HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN XUÂN HƯNG
CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
HÀ NỘI - 2016
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN XUÂN HƯNG
CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
Mã số: 62 31 02 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGÔ HUY TIẾP
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên c ứu của
riêng tôi. Các số liệu nêu trong lu ận án là trung th ực, có
nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Xuân Hưng
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN C ỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6
1.1. Các công trình khoa học về công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã
hội ở nước ngoài 6
1.2. Các công trình khoa học về công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã
hội ở Việt Nam 8
1.3. Kết quả đạt được và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết 16
Chương 2: CÁC T ỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG H ỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HI ỆN CÔNG BẰNG XÃ H ỘI GIAI ĐOẠN HI ỆN NAY - NH ỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 18
2.1. Các tỉnh, tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng và công bằng xã hội, thực hiện
công bằng xã hội 18
2.2. Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội -
khái niệm, nội dung và phương thức 52
Chương 3: THỰC HI ỆN CÔNG B ẰNG XÃ H ỘI VÀ CÁC T ỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM 64
3.1. Thực trạng thực hiện công bằng xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng 64
3.2. Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội -
thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm 79
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐỐI VỚI THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2025 108
4.1. Dự báo những nhân tố tác động và phương hướng tăng cường sự lãnh đạo
của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng đối với thực hiện công bằng xã hội 108
4.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở
đồng bằng sông Hồng đối với thực hiện công bằng xã hội 119
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA H ỌC CỦA TÁC GI Ả ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC 164
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBXH : Công b
ằng xã hội
CNXH : Ch
ủ nghĩa xã hội
CNH, HĐH : Công nghi ệp hóa, hiện đại hóa
ĐBSH :
Đồng bằng sông Hồng
HTCT : H
ệ thống chính trị
KTTT : Kinh t
ế thị trường
MTTQ : M
ặt trận Tổ quốc
Nxb : Nhà xu
ất bản
PTLĐ : Ph
ương thức lãnh đạo
QPAN : Qu
ốc phòng, an ninh
XHCN : Xã h
ội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp, công bằng xã hội (CBXH) luôn là
khát vọng và mục tiêu đấu tranh của con người. Trong thời đại ngày nay, cùng với
sự tăng trưởng của kinh tế và sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ,
nhu cầu về quyền con người về CBXH đã thật sự trở thành tiêu chí, điều kiện để
đánh giá sự phát tri ển bền vững và ti ến bộ của mỗi quốc gia, dân tộc và ch ế độ
chính trị do các chính đảng cầm quy ền lãnh đạo và điều hành. Với ý ngh ĩa đó,
CBXH đang và sẽ là một vấn đề lớn trên con đường phát triển của mỗi quốc gia và
toàn thể nhân loại.
Ở Việt Nam hiện nay, thực hiện CBXH không những là nguyện vọng chính
đáng của nhân dân, mà trở thành một nhu cầu bức thiết, là mục tiêu và động lực của
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và
lãnh đạo. Việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và kiên trì phấn
đấu đi theo con đường đó là sự khẳng định nhận thức chính trị sâu sắc, có tầm chiến
lược và trách nhiệm cao của Đảng đối với việc thực hiện CBXH, nhất là khi Đảng
trở thành đảng cầm quyền. Điều đó, cũng khẳng định vai trò to lớn của CBXH đối
với xây dựng thành công CNXH ở nước ta: CBXH vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của sự nghiệp xây dựng CNXH.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng
định đường lối xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong toàn bộ quá trình phát triển. Công
bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện
cho mọi người có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình” [17, tr.113].
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng định phải: “thực
hiện tiến bộ và công b ằng xã hội ngay trong từng bước và chính sách phát tri ển,
thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và
nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ” [24, tr.101]. Những chủ trương, quan điểm và
2
quyết định đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về CBXH đã được các cấp uỷ, chính
quyền địa phương lãnh đạo thực hiện đạt nhiều thành tựu lớn.
Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là vùng có v ị trí, vai trò r ất quan trọng về
chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh với những tiềm năng, thế mạnh về phát
triển kinh tế và thực hiện CBXH. Trong 30 năm qua, các tỉnh uỷ trong vùng đã coi
trọng lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện
CBXH, đạt kết quả quan trọng. Ở các tỉnh vùng này, kinh tế tăng trưởng khá nhanh,
chính trị ổn định, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện và nâng
lên; CBXH trong giáo dục đào tạo được cải thiện; CBXH trong chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe, văn hóa, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện các quyền
của công dân... được cải thiện.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế, thực hiện CBXH nói
trên, tình trạng phân hóa giàu nghèo cũng đang diễn ra nhanh và có xu hướng mở
rộng ở các tỉnh ĐBSH. Sự phân hóa ấy càng gây bức xúc xã hội hơn khi một số
người giàu lên nhanh chóng do làm ăn phi pháp, tham nhũng, lãng phí và thu nhập
không chính đáng; trong khi, với nhiều gia đình trong di ện chính sách và ng ười
nghèo, Nhà nước đang thiếu nguồn lực để chăm sóc, hỗ trợ. Tình trạng thất nghiệp,
bất bình đẳng giới và sự xuống cấp của các dịch vụ y tế, giáo dục, sự gia tăng của
các tệ nạn xã hội và tai nạn đang đòi hỏi phải được giải quyết.
Trong lãnh đạo thực hiện CBXH, bên cạnh những ưu điểm và kết quả nêu
trên, việc tổ chức thực hiện các ch ủ trương, chính sách của Đảng về CBXH còn
nhiều hạn chế. Ở một số nơi, cấp ủy lãnh đạo thực hiện CBXH chưa gắn chặt với
lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội. Trình độ, năng lực lãnh đạo thực hiện CBXH
của nhiều cấp ủy và cán bộ chủ chốt các cấp còn nhiều bất cập. Một số ít cán bộ
tham nhũng cả nguồn kinh phí của Nhà nước về cứu trợ thiên tai, hỗ trợ gia đình
khó khăn, gia đình chính sách. Việc phát huy vai trò c ủa chính quyền trong thực
hiện CBXH chưa mạnh mẽ. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thể
chính trị - xã hội, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong thực hiện CBXH ở nhiều
nơi ch ưa được phát huy m ạnh mẽ. Công tác ki ểm tra, giám sát vi ệc th ực hi ện
3
CBXH chưa thường xuyên, nhiều yếu kém... Việc phát huy ưu điểm, khắc phục
khuyết điểm, tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở ĐBSH trong th ực hi ện
CBXH đang thực sự là vấn đề cấp thiết, cần được đầu tư nghiên cứu thỏa đáng.
Để góp ph ần thực hiện vấn đề cấp thiết nêu trên, nghiên cứu sinh chọn và
thực hiện đề tài “Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện công
bằng xã hội giai đoạn hiện nay” làm luận án tiến sĩ khoa học chính trị.
2. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tỉnh ủy ở ĐBSH
lãnh đạo thực hiện CBXH giai đoạn hiện nay, luận án đề xuất những giải pháp chủ
yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh uỷ đối với thực hiện CBXH ở các tỉnh
ĐBSH đến năm 2025.
2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực
hiện CBXH.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện CBXH và các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh
đạo thực hiện CBXH trong giai đoạn hiện nay, tập trung vào thời kỳ từ năm 2006
đến nay, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và những kinh nghiệm.
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh
đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy ở ĐBSH đến năm 2025.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án
Luận án nghiên cứu: Các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH giai
đoạn hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Luận án tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng thực hiện CBXH và các
tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH từ năm 2006 đến nay.
- Phương hướng và giải pháp đề xuất trong luận án có giá trị đến năm 2025.
4
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn
- Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm, đường lối của Đảng ta về CBXH và Đảng lãnh đạo các lĩnh vực đời
sống xã hội.
- Cơ sở thực tiễn của luận án là các t ỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo các tổ chức
trong hệ th ống chính tr ị (HTCT), các t ổ ch ức kinh tế, tổ ch ức xã hội th ực hi ện
CBXH trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp lu ận của chủ nghĩa Mác-
Lênin; đồng thời sử dụng các ph ương pháp chuyên ngành và liên ngành ch ủ yếu
như: phương pháp logic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; thống kê, so sánh; tổng
kết thực tiễn và phương pháp chuyên gia...
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Khái niệm:
Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử, mang tính giai cấp, dùng để chỉ
trình độ phát triển của một chế độ xã hội, được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực
đời sống xã hội, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội..., phản
ánh mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa
thưởng và ph ạt của cá nhân (nhóm xã h ội), bảo đảm cho xã h ội phát tri ển ổn
định, hài hòa, phù h ợp với xu th ế phát tri ển của xã hội loài ng ười, vừa là khát
vọng của con người, vừa là động lực, mục tiêu phát triển của xã hội.
Các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH là toàn bộ hoạt động của
các tỉnh ủy, trên cơ sở quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và
pháp lu ật của Nhà n ước về th ực hi ện CBXH, ban hành các ngh ị quy ết, quy ết
định về thực hiện CBXH, chỉ đạo các cấp uỷ trực thuộc, các cơ quan nhà n ước,
các lực lượng xã hội ở địa phương tổ chức thực hiện; đồng thời kiểm tra, giám
sát việc thực hiện để các ngh ị quyết của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH tr ở thành
hiện thực.
- Luận án tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện CBXH: các tỉnh ủy tập
trung lãnh đạo chính quy ền tỉnh tổ ch ức th ực hi ện th ắng lợi ch ủ tr ương, ngh ị
5
quyết của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH; đồng thời phối hợp chặt chẽ với lãnh đạo
đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã
hội và các tổ chức xã hội tham gia vào thực hiện CBXH ở địa phương.
- Luận án đề xuất hai giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của
các tỉnh uỷ ở các tỉnh ĐBSH đối với thực hiện CBXH đến năm 2025: Một là, đổi
mới quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện tốt một số nghị quyết chuyên đề của
tỉnh uỷ về phát triển kinh tế tạo cơ sở vững chắc để thực hiện công bằng xã hội.
Hai là, tỉnh ủy lãnh đạo chặt chẽ công tác thanh tra, x ử lý sai ph ạm trong th ực
hiện CBXH; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về tỉnh ủy ở
ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có th ể được dùng làm tài li ệu tham kh ảo
phục vụ quá trình lãnh đạo của các tỉnh ủy ở ĐBSH đối với thực hiện CBXH trong
những năm tới.
Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo
phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu về Xây dựng Đảng ở các trường chính trị
tỉnh, thành phố thuộc ĐBSH.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả đã
công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm
4 chương, 9 tiết.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trong thời kỳ đổi mới thực hiện kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã
hội chủ nghĩa (XHCN) CBXH và thực hiện CBXH là vấn đề đặc biệt quan trọng,
thu hút khá nhiều nhà khoa học nghiên cứu từ những góc độ, khía cạnh khác nhau,
đạt kết quả quan trọng. Kết quả nghiên cứu của nhiều công trình đã được công bố
trên sách, báo, tạp chí, tham luận hội thảo khoa học, tổng quan các đề tài khoa học,
luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ. Các công trình tiêu biểu liên quan trực tiếp đến đề
tài luận án, gồm:
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ THỰC
HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở NƯỚC NGOÀI
1.1.1. Công trình của các nhà khoa học Trung Quốc
- Cát Chí Hoa, Từ nông thôn mới đến đất nước, con người [39]. Cuốn sách tập
hợp các bài nghiên cứu về thực trạng và biến động của nông thôn Trung Quốc trong
công cuộc CNH, HĐH nông nghi ệp, nông thôn, khái quát nh ững vấn đề lý lu ận,
nguồn gốc hình thành và những đặc trưng của vấn đề "tam nông" ở Trung Quốc.
- Dang Guoying, Agriculture, rural areas and farmers in China (Nông
nghiệp, nông thôn và nông dân ở Trung Quốc) [11]. Cuốn sách khái quát về nông
nghiệp, các vùng nông thôn và các trang trại ở Trung Quốc; phân tích tình hình kinh
tế và xã h ội ở các khu v ực nông thôn Trung Qu ốc; sự thành th ị hóa và s ự luân
chuyển dân số nông thôn ra thành thị, đưa ra phương hướng xây dựng một số vùng
nông thôn mới.
Hai công trình trên cung cấp một số điểm để xây dựng khung lý thuyết của
luận án.
- Quyết định của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về Xây
dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa [35]. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị đối
với luận án. Những nội dung bổ ích, gồm: quan niệm, nguyên tắc xây dựng xã hội
hài hòa XHCN. Đáng quan tâm h ơn là các gi ải pháp xây d ựng xã hội hài hòa
7
XHCN, gồm: đảm bảo phát triển cân đối, chú trọng phương diện xã hội của phát
triển; xây dựng văn hóa, củng cố nền tảng tư tưởng đạo đức của xã hội hài hòa;
hoàn thiện quản lý xã hội, duy trì xã hội ổn định có trật tự; tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với việc xây dựng xã hội hài hòa XHCN.
- Trác Vệ Hoa, Lý luận và thực tiễn cải cách và phát triển nông thôn Trung
Quốc 30 năm qua [40]. Tác gi ả phân kỳ sự phát triển của nông thôn Trung Qu ốc
qua 30 năm thành 4 giai đoạn: từ năm 1978 đến năm 1984 là giai đoạn đột phá cải
cách nông thôn; từ năm 1985 đến năm 1991 là giai đoạn thúc đẩy cải cách toàn diện
nông thôn; từ năm 1992 đến năm 2001 là giai đoạn cải cách nông thôn chuyển toàn
diện sang thể chế kinh tế thị trường XHCN; từ năm 2002 đến nay là giai đoạn mới
tính toán tổng th ể phát tri ển thành th ị và nông thôn, xây d ựng nông thôn m ới
XHCN. Tác giả khái quát những thành tựu quan trọng và rút ra một số kinh nghiệm,
đồng thời nêu một số giải pháp thúc đẩy xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc.
1.1.2. Công trình của các nhà khoa học Lào
- Phêng-Pha Văn Đao-Phon-Cha Rơn, Về vấn đề nâng cao sử dụng vốn đầu
tư của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở Cộng hòa Dân chủ
nhân dân Lào [70]. Luận án nêu những nguyên lý cơ bản về hiệu quả đầu tư; phân
tích thực trạng đầu tư nhà nước vào lĩnh vực kinh tế - xã hội nông thôn Lào, đưa ra
các giải pháp về nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nhà nước trong phát triển
kinh tế - xã hội nông thôn ở Lào. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của Nhà
nước trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn là một giải pháp quan trọng thực
hiện CBXH. Công trình này là tài liệu tham khảo tốt để luận án đề xuất giải pháp.
- Khăm-Bay Ma-La-Sinh, Thực trạng đói, nghèo trong các h ộ gia đình ở
nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, kiến nghị về chính sách, giải pháp [49]. Luận văn đã
hệ thống hóa, đường lối, quan điểm về chính sách xã hội của Đảng Nhà nước Lào;
đánh giá thực trạng đói, nghèo ở nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, chỉ rõ quy mô, mức
độ đói nghèo của các hộ gia đình; nêu một số kiến nghị về chính sách và các giải
pháp xóa đói, giảm nghèo của tỉnh. Luận văn cung cấp một số điểm để xác định
nguyên nhân và giải pháp của luận án.
8
- Xỉn-Xỏn Phun-Bun-Sỉ, Kinh tế nông thôn ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân
Lào thời kỳ đổi mới [145]. Luận án làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển
kinh tế nông thôn Lào thời kỳ đổi mới; phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông
thôn; đề xuất sáu giải pháp phát tri ển kinh tế nông thôn Lào hi ện nay. Trong đó,
phát triển kinh tế nông thôn là một giải pháp quan trọng của thực hiện CBXH, có
giá trị tham khảo tốt đối với luận án.
- Bun-Thoong Chit-Ma-Ni, Đảng Nhân dân cách m ạng Lào lãnh đạo xây
dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay [7]. Luận án nêu quan niệm về nông
thôn mới và ch ỉ rõ nh ững đặc trưng cơ bản của nông thôn mới ở Lào; khái ni ệm
Đảng Nhân dân cách m ạng Lào lãnh đạo xây d ựng nông thôn m ới, nội dung,
phương thức, quy trình Đảng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới. Tác giả khái quát
thực trạng Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới, đề
xuất phương hướng và sáu gi ải pháp ch ủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng Nhân dân cách mạng Lào đối với xây dựng nông thôn mới giai đoạn hiện nay.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ THỰC
HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
1.2.1. Sách, đề tài khoa học
- Lê Bộ Lĩnh (chủ biên), Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số
nước châu Á và Việt Nam [54].
Sau khi nêu các quan niệm khác nhau về tăng trưởng kinh tế và CBXH, và
mối quan hệ giữa hai yếu tố này, cuốn sách khái quát mô hình tổng quát lý giải tăng
trưởng kinh tế đi liền với CBXH ở các nước Đông Á; những chính sách giảm bất
bình đẳng (dân chủ hóa kinh tế, cải cách ru ộng đất và phát tri ển nông thôn, phát
triển doanh nghi ệp vừa và nh ỏ, đầu tư phát tri ển ngu ồn nhân lực và tạo lập th ị
trường lao động linh hoạt, chính sách phúc lợi xã hội về nhà ở, xây dựng bộ máy
nhà nước trong sạch và hiệu quả).
Tiếp theo các tác giả nêu sự tăng trưởng kinh tế và CBXH ở một số nền kinh
tế Đông Bắc Á (Nh ật Bản, Hàn Qu ốc, Đài Loan), Đông Nam Á (Malaixia, Thái
Lan). Bài học về CBXH gắn với tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản nửa sau thế kỷ
XX; kinh nghiệm của Hàn Quốc về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
9
và CBXH theo quan điểm tăng trưởng kinh tế góp phần làm giảm bất bình đẳng thu
nhập; thực hiện CBXH thông qua việc tạo dựng các cơ hội việc làm và các phúc lợi
xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân; đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục - đào
tạo; kinh nghiệm của Đài Loan về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và CBXH thông qua một số chính sách như cải cách ruộng đất; bình đẳng trong thu
nhập; hỗ trợ nông nghiệp... trong những năm 50-60 của thế kỷ trước.
Từ đó, các tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và CBXH ở nước ta, gồm: tăng trưởng kinh tế
phải gắn liền với tiến bộ và CBXH ngay trong t ừng bước và trong su ốt quá trình
phát triển; tăng cường hơn nữa công tác kế hoạch hóa gia đình; xóa đói giảm nghèo;
chống tham nhũng, buôn lậu; xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; phát triển y tế,
giáo dục; phát huy vai trò của Nhà nước trong thực hiện CBXH.
- Lê Văn Sang, Kim Ng ọc (đồng chủ biên), Tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn “thần kỳ” và Việt Nam thời kỳ “đổi mới” [83].
Theo các tác giả sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nền kinh tế Nhật Bản
nhanh chóng phục hồi và có bước phát triển nhảy vọt, do nhiều nguyên nhân, đặc
biệt đã tạo được môi trường thuận lợi cho các công ty ho ạt động nhờ tạo dựng cơ
chế thị trường, cơ chế quản lý kinh tế hợp lý; ý thức trách nhiệm của mỗi người dân,
mỗi công ty...
Trên cơ sở kinh nghiệm của Nhật Bản các tác giả khảo sát thực trạng tăng
trưởng kinh tế và CBXH ở nước ta sau 10 năm đổi mới, đánh giá các biện pháp,
chương trình qu ốc gia th ực hiện tăng trưởng kinh tế và CBXH. Đồng thời, luận
giải một số gi ải pháp ch ủ yếu nh ằm gi ải quy ết mối quan h ệ gi ữa tăng tr ưởng
kinh tế và CBXH.
- Trịnh Quốc Tuấn (chủ nhiệm), Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta [135]. Các tác giả bàn đến
nhiều nội dung như quan niệm mới về phát triển và phương hướng phát triển kinh tế
- xã hội ở nước ta (GS.TS Đỗ Thế Tùng); mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và
thực hiện CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam (GS.TS Nguyễn
10
Ngọc Long); hậu quả xã hội của quá trình tăng trưởng kinh tế qua thực tiễn đổi mới
ở Việt Nam và Trung Quốc (TS Hoàng Thị Thành); những vấn đề xã hội cần giải
quyết để phục vụ trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế (TS Nguyễn Hữu Dũng); về phân
tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp (TS
Phạm Hảo); sự lựa ch ọn và th ực hi ện chính sách xã h ội bảo đảm kết hợp tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ, CBXH trong điều kiện phát triển KTTT theo định hướng
XHCN ở nước ta (TS Nguy ễn Thanh Tu ấn). Kỷ yếu cũng cung cấp cho lu ận án
nhiều điểm quan trọng để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của luận án.
- Bộ Lao động - Th ương binh và Xã h ội, Vấn đề phân ph ối và phân hóa
giàu nghèo trong điều kiện phát tri ển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta [5]. Các tác giả tập trung luận bàn về phân phối và phân hóa
giàu nghèo trong điều kiện phát triển KTTT định hướng XHCN ở nước ta; đánh
giá quá trình thể chế hóa và thực hiện các chủ trương, đường lối đó, chỉ ra kết quả,
hạn chế, nguyên nhân; ki ến nghị giải pháp gi ải quyết vấn đề phân ph ối và phân
hóa giàu nghèo. Đáng chú ý là các tham lu ận về phân phối và tác động của phân
phối đến sự phân hóa giàu nghèo trong n ền KTTT của GS Đỗ Thế Tùng; phân
phối, tăng trưởng và công bằng trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam
của TS Đặng Đức Đạm; CBXH và mối quan hệ giữa CBXH với tăng trưởng kinh
tế của PGS.TS Trần Đình Thiên...
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (VASS), German Catholic Action For
Human Development (MISEREOR), "Công bằng xã hội, trách nhi ệm xã hội và
đoàn kết xã hội" "social justice, social responsibility and social solidarity" [142].
Có 35 tham luận được đưa vào kỷ yếu của Hội thảo. Qua các tham lu ận, các nhà
khoa học đưa ra các quan niệm về CBXH, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội;
quan hệ giữa CBXH với trách nhiệm xã hội và với đoàn kết xã hội; các chức sắc tôn
giáo đưa ra quan niệm của các tôn giáo về CBXH, trách nhiệm xã hội và về đoàn
kết xã hội theo thế giới quan của họ; đề xuất các giải pháp giải quyết có hiệu quả
mối quan hệ đó.
- Nguyễn Gia Thơ, Vấn đề công bằng và bình đẳng trong lịch sử triết học
phương Tây [91].
11
Sau khi trình bày tư tưởng của các nhà triết học phương Tây, tác giả nêu bật
quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về CBXH và kết luận: đa phần các quốc gia
cần tiến hành các cuộc cách mạng xã hội khoa học để giải phóng con người bị áp
bức, bóc lột, thống trị; một số quốc gia cần tiếp tục giữ vững định hướng XHCN
trong đổi mới toàn diện đất nước, đấu tranh triệt để hơn với quan liêu, tham nhũng,
thoái hoá biến chất; xã hội hóa việc thực hiện CBXH trong sự phối hợp chặt chẽ của
lãnh đạo chính trị, quản lý của Nhà nước và nhân dân.
Từ tư tưởng của các nhà triết học phương Tây tác giả cuốn sách nêu những
đề xuất đối với nước ta. Theo tác giả, đối với nước ta CBXH chỉ có thể thành hiện
thực khi có s ự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố dưới sự lãnh đạo của Đảng,
quản lý của Nhà nước. Trong đó, việc thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh là cơ sở vững chắc để biến khả năng
CBXH thành hiện thực.
- Nguyễn Duy Quý Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa [80]. Tác giả đã phân tích tư tưởng của C.Mác về CBXH và
nguyên tắc phân phối theo lao động để thực hiện CBXH; việc thực hiện CBXH ở
nước ta trước và trong thời kỳ đổi mới, khẳng định: không nhất thiết phải giàu có
mới thực hiện CBXH; Việt Nam coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự phát triển xã hội; không chờ tới khi kinh tế phát triển cao mới thực hiện CBXH,
mà ngay từ khi bắt đầu đổi mới phải kết hợp nhiệm vụ kinh tế với các nhiệm vụ xã
hội, giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới chính sách kinh tế với đổi mới chính
sách xã hội, đó là một phương thức để thực hiện CBXH hiệu quả. Tác giả đề xuất
các giải pháp về nâng cao nh ận thức; chính sách; huy động nguồn lực; gắn phát
triển kinh tế với văn hóa.
- Phạm Xuân Nam, Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [64]. Tác giả đã điểm qua một số
mô hình kinh tế tiêu biểu trên thế giới xét từ góc độ giải quyết mối quan hệ giữa
thúc đẩy tăng tr ưởng kinh tế với th ực hi ện CBXH; phân tích vi ệc kết hợp tăng
trưởng kinh tế và CBXH trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta qua hơn 20
năm đổi mới, chỉ ra những thành tựu và những vấn đề đặt ra. Đáng chú ý hơn là, tác
12
giả đã kiến nghị một số hướng giải pháp về thực hiện CBXH trong nền KTTT định
hướng XHCN ở nước ta trong th ời gian tới. Thứ nhất, tiếp tục thực hiện nghiêm
túc nguyên tắc phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng
thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các ngu ồn lực vào quá trình sản xuất,
kinh doanh. Thứ hai, trong việc thực hiện đầu tư cho phát triển, cần có quy hoạch
và kế hoạch cụ thể để cân đối hợp lý mức đầu tư cho các vùng lãnh thổ khác nhau.
Thứ ba, trong số những chính sách có liên quan đến phân phối lại tổng thu nhập
quốc dân, không nên chỉ đặt vấn đề phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Thứ tư,
ngăn ch ặn và đẩy lùi có hi ệu qu ả nh ững hiện tượng làm giàu phi pháp, vì đây
chính là nhân t ố vừa làm tổn hại đến tăng trưởng kinh tế chung, vừa tạo ra bất
CBXH lớn nhất.
- Lê Hữu Tầng (2008), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc
thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay [87]. Tác giả đã trích dẫn một số ý
kiến về CBXH: ở những nước kém phát triển, nội dung quan trọng nhất của CBXH
là công bằng về kinh tế. Ở nước ta, tác giả đề xuất, để thực hiện đầy đủ hơn CBXH
cần mở rộng nguyên tắc phân phối theo lao động và theo mức đóng góp vốn vào
sản xuất kinh doanh hi ện nay thành nguyên tắc phân phối theo cống hiến (về lao
động, nguồn vốn và những cống hiến khác) cho xã hội không chỉ cho sản xuất, mặc
dầu cống hiến cho sản xuất là chủ yếu.
- Đỗ Huy (2009), Công bằng xã hội ở Việt Nam nhận diện và giải pháp [47].
Tác giả đã khái quát việc thực hiện CBXH ở nước ta trong các thời kỳ cách mạng từ
khi Đảng và nhân dân ta giành được chính quyền và trong thời kỳ đổi mới hiện nay;
chỉ ra những hạn chế bất cập của việc thực hiện CBXH trong các thời kỳ đó. Tác
giả đề xuất những giải pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu CBXH toàn diện ở nước
ta trong điều kiện hiện nay: một là, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân;
hiện đại hoá lực lượng sản xuất; hai là, từng bước tập th ể hoá, qu ốc doanh hoá
trong quá trình thiết lập quan hệ sản xuất mới; ba là, xây dựng hệ tư tưởng chính
thống theo tư tưởng Hồ Chí Minh; bốn là, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, quốc tế,
con người; năm là, tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc; sáu là, xây dựng Đảng
vững mạnh.
13
- Nguyễn Minh Hoàn, Công bằng xã hội trong ti ến bộ xã hội [41]. Cuốn
sách có giá trị tham khảo đối với luận án về một số điểm: một số quan điểm tiêu
biểu về CBXH thời kỳ trước C.Mác; một số quan điểm hiện đại về CBXH của các
học giả ph ương Tây; quan ni ệm của C.Mác và Ph. Ăngghen về nguyên tắc phân
phối đảm bảo CBXH; tư tưởng Hồ Chí Minh về CBXH và bình đẳng xã hội. Đáng
chú ý là tác giả đã nêu một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện CBXH ở nước ta
hiện nay, gồm: thái độ ứng xử của chúng ta trước thực trạng gia tăng phân hoá giàu
nghèo và bất bình đẳng hiện nay; vấn đề thực hiện CBXH trong phân phối tư liệu
sản xuất; vấn đề CBXH trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân; trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
1.2.2. Luận án, luận văn và các bài đăng trên tạp chí
1.2.2.1. Luận án, luận văn
- Nguy ễn Hữu Đổng, Sự hình thành thu nh ập cá nhân trong các doanh
nghiệp nhà nước theo hướng đảm bảo công bằng xã hội ở Việt Nam [36]. Luận văn
phân tích những đặc điểm, nội dung chủ yếu, thực trạng phân phối hình thành thu
nhập cá nhân th ực hiện CBXH trong các doanh nghi ệp nhà nước trong quá trình
chuyển đổi sang nền KTTT định hướng XHCN; đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn
thiện phân ph ối hình thành thu nh ập cá nhân th ực hiện CBXH trong các doanh
nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
- Lê Như Nhất, Đảng bộ tỉnh Kon Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo trong
giai đoạn hiện nay [67]. Luận văn đã xây dựng quan ni ệm về Đảng bộ tỉnh Kon
Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo; tổng kết được những kinh nghiệm về Đảng bộ
tỉnh Kon Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo trong những năm qua. Luận văn đã đề
xuất được các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh đối với xoá đói,
giảm nghèo.
- Nguyễn Văn Kính, Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công
bằng xã hội ở Hải Phòng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay [51]. Luận văn phân tích những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và CBXH trong lịch sử; phân tích một số mâu thuẫn giữa KTTT và
thực hiện CBXH ở Hải Phòng, đề xuất một số giải pháp nhằm kết hợp có hiệu quả
14
giữa tăng trưởng kinh tế và CBXH ở Hải Phòng giai đoạn hiện nay gồm: đẩy mạnh
CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH;
đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn; phát triển nguồn nhân lực; đấu
tranh phòng, chống tham nhũng, khuyến khích làm giàu chính đáng và thực hiện tốt
chính sách xã hội.
- Trịnh Sơn, Các huyện ủy ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xóa đói, giảm
nghèo giai đoạn hiện nay [84]. Luận văn khái quát được tình hình đói nghèo ở tỉnh
Hà Giang, đã xây dựng được quan niệm về huyện uỷ ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công
tác xoá đói, giảm nghèo; chỉ ra kết quả và tổng kết được những kinh nghiệm về các
huyện uỷ ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo. Luận văn đề xuất
được các nhóm giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của các huyện uỷ đối với công
tác xoá đói, giảm nghèo: Một là, nhóm gi ải pháp về ti ếp tục đổi mới nội dung,
phương thức lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo. Hai là, nhóm giải pháp về lãnh đạo phát
triển kinh tế - xã h ội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm. Ba là, nhóm gi ải
pháp về nâng cao nhận thức của các cấp uỷ, về công tác xoá đói, giảm nghèo. Bốn
là, phát huy vai trò của Mặt trận, đoàn thể trong thực hiện xóa đói, giảm nghèo.
- Nguyễn Hồng Quân, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống
văn hóa ở nông thôn giai đoạn 1997-2010 [73]. Luận văn đã phân tích thực trạng
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn giai đoạn
1997-2010. Luận văn đã tổng kết được những kinh nghiệm bổ ích. Đáng quan tâm
là kinh nghiệm về phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong việc làm của cán
bộ chủ chốt, nhất là cán bộ xã, thôn, bản và gia đình trong thực hiện nghiêm những
quy định về việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ; tăng cường sự lãnh đạo của các
cấp uỷ đối với xây dựng và thực hiện thiết chế văn hóa nông thôn.
- Phạm Thị Hường, Các huyện ủy ven biển tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát
triển văn hóa giai đoạn hiện nay [46]. Luận văn đã xây dựng khái niệm các huyện
ủy ven bi ển tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát tri ển văn hóa, xác định nội dung và
phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với phát triển văn hóa, khảo sát, đánh giá
thực trạng, đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các huyện uỷ ven biển
tỉnh Thanh Hoá đối với phát triển văn hoá trong giai đoạn hiện nay. Đáng chú ý là
15
giải pháp về đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của huyện uỷ đối với phát
triển văn hoá.
- Lê Văn Diến, Các huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo xây dựng nông thôn
mới giai đoạn hiện nay [12]. Luận văn đã xây dựng khái niệm, xác định nội dung và
phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với xây dựng nông thôn mới, khảo sát,
đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các huyện uỷ
đối với xây dựng nông thôn mới. Giải pháp có giá trị tham khảo đối với luận án là,
đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của các huyện uỷ.
1.2.2.2. Các bài đăng trên tạp chí
Nguyễn Tr ần Quế, Tăng trưởng kinh tế và công b ằng xã hội ở Vi ệt Nam
[74]; Phạm Tất Dong, Tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội - một nội
dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [14]; Phùng Văn Hùng,
Vai trò của Nhà nước trong xây d ựng nền kinh tế th ị tr ường ở Vi ệt Nam [45];
Nguyễn Văn Huyên, Xây dựng nền kinh tế thị trường vì một xã hội nhân văn [48];
Lương Việt Hải, công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện
nay [38]; Phương Ngọc Thạch, Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã
hội [88]; Nguyễn Đình Tấn, Sự phát triển nhận thức của Đảng về công bằng xã hội
và xóa đói, giảm nghèo [86]; Ngô Ngọc Thắng, Chính sách an sinh xã hội trong bối
cảnh tái cấu trúc mô hình tăng trưởng [89]. Các bài báo này đã tập trung nghiên
cứu từng mặt, từng khía cạnh của CBXH trong điều kiện hiện nay, cung cấp cho
luận án một số điểm để xây dựng khái niệm, nội dung CBXH.
- Hoàng Thị Bích Phương, Thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững ở tỉnh
Bắc Giang (2008-2013) [71]. Bài báo đã đánh gia th ực trạng th ực hiện xóa đói,
giảm nghèo bền vững trong những năm qua; đề xuất các gi ải pháp xóa đói, giảm
nghèo bền vững, đáng chú ý là các gi ải pháp: tăng cường vận động các doanh
nghiệp, doanh nhân tham gia xóa đói, giảm nghèo bền vững.
- Hà Vũ Tuyến, Công tác đào tạo nghề ở Vĩnh Phúc - kết quả và một số kinh
nghiệm [137]. Bài báo đã đánh giá thực trạng, tổng kết được những kinh nghiệm về
công tác dạy nghề ở tỉnh Vĩnh phúc. Đáng quan tâm là kinh nghiệm về hoàn thiện
16
hệ thống dạy nghề; đổi mới giáo trình, bài giảng, đặc biệt coi trọng thực hành; xã
hội hóa đào tạo nghề.
1.3. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NH ỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA LU ẬN ÁN TI ẾP
TỤC GIẢI QUYẾT
1.3.1. Kết quả đạt được
Qua tổng quan một số công trình nêu trên của các nhà khoa học nước ngoài
và trong nước về CBXH và thực hiện CBXH, thấy rằng, các công trình đã đạt kết
quả đáng trân trọng:
Một là, về CBXH: Nhiều công trình đã phân tích những tư tưởng, quan điểm
khác nhau về CBXH. Một số công trình đã nêu khái ni ệm CBXH theo tư tưởng,
quan điểm khác nhau đó. Tuy nhiên, những tư tưởng quan điểm khác nhau đó, có
những điểm chung là: từ khi xã hội phân chia thành giai cấp CBXH luôn là khát
vọng và mục tiêu đấu tranh của con người. Trong th ời đại ngày nay, cùng với sự
tăng trưởng của kinh tế và sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ, nhu
cầu về quyền con người về CBXH đã thật sự trở thành tiêu chí, điều kiện để đánh
giá sự phát triển và ti ến bộ của mỗi quốc gia, dân tộc và ch ế độ chính tr ị do các
chính đảng của giai cấp cầm quyền lãnh đạo và điều hành. Với ý nghĩa đó, CBXH
đang và sẽ là một vấn đề lớn trên con đường phát triển của mỗi quốc gia và toàn thể
nhân loại. Một số công trình đã nêu một vài nội hàm của khái niệm CBXH và cho
rằng, CBXH gắn liền và thể hiện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, song tập
trung ở bốn lĩnh vực chủ yếu là kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Khá nhiều công
trình đã luận bàn về vai trò và một số đặc tính của CBXH.
Hai là, về thực hiện CBXH: Hầu hết các công trình ở những mức độ khác
nhau đều bàn về thực hiện CBXH. Một số công trình đã chỉ ra kinh nghiệm về thực
hiện có hiệu quả CBXH ở một số nước tư bản và khái quát về chủ trương giải pháp
cụ thể về thực hiện CBXH đạt hiệu quả ở một số nước. Đối với Việt Nam, hầu hết
các công trình ở những mức độ khác nhau đều đề xuất các giải pháp thực hiện có
kết quả CBXH hoặc ở phương pháp luận, đề xuất quan điểm, hoặc các giải pháp cụ
thể ở các địa phương và trong cả nước. Những đề xuất này rất đa dạng, phong phú.
17
Ba là, về Đảng Cộng sản lãnh đạo thực hiện CBXH: Tuy đã có một vài công
trình đề cập đến vấn đề rất quan trọng là Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và các
cấp uỷ đảng nói riêng lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều kiện thực hiện cơ chế
thị trường định hướng XHCN ở nước ta, song mới chủ yếu dừng lại ở nêu vấn đề,
việc luận giải chưa được chú ý. Như vậy, đến nay chưa có công trình khoa học nào
luận bàn và làm sáng tỏ vấn đề này; chưa có công trình nào đề cập và làm sâu sắc
các giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với thực hiện CBXH.
1.3.2. Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
Thứ nhất, về CBXH: Xây dựng khái niệm CBXH; ch ỉ ra và phân tích n ội
dung, đặc tính của CBXH, khái quát và phân tích, làm rõ vai trò c ủa CBXH nói
chung, từ đó làm rõ vai trò ấy đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay nói riêng.
Phân tích những đặc tính cơ bản của CBXH.
Thứ hai, về thực hiện CBXH: Xây d ựng khái niệm thực hiện CBXH, xác
định và phân tích làm rõ nội dung của thực hiện CBXH; chỉ ra và phân tích những
nhân tố chủ yếu chi phối việc thực hiện CBXH.
Thứ ba, về tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH: Xây dựng khái niệm,
xác định nội dung và phương thức lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy trong
điều kiện hiện nay làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá thực trạng lãnh đạo thực
hiện CBXH của các tỉnh ủy, chỉ ra ưu, khuyết điểm, nguyên nhân, kinh nghiệm và
đề xu ất phương hướng và các gi ải pháp ch ủ yếu tăng cường lãnh đạo thực hiện
CBXH của các tỉnh ủy ở ĐBSH đến năm 2025.
18
Chương 2
CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI GIAI ĐOẠN HIỆN NAY -
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. CÁC TỈNH, TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ CÔNG BẰNG
XÃ HỘI, THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
2.1.1. Các tỉnh, tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng
2.1.1.1. Khái quát về các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng
Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 14-9-2005 của Bộ Chính trị khóa IX về phát
triển kinh tế - xã h ội và bảo đảm quốc phòng, an ninh (QPAN) vùng ĐBSH đến
năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Quy ết định số 191/2006/QĐ-TTg, ngày
17-8-2006 của Th ủ tướng Chính ph ủ về tri ển khai th ực hi ện Ngh ị quy ết số 54-
NQ/TW nêu trên, xác định ĐBSH gồm 10 tỉnh và 2 thành phố. Sau khi Hà Nội mở
rộng địa giới hành chính đến tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) và 4 xã
thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, ĐBSH còn 9 tỉnh, gồm: Hải Dương, Hưng
Yên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Qu ảng Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh
Bình và 2 thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội và Hải Phòng.
* Điều kiện tự nhiên: Các tỉnh ở ĐBSH có tổng diện tích hơn 21.049,2 km2,
chiếm 5% diện tích toàn quốc [Phụ lục 1]. Đây là các tỉnh thuộc đồng bằng lớn thứ
hai ở nước ta (sau đồng bằng sông Cửu Long). Phía Đông và Đông Nam ĐBSH là
vịnh Bắc Bộ rộng lớn, nối liền với biển Đông. Các tỉnh có khí hậu nhiệt đới, gió
mùa, với 4 mùa trong m ột năm (xuân, hạ, thu, đông), trong đó có một mùa đông
lạnh; đất đai màu mỡ, mưa, nắng khá thuận hòa, rất thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp, nhất là trồng lúa nước và chăn nuôi. Hệ thống sông ngòi dày đặc, các cảng
ven biển cùng với cảng lớn Hải Phòng và cảng nước sâu Cái Lân tạo thuận lợi cho
các tỉnh giao lưu với nhau, giao lưu với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế để
phát triển kinh tế - xã h ội. Hệ thống đường quốc lộ được nâng cấp khá hi ện đại,
cùng với đường sắt, đường hàng không tạo thuận lợi lớn cho các tỉnh phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm QPAN, phát triển bền vững.
19
Các tỉnh ở ĐBSH có nguồn tài nguyên đất nông nghiệp khá lớn, với tổng số 11.280,6 km2 [Phụ lục 1]. Một số tỉnh có bờ biển dài và thềm lục địa rất thuận tiện
cho phát triển kinh tế biển và du lịch. Ở nhiều tỉnh có nguồn tài nguyên, khoáng sản
đa dạng, trữ lượng lớn, như: đất sét, than nâu, đá vôi và các tài nguyên khác có giá
trị lớn đối với phát triển công nghiệp.
* Đặc điểm kinh tế: Qua 30 năm đổi mới, kinh tế ở các tỉnh phát triển khá
mạnh. Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng giá trị kinh tế
nông nghiệp, tăng tỷ trọng giá trị kinh tế công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong
GDP. Kinh tế nông nghiệp phát triển khá mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng
sản lượng và chất lượng sản phẩm, nhiều sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao.
Số lượng lao động nông nghiệp giảm mạnh, chuyển sang ngành công nghiệp - xây
dựng và dịch vụ. Tỷ trọng giá tr ị công nghi ệp - xây d ựng và dịch vụ trong tổng
GDP của các tỉnh ngày càng tăng, nhất là các tỉnh gần Tam giác kinh tế trọng điểm
Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Ở các tỉnh đã hình thành các khu, cụm công nghiệp, nhiều tỉnh có các khu
công nghiệp lớn, nh ư Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương thu hút ngày càng l ớn
lượng vốn đầu tư và nhiều doanh nghiệp có uy tín của nước ngoài. Tam giác kinh tế
trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh được hình thành, phát triển hoạt động
có hiệu quả, có vai trò, tác d ụng lớn đối với phát triển kinh tế của các tỉnh: tăng
trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình 8,2% (năm 2013), 7,83% (năm 2014); tỉnh Bắc
Ninh, Hải Dương, Quảng Ninh có s ố liệu tương ứng: 10,2% và 16,2%; 9,2% và
7,7%; 7,1% và 8,8% [Phụ lục 2].
Các tỉnh ở ĐBSH có nhiều làng nghề truyền thống với những sản phẩm có
giá trị không chỉ nổi tiếng trong nước, mà còn được nhiều nước trên thế giới biết và
ưa chuộng, như: gốm, sứ Bát Tràng; đồ gỗ chất lượng cao ở La Xuyên (Nam Định),
Đồng Kỵ (B ắc Ninh); đúc đồng ở Vụ Bản (Nam Định); chiếu cói ở Phát Di ệm,
huyện Kim Sơn (Ninh Bình)...
Ngành du lịch ở các tỉnh phát triển khá nhanh. Với nhiều cảnh quan thiên
nhiên tuyệt đẹp, nhiều di tích lịch sử, văn hóa, một số cảnh quan thiên nhiên được
UNESCO công nhận là cảnh quan thiên nhiên c ủa thế gi ới như: Vịnh Hạ Long,
20
Tràng An... là tài sản vô giá do thiên nhiên ban tặng các tỉnh để phát triển du lịch,
dịch vụ ở ĐBSH đã hình thành các tuyến du lịch liên tỉnh, thu hút ngày càng lớn du
khách trong, ngoài nước, đóng góp đáng kể vào sự phát triển mọi mặt của các tỉnh,
nhất là phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
* Đặc điểm văn hóa: ĐBSH có Thủ đô Hà Nội “là trái tim của cả nước, đầu
não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục,
kinh tế và giao dịch quốc tế” [20, tr.2], tác động rất lớn đến sự phát triển văn hóa
của các tỉnh. Các tỉnh ở vùng này là cội nguồn của văn hóa Việt, đời sống văn hóa,
tinh thần của cư dân nơi đây, gắn chặt với văn hóa làng, xã, lễ hội và quan hệ huyết
thống. Đây là một trong những nét đặc trưng của văn hóa vùng ĐBSH, đã phát huy
tác dụng góp phần to lớn vào sự phát triển của các tỉnh và đất nước.
Các tỉnh ở ĐBSH là nơi sinh sống của nhiều dân tộc, như Kinh, Dao, Cao
Lan, Sán Dìu, Tày, Nùng, Hoa, Mường..., trong đó người Kinh là chiếm tuyệt đại đa
số. Các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số dân cư trong vùng, sống tập
trung ở một số huy ện nh ư Lập Th ạch (Vĩnh Phúc), Hải Hà (Qu ảng Ninh), Nho
Quan (Ninh Bình), có truy ền thống văn hóa riêng, độc đáo, tạo nên bức tranh đa
dạng về văn hóa trong vùng. Các dân t ộc thiểu số cần cù, ch ịu khó, tương thân,
tương ái, sống hòa thuận với nhau và với người Kinh. Nhìn chung, đời sống của họ
được nâng lên một bước khá lớn, song đời sống của nhiều gia đình vẫn còn khó
khăn, thiếu thốn.
Nhân dân ở các tỉnh có truyền thống hiếu học, tôn sư, trọng đạo, khắc phục
mọi khó khăn, luôn vươn lên nâng cao trình độ trí tuệ. Hệ thống giáo dục đào tạo
phát triển khá (tỉnh Vĩnh Phúc có 183 tr ường mầm non, 173 tr ường tiểu học, 146
trường trung học cơ sở, 37 tr ường trung học phổ thông; các tỉnh Thái Bình, Nam
Định, Hải Dương có số liệu tương ứng: 301, 295, 271, 39; 266, 293, 242, 57; 109,
281, 272, 54 [Phụ lục 6]) tạo thuận lợi cho việc học tập người dân và phổ cập giáo
dục tiểu học, trung học cơ sở. Nơi đây, tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên
cứu khoa học lớn, nổi tiếng của nước ta là thu ận lợi lớn để cư dân học tập để có
trình độ cao nên nhìn chung, trình độ dân trí ở các tỉnh vào loại cao nhất nước.
21
* Đặc điểm xã hội: ĐBSH là vùng có mật độ dân số cao, lao động dồi dào.
Số lượng, mật độ dân cư ở các tỉnh ĐBSH vào loại lớn nhất so với các tỉnh vùng
đồng bằng trong cả nước. Tổng dân số của chín tỉnh là 9.765.445 ng ười, chiếm 22,7% dân số cả nước [Ph ụ lục 2]; mật độ dân s ố là 934 ng ười/km2, phân b ố không đều giữa các tỉnh. Phần lớn các tỉnh có mật độ dân số trên 1000 người/km2; tỉnh có mật độ dân số cao nhất là tỉnh Bắc Ninh (1.313 người/ km2, tiếp đến là tỉnh Hưng Yên (1.237 ng ười/ km 2), th ấp nh ất là tỉnh Qu ảng Ninh (195 ng ười/ km 2)
[Phụ lục 2].
Dân số đông, diện tích đất canh tác bình quân đầu người vào loại thấp nhất so với cả nước (450m2/đầu người). Bởi vậy, vùng này được gọi là "vùng đất chật
người đông". Cùng với việc tăng dân số, thu hẹp đất canh tác, sức cạnh tranh của
hàng hóa tiểu thủ công nghiệp thấp nên nhiều lao động không có việc làm, nảy sinh
nhiều vấn đề xã hội phức tạp.
Đồng bằng sông Hồng là cội nguồn và là trung tâm của hai tôn giáo lớn ở
nước ta là Phật giáo và Công giáo. Các trung tâm Phật giáo lớn, nổi tiếng ở miền
Bắc nước ta đều nằm ở các tỉnh ĐBSH như Trúc Lâm Thi ền Viện (Vĩnh Phúc),
Yên Tử (Quảng Ninh)... Số người theo đạo Phật ở các tỉnh rất lớn, nhưng thực
chất chỉ trên danh nghĩa.
“Thiên Chúa giáo bắt đầu du nhập vào vùng ven biển ĐBSH từ đầu thế kỷ
XVI, đời vua Lê Trang Tông, năm 1533 và sau đó theo các triền sông tỏa vào nội
địa” [53, tr.92]. Tín đồ Công giáo sống tập trung ở các huyện ven biển của các tỉnh
Nam Định, Ninh Bình và Thái Bình, đông nhất là ở các huy ện Kim Sơn (Ninh
Bình); Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Trực Ninh (Nam Định);
Tiền Hải (Thái Bình). Số lượng tín đồ Công giáo đông nhất là ở tỉnh Nam Định (43
vạn tín đồ, chiếm 21,5% dân số của tỉnh), có huyện số lượng tín đồ chiếm 49% dân
số của huyện, như huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định [50, tr.14]. Trong vùng đã
hình thành trung tâm đạo Công giáo lâu đời và vào loại lớn nhất nước ta - Xứ đạo
Bùi Chu và Xứ đạo Phát Diệm.
Phật giáo và Công giáo ở các tỉnh ĐBSH đã có đóng góp nhất định trong các
cuộc chiến tranh chống phong kiến, thực dân, đế quốc trước đây và trong xây dựng,
22
bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Tuy nhiên, trước đây Công giáo ở một số tỉnh đã bị các
thế lực phản động lợi dụng, gây cho Đảng, cách mạng và nhân dân không ít khó
khăn, phức tạp và tổn thất, kể cả xương máu.
* Đặc điểm chính trị, QPAN: nhân dân vùng này m ột lòng một dạ đi theo
Đảng làm cách mạng, vượt qua biết bao khó khăn, gian khổ, thách thức quyết liệt
giành thắng lợi trong chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Các tỉnh có vị
trí đặc biệt quan trọng về QPAN đối với đất nước. Đây là nền tảng, địa bàn đặc biệt
quan trọng để triển khai chiến lược quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, ch ủ
động đối phó có hi ệu quả với mọi tình huống, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển,
đảo, lãnh thổ và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước. Nhìn chung,
chính trị ở các tỉnh ổn định, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm.
Qua 30 năm đổi mới, các tỉnh đã phát triển khá mạnh mẽ về nhiều mặt, song
vẫn còn một số khó khăn, thách thức: nhiều tiềm năng, thế mạnh chưa được khai
thác và phát huy mạnh mẽ; kinh tế - xã hội phát triển chưa vững chắc; cơ cấu kinh
tế chuyển dịch chậm; lúng túng trong phát triển tiểu thủ công nghiệp; các làng nghề
truyền thống chưa phát triển mạnh và còn khó kh ăn trong tiêu th ụ sản phẩm; số
lượng lao động không có việc làm còn lớn và có xu hướng gia tăng, điều kiện học
hành của các cháu trong độ tuổi đi học và việc khám chữa bệnh của nhiều gia đình
người dân gặp nhiều khó khăn; môi trường ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng; sự chênh
lệch về mức sống dân cư còn lớn; nhân dân còn bất bình với tệ tham nhũng, lãng
phí; vẫn còn khiếu kiện đông người, vượt cấp; hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn
giáo và lễ hội truyền thống còn diễn ra; một số vấn đề dân tộc, tôn giáo diễn biến
phức tạp, các tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn và đẩy lùi...
2.1.1.2. Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng - chức năng, nhiệm vụ, vai trò
và đặc điểm
* Chức năng: Điều lệ Đảng quy định: "Giữa hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo
của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở mỗi cấp là Ban Chấp hành đảng bộ, chi
bộ (gọi tắt là cấp ủy)" [30, tr.17]. Điều 4 Hi ến pháp nước Cộng hòa xã h ội chủ
nghĩa Việt Nam quy định: "Đảng Cộng sản Việt Nam..., là lực lượng lãnh đạo Nhà
nước và xã hội" [79, tr.10]. Đây là cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của sự lãnh đạo
23
của tỉnh ủy ở ĐBSH. Tỉnh ủy là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại
hội. Chức năng của tỉnh ủy là lãnh đạo; tỉnh ủy lãnh đạo các tổ chức trong HTCT
từ tỉnh đến cơ sở, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trên địa bàn tỉnh, lãnh đạo
các lĩnh vực đời sống xã hội. Tỉnh ủy còn có ch ức năng thực hiện công tác xây
dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và về đạo đức đáp
ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tỉnh. Tỉnh ủy là
cấp ủy của hệ thống tổ chức thứ hai trong hệ thống tổ chức của Đảng, chịu sự lãnh
đạo, ki ểm tra c ủa Trung ương Đảng, có trách nhi ệm th ực hi ện đường lối, ch ủ
trương của Đảng, chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng. Đồng thời, tỉnh ủy có
chức năng và trách nhiệm tham mưu, đóng góp ý kiến vào sự lãnh đạo của Trung
ương Đảng và của Đảng.
Từ phân tích trên, có thể thấy, tỉnh ủy ở ĐBSH có chức năng sau:
Một là, tỉnh ủy ở ĐBSH thực hiện ch ức năng lãnh đạo chính tr ị đối với
HTCT và các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương.
Tỉnh uỷ th ực hiện lãnh đạo trực tiếp, mọi mặt công tác c ủa đảng bộ tỉnh,
nghĩa là tỉnh ủy lãnh đạo các tổ chức trong HTCT và lãnh đạo các lĩnh vực đời sống
xã hội trên địa bàn tỉnh. Sự lãnh đạo của tỉnh ủy là lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt,
thể hiện ở: tỉnh ủy đề ra phương hướng, chủ trương, mục tiêu, biện pháp lãnh đạo
các đối tượng lãnh đạo nói trên; đồng th ời lãnh đạo, ch ỉ đạo các tổ ch ức trong
HTCT, nhất là tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền tỉnh cụ thể hóa các ch ủ trương, biện
pháp lãnh đạo đó thành nghị quyết, quyết định, chương trình, kế hoạch, đề án và
biện pháp của chính quyền để tổ chức thực hiện. Tỉnh ủy lãnh đạo các cấp ủy, nhất
là cấp ủy trực thuộc và ủy ban kiểm tra tỉnh ủy về kiểm tra, giám sát các tổ chức
đảng và đảng viên thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy, đồng thời trực tiếp tổ chức
tiến hành công tác kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên theo quy định tại
Điều 30 Điều lệ Đảng.
Lãnh đạo chính trị là chức năng lãnh đạo cơ bản nhất của tỉnh ủy. Để thực
hiện chức năng này, tỉnh ủy lãnh đạo các tổ ch ức, các lĩnh vực đời sống xã hội
thông qua việc ban hành các nghị quyết, chính sách và các định hướng lớn, đảm bảo
cho hoạt động của các tổ chức và lĩnh vực đời sống xã hội theo định hướng XHCN.
24
Tỉnh ủy không can thiệp quá sâu, không bao biện, làm thay công việc cụ thể của các
tổ chức, tỉnh ủy lãnh đạo phát huy vai trò, chủ động sáng tạo của các tổ chức của
HTCT thông qua các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong HTCT.
Hai là, tỉnh ủy th ực hiện ch ức năng xây d ựng Đảng và xây d ựng đảng
bộ tỉnh.
Trước hết, tỉnh ủy tiếp nhận và lãnh đạo thực hiện các nghị quyết, quyết định
của Đảng về công tác xây dựng Đảng. Đồng thời, xuất phát từ thực tế đảng bộ tỉnh,
yêu cầu nhiệm vụ chính tr ị của đảng bộ, tỉnh ủy xây dựng, ban hành và lãnh đạo
thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy về công tác xây dựng đảng bộ tỉnh để đảng bộ
ngang tầm nhiệm vụ chính trị.
Ba là, tỉnh uỷ thực hiện chức năng tham mưu, đề xuất và tham gia xây dựng
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Tỉnh ủy tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước về xây dựng đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần để đường lối, chủ
trương, chính sách ấy đúng đắn, phù hợp thực tiễn và có tính khả thi. Bí thư tỉnh ủy
thường là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong tỉnh ủy thường có một
số cán bộ là đại biểu quốc hội. Những cán bộ này, trực tiếp tham gia xây dựng và
quyết định về đường lối chiến lược của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Ba chức năng nêu trên tác động biện chứng lẫn nhau. Các tỉnh uỷ không thể
thực hiện tốt chức năng lãnh đạo chính trị, nếu không thực hiện tốt chức năng xây
dựng đảng bộ tỉnh trong sạch, vững mạnh. Mục đích của xây dựng nội bộ đảng bộ
tỉnh trong sạch, vững mạnh là để tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
chính trị của đảng bộ tỉnh. Việc lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của
đảng bộ tỉnh lại đặt ra mục tiêu, yêu cầu xây dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh. Thực
hiện tốt chức năng thứ nhất và th ứ hai thì mới thực tốt chức năng thứ ba... Thực
hiện tốt ba chức năng đó, bảo đảm cho đảng bộ tỉnh có năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó.
* Nhiệm vụ: Chương IV, Điều 19 Điều lệ Đảng quy định: "Cấp ủy tỉnh,
thành phố tr ực thuộc Trung ương (g ọi tắt là Tỉnh ủy, Thành ủy), cấp ủy huyện,
quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi tắt là Huyện ủy, Quận ủy, Thị ủy, Thành
25
ủy) lãnh đạo thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên
[30, tr.33]. Trên cơ sở quy định của Điều lệ Đảng, hướng dẫn của Trung ương, xuất
phát từ chức năng của tỉnh ủy, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ tỉnh, các tỉnh ủy ở
ĐBSH có nh ững nhiệm vụ chủ yếu: Một là, quán tri ệt đường lối chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của đại hội đại biểu đảng bộ
nhiệm kỳ của tỉnh, ra các nghị quyết của tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy và lãnh đạo
tổ chức thực hiện. Hai là, lãnh đạo Hội đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân
(UBND) cụ thể hóa và triển khai thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy, ban thường
vụ tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội, QPAN. Ba là, lãnh đạo và tổ chức thực hiện
nhiệm vụ xây dựng Đảng, bao gồm quán triệt, xây dựng chương trình, kế hoạch
thực hiện các nghị quyết của Trung ương về công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo, chỉ
đạo, các tổ chức đảng cấp dưới thực hiện. Bốn là, phê duyệt quy hoạch cán bộ của
cấp dưới theo phân cấp quản lý cán bộ. Năm là, tuyên truyền, vận động nhân dân
thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Sáu
là, kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên trong đảng bộ tỉnh,
trước hết là các tổ chức đảng trực thuộc và những đảng viên là cán bộ thuộc diện
ban thường vụ tỉnh ủy quản lý. Bảy là, chuẩn bị báo cáo chính tr ị, nhân sự và tổ
chức đại hội đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ tới.
* Vai trò của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng
Thứ nhất, các tỉnh ủy ở ĐBSH bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước được thực hiện, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, bảo
đảm QPAN, nâng cao đời sống của nhân dân.
Các tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh, của
tỉnh ủy, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp lu ật của Nhà nước về
phát triển kinh tế - xã hội, QPAN, tổ chức thực hiện.
Các tỉnh uỷ trực tiếp tiếp nhận đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước và lãnh đạo tổ chức thực hiện, bảo đảm cho đường lối, nghị
quyết chính sách, pháp luật thành hiện thực trên địa bàn tỉnh. Các đại hội đảng bộ
tỉnh quyết định mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp lớn về phát triển kinh tế - xã hội,
QPAN. Các tỉnh ủy cụ thể hóa, ban hành các nghị quyết của tỉnh ủy và tổ chức thực
26
hiện để mục tiêu, nhiệm vụ ấy được thực hiện thắng lợi, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân.
Thứ hai, các tỉnh ủy ở ĐBSH trực tiếp quyết định lãnh đạo thực hiện các
nghị quyết của Đảng, của tỉnh ủy về xây dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh.
Là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại hội đảng bộ tỉnh các
tỉnh ủy trực tiếp lãnh đạo thực hiện các nghị quyết của Đảng về xây dựng Đảng, bảo
đảm cho các nghị quyết ấy được thực hiện thắng lợi ở địa phương. Đồng thời, các
tỉnh ủy xây dựng, ban hành các nghị quyết về xây dựng đảng bộ tỉnh, lãnh đạo, chỉ
đạo các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện, uốn nắn kịp thời những lệch lạc, thiếu sót,
khen thưởng, động viên kịp thời những tổ chức đảng, cán bộ đảng viên hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ... Những hoạt động ấy của tỉnh ủy là nhân t ố quy ết định xây
dựng đảng bộ tỉnh vững mạnh đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ.
Thứ ba, các tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết,
quyết định của Đảng, của tỉnh ủy về xây dựng và hoạt động của các tổ chức trong
HTCT từ tỉnh đến cơ sở và các tổ chức kinh tế, xã hội trên địa bàn.
Các tỉnh ủy tiếp nhận và trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện
các nghị quyết của Đảng, xây dựng, ban hành các ngh ị quyết của tỉnh ủy về xây
dựng tổ chức và hoạt động của các tổ chức trong HTCT, tổ chức kinh tế, xã hội trên
địa bàn tỉnh, bảo đảm cho hoạt động của các tổ chức này theo đúng đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vì sự phát triển toàn diện của tỉnh.
Thứ tư, các tỉnh ủy ở ĐBSH cung cấp cho Đảng những kinh nghiệm, cách
làm hiệu quả về lãnh đạo phát tri ển kinh tế - xã h ội, QPAN, công tác xây d ựng
Đảng góp phần hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng.
Trong quá trình lãnh đạo mọi hoạt động trên địa bàn tỉnh, xuất hiện những
vấn đề mới, phức tạp, các tỉnh ủy phải xác định chủ trương, giải pháp giải quyết
đem lại kết quả, tích lũy được kinh nghiệm, cách làm đem lại hiệu quả. Các tỉnh ủy
sẽ cung cấp cho Đảng những kinh nghiệm, giải pháp lãnh đạo phát triển kinh tế - xã
hội, QPAN, xây d ựng Đảng để Đảng nghiên cứu, hoàn thi ện ch ủ tr ương, chính
sách, xây dựng chủ trương, chính sách mới phù hợp thực tiễn để công cuộc đổi mới
giành thắng lợi lớn hơn.
27
* Đặc điểm của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng
Một là, nhiệm kỳ 2010 - 2015 số lượng tỉnh ủy viên ở chín tỉnh ĐBSH bảo
đảm đúng số lượng theo quy định, tuyệt đại đa số là người địa phương
Trong nhiệm lỳ này ở chín trỉnh có 484 tỉnh uỷ viên. Trong đó, 98% tỉnh ủy
viên là người sinh ra và lớn lên, trưởng thành ở các tỉnh trong vùng và ch ủ yếu là
người của tỉnh đó. Số tỉnh ủy viên là người của tỉnh khác, nhất là ở các tỉnh ngoài
vùng ĐBSH chiếm tỷ lệ không đáng kể. Điều này rất thuận lợi cho hoạt động lãnh
đạo của tỉnh ủy. Các tỉnh ủy viên là người địa phương nên nắm chắc mọi điều kiện
kinh tế, xã hội, thuận lợi, khó khăn trong phát triển của tỉnh; nắm chắc phong tục,
tập quán, văn hóa địa phương, dễ gần gũi, hòa đồng, quy tụ, đoàn kết cán bộ, đảng
viên và nhân dân trong thực thi nhiệm vụ. Song, cũng dễ e dè, nể nang, cục bộ, xuê
xoa trong công vi ệc và đấu tranh với những sai trái, làm vi ệc dễ tr ọng tình hơn
trọng lý [Phụ lục 4].
Hai là, đội ngũ tỉnh ủy viên ở các tỉnh đã được trẻ hóa một bước, cơ cấu giới
tính bảo đảm theo yêu cầu và chỉ đạo của Đảng
Tỉnh ủy viên có tuổi đời từ 35 đến 44 tuổi chiếm 0,4% (21 đồng chí); từ 45
đến 54 chiếm 38,8% (188 đồng chí); từ 55 đến 60 chiếm 54,7%). Số tỉnh ủy viên là
nữ chiếm 13% (56 đồng chí). Ở tỉnh Ninh Bình, Vĩnh Phúc tỷ lệ tỉnh ủy viên là nữ
nhiệm kỳ 2015 - 2020 chiếm trên 10% [Phụ lục 5b]. Đội ngũ tỉnh ủy viên đã được
trẻ hóa một bước, phần lớn đang ở độ tuổi cống hiến và trưởng thành. Với cơ cấu
này, các tỉnh ủy có nhiều thuận lợi trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Ba là, trình độ mọi mặt của đội ngũ tỉnh ủy viên vào loại cao so với các vùng
trong cả nước
Trong 484 tỉnh uỷ viên có 99, 6% tỉnh ủy viên tốt nghiệp đại học, trong đó
34,3% có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ (166 đồng chí); tất cả tỉnh ủy viên đều có trình độ
cử nhân chính tr ị hoặc cao cấp lý lu ận chính trị và học chương trình quản lý nhà
nước [Phụ lục 4]. 124 đồng chí trong ban thường vụ tỉnh ủy có nhiều kinh nghiệm
công tác, đều trưởng thành từ cơ sở và tại địa phương, được đào tạo cơ bản, được
thử thách qua nhiều cương vị công tác. Đây là thuận lợi lớn đối với hoạt động của
các tỉnh ủy.
28
Chất lượng tỉnh ủy viên của các tỉnh Ninh Bình, Qu ảng Ninh, Vĩnh Phúc
nhiệm kỳ 2015 - 2020 so v ới nhiệm kỳ 2010 - 2015 được nâng lên một bước khá
lớn: cơ cấu giới tính khá hợp lý (ở tỉnh Ninh Bình, Vĩnh Phúc số tỉnh ủy viên là nữ
chiếm trên 10%. Tuyệt đại đa số tỉnh ủy viên của các tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh,
Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2015 - 2020 có trình độ sau đại học [Phụ lục 5b].
Bốn là, các tỉnh ủy hoạt động trong môi trường có đặc điểm kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội đặc thù của vùng ĐBSH, có nhiều thuận lợi trong hoạt động, nhưng
cũng gặp không ít khó khăn thách thức.
Thuận lợi cơ bản là, ở các tỉnh kinh tế - xã hội phát triển khá nhanh, trình độ
dân trí cao, có nhiều cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có cơ sở nghiên
cứu và chuyển giao khoa học vào sản xuất; chính trị ổn định; an ninh, trật tự được
bảo đảm; nhân dân thông minh, cần cù, chịu khó, gắn bó với Đảng, một lòng một dạ
đi theo Đảng đến ấm no, hạnh phúc... Tuy nhiên, các tỉnh ủy cũng gặp không ít khó
khăn thách thức, nhất là lãnh đạo phát triển kinh tế, tạo việc làm, xóa bỏ tình trạng
dư thừa lao động, phòng chống tệ nạn xã hội, hạn chế sự chi phối của quan hệ huyết
thống, truyền thống làng xã trong giải quyết công việc...
2.1.2. Công bằng xã hội - khái niệm, nội dung, vai trò và những đặc tính
cơ bản
2.1.2.1. Khái niệm công bằng xã hội
Để có thể đưa ra khái niệm tương đối hoàn chỉnh về khái niệm CBXH, trước
hết cần làm rõ khái niệm “xã hội” và "công bằng".
* Khái niệm "xã hội" và "công bằng":
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: Theo nghĩa hẹp, xã hội là khái niệm chỉ
một hệ thống xã hội cụ thể, một hình thức nhất định của các quan hệ xã hội, là một
xã hội ở vào trình độ phát triển nhất định trong lịch sử như xã hội nô lệ, phong kiến,
tư bản, xã hội xã hội chủ nghĩa. Theo nghĩa này khái ni ệm xã hội đồng nhất với
khái niệm hình thái kinh tế - xã hội [44, tr.964].
Theo nghĩa rộng, xã hội là "toàn bộ các hình thức hoạt động chung của con
người đã hình thành trong lịch sử" [44, tr.965]. Với cách hiểu này, xã hội được dùng
để chỉ một tập đoàn người được tạo nên bởi những cá nhân và những mối quan hệ
29
trong tập đoàn đó; xã hội được coi là môi tr ường hoạt động của con ng ười, từng
người hòa nhập và hoạt động trong môi trường đó. Với cách hiểu này, thì xã hội,
đối lập với cá nhân, con người xã hội là con người sống hoạt động trong cộng đồng
đối lập với con người sống và hoạt động đơn độc. Theo nghĩa rộng, khái niệm xã
hội được dùng để chỉ toàn bộ những cái liên quan đến con ng ười và loài ng ười,
phân biệt một cách tương đối với thế giới tự nhiên.
Từ điển triết học cho rằng, khái niệm "xã hội" đồng nhất với khái niệm "hình
thái kinh tế - xã hội". Từ điển định nghĩa, "Hình thái kinh tế - xã hội: chế độ kinh tế
và kiến trúc thượng tầng thích ứng với chế độ kinh tế ấy của một xã hội ở vào giai
đoạn nhất định trong sự tiến hóa của lịch sử" [56, tr.397]. Về điều này, C. Mác chỉ
ra rằng:
Tổng hợp lại thì những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là
những quan hệ xã hội, là xã hội, và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào
một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Xã hội cổ đại, xã hội phong
kiến, xã hội tư sản đều là những tổng thể quan hệ sản xuất như vậy, mỗi
tổng thể đó đồng thời đại biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong
lịch sử phát triển nhân loại [8, tr.553].
Từ những dẫn giải trên, có thể hiểu xã hội mà toàn Đảng, toàn dân ta đang nỗ
lực xây dựng là xã hội thuộc hình thái kinh tế - xã hội XHCN nhưng ở giai đoạn
đầu của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH; những nội hàm cơ bản của
xã hội đó đã được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
(bổ sung, phát triển năm 2011) xác định:
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây d ựng là một xã hội: Dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ;
có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan
hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tư do, hạnh phúc, có điều kiện
phát triển toàn diện, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng,
đoàn kết, tôn tr ọng và giúp nhau cùng phát tri ển; có nhà n ước pháp
30
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng
Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế
giới [31, tr.70].
Xã hội XHCN nêu trên ở nước ta đang trong quá trình hình thành, phát triển
ở tất cả các nội dung của nó, trong đó có những nội dung đạt kết quả khá cao, cũng
có những nội dung mới chỉ bước đầu hình thành, đang trong quá trình tìm tòi, phát
triển cả về lý luận và thực tiễn. Để có một xã hội đạt được những nội dung nêu trên
phải qua quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ của toàn Đảng, toàn dân, đó cũng là
quá trình phấn đấu vì CBXH trên đất nước ta.
Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa: "công bằng" là không thiên v ị mà theo
đúng lẽ phải [146, tr.454]. Từ điển Bách khoa Việt Nam tiếp cận khái niệm "công
bằng" từ góc độ ý th ức đạo đức và ý th ức pháp quyền và cho rằng: công bằng là
“1. Khái niệm về ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền, chỉ điều chính đáng, tương
ứng với bản ch ất và quy ền con ng ười… khái ni ệm công bằng nêu ra s ự tương
quan giữa một số hiện tượng theo quan điểm phân ph ối phúc và h ọa, lợi và hại
giữa người với người” [44, tr.580]; đồng thời, từ điển chỉ rõ: “Công bằng đòi hỏi
sự tương xứng giữa vai trò của các cá nhân (những giai cấp) với địa vị xã hội của
họ, giữa hành vi với sự đền bù (lao động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt),
giữa quyền với nghĩa vụ - không có sự tương xứng trong những quan hệ ấy là bất
công” [44, tr.580].
Từ những dẫn giải nêu trên, luận án quan niệm: Công bằng là một khái niệm
phản ánh xu hướng phát triển của con người, cộng đồng người, thể hiện khát vọng
và mong ước đạt được những lợi ích do xã hội mang lại, tương xứng với lao động
và cống hiến của họ cho xã hội.
Ngoài những điểm giống nhau, những con người sống trong xã hội giữa họ
luôn có sự khác nhau, thậm chí khác nhau rất lớn về năng lực trí tuệ, thể chất, tâm
lý, tính cách, hoàn cảnh sống... nên sự đóng góp, cống hiến của mỗi người cho xã
hội không giống nhau, sự hưởng thụ những lợi ích từ xã hội cũng rất khác nhau. Có
người vì mưu sinh của mình mà xâm hại đến lợi ích của người khác và xã hội; có
người tuy lao động, cống hiến nhiều cho xã hội, nhưng không được đền đáp tương
31
ứng; có người khuyết tật phải chịu thiệt thòi nhiều mặt; có người không cống hiến
gì cho xã hội, nhưng lại được hưởng thụ rất lớn... đó là những bất công cần được
khắc phục. Công bằng - vì v ậy - là khát v ọng thúc đẩy con ng ười không ng ừng
vươn lên các nấc thang văn minh trong tiến trình phát triển nhân loại.
Công bằng là khái niệm có tính lịch sử - cụ thể và phổ biến. Không có khái
niệm công bằng phi lịch sử, phi giai cấp và phi chính trị: “Nội dung công bằng thay
đổi trong lịch sử, tùy theo hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính trị của một hình thái kinh
tế - xã hội nhất định. Người Hy Lạp cổ đại cho chế độ nô lệ là công bằng; ý thức
công bằng của giai cấp tư sản đang lên đòi hỏi thủ tiêu ch ế độ phong ki ến” [44,
tr.580]. Nhìn lại xã hội loài người từ khi phân chia thành giai cấp đối kháng, nhà
nước của giai cấp thống trị xuất hiện, giai cấp thống trị đại diện cho công bằng của
xã hội đó, họ sử dụng nhà nước làm công cụ để điều tiết những bất công xã hội -
vốn không thể tránh khỏi trong xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng - để thỏa
mãn một phần đòi hỏi công bằng của số đông dân chúng trong xã hội đó. Chế độ sở
hữu tư nhân tư liệu sản xuất từ khi ra đời đến nay, luôn là một động lực to lớn của
phát triển sản xuất xã hội, nhưng nó cũng là ngu ồn gốc của bóc lột giai cấp, bất
công xã hội. Do vậy, chừng nào xã hội còn tồn tại chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản
xuất, còn giai cấp và nhà nước thì còn nguồn gốc của bất công xã hội; CBXH chỉ là
công bằng pháp quyền, gắn với một chế độ chính trị - xã hội cụ thể.
* Khái niệm công bằng xã hội
Trong xã hội khi nói t ới công bằng, phải được hiểu là CBXH, đó là công
bằng giữa các tầng lớp, nhóm xã hội và các cá nhân trong xã h ội. Theo Từ điển
Bách khoa Việt Nam:
Công bằng xã hội là phương thức đúng đắn nhất để thoả mãn một cách
hợp lý những nhu cầu của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, các cá
nhân xuất phát từ khả năng hiện thực của các điều kiện kinh tế - xã hội
nhất định. Về nguyên tắc, chưa thể có sự công bằng nào được coi là tuyệt
đối trong chừng mực mà mâu thuẫn giữa nhu cầu của con người và khả
năng hiện thực của xã hội còn chưa được giải quyết. Bởi vậy, mỗi thời
đại lại có những đòi hỏi riêng về sự công bằng xã hội [44, tr.580].
32
Ở phương Đông cổ đại, Khổng Tử (551- 479) và M ặc Tử (480-420 tr ước
Công nguyên) - những nhà tư tưởng nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại - đã sớm bàn
về CBXH. Các ông cho r ằng, xã hội công bằng là xã hội, ở đó, công bằng được
thực hiện và đảm bảo đối với tất cả mọi người, không phân bi ệt đẳng cấp. Quan
niệm này, tuy khó thành hi ện thực, song có tính nhân v ăn sâu sắc, phản ánh ước
mong của loài người về một xã hội tươi đẹp. Ở phương Tây, nhà tư tưởng nổi tiếng
thời cổ đại như Platôn (Platôn) (427-347), Arixtốt (AriStote) (384-322 trước Công
nguyên) - các nhà triết học cổ đại Hy Lạp - đã có quan niệm về CBXH, song còn
mang nặng tính đẳng cấp. Các ông cho rằng, trong xã hội phân chia thành những
đẳng cấp, tầng lớp khác nhau, công bằng là sự đối xử ngang nhau, là sự bình đẳng
giữa những người có cùng địa vị xã hội, trong cùng một giai cấp, không thể có công
bằng giữa những người ở các đẳng cấp khác nhau. Các ông đã xem xét sự biểu hiện
của CBXH trong lĩnh vực phân phối của cải vật chất xã hội trên cơ sở những quy
định của xã hội do giai cấp thống trị đưa ra. Mỗi người trong xã hội được hưởng thụ
của cải xã hội tương xứng với cống hiến của họ trên cơ sở những quy định ấy.
Trong thời đại cách mạng tư sản, các nhà t ư tưởng tư sản đã đưa ra cách
tiếp cận mới và b ổ sung nh ững nội hàm m ới của khái ni ệm CBXH. G. Rútxô
(J. J. Roussesau) đã đưa ra quan điểm và giải pháp đúng đắn, có tính nhân văn về
CBXH. Ông cho rằng, sở hữu tư nhân là nguyên nhân của phân hoá xã hội thành kẻ
giàu và người nghèo. Vì vậy, xóa bỏ được sở hữu tư nhân thì mới có thể đạt được
công bằng và bình đẳng. Giải pháp được ông đưa ra gồm: thiết lập "Khế ước xã
hội" để cải biến chính mình; loại bỏ các tính xấu, nhất là lòng tham lam và ích kỷ.
Tuy còn chung chung, trừu tượng, thoát ly thực tế, nhưng những giải pháp này đã
chứa đựng những ý tưởng nhân đạo. Xanh Ximông (1760 - 1828), Phăngxoa Mari
Sáclơ Phuriê (1772 - 1837), Rôb ớt Ôoen (1771 - 1858)... là nh ững nhà CNXH
không tưởng, đã có đóng góp quan trọng, đưa tư tưởng CBXH của nhân loại tiến
lên một bước dài trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản. Các ông đã mơ ước về
một xã hội lý tưởng và công bằng, một xã hội mọi người đều phải lao động và được
hưởng thụ như nhau, không có đặc quyền, đặc lợi.
33
Trong xã hội tư bản hiện đại, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đưa ra
những quan niệm mới về CBXH nhằm biện minh cho những bất công trong xã hội
tư bản. G.Rauxơ (John Rawls, 1921-2002), nhà triết học người Mỹ, coi công lý như
là sự công bằng. Ông cho rằng, một thể chế xã hội được gọi là công bằng, khi thể
chế đó là căn cứ để xác định nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ phù hợp
với lợi ích của mỗi cá nhân. Th ể chế của một xã hội đạt đến giá tr ị công lý khi
chuẩn mực của sự công bằng đảm bảo sự phân chia ngày càng bình đẳng hơn giữa
quyền lợi và nghĩa vụ; hoặc ngày càng hạn chế được sự khác biệt về xuất phát điểm
của mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt động hợp tác xã hội. Với những luận điểm
nêu trên, ở chừng mực nào đó, về thực chất, G. Rauxơ đã biện minh cho những bất
bình đẳng và sự phân hoá giàu, nghèo trong xã hội tư bản hiện đại.
Những người xã hội dân ch ủ đã luận giải tính ưu việt của xã hội dân ch ủ
phát triển đến trình độ cao ở một số nước Bắc Âu, như Thụy Điển, Đan Mạch....
Những người này, không đồng tình với các quan điểm và cách tiếp cận khái niệm
CBXH nêu trên. Họ đã tiếp cận khái ni ệm CBXH từ tự do cá nhân và quá nh ấn
mạnh tự do cá nhân trong mối quan hệ với CBXH, coi tự do cá nhân là động lực
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Từ đó, họ cho rằng, để phát triển
kinh tế phải giảm bớt CBXH, bởi vì, không thể đồng thời vừa có tăng trưởng kinh
tế, vừa có CBXH; chỉ khi kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định mới có điều
kiện để thực hiện CBXH.
Những người có quan điểm nêu trên chưa thấy rõ rằng, tăng trưởng kinh tế
tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện CBXH, song trên thực tế, ở nhiều nơi, kinh tế
chưa thực sự phát triển, nhưng CBXH đã được bảo đảm trong khá nhiều lĩnh vực
đời sống xã hội. Đặc biệt, họ không luận bàn về một điều rất cơ bản là, CBXH được
quyết định bởi thể chế của một xã hội, thể chế ấy, lại phụ thuộc vào bản chất của
giai cấp cầm quyền. Ở các nước tư bản, kể cả các nước tư bản Bắc Âu như Thụy
Điển, Đan Mạch giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giai cấp tư sản
không thể có CBXH khi giai cấp tư sản chiếm hữu tư liệu sản xuất và quyết định
việc phân phối sản phẩm xã hội.
34
Những cách tiếp cận, quan điểm, tư tưởng của các nhà khoa học, các nhà tư
tưởng về CBXH nêu trên, tuy còn phiến diện và chủ quan, chủ yếu do hạn chế về
lập trường giai cấp và lợi ích của giai cấp mà họ là người đại diện, song đã cung cấp
những điều bổ ích để nghiên cứu, đưa ra khái niệm CBXH.
Những nhà sáng lập CNXH khoa học đã đưa ra những tiếp cận mới, đúng
đắn và khoa học về CBXH. Theo Ph.Ăngghen: “Công bằng của những người Hy
Lạp và La Mã là s ự công bằng của chế độ nô lệ. Công bằng của giai cấp tư sản
năm 1789 là nh ững đòi hỏi ph ải xóa b ỏ ch ế độ phong ki ến, mà nó coi là b ất
công...” [9, tr.327]. Luận điểm này, cho th ấy, nếu không gắn chặt CBXH với lợi
ích của giai cấp, tầng lớp xã hội và những điều kiện vật chất sinh ra nó, thì không
thể có quan ni ệm đúng đắn về CBXH; CBXH có tính l ịch sử, nên khó có th ể có
một quan niệm chung về CBXH cho mọi thời đại, dân tộc và giai cấp. Trong tác
phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta C.Mác vi ết: "với một công việc ngang nhau và
do đó, với một phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của xã hội thì trên thực
tế người này vẫn lĩnh nhiều hơn người kia, ng ười này vẫn giầu hơn người kia...
Muốn tránh tất cả nh ững thi ếu sót ấy thì quy ền ph ải là không bình đẳng, ch ứ
không phải là bình đẳng" [9, tr.35].
C.Mác cũng nhấn mạnh: “những thiếu sót đó là không thể tránh khỏi trong
giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa... Quyền không bao giờ có thể ở mức
độ cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế đó
quyết định” [9, tr.480]. Những thiếu sót đó chỉ được khắc phục hoàn toàn trong chủ
nghĩa cộng sản, Ông chỉ rõ: “Chỉ khi đó người ta mới có thể vượt hẳn ra khỏi giới
hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã hội mới có thể ghi trên lá cờ của mình:
làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” [9, tr.36]. Như vậy, lần đầu tiên trong lịch
sử tư tưởng nhân loại, CBXH được các nhà sáng lập CNXH khoa học luận giải trên
cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử: CBXH là một phạm trù lịch sử, có tính giai
cấp, thay đổi theo các hình thái kinh tế - xã hội và trong từng giai đoạn khác nhau
của một hình thái kinh tế - xã hội, CBXH cũng có thể thay đổi; mỗi giai cấp, dân
tộc, tầng lớp dân cư cũng có nh ững quan niệm khác nhau về CBXH... Không có
CBXH thoát ly bản chất nhà nước, pháp luật và các thể chế chính trị - xã hội cụ thể.
35
Hồ Chí Minh đã xem xét CBXH trong mối quan hệ mật thiết với độc lập dân
tộc và CNXH. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại,
đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc tự do, bình đẳng,
bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm
vui, hòa bình và hạnh phúc” [57, tr.46]; “Chủ nghĩa xã hội là gì? Là mọi người ăn
no, mặc ấm, sung sướng, tự do” [59, tr.22]. Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể của
cách mạng Việt Nam th ời kỳ quá độ lên CNXH Hồ Chí Minh ch ỉ ra rằng, công
bằng không có nghĩa là cào bằng, bình quân chủ nghĩa: "Không có tình trạng người
giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm như nhau" [59, tr.143]; mà phải
theo nguyên tắc: “Làm nhi ều hưởng nhi ều, làm ít h ưởng ít, không làm không
hưởng” [60, tr.23]. CBXH hi ểu theo nghĩa tổng quát nh ất, gắn với một hình thái
kinh tế - xã hội xác định. Nước ta đang trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên
CNXH, CBXH gắn với toàn bộ đường lối, chính sách xã hội của Đảng, được thể
chế hoá thành Hiến pháp, pháp luật, cùng với tổ chức bộ máy và con người thực thi
đường lối, chính sách pháp luật đó nhằm bảo đảm:
Xử lý tốt mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân, xóa
bỏ mọi hình thức đặc quyền, đặc lợi mọi người đều bình đẳng trước pháp
luật. Ban hành các chính sách nh ằm điều tiết các ngu ồn thu nh ập, bảo
đảm sự công bằng trong phân phối các sản phẩm xã hội, lương bổng và
các phúc lợi xã hội. Xây dựng những cơ chế tạo điều kiện cho mỗi thành
viên trong xã hội, mỗi người lao động có quyền giám sát, kiểm tra mọi
hoạt động kinh tế, xã hội, phân phối sản phẩm và phúc lợi [44, tr.581].
Vận dụng và phát tri ển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, t ư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề CBXH, Đảng ta luôn quan tâm đến CBXH cả trên phương diện lý
luận và th ực tiễn. Khái niệm CBXH được Đảng ta phát tri ển, bổ sung nh ững nội
hàm phong phú phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể ở nước ta trong thời kỳ
quá độ lên CNXH. Tại Đại hội X, Đảng ta khẳng định: “thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các
chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế” [24, tr.101]. Trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm
36
2011), Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm của Đại hội X, chỉ rõ hơn nội hàm
khái niệm CBXH thông qua các chính sách xã hội:
Chính sách xã hội đúng đắn... Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền
lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với
phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong
từng bước và từng chính sách; phát triển hài hòa đời sống vật chất và đời
sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong
xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất,
gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với
lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội [31, tr.79].
Luận điểm trên ch ỉ rõ: m ục tiêu, ph ương châm và con đường th ực hi ện
CBXH ở nước ta giai đoạn hiện nay, trong đó nhấn mạnh: bảo đảm CBXH th ực
chất là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ công dân; cống
hiến với hưởng thụ; lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, cộng đồng.
Từ phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm: Công bằng xã hội là một phạm
trù lịch sử, mang tính giai cấp, dùng để chỉ trình độ phát triển của một chế độ xã
hội, được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, nhưng chủ yếu trong
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội..., phản ánh mối quan hệ giữa cống hiến
và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa thưởng và phạt của cá nhân (nhóm
xã hội), bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định, hài hoà, phù hợp với xu thế phát
triển của xã hội loài người, vừa là khát vọng của con người, vừa là động lực, mục
tiêu phát triển của xã hội.
2.1.2.2. Nội dung công bằng xã hội
Một là, công bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế
Công bằng xã hội trong lĩnh vực này là sự tương xứng giữa lao động, đóng
góp của cá nhân hay t ổ chức kinh tế, nhóm xã h ội vào quá trình s ản xuất và sự
hưởng thụ kết quả do sản xuất mang lại. Trong xã hội quyền tự chủ, tự do trong sản
xuất, kinh doanh và s ự cạnh tranh của các ch ủ th ể kinh tế đúng đắn lành mạnh,
được nhà nước (pháp luật ở các nước tư bản và XHCN) bảo vệ, hạn chế rủi ro. Các
chủ thể kinh tế có quyền như nhau trong sản xuất, kinh doanh, hưởng thụ những kết
37
quả đã đạt được trên cơ sở những đóng góp của họ vào quá trình s ản xuất, kinh
doanh. Xu hướng chung là tất cả các nhà nước là đảm bảo sự phát triển cân bằng
tương đối về mọi mặt, trước hết là về kinh tế giữa các khu vực, vùng, miền, tạo nên
sự phát triển cân đối giữa các vùng, miền và sự phát triển của đất nước.
Hai là, công bằng xã hội trong lĩnh vực chính trị
Công bằng xã hội trong lĩnh vực này là mọi người dân bình đẳng trước các
quy định của Nhà nước, các quy ền tự do, dân ch ủ của người dân được Nhà nước
đảm bảo. Ở các nước tư bản và XHCN mọi công dân bình đẳng trước pháp luật) các
quyền tự do, dân chủ của người dân được Nhà nước đảm bảo bằng pháp luật... Trên
thực tế, sự đóng góp của cá nhân, tập thể cho xã hội là những điều tốt, đó là sự cống
hiến; cũng có không ít điều xấu mà cá nhân, tập thể đưa vào xã hội, gây nên những
phức tạp cho xã hội. Từ đó, cá nhân, tập thể sẽ nhận được từ xã hội sự hưởng thụ
hay trừng phạt.
Ba là, công bằng xã hội trong lĩnh vực văn hóa
Công bằng xã hội trong lĩnh vực văn hóa là các thành viên trong xã h ội có
quyền như nhau về hưởng thụ các giá trị văn hoá, tinh thần và các quyền đó được
nhà nước đảm bảo. Ở các nước tư bản và XHCN các quyền ấy của công dân được
nhà nước đảm bảo bằng pháp luật. Các nhà nước đều chăm lo phát triển sự nghiệp
văn hóa, giáo dục - đào tạo. Mỗi công dân, tổ chức đều có trách nhiệm đối với sự
phát triển văn hóa, giáo dục - đào tạo để được thụ hưởng các giá trị của sự nghiệp
đó. Xu hướng chung của các đảng cầm quyền và nhà nước của họ là tạo ra thể chế
pháp lý, chính sách, môi trường thuận lợi để mỗi công dân có được cơ hội phát triển
về văn hoá, tinh thần, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để tài năng phát triển
vì sự phát triển của đất nước, dân tộc. Song, CBXH trong lĩnh vực văn hóa lại phụ
thuộc vào giai cấp cầm quyền và chế độ chính trị xã hội ở mỗi nước.
Bốn là, công bằng xã hội trong lĩnh vực xã hội
Công bằng xã hội trong lĩnh vực này là mỗi người dân, tổ chức trong xã hội
được thụ hưởng ngang bằng nhau về việc giải quyết những vấn đề xã hội như giải
quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, chữa các bệnh xã hội, xóa mù chữ, bình đẳng
giới... và phúc lợi xã hội về văn hóa, giáo dục y tế, bảo hiểm xã hội... CBXH trong
38
lĩnh vực xã hội còn được thể hiện ở sự quan tâm, ưu tiên những người, nhóm người
yếu thế như người già và trẻ em, những người tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa,
cư dân ở các vùng thiên tai ác liệt... Ngoài ra, ở nhiều nước còn có những người và
gia đình có công với nước đó trong chiến tranh và trong xây dựng đất nước... Họ
được hưởng các chính sách xã hội theo quy định của từng nước.
2.1.2.3. Vai trò và những đặc tính cơ bản của công bằng xã hội
* Vai trò của công bằng xã hội
Thứ nhất, công bằng xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Công bằng xã hội là khát vọng của con người. Từ khi xã hội phân chia thành
giai cấp đối kháng và các đẳng cấp đối địch nhau, ước mong của loài người được
sống trong một xã hội mọi người đều bình đẳng, công lý được thi hành triệt để, đó
là một xã hội CBXH được bảo đảm. Khát vọng ấy thúc đẩy con người hoạt động có
hiệu quả, trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, trước hết là trong lĩnh vực kinh tế,
xã hội để được xã hội thừa nhận, suy tôn và được hưởng sản phẩm của xã hội. Như
vậy CBXH là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Thực tế cho thấy, kinh tế
- xã hội phát triển không phải chỉ nhờ sự tác động và thúc đẩy của CBXH, mà còn
nhờ nhiều nhân tố khác, song CBXH là m ột nhân tố rất quan trọng. CBXH được
bảo đảm sẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển mạnh mẽ và bền vững. Đảng ta đã
khẳng định điều này: "... gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo
động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế - xã hội" [24, tr.101].
Thứ hai, công bằng xã hội tạo nên sự phát triển hài hòa giữa con người với
con người và giữa cá nhân con ng ười với xã hội, là một trong những nhân tố bảo
đảm sự ổn định chính trị của một chế độ xã hội
Trong một chế độ xã hội, nếu CBXH được đảm bảo thì mọi công dân s ẽ
sống hòa thuận với nhau phù hợp với sự phát triển của xã hội, tạo nên sự phát triển
hài hòa giữa con người với con người và giữa con người với xã hội. Trong xã hội
ấy, có rất ít, thậm chí không có những mâu thuẫn, xung đột xã hội. Đây là nhân tố
rất quan trọng bảo đảm sự ổn định chính trị của xã hội. Trong các xã hội phân chia
thành giai cấp đối kháng không thể có sự công bằng giữa giai cấp thống trị, bóc lột
với những giai cấp những người bị áp bức, bóc lột, mâu thuẫn, xung đột giữa hai
39
giai cấp này ngày càng cao và gay gắt. Vì địa vị và lợi ích của mình, giai cấp thống
trị, bóc lột ngày càng đẩy bất CBXH lên cao, đây là nguyên nhân cơ bản của những
cuộc cách mạng xã hội thay thế xã hội ấy bằng xã hội khác, tiến bộ hơn, CBXH
được cải thiện.
Thứ ba, công bằng xã hội là tiêu chí để xem xét, đánh giá sự phát triển, tiến
bộ của một chế độ xã hội
Xem xét sự phát triển, tiến bộ của một chế độ xã hội không chỉ căn cứ vào sự
phát triển kinh tế, mặc dù đây là yếu tố rất cần thiết, song quan trọng hơn là trong chế
độ xã hội ấy, người dân có được chung sống thuận hòa, giữa các công dân có bình
đẳng, công bằng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội hay không.
Trên thực tế, đã có không ít qu ốc gia tư bản có kinh tế phát triển, song ở đó lại có
nhiều bất công, oan trái. Ngược lại, ở nhiều nước kinh tế tuy chưa phát triển mạnh
mẽ, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, song sự công bằng, bình đẳng trong xã
hội được đảm bảo và ngày càng cải thiện. Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định: "không sợ thiếu, chỉ sợ không công b ằng; không sợ nghèo ch ỉ sợ lòng dân
không yên" [59, tr.185]. Kinh tế tuy chưa phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân còn
khó khăn, thiếu thốn, song CBXH ở nước ta từng bước được bảo đảm.
Thứ tư, công bằng xã hội thúc đẩy con người vươn lên hoàn thiện bản thân
mình phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội
Suốt tiến trình phát triển của xã hội, ước mong cao cả nhất của con người là
được sống trong một xã hội, ở đó mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa
nghĩa vụ và quyền lợi của cá nhân, nhóm xã hội với xã hội được giải quyết công
bằng. Ước mong cao cả ấy, thúc đẩy con người vươn lên làm ra nhiều của cải cho
xã hội để được hưởng tương xứng. Quá trình đó diễn ra liên tục và phổ biến, qua
đó con ng ười ngày càng hoàn thi ện bản thân mình phù h ợp với xu hướng phát
triển của xã hội.
* Những đặc tính cơ bản của công bằng xã hội
Tính lịch sử: Th ực tế lịch sử phát tri ển của xã hội loài ng ười cho th ấy:
không thể có quan ni ệm và chuẩn mực bất biến về CBXH cho mọi thời đại, mọi
quốc gia, dân tộc; trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có những quan niệm và
chuẩn mực về CBXH tương ứng phù hợp và phụ thuộc vào hình thái kinh tế - xã
40
hội ấy; là nhu cầu khách quan của sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội
trong mỗi thời đại, quốc gia, dân tộc; gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội của thời
đại, quốc gia, dân tộc ấy. Điều này, khẳng định tính lịch sử của CBXH.
Tính giai cấp: Trong xã hội phân chia thành giai cấp, CBXH chịu sự chi phối
chủ yếu bởi địa vị của mỗi giai tầng xã hội trong sản xuất, phân phối sản phẩm xã
hội và nhu cầu, lợi ích của họ. Mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội luôn có những quan
niệm, chuẩn mực khác nhau về CBXH xuất phát từ bản chất và địa vị của họ trong
xã hội. Song, thực tế cho thấy, quan niệm về CBXH chiếm ưu thế và chi phối trong
toàn xã hội là quan niệm về CBXH của giai cấp thống trị. Điều này thể hiện rõ và
khẳng định tính giai cấp của CBXH.
Tính xã hội: Trong xã hội phân chia thành giai cấp quan niệm về CBXH của
giai cấp, tầng lớp nào đó kể cả của giai cấp thống trị, chỉ có thể tồn tại, chiếm ưu thế
và trở thành chuẩn mực công bằng chung, phổ biến của xã hội (công bằng xã hội)
khi nó phù hợp với ý chí, lợi ích chung của toàn xã hội, được xã hội thừa nhận.
Điều này thể hiện và quy định tính xã hội của CBXH.
Tính nhân văn: CBXH là khát vọng của mọi người, cơ sở để phát huy các
nguồn lực, nhất là nguồn lực con người cho sự phát triển của xã hội nhằm thỏa mãn
những nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần của mọi người trong xã hội;
cổ vũ động viên con người vươn lên xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đấu
tranh với những quan điểm, hành động sai trái xâm hại đến giá trị và cuộc sống của
con người; đem lại hưởng thụ cần thiết về vật chất và tinh th ần cho những người
khó khăn, yếu thế trong xã hội; khơi dậy trách nhiệm của các thành viên trong xã
hội đối với việc cải thiện đời sống của mọi người trong xã hội; lên án và trừng phạt
những hành động vi ph ạm quyền của con ng ười... Điều này th ể hiện sâu sắc tính
nhân văn của CBXH.
2.1.3. Thực hiện công bằng xã hội - khái niệm, nội dung và những nhân
tố chủ yếu chi phối
2.1.3.1. Khái niệm, nội dung thực hiện công bằng xã hội
* Khái niệm thực hiện công bằng xã hội
Để đưa ra khái ni ệm thực hiện CBXH cần làm rõ khái ni ệm "thực hiện".
Theo Đại từ điển tiếng Việt: "thực hiện" là làm cho trở thành cái có thật bằng hoạt
41
động cụ thể; làm theo trình tự, thao tác nhất định [146, tr.1615]. Trong cuộc sống
hiện thực, "thực hiện" thường được hiểu là bằng những hoạt động cụ thể làm cho ý
tưởng, lý thuyết, chủ trương, nghị quyết, quyết định của một cá nhân, tổ chức thành
hiện th ực. Điều này đòi hỏi chủ th ể đưa ra ý t ưởng, lý thuy ết, chủ tr ương, nghị
quyết, quyết định ý thức sâu sắc về ý tưởng, lý thuyết, chủ trương, nghị quyết, quyết
định của mình, bảo đảm tính đúng đắn của chúng; những người thực thi phải ý thức
được về ý tưởng, nghị quyết, quyết định của chủ thể, trước khi hành động. Mức độ
thực hiện ý tưởng, nghị quyết, vì vậy, phụ thuộc rất lớn vào ý thức của chủ thể và
đối tượng thực thi ý tưởng, quyết định, nghị quyết đó.
Từ khái niệm "công bằng", "xã hội", "CBXH", đặc tính, nội dung của CBXH
và khái ni ệm "thực hiện" nêu trên, có th ể đi đến khái ni ệm: Thực hiện CBXH là
những hoạt động cụ thể của toàn bộ HTCT, các lực lượng, tổ chức xã hội và người
dân, theo chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò của mỗi tổ chức và cá nhân, làm cho
những nội dung của CBXH trở thành hiện thực trong đời sống xã hội, chủ yếu trong
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Như vậy, chủ thể thực hiện CBXH trong một nước gồm đảng cầm quyền,
nhà nước, các tổ chức khác trong HTCT và các lực lượng, tổ chức xã hội ở nước đó.
Ngoài ra, còn một số tổ chức, lực lượng ở các nước khác, như các tổ chức phi chính
phủ (INGO), các tổ chức hoạt động nhân đạo, từ thiện, khắc phục hậu quả thiên tai,
biến đổi khí hậu, hậu quả chiến tranh... hỗ trợ, tham gia thực hiện CBXH trong lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, xã hội...
* Nội dung thực hiện công bằng xã hội
Tùy theo vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong xã hội, từng tổ
chức tiến hành các hoạt động cụ thể theo chức năng, nhiệm vụ của mình để các nội
dung CBXH thành hiện thực trong đời sống xã hội, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội. Cụ thể là: Thứ nhất, đảng chính trị cầm quyền ở một nước
nào đó xác định quan điểm, chiến lược, ch ủ tr ương, các mục tiêu về th ực hi ện
CBXH trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức
thực hi ện. Thứ hai, nhà n ước tri ển khai th ực hi ện quan điểm, chi ến lược, ch ủ
trương, các mục tiêu về thực hiện CBXH trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn
42
hóa, xã hội trong cả nước và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thực hiện
CBXH. Thứ ba, các tổ chức khác trong HTCT và các lực lượng xã hội ở nước đó,
tiến hành các ho ạt động theo chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình để thực hiện
các nội dung của CBXH trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
2.1.3.2. Những nhân tố chủ yếu chi phối thực hiện công bằng xã hội
Thứ nhất, trình độ phát triển kinh tế
Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu, điều kiện tiên quyết để thực hiện có kết
quả CBXH. Trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước là nhân tố đặc biệt quan trọng
để phát triển xã hội. Trình độ phát triển xã hội ở mỗi nước được thể hiện tập trung ở
mức sống, điều kiện sống và ch ất lượng cuộc sống của các tầng lớp dân cư. Một
nước có kinh tế phát triển cao, giàu sẽ có điều kiện thuận lợi để xã hội phát triển cao
và thực hiện tốt CBXH. Nh ững nước có kinh tế phát tri ển thấp sẽ gặp khó kh ăn
trong thực hiện CBXH. Tuy vậy, cần xem xét mục đích phát triển kinh tế của một
nước có vì phát tri ển đất nước và vì cu ộc sống của nhân dân hay không m ới chi
phối việc thực hiện CBXH. Kinh tế của một nước phát triển vì sự phát triển của đất
nước và cuộc sống ấm no, hạnh phúc của mọi người dân, sẽ rất thuận lợi để thực
hiện tốt CBXH. Song, nếu kinh tế của một nước phát triển vì sự giàu có của giai cấp
thống trị cầm quyền thì CBXH không nh ững khó th ực hiện tốt, mà còn gây nên
những bất công, CBXH ở những nước đó tuy được thực hiện ở mức độ nhất định,
chủ yếu nhằm bảo đảm ổn định xã hội, duy trì sự cầm quyền, làm tăng lợi nhuận và
sự giàu có của giai cấp thống trị cầm quyền. Đã có không ít nước có kinh tế phát
triển cao (nước giàu, các nước tư bản phát triển), nhưng tuyệt đại đa số nhân dân lao
động vẫn có cuộc sống chênh lệch quá xa với giai cấp tư sản và họ vẫn chịu nhiều
bất công, CBXH vẫn bị hạn chế. Ngược lại, cũng có nhiều nước kinh tế phát triển
không cao (các nước XHCN và nhiều nước khác), song CBXH vẫn được đảm bảo
và ngày càng được cải thiện.
Thứ hai, tính chất của chế độ chính trị, đặc biệt là bản chất của giai cấp cầm
quyền và của nhà nước ở mỗi nước
Đây là nhân tố chính trị chi phối rất lớn việc thực hiện CBXH ở mỗi nước.
Chế độ chính trị, đặc biệt là bản chất của giai cấp cầm quyền và của nhà nước ở mỗi
43
nước chi phối, quy định CBXH và việc thực hiện CBXH ở nước đó. Quan điểm về
CBXH và chủ trương, giải pháp thực hiện CBXH ở những nước ấy là của giai cấp
cầm quyền, được thực hiện chủ yếu thông qua nhà nước của họ. Ở các nước tư bản
giai cấp tư sản cầm quyền, chính đảng và nhà nước tư sản chi phối và quyết định
việc thực hiện CBXH theo quan điểm và lợi ích của giai cấp tư sản, chủ yếu vì sự
cầm quyền và giàu có của giai cấp tư sản. Điều này đã cản trở lớn việc thực hiện
CBXH ở các nước đó. Chế độ XHCN với tính ưu việt của nó, bản chất của Đảng
Cộng sản cầm quyền và của nhà nước XHCN chi phối mạnh mẽ và quyết định việc
thực hiện ngày càng t ốt hơn CBXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm
quyền hiến pháp và hệ thống pháp luật được xây dựng ngày càng hoàn thiện, thể
hiện ý chí và nguy ện vọng của nhân dân, được nhân dân đồng tình và chấp hành,
CBXH có nhi ều thuận lợi để thực hiện ngày càng tốt hơn trong các l ĩnh vực đời
sống xã hội và ở các địa phương.
Thứ ba, các giá trị văn hoá và truyền thống lịch sử dân tộc
Các giá trị văn hoá và truyền thống lịch sử dân tộc của mỗi quốc gia, đều
nhằm mục đích xây dựng, củng cố và phát tri ển quan hệ tốt đẹp giữa người với
người trong xã h ội, hướng người dân đến các giá tr ị chân, thi ện, mỹ, phát tri ển
toàn diện, xây dựng xã hội công bằng, nhân v ăn và văn minh. Văn hoá còn chi
phối, định hướng giá trị lẽ sống, lý tưởng sống của mỗi người dân trong xã h ội;
cổ vũ và phát huy vai trò, tác d ụng của những nhân tố mới, con ng ười mới, cái
đúng, cái đẹp, tính chủ động, sáng tạo của nhân dân trong phát tri ển kinh tế - xã
hội và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, văn hóa còn phê phán, lên án nh ững thói hư,
tật xấu, nh ững tiêu c ực, bất bình đẳng... trong xã h ội; điều ch ỉnh hành vi c ủa
con ng ười, tập th ể ng ười và xã h ội. Nh ư vậy, các giá tr ị văn hoá và truyền
thống lịch sử dân tộc của mỗi nước tác động và là m ột trong nh ững động lực
của sự phát tri ển của ng ười dân và xã h ội, hướng tới xã h ội tươi đẹp, công
bằng, nhân ái, v ăn minh... chi ph ối mạnh mẽ việc thực hiện CBXH. Tuy nhiên,
những khía c ạnh của văn hóa và truy ền th ống lạc hậu lại kìm hãm con ng ười
44
tiếp nhận và phát tri ển những cái mới, họ bằng lòng với hiện tại lại chi ph ối và
hạn chế đáng kể việc thực CBXH.
Thứ ba, xu hướng phát triển của thế giới và tính chất thời đại
Quá trình phát triển của nhân loại đã trải qua nhiều thời đại khác nhau với
những tính chất khác nhau theo hướng tiến bộ, chi phối và tác động mạnh mẽ đến
sự phát triển của nhân loại và thực hiện CBXH. Nhờ đó, việc thực hiện CBXH đạt
được những kết quả lớn hơn.
Thời đại ngày nay là th ời đại quá độ từ ch ủ ngh ĩa tư bản lên CNXH, xu
hướng toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, khoa học - công ngh ệ
hiện đại phát triển như vũ bão. Nhân loại sẽ đi đến CNXH và chủ nghĩa cộng sản.
Xu hướng phát triển của nhân loại và tính chất của thời đại hiện nay tác động rất lớn
và tạo thu ận lợi cơ bản để th ực hi ện CBXH đạt kết qu ả và từng bước ti ến đến
CBXH thực sự hoàn chỉnh trong xã hội tương lai.
Tuy nhiên, khoa h ọc, công ngh ệ phát tri ển mạnh, công cụ sản xuất ngày
càng hiện đại sẽ sử dụng ít lao động, thất nghiệp sẽ gia tăng. Nhiều người lao động
không có điều kiện tiếp cận khoa học - công nghệ hiện đại nên gặp nhiều khó khăn
trong tìm việc làm, không có việc làm họ bị đẩy ra ngoài xã hội. Đây là những khó
khăn và gánh nặng ngày càng tăng của thực hiện CBXH. Không nh ững thế, các
thế lực phản động lại tăng cường lợi dụng thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại
vì lợi ích ích kỷ của chúng đến mức cực đoan, có thể gây nên những hiểm họa huỷ
diệt nền văn minh nhân loại, trong đó có thành quả CBXH... Nếu điều này xảy ra,
thì mọi cố gắng để thực hiện tốt hơn CBXH sẽ trở nên vô v ọng. Bởi vậy, phải
bằng mọi cách ng ăn ch ặn có hi ệu qu ả và lo ại tr ừ tình tr ạng bất nhân này. Xu
hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế -
xã hội và thực hiện tốt hơn CBXH. Tuy nhiên, mặt trái của nó tác động rất lớn đến
các nước chậm và đang phát tri ển làm cho kho ảng cách thu nh ập và mức sống
giữa người giàu và người nghèo ngày càng tăng lên, gây khó kh ăn, phức tạp cho
việc thực hiện CBXH.
45
2.1.4. Công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã hội ở nước ta và ở các
tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay
2.1.4.1. Công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay
* Công bằng xã hội ở nước ta hiện nay
Nước ta hiện nay đang xây dựng nền KTTT định hướng XHCN. Thực tế cho
thấy, nền KTTT tác động rất mạnh đến CBXH và vi ệc thực hiện CBXH theo hai
hướng tích cực và tiêu cực.
Theo hướng tích cực: Thứ nhất, KTTT tạo cơ hội và môi tr ường thuận lợi
cho việc thể hiện các năng lực, tính chủ động và sáng tạo của con người trong quá
trình sản xuất, kinh doanh, khai thác có hi ệu quả các ngu ồn lực cho sự phát triển
kinh tế và xã hội. Thứ hai, tạo ra tăng trưởng kinh tế cao và nhanh chóng, tạo ra
những nguồn lực vật chất to lớn đáp ứng các nhu cầu của xã hội, tạo điều kiện cho
việc thực hiện CBXH trên quy mô lớn và mức độ cao. Thứ ba, là cơ sở hình thành
các chế độ xã hội và nhà nước dân chủ, nơi các quyền và nghĩa vụ cơ bản của con
người được xác nhận và bảo vệ, nhất là các quyền tự do, dân chủ và quyền mưu cầu
hạnh phúc. Đây là những cơ sở chính trị - pháp lý và xã hội quan trọng, làm cơ sở
cho việc thực hiện CBXH.
Theo hướng tiêu cực: Một là, KTTT có xu h ướng gây ra phân hoá giàu,
nghèo ngày càng sâu sắc. Hai là, có xu hướng gây ra những bất công xã hội, sự suy
thoái của đạo đức xã hội. Ba là, gây ra những mất cân đối ngày càng lớn về sự phát
triển xã hội. Bốn là, gây huỷ hoại môi trường, môi sinh.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta có nh ững ưu thế để thực
hiện tốt hơn CBXH. Nền kinh tế ấy, cũng chịu sự chi phối và tuân theo những quy
luật chung của KTTT, nhưng các nguyên tắc của CNXH có vai trò định hướng, chi
phối sự phát triển KTTT theo hướng XHCN, thể hiện trên ba mặt, gồm: các chế độ
sở hữu tư liệu sản xuất, quản lý sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm. KTTT
định hướng XHCN vừa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu
giải quyết những vấn đề xã hội, đảm bảo lợi ích của nhân dân lao động. Sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý, điều hành của Nhà nước ta là nhân tố
46
quyết định để nền KTTT định hướng XHCN mà chúng ta đang xây dựng đi đúng
định hướng XHCN.
* Th ực hi ện công b ằng xã h ội trong điều ki ện xây dựng nền kinh tế th ị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Xây dựng nền KTTT định hướng XHCN sẽ tạo ra nhiều khả năng thực hiện
tốt hơn CBXH. Cụ thể là:
Trong lĩnh vực kinh tế: KTTT định hướng XHCN tạo nên sự phát triển mạnh
mẽ về kinh tế và của cải xã hội; quyền tự chủ, tự do trong sản xuất, kinh doanh và
sự cạnh tranh của các ch ủ thể kinh tế là cạnh tranh theo hướng lành mạnh, được
pháp luật bảo vệ. Các chủ thể kinh tế có quyền như nhau trong sản xuất, kinh doanh
và được quyền hưởng thụ. Đây chính là cơ sở để thực hiện tốt hơn CBXH. Tuy
nhiên, nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta cũng tạo nên những khó khăn, phức
tạp đối với việc thực hiện CBXH, nh ư: phân hoá giàu và ng ười nghèo; sự chênh
lệch về thu nhập và mức sống, trình độ phát triển và hưởng thụ giữa các khu vực,
vùng, miền; sự phá sản của các doanh nghiệp, thất nghiệp; làm ăn phi đạo đức, phi
pháp; tăng các tệ nạn xã hội; băng hoại đạo đức lối sống lành mạnh... ở những mức
độ nhất định. Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước ta sẽ đảm
bảo cho KTTT định hướng XHCN phát triển đúng hướng tạo thuận lợi thực hiện tốt
CBXH, trước hết trong lĩnh vực kinh tế.
Trong lĩnh vực chính trị: Các quyền tự do, dân chủ của công dân được nhà
nước đảm bảo bằng Hiến pháp và pháp lu ật, mọi công dân bình đẳng trước pháp
luật. Đó là nền dân ch ủ XHCN, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Các
quyền tự do bầu cử, ứng cử, đề cử của công dân được pháp luật đảm bảo. Quyền
dân chủ của công dân được thực hiện trên thực tế, thông qua các hình thức đa dạng,
phong phú như dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.
Trong lĩnh vực văn hoá: Trong nền KTTT định hướng XHCN các thành viên
trong xã hội có quyền bình đẳng trong hưởng thụ các giá trị văn hoá, tinh thần, được
nhà nước đảm bảo bằng pháp luật. KTTT định hướng XHCN tạo nên sự phát triển
mạnh mẽ về kinh tế, tạo cơ sở vật chất để phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Sự
47
lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước ta bảo đảm thực hiện tốt CBXH trong
lĩnh vực văn hóa.
Trong lĩnh vực xã hội: Trong nền KTTT định hướng XHCN sự bình đẳng về
mặt xã hội là một điểm nổi trội. Chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm
mục đích tối cao là, vì quảng đại nhân dân lao động, hướng tới nhân dân lao động,
hạn chế và giảm thiểu những tác động của mặt trái KTTT. Thực hiện CBXH trong
nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, việc phân phối không chỉ theo nguyên tắc
phân phối theo lao động mà còn phân phối theo tài năng, theo mức đóng góp bằng
vốn, bằng các nguồn lực. Ngoài ra ở nước ta hiện nay trong chính sách phân phối,
còn thực hiện phân phối theo chính sách ưu đãi, chính sách bảo trợ xã hội...
2.1.4.2. Công bằng xã hội và thực hiện công bằng xã hội ở các tỉnh đồng
bằng sông Hồng hiện nay
* Khái niệm công bằng xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Từ khái niệm chung về "CBXH" có thể hiểu: CBXH ở các tỉnh ĐBSH là khái
niệm dùng để chỉ trình độ phát triển mọi mặt của các tỉnh, được thể hiện trong tất cả
các lĩnh vực đời sống của xã hội, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội..., phản ánh mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền
lợi, giữa thưởng và phạt của cá nhân, tổ chức trên địa bàn các tỉnh, bảo đảm cho các
tỉnh phát triển ổn định, hài hoà phù hợp với sự phát triển của đất nước, là động lực
và mục tiêu của sự phát triển. Khái niệm nói trên phản ánh các nội hàm sau:
* Nội dung công bằng xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Nội dung CBXH nêu trên được thể hiện ở các tỉnh ĐBXH trong các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội:
Một là, công bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh có quyền bình đẳng trong
sản xuất, kinh doanh, hưởng thụ những kết quả đã đạt được trên cơ sở những đóng
góp của họ vào quá trình sản xuất, kinh doanh ở địa phương. Quyền tự chủ, tự do
trong sản xuất, kinh doanh và sự cạnh tranh của các chủ thể kinh tế đúng đắn lành
mạnh, được pháp luật bảo vệ, hạn chế rủi ro. Đây là cơ sở của sự thống nhất giữa
quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ của các thành viên trong tỉnh.
48
Công bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế ở các tỉnh phụ thuộc và được quyết
định bởi các ch ủ trương, quyết định và sự lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính
quyền tỉnh, đảm bảo sự phát triển cân bằng của tỉnh, trước hết là về kinh tế giữa các
khu vực, vùng trong tỉnh, tạo nên sự phát triển cân đối giữa các vùng, khu vực trên
địa bàn tỉnh.
Hai là, công bằng xã hội trong lĩnh vực chính trị ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Mọi người dân trong tỉnh bình đẳng về quyền lợi chính trị trước pháp luật;
các quyền tự do, dân ch ủ như bầu cử, ứng cử, đề cử của công dân được đảm bảo
bằng pháp luật. Mọi công dân được tham gia vào các công việc của Nhà nước, của
chính quyền địa phương theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, được kiểm tra,
giám sát hoạt động của các cơ quan công quy ền và các công ch ức nhà nước theo
quy định của pháp luật. Quyền dân chủ của công dân được thực hiện trên thực tế,
thông qua các hình thức dân chủ đa dạng, phong phú. Mọi công dân, tổ chức bình
đẳng về hưởng thụ và trừng phạt theo quy định của pháp luật.
Ba là, công bằng xã hội trong lĩnh vực văn hóa ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Mọi công dân trong tỉnh có quy ền bình đẳng về hưởng thụ các giá tr ị văn
hoá, tinh thần theo quy định của pháp luật và được pháp luật đảm bảo. Mọi công
dân, tổ chức trên địa bàn tỉnh có nghĩa vụ đóng góp và tham gia vào sự phát triển
văn hóa, giáo dục - đào tạo ở địa phương, qua đó được hưởng thành qu ả của sự
nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục - đào tạo. Mọi công dân trong t ỉnh có quy ền
ngang nhau về tận hưởng cơ hội phát triển văn hoá, tinh thần để hoàn thiện bản thân
và phát triển.
Bốn là, công bằng xã hội trong lĩnh vực xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Mọi người dân, tổ chức trong tỉnh có quy ền ngang nhau v ề trách nhi ệm,
nghĩa vụ đối với việc giải quyết những vấn đề xã hội trên địa bàn tỉnh và được thụ
hưởng ngang bằng nhau về kết quả giải quyết những vấn đề này, như tạo việc làm,
xóa đói, giảm nghèo, phòng, ch ống và ch ữa các bệnh xã hội, xóa mù ch ữ, bình
đẳng nam nữ... phúc lợi xã hội về văn hóa, giáo dục y tế, bảo hiểm xã hội... Cấp
ủy và chính quyền địa phương quan tâm đến những người yếu thế như người già,
trẻ em, người tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa, người lang thang, cơ lỡ, các gia
49
đình và người gặp rủi ro do thiên tai và tai nạn... Hiện tại, ở các tỉnh ĐBSH còn có
số lượng lớn người và gia đình có công với nước, như thương binh, thân nhân các
liệt sĩ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng, thanh niên xung phong... Đây là đối tượng
ưu tiên của chính sách bảo trợ xã hội và phúc lợi xã hội của Nhà nước ta. Ngoài
ra, ở các tỉnh còn có những nạn nhân chiến tranh cần được tạo thuận lợi để họ có
cuộc sống tối thiểu.
* Khái niệm thực hiện công bằng xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Từ khái ni ệm chung về "thực hiện CBXH" ở nước ta th ời kỳ quá độ lên
CNXH, có thể hiểu: Thực hiện CBXH ở các tỉnh ĐBSH là những hoạt động cụ thể
của toàn bộ HTCT, các lực lượng, tổ chức xã hội và người dân trên địa bàn tỉnh,
theo chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò của mỗi tổ chức và cá nhân làm cho những
nội dung của CBXH ở các tỉnh trở thành hiện thực trong đời sống xã hội, chủ yếu
trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Chủ thể thực hiện CBXH ở các tỉnh ĐBSH gồm: các cấp ủy, tổ chức đảng,
chính quyền, MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, cán bộ, đảng viên, các tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, các cá nhân và nhân dân trong tỉnh. Trong đó, các tỉnh ủy là
lực lượng lãnh đạo; các cấp ủy trong tỉnh lãnh đạo thực hiện CBXH trên địa bàn,
trong đơn vị của mình; cán bộ, đảng viên chịu trách nhiệm thực hiện các quyết định
của cấp ủy về thực hiện CBXH; chính quyền các cấp tổ chức thực hiện các quyết
định của cấp ủy về th ực hiện CBXH và qu ản lý nhà n ước về th ực hiện CBXH;
MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, cá nhân
và nhân dân trong tỉnh tham gia thực hiện CBXH theo chức năng, nhiệm vụ, vai trò
của mình. Ngoài ra, tham gia th ực hiện CBXH ở các tỉnh còn có các tổ chức, lực
lượng xã hội, những nhà hảo tâm ở ngoài tỉnh kể cả các tổ chức ở nước ngoài, trong
đó có các tổ chức phi chính phủ (INGO). Các tổ chức, lực lượng này, tham gia thực
hiện CBXH trong một số mặt của các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.
* Nội dung thực hiện công bằng xã hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Văn kiện Đại hội XI của Đảng chỉ rõ những vấn đề xã hội cần tập trung giải
quyết nhằm thực hiện có hiệu quả tiến bộ xã hội, CBXH và bảo đảm an sinh xã hội,
góp phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới: "Tập trung giải quyết tốt chính
sách lao động, việc làm... Bảo đảm an sinh xã hội... Nâng cao chất lượng chăm sóc
50
sức khỏe nhân dân và công tác kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe
bà mẹ, trẻ em... Đấu tranh phòng, ch ống có hi ệu quả tệ nạn xã hội, tai nạn giao
thông..." [31, tr.227-232]. Trong đó, có nhiều nội dung về thực hiện CBXH ở nước
ta hiện nay. Trên cơ sở những vấn đề này và từ nội dung thực hiện CBXH nêu trên,
từ điều kiện kinh tế - xã hội và thực tế ở ĐBSH có thể xác định nội dung thực hiện
CBXH ở các tỉnh, gồm:
Một là, thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế ở các tỉnh đồng
bằng sông Hồng
Các chủ thể và lực lượng tham gia thực hiện CBXH ở các tỉnh dưới sự lãnh
đạo của tỉnh ủy, theo chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình tiến hành các hoạt động
tạo môi trường pháp lý cho KTTT phát triển lành mạnh, duy trì nghiêm việc chấp
hành pháp luật về kinh tế và quản lý kinh tế, đưa kinh tế của các tỉnh phát triển, ổn
định, trên cơ sở đó thực hiện CBXH.
Các chủ thể và lực lượng tham gia thực hiện CBXH tập trung vào: bảo đảm
quyền tự do, tự chủ trong sản xuất kinh doanh, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây trồng,
vật nuôi; khuyến khích và tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển; chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
tỉnh; triển khai các ch ương trình phát tri ển kinh tế vùng, xây d ựng các khu công
nghiệp, bảo đảm sự cân đối về phát triển kinh tế giữa các ngành, vùng trong tỉnh; tạo
thuận lợi để phát triển các mô hình kinh tế đem lại hiệu quả; hạn chế sự chênh lệch về
thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp dân cư, sự phá sản của các doanh nghiệp,
làm ăn phi pháp, phi đạo đức, đạt lợi nhuận bằng mọi giá... Trên cơ sở đó, bảo đảm
sự tương xứng giữa lao động, đóng góp của cá nhân hay tổ chức kinh tế, nhóm xã hội
vào quá trình sản xuất và sự hưởng thụ kết quả do sản xuất mang lại.
Hai là, thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực chính trị ở các tỉnh đồng
bằng sông Hồng
Thông qua các hoạt động của các chủ thể thực hiện CBXH và các lực lượng
tham gia thực hiện CBXH theo chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình, dưới sự lãnh
đạo của tỉnh ủy bảo đảm quyền tự do, dân chủ, bình đẳng trước pháp luật, như bầu
cử, ứng cử, đề cử... Các tổ chức này triển khai các hoạt động để mọi người dân trên
địa bàn tỉnh được tham gia vào các công việc của Nhà nước, của chính quyền địa
51
phương theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; tham gia xây dựng Đảng, chính
quyền, giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền và công chức nhà nước theo
quy định của pháp luật, được giám sát hoạt động của cấp ủy, cán bộ, đảng viên. Các
quyền ấy, phải được thực hiện trên thực tế thông qua các hình th ức dân ch ủ trực
tiếp, gián tiếp và các hình thức khác, như tiếp dân, tiếp xúc cử tri, tiếp nhận và giải
quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo... Các cá nhân và tập thể ở địa phương bị trừng phạt
nếu có các hoạt động xấu, gây phức tạp trên địa bàn và địa phương.
Ba là, thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực văn hóa ở các tỉnh đồng
bằng sông Hồng
Dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy, các chủ thể và lực lượng tham gia thực hiện
CBXH ở các tỉnh triển khai các ho ạt động theo chức năng, nhiệm vụ, vai trò của
mình nhằm bảo đảm cho mọi người dân có trách nhiệm và đóng góp vào phát triển
văn hóa của địa phương, cộng đồng và phát triển văn hóa dân tộc. Đồng thời, hoạt
động của các chủ thể và lực lượng ấy, bảo đảm cho mọi người dân được hưởng thụ
như nhau về các giá trị văn hoá, tinh thần, giáo dục - đào tạo; bình đẳng về cơ hội
phát triển văn hoá, tinh th ần, tài năng vì sự phát triển của địa phương, đất nước...
Thực hiện CBXH trong lĩnh vực này, tập trung vào các hoạt động thực hiện đường
lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển văn hóa, xây dựng đời sống văn
hóa của người dân ở xã, phường, thị trấn, bảo tồn và phát huy tác dụng giá trị văn
hóa các dân tộc, bài trừ các phong tục, tập quán lạc hậu; xã hội hóa và nâng cao chất
lượng giáo dục, đào tạo; phát triển khoa học, công nghệ, thông tin, thể dục, thể thao;
xây dựng các cơ sở văn hóa công cộng, cơ sở vật chất truyền thông, xây dựng và
thực hiện các thể chế văn hóa...
Bốn là, thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực xã hội, bảo đảm an sinh xã
hội ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng
Theo chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy,
các chủ thể và lực lượng tham gia thực hiện CBXH ở các tỉnh triển khai các ho ạt
động bảo đảm sự hưởng thụ ngang bằng nhau của mỗi người, nhóm người dân ở địa
phương từ các ho ạt động giải quyết những vấn đề xã hội, như tạo việc làm, giảm
nghèo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức
52
khỏe bà mẹ, trẻ em, bình đẳng giới, ngăn chặn nạn bạo hành phụ nữ, chữa các bệnh
xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội. Triển khai các hoạt động thực hiện tốt chính sách
bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp, đặc biệt coi trọng thực hiện chính sách người có
công; quan tâm triển khai các hoạt động thực hiện chính sách đối với những người
yếu thế, như người già, yếu không nơi nương tựa, trẻ em, người tàn tật, nạn nhân
chiến tranh và những người, gia đình chịu hậu quả thiên tai và những rủi ro khác...
Năm là, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm và tai nạn giao thông
Các chủ thể và lực lượng tham gia thực hiện CBXH, nhất là cấp ủy, chính
quyền và các c ơ quan ch ức năng tri ển khai các ho ạt động phòng, ch ống tham
nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm, gồm: các hoạt động huy động cả HTCT, phát huy
vai trò của nhân dân và phương tiện truyền thông địa phương trong phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm. Đặc biệt, coi trọng việc thẩm tra, xác minh, kết
luận và xử lý kịp thời, nghiêm minh theo pháp lu ật những cá nhân, tập thể tham
nhũng, lãng phí và sa vào lợi ích nhóm.
Cấp ủy, chính quy ền địa ph ương tri ển khai các ho ạt động về huy động
HTCT, các cấp, các ngành vào thực hiện nhiệm vụ giảm thiểu tai nạn giao thông,
gồm: nâng cao nhận thức, ý thức của người dân về tác hại của tai nạn giao thông đối
với thực hiện CBXH; chấp hành Luật giao thông; cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông
địa phương; xử lý nghiêm các vi phạm Luật giao thông.
2.2. CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CÔNG BẰNG XÃ HỘI - KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC
2.2.1. Khái ni ệm tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo th ực hiện
công bằng xã hội
Trên cơ sở khái niệm thực hiện CBXH, để đưa ra khái niệm tỉnh ủy ở ĐBSH
lãnh đạo thực hiện CBXH cần làm rõ các khái niệm "lãnh đạo".
Theo Đại từ điển tiếng Việt, ““lãnh đạo” là dẫn dắt, tổ chức phong trào theo
đường lối cụ th ể” [146, tr.979]. Sách tra c ứu các mục từ về tổ ch ức định nghĩa:
“lãnh đạo” dưới góc độ khoa học tổ chức: “lãnh đạo... là công vi ệc mà tất cả các
chủ thể là tổ chức và cá nhân có thẩm quyền tác động đến các tổ chức và cá nhân
53
dưới quyền và các thành viên khác trong xã hội khi thi hành nhiệm vụ do các ch ủ
thể đó vạch ra” [6, tr.471].
Từ những điều nêu trên, có thể hiểu "lãnh đạo" là dẫn dắt người, nhóm người
hay tổ chức đi theo đường hướng đã định, đến mục tiêu đã được xác định. Như vậy,
để có hoạt động lãnh đạo, phải có chủ thể, đối tượng lãnh đạo, xác định được mục
tiêu, hướng đi đến mục tiêu đó, những việc phải làm để đi đến mục tiêu, cách thức
chủ thể lãnh đạo để dẫn dắt, tổ chức đối tượng lãnh đạo tiến hành công việc để đi
đến mục tiêu đã được xác định.
Trong tác phẩm Đường cách mệnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ:
Cách mệnh trước hết phải có cái gì?
Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân
chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi.
Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có
vững thì thuyền mới chạy [58, tr.267-268].
Như vậy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định, Đảng là người lãnh đạo
cách mạng (chủ thể lãnh đạo), sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cách mệnh chân
chính là nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng. Nhân
dân Vi ệt Nam là đối tượng lãnh đạo của Đảng. Để lãnh đạo cách m ạng giành
thắng lợi, Đảng phải xác định được đường lối cách mạng làm cơ sở để xác định
nội dung lãnh đạo của Đảng từng thời kỳ, thể hi ện trong các ngh ị quy ết, quyết
định của Đảng. Đồng thời, Đảng phải lãnh đạo nhân dân thực hiện các quyết định,
nghị quyết đó bằng cách vận động và tổ chức nhân dân th ực hiện. Đây là những
điểm quan tr ọng của phương thức lãnh đạo (PTLĐ) của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí
Minh còn ch ỉ ra tính ngh ệ thuật trong ho ạt động lãnh đạo của Đảng. Người coi
Đảng là người cầm lái con thuyền cách mạng, người cầm lái vững vàng, kiên định
con đường và mục tiêu cách mạng, thông minh, bình tĩnh, sáng suốt trong mọi tình
huống thì cách mạng sẽ thành công.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra khái
niệm lãnh đạo và những điểm chủ yếu về PTLĐ của Đảng. Người viết:
54
Lãnh đạo đúng nghĩa là:
1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất
định phải so sánh quyền lợi của dân chúng. Vì dân chúng chính là những
người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta.
2. Phải tổ chức thực hiện cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng
góp sức thì không xong.
3. Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có
quần chúng giúp mới được [59, tr.285-286].
Đây là những nội hàm chủ yếu của khái niệm lãnh đạo, cũng là những điểm
chủ yếu về quy trình lãnh đạo của Đảng. Như vậy, có th ể hiểu: sự lãnh đạo của
Đảng là toàn bộ hoạt động của Đảng đề ra các quy ết định đúng đắn, tổ chức thực
hiện các quyết định đó, tiến hành kiểm tra, giám sát nhằm thực hiện thắng lợi các
quyết định của Đảng.
Từ những luận giải trên, có th ể đi đến khái niệm: Các tỉnh uỷ ĐBSH lãnh
đạo thực hiện CBXH là toàn bộ hoạt động của các tỉnh ủy, trên cơ sở quán triệt chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về thực hiện
CBXH, ban hành các nghị quyết, quyết định về thực hiện CBXH, chỉ đạo các cấp uỷ
trực thuộc, các cơ quan nhà nước, các lực lượng xã hội ở địa phương tổ chức thực
hiện; đồng thời kiểm tra, giám sát việc thực hiện để các nghị quyết của tỉnh uỷ về
thực hiện CBXH trở thành hiện thực. Khái niệm tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH
nói trên chỉ rõ:
Một là, chủ thể lãnh đạo thực hiện CBXH ở các tỉnh ĐBSH là các tỉnh ủy,
thường xuyên và trực tiếp là ban thường vụ tỉnh ủy. Tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy
ở ĐBSH, trên cơ sở quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước về CBXH, có thể ban hành các nghị quyết về thực hiện CBXH, gồm
nghị quyết chung về các nội dung thực hiện CBXH và các nghị quyết chuyên đề về
từng nội dung thực hiện CBXH.
Hai là, đối tượng lãnh đạo thực hiện CBXH là các cấp ủy trực thuộc, các cơ
quan nhà nước ở địa phương như UBND, HĐND, các ban, ngành, đoàn thể, các cơ
quan tư pháp, tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan mà thực
55
hiện sự lãnh đạo của tỉnh ủy, bảo đảm cho nội dung th ực hiện CBXH được hiện
thực hoá; lãnh đạo toàn bộ các lực lượng xã hội và nhân dân thực hiện CBXH.
Ba là, nhiệm vụ chung, khái quát về lãnh đạo thực hiện CBXH là ban hành
quyết định lãnh đạo nhằm cụ thể hóa các nội dung thực hiện CBXH của Đảng và
Nhà nước được thực hiện sáng tạo ở địa phương; sau khi ban hành nghị quyết lãnh
đạo, tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan nhà nước, các lực lượng xã hội ở địa phương tổ
chức thực hiện nghị quyết, đồng thời tỉnh ủy kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
Bốn là, mục tiêu lãnh đạo thực hiện CBXH là nh ằm làm cho các nội dung
thực hiện CBXH mà Đảng và Nhà nước đã ban hành trở thành hiện thực ở các địa
phương. Với vai trò của người lãnh đạo, các tỉnh ủy ban hành nghị quyết lãnh đạo,
chỉ đạo và tổ chức để toàn bộ hệ thống chính trị và các lực lượng xã hội thực hiện
những nội dung CBXH mà Đảng và Nhà nước ta mong muốn, nhằm xây dựng một
xã hội tốt đẹp, đáng sống.
2.2.2. Nội dung lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội của các tỉnh ủy ở
đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay
Một là, các tỉnh ủy xây dựng quan điểm, chủ trương, nghị quyết lãnh đạo các
cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc, các cơ quan nhà n ước, các lực lượng xã hội và
nhân dân địa phương cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thắng lợi các nội dung thực
hiện CBXH của Đảng và Nhà nước ở các tỉnh.
Những nội dung thực hiện CBXH đã được Đảng và Nhà nước ta ban hành
thành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, thể hiện ở bốn nội dung chính
như đã trình bày. Với chức năng, nhiệm vụ của cấp uỷ địa phương, các tỉnh uỷ sẽ
lãnh đạo cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối quan điểm của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về CBXH ở các tỉnh. Đây là nội dung lãnh đạo
quan trọng hàng đầu của các tỉnh uỷ trên lĩnh vực này. Sau khi ban hành quan điểm,
chủ trương, nghị quyết về thực hiện CBXH, các tỉnh uỷ chỉ đạo các cấp uỷ tổ chức
đảng trực thuộc, các cơ quan nhà nước các lực lượng xã hội thực hiện chủ trương,
nghị quyết của tỉnh về CBXH, bảo đảm cho những nội dung thực hiện CBXH được
thực thi.
56
Hai là, lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan nhà nước ở địa phương tổ chức cụ thể
hóa các nội dung thực hiện CBXH của Đảng và Nhà nước thành chương trình, kế
hoạch hành động; đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước thực
hiện chương trình, kế hoạch đó.
Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, ngh ị quy ết của tỉnh uỷ về th ực hiện CBXH, các c ơ quan nhà n ước ở địa
phương - tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan - cụ thể hóa thành chương
trình, kế hoạch công tác và quản lý nhà nước theo pháp luật việc thực hiện CBXH ở
tỉnh. Các cơ quan chính quyền tỉnh sẽ cụ thể hóa một loạt các chính sách, pháp luật
của nhà nước về: lao động, việc làm, thu nhập; an sinh xã hội; chăm sóc sức khỏe,
dân số kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; quyền làm chủ của
nhân dân trên các lĩnh vực đời sống xã hội thành chương trình, kế hoạch hành động,
đồng thời quản lý vi ệc thực hiện các ch ương trình, kế hoạch hành động đó theo
pháp luật. Các cơ quan tư pháp tỉnh, với chức năng bảo vệ pháp luật và bảo vệ công
lý, tiến hành xét xử nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật, bảo đảm
sự công bằng cho mọi tổ chức và cá nhân trước pháp luật.
Ba là, xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện công bằng xã hội ở địa phương.
Thực hiện những nội dung nêu trên, tập trung xây dựng hệ thống tổ chức bộ
máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện CBXH đông đảo, bao gồm: các cơ
quan quản lý nhà n ước ở tỉnh tr ực tiếp th ực hiện CBXH nh ư các Sở Lao động,
Thương binh và Xã hội; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Y tế; Tòa án nhân dân, Viện
kiểm sát nhân dân, Công an tỉnh. Tỉnh ủy chăm lo xây dựng tổ chức bộ máy, cán bộ
các đơn vị sự nghiệp trực tiếp liên quan đến thực hiện CBXH ở địa phươg như các
trung tâm đào tạo nghề; các trường đại học và cao đẳng; các cơ quan bảo hiểm; các
bệnh viện và cơ sở chữa bệnh; các trung tâm bảo trợ xã hội; nhà dưỡng lão. Tỉnh ủy
coi trọng xây dựng các đoàn thể chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Liên hiệp
phụ nữ, Liên đoàn lao động, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh của tỉnh...
Đồng thời, tỉnh ủy chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý,
chuyên gia, chuyên viên, nhân viên thạo việc, yêu nghề, có tinh thần phục vụ cộng
đồng, có đạo đức và lý tưởng trong các cơ quan trực tiếp thực hiện CBXH.
57
Bốn là, lãnh đạo phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước với MTTQ,
các đoàn thể chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ
chức xã hội trong tỉnh thực thi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, chủ trương, nghị quyết, quyết định của tỉnh uỷ, chính quyền tỉnh về CBXH.
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong HTCT, tỉnh ủy xác
định vai trò, trách nhiệm và những vấn đề trọng tâm cần thực hiện CBXH liên quan
trực tiếp đến mỗi tổ chức; quán triệt nghị quyết để từng tổ chức nhận thức sâu sắc,
xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện. Tỉnh ủy lãnh đạo phối hợp giữa các tổ
chức trong HTCT và ban hành quy ch ế ph ối hợp để các t ổ ch ức đó th ực hi ện
CBXH; lãnh đạo, kiểm tra, giám sát các tổ chức thực hiện nghị quyết và quy ch ế
phối hợp, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm.
2.2.3. Phương thức lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội của tỉnh ủy ở
đồng bằng sông Hồng
Đại từ điển tiếng Việt đã đưa ra cách hi ểu một cách khái quát về “phương
thức” và "ph ương pháp": “Phương thức” là ph ương pháp và hình th ức tiến hành
[146, tr.1352]; “phương pháp” là cách th ức ti ến hành để có hi ệu qu ả cao [146,
tr.1351]. Một số công trình khoa học đã luận bàn và đưa ra khái ni ệm PTLĐ của
Đảng, của các cấp ủy đối với một số tổ chức trong HTCT và một số lĩnh vực của
đời sống xã hội, đáng chú ý là: công trình khoa học "Đổi mới phương thức lãnh đạo
của huyện ủy đối với chính quyền huyện ở đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện
nay". Trong công trình này, tác gi ả đưa ra khái ni ệm: phương thức lãnh đạo của
huyện ủy đối với chính quyền huyện ở đồng bằng sông Hồng:
Là hệ thống các hình thức, phương pháp, cách thức, quy chế, quy trình,
phong cách, lề lối làm việc... huyện ủy sử dụng để tác động vào hội đồng
nhân dân, ủy ban nhân dân và các cơ quan tư pháp huyện nhằm thực hiện
thắng lợi nội dung lãnh đạo của huyện ủy đối với chính quy ền huyện,
đảm bảo cho đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp uỷ, chính quyền cấp tỉnh và nhất là
nhiệm vụ chính tr ị của đảng bộ huyện, nghị quyết của huyện ủy được
thực hiện [10, tr.64].
58
Công trình khoa học: "Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo cải cách
hành chính nhà nước giai đoạn hiện nay", trong công trình khoa h ọc này, tác gi ả
cũng đưa ra khái ni ệm “phương thức lãnh đạo cải cách hành chính nhà nước của
Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh” có những điểm tương đồng với khái niệm dẫn ở
trên, tác giả viết:
Là tổng thể các hình th ức, phương pháp, quy ch ế, quy định, quy trình,
chế độ, phong cách, lề lối làm việc,... Thành ủy sử dụng để tác động vào
ủy ban nhân dân Thành ph ố và các c ơ quan thu ộc ủy ban nhân dân
Thành phố, ủy ban nhân dân quận, huyện, xã, phường, thị trấn nhằm thực
hiện th ắng lợi nội dung lãnh đạo cải cách hành chính nhà n ước của
Thành ủy [66, tr.87].
Giáo trình môn học Xây dựng Đảng, hệ cao cấp lý lu ận chính trị của Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm:
Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các hình thức, phương pháp,
cách thức, quy chế, quy trình, phong cách, lề lối làm việc... mà Đảng sử
dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo nh ằm th ực hi ện th ắng lợi
Cương lĩnh chính tr ị, đường lối, các ngh ị quy ết của Đảng, xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa [43, tr.220].
Kế thừa những khái niệm nêu trên, luận án cho rằng: PTLĐ của Đảng là tổng
thể các hình th ức, phương pháp, cách th ức, quy ch ế, quy định, quy trình, phong
cách, lề lối làm việc... mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo trong
quá trình thực hiện nội dung lãnh đạo của Đảng.
Từ nhận thức nêu trên luận án đưa ra khái niệm: PTLĐ thực hiện CBXH của
tỉnh ủy ở các tỉnh ĐBSH là tổng thể các hình th ức, phương pháp, cách thức, quy
chế, quy định, quy trình, phong cách, lề lối làm việc... mà tỉnh ủy sử dụng để tác
động vào các tổ chức của HTCT, các lực lượng xã hội và nhân dân nhằm làm cho
những nội dung lãnh đạo thực hiện CBXH của tỉnh ủy được thực hiện trong đời
sống xã hội ở địa phương.
59
Bàn về các ph ương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã h ội,
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung
và phát triển năm 2011) đã chỉ ra nội hàm của khái niệm PTLĐ:
Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính
sách và ch ủ trương lớn; bằng công tác tuyên truy ền, thuyết phục, vận
động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên.
Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ,... Đảng lãnh đạo thông qua
tổ chức đảng và đảng viên ho ạt động trong các t ổ chức của hệ thống
chính trị, tăng cường chế độ trách nhi ệm cá nhân, nh ất là ng ười đứng
đầu [31, tr.88].
Từ khái niệm PTLĐ thực hiện CBXH của tỉnh ủy ở các tỉnh ĐBSH và nội
hàm của khái niệm PTLĐ của Đảng do Cương lĩnh chỉ ra, có thể thấy, PTLĐ thực
hiện CBXH của tỉnh ủy ở các vùng này gồm:
Thứ nhất, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng các nghị quyết, quyết định
của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH để các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương quán
triệt, thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
Tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy xây dựng, ban hành các ngh ị quyết, quyết
định về phát triển kinh tế, thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân, phát triển văn
hóa, xã hội và thực hiện CBXH. Trong đó, xác định những quan điểm chỉ đạo, mục
tiêu, phương hướng và những giải pháp thực hiện. Nếu cần thì ban hành các ngh ị
quyết về tổng thể hoặc nhiều nội dung phát triển kinh tế - xã hội và CBXH, hoặc về
cụ thể hoá và triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng về những vấn đề này.
Những nghị quyết loại này thường do tỉnh ủy ban hành. Nghị quyết về một hoặc hai
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, CBXH ở một vài địa phương trong tỉnh
thường do ban th ường vụ tỉnh ủy ban hành. Vi ệc xây dựng, ban hành các ngh ị
quyết, quyết định này phải tuân thủ nghiêm các quy định của Đảng.
Thứ hai, tỉnh ủy lãnh đạo th ực hi ện CBXH bằng công tác tuyên truy ền,
thuyết ph ục, định hướng tư tưởng, nâng cao nh ận th ức đúng các tổ ch ức trong
HTCT, các tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH.
60
Trước hết, tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc về quán triệt nghị
quyết của tỉnh ủy về CBXH trong các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên trong
đảng bộ tỉnh. Tiếp theo, tỉnh ủy lãnh đạo việc tuyên truyền nghị quyết trong các tổ
chức của HTCT và trong nhân dân. T ỉnh ủy lãnh đạo các cơ quan thông tin đại
chúng tuyên truyền nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH, tạo nhận thức thống nhất và
sự đồng thuận trong Đảng, HTCT và nhân dân để thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy
về CBXH.
Thứ ba, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội thông qua bộ máy các
cơ quan nhà nước ở địa phương.
Đây là điểm đặc biệt quan trọng trong PTLĐ của tỉnh ủy ở ĐBSH đối với
thực hi ện CBXH. T ập trung vào nh ững điểm ch ủ yếu: tỉnh ủy lãnh đạo chính
quyền tỉnh cụ th ể hóa ngh ị quy ết của tỉnh ủy về CBXH thành các ngh ị quy ết,
quyết định, chương trình, kế hoạch của chính quy ền để tổ chức thực hiện trong
toàn tỉnh. Nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH ch ỉ có th ể được các tổ chức và toàn
thể nhân dân trong tỉnh thực hiện khi tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo HĐND tỉnh cụ thể
hóa thành nghị quyết của HĐND qua kỳ họp HĐND tỉnh. Trên cơ sở nghị quyết
đó, UBND tỉnh xây dựng chương trình, kế hoạch và ra các quy ết định thực hiện
các nghị quyết của HĐND tỉnh về CBXH. Đồng thời, tỉnh ủy chỉ đạo HĐND tỉnh
giám sát UBND tỉnh tổ chức thực hiện các ngh ị quyết, chương trình, kế hoạch,
quyết định đã được thông qua.
Tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền cấp huyện và cơ sở tạo môi trường chính trị,
pháp lý ổn định, bình đẳng để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm thực hiện CBXH.
Môi trường pháp lý được tạo ra phải đảm bảo các yêu cầu: ổn định, bình đẳng giữa
các vùng, địa phương trong tỉnh và các chủ thể trong quá trình sản xuất, kinh doanh
trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; tạo ra năng lực
và cơ hội bình đẳng cho mọi thành viên thể hiện và khẳng định tài năng trong xây
dựng nền KTTT định hướng XHCN.
Tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền cấp huyện và cơ sở xây dựng, hoàn thiện hệ
thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội địa phương bảo đảm thực hiện CBXH.
Cụ thể là thực hiện tốt các chính sách xã h ội như: xóa đói, giảm nghèo; tạo việc
61
làm; chính sách đối với người có công; cứu trợ xã hội đối với những người yếu thế,
rủi ro trong cuộc sống; bảo hiểm xã hội... tạo điều kiện và cơ hội như nhau để mọi
người phát triển và hòa nhập cộng đồng.
Thứ tư, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH thông qua các tổ chức đảng và đội
ngũ đảng viên, nhất là các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan
nhà nước, các ngành liên quan trực tiếp đến thực hiện CBXH.
Tỉnh ủy lãnh đạo các tổ chức đảng, đảng viên trong đảng bộ tỉnh, nhất là các
tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan, ngành liên quan trực tiếp
đến thực hiện CBXH như: văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, lao động, thương binh,
xã hội... về lãnh đạo tổ chức đơn vị thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH.
Tỉnh ủy phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên trong thực
hiện nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH.
Thứ năm, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng công tác tổ chức, cán bộ,
chú trọng việc bố trí, sử dụng những cán bộ có ph ẩm chất và năng lực thực hiện
CBXH trong bộ máy chính quyền địa phương.
Tỉnh ủy tiến hành công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng, củng cố, kiện toàn về
tổ ch ức bộ máy của các tổ ch ức trong HTCT t ỉnh, coi tr ọng các cơ quan chính
quyền từ tỉnh đến cơ sở và các c ơ quan liên quan tr ực ti ếp đến vi ệc th ực hi ện
CBXH, như: văn hóa, giáo dục, đào tạo, y tế, lao động, thương binh, xã hội và các
cơ quan thi hành pháp luật,... vững mạnh, hoạt động có hiệu quả. Tỉnh ủy lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện tốt các khâu của công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức của các cơ quan này có chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu thực hiện CBXH trên
địa bàn tỉnh. Trong đó, đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
có chất lượng tốt.
Thứ sáu, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH thông qua phát huy vai trò c ủa
MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội.
Tỉnh uỷ lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội và các hội tổ chức
các phong trào hành động cách mạng nhằm động viên, khuyến khích các lực lượng
xã hội tham gia phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp cho các hoạt động nhân đạo, từ
thiện... Tỉnh ủy lãnh đạo và tạo thuận lợi cho các tổ chức này, tham gia góp ý và
62
phản biện xã hội đối với dự thảo nghị quyết của cấp ủy, chính quyền địa phương về
thực hiện CBXH; giám sát, chính quyền các cấp, cán bộ, đảng viên, công chức về
thực hi ện các ch ủ tr ương của Đảng, Nhà nước, của cấp uỷ và chính quy ền địa
phương về CBXH.
Thứ bảy, các tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng nêu cao tính tiền phong
gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên và phong cách làm việc của các cấp ủy
đảng hoạt động trong các cơ quan, đơn vị và địa bàn dân cư.
Tỉnh ủy coi tr ọng và từng bước đổi mới phong cách, lề lối làm việc trong
lãnh đạo nói chung và lãnh đạo thực hiện CBXH nói riêng, xây dựng phong cách, lề
lối làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, gắn bó với nhân dân, làm việc có
chương trình, kế hoạch, có trọng tâm, chỉ đạo dứt điểm công việc, coi trọng tổng kết
thực ti ễn về lãnh đạo th ực hiện CBXH. Tỉnh uỷ coi tr ọng phát huy vai trò ti ền
phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là các cấp uỷ viên hoạt động trong
các cơ quan, đơn vị, tổ chức và địa bàn dân cư có chức năng, nhiệm vụ liên quan
trực tiếp đến thực hiện CBXH.
Thứ tám, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng công tác kiểm tra, giám sát
các tổ chức đảng và đảng viên thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH.
Tỉnh ủy lãnh đạo công tác ki ểm tra, giám sát và ti ến hành công công tác
kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH đối với các tổ
chức đảng, đảng viên của đảng bộ tỉnh; tập trung kiểm tra, giám sát các cấp ủy trực
thuộc và đảng viên là cán bộ diện ban thường vụ quản lý.
Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy trực thuộc tiến hành công tác kiểm tra,
giám sát các tổ chức đảng cấp dưới, cán bộ, đảng viên thực hiện nghị quyết của tỉnh
ủy về CBXH; tạo thuận lợi để MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân
giám sát các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên về thực hiện CBXH; giám sát
và phản biện xã hội đối với các chủ trương, giải pháp của các cấp ủy, chính quyền
về CBXH. Tỉnh ủy lãnh đạo các cơ quan thanh tra, ki ểm soát, kiểm toán các cơ
quan, cán bộ chính quy ền về th ực hi ện các chính sách xã h ội; lãnh đạo, xử lý
nghiêm theo pháp lu ật và kỷ lu ật Đảng những đảng viên, cán bộ, công ch ức sai
phạm gây hậu quả nghiêm trọng.
63
Nội dung và PTLĐ lãnh đạo thực hiện CBXH của tỉnh ủy quan hệ mật thiết
với nhau. Nội dung lãnh đạo thực hiện CBXH là cơ sở để xác định PTLĐ thực hiện
CBXH. PTLĐ thực hiện CBXH được xác định đúng đắn, phù hợp sẽ đảm bảo cho
nội dung lãnh đạo thực hiện CBXH được thực hiện.
Tiểu kết chương 2
Các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH cần tập trung xác định đúng
đắn nội dung lãnh đạo thực hiện CBXH và phương thức lãnh đạo thực hiện CBXH.
Trong đó, tỉnh ủy cần tập trung vào việc: ban hành và lãnh đạo tổ chức thực hiện
thắng lợi các nghị quyết của tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy về thực hiện CBXH;
đặc biệt coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện CBXH ở địa phương;
lãnh đạo ph ối hợp hoạt động các cơ quan, tổ ch ức trong HTCT t ỉnh và các l ực
lượng trên địa bàn tỉnh trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước, chủ trương, nghị quyết, quyết định của tỉnh uỷ về CBXH. Để thực
hiện đạt kết quả các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về CBXH, các tỉnh ủy cần
xác định phương thức lãnh đạo thực hiện các nghị quyết ấy một cách đúng đắn, phù
hợp. Trong đó, tập trung vào công tác tư tưởng, vận động thuyết phục nhân dân, tạo
sự đồng thuận cao trong th ực hiện các ngh ị quyết của tỉnh ủy; đặc biệt coi tr ọng
lãnh đạo chính quyền tỉnh trong tổ chức thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH
và quản lý nhà nước về thực hiện CBXH; tăng cường lãnh đạo phòng, chống tham
nhũng, lãng phí...
64
Chương 3
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ CÁC TỈNH ỦY Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG BẰNG
XÃ HỘI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM
3.1. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở CÁC TỈNH ĐỒNG
BẰNG SÔNG HỒNG
3.1.1. Ưu điểm, kết quả
3.1.1.1. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tế ở các tỉnh đồng
bằng sông Hồng có nhiều tiến bộ và đạt kết quả
Trong những năm qua mặc dù gặp nhiều khó khăn về suy thoái kinh tế, song
tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm của nhiều tỉnh ĐBSH khá cao và tương đối ổn
định: tỉnh Nam Định, 12,5% (2010), 11,5% (2013); các tỉnh Hải Dương, Thái Bình,
Quảng Ninh có các số liệu tương ứng là: 12,7% (2010), 9,2% (2013); 7,5% (2010),
8,2% (2013); 12,6% (2010); 7,1% (2013)... [Phụ lục 2]. Giá trị sản xuất của các tỉnh
ngày càng tăng ở mức khá cao [Phụ lục 3]. Nhờ đó, đời sống nhân dân ở các tỉnh
ĐBSH được nâng lên một bước khá lớn [Phụ lục 10].
Môi trường pháp lý cho các thành phần kinh tế phát triển lành mạnh, đúng
đắn đã dần dần được hình thành và phát tri ển. Các thành ph ần kinh t ế được
khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển. Người dân và các t ổ chức
kinh tế đã tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, trong chuy ển dịch cơ cấu kinh tế,
khai thác tiềm năng xã hội, huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế và thụ
hưởng thành qu ả kinh tế do mình làm ra. Ng ười nông dân t ự chủ trong chuy ển
đổi cơ cấu cây tr ồng, vật nuôi, ch ọn gi ống đạt hi ệu qu ả cao. Đến nay h ầu hết
diện tích trồng lúa, ngô, cây ăn quả được trồng các giống mới. Quyền tự do của
người dân trong ho ạt động kinh t ế từng bước được đảm bảo bằng pháp lu ật.
Những biểu hiện làm kinh t ế bằng mọi giá, vi ph ạm pháp lu ật được xử lý. Vi ệc
chấp hành các luật về kinh tế có tiến bộ. Sự phân biệt đối xử giữa các thành phần
kinh tế ngày càng giảm.
Cơ cấu kinh tế ở các tỉnh chuyển dịch đúng hướng, thể hiện rõ sự chuyển
dịch theo hướng tăng tỷ tr ọng công nghi ệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ tr ọng
65
nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP của các tỉnh. Đến năm 2010 cơ cấu kinh tế
của tỉnh Ninh Bình: công nghi ệp, xây dựng chiếm 48,9%, dịch vụ chiếm 35,3%,
nông, lâm nghi ệp, th ủy sản chi ếm 15,8% [117, tr.29]. T ỉnh Hà Nam có s ố li ệu
tương ứng là: 47,5%; 27,3%; 25,2% [104, tr.24]. Tỉnh Hải Dương: 45,4%; 29,3%;
23% [106, tr.12]. Tỉnh Vĩnh Phúc có cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh nhất: công
nghiệp, xây dựng chiếm 56,03%, dịch vụ chiếm 30,23%, nông, lâm nghi ệp, thủy
sản chiếm 13,74% [125, tr.12].
Kinh tế ở các tỉnh phát triển đúng hướng khá cân đối giữa các ngành, các
vùng. Cơ cấu kinh tế của các huyện, thị xã, thành phố ở nhiều tỉnh chuyển dịch phù
hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Các huyện Bình Xuyên, Vĩnh Tường,
thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên (Vĩnh Phúc), Nam Sách (Hải Dương), Nam
Ninh, Hải Hậu, Xuân Trường (Nam Định), Kim Sơn, Gia Viễn (Ninh Bình), Tiền
Hải (Thái Bình)... đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng đạt kết quả khá cao.
Nhờ đó, khoảng cách về mức hưởng thụ thành quả kinh tế giữa cư dân ở các vùng
trong tỉnh từng bước được nâng lên.
Các chương trình phát triển kinh tế vùng ở nhiều tỉnh được triển khai thực
hiện mạnh mẽ. Nguồn lực cho phát triển kinh tế được điều tiết khá hợp lý giữa các
vùng, ngành kinh tế, tập trung cho các ngành kinh tế mũi nhọn, các vùng khó khăn,
vùng nghèo. Nhờ đó, khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các
vùng dần dần thu hẹp, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường sinh thái ở những nơi khó
khăn được cải thiện [106, tr.17]; [114, tr.33]; [125, tr.15]. Các khu công nghiệp, chế
xuất Bình Xuyên (Vĩnh Phúc), Hòa Xá (Nam Định), một số khu công nghiệp ở Bắc
Ninh, Hải Dương, Hưng Yên hoạt động đạt hiệu quả cao góp ph ần to lớn vào sự
phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh. Các huyện Nho Quan, Ninh Bình, các huyện
miền núi, biên gi ới của tỉnh Quảng Ninh, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã có
bước tăng trưởng khá về kinh tế, rút ngắn sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội giữa các địa phương trong tỉnh.
Mô hình cánh đồng 50 - 70 tri ệu đồng/ha, vườn, ao, chu ồng (chuồng, trại
chăn nuôi), kinh tế hộ, kinh tế trang trại, liên kết kinh tế "Bốn nhà" (Nhà nước, nhà
nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học)... được nhân dân ở nhiều tỉnh áp dụng đạt
66
kết quả tốt. Người dân ở các tỉnh tích cực, chủ động và triển khai việc dồn điền, đổi
thửa phục vụ phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, xây dựng nông
thôn mới. Ở một số tỉnh đã hình thành các vùng chuyên canh s ản xuất nông sản
hàng hóa tập trung với năng suất, chất lượng cao, như: vùng sản xuất lúa chất lượng
cao ở Nam Định; sản xuất rau an toàn, tr ồng cam Canh, nhãn, v ải thiều ở Hưng
Yên; vùng chăn nuôi gia cầm, bò thịt ở các tỉnh Bắc Ninh, Nam Định, Vĩnh Phúc...
Các làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển mạnh mẽ, lành mạnh ở
hầu hết khắp các tỉnh, nhất là ở tỉnh Bắc Ninh, Nam Định, Ninh Bình với các sản
phẩm nổi tiếng không chỉ trong nước mà còn ở nhiều nước trên thế giới.
3.1.1.2. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực chính tr ị đạt kết quả
quan trọng
Các hình th ức dân ch ủ trực tiếp và dân ch ủ gián ti ếp được thực hiện theo
phương châm tăng cường các hình th ức dân chủ trực tiếp. Người dân đã trực tiếp
thực hiện quyền của mình trong các hoạt động chính trị - xã hội ở địa phương. Các
quyền của người dân do Hiến pháp, pháp luật quy định được thực hiện đạt kết quả.
Các cuộc bầu cử đại biểu HĐND các cấp và bầu cử đại biểu Quốc hội đạt kết quả
khá tốt, không xảy ra những vấn đề lớn, phức tạp. Cuộc bầu cử đại biểu HĐND các
cấp và đại biểu Quốc hội khóa XIII vừa qua ở các tỉnh có trên 90% nhân dân tham
gia, nhiều tỉnh đạt trên 96%, có tỉnh đạt 98% [105, tr.13]; [121, tr.16]; [128, tr.11];
[119, tr.15].
Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở được quán triệt, triển khai thực hiện. Hầu hết các
địa phương đã xây dựng Quy chế dân chủ ở cơ sở, trong đó xác định rõ những việc
liên quan đến đời sống mọi mặt của nhân dân ph ải được nhân dân bàn b ạc, thảo
luận và quyết định. Các thôn, xóm, tổ dân phố đã xây dựng quy ước, hương ước và
triển khai thực hiện, mọi người dân được tham gia, thảo luận và quyết định những
vấn đề cụ thể trên địa bàn. Ở hầu hết thôn, xóm, tổ dân phố những việc dân biết, dân
bàn, quyết định và nh ững việc dân giám sát, ki ểm tra đã được thông báo trên h ệ
thống truyền thanh cơ sở và nh ững văn bản của chính quyền cơ sở. Nhân dân đã
bàn, quyết định trực tiếp, công khai, dân chủ những việc đó trong các cuộc họp dân
67
cư với số lượng dự họp đông đảo, thường chiếm khoảng 85% đến 90% tổng số dân
cư trên địa bàn [118, tr.7]; [108, tr.7]; [112, tr.8]; [130, tr.10]; [108, tr.11].
Việc bầu cử trực tiếp trưởng thôn, trưởng khu phố, các quyền đề cử, ứng cử
của người dân được coi trọng thực hiện theo đúng quy định, như ứng cử, đề cử vào
trưởng, phó trưởng thôn, xóm, tổ dân ph ố, các cơ quan thanh tra nhân dân. Nhân
dân ở nhiều nơi phấn khởi tham gia việc này với tỷ lệ rất cao, thường đạt trên 95%
tổng số cư dân đủ điều kiện tham gia bầu cử theo quy định của pháp luật. Việc lấy
phiếu tín nhi ệm các ch ức danh ch ủ chốt do HĐND bầu và tr ưởng thôn đã được
nhân dân đồng tình cao và tích cực tham gia thực hiện.
Các cuộc tiếp dân, nhìn chung được tiến hành đúng quy định, ở nhiều nơi
công việc này được duy trì thành n ền nếp; các cu ộc tiếp xúc cử tri của đại biểu
HĐND các cấp và đại biểu Quốc hội trước và sau các kỳ họp đạt kết quả khá tốt.
Nhiều cử tri đã thẳng thắn, chân tình thể hiện ý kiến của mình và góp ý với các đại
biểu về những hạn chế thiếu sót ở nơi cư trú.
Ở nhiều nơi các quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cấp ủy,
tổ chức đảng, cơ quan chính quyền, cán bộ, công chức và đảng viên được thực hiện.
Phần lớn người dân đã tích cực tham gia, phát hiện những dấu hiệu vi phạm của cán
bộ, đảng viên, công chức, tạo thuận lợi cho việc xác minh và xét xử trước pháp luật
những cá nhân tổ chức vi phạm nghiêm trọng pháp luật, suy thoái về phẩm chất đạo
đức, lối sống. Đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân được các cấp chính quyền,
các tổ chức có liên quan ti ếp nhận và từng bước giải quyết đạt kết quả. Nhiều vụ
việc được giải quyết tận gốc được dân chấp thuận, góp phần quan trọng bảo đảm sự
ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, quyền lợi của nhân dân.
Các hoat động thực hiện quyền và trách nhiệm của dân trong tham gia vào
các công vi ệc chính quyền, Nhà nước của cấp ủy địa phương và của Đảng được
quan tâm và duy trì khá thường xuyên ở hầu hết các tỉnh, nhất là tham gia công tác
xây dựng Đảng, chính quyền. Các hoạt động đóng góp ý kiến vào một số văn bản
pháp luật, dự thảo Hiến pháp sửa đổi và một số chủ trương của cấp ủy, chính quyền
địa phương, dự th ảo Báo cáo chính tr ị trình Đại hội Đảng toàn qu ốc các khóa...
được thực hiện đạt kết quả. Qua th ống kê của các tỉnh, đã có gần 90% nhân dân
68
tham gia ý ki ến vào dự thảo Hiến pháp sửa đổi (năm 2013), ở nhiều tỉnh có trên
90% người dân tham gia vào việc này, như tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Dương,
Bắc Ninh... [113, tr.12]; [122, tr.9]; [107, tr.7]; [102, tr.8].
3.1.1.3. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực văn hóa có nhiều tiến bộ
Thực hi ện các ch ủ tr ương, chính sách phát tri ển văn hóa của Đảng, Nhà
nước, văn hóa ở các tỉnh ĐBSH phát triển đạt kết quả to lớn. Quyền thụ hưởng
ngang nhau của người dân về các giá trị văn hóa, thành quả phát triển văn hóa, giáo
dục, đào tạo từng bước được bảo đảm. Trách nhi ệm của ng ười dân đối với sự
nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục, đào tạo được nâng lên.
Quy mô đào tạo được mở rộng, đa dạng hoá về hình thức đào tạo; mục tiêu,
nội dung và phương pháp đào tạo được chấn chỉnh, một số biện pháp nâng cao chất
lượng giáo dục phổ thông, đào tạo nghề bước đầu được thực hiện. Sự nghiệp giáo
dục mầm non, giáo dục phổ thông, đại học và đào tạo nghề đạt kết quả đáng khích
lệ. Tất cả các tỉnh đều đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở và tiến
đến phổ cập trung học phổ thông vào năm 2020. Các tỉnh có các huyện miền núi và
đồng bào dân tộc thiểu số đã hoàn thành chỉ tiêu quốc gia về xóa mù trong nhân
dân. Theo niên giám thống kê năm 2012, ở 9 tỉnh ĐBSH có 3.469 trường mầm non,
với gần 630.000 học sinh; 360 tr ường trung học phổ thông với gần 400.000 học
sinh [Phụ lục 6]; 20 trường đại học với gần 80.000 sinh viên; 36 trường cao đẳng
[Phụ lục 7]; Những thành tựu đó tạo thuận lợi cho người dân, nhất là những người
trong độ tuổi đi học thực hiện tốt hơn quyền được học hành do pháp luật quy định.
Việc xã hội hóa giáo dục và đào tạo được triển khai khá mạnh mẽ. Các tỉnh
đã khuyến khích và t ạo điều kiện thuận lợi cho vi ệc phát tri ển các tr ường ngoài
công lập với các loại hình đa dạng theo quy định của Nhà nước. Nhờ đó, đã thu hút
khá lớn kinh phí đầu tư xã hội cho giáo dục, đào tạo, trong đó có đầu tư nước ngoài.
Ở nhiều tỉnh giáo dục và đào tạo chất lượng cao phát triển mạnh. Giáo dục ở vùng
khó khăn có bước phát triển, với các chính sách hỗ trợ học sinh nghèo về sách, vở,
miễn tiền học phí đối với trẻ khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, con em đồng
bào dân tộc thiểu số. Ngân sách chi cho giáo dục, đào tạo và dạy nghề ngày càng
69
tăng với số lượng lớn [Phụ lục 11]. Những hoạt động này, tạo cơ hội cho các em
thực hiện quyền được học hành, tiếp thu văn hóa dân tộc và nhân loại.
Khoa học - công nghệ ở các tỉnh có bước phát triển khá mạnh mẽ tạo thuận
lợi và cơ hội cho mọi người dân tiếp nhận nâng cao trình độ khoa học, công nghệ
và tiếp nhận việc chuyển giao khoa h ọc, công ngh ệ tiên ti ến phục vụ phát tri ển
kinh tế, nâng cao đời sống và đóng góp cho xã hội. Tỉnh Vĩnh Phúc trong 15 năm
đã thực hiện 818 đề tài, dự án khoa học, công nghệ cấp nhà nước, tỉnh và cấp cơ
sở, tập trung vào nh ững vấn đề phát tri ển sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa,
phát huy vai trò, tác d ụng của văn hóa truyền thống trong phát triển kinh tế - xã
hội [129, tr.6]. Tỉnh Quảng Ninh đã dành 4-5% thu nh ập của tỉnh cho hoạt động
khoa học - công nghệ, ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến và phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội [120, tr.9]. Ngân sách chi cho ho ạt động khoa học, công nghê
ngày càng lớn [Phụ lục 12].
Các hoạt động văn hóa, thông tin, th ể dục, thể thao được các tỉnh tạo điều
kiện phát triển, đã khai thác và phát huy khá t ốt năng lực, trách nhiệm của người
dân, các tổ ch ức tham gia vào các ho ạt động này và th ụ hưởng thành qu ả. Các
chương trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá tiêu biểu của dân tộc, văn hóa
làng, xã, lễ hội truyền thống, việc tang, việc cưới xin, tân gia... theo hướng tiến bộ
được nhân dân tích cực tham gia. Văn hóa truyền thống của các dân tộc Dao, Sán
Dìu, Sán Chay, Cao Lan Tày... ở tỉnh Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Ninh Bình được các
cấp ủy khuyến khích, tạo thuận lợi để bảo tồn, phát huy theo quan điểm của Đảng,
để các dân tộc thiểu số bình đẳng về văn hoá với dân tộc Kinh trong vùng.
Các phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa", "Xây dựng
gia đình văn hoá, làng, xã, phường văn hoá, khu phố văn hóa... được đông đảo nhân
dân tự nguyện tham gia và đóng góp trí lực, vật lực. Việc bài trừ các hoạt động phi
văn hóa, xử lý những tập thể, cá nhân vi phạm các quyền của người dân về hưởng
thụ các giá trị văn hóa do pháp luật quy định được triển khai khá mạnh và đạt kết
quả ở nhiều địa phương.
Các công trình, cơ sở văn hóa công cộng ở các huyện, thành phố, thị xã và ở
cơ sở như nhà thi đấu, cung thể thao thiếu nhi, sân vận động, nhà văn hóa, khu vui
70
chơi, giải trí... được xây dựng, tạo thuận lợi cho mọi người dân được thụ hưởng.
Các cụm di tích lịch sử, như Phật giáo Yên Tử (Quảng Ninh), thiền viện Trúc Lâm
Tây Thiên (Vĩnh Phúc), chùa Bái Đính, nhà thờ đá Phát Diệm (Ninh Bình), giáo
phận Bùi Chu (Nam Định)... được cấp ủy, chính quyền địa phương tạo thuận lợi
trùng tu, khai thác góp phần vào sự phát triển của địa phương. Đến nay, sóng phát
thanh, truyền hình đã phủ kín các tỉnh, nhân dân được tiếp nhận thông tin đa dạng,
phong phú. Tỉnh Quảng Ninh đã có chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng
dân tộc thiểu số, cải thiện về quyền bình đẳng thu nhận thông tin của các dân tộc
thiểu số.
3.1.1.4. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực xã hội và bảo đảm an
sinh xã hội đạt kết quả đáng khích lệ
Các hoạt động giải quyết những vấn đề xã hội, như: giải quyết việc làm,
giảm nghèo, chữa các bệnh xã hội, bình đẳng giới, bảo hiểm xã hội, phúc lợi xã hội
về văn hóa, giáo dục, y tế... được triển khai đều khắp ở các tỉnh, công bằng trong
thụ hưởng các phúc lợi xã hội được cải thiện đáng kể.
Chương trình quốc gia giải quyết việc làm được triển khai mạnh mẽ ở các
địa phương với sự tham gia tích cực của nhân dân và các tổ chức trên địa bàn. Các
nhà đầu tư, các doanh nghiệp được các địa phương khuyến khích và tạo thuận lợi
đầu tư vào các huyện để giải quyết việc làm cho người lao động thực hiện phương
châm "ly nông, bất ly hương" đem lại hiệu quả và có tác d ụng lớn về phát tri ển
nhiều mặt của địa phương. Nhiều tỉnh, huyện ở tỉnh Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng
Yên, Hải Dương, Nam Định đã có các doanh nghi ệp may, chế biến nông sản, tạo
việc làm, tăng thu nh ập cho hàng v ạn lao động. Nhờ đó, lao động thất nghiệp ở
nhiều tỉnh giảm đáng kể: ở tỉnh Vĩnh Phúc giảm từ 1,3% (n ăm 2008) xu ống 1%
(năm 2012), Bắc Ninh và tỉnh Quảng Ninh có số liệu tương ứng là: 2,2% và 1,74%;
2,84% và 1,44%. Có ba tỉnh tỷ lệ thất nghiệp tăng nhẹ là Thái Bình, Nam Định, Hà
Nam [Phụ lục số 1].
Các trung tâm d ạy nghề đa dạng, phong phú và có s ố lượng lớn, có ch ất
lượng bảo đảm dạy ngh ề cho hàng nghìn lao động, tạo cơ hội bình đẳng gi ữa
những người lao động trong tìm việc làm ổn định, đảm bảo thu nhập, nâng cao đời
71
sống: tỉnh Vĩnh Phúc có 22 trung tâm dạy nghề, 24 cơ sở dạy nghề khác, có chất
lượng, hằng năm tạo việc làm cho hàng nghìn lao động, giải quyết cơ bản những
hậu quả do thu hồi đất xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất [129, tr.12]...
Các tỉnh khác nh ư Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định đã làm khá tốt
công việc này.
Hiện tại, ở các tỉnh không còn hộ dân đói. Tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm. Đến
nay, so với chuẩn nghèo mới ở tỉnh Bắc Ninh còn 4,27%; tỉnh Thái Bình có tỷ lệ hộ
nghèo lớn nhất so với các tỉnh trong vùng (chiếm 10,9%). Ở các tỉnh còn lại số hộ
nghèo chiếm khoảng 5 đến hơn 6% [132]. Ở tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2006 có 18,6%
hộ nghèo đến năm 2010 còn 7,9%, năm 2014 còn 4,93% theo chuẩn nghèo mới. Ở
tỉnh Ninh Bình, năm 2007 có 11,38% hộ nghèo đến năm 2010 còn 7,9%, năm 2014
còn 6%... [Phụ lục 14].
Các tỉnh đã tăng cường đầu tư nâng cấp các trạm xá cơ sở, bệnh viện tuyến
huyện, tỉnh, tăng cường vệ sinh phòng dịch, bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho
mọi ng ười dân, bảo đảm vệ sinh, an toàn th ực ph ẩm, bảo vệ môi tr ường. Các
chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu miễn phí cho người dân đạt kết quả to lớn,
như: tiêm chủng mở rộng, thanh toán bệnh bại liệt, bệnh lao, sởi... đạt kết quả bước
đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân tiếp cận và thụ hưởng các chính sách
xã hội về y tế. Việc khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi
được thực hiện khá tốt, làm giảm sự chênh lệch về chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh
giữa các tầng lớp dân cư, dần dần tiến đến sự ngang bằng tương đối về chăm sóc
sức khỏe, chữa bệnh cho mọi người dân trên địa bàn tỉnh.
Ở nhiều tỉnh, mạng lưới y tế địa phương, nhất là y tế tỉnh đã chữa được một
số bệnh hiểm nghèo và những ca cấp cứu phức tạp, giảm tải cho tuyến y tế trung
ương. Đến cuối năm 2012 ở các tỉnh đã có 170 bệnh viện với 32.463 giường bệnh,
và 8.133 bác sĩ, 2.974 dược sĩ, 1.582 trạm y tế, nhiều trạm y tế đã có bác sĩ làm việc
[Phụ lục 8]. Các bệnh viện, phòng khám tư nhân được hình thành, phát tri ển, đa
dạng hoá các hình th ức chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Công tác xã h ội hoá y t ế
bước đầu được thực hiện. Ngân sách chi cho y tế và kế hoạch hóa gia đình chiếm tỷ
lệ ngày càng lớn [Phụ lục 13].
72
Công tác phòng, chống dịch bệnh và chữa các bệnh xã hội như cai nghiện,
phòng chống HIV... được tăng cường. Việc tiêm chủng mở rộng, đề phòng các bệnh
hiểm nghèo ở trẻ em ở các tỉnh đạt tỷ lệ từ 90-95%, khống chế và ngăn chặn sự lây
lan của các dịch bệnh... Chương trình cấp bảo hiểm y tế cho tất cả hộ dân đang được
nhiều tỉnh nghiên cứu triển khai. Các hoạt động bảo hiểm xã hội được duy trì tạo
thuận lợi cho nhân dân có cuộc sống ổn định khi hết tuổi lao động. Các hoạt động
bảo trợ thất nghiệp được triển khai và phát triển theo hướng xã hội hóa.
Bình đẳng giới ở các tỉnh đã có tiến bộ, quyền bình đẳng nam nữ được coi
trọng. Các tệ nạn bạo hành phụ nữ, trọng nam, khinh nữ được lên án mạnh mẽ và
ngăn chặn có hiệu quả ở hầu hết các địa phương trong vùng.
Các ho ạt động đền ơn, đáp nghĩa, ch ăm sóc Bà m ẹ Vi ệt Nam anh hùng,
thương binh, thân nhân các li ệt sĩ phát triển mạnh mẽ và đạt kết quả tốt. Việc trợ
cấp thường xuyên theo quy định của Nhà nước cho những người có công được duy
trì thường xuyên. Nhiều tỉnh đã hỗ trợ đột xuất bằng hiện vật, như xây nhà tình
nghĩa, hỗ trợ khó khăn, giải quyết có kết quả những vấn đề tồn đọng đối với những
người có công thể hiện đạo lý uống nước, nhớ nguồn của người Việt Nam và truyền
thống nhân ngh ĩa, thủy chung của cư dân ĐBSH. Bên cạnh đó là các ho ạt động
nhân đạo, từ thiện nhằm hỗ trợ đồng bào bị thiên tai, bão, lũ, lụt, rủi ro, nạn nhân
chiến tranh, người yếu thế, người già, trẻ em, người tàn tật, cô đơn không nơi nương
tựa được đông đảo nhân dân tự nguyện tham gia. Nh ờ đó, những người này, có
cuộc sống tối thiểu không chênh lệch quá lớn đối với mức sống bình thường của
người dân địa phương.
3.1.1.5. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm và tai nạn giao
thông có chuyển biến tích cực
Việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm ở các tỉnh ĐBSH đã
được cả HTCT, các ngành, các cấp, lực lượng xã hội và người dân triển khai khá
mạnh dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy, với các biện pháp cụ thể, như: tuyên truyền,
phát huy vai trò của tổ chức đảng, kê khai tài sản, các phương tiện truyền thông,
kiểm tra, giám sát, phát hiện của nhân dân, thẩm tra, xác minh, xử lý... Nhờ đó, việc
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm ở nhiều tỉnh đạt kết quả bước đầu.
73
Vụ ba nữ cán bộ Sở Giao thông Vận tải tỉnh Nam Định tham ô gần 4 tỉ đồng
đã được xử lý [134, tr.4]. Ngày 8-9/9/2015 tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã
xét xử vụ án nhiều cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
gây hậu quả nghiêm trọng, làm thất thu ngân sách Nhà nước hơn 5 tỷ đồng [143]...
Qua các vụ tham nhũng đã xử lý ở các tỉnh ĐBSH cho thấy, các vụ đó do nhiều cán
bộ cấu kết với nhau, hình thành nhóm lợi ích.
Việc chống lãng phí ở các tỉnh được coi trọng, đạt kết quả bước đầu trong
chống lãng phí sử dụng công quỹ, xây dựng nơi làm việc, sử dụng xe công, các hội
nghị và đi công tác ở nước ngoài ít thiết thực... Bên cạnh đó, giảm thiểu tai nạn giao
thông đã được các tỉnh quan tâm. HTCT, các lực lượng xã hội đã được huy động
vào thực hiện nhiệm vụ này. Ở nhiều địa phương, việc giảm thiểu tai nạn giao thông
đã có chuyển biến theo hướng tích cực. Các biện pháp đem lại hiệu quả đã được các
tỉnh áp dụng, như: tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức về chấp hành Luật giao
thông trong nhà trường, các tổ chức của HTCT, qua các phương tiện truyền thông;
đầu tư và từng bước cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông; đề cao trách nhiệm của các
lực lượng chuyên trách, nâng cao năng lực tổ chức và quản lý giao thông, phát triển
hạ tầng kỹ thuật và năng lực tổ chức giao thông, xử lý nghiêm các vi ph ạm Luật
giao thông... Nhờ những hoạt động này, nhất là việc đầu tư lớn của Trung ương vào
giao thông và vi ệc tuyên truyền nâng cao nh ận thức của người dân về chấp hành
Luật giao thông nên nhiều tỉnh đã có hệ thống đường giao thông khá hiện đại, thuận
tiện, ý thức, trách nhiệm của người tham gia giao thông được nâng lên, tai nạn giao
thông có xu hướng giảm. Trong năm 2012, tỉnh có nhiều vụ tai nạn giao thông nhất
là Hưng Yên, 177 vụ, giảm 148 vụ so với năm 2008; Ninh Bình là tỉnh ít xảy ra tai
nạn giao thông nhất, chỉ có 62 vụ [96]; [98]...
3.1.2. Những hạn chế, yếu kém
3.1.2.1. Th ực hiện công b ằng xã h ội trên l ĩnh vực kinh t ế còn nhi ều
yếu kém
Sự bất công bằng giữa các thành phần kinh tế, các khu vực kinh tế chưa được
cải thiện một cách căn bản, có lúc còn có biểu hiện phân biệt đối xử giữa các thành
phần kinh tế. Thành phần kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế nhà nước vẫn còn
74
được ưu đãi và nâng đỡ quá mức. Các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, nhất là
kinh tế tư nhân, các công ty trách nhiệm hữu hạn chưa có sự bình đẳng thực sự với
các doanh nghiệp nhà nước. Các chủ doanh nghiệp tư nhân còn chưa có nhiều điều
kiện thuận lợi tiếp cận những cơ hội để phát triển sản xuất, kinh doanh, nhất là vay
vốn ưu đãi để mở rộng quy mô, đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất, tăng năng suất,
chất lượng sản phẩm.
Ở một số tỉnh môi tr ường pháp lý cho các thành ph ần kinh tế, cá nhân, tổ
chức kinh tế phát triển chưa được cải thiện đáng kể để KTTT phát triển lành mạnh,
đúng đắn. Những biểu hiện không đúng đắn về phát tri ển KTTT nh ư: phát tri ển
kinh tế bằng mọi giá tách rời những vấn đề xã hội, môi trường, vi phạm pháp luật,
lợi dụng những cơ sở của một số văn bản pháp luật để trục lợi vẫn tồn tại, có mặt có
xu hướng gia tăng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh còn chậm và chưa vững
chắc ảnh hưởng đến việc thực hiện CBXH.
Việc tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của nhiều người dân và các tổ chức
kinh tế còn bị hạn chế, ràng buộc bởi các thủ tục hành chính, nhất là việc mở rộng
doanh nghiệp, chuyển đổi mặt hàng, đăng ký, xin giấy phép sản xuất kinh doanh.
Sự cạnh tranh giữa các chủ sản xuất kinh doanh còn chưa thực sự lành mạnh, còn
có những biểu hiện tiêu cực.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế có nơi còn chưa thật đúng hướng, còn chủ
quan và lúng túng. Việc phát triển kinh tế vùng còn hạn chế, một số đề án về phát
triển kinh tế vùng ở một số tỉnh kém chất lượng, tính khả thi thấp, những biện pháp
thực hiện chưa cụ thể, rõ ràng. Vì thế, không ít dự án, chương trình qua thực hiện
chưa đạt kết quả mong muốn, ảnh hưởng đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh
tế, đến việc thu hẹp về trình độ phát tri ển kinh tế, văn hoá, xã h ội giữa các địa
phương trong tỉnh.
Các mô hình kinh t ế đem lại hi ệu qu ả, các làng ngh ề truy ền th ống còn
chưa được quan tâm thỏa đáng để phát triển và còn hạn chế trong tiếp cận nguồn
vốn và thị trường tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến nguy cơ phá sản, ảnh hưởng không
nhỏ đến CBXH. Ch ẳng hạn mô hình "B ốn nhà" trong s ản xuất nông nghiệp khi
hoạt động kém hiệu quả thì nhà nông ph ải chịu hậu quả nặng nề, gây lên sự bất
75
bình đẳng trong chịu đựng rủi ro giữa nhà nông với nhà nước, nhà doanh nghiệp
và nhà khoa h ọc. Các ho ạt động nhằm thu hẹp sự chênh lệch về thu nh ập trong
dân cư giữa các vùng, thành th ị với nông thôn, gi ữa các giai t ầng xã hội ở hầu
hết các tỉnh hiệu quả thấp.
3.1.2.2. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực chính trị còn những
bất cập
Quyền làm ch ủ của nhân dân trên th ực tế còn bị hạn chế. Các quy ền của
người dân do Hi ến pháp, pháp luật quy định có lúc ch ưa được thực hiện đến nơi,
đến chốn. Việc bầu cử đại biểu HĐND các cấp, đại biểu Quốc hội, nhìn chung còn
hình thức, tình trạng bầu hộ và cử một người trong gia đình đi bầu cử cho cả gia
đình, vi phạm Luật bầu cử vẫn còn xảy ra (ở một điểm bầu cử ở tỉnh Bắc Ninh).
Nhiều cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp HĐND các cấp đơn điệu về nội
dung và còn hình thức, chất lượng thấp; nhiều ý kiến thỏa đáng đúng đắn của đông
đảo cử tri chưa được giải quyết thấu đáo.
Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở có nơi còn chưa chặt chẽ, có biểu
hiện hình th ức, không th ực chất. Khá nhi ều việc theo Quy ch ế dân ch ủ ở cơ sở
người dân được bi ết, được bàn thì l ại không được bi ết, không được bàn, ho ặc
được bàn một cách hình thức. Quyền kiểm tra, giám sát của người dân ở nhiều nơi
chưa được thực hiện. Việc đóng góp ý kiến của dân vào các dự thảo văn bản pháp
luật, dưới luật và vào dự thảo Hiến pháp sửa đổi còn bị hạn chế. Ở nhiều nơi tiến
hành công vi ệc này một cách qua loa, đại khái. Nhi ều cuộc lấy phiếu tín nhi ệm
các chức danh cán bộ ở địa phương do dân bầu cử theo định kỳ còn có biểu hiện
chiếu lệ. Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo ở một số nơi còn chậm, có biểu
hiện không công bằng theo quy định của pháp lu ật và nh ững quy định, quy ch ế
của địa phương.
Các hoạt động phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội
đối với các chủ trương, quyết định của cấp ủy, chính quyền và giám sát hoạt động
của cấp ủy, chính quyền, cán bộ, công chức, đảng viên ở nhiều nơi chưa được coi
trọng và còn lúng túng trong thực hiện. Khá nhiều nơi chưa tiến hành công việc này.
76
3.1.2.3. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực văn hóa còn những hạn
chế, có mặt chưa được cải thiện
Việc thụ hưởng các giá trị văn hóa còn có sự chênh lệch rất lớn giữa các tầng
lớp dân cư, nhất là nhóm người có thu nhập rất cao với nhóm người có thu nhập rất
thấp; giữa cư dân thành thị với cư dân nông thôn; giữa cư dân ở các huyện, xã miền
núi, với cư dân ở vùng đồng bằng; giữa đồng bào dân tộc thiểu số với người Kinh ở
một số tỉnh.
Quyền được học hành của các cháu trong độ tu ổi đi học ch ưa được gi ải
quyết tốt, còn có sự bất bình đẳng giữa các cháu ở vùng núi, vùng khó khăn, vùng
xa so với các cháu ở vùng đồng bằng, gần các đô thị và ở những vùng thuận lợi về
phát triển kinh tế - xã h ội. Số sinh viên tốt nghiệp các tr ường cao đẳng, đại học
không tìm được việc làm ngày càng tăng, làm gia tăng những vấn đề xã hội, gây
khó khăn cho việc thực hiện CBXH.
Việc đầu tư cơ sở vật chất và nhân lực cho giáo dục - đào tạo, nhất là lực
lượng giáo viên còn kém công bằng giữa các vùng trong một tỉnh và có biểu hiện
bình quân. Chế độ đãi ngộ giáo viên có biểu hiện không công bằng giữa giáo viên
cùng cấp học ở các vùng khác nhau trong m ột tỉnh. Mức trợ cấp cho giáo viên ở
những vùng khó kh ăn, xa xôi, mi ền núi ch ưa tương xứng với cống hiến của họ.
Tình trạng bất CBXH, nhất là trong đấu thầu các đề tài, dự án khoa học - công nghệ
còn xảy ra, có biểu hiện lợi dụng việc chỉ định thầu đề tài, dự án khoa học - công
nghệ để trục lợi và vì lợi ích nhóm.
Quyền tự do, tín ngưỡng, theo các tôn giáo của người dân ở một số nơi bị lợi
dụng đến mức thái quá gây phản cảm, nhất là việc lợi dụng các lễ hội, gây bức xúc
tại địa phương và dư luận. Song, việc xử lý các sai phạm chưa kịp thời, thỏa đáng,
có lúc, có nơi còn hữu khuynh. Việc đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện thông tin đại
chúng còn chưa bình đẳng giữa các vùng ở một số tỉnh. Đối với những vùng xa xôi,
khó khăn việc ưu tiên đầu tư cho hoạt động này còn chưa thỏa đáng và có biểu hiện
bình quân.
77
3.1.2.4. Thực hiện công bằng xã hội trên lĩnh vực xã hội còn nhiều vấn đề
nan giải
Các giải pháp về hạn chế tình tr ạng thất nghiệp gia tăng, thanh niên nông
thôn đi tìm vi ệc làm ở các t ỉnh ngoài vùng ĐBSH hiệu qu ả th ấp. Tốc độ gi ảm
nghèo chưa vững chắc, số hộ dân tái nghèo có xu hướng tăng. Bất bình đẳng giới,
bất bình đẳng về việc làm, thu nhập giữa nam và nữ còn diễn ra. Một bộ phận đáng
kể phụ nữ do sức khỏe hạn chế so với nam giới, bị chi phối bởi công việc và cuộc
sống gia đình, không có nhiều điều kiện học tập nâng cao trình độ và tay nghề nên
phải đảm đương những công việc nặng nhọc, thu nhập thấp, tiềm ẩn nguy cơ mất
việc làm. Vẫn còn tình trạng phụ nữ bị phân biệt đối xử so với nam giới; lao động
trước tuổi hầu như ở nơi nào cũng có.
Mức độ được hưởng các chính sách về giáo dục, văn hoá của người dân ở
các vùng trong một số tỉnh có sự chênh lệch khá lớn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị
và chất lượng đào tạo giữa các vùng, nh ất là ở vùng nông thôn, vùng núi, vùng
sâu, vùng xa so với thành thị có khoảng cách khá xa. Con em các gia đình nghèo
không có điều kiện học tập lên bậc cao. Đây là sự bất CBXH về điều kiện học tập
nâng cao trình độ, tay ngh ề, dẫn đến không có c ơ hội tìm vi ệc làm ổn định bảo
đảm cuộc sống.
Chất lượng bảo vệ và ch ăm sóc sức khỏe, chữa các bệnh xã hội của người
dân ở các vùng trong các t ỉnh có sự chênh lệch đáng kể. Quyền được bảo vệ và
chăm sóc sức khỏe của đa số người dân chưa được đảm bảo. Việc chăm sóc y tế
cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số và việc chữa các bệnh
xã hội trong dân cư ở những nơi này, còn nhiều hạn chế so với các vùng khác, nhất
là với thành thị. Còn có sự phân biệt đối xử trong khám, chữa và dưỡng bệnh giữa
các nhóm dân cư có thu nh ập khác nhau; kém tận tình với bệnh nhân chi trả viện
phí qua bảo hiểm y tế. Việc chữa bệnh cho con em và người thân trong gia đình vẫn
là nỗi lo thường nhật của những gia đình khó khăn ở nông thôn, vùng núi, vùng sâu,
vùng xa.
Việc chi trả lương hưu cho những người tham gia bảo hiểm xã hội còn có sự
chênh lệch đáng kể, giữa những người nghỉ hưu trước và sau các lần cải cách lớn về
78
tiền lương. Điều này, dẫn đến sự chênh lệch về cuộc sống của những người nghỉ
hưu ảnh hưởng đến kết quả thực hiện CBXH.
3.1.2.5. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm và tai nạn giao
thông hiệu quả thấp
Việc phòng, ch ống tham nh ũng, lãng phí, l ợi ích nhóm ở nhi ều nơi ch ưa
thường xuyên, quyết liệt, các giải pháp chưa đủ mạnh, hiệu quả thấp. Số vụ tham
nhũng được phát hiện, điều tra và xử lý còn rất thấp, gây bất bình trong nhân dân,
dư luận và gây khó khăn lớn cho việc thực hiện CBXH. Tham nhũng ở một số nơi
có xu hướng gia tăng, ngày càng tinh vi ph ức tạp, câu kết chặt chẽ nhiều cán bộ
thành nhóm lợi ích và xuất hiện ở một số cơ quan, cán bộ làm công tác xã hội và
thực hiện CBXH.
Ở xã Nam Hoa, huy ện Nam Trực, tỉnh Nam Định, mỗi hồ sơ đề nghị giải
quyết chế độ trợ cấp bảo trợ xã hội đều phải mất từ vài triệu đến chục triệu VNĐ để
được thông qua. Mỗi khi làm hồ sơ nhận chế độ cho các đối tượng là ng ười tâm
thần, khuyết tật tại xã này, người dân nơi đây đều phải nộp một khoản tiền nhất định
từ vài triệu đến vài chục triệu đồng cho cán bộ chính sách xã. Không chỉ “vòi tiền”
các đối tượng chính sách, những cán bộ này còn ăn chặn cả tiền trợ cấp về chế độ
đối với người có công trong suốt thời gian dài. Vụ 9 cán bộ, công chức xã ở tỉnh Hà
Nam ăn chặn tiền trợ cấp của người tàn tật đã bị xử lý. Huyện Kiến Xương, tỉnh
Thái Bình đã xử lý theo pháp luật những cán bộ xã ăn chặn tiền trợ cấp Tết của hơn
100 gia đình chính sách là thân nhân liệt sĩ, gia đình có công cách mạng với số tiền
là 20.400.000 đồng.
Tình trạng lãng phí vẫn chưa được đẩy lùi một cách căn bản, lãng phí ở một
số tỉnh còn lớn. Có nh ững vụ việc được thể hiện từ chủ trương của lãnh đạo cấp
tỉnh. Ở một tỉnh thuộc ĐBSH kinh tế phát tri ển chưa thật mạnh, vững chắc, đời
sống nhân dân nhiều nơi còn khó khăn, cơ sở hạ tầng giáo dục y tế, giao thông còn
lạc hậu, xuống cấp. Song, tỉnh đã chi 300 triệu đồng từ ngân sách tỉnh để xây dựng
nơi thờ tự của tỉnh gây bức xúc trong nhân dân và dư luận. Nơi thờ tự đã xây xong
nhưng chưa biết thờ ai? Ở một tỉnh phía Nam ĐBSH, có một số huyện miền núi,
dân tộc thiểu số, kinh tế tỉnh phát triển chưa mạnh, hộ nghèo còn nhiều, điều kiện
79
học hành của các cháu, việc đi lại, chữa bệnh của người dân gặp nhiều khó khăn,
song tỉnh đã chi 1500 tỷ đồng để xây Tượng đài Vua Đinh Tiên Hoàng. Đến nay,
"Tượng đài bị lãng quên giữa muôn trùng cây cỏ"... Các tỉnh vẫn chưa có các giải
pháp hiệu quả cao gi ảm thiểu tai nạn giao thông, ở nhi ều nơi tai nạn này có xu
hướng gia tăng.
3.2. CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CÔNG BẰNG XÃ HỘI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM
3.2.1. Thực trạng các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo thực hiện
công bằng xã hội
3.2.1.1. Những ưu điểm
* Về thực hiện nội dung lãnh đạo
Một là, các tỉnh ủy xây dựng quan điểm, chủ trương, nghị quyết lãnh đạo các
cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc, các cơ quan nhà n ước, các lực lượng xã hội và
nhân dân địa phương cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thắng lợi các nội dung thực
hiện CBXH của Đảng và Nhà nước.
Các tỉnh ủy tập trung vào quán triệt đường lối phát triển KTTT định hướng
XHCN và các quan điểm, chủ trương lớn về phát triển kinh tế - xã hội, các nghị quyết
của Đảng về phát triển các lĩnh vực, ngành kinh tế; về dân chủ và thực hiện các quyền
của người dân, về phát triển văn hóa, xã hội để xây dựng các quan điểm, mục tiêu,
phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH.
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2006-2010 xác
định quan điểm:
Khai thác có hi ệu quả các ngu ồn lực đầu tư cho phát tri ển. Đi đôi với
tăng trưởng kinh tế, chú trọng phát triển văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa
học, công ngh ệ, phát tri ển nguồn nhân lực, chăm sóc và nâng cao s ức
khỏe nhân dân, đẩy mạnh giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng
tỷ lệ hộ giàu, kiềm chế và đẩy lùi tội phạm, tệ nạn xã hội, không ngừng
cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân [124, tr.32].
Đồng thời, Văn kiện nhấn mạnh quan điểm và mục tiêu tổng quát: "T ăng
cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị bảo đảm trật tự, an toàn xã
80
hội tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế - xã hội phát triển" [124, tr.32]. Các mục
tiêu được xác định, gồm: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt 14-
14,5%; số lao động được giải quyết việc làm từ 24-25 nghìn lao động; tỷ lệ lao động
qua đào tạo chiếm 40-45%; tỷ lệ hộ nghèo chiếm dưới 10% theo tiêu chí mới; tỷ lệ
trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chiếm dưới 15% [124, tr.33].
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2011 -2015 tiếp
tục khẳng định và phát tri ển những quan điểm, mục tiêu của nhiệm kỳ tr ước và
nhấn mạnh: "Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm, giảm
nghèo; đảm bảo an sinh xã hội; từng bước thu hẹp khoảng cách về thu nhập, về đời
sống giữa các vùng, các khu vực và giũa các tầng lớp dân cư, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội" [125, tr.50]. Đồng thời, Văn kiện xác định mục tiêu cao hơn: 30-
40% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới; giải quyết việc làm cho 100-115 nghìn lao
động; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn mới bình quân hằng năm giảm 1,5-2%; tỷ lệ
lao động qua đào tạo đạt khoảng 66%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn
10%; tỷ lệ thu gom và x ử lý ch ất thải rắn đạt 10%; tỷ lệ dân cư đô thị được cấp
nước sạch đạt 85% và 100% dân c ư nông thôn s ử dụng nước hợp vệ sinh [125,
tr.52]. Văn kiện xác định các gi ải pháp phát tri ển công nghi ệp, đẩy mạnh CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông mới, phát triển văn hóa, giáo dục,
đào tạo, khoa học, công nghệ, thực hiện tiến bộ và CBXH...
Ở các tỉnh khác của ĐBSH, các tỉnh ủy xác định quan điểm, mục tiêu và các
giải pháp phát triển kinh tế - xã h ội tương tự Tỉnh ủy Vĩnh Phúc và phù hợp với
điều kiện cụ thể của từng tỉnh. Chẳng hạn ở tỉnh Hà Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu
Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2006 -2010 xác định:
Huy động có hi ệu quả các ngu ồn lực, đẩy nhanh hơn nữa tốc độ phát
triển kinh t ế, đảm bảo tăng tr ưởng kinh t ế cao, b ền vững, hi ệu qu ả;
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch
vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Phát triển kinh tế gắn với phát triển văn
hóa, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái [103, tr.52].
Các mục tiêu được xác định, gồm: 100% dân số đô thị, 75% dân số nông
thôn dùng nước hợp vệ sinh; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới giảm xuống còn 7%; trẻ
81
em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 20%; giải quyết 13.000 việc làm; tỷ lệ lao
động qua đào tạo nghề đạt 35% [103, tr.53].
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2011 -2015 xác định mục
tiêu cao hơn và đưa ra các giải pháp thực hiện nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế -
xã hội và thực hiện CBXH: "Phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần của nhân dân. Tập trung phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, coi
trọng bảo vệ môi tr ường" [104, tr.52]. Các mục tiêu cụ thể được xác định, gồm:
100% dân thành th ị và 90% dân nông thôn dùng n ước hợp vệ sinh; số hộ nghèo
giảm bình quân hằng năm từ 1-1,2%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn
15%; giải quyết việc làm cho 75.000 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt
45%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới chiếm 20% [103, tr.53]. Các giải pháp về
thực hiện quan điểm, mục tiêu phát tri ển kinh tế - xã h ội và th ực hiện CBXH đã
được đề xuất.
Ngoài các quan điểm, mục tiêu và giải pháp tổng thể về phát triển kinh tế -
xã hội và th ực hiện CBXH th ể hiện trong các văn kiện đại hội đại biểu đảng bộ
các tỉnh, các tỉnh ủy luôn coi trọng quán triệt kịp thời các quan điểm, chủ trương,
giải pháp trong các ngh ị quyết của Đảng về phát triển các mặt, các lĩnh vực đời
sống xã hội, ban hành các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy, tổ chức thực hiện và
thực hiện CBXH.
Trên cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng, như: Nghị quyết Trung ương
năm khóa VIII v ề đẩy nhanh CNH, H ĐH nông nghi ệp, nông thôn; Ngh ị quy ết
Trung ương bảy khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết Trung
ương sáu khóa X v ề tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN; Nghị
quyết Trung ương bảy khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và quản
lý tài nguyên, bảo vệ môi tr ường; Nghị quyết Trung ương năm khóa VIII về xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết Trung
ương chín khóa XI về xây dựng và phát triển con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững đất nước; các ngh ị quyết của Đảng khóa VIII về định hướng
chiến lược giáo dục - đào tạo, định hướng chiến lược phát triển khoa học và công
nghệ thời kỳ CNH, HĐH và gần đây là Nghị quyết Trung ương tám khóa XI về đổi
82
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều
kiện KTTT định hướng XHCN và hội nhập quốc tế; Nghị quyết Trung ương bảy
khóa VIII, một số vấn đề về tổ chức bộ máy của HTCT và tiền lương, trợ cấp xã hội
thuộc ngân sách nhà nước; Nghị quyết Trung ương năm khóa XI về một số vấn đề
chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, Kết luận hội nghị này về một số vấn đề tiền
lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến
năm 2020... các tỉnh ủy đều ban hành các nghị quyết về những vấn đề này, xác định
các giải pháp cụ thể để thực hiện, qua đó từng bước thực hiện CBXH trong lĩnh vực
kinh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Cụ thể là:
Phần lớn các tỉnh ủy đều ban hành quy ết định về ch ương trình th ực hiện
Nghị quyết Trung ương năm khóa VIII. Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 27-12-2006
của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống
nhân dân giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020. Tỉnh ủy Ninh Bình
ban hành Ch ương trình hành động số 20-CTr/TU, ngày 21-8-2008, Tỉnh ủy Hà
Nam ban hành Ch ương trình số 13-CTr/TU, ngày 26-10-2008 về th ực hiện nghị
quyết về nông nghi ệp, nông dân, nông thôn c ủa Đảng... Tỉnh ủy Ninh Bình ban
hành Thông tri số 21-TT/TU, ngày 12-8-1998 về thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW
của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, tổ chức thực
hiện, Báo cáo số 200-BC/TU ngày 12-01-2009 tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị
này... Các tỉnh ủy đều xây dựng chương trình phổ cập trung học cơ sở; chương trình
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc... Tỉnh ủy Nam
Định xây dựng và ban hành Kế hoạch số 71-CTr/TU ngày 18-01-2008 về thực hiện
Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe
nhân dân trong tình hình m ới và ban hành Ch ỉ thị số 06-CT/TW của Ban Bí th ư
Trung ương Đảng về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở...
Hai là, lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan nhà nước ở địa phương tổ chức cụ thể
hóa các nội dung thực hiện CBXH của Đảng và Nhà nước thành chương trình, kế
hoạch hành động; đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước thực
hiện chương trình kế hoạch đó.
83
Các tỉnh ủy đều coi trọng lãnh đạo chính quyền trong tỉnh về thực hiện các
nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội, qua đó thực hiện
CBXH. Nhiều tỉnh ủy đã lãnh đạo chính quyền tỉnh xây dựng các chương trình, đề
án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đối với từng lĩnh vực ngay trong quá trình
tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nghị quyết, chương trình về vấn đề đó. Vì vậy,
sau khi tỉnh ủy ban hành các nghị quyết, quyết định, chương trình về vấn đề nào đó,
sau thời gian ngắn chính quyền tỉnh đã có ch ương trình, kế hoạch, đề án và tri ển
khai thực hiện.
Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã chỉ đạo chính quy ền tỉnh ban hành các ngh ị quyết,
quyết định, xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết của Tỉnh uỷ
về phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH như: Nghị quyết số 08/2010/NQ-
HĐND ngày 22-7-2010 của HĐND tỉnh về việc hỗ trợ bồi thường giải phóng mặt
bằng và đầu tư xây dựng thiết chế văn hoá - thể thao, vui chơi giải trí ở xã, phường,
thị trấn, thôn, tổ dân phố; Nghị quyết số 37/2011/NQ-HĐND ngày 19-12-2011 về
một số chính sách hỗ trợ dạy nghề, giải quyết việc làm và gi ảm nghèo giai đoạn
2012 - 2015; Nghị quyết số 75/2012/NQ-HĐND ngày 21-12-2012 của HĐND tỉnh
về phát tri ển thể dục, thể thao qu ần chúng tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2013-2020;
Nghị quyết số 94/2013/NQ-HĐND ngày 16-7-2013 của HĐND về một số chính
sách hỗ trợ cho trạm y tế xã, phường, thị trấn thực hiện Bộ Tiêu chí quốc gia về y tế
xã trên địa bàn t ỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2013-2020... Từ các ngh ị quy ết của
HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã xây dựng các kế hoạch, chương trình thực hiện. Ví dụ:
Chương trình số 26-CTr/UBND ngày 29-3-2011 của UBND tỉnh về xây dựng nông
thôn mới tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2020; Sở Lao động - Thương binh và Xã
hội tỉnh xây dựng Chương trình số 58-CTr/LĐTBXH về xây dựng nông thôn mới,
nâng cao đời sống nhân dân...
Ở tỉnh Bắc Ninh, sau khi có các nghị quyết, quyết định của Tỉnh ủy về phát
triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH, HĐND tỉnh đã ban hành các nghị quyết,
quyết định và tổ ch ức th ực hi ện th ắng lợi. Ví d ụ: Ngh ị quy ết số 22/2011/NQ-
HĐND, của HĐND ngày 17-9-2011 của UBND tỉnh về Quy định một số điều về
thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và tổ chức kỷ niệm
84
ngày truyền thống...; Quyết định số 228/QĐ-UBND ngày 28-02-2011 của Chủ tịch
UBND tỉnh Bắc Ninh về việc thành lập Phòng Di sản Văn hóa, thuộc Sở Văn hóa,
Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh. Ở các tỉnh khác của ĐBSH các tỉnh ủy luôn coi
trọng lãnh đạo chính quyền tỉnh thực hiện các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về
phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH. Chẳng hạn, ở tỉnh Nam Định, sau khi
Tỉnh ủy ban hành Chương trình xây dựng nông thôn mới, UBND tỉnh đã ban hành
Quyết định số 2163/QĐ-UBND ngày 02-9-2009 về phê duyệt đề án xây dựng thí
điểm mô hình nông thôn mới xã Hải Đường, huyện Hải Hậu...
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy địa phương, chính quyền cùng cấp đã
triển khai thực hiện các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy, các quyết định, chương
trình phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH của cấp ủy cùng cấp về phát
triển kinh tế - xã hội trên địa bàn đạt kết quả. Nhìn chung, các hoạt động này diễn ra
khá thuận lợi và thông suốt.
Ba là, xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện CBXH ở địa phương.
Các tỉnh ủy đã coi trọng lãnh đạo nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ
chức trong các lĩnh vực như: chính quyền các cấp, kinh tế, nông nghiệp, nông dân,
nông thôn, giáo dục - đào tạo, khoa học - công ngh ệ y tế, văn hóa, th ể thao, tài
nguyên, môi trường, lao động, thương binh và xã hội...
Các tỉnh ủy đều quan tâm lãnh đạo nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy, cán
bộ, công chức và hoạt động của chính quyền tỉnh và lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy
cấp huyện về nâng cao chất lượng chính quyền cấp huyện và cấp xã. Trong đó, tỉnh
ủy trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng tổ chức bộ máy cán bộ, công chức và nâng
cao ch ất lượng ho ạt động của chính quy ền tỉnh, các sở nh ư: tài nguyên - môi
trường, nông nghiệp, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa, thông
tin, thể thao, th ể thao và du l ịch, lao động, thương binh và xã h ội... Tỉnh ủy tập
trung lãnh đạo các tổ chức này về xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, xây dựng các
quy định, quy chế làm vi ệc; nâng cao ch ất lượng cán bộ, công chức, xác định rõ
trách nhiệm cá nhân và quyền hạn của từng chức danh cán bộ, nhất là người đứng
đầu; đổi mới nội dung, ph ương th ức ho ạt động; tăng cường phòng ch ống tham
85
nhũng, lãng phí trong phát tri ển kinh tế, giáo dục, đào tạo và th ực hiện các chính
sách xã hội...
Nhìn chung, các tỉnh ủy đã lãnh đạo thực hiện khá tốt việc thi tuyển công
chức vào các cơ quan nêu trên, tăng cường quy hoạch cán bộ quản lý; đào tạo, bồi
dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức. Một số tỉnh
đã tổ ch ức thi tuy ển các phó giám đốc một số sở và các ch ức danh tr ưởng, phó
trưởng phòng trong một số sở...
Bốn là, lãnh đạo phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước với Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp, các thành phần kinh
tế, các tổ chức xã hội thực thi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, chủ trương, nghị quyết, quyết định của tỉnh uỷ, chính quyền tỉnh về CBXH.
Các tỉnh ủy quan tâm lãnh đạo MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, các
đơn vị sự nghiệp, các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội tham gia tích cực vào
thực hiện nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội và thực
hiện CBXH.
Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức này quán triệt các nghị quyết nêu trên
của tỉnh ủy xây d ựng ch ương trình, kế ho ạch th ực hi ện trên c ơ sở ch ức năng,
nhiệm vụ, đặc điểm của từng tổ chức; hướng vào phát động, duy trì các phong trào
hành động cách mạng nâng cao nh ận thức của đoàn viên, hội viên và duy trì các
hoạt động nhân đạo, từ thiện, bài tr ừ mê tín, d ị đoan và các t ệ nạn xã hội; vận
động nhân dân cùng tham gia. Đồng thời, tỉnh ủy tăng cường lãnh đạo sự phối hợp
hoạt động của các t ổ ch ức này v ới chính quy ền địa ph ương trong th ực hi ện
CBXH, một số tỉnh đã xây dựng quy chế phối hợp hoạt động của các tổ chức này
trong thực hiện CBXH.
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của MTTQ và từng đoàn thể
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, Tỉnh uỷ Quảng Ninh và các cấp ủy cấp huyện, cấp
xã xác định nội dung và PTLĐ phù hợp để phát huy mạnh mẽ vai trò và ưu thế của
từng tổ chức trong th ực hiện CBXH. Ví dụ: phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, nhân đạo,
từ thiện chủ yếu do MTTQ chủ trì, các phong trào "Tuổi trẻ lập thân, lập nghiệp",
86
phòng chống tệ nạn xã hội chủ yếu do Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh chủ
trì; các hoạt động dạy nghề, học nghề chủ yếu do các đoàn thể chính trị - xã hội chủ
trì... kết hợp với chính quyền địa phương trong triển khai thực hiện các phong trào
nêu trên.
Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 61-CT/TW, ngày 28-12-2000
của Bộ Chính trị về việc thực hiện phổ cập trung học cơ sở của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc
nhận định: "Đại diện của Tỉnh đoàn, Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh, Mặt trận Tổ quốc
tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh, Hội khuyến học tỉnh đã tham gia trong Ban chỉ đạo
phổ cập giáo dục trung học cơ sở và hoạt động tích cực, góp phần quan trọng cổ vũ
đông đảo nhân dân tham gia hoạt động này đem lại hiệu quả" [126, tr.7].
Báo cáo số 164-BC/TU của Tỉnh ủy Ninh Bình về tổng kết 10 năm thực hiện
Nghị quyết Trung ương hai, khóa VIII của Đảng về giáo dục và đào tạo đã rút ra
một số bài học kinh nghiệm, trong đó có một bài học rất có giá trị: "Tỉnh ủy và các
cấp ủy tăng cường lãnh đạo công tác xã hội hóa giáo dục, coi trọng tuyên truyền,
vận động nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội nhiệt tình ủng hộ, chung sức,
chung lòng cùng chính quyền địa phương phát triển và nâng cao ch ất lượng giáo
dục và đào tạo" [116, tr.10].
* Về phương thức lãnh đạo
Thứ nhất, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng các nghị quyết, quyết định,
chủ trương, về thực hiện CBXH
Trên cơ sở nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh các nhiệm kỳ về phát triển kinh tế
- xã hội, các nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục - đào tạo,
khoa học - công nghệ, văn hóa, xã hội, HTCT các tỉnh ủy ở ĐBSH trong các nhiệm
kỳ đều xây dựng, ban hành các nghị quyết, quyết định về cụ thể hóa các nghị quyết
ấy và tổ chức thực hiện.
Xuất phát từ các nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển
KTTT định hướng XHCN, như: phát triển các thành phần kinh tế, đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế; Nghị quyết Trung ương năm khóa VIII về đẩy nhanh CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn; Nghị quyết Trung ương bảy, khóa X về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn; Quy ết định của Đảng, Nhà nước về Ch ương trình qu ốc gia xây
87
dựng nông thôn mới; Nghị quyết Trung ương sáu, khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể
chế KTTT định hướng XHCN; Nghị quyết Trung ương bốn khóa X về chiến lược
biển; Nghị quyết Trung ương bảy khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí
hậu và quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường... các tỉnh ủy ban hành các nghị quyết,
quyết định về những vấn đề đó, triển khai th ực hiện. Kết quả thực hiện các ngh ị
quyết, quyết định này, đã thúc đẩy phát triển KTTT, tạo môi tr ường pháp lý cho
KTTT phát triển lành mạnh theo định hướng XHCN trên địa bàn tỉnh, các thành
phần kinh tế, các cá nhân tập thể đã có điều kiện thuận lợi, trong khai thác và phát
huy năng lực để phát triển. Các thành phần kinh tế, các chủ thể sản xuất kinh doanh
bước đầu có sự bình đẳng trong đối xử, hạn chế dần sự ưu đãi quá mức đối với
thành phần kinh tế nhà nước trên địa bàn tỉnh.
Trên cơ sở các quan điểm, nghị quyết, quyết định, chính sách của Đảng, Nhà
nước về bảo đảm quyền bình đẳng về chính trị của người dân trong các hoạt động
chính trị, xã hội, như: quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp quy định, các luật
về các quyền đó; Nghị quyết Trung ương bảy, khóa XI, một số vấn đề về tiếp tục
đổi mới, hoàn thiện HTCT từ Trung ương đến cơ sở;... các tỉnh ủy ban hành nghị
quyết về những vấn đề này và tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm quyền bình đẳng về
chính trị của người dân trong các hoạt động chính trị, xã hội.
Các tỉnh ủy đều ban hành và ch ỉ đạo thực hiện các quy ết định về tổ chức
nhân dân tham gia công tác xây dựng Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp, như:
các quyết định về lãnh đạo nhân dân tham gia góp ý kiến vào dự thảo Hiến pháp sửa
đổi, các văn bản dự thảo một số luật; một số văn kiện Đảng, nhất là dự thảo báo cáo
chính trị trình Đại hội Đảng toàn qu ốc các nhi ệm kỳ; các ch ủ trương quyết định
quan trọng của cấp ủy, chính quyền địa phương... trước khi ban hành; các cuộc tiếp
dân, tiếp xúc cử tri, các cuộc lấy phiếu tín nhiệm những chức danh cán bộ do nhân
dân bầu cử; giải quyết khiếu nại, tố cáo... Thông qua nh ững hoạt động này quyền
bình đẳng về chính trị của người dân được thực hiện.
Dựa chắc vào các ngh ị quy ết, quyết định của Đảng và Nhà n ước về phát
triển văn hóa, giải quyết những vấn đề xã hội, các tỉnh ủy đã ban hành nghị quyết và
những quyết định về những vấn đề nêu trên, tổ chức thực hiện kết hợp với thực hiện
88
CBXH. Nhờ đó, CBXH trong lĩnh vực văn hóa, xã hội từng bước được thực hiện.
Trong nhiệm kỳ 2010-2015, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã ban hành 8 nghị quyết về phát
triển kinh tế - xã hội liên quan đến nâng cao đời sống nhân dân và thực hiện CBXH;
tổ chức sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết của Đảng được tiến hành nghiêm túc,
tổng kết 19 nghị quyết, 11 chỉ thị liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội nâng cao
đời sống nhân dân [131, tr.11].
Thứ hai, tỉnh ủy lãnh đạo th ực hi ện CBXH bằng công tác tuyên truy ền,
thuyết phục, vận động các tổ chức trong HTCT, các tầng lớp nhân dân nhằm giác
ngộ, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức đúng trong thực hiện các nghị quyết
của tỉnh ủy về CBXH.
Các tỉnh ủy đã coi trọng và tăng cường công tác tư tưởng nhằm tuyên truyền,
nâng cao nhận thức thống nhất về các ngh ị quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, vận động
thuyết phục nhân dân thực hiện. Trước hết, các tỉnh ủy đã tập trung quán triệt trong
các tổ chức đảng, cán bộ và đảng viên các ngh ị quyết, quyết định của tỉnh ủy về
phát triển kinh tế - xã h ội, các ch ương trình gi ải quyết việc làm, gi ảm nghèo và
giảm nghèo bền vững, giải quyết những vấn đề xã hội tạo nhận thức cao và thống
nhất trong Đảng. Trên cơ sở đó, tiến hành quán triệt các nghị quyết, quyết định của
tỉnh ủy trong các tổ chức của HTCT từ tỉnh đến cơ sở và trong nhân dân.
Việc quán triệt nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về những vấn đề nêu trên
được đổi mới một bước ở phần lớn các tỉnh. Trong nhiều cuộc học tập, quán triệt
nghị quyết trong cán bộ chủ chốt tỉnh và ở một số cấp ủy trực thuộc đã có một số
báo cáo thực tiễn để minh họa; các cấp ủy, tổ chức đảng đều xây dựng và thông qua
chương trình hành động thực hiện nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy; ban tuyên
giáo tỉnh ủy thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết,
trong phối hợp với các cơ quan văn hóa, thông tin đại chúng trong tuyên truyền nghị
quyết của tỉnh ủy.
Các cấp ủy trực thuộc, nhất là các cấp ủy cấp huyện đã tăng cường lãnh đạo,
chỉ đạo việc học tập, quán triệt nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội gắn với thực hiện CBXH trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
89
trong các cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở xã, phường, thị trấn và trong các đoàn thể
chính trị - xã hội cơ sở. Phần lớn cấp ủy cơ sở đã chỉ đạo tổ chức quán triệt trong
nhân dân những chủ trương, giải pháp liên quan trực tiếp đến đời sống vật chất, tinh
thần của người dân trong các cuộc họp thôn, xóm, tổ dân phố...
Thứ ba, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH thông qua b ộ máy các cơ quan
nhà nước ở địa phương.
Các tỉnh ủy đều nhận thức rõ, trong điều kiện thực hiện KTTT định hướng
XHCN nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng có vai trò đặc biệt
quan trọng trong thực hiện CBXH nên đã tập trung lãnh đạo phát huy mạnh mẽ vai
trò của chính quyền địa phương, nhất là chính quyền tỉnh trong thực hiện CBXH.
Sau khi các ngh ị quyết, quyết định, chương trình của tỉnh ủy về phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội được ban hành các tỉnh uỷ đã chỉ đạo HĐND tỉnh cụ thể
hoá các ngh ị quy ết, quy ết định, ch ương trình đó thành các d ự th ảo ngh ị quy ết,
chương trình, đề án công tác c ủa HĐND. Ban thường vụ, thường trực tỉnh ủy đã
cho ý kiến về những vấn đề trọng tâm liên quan trực tiếp đến việc thực hiện CBXH,
định hướng thảo luận và ban hành các nghị quyết của HĐND tỉnh trong các kỳ họp
HĐND; chỉ đạo UBND xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện các nghị quyết,
quyết định, chương trình phát tri ển kinh tế, văn hóa, xã h ội, bảo đảm quyền của
người dân trong các ho ạt động chính trị, xã hội; thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về thực hiện CBXH, duy trì vi ệc chấp hành Hi ến pháp, pháp lu ật, các quy
định của địa phương, tạo môi trường pháp lý lành mạnh cho KTTT phát triển trên
địa bàn, xử lý kịp thời, nghiêm minh cá nhân, tập thể vi phạm pháp luật trong các
hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, các hoạt động nhân đạo, từ thiện, cứu
trợ khắc phục hậu quả thiên tai, hoạn nạn, các chính sách xã hội, các hoạt động đền
ơn, đáp nghĩa... làm tổn hại đến CBXH.
Thứ tư, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH thông qua các tổ chức đảng và đội
ngũ đảng viên, nhất là các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan,
ngành liên quan trực tiếp đến việc thực hiện CBXH.
Ban thường vụ tỉnh ủy đã lãnh đạo ban cán sự đảng chính quyền tỉnh thực
hiện chức năng, nhiệm vụ đạt kết quả trong lãnh đạo hoạt động của HĐND tỉnh về
90
thảo lu ận, ra ngh ị quy ết, xây d ựng và quy ết định ch ương trình ho ạt động của
HĐND tỉnh; lãnh đạo, chỉ đạo UBND tỉnh xây dựng chương trình, kế hoạch, các đề
án thực hiện nghị quyết của HĐND tỉnh về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo
đảm quyền chính trị của người dân; phát hiện và xử lý các sai phạm trong hoạt động
kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo thuận lợi để CBXH được thực hiện đạt kết quả. Nhiều
ban cán sự đảng chính quyền tỉnh đã duy trì thành nền nếp hàng quý, 6 tháng, 9
tháng, năm, việc chỉ đạo UBND tỉnh chuẩn bị báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
kinh tế, văn hóa, xã hội, QPAN liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người dân.
Ban thường vụ tỉnh ủy ở nhiều tỉnh đã duy trì đều đặn chế độ ban cán s ự
đảng chính quyền báo cáo về tình hình tố cáo và tiến độ giải quyết các vụ án trọng
điểm xâm hại tài sản công, quyền lợi người dân, cản trở lớn việc thực hiện CBXH.
Các tỉnh ủy luôn tăng cường lãnh đạo các tổ chức đảng và đảng viên ho ạt động
trong các ngành, lĩnh vực liên quan trực tiếp đến thực hiện CBXH, như: giải quyết
các th ủ tục về sản xu ất, kinh doanh, v ăn hóa, giáo d ục, đào tạo, y tế, lao động,
thương binh, xã hội... Các tỉnh ủy đặc biệt coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy
trực thuộc về lãnh đạo nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức
đảng; nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, phát huy vai trò tiên phong,
gương mẫu của đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần thiết thực
thực hiện CBXH.
Thứ năm, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH qua công tác tổ chức, cán bộ của
HTCT tỉnh, coi trọng công tác tổ chức, cán bộ trong chính quyền tỉnh.
Các tỉnh ủy đã tiến hành sắp xếp, kiện toàn hệ thống tổ chức của đảng từ tỉnh
đến cơ sở và đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động. Các tỉnh ủy đã tập trung lãnh
đạo nâng cao chất lượng cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy, nhất là cấp ủy cấp huyện; cấp ủy
trong chính quyền tỉnh, ban cán sự đảng chính quyền tỉnh; cấp ủy ở khối MTTQ và
các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh, đảng đoàn ở khối này; nâng cao chất lượng các
cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy và những cơ quan liên quan trực tiếp đến việc
giải quyết yêu cầu của dân, doanh nghiệp, đến thực hiện CBXH như giáo dục, y tế,
lao động, thương binh, xã hội, các cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo của dân và
cơ quan tiếp dân; thành lập mới ban nội chính, ban kinh tế tỉnh ủy.
91
Các tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng các đảng ủy
xã, phường, thị trấn; sắp xếp, kiện toàn các chi bộ, các ban quản lý thôn, xóm, các
tổ công tác MTTQ, chi hội đoàn thể; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thành lập và hoạt động các tổ chức xã hội; ở nhiều tỉnh đã triển khai khá rộng
rãi việc thành lập chi bộ cơ quan xã, gồm đảng viên làm việc tại cơ quan xã... Các
tỉnh ủy đã lãnh đạo sắp xếp kiện toàn các chi bộ tổ dân phố, hợp nhất một số chi
bộ thành một chi bộ, bảo đảm sự đồng bộ về tổ ch ức đảng và các chi h ội của
HTCT cơ sở.
Thứ sáu, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH thông qua việc phát huy vai trò
của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đồng thời tổ chức các
phong trào hành động cách mạng của nhân dân thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội,
nhân đạo, từ thiện ở địa phương.
Các tỉnh ủy tập trung lãnh đạo các t ổ ch ức này phát động, duy trì các
phong rào hành động cách mạng th ực hiện các ngh ị quy ết, quyết định, ch ương
trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, các quyền lợi của nhân dân, các hoạt động
nhân đạo, từ thiện... Ở nhiều tỉnh, thường trực tỉnh ủy đã duy trì thành nền nếp ba
tháng một lần tỉnh ủy làm việc với đảng đoàn khối MTTQ, đoàn thể tỉnh và làm
việc với cán bộ chủ chốt của các tổ chức này về tình hình ho ạt động; lắng nghe
những khó kh ăn, vướng mắc và nh ững đề xuất để có ch ủ trương, giải pháp gi ải
quyết kịp thời; chỉ đạo rà soát, bổ sung quy chế hoạt động của từng tổ chức và quy
chế ph ối hợp gi ữa đảng đoàn kh ối MTTQ, đoàn th ể tỉnh với ban cán s ự đảng
chính quyền tỉnh trong hoạt động nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế -
xã hội và thực hiện CBXH.
Nhiều tỉnh ủy đã chỉ đạo chặt chẽ việc hướng dẫn MTTQ, đoàn thể chính trị
- xã hội về công tác giám sát và ph ản biện xã hội đối với hoạt động của cấp ủy,
chính quyền, cán bộ, công chức, tập trung lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở, thực hiện tốt phương châm: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra". Qua đó,
phát huy vai trò, trách nhi ệm của MTTQ, đoàn thể - chính tr ị - xã h ội trong thực
hiện CBXH tại cơ sở.
92
Thứ bảy, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng nêu cao hành động gương
mẫu của cán bộ, đảng viên và phong cách làm vi ệc của tỉnh ủy theo hướng khoa
học, năng động và hiệu quả.
Các cấp ủy đã coi trọng lãnh đạo việc nêu cao tính ti ền phong, gương mẫu
của cán bộ, đảng viên trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và
thực hiện CBXH. Trong đó, tập trung chỉ đạo các cấp ủy bám chắc vào chức trách,
nhiệm vụ của đảng viên là những cán bộ công chức, đảng viên hoạt động ở nông
thôn, phường, thị trấn phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu trong thực hiện chức
trách, nhiệm vụ được giao kết hợp với thực hiện CBXH trên địa bàn, lĩnh vực hoạt
động của từng đảng viên.
Việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của tỉnh uỷ luôn được coi trọng;
phong cách làm việc theo kiểu thủ công, chuộng hình thức, "phép vua thua lệ làng",
chạy theo thành tích ở một số cấp ủy viên đã được hạn ch ế một bước khá lớn.
Phong cách lề lối làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát th ực tiễn, gắn bó với nhân
dân, lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhân dân, làm việc có chương trình, kế hoạch,
có trọng tâm, trọng điểm, từng công việc có cán bộ phụ trách và chịu trách nhiệm,
coi trọng tổng kết thực tiễn... đã được xây dựng, chiếm ưu thế trong hoạt động lãnh
đạo nói chung và trong lãnh đạo thực hiện CBXH nói riêng của nhiều tỉnh ủy và các
tỉnh ủy viên.
Thứ tám, tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH bằng công tác kiểm tra, giám sát
các tổ chức đảng và đảng viên thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH.
Việc kiểm tra, giám sát các cấp ủy, cán bộ, đảng viên về thực hiện các nghị
quyết, quyết định, chương trình công tác của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội, thực hiện các quyền của nhân dân trong hoạt động chính trị - xã hội và thực
hiện CBXH được các tỉnh ủy quan tâm, đạt kết quả quan trọng. Các tỉnh ủy đã tập
trung kiểm tra, giám sát các cấp ủy trực thuộc, nhất là cấp ủy cấp huyện và đảng
viên là cán bộ diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý về những hoạt động này và kiểm
tra dấu hiệu vi phạm CBXH.
Hình thức và ph ương pháp ki ểm tra, giám sát đã được đổi mới một bước.
Ngoài việc kiểm tra tr ực tiếp, gián tiếp, nhiều tỉnh ủy đã coi tr ọng kiểm tra theo
93
chuyên đề về thực hiện những vấn đề liên quan trực tiếp đến CBXH. Việc phối hợp
giữa ủy ban kiểm tra tỉnh ủy với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác kiểm
tra, giám sát đã được nhiều tỉnh ủy lãnh đạo đạt kết quả.
3.2.1.2. Những khuyết điểm, hạn chế
* Về nội dung lãnh đạo
Một là, các tỉnh ủy chưa có nhi ều chủ trương, giải pháp đem lại hiệu quả
cao trong lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước về thực hiện CBXH; còn thi ếu các ngh ị quyết chuyên đề về
thực hiện CBXH.
Phần lớn các tỉnh ủy chưa có nhiều chủ trương, giải pháp ngăn chặn có hiệu
quả việc vi phạm Luật tài nguyên, môi trường, quyền sở hữu trí tuệ. Tình trạng làm
hàng giả, "hàng nhái", "tín dụng đen", khai thác quá mức tài nguyên, khoáng sản
gây ô nhiễm môi trường diễn ra ở hầu hết các tỉnh, có nơi nghiêm trọng. Nhiều tỉnh
ủy chưa tập trung cao độ và còn nhiều lúng túng trong lãnh đạo tạo môi trường pháp
lý thuận tiện để KTTT phát tri ển, cạnh tranh lành mạnh. Việc lãnh đạo thực hiện
các quyền của người dân do Hi ến pháp, pháp luật quy định có lúc còn ch ưa chặt
chẽ, sâu sát, kết quả thấp. Các tỉnh ủy chưa có các ngh ị quyết chuyên đề về thực
hiện CBXH.
Việc lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở chưa thật chặt chẽ, thành
nền nếp; một cấp ủy chưa quan tâm lãnh đạo việc lấy phiếu tín nhi ệm các ch ức
danh cán bộ do nhân dân bầu, tình trạng cục bộ, phe nhóm, tranh thủ phiếu vẫn còn
xảy ra. Việc phản biện xã hội, giám sát của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội
hầu như chưa được các cấp ủy quan tâm lãnh đạo quyết liệt. Các tỉnh ủy còn lúng
túng trong tìm các giải pháp khả thi nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, khoa
học và công ngh ệ, quản lý các ho ạt động văn hóa, tôn giáo, tín ng ưỡng và ng ăn
chặn các ho ạt động lợi dụng lễ hội, tôn giáo, tín ng ưỡng vì mục đích riêng; lúng
túng trong lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội về giáo dục đào tạo; quản lý, giám
sát các hoạt động y tế tư nhân, ngăn chặn các tiêu cực trong ngành y tế và hoạt động
nhân đạo, từ thiện, khắc phục hậu quả thiên tai, rủi ro, hỗ trợ những người yếu thế...
94
Hai là, các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan nhà nước ở địa phương tổ
chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về thực hiện CBXH
còn yếu kém, bất cập.
Sự yếu kém, bất cập nêu trên thường được thể hiện ở việc các cấp ủy lãnh
đạo, chỉ đạo các cơ quan chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội chưa thường xuyên gắn chặt với thực hiện CBXH. Một số chương
trình, kế hoạch đề án về phát triển kinh tế - xã hội của chính quyền chưa coi trọng
giải quyết những vấn đề xã hội và thực hiện CBXH, khi triển khai thực hiện đã nảy
sinh những vấn đề phức tạp gây khó khăn không nhỏ cho việc thực hiện CBXH.
Ba là, xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ chuyên trách trong th ực hiện nh ững vấn đề xã hội và th ực hiện
CBXH ở nhiều địa phương còn lúng túng và bất cập.
Tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên trách thực hiện những vấn đề về chính
sách xã hội ở các tỉnh tuy đã được các cấp ủy lãnh đạo sắp xếp, kiện toàn, song
nhìn chung còn ch ưa khoa học, còn ch ồng chéo về chức năng nhiệm vụ, nhất là
các bộ phận của cơ quan làm nhiệm vụ lao động, thương binh, xã hội với các cơ
quan làm nhiệm vụ y tế, giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể thao... Chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan này nhìn chung còn th ấp, lại
chưa được bồi dưỡng về chuyên môn, nghi ệp vụ về th ực hi ện CBXH. Vì v ậy,
trong thực thi công vụ thường xảy ra tình trạng cán bộ, công chức thực hiện chức
trách, nhiệm vụ của mình nhưng chưa đặt trong quan hệ với việc thực hiện CBXH
trong lĩnh vực đó.
Bốn là, lãnh đạo phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước với các đoàn
thể chính trị - xã hội và các lực lượng trong thực hiện CBXH chưa được coi trọng
và còn lúng túng.
Sự lãnh đạo của các cấp ủy về sự phối hợp giữa chính quyền cùng cấp với
MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp, các thành phần kinh tế,
các tổ chức xã hội ở địa phương trong thực hiện CBXH còn lúng túng. Ở nhiều nơi
chưa có quy chế phối hợp một cách cụ thể, rõ ràng giữa các tổ chức này trong thực
hiện CBXH. Việc phản biện xã hội, giám sát của MTTQ và các tổ chức chính trị -
95
xã hội hầu như chưa được các cấp ủy thường xuyên quan tâm lãnh đạo. Khá nhiều
nơi ở các tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ninh, Hưng Yên chưa triển khai xây
dựng, tổ chức quán triệt và hướng dẫn thực hiện quy chế phối hợp giữa chính quyền
cùng cấp với MTTQ, các đoàn thể trong thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở
địa phương.
* Về phương thức lãnh đạo
Một là, các tỉnh ủy chưa ban hành nghị quyết chuyên đề về thực hiện CBXH
trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Nhìn chung, các tỉnh ủy chưa xây dựng và ban hành nghị quyết tổng thể về
thực hiện CBXH. Các ch ủ trương, quan điểm, giải pháp về thực hiện CBXH ch ủ
yếu thể hiện ở những quan điểm, giải pháp chung trong nghị quyết đại hội đảng bộ
tỉnh các nhiệm kỳ. Việc cụ thể hóa, triển khai thực hiện những quan điểm, giải pháp
chung về CBXH chủ yếu được thể hiện trong các nghị quyết về phát triển kinh tế,
xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa, xã hội, HTCT... trong các
nhiệm kỳ.
Chất lượng khá nhi ều nghị quyết, quyết định về phát tri ển kinh tế, xã hội,
giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa, xã hội, HTCT... còn hạn chế; còn
tình trạng ban hành nhiều nghị quyết, quyết định; một số nghị quyết, quyết định về
các lĩnh vực này, chưa thật sự gắn kết với việc thực hiện CBXH. Việc xây dựng các
nghị quyết của tỉnh ủy có nh ững điểm, những khâu chưa được chuẩn bị chu đáo,
nhất là khâu điều tra, kh ảo sát thực tiễn, thu th ập thông tin và x ử lý thông tin để
hình thành các dự thảo nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy. Chất lượng nhiều bản dự
thảo nghị quyết, quyết định còn thấp, nhất là các giải pháp thực hiện. Việc tổ chức
lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức đảng, các tổ chức trong HTCT và nhân dân về
các dự thảo nghị quyết có lúc, có nơi còn hình th ức. Việc tuyên truyền, vận động
nhân dân thực hiện CBXH chưa được coi trọng.
Hai là, trong lãnh đạo thực hiện CBXH các tỉnh ủy chưa phát huy đầy đủ sức
mạnh của công tác vận động, tuyên truyền, thuyết phục các lực lượng xã hội thực
hiện chủ trương, nghị quyết của tỉnh ủy.
96
Lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước, nghị quyết của tỉnh ủy về CBXH tỉnh ủy phải tuyên truy ền, vận
động, thuyết phục các cấp ủy trực thuộc, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã
hội, các lực lượng xã hội thấu suốt các chủ trương, nghị quyết và biến thành hành
động thực tiễn. Tuy nhiên, thời gian qua các tỉnh ủy còn biểu hiện tính hành chính
trong công việc này, chưa thật sự coi trọng và phát huy đầy đủ sức mạnh của công
tác tư tưởng trong lãnh đạo thực hiện CBXH. Chất lượng học tập, quán triệt nghị
quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giải quyết việc
làm, giảm nghèo và gi ảm nghèo bền vững, giải quyết những vấn đề xã hội, nhìn
chung còn thấp, có biểu hiện qua loa. Thời gian dành cho việc học tập, quán triệt
các nghị quyết, quyết định ở nhiều nơi có xu hướng giảm dần từ tỉnh xuống cơ sở.
Ở phần lớn các chi bộ trực thuộc đảng ủy xã, phường, thị trấn việc học tập,
quán triệt nghị quyết của quận, huyện ủy về những vấn đề nêu trên được triển khai
một cách hình thức trong thời gian rất ngắn. Việc chỉ đạo của một số ban tuyên giáo
cấp ủy đối với phương tiện truyền thông trong tuyên truy ền, phổ biến nghị quyết
của tỉnh ủy, huyện uỷ về những vấn đề nêu trên có lúc còn nghèo về nội dung, đơn
điệu về hình thức.
Khá nhiều tổ ch ức đảng khi học tập, quán tri ệt nghị quy ết của tỉnh ủy về
những vấn đề nêu trên chưa thảo luận, xây dựng và thông qua ch ương trình hành
động thực hiện nghị quyết. Ở nhiều nơi, tuy đã quan tâm đến công việc này, song
chương trình hành động còn chung chung, chưa có các biện pháp đột phá và chưa
thật gắn chặt với điều kiện cụ thể của địa phương.
Ba là, sự lãnh đạo, chỉ đạo của nhiều tỉnh ủy đối với chính quyền tỉnh trong
thực hiện CBXH có lúc ch ưa cụ thể, sâu sát, nhất là về quản lý nhà nước đối với
các hoạt động ở địa phương và ngăn chặn, đẩy lùi các tiêu cực, cản trở việc thực
hiện CBXH.
Tỉnh ủy lãnh đạo các c ơ quan nhà n ước ở địa ph ương th ể ch ế hóa ch ủ
trương, nghị quyết lãnh đạo thực hiện CBXH của tỉnh ủy trong thời gian qua còn
những hạn chế như: chính quyền tỉnh cụ thể hoá các nghị quyết, quyết định của tỉnh
ủy về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, các chương trình giải quyết việc làm, giảm
97
nghèo và giảm nghèo bền vững, giải quyết những vấn đề xã hội, thực hiện Quy chế
dân chủ ở cơ sở... có lúc, có nơi còn chưa kịp thời.
Quy trình lãnh đạo chung là sau khi tỉnh ủy xây dựng, thảo luận quyết định
và ban hành các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội; các chương trình giải quyết việc làm, giảm nghèo; giải quyết những vấn đề xã
hội; thực hiện các quyền của người dân... tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền tỉnh
tiến hành thể chế hóa các nghị quyết, quyết định đó thành nghị quyết, chương trình,
kế ho ạch về mặt Nhà nước. Bởi vậy, thời gian từ khi xây d ựng, ban hành ngh ị
quyết, quyết định của tỉnh ủy về những vấn đề nêu trên đến khi được chính quyền
tỉnh cụ thể hóa và triển khai thực hiện trong toàn dân là khá dài. Song vấn đề ở chỗ,
việc thể chế hóa nhiều khi chưa sát với điều kiện cụ thể của địa phương, khó thực
hiện. Chương trình, kế hoạch của chính quyền tuy toàn diện nhưng thiếu biện pháp
đột phá vào nh ững khâu khó, vi ệc khó. Không ít ch ương trình, nghị quyết chậm
được triển khai thực hiện, việc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm chưa được coi trọng.
Việc lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh ủy đối với chính quyền tỉnh trong thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về thực hiện CBXH ở nhiều nơi còn lúng túng. Sự lãnh
đạo của tỉnh ủy đối với chính quyền tỉnh và chính quy ền các cấp về xử lý, ng ăn
chặn, loại trừ các hoạt động trái pháp luật, tổn hại đến kinh tế, xã hội, vi phạm dân
chủ, gây khó khăn cho việc thực hiện CBXH có lúc, có nơi chưa kịp thời, nghiêm
minh làm giảm kết quả thực hiện CBXH.
Nhiều tỉnh ủy còn hạn chế, bất cập trong lãnh đạo các cơ quan tư pháp. Việc
điều tra, truy tố, xét xử của một số cơ quan tư pháp địa phương còn sai sót, lọt tội
phạm, gây oan sai gây nên dư luận xấu. Vai trò của cán cân công lý trong bảo đảm
CBXH thể hiện qua cơ quan công quyền ở khá nhiều nơi mờ nhạt và suy giảm.
Bốn là, nhiều tỉnh ủy chưa chỉ đạo chặt chẽ các cấp ủy về phát huy vai trò
của cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên, nhất là các tổ chức đảng và đảng
viên hoạt động trong các c ơ quan, ngành liên quan tr ực tiếp đến vi ệc th ực hi ện
CBXH trong lãnh đạo thực hiện CBXH.
Việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng và đảng viên trong
thực hiện CBXH của các tỉnh ủy và nhiều cấp ủy, nhìn chung còn chưa mạnh mẽ.
98
Vai trò, trách nhiệm của đa số các tổ chức đảng và đảng viên ở các chi bộ, đảng bộ
xã, ph ường, th ị tr ấn ch ưa được phát huy m ạnh và th ể hi ện rõ trong th ực hi ện
CBXH trên địa bàn. Nhiều tổ chức đảng chưa lãnh đạo có hiệu quả việc phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội và ngăn chặn, đẩy lùi những tiêu cực, tệ nạn xã hội trên
địa bàn, gây khó kh ăn, phức tạp cho vi ệc thực hiện CBXH và làm gi ảm kết quả
thực hiện CBXH.
Nhiều đảng viên chưa tích cực và chưa thể hiện rõ vai trò tiên phong, gương
mẫu trong thực hiện CBXH, khá nhiều đảng viên không có việc làm, gia đình còn
nghèo, việc học hành của con cái họ và vi ệc chữa bệnh còn gặp nhiều khó kh ăn,
đang rất cần được tạo thuận lợi để cải thiện, thu hẹp khoảng cách về cuộc sống với
nhiều gia đình khác tại địa phương.
Năm là, công tác tổ chức, cán bộ bảo đảm sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với
thực hiện CBXH, nhất là trong chính quyền tỉnh còn khá nhiều hạn chế, bất cập.
Việc kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền, MTTQ và
các đoàn thể chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ quan còn nhiều yếu kém, bất cập và
lúng túng. Ch ức năng, nhi ệm vụ của các c ơ quan trong chính quy ền tỉnh còn
những điểm chưa cụ thể rõ ràng, còn có điểm chồng chéo. Chất lượng cán bộ đoàn
thể, nhất là ở cấp xã còn thấp, chưa thực hiện tốt chức năng bảo vệ quyền lợi của
đoàn viên, hội viên.
Công tác cán bộ của các tỉnh ủy còn nhiều yếu kém và chậm đổi mới. Chất
lượng quy ho ạch cán bộ, nhìn chung còn th ấp, chưa quy ho ạch được cán bộ lãnh
đạo quản lý từ hai nhiệm kỳ trở lên, nhất là cán bộ của các cơ quan chính quyền tỉnh
liên quan trực tiếp đến thực hiện CBXH. Bên cạnh đó là tình tr ạng lơi lỏng trong
quản lý cán bộ, trong quy hoạch và lúng túng trong quản lý cán bộ đương chức hoạt
động trong các lĩnh vực, đơn vị liên quan trực tiếp đến thực hiện CBXH. Việc bồi
dưỡng cập nhật kiến thức và nâng cao trình độ cho cán bộ chưa thường xuyên, nhất
là những cán bộ, công chức hoạt động trong các ngành, lĩnh vực liên quan trực tiếp
đến thực hiện CBXH.
Sáu là, vai trò của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội, xã hội, xã hội -
nghề nghiệp ở nhiều nơi trong phát động, duy trì các phong trào hành động cách
99
mạng thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, nhân đạo, từ thiện... chưa được cấp ủy
phát huy mạnh mẽ và thường xuyên.
Nhiều tỉnh ủy và các c ấp ủy trực thuộc, cấp ủy cơ sở còn lúng túng trong
lãnh đạo MTTQ và các đoàn thể chính tr ị - xã h ội trong phát động, duy trì các
phong trào hành động cách mạng thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, nhân đạo, từ
thiện..., nhất là về nội dung các phong trào hành động cách mạng và việc duy trì các
phong trào. Một số cấp ủy chưa thực sự quan tâm tạo điều kiện cần thiết để các tổ
chức này hoạt động có hiệu quả, thực sự là cơ quan đại diện và bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của đoàn viên, hội viên.
Nhìn chung, hoạt động giám sát của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội
đối với thực hiện CBXH của cấp ủy, chính quyền còn mang nặng tính hình th ức.
Việc phản biện xã hội của các tổ chức này đối với thực hiện CBXH của cấp ủy,
chính quyền còn rất hạn chế, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giải
quyết đơn thư của dân, th ực hiện giải phóng mặt bằng, tiến độ triển khai các d ự
án..., nhiều vấn đề không được giám sát.
Bảy là, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên nhìn chung chưa được thể hiện
thường xuyên trong thực hiện CBXH; phong cách, lề lối làm việc của nhiều tỉnh ủy
trong lãnh đạo thực hiện CBXH chưa được đổi mới mạnh mẽ.
Tính tiên phong, gương mẫu của một bộ phận không nh ỏ đảng viên trong
hoạt động ở địa phương và trong th ực hiện CBXH ch ưa thể hiện rõ. Phong cách
lãnh đạo, lề lối làm việc nói chung, phong cách lãnh đạo, lề lối làm việc trong lãnh
đạo thực hiện CBXH của một số tỉnh ủy chưa được đổi mới mạnh mẽ. Phong cách
lãnh đạo, lề lối làm vi ệc của một số tỉnh ủy viên còn ch ịu ảnh hưởng của phong
cách lãnh đạo thực hiện CBXH trong cơ chế hành chính, tập trung, bao cấp, còn có
biểu hiện hình thức, bệnh thành tích.
Việc tập trung chỉ đạo giải quyết những vấn đề nảy sinh trong nhân dân liên
quan đến CBXH và vi phạm CBXH của một số cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy và cán bộ
đứng đầu các sở ban ngành tỉnh còn chưa kịp thời, dứt điểm gây bức xúc trong nhân
dân ở một số địa phương.
100
Tám là, công tác kiểm tra, giám sát của tỉnh ủy đối với các tổ chức đảng và
đảng viên về thực hiện CBXH còn yếu, chất lượng chưa cao, chưa triển khai các
cuộc kiểm tra chuyên đề.
Công tác kiểm tra, giám sát của các tỉnh ủy đối với các cấp ủy trực thuộc
trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về CBXH có
lúc, có nơi chưa thường xuyên và có biểu hiện lúng túng trong công tác giám sát. Vì
thế, một số khuyết điểm, sai sót của một số tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, trong
đó có những vi phạm về CBXH chưa được phát hiện, ngăn chặn ngay từ khi mới
manh nha. Công tác ki ểm tra của một số tỉnh ủy về thực hiện những nghị quyết,
quyết định về thực hiện CBXH, kiểm tra dấu hiệu vi phạm CBXH còn hạn chế. Khá
nhiều vi ph ạm về CBXH do nhân dân, báo chí phát hi ện, các cơ quan ch ức năng
mới tiến hành điều tra, xử lý.
Công tác kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy cấp huyện và nhiều cấp ủy cơ
sở đối với các tổ chức đảng trong cơ quan chính quyền cùng cấp về lãnh đạo thực
hiện CBXH còn chưa kịp thời, thậm chí nhiều nơi còn buông lỏng dẫn đến những vi
phạm. Đã có những vi phạm trái đạo lý, ảnh hưởng không tốt đến quan điểm, chủ
trương đúng đắn của Đảng, chính sách của Nhà nước về thực hiện CBXH, nh ư:
biển thủ trợ cấp người có công, bớt xén chế độ trợ cấp những gia đình chịu thảm
họa thiên tai, hoạn nan... Song, công tác kiểm tra của nhiều cấp ủy chậm phát hiện
và xử lý.
Ở một tỉnh phía Bắc ĐBSH, ngày 13/8/2015 Cơ quan Cảnh sát điều tra (Bộ
Công an) đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội Cố ý làm trái quy định của
Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng tại hai Dự án BT (xây dựng-
chuyển giao), gồm Dự án xây dựng khu quảng trường, công viên tỉnh và Dự án cầu
- đường trên địa bàn tỉnh từ năm 2011 đến năm 2013 [37, tr.3]. Kênh truyền hình
ANTT.VN (truyền hình An ninh), ngày 16/4/2015 đưa tin: "Theo kết luận thanh tra
việc thực hiện pháp luật về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống
tham nhũng đối với tỉnh Hà Nam cho bi ết, đã phát hiện và xử lý 11 cán b ộ, đảng
viên ở tỉnh có vi phạm liên quan đến các vụ việc tham nhũng". Vụ đường dây "ăn
101
đất" ở thành phố Hải Dương rất phức tạp, tinh vi được Thủ tướng Chính phủ chỉ
đạo khởi tố [68, tr.4].
3.2.2. Nguyên nhân và kinh nghiệm
3.2.2.1. Nguyên nhân
* Nguyên nhân của ưu điểm
Một là, thành tựu to lớn và có ý ngh ĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và kết quả đổi mới ở các
tỉnh ĐBSH tạo tiền đề và cơ sở vững chắc để các tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH
đạt kết quả.
Thành tựu của 30 năm đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng và
kết quả đổi mới ở các tỉnh ĐBSH dưới sự lãnh đạo của các tỉnh ủy tạo thuận lợi lớn
để các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả. Thành tựu và kết quả
ấy, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy, cổ vũ các tỉnh ủy, đảng bộ và nhân dân ở các
tỉnh ĐBSH vươn lên mạnh mẽ giải quyết ngày càng hi ệu quả hơn việc phát triển
kinh tế - xã hội, giải quyết những vấn đề xã hội và thực hiện có kết quả CBXH.
Hai là, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các tỉnh ĐBSH được bảo
đảm, đời sống của tuyệt đại cư dân ngày càng được nâng cao, nhân dân tin tưởng
vào sự lãnh đạo của Đảng, của tỉnh ủy, các cấp ủy, đã tích cực tham gia các hoạt
động xã hội và thực hiện CBXH thông qua các đoàn thể chính trị - xã hội và các tổ
chức xã hội.
An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở các tỉnh ĐBSH được bảo đảm là
nhân tố đặc biệt quan trọng để huy động mọi nguồn lực vào phát triển kinh tế, nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và giải quyết những vấn đề xã hội.
Từ đó, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo công cuộc đổi mới của Đảng, trước
hết là sự lãnh đạo của tỉnh ủy, các cấp ủy ngày càng được củng cố, nâng cao; nhân
dân tích cực tham gia vào thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, của tỉnh ủy
về phát tri ển kinh tế - xã h ội và th ực hiện CBXH bằng các ho ạt động xã hội do
MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội tại địa phương.
Ba là, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng được các tỉnh ủy coi trọng,
thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện trong toàn đảng bộ tỉnh đạt kết quả quan
102
trọng, năng lực lãnh đạo của các cấp ủy, nhất là tỉnh ủy đối với thực hiện CBXH
ngày càng được nâng lên.
Các tỉnh ủy đã coi tr ọng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đạt kết quả cuộc vận
động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, năng lực lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội nói
chung và lãnh đạo thực hiện CBXH nói riêng của các cấp ủy, nhất là tỉnh ủy, chất
lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ngành, các
cấp ngày càng được nâng lên, th ể hiện ngày càng rõ h ơn trong lãnh đạo, tổ chức
thực hiện CBXH tại địa phương.
Bốn là, sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân,
do dân và vì dân được triển khai liên tục, rộng khắp ở các tỉnh ĐBSH đạt kết quả
đáng khích lệ, năng lực triển khai thực hiện và quản lý nhà nước các hoạt động thực
hiện CBXH được nâng lên.
Các tỉnh ủy ở ĐBSH đã tăng cường lãnh đạo xây d ựng nhà n ước pháp
quyền Việt Nam XHCN c ủa dân, do dân và vì dân trên địa bàn tỉnh trong điều
kiện thực hiện KTTT định hướng XHCN từng bước đạt kết quả. Chính quyền từ
tỉnh đến cơ sở từng bước được xây dựng theo yêu cầu mới, dần dần thích ứng với
nền KTTT ở nước ta. Năng lực, trình độ triển khai thực hiện có kết quả các nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã h ội, quản lý nhà nước các ho ạt động này nói chung, tổ
chức và quản lý nhà nước việc thực hiện CBXH nói riêng của chính quyền các cấp
được nâng lên. Đây là nhân tố rất quan trọng để thực hiện CBXH ở các tỉnh đúng
đắn, hiệu quả.
Năm là, các nghị quyết, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quyền công dân, quyền con người tạo cơ sở
chính trị, pháp lý để các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả.
Đảng đã ban hành các nghị quyết về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo
đảm quyền công dân, Chính phủ đã xây dựng và triển khai các chương trình quốc
gia về: phát triển kinh tế, tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn
mới; xã hội hóa giáo dục, y tế; phòng chống tham nhũng; cải cách hành chính...; các
chính sách đúng đắn về giải quyết những vấn đề xã hội như... đền ơn, đáp nghĩa, hỗ
trợ khắc phục hậu quả thiên tai, hoạn nạn, trợ cấp những người yếu thế... Đây là cơ
103
sở chính trị, pháp lý để các tỉnh ủy đề ra các nghị quyết, quyết định, chương trình
phát triển kinh tế - xã h ội đúng đắn tổ chức thực hiện thắng lợi và lãnh đạo thực
hiện CBXH đạt kết quả.
* Nguyên nhân của những khuyết điểm, hạn chế
Thứ nhất, năng lực và kinh nghi ệm lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều
kiện hiện nay của các tỉnh ủy và cán bộ chủ chốt các cấp, năng lực tham mưu của
các cơ quan tham mưu, giúp việc tỉnh ủy còn nhiều hạn chế, bất cập.
Các tỉnh ủy viên hầu như chưa được đào tạo, bồi dưỡng một cách cơ bản, hệ
thống về th ực hiện CBXH trong điều kiện thực hiện KTTT định hướng XHCN.
Kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện công việc này của các tỉnh ủy, cán bộ chủ chốt các
cấp trong tỉnh còn chưa nhiều, nên họ khó tránh khỏi lúng túng và sai sót. Cạnh đó,
năng lực và kinh nghiệm của phần lớn cơ quan, cán bộ tham mưu của tỉnh ủy về
tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều
kiện hiện nay còn rất hạn chế.
Thứ hai, nhiều cấp ủy cấp huyện và cấp ủy xã, phường, thị trấn chưa thường
xuyên quan tâm và còn bất cập trong lãnh đạo nâng cao năng lực quản lý nhà nước
của chính quyền cùng cấp đối với mọi hoạt động trên địa bàn, nhất là ngăn chặn các
hoạt động làm phương hại đến thực hiện CBXH.
Những yếu kém và bất cập nêu trên xảy ra khá ph ổ biến ở các địa phương
của các tỉnh ở ĐBSH, nhất là sự bất cập của một số cấp ủy cấp huyện và nhiều cấp
ủy cấp xã trong lãnh đạo nâng cao chất lượng hoạt động quản lý nhà nước của chính
quyền cùng cấp đối với mọi hoạt động trên địa bàn; việc ngăn chặn chưa kịp thời
các hoạt động làm ph ương hại đến thực hiện CBXH ở địa phương làm cho vi ệc
lãnh đạo thực hiện CBXH khó khăn phức tạp thêm, thậm chí còn phủ định kết quả
thực hiện CBXH đã đạt được.
Thứ ba, sự lãnh đạo, chỉ đạo của các tỉnh ủy đối với cải cách hành chính, cải
cách tư pháp còn chậm chạp, chưa quyết liệt, chưa đạt yêu cầu.
Sự lãnh đạo, chỉ đạo của các tỉnh ủy đối với cải cách hành chính nhà nước
chậm chạp, kết quả hạn chế nên nhiều thủ tục hành chính còn rườm rà, gây phiền hà
và hạn chế việc thu hút các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm đầu tư phát triển kinh tế
104
- xã hội ở địa phương và góp phần thực hiện CBXH. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của các
tỉnh ủy đối với cải cách tư pháp còn chậm, kết quả chưa cao làm cho nhiều cơ quan
tư pháp địa phương không thể hiện rõ vai trò là cán cân công lý ở địa phương, cơ
quan công quyền bảo đảm CBXH, thậm chí có cơ quan, có vụ việc gây oan sai làm
tăng bất CBXH.
Thứ tư, một số tỉnh ủy, cấp ủy cấp huyện chưa đổi mới mạnh mẽ sự lãnh đạo
đối với MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội; các cấp ủy cấp xã còn nhiều lúng
túng trong lãnh đạo các tổ chức này và hầu như chưa quan tâm lãnh đạo hoạt động
của các tổ chức xã hội trên địa bàn.
Tình hình nêu trên là một nhân tố chủ yếu của tình trạng chất lượng tham gia
vào thực hiện CBXH trên địa bàn của MTTQ, các đoàn thể chính tr ị - xã h ội ở
nhiều nơi thấp. Đáng quan tâm là, phần lớn cấp ủy xã, phường, thị trấn chưa quan
tâm lãnh đạo về nội dung hoạt động của các tổ chức xã hội có biểu hiện khoán trắng
công việc này cho chi ủy, chi bộ thôn, xóm, tổ dân phố nên vai trò của các tổ chức
này trong th ực hiện CBXH mờ nh ạt, ảnh hưởng đến kết quả lãnh đạo thực hiện
CBXH của tỉnh ủy.
Thứ năm, sự suy thoái kinh tế thế giới và trong nước những năm qua, những
yếu kém trong ch ống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm ở các tỉnh, sự tác động
mạnh của mặt trái KTTT.
Sự suy thoái kinh t ế thế giới và trong n ước những năm qua tác động rất
lớn đến phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh ĐBSH làm cho kinh tế - xã hội phát
triển chậm gây khó kh ăn lớn cho thực hiện CBXH. Cạnh đó là việc chống tham
nhũng, lãng phí, l ợi ích nhóm trong m ột bộ ph ận cán b ộ, đảng viên còn nhi ều
yếu kém, chưa đạt yêu cầu đề ra; chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách cơ bản
sẽ còn cản tr ở, gây khó kh ăn lớn cho vi ệc thực hiện CBXH, th ậm chí còn h ủy
hoại thành tựu CBXH ở địa phương. Mặt trái KTTT tác động mạnh ở các tỉnh
làm gia tăng và phức tạp hơn những vấn đề xã hội, gây khó khăn và phức tạp cho
việc thực hiện CBXH.
Thứ sáu, Đảng, các cấp ủy, trong đó có tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH
trong điều kiện hiện nay ở nước ta là vấn đề mới và khó; nhiều vấn đề chưa được
105
làm sáng tỏ về lý luận; một số chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế - xã hội
có điểm chưa cụ thể, phù hợp.
Những nhân tố nêu trên tạo nên nh ững khó kh ăn trong ban hành các ngh ị
quyết của tỉnh ủy về lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH. Khá
nhiều chính sách công chất lượng thấp khi ban hành gây bức xúc trong nhân dân và
dư luận, nhất là trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, giao thông, y tế, bảo hiểm xã hội,
vệ sinh an toàn thực phẩm, quyền lợi và trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân, tập thể
đối với môi trường, xã hội v.v..
3.2.2.2. Những kinh nghiệm
Một là, các tỉnh uỷ quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương, chính sách lớn
của Đảng và Nhà nước về tiến bộ, CBXH, trên cơ sở đó kịp thời đề ra nghị quyết và
tổ ch ức th ực hiện nghị quy ết về phát tri ển kinh tế - xã h ội đáp ứng yêu cầu về
CBXH ở địa phương trong từng bước phát triển.
Trong thời gian qua, nhiều tỉnh ủy ở ĐBSH đã quán triệt sâu sắc quan điểm
của Đảng: "Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng
chính sách phát triển" [24, tr.101] trong mọi hoạt động của mình, nhất là trong xây
dựng, ban hành các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội. Trong từng bước thực
hiện các nghị quyết ấy, tỉnh ủy lãnh đạo kết hợp chặt chẽ với việc lãnh đạo cụ thể
hóa và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và với việc thực hiện CBXH thì kinh tế -
xã hội phát triển, thực hiện CBXH ngày càng đạt kết quả cao hơn và vững chắc.
Hai là, các tỉnh ủy tập trung lãnh đạo chính quy ền tỉnh tổ chức thực hiện
thắng lợi chủ trương, nghị quyết của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH; phối hợp chặt chẽ
với lãnh đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể
chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội tham gia vào thực hiện CBXH ở địa phương.
Từ thực tiễn ở ĐBSH thấy rằng, tỉnh ủy tập trung lãnh đạo xây dựng, nâng
cao chất lượng chính quyền từ tỉnh đến cơ sở vững mạnh, trong đó, coi trọng lãnh
đạo cải cách hành chính, c ải cách tư pháp, xây d ựng chính quy ền các cấp vững
mạnh thực sự của dân, do dân và vì dân trong mọi hoạt động và thực hiện CBXH tại
địa phương, góp phần rất lớn vào kết quả lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy.
Đồng thời, tỉnh ủy kết hợp chặt chẽ hoạt động này với lãnh đạo đổi mới nội dung,
106
phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã
hội, hướng vào phát động, duy trì các phong trào hành động cách mạng, nhân đạo,
từ thiện, đem lại lợi ích thiết thực cho hội viên... Thông qua các tổ chức này nhân
dân thực hiện việc giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của các cơ quan
nhà nước ở địa phương là nhân tố rất quan trọng để CBXH được thực hiện tốt hơn.
Ba là, bám sát thực tiễn, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về CBXH
để có ch ủ tr ương, giải pháp phát tri ển kinh tế - xã h ội đúng đắn nhằm đáp ứng
những yêu cầu thực hiện CBXH ở địa phương.
Trong thực hiện CBXH, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc phân
phối công bằng và ch ỉ rõ: "Không s ợ thiếu, chỉ sợ không công b ằng; Không sợ
nghèo chỉ sợ lòng dân không yên [63, tr.185]. Ng ười nhấn mạnh việc phân ph ối
theo lao động: "Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ
cũng công điểm như nhau. Đó là chủ nghĩa bình quân. Phải tránh chủ nghĩa bình
quân" [61, tr.410].
Trong điều kiện thực hiện KTTT hi ện nay nhi ều cấp ủy ở ĐBSH đã nhận
thức và vận dụng tốt tư tưởng nêu trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xác định
chủ trương, những quy định ưu đãi cá nhân, tổ chức huy động mọi nguồn lực để
phát triển sản xuất, kinh doanh hiệu quả như vay vốn, thuê mặt bằng... Sự ưu đãi đó,
tùy theo đóng góp của họ cho xã hội, không ưu đãi bình quân. Nhiều chủ thể sản
xuất, kinh doanh được thụ hưởng thỏa đáng thành quả của họ theo sự đóng góp cho
xã hội. Ở các địa phương ngày càng nhiều người giàu có chính đáng. Những người
này lại đóng góp tích cực về mọi mặt để thực hiện CBXH ở địa phương.
Bốn là, dựa chắc vào nhân dân, động viên nhân dân phát hiện những cán bộ,
đảng viên, tổ chức vi phạm quyền dân chủ, tham nhũng, lãng phí để xử lý kịp thời,
nghiêm minh.
Các tỉnh ủy ở ĐBSH đã nhận thức sâu sắc vai trò của nhân dân trong mọi
hoạt động ở địa phương, đặc biệt là trong phát hi ện những cán bộ, đảng viên, tổ
chức vi phạm quyền dân chủ, tham nhũng, lãng phí. Trên cơ sở đó, các cấp ủy trong
tỉnh đã dựa chắc vào nhân dân để tiến hành công việc này, đồng thời xử lý kịp thời,
nghiêm minh những cán bộ, đảng viên, tổ chức vi ph ạm tạo thuận lợi để tỉnh ủy
lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả.
107
Tiểu kết chương 3
Trong những năm qua các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH đạt
kết qu ả quan tr ọng bước đầu, góp ph ần to l ớn vào thành t ựu đổi mới của địa
phương. Tuy nhiên, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với thực hiện CBXH vẫn còn
nhiều hạn chế, yếu kém và bất cập, đáng quan tâm là: chưa có nhiều chủ trương,
giải pháp đem lại hiệu quả cao về lãnh đạo thực hiện CBXH; nhi ều tỉnh ủy còn
hạn chế trong lãnh đạo chính quyền tỉnh thực hiện CBXH; vai trò của MTTQ và
các đoàn thể chính tr ị - xã h ội, chưa được phát huy m ạnh mẽ và th ường xuyên
trong thực hiện CBXH...
Những hạn chế, yếu kém nêu trên do các nguyên nhân chủ yếu, như: các tỉnh
ủy chưa ban hành nghị quyết chuyên đề về thực hiện CBXH; năng lực, trình độ và
kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều kiện hiện nay của các tỉnh ủy còn
nhiều hạn chế; chưa quan tâm phát huy mạnh mẽ vai trò của MTTQ, các đoàn thể
chính trị - xã h ội, các tổ chức xã hội trong th ực hiện CBXH; lãnh đạo thực hiện
CBXH trong điều kiện hiện nay ở nước ta là vấn đề mới và khó; nhiều vấn đề chưa
được làm sáng tỏ về lý lu ận; một số chính sách của Đảng và Nhà nước có điểm
chưa cụ thể, phù hợp.
108
Chương 4
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG
CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG
HỒNG ĐỐI VỚI THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2025
4.1. DỰ BÁO NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG TĂNG
CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐỐI
VỚI THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
4.1.1. Dự báo những nhân tố tác động
4.1.1.1. Những nhân tố thuận lợi
Một là, uy tín của Đảng, Nhà nước ta trên tr ường quốc tế ngày càng được
nâng cao, nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với quốc tế, tiềm năng, thế mạnh
của các tỉnh ĐBSH.
Những yếu tố nêu trên tạo thuận lợi lớn cho KTTT định hướng XHCN ở
nước ta phát triển mạnh mẽ hơn. Bên cạnh đó, nước ta đã chính thức trở thành một
thành viên của Tổ ch ức th ương mại th ế gi ới (WTO) và c ủa Hi ệp định Đối tác
chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đây là những nhân tố rất thuận lợi cho
KTTT định hướng XHCN ở nước ta nói chung và ở các tỉnh ĐBSH nói riêng phát
triển mạnh mẽ hơn, tạo thuận lợi để các tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết
quả lớn hơn.
Các tỉnh ở ĐBSH có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội, gồm: đất đai màu mỡ, tài nguyên đa dạng, phong phú, nhiều làng nghề
truyền thống sản xuất những sản phẩm có giá trị; trình độ dân trí vào lo ại cao, có
điều kiện thuận lợi để phát triển giáo dục - đào tạo, y tế; giao thông thuận lợi, liên
thông với thị trường trong nước, khu vực và thế giới; nhân dân cần cù, chịu khó,
sáng tạo; các loại thị trường đã từng bước được hình thành; chính trị ổn định... Đây
là nhân tố rất quan trọng thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, kinh tế ở các tỉnh
sẽ phát triển với tốc độ cao hơn, tạo thuận lợi để thực hiện tốt hơn CBXH.
Hai là, các nghị quyết của Đảng, các ch ương trình qu ốc gia về phát tri ển
kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quyền dân chủ của người dân và Nghị quyết Đại
hội XII của Đảng sẽ được triển khai thực hiện mạnh mẽ.
109
Các nghị quyết của Đảng, các ch ương trình quốc gia về phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội, bảo đảm quyền dân chủ của người dân đã được ban hành và triển
khai thực hiện trong những năm qua, sẽ tiếp tục được triển khai mạnh mẽ hơn, đem
lại kết quả cao hơn trong nh ững năm tới. Đặc biệt, Nghị quy ết Đại hội XII của
Đảng và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội sẽ được Đại hội thông qua với những
nội dung mới sẽ được triển khai thực hiện, tạo nên sự phát triển mới về mọi mặt ở
các tỉnh ĐBSH. Các khu công nghiệp trọng điểm của các tỉnh đã được xây dựng
hoàn chỉnh, hiện đại sẽ phát huy vai trò trong những năm tới. Việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của các tỉnh đúng hướng, đang đi vào ổn định và phát huy tác dụng góp
phần quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh.
Ba là, việc sửa đổi các văn bản pháp luật, xây dựng các luật mới theo Hiến
pháp năm 2013 đang tiến hành khẩn trương.
Các văn bản pháp luật sẽ được sửa đổi, bổ sung, các luật mới được ban hành
theo Hiến pháp sửa đổi, sẽ có các quy định mới về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã
hội về chính quyền các cấp, quyền công dân... Đây là cơ sở pháp lý để chính quyền
các cấp ở ĐBSH thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong quản lý nhà nước
mọi hoạt động ở địa phương và thực hiện CBXH.
Bốn là, các tỉnh ủy, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội đã
tích lũy được những kinh nghiệm bước đầu về thực hiện CBXH.
Quá trình lãnh đạo thực hiện CBXH trong nh ững năm qua, các tỉnh ủy và
các cấp ủy đảng đã tích lũy được những kinh nghiệm bổ ích; chính quyền, MTTQ
và các đoàn thể chính trị - xã hội đã tích lũy được một số kinh nghiệm bước đầu về
tham gia thực hiện CBXH. Nh ững kinh nghiệm này sẽ được vận dụng phát huy
trong những năm tới để CBXH đạt kết quả cao hơn. Các cấp ủy, tổ chức đảng ở các
tỉnh đã tổ chức thành công đại hội đảng cấp mình và đại hội đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ
2015-2020. Qua các đại hội, những ưu điểm, kết quả lãnh đạo mọi mặt của các cấp
ủy, tổ chức đảng đã được khẳng định và sẽ được phát huy, những khuyết điểm, hạn
chế đã được xem xét nghiêm túc và có các bi ện pháp khắc phục. Đặc biệt, những
quan điểm, chủ trương, giải pháp mới về phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
110
đã được đại hội quyết định và thông qua, trong đó có việc thực hiện CBXH. Đây là
cơ sở rất quan trọng để các tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả.
Năm là, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương bốn khóa XI và việc học tập,
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ti ếp tục được duy trì thành n ền nếp
thường xuyên.
Nghị quyết Trung ương bốn, khóa XI, "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng
Đảng hiện nay" sẽ được các tỉnh ủy và các cấp ủy ở ĐBSH triển khai mạnh mẽ,
quyết liệt hơn và duy trì thành nền nếp thường xuyên với những giải pháp mới hơn
do Đại hội XII của Đảng thông qua, sẽ đạt kết quả lớn hơn. Việc “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 03-CT/TW,
ngày 14-5-2011 về tiếp tục đẩy mạnh công việc này, sẽ được các cấp ủy ở ĐBSH
duy trì thành nền nếp thường xuyên. Trong đó, một nội dung rất quan trọng là quán
triệt, học tập và làm theo tấm gương vì nước, vì dân và tư tưởng của Người về thực
hiện CBXH sẽ tạo khí thế, chất lượng mới trong lãnh đạo thực hiện CBXH của các
tỉnh ủy.
4.1.1.2. Những khó khăn, thách thức
Thứ nhất, nhiều tác động tiêu cực từ mặt trái của KTTT ở vùng ĐBSH chưa
được hạn chế, ngăn chặn một cách hiệu quả, có mặt lại gia tăng gây thêm khó khăn
cho các tỉnh uỷ lãnh đạo thực hiện CBXH ở địa phương.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở các tỉnh sẽ phát triển mạnh mẽ hơn;
tăng trưởng kinh tế sẽ cao và nhanh chóng hơn, tạo ra những nguồn lực vật chất to
lớn đáp ứng các nhu cầu của xã hội, tạo thuận lợi và là nhân tố đặc biệt quan trọng
để các tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả. Tuy nhiên, nhiều tác động tiêu
cực của KTTT chưa được hạn chế, ngăn chặn một cách cơ bản, có mặt có xu hướng
gia tăng gây nên những khó khăn, thách thức rất lớn đối với việc lãnh đạo thực hiện
CBXH của các tỉnh ủy ở vùng này.
Tác động tiêu cực của KTTT gây nên sự phân hoá giàu, nghèo ngày càng sâu
sắc, khoảng cách thu nhập và hưởng thụ giữa người giàu và người nghèo ngày càng
có xu hướng tăng lên. Cạnh đó, là những bất công xã hội, sự suy thoái về đạo đức
xã hội ở các địa phương ngày càng ph ức tạp; sự cạnh tranh gay gắt vì lợi nhuận,
111
nhiều xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động kém hiệu quả, không đứng
vững trong KTTT sẽ bị phá sản, đông đảo người lao động lâm vào tình trạng thất
nghiệp. Bên cạnh đó, một bộ phận khác làm ăn phi đạo đức, phi pháp như buôn lậu,
trốn thuế, làm hàng gi ả; tình tr ạng tham nh ũng trong một số ng ười có ch ức, có
quyền lợi dụng chức quyền giàu lên nhanh chóng. Trong khi đó, lợi nhuận thu được
của những người, đơn vị sản xuất kinh doanh chính đáng thường kém xa nh ững
người, đơn vị làm ăn bất chính, dẫn đến những bất công, phi lý trong xã h ội, tác
động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Kinh tế thị trường còn gây nên những mất cân đối ngày càng lớn về sự phát
triển xã hội giữa các vùng trong tỉnh. Để tạo sự phát triển cao tài nguyên và nhân
lực thường được huy động một cách mạnh mẽ ở một số vùng và lĩnh vực có thuận
lợi để phát triển. Trong khi đó, ở một số vùng, lĩnh vực không có điều kiện thuận lợi
để thực hiện điều này, dẫn đến sự chênh lệch ngày càng xa về trình độ phát triển
giữa các vùng trong tỉnh, nhất là nông thôn với thành thị, vùng thuận lợi với vùng
khó khăn. Điều này, dẫn đến sự mất cân đối ngày càng lớn giữa các vùng trong tỉnh,
hình thành các vùng giàu có và vùng nghèo, gây phức tạp cho việc giải quyết những
vấn đề xã hội.
Bên cạnh đó, số người lao động không có việc làm hoặc có việc làm không
ổn định đa số là thanh niên ngày càng tăng. ĐBSH là nơi đất chật, người đông, bình
quân đất canh tác cho m ột người rất thấp, thu nh ập từ canh tác trên di ện tích đó
không đủ bảo đảm cuộc sống của gia đình. Bên cạnh đó khoa học kỹ thuật ngày
càng phát triển, thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại được áp dụng rộng rãi vào sản
xuất nông nghiệp, làm giảm rất lớn thời gian công sức sản xuất nông nghiệp, dẫn
đến số lao động dư thừa rất lớn. Tiểu thủ công nghiệp dịch vụ ở phần lớn các tỉnh
chưa phát triển mạnh, sức cạnh tranh của sản phẩm thấp, nhiều doanh nghiệp sản
xuất cầm chừng hoặc ngừng sản xuất, nhiều lao động, trong đó phần lớn là thanh
niên không có việc làm rơi vào cảnh thất nghiệp; một số sa vào các tệ nạn xã hội,
gây khó khăn và làm ph ức tạp thêm việc giải quyết những vấn đề xã hội. Những
nhân tố nêu trên đang gây khó kh ăn, thách th ức lớn đối với lãnh đạo th ực hiện
CBXH của các tỉnh ủy vùng ĐBSH những năm tới đây.
112
Thứ hai, những bất cập cũ trong lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh uỷ
trên lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội chưa giải quyết tốt, lại xuất hiện
những bất cập mới cần phải giải quyết tiếp như:
Một là, bất cập thực hiện CBXH trong giáo dục và đào tạo. Do điều kiện
kinh tế từng gia đình ở nông thôn và cả các thành phố, thị xã trong vùng ĐBSH còn
khó khăn nên nhiều trẻ em không được học ở các trường có chất lượng cao, thậm
chí một số không được đi học. Hiện tại, còn có sự chênh lệch đáng kể về chất lượng
cơ sở vật chất, trang thi ết bị ph ục vụ dạy và học giữa các tr ường trong một địa
phương và giữa các trường ở thành phố, thị xã với các trường ở nông thôn. Đã có
một số cháu ở nông thôn thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng với điểm số cao
nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn đã không thực hiện được quyền học tập đạt
trình độ cao của mình.
Hai là, bất cập thực hiện CBXH trong hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghệ
thuật, các dịch vụ chăm sóc y tế, bảo hiểm xã hội. Về nguyên tắc, mọi người trong
độ tuổi lao động, tham gia lao động đều có quyền được bảo hiểm xã hội. Song, hiện
tại mới chỉ có nh ững người lao động trong thành ph ần kinh tế nhà nước, các cơ
quan hành chính, sự nghiệp được bảo hiểm xã hội, phần rất lớn những người làm
việc trong thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chưa được
chủ các doanh nghiệp mua bảo hiểm xã hội cho họ, gây bất bình đẳng trong những
người lao động khi hết tuổi lao động.
Ba là, bất cập thực hiện CBXH về giới, tuổi nghỉ hưu đối với cán bộ, công
chức, viên chức, công nhân. Các chủ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân
thường không muốn nhận lao động nữ vào làm việc trong doanh nghiệp của họ, gây
thêm bất CBXH mới về giới. Chế độ nghỉ hưu đối với cán bộ, công nhân, viên chức
cũng có những bất CBXH mới. Mặc dù là cán bộ, công chức, công nhân, viên chức
hưởng lương từ ngân sách nhà nước, song nhiều người không có điều kiện đáp ứng
yêu cầu cao của cơ quan, đơn vị, buộc phải nghỉ hưu sớm. Qua nhiều đợt giảm biên
chế đã "đẩy" không ít cán b ộ, công ch ức, viên ch ức, công nhân ra ngoài xã h ội,
trong khi họ chưa được chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho cu ộc sống, nhiều
người lâm vào cảnh khó khăn, chật vật trong tìm cách mưu sinh.
113
Bốn là, bất cập thực hiện CBXH trong sản xuất, kinh doanh. Nhiều chủ thể
sản xuất kinh doanh chưa thực sự bình đẳng với các chủ thể khác, nhất là với những
doanh nghiệp là “sân sau” của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý. Thành phần kinh tế
tư nhân trên nhiều mặt còn chưa thực sự bình đẳng với các thành phần kinh tế khác,
nhất là trong việc vay vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.
Năm là, b ất cập thực hiện CBXH gi ữa những chủ thể hưởng lợi từ khai
thác và sử dụng tài nguyên gây ô nhi ễm môi tr ường, môi sinh v ới đa số những
người chịu hậu quả từ quá trình khai thác ấy. Trên thực tế, đã xảy ra tình tr ạng
khai thác tài nguyên vì l ợi ích chung nh ưng đầu tư trở lại kh ắc phục ô nhi ễm
môi trường không được chú ý tho ả đáng, người dân phải chịu thảm họa. Người
dân Hà Nam ph ải chịu thảm họa ô nhiễm môi tr ường do nước thải không được
xử lý ở Hà N ội xả ra sông Đáy. Nhi ều ng ười dân ở gần các khu công nghi ệp
của Vĩnh Phúc, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên ph ải chịu thảm họa ô nhiễm
môi trường do các khu công nghi ệp ở địa phương gây nên... Bên c ạnh đó là bất
CBXH trong đền bù vật chất khi gi ải phóng mặt bằng. Điều này th ường xảy ra
ở những vùng giáp ranh gi ữa thành ph ố, thị xã và nông thôn khi đền bù về giải
phóng mặt bằng. Tiêu bi ểu là mức đền bù cho m ột đơn vị diện tích gi ải phóng
mặt bằng vùng giáp ranh gi ữa các huyện của tỉnh Vĩnh Phúc với các huyện của
Hà Nội.
Thứ ba, trình độ mọi mặt và năng lực công tác của nhiều tỉnh ủy viên, đội
ngũ cán bộ chủ chốt các cấp của các tỉnh còn nhiều hạn chế, bất cập, nhất là trình
độ, kinh nghiệm lãnh đạo, điều hành thực hiện CBXH.
Nhìn chung, nhiều tỉnh ủy viên, đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp chưa được
đào tạo, bồi dưỡng một cách cơ bản và thường xuyên cập nhật kiến thức về CBXH
trong điều kiện thực hiện KTTT định hướng XHCN. Bởi vậy, họ lúng túng trong
lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện CBXH. Trình độ năng lực công tác của cấp ủy và đội
ngũ cán bộ chủ chốt HTCT xã, phường, thị trấn - những người trực tiếp lãnh đạo,
điều hành, tổ chức thực hiện các ngh ị quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội và thực hiện CBXH ở cơ sở - còn rất hạn chế.
114
Thứ tư, cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm, tội phạm,
tệ nạn xã hội ở các tỉnh ĐBSH diễn biến phức tạp, chưa có nhiều dấu hiệu cải thiện.
Cùng với sự hỗ tr ợ của Đảng và Nhà n ước, các t ỉnh ủy, chính quy ền ở
ĐBSH đã coi trọng phòng, chống và loại trừ những tệ nạn nêu trên và tai nạn giao
thông, song chưa đạt kết quả mong muốn và còn diễn biến rất phức tạp. Ở nhiều địa
phương tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm, tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao
thông chưa có biểu hiện suy giảm, ở một số nơi có xu hướng gia tăng. Đây là gánh
nặng và thách th ức rất lớn đối với sự lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy
vùng này trong những năm tới.
Thứ năm, thảm họa thiên tai, nh ất là th ảm họa của biến đổi khí hậu có xu
hướng trầm trọng thêm; tai nạn giao thông chưa được ngăn chặn và giảm thiểu một
cách căn bản; việc ngăn chặn tình tr ạng mất vệ sinh an toàn th ực phẩm chưa có
chuyển biến quan trọng.
Tuy là vùng được thiên nhiên ưu đãi, song ĐBSH cũng chịu tác động mạnh
bởi hậu quả của giông bão, nh ất là th ảm họa của biến đổi khí hậu. Phần lớn các
trận bão ở biển Đông trực tiếp đổ vào các tỉnh ĐBSH. Bên cạnh đó là hậu quả của
biến đổi khí hậu, nước ta là một trong số ít nước chịu hậu quả nặng nề của biến
đổi khí hậu, trong đó ĐBSH và đồng bằng sông Cửu Long sẽ chịu hậu quả nặng
nề nhất. Tai nạn giao thông ở các tỉnh trong vùng chưa giảm thiểu, ở một số nơi có
xu hướng gia tăng; tình trạng mất vệ sinh, an toàn thực phẩm ngày càng tinh vi tác
động trực tiếp gây hậu quả đối với sức khỏe của mỗi người dân. "Con đường từ dạ
dày đến nghĩa địa chưa bao gi ờ ngắn như hiện nay", nh ư lời một đại biểu quốc
hội, không lo ại trừ người dân ở ĐBSH. Đây là thách th ức lớn về chăm sóc sức
khỏe, phòng chống, chữa bệnh của ngành y tế và lãnh đạo thực hiện CBXH của
các tỉnh ủy.
Thứ sáu, nhiều vấn đề lý lu ận về CBXH và v ề Đảng duy nh ất cầm quyền
lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều kiện phát triển KTTT định hướng XHCN và
hội nhập quốc tế chưa được làm sáng tỏ. Việc chậm trễ trong xây dựng, sửa đổi và
ban hành các văn bản pháp luật theo Hiến pháp 2013 nhằm cụ thể hoá quyền, nghĩa
115
vụ và lợi ích hợp pháp của công dân, của doanh nghiệp cũng góp phần tạo nên khó
khăn cho thực hiện CBXH.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã đưa ra những luận điểm lý luận và
những chỉ dẫn tổng quát về CBXH và thực hiện CBXH trong CNXH, song chưa chỉ
rõ việc thực hiện CBXH trong mô hình CNXH cụ thể nào. Ở nước ta, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã có nh ững chỉ dẫn quý báu về CBXH và th ực hiện CBXH trong mô
hình CNXH theo kiểu hành chính, tập trung, bao cấp, đồng thời thực hiện hai nhiệm
vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong th ời kỳ cách mạng trước đây. Đây là
những căn cứ rất quan trọng để các tỉnh ủy ở ĐBSH ban hành các nghị quyết, quyết
định lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả trong những năm tới.
Tuy nhiên, khá nhiều vấn đề về CBXH và Đảng duy nhất cầm quyền lãnh
đạo thực hiện CBXH trong điều kiện hiện nay chưa được làm sáng tỏ về lý lu ận.
Đây là khó khăn không nhỏ đối với các tỉnh ủy ở ĐBSH trong việc xây dựng các
nghị quyết, quyết định thực hiện CBXH ở địa phương và lãnh đạo tổ chức thực
hiện. Việc sửa đổi, xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật theo Hiến pháp sửa
đổi còn chậm, trong những năm tới chưa thể có nhiều văn bản pháp luật mới được
ban hành. Đây là những khó khăn thách thức đáng kể đối với các tỉnh ủy ở ĐBSH
trong lãnh đạo thực hiện CBXH.
4.1.2. Phương hướng
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát tri ển năm 2011) ch ỉ rõ: "Xây d ựng một cộng đồng xã hội văn minh,
trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đoàn kết, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền
lợi" [31, tr.80]. Văn kiện Đại hội XI của Đảng khẳng định: "Thực hiện có hiệu quả
tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính
sách phát triển" [31, tr.227]. Đồng thời, Văn kiện cũng xác định những vấn đề cần
tập trung lãnh đạo thực hiện tốt, bảo đảm cho CBXH được thực hiện đạt kết quả:
Tập trung gi ải quyết tốt chính sách lao động, việc làm, và thu nh ập...;
Bảo đảm an sinh xã hội....; Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân
dân và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức
khỏe bà mẹ, trẻ em...; Đấu tranh phòng, chống có hiệu quả tệ nạn xã hội,
tai nạn giao thông [31, tr.227-232].
116
Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: "Quản lý, phát triển xã hội; thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội" [34, tr.132]; "Giải quyết tốt lao động việc làm và thu
nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội... Coi trọng chăm sóc sức khỏe
nhân dân, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà
mẹ, trẻ em; xây dưng gia đình hạnh phúc..." [34, tr.136-138]. Trên cơ sở quan điểm
của Đảng, những vấn đề Đảng cần tập trung lãnh đạo thực hiện tốt để CBXH được
thực hiện đạt kết quả và từ điều kiện cụ thể của các tỉnh ở ĐBSH, phương hướng
tăng cường sự lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy trong những năm tới, gồm:
Tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với thực hiện CBXH trên cơ sở tăng
cường lãnh đạo phát tri ển KTTT định hướng XHCN trên địa bàn tỉnh, gắn tăng
trưởng kinh tế với thực hiện CBXH.
Nhân tố có tính quyết định và cũng là điều kiện cần thiết để tỉnh ủy lãnh đạo
thực hiện đạt kết quả CBXH là kinh tế của tỉnh phát triển bền vững. Song, thực tế
cho thấy không phải cứ có kinh tế phát triển là thực hiện có kết quả CBXH; các tỉnh
ủy lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả khi và chỉ khi các tỉnh ủy lãnh đạo phát
triển kinh tế gắn chặt với giải quyết những vấn đề xã hội, thực hiện CBXH.
Sẽ không đúng khi cho rằng, phải đợi đến khi tỉnh ủy lãnh đạo kinh tế đạt kết
quả cao và phát tri ển bền vững mới bắt tay vào lãnh đạo thực hiện CBXH. Một
trong những phương hướng chủ yếu của việc tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy
đối với thực hiện CBXH là t ỉnh ủy phải tiến hành ngay vi ệc lãnh đạo thực hiện
CBXH trên cơ sở kinh tế hiện tại của tỉnh. Đồng thời, trong quá trình lãnh đạo phát
triển kinh tế, qua mỗi bước phát triển, kinh tế lại là cơ sở để tỉnh ủy lãnh đạo thực
hiện CBXH đạt kết quả lớn hơn; mỗi bước tiến trong lãnh đạo thực hiện CBXH của
tỉnh ủy lại tác động thúc đẩy sự lãnh đạo phát triển kinh tế của tỉnh ủy đạt kết quả.
Trong những năm tới việc tăng cường sự lãnh đạo thực hiện CBXH của các
tỉnh ủy theo hướng nêu trên cần được nhận thức sâu sắc hơn. Cần tập trung vào
những trọng tâm như: nhận thức sâu sắc, thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách
phát triển KTTT định hướng XHCN ở nước ta gắn chặt với việc thực hiện CBXH;
nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, tạo thuận lợi cho nền KTTT
định hướng XHCN phát triển, trên cơ sở đó từng bước thực hiện tốt hơn CBXH;
117
phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh,
hướng các thành ph ần kinh tế và các tổ chức đó góp ph ần thực hiện CBXH; đẩy
mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, huy động các thành quả của
CNH, HĐH và của kinh tế tri thức tạo bước chuyển căn bản về kinh tế - xã hội và
thực hiện CBXH.
Nâng cao chất lượng các nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội,
giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc.
Tập trung vào đổi mới việc xây dựng và nâng cao chất lượng các nghị quyết
về phát triển kinh tế - xã h ội gắn chặt với thực hiện CBXH. Vi ệc xây dựng, ban
hành các nghị quyết đó, phải được tiến hành chu đáo, coi trọng điều tra, khảo sát
thực tiễn, thu thập, xử lý thông tin hình thành dự thảo, nghị quyết; bảo đảm dân chủ
trong xin ý kiến ban thường vụ tỉnh ủy, các cơ quan khoa học, các tổ chức đảng, các
tổ chức trong HTCT và nhân dân; trong thảo luận, quyết định của tỉnh ủy về nghị
quyết phát triển kinh tế - xã hội, gắn với thực hiện CBXH. Cùng với việc nâng cao
chất lượng các nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh ủy tập trung
xác định các chủ trương, giải pháp giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức
xúc, gồm:
Tạo việc làm, thu nhập: tập trung vào lãnh đạo tạo nhiều việc làm, bảo đảm
quyền được làm, việc đảm bảo đời sống, góp phần xây dựng đất nước của mọi công
dân, nhất là th ế hệ trẻ, nông dân đặc biệt là cho nông dân. Qua đó, làm tăng thu
nhập bảo đảm đời sống cho người dân. Chăm lo lãnh đạo bảo hộ lao động, cải thiện
điều kiện làm việc; hạn chế tai nạn lao động; xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi
phạm Luật lao động...
Bảo đảm an sinh xã hội: lãnh đạo thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, y
tế, thất nghiệp, cứu trợ xã hội, giảm nghèo, quan tâm đến những người yếu thế, thực
hiện tốt chính sách đối với những người và gia đình có công.
Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và công tác dân s ố, kế
hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em: tăng cường lãnh
đạo củng cố và nâng cao n ăng lực hệ thống y tế trong tỉnh, coi trọng củng cố và
118
hoàn thiện hệ thống y tế cơ sở; thực hiện tốt chính sách dân số, bảo vệ bà mẹ và trẻ
em, phát triển phong trào thể dục, thể thao đại chúng...
Tăng cường lãnh đạo đấu tranh, phòng chống có hiệu quả tệ nạn xã hội, tai
nạn giao thông. Đặc biệt, coi trọng lãnh đạo loại trừ các tệ nạn ma túy, mại dâm, lừa
đảo, trộm cắp và các tệ nạn xã hội khác trên địa bàn. Những tệ nạn này, đang là nỗi
lo thường nhật của nhiều gia đình và ng ười dân nơi đây, cản trở không nh ỏ việc
thực hiện có kết quả CBXH ở các tỉnh ĐBSH.
Tỉnh ủy tập trung lãnh đạo xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ chính
quyền từ tỉnh đến cơ sở, phát huy vai trò của chính quyền trong thực hiện CBXH.
Tập trung lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền từ tỉnh đến cơ sở,
coi trọng hơn việc lãnh đạo củng cố kiện toàn chính quyền tỉnh và chính quyền xã,
phường thị trấn để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ. Trong đó, đặc biệt coi trọng
lãnh đạo chính quyền tỉnh cụ thể hoá nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển kinh tế,
văn hóa, xã h ội và bảo đảm quyền dân ch ủ của nhân dân; xây d ựng các ch ương
trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện; thực hiện tốt chức năng quản lý mọi hoạt động
ở địa phương; tạo môi tr ường thuận lợi cho các thành ph ần kinh tế phát tri ển và
thực hiện tốt CBXH.
Chăm lo xây dựng, nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ, công ch ức, trong
các cơ quan chính quyền; tích cực phòng, chống tham nhũng, lãng phí gây phiền hà
cho nhân dân trong đội ngũ này, nhất là những cán bộ, công chức thường xuyên tiếp
xúc, giải quyết những yêu cầu của nhân dân, doanh nghiệp và hoạt động trong các
lĩnh vực dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng...
Tăng cường lãnh đạo MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ
sở trong thực hiện CBXH
Tỉnh ủy coi trọng lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy và đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở;
bảo đảm cho các tổ chức này thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, hoạt động có hiệu
quả trong vận động đoàn viên, hội viên tham gia các chương trình phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội và là lực lượng nòng cốt trong các hoạt động xã hội, từ thiện. Tùy
theo quy mô, tính chất và nội dung hoạt động của các tổ chức xã hội ở địa phương,
119
tỉnh ủy phân cấp một cách hợp lý cho các c ấp ủy trong tỉnh về việc định hướng
chính trị cho các tổ chức này hoạt động có hiệu quả, hướng vào thực hiện CBXH.
4.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO
CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ĐỐI VỚI THỰC HIỆN CÔNG
BẰNG XÃ HỘI
4.2.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, cán bộ,
đảng viên về thực hiện công bằng xã hội
Công bằng xã hội có vai trò r ất to lớn đối với sự phát tri ển mọi mặt của
các tỉnh ở ĐBSH. Song, vai trò to lớn ấy, chỉ được thể hiện rõ và khẳng định bởi
việc thực hiện tốt CBXH ở từng tỉnh. Việc thực hiện tốt CBXH ở các địa phương
lại được quyết định bởi sự lãnh đạo đúng đắn và được tăng cường của tỉnh ủy.
Để đạt được điều này, cần nâng cao nh ận thức, trách nhi ệm của cấp ủy, các tổ
chức đảng, cán bộ, đảng viên về tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với
thực hiện CBXH.
Các cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tỉnh, nhất là cấp ủy cấp huyện
và cấp ủy cấp xã cần có nhận thức đúng quan điểm của Đảng về CBXH trong điều
kiện thực hiện KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay; vai trò của CBXH ở
các tỉnh; sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với việc thực hiện
CBXH ở địa phương... Để có nhận thức đúng về lãnh đạo thực hiện CBXH các cấp
ủy viên và cán bộ, đảng viên cần:
Một là, đổi mới, nâng chất lượng việc học tập, quán triệt đường lối, các nghị
quyết của Đảng, các nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội, bảo đảm quyền dân chủ của người dân.
Quan điểm nhất quán của Đảng về thực hiện CBXH ở nước ta trong điều
kiện thực hiện KTTT định hướng XHCN hiện nay là thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát tri ển; không ch ỉ phân ph ối
theo lao động, mà còn phân phối theo tài năng và sự cống hiến cho xã hội; CBXH
không có nghĩa là bình quân, cào bằng... CBXH trong điều kiện hiện nay ở nước ta
không chỉ thể hiện trong lĩnh vực phân ph ối sản phẩm xã hội, mà còn trong quá
trình sản xuất kinh doanh, trong việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên
120
nhiên; trong bảo vệ môi trường sinh thái; trong việc sử dụng các nguồn lực (nguồn
vốn) của xã hội, trong các đối tượng chính sách, các vùng dân tộc miền núi, vùng
căn cứ cách mạng, trong xoá đói giảm nghèo... Cần nhận thức sâu sắc và vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện CBXH ở nước ta: không sợ thiếu, chỉ sợ không
công bằng; CBXH phải được đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh tế, trên cơ sở
phát triển kinh tế tiến hành giải quyết những vấn đề xã hội... Thực hiện CBXH là
trách nhiệm của Đảng, HTCT và toàn xã hội...
Đổi mới, nâng cao chất lượng việc học tập, quán triệt những vấn đề nêu trên,
cần được tiến hành trong toàn đảng bộ tỉnh, trước hết trong các cấp ủy trực thuộc
tỉnh ủy, nhất là cấp ủy cấp huyện, coi trọng quán triệt trong các cấp ủy tổ chức đảng
xã, phường, thị trấn, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt từ tỉnh đến cơ sở.
Tiến hành công việc này theo hướng: tổ chức hợp lý các lớp học tập, quán
triệt nghị quyết cho từng loại đối tượng cán bộ; tổ chức lớp học riêng cho các cấp
ủy trực thuộc tỉnh ủy, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc diện ban thường vụ
tỉnh ủy quản lý và đội ngũ cán bộ cấp huyện; cấp ủy cấp huyện tổ chức các cuộc
học tập, quán triệt nghị quyết cho cán bộ chủ chốt cơ sở; có các báo cáo thực tế để
minh họa; coi trọng xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết của tỉnh
ủy về phát triển kinh tế, văn hóa, xã h ội, bảo đảm quyền dân ch ủ của nhân dân;
nâng cao chất lượng thảo luận về nội dung nghị quyết và về chương trình hành động
thực hiện nghị quyết.
Hai là, đưa nội dung của các nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội về quyền dân chủ của nhân dân, về thực hiện CBXH vào nội dung sinh
hoạt cấp ủy các cấp, thảo luận nghiêm túc.
Tỉnh ủy chỉ đạo các cấp ủy đảng đưa những nội dung trong các nghị quyết
nêu trên vào các cuộc sinh hoạt cấp ủy, tổ chức đảng một cách thích hợp gắn với
việc bàn bạc, thảo luận, quyết định các chủ trương, giải pháp về phát triển kinh tế -
xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng HTCT của địa phương, đơn vị. Tỉnh ủy, khi cần
thiết cần tổ chức các cuộc hội thảo về những vấn đề kinh tế - xã hội và thực hiện
CBXH trên địa bàn tỉnh. Trong đó, đặc biệt coi tr ọng việc chuẩn bị chu đáo nội
121
dung, chỉ đạo chặt chẽ, mở rộng dân chủ trong tranh lu ận, thảo luận và nâng cao
chất lượng các cuộc hội thảo.
Cấp ủy cấp huyện và đảng ủy xã, phường, thị trấn coi trọng chỉ đạo nâng cao
chất lượng sinh ho ạt chi bộ, đưa nội dung các ngh ị quyết của tỉnh ủy, huyện ủy,
đảng ủy xã về thực hiện CBXH vào sinh hoạt chi bộ, thảo luận nghiêm túc. Chỉ đạo
các chi bộ tăng cường sinh hoạt chi bộ theo chuyên đề về thực hiện các nghị quyết
về phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH.
Ba là, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan truyền thông
trong tỉnh.
Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo về nội dung, đổi mới phương thức hoạt động
của các cơ quan này phù hợp với các tầng lớp nhân dân; tập trung vào việc tuyên
truyền các ch ủ tr ương, quan điểm của Đảng, Nhà nước về CBXH và th ực hi ện
CBXH, quan điểm, giải pháp của tỉnh ủy, cấp ủy địa phương, chính quyền tỉnh về
thực hiện CBXH; nêu g ương những điển hình tiên ti ến, phê phán nh ững khuyết
điểm, nh ững cá nhân, t ập th ể vi ph ạm chính sách, pháp lu ật, quy định của địa
phương, vi phạm CBXH; hướng dẫn những vấn đề cần thiết về chủ trương, chính
sách của Đảng, Nhà nước và của cấp ủy, chính quyền địa phương liên quan đến
việc thực hiện CBXH...
Nâng cao ch ất lượng trang website, bản tin của tỉnh ủy, chính quyền tỉnh,
đảm bảo đưa thông tin kịp thời đầy đủ, chính xác về tình hình hoạt động mọi mặt
của tỉnh, về thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH;
nâng cao tính định hướng chính tr ị và tính chi ến đấu của trang website tỉnh ủy,
chính quyền tỉnh. Đồng thời, tỉnh ủy cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong
các cơ quan truyền thông, tăng tính hấp dẫn, thiết thực của trang website tỉnh ủy,
chính quyền tỉnh, nhất là đối với thế hệ trẻ.
Có thể nghiên cứu, chỉ đạo việc mở chuyên mục về thực hiện CBXH trên các
phương tiện thông tin đại chúng của từng tỉnh. Biên soạn tài liệu, phát hành, phổ
biến rộng rãi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, biện pháp tổ chức thực
hiện của UBND tỉnh, tài liệu khoa học, tài liệu trao đổi kinh nghiệm cho cán bộ,
công chức về CBXH. Biên soạn, bổ sung chuyên đề thực hiện CBXH vào chương
122
trình bồi dưỡng cán bộ của các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thị, thành phố
của các tỉnh.
Bốn là, cấp ủy viên, nhất là các tỉnh ủy viên, cấp ủy viên cấp ủy cấp huyện,
cấp xã, cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành xác định trách nhiệm của mình trong
thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH.
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cấp ủy viên từ tỉnh đến cơ sở, trách
nhiệm, quyền hạn của các ch ức danh cán bộ chủ chốt các cấp, các cơ quan tham
mưu của tỉnh ủy, nhất là ban tổ chức tỉnh ủy chỉ rõ trách nhiệm của các cấp ủy viên,
từng cán bộ trong thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy về phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân và thực hiện CBXH. Đồng thời, cấp ủy
xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị
đối với thực hiện CBXH ngay tại địa phương, đơn vị, địa bàn, lĩnh vực người đó
phụ trách. Trách nhiệm ấy, phải được thể hiện trong ch ương trình, kế hoạch hoạt
động của cá nhân cán bộ và cơ quan, đơn vị hằng quý, năm...
4.2.2. Đổi mới quá trình xây d ựng và t ổ ch ức th ực hi ện tốt một số
nghị quy ết chuyên đề của tỉnh uỷ về phát tri ển kinh t ế và th ực hi ện công
bằng xã hội
4.2.2.1. Đổi mới quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện tốt một số nghị
quyết chuyên đề của tỉnh uỷ về phát triển kinh tế tạo cơ sở vững chắc để thực
hiện công bằng xã hội
Kinh tế ở các tỉnh ĐBSH phát triển mạnh mẽ là nhân tố đặc biệt quan trọng,
là tiên đề, cơ sở để thực hiện có hiệu quả CBXH, song CBXH được thực hiện đạt
kết quả lại tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế ở các tỉnh. Các tỉnh ủy ở ĐBSH
cần nhận thức sâu sắc điều này, tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế đạt kết quả, tạo
cơ sở vững chắc để từng bước lãnh đạo thực hiện tốt CBXH. Cần tập trung vào
những vấn đề sau đây:
Một là, đổi mới quá trình xây d ựng và tổ ch ức thực hiện các ngh ị quy ết
chuyên đề của tỉnh ủy về phát triển kinh tế ở địa phương
Nghiên cứu, lựa chọn những vấn đề có tính chiến lược phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh tế của tỉnh để ban hành một số nghị quyết chuyên đề về phát triển
123
kinh tế - xã hội trong suốt nhiệm kỳ. Xác định rõ những yêu cầu của nghị quyết về
phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách
và pháp luật của Nhà nước về phát triển KTTT định hướng XHCN, mở cửa, hội
nhập qu ốc tế. Nội dung các ngh ị quy ết có sự vận dụng đúng đắn các quy lu ật
KTTT, nhất là quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu trên địa bàn
tỉnh. Phát triển kinh tế địa phương phải gắn với giải quyết những vấn đề xã hội phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và khả năng thực tế của tỉnh. Công tác tổng kết
thực tiễn, xây dựng căn cứ lý luận cho mỗi nghị quyết cần được chuẩn bị công phu,
nghiêm túc. Mỗi nghị quyết trước khi được thông qua phải được bàn bạc, thảo luận
một cách dân ch ủ, là sản phẩm trí tuệ tập thể của tỉnh uỷ, được đông đảo cán bộ,
đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Các dự thảo nghị quyết chuyên đề về phát
triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH cần được chuyển cho MTTQ và các đoàn
thể chính trị - xã hội góp ý, phản biện trước khi ban hành.
Nghiên cứu một cách sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng, nhất là
phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng;
phân tích một cách sâu sắc những thành tựu đã đạt được, những thiếu sót, khuyết
điểm trong lãnh đạo phát tri ển kinh t ế của tỉnh ủy th ời gian qua, nh ững kinh
nghiệm thành công và ch ưa thành công. Dự báo những nhân tố thuận lợi và khó
khăn tác động đến sự phát triển kinh tế của tỉnh trong nh ững năm tới; bám ch ắc
vào mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế đến năm 2020 do Đại hội Đảng bộ
tỉnh nhiệm kỳ 2015 - 2020 thông qua để xây dựng các nghị quyết của tỉnh ủy về
phát triển kinh tế. Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Đảng về xây dựng và
ban hành nghị quyết.
Hai là, xác định đúng các ngành, lĩnh vực kinh tế quan trọng và chọn những
vấn đề xã hội trọng yếu để tập trung lãnh đạo.
Những vấn đề trọng tâm, ngành, lĩnh vực kinh tế quan tr ọng và vi ệc chọn
những vấn đề xã hội trọng yếu của từng tỉnh có nhiều điểm khác nhau, tỉnh ủy cần
tập trung xác định chính xác những vấn đề này. Chẳng hạn, ở tỉnh Nam Định, có thể
là kinh tế nông nghi ệp, kinh tế biển, công nghiệp; vấn đề xã hội trọng yếu là tạo
việc làm, giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp, phòng chống một số tệ nạn xã hội... Ở
124
tỉnh Vĩnh Phúc có thể là kinh tế công nghiệp, du lịch, dịch vụ, đồi rừng..; vấn đề xã
hội trọng yếu là chống ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường sinh thái... Ở tỉnh
Quảng Ninh, có thể là kinh tế công nghiệp, kinh tế biển, rừng, du lịch, dịch vụ; vấn
đề xã hội trọng yếu là phòng chống rủi ro, ô nhiễm môi trường, chủ yếu từ khai thác
than, phòng chống các tệ nạn xã hội, buôn lậu...
Lãnh đạo việc rà soát tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế của tỉnh, bổ sung
những nội dung mới theo quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát
triển kinh tế và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 trong Văn
kiện Đại hội XII của Đảng.
Ba là, tỉnh ủy lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương phù hợp
với sự chuyển dịch kinh tế vùng của Trung ương; chỉ đạo chặt chẽ quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của các huy ện, thị xã, thành ph ố sao cho phù hợp với cơ cấu
kinh tế tổng thể của tỉnh.
Để có cơ cấu kinh tế hợp lý bảo đảm cho kinh tế địa phương phát triển ổn
định, bền vững các tỉnh ủy phải từng bước lãnh đạo có kết quả việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang cơ cấu kinh tế lấy công nghiệp,
xây dựng, dịch vụ làm chủ đạo. Trên cơ sở cơ cấu kinh tế tổng thể của tỉnh được các
đại hội đảng bộ tỉnh xác định, tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
các huyện, thị xã, thành phố đồng bộ với cơ cấu kinh tế của tỉnh. Tiến hành công
việc này, cần coi trọng phát huy tiềm năng, thế mạnh để phát triển thành phần, lĩnh
vực, ngành kinh tế theo hướng chung là giảm dần tỷ trọng kinh tế nông nghiệp, tăng
dần tỷ trọng kinh tế công nghiệp, dịch vụ, du lịch...
Tỉnh ủy tập trung lãnh đạo điều tiết đầu tư, ưu tiên cho những huyện, vùng
khó khăn, chậm phát triển và cho các ngành kinh tế mũi nhọn. Đồng thời, các tỉnh
ủy tăng cường lãnh đạo việc sắp xếp, kiện toàn, nâng cao chất lượng các cơ sở đào
tạo nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao bảo đảm ứng dụng công
nghệ hiện đại phục vụ nhiệm vụ phát tri ển kinh tế của tỉnh nói chung và chuy ển
dịch kinh tế nói riêng. Đây là những mắt xích quan tr ọng, khâu đột phá tạo bước
chuyển căn bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế, giảm dần khoảng
cách về phát triển kinh tế giữa các địa phương và các vùng, giải quyết có hiệu quả
125
những vấn đề xã hội và thực hiện CBXH. Xây dựng được cơ cấu kinh tế hợp lý trên
phạm vi toàn tỉnh, giữa các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh là cơ sở để bảo đảm
CBXH trong lĩnh vực kinh tế. Ở đó, các thành phần kinh tế, các lực lượng xã hội và
người dân đều thụ hưởng thành quả của sự phát triển.
Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý
kinh tế của tỉnh.
Rà soát, đánh giá lại quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế của
tỉnh, thành phố, huyện, thị xã, cán b ộ các doanh nghi ệp nhà nước trong tỉnh theo
yêu cầu phát triển kinh tế những năm tới. Rà soát và điều chỉnh quy hoạch tổng thể
về đào tạo cán bộ cho các nhiệm kỳ tiếp theo, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của
tỉnh. Tổ ch ức đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, năng lực tư duy kinh tế cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế,
nhất là kiến thức về KTTT, kinh tế tri thức, kinh tế đối ngoại, ngoại ngữ, tin học;
thạo việc, biết phát hiện những vấn đề nảy sinh cần giải quyết về kinh tế và có khả
năng đề xuất phương án giải quyết tốt những vấn đề kinh tế nảy sinh; bồi dưỡng
nâng cao bản lĩnh chính tr ị, hiểu sâu quan điểm, đường lối của Đảng về kinh tế
trong điều kiện hiện nay; bồi dưỡng về phẩm chất đạo đức, lối sống và tác phong
công tác, phong cách làm vi ệc khoa học, có trách nhi ệm cao đối với chức trách,
nhiệm vụ được giao.
Xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện việc bố trí, sắp xếp lại cán bộ lãnh
đạo, quản lý kinh tế phù hợp với sở trường, năng lực của từng cán bộ. Chú ý chọn
những cán bộ trẻ, được đào tạo cơ bản, được thử thách trong thực tiễn bố trí vào vị
trí chủ yếu trong các ngành, lĩnh vực kinh tế trọng yếu, mũi nhọn, các đơn vị sản
xuất kinh doanh trọng yếu có tỷ trọng cao trong GDP của tỉnh. Bổ sung, hoàn chỉnh
cơ chế và những quy định khả thi về thu hút cán bộ kinh tế tài giỏi ở ngoài tỉnh về
công tác tại tỉnh, nhất là những cán bộ có trình độ cao, các chuyên gia trên các lĩnh
vực, ngành kinh tế mới được hình thành, phát triển, đem lại hiệu quả cao của tỉnh.
Trước mắt, các tỉnh ủy có th ể ký các h ợp đồng về hợp tác làm vi ệc trong nh ững
khoảng thời gian nhất định đối với những cán bộ này.
126
Năm là, duy trì thành nền nếp việc lãnh đạo sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm
về lãnh đạo phát triển kinh tế của tỉnh ủy
Tiến hành công việc này, cần bảo đảm tính đảng, tính khoa học nghiêm túc,
nhìn thẳng vào sự thật, tránh thái độ né tránh, che giấu sai lầm, khuyết điểm hoặc
chỉ tổng kết nh ững kinh nghi ệm thành công, xem nh ẹ ho ặc bỏ qua nh ững kinh
nghiệm không thành công. Sơ kết, tổng kết về lãnh đạo phát triển kinh tế của tỉnh
ủy cần gắn liền với sơ kết, tổng kết về giải quyết những vấn đề xã hội. Coi trọng
việc tổng kết rút những kinh nghiệm trong lãnh đạo phát triển kinh tế của tỉnh ủy và
các cấp ủy; kịp thời phát hiện, ủng hộ những sáng kiến của nhân dân, các tổ chức
kinh tế, những sáng tạo của cấp dưới trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế. Cần
sơ kết, tổng kết đúc rút kinh nghiệm lãnh đạo trong tất cả các ngành lĩnh vực, đơn vị
kinh tế, coi trọng những ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm.
Việc sơ kết, tổng kết về lãnh đạo phát triển kinh tế của tỉnh ủy cần tiến hành
theo định kỳ, duy trì thường xuyên, tiến hành từ cấp dưới lên tỉnh và được chuẩn bị
chu đáo, tăng cường dân ch ủ. Cần tham khảo ý ki ến của các nhà khoa h ọc, hoặc
mời các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế tham gia vào vi ệc tổng kết về lãnh
đạo phát triển kinh tế của tỉnh ủy.
4.2.2.2. Xây dựng một số nghị quyết chuyên đề về thực hiện công bằng
xã hội
Hiện tại, các quan điểm, chủ trương của tỉnh ủy về thực hiện CBXH chủ yếu
được thể hiện trong các ngh ị quyết, quyết định về phát triển kinh tế - xã h ội, nói
chung chưa có các ngh ị quyết chuyên đề thực hiện CBXH trong các l ĩnh vực đời
sống xã hội, hoặc về tổng thể thực hiện CBXH. Để xây dựng nghị quyết chuyên đề
của tỉnh ủy về thực hiện CBXH trong một hoặc nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, cần:
Một là, xác định đúng vấn đề cần ra ngh ị quy ết chuyên đề về th ực hi ện
CBXH, quán triệt sâu sắc quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về thực hiện
CBXH để xây dựng nghị quyết chuyên đề về thực hiện CBXH.
Các tỉnh ủy cần xác định đúng vấn đề cần ra nghị quyết chuyên đề về thực
hiện CBXH, không ôm đồm nhiều vấn đề. Ví dụ: nghị quyết chuyên đề về nước
sạch ở nông thôn, về xây dựng nhà văn hóa nông thôn, nâng cấp y tế tuyến xã, về
127
phát triển và bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người dân, về bảo vệ môi trường nông
thôn trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Các tỉnh ủy quán triệt các quan điểm, giải pháp lớn trong Cương lĩnh chính
trị, văn kiện các Đại hội Đảng toàn quốc các nhiệm kỳ, nhất là Văn kiện Đại hội XI,
XII và trong các ngh ị quyết về phát triển kinh tế - xã h ội của Đảng để xây dựng
nghị quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH. Trong đó, các tỉnh ủy cần quán triệt
mục tiêu xây dựng nước ta dân giàu, n ước mạnh, dân ch ủ, công bằng, văn minh
trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát
triển năm 2011). Cần quán triệt bốn nội dung ch ủ yếu về thực hiện CBXH trong
Văn kiện Đại hội XI của Đảng: tập trung giải quyết tốt chính sách lao động, việc
làm và thu nhập; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe
nhân dân và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe
bà mẹ, trẻ em, đấu tranh phòng, chống có hiệu quả tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông.
Các tỉnh ủy quan tâm quán tri ệt những quan điểm, phương hướng và nh ững giải
pháp chủ yếu về quản lý phát triển xã hội và thực hiện tiến bộ, CBXH, trong Văn
kiện Đại hội XII của Đảng:
Trong xây dựng và thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quan
tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào
các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng
gia tăng phân hoá giàu - nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội
bền vững. Thực hiện các giải pháp, chính sách và quản lý để khắc phục
từng bước sự mất cân đối về phát triển đối với từng lĩnh vực, từng vùng,
bảo đảm sự hài hoà cả trong phát tri ển, hưởng thụ..., bảo đảm để nhân
dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới,
xây dựng và phát triển đất nước. Mọi người dân đều có cơ hội và điều
kiện phát triển toàn diện [34, tr.135-136].
Đồng thời, tỉnh ủy cần nắm chắc các chương trình quốc gia tạo việc làm, xóa
đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phổ cập giáo dục, phòng, chống tham
nhũng, lãng phí... Th ực hiện tốt những điều nêu trên trong xây d ựng nghị quyết
128
chuyên đề của tỉnh ủy về thực hiện CBXH sẽ bảo đảm cho nghị quyết không trái
với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện CBXH.
Hai là, nắm chắc những ưu, khuyết điểm và mức độ thực hiện CBXH trong
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên địa bàn tỉnh.
Đây là những căn cứ thực tiễn rất quan trọng để xác định các chủ trương, giải
pháp thực hiện CBXH được đề xuất trong nghị quyết chuyên đề của tỉnh ủy về thực
hiện CBXH. Điều này, bảo đảm cho nghị quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH sát
thực tế, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, hạn chế về thực hiện CBXH
trong thời gian qua và đạt kết quả lớn hơn.
Ba là, dự báo được diễn biến của những bất CBXH mới nảy sinh trên địa bàn
tỉnh để xây dựng nghị quyết chuyên đề thực hiện CBXH.
Tỉnh ủy cần nắm chắc những bất CBXH mới xuất hiện trên địa bàn tỉnh,
gồm: bất CBXH trong giáo dục và đào tạo; về hưởng thụ và thu nhận văn hoá, nghệ
thuật, chăm sóc y tế, bảo hiểm xã hội; về giới, về tuổi nghỉ hưu đối với cán bộ, công
chức, công nhân, viên ch ức; giữa những người, đơn vị khai thác và s ử dụng tài
nguyên, môi trường, gây ô nhiễm và phá hoại môi trường sinh thái với những người
chịu hậu quả... Tỉnh ủy cần dự báo được diễn biến của những bất CBXH đó và đề
xuất các giải pháp khắc phục. Thực hiện tốt điều nêu trên, bảo đảm cho nghị quyết
của tỉnh ủy về thực hiện CBXH có tính định hướng rõ rệt, tính khả thi và hạn chế sự
bị động, lúng túng trong thực hiện CBXH những năm tới.
Bốn là, phát huy trí tuệ các cơ quan tham mưu của tỉnh ủy, UBND tỉnh trong
xây dựng nghị quyết, đồng thời đề cao dân chủ trong hội nghị tỉnh ủy để xây dựng
nghị quyết về thực hiện CBXH.
Tỉnh ủy tranh thủ ý kiến của các cơ quan trung ương, nhất là những cơ quan
trực tiếp tham mưu về xây dựng chủ trương, chính sách th ực hiện CBXH. Đồng
thời, tỉnh ủy cần tạo thuận lợi để các tổ chức trong HTCT trên địa bàn tỉnh tham
gia ý kiến vào dự thảo nghị quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH. Cần nhận sức
sâu sắc lời dạy của Ch ủ tịch Hồ Chí Minh khi quy ết định chính sách: "Vì dân
chúng chính là nh ững người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta" [59,
tr.285]. Chuẩn bị chu đáo các điều kiện cần thiết phục vụ hội nghị tỉnh ủy về xây
129
dựng nghị quyết; tăng cường dân chủ trong bàn bạc, thảo luận và quyết định từng
vấn đề trong dự thảo nghị quyết và quyết định ban hành nghị quyết của tỉnh ủy về
thực hiện CBXH.
4.2.3. Xây dựng chính quyền từ tỉnh đến cơ sở vững mạnh bảo đảm thực
hiện công bằng xã hội đạt kết quả tốt
Chính quyền các cấp từ tỉnh đến cơ sở ở các tỉnh ĐBSH có vai trò rất quan
trọng trong vi ệc hiện thực hoá các ngh ị quyết, quyết định của tỉnh ủy, mục tiêu,
nhiệm vụ của chính quyền tỉnh và chính quyền cấp huyện, xã về thực hiện CBXH
tại địa phương. Hoạt động của chính quyền các cấp tác động trực tiếp đến cuộc sống
hằng ngày của đông đảo nhân dân trên địa bàn, bảo đảm cho cuộc sống của nhân
dân và công bằng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; đến uy tín,
thanh danh của đảng bộ, chính quyền tỉnh; uy tín chính trị vai trò lãnh đạo của Đảng
trong công cuộc đổi mới nói chung và lãnh đạo thực hiện CBXH nói riêng. Vì thế,
tăng cường sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với thực hiện CBXH không thể không coi
trọng xây dựng củng cố, kiện toàn các cơ quan chính quyền, nhất là UBND các cấp
từ tỉnh đến cơ sở. Cần thực hiện tốt những nội dung:
Một là, tỉnh ủy tập trung lãnh đạo, nghiên cứu, điều chỉnh, hoàn thiện chức
năng, nhiệm vụ của chính quyền từ tỉnh đến cơ sở theo Hiến pháp sửa đổi, kiện toàn
tổ chức bộ máy, cán bộ chính quyền.
Cần nghiên cứu, điều ch ỉnh, hoàn thi ện ch ức năng, nhi ệm vụ của chính
quyền tỉnh, thị xã, thành phố, huyện, xã, phường, thị trấn theo quy định của chương
IX: Chính quyền địa phương của Hiến pháp sửa đổi năm 2013 và theo Luật tổ chức
HĐND và UBND sửa đổi theo Hi ến pháp này. Tỉnh ủy cần bám ch ắc vào Hi ến
pháp, pháp luật để lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm
vụ, trách nhi ệm, quyền hạn của UBND, HĐND tỉnh, các sở, ban của UBND và
HĐND tỉnh; UBND, HĐND thị xã, thành ph ố, huyện và các phòng, bộ phận của
các tổ chức này; của UBND, HĐND xã, phường, thị trấn một cách phù hợp theo
quan điểm bảo đảm thực hiện CBXH ngay trong quá trình tiến hành công việc này
và trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền từ Trung ương đến cơ sở.
130
Kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của chính quyền từ tỉnh đến cơ sở theo
chức năng, nhiệm vụ đã được điều chỉnh, đảm bảo gọn nhẹ, khoa học, hoạt động có
hiệu quả. Trên cơ sở đó, tiến hành sắp xếp các cơ quan chuyên môn không chồng
chéo về chức năng, nhiệm vụ; xác định số lượng, cơ cấu, tiêu chuẩn cán bộ, công
chức của các cơ quan, bộ phận của chính quyền các cấp để tiến hành công tác cán
bộ theo hướng: trách nhiệm của từng tổ chức và cá nhân rõ ràng, rành m ạch; bộ
máy gọn nhẹ, tăng tính chuyên nghi ệp trong th ực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo
đảm thực hiện có kết quả CBXH.
Hai là, xây dựng quy chế làm việc rõ ràng, cụ thể và thực hiện nghiêm chỉnh,
tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước tại địa phương
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức của chính quyền
tỉnh, thị xã, thành phố, huyện, xã, phường, thị trấn tiến hành xây dựng quy chế làm
việc của các cơ quan, tổ chức đó và thực hiện nghiêm chỉnh. Cần chú ý đến các cơ
quan, tổ chức liên quan trực tiếp đến thực hiện CBXH. Trong quy chế làm việc cần
quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng chức danh cán
bộ, công chức, việc giải quyết các mối quan hệ công tác. Đặc biệt, coi trọng việc
quy định chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ
quan chính quyền các cấp và các tổ chức, bộ phận của các cơ quan chính quy ền.
Định kỳ xem xét bổ sung những nội dung cần thiết để quy chế làm việc hoàn thiện
hơn. Đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước ở địa phương theo hướng: xây dựng
nền hành chính công chuyển mạnh sang hỗ trợ, phục vụ người dân và doanh nghiệp
phát triển, coi đây là hướng chủ đạo, bảo đảm công bằng trong giải quyết các mối
quan hệ giữa các công dân, doanh nghiệp trong mọi hoạt động. Điều này thể hiện
tập trung ở mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội đối với
nền hành chính và các cơ quan công quyền ở địa phương.
Ba là, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, công chức tạo nên đội
ngũ cán bộ, công chức chính quyền từ tỉnh đến cơ sở có chất lượng tốt hoàn thành
chức trách, nhiệm vụ được giao bảo đảm thực hiện tốt CBXH.
Cần cụ thể hoá rõ ràng tiêu chuẩn các chức danh cán bộ chính quyền các cấp,
nhất là tiêu chuẩn chức danh cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cơ quan chính quyền
131
các cấp. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ
quan chính quyền từ tỉnh đến cơ sở gắn với xây dựng quy hoạch cấp ủy cùng cấp và
cấp ủy cấp trên. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là đào tạo, bồi dưỡng
theo chức danh, tăng cường luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý chính quyền các
cấp, nhất là những vị trí, địa bàn nhạy cảm liên quan đến lợi ích kinh tế và những
vấn đề xã hội... Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định và quy trình bổ nhiệm, tuyển
dụng cán bộ chính quyền, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động
của cán bộ, công ch ức chính quy ền, từng bước thực hiện bố trí cán b ộ là ng ười
đứng đầu các cơ quan chính quyền cấp huyện, cơ sở không là người địa phương.
Bốn là, nâng cao ch ất lượng hoạt động của HĐND, UBND các cấp trong
tỉnh, nhất là các cu ộc tiếp xúc cử tri; đổi mới và nâng cao ch ất lượng hoạt động
tiếp dân.
Những hoạt động nêu trên được đổi mới, nâng cao ch ất lượng các cấp ủy,
chính quyền sẽ nắm được tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, những vấn
đề bức xúc về quyền lợi, nghĩa vụ của nhân dân để có giải pháp giải quyết kịp thời,
góp phần quan trọng vào kết quả thực hiện CBXH. Tỉnh ủy và các cấp ủy cần tăng
cường lãnh đạo nâng cao chất lượng các kỳ họp HĐND về cụ thể hoá nghị quyết,
quyết định của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH. Đặc biệt coi tr ọng lãnh đạo việc đổi
mới, nâng cao chất lượng các cuộc tiếp xúc cử tri và các cuộc tiếp dân theo hướng
dân chủ, giải đáp được thắc mắc, đề nghị của cử tri và nhân dân, tạo niềm tin của
nhân dân. Trước các cuộc tiếp xúc cử tri, coi trọng tiếp xúc riêng các cử tri...
Ngoài các cuộc tiếp xúc cử tri của các đại biểu HĐND tỉnh, cấp huyện, cấp
xã trước và sau các kỳ họp HĐND các cấp trong tỉnh, cấp ủy cần tăng cường lãnh
đạo, chỉ đạo việc tiếp xúc cá nhân đại biểu HĐND các cấp với cử tri. Cần tiến hành
công việc này một cách th ường xuyên trong nh ững lúc thuận lợi về thời gian và
điều kiện làm việc của các đại biểu với hình thức đa dạng, phong phú, nhất là đối
với đại biểu HĐND cấp xã. Có th ể tiến hành việc này trong các cu ộc họp tại địa
phương, qua các cuộc sinh hoạt văn hóa, thể thao, các lễ hội... và qua việc tham gia
của đại biểu HĐND các cấp vào các sự kiện vui, buồn của gia đình các cử tri...
132
Trong các cuộc tiếp xúc riêng giữa đại biểu HĐND với cử tri, đại biểu cần
chú ý gợi mở, phân tích và tạo không khí tho ải mái trong giao ti ếp giữa đại biểu
HĐND với cử tri, nh ất là trong khi trao đổi những vấn đề về kinh tế - xã h ội và
những vấn đề về CBXH; chú ý lắng nghe ý kiến của cử tri, chỉ ra những thiếu sót,
hạn chế có sức thuyết phục trong ý kiến của cử tri... Nâng cao chất lượng các cuộc
tiếp dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những bức xúc của dân, để có chủ trương,
giải pháp giải quyết. Trước hết, cần duy trì thành nền nếp các cu ộc tiếp dân theo
quy định; phân công cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt tham gia các cuộc tiếp dân,
tránh tình trạng khoán trắng các cuộc tiếp dân cho cán bộ, công chức bộ phận tiếp
dân; sau các cuộc tiếp dân cần tổng hợp những ý kiến đề xuất của dân, trao đổi thảo
luận trong cấp ủy để tìm biện pháp giải quyết dứt điểm những vấn đề nảy sinh theo
thẩm quyền đã được phân cấp...
Năm là, tỉnh ủy tăng cường kiểm tra các cấp ủy, tổ chức đảng trong các cơ
quan chính quyền từ tỉnh đến cơ sở
Tỉnh ủy tăng cường chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng trong các cơ quan chính
quyền từ tỉnh đến cơ sở, lãnh đạo đảng đoàn HĐND, ban cán sự đảng UBND tỉnh
duy trì thành nền nếp việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI "M ột số
vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; coi trọng kiểm tra, sơ kết, tổng kết
đúc rút kinh nghiệm. Qua đó, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các
tổ chức đảng trong cơ quan chính quyền, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức
đảng trong vi ệc trực tiếp lãnh đạo cơ quan, cán b ộ, công ch ức chính quy ền thực
hiện CBXH.
4.2.4. Lãnh đạo chặt chẽ công tác thanh tra, xử lý sai ph ạm trong thực
hiện công bằng xã hội; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm
4.2.4.1. Tăng cường công tác thanh tra, xử lý sai phạm về thực hiện công
bằng xã hội
Thứ nhất, nâng cao nh ận thức của cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở về vai trò, tác
dụng của công tác thanh tra, xử lý sai phạm về thực hiện CBXH, từ đó đề cao trách
nhiệm của cấp ủy đối với công việc này.
Tỉnh ủy, các cấp ủy đảng cần đẩy mạnh việc tuyên truyền nâng cao nh ận
thức của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy, đơn vị, đảng viên, cán bộ,
133
công chức về vai trò, tác d ụng của công tác thanh tra, x ử lý sai ph ạm trong th ực
hiện CBXH. Ban thường vụ, thường trực và bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cơ
quan chính quyền phải chịu trách nhiệm trước hết về chất lượng, hiệu quả lãnh đạo,
chỉ đạo công tác thanh tra, xử lý sai phạm về thực hiện CBXH trên địa bàn, lĩnh vực
phụ trách.
Thứ hai, cùng với việc xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện các nghị
quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH, các cấp ủy, người đứng dầu cơ quan chính
quyền các cấp lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch
công tác thanh tra và triển khai thực hiện.
Cấp ủy cần xác định đúng nội dung cần tập trung thanh tra, lãnh đạo, chỉ đạo
các cơ quan ch ức năng xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra, tập trung vào
những địa bàn, lĩnh vực nhạy cảm liên quan tr ực tiếp đến thực hiện CBXH trong
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội dễ xảy ra tiêu cực.
Thứ ba, HĐND các cấp tăng cường kiểm tra, giám sát UBND cùng cấp và
cấp dưới trong thực hiện nhiệm vụ và thực hiện CBXH.
Ủy ban nhân dân cùng cấp là cơ quan thực hiện và chịu sự kiểm tra, giám sát
của HĐND cùng cấp về thực hiện các nghị quyết, quyết định của HĐND về thực
hiện CBXH. HĐND nhất là HĐND tỉnh, cấp huyện cần tích cực, chủ động thực
hiện có kết quả công việc này. Các ban của HĐND tỉnh cần tăng cường kiểm tra,
giám sát UBND cùng cấp và cấp dưới theo chuyên đề thuộc lĩnh vực phụ trách liên
quan đến thực hiện CBXH.
Thứ tư, cấp ủy tăng cường lãnh đạo các cơ quan chức năng tiến hành thanh
tra, kết luận và xử lý nghiêm minh những tổ chức, cán bộ, đảng viên, công chức vi
phạm CBXH.
Thực hiện tốt những công việc nêu trên sẽ loại bỏ những cản trở thực hiện
CBXH, tạo niềm tin trong nhân dân đối với tổ ch ức đảng, chính quy ền, cán bộ,
đảng viên trong thực hiện CBXH. Các cấp ủy, nhất là tỉnh ủy cần triển khai mạnh
mẽ công vi ệc này, tăng cường lãnh đạo cấp ủy, tổ chức đảng trong các c ơ quan
thanh tra, cơ quan tư pháp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo các cơ quan
này hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đồng thời, các cấp ủy coi trọng lãnh đạo xây dựng
134
quy chế phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, các cơ quan tư pháp và các cơ quan
liên quan trong công tác thanh tra theo quy định, xử lý sai ph ạm về th ực hi ện
CBXH, thực hiện nghiêm chỉnh quy chế đã được xây dựng, ban hành.
Thứ năm, định kỳ sơ kết, tổng kết công tác thanh tra, xử lý sai phạm về thực
hiện CBXH. Định kỳ 6 tháng, một năm tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ
đạo việc sơ kết, tổng kết công tác thanh tra, xử lý sai phạm về thực hiện CBXH của
các đơn vị trực thuộc và của tỉnh ủy. Đồng thời, tỉnh ủy chỉ đạo sơ kết, tổng kết
công tác thanh tra, xử lý sai phạm về thực hiện CBXH đối với các vụ việc, đơn vị
điển hình. Qua đó, rút ra những kinh nghiệm về công việc này. Trên cơ sở đánh giá
kết quả các cuộc thanh tra, xử lý sai phạm và lắng nghe ý kiến đóng góp của các địa
phương, đơn vị tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy chỉ đạo rút ra những kinh nghiệm và
những vấn đề cần tập trung giải quyết để thực hiện CBXH đạt kết quả lớn hơn.
4.2.4.2. Ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm
"Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp,
nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt,
làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn
vong của Đảng và chế độ” [25, tr.12]. Tham nhũng, lãng phí cùng với lợi ích nhóm
là các tệ nạn rất nguy hiểm, một trong những nhân tố nguy hiểm nhất gây nên bất
CBXH. Tỉnh ủy, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và cả HTCT cần có
quyết tâm chính trị cao, có các giải pháp mạnh ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn này.
Cần tập trung vào:
Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức
và nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm. Tăng
cường tuyên truyền nâng cao nhận thức và ý th ức trách nhiệm của đảng viên, cán
bộ, công chức và nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và lợi
ích nhóm. Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong công việc
này và trong phát hiện đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm.
Hai là, phát huy mạnh mẽ vai trò các chi b ộ, các tổ chức trong HTCT và
nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm. Cần
phát huy mạnh mẽ vai trò các chi bộ, các tổ chức trong HTCT và nhân dân trong
135
quản lý, giám sát cán b ộ, đảng viên phát hi ện những biểu hiện tham nhũng, lãng
phí, lợi ích nhóm, nh ất là ở các lĩnh vực dễ xảy ra tham nh ũng, lãng phí và hình
thành lợi ích nhóm.
Ba là, công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính, quản lý, sử dụng đất đai, tài
sản công, công tác cán bộ. Cấp ủy lãnh đạo chặt chẽ và th ực hiện nghiêm chế độ
công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính trong các c ơ quan hành chính, đơn vị
cung ứng dịch vụ công, doanh nghiệp nhà nước của tỉnh. Công khai, minh bạch về
cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà
nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản lý, sử dụng đất đai, tài sản công, công
tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ.
Bốn là, xây dựng ban nội chính tỉnh ủy đủ mạnh làm nòng c ốt trong đấu
tranh phòng, ch ống tham nh ũng, lãng phí và l ợi ích nhóm; t ăng cường công tác
kiểm toán, thanh tra, kiểm tra, giám sát. Các tỉnh ủy tập trung cao độ vào xây dựng
ban nội chính tỉnh ủy về tổ chức bộ máy, cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ nhất là cán bộ chủ chốt và nâng cao chất lượng hoạt động bảo đảm tham mưu, đề
xuất cho tỉnh ủy các chủ trương, giải pháp khả thi phòng, chống tham nhũng, lãng
phí và lợi ích nhóm.
Năm là, xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ tham nhũng, lãng phí, sa
vào lợi ích nhóm. Xử phạt nghiêm minh, kịp thời theo pháp luật và công khai những
cán bộ tham nhũng, lãng phí và sa vào lợi ích nhóm. Kỷ luật nghiêm những người
bao che, cố tình cản trở việc chống tham nhũng lãng phí hoặc lợi dụng việc này vì
mục đích không trong sáng. Quy trách nhiệm trước hết và cao nh ất đối với người
đứng đầu cơ quan, đơn vị xảy ra tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm và xử lý một
cách thích hợp. Xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân gây thất thoát lớn tài sản của
Nhà nước và nhân dân; khuy ến khích và bảo vệ người tích cực đấu tranh ch ống
tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm.
4.2.5. Xây dựng các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng vững mạnh thực sự
là chủ thể lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội đạt kết quả
4.2.5.1. Nâng cao chất lượng các tỉnh ủy viên và tỉnh ủy
Một là, cụ thể hóa tiêu chuẩn tỉnh ủy viên, ủy viên ban thường vụ, bí thư, phó
bí thư tỉnh ủy. Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30-5-2014 của Bộ Chính trị về đại hội
136
đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XII của Đảng, quy định tiêu chuẩn cấp ủy
viên nhiệm kỳ 2016-2020 đã nhấn mạnh việc lựa chọn, giới thiệu nhân sự cấp ủy
khóa mới căn cứ vào tiêu chu ẩn chung của cán bộ được quy định tại Nghị quyết
Trung ương 3 khóa VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước và tiêu chuẩn cụ thể của từng chức danh cán bộ. Đồng thời, Chỉ thị đã chỉ ra
tiêu chuẩn cấp ủy viên: (i) Tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng
của Đảng, có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục
tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối
của Đảng, chính sách và pháp lu ật của Nhà nước. (ii) Cần, kiệm, liêm, chính, chí
công, vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý
thức tổ chức kỷ luật. Trung thực, không cơ hội; gắn bó mật thiết với nhân dân, được
nhân dân tín nhiệm. (iii) Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường
lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên
môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
được giao.
Đối với tỉnh ủy viên ở các tỉnh ĐBSH cần nhấn mạnh tiêu chu ẩn về lập
trường tư tưởng chính trị; năng lực tổ chức thực tiễn thể hiện bằng hiệu quả công
việc; uy tín trong Đảng, trong nhân dân; tư duy đổi mới, sáng tạo, khả năng tiếp
cận, nắm bắt, xử lý có hiệu quả những vấn đề mới phát sinh; đoàn kết, quy tụ đội
ngũ cán bộ; phong cách công tác khoa h ọc, dân chủ, sâu sát, dám nghĩ, dám làm,
dám chịu trách nhiệm; minh bạch, công tâm, khách quan trong công tác cán bộ; khả
năng phát hiện và sử dụng người có đức, có tài; không tham nhũng; có thái độ kiên
quyết đấu tranh với các biểu hiện tham ô, tham nhũng, tiêu cực và phản bác lại các
luận điệu xuyên tạc, phản động, trái với Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Hiến pháp, pháp
luật của Nhà nước. Có thái độ nghiêm túc khắc phục, sửa chữa kịp thời những yếu
kém và khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình.
Ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy phải thực sự tiêu biểu, nổi trội về mọi mặt so
với các tỉnh ủy viên. Bí thư, phó bí thư tỉnh ủy phải thực sự tiêu biểu về trí tuệ, đạo
đức, uy tín, năng lực tổ chức thực tiễn và sự cống hiến, được cán bộ, đảng viên và
nhân dân trong tỉnh tín nhiệm và nói chung phải kinh qua lãnh đạo chủ chốt của cấp
ủy cấp dưới.
137
Hai là, nâng cao chất lượng quy ho ạch tỉnh uỷ, hình thành cơ cấu tỉnh ủy
hợp lý ngay trong quá trình xây d ựng quy hoạch tỉnh ủy và theo hướng dẫn, quy
định của Đảng. Cần xây dựng quy hoạch tỉnh ủy cho hai nhiệm kỳ. Mở rộng đối
tượng quy hoạch, đưa vào quy hoạch những cán bộ ở các cơ quan trung ương. Chủ
động tạo nguồn từ xa, nguồn dài hạn để xây dựng quy hoạch tỉnh uỷ, quan tâm đưa
vào quy ho ạch tỉnh ủy những nhân tố mới đã được thử thách trong th ực tiễn, đủ
điều kiện và tiêu chuẩn cán bộ đưa vào quy hoạch.
Hình thành cơ cấu tỉnh ủy trong các nhiệm kỳ một cách hợp lý ngay trong
quá trình xây dựng quy hoạch tỉnh ủy và trên cơ sở hướng dẫn của Đảng về cơ cấu
độ tuổi, giới tính, dân tộc thiểu số. Phấn đấu bảo đảm cơ cấu ba độ tuổi trong tỉnh
ủy, ban thường vụ và th ường trực tỉnh ủy một cách hợp lý theo hướng: tuổi thấp,
tuổi trung bình và tu ổi cao theo tỷ lệ tương ứng lý tưởng là 30%, 40%, 30% ( độ
tuổi thấp gồm các tỉnh ủy viên, ủy viên thường vụ tỉnh ủy có tuổi đời dưới 40 tuổi;
độ tuổi trung bình, từ 40 đến 55 tuổi, độ tuổi cao từ 55 đến 60 tuổi); tỷ lệ tỉnh ủy
viên có tuổi đời dưới 40 tuổi không dưới 10%; tỷ lệ tỉnh ủy viên là nữ không dưới
15%, cần có nữ trong ban thường vụ tỉnh ủy. Đối với các tỉnh Quảng Ninh, Vĩnh
Phúc, Ninh Bình cần quan tâm để có tỉnh ủy viên là ng ười dân tộc thiểu số một
cách hợp lý.
Xây dựng kế ho ạch thực hiện quy ho ạch tỉnh ủy và tri ển khai th ực hiện.
Đồng thời, tỉnh ủy coi trọng và duy trì thành nền nếp việc định kỳ xem xét, bổ sung
vào quy hoạch tỉnh uỷ nguồn nhân lực và tố chất mới, đưa ra khỏi quy hoạch những
cán bộ có sai phạm lớn và không còn khả năng phát triển.
Ba là, đẩy mạnh đào tạo cơ bản, tập trung và luân chuyển cán bộ trong quy
hoạch tỉnh ủy, tăng cường bồi dưỡng tỉnh ủy viên đương chức. Đối với những tỉnh
ủy viên đương chức cần tăng cường bồi dưỡng cập nhật các kiến thức cần thiết để
bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Đối với những cán bộ trong quy hoạch
tỉnh ủy cần có kế hoạch gửi đi đào tạo một cách hệ thống theo hình thức tập trung ở
các cơ sở đào tạo cán bộ của Đảng, Nhà nước. Đồng thời, tỉnh ủy định kỳ tổ chức
các khóa bồi dưỡng kiến thức tại địa phương hoặc cử đi học các lớp bồi dưỡng kiến
thức theo chức danh cán bộ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Trong đó,
138
cần chú ý b ồi dưỡng những kiến thức về CBXH và th ực hiện CBXH. Có th ể tổ
chức các lớp bồi dưỡng về CBXH và thực hiện CBXH trong điều kiện hiện nay tại
địa phương. Coi tr ọng việc trao đổi kinh nghiệm với các tỉnh, thành ủy trong và
ngoài vùng ĐBSH về lãnh đạo thực hiện CBXH.
Tỉnh ủy tạo thuận lợi cho cán bộ tự giác tự học tập, tự rèn luyện về mọi mặt.
Từng cán bộ trong quy hoạch và tỉnh ủy viên đương chức cần tự giác tự học tập, rèn
luyện và thực hiện nghiêm chỉnh quan điểm của Đảng: “Lười học tập, lười suy nghĩ
không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới, những hiểu biết mới cũng là
biểu hiện của sự thoái hoá” [17, tr.141].
Bốn là, tăng cường quản lý, đánh giá, kiểm tra, giám sát hoạt động của các
tỉnh ủy viên đương chức và trong quy ho ạch. Quản lý chặt chẽ, đánh giá đúng và
tăng cường kiểm tra, giám sát các tỉnh ủy viên đương chức theo chức trách, nhiệm
vụ và cương vị đảm nhiệm. Tăng cường quản lý, kiểm tra cán bộ trong quy hoạch
tỉnh ủy viên, nhất là về năng lực tổ chức thực tiễn, phong cách làm việc, khả năng
phát triển.
Năm là, xây dựng và thực hiện nghiêm chỉnh quy chế làm việc của tỉnh ủy,
định kỳ xem xét sửa đổi, bổ sung những vấn đề mới vào quy chế làm việc. Sau đại
hội các nhiệm kỳ, tỉnh ủy cần khẩn trương xây dựng quy chế làm việc của tỉnh ủy,
trong đó quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của tỉnh ủy viên,
ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy, thường trực tỉnh ủy, các mối quan hệ công tác...; tỉnh
ủy cần duy trì thành nền nếp việc thực hiện nghiêm chỉnh quy chế làm việc đã được
xây dựng. Đồng thời, tỉnh ủy định kỳ xem xét, bổ sung nh ững nội dung cần thiết
vào quy chế làm việc của tỉnh ủy để quy chế hoàn chỉnh hơn.
Sáu là, tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc của tỉnh ủy và các cấp ủy
đảng đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện CBXH. Cần tập trung vào những nội dung
như: phát huy dân chủ, đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, thông suốt từ tỉnh
ủy đến cơ sở trong triển khai thực hiện nghị quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH.
Đề cao tinh th ần tích cực, chủ động, dám ngh ĩ, dám làm, dám ch ịu trách nhi ệm
trong lãnh đạo thực hiện CBXH tại địa phương. Hướng về cơ sở, sâu sát cơ sở,
gắn bó với thực tiễn, quan hệ mật thiết với nhân dân, nắm vững tâm tư, nguyện
139
vọng, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân về CBXH, nhất là những bức xúc
của nhân dân về những tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên cản trở và
gây bất CNXH.
Rèn luyện phong cách làm vi ệc có ch ương trình, kế ho ạch, có tr ọng tâm,
trọng điểm, giải quyết dứt điểm công vi ệc; coi trọng xem xét nh ững ý ki ến phản
biện về các chủ trương, giải pháp thực hiện CBXH của tỉnh ủy; thường xuyên xem
xét lại những việc đã tiến hành hằng tuần, tháng... Xây dựng phong cách lãnh đạo
có kiểm tra, không kiểm tra, coi như không có lãnh đạo; tăng cường việc tự kiểm tra
hoạt động lãnh đạo thực hiện CBXH của từng tỉnh ủy viên và tập thể tỉnh ủy, ban
thường vụ tỉnh ủy. Đồng thời, tỉnh ủy cần chỉ đạo các cấp ủy, nhất là cấp ủy trực
thuộc về xây dựng và rèn luyện phong cách làm việc luôn tự kiểm tra những hoạt
động của mình...
4.2.5.2. Nâng cao chất lượng các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh uỷ
Một là, nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò các ban tham mưu, giúp việc của
tỉnh ủy. Các cơ quan tham mưu, giúp vi ệc của tỉnh ủy có vị trí, vai trò r ất quan
trọng đối với chất lượng hoạt động của tỉnh ủy. Nhiều người đưa ra ý kiến hợp lý,
cho rằng, các cơ quan này là “bộ óc thứ hai” của tỉnh ủy, thường xuyên là của ban
thường vụ, thường trực tỉnh ủy trong mọi hoạt động. Cần nhận thức sâu sắc điều
này và tập trung lãnh đạo nâng cao ch ất lượng các ban tham mưu, giúp việc của
tỉnh ủy.
Hai là, rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các cơ
quan tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy, xây dựng và thực hiện nghiêm chỉnh quy chế
làm việc. Coi trọng và thực hiện tốt điều này, không để xảy ra tình trạng chồng chéo
về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan tham mưu, giúp việc. Trong quy chế làm
việc cần quy định rõ chức trách, nhiệm vụ từng chức danh cán bộ, quan hệ công tác
của cơ quan với tỉnh ủy, ban thường vụ và thường trực tỉnh ủy và với các cơ quan
tham mưu khác, các cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong tỉnh.
Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy
cần chỉ đạo việc kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao ch ất lượng cán bộ bảo đảm
thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tham mưu.
140
Ba là, cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh
ủy làm cơ sở để rà soát đội ngũ cán bộ và nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ.
Tiêu chuẩn cán b ộ các cơ quan tham m ưu, giúp vi ệc của tỉnh ủy cần bảo đảm
những yêu cầu: vững vàng, kiên định, nhạy bén về chính trị; nắm vững quan điểm
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có kiến thức chuyên sâu
về lĩnh vực công tác tham m ưu; am hi ểu tình hình th ực tế địa phương; có ki ến
thức và kinh nghiệm về xây dựng Đảng, có khả năng phân tích, tổng hợp và độc
lập suy nghĩ; có phong cách làm việc dân chủ, tập thể, sâu sát cơ sở; có khả năng
nắm bắt những nhân tố mới, phát hi ện nh ững mâu thu ẫn nảy sinh, đề xu ất giải
pháp khả thi để giải quyết; có đạo đức, lối sống, trung thực, công tâm, trong sạch,
tận tuỵ, yêu công việc.
Trên cơ sở những yêu cầu về tiêu chuẩn nêu trên tỉnh ủy tiến hành xây dựng,
hoàn chỉnh quy hoạch và xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán
bộ nhằm phát huy tài năng, sở trường của từng cán bộ tham mưu và cả đội ngũ cán
bộ tham mưu đối với hoạt động của tỉnh ủy, trong đó có hoạt động lãnh đạo thực
hiện CBXH.
Bốn là, nghiên cứu và từng bước thực hiện việc thi tuyển chặt chẽ, khoa học
cán bộ vào làm việc trong các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy; bố trí đúng
người đứng đầu các ban này. Tỉnh ủy coi trọng nghiên cứu và từng bước thực hiện
việc thi tuyển cán bộ vào làm việc trong các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh
ủy. Từ đó, ti ến hành đào tạo, bồi dưỡng một cách cơ bản và th ường xuyên về
chuyên môn, nghiệp vụ. Tỉnh ủy cần có quy định về chế độ đãi ngộ một cách thỏa
đáng để thu hút người có đức, có tài về làm việc trong các cơ quan tham mưu, giúp
việc của tỉnh ủy.
Tỉnh ủy cần loại bỏ kịp thời những phần tử cơ hội, vụ lợi, thiếu trung thực,
hẹp hòi, nịnh trên, nạt dưới, lợi dụng ví trí công tác để trục lợi khỏi các cơ quan
tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy. Bởi vì, những người này, không chỉ làm giảm uy
tín chính trị, thanh danh của tỉnh ủy, mà còn gây nên những bất CBXH trong một số
lĩnh vực ở địa phương, nhất là trong công tác cán b ộ. Việc lựa chọn, bố trí người
141
đứng đầu các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy cần chặt chẽ, đúng quy định
và hướng dẫn của Đảng.
4.2.6. Nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội của các tổ
chức cơ sở đảng; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc các đoàn thể chính trị
- xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, các nhà hảo tâm trong thực hiện
công bằng xã hội
4.2.6.1. Nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội của các
tổ chức cơ sở đảng, đặc biệt là đảng bộ xã, phường, thị trấn
Chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, của tỉnh ủy về phát triển kinh
tế - xã hội, thực hiện CBXH chủ yếu được triển khai thực hiện ở cơ sở dưới sự lãnh
đạo của các tổ chức cơ sở đảng, đặc biệt là các đảng bộ xã, phường, thị trấn. Cùng
với nâng cao chất lượng các đảng ủy cơ sở, cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực
lãnh đạo thực hiện CBXH của các tổ chức cơ sở đảng trong tỉnh, cần đặc biệt coi
trọng nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện CBXH của các đảng bộ xã phường, thị
trấn. Tập trung vào:
Một là, tập trung tạo chuy ển bi ến mạnh mẽ về ch ất lượng đảng ủy, ban
thường vụ đảng ủy và đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn bảo đảm lãnh
đạo thực hiện CBXH tại cơ sở. Ban thường vụ tỉnh ủy cần rà soát, bổ sung, hoàn
chỉnh tiêu chuẩn đảng ủy viên, ủy viên ban thường vụ đảng ủy và tiêu chuẩn chức
danh cán bộ chủ chốt xã, ph ường, thị trấn. Ngoài các tiêu chu ẩn chung về phẩm
chất, năng lực, phong cách làm việc, ý thức tổ chức, kỷ luật cần nhấn mạnh những
yêu cầu về lãnh đạo, quản lý việc thực hiện CBXH trên địa bàn và trên lĩnh vực cán
bộ phụ trách. Đồng thời, tập trung vào những khâu trọng tâm của công tác cán bộ,
như: nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cấp ủy, cán bộ chủ chốt xã, phường,
thị trấn; coi trọng thu hút nh ững cán bộ trẻ tuổi, có ph ẩm chất đạo đức, năng lực
công tác, tâm huyết với địa phương về làm việc tại xã, phường, thị trấn để đưa vào
quy hoạch cán bộ; đổi mới việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở tại trường chính trị
tỉnh, coi trọng đưa các nội dung về lãnh đạo, quản lý những vấn đề xã hội và thực
hiện CBXH tại cơ sở vào chương tình học tập; tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt
142
động của cán bộ; cải tiến chế độ lương, phụ cấp đối với cán bộ chủ chốt xã, phường,
thị trấn...
Hai là, hoàn thiện mô hình tổ chức chi bộ thôn, xóm, tổ dân phố có đủ các
tổ chức đảng, các chi hội đoàn thể nhân dân lãnh đạo trực tiếp giải quyết những
vấn đề thiết thực của dân và thực hiện CBXH ngay trên địa bàn. Việc hoàn thiện
mô hình chi bộ trực thuộc đảng ủy xã, phường, thị trấn theo hướng đồng bộ về tổ
chức đảng và các chi hội đoàn thể nhân dân trên địa bàn thôn, xóm, tổ dân phố sẽ
tạo sự đồng bộ trong lãnh đạo và tổ chức thực hiện những vấn đề cụ thể đem lại
lợi ích thi ết thực cho nhân dân, nh ư: tạo thuận lợi cho nhân dân thôn, xóm phát
triển kinh tế; phòng chống tệ nạn xã hội; bảo đảm an ninh, trật tự, xây dựng thôn,
xóm, tổ dân ph ố văn hóa; gi ữ gìn vệ sinh, giúp nhau khi ho ạn nạn... Các chi b ộ
lãnh đạo thực hiện tốt những việc này là thiết thực thực hiện CBXH ngay từ thôn,
xóm, tổ dân phố.
Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên gắn với phân công đảng viên
phụ trách các vấn đề xã hội và phát huy vai trò đảng viên trong thực hiện CBXH.
Định kỳ bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt của đảng viên, nhất là những kiến
thức cần thiết về thực hiện CBXH; tạo thuận lợi về việc làm, tăng thu nh ập cho
đảng viên ngay tại quê hương, để đảng viên không phải đi làm ăn xa quê hương dài
ngày; phân công đảng viên phụ trách các vấn đề xã hội. Qua đó, phát huy vai trò
của đảng viên trong thực hiện CBXH tại cơ sở.
Bốn là, tăng cường kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp huyện đối với cấp ủy
cơ sở, nhất là việc kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp huyện đối với các đảng ủy xã,
phường, thị trấn về thực hiện CBXH. Cùng với việc kiểm tra định kỳ của cấp ủy, ủy
ban kiểm tra cấp ủy cấp huyện, cần kiểm tra các đảng ủy xã, phường, thị trấn theo
chuyên đề về lãnh đạo giải quyết những vấn đề xã hội và thực hiện CBXH trên địa
bàn. Đồng thời, cấp ủy cấp huyện kết hợp kiểm tra về công tác xây dựng Đảng, lãnh
đạo các tổ chức trong HTCT, các lĩnh vực đời sống xã hội với việc lãnh đạo thực
hiện CBXH của các đảng ủy xã, phường, thị trấn.
143
4.2.6.2. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị -
xã hội, tổ chức xã hội trong thực hiện công bằng xã hội
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội có vai
trò rất quan trọng không chỉ đối với sự phát triển mọi mặt của đất nước, mà còn đối
với thực hiện CBXH ở các địa phương. Để các tỉnh ủy lãnh đạo phát huy mạnh mẽ
vai trò của các tổ chức này trong thực hiện CBXH, cần:
Thứ nhất, đổi mới nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên
về vị trí, vai trò và sự cần thiết phát huy vai trò của MTTQ, các đoàn thể chính trị -
xã hội, các tổ chức xã hội trong thực hiện CBXH. Trong thời kỳ cách mạng trước
đổi mới, ở nhiều nơi trong thời kỳ dài MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội đã bị
hành chính hóa. Trong điều kiện hiện nay, vị trí, vai trò của các tổ chức này có sự
chuyển biến vượt bậc, nhất là vi ệc tham gia vào các quy ết sách chính tr ị của đất
nước, giám sát, ph ản biện xã hội đối với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước, có tiếng nói trong hình thành các tổ chức, cơ quan nhà nước... Các cấp ủy, tổ
chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nhận thức sâu sắc điều này và có chủ trương, giải
pháp khả thi phát huy vai trò của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội trong mọi
hoạt động của địa phương và trong thực hiện CBXH.
Thứ hai, tăng cường lãnh đạo củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của
MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội đáp ứng yêu cầu tham gia có hiệu quả vào
thực hiện CBXH. Tỉnh ủy, các cấp ủy cần tăng cường lãnh đạo củng cố, kiện toàn
tổ chức bộ máy của các tổ chức này theo hướng xác định rõ chức năng, nhiệm vụ
của từng tổ chức, không chồng chéo, trùng lặp; các bộ phận được tổ chức một cách
khoa học đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ và tham gia có hiệu quả
vào thực hiện CBXH ở địa phương; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán
bộ chủ chốt; khắc phục dần tình trạng đưa những cán bộ phẩm chất, năng lực yếu,
không bố trí được công vi ệc về làm vi ệc trong MTTQ, các đoàn thể, biến các tổ
chức này thành "phòng chờ" của những cán bộ sắp nghỉ hưu. Tỉnh ủy cần quan tâm
cơ cấu đồng chí ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy giữ chức chủ tịch MTTQ tỉnh, chỉ
đạo cấp ủy cấp huyện, cấp xã bố trí ủy viên ban th ường vụ cấp ủy là ch ủ tịch
MTTQ cùng cấp.
144
Thứ ba, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể
chính trị - xã hội hướng vào các hoạt động xã hội, thực hiện CBXH. MTTQ và các
đoàn thể chính tr ị - xã h ội cần đẩy mạnh phát động, duy trì các phong trào hành
động cách mạng hướng vào thực hiện những vấn đề xã hội trên địa bàn, động viên
đoàn viên, hội viên tham gia. Đồng thời, các tổ chức này, cần coi tr ọng các ho ạt
động làm cầu nối giữa các cá nhân, t ổ chức, lực lượng trong các ho ạt động nhân
đạo, từ thiện, hỗ trợ thiên tai, hỗ trợ những người yếu thế xóa đói, giảm nghèo, đền
ơn, đáp nghĩa...
Thứ tư, động viên và tạo thuận lợi để MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã
hội trong tham gia xây dựng và giám sát, phản biện xã hội đối với các nghị quyết
của tỉnh ủy về thực hiện CBXH. Tỉnh ủy cần tổ chức tốt việc lấy ý kiến đóng góp
của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội vào các dự thảo nghị quyết của tỉnh ủy
về thực hiện CBXH, nghiên cứu, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện trước khi quyết định.
Tổ chức quán triệt Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW ngày
12-12-2013 của Bộ Chính trị về Quy chế giám sát và phản biện xã hội và về tham
gia góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của các tổ chức này. MTTQ
và các đoàn thể cần tăng cường giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng
viên trong thực hiện các nghị quyết của tỉnh ủy về thực hiện CBXH, phản biện xã
hội các quyết định của tỉnh ủy, các cấp ủy về thực hiện CBXH trước khi ban hành,
tham gia xây dựng Đảng, chính quyền. Các cấp ủy tạo thuận lợi cho MTTQ và các
đoàn thể thực hiện tốt công việc này.
4.2.6.3. Lãnh đạo phát huy vai trò c ủa các tổ chức kinh tế, các nhà hảo
tâm tham gia thực hiện công bằng xã hội
Các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả trong điều kiện
hiện nay, phải có ngân sách lớn nên phải huy động ngân sách từ nhiều nguồn và có
sự tham gia nhiệt tình của các tổ chức, lực lượng. Trong đó sự tham gia của các tổ
chức kinh tế, các nhà hảo tâm trong các thành phần kinh tế là rất quan trọng. Để đạt
được điều này, cần:
Thứ nhất, tỉnh ủy lãnh đạo sự phối hợp giữa chính quyền tỉnh với các tổ chức
kinh tế, các nhà hảo tâm, khuyến khích họ tham gia thực hiện CBXH. Tỉnh ủy lãnh
145
đạo sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền tỉnh với các tổ chức kinh tế, các nhà hảo
tâm trên tinh thần cởi mở, tôn trọng và khuyến khích họ hỗ trợ tài chính, vật chất để
thực hiện CBXH. Tỉnh ủy tăng cường lãnh đạo tận dụng các nguồn lực ngoài nước,
nguồn lực của các tổ chức phi chính phủ (INGO) để thực hiện CBXH, như: nguồn
lực hỗ trợ thiên tai, bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, xóa đói, giảm nghèo, phát
triển y tế, giáo dục...
Thứ hai, tỉnh ủy tăng cường lãnh đạo cải cách hành chính nhà nước tạo thuận
lợi thu hút vốn đầu tư vào tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH.
Tỉnh ủy tăng cường lãnh đạo cải cách hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh, tạo
môi trường thông thoáng, giảm các thủ tục hành chính để thu hút vốn đầu tư phát
triển kinh tế - xã hội và thực hiện CBXH. Cần tập trung thu hút vốn đầu tư vào các
công trình xây dựng kết cấu hạ tầng, các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng
khó khăn, vùng sâu, vùng xa trong t ỉnh, tạo chuyển biến về th ực hiện CBXH ở
những vùng này.
Thứ ba, cổ vũ, động viên các tổ chức kinh tế và các doanh nhân tham gia vào
các chương trình trọng điểm của tỉnh về thực hiện CBXH. Tăng cường vận động các
doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế, các đơn vị sản xuất kinh doanh, các tổ
chức và cá nhân tham gia vào các ch ương trình trọng điểm của tỉnh về thực hiện
CBXH, như: xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ thiên tai, khắc phục hậu
quả biến đổi khí hậu, phát triển giáo dục, y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực...
Thứ tư, tỉnh ủy lãnh đạo chính quyền tỉnh có những quy định ưu đãi, khuyến
khích các tổ chức kinh tế, doanh nhân đầu tư vào phát triển kinh tế - xã hội ở những
vùng đặc biệt khó kh ăn tạo thuận lợi để thực hiện CBXH. Cần có nh ững ưu đãi,
như: miễn, giảm thuế, được hưởng lãi suất vay vốn ưu đãi từ ngân sách tỉnh... đối
với các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh đầu tư vào những vùng đặc
biệt khó khăn để phát triển kinh tế - xã hội; những đơn vị tiếp nhận những đối tượng
chính sách còn khả năng lao động vào làm việc trong đơn vị đó.
4.2.7. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương đối với các tỉnh
ủy trong lãnh đạo thực hiện công bằng xã hội
Tỉnh ủy ở ĐBSH là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ tỉnh giữa hai kỳ đại hội đại
biểu đảng bộ, chịu trách nhiệm trước đảng bộ và nhân dân trong tỉnh và trước Đảng
146
về lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh, chỉ
thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung và lãnh đạo
thực hiện CBXH nói riêng. Thành quả và ưu điểm, nhất là những khuyết điểm, hạn
chế về lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy, trước hết thuộc về trách nhiệm
của tỉnh ủy, song cũng phụ thuộc rất lớn vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà
nước, trong đó có sự tham mưu của các cơ quan tham mưu của Đảng và các Bộ,
ngành của Nhà nước. Trong nhiều trường hợp, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tạo
điều kiện thuận lợi của Đảng, Nhà nước trở thành nhân tố đặc biệt quan trọng tạo
nên thành quả lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy ở ĐBSH. Bởi vậy, cần
tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và tạo điều kiện
thuận lợi của các cơ quan Trung ương đối với sự lãnh đạo thực hiện CBXH của các
tỉnh ủy, đặc biệt là về đường lối, quan điểm chỉ đạo, các định hướng, chủ trương,
giải pháp lớn, chính sách, pháp luật về CBXH. Để tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các
tỉnh ủy ở ĐBSH trong lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả, cần tập trung vào
những vấn đề sau đây:
Một là, Đảng và Chính phủ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo tổng kết thực tiễn làm
sáng tỏ lý luận về CBXH và lãnh đạo thực hiện CBXH trong điều kiện hiện nay làm
cơ sở để các tỉnh ủy ở ĐBSH ban hành các nghị quyết đúng về thực hiện CBXH.
CBXH và thực hiện CBXH trong CNXH trong điều kiện hiện nay ở nước ta là vấn
đề rất mới, còn nhiều vấn đề cần được làm sáng tỏ bằng con đường tổng kết thực
tiễn. Để các tỉnh ủy lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả hơn. Ban Bí th ư, Bộ
Chính trị tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tổng kết thực tiễn về thực hiện CBXH, tăng
cường lãnh đạo, chỉ đạo củng cố, kiện toàn, nâng cao ch ất lượng cán bộ và ho ạt
động của các cơ quan nghiên cứu lý luận chính trị; tăng cường dân chủ trong nghiên
cứu, trao đổi, thảo luận về các vấn đề lý luận, trong đó có CBXH.
Hai là, Ban Bí thư, Bộ Chính trị tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các tỉnh ủy ở
ĐBSH tổng kết thực tiễn; các ban, bộ, ngành trung ương tạo thuận lợi để các tỉnh ủy
tổng kết thực tiễn về thực hiện CBXH, góp ph ần phát triển lý lu ận về CBXH và
thực hiện CBXH. Ban Bí thư, Bộ Chính trị tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các tỉnh ủy
ở ĐBSH định kỳ tổng kết sự lãnh đạo của tỉnh ủy, hoạt động của chính quyền về
147
thực hiện CBXH vào giữa nhiệm kỳ và khi chuẩn bị đại hội đảng các cấp. Các cấp
ủy cần nắm bắt những vấn đề mới nảy sinh về thực hiện CBXH, bàn bạc, thảo luận
và quyết định giải quyết, hoặc đề xuất với các cơ quan nghiên cứu lý luận để làm
sáng tỏ...
Ba là, Quốc hội, Chính phủ điều chỉnh, sửa đổi hoặc xây dựng, ban hành các
văn bản pháp luật theo Hiến pháp sửa đổi, tạo thuận lợi cho các tỉnh ủy lãnh đạo
thực hiện CBXH như: Luật Doanh nghiệp, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước,
Luật Thương mại, Luật Doanh nghi ệp tư nhân, Lu ật Phòng, ch ống tham nh ũng,
lãng phí, Luật Đất đai, Bộ luật Lao động, Luật Cạnh tranh; Luật Giáo dục, Luật Bầu
cử, Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở... Qua đó, tạo cơ sở pháp lý cho các tỉnh ủy lãnh đạo
thực hiện CBXH đạt kết quả.
Các luật do Qu ốc hội ban hành c ần cụ th ể và có hi ệu lực thi hành ngay
không đợi các nghị định, thông tư hướng dẫn. Nhưng luật nào chưa đủ điều kiện
thi hành thì ban hành ngh ị định, những văn bản pháp luật đã ban hành thì không
cần thiết phải có thông tư hướng dẫn thi hành gây phức tạp, phiền hà, hướng dẫn ở
thời điểm này có nh ững điểm khác với hướng dẫn ở thời điểm khác, tạo cơ hội
cho sự phát triển lợi ích nhóm. Làm tốt điều này sẽ khắc phục được tình trạng, trên
thực tế, văn bản dưới luật quan trọng hơn luật, cơ quan hành pháp lấn át cơ quan
lập pháp và t ạo thuận lợi để xây dựng nhà nước pháp quy ền - cơ sở pháp lý để
thực hiện tốt CBXH.
Bốn là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển kinh tế, chính
sách xã hội làm cơ sở cho các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết
quả. Hệ thống chính sách phát triển kinh tế cần xây dựng và hoàn thiện, gồm: Chính
sách sở hữu, thể hiện sự đa dạng hoá các loại hình sở hữu trên cơ sở của chế độ sở
hữu toàn dân (sở hữu nhà nước) đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu. Có chính
sách phân bổ nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, trong đó ưu tiên thành phần kinh
tế nhà nước và kinh tế tập thể. Chính sách quản lý sản xuất, kinh doanh: tập trung
xây dựng và hoàn thiện các chính sách tài chính - tiền tệ, thuế, giá cả, đầu tư, vốn,
tín dụng, phát triển đồng bộ các loại thị trường. Chính sách về phân phối: thể hiện
sự đa dạng về chế độ phân ph ối sản phẩm xã hội, nhưng lấy phân ph ối theo lao
148
động làm chủ đạo... Nhà nước cần điều chỉnh thu nhập cá nhân thông qua Luật thuế
và các chính sách thuế thu nhập; điều chỉnh giá thuê nhà, thuê đất, giá điện nước,
dịch vụ cho các c ơ sở sản xuất và các đối tượng khác nhau; ki ểm soát ch ặt chẽ
những ngành có lợi nhuận độc quyền, có chính sách điều tiết thu nh ập giữa các
ngành, các cơ quan, cá nhân. Hệ thống các chính sách xã hội cần xây dựng và hoàn
thiện, gồm các chính sách: lao động, việc làm; bảo hiểm, trợ cấp thất nghiệp; lương,
phụ cấp; khen thưởng, kỷ luật; bảo hiểm, hưu trí, bảo trợ xã hội; đền ơn, đáp nghĩa;
cứu trợ xã hội; văn hoá, y tế, giáo dục - đào tạo; xoá đói, giảm nghèo…
Năm là, tạo thuận lợi để các tỉnh ủy, chính quyền tỉnh ở ĐBSH tổ chức có
kết quả việc phổ biến, quán tri ệt các văn bản pháp lu ật, chính sách đã được sửa
chữa, bổ sung theo Hiến pháp sửa đổi và việc chấp hành pháp luật. Các ngành, bộ,
ban của Đảng, Nhà nước cần tạo thuận lợi về tài liệu, báo cáo viên để các tỉnh ủy tổ
chức có kết quả việc phổ biến, quán triệt các văn bản pháp luật, chính sách đã được
sửa chữa, bổ sung theo Hiến pháp sửa đổi. Các cơ quan nhà nước tăng cường phối
hợp và hỗ trợ các tỉnh trong quá trình thực thi pháp luật, ngăn chặn kịp thời những
tổ chức và cá nhân vi ph ạm pháp luật, tạo thuận lợi để các tỉnh ủy lãnh đạo thực
hiện CBXH đạt kết quả.
149
KẾT LUẬN
1. Công bằng xã hội có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội,
ổn định chính trị, là tiêu chí để xem xét, đánh giá sự phát triển, tiến bộ của một chế
độ xã hội. Điều này, được thể hiện và kh ẳng định bởi việc thực hiện CBXH trên
thực tế; phụ thuộc và được quyết định bởi chế độ chính trị và bản chất của giai cấp
cầm quyền trong chế độ ấy. Các chế độ chính trị do giai cấp áp bức, bóc lột cầm
quyền luôn tìm mọi cách th ực hiện CBXH, tr ước hết vì lợi ích của họ. Bởi vậy,
CBXH còn nhiều hạn chế. Với bản chất của chế độ ta và bản chất của Đảng Cộng
sản Việt Nam cầm quyền CBXH được Đảng lãnh đạo thực hiện ngày càng tốt hơn
trong các lĩnh vực đời sống xã hội, thể hiện rõ và tập trung trong lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội. Song, Đảng chỉ có thể lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết
quả khi các cấp ủy địa phương, nhất là các tỉnh ủy, trong đó có các tỉnh ủy ở ĐBSH
tăng cường lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả. Nghiên cứu tìm giải pháp khả thi
cho vấn đề này là vấn đề rất cấp thiết hiện nay.
2. Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử, mang tính giai cấp, dùng để chỉ
trình độ phát triển của một chế độ xã hội, được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực đời
sống xã hội, chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội..., phản ánh
mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa thưởng
và phạt của cá nhân (nhóm xã hội), bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định, hài hòa,
phù hợp với xu thế phát triển của xã hội loài người, vừa là khát vọng của con người,
vừa là động lực, mục tiêu phát triển của xã hội.
Các tỉnh ủy ở ĐBSH lãnh đạo thực hiện CBXH là toàn bộ hoạt động của các
tỉnh ủy, trên cơ sở quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp
luật của Nhà nước về thực hiện CBXH, ban hành các nghị quyết, quyết định về thực
hiện CBXH, chỉ đạo các cấp uỷ trực thuộc, các cơ quan nhà nước, các lực lượng xã
hội ở địa phương tổ chức thực hiện; đồng thời kiểm tra, giám sát việc thực hiện để
các nghị quyết của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH trở thành hiện thực.
3. Trong những năm qua, các tỉnh ủy ở ĐBSH đã lãnh đạo thực hiện CBXH
đạt kết quả quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội góp phần
to lớn vào sự phát triển toàn diện của các tỉnh. Tuy nhiên, sự lãnh đạo thực hiện
150
CBXH của các tỉnh ủy vẫn còn những hạn chế, yếu kém và bất cập. Các tỉnh ủy đã
xác định nguyên nhân và tìm giải pháp phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, yếu
kém để lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả cao hơn.
Từ thực tiễn lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy ở ĐBSH những năm
qua có thể rút ra những kinh nghiệm bổ ích: Một là, các tỉnh uỷ quán triệt sâu sắc
quan điểm, chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về tiến bộ, CBXH,
trên cơ sở đó kịp thời đề ra và tổ chức thực hiện nghị quyết về phát triển kinh tế - xã
hội đáp ứng yêu cầu về CBXH ở địa phương trong từng bước phát triển. Hai là, các
tỉnh ủy tập trung lãnh đạo chính quyền tỉnh tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương,
nghị quyết của tỉnh uỷ về thực hiện CBXH; phối hợp chặt chẽ với lãnh đạo đổi mới
nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội và các
tổ chức xã hội tham gia vào th ực hiện CBXH ở địa phương. Ba là, bám sát th ực
tiễn, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh v ề CBXH để có ch ủ trương, giải
pháp phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn nhằm đáp ứng những yêu cầu thực hiện
CBXH ở địa phương. Bốn là, dựa chắc vào nhân dân, động viên nhân dân phát hiện
những cán bộ, đảng viên, tổ chức vi phạm quyền dân chủ, tham nhũng, lãng phí để
xử lý kịp thời, nghiêm minh.
4. Để tăng cường sự lãnh đạo thực hiện CBXH của các tỉnh ủy ở ĐBSH
trong những năm tới cần thực hiện nhiều giải pháp. Trong đó, có thể nghiên cứu và
thực hiện đồng bộ những giải pháp chủ yếu do luận án đề xuất: Thứ nhất, nâng cao
nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên về thực hiện
CBXH. Thứ hai, đổi mới quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện tốt một số nghị
quyết chuyên đề của tỉnh uỷ về phát triển kinh tế và thực hiện CBXH. Thứ ba, xây
dựng chính quyền từ tỉnh đến cơ sở vững mạnh bảo đảm thực hiện CBXH đạt kết
quả tốt. Thứ tư, tăng cường thanh tra, xử lý sai ph ạm về thực hiện CBXH; ng ăn
chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm. Thứ năm, xây dựng các tỉnh ủy
vững mạnh thực sự là chủ thể lãnh đạo thực hiện CBXH đạt kết quả. Thứ sáu, nâng
cao năng lực lãnh đạo thực hiện CBXH của các tổ chức cơ sở đảng; phát huy vai trò
của MTTQ các đoàn thể chính tr ị - xã h ội, tổ chức xã hội, kinh tế, nhà hảo tâm
trong thực hiện CBXH. Thứ bảy, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương
đối với các tỉnh ủy trong lãnh đạo thực hiện CBXH.
151
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Nguyễn Xuân Hưng (2012), “Đẩy mạnh thực hiện chính sách đối với người
có công với cách mạng trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Quản lý nhà
nước, (198), tr.23-26.
2. Nguyễn Xuân Hưng (2012), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với chính quyền nhà nước”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (07), tr.78-81.
3. Nguyễn Xuân H ưng (đồng ch ủ biên) (2011), Hỏi đáp về thi hành Điều lệ
Đảng, Nxb Chính trị - Hành chính.
4. Nguyễn Xuân Hưng (đồng chủ biên) (2015), Bí thư huyện ủy trong giai đoạn
hiện nay, Nxb Lý luận chính trị.
5. Nguyễn Xuân Hưng (2015), “Kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện công bằng xã
hội của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng hiện nay”, Tạp chí Trí thức
và Phát triển, Kỳ 1, (51), 106-108.
6. Nguyễn Xuân Hưng (2016), “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời
sống văn hóa nông thôn - kinh nghi ệm và gi ải pháp”, Tạp chí Trí th ức
và Phát triển, (56+57+58), tr.273-276.
152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Tổ chức Tỉnh ủy tỉnh Ninh Bình (2015), Báo cáo tình hình công tác cán bộ,
Ninh Bình.
2. Ban Tổ chức Tỉnh ủy tỉnh Quảng Ninh (2015), Báo cáo tình hình công tác cán
bộ, Quảng Ninh.
3. Ban Tổ chức Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phúc (2015), Báo cáo tình hình công tác cán
bộ, Vĩnh Phúc.
4. Ban Tổ chức Trung ương (2015), Báo cáo công tác cán bộ, Hà Nội.
5. Bộ Lao động - Th ương binh và Xã h ội (2004), Vấn đề phân ph ối và phân
hóa giàu nghèo trong điều kiện phát tri ển kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Kỷ yếu Hội thảo, Nxb Lao động -
Xã hội, Hà Nội.
6. Bộ Tư pháp (2004), Sách tra cứu các mục từ về tổ chức (2004), Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
7. Bun Thoong Chit Ma Ni (2011), Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây
dựng nông thôn m ới trong giai đoạn hiện nay, Luận án Ti ến sĩ chuyên
ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội.
8. C.Mác, Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. C.Mác, Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. Trần Quang Cảnh (2010), Đổi mới phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối
với chính quyền huyện ở Đồng bằng sông Hồng giai đoạn hiện nay, Luận
án Ti ến sĩ chuyên ngành Xây d ựng Đảng, Học vi ện Chính tr ị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội..
11. Dang Guoying (2006), Nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở Trung Qu ốc
(Agriculture, rural areas and farmers in China) , Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
12. Lê Văn Diến (2013), Các huyện ủy ở tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo xây dựng nông
thôn mới giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng
Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội.
153
13. Lê Đăng Doanh, Nguyễn Minh Tú (1998), Tác động xã hội của cải cách kinh
tế đối với sự phát triển vùng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Phạm Tất Dong (2000), "T ăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội -
một nội dung của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", Tạp
chí Quốc phòng toàn dân, (7), tr.29-33.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI, Nxb Sự thật, Hà Nội.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ năm Ban Ch ấp
hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ bảy Ban Ch ấp
hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 15-12- 2000
của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển thủ đô Hà Nội trong thời
kỳ 2001-2010, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp
hành Trung ương IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao
hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp
hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn ki ện Hội nghị lần th ứ ba Ban Ch ấp
hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
26. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam (2007), Văn ki ện Hội ngh ị lần th ứ tư Ban Ch ấp
hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
154
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Ch ấp
hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Ch ấp
hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Kết luận số 13-KL/TW “V ề ti ếp tục thực
hiện Ngh ị quy ết Trung ương số 54-NQ/TW ngày 14-9-2005 c ủa Bộ
Chính trị khóa X về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng,
an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020”, Hà Nội.
30. Đảng Cộng sản Vi ệt Nam (2011), Điều lệ Đảng Cộng sản Vi ệt Nam , Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
32. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Ch ấp
hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
33. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Ch ấp
hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
34. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XII, Văn phòng Trung ương Đảng xuất bản, Hà Nội.
35. Đảng Cộng sản Trung Qu ốc (2006), Về xây dựng xã hội hài hòa xã h ội chủ
nghĩa (Quyết định của Hội ngh ị Trung ương lần th ứ sáu, khóa XVI,
Đảng Cộng sản Trung Qu ốc; Thông tin nh ững vấn đề lý lu ận phục vụ
lãnh đạo, số 21-22 tháng 11-2006, Học viện Chính tr ị quốc gia Hồ Chí
Minh), Hà Nội.
36. Nguyễn Hữu Đổng (2001), Sự hình thành thu nhập cá nhân trong các doanh
nghiệp nhà nước theo hướng đảm bảo công b ằng xã hội ở Việt Nam,
Luận án Ti ến sĩ Kinh t ế, Học vi ện Chính tr ị qu ốc gia H ồ Chí Minh,
Hà Nội.
37. H.S (2015), Khởi tố vụ án hình s ự liên quan đến 2 dự án ở Vĩnh Phúc, tại
trang http://vietnamnet.vn/vn/, [truy cập ngày 12/9/2015].
155
38. Lương Việt Hải (2004), "Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường
ở nước ta hiện nay", Tạp chí Triết học, 4 (155), tr.5-11.
39. Cát Chí Hoa (2009), Từ nông thôn m ới đến đất nước, con ng ười, Nguyễn
Thành Lợi, Nguyễn Minh Châu dịch, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
40. Trác Vệ Hoa (2008), "Lý lu ận và th ực tiễn cải cách và phát tri ển nông thôn
Trung Quốc 30 năm qua", Tạp chí Cộng sản, (12).
41. Nguyễn Minh Hoàn (2009), Công b ằng xã h ội trong ti ến bộ xã h ội, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
42. Học vi ện Chính tr ị qu ốc gia H ồ Chí Minh (1999), Những bài h ọc từ kinh
nghiệm tăng trưởng của khu vực Đông và Đông Nam Á, Sách tham khảo,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
43. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình cao
cấp lý luận chính trị, tập 6, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội.
44. Hội đồng quốc gia (2003), Từ điển bách khoa Vi ệt Nam, tập 1, Nxb Từ điển
Bách khoa, Hà Nội.
45. Phùng Văn Hùng (2002), "Vai trò của Nhà nước trong xây dựng nền kinh tế
thị trường ở Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 4 (4), tr.38- 41.
46. Phạm Th ị Hường (2013), Các huyện ủy ven bi ển tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo
phát triển văn hóa giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành
Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính tr ị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
47. Đỗ Huy (2009), Công bằng xã hội ở Việt Nam nh ận diện và gi ải pháp, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
48. Nguyễn Văn Huyên (2002), "Xây dựng nền kinh tế thị trường vì một xã hội
nhân văn", Tạp chí Triết học, 7 (134), tr.5-11.
49. Khăm bay ma la sinh (2009), Thực trạng đói, nghèo trong các hộ gia đình ở
nông thôn tỉnh Chăm Pa Sắc, kiến nghị về chính sách, gi ải pháp, Luận
văn Thạc sĩ Xã hội học, Học viện Chính tr ị - Hành chính qu ốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội.
156
50. Trần Trọng Khuê (2010), Chất lượng công tác tư tưởng của các đảng bộ xã có
đông đồng bào công giáo ở tỉnh Nam Định trong giai đoạn hi ện nay ,
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Xây d ựng Đảng Cộng sản Việt Nam,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
51. Nguyễn Văn Kính (2008), Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và th ực hiện
CBXH ở Hải Phòng trong th ời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hi ện đại
hóa hiện nay, Luận văn Th ạc sĩ Tri ết học, Học vi ện Chính tr ị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
52. Hà Quốc Lâm (2002), Xóa đói, giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta
hiện nay - thực trạng và giải pháp, Sách tham khảo, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
53. Vũ Tự Lập (1991), Văn hóa và cư dân đồng bằng sống Hồng, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội.
54. Lê Bộ Lĩnh (chủ biên) (1998), Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một
số nước châu Á và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
55. Trần Đức Lương (2002), "Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân ngày càng trong s ạch, vững mạnh là một nhiệm
vụ quan trọng, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta", Tạp
chí Cộng sản, (1), tr.6-11.
56. M.Rô-den-tan, P.I-U-Đin (1976), Từ điển Triết học, Nxb Sự thật, Hà Nội
57. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
58. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
59. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
60. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
61. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
62. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
63. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
64. Phạm Xuân Nam (2007), Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường
và kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính tr ị
quốc gia, Hà Nội.
157
65. Dương Xuân Ngọc, Nguyễn Văn Nhớn (2002), "Vai trò của Nhà nước trong
thực hiện công bằng xã hội", Tạp chí Triết học (7), tr.37-39.
66. Nguyễn Hữu Nhân (2010), Thành ủy thành ph ố Hồ Chí Minh lãnh đạo cải
cách hành chính nhà n ước giai đoạn hiện nay, Luận án Ti ến sĩ chuyên
ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội.
67. Lê Như Nhất (2007), Đảng bộ tỉnh Kon Tum lãnh đạo xoá đói, giảm nghèo
trong giai đoạn hi ện nay , Lu ận văn Th ạc sĩ chuyên ngành Xây d ựng
Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính tr ị qu ốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội.
68. Nhóm Phóng viên điều tra (2015), Vụ đường dây "ăn đất" ở thành ph ố Hải
Dương: Thủ tướng chỉ đạo làm rõ, tại trang http://kinhdoanhnet.vn, [truy
cập ngày 20/5/2015].
69. Nguyễn Đức Nhuận (2008), Tỉnh ủy Thái Bình lãnh đạo công tác giáo d ục
phổ thông, Luận văn Thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng
Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội.
70. Phêng Pha Văn Đao Phon Cha Rơn (2005), Về vấn đề nâng cao sử dụng vốn
đầu tư của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở Cộng
hòa Dân chủ nhân dân Lào, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
71. Hoàng Thị Bích Ph ương (2014), Thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững ở
tỉnh Bắc Giang (2008-2013), Tạp chí Lịch sử Đảng, (282), tr.85-87.
72. Trịnh Huy Quách (1996), "Bàn về công bằng trong thu nhập và ảnh hưởng của
nó đến tăng trưởng kinh tế", Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, (4),
tr.15-18.
73. Nguyễn Hồng Quân (2012), Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời
sống văn hóa ở nông thôn giai đoạn 1997-2010, Luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội.
74. Nguyễn Trần Quế (1997), "T ăng trưởng kinh tế và công b ằng xã hội ở Việt
Nam", Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, 6(50), tr.19- 24
158
75. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Xây dựng,
Hà Nội.
76. Quốc hội nước Cộng hòa xã h ội ch ủ ngh ĩa Việt Nam (2005), Luật Đầu tư,
Hà Nội.
77. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật khiếu nại tố
cáo, Hà Nội.
78. Quốc hội nước Cộng hòa xã h ội ch ủ ngh ĩa Vi ệt Nam (2013), Hiến pháp ,
Hà Nội.
79. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
80. Nguyễn Duy Quý (2010), Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
81. Lương Xuân Quỳ (2002), Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ
nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
82. Rechard Bergeron (1995), Phản phát triển, các giá của chủ nghĩa tự do, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
83. Lê Văn Sang, Kim Ngọc (đồng chủ biên) (1999), Tăng trưởng kinh tế và công
bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn “thần kỳ” và Vi ệt Nam th ời kỳ “đổi
mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
84. Trịnh Sơn (2010), Các huyện uỷ ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xoá đói,
giảm nghèo giai đoạn hi ện nay , Luận văn Th ạc sĩ chuyên ngành Xây
dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính tr ị - Hành chính qu ốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
85. Lương Sơn (1991), "Công bằng xã hội trong kinh tế thị trường", Tạp chí Cộng
sản, (11), tr.33-35.
86. Nguyễn Đình Tấn (2014), "S ự phát tri ển nhận th ức của Đảng về CBXH và
xóa đói, giảm nghèo", Tạp chí Lý luận chính trị, (7), tr.3-7.
87. Lê Hữu Tầng (2008), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc thực
hiện công bằng xã hội ở Vi ệt Nam hi ện nay , Nxb Chính tr ị qu ốc gia,
Hà Nội.
159
88. Phương Ngọc Thạch (2005), "Vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế -
xã hội", Tạp chí Phát triển Kinh tế, (5), tr.14-18.
89. Ngô Ngọc Thắng (2014), "Chính sách an sinh xã h ội trong bối cảnh tái cấu
trúc mô hình tăng trưởng", Tạp chí Lý luận chính trị, (1), tr.16-21.
90. Ngô Quang Thành (2000), "Các định tố của bất bình đẳng về thu nh ập và
chiến lược tăng trưởng kinh tế trong công bằng xã hội cho Vi ệt Nam",
Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (8), tr.3-10.
91. Nguyễn Gia Th ơ (2007), Vấn đề công bằng và bình đẳng trong lịch sử triết
học phương Tây, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
92. Thông tin khoa học xã hội (1998), Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường, Hà Nội.
93. Tỉnh Bắc Ninh (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội
94. Tỉnh Hà Nam (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội.
95. Tỉnh Hải Dương (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội
96. Tỉnh Hưng Yên (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội
97. Tỉnh Nam Định (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội.
98. Tỉnh Ninh Bình (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội.
99. Tỉnh Quảng Ninh (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội.
100. Tỉnh Thái Bình (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội.
101. Tỉnh Vĩnh Phúc (2012), Niên giám thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội.
102. Tỉnh ủy Bắc Ninh (2014), Báo cáo công tác xây d ựng Đảng năm 2013 và
phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Bắc Ninh.
103. Tỉnh ủy Hà Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần th ứ
XVII nhiệm kỳ 2006 - 2010, Hà Nam.
104. Tỉnh ủy Hà Nam (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần th ứ
XVIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015, Hà Nam.
105. Tỉnh ủy Hà Nam (2013), Báo cáo v ề kết qu ả th ực hi ện Kết lu ận số 04-
KL/TW, ngày 1/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về kết quả thực
hiện Ch ỉ th ị số 32,CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của cán bộ, nhân dân, Hà Nam.
160
106. Tỉnh ủy Hải Dương (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ
XV nhiệm kỳ 2010 - 2015, Hải Dương.
107. Tỉnh ủy Hải Dương (2014), Báo cáo công tác xây dựng Đảng năm 2013 và
phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Hải Dương.
108. Tỉnh ủy Hưng Yên (2011), Đề án số 01-ĐA/TU, ngày 5/5/2011 về nâng cao
chất lượng thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở xã, phường thị trấn trên
địa bàn tỉnh 1011-2015, Hưng Yên.
109. Tỉnh ủy Hưng Yên (2013), Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết
Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Hưng Yên.
110. Tỉnh ủy Hưng Yên (2014), Báo cáo kết quả thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ
sở năm 2013 của Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở 2013
và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Hưng Yên.
111. Tỉnh ủy Nam Định (2013), Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết
Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nam Định.
112. Tỉnh ủy Nam Định (2014), Báo cáo kết quả thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ
sở năm 2013 của Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở 2013
và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Nam Định.
113. Tỉnh ủy Nam Định (2014), Báo cáo công tác xây d ựng Đảng năm 2013 và
phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Nam Định.
114. Tỉnh ủy Ninh Bình (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ
XIX nhiệm kỳ 2006 - 2010, Ninh Bình.
115. Tỉnh ủy Ninh Bình (2007), Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TU
ngày15/10/2007 của Tỉnh uỷ về tăng cường lãnh đạo đối với công tác
giảm nghèo đến năm 2010, Ninh Bình.
116. Tỉnh ủy Ninh Bình (2008), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết
Trung ương 2, khóa VIII của Đảng về giáo dục và đào tạo, Ninh Bình.
117. Tỉnh ủy Ninh Bình (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ
XX nhiệm kỳ 2010 - 2015, Ninh Bình.
161
118. Tỉnh ủy Ninh Bình (2014), Báo cáo kết quả thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ
sở năm 2013 của Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở 2013
và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Ninh Bình.
119. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2013), Báo cáo về kết quả thực hiện Kết luận số 04-
KL/TW, ngày 1/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về kết quả thực
hiện Chỉ thị số 32,CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật của cán bộ, nhân dân, Quảng Ninh.
120. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2013), Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết
Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Quảng Ninh.
121. Tỉnh ủy Thái Bình (2013), Báo cáo về kết qu ả th ực hi ện Kết lu ận số 04-
KL/TW, ngày 1/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về kết quả thực
hiện Ch ỉ th ị số 32,CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của cán bộ, nhân dân, Thái Bình.
122. Tỉnh ủy Thái Bình (2014), Báo cáo công tác xây d ựng Đảng năm 2013 và
phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Thái Bình.
123. Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc (2006), Nghị quyết số 03-NQ về phát triển nông nghiệp,
nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006-2010, định
hướng đến năm 2020, Vĩnh Phúc.
124. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ
XIV, nhiệm kỳ 2006 - 2010, Vĩnh Phúc.
125. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ
XV nhiệm kỳ 2010 - 2015, Vĩnh Phúc.
126. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2011), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 61-
CT/TW, ngày 28-12-2000 của Bộ Chính tr ị về vi ệc th ực hi ện ph ổ cập
trung học cơ sở, Vĩnh Phúc.
127. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2011), Nghị quy ết về phát tri ển dịch vụ, du lịch tỉnh
Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2020, Vĩnh Phúc.
128. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2013), Báo cáo về kết quả th ực hiện Kết lu ận số 04-
KL/TW, ngày 1/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về kết quả thực
hiện Ch ỉ th ị số 32,CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của cán bộ, nhân dân, Vĩnh Phúc.
162
129. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2013), Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết
Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Vĩnh Phúc.
130. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2014), Báo cáo kết quả thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ
sở năm 2013 của Ban Chỉ đạo thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở 2013
và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014, Vĩnh Phúc.
131. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ
XVI nhiệm kỳ 2015 - 2020, Vĩnh Phúc.
132. Tổng Cục thống kê (2009), Niên giám thống kê tóm tắt, Nxb Thống Kê Hà Nội
133. Trung tâm Từ điển bách khoa (1995), Từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội.
134. Minh Tuấn (2015), 3 nữ cán bộ Sở GTVT Nam Định tham ô gần 4 tỉ đồng,tại
trang http://nld.com.vn/phap-luat, [truy cập ngày 20/8/2015].
135. Trịnh Quốc Tuấn (chủ nhiệm) (2000), Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ
và công bằng xã hội trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát
triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đề tài
cấp bộ 1999-2000, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
136. Vũ Anh Tu ấn (2001), Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo công bằng
xã hội ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
137. Hà Vũ Tuyến (2014), "Công tác đào tạo nghề ở Vĩnh Phúc - kết quả và một
số kinh nghiệm", Tạp chí Lịch sử Đảng, (282), tr.85-87.
138. Ủy ban Ki ểm tra Trung ương (2015), Báo cáo tình hình công tác cán b ộ,
Hà Nội.
139. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2013), Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện
Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII v ề xây dựng và phát tri ển nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Bắc Ninh.
140. Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định (2011), Chương trình hành động thực hiện
Kết luận số 43/KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết
số 46/-NQ/TW, ngày 23-02-2005 của Bộ Chính trị về “công tác bảo vệ
chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới” và Chỉ
thị số 06-CT/TW, ngày 22-01-2002 của Ban Bí thư (khoá IX) về “củng
cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở”, Nam Định.
163
141. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (2014), Báo cáo thực hiện chính sách, pháp
luật về giảm nghèo tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005-2012, Vĩnh Phúc.
142. Viện Khoa h ọc xã h ội Vi ệt Nam (VASS), German Catholic Action For
Human Development (MISEREOR) (2007), "Công bằng xã h ội, trách
nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội" "social justice, social responsibility and
social solidarity"; Hội thảo Quốc tế International Conference: , Hà Nội.
143. Viện Kiểm sát nhân dân huy ện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (2015), Báo cáo
công tác kiểm sát, Bắc Ninh.
144. Nguyễn Thế Vinh (2010), Các Quận ủy ở Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo
công tác giảm nghèo giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành
Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính tr ị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh
145. Xỉn Xỏn Phun Bun Sỉ (2010), Kinh tế nông thôn ở Cộng hòa Dân chủ nhân
dân Lào thời kỳ đổi mới, Luận án Ti ến sĩ Kinh tế, Học viện Chính tr ị -
Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
146. Nguyễn Nh ư Ý (ch ủ biên) (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb V ăn hóa -
Thông tin, Hà Nội.
164
PHỤ LỤC
Phụ lục 1
THỐNG KÊ DIỆN TÍCH, DÂN SỐ, ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH, LAO ĐỘNG CÁC TỈNH ĐBSH ĐẾN NĂM 2014
Lao động từ 15t trở lên (nghìn người)
Tỷ lệ lao động thất nghiệp
TT
Tỉnh
Huyện
Xã
Tỷ lệ lao động thất nghiệp
Phường, thị trấn
Lao động từ 15t trở lên (nghìn người)
Diện tích (km2)
Dân số (Nghìn người)
Mật độ dân số (người/km2)
Thành phố, thị xã
2008
2012
2008
2012
2014
1237,5
1041,9
842
112
7
1 Vĩnh Phúc
25
575,510
619,500
1,3
1,0
631,189
1,0
2
822,7
1131,2
1375
100
6
2 Bắc Ninh
26
585,513
606,053
2,22
1,74
647,932
1,43
2
6102,3
1218,9
197
115
9
3 Quảng Ninh
71
572,0
1,44
697,23
0,34
5
2,84 (năm 2010)
682,8 (năm 2014)
1 6 5
926,0
4 Hưng Yên
1158,0
1252
16
145
673,662
712,643
1,44
1,62
742,682
1,51
1
9
1656,0
5 Hải Dương
1763,2
1065
10
227
1000,016
1050,520
1,074,16
-
2
38
1570,9
6
Thái Bình
1788,7
1139
267
997,700
1012,0
0,72
0,80
1412
0,79
1
7
19
1653,2
7 Nam Định
1845,5
1119
194
1033,953
1051,657
1,38
1,88
1083487
1,81
1
9
35
1377,5
-
-
-
-
8 Ninh Bình
935,8
679
122
455,2
2
6
23
569,45 (năm 2014)
862,0
2,3
476,473
0,7
9 Hà Nam
799,3
927
103
452,016
456,736
1
5
13
2,2 (năm 2009)
Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]
Phụ lục 2
TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
NĂM 2010 -2014
Đơn vị tính: %
2012
2013
2014
TT
Tỉnh
2010
2011
10.7
11.5
12.5
1
Nam Định
12.5
8.3
15.0
12.0
13.15
2
Hà Nam
17.7
14.5
6.8
9.2
7.7
3
Hải Dương
12.7
9.8
1 6 6
8.2
7.3
7.55
4
Hưng Yên
12.5
12.4
10.9
11.0
9.8
5
Ninh Bình
15.6
11.5
7.3
8.2
7.83
6
Thái Bình
7.5
7.2
12.3
10.2
16.2
7
Bắc Ninh
17.86
16.2
5.03
7.6
6,11
8
Vĩnh Phúc
6.78
5.89
7.0
7.1
8.8
9
Quảng Ninh
12.6
11.9
Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]
Biểu đồ: TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2010 - 2014
1 6 7
Phụ lục 3
GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CỦA MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG THEO CÁC NĂM (theo giá hiện hành)
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Năm 2010
Năm 2012
Năm 2014
TT
Các tỉnh
DV
DV Tổng
NN
DV Tổng NN
Tổng NN
CN & XD
CN & XD
CN & XD
1
Nam Định
62.101
15.660
32.575
13.866
91.174
20.898
49.794
20.497
117.596
22.852
66.739
28.005
2
Hà Nam
32.881
6.539
20.280
6.061
53.977
8.258
36.023
9.696
76.424
8.631
55.399
12.394
3
Hải Dương
105.004
14.192
71.547
19.265
144.700
18.725
99.280
26.695
187.604
19.572
136.666
31.366
1 6 8
4
Hưng Yên
77.027
9.906
57.011
10.110
116.988
13.053
88.659
15.275
141.795
13.068
107.160
21.367
5
Ninh Bình
43.943
7.389
26.127
10.427
66.475
9.465
40.107
16.903
872.843
99.661
56.185
21.132
6
Thái Bình
30.311
10.397
9.794
9.650
43.490
13.868
13.989
15.078
47.521
16.971
12.412
16.139
7
Bắc Ninh
140.744
8.001
121.383
11.360
454.685
10.117
427.478
17.090
675.167
10.275
641.751
23.141
8
Vĩnh Phúc
104.707
7.779
83.502
13.426
147.870
9.873
119.755
18.422
170.225
11.175
128.826
22.305
9
Quảng Ninh
41.841
2.373
21.914
13.388
63.887
3.611
33.481
20.334
194.114
12.245
141.927
39.942
NN: Nông nghiệp. CN&XD: Công nghi
ệp và xây dựng. DV: D
ịch vụ
Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]
Biểu đồ: GIÁ TRỊ SẢN XUẤT CỦA MỘT SỐ TỈNH ĐBSH NĂM 2010
1 6 9
Phụ lục 4
TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA TỈNH ỦY VIÊN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
(TÍNH ĐẾN THÁNG 12-2014)
Đơn vị tính: người
Trình độ
Trình độ lý luận
Số cán bộ
Độ tuổi
chuyên môn
TT
Tỉnh ủy
Nam
Nữ
35-44
45-54
55-60
Đại học Sau đại học
CNCT
CCLL
Bắc Ninh
1
48
5
3
20
31
20
33
22
31
Hà Nam
2
46
5
3
18
30
40
10
22
29
1 7 0
Hải Dương
3
46
9
3
24
29
14
40
46
8
Hưng Yên
4
48
7
5
21
27
45
10
45
10
Nam Định
5
49
6
4
17
32
46
9
33
25
Ninh Bình
6
48
6
3
20
30
34
20
25
27
Quảng Ninh
7
47
8
4
19
34
45
10
31
24
Thái Bình
8
47
5
3
24
26
43
9
23
29
Vĩnh Phúc
9
49
5
3
25
26
29
25
35
19
Tổng
428
56
31
188
265
316
166
282
202
Nguồn: Ban Tổ chức Trung ương [4]
Phụ lục 5a
TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN VÀ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ỦY VIÊN BTV
TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG (TÍNH ĐẾN THÁNG 12-2014)
Đơn vị tính: người
Số cán bộ
Độ tuổi
Trình độchuyên môn
Trình độ lý luận
TT
Tỉnh ủy
Nam
Nữ
35-44
45-54
55-60
Đại học
Sau đại học
CNCT
CCLL
Bắc Ninh
13
1
0
0
3
10
3
10
10
3
Hà Nam
13
2
1
0
5
9
9
5
7
7
Hải Dương
14
3
0
0
4
10
6
8
12
2
Hưng Yên
14
4
1
1
5
8
11
4
15
0
1 7 1
Nam Định
14
5
0
0
4
10
10
4
10
4
Ninh Bình
13
6
1
0
2
12
10
4
7
7
Quảng Ninh
14
7
2
0
5
11
12
4
12
4
Thái Bình
13
8
0
0
6
7
10
3
4
9
Vĩnh Phúc
9
9
2
1
6
5
5
6
11
0
7
2
Tổng
117
40
82
76
48
88
36
Nguồn: Ủy ban kiểm tra Trung ương [138]
Phụ lục 5b
TỔNG HỢP VỀ GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI, TRÌNH ĐỘ CỦA TỈNH ỦY VIÊN
TỈNH ỦY NINH BÌNH, QUẢNG NINH, VĨNH PHÚC NHIỆM KỲ 2015-2020
(TÍNH ĐẾN THÁNG 10 NĂM 2015)
Đơn vị tính: người
Trình độ
Số cán bộ
Tuổi
Trình độ chuyên môn
lý luận
TT
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh
Cử nhân
Cao cấp
Nam Nữ
35 đến 45 46 đến 55 56 trở lên
Đại học
Sau đại học
chính trị
lý luận
1 7 2
1
Ninh Bình
43
8
12
29
17
37
15
34
10
2
Quảng Ninh
46
10
13
29
21
35
18
37
12
3
Vĩnh Phúc
47
5
11
34
15
37
23
29
7
Nguồn: Ban Tổ chức [1; 2; 3]
Biểu đồ: TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, LÝ LUẬN CHÍNH
Biểu đồ: ĐỘ TUỔI CỦA TỈNH ỦY VIÊN
TRỊ CỦA TỈNH ỦY VIÊN Ở ĐBSH TÍNH ĐẾN NĂM 2014
Ở ĐBSH TÍNH ĐẾN NĂM 2014
1 7 3
Biểu đồ: ĐỘ TUỔI CỦA ỦY VIÊN BTV
Biểu đồ: TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, LÝ LUẬN CHÍNH
Ở ĐBSH TÍNH ĐẾN NĂM 2014
TRỊ CỦA ỦY VIÊN BTV Ở ĐBSH TÍNH ĐẾN NĂM 2014
1 7 4
Biểu đồ: ĐỘ TUỔI, TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN, LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA TỈNH ỦY VIÊN
Ở 3 TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TỪ NĂM 2010-2015 VÀ TỪ NĂM 2015-2020
1 7 5
Phụ lục 6
THỐNG KÊ GIÁO DỤC MẦM NON VÀ PHỔ THÔNG
CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, ĐẾN NĂM 2014
Giáo dục mầm non
Tiểu học
Giáo dục phổ thông Trung học cơ sở
TT
Tỉnh
Trường mầm non
Số học sinh (người)
Số giáo viên (người)
Số trường
Số học sinh
Số trường
Số học sinh
Số trường
Số học sinh
1 7 6
1 Vĩnh Phúc 2 Bắc Ninh 3 Qu ảng Ninh 4 Hưng Yên 5 Hải Dương 6 Thái Bình 7 Nam Định 8 Ninh Bình 9 Hà Nam
183 159 211 177 109 301 266 150 116
68502 71500 62500 69028 111016 95384 98031 40098 44653
3596 3620 6201 3672 7135 6557 6632 2504 2804
Số giáo viên 4225 91919 4109 93100 5924 95898 89484 4353 129867 7304 126100 7357 139518 6756 3550 67869 2987 59402
173 153 183 169 281 295 293 150 140
146 135 147 171 272 271 242 142 119
Số giáo viên 57543 4113 64400 3908 4578 65203 602250 4282 5828 93823 97100 6791 104534 6539 3352 48893 2956 43308
Trung học phổ thông Số giáo viên 2054 2237 2410 1982 2811 2593 3213 1532 1340
28802 37700 38724 33620 50886 54600 56336 23894 25196
37 35 44 38 54 39 57 27 26
Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]
Biểu đồ: SỐ GIÁO VIÊN MẦN NON, TIỂU HỌC,
Biểu đồ: GIÁO VIÊN TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP,
TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC
Ở CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014
Ở CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014
1 7 7
Phụ lục 7
THỐNG KÊ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP, CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, ĐẾN NĂM 2014
Giáo dục mầm non
Giáo dục phổ thông
Tiểu học
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
TT
Tỉnh
Trường mầm non
Số học sinh (người)
Số giáo viên (người)
Số trường
Số học sinh
Số trường
Số học sinh
Số trường
Số học sinh
Số giáo viên
Số giáo viên
Số giáo viên
1 Vĩnh Phúc
183
68502
3596
173
91919
4225
146
57543
4113
28802
2054
37
2 Bắc Ninh
159
71500
3620
153
93100
4109
135
64400
3908
37700
2237
35
3 Qu ảng Ninh
211
62500
6201
183
95898
5924
147
65203
4578
38724
2410
44
1 7 8
4 Hưng Yên
177
69028
3672
169
89484
4353
171
602250
4282
33620
1982
38
5 Hải Dương
109
111016
7135
281
129867
7304
272
93823
5828
50886
2811
54
6 Thái Bình
301
95384
6557
295
126100
7357
271
97100
6791
54600
2593
39
7 Nam Định
266
98031
6632
293
139518
6756
242
104534
6539
56336
3213
57
8 Ninh Bình
150
40098
2504
150
67869
3550
142
48893
3352
23894
1532
27
9 Hà Nam
116
44653
2804
140
59402
2987
119
43308
2956
25196
1340
26
Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]
Biểu đồ: GIÁO VIÊN TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP,
Biểu đồ: SỐ GIÁO VIÊN MẦN NON, TIỂU HỌC,
CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC
TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014
Ở CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014
1 7 9
Phụ lục 8
THỐNG KÊ CƠ SỞ Y TẾ, CÁN BỘ Y TẾ CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, ĐẾN NĂM 2014
Năm 2008
Năm 2012
Năm 2014
TT
Tỉnh
á t
á t
á t
ã x
Y
Y
Y
i
i
i
ã x ế t
ã x ế t
h n ệ b
h n ệ b
h n ệ b
ĩ s c á B
ĩ s c á B
ĩ s c á B
y m ạ r T
y m ạ r T
g n ờ ư G
g n ờ ư G
g n ờ ư G
ĩ s c ợ ư D
ĩ s c ợ ư D
ĩ s c ợ ư D
á t c ợ ư D
á t c ợ ư D
á t c ợ ư D
ế t y m ạ r T
n ệ i v h n ệ B
n ệ i v h n ệ B
n ệ i v h n ệ B
1 Vĩnh Phúc
10 2520
138
666
90
931
430
17
4460 139
839
87
1426 156 18 3220
-
1059
99
1760
147
2 Bắc Ninh
14 2205
126
626
52
565
56
16
2788 126
795 979
82
90
16 3346 126
1144
177
925
65
3 Qu ảng Ninh
22 3996
186
744
135
960
90
22
5692 186 1038
193 2076
18
23 5882 186
1416
93
784
08
1 8 0
4 Hưng Yên
16 1680
162
509
117
691
17
19
2435 162
827 264
1206
11
19 2605 162
991
74
1277
12
5 Hải Dương
17 4067
263
815
103 1078 276
22
5136 265
976
96
1713 259 25 5681 265
1377
247 1960
267
6 Thái Bình
20 3343
285 1330 167
999
494
24
4718 286 1499
286 1239 752 24 5189 286
1411
124 1346
69
7 Nam Định
19 4116
229
844
508 1121 663
20
4466 229 1001
765 1233 548 21 4908 229
1065
128 1502
547
8 Ninh Bình
16 2240
72
633
157
779
64
17
2800
73
533 271
1037
66
14 2870 145
608
243 1022
37
9 Hà Nam
13 2340
116
498
70
601
282
13
2488 116
625
33
1167 146 13 2504 116
550
68
919
197
Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]
Chú thích: * Số liệu thống kê năm 2009
Phụ lục 9
THỐNG KÊ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NHÂN DÂN
CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, ĐẾN NĂM 2014
Bệnh HIV/AIDS
TT
Tỉnh
Người bị AIDS
Bác sĩ trên 1 vạn dân (người)
Giường bệnh trên 1 vạn dân (giường)
Tỷ lệ trạm y tế cơ sở có bác sĩ (%)
Số người chết vì dịch bệnh (%)
Trẻ em được tiêm chủng các loại vác xin (%)
Trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (%)
Người nhiễm HIV
Người chết vì AIDS
1 Vĩnh Phúc
10,16
30,90
98,50
11,20
1648
1118
542
86,0
9
2 Bắc Ninh
10,1
29,5
99,2
0
98,2
10,8
686
-
-
1 8 1
3 Quảng Ninh
12,0
50,0
-
1
95,6
14,8
306
336
178
4 Hưng Yên
8,56
29,49
100
3
98,10
13,5
95
110
58
5 Hải Dương
7,8
26,6
76,0
0
>99
12,5
248
95
19
6 Thái Bình
7,89
0
29,01
80,76
3581
1249
99,8
14,1
858
7 Nam Định
5,8
26,6
82,8
6
94,8
13,4
194
-
105
8 Ninh Bình
6,5
24,6
68,9
0
97,4
14,5
-
-
-
9 Hà Nam
6,3
31,6
70,7
0
99,3
13,3
-
-
607
Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]
Phụ lục 10
THỐNG KÊ MỨC SỐNG DÂN CƯ VÀ AN TOÀN XÃ HỘI
CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, ĐẾN NĂM 2013
TT
Tỉnh
Tỷ lệ hộ nghèo (%)
Thu nhập bình quân (VNĐ)
Tiêu thụ gạo 1 tháng theo đầu người (kg/người/tháng)
Tiêu thụ thịt 1 tháng theo đầu người (kg/người/tháng)
Tỷ lệ hộ dân có ô tô (%)
Tỷ lệ hộ dân có xe máy (%)
Tai nạn giao thông đường bộ (vụ)
Tỷ lệ hộ dân có tivi màu (%)
1
Vĩnh Phúc
-
-
-
-
-
-
-
-
2
Bắc Ninh
4,27
2436,5
9,5
2,6
83,6
1,3
135
95,9
3
Quảng Ninh
5,08
2211,8
9,48
2,27
76,81
3,26
108
92,71
1 8 2
4
Hưng Yên
7,3
1800
9,5
2,53
-
-
177*
-
5
Hải Dương
7,5
2062
10,24
2,32
72,78
169
96,64
6
Thái Bình
10,9
1700
14
28,32
67,97
1,04
65
90,3
7
Nam Định
6,72
1857,8
9,71
2,02
66,56
0,62
62
89,23
8
Ninh Bình
9,4
1857,3
-
-
-
64
-
9
Hà Nam
8,83
1804,1
10,63
2,25
73,17
1,63
95
96,75
Nguồn: Niên giám thống kê 2013 các tỉnh [81 - 87]
Chú thích: *: Tai nạn giao thông chung
Phụ lục 11
CHI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO VÀ DẠY NGHỀ
Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG NĂM 2009 -2014
Đơn vị tính: Triệu đồng/ Tỷ lệ %
2009
2010
2011
2012
2013
2014
Năm
TT
Tỉnh
Triệu đồng
Tỷ lệ %
Triệu đồng
Tỷ lệ %
Triệu đồng
Tỷ lệ %
Triệu đồng
Tỷ lệ %
Triệu đồng
Tỷ lệ %
Triệu đồng
Tỷ lệ %
1
Nam Định
105670
16,5
1189535
18,24 1577815
18,37
2024373
19,47
2140259
25,17 2591528 27,27
2
Hà Nam
455007
15,5
492113
15,3
646167
17,1
949888
20,1
1160797
21,6
1150825 29,15
3
Hải Dương
134500
1,46
1448885
15,5
1602285
14,7
2085260
16,0
2532503
16,6
2841984 13,78
1 8 3
4
Hưng Yên
533111
23,16
663286
21,81
844772
22,89
1155096
22,67
1354533
22,73 1565036 25,00
5
Thái Bình
955591
14,19 1130085
12,91 1468990
13,08
1989401
13,60
2566654
22,68 2465918 22,27
6
Bắc Ninh
639107
14.00
838800
13.00 1025700
14.90
1234200
15.90
1743500
19.10 1882300 17,68
7
Vĩnh Phúc
823.836
8.76
985327
8.33
1202684
8.43
1705883
16.49
1824685
10.13 1966979 11,42
8
Quảng Ninh
1019614
11.8
1304894
9.8
1710524
8.9
2358212
10.6
2607373
13.7
2564700 11,08
Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]
Phụ lục 12
CHI SỰ NGHIỆP KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
NĂM 2009- 2014
Đơn vị tính: Triệu đồng/ Tỷ lệ %
2009
2010
2011
2012
2013
2014
Năm
TT
Tỉnh
Tỷ lệ %
Tỷ lệ %
Tỷ lệ %
Tỷ lệ %
Tỷ lệ %
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Tỷ lệ %
Triệu đồng
Triệu đồng
1 Nam Định
14.550
0,20
15.263
0,23
15.208
0,18
20.235
0,19
21.070
0,25
27898 2,93
2 Hà Nam
11610
0,4
11661
0,4
12367,1
0,3
11463
0,2
16171
0,3
17644 0,44
1 8 4
3 Hải Dương
18.250
0,2
20.736
0,2
22.136
0,2
21.081
0,2
50.807
0,3
54479 0,26
4 Thái Bình
12880
0,19
16044
0,18
15944
0,14
20930
0,14
25139
0,21
24386 0,22
5 Bắc Ninh
14.119
0.3
13.500
0.2
17.000
0.2
22.100
0.3
26.900
0.3
29600 2,78
6 Vĩnh Phúc
18.144
0.19
18.721
0.16
19.711
0.14
28.478
0.28
29.882
0.17
27571 0,16
0.2
18.699
0.1
28.200
0.1
55.861
0.3
60.409
0.3
38202 0,16
7 Quảng Ninh
16.373
Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]
Phụ lục 13
PHÂN BỔ NGÂN SÁCH CHO Y TẾ, DÂN SỐ VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG NĂM 2009 - 2014
Đơn vị tính: Triệu đồng/ Tỷ lệ %
2009
2010
2011
2012
2013
2014
Năm
TT
Tỉnh
Triệu đồng
Tỷ lệ %
Triệu đồng
Tỷ lệ %
Triệu đồng
Tỷ lệ %
Triệu đồng
Tỷ lệ %
Triệu đồng
Tỷ lệ %
Triệu đồng
Tỷ lệ %
1. Nam Định
354.960
5.5
380.591
5.84
485.167
5.65
598.905
5.76
619.946
7.29
819.847
8,62
2.
Hà Nam
118.000
4.0
122.552
3.8
225.590
6.0
301.007
6.4
308.312
5.7
291.242
7,37
1 8 5
3. Hải Dương
234.567
2.4
264.607
2.8
356.458
3.3
467.600
3.6
621.595
4.1
697.225
3,38
4. Thái Bình
234.525
3.48
317.192
3.62
381.571
3.40
563.800
3.86
711.600
4.16
433.813
3,96
5. Bắc Ninh
122.300
2.7
179.100
2.8
238.100
3.5
256.200
3.3
304.400
3.3
320.000
3,0
6. Vĩnh Phúc
188.932
2.01
251.198
2.12
287.057
2.01
581.123
5.62
792.553
4.40
622.706
3,6
7. Quảng Ninh 273.541
3.2
405.401
3.1
558.589
2.9
941.957
4.2
1.428.373
7.5
737.649
3,18
Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]
Phụ lục 14
KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG, THƯƠNG BINH, LIỆT SỸ,
CHẤT ĐỘC DA CAM - CÁC CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ CÁC CHỈ TIÊU VỀ GIẢM NGHÈO VÀ NÔNG THÔN MỚI
Ở MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG QUA CÁC GIAI ĐOẠN
Đơn vị tính: %
I KẾT QUẢ THỰC HIỆN Ở VĨNH PHÚC QUA CÁC GIAI ĐOẠN
GIAI ĐOẠN
GIAI ĐOẠN
GIAI ĐOẠN
TT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN
2001-2005
2006-2010
2011-2015
- Thực hiện tốt các
- Thực hiện tốt các chính
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia
1 Chính sách đối với bà mẹ việt
1 8 6
chính sách và các gia
sách và các gia đình thương
đình thương binh, liệt sỹ có mức sống khá
nam anh hùng, gi đình chính
đình thương binh, liệt
binh, liệt sỹ, đạt 100%;
trở lên trong khu vực sinh sống, đạt 100%;
sách, thương binh liệt sỹ, đạt
sỹ, đạt 100%;
100%;
- Có chính sách hỗ trợ tốt cho người bị
nhiễm và nạn nhân chất độc da cam
- Nạn nhân chất độc da cam
2 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn
2001: 12,26%
2006: 18,6%
nghèo từ 2010 trở về trước
2005: 6,6%
2010:7,7%
-2010:11,5%; -2012: 8,7%
3 Tỷ lệ hộ nghèo theo Quyết định
số 09-/2011/QĐ-TTg về chuẩn
- 2013: 6,53%; -2014:4,93%
nghèo giai đoạn 2011-2015
4 Xoá nhà tạm cho hộ nghèo
Đến năm 2008, đã hoàn
thành hỗ trợ hộ nghèo nhà ở
theo Quyết định 167/QĐ-
TTg
5 Th ực hiện các tiêu chí xây
Đến: - Năm 2015, có 72/112 (chiếm
dựng nông thôn mới về tỷ lệ hộ
64,3%)xã đạt tiêu chí về nông thôn mới và tỷ
nghèo
lệ hộ nghèo
6 Xoá đói
Toàn tỉnh không có hộ đói Toàn tỉnh không có hộ đói
Chính sách người cao tuổi
Đến năm 2015: thực hiện tốt việc trợ cấp,
khám chữa bệnh cho người cao tuổi từ 75
7
1 8 7
tuổi trở lên, đạt 100%
8 Bảo hiểm y tế tư nguyện
2015: triển khai trên diện rộng đạt /50%
9 Tiêm chủng và khám chữa
- Tiểm chủng cho trẻ em đạt đến năm 2015:
bệnh cho trẻ em dưới 7 tuổi
100% theo quy định; thực hiện tốt công tác
khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi
10 Chính sách đối với người
Đến năm 2015: Có những chính sách hỗ chợ
khuyết tật
giảm bớt khó khăn và tạo việc làm thích hợp
11 Nh ững trẻ em mồ côi không
Đến năm 2015: Thành lập các trung tâm nỗi
nơi nương tựa
dưỡng trẻ mồ côi từ tuyến huyện trở lên
II KẾT QUẢ THỰC HIỆN Ở NINH BÌNH QUA CÁC GIAI ĐOẠN
TT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN
GIAI ĐOẠN 2001-2005
GIAI ĐOẠN 2006-2010
GIAI ĐOẠN 2011-2015
1 Chính sách đối với bà mẹ việt
nam anh hùng, gi đình chính
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương binh, liệt sỹ có mức sống khá
binh, liệt sỹ, đạt 100%;
trở lên trong khu vực sinh sống, đạt 100%;
sách, thương binh liệt sỹ, đạt 100%;
đình thương binh, liệt sỹ, đạt 100%;
- Có chính sách hỗ trợ tốt cho người bị
- Nạn nhân chất độc da cam
nhiễm và nạn nhân chất độc da cam
2 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn
2000: 6,93%
2007: 11,38%
nghèo từ 2010 trở về trước
2005: 6,2,38%
2010: 12,39%
-2010: 12,39%; -2011: 9,85%
1 8 8
3 Tỷ lệ hộ nghèo theo Quyết định số 09-/2011/QĐ-TTg về chuẩn
- 2012: 7,54%; -2014: 6%; 2015:3,5%
nghèo giai đoạn 2011-2015
4 Xoá nhà tạm cho hộ nghèo
Đến năm 2015, đã hoàn thành hỗ trợ hộ
nghèo nhà ở theo Quyết định 167/QĐ-TTg
5 Thực hiện các tiêu chí xây
Đến năm 2015, có 32/119(26,9%) xã đạt tiêu
chí về tỷ lệ hộ nghèo
dựng nông thôn mới về tỷ lệ hộ nghèo
6 Xoá đói
Toàn tỉnh không có hộ đói Toàn tỉnh không có hộ đói
7 Chính sách người cao tuổi
Đến năm 2015: thực hiện tốt việc trợ cấp, khám chữa bệnh cho người cao tuổi từ 75
tuổi trở lên, đạt 100%
8 Bảo hiểm y tế tư nguyện
2015: triển khai trên diện rộng đạt /50%
9 Tiêm chủng và khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 7 tuổi
- Tiểm chủng cho trẻ em đạt đến năm 2015: 100% theo quy định; thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi
10 Chính sách đối với người
khuyết tật
Đến năm 2015: Có những chính sách hỗ chợ giảm bớt khó khăn và tạo việc làm thích hợp
11 Nh ững trẻ em mồ côi không
nơi nương tựa
Đến năm 2015: Thành lập các trung tâm nỗi dưỡng trẻ mồ côi từ tuyến huyện trở lên
III KẾT QUẢ THỰC HIỆN Ở BẮC NINH QUA CÁC GIAI ĐOẠN
TT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN
GIAI ĐOẠN 2001-2005
GIAI ĐOẠN 2006-2010
GIAI ĐOẠN 2011-2015
1 Chính sách đối với bà mẹ việt
1 8 9
nam anh hùng, gi đình chính sách, thương binh liệt sỹ;
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương binh, liệt sỹ, đạt 100%
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương binh, liệt sỹ có mức sống khá trở lên trong khu vực sinh sống, đạt 100%;
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương binh, liệt sỹ, đạt 100%
- Nạn nhân chất độc da cam
- Có chính sách hỗ trợ tốt cho người bị nhiễm và nạn nhân chất độc da cam
2 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo từ 2010 trở về trước
-2011:5,5%;
-2014:2,56%; - 2015: 2,2
3 Tỷ lệ hộ nghèo theo Quyết định số 09-/2011/QĐ-TTg về chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015
4 Xoá nhà tạm cho hộ nghèo
Đến năm 2015, đã hoàn thành hỗ trợ hộ nghèo nhà ở theo Quyết định 167/QĐ-TTg
5 Thực hiện các tiêu chí xây
Đến năm 2015, số tiêu chí đạt chuẩn bình quân là 15,71 tiêu chí/xã
dựng nông thôn mới về tỷ lệ hộ nghèo
6 Xoá đói
Toàn tỉnh không có hộ đói Toàn tỉnh không có hộ đói
7 Chính sách người cao tuổi
Đến năm 2015: thực hiện tốt việc trợ cấp, khám chữa bệnh cho người cao tuổi từ 75 tuổi trở lên, đạt 100%
8 Bảo hiểm y tế tư nguyện
2015: triển khai trên diện rộng đạt /50%
9 Tiêm chủng và khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 7 tuổi
- Tiểm chủng cho trẻ em đạt đến năm 2015: 100% theo quy định; thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi
10 Chính sách đối với người
1 9 0
khuyết tật
Đến năm 2015: Có những chính sách hỗ chợ giảm bớt khó khăn và tạo việc làm thích hợp
11 Nh ững trẻ em mồ côi không
nơi nương tựa
Đến năm 2015: Thành lập các trung tâm nỗi dưỡng trẻ mồ côi từ tuyến huyện trở lên
IV KẾT QUẢ THỰC HIỆN Ở HƯNG YÊN QUA CÁC GIAI ĐOẠN
TT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN
GIAI ĐOẠN 2001-2005
GIAI ĐOẠN 2006-2010
GIAI ĐOẠN 2011-2015
1 Chính sách đối với bà mẹ việt
nam anh hùng, gi đình chính
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương binh, liệt sỹ có mức sống khá
sách, thương binh liệt sỹ;
binh, liệt sỹ, đạt 100%
trở lên trong khu vực sinh sống, đạt 100%;
đình thương binh, liệt sỹ, đạt 100%
- Nạn nhân chất độc da cam
- Có chính sách hỗ trợ tốt cho người bị
nhiễm và nạn nhân chất độc da cam
2 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn
2006: 6%
nghèo từ 2010 trở về trước
3 Tỷ lệ hộ nghèo theo Quyết định
-2012: 6,77%
- 2013: <5%; -2015: 3,2%
số 09-/2011/QĐ-TTg về chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015
4 Xoá nhà tạm cho hộ nghèo
Đến năm 2015, đã hoàn thành hỗ trợ hộ nghèo nhà ở theo Quyết định 167/QĐ-TTg
5 Thực hiện các tiêu chí xây
Đến năm 2015, có 38/145 (26,2%) xã cơ
dựng nông thôn mới về tỷ lệ hộ
bản đạt 19 tiêu chí
nghèo
6 Xoá đói
Toàn tỉnh không có hộ đói Toàn tỉnh không có hộ đói
1 9 1
7 Chính sách người cao tuổi
Đến năm 2015: thực hiện tốt việc trợ cấp,
khám chữa bệnh cho người cao tuổi từ 75 tuổi trở lên, đạt 100%
8 Bảo hiểm y tế tư nguyện
2015: triển khai trên diện rộng đạt /50%
9 Tiêm chủng và khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 7 tuổi
- Tiểm chủng cho trẻ em đạt đến năm 2015: 100% theo quy định; thực hiện tốt công tác
khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi
10 Chính sách đối với người
Đến năm 2015: Có những chính sách hỗ chợ
khuyết tật
giảm bớt khó khăn và tạo việc làm thích hợp
11 Nh ững trẻ em mồ côi không
Đến năm 2015: Thành lập các trung tâm nỗi
nơi nương tựa
dưỡng trẻ mồ côi từ tuyến huyện trở lên
V KẾT QUẢ THỰC HIỆN Ở QUẢNG NINH QUA CÁC GIAI ĐOẠN
TT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN
GIAI ĐOẠN 2001-2005
GIAI ĐOẠN 2006-2010
GIAI ĐOẠN 2011-2015
1 Chính sách đối với bà mẹ việt
nam anh hùng, gi đình chính
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia đình thương binh, liệt sỹ có mức sống khá
sách, thương binh liệt sỹ;
binh, liệt sỹ, đạt 100%
trở lên trong khu vực sinh sống, đạt 100%;
đình thương binh, liệt sỹ, đạt 100%
- Nạn nhân chất độc da cam
- Có chính sách hỗ trợ tốt cho người bị
nhiễm và nạn nhân chất độc da cam
2 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn
2001: %
2006: %
nghèo từ 2010 trở về trước
2005: %
2010:7,68%
-2010:7,68%; -2012- 2013: 2,52 %
1 9 2
3 Tỷ lệ hộ nghèo theo Quyết định số 09-/2011/QĐ-TTg về chuẩn
-2015:1,55%
nghèo giai đoạn 2011-2015
4 Xoá nhà tạm cho hộ nghèo
Đến năm 2015, đã hoàn thành hỗ trợ hộ
nghèo nhà ở theo Quyết định 167/QĐ-TTg
5 Thực hiện các tiêu chí xây
Đến năm 2015, 79/125 xã cơ bản đạt
chuẩn nông thôn mới;
dựng nông thôn mới về tỷ lệ hộ nghèo
6 Xoá đói
Toàn tỉnh không có hộ đói Toàn tỉnh không có hộ đói
7 Chính sách người cao tuổi
Đến năm 2015: thực hiện tốt việc trợ cấp, khám chữa bệnh cho người cao tuổi từ 75
tuổi trở lên, đạt 100%
8 Bảo hiểm y tế tư nguyện
2015: triển khai trên diện rộng đạt /50%
9 Tiêm chủng và khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 7 tuổi
- Tiểm chủng cho trẻ em đạt đến năm 2015: 100% theo quy định; thực hiện tốt công tác
khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi
10 Chính sách đối với người
Đến năm 2015: Có những chính sách hỗ chợ
khuyết tật
giảm bớt khó khăn và tạo việc làm thích hợp
11 Nh ững trẻ em mồ côi không
nơi nương tựa
Đến năm 2015: Thành lập các trung tâm nỗi dưỡng trẻ mồ côi từ tuyến huyện trở lên
VI KẾT QUẢ THỰC HIỆN Ở HẢI DƯƠNG QUA CÁC GIAI ĐOẠN
GIAI ĐOẠN
GIAI ĐOẠN
GIAI ĐOẠN
TT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN
2001-2005
2006-2010
2011-2015
1 9 3
1 Chính sách đối với bà mẹ việt
- Thực hiện tốt các
- Thực hiện tốt các chính
- Thực hiện tốt các chính sách và các gia
nam anh hùng, gi đình chính
chính sách và các gia
sách và các gia đình thương
đình thương binh, liệt sỹ có mức sống khá
sách, thương binh liệt sỹ;
đình thương binh, liệt
binh, liệt sỹ, đạt 100%
trở lên trong khu vực sinh sống, đạt 100%;
sỹ, đạt 100%
- Nạn nhân chất độc da cam
- Có chính sách hỗ trợ tốt cho người bị
nhiễm và nạn nhân chất độc da cam
2 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn
2001: %
2006: 15%
nghèo từ 2010 trở về trước
2005: trên15%
2010:4,9,99%
-2010:4,9%
3 Tỷ lệ hộ nghèo theo Quyết định
số 09-/2011/QĐ-TTg về chuẩn
-2012- 2013: %; -2015:3,27%
nghèo giai đoạn 2011-2015
4 Xoá nhà tạm cho hộ nghèo
Đến năm 2015, đã hoàn thành hỗ trợ hộ
nghèo nhà ở theo Quyết định 167/QĐ-TTg
5 Thực hiện các tiêu chí xây
Đến năm 2015, có 64 xã đạt 19 tiêu chí
dựng nông thôn mới về tỷ lệ hộ nghèo
(28,3% số xã) xã đạt tiêu chí về tỷ lệ hộ nghèo
6 Xoá đói
Toàn tỉnh không có hộ đói Toàn tỉnh không có hộ đói
7 Chính sách người cao tuổi
Đến năm 2015: thực hiện tốt việc trợ cấp, khám chữa bệnh cho người cao tuổi từ 75 tuổi trở lên, đạt 100%
8 Bảo hiểm y tế tư nguyện
2015: triển khai trên diện rộng đạt /50%
1 9 4
9 Tiêm chủng và khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 7 tuổi
- Tiểm chủng cho trẻ em đạt đến năm 2015: 100% theo quy định; thực hiện tốt công tác
khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi
10 Chính sách đối với người
Đến năm 2015: Có những chính sách hỗ chợ
khuyết tật
giảm bớt khó khăn và tạo việc làm thích hợp
11 Nh ững trẻ em mồ côi không
nơi nương tựa
Đến năm 2015: Thành lập các trung tâm nỗi dưỡng trẻ mồ côi từ tuyến huyện trở lên
Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh các tỉnh ĐBSH, Báo cáo thực hiện chính sách pháp luật về giảm nghèo 6 tỉnh Đòng Bằng Sông Hồng từ năm 2001 đến năm 2015 [132].
Phụ lục 15
THỐNG KÊ SỐ GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG, SỐ HỌC SINH PHỔ THÔNG & THỐNG KÊ
GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP, CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG NĂM 2014
TT
SỐ GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG, SỐ HỌC SINH PHỔ THÔNG & THỐNG KÊ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP, CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014
I
SỐ GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG VÀ SỐ HỌC SINH PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2010-2014
Số giáo viên phổ thông (người)
Số học sinh phổ thông (người)
TT
Tỉnh
2010
2011
2012
2013
2014
2010
2011
2012
2013
2014
1
Vĩnh Phúc
10232
10397
10232
10617
10412
169364
168705
170630
173873
178264
1 9 5
2
Bắc Ninh
10176
10068
10202
10235
10254
189900
187800
188700
191400
195200
3
Quảng Ninh
12270
12290
12844
12909
14463
199284
200306
200679
199825
208267
4
Hưng Yên
10159
10337
10894
10593
10617
272785
270922
273464
269990
274576
5
Hải Dương
12568
15548
16694
15923
15943
179944
178111
176174
179050
183353
6
Thái Bình
16658
16712
16719
16730
16741
28200
278800
276300
276400
277800
7
Nam Định
15999
16451
16499
16474
16508
323928
312262
303291
303040
300388
8
Ninh Bình
8143
8254
8259
8434
143056
140169
139643
139764
140656
8232
9
Hà Nam
7403
7195
7283
7299
130339
128787
127721
127906
128408
7222
Tổng
103608
107252
109538
109023
110671
1636800
1865862
1856602
1861248
1886912
II
THỐNG KÊ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP, CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014
Trung cấp chuyên nghiệp
Cao đẳng
Ghi chú
Đại học
TT
Tỉnh
Số sinh
Số giáo viên
Số trường
Số học sinh
Số trường
Số sinh viên
Số giáo viên
Số trường
Số giảng viên
viên
1
Vĩnh Phúc
6
8840
213
30659
824
11583
454
2
3
2
Bắc Ninh
4
5475
207
6449
450
8115
622
3
5
3
Quảng Ninh
2
4100
77
4835
517
5197
529
2
4
4
Hưng Yên
4
2631
232
7880
1210
6600
395
4
3
5
Hải Dương
4
2910
147
1166
78
4978
621
7
4
1 9 6
6
Thái Bình
1
2306
73
7720
408
12310
568
2
3
7
5483
440
11011
893
4
6
Nam Định
12
27446
1471
8
Ninh Bình
3
3547
270
1735
214
2680
527
1
4
9
Hà Nam
2
2571
157
291
10
5775
341
1
4
Tổng
38
37863
1816
36
68249
4950
26
88181
5182
Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]
Biểu đồ: HỌC SINH, SINH VIÊN TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP, CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC
Ở CÁC TỈNH ĐBSH NĂM 2014
1 9 7
Phụ lục 16
THỐNG KÊ THUÊ BAO ĐIỆN THOẠI VÀ INTERNET TỪ NĂM 2010-2014
Số thuê bao điện thoại
Số thuê bao Internet
TT
Tên tỉnh
2010
2011
2012
2013
2014
2010
2011
2012
2013
2014
1 Nam Định
315044
274086
286493
216076
186138
4179
64141
73067
66450
54255
2 Hà Nam
865000
804000
806000
2742830 169468
15336
16539
29000
34000
44146
3 Hải Dương
394000
348000
271000
270000
265000
5500
48000
54000
62000
65000
4 Hưng Yên
190075
160071
118744
102130
53499
244000
234871
178056
154941
116760
5 Ninh Bình
156300
113300
800000
650000
387000
-
-
-
-
-
1 9 8
6 Thái Bình
123100
124590
126270
128140
139130
25500
25900
26300
25500
30700
7 Bắc Ninh
112970
113380
114990
121200
118600
42900
47400
52300
57800
63800
-
-
-
-
8 Vĩnh Phúc
-
-
-
-
-
-
9 Quảng Ninh
215560
81900
8600
97400
115200
278400
171300
175300
65200
165110 Nguồn: Niên giám thống kê 2014 các tỉnh [81 - 87]
Phụ lục 17
SO SÁNH SỐ BÁC SĨ, GIƯỜNG BỆN TRÊN 1 VẠN DÂN NĂM 2010 VÀ 2014
Năm 2010
Năm 2014
TT
Tỉnh
Bác sĩ trên 1 vạn dân (người)
Giường bệnh trên 1 vạn dân (giường)
Bác sĩ trên 1 vạn dân (người)
Giường bệnh trên 1 vạn dân (giường)
1 Vĩnh Phúc
3046
2300
3210
6502
2
Bắc Ninh
2385
2340
3144
3346
3 Quảng Ninh
4832
3240
6042
4856
1 9 9

