầu và đòi hỏi thực tiễn, với vai trò lãnh đạo toàn diện
đối với đất nước và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết
định hướng chiến lược, chỉ đạo hoạt động thực thi quyền SHTT ở nước ta. Nghị
quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 nhấn mạnh:
“Việc hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, hình thành và phát triển thị trường
khoa học, công nghệ theo hướng phù hợp yêu cầu của WTO và các điều ước quốc
2
tế mà Việt Nam là thành viên là việc làm cấp bách” [60]. Nghị quyết số 20-
NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về Phát triển khoa
học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, cũng khẳng
định: “Hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn
và quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo hướng hỗ trợ hiệu quả
cho việc vận hành thị trường khoa học và công nghệ. Có chế tài xử lý nghiêm các
vi phạm pháp luật trong giao dịch, mua bán các sản phẩm và dịch vụ khoa học và
công nghệ…” [62].
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng trong lĩnh vực SHTT, Nhà nước
ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan, như: Bộ luật Dân sự (BLDS),
Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT), Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Khoa học và
Công nghệ, Luật Hải quan, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Bộ luật Hình sự
(BLHS), Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Luật Xử lý vi phạm hành chính...
Đồng thời, nước ta cũng ký kết và tham gia vào nhiều điều ước quốc tế (ĐƯQT) về
bảo hộ và thực thi quyền SHTT. Ngoài ra, Nhà nước cũng chú trọng công tác giáo
dục, tuyên truyền pháp luật, thành lập các cơ quan chuyên trách về SHTT và áp
dụng những biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với tổ chức, cá nhân vi phạm quyền
SHTT… Tuy nhiên, trong thực tiễn, tình hình xâm phạm quyền SHTT, đặc biệt là
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam vẫn chưa được kiểm soát triệt để,
hành vi xâm phạm quyền tác giả (QTG), quyền liên quan (QLQ), quyền sở hữu
công nghiệp (QSHCN) và quyền đối với giống cây trồng (QĐVGCT) vẫn diễn ra
thường xuyên và có xu hướng ngày càng phức tạp, gây thiệt hại trực tiếp đến lợi ích
của chủ thể quyền SHTT, ảnh hưởng đến ANQG, TTATXH và làm giảm sút lòng
tin của đối tác nước ngoài khi đầu tư vào thị trường Việt Nam.
Là một cán bộ công tác trong ngành Công an, tác giả nhận thức rằng: vấn đề
thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam liên quan trực tiếp đến chức
năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân (CAND); đây là lực lượng nòng cốt
trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà lực
lượng CAND hiện vẫn chưa phát huy được tối đa được hiệu quả các mặt công tác
trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
3
Vì những lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Vấn đề thực thi quyền sở
hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay” để làm Luận án Tiến sĩ Luật học, nhằm đáp ứng những yêu cầu
cả về lý luận và thực tiễn đang đặt ra.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
- Về mục đích nghiên cứu, Luận án làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND; trên cơ sở đó kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND trong giai đoạn hiện nay.
- Về nhiệm vụ nghiên cứu, Luận án đặt ra các nhiệm vụ chủ yếu như sau:
+ Phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài và thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài để từ đó tìm ra những nội dung cần tiếp tục làm rõ trong Luận án;
+ Phân tích, đánh giá dưới góc độ khoa học pháp lý nhận thức chung về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND;
+ Khảo sát tình hình vi phạm pháp luật về SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam và tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật đó;
+ Phân tích, đánh giá hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND để từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
- Về đối tượng nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND.
- Về phạm vi nghiên cứu:
Nội hàm của khái niệm thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài khá phức
tạp, nhưng trong khuôn khổ của Luận án, tác giả chỉ tập trung:
+ Nghiên cứu những hoạt động của lực lượng CAND trong thực thi quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam thông qua việc áp dụng các biện pháp hành
chính và hình sự theo chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Việc áp dụng
4
biện pháp dân sự và các biện pháp nghiệp vụ khác của lực lượng CAND không thuộc
phạm vi nghiên cứu của Luận án này.
+ Địa bàn nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, tập trung ở một số địa
phương được chọn tiêu biểu, như: Thành phố Hà Nội (TPHN), Thành phố Hồ Chí
Minh (TPHCM), Hải Phòng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng,
Đồng Nai, Tây Ninh, Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu.
+ Thời gian nghiên cứu từ năm 2003 đến năm 2014, đặc biệt từ sau khi Việt
Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu của Luận án
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước về các lĩnh vực liên quan đến đề tài Luận án.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tập trung sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể, như: phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, điều tra xã hội
học, lịch sử.
5. Đóng góp mới về mặt khoa học của Luận án
Luận án có một số đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
- Làm rõ thêm nội hàm khái niệm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài và
thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, góp phần hoàn thiện lý
luận khoa học pháp lý ở nước ta về lĩnh vực đã nêu;
- Làm rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng CAND và yêu
cầu đặt ra đối với CAND trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay;
- Dự báo tình hình quốc tế và trong nước có liên quan đến thực thi quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, đề xuất những giải pháp mang tính
khoa học, tổng thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND trong những năm tiếp theo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
- Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của Luận án có thể làm luận cứ đề
xuất, bổ sung những vấn đề lý luận về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước
5
ngoài ở Việt Nam, đặc biệt là lý luận về phòng, chống tội phạm và xử lý vi
phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
- Về mặt thực tiễn, Luận án có thể được dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng
dạy tại các trường đại học; làm tài liệu để bồi dưỡng kiến thức pháp luật quốc tế
cho cán bộ, chiến sĩ CAND trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp
luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc
tế hiện nay.
7. Cấu trúc của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục công
trình nghiên cứu của tác giả có liên quan đến đề tài nghiên cứu, Luận án được cấu
trúc bởi 4 chương như sau:
- Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới và
Việt Nam có liên quan đến đề tài Luận án;
- Chương 2. Nhận thức chung về thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân;
- Chương 3. Thực tiễn thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân;
- Chương 4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu
trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân.
6
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu ở các nước trên thế giới
Quyền SHTT và thực thi quyền SHTT luôn là vấn đề nóng hổi, được đặc
biệt quan tâm ở nhiều nước trên thế giới. Bill Gates, Chủ tịch tập đoàn công nghệ
thông tin hàng đầu thế giới - Microsof, từng phát biểu: “Cuộc đấu tranh về quyền
sở hữu trí tuệ trong tương lai đã bắt đầu” [96, tr.5].
Cho đến nay đã có hàng trăm công trình, tác phẩm của nước ngoài nghiên
cứu về quyền SHTT và thực thi quyền SHTT. Trong phạm vi Luận án này, tác giả
chỉ xin nêu một số công trình, tác phẩm tiêu biểu như sau:
- Cuốn chuyên khảo “Luật sở hữu trí tuệ” của T.Hart và L.Tina được Công
ty Macmillan Press Ltd phát hành tại London năm 1997;
Cuốn chuyên khảo này không chỉ giới thiệu các vấn đề lý luận về quyền
SHTT đối với phát minh, sáng chế, nhãn hiệu thương mại, QTG mà còn hướng dẫn
cả cách thức bảo vệ quyền SHTT, thực thi quyền SHTT, trong đó đặc biệt nhấn
mạnh đến biện pháp hành chính và biện pháp hình sự kèm theo các chế tài nghiêm
khắc đối với việc vi phạm các quyền đó. Tuy nhiên, cuốn sách cũng khuyến cáo
chủ sở hữu quyền SHTT nên chủ động bảo vệ lợi ích của mình bằng cách tự bảo
vệ, để vừa mang tính chủ động, vừa tránh tình trạng “quá tải” cho cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp về quyền SHTT.
- Cuốn chuyên khảo “Hệ thống thương mại toàn cầu” của Hoekman,
Bernard, do Viện nghiên cứu Tauris phát hành tại New York vào năm 2002;
Trong nội dung cuốn chuyên khảo, tác giả đã phân tích các quy định của
Hiệp định TRIPS/WTO, trong đó có phần thực thi quyền SHTT và các biện pháp
hình sự được áp dụng đối với vi phạm quyền SHTT ở quy mô thương mại. Từ nội
dung cuốn chuyên khảo này, người đọc có thể liên tưởng tới khả năng phát triển
của quan hệ thương mại quốc tế trong tương lai, nhất là ở các châu lục và các quốc
gia đang có nhu cầu vốn và nhân lực, hé mở những tiềm năng phát triển của mỗi
quốc gia thông qua chính sách bảo hộ và thực thi quyền SHTT.
7
- Cuốn “Vòng đàm phán GATT Uruguay” của tác giả Stewart, Terence do
NXB Kluwer law and Taxation phát hành tại Boston vào năm 1993;
Nội dung cuốn chuyên khảo này giúp cho người đọc có cái nhìn tổng thể về những khả năng tranh chấp có thể xảy ra đối với quyền SHTT và thực thi quyền SHTT, cho thấy sự liên quan giữa quyền SHTT với các khía cạnh thương mại quốc tế, đòi hỏi mỗi quốc gia phải hoạch định chính sách thương mại một cách hài hòa, đặc biệt về chiến lược tổng thể trong thực thi quyền SHTT.
- Cuốn chuyên khảo “Quyền sở hữu trí tuệ, thương mại và đa dạng sinh học” của tác giả Dutfield, do Nhà xuất bảnb (NXB) Graham IUCN phát hành tại London vào năm 2000;
Tác giả đã đề cập những ĐƯQT liên quan đến sinh học, như: Công ước về đa dạng sinh học (CBD), Hiệp định TRIPS của WTO, Công ước quốc tế về bảo vệ thực vật (IPPC); xem xét đến sự kết hợp nội dung của CBD với quy định về quyền SHTT mang tính toàn cầu và lưu ý sự quan tâm của mỗi quốc gia đối với vấn đề môi trường, ảnh hưởng xã hội, chuyển giao công nghệ và tri thức truyền thống. Vấn đề thực thi quyền SHTT cũng được đề cập đến trong một mức độ nhất định.
- Cuốn chuyên khảo “Sở hữu trí tuệ và pháp luật về cạnh tranh: quan hệ đổi mới” của tác giả Ghidini, Gustavo do NXB Edward Elgar, Cheltenham, phát hành tại Northampton vào năm 2006;
Tác giả đã dành phần lớn nội dung cuốn sách phân tích về sự bảo hộ của chính phủ các nước đối với những đổi mới về độc quyền kháng thể của sức khỏe con người, về nghệ thuật và khoa học, công nghệ với sự phát triển bản quyền, phân biệt chức năng và giá trị quảng cáo của từng hãng và tập đoàn trong hoạt động kinh doanh, đánh giá điểm giao thoa giữa pháp luật về SHTT với pháp luật về cạnh tranh của các nước. Thông qua tác phẩm này, người đọc sẽ học hỏi được kinh nghiệm của các nước trong thực thi quyền SHTT, đặc biệt là việc áp dụng các biện pháp thực thi quyền SHTT, quan hệ tương tác giữa thực thi quyền SHTT và pháp luật về cạnh tranh, đảm bảo sự phát triển song song, không trùng lặp và phát triển tương hỗ lẫn nhau giữa các quy định của pháp luật, thúc đẩy các quan hệ kinh tế phát triển một cách toàn diện.
- Cuốn sách “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ” của Giáo sư Michael Blakeney
thuộc Viện nghiên cứu Queen Mary, do trường Đại học London xuất bản tại
London năm 2008;
8
Tác giả ngoài việc giới thiệu khá cụ thể nội dung pháp luật về SHTT của một
số nước như Anh, Mỹ, Trung Quốc…, còn có những phân tích các hình thức thực
thi quyền SHTT theo quy định của Hiệp định TRIPS (về nghĩa vụ thực thi chung
của tất cả các nước thành viên; thủ tục, chế tài dân sự và hành chính dành cho các
chủ thể vi phạm pháp luật về quyền SHTT; quy định thủ tục và chế tài hình sự
trong trường hợp cố tình giả mạo nhãn hiệu hoặc xâm phạm bản quyền ở quy mô
thương mại; quy định chế độ kiểm soát biên giới đối với hàng hóa giả mạo
SHTT…).
- Cuốn sách “Sở hữu trí tuệ và chiến lược cạnh tranh trong thế kỷ 21” của
tác giả Shahid Alikhan, Raghunath Mashelkar do NXB Kluwer Law International
phát hành tại The Hague năm 2004;
Nội dung cuốn sách giới thiệu về các vấn đề lý luận chung về quyền SHTT
và thực thi quyền SHTT; toàn cầu hoá chiến lược phát triển kinh tế quốc gia liên
quan đến SHTT và vấn đề thực thi quyền SHTT; bảo vệ di sản văn hoá; tri thức
truyền thống và hiện đại; văn hoá dân gian và phát triển kinh tế, xã hội bền vững.
Ngoài ra, sách còn nêu rõ tầm quan trọng của thực thi quyền SHTT đối với sự cạnh
tranh công bằng của doanh nghiệp vừa và nhỏ; khuyến khích nghiên cứu và phát
triển, vai trò của chính phủ, lĩnh vực tư nhân, xã hội và những thách thức đối với hệ
thống SHTT trên toàn thế giới.
- Tập bài giảng “Chuyên đề về quyền sở hữu trí tuệ dành cho các nước
ASEAN” của giáo sư Cho Un Young, thuộc Học viện SHTT của Hàn Quốc (IITPI).
Chuyên đề này được trình bày tại khóa học đặc biệt dành cho học viên đến từ 10 nước
ASEAN [96];
Giáo sư Cho Un Young đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của hệ thống Tòa án
SHTT ở Hàn Quốc; nêu rõ chủ trương của Hàn Quốc trong thực thi quyền SHTT,
coi đây nhiệm vụ cần thiết cho sự phồn vinh về công nghệ của quốc gia cũng như
quan hệ hợp tác với các đối tác kinh doanh, thương mại lớn trên thế giới. Chuyên
đề này của giáo sư Cho Un Young, kết hợp với việc tham quan, nghiên cứu về hệ
thống Tòa án SHTT đã giúp cho tác giả học tập được những kinh nghiệm của nước
bạn trong thực thi quyền SHTT; hiểu rõ hơn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng và
tính ưu việt của hệ thống Tòa án SHTT cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp về
quyền SHTT của Hàn Quốc.
9
- Cuốn “Sự thật về 100 thất bại thương hiệu lớn nhất của mọi thời đại” của tác giả Brand Failures, do Nhà xuất bản Tổng hợp TPHCM dịch và xuất bản năm 2005, cho thấy sự thất bại của 100 thương hiệu lớn, trong đó có những thất bại điển hình như: New Coke, Edsel của Ford; Beatamax của Sony; Arch Deluxe của McDonald’s… một phần có sự tham gia của vấn đề bảo hộ và thực thi quyền SHTT. Cuốn sách cũng đề cập đến những thất bại khác nhau nhưng cũng gợi mở cho người đọc, doanh nhân, người quản lý QSHCN rút ra những bài học quý báu trong bảo hộ và thực thi quyền SHTT.
- Chuyên khảo “Tình báo công nghiệp” của tác giả Jacques Bergier, NXB CAND dịch và phát hành năm 2005, đề cập đến những hoạt động thu thập bí mật khoa học kỹ thuật của các cơ quan tình báo nước ngoài và vấn đề thực thi quyền SHTT. Nội dung cuốn sách cho người đọc thấy tầm quan trọng của việc nâng cao ý thức về bảo vệ bí mật nhà nước, bảo hộ quyền SHTT, gợi mở những ý tưởng về thực thi quyền SHTT liên quan đến công nghiệp an ninh, quốc phòng, nhằm giữ vững ANQG và bảo đảm TTATXH ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Trang thông tin điện tử về SHTT của khối ASEAN (http://www.
aseanip.org) giới thiệu hệ thống cơ quan thực thi quyền SHTT ở các nước trong
khu vực. Theo đó, cơ quan chuyên trách thực thi quyền SHTT ở các nước không
giống nhau về tên gọi, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ. Chẳng hạn: Brunei
Darussalam có những cơ quan thực thi quyền SHTT là: Cảnh sát, Hải quan, Cục
Thuế, Phòng Tư pháp hình sự của Tổng Chưởng lý; ở Campuchia có: Ủy ban bản
quyền và vi phạm bản quyền, Cảnh sát, Hải quan, Tòa án SHTT; ở Indonesia, có:
Tòa án tối cao, Tổng hội Luật sư, Cảnh sát, Hải quan (thuộc Bộ Tài chính)…
- Trang thông tin điện tử về thực thi quyền SHTT của các nước châu Âu
(http://www.ec.europa.eu);
Vấn đề thực thi quyền SHTT cũng được Ủy ban châu Âu (EC) đặc biệt quan
tâm. Từ năm 2004, EC đã ban hành Chỉ thị về việc thực thi QTG và QLQ, nhãn
hiệu hàng hóa, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, sáng chế; đồng thời yêu cầu
tất cả các nước thành viên áp dụng biện pháp khắc phục và xử phạt đối với những
người tham gia sản xuất, tiêu thụ hàng giả, vi phạm bản quyền để tạo ra một sân
chơi bình đẳng cho chủ sở hữu quyền SHTT trong khối Liên minh Châu Âu (EU).
Để thực thi quyền SHTT một cách hiệu quả, EC tìm kiếm sự hợp tác mạnh mẽ giữa
10
các cấp hành chính ở mọi quốc gia, kêu gọi thành lập một Đài quan sát Châu Âu về
hàng giả và vi phạm bản quyền. Đài quan sát có chức năng như một trung tâm thu
thập, theo dõi và báo cáo thông tin về thực thi quyền SHTT, góp phần nâng cao
kiến thức của cộng đồng về tính nguy hiểm của hàng giả và vi phạm bản quyền…
Tóm lại, qua tìm hiểu các công trình, tác phẩm nghiên cứu về quyền SHTT
và thực thi quyền SHTT ở các nước trên thế giới cho thấy: từ lâu các nước đã xây
dựng được hệ thống pháp luật quốc nội tương đối hoàn chỉnh về quyền SHTT và
thực thi quyền SHTT, thành lập các cơ quan chuyên trách để thực thi quyền SHTT
một cách hiệu quả. Về cơ bản, cơ quan thực thi quyền SHTT của các nước gồm
nhiều loại khác nhau, trong đó xu hướng thành lập các Tòa án SHTT là một mô
hình tương đối phổ biến; bên cạnh đó, quá trình thực thi quyền SHTT ở nhiều nước
cũng được biết đến với vai trò của lực lượng Công an (Cảnh sát). Trong hoạt động
thực thi quyền SHTT, các nước đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ những thành quả
SHTT của các tổ chức, cá nhân nước mình, đặc biệt là những sản phẩm trí tuệ liên
quan đến ANQG và TTATXH, thuần phong, mỹ tục và đạo đức. Ngoài ra, các
nước cũng cố gắng khai thác các thành tựu trí tuệ của quốc gia khác bằng nhiều
hình thức khác nhau, kể cả bằng hoạt động tình báo, gián điệp nhằm tranh thủ tối
đa các giá trị quyền SHTT vào hoạt động riêng của mình.
Trong phần lớn các công trình, tác phẩm nêu trên, đã phản ánh vai trò quan
trọng của các ĐƯQT về SHTT, hình thành nên các chuẩn mực chung về bảo hộ và
thực thi quyền SHTT của cộng đồng quốc tế mang tính khu vực và phổ biến trên
phạm vi toàn cầu. Trong số các ĐƯQT đa phương về thực thi quyền SHTT, các tác
giả nhấn mạnh đến nội dung và sự ảnh hưởng của Hiệp định TRIPS trong khuôn
khổ WTO. Đây là một hiệp định có ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm đối với tất cả
thành viên WTO, ngay cả trong quá trình xây dựng luật pháp của mỗi quốc gia về
quyền SHTT cũng phải tuân theo các chuẩn mực này. Đồng thời, thông qua nội
dung của các công trình nghiên cứu trên đây, cũng cho thấy vai trò của các tổ chức
quốc tế (như EU, ASEAN, WTO…) trong việc hình thành nên cơ chế thực thi
quyền SHTT trên thế giới và trong khu vực, giám sát và giải quyết các tranh chấp
về quyền SHTT giữa các nước thành viên của tổ chức trong quá trình thực hiện các
cam kết quốc tế.
11
Mặc dù với số lượng rất đa dạng các công trình, tác phẩm nghiên cứu về
quyền SHTT ở các nước trên thế giới, nhưng cho đến nay chưa có bất kỳ công trình
nào đề cập trực tiếp đến đề tài nghiên cứu của Luận án. Sở dĩ có hiện tượng này là
vì, nội dung đề tài liên quan đến hoạt động mang tính nội bộ của ngành Công an,
mà không phải phương tiện thông tin nào hay tác giả nào cũng có thể tiếp cận được.
Bởi vậy, quá trình triển khai nghiên cứu đề tài Luận án, ngoài việc kế thừa những
kiến thức của các công trình, tác phẩm trên đây, tác giả cũng cần phải chú ý tiếp tục
bổ sung, khai thác những điểm mới, mang tính đặc thù về thực thi quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND để hoàn thành nhiệm vụ
nghiên cứu của Luận án.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, số lượng các công trình nghiên cứu về thực thi quyền SHTT
nói chung, thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài của lực lượng CAND có liên
quan đến đề tài Luận án cơ bản chưa nhiều. Tuy vậy, có một số công trình sau đây
đáng chú ý:
- Cuốn chuyên khảo“Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, những vấn đề
lý luận và thực tiễn” của PGS.TS. Lê Hồng Hạnh và ThS. Đinh Thị Mai Hương,
NXB Chính trị Quốc gia phát hành năm 2004;
Cuốn chuyên khảo có nội dung khá đầy đủ, toàn diện về lý luận và thực tiễn
trong bảo hộ và thực thi quyền SHTT ở Việt Nam, bao gồm các vấn đề: thực trạng
bảo hộ và thực thi quyền SHTT; những yêu cầu hoàn thiện đối với các quy định
pháp luật dân sự liên quan đến quyền SHTT trong quá trình chủ động hội nhập
quốc tế; kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan tới quyền SHTT…
- Cuốn chuyên khảo “Quyền sở hữu trí tuệ” của tác giả Lê Nết, NXB Đại
học Quốc gia TPHCM xuất bản năm 2005;
Nội dung chuyên khảo đề cập đến quyền SHTT dưới góc độ của một quốc
gia đang phát triển, phân tích các mặt thuận lợi, khó khăn của việc bảo hộ và thực
thi quyền SHTT tại Việt Nam, cam kết quốc tế mà Việt Nam cần thực hiện trong
bảo hộ quyền SHTT. Tác giả cũng phân tích việc thực thi quyền SHTT về từng đối
tượng cụ thể, những khó khăn chủ quan và khách quan trong hoạt động thực thi,
đồng thời đề ra những kiến nghị nhằm đưa đến một hệ thống cơ quan thực thi
12
quyền SHTT một cách cân bằng cho chủ sở hữu và cho người tiêu dùng, phù hợp
với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
- Cuốn chuyên khảo “Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, thực trạng và giải
pháp”, của TS. Phan Xuân Dũng, NXB Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2004;
Nội dung chuyên khảo phản ánh vấn đề chuyển giao công nghệ là một hình
thức phổ biến để các đối tượng QSHCN được sử dụng hiệu quả trong cuộc sống; đề
cập một số thông tin về tình hình chuyển giao công nghệ trên thế giới và thực trạng
chuyển giao công nghệ tại Việt Nam trong những năm đổi mới. Vấn đề đặt ra được
đề cập từ hai góc độ: chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại của nước ngoài vào
Việt Nam; chuyển giao các công nghệ ngay từ các kết quả nghiên cứu khoa học và
công nghệ của Việt Nam vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần cho nhân dân cũng như vấn đề bảo hộ và thực thi quyền
SHTT trong quá trình chuyển giao công nghệ.
- Cuốn “Cẩm nang sở hữu trí tuệ” do Cục SHTT biên soạn, NXB Văn hoá -
Thông tin xuất bản năm 2005;
Sách được phát hành nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập Cục SHTT, đề cập
toàn diện đến các quy định của WIPO về quyền SHTT, những khái niệm cơ bản
nhất về quyền SHTT của Việt Nam và thế giới; cung cấp cho công chúng kiến thức
tham khảo về các lĩnh vực khác nhau của quyền SHTT và thực thi quyền SHTT,
qua đó góp phần thúc đẩy việc áp dụng hệ thống pháp luật về bảo hộ và thực thi
quyền SHTT trong các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, sản xuất, kinh doanh.
- Cuốn chuyên khảo “Giải pháp của lực lượng An ninh nhân dân nhằm nâng
cao hiệu quả bảo vệ bí mật Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế trọng điểm ở Việt Nam
hiện nay”, Viện Chiến lược và Khoa học Công an biên soạn, NXB CAND xuất bản
năm 2007;
Cuốn chuyên khảo được biên soạn trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề tài khoa
học cấp Bộ của tác giả Đỗ Hữu Vấn. Nội dung cuốn chuyên khảo này đề cập đến
thực trạng tổ chức công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong lĩnh vực kinh tế trọng
điểm của lực lượng ANND; trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong lĩnh vực kinh tế trọng
điểm ở nước ta sau khi gia nhập WTO.
13
- Cuốn chuyên khảo “Tư pháp quốc tế Việt Nam, quan hệ dân sự, lao động, thương mại có yếu tố nước ngoài” của TS. Đỗ Văn Đại, PGS.TS. Mai Hồng Quỳ, NXB Chính trị quốc gia phát hành năm 2010;
Nội dung cuốn chuyên khảo đề cập đến ba vấn đề lớn là: quan hệ lao động, quan hệ dân sự và quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Bằng việc đi sâu phân tích quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến ba lĩnh vực nói trên, các tác giả đưa ra luận giải về các vấn đề: xung đột thẩm quyền, xung đột pháp luật, công nhận và cho thi hành quyết định của Tòa án hay Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Ngoài ra, cuốn sách còn cung cấp các thông tin về pháp luật nước ngoài để người đọc tham khảo, so sánh khi nghiên cứu về pháp luật Việt Nam. Mặc dù nội dung công trình này không trực tiếp đề cập đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài, nhưng thông qua khái niệm về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà các tác giả bàn luận, có thể vận dụng bổ sung vào phần lý luận về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
- Cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học “Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ, đẩy mạnh thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố Hà Nội”, của Trường Đại học Luật Hà Nội, thực hiện năm 2006;
Nội dung cuốn kỷ yếu này đăng tải các bài viết của các tác giả là những nhà
khoa học, những cán bộ làm công tác thực tiễn về thực thi quyền SHTT trên địa bàn
TPHN. Khi tham gia hội thảo, các tác giả đã thẳng thắn nhìn nhận, đánh giá thực
trạng vi phạm pháp luật về SHTT, đặc biệt trong lĩnh vực QTG, QSHCN ở nước ta;
đồng thời các tác giả cũng chỉ rõ thực trạng công tác thực thi pháp luật về SHTT của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ đó đưa ra các giải pháp về đẩy mạnh thực
thi quyền SHTT trong những năm tiếp theo.
- Cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
sau khi gia nhập WTO” do trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn phối hợp
với Viện Konrad Adenauer Stiftung (Cộng hòa Liên bang Đức), tổ chức tại Hà Nội
năm 2011;
Nội dung của cuốn kỷ yếu đăng tải nhiều bài viết của các tác giả, bàn luận đối
với vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến thực thi quyền SHTT ở Việt Nam từ sau
thời điểm tháng 01/2007, khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO. Những vấn
đề được bàn thảo bao gồm: vai trò của nhà nước trong việc thực thi QTG và QLQ;
14
bài học kinh nghiệm của các nước thành viên WTO, tiêu biểu là Hoa Kỳ, EU, Trung
Quốc về thực thi quyền SHTT theo quy định của Hiệp định TRIPS, thực thi quyền
SHTT ở các trường đại học - kinh nghiệm của trường Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn; các biện pháp bảo hộ SHTT; định giá tài sản SHTT trong hoạt động
thương mại…
- Cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học “Bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong chiến
lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, quan điểm, nhận diện và khuyến nghị”, do
Bộ Công an tổ chức tại Học viện CSND tháng 5 năm 2013;
Kỷ yếu gồm những bài viết của lãnh đạo Bộ Công an, chuyên gia thực tiễn,
nhà khoa học… phản ánh nội dung về sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với tổng kết
kinh nghiệm thực tiễn trong bảo đảm ANQG, TTATXH trên nhiều lĩnh vực, trong đó
có thực thi quyền SHTT, nhằm làm sáng tỏ những vấn đề chung về TTATXH, chiến
lược quản lý nhà nước về TTATXH, lý luận về đấu tranh phòng, chống tội phạm
trong giai đoạn hiện nay. Trong nội dung của cuốn kỷ yếu, một số bài viết trực tiếp
đề cập đến đề tài Luận án, có thể được sử dụng nghiên cứu để bổ sung, như: “Hoàn
thiện pháp luật trong đấu tranh chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả góp
phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế” của TS. Phạm
Công Nguyên; “Thực trạng vi phạm pháp luật và tội phạm xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ ở nước ta hiện nay và giải pháp phòng, chống” của TS. Lê Hoài Nam…
- Luận án Tiến sĩ “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ an ninh
trong lĩnh vực xuất bản ở nước ta hiện nay” của tác giả Trần Anh Vũ, thực hiện tại
Học viện ANND năm 2007;
Tác giả đã trình bày một số vấn đề cơ bản về: quyền SHTT và QTG; quản lý
nhà nước về xuất bản; chức năng, nhiệm vụ của lực lượng ANND trong quản lý
nhà nước về xuất bản; thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất bản ở Việt
Nam, trong đó đặc biệt nhấn mạnh về hậu quả của việc in lậu và xuất bản sách là
các tác phẩm có nội dung xâm hại đến chủ quyền, ANQG và TTATXH ở Việt
Nam; thực trạng công tác của lực lượng ANND về thực thi quyền SHTT trong lĩnh
vực xuất bản. Bên cạnh đó, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của lực lượng ANND trong quản lý nhà nước về xuất bản, đấu tranh
phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác trong lĩnh vực xuất bản.
15
- Luận án Tiến sĩ “Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp và trách nhiệm của cơ
quan Công an - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Bá Ngừng, thực hiện
tại Học viện ANND năm 2008;
Tác giả đã trình bày những kiến thức lý luận cơ bản nhất về QSHCN và các
biện pháp bảo vệ QSHCN; cơ sở pháp lý quy định chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan
Công an trong bảo vệ và thực thi QSHCN. Bên cạnh việc khảo sát, đánh giá về thực
trạng vi phạm pháp luật đối với QSHCN, tác giả đã đưa ra những nhận xét về các ưu
điểm, hạn chế của công tác bảo vệ và thực thi QSHCN mà cơ quan Công an đã tiến
hành; trên cơ sở dự báo về tình hình vi phạm QSHCN, tác giả đã đưa ra những giải
pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ và thực thi QSHCN của cơ quan
Công an trong những năm tiếp theo.
- Luận văn Thạc sỹ “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân Việt Nam hiện nay” của tác giả Bùi
Thị Dung Huyền, thực hiện tại Đại học Luật Hà Nội năm 2010;
Tác giả giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu ở cơ sở lý luận và thực
tiễn hoàn thiện pháp luật về thủ tục bảo vệ và thực thi quyền SHTT tại Tòa án nhân
dân (TAND), trong đó tập trung làm rõ thực trạng và vai trò giải quyết tranh chấp
quyền SHTT của TAND theo thủ tục tố tụng dân sự, đề xuất một số giải pháp hoàn
thiện pháp pháp luật về bảo vệ và thực thi quyền SHTT tại TAND.
- Luận văn Thạc sỹ “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu công nghiệp
bằng biện pháp hành chính” của tác giả Trần Minh Dũng, thực hiện tại Viện Chiến
lược và chính sách khoa học, công nghệ năm 2004;
Tác giả đã đã làm rõ những khái niệm cơ bản về QSHCN và thực thi
QSHCN bằng biện pháp hành chính, được tiến hành bởi các cơ quan quản lý nhà
nước, như: Ủy ban nhân dân (UBND), CAND, Cơ quan Hải quan (CQHQ), Quản
lý thị trường (QLTT), Thanh tra chuyên ngành của Bộ Khoa học - Công nghệ (Bộ
KH-CN) và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VH-TT-DL, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT). Trên cơ sở khảo sát thực trạng xâm phạm
QSHCN ở Việt Nam, tác giả đã phân tích, đánh giá, rút ra nhận xét về những ưu,
nhược điểm đối với hoạt động thực thi QSHCN của các cơ quan nói trên. Bên cạnh
đó, tác giả cũng đưa ra dự báo về tình hình vi phạm QSHCN và đề xuất các giải
pháp nâng cao hiệu quả thực thi QSHCN bằng biện pháp hành chính ở Việt Nam.
16
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Thực trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và các giải pháp phòng, chống của lực lượng Cảnh sát nhân dân”, tác giả Lê Hoài Nam làm chủ nhiệm, Viện Chiến lược và khoa học Công an nghiệm thu năm 2007;
Đề tài đã nghiên cứu vấn đề thực thi quyền SHTT, thực trạng vi phạm quyền SHTT và công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm quyền SHTT của lực lượng CSND, trong đó tập trung vào công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm quyền SHTT theo chức năng của Cảnh sát kinh tế, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực thi quyền SHTT của lực lượng CSND. Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung khảo sát thực trạng tình hình tội phạm theo quy định tại các Điều: 131, 156, 157, 158, 170, 171 BLHS năm 1999 và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực thi quyền SHTT liên quan đến các lĩnh vực nêu trên. Thời gian nghiên cứu, được đề cập đến từ 2000 đến 2007.
- Đề tài khoa học cấp cơ sở “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO và những vấn đề đặt ra đối với công tác an ninh”, do ThS Nguyễn Vĩnh Diện làm chủ nhiệm, thực hiện tại Học viện ANND năm 2008;
Tác giả đã tập trung phân tích làm rõ một số vấn đề có liên quan đến quyền
SHTT và thực thi quyền SHTT, như: khái niệm, đặc điểm, nội dung của quyền
SHTT và thực thi quyền SHTT; các biện pháp thực thi quyền SHTT; mối liên hệ
giữa vấn đề thực thi quyền SHTT với chức năng, nhiệm vụ của lực lượng ANND;
thực trạng pháp luật và thực tiễn công tác thực thi quyền SHTT, công tác đấu tranh
phòng, chống vi phạm pháp luật về quyền SHTT của lực lượng ANND; dự báo tình
hình vi phạm pháp luật về SHTT trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO và
những giải pháp tăng cường công tác thực thi quyền SHTT của lực lượng ANND
trong tình hình mới…
- Bài viết “Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp
luật về quyền tác giả ở Việt Nam” của Trần Văn Nam, Nguyễn Hợp Toàn, Nguyễn
Thị Thanh Thủy, đăng trên Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 197 (II) năm 2013;
Trong bài viết này, các tác giả đã đưa ra những đánh giá tổng quan đối với
việc nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về QTG ở Việt Nam; nhìn nhận về những
điểm hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về QTG và những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng đó; bài viết cũng nêu lên những giải pháp về hoàn thiện pháp luật về
thực thi QTG. Những giải pháp được các tác giả nêu lên, như: cần ban hành thêm
17
các văn bản dưới luật về QTG, sửa đổi Luật SHTT (Phần QTG), khắc phục những
bất cập khác về thực thi QTG và QLQ, đề xuất xây dựng Luật thực thi QTG…
Ngoài ra, bài viết còn đề cập một số giải pháp nhằm hoàn thiện bộ máy thực thi
QTG và QLQ ở nước ta.
- Bài viết “Tác hại của hàng giả và dấu hiệu xác định hàng giả trong điều
tra phám phá tội phạm” của tác giả Nguyễn Ngọc Hà, đăng trên Tạp chí Cảnh sát
phòng, chống tội phạm, số 10/2013;
Trên cơ sở khái quát thực trạng vi phạm QSHCN ở nước ta trong thời gian
qua (đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, tiêu thụ hàng giả là các sản phẩm đồ uống,
thuốc tân dược, mỹ phẩm…) tác giả nêu lên những khó khăn, trở ngại trong việc
thực thi QSHCN, đặc biệt là hoạt động nhận diện về hàng giả và hàng kém chất
lượng. Những khó khăn đó xuất phát từ những lý do, như: cơ sở pháp lý quy định
về hàng giả, hàng kém chất lượng chưa rõ ràng; chưa có đủ điều kiện tổ chức giám
định đối với tất cả các loại hàng hóa vi phạm QSHCN; ý thức pháp luật của người
tiêu dùng chưa cao… Để khắc phục tình trạng trên, tác giả cũng đưa ra giải pháp
nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng CAND trong thực thi
QSHCN, trong đấu tranh phòng, chống tội phạm về sản xuất, buôn bán hàng giả ở
nước ta.
- Cuốn “Sách trắng về các vấn đề thương mại, đầu tư tại Việt Nam” do Phòng
thương mại châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) phát hành năm 2012;
Nội dung cuốn sách này cho rằng việc thực thi các quyền SHTT ở Việt Nam
vẫn rơi vào tình trạng thiếu hụt những yếu tố cần thiết để thu hút các ngành sản xuất
giá trị gia tăng công nghệ cao. EuroCham nhận định việc thực thi quyền SHTT ở
Việt Nam chưa được cải thiện và vẫn còn nhiều bất cập, như: hàng giả được sản
xuất tại Việt Nam, Trung Quốc và các quốc gia khác vẫn có mặt tại hầu hết các thị
trường nông thôn và thành thị; hàng giả được sản xuất thuộc nhiều chủng loại gồm
may mặc, phụ kiện dệt may, giày dép, thực phẩm, đồ uống, mỹ phẩm...Một số
lượng đáng kể các doanh nghiệp và cá nhân do bị kích thích bởi mong muốn đạt
được lợi nhuận nhanh chóng vẫn tiếp tục xâm phạm quyền SHTT của các doanh
nghiệp, cá nhân khác. Thay vì tạo ra nhãn hiệu, sáng chế, các tác phẩm được bảo hộ
quyền tác giả và các kiến thức và công nghệ độc quyền do mình sở hữu, một số
18
công ty và cá nhân đơn phương hoặc cùng với các đối tác nước ngoài tiếp tục xâm
phạm quyền SHTT. Các doanh nghiệp Việt Nam (trong một vài trường hợp có cả
các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước và của nước ngoài) đang sao chép kiểu
dáng của các sản phẩm mang thương hiệu nổi tiếng của các doanh nghiệp châu Âu
và chi nhánh tại Việt Nam. Với việc nghiên cứu cuốn sách nói trên, giúp cho Nhà
nước ta có sự nhìn nhận khách quan về tình hình thực thi quyền SHTT và đầu tư
nước ngoài ở Việt Nam để có sự điều chỉnh hợp lý về chính sách, pháp luật, nhằm
tạo ra sự cải thiện đáng kể môi trường đầu tư ở Việt Nam những năm tiếp theo.
- Phát biểu tại buổi lễ triển khai chiến dịch truyền tải thông điệp về SHTT
nhằm nâng cao nhận thức của công chúng về tôn trọng và bảo vệ quyền SHTT,
được tổ chức tại TPHCM ngày 11/10/2012, ông David Shear - Đại sứ Hoa Kỳ tại
Việt Nam đã nhấn mạnh về vai trò của thực thi quyền SHTT đối với mọi quốc gia
trên thế giới, coi đây là điều kiện tiên quyết để phát triển nền kinh tế đất nước trong
hội nhập quốc tế. Đối với Việt Nam, mặc dù không đưa ra các số liệu thống kê về
tình hình xâm phạm quyền SHTT, nhưng nội dung bài phát biểu đã thể hiện tình
trạng đáng báo động về vấn đề thực thi quyền SHTT ở nước ta và đặt ra trách
nhiệm của các lực lượng chức năng đối với vấn đề nói trên. Ông David Shear
khẳng định:“Việt Nam muốn cất cánh, thì cần phải tuyên chiến với nạn vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ” [93].
- Bài viết “Một số vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay”
của TS. Hoàng Văn Hoàn, đăng trên trang thông tin điện tử của Tạp chí Thương
mại (http://www.tapchithuongmai.vn).
Tác giả đã khái lược về một số khái niệm cơ bản liên quan đến SHTT, như:
tài sản trí tuệ, chủ sở hữu trí tuệ, quyền SHTT… Ngoài ra, tác giả còn nêu các hình
thức phổ biến của quyền SHTT bao gồm: bản quyền, thương hiệu, bằng sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, bí mật thương mại…được pháp luật công
nhận, theo đó những chủ sở hữu quyền SHTT được độc quyền khai thác và sử dụng
những tài sản nói trên. Tác giả cho rằng, quyền SHTT mang tính lịch sử và một tất
yếu khách quan đã được thừa nhận. Cũng như các quyền cơ bản khác về sở hữu nói
chung, các chủ sở hữu quyền SHTT được độc quyền đối với các tài sản trí tuệ đã
được công nhận trong một khoảng thời gian nhất định. Bên cạnh đó, tác giả cũng
19
nêu lên thực trạng của pháp luật Việt Nam về bảo vệ và thực thi quyền SHTT, đánh
giá những tồn tại hạn chế của hệ thống pháp luật về bảo vệ và thực thi quyền SHTT
và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ và thực thi
quyền SHTT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Tóm lại, tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài Luận án cho
thấy các công trình, tác phẩm nói trên có chứa đựng những nội dung lý luận về
quyền SHTT, như điều kiện thừa nhận của pháp luật để bảo hộ quyền SHTT; các
biện pháp thực thi quyền SHTT; các quy định của Việt Nam và thế giới về quyền
SHTT; những khía cạnh pháp lý và thực tiễn của vấn đề phòng, chống vi phạm
quyền SHTT... Một số công trình, tác phẩm của các tác giả nghiên cứu vấn đề thực
thi quyền SHTT và trách nhiệm của lực lượng CAND, nhưng chỉ dừng lại ở một
góc độ chung nhất, hoặc ở một vài khía cạnh cụ thể. Chưa có công trình nào đề cập
đến vấn đề thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng
CAND với tư cách là một cơ quan quản lý nhà nước về ANQG và TTATXH, đồng
thời cũng là cơ quan có chức năng điều tra, xử lý tội phạm theo trình tự tố tụng
hình sự. Vì vậy, tác giả nhận thấy cần thiết phải tiếp tục việc nghiên cứu ở phương
diện đầy đủ, toàn diện hơn gắn với chức năng, nhiệm vụ của lực lượng CAND, đáp
ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
1.3. Vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu đối với đề tài Luận án
Từ việc nghiên cứu về những công trình, tác phẩm khoa học đã được công bố
ở trong và ngoài nước nói trên, có thể rút ra một số giá trị mà Luận án cần tham
khảo như sau:
- Thứ nhất, những công trình khoa học này đã phản ánh chân thực giá trị to
lớn của tài sản trí tuệ, khẳng định xu hướng phát triển tất yếu của loài người dựa
trên nền tảng trí thức, từ đây góp phần định hướng cho mỗi quốc gia (trong đó có
Việt Nam) trong hoạch định chính sách và chiến lược phát triển về SHTT cho phù
hợp với xu hướng chung của thời đại.
Cả thế giới đang bước vào thế kỷ thứ XXI. Chưa bao giờ vấn đề khan hiếm
tài nguyên thiên nhiên và thảm họa môi trường lại được đặt ra cấp bách như hiện
20
nay đối với mọi quốc gia. Khi con người phải đối mặt với những khó khăn nêu trên,
thì chỉ có trí tuệ loài người mới có thể đáp ứng được chúng. Lịch sử cho thấy, nhiều
quốc gia như Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc… đã vươn lên trở thành những cường
quốc, đều nhờ có chính sách, chiến lược đúng đắn về SHTT.
Việt Nam là một nước đang phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng. Để đạt được những mục tiêu về xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
CNXH theo các nghị quyết của của Đảng đã đề ra thì dứt khoát Nhà nước ta phải
phát huy tối đa những tiềm năng, lợi thế của “yếu tố con người”, coi đây là đột phá
quan trọng nhất để có chiến lược đầu tư thỏa đáng cho những hoạt động sáng tạo,
bảo hộ và thực thi quyền SHTT, tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đang diễn ra trong giai đoạn hiện nay.
- Thứ hai, những công trình khoa học cũng phản ánh hai luồng tư tưởng ở
các nước trên thế giới về thực thi quyền SHTT và khẳng định: chỉ có bảo hộ, thực
thi nghiêm chỉnh quyền SHTT thì mới mang lại những lợi ích thiết thực cho mỗi
quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Thực tiễn đã chứng minh rằng, quốc gia nào có sự đầu tư thỏa đáng cho các
lĩnh vực SHTT thì họ sẽ nhận được thành quả to lớn về khoa học, công nghệ để
phát triển đất nước. Bởi vậy, các nước sẽ bằng mọi cách bảo vệ sản phẩm trí tuệ
của tổ chức, cá nhân nước mình và trừng trị nghiêm khắc đối với mọi hành vi xâm
hại tới chúng, kể cả sự vi phạm từ bên ngoài. Các nước công nghiệp phát triển coi
tài sản trí tuệ và quyền SHTT là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, là cội nguồn phát
triển sáng tạo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… của đất nước. Do vậy, phải có
các giải pháp bảo vệ rất cao, pháp luật về thực thi quyền SHTT phải rất nghiêm
khắc. Cũng chính vì vậy mà các nước này thậm chí còn tạo sức ép về đối ngoại,
buộc quốc gia khác thực hiện cam kết về bảo hộ và thực thi quyền SHTT theo các
chuẩn mực khắt khe, coi đây là điều kiện bắt buộc để thiết lập và mở rộng quan hệ
hợp tác về kinh tế, thương mại, an ninh, quốc phòng…
Ngược lại, các nước đang phát triển và chậm phát triển thì lại coi pháp luật về
SHTT và các biện pháp thực thi quyền SHTT mà các nước công nghiệp phát triển
kêu gọi chẳng qua chỉ là “trò chơi”, vì vậy cần phải lợi dụng để phát triển tri thức,
khoa học, công nghệ, kinh tế nước mình; do đó pháp luật về thực thi quyền SHTT
21
phải “mềm dẻo”, “nêu cao, đánh khẽ”, thậm chí lờ đi việc thực thi quyền SHTT của
tổ chức và cá nhân nước ngoài, coi đây là cơ hội để “tranh thủ” những sản phẩm trí
tuệ tiên tiến của loài người.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng đã cho thấy, nếu một “nước nhỏ” muốn phát triển thành một “nước lớn” thì không thể “tham bát, bỏ mâm”. Điều này cũng giống ở Việt Nam trước đây. Khi bước vào thời kỳ đổi mới, nước ta cơ bản lạc hậu về công nghệ, để tháo gỡ vướng mắc này, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã đề ra phương châm: “Tranh thủ tối đa công nghệ tiên tiến, tận dụng lợi thế của nước đi sau…”, nhằm khai thác sản phẩm trí tuệ của các nước khác, trong điều kiện bị cấm vận của Hoa Kỳ và một số đồng minh. Hệ quả cho thấy, vô hình chung chính chúng ta đã tạo thêm hố sâu ngăn cách về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phương Tây. Tuy nhiên, sau khi quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ được bình thường hóa, cùng với Hiệp định về bảo vệ quyền tác giả được ký kết năm 1997 (cũng là hiệp định song phương đầu tiên của Việt Nam với nước ngoài về bản quyền), Hoa Kỳ đã ký Hiệp định Thương mại với Việt Nam năm 2000, đồng thời ủng hộ nước ta gia nhập WTO. Bài học này giúp nước ta có thêm kinh nghiệm trong thiết lập, củng cố quan hệ với các quốc gia và tổ chức quốc tế về bảo hộ và thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Thứ ba, những công trình nghiên cứu trên đây đã mang đến những kiến
thức lý luận cơ bản về quyền SHTT và thực thi quyền SHTT, giúp tác giả vận dụng
vào quá trình nghiên cứu, làm sáng tỏ nội dung của Luận án.
Nghiên cứu về những công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài
nước nước cho thấy, có một số vấn đề cần được lưu ý như: sự khác nhau giữa tài
sản trí tuệ với tài sản hữu hình, giữa quyền SHTT với quyền sở hữu tài sản là động
sản và bất động sản; những điều kiện để một đối tượng của quyền SHTT được công
nhận và bảo hộ; nội dung của quyền SHTT và sự hạn chế quyền SHTT; các biện
pháp thực thi quyền SHTT và ưu điểm, nhược điểm của từng biện pháp đó; quy
định của WTO và WIPO về quyền SHTT; những khía cạnh thương mại liên quan
đến quyền SHTT; những cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền SHTT ở các
nước chậm phát triển ảnh đến cộng đồng quốc tế; mối liên hệ giữa thực thi pháp
luật về quyền SHTT với thực thi pháp luật ở các lĩnh vực khác nhau… Thêm vào
22
đó, các nhà khoa học cũng đưa ra những luận giải xác đáng để bảo vệ lập trường
nghiên cứu trong lĩnh vực SHTT. Chẳng hạn, có quan điểm cho rằng quyền SHTT
đơn thuần chỉ là một loại quyền dân sự, do vậy nếu có tranh chấp xảy ra thì hãy để
cho các bên đương sự tự tìm cách giải quyết với nhau, nhà nước đơn thuần chỉ là
“trọng tài” trong các vụ tranh chấp đó; quan điểm khác lại cho rằng, thực thi quyền
SHTT trước hết phải thuộc về cơ quan công quyền thì mới đảm bảo tính nghiêm
minh của pháp luật. Cũng có quan điểm cho rằng, ngoài hoạt động của lực lượng
CAND trong thực thi quyền SHTT, thì hoạt động của các cơ quan khác chỉ mang
tính hình thức và thụ động…
- Thứ tư, những công trình nghiên cứu trên đây đã phản ánh kinh nghiệm
thực tiễn quý báu của các nước, giúp Việt Nam nghiên cứu, vận dụng vào thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Từ rất lâu các nước tiên tiến trên thế giới đã có hệ thống pháp luật tương đối
hoàn chỉnh về SHTT, đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo thực thi quyền SHTT
một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, để “vận hành” hệ thống pháp luật của mình, các
nước cũng đã xây dựng được những cơ chế thực thi quyền SHTT một cách linh
hoạt, đồng bộ, như: thành lập các cơ quan chuyên trách về thực thi quyền SHTT,
đặc biệt là hệ thống Tòa án SHTT (như ở Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc…), đây
là một mô hình hoạt động cần được nghiên cứu xây dựng ở Việt Nam để đáp ứng
yêu cầu giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT đang ngày một gia tăng.
Ngoài ra, vấn đề thực thi quyền SHTT ở nhiều nước cũng được biết đến với
vai trò của lực lượng Công an. Để phát huy vai trò của lực lượng này, các nước đã
tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa Công an với các lực lượng khác, đồng thời có cơ
chế linh hoạt trong xử lý vi phạm quyền SHTT (như thiết lập hệ thống cảnh báo
sớm, xã hội hóa công tác thực thi pháp luật, thành lập bộ phận chống hàng giả,
hàng nhái và vi phạm bản quyền ở ngay trong các doanh nghiệp…).
Một vấn đề liên quan đến hiệu quả thực thi quyền SHTT mà các công trình cũng đề cập, đó là cần thiết phải nâng cao chất lượng dân trí của cộng đồng xã hội. Ở nhiều nước, mặc dù thu nhập quốc dân trên đầu người chưa cao, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật về quyền SHTT cũng chưa đến mức nghiêm trọng, do nhà nước có chính sách bảo hộ đối với hàng hóa sản xuất trong nước hay do ý thức chấp hành pháp luật của người dân được chú trọng… Ngược lại, ở nhiều nước, tình trạng vi
23
phạm pháp luật về SHTT có yếu tố nước ngoài ở “trên mức báo động”, một phần do trình độ dân trí thấp, phần khác do sự “lơi lỏng” của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thực thi quyền SHTT của các tổ chức, cá nhân.
- Thứ năm, những công trình nghiên cứu trên đây đã đưa ra các phân tích sâu sắc về mối liên hệ giữa thực thi quyền SHTT với bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH và giá trị truyền thống của dân tộc, đánh giá vai trò của lực lượng CAND trong hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Trong thực thi quyền SHTT, các nước đặc biệt chú trọng bảo vệ ANQG, TTATXH, thuần phong, mỹ tục và môi trường sống. Xét cho cùng, những sản phẩm trí tuệ con người được tạo ra, trước hết phải mang lại những giá trị cho chính con người và cho đất nước. Thực tiễn cho thấy, trên con đường hội nhập và cạnh tranh quốc tế, thành công của nước này đôi khi lại là lực cản phát triển của nước kia. Vì vậy, nhiều tổ chức, cá nhân đã không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào nhằm chiếm đoạt thành quả sáng tạo của quốc gia khác, đặc biệt là những sản phẩm trí tuệ chứa đựng những yếu tố bí mật về khoa học, công nghệ liên quan đến an ninh, quốc phòng… Từ đó cho thấy, thực thi quyền SHTT cũng có nghĩa là phải biết bảo vệ những thành quả của lao động sáng tạo trí tuệ, khai thác, vận dụng những sản phẩm trí tuệ của con người vào sự nghiệp bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH và những lợi ích thiết thực của dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, ngoài việc kế thừa những giá trị của các công trình trong và ngoài nước, Luận án cần phải tiếp tục khai thác những vấn đề lý luận và thực tiễn trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong lực lượng CAND. Cụ thể như sau:
- Một là, khái quát những vấn đề chung về quyền SHTT và thực thi quyền
SHTT, như: khái niệm, đặc điểm, nội dung của quyền SHTT, vi phạm pháp luật về
quyền SHTT; khái niệm, các biện pháp, ý nghĩa của thực thi quyền SHTT ở Việt
Nam. Trên cơ sở đó, tiếp tục đi sâu nghiên cứu để đưa ra khái niệm, đặc điểm của
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và khái niệm, đặc điểm của thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam làm nền tảng lý luận cho việc
nghiên cứu các nội dung tiếp theo của Luận án;
- Hai là, làm rõ cơ sở pháp lý quy định về chức năng, nhiệm vụ của lực
lượng CAND trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; nhấn
24
mạnh vai trò nòng cốt của CAND thông qua phân tích mối quan hệ phối hợp giữa
CAND với cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan trong thực thi quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam;
- Ba là, khảo sát thực trạng pháp luật và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, chỉ rõ nguyên nhân, điều kiện dẫn đến thực trạng nói trên để làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược, kế hoạch thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực CAND;
- Bốn là, khảo sát, đánh giá thực trạng các mặt hoạt động của lực lượng CAND trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; nhìn nhận ưu điểm, tồn tại của các mặt công tác nói trên để có cơ sở kiến nghị việc kiện toàn tổ chức và xây dựng lực lượng CAND cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra trong điều kiện, tình hình mới;
- Năm là, dự báo mang tính chiến lược về tình hình thế giới và trong nước có liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND; từ đó đưa ra các giải pháp mang tính tổng thể, khoa học và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND trong những năm tiếp theo.
25
Kết luận Chương 1
Chương 1 của Luận án đã khái quát nội dung các công trình nghiên cứu ở
các nước trên thế giới và Việt Nam có liên quan đến đề tài Luận án, giúp cho tác
giả khai thác những giá trị của chúng để bổ sung vào nội dung nghiên cứu.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều nhận định rằng, trong xu hướng
phát triển của nền kinh tế trí thức hiện nay, quyền SHTT ngày càng khẳng định
được vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân; là động lực thúc đẩy sự phát triển
kinh tế các nước trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế .
Về vai trò của thực thi quyền SHTT, các tác giả cũng đều đánh giá cao về
tầm quan trọng đối với các hoạt động của các cơ quan chức năng ở các nước trong
phòng, chống vi phạm pháp luật về quyền SHTT, hướng đến bảo vệ lợi ích của nhà
nước, xã hội và chủ thể quyền SHTT, đồng thời tạo ra môi trường pháp lý lành
mạnh để phát huy vai trò tích cực của các hoạt động sáng tạo của con người.
Chương 1 của Luận án cũng nêu một số vướng mắc về mặt lý luận, những
đòi hỏi về mặt thực tiễn cần phải tiếp tục đặt ra nghiên cứu để bổ sung. Những định
hướng nghiên cứu này là cơ sở để thực hiện yêu cầu, nhiệm vụ của Luận án và tạo
tiền đề nghiên cứu những nội dung tiếp theo.
26
Chương 2 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN
2.1. Một số vấn đề lý luận về quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí
tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
2.1.1. Một số vấn đề lý luận về quyền sở hữu trí tuệ
2.1.1.1. Khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ
Cùng với sự tiến triển của xã hội loài người, những sản phẩm sáng tạo trí tuệ
ngày càng được phát huy, mang lại những lợi ích to lớn cho đời sống vật chất và
tinh thần của toàn thể nhân loại. Chính bởi vậy, việc đẩy mạnh nghiên cứu nhằm
hoàn thiện hệ thống lý luận và pháp luật về quyền SHTT nhằm khẳng định vai trò
của quyền SHTT, vẫn luôn là những đề tài được đặc biệt quan tâm ở khắp mọi nơi
trên thế giới.
Theo trường phái pháp luật tự nhiên (the natural law thesis), chủ thể sáng
tạo đương nhiên có các quyền đối với tài sản trí tuệ do họ sáng tạo ra, xã hội phải
chấp nhận và bảo vệ những quyền này của họ. Cách tiếp cận này được thể hiện
trong Hiến chương của Liên hợp quốc năm 1948 về quyền con người (Điều 27) và
Công ước của Liên hợp quốc năm 1966 về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều
15) [63, tr.7].
Theo trường phái lập luận bù đắp cho chi phí sáng tạo (the reward thesis),
chủ thể sáng tạo đã đóng góp cho xã hội bằng việc tạo ra các tác phẩm văn học,
nghệ thuật, khoa học và đối tượng sở hữu công nghiệp. Xã hội phải bù đắp cho họ
những chi phí, nỗ lực sáng tạo của họ và cách thích hợp nhất là trao cho chủ thể
sáng tạo một số độc quyền trong hạn định nhất định [63, tr.8].
Theo trường phái lập luận khuyến khích sáng tạo (the incentive thesis), chủ
thể sáng tạo phải đầu tư công sức, tài chính để tạo ra đối tượng sở hữu trí tuệ, cho
nên cần phải tạo cho họ một số quyền nhất định nhằm khuyến khích sáng tạo. Tuy
nhiên, vấn đề cơ bản là tạo cho chủ thể những độc quyền như sự bù đắp những chi
phí và những nỗ lực mà chủ thể đó bỏ ra [63, tr.8].
27
Theo trường phái lập luận mở thông tin sáng tạo (disclosure thesis), khi chủ
thể sáng tạo chấp nhận mở những thông tin về tài sản trí tuệ, xã hội được hưởng lợi
từ việc sử dụng những đối tượng sở hữu trí tuệ, do đó xã hội phải thừa nhận và bảo
vệ quyền cho chủ thể sáng tạo, điều này được coi như sự trao đổi lẫn nhau [63,
tr.8].
Tại Chương 1 của tác phẩm “Cẩm nang sở hữu trí tuệ”, dịch từ cuốn sách
“WIPO Intellectual Property Handbook: Policy, Law and Use” của WIPO, SHTT
được nhắc đến như sau:
Theo nghĩa rộng, sở hữu trí tuệ là các quyền hợp pháp xuất phát từ
hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ
thuật… Sở hữu trí tuệ theo truyền thống được phân chia thành hai nhánh,
“Sở hữu công nghiệp” và “bản quyền tác giả” [37, tr.3].
Bên cạnh đó, tại Điều 2 (viii) Công ước thành lập WIPO, ký tại Stockholm
(Thuỵ Điển) ngày 14/12/1967 cũng quy định:
Sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền đối với: tác phẩm văn học, nghệ
thuật và khoa học; chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các bản
ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình; sáng chế trong các lĩnh vực
hoạt động của con người; các phát minh khoa học; kiểu dáng công nghiệp;
nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, chỉ dẫn thương mại và tên thương
mại; bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh [37, tr.3].
Theo nội dung Hiệp định TRIPS, đối tượng của SHTT bao gồm: quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và thông tin bí mật [46].
Trong BLDS năm 1995 của Việt Nam, mặc dù không định nghĩa về quyền SHTT, nhưng căn cứ vào cấu trúc và nội dung phần thứ VI, có thể dẫn tới kết luận về quyền SHTT bao gồm QTG và QSHCN. Bên cạnh đó, xuất phát từ quan điểm coi quyền SHTT và chuyển giao công nghệ là những quyền cơ bản của chủ thể trong quan hệ dân sự nhưng là những nội dung có tính đặc thù, nên BLDS năm 2005 cũng không định nghĩa về quyền SHTT mà chỉ có những quy định mang tính nguyên tắc về QTG, QLQ, QSHCN, QĐVGCT, quyền chuyển giao công nghệ, hợp đồng chuyển giao quyền tài sản thuộc QTG, QLQ, hợp đồng chuyển giao công nghệ…[42].
28
Với mục đích hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia đáp ứng yêu cầu hội
nhập quốc tế, đồng thời xuất phát từ vai trò quan trọng của quyền SHTT, Quốc hội
nước ta đã thông qua Luật SHTT năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2006); tiếp
sau đó là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT năm 2009 (có hiệu lực
từ ngày 01/01/2010). Tại Điều 4, Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm
2009), quyền SHTT được định nghĩa như sau:
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí
tuệ, bao gồm: quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở
hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Như vậy, trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan điểm lý luận khoa học
pháp lý về quyền SHTT từ trước đến nay, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế,
xã hội ở nước ta, định nghĩa về quyền SHTT trong pháp luật Việt Nam hiện hành
đã đánh dấu bước phát triển đáng ghi nhớ trong kỹ thuật lập pháp Việt Nam; đồng
thời, cũng tương đồng cả về mặt hình thức lẫn nội dung với cách quan niệm về
quyền SHTT của WIPO và WTO. Định nghĩa cũng thể hiện sự đa dạng về chủ thể
của quyền SHTT, bao gồm cá nhân và tổ chức; trong đó “cá nhân” có thể là công
dân Việt Nam hoặc người nước ngoài (gồm người có quốc tịch nước ngoài và
người không có quốc tịch); “tổ chức” có thể được thành lập ở Việt Nam hoặc ở
nước ngoài, có hay không có tư cách pháp nhân, kể cả tổ chức quốc tế liên chính
phủ hoặc phi chính phủ... Bên cạnh đó, định nghĩa cũng cho thấy đối tượng của
quyền SHTT là “tài sản trí tuệ”. Đây là những sản phẩm của lao động sáng tạo của
bộ óc con người, được bộc lộ ra bên ngoài bằng một hình thức vật chất nhất định,
như: tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
giống cây trồng...
Tóm lại, từ việc nghiên cứu, phân tích các nội dung trên đây cho thấy, quyền
SHTT là quyền của cá nhân, tổ chức đối với các tài sản trí tuệ - sản phẩm của lao
động trí tuệ - do cá nhân, tổ chức sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền SHTT bao gồm
QTG và QLQ, QSHCN, QĐVGCT. Trong mỗi lĩnh vực này, quyền SHTT được
pháp luật quy định về bảo hộ theo các điều kiện khác nhau, trên cơ sở tôn trọng lợi
ích của tổ chức, cá nhân và lợi ích chung của cộng đồng, phù hợp với thực tiễn
pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế.
29
Để có sự nhìn nhận đầy đủ về quyền SHTT, cần chú ý nghiên cứu quyền đó
dưới các phương diện sau đây:
- Một là, quyền SHTT trong quan hệ “de facto”, tức là nghiên cứu quyền
SHTT trong mối quan hệ phức tạp phát sinh giữa các quy định của pháp luật về
quyền SHTT (de jure) và việc thực thi quyền đó trong thực tế cuộc sống thường
ngày của cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư được các quy phạm pháp luật về
SHTT hướng tới điều chỉnh. Những quan hệ pháp luật SHTT diễn ra phổ biến trong
đời sống xã hội, như: quan hệ giữa chủ sở hữu quyền SHTT và các chủ thể khác
trong việc sáng tạo, công bố, phổ biến đối tượng quyền SHTT; quan hệ về bảo hộ,
thực thi QTG, QLQ, QSHCN, QĐVGCT… và thái độ, cách ứng xử của các cơ
quan nhà nước cụ thể trong thực thi quyền SHTT tại nước ta. Trong nghiên cứu
dưới góc độ này, cần lưu ý đến dòng tư tưởng của các nước đang phát triển và
chậm phát triển (trong đó có Việt Nam) đối với pháp luật về SHTT và thực thi
quyền SHTT như đã trình bày ở Chương 1 của Luận án.
- Hai là, quyền SHTT với tư cách là bộ phận của pháp luật dân sự, là tổng
hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản của tổ chức, cá nhân đối với các tác
phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn
địa lý, bí mật kinh doanh, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và giống cây
trồng. Trong nghiên cứu dưới góc độ này, quyền SHTT được nói tới với tư cách là
bộ phận của pháp luật thương mại, là tổng hợp các quyền nhân thân (quyền tinh
thần) và quyền tài sản (quyền kinh tế) của tổ chức, cá nhân đối với các tài sản trí
tuệ. Đây là điều mà giới chức lý luận và hoạt động thực tiễn pháp luật của Việt
Nam cần phải chú ý để thực thi tốt hơn các cam kết quốc tế về quyền SHTT theo
các quy định của WTO.
- Ba là, quyền SHTT với tư cách là một chế định pháp luật thống nhất trong
hệ thống pháp luật quốc gia trong điều kiện hội nhập quốc tế. Để nghiên cứu quyền
SHTT dưới góc độ này, cần chú ý đến tính hài hòa trong các ngành luật khác nhau
của một nước, đặc biệt là pháp luật về dân sự, pháp luật về hình sự, pháp luật về
hành chính, các quy định pháp luật về tố tụng tư pháp… Ngoài ra, các yếu tố quốc
tế (về chủ thể, khách thể, sự kiện pháp lý có yếu tố nước ngoài) có thể tác động rất
30
lớn đến quyền SHTT. Hàng loạt vấn đề phức tạp trong áp dụng pháp luật để điều
chỉnh các quan hệ SHTT có yếu tố nước ngoài có thể phát sinh và cần phải có giải
pháp thỏa đáng để giải quyết đối với chúng.
2.1.1.2. Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ
Nghiên cứu quyền SHTT cho thấy loại quyền này có một số đặc điểm cơ bản
như sau, liên quan trực tiếp đến đề tài Luận án:
- Thứ nhất, đối tượng của quyền SHTT là tài sản trí tuệ, là loại tài sản mang
tính chất phi vật thể (vô hình) nên rất dễ bị xâm phạm và được lợi dụng để tạo ra
các tài sản phái sinh dưới một hình thức vật thể nào đó.
Đối với tài sản hữu hình, trừ những tài sản thuộc sở hữu nhà nước và những
tài sản mà pháp luật cấm hoặc hạn chế sở hữu, thì chủ sở hữu dễ dàng thực hiện
quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt thông qua nhiều hình thức và thực hiện
được việc kiểm soát, vì chúng tồn tại trong không gian dưới một hình thức nhất
định, con người hoàn toàn có thể nhận biết bằng cách tri giác trực tiếp.
Đối với tài sản trí tuệ thì không như vậy, vì loại tài sản này mang tính vô
hình, chủ sở hữu quyền SHTT rất khó thực hiện quyền kiểm soát sau khi chúng phổ
biến ra bên ngoài xã hội. Trên thực tế, chủ sở hữu quyền SHTT hầu như không thể
thực hiện được quyền chiếm hữu tài sản trí tuệ, khó quản lý được nội dung sáng tạo
trong tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học hay đối tượng QSHCN, giống cây
trồng của mình sau khi công bố, phổ biến. Khả năng người khác lợi dụng quyền
SHTT để làm các tài sản phái sinh bất hợp pháp, làm hàng nhái… là rất lớn. Do đó
điều quan trọng nhất trong báo hộ quyền SHTT và thực thi quyền SHTT là phải
ngăn chặn cho được hành vi xâm phạm đối tượng của quyền SHTT khi tác giả, chủ
sở hữu quyền SHTT đó chưa cho phép.
- Thứ hai, trong bảo hộ và thực thi quyền SHTT, pháp luật các nước luôn
tôn trọng và đề cao tính lãnh thổ của quyền SHTT. Thông thường, quyền SHTT
được xác lập theo quy định của pháp luật nước nào thì được bảo hộ trong phạm
vi lãnh thổ nước đó.
Khác với quyền sở hữu tài sản hữu hình, nếu một tổ chức hay cá nhân được
công nhận là chủ sở hữu tài sản trong phạm vi lãnh thổ nước họ, khi họ di chuyển
tài sản đó ra nước ngoài thì thông thường nước ngoài vẫn có thể công nhận quyền
31
sở hữu của tổ chức, cá nhân đó (nếu tài sản không thuộc đối tượng cấm sở hữu theo
pháp luật của nước nơi tài sản được chuyển đến), cho dù mức độ phạm vi nội dung
quyền sở hữu có thể khác nhau.
Quyền SHTT không như vậy. Nếu quyền SHTT của tổ chức, cá nhân được
xác lập theo pháp luật Việt Nam thì quyền đó chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh
thổ nước ta, trừ trường hợp ĐƯQT có liên quan mà Việt Nam là thành viên có quy
định khác. Còn ở nước ngoài, nếu không có ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên
công nhận, hoặc nếu không tuân theo nguyên tắc “có đi, có lại” giữa các bên, thì
quyền SHTT có thể sẽ không được bảo hộ. Do vậy, đối tượng của QTG, QLQ,
QSHCN, QĐVGCT có thể bị đem ra sử dụng ở nước ngoài mà không cần có sự
đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền SHTT hay người đại diện hợp pháp. Nguyên
tắc lãnh thổ cho phép quyền SHTT được bảo đảm thực thi theo đúng nội dung của
nó trong phạm vi nước được bảo hộ về điều kiện được bảo hộ, thời hạn bảo hộ,
cách thức thực thi…
Tính chất lãnh thổ trong bảo hộ và thực thi quyền SHTT xuất phát từ nguyên
tắc chủ quyền quốc gia, theo đó mỗi quốc gia khi đã là chủ thể độc lập trong quan
hệ quốc tế thì hoàn toàn có quyền quyết định đối với việc xây dựng và thực thi
pháp luật của nước mình; hơn nữa do một số tài sản trí tuệ có liên quan mật thiết
với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, truyền thống lịch sử… của mỗi quốc
gia, nên không dễ gì bất kỳ quyền SHTT nào của tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng
được bảo hộ và thực thi trên lãnh thổ nước khác.
- Thứ ba, việc bảo hộ quyền SHTT thường bị giới hạn bởi nhiều yếu tố khác
nhau mà tiêu biểu nhất là giới hạn về thời gian.
Đối với tài sản hữu hình, quyền của chủ sở hữu được pháp luật bảo hộ không
giới hạn thời gian (trừ trường hợp tài sản bị trưng mua, tịch thu theo quy định của
pháp luật). Trong suốt quá trình sở hữu, chủ sở hữu có thể trực tiếp chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản, hoặc những người thừa kế tiếp theo sẽ thực hiện quyền sở
hữu theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Thực tiễn cho thấy, có những
tài sản trở thành “đồ gia bảo” của một gia đình hay một dòng họ, có niên đại lên tới
hàng trăm năm qua các triều đại, chính thể khác nhau nhưng nhà nước đương thời
vẫn công nhận quyền sở hữu của chủ thể nói trên đối với tài ản ấy.
32
Còn đối với quyền SHTT, về cơ bản các đối tượng của nó được nhà nước
bảo hộ trong một khoảng thời hạn nhất định dựa trên nguyên tắc vừa đảm bảo lợi
ích của chủ sở hữu quyền SHTT, vừa đảm bảo lợi ích của cộng đồng trong việc
khai thác, sử dụng tài sản trí tuệ. Chẳng hạn, theo quy định của Luật SHTT năm
2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa
học, thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả, cộng thêm 50 năm kể từ khi tác giả
qua đời; nếu tác phẩm có đồng tác giả, thời hạn này được tính theo thời điểm tác
giả sau cùng chết. Cách xác định thời điểm phát sinh QTG được tính từ thời điểm
tác phẩm được sáng tạo ra, cho dù tác phẩm đó đã được công bố, phổ biến hay chưa
công bố. Khi hết thời hạn bảo hộ tác phẩm thuộc về cộng đồng xã hội; hay văn
bằng bảo hộ độc quyền sáng chế có hiệu lực là 20 năm kể từ ngày nộp đơn; bằng
độc quyền giải pháp hữu ích có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết 10 năm kể
từ ngày nộp đơn…
Trong thời hạn có hiệu lực của quyền SHTT, nếu tổ chức hay cá nhân nào có
hành vi sử dụng, khai thác các đối tượng của quyền SHTT mà không được sự cho
phép chủ sở hữu quyền SHTT (trừ những trường hợp pháp luật quy định về giới
hạn quyền SHTT) thì bị coi là vi phạm quyền SHTT. Theo quy định của pháp luật
Việt Nam, người có hành vi xâm phạm quyền SHTT có thể phải chịu trách nhiệm
pháp lý tương ứng với mức độ, hậu quả của sự vi phạm mà họ gây ra.
- Thứ tư, quyền SHTT bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật khi việc
khai thác, sử dụng đối tượng của nó có liên quan đến lợi ích chung của cộng đồng.
Quyền SHTT không phải là quyền tuyệt đối, có nghĩa là chủ sở hữu quyền
SHTT không thể hoàn toàn tự do thực hiện việc khai thác lợi ích của mình đối với
tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng
công nghiệp, giống cây trồng… sau khi được nhà nước công nhận, bảo hộ. Mặc dù
tác giả hay chủ sở hữu quyền SHTT có thể được pháp luật trao cho một số độc
quyền (như quyền đặt tên cho tác phẩm), nhưng những độc quyền này cũng bị giới
hạn nhằm sử dụng hiệu quả các tài sản trí tuệ, trên cơ sở kết hợp lợi ích của tác giả,
chủ sở hữu quyền SHTT với lợi ích của cộng đồng. Theo quy định của Điều 31
Hiệp định TRIPS và Điều 145 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
thì trong trường hợp khẩn cấp có liên quan đến ANQG, TTATXH hoặc trong các
trường hợp sử dụng vào mục đích công cộng, phi thương mại… thì quyền sử dụng
33
sáng chế được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng theo quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không cần sự đồng ý của người nắm độc
quyền sử dụng sáng chế. Tương tự, Điều 9, 10 Công ước Berne năm 1886 và Điều
25, 26 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng quy định về các
trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả
nhuận bút hoặc trả thù lao...
2.1.1.3. Nội dung của quyền sở hữu trí tuệ
Từ khái niệm về quyền SHTT, cho thấy đối với mỗi lĩnh vực của quyền
SHTT, pháp luật có những quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của từng loại chủ
thể tương ứng khi tham gia quan hệ SHTT. Việc nghiên cứu về nội dung của quyền
SHTT giúp ta xác định được khả năng của mỗi chủ thể trong việc khai thác giá trị
vật chất và tinh thần từ đối tượng quyền SHTT. Mặt khác, nắm rõ nội dung quyền
SHTT cũng giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định được đâu là việc
khai thác, sử dụng đối tượng quyền SHTT một cách hợp pháp, đâu hành vi vi phạm
pháp luật về quyền SHTT, để từ đó áp dụng biện pháp thực thi pháp luật một
cách chính xác và hiệu quả, bảo vệ được lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, quyền
và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền SHTT.
Theo quy định của Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và
các văn bản pháp luật có liên quan, chủ thể quyền SHTT có các quyền sau đây:
- Quyền nhân thân (hay còn gọi là quyền tinh thần) là những quyền gắn với
cá nhân, tổ chức trong quá trình sáng tạo, công bố, phổ biến các đối tượng của
quyền SHTT và thường mang những dấu ấn riêng của chủ thể quyền SHTT. Với
quan điểm tôn trọng các quyền tự do, dân chủ của con người, trong đó có quyền tự
do sáng tác, pháp luật mỗi quốc gia đã có những quy định về công nhận và bảo hộ
các quyền nhân thân của cá nhân và tổ chức gắn với sản phẩm sáng tạo trí tuệ do họ
sáng tạo ra. Tùy thuộc vào mục đích khai thác, sử dụng của từng chủ thể đối với
đối tượng của quyền SHTT mà quyền nhân thân được phân thành hai loại: quyền
nhân thân không áp dụng vào quá trình sản xuất, kinh doanh, không khai thác về
mặt thương mại (hay còn gọi là quyền nhân thân phi tài sản) và quyền nhân thân
được áp dụng vào sản xuất, kinh doanh, được khai thác về mặt thương mại (hay còn
gọi là quyền nhân thân có liên quan đến tài sản).
34
Đối với loại thứ nhất, quyền nhân thân của chủ thể quyền SHTT được xác
lập vào thời điểm sáng tạo nên sản phẩm trí tuệ mà không nhất thiết cần phải công
bố sản phẩm đó. Về nguyên tắc, những quyền nhân thân này luôn gắn liền với chủ
thể sáng tạo (như tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu tác phẩm) mà không thể được
chuyển giao cho người khác. Chẳng hạn, tác giả có quyền đứng tên thật hoặc tên
bút danh trong tác phẩm và không ai có quyền ngăn cản việc đứng tên này; bất kỳ
người nào cũng không được phép mạo danh của tác giả trong việc công bố, sử dụng
tác phẩm. Trong một số quan hệ SHTT cụ thể, quyền nhân thân được pháp luật bảo
hộ vô thời hạn, như quyền đứng tên tác giả, quyền được bảo vệ sự toàn vẹn đối với
nội dung tác phẩm…
Đối với loại thứ hai, các tác giả tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết
kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng có quyền nhân thân đối với sản
phẩm trí tuệ của mình, như quyền sử dụng tên tên thương mại, uy tín của nhãn hiệu
trong quá trình sản xuất, kinh doanh... Về mặt nguyên tắc, những quyền này cũng
gắn với chủ sở hữu quyền SHTT, không được tự động chuyển giao từ người này
sang người khác, trừ trường hợp cho phép công bố QTG theo quy định pháp luật.
Tìm hiểu về pháp luật Việt Nam cho thấy, quyền nhân thân của tác giả bao
gồm các quyền, như: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc tên bút danh trên tác
phẩm; được nêu tên thật hoặc tên bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm,
không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm. Đối với người biểu
diễn, quyền nhân thân được biểu hiện ở việc được nêu tên khi biểu diễn hoặc khi
phát hành các bản ghi âm, ghi hình cuộc biểu diễn và được bảo vệ sự toàn vẹn hình
tượng biểu diễn. Quyền nhân thân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng thuộc về người đã trực tiếp tạo ra
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây
trồng bằng lao động sáng tạo của mình, bao gồm quyền được đứng tên tác giả trong
văn bằng bảo hộ do Nhà nước cấp, trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng
chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây
trồng…(Điều 19, 29, 122, 185 Luật SHTT năm 2005; sửa đổi, bổ sung năm 2009).
- Quyền tài sản (hay còn gọi là quyền kinh tế) của chủ thể quyền SHTT, là
quyền được hưởng những lợi ích về mặt vật chất từ sản phẩm trí tuệ của mình được
35
Nhà nước bảo hộ. Đây là quyền có quan hệ gắn bó mật thiết với quyền nhân thân,
biểu hiện ở việc nếu một người đã có quyền nhân thân đối với sản phẩm trí tuệ, thì
thường đồng thời cũng có quyền tài sản đối với sản phẩm trí tuệ ấy. Chẳng hạn, từ
việc tác giả công bố tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học đã dẫn đến các quyền
tài sản, như được hưởng nhuận bút, thù lao do việc công bố, sử dụng tác phẩm ấy.
Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp, mặc dù một người không có một số quyền
nhân thân đối với đối tượng của quyền SHTT, nhưng vẫn được hưởng quyền tài sản
từ sản phẩm trí tuệ, như việc chủ sở hữu QTG không đồng thời là tác giả, nhưng
vẫn có quyền được hưởng thù lao do việc khai thác, sử dụng tác phẩm, sau khi
QTG đã được chuyển giao theo hợp đồng chuyển giao QTG…
Về mặt lý luận, quyền tài sản cũng được coi là một loại tài sản, được định
giá bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự (Điều 163, 181 BLDS
năm 2005). Điều này có nghĩa là, chủ thể quyền SHTT có thể khai thác giá trị của
sản phẩm trí tuệ thông qua các hành vi giao dịch dân sự, như cho người khác sử
dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học để được hưởng thù lao bằng tiền từ
việc sử dụng tác phẩm ấy; tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
mạch tích hợp bán dẫn được hưởng thù lao do chủ sở hữu các đối tượng này chi trả
theo thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật; chủ sở hữu QSHCN có thể chuyển
giao đối tượng QSHCN cho tổ chức, cá nhân khác để được hưởng lợi nhuận, hoặc
có quyền góp vốn thành lập các loại hình doanh nghiệp bằng giá trị QSHCN theo
quy định của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật về đầu tư…
Tùy theo tính chất, đặc điểm của mỗi đối tượng quyền SHTT mà nội dung
quyền tài sản của chủ sở hữu quyền SHTT cũng được pháp luật quy định khác
nhau. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quyền tài sản trong các đối tượng của
quyền SHTT được hiểu như sau:
+ Đối với QTG, quyền tài sản phát sinh trong các trường hợp, như: làm tác
phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân
phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công
chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ
phương tiện nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương
trình máy tính. Các quyền này do tác giả hoặc người sở hữu tác phẩm thực hiện
hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của pháp luật; đối với tổ chức và
36
cá nhân khác muốn khai thác các quyền nêu trên phải xin phép và trả nhuận bút,
thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu QTG (Điều 20
Luật SHTT năm 2005; sửa đổi, bổ sung năm 2009).
+ Đối với QLQ, người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư có các tài sản đối
với cuộc biểu diễn, như: định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi
âm, ghi hình; sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình; phát sóng
hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được
định hình mà công chúng có thể tiếp cận được; phân phối bản gốc và bản sao cuộc
biểu diễn dưới hình thức bán, cho thuê... Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi
hình, bao gồm: sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp bản ghi âm, ghi hình của mình;
phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao bản ghi âm, ghi hình của mình và
được hưởng quyền lợi vật chất khi bản ghi âm, ghi hình đó được phân phối đến
công chúng. Quyền của tổ chức phát sóng, như: phát sóng, tái phát sóng chương
trình phát sóng của mình; phân phối đến công chúng chương trình phát sóng của
mình; định hình chương trình phát sóng của mình; được hưởng các quyền lợi vật
chất khi chương trình phát sóng của mình được ghi âm, ghi hình, phân phối đến
công chúng…(Điều 29, 30, 31 Luật SHTT năm 2005; sửa đổi, bổ sung năm 2009).
+ Đối với QSHCN, quyền tài sản là quyền của tác giả được hưởng những lợi
ích vật chất phát sinh từ đối tượng SHCN của tác giả, như được nhận thù lao từ chủ
sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp theo thỏa
thuận hoặc theo quy định của pháp luật (Điều 122, 135 Luật SHTT năm 2005; sửa
đổi, bổ sung năm 2009).
+ Đối với QĐVGCT, tác giả giống cây trồng có quyền được nhận thù lao
được trả từ chủ văn bằng bảo hộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Chủ văn bằng bảo hộ có các quyền, như: quyền sử dụng hoặc cho phép người khác
sử dụng các quyền liên quan đến vật liệu nhân giống của giống đã được bảo hộ để
sản xuất hoặc nhân giống, chế biến nhằm mục đích nhân giống, chào hàng, bán
hoặc thực hiện các hoạt động tiếp cận thị trường khác, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu
giữ để thực hiện các hành vi nói trên; quyền ngăn cấm người khác sử dụng giống
cây trồng được coi là những hành vi xâm phạm đối với giống cây trồng; quyền thừa
kế, kế thừa quyền đối với giống cây trồng và chuyển giao quyền đối với giống cây
trồng... (Điều 185, 191 Luật SHTT năm 2005; sửa đổi, bổ sung năm 2009).
37
2.1.1.4. Vi phạm pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ
Nghiên cứu về khái niệm và nội dung của quyền SHTT cho thấy mục tiêu
của mỗi quốc gia trong phát huy sự sáng tạo của con người, nhằm tạo ra các giá trị
về vật chất và tinh thần cho chủ thể sáng tạo và cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, mục
tiêu nói trên không thể thực hiện được trọn vẹn nếu trong xã hội vẫn xảy ra sự vi
phạm pháp luật về quyền SHTT.
Từ lý luận về vi phạm pháp luật nói chung, có thể hiểu rằng, vi phạm pháp
luật về quyền SHTT là hành vi trái pháp luật và có lỗi, do chủ thể có năng lực hành
vi thực hiện, xâm hại tới quyền SHTT được pháp luật công nhận và bảo hộ. Cũng
từ cách hiểu này cho thấy, vi phạm pháp luật về quyền SHTT được tạo thành các
yếu tố sau đây:
- Thứ nhất, vi phạm pháp luật về quyền SHTT luôn là hành vi của con
người. Pháp luật được đặt ra để điều chỉnh hành vi của con người và chỉ có hành vi
con người mới là đối tượng điều chỉnh của pháp luật. Vì vậy, không thể coi là vi
phạm pháp luật đối với các suy nghĩ chủ quan của con người, khi nó chưa biến
thành các hành vi xử sự trong cuộc sống xã hội.
- Thứ hai, vi phạm pháp luật về quyền SHTT là hành vi trái với quy định của
pháp luật, xâm hại tới quyền lợi hợp pháp của các chủ thể quyền SHTT được pháp
luật công nhân và bảo hộ. Tính trái pháp luật thể hiện: chủ thể vi phạm không làm
những việc mà pháp luật yêu cầu phải làm, hoặc làm những điều mà pháp luật cấm.
- Thứ ba, vi phạm pháp luật về quyền SHTT là hành vi chứa đựng yếu tố lỗi
của chủ thể vi phạm, có thể là lỗi cố ý hoặc vô ý. Nếu một người có hành vi vi
phạm quyền hợp pháp của chủ thể quyền SHTT, nhưng người này không có lỗi thì
cũng không bị coi là vi phạm pháp luật về quyền SHTT.
- Thứ tư, người thực hiện hành vi vi phạm quyền SHTT phải có năng lực
hành vi, tức là người này phải có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình
trong quá trình thực hiện hành vi đó. Cũng có trường hợp xảy ra trong thực tế,
người thực hiện hành vi vi phạm quyền SHTT nhưng ở trạng thái không có năng
lực hành vi thì cũng không bị coi là vi phạm pháp luật về quyền SHTT, không thể
truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với họ trong trường hợp này.
38
Với các dấu hiệu trên đây giúp cho việc nhận diện thế nào là vi phạm pháp
luật về quyền SHTT và là một trong các yếu tố cấu thành trách nhiệm pháp lý đối
với chủ thể vi phạm quyền SHTT. Để xác định một cách chính xác về trách nhiệm
pháp lý đối với chủ thể vi phạm, tùy thuộc vào mỗi đối tượng của quyền SHTT mà
pháp luật quy định về các hành vi xâm phạm quyền SHTT mang những dấu hiệu
đặc trưng. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, trong một số trường hợp pháp luật quy
định về hạn chế quyền SHTT (nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân
sinh, các lợi ích khác của nhà nước và xã hội… thì nhà nước cấm hoặc hạn chế
quyền của chủ thể quyền SHTT, hoặc buộc chủ thể quyền SHTT phải cho phép tổ
chức, cá nhân khác sử dụng một số quyền theo những điều kiện nhất định). Những
trường hợp này, mặc dù việc khai thác, sử dụng sản phẩm trí tuệ của chủ thể quyền
SHTT không được sự đồng ý của họ, vẫn không bị coi là vi phạm pháp luật về
quyền SHTT, như trong trường hợp cá nhân có hành vi tự sao chép một bản nhằm
mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy hay trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không
làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình… (Điều 7,
Điều 25 Luật SHTT năm 2005; sửa đổi, bổ sung năm 2009). Nếu xét về mặt bản
chất, đây là những hành vi có thể xâm hại đến lợi ích của chủ thể SHTT, nhưng
không bị coi là vi phạm pháp luật về quyền SHTT, vì thuộc trường hợp hạn chế
quyền SHTT mà pháp luật quy định.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các hành vi xâm phạm quyền SHTT
bao gồm:
+ Hành vi xâm phạm QTG, tiêu biểu như: chiếm đoạt QTG đối với các tác
phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; mạo danh tác giả; công bố, phân phối tác
phẩm mà không được phép của tác giả; công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác
giả mà không được phép của đồng tác giả đó; sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác
phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả;
sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu QTG; làm tác
phẩm phái sinh mà không có sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu QTG đối với tác
phẩm được dùng tác phẩm phái sinh; sử dụng tác phẩm mà không được phép của
chủ sở hữu QTG, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo
quy định của pháp luật; cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và
quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu QTG; nhân bản, sản xuất bản
39
sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng
truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu
QTG (Điều 28 Luật SHTT năm 2005; sửa đổi, bổ sung năm 2009).
+ Hành vi xâm phạm QLQ, bao gồm 10 loại hành vi, trong đó đặc biệt là
hình thức sao chép, trích ghép đối với các cuộc biểu diễn đã được định hình, bản
ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng mà không được phép của người biểu diễn,
nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng; cố ý thu hoặc tiếp tục phân
phối một tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hoá khi tín hiệu đã được
giải mã mà không được phép của người phân phối hợp pháp... (Điều 35 Luật SHTT
năm 2005; sửa đổi, bổ sung năm 2009).
+ Hành vi xâm phạm QSHCN, bao gồm: sử dụng sáng chế được bảo hộ, kiểu
dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng
kể với kiểu dáng đó, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn được bảo hộ hoặc bất kỳ
phần nào có tính nguyên gốc của thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đó trong thời
hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu; sử dụng
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn mà không
trả tiền đền bù theo quy định của pháp luật; tiếp cận, thu thập thông tin bí mật kinh
doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí
mật kinh doanh đó; sử dụng nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng
hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn
hiệu đó; sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch
vụ trùng, tương tự hoặc liên quan đến tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng
ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn
gốc hàng hoá, dịch vụ... (Điều 126, 127, 129, 130 Luật SHTT năm 2005; sửa đổi,
bổ sung năm 2009).
+ Hành vi xâm phạm QĐVGCT, bao gồm: khai thác, sử dụng các quyền của
chủ văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ văn bằng bảo hộ; sử dụng tên
giống cây trồng mà tên đó trùng hoặc tương tự với tên giống cây trồng đã được bảo
hộ cho giống cây trồng cùng loài liên quan gần gũi với giống cây trồng đã được bảo
hộ; sử dụng giống cây trồng đã được bảo hộ mà không trả tiền đến bù theo quy
định của pháp luật…(Điều 188 Luật SHTT năm 2005; sửa đổi, bổ sung năm 2009).
40
2.1.2. Khái niệm, đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài
ở Việt Nam
2.1.2.1. Khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Thuật ngữ “yếu tố nước ngoài” từ lâu đã được nhắc đến trong sách báo pháp
lý ở các nước trên thế giới và Việt Nam. Tuy nhiên, định nghĩa thế nào là “yếu tố
nước ngoài” thì trong pháp luật các nước còn có sự nhìn nhận khác nhau. Chẳng
hạn, Pháp là một quốc gia có hệ thống Tư pháp quốc tế khá phát triển nhưng không
có văn bản nào định nghĩa về “yếu tố nước ngoài”. Các nước có Luật về Tư pháp
quốc tế như Bỉ, Thụy Sĩ, Italia nhưng cả ba văn bản pháp luật này đều không có
định nghĩa về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, trong pháp luật của
Cộng hòa Liên bang Nga và của nhiều nước, kể cả thực tiễn pháp luật của ba nước
được nêu trên, thì quan niệm về “yếu tố nước ngoài” được hiểu tương tự như cách
hiểu phổ biến ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, trước năm 1995, khái niệm “Quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài” chưa được định nghĩa đầy đủ trong bất kỳ văn bản luật nào, cho dù trong
thực tiễn tư pháp đã có sự thừa nhận khá rõ về nó. Chẳng hạn, TAND tối cao trong
Thông tư số 09 và Thông tư số 11 năm 1974 đã dùng thuật ngữ “nhân tố nước
ngoài” để nói về các yếu tố làm phức tạp hóa quan hệ hôn nhân và gia đình giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài. Hoặc Luật Hôn nhân và gia đình năm
1986 (Điều 52), Pháp lệnh về Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với
người nước năm 1993 quy định: quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài “có yếu tố nước ngoài” khi có sự tham gia của “người nước
ngoài”. Bên cạnh đó, một số tài liệu, giáo trình giảng dạy pháp luật trong các
trường đại học và trung học chuyên nghiệp ở nước ta thời kỳ đó đã tiếp cận khá
sớm với khái niệm “yếu tố nước ngoài” dưới những phương diện khác nhau. Chẳng
hạn, Giáo trình của Trường cán bộ Ngoại giao, Ngoại thương những năm 60-70 đã
nói về hiện tượng này trong điều chỉnh pháp luật các quan hệ ngoại giao, ngoại
thương. Tập bài giảng về Tư pháp quốc tế của Khoa Pháp lý, Trường Đại học tổng
hợp Hà Nội năm 1977-1980 và Giáo trình Tư pháp quốc tế của Trường đại học
Pháp lý Hà Nội năm 1992 (nay là Đại học Luật Hà Nội) đã nêu định nghĩa về quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự (mà chủ yếu là các quan hệ tài
sản) khi nó thỏa mãn các điều kiện sau: (i) một trong các bên tham gia vào mối
41
quan hệ đó là người nước ngoài (thể nhân, pháp nhân và trong trường hợp đặc biệt
là quốc gia nước ngoài); (ii) các quan hệ này nảy sinh giữa các bên có cùng quốc
tịch nhưng đối tượng của các quan hệ cụ thể đó là tài sản hiện đang tồn tại ở nước
ngoài; (iii) sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các mối quan hệ
đó xảy ra ở nước ngoài [84, tr.3].
Các quan niệm nêu trên đã tác động mạnh đến việc điều chỉnh các quan hệ
dân sự phát sinh giữa tổ chức, cá nhân Việt Nam với tổ chức, cá nhân nước ngoài
và quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan sau đó. Tiêu
biểu nhất, phải kể đến BLDS năm 1995, đây là một bước tiến lớn trong phát triển lý
luận lập pháp Việt Nam kể từ khi giành được độc lập năm 1945. BLDS năm 1995
được coi là Bộ luật lớn nhất trong các văn bản pháp luật từ trước đến nay (riêng về
các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định trong Phần thứ Bảy, từ
Điều 826 đến Điều 838). Tại Điều 826 BLDS năm 1995 quy định:
Quan quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu là các quan hệ
dân sự có người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài tham gia hoặc căn cứ để
xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản
liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Về cơ bản, khái niệm “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” nêu trong
BLDS năm 1995 là phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế của nước ta tại thời
điểm ban hành Bộ luật. Tuy nhiên, khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế
ngày một sâu rộng, thì quy định trên chưa phản ánh đầy đủ sự đa dạng của quan hệ
dân sự phát sinh trong đời sống sinh hoạt quốc tế. Thực tiễn cho thấy, chủ thể của
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không chỉ có người nước ngoài và pháp nhân
nước ngoài, mà còn có thêm sự hiện diện của nhà nước nước ngoài, người Việt
Nam ở nước ngoài, tổ chức quốc tế liên chính phủ, tổ chức quốc tế phi chính phủ,
vùng lãnh thổ độc lập về mặt hải quan…Mặt khác, khách thể của quan hệ dân sự
không chỉ liên quan đến tài sản hữu hình mà còn có thể là tài sản trí tuệ. Ngoài ra,
sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ dân sự không chỉ
xảy ra ở nước ngoài, mà có thể xảy ra trong nước giữa tổ chức hoặc cá nhân của
Việt Nam với nhau nhưng cư trú ở nước ngoài. Vấn đề các tổ chưc, cá nhân Việt
Nam trong một số trường hợp giao kết hợp đồng với nhau nhưng luật áp dụng trong
42
hợp đồng là luật nước ngoài đã xảy ra hành vi ký kết hợp đồng, làm cho việc điều
chỉnh quan hệ đó đã bị phức tạp hóa lên bởi yếu tố nước ngoài nói trên.
Với mục đích không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam, ngày 14/6/2005 Quốc hội khóa XI đã thông qua BLDS (sửa đổi) năm 2005
(thường gọi là BLDS năm 2005). Tại Điều 758 BLDS này đã đưa ra một định nghĩa
khá đầy đủ và chi tiết về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Theo đó, khái niệm
“Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” đã được bổ sung về yếu tố chủ thể: ngoài
chủ thể mang tính truyền thống là người nước ngoài và pháp nhân nước ngoài, còn
có thêm cơ quan nước ngoài (thay mặt cho nhà nước nước ngoài), tổ chức nước
ngoài (bao gồm cả tổ chức quốc tế liên chính phủ và phi chính phủ, tổ chức có tư
cách pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân), đặc biệt là người Việt
Nam định cư ở nước ngoài (bao gồm công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam
có cuộc sống ổn định, lâu dài ở nước ngoài). Điều này thể hiện rõ chính sách đoàn
kết của Đảng và Nhà nước ta về thu hút cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
gắn bó với Tổ quốc và quê hương. Bên cạnh đó, Điều luật cũng quy định rõ hơn về
quan hệ dân sự có sự tham gia của chủ thể là cá nhân, tổ chức Việt Nam với nhau
nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài hoặc phát
sinh theo quy định của pháp luật nước ngoài. Ngoài ra, kế thừa quy định của các
văn bản pháp luật trước đây, một quan hệ dân sự cũng được coi là có yếu tố nước
ngoài khi có khách thể là tài sản đang tồn tại ở nước ngoài.
Mặc dù cả hai BLDS nói trên đều đưa ra định nghĩa về quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài nói chung, nhưng lại không hề có định nghĩa riêng về quan hệ
SHTT có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 3, Điều 2 BLDS
2005, Bộ luật này được áp dụng đối với cả quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài,
trừ trường hợp ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên có quy định khác. Theo quy định
tại Điều 1 BLDS năm 2005, quan hệ dân sự được hiểu bao gồm cả quan hệ SHTT.
Bên cạnh đó, Điều 774, 775, 776 BLDS năm 2005 cũng có quy định tương tự về
việc áp dụng pháp luật Việt Nam đối với QTG, QSHCN, QĐVGCT có yếu tố nước
ngoài được sáng tạo, công bố, phổ biến ở Việt Nam và chuyển giao công nghệ có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Nói cách khác, những tiêu chí về “yếu tố nước
ngoài” được nêu trong Điều 758 BLDS năm 2005 cũng là tiêu chí được áp dụng để
43
xác định về “yếu tố nước ngoài” trong các quan hệ SHTT. Kết hợp định nghĩa về
quyền SHTT đã nêu với định nghĩa về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đã
được trình bày, tựu trung lại cho thấy, quyền SHTT có yếu tố nước ngoài là quyền
SHTT khi có các điều kiện:
- Thứ nhất, nếu có chủ thể của quyền SHTT là người nước ngoài, cơ quan, tổ
chức nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài (gọi chung là tổ chức,
cá nhân nước ngoài);
- Thứ hai, nếu chủ thể của quyền SHTT là các công dân Việt Nam, cơ quan, tổ chức Việt Nam thì việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền SHTT dựa trên sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài hoặc trên cơ sở quy định của pháp luật nước ngoài;
- Thứ ba, nếu quyền SHTT liên quan tới tài sản trí tuệ tồn tại ở nước ngoài.
Liên quan đến khái niệm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài, cần chú ý làm
rõ là khái niệm “quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam”. Trong bối cảnh
hội nhập quốc tế hiện nay, dễ nhận thấy các quan hệ SHTT có yếu tố nước ngoài
không ngừng xuất hiện, tồn tại và phát triển ở Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, những
hợp đồng chuyển giao quyền SHTT từ nước ngoài vào Việt Nam trong hoạt động
đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng, hay hợp đồng
chuyển giao đối tượng SHCN giữa tổ chức, cá nhân nước ngoài cho tổ chức, cá
nhân Việt Nam cũng diễn ra hết sức sôi động. Chẳng hạn, trong quá trình thực hiện
những dự án lớn, như xi măng Nihon của Nhật Bản, Chinfon của Đài Loan, lắp ráp
ô tô, xe máy của hãng Isuzu, Suzuki, Toyota, Honda, Yamaha của Nhật Bản, điện
tử của hãng Samsung, LG của Hàn Quốc, Intel của Hoa Kỳ… đều có gắn kết với
việc chuyển giao quyền SHTT có yếu tố nước ngoài vào Việt Nam. Bên cạnh đó,
các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học như phim ảnh, âm nhạc, trò chơi truyền
hình, phần mềm máy tính… của nước ngoài cũng được công bố, phổ biến, phân
phối rộng khắp trên thị trường Việt Nam.
Ý thức được tầm quan trọng của vấn đề bảo hộ, thực thi quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam, Nhà nước ta đã sớm có khung pháp lý điều chỉnh các
quan hệ nói trên. Phần thứ Bảy của BLDS năm 1995, Phần thứ Bảy của BLDS năm
2005 và Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thực chất là tập trung
giải quyết các vấn đề này. Chẳng hạn, Điều 774 BLDS năm 2005 quy định:
44
Quyền tác giả của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đối với
tác phẩm lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam hoặc được sáng
tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam được bảo hộ theo quy
định của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều ước quốc tế
mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Rõ ràng điều luật này không đề cập đến QTG của người nước ngoài, pháp
nhân nước ngoài ở nước ngoài, cho dù tên của điều luật là “Quyền tác giả có yếu tố
nước ngoài”. Điều 775 BLDS năm 2005 cũng có quy định tương tự như vậy về
QSHCN và QĐVGCT có yếu tố nước ngoài, theo đó:
Quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng của người
nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đối với các đối tượng của quyền sở hữu
công nghiệp, đối tượng của quyền đối với giống cây trồng đã được Nhà nước
Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ hoặc công nhận được bảo hộ theo quy định
của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và điều ước quốc tế mà
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Ở đây, thuật ngữ “Việt Nam” thể hiện ý nghĩa lãnh thổ quốc gia liên quan
đến căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt đối với quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài. Theo nội dung các điều luật này, quyền SHTT của tổ chức, cá nhân nước
ngoài có thể được bảo hộ và thực thi tại Việt Nam dựa trên sự kiện pháp lý làm
phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền SHTT đó ở Việt Nam; hoặc dựa trên cơ sở quy
định của pháp luật Việt Nam và ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên.
Như vậy, từ việc kết hợp những quy định của pháp luật Việt Nam về quyền
SHTT và quyền SHTT có yếu tố nước ngoài từ trước đến nay, có thể đi đến định
nghĩa về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam như sau:
Quyền sở hữu trí tuệ có tố nước ngoài ở Việt Nam là quyền của tổ
chức, cá nhân nước ngoài đối với tài sản trí tuệ được công nhận và bảo hộ ở
Việt Nam, bao gồm: quyền tác giả, quyền liên quan của cá nhân, tổ chức
nước ngoài đối với tác phẩm lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt
Nam hoặc được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam,
được bảo hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên; quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây
45
trồng của cá nhân, tổ chức nước ngoài đối với các đối tượng của quyền sở
hữu công nghiệp, đối tượng của quyền đối với giống cây trồng đã được Nhà
nước Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ hoặc công nhận, được bảo hộ theo quy
định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Phân tích định nghĩa trên đây cho thấy: chủ thể của quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam bao gồm các tổ chức, cá nhân nước ngoài, họ có thể là tác
giả, chủ sở hữu QTG, người có QLQ, chủ sở hữu đối tượng SHCN… Cơ sở pháp lý
làm phát sinh quyền SHTT trong trường hợp này là quy định của pháp luật Việt
Nam và các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên. Theo đó, quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam có thể được xác lập khi tổ chức, cá nhân nước ngoài sáng
tạo, thể hiện, công bố, phổ biến tài sản trí tuệ lần đầu tiên ở Việt Nam, chuyển giao
tài sản trí tuệ tại Việt Nam theo hợp đồng với tổ chức, cá nhân Việt Nam... Dựa vào
những sự kiện pháp lý kể trên, quyền SHTT của cá nhân, tổ chức nước ngoài được
Nhà nước Việt Nam công nhận, bảo hộ phù hợp với quy định của pháp luật Việt
Nam và các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên.
Việc xác định quyền SHTT có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam như trên tạo
cơ sở cho việc đánh giá về thực trạng bảo hộ và thực thi quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài đang diễn ra trên lãnh thổ nước ta, đồng thời tạo ra khả năng áp dụng
pháp luật một cách hiệu quả trong các trường hợp cụ thể. Thực tiễn cho thấy, các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền không thể áp dụng pháp luật một cách chính xác
để bảo hộ và thực thi được quyền SHTT có yếu tố nước ngoài, nếu không làm rõ
nội hàm khái niệm “yếu tố nước ngoài ở Việt Nam” trong quan hệ đó. Đây cũng là
một trong những nội dung quan trọng đặt ra, giúp cho lực lượng CAND xác định
rõ nhiệm vụ cụ thể của mình trong quá trình thực hiện chức năng bảo vệ ANQG,
giữ gìn TTATXH có liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
2.1.2.2. Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Nghiên cứu quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam cho thấy, ngoài
những đặc điểm chung của quyền SHTT, thì quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam còn có một số điểm đáng lưu ý, liên quan trực tiếp đến nội dung các biện
pháp thực thi pháp luật mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng trong
46
những trường hợp cụ thể khi có sự vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam.
- Thứ nhất, sự phát triển của quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
luôn gắn liền với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đổi
mới tư duy pháp lý và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tư pháp và pháp luật.
Có thể nói, nếu không có đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà
nước về đổi mới tư duy pháp lý và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tư pháp và pháp
luật, thì quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam không thể phát triển năng
động như hiện nay. Nếu trước khi bước vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam bị bao vây
cấm vận, nền kinh tế chủ yếu là “tự cung, tự cấp”, quan hệ đối ngoại bị bó hẹp chủ
yếu trong hệ thống các nước XHCN, hoạt động của tổ chức, cá nhân nước ngoài ở
nước ta cũng rất hạn chế, thì quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam rất khó
phát triển. Trong bối cảnh đó, Việt Nam tiếp nhận viện trợ sản phẩm công nghiệp,
lương thực, y tế từ các nước XHCN, ngoài ra một số ít tác phẩm văn học, nghệ
thuật, khoa học của tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng được sử dụng hầu như là
miễn phí ở Việt Nam. Với hoàn cảnh như vậy, vấn đề vi phạm quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài là chuyện đương nhiên và có tính phổ biến; cũng chính vì vậy mà
vấn đề thực thi quyền SHTT chưa được đặt ra đúng tầm của nó.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, với phương châm đổi mới toàn diện và
sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt từ sau khi Việt Nam trở thành thành
viên của WTO, thì các quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư của nước ngoài vào
nước ta ngày càng gia tăng, quyền SHTT của tổ chức, cá nhân nước ngoài ở Việt
Nam cũng vì vậy mà ngày càng phát triển phong phú, đa dạng. Theo thống kê của
các cơ quan chức năng, tính đến hết tháng 9/2013, Việt Nam đã thu hút được hơn
15.000 dự án đầu tư nước ngoài của 100 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn
đăng ký đạt 223 tỷ USD; năm 2013 cả nước có khoảng 5 triệu lượt người nước
ngoài đến Việt Nam để tham quan, du lịch, ký kết các hợp đồng kinh tế, thương
mại, chuyển giao quyền SHTT ở nước ta…[88]. Những tiềm năng to lớn của quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nói trên là động lực to lớn giúp cho nước
ta khai thác, sử dụng vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn
hiện nay nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề thực tiễn cần nghiên cứu giải quyết trong
hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
47
- Thứ hai, quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam được bảo hộ và
thực thi phù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luật, truyền thống, bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam.
Mặc dù quyền tự do sáng tác là một quyền cơ bản của con người, được Nhà
nước Việt Nam ghi nhận và bảo đảm thực hiện, nhưng không phải bất kỳ sản phẩm
trí tuệ nào của tổ chức, cá nhân nước ngoài được sáng tạo, công bố, phổ biến hay
chuyển giao ở Việt Nam cũng đều được bảo hộ và thực thi. Vấn đề đặt ra, những
sản phẩm trí tuệ ấy có phù hợp với pháp luật, phong tục tập quán và truyền thống
đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam hay không.
Thực tiễn cho thấy, có thể cùng một tài sản trí tuệ do con người sáng tạo ra,
nhưng ở nước này thì pháp luật bảo hộ và thực thi, nhưng nước khác thì lại từ chối.
Ví dụ, năm 2012 khi Trung tâm điện ảnh Hollywood (Mỹ) cho ra đời bộ phim
“Innocence of Muslims” (Sự vô tội của những người Hồi giáo), thì ngay lập tức
vấp phải sự phản ứng dữ giội của cộng đồng Hồi giáo trên khắp thế giới, thậm chí
Đại sứ quán Hoa Kỳ ở một số nước còn bị tấn công bởi các phần tử quá khích,
trong khi đó, tác phẩm điện ảnh này vẫn được hoan nghênh ở Hoa Kỳ và nhiều nơi
trên thế giới.
Gần đây có một số ý kiến ở Việt Nam về việc cần phải thừa nhận QTG đối
với một số tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học có nội dung đề cập đến những
vấn đề “nhạy cảm”, như quan hệ giới tính, hay sự “phản biện” lại các chính sách xã
hội đương thời…bởi lý do, dù không công nhận QTG đối với các tác phẩm nói
trên, thì chúng vẫn bằng mọi cách hiện diện và “len lỏi” vào đời sống xã hội [42].
Trong thực tiễn, ở nhiều nước (như Nhật Bản, Hoa Kỳ, CHLB Đức…), việc trình
chiếu các loại “phim người lớn” không còn là vấn đề bị cấm, việc xuất bản các
sách, báo có nội dung đả kích hệ thống chính trị và một số nhận vật trong chính
phủ cũng không còn là chuyện hiếm. Những tác phẩm này đồng thời cũng được
bảo hộ QTG khi tác giả, chủ sở hữu QTG sáng tạo, công bố, phổ biến ra ngoài
công chúng.
Mặc dù rất khó kiểm soát sự lan truyền các văn hóa phẩm có nội dung đồi
trụy, chống lại Đảng, Nhà nước ta và phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, nhưng
xuất phát từ yêu cầu bảo vệ chủ quyền ANQG, đảm bảo TTATXH, duy trì và phát
48
huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, thì quan điểm nhất quán
của Nhà nước Việt Nam là chống lại những hành vi sáng tác, tuyên truyền, phổ
biến các tác phẩm đó. Những việc làm này, tùy theo tính chất và mức độ nguy
hiểm của nó có thể bị áp dụng bởi các chế tài pháp lý, thậm chí truy cứu trách
nhiệm hình sự theo Điều 88 BLHS năm 1999 (Tội tuyên truyền chống Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 258 BLHS năm 1999 (Tội lợi dụng
các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp
của tổ chức, công dân)…
- Thứ ba, việc phát triển quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
trong thời gian qua phần nào cũng tác động, gây ảnh hưởng khá nhiều đến tâm lý,
lối sống con người Việt Nam, tạo ra “hiệu ứng chạy theo thời thượng” của một
nhóm nhỏ người Việt Nam.
Khảo sát thị trường hàng hóa ở Việt Nam cho thấy, đối tượng của quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam thể hiện chủ yếu thông qua những sản
phẩm tiêu dùng, phục vụ đắc lực đời sống sinh hoạt của dân cư Việt Nam. Theo
báo cáo của các cơ quan chức năng, trong số gần 4.000 sáng chế đăng ký tại Việt
Nam năm 2012, chỉ có khoảng 300 đơn của người Việt Nam, còn lại là của tổ chức,
cá nhân nước ngoài. Bên cạnh đó, các đối tượng khác của QSHCN có yếu tố nước
ngoài, như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý… hầu hết liên quan
đến các sản phẩm tiêu dùng như hàng dệt may, dày, dép, mỹ phẩm, lương thực,
thuốc chữa bệnh, đồ điện tử dân dụng, ô tô, xe máy, phương tiện nghe nhìn… Theo
thống kê của ngành y tế năm 2010, tổng số tiền mua thuốc của các bệnh viện công
lập là 15.000 tỷ đồng, trong đó chưa đến 39% dành để mua thuốc nội. Đặc biệt ở
các bệnh viện tuyến trung tương, số tiền mua thuốc nội chỉ chiếm 12% [93].
Thị trường Việt Nam ngày càng nhiều các loại sản phẩm có nguồn gốc, xuất
xứ từ nước ngoài, mang tính “ăn liền”, như: các loại rượu ngoại (của các hãng
Remy Martin, Chivas Regal, Macallan, Chivas Royal…); thuốc lá ngoại (mang
nhãn hiệu Captain black, Black & Mild, Camel filters, 555, Esse, Davidoff,
Marlboro, Richmond…); nước hoa ngoại (của hãng Chanel, Gucci, Tresor, Diesel,
Escada…); xe ô tô ngoại (của hãng Mercedes, Toyota, Nissan, Huyndai, Ford,
Lexus, BMV…); đồ gia dụng ngoại (như điều hòa của hãng National, Philips,
49
LG…; nồi cơm điện, bàn là, vô tuyến, máy nghe nhạc, máy xay sinh tố của các
hãng Sony, Ericson, Philips, Sharp, Tiger, National…; máy giặt, tủ lạnh (của hãng
LG, Panasonic…); đồ dệt may ngoại (của hãng Pier Cardin, Gucci…); đồ thể thao
ngoại (của hãng Nike, Gucci, Adidas)… Bên cạnh những sản phẩm công nghiệp
nói trên, nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học của tổ chức, cá nhân nước
ngoài được công bố, phổ biến hoặc chuyển giao ở Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh
vực điện ảnh, âm nhạc, trò chơi trực tuyến, trò chơi truyền hình… Quan sát cho
thấy, một số lượng lớn phim ảnh của nước ngoài (nhất là của Hàn Quốc, Trung
Quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản…) được trình chiếu tràn làn trên tất cả các kênh
truyền hình từ trung ương đến địa phương. Trong số các ấn phẩm âm nhạc được
bán trên thị trường Việt Nam, một số lượng không nhỏ các đĩa hát CD, VCD chứa
đựng nội dung các bài hát nước ngoài, chưa kể các chương trình biểu diễn của ca
sỹ nước ngoài thường xuyên được giới trẻ Việt Nam cập nhật, download trên mạng
Internet… Các loại tài sản trí tuệ này tác động không nhỏ đến giới trẻ, tạo cho họ
những ảnh hưởng nhất định dễ dàng nhận thấy trong cuộc sống thường ngày tại các
đô thị và làng quê Việt Nam.
Nhìn vào bức tranh chung của thị trường Việt Nam cho thấy, các loại tài sản
trí tuệ của tổ chức, cá nhân nước ngoài đang có xu hướng “lấn lướt” hàng nội Việt
Nam ở tất cả các phương diện, từ giá cả đến chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng…
khiến cho thị hiếu tiêu dùng của cộng đồng dân cư Việt Nam cũng ngày càng thay
đổi theo dạng hướng ngoại. Tuy nhiên, điều dễ dàng nhận thấy là hầu hết các loại
sản phẩm nói trên đều mang tính “thực dụng”, có nghĩa là chúng được bán với mục
đích thu lợi nhanh và bán được nhiều trong một thời gian ngắn; trong khi đó, có rất
ít tài sản trí tuệ có khả năng mang lại những lợi ích “chiến lược” để phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước. Đây là vấn đề đáng lo
ngại đặt ra trong việc hoạch định chính sách của Nhà nước ta về thu hút quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong những năm tiếp theo.
- Thứ tư, việc xác lập quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam có thể
bị giới hạn trong một số trường hợp liên quan đến ANQG và TTATXH ở nước ta
trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
50
Theo quy định của Hiến pháp năm năm 2013, ở Việt Nam mọi tổ chức, cá
nhân được Nhà nước đảm bảo quyền tự do sáng tạo và phát huy trí tuệ. Tuy nhiên,
trong những trường hợp cần thiết để bảo vệ chủ quyền, ANQG, TTATXH, lợi ích
chung của cộng đồng xã hội thì pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể để
hạn chế việc xác lập quyền SHTT của tổ chức, cá nhân nước ngoài ở Việt Nam.
Chẳng hạn, theo quy định của Luật Báo chí năm 1989 (sửa đổi, bổ sung năm
1999), người nước ngoài không thể công bố tác phẩm báo chí của mình tại Việt
Nam dưới danh nghĩa nhà báo của các tòa soạn báo Việt Nam. Theo Luật Chuyển
giao công nghệ năm 2006, tổ chức và cá nhân nước ngoài không được chuyển giao
công nghệ vào Việt Nam, nếu làm tổn hại đến lợi ích quốc phòng, an ninh, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; huỷ hoại tài nguyên, môi trường; gây hậu
quả xấu đến sức khoẻ con người, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc… Quy
định này cũng được khẳng định trong Điều 7 Luật Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009): việc thực hiện quyền SHTT không được xâm phạm lợi ích của
Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác
và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan. Tiếp đó,
Điều 8 của Luật này cũng khẳng định chính sách nhất quán của Nhà nước ta về bảo
hộ và thực thi quyền SHTT: “Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ
chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hoà lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức
xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh”.
Ngoài ra, đối với một số hoạt động khác của tổ chức, cá nhân nước ngoài
liên quan đến việc xác lập QLQ trên lãnh thổ Việt Nam cũng phải tuân theo pháp
luật Việt Nam. Chẳng hạn, theo quy định của Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày
05/10/2012 thì người nước ngoài muốn hành nghề biểu diễn nghệ thuật tại Việt
Nam thì phải làm đơn xin phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam,
sau khi được cấp giấy phép biểu diễn thì không được thay đổi nội dung, thêm động
tác diễn xuất khác với nội dung đã được phép biểu diễn; không quảng cáo mạo
danh nghệ sĩ, đoàn nghệ thuật; không quảng cáo người biểu diễn không đúng nội
dung đã được cấp phép; không sử dụng bản ghi âm để thay cho giọng thật của
người biểu diễn hoặc thay cho âm thanh thật của nhạc cụ biểu diễn…
51
2.2. Một số vấn đề lý luận về thực thi quyền sở hữu trí tuệ và thực thi
quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
2.2.1. Một số vấn đề lý luận về thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
2.2.1.1. Khái niệm và các biện pháp thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Theo quan điểm của WIPO, một trong những tiêu chí đánh giá nước nào có
hệ thống pháp luật được coi là hữu hiệu là cần phải phải xem xét cách thức nước
đó thực thi pháp luật như thế nào đối với quyền SHTT [66]. Điều này là hoàn toàn
chính xác, bởi xuất phát từ vai trò đặc biệt quan trọng của quyền SHTT đối với đời
sống xã hội như đã trình bày. Nếu ai đó là chủ sở hữu tài sản hữu hình, người ta có
thể bảo vệ tài sản của mình bằng cách tự bảo vệ, như cất giữ, chôn giấu…; còn đối
với tài sản trí tuệ, vấn đề này có thể hoàn toàn khác, tài sản trí tuệ và quyền SHTT
có thể bị xâm phạm một cách “vô tư” nếu không có sự bảo vệ đặc biệt, nghiêm
ngặt bằng pháp luật. Với các thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại, người ta hoàn
toàn có thể dễ dàng sao chép, sử dụng nhãn mác hàng hoá của người khác để dán
vào hàng hoá của mình hoặc làm ra những hàng giả, hàng nhái một cách tinh vi có
thể qua mắt được sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước và đánh lừa người
tiêu dùng. Người ta cũng có thể sao chép tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học,
để làm thành vô vàn bản rồi mang bán trên thị trường để kiếm lời mà không xin
phép tác giả hay chủ sở hữu QTG... Thực tiễn cho thấy, không có một loại tài sản
nào lại phải dựa nhiều vào pháp luật để chống lại sự xâm phạm nhiều như đối với
tài sản trí tuệ. Chính bởi vậy, mỗi quốc gia phải có những cơ chế thực thi quyền
SHTT một cách hiệu quả nhất thì mới mong thiết lập được trật tự pháp luật về
quyền SHTT trên lãnh thổ nước mình.
Thuật ngữ “thực thi quyền SHTT” được nhắc đến trong các tài liệu của
WTO, WIPO và của nhiều nước trên thế giới được dịch sang tiếng Việt. Trong
Hiệp định TRIPS của WTO, “thực thi quyền SHTT” được nhắc đến nguyên bản
bằng tiếng Anh là “enforcement of intellectuall property rights”. Mặc dù Hiệp định
TRIPS quy định một cách khá chi tiết các biện pháp thực thi quyền SHTT, nhưng
lại không định nghĩa cụ thể về “thực thi quyền SHTT” mà chỉ đưa ra các yêu cầu về
thực thi. Căn cứ vào các quy định trong Phần thứ III của Hiệp định này, có thể thấy
vấn đề thực thi quyền SHTT đặt ra một nhiệm vụ bắt buộc cho các cơ quan chức
52
năng nhằm đạt các mục đích, như: xử lý nghiêm khắc các hành vi xâm phạm quyền
SHTT, ngăn chặn các hành vi xâm phạm tiếp theo để tạo ra một môi trường lành
mạnh về quyền SHTT và không được tạo ra rào cản đối với các hành vi thương mại
hợp pháp [86].
Trong ngôn ngữ tiếng Việt và sách báo pháp lý Việt Nam, thuật ngữ “thực
thi quyền SHTT” cũng mới được sử dụng trong thời gian gần đây. Theo từ điển
Tiếng Việt của NXB Đà Nẵng năm 2011, thì “thực thi” có nghĩa là “thực hiện điều
đã được giao cho, đã được chính thức quyết định”. Bên cạnh đó, từ điển Anh - Việt
của Viện ngôn ngữ khoa học xã hội - nhân văn, NXB Văn hóa - Thông tin phát
hành năm 2010, cho rằng “enforcement” là “sự đem thi hành, thực hành (một đạo
luật); sự cưỡng bách, sự bắt buộc phải tuân theo (một điều luật)”.
Mặc dù Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có quy định về
nhiều vấn đề liên quan đến thực thi quyền SHTT, nhưng thuật ngữ “thực thi quyền
SHTT” không được sử dụng, mà thay vào đó là thuật ngữ “bảo vệ quyền SHTT”.
Trên thực tế, “bảo vệ quyền SHTT” thường được hiểu là những biện pháp cụ thể
được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT tùy theo tính chất, mức độ
xâm phạm. Phạm vi của khái niệm này chỉ giới hạn ở các biện pháp áp dụng khi có
hành vi xâm phạm quyền SHTT đã xảy ra [63].
Bên cạnh Luật SHTT, trong một số văn bản pháp luật hiện hành (như Chỉ thị
của Thủ tướng Chính phủ số 845/CT-TTg ngày 02/6/2011 về tăng cường công tác
thực thi quyền SHTT sở hữu công nghiệp; Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số
36/2008/CT-TTg ngày 31/12/2008 về việc tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ
quyền tác giả, quyền liên quan…) thì thuật ngữ “thực thi quyền SHTT” vẫn được
sử dụng, khẳng định sự ảnh hưởng nhất định của nó lý luận và thực tiễn pháp luật ở
Việt Nam hiện nay.
Một vấn đề cần được lưu ý về sự khác nhau giữa vấn đề “bảo vệ” và “thực
thi” quyền SHTT về nội hàm của hai khái niệm này: bảo vệ quyền SHTT ngoài
việc công nhận quyền SHTT cho chủ thể đối với các đối tượng của quyền SHTT,
nhà nước còn cho phép áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền SHTT của các chủ thể
hưởng quyền SHTT trên thực tế [63]; trong khi đó thực thi quyền SHTT có biện
pháp thiết lập các thiết chế, tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa vi phạm,
53
xây dựng và hoàn thiện pháp luật về SHTT, hợp tác và tham vấn giữa các nước về
các vấn đề liên quan đến quyền SHTT... [42].
Thông qua quá trình khảo sát và trao đổi với các cán bộ làm công tác thực thi
quyền SHTT tại các địa phương, tác giả cũng nhận được nhiều ý kiến về vấn đề
thực thi quyền SHTT, hầu hết đều cho rằng “thực thi quyền SHTT” bao giờ cũng
gắn với yếu tố “quyền lực nhà nước” và mang tính bắt buộc phải thực hiện, không
có “khoan nhượng” khi thi hành pháp luật về quyền SHTT… Ngoài ra, theo một số
học giả, bản thân thuật ngữ “enforcement” trong tiếng Anh có nội dung là “sức
mạnh” (-force-) và “enforcement of intellectuall property rights” phải được hiểu
đúng là “thi hành cưỡng chế về quyền sở hữu trí tuệ” [42].
Mặc dù còn có nhiều ý kiến khác nhau về tên gọi khái niệm thực thi quyền
SHTT, nhưng tựu trung lại, có thể đi đến thống nhất một số nội dung như sau:
Thực thi quyền sở hữu trí tuệ là những hoạt động công quyền của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo cho pháp luật về quyền sở
hữu trí tuệ được thi hành nghiêm chỉnh, thông qua đó bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ
thể quyền sở hữu trí tuệ. Để thực thi quyền SHTT, các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền được pháp luật cho phép tiến hành nhiều biện pháp cưỡng chế
mạnh mẽ, mang tính quyền uy trong các mức độ khác nhau để xử lý hành vi
vi phạm pháp luật về quyền SHTT.
Trong các hoạt động nói trên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp
dụng biện pháp dân sự, biện pháp hành chính, biện pháp hình sự, biện pháp khẩn
cấp tạm thời và biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu tại biên giới
liên quan đến SHTT để thực thi quyền SHTT, cụ thể như sau:
- Thực thi quyền SHTT bằng biện pháp dân sự, là việc xử lý vi phạm pháp
luật về quyền SHTT theo các thủ tục tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết việc
vi phạm này, TAND áp dụng các biện pháp, như: buộc chấm dứt hành vi xâm
phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi
thường thiệt hại; buộc tiêu huỷ, buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm
mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được
sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền SHTT, với
54
điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ sở hữu
quyền SHTT.
- Thực thi quyền SHTT bằng biện pháp hành chính, là việc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật về quyền SHTT bằng các trình
tự, thủ tục mà pháp luật hành chính quy định, như: cảnh cáo; phạt tiền; tịch thu
hàng hóa giả mạo về quyền SHTT, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng
chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về quyền SHTT; đình chỉ có
thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm; buộc tiêu huỷ
hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với
hàng hoá giả mạo về quyền SHTT, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử
dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về quyền SHTT với điều
kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ sở hữu quyền
SHTT; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm
quyền SHTT hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về quyền SHTT, phương
tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất kinh doanh
hàng hoá giả mạo về quyền SHTT sau khi loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá.
Trong các trường hợp, như: hành vi xâm phạm quyền SHTT có nguy cơ gây
ra thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội; tang vật vi phạm có
nguy cơ bị tẩu tán hoặc cá nhân, tổ chức vi phạm có biểu hiện trốn tránh trách
nhiệm; nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt hành chính thì cơ quan nhà nước
có thẩm quyền còn được áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm ngăn
chặn sự trốn tránh pháp luật, bảo đảm xử phạt hành chính, như: tạm giữ người; tạm
giữ hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm; khám người; khám phương tiện vận
tải, đồ vật; khám nơi cất giấu hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm về quyền
SHTT; các biện pháp ngăn chặn hành chính khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn được áp dụng một số biện
pháp kiểm soát hàng hoá xuất, nhập khẩu liên quan đến SHTT tại biên giới, bao
gồm: tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm phạm đến
quyền SHTT; kiểm tra, giám sát để phát hiện hàng hoá có dấu hiệu xâm phạm
quyền SHTT; tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá bị nghi ngờ xâm
phạm quyền SHTT (được tiến hành theo yêu cầu của chủ sở hữu quyền SHTT để
55
tạm dừng làm thủ tục hải quan) nhằm thu thập thông tin, chứng cứ về lô hàng để
chủ sở hữu quyền SHTT thực hiện quyền yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền
SHTT và áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp ngăn chặn
bảo đảm xử phạt hành chính…
- Thực thi quyền bằng biện pháp hình sự, là việc cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xử lý vi phạm pháp luật về quyền SHTT bằng các quy định của pháp luật
hình sự. Cụ thể, nếu cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT có đủ dấu
hiệu cấu thành tội phạm thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng trách
nhiệm hình sự đối với cá nhân đó theo các tội danh có liên quan. Một số tội danh
được quy định tại BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) liên quan đến
quyền SHTT, như: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156); Tội sản xuất, buôn
bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều
157); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón,
thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 158); Tội vi
phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170); Tội
xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan (Điều 170a); Tội xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp (Điều 171)…
2.2.1.2. Ý nghĩa của thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Quyền SHTT không chỉ đơn thuần mang đến lợi ích cho mỗi cá nhân, tổ
chức mà còn mang đến lợi ích chung của cả quốc gia, cả cộng đồng. Chính vì vậy,
thực thi quyền SHTT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là:
- Thứ nhất, thực thi quyền SHTT ở Việt Nam một cách hiệu quả là một yếu
tố để chống lại nguy cơ tụt hậu của đất nước về khoa học, công nghệ.
Một quốc gia hoàn toàn có thể phát triển mạnh mẽ mà không nhất thiết phải
có nguồn lực vật chất dồi dào, vấn đề đặt ra là nhận thức được giá trị thực sự của tài
sản trí tuệ và việc bảo vệ các tài sản đó. Cựu Thủ tướng Nhật Bản Tanzan Ishibashi
đã từng nói: “Đây là bí quyết phát triển công nghiệp của chúng tôi từ thời Meiji.
Chỉ trong một nước đã nhận ra giá trị thực sự của hệ thống bảo hộ sáng chế và
quyết tâm dùng mọi sức lực của nó để xây dựng hệ thống đó, người ta mới có thể
hy vọng công nghiệp phát triển” [42].
56
Một khi cơ sở hạ tầng và khả năng kỹ thuật cho việc cải tiến công nghệ đã
được thiết lập ở một nước, nhất là ở các nước đang phát triển như Việt Nam, khi hệ
thống pháp luật và cơ quan thực thi pháp luật về quyền SHTT vận hành một cách
hiệu quả, chúng sẽ thành những yếu tố thúc đẩy sự nghiệp cải tiến khoa học, kỹ
thuật của chính nước nhà, góp phần đẩy nhanh tiến độ theo kịp các nước phát triển.
Bởi vậy, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam không phải là có thiết lập hệ thống cơ quan
thực thi quyền SHTT hay không, mà phải là thiết lập và hoạt động như thế nào để
phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
- Thứ hai, thực thi có hiệu quả quyền SHTT khuyến khích các hoạt động lao
động sáng tạo, cạnh tranh thương mại một cách lành mạnh, ngăn chặn hiện tượng
thất thu thuế và nguy cơ phá vỡ thị trường trong nước.
Sự đổi mới luôn được coi là xu hướng quan trọng nhất để duy trì tăng trưởng
của nền kinh tế nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế, chính trị, xã hội nói chung.
Những nhà kinh doanh phải thường xuyên hoàn thiện và đổi mới những sản phẩm
hàng hóa của mình nếu muốn thành công trong việc nắm giữ thị trường. Do vậy
duy trì sự khích lệ đối với các hoạt động sáng tạo sẽ dẫn đến sự phát triển của các
sản phẩm và dịch vụ mới, sẽ đưa đến sự nắm giữ những thuận lợi của khoa học
công nghệ cho nền kinh tế, tạo ra động lực lành mạnh trong hoạt động cạnh tranh.
Sự bảo hộ một cách thích hợp và hiệu quả đối với quyền SHTT giúp cho
việc tạo ra sự tin tưởng cho những nhà kinh doanh, sáng tạo đối với thị trường
trong nước và khích lệ cho các hoạt động đầu tư, từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng nền
kinh tế. Nếu hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và ăn cắp bản quyền không bị trừng phạt
một cách thích đáng sẽ dẫn đến sự mất niềm tin của các nhà kinh doanh đối với thị
trường trong việc phát triển các hoạt động sáng tạo và bảo vệ các quyền hợp pháp
của họ. Hậu quả của tình hình đó là không khuyến khích được hoạt động lao động
sáng tạo để tiếp tục sản sinh ra sản phẩm trí tuệ phục vụ cho loài người.
Hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và tệ ăn cắp bản quyền được xem
như sự tổn hại thực sự cho nền kinh tế quốc dân. Điều đó dẫn đến nguồn thu cho
ngân sách Nhà nước bị thất thoát đáng kể và có thể dẫn đến sự vi phạm ngày càng
đa dạng, phức tạp. Khía cạnh này là sự đe doạ thực sự cho việc cân bằng nền kinh
tế xã hội, thậm chí có thể dẫn đến sự tổn thương hay phá huỷ toàn bộ thị trường. Do
57
vậy chỉ có thể bảo vệ nghiêm ngặt đối với quyền SHTT thì mới có thể khắc phục và
hạn chế được những tổn thất đã nêu trên.
- Thứ ba, thực thi có hiệu quả quyền SHTT sẽ đem lại sự bảo vệ lợi ích cho
người tiêu dùng.
Bảo vệ lợi ích người tiêu dùng là một trong những mục tiêu hướng tới bảo vệ
quyền con người của luật pháp mọi quốc gia. Mọi sự phấn đấu, nỗ lực cao nhất để
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đặc biệt những sản phẩm hàng hoá có liên quan
đến tính mạng, sức khoẻ là nhiệm vụ cơ bản của mỗi nước trong phát triển kinh tế
và quản lý xã hội.
Mặc dù hàng hoá giả mạo nhãn hiệu, ăn cắp bản quyền đôi khi được người
tiêu dùng chấp nhận vì giá cả cạnh tranh của nó, nhưng bao giờ cũng mang đến kết
cục ngược lại với mong muốn của họ, thậm chí gây ra những hậu quả tác hại tức
thì. Khi người tiêu dùng mua những sản phẩm giả mạo nhãn hiệu và ăn cắp bản
quyền, họ sẽ không có căn cứ và cơ sở hợp pháp nào để hưởng lợi ích của sự an
toàn sau khi quan hệ mua bán được thực hiện trót lọt; hoặc không có giải pháp
thích hợp trong trường hợp có xảy ra thiệt hại. Từ những bất lợi trên, những sản
phẩm vi phạm pháp luật về quyền SHTT ở Việt Nam đặt ra một sự đe dọa thực sự
cho người tiêu dùng khi vô tình hoặc hữu ý sử dụng các sản phẩm hàng giả, hàng
nhái, hàng kém chất lượng do vi phạm quyền SHTT (nhất là những mặt hàng nhạy
cảm như dược phẩm, thuốc chữa bệnh, thực phẩm, các loại phương tiện giao thông
hay phương tiện giáo dục…).
- Thứ tư, thực thi có hiệu quả quyền SHTT ở Việt Nam còn góp phần bảo vệ
chủ quyền ANQG, giữ gìn TTATXH.
Âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng và
con đường xây dựng CNXH ở nước ta diễn ra dai giẳng và quyết liệt. Để thực hiện
âm mưu đó, các thế lực thù địch đã không từ bất kỳ một thủ đoạn nào, trong đó có
việc sử dụng các thành quả khoa học, công nghệ của loài người. Trong thời gian
qua, lực lượng CAND đã phát hiện và làm thất bại hàng loạt những hoạt động phá
hoại của các thế lực thù địch như: “cắt dán”, sáng tác, sao chép, nhân bản sách, báo
có những nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà
nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chia rẽ dân tộc, bôi nhọ lãnh tụ để tuyên
58
truyền ra công chúng nhằm thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”; sử dụng
phần mềm gián điệp thâm nhập mạng máy tính chứa đựng các bí mật quốc gia, bí
mật kinh doanh; sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng tung vào thị trường Việt
Nam nhằm “bóp chết” nền sản xuất trong nước, đặc biệt là các mặt hàng nhạy cảm
mà đời sống sinh hoạt hàng ngày cần phải sử dụng như dược phẩm, thuốc chữa
bệnh, lương thực, thực phẩm, phương tiện giáo dục… Bởi vậy, việc thực thi có hiệu
quả, nghiêm khắc đối với quyền SHTT sẽ góp phần giúp cho nước ta bảo vệ vững
chắc chủ quyền ANQG và giữ gìn TTATXH, qua đó thúc đẩy quá trình hội nhập
quốc tế đang diễn ra hiện nay.
- Thứ năm, thực thi quyền SHTT ở Việt Nam tạo ra môi trường lành mạnh
về SHTT, thu hút phát triển quan hệ thương mại quốc tế, góp phần thực hiện thắng
lợi đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Với chủ trương mở rộng hợp tác, giao lưu quốc tế của Đảng và Nhà nước ta,
trong những năm vừa qua Việt Nam đã thu hút được một số lượng lớn các nhà đầu
tư nước ngoài, các thương nhân quốc tế đến nước ta để tìm kiếm cơ hội làm ăn.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sáng
tạo, công bố, phổ biến sản phẩm trí tuệ, chuyển giao quyền SHTT ở Việt Nam,
được Nhà nước ta bảo hộ quyền SHTT của họ theo quy định của pháp luật Việt
Nam và các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy tình
hình xâm phạm quyền SHTT của tổ chức, cá nhân nước ngoài ở Việt Nam vẫn diễn
ra phổ biến, làm giảm lòng tin của nhà đầu tư, thương nhân nước ngoài khi tiến
hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.
Bởi vậy, thực thi một cách hiệu quả quyền SHTT ở Việt Nam sẽ tạo ra môi
trường lành mạnh, lấy lại niềm tin cho tổ chức, cá nhân nước ngoài khi quyết định
làm ăn tại Việt Nam; đồng thời việc thực thi nghiêm chỉnh quyền SHTT ở Việt
Nam cũng góp phần thực hiện các nghĩa vụ trong các ĐƯQT về SHTT mà Việt
Nam là thành viên, đặc biệt là các cam kết quốc tế về thực thi quyền SHTT trong
khuôn khổ WTO.
2.2.2. Khái niệm, đặc điểm của thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam
2.2.2.1. Khái niệm thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
59
Tương tự như khái niệm về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam,
cho đến nay khái niệm về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
vẫn chưa được đề cập đầy đủ và cụ thể trong bất kỳ một văn bản luật nào, mà chỉ
được “lồng ghép” với những quy định về thực thi quyền SHTT nói chung. Chẳng
hạn: Điều 2, Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “Luật
này cũng được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài đáp ứng các quy định
của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”; Khoản 1,
Điều 5 của Luật SHTT năm 2005 cũng quy định: “Trong trường hợp có những vấn
đề dân sự liên quan đến sở hữu trí tuệ không được quy định trong Luật này thì áp
dụng quy định của Bộ luật dân sự”. Ngoài ra, BLDS năm 2005 còn quy định về
việc áp dụng Bộ luật này đối với quan hệ dân sự (bao gồm cả quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài), trừ trường hợp ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên có quy định
khác (Điều 2); quy định áp dụng pháp luật Việt Nam đối với QTG, QSHCN,
QĐVGCT có yếu tố nước ngoài được sáng tạo, công bố, phổ biến ở Việt Nam và
chuyển giao công nghệ ở Việt Nam (Điều 774, 775, 776). Ở đây cũng cần lưu ý
rằng, Điều 1 của BLDS năm 2005 đưa ra khái niệm về quan hệ dân sự bao gồm:
quan hệ dân sự, quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ kinh doanh, thương mại và
quan hệ lao động. Những quan hệ nói trên được gọi là quan hệ dân sự (theo nghĩa
rộng); còn những loại quan hệ cụ thể, như quan hệ sở hữu tài sản (hữu hình) hay
quan hệ SHTT, quan hệ hợp đồng dân sự… được gọi là quan hệ dân sự (theo nghĩa
hẹp) của thuật ngữ pháp lý này.
Như vậy, những quy định của pháp luật Việt Nam về cách thức, biện pháp,
thẩm quyền áp dụng và thực hiện pháp luật trong xử lý vi phạm quyền SHTT
không những được áp dụng đối với quyền SHTT nói chung, mà còn được áp dụng
đối với quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nói riêng. Nói cách khác,
thực thi quyền SHTT đã bao hàm cả thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam. Từ những lập luận trên đây, có thể đi đến nhận thức chung về thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam như sau:
- Về mặt nội dung, thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
bao gồm toàn bộ các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm tạo ra
cơ chế xử lý đối với mọi hành vi xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
60
Việt Nam. Các biện pháp thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài được cơ quan
nhà nước áp dụng cũng chính là những biện pháp thực thi quyền SHTT nói chung,
bao gồm: biện pháp dân sự, biện pháp hành chính, biện pháp hình sự, biện pháp
khẩn cấp tạm thời và biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan
đến quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
- Về mặt hình thức thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam,
được thực hiện tuân theo quy định của pháp luật về cách thức, trình tự, thủ tục,
thẩm quyền, phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam.
- Về chủ thể tiến hành hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam, bao gồm: TAND, QLTT, CQHQ, CAND, UBND, Thanh tra chuyên
ngành. Những cơ quan này thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
bằng cách tự mình hoặc phối hợp phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác để
xây dựng và triển khai cơ chế xử lý những hành vi xâm phạm quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam.
- Về mục đích thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, nhằm
phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài
ở Việt Nam, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của
chủ thể quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, tạo ra môi trường pháp lý
lành mạnh để thúc đẩy các hoạt động sáng tạo của con người.
2.2.2.2. Đặc điểm của thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài
ở Việt Nam
Bên cạnh những quy định chung của pháp luật về thực thi quyền SHTT,
thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam còn có một số điểm đáng
lưu ý sau đây, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần quan tâm để nghiên cứu,
vận dụng nhằm phát huy hiệu quả hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam:
- Thứ nhất, trình tự, thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt
Nam áp dụng trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam chủ yếu
tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp đặc biệt do pháp luật
Việt Nam và ĐƯQT mà Việt Nam tham gia, ký kết có quy định khác.
61
Về mặt lý luận, đối vấn đề bảo hộ quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam, có thể áp dụng theo pháp luật Việt Nam, pháp luật nước ngoài hoặc ĐƯQT
mà Việt Nam là thành viên. Chẳng hạn, theo quy định tại các Điều 774, 775, 776
BLDS năm 2005: quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam được phát sinh
trên cơ sở sự sáng tạo, công bố, phổ biến sản phẩm trí tuệ lần đầu tiên ở Việt Nam
thì được Nhà nước Việt Nam bảo hộ theo pháp luật Việt Nam và các ĐƯQT mà
Việt Nam là thành viên. Đối với việc chuyển giao đối tượng quyền SHTT của tổ
chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam, pháp
luật nước ngoài, ĐƯQT mà Việt Nam đã tham gia, ký kết.
Tuy nhiên, đối với vấn đề thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài tại
Việt Nam thì trình tự, thủ tục để thực hiện các biện pháp thực thi thuộc lĩnh vực
“luật hình thức/luật tố tụng” mà không thuộc “luật nội dung”. Bởi vậy, trong quá
trình áp dụng các loại quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực này, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền chủ yếu chỉ có thể áp dụng pháp luật của nước mình, trừ một
số ít trường hợp ngoại lệ. Nói cách khác, khi áp dụng trình tự, thủ tục để thực hiện
các biện pháp dân sự, hành chính, hình sự hay kiểm soát xuất, nhập khẩu tại biên
giới để thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền của Việt Nam chủ yếu chỉ áp dụng pháp luật Việt Nam, trừ trường
hợp đặc biệt mà pháp luật Việt Nam và ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên có quy
định khác (chẳng hạn, như vấn đề ủy thác tư pháp quốc tế, vấn đề công nhận bản
án, quyết định của Tòa án nước ngoài…) thì có thể áp dụng pháp luật nước ngoài ở
một số hành vi tố tụng.
- Thứ hai, hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
chịu tác động sâu sắc của ĐƯQT về SHTT mà Việt Nam là thành viên.
Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết một số ĐƯQT song phương về quyền
SHTT, như: Hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ bản quyền năm
1997; Hiệp định hợp tác về sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Thụy Sĩ năm 1999;
Hiệp định thương mại giữa Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000…
Tại Điều 4, Hiệp định hợp tác về sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Thụy Sĩ quy định: “Các Bên ký kết sẽ dành cho công dân của nhau sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với sự đối xử mà mỗi Bên ký kết dành cho công dân nước mình trong việc bảo hộ sở hữu trí tuệ. Việc miễn giảm nghĩa vụ này phải theo quy định
62
của Hiệp định TRIPS, đặc biệt là Điều 3 của Hiệp định đó”. Tương tự, tại Khoản 1, Điều 3 Hiệp định thương mại giữa Việt Nam - Hoa Kỳ cũng quy định nguyên tắc “đối xử quốc gia” trong bảo hộ và thực thi quyền SHTT và mọi lợi ích từ quyền đó. Đồng thời, nội dung Hiệp định cũng thể hiện các quy định đảm bảo thực thi hiệu quả quyền SHTT, bao gồm: thủ tục và chế tài trong tố tụng hành chính; quy định về các biện pháp tạm thời; quy định về thủ tục tố tụng hình sự và hình phạt; quy định các biện pháp thực thi quyền SHTT tại biên giới và các biện pháp giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền SHTT.
Đối với các ĐƯQT đa phương về SHTT mà Việt Nam là thành viên, như: Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ quyền tác giả, Thoả ước Madrid liên quan đến việc đăng ký quốc tế đối với nhãn hiệu (Thoả ước Madrid) năm 1949; Hiệp định khung ASEAN về sở hữu trí tuệ năm 1996… và đặc biệt, Hiệp định TRIPS mà Việt Nam là thành viên khi tham gia WTO. Tại Điều 3, Điều 4 của Hiệp định TRIPS quy định: Mỗi thành viên phải chấp nhận cho các công dân của các thành viên khác sự đối xử không kém thiện chí hơn so với sự đối xử của thành viên đó đối với công dân nước mình trong việc bảo hộ SHTT; hay công dân của các nước thành viên WTO phải được sự đối xử thuận lợi trên lãnh thổ một nước thành viên WTO như nước này dành cho công dân nước thứ ba khác, dù nước thứ ba có phải là thành viên của WTO hay không [46].
Trong quá trình hội nhập quốc tế, pháp luật Việt Nam luôn có xu hướng
tương thích với các quy định của luật pháp quốc tế. Bởi vậy, nguyên tắc “ưu tiên”
áp dụng pháp luật quốc tế cũng được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật của
nước ta. Chính vì lẽ đó, nếu quy định của pháp luật Việt Nam khác với quy định
của ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên, thì về nguyên tắc, nội dung các biện pháp
thực thi quyền SHTT sẽ áp dụng theo quy định của ĐƯQT đối với quan hệ ấy.
- Thứ ba, mọi chủ thể vi phạm pháp luật về SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam đều bình đẳng về địa vị pháp lý trong quá trình xử lý vụ việc và gánh
chịu trách nhiệm pháp lý do hành vi của họ gây ra.
Khi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam phát sinh, chúng đứng
trước nguy cơ xâm hại bởi hành vi trái pháp luật của nhiều chủ thể, bao gồm cả cá
nhân, tổ chức Việt Nam lẫn tổ chức và cá nhân nước ngoài. Như đã trình bày, các
63
biện pháp thực thi quyền SHTT nói chung cũng được áp dụng đối với quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; đồng thời đối với hành vi của cá nhân, tổ chức
nước ngoài xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam thì cũng
được xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Khảo sát thực tiễn cho thấy, giá trị về mặt tài sản của quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam thường cao hơn so với quyền SHTT của cá nhân, tổ chức
Việt Nam. Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân nước ngoài ít vi phạm pháp luật về quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hơn so với tổ chức, cá nhân Việt Nam.
Như vậy, pháp luật Việt Nam đã đồng nhất giá trị quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài với giá trị quyền SHTT nói chung. Từ đây dẫn đến hệ quả: nếu cá nhân, tổ
chức Việt Nam vi phạm quyền SHTT của cá nhân, tổ chức nước ngoài, hoặc ngược
lại thì đều áp dụng chung quy phạm pháp luật để xử lý về dân sự, hành chính, hình
sự, biện pháp khẩn cấp tạm thời hay kiểm soát xuất, nhập khẩu tại biên giới. Nói
cách khác, mọi chủ thể có hành vi xâm hại quyền SHTT (bao gồm cả quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài), đều phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý như nhau, không có
sự phân biệt về địa vị pháp lý, cho dù họ là cá nhân, tổ chức của Việt Nam hay tổ
chức, cá nhân của nước ngoài. Nội dung của những quy định này được thể hiện
trong Điều 5 (BLHS năm 1999), Điều 406 (BLTTDS năm 2004) và các văn bản
pháp luật khác có liên quan...
- Thứ tư, về cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp thực thi quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, pháp luật Việt Nam thường quy định “hẹp” hơn
so với thực thi quyền SHTT nói chung.
Mặc dù chủ thể áp dụng biện pháp thực thi quyền SHTT nói chung cũng
chính là chủ thể thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, song do
“yếu tố nước ngoài” làm cho quyền SHTT trở nên phức tạp, đòi hỏi phải có sự
phân cấp về thẩm quyền áp dụng các biện pháp thực thi để đảm bảo bảo hiệu quả
cao nhất. Chính bởi vậy, pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể về thẩm
quyền áp dụng biện pháp thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam,
đặc biệt là trong áp dụng biện pháp dân sự được thực hiện bởi cơ quan TAND.
Chẳng hạn, theo quy định của Điều 33 BLTTDS năm 2004, sửa đổi năm 2011, Tòa
án cấp huyện không có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền SHTT và
64
quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (trừ một số trường hợp đặc biệt, áp dụng đối
với một số quan hệ hôn nhân và gia đình ở khu vực biên giới theo quy định của
Điều 104, 105, 106 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000). Như vậy, nếu có tranh
chấp về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài, cá nhân hay tổ chức có liên quan gửi
yêu cầu đến TAND thì chỉ TAND cấp tỉnh và TAND tối cao mới có thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp này.
Ngoài ra, theo quy định của Luật Hải quan sửa đổi năm 2005, Nghị định
154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của
Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, Quyết định số
916/QĐ-TCHQ ngày 31/03/2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về việc
ban hành Quy chế tiếp nhận Đơn yêu cầu kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
liên quan đến Sở hữu trí tuệ: nếu hàng hóa liên quan đến quyền SHTT của cá nhân,
tổ chức nước ngoài được nhập khẩu vào Việt Nam mà có biểu hiện vi phạm pháp
luật về quyền SHTT, thì cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp kiểm soát hàng
hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT chỉ có thể là Tổng cục Hải quan mà
không phải là Cục Hải quan, Chi cục Hải quan cửa khẩu hoặc Đội kiểm soát hải
quan hay tương đương.
Về biện pháp hành chính mà lực lượng CAND áp dụng đối với vi phạm pháp
luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền áp
dụng chỉ là Cơ quan Công an cấp tỉnh, vì hiện nay đối với Công an cấp huyện, vẫn
chưa thành lập được đơn vị chuyên trách đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi
phạm pháp luật quyền SHTT nói chung và quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam nói riêng…
2.3. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân trong
thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam 2.3.1. Vai trò của lực lượng Công an nhân dân trong thực thi quyền sở
hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Điều 65 Hiến pháp năm 2013 quy định: CAND là lực lượng vũ trang nhân
dân có nghĩa vụ tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu
bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ
ANQG, giữ gìn TTATXH, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Đảng,
65
bảo vệ Nhà nước và chế độ XHCN, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện
các nghĩa vụ quốc tế.
Khẳng định về vị trí, vai trò của lực lượng CAND, Điều 67 của Hiến pháp
năm 2013 một lần nữa nhấn mạnh: Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt trong thực hiện
nhiệm vụ bảo vệ ANQG và bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội
phạm và vi phạm pháp luật.
Với những quy định trên đây cho thấy, CAND được Đảng, Nhà nước và
Nhân dân tin tưởng, trao sứ mệnh đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ
ANQG và giữ gìn TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp
luật, trong đó có tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam. Điều này cũng có nghĩa rằng, CAND là lực lượng “nòng cốt”
trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay.
Vai trò của lực lượng CAND trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam trước hết thể hiện ở việc Đảng, Nhà nước và Nhân dân “trao
quyền” cho CAND trực tiếp thực hiện các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý
đối với các hành vi phạm tội và vi phạm phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam bằng biện pháp hành chính và biện pháp hình sự, là những
biện pháp được áp dụng phổ biến trong thực tiễn hiện nay. Ngoài ra trong các biện
pháp thực thi khác, CAND cũng thực hiện xuất sắc chức năng, nhiệm vụ của mình
trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, vai trò của lực lượng CAND
trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam còn được phát huy
thông qua quan hệ phối hợp với các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác trong các
hoạt động phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi xâm phạm quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Cụ thể như sau:
- Về quan hệ phối hợp giữa CAND với TAND:
Đối với biện pháp dân sự, chủ thể chính có thẩm quyền áp dụng biện pháp
này là cơ quan TAND. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện tố tụng, cần phải có sự
tham gia, phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền khác, như Viện kiểm sát nhân
dân, Cơ quan Thi hành án, Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp… Thực tiễn hoạt
động của TAND cho thấy, nếu không có sự tham gia phối hợp của lực lượng
66
CAND thì TAND khó có thể hoàn thành được nhiệm vụ xét xử, nhất là đối với
những vụ việc phức tạp cần phải bảo vệ an ninh, trật tự tại phiên tòa; cưỡng chế thi
hành quyết định của bản án; trưng cầu giám định của Viện Khoa học hình sự - Bộ
Công an để xác định dấu hiệu làm giả các loại nhãn hiệu, giả nguồn gốc xuất xứ
của hàng hóa… nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam.
- Về quan hệ phối hợp giữa lực lượng CAND với CQHQ:
Theo quy định Luật Hải quan năm 2005, CQHQ có nhiệm vụ thực hiện kiểm
tra, giám sát hàng hoá, phương tiện vận tải; phòng, chống vận chuyển trái phép
hàng hoá qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương,
biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu,
xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu. Như vậy, CQHQ là lực lượng duy nhất được giao nhiệm vụ làm thủ tục
thông quan đối với các hành hóa xuất, nhập khẩu qua biên giới; phối hợp với các
lực lượng chức năng để đấu tranh chống hàng giả ở khu vực biên giới. Sự phối hợp
giữa CAND với CQHQ trong phòng, chống vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam như sau:
Trong phạm vi địa bàn hoạt động của mình, CQHQ chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hoá, phương tiện vận tải để chủ động phòng, chống vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Khi có căn cứ cho rằng có hành vi vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới thì Chi cục trưởng hải quan cửa khẩu, Chi cục trưởng hải quan địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, Đội trưởng đội kiểm soát hải quan được quyết định khám người, khám phương tiện vận tải, nơi cất giấu hàng hoá, tạm giữ người, phương tiện vận tải, hàng hoá theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Trong trường hợp này CQHQ thông báo cho cơ quan chức năng khác để theo dõi, xử lý tiếp theo khi những người này tái phạm [42].
Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về xuất, nhập khẩu hàng hóa đến
mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì CQHQ có thẩm quyền được khởi tố vụ
án, khởi tố bị can, thực hiện các hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho
lực lượng CAND để tiến hành các hoạt động điều tra tiếp theo và truy tố người có
hành vi phạm tội trước pháp luật.
67
Đối với những hành vi vi phạm hải quan diễn ra ngoài phạm vi địa bàn hoạt động, CQHQ có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan (trong đó có CAND) thực hiện các biện pháp phòng, chống vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới. Trong trường hợp này, việc phối hợp giữa CAND với CQHQ phải thông qua một cơ quan trung gian khác đó là UBND địa phương.
- Về quan hệ phối hợp giữa lực lượng CAND với QLTT: Theo quy định của Quyết định số 907/QĐ-BCT ngày 06/02/2013 của Bộ Công thương quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cục QLTT (Bộ Công thương) thì cơ quan này có chức năng quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, công nghiệp và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật ở thị trường trong nước. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, lực lượng QLTT phải tổ chức thu thập thông tin về tình hình xâm phạm quyền SHTT. Trong khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát các hoạt động thương mại có liên quan đến quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, QLTT cần xem xét, đánh giá hành vi vi phạm pháp luật để chuyển cho các cơ quan hữu quan khác giải quyết.
Trường hợp phát hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả mặc dù gây thiệt hại nhưng chưa đến mức xử lý về mặt hình sự, QLTT phải áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo quy định của pháp luật; còn đối với trường hợp phát hiện được hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả có dấu hiệu của tội phạm, QLTT phải chuyển vụ việc cho lực lượng CAND để tiến hành hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật.
- Về quan hệ phối hợp giữa CAND với thanh tra chuyên ngành: Theo quy định của Nghị định số 87/2006/NĐ-CP ngày 28/8/2006 của Chính
phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra KH-CN, Quyết định số
20/2008/QĐ-BVH-TT-DL ngày 18/03/2008 của Bộ VH-TT-DL quy định chức
năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ VH-TT-DL, Nghị định số
153/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động
của Thanh tra NN&PTNT thì Thanh tra chuyên ngành về SHTT của các Bộ nói
trên có nhiệm vụ thẩm tra nội dung khiếu nại liên quan đến lĩnh vực quản lý chuyên
ngành của Bộ, giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác
thanh tra VH-TT-DL, KH-CN; NN&PTNN thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh
68
tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ
theo quy định của pháp luật. Mặt khác, khi phát hiện các vi phạm hành chính trong
lĩnh vực SHTT, Thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền xử lý hành chính; đồng
thời phối hợp với QLTT, CAND, CQHQ xử lý hành vi vi phạm theo quy định của
pháp luật.
Thực hiện chức năng của mình, Thanh tra chuyên ngành VH-TT-DL có
nhiệm vụ trực tiếp kiểm tra, thanh tra và xử lý những hành vi xâm phạm QTG,
QLQ. Hoạt động thanh tra được thực hiện dưới hình thức thanh tra theo chương
trình, kế hoạch và thanh tra đột xuất nhằm xem xét các hoạt động văn hoá, thể thao
và du lịch diễn ra có đúng pháp luật hay không. Trong thực tiễn, hoạt động của cơ
quan này chủ yếu là phát hiện và xử lý những hành vi xâm phạm QTG và QLQ,
như: sử dụng, sao chép tác phẩm để kinh doanh, xuất bản, phát hành trái phép các
tác phẩm hoặc gian lận số lượng phát hành các xuất bản phẩm nhằm trốn tránh
nghĩa vụ trả tiền thù lao, nhuận bút cho tác giả, không xin phép hoặc không trả tiền
nhuận bút, thù lao cho tác giả...
Thanh tra chuyên ngành Bộ KH-CN kiểm tra, thanh tra các hoạt động liên
quan đến QSHCN trên địa bàn quản lý và có thẩm quyền xử lý hành chính đối với
các hành vi của cá nhân, tổ chức sản xuất, lưu thông, phân phối trái phép sản phẩm
có sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ, hoặc
sử dụng nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ nhằm mục đích kinh doanh…[42].
Thanh tra chuyên ngành Bộ NN&PTNT có thẩm quyền quyết định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực NN&PTNT theo quy định của pháp luật, đồng
thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền đình chỉ hành vi vi phạm pháp luật về
NN&PTNT của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi có đủ căn cứ xác định hành vi vi
phạm gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
hoặc huỷ bỏ những quy định trái với pháp luật về NN&PTNT được phát hiện qua
thanh tra…[42].
Để tiến hành các hoạt động thanh tra của mình, các cơ quan thanh tra nói
trên không thể không có sự phối hợp với lực lượng CAND. Những trường hợp
khiếu nại về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam thuộc trách nhiệm giải
quyết của các cơ quan Thanh tra chuyên ngành, nếu không dựa vào những chứng
cứ, tài liệu do CAND cung cấp (như tài liệu cần phải giám định khoa học hình sự;
69
tài liệu xác minh về nguồn gốc hàng hóa vi phạm, người vi phạm…) thì cũng
không thể kết luận được vụ việc. Ngược lại, nếu trong quá trình thanh tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam mà xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan Thanh tra cần chuyển
ngay hồ sơ cho lực lượng CAND để thụ lý, giải quyết theo quy định của pháp luật,
đảm bảo đúng nguyên tắc pháp chế XHCN trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
và vi phạm pháp luật.
- Về quan hệ phối hợp giữa CAND với UBND:
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, UBND được Hội đồng nhân dân
cùng cấp bầu ra, là cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự
chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ
sở. Trong lĩnh vực SHTT, UBND có thẩm quyền xử lý vi phạm về quyền SHTT
bằng biện pháp hành chính theo quy định của pháp luật [59].
Theo quy định của Điều 92 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
nhân dân năm 2003, UBND có trách nhiệm bảo đảm an ninh chính trị, TTATXH,
xây dựng lực lượng CAND; chỉ đạo công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm, chống buôn lậu và gian lận thương mại; bảo vệ bí mật nhà nước, xây dựng
phong trào quần chúng bảo vệ an ninh, TTATXH, quản lý các nghề kinh doanh đặc
biệt theo quy định của pháp luật…Về cấp độ quản lý hành chính thì lực lượng
CAND của mỗi địa phương chịu sự lãnh đạo của UBND, ngay cả đối với hoạt động
thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND cũng
đặt dưới sự giám sát của UBND và chịu trách nhiệm trước UBND. Tuy nhiên, ở
khía cạnh hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến phòng, chống tội phạm
và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam thì lực
lượng CAND vẫn phải chịu sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo cấp trên có thẩm
quyền. Như vậy, quan hệ phối hợp giữa CAND và UBND trong thực thi quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam là quan hệ cả theo chiều dọc, cả theo thiều
ngang (hay còn gọi là quan hệ song trùng trực thuộc).
- Về quan hệ phối hợp giữa CAND với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác: Muốn hoàn thành nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm
pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, lực lượng CAND cần
thiết phải phát huy mạnh mẽ quan hệ phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân
70
khác (như Đài Truyền hình Việt Nam, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Cục Quản
lý cạnh tranh, Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng, Trung tâm bảo vệ bản quyền tác giả
âm nhạc Việt Nam, Hiệp hội chống hàng giả và bảo vệ quyền SHTT của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, người tiêu dùng…). Trong quá trình
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, lực lượng CAND có trách nhiệm phối
hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân nói trên xây dựng “Thế trận ANND” và
phong trào “Toàn dân phòng, chống tội phạm”; giáo dục, phổ biến pháp luật về
SHTT cho mọi tầng lớp nhân dân; tuyên truyền các biện pháp phòng, chống âm
mưu, thủ đoạn xâm phạm quyền SHTT; tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm và vi
phạm pháp luật về SHTT; phối hợp tuần tra, kiểm soát, truy bắt tội phạm buôn lậu,
sản xuất, tiêu thụ hàng giả; phối hợp xác minh làm rõ những vấn đề có liên quan
đến tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam... Trong những quan hệ phối hợp kể trên, lực lượng CAND phải luôn luôn chủ
động, sáng tạo để có những hình thức, phương pháp phối hợp hiệu quả nhất thì mới
phát huy sức mạnh của xã hội trong phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật,
hướng tới xây dựng một môi trường SHTT lành mạnh ở nước ta.
2.3.2. Chức năng của lực lượng Công an nhân dân trong thực thi quyền
sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Chức năng của lực lượng CAND là những phương diện hoạt động chủ yếu,
gắn liền với cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của lực lượng CAND. Để thực hiện vai trò
nòng cốt trong bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH, phòng chống tội phạm và vi
phạm pháp luật (trong đó có tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam), lực lượng CAND phải được tổ chức và hoạt động phù
hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình.
Theo quy định của Luật ANQG năm 2004, Luật CAND năm 2005: CAND
gồm ANND và CSND, có chức năng tham mưu cho Đảng và Nhà nước về bảo vệ
ANQG và giữ gìn TTATXH; thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ
ANQG và giữ gìn TTATXH; đấu tranh phòng và chống âm mưu, hoạt động của các
thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật về ANQG và TTATXH.
Với quy định trên, lực lượng CAND có 3 chức năng cơ bản là: tham mưu;
quản lý nhà nước về ANQG và TTATXH và trực tiếp đấu tranh với các thế lực thù
địch, các loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác. Đối với mỗi chức năng này, đòi
71
hỏi CAND phải tiến hành đồng bộ nhiều mặt công tác trên cơ sở phù hợp với điều
kiện kinh tế, xã hội của đất nước.
- Thứ nhất, đối với chức năng tham mưu của lực lượng CAND trong thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Để thực hiện tốt chức năng tham mưu, trên cơ sở quy định của pháp luật về cơ
cấu tổ chức và hoạt động của mình, lực lượng CAND cần tiến hành đồng bộ các hoạt
động sau:
+ Thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình và đề xuất với
Đảng, Nhà nước ban hành và chỉ đạo thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật về
thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam có ảnh hưởng đến ANQG,
TTATXH, kinh tế, xã hội, quốc phòng và đối ngoại của đất nước;
+ Xây dựng kế hoạch ngắn hạn và dài hạn về thực thi quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam trình Chính phủ phê duyệt, phối hợp với các Bộ, ngành và
UBND các cấp tổ chức thực hiện kế hoạch đã được hoạch định;
+ Tham gia thẩm định các dự án kinh tế, xã hội do các Bộ, ngành, địa phương
chuẩn bị có liên quan đến mua, bán, chuyển giao quyền SHTT có yếu tố nước ngoài
vào Việt Nam mà các đối tượng của hợp đồng chuyển giao này gắn với ANQG và
TTATXH;
+ Xây dựng và trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền các dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật liên quan đến trách nhiệm của lực lượng CAND trong thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam gắn liền với ANQG và TTATXH;
+ Xây dựng các văn bản pháp quy về tổ chức, hoạt động của lực lượng CAND
để tạo ra cơ chế phù hợp, hiệu quả trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài
ở Việt Nam;
+ Ban hành các văn bản pháp luật thuộc thẩm quyền của Bộ Công an và phối
hợp với các cơ quan hữu quan để hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các văn bản
pháp luật về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam thuộc chức
năng, nhiệm vụ của lực lượng CAND;
- Thứ hai, đối với chức năng quản lý Nhà nước về ANQG và TTATXH liên
quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, lực lượng CAND
tiến hành các công việc cụ thể như sau:
72
+ Tổ chức tuyên truyền, giáo dục quần chúng nhân dân tôn trọng và thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam;
+ Hướng dẫn, giúp đỡ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân (đặc biệt là tổ
chức, cá nhân nước ngoài ở Việt Nam) thực hiện biện pháp tự bảo vệ có hiệu quả
quyền SHTT của mình;
+ Thường xuyên nắm chắc mọi diễn biến tình hình thực thi quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam để tiến hành phòng ngừa, ngăn chặn hành vi phạm
tội và vi phạm pháp luật về SHTT có liên quan tới ANQG và TTATXH;
+ Thực hiện hoạt động tình báo về chính trị, kinh tế, quân sự, an ninh, quốc
phòng liên quan đến quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam;
+ Tổ chức công tác bảo vệ tuyệt đối an toàn đội ngũ trí thức, người đang
nắm giữ các bí mật khoa học, công nghệ và đối tượng quan trọng của quyền SHTT,
đặc biệt là trong quá hợp tác với các đối tác nước ngoài;
+ Bảo vệ cơ quan Nhà nước ở Trung ương, bảo vệ các tổ chức quốc tế,
chuyên gia nước ngoài đến công tác tại Việt Nam liên quan đến hoạt động thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam;
+ Tổ chức và hướng dẫn cơ quan, tổ chức hữu quan về công tác bảo vệ bí
mật Nhà nước, bảo vệ an ninh các khu vực xung yếu kinh tế, khoa học - kỹ thuật,
quốc phòng theo quy định của pháp luật;
+ Phát hiện và xử lý kịp thời bằng biện pháp hành chính đối với các vi phạm
về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam chưa đến mức phải truy cứu
trách nhiệm hình sự.
- Thứ ba, đối với chức năng trực tiếp đấu tranh, trấn áp các thế lực thù địch,
tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam,
lực lượng CAND cần thiết phải tiến hành các hoạt động sau:
+ Phát hiện, xác minh, thu thập thông tin, chứng cứ của hành vi xâm phạm
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, phối hợp với các cơ quan có thẩm
quyền xử lý vi phạm theo quy định pháp luật;
+ Tổ chức, chỉ đạo và tiến hành các hoạt động điều tra theo tố tụng hình sự,
đấu tranh ngăn chặn các hành vi phạm tội xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam;
73
+ Thực hiện các biện pháp công tác nghiệp vụ theo quy định của pháp luật
để phòng ngừa, phát hiện và xử lý đối với những hành vi phạm tội và vi phạm pháp
luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam có ảnh hưởng đến ANQG và
TTATXH;
2.3.3. Nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân trong thực thi quyền sở
hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Nhiệm vụ của lực lượng CAND là những hoạt động cụ thể được tiến hành
trong một giai đoạn nhất định phù hợp với chức năng của lực lượng CAND. Để
thực hiện nhiệm vụ của mình, CAND phải dựa vào thẩm quyền, điều kiện, phương
tiện kỹ thuật, biện pháp công tác, sự phối hợp với cơ quan, tổ chức và cá nhân
khác… trên cơ sở quy định của pháp luật.
Theo quy định của Luật CAND năm 2005 và Luật ANQG năm 2004, CAND
có các nhiệm vụ sau đây trong hoạt động bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH liên quan
đến quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam:
- Thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình và đề xuất với
Đảng, Nhà nước ban hành đường lối, chính sách, pháp luật, chiến lược bảo vệ
ANQG, giữ gìn TTATXH liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài
ở Việt Nam; kiến nghị việc kết hợp yêu cầu của chiến lược bảo vệ ANQG, giữ gìn
TTATXH với chiến lược về xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng và đối
ngoại của Nhà nước, trong đó có chiến lược phát triển thị trường SHTT ở nước ta;
- Bảo vệ quyền tự do, dân chủ, tính mạng, tài sản của nhân dân, bảo vệ cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và khách quốc tế, bảo vệ sự kiện quan trọng, mục tiêu, công trình trọng điểm về ANQG, cơ quan đại diện nước ngoài, đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam, cá nhân nắm giữ hoặc liên quan mật thiết đến bí mật Nhà nước liên quan đến quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam;
- Tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm, khởi tố, điều tra tội phạm về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và thực hiện các nhiệm vụ tư pháp khác có liên quan theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác để xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam theo quy định của pháp luật;
74
- Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra cơ quan, tổ chức, công dân trong việc thực
hiện nhiệm vụ bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH, thực hiện công tác tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật và xây dựng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ
quốc” liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam;
- Áp dụng biện pháp vận động quần chúng, pháp luật, ngoại giao, kinh tế,
khoa học - kỹ thuật, nghiệp vụ, vũ trang để bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH có
liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Trong
trường hợp cấp thiết, được ra quyết định hoặc kiến nghị tạm đình chỉ, đình chỉ hoạt
động của cơ quan, tổ chức, cá nhân gây nguy hại đến ANQG, TTATXH và trưng
dụng phương tiện giao thông, thông tin, các phương tiện kỹ thuật khác của cơ quan,
tổ chức, cá nhân và người điều khiển, sử dụng các phương tiện đó theo quy định
của pháp luật;
- Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp hoạt động, cung cấp thông tin
trong lĩnh vực thực thi quyền SHTT có yếu nước ngoài ở Việt Nam có liên quan
đến ANQG, TTATXH; phối hợp chặt chẽ với Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ,
cơ quan nhà nước trong bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH, bảo vệ độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc;
- Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại của nước
ngoài vào bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH; thực hiện hợp tác quốc tế về thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nhằm bảo vệ ANQG, giữ gìn
TTATXH ở nước ta.
Từ các nhiệm vụ nói trên, để phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng CAND
trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, Chính phủ đã ban
hành một số văn bản pháp luật mang tính chỉ đạo, yêu cầu Bộ Công an cần phải
tiến hành đồng bộ các mặt công tác có liên quan. Cụ thể như sau:
+ Theo quy định của Điều 3, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 31/CT-
TTg ngày ngày 27/10/1999 về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả: Bộ
Công an chỉ đạo lực lượng Công an các cấp tập trung điều tra, khám phá các đường
dây, các ổ nhóm sản xuất, buôn bán hàng giả, đặc biệt là giấy tờ, hóa đơn, tem, tiền
và các ấn phẩm giả có giá trị như tiền; chủ động, bố trí lực lượng tham gia khi có
yêu cầu phối hợp của các Bộ, ngành [38];
75
+ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 127/2001/QĐ-TTg ngày ngày
27/8/2001 về việc thành lập Ban chỉ đạo chống buôn lậu, hàng giả và gian lận
thương mại nêu rõ: Thứ trưởng Bộ Công an làm thành viên Ban chỉ đạo, có nhiệm
vụ và quyền hạn giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo và tổ chức phối hợp giữa các
Bộ, ngành, địa phương trong công tác đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả và gian
lận thương mại; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, ngành và UBND các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; giải
quyết các vụ việc phức tạp liên quan đến nhiều Bộ, ngành, địa phương trong công
tác đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại; tổng hợp tình hình,
đánh giá kết quả hoạt động chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại của
các Bộ, ngành, địa phương, báo cáo Thủ tướng Chính phủ; kiến nghị với Thủ tướng
Chính phủ các chủ trương, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh chống
buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại;
+ Theo quy định của Điều 5, Chỉ thị số 04/2007/CT-TTg ngày 22/02/2007
của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường bảo hộ QTG đối với chương trình
máy tính: Bộ Công an có trách nhiệm chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống vi
phạm pháp luật về QTG đối với chương trình máy tính; ngăn chặn các vi phạm
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, tàng trữ, lưu thông
hàng hoá và dịch vụ về quyền tác giả đối với chương trình máy tính;
+ Theo quy định tại Điều 6, Chỉ thị số 36/2008/CT-TTg ngày 31/12/2008
của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường quản lý và thực thi bảo hộ QTG,
QLQ: Bộ Công an chỉ đạo áp dụng các biện pháp tăng cường kiểm tra, đấu tranh
phòng chống vi phạm pháp luật về QTG, QLQ; ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả các
hành vi xâm phạm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất, nhập khẩu, tàng trữ,
lưu thông hàng hóa và dịch vụ về QTG, QLQ;
+ Theo quy định của Điều 2, Chỉ thị số của Thủ tướng Chính phủ số
845/CT-TTg ngày 02/6/2011 về tăng cường công tác thực thi QSHCN thì Bộ Công
an có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ KH-CN hướng dẫn, kiểm tra, kiểm tra
việc tuân thủ pháp luật về QSHCN đối với các sản phẩm, hàng hóa được phân công
quản lý, đặc biệt đối với các sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn cho
người, động vật, thực vật, môi trường; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra và
xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các hành vi xâm phạm QSHCN
76
theo chức năng, nhiệm vụ được giao; đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến
pháp luật trong cơ quan và doanh nghiệp nhằm nâng cao nhận thức về bảo hộ
QSHCN;
+ Chỉ thị số 17/2013/CT-TTg ngày 09/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kiểm soát việc nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị của doanh nghiệp nêu rõ: Bộ trưởng các bộ và cơ quan ngang bộ (trong đó có Bộ Công an) phải chủ động trong việc hướng dẫn, đôn đốc và kiểm soát hoạt động nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị của các doanh nghiệp, kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
+ Chỉ thị số 28/2008/CT-TTg ngày 08/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định: Bộ Công an phối hợp với Bộ Công thương, Ban Chỉ đạo 127 TW tổ chức kiểm tra chống hàng giả, hàng kém chất lượng; chỉ đạo Công an các cấp tập trung điều tra, khám phá các tổ chức, cá nhân, các đường dây, ổ nhóm sản xuất, chế biến, đóng gói, sang chiết, nhập khẩu, buôn bán, tàng trữ hàng giả để đưa ra xử lý kịp thời những vụ việc hàng giả nổi cộm theo quy định của BLHS sự hiện hành…
77
Kết luận Chương 2
Chương 2 của Luận án đã tập trung phân tích những vấn đề lý luận cơ bản
về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND.
Theo trật tự lôgíc, lấy xuất phát điểm từ việc khái quát hóa về quyền SHTT, tác giả
đã phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung của quyền SHTT và vi phạm pháp luật
về quyền SHTT để làm tiền đề cho việc nghiên cứu hoạt động thực thi quyền SHTT
ở Việt Nam và rút ra ý nghĩa của hoạt động nói trên đối với nước ta trong giai đoạn
hiện nay.
Tiếp theo, tác giả tiếp tục làm rõ khái niệm, đặc điểm của quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; khái niệm và đặc điểm của hoạt động thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam để từ đó vận dụng trong thực tiễn
nhằm nâng cao hiệu quả trong các hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND.
Một vấn đề quan trọng cũng được đề cập trong Chương 2 về vai trò, chức
năng, nhiệm vụ của lực lượng CAND trong hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam. Ra đời từ sau Cách mạng tháng Tám, đến nay lực lượng
CAND ngày càng khẳng định được vị thế, vai trò trong sự nghiệp bảo vệ ANQG,
giữ gìn TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Để thực hiện vai trò, chức năng của mình trong thực thi quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam, lực lượng CAND được pháp luật quy định nhiệm vụ,
thẩm quyền cụ thể, trong đó đặc biệt là những nhiệm vụ, thẩm quyền trong áp dụng
biện pháp hình sự và biện pháp hành chính để thực thi quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam. Bên cạnh đó, vai trò “nòng cốt” của lực lượng CAND còn được
tác giả tập trung phân tích thông qua những quan hệ phối hợp với các cơ quan, tổ
chức và cá nhân khác trong sự nghiệp bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH liên quan
đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
78
Chương 3
THỰC TIỄN THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN
3.1. Thực trạng pháp luật và vi phạm pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
3.1.1. Thực trạng pháp luật về thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam
3.1.1.1. Pháp luật trong nước quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Mặc dù pháp luật Việt Nam từ trước đến nay không có quy định trực tiếp về
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài và thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam, nhưng trong các văn bản pháp luật hiện hành, từ Hiến pháp đến văn bản
luật và văn bản dưới luật có liên quan, đều đã gián tiếp thể hiện việc áp dụng pháp
luật đối với những quan hệ nói trên, cụ thể như sau:
- Hiến pháp năm 2013, quy định về chính sách của Nhà nước đối với phát
triển văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học, công nghệ, khẳng định: mọi người có
quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ
hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40); phát triển khoa học và công nghệ là
quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước; Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư
nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và
công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền
SHTT; Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ
các hoạt động khoa học và công nghệ (Điều 62)...
- BLDS năm 2005 có Điều 51 quy định về quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo,
bên cạnh đó trong Phần thứ Sáu (từ Điều 736 đến 757), quy định một cách khái
quát về các quan hệ SHTT trong các lĩnh vực QTG, QLQ, QSHCN, QĐVGCT, vấn
đề chuyển giao công nghệ. Đặc biệt, Phần thứ Bảy (từ Điều 758 đến Điều 777) quy
định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc các lĩnh vực khác nhau, trong
79
đó từ Điều 774 đến Điều 776 quy định trực tiếp về QTG, QLQ, QSHCN,
QĐVGCT có yếu tố nước ngoài, chuyển giao công nghệ có yếu tố nước ngoài.
- Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009), trong đó đã có những
quy định cụ thể đối với các lĩnh vực của quyền SHTT trên cả các lĩnh vực: QTG,
QLQ, QSHCN, QĐVGCT. Đặc biệt, Phần thứ Năm đã quy định một cách chi tiết
về các căn cứ áp dụng pháp luật để xử lý vi phạm pháp luật về quyền SHTT bằng
các biện pháp dân sự, hành chính, hình sự, kiểm soát hàng hóa xuất, nhập khẩu liên
quan đến quyền SHTT tại cửa khẩu biên giới. Trong đó, đáng lưu ý là các quy định
về áp dụng biện pháp hành chính và hình sự, cụ thể như sau:
+ Điều 211 Luật SHTT quy định về hành vi xâm phạm quyền SHTT bị xử
phạt hành chính, gồm: xâm phạm quyền SHTT gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở
hữu, người tiêu dùng hoặc cho xã hội; sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán
hàng hoá giả mạo về SHTT hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này; sản
xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán tàng trữ tem, nhãn hoặc vật phẩm khác
mang nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý giả mạo hoặc giao cho người khác thực hiện những
hành vi này.
+ Về các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục, quy
định tại Điều 211, 213, 214, bao gồm: cảnh cáo; phạt tiền; tuỳ theo tính chất, mức
độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền SHTT còn có thể bị áp dụng một
hoặc các hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu hàng hoá giả mạo về SHTT, nguyên
liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá
giả mạo về SHTT; đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy
ra vi phạm. Ngoài các hình thức xử phạt trên, tổ chức, cá nhân vi phạm quyền
SHTT còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả là: buộc
tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại
đối với hàng hoá giả mạo về SHTT, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử
dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về SHTT với điều kiện
không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền SHTT của chủ thể quyền
SHTT; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm
quyền SHTT hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về SHTT, phương tiện,
nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh
hàng hoá giả mạo về SHTT sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá.
80
+ Về biện pháp hình sự, được quy định tại Điều 212, áp dụng đối với cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
- Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, có hiệu lực từ ngày 01/7/2013,
bao gồm 141 Điều quy định đầy đủ về các mặt liên quan đến hoạt động áp dụng
pháp luật trong xử lý vi phạm hành chính, như: nguyên tắc áp dụng pháp luật, hình
thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền trong xử phạt hành
chính và biện pháp khắc phục hậu quả, thủ tục xử phạt, thi hành quyết định xử phạt
và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính,
thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn đảm bảo thi hành quyết định
hành chính… Đặc biệt, tại Điều 134 của Luật này quy định rõ thẩm quyền của lực
lượng CAND đối với xử lý vi phạm hành chính về quyền SHTT được quy định tùy
theo chức vụ, vị trí công công tác của mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND cùng với tính
chất và mức độ vi phạm quyền SHTT. Cụ thể: về phạt tiền, thấp nhất là phạt cảnh
cáo, phạt tiền đến 1% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng nhưng không
quá 500 nghìn đồng; cao nhất là phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh
vực tương ứng nhưng không quá 50 triệu đồng; bên cạnh đó là các hình thức xử lý
hành chính khác như phạt cảnh cáo, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình
chỉ hoạt động có thời hạn, trục xuất, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy
định của pháp luật.
- BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định một số tội xâm
phạm quyền SHTT, cụ thể như sau:
+ Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
(Điều 170): Điều luật này được xếp vào nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế,
đây là tội phạm có cấu thành vật chất, người có hành vi xâm phạm QSHCN của
người khác phải gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc trước đó đã bị xử phạt hành chính,
hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xoá án tích. Chủ thể của tội phạm là
cá nhân 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội
với lỗi cố ý và gây hậu quả nghiêm trọng hoặc tái phạm. Hậu quả do hành vi xâm
phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ QSHCN biểu hiện ở thiệt hại về vật chất,
thiệt hại về tinh thần ảnh hưởng đến việc sản xuất, kinh doanh; gây dư luận xấu
81
trong xã hội. Nếu như thiệt hại về vật chất là yếu tố có thể xác định được một cách
rõ ràng thì thiệt hại về tinh thần ảnh hưởng đến việc sản xuất, kinh doanh là các yếu
tố khó xác định. Trong Điều 611 BLDS năm 2005 mới chỉ quy định việc bồi
thường về danh dự nhân phẩm nói chung, mức bồi thường thiệt hại tối đa là 10
tháng lương tối thiểu, tính tới thời điểm bồi thường nếu các bên không có thoả
thuận khác.
Đối với yếu tố thiệt hại về vật chất, theo quy định tại Thông tư liên tịch số
02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 về việc hướng
dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV (Các tội về xâm phạm quyền sở
hữu), hành vi xâm phạm được coi là nghiêm trọng nếu gây thiệt hại về tài sản từ 50
triệu đồng trở lên, được coi là rất nghiêm trọng nếu thiệt hại đến 1.500 triệu đồng,
đặc biệt nghiêm trọng nếu thiệt hại trên 1.500 triệu đồng. Tuy nhiên, việc chứng
minh về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm hại và thiệt hại thực tiễn xảy ra là
vấn đề rất phức tạp, đòi hỏi cơ quan chức năng cần phải cẩn trọng, chính xác thì
mới có thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
+ Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 170 a): Điều luật được
bổ sung vào Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009, thay thế cho
Điều 131 của BLHS năm 1999 quy định về Tội xâm phạm quyền tác giả. BLHS
năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng quy định chỉ xử lý về hình sự đối với
hành vi xâm phạm QTG, QLQ với “quy mô thương mại” và giới hạn trong hai
nhóm hành vi (sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình; phân phối đến công
chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình). Quy định này
cũng phù hợp với yêu cầu của các ĐƯQT về SHTT mà Việt Nam là thành viên,
nhất là Hiệp định TRIPS của WTO và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
năm 2000.
Vấn đề “quy mô thương mại” được quy định trong Điều luật này như một
dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm, có nghĩa là nếu
hành vi xâm phạm QTG, QLQ mà không đạt đến “quy mô thương mại” thì không
bị coi là tội phạm và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, từ khi Điều
luật này được bổ sung vào BLHS, khái niệm “quy mô thương mại” vẫn chưa được
giải thích một cách chính thống và rõ ràng, dẫn đến sự lúng túng trong quá trình áp
dụng pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
82
+ Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171): Điều luật đã được
sửa đổi, bổ sung từ Điều 171 BLHS năm 1999 nhằm đáp ứng yêu cầu “tương
thích” của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế. Điểm khác biệt so với quy
định của BLHS năm 1999 thể hiện ở chỗ: BLHS năm 2009 đã thu hẹp phạm vi xử
lý về hình sự đối với hành vi xâm phạm QSHCN. Đối với lĩnh vực này chủ yếu áp
dụng biện pháp pháp luật dân sự và hành chính để giải quyết. Cụ thể, chỉ xử lý về
hình sự đối với hành vi xâm phạm QSHCN với “quy mô thương mại” liên quan
đến hai đối tượng QSHCN là nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý. Luật đã phi hình sự hoá
hành vi xâm phạm QSHCN đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công
nghiệp hoặc đối tượng SHCN khác.
Đồng thời, BLHS năm 2009 đã điều chỉnh nâng mức phạt tiền đối với tội
phạm này lên mức 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng (Khoản 1), từ 400 triệu đồng
đến 01 tỷ đồng (Khoản 2), từ 20 triệu đồng đến 200 triệu đồng (khoản 3). Trong
quy định của BLHS năm 1999, mức phạt tiền được quy định là 20 triệu đồng đến
200 triệu đồng (Khoản 1); 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng (Khoản 3); Khoản 2
không có quy định hình phạt tiền.
+ Đối với các tội danh liên quan được quy định trong BLHS năm 1999 (sửa
đổi, bổ sung năm 2009), như: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 156); Tội sản
xuất, buôn bán hàng giả và lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng
bệnh (Điều 157); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi,
phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 158).
Trong BLHS hiện hành, các tội danh này được xếp vào nhóm tội xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế. Hành vi xâm phạm về quy định của nhà nước trong quản lý thị
trường, xâm phạm lợi ích của người tiêu dùng, quyền được bảo hộ của các doanh
nghiệp, các nhà sản xuất, kinh doanh đứng đắn, bằng việc sản xuất, kinh doanh
hàng giả tương đương số lượng hàng thật có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên hoặc
dưới 30 triệu đồng nhưng đã bị xử lý hành chính hoặc đã bị kết án về một trong các
tội quy định tại điều này, hoặc tại các Điều 153, 154, 155, 157, 158, 159 và 161
nhưng chưa được xoá án tích. Trường hợp hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi,
phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi, thì luật chỉ
quy định số lượng lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng là đủ. Riêng hàng giả là
lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh thì không có quy định
83
về số lượng. Hậu quả không phải là hành vi bắt buộc để cấu thành tội phạm. Chủ
thể của tội phạm là cá nhân đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự,
thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thực hiện mục đích vụ lợi.
Về tình tiết sản xuất, buôn bán hàng giả, pháp luật quy định hàng giả có thể
cả về mặt nội dung và về mặt hình thức bao gồm: hàng không có giá trị sử dụng,
công dụng; hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa; hàng giả mạo về SHTT
quy định tại Điều 213 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và tem,
nhãn, bao bì giả (Nghị định số 08/2013/NĐ-CP ngày 10/1/2013 của Chính phủ quy
định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả thì
các loại hàng giả). Trong những trường hợp hàng giả về hình thức, hàng hoá đó
phải mang các dấu hiệu tương tự như hàng thật làm cho người tiêu dùng có thể
nhầm lẫn với hàng thật và không do người sở hữu hợp pháp các dấu hiệu đó sản
xuất. Về lỗi của người sản xuất buôn bán hàng giả, pháp luật quy định tình tiết lỗi
bắt buộc phải là cố ý; người sản xuất, kinh doanh sản phẩm phải biết đó là hàng giả
và cố tình sản xuất, kinh doanh để thu lợi nhuận. Về quy mô số lượng hàng giả sản
xuất, kinh doanh (kể cả số đã bán, hoặc chưa bán) phải có giá trị lớn hơn 30 triệu
đồng so với hàng thật. Để xác định được yếu tố hàng giả, cơ quan điều tra phải tiến
hành xác minh và trưng cầu giám định của cơ quan chức năng hay của người sở
hữu hợp pháp.
+ Tội vi phạm các quy định về xuất bản, phát hành sách báo, đĩa âm thanh,
đĩa hình, băng hình hoặc các ấn phẩm khác (Điều 271 BLHS 1999). Theo quy định
của điều luật, người nào vi phạm các quy định về xuất bản và phát hành sách, báo,
đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình hoặc các ấn phẩm khác, thì bị
phạt cảnh cáo, phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không
giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 01 năm.
- Đối với các văn bản dưới luật có liên quan đến thực thi quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, gồm có: Nghị định của Chính phủ số 105/2006/NĐ-
CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
SHTT năm 2005; Nghị định số 104/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng; Nghị định số 63/2007/NĐ-CP
ngày 10/4/2007 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực công
nghệ thông tin; Nghị định của Chính phủ số 02/2011/NĐ-CP ngày 06/01/2011 về
84
xử phạt hành chính trong lĩnh vực báo chí, xuất bản; Nghị định số 99/2013 của
Chính phủ ngày 29/08/2013 (được thay thế cho Nghị định số 97/2010/NĐ-CP ngày
21/9/2010) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp; Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định xử phạt vi phạm
hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan; Nghị định số 114/2013/NĐ-CP quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm
dịch thực vật; Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 31/1999/CT-TTg ngày
27/10/1999 về đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả...
3.1.1.2. Các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan đến thực
thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
- Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, được ký
kết tại Thuỵ Sỹ năm 1886. Đây là một Công ước cơ bản và quan trọng nhất trong
hệ thống các ĐƯQT về QTG. Khi tham gia công ước Berne, Việt Nam đã bảo lưu
đối với Điều 33 của Công ước và tuyên bố áp dụng chế độ ưu đãi dành cho các
nước đang phát triển theo Điều II và Điều III của Phụ lục Công ước.
Về thời hạn bảo hộ: nguyên tắc chung là bảo hộ trong suốt thời gian của
cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Tuy nhiên, có những ngoại lệ như
đối với các tác phẩm điện ảnh, thời hạn bảo hộ là 50 năm tính từ khi tác phẩm được
công bố hoặc từ khi tác phẩm được sáng tạo ra nếu tác phẩm chưa được công bố.
Đối với các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng và các tác phẩm nhiếp ảnh, thời hạn bảo
hộ tối thiểu là 25 năm kể từ khi tác phẩm được sáng tạo ra.
- Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống sao chụp trái
phép bản ghi âm của họ, ký kết ngày 29/10/1971, Việt Nam gia nhập năm 2004;
Về nguyên tắc, Công ước Geneva yêu cầu các quốc gia phải bảo hộ các nhà
sản xuất các bản ghi âm chống lại các hành vi xâm phạm nhằm mục đích thương
mại. Về thời hạn bảo hộ, Công ước Geneva không ấn định một mức thời gian cố
định mà chỉ quy định thời hạn bảo hộ tối thiểu là 20 năm kể từ khi kết thúc của năm
mà các âm thanh thể hiện trong bản ghi âm được ghi lần đầu hoặc của năm mà bản
ghi âm được công bố lần đầu. Ngoài ra, Công ước cũng quy định về hình thức thể
hiện bên ngoài của một bản ghi âm đã được bảo hộ, các điều kiện liên quan đến
việc hạn chế bảo hộ và một số nội dung khác liên quan đến việc bảo vệ QTG và
QLQ, bảo hộ người biểu diễn, không được áp dụng hồi tố...
85
- Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, ký ngày 20/3/1883
tại Paris, sửa đổi lần cuối vào năm 1979, Việt Nam tham gia ngày 8/3/1949;
Đối tượng áp dụng cho QSHCN theo Công ước Paris bao gồm: sáng chế,
nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và
chống cạnh tranh không lành mạnh. Các quy định của Công ước Paris đề cập đến 4
vấn đề lớn: nguyên tắc đối xử quốc gia, theo nguyên tắc này, mỗi nước thành viên
phải dành cho công dân của nước thành viên khác sự bảo hộ tương tự như sự bảo
hộ dành cho công dân của mình. Nguyên tắc này cũng được áp dụng cho công dân
của nước không là thành viên Công ước nhưng có nơi cư trú hoặc cơ sở kinh doanh
tại một nước thành viên; quyền ưu tiên là quyền mà người nộp đơn, sau khi đó nộp
đơn hợp lệ đầu tiên tại một trong số nước thành viên công ước, được phép nộp đơn
tại nước thành viên khác và đơn nộp sau sẽ được coi như nộp cùng ngày với đơn
nộp lần đầu tiên; một số nguyên tắc chung đối với hệ thống bảo hộ QSHCN mà các
nước thành viên phải tuân thủ. Các nguyên tắc này bắt buộc mà các nước thành viên
phải tuân thủ khi bảo hộ các đối tượng như sáng chế (patent), nhãn hiệu, kiểu dáng
công nghiệp, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ, cạnh tranh
không lành mạnh...
- Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu và Nghị định thư liên quan
đến Thoả ước Madrid;
Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu được điều chỉnh bởi hai điều ước, đó là
Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu, có hiệu lực từ năm 1891 và Nghị
định thư liên quan đến Thoả ước Madrid, được thông qua năm 1989, có hiệu lực từ
ngày 1/12/1995 và hoạt động từ 1/4/1996. Quy chế chung thi hành Thoả ước và Nghị
định thư cũng có hiệu lực từ ngày 1/4/1996. Việt Nam tham gia Thỏa ước này từ
ngày 8/3/1949 và cùng với đó tham gia Nghị định thư Madrid.
Mục đích của Nghị định thư là làm cho hệ thống Madrid có thể được nhiều
nước hơn chấp nhận. Nghị định thư khác với Thoả ước Madrid ở chỗ có những khả
năng lựa chọn, như: sự lựa chọn dành cho người nộp đơn, cho phép các đăng ký
quốc tế được dựa trên các đơn quốc gia, chứ không chỉ dựa trên đăng ký quốc gia;
thời hạn 18 tháng thay cho thời hạn một năm dành cho các Bên tham gia để từ chối
bảo hộ, với khả năng có được thời gian dài hơn trong trường hợp từ chối dựa trên
86
đơn phản đối; khả năng dành cho cơ quan của một bên tham gia được chỉ định
được nhận, thay vì một phần được chia trong thu nhập từ các khoản lệ phí cơ bản,
một khoản “lệ phí riêng” ở mức không được cao hơn mức lệ phí mà cơ quan đó quy
định đối với đơn đăng ký hoặc gia hạn quốc gia hoặc khu vực sau khi đó trừ đi các
khoản thu được từ thủ tục quốc tế;
- Công ước về thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), ký kết ngày
14/7/1967, tại Hội nghị ngoại giao ở Stockhom;
Công ước này có hiệu lực từ năm 1970, nhằm thúc đẩy sự sáng tạo, phổ
biến, sử dụng và bảo hộ quyền SHTT để phục vụ cho nền kinh tế, văn hoá và xã hội
của loài người; Việt Nam trở thành thành viên của WIPO từ ngày 02/07/1976.
Kể từ khi được thành lập đến nay, WIPO ngày càng có vai trò quan trọng
trong việc quản lý, phối hợp giữa các nước thành viên và giữa các điều ước quốc tế
trong việc bảo hộ quyền SHTT. Đồng thời, WIPO đó trở thành một cơ quan tư vấn
có uy tín và giải quyết tranh chấp giữa quốc gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. WIPO
đóng vai trò tiên phong trong công tác soạn thảo các điều ước quốc tế để bảo hộ
những đối tượng mới của quyền SHTT.
- Hiệp định TRIPS, là một trong những hiệp định quan trọng nhất để dẫn đến
Hiệp định sáng lập WTO;
Hiệp định TRIPS có hiệu lực vào năm 1995 trong khuôn khổ Hiệp định
thành lập WTO. TRIPS đã tổng hợp và xây dựng trên cơ sở các hiệp định quan
trọng và mới nhất về sở hữu trí tuệ do WIPO thực thi với Công ước Paris 1883 về
bảo hộ QSHCN và Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật.
Hiệp định TRIPS có vị thế độc nhất trong số các điều ước quốc tế về quyền SHTT,
bởi lẽ việc trở thành thành viên của WTO đồng nghĩa với việc tham gia “trọn gói”
các hiệp ước. Nói cách khác, các quốc gia thành viên của WTO không được phép
lựa chọn các hiệp ước mà phải tuân thủ tất cả các hiệp ước đa phương của WTO,
bao gồm cả hiệp định TRIPS.
TRIPS có một phần riêng (Phần III) về thực thi quyền SHTT, gồm 21 điều
(từ Điều 41 đến Điều 61) đặc biệt nguyên tắc đãi ngộ quốc gia và nguyên tắc tối
huệ quốc. Các nguyên tắc này là những tư tưởng chỉ đạo có tính định hướng cho
việc áp dụng, thực thi và giải quyết các tranh chấp có liên quan đến TRIPS.
87
+ Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT) được ghi nhận tại Điều 3: “Mỗi Thành
viên phải chấp nhận cho các công dân của các Thành viên khác sự đối xử không
kém thiện chí hơn so với sự đối xử của Thành viên đó đối với công dân nước mình
trong việc bảo hộ SHTT”. Theo nguyên tắc này, khi Việt Nam đã là thành viên của
WTO thì phải có nghĩa vụ bảo hộ quyền SHTT của công dân hay pháp nhân các
nước thành viên khác trên lãnh thổ Việt Nam như là bảo hộ quyền SHTT của công
dân hay pháp nhân Việt Nam và ngược lại; đồng thời mỗi quốc gia phải có nghĩa
vụ thực thi quyền SHTT của công dân, pháp nhân của các nước thành viên trên
lãnh thổ của nhau một cách nghiêm chỉnh nhất.
Nguyên tắc này cũng được áp dụng đối với chủ thể tuy không phải là công
dân của một nước thành viên nhưng lại có nơi cư trú thường xuyên hoặc có nơi
kinh doanh thực thụ tại một nước thành viên. Tuy vậy, các nước thành viên vẫn có
thể có những quy định riêng mang tính thủ tục đối với các chủ thể nước ngoài trong
một số trường hợp phải chỉ định người đại diện về SHCN trong các vụ kiện có liên
quan đến việc xác lập và bảo hộ QSHCN.
+ Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) được ghi nhận tại Điều 4: quy định công
dân của các nước thành viên WTO phải được sự đối xử thuận lợi trên lãnh thổ một
nước thành viên WTO như nước này dành cho công dân nước thứ ba khác, dù nước
thứ ba có phải là thành viên WTO hay không. Nội dung của nguyên tắc còn thể
hiện ở tính ưu việt của nó trong lĩnh vực thực thi quyền SHTT, đó là việc cấm phân
biệt đối xử giữa công dân của các nước thành viên WTO với nhau; nếu trước khi
Việt Nam gia nhập WTO, Việt Nam đã có những quy định thuận lợi hơn cho công
dân nước khác tại Việt Nam trong việc bảo hộ và thực thi quyền SHTT, thì khi Việt
Nam đã tham gia vào TRIPS thì cũng phải đối xử như vậy cho công dân của các
thành viên WTO. Các nghĩa vụ chung về thực thi quyền SHTT (Điều 41), quy định
nghĩa vụ của tất cả các nước thành viên phải quy định thủ tục đơn giản và có hiệu
quả để đảm bảo thực thi quyền cho các chủ thể quyền; bảo đảm rằng các thủ tục
thực thi được áp dụng theo cách thức tránh tạo ra các rào cản thương mại hợp pháp
và bảo đảm chống sự lạm dụng các biện pháp đó.
+ Thực thi quyền SHTT bằng biện pháp dân sự (từ Điều 42 đến 48) nội dung
đảm bảo các thủ tục thực thi phải công bằng và bình đẳng dành cho cả hai bên
88
trong tranh chấp dân sự; các thủ tục tố tụng dân sự phải quy định phương tiện để
nhận biết và bảo hộ thông tin kín, trừ khi điều này trái với quy định của Hiến pháp
hiện hành.
+ Thực thi quyền SHTT bằng biện pháp hành chính và chế tài áp dụng được
quy định tại Điều 49 của TRIPS. Điều này quy định: “Trong phạm vi mà một chế
tài dân sự nào đó có thể được đưa ra như là kết quả của thủ tục hành chính giải
quyết một vụ việc thì các thủ tục đó phải tuân theo các nguyên tắc về cơ bản tương
đương với các nguyên tắc được quy định trong Mục này”. Các biện pháp hành
chính được nhấn mạnh là: cảnh cáo, phạt tiền, các biện pháp khác (huỷ bỏ giấy
phép kinh doanh có thời hạn, tịch thu nguyên liệu là bằng chứng, phương tiện sử
dụng cho hành vi vi phạm…).
+ Về các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 50, nhằm ngăn
chặn hành vi xâm phạm quyền SHTT từ nơi xảy ra; ngăn chặn việc bán hàng hoá vi
phạm quyền SHTT vào các kênh thương mại; bảo tồn các chứng cứ liên quan đến
hành vi vi phạm.
+ Thực thi quyền SHTT bằng kiểm soát xuất, nhập khẩu hàng hóa liên quan
đến quyền SHTT, được quy định từ Điều 51 đến Điều 60. Để cho hành vi vi phạm
quyền SHTT có thể bị dừng ngay tại nguồn thì biện pháp biên giới đặc biệt hữu ích
là khi những hàng hoá vi phạm có nguồn gốc từ phạm vi thẩm quyền khác ngoài
TRIPS (như những nước không phải là thành viên WTO hoặc đang trong giai đoạn
chuyển giao) hoặc từ những nước mặc dù là thành viên của WTO nhưng có cơ chế
thực thi quyền SHTT rất yếu. Biện pháp chế tài được quy định bao gồm: đình chỉ
việc thông quan đối với hàng hoá, loại bỏ hoặc phá huỷ hàng hoá vi phạm…
+ Thực thi quyền SHTT bằng biện pháp hình sự (Điều 61), quy định về giả
mạo nhãn hiệu hàng hoá và ăn cắp bản quyền tác phẩm là hai loại hành vi phổ biến
về vi phạm quyền SHTT. Các chế tài hình sự được quy định bao gồm hình phạt
tù hoặc phạt tiền và các chế tài hình sự khác để ngăn chặn có hiệu quả các hành
vi vi phạm quyền SHTT.
- Hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ quyền tác giả năm 1997;
Về nội dung, yêu cầu các Bên ký kết phải dành cho các tác phẩm của những
tác giả, nhà sáng tạo và nghệ sỹ là công dân hoặc người thường trú của Bên ký kết
89
kia và cho các tác phẩm công bố lần đầu tại lãnh thổ của Bên ký kết kia sự bảo hộ
quyền tác giả không kém thuận lợi hơn sự bảo hộ mà Bên đó dành cho công dân
nước mình. Để đảm bảo thực thi hữu hiệu việc bảo hộ QTG trên lãnh thổ mỗi Bên,
Hiệp định yêu cầu các Bên phải quy định các thủ tục dân sự cho phép áp dụng các
biện pháp tạm thời, bồi thường thiệt hại, tiêu huỷ các tài sản và thiết bị vi phạm;
cho phép áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự; áp dụng các biện pháp kiểm soát
xuất nhập khẩu hàng hóa liên quan đến quyền SHTT tại biên giới. Việc thi hành
các nghĩa vụ nói trên phải được cụ thể hoá bởi pháp luật của mỗi Bên.
- Hiệp định hợp tác giữa Việt Nam và Thuỵ Sỹ về sở hữu trí tuệ năm 1999;
Nội dung Hiệp định yêu cầu mức bảo hộ tối thiểu của mỗi Bên phải tương
đương với TRIPS và dựa trên cơ sở nguyên tắc không phân biệt đối xử. Ngoài ra,
Hiệp định cũng quy định các Bên sẽ phải tham gia và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
của mình theo những điều ước quốc tế đa phương về SHTT được liệt kê trong Phụ
lục 1; đồng thời theo quy định của Hiệp định này thì các Bên phải thực hiện nghĩa
vụ bảo hộ quyền SHTT trên cơ sở của nguyên tắc NT và MFN.
- Hiệp định Việt Nam - Hoa Kỳ về quan hệ thương mại (BTA) năm 2000;
Trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Phần SHTT có vị trí quan
trọng, với 18 điều thuộc Chương II quy định về các vấn đề liên quan tới việc xác lập,
sử dụng, khai thác và bảo hộ các quyền SHTT. Bên cạnh việc yêu cầu mỗi Bên phải
thực hiện các quy định của các công ước quốc tế quan trọng về quyền SHTT, Chương
II cũng đề cập tới nghĩa vụ của các Bên phải hoàn thiện pháp luật nội dung (đối tượng
bảo hộ, quyền của chủ sở hữu đối tượng được bảo hộ, thời hạn bảo hộ...) và pháp luật
tố tụng (kể cả các biện pháp khẩn cấp tạm thời, các biện pháp biên giới và các thủ tục
khiếu nại, khiếu kiện cần thiết và hiệu quả để bảo vệ quyền SHTT. Nội dung của
Chương II tập trung ở một số điểm sau: cam kết chung về nguyên tắc và phạm vi
các nghĩa vụ, theo những cam kết này Việt Nam cũng phải tham gia 4 Công ước
trong lĩnh vực SHTT là: Công ước Geneva; Công ước Berne; Công ước về bảo hộ
giống thực vật mới (Công ước UPOV năm 1978), hoặc Công ước về bảo hộ giống
thực vật mới (Công ước UPOV năm 1991) và Công ước về phân phối tín hiệu
mang chương trình truyền qua vệ tinh năm 1974 (Công ước Brusselle); các cam kết
cụ thể về việc bảo hộ QTG và QLQ của Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
90
chủ yếu dựa vào các quy định của Công ước Berne và Công ước Rome năm 1961;
các cam kết cụ thể về việc bảo hộ các đối tượng SHCN được áp dụng đối với: tín
hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa; nhãn hiệu hàng hóa; sáng chế;
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn; bí mật thương mại; kiểu dáng công nghiệp.
Các cam kết về thực thi quyền SHTT nhằm chống lại một cách có hiệu quả việc
xâm phạm quyền SHTT, bao gồm: các biện pháp khẩn cấp tạm thời, các chế tài đủ
mạnh để ngăn ngừa xâm phạm. Việc áp dụng các thủ tục thực thi quyền SHTT
không được cản trở hoạt động thương mại và phải có biện pháp để chống sự lạm
quyền. Các thủ tục thực thi phải công bằng, không quá phức tạp, tốn kém và không
có những giới hạn bất hợp lý về thời gian hoặc chậm trễ không chính đáng...
3.1.2. Thực trạng vi phạm pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam
3.1.2.1. Thực trạng vi phạm pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Cũng giống như QTG và QLQ nói chung, tình trạng xâm phạm QTG và
QLQ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam diễn ra một cách phổ biến trong suốt thời
gian qua. Phương thức xâm phạm chủ yếu là sao chép, in ấn, phổ biến, tán phát, sử
dụng, mua bán đối tượng của QTG và QLQ mà không xin phép tác giả, chủ sở hữu
QTG, những người có QLQ hoặc người đại diện của họ. Chủ thể vi phạm đã triệt
để lợi dụng đặc tính vốn có của QTG và QLQ để nhân bản, phổ biến các tác phẩm
văn học, nghệ thuật, khoa học, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín
hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá một cách tràn lan mà tác giả, chủ sở
hữu QTG và QLQ không thể kiểm soát được. Hành vi xâm phạm các quyền nói
trên được sự trợ giúp đắc lực của các phương tiện khoa học, kỹ thuật hiện đại (như
mạng Internet, máy in, máy photocopy tốc độ cao, máy quét ảnh kỹ thuật số, máy
quay phim, máy chụp ảnh sử dụng công nghệ tự động...), cộng với sự thiếu hiểu
biết, thiếu tôn trọng pháp luật của người vi phạm và người tiêu dùng. Qua khảo sát
thực tiễn cho thấy, hành vi vi phạm QTG và QLQ diễn ra trên tất cả các đối tượng
cụ thể, từ sách báo, phim ảnh, tác phẩm âm nhạc, hội họa, điêu khắc đến phần mềm
máy tính, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng...
Theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng, Việt Nam có 64 NXB (52
NXB ở Trung ương, 12 NXB ở địa phương); khoảng 1450 tổ chức in, phát hành
91
trong toàn quốc, trong đó có hơn 40 cơ sở in hoạt động bằng 100% vốn nước ngoài
[42]. Việc phát hiện, xử lý những vi phạm pháp luật về QTG trong lĩnh vực xuất
bản của các cơ quan chức năng còn gặp nhiều lúng túng, bị động. Hiện chưa có một
thống kê chính xác của bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào về số lượng tác phẩm
văn học, nghệ thuật, khoa học bị sao chép trái phép, vì hiện tượng này diễn ra ở
mọi lúc, mọi nơi, trong mọi điều kiện có thể. Chỉ sau khi được xác lập một thời
gian nhất định, QTG và QLQ liền bị vi phạm một cách nhanh chóng, thậm chí đối
với nhiều phần mềm máy tính mặc dù đã được cài đặt mã khóa nhưng cũng bị
người vi phạm “bẻ khóa” một cách tinh vi để sao chép, sử dụng, mua bán...
Chủ thể vi phạm QTG, QLQ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam rất đa dạng,
từ cơ quan nhà nước đến các doanh nghiệp, từ công dân Việt Nam đến tổ chức, cá
nhân nước ngoài có mặt tại Việt Nam… Hành vi xâm phạm được chủ thể vi phạm
thực hiện với cả lỗi cố ý và lỗi vô ý; trong nhiều trường hợp, người vi phạm biết rõ
về việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích riêng (như muốn sử
dụng sản phẩm nhưng không muốn mất tiền mua, tham rẻ, kiếm lợi từ việc làm phi
pháp...) nên vẫn cố tình vi phạm; nhiều trường hợp người sử dụng do không am
hiểu pháp luật nên đã vô tình vi phạm một cách “ngay tình” (như mua máy tính cài
đặt sản phần mềm nhưng cho rằng mình đương nhiên được sử dụng phần mềm ấy
một cách “miễn phí”…). Có thể lấy một số ví dụ điển hình về vi phạm QTG, QLQ
có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trên các lĩnh vực cụ thể sau:
- Về hoạt động xuất bản, công bố, phổ biến tác phẩm văn học, nghệ thuật và
khoa học:
Tại triển lãm sách không có tác quyền tại khách sạn Continental (TPHCM)
sáng 9/7/2012, người đại diện NXB Oxford đã cho biết có rất nhiều sách của NXB
này đã bị “ăn cắp bản quyền” và được in lậu, bày bán công khai trên thị trường Việt
Nam. Sách được in như sách gốc, chất lượng và hình ảnh đạt gần 80% - 90% so với
sách thật mà chỉ những người trong nghề mới phát hiện được. Đáng kể nhất là loại
sách giả in song ngữ tiếng Việt, tiếng Anh, ghi rõ ràng tên tác giả nước ngoài và tên
người dịch sang tiếng Việt mà không hề có hợp đồng chuyển nhượng tác quyền của
tác giả hoặc đại diện NXB nước ngoài tại Việt Nam... Tuy nhiên, điều đáng lo ngại
hơn cả là khi các đầu nậu làm sách giả đã tùy tiện thay đổi, thêm bớt nội dung,
thậm chí dịch sai nội dung so với bản gốc của tác phẩm.
92
Số liệu thống kê của Khối liên minh quốc tế về sở hữu trí tuệ (IIPA) cho
thấy: trong năm 2008, bên cạnh băng đĩa, sách là sản phẩm bị vi phạm bản quyền
nhiều nhất và Việt Nam được xếp là một trong 15 nước có mức vi phạm cao nhất
thế giới. Tại hội thảo, các đơn vị đã trưng bày “bằng chứng” về những sản phẩm
làm nhái, trong đó NXB Cambridge bị copy 61 tựa sách, NXB Mc Graw - Hill có
97 tựa sách, NXB Cengage có 30 tựa sách, NXB Macmillan có 44 tựa sách, NXB
Pearson có 25 tựa sách... Và nhiều nhất là NXB Oxford, có 206 tựa sách bị công
khai vi phạm bản quyền với danh tính, đơn vị cụ thể. Theo đó, phần lớn sách giả
được xuất bản và phát hành từ các NXB như Đồng Nai và đơn vị liên kết Công ty
trách nhiệm hữu hạn (TNHH) phát hành sách Sài Gòn, Nhà sách Quỳnh Mai (474
Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TPHCM), NXB Lao Động và đơn vị liên kết Nhà
sách Minh Cường (TPHN)... [42, tr.50].
- Về hoạt động đăng ký, sử dụng phần mềm máy tính: Theo báo cáo của Liên minh phần mềm doanh nghiệp (BSA): năm 2011, Việt Nam có tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm máy tính là 81%, giảm 2% trong 2 năm liên tiếp so với 83% (năm 2010) và 85% (năm 2009). Giá trị thương mại của phần mềm bị vi phạm khoảng 395 triệu USD, giảm 4% so với 2 năm trước [92].
Ngày 5/10/2006 thanh tra Bộ Văn hóa - Thông tin, nay là (Bộ VH-TT-DL) phối hợp với Cục Cảnh sát kinh tế (nay là Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, gọi tắt là C46) - Bộ Công an, đã tiến hành thanh tra đột xuất tại Công ty Daewoo - Hanel có trụ sở tại khu công nghiệp Sài Đồng B, Gia Lâm, TPHN, phát hiện nhiều phần mềm vi phạm bản quyền được cài đặt bất hợp pháp. Cơ quan liên ngành đã lập biên bản kiểm tra toàn bộ số máy vi tính có cài đặt các phần mềm vi phạm bản quyền, như: Microsoft Windows, Microsoft Office, Microsoft Visual, Autodesk AutoCAD, Corel Draw, ACD See... Tổng giá trị các phần mềm bất hợp pháp ước tính gần 1 tỷ đồng [42, tr.47].
Ngày 19/11/2011, đoàn thanh tra liên ngành của Bộ VH-TT-DL cùng với
C46 (Bộ Công an) tiến hành kiểm tra đột xuất Công ty TNHH điện tử ASTI (doanh
nghiệp 100% vốn Nhật Bản), có trụ sở tại khu công nghiệp Quang Minh, Mê Linh
(TPHN), hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, gia công bo mạch điện tử cho máy in,
sản xuất dây dẫn điện… Kiểm tra 42 máy tính, đoàn thanh tra phát hiện có sao
chép, cài đặt, sử dụng các chương trình phần mềm chưa được đồng ý của chủ sở
93
hữu. Đây chủ yếu là các phần mềm được sử dụng phổ biến trong các hoạt động sản
xuất kinh doanh, gồm: 40 chương trình Window XP Professional 2002, 42 chương
trình Microsoft Office Professional 2003... Theo kết quả đoàn thanh tra cho biết,
tổng giá trị phần mềm bất hợp pháp của doanh nghiệp này khoảng 550 triệu đồng.
Trong ngày tiếp theo 20/11/2011, một cuộc thanh tra đột xuất tiếp tục được
thực hiện tại Công ty TNHH hệ thống công nghiệp LS-Vina có địa chỉ ở Đông Anh
(TPHN), là công ty liên doanh với Hàn Quốc. Tại đây, tiến hành kiểm tra 58 máy
tính, đoàn cũng phát hiện có sao chép, cài đặt, sử dụng chương trình phần mềm
chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu gồm: 58 chương trình Microsoft Windows XP
Professional 2002, 58 chương trình Microsoft Office Professional (2000, 2003,
2007)… Số lượng phần mềm vi phạm tại Công ty lên tới gần 1 tỷ đồng [18].
- Về hoạt động phát thanh, truyền hình:
Trong thời gian qua, mạng truyền hình kỹ thuật số VTC đã phát rất nhiều tựa
phim nước ngoài không có bản quyền. Trong khi chưa trả tiền các phim vi phạm
bản quyền, VTC vẫn tiếp tục cho phát phim không có bản quyền. Hiện tại, VTC
chấp nhận trả tiền các phim đã phát nhưng mới là một số tiền mang tính tượng
trưng. Tương tự, mạng truyền hình cáp HTVC cũng đã phát nhiều tựa phim nước
ngoài không có bản quyền. Tháng 6/2010, đơn vị có bản quyền phim đã gửi danh
sách phim và yêu cầu HTVC ngừng phát sóng các phim này. Mới đây Trung tâm
Bảo vệ bản quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) đã yêu cầu VTV trả tiền
bản quyền cho các ca khúc tiếng nước ngoài phát trên chương trình của sóng truyền
hình, gồm: The Voice, Bước nhảy hoàn vũ, Cặp đôi hoàn hảo, Tìm kiếm tài năng
Việt... và nhiều chương trình âm nhạc khác. Theo thống kê, The Voice chủ yếu hát
bài hát tiếng nước ngoài nhưng VTV không hề trả tiền bản quyền cho các bài hát
này, VTV chỉ trả bản quyền cho bài hát tiếng Việt theo giá thỏa thuận giữa hai bên
và thường là không đáng kể [92].
- Về lĩnh vực nhiếp ảnh, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn, công
nghệ ghi âm, ghi hình:
Nạn sao chép lậu, xâm phạm QTG và QLQ xảy ra đối với mọi loại hình, mọi
dạng tác phẩm. Với một máy tính nối mạng, để có một bản nhạc của tác giả nước
ngoài hay một bài hát của một ban nhạc nổi tiếng thế giới, người sử dụng chỉ cần
tìm kiếm trên mạng Internet, sau đó tải về máy tính của mình, rồi cài đặt vào máy
94
tính hay sao chép vào các thiết bị ghi nhớ (USB, đĩa CD, VCD, thẻ nhớ điện
thoại…); tác giả, chủ sở hữu tác phẩm hay đại diện của họ không hề biết, hoặc nếu
có biết nhưng cũng không thể kiểm soát được hành vi xâm phạm đó bởi đặc tính
“vô hình” của tác phẩm.
Trong đêm chung kết cuộc thi Hoa hậu Thế giới 2008 diễn ra tại
Johannesburg (Nam Phi) vào 17 giờ ngày 13/12/2008 (giờ địa phương) đã không
được phát sóng trực tiếp trên kênh VTV3 từ 22 giờ (giờ Việt Nam) như dự kiến. Tổ
chức Miss World (MWO) đã cung cấp bản quyền phát sóng 3 sự kiện chính của
cuộc thi cho Công ty RAAS, đó là: phần thi Hoa hậu Biển, phần thi hoa hậu thời
trang và truyền hình trực tiếp đêm chung kết. RAAS quyết định tặng cho kênh
VTV3 để phát sóng đến đông đảo khán giả Việt Nam. Số tiền thu được từ quảng
cáo trong 3 chương trình này dự định chuyển vào quỹ “Nối vòng tay lớn” do Đài
Truyền hình Việt Nam tổ chức thường niên. Tuy nhiên, sau khi hai phần thi Top
Model và Beach Beauty được phát sóng trên VTV3 vào ngày 10 và 12/12/2008,
MWO phát hiện một số website đã thu lại chương trình để phát trực tuyến. Tổ chức
này đánh giá đây là hành động vi phạm bản quyền và quyết định ngừng cung cấp
sóng cho RAAS [42, tr.48]…
- Đối với hoạt động sản xuất băng đĩa âm thanh, băng đĩa hình, các thiết bị
phát thanh và truyền hình:
Các ấn phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được sản xuất dưới dạng các
băng, đĩa âm thanh, băng đĩa hình và các thiết bị điện tử khác cũng diễn ra tình
trạng “ăn cắp bản quyền” một cách vô tội vạ. Để có được một tác phẩm từ tác phẩm
gốc, người vi phạm chỉ cần sử dụng các thiết bị máy tính cùng với các lệnh sao
chép kèm theo một số thao tác “bẻ khóa” đơn giản đã được “harker” hướng dẫn
kèm theo với việc mua băng, đĩa, thiết bị lậu. Có một thực tế là, hàng hóa xâm
phạm QTG, QLQ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam đang được nhiều người buôn
bán, thậm chí có nhiều người chủ yếu chỉ buôn bán những mặt hàng đó để kiếm lời.
Hầu hết các cửa hàng băng đĩa ở TPHN, TPHCM, Lạng Sơn, Móng Cái… đều có
bán hàng đĩa sao chép lậu và tỷ lệ của các loại mặt hàng này thậm chí lớn hơn
nhiều lần so với băng đĩa có bản quyền. Cũng tại những thành phố lớn đang tồn tại
những trung tâm phân phối và bán lẻ các băng đĩa sao chép lậu; người ta chỉ cần bỏ
ra 200 USD để mua đầu đọc hoặc ghi đĩa CD, VCD, DVD là ngay lập tức có thể có
95
“trung tâm” phát hành băng, đĩa lậu nhưng cơ quan chức năng khó có thể kiểm soát
được tình trạng trên, vì những hoạt động vi phạm pháp luật này hoạt động theo kiểu
“du kích”, có tính cơ động rất cao, luôn luôn sẵn sàng đối phó với các cơ quan chức
năng. Người mua chỉ cần đến một vài con phố ở TPHN xung quanh các trường đại
học lớn là có thể tìm mua được các đĩa CD, VCD, DVD với giá từ 10.000 đồng đến
20.000 đồng/đĩa, tùy theo sở thích và sự quan tâm đến nội dung, từ ca nhạc hải
ngoại đến chương trình học ngoại ngữ, phim ảnh nước ngoài hay giáo trình của các
trường đại học danh tiếng trên thế giới… Hay như việc lưu hành phổ biến các đầu
thu kỹ thuật số nhập khẩu từ các cửa khẩu, đặc biệt tại các cửa khẩu giáp Trung
Quốc khiến cho Đài truyền hình Việt Nam khó có thể cạnh tranh với hoạt động thu
tín hiệu vệ tinh “chui” như trên… Trong văn hóa phẩm có đến 78% băng đĩa hình,
băng đĩa nhạc bày bán trên thị trường đều là hàng sao chép bất hợp pháp, 62% nhạc
cụ là hàng giả. Trong bưu chính viễn thông, mặt hàng điện thoại để bàn, máy Fax,
thiết bị viễn thông có đến 40% là hàng giả nhãn hiệu [42, tr.52].
- Trong hoạt động biểu diễn và tổ chức biểu diễn:
Với chính sách mở cửa của Việt Nam, trong thời gian vừa qua, nhiều ca sĩ
người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã đến Việt Nam để tổ
chức biểu diễn và biểu diễn những chương trình ca nhạc hải ngoại, đáp ứng yêu cầu
thị hiếu của khán giả trong nước. Tuy nhiên, bên cạnh những chương trình được tổ
chức thành công, một số buổi biểu diễn đã bị cơ quan chức năng rút giấy phép biểu
diễn vì có cách thức tổ chức và nội dung phản cảm, thậm chí vi phạm QTG vì
không xin phép tác giả, chủ sở hữu QTG khi biểu diễn trước công chúng để thu lợi.
Chẳng hạn, gần đây Sở VH-TT-DL của TPHN đã quyết định thu hồi giấy phép biểu
diễn của chương trình live show “Chế Linh 30 năm tái ngộ” vì theo như giấy tiếp
nhận biểu diễn nghệ thuật, thì giấy phép tên chương trình là “Liveshow ca sĩ Chế
Linh” chứ không phải “Chế Linh 30 năm tái ngộ” như nội dung trên băng rôn
quảng cáo. Bên cạnh đó, Công ty TNHH Giải trí Bích Ngọc (đơn vị tổ chức biểu
diễn) còn cho treo nhiều băng rôn để quảng cáo chương trình không đúng theo quy
định. Mặt khác, Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam cũng đã có
công văn về việc Công ty TNHH Giải trí Bích Ngọc chưa thực hiện bản quyền tác
giả với chương trình “Chế Linh 30 năm tái ngộ”, đồng thời trong số 35 bài hát
đăng ký trong chương trình thì có tới 11 bài hát không có trong danh mục phổ biến
96
của Bộ VH-TT-DL. Tương tự như vậy, đầu năm 2013, Bộ VH-TT-DL có văn bản
ngưng cấp phép hoạt động đối với 6 nghệ sĩ tham gia DVD Asia 72 - Kỷ niệm 32
năm hoạt động của trung tâm Asia vì chương trình này có nội dung phản động,
xuyên tạc và đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước [89].
- Liên quan đến lĩnh vực ANQG và TTATXH: Qua công tác đấu tranh của lực lượng CAND, cho thấy: QTG và QLQ là lĩnh vực “nhạy cảm” nhất đối với các hoạt động xâm phạm ANQG và TTATXH. Các thế lực thù địch đã sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn để chống phá Việt Nam, như: tìm cách lôi kéo một số trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ đương chức hoặc đã nghỉ hưu vào những hoạt động của chúng; cắt dán, lồng ghép các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học của nước ngoài có nội dung chống cộng rồi tìm cách xâm nhập, tán phát vào thị trường Việt Nam; triệt để sử dụng hệ thống thông tin truyền thông để đăng tải, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, chống lại sự nghiệp cách mạng nước ta. Bên cạnh đó, một số trang thông tin điện tử có máy chủ đặt ở nước ngoài, thường xuyên đưa các thông tin bịa đặt đường lối, chính sách của Đảng, bôi nhọ phẩm chất, năng lực của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân...[42, tr.58].
3.1.2.2. Thực trạng vi phạm pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam
Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển thị
trường SHTT, nhằm tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh cho các hoạt động sáng
tạo của mọi tổ chức và cá nhân ở Việt Nam, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
và các chủ thể có liên quan đã tăng cường hoạt động thực thi quyền SHTT, trong
đó có QSHCN có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Tuy nhiên, thực trạng vi phạm
lĩnh vực quyền nói trên vẫn diễn biến vô cùng phức tạp, gây ra những thiệt hại to
lớn đối với đời sống xã hội. Cụ thể, nổi lên một số vấn đề cần chú ý sau đây:
- Một là, vi phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam có diễn biến
phức tạp, phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
Theo báo cáo của các cơ quan chức năng, số vụ việc vi phạm QSHCN có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong những năm qua có sự thay đổi bất thường, nếu
năm nào các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đẩy mạnh các hoạt động tuyên
97
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về SHTT hoặc tăng cường các hoạt động tuần
tra, kiểm soát, trấn áp hoạt động xâm phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài thì tình
trạng vi phạm được cải thiện đáng kể; ngược lại, nếu chỉ cần lơi lỏng các hoạt động
nói trên của các lực lượng chức năng, cộng với sự kém hiểu biết và ý thức tuân thủ
pháp luật chưa cao của một bộ phận dân cư, thì ngay lập tức số vụ việc và số đối
tượng vi phạm sẽ tăng lên đáng kể, đặc biệt xảy ra phổ biến ở kiểu dáng công
nghiệp và nhãn hiệu hàng hoá. Ví dụ, trong năm 2003 cả nước có 3998 vụ in nhãn
mác giả, thu thu giữ hàng hoá gắn mác giả có giá trị 2,5 triệu USD. Năm 2004, số
vụ vi phạm cùng loại tăng lên 4315 vụ, với giá trị hàng hóa gắn mác giả khoảng 3,4
triệu USD; năm 2005 số vụ vi phạm là 4754, hàng hóa gắn mác giả bị tịch thu có trị
giá khoảng 4,6 triệu USD; năm 2006 là 4873 vụ, hàng hóa gắn mác giả trị giá
khoảng 5,2 triệu USD; năm 2007 số vụ vi phạm là 5125 vụ, hàng hóa gắn mác giả
có giá trị khoảng 5,4 triệu USD; năm 2008 số vụ vi phạm tăng khoảng 1,2% so với
năm 2007, hàng hóa gắn mác giả có giá trị khoảng 5,5 triệu USD. Tuy nhiên năm
2009, số vụ vi phạm giảm khoảng 3% so với năm 2008 với hàng gắn mác giả có
giá trị giảm khoảng 4,1% [42, tr. 56].
Nếu vi phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam có thể diễn ra trên
phạm vi cả nước, thì tại các thành phố lớn hay một số địa phương khác giữ vai trò
đầu mối quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội lại là những địa bàn
thường xuyên xảy ra số vụ việc vi phạm với quy mô lớn và phức tạp. Theo báo cáo
của các cơ quan chức năng, số vụ việc vi phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài ở
TPHN trong các năm gần đây như sau: năm 2007 (kiểm tra 56 vụ, xử lý 39 vụ);
năm 2008 (kiểm tra 74 vụ, xử lý 55 vụ); năm 2009 (kiểm tra 89 vụ, xử lý 72 vụ);
năm 2010 (kiểm tra 128 vụ, xử lý 86 vụ); năm 2011 (kiểm tra 167 vụ, xử lý 136
vụ); năm 2012 (kiểm tra 175 vụ, xử lý 150 vụ) [18]. Tại Quảng Ninh, năm 2008
Công an tỉnh đã phát hiện 14 vụ, xử lý hành chính 14 đối tượng, phạt tiền 23 triệu
đồng; năm 2008 phát hiện 18 vụ, xử lý hành chính 18 đối tượng, phạt tiền 80 triệu
đồng. Tại TPHCM, lực lượng Công an đã phát hiện số vụ việc vi phạm và xử lý
như sau: năm 2007 có 13 vụ, 34 đối tượng, khởi tố 29 đối tượng, xử phạt hành
chính 5 đối tượng; năm 2008 có 14 vụ, 28 đối tượng, khởi tố 16 đối tượng, xử phạt
hành chính 12 đối tượng; năm 2009 có 16 vụ, 30 đối tượng, khởi tố 11 đối tượng,
98
xử phạt hành chính 9 đối tượng; năm 2012 có 31 vụ, 45 đối tượng, khởi tố 22 đối
tượng, xử phạt hành chính 21 đối tượng [23].
Theo Báo cáo số 46/BC-BCĐ ngày 05/11/2010 của Ban chỉ đạo 127/TW:
trong vòng 5 năm (từ 2007 - 2011), QLTT cả nước đã xử lý hơn 102 vụ làm hàng
giả, vi phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài, tổng số tiền xử phạt hành chính lên tới
124 tỷ đồng; CQHQ cả nước cũng xử lý gần 200 vụ xuất, nhập khẩu hàng giả hoặc
hàng hóa vi phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài; Thanh tra Bộ KH-CN đã tiến
hành thanh tra 159 cơ sở, phát hiện và xử lý 153 vụ xâm phạm QSHCN có yếu tố
nước ngoài, xử phạt 09 trường hợp, phạt tiền 144 trường hợp với số tiền 2,3 tỷ
đồng, buộc tiêu hủy, loại bỏ yếu tố vi phạm ra nhiều loại sản phẩm, hàng hóa [10].
- Hai là, xâm phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam xảy ra đối
với mọi loại sản phẩm, hàng hoá, đặc biệt ở những mặt hàng gắn liền với nhu cầu
thiết yếu của người tiêu dùng.
Tình trạng xâm phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam diễn ra ở
hầu hết các lĩnh vực, mọi sản phẩm, hàng hóa; phong phú, đa dạng về mẫu mã,
nhãn mác, tập trung vào các mặt hàng có uy tín trên thị trường, những mặt hàng
thiết yếu, hàng tiêu dùng có nhu cầu tiêu thụ cao tại Việt Nam, như máy tính, điện
thoại, mỹ phẩm, thuốc tân dược, thiết bị y tế, thiết bị vệ sinh, rượu, bia, thuốc lá,
nước giải khát, thực phẩm, đồ dùng sinh hoạt... Hình thức vi phạm diễn ra phổ biến
nhất là xâm phạm nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp (như làm nhái hoặc tương tự
các nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp đã được bảo hộ bằng cách đưa ra
nhãn hiệu cho những sản phẩm cùng loại, có nhãn hiệu tương tự như nhãn hiệu sản
phẩm hàng hóa được bảo hộ, làm cho người tiêu dùng dễ nhầm lẫn). Chẳng hạn,
nhãn hiệu thuốc cảm “Decolgen” được làm nhái thành Deacolgen, Decoagen,
Dadecold, Decold; hoặc nhãn hiệu sản phẩm xe máy “Dream” được làm nhái thành
Drean, Draem; nhãn hiệu “CAMEL” được làm nhái thành “CARMEL”; nhãn hiệu
“National” được nhái thành Natsional, “X-MEN” được làm nhái thành “X.MEN” ...
Bên cạnh đó, tình trạng xâm phạm về chỉ dẫn địa lý, sáng chế, giải pháp hữu
ích cũng có xu hướng gia tăng. Các loại sản phẩm vi phạm QSHCN có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam rất giống với hàng thật đã đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, thậm chí
còn mang bao bì, nhãn mác thật. Hành vi xâm phạm xảy ra đối với hầu hết mọi loại
99
hàng hoá, từ những loại hàng hoá xa xỉ có giá trị cao như nước hoa, mỹ phẩm, thời
trang đến các loại mặt hàng gia dụng, các loại đồ điện tử, máy móc, thậm chí cả
những mặt hàng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người như thực
phẩm, thuốc chữa bệnh… cũng bị làm giả về chất lượng cũng như nhãn mác, hình
dáng bên ngoài của sản phẩm. Theo báo cáo của các cơ quan chức năng, hiện trên
thị trường có 50% hàng giả trong lĩnh vực hàng tiêu dùng, nhất là đồ điện dân
dụng, mực in, máy bơm nước, máy nổ... Đáng chú ý là rượu, bia, nước giải khát
đóng chai và thực phẩm đã qua chế biến là những mặt hàng có nhu cầu tiêu thụ lớn,
cũng luôn bị phát hiện làm giả nhiều nhất. Thực tế hàng giả trên thị trường còn “sôi
động” hơn nhiều so với kết quả điều tra của cơ quan bảo vệ pháp luật [42, tr.55].
Thống kê cho thấy, phương tiện đi lại như xe máy, mũ bảo hiểm cũng bị
nhại kiểu dáng công nghiệp, phụ tùng giả nhãn hiệu Honda cũng khá phổ biến.
Trong lĩnh vực xây dựng, chiếm đến 50% các thiết bị vệ sinh, gạch ốp lát cao cấp,
van vòi nước, tôn lợp là hàng giả nhãn hiệu và xuất xứ. Các mặt hàng xi măng, sắt
thép, ống nước… chủ yếu bị vi phạm về chất lượng, kích thước, chủng loại so với
tiêu chuẩn công bố của nhà sản xuất. Trong lĩnh vực y tế, việc làm giả xuất xứ các
loại tân dược và dụng cụ y tế chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 18%, do có sự kiểm soát khá chặt
chẽ [66]. Trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, có đến 40% hàng giả nhãn hiệu đối
với mặt hàng là điện thoại để bàn, máy Fax, thiết bị viễn thông. Lĩnh vực thể thao,
có tới 56% các loại vợt, bóng, quần áo, giầy dép, dụng cụ thể thao bị làm giả nhãn
hiệu, xuất xứ từ nước ngoài [42, tr.62].
- Ba là, chủ thể vi phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam triệt để sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi nhằm trốn tránh pháp luật và đối phó với sự kiểm soát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Qua khảo sát công tác thực thi QSHCN có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
cho thấy, chủ thể vi phạm thường sử dụng những phương thức, thủ đoạn hết sức
khôn khéo, tinh vi, rất khó kết luận là vi phạm pháp luật nhưng lại gây nên sự nhầm
lẫn nghiêm trọng ở người tiêu dùng. Các kết luận về hành vi vi phạm hiện nay chủ
yếu dựa trên kết quả thẩm tra của các cơ quan chức năng (như Cơ quan giám định,
đo lường chất lượng sản phẩm của Bộ Y tế, Bộ Công an…), trên cơ sở các điều
khoản đã được quy định rõ trong văn bản pháp lý. Nhiều trường hợp, các kết luận
của các cơ quan nói trên có nội dung không giống nhau, vì thường chỉ thiên về yếu
100
tố kỹ thuật, trong khi hầu hết các đối tượng của QSHCN có yếu tố nước ngoài đều
gắn với yếu tố thương mại và quá trình sản sinh lợi nhuận liên quan đến việc sử
dụng, khai thác chúng. Ngoài ra, một số chủ thể vi phạm QSHCN có yếu tố nước
ngoài còn lợi dụng văn bản hay kết luận của các cơ quan Nhà nước không có chức
năng quản lý trực tiếp về lĩnh vực SHTT để biện hộ cho hành vi vi phạm của mình,
gây ấn tượng mâu thuẫn giữa các cơ quan nhà nước với nhau.
Để có thể che giấu được hành vi vi phạm pháp luật, tránh sự phát hiện của
các cơ quan chức năng, chủ thể vi phạm thường tổ chức các hoạt động sản xuất, cất
giấu hàng hóa vi phạm một cách bí mật. Chúng thường chọn những nơi ít người
qua lại để sản xuất hàng hóa vi phạm bằng nhiều công đoạn, nhiều địa điểm, đồng
thời chọn nơi cất giấu giấu kín đáo (thường là gửi vào các nhà kho, hầm chứa, thậm
chí ký gửi vào cửa hàng khác để thuận tiện cho việc tiêu thụ, tẩu tán tang vật vi
phạm). Điển hình là vụ: Trần Thị Bạch Linh, hộ khẩu thường trú ở tỉnh Nghệ An và
đồng bọn sản xuất, tiêu thụ rượu ngoại giả có số lượng lớn nhất từ trước đến nay
(khoảng 5000 chai). Các công đoạn sản xuất rượu giả được các đối tượng thực hiện
bằng cách cắt đoạn, hòng đánh lạc hướng các cơ quan chức năng. Chúng phân công
đối tượng chuyên thu mua vỏ chai rượu ngoại đã qua sử dụng, đối tượng vận
chuyển vỏ chai về cơ sở sản xuất, đối tượng cảnh giới để đồng bọn pha trộn rượu
Brandy nội với một tỷ lệ rượu ngoại thật rồi đóng chai, dán tem nhập khẩu thật…
sau đó phân công đối tượng khác mang đi các địa phương để tiêu thụ [18, tr.15].
Ngoài ra, chủ thể vi phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài còn lợi dụng các
yếu tố khách quan (như thời gian, không gian, đại điểm) để sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa vi phạm. Trong những dịp lễ, tết, những ngày diễn ra các sự kiện
thể thao, văn hóa, lợi dụng nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng cao, đồng thời các
lực lượng chức năng có thể lơ là mất cảnh giác, cũng là thời điểm hàng hóa vi
phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài tràn ngập trên thị trường. Điển hình là vụ
đường dây chuyên cung cấp thuốc lá ngoại nhập lậu vào các “chợ” thuốc lá nội
thành Hà Nội để tiêu thụ dịp Tết Nguyên đán năm 2013. Các đối tượng vi phạm đã
chở 400 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 giả nhập lậu đi tiêu thụ, cất giấu khoảng 1.568
bao thuốc lá ngoại giả các loại như 555, Esse, Zest tại nơi ở trọ để vận chuyển dần
vào nội thành tiêu thụ. Khai thác mở rộng, các đối tượng khai nhận trong khoảng 2
tháng đã tiêu thụ khoảng 37.768 bao thuốc lá ngoại giả nhập lậu các loại [21].
101
Việc nhái kiểu dáng, nhãn hiệu trước đây chỉ được thực hiện trong nước với
quy mô nhỏ, còn hiện nay đã được các chủ thể vi phạm thực hiện với quy mô lớn,
thậm chí còn được sản xuất ở nước ngoài rồi đưa vào Việt Nam, kể cả tem chống
giả cũng được làm giả. Hiện nay, có nhiều loại sản phẩm, hàng hóa do Trung Quốc
sản xuất giả, nhái các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới hay của Việt Nam, rồi đưa
vào nước ta tiêu thụ hoặc xuất sang nước thứ ba. Những sản phẩm này còn cạnh
tranh trực tiếp với hàng chính hiệu đang phổ biến ở Việt Nam, như dầu gội đầu của
Unilever, phụ tùng xe máy mang nhãn hiệu Honda, vòi hoa sen tắm mang nhãn hiệu
Joden, Sanwa, hóa mỹ phẩm hiệu Debon, Sisheido, phục tùng ô tô hiệu Toyota,
Daewoo, quần áo, giầy dép hiệu Gucci, Adidas, Nike, đồ điện gia dụng hiệu Philip,
National, LG...
Một thủ đoạn mới là giao bán hàng hóa có yếu tố vi phạm trên mạng
Internet, liên hệ giữa người mua và người bán được thông qua mạng. Điều này gây
khó khăn cho công tác điều tra khám phá, vì trình độ tin học và các trang thiết bị
phục vụ cho công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm xâm phạm QSHCN của
lực lượng CAND còn tương đối “khiêm tốn”, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.
Để tránh bị phát hiện, đối tượng vi phạm còn thay đổi liên tục địa bàn tiêu thụ, hoặc
câu kết với cán bộ, nhân viên trong các đơn vị kinh doanh hàng thật để tuồn hàng
hóa vi phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài vào mạng lưới bao tiêu, phân phối chính
thức. Đặc biệt, thủ đoạn này thường được sử dụng trong lĩnh vực y tế, các đối
tượng vi phạm dùng mọi thủ đoạn, móc nối để thẩm lậu vào một số cơ sở khám
chữa bệnh ở trung ương, bệnh viện quân đội và bệnh viện lớn. Trong các trường
hợp này, có sự tham gia hoặc vô ý tiếp tay của bản thân các doanh nghiệp kinh
doanh dược. Điển hình là vụ công ty TNHH Anh Ngọc bị xử lý tháng 8/2010, trong
vụ này, công ty nói trên đã sản xuất và đóng gói nhiều loại thuốc tiêm, thuốc viên
ghi nhãn những nhà sản xuất như: POSTINO của Hungary, ACETAPHEN của Thái
Lan, CFUROXIN của Cộng hòa liên bang Đức [66, tr.73].
- Bốn là, chủ thể vi phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam thuộc
nhiều thành phần khác nhau, bao gồm cả các tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Với chính sách mở cửa thị trường và thông thương quốc tế, trong những năm
qua thị trường Việt Nam luôn được các chủ thể vi phạm pháp luật lợi dụng, biến
thành nơi tiêu thụ hàng hóa vi phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài, hoặc thành nơi
102
trung chuyển hàng hóa vi phạm sang nước thứ ba. Sở dĩ xảy ra hiện tượng nói trên
vì nước ta có cộng đồng dân cư đông đảo, nhu cầu tiêu dùng vượt xa khả năng cung
ứng của hàng hóa sản xuất trong nước, hàng hóa ngoại nhập thường có mẫu mã
đẹp, độ bền cao, thậm chí giả cả rẻ và thường tiện ích hơn hàng Việt nên dễ tạo ra
xu hướng “sính ngoại” từ phía người tiêu dùng. Mặt khác, nước ta có ba mặt giáp
các nước láng giềng với hàng ngàn km đường biên giới trên bộ, hàng trăm cửa khẩu
quốc gia và quốc tế, bờ biển dài với hàng trăm cảng biển lớn, nhỏ, ngoài ra nước ta
còn có hàng chục cảng hàng không trong nước và quốc tế... là những điều kiện
thuận lợi cho việc xuất, nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam và ngược
lại. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo 127/TW: từ năm 2007 đến năm 2012 CQHQ đã
tiếp nhận và xử lý trên 159 đơn yêu cầu kiểm tra, giám sát hàng hóa nhập khẩu, đơn
gia hạn kiểm tra, giám sát có liên quan đến QSHCN. Tính đến ngày 31/12/2012, đã
có khoảng 350 đối tượng SHCN được giám sát tại biên giới, CQHQ đã bắt giữ
hàng ngàn sản phẩm các loại, trong đó hầu hết là vi phạm QSHCN có yếu tố nước
ngoài (chủ yếu là các linh kiện điện thoại di động, thuốc lá điếu mang nhãn hiệu
nước ngoài, linh kiện máy tính, túi xách mang nhãn hiệu nổi tiếng thế giới như
Louis Vuitton, Kipling, rượu ngoại nhãn hiệu Chivas, Remy Martin, thuốc kích dục
Viagra, thuốc tân dược ngoại giả…) với tổng giá trị hàng hóa vi phạm trên 2 tỷ
đồng. CQHQ đã xử phạt hành chính với số tiền trên 3,6 tỷ đồng [10, tr.16].
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam không những là tổ chức, cá nhân Việt Nam, mà thậm chí còn bao gồm cả các
tổ chức, cá nhân nước ngoài. Một số trường hợp cá biệt, cả những doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài cũng thực hiện hành vi trái pháp luật, coi việc vi phạm
QSHCN có yếu tố nước ngoài là một phương thức kinh doanh. Điển hình, tháng
10/2012 Công ty TNHH Luyện Luân Hưng (LIAN LUN XING CO., LTD) đang
vận chuyển số lượng lớn linh kiện phụ tùng xe máy bao gồm 1820 quả Piston nhãn
hiệu PAG và 2425 Séc măng nhãn hiệu NPR có dấu hiệu làm giả xuất xứ từ Nhật
Bản và giả nhãn hiệu hàng hóa. Tiến hành mở rộng kiểm tra cơ sở sản xuất tại
huyện Thanh Oai, TPHN, các cơ quan chức năng đã lập biên bản tạm giữ 5700 quả
piston nhãn hiệu PAG; 1800 quả Piston nhãn hiệu ART.RIK; 1200 bộ Séc măng
nhãn hiệu NPR ghi xuất xứ từ Nhật Bản; 600 bộ Séc măng nhãn hiệu NP; 120 kg
bao bì đóng gói các sản phẩm trên; 1 máy dập bao bì ATV có dấu hiệu giả xuất xứ,
103
giả nhãn hàng hóa vi phạm QSHCN. Đây là vụ việc lần đầu tiên được phát hiện tại
địa bàn Hà Nội đối tượng vi phạm là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài [10].
- Năm là, hoạt động sản xuất, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa vi phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài không những gây thiệt hại về mặt kinh tế mà còn gây hậu quả đặc biệt cho tính mạng, sức khỏe của con người, ảnh hưởng đến ANQG và TTATXH.
Hàng nhái, hàng giả, hàng có chứa yếu tố xâm phạm QSHCN có yếu tố nước
ngoài có mặt ở cả thành thị và nông thôn, được bày bán tràn làn tại các trung tâm
thương mại hiện đại hay siêu thị. Hậu quả của những vi phạm QSHCN có yếu tố
nước ngoài là rất lớn mà người chịu thiệt hại đầu tiên chính là các chủ sở hữu đối
tượng SHCN. Sản phẩm làm giả hoặc nhái thường có chất lượng thấp hơn, làm
giảm uy tín sản phẩm chính hiệu, giảm mức tiêu thụ, thậm chí ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sự phát triển cả một ngành sản xuất, tạo môi trường đầu tư xấu và tạo tiền
đề cho các hàng hoá giả hiệu khác phát triển, đặc biệt là ảnh hưởng đến sức khỏe
của người tiêu dùng. Chẳng hạn, trong thời gian qua tại thị trường TPHN, TPHCM,
Đà Nẵng xuất hiện nhiều loại sản phẩm tiêu dùng nhập lậu vào Việt Nam, được làm
nhái các sản phẩm chính hiệu tại Trung Quốc, như áo ngực phụ nữ (nhãn hiệu
Yalichun và Mengnaeroi) có chứa hoạt chất gây ung thư và bệnh vô sinh; dép lê tổ
ong (nhãn hiệu Sharilang) có chứa đựng các loại hạt tròn màu trắng và dung dịch
bảo quản, có khả năng gây hại cho sức khỏe con người, thậm chí còn có thể gây ra
bệnh ung thư…[22].
Vấn đề vi phạm QSHCN có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến ANQG và TTATXH. Trong thời gian qua, một số tài liệu liên quan
đến chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, thuộc danh mục bí
mật nhà nước đã bị lộ lọt bởi các hành vi sao chép, đánh cắp, phổ biến bởi ý thức
thiếu cảnh giác của người có trách nhiệm quản lý, hoặc do thủ đoạn của đối tượng
phạm tội quá tinh vi. Trên thực tế, các máy tính nối mạng chứa đựng các tài liệu bí
mật nhà nước hoàn toàn có thể bị xâm nhập bởi các phần mềm gián điệp của nước
ngoài, thậm chí nhiều “tường lửa” được tạo ra nhưng không đủ sức ngăn cản sự
truy cập trái phép của các “hacker”. Theo thống kê của các cơ quan an ninh mạng
quốc tế, trong năm 2012 thiệt hại về kinh tế do tội phạm mạng gây ra đã lên đến
388 tỷ USD, cao hơn nhiều so với năm 2011 là 114 tỷ USD (trong số này, chắc
104
chắn có thiệt hại không nhỏ từ phía Việt Nam). Đặc biệt, số vụ tấn công mạng vào
các hệ thống cơ sở hạ tầng trọng yếu của nhiều quốc gia ngày càng gia tăng và
không chỉ các thiết bị kết nối Internet truyền thống, các thiết bị dân dụng, như tivi
thông minh, máy in, hệ thống phần mềm điều khiển trên xe ôtô… cũng có thể trở
thành mục tiêu tấn công mạng. Bên cạnh các yếu tố đe dọa an ninh truyền thống,
nguy cơ chiến tranh mạng đang trở nên hiện hữu [42]. Ngoài ra, các loại tội phạm
liên quan đến QSHCN, như: tội sản xuất, buôn bán hàng giả; tội sản xuất, buôn bán
hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; tội sản
xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc
bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi… cũng thường xuyên diễn ra, gây ra hậu
quả đặc biệt nguy hiểm xã hội. Những hành vi vi phạm pháp luật này liên quan trực
tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của lực lượng CAND trong thực thi
QSHCN có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
3.1.2.3. Thực trạng vi phạm quyền đối với giống cây trồng có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam
Là đất nước có tiềm năng và thế mạnh phát triển nông nghiệp, nhưng đến
nay, sản xuất hạt giống của nước ta chỉ đáp ứng rất thấp nhu cầu của nông dân, thị
trường hạt giống bỏ ngỏ và phụ thuộc vào nhập khẩu từ nước ngoài. Những năm
gần đây, ngành giống cây trồng Việt Nam chỉ cung ứng khoảng 50% nhu cầu giống
ngô lai, 25% nhu cầu giống lúa lai, 30% nhu cầu giống lúa thuần cho nông dân
bằng hạt giống xác định. Theo Hiệp hội giống cây trồng, mỗi năm Việt Nam phải
nhập khẩu khoảng 15 nghìn tấn hạt giống lúa lai (trị giá khoảng 46 triệu USD), gần
10 nghìn tấn hạt giống ngô lai (trị giá 30 đến 40 triệu USD) và phần lớn hạt giống
rau lai F1 (trị giá khoảng hơn 100 triệu USD). Hiện cả nước có 415 đơn vị sản xuất,
kinh doanh giống cây trồng, trong đó doanh nghiệp chiếm 59%, các Trung tâm
giống cây trồng chiếm 31% và các thành phần khác chiếm 10%. Qua khảo sát được
biết, rất ít doanh nghiệp chịu kết hợp với các viện nghiên cứu để đầu tư nghiên cứu
các giống mới do vì chi phí quá cao. Thay vì đầu tư lâu dài để nghiên cứu chọn tạo
ra các giống cây trồng mới, phần lớn các doanh nghiệp và Trung tâm giống cây
trồng chỉ tập trung nhập khẩu hạt giống về bán để hưởng chênh lệch giá. Chỉ tính
riêng năm 2011, Cục Trồng trọt thành lập 15 đoàn kiểm tra tại 63 tỉnh, thành phố
và 665 tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống cây trồng trên phạm vi cả nước.
105
Kết quả cho thấy có 162 tổ chức, cá nhân (chiếm 24,4%) vi phạm về điều kiện sản
xuất, kinh doanh giống cây trồng, 10 Trung tâm giống cây trồng cấp tỉnh, 4 công ty
sản xuất giống cây trồng, 3 Viện sản xuất kinh doanh giống cây trồng không có
đăng ký kinh doanh giống cây trồng [32].
Thực tiễn cho thấy tình trạng vi phạm QĐVGCT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam chủ yếu diễn ra ở các lĩnh vực cây nông nghiệp, đối tượng vi phạm là giống của các loại lúa, ngô, rau, củ, quả… Theo số liệu thống kê của Bộ NN&PTNT, trong 5 năm (từ 2007- 2012), Thanh tra Bộ đã kiểm tra và xử lý 06 vụ vi phạm về QĐVGCT có yếu tố nước ngoài, trong đó có 05 vụ nhân giống bất hợp pháp và 01 vụ vi phạm về việc sử dụng tên giống cây trồng của tác giả nước ngoài, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Sau khi có ý kiến của cơ quan chức năng, các đương sự đã tự giải quyết tranh chấp với nhau theo quy định của pháp luật [32].
Hà Nội hiện có 106 cơ sở kinh doanh sản xuất giống cây trồng. Từ đầu năm đến nay, Thanh tra Sở NN&PTNT đã kiểm tra phát hiện nhiều sai phạm trong lĩnh vực này như kinh doanh giống cây trồng ngoài danh mục, sai nhãn hàng hóa, không bảo đảm chất lượng...; đã tịch thu 5.830 gói hạt giống không rõ nguồn gốc, 4.050 gói hạt giống hết hạn sử dụng, 810 kg thóc giống không có tên trong danh mục, niêm phong 432 kg ngô giống và 19,7 kg hạt bắp cải tím có nhãn sai quy định, 5,6 kg ngô giống không rõ nguồn gốc... [32].
Ngoài hiện tượng vi phạm pháp luật như trên, gây đây thị trường Việt Nam xuất hiện nhiều loại sản phẩm, hàng hóa nông sản được nhập khẩu, thẩm lậu từ thị trường một số nước láng giềng (đặc biệt là Trung Quốc), có tẩm hóa chất bảo quản, có khả năng gây nguy hại cho sức khỏe và mang tới bệnh tật cho con người. Mặc dù xét về mặt lý luận, việc buôn bán, tiêu thụ các loại sản phẩm, hàng hóa nông sản trên đây ở Việt Nam có thể không vi phạm về QĐVGCT có yếu tố nước ngoài và trong thực tế cũng không có bất kỳ tổ chức, cá nhân nước ngoài nào khởi kiện về quyền lợi của họ bị xâm phạm, nhưng trước yêu cầu bảo vệ thị trường trong nước, bảo vệ sức tính mạng, sức khỏe người tiêu dùng thì các cơ quan chức năng cần thiết phải quản lý chặt chẽ hơn nữa hoạt động xuất, nhập khẩu, mua bán các loại mặt hàng nói trên tại Việt Nam.
Như vậy, nếu đánh giá một cách tổng quát, thực trạng vi phạm pháp luật về
QĐVGCT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam không diễn ra “sôi động” như đối với
các lĩnh vực quyền SHTT khác, nhưng lại mang một ý nghĩa sâu xa tác động đến
106
nước ta ở khía các cạnh cụ thể. Đối với vấn đề ANQG, thực trạng xâm phạm
QĐVGCT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam làm ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh
lương thực (là một yếu tố của ANQG) và là lĩnh vực cốt yếu của Việt Nam hiện
nay, khi nước ta cơ bản vẫn là nước nông nghiệp. Từ đây, hoạt động sản xuất, tiêu
thụ, xuất khẩu nông sản của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu không
kiểm soát được quá trình chuyển giao QTG đối với giống cây trồng từ nước ngoài
vào trong nước; hơn nữa vấn đề này cũng sẽ đe dọa trực tiếp đến môi trường sống
của con người nếu không có chiến lược đúng đắn để quản lý giống cây trồng nhập
ngoại. Thêm vào đó, thực trạng xâm phạm QĐVGCT có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam cũng là một trong những nguyên nhân gây là sự bất ổn về TTATXH, nhất là
đối với những hành vi buôn bán, sản xuất trái phép các mặt hàng là lương thực,
thực phẩm phục vụ trực tiếp cho đời sống sinh hoạt của con người. Chính vì vậy,
thực thi quyền SHTT nói chung và QĐVGCT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
không chỉ là xử lý trước mắt đối với những hành vi vi phạm pháp luật, mà còn phải
là sự tính toán áp dụng những biện pháp hữu hiệu nhất để xóa bỏ tận gốc những
nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật nói trên.
3.1.2.4. Nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật về quyền sở hữu trí
tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam Nghiên cứu về thực trạng vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam trong thời gian qua, cho thấy nổi lên những nguyên nhân chính
dẫn đến tình trạng nói trên như sau:
- Thứ nhất, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về bảo hộ và
thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài còn nhiều điểm bất cập.
Hiện nay Việt Nam đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ và
thực thi quyền SHTT nói chung. Tuy nhiên, đối với quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam thì thì pháp luật vẫn còn nhiều vấn đề bất cập. Chẳng hạn, Phần
thứ Sáu của BLDS năm 2005, chủ yếu gồm những quy định có tính nguyên tắc
chung về quyền SHTT nhưng chưa có quy định riêng về quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài. Hơn nữa, BLDS năm 2005 chỉ quy định những vấn đề có tính dân sự,
trong khi đó thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài không chỉ gồm khía cạnh
dân sự mà còn yếu tố quốc tế, hành chính, tài chính, hình sự… Bên cạnh đó, các
107
quy định cụ thể có tính chất chuyên ngành và những quy định về bảo hộ, thực thi
các đối tượng của quyền SHTT được quy định trong Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009), nhưng hiện vẫn rất tản mạn và không đồng bộ trong các văn bản
dưới luật. Vì vậy, hiệu lực áp dụng pháp luật đối với quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam còn thấp, gây nên ấn tượng cho rằng pháp luật về quyền SHTT
không ổn định và dễ thay đổi.
Mặc dù Nhà nước đã ban hành Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012
nhưng các văn bản hướng dẫn Luật vẫn chưa được ban hành đầy đủ, nhất là xử lý
vi phạm hành chính đối với các đối tượng cụ thể của quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam. Bên cạnh đó, quy định xử lý phương tiện và tang vật vi phạm
chưa rõ ràng, nên phần lớn các vụ việc vi phạm xảy ra, cơ quan xử lý vi phạm
thường trả lại hàng hoá và phương tiện cho người vi phạm. Trong thực tiễn đã xảy
ra tình trạng cùng một hành vi vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam nhưng mỗi ngành, mỗi cấp lại áp dụng biện pháp xử lý rất khác nhau. Kết
luận giám định của các cơ quan như Viện Khoa học hình sự (Bộ Công an), Viện Đo
lường chất lượng (Bộ KH - CN)... là điều kiện quan trọng để các cơ quan có thẩm
quyền làm cơ sở để xử phạt hành chính và xác định tội phạm, nhưng công tác tra
cứu và giám định về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài còn thiếu quy định có tính
chất pháp lý, đã làm ảnh hưởng đến thời gian tạm giữ và xử lý, khiến cho vụ việc
chậm được giải quyết. Chẳng hạn, tháng 3/2012, Cục C46, Bộ Công an tiến hành
bắt giữ một lô hàng được nhập khẩu lậu từ CHLB Nga, gồm hơn 3000 chai rượu
nhãn hiệu Smirnoff Vodka, đây là lô hàng có nguồn gốc xuất xứ từ Nga nhưng
được làm giả chất lượng rồi đưa vào Việt Nam tiêu thụ. Sau khi vụ việc được phát
hiện, Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an đã tiến hành giám định và có kết luận về
một số mẫu rượu. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp thì
chỉ khi nào giám định được tất cả số rượu nói trên thì mới có thể kết luận chính xác
về cả lô hàng đó là hàng giả. Điều này đòi hỏi mất nhiều thời gian, tốn kém kinh
phí và nhân lực nên việc giám định gặp nhiều khó khăn [18].
Đối với hàng hoá có dấu hiệu vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
biên giới, theo Luật Hải quan năm 2005, chủ sở hữu phải có công văn đề nghị và
nộp tiền ký quỹ theo tỷ lệ % giá trị lô hàng để không thông quan, nhưng đến nay
108
cũng chưa có quy định hướng dẫn thực hiện vấn đề này. Đây cũng là con đường đi
của hàng hóa vi phạm quyền SHTT ở Việt Nam, nhưng trước đó đã được đặt làm từ
nước ngoài, được nhập khẩu chính ngạch hoặc tiểu ngạch vào Việt Nam. Mặt khác,
biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất, nhập khẩu tại biên giới chỉ có thể được áp dụng
khi có yêu cầu của chủ sở hữu quyền SHTT. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nhiều
trường hợp rất khó xác định được những chủ thể đó nên không thể đáp ứng tiêu chí
kịp thời để giải quyết vụ việc vi phạm.
Đối với việc giải quyết vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài được tiến
hành theo thủ tục dân sự, mức bồi thường chỉ được tính trên cơ sở thực tế của hàng
hóa hoặc đối tượng quyền SHTT có yếu tố nước ngoài bị vi phạm, trong khi trên
thực tế việc định giá thiệt hại còn có thể căn cứ vào việc xem xét tổng thể nhiều
yếu tố liên quan (chẳng hạn sự ảnh hưởng của hàng hóa vi phạm đối với uy tín của
doanh nghiệp sản xuất hoặc tiêu thụ, hay cơ hội kinh doanh bị mất đi do phải theo
đuổi vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại về hành vi xâm phạm quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài...), vì vậy không đủ sức ngăn ngừa vi phạm. Thực tế hiện nay, rất ít vụ
việc tranh chấp về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài được giải quyết tại TAND,
trong khi đó số lượng vụ việc vi phạm xảy ra trong thực tiễn lại rất phổ biến.
Đối với chế tài hình sự, theo quy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009), hình phạt chỉ áp dụng đối với cá nhân vi phạm quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam mà không áp dụng đối với pháp nhân hay tổ chức.
Tuy nhiên, trong thực tiễn chính những pháp nhân hay tổ chức cũng có thể vi phạm
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam một cách phổ biến. Bên cạnh đó,
việc xác định yếu tố “quy mô thương mại” làm căn cứ định tội danh trong BLHS
rất khó vận dụng, vì cho đến nay chưa có sự giải thích rõ ràng điều này, dẫn đến sự
lúng túng trong quá trình áp dụng pháp luật. Trong thực tế, các vụ án được xét xử
tại TAND về tội phạm xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
còn rất thấp so với số vụ phạm tội, song thay vào đó là biện pháp xử lý vi phạm
hành chính của các cơ quan chức năng, như phạt tiền, tạm giữ phương tiện vi phạm,
tước giấy phép hành nghề thường xuyên được áp dụng...
- Thứ hai, cơ chế đảm bảo thực thi pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam còn chưa phù hợp và kém hiệu quả.
109
Trong thực tiễn, việc thực thi pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam còn gặp một số vướng mắc, nhất là như ranh giới áp dụng biện pháp hình sự và biện pháp hành chính trong điều tra, xử lý các vụ việc vi phạm. Bên cạnh đó, pháp luật chưa có quy định rõ ràng về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của các bên, cũng như hiệu lực của TAND ra lệnh cung cấp chứng cứ; thời gian xử lý vi phạm (như người bị xử lý có được thông báo trước hay là bị áp dụng tức thời các biện pháp xử phạt); cách tính toán thiệt hại và thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại (nhất là thiệt hại về tinh thần)...
Sự mất cân đối trong nhận thức về trình tự và biện pháp thực thi quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam đang được tồn tại trong một số cá nhân.
Một số quan điểm cho rằng quyền SHTT có yếu tố nước ngoài là các quyền tư hữu,
bởi vậy biện pháp dân sự thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
phải nắm vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, thực tiễn thực thi pháp luật tại Việt Nam cho
thấy biện pháp này không phát huy được vai trò ưu thế vì trình tự, thủ tục tố tụng
của TAND thường rất phức tạp và kéo dài, dẫn đến mất cơ hội kinh doanh của các
bên. Bên cạnh đó, biện pháp hành chính lại bị lạm dụng, tạo ra sự căng thẳng không
cần thiết cho các chủ thể tham gia quan hệ SHTT nói trên. Cách tổ chức cơ quan
thực thi pháp luật về đấu tranh phòng, chống xâm phạm quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam hiện chưa thực sự phù hợp, chồng chéo về chức năng,
nhiệm vụ. Việc phân công cho nhiều cơ quan, nhiều cấp xử phạt vi phạm hành
chính khiến cho hiệu lực thực thi pháp luật bị phân tán, trở nên phức tạp. Theo Luật
về xử lý vi phạm hành chính năm 2012, hiện nay các cơ quan có quyền xử phạt
hành chính về quyền SHTT bao gồm: UBND các cấp, Thanh tra chuyên ngành,
CAND, QLTT, CQHQ. Mỗi cơ quan lại có nhiều cấp, dẫn đến tình trạng quá nhiều
đầu mối, làm cho các đương sự trở nên lúng túng, khó xác định cơ quan nào chịu
trách nhiệm thụ lý. Bên cạnh đó, cơ quan xử lý cũng nảy sinh tâm lý đùn đẩy, chờ
đợi hoặc trùng giẫm lẫn nhau. Ngoài ra, năng lực chuyên môn của cán bộ thực thi
pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, khiến cho việc xử lý vi phạm bị thụ
động, đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau.
- Thứ ba, công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật về thực thi quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam chưa được coi trọng đúng mức.
Trình độ của cán bộ thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam chưa cao, chưa đồng đều. Thực tiễn cho thấy, hầu như những người có thẩm quyền
110
xử lý vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài phải trông chờ vào sự hỗ trợ từ bên trên, chỉ khi có văn bản xác định có hay không hành vi vi phạm do các chuyên gia cung cấp thì mới ra quyết định giải quyết xử lý, khiến cho tình trạng giải quyết vụ việc thường kéo dài.
Sản phẩm, hàng hóa vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài càng phổ biến còn do việc sản xuất và buôn bán những sản phẩm, hàng hoá này thường mang lại cho người vi phạm lợi nhuận cao. Bên cạnh đó, nhận thức của đại bộ phận quần chúng cho rằng sản xuất hàng giả vi phạm nhãn hiệu và bản quyền là những tội phạm không nguy hiểm. Thậm chí đối với một số cán bộ thực thi pháp luật còn có tâm lý e ngại, không muốn giải quyết các vi phạm về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam dưới góc độ hình sự, bởi cho rằng đó là các hành vi không nghiêm trọng.
Ngoài ra, những thông tin về bảo hộ và thực thi quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam cũng chưa được cập nhật thường xuyên. Nước ta mới chỉ có hệ
thống tra cứu các tư liệu về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá.
Phần lớn các yêu cầu tra cứu về các đối tượng trên đạt số liệu tra cứu rất thấp (chỉ
khoảng trên 1000 lượt người/năm ở cả ba trung tâm tư liệu sáng chế là TPHN, Đà
Nẵng và TPHCM)[10]. Phần lớn hệ thống thông tin được tra cứu dưới chế độ
không trực tuyến, khiến cho việc cung cấp và trao đổi thông tin diễn ra chậm và
không kịp thời, nhiều doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoạt động trong tình trạng
thiếu thông tin về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Cơ quan nhà nước (như Bộ Tư pháp, các trường đại học) có điều kiện để
thực hiện việc tuyên truyền giáo dục về quyền SHTT, nhưng số giáo viên có đủ
trình độ truyền thụ đầy đủ kiến thức hiện đại về SHTT chưa nhiều. Chương trình
giảng dạy pháp luật về SHTT trong các trường cũng hết sức ngắn ngủi và chỉ cung
cấp được những kiến thức nền, thậm chí ngay cả một số trường trong lực lượng
CAND cũng không có môn học pháp luật về SHTT. Bên cạnh đó, các tổ chức làm
nhiệm vụ dịch vụ cung cấp, đáp ứng các yêu cầu thông tin pháp lý, các yêu cầu có
liên quan đến quyền SHTT nhằm mục tiêu đăng ký, bảo hộ quyền SHTT rất hạn
chế và thường tập trung ở thành phố lớn; bản thân những người làm dịch vụ cung
cấp thông tin này có người trình độ cũng chưa được đáp ứng.
- Thứ tư, sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường và ảnh hưởng của quá
trình hội nhập quốc tế.
111
Một số lượng lớn hàng hoá xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài
được sản xuất ở nước ngoài, sau đó thẩm lậu vào Việt Nam để tiêu thụ. Thậm chí
các máy móc, phương tiện để sản xuất hàng hoá vi phạm cũng được nhập khẩu vào
Việt Nam để tiến hành việc sản xuất, sao chép ngay trong thị trường nội địa. Công
tác tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật về phòng, chống vi phạm quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài chưa được người tiêu dùng và xã hội quan tâm đúng mức. Có
thể nói, kiến thức về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam đã và
đang bất cập cả về cơ quan quản lý đến cán bộ công chức và người sản xuất, kinh
doanh. Doanh nghiệp trong nước chưa thực sự quan tâm hoặc quan tâm chưa đúng
mức đến việc xây dựng, làm thủ tục xác nhận quyền SHTT có yếu tố nước ngoài để
xác lập quyền lợi hợp pháp cho cơ quan, doanh nghiệp của mình. Nhiều thương
hiệu trong nước do không đăng ký bảo hộ (do thiếu kinh phí, không nắm được thủ
tục...) dẫn đến đã bị nước ngoài đăng ký và sử dụng.
Việt Nam mới chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN nên những kiến thức về kinh tế và nhận thức của các doanh
nghiệp cũng như đại đa số người tiêu dùng về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam còn hạn chế. Có doanh nghiệp chỉ chú trọng vào việc sản xuất và bán
hàng, chưa quan tâm đến việc làm thủ tục bảo hộ quyền SHTT. Về phía người tiêu
dùng, nhiều người do không hiểu về chất lượng và nhãn hiệu hàng hoá, lại có tâm
lý “sính ngoại”, nên thấy hàng nhãn hiệu của nước ngoài rẻ là mua.
Mấy năm gần đây, vai trò của tài sản trí tuệ đã dần dần được xã hội nhận
thức tích cực hơn, nhưng vẫn chưa đáp ứng được so với đòi hỏi của tình hình thực
tiễn. Trong đó, hiểu biết của những người sáng tạo, của các doanh nghiệp và thậm
chí của các cơ quan quản lý nhà nước vẫn còn hạn chế. Giới sáng tạo hầu như chưa
ý thức được các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam. Hầu hết các doanh nghiệp (kể cả các doanh nghiệp lớn của Nhà nước)
chưa có chiến lược về SHTT và coi đó như là một nhân tố quyết định sự phát triển
của doanh nghiệp mình. Nhiều người dân và nhiều doanh nghiệp chưa ý thức được
rằng việc chăm lo, bảo vệ tài sản trí tuệ là bổn phận của mình mà còn mang nặng
tính thụ động, trông chờ vào Nhà nước...
3.2. Thực tiễn hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân
112
3.2.1. Cơ cấu, tổ chức của lực lượng Công an nhân dân trong hoạt động
thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Theo quy định của Luật ANQG năm 2004, Luật CAND năm 2005, Nghị
định của Chính phủ số 77/NĐ-CP ngày 15/9/2009 về chức năng, nhiệm vụ và hoạt
động của lực lượng CAND, các đơn vị của lực lượng CAND sau đây có chức năng,
nhiệm vụ liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam:
- Đối với các đơn vị thuộc khối ANND, gồm: Cục An ninh kinh tế và các
Phòng An ninh kinh tế thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cục
Quản lý xuất nhập cảnh và Phòng Quản lý xuất nhập cảnh thuộc Công an tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương; Cục An ninh điều tra và Phòng An ninh điều tra
thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cục An ninh văn hoá tư
tưởng và Phòng An ninh văn hóa tư tưởng thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, Cục An ninh thông tin và Phòng An ninh thông tin thuộc Công an tỉnh.
Ngoài ra, một số đơn vị khác mặc dù không trực tiếp thực thi quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam nhưng có vai trò quan trọng trong việc hình thành quan
điểm, nhận thức, tham gia xây dựng pháp luật, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về
thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, như: Cục Tham mưu An
ninh; Viện Chiến lược và Khoa học Công an; các đơn vị nghiệp vụ thuộc Tổng cục
Tình báo, Tổng cục Kỹ thuật và Hậu cần, Bộ Công an.
Trong thực tiễn, lực lượng ANND chủ yếu thực hiện chức năng tham mưu
và chức năng quản lý nhà nước về ANQG có liên quan đến thực thi quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Cụ thể, để thực hiện chức năng tham mưu, lực
lượng ANND tiến hành các hoạt động thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự
báo tình hình SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và đề xuất với Đảng, Nhà
nước ban hành và chỉ đạo thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật, chiến lược
bảo vệ ANQG liên quan đến quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; kiến
nghị việc kết hợp yêu cầu của chiến lược bảo vệ ANQG với chiến lược, chính sách
về xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước có
liên quan đến quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam... Để thực hiện quản
lý nhà nước trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, ngoài
các hoạt động mang tính chuyên môn, nghiệp vụ thì một số bộ phận của lực lượng
ANND (Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh, Trưởng phòng An ninh chính trị
113
nội bộ, Trưởng phòng An ninh kinh tế, Trưởng phòng An ninh văn hóa, tư tưởng,
Trưởng phòng An ninh thông tin; Cục trưởng Cục An ninh chính trị nội bộ, Cục
trưởng Cục An ninh kinh tế, Cục trưởng Cục An ninh văn hóa, tư tưởng, Cục
trưởng Cục An ninh thông tin) được tiến hành xử phạt vi phạm hành chính và áp
dụng biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật.
Đối với chức năng trực tiếp trấn áp tội phạm và vi phạm pháp luật khác xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài có liên quan đến ANQG, lực lượng ANND có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm, khởi tố, điều tra tội phạm và thực hiện các nhiệm vụ tư pháp khác theo quy định của pháp luật. Theo quy định của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), BLTTHS năm 2003 và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006) thì lực lượng ANND được tiến hành khởi tố, điều tra đối với các tội xâm phạm ANQG (thuộc chương XI của BLHS). Chẳng hạn, Cơ quan An ninh điều tra (thuộc ANND) được phép tiến hành khởi tố, điều tra một số tội phạm xâm phạm ANQG có liên quan đến quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, như: Tội gián điệp (Điều 80); Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam (Điều 88)... Ngoài ra, xuất phát từ yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, trong một số trường hợp cụ thể, Cơ quan An ninh điều tra còn được giao nhiệm vụ khởi tố, điều tra một số tội phạm liên quan đến quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, như: Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180); Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác (Điều 181)... [42]
- Đối với các đơn vị thuộc khối thuộc CSND, gồm: Cục Cảnh sát điều tra tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (C46), có một đơn vị cấp phòng trực tiếp thực hiện chức năng và nhiệm vụ đấu tranh chống hàng giả và vi phạm quyền SHTT; vừa có chức năng trực tiếp điều tra theo tố tụng hình sự, vừa thực hiện các biện pháp nghiệp vụ cơ bản và tiến hành các hoạt động trinh sát trong phòng ngừa tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ nói chung, tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT nói riêng.
Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Phòng Cảnh sát điều tra tội
phạm xâm phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (PC46) trong đó có Đội chống
sản xuất, buôn bán hàng giả và vi phạm quyền SHTT. Phòng PC46 và Đội nghiệp vụ
này có chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu chính sách pháp luật, tổ chức nắm tình hình,
114
đánh giá thực trạng xâm phạm quyền SHTT, là đầu mối quan hệ với các doanh
nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước để thu thập thông tin, phối hợp công tác
phòng, chống tội phạm về quyền SHTT. Ở cấp quận, huyện có Đội Cảnh sát điều tra
tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, trong đó có phòng, chống các tội xâm
phạm quyền SHTT, hàng giả. Ở cấp phường, xã có lực lượng Cảnh sát khu vực trực
tiếp làm công tác nắm tình hình, chủ động tiến hành các biện pháp phòng ngừa và
phối hợp với các lực lượng chức năng kiểm tra, xử lý hành vi vi phạm quyền SHTT.
Tuy nhiên, trong phạm vi cả nước vẫn còn rất nhiều địa phương chưa thành lập Đội
chuyên trách đấu tranh phòng, chống tội phạm về hàng giả và vi phạm quyền SHTT,
do đặc thù của địa phương chưa cho phép thành lập bộ phận này.
Ngoài ra, trong lực lượng CSND có một số đơn vị không trực tiếp thực hiện
công tác thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài, nhưng cũng có liên quan đối
với việc hoạch định kế hoạch, tham mưu đường lối, chính sách, giám định tư pháp,
hướng dẫn nghiệp vụ về xử lý đối tượng và phương tiện vi phạm pháp luật, phục vụ
công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, trong đó có tội phạm và vi
phạm pháp luật về quyền SHTT. Đó là các đơn vị: Cục Tham mưu Cảnh sát phòng,
chống tội phạm; Cục Cảnh sát điều tra về trật tự xã hội; Cục Cảnh sát phòng, chống
tội phạm về môi trường; Cục Trinh sát ngoại tuyến và kỹ thuật; Cục Truy nã tội
phạm; Viện Khoa học và kỹ thuật hình sự; Văn phòng INTERPOL Việt Nam; Cục
Cảnh sát quản lý giao thông đường sắt, đường bộ; Cục Cảnh sát giao thông đường
thủy; Cục Cảnh sát quản lý hành chính; Tổng cục Thi hành án và Hỗ trợ tư pháp…
Nếu lực lượng ANND thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về thực thi quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nhằm bảo vệ ANQG, thì hoạt động của lực
lượng CSND trong lĩnh vực nói trên lại hướng tới mục tiêu bảo đảm TTATXH. Mặc
dù biện pháp công tác, trang bị phương tiện, hậu cần của CSND cũng tương tự như
lực lượng ANND nhưng nhiệm vụ cụ thể của CSND trong thực thi quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam cũng có nhiều điểm khác so với ANND. Trong thực
tiễn, số lượng các vụ xâm phạm quyền SHTT gây ảnh hưởng đến TTATXH thường
chiếm tỷ lệ lớn hơn rất nhiều so với các vụ vi phạm quyền SHTT liên quan đến
ANQG, do vậy lực lượng CSND được pháp luật trao thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính về quyền SHTT rộng và cao hơn so với lực lượng ANND (trước đây khi chưa
có Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, lực lượng ANND không được Nhà
115
nước trao thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về SHTT). Hiện nay, nếu thẩm
quyền xử lý vi phạm hành chính của lực lượng ANND chỉ được thực hiện ở một số
đơn vị cấp phòng và cấp cục, thì thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về SHTT của
lực lượng CSND được tiến hành đa dạng hơn về chủ thể ra quyết định xử lý hành
chính, mức tiền phạt thường cao hơn, hình thức xử lý hành chính cũng linh hoạt hơn
so lực lượng ANND. Bên cạnh đó, theo quy định của BLHS, BLTTHS, Pháp lệnh
Tổ chức điều tra hình sự, thì trong hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam bằng biện pháp hình sự, lực lượng CSND cũng được trao thẩm
quyền khởi tố, điều tra đối với nhiều tội danh hơn so với lực lượng ANND, đồng thời
chủ thể áp dụng biện pháp tố tụng nói trên cũng đa dạng hơn so với lực lượng
ANND. Từ những vấn đề này, trong công tác xây dựng lực lượng của CAND cần
phải chú ý trong đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ để phục vụ mục tiêu đấu tranh
phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT nhằm đạt được hiệu
quả cao nhất.
Về hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, hiện trong lực lượng CAND chưa có
đơn vị nào có chức năng chuyên trách về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài
ở Việt Nam. Mặc dù cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng CAND có trình độ đại học,
trên đại học chiếm tỉ lệ rất cao, đặc biệt 100% điều tra viên có trình độ đại học. Tuy
nhiên, trong toàn lực lượng CAND hiện chưa có chuyên gia sâu về lĩnh vực quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài, bởi vậy quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ liên
quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam thường gặp không
ít khó khăn.
3.2.2. Các mặt hoạt động cụ thể trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân
Trên cơ sở cơ cấu tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ được pháp luật
quy định, để thực thi có hiệu quả quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam,
lực lượng CAND đã tiến hành các mặt hoạt động cụ thể sau đây:
3.2.2.1. Công tác tham mưu, chỉ huy, chỉ đạo về phòng, chống tội phạm và
vi phạm pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Với chức năng tham mưu đã được pháp luật quy định, lực lượng CAND đã
tiến hành cho Đảng và Nhà nước xây dựng các văn bản chỉ huy, chỉ đạo về bảo vệ
116
ANQG và giữ gìn TTATXH liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài tại Việt Nam, như: Nghị quyết số 08-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Quyết
định số 282/QĐ-TTg ngày 24/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế
hoạch thực hiện chỉ thị số 48/CT-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà
nước; Pháp lệnh bảo vệ các công trình trọng điểm về ANQG...; đồng thời, tham
mưu cho cấp uỷ, chính quyền các cấp chỉ đạo phối hợp với các cơ quan quản lý nhà
nước, tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm làm cho mọi người dân hiểu
rõ, tự giác chấp hành và chủ động tham gia phát hiện các vi phạm pháp luật về
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, thông báo kịp thời cho cơ quan
chức năng xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, Bộ Công an đã có nhiều văn bản chỉ đạo công tác bảo vệ an
ninh kinh tế phù hợp với tình hình thực tiễn, như: công tác nắm tình hình, tham
mưu xác định đối tác trong quan hệ đối ngoại và đối tượng cần phải đấu tranh;
thẩm định các dự án kinh tế trọng điểm; xây dựng, triển khai các đề án bảo đảm an
ninh trật tự phục vụ phát triển kinh tế, xã hội tại các vùng kinh tế trọng điểm; tham
mưu cho các cơ quan có thẩm quyền rà soát, thẩm tra việc cấp phép cho các dự án
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ở một số địa bàn, lĩnh vực kinh tế trọng điểm...
[42, tr.78].
Trên cơ sở thẩm quyền của mình, Bộ Công an ban hành những văn bản pháp
quy liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và thực
hiện chức năng quản lý về bảo vệ bí mật nhà nước thuộc phạm vi nội bộ ngành.
Đáng chú ý, trong thời gian qua Bộ Công an đã ban hành quy chế về quản lý, sử
dụng mạng Internet của cán bộ, chiến sĩ CAND nhằm đảm bảo công tác phòng
ngừa đối với lộ lọt thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác.
Bên cạnh đó, Bộ Công an đã phối hợp với cơ quan hữu quan góp phần xây
dựng Nghị định chi tiết hóa các quy định Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước; Nghị
định số 74/2007 ngày 9/5/2007 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật ANQG
năm 2004; Nghị định số 35/NĐ-CP ngày 18/11/2011 về biện pháp pháp luật bảo vệ
ANQG, giữ gìn TTATXH; Nghị định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực SHTT
117
(như Nghị định số 104/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giống cây trồng; Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày
10/4/2007 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực công nghệ
thông tin; Nghị định số 02/2011/NĐ-CP ngày 06/01/2011 về xử phạt hành chính
trong lĩnh vực báo chí, xuất bản; Nghị định số 97/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN; Nghị định số 08/NĐ-CP ngày
10/01/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi
sản xuất, buôn bán hàng giả; Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BCA-
BKHCN-BTNMT ngày 27/4/2000 của Bộ Thương mại-Bộ Tài chính-Bộ Công an-
Bộ Khoa học Công nghệ - Bộ Tài nguyên môi trường về hướng dẫn thực hiện Chỉ
thị số 31/1999/CT-TTg ngày 21/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh
chống sản xuất, buôn bán hàng giả; Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 16/9/2013 của Ban
Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông
tin mạng; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý,
cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng...
Ngoài ra, lực lượng CAND đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan rà soát
bổ sung, xây dựng hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trên lĩnh vực SHTT,
như: tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 845/CT-TTg ngày
02/6/2011 về việc tăng cường công tác thực thi QSHCN; Nghị định số
85/2011/NĐ-CP ngày 20/9/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của BLDS năm 2005, Luật SHTT năm 2005 về QTG và QLQ;
Nghị định số 109/2011/NĐ-CP ngày 02/12/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 47/2009/NĐ-CP ngày 13/5/2009; Nghị định số
131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định xử phạt hành chính về QTG, QLQ;
Thông tư số 37/2011/TT-BKHCN ngày 27/12/2011 của Bộ KH-CN hướng dẫn thi
hành một số điều của Nghị định số 97/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN; Nghị định số
99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực SHCN...
3.2.2.2. Công tác quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội
liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
118
Để đấu tranh, phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, điều đầu tiên có ý nghĩa quan trọng là phải làm tốt
công tác nắm tình hình. Qua nghiên cứu, khảo sát về công tác thực thi quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam cho thấy lực lượng CAND tổ chức công tác nắm
tình hình đạt được các yêu cầu cơ bản, phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh
phòng, chống tội phạm và vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Các kênh thu nhận tình hình của lực lượng CAND chủ yếu bằng biện pháp nghiệp
vụ, đơn thư tố giác của quần chúng nhân dân; thông tin do các cơ quan quản lý nhà
nước khác cung cấp, trao đổi...
Để thực hiện công tác nắm tình hình, lực lượng CAND đã chủ động làm tốt
công tác điều tra cơ bản để phát hiện tội phạm và vi phạm pháp luật quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài, làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển của tội
phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Trên cơ sở đó, chủ động kiến nghị
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước,
kiến nghị với các doanh nghiệp thực hiện biện pháp áp dụng các thành tựu khoa
học - kỹ thuật để bảo vệ quyền SHTT có yếu tố nước ngoài liên quan đến hoạt động
của mình.
Qua công tác nắm tình hình và kết hợp với các cơ quan chức năng, lực
lượng CAND đã phát hiện, điều tra, xử lý các vụ vi phạm pháp luật và tội phạm
xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài, đồng thời kịp thời xác định những
địa bàn, những tụ điểm có dấu hiệu về sản xuất, buôn bán hàng giả để tiến hành các
biện pháp kiểm tra, xử lý. Thông qua công tác nghiệp vụ, lực lượng CAND đã phát
hiện những biểu hiện vi phạm của một số doanh nghiệp, chủ động trao đổi, bàn bạc
với doanh nghiệp, yêu cầu các cơ quan, doanh nghiệp tự kiểm tra và tự khắc phục
những vi phạm nhỏ, ổn định phát triển sản xuất.
Từ kết quả kiểm tra, xử lý các vụ việc cụ thể, lực lượng CAND đã xác định
được những phương thức, thủ đoạn của tội phạm; đồng thời thông qua các phương
tiện thông tin đại chúng tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật cho mọi người dân,
các cơ quan, doanh nghiệp và toàn thể xã hội hiểu biết về quyền lợi và trách nhiệm
của mình, phát hiện, tố giác tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài cho cơ quan bảo vệ pháp luật. Mặt khác, lực lượng CAND còn chủ
động tổ chức các hội nghị, hội thảo với các doanh nghiệp để trao đổi thông tin, rút
119
kinh nghiệm về xử lý vụ việc vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam và yêu cầu các doanh nghiệp tự kiểm tra và có những biện pháp phòng ngừa
vi phạm tương tự. Đồng thời CAND đã hướng dẫn, giúp đỡ các doanh nghiệp, cơ
quan nhà nước thực hiện các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước liên quan đến
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Qua khảo sát cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp, cá nhân bị vi phạm về
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam đều đưa đơn yêu cầu giúp đỡ đến
các lực lượng CAND yêu cầu giải quyết, đặc biệt là các vụ việc về hàng nhái, hàng
giả. Trong đấu tranh chống vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam, với vai trò nòng cốt của mình, lực lượng CAND luôn là điểm tựa vững chắc
của các cơ quan nhà nước, mọi tổ chức và cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam trong sự
nghiệp bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH ở nước ta.
Bên cạnh đó, lực lượng CAND đã tập trung phát hiện nhiều yếu tố bất ổn về
kinh tế, chính trị; làm rõ hơn âm mưu ý đồ của các thế lực thù địch thông qua kinh
tế để tác động chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam, từ đó tham mưu cho Đảng,
Nhà nước chỉ đạo các biện pháp điều chỉnh, góp phần bảo vệ đường lối, chính sách
về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ lợi ích quốc gia. Đồng thời tiến hành đấu
tranh với nhiều vụ việc do tổ chức, cá nhân nước ngoài móc nối nội bộ, tác động
chuyển hóa, thu thập bí mật kinh tế, bí mật nhà nước nhằm chống lại chế độ xã hội
ở nước ta.
Mặc dù có nhiều hoạt động tích cực trong công tác nắm tình hình về quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, nhưng tính chủ động của lực lượng
CAND còn chưa cao. Có nhiều nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ quan trọng của tổ
chức, cá nhân nước ngoài bị xâm phạm ở Việt Nam, nhưng chỉ khi báo chí loan tin
công khai thì các doanh nghiệp và lực lượng CAND mới biết hoặc không có thông
tin để chủ động ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật đó. Ngoài ra, để thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam ở tầm xa, lực lượng CAND phải
nắm được đối tượng là con người tài năng cần bảo vệ. Tuy nhiên xác định như thế
nào là người có tài năng cần đưa vào diện bảo vệ là vẫn đề không đơn giản, vì điều
kiện làm việc ở Việt Nam còn có nhiều hạn chế so với nhiều nước trên thế giới.
Trong thực tế, những hoạt động bảo vệ đội ngũ trí thức và những người có tài năng
sáng tạo cũng đã được lực lượng CAND tiến hành nhưng chưa đồng bộ và hiệu quả
120
chưa cao (biểu hiện ở việc một số công dân Việt Nam có thành tích khoa học, đạt
các giải thưởng quốc tế ở một số lĩnh vực lao động sáng tạo, nhưng đã không quay
trở về làm việc ở Việt Nam).
Ngoài ra, lực lượng CAND đã phối hợp với các đơn vị hữu quan xây dựng
danh mục bí mật nhà nước của các bộ, ngành, địa phương; tham mưu xây dựng quy
chế bảo mật, quy định xử lý đối với hành vi làm lộ, làm mất bí mật nhà nước và bí
mật công tác; tuyển chọn người làm việc tại bộ phận thiết yếu cơ mật của Nhà
nước; thanh tra, kiểm tra phát hiện khắc phục nhiều sơ hở, thiếu sót trong công tác
bảo vệ bí mật nhà nước.
Qua khảo sát, nghiên cứu các hoạt động phòng ngừa đấu tranh với các vi
phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam của lực lượng CAND cho
thấy, bên cạnh những thành tích đạt được còn tồn tại một số vấn đề như chưa chủ
động hoàn toàn trong đấu tranh, phòng ngừa vi phạm. Quản lý nhà nước về ANQG
và TTATXH trên lĩnh vực thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài chưa bao
trùm, còn mang tính chất chia lẻ, tạo nên khoảng trống, lúng túng bỏ sót đối tượng
cần quản lý. Sự tồn tại này xuất phát từ các lý do như: cơ cấu tổ chức còn chồng
chéo về chức năng, nhiệm vụ; chưa có cơ quan chuyên trách phụ trách tầm vĩ mô;
thiếu cán bộ có trình độ chuyên sâu và hoàn toàn chưa có cán bộ chuyên trách trong
thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; cơ chế phối hợp giữa lực
lượng CAND với các cơ quan quản lý nhà nước khác tuy đã được thiết lập, nhưng
vẫn còn thiếu cụ thể và chưa thật hiệu quả; phương pháp hoạt động mang nặng tính
truyền thống, chưa linh hoạt với sự thay đổi của tình hình. Bảo vệ kinh tế chủ yếu
là tìm cách giấu bí mật, chưa chú trọng nhiều tới xây dựng phương án bảo vệ phù
hợp với cơ chế dân sự về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam;
chưa có cơ chế hợp tác thích hợp, hiệu quả với cán bộ chuyên môn và các nhà khoa
học chuyên sâu về SHTT...
3.2.2.3. Trực tiếp đấu tranh, trấn áp các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, dựa trên cơ sở áp dụng các biện
pháp công tác mà pháp luật quy định, lực lượng CAND đã tiến hành đấu tranh, trấn
áp, làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch và bọn tội phạm lợi dụng
121
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam để xâm phạm ANQG và TTATXH,
chống lại Nhà nước và chế độ xã hội ở nước ta.
- Về hành vi lợi dụng quyền SHTT có yếu tố nước ngoài xâm phạm ANQG: Qua công tác đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề văn hóa tư tưởng và tôn
giáo của lực lượng ANND cho thấy, QTG và QLQ là lĩnh vực “nhạy cảm” nhất đối
với các hoạt động xâm phạm ANQG và TTATXH. Các thế lực thù địch đã triệt để
sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn liên quan đến QTG và QLQ có yếu tố nước
ngoài để chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta. Để tạo ra đội ngũ “tay chân” sẵn
sàng phục vụ cho việc tuyên truyền luận điệu phản cách mạng, các thế lực thù địch
luôn tìm cách lôi kéo những người có tư tưởng “cấp tiến” vào hàng ngũ của chúng,
đặc biệt là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ nghỉ hưu, luật sư, học sinh, sinh
viên. Các tổ chức phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài, như: “Việt Tân”,
“Đông tiến”, “Người Việt vì dân tộc Việt”, “Liên minh Việt Nam tự do”... đã triệt
để sử dụng các đài phát thanh tiếng Việt và tiếng nước ngoài để tuyên truyền các
luận điệu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Bên cạnh đó, chúng còn cho
xuất bản các tạp chí lưu vong, như: “Quê mẹ”, “Diễn đàn”, “Thông luận”, “Đàn
chim Việt”…đăng nhiều bài ca ngợi một số nhân vật, như: T.Đ, N.V.L là “hiện
thân của nền dân chủ”; N.H.T là “nhà văn tài năng nhất trong các nhà văn Việt
Nam”; D.T.H là “anh tài Việt tộc”; Bộ văn hoá Pháp cũng đã trao huân chương
“Bắc đẩu bội tinh” cho D.T.H, “Hiệp sĩ văn chương” cho N.H.T…[42].
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tìm cách xâm nhập, tán phát xuất bản
phẩm có nội dung chống Việt Nam từ nước ngoài vào trong nước, triệt để sử dụng
hệ thống thông tin truyền thông khổng lồ để phá hoại tư tưởng, chống lại sự nghiệp
cách mạng nước ta; đồng thời thường xuyên sử dụng các giải pháp kỹ thuật để phá
sóng đài truyền hình Việt Nam. Qua công tác trinh sát, nắm tình hình của lực lượng
ANND cho thấy, các thế lực phản động đã sử dụng hơn 400 tờ báo và tạp chí, gần
100 NXB chuyên in ấn, tán phát các tài liệu chiến tranh tâm lý; trên 200 trang web,
blog có nội dung chống phá chế độ ta, trong đó có nhiều trang web có máy chủ
(serve) đặt ở nước ngoài, như “Quan làm báo”, “Dân làm báo”, “Biển Đông”,
“Cầu Nhật Tân”... thường xuyên đưa ra những thông tin không đúng sự thật, được
“cắt dán” từ các sách báo trong và ngoài nước để “xào nấu” thành các bài viết, bài
phát biểu có nội dung chống lại Đảng, bôi xấu danh dự các đồng chí lãnh đạo Đảng
122
và Nhà nước, tuyên truyền cho nền “Dân chủ phương Tây”, kích động lòng hận thù
dân tộc, khoét sâu mâu thuẫn giữa các nước láng giềng...; bên cạnh đó là hàng
ngàn trang web “đen” có nội dung tuyên truyền cho lối sống đồi truỵ, thực dụng và
trò chơi bạo lực, đã gây ra những ảnh hưởng lớn về mặt tâm lý đối với một bộ phận
dân cư, nhất là tầng lớp thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên.
Sau đây là một số vụ điển hình mà lực lượng ANND đã đấu tranh, trấn áp các phần tử phản động lợi dụng quyền SHTT có yếu tố nước ngoài để xâm phạm ANQG nước ta:
+ Vụ thứ nhất, đối tượng Lý Tống (người Mỹ gốc Việt) có hành vi sáng tác truyền đơn, bắt cóc máy bay để tán phát truyền đơn nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam [89].
Lý Tống tên thật là Lê Văn Tống, sinh 1946 tại Thừa Thiên - Huế, là người
Việt Nam định cư ở Mỹ. Năm 1992, Lý Tống đã bị cơ quan chức năng Việt Nam
bắt và kết án 20 năm tù vì tội cướp máy bay. Nhờ có chính sách khoan hồng của
Nhà nước Việt Nam, Lý Tống được ân xá tháng 9/1998. Tuy nhiên, vào tháng
1/2000, Lý Tống đã có hành vi xâm phạm không phận Việt Nam và thả truyền
đơn do y cùng đồng bọn tự “sáng tác” để tuyên truyền chống Nhà nước
CHXHCN Việt Nam. Sau khi bay trở lại Thái Lan, Lý Tống đã bị bắt và bị giam
giữ với tội danh vi phạm không phận Thái Lan.
Tháng 12/2004, Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu Thái Lan dẫn độ Lý Tống
về Việt Nam để phục vụ công tác tố tụng. Ngày 7/9/2006, Tòa án Thái Lan đã ra
phán quyết dẫn độ Lý Tống về Việt Nam để xét xử về hành vi phạm tội của y.
+ Vụ thứ hai, Nguyễn Văn Đài lợi dụng quyền tự do dân chủ, tuyên truyền
các tài liệu phản động chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam [93] .
Nguyễn Văn Đài sinh năm 1969, tại Châu Giang, Hưng Yên, đã từng học ở
Trường Đại học Luật Hà Nội hệ mở rộng, làm luật sư tại Đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh
Phúc năm 1999 và Đoàn Luật sư Hà Nội năm 2002. Năm 2003, Đài lập Văn phòng
Luật sư Thiên Ân tại số 10 phố Đoàn Trần Nghiệp, TPHN.
Trong thời gian làm việc tại văn phòng Luật sư Thiên Ân, Đài đã liên lạc với
một số cá nhân, tổ chức phản động ở nước ngoài để nhận chỉ đạo thành lập “Ủy ban
Nhân quyền Việt Nam” do Đài đứng đầu, tiến hành thu thập những tài liệu, thông
tin để cung cấp cho “Hãng tin Tự do” ở nước ngoài, sau đó được hãng này “biên
123
tập” lại và đăng tải trên mạng Internet. Những thông tin do Đài cung cấp hầu hết
đều phản ánh sai lệch về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam nhằm tạo dựng
dư luận xấu ở nước ngoài. Bên cạnh đó, Đài còn gửi báo cáo cho tổ chức phản
động người Việt phản động lưu vong là “Ủy ban tự do tôn giáo Việt Nam” ở Mỹ.
Để có kinh phí hoạt động, Đài đã nhận hàng trăm nghìn USD từ các hãng tin và tổ
chức phản động lưu vong người Việt ở nước ngoài.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ thu được, ngày 02/3/2007 Cơ quan An ninh
điều tra Công an TPHN đã khởi tố vụ án “Tuyên truyền chống Nhà nước
CHXHCN Việt Nam” và bắt tạm giam đối tượng phục vụ điều tra, xét xử trước
pháp luật.
+ Vụ thứ ba, đối tượng Trần Khải Thanh Thủy lợi dụng quyền tự do dân chủ,
tuyên truyền sách báo, tài liệu phản động của nước ngoài nhằm mục đích chống
chính quyền nhân dân [42].
Trần Khải Thanh Thủy sinh năm 1960 tại Hà Nội; tốt nghiệp khoa Sinh,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1982; từ năm 1986 đến năm 1993 làm giáo
viên tại trường trung học tại tỉnh Hòa Bình và tỉnh Hà Tây (cũ). Năm 1993, Thủy
bỏ nghề giáo viên về Hà Nội tham gia viết báo và xưng là “nhà văn đấu tranh cho
dân chủ”. Do thiếu đạo đức nghề nghiệp, vi phạm kỷ luật công tác, nên Thuỷ bị
đuổi việc nhiều lần, thậm chí nhiều tờ báo đã cấm không sử dụng bài của Thuỷ với
tư cách là cộng tác viên. Từ những bất bất mãn trong cuộc sống, đối tượng Thủy đã
móc nối với các tổ chức phản động từ bên ngoài, đắc lực nhất là Nguyễn Hải, người
của đảng “Việt Tân” ở Mỹ, để nhận tài liệu kêu gọi những người khiếu kiện trong
“Hội những người dân oan” do Thủy lập ra, tập hợp lực lượng nhằm lật đổ Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Ngày 21/4/2007, Cơ quan An ninh điều tra Công an TPHN ra lệnh bắt khẩn
cấp Trần Khải Thanh Thủy về Tội tuyên truyền chống Nhà nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 88 BLHS. Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của đối
tượng, Cơ quan Công an đã thu giữ hơn 30 bài viết có nội dung chống Đảng, Nhà
nước, vu cáo các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Nhà nước ta, trong đó có một số
bài viết được gửi từ nước ngoài thông qua mạng Internet.
+ Vụ thứ tư, Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên lợi dụng quyền tự
do dân chủ, tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam [93].
124
Ngày 16/8/2013, tại tỉnh Long An, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại TPHCM đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm đối với 2 bị cáo Đinh Nguyên Kha (sinh năm 1988, ngụ phường 6, thành phố Tân An, tỉnh Long An) và Nguyễn Phương Uyên (sinh năm 1992, sinh viên năm thứ 3, đăng ký hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bình Thuận) về tội Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam (Điều 88 BLHS). Tòa đã tuyên phạt Kha 4 năm tù (giảm 4 năm tù so với án sơ thẩm); Uyên bị phạt 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo và 52 tháng thử thách (tại phiên xét xử sơ thẩm, Uyên bị phạt 6 năm tù).
Theo cáo trạng, vào khoảng tháng 4 và tháng 5/2012, qua trang mạng xã hội Facebook, Kha và Uyên đã làm quen với Nguyễn Thiện Thành đang sống ở Thái Lan. Từ mối quan hệ này, Thành đã rủ rê Kha và Uyên tham gia vào nhóm “Tuổi trẻ yêu nước” là một tổ chức phản động chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Ngày 31/8/2012, Thành đã chuyển cho Kha 3 file tài liệu của nước ngoài, mỗi file một nội dung khác nhau để dán nơi công cộng, với yêu cầu mỗi nơi dán một khẩu hiệu và cờ của chế độ Việt Nam Cộng hòa trước đây, rồi chụp ảnh gửi cho Thành để đưa lên trang web “Tuổi trẻ yêu nước.”
Từ chỗ được Thành lôi kéo rủ rê, Kha và Uyên đã có hành vi chống Nhà nước có sự chỉ huy của Thành từ bên ngoài, thông qua Internet. Đến ngày 10/10/2012, Kha và Uyên bị bắt giữ khi đang thực hiện phát tán truyền đơn trên cầu vượt An Sương, TPHCM.
- Về hành vi lợi dụng quyền SHTT có yếu tố nước ngoài xâm phạm TTATXH:
Theo báo cáo sơ kết công tác phòng ngừa, đấu tranh chống sản xuất, buôn
bán hàng giả và xâm phạm quyền SHTT của Bộ Công an, trong 5 năm (2002-
2007), lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế của 43 địa phương đã phát hiện
1092 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả có yếu tố nước ngoài. Năm 2006-2009, Cục
Cảnh sát kinh tế (nay là C46) đã phát hiện và bắt giữ 76 vụ xâm phạm quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài, đặc biệt đối với mặt hàng thực phẩm, quần áo, mỹ phẩm,
thuốc tân dược... Ngoài ra, lực lượng CSND còn phối hợp với các cơ quan thực thi
pháp luật kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính đối với các cơ sở xâm phạm kiểu
dáng công nghiệp, nhãn hiệu, bản quyền phần mềm, tiêu hủy hàng hóa xâm phạm
[42]. Chỉ riêng năm 2012, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức
vụ của 44 tỉnh, thành phố đã phát hiện 276 vụ xâm phạm quyền SHTT có yếu tố
125
nước ngoài và sản xuất, buôn bán hàng giả, trong đó đã khởi tố 66 vụ, 74 bị can (có
26 vụ xâm phạm nhãn hiệu), phạt tiền hơn 2,4 tỷ đồng. So với năm 2011, số vụ
phát hiện đã tăng 107 vụ, số vụ khởi tố tăng 48 vụ (năm 2011, lực lượng Cảnh sát
điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ phát hiện 169 vụ xâm phạm quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài và sản xuất, buôn bán hàng giả, khởi tố 18 vụ án và khởi tố 30
bị can. Năm 2010 lực lượng CSND đã khởi tố 152 vụ án và 25 bị can) [18].
Qua các số liệu trên cho thấy, bằng các biện pháp công tác mà pháp luật cho
phép, lực lượng CSND đã đã tiến hành đấu tranh phòng, chống có hiệu quả các loại
tội phạm về TTATXH liên quan đến quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam trên hầu hết các lĩnh vực. Đặc biệt, trong thời gian gần đây lãnh đạo Bộ Công
an đã quan tâm chỉ đạo sát sao lực lượng CAND từ trung ương đến địa phương tăng
cường công tác đấu tranh chống xâm phạm quyền SHTT và hàng giả, theo đó nhiều
vụ xâm phạm quyền SHTT và sản xuất, buôn bán hàng giả đã được phát hiện, điều
tra khám phá và xử lý kịp thời, nghiêm minh trước pháp luật.
Một số vụ việc vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài điển hình xâm
phạm đến TTATXH mà lực lượng CSND đã phát hiện, xử lý trong thời gian qua
như sau [18]:
+ Vụ thứ nhất, ngày 16/8/2004, Công an Hà Nội phối hợp với đại diện Công
ty Honda tiến hành kiểm tra tại 04 cửa hàng tiêu thụ và 01 cơ sở lắp ráp xe máy có
dấu hiệu vi phạm QSHCN của Công ty Honda. Bước đầu đã xác định: 145 xe máy
được gắn 11 nhãn hiệu khác nhau: HANSON, WARM, ORIENTAC, DUCAL,
LISOHAKA, GUIDA, WAYTHAI, EMPIRE, MAJIESTY, FANLIM và
VECSSTAR vi phạm kiểu dáng được bảo hộ độc quyền của Công ty Honda.
+ Vụ thứ hai, tháng 7/2008, Công an tỉnh Quảng Ninh và Chi cục Quản lý thị
trường Quảng Ninh đã phối hợp kiểm tra Cty TNHH Thanh An, thị xã Cẩm Phả,
thu giữ trên 60.000 khoá kéo nhãn hiệu YKK, cũng tại Cty này ngày 18/5/2004 cơ
quan chức năng lại thu giữ một loạt các phụ kiện ngành may làm giả nhãn hiệu
KAM, nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ quốc tế, lô hàng không có loại hoá đơn
chứng từ nào.
+ Vụ thứ ba, ngày 8/8/2009, Công an Hà Nội đã phát hiện, bắt giữ đối tượng
Nguyễn Thị Thuỷ, ở xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, TPHN đang buôn bán thuốc
126
kích dục nhập lậu có nguồn gốc nước ngoài, qua điều tra mở rộng đã khám xét, thu
giữ 5680 vỉ, lọ thuốc Viagra, 1800 viên Cialis và 3200 hộp thuốc kích dục khác
tổng giá trị theo hàng thật khoảng hơn 3 tỷ đồng, các đối tượng khai nhận số thuốc
trên được mua từ Trung Quốc về để tiêu thụ tại Hà Nội và các tỉnh phía Nam.
+ Vụ thứ tư, ngày 14/3/2011, Công an TPHCM đã bắt giữ được đối tượng
Huỳnh Ngọc Quang cầm đầu đường dây sản xuất thuốc tân dược ngoại giả quy mô
lớn, hầu hết số thuốc tân dược được sản xuất, tiêu thụ mang nhãn mác của nước
ngoài. Huỳnh Ngọc Quang, sinh năm 1982, nguyên là Giám đốc Công ty cổ phần
dược phẩm Việt Pháp. Tháng 1/2010, Công an TPHCM đã khám xét hàng chục
điểm sản xuất thuốc giả do Quang cầm đầu, đã thu giữ hàng tấn thuốc giả cùng
hàng trăm kg tem, vỏ, nhãn mác, vỏ hộp, bao bì và nhiều dụng cụ sản xuất như:
máy ép vỉ, máy dập thời hạn sử dụng, máy sấy dùng sấy màng co vỉ thuốc, máy cắt,
cân điện tử, máy dập bao bì… nhưng đối tượng Quang bỏ trốn. Trong thời gian
trốn lệnh truy nã, Huỳnh Ngọc Quang vẫn bí mật móc nối với đối tượng như Đặng
Trị Quốc (SN 1981, ở huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) để tiếp tục sản xuất, buôn
bán thuốc giả gây bất ổn trên thị trường thuốc chữa bệnh.
+ Vụ thứ năm, đối tượng Dương Thiện Tín, sinh năm 1982, trú tại quận Cái
Răng, Cần Thơ sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật giả. Khám xét phòng trọ
của Tín ở đường vành đai phi trường, quận Ninh Kiều, Cần Thơ, lực lượng Công
an thu giữ 60 thùng thuốc bảo vệ thực vật giả, hầu hết số thuốc bảo vệ thực vật này
cũng sử dụng các nhãn hiệu nước ngoài như: Naled (Bromchlophos) (min 93%);
Nereistoxin (Dimehypo) (min 90%); Nereistoxin (Monosultap)58% + Imidacloprid
2%; Omethoate 20 % + Fenvalerate 10 %. Ngày 14/10/2011, TAND quận Ninh
Kiều đã xét xử và tuyên phạt Dương Thiện Tín 18 tháng tù.
+ Vụ thứ sáu, tháng 5/2013, Công an tỉnh Đắk Lắk tiến hành kiểm tra chiếc
xe tải Asia mang BKS 47P-0104 do ông Nguyễn Kim Thành điều khiển. Trên xe có
5 tấn phân kali 61% (ghi xuất xứ Ixaren được nhập khẩu và phân phối bởi Công ty
cổ phần Vinacam); 10 tấn phân NPK 16-16-8 của Philippin và đều có hóa đơn đầy
đủ. Chủ lô hàng nói trên là ông Nguyễn Mạnh Cường (phường Khánh Xuân, Thành
phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk) đồng thời là chủ đại lý phân bón “Tân Cường
Thịnh”. Ngày 20/5, cơ quan chức năng đã lấy mẫu phân kali 61% gửi đi phân tích
kiểm định chất lượng, kết quả cho biết hàm lượng kali chỉ có 0,1%.
127
3.2.3. Nhận xét, đánh giá chung về hoạt động thực thi quyền sở hữu trí
tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân
3.2.3.1. Những ưu điểm trong hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân
Từ thực tiễn hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam của lực lượng CAND trong những năm qua, có thể rút ra một số ưu điểm trên
các mặt công tác như sau:
- Thứ nhất, lực lượng CAND đã luôn tích cực và chủ động trong tấn công,
trấn áp tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam. Nhất là sau khi có Quyết định số 127/2001/QĐ-TTg ngày 27/8/2001 của Thủ
tướng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo chống buôn lậu, hàng giả và gian
lận thương mại, lực lượng CAND đã liên tục, chủ động đề ra các kế hoạch, chuyên
đề chỉ đạo các lực lượng phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng
xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài, đặc biệt ở các thời điểm diễn ra các
sự kiện truyền thống, thể thao, văn hóa của dân tộc… Trong quá trình thực hiện các
kế hoạch phòng, chống tội phạm kể trên, lực lượng CAND đã định kỳ sơ kết, đánh
giá cụ thể để rút kinh nghiệm chỉ đạo thực hiện các hoạt động thực thi quyền SHTT
có yếu tố tố nước ngoài trong các giai đoạn tiếp theo. Những hoạt động trên đây đã
góp phần kiềm chế tình hình sản xuất, buôn bán, tiêu thụ hàng hóa xâm phạm
quyền SHTT, nhất là ở các thành tỉnh, phố lớn trong cả nước.
- Thứ hai, lực lượng CAND đã chủ động làm tốt công tác nắm tình hình,
điều tra cơ bản để phát hiện vi phạm pháp luật và tội phạm xâm phạm quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát
triển của vi phạm pháp luật và các tội phạm này. Trên cơ sở đó, chủ động đề xuất
với các cơ quan chức năng tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước về lĩnh vực
có liên quan; đồng thời kiến nghị với các doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài) chủ động áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật để
bảo vệ quyền SHTT của mình trước nguy cơ bị các hành vi trái pháp luật xâm hại.
- Thứ ba, qua công tác nắm tình hình, lực lượng CAND đã kết hợp với các
cơ quan chức năng phát hiện, điều tra, xử lý các vụ vi phạm pháp luật và tội phạm
xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Đồng thời, phát hiện kịp
128
thời những địa bàn, tụ điểm có dấu hiệu về sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng vi
phạm quyền SHTT để tiến hành các biện pháp kiểm tra, xử lý.
- Thứ tư, lực lượng CAND đã làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về SHTT, chủ động phát hiện những biểu hiện vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của một số tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp để chủ động trao đổi, bàn bạc với doanh nghiệp, đồng thời yêu cầu các cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân tự kiểm tra và tự khắc phục những vi phạm nhỏ. Việc làm đó có tác dụng tốt về giáo dục pháp luật và tạo điều kiện để doanh nghiệp ổn định phát triển sản xuất.
- Thứ năm, lực lượng CAND đã xác định được những phương thức, thủ đoạn chính của tội phạm, từ đó áp dụng các biện pháp công tác phù hợp với tính chất, đặc điểm, tình hình của tội phạm để đấu tranh kiên quyết, triệt để đối với chúng; đồng thời thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền cho các cơ quan, doanh nghiệp và đoàn thể xã hội để hiểu biết về các loại tội phạm nói trên để phát hiện, tố giác và phòng ngừa tội phạm cũng như phối hợp với với lực lượng CAND trong đấu tranh, phòng chống tội phạm.
- Thứ sáu, công tác phối hợp giữa lực lượng CAND với các cơ quan, lực lượng khác trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam đã được chú trọng và đem lại những kết quả đáng kể, đặc biệt trong hoạt động phòng ngừa, xử lý đối với những tội phạm xâm phạm ANQG, tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả và kiểm soát xuất, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới…
3.2.3.2. Những tồn tại trong hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân
Bên cạnh những ưu điểm đã nêu, hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND còn bộc lộ những tồn tại sau đây:
- Thứ nhất, công tác phát hiện và xử lý hàng giả, hàng nhái, hàng vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài, nhất là các sản phẩm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe người tiêu dùng (như thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm, đồ uống…) chưa cao. Sở dĩ có tình trạng này là do thủ đoạn của tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam diễn ra quá tinh vi, phức tạp trong khi biên chế của lực lượng CAND phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật ở lĩnh vực trên còn quá khiêm tốn; mặt khác cơ sở vật
129
chất, kỹ thuật và các phương tiện phục vụ cho công tác còn rất hạn chế, thậm chí còn đi sau phương tiện của các đối tượng phạm tội và vi phạm pháp luật về SHTT. Ngoài ra, công tác thống kê tội phạm học của lực lượng CAND vẫn chưa được quan tâm thỏa đáng, hiện vẫn chưa có sự bóc tách rạch ròi giữa tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT nói chung với tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nói riêng. Thực tiễn cho thấy, nếu tính tổng cộng tất cả các vụ việc vi phạm quyền SHTT cả nước thì mỗi năm có tới hàng ngàn vụ việc. Tuy nhiên, do mỗi đơn vị xử lý một khâu hay một lĩnh vực và ranh giới địa bàn khác nhau nên công tác thống kê về tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam rất khó có được số liệu chính xác. Nếu tính số vụ phát hiện của lực lượng CAND với số vụ có thể truy tố được đối tượng trước pháp luật thì tỷ lệ này rất khiêm tốn, chỉ đạt khoảng 0,45% [66].
- Thứ hai, việc phối hợp giữa lực lượng CAND với các lực lượng khác, như CQHQ, QLTT, Thanh tra chuyên ngành và các lực lượng có liên quan khác trong phòng ngừa vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài mặc dù đã được chú trọng, song vẫn chưa ổn định lâu dài, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra.
Theo quy định của pháp luật, CQHQ, QLTT, Thanh tra chuyên ngành từ trung ương đến địa phương có những quyền hạn nhất định trong kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các đơn vị, cá nhân kinh doanh nhiều loại hàng hóa, có điều kiện rất thuận lợi trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài. Nhưng việc kết hợp giữa công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan, tổ chức trong việc phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam còn kém hiệu quả. Điều đó thể hiện rất rõ là hàng năm các CQHQ, QLTT, Thanh tra chuyên ngành… đã phát hiện rất nhiều vụ vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nhưng kết quả xử lý chủ yếu là xử phạt hành chính, mặc dù trong số đó rất nhiều vụ có tính chất, mức độ đáng xử lý hình sự. Do đó, không phản ánh đúng tình trạng vi phạm pháp luật và tội phạm xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nên tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn chưa cao.
- Thứ ba, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và
chức vụ chưa thực hiện tốt vai trò chủ công trong phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm
xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
130
Trong thời gian qua, mặc dù C46 và PC46 ở các địa phương đã có nhiều cố
gắng trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, nhưng bên cạnh đó
vẫn chưa thực sự làm tốt chức năng tham mưu cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền
trong các hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; chưa chủ động dự báo hoặc dự báo không
kịp thời, chính xác tình hình tội phạm xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam; chưa xây dựng được kế hoạch dài hạn, quy hoạch tổng thể chung cũng như
kế hoạch cụ thể, ngắn hạn trong phòng ngừa tội phạm xâm phạm quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam; vẫn còn tình trạng nhiều vụ phạm tội sản xuất, buôn bán
hàng giả, hàng xâm phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài diễn ra trong thời gian
dài, trên địa bàn rộng nhưng chưa được phát hiện, ngăn chặn kịp thời.
- Thứ tư, đối với các biện pháp công tác mà pháp luật quy định đối với lực
lượng CAND, mặc dù đã được các đơn vị Công an trong cả nước quan tâm, nhưng
chất lượng và hiệu quả áp dụng các biện pháp đó chưa cao, mang tính hình thức,
còn chạy theo chỉ tiêu kế hoạch, nhiều hồ sơ không có tác dụng phục vụ công tác
nắm tình hình, địa bàn và phát hiện điều tra tội phạm. Bên cạnh đó công tác điều tra
cơ bản còn để sót nhiều địa bàn, tuyến lĩnh vực, ngành sản xuất kinh doanh trọng
điểm vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; tài liệu trong hồ
sơ không được bổ sung kịp thời nên việc điều tra về các đối tượng phạm tội gặp
nhiều khó khăn và tốn nhiều thời gian…
131
Kết luận Chương 3
Chương 3 của Luận án tập trung nghiên cứu, phân tích làm rõ các vấn đề
thực trạng pháp luật có liên quan đến công tác thực thi quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND. Dựa trên cơ sở quy định của pháp luật nói
trên, lực lượng CAND đã triển khai nhiều biện pháp công tác để thực thi quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, trong đó hoạt động áp dụng pháp luật để
thực hiện biện pháp hành chính và hình sự xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam được xác định là khâu then chốt.
Bên cạnh đó, Chương 3 của Luận án cũng tập trung nghiên cứu, đánh giá về
thực trạng vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian
qua. Với từng lĩnh vực cụ thể (QTG và QLQ, QSHCN, QĐVGCT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam), tác giả đã có sự khảo sát cụ thể về tình hình, diễn biến của
những vi phạm pháp luật, đánh giá hậu quả thiệt hại xảy ra, đồng thời tìm hiểu
nguyên nhân dẫn đến những vi phạm nói trên để có cơ sở đề xuất những giải pháp
hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam trong thời gian tới.
Trên cơ sở thực trạng pháp luật và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam, tác giả tập trung phân tích những hoạt động cụ thể của
lực lượng CAND trong thực thi pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam. Với tư cách là cơ quan tham mưu về bảo vệ ANQG và giữ gìn
TTATXH, lực lượng CAND đồng thời cũng cơ quan quản lý nhà nước về thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, vừa là cơ quan tiến hành tố tụng
trực tiếp đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm xâm phạm quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Từ những hoạt động thực thi pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài
ở Việt Nam của lực lượng CAND trong những năm qua, tác giả chỉ ra những ưu
điểm và hạn chế của các mặt công tác nói trên, tạo cơ sở lý luận cho việc kiện toàn
lực lượng CAND, nhằm thực thi hiệu quả quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
132
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN
4.1. Dự báo về tình hình quốc tế và trong nước liên quan đến thực thi
quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an
nhân dân
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở các nước
trên thế giới và Việt Nam, đồng thời dựa trên sự đánh giá về thực trạng hoạt động
thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND trong
thời gian qua, tác giả đưa ra những dự báo về những vấn đề có liên quan đến nội
dung nghiên cứu trong thời gian tới như sau:
4.1.1. Dự báo về tình hình quốc tế liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí
tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân
- Một là, các quốc gia phát triển sẽ ngày càng bảo hộ nghiêm ngặt quyền
SHTT của tổ chức, cá nhân nước mình theo hướng mở rộng và kéo dài các đối
tượng quyền SHTT độc quyền, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của
các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam).
Toàn cầu hóa đã có sự đột biến về về quy mô và chiều sâu trong một hoàn
cảnh lịch sử mới đã dẫn đến thị trường và sản xuất ở nhiều nước đang ngày càng
trở nên phụ thuộc vào nhau, do sức sản xuất và phân công lao động được quốc tế
hóa, buôn bán hàng hóa, dịch vụ, lưu thông vốn tư bản và công nghệ diễn ra chằng
chịt trên toàn thế giới. Trong bối cảnh đó, yêu cầu về bảo hộ và thực thi quyền
SHTT được đặt ra trong quan hệ giữa các quốc gia ngày càng trở nên cấp bách. Tuy
nhiên, có sự khác biệt về quan điểm giữa các nước tiên tiến (các quốc gia có nền
kinh tế tri thức) và các nước đang phát triển về thực thi quyền SHTT, bao hàm cả
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài. Sự khác biệt đó xuất phát từ việc nắm giữ quá
chênh lệch thành quả sáng tạo giữa các quốc gia. Chẳng hạn, trong số 1.407 phát
minh, sáng chế nổi tiếng trên thế giới, cho thấy hơn 90% các sáng chế, phát minh
thuộc về các nước phát triển; từ năm 1901 đến năm 2007, tổng số giải thưởng
Nobel khoa học là 678 giải (vật lý: 181, hóa học: 151, sinh học và y học: 181, văn
133
học: 104, kinh tế: 61), nhưng hầu hết các giải Nobel về khoa học tự nhiên thuộc về
các nước phát triển. Trong nền kinh tế một số nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật
Bản, Australia... dịch vụ đã đem lại hơn 70% tổng sản lượng quốc nội (GDP) và
tăng trưởng, phát triển nhanh nhất là dịch vụ hàm lượng trí tuệ cao, mang lại những
ưu thế trong sản xuất, kinh doanh và khai thác không giới hạn về số lượng người sử
dụng các dịch vụ đó [42].
Chính vì ưu thế của sản phẩm trí tuệ như trên mà các quốc gia, các doanh
nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn đều tìm cách chiếm lĩnh lợi thế, sẵn sàng chấp nhận
mọi điều kiện để bảo vệ bằng được đối tượng quyền SHTT của mình, kể cả trường
hợp chúng đang tồn tại ở nước ngoài. Nói cách khác, bảo vệ thành công độc quyền
các sản phẩm trí tuệ, đặc biệt là đối tượng của QSHCN, như: nhãn hiệu hàng hóa,
kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh... là điều kiện sống còn của nền kinh tế
các nước phát triển. Mất độc quyền về SHTT, các nền kinh tế phát triển gần như
mất quyền thống lĩnh thị trường thế giới. Thực tiễn cho thấy, một số hãng sản xuất
lớn mặc dù đăng ký điều lệ kinh doanh ở trong nước (như hãng giày Nike có nguồn
gốc từ Mỹ), nhưng hiện nay trên lãnh thổ Mỹ không còn một cơ sở sản xuất nào.
Các nhà máy, xí nghiệp sản xuất giày Nike lại nằm rải rác khắp thế giới mang lại
cho chủ sở hữu nhãn hiệu Nike một doanh thu khổng lồ mỗi năm. Tương tự, nếu
mất độc quyền nhãn hiệu, các hãng như Coca - Cola sẽ mất trên 70 tỉ USD, IBM
mất trên 67,4 tỷ USD, Microsof mất trên 60,9 tỷ USD, Google mất trên 43,6 tỷ
USD, Intel mất trên 32 tỷ USD... [66].
Hiện nay các nước phát triển có xu hướng mở rộng bảo hộ đối tượng quyền
SHTT ra ngoài phạm vi truyền thống và kéo dài thời hạn bảo hộ. Xét cho cùng, đây
là một biểu hiện “đế quốc” về mặt tri thức. Với chế độ bảo hộ này, các nước đang
phát triển muốn sử dụng đối tượng quyền SHTT của các nước phát triển (đặc biệt là
sáng chế, giải pháp hữu ích) một cách miễn phí thì chỉ còn cách chấp nhận sử dụng
những đối tượng hết sức lạc hậu, hết thời hạn bảo hộ, trong khi tại các nước phát
triển đang vươn tới những đỉnh cao mới của khoa học, công nghệ. Chẳng hạn, Luật
Liên minh châu Âu (EU) đã tăng thời hạn bảo hộ quyền SHTT, đặc biệt là nhằm
bảo vệ độc quyền những đối tượng thuộc về tự nhiên, như: thông qua luật đòi hỏi
các thành viên liên minh phải ban hành luật bảo vệ để bảo vệ quyền tác giả cho
người thu thập thông tin đối với ngân hàng dữ kiện “gien” của người... [42, tr.87].
134
Thực tiễn và lý luận cho thấy rằng, sự bảo hộ kéo dài các sáng chế trong điều kiện
khoa học, kỹ thuật phát triển nhanh chóng khi kiến thức mới, sáng chế mới luôn
được thay thế bởi các kiến thức, sáng chế mới hơn, khoảng cách thời gian về sự
thay thế ngày càng bị thu hẹp, là một việc làm ngược lại với xu thế phát triển của
thời đại, thể hiện sự bất công giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển.
Ngoài việc tìm cách kéo dài thời hạn bảo hộ đối tượng quyền SHTT, các
cường quốc còn tìm cách mở rộng đối tượng bảo hộ không theo truyền thống và
hợp pháp hóa sự chiếm đoạt những sản phẩm của tạo hóa cho riêng mình. Chẳng
hạn, Bộ Thương mại Mỹ đã cấp bằng sáng chế thuộc về tự nhiên cho một công ty
thuốc của Mỹ về ADN của một người ở Nam Mỹ nhiễm vi rút HIV nhưng có sức
đề kháng không phát triển thành AIDS; hay Tổng thống Hoa Kỳ phê chuẩn Đạo
luật H.R 2646 (Farm Security and Rual Investment Act 2002), trong đó Điều 10806
quy định chỉ đặt tên, dán nhãn mác hoặc quảng cáo “catfish” cho các loại cá da trơn
thuộc loại cá da trơn Mỹ (Ictaluriidae), trong khi hầu hết 2500 loài cá da trơn thuộc
35 họ cá khác nhau, đều được các nước nói tiếng Anh gọi là Catfish [42].
Thực tiễn trên dẫn đến xu hướng đấu tranh tất yếu ở các nước đang phát triển
trong việc thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài, theo đó bao gồm cả những
phản ứng tiêu cực và hành động tích cực. Tuy nhiên, những phản ứng tiêu cực (như
không thực thi, thực thi không đầy đủ, lựa chọn đối tượng quyền SHTT của nước
ngoài để thực thi...) là những khả năng rất dễ xảy ra, làm ảnh hưởng không nhỏ đến
tình hình quan hệ đối ngoại của các nước.
- Hai là, quá trình mở rộng các quan hệ thương mại quốc tế, ngoài việc
mang lại lợi ích thúc đẩy phát triển kinh tế của các quốc gia, còn mang đến những
ảnh hưởng nghiêm trọng đối với chủ quyền, ANQG, TTATXH của các nước đang
phát triển (trong đó có Việt Nam).
Để thực thi ý chí của mình, các quốc gia phát triển cố gắng nắm lấy và bảo
vệ quyền SHTT của tổ chức, cá nhân nước mình thông qua luật pháp quốc gia và
luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiệp định TRIPS. Trách nhiệm thực thi TRIPS của
các nước thành viên WTO được nâng cao qua các quy định về giải quyết tranh
chấp, TRIPS quy định: tranh chấp giữa các thành viên WTO về SHTT có thể giải
quyết thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và buộc phải thi hành.
135
Sau khi chính thức là thành viên WTO, những luật lệ của WTO về SHTT
được quy định trong TRIPS bắt buộc Việt Nam phải cam kết thực thi một cách
nghiêm chỉnh nhất. Trong tương lai, sẽ có những điều khoản bổ sung, thay thế cho
các điều khoản hiệp định TRIPS hiện hành với yêu cầu cao hơn, rộng hơn và đòi
hỏi thực thi với sự răn đe trừng phạt nghiêm khắc hơn. Như vậy, TRIPS ngoài tính
tích cực, mặt trái của nó là một công cụ tăng thêm sự kéo dài độc quyền trong lĩnh
vực SHTT. Những điều khoản của TRIPS là sự thể hiện ước muốn của các quốc gia
phát triển, là một yêu cầu đối với các nước đang phát triển buộc phải tuân thủ.
Theo lộ trình thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ giảm
dần thuế suất của một số dòng thuế và dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, đây là
động lực thúc đẩy sự phát triển hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa, thông qua đó
dần đáp ứng như cầu tiêu dùng trong nước ngày càng tăng. Tuy nhiên, từ sự gia
tăng về lưu lượng, đa dạng về hàng hóa xuất, nhập khẩu và những hoạt động đầu
tư... cũng là môi trường thuận lợi cho các hoạt động vi phạm pháp luật về quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài có dịp bùng phát ở nước ta. Ngoài ra, với cam kết khi
gia nhập WTO, Việt Nam áp dụng chế độ đãi ngộ quốc gia đối với hàng hoá, dịch
vụ của các nước thành viên; đảm bảo không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch
vụ của các thành viên với hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam trong quá trình tiếp
cận thị trường của nhau, tiếp tục dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh
nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài trong hoạt động áp dụng các
đối tượng của quyền SHTT, có khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền
quốc gia, chủ quyền kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Theo quy định của WTO, thuế vẫn là công cụ chủ yếu điều tiết hàng hoá
xuất, nhập khẩu. Vì vậy, với việc gia nhập WTO thì các hành vi buôn lậu, gian lận
thương mại, trốn thuế sẽ vẫn tồn tại và phát triển với hình thức ngày càng tinh vi và
mang màu sắc quốc tế. Những loại tội phạm này không những đe doạ trực tiếp đến
sự phát triển kinh tế của một địa phương, một ngành trong một giai đoạn nhất định,
mà về lâu dài còn ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động kinh tế thương mại của cả
nước, nhất là các hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam.
Việt Nam là nước đang phát triển, ở trình độ thấp về khoa học, công nghệ,
nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi, doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ lẻ, trình
136
độ quản lý thấp nhưng phải cạnh tranh với những doanh nghiệp lớn và các công ty
đa quốc gia trên thế giới có nhiều ưu thế và bề dày cạnh tranh. Quá trình hội nhập
không tránh khỏi một số doanh nghiệp trong nước bị thua lỗ, phá sản như hiện nay,
trong tương lai còn tiếp tục nhiều hơn nữa lượng doanh nghiệp bị đóng cửa vì
không thể cạnh tranh, dẫn đến tình trạng thất nghiệp phổ biến, tiềm ẩn nhiều yếu tố
bất ổn cho xã hội.
- Ba là, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang ở giai đoạn trầm trọng, tác
động sâu sắc đến hầu hết các nước (trong đó có Việt Nam), làm nảy sinh nhiều yếu
tố tiêu cực của xã hội, đặc biệt là xu hướng phát triển của tội phạm và vi phạm
pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Trong tình hình khủng hoảng chung về kinh tế thế giới, dẫn đến thất nghiệp
tràn lan ở các nước, hàng hóa sản xuất ra nhưng bị ứ đọng không tiêu thụ được...
làm cho đời sống xã hội bị ảnh hưởng nặng nề. Mặc dù chính phủ các nước có nền
kinh tế lớn đang nỗ lực đưa ra những chính sách kích cầu, khuyến khích tiêu dùng
nội địa, đẩy mạnh sản xuất để giải quyết việc làm, giải phóng hàng tồn kho... nhưng
tình hình vẫn chưa được cải thiện đáng kể, người lao động vẫn tiếp tục mất việc
làm, giá cả sinh hoạt tăng cao trong khi thu nhập của người dân bị giảm sút do
những xung đột về chính trị, vũ trang leo thang ở nhiều nước và nhiều khu vực trên
thế giới.
Bên cạnh đó, với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng phát triển tạo điều kiện tốt để các nước có thể nắm bắt và áp dụng vào việc thúc đẩy nền kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển về khoa học và công nghệ cũng là lợi thế để các tổ chức và cá nhân sử dụng vào việc sản xuất, chế biến các sản phẩm, hàng hóa vi phạm quyền SHTT, đặc biệt là sản xuất, buôn bán, tiêu thụ hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, kiểu dáng của các hãng nổi tiếng trên thế giới với các phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi xảo quyệt, có xu hướng ngày một gia tăng.
Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, việc giao thương hàng hóa giữa các quốc gia trở nên rất thuận tiện, sẽ là cơ hội để hàng giả, hàng nhái, đặc biệt là hàng hóa giả mạo về nhãn hiệu và kiểu dáng với giá thành rẻ, mẫu mã đẹp... từ nước ngoài tràn vào các nước có nền sản xuất lạc hậu và các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, sự liên kết giữa các quốc gia hiện vẫn chưa chặt chẽ trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT. Ở
137
một số nước, việc thực thi quyền SHTT được đặc biệt quan tâm và có chế tài xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật; ngược lại, ở một số quốc gia, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, vấn đề thực thi quyền SHTT chưa được quan tâm triệt để.
Những yếu tố trên đây dẫn đến khả năng hình thành một loại “nghề” trong xã hội, hành nghề bằng cách chiếm đoạt giá trị quyền SHTT của nhau, đặc biệt là hình thành nên các “đường dây”, băng nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia chuyên sản xuất, buôn bán, tiêu thụ các loại sản phẩm, hàng hóa giả mạo về nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp... Theo đánh giá của WIPO và Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (INTERPOL) thì: “Tội phạm lớn nhất của thế kỷ 21 là tội phạm làm hàng giả” [42]. Các loại sản phẩm, hàng hóa được làm giả từ nước ngoài đang tìm mọi cách “thẩm lậu” vào Việt Nam, vô hình chung biến nước ta trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa vi phạm quyền SHTT được nhắc đến khá nhiều trong diễn đàn hội nghị khu vực châu Á và cả ở trên thế giới trong thời gian vừa qua.
4.1.2. Dự báo về tình hình trong nước liên quan đến thực thi quyền sở
hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân
- Thứ nhất, trên lĩnh vực bảo vệ ANQG liên quan đến công tác thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND, có thể sẽ xảy
ra các khả năng sau đây:
+ Về bảo vệ bí mật Nhà nước, bao gồm bảo vệ các thông tin, tài liệu, tài
sản... gắn liền với yêu cầu bảo mật thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại... mà Nhà nước chưa công bố hoặc không công
bố, được quy định mức độ “mật”, “tối mật”, “tuyệt mật”. Đây là nhiệm vụ luôn
được xác định là công tác trọng tâm của bảo vệ ANQG và có liên quan trực tiếp
đến hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực
lượng CAND. Trong thời gian qua, có một số hoạt động của Nhà nước ta trong
chuyển giao công nghệ có yếu tố nước ngoài, liên quan đến bí mật công nghệ thuộc
về an ninh, quốc phòng mà các thế lực thù địch và các đối tượng phạm tội khác
luôn tìm cách chiếm đoạt các tài liệu bí mật đó. Trong thời gian tới, với mục đích
chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động và bọn tội
phạm chắc chắn sẽ không từ bỏ âm mưu của chúng, đòi hỏi CAND và các lực
lượng chức năng phải đề cao cảnh giác, nêu cao tinh thần trách nhiệm để hoàn
thành chức năng, nhiệm vụ thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
138
+ Về bảo vệ văn hoá, tư tưởng, là một lĩnh vực quan trọng trong bảo vệ ANQG ở nước ta. Theo cam kết gia nhập WTO, trong thời gian đầu khi gia nhập tổ chức này, Việt Nam có thể vẫn áp dụng chế độ bảo lưu đối với một số hoạt động xuất bản, nghe nhìn... Tuy nhiên, theo lộ trình, bắt buộc nước ta phải mở cửa các lĩnh vực này trong tương lai. Xu hướng liên kết giữa các NXB trong nước với các NXB nước ngoài sẽ ngày càng gia tăng, tạo cơ hội cho các hoạt động hội nhập, trao đổi về thông tin nhưng đặt ra những vấn đề hết sức phức tạp trong công tác quản lý của nhà nước về tư tưởng, văn hóa. Phía nước ngoài đang có xu hướng xoáy sâu vào vấn đề bản quyền để ép ta trên các bàn đàm phán về kinh tế, gây ảnh hưởng bất lợi đến tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Điển hình, trong thời gian qua, một số NXB của Australia đề nghị NXB Trẻ (TPHCM) phải bồi thường do vi phạm những bản quyền đối với các tác phẩm của họ; hay hãng Waltdisney (của Mỹ) đưa vấn đề vi phạm bản quyền của NXB Kim Đồng (tại TPHN) ra Toà án quốc tế; NXB Oxford (của Anh) phản đối NXB Văn hoá - Thông tin về vấn đề vi phạm bản quyền cuốn giáo trình Anh ngữ Let's Go…[42, tr.83].
Bên cạnh đó, xu hướng nhập khẩu sách báo, tạp chí có nội dung, hình ảnh nhạy cảm từ nước ngoài vào Việt Nam vẫn tái diễn, một số NXB cho xuất bản các ấn phẩm không đúng chức năng, nhiệm vụ, thậm chí công bố các tác phẩm dịch có nội dung phức tạp về chính trị, xã hội, khiến cho người đọc dễ bị kích động, lôi kéo theo hướng không có lợi cho ta [42].
Quyền SHTT có yếu tố nước ngoài trong lĩnh vực bưu chính viễn thông cũng
là vấn đề nhạy cảm. Các tổ chức phản động lưu vong, phản động lợi dụng tôn giáo,
các trung tâm phá hoạt tư tưởng của các thế lực thù địch từ nước ngoài đã triệt để
lợi dụng dịch vụ bưu chính viễn thông để tán phát, truyền tải tài liệu, tin tức có nội
dung chống Nhà nước CHXHCNVN Việt Nam. Bên cạnh đó, thực thi quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam cũng đặt ra những thách thức mới đối với nước ta
trong lĩnh vực bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc. Quá trình hội
nhập quốc tế tất yếu sẽ kéo theo sự du nhập văn hoá nước ngoài vào lãnh thổ Việt
Nam, mang đến mặt tích cực là kế thừa được những giá trị văn hoá tinh hoa của
nhân loại. Tuy nhiên, mặt tiêu cực của nó cũng ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội,
như một số loại phim, ảnh, âm nhạc, trò chơi trực tuyến… chứa đựng những lối
sống thực dụng, truỵ lạc, xa hoa, sống thử... đang “đầu độc” một bộ phận dân cư
(nhất là giới trẻ), làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống của Việt Nam.
139
Liên quan đến vấn đề “nhân quyền”, một lĩnh vực nhạy cảm mà các thế lực
thù địch tìm mọi cách lợi dụng để chống phá ta, đòi hỏi cần phải nâng cao hơn nữa
nhận thức, đấu tranh kiên quyết với những hành vi can thiệp này từ bên ngoài. Tự
do sáng tạo là một quyền cơ bản của công dân được pháp luật từ lâu ghi nhận để
công dân được phát huy khả năng sáng tạo của mình trong các lĩnh vực văn học,
nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật… Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực mà các thế lực
thù địch thường tranh thủ lợi dụng để chống phá chế độ ta. Sự chống phá của các
thế lực thù địch trên mặt trận “nhân quyền” không chỉ diễn ra trong nước mà còn
được thực hiện bởi các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, thậm chí được
thực hiện bởi cả hệ thống cơ quan lập pháp của một số nước. Trong quan hệ với
Việt Nam, một số quốc gia cũng tranh thủ lợi dụng vấn đề nhân quyền nói chung và
quyền tự do sáng tác, tự do ngôn luận, tự do báo chí nói riêng để vu cáo hoặc ép
buộc Việt Nam những tiêu chí nhân quyền “theo kiểu phương tây”. Chẳng hạn, Hạ
viện Mỹ đã từng thông qua Đạo luật nhân quyền cho Việt; Nghị viện châu Âu đã ra
nhiều Nghị quyết về tình hình dân chủ và nhân quyền Việt Nam; Quốc hội Đức
cũng thông qua Nghị quyết về “Tình trạng nhân quyền và người thiểu số ở Việt
Nam”, đề nghị đưa vấn đề nhân quyền vào trong các cuộc đàm phám [42, tr.85].
Như vậy, trong thời gian tới, tình hình vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam sẽ có thêm nhiều phức tạp, các thế lực thù địch và các đối tượng phạm tội sẽ triệt để lợi dụng các cam kết quốc tế của Việt Nam để thực hiện các hành vi xâm phạm ANQG bằng nhiều con đường khác nhau, trong đó thực thi bản quyền tác giả, công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông… sẽ là những lĩnh vực nhạy cảm, dễ bị lợi dụng nhất, cần thiết phải chú ý hơn nữa trong hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
+ Đối với công tác bảo vệ an ninh kinh tế ở nước ta, cũng đặt ra nhiều thách thức mới. Mở cửa thị trường, xoá bỏ các rào cản trong thương mại sẽ thu hút mạnh hơn nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng như nguồn vốn ODA của các nước và các tổ chức kinh tế quốc tế. Việc thực thi nguyên tắc không phân biệt đối xử trong các quan hệ kinh tế mà Việt Nam cam kết với WTO mở ra những khả năng cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp Việt Nam, dẫn đến khả năng thao túng thị trường là vấn đề cần đặc biệt chú trọng trong nội dung bảo vệ chủ quyền quốc gia liên quan đến kinh tế. Gần đây lực lượng CAND đã khám
140
phá nhiều vụ án kinh tế, trong đó đối tác nước ngoài tìm cách nâng các giá trị sản phẩm đối tượng SHCN từ nước ngoài vào Việt Nam (như đưa máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ lạc hậu góp vào vốn điều lệ của doanh nghiệp liên doanh) để chiếm đoạt vốn của phía Việt Nam. Ngoài ra, hình thức viện trợ nước ngoài ở Việt Nam (dưới dạng ODA), nếu không có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ thì vô hình chung thị trường Việt Nam lại trở thành môi trường để các tổ chức tội phạm nước ngoài thực hiện các hành vi phạm tội, như “rửa tiền”, tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có, tham nhũng, lừa đảo... từ các đối tượng quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
+ Về bảo vệ an ninh, an toàn về thông tin liên lạc, cũng là nội dung cần chú
ý trong bảo vệ ANQG. Hội nhập quốc tế gắn liền với quá trình áp dụng công nghệ
thông tin trong mọi lĩnh vực quản lý nhà nước, trong đó có thực thi quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Quá trình sử dụng công nghệ
thông tin cũng hình thành và phát triển tội phạm sử dụng công nghệ cao lấy cắp bí
mật công nghệ, trộm tiền từ tài khoản của khách hàng, tạo ra các loại virus phá hoại
mạng máy tính... Trong thời gian qua, lực lượng CAND đã phát hiện, triệt phá
nhiều mạng lưới, tổ chức tội phạm, điển hình như vụ thanh toán bằng “thẻ màu” giả
mà các đối tượng người nước ngoài sử dụng thanh toán 486.560,85 USD; vụ lừa
đảo 10 triệu USD tại văn phòng Công ty Golden Rock; vụ dùng thẻ tín dụng giả rút
tiền từ máy ATM 2 tỷ đồng; vụ lừa đảo huy động vốn qua mạng
Colonyinvest.net…[42]. Như vậy, lĩnh vực thực thi quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam về công nghệ thông tin, chuyển giao công nghệ... chắc chắn sẽ là
mảnh đất màu mỡ để các đối tượng tội phạm sử dụng để thực hiện con đường phạm
tội tại nước ta trong thời gian tới.
+ Về công tác bảo vệ an ninh nội bộ, cũng cần phải được tăng cường nhằm
đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Thực tiễn cho thấy, một trong những ưu thế
cạnh tranh quyết định đến sự sống còn và phát triển của các doanh nghiệp, sự hoạt
động hiệu quả của các cơ quan nhà nước liên quan đến công nghệ, bí quyết kỹ
thuật, bí mật kinh doanh... vì vậy cần thiết phải bảo vệ các giá trị này một cách
nghiêm ngặt. Với khả năng tài chính lớn, các doanh nghiệp nước ngoài sẵn sàng
đầu tư để săn lùng “chất xám” từ những tổ chức, cá nhân có khả năng nắm bắt các
“bí mật nghề nghiệp” của họ. Thực tiễn cho thấy, có rất nhiều người làm việc cho
141
các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, sau khi có được tay nghề cao (thậm chí nắm
bí mật kinh doanh từ hoạt động chuyển giao công nghệ của nước ngoài) đã bỏ việc
nhà nước, “đầu quân” cho các doanh nghiệp nước ngoài để nhận mức lương cao
hơn. Đó cũng là quy luật cung cầu về sức lao động. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là
những sản phẩm trí tuệ mà bấy lâu người lao động tích luỹ được, các bí quyết kỹ
thuật, bí mật kinh doanh, bí mật Nhà nước… cần phải được bảo vệ thì đã dễ dàng
bị các đối tác nước ngoài thâu tóm và sử dụng.
- Thứ hai, trên lĩnh vực giữ gìn TTATXH liên quan đến thực thi quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND, sẽ xảy ra những
khả năng sau đây:
+ Về khả năng phát triển của tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, diễn ra theo chiều hướng ngày càng phức tạp.
Sự cạnh tranh quyết liệt về giá cả các loại hàng hóa giữa các doanh nghiệp
trong và ngoài nước ngày càng gay gắt, dẫn đến lợi nhuận ròng của các doanh
nghiệp trong nước giảm sút. Bên cạnh đó, lợi nhuận thu được từ việc sản xuất,
buôn bán hàng giả, hàng vi phạm quyền SHTT là rất lớn; các tổ chức tội phạm
quốc tế đã và đang hình thành dưới danh nghĩa là nhà đầu tư nước ngoài để sản
xuất, buôn bán hàng giả, hàng vi phạm quyền SHTT. Việc sản xuất, kinh doanh
hàng giả, hàng kém chất lượng và các hành vi xâm phạm quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi và khó kiểm soát, chủ
yếu nhằm vào các đối tượng dễ sản xuất, dễ phổ biến, giá thành sản xuất rẻ nhưng
lại thu lợi nhuận cao, dễ bề tẩu tán tài sản vi phạm quyền SHTT khi bị phát hiện...
Thu nhập người dân, đặc biệt là người dân ở vùng sâu, vùng xa là rất thấp, họ không đủ điều kiện để mua hàng thật, hàng đảm bảo chất lượng, hoặc vì tâm lý “sính ngoại” đã vô tình tiếp tay cho sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài. Mặc dù mức thu nhập của người dân nói chung chưa cao nhưng nhu cầu tiêu dùng lại rất lớn, giá cả một số mặt hàng của một số nước do được làm giả hoặc vi phạm quyền SHTT lại đa dạng về mẫu mã, chủng loại và nhìn chung lại quá rẻ, do đó đã kích thích nhu cầu tiêu thụ các loại hàng hóa đó từ phía người tiêu dùng có thu nhập thấp.
Việt Nam là một nước có nền sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém, cơ chế chính sách còn nhiều bất cập, chế tài pháp luật chưa đủ tính răn
142
đe, ngoài ra vẫn còn tư tưởng níu kéo, xin cho... vì vậy trong thời gian tới, nạn làm ăn chụp giật, buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài sẽ vẫn còn diễn biến phức tạp và trở thành “vấn nạn” của xã hội nước ta. + Về phương thức, thủ đoạn của tội phạm và hành vi vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, sẽ được thực hiện với tính chất ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn.
Khi gia nhập WTO, xóa bỏ hàng rào thuế quan, các thành phần cơ hội sẽ lợi
dụng cơ chế thông thoáng để “thẩm lậu” hàng giả, hàng vi phạm quyền SHTT sản
xuất tại nước ngoài vào Việt Nam để tiêu thụ. Bằng con đường đó, các đối tượng
buôn bán, tiêu thụ hàng giả, hàng nhái, hàng vi phạm quyền SHTT có thể gắn kết
với các đối tượng buôn lậu là người nước ngoài để đặt hàng và vận chuyển hàng
hóa vi phạm quyền SHTT từ nước ngoài vào Việt Nam. Phương thức tiêu thụ hàng
hóa vi phạm ngày càng tinh vi, trong đó cần lưu ý hình thức giao bán hàng giả vi
phạm quyền SHTT qua mạng Internet nhằm trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan
chức năng, vì hiện nay việc quản lý thông tin mạng của Việt Nam còn rất khó khăn,
do trình độ công nghệ thông tin và thiết bị máy móc của nước ta còn chưa theo kịp
với các nước tiên tiến. Bên cạnh đó, phương thức thủ đoạn của tội phạm và vi phạm
pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài vẫn là lén lút bí mật, tổ chức gọn
nhẹ, khép kín. Loại hình hàng giả, xâm phạm quyền SHTT cũng vô cùng đa dạng,
trước đây chủ yếu là hàng nội giả hàng nội, hàng nội giả hàng ngoại sản xuất trong
nước, nhưng hiện nay hàng ngoại giả hành ngoại, hàng ngoại giả hàng nội được sản
xuất từ nước ngoài sau đó thâm nhập vào Việt Nam theo chính ngạch, tiểu ngạch,
nhập lậu. Các loại hàng giả, bao bì giả làm từ nước ngoài hoặc trong nước xâm
phạm quyền SHTT như nhái nhãn hiệu hàng hóa hoặc kiểu dáng công nghiệp nổi
tiếng trên thế giới có khả năng gia tăng, gây thiệt hại chi các doanh nghiệp, người
tiêu dùng, tác động tiêu cực đến môi trường đầu tư và quá trình hội nhập nền kinh
tế khu vực và thế giới.
+ Về đối tượng quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam bị xâm hại,
bao gồm mọi đối tượng của quyền SHTT, nhưng tập trung vào các loại đối tượng
143
có khả năng sản xuất nhanh, tiêu thụ nhiều, thu lợi lớn trong một thời gian ngắn
trên thị trường Việt Nam.
Các hành vi vi phạm pháp luật có khả năng xâm phạm tới mọi đối tượng
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, nhưng tập trung chủ yếu vào các
đối tượng, như kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, quyền
tác giả đối với tác phẩm âm nhạc, điện ảnh, mẫu thiết kế thời trang... Bên cạnh đó,
những đối tượng cụ thể của quyền SHTT, như: phần mềm máy vi tính, tín hiệu vệ
tinh mang chương trình được mã hóa, các chủng vi sinh… cũng sẽ là những đích
ngắm của bọn tội phạm và vi phạm pháp luật. Việc xâm phạm các đối tượng quyền
SHTT nói trên gây không ít khó khăn cho công tác đấu tranh của cơ quan chức
năng và lực lượng CAND, vì hiện nay phương tiện kỹ thuật và kiến thức về các lĩnh
vực mới của cán bộ chiến sĩ CAND còn khá nhiều hạn chế.
+ Về chủ thể vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, sẽ ngày
càng mở rộng, bao gồm các cá thể hoạt động nhỏ lẻ phân tán, người thiếu hiểu biết
về pháp luật, người có trình độ chuyên môn cao, người hoạt động có tổ chức hoặc
buôn bán tự do ngoài xã hội tại các địa bàn trọng điểm… Bên cạnh đó còn có các
doanh nghiệp nhà nước có chức năng kinh doanh mặt hàng đã đăng ký, do buông
lỏng quản lý hoặc vì lợi nhuận đã lợi dụng sơ hở của pháp luật để sản xuất, buôn
bán hàng giả vi phạm quyền SHTT. Ngoài ra, còn có doanh nghiệp ngoài quốc
doanh, nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng chính sách xuất nhập khẩu của Nhà nước ta
để đưa hàng hóa xâm phạm quyền SHTT vào Việt Nam để mua bán kiếm lời…
+ Về địa bàn trọng điểm diễn ra các hoạt động vi phạm quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam, vẫn là các địa bàn đông dân cư, đầu mối quan hệ về
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; những nơi có khả năng trao đổi, mua bán, tiêu
thụ hàng hóa vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam một cách
“sôi động” nhất… Đáng chú ý là các khu vực cửa khẩu biên giới, như: Cửa khẩu
Móng Cái (Quảng Ninh), Hữu Nghị (Lạng Sơn), Hà Khẩu (Lào Cai), Thanh Thủy
(Hà Giang), Lao Bảo (Quảng Trị); Mộc Bài (Tây Ninh), Cầu Treo (Hà Tĩnh)…
Các mặt hàng cần chú ý vẫn là đồ điện tử, phụ tùng xe máy, xe đạp giả; mỹ phẩm
giả; quần áo, giày dép mang nhãn mác giả; thuốc tân dược, thuốc kích dục giả; đồ
144
dân dụng; lương thực, thực phẩm; đồ uống đóng nhãn mác giả; phụ tùng ô tô, xe
máy; quần áo, túi xách thời trang; thiết bị xây dựng, thiết bị vệ sinh, thiết bị nội
thất… Ngoài ra, xuất hiện các loại mặt hàng vi phạm QTG, QLQ có yếu tố nước
ngoài, như phần mềm máy tính sao chép lậu, đĩa ca nhạc (chủ yếu của trung tâm
ca nhạc hải ngoại và các ban nhạc nổi tiếng thế giới); trò chơi trực tuyến; giáo
trình học ngoại ngữ; giống cây trồng mới có xuất xứ từ nước ngoài, chủ yếu là
giống cây lương thực, giống các loại hoa, quả...
4.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí
tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an nhân dân
4.2.1. Về xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động thực thi
quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng Công an
nhân dân
Pháp luật là công cụ chủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối
với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời cũng là một “biện pháp công tác”
để lực lượng CAND dựa vào đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong
thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Để phát huy hơn nữa vai
trò và hiệu quả của pháp luật đối với lĩnh vực đã nêu, cần phải thiết phải xây dựng
và hoàn thiện pháp luật theo những hướng sau đây:
4.2.1.1. Tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến thực thi
quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
- Thứ nhất, đối với Luật SHTT năm 2005, mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung
năm 2009, nhưng vẫn cần thiết phải được chỉnh lý trên cơ sở thể chế hoá kịp thời
các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện hệ thống pháp luật
nói chung và pháp luật liên quan đến SHTT nói riêng, nhất là Nghị quyết số 20-
NQ/TW ngày 31/10/2012 của Ban chấp hành Trung ương “Về phát triển khoa học
và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Đặc biệt, theo tinh
thần nội dung Hiến pháp năm 2013, Luật SHTT cần phải thể hiện tập trung tư
tưởng của Đảng và Nhà nước về tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân, khuyến khích hoạt động sáng tạo, thúc đẩy chuyển
giao công nghệ và trao đổi tài sản trí tuệ, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp
145
hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế; kế thừa và phát triển các quy định đã được
kiểm nghiệm trong thực tế cuộc sống và còn phù hợp của hệ thống pháp luật hiện
hành về SHTT. Đồng thời, cần phải nâng tầm các quy định của Luật SHTT, đảm
bảo tính đầy đủ, đồng bộ và hiệu lực của Luật SHTT cũng như hiệu quả hoạt động
bảo hộ và thực thi quyền SHTT; đảm bảo sự hài hoà với các chuẩn mực quốc tế,
nhằm tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế của nước ta về
SHTT. Bên cạnh đó, Luật SHTT cần phải có những quy định chặt chẽ về các biện
pháp cần thiết để bảo vệ lợi ích liên quan đến ANQG và TTATXH. Nội dung của
Luật SHTT cần phải quy định cụ thể hơn, hạn chế tối đa việc ban hành văn bản
hướng dẫn thi hành (hiện nay còn tồn tại khá nhiều các Nghị định, Thông tư hướng
dẫn thực hiện Luật SHTT); ngoài ra cần nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh
nghiệm xây dựng và thực thi pháp luật của các nước để vận dụng phù hợp với tình
hình thực tiễn của Việt Nam.
Để tháo gỡ sự lúng túng, khó khăn của các cơ quan Nhà nước trong việc
thực thi pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, trước hết cần
thiết phải quy định cụ thể các khái niệm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài và
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Trong thực tiễn, các khái niệm này
vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau nên việc áp dụng pháp luật đối với các
trường hợp cụ thể vẫn còn chưa thống nhất. Bên cạnh đó, cần thiết phải nêu rõ khái
niệm thế nào là “bảo vệ” và “thực thi” quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt
Nam cũng như làm rõ sự khác nhau của hai vấn đề này trong Luật SHTT. Hiện nay
trong Hiệp định TRIPS và các ĐƯQT về SHTT mà Việt Nam là thành viên đều sử
dụng thuật ngữ “thực thi”, ngoài ra xét về mặt lý luận thì nội hàm của khái niệm
của khái niệm “thực thi” lớn hơn và hàm chứa khái niệm “bảo vệ” quyền SHTT;
bởi vậy nếu sử dụng thống nhất khái niệm “thực thi” trong Luật SHTT thì vừa đảm
bảo được tính phù hợp với pháp luật quốc tế, nhưng vẫn đảm bảo thực hiện được
các hoạt động bảo vệ quyền SHTT có yếu tố nước ngoài của chủ sở hữu quyền
SHTT và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Sau khi thống nhất sử dụng
khái niệm “thực thi” quyền SHTT, thì cần thiết phải quy định về cơ chế thực thi
một cách chặt chẽ, rõ ràng, thể hiện rõ vai trò của cơ quan, tổ chức, cá nhân và mối
quan hệ giữa họ với nhau trong quá trình thực thi quyền SHTT. Đồng thời cũng nên
quy định rõ mối tương quan giữa các văn bản pháp luật trong việc điều chỉnh quan
146
hệ SHTT có yếu tố nước ngoài (như quan hệ giữa Luật SHTT với BLDS, Luật
Thương mại, Luật Đầu tư...) cũng như giữa Luật SHTT với các ĐƯQT song
phương và đa phương về SHTT mà Việt Nam là thành viên.
Hiện nay, trong một số trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn gặp
sự lúng túng do không biệt được sự khác nhau giữa khái niệm “con giống” và “cây
giống”. Theo cách hiểu tự nhiên, “con giống” thường được hiểu là “giống vật nuôi”
như gia súc, gia cầm, hải sản... nhưng việc chọn tạo, nhân giống đối với những
động vật này thành những giống mới có hiệu quả kinh tế cao hơn, hiện vẫn chưa là
đối tượng được pháp luật SHTT bảo hộ. Tuy nhiên, trong thực tiễn, đối với một số
loài có cơ chế sinh sản “dị tính” như nấm, tảo nhãn trùng và các loại tảo roi, cỏ
chân ngỗng, vi khuẩn giúp lên men (dùng trong sản xuất rượu, bia...), vừa là động
vật nhưng cũng vừa là thực vật. Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu để bổ sung vào
đối tượng của quyền SHTT không chỉ là giống cây trồng, mà thêm vào đó có thể là
“con giống”. Vấn đề này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn đối với Việt Nam, vì nước ta
nền kinh tế chủ yếu hiện vẫn dựa vào nông nghiệp, các loại “con giống” có ý nghĩa
rất lớn, là một trong những tiền đề vật chất giúp Việt Nam hội nhập và phát triển.
Ngoài ra, cũng cần xem lại cấu trúc của Luật SHTT hiện hành, vì hiện nay
văn bản Luật này điều chỉnh chung tất cả các đối tượng của quyền SHTT, trong đó
có nhiều đối tượng mang bản chất khác biệt nhau đã khiến cho nội dung của Luật
trở nên “ôm đồm”, phức tạp và khó theo dõi; chủ thể quyền SHTT và các cơ quan
thực thi pháp luật gặp rất nhiều khó khăn khi áp dụng pháp luật. Do vậy, cần
nghiên cứu khả năng xây dựng thành các đạo luật riêng để điều chỉnh từng đối
tượng của quyền SHTT, như Luật Sáng chế, Luật Nhãn hiệu, Luật về QTG và
QLQ, Luật về giống cây trồng, Luật về con giống… nhằm tạo điều kiện cho các
chủ thể áp dụng pháp luật một cách thuận lợi.
Trong thực tiễn hiện nay, nhiều vấn đề liên quan đến quyền SHTT chưa
được quy định thống nhất, nên tạo ra sự áp dụng pháp luật không đồng bộ. Chẳng
hạn, đối với nhuận bút của tác phẩm báo chí, mỗi tòa soạn báo hay tạp chí có các
cách thanh toán khác nhau đối với tác giả của tác phẩm đó, thông thường dựa trên
cơ sở học hàm, học vị của người viết mà ấn định giá thanh toán mà không căn cứ
vào chất lượng bài viết. Vì vậy cần thiết phải ban hành Nghị định về nhuận bút và
Thông tư liên tịch quy định khung nhuận bút, thù lao khi sử dụng tác phẩm, bản ghi
147
âm, ghi hình đã công bố để phát sóng hoặc kinh doanh thương mại. Bên cạnh đó,
các quy định của Luật SHTT về đối tượng bảo hộ của QTG chỉ là tác phẩm (văn
học, nghệ thuật, khoa học), nhưng trong Công ước Berne 1886 về bảo vệ quyền tác
giả mà Việt Nam đã tham gia vào năm 2004 thì đối tượng của QTG chính là các
quyền của tác giả (quyền nhân thân, quyền tài sản) đối với tác phẩm nói trên; còn
tác phẩm được bảo hộ chỉ là khách thể của QTG. Đây là vấn đề cần thiết phải lưu ý
khi sửa đổi Luật SHTT trong tương lai. Ngoài ra, các quy định về bảo hộ tác phẩm,
văn học nghệ thuật dân gian mới chỉ dừng lại ở phạm vi bảo hộ các đối tượng liên
quan đến văn hóa, nghệ thuật truyền thống, trong khi đó các tri thức truyền thống
khác trong lĩnh vực y học cổ truyền, bí quyết chế biến thực phẩm, đối tượng của
văn hóa phi vật thể... rất cần được bảo hộ bởi pháp luật.
Theo Thông tư 22/2009/TT-BTC ngày 04/02/2009 của Bộ tài chính quy định
phí và lệ phí nộp đơn SHCN áp dụng thống nhất cho các chủ thể Việt Nam lẫn chủ
thể nước ngoài (theo nguyên tắc đối xử quốc gia), xảy ra tình huống là nếu mức phí
phù hợp với tác giả trong nước thì lại quá thấp đối với người nước ngoài, gây thất
thu ngân sách; còn nếu mức phí phù hợp với người nước ngoài thì lại quá cao với
tác giả trong nước, không khuyến khích chủ thể trong nước nộp đơn. Trên cơ sở đó,
nên quy định một mức phí thấp, chỉ bằng 1/3 mức thông thường cho người nộp đơn
đến từ các nước có GDP dưới 3.000 USD, hoặc đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ có số nhân viên dưới 500 người, không phân biệt quốc tịch...
- Thứ hai, về pháp luật hình sự, cần thiết phải nghiên cứu lại các khung hình
phạt trong các điều của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) trong nhóm
tội xâm phạm quyền SHTT, thể chế hoá chủ trương của Đảng và Nhà nước về
chính sách hình sự được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002
của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020. Tuy nhiên, xuất phát từ ba tiêu chí cơ bản: tính chất
nghiêm trọng của tội phạm cũng như yêu cầu bảo vệ khách thể bị xâm hại; khả
năng trấn áp tội phạm bằng các biện pháp ngoài tử hình; có tính đến xu hướng
chung trên thế giới thu hẹp dần và tiến tới bãi bỏ hình phạt tử hình, vì vậy đề nghị
bỏ hình phạt tử hình đối với tội phạm cụ thể đối với “Tội sản xuất, buôn bán hàng
giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh” (Điều 157). Đề
148
nghị sửa đổi, bổ sung một số điều, khoản của BLHS nhằm góp phần tháo gỡ những
khó khăn vướng mắc trong thực tiễn và cập nhật những hành vi phạm tội mới phát
sinh trong lĩnh vực SHTT. Theo đó, cần nâng mức định lượng tối thiểu về giá trị tài
sản hoặc giá trị thiệt hại để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm có
liên quan đến tài sản thuộc lĩnh vực SHTT. Hiện nay, tình hình kinh tế của nước ta
đó có sự thay đổi nhiều so với trước đây, giá tiêu dùng hàng năm liên tục tăng
nhanh, năm sau cao hơn năm trước, tốc độ lạm phát hàng năm xấp xỉ hai con số. Từ
1999 đến nay, mức lương tối thiểu cũng tăng từ 180.000 đồng lên 1.150.000 đồng
và còn tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo. Trước sự biến đổi của nền kinh tế,
các mức định lượng tối thiểu về giá trị tài sản hoặc giá trị thiệt hại để làm cơ sở
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm liên quan đến tài sản theo quy
định của BLHS hiện hành đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với yêu cầu đấu
tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện hiện nay, do vậy cần có sự điều chỉnh
cho phù hợp với thực tiễn, chẳng hạn, tại nhiều điều luật của BLHS quy định hình
phạt phạt bằng đơn vị đồng tiền Việt Nam, việc qui định là như vậy cần tính toán
đến sự lạm phát của giá cả, đảm bảo tính răn đe của việc áp dụng hình phạt tiền đối
với người thực hiện hành vi phạm tội.
Trong Luật sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2009 có hai điều luật quy định trực
tiếp về quyền SHTT, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các Điều 131, 170, 171 của BLHS
năm 1999. Cụ thể, Điều 170a (Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan) và
Điều 171 (Tội xâm phạm quyền quyền sở hữu công nghiệp), đây là những quy định
mới của pháp luật Việt Nam để phù hợp với quy định của WTO và Hiệp định
thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có liên quan đến SHTT. Tuy nhiên, cả hai điều luật
này đều có quy định về tình tiết định tội bắt buộc là “quy mô thương mại”, nhưng
trong BLHS hiện hành không có định nghĩa thế nào là “quy mô thương mại”, khiến
cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các bên đương sự không khỏi vướng
mắc khi áp dụng. Để thuận tiện, nên định nghĩa vấn đề này trong các văn bản pháp
luật theo hướng đồng nhất giữa khái niệm “quy mô thương mại” với “mục đích thu
lợi nhuận” của người có hành vi vi phạm QTG, QLQ và QSHCN, hoặc mức độ gây
thiệt hại do người phạm tội gây ra đối với chủ sở hữu quyền SHTT (ở mức độ
nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng); đồng thời sự định lượng về
các mức độ thiệt hại cũng nên quy định ở mức khái quát để có thể dự liệu về sự
149
thay đổi mức thu nhập và giá cả tiêu dùng trong xã hội, tránh tình trạng quá cụ thể,
dẫn đến khả năng thu nhập xã hội tăng thì việc sửa đổi quy định của luật buộc phải
thay đổi theo.
- Thứ ba, về pháp luật dân sự, hiện nay các quy định về SHTT được thể hiện
trong BLDS năm 2005 chủ yếu mới dừng lại ở những quy phạm mang tính nguyên
tắc, tương đối chung chung và rất khó áp dụng trực tiếp. Cấu trúc hệ thống lấy
BLDS làm gốc khiến cho các văn bản luật của các lĩnh vực khác, trong đó có lĩnh
vực SHTT thiếu đi các quy định về các khía cạnh hành chính, kinh tế, thương mại,
khoa học, công nghệ. Hiện nay các quy định này thường phải đưa vào các văn bản
của Chính phủ hoặc của các bộ, ngành để thực hiện, dẫn đến việc thực thi pháp luật
thiếu tính thống nhất. Vì vậy, cần thiết phải bổ sung vào BLDS những quy định đầy
đủ hơn về các khía cạnh của quyền SHTT, làm cho quá trình áp dụng pháp luật dân
sự về SHTT được đồng bộ, thống nhất.
Vấn đề bồi thường thiệt hại liên quan đến quyền SHTT cũng cần phải được
quy định một cách cụ thể trong BLDS theo hướng phù hợp với cơ chế thị trường
cũng như tiến trình phát triển chung của nền kinh tế nước ta. Hiện nay việc định
tính và định lượng trong bồi thường thiệt hại về tinh thần quy tại Điều 611 BLDS
năm 2005 chưa thật thoả đáng, vì mới chỉ dựa vào mức lương tối thiểu để xác định
mức độ bồi thường trong trường hợp các bên không thỏa thuận được (tối đa bằng
10 tháng lương tối thiểu). Việc quy định như vậy dễ dẫn đến tình trạng “cào bằng”
về giá trị nhân thân trong các quan hệ SHTT, khiến cho việc giải quyết tranh chấp
về quyền SHTT không thấu tình, đạt lý ở các trường hợp cụ thể. Thực tiễn cho
thấy, giá trị nhân thân của chủ sở hữu quyền SHTT nổi tiếng được đánh giá cao
hơn rất nhiều so với giá trị nhân thân của những người ít nổi tiếng. Trong thực tế,
một tác giả nổi tiếng hay có học hàm, học vị cao luôn được các NXB sẵn sàng “đặt
hàng” và trả nhuận bút cao hơn so với những tác giả ít tên tuổi hay lần đầu công bố
tác phẩm của mình, bởi vậy việc bồi thường thiệt hại về tinh thần đối với họ khi có
hành vi xâm phạm QTG phải khác so với người ít nổi tiếng, hoàn toàn không thể
đồng nhất giá trị nhân thân của những con người đó để bồi thường thiệt hại về tinh
thần trong trường hợp người bị thiệt hại và người gây thiệt hại không thỏa thuận
được với nhau về mức bồi thường thiệt hại.
150
Bên cạnh đó, phần thứ bảy của BLDS năm 2005 quy định về quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài cũng cần phải xem xét lại để phù hợp với thực tiễn. Hiện nay,
khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được nêu trong Điều 758 BLDS
chưa phản ánh hết các khía cạnh cụ thể về điều kiện được coi là có yếu tố nước
ngoài trong một quan hệ dân sự. Chẳng hạn, ngoài cá nhân, tổ chức Việt Nam tham
gia quan hệ dân sự nói trên, thì cần bổ sung thêm chủ thể là cơ quan nhà nước Việt
Nam (vì khái niệm tổ chức không phải bao giờ cũng bao hàm khái niệm cơ quan
nhà nước); hay khách thể của quan hệ này không chỉ là tài sản ở nước ngoài, mà
bên cạnh đó còn có “tài sản trí tuệ” của chủ thể tham gia quan hệ đó ở nước ngoài.
Điều 774 BLDS quy định về chủ thể của QTG có yếu tố nước ngoài cũng chưa thật
đầy đủ, vì mới chỉ dừng lại ở “Quyền tác giả của người nước ngoài, pháp nhân
nước ngoài đối với tác phẩm lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam
hoặc được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam...”, trong khi
đó chủ thể của QTG có yếu tố nước ngoài không chỉ là người nước ngoài, pháp
nhân nước ngoài mà còn có thể là “tổ chức nước ngoài” (ở đây cần lưu ý rằng, khái
niệm “tổ chức” rộng hơn và hàm chứa khái niệm “pháp nhân”, một pháp nhân
trước hết là một tổ chức, nhưng không phải tổ chức nào cũng là một pháp nhân). Vì
vậy, Điều luật này cần sửa lại là “Quyền tác giả của cá nhân và tổ chức nước ngoài
đối với tác phẩm lần đầu tiên được công bố, phổ biến tại Việt Nam hoặc được sáng
tạo và thể hiện dưới hình thức nhất định tại Việt Nam...”. Tương tự như vậy, các
Điều 775, 776 BLDS cũng cần quy định lại về chủ thể của QSHCN, QĐVGCT,
vấn đề chuyển giao công nghệ có yếu tố nước ngoài, theo hướng chủ thể nước
ngoài phải là “tổ chức, cá nhân nước ngoài” thay cho chủ thể “người nước ngoài,
pháp nhân nước ngoài” đang được nêu trong các điều luật nói trên.
- Thứ tư, về pháp luật hành chính, hiện nay Luật Xử lý vi phạm hành chính
năm 2012 đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2013 và thay thế Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2008). Mặc dù Luật đã được ban hành
nhưng vẫn còn thiếu rất nhiều các văn bản Nghị định, thông tư của các bộ, ngành
hướng dẫn thực hiện, khiến cho quá trình áp dụng pháp luật gặp rất nhiều lúng
túng. Chẳng hạn, hiện mới chỉ có Nghị định số 131/2013/NĐ-CP của Chính phủ
quy định xử phạt vi phạm hành chính về QTG, QLQ thay thế cho các Nghị định số
151
47/2009/NĐ-CP ngày 13/5/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành
chính về QTG, QLQ và Nghị định số 109/2011/NĐ-CP ngày 02/12/2011 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 47/2009/NĐ-CP; Nghị định số 99/2013/NĐ-
CP của Chính phủ ngày 29/8/2013 thay thế cho Nghị định số 97/2010/NĐ-CP ngày
21/9/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
QSHCN; lĩnh vực QĐVGCT hiện vẫn chưa có Nghị định thay thế cho Nghị định số
57/2005/NĐ-CP, ngày 27 tháng 04 năm 2005 về xử phạt hành chính đối với vi
phạm QĐVGCT... Luật xử lý vi phạm hành chính đã thể hiện bước tiến bộ lớn khi
quy định mở rộng thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính về SHTT đối với một số
đơn vị thuộc khối ANND (như Trưởng phòng Quản lý xuất, nhập cảnh, Trưởng
phòng bảo vệ An ninh văn hóa, tư tưởng, Trưởng phòng An ninh thông tin và Cục
trưởng theo hệ nghiệp vụ của các đơn vị này). Tuy nhiên, để thực thi hiệu quả hơn
nữa đối với quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND,
đề nghị tăng thẩm quyền của Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự
quản lý kinh tế và chức vụ cũng như một số Cục trưởng các ngành chức năng (Hải
quan, Quản lý thị trường...) được quyền ra quyết định kiểm tra hành chính và ra
quyết định xử phạt hành chính ở mức cao nhất để tránh tình trạng phụ thuộc vào
các ngành khác trong xử lý vi phạm quyền SHTT. Mặt khác, đề nghị sửa đổi cách
thức xác định mức phạt vi phạm hành chính dựa trên nguyên tắc: mức phạt phải
cao hơn lợi nhuận mà người vi phạm có thể thu được từ hành vi vi phạm để đảm
bảo tính răn đe của pháp luật (hiện nay, mức phạt cao nhất đối với vi phạm
QSHCN lên đến 500.000.000 đồng, nhưng thực tế lợi nhuận có được từ vi phạm
đối tượng QSHCN thậm chí còn cao hơn). Đồng thời với xác định về nguyên tắc
mức phạt, cần tăng mức phạt theo tính nghiêm trọng của hành vi, như vi phạm có tổ
chức, tái phạm, vi phạm liên quan đến các sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khoẻ và tính mạng của người dân và cả cộng đồng...
Để khuyến khích tăng cường hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam của các cơ quan chức năng, đề nghị quy định rõ về việc cho phép
lập quỹ trích từ các khoản xử phạt hành chính, quỹ chống các hành vi kinh doanh
trái pháp luật, đồng thời có chế độ khen thưởng xứng đáng bằng vật chất đối với
những người có thành tích trong lĩnh vực công tác này.
152
4.2.1.2. Cần ban hành các văn bản trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện
công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
- Thứ nhất, đối với các văn bản pháp luật về công tác tham mưu cho Đảng và Nhà nước về bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở Việt Nam luôn được các thế lực thù địch thực hiện bằng nhiều biện pháp và thủ đoạn khác nhau, trong đó phổ biến nhất là bằng con đường tuyên truyền, tán phát các tài liệu có nội dung phản động vào trong đời sống xã hội nước ta. Bởi vậy, lực lượng CAND cần tham mưu cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ sung vào hệ thống các văn bản pháp luật những quy định mới làm cơ sở cho phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động tán phát tài liệu xâm phạm ANQG, xử lý vi phạm trong lĩnh vực xuất bản, phổ biến xuất bản phẩm... Cụ thể, cần tham mưu cho Bộ VH-TT-DL nghiên cứu ban hành hoặc trình Chính phủ ban hành các văn bản pháp luật cụ thể hoá những quy định của Luật xuất bản năm 2012 cho phù hợp tình hình mới. Trong đó cần chú trọng đến các vấn đề nhạy cảm có liên quan đến ANQG và TTATXH, như: sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào hoạt động xuất bản; những nội dung cấm xuất bản; thẩm định tác phẩm; hoạt động của các văn phòng đại diện, cơ quan thường trú của nước ngoài tại Việt Nam... cùng các chế tài xử lý vi phạm; ban hành các văn bản cụ thể hoá chức năng quản lý nhà nước của lực lượng CAND trong lĩnh vực xuất bản và phổ biến ấn phẩm xuất bản; đặc biệt cần chú ý tới chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của lực lượng An ninh văn hoá và tư tưởng trong thực thi quản lý nhà nước về xuất bản, xử phạt hành chính về vi phạm QTG và QLQ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Với tiềm năng trí tuệ và phương tiện khoa học - kỹ thuật ngày càng được củng cố và phát triển của lực lượng CAND, kiến nghị Nhà nước cần đưa lực lượng CAND tham gia các chương trình quốc gia về KH-CN, đặc biệt các đề án KH-CN liên quan ANQG và TTATXH; đồng thời có cơ chế để lực lượng CAND tham gia nhiều hơn vào quá trình tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế về SHTT; tiếp nhận triển khai các chương trình, dự án hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, nhất là lĩnh vực xây dựng pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, giáo dục, đào tạo…liên quan đến quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
153
- Thứ hai, đối với các văn bản pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam liên quan đến ANQG và TTATXH.
Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam liên quan đến ANQG và TTATXH, một trong những khâu quan trọng là cần tiến hành rà soát các văn bản pháp luật để bổ sung, sửa đổi hoặc xây dựng mới cho phù hợp với yêu cầu, mục tiêu của công tác thực thi pháp luật trong tình hình mới. Trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, lực lượng CAND cần cụ thể hóa các quy định về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài liên quan đến công tác của nội bộ ngành (như vấn đề tiếp nhận, chuyển giao công nghệ giữa Việt Nam và nước ngoài liên quan đến bí mật nhà nước và bí mật công tác trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng...). Bên cạnh đó, cần bổ sung, sửa đổi hoặc xây dựng mới các quy chế phối hợp giữa lực lượng CAND với lực lượng thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của các bộ, ngành, chuyên gia, cán bộ nghiên cứu, cán bộ khoa học trong lĩnh vực này. Hiện nay, về quy chế phối hợp giữa lực lượng CAND với các lực lượng, như Biên phòng, Y tế, CQHQ, QLTT, Thanh tra nhân dân trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hầu như chưa có một văn bản nào; một số văn bản về quy chế phối hợp giữa CAND với các cơ quan, tổ chức khác đang được thực hiện nhưng cũng không quy định trực tiếp về vấn đề thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam (như Quy chế phối hợp giữa Văn phòng Cảnh sát điều tra, Bộ Công an với Vụ quan hệ hợp tác quốc tế, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; Quy chế phối hợp giữa Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ và Cục Quản lý thị trường (Bộ Công thương) về đấu tranh chống buôn bán, sản xuất hàng giả và gian lận thương mại...).
- Thứ ba, đối với các văn bản pháp luật trực tiếp quy định công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND.
Hiện nay cơ sở pháp lý quy định chức năng, nhiệm vụ của lực lượng CAND
trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm, vi phạm pháp luật
về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nói riêng vẫn còn thiếu và chưa
đồng bộ. Chẳng hạn, trong Luật ANQG năm 2004 và Luật CAND năm 2005 đã có
quy định về các biện pháp công tác của lực lượng CAND, nhưng cho đến nay mới
154
chỉ có 2 Nghị định hướng dẫn về biện pháp kinh tế và biện pháp pháp luật, các biện
pháp công tác khác vẫn chưa có Nghị định và Thông tư của Bộ Công an hướng dẫn
cụ thể. Trong các văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến thẩm quyền của
CAND trong xử lý vi phạm hành chính và khởi tố, điều tra đối với vi phạm quyền
SHTT mới có những quy định đối với quyền SHTT nói chung mà chưa có quy định
áp dụng đối với quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Hơn nữa, những
quy định phân cấp cụ thể trong hoạt động nghiệp vụ của lực lượng CAND đối với
vụ việc vi phạm quyền SHTT cũng chưa rõ, dẫn đến tình trạng cùng một vụ việc
nhưng có nhiều hệ nghiệp vụ, nhiều đơn vị của CAND cùng tiến hành xử lý, gây
ra sự chồng chéo không cần thiết.
Vì vậy, trong thời gian tới đòi hỏi lực lượng CAND cần tham mưu cho
Chính phủ xây dựng thêm các Nghị định quy định về biện pháp công tác của lực
lượng CAND (gồm vận động quần chúng, ngoại giao, khoa học - kỹ thuật, nghiệp
vụ, vũ trang), đồng thời trực tiếp xây dựng các Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật
ANQG năm 2004 và Luật CAND năm 2005 để đảm bảo áp dụng pháp luật thống
nhất và đồng bộ trong toàn lực lượng.
4.2.1.3. Bổ sung quy định của pháp luật theo hướng tăng cường quan hệ
phối hợp giữa lực lượng Công an nhân dân với các cơ quan chức năng trong thực
thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, góp phần giữ vững
ANQG và bảo đảm TTATXH, không chỉ có lực lượng CAND mới có thể đảm
nhận, mà cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhiều cơ quan, lực lượng chức năng
khác. Tuy nhiên, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan thực thi pháp luật phải
phân biệt rõ ràng và không chồng chéo. Các cơ quan này phải có đủ năng lực về tổ
chức nhân sự, chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Bên
cạnh đó, cần có quy định thống nhất đầu mối tiếp nhận và xử lý các khiếu nại về
SHTT theo hướng một cửa, đơn giản hoá thủ tục hành chính. Chẳng hạn, QLTT
tăng cường kiểm tra việc thực hiện quy chế ghi tên nhãn hiệu hàng hoá; CQHQ quy
định ghi tên nhãn hiệu hàng hoá nhập khẩu trên tờ khai; cơ quan Thuế quy định ghi
tên nhãn hiệu hàng hoá trên hoá đơn mới coi là hoá đơn hợp lệ… Nếu tuân thủ
nghiêm túc các quy định trên, thì hàng lậu và nhất là hàng giả sẽ khó lưu thông trên
thị trường trong nước.
155
Để tăng cường thực thi có hiệu quả việc xử lý vi phạm hành chính đối với vi
phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, cần có sự đổi mới tư duy
trong công tác phòng, chống vi phạm pháp luật về quyền SHTT. Ban chỉ đạo 127
của các địa phương cần có tầm nhìn tổng hợp và dự báo trước được sự phát triển
của hàng giả và các giải pháp ngăn chặn hàng giả, qua đó có biện pháp phòng,
chống vi phạm và thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phát triển. Bên cạnh đó,
cần có sự phân công cụ thể trách nhiệm cho các cơ quan thực thi pháp luật, thống
nhất đầu mối tiếp nhận và xử lý hành chính hàng hóa vi phạm quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài; quy định thống nhất trình tự thực thi và xử lý vi phạm hành chính về
SHTT; kiểm tra, xử lý tập trung và triệt để các đối tượng, các mặt hàng trọng điểm;
nâng cao nghiệp vụ, kiến thức, trang bị phương tiện và kinh phí thiết yếu đủ mạnh
cho lực lượng chống hàng giả... thì mới có khả năng hạn chế và đẩy lùi vi phạm
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn tới.
Lực lượng CAND có vị trí chủ công trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội
phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam cũng
cần phải đổi mới về tổ chức lực lượng, tư duy lãnh đạo chỉ huy, nâng cao trách
nhiệm và năng lực công tác; đồng thời, phải sử dụng tối đa quyền năng pháp lý mà
Nhà nước cho phép trong hoạt động nghiệp vụ trinh sát, xử lý vi phạm hành chính
và điều tra theo tố tụng để tấn công có hiệu quả đối với tội phạm nói chung và tội
phạm, vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
4.2.2. Giải pháp về xây dựng lực lượng và thực hiện các biện pháp công
tác trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực
lượng Công an nhân dân
4.2.2.1. Cần có sự phân công, phân cấp rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ và
phối hợp trong thực thi quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của
các đơn vị trong lực lượng Công an nhân dân
Theo quy định của Luật CAND, lực lượng CAND bao gồm ANND và
CSND, nhưng hiện nay cơ chế phối hợp giữa hai lực lượng này trong thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam chưa thật rõ ràng, dẫn đến tình trạng
nhiều vụ việc còn lúng túng trong khâu phân công, phân cấp điều tra và xử lý (đặc
biệt đối với các tội danh không nằm trong Chương các tội xâm phạm ANQG của
156
BLHS nhưng Cơ quan An ninh điều tra vẫn tiến hành điều tra theo phân công của
người có thẩm quyền). Bên cạnh đó, một số lĩnh vực mà pháp luật hiện còn chưa có
khái niệm rõ ràng về đối tượng vi phạm, hành vi vi phạm, như sản xuất, tiêu thụ
hàng giả liên quan đến tiền giả, giấy tờ giả, văn bằng giả... Để tháo gỡ vấn đề này,
trong thực tiễn, đối với vụ án về sản xuất, tiêu thụ tiền giả, giấy tờ giả thì lực lượng
ANND trực tiếp thụ lý, điều tra; trong khi đó đối với các loại hàng giả khác lại giao
cho lực lượng CSND thụ lý, điều tra, xử lý. Để hoạt động tố tụng của lực lượng
CAND được thống nhất, cần phải có quy định rõ ràng đối với vụ việc loại nào
thuộc thẩm quyền xử lý của ANND, vụ việc loại nào thuộc thẩm quyền xử lý của
CSND. Bên cạnh đó, cũng phải xây dựng được cơ chế phối hợp giữa hai lực lượng
này trong công tác điều tra, xử lý, tránh tình trạng bỏ lọt tội phạm và vi phạm pháp
luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
4.2.2.2. Cần tăng cường hơn nữa công tác đào tạo, giáo dục kiến thức pháp
luật về sở hữu trí tuệ đối với cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng Công an nhân dân
Theo khảo sát thực tiễn, hiện nay tại các trường CAND mới chỉ có rất ít nội
dung kiến thức trong chương trình đào tạo đề cập đến lĩnh vực SHTT, thời lượng
dành cho việc nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về SHTT còn quá ít (nội dung kiến
thức pháp luật về SHTT mới chỉ có trong môn học Luật Dân sự và Tư pháp quốc tế
ở hệ đào tạo đại học và sau đại học, hầu như không được đề cập trong các môn học
khác; hệ cao đẳng và trung học chuyên nghiệp không được nghiên cứu về vấn đề
này). Do đó, nhìn chung sinh viên, học viên tốt nghiệp các trường CAND rất lúng
túng trong xử lý đối với tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT, nhất là đối
với quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá về vị trí,
vai trò của SHTT đối với nước ta, cần thiết phải có kế hoạch, chương trình đào tạo
bồi dưỡng sâu rộng hơn nữa cho cán bộ, chiến sĩ CAND những kiến thức pháp luật
về SHTT. Ngoài ra, cần phải mở rộng hình thức tuyên truyền, phổ biến kiến thức
pháp luật về SHTT trong toàn lực lượng CAND, nhất là những đơn vị đứng chân
trên địa bàn nhạy cảm về tình hình vi phạm quyền SHTT nói chung và quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nói riêng. Bên cạnh đó, cùng với các đơn
vị hữu quan trong nước hoạch định kế hoạch, chương trình với các đối tác nước
ngoài, các tổ chức quốc tế nhằm trao đổi kinh nghiệm, chia sẽ thông tin và hỗ trợ
kỹ thuật để thực hiện các hoạt động thực thi quyền SHTT đạt hiệu quả cao nhất.
157
Song song với việc tăng cường công tác giáo dục và đào tạo, cần tiến hành
kiện toàn bộ máy trong lực lượng CAND để đáp ứng nội dung yêu cầu thực thi
quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Thực thi quyền SHTT bao hàm cả
nội dung của bảo vệ an ninh kinh tế do lực lượng ANND đảm trách và một phần
thuộc chức năng năng nhiệm vụ của lực lượng CSND. Với tổ chức bộ máy như
hiện nay khó có thể bao quát nội dung các mặt công tác, do đó ngành Công an cần
phải kiện toàn tổ chức, bộ máy và cơ chế hoạt động. Trong thời gian tới, cần phải
xây dựng một bộ phận tinh gọn, đủ khả năng hướng dẫn cũng như tổ chức phối hợp
hành động giữa các đơn vị, các lực lượng trong ngành về thực thi quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; đồng thời tiếp tục kiện toàn tổ chức, xây dựng lực
lượng chuyên trách trong thực thi quyền SHTT theo hướng ổn định, chuyên sâu, có
nền tảng kiến thức chung và kiến thức chuyên ngành phù hợp để có thể làm đối tác
với các cơ quan đơn vị trong và ngoài nước; tăng cường trang bị cơ sở vật chất, kỹ
thuật, phương tiện cho các đơn vị chiến đấu để đáp ứng yêu cầu công tác. Về điều
kiện đối với đội ngũ cán bộ, chiến sĩ làm công tác thực thi quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam, đòi hỏi ít nhất phải tốt nghiệp Đại học Luật hoặc tương
đương với trình độ Cử nhân Luật, phải thông thạo ngoại ngữ (nhất là tiếng Anh), có
kinh nghiệm, có kiến thức sâu về SHTT nói chung và kiến thức chuyên ngành trong
quản lý nhà nước, điều tra, xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nói riêng.
Để công tác đào tạo pháp luật về SHTT đạt hiệu quả, Bộ Công an cần phối
hợp với các cơ sở đạo tạo, các cơ quan chuyên môn trong và ngoài ngành theo
chương trình, dự án cụ thể. Song song với đó là đẩy mạnh việc biên soạn sách
chuyên khảo, sưu tầm tài liệu phục vụ cho công tác đào tạo pháp luật về SHTT
trong lực lượng CAND. Trong chương trình, dự án đào tạo về SHTT phải ưu tiên
trước hết cho giáo viên, cán bộ quản lý khoa học ở các nhà trường trong lực lượng
CAND, có kế hoạch tăng hợp lý kinh phí, trang bị phương tiện kỹ thuật, nghiệp vụ
chuyên dùng hiện đại cho các đơn vị CAND để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thực thi
quyền SHTT trong thời kỳ hội nhập hóa, công nghiệp hóa và phát triển đất nước.
Các nguồn kinh phí cần phải đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau, tranh thủ sự giúp
đỡ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trên cơ sở các bên đều có lợi trong
hoạt động giáo dục và đào tạo pháp luật về SHTT ở Việt Nam.
158
4.2.2.3. Cần thực hiện tốt hơn nữa công tác kiểm soát nắm tình hình về vi
phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Lực lượng CAND cũng cần tổ chức tốt công tác nắm tình hình liên quan đến
vi phạm quyền SHTT nói chung và quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
nói riêng, trên cơ sở nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt công tác nghiệp vụ cơ
bản của lực lượng CAND. Để thực hiện được đầy đủ các nội dung của công tác
nắm tình hình, lực lượng CAND cần phải thu thập thông tin từ nhiều kênh, nhiều
nguồn khác nhau, như: thông tin về tội phạm và vi phạm pháp luật do nhân dân
cung cấp; thông tin từ các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, như Cục SHTT
Việt nam và hệ thống cơ quan chuyên môn trực thuộc, CQHQ, QLTT, Thanh tra
chuyên ngành; thông tin từ các doanh nghiệp, thương nhân, tập đoàn kinh tế, báo
chí công khai trong và ngoài nước; thông tin do chính lực lượng CAND thu thập
được bằng các biện pháp nghiệp vụ của ngành...
Bên cạnh hoạt động nắm tình hình, lực lượng CAND cần phải xây dựng cơ
chế xử lý thông tin một cách linh hoạt và cần thống nhất đầu mối thu nhận, xử lý
thông tin ở các cấp, trong đó quan trọng nhất là ở Bộ Công an và các đơn vị trực
tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm về quyền SHTT nói chung và quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nói riêng. Ngoài ra, cần thiết phải xây dựng trung
tâm cơ sở dự liệu thông tin về tội phạm xâm phạm quyền SHTT để phục vụ cho
việc tra cứu, xử lý các thông tin về tội phạm một cách kịp thời, cũng như xây dựng
với cơ chế trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các đơn vị chức năng có liên quan.
4.2.2.4. Cần đấy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và phối hợp với tổ chức, cá nhân có liên quan chủ động làm tốt công tác phòng ngừa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay
là sự nghiệp của Nhân dân, do Nhân dân quyết định sự thành bại của nó. Chính vì
vậy, trong mọi hoạt động cách mạng, đặc biệt là trong đấu tranh phòng, chống tội
phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, lực
lượng CAND trước hết cần chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về
SHTT trong cộng đồng dân cư; tuyên truyền cho Nhân dân hiểu rõ âm mưu, thủ
đoạn của các thế lực thù địch và bọn tội phạm lợi dụng vấn đề thực thi quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam để xâm phạm ANQG và TTATXH ở nước
159
ta. Bên cạnh đó, lực lượng CAND cần phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng
nhân dân, thu hút Nhân dân vào phong trào “Toàn dân bảo vệ Tổ quốc”, để Nhân
dân cung cấp thông tin, tố giác về tội phạm và vi phạm pháp luật, đồng thời trực
tiếp tham gia cùng với lực lượng CAND đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi
phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Trước mắt, các cơ quan thông tin đại chúng cần xác định được trách nhiệm của mình để đầu tư hợp lý cho tuyên truyền về các hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Các cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan thông tin, truyền thông để cung cấp những tin tức, tài liệu và các quy định của nhà nước về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam như các vụ việc điển hình, phương pháp, thủ đoạn mới của tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT; đồng thời nêu gương người tốt, việc tốt và những điển hình tiên tiến trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Đối với những trường hợp vi pháp luật phạm nghiêm trọng phải được xử lý nghiêm minh và công khai, mở phiên toà lưu động để có tác dụng răn đe, giáo dục. Thêm vào đó, cần phải xây dựng những trung tâm triển lãm lớn ở các thành phố, địa bàn nhạy cảm về vi phạm quyền SHTT để trưng bày hàng hóa chính hiệu với hàng giả, hàng nhái, hàng vi phạm quyền SHTT để giúp người tiêu dùng nhận biết và phòng, chống đối với chúng; phương tiện thông tin truyền thông (như các kênh truyền hình, chương trình radio ở các tần sóng FM, chương trình phát thanh của các đài truyền thanh địa phương...) cần phát huy vai trò quản bá hơn nữa về giá trị và vai trò của quyền SHTT cũng như các biện pháp phòng, chống vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam... Những thông tin về SHTT phải được quản lý bằng công nghệ tiên tiến, hiện đại, thuận tiện cho việc nghiên cứu và áp dụng.
Bên cạnh đó, lực lượng CAND cần phải tiếp tục thực hiện công tác hướng
dẫn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước về việc tự bảo vệ quyền SHTT
của mình. Về mặt lý luận, quyền SHTT trước hết là một loại quyền dân sự, do đó
trách nhiệm bảo vệ quyền SHTT trước tiên thuộc về người nắm giữ hợp pháp
quyền đó, trừ trường hợp đó là bí mật nhà nước, là tài sản quốc gia. Chính vì vậy,
để thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam một cách hiệu quả, cần
phải hướng dẫn để các tổ chức, cá nhân tự bảo vệ quyền SHTT của mình. Các nội
dung hướng dẫn của lực lượng CAND đối với tổ chức, cá nhân về bảo vệ quyền
160
SHTT cần tập trung vào các vấn đề cơ bản, như: phương thức, thủ đoạn chiếm đoạt
và đánh cắp bí mật kinh doanh, sáng chế, thủ đoạn làm giả nhãn hiệu hàng hóa,
kiểu dáng công nghiệp; cách thức, biện pháp sử dụng công nghệ hiện đại để ngăn
chặn vi phạm về quyền SHTT, thủ tục khởi kiện và giải quyết tranh chấp về quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; thủ tục thực hiện việc tố giác tội phạm và
vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam cho cơ quan
Công an hay cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền...
Bên cạnh đó, cần huy động các nhà khoa học, chuyên gia am hiểu về SHTT
tham gia hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Để
phát huy vai trò của các cá nhân đó, lực lượng CAND phải chủ động dự kiến những
nhiệm vụ, công việc cụ thể phải thực hiện, từ đó xây dựng một kế hoạch, phương
án cho việc xử lý vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và những
mục tiêu cần đạt được, đồng thời cần phải có chế độ đãi ngộ thóa đáng đối với các
nhà khoa học, các chuyên gia nói trên trong việc khai thác “chất xám” của họ vào
hoạt động chung vì lợi ích của cộng đồng xã hội.
4.2.2.5. Cần phải tăng cường mở rộng hợp tác, giao lưu quốc tế với các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam
Cần xác định rõ tầm quan trọng của hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm
và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời
kỳ hội nhập quốc tế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nước ta hiện nay.
Trước hết, cần đổi mới tư duy lãnh đạo trong công tác phòng, chống tội phạm từ tư
duy quốc gia sang tư duy khu vực và toàn cầu; từ thụ động đối phó sang chủ động
tấn công và mở rộng hợp tác. Công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp
luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay phải có chiến lược
với sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ trung ương đến địa phương và tham gia, phối
hợp chặt chẽ giữa các lực lượng thi hành pháp luật, các cấp, các ngành và Nhân dân
để phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội; kết hợp tăng cường hội
nhập quốc tế về phòng, chống tội phạm đảm bảo chủ động phòng ngừa từ xa và
hợp tác có hiệu quả trong phòng, chống tội phạm. Muốn vậy trước hết các Cơ quan
thi hành pháp luật cần phải chủ động, tích cực hội nhập và triển khai thực hiện có
hiệu quả những cam kết hợp tác đa phương về phòng, chống tội phạm trong khuôn
161
khổ, diễn đàn hợp tác đa phương với tổ chức Liên hợp quốc, tổ chức INTERPOL,
ASEANAPOL; đặc biệt là hợp tác với các nước ASEAN theo tinh thần của Hiến
chương ASEAN. Với phương châm lấy công tác phòng ngừa tội phạm là chính,
đồng thời chủ động phát hiện và đấu tranh, ngăn chặn từ xa mọi hoạt động của các
băng nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia phù hợp với chính sách pháp luật
của Nhà nước và các ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên. Theo đó cần xây dựng
chiến lược hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam như sau:
- Một là, cần rà soát sửa đổi, bổ sung các hiệp định đã ký và ký kết các hiệp
định tương trợ tư pháp hình sự giữa Việt Nam với các nước có nhiều hoạt động hợp
tác song phương với nước ta trong hoạt động phòng, chống tội phạm và vi phạm
pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
quốc tế. Trước mắt, cần đưa nội dung hợp tác giữa quốc tế về phòng, chống tội
phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam thành
những điều khoản cụ thể trong các văn bản hiệp định, thỏa thuận ký kết giữa Việt
Nam với nước ngoài, đặc biệt là những nước có chung đường biên giới, cửa khẩu
hoặc phát triển đa dạng về quan hệ thương mại với Việt Nam như Trung Quốc,
Lào, Campuchia, Thái Lan...
- Hai là, tăng cường hợp tác quốc tế song phương giữa các lực lượng thực thi pháp luật nói chung và lực lượng CAND trong phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Theo đó các lực lượng, như CAND, Viện Kiểm sát nhân dân và TAND cần tăng cường hợp tác song phương với các đối tác nước ngoài, đặc biệt hợp tác với các nước láng giềng, các nước có quan hệ truyền thống và các nước có nhiều quan hệ hợp tác phòng, chống tội phạm và tư pháp hình sự với Việt Nam.
- Ba là, CAND cần tăng cường phối hợp trong triển khai thực hiện có chiều
sâu các kế hoạch hợp tác phòng, chống tội phạm giữa Bộ Công an Việt Nam với
các đối tác nước ngoài như Bộ Nội vụ Cam Pu Chia, Bộ Công an Lào, Bộ Công an
Trung Quốc... Để thực hiện có hiệu quả giải pháp này, cần có sự phối hợp chặt chẽ
giữa các đơn vị chức năng của Bộ Côn an với cơ quan tham mưu về hợp tác quốc tế
trong phòng, chống tội phạm như Văn phòng INTERPOL Việt Nam, Vụ Hợp tác
quốc tế... nhằm cụ thể hóa những nội dung hợp tác trong phòng ngừa tội phạm và
162
vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; đồng thời
tổng kết theo định kỳ nhằm đánh giá thực trạng kết quả thực hiện Kế hoạch, Thỏa
thuận để từ đó đề ra những nội dung, biện pháp mới phù hợp với điều kiện thực tiễn
của mỗi lực lượng nghiệp vụ ở trong nước cũng như phù hợp với chính sách pháp
luật của các nước liên quan...
- Bốn là, hợp tác với các tổ chức quốc tế có chức năng phòng, chống tội phạm như tổ chức INTERPOL, ASEANAPOL, các Cơ quan thực thi pháp luật của các nước phát triển có quan hệ hợp tác tốt với Việt Nam nhằm kêu gọi sự ủng hộ giúp đỡ về đào tạo chuyên sâu những kỹ năng điều tra và nâng cao trình độ pháp luật quốc tế cho cán bộ, chiến sỹ CAND, nhất là cần có cơ chế thuận lợi về việc cử cán bộ CAND đi học tập, nâng cao kỹ năng khám phá các vụ án đặc biệt nghiêm trọng liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; tranh thủ sự giúp đỡ về trang thiết bị, kinh nghiệm và đào tạo đội ngũ điều tra viên trực tiếp thụ lý các vụ án hình sự để đạt hiệu quả cao nhất. Để thực hiện được giải pháp này, cần khẩn trương xây dựng chiến lược tổng thể trong hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam với tổ chức INTERPOL, ASEANAPOL của lực lượng CAND, trong đó lực lượng CSND là lực lượng nòng cốt.
- Năm là, xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về mạng lưới sỹ quan liên lạc của lực lượng CSND ở nước ngoài nhằm tăng cường công tác nắm tình hình tội phạm và trực tiếp hợp tác với các đối tác nước ngoài trong thực hiện các yêu cầu phòng ngừa tội phạm từ xa. Theo đó cần xây dựng mạng lưới sỹ quan liên lạc của lực lượng CSND làm việc trong cơ cấu của Cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài nhằm tạo điều kiện cho hoạt động nghiệp vụ cơ bản của lực lượng CSND liên quan đến địa bàn ở nước ngoài, hỗ trợ cho công tác phòng ngừa tội phạm và phối hợp xử lý các yêu cầu cụ thể về lĩnh vực hợp tác Cảnh sát với các nước liên quan.
163
Kết luận Chương 4
Trên cơ sở nghiên cứu về điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Chương 4 của Luận án đã đưa ra những dự báo về tình hình thế giới và trong nước có liên quan đến thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND. Sự biến đổi không ngừng của KH-CN trên thế giới đã tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của quyền SHTT có yếu tố nước ngoài; sản phẩm, hàng hóa ngày càng được tạo ra dần đáp ứng nhu cầu của con người. Tuy nhiên, thế giới vẫn phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, kéo theo những hệ lụy tiêu cực. Hiện tượng sản xuất, buôn bán, tiêu thụ hàng giả, hàng vi phạm quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến và phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến các lĩnh vực của đời sống xã hội mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Từ việc tổng kết lý luận và thực tiễn, đồng thời dựa trên khả năng dự báo trong tương lai, Luận án đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND. Có hai nhóm giải pháp được đi sâu nghiên cứu và đề xuất trên cơ sở phù hợp với phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án, gồm: giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và giải pháp đổi mới công tác tổ chức, xây dựng lực lượng và các hoạt động cụ thể trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND. Đây là nội dung cuối cùng mà tác giả Luận án đề cập, khép lại toàn bộ quá trình nghiên cứu đề tài Luận án.
164
KẾT LUẬN
Thế giới đang chuyển mình theo xu hướng phát triển mạnh mẽ và không
ngừng của nền kinh tế trí thức. Cùng với tài nguyên thiên nhiên, giờ đây quyền
SHTT nói chung và quyền SHTT có yếu tố nước ngoài nói riêng đã trở thành tài
sản có vị trí vô cùng quan trọng, là nhân tố tạo nên sự hưng thịnh của mỗi quốc gia
trong cộng đồng quốc tế. Trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của WTO và
đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế thì tài sản trí tuệ hơn bao giờ hết, càng có ý nghĩa
đặc biệt đối với nước ta trên con đường xây dựng, hội nhập và phát triển. Cũng bởi
ý nghĩa đó, đòi hỏi Việt Nam cần phải đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động thực thi
quyền SHTT, nhất là đối với quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam để
chống lại những hành vi phạm tội và vi phạm pháp luật khác xâm hại tới lợi ích của
Nhà nước, của xã hội và của chủ thể quyền SHTT, đồng thời tạo điều kiện cho các
tổ chức, cá nhân nước ngoài gia tăng quan hệ đầu tư, thương mại... ở nước ta trong
một môi trường lành mạnh về SHTT.
Với tư cách là một cơ quan nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ ANQG, giữ gìn
TTATXH, lực lượng CAND đồng thời cũng là một đại diện của Nhà nước trong
thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Trong quá trình thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của mình, lực lượng CAND vừa là cơ quan tham mưu cho
Đảng và Nhà nước về bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH, vừa là cơ quan quản lý
Nhà nước trên mặt trận ANQG và TTATXH, đồng thời cũng là cơ quan tiến hành
tố tụng, trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam. Chính bởi vậy, hoạt động thực thi quyền
SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND đạt hiệu quả cao,
cũng đồng nghĩa với việc góp phần ổn định và phát triển đất nước, giữ vững độc
lập dân tộc và kiên định con đường xây dựng CNXH trong điều kiện hội nhập quốc
tế. Để đạt được mục tiêu đó, các biện pháp công tác và hoạt động của lực lượng
CAND phải tiến hành đổi mới, cải cách đồng bộ mới có thể đáp ứng được những
yêu cầu đặt ra trong tình hình hiện nay.
165
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình về thực thi quyền SHTT có yếu tố
nước ngoài ở Việt Nam, trong thời gian qua lực lượng CAND đã tiến hành triển
khai hiệu quả các mặt của công tác tham mưu, công tác quản lý Nhà nước và công
tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam. Trong các mặt công tác đó, đặc biệt phải kể đến các vụ
án xâm phạm ANQG có liên quan đến bí mật Nhà nước, bí mật kinh doanh, các vụ
án liên quan đến sản xuất, buôn bán, tiêu thụ hàng giả, hàng vi phạm quyền SHTT
có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam đã bị lực lượng CAND phát hiện, đấu tranh, xử
lý. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đã đạt được, việc thực thi quyền SHTT có
yếu tố nước ngoài của lực lượng CAND còn một số vấn đề cần phải được đổi mới,
bổ sung và hoàn thiện, trong đó quan trọng nhất là phải nâng cao nhận thức và sự
hiểu biết của cán bộ, chiến sĩ CAND về pháp luật nói chung, pháp luật về quyền
SHTT nói riêng, đồng thời cần phải xây dựng được cơ quan chuyên trách về thực
thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam của lực lượng CAND. Bên cạnh
đó, công tác nắm tình hình về SHTT phải được đặc biệt quan tâm, vì nếu không có
đầy đủ thông tin cần thiết về tội phạm và vi phạm pháp luật về quyền SHTT có yếu
tố nước ngoài ở Việt Nam thì không thể đề ra phương án và cách thức thực thi pháp
luật một cách có hiệu quả theo những mục tiêu đề ra.
Để thực thi hiệu quả quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam, cũng
đòi hỏi Nhà nước phải tạo ra được cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức
năng về thực thi quyền SHTT, bao gồm: CAND, UBND, QLTT, CQHQ, Thanh tra
chuyên ngành, TAND. Bên cạnh đó, cũng cần phải có cơ chế phối hợp hiệu quả
trong công tác trao đổi thông tin, hợp tác giữa lực lượng CAND với các Bộ, ngành,
nhà khoa học, doanh nhân, phóng viên báo chí, Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng...
Ngoài ra, cần có sự hợp tác chặt chẽ với các quốc gia, tổ chức quốc tế để tạo ra sự
đồng thuận cùng đấu tranh chống tội phạm nói chung, tội phạm và và vi phạm pháp
luật về quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam nói riêng.
Để có thể có đủ sức mạnh trong thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam, lực lượng CAND cũng cần phải được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước
166
và Nhân dân để được đầu tư xây dựng hoàn thiện theo hướng chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Thêm vào đó, hệ thống pháp
luật đồng bộ và hoàn thiện sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc để lực lượng CAND hoàn
thành tốt sứ mệnh của mình trong sự nghiệp bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH,
trong đó có thực thi quyền SHTT có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam.
Mặc dù đã nỗ lực nghiên cứu, nhưng vì đề tài nghiên cứu của Luận án là vấn
đề khá mới mẻ, liên quan đến nhiều lĩnh vực tương đối nhạy cảm, nên tác giả khó
tránh khỏi những điểm khiếm khuyết cả về mặt nội dung và hình thức. Tác giả
Luận án mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thày, cô giáo,
các nhà khoa học và các chuyên gia về SHTT để Luận án được hoàn thiện với chất
lượng cao hơn./.
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Nguyễn Vĩnh Diện (2008), Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO và những vấn đề đặt ra đối với công tác của lực lượng An ninh nhân dân, Đề tài khoa học cấp Học viện, Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội;
2. Nguyễn Vĩnh Diện (2009), “Về quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật Việt
Nam”, Tạp chí Thương mại (8), Hà Nội;
3. Nguyễn Vĩnh Diện (2009), “Một số cam kết chủ yếu của Việt Nam về thực
thi quyền sở hữu trí tuệ khi gia nhập WTO”, Tạp chí Thương mại (20), Hà Nội;
4. Nguyễn Vĩnh Diện (2013), “Luận bàn về khái niệm quy mô thương mại trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam”, Tạp chí Cảnh sát phòng, chống tội phạm (2), Hà Nội;
5. Nguyễn Vĩnh Diện (2008), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Học viện An ninh
nhân dân, Hà Nội.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. Nguyễn Thị Quế Anh (2003), “Bí mật kinh doanh và các tiêu chí bảo hộ”, Tạp
chí Thương mại, (22), Hà Nội.
2. Nguyễn Bá Bình (2005), “Sự giao thoa giữa các đối tượng của quyền sở hữu trí
tuệ”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (10), Hà Nội.
3. Trần Thanh Bình (2005), “Quyền tác giả đối với tác phẩm viết trong pháp luật
dân sự Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
4. Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
5. Bộ luật Dân sự năm 1995.
6. Bộ Luật dân sự năm 2005.
7. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
8. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.
9. Bộ Công an (2004), Kỷ yếu Hội thảo khoa học khoa học thực tiễn an ninh, trật tự
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế , Hà Nội.
10. Ban chỉ đạo 127/TW (2010), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện chỉ thị
31/1999/CT-TTg và 02 năm thực hiện Chỉ thị 28/2008/CT - TTg của Thủ tướng
Chính phủ về đấu tranh sản xuất và buôn bán hàng giả, Hà Nội.
11. Bộ Khoa học và Công nghệ (2012), Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chương
trình hành động về hợp tác phòng và chống xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ giai
đoạn 2006 - 2010, Hà Nội.
12. Bộ Công an (2013), Kỷ yếu Hội thảo khoa học bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới - Quan điểm, nhận diện và
khuyến nghị, Hà Nội.
13. Bộ Công an (2008), Kỷ yếu hội thảo khoa học công tác phòng ngừa, đấu tranh
chống tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, đầu tư, tài chính trên
mạng Internet, Hà Nội.
14. Bộ Tư pháp (2006), Bình luận Bộ luật dân sự năm 1995, NXB Tư pháp, Hà Nội
15. Bộ Tư pháp (2006), Bình luận Bộ luật dân sự năm 2005, NXB Tư pháp, Hà Nội
16. Cục Cảnh sát kinh tế (2004), Báo cáo tham luận tại Hội nghị toàn quốc về thực
thi quyền sở hữu trí tuệ, Hà Nội.
17. Cục Cảnh sát điều tra về tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (2012),
Báo cáo tổng kết 10 năm về công tác phòng, chống hàng giả và vi phạm sở hữu trí
tuệ, Hà Nội.
18. Cục Cảnh sát điều tra về tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (2012),
Công văn số 1647/C46 (P8) ngày 27/12/2012 về việc cung cấp thông tin tội phạm
và vi phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài, Hà Nội.
19. Công an Hà Nội (2005), Báo cáo kết quả khám phá chuyên án 205 - C, Hà Nội.
20. Công an Hà Nội (2008), Báo cáo kết quả khám phá vụ án sản xuất, buôn bán
hàng giả là thuốc chữa bệnh xảy ra tại Hà Nội, Hà Nội.
21. Công an Hà Nội, Báo cáo kết quả và kế hoạch triển khai công tác về đấu tranh
chống hàng giả và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trong các năm từ 2003 đến năm
2013, Hà Nội.
22. Công an TP Hồ Chí Minh (2013), Công văn số 06/CV-PV11 (Đ4) ngày
03/01/2013 về việc cung cấp thông tin, số liệu, đánh giá công tác đấu tranh phòng,
chống tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có yếu tố nước
ngoài, TP Hồ Chí Minh.
23. Công an tỉnh Quảng Ninh (2012), Công văn số 76/CAT- PC46 ngày 26/12/2012
về việc trao đổi thông tin trong công tác phòng, chống tội phạm về sở hữu trí tuệ có
yếu tố nước ngoài, Quảng Ninh.
24. Công an TP Hải Phòng (2012), Công văn số 148/PC46 (Đ1) ngày 27/12/2012
về việc cung cấp thông tin, số liệu, đánh giá công tác đấu tranh phòng, chống tội
phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài tại
Việt Nam giai đoạn 2007 - 2012, Hải Phòng.
25. Công an tỉnh Hòa Bình (2011), Báo cáo tình hình hoạt động buôn lậu, gian lận
thương mại năm 2011, Hòa Bình.
26. Công an tỉnh Điện Biên (2012), Báo cáo kết quả chống buôn lậu, hàng giả và
gian lận thương mại năm 2012, Điện Biên.
27. Công an tỉnh Lào Cai (2012), Báo cáo tổng kết tình hình, kết quả công tác đấu
tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2012, Lào Cai.
28. Công an tỉnh Đăklăc (2013), Báo cáo tình hình công tác 6 tháng đầu năm và
triển khai công tác 6 tháng cuối năm, Đắklăc.
29. Công an tỉnh Lạng Sơn (2012), Báo cáo tổng kết tình hình, kết quả công tác
đấu tranh phòng, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại năm 2012,
Lạng Sơn.
30. Công an tỉnh Nghệ An, Báo cáo tình hình công tác 6 tháng đầu năm và triển
khai công tác 6 tháng cuối năm của Công an tỉnh Nghệ An, Nghệ An.
31. Cục Nghệ thuật biểu diễn (2012), Công văn số 945/NTBD ngày 21/12/2012 về
việc cung cấp thông tin vi phạm pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có yếu tố
nước ngoài, Hà Nội.
32. Cục Trồng trọt (2012), Công văn 2875/TT - KHTC ngày 25/12/2012 về việc báo
cáo tình hình thực thi quyền sở hữu trí tuệ, Hà Nội.
33. Cục Hải quan Hà Nội, Công văn số 3278/HQHN - CBL ngày 28/12/2012 về
việc cung cấp thông tin về các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có
yếu tố nước ngoài, Hà Nội.
34. Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh (2013), Công văn số 09/HQHCM-CBLXL ngày
02/01/2013 về việc cung cấp thông tin vi phạm về sở hữu trí tuệ, TP Hồ Chí Minh.
35. Chi cục Quản lý Thị trường Hà Nội (2013), Báo cáo công tác đấu tranh chống
hàng giả, gian lận thương mại trên địa bàn thành phố năm 2013, Hà Nội.
36. Cục sở hữu trí tuệ (2007), Kỷ yếu Hội thảo khoa học về giảng dạy và đào tạo
SHTT trong các trường đại học và cao đẳng, Hà Nội.
37. Cục sở hữu trí tuệ (2006), Cẩm nang sở hữu trí tuệ, NXB Văn hóa - Thông tin,
Hà Nội.
38. Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 21/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về chống
hàng giả.
39. Công ước Berne 1886 về bảo vệ quyền tác giả.
40. Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền SHCN.
41. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (2006), “Gia nhập WTO, cơ hội và
thách thức đối với chúng ta”, Báo Nhân dân 20/12/2006, Hà Nội.
42. Nguyễn Vĩnh Diện (2008), Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong điều kiện Việt
Nam là thành viên WTO và những vấn đề đặt ra đối với công tác của lực lượng An
ninh nhân dân, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện ANND, Hà Nội.
43. Lê Hoài Dương (2009),“Bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam”, Tạp chí Toà
án (2), Toà án nhân dân tối cao, Tr. 22-23.
44. Lê Thị Nam Giang (2008), “Bảo hộ quyền SHTT theo Hiệp định thương mại
Việt - Mỹ”, Tạp chí Khoa học pháp lý (4), Tr. 28.
45. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
46. Hiệp định TRIPS về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền SHTT.
47. Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2000.
48. Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (2012), Công văn số
200/HCTH&BVNTDVN về việc cung cấp thông tin vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài, Hà Nội.
49. Ngô Văn Hiệp (2005), “Quyền tác giả trong lĩnh vực xuất bản, thực trạng và
giải pháp”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (12), Hà Nội.
50. Học viện An ninh nhân dân (2008), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Hà Nội.
51. Học viện An ninh nhân dân (2007), Giáo trình Luật dân sự, Hà Nội.
52. Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006).
53. Lê Việt Long (2005) “Xâm phạm quyền SHCN - những vấn đề đặt ra từ thực
tiễn”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (5), Hà Nội.
54. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
55. Luật Chuyển giao công nghệ năm 2010.
56. Luật An ninh quốc gia năm 2004;
57. Luật Công an nhân dân năm 2005;
58. Luật Hải quan năm 2005;
59. Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
60. Nghị quyết số 48 - NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 về “Chiến lược
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng
đến năm 2020”.
61. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X, XI.
62. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị Trung ương 6 khóa
XI “Về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế”.
63. TS. Lê Đình Nghị và TS Vũ Thị Hải Yến (2009), Giáo trình Luật Sở hữu trí
tuệ, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
64. Lê Đình Nghị (2002), “Hợp đồng sử dụng tác phẩm theo quy định của Bộ luật
Dân sự”, Luận văn Thạc sĩ Luật học , Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
65. Nguyễn Bá Ngừng (2002), Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp và trách nhiệm của
cơ quan Công an - Thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Công an,
Hà Nội.
66. Lê Hoài Nam (2008), Thực trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và các giải pháp
phòng, chống của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Công
an, Hà Nội.
67. Nghị định của Chính phủ số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 về xử phạt hành
chính trong lĩnh vực SHCN.
68. Nghị định của Chính phủ số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật SHTT 2005, bảo vệ QUYềN SHTT và
quản lý Nhà nước về SHTT.
69. Nghị định số 104/2006/NĐ- CP ngày 22/9/2006 về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giống cây trồng.
70. Nghị định của Chính phủ số 97/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 quy định việc xử lý
vi phạm hành chính và cưỡng chế hành chính tronh lĩnh vực hải quan.
71. Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn
Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền
tác giả.
72. Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử
phạt vi phạm hành chính về QTG và QLQ.
73. Nguyễn Như Quỳnh (2004), “Một số vấn đề giải quyết tranh chấp quyền sở
hữu trí tuệ theo thủ tục Tố tụng dân sự”, Tạp chí Luật học (số đặc san về Bộ luật
Tố tụng dân sự), Hà Nội, Tr. 69.
74. Điêu Ngọc Tuấn (2004), “Khái quát về quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả ở
Việt Nam” , Tạp chí Toà án (5), Toà án nhân dân tối cao, Hà Nội.
75. Lê Xuân Thảo; “Đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ
quyền SHTT trong nền kinh tế thị trường Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ , trường Đại
học Luật Hà Nội, Hà Nội.
76. Luật Thương mại năm 2005.
77. Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006.
78. Luật Doanh nghiệp năm 2005.
79. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
80. Kiều Thị Thanh (1999), “Một số vấn đề về quyền tác giả trong Bộ luật Dân sự
Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
81. Trường Đại học Luật Hà Nội (207), “Giáo trình Luật dân sự”, NXB CAND,
Hà Nội.
82. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Kỷ yếu Hội thảo khoa học về các giải
pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ, đẩy mạnh thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên địa
bàn Thành phố Hà Nội, Hà Nội.
83. Trường Đại học Luật Hà Nội (1992), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Tư
pháp, Hà Nội.
84. Trường Đại học Luật Hà Nội (1992), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB Tư
pháp, Hà Nội.
85. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Tư pháp quốc tế, NXB CAND,
Hà Nội.
86. Nguyễn Thị Hồng Yến (2004), “Thực thi quyền SHTT theo Hiệp định
TRIPS/WTO trong mối tương quan so sánh với Pháp luật Việt Nam”, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
87. Vũ Thị Hải Yến (2003), “Kiến nghị sửa đổi các quy định về quyền tác giả
trong Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Luật học (số đặc san 11/2003), Trường Đại học
Luật Hà Nội, Hà Nội, Tr. 83- 89.
88. Http://www.Chinhphu.gov.vn
89. Http://www.CAND.com.vn.
90. Http//www. Vietlaw.gov.vn.
91. Http://www.WTO.org
92. Http://www. Vietnamnet.com.vn
93. Http://www. Google.com.vn
Tài liệu bằng tiếng Anh
94. Blakeney, M. Trade related Aspect of Intellecture Property Rights. (London:
Sweet and Maxwell, 1996).
95. Correa, C. and A.A. Yusuf (eds) Intellecture Property and International Trade:
The TRIPS Agreement. (London, Boston: Kluwer Law International, 1998).
96. Cho Un Young (2012), Seminar on Interlectual Property Right for ASEAN
countries, IIPTI, Korea.
97. Doern, B. Global Change and Intellecture Property Agencies: An Institutional
Perpective. ( London: Routledge, 1999).
98. Fink, C. and K.E. Maskus (eds) Intellecture Property and Development:
Lessons from Recent Economic Reseach. (World Bank, 2004).
99. Drahos, P. and R. Mayne Global Intellecture Property Rights: Knowledge,
Access & Deverlopment. (London: Macmillan, 2001).

