HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN XUÂN HƯNG

CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

HÀ NỘI - 2016

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN XUÂN HƯNG

CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

Mã số: 62 31 02 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. NGÔ HUY TIẾP

HÀ NỘI - 2016

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên c ứu của

riêng tôi. Các số liệu nêu trong lu ận án là trung th ực, có

nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Xuân Hưng

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN C ỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6

1.1. Các công trình khoa học về công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã

hội ở nước ngoài 6

1.2. Các công trình khoa học về công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã

hội ở Việt Nam 8

1.3. Kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết 16

Chương 2: CÁC T ỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG H ỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HI ỆN CÔNG BẰNG XÃ H ỘI GIAI ĐOẠN HI ỆN NAY - NH ỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 18

2.1. Các tỉnh, tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng và công bằng xã hội, thực hiện

công bằng xã hội 18

2.2. Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội -

khái niệm, nội dung và phương thức 52

Chương 3: THỰC HI ỆN CÔNG B ẰNG XÃ H ỘI VÀ CÁC T ỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM 64

3.1. Thực trạng thực hiện công bằng xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng 64

3.2. Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội -

thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm 79

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐỐI VỚI THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2025 108

4.1. Dự báo những nhân tố tác động và phương hướng tăng cường sự lãnh đạo

của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng đối với thực hiện công bằng xã hội 108

4.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở

đồng bằng sông Hồng đối với thực hiện công bằng xã hội 119

KẾT LUẬN 149

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA H ỌC CỦA TÁC GI Ả ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 164

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBXH : Công b

ằng xã hội

CNXH : Ch

ủ nghĩa xã hội

CNH, HĐH : Công nghi ệp hóa, hiện đại hóa

ĐBSH :

Đồng bằng sông Hồng

HTCT : H

ệ thống chính trị

KTTT : Kinh t

ế thị trường

MTTQ : M

ặt trận Tổ quốc

Nxb : Nhà xu

ất bản

PTLĐ : Ph

ương thức lãnh đạo

QPAN : Qu

ốc phòng, an ninh

XHCN : Xã h

ội chủ nghĩa

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp, công bằng xã hội (CBXH) luôn là

khát vọng và mục tiêu đấu tranh của con người. Trong thời đại ngày nay, cùng với

sự tăng trưởng của kinh tế và sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ,

nhu cầu về quyền con người về CBXH đã thật sự trở thành tiêu chí, điều kiện để

đánh giá sự phát tri ển bền vững và ti ến bộ của mỗi quốc gia, dân tộc và ch ế độ

chính trị do các chính đảng cầm quy ền lãnh đạo và điều hành. Với ý ngh ĩa đó,

CBXH đang và sẽ là một vấn đề lớn trên con đường phát triển của mỗi quốc gia và

toàn thể nhân loại.

Ở Việt Nam hiện nay, thực hiện CBXH không những là nguyện vọng chính

đáng của nhân dân, mà trở thành một nhu cầu bức thiết, là mục tiêu và động lực của

công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và

lãnh đạo. Việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và kiên trì phấn

đấu đi theo con đường đó là sự khẳng định nhận thức chính trị sâu sắc, có tầm chiến

lược và trách nhiệm cao của Đảng đối với việc thực hiện CBXH, nhất là khi Đảng

trở thành đảng cầm quyền. Điều đó, cũng khẳng định vai trò to lớn của CBXH đối

với xây dựng thành công CNXH ở nước ta: CBXH vừa là mục tiêu, vừa là động lực

của sự nghiệp xây dựng CNXH.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng

định đường lối xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp

hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và

công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong toàn bộ quá trình phát triển. Công

bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện

cho mọi người có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình” [17, tr.113].

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng định phải: “thực

hiện tiến bộ và công b ằng xã hội ngay trong từng bước và chính sách phát tri ển,

thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và

nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ” [24, tr.101]. Những chủ trương, quan điểm và

2

quyết định đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về CBXH đã được các cấp uỷ, chính

quyền địa phương lãnh đạo thực hiện đạt nhiều thành tựu lớn.

Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là vùng có v ị trí, vai trò r ất quan trọng về

chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh với những tiềm năng, thế mạnh về phát

triển kinh tế và thực hiện CBXH. Trong 30 năm qua, các tỉnh uỷ trong vùng đã coi

trọng lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện

CBXH, đạt kết quả quan trọng. Ở các tỉnh vùng này, kinh tế tăng trưởng khá nhanh,

chính trị ổn định, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện và nâng

lên; CBXH trong giáo dục đào tạo được cải thiện; CBXH trong chăm sóc và bảo vệ

sức khỏe, văn hóa, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện các quyền

của công dân... được cải thiện.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế, thực hiện CBXH nói

trên, tình trạng phân hóa giàu nghèo cũng đang diễn ra nhanh và có xu hướng mở

rộng ở các tỉnh ĐBSH. Sự phân hóa ấy càng gây bức xúc xã hội hơn khi một số

người giàu lên nhanh chóng do làm ăn phi pháp, tham nhũng, lãng phí và thu nhập

không chính đáng; trong khi, với nhiều gia đình trong di ện chính sách và ng ười

nghèo, Nhà nước đang thiếu nguồn lực để chăm sóc, hỗ trợ. Tình trạng thất nghiệp,

bất bình đẳng giới và sự xuống cấp của các dịch vụ y tế, giáo dục, sự gia tăng của

các tệ nạn xã hội và tai nạn đang đòi hỏi phải được giải quyết.

Trong lãnh đạo thực hiện CBXH, bên cạnh những ưu điểm và kết quả nêu

trên, việc tổ chức thực hiện các ch ủ trương, chính sách của Đảng về CBXH còn

nhiều hạn chế. Ở một số nơi, cấp ủy lãnh đạo thực hiện CBXH chưa gắn chặt với

lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội. Trình độ, năng lực lãnh đạo thực hiện CBXH

của nhiều cấp ủy và cán bộ chủ chốt các cấp còn nhiều bất cập. Một số ít cán bộ

tham nhũng cả nguồn kinh phí của Nhà nước về cứu trợ thiên tai, hỗ trợ gia đình

khó khăn, gia đình chính sách. Việc phát huy vai trò c ủa chính quyền trong thực

hiện CBXH chưa mạnh mẽ. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thể

chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong thực hiện CBXH ở nhiều

nơi ch ưa được phát huy m ạnh mẽ. Công tác ki ểm tra, giám sát vi ệc th ực hi ện

3

CBXH chưa thường xuyên, nhiều yếu kém... Việc phát huy ưu điểm, khắc phục

khuyết điểm, tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở ĐBSH trong th ực hi ện

CBXH đang thực sự là vấn đề cấp thiết, cần được đầu tư nghiên cứu thỏa đáng.

Để góp ph ần thực hiện vấn đề cấp thiết nêu trên, nghiên cứu sinh chọn và

thực hiện đề tài “Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện công

bằng xã hội giai đoạn hiện nay” làm luận án tiến sĩ khoa học chính trị.

2. Mục đích, nhiệm vụ của luận án

2.1. Mục đích

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tỉnh ủy ở ĐBSH

lãnh đạo thực hiện CBXH giai đoạn hiện nay, luận án đề xuất những giải pháp chủ

yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh uỷ đối với thực hiện CBXH ở các tỉnh

ĐBSH đến năm 2025.

2.2. Nhiệm vụ

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.

- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực

hiện CBXH.

- Khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện CBXH và các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh

đạo thực hiện CBXH trong giai đoạn hiện nay, tập trung vào thời kỳ từ năm 2006

đến nay, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và những kinh nghiệm.

- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh

đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy ở ĐBSH đến năm 2025.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án

Luận án nghiên cứu: Các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH giai

đoạn hiện nay.

3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án

- Luận án tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện CBXH và các

tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH từ năm 2006 đến nay.

- Phương hướng và giải pháp đề xuất trong luận án có giá trị đến năm 2025.

4

4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

4.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn

- Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,

quan điểm, đường lối của Đảng ta về CBXH và Đảng lãnh đạo các lĩnh vực đời

sống xã hội.

- Cơ sở thực tiễn của luận án là các t ỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo các tổ chức

trong hệ th ống chính tr ị (HTCT), các t ổ ch ức kinh tế, tổ ch ức xã hội th ực hi ện

CBXH trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp lu ận của chủ nghĩa Mác-

Lênin; đồng thời sử dụng các ph ương pháp chuyên ngành và liên ngành ch ủ yếu

như: phương pháp logic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; thống kê, so sánh; tổng

kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia...

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Khái niệm:

Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử, mang tính giai cấp, dùng để chỉ

trình độ phát triển của một chế độ xã hội, được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực

đời sống xã hội, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội..., phản

ánh mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa

thưởng và ph ạt của cá nhân (nhóm xã h ội), bảo đảm cho xã h ội phát tri ển ổn

định, hài hòa, phù h ợp với xu th ế phát tri ển của xã hội loài ng ười, vừa là khát

vọng của con người, vừa là động lực, mục tiêu phát triển của xã hội.

Các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH là toàn bộ hoạt động của

các tỉnh ủy, trên cơ sở quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và

pháp lu ật của Nhà n ước về th ực hi ện CBXH, ban hành các ngh ị quy ết, quy ết

định về thực hiện CBXH, chỉ đạo các cấp uỷ trực thuộc, các cơ quan nhà n ước,

các lực lượng xã hội ở địa phương tổ chức thực hiện; đồng thời kiểm tra, giám

sát việc thực hiện để các ngh ị quyết của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH tr ở thành

hiện thực.

- Luận án tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện CBXH: các tỉnh ủy tập

trung lãnh đạo chính quy ền tỉnh tổ ch ức th ực hi ện th ắng lợi ch ủ tr ương, ngh ị

5

quyết của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH; đồng thời phối hợp chặt chẽ với lãnh đạo

đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã

hội và các tổ chức xã hội tham gia vào thực hiện CBXH ở địa phương.

- Luận án đề xuất hai giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của

các tỉnh uỷ ở các tỉnh ĐBSH đối với thực hiện CBXH đến năm 2025: Một là, đổi

mới quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện tốt một số nghị quyết chuyên đề của

tỉnh uỷ về phát triển kinh tế tạo cơ sở vững chắc để thực hiện công bằng xã hội.

Hai là, tỉnh ủy lãnh đạo chặt chẽ công tác thanh tra, x ử lý sai ph ạm trong th ực

hiện CBXH; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về tỉnh ủy ở

ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án có th ể được dùng làm tài li ệu tham kh ảo

phục vụ quá trình lãnh đạo của các tỉnh ủy ở ĐBSH đối với thực hiện CBXH trong

những năm tới.

Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo

phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu về Xây dựng Đảng ở các trường chính trị

tỉnh, thành phố thuộc ĐBSH.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả đã

công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm

4 chương, 9 tiết.

6

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Trong thời kỳ đổi mới thực hiện kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã

hội chủ nghĩa (XHCN) CBXH và thực hiện CBXH là vấn đề đặc biệt quan trọng,

thu hút khá nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ những góc độ, khía cạnh khác nhau,

đạt kết quả quan trọng. Kết quả nghiên cứu của nhiều công trình đã được công bố

trên sách, báo, tạp chí, tham luận hội thảo khoa học, tổng quan các đề tài khoa học,

luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ. Các công trình tiêu biểu liên quan trực tiếp đến đề

tài luận án, gồm:

1.1. CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ THỰC

HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC NGOÀI

1.1.1. Công trình của các nhà khoa học Trung Quốc

- Cát Chí Hoa, Từ nông thôn mới đến đất nước, con người [39]. Cuốn sách tập

hợp các bài nghiên cứu về thực trạng và biến động của nông thôn Trung Quốc trong

công cuộc CNH, HĐH nông nghi ệp, nông thôn, khái quát nh ững vấn đề lý lu ận,

nguồn gốc hình thành và những đặc trưng của vấn đề "tam nông" ở Trung Quốc.

- Dang Guoying, Agriculture, rural areas and farmers in China (Nông

nghiệp, nông thôn và nông dân ở Trung Quốc) [11]. Cuốn sách khái quát về nông

nghiệp, các vùng nông thôn và các trang trại ở Trung Quốc; phân tích tình hình kinh

tế và xã h ội ở các khu v ực nông thôn Trung Qu ốc; sự thành th ị hóa và s ự luân

chuyển dân số nông thôn ra thành thị, đưa ra phương hướng xây dựng một số vùng

nông thôn mới.

Hai công trình trên cung cấp một số điểm để xây dựng khung lý thuyết của

luận án.

- Quyết định của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về Xây

dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa [35]. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị đối

với luận án. Những nội dung bổ ích, gồm: quan niệm, nguyên tắc xây dựng xã hội

hài hòa XHCN. Đáng quan tâm h ơn là các gi ải pháp xây d ựng xã hội hài hòa

7

XHCN, gồm: đảm bảo phát triển cân đối, chú trọng phương diện xã hội của phát

triển; xây dựng văn hóa, củng cố nền tảng tư tưởng đạo đức của xã hội hài hòa;

hoàn thiện quản lý xã hội, duy trì xã hội ổn định có trật tự; tăng cường sự lãnh đạo

của Đảng đối với việc xây dựng xã hội hài hòa XHCN.

- Trác Vệ Hoa, Lý luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông thôn Trung

Quốc 30 năm qua [40]. Tác gi ả phân kỳ sự phát triển của nông thôn Trung Qu ốc

qua 30 năm thành 4 giai đoạn: từ năm 1978 đến năm 1984 là giai đoạn đột phá cải

cách nông thôn; từ năm 1985 đến năm 1991 là giai đoạn thúc đẩy cải cách toàn diện

nông thôn; từ năm 1992 đến năm 2001 là giai đoạn cải cách nông thôn chuyển toàn

diện sang thể chế kinh tế thị trường XHCN; từ năm 2002 đến nay là giai đoạn mới

tính toán tổng th ể phát tri ển thành th ị và nông thôn, xây d ựng nông thôn m ới

XHCN. Tác giả khái quát những thành tựu quan trọng và rút ra một số kinh nghiệm,

đồng thời nêu một số giải pháp thúc đẩy xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc.

1.1.2. Công trình của các nhà khoa học Lào

- Phêng-Pha Văn Đao-Phon-Cha Rơn, Về vấn đề nâng cao sử dụng vốn đầu

tư của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở Cộng hòa Dân chủ

nhân dân Lào [70]. Luận án nêu những nguyên lý cơ bản về hiệu quả đầu tư; phân

tích thực trạng đầu tư nhà nước vào lĩnh vực kinh tế - xã hội nông thôn Lào, đưa ra

các giải pháp về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nhà nước trong phát triển

kinh tế - xã hội nông thôn ở Lào. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của Nhà

nước trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn là một giải pháp quan trọng thực

hiện CBXH. Công trình này là tài liệu tham khảo tốt để luận án đề xuất giải pháp.

- Khăm-Bay Ma-La-Sinh, Thực trạng đói, nghèo trong các h ộ gia đình ở

nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, kiến nghị về chính sách, giải pháp [49]. Luận văn đã

hệ thống hóa, đường lối, quan điểm về chính sách xã hội của Đảng Nhà nước Lào;

đánh giá thực trạng đói, nghèo ở nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, chỉ rõ quy mô, mức

độ đói nghèo của các hộ gia đình; nêu một số kiến nghị về chính sách và các giải

pháp xóa đói, giảm nghèo của tỉnh. Luận văn cung cấp một số điểm để xác định

nguyên nhân và giải pháp của luận án.

8

- Xỉn-Xỏn Phun-Bun-Sỉ, Kinh tế nông thôn ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân

Lào thời kỳ đổi mới [145]. Luận án làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển

kinh tế nông thôn Lào thời kỳ đổi mới; phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông

thôn; đề xuất sáu giải pháp phát tri ển kinh tế nông thôn Lào hi ện nay. Trong đó,

phát triển kinh tế nông thôn là một giải pháp quan trọng của thực hiện CBXH, có

giá trị tham khảo tốt đối với luận án.

- Bun-Thoong Chit-Ma-Ni, Đảng Nhân dân cách m ạng Lào lãnh đạo xây

dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay [7]. Luận án nêu quan niệm về nông

thôn mới và ch ỉ rõ nh ững đặc trưng cơ bản của nông thôn mới ở Lào; khái ni ệm

Đảng Nhân dân cách m ạng Lào lãnh đạo xây d ựng nông thôn m ới, nội dung,

phương thức, quy trình Đảng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới. Tác giả khái quát

thực trạng Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới, đề

xuất phương hướng và sáu gi ải pháp ch ủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của

Đảng Nhân dân cách mạng Lào đối với xây dựng nông thôn mới giai đoạn hiện nay.

1.2. CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ THỰC

HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

1.2.1. Sách, đề tài khoa học

- Lê Bộ Lĩnh (chủ biên), Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số

nước châu Á và Việt Nam [54].

Sau khi nêu các quan niệm khác nhau về tăng trưởng kinh tế và CBXH, và

mối quan hệ giữa hai yếu tố này, cuốn sách khái quát mô hình tổng quát lý giải tăng

trưởng kinh tế đi liền với CBXH ở các nước Đông Á; những chính sách giảm bất

bình đẳng (dân chủ hóa kinh tế, cải cách ru ộng đất và phát tri ển nông thôn, phát

triển doanh nghi ệp vừa và nh ỏ, đầu tư phát tri ển ngu ồn nhân lực và tạo lập th ị

trường lao động linh hoạt, chính sách phúc lợi xã hội về nhà ở, xây dựng bộ máy

nhà nước trong sạch và hiệu quả).

Tiếp theo các tác giả nêu sự tăng trưởng kinh tế và CBXH ở một số nền kinh

tế Đông Bắc Á (Nh ật Bản, Hàn Qu ốc, Đài Loan), Đông Nam Á (Malaixia, Thái

Lan). Bài học về CBXH gắn với tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản nửa sau thế kỷ

XX; kinh nghiệm của Hàn Quốc về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế

9

và CBXH theo quan điểm tăng trưởng kinh tế góp phần làm giảm bất bình đẳng thu

nhập; thực hiện CBXH thông qua việc tạo dựng các cơ hội việc làm và các phúc lợi

xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân; đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục - đào

tạo; kinh nghiệm của Đài Loan về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế

và CBXH thông qua một số chính sách như cải cách ruộng đất; bình đẳng trong thu

nhập; hỗ trợ nông nghiệp... trong những năm 50-60 của thế kỷ trước.

Từ đó, các tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn

mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và CBXH ở nước ta, gồm: tăng trưởng kinh tế

phải gắn liền với tiến bộ và CBXH ngay trong t ừng bước và trong su ốt quá trình

phát triển; tăng cường hơn nữa công tác kế hoạch hóa gia đình; xóa đói giảm nghèo;

chống tham nhũng, buôn lậu; xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; phát triển y tế,

giáo dục; phát huy vai trò của Nhà nước trong thực hiện CBXH.

- Lê Văn Sang, Kim Ng ọc (đồng chủ biên), Tăng trưởng kinh tế và công

bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn “thần kỳ” và Việt Nam thời kỳ “đổi mới” [83].

Theo các tác giả sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nền kinh tế Nhật Bản

nhanh chóng phục hồi và có bước phát triển nhảy vọt, do nhiều nguyên nhân, đặc

biệt đã tạo được môi trường thuận lợi cho các công ty ho ạt động nhờ tạo dựng cơ

chế thị trường, cơ chế quản lý kinh tế hợp lý; ý thức trách nhiệm của mỗi người dân,

mỗi công ty...

Trên cơ sở kinh nghiệm của Nhật Bản các tác giả khảo sát thực trạng tăng

trưởng kinh tế và CBXH ở nước ta sau 10 năm đổi mới, đánh giá các biện pháp,

chương trình qu ốc gia th ực hiện tăng trưởng kinh tế và CBXH. Đồng thời, luận

giải một số gi ải pháp ch ủ yếu nh ằm gi ải quy ết mối quan h ệ gi ữa tăng tr ưởng

kinh tế và CBXH.

- Trịnh Quốc Tuấn (chủ nhiệm), Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và

công bằng xã hội trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế

thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta [135]. Các tác giả bàn đến

nhiều nội dung như quan niệm mới về phát triển và phương hướng phát triển kinh tế

- xã hội ở nước ta (GS.TS Đỗ Thế Tùng); mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và

thực hiện CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam (GS.TS Nguyễn

10

Ngọc Long); hậu quả xã hội của quá trình tăng trưởng kinh tế qua thực tiễn đổi mới

ở Việt Nam và Trung Quốc (TS Hoàng Thị Thành); những vấn đề xã hội cần giải

quyết để phục vụ trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế (TS Nguyễn Hữu Dũng); về phân

tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp (TS

Phạm Hảo); sự lựa ch ọn và th ực hi ện chính sách xã h ội bảo đảm kết hợp tăng

trưởng kinh tế với tiến bộ, CBXH trong điều kiện phát triển KTTT theo định hướng

XHCN ở nước ta (TS Nguy ễn Thanh Tu ấn). Kỷ yếu cũng cung cấp cho lu ận án

nhiều điểm quan trọng để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của luận án.

- Bộ Lao động - Th ương binh và Xã h ội, Vấn đề phân ph ối và phân hóa

giàu nghèo trong điều kiện phát tri ển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội

chủ nghĩa ở nước ta [5]. Các tác giả tập trung luận bàn về phân phối và phân hóa

giàu nghèo trong điều kiện phát triển KTTT định hướng XHCN ở nước ta; đánh

giá quá trình thể chế hóa và thực hiện các chủ trương, đường lối đó, chỉ ra kết quả,

hạn chế, nguyên nhân; ki ến nghị giải pháp gi ải quyết vấn đề phân ph ối và phân

hóa giàu nghèo. Đáng chú ý là các tham lu ận về phân phối và tác động của phân

phối đến sự phân hóa giàu nghèo trong n ền KTTT của GS Đỗ Thế Tùng; phân

phối, tăng trưởng và công bằng trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam

của TS Đặng Đức Đạm; CBXH và mối quan hệ giữa CBXH với tăng trưởng kinh

tế của PGS.TS Trần Đình Thiên...

- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS), German Catholic Action For

Human Development (MISEREOR), "Công bằng xã hội, trách nhi ệm xã hội và

đoàn kết xã hội" "social justice, social responsibility and social solidarity" [142].

Có 35 tham luận được đưa vào kỷ yếu của Hội thảo. Qua các tham lu ận, các nhà

khoa học đưa ra các quan niệm về CBXH, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội;

quan hệ giữa CBXH với trách nhiệm xã hội và với đoàn kết xã hội; các chức sắc tôn

giáo đưa ra quan niệm của các tôn giáo về CBXH, trách nhiệm xã hội và về đoàn

kết xã hội theo thế giới quan của họ; đề xuất các giải pháp giải quyết có hiệu quả

mối quan hệ đó.

- Nguyễn Gia Thơ, Vấn đề công bằng và bình đẳng trong lịch sử triết học

phương Tây [91].

11

Sau khi trình bày tư tưởng của các nhà triết học phương Tây, tác giả nêu bật

quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về CBXH và kết luận: đa phần các quốc gia

cần tiến hành các cuộc cách mạng xã hội khoa học để giải phóng con người bị áp

bức, bóc lột, thống trị; một số quốc gia cần tiếp tục giữ vững định hướng XHCN

trong đổi mới toàn diện đất nước, đấu tranh triệt để hơn với quan liêu, tham nhũng,

thoái hoá biến chất; xã hội hóa việc thực hiện CBXH trong sự phối hợp chặt chẽ của

lãnh đạo chính trị, quản lý của Nhà nước và nhân dân.

Từ tư tưởng của các nhà triết học phương Tây tác giả cuốn sách nêu những

đề xuất đối với nước ta. Theo tác giả, đối với nước ta CBXH chỉ có thể thành hiện

thực khi có s ự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố dưới sự lãnh đạo của Đảng,

quản lý của Nhà nước. Trong đó, việc thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước

mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh là cơ sở vững chắc để biến khả năng

CBXH thành hiện thực.

- Nguyễn Duy Quý Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa [80]. Tác giả đã phân tích tư tưởng của C.Mác về CBXH và

nguyên tắc phân phối theo lao động để thực hiện CBXH; việc thực hiện CBXH ở

nước ta trước và trong thời kỳ đổi mới, khẳng định: không nhất thiết phải giàu có

mới thực hiện CBXH; Việt Nam coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của

sự phát triển xã hội; không chờ tới khi kinh tế phát triển cao mới thực hiện CBXH,

mà ngay từ khi bắt đầu đổi mới phải kết hợp nhiệm vụ kinh tế với các nhiệm vụ xã

hội, giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới chính sách kinh tế với đổi mới chính

sách xã hội, đó là một phương thức để thực hiện CBXH hiệu quả. Tác giả đề xuất

các giải pháp về nâng cao nh ận thức; chính sách; huy động nguồn lực; gắn phát

triển kinh tế với văn hóa.

- Phạm Xuân Nam, Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [64]. Tác giả đã điểm qua một số

mô hình kinh tế tiêu biểu trên thế giới xét từ góc độ giải quyết mối quan hệ giữa

thúc đẩy tăng tr ưởng kinh tế với th ực hi ện CBXH; phân tích vi ệc kết hợp tăng

trưởng kinh tế và CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta qua hơn 20

năm đổi mới, chỉ ra những thành tựu và những vấn đề đặt ra. Đáng chú ý hơn là, tác

12

giả đã kiến nghị một số hướng giải pháp về thực hiện CBXH trong nền KTTT định

hướng XHCN ở nước ta trong th ời gian tới. Thứ nhất, tiếp tục thực hiện nghiêm

túc nguyên tắc phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng

thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các ngu ồn lực vào quá trình sản xuất,

kinh doanh. Thứ hai, trong việc thực hiện đầu tư cho phát triển, cần có quy hoạch

và kế hoạch cụ thể để cân đối hợp lý mức đầu tư cho các vùng lãnh thổ khác nhau.

Thứ ba, trong số những chính sách có liên quan đến phân phối lại tổng thu nhập

quốc dân, không nên chỉ đặt vấn đề phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Thứ tư,

ngăn ch ặn và đẩy lùi có hi ệu qu ả nh ững hiện tượng làm giàu phi pháp, vì đây

chính là nhân t ố vừa làm tổn hại đến tăng trưởng kinh tế chung, vừa tạo ra bất

CBXH lớn nhất.

- Lê Hữu Tầng (2008), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc

thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay [87]. Tác giả đã trích dẫn một số ý

kiến về CBXH: ở những nước kém phát triển, nội dung quan trọng nhất của CBXH

là công bằng về kinh tế. Ở nước ta, tác giả đề xuất, để thực hiện đầy đủ hơn CBXH

cần mở rộng nguyên tắc phân phối theo lao động và theo mức đóng góp vốn vào

sản xuất kinh doanh hi ện nay thành nguyên tắc phân phối theo cống hiến (về lao

động, nguồn vốn và những cống hiến khác) cho xã hội không chỉ cho sản xuất, mặc

dầu cống hiến cho sản xuất là chủ yếu.

- Đỗ Huy (2009), Công bằng xã hội ở Việt Nam nhận diện và giải pháp [47].

Tác giả đã khái quát việc thực hiện CBXH ở nước ta trong các thời kỳ cách mạng từ

khi Đảng và nhân dân ta giành được chính quyền và trong thời kỳ đổi mới hiện nay;

chỉ ra những hạn chế bất cập của việc thực hiện CBXH trong các thời kỳ đó. Tác

giả đề xuất những giải pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu CBXH toàn diện ở nước

ta trong điều kiện hiện nay: một là, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân;

hiện đại hoá lực lượng sản xuất; hai là, từng bước tập th ể hoá, qu ốc doanh hoá

trong quá trình thiết lập quan hệ sản xuất mới; ba là, xây dựng hệ tư tưởng chính

thống theo tư tưởng Hồ Chí Minh; bốn là, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, quốc tế,

con người; năm là, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc; sáu là, xây dựng Đảng

vững mạnh.

13

- Nguyễn Minh Hoàn, Công bằng xã hội trong ti ến bộ xã hội [41]. Cuốn

sách có giá trị tham khảo đối với luận án về một số điểm: một số quan điểm tiêu

biểu về CBXH thời kỳ trước C.Mác; một số quan điểm hiện đại về CBXH của các

học giả ph ương Tây; quan ni ệm của C.Mác và Ph. Ăngghen về nguyên tắc phân

phối đảm bảo CBXH; tư tưởng Hồ Chí Minh về CBXH và bình đẳng xã hội. Đáng

chú ý là tác giả đã nêu một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện CBXH ở nước ta

hiện nay, gồm: thái độ ứng xử của chúng ta trước thực trạng gia tăng phân hoá giàu

nghèo và bất bình đẳng hiện nay; vấn đề thực hiện CBXH trong phân phối tư liệu

sản xuất; vấn đề CBXH trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân; trong

lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

1.2.2. Luận án, luận văn và các bài đăng trên tạp chí

1.2.2.1. Luận án, luận văn

- Nguy ễn Hữu Đổng, Sự hình thành thu nh ập cá nhân trong các doanh

nghiệp nhà nước theo hướng đảm bảo công bằng xã hội ở Việt Nam [36]. Luận văn

phân tích những đặc điểm, nội dung chủ yếu, thực trạng phân phối hình thành thu

nhập cá nhân th ực hiện CBXH trong các doanh nghi ệp nhà nước trong quá trình

chuyển đổi sang nền KTTT định hướng XHCN; đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn

thiện phân ph ối hình thành thu nh ập cá nhân th ực hiện CBXH trong các doanh

nghiệp nhà nước ở Việt Nam.

- Lê Như Nhất, Đảng bộ tỉnh Kon Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo trong

giai đoạn hiện nay [67]. Luận văn đã xây dựng quan ni ệm về Đảng bộ tỉnh Kon

Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo; tổng kết được những kinh nghiệm về Đảng bộ

tỉnh Kon Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo trong những năm qua. Luận văn đã đề

xuất được các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh đối với xoá đói,

giảm nghèo.

- Nguyễn Văn Kính, Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công

bằng xã hội ở Hải Phòng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

hiện nay [51]. Luận văn phân tích những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa tăng

trưởng kinh tế và CBXH trong lịch sử; phân tích một số mâu thuẫn giữa KTTT và

thực hiện CBXH ở Hải Phòng, đề xuất một số giải pháp nhằm kết hợp có hiệu quả

14

giữa tăng trưởng kinh tế và CBXH ở Hải Phòng giai đoạn hiện nay gồm: đẩy mạnh

CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH;

đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn; phát triển nguồn nhân lực; đấu

tranh phòng, chống tham nhũng, khuyến khích làm giàu chính đáng và thực hiện tốt

chính sách xã hội.

- Trịnh Sơn, Các huyện ủy ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xóa đói, giảm

nghèo giai đoạn hiện nay [84]. Luận văn khái quát được tình hình đói nghèo ở tỉnh

Hà Giang, đã xây dựng được quan niệm về huyện uỷ ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công

tác xoá đói, giảm nghèo; chỉ ra kết quả và tổng kết được những kinh nghiệm về các

huyện uỷ ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo. Luận văn đề xuất

được các nhóm giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của các huyện uỷ đối với công

tác xoá đói, giảm nghèo: Một là, nhóm gi ải pháp về ti ếp tục đổi mới nội dung,

phương thức lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo. Hai là, nhóm giải pháp về lãnh đạo phát

triển kinh tế - xã h ội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm. Ba là, nhóm gi ải

pháp về nâng cao nhận thức của các cấp uỷ, về công tác xoá đói, giảm nghèo. Bốn

là, phát huy vai trò của Mặt trận, đoàn thể trong thực hiện xóa đói, giảm nghèo.

- Nguyễn Hồng Quân, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống

văn hóa ở nông thôn giai đoạn 1997-2010 [73]. Luận văn đã phân tích thực trạng

Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn giai đoạn

1997-2010. Luận văn đã tổng kết được những kinh nghiệm bổ ích. Đáng quan tâm

là kinh nghiệm về phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong việc làm của cán

bộ chủ chốt, nhất là cán bộ xã, thôn, bản và gia đình trong thực hiện nghiêm những

quy định về việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ; tăng cường sự lãnh đạo của các

cấp uỷ đối với xây dựng và thực hiện thiết chế văn hóa nông thôn.

- Phạm Thị Hường, Các huyện ủy ven biển tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát

triển văn hóa giai đoạn hiện nay [46]. Luận văn đã xây dựng khái niệm các huyện

ủy ven bi ển tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát tri ển văn hóa, xác định nội dung và

phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với phát triển văn hóa, khảo sát, đánh giá

thực trạng, đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các huyện uỷ ven biển

tỉnh Thanh Hoá đối với phát triển văn hoá trong giai đoạn hiện nay. Đáng chú ý là

15

giải pháp về đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của huyện uỷ đối với phát

triển văn hoá.

- Lê Văn Diến, Các huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo xây dựng nông thôn

mới giai đoạn hiện nay [12]. Luận văn đã xây dựng khái niệm, xác định nội dung và

phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với xây dựng nông thôn mới, khảo sát,

đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các huyện uỷ

đối với xây dựng nông thôn mới. Giải pháp có giá trị tham khảo đối với luận án là,

đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của các huyện uỷ.

1.2.2.2. Các bài đăng trên tạp chí

Nguyễn Tr ần Quế, Tăng trưởng kinh tế và công b ằng xã hội ở Vi ệt Nam

[74]; Phạm Tất Dong, Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội - một nội

dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [14]; Phùng Văn Hùng,

Vai trò của Nhà nước trong xây d ựng nền kinh tế th ị tr ường ở Vi ệt Nam [45];

Nguyễn Văn Huyên, Xây dựng nền kinh tế thị trường vì một xã hội nhân văn [48];

Lương Việt Hải, công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện

nay [38]; Phương Ngọc Thạch, Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã

hội [88]; Nguyễn Đình Tấn, Sự phát triển nhận thức của Đảng về công bằng xã hội

và xóa đói, giảm nghèo [86]; Ngô Ngọc Thắng, Chính sách an sinh xã hội trong bối

cảnh tái cấu trúc mô hình tăng trưởng [89]. Các bài báo này đã tập trung nghiên

cứu từng mặt, từng khía cạnh của CBXH trong điều kiện hiện nay, cung cấp cho

luận án một số điểm để xây dựng khái niệm, nội dung CBXH.

- Hoàng Thị Bích Phương, Thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững ở tỉnh

Bắc Giang (2008-2013) [71]. Bài báo đã đánh gia th ực trạng th ực hiện xóa đói,

giảm nghèo bền vững trong những năm qua; đề xuất các gi ải pháp xóa đói, giảm

nghèo bền vững, đáng chú ý là các gi ải pháp: tăng cường vận động các doanh

nghiệp, doanh nhân tham gia xóa đói, giảm nghèo bền vững.

- Hà Vũ Tuyến, Công tác đào tạo nghề ở Vĩnh Phúc - kết quả và một số kinh

nghiệm [137]. Bài báo đã đánh giá thực trạng, tổng kết được những kinh nghiệm về

công tác dạy nghề ở tỉnh Vĩnh phúc. Đáng quan tâm là kinh nghiệm về hoàn thiện

16

hệ thống dạy nghề; đổi mới giáo trình, bài giảng, đặc biệt coi trọng thực hành; xã

hội hóa đào tạo nghề.

1.3. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NH ỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA LU ẬN ÁN TI ẾP

TỤC GIẢI QUYẾT

1.3.1. Kết quả đạt được

Qua tổng quan một số công trình nêu trên của các nhà khoa học nước ngoài

và trong nước về CBXH và thực hiện CBXH, thấy rằng, các công trình đã đạt kết

quả đáng trân trọng:

Một là, về CBXH: Nhiều công trình đã phân tích những tư tưởng, quan điểm

khác nhau về CBXH. Một số công trình đã nêu khái ni ệm CBXH theo tư tưởng,

quan điểm khác nhau đó. Tuy nhiên, những tư tưởng quan điểm khác nhau đó, có

những điểm chung là: từ khi xã hội phân chia thành giai cấp CBXH luôn là khát

vọng và mục tiêu đấu tranh của con người. Trong th ời đại ngày nay, cùng với sự

tăng trưởng của kinh tế và sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ, nhu

cầu về quyền con người về CBXH đã thật sự trở thành tiêu chí, điều kiện để đánh

giá sự phát triển và ti ến bộ của mỗi quốc gia, dân tộc và ch ế độ chính tr ị do các

chính đảng của giai cấp cầm quyền lãnh đạo và điều hành. Với ý nghĩa đó, CBXH

đang và sẽ là một vấn đề lớn trên con đường phát triển của mỗi quốc gia và toàn thể

nhân loại. Một số công trình đã nêu một vài nội hàm của khái niệm CBXH và cho

rằng, CBXH gắn liền và thể hiện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, song tập

trung ở bốn lĩnh vực chủ yếu là kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Khá nhiều công

trình đã luận bàn về vai trò và một số đặc tính của CBXH.

Hai là, về thực hiện CBXH: Hầu hết các công trình ở những mức độ khác

nhau đều bàn về thực hiện CBXH. Một số công trình đã chỉ ra kinh nghiệm về thực

hiện có hiệu quả CBXH ở một số nước tư bản và khái quát về chủ trương giải pháp

cụ thể về thực hiện CBXH đạt hiệu quả ở một số nước. Đối với Việt Nam, hầu hết

các công trình ở những mức độ khác nhau đều đề xuất các giải pháp thực hiện có

kết quả CBXH hoặc ở phương pháp luận, đề xuất quan điểm, hoặc các giải pháp cụ

thể ở các địa phương và trong cả nước. Những đề xuất này rất đa dạng, phong phú.

17

Ba là, về Đảng Cộng sản lãnh đạo thực hiện CBXH: Tuy đã có một vài công

trình đề cập đến vấn đề rất quan trọng là Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và các

cấp uỷ đảng nói riêng lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều kiện thực hiện cơ chế

thị trường định hướng XHCN ở nước ta, song mới chủ yếu dừng lại ở nêu vấn đề,

việc luận giải chưa được chú ý. Như vậy, đến nay chưa có công trình khoa học nào

luận bàn và làm sáng tỏ vấn đề này; chưa có công trình nào đề cập và làm sâu sắc

các giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với thực hiện CBXH.

1.3.2. Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

Thứ nhất, về CBXH: Xây dựng khái niệm CBXH; ch ỉ ra và phân tích n ội

dung, đặc tính của CBXH, khái quát và phân tích, làm rõ vai trò c ủa CBXH nói

chung, từ đó làm rõ vai trò ấy đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay nói riêng.

Phân tích những đặc tính cơ bản của CBXH.

Thứ hai, về thực hiện CBXH: Xây d ựng khái niệm thực hiện CBXH, xác

định và phân tích làm rõ nội dung của thực hiện CBXH; chỉ ra và phân tích những

nhân tố chủ yếu chi phối việc thực hiện CBXH.

Thứ ba, về tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH: Xây dựng khái niệm,

xác định nội dung và phương thức lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy trong

điều kiện hiện nay làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng lãnh đạo thực

hiện CBXH của các tỉnh ủy, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân, kinh nghiệm và

đề xu ất phương hướng và các gi ải pháp ch ủ yếu tăng cường lãnh đạo thực hiện

CBXH của các tỉnh ủy ở ĐBSH đến năm 2025.

18

Chương 2

CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO

THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY -

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1. CÁC TỈNH, TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ CÔNG BẰNG

XÃ HỘI, THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI

2.1.1. Các tỉnh, tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng

2.1.1.1. Khái quát về các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng

Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 14-9-2005 của Bộ Chính trị khóa IX về phát

triển kinh tế - xã h ội và bảo đảm quốc phòng, an ninh (QPAN) vùng ĐBSH đến

năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Quy ết định số 191/2006/QĐ-TTg, ngày

17-8-2006 của Th ủ tướng Chính ph ủ về tri ển khai th ực hi ện Ngh ị quy ết số 54-

NQ/TW nêu trên, xác định ĐBSH gồm 10 tỉnh và 2 thành phố. Sau khi Hà Nội mở

rộng địa giới hành chính đến tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã

thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, ĐBSH còn 9 tỉnh, gồm: Hải Dương, Hưng

Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Qu ảng Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh

Bình và 2 thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội và Hải Phòng.

* Điều kiện tự nhiên: Các tỉnh ở ĐBSH có tổng diện tích hơn 21.049,2 km2,

chiếm 5% diện tích toàn quốc [Phụ lục 1]. Đây là các tỉnh thuộc đồng bằng lớn thứ

hai ở nước ta (sau đồng bằng sông Cửu Long). Phía Đông và Đông Nam ĐBSH là

vịnh Bắc Bộ rộng lớn, nối liền với biển Đông. Các tỉnh có khí hậu nhiệt đới, gió

mùa, với 4 mùa trong m ột năm (xuân, hạ, thu, đông), trong đó có một mùa đông

lạnh; đất đai màu mỡ, mưa, nắng khá thuận hòa, rất thuận lợi cho phát triển nông

nghiệp, nhất là trồng lúa nước và chăn nuôi. Hệ thống sông ngòi dày đặc, các cảng

ven biển cùng với cảng lớn Hải Phòng và cảng nước sâu Cái Lân tạo thuận lợi cho

các tỉnh giao lưu với nhau, giao lưu với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế để

phát triển kinh tế - xã h ội. Hệ thống đường quốc lộ được nâng cấp khá hi ện đại,

cùng với đường sắt, đường hàng không tạo thuận lợi lớn cho các tỉnh phát triển kinh

tế - xã hội, bảo đảm QPAN, phát triển bền vững.

19

Các tỉnh ở ĐBSH có nguồn tài nguyên đất nông nghiệp khá lớn, với tổng số 11.280,6 km2 [Phụ lục 1]. Một số tỉnh có bờ biển dài và thềm lục địa rất thuận tiện

cho phát triển kinh tế biển và du lịch. Ở nhiều tỉnh có nguồn tài nguyên, khoáng sản

đa dạng, trữ lượng lớn, như: đất sét, than nâu, đá vôi và các tài nguyên khác có giá

trị lớn đối với phát triển công nghiệp.

* Đặc điểm kinh tế: Qua 30 năm đổi mới, kinh tế ở các tỉnh phát triển khá

mạnh. Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng giá trị kinh tế

nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị kinh tế công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong

GDP. Kinh tế nông nghiệp phát triển khá mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng

sản lượng và chất lượng sản phẩm, nhiều sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao.

Số lượng lao động nông nghiệp giảm mạnh, chuyển sang ngành công nghiệp - xây

dựng và dịch vụ. Tỷ trọng giá tr ị công nghi ệp - xây d ựng và dịch vụ trong tổng

GDP của các tỉnh ngày càng tăng, nhất là các tỉnh gần Tam giác kinh tế trọng điểm

Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

Ở các tỉnh đã hình thành các khu, cụm công nghiệp, nhiều tỉnh có các khu

công nghiệp lớn, nh ư Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương thu hút ngày càng l ớn

lượng vốn đầu tư và nhiều doanh nghiệp có uy tín của nước ngoài. Tam giác kinh tế

trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh được hình thành, phát triển hoạt động

có hiệu quả, có vai trò, tác d ụng lớn đối với phát triển kinh tế của các tỉnh: tăng

trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình 8,2% (năm 2013), 7,83% (năm 2014); tỉnh Bắc

Ninh, Hải Dương, Quảng Ninh có s ố liệu tương ứng: 10,2% và 16,2%; 9,2% và

7,7%; 7,1% và 8,8% [Phụ lục 2].

Các tỉnh ở ĐBSH có nhiều làng nghề truyền thống với những sản phẩm có

giá trị không chỉ nổi tiếng trong nước, mà còn được nhiều nước trên thế giới biết và

ưa chuộng, như: gốm, sứ Bát Tràng; đồ gỗ chất lượng cao ở La Xuyên (Nam Định),

Đồng Kỵ (B ắc Ninh); đúc đồng ở Vụ Bản (Nam Định); chiếu cói ở Phát Di ệm,

huyện Kim Sơn (Ninh Bình)...

Ngành du lịch ở các tỉnh phát triển khá nhanh. Với nhiều cảnh quan thiên

nhiên tuyệt đẹp, nhiều di tích lịch sử, văn hóa, một số cảnh quan thiên nhiên được

UNESCO công nhận là cảnh quan thiên nhiên c ủa thế gi ới như: Vịnh Hạ Long,

20

Tràng An... là tài sản vô giá do thiên nhiên ban tặng các tỉnh để phát triển du lịch,

dịch vụ ở ĐBSH đã hình thành các tuyến du lịch liên tỉnh, thu hút ngày càng lớn du

khách trong, ngoài nước, đóng góp đáng kể vào sự phát triển mọi mặt của các tỉnh,

nhất là phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

* Đặc điểm văn hóa: ĐBSH có Thủ đô Hà Nội “là trái tim của cả nước, đầu

não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục,

kinh tế và giao dịch quốc tế” [20, tr.2], tác động rất lớn đến sự phát triển văn hóa

của các tỉnh. Các tỉnh ở vùng này là cội nguồn của văn hóa Việt, đời sống văn hóa,

tinh thần của cư dân nơi đây, gắn chặt với văn hóa làng, xã, lễ hội và quan hệ huyết

thống. Đây là một trong những nét đặc trưng của văn hóa vùng ĐBSH, đã phát huy

tác dụng góp phần to lớn vào sự phát triển của các tỉnh và đất nước.

Các tỉnh ở ĐBSH là nơi sinh sống của nhiều dân tộc, như Kinh, Dao, Cao

Lan, Sán Dìu, Tày, Nùng, Hoa, Mường..., trong đó người Kinh là chiếm tuyệt đại đa

số. Các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số dân cư trong vùng, sống tập

trung ở một số huy ện nh ư Lập Th ạch (Vĩnh Phúc), Hải Hà (Qu ảng Ninh), Nho

Quan (Ninh Bình), có truy ền thống văn hóa riêng, độc đáo, tạo nên bức tranh đa

dạng về văn hóa trong vùng. Các dân t ộc thiểu số cần cù, ch ịu khó, tương thân,

tương ái, sống hòa thuận với nhau và với người Kinh. Nhìn chung, đời sống của họ

được nâng lên một bước khá lớn, song đời sống của nhiều gia đình vẫn còn khó

khăn, thiếu thốn.

Nhân dân ở các tỉnh có truyền thống hiếu học, tôn sư, trọng đạo, khắc phục

mọi khó khăn, luôn vươn lên nâng cao trình độ trí tuệ. Hệ thống giáo dục đào tạo

phát triển khá (tỉnh Vĩnh Phúc có 183 tr ường mầm non, 173 tr ường tiểu học, 146

trường trung học cơ sở, 37 tr ường trung học phổ thông; các tỉnh Thái Bình, Nam

Định, Hải Dương có số liệu tương ứng: 301, 295, 271, 39; 266, 293, 242, 57; 109,

281, 272, 54 [Phụ lục 6]) tạo thuận lợi cho việc học tập người dân và phổ cập giáo

dục tiểu học, trung học cơ sở. Nơi đây, tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên

cứu khoa học lớn, nổi tiếng của nước ta là thu ận lợi lớn để cư dân học tập để có

trình độ cao nên nhìn chung, trình độ dân trí ở các tỉnh vào loại cao nhất nước.

21

* Đặc điểm xã hội: ĐBSH là vùng có mật độ dân số cao, lao động dồi dào.

Số lượng, mật độ dân cư ở các tỉnh ĐBSH vào loại lớn nhất so với các tỉnh vùng

đồng bằng trong cả nước. Tổng dân số của chín tỉnh là 9.765.445 ng ười, chiếm 22,7% dân số cả nước [Ph ụ lục 2]; mật độ dân s ố là 934 ng ười/km2, phân b ố không đều giữa các tỉnh. Phần lớn các tỉnh có mật độ dân số trên 1000 người/km2; tỉnh có mật độ dân số cao nhất là tỉnh Bắc Ninh (1.313 người/ km2, tiếp đến là tỉnh Hưng Yên (1.237 ng ười/ km 2), th ấp nh ất là tỉnh Qu ảng Ninh (195 ng ười/ km 2)

[Phụ lục 2].

Dân số đông, diện tích đất canh tác bình quân đầu người vào loại thấp nhất so với cả nước (450m2/đầu người). Bởi vậy, vùng này được gọi là "vùng đất chật

người đông". Cùng với việc tăng dân số, thu hẹp đất canh tác, sức cạnh tranh của

hàng hóa tiểu thủ công nghiệp thấp nên nhiều lao động không có việc làm, nảy sinh

nhiều vấn đề xã hội phức tạp.

Đồng bằng sông Hồng là cội nguồn và là trung tâm của hai tôn giáo lớn ở

nước ta là Phật giáo và Công giáo. Các trung tâm Phật giáo lớn, nổi tiếng ở miền

Bắc nước ta đều nằm ở các tỉnh ĐBSH như Trúc Lâm Thi ền Viện (Vĩnh Phúc),

Yên Tử (Quảng Ninh)... Số người theo đạo Phật ở các tỉnh rất lớn, nhưng thực

chất chỉ trên danh nghĩa.

“Thiên Chúa giáo bắt đầu du nhập vào vùng ven biển ĐBSH từ đầu thế kỷ

XVI, đời vua Lê Trang Tông, năm 1533 và sau đó theo các triền sông tỏa vào nội

địa” [53, tr.92]. Tín đồ Công giáo sống tập trung ở các huyện ven biển của các tỉnh

Nam Định, Ninh Bình và Thái Bình, đông nhất là ở các huy ện Kim Sơn (Ninh

Bình); Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Trực Ninh (Nam Định);

Tiền Hải (Thái Bình). Số lượng tín đồ Công giáo đông nhất là ở tỉnh Nam Định (43

vạn tín đồ, chiếm 21,5% dân số của tỉnh), có huyện số lượng tín đồ chiếm 49% dân

số của huyện, như huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định [50, tr.14]. Trong vùng đã

hình thành trung tâm đạo Công giáo lâu đời và vào loại lớn nhất nước ta - Xứ đạo

Bùi Chu và Xứ đạo Phát Diệm.

Phật giáo và Công giáo ở các tỉnh ĐBSH đã có đóng góp nhất định trong các

cuộc chiến tranh chống phong kiến, thực dân, đế quốc trước đây và trong xây dựng,

22

bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tuy nhiên, trước đây Công giáo ở một số tỉnh đã bị các

thế lực phản động lợi dụng, gây cho Đảng, cách mạng và nhân dân không ít khó

khăn, phức tạp và tổn thất, kể cả xương máu.

* Đặc điểm chính trị, QPAN: nhân dân vùng này m ột lòng một dạ đi theo

Đảng làm cách mạng, vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, thách thức quyết liệt

giành thắng lợi trong chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Các tỉnh có vị

trí đặc biệt quan trọng về QPAN đối với đất nước. Đây là nền tảng, địa bàn đặc biệt

quan trọng để triển khai chiến lược quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, ch ủ

động đối phó có hi ệu quả với mọi tình huống, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển,

đảo, lãnh thổ và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước. Nhìn chung,

chính trị ở các tỉnh ổn định, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm.

Qua 30 năm đổi mới, các tỉnh đã phát triển khá mạnh mẽ về nhiều mặt, song

vẫn còn một số khó khăn, thách thức: nhiều tiềm năng, thế mạnh chưa được khai

thác và phát huy mạnh mẽ; kinh tế - xã hội phát triển chưa vững chắc; cơ cấu kinh

tế chuyển dịch chậm; lúng túng trong phát triển tiểu thủ công nghiệp; các làng nghề

truyền thống chưa phát triển mạnh và còn khó kh ăn trong tiêu th ụ sản phẩm; số

lượng lao động không có việc làm còn lớn và có xu hướng gia tăng, điều kiện học

hành của các cháu trong độ tuổi đi học và việc khám chữa bệnh của nhiều gia đình

người dân gặp nhiều khó khăn; môi trường ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng; sự chênh

lệch về mức sống dân cư còn lớn; nhân dân còn bất bình với tệ tham nhũng, lãng

phí; vẫn còn khiếu kiện đông người, vượt cấp; hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn

giáo và lễ hội truyền thống còn diễn ra; một số vấn đề dân tộc, tôn giáo diễn biến

phức tạp, các tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn và đẩy lùi...

2.1.1.2. Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng - chức năng, nhiệm vụ, vai trò

và đặc điểm

* Chức năng: Điều lệ Đảng quy định: "Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo

của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là Ban Chấp hành đảng bộ, chi

bộ (gọi tắt là cấp ủy)" [30, tr.17]. Điều 4 Hi ến pháp nước Cộng hòa xã h ội chủ

nghĩa Việt Nam quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam..., là lực lượng lãnh đạo Nhà

nước và xã hội" [79, tr.10]. Đây là cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của sự lãnh đạo

23

của tỉnh ủy ở ĐBSH. Tỉnh ủy là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại

hội. Chức năng của tỉnh ủy là lãnh đạo; tỉnh ủy lãnh đạo các tổ chức trong HTCT

từ tỉnh đến cơ sở, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trên địa bàn tỉnh, lãnh đạo

các lĩnh vực đời sống xã hội. Tỉnh ủy còn có ch ức năng thực hiện công tác xây

dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và về đạo đức đáp

ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tỉnh. Tỉnh ủy là

cấp ủy của hệ thống tổ chức thứ hai trong hệ thống tổ chức của Đảng, chịu sự lãnh

đạo, ki ểm tra c ủa Trung ương Đảng, có trách nhi ệm th ực hi ện đường lối, ch ủ

trương của Đảng, chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng. Đồng thời, tỉnh ủy có

chức năng và trách nhiệm tham mưu, đóng góp ý kiến vào sự lãnh đạo của Trung

ương Đảng và của Đảng.

Từ phân tích trên, có thể thấy, tỉnh ủy ở ĐBSH có chức năng sau:

Một là, tỉnh ủy ở ĐBSH thực hiện ch ức năng lãnh đạo chính tr ị đối với

HTCT và các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương.

Tỉnh uỷ th ực hiện lãnh đạo trực tiếp, mọi mặt công tác c ủa đảng bộ tỉnh,

nghĩa là tỉnh ủy lãnh đạo các tổ chức trong HTCT và lãnh đạo các lĩnh vực đời sống

xã hội trên địa bàn tỉnh. Sự lãnh đạo của tỉnh ủy là lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt,

thể hiện ở: tỉnh ủy đề ra phương hướng, chủ trương, mục tiêu, biện pháp lãnh đạo

các đối tượng lãnh đạo nói trên; đồng th ời lãnh đạo, ch ỉ đạo các tổ ch ức trong

HTCT, nhất là tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền tỉnh cụ thể hóa các ch ủ trương, biện

pháp lãnh đạo đó thành nghị quyết, quyết định, chương trình, kế hoạch, đề án và

biện pháp của chính quyền để tổ chức thực hiện. Tỉnh ủy lãnh đạo các cấp ủy, nhất

là cấp ủy trực thuộc và ủy ban kiểm tra tỉnh ủy về kiểm tra, giám sát các tổ chức

đảng và đảng viên thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy, đồng thời trực tiếp tổ chức

tiến hành công tác kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên theo quy định tại

Điều 30 Điều lệ Đảng.

Lãnh đạo chính trị là chức năng lãnh đạo cơ bản nhất của tỉnh ủy. Để thực

hiện chức năng này, tỉnh ủy lãnh đạo các tổ ch ức, các lĩnh vực đời sống xã hội

thông qua việc ban hành các nghị quyết, chính sách và các định hướng lớn, đảm bảo

cho hoạt động của các tổ chức và lĩnh vực đời sống xã hội theo định hướng XHCN.

24

Tỉnh ủy không can thiệp quá sâu, không bao biện, làm thay công việc cụ thể của các

tổ chức, tỉnh ủy lãnh đạo phát huy vai trò, chủ động sáng tạo của các tổ chức của

HTCT thông qua các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong HTCT.

Hai là, tỉnh ủy th ực hiện ch ức năng xây d ựng Đảng và xây d ựng đảng

bộ tỉnh.

Trước hết, tỉnh ủy tiếp nhận và lãnh đạo thực hiện các nghị quyết, quyết định

của Đảng về công tác xây dựng Đảng. Đồng thời, xuất phát từ thực tế đảng bộ tỉnh,

yêu cầu nhiệm vụ chính tr ị của đảng bộ, tỉnh ủy xây dựng, ban hành và lãnh đạo

thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy về công tác xây dựng đảng bộ tỉnh để đảng bộ

ngang tầm nhiệm vụ chính trị.

Ba là, tỉnh uỷ thực hiện chức năng tham mưu, đề xuất và tham gia xây dựng

đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tỉnh ủy tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước về xây dựng đường lối, chủ

trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần để đường lối, chủ

trương, chính sách ấy đúng đắn, phù hợp thực tiễn và có tính khả thi. Bí thư tỉnh ủy

thường là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong tỉnh ủy thường có một

số cán bộ là đại biểu quốc hội. Những cán bộ này, trực tiếp tham gia xây dựng và

quyết định về đường lối chiến lược của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ba chức năng nêu trên tác động biện chứng lẫn nhau. Các tỉnh uỷ không thể

thực hiện tốt chức năng lãnh đạo chính trị, nếu không thực hiện tốt chức năng xây

dựng đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh. Mục đích của xây dựng nội bộ đảng bộ

tỉnh trong sạch, vững mạnh là để tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ

chính trị của đảng bộ tỉnh. Việc lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của

đảng bộ tỉnh lại đặt ra mục tiêu, yêu cầu xây dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh. Thực

hiện tốt chức năng thứ nhất và th ứ hai thì mới thực tốt chức năng thứ ba... Thực

hiện tốt ba chức năng đó, bảo đảm cho đảng bộ tỉnh có năng lực lãnh đạo và sức

chiến đấu cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó.

* Nhiệm vụ: Chương IV, Điều 19 Điều lệ Đảng quy định: "Cấp ủy tỉnh,

thành phố tr ực thuộc Trung ương (g ọi tắt là Tỉnh ủy, Thành ủy), cấp ủy huyện,

quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi tắt là Huyện ủy, Quận ủy, Thị ủy, Thành

25

ủy) lãnh đạo thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên

[30, tr.33]. Trên cơ sở quy định của Điều lệ Đảng, hướng dẫn của Trung ương, xuất

phát từ chức năng của tỉnh ủy, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ tỉnh, các tỉnh ủy ở

ĐBSH có nh ững nhiệm vụ chủ yếu: Một là, quán tri ệt đường lối chủ trương của

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của đại hội đại biểu đảng bộ

nhiệm kỳ của tỉnh, ra các nghị quyết của tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy và lãnh đạo

tổ chức thực hiện. Hai là, lãnh đạo Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân

(UBND) cụ thể hóa và triển khai thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy, ban thường

vụ tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội, QPAN. Ba là, lãnh đạo và tổ chức thực hiện

nhiệm vụ xây dựng Đảng, bao gồm quán triệt, xây dựng chương trình, kế hoạch

thực hiện các nghị quyết của Trung ương về công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo, chỉ

đạo, các tổ chức đảng cấp dưới thực hiện. Bốn là, phê duyệt quy hoạch cán bộ của

cấp dưới theo phân cấp quản lý cán bộ. Năm là, tuyên truyền, vận động nhân dân

thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Sáu

là, kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên trong đảng bộ tỉnh,

trước hết là các tổ chức đảng trực thuộc và những đảng viên là cán bộ thuộc diện

ban thường vụ tỉnh ủy quản lý. Bảy là, chuẩn bị báo cáo chính tr ị, nhân sự và tổ

chức đại hội đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ tới.

* Vai trò của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng

Thứ nhất, các tỉnh ủy ở ĐBSH bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng,

pháp luật của Nhà nước được thực hiện, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bảo

đảm QPAN, nâng cao đời sống của nhân dân.

Các tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh, của

tỉnh ủy, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp lu ật của Nhà nước về

phát triển kinh tế - xã hội, QPAN, tổ chức thực hiện.

Các tỉnh uỷ trực tiếp tiếp nhận đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách,

pháp luật của Nhà nước và lãnh đạo tổ chức thực hiện, bảo đảm cho đường lối, nghị

quyết chính sách, pháp luật thành hiện thực trên địa bàn tỉnh. Các đại hội đảng bộ

tỉnh quyết định mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp lớn về phát triển kinh tế - xã hội,

QPAN. Các tỉnh ủy cụ thể hóa, ban hành các nghị quyết của tỉnh ủy và tổ chức thực

26

hiện để mục tiêu, nhiệm vụ ấy được thực hiện thắng lợi, nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần của nhân dân.

Thứ hai, các tỉnh ủy ở ĐBSH trực tiếp quyết định lãnh đạo thực hiện các

nghị quyết của Đảng, của tỉnh ủy về xây dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh.

Là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại hội đảng bộ tỉnh các

tỉnh ủy trực tiếp lãnh đạo thực hiện các nghị quyết của Đảng về xây dựng Đảng, bảo

đảm cho các nghị quyết ấy được thực hiện thắng lợi ở địa phương. Đồng thời, các

tỉnh ủy xây dựng, ban hành các nghị quyết về xây dựng đảng bộ tỉnh, lãnh đạo, chỉ

đạo các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện, uốn nắn kịp thời những lệch lạc, thiếu sót,

khen thưởng, động viên kịp thời những tổ chức đảng, cán bộ đảng viên hoàn thành

xuất sắc nhiệm vụ... Những hoạt động ấy của tỉnh ủy là nhân t ố quy ết định xây

dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ.

Thứ ba, các tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết,

quyết định của Đảng, của tỉnh ủy về xây dựng và hoạt động của các tổ chức trong

HTCT từ tỉnh đến cơ sở và các tổ chức kinh tế, xã hội trên địa bàn.

Các tỉnh ủy tiếp nhận và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện

các nghị quyết của Đảng, xây dựng, ban hành các ngh ị quyết của tỉnh ủy về xây

dựng tổ chức và hoạt động của các tổ chức trong HTCT, tổ chức kinh tế, xã hội trên

địa bàn tỉnh, bảo đảm cho hoạt động của các tổ chức này theo đúng đường lối của

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vì sự phát triển toàn diện của tỉnh.

Thứ tư, các tỉnh ủy ở ĐBSH cung cấp cho Đảng những kinh nghiệm, cách

làm hiệu quả về lãnh đạo phát tri ển kinh tế - xã h ội, QPAN, công tác xây d ựng

Đảng góp phần hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng.

Trong quá trình lãnh đạo mọi hoạt động trên địa bàn tỉnh, xuất hiện những

vấn đề mới, phức tạp, các tỉnh ủy phải xác định chủ trương, giải pháp giải quyết

đem lại kết quả, tích lũy được kinh nghiệm, cách làm đem lại hiệu quả. Các tỉnh ủy

sẽ cung cấp cho Đảng những kinh nghiệm, giải pháp lãnh đạo phát triển kinh tế - xã

hội, QPAN, xây d ựng Đảng để Đảng nghiên cứu, hoàn thi ện ch ủ tr ương, chính

sách, xây dựng chủ trương, chính sách mới phù hợp thực tiễn để công cuộc đổi mới

giành thắng lợi lớn hơn.

27

* Đặc điểm của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng

Một là, nhiệm kỳ 2010 - 2015 số lượng tỉnh ủy viên ở chín tỉnh ĐBSH bảo

đảm đúng số lượng theo quy định, tuyệt đại đa số là người địa phương

Trong nhiệm lỳ này ở chín trỉnh có 484 tỉnh uỷ viên. Trong đó, 98% tỉnh ủy

viên là người sinh ra và lớn lên, trưởng thành ở các tỉnh trong vùng và ch ủ yếu là

người của tỉnh đó. Số tỉnh ủy viên là người của tỉnh khác, nhất là ở các tỉnh ngoài

vùng ĐBSH chiếm tỷ lệ không đáng kể. Điều này rất thuận lợi cho hoạt động lãnh

đạo của tỉnh ủy. Các tỉnh ủy viên là người địa phương nên nắm chắc mọi điều kiện

kinh tế, xã hội, thuận lợi, khó khăn trong phát triển của tỉnh; nắm chắc phong tục,

tập quán, văn hóa địa phương, dễ gần gũi, hòa đồng, quy tụ, đoàn kết cán bộ, đảng

viên và nhân dân trong thực thi nhiệm vụ. Song, cũng dễ e dè, nể nang, cục bộ, xuê

xoa trong công vi ệc và đấu tranh với những sai trái, làm vi ệc dễ tr ọng tình hơn

trọng lý [Phụ lục 4].

Hai là, đội ngũ tỉnh ủy viên ở các tỉnh đã được trẻ hóa một bước, cơ cấu giới

tính bảo đảm theo yêu cầu và chỉ đạo của Đảng

Tỉnh ủy viên có tuổi đời từ 35 đến 44 tuổi chiếm 0,4% (21 đồng chí); từ 45

đến 54 chiếm 38,8% (188 đồng chí); từ 55 đến 60 chiếm 54,7%). Số tỉnh ủy viên là

nữ chiếm 13% (56 đồng chí). Ở tỉnh Ninh Bình, Vĩnh Phúc tỷ lệ tỉnh ủy viên là nữ

nhiệm kỳ 2015 - 2020 chiếm trên 10% [Phụ lục 5b]. Đội ngũ tỉnh ủy viên đã được

trẻ hóa một bước, phần lớn đang ở độ tuổi cống hiến và trưởng thành. Với cơ cấu

này, các tỉnh ủy có nhiều thuận lợi trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ.

Ba là, trình độ mọi mặt của đội ngũ tỉnh ủy viên vào loại cao so với các vùng

trong cả nước

Trong 484 tỉnh uỷ viên có 99, 6% tỉnh ủy viên tốt nghiệp đại học, trong đó

34,3% có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ (166 đồng chí); tất cả tỉnh ủy viên đều có trình độ

cử nhân chính tr ị hoặc cao cấp lý lu ận chính trị và học chương trình quản lý nhà

nước [Phụ lục 4]. 124 đồng chí trong ban thường vụ tỉnh ủy có nhiều kinh nghiệm

công tác, đều trưởng thành từ cơ sở và tại địa phương, được đào tạo cơ bản, được

thử thách qua nhiều cương vị công tác. Đây là thuận lợi lớn đối với hoạt động của

các tỉnh ủy.

28

Chất lượng tỉnh ủy viên của các tỉnh Ninh Bình, Qu ảng Ninh, Vĩnh Phúc

nhiệm kỳ 2015 - 2020 so v ới nhiệm kỳ 2010 - 2015 được nâng lên một bước khá

lớn: cơ cấu giới tính khá hợp lý (ở tỉnh Ninh Bình, Vĩnh Phúc số tỉnh ủy viên là nữ

chiếm trên 10%. Tuyệt đại đa số tỉnh ủy viên của các tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh,

Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2015 - 2020 có trình độ sau đại học [Phụ lục 5b].

Bốn là, các tỉnh ủy hoạt động trong môi trường có đặc điểm kinh tế, chính trị,

văn hóa, xã hội đặc thù của vùng ĐBSH, có nhiều thuận lợi trong hoạt động, nhưng

cũng gặp không ít khó khăn thách thức.

Thuận lợi cơ bản là, ở các tỉnh kinh tế - xã hội phát triển khá nhanh, trình độ

dân trí cao, có nhiều cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có cơ sở nghiên

cứu và chuyển giao khoa học vào sản xuất; chính trị ổn định; an ninh, trật tự được

bảo đảm; nhân dân thông minh, cần cù, chịu khó, gắn bó với Đảng, một lòng một dạ

đi theo Đảng đến ấm no, hạnh phúc... Tuy nhiên, các tỉnh ủy cũng gặp không ít khó

khăn thách thức, nhất là lãnh đạo phát triển kinh tế, tạo việc làm, xóa bỏ tình trạng

dư thừa lao động, phòng chống tệ nạn xã hội, hạn chế sự chi phối của quan hệ huyết

thống, truyền thống làng xã trong giải quyết công việc...

2.1.2. Công bằng xã hội - khái niệm, nội dung, vai trò và những đặc tính

cơ bản

2.1.2.1. Khái niệm công bằng xã hội

Để có thể đưa ra khái niệm tương đối hoàn chỉnh về khái niệm CBXH, trước

hết cần làm rõ khái niệm “xã hội” và "công bằng".

* Khái niệm "xã hội" và "công bằng":

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: Theo nghĩa hẹp, xã hội là khái niệm chỉ

một hệ thống xã hội cụ thể, một hình thức nhất định của các quan hệ xã hội, là một

xã hội ở vào trình độ phát triển nhất định trong lịch sử như xã hội nô lệ, phong kiến,

tư bản, xã hội xã hội chủ nghĩa. Theo nghĩa này khái ni ệm xã hội đồng nhất với

khái niệm hình thái kinh tế - xã hội [44, tr.964].

Theo nghĩa rộng, xã hội là "toàn bộ các hình thức hoạt động chung của con

người đã hình thành trong lịch sử" [44, tr.965]. Với cách hiểu này, xã hội được dùng

để chỉ một tập đoàn người được tạo nên bởi những cá nhân và những mối quan hệ

29

trong tập đoàn đó; xã hội được coi là môi tr ường hoạt động của con ng ười, từng

người hòa nhập và hoạt động trong môi trường đó. Với cách hiểu này, thì xã hội,

đối lập với cá nhân, con người xã hội là con người sống hoạt động trong cộng đồng

đối lập với con người sống và hoạt động đơn độc. Theo nghĩa rộng, khái niệm xã

hội được dùng để chỉ toàn bộ những cái liên quan đến con ng ười và loài ng ười,

phân biệt một cách tương đối với thế giới tự nhiên.

Từ điển triết học cho rằng, khái niệm "xã hội" đồng nhất với khái niệm "hình

thái kinh tế - xã hội". Từ điển định nghĩa, "Hình thái kinh tế - xã hội: chế độ kinh tế

và kiến trúc thượng tầng thích ứng với chế độ kinh tế ấy của một xã hội ở vào giai

đoạn nhất định trong sự tiến hóa của lịch sử" [56, tr.397]. Về điều này, C. Mác chỉ

ra rằng:

Tổng hợp lại thì những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là

những quan hệ xã hội, là xã hội, và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào

một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Xã hội cổ đại, xã hội phong

kiến, xã hội tư sản đều là những tổng thể quan hệ sản xuất như vậy, mỗi

tổng thể đó đồng thời đại biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong

lịch sử phát triển nhân loại [8, tr.553].

Từ những dẫn giải trên, có thể hiểu xã hội mà toàn Đảng, toàn dân ta đang nỗ

lực xây dựng là xã hội thuộc hình thái kinh tế - xã hội XHCN nhưng ở giai đoạn

đầu của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH; những nội hàm cơ bản của

xã hội đó đã được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH

(bổ sung, phát triển năm 2011) xác định:

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây d ựng là một xã hội: Dân

giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ;

có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan

hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc

dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tư do, hạnh phúc, có điều kiện

phát triển toàn diện, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng,

đoàn kết, tôn tr ọng và giúp nhau cùng phát tri ển; có nhà n ước pháp

30

quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng

Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế

giới [31, tr.70].

Xã hội XHCN nêu trên ở nước ta đang trong quá trình hình thành, phát triển

ở tất cả các nội dung của nó, trong đó có những nội dung đạt kết quả khá cao, cũng

có những nội dung mới chỉ bước đầu hình thành, đang trong quá trình tìm tòi, phát

triển cả về lý luận và thực tiễn. Để có một xã hội đạt được những nội dung nêu trên

phải qua quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ của toàn Đảng, toàn dân, đó cũng là

quá trình phấn đấu vì CBXH trên đất nước ta.

Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: "công bằng" là không thiên v ị mà theo

đúng lẽ phải [146, tr.454]. Từ điển Bách khoa Việt Nam tiếp cận khái niệm "công

bằng" từ góc độ ý th ức đạo đức và ý th ức pháp quyền và cho rằng: công bằng là

“1. Khái niệm về ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền, chỉ điều chính đáng, tương

ứng với bản ch ất và quy ền con ng ười… khái ni ệm công bằng nêu ra s ự tương

quan giữa một số hiện tượng theo quan điểm phân ph ối phúc và h ọa, lợi và hại

giữa người với người” [44, tr.580]; đồng thời, từ điển chỉ rõ: “Công bằng đòi hỏi

sự tương xứng giữa vai trò của các cá nhân (những giai cấp) với địa vị xã hội của

họ, giữa hành vi với sự đền bù (lao động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt),

giữa quyền với nghĩa vụ - không có sự tương xứng trong những quan hệ ấy là bất

công” [44, tr.580].

Từ những dẫn giải nêu trên, luận án quan niệm: Công bằng là một khái niệm

phản ánh xu hướng phát triển của con người, cộng đồng người, thể hiện khát vọng

và mong ước đạt được những lợi ích do xã hội mang lại, tương xứng với lao động

và cống hiến của họ cho xã hội.

Ngoài những điểm giống nhau, những con người sống trong xã hội giữa họ

luôn có sự khác nhau, thậm chí khác nhau rất lớn về năng lực trí tuệ, thể chất, tâm

lý, tính cách, hoàn cảnh sống... nên sự đóng góp, cống hiến của mỗi người cho xã

hội không giống nhau, sự hưởng thụ những lợi ích từ xã hội cũng rất khác nhau. Có

người vì mưu sinh của mình mà xâm hại đến lợi ích của người khác và xã hội; có

người tuy lao động, cống hiến nhiều cho xã hội, nhưng không được đền đáp tương

31

ứng; có người khuyết tật phải chịu thiệt thòi nhiều mặt; có người không cống hiến

gì cho xã hội, nhưng lại được hưởng thụ rất lớn... đó là những bất công cần được

khắc phục. Công bằng - vì v ậy - là khát v ọng thúc đẩy con ng ười không ng ừng

vươn lên các nấc thang văn minh trong tiến trình phát triển nhân loại.

Công bằng là khái niệm có tính lịch sử - cụ thể và phổ biến. Không có khái

niệm công bằng phi lịch sử, phi giai cấp và phi chính trị: “Nội dung công bằng thay

đổi trong lịch sử, tùy theo hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính trị của một hình thái kinh

tế - xã hội nhất định. Người Hy Lạp cổ đại cho chế độ nô lệ là công bằng; ý thức

công bằng của giai cấp tư sản đang lên đòi hỏi thủ tiêu ch ế độ phong ki ến” [44,

tr.580]. Nhìn lại xã hội loài người từ khi phân chia thành giai cấp đối kháng, nhà

nước của giai cấp thống trị xuất hiện, giai cấp thống trị đại diện cho công bằng của

xã hội đó, họ sử dụng nhà nước làm công cụ để điều tiết những bất công xã hội -

vốn không thể tránh khỏi trong xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng - để thỏa

mãn một phần đòi hỏi công bằng của số đông dân chúng trong xã hội đó. Chế độ sở

hữu tư nhân tư liệu sản xuất từ khi ra đời đến nay, luôn là một động lực to lớn của

phát triển sản xuất xã hội, nhưng nó cũng là ngu ồn gốc của bóc lột giai cấp, bất

công xã hội. Do vậy, chừng nào xã hội còn tồn tại chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản

xuất, còn giai cấp và nhà nước thì còn nguồn gốc của bất công xã hội; CBXH chỉ là

công bằng pháp quyền, gắn với một chế độ chính trị - xã hội cụ thể.

* Khái niệm công bằng xã hội

Trong xã hội khi nói t ới công bằng, phải được hiểu là CBXH, đó là công

bằng giữa các tầng lớp, nhóm xã hội và các cá nhân trong xã h ội. Theo Từ điển

Bách khoa Việt Nam:

Công bằng xã hội là phương thức đúng đắn nhất để thoả mãn một cách

hợp lý những nhu cầu của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, các cá

nhân xuất phát từ khả năng hiện thực của các điều kiện kinh tế - xã hội

nhất định. Về nguyên tắc, chưa thể có sự công bằng nào được coi là tuyệt

đối trong chừng mực mà mâu thuẫn giữa nhu cầu của con người và khả

năng hiện thực của xã hội còn chưa được giải quyết. Bởi vậy, mỗi thời

đại lại có những đòi hỏi riêng về sự công bằng xã hội [44, tr.580].

32

Ở phương Đông cổ đại, Khổng Tử (551- 479) và M ặc Tử (480-420 tr ước

Công nguyên) - những nhà tư tưởng nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại - đã sớm bàn

về CBXH. Các ông cho r ằng, xã hội công bằng là xã hội, ở đó, công bằng được

thực hiện và đảm bảo đối với tất cả mọi người, không phân bi ệt đẳng cấp. Quan

niệm này, tuy khó thành hi ện thực, song có tính nhân v ăn sâu sắc, phản ánh ước

mong của loài người về một xã hội tươi đẹp. Ở phương Tây, nhà tư tưởng nổi tiếng

thời cổ đại như Platôn (Platôn) (427-347), Arixtốt (AriStote) (384-322 trước Công

nguyên) - các nhà triết học cổ đại Hy Lạp - đã có quan niệm về CBXH, song còn

mang nặng tính đẳng cấp. Các ông cho rằng, trong xã hội phân chia thành những

đẳng cấp, tầng lớp khác nhau, công bằng là sự đối xử ngang nhau, là sự bình đẳng

giữa những người có cùng địa vị xã hội, trong cùng một giai cấp, không thể có công

bằng giữa những người ở các đẳng cấp khác nhau. Các ông đã xem xét sự biểu hiện

của CBXH trong lĩnh vực phân phối của cải vật chất xã hội trên cơ sở những quy

định của xã hội do giai cấp thống trị đưa ra. Mỗi người trong xã hội được hưởng thụ

của cải xã hội tương xứng với cống hiến của họ trên cơ sở những quy định ấy.

Trong thời đại cách mạng tư sản, các nhà t ư tưởng tư sản đã đưa ra cách

tiếp cận mới và b ổ sung nh ững nội hàm m ới của khái ni ệm CBXH. G. Rútxô

(J. J. Roussesau) đã đưa ra quan điểm và giải pháp đúng đắn, có tính nhân văn về

CBXH. Ông cho rằng, sở hữu tư nhân là nguyên nhân của phân hoá xã hội thành kẻ

giàu và người nghèo. Vì vậy, xóa bỏ được sở hữu tư nhân thì mới có thể đạt được

công bằng và bình đẳng. Giải pháp được ông đưa ra gồm: thiết lập "Khế ước xã

hội" để cải biến chính mình; loại bỏ các tính xấu, nhất là lòng tham lam và ích kỷ.

Tuy còn chung chung, trừu tượng, thoát ly thực tế, nhưng những giải pháp này đã

chứa đựng những ý tưởng nhân đạo. Xanh Ximông (1760 - 1828), Phăngxoa Mari

Sáclơ Phuriê (1772 - 1837), Rôb ớt Ôoen (1771 - 1858)... là nh ững nhà CNXH

không tưởng, đã có đóng góp quan trọng, đưa tư tưởng CBXH của nhân loại tiến

lên một bước dài trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản. Các ông đã mơ ước về

một xã hội lý tưởng và công bằng, một xã hội mọi người đều phải lao động và được

hưởng thụ như nhau, không có đặc quyền, đặc lợi.

33

Trong xã hội tư bản hiện đại, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đưa ra

những quan niệm mới về CBXH nhằm biện minh cho những bất công trong xã hội

tư bản. G.Rauxơ (John Rawls, 1921-2002), nhà triết học người Mỹ, coi công lý như

là sự công bằng. Ông cho rằng, một thể chế xã hội được gọi là công bằng, khi thể

chế đó là căn cứ để xác định nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ phù hợp

với lợi ích của mỗi cá nhân. Th ể chế của một xã hội đạt đến giá tr ị công lý khi

chuẩn mực của sự công bằng đảm bảo sự phân chia ngày càng bình đẳng hơn giữa

quyền lợi và nghĩa vụ; hoặc ngày càng hạn chế được sự khác biệt về xuất phát điểm

của mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt động hợp tác xã hội. Với những luận điểm

nêu trên, ở chừng mực nào đó, về thực chất, G. Rauxơ đã biện minh cho những bất

bình đẳng và sự phân hoá giàu, nghèo trong xã hội tư bản hiện đại.

Những người xã hội dân ch ủ đã luận giải tính ưu việt của xã hội dân ch ủ

phát triển đến trình độ cao ở một số nước Bắc Âu, như Thụy Điển, Đan Mạch....

Những người này, không đồng tình với các quan điểm và cách tiếp cận khái niệm

CBXH nêu trên. Họ đã tiếp cận khái ni ệm CBXH từ tự do cá nhân và quá nh ấn

mạnh tự do cá nhân trong mối quan hệ với CBXH, coi tự do cá nhân là động lực

thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Từ đó, họ cho rằng, để phát triển

kinh tế phải giảm bớt CBXH, bởi vì, không thể đồng thời vừa có tăng trưởng kinh

tế, vừa có CBXH; chỉ khi kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định mới có điều

kiện để thực hiện CBXH.

Những người có quan điểm nêu trên chưa thấy rõ rằng, tăng trưởng kinh tế

tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện CBXH, song trên thực tế, ở nhiều nơi, kinh tế

chưa thực sự phát triển, nhưng CBXH đã được bảo đảm trong khá nhiều lĩnh vực

đời sống xã hội. Đặc biệt, họ không luận bàn về một điều rất cơ bản là, CBXH được

quyết định bởi thể chế của một xã hội, thể chế ấy, lại phụ thuộc vào bản chất của

giai cấp cầm quyền. Ở các nước tư bản, kể cả các nước tư bản Bắc Âu như Thụy

Điển, Đan Mạch giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giai cấp tư sản

không thể có CBXH khi giai cấp tư sản chiếm hữu tư liệu sản xuất và quyết định

việc phân phối sản phẩm xã hội.

34

Những cách tiếp cận, quan điểm, tư tưởng của các nhà khoa học, các nhà tư

tưởng về CBXH nêu trên, tuy còn phiến diện và chủ quan, chủ yếu do hạn chế về

lập trường giai cấp và lợi ích của giai cấp mà họ là người đại diện, song đã cung cấp

những điều bổ ích để nghiên cứu, đưa ra khái niệm CBXH.

Những nhà sáng lập CNXH khoa học đã đưa ra những tiếp cận mới, đúng

đắn và khoa học về CBXH. Theo Ph.Ăngghen: “Công bằng của những người Hy

Lạp và La Mã là s ự công bằng của chế độ nô lệ. Công bằng của giai cấp tư sản

năm 1789 là nh ững đòi hỏi ph ải xóa b ỏ ch ế độ phong ki ến, mà nó coi là b ất

công...” [9, tr.327]. Luận điểm này, cho th ấy, nếu không gắn chặt CBXH với lợi

ích của giai cấp, tầng lớp xã hội và những điều kiện vật chất sinh ra nó, thì không

thể có quan ni ệm đúng đắn về CBXH; CBXH có tính l ịch sử, nên khó có th ể có

một quan niệm chung về CBXH cho mọi thời đại, dân tộc và giai cấp. Trong tác

phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta C.Mác vi ết: "với một công việc ngang nhau và

do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực

tế người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, ng ười này vẫn giầu hơn người kia...

Muốn tránh tất cả nh ững thi ếu sót ấy thì quy ền ph ải là không bình đẳng, ch ứ

không phải là bình đẳng" [9, tr.35].

C.Mác cũng nhấn mạnh: “những thiếu sót đó là không thể tránh khỏi trong

giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa... Quyền không bao giờ có thể ở mức

độ cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế đó

quyết định” [9, tr.480]. Những thiếu sót đó chỉ được khắc phục hoàn toàn trong chủ

nghĩa cộng sản, Ông chỉ rõ: “Chỉ khi đó người ta mới có thể vượt hẳn ra khỏi giới

hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã hội mới có thể ghi trên lá cờ của mình:

làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” [9, tr.36]. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch

sử tư tưởng nhân loại, CBXH được các nhà sáng lập CNXH khoa học luận giải trên

cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử: CBXH là một phạm trù lịch sử, có tính giai

cấp, thay đổi theo các hình thái kinh tế - xã hội và trong từng giai đoạn khác nhau

của một hình thái kinh tế - xã hội, CBXH cũng có thể thay đổi; mỗi giai cấp, dân

tộc, tầng lớp dân cư cũng có nh ững quan niệm khác nhau về CBXH... Không có

CBXH thoát ly bản chất nhà nước, pháp luật và các thể chế chính trị - xã hội cụ thể.

35

Hồ Chí Minh đã xem xét CBXH trong mối quan hệ mật thiết với độc lập dân

tộc và CNXH. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại,

đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc tự do, bình đẳng,

bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm

vui, hòa bình và hạnh phúc” [57, tr.46]; “Chủ nghĩa xã hội là gì? Là mọi người ăn

no, mặc ấm, sung sướng, tự do” [59, tr.22]. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể của

cách mạng Việt Nam th ời kỳ quá độ lên CNXH Hồ Chí Minh ch ỉ ra rằng, công

bằng không có nghĩa là cào bằng, bình quân chủ nghĩa: "Không có tình trạng người

giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm như nhau" [59, tr.143]; mà phải

theo nguyên tắc: “Làm nhi ều hưởng nhi ều, làm ít h ưởng ít, không làm không

hưởng” [60, tr.23]. CBXH hi ểu theo nghĩa tổng quát nh ất, gắn với một hình thái

kinh tế - xã hội xác định. Nước ta đang trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên

CNXH, CBXH gắn với toàn bộ đường lối, chính sách xã hội của Đảng, được thể

chế hoá thành Hiến pháp, pháp luật, cùng với tổ chức bộ máy và con người thực thi

đường lối, chính sách pháp luật đó nhằm bảo đảm:

Xử lý tốt mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân, xóa

bỏ mọi hình thức đặc quyền, đặc lợi mọi người đều bình đẳng trước pháp

luật. Ban hành các chính sách nh ằm điều tiết các ngu ồn thu nh ập, bảo

đảm sự công bằng trong phân phối các sản phẩm xã hội, lương bổng và

các phúc lợi xã hội. Xây dựng những cơ chế tạo điều kiện cho mỗi thành

viên trong xã hội, mỗi người lao động có quyền giám sát, kiểm tra mọi

hoạt động kinh tế, xã hội, phân phối sản phẩm và phúc lợi [44, tr.581].

Vận dụng và phát tri ển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, t ư tưởng Hồ Chí

Minh về vấn đề CBXH, Đảng ta luôn quan tâm đến CBXH cả trên phương diện lý

luận và th ực tiễn. Khái niệm CBXH được Đảng ta phát tri ển, bổ sung nh ững nội

hàm phong phú phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể ở nước ta trong thời kỳ

quá độ lên CNXH. Tại Đại hội X, Đảng ta khẳng định: “thực hiện tiến bộ và công

bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các

chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế” [24, tr.101]. Trong Cương lĩnh xây

dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm

36

2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm của Đại hội X, chỉ rõ hơn nội hàm

khái niệm CBXH thông qua các chính sách xã hội:

Chính sách xã hội đúng đắn... Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền

lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với

phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong

từng bước và từng chính sách; phát triển hài hòa đời sống vật chất và đời

sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong

xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất,

gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với

lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội [31, tr.79].

Luận điểm trên ch ỉ rõ: m ục tiêu, ph ương châm và con đường th ực hi ện

CBXH ở nước ta giai đoạn hiện nay, trong đó nhấn mạnh: bảo đảm CBXH th ực

chất là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ công dân; cống

hiến với hưởng thụ; lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, cộng đồng.

Từ phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm: Công bằng xã hội là một phạm

trù lịch sử, mang tính giai cấp, dùng để chỉ trình độ phát triển của một chế độ xã

hội, được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, nhưng chủ yếu trong

lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội..., phản ánh mối quan hệ giữa cống hiến

và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa thưởng và phạt của cá nhân (nhóm

xã hội), bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định, hài hoà, phù hợp với xu thế phát

triển của xã hội loài người, vừa là khát vọng của con người, vừa là động lực, mục

tiêu phát triển của xã hội.

2.1.2.2. Nội dung công bằng xã hội

Một là, công bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế

Công bằng xã hội trong lĩnh vực này là sự tương xứng giữa lao động, đóng

góp của cá nhân hay t ổ chức kinh tế, nhóm xã h ội vào quá trình s ản xuất và sự

hưởng thụ kết quả do sản xuất mang lại. Trong xã hội quyền tự chủ, tự do trong sản

xuất, kinh doanh và s ự cạnh tranh của các ch ủ th ể kinh tế đúng đắn lành mạnh,

được nhà nước (pháp luật ở các nước tư bản và XHCN) bảo vệ, hạn chế rủi ro. Các

chủ thể kinh tế có quyền như nhau trong sản xuất, kinh doanh, hưởng thụ những kết

37

quả đã đạt được trên cơ sở những đóng góp của họ vào quá trình s ản xuất, kinh

doanh. Xu hướng chung là tất cả các nhà nước là đảm bảo sự phát triển cân bằng

tương đối về mọi mặt, trước hết là về kinh tế giữa các khu vực, vùng, miền, tạo nên

sự phát triển cân đối giữa các vùng, miền và sự phát triển của đất nước.

Hai là, công bằng xã hội trong lĩnh vực chính trị

Công bằng xã hội trong lĩnh vực này là mọi người dân bình đẳng trước các

quy định của Nhà nước, các quy ền tự do, dân ch ủ của người dân được Nhà nước

đảm bảo. Ở các nước tư bản và XHCN mọi công dân bình đẳng trước pháp luật) các

quyền tự do, dân chủ của người dân được Nhà nước đảm bảo bằng pháp luật... Trên

thực tế, sự đóng góp của cá nhân, tập thể cho xã hội là những điều tốt, đó là sự cống

hiến; cũng có không ít điều xấu mà cá nhân, tập thể đưa vào xã hội, gây nên những

phức tạp cho xã hội. Từ đó, cá nhân, tập thể sẽ nhận được từ xã hội sự hưởng thụ

hay trừng phạt.

Ba là, công bằng xã hội trong lĩnh vực văn hóa

Công bằng xã hội trong lĩnh vực văn hóa là các thành viên trong xã h ội có

quyền như nhau về hưởng thụ các giá trị văn hoá, tinh thần và các quyền đó được

nhà nước đảm bảo. Ở các nước tư bản và XHCN các quyền ấy của công dân được

nhà nước đảm bảo bằng pháp luật. Các nhà nước đều chăm lo phát triển sự nghiệp

văn hóa, giáo dục - đào tạo. Mỗi công dân, tổ chức đều có trách nhiệm đối với sự

phát triển văn hóa, giáo dục - đào tạo để được thụ hưởng các giá trị của sự nghiệp

đó. Xu hướng chung của các đảng cầm quyền và nhà nước của họ là tạo ra thể chế

pháp lý, chính sách, môi trường thuận lợi để mỗi công dân có được cơ hội phát triển

về văn hoá, tinh thần, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để tài năng phát triển

vì sự phát triển của đất nước, dân tộc. Song, CBXH trong lĩnh vực văn hóa lại phụ

thuộc vào giai cấp cầm quyền và chế độ chính trị xã hội ở mỗi nước.

Bốn là, công bằng xã hội trong lĩnh vực xã hội

Công bằng xã hội trong lĩnh vực này là mỗi người dân, tổ chức trong xã hội

được thụ hưởng ngang bằng nhau về việc giải quyết những vấn đề xã hội như giải

quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, chữa các bệnh xã hội, xóa mù chữ, bình đẳng

giới... và phúc lợi xã hội về văn hóa, giáo dục y tế, bảo hiểm xã hội... CBXH trong

38

lĩnh vực xã hội còn được thể hiện ở sự quan tâm, ưu tiên những người, nhóm người

yếu thế như người già và trẻ em, những người tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa,

cư dân ở các vùng thiên tai ác liệt... Ngoài ra, ở nhiều nước còn có những người và

gia đình có công với nước đó trong chiến tranh và trong xây dựng đất nước... Họ

được hưởng các chính sách xã hội theo quy định của từng nước.

2.1.2.3. Vai trò và những đặc tính cơ bản của công bằng xã hội

* Vai trò của công bằng xã hội

Thứ nhất, công bằng xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Công bằng xã hội là khát vọng của con người. Từ khi xã hội phân chia thành

giai cấp đối kháng và các đẳng cấp đối địch nhau, ước mong của loài người được

sống trong một xã hội mọi người đều bình đẳng, công lý được thi hành triệt để, đó

là một xã hội CBXH được bảo đảm. Khát vọng ấy thúc đẩy con người hoạt động có

hiệu quả, trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, trước hết là trong lĩnh vực kinh tế,

xã hội để được xã hội thừa nhận, suy tôn và được hưởng sản phẩm của xã hội. Như

vậy CBXH là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Thực tế cho thấy, kinh tế

- xã hội phát triển không phải chỉ nhờ sự tác động và thúc đẩy của CBXH, mà còn

nhờ nhiều nhân tố khác, song CBXH là m ột nhân tố rất quan trọng. CBXH được

bảo đảm sẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ và bền vững. Đảng ta đã

khẳng định điều này: "... gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo

động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế - xã hội" [24, tr.101].

Thứ hai, công bằng xã hội tạo nên sự phát triển hài hòa giữa con người với

con người và giữa cá nhân con ng ười với xã hội, là một trong những nhân tố bảo

đảm sự ổn định chính trị của một chế độ xã hội

Trong một chế độ xã hội, nếu CBXH được đảm bảo thì mọi công dân s ẽ

sống hòa thuận với nhau phù hợp với sự phát triển của xã hội, tạo nên sự phát triển

hài hòa giữa con người với con người và giữa con người với xã hội. Trong xã hội

ấy, có rất ít, thậm chí không có những mâu thuẫn, xung đột xã hội. Đây là nhân tố

rất quan trọng bảo đảm sự ổn định chính trị của xã hội. Trong các xã hội phân chia

thành giai cấp đối kháng không thể có sự công bằng giữa giai cấp thống trị, bóc lột

với những giai cấp những người bị áp bức, bóc lột, mâu thuẫn, xung đột giữa hai

39

giai cấp này ngày càng cao và gay gắt. Vì địa vị và lợi ích của mình, giai cấp thống

trị, bóc lột ngày càng đẩy bất CBXH lên cao, đây là nguyên nhân cơ bản của những

cuộc cách mạng xã hội thay thế xã hội ấy bằng xã hội khác, tiến bộ hơn, CBXH

được cải thiện.

Thứ ba, công bằng xã hội là tiêu chí để xem xét, đánh giá sự phát triển, tiến

bộ của một chế độ xã hội

Xem xét sự phát triển, tiến bộ của một chế độ xã hội không chỉ căn cứ vào sự

phát triển kinh tế, mặc dù đây là yếu tố rất cần thiết, song quan trọng hơn là trong chế

độ xã hội ấy, người dân có được chung sống thuận hòa, giữa các công dân có bình

đẳng, công bằng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội hay không.

Trên thực tế, đã có không ít qu ốc gia tư bản có kinh tế phát triển, song ở đó lại có

nhiều bất công, oan trái. Ngược lại, ở nhiều nước kinh tế tuy chưa phát triển mạnh

mẽ, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, song sự công bằng, bình đẳng trong xã

hội được đảm bảo và ngày càng cải thiện. Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng

định: "không sợ thiếu, chỉ sợ không công b ằng; không sợ nghèo ch ỉ sợ lòng dân

không yên" [59, tr.185]. Kinh tế tuy chưa phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân còn

khó khăn, thiếu thốn, song CBXH ở nước ta từng bước được bảo đảm.

Thứ tư, công bằng xã hội thúc đẩy con người vươn lên hoàn thiện bản thân

mình phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội

Suốt tiến trình phát triển của xã hội, ước mong cao cả nhất của con người là

được sống trong một xã hội, ở đó mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa

nghĩa vụ và quyền lợi của cá nhân, nhóm xã hội với xã hội được giải quyết công

bằng. Ước mong cao cả ấy, thúc đẩy con người vươn lên làm ra nhiều của cải cho

xã hội để được hưởng tương xứng. Quá trình đó diễn ra liên tục và phổ biến, qua

đó con ng ười ngày càng hoàn thi ện bản thân mình phù h ợp với xu hướng phát

triển của xã hội.

* Những đặc tính cơ bản của công bằng xã hội

Tính lịch sử: Th ực tế lịch sử phát tri ển của xã hội loài ng ười cho th ấy:

không thể có quan ni ệm và chuẩn mực bất biến về CBXH cho mọi thời đại, mọi

quốc gia, dân tộc; trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có những quan niệm và

chuẩn mực về CBXH tương ứng phù hợp và phụ thuộc vào hình thái kinh tế - xã

40

hội ấy; là nhu cầu khách quan của sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội

trong mỗi thời đại, quốc gia, dân tộc; gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội của thời

đại, quốc gia, dân tộc ấy. Điều này, khẳng định tính lịch sử của CBXH.

Tính giai cấp: Trong xã hội phân chia thành giai cấp, CBXH chịu sự chi phối

chủ yếu bởi địa vị của mỗi giai tầng xã hội trong sản xuất, phân phối sản phẩm xã

hội và nhu cầu, lợi ích của họ. Mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội luôn có những quan

niệm, chuẩn mực khác nhau về CBXH xuất phát từ bản chất và địa vị của họ trong

xã hội. Song, thực tế cho thấy, quan niệm về CBXH chiếm ưu thế và chi phối trong

toàn xã hội là quan niệm về CBXH của giai cấp thống trị. Điều này thể hiện rõ và

khẳng định tính giai cấp của CBXH.

Tính xã hội: Trong xã hội phân chia thành giai cấp quan niệm về CBXH của

giai cấp, tầng lớp nào đó kể cả của giai cấp thống trị, chỉ có thể tồn tại, chiếm ưu thế

và trở thành chuẩn mực công bằng chung, phổ biến của xã hội (công bằng xã hội)

khi nó phù hợp với ý chí, lợi ích chung của toàn xã hội, được xã hội thừa nhận.

Điều này thể hiện và quy định tính xã hội của CBXH.

Tính nhân văn: CBXH là khát vọng của mọi người, cơ sở để phát huy các

nguồn lực, nhất là nguồn lực con người cho sự phát triển của xã hội nhằm thỏa mãn

những nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần của mọi người trong xã hội;

cổ vũ động viên con người vươn lên xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đấu

tranh với những quan điểm, hành động sai trái xâm hại đến giá trị và cuộc sống của

con người; đem lại hưởng thụ cần thiết về vật chất và tinh th ần cho những người

khó khăn, yếu thế trong xã hội; khơi dậy trách nhiệm của các thành viên trong xã

hội đối với việc cải thiện đời sống của mọi người trong xã hội; lên án và trừng phạt

những hành động vi ph ạm quyền của con ng ười... Điều này th ể hiện sâu sắc tính

nhân văn của CBXH.

2.1.3. Thực hiện công bằng xã hội - khái niệm, nội dung và những nhân

tố chủ yếu chi phối

2.1.3.1. Khái niệm, nội dung thực hiện công bằng xã hội

* Khái niệm thực hiện công bằng xã hội

Để đưa ra khái ni ệm thực hiện CBXH cần làm rõ khái ni ệm "thực hiện".

Theo Đại từ điển tiếng Việt: "thực hiện" là làm cho trở thành cái có thật bằng hoạt

41

động cụ thể; làm theo trình tự, thao tác nhất định [146, tr.1615]. Trong cuộc sống

hiện thực, "thực hiện" thường được hiểu là bằng những hoạt động cụ thể làm cho ý

tưởng, lý thuyết, chủ trương, nghị quyết, quyết định của một cá nhân, tổ chức thành

hiện th ực. Điều này đòi hỏi chủ th ể đưa ra ý t ưởng, lý thuy ết, chủ tr ương, nghị

quyết, quyết định ý thức sâu sắc về ý tưởng, lý thuyết, chủ trương, nghị quyết, quyết

định của mình, bảo đảm tính đúng đắn của chúng; những người thực thi phải ý thức

được về ý tưởng, nghị quyết, quyết định của chủ thể, trước khi hành động. Mức độ

thực hiện ý tưởng, nghị quyết, vì vậy, phụ thuộc rất lớn vào ý thức của chủ thể và

đối tượng thực thi ý tưởng, quyết định, nghị quyết đó.

Từ khái niệm "công bằng", "xã hội", "CBXH", đặc tính, nội dung của CBXH

và khái ni ệm "thực hiện" nêu trên, có th ể đi đến khái ni ệm: Thực hiện CBXH là

những hoạt động cụ thể của toàn bộ HTCT, các lực lượng, tổ chức xã hội và người

dân, theo chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò của mỗi tổ chức và cá nhân, làm cho

những nội dung của CBXH trở thành hiện thực trong đời sống xã hội, chủ yếu trong

lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Như vậy, chủ thể thực hiện CBXH trong một nước gồm đảng cầm quyền,

nhà nước, các tổ chức khác trong HTCT và các lực lượng, tổ chức xã hội ở nước đó.

Ngoài ra, còn một số tổ chức, lực lượng ở các nước khác, như các tổ chức phi chính

phủ (INGO), các tổ chức hoạt động nhân đạo, từ thiện, khắc phục hậu quả thiên tai,

biến đổi khí hậu, hậu quả chiến tranh... hỗ trợ, tham gia thực hiện CBXH trong lĩnh

vực kinh tế, văn hóa, xã hội...

* Nội dung thực hiện công bằng xã hội

Tùy theo vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong xã hội, từng tổ

chức tiến hành các hoạt động cụ thể theo chức năng, nhiệm vụ của mình để các nội

dung CBXH thành hiện thực trong đời sống xã hội, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế,

chính trị, văn hóa, xã hội. Cụ thể là: Thứ nhất, đảng chính trị cầm quyền ở một nước

nào đó xác định quan điểm, chiến lược, ch ủ tr ương, các mục tiêu về th ực hi ện

CBXH trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức

thực hi ện. Thứ hai, nhà n ước tri ển khai th ực hi ện quan điểm, chi ến lược, ch ủ

trương, các mục tiêu về thực hiện CBXH trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn

42

hóa, xã hội trong cả nước và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thực hiện

CBXH. Thứ ba, các tổ chức khác trong HTCT và các lực lượng xã hội ở nước đó,

tiến hành các ho ạt động theo chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình để thực hiện

các nội dung của CBXH trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

2.1.3.2. Những nhân tố chủ yếu chi phối thực hiện công bằng xã hội

Thứ nhất, trình độ phát triển kinh tế

Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu, điều kiện tiên quyết để thực hiện có kết

quả CBXH. Trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước là nhân tố đặc biệt quan trọng

để phát triển xã hội. Trình độ phát triển xã hội ở mỗi nước được thể hiện tập trung ở

mức sống, điều kiện sống và ch ất lượng cuộc sống của các tầng lớp dân cư. Một

nước có kinh tế phát triển cao, giàu sẽ có điều kiện thuận lợi để xã hội phát triển cao

và thực hiện tốt CBXH. Nh ững nước có kinh tế phát tri ển thấp sẽ gặp khó kh ăn

trong thực hiện CBXH. Tuy vậy, cần xem xét mục đích phát triển kinh tế của một

nước có vì phát tri ển đất nước và vì cu ộc sống của nhân dân hay không m ới chi

phối việc thực hiện CBXH. Kinh tế của một nước phát triển vì sự phát triển của đất

nước và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của mọi người dân, sẽ rất thuận lợi để thực

hiện tốt CBXH. Song, nếu kinh tế của một nước phát triển vì sự giàu có của giai cấp

thống trị cầm quyền thì CBXH không nh ững khó th ực hiện tốt, mà còn gây nên

những bất công, CBXH ở những nước đó tuy được thực hiện ở mức độ nhất định,

chủ yếu nhằm bảo đảm ổn định xã hội, duy trì sự cầm quyền, làm tăng lợi nhuận và

sự giàu có của giai cấp thống trị cầm quyền. Đã có không ít nước có kinh tế phát

triển cao (nước giàu, các nước tư bản phát triển), nhưng tuyệt đại đa số nhân dân lao

động vẫn có cuộc sống chênh lệch quá xa với giai cấp tư sản và họ vẫn chịu nhiều

bất công, CBXH vẫn bị hạn chế. Ngược lại, cũng có nhiều nước kinh tế phát triển

không cao (các nước XHCN và nhiều nước khác), song CBXH vẫn được đảm bảo

và ngày càng được cải thiện.

Thứ hai, tính chất của chế độ chính trị, đặc biệt là bản chất của giai cấp cầm

quyền và của nhà nước ở mỗi nước

Đây là nhân tố chính trị chi phối rất lớn việc thực hiện CBXH ở mỗi nước.

Chế độ chính trị, đặc biệt là bản chất của giai cấp cầm quyền và của nhà nước ở mỗi

43

nước chi phối, quy định CBXH và việc thực hiện CBXH ở nước đó. Quan điểm về

CBXH và chủ trương, giải pháp thực hiện CBXH ở những nước ấy là của giai cấp

cầm quyền, được thực hiện chủ yếu thông qua nhà nước của họ. Ở các nước tư bản

giai cấp tư sản cầm quyền, chính đảng và nhà nước tư sản chi phối và quyết định

việc thực hiện CBXH theo quan điểm và lợi ích của giai cấp tư sản, chủ yếu vì sự

cầm quyền và giàu có của giai cấp tư sản. Điều này đã cản trở lớn việc thực hiện

CBXH ở các nước đó. Chế độ XHCN với tính ưu việt của nó, bản chất của Đảng

Cộng sản cầm quyền và của nhà nước XHCN chi phối mạnh mẽ và quyết định việc

thực hiện ngày càng t ốt hơn CBXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm

quyền hiến pháp và hệ thống pháp luật được xây dựng ngày càng hoàn thiện, thể

hiện ý chí và nguy ện vọng của nhân dân, được nhân dân đồng tình và chấp hành,

CBXH có nhi ều thuận lợi để thực hiện ngày càng tốt hơn trong các l ĩnh vực đời

sống xã hội và ở các địa phương.

Thứ ba, các giá trị văn hoá và truyền thống lịch sử dân tộc

Các giá trị văn hoá và truyền thống lịch sử dân tộc của mỗi quốc gia, đều

nhằm mục đích xây dựng, củng cố và phát tri ển quan hệ tốt đẹp giữa người với

người trong xã h ội, hướng người dân đến các giá tr ị chân, thi ện, mỹ, phát tri ển

toàn diện, xây dựng xã hội công bằng, nhân v ăn và văn minh. Văn hoá còn chi

phối, định hướng giá trị lẽ sống, lý tưởng sống của mỗi người dân trong xã h ội;

cổ vũ và phát huy vai trò, tác d ụng của những nhân tố mới, con ng ười mới, cái

đúng, cái đẹp, tính chủ động, sáng tạo của nhân dân trong phát tri ển kinh tế - xã

hội và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, văn hóa còn phê phán, lên án nh ững thói hư,

tật xấu, nh ững tiêu c ực, bất bình đẳng... trong xã h ội; điều ch ỉnh hành vi c ủa

con ng ười, tập th ể ng ười và xã h ội. Nh ư vậy, các giá tr ị văn hoá và truyền

thống lịch sử dân tộc của mỗi nước tác động và là m ột trong nh ững động lực

của sự phát tri ển của ng ười dân và xã h ội, hướng tới xã h ội tươi đẹp, công

bằng, nhân ái, v ăn minh... chi ph ối mạnh mẽ việc thực hiện CBXH. Tuy nhiên,

những khía c ạnh của văn hóa và truy ền th ống lạc hậu lại kìm hãm con ng ười

44

tiếp nhận và phát tri ển những cái mới, họ bằng lòng với hiện tại lại chi ph ối và

hạn chế đáng kể việc thực CBXH.

Thứ ba, xu hướng phát triển của thế giới và tính chất thời đại

Quá trình phát triển của nhân loại đã trải qua nhiều thời đại khác nhau với

những tính chất khác nhau theo hướng tiến bộ, chi phối và tác động mạnh mẽ đến

sự phát triển của nhân loại và thực hiện CBXH. Nhờ đó, việc thực hiện CBXH đạt

được những kết quả lớn hơn.

Thời đại ngày nay là th ời đại quá độ từ ch ủ ngh ĩa tư bản lên CNXH, xu

hướng toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, khoa học - công ngh ệ

hiện đại phát triển như vũ bão. Nhân loại sẽ đi đến CNXH và chủ nghĩa cộng sản.

Xu hướng phát triển của nhân loại và tính chất của thời đại hiện nay tác động rất lớn

và tạo thu ận lợi cơ bản để th ực hi ện CBXH đạt kết qu ả và từng bước ti ến đến

CBXH thực sự hoàn chỉnh trong xã hội tương lai.

Tuy nhiên, khoa h ọc, công ngh ệ phát tri ển mạnh, công cụ sản xuất ngày

càng hiện đại sẽ sử dụng ít lao động, thất nghiệp sẽ gia tăng. Nhiều người lao động

không có điều kiện tiếp cận khoa học - công nghệ hiện đại nên gặp nhiều khó khăn

trong tìm việc làm, không có việc làm họ bị đẩy ra ngoài xã hội. Đây là những khó

khăn và gánh nặng ngày càng tăng của thực hiện CBXH. Không nh ững thế, các

thế lực phản động lại tăng cường lợi dụng thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại

vì lợi ích ích kỷ của chúng đến mức cực đoan, có thể gây nên những hiểm họa huỷ

diệt nền văn minh nhân loại, trong đó có thành quả CBXH... Nếu điều này xảy ra,

thì mọi cố gắng để thực hiện tốt hơn CBXH sẽ trở nên vô v ọng. Bởi vậy, phải

bằng mọi cách ng ăn ch ặn có hi ệu qu ả và lo ại tr ừ tình tr ạng bất nhân này. Xu

hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế -

xã hội và thực hiện tốt hơn CBXH. Tuy nhiên, mặt trái của nó tác động rất lớn đến

các nước chậm và đang phát tri ển làm cho kho ảng cách thu nh ập và mức sống

giữa người giàu và người nghèo ngày càng tăng lên, gây khó kh ăn, phức tạp cho

việc thực hiện CBXH.

45

2.1.4. Công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã hội ở nước ta và ở các

tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay

2.1.4.1. Công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay

* Công bằng xã hội ở nước ta hiện nay

Nước ta hiện nay đang xây dựng nền KTTT định hướng XHCN. Thực tế cho

thấy, nền KTTT tác động rất mạnh đến CBXH và vi ệc thực hiện CBXH theo hai

hướng tích cực và tiêu cực.

Theo hướng tích cực: Thứ nhất, KTTT tạo cơ hội và môi tr ường thuận lợi

cho việc thể hiện các năng lực, tính chủ động và sáng tạo của con người trong quá

trình sản xuất, kinh doanh, khai thác có hi ệu quả các ngu ồn lực cho sự phát triển

kinh tế và xã hội. Thứ hai, tạo ra tăng trưởng kinh tế cao và nhanh chóng, tạo ra

những nguồn lực vật chất to lớn đáp ứng các nhu cầu của xã hội, tạo điều kiện cho

việc thực hiện CBXH trên quy mô lớn và mức độ cao. Thứ ba, là cơ sở hình thành

các chế độ xã hội và nhà nước dân chủ, nơi các quyền và nghĩa vụ cơ bản của con

người được xác nhận và bảo vệ, nhất là các quyền tự do, dân chủ và quyền mưu cầu

hạnh phúc. Đây là những cơ sở chính trị - pháp lý và xã hội quan trọng, làm cơ sở

cho việc thực hiện CBXH.

Theo hướng tiêu cực: Một là, KTTT có xu h ướng gây ra phân hoá giàu,

nghèo ngày càng sâu sắc. Hai là, có xu hướng gây ra những bất công xã hội, sự suy

thoái của đạo đức xã hội. Ba là, gây ra những mất cân đối ngày càng lớn về sự phát

triển xã hội. Bốn là, gây huỷ hoại môi trường, môi sinh.

Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta có nh ững ưu thế để thực

hiện tốt hơn CBXH. Nền kinh tế ấy, cũng chịu sự chi phối và tuân theo những quy

luật chung của KTTT, nhưng các nguyên tắc của CNXH có vai trò định hướng, chi

phối sự phát triển KTTT theo hướng XHCN, thể hiện trên ba mặt, gồm: các chế độ

sở hữu tư liệu sản xuất, quản lý sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm. KTTT

định hướng XHCN vừa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu

giải quyết những vấn đề xã hội, đảm bảo lợi ích của nhân dân lao động. Sự lãnh đạo

của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý, điều hành của Nhà nước ta là nhân tố

46

quyết định để nền KTTT định hướng XHCN mà chúng ta đang xây dựng đi đúng

định hướng XHCN.

* Th ực hi ện công b ằng xã h ội trong điều ki ện xây dựng nền kinh tế th ị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Xây dựng nền KTTT định hướng XHCN sẽ tạo ra nhiều khả năng thực hiện

tốt hơn CBXH. Cụ thể là:

Trong lĩnh vực kinh tế: KTTT định hướng XHCN tạo nên sự phát triển mạnh

mẽ về kinh tế và của cải xã hội; quyền tự chủ, tự do trong sản xuất, kinh doanh và

sự cạnh tranh của các ch ủ thể kinh tế là cạnh tranh theo hướng lành mạnh, được

pháp luật bảo vệ. Các chủ thể kinh tế có quyền như nhau trong sản xuất, kinh doanh

và được quyền hưởng thụ. Đây chính là cơ sở để thực hiện tốt hơn CBXH. Tuy

nhiên, nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta cũng tạo nên những khó khăn, phức

tạp đối với việc thực hiện CBXH, nh ư: phân hoá giàu và ng ười nghèo; sự chênh

lệch về thu nhập và mức sống, trình độ phát triển và hưởng thụ giữa các khu vực,

vùng, miền; sự phá sản của các doanh nghiệp, thất nghiệp; làm ăn phi đạo đức, phi

pháp; tăng các tệ nạn xã hội; băng hoại đạo đức lối sống lành mạnh... ở những mức

độ nhất định. Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước ta sẽ đảm

bảo cho KTTT định hướng XHCN phát triển đúng hướng tạo thuận lợi thực hiện tốt

CBXH, trước hết trong lĩnh vực kinh tế.

Trong lĩnh vực chính trị: Các quyền tự do, dân chủ của công dân được nhà

nước đảm bảo bằng Hiến pháp và pháp lu ật, mọi công dân bình đẳng trước pháp

luật. Đó là nền dân ch ủ XHCN, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các

quyền tự do bầu cử, ứng cử, đề cử của công dân được pháp luật đảm bảo. Quyền

dân chủ của công dân được thực hiện trên thực tế, thông qua các hình thức đa dạng,

phong phú như dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.

Trong lĩnh vực văn hoá: Trong nền KTTT định hướng XHCN các thành viên

trong xã hội có quyền bình đẳng trong hưởng thụ các giá trị văn hoá, tinh thần, được

nhà nước đảm bảo bằng pháp luật. KTTT định hướng XHCN tạo nên sự phát triển

mạnh mẽ về kinh tế, tạo cơ sở vật chất để phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Sự

47

lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước ta bảo đảm thực hiện tốt CBXH trong

lĩnh vực văn hóa.

Trong lĩnh vực xã hội: Trong nền KTTT định hướng XHCN sự bình đẳng về

mặt xã hội là một điểm nổi trội. Chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm

mục đích tối cao là, vì quảng đại nhân dân lao động, hướng tới nhân dân lao động,

hạn chế và giảm thiểu những tác động của mặt trái KTTT. Thực hiện CBXH trong

nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, việc phân phối không chỉ theo nguyên tắc

phân phối theo lao động mà còn phân phối theo tài năng, theo mức đóng góp bằng

vốn, bằng các nguồn lực. Ngoài ra ở nước ta hiện nay trong chính sách phân phối,

còn thực hiện phân phối theo chính sách ưu đãi, chính sách bảo trợ xã hội...

2.1.4.2. Công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã hội ở các tỉnh đồng

bằng sông Hồng hiện nay

* Khái niệm công bằng xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng

Từ khái niệm chung về "CBXH" có thể hiểu: CBXH ở các tỉnh ĐBSH là khái

niệm dùng để chỉ trình độ phát triển mọi mặt của các tỉnh, được thể hiện trong tất cả

các lĩnh vực đời sống của xã hội, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã

hội..., phản ánh mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền

lợi, giữa thưởng và phạt của cá nhân, tổ chức trên địa bàn các tỉnh, bảo đảm cho các

tỉnh phát triển ổn định, hài hoà phù hợp với sự phát triển của đất nước, là động lực

và mục tiêu của sự phát triển. Khái niệm nói trên phản ánh các nội hàm sau:

* Nội dung công bằng xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng

Nội dung CBXH nêu trên được thể hiện ở các tỉnh ĐBXH trong các lĩnh vực

kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội:

Một là, công bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng

Cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh có quyền bình đẳng trong

sản xuất, kinh doanh, hưởng thụ những kết quả đã đạt được trên cơ sở những đóng

góp của họ vào quá trình sản xuất, kinh doanh ở địa phương. Quyền tự chủ, tự do

trong sản xuất, kinh doanh và sự cạnh tranh của các chủ thể kinh tế đúng đắn lành

mạnh, được pháp luật bảo vệ, hạn chế rủi ro. Đây là cơ sở của sự thống nhất giữa

quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ của các thành viên trong tỉnh.

48

Công bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế ở các tỉnh phụ thuộc và được quyết

định bởi các ch ủ trương, quyết định và sự lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính

quyền tỉnh, đảm bảo sự phát triển cân bằng của tỉnh, trước hết là về kinh tế giữa các

khu vực, vùng trong tỉnh, tạo nên sự phát triển cân đối giữa các vùng, khu vực trên

địa bàn tỉnh.

Hai là, công bằng xã hội trong lĩnh vực chính trị ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng

Mọi người dân trong tỉnh bình đẳng về quyền lợi chính trị trước pháp luật;

các quyền tự do, dân ch ủ như bầu cử, ứng cử, đề cử của công dân được đảm bảo

bằng pháp luật. Mọi công dân được tham gia vào các công việc của Nhà nước, của

chính quyền địa phương theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, được kiểm tra,

giám sát hoạt động của các cơ quan công quy ền và các công ch ức nhà nước theo

quy định của pháp luật. Quyền dân chủ của công dân được thực hiện trên thực tế,

thông qua các hình thức dân chủ đa dạng, phong phú. Mọi công dân, tổ chức bình

đẳng về hưởng thụ và trừng phạt theo quy định của pháp luật.

Ba là, công bằng xã hội trong lĩnh vực văn hóa ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng

Mọi công dân trong tỉnh có quy ền bình đẳng về hưởng thụ các giá tr ị văn

hoá, tinh thần theo quy định của pháp luật và được pháp luật đảm bảo. Mọi công

dân, tổ chức trên địa bàn tỉnh có nghĩa vụ đóng góp và tham gia vào sự phát triển

văn hóa, giáo dục - đào tạo ở địa phương, qua đó được hưởng thành qu ả của sự

nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục - đào tạo. Mọi công dân trong t ỉnh có quy ền

ngang nhau về tận hưởng cơ hội phát triển văn hoá, tinh thần để hoàn thiện bản thân

và phát triển.

Bốn là, công bằng xã hội trong lĩnh vực xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng

Mọi người dân, tổ chức trong tỉnh có quy ền ngang nhau v ề trách nhi ệm,

nghĩa vụ đối với việc giải quyết những vấn đề xã hội trên địa bàn tỉnh và được thụ

hưởng ngang bằng nhau về kết quả giải quyết những vấn đề này, như tạo việc làm,

xóa đói, giảm nghèo, phòng, ch ống và ch ữa các bệnh xã hội, xóa mù ch ữ, bình

đẳng nam nữ... phúc lợi xã hội về văn hóa, giáo dục y tế, bảo hiểm xã hội... Cấp

ủy và chính quyền địa phương quan tâm đến những người yếu thế như người già,

trẻ em, người tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa, người lang thang, cơ lỡ, các gia

49

đình và người gặp rủi ro do thiên tai và tai nạn... Hiện tại, ở các tỉnh ĐBSH còn có

số lượng lớn người và gia đình có công với nước, như thương binh, thân nhân các

liệt sĩ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng, thanh niên xung phong... Đây là đối tượng

ưu tiên của chính sách bảo trợ xã hội và phúc lợi xã hội của Nhà nước ta. Ngoài

ra, ở các tỉnh còn có những nạn nhân chiến tranh cần được tạo thuận lợi để họ có

cuộc sống tối thiểu.

* Khái niệm thực hiện công bằng xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng

Từ khái ni ệm chung về "thực hiện CBXH" ở nước ta th ời kỳ quá độ lên

CNXH, có thể hiểu: Thực hiện CBXH ở các tỉnh ĐBSH là những hoạt động cụ thể

của toàn bộ HTCT, các lực lượng, tổ chức xã hội và người dân trên địa bàn tỉnh,

theo chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò của mỗi tổ chức và cá nhân làm cho những

nội dung của CBXH ở các tỉnh trở thành hiện thực trong đời sống xã hội, chủ yếu

trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Chủ thể thực hiện CBXH ở các tỉnh ĐBSH gồm: các cấp ủy, tổ chức đảng,

chính quyền, MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên, các tổ chức

kinh tế, tổ chức xã hội, các cá nhân và nhân dân trong tỉnh. Trong đó, các tỉnh ủy là

lực lượng lãnh đạo; các cấp ủy trong tỉnh lãnh đạo thực hiện CBXH trên địa bàn,

trong đơn vị của mình; cán bộ, đảng viên chịu trách nhiệm thực hiện các quyết định

của cấp ủy về thực hiện CBXH; chính quyền các cấp tổ chức thực hiện các quyết

định của cấp ủy về th ực hiện CBXH và qu ản lý nhà n ước về th ực hiện CBXH;

MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, cá nhân

và nhân dân trong tỉnh tham gia thực hiện CBXH theo chức năng, nhiệm vụ, vai trò

của mình. Ngoài ra, tham gia th ực hiện CBXH ở các tỉnh còn có các tổ chức, lực

lượng xã hội, những nhà hảo tâm ở ngoài tỉnh kể cả các tổ chức ở nước ngoài, trong

đó có các tổ chức phi chính phủ (INGO). Các tổ chức, lực lượng này, tham gia thực

hiện CBXH trong một số mặt của các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.

* Nội dung thực hiện công bằng xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng

Văn kiện Đại hội XI của Đảng chỉ rõ những vấn đề xã hội cần tập trung giải

quyết nhằm thực hiện có hiệu quả tiến bộ xã hội, CBXH và bảo đảm an sinh xã hội,

góp phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới: "Tập trung giải quyết tốt chính

sách lao động, việc làm... Bảo đảm an sinh xã hội... Nâng cao chất lượng chăm sóc

50

sức khỏe nhân dân và công tác kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe

bà mẹ, trẻ em... Đấu tranh phòng, ch ống có hi ệu quả tệ nạn xã hội, tai nạn giao

thông..." [31, tr.227-232]. Trong đó, có nhiều nội dung về thực hiện CBXH ở nước

ta hiện nay. Trên cơ sở những vấn đề này và từ nội dung thực hiện CBXH nêu trên,

từ điều kiện kinh tế - xã hội và thực tế ở ĐBSH có thể xác định nội dung thực hiện

CBXH ở các tỉnh, gồm:

Một là, thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế ở các tỉnh đồng

bằng sông Hồng

Các chủ thể và lực lượng tham gia thực hiện CBXH ở các tỉnh dưới sự lãnh

đạo của tỉnh ủy, theo chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình tiến hành các hoạt động

tạo môi trường pháp lý cho KTTT phát triển lành mạnh, duy trì nghiêm việc chấp

hành pháp luật về kinh tế và quản lý kinh tế, đưa kinh tế của các tỉnh phát triển, ổn

định, trên cơ sở đó thực hiện CBXH.

Các chủ thể và lực lượng tham gia thực hiện CBXH tập trung vào: bảo đảm

quyền tự do, tự chủ trong sản xuất kinh doanh, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng,

vật nuôi; khuyến khích và tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển; chuyển

dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của

tỉnh; triển khai các ch ương trình phát tri ển kinh tế vùng, xây d ựng các khu công

nghiệp, bảo đảm sự cân đối về phát triển kinh tế giữa các ngành, vùng trong tỉnh; tạo

thuận lợi để phát triển các mô hình kinh tế đem lại hiệu quả; hạn chế sự chênh lệch về

thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp dân cư, sự phá sản của các doanh nghiệp,

làm ăn phi pháp, phi đạo đức, đạt lợi nhuận bằng mọi giá... Trên cơ sở đó, bảo đảm

sự tương xứng giữa lao động, đóng góp của cá nhân hay tổ chức kinh tế, nhóm xã hội

vào quá trình sản xuất và sự hưởng thụ kết quả do sản xuất mang lại.

Hai là, thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực chính trị ở các tỉnh đồng

bằng sông Hồng

Thông qua các hoạt động của các chủ thể thực hiện CBXH và các lực lượng

tham gia thực hiện CBXH theo chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình, dưới sự lãnh

đạo của tỉnh ủy bảo đảm quyền tự do, dân chủ, bình đẳng trước pháp luật, như bầu

cử, ứng cử, đề cử... Các tổ chức này triển khai các hoạt động để mọi người dân trên

địa bàn tỉnh được tham gia vào các công việc của Nhà nước, của chính quyền địa

51

phương theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; tham gia xây dựng Đảng, chính

quyền, giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền và công chức nhà nước theo

quy định của pháp luật, được giám sát hoạt động của cấp ủy, cán bộ, đảng viên. Các

quyền ấy, phải được thực hiện trên thực tế thông qua các hình th ức dân ch ủ trực

tiếp, gián tiếp và các hình thức khác, như tiếp dân, tiếp xúc cử tri, tiếp nhận và giải

quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo... Các cá nhân và tập thể ở địa phương bị trừng phạt

nếu có các hoạt động xấu, gây phức tạp trên địa bàn và địa phương.

Ba là, thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực văn hóa ở các tỉnh đồng

bằng sông Hồng

Dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy, các chủ thể và lực lượng tham gia thực hiện

CBXH ở các tỉnh triển khai các ho ạt động theo chức năng, nhiệm vụ, vai trò của

mình nhằm bảo đảm cho mọi người dân có trách nhiệm và đóng góp vào phát triển

văn hóa của địa phương, cộng đồng và phát triển văn hóa dân tộc. Đồng thời, hoạt

động của các chủ thể và lực lượng ấy, bảo đảm cho mọi người dân được hưởng thụ

như nhau về các giá trị văn hoá, tinh thần, giáo dục - đào tạo; bình đẳng về cơ hội

phát triển văn hoá, tinh th ần, tài năng vì sự phát triển của địa phương, đất nước...

Thực hiện CBXH trong lĩnh vực này, tập trung vào các hoạt động thực hiện đường

lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển văn hóa, xây dựng đời sống văn

hóa của người dân ở xã, phường, thị trấn, bảo tồn và phát huy tác dụng giá trị văn

hóa các dân tộc, bài trừ các phong tục, tập quán lạc hậu; xã hội hóa và nâng cao chất

lượng giáo dục, đào tạo; phát triển khoa học, công nghệ, thông tin, thể dục, thể thao;

xây dựng các cơ sở văn hóa công cộng, cơ sở vật chất truyền thông, xây dựng và

thực hiện các thể chế văn hóa...

Bốn là, thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực xã hội, bảo đảm an sinh xã

hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng

Theo chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy,

các chủ thể và lực lượng tham gia thực hiện CBXH ở các tỉnh triển khai các ho ạt

động bảo đảm sự hưởng thụ ngang bằng nhau của mỗi người, nhóm người dân ở địa

phương từ các ho ạt động giải quyết những vấn đề xã hội, như tạo việc làm, giảm

nghèo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức

52

khỏe bà mẹ, trẻ em, bình đẳng giới, ngăn chặn nạn bạo hành phụ nữ, chữa các bệnh

xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội. Triển khai các hoạt động thực hiện tốt chính sách

bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp, đặc biệt coi trọng thực hiện chính sách người có

công; quan tâm triển khai các hoạt động thực hiện chính sách đối với những người

yếu thế, như người già, yếu không nơi nương tựa, trẻ em, người tàn tật, nạn nhân

chiến tranh và những người, gia đình chịu hậu quả thiên tai và những rủi ro khác...

Năm là, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm và tai nạn giao thông

Các chủ thể và lực lượng tham gia thực hiện CBXH, nhất là cấp ủy, chính

quyền và các c ơ quan ch ức năng tri ển khai các ho ạt động phòng, ch ống tham

nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm, gồm: các hoạt động huy động cả HTCT, phát huy

vai trò của nhân dân và phương tiện truyền thông địa phương trong phòng, chống

tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm. Đặc biệt, coi trọng việc thẩm tra, xác minh, kết

luận và xử lý kịp thời, nghiêm minh theo pháp lu ật những cá nhân, tập thể tham

nhũng, lãng phí và sa vào lợi ích nhóm.

Cấp ủy, chính quy ền địa ph ương tri ển khai các ho ạt động về huy động

HTCT, các cấp, các ngành vào thực hiện nhiệm vụ giảm thiểu tai nạn giao thông,

gồm: nâng cao nhận thức, ý thức của người dân về tác hại của tai nạn giao thông đối

với thực hiện CBXH; chấp hành Luật giao thông; cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông

địa phương; xử lý nghiêm các vi phạm Luật giao thông.

2.2. CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN

CÔNG BẰNG XÃ HỘI - KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC

2.2.1. Khái ni ệm tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo th ực hiện

công bằng xã hội

Trên cơ sở khái niệm thực hiện CBXH, để đưa ra khái niệm tỉnh ủy ở ĐBSH

lãnh đạo thực hiện CBXH cần làm rõ các khái niệm "lãnh đạo".

Theo Đại từ điển tiếng Việt, ““lãnh đạo” là dẫn dắt, tổ chức phong trào theo

đường lối cụ th ể” [146, tr.979]. Sách tra c ứu các mục từ về tổ ch ức định nghĩa:

“lãnh đạo” dưới góc độ khoa học tổ chức: “lãnh đạo... là công vi ệc mà tất cả các

chủ thể là tổ chức và cá nhân có thẩm quyền tác động đến các tổ chức và cá nhân

53

dưới quyền và các thành viên khác trong xã hội khi thi hành nhiệm vụ do các ch ủ

thể đó vạch ra” [6, tr.471].

Từ những điều nêu trên, có thể hiểu "lãnh đạo" là dẫn dắt người, nhóm người

hay tổ chức đi theo đường hướng đã định, đến mục tiêu đã được xác định. Như vậy,

để có hoạt động lãnh đạo, phải có chủ thể, đối tượng lãnh đạo, xác định được mục

tiêu, hướng đi đến mục tiêu đó, những việc phải làm để đi đến mục tiêu, cách thức

chủ thể lãnh đạo để dẫn dắt, tổ chức đối tượng lãnh đạo tiến hành công việc để đi

đến mục tiêu đã được xác định.

Trong tác phẩm Đường cách mệnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ:

Cách mệnh trước hết phải có cái gì?

Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân

chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi.

Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có

vững thì thuyền mới chạy [58, tr.267-268].

Như vậy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định, Đảng là người lãnh đạo

cách mạng (chủ thể lãnh đạo), sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cách mệnh chân

chính là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng. Nhân

dân Vi ệt Nam là đối tượng lãnh đạo của Đảng. Để lãnh đạo cách m ạng giành

thắng lợi, Đảng phải xác định được đường lối cách mạng làm cơ sở để xác định

nội dung lãnh đạo của Đảng từng thời kỳ, thể hi ện trong các ngh ị quy ết, quyết

định của Đảng. Đồng thời, Đảng phải lãnh đạo nhân dân thực hiện các quyết định,

nghị quyết đó bằng cách vận động và tổ chức nhân dân th ực hiện. Đây là những

điểm quan tr ọng của phương thức lãnh đạo (PTLĐ) của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí

Minh còn ch ỉ ra tính ngh ệ thuật trong ho ạt động lãnh đạo của Đảng. Người coi

Đảng là người cầm lái con thuyền cách mạng, người cầm lái vững vàng, kiên định

con đường và mục tiêu cách mạng, thông minh, bình tĩnh, sáng suốt trong mọi tình

huống thì cách mạng sẽ thành công.

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra khái

niệm lãnh đạo và những điểm chủ yếu về PTLĐ của Đảng. Người viết:

54

Lãnh đạo đúng nghĩa là:

1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất

định phải so sánh quyền lợi của dân chúng. Vì dân chúng chính là những

người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta.

2. Phải tổ chức thực hiện cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng

góp sức thì không xong.

3. Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có

quần chúng giúp mới được [59, tr.285-286].

Đây là những nội hàm chủ yếu của khái niệm lãnh đạo, cũng là những điểm

chủ yếu về quy trình lãnh đạo của Đảng. Như vậy, có th ể hiểu: sự lãnh đạo của

Đảng là toàn bộ hoạt động của Đảng đề ra các quy ết định đúng đắn, tổ chức thực

hiện các quyết định đó, tiến hành kiểm tra, giám sát nhằm thực hiện thắng lợi các

quyết định của Đảng.

Từ những luận giải trên, có th ể đi đến khái niệm: Các tỉnh uỷ ĐBSH lãnh

đạo thực hiện CBXH là toàn bộ hoạt động của các tỉnh ủy, trên cơ sở quán triệt chủ

trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về thực hiện

CBXH, ban hành các nghị quyết, quyết định về thực hiện CBXH, chỉ đạo các cấp uỷ

trực thuộc, các cơ quan nhà nước, các lực lượng xã hội ở địa phương tổ chức thực

hiện; đồng thời kiểm tra, giám sát việc thực hiện để các nghị quyết của tỉnh uỷ về

thực hiện CBXH trở thành hiện thực. Khái niệm tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH

nói trên chỉ rõ:

Một là, chủ thể lãnh đạo thực hiện CBXH ở các tỉnh ĐBSH là các tỉnh ủy,

thường xuyên và trực tiếp là ban thường vụ tỉnh ủy. Tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy

ở ĐBSH, trên cơ sở quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật

của Nhà nước về CBXH, có thể ban hành các nghị quyết về thực hiện CBXH, gồm

nghị quyết chung về các nội dung thực hiện CBXH và các nghị quyết chuyên đề về

từng nội dung thực hiện CBXH.

Hai là, đối tượng lãnh đạo thực hiện CBXH là các cấp ủy trực thuộc, các cơ

quan nhà nước ở địa phương như UBND, HĐND, các ban, ngành, đoàn thể, các cơ

quan tư pháp, tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan mà thực

55

hiện sự lãnh đạo của tỉnh ủy, bảo đảm cho nội dung th ực hiện CBXH được hiện

thực hoá; lãnh đạo toàn bộ các lực lượng xã hội và nhân dân thực hiện CBXH.

Ba là, nhiệm vụ chung, khái quát về lãnh đạo thực hiện CBXH là ban hành

quyết định lãnh đạo nhằm cụ thể hóa các nội dung thực hiện CBXH của Đảng và

Nhà nước được thực hiện sáng tạo ở địa phương; sau khi ban hành nghị quyết lãnh

đạo, tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan nhà nước, các lực lượng xã hội ở địa phương tổ

chức thực hiện nghị quyết, đồng thời tỉnh ủy kiểm tra, giám sát việc thực hiện.

Bốn là, mục tiêu lãnh đạo thực hiện CBXH là nh ằm làm cho các nội dung

thực hiện CBXH mà Đảng và Nhà nước đã ban hành trở thành hiện thực ở các địa

phương. Với vai trò của người lãnh đạo, các tỉnh ủy ban hành nghị quyết lãnh đạo,

chỉ đạo và tổ chức để toàn bộ hệ thống chính trị và các lực lượng xã hội thực hiện

những nội dung CBXH mà Đảng và Nhà nước ta mong muốn, nhằm xây dựng một

xã hội tốt đẹp, đáng sống.

2.2.2. Nội dung lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội của các tỉnh ủy ở

đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay

Một là, các tỉnh ủy xây dựng quan điểm, chủ trương, nghị quyết lãnh đạo các

cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc, các cơ quan nhà n ước, các lực lượng xã hội và

nhân dân địa phương cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thắng lợi các nội dung thực

hiện CBXH của Đảng và Nhà nước ở các tỉnh.

Những nội dung thực hiện CBXH đã được Đảng và Nhà nước ta ban hành

thành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, thể hiện ở bốn nội dung chính

như đã trình bày. Với chức năng, nhiệm vụ của cấp uỷ địa phương, các tỉnh uỷ sẽ

lãnh đạo cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối quan điểm của Đảng,

chính sách, pháp luật của Nhà nước về CBXH ở các tỉnh. Đây là nội dung lãnh đạo

quan trọng hàng đầu của các tỉnh uỷ trên lĩnh vực này. Sau khi ban hành quan điểm,

chủ trương, nghị quyết về thực hiện CBXH, các tỉnh uỷ chỉ đạo các cấp uỷ tổ chức

đảng trực thuộc, các cơ quan nhà nước các lực lượng xã hội thực hiện chủ trương,

nghị quyết của tỉnh về CBXH, bảo đảm cho những nội dung thực hiện CBXH được

thực thi.

56

Hai là, lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan nhà nước ở địa phương tổ chức cụ thể

hóa các nội dung thực hiện CBXH của Đảng và Nhà nước thành chương trình, kế

hoạch hành động; đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước thực

hiện chương trình, kế hoạch đó.

Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà

nước, ngh ị quy ết của tỉnh uỷ về th ực hiện CBXH, các c ơ quan nhà n ước ở địa

phương - tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan - cụ thể hóa thành chương

trình, kế hoạch công tác và quản lý nhà nước theo pháp luật việc thực hiện CBXH ở

tỉnh. Các cơ quan chính quyền tỉnh sẽ cụ thể hóa một loạt các chính sách, pháp luật

của nhà nước về: lao động, việc làm, thu nhập; an sinh xã hội; chăm sóc sức khỏe,

dân số kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; quyền làm chủ của

nhân dân trên các lĩnh vực đời sống xã hội thành chương trình, kế hoạch hành động,

đồng thời quản lý vi ệc thực hiện các ch ương trình, kế hoạch hành động đó theo

pháp luật. Các cơ quan tư pháp tỉnh, với chức năng bảo vệ pháp luật và bảo vệ công

lý, tiến hành xét xử nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật, bảo đảm

sự công bằng cho mọi tổ chức và cá nhân trước pháp luật.

Ba là, xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện công bằng xã hội ở địa phương.

Thực hiện những nội dung nêu trên, tập trung xây dựng hệ thống tổ chức bộ

máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện CBXH đông đảo, bao gồm: các cơ

quan quản lý nhà n ước ở tỉnh tr ực tiếp th ực hiện CBXH nh ư các Sở Lao động,

Thương binh và Xã hội; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Y tế; Tòa án nhân dân, Viện

kiểm sát nhân dân, Công an tỉnh. Tỉnh ủy chăm lo xây dựng tổ chức bộ máy, cán bộ

các đơn vị sự nghiệp trực tiếp liên quan đến thực hiện CBXH ở địa phươg như các

trung tâm đào tạo nghề; các trường đại học và cao đẳng; các cơ quan bảo hiểm; các

bệnh viện và cơ sở chữa bệnh; các trung tâm bảo trợ xã hội; nhà dưỡng lão. Tỉnh ủy

coi trọng xây dựng các đoàn thể chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Liên hiệp

phụ nữ, Liên đoàn lao động, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh của tỉnh...

Đồng thời, tỉnh ủy chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý,

chuyên gia, chuyên viên, nhân viên thạo việc, yêu nghề, có tinh thần phục vụ cộng

đồng, có đạo đức và lý tưởng trong các cơ quan trực tiếp thực hiện CBXH.

57

Bốn là, lãnh đạo phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước với MTTQ,

các đoàn thể chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ

chức xã hội trong tỉnh thực thi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà

nước, chủ trương, nghị quyết, quyết định của tỉnh uỷ, chính quyền tỉnh về CBXH.

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong HTCT, tỉnh ủy xác

định vai trò, trách nhiệm và những vấn đề trọng tâm cần thực hiện CBXH liên quan

trực tiếp đến mỗi tổ chức; quán triệt nghị quyết để từng tổ chức nhận thức sâu sắc,

xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện. Tỉnh ủy lãnh đạo phối hợp giữa các tổ

chức trong HTCT và ban hành quy ch ế ph ối hợp để các t ổ ch ức đó th ực hi ện

CBXH; lãnh đạo, kiểm tra, giám sát các tổ chức thực hiện nghị quyết và quy ch ế

phối hợp, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm.

2.2.3. Phương thức lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội của tỉnh ủy ở

đồng bằng sông Hồng

Đại từ điển tiếng Việt đã đưa ra cách hi ểu một cách khái quát về “phương

thức” và "ph ương pháp": “Phương thức” là ph ương pháp và hình th ức tiến hành

[146, tr.1352]; “phương pháp” là cách th ức ti ến hành để có hi ệu qu ả cao [146,

tr.1351]. Một số công trình khoa học đã luận bàn và đưa ra khái ni ệm PTLĐ của

Đảng, của các cấp ủy đối với một số tổ chức trong HTCT và một số lĩnh vực của

đời sống xã hội, đáng chú ý là: công trình khoa học "Đổi mới phương thức lãnh đạo

của huyện ủy đối với chính quyền huyện ở đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện

nay". Trong công trình này, tác gi ả đưa ra khái ni ệm: phương thức lãnh đạo của

huyện ủy đối với chính quyền huyện ở đồng bằng sông Hồng:

Là hệ thống các hình thức, phương pháp, cách thức, quy chế, quy trình,

phong cách, lề lối làm việc... huyện ủy sử dụng để tác động vào hội đồng

nhân dân, ủy ban nhân dân và các cơ quan tư pháp huyện nhằm thực hiện

thắng lợi nội dung lãnh đạo của huyện ủy đối với chính quy ền huyện,

đảm bảo cho đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của

Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp uỷ, chính quyền cấp tỉnh và nhất là

nhiệm vụ chính tr ị của đảng bộ huyện, nghị quyết của huyện ủy được

thực hiện [10, tr.64].

58

Công trình khoa học: "Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo cải cách

hành chính nhà nước giai đoạn hiện nay", trong công trình khoa h ọc này, tác gi ả

cũng đưa ra khái ni ệm “phương thức lãnh đạo cải cách hành chính nhà nước của

Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh” có những điểm tương đồng với khái niệm dẫn ở

trên, tác giả viết:

Là tổng thể các hình th ức, phương pháp, quy ch ế, quy định, quy trình,

chế độ, phong cách, lề lối làm việc,... Thành ủy sử dụng để tác động vào

ủy ban nhân dân Thành ph ố và các c ơ quan thu ộc ủy ban nhân dân

Thành phố, ủy ban nhân dân quận, huyện, xã, phường, thị trấn nhằm thực

hiện th ắng lợi nội dung lãnh đạo cải cách hành chính nhà n ước của

Thành ủy [66, tr.87].

Giáo trình môn học Xây dựng Đảng, hệ cao cấp lý lu ận chính trị của Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm:

Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các hình thức, phương pháp,

cách thức, quy chế, quy trình, phong cách, lề lối làm việc... mà Đảng sử

dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo nh ằm th ực hi ện th ắng lợi

Cương lĩnh chính tr ị, đường lối, các ngh ị quy ết của Đảng, xây dựng

thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã

hội chủ nghĩa [43, tr.220].

Kế thừa những khái niệm nêu trên, luận án cho rằng: PTLĐ của Đảng là tổng

thể các hình th ức, phương pháp, cách th ức, quy ch ế, quy định, quy trình, phong

cách, lề lối làm việc... mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo trong

quá trình thực hiện nội dung lãnh đạo của Đảng.

Từ nhận thức nêu trên luận án đưa ra khái niệm: PTLĐ thực hiện CBXH của

tỉnh ủy ở các tỉnh ĐBSH là tổng thể các hình th ức, phương pháp, cách thức, quy

chế, quy định, quy trình, phong cách, lề lối làm việc... mà tỉnh ủy sử dụng để tác

động vào các tổ chức của HTCT, các lực lượng xã hội và nhân dân nhằm làm cho

những nội dung lãnh đạo thực hiện CBXH của tỉnh ủy được thực hiện trong đời

sống xã hội ở địa phương.

59

Bàn về các ph ương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã h ội,

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung

và phát triển năm 2011) đã chỉ ra nội hàm của khái niệm PTLĐ:

Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính

sách và ch ủ trương lớn; bằng công tác tuyên truy ền, thuyết phục, vận

động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên.

Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ,... Đảng lãnh đạo thông qua

tổ chức đảng và đảng viên ho ạt động trong các t ổ chức của hệ thống

chính trị, tăng cường chế độ trách nhi ệm cá nhân, nh ất là ng ười đứng

đầu [31, tr.88].

Từ khái niệm PTLĐ thực hiện CBXH của tỉnh ủy ở các tỉnh ĐBSH và nội

hàm của khái niệm PTLĐ của Đảng do Cương lĩnh chỉ ra, có thể thấy, PTLĐ thực

hiện CBXH của tỉnh ủy ở các vùng này gồm:

Thứ nhất, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng các nghị quyết, quyết định

của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH để các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương quán

triệt, thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

Tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy xây dựng, ban hành các ngh ị quyết, quyết

định về phát triển kinh tế, thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân, phát triển văn

hóa, xã hội và thực hiện CBXH. Trong đó, xác định những quan điểm chỉ đạo, mục

tiêu, phương hướng và những giải pháp thực hiện. Nếu cần thì ban hành các ngh ị

quyết về tổng thể hoặc nhiều nội dung phát triển kinh tế - xã hội và CBXH, hoặc về

cụ thể hoá và triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng về những vấn đề này.

Những nghị quyết loại này thường do tỉnh ủy ban hành. Nghị quyết về một hoặc hai

lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, CBXH ở một vài địa phương trong tỉnh

thường do ban th ường vụ tỉnh ủy ban hành. Vi ệc xây dựng, ban hành các ngh ị

quyết, quyết định này phải tuân thủ nghiêm các quy định của Đảng.

Thứ hai, tỉnh ủy lãnh đạo th ực hi ện CBXH bằng công tác tuyên truy ền,

thuyết ph ục, định hướng tư tưởng, nâng cao nh ận th ức đúng các tổ ch ức trong

HTCT, các tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH.

60

Trước hết, tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc về quán triệt nghị

quyết của tỉnh ủy về CBXH trong các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên trong

đảng bộ tỉnh. Tiếp theo, tỉnh ủy lãnh đạo việc tuyên truyền nghị quyết trong các tổ

chức của HTCT và trong nhân dân. T ỉnh ủy lãnh đạo các cơ quan thông tin đại

chúng tuyên truyền nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH, tạo nhận thức thống nhất và

sự đồng thuận trong Đảng, HTCT và nhân dân để thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy

về CBXH.

Thứ ba, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội thông qua bộ máy các

cơ quan nhà nước ở địa phương.

Đây là điểm đặc biệt quan trọng trong PTLĐ của tỉnh ủy ở ĐBSH đối với

thực hi ện CBXH. T ập trung vào nh ững điểm ch ủ yếu: tỉnh ủy lãnh đạo chính

quyền tỉnh cụ th ể hóa ngh ị quy ết của tỉnh ủy về CBXH thành các ngh ị quy ết,

quyết định, chương trình, kế hoạch của chính quy ền để tổ chức thực hiện trong

toàn tỉnh. Nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH ch ỉ có th ể được các tổ chức và toàn

thể nhân dân trong tỉnh thực hiện khi tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo HĐND tỉnh cụ thể

hóa thành nghị quyết của HĐND qua kỳ họp HĐND tỉnh. Trên cơ sở nghị quyết

đó, UBND tỉnh xây dựng chương trình, kế hoạch và ra các quy ết định thực hiện

các nghị quyết của HĐND tỉnh về CBXH. Đồng thời, tỉnh ủy chỉ đạo HĐND tỉnh

giám sát UBND tỉnh tổ chức thực hiện các ngh ị quyết, chương trình, kế hoạch,

quyết định đã được thông qua.

Tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền cấp huyện và cơ sở tạo môi trường chính trị,

pháp lý ổn định, bình đẳng để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm thực hiện CBXH.

Môi trường pháp lý được tạo ra phải đảm bảo các yêu cầu: ổn định, bình đẳng giữa

các vùng, địa phương trong tỉnh và các chủ thể trong quá trình sản xuất, kinh doanh

trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; tạo ra năng lực

và cơ hội bình đẳng cho mọi thành viên thể hiện và khẳng định tài năng trong xây

dựng nền KTTT định hướng XHCN.

Tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền cấp huyện và cơ sở xây dựng, hoàn thiện hệ

thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm thực hiện CBXH.

Cụ thể là thực hiện tốt các chính sách xã h ội như: xóa đói, giảm nghèo; tạo việc

61

làm; chính sách đối với người có công; cứu trợ xã hội đối với những người yếu thế,

rủi ro trong cuộc sống; bảo hiểm xã hội... tạo điều kiện và cơ hội như nhau để mọi

người phát triển và hòa nhập cộng đồng.

Thứ tư, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH thông qua các tổ chức đảng và đội

ngũ đảng viên, nhất là các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan

nhà nước, các ngành liên quan trực tiếp đến thực hiện CBXH.

Tỉnh ủy lãnh đạo các tổ chức đảng, đảng viên trong đảng bộ tỉnh, nhất là các

tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan, ngành liên quan trực tiếp

đến thực hiện CBXH như: văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, lao động, thương binh,

xã hội... về lãnh đạo tổ chức đơn vị thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH.

Tỉnh ủy phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên trong thực

hiện nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH.

Thứ năm, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng công tác tổ chức, cán bộ,

chú trọng việc bố trí, sử dụng những cán bộ có ph ẩm chất và năng lực thực hiện

CBXH trong bộ máy chính quyền địa phương.

Tỉnh ủy tiến hành công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng, củng cố, kiện toàn về

tổ ch ức bộ máy của các tổ ch ức trong HTCT t ỉnh, coi tr ọng các cơ quan chính

quyền từ tỉnh đến cơ sở và các c ơ quan liên quan tr ực ti ếp đến vi ệc th ực hi ện

CBXH, như: văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, lao động, thương binh, xã hội và các

cơ quan thi hành pháp luật,... vững mạnh, hoạt động có hiệu quả. Tỉnh ủy lãnh đạo,

chỉ đạo thực hiện tốt các khâu của công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công

chức của các cơ quan này có chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu thực hiện CBXH trên

địa bàn tỉnh. Trong đó, đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý

có chất lượng tốt.

Thứ sáu, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH thông qua phát huy vai trò c ủa

MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội.

Tỉnh uỷ lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội và các hội tổ chức

các phong trào hành động cách mạng nhằm động viên, khuyến khích các lực lượng

xã hội tham gia phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp cho các hoạt động nhân đạo, từ

thiện... Tỉnh ủy lãnh đạo và tạo thuận lợi cho các tổ chức này, tham gia góp ý và

62

phản biện xã hội đối với dự thảo nghị quyết của cấp ủy, chính quyền địa phương về

thực hiện CBXH; giám sát, chính quyền các cấp, cán bộ, đảng viên, công chức về

thực hi ện các ch ủ tr ương của Đảng, Nhà nước, của cấp uỷ và chính quy ền địa

phương về CBXH.

Thứ bảy, các tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng nêu cao tính tiền phong

gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên và phong cách làm việc của các cấp ủy

đảng hoạt động trong các cơ quan, đơn vị và địa bàn dân cư.

Tỉnh ủy coi tr ọng và từng bước đổi mới phong cách, lề lối làm việc trong

lãnh đạo nói chung và lãnh đạo thực hiện CBXH nói riêng, xây dựng phong cách, lề

lối làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, gắn bó với nhân dân, làm việc có

chương trình, kế hoạch, có trọng tâm, chỉ đạo dứt điểm công việc, coi trọng tổng kết

thực ti ễn về lãnh đạo th ực hiện CBXH. Tỉnh uỷ coi tr ọng phát huy vai trò ti ền

phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là các cấp uỷ viên hoạt động trong

các cơ quan, đơn vị, tổ chức và địa bàn dân cư có chức năng, nhiệm vụ liên quan

trực tiếp đến thực hiện CBXH.

Thứ tám, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng công tác kiểm tra, giám sát

các tổ chức đảng và đảng viên thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH.

Tỉnh ủy lãnh đạo công tác ki ểm tra, giám sát và ti ến hành công công tác

kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH đối với các tổ

chức đảng, đảng viên của đảng bộ tỉnh; tập trung kiểm tra, giám sát các cấp ủy trực

thuộc và đảng viên là cán bộ diện ban thường vụ quản lý.

Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc tiến hành công tác kiểm tra,

giám sát các tổ chức đảng cấp dưới, cán bộ, đảng viên thực hiện nghị quyết của tỉnh

ủy về CBXH; tạo thuận lợi để MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân

giám sát các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên về thực hiện CBXH; giám sát

và phản biện xã hội đối với các chủ trương, giải pháp của các cấp ủy, chính quyền

về CBXH. Tỉnh ủy lãnh đạo các cơ quan thanh tra, ki ểm soát, kiểm toán các cơ

quan, cán bộ chính quy ền về th ực hi ện các chính sách xã h ội; lãnh đạo, xử lý

nghiêm theo pháp lu ật và kỷ lu ật Đảng những đảng viên, cán bộ, công ch ức sai

phạm gây hậu quả nghiêm trọng.

63

Nội dung và PTLĐ lãnh đạo thực hiện CBXH của tỉnh ủy quan hệ mật thiết

với nhau. Nội dung lãnh đạo thực hiện CBXH là cơ sở để xác định PTLĐ thực hiện

CBXH. PTLĐ thực hiện CBXH được xác định đúng đắn, phù hợp sẽ đảm bảo cho

nội dung lãnh đạo thực hiện CBXH được thực hiện.

Tiểu kết chương 2

Các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH cần tập trung xác định đúng

đắn nội dung lãnh đạo thực hiện CBXH và phương thức lãnh đạo thực hiện CBXH.

Trong đó, tỉnh ủy cần tập trung vào việc: ban hành và lãnh đạo tổ chức thực hiện

thắng lợi các nghị quyết của tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy về thực hiện CBXH;

đặc biệt coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và

nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện CBXH ở địa phương;

lãnh đạo ph ối hợp hoạt động các cơ quan, tổ ch ức trong HTCT t ỉnh và các l ực

lượng trên địa bàn tỉnh trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật

của Nhà nước, chủ trương, nghị quyết, quyết định của tỉnh uỷ về CBXH. Để thực

hiện đạt kết quả các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về CBXH, các tỉnh ủy cần

xác định phương thức lãnh đạo thực hiện các nghị quyết ấy một cách đúng đắn, phù

hợp. Trong đó, tập trung vào công tác tư tưởng, vận động thuyết phục nhân dân, tạo

sự đồng thuận cao trong th ực hiện các ngh ị quyết của tỉnh ủy; đặc biệt coi tr ọng

lãnh đạo chính quyền tỉnh trong tổ chức thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH

và quản lý nhà nước về thực hiện CBXH; tăng cường lãnh đạo phòng, chống tham

nhũng, lãng phí...

64

Chương 3

THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở

ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG BẰNG

XÃ HỘI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM

3.1. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở CÁC TỈNH ĐỒNG

BẰNG SÔNG HỒNG

3.1.1. Ưu điểm, kết quả

3.1.1.1. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế ở các tỉnh đồng

bằng sông Hồng có nhiều tiến bộ và đạt kết quả

Trong những năm qua mặc dù gặp nhiều khó khăn về suy thoái kinh tế, song

tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm của nhiều tỉnh ĐBSH khá cao và tương đối ổn

định: tỉnh Nam Định, 12,5% (2010), 11,5% (2013); các tỉnh Hải Dương, Thái Bình,

Quảng Ninh có các số liệu tương ứng là: 12,7% (2010), 9,2% (2013); 7,5% (2010),

8,2% (2013); 12,6% (2010); 7,1% (2013)... [Phụ lục 2]. Giá trị sản xuất của các tỉnh

ngày càng tăng ở mức khá cao [Phụ lục 3]. Nhờ đó, đời sống nhân dân ở các tỉnh

ĐBSH được nâng lên một bước khá lớn [Phụ lục 10].

Môi trường pháp lý cho các thành phần kinh tế phát triển lành mạnh, đúng

đắn đã dần dần được hình thành và phát tri ển. Các thành ph ần kinh t ế được

khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển. Người dân và các t ổ chức

kinh tế đã tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, trong chuy ển dịch cơ cấu kinh tế,

khai thác tiềm năng xã hội, huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế và thụ

hưởng thành qu ả kinh tế do mình làm ra. Ng ười nông dân t ự chủ trong chuy ển

đổi cơ cấu cây tr ồng, vật nuôi, ch ọn gi ống đạt hi ệu qu ả cao. Đến nay h ầu hết

diện tích trồng lúa, ngô, cây ăn quả được trồng các giống mới. Quyền tự do của

người dân trong ho ạt động kinh t ế từng bước được đảm bảo bằng pháp lu ật.

Những biểu hiện làm kinh t ế bằng mọi giá, vi ph ạm pháp lu ật được xử lý. Vi ệc

chấp hành các luật về kinh tế có tiến bộ. Sự phân biệt đối xử giữa các thành phần

kinh tế ngày càng giảm.

Cơ cấu kinh tế ở các tỉnh chuyển dịch đúng hướng, thể hiện rõ sự chuyển

dịch theo hướng tăng tỷ tr ọng công nghi ệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ tr ọng

65

nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP của các tỉnh. Đến năm 2010 cơ cấu kinh tế

của tỉnh Ninh Bình: công nghi ệp, xây dựng chiếm 48,9%, dịch vụ chiếm 35,3%,

nông, lâm nghi ệp, th ủy sản chi ếm 15,8% [117, tr.29]. T ỉnh Hà Nam có s ố li ệu

tương ứng là: 47,5%; 27,3%; 25,2% [104, tr.24]. Tỉnh Hải Dương: 45,4%; 29,3%;

23% [106, tr.12]. Tỉnh Vĩnh Phúc có cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh nhất: công

nghiệp, xây dựng chiếm 56,03%, dịch vụ chiếm 30,23%, nông, lâm nghi ệp, thủy

sản chiếm 13,74% [125, tr.12].

Kinh tế ở các tỉnh phát triển đúng hướng khá cân đối giữa các ngành, các

vùng. Cơ cấu kinh tế của các huyện, thị xã, thành phố ở nhiều tỉnh chuyển dịch phù

hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Các huyện Bình Xuyên, Vĩnh Tường,

thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên (Vĩnh Phúc), Nam Sách (Hải Dương), Nam

Ninh, Hải Hậu, Xuân Trường (Nam Định), Kim Sơn, Gia Viễn (Ninh Bình), Tiền

Hải (Thái Bình)... đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng đạt kết quả khá cao.

Nhờ đó, khoảng cách về mức hưởng thụ thành quả kinh tế giữa cư dân ở các vùng

trong tỉnh từng bước được nâng lên.

Các chương trình phát triển kinh tế vùng ở nhiều tỉnh được triển khai thực

hiện mạnh mẽ. Nguồn lực cho phát triển kinh tế được điều tiết khá hợp lý giữa các

vùng, ngành kinh tế, tập trung cho các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng khó khăn,

vùng nghèo. Nhờ đó, khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các

vùng dần dần thu hẹp, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường sinh thái ở những nơi khó

khăn được cải thiện [106, tr.17]; [114, tr.33]; [125, tr.15]. Các khu công nghiệp, chế

xuất Bình Xuyên (Vĩnh Phúc), Hòa Xá (Nam Định), một số khu công nghiệp ở Bắc

Ninh, Hải Dương, Hưng Yên hoạt động đạt hiệu quả cao góp ph ần to lớn vào sự

phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh. Các huyện Nho Quan, Ninh Bình, các huyện

miền núi, biên gi ới của tỉnh Quảng Ninh, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã có

bước tăng trưởng khá về kinh tế, rút ngắn sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh

tế, văn hoá, xã hội giữa các địa phương trong tỉnh.

Mô hình cánh đồng 50 - 70 tri ệu đồng/ha, vườn, ao, chu ồng (chuồng, trại

chăn nuôi), kinh tế hộ, kinh tế trang trại, liên kết kinh tế "Bốn nhà" (Nhà nước, nhà

nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học)... được nhân dân ở nhiều tỉnh áp dụng đạt

66

kết quả tốt. Người dân ở các tỉnh tích cực, chủ động và triển khai việc dồn điền, đổi

thửa phục vụ phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, xây dựng nông

thôn mới. Ở một số tỉnh đã hình thành các vùng chuyên canh s ản xuất nông sản

hàng hóa tập trung với năng suất, chất lượng cao, như: vùng sản xuất lúa chất lượng

cao ở Nam Định; sản xuất rau an toàn, tr ồng cam Canh, nhãn, v ải thiều ở Hưng

Yên; vùng chăn nuôi gia cầm, bò thịt ở các tỉnh Bắc Ninh, Nam Định, Vĩnh Phúc...

Các làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển mạnh mẽ, lành mạnh ở

hầu hết khắp các tỉnh, nhất là ở tỉnh Bắc Ninh, Nam Định, Ninh Bình với các sản

phẩm nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn ở nhiều nước trên thế giới.

3.1.1.2. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực chính tr ị đạt kết quả

quan trọng

Các hình th ức dân ch ủ trực tiếp và dân ch ủ gián ti ếp được thực hiện theo

phương châm tăng cường các hình th ức dân chủ trực tiếp. Người dân đã trực tiếp

thực hiện quyền của mình trong các hoạt động chính trị - xã hội ở địa phương. Các

quyền của người dân do Hiến pháp, pháp luật quy định được thực hiện đạt kết quả.

Các cuộc bầu cử đại biểu HĐND các cấp và bầu cử đại biểu Quốc hội đạt kết quả

khá tốt, không xảy ra những vấn đề lớn, phức tạp. Cuộc bầu cử đại biểu HĐND các

cấp và đại biểu Quốc hội khóa XIII vừa qua ở các tỉnh có trên 90% nhân dân tham

gia, nhiều tỉnh đạt trên 96%, có tỉnh đạt 98% [105, tr.13]; [121, tr.16]; [128, tr.11];

[119, tr.15].

Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở được quán triệt, triển khai thực hiện. Hầu hết các

địa phương đã xây dựng Quy chế dân chủ ở cơ sở, trong đó xác định rõ những việc

liên quan đến đời sống mọi mặt của nhân dân ph ải được nhân dân bàn b ạc, thảo

luận và quyết định. Các thôn, xóm, tổ dân phố đã xây dựng quy ước, hương ước và

triển khai thực hiện, mọi người dân được tham gia, thảo luận và quyết định những

vấn đề cụ thể trên địa bàn. Ở hầu hết thôn, xóm, tổ dân phố những việc dân biết, dân

bàn, quyết định và nh ững việc dân giám sát, ki ểm tra đã được thông báo trên h ệ

thống truyền thanh cơ sở và nh ững văn bản của chính quyền cơ sở. Nhân dân đã

bàn, quyết định trực tiếp, công khai, dân chủ những việc đó trong các cuộc họp dân

67

cư với số lượng dự họp đông đảo, thường chiếm khoảng 85% đến 90% tổng số dân

cư trên địa bàn [118, tr.7]; [108, tr.7]; [112, tr.8]; [130, tr.10]; [108, tr.11].

Việc bầu cử trực tiếp trưởng thôn, trưởng khu phố, các quyền đề cử, ứng cử

của người dân được coi trọng thực hiện theo đúng quy định, như ứng cử, đề cử vào

trưởng, phó trưởng thôn, xóm, tổ dân ph ố, các cơ quan thanh tra nhân dân. Nhân

dân ở nhiều nơi phấn khởi tham gia việc này với tỷ lệ rất cao, thường đạt trên 95%

tổng số cư dân đủ điều kiện tham gia bầu cử theo quy định của pháp luật. Việc lấy

phiếu tín nhi ệm các ch ức danh ch ủ chốt do HĐND bầu và tr ưởng thôn đã được

nhân dân đồng tình cao và tích cực tham gia thực hiện.

Các cuộc tiếp dân, nhìn chung được tiến hành đúng quy định, ở nhiều nơi

công việc này được duy trì thành n ền nếp; các cu ộc tiếp xúc cử tri của đại biểu

HĐND các cấp và đại biểu Quốc hội trước và sau các kỳ họp đạt kết quả khá tốt.

Nhiều cử tri đã thẳng thắn, chân tình thể hiện ý kiến của mình và góp ý với các đại

biểu về những hạn chế thiếu sót ở nơi cư trú.

Ở nhiều nơi các quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cấp ủy,

tổ chức đảng, cơ quan chính quyền, cán bộ, công chức và đảng viên được thực hiện.

Phần lớn người dân đã tích cực tham gia, phát hiện những dấu hiệu vi phạm của cán

bộ, đảng viên, công chức, tạo thuận lợi cho việc xác minh và xét xử trước pháp luật

những cá nhân tổ chức vi phạm nghiêm trọng pháp luật, suy thoái về phẩm chất đạo

đức, lối sống. Đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân được các cấp chính quyền,

các tổ chức có liên quan ti ếp nhận và từng bước giải quyết đạt kết quả. Nhiều vụ

việc được giải quyết tận gốc được dân chấp thuận, góp phần quan trọng bảo đảm sự

ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, quyền lợi của nhân dân.

Các hoat động thực hiện quyền và trách nhiệm của dân trong tham gia vào

các công vi ệc chính quyền, Nhà nước của cấp ủy địa phương và của Đảng được

quan tâm và duy trì khá thường xuyên ở hầu hết các tỉnh, nhất là tham gia công tác

xây dựng Đảng, chính quyền. Các hoạt động đóng góp ý kiến vào một số văn bản

pháp luật, dự thảo Hiến pháp sửa đổi và một số chủ trương của cấp ủy, chính quyền

địa phương, dự th ảo Báo cáo chính tr ị trình Đại hội Đảng toàn qu ốc các khóa...

được thực hiện đạt kết quả. Qua th ống kê của các tỉnh, đã có gần 90% nhân dân

68

tham gia ý ki ến vào dự thảo Hiến pháp sửa đổi (năm 2013), ở nhiều tỉnh có trên

90% người dân tham gia vào việc này, như tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Dương,

Bắc Ninh... [113, tr.12]; [122, tr.9]; [107, tr.7]; [102, tr.8].

3.1.1.3. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực văn hóa có nhiều tiến bộ

Thực hi ện các ch ủ tr ương, chính sách phát tri ển văn hóa của Đảng, Nhà

nước, văn hóa ở các tỉnh ĐBSH phát triển đạt kết quả to lớn. Quyền thụ hưởng

ngang nhau của người dân về các giá trị văn hóa, thành quả phát triển văn hóa, giáo

dục, đào tạo từng bước được bảo đảm. Trách nhi ệm của ng ười dân đối với sự

nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục, đào tạo được nâng lên.

Quy mô đào tạo được mở rộng, đa dạng hoá về hình thức đào tạo; mục tiêu,

nội dung và phương pháp đào tạo được chấn chỉnh, một số biện pháp nâng cao chất

lượng giáo dục phổ thông, đào tạo nghề bước đầu được thực hiện. Sự nghiệp giáo

dục mầm non, giáo dục phổ thông, đại học và đào tạo nghề đạt kết quả đáng khích

lệ. Tất cả các tỉnh đều đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở và tiến

đến phổ cập trung học phổ thông vào năm 2020. Các tỉnh có các huyện miền núi và

đồng bào dân tộc thiểu số đã hoàn thành chỉ tiêu quốc gia về xóa mù trong nhân

dân. Theo niên giám thống kê năm 2012, ở 9 tỉnh ĐBSH có 3.469 trường mầm non,

với gần 630.000 học sinh; 360 tr ường trung học phổ thông với gần 400.000 học

sinh [Phụ lục 6]; 20 trường đại học với gần 80.000 sinh viên; 36 trường cao đẳng

[Phụ lục 7]; Những thành tựu đó tạo thuận lợi cho người dân, nhất là những người

trong độ tuổi đi học thực hiện tốt hơn quyền được học hành do pháp luật quy định.

Việc xã hội hóa giáo dục và đào tạo được triển khai khá mạnh mẽ. Các tỉnh

đã khuyến khích và t ạo điều kiện thuận lợi cho vi ệc phát tri ển các tr ường ngoài

công lập với các loại hình đa dạng theo quy định của Nhà nước. Nhờ đó, đã thu hút

khá lớn kinh phí đầu tư xã hội cho giáo dục, đào tạo, trong đó có đầu tư nước ngoài.

Ở nhiều tỉnh giáo dục và đào tạo chất lượng cao phát triển mạnh. Giáo dục ở vùng

khó khăn có bước phát triển, với các chính sách hỗ trợ học sinh nghèo về sách, vở,

miễn tiền học phí đối với trẻ khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, con em đồng

bào dân tộc thiểu số. Ngân sách chi cho giáo dục, đào tạo và dạy nghề ngày càng

69

tăng với số lượng lớn [Phụ lục 11]. Những hoạt động này, tạo cơ hội cho các em

thực hiện quyền được học hành, tiếp thu văn hóa dân tộc và nhân loại.

Khoa học - công nghệ ở các tỉnh có bước phát triển khá mạnh mẽ tạo thuận

lợi và cơ hội cho mọi người dân tiếp nhận nâng cao trình độ khoa học, công nghệ

và tiếp nhận việc chuyển giao khoa h ọc, công ngh ệ tiên ti ến phục vụ phát tri ển

kinh tế, nâng cao đời sống và đóng góp cho xã hội. Tỉnh Vĩnh Phúc trong 15 năm

đã thực hiện 818 đề tài, dự án khoa học, công nghệ cấp nhà nước, tỉnh và cấp cơ

sở, tập trung vào nh ững vấn đề phát tri ển sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa,

phát huy vai trò, tác d ụng của văn hóa truyền thống trong phát triển kinh tế - xã

hội [129, tr.6]. Tỉnh Quảng Ninh đã dành 4-5% thu nh ập của tỉnh cho hoạt động

khoa học - công nghệ, ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến và phát triển kinh

tế, văn hóa, xã hội [120, tr.9]. Ngân sách chi cho ho ạt động khoa học, công nghê

ngày càng lớn [Phụ lục 12].

Các hoạt động văn hóa, thông tin, th ể dục, thể thao được các tỉnh tạo điều

kiện phát triển, đã khai thác và phát huy khá t ốt năng lực, trách nhiệm của người

dân, các tổ ch ức tham gia vào các ho ạt động này và th ụ hưởng thành qu ả. Các

chương trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tiêu biểu của dân tộc, văn hóa

làng, xã, lễ hội truyền thống, việc tang, việc cưới xin, tân gia... theo hướng tiến bộ

được nhân dân tích cực tham gia. Văn hóa truyền thống của các dân tộc Dao, Sán

Dìu, Sán Chay, Cao Lan Tày... ở tỉnh Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Ninh Bình được các

cấp ủy khuyến khích, tạo thuận lợi để bảo tồn, phát huy theo quan điểm của Đảng,

để các dân tộc thiểu số bình đẳng về văn hoá với dân tộc Kinh trong vùng.

Các phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", "Xây dựng

gia đình văn hoá, làng, xã, phường văn hoá, khu phố văn hóa... được đông đảo nhân

dân tự nguyện tham gia và đóng góp trí lực, vật lực. Việc bài trừ các hoạt động phi

văn hóa, xử lý những tập thể, cá nhân vi phạm các quyền của người dân về hưởng

thụ các giá trị văn hóa do pháp luật quy định được triển khai khá mạnh và đạt kết

quả ở nhiều địa phương.

Các công trình, cơ sở văn hóa công cộng ở các huyện, thành phố, thị xã và ở

cơ sở như nhà thi đấu, cung thể thao thiếu nhi, sân vận động, nhà văn hóa, khu vui

70

chơi, giải trí... được xây dựng, tạo thuận lợi cho mọi người dân được thụ hưởng.

Các cụm di tích lịch sử, như Phật giáo Yên Tử (Quảng Ninh), thiền viện Trúc Lâm

Tây Thiên (Vĩnh Phúc), chùa Bái Đính, nhà thờ đá Phát Diệm (Ninh Bình), giáo

phận Bùi Chu (Nam Định)... được cấp ủy, chính quyền địa phương tạo thuận lợi

trùng tu, khai thác góp phần vào sự phát triển của địa phương. Đến nay, sóng phát

thanh, truyền hình đã phủ kín các tỉnh, nhân dân được tiếp nhận thông tin đa dạng,

phong phú. Tỉnh Quảng Ninh đã có chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng

dân tộc thiểu số, cải thiện về quyền bình đẳng thu nhận thông tin của các dân tộc

thiểu số.

3.1.1.4. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực xã hội và bảo đảm an

sinh xã hội đạt kết quả đáng khích lệ

Các hoạt động giải quyết những vấn đề xã hội, như: giải quyết việc làm,

giảm nghèo, chữa các bệnh xã hội, bình đẳng giới, bảo hiểm xã hội, phúc lợi xã hội

về văn hóa, giáo dục, y tế... được triển khai đều khắp ở các tỉnh, công bằng trong

thụ hưởng các phúc lợi xã hội được cải thiện đáng kể.

Chương trình quốc gia giải quyết việc làm được triển khai mạnh mẽ ở các

địa phương với sự tham gia tích cực của nhân dân và các tổ chức trên địa bàn. Các

nhà đầu tư, các doanh nghiệp được các địa phương khuyến khích và tạo thuận lợi

đầu tư vào các huyện để giải quyết việc làm cho người lao động thực hiện phương

châm "ly nông, bất ly hương" đem lại hiệu quả và có tác d ụng lớn về phát tri ển

nhiều mặt của địa phương. Nhiều tỉnh, huyện ở tỉnh Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng

Yên, Hải Dương, Nam Định đã có các doanh nghi ệp may, chế biến nông sản, tạo

việc làm, tăng thu nh ập cho hàng v ạn lao động. Nhờ đó, lao động thất nghiệp ở

nhiều tỉnh giảm đáng kể: ở tỉnh Vĩnh Phúc giảm từ 1,3% (n ăm 2008) xu ống 1%

(năm 2012), Bắc Ninh và tỉnh Quảng Ninh có số liệu tương ứng là: 2,2% và 1,74%;

2,84% và 1,44%. Có ba tỉnh tỷ lệ thất nghiệp tăng nhẹ là Thái Bình, Nam Định, Hà

Nam [Phụ lục số 1].

Các trung tâm d ạy nghề đa dạng, phong phú và có s ố lượng lớn, có ch ất

lượng bảo đảm dạy ngh ề cho hàng nghìn lao động, tạo cơ hội bình đẳng gi ữa

những người lao động trong tìm việc làm ổn định, đảm bảo thu nhập, nâng cao đời

71

sống: tỉnh Vĩnh Phúc có 22 trung tâm dạy nghề, 24 cơ sở dạy nghề khác, có chất

lượng, hằng năm tạo việc làm cho hàng nghìn lao động, giải quyết cơ bản những

hậu quả do thu hồi đất xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất [129, tr.12]...

Các tỉnh khác nh ư Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định đã làm khá tốt

công việc này.

Hiện tại, ở các tỉnh không còn hộ dân đói. Tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm. Đến

nay, so với chuẩn nghèo mới ở tỉnh Bắc Ninh còn 4,27%; tỉnh Thái Bình có tỷ lệ hộ

nghèo lớn nhất so với các tỉnh trong vùng (chiếm 10,9%). Ở các tỉnh còn lại số hộ

nghèo chiếm khoảng 5 đến hơn 6% [132]. Ở tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2006 có 18,6%

hộ nghèo đến năm 2010 còn 7,9%, năm 2014 còn 4,93% theo chuẩn nghèo mới. Ở

tỉnh Ninh Bình, năm 2007 có 11,38% hộ nghèo đến năm 2010 còn 7,9%, năm 2014

còn 6%... [Phụ lục 14].

Các tỉnh đã tăng cường đầu tư nâng cấp các trạm xá cơ sở, bệnh viện tuyến

huyện, tỉnh, tăng cường vệ sinh phòng dịch, bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho

mọi ng ười dân, bảo đảm vệ sinh, an toàn th ực ph ẩm, bảo vệ môi tr ường. Các

chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu miễn phí cho người dân đạt kết quả to lớn,

như: tiêm chủng mở rộng, thanh toán bệnh bại liệt, bệnh lao, sởi... đạt kết quả bước

đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân tiếp cận và thụ hưởng các chính sách

xã hội về y tế. Việc khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi

được thực hiện khá tốt, làm giảm sự chênh lệch về chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh

giữa các tầng lớp dân cư, dần dần tiến đến sự ngang bằng tương đối về chăm sóc

sức khỏe, chữa bệnh cho mọi người dân trên địa bàn tỉnh.

Ở nhiều tỉnh, mạng lưới y tế địa phương, nhất là y tế tỉnh đã chữa được một

số bệnh hiểm nghèo và những ca cấp cứu phức tạp, giảm tải cho tuyến y tế trung

ương. Đến cuối năm 2012 ở các tỉnh đã có 170 bệnh viện với 32.463 giường bệnh,

và 8.133 bác sĩ, 2.974 dược sĩ, 1.582 trạm y tế, nhiều trạm y tế đã có bác sĩ làm việc

[Phụ lục 8]. Các bệnh viện, phòng khám tư nhân được hình thành, phát tri ển, đa

dạng hoá các hình th ức chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Công tác xã h ội hoá y t ế

bước đầu được thực hiện. Ngân sách chi cho y tế và kế hoạch hóa gia đình chiếm tỷ

lệ ngày càng lớn [Phụ lục 13].

72

Công tác phòng, chống dịch bệnh và chữa các bệnh xã hội như cai nghiện,

phòng chống HIV... được tăng cường. Việc tiêm chủng mở rộng, đề phòng các bệnh

hiểm nghèo ở trẻ em ở các tỉnh đạt tỷ lệ từ 90-95%, khống chế và ngăn chặn sự lây

lan của các dịch bệnh... Chương trình cấp bảo hiểm y tế cho tất cả hộ dân đang được

nhiều tỉnh nghiên cứu triển khai. Các hoạt động bảo hiểm xã hội được duy trì tạo

thuận lợi cho nhân dân có cuộc sống ổn định khi hết tuổi lao động. Các hoạt động

bảo trợ thất nghiệp được triển khai và phát triển theo hướng xã hội hóa.

Bình đẳng giới ở các tỉnh đã có tiến bộ, quyền bình đẳng nam nữ được coi

trọng. Các tệ nạn bạo hành phụ nữ, trọng nam, khinh nữ được lên án mạnh mẽ và

ngăn chặn có hiệu quả ở hầu hết các địa phương trong vùng.

Các ho ạt động đền ơn, đáp nghĩa, ch ăm sóc Bà m ẹ Vi ệt Nam anh hùng,

thương binh, thân nhân các li ệt sĩ phát triển mạnh mẽ và đạt kết quả tốt. Việc trợ

cấp thường xuyên theo quy định của Nhà nước cho những người có công được duy

trì thường xuyên. Nhiều tỉnh đã hỗ trợ đột xuất bằng hiện vật, như xây nhà tình

nghĩa, hỗ trợ khó khăn, giải quyết có kết quả những vấn đề tồn đọng đối với những

người có công thể hiện đạo lý uống nước, nhớ nguồn của người Việt Nam và truyền

thống nhân ngh ĩa, thủy chung của cư dân ĐBSH. Bên cạnh đó là các ho ạt động

nhân đạo, từ thiện nhằm hỗ trợ đồng bào bị thiên tai, bão, lũ, lụt, rủi ro, nạn nhân

chiến tranh, người yếu thế, người già, trẻ em, người tàn tật, cô đơn không nơi nương

tựa được đông đảo nhân dân tự nguyện tham gia. Nh ờ đó, những người này, có

cuộc sống tối thiểu không chênh lệch quá lớn đối với mức sống bình thường của

người dân địa phương.

3.1.1.5. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm và tai nạn giao

thông có chuyển biến tích cực

Việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm ở các tỉnh ĐBSH đã

được cả HTCT, các ngành, các cấp, lực lượng xã hội và người dân triển khai khá

mạnh dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy, với các biện pháp cụ thể, như: tuyên truyền,

phát huy vai trò của tổ chức đảng, kê khai tài sản, các phương tiện truyền thông,

kiểm tra, giám sát, phát hiện của nhân dân, thẩm tra, xác minh, xử lý... Nhờ đó, việc

phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm ở nhiều tỉnh đạt kết quả bước đầu.

73

Vụ ba nữ cán bộ Sở Giao thông Vận tải tỉnh Nam Định tham ô gần 4 tỉ đồng

đã được xử lý [134, tr.4]. Ngày 8-9/9/2015 tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã

xét xử vụ án nhiều cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

gây hậu quả nghiêm trọng, làm thất thu ngân sách Nhà nước hơn 5 tỷ đồng [143]...

Qua các vụ tham nhũng đã xử lý ở các tỉnh ĐBSH cho thấy, các vụ đó do nhiều cán

bộ cấu kết với nhau, hình thành nhóm lợi ích.

Việc chống lãng phí ở các tỉnh được coi trọng, đạt kết quả bước đầu trong

chống lãng phí sử dụng công quỹ, xây dựng nơi làm việc, sử dụng xe công, các hội

nghị và đi công tác ở nước ngoài ít thiết thực... Bên cạnh đó, giảm thiểu tai nạn giao

thông đã được các tỉnh quan tâm. HTCT, các lực lượng xã hội đã được huy động

vào thực hiện nhiệm vụ này. Ở nhiều địa phương, việc giảm thiểu tai nạn giao thông

đã có chuyển biến theo hướng tích cực. Các biện pháp đem lại hiệu quả đã được các

tỉnh áp dụng, như: tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức về chấp hành Luật giao

thông trong nhà trường, các tổ chức của HTCT, qua các phương tiện truyền thông;

đầu tư và từng bước cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông; đề cao trách nhiệm của các

lực lượng chuyên trách, nâng cao năng lực tổ chức và quản lý giao thông, phát triển

hạ tầng kỹ thuật và năng lực tổ chức giao thông, xử lý nghiêm các vi ph ạm Luật

giao thông... Nhờ những hoạt động này, nhất là việc đầu tư lớn của Trung ương vào

giao thông và vi ệc tuyên truyền nâng cao nh ận thức của người dân về chấp hành

Luật giao thông nên nhiều tỉnh đã có hệ thống đường giao thông khá hiện đại, thuận

tiện, ý thức, trách nhiệm của người tham gia giao thông được nâng lên, tai nạn giao

thông có xu hướng giảm. Trong năm 2012, tỉnh có nhiều vụ tai nạn giao thông nhất

là Hưng Yên, 177 vụ, giảm 148 vụ so với năm 2008; Ninh Bình là tỉnh ít xảy ra tai

nạn giao thông nhất, chỉ có 62 vụ [96]; [98]...

3.1.2. Những hạn chế, yếu kém

3.1.2.1. Th ực hiện công b ằng xã h ội trên l ĩnh vực kinh t ế còn nhi ều

yếu kém

Sự bất công bằng giữa các thành phần kinh tế, các khu vực kinh tế chưa được

cải thiện một cách căn bản, có lúc còn có biểu hiện phân biệt đối xử giữa các thành

phần kinh tế. Thành phần kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế nhà nước vẫn còn

74

được ưu đãi và nâng đỡ quá mức. Các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, nhất là

kinh tế tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn chưa có sự bình đẳng thực sự với

các doanh nghiệp nhà nước. Các chủ doanh nghiệp tư nhân còn chưa có nhiều điều

kiện thuận lợi tiếp cận những cơ hội để phát triển sản xuất, kinh doanh, nhất là vay

vốn ưu đãi để mở rộng quy mô, đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất, tăng năng suất,

chất lượng sản phẩm.

Ở một số tỉnh môi tr ường pháp lý cho các thành ph ần kinh tế, cá nhân, tổ

chức kinh tế phát triển chưa được cải thiện đáng kể để KTTT phát triển lành mạnh,

đúng đắn. Những biểu hiện không đúng đắn về phát tri ển KTTT nh ư: phát tri ển

kinh tế bằng mọi giá tách rời những vấn đề xã hội, môi trường, vi phạm pháp luật,

lợi dụng những cơ sở của một số văn bản pháp luật để trục lợi vẫn tồn tại, có mặt có

xu hướng gia tăng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh còn chậm và chưa vững

chắc ảnh hưởng đến việc thực hiện CBXH.

Việc tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của nhiều người dân và các tổ chức

kinh tế còn bị hạn chế, ràng buộc bởi các thủ tục hành chính, nhất là việc mở rộng

doanh nghiệp, chuyển đổi mặt hàng, đăng ký, xin giấy phép sản xuất kinh doanh.

Sự cạnh tranh giữa các chủ sản xuất kinh doanh còn chưa thực sự lành mạnh, còn

có những biểu hiện tiêu cực.

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế có nơi còn chưa thật đúng hướng, còn chủ

quan và lúng túng. Việc phát triển kinh tế vùng còn hạn chế, một số đề án về phát

triển kinh tế vùng ở một số tỉnh kém chất lượng, tính khả thi thấp, những biện pháp

thực hiện chưa cụ thể, rõ ràng. Vì thế, không ít dự án, chương trình qua thực hiện

chưa đạt kết quả mong muốn, ảnh hưởng đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh

tế, đến việc thu hẹp về trình độ phát tri ển kinh tế, văn hoá, xã h ội giữa các địa

phương trong tỉnh.

Các mô hình kinh t ế đem lại hi ệu qu ả, các làng ngh ề truy ền th ống còn

chưa được quan tâm thỏa đáng để phát triển và còn hạn chế trong tiếp cận nguồn

vốn và thị trường tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến nguy cơ phá sản, ảnh hưởng không

nhỏ đến CBXH. Ch ẳng hạn mô hình "B ốn nhà" trong s ản xuất nông nghiệp khi

hoạt động kém hiệu quả thì nhà nông ph ải chịu hậu quả nặng nề, gây lên sự bất

75

bình đẳng trong chịu đựng rủi ro giữa nhà nông với nhà nước, nhà doanh nghiệp

và nhà khoa h ọc. Các ho ạt động nhằm thu hẹp sự chênh lệch về thu nh ập trong

dân cư giữa các vùng, thành th ị với nông thôn, gi ữa các giai t ầng xã hội ở hầu

hết các tỉnh hiệu quả thấp.

3.1.2.2. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực chính trị còn những

bất cập

Quyền làm ch ủ của nhân dân trên th ực tế còn bị hạn chế. Các quy ền của

người dân do Hi ến pháp, pháp luật quy định có lúc ch ưa được thực hiện đến nơi,

đến chốn. Việc bầu cử đại biểu HĐND các cấp, đại biểu Quốc hội, nhìn chung còn

hình thức, tình trạng bầu hộ và cử một người trong gia đình đi bầu cử cho cả gia

đình, vi phạm Luật bầu cử vẫn còn xảy ra (ở một điểm bầu cử ở tỉnh Bắc Ninh).

Nhiều cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp HĐND các cấp đơn điệu về nội

dung và còn hình thức, chất lượng thấp; nhiều ý kiến thỏa đáng đúng đắn của đông

đảo cử tri chưa được giải quyết thấu đáo.

Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở có nơi còn chưa chặt chẽ, có biểu

hiện hình th ức, không th ực chất. Khá nhi ều việc theo Quy ch ế dân ch ủ ở cơ sở

người dân được bi ết, được bàn thì l ại không được bi ết, không được bàn, ho ặc

được bàn một cách hình thức. Quyền kiểm tra, giám sát của người dân ở nhiều nơi

chưa được thực hiện. Việc đóng góp ý kiến của dân vào các dự thảo văn bản pháp

luật, dưới luật và vào dự thảo Hiến pháp sửa đổi còn bị hạn chế. Ở nhiều nơi tiến

hành công vi ệc này một cách qua loa, đại khái. Nhi ều cuộc lấy phiếu tín nhi ệm

các chức danh cán bộ ở địa phương do dân bầu cử theo định kỳ còn có biểu hiện

chiếu lệ. Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo ở một số nơi còn chậm, có biểu

hiện không công bằng theo quy định của pháp lu ật và nh ững quy định, quy ch ế

của địa phương.

Các hoạt động phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội

đối với các chủ trương, quyết định của cấp ủy, chính quyền và giám sát hoạt động

của cấp ủy, chính quyền, cán bộ, công chức, đảng viên ở nhiều nơi chưa được coi

trọng và còn lúng túng trong thực hiện. Khá nhiều nơi chưa tiến hành công việc này.

76

3.1.2.3. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực văn hóa còn những hạn

chế, có mặt chưa được cải thiện

Việc thụ hưởng các giá trị văn hóa còn có sự chênh lệch rất lớn giữa các tầng

lớp dân cư, nhất là nhóm người có thu nhập rất cao với nhóm người có thu nhập rất

thấp; giữa cư dân thành thị với cư dân nông thôn; giữa cư dân ở các huyện, xã miền

núi, với cư dân ở vùng đồng bằng; giữa đồng bào dân tộc thiểu số với người Kinh ở

một số tỉnh.

Quyền được học hành của các cháu trong độ tu ổi đi học ch ưa được gi ải

quyết tốt, còn có sự bất bình đẳng giữa các cháu ở vùng núi, vùng khó khăn, vùng

xa so với các cháu ở vùng đồng bằng, gần các đô thị và ở những vùng thuận lợi về

phát triển kinh tế - xã h ội. Số sinh viên tốt nghiệp các tr ường cao đẳng, đại học

không tìm được việc làm ngày càng tăng, làm gia tăng những vấn đề xã hội, gây

khó khăn cho việc thực hiện CBXH.

Việc đầu tư cơ sở vật chất và nhân lực cho giáo dục - đào tạo, nhất là lực

lượng giáo viên còn kém công bằng giữa các vùng trong một tỉnh và có biểu hiện

bình quân. Chế độ đãi ngộ giáo viên có biểu hiện không công bằng giữa giáo viên

cùng cấp học ở các vùng khác nhau trong m ột tỉnh. Mức trợ cấp cho giáo viên ở

những vùng khó kh ăn, xa xôi, mi ền núi ch ưa tương xứng với cống hiến của họ.

Tình trạng bất CBXH, nhất là trong đấu thầu các đề tài, dự án khoa học - công nghệ

còn xảy ra, có biểu hiện lợi dụng việc chỉ định thầu đề tài, dự án khoa học - công

nghệ để trục lợi và vì lợi ích nhóm.

Quyền tự do, tín ngưỡng, theo các tôn giáo của người dân ở một số nơi bị lợi

dụng đến mức thái quá gây phản cảm, nhất là việc lợi dụng các lễ hội, gây bức xúc

tại địa phương và dư luận. Song, việc xử lý các sai phạm chưa kịp thời, thỏa đáng,

có lúc, có nơi còn hữu khuynh. Việc đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện thông tin đại

chúng còn chưa bình đẳng giữa các vùng ở một số tỉnh. Đối với những vùng xa xôi,

khó khăn việc ưu tiên đầu tư cho hoạt động này còn chưa thỏa đáng và có biểu hiện

bình quân.

77

3.1.2.4. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực xã hội còn nhiều vấn đề

nan giải

Các giải pháp về hạn chế tình tr ạng thất nghiệp gia tăng, thanh niên nông

thôn đi tìm vi ệc làm ở các t ỉnh ngoài vùng ĐBSH hiệu qu ả th ấp. Tốc độ gi ảm

nghèo chưa vững chắc, số hộ dân tái nghèo có xu hướng tăng. Bất bình đẳng giới,

bất bình đẳng về việc làm, thu nhập giữa nam và nữ còn diễn ra. Một bộ phận đáng

kể phụ nữ do sức khỏe hạn chế so với nam giới, bị chi phối bởi công việc và cuộc

sống gia đình, không có nhiều điều kiện học tập nâng cao trình độ và tay nghề nên

phải đảm đương những công việc nặng nhọc, thu nhập thấp, tiềm ẩn nguy cơ mất

việc làm. Vẫn còn tình trạng phụ nữ bị phân biệt đối xử so với nam giới; lao động

trước tuổi hầu như ở nơi nào cũng có.

Mức độ được hưởng các chính sách về giáo dục, văn hoá của người dân ở

các vùng trong một số tỉnh có sự chênh lệch khá lớn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị

và chất lượng đào tạo giữa các vùng, nh ất là ở vùng nông thôn, vùng núi, vùng

sâu, vùng xa so với thành thị có khoảng cách khá xa. Con em các gia đình nghèo

không có điều kiện học tập lên bậc cao. Đây là sự bất CBXH về điều kiện học tập

nâng cao trình độ, tay ngh ề, dẫn đến không có c ơ hội tìm vi ệc làm ổn định bảo

đảm cuộc sống.

Chất lượng bảo vệ và ch ăm sóc sức khỏe, chữa các bệnh xã hội của người

dân ở các vùng trong các t ỉnh có sự chênh lệch đáng kể. Quyền được bảo vệ và

chăm sóc sức khỏe của đa số người dân chưa được đảm bảo. Việc chăm sóc y tế

cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số và việc chữa các bệnh

xã hội trong dân cư ở những nơi này, còn nhiều hạn chế so với các vùng khác, nhất

là với thành thị. Còn có sự phân biệt đối xử trong khám, chữa và dưỡng bệnh giữa

các nhóm dân cư có thu nh ập khác nhau; kém tận tình với bệnh nhân chi trả viện

phí qua bảo hiểm y tế. Việc chữa bệnh cho con em và người thân trong gia đình vẫn

là nỗi lo thường nhật của những gia đình khó khăn ở nông thôn, vùng núi, vùng sâu,

vùng xa.

Việc chi trả lương hưu cho những người tham gia bảo hiểm xã hội còn có sự

chênh lệch đáng kể, giữa những người nghỉ hưu trước và sau các lần cải cách lớn về

78

tiền lương. Điều này, dẫn đến sự chênh lệch về cuộc sống của những người nghỉ

hưu ảnh hưởng đến kết quả thực hiện CBXH.

3.1.2.5. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm và tai nạn giao

thông hiệu quả thấp

Việc phòng, ch ống tham nh ũng, lãng phí, l ợi ích nhóm ở nhi ều nơi ch ưa

thường xuyên, quyết liệt, các giải pháp chưa đủ mạnh, hiệu quả thấp. Số vụ tham

nhũng được phát hiện, điều tra và xử lý còn rất thấp, gây bất bình trong nhân dân,

dư luận và gây khó khăn lớn cho việc thực hiện CBXH. Tham nhũng ở một số nơi

có xu hướng gia tăng, ngày càng tinh vi ph ức tạp, câu kết chặt chẽ nhiều cán bộ

thành nhóm lợi ích và xuất hiện ở một số cơ quan, cán bộ làm công tác xã hội và

thực hiện CBXH.

Ở xã Nam Hoa, huy ện Nam Trực, tỉnh Nam Định, mỗi hồ sơ đề nghị giải

quyết chế độ trợ cấp bảo trợ xã hội đều phải mất từ vài triệu đến chục triệu VNĐ để

được thông qua. Mỗi khi làm hồ sơ nhận chế độ cho các đối tượng là ng ười tâm

thần, khuyết tật tại xã này, người dân nơi đây đều phải nộp một khoản tiền nhất định

từ vài triệu đến vài chục triệu đồng cho cán bộ chính sách xã. Không chỉ “vòi tiền”

các đối tượng chính sách, những cán bộ này còn ăn chặn cả tiền trợ cấp về chế độ

đối với người có công trong suốt thời gian dài. Vụ 9 cán bộ, công chức xã ở tỉnh Hà

Nam ăn chặn tiền trợ cấp của người tàn tật đã bị xử lý. Huyện Kiến Xương, tỉnh

Thái Bình đã xử lý theo pháp luật những cán bộ xã ăn chặn tiền trợ cấp Tết của hơn

100 gia đình chính sách là thân nhân liệt sĩ, gia đình có công cách mạng với số tiền

là 20.400.000 đồng.

Tình trạng lãng phí vẫn chưa được đẩy lùi một cách căn bản, lãng phí ở một

số tỉnh còn lớn. Có nh ững vụ việc được thể hiện từ chủ trương của lãnh đạo cấp

tỉnh. Ở một tỉnh thuộc ĐBSH kinh tế phát tri ển chưa thật mạnh, vững chắc, đời

sống nhân dân nhiều nơi còn khó khăn, cơ sở hạ tầng giáo dục y tế, giao thông còn

lạc hậu, xuống cấp. Song, tỉnh đã chi 300 triệu đồng từ ngân sách tỉnh để xây dựng

nơi thờ tự của tỉnh gây bức xúc trong nhân dân và dư luận. Nơi thờ tự đã xây xong

nhưng chưa biết thờ ai? Ở một tỉnh phía Nam ĐBSH, có một số huyện miền núi,

dân tộc thiểu số, kinh tế tỉnh phát triển chưa mạnh, hộ nghèo còn nhiều, điều kiện

79

học hành của các cháu, việc đi lại, chữa bệnh của người dân gặp nhiều khó khăn,

song tỉnh đã chi 1500 tỷ đồng để xây Tượng đài Vua Đinh Tiên Hoàng. Đến nay,

"Tượng đài bị lãng quên giữa muôn trùng cây cỏ"... Các tỉnh vẫn chưa có các giải

pháp hiệu quả cao gi ảm thiểu tai nạn giao thông, ở nhi ều nơi tai nạn này có xu

hướng gia tăng.

3.2. CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN

CÔNG BẰNG XÃ HỘI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM

3.2.1. Thực trạng các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện

công bằng xã hội

3.2.1.1. Những ưu điểm

* Về thực hiện nội dung lãnh đạo

Một là, các tỉnh ủy xây dựng quan điểm, chủ trương, nghị quyết lãnh đạo các

cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc, các cơ quan nhà n ước, các lực lượng xã hội và

nhân dân địa phương cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thắng lợi các nội dung thực

hiện CBXH của Đảng và Nhà nước.

Các tỉnh ủy tập trung vào quán triệt đường lối phát triển KTTT định hướng

XHCN và các quan điểm, chủ trương lớn về phát triển kinh tế - xã hội, các nghị quyết

của Đảng về phát triển các lĩnh vực, ngành kinh tế; về dân chủ và thực hiện các quyền

của người dân, về phát triển văn hóa, xã hội để xây dựng các quan điểm, mục tiêu,

phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH.

Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2006-2010 xác

định quan điểm:

Khai thác có hi ệu quả các ngu ồn lực đầu tư cho phát tri ển. Đi đôi với

tăng trưởng kinh tế, chú trọng phát triển văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa

học, công ngh ệ, phát tri ển nguồn nhân lực, chăm sóc và nâng cao s ức

khỏe nhân dân, đẩy mạnh giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng

tỷ lệ hộ giàu, kiềm chế và đẩy lùi tội phạm, tệ nạn xã hội, không ngừng

cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân [124, tr.32].

Đồng thời, Văn kiện nhấn mạnh quan điểm và mục tiêu tổng quát: "T ăng

cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị bảo đảm trật tự, an toàn xã

80

hội tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế - xã hội phát triển" [124, tr.32]. Các mục

tiêu được xác định, gồm: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt 14-

14,5%; số lao động được giải quyết việc làm từ 24-25 nghìn lao động; tỷ lệ lao động

qua đào tạo chiếm 40-45%; tỷ lệ hộ nghèo chiếm dưới 10% theo tiêu chí mới; tỷ lệ

trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chiếm dưới 15% [124, tr.33].

Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2011 -2015 tiếp

tục khẳng định và phát tri ển những quan điểm, mục tiêu của nhiệm kỳ tr ước và

nhấn mạnh: "Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm, giảm

nghèo; đảm bảo an sinh xã hội; từng bước thu hẹp khoảng cách về thu nhập, về đời

sống giữa các vùng, các khu vực và giũa các tầng lớp dân cư, thực hiện tiến bộ và

công bằng xã hội" [125, tr.50]. Đồng thời, Văn kiện xác định mục tiêu cao hơn: 30-

40% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới; giải quyết việc làm cho 100-115 nghìn lao

động; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn mới bình quân hằng năm giảm 1,5-2%; tỷ lệ

lao động qua đào tạo đạt khoảng 66%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn

10%; tỷ lệ thu gom và x ử lý ch ất thải rắn đạt 10%; tỷ lệ dân cư đô thị được cấp

nước sạch đạt 85% và 100% dân c ư nông thôn s ử dụng nước hợp vệ sinh [125,

tr.52]. Văn kiện xác định các gi ải pháp phát tri ển công nghi ệp, đẩy mạnh CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông mới, phát triển văn hóa, giáo dục,

đào tạo, khoa học, công nghệ, thực hiện tiến bộ và CBXH...

Ở các tỉnh khác của ĐBSH, các tỉnh ủy xác định quan điểm, mục tiêu và các

giải pháp phát triển kinh tế - xã h ội tương tự Tỉnh ủy Vĩnh Phúc và phù hợp với

điều kiện cụ thể của từng tỉnh. Chẳng hạn ở tỉnh Hà Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu

Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2006 -2010 xác định:

Huy động có hi ệu quả các ngu ồn lực, đẩy nhanh hơn nữa tốc độ phát

triển kinh t ế, đảm bảo tăng tr ưởng kinh t ế cao, b ền vững, hi ệu qu ả;

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch

vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Phát triển kinh tế gắn với phát triển văn

hóa, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái [103, tr.52].

Các mục tiêu được xác định, gồm: 100% dân số đô thị, 75% dân số nông

thôn dùng nước hợp vệ sinh; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảm xuống còn 7%; trẻ

81

em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 20%; giải quyết 13.000 việc làm; tỷ lệ lao

động qua đào tạo nghề đạt 35% [103, tr.53].

Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2011 -2015 xác định mục

tiêu cao hơn và đưa ra các giải pháp thực hiện nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế -

xã hội và thực hiện CBXH: "Phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống

vật chất, tinh thần của nhân dân. Tập trung phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, coi

trọng bảo vệ môi tr ường" [104, tr.52]. Các mục tiêu cụ thể được xác định, gồm:

100% dân thành th ị và 90% dân nông thôn dùng n ước hợp vệ sinh; số hộ nghèo

giảm bình quân hằng năm từ 1-1,2%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn

15%; giải quyết việc làm cho 75.000 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt

45%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới chiếm 20% [103, tr.53]. Các giải pháp về

thực hiện quan điểm, mục tiêu phát tri ển kinh tế - xã h ội và th ực hiện CBXH đã

được đề xuất.

Ngoài các quan điểm, mục tiêu và giải pháp tổng thể về phát triển kinh tế -

xã hội và th ực hiện CBXH th ể hiện trong các văn kiện đại hội đại biểu đảng bộ

các tỉnh, các tỉnh ủy luôn coi trọng quán triệt kịp thời các quan điểm, chủ trương,

giải pháp trong các ngh ị quyết của Đảng về phát triển các mặt, các lĩnh vực đời

sống xã hội, ban hành các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy, tổ chức thực hiện và

thực hiện CBXH.

Trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng, như: Nghị quyết Trung ương

năm khóa VIII v ề đẩy nhanh CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn; Ngh ị quy ết

Trung ương bảy khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết Trung

ương sáu khóa X v ề tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN; Nghị

quyết Trung ương bảy khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và quản

lý tài nguyên, bảo vệ môi tr ường; Nghị quyết Trung ương năm khóa VIII về xây

dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết Trung

ương chín khóa XI về xây dựng và phát triển con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu

phát triển bền vững đất nước; các ngh ị quyết của Đảng khóa VIII về định hướng

chiến lược giáo dục - đào tạo, định hướng chiến lược phát triển khoa học và công

nghệ thời kỳ CNH, HĐH và gần đây là Nghị quyết Trung ương tám khóa XI về đổi

82

mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều

kiện KTTT định hướng XHCN và hội nhập quốc tế; Nghị quyết Trung ương bảy

khóa VIII, một số vấn đề về tổ chức bộ máy của HTCT và tiền lương, trợ cấp xã hội

thuộc ngân sách nhà nước; Nghị quyết Trung ương năm khóa XI về một số vấn đề

chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, Kết luận hội nghị này về một số vấn đề tiền

lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến

năm 2020... các tỉnh ủy đều ban hành các nghị quyết về những vấn đề này, xác định

các giải pháp cụ thể để thực hiện, qua đó từng bước thực hiện CBXH trong lĩnh vực

kinh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Cụ thể là:

Phần lớn các tỉnh ủy đều ban hành quy ết định về ch ương trình th ực hiện

Nghị quyết Trung ương năm khóa VIII. Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 27-12-2006

của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống

nhân dân giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020. Tỉnh ủy Ninh Bình

ban hành Ch ương trình hành động số 20-CTr/TU, ngày 21-8-2008, Tỉnh ủy Hà

Nam ban hành Ch ương trình số 13-CTr/TU, ngày 26-10-2008 về th ực hiện nghị

quyết về nông nghi ệp, nông dân, nông thôn c ủa Đảng... Tỉnh ủy Ninh Bình ban

hành Thông tri số 21-TT/TU, ngày 12-8-1998 về thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW

của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, tổ chức thực

hiện, Báo cáo số 200-BC/TU ngày 12-01-2009 tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị

này... Các tỉnh ủy đều xây dựng chương trình phổ cập trung học cơ sở; chương trình

xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc... Tỉnh ủy Nam

Định xây dựng và ban hành Kế hoạch số 71-CTr/TU ngày 18-01-2008 về thực hiện

Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe

nhân dân trong tình hình m ới và ban hành Ch ỉ thị số 06-CT/TW của Ban Bí th ư

Trung ương Đảng về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở...

Hai là, lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan nhà nước ở địa phương tổ chức cụ thể

hóa các nội dung thực hiện CBXH của Đảng và Nhà nước thành chương trình, kế

hoạch hành động; đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước thực

hiện chương trình kế hoạch đó.

83

Các tỉnh ủy đều coi trọng lãnh đạo chính quyền trong tỉnh về thực hiện các

nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội, qua đó thực hiện

CBXH. Nhiều tỉnh ủy đã lãnh đạo chính quyền tỉnh xây dựng các chương trình, đề

án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đối với từng lĩnh vực ngay trong quá trình

tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nghị quyết, chương trình về vấn đề đó. Vì vậy,

sau khi tỉnh ủy ban hành các nghị quyết, quyết định, chương trình về vấn đề nào đó,

sau thời gian ngắn chính quyền tỉnh đã có ch ương trình, kế hoạch, đề án và tri ển

khai thực hiện.

Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã chỉ đạo chính quy ền tỉnh ban hành các ngh ị quyết,

quyết định, xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của Tỉnh uỷ

về phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH như: Nghị quyết số 08/2010/NQ-

HĐND ngày 22-7-2010 của HĐND tỉnh về việc hỗ trợ bồi thường giải phóng mặt

bằng và đầu tư xây dựng thiết chế văn hoá - thể thao, vui chơi giải trí ở xã, phường,

thị trấn, thôn, tổ dân phố; Nghị quyết số 37/2011/NQ-HĐND ngày 19-12-2011 về

một số chính sách hỗ trợ dạy nghề, giải quyết việc làm và gi ảm nghèo giai đoạn

2012 - 2015; Nghị quyết số 75/2012/NQ-HĐND ngày 21-12-2012 của HĐND tỉnh

về phát tri ển thể dục, thể thao qu ần chúng tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2013-2020;

Nghị quyết số 94/2013/NQ-HĐND ngày 16-7-2013 của HĐND về một số chính

sách hỗ trợ cho trạm y tế xã, phường, thị trấn thực hiện Bộ Tiêu chí quốc gia về y tế

xã trên địa bàn t ỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2013-2020... Từ các ngh ị quy ết của

HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã xây dựng các kế hoạch, chương trình thực hiện. Ví dụ:

Chương trình số 26-CTr/UBND ngày 29-3-2011 của UBND tỉnh về xây dựng nông

thôn mới tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2020; Sở Lao động - Thương binh và Xã

hội tỉnh xây dựng Chương trình số 58-CTr/LĐTBXH về xây dựng nông thôn mới,

nâng cao đời sống nhân dân...

Ở tỉnh Bắc Ninh, sau khi có các nghị quyết, quyết định của Tỉnh ủy về phát

triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH, HĐND tỉnh đã ban hành các nghị quyết,

quyết định và tổ ch ức th ực hi ện th ắng lợi. Ví d ụ: Ngh ị quy ết số 22/2011/NQ-

HĐND, của HĐND ngày 17-9-2011 của UBND tỉnh về Quy định một số điều về

thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và tổ chức kỷ niệm

84

ngày truyền thống...; Quyết định số 228/QĐ-UBND ngày 28-02-2011 của Chủ tịch

UBND tỉnh Bắc Ninh về việc thành lập Phòng Di sản Văn hóa, thuộc Sở Văn hóa,

Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh. Ở các tỉnh khác của ĐBSH các tỉnh ủy luôn coi

trọng lãnh đạo chính quyền tỉnh thực hiện các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về

phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH. Chẳng hạn, ở tỉnh Nam Định, sau khi

Tỉnh ủy ban hành Chương trình xây dựng nông thôn mới, UBND tỉnh đã ban hành

Quyết định số 2163/QĐ-UBND ngày 02-9-2009 về phê duyệt đề án xây dựng thí

điểm mô hình nông thôn mới xã Hải Đường, huyện Hải Hậu...

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy địa phương, chính quyền cùng cấp đã

triển khai thực hiện các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy, các quyết định, chương

trình phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH của cấp ủy cùng cấp về phát

triển kinh tế - xã hội trên địa bàn đạt kết quả. Nhìn chung, các hoạt động này diễn ra

khá thuận lợi và thông suốt.

Ba là, xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện CBXH ở địa phương.

Các tỉnh ủy đã coi trọng lãnh đạo nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ

chức trong các lĩnh vực như: chính quyền các cấp, kinh tế, nông nghiệp, nông dân,

nông thôn, giáo dục - đào tạo, khoa học - công ngh ệ y tế, văn hóa, th ể thao, tài

nguyên, môi trường, lao động, thương binh và xã hội...

Các tỉnh ủy đều quan tâm lãnh đạo nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy, cán

bộ, công chức và hoạt động của chính quyền tỉnh và lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy

cấp huyện về nâng cao chất lượng chính quyền cấp huyện và cấp xã. Trong đó, tỉnh

ủy trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng tổ chức bộ máy cán bộ, công chức và nâng

cao ch ất lượng ho ạt động của chính quy ền tỉnh, các sở nh ư: tài nguyên - môi

trường, nông nghiệp, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa, thông

tin, thể thao, th ể thao và du l ịch, lao động, thương binh và xã h ội... Tỉnh ủy tập

trung lãnh đạo các tổ chức này về xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, xây dựng các

quy định, quy chế làm vi ệc; nâng cao ch ất lượng cán bộ, công chức, xác định rõ

trách nhiệm cá nhân và quyền hạn của từng chức danh cán bộ, nhất là người đứng

đầu; đổi mới nội dung, ph ương th ức ho ạt động; tăng cường phòng ch ống tham

85

nhũng, lãng phí trong phát tri ển kinh tế, giáo dục, đào tạo và th ực hiện các chính

sách xã hội...

Nhìn chung, các tỉnh ủy đã lãnh đạo thực hiện khá tốt việc thi tuyển công

chức vào các cơ quan nêu trên, tăng cường quy hoạch cán bộ quản lý; đào tạo, bồi

dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức. Một số tỉnh

đã tổ ch ức thi tuy ển các phó giám đốc một số sở và các ch ức danh tr ưởng, phó

trưởng phòng trong một số sở...

Bốn là, lãnh đạo phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước với Mặt trận

Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp, các thành phần kinh

tế, các tổ chức xã hội thực thi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà

nước, chủ trương, nghị quyết, quyết định của tỉnh uỷ, chính quyền tỉnh về CBXH.

Các tỉnh ủy quan tâm lãnh đạo MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, các

đơn vị sự nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội tham gia tích cực vào

thực hiện nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội và thực

hiện CBXH.

Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức này quán triệt các nghị quyết nêu trên

của tỉnh ủy xây d ựng ch ương trình, kế ho ạch th ực hi ện trên c ơ sở ch ức năng,

nhiệm vụ, đặc điểm của từng tổ chức; hướng vào phát động, duy trì các phong trào

hành động cách mạng nâng cao nh ận thức của đoàn viên, hội viên và duy trì các

hoạt động nhân đạo, từ thiện, bài tr ừ mê tín, d ị đoan và các t ệ nạn xã hội; vận

động nhân dân cùng tham gia. Đồng thời, tỉnh ủy tăng cường lãnh đạo sự phối hợp

hoạt động của các t ổ ch ức này v ới chính quy ền địa ph ương trong th ực hi ện

CBXH, một số tỉnh đã xây dựng quy chế phối hợp hoạt động của các tổ chức này

trong thực hiện CBXH.

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của MTTQ và từng đoàn thể

chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, Tỉnh uỷ Quảng Ninh và các cấp ủy cấp huyện, cấp

xã xác định nội dung và PTLĐ phù hợp để phát huy mạnh mẽ vai trò và ưu thế của

từng tổ chức trong th ực hiện CBXH. Ví dụ: phong trào “Toàn dân đoàn kết xây

dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, nhân đạo,

từ thiện chủ yếu do MTTQ chủ trì, các phong trào "Tuổi trẻ lập thân, lập nghiệp",

86

phòng chống tệ nạn xã hội chủ yếu do Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh chủ

trì; các hoạt động dạy nghề, học nghề chủ yếu do các đoàn thể chính trị - xã hội chủ

trì... kết hợp với chính quyền địa phương trong triển khai thực hiện các phong trào

nêu trên.

Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 61-CT/TW, ngày 28-12-2000

của Bộ Chính trị về việc thực hiện phổ cập trung học cơ sở của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc

nhận định: "Đại diện của Tỉnh đoàn, Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh, Mặt trận Tổ quốc

tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh, Hội khuyến học tỉnh đã tham gia trong Ban chỉ đạo

phổ cập giáo dục trung học cơ sở và hoạt động tích cực, góp phần quan trọng cổ vũ

đông đảo nhân dân tham gia hoạt động này đem lại hiệu quả" [126, tr.7].

Báo cáo số 164-BC/TU của Tỉnh ủy Ninh Bình về tổng kết 10 năm thực hiện

Nghị quyết Trung ương hai, khóa VIII của Đảng về giáo dục và đào tạo đã rút ra

một số bài học kinh nghiệm, trong đó có một bài học rất có giá trị: "Tỉnh ủy và các

cấp ủy tăng cường lãnh đạo công tác xã hội hóa giáo dục, coi trọng tuyên truyền,

vận động nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội nhiệt tình ủng hộ, chung sức,

chung lòng cùng chính quyền địa phương phát triển và nâng cao ch ất lượng giáo

dục và đào tạo" [116, tr.10].

* Về phương thức lãnh đạo

Thứ nhất, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng các nghị quyết, quyết định,

chủ trương, về thực hiện CBXH

Trên cơ sở nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh các nhiệm kỳ về phát triển kinh tế

- xã hội, các nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục - đào tạo,

khoa học - công nghệ, văn hóa, xã hội, HTCT các tỉnh ủy ở ĐBSH trong các nhiệm

kỳ đều xây dựng, ban hành các nghị quyết, quyết định về cụ thể hóa các nghị quyết

ấy và tổ chức thực hiện.

Xuất phát từ các nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển

KTTT định hướng XHCN, như: phát triển các thành phần kinh tế, đổi mới cơ chế

quản lý kinh tế; Nghị quyết Trung ương năm khóa VIII về đẩy nhanh CNH, HĐH

nông nghiệp, nông thôn; Nghị quyết Trung ương bảy, khóa X về nông nghiệp, nông

dân, nông thôn; Quy ết định của Đảng, Nhà nước về Ch ương trình qu ốc gia xây

87

dựng nông thôn mới; Nghị quyết Trung ương sáu, khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể

chế KTTT định hướng XHCN; Nghị quyết Trung ương bốn khóa X về chiến lược

biển; Nghị quyết Trung ương bảy khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí

hậu và quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường... các tỉnh ủy ban hành các nghị quyết,

quyết định về những vấn đề đó, triển khai th ực hiện. Kết quả thực hiện các ngh ị

quyết, quyết định này, đã thúc đẩy phát triển KTTT, tạo môi tr ường pháp lý cho

KTTT phát triển lành mạnh theo định hướng XHCN trên địa bàn tỉnh, các thành

phần kinh tế, các cá nhân tập thể đã có điều kiện thuận lợi, trong khai thác và phát

huy năng lực để phát triển. Các thành phần kinh tế, các chủ thể sản xuất kinh doanh

bước đầu có sự bình đẳng trong đối xử, hạn chế dần sự ưu đãi quá mức đối với

thành phần kinh tế nhà nước trên địa bàn tỉnh.

Trên cơ sở các quan điểm, nghị quyết, quyết định, chính sách của Đảng, Nhà

nước về bảo đảm quyền bình đẳng về chính trị của người dân trong các hoạt động

chính trị, xã hội, như: quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp quy định, các luật

về các quyền đó; Nghị quyết Trung ương bảy, khóa XI, một số vấn đề về tiếp tục

đổi mới, hoàn thiện HTCT từ Trung ương đến cơ sở;... các tỉnh ủy ban hành nghị

quyết về những vấn đề này và tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm quyền bình đẳng về

chính trị của người dân trong các hoạt động chính trị, xã hội.

Các tỉnh ủy đều ban hành và ch ỉ đạo thực hiện các quy ết định về tổ chức

nhân dân tham gia công tác xây dựng Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp, như:

các quyết định về lãnh đạo nhân dân tham gia góp ý kiến vào dự thảo Hiến pháp sửa

đổi, các văn bản dự thảo một số luật; một số văn kiện Đảng, nhất là dự thảo báo cáo

chính trị trình Đại hội Đảng toàn qu ốc các nhi ệm kỳ; các ch ủ trương quyết định

quan trọng của cấp ủy, chính quyền địa phương... trước khi ban hành; các cuộc tiếp

dân, tiếp xúc cử tri, các cuộc lấy phiếu tín nhiệm những chức danh cán bộ do nhân

dân bầu cử; giải quyết khiếu nại, tố cáo... Thông qua nh ững hoạt động này quyền

bình đẳng về chính trị của người dân được thực hiện.

Dựa chắc vào các ngh ị quy ết, quyết định của Đảng và Nhà n ước về phát

triển văn hóa, giải quyết những vấn đề xã hội, các tỉnh ủy đã ban hành nghị quyết và

những quyết định về những vấn đề nêu trên, tổ chức thực hiện kết hợp với thực hiện

88

CBXH. Nhờ đó, CBXH trong lĩnh vực văn hóa, xã hội từng bước được thực hiện.

Trong nhiệm kỳ 2010-2015, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã ban hành 8 nghị quyết về phát

triển kinh tế - xã hội liên quan đến nâng cao đời sống nhân dân và thực hiện CBXH;

tổ chức sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết của Đảng được tiến hành nghiêm túc,

tổng kết 19 nghị quyết, 11 chỉ thị liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội nâng cao

đời sống nhân dân [131, tr.11].

Thứ hai, tỉnh ủy lãnh đạo th ực hi ện CBXH bằng công tác tuyên truy ền,

thuyết phục, vận động các tổ chức trong HTCT, các tầng lớp nhân dân nhằm giác

ngộ, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức đúng trong thực hiện các nghị quyết

của tỉnh ủy về CBXH.

Các tỉnh ủy đã coi trọng và tăng cường công tác tư tưởng nhằm tuyên truyền,

nâng cao nhận thức thống nhất về các ngh ị quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát

triển kinh tế, văn hóa, xã hội, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, vận động

thuyết phục nhân dân thực hiện. Trước hết, các tỉnh ủy đã tập trung quán triệt trong

các tổ chức đảng, cán bộ và đảng viên các ngh ị quyết, quyết định của tỉnh ủy về

phát triển kinh tế - xã h ội, các ch ương trình gi ải quyết việc làm, gi ảm nghèo và

giảm nghèo bền vững, giải quyết những vấn đề xã hội tạo nhận thức cao và thống

nhất trong Đảng. Trên cơ sở đó, tiến hành quán triệt các nghị quyết, quyết định của

tỉnh ủy trong các tổ chức của HTCT từ tỉnh đến cơ sở và trong nhân dân.

Việc quán triệt nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về những vấn đề nêu trên

được đổi mới một bước ở phần lớn các tỉnh. Trong nhiều cuộc học tập, quán triệt

nghị quyết trong cán bộ chủ chốt tỉnh và ở một số cấp ủy trực thuộc đã có một số

báo cáo thực tiễn để minh họa; các cấp ủy, tổ chức đảng đều xây dựng và thông qua

chương trình hành động thực hiện nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy; ban tuyên

giáo tỉnh ủy thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết,

trong phối hợp với các cơ quan văn hóa, thông tin đại chúng trong tuyên truyền nghị

quyết của tỉnh ủy.

Các cấp ủy trực thuộc, nhất là các cấp ủy cấp huyện đã tăng cường lãnh đạo,

chỉ đạo việc học tập, quán triệt nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn hóa,

xã hội gắn với thực hiện CBXH trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

89

trong các cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở xã, phường, thị trấn và trong các đoàn thể

chính trị - xã hội cơ sở. Phần lớn cấp ủy cơ sở đã chỉ đạo tổ chức quán triệt trong

nhân dân những chủ trương, giải pháp liên quan trực tiếp đến đời sống vật chất, tinh

thần của người dân trong các cuộc họp thôn, xóm, tổ dân phố...

Thứ ba, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH thông qua b ộ máy các cơ quan

nhà nước ở địa phương.

Các tỉnh ủy đều nhận thức rõ, trong điều kiện thực hiện KTTT định hướng

XHCN nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng có vai trò đặc biệt

quan trọng trong thực hiện CBXH nên đã tập trung lãnh đạo phát huy mạnh mẽ vai

trò của chính quyền địa phương, nhất là chính quyền tỉnh trong thực hiện CBXH.

Sau khi các ngh ị quyết, quyết định, chương trình của tỉnh ủy về phát triển

kinh tế, văn hóa, xã hội được ban hành các tỉnh uỷ đã chỉ đạo HĐND tỉnh cụ thể

hoá các ngh ị quy ết, quy ết định, ch ương trình đó thành các d ự th ảo ngh ị quy ết,

chương trình, đề án công tác c ủa HĐND. Ban thường vụ, thường trực tỉnh ủy đã

cho ý kiến về những vấn đề trọng tâm liên quan trực tiếp đến việc thực hiện CBXH,

định hướng thảo luận và ban hành các nghị quyết của HĐND tỉnh trong các kỳ họp

HĐND; chỉ đạo UBND xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện các nghị quyết,

quyết định, chương trình phát tri ển kinh tế, văn hóa, xã h ội, bảo đảm quyền của

người dân trong các ho ạt động chính trị, xã hội; thực hiện chức năng quản lý nhà

nước về thực hiện CBXH, duy trì vi ệc chấp hành Hi ến pháp, pháp lu ật, các quy

định của địa phương, tạo môi trường pháp lý lành mạnh cho KTTT phát triển trên

địa bàn, xử lý kịp thời, nghiêm minh cá nhân, tập thể vi phạm pháp luật trong các

hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, các hoạt động nhân đạo, từ thiện, cứu

trợ khắc phục hậu quả thiên tai, hoạn nạn, các chính sách xã hội, các hoạt động đền

ơn, đáp nghĩa... làm tổn hại đến CBXH.

Thứ tư, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH thông qua các tổ chức đảng và đội

ngũ đảng viên, nhất là các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan,

ngành liên quan trực tiếp đến việc thực hiện CBXH.

Ban thường vụ tỉnh ủy đã lãnh đạo ban cán sự đảng chính quyền tỉnh thực

hiện chức năng, nhiệm vụ đạt kết quả trong lãnh đạo hoạt động của HĐND tỉnh về

90

thảo lu ận, ra ngh ị quy ết, xây d ựng và quy ết định ch ương trình ho ạt động của

HĐND tỉnh; lãnh đạo, chỉ đạo UBND tỉnh xây dựng chương trình, kế hoạch, các đề

án thực hiện nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo

đảm quyền chính trị của người dân; phát hiện và xử lý các sai phạm trong hoạt động

kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo thuận lợi để CBXH được thực hiện đạt kết quả. Nhiều

ban cán sự đảng chính quyền tỉnh đã duy trì thành nền nếp hàng quý, 6 tháng, 9

tháng, năm, việc chỉ đạo UBND tỉnh chuẩn bị báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ

kinh tế, văn hóa, xã hội, QPAN liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người dân.

Ban thường vụ tỉnh ủy ở nhiều tỉnh đã duy trì đều đặn chế độ ban cán s ự

đảng chính quyền báo cáo về tình hình tố cáo và tiến độ giải quyết các vụ án trọng

điểm xâm hại tài sản công, quyền lợi người dân, cản trở lớn việc thực hiện CBXH.

Các tỉnh ủy luôn tăng cường lãnh đạo các tổ chức đảng và đảng viên ho ạt động

trong các ngành, lĩnh vực liên quan trực tiếp đến thực hiện CBXH, như: giải quyết

các th ủ tục về sản xu ất, kinh doanh, v ăn hóa, giáo d ục, đào tạo, y tế, lao động,

thương binh, xã hội... Các tỉnh ủy đặc biệt coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy

trực thuộc về lãnh đạo nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức

đảng; nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, phát huy vai trò tiên phong,

gương mẫu của đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần thiết thực

thực hiện CBXH.

Thứ năm, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH qua công tác tổ chức, cán bộ của

HTCT tỉnh, coi trọng công tác tổ chức, cán bộ trong chính quyền tỉnh.

Các tỉnh ủy đã tiến hành sắp xếp, kiện toàn hệ thống tổ chức của đảng từ tỉnh

đến cơ sở và đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động. Các tỉnh ủy đã tập trung lãnh

đạo nâng cao chất lượng cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy, nhất là cấp ủy cấp huyện; cấp ủy

trong chính quyền tỉnh, ban cán sự đảng chính quyền tỉnh; cấp ủy ở khối MTTQ và

các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh, đảng đoàn ở khối này; nâng cao chất lượng các

cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy và những cơ quan liên quan trực tiếp đến việc

giải quyết yêu cầu của dân, doanh nghiệp, đến thực hiện CBXH như giáo dục, y tế,

lao động, thương binh, xã hội, các cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo của dân và

cơ quan tiếp dân; thành lập mới ban nội chính, ban kinh tế tỉnh ủy.

91

Các tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng các đảng ủy

xã, phường, thị trấn; sắp xếp, kiện toàn các chi bộ, các ban quản lý thôn, xóm, các

tổ công tác MTTQ, chi hội đoàn thể; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho

việc thành lập và hoạt động các tổ chức xã hội; ở nhiều tỉnh đã triển khai khá rộng

rãi việc thành lập chi bộ cơ quan xã, gồm đảng viên làm việc tại cơ quan xã... Các

tỉnh ủy đã lãnh đạo sắp xếp kiện toàn các chi bộ tổ dân phố, hợp nhất một số chi

bộ thành một chi bộ, bảo đảm sự đồng bộ về tổ ch ức đảng và các chi h ội của

HTCT cơ sở.

Thứ sáu, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH thông qua việc phát huy vai trò

của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đồng thời tổ chức các

phong trào hành động cách mạng của nhân dân thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội,

nhân đạo, từ thiện ở địa phương.

Các tỉnh ủy tập trung lãnh đạo các t ổ ch ức này phát động, duy trì các

phong rào hành động cách mạng th ực hiện các ngh ị quy ết, quyết định, ch ương

trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, các quyền lợi của nhân dân, các hoạt động

nhân đạo, từ thiện... Ở nhiều tỉnh, thường trực tỉnh ủy đã duy trì thành nền nếp ba

tháng một lần tỉnh ủy làm việc với đảng đoàn khối MTTQ, đoàn thể tỉnh và làm

việc với cán bộ chủ chốt của các tổ chức này về tình hình ho ạt động; lắng nghe

những khó kh ăn, vướng mắc và nh ững đề xuất để có ch ủ trương, giải pháp gi ải

quyết kịp thời; chỉ đạo rà soát, bổ sung quy chế hoạt động của từng tổ chức và quy

chế ph ối hợp gi ữa đảng đoàn kh ối MTTQ, đoàn th ể tỉnh với ban cán s ự đảng

chính quyền tỉnh trong hoạt động nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế -

xã hội và thực hiện CBXH.

Nhiều tỉnh ủy đã chỉ đạo chặt chẽ việc hướng dẫn MTTQ, đoàn thể chính trị

- xã hội về công tác giám sát và ph ản biện xã hội đối với hoạt động của cấp ủy,

chính quyền, cán bộ, công chức, tập trung lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ

sở, thực hiện tốt phương châm: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Qua đó,

phát huy vai trò, trách nhi ệm của MTTQ, đoàn thể - chính tr ị - xã h ội trong thực

hiện CBXH tại cơ sở.

92

Thứ bảy, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng nêu cao hành động gương

mẫu của cán bộ, đảng viên và phong cách làm vi ệc của tỉnh ủy theo hướng khoa

học, năng động và hiệu quả.

Các cấp ủy đã coi trọng lãnh đạo việc nêu cao tính ti ền phong, gương mẫu

của cán bộ, đảng viên trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và

thực hiện CBXH. Trong đó, tập trung chỉ đạo các cấp ủy bám chắc vào chức trách,

nhiệm vụ của đảng viên là những cán bộ công chức, đảng viên hoạt động ở nông

thôn, phường, thị trấn phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu trong thực hiện chức

trách, nhiệm vụ được giao kết hợp với thực hiện CBXH trên địa bàn, lĩnh vực hoạt

động của từng đảng viên.

Việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của tỉnh uỷ luôn được coi trọng;

phong cách làm việc theo kiểu thủ công, chuộng hình thức, "phép vua thua lệ làng",

chạy theo thành tích ở một số cấp ủy viên đã được hạn ch ế một bước khá lớn.

Phong cách lề lối làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát th ực tiễn, gắn bó với nhân

dân, lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhân dân, làm việc có chương trình, kế hoạch,

có trọng tâm, trọng điểm, từng công việc có cán bộ phụ trách và chịu trách nhiệm,

coi trọng tổng kết thực tiễn... đã được xây dựng, chiếm ưu thế trong hoạt động lãnh

đạo nói chung và trong lãnh đạo thực hiện CBXH nói riêng của nhiều tỉnh ủy và các

tỉnh ủy viên.

Thứ tám, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng công tác kiểm tra, giám sát

các tổ chức đảng và đảng viên thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH.

Việc kiểm tra, giám sát các cấp ủy, cán bộ, đảng viên về thực hiện các nghị

quyết, quyết định, chương trình công tác của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn hóa,

xã hội, thực hiện các quyền của nhân dân trong hoạt động chính trị - xã hội và thực

hiện CBXH được các tỉnh ủy quan tâm, đạt kết quả quan trọng. Các tỉnh ủy đã tập

trung kiểm tra, giám sát các cấp ủy trực thuộc, nhất là cấp ủy cấp huyện và đảng

viên là cán bộ diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý về những hoạt động này và kiểm

tra dấu hiệu vi phạm CBXH.

Hình thức và ph ương pháp ki ểm tra, giám sát đã được đổi mới một bước.

Ngoài việc kiểm tra tr ực tiếp, gián tiếp, nhiều tỉnh ủy đã coi tr ọng kiểm tra theo

93

chuyên đề về thực hiện những vấn đề liên quan trực tiếp đến CBXH. Việc phối hợp

giữa ủy ban kiểm tra tỉnh ủy với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác kiểm

tra, giám sát đã được nhiều tỉnh ủy lãnh đạo đạt kết quả.

3.2.1.2. Những khuyết điểm, hạn chế

* Về nội dung lãnh đạo

Một là, các tỉnh ủy chưa có nhi ều chủ trương, giải pháp đem lại hiệu quả

cao trong lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp

luật của Nhà nước về thực hiện CBXH; còn thi ếu các ngh ị quyết chuyên đề về

thực hiện CBXH.

Phần lớn các tỉnh ủy chưa có nhiều chủ trương, giải pháp ngăn chặn có hiệu

quả việc vi phạm Luật tài nguyên, môi trường, quyền sở hữu trí tuệ. Tình trạng làm

hàng giả, "hàng nhái", "tín dụng đen", khai thác quá mức tài nguyên, khoáng sản

gây ô nhiễm môi trường diễn ra ở hầu hết các tỉnh, có nơi nghiêm trọng. Nhiều tỉnh

ủy chưa tập trung cao độ và còn nhiều lúng túng trong lãnh đạo tạo môi trường pháp

lý thuận tiện để KTTT phát tri ển, cạnh tranh lành mạnh. Việc lãnh đạo thực hiện

các quyền của người dân do Hi ến pháp, pháp luật quy định có lúc còn ch ưa chặt

chẽ, sâu sát, kết quả thấp. Các tỉnh ủy chưa có các ngh ị quyết chuyên đề về thực

hiện CBXH.

Việc lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở chưa thật chặt chẽ, thành

nền nếp; một cấp ủy chưa quan tâm lãnh đạo việc lấy phiếu tín nhi ệm các ch ức

danh cán bộ do nhân dân bầu, tình trạng cục bộ, phe nhóm, tranh thủ phiếu vẫn còn

xảy ra. Việc phản biện xã hội, giám sát của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội

hầu như chưa được các cấp ủy quan tâm lãnh đạo quyết liệt. Các tỉnh ủy còn lúng

túng trong tìm các giải pháp khả thi nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, khoa

học và công ngh ệ, quản lý các ho ạt động văn hóa, tôn giáo, tín ng ưỡng và ng ăn

chặn các ho ạt động lợi dụng lễ hội, tôn giáo, tín ng ưỡng vì mục đích riêng; lúng

túng trong lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội về giáo dục đào tạo; quản lý, giám

sát các hoạt động y tế tư nhân, ngăn chặn các tiêu cực trong ngành y tế và hoạt động

nhân đạo, từ thiện, khắc phục hậu quả thiên tai, rủi ro, hỗ trợ những người yếu thế...

94

Hai là, các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan nhà nước ở địa phương tổ

chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về thực hiện CBXH

còn yếu kém, bất cập.

Sự yếu kém, bất cập nêu trên thường được thể hiện ở việc các cấp ủy lãnh

đạo, chỉ đạo các cơ quan chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ phát triển

kinh tế - xã hội chưa thường xuyên gắn chặt với thực hiện CBXH. Một số chương

trình, kế hoạch đề án về phát triển kinh tế - xã hội của chính quyền chưa coi trọng

giải quyết những vấn đề xã hội và thực hiện CBXH, khi triển khai thực hiện đã nảy

sinh những vấn đề phức tạp gây khó khăn không nhỏ cho việc thực hiện CBXH.

Ba là, xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ chuyên trách trong th ực hiện nh ững vấn đề xã hội và th ực hiện

CBXH ở nhiều địa phương còn lúng túng và bất cập.

Tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên trách thực hiện những vấn đề về chính

sách xã hội ở các tỉnh tuy đã được các cấp ủy lãnh đạo sắp xếp, kiện toàn, song

nhìn chung còn ch ưa khoa học, còn ch ồng chéo về chức năng nhiệm vụ, nhất là

các bộ phận của cơ quan làm nhiệm vụ lao động, thương binh, xã hội với các cơ

quan làm nhiệm vụ y tế, giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể thao... Chất

lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan này nhìn chung còn th ấp, lại

chưa được bồi dưỡng về chuyên môn, nghi ệp vụ về th ực hi ện CBXH. Vì v ậy,

trong thực thi công vụ thường xảy ra tình trạng cán bộ, công chức thực hiện chức

trách, nhiệm vụ của mình nhưng chưa đặt trong quan hệ với việc thực hiện CBXH

trong lĩnh vực đó.

Bốn là, lãnh đạo phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước với các đoàn

thể chính trị - xã hội và các lực lượng trong thực hiện CBXH chưa được coi trọng

và còn lúng túng.

Sự lãnh đạo của các cấp ủy về sự phối hợp giữa chính quyền cùng cấp với

MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp, các thành phần kinh tế,

các tổ chức xã hội ở địa phương trong thực hiện CBXH còn lúng túng. Ở nhiều nơi

chưa có quy chế phối hợp một cách cụ thể, rõ ràng giữa các tổ chức này trong thực

hiện CBXH. Việc phản biện xã hội, giám sát của MTTQ và các tổ chức chính trị -

95

xã hội hầu như chưa được các cấp ủy thường xuyên quan tâm lãnh đạo. Khá nhiều

nơi ở các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ninh, Hưng Yên chưa triển khai xây

dựng, tổ chức quán triệt và hướng dẫn thực hiện quy chế phối hợp giữa chính quyền

cùng cấp với MTTQ, các đoàn thể trong thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở

địa phương.

* Về phương thức lãnh đạo

Một là, các tỉnh ủy chưa ban hành nghị quyết chuyên đề về thực hiện CBXH

trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Nhìn chung, các tỉnh ủy chưa xây dựng và ban hành nghị quyết tổng thể về

thực hiện CBXH. Các ch ủ trương, quan điểm, giải pháp về thực hiện CBXH ch ủ

yếu thể hiện ở những quan điểm, giải pháp chung trong nghị quyết đại hội đảng bộ

tỉnh các nhiệm kỳ. Việc cụ thể hóa, triển khai thực hiện những quan điểm, giải pháp

chung về CBXH chủ yếu được thể hiện trong các nghị quyết về phát triển kinh tế,

xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa, xã hội, HTCT... trong các

nhiệm kỳ.

Chất lượng khá nhi ều nghị quyết, quyết định về phát tri ển kinh tế, xã hội,

giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa, xã hội, HTCT... còn hạn chế; còn

tình trạng ban hành nhiều nghị quyết, quyết định; một số nghị quyết, quyết định về

các lĩnh vực này, chưa thật sự gắn kết với việc thực hiện CBXH. Việc xây dựng các

nghị quyết của tỉnh ủy có nh ững điểm, những khâu chưa được chuẩn bị chu đáo,

nhất là khâu điều tra, kh ảo sát thực tiễn, thu th ập thông tin và x ử lý thông tin để

hình thành các dự thảo nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy. Chất lượng nhiều bản dự

thảo nghị quyết, quyết định còn thấp, nhất là các giải pháp thực hiện. Việc tổ chức

lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức đảng, các tổ chức trong HTCT và nhân dân về

các dự thảo nghị quyết có lúc, có nơi còn hình th ức. Việc tuyên truyền, vận động

nhân dân thực hiện CBXH chưa được coi trọng.

Hai là, trong lãnh đạo thực hiện CBXH các tỉnh ủy chưa phát huy đầy đủ sức

mạnh của công tác vận động, tuyên truyền, thuyết phục các lực lượng xã hội thực

hiện chủ trương, nghị quyết của tỉnh ủy.

96

Lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật

của Nhà nước, nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH tỉnh ủy phải tuyên truy ền, vận

động, thuyết phục các cấp ủy trực thuộc, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã

hội, các lực lượng xã hội thấu suốt các chủ trương, nghị quyết và biến thành hành

động thực tiễn. Tuy nhiên, thời gian qua các tỉnh ủy còn biểu hiện tính hành chính

trong công việc này, chưa thật sự coi trọng và phát huy đầy đủ sức mạnh của công

tác tư tưởng trong lãnh đạo thực hiện CBXH. Chất lượng học tập, quán triệt nghị

quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giải quyết việc

làm, giảm nghèo và gi ảm nghèo bền vững, giải quyết những vấn đề xã hội, nhìn

chung còn thấp, có biểu hiện qua loa. Thời gian dành cho việc học tập, quán triệt

các nghị quyết, quyết định ở nhiều nơi có xu hướng giảm dần từ tỉnh xuống cơ sở.

Ở phần lớn các chi bộ trực thuộc đảng ủy xã, phường, thị trấn việc học tập,

quán triệt nghị quyết của quận, huyện ủy về những vấn đề nêu trên được triển khai

một cách hình thức trong thời gian rất ngắn. Việc chỉ đạo của một số ban tuyên giáo

cấp ủy đối với phương tiện truyền thông trong tuyên truy ền, phổ biến nghị quyết

của tỉnh ủy, huyện uỷ về những vấn đề nêu trên có lúc còn nghèo về nội dung, đơn

điệu về hình thức.

Khá nhiều tổ ch ức đảng khi học tập, quán tri ệt nghị quy ết của tỉnh ủy về

những vấn đề nêu trên chưa thảo luận, xây dựng và thông qua ch ương trình hành

động thực hiện nghị quyết. Ở nhiều nơi, tuy đã quan tâm đến công việc này, song

chương trình hành động còn chung chung, chưa có các biện pháp đột phá và chưa

thật gắn chặt với điều kiện cụ thể của địa phương.

Ba là, sự lãnh đạo, chỉ đạo của nhiều tỉnh ủy đối với chính quyền tỉnh trong

thực hiện CBXH có lúc ch ưa cụ thể, sâu sát, nhất là về quản lý nhà nước đối với

các hoạt động ở địa phương và ngăn chặn, đẩy lùi các tiêu cực, cản trở việc thực

hiện CBXH.

Tỉnh ủy lãnh đạo các c ơ quan nhà n ước ở địa ph ương th ể ch ế hóa ch ủ

trương, nghị quyết lãnh đạo thực hiện CBXH của tỉnh ủy trong thời gian qua còn

những hạn chế như: chính quyền tỉnh cụ thể hoá các nghị quyết, quyết định của tỉnh

ủy về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, các chương trình giải quyết việc làm, giảm

97

nghèo và giảm nghèo bền vững, giải quyết những vấn đề xã hội, thực hiện Quy chế

dân chủ ở cơ sở... có lúc, có nơi còn chưa kịp thời.

Quy trình lãnh đạo chung là sau khi tỉnh ủy xây dựng, thảo luận quyết định

và ban hành các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn hóa, xã

hội; các chương trình giải quyết việc làm, giảm nghèo; giải quyết những vấn đề xã

hội; thực hiện các quyền của người dân... tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền tỉnh

tiến hành thể chế hóa các nghị quyết, quyết định đó thành nghị quyết, chương trình,

kế ho ạch về mặt Nhà nước. Bởi vậy, thời gian từ khi xây d ựng, ban hành ngh ị

quyết, quyết định của tỉnh ủy về những vấn đề nêu trên đến khi được chính quyền

tỉnh cụ thể hóa và triển khai thực hiện trong toàn dân là khá dài. Song vấn đề ở chỗ,

việc thể chế hóa nhiều khi chưa sát với điều kiện cụ thể của địa phương, khó thực

hiện. Chương trình, kế hoạch của chính quyền tuy toàn diện nhưng thiếu biện pháp

đột phá vào nh ững khâu khó, vi ệc khó. Không ít ch ương trình, nghị quyết chậm

được triển khai thực hiện, việc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm chưa được coi trọng.

Việc lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh ủy đối với chính quyền tỉnh trong thực hiện

chức năng quản lý nhà nước về thực hiện CBXH ở nhiều nơi còn lúng túng. Sự lãnh

đạo của tỉnh ủy đối với chính quyền tỉnh và chính quy ền các cấp về xử lý, ng ăn

chặn, loại trừ các hoạt động trái pháp luật, tổn hại đến kinh tế, xã hội, vi phạm dân

chủ, gây khó khăn cho việc thực hiện CBXH có lúc, có nơi chưa kịp thời, nghiêm

minh làm giảm kết quả thực hiện CBXH.

Nhiều tỉnh ủy còn hạn chế, bất cập trong lãnh đạo các cơ quan tư pháp. Việc

điều tra, truy tố, xét xử của một số cơ quan tư pháp địa phương còn sai sót, lọt tội

phạm, gây oan sai gây nên dư luận xấu. Vai trò của cán cân công lý trong bảo đảm

CBXH thể hiện qua cơ quan công quyền ở khá nhiều nơi mờ nhạt và suy giảm.

Bốn là, nhiều tỉnh ủy chưa chỉ đạo chặt chẽ các cấp ủy về phát huy vai trò

của cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, nhất là các tổ chức đảng và đảng

viên hoạt động trong các c ơ quan, ngành liên quan tr ực tiếp đến vi ệc th ực hi ện

CBXH trong lãnh đạo thực hiện CBXH.

Việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng và đảng viên trong

thực hiện CBXH của các tỉnh ủy và nhiều cấp ủy, nhìn chung còn chưa mạnh mẽ.

98

Vai trò, trách nhiệm của đa số các tổ chức đảng và đảng viên ở các chi bộ, đảng bộ

xã, ph ường, th ị tr ấn ch ưa được phát huy m ạnh và th ể hi ện rõ trong th ực hi ện

CBXH trên địa bàn. Nhiều tổ chức đảng chưa lãnh đạo có hiệu quả việc phát triển

kinh tế, văn hóa, xã hội và ngăn chặn, đẩy lùi những tiêu cực, tệ nạn xã hội trên

địa bàn, gây khó kh ăn, phức tạp cho vi ệc thực hiện CBXH và làm gi ảm kết quả

thực hiện CBXH.

Nhiều đảng viên chưa tích cực và chưa thể hiện rõ vai trò tiên phong, gương

mẫu trong thực hiện CBXH, khá nhiều đảng viên không có việc làm, gia đình còn

nghèo, việc học hành của con cái họ và vi ệc chữa bệnh còn gặp nhiều khó kh ăn,

đang rất cần được tạo thuận lợi để cải thiện, thu hẹp khoảng cách về cuộc sống với

nhiều gia đình khác tại địa phương.

Năm là, công tác tổ chức, cán bộ bảo đảm sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với

thực hiện CBXH, nhất là trong chính quyền tỉnh còn khá nhiều hạn chế, bất cập.

Việc kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền, MTTQ và

các đoàn thể chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ quan còn nhiều yếu kém, bất cập và

lúng túng. Ch ức năng, nhi ệm vụ của các c ơ quan trong chính quy ền tỉnh còn

những điểm chưa cụ thể rõ ràng, còn có điểm chồng chéo. Chất lượng cán bộ đoàn

thể, nhất là ở cấp xã còn thấp, chưa thực hiện tốt chức năng bảo vệ quyền lợi của

đoàn viên, hội viên.

Công tác cán bộ của các tỉnh ủy còn nhiều yếu kém và chậm đổi mới. Chất

lượng quy ho ạch cán bộ, nhìn chung còn th ấp, chưa quy ho ạch được cán bộ lãnh

đạo quản lý từ hai nhiệm kỳ trở lên, nhất là cán bộ của các cơ quan chính quyền tỉnh

liên quan trực tiếp đến thực hiện CBXH. Bên cạnh đó là tình tr ạng lơi lỏng trong

quản lý cán bộ, trong quy hoạch và lúng túng trong quản lý cán bộ đương chức hoạt

động trong các lĩnh vực, đơn vị liên quan trực tiếp đến thực hiện CBXH. Việc bồi

dưỡng cập nhật kiến thức và nâng cao trình độ cho cán bộ chưa thường xuyên, nhất

là những cán bộ, công chức hoạt động trong các ngành, lĩnh vực liên quan trực tiếp

đến thực hiện CBXH.

Sáu là, vai trò của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội, xã hội, xã hội -

nghề nghiệp ở nhiều nơi trong phát động, duy trì các phong trào hành động cách

99

mạng thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, nhân đạo, từ thiện... chưa được cấp ủy

phát huy mạnh mẽ và thường xuyên.

Nhiều tỉnh ủy và các c ấp ủy trực thuộc, cấp ủy cơ sở còn lúng túng trong

lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể chính tr ị - xã h ội trong phát động, duy trì các

phong trào hành động cách mạng thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, nhân đạo, từ

thiện..., nhất là về nội dung các phong trào hành động cách mạng và việc duy trì các

phong trào. Một số cấp ủy chưa thực sự quan tâm tạo điều kiện cần thiết để các tổ

chức này hoạt động có hiệu quả, thực sự là cơ quan đại diện và bảo vệ quyền, lợi

ích hợp pháp của đoàn viên, hội viên.

Nhìn chung, hoạt động giám sát của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội

đối với thực hiện CBXH của cấp ủy, chính quyền còn mang nặng tính hình th ức.

Việc phản biện xã hội của các tổ chức này đối với thực hiện CBXH của cấp ủy,

chính quyền còn rất hạn chế, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giải

quyết đơn thư của dân, th ực hiện giải phóng mặt bằng, tiến độ triển khai các d ự

án..., nhiều vấn đề không được giám sát.

Bảy là, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên nhìn chung chưa được thể hiện

thường xuyên trong thực hiện CBXH; phong cách, lề lối làm việc của nhiều tỉnh ủy

trong lãnh đạo thực hiện CBXH chưa được đổi mới mạnh mẽ.

Tính tiên phong, gương mẫu của một bộ phận không nh ỏ đảng viên trong

hoạt động ở địa phương và trong th ực hiện CBXH ch ưa thể hiện rõ. Phong cách

lãnh đạo, lề lối làm việc nói chung, phong cách lãnh đạo, lề lối làm việc trong lãnh

đạo thực hiện CBXH của một số tỉnh ủy chưa được đổi mới mạnh mẽ. Phong cách

lãnh đạo, lề lối làm vi ệc của một số tỉnh ủy viên còn ch ịu ảnh hưởng của phong

cách lãnh đạo thực hiện CBXH trong cơ chế hành chính, tập trung, bao cấp, còn có

biểu hiện hình thức, bệnh thành tích.

Việc tập trung chỉ đạo giải quyết những vấn đề nảy sinh trong nhân dân liên

quan đến CBXH và vi phạm CBXH của một số cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy và cán bộ

đứng đầu các sở ban ngành tỉnh còn chưa kịp thời, dứt điểm gây bức xúc trong nhân

dân ở một số địa phương.

100

Tám là, công tác kiểm tra, giám sát của tỉnh ủy đối với các tổ chức đảng và

đảng viên về thực hiện CBXH còn yếu, chất lượng chưa cao, chưa triển khai các

cuộc kiểm tra chuyên đề.

Công tác kiểm tra, giám sát của các tỉnh ủy đối với các cấp ủy trực thuộc

trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về CBXH có

lúc, có nơi chưa thường xuyên và có biểu hiện lúng túng trong công tác giám sát. Vì

thế, một số khuyết điểm, sai sót của một số tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, trong

đó có những vi phạm về CBXH chưa được phát hiện, ngăn chặn ngay từ khi mới

manh nha. Công tác ki ểm tra của một số tỉnh ủy về thực hiện những nghị quyết,

quyết định về thực hiện CBXH, kiểm tra dấu hiệu vi phạm CBXH còn hạn chế. Khá

nhiều vi ph ạm về CBXH do nhân dân, báo chí phát hi ện, các cơ quan ch ức năng

mới tiến hành điều tra, xử lý.

Công tác kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy cấp huyện và nhiều cấp ủy cơ

sở đối với các tổ chức đảng trong cơ quan chính quyền cùng cấp về lãnh đạo thực

hiện CBXH còn chưa kịp thời, thậm chí nhiều nơi còn buông lỏng dẫn đến những vi

phạm. Đã có những vi phạm trái đạo lý, ảnh hưởng không tốt đến quan điểm, chủ

trương đúng đắn của Đảng, chính sách của Nhà nước về thực hiện CBXH, nh ư:

biển thủ trợ cấp người có công, bớt xén chế độ trợ cấp những gia đình chịu thảm

họa thiên tai, hoạn nan... Song, công tác kiểm tra của nhiều cấp ủy chậm phát hiện

và xử lý.

Ở một tỉnh phía Bắc ĐBSH, ngày 13/8/2015 Cơ quan Cảnh sát điều tra (Bộ

Công an) đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội Cố ý làm trái quy định của

Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng tại hai Dự án BT (xây dựng-

chuyển giao), gồm Dự án xây dựng khu quảng trường, công viên tỉnh và Dự án cầu

- đường trên địa bàn tỉnh từ năm 2011 đến năm 2013 [37, tr.3]. Kênh truyền hình

ANTT.VN (truyền hình An ninh), ngày 16/4/2015 đưa tin: "Theo kết luận thanh tra

việc thực hiện pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống

tham nhũng đối với tỉnh Hà Nam cho bi ết, đã phát hiện và xử lý 11 cán b ộ, đảng

viên ở tỉnh có vi phạm liên quan đến các vụ việc tham nhũng". Vụ đường dây "ăn

101

đất" ở thành phố Hải Dương rất phức tạp, tinh vi được Thủ tướng Chính phủ chỉ

đạo khởi tố [68, tr.4].

3.2.2. Nguyên nhân và kinh nghiệm

3.2.2.1. Nguyên nhân

* Nguyên nhân của ưu điểm

Một là, thành tựu to lớn và có ý ngh ĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đẩy

mạnh CNH, HĐH đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và kết quả đổi mới ở các

tỉnh ĐBSH tạo tiền đề và cơ sở vững chắc để các tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH

đạt kết quả.

Thành tựu của 30 năm đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và

kết quả đổi mới ở các tỉnh ĐBSH dưới sự lãnh đạo của các tỉnh ủy tạo thuận lợi lớn

để các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả. Thành tựu và kết quả

ấy, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy, cổ vũ các tỉnh ủy, đảng bộ và nhân dân ở các

tỉnh ĐBSH vươn lên mạnh mẽ giải quyết ngày càng hi ệu quả hơn việc phát triển

kinh tế - xã hội, giải quyết những vấn đề xã hội và thực hiện có kết quả CBXH.

Hai là, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các tỉnh ĐBSH được bảo

đảm, đời sống của tuyệt đại cư dân ngày càng được nâng cao, nhân dân tin tưởng

vào sự lãnh đạo của Đảng, của tỉnh ủy, các cấp ủy, đã tích cực tham gia các hoạt

động xã hội và thực hiện CBXH thông qua các đoàn thể chính trị - xã hội và các tổ

chức xã hội.

An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các tỉnh ĐBSH được bảo đảm là

nhân tố đặc biệt quan trọng để huy động mọi nguồn lực vào phát triển kinh tế, nâng

cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và giải quyết những vấn đề xã hội.

Từ đó, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo công cuộc đổi mới của Đảng, trước

hết là sự lãnh đạo của tỉnh ủy, các cấp ủy ngày càng được củng cố, nâng cao; nhân

dân tích cực tham gia vào thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, của tỉnh ủy

về phát tri ển kinh tế - xã h ội và th ực hiện CBXH bằng các ho ạt động xã hội do

MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội tại địa phương.

Ba là, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng được các tỉnh ủy coi trọng,

thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện trong toàn đảng bộ tỉnh đạt kết quả quan

102

trọng, năng lực lãnh đạo của các cấp ủy, nhất là tỉnh ủy đối với thực hiện CBXH

ngày càng được nâng lên.

Các tỉnh ủy đã coi tr ọng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đạt kết quả cuộc vận

động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, năng lực lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội nói

chung và lãnh đạo thực hiện CBXH nói riêng của các cấp ủy, nhất là tỉnh ủy, chất

lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ngành, các

cấp ngày càng được nâng lên, th ể hiện ngày càng rõ h ơn trong lãnh đạo, tổ chức

thực hiện CBXH tại địa phương.

Bốn là, sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân,

do dân và vì dân được triển khai liên tục, rộng khắp ở các tỉnh ĐBSH đạt kết quả

đáng khích lệ, năng lực triển khai thực hiện và quản lý nhà nước các hoạt động thực

hiện CBXH được nâng lên.

Các tỉnh ủy ở ĐBSH đã tăng cường lãnh đạo xây d ựng nhà n ước pháp

quyền Việt Nam XHCN c ủa dân, do dân và vì dân trên địa bàn tỉnh trong điều

kiện thực hiện KTTT định hướng XHCN từng bước đạt kết quả. Chính quyền từ

tỉnh đến cơ sở từng bước được xây dựng theo yêu cầu mới, dần dần thích ứng với

nền KTTT ở nước ta. Năng lực, trình độ triển khai thực hiện có kết quả các nhiệm

vụ phát triển kinh tế - xã h ội, quản lý nhà nước các ho ạt động này nói chung, tổ

chức và quản lý nhà nước việc thực hiện CBXH nói riêng của chính quyền các cấp

được nâng lên. Đây là nhân tố rất quan trọng để thực hiện CBXH ở các tỉnh đúng

đắn, hiệu quả.

Năm là, các nghị quyết, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về phát

triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quyền công dân, quyền con người tạo cơ sở

chính trị, pháp lý để các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả.

Đảng đã ban hành các nghị quyết về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo

đảm quyền công dân, Chính phủ đã xây dựng và triển khai các chương trình quốc

gia về: phát triển kinh tế, tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn

mới; xã hội hóa giáo dục, y tế; phòng chống tham nhũng; cải cách hành chính...; các

chính sách đúng đắn về giải quyết những vấn đề xã hội như... đền ơn, đáp nghĩa, hỗ

trợ khắc phục hậu quả thiên tai, hoạn nạn, trợ cấp những người yếu thế... Đây là cơ

103

sở chính trị, pháp lý để các tỉnh ủy đề ra các nghị quyết, quyết định, chương trình

phát triển kinh tế - xã h ội đúng đắn tổ chức thực hiện thắng lợi và lãnh đạo thực

hiện CBXH đạt kết quả.

* Nguyên nhân của những khuyết điểm, hạn chế

Thứ nhất, năng lực và kinh nghi ệm lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều

kiện hiện nay của các tỉnh ủy và cán bộ chủ chốt các cấp, năng lực tham mưu của

các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy còn nhiều hạn chế, bất cập.

Các tỉnh ủy viên hầu như chưa được đào tạo, bồi dưỡng một cách cơ bản, hệ

thống về th ực hiện CBXH trong điều kiện thực hiện KTTT định hướng XHCN.

Kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện công việc này của các tỉnh ủy, cán bộ chủ chốt các

cấp trong tỉnh còn chưa nhiều, nên họ khó tránh khỏi lúng túng và sai sót. Cạnh đó,

năng lực và kinh nghiệm của phần lớn cơ quan, cán bộ tham mưu của tỉnh ủy về

tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều

kiện hiện nay còn rất hạn chế.

Thứ hai, nhiều cấp ủy cấp huyện và cấp ủy xã, phường, thị trấn chưa thường

xuyên quan tâm và còn bất cập trong lãnh đạo nâng cao năng lực quản lý nhà nước

của chính quyền cùng cấp đối với mọi hoạt động trên địa bàn, nhất là ngăn chặn các

hoạt động làm phương hại đến thực hiện CBXH.

Những yếu kém và bất cập nêu trên xảy ra khá ph ổ biến ở các địa phương

của các tỉnh ở ĐBSH, nhất là sự bất cập của một số cấp ủy cấp huyện và nhiều cấp

ủy cấp xã trong lãnh đạo nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nhà nước của chính

quyền cùng cấp đối với mọi hoạt động trên địa bàn; việc ngăn chặn chưa kịp thời

các hoạt động làm ph ương hại đến thực hiện CBXH ở địa phương làm cho vi ệc

lãnh đạo thực hiện CBXH khó khăn phức tạp thêm, thậm chí còn phủ định kết quả

thực hiện CBXH đã đạt được.

Thứ ba, sự lãnh đạo, chỉ đạo của các tỉnh ủy đối với cải cách hành chính, cải

cách tư pháp còn chậm chạp, chưa quyết liệt, chưa đạt yêu cầu.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo của các tỉnh ủy đối với cải cách hành chính nhà nước

chậm chạp, kết quả hạn chế nên nhiều thủ tục hành chính còn rườm rà, gây phiền hà

và hạn chế việc thu hút các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm đầu tư phát triển kinh tế

104

- xã hội ở địa phương và góp phần thực hiện CBXH. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của các

tỉnh ủy đối với cải cách tư pháp còn chậm, kết quả chưa cao làm cho nhiều cơ quan

tư pháp địa phương không thể hiện rõ vai trò là cán cân công lý ở địa phương, cơ

quan công quyền bảo đảm CBXH, thậm chí có cơ quan, có vụ việc gây oan sai làm

tăng bất CBXH.

Thứ tư, một số tỉnh ủy, cấp ủy cấp huyện chưa đổi mới mạnh mẽ sự lãnh đạo

đối với MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội; các cấp ủy cấp xã còn nhiều lúng

túng trong lãnh đạo các tổ chức này và hầu như chưa quan tâm lãnh đạo hoạt động

của các tổ chức xã hội trên địa bàn.

Tình hình nêu trên là một nhân tố chủ yếu của tình trạng chất lượng tham gia

vào thực hiện CBXH trên địa bàn của MTTQ, các đoàn thể chính tr ị - xã h ội ở

nhiều nơi thấp. Đáng quan tâm là, phần lớn cấp ủy xã, phường, thị trấn chưa quan

tâm lãnh đạo về nội dung hoạt động của các tổ chức xã hội có biểu hiện khoán trắng

công việc này cho chi ủy, chi bộ thôn, xóm, tổ dân phố nên vai trò của các tổ chức

này trong th ực hiện CBXH mờ nh ạt, ảnh hưởng đến kết quả lãnh đạo thực hiện

CBXH của tỉnh ủy.

Thứ năm, sự suy thoái kinh tế thế giới và trong nước những năm qua, những

yếu kém trong ch ống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm ở các tỉnh, sự tác động

mạnh của mặt trái KTTT.

Sự suy thoái kinh t ế thế giới và trong n ước những năm qua tác động rất

lớn đến phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh ĐBSH làm cho kinh tế - xã hội phát

triển chậm gây khó kh ăn lớn cho thực hiện CBXH. Cạnh đó là việc chống tham

nhũng, lãng phí, l ợi ích nhóm trong m ột bộ ph ận cán b ộ, đảng viên còn nhi ều

yếu kém, chưa đạt yêu cầu đề ra; chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách cơ bản

sẽ còn cản tr ở, gây khó kh ăn lớn cho vi ệc thực hiện CBXH, th ậm chí còn h ủy

hoại thành tựu CBXH ở địa phương. Mặt trái KTTT tác động mạnh ở các tỉnh

làm gia tăng và phức tạp hơn những vấn đề xã hội, gây khó khăn và phức tạp cho

việc thực hiện CBXH.

Thứ sáu, Đảng, các cấp ủy, trong đó có tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH

trong điều kiện hiện nay ở nước ta là vấn đề mới và khó; nhiều vấn đề chưa được

105

làm sáng tỏ về lý luận; một số chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế - xã hội

có điểm chưa cụ thể, phù hợp.

Những nhân tố nêu trên tạo nên nh ững khó kh ăn trong ban hành các ngh ị

quyết của tỉnh ủy về lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH. Khá

nhiều chính sách công chất lượng thấp khi ban hành gây bức xúc trong nhân dân và

dư luận, nhất là trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, giao thông, y tế, bảo hiểm xã hội,

vệ sinh an toàn thực phẩm, quyền lợi và trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân, tập thể

đối với môi trường, xã hội v.v..

3.2.2.2. Những kinh nghiệm

Một là, các tỉnh uỷ quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương, chính sách lớn

của Đảng và Nhà nước về tiến bộ, CBXH, trên cơ sở đó kịp thời đề ra nghị quyết và

tổ ch ức th ực hiện nghị quy ết về phát tri ển kinh tế - xã h ội đáp ứng yêu cầu về

CBXH ở địa phương trong từng bước phát triển.

Trong thời gian qua, nhiều tỉnh ủy ở ĐBSH đã quán triệt sâu sắc quan điểm

của Đảng: "Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng

chính sách phát triển" [24, tr.101] trong mọi hoạt động của mình, nhất là trong xây

dựng, ban hành các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội. Trong từng bước thực

hiện các nghị quyết ấy, tỉnh ủy lãnh đạo kết hợp chặt chẽ với việc lãnh đạo cụ thể

hóa và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và với việc thực hiện CBXH thì kinh tế -

xã hội phát triển, thực hiện CBXH ngày càng đạt kết quả cao hơn và vững chắc.

Hai là, các tỉnh ủy tập trung lãnh đạo chính quy ền tỉnh tổ chức thực hiện

thắng lợi chủ trương, nghị quyết của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH; phối hợp chặt chẽ

với lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể

chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội tham gia vào thực hiện CBXH ở địa phương.

Từ thực tiễn ở ĐBSH thấy rằng, tỉnh ủy tập trung lãnh đạo xây dựng, nâng

cao chất lượng chính quyền từ tỉnh đến cơ sở vững mạnh, trong đó, coi trọng lãnh

đạo cải cách hành chính, c ải cách tư pháp, xây d ựng chính quy ền các cấp vững

mạnh thực sự của dân, do dân và vì dân trong mọi hoạt động và thực hiện CBXH tại

địa phương, góp phần rất lớn vào kết quả lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy.

Đồng thời, tỉnh ủy kết hợp chặt chẽ hoạt động này với lãnh đạo đổi mới nội dung,

106

phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã

hội, hướng vào phát động, duy trì các phong trào hành động cách mạng, nhân đạo,

từ thiện, đem lại lợi ích thiết thực cho hội viên... Thông qua các tổ chức này nhân

dân thực hiện việc giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của các cơ quan

nhà nước ở địa phương là nhân tố rất quan trọng để CBXH được thực hiện tốt hơn.

Ba là, bám sát thực tiễn, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về CBXH

để có ch ủ tr ương, giải pháp phát tri ển kinh tế - xã h ội đúng đắn nhằm đáp ứng

những yêu cầu thực hiện CBXH ở địa phương.

Trong thực hiện CBXH, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc phân

phối công bằng và ch ỉ rõ: "Không s ợ thiếu, chỉ sợ không công b ằng; Không sợ

nghèo chỉ sợ lòng dân không yên [63, tr.185]. Ng ười nhấn mạnh việc phân ph ối

theo lao động: "Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ

cũng công điểm như nhau. Đó là chủ nghĩa bình quân. Phải tránh chủ nghĩa bình

quân" [61, tr.410].

Trong điều kiện thực hiện KTTT hi ện nay nhi ều cấp ủy ở ĐBSH đã nhận

thức và vận dụng tốt tư tưởng nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xác định

chủ trương, những quy định ưu đãi cá nhân, tổ chức huy động mọi nguồn lực để

phát triển sản xuất, kinh doanh hiệu quả như vay vốn, thuê mặt bằng... Sự ưu đãi đó,

tùy theo đóng góp của họ cho xã hội, không ưu đãi bình quân. Nhiều chủ thể sản

xuất, kinh doanh được thụ hưởng thỏa đáng thành quả của họ theo sự đóng góp cho

xã hội. Ở các địa phương ngày càng nhiều người giàu có chính đáng. Những người

này lại đóng góp tích cực về mọi mặt để thực hiện CBXH ở địa phương.

Bốn là, dựa chắc vào nhân dân, động viên nhân dân phát hiện những cán bộ,

đảng viên, tổ chức vi phạm quyền dân chủ, tham nhũng, lãng phí để xử lý kịp thời,

nghiêm minh.

Các tỉnh ủy ở ĐBSH đã nhận thức sâu sắc vai trò của nhân dân trong mọi

hoạt động ở địa phương, đặc biệt là trong phát hi ện những cán bộ, đảng viên, tổ

chức vi phạm quyền dân chủ, tham nhũng, lãng phí. Trên cơ sở đó, các cấp ủy trong

tỉnh đã dựa chắc vào nhân dân để tiến hành công việc này, đồng thời xử lý kịp thời,

nghiêm minh những cán bộ, đảng viên, tổ chức vi ph ạm tạo thuận lợi để tỉnh ủy

lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả.

107

Tiểu kết chương 3

Trong những năm qua các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH đạt

kết qu ả quan tr ọng bước đầu, góp ph ần to l ớn vào thành t ựu đổi mới của địa

phương. Tuy nhiên, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với thực hiện CBXH vẫn còn

nhiều hạn chế, yếu kém và bất cập, đáng quan tâm là: chưa có nhiều chủ trương,

giải pháp đem lại hiệu quả cao về lãnh đạo thực hiện CBXH; nhi ều tỉnh ủy còn

hạn chế trong lãnh đạo chính quyền tỉnh thực hiện CBXH; vai trò của MTTQ và

các đoàn thể chính tr ị - xã h ội, chưa được phát huy m ạnh mẽ và th ường xuyên

trong thực hiện CBXH...

Những hạn chế, yếu kém nêu trên do các nguyên nhân chủ yếu, như: các tỉnh

ủy chưa ban hành nghị quyết chuyên đề về thực hiện CBXH; năng lực, trình độ và

kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều kiện hiện nay của các tỉnh ủy còn

nhiều hạn chế; chưa quan tâm phát huy mạnh mẽ vai trò của MTTQ, các đoàn thể

chính trị - xã h ội, các tổ chức xã hội trong th ực hiện CBXH; lãnh đạo thực hiện

CBXH trong điều kiện hiện nay ở nước ta là vấn đề mới và khó; nhiều vấn đề chưa

được làm sáng tỏ về lý lu ận; một số chính sách của Đảng và Nhà nước có điểm

chưa cụ thể, phù hợp.

108

Chương 4

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG

CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG

HỒNG ĐỐI VỚI THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2025

4.1. DỰ BÁO NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG TĂNG

CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐỐI

VỚI THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI

4.1.1. Dự báo những nhân tố tác động

4.1.1.1. Những nhân tố thuận lợi

Một là, uy tín của Đảng, Nhà nước ta trên tr ường quốc tế ngày càng được

nâng cao, nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với quốc tế, tiềm năng, thế mạnh

của các tỉnh ĐBSH.

Những yếu tố nêu trên tạo thuận lợi lớn cho KTTT định hướng XHCN ở

nước ta phát triển mạnh mẽ hơn. Bên cạnh đó, nước ta đã chính thức trở thành một

thành viên của Tổ ch ức th ương mại th ế gi ới (WTO) và c ủa Hi ệp định Đối tác

chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đây là những nhân tố rất thuận lợi cho

KTTT định hướng XHCN ở nước ta nói chung và ở các tỉnh ĐBSH nói riêng phát

triển mạnh mẽ hơn, tạo thuận lợi để các tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết

quả lớn hơn.

Các tỉnh ở ĐBSH có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển kinh tế, văn

hóa, xã hội, gồm: đất đai màu mỡ, tài nguyên đa dạng, phong phú, nhiều làng nghề

truyền thống sản xuất những sản phẩm có giá trị; trình độ dân trí vào lo ại cao, có

điều kiện thuận lợi để phát triển giáo dục - đào tạo, y tế; giao thông thuận lợi, liên

thông với thị trường trong nước, khu vực và thế giới; nhân dân cần cù, chịu khó,

sáng tạo; các loại thị trường đã từng bước được hình thành; chính trị ổn định... Đây

là nhân tố rất quan trọng thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, kinh tế ở các tỉnh

sẽ phát triển với tốc độ cao hơn, tạo thuận lợi để thực hiện tốt hơn CBXH.

Hai là, các nghị quyết của Đảng, các ch ương trình qu ốc gia về phát tri ển

kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quyền dân chủ của người dân và Nghị quyết Đại

hội XII của Đảng sẽ được triển khai thực hiện mạnh mẽ.

109

Các nghị quyết của Đảng, các ch ương trình quốc gia về phát triển kinh tế,

văn hóa, xã hội, bảo đảm quyền dân chủ của người dân đã được ban hành và triển

khai thực hiện trong những năm qua, sẽ tiếp tục được triển khai mạnh mẽ hơn, đem

lại kết quả cao hơn trong nh ững năm tới. Đặc biệt, Nghị quy ết Đại hội XII của

Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội sẽ được Đại hội thông qua với những

nội dung mới sẽ được triển khai thực hiện, tạo nên sự phát triển mới về mọi mặt ở

các tỉnh ĐBSH. Các khu công nghiệp trọng điểm của các tỉnh đã được xây dựng

hoàn chỉnh, hiện đại sẽ phát huy vai trò trong những năm tới. Việc chuyển dịch cơ

cấu kinh tế của các tỉnh đúng hướng, đang đi vào ổn định và phát huy tác dụng góp

phần quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh.

Ba là, việc sửa đổi các văn bản pháp luật, xây dựng các luật mới theo Hiến

pháp năm 2013 đang tiến hành khẩn trương.

Các văn bản pháp luật sẽ được sửa đổi, bổ sung, các luật mới được ban hành

theo Hiến pháp sửa đổi, sẽ có các quy định mới về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã

hội về chính quyền các cấp, quyền công dân... Đây là cơ sở pháp lý để chính quyền

các cấp ở ĐBSH thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong quản lý nhà nước

mọi hoạt động ở địa phương và thực hiện CBXH.

Bốn là, các tỉnh ủy, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội đã

tích lũy được những kinh nghiệm bước đầu về thực hiện CBXH.

Quá trình lãnh đạo thực hiện CBXH trong nh ững năm qua, các tỉnh ủy và

các cấp ủy đảng đã tích lũy được những kinh nghiệm bổ ích; chính quyền, MTTQ

và các đoàn thể chính trị - xã hội đã tích lũy được một số kinh nghiệm bước đầu về

tham gia thực hiện CBXH. Nh ững kinh nghiệm này sẽ được vận dụng phát huy

trong những năm tới để CBXH đạt kết quả cao hơn. Các cấp ủy, tổ chức đảng ở các

tỉnh đã tổ chức thành công đại hội đảng cấp mình và đại hội đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ

2015-2020. Qua các đại hội, những ưu điểm, kết quả lãnh đạo mọi mặt của các cấp

ủy, tổ chức đảng đã được khẳng định và sẽ được phát huy, những khuyết điểm, hạn

chế đã được xem xét nghiêm túc và có các bi ện pháp khắc phục. Đặc biệt, những

quan điểm, chủ trương, giải pháp mới về phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

110

đã được đại hội quyết định và thông qua, trong đó có việc thực hiện CBXH. Đây là

cơ sở rất quan trọng để các tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả.

Năm là, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương bốn khóa XI và việc học tập,

làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ti ếp tục được duy trì thành n ền nếp

thường xuyên.

Nghị quyết Trung ương bốn, khóa XI, "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng

Đảng hiện nay" sẽ được các tỉnh ủy và các cấp ủy ở ĐBSH triển khai mạnh mẽ,

quyết liệt hơn và duy trì thành nền nếp thường xuyên với những giải pháp mới hơn

do Đại hội XII của Đảng thông qua, sẽ đạt kết quả lớn hơn. Việc “Học tập và làm

theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 03-CT/TW,

ngày 14-5-2011 về tiếp tục đẩy mạnh công việc này, sẽ được các cấp ủy ở ĐBSH

duy trì thành nền nếp thường xuyên. Trong đó, một nội dung rất quan trọng là quán

triệt, học tập và làm theo tấm gương vì nước, vì dân và tư tưởng của Người về thực

hiện CBXH sẽ tạo khí thế, chất lượng mới trong lãnh đạo thực hiện CBXH của các

tỉnh ủy.

4.1.1.2. Những khó khăn, thách thức

Thứ nhất, nhiều tác động tiêu cực từ mặt trái của KTTT ở vùng ĐBSH chưa

được hạn chế, ngăn chặn một cách hiệu quả, có mặt lại gia tăng gây thêm khó khăn

cho các tỉnh uỷ lãnh đạo thực hiện CBXH ở địa phương.

Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở các tỉnh sẽ phát triển mạnh mẽ hơn;

tăng trưởng kinh tế sẽ cao và nhanh chóng hơn, tạo ra những nguồn lực vật chất to

lớn đáp ứng các nhu cầu của xã hội, tạo thuận lợi và là nhân tố đặc biệt quan trọng

để các tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả. Tuy nhiên, nhiều tác động tiêu

cực của KTTT chưa được hạn chế, ngăn chặn một cách cơ bản, có mặt có xu hướng

gia tăng gây nên những khó khăn, thách thức rất lớn đối với việc lãnh đạo thực hiện

CBXH của các tỉnh ủy ở vùng này.

Tác động tiêu cực của KTTT gây nên sự phân hoá giàu, nghèo ngày càng sâu

sắc, khoảng cách thu nhập và hưởng thụ giữa người giàu và người nghèo ngày càng

có xu hướng tăng lên. Cạnh đó, là những bất công xã hội, sự suy thoái về đạo đức

xã hội ở các địa phương ngày càng ph ức tạp; sự cạnh tranh gay gắt vì lợi nhuận,

111

nhiều xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động kém hiệu quả, không đứng

vững trong KTTT sẽ bị phá sản, đông đảo người lao động lâm vào tình trạng thất

nghiệp. Bên cạnh đó, một bộ phận khác làm ăn phi đạo đức, phi pháp như buôn lậu,

trốn thuế, làm hàng gi ả; tình tr ạng tham nh ũng trong một số ng ười có ch ức, có

quyền lợi dụng chức quyền giàu lên nhanh chóng. Trong khi đó, lợi nhuận thu được

của những người, đơn vị sản xuất kinh doanh chính đáng thường kém xa nh ững

người, đơn vị làm ăn bất chính, dẫn đến những bất công, phi lý trong xã h ội, tác

động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Kinh tế thị trường còn gây nên những mất cân đối ngày càng lớn về sự phát

triển xã hội giữa các vùng trong tỉnh. Để tạo sự phát triển cao tài nguyên và nhân

lực thường được huy động một cách mạnh mẽ ở một số vùng và lĩnh vực có thuận

lợi để phát triển. Trong khi đó, ở một số vùng, lĩnh vực không có điều kiện thuận lợi

để thực hiện điều này, dẫn đến sự chênh lệch ngày càng xa về trình độ phát triển

giữa các vùng trong tỉnh, nhất là nông thôn với thành thị, vùng thuận lợi với vùng

khó khăn. Điều này, dẫn đến sự mất cân đối ngày càng lớn giữa các vùng trong tỉnh,

hình thành các vùng giàu có và vùng nghèo, gây phức tạp cho việc giải quyết những

vấn đề xã hội.

Bên cạnh đó, số người lao động không có việc làm hoặc có việc làm không

ổn định đa số là thanh niên ngày càng tăng. ĐBSH là nơi đất chật, người đông, bình

quân đất canh tác cho m ột người rất thấp, thu nh ập từ canh tác trên di ện tích đó

không đủ bảo đảm cuộc sống của gia đình. Bên cạnh đó khoa học kỹ thuật ngày

càng phát triển, thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại được áp dụng rộng rãi vào sản

xuất nông nghiệp, làm giảm rất lớn thời gian công sức sản xuất nông nghiệp, dẫn

đến số lao động dư thừa rất lớn. Tiểu thủ công nghiệp dịch vụ ở phần lớn các tỉnh

chưa phát triển mạnh, sức cạnh tranh của sản phẩm thấp, nhiều doanh nghiệp sản

xuất cầm chừng hoặc ngừng sản xuất, nhiều lao động, trong đó phần lớn là thanh

niên không có việc làm rơi vào cảnh thất nghiệp; một số sa vào các tệ nạn xã hội,

gây khó khăn và làm ph ức tạp thêm việc giải quyết những vấn đề xã hội. Những

nhân tố nêu trên đang gây khó kh ăn, thách th ức lớn đối với lãnh đạo th ực hiện

CBXH của các tỉnh ủy vùng ĐBSH những năm tới đây.

112

Thứ hai, những bất cập cũ trong lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh uỷ

trên lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội chưa giải quyết tốt, lại xuất hiện

những bất cập mới cần phải giải quyết tiếp như:

Một là, bất cập thực hiện CBXH trong giáo dục và đào tạo. Do điều kiện

kinh tế từng gia đình ở nông thôn và cả các thành phố, thị xã trong vùng ĐBSH còn

khó khăn nên nhiều trẻ em không được học ở các trường có chất lượng cao, thậm

chí một số không được đi học. Hiện tại, còn có sự chênh lệch đáng kể về chất lượng

cơ sở vật chất, trang thi ết bị ph ục vụ dạy và học giữa các tr ường trong một địa

phương và giữa các trường ở thành phố, thị xã với các trường ở nông thôn. Đã có

một số cháu ở nông thôn thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng với điểm số cao

nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn đã không thực hiện được quyền học tập đạt

trình độ cao của mình.

Hai là, bất cập thực hiện CBXH trong hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghệ

thuật, các dịch vụ chăm sóc y tế, bảo hiểm xã hội. Về nguyên tắc, mọi người trong

độ tuổi lao động, tham gia lao động đều có quyền được bảo hiểm xã hội. Song, hiện

tại mới chỉ có nh ững người lao động trong thành ph ần kinh tế nhà nước, các cơ

quan hành chính, sự nghiệp được bảo hiểm xã hội, phần rất lớn những người làm

việc trong thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chưa được

chủ các doanh nghiệp mua bảo hiểm xã hội cho họ, gây bất bình đẳng trong những

người lao động khi hết tuổi lao động.

Ba là, bất cập thực hiện CBXH về giới, tuổi nghỉ hưu đối với cán bộ, công

chức, viên chức, công nhân. Các chủ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân

thường không muốn nhận lao động nữ vào làm việc trong doanh nghiệp của họ, gây

thêm bất CBXH mới về giới. Chế độ nghỉ hưu đối với cán bộ, công nhân, viên chức

cũng có những bất CBXH mới. Mặc dù là cán bộ, công chức, công nhân, viên chức

hưởng lương từ ngân sách nhà nước, song nhiều người không có điều kiện đáp ứng

yêu cầu cao của cơ quan, đơn vị, buộc phải nghỉ hưu sớm. Qua nhiều đợt giảm biên

chế đã "đẩy" không ít cán b ộ, công ch ức, viên ch ức, công nhân ra ngoài xã h ội,

trong khi họ chưa được chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho cu ộc sống, nhiều

người lâm vào cảnh khó khăn, chật vật trong tìm cách mưu sinh.

113

Bốn là, bất cập thực hiện CBXH trong sản xuất, kinh doanh. Nhiều chủ thể

sản xuất kinh doanh chưa thực sự bình đẳng với các chủ thể khác, nhất là với những

doanh nghiệp là “sân sau” của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý. Thành phần kinh tế

tư nhân trên nhiều mặt còn chưa thực sự bình đẳng với các thành phần kinh tế khác,

nhất là trong việc vay vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.

Năm là, b ất cập thực hiện CBXH gi ữa những chủ thể hưởng lợi từ khai

thác và sử dụng tài nguyên gây ô nhi ễm môi tr ường, môi sinh v ới đa số những

người chịu hậu quả từ quá trình khai thác ấy. Trên thực tế, đã xảy ra tình tr ạng

khai thác tài nguyên vì l ợi ích chung nh ưng đầu tư trở lại kh ắc phục ô nhi ễm

môi trường không được chú ý tho ả đáng, người dân phải chịu thảm họa. Người

dân Hà Nam ph ải chịu thảm họa ô nhiễm môi tr ường do nước thải không được

xử lý ở Hà N ội xả ra sông Đáy. Nhi ều ng ười dân ở gần các khu công nghi ệp

của Vĩnh Phúc, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên ph ải chịu thảm họa ô nhiễm

môi trường do các khu công nghi ệp ở địa phương gây nên... Bên c ạnh đó là bất

CBXH trong đền bù vật chất khi gi ải phóng mặt bằng. Điều này th ường xảy ra

ở những vùng giáp ranh gi ữa thành ph ố, thị xã và nông thôn khi đền bù về giải

phóng mặt bằng. Tiêu bi ểu là mức đền bù cho m ột đơn vị diện tích gi ải phóng

mặt bằng vùng giáp ranh gi ữa các huyện của tỉnh Vĩnh Phúc với các huyện của

Hà Nội.

Thứ ba, trình độ mọi mặt và năng lực công tác của nhiều tỉnh ủy viên, đội

ngũ cán bộ chủ chốt các cấp của các tỉnh còn nhiều hạn chế, bất cập, nhất là trình

độ, kinh nghiệm lãnh đạo, điều hành thực hiện CBXH.

Nhìn chung, nhiều tỉnh ủy viên, đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp chưa được

đào tạo, bồi dưỡng một cách cơ bản và thường xuyên cập nhật kiến thức về CBXH

trong điều kiện thực hiện KTTT định hướng XHCN. Bởi vậy, họ lúng túng trong

lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện CBXH. Trình độ năng lực công tác của cấp ủy và đội

ngũ cán bộ chủ chốt HTCT xã, phường, thị trấn - những người trực tiếp lãnh đạo,

điều hành, tổ chức thực hiện các ngh ị quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát triển

kinh tế, văn hóa, xã hội và thực hiện CBXH ở cơ sở - còn rất hạn chế.

114

Thứ tư, cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm, tội phạm,

tệ nạn xã hội ở các tỉnh ĐBSH diễn biến phức tạp, chưa có nhiều dấu hiệu cải thiện.

Cùng với sự hỗ tr ợ của Đảng và Nhà n ước, các t ỉnh ủy, chính quy ền ở

ĐBSH đã coi trọng phòng, chống và loại trừ những tệ nạn nêu trên và tai nạn giao

thông, song chưa đạt kết quả mong muốn và còn diễn biến rất phức tạp. Ở nhiều địa

phương tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm, tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao

thông chưa có biểu hiện suy giảm, ở một số nơi có xu hướng gia tăng. Đây là gánh

nặng và thách th ức rất lớn đối với sự lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy

vùng này trong những năm tới.

Thứ năm, thảm họa thiên tai, nh ất là th ảm họa của biến đổi khí hậu có xu

hướng trầm trọng thêm; tai nạn giao thông chưa được ngăn chặn và giảm thiểu một

cách căn bản; việc ngăn chặn tình tr ạng mất vệ sinh an toàn th ực phẩm chưa có

chuyển biến quan trọng.

Tuy là vùng được thiên nhiên ưu đãi, song ĐBSH cũng chịu tác động mạnh

bởi hậu quả của giông bão, nh ất là th ảm họa của biến đổi khí hậu. Phần lớn các

trận bão ở biển Đông trực tiếp đổ vào các tỉnh ĐBSH. Bên cạnh đó là hậu quả của

biến đổi khí hậu, nước ta là một trong số ít nước chịu hậu quả nặng nề của biến

đổi khí hậu, trong đó ĐBSH và đồng bằng sông Cửu Long sẽ chịu hậu quả nặng

nề nhất. Tai nạn giao thông ở các tỉnh trong vùng chưa giảm thiểu, ở một số nơi có

xu hướng gia tăng; tình trạng mất vệ sinh, an toàn thực phẩm ngày càng tinh vi tác

động trực tiếp gây hậu quả đối với sức khỏe của mỗi người dân. "Con đường từ dạ

dày đến nghĩa địa chưa bao gi ờ ngắn như hiện nay", nh ư lời một đại biểu quốc

hội, không lo ại trừ người dân ở ĐBSH. Đây là thách th ức lớn về chăm sóc sức

khỏe, phòng chống, chữa bệnh của ngành y tế và lãnh đạo thực hiện CBXH của

các tỉnh ủy.

Thứ sáu, nhiều vấn đề lý lu ận về CBXH và v ề Đảng duy nh ất cầm quyền

lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều kiện phát triển KTTT định hướng XHCN và

hội nhập quốc tế chưa được làm sáng tỏ. Việc chậm trễ trong xây dựng, sửa đổi và

ban hành các văn bản pháp luật theo Hiến pháp 2013 nhằm cụ thể hoá quyền, nghĩa

115

vụ và lợi ích hợp pháp của công dân, của doanh nghiệp cũng góp phần tạo nên khó

khăn cho thực hiện CBXH.

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã đưa ra những luận điểm lý luận và

những chỉ dẫn tổng quát về CBXH và thực hiện CBXH trong CNXH, song chưa chỉ

rõ việc thực hiện CBXH trong mô hình CNXH cụ thể nào. Ở nước ta, Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã có nh ững chỉ dẫn quý báu về CBXH và th ực hiện CBXH trong mô

hình CNXH theo kiểu hành chính, tập trung, bao cấp, đồng thời thực hiện hai nhiệm

vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong th ời kỳ cách mạng trước đây. Đây là

những căn cứ rất quan trọng để các tỉnh ủy ở ĐBSH ban hành các nghị quyết, quyết

định lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả trong những năm tới.

Tuy nhiên, khá nhiều vấn đề về CBXH và Đảng duy nhất cầm quyền lãnh

đạo thực hiện CBXH trong điều kiện hiện nay chưa được làm sáng tỏ về lý lu ận.

Đây là khó khăn không nhỏ đối với các tỉnh ủy ở ĐBSH trong việc xây dựng các

nghị quyết, quyết định thực hiện CBXH ở địa phương và lãnh đạo tổ chức thực

hiện. Việc sửa đổi, xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật theo Hiến pháp sửa

đổi còn chậm, trong những năm tới chưa thể có nhiều văn bản pháp luật mới được

ban hành. Đây là những khó khăn thách thức đáng kể đối với các tỉnh ủy ở ĐBSH

trong lãnh đạo thực hiện CBXH.

4.1.2. Phương hướng

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ

sung, phát tri ển năm 2011) ch ỉ rõ: "Xây d ựng một cộng đồng xã hội văn minh,

trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đoàn kết, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền

lợi" [31, tr.80]. Văn kiện Đại hội XI của Đảng khẳng định: "Thực hiện có hiệu quả

tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính

sách phát triển" [31, tr.227]. Đồng thời, Văn kiện cũng xác định những vấn đề cần

tập trung lãnh đạo thực hiện tốt, bảo đảm cho CBXH được thực hiện đạt kết quả:

Tập trung gi ải quyết tốt chính sách lao động, việc làm, và thu nh ập...;

Bảo đảm an sinh xã hội....; Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân

dân và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức

khỏe bà mẹ, trẻ em...; Đấu tranh phòng, chống có hiệu quả tệ nạn xã hội,

tai nạn giao thông [31, tr.227-232].

116

Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: "Quản lý, phát triển xã hội; thực

hiện tiến bộ, công bằng xã hội" [34, tr.132]; "Giải quyết tốt lao động việc làm và thu

nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội... Coi trọng chăm sóc sức khỏe

nhân dân, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà

mẹ, trẻ em; xây dưng gia đình hạnh phúc..." [34, tr.136-138]. Trên cơ sở quan điểm

của Đảng, những vấn đề Đảng cần tập trung lãnh đạo thực hiện tốt để CBXH được

thực hiện đạt kết quả và từ điều kiện cụ thể của các tỉnh ở ĐBSH, phương hướng

tăng cường sự lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy trong những năm tới, gồm:

Tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với thực hiện CBXH trên cơ sở tăng

cường lãnh đạo phát tri ển KTTT định hướng XHCN trên địa bàn tỉnh, gắn tăng

trưởng kinh tế với thực hiện CBXH.

Nhân tố có tính quyết định và cũng là điều kiện cần thiết để tỉnh ủy lãnh đạo

thực hiện đạt kết quả CBXH là kinh tế của tỉnh phát triển bền vững. Song, thực tế

cho thấy không phải cứ có kinh tế phát triển là thực hiện có kết quả CBXH; các tỉnh

ủy lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả khi và chỉ khi các tỉnh ủy lãnh đạo phát

triển kinh tế gắn chặt với giải quyết những vấn đề xã hội, thực hiện CBXH.

Sẽ không đúng khi cho rằng, phải đợi đến khi tỉnh ủy lãnh đạo kinh tế đạt kết

quả cao và phát tri ển bền vững mới bắt tay vào lãnh đạo thực hiện CBXH. Một

trong những phương hướng chủ yếu của việc tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy

đối với thực hiện CBXH là t ỉnh ủy phải tiến hành ngay vi ệc lãnh đạo thực hiện

CBXH trên cơ sở kinh tế hiện tại của tỉnh. Đồng thời, trong quá trình lãnh đạo phát

triển kinh tế, qua mỗi bước phát triển, kinh tế lại là cơ sở để tỉnh ủy lãnh đạo thực

hiện CBXH đạt kết quả lớn hơn; mỗi bước tiến trong lãnh đạo thực hiện CBXH của

tỉnh ủy lại tác động thúc đẩy sự lãnh đạo phát triển kinh tế của tỉnh ủy đạt kết quả.

Trong những năm tới việc tăng cường sự lãnh đạo thực hiện CBXH của các

tỉnh ủy theo hướng nêu trên cần được nhận thức sâu sắc hơn. Cần tập trung vào

những trọng tâm như: nhận thức sâu sắc, thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách

phát triển KTTT định hướng XHCN ở nước ta gắn chặt với việc thực hiện CBXH;

nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, tạo thuận lợi cho nền KTTT

định hướng XHCN phát triển, trên cơ sở đó từng bước thực hiện tốt hơn CBXH;

117

phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh,

hướng các thành ph ần kinh tế và các tổ chức đó góp ph ần thực hiện CBXH; đẩy

mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, huy động các thành quả của

CNH, HĐH và của kinh tế tri thức tạo bước chuyển căn bản về kinh tế - xã hội và

thực hiện CBXH.

Nâng cao chất lượng các nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội,

giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc.

Tập trung vào đổi mới việc xây dựng và nâng cao chất lượng các nghị quyết

về phát triển kinh tế - xã h ội gắn chặt với thực hiện CBXH. Vi ệc xây dựng, ban

hành các nghị quyết đó, phải được tiến hành chu đáo, coi trọng điều tra, khảo sát

thực tiễn, thu thập, xử lý thông tin hình thành dự thảo, nghị quyết; bảo đảm dân chủ

trong xin ý kiến ban thường vụ tỉnh ủy, các cơ quan khoa học, các tổ chức đảng, các

tổ chức trong HTCT và nhân dân; trong thảo luận, quyết định của tỉnh ủy về nghị

quyết phát triển kinh tế - xã hội, gắn với thực hiện CBXH. Cùng với việc nâng cao

chất lượng các nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh ủy tập trung

xác định các chủ trương, giải pháp giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức

xúc, gồm:

Tạo việc làm, thu nhập: tập trung vào lãnh đạo tạo nhiều việc làm, bảo đảm

quyền được làm, việc đảm bảo đời sống, góp phần xây dựng đất nước của mọi công

dân, nhất là th ế hệ trẻ, nông dân đặc biệt là cho nông dân. Qua đó, làm tăng thu

nhập bảo đảm đời sống cho người dân. Chăm lo lãnh đạo bảo hộ lao động, cải thiện

điều kiện làm việc; hạn chế tai nạn lao động; xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi

phạm Luật lao động...

Bảo đảm an sinh xã hội: lãnh đạo thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, y

tế, thất nghiệp, cứu trợ xã hội, giảm nghèo, quan tâm đến những người yếu thế, thực

hiện tốt chính sách đối với những người và gia đình có công.

Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và công tác dân s ố, kế

hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em: tăng cường lãnh

đạo củng cố và nâng cao n ăng lực hệ thống y tế trong tỉnh, coi trọng củng cố và

118

hoàn thiện hệ thống y tế cơ sở; thực hiện tốt chính sách dân số, bảo vệ bà mẹ và trẻ

em, phát triển phong trào thể dục, thể thao đại chúng...

Tăng cường lãnh đạo đấu tranh, phòng chống có hiệu quả tệ nạn xã hội, tai

nạn giao thông. Đặc biệt, coi trọng lãnh đạo loại trừ các tệ nạn ma túy, mại dâm, lừa

đảo, trộm cắp và các tệ nạn xã hội khác trên địa bàn. Những tệ nạn này, đang là nỗi

lo thường nhật của nhiều gia đình và ng ười dân nơi đây, cản trở không nh ỏ việc

thực hiện có kết quả CBXH ở các tỉnh ĐBSH.

Tỉnh ủy tập trung lãnh đạo xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ chính

quyền từ tỉnh đến cơ sở, phát huy vai trò của chính quyền trong thực hiện CBXH.

Tập trung lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền từ tỉnh đến cơ sở,

coi trọng hơn việc lãnh đạo củng cố kiện toàn chính quyền tỉnh và chính quyền xã,

phường thị trấn để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ. Trong đó, đặc biệt coi trọng

lãnh đạo chính quyền tỉnh cụ thể hoá nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển kinh tế,

văn hóa, xã h ội và bảo đảm quyền dân ch ủ của nhân dân; xây d ựng các ch ương

trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện; thực hiện tốt chức năng quản lý mọi hoạt động

ở địa phương; tạo môi tr ường thuận lợi cho các thành ph ần kinh tế phát tri ển và

thực hiện tốt CBXH.

Chăm lo xây dựng, nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ, công ch ức, trong

các cơ quan chính quyền; tích cực phòng, chống tham nhũng, lãng phí gây phiền hà

cho nhân dân trong đội ngũ này, nhất là những cán bộ, công chức thường xuyên tiếp

xúc, giải quyết những yêu cầu của nhân dân, doanh nghiệp và hoạt động trong các

lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng...

Tăng cường lãnh đạo MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ

sở trong thực hiện CBXH

Tỉnh ủy coi trọng lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy và đổi mới nội dung,

phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở;

bảo đảm cho các tổ chức này thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, hoạt động có hiệu

quả trong vận động đoàn viên, hội viên tham gia các chương trình phát triển kinh tế,

văn hóa, xã hội và là lực lượng nòng cốt trong các hoạt động xã hội, từ thiện. Tùy

theo quy mô, tính chất và nội dung hoạt động của các tổ chức xã hội ở địa phương,

119

tỉnh ủy phân cấp một cách hợp lý cho các c ấp ủy trong tỉnh về việc định hướng

chính trị cho các tổ chức này hoạt động có hiệu quả, hướng vào thực hiện CBXH.

4.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO

CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐỐI VỚI THỰC HIỆN CÔNG

BẰNG XÃ HỘI

4.2.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, cán bộ,

đảng viên về thực hiện công bằng xã hội

Công bằng xã hội có vai trò r ất to lớn đối với sự phát tri ển mọi mặt của

các tỉnh ở ĐBSH. Song, vai trò to lớn ấy, chỉ được thể hiện rõ và khẳng định bởi

việc thực hiện tốt CBXH ở từng tỉnh. Việc thực hiện tốt CBXH ở các địa phương

lại được quyết định bởi sự lãnh đạo đúng đắn và được tăng cường của tỉnh ủy.

Để đạt được điều này, cần nâng cao nh ận thức, trách nhi ệm của cấp ủy, các tổ

chức đảng, cán bộ, đảng viên về tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với

thực hiện CBXH.

Các cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tỉnh, nhất là cấp ủy cấp huyện

và cấp ủy cấp xã cần có nhận thức đúng quan điểm của Đảng về CBXH trong điều

kiện thực hiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay; vai trò của CBXH ở

các tỉnh; sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với việc thực hiện

CBXH ở địa phương... Để có nhận thức đúng về lãnh đạo thực hiện CBXH các cấp

ủy viên và cán bộ, đảng viên cần:

Một là, đổi mới, nâng chất lượng việc học tập, quán triệt đường lối, các nghị

quyết của Đảng, các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn

hóa, xã hội, bảo đảm quyền dân chủ của người dân.

Quan điểm nhất quán của Đảng về thực hiện CBXH ở nước ta trong điều

kiện thực hiện KTTT định hướng XHCN hiện nay là thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát tri ển; không ch ỉ phân ph ối

theo lao động, mà còn phân phối theo tài năng và sự cống hiến cho xã hội; CBXH

không có nghĩa là bình quân, cào bằng... CBXH trong điều kiện hiện nay ở nước ta

không chỉ thể hiện trong lĩnh vực phân ph ối sản phẩm xã hội, mà còn trong quá

trình sản xuất kinh doanh, trong việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên

120

nhiên; trong bảo vệ môi trường sinh thái; trong việc sử dụng các nguồn lực (nguồn

vốn) của xã hội, trong các đối tượng chính sách, các vùng dân tộc miền núi, vùng

căn cứ cách mạng, trong xoá đói giảm nghèo... Cần nhận thức sâu sắc và vận dụng

tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện CBXH ở nước ta: không sợ thiếu, chỉ sợ không

công bằng; CBXH phải được đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh tế, trên cơ sở

phát triển kinh tế tiến hành giải quyết những vấn đề xã hội... Thực hiện CBXH là

trách nhiệm của Đảng, HTCT và toàn xã hội...

Đổi mới, nâng cao chất lượng việc học tập, quán triệt những vấn đề nêu trên,

cần được tiến hành trong toàn đảng bộ tỉnh, trước hết trong các cấp ủy trực thuộc

tỉnh ủy, nhất là cấp ủy cấp huyện, coi trọng quán triệt trong các cấp ủy tổ chức đảng

xã, phường, thị trấn, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt từ tỉnh đến cơ sở.

Tiến hành công việc này theo hướng: tổ chức hợp lý các lớp học tập, quán

triệt nghị quyết cho từng loại đối tượng cán bộ; tổ chức lớp học riêng cho các cấp

ủy trực thuộc tỉnh ủy, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện ban thường vụ

tỉnh ủy quản lý và đội ngũ cán bộ cấp huyện; cấp ủy cấp huyện tổ chức các cuộc

học tập, quán triệt nghị quyết cho cán bộ chủ chốt cơ sở; có các báo cáo thực tế để

minh họa; coi trọng xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết của tỉnh

ủy về phát triển kinh tế, văn hóa, xã h ội, bảo đảm quyền dân ch ủ của nhân dân;

nâng cao chất lượng thảo luận về nội dung nghị quyết và về chương trình hành động

thực hiện nghị quyết.

Hai là, đưa nội dung của các nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn

hóa, xã hội về quyền dân chủ của nhân dân, về thực hiện CBXH vào nội dung sinh

hoạt cấp ủy các cấp, thảo luận nghiêm túc.

Tỉnh ủy chỉ đạo các cấp ủy đảng đưa những nội dung trong các nghị quyết

nêu trên vào các cuộc sinh hoạt cấp ủy, tổ chức đảng một cách thích hợp gắn với

việc bàn bạc, thảo luận, quyết định các chủ trương, giải pháp về phát triển kinh tế -

xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng HTCT của địa phương, đơn vị. Tỉnh ủy, khi cần

thiết cần tổ chức các cuộc hội thảo về những vấn đề kinh tế - xã hội và thực hiện

CBXH trên địa bàn tỉnh. Trong đó, đặc biệt coi tr ọng việc chuẩn bị chu đáo nội

121

dung, chỉ đạo chặt chẽ, mở rộng dân chủ trong tranh lu ận, thảo luận và nâng cao

chất lượng các cuộc hội thảo.

Cấp ủy cấp huyện và đảng ủy xã, phường, thị trấn coi trọng chỉ đạo nâng cao

chất lượng sinh ho ạt chi bộ, đưa nội dung các ngh ị quyết của tỉnh ủy, huyện ủy,

đảng ủy xã về thực hiện CBXH vào sinh hoạt chi bộ, thảo luận nghiêm túc. Chỉ đạo

các chi bộ tăng cường sinh hoạt chi bộ theo chuyên đề về thực hiện các nghị quyết

về phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH.

Ba là, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan truyền thông

trong tỉnh.

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo về nội dung, đổi mới phương thức hoạt động

của các cơ quan này phù hợp với các tầng lớp nhân dân; tập trung vào việc tuyên

truyền các ch ủ tr ương, quan điểm của Đảng, Nhà nước về CBXH và th ực hi ện

CBXH, quan điểm, giải pháp của tỉnh ủy, cấp ủy địa phương, chính quyền tỉnh về

thực hiện CBXH; nêu g ương những điển hình tiên ti ến, phê phán nh ững khuyết

điểm, nh ững cá nhân, t ập th ể vi ph ạm chính sách, pháp lu ật, quy định của địa

phương, vi phạm CBXH; hướng dẫn những vấn đề cần thiết về chủ trương, chính

sách của Đảng, Nhà nước và của cấp ủy, chính quyền địa phương liên quan đến

việc thực hiện CBXH...

Nâng cao ch ất lượng trang website, bản tin của tỉnh ủy, chính quyền tỉnh,

đảm bảo đưa thông tin kịp thời đầy đủ, chính xác về tình hình hoạt động mọi mặt

của tỉnh, về thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH;

nâng cao tính định hướng chính tr ị và tính chi ến đấu của trang website tỉnh ủy,

chính quyền tỉnh. Đồng thời, tỉnh ủy cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong

các cơ quan truyền thông, tăng tính hấp dẫn, thiết thực của trang website tỉnh ủy,

chính quyền tỉnh, nhất là đối với thế hệ trẻ.

Có thể nghiên cứu, chỉ đạo việc mở chuyên mục về thực hiện CBXH trên các

phương tiện thông tin đại chúng của từng tỉnh. Biên soạn tài liệu, phát hành, phổ

biến rộng rãi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, biện pháp tổ chức thực

hiện của UBND tỉnh, tài liệu khoa học, tài liệu trao đổi kinh nghiệm cho cán bộ,

công chức về CBXH. Biên soạn, bổ sung chuyên đề thực hiện CBXH vào chương

122

trình bồi dưỡng cán bộ của các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị, thành phố

của các tỉnh.

Bốn là, cấp ủy viên, nhất là các tỉnh ủy viên, cấp ủy viên cấp ủy cấp huyện,

cấp xã, cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành xác định trách nhiệm của mình trong

thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH.

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cấp ủy viên từ tỉnh đến cơ sở, trách

nhiệm, quyền hạn của các ch ức danh cán bộ chủ chốt các cấp, các cơ quan tham

mưu của tỉnh ủy, nhất là ban tổ chức tỉnh ủy chỉ rõ trách nhiệm của các cấp ủy viên,

từng cán bộ trong thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn hóa, xã

hội, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân và thực hiện CBXH. Đồng thời, cấp ủy

xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị

đối với thực hiện CBXH ngay tại địa phương, đơn vị, địa bàn, lĩnh vực người đó

phụ trách. Trách nhiệm ấy, phải được thể hiện trong ch ương trình, kế hoạch hoạt

động của cá nhân cán bộ và cơ quan, đơn vị hằng quý, năm...

4.2.2. Đổi mới quá trình xây d ựng và t ổ ch ức th ực hi ện tốt một số

nghị quy ết chuyên đề của tỉnh uỷ về phát tri ển kinh t ế và th ực hi ện công

bằng xã hội

4.2.2.1. Đổi mới quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện tốt một số nghị

quyết chuyên đề của tỉnh uỷ về phát triển kinh tế tạo cơ sở vững chắc để thực

hiện công bằng xã hội

Kinh tế ở các tỉnh ĐBSH phát triển mạnh mẽ là nhân tố đặc biệt quan trọng,

là tiên đề, cơ sở để thực hiện có hiệu quả CBXH, song CBXH được thực hiện đạt

kết quả lại tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế ở các tỉnh. Các tỉnh ủy ở ĐBSH

cần nhận thức sâu sắc điều này, tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế đạt kết quả, tạo

cơ sở vững chắc để từng bước lãnh đạo thực hiện tốt CBXH. Cần tập trung vào

những vấn đề sau đây:

Một là, đổi mới quá trình xây d ựng và tổ ch ức thực hiện các ngh ị quy ết

chuyên đề của tỉnh ủy về phát triển kinh tế ở địa phương

Nghiên cứu, lựa chọn những vấn đề có tính chiến lược phù hợp với yêu cầu

phát triển kinh tế của tỉnh để ban hành một số nghị quyết chuyên đề về phát triển

123

kinh tế - xã hội trong suốt nhiệm kỳ. Xác định rõ những yêu cầu của nghị quyết về

phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách

và pháp luật của Nhà nước về phát triển KTTT định hướng XHCN, mở cửa, hội

nhập qu ốc tế. Nội dung các ngh ị quy ết có sự vận dụng đúng đắn các quy lu ật

KTTT, nhất là quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu trên địa bàn

tỉnh. Phát triển kinh tế địa phương phải gắn với giải quyết những vấn đề xã hội phù

hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và khả năng thực tế của tỉnh. Công tác tổng kết

thực tiễn, xây dựng căn cứ lý luận cho mỗi nghị quyết cần được chuẩn bị công phu,

nghiêm túc. Mỗi nghị quyết trước khi được thông qua phải được bàn bạc, thảo luận

một cách dân ch ủ, là sản phẩm trí tuệ tập thể của tỉnh uỷ, được đông đảo cán bộ,

đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Các dự thảo nghị quyết chuyên đề về phát

triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH cần được chuyển cho MTTQ và các đoàn

thể chính trị - xã hội góp ý, phản biện trước khi ban hành.

Nghiên cứu một cách sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng, nhất là

phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng;

phân tích một cách sâu sắc những thành tựu đã đạt được, những thiếu sót, khuyết

điểm trong lãnh đạo phát tri ển kinh t ế của tỉnh ủy th ời gian qua, nh ững kinh

nghiệm thành công và ch ưa thành công. Dự báo những nhân tố thuận lợi và khó

khăn tác động đến sự phát triển kinh tế của tỉnh trong nh ững năm tới; bám ch ắc

vào mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế đến năm 2020 do Đại hội Đảng bộ

tỉnh nhiệm kỳ 2015 - 2020 thông qua để xây dựng các nghị quyết của tỉnh ủy về

phát triển kinh tế. Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Đảng về xây dựng và

ban hành nghị quyết.

Hai là, xác định đúng các ngành, lĩnh vực kinh tế quan trọng và chọn những

vấn đề xã hội trọng yếu để tập trung lãnh đạo.

Những vấn đề trọng tâm, ngành, lĩnh vực kinh tế quan tr ọng và vi ệc chọn

những vấn đề xã hội trọng yếu của từng tỉnh có nhiều điểm khác nhau, tỉnh ủy cần

tập trung xác định chính xác những vấn đề này. Chẳng hạn, ở tỉnh Nam Định, có thể

là kinh tế nông nghi ệp, kinh tế biển, công nghiệp; vấn đề xã hội trọng yếu là tạo

việc làm, giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp, phòng chống một số tệ nạn xã hội... Ở

124

tỉnh Vĩnh Phúc có thể là kinh tế công nghiệp, du lịch, dịch vụ, đồi rừng..; vấn đề xã

hội trọng yếu là chống ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường sinh thái... Ở tỉnh

Quảng Ninh, có thể là kinh tế công nghiệp, kinh tế biển, rừng, du lịch, dịch vụ; vấn

đề xã hội trọng yếu là phòng chống rủi ro, ô nhiễm môi trường, chủ yếu từ khai thác

than, phòng chống các tệ nạn xã hội, buôn lậu...

Lãnh đạo việc rà soát tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế của tỉnh, bổ sung

những nội dung mới theo quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát

triển kinh tế và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 trong Văn

kiện Đại hội XII của Đảng.

Ba là, tỉnh ủy lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương phù hợp

với sự chuyển dịch kinh tế vùng của Trung ương; chỉ đạo chặt chẽ quá trình chuyển

dịch cơ cấu kinh tế của các huy ện, thị xã, thành ph ố sao cho phù hợp với cơ cấu

kinh tế tổng thể của tỉnh.

Để có cơ cấu kinh tế hợp lý bảo đảm cho kinh tế địa phương phát triển ổn

định, bền vững các tỉnh ủy phải từng bước lãnh đạo có kết quả việc chuyển dịch cơ

cấu kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang cơ cấu kinh tế lấy công nghiệp,

xây dựng, dịch vụ làm chủ đạo. Trên cơ sở cơ cấu kinh tế tổng thể của tỉnh được các

đại hội đảng bộ tỉnh xác định, tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế

các huyện, thị xã, thành phố đồng bộ với cơ cấu kinh tế của tỉnh. Tiến hành công

việc này, cần coi trọng phát huy tiềm năng, thế mạnh để phát triển thành phần, lĩnh

vực, ngành kinh tế theo hướng chung là giảm dần tỷ trọng kinh tế nông nghiệp, tăng

dần tỷ trọng kinh tế công nghiệp, dịch vụ, du lịch...

Tỉnh ủy tập trung lãnh đạo điều tiết đầu tư, ưu tiên cho những huyện, vùng

khó khăn, chậm phát triển và cho các ngành kinh tế mũi nhọn. Đồng thời, các tỉnh

ủy tăng cường lãnh đạo việc sắp xếp, kiện toàn, nâng cao chất lượng các cơ sở đào

tạo nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao bảo đảm ứng dụng công

nghệ hiện đại phục vụ nhiệm vụ phát tri ển kinh tế của tỉnh nói chung và chuy ển

dịch kinh tế nói riêng. Đây là những mắt xích quan tr ọng, khâu đột phá tạo bước

chuyển căn bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế, giảm dần khoảng

cách về phát triển kinh tế giữa các địa phương và các vùng, giải quyết có hiệu quả

125

những vấn đề xã hội và thực hiện CBXH. Xây dựng được cơ cấu kinh tế hợp lý trên

phạm vi toàn tỉnh, giữa các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh là cơ sở để bảo đảm

CBXH trong lĩnh vực kinh tế. Ở đó, các thành phần kinh tế, các lực lượng xã hội và

người dân đều thụ hưởng thành quả của sự phát triển.

Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý

kinh tế của tỉnh.

Rà soát, đánh giá lại quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế của

tỉnh, thành phố, huyện, thị xã, cán b ộ các doanh nghi ệp nhà nước trong tỉnh theo

yêu cầu phát triển kinh tế những năm tới. Rà soát và điều chỉnh quy hoạch tổng thể

về đào tạo cán bộ cho các nhiệm kỳ tiếp theo, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của

tỉnh. Tổ ch ức đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn

nghiệp vụ, năng lực tư duy kinh tế cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế,

nhất là kiến thức về KTTT, kinh tế tri thức, kinh tế đối ngoại, ngoại ngữ, tin học;

thạo việc, biết phát hiện những vấn đề nảy sinh cần giải quyết về kinh tế và có khả

năng đề xuất phương án giải quyết tốt những vấn đề kinh tế nảy sinh; bồi dưỡng

nâng cao bản lĩnh chính tr ị, hiểu sâu quan điểm, đường lối của Đảng về kinh tế

trong điều kiện hiện nay; bồi dưỡng về phẩm chất đạo đức, lối sống và tác phong

công tác, phong cách làm vi ệc khoa học, có trách nhi ệm cao đối với chức trách,

nhiệm vụ được giao.

Xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện việc bố trí, sắp xếp lại cán bộ lãnh

đạo, quản lý kinh tế phù hợp với sở trường, năng lực của từng cán bộ. Chú ý chọn

những cán bộ trẻ, được đào tạo cơ bản, được thử thách trong thực tiễn bố trí vào vị

trí chủ yếu trong các ngành, lĩnh vực kinh tế trọng yếu, mũi nhọn, các đơn vị sản

xuất kinh doanh trọng yếu có tỷ trọng cao trong GDP của tỉnh. Bổ sung, hoàn chỉnh

cơ chế và những quy định khả thi về thu hút cán bộ kinh tế tài giỏi ở ngoài tỉnh về

công tác tại tỉnh, nhất là những cán bộ có trình độ cao, các chuyên gia trên các lĩnh

vực, ngành kinh tế mới được hình thành, phát triển, đem lại hiệu quả cao của tỉnh.

Trước mắt, các tỉnh ủy có th ể ký các h ợp đồng về hợp tác làm vi ệc trong nh ững

khoảng thời gian nhất định đối với những cán bộ này.

126

Năm là, duy trì thành nền nếp việc lãnh đạo sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm

về lãnh đạo phát triển kinh tế của tỉnh ủy

Tiến hành công việc này, cần bảo đảm tính đảng, tính khoa học nghiêm túc,

nhìn thẳng vào sự thật, tránh thái độ né tránh, che giấu sai lầm, khuyết điểm hoặc

chỉ tổng kết nh ững kinh nghi ệm thành công, xem nh ẹ ho ặc bỏ qua nh ững kinh

nghiệm không thành công. Sơ kết, tổng kết về lãnh đạo phát triển kinh tế của tỉnh

ủy cần gắn liền với sơ kết, tổng kết về giải quyết những vấn đề xã hội. Coi trọng

việc tổng kết rút những kinh nghiệm trong lãnh đạo phát triển kinh tế của tỉnh ủy và

các cấp ủy; kịp thời phát hiện, ủng hộ những sáng kiến của nhân dân, các tổ chức

kinh tế, những sáng tạo của cấp dưới trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế. Cần

sơ kết, tổng kết đúc rút kinh nghiệm lãnh đạo trong tất cả các ngành lĩnh vực, đơn vị

kinh tế, coi trọng những ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm.

Việc sơ kết, tổng kết về lãnh đạo phát triển kinh tế của tỉnh ủy cần tiến hành

theo định kỳ, duy trì thường xuyên, tiến hành từ cấp dưới lên tỉnh và được chuẩn bị

chu đáo, tăng cường dân ch ủ. Cần tham khảo ý ki ến của các nhà khoa h ọc, hoặc

mời các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế tham gia vào vi ệc tổng kết về lãnh

đạo phát triển kinh tế của tỉnh ủy.

4.2.2.2. Xây dựng một số nghị quyết chuyên đề về thực hiện công bằng

xã hội

Hiện tại, các quan điểm, chủ trương của tỉnh ủy về thực hiện CBXH chủ yếu

được thể hiện trong các ngh ị quyết, quyết định về phát triển kinh tế - xã h ội, nói

chung chưa có các ngh ị quyết chuyên đề thực hiện CBXH trong các l ĩnh vực đời

sống xã hội, hoặc về tổng thể thực hiện CBXH. Để xây dựng nghị quyết chuyên đề

của tỉnh ủy về thực hiện CBXH trong một hoặc nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, cần:

Một là, xác định đúng vấn đề cần ra ngh ị quy ết chuyên đề về th ực hi ện

CBXH, quán triệt sâu sắc quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về thực hiện

CBXH để xây dựng nghị quyết chuyên đề về thực hiện CBXH.

Các tỉnh ủy cần xác định đúng vấn đề cần ra nghị quyết chuyên đề về thực

hiện CBXH, không ôm đồm nhiều vấn đề. Ví dụ: nghị quyết chuyên đề về nước

sạch ở nông thôn, về xây dựng nhà văn hóa nông thôn, nâng cấp y tế tuyến xã, về

127

phát triển và bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người dân, về bảo vệ môi trường nông

thôn trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Các tỉnh ủy quán triệt các quan điểm, giải pháp lớn trong Cương lĩnh chính

trị, văn kiện các Đại hội Đảng toàn quốc các nhiệm kỳ, nhất là Văn kiện Đại hội XI,

XII và trong các ngh ị quyết về phát triển kinh tế - xã h ội của Đảng để xây dựng

nghị quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH. Trong đó, các tỉnh ủy cần quán triệt

mục tiêu xây dựng nước ta dân giàu, n ước mạnh, dân ch ủ, công bằng, văn minh

trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát

triển năm 2011). Cần quán triệt bốn nội dung ch ủ yếu về thực hiện CBXH trong

Văn kiện Đại hội XI của Đảng: tập trung giải quyết tốt chính sách lao động, việc

làm và thu nhập; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe

nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe

bà mẹ, trẻ em, đấu tranh phòng, chống có hiệu quả tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông.

Các tỉnh ủy quan tâm quán tri ệt những quan điểm, phương hướng và nh ững giải

pháp chủ yếu về quản lý phát triển xã hội và thực hiện tiến bộ, CBXH, trong Văn

kiện Đại hội XII của Đảng:

Trong xây dựng và thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quan

tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào

các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng

gia tăng phân hoá giàu - nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội

bền vững. Thực hiện các giải pháp, chính sách và quản lý để khắc phục

từng bước sự mất cân đối về phát triển đối với từng lĩnh vực, từng vùng,

bảo đảm sự hài hoà cả trong phát tri ển, hưởng thụ..., bảo đảm để nhân

dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới,

xây dựng và phát triển đất nước. Mọi người dân đều có cơ hội và điều

kiện phát triển toàn diện [34, tr.135-136].

Đồng thời, tỉnh ủy cần nắm chắc các chương trình quốc gia tạo việc làm, xóa

đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phổ cập giáo dục, phòng, chống tham

nhũng, lãng phí... Th ực hiện tốt những điều nêu trên trong xây d ựng nghị quyết

128

chuyên đề của tỉnh ủy về thực hiện CBXH sẽ bảo đảm cho nghị quyết không trái

với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện CBXH.

Hai là, nắm chắc những ưu, khuyết điểm và mức độ thực hiện CBXH trong

các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên địa bàn tỉnh.

Đây là những căn cứ thực tiễn rất quan trọng để xác định các chủ trương, giải

pháp thực hiện CBXH được đề xuất trong nghị quyết chuyên đề của tỉnh ủy về thực

hiện CBXH. Điều này, bảo đảm cho nghị quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH sát

thực tế, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, hạn chế về thực hiện CBXH

trong thời gian qua và đạt kết quả lớn hơn.

Ba là, dự báo được diễn biến của những bất CBXH mới nảy sinh trên địa bàn

tỉnh để xây dựng nghị quyết chuyên đề thực hiện CBXH.

Tỉnh ủy cần nắm chắc những bất CBXH mới xuất hiện trên địa bàn tỉnh,

gồm: bất CBXH trong giáo dục và đào tạo; về hưởng thụ và thu nhận văn hoá, nghệ

thuật, chăm sóc y tế, bảo hiểm xã hội; về giới, về tuổi nghỉ hưu đối với cán bộ, công

chức, công nhân, viên ch ức; giữa những người, đơn vị khai thác và s ử dụng tài

nguyên, môi trường, gây ô nhiễm và phá hoại môi trường sinh thái với những người

chịu hậu quả... Tỉnh ủy cần dự báo được diễn biến của những bất CBXH đó và đề

xuất các giải pháp khắc phục. Thực hiện tốt điều nêu trên, bảo đảm cho nghị quyết

của tỉnh ủy về thực hiện CBXH có tính định hướng rõ rệt, tính khả thi và hạn chế sự

bị động, lúng túng trong thực hiện CBXH những năm tới.

Bốn là, phát huy trí tuệ các cơ quan tham mưu của tỉnh ủy, UBND tỉnh trong

xây dựng nghị quyết, đồng thời đề cao dân chủ trong hội nghị tỉnh ủy để xây dựng

nghị quyết về thực hiện CBXH.

Tỉnh ủy tranh thủ ý kiến của các cơ quan trung ương, nhất là những cơ quan

trực tiếp tham mưu về xây dựng chủ trương, chính sách th ực hiện CBXH. Đồng

thời, tỉnh ủy cần tạo thuận lợi để các tổ chức trong HTCT trên địa bàn tỉnh tham

gia ý kiến vào dự thảo nghị quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH. Cần nhận sức

sâu sắc lời dạy của Ch ủ tịch Hồ Chí Minh khi quy ết định chính sách: "Vì dân

chúng chính là nh ững người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta" [59,

tr.285]. Chuẩn bị chu đáo các điều kiện cần thiết phục vụ hội nghị tỉnh ủy về xây

129

dựng nghị quyết; tăng cường dân chủ trong bàn bạc, thảo luận và quyết định từng

vấn đề trong dự thảo nghị quyết và quyết định ban hành nghị quyết của tỉnh ủy về

thực hiện CBXH.

4.2.3. Xây dựng chính quyền từ tỉnh đến cơ sở vững mạnh bảo đảm thực

hiện công bằng xã hội đạt kết quả tốt

Chính quyền các cấp từ tỉnh đến cơ sở ở các tỉnh ĐBSH có vai trò rất quan

trọng trong vi ệc hiện thực hoá các ngh ị quyết, quyết định của tỉnh ủy, mục tiêu,

nhiệm vụ của chính quyền tỉnh và chính quyền cấp huyện, xã về thực hiện CBXH

tại địa phương. Hoạt động của chính quyền các cấp tác động trực tiếp đến cuộc sống

hằng ngày của đông đảo nhân dân trên địa bàn, bảo đảm cho cuộc sống của nhân

dân và công bằng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; đến uy tín,

thanh danh của đảng bộ, chính quyền tỉnh; uy tín chính trị vai trò lãnh đạo của Đảng

trong công cuộc đổi mới nói chung và lãnh đạo thực hiện CBXH nói riêng. Vì thế,

tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với thực hiện CBXH không thể không coi

trọng xây dựng củng cố, kiện toàn các cơ quan chính quyền, nhất là UBND các cấp

từ tỉnh đến cơ sở. Cần thực hiện tốt những nội dung:

Một là, tỉnh ủy tập trung lãnh đạo, nghiên cứu, điều chỉnh, hoàn thiện chức

năng, nhiệm vụ của chính quyền từ tỉnh đến cơ sở theo Hiến pháp sửa đổi, kiện toàn

tổ chức bộ máy, cán bộ chính quyền.

Cần nghiên cứu, điều ch ỉnh, hoàn thi ện ch ức năng, nhi ệm vụ của chính

quyền tỉnh, thị xã, thành phố, huyện, xã, phường, thị trấn theo quy định của chương

IX: Chính quyền địa phương của Hiến pháp sửa đổi năm 2013 và theo Luật tổ chức

HĐND và UBND sửa đổi theo Hi ến pháp này. Tỉnh ủy cần bám ch ắc vào Hi ến

pháp, pháp luật để lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm

vụ, trách nhi ệm, quyền hạn của UBND, HĐND tỉnh, các sở, ban của UBND và

HĐND tỉnh; UBND, HĐND thị xã, thành ph ố, huyện và các phòng, bộ phận của

các tổ chức này; của UBND, HĐND xã, phường, thị trấn một cách phù hợp theo

quan điểm bảo đảm thực hiện CBXH ngay trong quá trình tiến hành công việc này

và trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền từ Trung ương đến cơ sở.

130

Kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của chính quyền từ tỉnh đến cơ sở theo

chức năng, nhiệm vụ đã được điều chỉnh, đảm bảo gọn nhẹ, khoa học, hoạt động có

hiệu quả. Trên cơ sở đó, tiến hành sắp xếp các cơ quan chuyên môn không chồng

chéo về chức năng, nhiệm vụ; xác định số lượng, cơ cấu, tiêu chuẩn cán bộ, công

chức của các cơ quan, bộ phận của chính quyền các cấp để tiến hành công tác cán

bộ theo hướng: trách nhiệm của từng tổ chức và cá nhân rõ ràng, rành m ạch; bộ

máy gọn nhẹ, tăng tính chuyên nghi ệp trong th ực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo

đảm thực hiện có kết quả CBXH.

Hai là, xây dựng quy chế làm việc rõ ràng, cụ thể và thực hiện nghiêm chỉnh,

tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước tại địa phương

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức của chính quyền

tỉnh, thị xã, thành phố, huyện, xã, phường, thị trấn tiến hành xây dựng quy chế làm

việc của các cơ quan, tổ chức đó và thực hiện nghiêm chỉnh. Cần chú ý đến các cơ

quan, tổ chức liên quan trực tiếp đến thực hiện CBXH. Trong quy chế làm việc cần

quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng chức danh cán

bộ, công chức, việc giải quyết các mối quan hệ công tác. Đặc biệt, coi trọng việc

quy định chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ

quan chính quyền các cấp và các tổ chức, bộ phận của các cơ quan chính quy ền.

Định kỳ xem xét bổ sung những nội dung cần thiết để quy chế làm việc hoàn thiện

hơn. Đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước ở địa phương theo hướng: xây dựng

nền hành chính công chuyển mạnh sang hỗ trợ, phục vụ người dân và doanh nghiệp

phát triển, coi đây là hướng chủ đạo, bảo đảm công bằng trong giải quyết các mối

quan hệ giữa các công dân, doanh nghiệp trong mọi hoạt động. Điều này thể hiện

tập trung ở mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội đối với

nền hành chính và các cơ quan công quyền ở địa phương.

Ba là, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, công chức tạo nên đội

ngũ cán bộ, công chức chính quyền từ tỉnh đến cơ sở có chất lượng tốt hoàn thành

chức trách, nhiệm vụ được giao bảo đảm thực hiện tốt CBXH.

Cần cụ thể hoá rõ ràng tiêu chuẩn các chức danh cán bộ chính quyền các cấp,

nhất là tiêu chuẩn chức danh cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cơ quan chính quyền

131

các cấp. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ

quan chính quyền từ tỉnh đến cơ sở gắn với xây dựng quy hoạch cấp ủy cùng cấp và

cấp ủy cấp trên. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là đào tạo, bồi dưỡng

theo chức danh, tăng cường luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý chính quyền các

cấp, nhất là những vị trí, địa bàn nhạy cảm liên quan đến lợi ích kinh tế và những

vấn đề xã hội... Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định và quy trình bổ nhiệm, tuyển

dụng cán bộ chính quyền, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động

của cán bộ, công ch ức chính quy ền, từng bước thực hiện bố trí cán b ộ là ng ười

đứng đầu các cơ quan chính quyền cấp huyện, cơ sở không là người địa phương.

Bốn là, nâng cao ch ất lượng hoạt động của HĐND, UBND các cấp trong

tỉnh, nhất là các cu ộc tiếp xúc cử tri; đổi mới và nâng cao ch ất lượng hoạt động

tiếp dân.

Những hoạt động nêu trên được đổi mới, nâng cao ch ất lượng các cấp ủy,

chính quyền sẽ nắm được tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, những vấn

đề bức xúc về quyền lợi, nghĩa vụ của nhân dân để có giải pháp giải quyết kịp thời,

góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện CBXH. Tỉnh ủy và các cấp ủy cần tăng

cường lãnh đạo nâng cao chất lượng các kỳ họp HĐND về cụ thể hoá nghị quyết,

quyết định của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH. Đặc biệt coi tr ọng lãnh đạo việc đổi

mới, nâng cao chất lượng các cuộc tiếp xúc cử tri và các cuộc tiếp dân theo hướng

dân chủ, giải đáp được thắc mắc, đề nghị của cử tri và nhân dân, tạo niềm tin của

nhân dân. Trước các cuộc tiếp xúc cử tri, coi trọng tiếp xúc riêng các cử tri...

Ngoài các cuộc tiếp xúc cử tri của các đại biểu HĐND tỉnh, cấp huyện, cấp

xã trước và sau các kỳ họp HĐND các cấp trong tỉnh, cấp ủy cần tăng cường lãnh

đạo, chỉ đạo việc tiếp xúc cá nhân đại biểu HĐND các cấp với cử tri. Cần tiến hành

công việc này một cách th ường xuyên trong nh ững lúc thuận lợi về thời gian và

điều kiện làm việc của các đại biểu với hình thức đa dạng, phong phú, nhất là đối

với đại biểu HĐND cấp xã. Có th ể tiến hành việc này trong các cu ộc họp tại địa

phương, qua các cuộc sinh hoạt văn hóa, thể thao, các lễ hội... và qua việc tham gia

của đại biểu HĐND các cấp vào các sự kiện vui, buồn của gia đình các cử tri...

132

Trong các cuộc tiếp xúc riêng giữa đại biểu HĐND với cử tri, đại biểu cần

chú ý gợi mở, phân tích và tạo không khí tho ải mái trong giao ti ếp giữa đại biểu

HĐND với cử tri, nh ất là trong khi trao đổi những vấn đề về kinh tế - xã h ội và

những vấn đề về CBXH; chú ý lắng nghe ý kiến của cử tri, chỉ ra những thiếu sót,

hạn chế có sức thuyết phục trong ý kiến của cử tri... Nâng cao chất lượng các cuộc

tiếp dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những bức xúc của dân, để có chủ trương,

giải pháp giải quyết. Trước hết, cần duy trì thành nền nếp các cu ộc tiếp dân theo

quy định; phân công cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt tham gia các cuộc tiếp dân,

tránh tình trạng khoán trắng các cuộc tiếp dân cho cán bộ, công chức bộ phận tiếp

dân; sau các cuộc tiếp dân cần tổng hợp những ý kiến đề xuất của dân, trao đổi thảo

luận trong cấp ủy để tìm biện pháp giải quyết dứt điểm những vấn đề nảy sinh theo

thẩm quyền đã được phân cấp...

Năm là, tỉnh ủy tăng cường kiểm tra các cấp ủy, tổ chức đảng trong các cơ

quan chính quyền từ tỉnh đến cơ sở

Tỉnh ủy tăng cường chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng trong các cơ quan chính

quyền từ tỉnh đến cơ sở, lãnh đạo đảng đoàn HĐND, ban cán sự đảng UBND tỉnh

duy trì thành nền nếp việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI "M ột số

vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; coi trọng kiểm tra, sơ kết, tổng kết

đúc rút kinh nghiệm. Qua đó, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các

tổ chức đảng trong cơ quan chính quyền, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức

đảng trong vi ệc trực tiếp lãnh đạo cơ quan, cán b ộ, công ch ức chính quy ền thực

hiện CBXH.

4.2.4. Lãnh đạo chặt chẽ công tác thanh tra, xử lý sai ph ạm trong thực

hiện công bằng xã hội; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm

4.2.4.1. Tăng cường công tác thanh tra, xử lý sai phạm về thực hiện công

bằng xã hội

Thứ nhất, nâng cao nh ận thức của cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở về vai trò, tác

dụng của công tác thanh tra, xử lý sai phạm về thực hiện CBXH, từ đó đề cao trách

nhiệm của cấp ủy đối với công việc này.

Tỉnh ủy, các cấp ủy đảng cần đẩy mạnh việc tuyên truyền nâng cao nh ận

thức của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy, đơn vị, đảng viên, cán bộ,

133

công chức về vai trò, tác d ụng của công tác thanh tra, x ử lý sai ph ạm trong th ực

hiện CBXH. Ban thường vụ, thường trực và bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cơ

quan chính quyền phải chịu trách nhiệm trước hết về chất lượng, hiệu quả lãnh đạo,

chỉ đạo công tác thanh tra, xử lý sai phạm về thực hiện CBXH trên địa bàn, lĩnh vực

phụ trách.

Thứ hai, cùng với việc xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện các nghị

quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH, các cấp ủy, người đứng dầu cơ quan chính

quyền các cấp lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch

công tác thanh tra và triển khai thực hiện.

Cấp ủy cần xác định đúng nội dung cần tập trung thanh tra, lãnh đạo, chỉ đạo

các cơ quan ch ức năng xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra, tập trung vào

những địa bàn, lĩnh vực nhạy cảm liên quan tr ực tiếp đến thực hiện CBXH trong

các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội dễ xảy ra tiêu cực.

Thứ ba, HĐND các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát UBND cùng cấp và

cấp dưới trong thực hiện nhiệm vụ và thực hiện CBXH.

Ủy ban nhân dân cùng cấp là cơ quan thực hiện và chịu sự kiểm tra, giám sát

của HĐND cùng cấp về thực hiện các nghị quyết, quyết định của HĐND về thực

hiện CBXH. HĐND nhất là HĐND tỉnh, cấp huyện cần tích cực, chủ động thực

hiện có kết quả công việc này. Các ban của HĐND tỉnh cần tăng cường kiểm tra,

giám sát UBND cùng cấp và cấp dưới theo chuyên đề thuộc lĩnh vực phụ trách liên

quan đến thực hiện CBXH.

Thứ tư, cấp ủy tăng cường lãnh đạo các cơ quan chức năng tiến hành thanh

tra, kết luận và xử lý nghiêm minh những tổ chức, cán bộ, đảng viên, công chức vi

phạm CBXH.

Thực hiện tốt những công việc nêu trên sẽ loại bỏ những cản trở thực hiện

CBXH, tạo niềm tin trong nhân dân đối với tổ ch ức đảng, chính quy ền, cán bộ,

đảng viên trong thực hiện CBXH. Các cấp ủy, nhất là tỉnh ủy cần triển khai mạnh

mẽ công vi ệc này, tăng cường lãnh đạo cấp ủy, tổ chức đảng trong các c ơ quan

thanh tra, cơ quan tư pháp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo các cơ quan

này hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đồng thời, các cấp ủy coi trọng lãnh đạo xây dựng

134

quy chế phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, các cơ quan tư pháp và các cơ quan

liên quan trong công tác thanh tra theo quy định, xử lý sai ph ạm về th ực hi ện

CBXH, thực hiện nghiêm chỉnh quy chế đã được xây dựng, ban hành.

Thứ năm, định kỳ sơ kết, tổng kết công tác thanh tra, xử lý sai phạm về thực

hiện CBXH. Định kỳ 6 tháng, một năm tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ

đạo việc sơ kết, tổng kết công tác thanh tra, xử lý sai phạm về thực hiện CBXH của

các đơn vị trực thuộc và của tỉnh ủy. Đồng thời, tỉnh ủy chỉ đạo sơ kết, tổng kết

công tác thanh tra, xử lý sai phạm về thực hiện CBXH đối với các vụ việc, đơn vị

điển hình. Qua đó, rút ra những kinh nghiệm về công việc này. Trên cơ sở đánh giá

kết quả các cuộc thanh tra, xử lý sai phạm và lắng nghe ý kiến đóng góp của các địa

phương, đơn vị tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy chỉ đạo rút ra những kinh nghiệm và

những vấn đề cần tập trung giải quyết để thực hiện CBXH đạt kết quả lớn hơn.

4.2.4.2. Ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm

"Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp,

nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt,

làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn

vong của Đảng và chế độ” [25, tr.12]. Tham nhũng, lãng phí cùng với lợi ích nhóm

là các tệ nạn rất nguy hiểm, một trong những nhân tố nguy hiểm nhất gây nên bất

CBXH. Tỉnh ủy, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và cả HTCT cần có

quyết tâm chính trị cao, có các giải pháp mạnh ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn này.

Cần tập trung vào:

Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức

và nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm. Tăng

cường tuyên truyền nâng cao nhận thức và ý th ức trách nhiệm của đảng viên, cán

bộ, công chức và nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và lợi

ích nhóm. Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong công việc

này và trong phát hiện đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm.

Hai là, phát huy mạnh mẽ vai trò các chi b ộ, các tổ chức trong HTCT và

nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm. Cần

phát huy mạnh mẽ vai trò các chi bộ, các tổ chức trong HTCT và nhân dân trong

135

quản lý, giám sát cán b ộ, đảng viên phát hi ện những biểu hiện tham nhũng, lãng

phí, lợi ích nhóm, nh ất là ở các lĩnh vực dễ xảy ra tham nh ũng, lãng phí và hình

thành lợi ích nhóm.

Ba là, công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính, quản lý, sử dụng đất đai, tài

sản công, công tác cán bộ. Cấp ủy lãnh đạo chặt chẽ và th ực hiện nghiêm chế độ

công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính trong các c ơ quan hành chính, đơn vị

cung ứng dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước của tỉnh. Công khai, minh bạch về

cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà

nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản lý, sử dụng đất đai, tài sản công, công

tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ.

Bốn là, xây dựng ban nội chính tỉnh ủy đủ mạnh làm nòng c ốt trong đấu

tranh phòng, ch ống tham nh ũng, lãng phí và l ợi ích nhóm; t ăng cường công tác

kiểm toán, thanh tra, kiểm tra, giám sát. Các tỉnh ủy tập trung cao độ vào xây dựng

ban nội chính tỉnh ủy về tổ chức bộ máy, cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ nhất là cán bộ chủ chốt và nâng cao chất lượng hoạt động bảo đảm tham mưu, đề

xuất cho tỉnh ủy các chủ trương, giải pháp khả thi phòng, chống tham nhũng, lãng

phí và lợi ích nhóm.

Năm là, xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ tham nhũng, lãng phí, sa

vào lợi ích nhóm. Xử phạt nghiêm minh, kịp thời theo pháp luật và công khai những

cán bộ tham nhũng, lãng phí và sa vào lợi ích nhóm. Kỷ luật nghiêm những người

bao che, cố tình cản trở việc chống tham nhũng lãng phí hoặc lợi dụng việc này vì

mục đích không trong sáng. Quy trách nhiệm trước hết và cao nh ất đối với người

đứng đầu cơ quan, đơn vị xảy ra tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm và xử lý một

cách thích hợp. Xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân gây thất thoát lớn tài sản của

Nhà nước và nhân dân; khuy ến khích và bảo vệ người tích cực đấu tranh ch ống

tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm.

4.2.5. Xây dựng các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng vững mạnh thực sự

là chủ thể lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội đạt kết quả

4.2.5.1. Nâng cao chất lượng các tỉnh ủy viên và tỉnh ủy

Một là, cụ thể hóa tiêu chuẩn tỉnh ủy viên, ủy viên ban thường vụ, bí thư, phó

bí thư tỉnh ủy. Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30-5-2014 của Bộ Chính trị về đại hội

136

đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XII của Đảng, quy định tiêu chuẩn cấp ủy

viên nhiệm kỳ 2016-2020 đã nhấn mạnh việc lựa chọn, giới thiệu nhân sự cấp ủy

khóa mới căn cứ vào tiêu chu ẩn chung của cán bộ được quy định tại Nghị quyết

Trung ương 3 khóa VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất

nước và tiêu chuẩn cụ thể của từng chức danh cán bộ. Đồng thời, Chỉ thị đã chỉ ra

tiêu chuẩn cấp ủy viên: (i) Tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng

của Đảng, có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục

tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối

của Đảng, chính sách và pháp lu ật của Nhà nước. (ii) Cần, kiệm, liêm, chính, chí

công, vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý

thức tổ chức kỷ luật. Trung thực, không cơ hội; gắn bó mật thiết với nhân dân, được

nhân dân tín nhiệm. (iii) Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường

lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên

môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

được giao.

Đối với tỉnh ủy viên ở các tỉnh ĐBSH cần nhấn mạnh tiêu chu ẩn về lập

trường tư tưởng chính trị; năng lực tổ chức thực tiễn thể hiện bằng hiệu quả công

việc; uy tín trong Đảng, trong nhân dân; tư duy đổi mới, sáng tạo, khả năng tiếp

cận, nắm bắt, xử lý có hiệu quả những vấn đề mới phát sinh; đoàn kết, quy tụ đội

ngũ cán bộ; phong cách công tác khoa h ọc, dân chủ, sâu sát, dám nghĩ, dám làm,

dám chịu trách nhiệm; minh bạch, công tâm, khách quan trong công tác cán bộ; khả

năng phát hiện và sử dụng người có đức, có tài; không tham nhũng; có thái độ kiên

quyết đấu tranh với các biểu hiện tham ô, tham nhũng, tiêu cực và phản bác lại các

luận điệu xuyên tạc, phản động, trái với Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Hiến pháp, pháp

luật của Nhà nước. Có thái độ nghiêm túc khắc phục, sửa chữa kịp thời những yếu

kém và khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình.

Ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy phải thực sự tiêu biểu, nổi trội về mọi mặt so

với các tỉnh ủy viên. Bí thư, phó bí thư tỉnh ủy phải thực sự tiêu biểu về trí tuệ, đạo

đức, uy tín, năng lực tổ chức thực tiễn và sự cống hiến, được cán bộ, đảng viên và

nhân dân trong tỉnh tín nhiệm và nói chung phải kinh qua lãnh đạo chủ chốt của cấp

ủy cấp dưới.

137

Hai là, nâng cao chất lượng quy ho ạch tỉnh uỷ, hình thành cơ cấu tỉnh ủy

hợp lý ngay trong quá trình xây d ựng quy hoạch tỉnh ủy và theo hướng dẫn, quy

định của Đảng. Cần xây dựng quy hoạch tỉnh ủy cho hai nhiệm kỳ. Mở rộng đối

tượng quy hoạch, đưa vào quy hoạch những cán bộ ở các cơ quan trung ương. Chủ

động tạo nguồn từ xa, nguồn dài hạn để xây dựng quy hoạch tỉnh uỷ, quan tâm đưa

vào quy ho ạch tỉnh ủy những nhân tố mới đã được thử thách trong th ực tiễn, đủ

điều kiện và tiêu chuẩn cán bộ đưa vào quy hoạch.

Hình thành cơ cấu tỉnh ủy trong các nhiệm kỳ một cách hợp lý ngay trong

quá trình xây dựng quy hoạch tỉnh ủy và trên cơ sở hướng dẫn của Đảng về cơ cấu

độ tuổi, giới tính, dân tộc thiểu số. Phấn đấu bảo đảm cơ cấu ba độ tuổi trong tỉnh

ủy, ban thường vụ và th ường trực tỉnh ủy một cách hợp lý theo hướng: tuổi thấp,

tuổi trung bình và tu ổi cao theo tỷ lệ tương ứng lý tưởng là 30%, 40%, 30% ( độ

tuổi thấp gồm các tỉnh ủy viên, ủy viên thường vụ tỉnh ủy có tuổi đời dưới 40 tuổi;

độ tuổi trung bình, từ 40 đến 55 tuổi, độ tuổi cao từ 55 đến 60 tuổi); tỷ lệ tỉnh ủy

viên có tuổi đời dưới 40 tuổi không dưới 10%; tỷ lệ tỉnh ủy viên là nữ không dưới

15%, cần có nữ trong ban thường vụ tỉnh ủy. Đối với các tỉnh Quảng Ninh, Vĩnh

Phúc, Ninh Bình cần quan tâm để có tỉnh ủy viên là ng ười dân tộc thiểu số một

cách hợp lý.

Xây dựng kế ho ạch thực hiện quy ho ạch tỉnh ủy và tri ển khai th ực hiện.

Đồng thời, tỉnh ủy coi trọng và duy trì thành nền nếp việc định kỳ xem xét, bổ sung

vào quy hoạch tỉnh uỷ nguồn nhân lực và tố chất mới, đưa ra khỏi quy hoạch những

cán bộ có sai phạm lớn và không còn khả năng phát triển.

Ba là, đẩy mạnh đào tạo cơ bản, tập trung và luân chuyển cán bộ trong quy

hoạch tỉnh ủy, tăng cường bồi dưỡng tỉnh ủy viên đương chức. Đối với những tỉnh

ủy viên đương chức cần tăng cường bồi dưỡng cập nhật các kiến thức cần thiết để

bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Đối với những cán bộ trong quy hoạch

tỉnh ủy cần có kế hoạch gửi đi đào tạo một cách hệ thống theo hình thức tập trung ở

các cơ sở đào tạo cán bộ của Đảng, Nhà nước. Đồng thời, tỉnh ủy định kỳ tổ chức

các khóa bồi dưỡng kiến thức tại địa phương hoặc cử đi học các lớp bồi dưỡng kiến

thức theo chức danh cán bộ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Trong đó,

138

cần chú ý b ồi dưỡng những kiến thức về CBXH và th ực hiện CBXH. Có th ể tổ

chức các lớp bồi dưỡng về CBXH và thực hiện CBXH trong điều kiện hiện nay tại

địa phương. Coi tr ọng việc trao đổi kinh nghiệm với các tỉnh, thành ủy trong và

ngoài vùng ĐBSH về lãnh đạo thực hiện CBXH.

Tỉnh ủy tạo thuận lợi cho cán bộ tự giác tự học tập, tự rèn luyện về mọi mặt.

Từng cán bộ trong quy hoạch và tỉnh ủy viên đương chức cần tự giác tự học tập, rèn

luyện và thực hiện nghiêm chỉnh quan điểm của Đảng: “Lười học tập, lười suy nghĩ

không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới, những hiểu biết mới cũng là

biểu hiện của sự thoái hoá” [17, tr.141].

Bốn là, tăng cường quản lý, đánh giá, kiểm tra, giám sát hoạt động của các

tỉnh ủy viên đương chức và trong quy ho ạch. Quản lý chặt chẽ, đánh giá đúng và

tăng cường kiểm tra, giám sát các tỉnh ủy viên đương chức theo chức trách, nhiệm

vụ và cương vị đảm nhiệm. Tăng cường quản lý, kiểm tra cán bộ trong quy hoạch

tỉnh ủy viên, nhất là về năng lực tổ chức thực tiễn, phong cách làm việc, khả năng

phát triển.

Năm là, xây dựng và thực hiện nghiêm chỉnh quy chế làm việc của tỉnh ủy,

định kỳ xem xét sửa đổi, bổ sung những vấn đề mới vào quy chế làm việc. Sau đại

hội các nhiệm kỳ, tỉnh ủy cần khẩn trương xây dựng quy chế làm việc của tỉnh ủy,

trong đó quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của tỉnh ủy viên,

ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy, thường trực tỉnh ủy, các mối quan hệ công tác...; tỉnh

ủy cần duy trì thành nền nếp việc thực hiện nghiêm chỉnh quy chế làm việc đã được

xây dựng. Đồng thời, tỉnh ủy định kỳ xem xét, bổ sung nh ững nội dung cần thiết

vào quy chế làm việc của tỉnh ủy để quy chế hoàn chỉnh hơn.

Sáu là, tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc của tỉnh ủy và các cấp ủy

đảng đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện CBXH. Cần tập trung vào những nội dung

như: phát huy dân chủ, đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, thông suốt từ tỉnh

ủy đến cơ sở trong triển khai thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH.

Đề cao tinh th ần tích cực, chủ động, dám ngh ĩ, dám làm, dám ch ịu trách nhi ệm

trong lãnh đạo thực hiện CBXH tại địa phương. Hướng về cơ sở, sâu sát cơ sở,

gắn bó với thực tiễn, quan hệ mật thiết với nhân dân, nắm vững tâm tư, nguyện

139

vọng, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân về CBXH, nhất là những bức xúc

của nhân dân về những tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên cản trở và

gây bất CNXH.

Rèn luyện phong cách làm vi ệc có ch ương trình, kế ho ạch, có tr ọng tâm,

trọng điểm, giải quyết dứt điểm công vi ệc; coi trọng xem xét nh ững ý ki ến phản

biện về các chủ trương, giải pháp thực hiện CBXH của tỉnh ủy; thường xuyên xem

xét lại những việc đã tiến hành hằng tuần, tháng... Xây dựng phong cách lãnh đạo

có kiểm tra, không kiểm tra, coi như không có lãnh đạo; tăng cường việc tự kiểm tra

hoạt động lãnh đạo thực hiện CBXH của từng tỉnh ủy viên và tập thể tỉnh ủy, ban

thường vụ tỉnh ủy. Đồng thời, tỉnh ủy cần chỉ đạo các cấp ủy, nhất là cấp ủy trực

thuộc về xây dựng và rèn luyện phong cách làm việc luôn tự kiểm tra những hoạt

động của mình...

4.2.5.2. Nâng cao chất lượng các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh uỷ

Một là, nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò các ban tham mưu, giúp việc của

tỉnh ủy. Các cơ quan tham mưu, giúp vi ệc của tỉnh ủy có vị trí, vai trò r ất quan

trọng đối với chất lượng hoạt động của tỉnh ủy. Nhiều người đưa ra ý kiến hợp lý,

cho rằng, các cơ quan này là “bộ óc thứ hai” của tỉnh ủy, thường xuyên là của ban

thường vụ, thường trực tỉnh ủy trong mọi hoạt động. Cần nhận thức sâu sắc điều

này và tập trung lãnh đạo nâng cao ch ất lượng các ban tham mưu, giúp việc của

tỉnh ủy.

Hai là, rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các cơ

quan tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy, xây dựng và thực hiện nghiêm chỉnh quy chế

làm việc. Coi trọng và thực hiện tốt điều này, không để xảy ra tình trạng chồng chéo

về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan tham mưu, giúp việc. Trong quy chế làm

việc cần quy định rõ chức trách, nhiệm vụ từng chức danh cán bộ, quan hệ công tác

của cơ quan với tỉnh ủy, ban thường vụ và thường trực tỉnh ủy và với các cơ quan

tham mưu khác, các cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong tỉnh.

Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy

cần chỉ đạo việc kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao ch ất lượng cán bộ bảo đảm

thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tham mưu.

140

Ba là, cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh

ủy làm cơ sở để rà soát đội ngũ cán bộ và nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ.

Tiêu chuẩn cán b ộ các cơ quan tham m ưu, giúp vi ệc của tỉnh ủy cần bảo đảm

những yêu cầu: vững vàng, kiên định, nhạy bén về chính trị; nắm vững quan điểm

đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có kiến thức chuyên sâu

về lĩnh vực công tác tham m ưu; am hi ểu tình hình th ực tế địa phương; có ki ến

thức và kinh nghiệm về xây dựng Đảng, có khả năng phân tích, tổng hợp và độc

lập suy nghĩ; có phong cách làm việc dân chủ, tập thể, sâu sát cơ sở; có khả năng

nắm bắt những nhân tố mới, phát hi ện nh ững mâu thu ẫn nảy sinh, đề xu ất giải

pháp khả thi để giải quyết; có đạo đức, lối sống, trung thực, công tâm, trong sạch,

tận tuỵ, yêu công việc.

Trên cơ sở những yêu cầu về tiêu chuẩn nêu trên tỉnh ủy tiến hành xây dựng,

hoàn chỉnh quy hoạch và xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán

bộ nhằm phát huy tài năng, sở trường của từng cán bộ tham mưu và cả đội ngũ cán

bộ tham mưu đối với hoạt động của tỉnh ủy, trong đó có hoạt động lãnh đạo thực

hiện CBXH.

Bốn là, nghiên cứu và từng bước thực hiện việc thi tuyển chặt chẽ, khoa học

cán bộ vào làm việc trong các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy; bố trí đúng

người đứng đầu các ban này. Tỉnh ủy coi trọng nghiên cứu và từng bước thực hiện

việc thi tuyển cán bộ vào làm việc trong các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh

ủy. Từ đó, ti ến hành đào tạo, bồi dưỡng một cách cơ bản và th ường xuyên về

chuyên môn, nghiệp vụ. Tỉnh ủy cần có quy định về chế độ đãi ngộ một cách thỏa

đáng để thu hút người có đức, có tài về làm việc trong các cơ quan tham mưu, giúp

việc của tỉnh ủy.

Tỉnh ủy cần loại bỏ kịp thời những phần tử cơ hội, vụ lợi, thiếu trung thực,

hẹp hòi, nịnh trên, nạt dưới, lợi dụng ví trí công tác để trục lợi khỏi các cơ quan

tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy. Bởi vì, những người này, không chỉ làm giảm uy

tín chính trị, thanh danh của tỉnh ủy, mà còn gây nên những bất CBXH trong một số

lĩnh vực ở địa phương, nhất là trong công tác cán b ộ. Việc lựa chọn, bố trí người

141

đứng đầu các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy cần chặt chẽ, đúng quy định

và hướng dẫn của Đảng.

4.2.6. Nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội của các tổ

chức cơ sở đảng; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc các đoàn thể chính trị

- xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, các nhà hảo tâm trong thực hiện

công bằng xã hội

4.2.6.1. Nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội của các

tổ chức cơ sở đảng, đặc biệt là đảng bộ xã, phường, thị trấn

Chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, của tỉnh ủy về phát triển kinh

tế - xã hội, thực hiện CBXH chủ yếu được triển khai thực hiện ở cơ sở dưới sự lãnh

đạo của các tổ chức cơ sở đảng, đặc biệt là các đảng bộ xã, phường, thị trấn. Cùng

với nâng cao chất lượng các đảng ủy cơ sở, cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực

lãnh đạo thực hiện CBXH của các tổ chức cơ sở đảng trong tỉnh, cần đặc biệt coi

trọng nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện CBXH của các đảng bộ xã phường, thị

trấn. Tập trung vào:

Một là, tập trung tạo chuy ển bi ến mạnh mẽ về ch ất lượng đảng ủy, ban

thường vụ đảng ủy và đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn bảo đảm lãnh

đạo thực hiện CBXH tại cơ sở. Ban thường vụ tỉnh ủy cần rà soát, bổ sung, hoàn

chỉnh tiêu chuẩn đảng ủy viên, ủy viên ban thường vụ đảng ủy và tiêu chuẩn chức

danh cán bộ chủ chốt xã, ph ường, thị trấn. Ngoài các tiêu chu ẩn chung về phẩm

chất, năng lực, phong cách làm việc, ý thức tổ chức, kỷ luật cần nhấn mạnh những

yêu cầu về lãnh đạo, quản lý việc thực hiện CBXH trên địa bàn và trên lĩnh vực cán

bộ phụ trách. Đồng thời, tập trung vào những khâu trọng tâm của công tác cán bộ,

như: nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cấp ủy, cán bộ chủ chốt xã, phường,

thị trấn; coi trọng thu hút nh ững cán bộ trẻ tuổi, có ph ẩm chất đạo đức, năng lực

công tác, tâm huyết với địa phương về làm việc tại xã, phường, thị trấn để đưa vào

quy hoạch cán bộ; đổi mới việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở tại trường chính trị

tỉnh, coi trọng đưa các nội dung về lãnh đạo, quản lý những vấn đề xã hội và thực

hiện CBXH tại cơ sở vào chương tình học tập; tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt

142

động của cán bộ; cải tiến chế độ lương, phụ cấp đối với cán bộ chủ chốt xã, phường,

thị trấn...

Hai là, hoàn thiện mô hình tổ chức chi bộ thôn, xóm, tổ dân phố có đủ các

tổ chức đảng, các chi hội đoàn thể nhân dân lãnh đạo trực tiếp giải quyết những

vấn đề thiết thực của dân và thực hiện CBXH ngay trên địa bàn. Việc hoàn thiện

mô hình chi bộ trực thuộc đảng ủy xã, phường, thị trấn theo hướng đồng bộ về tổ

chức đảng và các chi hội đoàn thể nhân dân trên địa bàn thôn, xóm, tổ dân phố sẽ

tạo sự đồng bộ trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện những vấn đề cụ thể đem lại

lợi ích thi ết thực cho nhân dân, nh ư: tạo thuận lợi cho nhân dân thôn, xóm phát

triển kinh tế; phòng chống tệ nạn xã hội; bảo đảm an ninh, trật tự, xây dựng thôn,

xóm, tổ dân ph ố văn hóa; gi ữ gìn vệ sinh, giúp nhau khi ho ạn nạn... Các chi b ộ

lãnh đạo thực hiện tốt những việc này là thiết thực thực hiện CBXH ngay từ thôn,

xóm, tổ dân phố.

Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên gắn với phân công đảng viên

phụ trách các vấn đề xã hội và phát huy vai trò đảng viên trong thực hiện CBXH.

Định kỳ bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt của đảng viên, nhất là những kiến

thức cần thiết về thực hiện CBXH; tạo thuận lợi về việc làm, tăng thu nh ập cho

đảng viên ngay tại quê hương, để đảng viên không phải đi làm ăn xa quê hương dài

ngày; phân công đảng viên phụ trách các vấn đề xã hội. Qua đó, phát huy vai trò

của đảng viên trong thực hiện CBXH tại cơ sở.

Bốn là, tăng cường kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp huyện đối với cấp ủy

cơ sở, nhất là việc kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp huyện đối với các đảng ủy xã,

phường, thị trấn về thực hiện CBXH. Cùng với việc kiểm tra định kỳ của cấp ủy, ủy

ban kiểm tra cấp ủy cấp huyện, cần kiểm tra các đảng ủy xã, phường, thị trấn theo

chuyên đề về lãnh đạo giải quyết những vấn đề xã hội và thực hiện CBXH trên địa

bàn. Đồng thời, cấp ủy cấp huyện kết hợp kiểm tra về công tác xây dựng Đảng, lãnh

đạo các tổ chức trong HTCT, các lĩnh vực đời sống xã hội với việc lãnh đạo thực

hiện CBXH của các đảng ủy xã, phường, thị trấn.

143

4.2.6.2. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị -

xã hội, tổ chức xã hội trong thực hiện công bằng xã hội

Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội có vai

trò rất quan trọng không chỉ đối với sự phát triển mọi mặt của đất nước, mà còn đối

với thực hiện CBXH ở các địa phương. Để các tỉnh ủy lãnh đạo phát huy mạnh mẽ

vai trò của các tổ chức này trong thực hiện CBXH, cần:

Thứ nhất, đổi mới nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên

về vị trí, vai trò và sự cần thiết phát huy vai trò của MTTQ, các đoàn thể chính trị -

xã hội, các tổ chức xã hội trong thực hiện CBXH. Trong thời kỳ cách mạng trước

đổi mới, ở nhiều nơi trong thời kỳ dài MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội đã bị

hành chính hóa. Trong điều kiện hiện nay, vị trí, vai trò của các tổ chức này có sự

chuyển biến vượt bậc, nhất là vi ệc tham gia vào các quy ết sách chính tr ị của đất

nước, giám sát, ph ản biện xã hội đối với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà

nước, có tiếng nói trong hình thành các tổ chức, cơ quan nhà nước... Các cấp ủy, tổ

chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nhận thức sâu sắc điều này và có chủ trương, giải

pháp khả thi phát huy vai trò của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội trong mọi

hoạt động của địa phương và trong thực hiện CBXH.

Thứ hai, tăng cường lãnh đạo củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của

MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội đáp ứng yêu cầu tham gia có hiệu quả vào

thực hiện CBXH. Tỉnh ủy, các cấp ủy cần tăng cường lãnh đạo củng cố, kiện toàn

tổ chức bộ máy của các tổ chức này theo hướng xác định rõ chức năng, nhiệm vụ

của từng tổ chức, không chồng chéo, trùng lặp; các bộ phận được tổ chức một cách

khoa học đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ và tham gia có hiệu quả

vào thực hiện CBXH ở địa phương; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán

bộ chủ chốt; khắc phục dần tình trạng đưa những cán bộ phẩm chất, năng lực yếu,

không bố trí được công vi ệc về làm vi ệc trong MTTQ, các đoàn thể, biến các tổ

chức này thành "phòng chờ" của những cán bộ sắp nghỉ hưu. Tỉnh ủy cần quan tâm

cơ cấu đồng chí ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy giữ chức chủ tịch MTTQ tỉnh, chỉ

đạo cấp ủy cấp huyện, cấp xã bố trí ủy viên ban th ường vụ cấp ủy là ch ủ tịch

MTTQ cùng cấp.

144

Thứ ba, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể

chính trị - xã hội hướng vào các hoạt động xã hội, thực hiện CBXH. MTTQ và các

đoàn thể chính tr ị - xã h ội cần đẩy mạnh phát động, duy trì các phong trào hành

động cách mạng hướng vào thực hiện những vấn đề xã hội trên địa bàn, động viên

đoàn viên, hội viên tham gia. Đồng thời, các tổ chức này, cần coi tr ọng các ho ạt

động làm cầu nối giữa các cá nhân, t ổ chức, lực lượng trong các ho ạt động nhân

đạo, từ thiện, hỗ trợ thiên tai, hỗ trợ những người yếu thế xóa đói, giảm nghèo, đền

ơn, đáp nghĩa...

Thứ tư, động viên và tạo thuận lợi để MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã

hội trong tham gia xây dựng và giám sát, phản biện xã hội đối với các nghị quyết

của tỉnh ủy về thực hiện CBXH. Tỉnh ủy cần tổ chức tốt việc lấy ý kiến đóng góp

của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội vào các dự thảo nghị quyết của tỉnh ủy

về thực hiện CBXH, nghiên cứu, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện trước khi quyết định.

Tổ chức quán triệt Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW ngày

12-12-2013 của Bộ Chính trị về Quy chế giám sát và phản biện xã hội và về tham

gia góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của các tổ chức này. MTTQ

và các đoàn thể cần tăng cường giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng

viên trong thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH, phản biện xã

hội các quyết định của tỉnh ủy, các cấp ủy về thực hiện CBXH trước khi ban hành,

tham gia xây dựng Đảng, chính quyền. Các cấp ủy tạo thuận lợi cho MTTQ và các

đoàn thể thực hiện tốt công việc này.

4.2.6.3. Lãnh đạo phát huy vai trò c ủa các tổ chức kinh tế, các nhà hảo

tâm tham gia thực hiện công bằng xã hội

Các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả trong điều kiện

hiện nay, phải có ngân sách lớn nên phải huy động ngân sách từ nhiều nguồn và có

sự tham gia nhiệt tình của các tổ chức, lực lượng. Trong đó sự tham gia của các tổ

chức kinh tế, các nhà hảo tâm trong các thành phần kinh tế là rất quan trọng. Để đạt

được điều này, cần:

Thứ nhất, tỉnh ủy lãnh đạo sự phối hợp giữa chính quyền tỉnh với các tổ chức

kinh tế, các nhà hảo tâm, khuyến khích họ tham gia thực hiện CBXH. Tỉnh ủy lãnh

145

đạo sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền tỉnh với các tổ chức kinh tế, các nhà hảo

tâm trên tinh thần cởi mở, tôn trọng và khuyến khích họ hỗ trợ tài chính, vật chất để

thực hiện CBXH. Tỉnh ủy tăng cường lãnh đạo tận dụng các nguồn lực ngoài nước,

nguồn lực của các tổ chức phi chính phủ (INGO) để thực hiện CBXH, như: nguồn

lực hỗ trợ thiên tai, bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, xóa đói, giảm nghèo, phát

triển y tế, giáo dục...

Thứ hai, tỉnh ủy tăng cường lãnh đạo cải cách hành chính nhà nước tạo thuận

lợi thu hút vốn đầu tư vào tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH.

Tỉnh ủy tăng cường lãnh đạo cải cách hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh, tạo

môi trường thông thoáng, giảm các thủ tục hành chính để thu hút vốn đầu tư phát

triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH. Cần tập trung thu hút vốn đầu tư vào các

công trình xây dựng kết cấu hạ tầng, các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng

khó khăn, vùng sâu, vùng xa trong t ỉnh, tạo chuyển biến về th ực hiện CBXH ở

những vùng này.

Thứ ba, cổ vũ, động viên các tổ chức kinh tế và các doanh nhân tham gia vào

các chương trình trọng điểm của tỉnh về thực hiện CBXH. Tăng cường vận động các

doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế, các đơn vị sản xuất kinh doanh, các tổ

chức và cá nhân tham gia vào các ch ương trình trọng điểm của tỉnh về thực hiện

CBXH, như: xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ thiên tai, khắc phục hậu

quả biến đổi khí hậu, phát triển giáo dục, y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực...

Thứ tư, tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền tỉnh có những quy định ưu đãi, khuyến

khích các tổ chức kinh tế, doanh nhân đầu tư vào phát triển kinh tế - xã hội ở những

vùng đặc biệt khó kh ăn tạo thuận lợi để thực hiện CBXH. Cần có nh ững ưu đãi,

như: miễn, giảm thuế, được hưởng lãi suất vay vốn ưu đãi từ ngân sách tỉnh... đối

với các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh đầu tư vào những vùng đặc

biệt khó khăn để phát triển kinh tế - xã hội; những đơn vị tiếp nhận những đối tượng

chính sách còn khả năng lao động vào làm việc trong đơn vị đó.

4.2.7. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương đối với các tỉnh

ủy trong lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội

Tỉnh ủy ở ĐBSH là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại hội đại

biểu đảng bộ, chịu trách nhiệm trước đảng bộ và nhân dân trong tỉnh và trước Đảng

146

về lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh, chỉ

thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung và lãnh đạo

thực hiện CBXH nói riêng. Thành quả và ưu điểm, nhất là những khuyết điểm, hạn

chế về lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy, trước hết thuộc về trách nhiệm

của tỉnh ủy, song cũng phụ thuộc rất lớn vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà

nước, trong đó có sự tham mưu của các cơ quan tham mưu của Đảng và các Bộ,

ngành của Nhà nước. Trong nhiều trường hợp, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tạo

điều kiện thuận lợi của Đảng, Nhà nước trở thành nhân tố đặc biệt quan trọng tạo

nên thành quả lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy ở ĐBSH. Bởi vậy, cần

tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và tạo điều kiện

thuận lợi của các cơ quan Trung ương đối với sự lãnh đạo thực hiện CBXH của các

tỉnh ủy, đặc biệt là về đường lối, quan điểm chỉ đạo, các định hướng, chủ trương,

giải pháp lớn, chính sách, pháp luật về CBXH. Để tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các

tỉnh ủy ở ĐBSH trong lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả, cần tập trung vào

những vấn đề sau đây:

Một là, Đảng và Chính phủ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo tổng kết thực tiễn làm

sáng tỏ lý luận về CBXH và lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều kiện hiện nay làm

cơ sở để các tỉnh ủy ở ĐBSH ban hành các nghị quyết đúng về thực hiện CBXH.

CBXH và thực hiện CBXH trong CNXH trong điều kiện hiện nay ở nước ta là vấn

đề rất mới, còn nhiều vấn đề cần được làm sáng tỏ bằng con đường tổng kết thực

tiễn. Để các tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả hơn. Ban Bí th ư, Bộ

Chính trị tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tổng kết thực tiễn về thực hiện CBXH, tăng

cường lãnh đạo, chỉ đạo củng cố, kiện toàn, nâng cao ch ất lượng cán bộ và ho ạt

động của các cơ quan nghiên cứu lý luận chính trị; tăng cường dân chủ trong nghiên

cứu, trao đổi, thảo luận về các vấn đề lý luận, trong đó có CBXH.

Hai là, Ban Bí thư, Bộ Chính trị tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các tỉnh ủy ở

ĐBSH tổng kết thực tiễn; các ban, bộ, ngành trung ương tạo thuận lợi để các tỉnh ủy

tổng kết thực tiễn về thực hiện CBXH, góp ph ần phát triển lý lu ận về CBXH và

thực hiện CBXH. Ban Bí thư, Bộ Chính trị tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các tỉnh ủy

ở ĐBSH định kỳ tổng kết sự lãnh đạo của tỉnh ủy, hoạt động của chính quyền về

147

thực hiện CBXH vào giữa nhiệm kỳ và khi chuẩn bị đại hội đảng các cấp. Các cấp

ủy cần nắm bắt những vấn đề mới nảy sinh về thực hiện CBXH, bàn bạc, thảo luận

và quyết định giải quyết, hoặc đề xuất với các cơ quan nghiên cứu lý luận để làm

sáng tỏ...

Ba là, Quốc hội, Chính phủ điều chỉnh, sửa đổi hoặc xây dựng, ban hành các

văn bản pháp luật theo Hiến pháp sửa đổi, tạo thuận lợi cho các tỉnh ủy lãnh đạo

thực hiện CBXH như: Luật Doanh nghiệp, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước,

Luật Thương mại, Luật Doanh nghi ệp tư nhân, Lu ật Phòng, ch ống tham nh ũng,

lãng phí, Luật Đất đai, Bộ luật Lao động, Luật Cạnh tranh; Luật Giáo dục, Luật Bầu

cử, Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở... Qua đó, tạo cơ sở pháp lý cho các tỉnh ủy lãnh đạo

thực hiện CBXH đạt kết quả.

Các luật do Qu ốc hội ban hành c ần cụ th ể và có hi ệu lực thi hành ngay

không đợi các nghị định, thông tư hướng dẫn. Nhưng luật nào chưa đủ điều kiện

thi hành thì ban hành ngh ị định, những văn bản pháp luật đã ban hành thì không

cần thiết phải có thông tư hướng dẫn thi hành gây phức tạp, phiền hà, hướng dẫn ở

thời điểm này có nh ững điểm khác với hướng dẫn ở thời điểm khác, tạo cơ hội

cho sự phát triển lợi ích nhóm. Làm tốt điều này sẽ khắc phục được tình trạng, trên

thực tế, văn bản dưới luật quan trọng hơn luật, cơ quan hành pháp lấn át cơ quan

lập pháp và t ạo thuận lợi để xây dựng nhà nước pháp quy ền - cơ sở pháp lý để

thực hiện tốt CBXH.

Bốn là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển kinh tế, chính

sách xã hội làm cơ sở cho các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết

quả. Hệ thống chính sách phát triển kinh tế cần xây dựng và hoàn thiện, gồm: Chính

sách sở hữu, thể hiện sự đa dạng hoá các loại hình sở hữu trên cơ sở của chế độ sở

hữu toàn dân (sở hữu nhà nước) đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu. Có chính

sách phân bổ nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, trong đó ưu tiên thành phần kinh

tế nhà nước và kinh tế tập thể. Chính sách quản lý sản xuất, kinh doanh: tập trung

xây dựng và hoàn thiện các chính sách tài chính - tiền tệ, thuế, giá cả, đầu tư, vốn,

tín dụng, phát triển đồng bộ các loại thị trường. Chính sách về phân phối: thể hiện

sự đa dạng về chế độ phân ph ối sản phẩm xã hội, nhưng lấy phân ph ối theo lao

148

động làm chủ đạo... Nhà nước cần điều chỉnh thu nhập cá nhân thông qua Luật thuế

và các chính sách thuế thu nhập; điều chỉnh giá thuê nhà, thuê đất, giá điện nước,

dịch vụ cho các c ơ sở sản xuất và các đối tượng khác nhau; ki ểm soát ch ặt chẽ

những ngành có lợi nhuận độc quyền, có chính sách điều tiết thu nh ập giữa các

ngành, các cơ quan, cá nhân. Hệ thống các chính sách xã hội cần xây dựng và hoàn

thiện, gồm các chính sách: lao động, việc làm; bảo hiểm, trợ cấp thất nghiệp; lương,

phụ cấp; khen thưởng, kỷ luật; bảo hiểm, hưu trí, bảo trợ xã hội; đền ơn, đáp nghĩa;

cứu trợ xã hội; văn hoá, y tế, giáo dục - đào tạo; xoá đói, giảm nghèo…

Năm là, tạo thuận lợi để các tỉnh ủy, chính quyền tỉnh ở ĐBSH tổ chức có

kết quả việc phổ biến, quán tri ệt các văn bản pháp lu ật, chính sách đã được sửa

chữa, bổ sung theo Hiến pháp sửa đổi và việc chấp hành pháp luật. Các ngành, bộ,

ban của Đảng, Nhà nước cần tạo thuận lợi về tài liệu, báo cáo viên để các tỉnh ủy tổ

chức có kết quả việc phổ biến, quán triệt các văn bản pháp luật, chính sách đã được

sửa chữa, bổ sung theo Hiến pháp sửa đổi. Các cơ quan nhà nước tăng cường phối

hợp và hỗ trợ các tỉnh trong quá trình thực thi pháp luật, ngăn chặn kịp thời những

tổ chức và cá nhân vi ph ạm pháp luật, tạo thuận lợi để các tỉnh ủy lãnh đạo thực

hiện CBXH đạt kết quả.

149

KẾT LUẬN

1. Công bằng xã hội có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội,

ổn định chính trị, là tiêu chí để xem xét, đánh giá sự phát triển, tiến bộ của một chế

độ xã hội. Điều này, được thể hiện và kh ẳng định bởi việc thực hiện CBXH trên

thực tế; phụ thuộc và được quyết định bởi chế độ chính trị và bản chất của giai cấp

cầm quyền trong chế độ ấy. Các chế độ chính trị do giai cấp áp bức, bóc lột cầm

quyền luôn tìm mọi cách th ực hiện CBXH, tr ước hết vì lợi ích của họ. Bởi vậy,

CBXH còn nhiều hạn chế. Với bản chất của chế độ ta và bản chất của Đảng Cộng

sản Việt Nam cầm quyền CBXH được Đảng lãnh đạo thực hiện ngày càng tốt hơn

trong các lĩnh vực đời sống xã hội, thể hiện rõ và tập trung trong lĩnh vực kinh tế,

chính trị, văn hóa, xã hội. Song, Đảng chỉ có thể lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết

quả khi các cấp ủy địa phương, nhất là các tỉnh ủy, trong đó có các tỉnh ủy ở ĐBSH

tăng cường lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả. Nghiên cứu tìm giải pháp khả thi

cho vấn đề này là vấn đề rất cấp thiết hiện nay.

2. Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử, mang tính giai cấp, dùng để chỉ

trình độ phát triển của một chế độ xã hội, được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực đời

sống xã hội, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội..., phản ánh

mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa thưởng

và phạt của cá nhân (nhóm xã hội), bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định, hài hòa,

phù hợp với xu thế phát triển của xã hội loài người, vừa là khát vọng của con người,

vừa là động lực, mục tiêu phát triển của xã hội.

Các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH là toàn bộ hoạt động của các

tỉnh ủy, trên cơ sở quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp

luật của Nhà nước về thực hiện CBXH, ban hành các nghị quyết, quyết định về thực

hiện CBXH, chỉ đạo các cấp uỷ trực thuộc, các cơ quan nhà nước, các lực lượng xã

hội ở địa phương tổ chức thực hiện; đồng thời kiểm tra, giám sát việc thực hiện để

các nghị quyết của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH trở thành hiện thực.

3. Trong những năm qua, các tỉnh ủy ở ĐBSH đã lãnh đạo thực hiện CBXH

đạt kết quả quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội góp phần

to lớn vào sự phát triển toàn diện của các tỉnh. Tuy nhiên, sự lãnh đạo thực hiện

150

CBXH của các tỉnh ủy vẫn còn những hạn chế, yếu kém và bất cập. Các tỉnh ủy đã

xác định nguyên nhân và tìm giải pháp phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, yếu

kém để lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả cao hơn.

Từ thực tiễn lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy ở ĐBSH những năm

qua có thể rút ra những kinh nghiệm bổ ích: Một là, các tỉnh uỷ quán triệt sâu sắc

quan điểm, chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về tiến bộ, CBXH,

trên cơ sở đó kịp thời đề ra và tổ chức thực hiện nghị quyết về phát triển kinh tế - xã

hội đáp ứng yêu cầu về CBXH ở địa phương trong từng bước phát triển. Hai là, các

tỉnh ủy tập trung lãnh đạo chính quyền tỉnh tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương,

nghị quyết của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH; phối hợp chặt chẽ với lãnh đạo đổi mới

nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội và các

tổ chức xã hội tham gia vào th ực hiện CBXH ở địa phương. Ba là, bám sát th ực

tiễn, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh v ề CBXH để có ch ủ trương, giải

pháp phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn nhằm đáp ứng những yêu cầu thực hiện

CBXH ở địa phương. Bốn là, dựa chắc vào nhân dân, động viên nhân dân phát hiện

những cán bộ, đảng viên, tổ chức vi phạm quyền dân chủ, tham nhũng, lãng phí để

xử lý kịp thời, nghiêm minh.

4. Để tăng cường sự lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy ở ĐBSH

trong những năm tới cần thực hiện nhiều giải pháp. Trong đó, có thể nghiên cứu và

thực hiện đồng bộ những giải pháp chủ yếu do luận án đề xuất: Thứ nhất, nâng cao

nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên về thực hiện

CBXH. Thứ hai, đổi mới quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện tốt một số nghị

quyết chuyên đề của tỉnh uỷ về phát triển kinh tế và thực hiện CBXH. Thứ ba, xây

dựng chính quyền từ tỉnh đến cơ sở vững mạnh bảo đảm thực hiện CBXH đạt kết

quả tốt. Thứ tư, tăng cường thanh tra, xử lý sai ph ạm về thực hiện CBXH; ng ăn

chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm. Thứ năm, xây dựng các tỉnh ủy

vững mạnh thực sự là chủ thể lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả. Thứ sáu, nâng

cao năng lực lãnh đạo thực hiện CBXH của các tổ chức cơ sở đảng; phát huy vai trò

của MTTQ các đoàn thể chính tr ị - xã h ội, tổ chức xã hội, kinh tế, nhà hảo tâm

trong thực hiện CBXH. Thứ bảy, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương

đối với các tỉnh ủy trong lãnh đạo thực hiện CBXH.

151

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Nguyễn Xuân Hưng (2012), “Đẩy mạnh thực hiện chính sách đối với người

có công với cách mạng trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Quản lý nhà

nước, (198), tr.23-26.

2. Nguyễn Xuân Hưng (2012), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối

với chính quyền nhà nước”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (07), tr.78-81.

3. Nguyễn Xuân H ưng (đồng ch ủ biên) (2011), Hỏi đáp về thi hành Điều lệ

Đảng, Nxb Chính trị - Hành chính.

4. Nguyễn Xuân Hưng (đồng chủ biên) (2015), Bí thư huyện ủy trong giai đoạn

hiện nay, Nxb Lý luận chính trị.

5. Nguyễn Xuân Hưng (2015), “Kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện công bằng xã

hội của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng hiện nay”, Tạp chí Trí thức

và Phát triển, Kỳ 1, (51), 106-108.

6. Nguyễn Xuân Hưng (2016), “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời

sống văn hóa nông thôn - kinh nghi ệm và gi ải pháp”, Tạp chí Trí th ức

và Phát triển, (56+57+58), tr.273-276.

152

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Tổ chức Tỉnh ủy tỉnh Ninh Bình (2015), Báo cáo tình hình công tác cán bộ,

Ninh Bình.

2. Ban Tổ chức Tỉnh ủy tỉnh Quảng Ninh (2015), Báo cáo tình hình công tác cán

bộ, Quảng Ninh.

3. Ban Tổ chức Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phúc (2015), Báo cáo tình hình công tác cán

bộ, Vĩnh Phúc.

4. Ban Tổ chức Trung ương (2015), Báo cáo công tác cán bộ, Hà Nội.

5. Bộ Lao động - Th ương binh và Xã h ội (2004), Vấn đề phân ph ối và phân

hóa giàu nghèo trong điều kiện phát tri ển kinh tế thị trường theo định

hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Kỷ yếu Hội thảo, Nxb Lao động -

Xã hội, Hà Nội.

6. Bộ Tư pháp (2004), Sách tra cứu các mục từ về tổ chức (2004), Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

7. Bun Thoong Chit Ma Ni (2011), Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây

dựng nông thôn m ới trong giai đoạn hiện nay, Luận án Ti ến sĩ chuyên

ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí

Minh, Hà Nội.

8. C.Mác, Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9. C.Mác, Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10. Trần Quang Cảnh (2010), Đổi mới phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối

với chính quyền huyện ở Đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay, Luận

án Ti ến sĩ chuyên ngành Xây d ựng Đảng, Học vi ện Chính tr ị - Hành

chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội..

11. Dang Guoying (2006), Nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở Trung Qu ốc

(Agriculture, rural areas and farmers in China) , Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội.

12. Lê Văn Diến (2013), Các huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo xây dựng nông

thôn mới giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng

Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ

Chí Minh, Hà Nội.

153

13. Lê Đăng Doanh, Nguyễn Minh Tú (1998), Tác động xã hội của cải cách kinh

tế đối với sự phát triển vùng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

14. Phạm Tất Dong (2000), "T ăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội -

một nội dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", Tạp

chí Quốc phòng toàn dân, (7), tr.29-33.

15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.

16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban Ch ấp

hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ bảy Ban Ch ấp

hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 15-12- 2000

của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển thủ đô Hà Nội trong thời

kỳ 2001-2010, Hà Nội.

21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp

hành Trung ương IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao

hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp

hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn ki ện Hội nghị lần th ứ ba Ban Ch ấp

hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

26. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam (2007), Văn ki ện Hội ngh ị lần th ứ tư Ban Ch ấp

hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

154

27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Ch ấp

hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

28. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Ch ấp

hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Kết luận số 13-KL/TW “V ề ti ếp tục thực

hiện Ngh ị quy ết Trung ương số 54-NQ/TW ngày 14-9-2005 c ủa Bộ

Chính trị khóa X về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng,

an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến

năm 2020”, Hà Nội.

30. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam (2011), Điều lệ Đảng Cộng sản Vi ệt Nam , Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

31. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

32. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Ch ấp

hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

33. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Ch ấp

hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

34. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XII, Văn phòng Trung ương Đảng xuất bản, Hà Nội.

35. Đảng Cộng sản Trung Qu ốc (2006), Về xây dựng xã hội hài hòa xã h ội chủ

nghĩa (Quyết định của Hội ngh ị Trung ương lần th ứ sáu, khóa XVI,

Đảng Cộng sản Trung Qu ốc; Thông tin nh ững vấn đề lý lu ận phục vụ

lãnh đạo, số 21-22 tháng 11-2006, Học viện Chính tr ị quốc gia Hồ Chí

Minh), Hà Nội.

36. Nguyễn Hữu Đổng (2001), Sự hình thành thu nhập cá nhân trong các doanh

nghiệp nhà nước theo hướng đảm bảo công b ằng xã hội ở Việt Nam,

Luận án Ti ến sĩ Kinh t ế, Học vi ện Chính tr ị qu ốc gia H ồ Chí Minh,

Hà Nội.

37. H.S (2015), Khởi tố vụ án hình s ự liên quan đến 2 dự án ở Vĩnh Phúc, tại

trang http://vietnamnet.vn/vn/, [truy cập ngày 12/9/2015].

155

38. Lương Việt Hải (2004), "Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường

ở nước ta hiện nay", Tạp chí Triết học, 4 (155), tr.5-11.

39. Cát Chí Hoa (2009), Từ nông thôn m ới đến đất nước, con ng ười, Nguyễn

Thành Lợi, Nguyễn Minh Châu dịch, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

40. Trác Vệ Hoa (2008), "Lý lu ận và th ực tiễn cải cách và phát tri ển nông thôn

Trung Quốc 30 năm qua", Tạp chí Cộng sản, (12).

41. Nguyễn Minh Hoàn (2009), Công b ằng xã h ội trong ti ến bộ xã h ội, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

42. Học vi ện Chính tr ị qu ốc gia H ồ Chí Minh (1999), Những bài h ọc từ kinh

nghiệm tăng trưởng của khu vực Đông và Đông Nam Á, Sách tham khảo,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

43. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình cao

cấp lý luận chính trị, tập 6, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội.

44. Hội đồng quốc gia (2003), Từ điển bách khoa Vi ệt Nam, tập 1, Nxb Từ điển

Bách khoa, Hà Nội.

45. Phùng Văn Hùng (2002), "Vai trò của Nhà nước trong xây dựng nền kinh tế

thị trường ở Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 4 (4), tr.38- 41.

46. Phạm Th ị Hường (2013), Các huyện ủy ven bi ển tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo

phát triển văn hóa giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành

Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính tr ị - Hành chính

quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

47. Đỗ Huy (2009), Công bằng xã hội ở Việt Nam nh ận diện và gi ải pháp, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

48. Nguyễn Văn Huyên (2002), "Xây dựng nền kinh tế thị trường vì một xã hội

nhân văn", Tạp chí Triết học, 7 (134), tr.5-11.

49. Khăm bay ma la sinh (2009), Thực trạng đói, nghèo trong các hộ gia đình ở

nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, kiến nghị về chính sách, gi ải pháp, Luận

văn Thạc sĩ Xã hội học, Học viện Chính tr ị - Hành chính qu ốc gia Hồ

Chí Minh, Hà Nội.

156

50. Trần Trọng Khuê (2010), Chất lượng công tác tư tưởng của các đảng bộ xã có

đông đồng bào công giáo ở tỉnh Nam Định trong giai đoạn hi ện nay ,

Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Xây d ựng Đảng Cộng sản Việt Nam,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

51. Nguyễn Văn Kính (2008), Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và th ực hiện

CBXH ở Hải Phòng trong th ời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hi ện đại

hóa hiện nay, Luận văn Th ạc sĩ Tri ết học, Học vi ện Chính tr ị - Hành

chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

52. Hà Quốc Lâm (2002), Xóa đói, giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta

hiện nay - thực trạng và giải pháp, Sách tham khảo, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội.

53. Vũ Tự Lập (1991), Văn hóa và cư dân đồng bằng sống Hồng, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội.

54. Lê Bộ Lĩnh (chủ biên) (1998), Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một

số nước châu Á và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

55. Trần Đức Lương (2002), "Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

của dân, do dân, vì dân ngày càng trong s ạch, vững mạnh là một nhiệm

vụ quan trọng, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta", Tạp

chí Cộng sản, (1), tr.6-11.

56. M.Rô-den-tan, P.I-U-Đin (1976), Từ điển Triết học, Nxb Sự thật, Hà Nội

57. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

58. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

59. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

60. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

61. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

62. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

63. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

64. Phạm Xuân Nam (2007), Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường

và kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính tr ị

quốc gia, Hà Nội.

157

65. Dương Xuân Ngọc, Nguyễn Văn Nhớn (2002), "Vai trò của Nhà nước trong

thực hiện công bằng xã hội", Tạp chí Triết học (7), tr.37-39.

66. Nguyễn Hữu Nhân (2010), Thành ủy thành ph ố Hồ Chí Minh lãnh đạo cải

cách hành chính nhà n ước giai đoạn hiện nay, Luận án Ti ến sĩ chuyên

ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí

Minh, Hà Nội.

67. Lê Như Nhất (2007), Đảng bộ tỉnh Kon Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo

trong giai đoạn hi ện nay , Lu ận văn Th ạc sĩ chuyên ngành Xây d ựng

Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính tr ị qu ốc gia Hồ Chí Minh,

Hà Nội.

68. Nhóm Phóng viên điều tra (2015), Vụ đường dây "ăn đất" ở thành ph ố Hải

Dương: Thủ tướng chỉ đạo làm rõ, tại trang http://kinhdoanhnet.vn, [truy

cập ngày 20/5/2015].

69. Nguyễn Đức Nhuận (2008), Tỉnh ủy Thái Bình lãnh đạo công tác giáo d ục

phổ thông, Luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng

Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ

Chí Minh, Hà Nội.

70. Phêng Pha Văn Đao Phon Cha Rơn (2005), Về vấn đề nâng cao sử dụng vốn

đầu tư của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở Cộng

hòa Dân chủ nhân dân Lào, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

71. Hoàng Thị Bích Ph ương (2014), Thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững ở

tỉnh Bắc Giang (2008-2013), Tạp chí Lịch sử Đảng, (282), tr.85-87.

72. Trịnh Huy Quách (1996), "Bàn về công bằng trong thu nhập và ảnh hưởng của

nó đến tăng trưởng kinh tế", Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, (4),

tr.15-18.

73. Nguyễn Hồng Quân (2012), Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời

sống văn hóa ở nông thôn giai đoạn 1997-2010, Luận văn Thạc sĩ chuyên

ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội.

74. Nguyễn Trần Quế (1997), "T ăng trưởng kinh tế và công b ằng xã hội ở Việt

Nam", Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, 6(50), tr.19- 24

158

75. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Xây dựng,

Hà Nội.

76. Quốc hội nước Cộng hòa xã h ội ch ủ ngh ĩa Việt Nam (2005), Luật Đầu tư,

Hà Nội.

77. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật khiếu nại tố

cáo, Hà Nội.

78. Quốc hội nước Cộng hòa xã h ội ch ủ ngh ĩa Vi ệt Nam (2013), Hiến pháp ,

Hà Nội.

79. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Hiến pháp nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

80. Nguyễn Duy Quý (2010), Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

81. Lương Xuân Quỳ (2002), Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ

nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

82. Rechard Bergeron (1995), Phản phát triển, các giá của chủ nghĩa tự do, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

83. Lê Văn Sang, Kim Ngọc (đồng chủ biên) (1999), Tăng trưởng kinh tế và công

bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn “thần kỳ” và Vi ệt Nam th ời kỳ “đổi

mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

84. Trịnh Sơn (2010), Các huyện uỷ ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xoá đói,

giảm nghèo giai đoạn hi ện nay , Luận văn Th ạc sĩ chuyên ngành Xây

dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính tr ị - Hành chính qu ốc

gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

85. Lương Sơn (1991), "Công bằng xã hội trong kinh tế thị trường", Tạp chí Cộng

sản, (11), tr.33-35.

86. Nguyễn Đình Tấn (2014), "S ự phát tri ển nhận th ức của Đảng về CBXH và

xóa đói, giảm nghèo", Tạp chí Lý luận chính trị, (7), tr.3-7.

87. Lê Hữu Tầng (2008), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc thực

hiện công bằng xã hội ở Vi ệt Nam hi ện nay , Nxb Chính tr ị qu ốc gia,

Hà Nội.

159

88. Phương Ngọc Thạch (2005), "Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế -

xã hội", Tạp chí Phát triển Kinh tế, (5), tr.14-18.

89. Ngô Ngọc Thắng (2014), "Chính sách an sinh xã h ội trong bối cảnh tái cấu

trúc mô hình tăng trưởng", Tạp chí Lý luận chính trị, (1), tr.16-21.

90. Ngô Quang Thành (2000), "Các định tố của bất bình đẳng về thu nh ập và

chiến lược tăng trưởng kinh tế trong công bằng xã hội cho Vi ệt Nam",

Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (8), tr.3-10.

91. Nguyễn Gia Th ơ (2007), Vấn đề công bằng và bình đẳng trong lịch sử triết

học phương Tây, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

92. Thông tin khoa học xã hội (1998), Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị

trường, Hà Nội.

93. Tỉnh Bắc Ninh (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội

94. Tỉnh Hà Nam (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội.

95. Tỉnh Hải Dương (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội

96. Tỉnh Hưng Yên (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội

97. Tỉnh Nam Định (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội.

98. Tỉnh Ninh Bình (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội.

99. Tỉnh Quảng Ninh (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội.

100. Tỉnh Thái Bình (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội.

101. Tỉnh Vĩnh Phúc (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội.

102. Tỉnh ủy Bắc Ninh (2014), Báo cáo công tác xây d ựng Đảng năm 2013 và

phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Bắc Ninh.

103. Tỉnh ủy Hà Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần th ứ

XVII nhiệm kỳ 2006 - 2010, Hà Nam.

104. Tỉnh ủy Hà Nam (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần th ứ

XVIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015, Hà Nam.

105. Tỉnh ủy Hà Nam (2013), Báo cáo v ề kết qu ả th ực hi ện Kết lu ận số 04-

KL/TW, ngày 1/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về kết quả thực

hiện Ch ỉ th ị số 32,CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong

công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của cán bộ, nhân dân, Hà Nam.

160

106. Tỉnh ủy Hải Dương (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ

XV nhiệm kỳ 2010 - 2015, Hải Dương.

107. Tỉnh ủy Hải Dương (2014), Báo cáo công tác xây dựng Đảng năm 2013 và

phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Hải Dương.

108. Tỉnh ủy Hưng Yên (2011), Đề án số 01-ĐA/TU, ngày 5/5/2011 về nâng cao

chất lượng thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở xã, phường thị trấn trên

địa bàn tỉnh 1011-2015, Hưng Yên.

109. Tỉnh ủy Hưng Yên (2013), Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết

Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Hưng Yên.

110. Tỉnh ủy Hưng Yên (2014), Báo cáo kết quả thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ

sở năm 2013 của Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở 2013

và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Hưng Yên.

111. Tỉnh ủy Nam Định (2013), Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết

Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nam Định.

112. Tỉnh ủy Nam Định (2014), Báo cáo kết quả thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ

sở năm 2013 của Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở 2013

và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Nam Định.

113. Tỉnh ủy Nam Định (2014), Báo cáo công tác xây d ựng Đảng năm 2013 và

phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Nam Định.

114. Tỉnh ủy Ninh Bình (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ

XIX nhiệm kỳ 2006 - 2010, Ninh Bình.

115. Tỉnh ủy Ninh Bình (2007), Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TU

ngày15/10/2007 của Tỉnh uỷ về tăng cường lãnh đạo đối với công tác

giảm nghèo đến năm 2010, Ninh Bình.

116. Tỉnh ủy Ninh Bình (2008), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết

Trung ương 2, khóa VIII của Đảng về giáo dục và đào tạo, Ninh Bình.

117. Tỉnh ủy Ninh Bình (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ

XX nhiệm kỳ 2010 - 2015, Ninh Bình.

161

118. Tỉnh ủy Ninh Bình (2014), Báo cáo kết quả thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ

sở năm 2013 của Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở 2013

và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Ninh Bình.

119. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2013), Báo cáo về kết quả thực hiện Kết luận số 04-

KL/TW, ngày 1/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về kết quả thực

hiện Chỉ thị số 32,CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công

tác phổ biến, giáo dục pháp luật của cán bộ, nhân dân, Quảng Ninh.

120. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2013), Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết

Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Quảng Ninh.

121. Tỉnh ủy Thái Bình (2013), Báo cáo về kết qu ả th ực hi ện Kết lu ận số 04-

KL/TW, ngày 1/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về kết quả thực

hiện Ch ỉ th ị số 32,CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong

công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của cán bộ, nhân dân, Thái Bình.

122. Tỉnh ủy Thái Bình (2014), Báo cáo công tác xây d ựng Đảng năm 2013 và

phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Thái Bình.

123. Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc (2006), Nghị quyết số 03-NQ về phát triển nông nghiệp,

nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006-2010, định

hướng đến năm 2020, Vĩnh Phúc.

124. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ

XIV, nhiệm kỳ 2006 - 2010, Vĩnh Phúc.

125. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ

XV nhiệm kỳ 2010 - 2015, Vĩnh Phúc.

126. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2011), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 61-

CT/TW, ngày 28-12-2000 của Bộ Chính tr ị về vi ệc th ực hi ện ph ổ cập

trung học cơ sở, Vĩnh Phúc.

127. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2011), Nghị quy ết về phát tri ển dịch vụ, du lịch tỉnh

Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2020, Vĩnh Phúc.

128. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2013), Báo cáo về kết quả th ực hiện Kết lu ận số 04-

KL/TW, ngày 1/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về kết quả thực

hiện Ch ỉ th ị số 32,CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong

công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của cán bộ, nhân dân, Vĩnh Phúc.

162

129. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2013), Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết

Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Vĩnh Phúc.

130. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2014), Báo cáo kết quả thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ

sở năm 2013 của Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở 2013

và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Vĩnh Phúc.

131. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ

XVI nhiệm kỳ 2015 - 2020, Vĩnh Phúc.

132. Tổng Cục thống kê (2009), Niên giám thống kê tóm tắt, Nxb Thống Kê Hà Nội

133. Trung tâm Từ điển bách khoa (1995), Từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội.

134. Minh Tuấn (2015), 3 nữ cán bộ Sở GTVT Nam Định tham ô gần 4 tỉ đồng,tại

trang http://nld.com.vn/phap-luat, [truy cập ngày 20/8/2015].

135. Trịnh Quốc Tuấn (chủ nhiệm) (2000), Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ

và công bằng xã hội trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát

triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đề tài

cấp bộ 1999-2000, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

136. Vũ Anh Tu ấn (2001), Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo công bằng

xã hội ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

137. Hà Vũ Tuyến (2014), "Công tác đào tạo nghề ở Vĩnh Phúc - kết quả và một

số kinh nghiệm", Tạp chí Lịch sử Đảng, (282), tr.85-87.

138. Ủy ban Ki ểm tra Trung ương (2015), Báo cáo tình hình công tác cán b ộ,

Hà Nội.

139. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2013), Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện

Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII v ề xây dựng và phát tri ển nền văn

hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Bắc Ninh.

140. Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định (2011), Chương trình hành động thực hiện

Kết luận số 43/KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết

số 46/-NQ/TW, ngày 23-02-2005 của Bộ Chính trị về “công tác bảo vệ

chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới” và Chỉ

thị số 06-CT/TW, ngày 22-01-2002 của Ban Bí thư (khoá IX) về “củng

cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở”, Nam Định.

163

141. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (2014), Báo cáo thực hiện chính sách, pháp

luật về giảm nghèo tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005-2012, Vĩnh Phúc.

142. Viện Khoa h ọc xã h ội Vi ệt Nam (VASS), German Catholic Action For

Human Development (MISEREOR) (2007), "Công bằng xã h ội, trách

nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội" "social justice, social responsibility and

social solidarity"; Hội thảo Quốc tế International Conference: , Hà Nội.

143. Viện Kiểm sát nhân dân huy ện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (2015), Báo cáo

công tác kiểm sát, Bắc Ninh.

144. Nguyễn Thế Vinh (2010), Các Quận ủy ở Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo

công tác giảm nghèo giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành

Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính tr ị - Hành chính

quốc gia Hồ Chí Minh

145. Xỉn Xỏn Phun Bun Sỉ (2010), Kinh tế nông thôn ở Cộng hòa Dân chủ nhân

dân Lào thời kỳ đổi mới, Luận án Ti ến sĩ Kinh tế, Học viện Chính tr ị -

Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

146. Nguyễn Nh ư Ý (ch ủ biên) (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb V ăn hóa -

Thông tin, Hà Nội.

164

PHỤ LỤC

Phụ lục 1

THỐNG KÊ DIỆN TÍCH, DÂN SỐ, ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH, LAO ĐỘNG CÁC TỈNH ĐBSH ĐẾN NĂM 2014

Lao động từ 15t trở lên (nghìn người)

Tỷ lệ lao động thất nghiệp

TT

Tỉnh

Huyện

Tỷ lệ lao động thất nghiệp

Phường, thị trấn

Lao động từ 15t trở lên (nghìn người)

Diện tích (km2)

Dân số (Nghìn người)

Mật độ dân số (người/km2)

Thành phố, thị xã

2008

2012

2008

2012

2014

1237,5

1041,9

842

112

7

1 Vĩnh Phúc

25

575,510

619,500

1,3

1,0

631,189

1,0

2

822,7

1131,2

1375

100

6

2 Bắc Ninh

26

585,513

606,053

2,22

1,74

647,932

1,43

2

6102,3

1218,9

197

115

9

3 Quảng Ninh

71

572,0

1,44

697,23

0,34

5

2,84 (năm 2010)

682,8 (năm 2014)

1 6 5

926,0

4 Hưng Yên

1158,0

1252

16

145

673,662

712,643

1,44

1,62

742,682

1,51

1

9

1656,0

5 Hải Dương

1763,2

1065

10

227

1000,016

1050,520

1,074,16

-

2

38

1570,9

6

Thái Bình

1788,7

1139

267

997,700

1012,0

0,72

0,80

1412

0,79

1

7

19

1653,2

7 Nam Định

1845,5

1119

194

1033,953

1051,657

1,38

1,88

1083487

1,81

1

9

35

1377,5

-

-

-

-

8 Ninh Bình

935,8

679

122

455,2

2

6

23

569,45 (năm 2014)

862,0

2,3

476,473

0,7

9 Hà Nam

799,3

927

103

452,016

456,736

1

5

13

2,2 (năm 2009)

Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]

Phụ lục 2

TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

NĂM 2010 -2014

Đơn vị tính: %

2012

2013

2014

TT

Tỉnh

2010

2011

10.7

11.5

12.5

1

Nam Định

12.5

8.3

15.0

12.0

13.15

2

Hà Nam

17.7

14.5

6.8

9.2

7.7

3

Hải Dương

12.7

9.8

1 6 6

8.2

7.3

7.55

4

Hưng Yên

12.5

12.4

10.9

11.0

9.8

5

Ninh Bình

15.6

11.5

7.3

8.2

7.83

6

Thái Bình

7.5

7.2

12.3

10.2

16.2

7

Bắc Ninh

17.86

16.2

5.03

7.6

6,11

8

Vĩnh Phúc

6.78

5.89

7.0

7.1

8.8

9

Quảng Ninh

12.6

11.9

Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]

Biểu đồ: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2010 - 2014

1 6 7

Phụ lục 3

GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CỦA MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG THEO CÁC NĂM (theo giá hiện hành)

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Năm 2010

Năm 2012

Năm 2014

TT

Các tỉnh

DV

DV Tổng

NN

DV Tổng NN

Tổng NN

CN & XD

CN & XD

CN & XD

1

Nam Định

62.101

15.660

32.575

13.866

91.174

20.898

49.794

20.497

117.596

22.852

66.739

28.005

2

Hà Nam

32.881

6.539

20.280

6.061

53.977

8.258

36.023

9.696

76.424

8.631

55.399

12.394

3

Hải Dương

105.004

14.192

71.547

19.265

144.700

18.725

99.280

26.695

187.604

19.572

136.666

31.366

1 6 8

4

Hưng Yên

77.027

9.906

57.011

10.110

116.988

13.053

88.659

15.275

141.795

13.068

107.160

21.367

5

Ninh Bình

43.943

7.389

26.127

10.427

66.475

9.465

40.107

16.903

872.843

99.661

56.185

21.132

6

Thái Bình

30.311

10.397

9.794

9.650

43.490

13.868

13.989

15.078

47.521

16.971

12.412

16.139

7

Bắc Ninh

140.744

8.001

121.383

11.360

454.685

10.117

427.478

17.090

675.167

10.275

641.751

23.141

8

Vĩnh Phúc

104.707

7.779

83.502

13.426

147.870

9.873

119.755

18.422

170.225

11.175

128.826

22.305

9

Quảng Ninh

41.841

2.373

21.914

13.388

63.887

3.611

33.481

20.334

194.114

12.245

141.927

39.942

NN: Nông nghiệp. CN&XD: Công nghi

ệp và xây dựng. DV: D

ịch vụ

Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]

Biểu đồ: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CỦA MỘT SỐ TỈNH ĐBSH NĂM 2010

1 6 9

Phụ lục 4

TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA TỈNH ỦY VIÊN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

(TÍNH ĐẾN THÁNG 12-2014)

Đơn vị tính: người

Trình độ

Trình độ lý luận

Số cán bộ

Độ tuổi

chuyên môn

TT

Tỉnh ủy

Nam

Nữ

35-44

45-54

55-60

Đại học Sau đại học

CNCT

CCLL

Bắc Ninh

1

48

5

3

20

31

20

33

22

31

Hà Nam

2

46

5

3

18

30

40

10

22

29

1 7 0

Hải Dương

3

46

9

3

24

29

14

40

46

8

Hưng Yên

4

48

7

5

21

27

45

10

45

10

Nam Định

5

49

6

4

17

32

46

9

33

25

Ninh Bình

6

48

6

3

20

30

34

20

25

27

Quảng Ninh

7

47

8

4

19

34

45

10

31

24

Thái Bình

8

47

5

3

24

26

43

9

23

29

Vĩnh Phúc

9

49

5

3

25

26

29

25

35

19

Tổng

428

56

31

188

265

316

166

282

202

Nguồn: Ban Tổ chức Trung ương [4]

Phụ lục 5a

TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN VÀ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ỦY VIÊN BTV

TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG (TÍNH ĐẾN THÁNG 12-2014)

Đơn vị tính: người

Số cán bộ

Độ tuổi

Trình độchuyên môn

Trình độ lý luận

TT

Tỉnh ủy

Nam

Nữ

35-44

45-54

55-60

Đại học

Sau đại học

CNCT

CCLL

Bắc Ninh

13

1

0

0

3

10

3

10

10

3

Hà Nam

13

2

1

0

5

9

9

5

7

7

Hải Dương

14

3

0

0

4

10

6

8

12

2

Hưng Yên

14

4

1

1

5

8

11

4

15

0

1 7 1

Nam Định

14

5

0

0

4

10

10

4

10

4

Ninh Bình

13

6

1

0

2

12

10

4

7

7

Quảng Ninh

14

7

2

0

5

11

12

4

12

4

Thái Bình

13

8

0

0

6

7

10

3

4

9

Vĩnh Phúc

9

9

2

1

6

5

5

6

11

0

7

2

Tổng

117

40

82

76

48

88

36

Nguồn: Ủy ban kiểm tra Trung ương [138]

Phụ lục 5b

TỔNG HỢP VỀ GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI, TRÌNH ĐỘ CỦA TỈNH ỦY VIÊN

TỈNH ỦY NINH BÌNH, QUẢNG NINH, VĨNH PHÚC NHIỆM KỲ 2015-2020

(TÍNH ĐẾN THÁNG 10 NĂM 2015)

Đơn vị tính: người

Trình độ

Số cán bộ

Tuổi

Trình độ chuyên môn

lý luận

TT

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh

Cử nhân

Cao cấp

Nam Nữ

35 đến 45 46 đến 55 56 trở lên

Đại học

Sau đại học

chính trị

lý luận

1 7 2

1

Ninh Bình

43

8

12

29

17

37

15

34

10

2

Quảng Ninh

46

10

13

29

21

35

18

37

12

3

Vĩnh Phúc

47

5

11

34

15

37

23

29

7

Nguồn: Ban Tổ chức [1; 2; 3]

Biểu đồ: TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, LÝ LUẬN CHÍNH

Biểu đồ: ĐỘ TUỔI CỦA TỈNH ỦY VIÊN

TRỊ CỦA TỈNH ỦY VIÊN Ở ĐBSH TÍNH ĐẾN NĂM 2014

Ở ĐBSH TÍNH ĐẾN NĂM 2014

1 7 3

Biểu đồ: ĐỘ TUỔI CỦA ỦY VIÊN BTV

Biểu đồ: TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, LÝ LUẬN CHÍNH

Ở ĐBSH TÍNH ĐẾN NĂM 2014

TRỊ CỦA ỦY VIÊN BTV Ở ĐBSH TÍNH ĐẾN NĂM 2014

1 7 4

Biểu đồ: ĐỘ TUỔI, TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA TỈNH ỦY VIÊN

Ở 3 TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TỪ NĂM 2010-2015 VÀ TỪ NĂM 2015-2020

1 7 5

Phụ lục 6

THỐNG KÊ GIÁO DỤC MẦM NON VÀ PHỔ THÔNG

CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, ĐẾN NĂM 2014

Giáo dục mầm non

Tiểu học

Giáo dục phổ thông Trung học cơ sở

TT

Tỉnh

Trường mầm non

Số học sinh (người)

Số giáo viên (người)

Số trường

Số học sinh

Số trường

Số học sinh

Số trường

Số học sinh

1 7 6

1 Vĩnh Phúc 2 Bắc Ninh 3 Qu ảng Ninh 4 Hưng Yên 5 Hải Dương 6 Thái Bình 7 Nam Định 8 Ninh Bình 9 Hà Nam

183 159 211 177 109 301 266 150 116

68502 71500 62500 69028 111016 95384 98031 40098 44653

3596 3620 6201 3672 7135 6557 6632 2504 2804

Số giáo viên 4225 91919 4109 93100 5924 95898 89484 4353 129867 7304 126100 7357 139518 6756 3550 67869 2987 59402

173 153 183 169 281 295 293 150 140

146 135 147 171 272 271 242 142 119

Số giáo viên 57543 4113 64400 3908 4578 65203 602250 4282 5828 93823 97100 6791 104534 6539 3352 48893 2956 43308

Trung học phổ thông Số giáo viên 2054 2237 2410 1982 2811 2593 3213 1532 1340

28802 37700 38724 33620 50886 54600 56336 23894 25196

37 35 44 38 54 39 57 27 26

Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]

Biểu đồ: SỐ GIÁO VIÊN MẦN NON, TIỂU HỌC,

Biểu đồ: GIÁO VIÊN TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP,

TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC

Ở CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014

Ở CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014

1 7 7

Phụ lục 7

THỐNG KÊ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP, CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, ĐẾN NĂM 2014

Giáo dục mầm non

Giáo dục phổ thông

Tiểu học

Trung học cơ sở

Trung học phổ thông

TT

Tỉnh

Trường mầm non

Số học sinh (người)

Số giáo viên (người)

Số trường

Số học sinh

Số trường

Số học sinh

Số trường

Số học sinh

Số giáo viên

Số giáo viên

Số giáo viên

1 Vĩnh Phúc

183

68502

3596

173

91919

4225

146

57543

4113

28802

2054

37

2 Bắc Ninh

159

71500

3620

153

93100

4109

135

64400

3908

37700

2237

35

3 Qu ảng Ninh

211

62500

6201

183

95898

5924

147

65203

4578

38724

2410

44

1 7 8

4 Hưng Yên

177

69028

3672

169

89484

4353

171

602250

4282

33620

1982

38

5 Hải Dương

109

111016

7135

281

129867

7304

272

93823

5828

50886

2811

54

6 Thái Bình

301

95384

6557

295

126100

7357

271

97100

6791

54600

2593

39

7 Nam Định

266

98031

6632

293

139518

6756

242

104534

6539

56336

3213

57

8 Ninh Bình

150

40098

2504

150

67869

3550

142

48893

3352

23894

1532

27

9 Hà Nam

116

44653

2804

140

59402

2987

119

43308

2956

25196

1340

26

Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]

Biểu đồ: GIÁO VIÊN TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP,

Biểu đồ: SỐ GIÁO VIÊN MẦN NON, TIỂU HỌC,

CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC

TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Ở CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014

Ở CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014

1 7 9

Phụ lục 8

THỐNG KÊ CƠ SỞ Y TẾ, CÁN BỘ Y TẾ CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, ĐẾN NĂM 2014

Năm 2008

Năm 2012

Năm 2014

TT

Tỉnh

á t

á t

á t

ã x

Y

Y

Y

i

i

i

ã x ế t

ã x ế t

h n ệ b

h n ệ b

h n ệ b

ĩ s c á B

ĩ s c á B

ĩ s c á B

y m ạ r T

y m ạ r T

g n ờ ư G

g n ờ ư G

g n ờ ư G

ĩ s c ợ ư D

ĩ s c ợ ư D

ĩ s c ợ ư D

á t c ợ ư D

á t c ợ ư D

á t c ợ ư D

ế t y m ạ r T

n ệ i v h n ệ B

n ệ i v h n ệ B

n ệ i v h n ệ B

1 Vĩnh Phúc

10 2520

138

666

90

931

430

17

4460 139

839

87

1426 156 18 3220

-

1059

99

1760

147

2 Bắc Ninh

14 2205

126

626

52

565

56

16

2788 126

795 979

82

90

16 3346 126

1144

177

925

65

3 Qu ảng Ninh

22 3996

186

744

135

960

90

22

5692 186 1038

193 2076

18

23 5882 186

1416

93

784

08

1 8 0

4 Hưng Yên

16 1680

162

509

117

691

17

19

2435 162

827 264

1206

11

19 2605 162

991

74

1277

12

5 Hải Dương

17 4067

263

815

103 1078 276

22

5136 265

976

96

1713 259 25 5681 265

1377

247 1960

267

6 Thái Bình

20 3343

285 1330 167

999

494

24

4718 286 1499

286 1239 752 24 5189 286

1411

124 1346

69

7 Nam Định

19 4116

229

844

508 1121 663

20

4466 229 1001

765 1233 548 21 4908 229

1065

128 1502

547

8 Ninh Bình

16 2240

72

633

157

779

64

17

2800

73

533 271

1037

66

14 2870 145

608

243 1022

37

9 Hà Nam

13 2340

116

498

70

601

282

13

2488 116

625

33

1167 146 13 2504 116

550

68

919

197

Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]

Chú thích: * Số liệu thống kê năm 2009

Phụ lục 9

THỐNG KÊ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN

CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, ĐẾN NĂM 2014

Bệnh HIV/AIDS

TT

Tỉnh

Người bị AIDS

Bác sĩ trên 1 vạn dân (người)

Giường bệnh trên 1 vạn dân (giường)

Tỷ lệ trạm y tế cơ sở có bác sĩ (%)

Số người chết vì dịch bệnh (%)

Trẻ em được tiêm chủng các loại vác xin (%)

Trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (%)

Người nhiễm HIV

Người chết vì AIDS

1 Vĩnh Phúc

10,16

30,90

98,50

11,20

1648

1118

542

86,0

9

2 Bắc Ninh

10,1

29,5

99,2

0

98,2

10,8

686

-

-

1 8 1

3 Quảng Ninh

12,0

50,0

-

1

95,6

14,8

306

336

178

4 Hưng Yên

8,56

29,49

100

3

98,10

13,5

95

110

58

5 Hải Dương

7,8

26,6

76,0

0

>99

12,5

248

95

19

6 Thái Bình

7,89

0

29,01

80,76

3581

1249

99,8

14,1

858

7 Nam Định

5,8

26,6

82,8

6

94,8

13,4

194

-

105

8 Ninh Bình

6,5

24,6

68,9

0

97,4

14,5

-

-

-

9 Hà Nam

6,3

31,6

70,7

0

99,3

13,3

-

-

607

Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]

Phụ lục 10

THỐNG KÊ MỨC SỐNG DÂN CƯ VÀ AN TOÀN XÃ HỘI

CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, ĐẾN NĂM 2013

TT

Tỉnh

Tỷ lệ hộ nghèo (%)

Thu nhập bình quân (VNĐ)

Tiêu thụ gạo 1 tháng theo đầu người (kg/người/tháng)

Tiêu thụ thịt 1 tháng theo đầu người (kg/người/tháng)

Tỷ lệ hộ dân có ô tô (%)

Tỷ lệ hộ dân có xe máy (%)

Tai nạn giao thông đường bộ (vụ)

Tỷ lệ hộ dân có tivi màu (%)

1

Vĩnh Phúc

-

-

-

-

-

-

-

-

2

Bắc Ninh

4,27

2436,5

9,5

2,6

83,6

1,3

135

95,9

3

Quảng Ninh

5,08

2211,8

9,48

2,27

76,81

3,26

108

92,71

1 8 2

4

Hưng Yên

7,3

1800

9,5

2,53

-

-

177*

-

5

Hải Dương

7,5

2062

10,24

2,32

72,78

169

96,64

6

Thái Bình

10,9

1700

14

28,32

67,97

1,04

65

90,3

7

Nam Định

6,72

1857,8

9,71

2,02

66,56

0,62

62

89,23

8

Ninh Bình

9,4

1857,3

-

-

-

64

-

9

Hà Nam

8,83

1804,1

10,63

2,25

73,17

1,63

95

96,75

Nguồn: Niên giám thống kê 2013 các tỉnh [81 - 87]

Chú thích: *: Tai nạn giao thông chung

Phụ lục 11

CHI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO VÀ DẠY NGHỀ

Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG NĂM 2009 -2014

Đơn vị tính: Triệu đồng/ Tỷ lệ %

2009

2010

2011

2012

2013

2014

Năm

TT

Tỉnh

Triệu đồng

Tỷ lệ %

Triệu đồng

Tỷ lệ %

Triệu đồng

Tỷ lệ %

Triệu đồng

Tỷ lệ %

Triệu đồng

Tỷ lệ %

Triệu đồng

Tỷ lệ %

1

Nam Định

105670

16,5

1189535

18,24 1577815

18,37

2024373

19,47

2140259

25,17 2591528 27,27

2

Hà Nam

455007

15,5

492113

15,3

646167

17,1

949888

20,1

1160797

21,6

1150825 29,15

3

Hải Dương

134500

1,46

1448885

15,5

1602285

14,7

2085260

16,0

2532503

16,6

2841984 13,78

1 8 3

4

Hưng Yên

533111

23,16

663286

21,81

844772

22,89

1155096

22,67

1354533

22,73 1565036 25,00

5

Thái Bình

955591

14,19 1130085

12,91 1468990

13,08

1989401

13,60

2566654

22,68 2465918 22,27

6

Bắc Ninh

639107

14.00

838800

13.00 1025700

14.90

1234200

15.90

1743500

19.10 1882300 17,68

7

Vĩnh Phúc

823.836

8.76

985327

8.33

1202684

8.43

1705883

16.49

1824685

10.13 1966979 11,42

8

Quảng Ninh

1019614

11.8

1304894

9.8

1710524

8.9

2358212

10.6

2607373

13.7

2564700 11,08

Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]

Phụ lục 12

CHI SỰ NGHIỆP KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

NĂM 2009- 2014

Đơn vị tính: Triệu đồng/ Tỷ lệ %

2009

2010

2011

2012

2013

2014

Năm

TT

Tỉnh

Tỷ lệ %

Tỷ lệ %

Tỷ lệ %

Tỷ lệ %

Tỷ lệ %

Triệu đồng

Triệu đồng

Triệu đồng

Triệu đồng

Tỷ lệ %

Triệu đồng

Triệu đồng

1 Nam Định

14.550

0,20

15.263

0,23

15.208

0,18

20.235

0,19

21.070

0,25

27898 2,93

2 Hà Nam

11610

0,4

11661

0,4

12367,1

0,3

11463

0,2

16171

0,3

17644 0,44

1 8 4

3 Hải Dương

18.250

0,2

20.736

0,2

22.136

0,2

21.081

0,2

50.807

0,3

54479 0,26

4 Thái Bình

12880

0,19

16044

0,18

15944

0,14

20930

0,14

25139

0,21

24386 0,22

5 Bắc Ninh

14.119

0.3

13.500

0.2

17.000

0.2

22.100

0.3

26.900

0.3

29600 2,78

6 Vĩnh Phúc

18.144

0.19

18.721

0.16

19.711

0.14

28.478

0.28

29.882

0.17

27571 0,16

0.2

18.699

0.1

28.200

0.1

55.861

0.3

60.409

0.3

38202 0,16

7 Quảng Ninh

16.373

Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]

Phụ lục 13

PHÂN BỔ NGÂN SÁCH CHO Y TẾ, DÂN SỐ VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG NĂM 2009 - 2014

Đơn vị tính: Triệu đồng/ Tỷ lệ %

2009

2010

2011

2012

2013

2014

Năm

TT

Tỉnh

Triệu đồng

Tỷ lệ %

Triệu đồng

Tỷ lệ %

Triệu đồng

Tỷ lệ %

Triệu đồng

Tỷ lệ %

Triệu đồng

Tỷ lệ %

Triệu đồng

Tỷ lệ %

1. Nam Định

354.960

5.5

380.591

5.84

485.167

5.65

598.905

5.76

619.946

7.29

819.847

8,62

2.

Hà Nam

118.000

4.0

122.552

3.8

225.590

6.0

301.007

6.4

308.312

5.7

291.242

7,37

1 8 5

3. Hải Dương

234.567

2.4

264.607

2.8

356.458

3.3

467.600

3.6

621.595

4.1

697.225

3,38

4. Thái Bình

234.525

3.48

317.192

3.62

381.571

3.40

563.800

3.86

711.600

4.16

433.813

3,96

5. Bắc Ninh

122.300

2.7

179.100

2.8

238.100

3.5

256.200

3.3

304.400

3.3

320.000

3,0

6. Vĩnh Phúc

188.932

2.01

251.198

2.12

287.057

2.01

581.123

5.62

792.553

4.40

622.706

3,6

7. Quảng Ninh 273.541

3.2

405.401

3.1

558.589

2.9

941.957

4.2

1.428.373

7.5

737.649

3,18

Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]

Phụ lục 14

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG, THƯƠNG BINH, LIỆT SỸ,

CHẤT ĐỘC DA CAM - CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ CÁC CHỈ TIÊU VỀ GIẢM NGHÈO VÀ NÔNG THÔN MỚI

Ở MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG QUA CÁC GIAI ĐOẠN

Đơn vị tính: %

I KẾT QUẢ THỰC HIỆN Ở VĨNH PHÚC QUA CÁC GIAI ĐOẠN

GIAI ĐOẠN

GIAI ĐOẠN

GIAI ĐOẠN

TT

KẾT QUẢ THỰC HIỆN

2001-2005

2006-2010

2011-2015

- Thực hiện tốt các

- Thực hiện tốt các chính

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia

1 Chính sách đối với bà mẹ việt

1 8 6

chính sách và các gia

sách và các gia đình thương

đình thương binh, liệt sỹ có mức sống khá

nam anh hùng, gi đình chính

đình thương binh, liệt

binh, liệt sỹ, đạt 100%;

trở lên trong khu vực sinh sống, đạt 100%;

sách, thương binh liệt sỹ, đạt

sỹ, đạt 100%;

100%;

- Có chính sách hỗ trợ tốt cho người bị

nhiễm và nạn nhân chất độc da cam

- Nạn nhân chất độc da cam

2 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn

2001: 12,26%

2006: 18,6%

nghèo từ 2010 trở về trước

2005: 6,6%

2010:7,7%

-2010:11,5%; -2012: 8,7%

3 Tỷ lệ hộ nghèo theo Quyết định

số 09-/2011/QĐ-TTg về chuẩn

- 2013: 6,53%; -2014:4,93%

nghèo giai đoạn 2011-2015

4 Xoá nhà tạm cho hộ nghèo

Đến năm 2008, đã hoàn

thành hỗ trợ hộ nghèo nhà ở

theo Quyết định 167/QĐ-

TTg

5 Th ực hiện các tiêu chí xây

Đến: - Năm 2015, có 72/112 (chiếm

dựng nông thôn mới về tỷ lệ hộ

64,3%)xã đạt tiêu chí về nông thôn mới và tỷ

nghèo

lệ hộ nghèo

6 Xoá đói

Toàn tỉnh không có hộ đói Toàn tỉnh không có hộ đói

Chính sách người cao tuổi

Đến năm 2015: thực hiện tốt việc trợ cấp,

khám chữa bệnh cho người cao tuổi từ 75

7

1 8 7

tuổi trở lên, đạt 100%

8 Bảo hiểm y tế tư nguyện

2015: triển khai trên diện rộng đạt /50%

9 Tiêm chủng và khám chữa

- Tiểm chủng cho trẻ em đạt đến năm 2015:

bệnh cho trẻ em dưới 7 tuổi

100% theo quy định; thực hiện tốt công tác

khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi

10 Chính sách đối với người

Đến năm 2015: Có những chính sách hỗ chợ

khuyết tật

giảm bớt khó khăn và tạo việc làm thích hợp

11 Nh ững trẻ em mồ côi không

Đến năm 2015: Thành lập các trung tâm nỗi

nơi nương tựa

dưỡng trẻ mồ côi từ tuyến huyện trở lên

II KẾT QUẢ THỰC HIỆN Ở NINH BÌNH QUA CÁC GIAI ĐOẠN

TT

KẾT QUẢ THỰC HIỆN

GIAI ĐOẠN 2001-2005

GIAI ĐOẠN 2006-2010

GIAI ĐOẠN 2011-2015

1 Chính sách đối với bà mẹ việt

nam anh hùng, gi đình chính

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương binh, liệt sỹ có mức sống khá

binh, liệt sỹ, đạt 100%;

trở lên trong khu vực sinh sống, đạt 100%;

sách, thương binh liệt sỹ, đạt 100%;

đình thương binh, liệt sỹ, đạt 100%;

- Có chính sách hỗ trợ tốt cho người bị

- Nạn nhân chất độc da cam

nhiễm và nạn nhân chất độc da cam

2 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn

2000: 6,93%

2007: 11,38%

nghèo từ 2010 trở về trước

2005: 6,2,38%

2010: 12,39%

-2010: 12,39%; -2011: 9,85%

1 8 8

3 Tỷ lệ hộ nghèo theo Quyết định số 09-/2011/QĐ-TTg về chuẩn

- 2012: 7,54%; -2014: 6%; 2015:3,5%

nghèo giai đoạn 2011-2015

4 Xoá nhà tạm cho hộ nghèo

Đến năm 2015, đã hoàn thành hỗ trợ hộ

nghèo nhà ở theo Quyết định 167/QĐ-TTg

5 Thực hiện các tiêu chí xây

Đến năm 2015, có 32/119(26,9%) xã đạt tiêu

chí về tỷ lệ hộ nghèo

dựng nông thôn mới về tỷ lệ hộ nghèo

6 Xoá đói

Toàn tỉnh không có hộ đói Toàn tỉnh không có hộ đói

7 Chính sách người cao tuổi

Đến năm 2015: thực hiện tốt việc trợ cấp, khám chữa bệnh cho người cao tuổi từ 75

tuổi trở lên, đạt 100%

8 Bảo hiểm y tế tư nguyện

2015: triển khai trên diện rộng đạt /50%

9 Tiêm chủng và khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 7 tuổi

- Tiểm chủng cho trẻ em đạt đến năm 2015: 100% theo quy định; thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi

10 Chính sách đối với người

khuyết tật

Đến năm 2015: Có những chính sách hỗ chợ giảm bớt khó khăn và tạo việc làm thích hợp

11 Nh ững trẻ em mồ côi không

nơi nương tựa

Đến năm 2015: Thành lập các trung tâm nỗi dưỡng trẻ mồ côi từ tuyến huyện trở lên

III KẾT QUẢ THỰC HIỆN Ở BẮC NINH QUA CÁC GIAI ĐOẠN

TT

KẾT QUẢ THỰC HIỆN

GIAI ĐOẠN 2001-2005

GIAI ĐOẠN 2006-2010

GIAI ĐOẠN 2011-2015

1 Chính sách đối với bà mẹ việt

1 8 9

nam anh hùng, gi đình chính sách, thương binh liệt sỹ;

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương binh, liệt sỹ, đạt 100%

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương binh, liệt sỹ có mức sống khá trở lên trong khu vực sinh sống, đạt 100%;

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương binh, liệt sỹ, đạt 100%

- Nạn nhân chất độc da cam

- Có chính sách hỗ trợ tốt cho người bị nhiễm và nạn nhân chất độc da cam

2 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo từ 2010 trở về trước

-2011:5,5%;

-2014:2,56%; - 2015: 2,2

3 Tỷ lệ hộ nghèo theo Quyết định số 09-/2011/QĐ-TTg về chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015

4 Xoá nhà tạm cho hộ nghèo

Đến năm 2015, đã hoàn thành hỗ trợ hộ nghèo nhà ở theo Quyết định 167/QĐ-TTg

5 Thực hiện các tiêu chí xây

Đến năm 2015, số tiêu chí đạt chuẩn bình quân là 15,71 tiêu chí/xã

dựng nông thôn mới về tỷ lệ hộ nghèo

6 Xoá đói

Toàn tỉnh không có hộ đói Toàn tỉnh không có hộ đói

7 Chính sách người cao tuổi

Đến năm 2015: thực hiện tốt việc trợ cấp, khám chữa bệnh cho người cao tuổi từ 75 tuổi trở lên, đạt 100%

8 Bảo hiểm y tế tư nguyện

2015: triển khai trên diện rộng đạt /50%

9 Tiêm chủng và khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 7 tuổi

- Tiểm chủng cho trẻ em đạt đến năm 2015: 100% theo quy định; thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi

10 Chính sách đối với người

1 9 0

khuyết tật

Đến năm 2015: Có những chính sách hỗ chợ giảm bớt khó khăn và tạo việc làm thích hợp

11 Nh ững trẻ em mồ côi không

nơi nương tựa

Đến năm 2015: Thành lập các trung tâm nỗi dưỡng trẻ mồ côi từ tuyến huyện trở lên

IV KẾT QUẢ THỰC HIỆN Ở HƯNG YÊN QUA CÁC GIAI ĐOẠN

TT

KẾT QUẢ THỰC HIỆN

GIAI ĐOẠN 2001-2005

GIAI ĐOẠN 2006-2010

GIAI ĐOẠN 2011-2015

1 Chính sách đối với bà mẹ việt

nam anh hùng, gi đình chính

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương binh, liệt sỹ có mức sống khá

sách, thương binh liệt sỹ;

binh, liệt sỹ, đạt 100%

trở lên trong khu vực sinh sống, đạt 100%;

đình thương binh, liệt sỹ, đạt 100%

- Nạn nhân chất độc da cam

- Có chính sách hỗ trợ tốt cho người bị

nhiễm và nạn nhân chất độc da cam

2 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn

2006: 6%

nghèo từ 2010 trở về trước

3 Tỷ lệ hộ nghèo theo Quyết định

-2012: 6,77%

- 2013: <5%; -2015: 3,2%

số 09-/2011/QĐ-TTg về chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015

4 Xoá nhà tạm cho hộ nghèo

Đến năm 2015, đã hoàn thành hỗ trợ hộ nghèo nhà ở theo Quyết định 167/QĐ-TTg

5 Thực hiện các tiêu chí xây

Đến năm 2015, có 38/145 (26,2%) xã cơ

dựng nông thôn mới về tỷ lệ hộ

bản đạt 19 tiêu chí

nghèo

6 Xoá đói

Toàn tỉnh không có hộ đói Toàn tỉnh không có hộ đói

1 9 1

7 Chính sách người cao tuổi

Đến năm 2015: thực hiện tốt việc trợ cấp,

khám chữa bệnh cho người cao tuổi từ 75 tuổi trở lên, đạt 100%

8 Bảo hiểm y tế tư nguyện

2015: triển khai trên diện rộng đạt /50%

9 Tiêm chủng và khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 7 tuổi

- Tiểm chủng cho trẻ em đạt đến năm 2015: 100% theo quy định; thực hiện tốt công tác

khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi

10 Chính sách đối với người

Đến năm 2015: Có những chính sách hỗ chợ

khuyết tật

giảm bớt khó khăn và tạo việc làm thích hợp

11 Nh ững trẻ em mồ côi không

Đến năm 2015: Thành lập các trung tâm nỗi

nơi nương tựa

dưỡng trẻ mồ côi từ tuyến huyện trở lên

V KẾT QUẢ THỰC HIỆN Ở QUẢNG NINH QUA CÁC GIAI ĐOẠN

TT

KẾT QUẢ THỰC HIỆN

GIAI ĐOẠN 2001-2005

GIAI ĐOẠN 2006-2010

GIAI ĐOẠN 2011-2015

1 Chính sách đối với bà mẹ việt

nam anh hùng, gi đình chính

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương binh, liệt sỹ có mức sống khá

sách, thương binh liệt sỹ;

binh, liệt sỹ, đạt 100%

trở lên trong khu vực sinh sống, đạt 100%;

đình thương binh, liệt sỹ, đạt 100%

- Nạn nhân chất độc da cam

- Có chính sách hỗ trợ tốt cho người bị

nhiễm và nạn nhân chất độc da cam

2 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn

2001: %

2006: %

nghèo từ 2010 trở về trước

2005: %

2010:7,68%

-2010:7,68%; -2012- 2013: 2,52 %

1 9 2

3 Tỷ lệ hộ nghèo theo Quyết định số 09-/2011/QĐ-TTg về chuẩn

-2015:1,55%

nghèo giai đoạn 2011-2015

4 Xoá nhà tạm cho hộ nghèo

Đến năm 2015, đã hoàn thành hỗ trợ hộ

nghèo nhà ở theo Quyết định 167/QĐ-TTg

5 Thực hiện các tiêu chí xây

Đến năm 2015, 79/125 xã cơ bản đạt

chuẩn nông thôn mới;

dựng nông thôn mới về tỷ lệ hộ nghèo

6 Xoá đói

Toàn tỉnh không có hộ đói Toàn tỉnh không có hộ đói

7 Chính sách người cao tuổi

Đến năm 2015: thực hiện tốt việc trợ cấp, khám chữa bệnh cho người cao tuổi từ 75

tuổi trở lên, đạt 100%

8 Bảo hiểm y tế tư nguyện

2015: triển khai trên diện rộng đạt /50%

9 Tiêm chủng và khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 7 tuổi

- Tiểm chủng cho trẻ em đạt đến năm 2015: 100% theo quy định; thực hiện tốt công tác

khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi

10 Chính sách đối với người

Đến năm 2015: Có những chính sách hỗ chợ

khuyết tật

giảm bớt khó khăn và tạo việc làm thích hợp

11 Nh ững trẻ em mồ côi không

nơi nương tựa

Đến năm 2015: Thành lập các trung tâm nỗi dưỡng trẻ mồ côi từ tuyến huyện trở lên

VI KẾT QUẢ THỰC HIỆN Ở HẢI DƯƠNG QUA CÁC GIAI ĐOẠN

GIAI ĐOẠN

GIAI ĐOẠN

GIAI ĐOẠN

TT

KẾT QUẢ THỰC HIỆN

2001-2005

2006-2010

2011-2015

1 9 3

1 Chính sách đối với bà mẹ việt

- Thực hiện tốt các

- Thực hiện tốt các chính

- Thực hiện tốt các chính sách và các gia

nam anh hùng, gi đình chính

chính sách và các gia

sách và các gia đình thương

đình thương binh, liệt sỹ có mức sống khá

sách, thương binh liệt sỹ;

đình thương binh, liệt

binh, liệt sỹ, đạt 100%

trở lên trong khu vực sinh sống, đạt 100%;

sỹ, đạt 100%

- Nạn nhân chất độc da cam

- Có chính sách hỗ trợ tốt cho người bị

nhiễm và nạn nhân chất độc da cam

2 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn

2001: %

2006: 15%

nghèo từ 2010 trở về trước

2005: trên15%

2010:4,9,99%

-2010:4,9%

3 Tỷ lệ hộ nghèo theo Quyết định

số 09-/2011/QĐ-TTg về chuẩn

-2012- 2013: %; -2015:3,27%

nghèo giai đoạn 2011-2015

4 Xoá nhà tạm cho hộ nghèo

Đến năm 2015, đã hoàn thành hỗ trợ hộ

nghèo nhà ở theo Quyết định 167/QĐ-TTg

5 Thực hiện các tiêu chí xây

Đến năm 2015, có 64 xã đạt 19 tiêu chí

dựng nông thôn mới về tỷ lệ hộ nghèo

(28,3% số xã) xã đạt tiêu chí về tỷ lệ hộ nghèo

6 Xoá đói

Toàn tỉnh không có hộ đói Toàn tỉnh không có hộ đói

7 Chính sách người cao tuổi

Đến năm 2015: thực hiện tốt việc trợ cấp, khám chữa bệnh cho người cao tuổi từ 75 tuổi trở lên, đạt 100%

8 Bảo hiểm y tế tư nguyện

2015: triển khai trên diện rộng đạt /50%

1 9 4

9 Tiêm chủng và khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 7 tuổi

- Tiểm chủng cho trẻ em đạt đến năm 2015: 100% theo quy định; thực hiện tốt công tác

khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi

10 Chính sách đối với người

Đến năm 2015: Có những chính sách hỗ chợ

khuyết tật

giảm bớt khó khăn và tạo việc làm thích hợp

11 Nh ững trẻ em mồ côi không

nơi nương tựa

Đến năm 2015: Thành lập các trung tâm nỗi dưỡng trẻ mồ côi từ tuyến huyện trở lên

Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh các tỉnh ĐBSH, Báo cáo thực hiện chính sách pháp luật về giảm nghèo 6 tỉnh Đòng Bằng Sông Hồng từ năm 2001 đến năm 2015 [132].

Phụ lục 15

THỐNG KÊ SỐ GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG, SỐ HỌC SINH PHỔ THÔNG & THỐNG KÊ

GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP, CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG NĂM 2014

TT

SỐ GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG, SỐ HỌC SINH PHỔ THÔNG & THỐNG KÊ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP, CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014

I

SỐ GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG VÀ SỐ HỌC SINH PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2010-2014

Số giáo viên phổ thông (người)

Số học sinh phổ thông (người)

TT

Tỉnh

2010

2011

2012

2013

2014

2010

2011

2012

2013

2014

1

Vĩnh Phúc

10232

10397

10232

10617

10412

169364

168705

170630

173873

178264

1 9 5

2

Bắc Ninh

10176

10068

10202

10235

10254

189900

187800

188700

191400

195200

3

Quảng Ninh

12270

12290

12844

12909

14463

199284

200306

200679

199825

208267

4

Hưng Yên

10159

10337

10894

10593

10617

272785

270922

273464

269990

274576

5

Hải Dương

12568

15548

16694

15923

15943

179944

178111

176174

179050

183353

6

Thái Bình

16658

16712

16719

16730

16741

28200

278800

276300

276400

277800

7

Nam Định

15999

16451

16499

16474

16508

323928

312262

303291

303040

300388

8

Ninh Bình

8143

8254

8259

8434

143056

140169

139643

139764

140656

8232

9

Hà Nam

7403

7195

7283

7299

130339

128787

127721

127906

128408

7222

Tổng

103608

107252

109538

109023

110671

1636800

1865862

1856602

1861248

1886912

II

THỐNG KÊ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP, CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014

Trung cấp chuyên nghiệp

Cao đẳng

Ghi chú

Đại học

TT

Tỉnh

Số sinh

Số giáo viên

Số trường

Số học sinh

Số trường

Số sinh viên

Số giáo viên

Số trường

Số giảng viên

viên

1

Vĩnh Phúc

6

8840

213

30659

824

11583

454

2

3

2

Bắc Ninh

4

5475

207

6449

450

8115

622

3

5

3

Quảng Ninh

2

4100

77

4835

517

5197

529

2

4

4

Hưng Yên

4

2631

232

7880

1210

6600

395

4

3

5

Hải Dương

4

2910

147

1166

78

4978

621

7

4

1 9 6

6

Thái Bình

1

2306

73

7720

408

12310

568

2

3

7

5483

440

11011

893

4

6

Nam Định

12

27446

1471

8

Ninh Bình

3

3547

270

1735

214

2680

527

1

4

9

Hà Nam

2

2571

157

291

10

5775

341

1

4

Tổng

38

37863

1816

36

68249

4950

26

88181

5182

Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]

Biểu đồ: HỌC SINH, SINH VIÊN TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP, CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC

Ở CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014

1 9 7

Phụ lục 16

THỐNG KÊ THUÊ BAO ĐIỆN THOẠI VÀ INTERNET TỪ NĂM 2010-2014

Số thuê bao điện thoại

Số thuê bao Internet

TT

Tên tỉnh

2010

2011

2012

2013

2014

2010

2011

2012

2013

2014

1 Nam Định

315044

274086

286493

216076

186138

4179

64141

73067

66450

54255

2 Hà Nam

865000

804000

806000

2742830 169468

15336

16539

29000

34000

44146

3 Hải Dương

394000

348000

271000

270000

265000

5500

48000

54000

62000

65000

4 Hưng Yên

190075

160071

118744

102130

53499

244000

234871

178056

154941

116760

5 Ninh Bình

156300

113300

800000

650000

387000

-

-

-

-

-

1 9 8

6 Thái Bình

123100

124590

126270

128140

139130

25500

25900

26300

25500

30700

7 Bắc Ninh

112970

113380

114990

121200

118600

42900

47400

52300

57800

63800

-

-

-

-

8 Vĩnh Phúc

-

-

-

-

-

-

9 Quảng Ninh

215560

81900

8600

97400

115200

278400

171300

175300

65200

165110 Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]

Phụ lục 17

SO SÁNH SỐ BÁC SĨ, GIƯỜNG BỆN TRÊN 1 VẠN DÂN NĂM 2010 VÀ 2014

Năm 2010

Năm 2014

TT

Tỉnh

Bác sĩ trên 1 vạn dân (người)

Giường bệnh trên 1 vạn dân (giường)

Bác sĩ trên 1 vạn dân (người)

Giường bệnh trên 1 vạn dân (giường)

1 Vĩnh Phúc

3046

2300

3210

6502

2

Bắc Ninh

2385

2340

3144

3346

3 Quảng Ninh

4832

3240

6042

4856

1 9 9

4 Hưng Yên

2698

2760

3832

3415

5 Hải Dương

3841

5191

3888

3220

6

Thái Bình

3675

4188

4090

5189

7 Nam Định

3733

4216

4908

4222

8 Ninh Bình

660

1670

650

2460

9 Hà Nam

1982

2440

2057

2532

Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]