HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ DUYÊN
C¤NG T¸C X¢Y DùNG
Tæ CHøC C¥ Së §¶NG CñA §¶NG Bé TØNH H¦NG Y£N
Tõ N¡M 1997 §ÕN N¡M 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2016
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ DUYÊN
C¤NG T¸C X¢Y DùNG
Tæ CHøC C¥ Së §¶NG CñA §¶NG Bé TØNH H¦NG Y£N
Tõ N¡M 1997 §ÕN N¡M 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 62 22 03 15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS TRẦN THỊ THU HƯƠNG
2. PGS.TS TRẦN MINH TRƯỞNG
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả, số liệu nêu trong luận án là khách quan, trung thực
có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy.
Tác giả luận án
Vũ Thị Duyên
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
......................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN....................................................................................6
1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ...........................6
1.2. Kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã được giải quyết
và những nội dung luận án tập trung nghiên cứu .........................................20
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Ở TỈNH HƯNG YÊN
TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU TÁI LẬP TỈNH (1997 - 2000) ..............22
2.1. Tổ chức cơ sở đảng và những yếu tố tác động đến công tác xây dựng
tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên ..........................................22
2.2. Chủ trương và quá trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên (1997 - 2000) ...........................................................................33
CHƯƠNG 3: ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI TỪ
NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010....................................................................58
3.1. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên quán triệt chủ trương của đảng về xây dựng tổ
chức cơ sở đảng trước tình hình mới (2001 - 2005)........................................58
3.2. Chủ trương và quá trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên (2006 - 2010) ...........................................................................84
CHƯƠNG 4: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM ........................................109
4.1. Nhận xét về quá trình lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng của
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (1997 - 2010).........................................................109
4.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu ...........................................................................131
KẾT LUẬN ..................................................................................................................148
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................151
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Phân loại tổ chức cơ sở đảng của tỉnh Hưng Yên (1997-2000)........46
Biểu đồ 2.2: Kết quả công tác phát triển đảng viên của tỉnh Hưng Yên
(1997 - 2000). ..............................................................................50
Biểu đồ 3.1: Phân loại tổ chức cơ sở đảng của tỉnh Hưng Yên (2001-2005)......75
Biểu đồ 3.2: Phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng của tỉnh Hưng Yên
(2006- 2010)................................................................................98
Biểu đồ 4.1: Phân loại tổ chức cơ sở đảng tỉnh Hưng Yên (1997-2010) ......114
Biểu đồ 4.2: So sánh chất lượng tổ chức cơ sở đảng tỉnh Hưng Yên với một
số tỉnh lân cận qua hai nhiệm kỳ (2001-2005), (2006-2010). ........115
Biểu đồ 4.3: Phân tích số lương đảng viên kết nạp (1997-2010)..................116
Biểu đồ 4.4: So sánh số lượng đảng viên kết nạp qua 2 nhiệm kỳ (2001-2005),
(2006-2010) của tỉnh Hưng Yên với một số tỉnh lân cận ............... 117
Biểu đồ 4.6: Thi hành kỷ luật tổ chức cơ sở đảng tỉnh Hưng Yên (1997-2010) .120
Biểu đồ 4.7: Thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm (1997-2010). ...................120
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH : Ban chấp hành
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
HD : Hướng dẫn
HTCT : Hệ thống chính trị
KT-XH : Kinh tế - xã hội
NXB : Nhà xuất bản
TCCSĐ : Tổ chức cơ sở đảng
TCTW : Tổ chức Trung ương
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TNCS : Thanh niên cộng sản
TSVM : Trong sạch vững mạnh
UBKT : Ủy ban kiểm tra
XDĐ : Xây dựng Đảng
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trải qua hơn 80 năm hoạt động, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, một
trong năm bài học quan trọng quyết định đến mọi thắng lợi của cách mạng
Việt Nam, chính là sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng. Vì vậy, công
tác xây dựng Đảng nói chung và xây dựng tổ chức cơ sở đảng nói riêng luôn
được xác định là nhiệm vụ then chốt trong các thời kỳ cách mạng.
Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Để lãnh đạo cách
mạng, Đảng phải mạnh, Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng
viên tốt” [64, tr.113], trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng
sản Việt Nam đã rất chú trọng công tác xây dựng Đảng, nhất là về tổ chức cơ
sở đảng. Đặc biệt, bước vào công cuộc đổi mới đất nước, đứng trước thời cơ
và vận hội lớn nhưng cũng có không ít những khó khăn, thách thức đối với công
tác xây dựng Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định “xây dựng Đảng là
nhiệm vụ then chốt”. Trong công tác xây dựng Đảng, vấn đề xây dựng, củng cố,
kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng
(TCCSĐ) ngang tầm với đòi hỏi của tình hình, nhiệm vụ mới được Đảng hết sức
quan tâm. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa X) chỉ rõ: TCCSĐ là nền tảng của Đảng, là cầu nối giữa Đảng với dân, có
vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng. Toàn Đảng phải tập trung
lãnh đạo, chỉ đạo để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ; bảo
đảm sự lãnh đạo của Đảng trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội
ở cơ sở, nhất là những địa bàn, lĩnh vực trọng yếu, có nhiều khó khăn.
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, trong sự nghiệp đổi mới,
cấp ủy Đảng các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng TCCSĐ giữ
vững và phát huy được vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo cán bộ,
đảng viên, nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị ở địa
phương, cơ quan, đơn vị. Đội ngũ cán bộ, đảng viên từng bước được nâng cao
2
cả về số lượng và chất lượng, trình độ kiến thức và năng lực hoạt động thực
tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới, vẫn còn nhiều
TCCSĐ chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra: Do nhận thức hạn chế,
nhiều cấp ủy chưa chỉ đạo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ ở
cơ sở. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ở nhiều TCCSĐ còn yếu, chưa đủ
sức giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở địa phương. Một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu, suy
thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống. Tệ quan liêu, lãng phí, tiêu cực
còn xảy ra ở nhiều nơi, chậm được phát hiện ngăn chặn, đẩy lùi. Việc đánh
giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên hằng năm còn mang tính hình thức, kết
quả chưa phản ánh đúng thực chất, chất lượng ở cơ sở. Đặc biệt trong quá
trình Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, khóa XI về vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay.
Đối với Hưng Yên, một trong những tỉnh trọng điểm nông nghiệp của
đồng bằng sông Hồng và đang trong quá trình chuyển dịch sang công nghiệp
hóa, hiện đại hóa thì vấn đề xây dựng Đảng càng phải được chú trọng. Để
thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc củng cố
kiện toàn công tác xây dựng TCCSĐ, nhằm nâng cao năng lực và sức chiến
đấu của TCCSĐ trở thành yêu cầu khách quan giữ vị trí quyết định trong thực
hiện nhiệm vụ chính trị của tỉnh. TCCSĐ có vững mạnh thì sự nghiệp CNH,
HĐH mới diễn ra đúng hướng và có kết quả như mong muốn, đời sống nhân
dân mới được ấm no hạnh phúc, giữ vững ổn định chính trị. TCCSĐ yếu kém,
nội bộ mất đoàn kết, lòng dân bất ổn, ổn định chính trị có nguy cơ không
được giữ vững, niềm tin của nhân dân với Đảng và Chính phủ giảm sút…
Trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, việc xây dựng,
củng cố, kiện toàn phát triển các loại hình TCCSĐ trở thành nhiệm vụ
trọng tâm, cấp bách của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên. Kể từ khi tái lập tỉnh
năm 1997 đến Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVII (2010) là
thời kỳ phát triển đáng ghi nhận có nhiều biến đổi tích cực về kinh tế - xã
3
hội và công tác xây dựng TCCSĐ. Thực tiễn trong công tác xây dựng
TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên giai đoạn này đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng, đồng thời cũng gặp không ít khó khăn, hạn chế.
Chính vì vậy, cần thiết phải có sự nghiên cứu một cách hệ thống, nhằm
đánh giá đúng thực trạng, kết quả và hạn chế; góp phần làm sáng tỏ một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng TCCSĐ ở một địa
phương cụ thể trong điều kiện lịch sử mới, đúc rút những kinh nghiệm,
góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng TCCSĐ ở tỉnh Hưng
Yên trong các giai đoạn tiếp theo.
Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn đề tài:
“Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ
năm 1997 đến năm 2010” làm đề tài luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Làm sáng tỏ chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng
TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến năm
2010, góp phần khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng và đúc rút
kinh nghiệm thực tiễn để vận dụng vào công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về
xây dựng TCCSĐ trong giai đoạn tiếp theo có hiệu quả hơn.
2.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ khái niệm về TCCSĐ và khái quát những yếu tố tác động đến
quá trình xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến
năm 2010.
- Hệ thống hóa chủ trương của Trung ương Đảng về TCCSĐ từ năm
1996 đến năm 2010 và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ khi tái lập
tỉnh (năm 1997) đến năm 2010.
- Làm rõ quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010 trên các nội dung
4
chủ yếu: về tư tưởng chính trị; về tổ chức; về phát triển đảng viên; về công tác
cán bộ; về công tác kiểm tra.
- Khảo sát kết quả xây dựng TCCSĐ (xã, phường, thị trấn) của Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010, từ đó nhận xét thành công, hạn chế khuyết
điểm và đúc kết những kinh nghiệm có giá trị tổng kết thực tiễn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu chủ trương và chỉ đạo thực hiện xây dựng
TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng
Yên xây dựng TCCSĐ. TCCSĐ có rất nhiều loại hình, trong khuôn khổ luận
án chỉ tập trung khảo sát loại hình TCCSĐ xã, phường, thị trấn trên địa bàn
tỉnh Hưng Yên.
Luận án tập trung nghiên cứu xây dựng TCCSĐ trên các lĩnh vực: về tư
tưởng chính trị; về tổ chức; về phát triển đảng viên; về công tác cán bộ; về công
tác kiểm tra.
- Về không gian: Địa bàn nghiên cứu là tỉnh Hưng Yên
- Về thời gian: Thời gian từ năm 1997 đến năm 2010.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được tiến hành trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng
Đảng nói chung và xây dựng TCCSĐ nói riêng.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp chuyên ngành như: Phương pháp
lịch sử và phương pháp lôgic, ngoài ra còn kết hợp các phương pháp khác,
như khảo sát thực tiễn, tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, tổng kết, phỏng
vấn nhân chứng lịch sử…
5
4.3. Nguồn tư liệu
- Các văn kiện của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội từ
năm 1996 đến năm 2011 về xây dựng Đảng và xây dựng TCCSĐ.
- Các văn kiện của đảng bộ các cấp, các ban, ngành, đoàn thể, lịch sử
đảng bộ địa phương... về xây dựng Đảng và xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên
- Các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài Luận án.
- Tư liệu phỏng vấn từ các nhân chứng lịch sử.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Góp phần làm sáng rõ hơn tầm quan trọng của TCCSĐ nhằm đảm bảo
sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trên tất cả các lĩnh vực, địa bàn,
nhất là ở cấp cơ sở.
- Đánh giá một cách khách quan quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên về công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ khi tái lập năm 1997 đến
năm 2010, góp phần tổng kết thực tiễn một nội dung quan trọng trong công tác
xây dựng Đảng thời kỳ đổi mới trên một địa bàn cụ thể.
- Những kinh nghiệm đúc kết được có thể vận dụng vào quá trình
lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nói riêng, các địa phương khác nói
chung về xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong giai đoạn tới có hiệu quả hơn.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận án gồm 4 chương, 8 tiết.
6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng,
xây dựng TCCSĐ đã được các giới, các ngành và nhiều tổ chức, cá nhân quan
tâm nghiên cứu. Đặc biệt, từ khi đất nước bước vào sự nghiệp đổi mới, đẩy
mạnh CNH, HĐH, đã có rất nhiều công trình khoa học đề cập đến vấn đề này.
Có thể chia thành mấy nhóm công trình nghiên cứu sau:
1.1.1. Những công trình đề cập tới những vấn đề chung về tổ chức
cơ sở đảng
Có thể kể đến các công trình khoa học sau: Để nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nhóm tác giả Hồ Thanh Khôi,
Pham Thị Thiểu [51]. Nội dung cuốn sách giới thiệu vai trò của TCCSĐ trong
hệ thống chính trị, quy chế hoạt động của TCCSĐ; nội dung và năng lực lãnh
đạo, trách nhiệm của lãnh đạo; vấn đề lãnh đạo các cơ sở kinh tế ngoài quốc
doanh và liên doanh với nước ngoài; các quy định mới của Ban Chấp hành
Trung ương về chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ; hướng dẫn thực hiện các
quy định của Trung ương;
Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt của Lê Đức Bình [8]. Cuốn
sách góp phần tuyên truyền đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng
Đảng, nêu nhiệm vụ cụ thể cần xây dựng, chỉnh đốn các tổ chức đảng;
đồng thời, nêu lên những kinh nghiệm, bài học trong thực tiễn công tác xây
dựng Đảng;
Xây dựng Đảng về tổ chức của Ngô Đức Tính [97]. Cuốn sách trình
bày các nguyên lý, quan điểm, nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và Đảng về xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng;
7
một số vấn đề cơ bản về khoa học tổ chức, hệ thống tổ chức bộ máy của
Đảng; những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng. Cuốn sách cũng giới
thiệu một số bài học kinh nghiệm bước đầu về công tác xây dựng Đảng đã
được tổng kết ở một số địa phương;
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời
kỳ mới, tập thể tác giả, Nguyễn Phú Trọng và cộng sự [146]. Nội dung
chủ yếu của cuốn sách đề cập một cách khái quát, có hệ thống những vấn
đề cơ bản về đảng cầm quyền, về tình hình đổi mới, chỉnh đốn Đảng.
Cuốn sách, đã giành một phần quan trọng luận giải về chất lượng các
TCCSĐ. Từ sự phân tích công phu, nghiêm túc cơ sở lý luận và thưc tiễn
những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng nói chung, các TCCSĐ nói riêng,
cuốn sách đã đề xuất phương hướng và giải pháp cấp bách để không
ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời
kỳ mới;
Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và
chất lượng đảng viên Nguyễn Ngọc Thịnh [91]. Trên cơ sở những nghiên cứu
thực tế, nhóm tác giả đề tài đã nêu những ưu điểm, hạn chế về năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ đảng viên, nguyên nhân thực
trạng, trong đó có nguyên nhân cơ bản là nhận thức về năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ đảng viên chưa đáp ứng yêu
cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới;
Một số vấn đề về xây dựng tổ chức cơ sở đảng hiện nay của Nguyễn
Đức Hà [45]. Nội dung cuốn sách đề cập đến những vấn đề: nâng cao chất
lượng TCCSĐ và đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng sinh hoạt
chi bộ trong các loại hình TCCSĐ; đánh giá đúng chất lượng TCCSĐ và đảng
viên hàng năm; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở xã, phường, thị
trấn vững mạnh; nâng cao vai trò lãnh đạo của TCCSĐ trong Tập đoàn kinh
8
tế, Tổng công ty Nhà nước; xây dựng và phát triển TCCSĐ trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…Những nội dung cuốn sách đề cập đến vừa
mang tính nghiên cứu lý luận, vừa là sự tổng kết thực tiễn về công tác xây
dựng củng cố TCCSĐ trong những năm gần đây, cung cấp nhiều tư liệu có
giá trị thực tiễn về xây dựng Đảng và xây dựng TCCSĐ;
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chi bộ Đảng gắn với xây dựng tổ
chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh của Trần Minh Trưởng [144]. Nội
dung cuốn sách đã đề cập đến cơ sở hình thành, vị trí vai trò, nhiệm vụ và nội
dung tư tưởng Hồ Chí Minh về chi bộ Đảng. Qua đó nêu nên năm yêu cầu cần
thiết và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh đối công tác xây dựng TCCSĐ
trong tình hình mới: Triệt để thực hành dân chủ, đó là biện pháp hàng đầu để
xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng
gắn với đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chi bộ Đảng; quán triệt nghị
quyết Trung ương lần thứ 4 (Khóa XI) về phê bình và tựu phê bình trong công
tác xây dựng chi bộ; tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, rèn luyện đội ngũ
cán bộ, đảng viên; tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới công tác kiểm tra giám
sát trong điều kiện hiện nay…
Bên cạnh các công trình chuyên khảo, trên các tạp chí khoa học có một
số bài viết về tổ chức cơ sở đảng như:
Về nâng cao chất lượng của các tổ chức cơ sở đảng của Đức Lượng
[58]. Trên cơ sở phân tích vị trí, vai trò của TCCSĐ, tác giả đã khẳng định
tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng các TCCSĐ, nhất là ở những
vùng có địa bàn trọng yếu. Trước thực trạng chất lượng TCCSĐ và đảng viên
còn nhiều hạn chế, tác giả đã nêu một số biện pháp nâng cao chất lượng
TCCSĐ và đảng viên: tiếp tục bổ sung, cụ thể hóa chất lượng sinh hoạt Đảng;
tăng cường giáo dục, kiểm tra và quản lý đội ngũ đảng viên; phát huy dân
chủ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật.
9
Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên dưới ánh sáng
Nghị quyết Đại hội X của Dương Trung Ý [162]. Tổng kết số lượng TCCSĐ, tác
giả cho rằng tính đến tháng 12-2005, cả nước có 47.000 TCCSĐ, xấp xỉ gần
200.000 chi bộ trực thuộc, hơn 3,1 triệu đảng viên. Các TCCSĐ có vị trí, vai trò
quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của Đảng và chế độ XHCN ở nước ta.
Từ sự phân tích khách quan, khoa học, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3
(khoá VII) và Nghị quyết Đại hội VIII, IX, tác giả đi đến khẳng định các
TCCSĐ đã có nhiều chuyển biến tích cực, thể hiện trên một số lĩnh vực chủ yếu.
Về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở xã của
Dương Trung Ý [163]. Tác giả cho rằng, sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn có trở thành thực tiễn sinh động hay không, đem lại diện mạo và
bước phát triển mới cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân hay không, phần
rất lớn là do vai trò, trách nhiệm và khả năng lãnh đạo của các đảng bộ xã.
Tác giả chỉ rõ, để có cơ sở đề ra các giải pháp sát thực, đồng bộ, trước hết các
cấp ủy, tổ chức đảng cần hiểu đúng khái niệm năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của đảng bộ xã: Năng lực lãnh đạo của đảng bộ xã là khả năng đề ra
những mục tiêu, nhiệm vụ chính trị đúng đắn, sát hợp của đảng bộ trong từng
thời kỳ, đồng thời là khả năng tổ chức thực hiện thắng lợi những mục tiêu,
nhiệm vụ đó trên địa bàn xã. Sức chiến đấu của đảng bộ xã là sức mạnh, khả
năng vượt qua những khó khăn, thách thức, những trở lực và chống lại có
hiệu quả sự phá hoại của các thế lực thù địch trong quá trình lãnh đạo thực
hiện nhiệm vụ chính trị ở xã.
Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng của Ngô Kim Ngân [71]. Theo tác giả, để nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của các TCCSĐ hiện nay cần tập trung vào một số giải pháp
sau: Xác định đúng nhiệm vụ chính trị, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác tư tưởng; Đổi mới phương thức, phong cách làm việc của tổ
chức đảng; Cải tiến, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, chi ủy, đảng ủy,
10
mở rộng dân chủ trong sinh hoạt Đảng; Coi trọng công tác quy hoạch, đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ; Đẩy mạnh công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng; Tăng
cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy cấp trên đối với cơ sở.
Bốn kinh nghiệm thực hiện đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng
và đảng viên của Phúc Sơn [88]. Tác giả cho rằng, đánh giá đúng chất
lượng TCCSĐ và đảng viên luôn được coi là một nhiệm vụ quan trọng
trong công tác xây dựng Đảng; Công trình Tổ chức cơ sở đảng với nhiệm
vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí của Nguyễn Minh Tuấn [147]. Tác giả
cho rằng, thiếu sót, khuyết điểm trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí thì
cơ bản đều do sự yếu kém của các TCCSĐ trong lãnh đạo hệ thống chính trị;
vai trò của người đứng đầu cơ quan.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và
chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Nguyễn Đức Hà [44]. Trong bài viết,
tác giả đi sâu phân tích một số nhiệm vụ và giải pháp nhằm nâng cao năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên
đối với từng loại hình TCCSĐ, từ đó xây dựng mô hình tổ chức phù hợp với
những TCCSĐ có tính đặc thù, vừa tạo sự thống nhất chung, vừa phù hợp với
đặc điểm cụ thể của từng địa phương, đơn vị.
Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
tổ chức cơ sở đảng của Trương Thị Thông [92]. Theo tác giả, để nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng cần thực hiện các giải
pháp cơ bản: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng đội
ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh về mọi mặt; Tập trung chỉ đạo giải quyết kịp
thời những vấn đề bức xúc mới nảy sinh; Nâng cao chất lượng, đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động, chất lượng sinh hoạt của các loại hình TCCSĐ;
Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên, dựa vào
dân để xây dựng Đảng.
11
Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng của Vũ Văn Phúc [78]. Trong báo cáo, tác giả đã khái quát quan điểm của
C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam về TCCSĐ từ
ngày đầu thành lập. Đặc biệt, việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của TCCSĐ được kiểm chứng trên thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới.
Đồng thời, tác giả đã khái quát thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của một số loại hình TCCSĐ ở nông thôn; doanh nghiệp; đơn vị sự nghiệp (cơ
quan nghiên cứu khoa học, các cơ sở giáo dục đào tạo, y tế); từ cơ sở lý luận,
thực tiễn của quá trình nghiên cứu, tác giả đã đưa ra 6 giải pháp tiếp tục nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ. Tác giả đi đến kết luận:
Đảng muốn thực sự mạnh, phải chăm lo công tác xây dựng, nâng cao chất
lượng của TCCSĐ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, phải thực
thi đồng bộ mới nâng cao được chất lượng của TCCSĐ ở cơ sở và đảm bảo cho
các TCCSĐ thực sự là nền tảng, hạt nhân chính trị của Đảng.
Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng, lời Ban Biên tập [2], tổng hợp ý kiến tham luận của các nhà khoa học
trên các vấn đề: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ - thực tế và
những vấn đề đặt ra. Khẳng định: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của TCCSĐ là nhiệm vụ cơ bản, then chốt của Đảng, quyết định vai
trò lãnh đạo của Đảng, vị trí và uy tín của Đảng trong nhân dân. Nhiệm vụ này
cần được tiến hành thường xuyên, có sự tham gia của cả hệ thống chính trị, của
toàn thể nhân dân và xã hội...
1.1.2. Các công trình đề cập đến thực tiễn xây dựng tổ chức cơ sở
đảng của các Đảng bộ ở một số vùng, miền và các địa phương trong cả nước
Đó là các công trình: Một số vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động
của tổ chức đảng ở nông thôn và đường phố do Lưu Minh Trí chủ nhiệm
[143]. Nhóm tác giả khẳng định: Đổi mới TCCSĐ là khâu cực kỳ quan
trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng sau Đại hội Đảng toàn quốc
12
lần thứ VII, đặc biệt sau Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
lần thứ 3 (khoá VII). Công trình gồm hai phần: Phần I, Đổi mới tổ chức và
hoạt động của tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn. Phần II, Đổi mới tổ chức
hoạt động của tổ chức cơ sở đảng ở đường phố. Từ kết quả nghiên cứu,
nhóm tác giả đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ đổi mới TCCSĐ cấp
phường và mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp
phường trong điều kiện kinh tế thị trường.
Thực trạng và những yêu cầu xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn
một số tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc nước ta hiện nay, do Nguyễn Thị
Minh Bích làm chủ nhiệm [5]. Tập thể tác giả đánh giá thực trạng và yêu cầu
đặt ra đối với xây dựng TCCSĐ ở nông thôn miền núi vùng cao phía Bắc, từ đó
đưa ra một số kiến nghị, đề xuất và giải pháp xây dựng dựng TCCSĐ ở nông
thôn một số tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc trong những năm tiếp theo.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của các đảng bộ xã ở khu vực Đồng
bằng Bắc Bộ trong giai đoạn hiện nay, do Nguyễn Văn Biều làm chủ
nhiệm [6]. Đề tài bước đầu đề cập đến phương thức, cách thức lãnh đạo của
các đảng bộ xã đối với chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân.
Trên cơ sở sở nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, đề tài đã góp phần
làm rõ thực trạng phương thức lãnh đạo của các đảng bộ xã vùng đồng
bằng sông Hồng, từ đó đề xuất các giải pháp tiếp tục đổi mới phương thức
lãnh đạo của đảng bộ xã khu vực này.
Tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước - những vấn đề đặt
ra và phương hướng giải quyết (qua các xí nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng), do
Trần Trung Quang làm chủ nhiệm [84]. Nhóm tác giả nghiên cứu làm rõ thực
trạng TCCSĐ trong các doanh nghiệp Nhà nước và những vấn đề đặt ra trong
việc xây dựng TCCSĐ trong các doanh nghiệp Nhà nước qua khảo sát thực tiễn
các xí nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng, từ đó, đề ra phương hướng và giải pháp thực
hiện vấn đề này trong trong thời gian tiếp theo.
13
Một số luận án, luận văn:
Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông thôn (cấp xã) vùng
đồng bằng sông Hồng của Đỗ Ngọc Ninh [69], Luận án đã phân tích, đánh
giá thực trạng chất lượng TCCSĐ nông thôn (cấp xã) vùng đồng bằng sông
Hồng và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng TCCSĐ vùng này có
tính khả thi.
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở
các trung đoàn không quân chiến đấu hiện nay của Cao Xuân Thưởng [93],
Luận án làm rõ những vấn đề cơ bản, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
TCCSĐ ở các trung đoàn không quân chiến đấu; phân tích đánh giá đúng thực
trạng, xác định nguyên nhân, những yêu cầu lớn đặt ra ở các trung đoàn
không quân chiến đấu hiện nay cần phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của TCCSĐ ở các đơn vị nói trên, từ đó kiến nghị đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ ở
các trung đoàn không quân chiến đấu;
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nông thôn
vùng cao phía Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước của Nguyễn Đức Ái [1]. Nội dung luận án đã làm rõ một số vấn đề cơ
bản về lý luận và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ nông thôn vùng cao phía
Bắc; Phân tích, đánh giá đúng thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của TCCSĐ được coi là nhân tố cơ bản quyết định thành công của sự nghiệp
CNH, HĐH. Từ đó, đưa ra những giải pháp chủ yếu, đồng bộ, tương đối toàn
diện và có tính thực tiễn cao nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
của TCCSĐ ở vùng này;
Công tác vận động giáo dân của tổ chức cơ sở đảng (cấp xã) ở đồng
bằng Bắc Bộ nước ta hiện nay của Hoàng Mạnh Đoàn [40], Luận án làm rõ
14
chất lượng, nội dung, phương thức vận động giáo dân, những nhân tố tác động
đến công tác vận động giáo dân, thực trạng công tác vận động giáo dân, một số
kinh nghiệm và phương hướng, giải pháp vận động giáo dân của TCCSĐ (cấp
xã) đồng bằng Bắc Bộ hiện nay. Tác giả cũng cho rằng, việc nâng cao hơn nữa
công tác vận động giáo dân của TCCSĐ (cấp xã) đồng bằng Bắc Bộ không chỉ
là yêu cầu cấp bách mà còn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược.
Sự lãnh đạo của tổ chức cơ sơ đảng đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội hiện nay của
Ngô Bích Ngọc [73]. Tác giả làm rõ, thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm
lãnh đạo của TCCSĐ đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong
các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn Hà Nội. Từ kết quả nghiên cứu,
tác giả đã đề ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lãnh đạo
của TCCSĐ đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các
trường đại học và cao đẳng trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới;
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng đồn
biên phòng tuyến biên giới đất liền Việt Nam trong thời kỳ mới của Hoàng Văn
Đồng [41], Luận án đã phân tích vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của
TCCSĐ đồn biên phòng biên giới phía Bắc nước ta; đánh giá rõ thực trạng
chất lượng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm, đề ra những giải pháp chủ
yếu nhằm nâng cao chất lượng các TCCSĐ đồn biên phòng biên giới phía
Bắc nước ta trong thời kỳ mới.
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng
ở doanh nghiệp Nhà nước hiện nay của Nguyễn Minh Tuấn [149]. Luận án đã
nghiên cứu, phân tích, làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của
TCCSĐ trong doanh nghiệp Nhà nước nói chung và khu vực kinh tế trọng
điểm của các tỉnh phía Bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh nói riêng; làm
rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với TCCSĐ trong các doanh nghiệp
Nhà nước; phân tích nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm, đưa ra những
15
giải pháp thiết yếu góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của TCCSĐ trong các doanh nghiệp Nhà nước nói chung và ở Hà Nội - Hải
Phòng - Quảng Ninh nói riêng; góp phần nâng cao nhận thức và ý thức xây
dựng Đảng của các TCCSĐ trong doanh nghiệp Nhà nước thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước;
Chất lượng tổ chức cơ sở Đảng ở các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc
Tập đoàn dầu Dầu khí Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của Hà Duy Dĩnh [12],
Luận án đã làm rõ quan niệm và tiêu chí đánh giá chất lượng TCCSĐ ở các
đơn vị sản xuất kinh doanh; đánh giá thực trạng, kinh nghiệm và những vấn
đề đang đặt ra; xác định rõ mục tiêu, quan điểm và đưa ra một hệ thống giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng TCCSĐ ở các đơn vị sản xuất kinh doanh
thuộc Tập đoàn dầu Dầu khí Việt Nam.
Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà
nước đã cổ phần hóa ở các tỉnh Trung Trung bộ giai đoạn hiện nay của
Trương Thị Mỹ Trang [141], Luận án đã phân tích, làm rõ nội dung xây
dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ
phần hóa ở các tỉnh Trung Trung bộ, thực trạng, nguyên nhân, kinh nghiệm.
Đồng thời, dự báo những nhân tố tác động, phương hướng xây dựng, củng
cố tổ chức cơ sở đảng và đề ra những giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây
dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ
phần hóa ở các tỉnh Trung Trung bộ đến năm 2020.
Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ thành phố Hà Nội
từ năm 1996 đến năm 2005 của Trần Thị Thu Hằng [47]. Luận án đi sâu phân
tích thực trạng, đặc điểm TCCSĐ của thành phố Hà Nội trước năm 1996; trình
bày những chủ trương chính sách của Đảng, những giải pháp của Đảng bộ
thành phố Hà Nội trong công tác xây dựng TCCSĐ, quá trình thực hiện công
tác xây dựng TCCSĐ của thành phố Hà Nội từ năm 1996 đến năm 2005; đúc
rút một số kinh nghiệm trong công tác xây dựng TCCSĐ của thành phố Hà
16
Nội, góp phần đổi mới công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ thành phố Hà
Nội nói riêng và một số địa bàn khác;
Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long
hiện nay của Nguyễn Văn Bé Tư [147]. Tác giả luận văn đã bước đầu phân
tích, làm rõ vị trí, vai trò của TCCSĐ nông thôn, từ đó khẳng định việc
nâng cao chất lượng TCCSĐ nông thôn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng,
góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, đặc
biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Theo tác giả, chất
lượng của TCCSĐ cấp xã là: chất lượng lãnh đạo xây dựng HTCT ở cơ sở
vững mạnh, chống quan liêu, cửa quyền, ức hiếp nhân dân, tham nhũng,
buôn lậu, xa hoa lãng phí; lãnh đạo hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế, văn
hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh đã được đảng bộ đề ra và thực hiện có
hiệu quả; thực hiện công tác xây dựng đảng bộ theo quy định của Điều lệ
Đảng. Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng của các đảng bộ cấp xã ở
tỉnh Vĩnh Long, xác định nguyên nhân của mặt mạnh, mặt yếu, tác giả đề
xuất một giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng các đảng bộ cấp xã ở
Vĩnh Long;
Nâng cao chất lượng đảng bộ xã, thị trấn ở huyện Kim Sơn, tỉnh
Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay của Phạm Thị La [55]. Tác giả đã bước
đầu làm rõ vị trí, vai trò của đảng bộ cơ sở, từ đó khẳng định việc nâng cao
chất lượng các đảng bộ cơ sở là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, góp
phần bảo đảm thành công của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hiện
nay. Chất lượng của TCCSĐ chính là năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của các đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sở đối với việc tiến hành các nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh đã được nêu ra ở cơ sở,
chống tham nhũng, buôn lậu, xa hoa, lãnh phí và thực hiện có hiệu quả
công tác xây dựng Đảng. Trên cơ sở quan điểm đó, đề xuất một số giải
17
pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng các Đảng bộ xã, thị trấn ở Kim
Sơn trong những năm tiếp theo.
Đảng bộ Hải Dương lãnh đạo công tác xây dựng tổ chức cơ sơ đảng
xã, phường, thị trấn từ năm 1997 đến 2005 (qua khảo sát ở Thành phố Hải
Dương và một số huyện) của Bùi Hữu Hanh [48]. Nội dung luận văn đề cập
đến việc đổi mới nhận thức, chủ trương, biện pháp xây dựng TCCSĐ xã,
phường, thị trấn ở Hải Dương (1997-2000) và quá trình Đảng bộ Hải Dương
vận dụng quan điểm đường lối của Trung ương vào thực tiễn lãnh đạo đổi
mới công tác xây dựng TCCSĐ xã, phường, thị trấn từ năm (2001-2005),
qua đó rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở xã, phường,
thị trấn của Đảng bộ Hải Dương.
Ngoài ra, một số công trình, luận án khác đề cập đến công tác xây dựng
Đảng như: Viện Mác - Lênin, Công trình Vấn đề xây dựng Đảng ở một số
vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa ở miền Bắc hiện nay [157]; Chất lượng tổ
chức cơ sở đảng nông thôn ở tỉnh Sơn La, thực trạng và giải pháp của Phạm
Văn Minh [66]; Chất lượng công tác tư tưởng của tổ chức cơ sở đảng (cấp
xã) vùng đồng bào dân tộc ít người ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong giai đoạn
hiện nay của Cao Văn Định [39]; Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê
bình ở tổ chức cơ sở đảng trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay của
Trần Văn Bộ [11]; Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ
chức cơ sở đảng nông thôn tỉnh Long An hiện nay của Nguyễn Văn Dũng
[42]; Sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong việc thực thi quyền lực của
nhân dân ở nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long của Lê Tiến Lập [57]; Nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các loại hình tổ chức cơ sở đảng
xã ở các tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam - thực trạng và giải pháp …
Các bài viết đăng trên tạp chí: Đồng Nai nâng cao vai trò tổ chức cơ sở
đảng trong vùng đồng bào theo đạo Thiên Chúa, của Phan Thanh Kiều [54];
Công tác quần chúng của tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn trong thời kỳ hiện nay
18
của Nguyễn Văn Biều [7]; Xây dựng củng cố tổ chức cơ sở đảng ở Quảng Nam -
thực trạng và giải pháp của Nguyễn Văn Nam [68]; Đảng bộ phường Vĩnh Ninh
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, phát huy vai trò hạt nhân chính trị
của Thành Lâm [56]; Để nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng ở Tây Nguyên, của Phạm Quang Vinh [159]; Đảng bộ thành phố Nam
Định xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên của Nguyễn Khắc Hưng
[50]; Để nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
của Lê Ngọc Thắng [90]; Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở
Hà Nội của Nguyễn Công Soái [86]; Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của các đảng bộ xã ở tỉnh Phú Yên của Nguyễn Thành Sơn [87]; Đổi
mới phương thức lãnh đạo của đảng bộ xã ở huyện Châu Thành, An Giang của
Nguyễn Thị Hai [46]; Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở
Phú Thọ của Ngô Đức Vượng [160]; Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng vùng
đồng bằng dân tộc Khmer ở Sóc Trăng, của Lê Thành Quân…
Các công trình trên đã khảo sát về xây dựng TCCSĐ ở các địa phương
khác nhau, đề ra các phương hướng giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của TCCSĐ trên mọi phương diện.
1.1.3. Các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến tổ chức cơ
sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
So với các công trình nghiên cứu về TCCSĐ nói chung và nghiên
cứu về TCCSĐ địa phương, vùng miền, nghiên cứu TCCSĐ trên địa bàn
Hưng Yên còn hạn chế. Liên quan đến nội dung đề tài luận án, trước hết có
thể kể đến là công trình: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, tập 3 (1975-
2005) [16]. Cuốn sách trình bày khá chi tiết quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng
Yên quán triệt quan điểm, đường lối chỉ thị của Đảng vào điều kiện cụ thể
của địa phương trong lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, KT-XH
suốt 30 năm từ 1975 đến 2005. Trong điều kiện đất nước vừa mới hòa bình,
thống nhất còn rất nhiều khó khăn, cũng như qua 20 năm thực hiện đường
19
lối đổi mới của Đảng, bên cạnh các công tác khác, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
chú trọng công tác xây dựng TCCSĐ và đã thu được những kết quả to lớn,
từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo
công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ địa phương.
Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn tỉnh Hưng Yên trong
những năm 1997-2005 của Nguyễn Thị Thu Hương [51]. Tác giả khái quát tình
hình KT-XH nông thôn tỉnh Hưng Yên, thực trạng TCCSĐ những năm đầu tái
thành lập tỉnh; trình bày những chủ trương lớn của công tác xây dựng TCCSĐ,
quá trình chỉ đạo công tác xây dựng TCCSĐ ở nông thôn Hưng Yên (1997 -
2000) và đẩy mạnh xây dựng TCCSĐ (2001-2005). Tác giả phân tích, khách
quan khoa học thực trạng công tác lãnh đạo xây dựng TCCSĐ ở nông thôn tỉnh
Hưng Yên, từ đó rút ra một số kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng TCCSĐ
của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên;
Công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997
đến năm 2010 của Nguyễn Thị Thấm [81]. Nội dung luận văn trình bày
những chủ trương của Đảng trong công tác phát triển đảng viên; phân tích quá
trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên chỉ đạo thực hiện công tác phát triển đảng viên;
từ những kết quả đạt được của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong 10 năm từ 2001
đến 2010, tác giả nêu rõ những thành tựu, hạn chế, từ đó rút ra các kinh
nghiệm trong công tác phát triển đảng viên.
Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng - Nhân tố then
chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Đức Nhuận [74]. Tác giả cho
rằng, trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương (khóa X) về
“Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất
lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”, các nghị quyết của Tỉnh ủy về công tác
xây dựng Đảng, công tác xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của TCCSĐ trong toàn tỉnh Hưng Yên nói chung và TCCSĐ
20
nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực. Chất lượng hoạt động và năng
lực lãnh đạo của TCCSĐ, cấp ủy từng bước được nâng lên, tỷ lệ TCCSĐ
trong sạch vững mạnh tăng…Đến năm 2013, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên có
hơn 600 TCCSĐ với hơn 60 nghìn đảng viên, trong đó có 161 đảng bộ xã,
phường, thị trấn. Nhìn chung, các đảng bộ cơ sở xã, phường, thị trấn giữ
vững, phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở, lãnh đạo cán bộ, đảng
viên và nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương. Nhiều
TCCSĐ tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao chất
lượng sinh hoạt Đảng, giữ nghiêm kỷ luật Đảng, đồng thời chú trọng nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nêu cao vai trò tiền phong gương
mẫu của đảng viên...
1.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC
GIẢI QUYẾT VÀ NHỮNG NỘI DUNG LUẬN ÁN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU
1.2.1. Những nội dung liên quan đến luận án đã được giải quyết
- Các công trình trên đã hệ thống, khái quát những quan điểm, đường
lối của Đảng được thể hiện qua các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng
trong vấn đề chỉ đạo công tác xây dựng TCCSĐ.
- Các công trình đã nêu khá rõ quá trình hiện thực hóa quan điểm, chủ
trương, đường lối của Đảng về công tác xây dựng TCCSĐ vào điều kiện cụ
thể của các ngành, địa phương, đơn vị…trong đó có những giải pháp quan
trọng trong công tác xây dựng TCCSĐ ở địa bàn nông thôn những năm qua.
- Qua việc quán triệt thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng về công
tác xây dựng TCCSĐ, các công trình đã đúc kết được một số bài học kinh
nghiệm bổ ích, quý báu của các Đảng bộ ngành, địa phương, đơn vị…trong
quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng TCCSĐ.
Các công trình nghiên cứu trên đã góp phần bổ sung nguồn tư liệu quý
về thực tiễn cho việc triển khai nghiên cứu đề tài. Tuy vậy, nhìn một cách tổng
21
thể cho đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách đầy đủ, hệ thống quá
trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo công tác xây dựng TCCSĐ từ năm 1997
đến năm 2010.
1.2.2. Những nội dung luận án tập trung nghiên cứu
- Làm rõ những yếu tố tác động đến công tác xây dựng TCCSĐ của
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, những vấn đề đặt ra đối với công tác xây dựng
TCCSĐ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, nhất là CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn ở Hưng Yên.
- Làm rõ quá trình hoạch định chủ trương xây dựng TCCSĐ của Đảng
bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010.
- Làm rõ quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên (trên các nội dung chủ yếu: về tư tưởng chính trị; về tổ chức; về
phát triển đảng viên; về công tác cán bộ; về công tác kiểm tra).
- Khảo sát, đánh giá khách quan kết quả, hạn chế và nguyên nhân của
quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yêu lãnh đạo xây dựng TCCSĐ.
- Đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo xây dựng TCCSĐ
của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010.
22
CHƯƠNG 2
XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Ở TỈNH HƯNG YÊN TRONG
NHỮNG NĂM ĐẦU TÁI LẬP TỈNH (1997 - 2000)
2.1. TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG
TÁC XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN
2.1.1. Tầm quan trọng của công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng
đối với sự nghiệp cách mạng
Ngay trong những ngày đầu lãnh đạo phong trào công nhân quốc tế
C.Mác và F.Ăngghen đã coi trọng xây dựng các chi bộ đảng, coi đó là nền
tảng của Đảng. C.Mác và F.Ăngghen chưa sử dụng thuật ngữ “tổ chức cơ sở
đảng”, nhưng quan điểm, tư tưởng của hai ông đều thể hiện rõ tầm quan trọng
của vị trí, vai trò của chi bộ cơ sở, là tổ chức hạt nhân của Đảng, nơi tuyên
truyền, giác ngộ quần chúng, là một trong những bộ phận tạo thành hệ thống
tổ chức của Đảng, bảo đảm cho hoạt động của Đảng thông suốt từ Trung
ương tới cơ sở, làm cho mỗi cơ sở trở thành trung tâm, là hạt nhân của các
hiệp hội công nhân, lãnh đạo giai cấp công nhân đấu tranh chống lại giai cấp
tư sản giành chính quyền.
Là người tiếp tục kế thừa và phát triển học thuyết về xây dựng Đảng
cách mạng của C.Mác và F.Ăngghen, Lênin đã coi xây dựng TCCSĐ là
nhiệm vụ cấp bách. Lần đầu tiên trong bài viết “Về việc cải tổ Đảng” Lênin
đã chính thức sử dụng thuật ngữ “tổ chức cơ sở đảng”, chỉ rõ các chi bộ cơ sở
là các TCCSĐ. Lênin cho rằng “Hình thức tổ chức mới, hay nói đúng hơn
hình thức mới của tổ chức cơ sở của đảng công nhân phải giải quyết tuyệt đối
rộng rãi hơn so với những tiểu tổ cũ” [154, tr.107]. Trong nhiều tác phẩm
Lênin đã khẳng định TCCSĐ là “điểm tựa”, là hạt nhân, là nơi gần gũi quần
chúng nhất, nơi liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nơi tuyên truyền, giáo dục,
dẫn dắt quần chúng thực hiện đường lối chủ trương, chính sách của Đảng.
23
Cách mạng tháng Mười Nga thành công, Đảng Cộng sản (b) Nga trở
thành đảng cầm quyền, Lênin nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của TCCSĐ
trong xây dựng CNXH, phải thành lập tất cả các địa bàn, các lĩnh vực KT-
XH, ở tất cả các tổ chức, các hội các hiệp hội những “chi bộ đảng”, phải liên
hệ, hỗ trợ lẫn nhau...
Những chi bộ ấy liên hệ chặt chẽ với nhau và với Trung ương Đảng,
phải trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau, phải làm công tác cổ động,
tuyên truyền, công tác tổ chức, phải thích nghi với mọi lĩnh của đời
sống xã hội, với tất cả mọi loại và mọi tầng lớp quần chúng lao
động, những chi bộ ấy phải thông qua công tác muôn hình muôn vẻ
đó mà rèn luyện bản thân mình, rèn luyện đảng, giai cấp, quần
chúng một cách có hệ thống [155, tr.232-233].
Đối với TCCSĐ ở nông thôn, Lênin chỉ rõ:
Về công tác nông thôn thì không còn nghi ngờ gì cả, khó khăn ở đó
rất lớn và tại Đại hội VIII của Đảng chúng ta đã đặt vấn đề đó một
cách đầy đủ, coi đó là một trong những vấn đề chủ yếu nhất. Ở nông
thôn cũng như ở thành thị, chỗ dựa của chúng ta chỉ có thể là đại
biểu của quần chúng lao động bị bóc lột [156, tr.352].
Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện và lãnh
đạo đã vận dụng những quan điểm của Mác - Ăngghen và Lênin về đảng cộng
sản một cách sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam và không
ngừng phát triển, làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin về xây dựng Đảng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “để lãnh đạo cách mạng. Đảng phải mạnh.
Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” [64, tr.113]
và “Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt” [64, tr.278].
Vai trò nền móng của TCCSĐ còn được thể hiện trong mối quan hệ chặt chẽ
giữa Đảng với quần chúng. Theo Người: “mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt
nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần
24
chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng” [64, tr.28]. Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của TCCSĐ được thể hiện ở chất lượng
TCCSĐ. TCCSĐ mạnh thì mọi công việc ở cơ sở sẽ thực hiện tốt; TCCSĐ
mạnh thì tổ chức đảng cấp trên và toàn Đảng mới mạnh. Chất lượng TCCSĐ
ảnh hưởng đến chất lượng của toàn Đảng.
Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Hồ Chí Minh về TCCSĐ, qua các chặng
đường lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng xây dựng TCCSĐ về tư tưởng,
chính trị, tổ chức. Nhờ có những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Chủ
tịch Hồ Chí Minh, công tác chỉ đạo xây dựng TCCSĐ được chú trọng, TCCSĐ
được coi là nền tảng của Đảng. Qua thực tế đấu tranh cách mạng không ngừng, các
TCCSĐ đã khẳng định được vai trò là tổ chức nền tảng của Đảng, là lực lượng
nòng cốt lãnh đạo nhân dân giành chính quyền. Đặc biệt, khi đất nước đang tiến
hành sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng
TCCSĐ được xác định là một nhiệm vụ quan trọng để xây dựng Đảng trong sạch
vững mạnh. Vì vậy, khái niệm về TCCSĐ được xác định rõ trong Điều lệ Đảng
Cộng sản Việt Nam (1996), Chương V “Tổ chức cơ sở đảng”, Điều 21:
1. Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của
Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở.
2. Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập
tổ chức cơ sở đảng (trực thuộc cấp uỷ cấp huyện). Ở cơ quan,
doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội,
công an và các đơn vị khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên,
lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trực thuộc đảng
uỷ cơ sở); cấp uỷ cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc tổ
chức đảng đó trực thuộc cấp uỷ cấp trên nào cho phù hợp; nếu
chưa đủ ba đảng viên chính thức thì cấp uỷ cấp trên trực tiếp giới
thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp.
3. Tổ chức cơ sở đảng dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có
các tổ đảng trực thuộc.
25
4. Tổ chức cơ sở đảng có từ ba mươi đảng viên trở lên, lập đảng bộ
cơ sở, có các chi bộ trực thuộc đảng uỷ.
5. Những trường hợp sau đây, cấp uỷ cấp dưới phải báo cáo và
được cấp uỷ cấp trên trực tiếp đồng ý mới được thực hiện: Lập
đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ ba mươi đảng viên; Lập
chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở có hơn ba mươi đảng viên; Lập
đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng uỷ cơ sở [38, tr.32-33-34].
Theo quy định trên, có thể thấy khái niệm TCCSĐ được gọi chung cho
cả Chi bộ cơ sở, Đảng bộ cơ sở căn cứ theo số lượng đảng viên và yêu cầu cụ
thể của nhiệm vụ từng đơn vị ở cơ sở để thực hiện.
Về chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ theo Quy định số 95 – QĐ/TW
ngày 3/3/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về chức năng, nhiệm vụ của
đảng bộ chi bộ cơ sở xã như sau:
Chức năng: Đảng bộ, chi bộ cơ sở xã là hạt nhân chính trị, lãnh đạo
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước; lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị ở xã
vững mạnh, nông thôn giàu đẹp, văn minh; không ngừng nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối
với nhà nước.
Nhiệm vụ: Lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc
phòng; Lãnh đạo công tác tư tưởng; Lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ; Lãnh
đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; Xây dựng tổ chức đảng.
Như vây, Đảng bộ, chi bộ cơ sở xã là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực
hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh
đạo phát triển KT-XH, xây dựng hệ thống chính trị ở xã vững mạnh, nông thôn
giàu đẹp, văn minh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Từ lý luận đến thực tiễn đã chứng minh, dù ở bất kỳ giai đoạn nào trên
con đường phát triển của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo, với vị trí
26
nền tảng, các đảng bộ, chi bộ cơ sở luôn là hạt nhân chính trị, là nơi trực tiếp
đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
tới quần chúng, tuyên truyền, giáo dục và vận động quần chúng thực hiện
đường lối, chính sách, kịp thời kiểm tra uốn nắn những lệch lạc trong nhận
thức và hành động của quần chúng.
2.1.2. Những yếu tố tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở
đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
2.1.2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên tác
động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng
Trước yêu cầu về điều chỉnh địa giới hành chính các tỉnh phù hợp với tình
hình phát triển KT-XH, sau 29 năm hợp nhất với tỉnh Hải Dương (từ tháng 1-
1968), ngày 06-11-1996, Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 10 ra Nghị quyết về việc
chia tỉnh Hải Hưng thành hai tỉnh: Hải Dương và Hưng Yên. Ngày 01-01-1997, tỉnh Hưng Yên chính thức được tái lập, với diện tích tự nhiên 894,79km2, dân số
1.075.517 người, với 6 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: thị xã Hưng Yên và các
huyện Mỹ Văn, Châu Giang, Phù Tiên, Kim Động, Ân Thi, tỉnh lỵ được đặt tại thị
xã Hưng Yên. Ngày 24-02-1997 Chính phủ ra Nghị định số 17/NĐ-CP chia
huyện Phù Tiên thành huyện Phù Cừ và Tiên Lữ. Ngày 24-07-1999 Nghị định số
60/1999/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính của huyện Mỹ Văn thành Mỹ
Hào, Văn Lâm; huyện Châu Giang thành Khoái Châu, Văn Giang.
Ngay khi tái lập tỉnh, ngày 1-1-1997 Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra
quyết định thành lập Đảng bộ tỉnh gồm 36 đồng chí, Ban Thường vụ Tỉnh ủy
lâm thời gồm 11 đồng chí, đồng chí Đặng Văn Cảo được chỉ định làm Bí thư
Tỉnh ủy. Ngày 2-1-1997, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 01/TTg
thành lập Uỷ ban nhân dân lâm thời tỉnh Hưng Yên gồm 7 đồng chí, trong đó
đồng chí Trần Đình Phú được chỉ định làm Chủ tịch.
Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.
Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hưng Yên nằm cách thủ đô Hà
Nội 64 km về phía Đông Nam, cách thành phố Hải Dương 50 km về phía Tây
27
Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây
và Tây Bắc giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Tây
Nam giáp tỉnh Hà Nam.
Hưng Yên là một tỉnh nông nghiệp, mang đậm nét đặc trưng của nông
thôn Việt Nam. Tài nguyên thiên nhiên khá phong phú, ngoài đất đai phì
nhiêu mầu mỡ, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, Hưng Yên còn có mỏ than
nâu (thuộc bể than vùng đồng bằng sông Hồng) trữ lượng lớn nhất (hơn 30 tỷ
tấn) chưa được khai thác, đây là tiềm năng cho ngành công nghiệp than, phục
vụ cho sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu.
Hưng Yên có mạng lưới giao thông đa dạng: đường bộ, đường sắt,
đường thủy, trong đó có những tuyến quan trọng chạy qua như tuyến đường
sắt Hà Nội - Hải Phòng và tuyến Quốc lộ 5A, 5B…
Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ kề cận với tam
giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Hưng Yên có nhiều ưu thế để
phát triển kinh tế công nghiệp và dịch vụ. Tận dụng điều kiện địa lý, đất đai
thuận lợi, từ xa xưa Hưng Yên đã nổi tiếng với nhiều ngành nghề: trồng trọt,
đánh bắt thủy sản, trồng dâu nuôi tằm. Nghề thương mại buôn bán của Hưng
Yên phát triển mạnh mẽ. Trên địa bàn tỉnh có nhiều làng buôn bên sông, có
nhiều người buôn bán khắp nơi bằng nghề thuốc bắc, thuốc lào. Thời Lê -
Trịnh, Phố Hiến là thương cảng nổi tiếng sầm uất.
Trên địa bàn tỉnh hiện tại có nhiều khu công nghiệp lớn như Phố Nối A,
Phố Nối B, khu công nghiệp Thăng Long II (Mitsutomo Nhật Bản), khu công
nghiệp Như Quỳnh, khu công nghiệp Minh Đức, khu công nghiệp nhỏ Kim Động,
khu công nghiệp Quán Đỏ... Sản phẩm công nghiệp của tỉnh là dệt may, giày da, ô
tô, xe máy, công nghiệp thực phẩm... Cơ cấu theo hướng phát triển kinh tế công
nghiệp và dịch vụ đang là chủ đạo, khu đô thị Ecopark (Văn Giang), khu đô thị
Phố Nối B, khu đô thị đại học Phố Hiến...Hưng Yên cũng là nơi tập trung một số
cơ sở giáo dục lớn như trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, trường Đại
học Chu Văn An, trường Cao đẳng Bách khoa Hưng Yên…
28
Hưng Yên là địa bàn quần cư của người Kinh, tỷ lệ dân số làm nông nghiệp
cao, ước tính 80-90%. Tuy nhiên, gần đây tỷ lệ này thay đổi một cách nhanh
chóng do tốc độ phát triển của công nghiệp, dịch vụ có xu hướng tăng nhanh hơn.
Hưng Yên nổi tiếng về truyền thống văn hiến, là một trong những tỉnh
có nhiều lễ hội đặc sắc và nhiều di tích văn hoá, lịch sử, tín ngưỡng, trong đó,
có 172 di tích được Nhà nước xếp hạng. Đặc biệt là di tích Phố Hiến - trung
tâm giao thương sầm uất, phồn hoa bậc nhất vào thế kỷ XVI, XVII.
Hưng Yên còn là nơi sinh thành của nhiều anh hùng hào kiệt, đã đi vào
lịch sử oai hùng chống ngoại xâm của dân tộc như: Triệu Quang Phục, Phạm
Ngũ Lão, Nguyễn Thiện Thuật…Nơi đây là vùng đất hội tụ của nền văn minh
sông Hồng, nơi giao lưu của ba vùng văn hóa: xứ Đông, xứ Bắc và Sơn Nam,
có nhiều người đỗ đạt, quê hương của nhiều danh nhân văn hóa được sử sách
ghi danh như: Nguyễn Trung Ngạn, Đoàn Thị Điểm, Lê Hữu Trác. Hưng Yên
còn là quê tổ của bà Hoàng Thị Loan - thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Là quê hương của nhiều nhà văn, nhà hoạt động văn hóa nghệ thuật có tên
tuổi như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Tô Ngọc Vân, Dương Quảng
Hàm... Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Hưng Yên cũng là quê hương của nhiều cán bộ cách mạng tiền
bối, nhiều nhà chính trị có tên tuổi như Tô Hiệu, Nguyễn Bình…cùng bao tấm
gương chiến đấu hi sinh khác đã góp phần tô đẹp cho truyền thống quê hương,
làm rạng danh Tổ quốc. Đặc biệt, người con ưu tú của quê hương – đồng chí
Nguyễn Văn Linh, một trong những người góp phần kiến tạo đường lối đổi mới;
Tổng Bí thư nhiệm kỳ đầu của thời kỳ đổi mới đất nước (1986-1991).
Như vậy, sau tái lập tỉnh, Hưng Yên có thuận lợi: là vùng đất văn hiến,
giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, cùng với cả nước sau hơn mười
năm đổi mới, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã xây dựng được những nền
tảng nhất định về nguồn nhân lực, về cơ sở vật chất, tạo đà cho những bước
phát triển mạnh mẽ.
29
Đất đai trù phú, đa dạng, người dân có truyền thống cần cù lao động sản
xuất. Đảng bộ, chính quyền đã có một số kinh nghiệm trong lãnh đạo,
chỉ đạo công tác KT-XH. Với vị trí nằm trong vùng kinh tế trọng điểm
phía Bắc, là cửa ngõ phía Đông của Thủ đô Hà Nội, có 23 km đường
quốc lộ 5, có tuyến đường sắt chạy qua, Hưng Yên có thế mạnh lớn thu
hút đầu tư trong nước và nước ngoài, phát triển công nghiệp và dịch vụ.
Việc tái lập tỉnh hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của cán bộ và nhân
dân toàn tỉnh và đáp ứng nhu cầu thời kỳ đổi mới [Phụ lục 12].
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Hưng Yên đã phát huy nội lực,
với chính sách cởi mở, thông thoáng thu hút đầu tư nước ngoài, tình hình
KT-XH sau những năm đầu tái lập đã có nhiều khởi sắc. Cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nông nghiệp, nông
thôn có nhiều chuyển biến tích cực, tỷ trọng giữa chăn nuôi và trồng trọt
ngày càng cân đối. Người nông dân bước đầu quan tâm đến sản xuất hàng
hoá. Công nghiệp dịch vụ có bước phát triển khá. Công nghiệp địa phương
tuy phải đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng vẫn đạt được những thành tích
đáng khích lệ. Một số ngành hàng tiếp tục được củng cố, phát triển, đầu tư
chiều sâu, đổi mới công nghệ tạo ra những sản phẩm chất lượng cao. Khối
công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh, số dự án đi vào hoạt động
tăng lên, sản phẩm được thị trường chấp nhận và có xu thế phát triển tốt...
Từ điểm xuất phát thấp, trải qua nhiều khó khăn thử thách của một tỉnh mới
tái lập, Hưng Yên đã nỗ lực vươn lên, hoàn thành tương đối toàn diện những
nhiệm vụ mục tiêu chủ yếu của năm 1997. Năm 1997, một số chỉ tiêu chủ yếu về
phát triển KT-XH của tỉnh đều đạt và vượt so với kế hoạch đề ra. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế (GDP) tăng 13,58% so với năm 1996 (Kế hoạch đề ra trên 10%).
Bên cạnh những thuận lợi và thế mạnh cơ bản, Hưng Yên vẫn còn
không ít khó khăn: Khó khăn lớn nhất là điểm xuất phát của tỉnh sau tái lập
còn thấp. GDP bình quân đầu người năm 1996 khoảng 180 USD, thu nhập
ngân sách trên địa bàn tỉnh chỉ đáp ứng 1/3 so với yêu cầu. Trong nông
30
nghiệp, cùng với việc chuyển dịch cơ cấu, việc khảo nghiệm, đánh giá các
loại cây trồng từng vùng, từng vụ chưa tốt, chưa gắn với quy trình kỹ thuật đã
hạn chế đến sản xuất; hệ thống cơ sở hạ tầng nông nghiệp chưa phát triển
đồng bộ; lực lượng lao động dư thừa lớn, tỷ lệ lao động được đào tạo có trình
độ kỹ thuật, tay nghề còn thấp; bình quân đất nông nghiệp trên đầu người thấp
(đạt 580m2/người), ruộng đất đa phần còn manh mún.
Công nghiệp còn nhỏ bé, chưa tạo sức bật lớn cho kinh tế phát triển, nhiều
chỉ tiêu kinh tế thấp hơn mức bình quân của các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Ngành
thương mại, dịch vụ và du lịch của tỉnh kém phát triển do chưa được quan tâm đầu
tư đúng mức. Cơ sở vật chất của ngành giáo dục còn nghèo nàn, thiết bị dạy và học
còn thiếu, đặc biệt là đối với ngành học mầm non. Đội ngũ giáo viên thiếu và chưa
đồng bộ. Nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân chưa được đáp ứng đầy đủ. Bộ
máy và đội ngũ cán bộ cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan sự nghiệp, các đơn vị
kinh doanh của tỉnh vừa thiếu, vừa ít kinh nghiệm trên một số lĩnh vực.
Do phân hoá kinh tế không đồng đều gây khó khăn cho việc thu hút đầu
tư và phát triển kinh tế ở những vùng, khu vực còn chậm phát triển trong tỉnh.
Tình trạng ô nhiễm môi trường, thiếu việc làm cho người lao động bị thu hồi
đất, tiêu cực trong xã hội nảy sinh...
Qua khảo sát thực tế tỉnh Hưng Yên cho thấy những khó khăn của
Đảng bộ tỉnh trong những năm đầu tái lập:
Sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế
thị trường còn lúng túng, trình độ cán bộ, đảng viên chưa tương
xứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Khi tỉnh mới tái
lập, lực lượng cán bộ, đảng viên mỏng, một số cán bộ, đảng viên
yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, sách nhiễu, phiền hà
gây trở ngại cho công việc, tệ quan liêu, tham nhũng, thiếu dân chủ
ở một số nơi chậm được khắc phục gây bất bình trong nhân dân. Một
bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu, chưa thẳng thắn
31
trong đấu tranh tự phê bình và phê bình, chưa nghiêm túc tiếp thu,
sửa chữa khuyết điểm, còn có biểu hiện mất đoàn kết, kèn cựa, cá
nhân chủ nghĩa. Cũng do điều kiện mới tái lập tỉnh nên cơ sở vật chất
còn thiếu thốn, còn tình trạng phổ biến làm việc ghép, chung địa
điểm giữa các phòng, ban trong các đơn vị, các tổ chức cơ sở đảng,
gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả công việc [Phụ lục 13].
Những thuận lợi và khó khăn trên đã đặt ra cho công tác xây dựng
Đảng nói chung và TCCSĐ nói riêng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong
nhiệm kỳ đầu tái lập tỉnh. Trong đó, trước hết là khẩn trương kiện toàn và ổn
định tổ chức, lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn ban đầu, nhanh chóng ổn
định và phát triển KT-XH.
2.1.2.2. Thực trạng công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng khi tái lập
tỉnh Hưng Yên (1997)
Trước khi tái lập tỉnh Hưng Yên, TCCSĐ trên địa bàn tỉnh trực thuộc
Đảng bộ tỉnh Hải Hưng, lúc đó trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có khoảng trên
44.000 đảng viên với trên 400 TCCSĐ [15, tr.12].
Đến khi tái lập tỉnh (năm 1997), Đảng bộ tỉnh Hưng Yên có hệ thống
TCCSĐ là: 10 Đảng bộ cấp huyện, thị xã và 3 Đảng bộ trực thuộc với 44.129
đảng viên sinh hoạt ở 451 TCCSĐ. Trong đó bao gồm các loại hình: xã,
phường, thị trấn có 140 TCCSĐ, chiếm 31%; khối sản xuất kinh doanh 90
TCCSĐ, chiếm 19,9%; quân đội, công an 40 TCCSĐ, chiếm 8,86%; Cơ sở
đảng trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp và loại hình khác 181
TCCSĐ, chiếm 40,1% [102, tr.1].
Những năm đầu tái lập: Toàn tỉnh có các loại hình chi bộ nông thôn
xã, phường, thị trấn, chi bộ hành chính sự nghiệp, chi bộ công an, bộ
đội, chi bộ doanh nghiệp Nhà nước. Trong đó chi bộ cơ sở xã,
phường, thị trấn có ảnh hưởng lớn, vì đây là nơi đưa những chủ
trương chính sách của Đảng vào cuộc sống, gần dân nhất, còn các tổ
chức đảng thuộc loại hình khác chủ yếu mang tính chất chuyên
32
ngành. Từ sau 2005 có thêm loại hình TCCSĐ dân quân tự vệ ở một
số xã và thêm tổ chức đảng thuộc doanh nghiệp tư nhân [Phụ lục 12].
Kết quả khảo sát chất lượng TCCSĐ và đảng viên của tỉnh Hưng Yên
năm 1997, tổng số TCCSĐ ở tỉnh Hưng Yên có 451, trong đó 295 TCCSĐ đạt
trong sạch vững mạnh, chiếm 65,44%; có 29 TCCSĐ được Tỉnh ủy tặng Bằng
khen, chiếm 6,4%; có 137 TCCSĐ được tặng Giấy khen, chiếm 30,4%; 129
TCCSĐ được công nhận đạt TSVM, chiếm 28,61%; 134 TCCSĐ đạt loại khá
và 22 TCCSĐ yếu kém; 3 TCCSĐ bị khiển trách, chiếm 0,67%, và 2 TCCSĐ
bị cảnh cáo, chiếm 0,44%. Phân tích chất lượng đảng viên năm 1997: Tổng số
45.401 đảng viên trong đó có 41.997 đảng viên dự phân loại chiếm 92,50%;
số đảng viên đủ tư cách loại I là 32.595 đảng viên chiếm 71,79%; đảng viên
đủ tư cách nhưng hạn chế từng mặt loại II là 8.718 đảng viên, chiếm 19,20%,
do trình độ năng lực 2.585 đảng viên, chiếm 5,69%, do hoàn cảnh gia đình
khó khăn 2.340 đảng viên, chiếm 5,15%, yếu kém từng mặt 3.793 đảng viên,
chiếm 8,35%; đảng viên vi phạm tư cách, đảng viên đăng ký phấn đấu tiếp
291 đảng viên, chiếm 0,64%, bị khiển trách 218 đảng viên, chiếm 0,48%,
cảnh cáo 60 đảng viên, chiếm 0,13%, cách chức 13 đảng viên, chiếm 0,03%;
đảng viên không đủ tư cách bị khai trừ 59 đảng viên, chiếm 0,13% [102, tr.4].
Nhiều TCCSĐ còn nghèo nàn về nội dung phương thức trong sinh hoạt
Đảng. Do vậy, cán bộ, đảng viên và quần chúng chưa nhận thức đúng đắn, sâu sắc
về yêu cầu, mục tiêu của phong trào. Nhiều tổ chức đảng, nhất là của cấp uỷ cơ sở
chưa giành thời gian bàn chuyên đề về công tác thi đua, chưa thực hiện đúng quy
trình đăng ký, chỉ đạo thi đua theo tinh thần chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.
Việc cụ thể hoá tiêu chuẩn cơ sở đảng TSVM để xây dựng tiêu chuẩn thi
đua cho các tổ chức thuộc hệ thống ở một số Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng còn
chậm, chưa thật hoàn chỉnh, đồng bộ. Công tác kiểm tra, hướng dẫn chưa thường
xuyên, kiên quyết. Những chủ trương, kế hoạch của Tỉnh uỷ nhằm ngăn chặn
yếu kém chưa được thực hiện nghiêm túc, nhất là việc xem xét giải quyết những
tồn tại, sai phạm trong quản lý đất đai, huy động và quản lý xây dựng cơ sở hạ
33
tầng v.v... Trong khi đó, chất lượng sinh hoạt Đảng, tự phê bình và phê bình ở
chi bộ, Đảng bộ còn nhiều hạn chế chậm được khắc phục. Một số nơi cấp uỷ cấp
trên thiếu sâu sát, nương nhẹ với cơ sở, xử lý không kiên quyết, không tập trung
giải quyết để cơ sở yếu kém kéo dài, có nơi nghiêm trọng hoặc phát sinh mới.
Bên cạnh những bất cập khó khăn trên, công tác xây dựng TCCSĐ ở
Hưng Yên những năm đầu tái lập tỉnh còn khó khăn về những điều kiện cơ sở
vật chất, đặc biệt về đội ngũ cán bộ:
Nhiều địa phương chỉ có duy nhất một phòng họp là phòng sinh
hoạt chung với các tổ chức đoàn thể khác, không có cơ sở riêng cho
Đảng bộ xã hoạt động, ở các chi bộ thôn còn có hiện tượng sinh
hoạt chi bộ tại nhà đồng chí Bí thư chi bộ, khó khăn nhất là khâu
con người. Do tách tỉnh nên rất thiếu cán bộ, cán bộ huyện thì luân
chuyển lên tỉnh, cán bộ xã thì lên huyện, còn lại cán bộ xã thì nói
thật là yếu [Phụ lục 14].
Thực trạng công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
trong những năm đầu tái lập phải đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn, đòi
hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng bộ trong công tác xây dựng Đảng nói chung, xây
dựng TCCSĐ nói riêng.
2.2. CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN (1997 - 2000)
2.2.1. Chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng tổ chức cơ sở
đảng (1997-2000)
Trước yêu cầu của thời kỳ mới, việc xây dựng TCCSĐ trong sạch vững
mạnh là một nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và chỉnh đốn Đảng.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6-1996), Đảng chỉ đạo, trong công
tác xây dựng Đảng phải thường xuyên nắm vững và quán triệt, kiện toàn hệ
thống tổ chức đảng, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ. Nâng
cao sức năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ. Đại hội cũng nhấn
mạnh việc “…khảo sát kỹ từng loại hình tổ chức cơ sở đảng, đánh giá đúng thực
34
trạng và nguyên nhân để có biện pháp đổi mới, chỉnh đốn phù hợp. Bảo đảm cho
mỗi loại hình hoạt động đúng chức năng và nhiệm vụ của mình” [27, tr.147].
Đại hội chỉ rõ cần phát huy kết quả, kinh nghiệm lãnh đạo thực hiện
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII), để chỉ
đạo tốt cuộc vận động xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh; chấn chỉnh
các cơ sở yếu kém; khắc phục việc buông lỏng công tác Đảng; ở những nơi
nội bộ Đảng mất đoàn kết, cán bộ chủ chốt có nhiều biểu hiện tiêu cực thì cấp
trên phải chỉ đạo, giúp đỡ trực tiếp. Nghị quyết Đại hội nêu yêu cầu:
Hướng chủ yếu củng cố, chỉnh đốn các tổ chức cơ sở đảng là phải
làm cho các cơ sở này quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước, đề ra chủ trương, giải pháp đúng và lãnh đạo tổ chức thực
hiện tốt các nhiệm vụ của đơn vị, phát triển kinh tế, xóa đói giảm
nghèo, cải thiện đời sống của người lao động, chống tham nhũng, ức
hiếp quần chúng, lãnh đạo giải quyết những nguyện vọng chính đáng,
thiết thực, bức xúc của nhân dân…Các tổ chức cơ sở đảng phải động
viên và tổ chức nhân dân thường xuyên tham gia xây dựng Đảng;
đóng góp ý kiến xây dựng các nghị quyết của Đảng [29, tr.724].
Nghị quyết nhấn mạnh về xây dựng TCCSĐ để khắc phục các tổ
chức cơ sở yếu kém, đặc biệt là làm rõ được những nhiệm vụ chủ yếu cụ
thể của TCCSĐ.
Ngày 19-11-1996, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy
định số 12-QĐ/TW, về việc đình chỉ sinh hoạt của đảng viên, đình chỉ sinh
hoạt cấp uỷ, của cấp uỷ viên, đình chỉ sinh hoạt của tổ chức Đảng.
Thực hiện tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy định số 29-QĐ/TW ngày 2 - 6 -
1997, quy định về thi hành Điều lệ Đảng. Quy định cụ thể việc thi hành Điều 10
(điểm 2,3); Điều 21 (điểm 3, 4, 5) khi lập tổ chức đảng ở những nơi có đặc điểm
riêng; lập cơ cấu tổ chức ở các cơ sở đảng có đặc điểm khác nhau; lập, hoặc giải
thể đảng bộ, chi bộ trực thuộc.
35
Công tác kiểm tra đối với TCCSĐ luôn được coi trọng, qua đó đánh giá
đúng kết quả việc làm được và chưa làm được. Vì vậy, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng ra Chỉ thị số 29-CT/TW (4-2-1998), về tăng cường công tác kiểm tra
của Đảng. Chỉ thị số 29 chỉ rõ: “Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh
đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng”
[3]. Công tác kiểm tra của Đảng cần tập trung vào một số nội dung sau: Kiểm tra
việc chấp hành Nghị quyết Đại hội Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp
hành Trung ương, Ban Tổ chức và của cấp uỷ các cấp về KT-XH, công tác xây
dựng Đảng, an ninh - quốc phòng, đối ngoại; kiểm tra việc chấp hành chủ
trương, chính sách của Đảng về thu, chi ngân sách; kiểm tra công tác cán bộ.
Nhằm phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 30-CT/TW (18-2-1998), về Xây dựng và thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Chỉ thị xác định rõ: mở rộng dân chủ XHCN,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu đồng thời là động lực đảm
bảo cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới [4].
Chỉ thị số 30 quán triệt quan điểm đặt việc phát huy quyền làm chủ của
nhân dân ở cơ sở trong cơ chế tổng thể của hệ thống chính trị: Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; phát huy chế độ dân chủ đại diện và dân
chủ trực tiếp ở cơ sở; phát huy dân chủ gắn liền với phát triển KT-XH, nâng
cao dân trí, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, gắn quá trình thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở với công tác cải cách hành chính.
Tiếp đó, nhằm mục đích cụ thể hoá Chỉ thị số 30 của Trung ương, Uỷ
ban Kiểm tra Trung ương ban hành Hướng dẫn số 07-HD/KT (19-3-1998),
Hướng dẫn thực hiện Chỉ thị 29-CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương về
công tác kiểm tra của Đảng. Hướng dẫn đã cụ thể hóa 3 nội dung kiểm tra
chủ yếu theo Chỉ thị số 29. Tháng 2 năm 1999, Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII ra Nghị quyết số 10-NQ/TW, Về một số
vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Nghị
quyết nêu rõ các tổ chức đảng và cán bộ đảng viên phải thực hiện 10 nhiệm
36
vụ cụ thể: Tăng cường sự thống nhất trong Đảng về nhận thức, ý chí và hành
động; Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận; Đổi mới
công tác giáo dục trong Đảng và trong xã hội về chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
Tăng cường giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng
viên; Tập trung chỉ đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu có
hiệu quả; Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê
bình trong Đảng; Củng cố tổ chức, tăng cường sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo
của tổ chức cơ sở đảng; Sắp xếp lại bộ máy tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ
thống chính trị gắn liền với cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả; Toàn Đảng tiến hành cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn
Đảng; Cải tiến việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết [31].
Nội dung chủ yếu của nghị quyết thể hiện việc xác định rõ ràng sự đổi
mới trong nhận thức tư duy lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng trong chỉ
đạo xây dựng Đảng và xây dựng TCCSĐ phù hợp với tình hình mới.
Ngày 05-5-1999, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy
chế số 53-QC/TW, về chế độ kiểm tra cán bộ và công tác cán bộ. Đây là cơ
sở đánh giá thực trạng công tác cán bộ. Quy chế số 53 xác định căn cứ
chung để đánh giá cán bộ gồm 3 điều: Điều 1, các cấp uỷ và tổ chức đảng
phải thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức kiểm tra cán bộ và công tác
cán bộ; Điều 2, kiểm tra để đánh giá đúng cán bộ và công tác cán bộ, kịp
thời nêu gương cán bộ và tổ chức đảng làm tốt, giúp đỡ cán bộ và tổ chức
đảng gặp khó khăn, ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc của cán bộ (về
phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, trách nhiệm...) và công tác
cán bộ (thực hiện các nguyên tắc, quy chế, chế độ quy định về phát huy dân
chủ, đoàn kết nội bộ), phát hiện những kinh nghiệm tốt, uốn nắn những sơ
hở thiếu sót trong công tác cán bộ, kịp thời xử lý những vi phạm; Điều 3,
việc kiểm tra phải tuân thủ Điều lệ Đảng, quy định của Ban Chấp hành
Trung ương và hướng dẫn của UBKT Trung ương Đảng.
37
Tiếp đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Kế hoạch số
04-KH/TW (13-5-1999), triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6
(lần 2) và cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Kế hoạch số 04 xác
định: mục đích, yêu cầu; với 3 bước thực hiện và việc lãnh đạo tổ chức
thực hiện.
Ngày 02-7-1999, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Công văn số
194-CV/TW về việc hướng dẫn tự phê bình và phê bình: Công văn nhấn mạnh ý
kiến chỉ đạo của Thường vụ Bộ Chính trị trên một số nội dung: Quy trình chuẩn bị
để tiến hành tự phê bình và phê bình; việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình đối
với cá nhân và đối với các đồng chí lãnh đạo giữ nhiều chức vụ; thành phần dự
kiểm điểm; thời gian và quy định gửi báo cáo. Nội dung Công văn số 194 đã góp
phần định hướng cụ thể về lãnh đạo công tác tự phê bình và phê bình, quy định
thời gian và thành phần tham dự kiểm điểm.
Trong nhiệm kỳ khóa VIII của Đảng những vấn đề cơ bản về xây dựng
TCCSĐ đã được bổ sung đầy đủ, toàn diện hơn và là một trong những nhiệm vụ
cấp bách được chú trọng trong công tác xây dựng Đảng, đáp ứng yêu cầu của
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
2.2.2. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên quán triệt và triển khai thực hiện chủ
trương của Trung ương Đảng về xây dựng tổ chức cơ sở đảng (1997-2000)
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, tháng 11
năm 1997, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã tiến hành Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ
XIV. Đề cập đến vấn đề xây dựng Đảng bộ TSVM, Đại hội nêu rõ:
Tiếp tục kiện toàn hệ thống chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết
toàn dân. Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức, có kiến thức và năng lực, có uy tín, đủ sức lãnh
đạo nhân dân Hưng Yên vượt qua khó khăn thử thách, đẩy mạnh
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng tỉnh giàu mạnh,
xã hội công bằng, văn minh [13, tr.14].
38
Công tác xây dựng Đảng tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là: Tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong
trong Đảng. Coi trọng giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh cho cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, tăng cường
bản chất giai cấp công nhân một mặt tăng cường số đảng viên xuất thân từ
giai cấp công nhân, nhưng điều chủ yếu và quyết định là xây dựng quan điểm,
chính sách, tổ chức sinh hoạt của đảng bộ thực sự dựa trên lập trường, quan
điểm của giai cấp công nhân, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, đi tiên phong trên
mọi lĩnh vực, có bản lĩnh và trí tuệ, gắn bó, mật thiết với nhân dân, thực sự vì
dân, chống chủ nghĩa thực dụng, vô kỷ luật bè phái trong Đảng.
Hai là: Nâng cao trình độ trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn. Học
tập là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ đảng viên và được quy định thành
chế độ của cấp uỷ. Đổi mới cán bộ chủ chốt trong tỉnh, huyện và thị xã. Phải
có kế hoạch thường xuyên học tập lý luận, chuyên môn, ngoại ngữ và tin học.
Đồng thời, phải thường xuyên sâu sát cơ sở, kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện
vọng của quần chúng nhân dân.
Ba là: Phải rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, khắc phục tình trạng
một bộ phận cán bộ đảng viên sa sút phẩm chất đạo đức, dao động, mất niềm tin,
chạy theo lối sống cơ hội thực dụng, làm giàu bất chính, lợi dụng chức quyền và
những sơ hở trong cơ chế chính sách để tham nhũng, buôn lậu. Kiên quyết đấu
tranh chống những biểu hiện gia trưởng, độc đoán, kèn cựa, địa vị, cục bộ địa
phương. Mỗi cán bộ, đảng viên đều phải gương mẫu tự rèn luyện, các cấp uỷ phải
có kế hoạch giáo dục, bồi dưỡng, quản lý, kiểm tra quá trình tổ chức thực hiện.
Bốn là: Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc cơ bản
trong tổ chức và sinh hoạt Đảng. Phát huy quyền làm chủ thực sự của dân,
chống quan liêu tham nhũng, ức hiếp dân. Động viên và tổ chức để nhân dân
thường xuyên tham gia xây dựng Đảng. Cấp uỷ lãnh đạo các đoàn thể và các
tổ chức xã hội chủ yếu là định hướng chính trị, tư tưởng, tổ chức cán bộ,
39
thường xuyên kiểm tra, tạo mọi điều kiện để các đoàn thể và mọi tổ chức xã
hội hoạt động tốt hơn [13, tr.16].
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2000, Đảng bộ tỉnh có trên 70% số cơ
sở đảng đạt chỉ tiêu TSVM, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 05-
CT/TU (02-4-1997), Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng tổ chức
cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, đồng thời đề ra 5 tiêu chuẩn xây dựng
TCCSĐ trong sạch vững mạnh:
Một là, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân, cán bộ, công nhân viên (Kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng).
Hai là, làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước.
Ba là, giải quyết tốt những chính sách xã hội, kiên quyết đấu tranh
chống tham nhũng luôn lậu, đẩy lùi tệ nạn xã hội (có ít nhất 1 làng được cấp
danh hiệu làng văn hóa).
Bốn là, nội bộ đoàn kết, sinh hoạt có chất lượng, đảng viên gương mẫu.
Năm là, chính quyền và các đoàn thể được công nhận vững mạnh [97].
Như vậy, theo Chỉ thị số 05, Tỉnh ủy Hưng Yên đã cụ thể hóa các tiêu
chuẩn để xây dựng TCCSĐ trong sạch vững mạnh một cách rõ ràng, là cơ sở
để bình xét thi đua xây dựng TCCSĐ trong toàn tỉnh.
Để phong trào phát triển toàn diện, vững chắc, cấp ủy Đảng, Đảng
đoàn, Ban cán sự Đảng các cấp chính quyền, đoàn thể nhân dân, các ban,
ngành chỉ đạo việc rà soát, đánh giá thực trạng tình hình TCCSĐ, từ đó có kế
hoạch cụ thể để xây dựng cơ sở đảng của ngành, của địa phương mình đạt tiêu
chuẩn TSVM. Trên cơ sở 5 tiêu chuẩn phải được cụ thể hóa cho từng loại
hình để chấm điểm thi đua và có quy trình xét duyệt công nhân danh hiệu tổ
chức cơ sở đảng TSVM, tổ chức đoàn thể và chính quyền cơ sở vững mạnh.
Nhằm mục đích triển khai Chỉ thị số 05-CT/TU đạt kết quả, Ban Tổ
chức Tỉnh ủy ban hành Hướng dẫn số 70-HD/TC (15-4-1997) về tiếp tục đẩy
mạnh phong trào thi đua xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh.
40
Theo đó, các tiêu chuẩn được cụ thể hóa cho phù hợp với từng loại hình cơ sở
đảng: Lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị (kinh tế-xã hội-chuyên
môn); lãnh đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ an ninh, quốc phòng; lãnh đạo xây
dựng chính quyền, đoàn thể vững mạnh; chống tham nhũng, buôn lậu, xa hoa,
lãng phí; lãnh đạo thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng Đảng.
Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 08-CT/TU (06-9-1997) của Ban Thường
vụ Tỉnh ủy về chương trình đưa thông tin xuống cơ sở, Tỉnh ủy chỉ đạo, các cấp
ủy quan tâm củng cố đội ngũ báo cáo viên các cấp, nhất là cấp cơ sở để thực hiện
các chuyên đề về kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng, xây dựng Đảng
ở địa phương. Khẩn trương tổ chức thực hiện để các công trình phục vụ cho việc
đưa thông tin xuống cơ sở được triển khai sớm. Ngân sách Đảng tiếp tục tài trợ
phát hành báo Hưng Yên, bản tin “Thông báo nội bộ” và điều chỉnh lại chế độ
sinh hoạt cho báo cáo viên. Nâng cao chất lượng các kênh thông tin, tuyên truyền
miệng, phương tiện thông tin đại chúng, thông tin lưu động…đáp ứng nhu cầu
thông tin ngày càng cao của cán bộ đảng viên và nhân dân trong tỉnh.
Thực hiện Kế hoạch số 01-KH/TW (10-10-1998) của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng về sinh hoạt chính trị tự phê bình và phê bình trong Đảng
theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây
dựng kế hoạch số 17-KH/TU (6-7-1999) về Tự phê bình và phê bình thực hiện
nghị quyết Trung ương 6 (lần 2). Việc tự phê bình và phê bình được thực hiện
theo các nội dung: Kiểm điểm về tư tưởng chính trị; đạo đức lối sống; về tổ
chức và sự chỉ đạo điều hành; về phương châm, phương pháp tiến hành…Việc
tiến hành tự phê bình được áp dụng với toàn thể đảng viên, trong đó tập trung
vào các đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo các cấp…
Tiếp đó, ngày 20-10-1999, Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng kế hoạch số
17-KH/TU về việc Thực hiện bước 2 triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 6 (lần 2) và cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng. Theo đó, việc
thực hiện nhiệm vụ bước 2 bao gồm: Tổ chức học tập và làm theo Di chúc,
41
bài báo “Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 5 lời thề trong Lễ truy điệu
Người; Tổ chức quán triệt và thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban
Chấp hành Trung ương (khóa VIII) về tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị,
tiền lương, trợ cấp xã hội…
Thực hiện Chỉ thị số 54- CT/TW của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ
các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Ban Thường
vụ Tỉnh ủy Hưng Yên đã ban hành Kế hoạch số 26-KH/TU năm 2000 về đại
hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV; chỉ đạo
huyện, thị ủy, đảng ủy trực thuộc và các cơ sở đảng thành lập các tiểu ban
chuẩn bị Đại hội, quán triệt tinh thần chỉ đạo chủ Trung ương và của tỉnh; chỉ
đạo việc lấy ý kiến tham gia vào dự thảo Báo cáo chính trị của cấp ủy cùng
cấp và cấp trên theo những nội dung trọng tâm, trọng điểm...
Nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ mới, Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 23-KH/TU năm 2000 về
Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên (Triển khai chương
trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và Quy
định số 54-QĐ/TW của Bộ Chính trị). Theo Kế hoạch số 23 nhiều nội dung đào
tạo bồi dưỡng lí luận chính trị cho cán bộ, đảng viên đã được đề cập chi tiết tới
từng loại đối tượng khác nhau, như cán bộ giữ và không giữ chức vụ lãnh đạo,
đảng viên là cán bộ dự nguồn các cấp, xác định đào tạo lí luận chính trị theo
chức danh, theo phân cấp đào tạo…Trong đó, nhấn mạnh việc quan tâm bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ công tác cho các chức danh: trưởng thôn, đại biểu
hội đồng nhân dân các cấp, chính quyền cơ sở, cán bộ mặt trận và các đoàn thể
chính trị- xã hội... Kế hoạch số 23 cũng xác định việc đẩy mạnh việc thực hiện
đưa thông tin đến cán bộ, đảng viên và nhân dân ở cơ sở. Xây dựng, củng cố hệ
thống báo cáo viên của các cấp ủy Đảng, đổi mới và nâng cao chất lượng các
kênh thông tin, đưa tin kịp thời, chính xác, phong phú, đa dạng, hấp dẫn và đảm
bảo định hướng. Nâng cao chất lượng chính trị, khoa học, văn hóa và nghiệp vụ
42
trong thông tin. Quan tâm hơn việc phát hiện, biểu dương kịp thời các nhân tố
mới, điển hình tiên tiến, gương người tốt đồng thời phê phán những việc làm trái
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đạo đức xã hội.
2.2.3. Quá trình chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên (1997-2000)
Về công tác tư tưởng chính trị
Quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XIV
“Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then
chốt”[12, tr.26] đồng thời tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05-CT/TU (02-4-1997)
của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành,
Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh, các trung tâm bồi dưỡng chí trị huyện
cùng các đoàn thể đã quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện.
Công tác tuyên truyền nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện Chỉ thị số
08-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chương trình đưa thông tin xuống cơ
sở, coi trọng nội dung và hình thức các kênh thông tin. Nội dung tuyên truyền là
các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của Tỉnh ủy, chính sách pháp luật của
Nhà nước ở tất cả các lĩnh vực KT-XH, an ninh quốc phòng, thực hiện Quy chế
dân chủ ở cơ sở, công tác xây dựng Đảng, chính quyền. Chú trọng tuyên truyền
kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và cuộc vận động xây dựng
chỉnh đốn Đảng; triển khai thực hiện Chỉ thị số 54-CT/TW của Bộ Chính trị, Kế
hoạch số 26-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về Đại hội Đảng bộ các cấp
tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng.
Công tác tư tưởng chính trị được coi trọng đúng mức, triển khai thực
hiện các nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ đều gắn với chương trình
hành động của từng cấp, từng ngành. Công tác tư tưởng đã góp phần nâng cao
nhận thức chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng củng cố lòng tin của nhân
dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới, thúc đẩy việc thực hiện
nhiệm vụ chính trị của địa phương.
43
Việc điều tra dư luận xã hội và lắng nghe ý kiến của nhân dân được coi
trọng. Tổ chức kỷ niệm những ngày lễ lớn được đổi mới cả về nội dung và
hình thức, gắn với giáo dục truyền thống và phong trào thi đua yêu nước, đẩy
mạnh các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao ở cơ sở. Văn hóa, văn nghệ,
thông tin cổ động hoạt động khá hơn và có bước phát triển mới. Các phong
trào xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, lễ hội, hội diễn văn nghệ, thông
tin cổ động, phòng trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ
sở”... được chú trọng cả về nội dung đến hình thức, góp phần nâng cao đời
sống văn hóa tinh thần nhân dân.
Các hình thức và biện pháp tuyên truyền đa dạng: Thông qua hệ thống
báo cáo viên từ tỉnh đến cơ sở, duy trì chế độ giao ban hàng tháng, phát hành
bản tin nội bộ, điều tra xã hội học giúp cấp ủy các cấp lãnh đạo chỉ đạo công
tác tư tưởng tốt hơn; các phương tiện thông tin đại chúng như Đài phát thanh
truyền hình tỉnh, Báo Hưng Yên, Đài truyền thanh các huyện và cơ sở cùng
với các bản tin, tạp chí chuyên ngành ngày càng đáp ứng hơn nhu cầu thông
tin của nhân dân. Đội ngũ phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên được tăng
cường số lượng, nghiệp vụ và từng bước được nâng lên.
Công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên được triển
khai tích cực, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, củng cố niềm tin của
nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng vào công cuộc đổi mới. Đã có 3.790
đồng chí được học lý luận chính trị phổ thông; 3.206 đồng chí được học về
công tác xây dựng Đảng; 1.269 đang học chương trình trung cấp và cử nhân
lý luận chính trị [15, tr.15].
Chỉ tính riêng năm 2000, công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận
chính trị cho cán bộ, đảng viên có bước phát triển mới. Các trung tâm bồi
dưỡng chính trị huyện, thị và đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy đã mở được 170 lớp
hoc với 14.142 lượt học viên được bồi dưỡng lý luận chính trị phổ thông,
công tác xây dựng Đảng, công tác đoàn thể... một số đơn vị đạt kết quả khá là
44
Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Khoái Châu, huyện Tiên Lữ. Trường
Chính trị Nguyễn Văn Linh đã mở 20 lớp cho 1.834 học viên, trong đó có 5
lớp học bồi dưỡng với 555 học viên, 15 lớp học đào tạo (6 lớp học đại học và
9 lớp trung cấp) cho 1.279 học viên [110, tr. 3].
Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như sự suy thoái về tư tưởng, đạo
đức, lối sống, tệ quan liêu tham nhũng ở một bộ phận cán bộ đảng viên chưa
được ngăn chặn có hiệu quả. Việc phổ biến, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết
của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số cấp uỷ, cơ quan,
đơn vị chưa nghiêm, chưa xây dựng chương trình kế hoạch cụ thể, do đó hiệu
quả còn thấp. Chưa chú trọng phát hiện, phổ biến nhân rộng các điển hình tiên
tiến và hướng mạnh về cơ sở. Còn ít chuyên mục, tin bài nghiên cứu chuyên
sâu, sinh động về công tác xây dựng Đảng, đấu tranh phê phán các hiện tượng
tiêu cực, tệ quan liêu, tệ tham nhũng, lãng phí.
Qua điều tra ở 507 cơ sở Đảng có 6.555/46.737 đảng viên trong toàn
tỉnh chưa được học chương trình sơ cấp lý luận chính trị (trong đó có 2.936
đảng viên nông dân...). Riêng cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể là đảng
viên, có 1.596 đồng chí chưa học chương trình sơ cấp lý luận chính trị. Kết
quả điều tra chương trình đưa thông tin đến cơ sở cho thấy còn 12,4% báo cáo
viên ở cơ sở hoạt động không đều; 19,2% chi bộ, Đảng bộ cơ sở chưa có báo
Hưng Yên; 17,6% chi bộ, Đảng bộ cơ sở chưa có Báo Nhân Dân; 23,7% chi
bộ, Đảng bộ cơ sở chưa có Bản tin Thông báo nội bộ; 44,6% hệ thống loa
truyền thanh ở khu vực dân cư hoặc các cơ quan đơn vị hoạt động không đều.
Một số cán bộ đảng viên còn ngại học tập chính trị. Trong các đợt học tập
nghị quyết của Đảng, một số đảng bộ xã, phường, thị trấn số đảng viên vắng
mặt chiếm 20% - 25%. Một số khác theo học ở trường lớp lại cơ biểu hiện
chạy theo bằng cấp, động cơ học tập chưa đúng đắn [113, tr.4].
Công tác đào tạo bồi dưỡng lý luận cho cán bộ, đảng viên có nơi, có lúc
còn hạn chế, chưa đồng đều, chưa đa đạng và hấp dẫn, một số TCCSĐ, đảng
45
viên còn xem nhẹ, nhất là các TCCSĐ và đảng viên nông thôn. Công tác tư
tưởng chưa được quan tâm thường xuyên.
Một số cấp ủy thiếu những biện pháp kiên quyết và thường xuyên để
giáo dục đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên nên vẫn còn một số người
suy thoái về đạo đức lối sống, giảm sút ý chí phấn đấu, sách nhiễu, phiền hà
với nhân dân, cục bộ, kèn cựa địa vị, chưa thẳng thắn trong đấu tranh tự phê
bình và phê bình tiếp thu sửa chữa khuyết điểm chưa nghiêm túc. Còn có biểu
hiện mất đoàn kết, có nơi mất đoàn kết kéo dài. Công tác cán bộ thiếu đồng
bộ, quản lý, giáo dục, kiểm tra đảng viên có nơi thiếu chặt chẽ. Từ những yếu
kém, hạn chế trên dẫn đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn thấp so
với yêu cầu.
Về xây dựng tổ chức
Nhận thức rõ tầm quan trọng của TCCSĐ, ngay từ khi tái lập tỉnh, Ban
Thường vụ Tỉnh uỷ đã có Chỉ thị số 05-CT/TU (2-4-1997) về Tiếp tục đẩy
mạnh phong trào thi đua xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh.
Căn cứ vào chỉ thị, Ban Tổ chức Tỉnh uỷ ban hành Hướng dẫn số 70-HD/TC
nhằm thống nhất kế hoạch triển khai chỉ thị đến cơ sở và đảng viên, cụ thể
hoá một bước 5 tiêu chuẩn cho phù hợp với từng loại hình cơ sở đảng. Tỉnh
uỷ mở Hội nghị cán bộ chủ chốt của tỉnh, huyện, thị xã để quán triệt nội dung
chỉ thị và bàn biện pháp triển khai thực hiện. Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Huyện
ủy, Thị ủy, Đảng ủy trực thuộc, các Ban cán sự Đảng và các cá nhân, nghiêm
túc thực hiện đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực. Trong lao động sản xuất
dám nghĩ, dám làm, tăng cường sức chiến đấu của TCCSĐ. Một số ngành có
hệ thống cơ sở cấp dưới đã có văn bản cụ thể hóa tiêu chuẩn thi đua cho từng
loại hình TCCSĐ. Các ngành, đoàn thể có hướng dẫn tiêu chuẩn cơ sở hội
vững mạnh, tiên tiến, quyết thắng như: Cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Đoàn
thanh niên…Đó là cơ sở quan trọng cho việc thúc đẩy phong trào thi đua
trong cả hệ thống chính trị.
46
Biểu đồ 2.1: Phân loại tổ chức cơ sở đảng của tỉnh Hưng Yên (1997-2000)
[Phụ lục 1].
Thông qua phong trào thi đua, đã xuất hiện những điển hình tiêu biểu ở
từng loại hình TCCSĐ. Qua bình xét và phân loại, TCCSĐ đạt TSVM đều
tăng cả về số lượng và chất lượng. Năm 1997, có 295 TCCSĐ đạt TSVM
trong toàn tỉnh, chiếm gần 65,41% tổng số TCCSĐ. Đến năm 1999, có 379
TCCSĐ đạt TSVM, chiếm 74,7% (đạt chỉ tiêu mà Đại hội XIV của Đảng bộ
tỉnh đề ra cho năm 2000). Kết quả phân loại năm 2000, có 408 TCCSĐ đạt
TSVM, chiếm 79,22% tổng số TCCSĐ, tăng 113 TCCSĐ đạt TSVM so với
năm 1997 [Phụ lục 1].
Tính tổng trong 4 năm (1997-2000), có 72,56% TCCSĐ đạt TSVM,
(năm 1997 có 65,41% TCCSĐ đạt TSVM đến năm 2000 tăng lên 79,22%
TCCSĐ đạt TSVM), các Đảng bộ huyện và tương đương có số TCCSĐ đạt
TSVM chiếm tỷ lệ cao là thị xã Hưng Yên đạt 75%, huyện Mỹ Hào đạt 82%,
Kim Động đạt 76,6%, huyện Tiên Lữ đạt 71%... [110, tr.5].
Cấp uỷ Đảng, chính quyền kịp thời động viên phong trào, lựa chọn
những đơn vị có thành tích tiêu biểu để biểu dương, khen thưởng. Trong năm
(1997-1999) số TCCSĐ đạt TSVM được Ban Thường vụ Huyện ủy, Thị uỷ
và Đảng uỷ trực thuộc biểu dương, tặng giấy khen đều tăng. Năm 1997 có
137 TCCSĐ, chiếm 30,4%; năm 1998 có 137 TCCSĐ, chiếm 31,1% và năm
1999 có 161 TCCSĐ, chiếm 35,7%. Số TCCSĐ được Ban Thường vụ Tỉnh
47
uỷ biểu dương, năm 1997 có 29 TCCSĐ, chiếm 6,4% tăng lên 35 TCCSĐ,
chiếm 7,69% năm 1998 và tiếp tục tăng lên 44 TCCSĐ, chiếm 8,7% năm
1999 [111, tr.4]. Năm 2000, có 51 TCCSĐ tiêu biểu được Tỉnh ủy biểu
dương, tăng 7 TCCSĐ với năm 1999 và tăng 22 TCCSĐ so với năm 1997.
Đáng chú ý, có 11 TCCSĐ trong sạch vững mạnh tiêu biểu được Tỉnh ủy biểu
dương từ 5 năm trở lên là: Đảng bộ Công ty may Hưng Yên, Đảng bộ xã
Thuần Hưng (Khoái Châu), Đảng bộ xã Quảng Châu (Tiên Lữ), Đảng bộ xã
Phan Sào Nam (Phù Cừ), Đảng bộ xã Tân Quan (Văn Lâm)... [111, tr.5].
Phong trào thi đua xây tổ chức cơ sở đảng TSVM theo tinh thần Chỉ thị
số 05-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy góp phần quan trọng vào việc phấn
đấu hoàn thành nhiệm vụ chính trị. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên
12%/năm, trong đó nông nghiệp phát triển toàn diện với tốc độ tăng trưởng
trên 5%/năm, công nghiệp trên 30%/năm. Các mặt văn hóa - xã hội, giáo dục,
y tế... có chuyển biến tích cực, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn
xã hội được duy trì.
Mặc dù vậy, công tác xây dựng TCCSĐ còn một số hạn chế như: Tỉ lệ
TCCSĐ đạt TSVM không đồng đều, tập trung nhiều ở khối lực lượng vũ
trang, khối các cơ quan dân, chính, đảng tỉ lệ thấp hơn. Một số TCCSĐ ở địa
phương còn đạt tỉ lệ TSVM thấp như huyện Phù Cừ, huyện Tiên Lữ, huyện
Ân Thi…Một số TCCSĐ yếu kém hoặc có vấn đề nổi cộm, phát sinh thậm
chí có nơi đã trở thành điểm nóng. Số TCCSĐ yếu kém có nhiều loại hình và
giảm từ 22 TCCSĐ năm 1997 xuống còn 12 TCCSĐ năm 2000, chiếm tỷ lệ
cao là loại hình xã, phường: năm 1997 có 16/22 xã, phường (chiếm 10%) tổng
số TCCSĐ; năm 1998 có 15/18 xã, phường (chiếm 9,3%) tổng số TCCSĐ và
năm 1999 còn 16/19 xã, phường (chiếm 10%) tổng số TCCSĐ [111, tr.5].
Biểu hiện yếu kém ở từng đơn vị, trong mỗi loại hình cơ sở có khác
nhau. Ở nông thôn là tình trạng thực hiện chưa nghiêm hoặc vi phạm chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là vi phạm luật
48
đất đai, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Một số nơi nội bộ mất đoàn kết
hoặc xuất hiện tình trạng cục bộ, bản vị. Ở các đơn vị kinh tế là tình trạng yếu
kém trong tổ chức, quản lý, làm ăn thua lỗ kéo dài, không hoàn thành nghĩa
vụ với Nhà nước, đời sống người lao động khó khăn.
Ở những cơ sở đảng khá và yếu, nhiều cán bộ, đảng viên và quần chúng
chưa thực sự quan tâm đến phong trào. Một số TCCSĐ xuất hiện tư tưởng
“trung bình chủ nghĩa” hoặc thoả mãn với danh hiệu TSVM nên thiếu những
biện cụ thể để phấn đấu; buông lỏng quản lý, kiểm tra đảng viên, cán bộ nên
phong trào đi xuống, cá biệt trở thành TCCSĐ yếu kém. Trong số TCCSĐ đã
được tặng bằng khen ở cấp tỉnh, có 21 TCCSĐ không còn giữ được phong trào
như Hạ Lễ, huyện Ân Thi (7 năm liên tục được tặng bằng khen), Dị Sử (huyện
Mỹ Hào); Trần Cao (huyện Phù Cừ), nơi trở thành yếu kém như Hồ Tùng Mậu
(huyện Ân Thi), Liên Nghĩa (huyện Văn Giang)... [111, tr.6].
Việc đánh giá, bình xét, phân loại ở các TCCSĐ chưa khoa học, khách
quan, độ tin cậy chưa cao. Một số nơi tổ chức đăng ký phấn đấu xây dựng tổ
chức cơ sở đảng TSVM còn chậm, chưa đúng quy trình, không tạo được
không khí thi đua, căn cứ đánh giá phân loại cuối năm gặp nhiều khó khăn.
Do đó, còn sự chênh lệch trong vận dụng tiêu chuẩn trong cùng một huyện,
giữa các huyện và giữa các loại hình TCCSĐ (riêng khối huyện, tỷ lệ cơ sở
đạt TSVM hàng năm chênh lệch từ 1,3 đến 1,7 lần).
Một số nơi tổ chức đăng ký phấn đấu xây dựng tổ chức cơ sở Đảng TSVM
còn chậm, chưa đúng quy trình, còn thiếu những hình thức sát thực, phù hợp để
cuốn hút phong trào thi đua, căn cứ đánh giá phân loại cuối năm gặp nhiều khó
khăn. Phân loại thẩm định TCCSĐ vào cuối năm của cấp ủy, chính quyền và các
đoàn thể còn chưa đồng bộ, chưa khớp với thời gian quy định nên việc tổng hợp,
xét duyệt công nhận của cấp trên không kịp thời, thường kéo dài ảnh hưởng đến
tổng kết, khen thưởng cuối năm và phát động phong trào năm sau.
49
Về phát triển đảng viên
Nhận thức sâu sắc công tác xây dựng TCCSĐ trong sạch vững mạnh
không thể tách rời với việc phát triển số lượng và chất lượng đảng viên,
công tác phát triển đảng viên của tỉnh Hưng Yên đã tuân thủ các nguyên
tắc về thủ tục kết nạp đảng viên theo quy định Điều lệ Đảng và các văn bản
hướng dẫn của tổ chức Đảng cấp trên. Các nguyên tắc trong công tác phát
triển Đảng được quán triệt nghiêm túc. Đối với công tác phát triển đảng
viên đảm bảo các nguyên tác đó trên ba phương diện: Tiêu chuẩn, lịch sử
chính trị và những quy định về thủ tục mà Điều lệ Đảng đã quy định. Việc
tuân thủ nguyên tắc được bắt đầu ngay từ khâu tạo nguồn khi theo dõi đối
tượng cho đến khi xét kết nạp. Việc thực hiện đúng các nguyên tắc thủ tục
trong quá trình bồi dưỡng, theo dõi, giúp đỡ xét duyệt Đoàn viên thanh
niên, quần chúng ưu tú vào Đảng góp phần bảo đảm sự nghiêm túc trong
việc thực hiện điều lệ Đảng.
Qua khảo sát, thống kê cho thấy, mặc dù do điều kiện tỉnh mới tái lập
nhưng công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã được
các cấp ủy Đảng quan tâm chỉ đạo và đảm bảo về số lượng, chất lượng góp
phần tăng thêm sức chiến đấu và sự kế thừa, phát triển liên tục của Đảng,
nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới trong sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước. Nhờ sự nỗ lực của các TCCSĐ và sự quan tâm của các cấp ủy Đảng
trong toàn Đảng bộ, thông qua công tác phát triển đảng viên hàng năm, các
Đảng bộ huyện, thị đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên tăng về số
lượng và chất lượng. Các cấp ủy Đảng, các cán bộ, đảng viên đã có nhận
thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác phát triển đảng viên, coi đó
là hoạt động mang tính cách mạng, đóng vai trò quan trọng trong công tác
xây dựng Đảng nhằm trẻ hóa đội ngũ, tăng cường sinh lực, đảm bảo sự kế
thừa, phát triển liên tục trong Đảng, đặc biệt trong bối cảnh tỉnh Hưng Yên
vừa mới tái lập có nhiều khó khăn cần nguồn cán bộ.
50
Biểu đồ 2.2: Kết quả công tác phát triển đảng viên của tỉnh Hưng Yên
(1997 - 2000) [Phụ lục 3].
Từ năm 1997 đến năm 2000, thực tế công tác phát triển đảng viên tăng đều
đặn, trung bình hàng năm mở được từ 20 đến 24 lớp bồi dưỡng nhận thức về
Đảng cho 2.015 đến 2.116 quần chúng ưu tú; kết nạp được từ 1.272 đến 1.475
đảng viên, trong đó đảng viên là nữ từ 472 đến 579 đảng viên, chiếm từ 42% đến
46% tổng số đảng viên toàn Đảng bộ; đoàn viên thanh niên từ 792 đến 829 đảng
viên, chiếm từ 62% đến 65%; trình độ văn hoá tốt nghiệp trung học phổ thông từ
396 đến 419 đảng viên; cao đẳng, đại học từ 310 đến 322 đảng viên, chiếm 23%
đến 25%; có 76,2% đến 77,5% cơ sở đảng kết nạp đảng viên mới. Số đảng viên
mới được kết nạp đều phát huy tác dụng tốt. Số lượng đảng viên của tỉnh Hưng
Yên kết nạp từ năm 1997 đến năm 2000 là 7.664/10.896 người được học lớp bồi
dưỡng nhận thức về Đảng. Đây là tỉ lệ hợp lý, đảm bảo số lượng và chất lượng
đảng viên [Phụ lục 3].
Qua số liệu cho thấy, số lượng đảng viên được kết nạp, được đào tạo
nâng cao trình độ về văn hóa, lí luận ngày càng tăng, trong đó có nhiều đảng
viên nữ, đảng viên trẻ, góp phần nâng cao chất lượng đảng viên, đáp ứng yêu
cầu, nhiệm vụ mới của sự nghiệp CNH, HĐH ®Êt níc.
Tuy nhiên, công tác đảng viên vẫn còn hạn chế nhất định, công tác tạo nguồn
phát triển Đảng ở một số chi bộ, đảng bộ chưa được quan tâm đúng mức hoặc xem
51
nhẹ tiêu chuẩn đảng viên, quá khắt khe trong việc thực hiện tiêu chuẩn kết nạp đảng
viên, khi xét nguồn hay xét kết nạp đảng viên còn nặng tư tưởng dòng họ. Một số
chi bộ, đảng bộ còn chưa làm đúng quy định, thủ tục, quy trình kết nạp đảng viên.
Một số cán bộ lãnh đạo, đảng viên lớn tuổi còn mang tính áp đặt, gia trưởng, thiếu
khách quan thiếu tin tưởng vào lớp trẻ, không nhìn nhận đầy đủ quá trình phấn đấu
của thanh niên. Sự phối hợp giữa các đoàn thể quần chúng với TCCSĐ còn nhiều
hạn chế. Nhiều cấp ủy chưa quan tâm đến công tác lãnh đạo Đoàn Thanh niên và
các đoàn thể khác, dẫn tới không thống nhất thiếu đồng bộ.
Bên cạnh đó, trong công tác phát triển đảng viên của tỉnh Hưng Yên
giai đoạn này còn gặp phải khó khăn khác đó là hiện tượng “chi bộ dòng họ”,
“chi bộ khóm tre”. Cụ thể như thôn Kim Lũ xã Phù Ủng:
Hiện tượng chi bộ dòng họ, bí thư chi bộ là người thuộc dòng họ
nào thì cố gắng cho con cháu dòng họ mình vào Đảng. Có trường
hợp thanh niên học hết lớp 12 về sinh hoạt đoàn ở thôn rất tích cực,
được cử đi học cảm tình Đảng nhưng mãi không vào được Đảng
phải học đến 2 lần cảm tình Đảng. Chỉ với một lý do thuộc dòng họ
nhỏ trong thôn, còn ông Bí thư chi bộ thôn lúc bấy giờ thuộc dòng
họ lớn nhất thôn… [Phụ lục 15].
Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên được các cấp ủy quan tâm
thường xuyên, công tác bồi dưỡng giáo dục chính trị, tư tưởng, chuyên môn
nghiệp vụ được tăng cường, chất lượng đảng viên ngày càng được nâng lên. Tổng
số đảng viên tăng hàng năm, từ 45.401 đảng viên năm 1997 tăng lên 46.010 đảng
viên; năm 1998, tiếp tục tăng lên 46.572 đảng viên năm 1999 và đến năm 2000
tăng lên 47.318 đảng viên. Như vậy, số lượng đảng viên năm 2000 tăng 1.917
đảng viên so với năm 1997. Trong 4 năm, số đảng viên đủ tư cách phát huy tác
dụng tốt chiếm 84,98%, đảng viên đủ tư cách còn hạn chế từng mặt có 19,04%,
đảng viên vi phạm tư cách 0,64% [Phụ lục 2]. Kết quả này phù hơp với sự tăng
dần về chất lương TCCSĐ đạt TSVM trong những năm (1997-2000).
52
Có được kết quả trên là do sự quan tâm sát sao của Thường vụ cấp ủy
các cấp; đồng thời, các cấp ủy đã có cơ chế và giải pháp đồng bộ trong việc
nâng cao chất lượng đảng viên, trong đó chú trọng làm tốt công tác phê bình
và tự phê bình theo tinh thần nghị quyết của Thường vụ các cấp và cuộc vận
động xây dựng chỉnh đốn Đảng ở cơ sở nghiêm túc.
Các cấp uỷ Đảng đã có những cố gắng trong tổ chức quán triệt, triển
khai các chủ trương, nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về nâng cao chất
lượng đảng viên và TCCSĐ. Nhiều TCCSĐ đã có bước chuyển biến quan
trọng trong nhận thức, cụ thể hoá được tiêu chuẩn và đề ra các giải pháp phù
hợp nâng cao chất lượng đảng viên; có cơ chế kiểm tra, đánh giá khách quan,
công bằng, gắn nâng cao chất lượng đảng viên với xây dựng TCCSĐ trong
sạch vững mạnh, góp phần đưa phong trào có bước phát triển vững chắc hơn.
Về công tác cán bộ
Công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sử dụng cán bộ là yếu
tố quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và chất lượng TCCSĐ.
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng
(khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước: Để đảm bảo cho công tác cán bộ đi vào nề nếp, chủ động, có tầm
nhìn xa, đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, Đảng bộ tỉnh ra chủ trương
thực hiện cụ thể: Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch đào tạo, sử dụng đội
ngũ cán bộ, công chức; có hình thức tuyên truyền phù hợp, thực hiện kế hoạch
trẻ hóa, nâng cao trình độ cán bộ đương chức, đánh giá, sử dụng đúng cán bộ để
phát huy được năng lực chuyên môn trong bộ máy chính quyền các cấp. Thực
hiện tốt công tác đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức hiện có, phấn đấu
đến năm 2005 cán bộ công chức tỉnh đạt 73% đến 80% trình độ đại học, 5% -
10% sau đại học; cấp huyện 60% có trình độ đại học trở lên; 100% cán bộ chính
quyền cơ sở được bồi dưỡng chương trình trung cấp quản lý Nhà nước.
Từ năm 1997 đến năm 2000, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được
chú trọng hơn về nội dung chương trình, phương pháp đào tạo cho từng loại
53
đối tượng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; kịp thời ban hành chế độ
phụ cấp cho cán bộ xã, phường đi học nhằm khuyến khích động viên cán bộ
cơ sở đi học nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Từ năm (1997-2000)
có 3.790 đồng chí được học sơ cấp lý luận chính trị, 3.026 đồng chí được bồi
dưỡng các chuyên đề về công tác xây dựng Đảng, 1.269 đồng chí đã và đang
học chương trình trung cấp và cử nhân chính trị. Trong tổng số 2.587 cán bộ
công tác Đảng và chính quyền ở cơ sở có: 17,8% đạt trình độ chuyên môn đại
học, 14,3% trình độ trung cấp, 47,08% trình độ lý luận chính trị sơ cấp, 29%
trình độ trung cấp lý luận chính trị, 01 đồng chí đạt trình độ cao cấp lý luận
chính trị. Trong tổng số 792 cán bộ chủ chốt của Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể ở cơ sở, về trình độ chuyên môn có: 0,5% đại học, 9,9% trung cấp;
về lý luận chính trị có: 0,3% cao cấp, 25% trung cấp, 53,4% sơ cấp [117, tr.6].
Thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ, từ năm (1997-2000), các
cấp ủy đã tổ chức phát huy hiệu Đảng cho các đồng chí 70, 60, 50 và 40 năm
tuổi Đảng. Hoàn chỉnh hồ sơ báo cáo xét duyệt đề nghị trao tặng Huân
chương Độc lập các loại cho các đồng chí đủ tiêu chuẩn. Tổ chức cho cán bộ
hoạt động cách mạng trước năm 1945 và cán bộ chủ chốt của tỉnh đã nghỉ hưu
đi điều dưỡng, tham quan nghỉ mát theo quy định.
Đổi mới cơ bản chính sách đảm bảo lợi ích vật chất cho từng đối tượng
cán bộ, trước hết là chế độ tiền lương, nhà ở và phương tiện đi lại. Có chính
sách phụ cấp tương xứng với trách nhiệm đối với cán bộ xã, phường. Đi đôi
với khuyến khích lợi ích vật chất, chú trọng giáo dục lý tưởng cách mạng là
động lực lớn nhất để thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của từng cán bộ.
Tuy vậy, công tác cán bộ vẫn còn chậm được đổi mới, chưa thực hiện
được trẻ hóa đội ngũ cán bộ, xây dựng và thực hiện quy chế cán bộ còn bộc lộ
yếu kém, khuyết điểm, việc bố trí, sắp xếp, sử dụng cán bộ có hiện tượng lúng
túng, bị động, chắp vá. Một số cán bộ trình độ, năng lực công tác chưa đáp
ứng được yêu cầu nhiệm vụ, yếu về kỹ năng chuyên môn và chưa phát huy
dân chủ trong quản lý điều hành. Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ cơ sở chưa ổn
54
định, thiếu đồng bộ và còn bất hợp lý; việc cân đối nguồn ngân sách Nhà
nước trên 2/3 số xã trong tỉnh gặp khó khăn.
Về công tác kiểm tra
Công tác kiểm tra của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên được các cấp ủy quan
tâm chỉ đạo đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của TCCSĐ, chống tiêu cực trong Đảng. Trong nhiệm kỳ
(Khoá XIV), UBKT Tỉnh ủy đã kiểm tra được 778 lượt TCCSĐ, 2.415 lượt
đảng viên (có 503 cấp uỷ viên các cấp) trong việc chấp hành cương lĩnh,
điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và thực hiện nhiệm vụ đảng viên, cấp
uỷ viên. Kết quả kiểm tra, có 1.351 đảng viên và cấp uỷ viên vi phạm; đã xử
lý kỷ luật 32 TCCSĐ và 1.272 đảng viên (có 402 cấp uỷ viên các cấp), trong
đó có 215 đảng viên bị khai trừ. Ngoài ra còn đưa ra khỏi Đảng 439 đảng viên
bằng các hình thức khác, có 34 đảng viên bị xử lý bằng pháp luật. Trong số
đảng viên bị xử lý kỷ luật có 5,32% sa sút về phẩm chất đạo đức, lối sống;
11% tham ô, tham nhũng [15, tr.17]. Trong 4 năm, tổng số đảng viên bị thi
hành kỷ luật chiếm 0,68% đảng viên toàn tỉnh, trong đó khiển trách chiếm
0,38%, cảnh cáo 0,16%, cách chức 0,03%, bị khai trừ 0,12% [Phụ lục 8].
Riêng năm 2000, công tác kiểm tra của Đảng bộ tỉnh được có nhiều
chuyển biến tích cực. Tỉnh ủy đã xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra,
thực hiện công tác kiểm tra theo Điều 30, Điều lệ Đảng. Cấp ủy và UBKT các
cấp đã kiểm tra được 59 lượt TCCSĐ (có 18 cấp ủy), 337 lượt đảng viên (có
115 cấp ủy viên các cấp) trong việc chấp hành điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, pháp luật của Nhà nước và thực hiện nhiệm vụ của TCCSĐ và đảng
viên. Qua kiểm tra đã kết luận, làm rõ 50 TCCSĐ, 314 đảng viên và cấp ủy
viên vi phạm; xử lý kỷ luật 7 TCCSĐ và 310 đảng viên trong đó có 21 đảng
viên bị cách chức, 50 đảng viên bị khai trừ; ngoài ra còn đưa ra khỏi Đảng
bằng các hình thức khác 42 đảng viên; có 9 đảng viên bị xử lý bằng pháp luật,
có 7 đảng viên tù (án treo). Trong số đảng viên bị kỷ luật có 40,96% là cấp ủy
55
viên, 16,45% thiếu tinh thần trách nhiệm trong chức trách nhiệm vụ, 8,38%
tham ô chiếm đoạt tài sản tập thể, 4,41% vi phạm luật đất đai, 6,12% vi phạm
chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Việc xem xét, giải quyết tố cáo
và khiếu nại về kỷ luật đảng viên và TCCSĐ được tiến hành thận trọng và kịp
thời hơn, đã nhận 527 đơn tố cáo đảng viên, trong đó, có 154 đơn (chiến
29,22% số đơn nhận được) phải giải quyết; 7 đơn tố cáo tổ chức đảng, 13 đơn
khiếu nại về kỷ luật đảng viên [110, tr.4].
Từ năm 1997 đến năm 2000, công tác kiểm tra đã làm rõ sai phạm và
xử lý kỷ luật 32 TCCSĐ. Trong đó, xử lý ở hình thức cảnh cáo 10 TCCSĐ,
khiển trách 15 TCCSĐ. Ngoài ra có có 7 TCCSĐ yếu kém trong 3 năm:
Cẩm Ninh, Tân Phúc (Ân Thi), Hàm Thư (Khoái Châu), Minh Tiến, Minh
Hoàng (Phù Cừ), Toàn Thắng (Kim Động), 10 TCCSĐ yếu kém trong 2
năm: đó là các TCCSĐ Tiền Phong, Hồ Tùng Mậu, Hồng Vân (Ân Thi),
Trung Hòa (Yên Mỹ), thị trấn Văn Giang (Văn Giang), Lệ Xá, Cương
Chính (Tiên Lữ), Đàn Đào (Phù Cừ). Nhiều TCCSĐ yếu kém phát sinh do
tiềm ẩn những tồn tại từ những năm trước nhưng chưa được quan tâm giải
quyết dứt điểm như: Liên Nghĩa, Đồng Kết (Châu Giang); Đoàn Đàm, Trần
Cao (Phù Cừ), Ngũ Lão (Kim Động)… [111, tr.7].
Trong nhiệm kỳ, công tác kiểm tra đã chủ động, thường xuyên có
chương trình kế hoạch cụ thể, góp phần củng cố Đảng về tổ chức, mở rộng
dân chủ, tăng cường kỷ luật, ngăn ngừa và kịp thời xử lý nghiêm những tổ
chức đảng, cán bộ đảng viên sai phạm, đấu tranh chống tham ô, lãng phí,
quan liêu và các tiêu cực khác. Kết quả đạt được trong xây dựng TCCSĐ ở
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2000 đã góp phần thúc đẩy
phát triển KT-XH tỉnh Hưng Yên.
Cùng với những thành tựu đạt được, công tác kiểm tra ở một số
TCCSĐ vẫn còn biểu hiện hạn chế, cụ thể xã Lưu Xá huyện Văn Giang:
Công tác công tác kiểm tra, giám sát còn buông lỏng, “dĩ hòa vi
quý”, nể nang nhau vì cùng xóm, đảng viên thoái thác nhiệm vụ
56
không bị khiển trách. Có nơi Đảng bộ TSVM nhưng dân vẫn lấn đất
công, đảng viên được phân công nhiệm vụ mà không làm hoặc có vi
phạm về đạo đức lối sống cũng chỉ nhắc nhở qua loa …[Phụ lục 13].
Như vậy, việc kiểm tra các TCCSĐ và đảng viên có dấu hiệu vi phạm
còn hạn chế, có biểu hiện thụ động, có Đảng bộ huyện có 5 Đảng ủy viên cơ
sở cả một năm không tiến hành một đợt kiểm tra nào, nhiều ban cán sự Đảng,
đảng đoàn chưa xây dựng được chương trình và thực hiện chương trình kiểm tra.
Việc kiểm tra chủ yếu mới thực hiện ở khu vực nông thôn, còn những lĩnh vực
KT-XH và công tác quản lý cán bộ lại chưa được kiểm tra. Đối tượng kiểm tra
chủ yếu mới kiểm tra đảng viên và TCCSĐ, còn đối tượng cấp ủy viên cùng cấp,
cán bộ do cấp ủy quản lý chưa được kiểm tra thường xuyên. Việc giải quyết đơn
tố cáo, xử lý kỷ luật đảng viên cấp ủy quản lý, một số vụ giải quyết thiếu kiên
quyết, còn kéo dài nên tác dụng hạn chế.
Tiểu kết chương 2
Trong điều kiện tỉnh mới được tái lập, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã lãnh
đạo toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thách
thức, hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của địa phương, góp phần đưa Hưng
Yên từng bước đạt được được những thành tựu bước đầu quan trọng trên mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có công tác xây dựng TCCSĐ.
Để công tác xây dựng TCCSĐ đạt kết quả tốt, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
đã quán triệt các quan điểm của Đảng về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của
TCCSĐ, kịp thời đề ra chủ trương, chính sách cụ thể trong lãnh đạo, chỉ đạo
các đảng bộ cơ sở thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị.
Nhiều chủ trương đã vận dụng sáng tạo các quan điểm của Đảng về xây dựng
TCCSĐ sát hợp với thực tiễn từng nơi, góp phần thực hiện thắng lợi đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở.
Qua thực tiễn hoạt động, chất lượng các TCCSĐ được nâng lên một
bước, nhiều TCCSĐ đã thể hiện tốt vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở. Tuy
57
nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, chất lượng nhiều TCCSĐ vẫn còn hạn chế, bất cập. Trong Đảng bộ tỉnh,
vẫn còn những TCCSĐ yếu kém, ảnh hưởng đến những mục tiêu chính trị, KT-
XH của các địa phương, đơn vị, cũng như đến mục tiêu chung của toàn Đảng bộ
trong công cuộc đổi mới.
Những thành tựu, ưu điểm và những hạn chế yếu kém kể trên do nhiều
nguyên nhân, cả chủ quan lẫn khách quan. Trong đó, nguyên nhân chủ quan
cán bộ yếu kém về năng lực lãnh đạo, xuống cấp về đạo đức nhất là người
đứng đầu là nguyên nhân cơ bản. Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt
được, khắc phục những hạn chế, yếu kém, không ngừng nâng cao chất lượng
về mọi mặt, yêu cầu đặt ra đối với Đảng bộ tỉnh Hưng Yên là tiếp tục lãnh
đạo, chỉ đạo công tác xây dựng TCCSĐ, xác định đúng mục tiêu, phương
hướng, đặc biệt là phải có những giải pháp đồng bộ, thiết thực, có tính khả thi.
Đồng thời, các TCCSĐ phải nỗ lực vươn lên, nắm bắt và thực hiện nghiêm
túc các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, quyết tâm thực hiện thắng lợi các
nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị trong những năm tiếp theo.
58
CHƯƠNG 3
ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
3.1. ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN QUÁN TRIỆT CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
VỀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TRƯỚC TÌNH HÌNH MỚI (2001-2005)
3.1.1. Yêu cầu mới đối với công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng
của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
Bước sang đầu thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên
thế giới diễn ra với nhịp độ nhanh. Khoa học và công nghệ ngày càng trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế tri thức, làm chuyển
dịch nhanh cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm
hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính
tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế. Quan hệ song phương, đa phương giữa
các quốc gia ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế, văn hoá và bảo vệ môi trường,
phòng chống tội phạm, thiên tai và các đại dịch…Chiến tranh lạnh kết thúc
nhưng chiến tranh dân tộc, sắc tộc, tôn giáo và nạn khủng bố diễn ra ở nhiều nơi.
Đấu tranh dân tộc và giai cấp vẫn diễn ra phức tạp và gay gắt. Nguy cơ chiến
tranh cục bộ vẫn còn. Chủ nghĩa đế quốc tiếp tục thực hiện “diễn biến hoà bình”.
Châu Á - Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động, trong
đó Trung Quốc có vai trò ngày càng lớn. Sau khủng hoảng tài chính - kinh tế,
nhiều nước ASEAN và Đông Á đang khôi phục đà phát triển với khả năng
cạnh tranh mới, tạo ra cơ hội và thách thức mới đối với các nền kinh tế khu
vực, trong đó có Việt Nam.
Ở trong nước, nền kinh tế có bước phát triển mới về lực lượng sản xuất,
quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế; đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân được cải thiện rõ rệt, văn hoá xã hội không ngừng tiến bộ; thế và lực của đất
59
nước hơn hẳn 10 năm trước, khả năng độc lập tự chủ được nâng lên, tạo thêm điều
kiện đẩy mạnh CNH, HĐH. Công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực và sức
chiến đấu của Đảng được đẩy mạnh, tạo được một số chuyển biến tích cực.
Tuy nhiên, những thành tựu và tiến bộ đạt được chưa đủ để đưa đất
nước vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, chưa tương xứng với
tiềm năng của đất nước. Trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam còn thấp so
với mức trung bình của thế giới và kém nhiều nước trong khu vực. Một số
vấn đề về KT-XH còn bức xúc và gay gắt, chậm được giải quyết. Cơ chế,
chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển. Năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của nhiều tổ chức cơ sở đảng còn yếu. Tình trạng
tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên làm cản trở việc thực hiện đường
lối, chủ trương của Đảng, gây bất bình và giảm lòng tin trong nhân dân. Tình
hình tư tưởng, an ninh nội bộ có biểu hiện phức tạp, tiềm ẩn những nguy cơ
mất ổn định chính trị - xã hội. Âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực
thù địch diễn biến phức tạp, khó lường.
Tình hình thế giới và trong nước có nhiều thay đổi trên nhiều bình diện
khác nhau, có tác động không nhỏ tới việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị
của Đảng và Nhà nước. Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng (2001) đã diễn ra. Về công tác xây dựng Đảng, Đại hội đã đánh
giá toàn diên trên tất cả các mặt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đối
với công tác xây dựng TCCSĐ trong nhiệm kỳ khóa VIII (1996 - 2000), Đại
hội nhận định sau 2 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2)
về một số vấn đề cơ bản cấp bách trong công tác xây dựng Đảng đã có những
chuyển biến tích cực, đồng thời cũng còn những hạn chế cần tiếp tục triển
khai thực hiện nghiêm túc. Nghị quyết Đại hội chỉ rõ những khuyết điểm:
trong công tác xây dựng Đảng: Công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ,
đảng viên, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được nguy cơ suy thoái về tư tưởng
chính trị và đạo đức lối sống; một số TCCSĐ ở các cấp chưa được chỉnh đốn;
60
dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết; chất
lượng sinh hoạt Đảng giảm sút. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
còn lúng túng, chưa đi sâu làm rõ đặc điểm và yêu cầu về sự lãnh đạo của
Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, chưa phát huy đầy đủ hiệu lực quản lý
của các cơ quan Nhà nước, tính tích cực của các đoàn thể và quyền làm chủ
của nhân dân; tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các nghị
quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước còn yếu [31, tr.137-139].
Từ việc đánh giá, nhìn nhận về những hạn chế trong công tác xây dựng
Đảng, Đảng tiếp tục khẳng định vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng
TCCSĐ, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX nhấn mạnh: Các đảng
bộ, chi bộ ở cơ sở đều nắm vững và thực hiện đúng chức năng là hạt nhân lãnh
đạo chính trị đối với chính quyền, đoàn thể, các tổ chức kinh tế, các đơn vị sự
nghiệp, các mặt công tác và các tầng lớp nhân dân ở cơ sở [32, tr.144].
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ
những nhiệm vụ của các cấp ủy đảng đối với việc củng cố, xây dựng TCCSĐ
đáp ứng yêu cầu mới:
Một là, cấp ủy cấp trên tập trung chỉ đạo củng cố các đảng bộ, chi bộ
yếu kém, kịp thời kiện toàn cấp ủy và tăng cường cán bộ ở những nơi có
nhiều khó khăn, nội bộ mất đoàn kết.
Hai là, nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ; phân công, hướng
dẫn, kiểm tra đảng viên chấp hành nhiệm vụ, phát huy vai trò tiên phong
gương mẫu trong công tác, học tập và lối sống.
Ba là, giữ mối liên hệ với quần chúng nơi công tác, với chi bộ và nhân dân
nơi cư trú; phát triển đảng viên theo đúng tiêu chuẩn quy định, chú ý những người
ưu tú trong công nhân, trí thức, lao động thuộc các thành phần kinh tế, đoàn viên
TNCS Hồ Chí Minh, những nơi còn ít hoặc chưa có đảng viên; đổi mới việc phân
tích, đánh giá chất lượng các TCCSĐ và đảng viên [32, tr.144-146].
Như vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng thể hiện sự
lãnh đạo của Trung ương Đảng về TCCSĐ không chỉ nhấn mạnh về chức năng
61
hạt nhân lãnh đạo chính trị đối hệ thống chính trị, tổ chức kinh tế mà còn chú
trong đến vai trò cấp ủy cấp trên lãnh đạo chỉ đạo xây dựng TCCSĐ, đặc biệt là
đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên.
Cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Ban Tổ chức
Trung ương ban hành Hướng dẫn số 09-HD/TCTW (30-10-2002), Hướng dẫn
đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và Hướng dẫn số 10- HD/TCTW,
hướng dẫn đánh giá chất lượng đảng viên.
Hướng dẫn số 09 nhấn mạnh mục đích, yêu cầu và nội dung đánh giá
chất lượng TCCSĐ là: đánh giá đúng năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của
TCCSĐ, thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ của mỗi đảng bộ, chi bộ; đánh
giá chất lượng TCCSĐ phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các loại hình
TCCSĐ, bảo đảm chặt chẽ, khách quan, toàn diện, công khai, dân chủ, phản
ánh đúng thực chất, sát hợp với tình hình. Nội dung đánh giá chất lượng
TCCSĐ gồm: Đánh giá việc lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị; lãnh đạo
tốt công tác chính trị tư tưởng; lãnh đạo xây dựng chính quyền, Mặt trận và các
đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh; thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng.
Trong Hướng dẫn số 10 Ban Tổ chức Trung ương xác định mục đích,
yêu cầu:
Thứ nhất, nhằm đánh giá đúng thực chất đảng viên và đội ngũ đảng
viên hàng năm, từ đó làm căn cứ để đề ra chủ trương và biện pháp thiết thực,
góp phần giáo dục, rèn luyện, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên phát huy
vai trò tiên phong gương mẫu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Thứ hai, kết quả đánh giá chất lượng đảng viên sẽ là cơ sở để xét khen
thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ đảng viên.
Thứ ba, việc đánh giá kết quả đảng viên phải bảo đảm chặt chẽ,
khách quan, dân chủ, công khai, sát hợp với điều kiện cụ thể ở từng địa
phương, đơn vị, gắn với thực hiện tốt tự phê bình và phê bình;.
Thứ tư, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đảng viên có ba loại: Đảng
viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; đảng viên đủ tư cách hoàn
thành nhiệm vụ; đảng viên vi phạm tư cách chưa hoàn thành nhiệm vụ.
62
Thứ năm, về tổ chức thực hiện, Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn cụ
thể trình tự các bước tiến hành đánh giá; những điểm cần lưu ý khi đánh giá chất
lượng đảng viên; việc bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao chất lượng đảng viên.
Ngày 25-11-2002, Ban Tổ chức Trung ương có Công văn số 2010-
CV/TCTW về quy định mẫu báo cáo đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng
(biểu số 7A-TCTW) và đảng viên (biểu số 7B-TCTW) kèm theo Hướng dẫn để
thay thế mẫu biểu số 7- TCTW (và hướng dẫn) nêu trong Hướng dẫn số 07-
HD/TCTW (14-4-2002) của Ban Tổ chức Trung ương về Thực hiện biểu mẫu
thống kê cơ bản trong hệ thống tổ chức đảng. Đây là cơ sở để các TCCSĐ thống
nhất trong tổng hợp báo cáo kết quả đánh giá TCCSĐ và đảng viên theo yêu cầu.
Nhằm tăng cường giáo dục về chính trị, tư tưởng cho cán bộ đảng viên và
nhân dân, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 23-CT/TW (27-3-2003) về đẩy mạnh
nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới.
Mục đích, yêu cầu làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức sâu sắc
nguồn gốc, nội dung, giá trị, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong đời
sống tinh thần, tư tưởng của xã hội; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, tự giác của
mỗi người, của các cấp, các ngành, các địa phương trong việc vận dụng sáng tạo
tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề thực tiễn xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, tạo ra phong trào rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng theo gương
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đẩy lùi sự suy thoái đạo đức, lối sống.
Nhằm thống nhất mục đích, yêu cầu và nội dung đánh giá chất lượng
TCCSĐ và đảng viên, ngày 2-9-2003, Ban Tổ chức Trung ương ban hành
02 bản Hướng dẫn số 18 và 20: Hướng dẫn số 18-HD/TCTW, Hướng dẫn
đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và Hướng dẫn số 20-HD/TCTW,
về đánh giá chất lượng đảng viên năm 2003.
Về đánh giá TCCSĐ, Ban Tổ chức Trung ương nhấn mạnh mục đích
yêu cầu việc đánh giá TCCSĐ với 5 nội dung:
Một là, đánh giá đúng chất lượng TCCSĐ là một khâu quan trọng của
công tác xây dựng đảng, làm căn cứ để đề ra chủ trương, biện pháp cụ thể,
63
thiết thực nhằm củng cố xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của TCCSĐ.
Hai là, việc đánh giá chất lượng TCCSĐ phải căn cứ vào chức năng,
nhiệm vụ của các loại hình TCCSĐ, đảm bảo chặt chẽ, khách quan, phản ánh
đúng thực chất và phù hợp với tình hình của cơ sở.
Ba là, nội dung đánh giá: lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa
phương, đơn vị, giữ vững an ninh, quốc phòng; lãnh đạo công tác chính trị, tư
tưởng; lãnh đạo xây dựng chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính
trị-xã hội vững mạnh; lãnh đạo và thực hiện công tác xây dựng TCCSĐ.
Bốn là, phương pháp đánh giá bằng phương pháp chấm điểm; Tổng
số điểm để đánh giá chất lượng TCCSĐ là 100 điểm (trong đó điểm tối đa
để đánh giá cho 4 nội dung là 80 điểm, còn 20 điểm để cộng thêm cho
những TCCSĐ có thành tích xuất sắc).
Năm là, xếp loại chất lượng TCCSĐ, có 3 loại: TCCSĐ trong sạch,
vững mạnh; TCCSĐ hoàn thành nhiệm vụ; TCCSĐ yếu kém.
Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn nội dung đánh giá chất lượng
đảng viên trên các mặt: Về tư tưởng chính trị; về phẩm chất đạo đức, lối sống;
về thực hiện nhiệm vụ được giao; về tổ chức kỷ luật. Về phương pháp đánh
giá được thực hiện như sau: Đảng viên tự đánh giá, đảng viên tự cho điểm. Về
xếp loại đảng viên có 3 loại: Đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ;
đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ; đảng viên vi phạm tư cách.
Như vậy, nội dung cơ bản của 2 bản Hướng dẫn số 18, 20 đã cụ thể hóa
mục đích, yêu cầu, nội dung, tiêu chí, phương pháp đánh giá, xếp loại TCCSĐ
và đảng viên trong tình hình mới.
Trước bối cảnh tình hình đô thị hóa ở các địa phương ngày càng mạnh
mẽ, các TCCSĐ phường, thị trấn ngày càng tăng trong các loại hình TCCSĐ.
Ngày 3-3-2004, BCH Trung ương Đảng ban hành 2 quy định: Quy định số
94-QĐ/TW, quy định chức năng nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ phường, thị
64
trấn và Quy định số 95-QĐ/TW, quy định chức năng nhiệm vụ của đảng bộ,
chi bộ cơ sở xã.
Quy định số 94 chỉ rõ: Chức năng của đảng bộ, chi bộ phường, thị trấn là
hạt nhân chính trị lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo thực hiện chức năng quản lý hành chính
nhà nước và quản lý đô thị trên địa bàn; xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững
mạnh, phường, thị trấn giàu đẹp, văn minh; không ngừng nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Nội dung Quy định số 95, BCH Trung ương Đảng chỉ rõ hơn về
TCCSĐ ở cấp cơ sở: Chức năng của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã là hạt nhân
chính trị lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước; lãnh đạo phát triển KT-XH, xây dựng hệ thống chính trị ở
xã vững mạnh, nông thôn giàu đẹp, văn minh; không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, động viên nhân dân làm tròn nghĩa
vụ đối với Nhà nước. Đồng thời, xác định rõ, đảng bộ, chi bộ cơ sở xã có 5
nhiệm vụ: lãnh đạo nhiệm vụ phát triển KT-XH, an ninh, quốc phòng; lãnh
đạo công tác tư tưởng; lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ; lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; xây dựng tổ chức Đảng.
Quy định số 94, 95 của BCH Trung ương Đảng yêu cầu, các TCCSĐ
ở xã, phường, thị trấn phải được tổ chức thống nhất, đồng bộ với đơn vị
hành chính và các tổ chức trong HTCT cùng cấp trên địa bàn. TCCSĐ lãnh
đạo tất cả các lĩnh vực công tác ở địa phương; lãnh đạo nhiệm vụ phát triển
KT-XH, trong đó đội ngũ cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể chuyên trách,
có vị trí là hạt nhân chính trị và vai trò lãnh đạo của TCCSĐ ở cơ sở.
Tình hình quốc tế và trong nước đã có những tác động thuận lợi và khó
khăn đối với sự phát triển mọi mặt của tỉnh Hưng Yên nói chung và công tác
xây dựng TCCSĐ tại tỉnh nói riêng. Bước sang những năm đầu thế kỷ XXI,
Hưng Yên là một trong số ít tỉnh ở đồng bằng sông Hồng có chính sách thu
hút vốn, khoa học công nghệ của nước ngoài một cách thông thoáng, hiệu
65
quả, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách tỉnh cũng như giải quyết việc
làm cho lao động địa phương và những vùng xung quanh. Thực tế, trên địa
bàn tỉnh Hưng Yên đã xuất hiện hàng loạt các khu công nghiệp, cụm công
nghiệp…tạo nên một điểm nhấn trong bức tranh kinh tế tổng hợp của Hưng
Yên cũng như là một điểm sáng về công nghiệp hóa của khu vực đồng bằng
sông Hồng, gắn kết với các khu vực kinh tế trọng điểm khác là thủ đô Hà Nội,
thành phố Hải Phòng…
Tuy vậy, để phát triển kinh tế, tỉnh Hưng Yên cũng phải đối mặt với rất
nhiều thách thức như: Sự non yếu của cán bộ trong công tác quản lý kinh tế,
nhất là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, chuyển dịch cơ cấu kinh tế quá nhanh
dẫn đến người dân lao động chưa thích ứng kịp thời, tình trạng ô nhiễm môi
trường, tệ nạn xã hội tăng nhanh; Đối với công tác xây dựng Đảng, nhất là xây
dựng TCCSĐ, chưa theo kịp sự biến động của tình hình mới. Trên thực tế,
công tác xây dựng TCCSĐ chưa được kiện toàn, phát triển. Tại các địa phương
có khu công nghiệp, cụm công nghiệp, hầu hết các doanh nghiệp công nghiệp,
nhất là các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là tình trạng không lập
tổ chức đảng, hoặc lập một cách hình thức, không tổ chức sinh hoạt, không kết
nạp đảng viên mới, không chịu sự quản lý của cấp ủy và chính quyền địa
phương…Chính điều này dẫn tới tình trạng khó khăn trong công tác xây dựng
TCCSĐ ở các địa phương, đặc biệt là công tác quản lý, phát triển đảng viên.
Nhiều TCCSĐ còn lúng túng, bị động, chưa nắm bắt chính xác tình
hình cụ thể, thiếu kiên quyết, sát sao trong việc chỉ đạo thực hiện các nhiệm
vụ chính trị ở địa phương, cơ sở, chưa làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền tới
cán bộ, đảng viên và nhân dân. Vì vậy, có nhiều TCCSĐ để xảy ra tình trạng nội
bộ mất đoàn kết, khiếu kiện kéo dài, nhất là các vấn đề liên quan đến đất đai, giải
phóng mặt bằng, an sinh xã hội…Nhiều TCCSĐ chậm đổi mới trong công tác
cán bộ, giáo dục lí luận chính trị, công tác phát triển đảng viên…
Để xây dựng tổ chức cơ sở đảng TSVM, chỉ đạo thực hiện thắng lợi các
nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đòi hỏi các tổ chức cơ sở đảng phải nắm bắt
66
thực tế tình hình cụ thể của tổ chức, địa phương, những mặt mạnh cần phát
huy, mặt hạn chế cần khắc phục và có sự thống nhất cao trong tư tưởng, hành
động của tập thể lãnh đạo cũng như toàn thể đảng viên. Trong đó, nhấn mạnh
việc nâng cao trình độ về mọi mặt cho đảng viên, khả năng phòng và xử lý
các tình huống phức tạp xảy…Chỉ có như vậy, công tác xây dựng TCCSĐ
mới thực sự có kết quả, góp phần vào thành quả chung của sự nghiệp đổi mới
toàn diện của tỉnh Hưng Yên và đất nước.
Đó là những yêu cầu đặt ra trong nhiệm kỳ mới đối với Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên, đòi hỏi toàn Đảng bộ phát huy sức mạnh đoàn kết, quyết tâm lãnh
đạo thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị địa phương, mà trọng tâm là
công tác xây dựng TCCSĐ.
3.1.2. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên tăng cường chỉ đạo xây dựng tổ chức
cơ sở đảng
Trước yêu cầu mới của công tác xây dựng Đảng và nhiệm vụ phát triển
KT-XH, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên tiến hành Đại hội lần thứ XV (2000), đề ra
phương hướng, nhiệm vụ 5 năm (2001-2005) trong chiến lược phát triển kinh
tế xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng bộ, phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh
CNH, HĐH. Trên cơ sở phân tích những điều kiện thuận lợi và khó khăn của
Hưng Yên, Đảng bộ tỉnh đã đề ra mục tiêu của nhiệm kỳ 2001-2005, nhằm cụ
thể hóa chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2001-2010, đó là:
Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy sức
mạnh tổng hợp, tranh thủ mọi thời cơ, khắc phục những yếu kém,
tiếp tục đổi mới và đẩy mạnh CNH, HĐH, tăng trưởng kinh tế
nhanh vững chắc đi đôi với nâng cao một bước đời sống nhân dân,
giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quốc
phòng, an ninh, tạo cơ sở vững chắc để tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát
triển nhanh hơn vào giai đoạn sau [18, tr.27].
67
Về công tác xây dựng Đảng, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
lần thứ XV chỉ rõ, nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định là phải tiếp tục
xây dựng Đảng bộ vững mạnh trên cả 3 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Phát huy bản chất giai cấp công nhân, tính tiên phong của Đảng, nâng cao trình
độ, kiến thức, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đội ngũ
đảng viên, khắc phục những mặt yếu kém, ngăn chặn đẩy lùi những mặt yếu
kém, ngăn chặn đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, tăng cường đoàn kết nhất trí.
Trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XV, công
tác xây dựng Đảng tập trung vào mấy vấn đề sau:
Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị và tư tưởng, bảo đảm sự thống
nhất ý chí và hành động của toàn Đảng bộ; nâng cao kiến thức, năng lực lãnh
đạo, rèn luyện đạo đức cách mạng, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức của cán bộ đảng viên, tạo sự thống nhất cao
trong Đảng về lý tưởng, mục tiêu, nền tảng tư tưởng của Đảng. Mỗi cán bộ,
đảng viên phải không ngừng học tập lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh. Tiếp tục đổi mới công tác tư tưởng nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả theo hướng chuyển mạnh về cơ sở, bám sát thực tiễn, tổng kết và
nhân rộng các điển hình tiên tiến, mở rộng dân chủ, tăng cường tiếp xúc đối
thoại với cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Tăng cường công tác xây dựng Đảng về tổ chức gắn liền với việc kiện
toàn tổ chức bộ máy của Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội. Giữ
vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây
dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2). Tiếp
tục đẩy mạnh phong trào xây dựng TCCSĐ trong sạch vững mạnh, tập trung
vào giải quyết những cơ sở yếu kém, phấn đấu hàng năm có trên 75% cơ sở
đảng đạt TSVM...Từng bước thực hiện chiến lược cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ gắn với nhu cầu sử dụng. Đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ; lấy
kết quả công việc làm thước đo chính, bố trí cán bộ phải dân chủ, khách quan
68
công tâm. Thực hiện nghiêm các quy định về đánh giá, bổ nhiệm, quản lý và
tiếp nhận cán bộ.
Tăng cường công tác kiểm tra của Đảng. Công tác kiểm tra phải chủ
động, thường xuyên, phải có chương trình, kế hoạch cụ thể. Coi trọng và tăng
cường kiểm tra việc ban hành, thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định để
không ngừng nâng cao hiệu lực chỉ đạo của các tổ chức Đảng; đi sâu kiểm tra
đảng viên và tổ chức cơ sở đảng có dấu hiệu vi phạm, kiểm tra việc xây dựng
và thực hiện quy chế làm việc, giữ gìn nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng…
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tăng cường mối quan hệ
giữa Đảng và nhân dân. Hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản
lý, nhân dân làm chủ”, để nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng, phát huy đầy
đủ hiệu lực quản lý, điều hành của các cơ quan Nhà nước, thực hiện đúng
nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Thực hiện đúng chế độ tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách trong các cấp uỷ và tổ chức Đảng từ tỉnh đến chi bộ. Đổi mới
quy trình xây dựng, quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết theo hướng thiết
thực, phân rõ trách nhiệm, quy định thời gian hoàn thành, định kỳ kiểm tra,
đánh giá, sơ kết, tổng kết. Giảm bớt hội nghị để cán bộ lãnh đạo dành thời gian
chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước.
Nâng cao trình độ tổ chức và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương
của Đảng và pháp luật của Nhà nước; Các cấp ủy và tổ chức Đảng lãnh đạo việc
khẩn trương cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, pháp luật
của Nhà nước phù hợp với từng ngành từng địa phương. Thực hiện nguyên tắc
mọi nhiệm vụ đều phải có địa chỉ, đều có người chịu trách nhiệm chính, gắn liền
đánh giá thực hiện kết quả nhiệm vụ với việc đánh giá bố trí, đề bạt, khen thưởng,
kỷ luật cán bộ. Khắc phục tình trạng chậm trễ, nửa vời… [15, tr.53-55].
Năm 2001, năm đầu tiên triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng
các cấp, Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng. Sau 4 năm tái lập
tỉnh Hưng Yên đã có nhiều khởi sắc, tuy nhiên, 4 nguy cơ mà Đại hội Đảng
69
toàn quốc chỉ ra vẫn là những thách thức to lớn; thách thức gay gắt nhất là
tình trạng tham nhũng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tụt hậu xa hơn về kinh tế. Đại
hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã xác định mục tiêu chung là: “Nâng cao năng
lực chiến đấu của Đảng bộ, phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng tỉnh Hưng Yên giàu mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh” [15, tr.20].
Đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giai đoạn cách mạng mới, tiếp tục thực
hiện cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung
ương 6 (lần 2), Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV
và Đại hội Đảng bộ các cấp, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị số 03-CT/TU (21-
6-2001) về việc đẩy mạnh phong trào thi đua và nâng cao chất lượng tổ chức
Đảng trong sạch vững mạnh trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, trong giai đoạn
mới, Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy đảng cần tập trung vào một số nội dung:
1- Tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng phong trào thi đua “xây dựng và nâng
cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh” rộng khắp trong cả
hệ thống chính trị, tạo khí thế thi đua sôi nổi phấn khởi trong toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân trong việc thực hiện các chỉ tiêu thi đua và nhiệm vụ chính trị
của từng địa phương đơn vị.
2- Tiêu chuẩn của tổ chức cơ sở đảng TSVM bao gồm 5 tiêu chuẩn cụ
thể sau:
- Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước; xây dựng và thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị hàng năm
(phát triển KT-XH, an ninh-quốc phòng, chuyên môn nghiệp vụ…). Làm tròn
nghĩa vụ với Nhà nước; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của nhân dân, công nhân viên chức và người lao động.
- Xây dựng tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức;
thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, thực hiện tự phê bình
và phê bình, tăng cường đoàn kết và giữ nghiêm kỷ luật trong Đảng. Đổi mới
70
và nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, làm tốt công tác phát triển đảng viên,
công tác cán bộ và phân công công tác cho đảng viên, công tác kiểm tra
Đảng; tổ chức cho quần chúng tham gia xây dựng Đảng.
- Thường xuyên giáo dục rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên; nâng
cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ nhận thức và năng
lực công tác cho cán bộ, đảng viên, nêu cao ý thức cảnh giác cách mạng,
chống âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch.
- Phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện tốt quy chế dân chủ
ở cơ sở, liên hệ mật thiết với nhân dân, khắc phục tệ nạn quan liêu, xa rời
quần chúng; giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân; ngăn
chặn và đẩy lùi tệ nạn xã hội, tham nhũng, buôn lậu và các hành vi tiêu cực
khác; xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.
- Lãnh đạo xây dựng chính quyền, cơ quan, đơn vị và các đoàn thể vững
mạnh, thực hiện tốt và có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, giải
quyết tốt việc làm cho người lao động và các chính sách xã hội [115].
Thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW (8-4-2002) của Ban Bí thư Trung ương
Đảng về việc nghiên cứu quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết Hội
nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và thực hiện Nghị
quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XV, Ban Thường vụ Tỉnh ủy
Hưng Yên ban hành Chương trình số 35-CTr/TU (27-6-2002) về đổi mới và
nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn (gọi chung
là cơ sở). Chương trình số 35 của Tỉnh ủy đã khái quát thực trạng về tổ chức,
hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở. Theo đó, cơ sở xã, phường, thị trấn là
nơi nhân dân cư trú, sinh sống gắn bó chặt chẽ trong các quan hệ kinh tế, dòng
tộc và văn hóa. Hệ thống chính trị cơ sở có vai trò rất quan trọng trong tổ chức
và vận động nhân dân thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, huy động mọi khả năng phát triển KT-XH, an ninh, quốc phòng.
71
Thông qua quá trình phân tích tình hình thực tế của tỉnh Hưng Yên,
Chương trình số 35 đưa ra những nội dung cơ bản:
Mục tiêu chủ yếu: Tiếp tục đẩy mạnh phong trào xây dựng TCCSĐ và
chính quyền TSVM. Phấn đấu hàng năm có trên 75% cơ sở đảng đạt TSVM,
chính quyền, đoàn thể vững mạnh, tập trung giải quyết đến 2005 không còn
cơ sở đảng, chính quyền, đoàn thể yếu kém; Tích cực trẻ hóa đội ngũ cán bộ
cơ sở. Phấn đấu đến năm 2005 có 100% cán bộ chính quyền cơ sở được bồi
dưỡng về quản lý hành chính nhà nước, 80% cán bộ chuyên môn có trình độ
trung cấp trở lên…
Tổ chức cơ sở đảng và đảng viên: Đảng bộ, chi bộ cơ sở là hạt nhân
lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở cơ sở, nắm vững nhiệm vụ phát triển
kinh tế làm trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt; Chăm lo xây dựng chính
quyền đoàn thể, đảm bảo phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống
chính trị hướng vào phục vụ nhân dân, đưa đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước đến mọi người dân và thực hiện tốt ở cơ sở; Phản ánh
và giải đáp mọi tâm tư nguyện vọng của nhân dân, khơi dậy trí tuệ và nguồn
lực của dân, không ngừng nâng cao trình độ dân sinh, dân trí, dân chủ ở cơ
sở; Mỗi đảng viên phải nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu vững vàng về
chính trị, có đạo đức trong sáng, có lối sống lành mạnh, sát dân, phấn đấu trở
thành người lao động giỏi, người công dân mẫu mực; Tăng cường công tác
phát triển đảng viên mới theo tiêu chuẩn và quy định Điều lệ Đảng; Đối với
những đảng viên không chịu khó làm việc, lười học tập, đã được tập thể giúp
đỡ mà không tiến bộ thì vận động họ ra khỏi Đảng; Từng đảng bộ, chi bộ cơ
sở phấn đấu không còn đảng viên yếu kém.
Về đổi mới phương thức lãnh đạo: Xây dựng quy chế làm việc giữa Bí
thư cấp ủy với Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc
và những người đứng đầu các đoàn thể nhân dân để bàn bạc, giải quyết kịp thời
những công việc quan trọng và bức xúc trên địa bàn, bảo đảm cho cấp ủy Đảng
quán xuyến được các mặt công tác cơ sở. Tăng cường điều tra việc chấp hành
72
Nghị quyết của cấp ủy, chi bộ…Hàng năm, Bí thư đảng ủy, Chủ tịch HĐND,
Chủ tịch UBND và trưởng thôn tự phê bình trước đại diện của nhân dân.
Về đào tạo bồi dưỡng cán bộ: Tích cực trẻ hóa và từng bước chuẩn hóa
đội ngũ cán bộ cơ sở. Thực hiện tốt quy định của tỉnh về chế độ đào tạo bồi
dưỡng cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn được cử đi học, phấn đấu đạt các chỉ
tiêu đào tạo bồi dưỡng cán bộ cơ sở theo Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần
thứ XV và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa IX. Đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy theo
hướng cơ bản, bồi dưỡng theo chức danh, đảm bảo tính thiết thực. Nâng cao
chất lượng đội ngũ giảng viên ở trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện thị,
Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh và các cơ sở đào tạo của tỉnh [117].
Ngày 3-11-2005, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 24-
NQ/TU về việc thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30-11-2004 của Bộ
Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Trên cơ sở phân tích kết quả công tác quy
hoạch cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khóa VIII), Nghị quyết khẳng định, công tác cán bộ đã đạt những kết
quả đáng kể: Đã xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp từ tỉnh
đến cơ sở đảm bảo dân chủ, khách quan, công khai, đúng tiêu chuẩn, một chức
danh đã quy hoạch nhiều người và một người quy hoạch vào nhiều chức danh;
hàng năm tiến hành đánh giá, rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch; xây dựng kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng luân chuyển cán bộ. Thực hiện bổ nhiệm, giới thiệu các
chức danh bầu cử để phấn đấu với cán bộ đã nằm trong diện quy hoạch.
Như vậy, sau 4 năm tái lập tỉnh, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã từng bước
ổn định về tổ chức, xác định rõ về nhiệm vụ chính trị, lãnh đạo đưa KT-XH
phát triển phù hợp với tiềm năng, lợi thế của địa phương. Đồng thời, Đảng bộ
tỉnh đã xác định rõ hơn về vai trò vị trí của TCCSĐ, quán triệt sâu sắc tinh
thần nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, đưa ra chương trình cụ thể để
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ trước yêu cầu
nhiệm vụ trong tình hình mới.
73
3.1.3. Quá trình triển khai xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng
bộ tỉnh Hưng Yên (2001-2005)
Về công tác tư tưởng chính trị
Sau 4 năm tái lập tỉnh, năm 2001, năm đầu tiên triển khai thực hiện
nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của
Đảng, tình hình mọi mặt của Hưng Yên có nhiều thay đổi tích cực. Trong
công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định là tập
trung xây dựng Đảng bộ vững mạnh trên các mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức,
đồng thời tăng cường kiểm tra giữ gìn kỷ luật và công tác vận động quần
chúng của Đảng. Bằng ý chí quyết tâm cao, Đảng bộ tỉnh đã hoàn thành khá
toàn diện nhiệm vụ xây dựng Đảng.
Công tác giáo dục tư tưởng chính trị của TCCSĐ tập trung vào quán
triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Đại hội Đảng bộ tỉnh
lần thứ XV. Việc quán triệt nghị quyết lần này có nhiều đổi mới, ngoài việc
tổ chức cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, huyện, thị xã và tương đương,
tỉnh còn mời các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí nguyên là lãnh
đạo tỉnh, lãnh đạo trong Quân đội tham dự lớp. Ở cơ sở, còn mời lãnh đạo
các đoàn thể chưa phải là đảng viên và quần chúng ưu tú tham gia; nội dung
học tập nghị quyết được bố trí theo chuyên đề phù hợp với đối tượng. Kết
thúc lớp học, mỗi học viên phải có bài thu hoạch cá nhân. Cùng với việc tổ
chức học tập Nghị quyết ở trong Đảng, các đoàn thể chính trị cũng phổ biến
nghị quyết trong đoàn viên, hội viên; các cơ quan thông tin đại chúng tuyên
truyền nghị quyết trong nhân dân.
Thực hiện Thông báo số 71-TB/TW của Thường vụ Bộ Chính trị (khóa
VIII) về công tác tuyên truyền miệng và Chỉ thị số 08-CT/TU của Ban Thường
vụ Tỉnh ủy về chương trình đưa thông tin xuống cơ sở, công tác tuyên truyền
tiếp tục được đổi mới trên các kênh thông tin, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên triển khai
kiện toàn, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác tuyên giáo, báo
74
cáo viên từ tỉnh đến cơ sở, phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên ở các cơ quan
thông tin đại chúng.
Các hoạt động văn hóa - nghệ thuật, báo chí và phát thanh truyền hình
đổi mới về hình thức, nội dung và đạt chất lượng tốt hơn. Các hoạt động
thông tin, tuyên truyền nội bộ và đại chúng được duy trì đều đặn, chất lượng
được nâng lên. Đội ngũ báo cáo viên các cấp hoạt động tích cực. Tài liệu
tuyên truyền, bản tin thông báo nội bộ, Báo Hưng Yên và Báo Hưng Yên điện
tử phát hành và đưa tin đều đặn, tăng thời lượng thông tin và số lượng phát
hành. Công tác giáo dục truyền thống được chú trọng. Kỷ niệm các ngày lễ
lớn được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, có tác dụng giáo dục tốt.
Việc biên soạn, xuất bản, phát hành lịch sử Đảng bộ địa phương, lịch sử
ngành, đoàn thể được các cấp ủy quan tâm. Đến năm 2005, đã xuất bản Lịch
sử Đảng bộ tập 2 (giai đoạn 1954-1975), 9/10 huyện, thị, 50/161 xã, phường thị
trấn xuất bản Lịch sử Đảng bộ (giai đoạn 1930-1954), một số địa phương xuất
bản đến năm 1975…
Thành lập Ban Chỉ đạo đấu tranh chống "Diễn biến hoà bình trên lĩnh
vực tư tưởng văn hoá"; đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước; xây dựng đạo đức lối sống lành mạnh, chống chủ nghĩa cá nhân, tư
tưởng cơ hội thực dụng, ngăn chặn đà suy thoái về đạo đức, lối sống.
Về xây dựng tổ chức
Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần
Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII. Công tác phê bình và tự phê bình,
việc quản lý, nhận xét, đánh giá, lấy ý kiến nhận xét của tổ chức đảng và góp ý
của nhân dân ở nơi cư trú đối với cán bộ, đảng viên được thực hiện thường xuyên,
nghiêm túc; tiếp nhận và giải quyết cơ bản các khiếu nại, tố cáo của nhân dân, xử
lý nghiêm cán bộ sai phạm, lòng tin của nhân dân với Đảng được củng cố.
75
Biểu đồ 3.1: Phân loại tổ chức cơ sở đảng của tỉnh Hưng Yên (2001-2005)
[Phụ lục 1].
Phong trào thi đua xây dựng tổ chức cơ sở đảng TSVM được duy trì.
Hàng năm có trên 80% cơ sở đạt TSVM, số TCCSĐ yếu kém giảm dần. Kết quả
phân tích chất lượng TCCSĐ trong 5 năm (2001-2005) cho thấy, năm 2001 toàn
tỉnh có 424/521 TCCSĐ đạt TSVM, chiếm 81.38%, trong đó có thành tích tiêu
biểu tỉnh biểu dương khen thưởng 65 TCCSĐ; huyện thị, Đảng bộ trực thuộc
khen thưởng 195 TCCSĐ; loại khá 87 TCCSĐ, chiếm 16,70%; loại kém 10
TCCSĐ, chiếm 1,92% [114, tr.4]. Đến năm 2005 toàn tỉnh có 445/529 TCCSĐ
đạt TSVM, chiếm 84,15%, có 3 TCCSĐ yếu kém chiếm 0,57%. Nhìn chung các
năm, số TCCSĐ trong sạch vững mạnh đều vượt chỉ tiêu đề ra, đạt trên 80%.
Tổng số TCCSĐ được đánh giá trong 5 năm là 2.615; trong đó được đánh giá là
TCCSĐ trong sạch vững mạnh có 2.519, chiếm 82,56%; số TCCSĐ xếp loại khá
hàng năm ở mức dưới 16%; TCCSĐ yếu kém là 23, chiếm 0,88% và có xu
hướng giảm, điều này cho thấy Đảng bộ tỉnh Hưng Yên chú trọng đến công tác
xây dựng TCCSĐ trong sạch vững mạnh [Phụ lục 1].
Cùng với chăm lo xây dựng TCCSĐ trong sạch vững mạnh, các cấp
chú trọng giải quyết cơ sở yếu kém và có vấn đề nổi cộm. Ngay từ đầu năm
2001, các cấp ủy đã xây dựng kế hoạch và thành lập tổ công tác do đồng chí ủy
viên Ban thường vụ làm tổ trưởng về cơ sở trực tiếp giải quyết. Chất lượng
76
phong trào thi đua xây dựng TCCSĐ trong sạch vững mạnh hàng năm có chuyển
biến tích cực, phù hợp với thực tế địa phương, được các cơ sở đảng đồng tình
cao. Số TCCSĐ có vấn đề nổi cộm đã được chỉ đạo giải quyết thường xuyên, có
chuyển biến tích cực, như các đảng bộ: Phan Đình Phùng (Mỹ Hào), Hồng Vân
(Ân Thi), Phan Sào Nam (Phù Cừ). Nhờ vậy, những TCCSĐ yếu kém hoặc phát
sinh vấn đề nổi cộm đều được tập trung giải quyết có kết quả, tỉ lệ TCCSĐ yếu
giảm mạnh. Năm 2002 còn 7 TCCSĐ giảm 3 TCCSĐ so với năm 2001, đặc biệt
năm 2004 còn 1 TCCSĐ yếu kém [117; 118; 120].
Công tác xây dựng TCCSĐ và phát triển đảng viên trong doanh nghiệp
ngoài nhà nước còn thấp, đặc biệt doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong các doanh nghiệp tư nhân và cổ phần có một vài đơn vị có tổ chức
đảng hoạt động lấy lệ, không phát huy được vai trò hạt nhân chính trị và sức
mạnh của tổ chức Đảng.
Về phát triển đảng viên
Nhận thức rõ về công phát triển đảng viên là một nội dung quan trọng
đối với các TCCSĐ, là yếu tố để nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của
Đảng, tạo tiền đề cho đội ngũ đảng viên rèn luyện phấn đấu, trưởng thành
đảm nhiệm xuất sắc các nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, các cấp ủy
đảng ở tỉnh Hưng Yên tăng cường chỉ đạo cơ sở đảng, chính quyền, đoàn thể
chăm lo bồi dưỡng tạo nguồn, giới thiệu đoàn viên, hội viên ưu tú cho Đảng.
Trong vòng 5 năm (2001-2005), tỉnh đã mở được 122 lớp bồi dưỡng
nhận thức về Đảng cho 10.896 quần chúng ưu tú, kết nạp được 7.684 đảng
viên mới, chiếm 70,52%. Công tác phát triển đảng viên được Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên quan tâm đúng mức thực hiện trong việc tạo nguồn phát triển
Đảng, mở lớp “Bồi dưỡng nhận thức về Đảng” trung bình mỗi năm trên 2000
quần chúng ưu tú. Số lượng đảng viên được kết nạp trung bình mỗi năm trên
1500 đảng viên. Tỷ lệ trên theo số dân là hợp lý, đảm bảo chất lượng đi đôi
với số lượng đảng viên. Qua học tập, quần chúng có nhận thức đúng đắn về
77
Đảng, tình nguyện phấn đấu theo lý tưởng của Đảng, trở thành đảng viên
cộng sản, đây là lực lượng bổ sung thường xuyên cho Đảng bộ [Phụ lục 3; 17]
Chất lượng, thành phần cơ cấu đảng viên mới kết nạp:
Về trình độ phổ thông: Tiểu học 02 đảng viên, chiếm 0,026%; THCS:
199 đảng viên, chiếm 2,6%; THPT: 7.463 đảng viên, chiếm 97,37%. Số đảng
viên có trình độ tiểu học ít, trong 5 năm chỉ có 2 đảng viên, trong 3 năm
(2003, 2004, 2005) không có đảng viên mới có trình độ tiểu học; đảng viên
mới có trình độ THCS ngày càng giảm và trong 5 năm (2001-2005) có 199
đảng viên; trình độ PTTH là phổ biến.
Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ: thạc sỹ, tiến sỹ: 69 đảng viên,
chiếm 0,9%; cao đẳng, đại học: 2654 đảng viên chiếm 34,6%; trung học
chuyên nghiệp: 2277 đảng viên, chiếm 29,7%; công nhân kỹ thuật: 1409 đảng
viên, chiếm 18,4%. Như vậy, đảng viên mới kết nạp có trình độ trình độ cao
đẳng, đại học chiếm tỷ lệ lớn; số đảng viên có trình độ tiến sỹ, thạc sỹ và số
đảng viên có trình độ công nhân kỹ thuật còn ít.
Về giới tính: Đảng viên là nữ được chú ý, tỷ lệ nữ hàng năm tương đối
cao, thấp nhất là năm 2005: có 489 đảng viên, chiếm 31,5%. Cao nhất là năm
2002: có 782 đảng viên, chiếm 50,8%. Trong 5 năm, kết nạp được 3.226 đảng
viên nữ, chiếm 42,09%. Nhìn chung, so với tỷ lệ đảng viên nam (4.438 đảng
viên, chiếm 57,01%) thì tỉ lệ đảng viên nữ thấp hơn.
Năm 2002, toàn tỉnh kết nạp được 1.539 đảng viên, trong đó số đảng
viên trẻ, đảng viên nữ và nông dân tăng: đảng viên trẻ là 1.045 bằng 67,9%,
đảng viên nữ là 782 bằng 50,81%, đảng viên nông dân là 543 bằng 35%.
Thực tế cho thấy: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã chú ý đến đối tượng phát
triển Đảng là nữ và nông dân. Đây là hai nguồn lực lượng quan trọng. Việc
chú ý kết nạp đảng viên nữ làm cho chủ trương bình đẳng giới được thực
hiện tạo điều kiện cho phụ nữ có cơ hội để phát huy tài năng, tham gia
công tác xã hội, góp phần không nhỏ trong công cuộc xây dựng quê hương.
78
Việc tăng cường phát triển đảng viên địa bàn nông thôn nhằm góp phần
tăng cường sức mạnh cho TCCSĐ nông thôn, góp phần lãnh đạo thực hiện
nhiệm vụ KT-XH ở nông thôn, vốn đặc thù Hưng Yên là tỉnh thuần nông.
Về độ tuổi: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên quan tâm phát triển Đảng trong đội
ngũ thanh niên, tạo điều kiện cho thanh niên được đóng góp sức trẻ của mình
vào sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước, thực hiện chủ trương trẻ hóa
đội ngũ, đảng viên trẻ thay thế đảng viên lớn tuổi, đồng thời củng cố niềm tin
của lớp trẻ vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Khảo sát đảng viên được kết nạp
trong 5 năm, từ năm 2001 đến năm 2005, cho thấy đảng viên độ tuổi dưới 30
là 5438 đảng viên, chiếm 70,96%.
Về thành phần công nhân và nông dân: Tỷ lệ đảng viên mới kết nạp là
công nhân còn thấp so với yêu cầu. Trong 5 năm, từ năm 2001 đến năm 2005,
mới kết nạp được là 491 đảng viên, chiếm tỷ lệ 6,41%. Trong khi đó tỷ lệ
đảng viên mới kết nạp là nông dân trong cùng thời gian này là 2.549 đảng
viên, chiếm 32,08%. Do đặc thù Hưng Yên là tỉnh thuần nông, nông dân
chiếm tỷ lệ lớn so với số dân, đồng thời cũng phản ánh sự khó khăn của công
tác phát triển đảng viên trong các thành phần kinh tế công nghiệp, đặc biệt là
trong các cơ sở kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Với các thành phần khác: Trong 5 năm, đã kết nạp được 8 đảng viên
trong các tổ chức tôn giáo, chiếm 0,01%. Mặc dù số lượng còn khiêm tốn,
nhưng điều đó cũng thể hiện sự quan tâm của Đảng bộ tỉnh, tạo điều kiện cho
những đảng viên theo các tôn giáo khác nhau được đóng góp sức mình vào sự
nghiệp xây dựng quê hương đất nước, “sống tốt đời, đẹp đạo” [Phụ lục 5].
Qua khảo sát thực tiễn về số lượng và chất lượng đảng viên toàn tỉnh,
tổng số đảng viên tăng từng năm, từ 48.453 đảng viên năm 2001 tăng lên
52.493 đảng viên năm 2005. Số đảng viên đủ tư cách phát huy tốt tác dụng
giảm dần và biến động không đều trong 5 năm: Năm 2001 số đảng viên đủ tư
cách phát huy tốt tác dụng là 35.561 đảng viên, chiếm 85,5%, đến năm 2005
79
có 31.053 đảng viên, chiếm 71,05%, đặc biệt năm 2003 giảm mạnh nhất chỉ
có 26.050 đảng viên đủ tư cách phát huy tốt tác dụng, chiếm 62,4%. Đảng
viên đủ tư cách tăng đều: Năm 2001 là 5.656 đảng viên, chiếm 13,6% tăng lên
12.625 đảng viên, chiếm 28,9% năm 2005, đột biến năm 2003 tăng 15.402
đảng viên, chiếm 36,95%. Số đảng viên vi phạm tư cách giảm dần từ: năm
2001 có 283 đảng viên, chiếm 0,68%, đến năm 2005 giảm còn có 52 đảng
viên chiếm 0,12% . Như vậy, số đảng viên vi phạm tư cách năm 2005 so với
năm 2001 giảm 231 đảng viên, nhưng năm 2002 số đảng viên vi phạm tư cách
386 đảng viên (chiếm 0,92%) [Phụ lục 2; 20].
Trong nhiệm kỳ 2001-2005, bình quân đảng viên thuộc loại hình tổ
chức đảng xã, phường, thị trấn tham gia đánh giá chất lượng hàng năm trung
bình chiếm 77,94% tổng số toàn tỉnh. Trong đó, đảng viên thuộc loại hình tổ
chức đảng cấp xã chiếm 66,8%, đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm
10,7%, đảng viên đủ tư cách hoành thành nhiệm vụ chiếm 2,17%, đảng viên
vi phạm tư cách chiếm 0,43%; đảng viên thuộc TCCSĐ phường, thị trấn tham
gia đánh giá chất lượng chiếm 9,1% toàn tỉnh trong đó có 1,63% đủ tư cách
hoàn thành tốt nhiệm vụ, 0,17% đảng viên đủ tư cách hoành thành nhiệm vụ
và 0,03% đảng viên vi phạm tư cách [17, tr.24].
Chất lượng đảng viên hàng năm tỷ lệ hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt trung
bình trên 70%, vi phạm tư cách giảm xuống dưới 1%, phát triển đảng viên
mới đảm bảo chất lượng, tỷ lệ đảng viên là nông dân, công nhân, trí thức,
đảng viên trẻ và nữ đều tăng.
Về công tác cán bộ
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên tiến hành tổng kết công tác tổ chức và cán bộ theo
cac nghị quyết của Trung ương, xây dựng Đề án quy hoạch cán bộ giai đoạn 2001
- 2005 và những năm tiếp theo; triển khai thực hiện Nghị quyết số 11 của Bộ
Chính trị về luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý; Đề án quy hoạch bổ sung Ủy
viên Ban Thường vụ và tương đương. Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo việc rà
80
soát chức năng, nhiệm vụ, xây dựng đề án kiện toàn bộ máy công chức bộ
máy, tinh giản biên chế theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7, khóa VIII.
Chỉ đạo tổng kết công tác tổ chức cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Trung
ương 3, khóa VII, Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 7,
khóa VIII, quy định chế độ phụ cấp cho cán bộ, công chức được cử đi học và
ưu đãi tài năng về Hưng Yên công tác.
Các cấp ủy coi trọng việc quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, đặc biệt là
cán bộ trẻ, cán bộ nữ, trên cơ sở đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng,
luân chuyển phù hợp với yêu cầu khả năng của cán bộ.
Công tác quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, kiện toàn tổ chức các cấp
đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, đúng quy định và hướng dẫn của cấp
trên, đáp ứng yêu cầu cán bộ lãnh đạo, quản lý cho hệ thống chính trị các cấp và
các ngành. Việc sắp xếp, bổ nhiệm cán bộ đảm bảo đúng quy trình. Trong nhiệm
kỳ, đã bổ nhiệm lại và bộ nhiệm mới 157 đồng chí thuộc diện Tỉnh ủy quản lý và
các sở ban ngành tương đương, trong đó 5 Tỉnh ủy viên, 89 đồng chí lãnh đạo sở
ban ngành tỉnh; Luân chuyển và quy hoạch 224 đồng chí [17, tr.22].
Công tác đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ
cho cán bộ, đảng viên được quan tâm và đạt kết quả tốt. 100% đại biểu Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và gần 100% đại biểu Hội đồng nhân dân
xã, phường, thị trấn tham dự lớp bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân.
Trong 5 năm toàn Đảng bộ mở được 723 lớp bồi dưỡng cho 73.033 cán bộ, đã
cử 266 cán bộ học đại học và cao cấp lý luận chính trị, mở 38 lớp cho 3.215
học viên trung cấp lý luận chính trị và nghiệp vụ công tác Đảng, chính quyền
đoàn thể cho 73.768 cán bộ cơ sở, đã bồi dưỡng nghiệp vụ cho 7.000 lượt cán
bộ tuyên truyền các cấp [17, tr.21].
Riêng năm 2002, có 5 huyện thị là Khoái Châu, Tiên Lữ, Văn Giang,
Phù Cừ và thị xã Hưng Yên, tổ chức thực hiện tố kế hoạch bồi dưỡng lý luận
chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ đảng viên. Trường Chính trị
81
Nguyễn Văn Linh duy trì đào tạo 14 lớp với 1.235 học viên thuộc các hệ trung
cấp và đại học chính trị, trung cấp hành chính và hành chính văn phòng, đại
học báo chí, đại học luật, đại học tài chính kế toán; mở 11 lớp bồi dưỡng cho
1.440 học viên về kiến thức quốc phòng, quản lý nhà nước [116, tr.2].
Qua khảo sát và báo cáo của các huyện, thị xã, đội ngũ cán bộ công
chức cấp huyện có trình độ đại học chuyên môn chiếm 49,12% (đại học
chính qui 25,92%); huyện có tỷ lệ cán bộ công chức có trình độ đại học cao
là huyện Văn Lâm 59,78%, huyện Văn Giang 54,63%, huyện có tỷ lệ thấp là
huyện Yên Mỹ 33,92%, thị xã Hưng Yên 41,05%. Đối với 5 chức danh chủ
chốt của xã, phường, thị trấn có từ 18% đến 19% đã qua đào tạo chuyên môn
từ trung cấp trở lên (trong đó đại học 1,5%), huyện có tỷ lệ cao là huyện Văn
Lâm trên 30%, trong khi đó có những huyện chỉ đạt tỷ lệ từ 7% đến 10%
như huyện Kim Động, Tiên Lữ... [117, tr.3].
Trong 5 năm, Tỉnh ủy cũng trao tặng 34 cờ và 562 bằng khen cho các
tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã
hội, nhất là trong công tác xây dựng Đảng. Ra quyết định cho 49 đồng chí
diện Tỉnh uỷ quản lý nghỉ công tác, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội.
Thường xuyên chú trọng và quan tâm đến chính sách cán bộ, nhất là
cán bộ lão thành cách mạng. Hàng năm, tỉnh đã tổ chức khoảng 300 lượt đồng
chí đi điều dưỡng trong và ngoài tỉnh. Trong đó năm 2003, tổ chức điều
dưỡng cho 400 lượt cán bộ, tặng quà thăm cán bộ lão thành cách mạng, đảng
viên nhiều tuổi Đảng trong dịp Tết Nguyên đán, tặng 878 huy hiệu 40, 50
năm tuổi Đảng.
Thực hiện đề án về đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ
thống chính trị ở cơ sở; thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ xã,
phường, thị trấn theo Nghị định số 121 của Chính phủ và chế độ phụ cấp của
tỉnh đối với cán bộ không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn, cán bộ thôn,
khu phố, HTCT ở cơ sở được củng cố, tăng cường, có tiến bộ trong lãnh đạo,
chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
82
Về công tác kiểm tra
Trong nhiệm kỳ (2001-2005), công tác kiểm tra đảng được cấp ủy tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo và chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch thực
hiện. UBKT các cấp được kiện toàn, ủy ban kiểm tra cơ sở được tăng cường và
quan tâm về chế độ chính sách, chất lượng hoạt động được nâng lên.
Trong 5 năm, các cấp ủy đã tiến kiểm tra 5.282 lượt TCCSĐ và 5.297
lượt đảng viên; UBKT các cấp kiểm tra 439 TCCSĐ và 1.979 đảng viên có
dấu hiệu vi phạm. Tiếp nhận và giải quyết 524 đơn tố cáo TCCSĐ và đảng
viên. Xử lý kỉ luật 19 TCCSĐ, 1.004 đảng viên vi phạm, trong đó có 379 cấp
ủy viên (10 cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý). Khai trừ ra khỏi Đảng 120
đảng viên, có 419 đảng viên bị xóa tên hoặc cho rút, tổng số đảng viên bị đưa
ra khỏi Đảng là 539, trong đó có 43 đảng viên bị xử lý bằng pháp luật. Công
tác kiểm tra, thi hành luật của Đảng đã góp phần tích cực giáo dục cán bộ,
đảng viên, ngăn ngừa vi phạm, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, giữ
vững sự trong sạch của Đảng, ổn định tình hình cơ sở, củng cố lòng tin của
quần chúng [17, tr.23].
Kết quả khảo sát thực tế cho thấy, nội dung vi phạm chủ yếu là: Chấp
hành không đúng điều lệ, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, ra quyết định và tổ chức
thực hiện quyết định trái thẩm quyền, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Số
lượng TCCSĐ vi phạm có sự biến động tăng lên, năm 2001 có 76 TCCSĐ vi
phạm đến năm 2005 có 93 TCCSĐ vi phạm, tăng 17 TCCSĐ. Số TCCSĐ phải
thi hành kỷ luật có biến động nhưng không đảng kể tăng giảm hàng năm chỉ 1
TCCSĐ. Cá biệt năm 2004 có tới 6 TCCSĐ bị kỷ luật gấp đôi các năm khác,
trong đó khiển trách 5 TCCSĐ, cảnh cáo 1 TCCSĐ thuộc Đảng bộ thị xã Hưng
Yên…Trong cả nhiệm kỳ, không có TCCSĐ nào phải giải tán [Phụ lục 7; 18].
Đối với công tác kiểm tra đảng viên, trong nhiệm kỳ, số đảng viên phải
thi hành kỷ luật là 1.002 đảng viên; số lượng đảng viên bị kỷ luật tuy biến
động không đồng đều nhưng theo chiều hướng giảm dần. Năm 2001, có 204
đảng viên bị kỷ luật, đến năm 2005 còn 151 đảng viên bị kỷ luật, giảm 53
83
đảng viên, trong đó số đảng viên bị khiển trách tăng lên giữa nhiệm kì nhưng
đến cuối lại giảm. Năm 2010 có 65 đảng viên bị khiển trách giảm 20 đảng
viên, số đảng viên bị cảnh cáo cũng giảm 20 đảng viên năm 2005 so với năm
2001, số đảng viên bị cách chức biến động cuối nhiệm kỳ so với đầu nhiệm
kỳ không nhiều, chỉ 1 đảng viên và số đảng viên bị khai trừ giảm dần từ 38
đảng viên năm 2001 xuống còn 24 đảng viên năm 2005 [Phụ lục 21].
Nổi bật trong nhiệm kỳ năm 2002 là năm có số lượng đảng viên phải kỉ
luật nhiều nhất với 266 đảng viên (tăng 30,4% so với năm 2001), trong đó có 82
cấp ủy viên các cấp bị thi hành kỷ luật, chiếm 30,8% tổng số đảng viên bị thi
hành kỷ luật. Các hình thức kỷ luật gồm: khiển trách 133 đảng viên, chiếm 50%,
cảnh cáo 98 đảng viên, chiếm 36,8%, cách chức 12 đảng viên, chiếm 4,5%, khai
trừ 23 đảng viên, chiếm 8,7%, có 9 đảng viên bị xử lý pháp luật. Năm 2000,
toàn tỉnh có 97 trường hợp đơn tố cáo đảng viên cần phải giải quyết nhưng
chỉ giải quyết được 87 trường hợp, trong đó đơn tố cáo nhiều nhất thuộc về
hai huyện Văn Giang 20 (giải quyết được 17), Kim Động 20 (giải quyết được
16). Nội dung vi phạm vi phạm luật đất đai, đạo đức lối sống. Cùng năm, có 4
đơn khiếu nại (giải quyết 3) trong đó có 1 đơn khiếu nại thuộc huyện Văn
Giang nhưng không đưa ra giải quyết [116, tr. 5].
Nguyên nhân chính là do vi phạm về nguyên tắc sinh hoạt Đảng và luật
quản lý đất đai.Việc thi hành kỷ luật ở một số nơi còn thiếu kịp thời, né tránh,
có vụ việc cấp trên yêu cầu xử lý dứt điểm nhưng còn kéo dài, có một số
TCCSĐ, đảng viên vi phạm bị kỷ luật nhưng không tiến hành kỷ luật, hoặc xử
lý nhẹ, dẫn đến quần chúng tiếp tục khiếu nại, tố cáo, làm cho sự việc trở lên
bức xúc khi đó mới xem xét, xử lý đúng mức.
Khảo sát về sự biến động số lượng, chất lượng đảng viên tỉnh Hưng
Yên trong 5 năm, từ năm 2001 đến năm 2005 về số đảng viên bị khai trừ và
đưa ra khỏi Đảng so với số đảng viên được kết nạp mới: số đảng viên được
kết nạp mới là 7.664 đảng viên, trong khi đó, số đảng viên bị khai trừ và đưa
84
ra khỏi Đảng là 426 đảng viên, chiếm 5,56%. Tỷ lệ trên cho thấy, số đảng
viên vi phạm kỷ luật bị khai trừ ra khỏi Đảng và số đảng viên được đưa ra
khỏi Đảng với những lý do khác còn lớn. Thực tế trên càng khẳng định công
tác phát triển đảng viên có tầm quan trọng to lớn trong việc thường xuyên
phải tăng cường về số lượng đi đôi với nâng cao chất lượng, nhằm đảm bảo
vai trò lãnh đạo của Đảng bộ đối với sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh.
3.2. CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN (2006 - 2010)
3.2.1. Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở tỉnh Hưng Yên trước
bối cảnh mới (2006 - 2010)
Những năm đầu thế kỷ XXI là thời điểm kinh tế thế giới và khu vực
tiếp tục phục hồi và phát triển nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc, khó
lường. Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng
nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia,
nhất là các nước đang phát triển. Cạnh tranh kinh tế - thương mại, giành giật
các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, nguồn vốn, công nghệ... giữa
các nước ngày càng gay gắt. Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt
và những đột phá lớn. Sự hình thành các liên kết khu vực, ký kết các hiệp ước
hợp tác kinh tế song phương, đa phương tăng lên, nhưng đồng thời cũng diễn
ra xu hướng bảo hộ mậu dịch của nhiều nước. Quan hệ giữa các nước lớn vẫn
vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt và kiềm chế lẫn nhau.
Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy
đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố, những
tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên nhiên tiếp
tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp. Sự suy yếu của Mỹ
và sự trỗi dậy của một số nước (Trung Quốc, Nga, Ấn Độ…) làm cho xu thế
hình thành thế giới đa cực ngày càng rõ hơn.
Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói
riêng, xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển tiếp tục gia tăng, nhưng luôn tiềm ẩn
85
những nhân tố gây mất ổn định như: tranh chấp về ảnh hưởng và quyền lực, về
biên giới, lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên giữa các nước; những bất ổn về kinh tế,
chính trị, xã hội ở một số nước...Thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng năng lượng,
ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu trở thành những vấn đề nghiêm trọng trên
quy mô toàn cầu. Yêu cầu tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, phát triển bền
vững được đặt ra với mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Sau 20 năm, công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn, có
ý nghĩa lịch sử và có thêm nhiều bài học kinh nghiệm, góp phần tiếp tục đẩy
mạnh sự nghiệp đổi mới trên mọi lĩnh vực. Tình hình chính trị - xã hội ổn
định, an ninh quốc phòng được giữ vững; văn hóa, giáo dục, y tế được quan
tâm phát triển; giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách
đối với người có công và các chính sách an sinh xã hội có nhiều cố gắng, đạt
kết quả tốt,…góp phần nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; quan hệ đối
ngoại được mở rộng, chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, động viên
các nguồn lực trong nước và thu hút các nguồn lực đầu tư nước ngoài, tạo thêm
nhiều thuận lợi cho nước ta đổi mới, phát triển KT-XH với tốc độ nhanh hơn,
đồng thời nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đứng trước nhiều nhiều nguy cơ, thách thức
lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi
thường bất cứ thách thức nào. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều
nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại. Quy mô nền kinh tế còn nhỏ
bé, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp. Một số chỉ tiêu
kinh tế vĩ mô đặt ra chưa đạt, lạm phát tăng cao, nhập siêu lớn, cán cân thanh
toán căng thẳng,…dịch bệnh liên tiếp xảy ra. Ở một số địa phương, đình công
của công nhân ở các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp tư nhân, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khiếu kiện của nông dân về đất đai tăng.
Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận
cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa được ngăn
86
chặn đẩy lùi. Các thế lực thù địch tiếp tục can thiệp vào công việc nội bộ của
Việt Nam dưới các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”,
kích động bạo loạn, lật đổ, đẩy mạnh hoạt động “diễn biến hòa bình…
Từ bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều thuận lợi và khó khăn đan
xen, tác động trực tiếp đến sự phát triển của tỉnh Hưng Yên.
Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế của tỉnh Hưng Yên có
những chuyển biến quan trọng. Kinh tế tăng trưởng nhanh, toàn diện và vững
chắc, GDP đạt tăng trung bình hàng năm trên 12%. Cơ cấu chuyển dịch
nhanh: nông nghiệp 30,5%, công nghiệp xây dựng 38%, dịch vụ 31,5%, thu
nhập bình quân đầu người đạt 550 USD. Nông nghiệp và kinh tế nông thôn
phát triển toàn diện theo hướng thâm canh, sản xuất hàng hóa theo nhu cầu thị
trường. Cơ cấu chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng cây lương thực, tăng
nhanh giá trị cây công nghiệp, rau quả và chăn nuôi. Đến năm 2005, tỉ lệ cây
lương thực đạt 31,3%, cây công nghiệp rau quả 29,2%,chăn nuôi 39,5%, giữ
ổn định lương thực bình quân 480 kg/người/ năm. Giá trị kinh tế trên 1ha canh
tác từ 32 triệu đồng năm 2000 tăng lên 39 triệu đồng năm 2005. Mô hình trang
trại phát triển mạnh, đến năm 2005 có 3.000 trang trại, cơ nhiều mô hình sản
xuất thu nhập 100 triệu đồng/ ha và 100 triệu đồng/hộ/năm [17, tr.5].
Sản xuất công nghiệp tăng trưởng nhanh, giá trị tăng bình quân 26,7%/
năm, hình thành một số ngành sản xuất chủ lực: điện tử, dệt may, cơ khí. Xây
dựng và quy hoạch các khu công nghiệp phía Bắc và Nam của tỉnh; khu công
nghiệp làng nghề thu hút lớn nhân công. Toàn tỉnh đã tiếp nhận 354 dự án đầu
tư trong nước, 56 dự án đầu tư nước ngoài, trong đó 160 dự án đi vào hoạt
động, đóng góp 70% số thu ngân sách hàng năm trên địa bàn, tạo việc làm
thường xuyên cho trên 4 vạn lao động.
Thương mại dịch vụ tăng, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 15%
năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ và tiêu dùng xã hội tăng bình quân
20,5% năm. Tài chính ngân hàng vượt kế hoạch được giao, năm sau cao hơn
năm trước, năm 2005 đạt 1.250 tỷ đồng, tỉ lệ huy động GDP vào ngân sách
87
năm 2005, đạt 15,3%. Chi ngân sách bình quân 775 tỷ đồng/năm, trong đó
cho giáo dục, y tế năm 2005 gấp 2 lần so với năm 2000. Xuất khẩu tiếp tục
tăng cao, bình quân 41,9%/năm, năm 2005 kim ngạch xuất khẩu đạt 230 triệu
USD (mục tiêu Đại hội 90 triệu USD). Phát huy nội lực; kết cấu hạ tầng được
đầu tư; tài chính, ngân hàng vượt kế hoạch được giao…[17, tr.7-8].
Sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo tiếp tục phát triển từng bước chuẩn hóa,
hiện đại hóa và xã hội hóa. Chất lượng giáo dục nâng lên, tỉ lệ huy động trẻ
em 6 tuổi đi học lớp 1 đạt 100%, hàng năm tỉ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp
đạt 95%; tỉ lệ thi đỗ đại học, cao đẳng tăng; năm 2001 hoàn thành phổ cập
trung học cơ sở. Toàn tỉnh có 82 trường đạt chuẩn quốc gia (tăng 68 trường so
với năm 2000), thành lập 9 trường trung học phổ thông và một số trường
trung học chuyên nghiệp. Công tác dạy nghề mở rộng theo hướng xã hội hóa,
5 năm từ 2001 đến 2005 đã dạy nghề cho 272.000 người, tỉ lệ lao động đã qua
đào tạo đạt 33%.…[17, tr.11-12].
Sự nghiệp khoa học - công nghệ, môi trường, hoạt động nghiên cứu,
chuyển giao ứng dụng khoa học - công nghệ thu được một số kết quả. Việc vệ
sinh môi trường được các cấp các ngành chú ý hơn, nhất là các khu công
nghiệp đô thị.
Sự nghiệp y tế, dân số gia đình và trẻ em được chú ý. Thực hiện chính
sách xã hội, cải thiện đời sống nhân dân lên một bước, giảm hộ nghèo. Tạo
việc làm thường xuyên cho người lao động. Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
tay nghề và y đức của đội ngũ thầy thuốc được quan tâm. Khám chữa bệnh
cho người có bảo hiểm y tế được đảm bảo, 100% trạm xá xã có bác sỹ, 40%
số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.
Quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường, giữ gìn trật tự trị an
nông thôn, đô thị, kiềm chế tai nạn, tệ nạn xã hội, bảo đảm an ninh chính trị,
kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng duy trì phát triển bảo vệ an ninh Tổ quốc,
sẵn sàng chiến đấu cao. Xây dựng chính quyền phát huy vai trò của Mặt trận
88
Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện
tốt đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Bên cạnh những thuận lợi, Hưng Yên còn gặp nhiều khó khăn do tốc độ
tăng trưởng nhanh, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế, chưa đồng
bộ trên các lĩnh vực; giá thành và chi phí trung gian cao, xây dựng và bổ sung
quy hoạch chưa kịp thời, thiếu chặt chẽ trong quản lý khu công nghiệp và quy
hoạch nông thôn mới…
Đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng với yêu cầu, chất lượng làng, gia
đình văn hóa nhiều nơi còn giảm sút. Nhận thức của một số cán bộ đảng viên
về quốc phòng an ninh chưa đầy đủ, giải quyết thắc mắc khiếu nại của nhân
dân còn chậm, né tránh, dẫn đến kiện vượt cấp. Hoạt động của bộ máy chính
quyền chưa đồng bộ, kém hiệu lực, nhất là cơ sở; cải cách hành chính còn
chậm, ít kiểm tra giám sát, lúng túng, hình thức trong xây dựng các tổ chức
đoàn thể trong các doanh nghiệp.
Công tác phát triển Đảng chỉ tập trung vào đối tượng là giáo viên, lực
lượng vũ trang, công chức nhà nước. Tuổi đảng trung bình cao, ở các TCCSĐ
nông thôn phần lớn là đảng viên hưu trí, cựu chiến binh, nguồn đảng viên là
đoàn viên, thanh niên số lượng rất hạn chế và không kết nạp được.
Tại một số địa phương trong tỉnh còn gặp nhiều khó khăn trong công tác
phát triển đảng viên mới, cụ thể xã Nghĩa Hiệp, huyện Văn Giang:
Từ năm 2005 đến này thanh niên nông thôn học hết lớp 12 không đi
học đại học thì cũng đi làm công ty, số thanh niên ở lại địa phương
cũng có nhiều vấn đề về tư tưởng, lối sống, phụ nữ lập gia đình rồi
cũng thôi không sinh hoạt đoàn thể, không thích vào Đảng, thanh niên
làm kinh tế giỏi cũng không muốn vào Đảng. Phát triển đảng viên chủ
yếu là các cơ quan, đơn vị bộ đội, công an, còn ở xã thì nguồn phát
triển đảng viên chủ yếu là nữ từ cán bộ giáo viên mấy trường mần non
và cấp 1 trong xã, cán bộ nữ làm công tác phụ nữ. Cấp ủy cũng thiếu
89
cán bộ vì đảng viên không muốn làm, không đưa được cán bộ nữ vào
chi ủy…[Phụ lục 13].
Công cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng có mặt còn hạn chế;
giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống ở một số TCCSĐ còn chưa được
quan tâm đúng mực, nội bộ mất đoàn kết, vai trò lãnh đạo còn hạn chế. Tự
phê bình và phê bình có nơi làm chưa nghiêm túc, ít tác dụng. Một số cán bộ
đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu, suy thoái đạo đức, phai nhạt lý tưởng,
tham nhũng, tiêu cực. Không ít cơ sở đảng còn né tránh, đùn đẩy, chưa tập
trung lãnh đạo giải quyết các vấn đề nảy sinh phức tạp tại cơ sở. Xây dựng
TCCSĐ và phát triển đảng viên ở các doanh nghiệp ngoài Nhà nước, ở địa
bàn nông thôn kết quả thấp. Đó là những thách thức lớn đối với Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên khi bước vào thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và
tích cực hội nhập quốc tế.
3.2.2. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên quán triệt chủ trương của Trung
ương Đảng về xây dựng tổ chức cơ sở đảng (2006-2010)
Bước sang nhiệm kỳ khóa X Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra mục tiêu
tổng quát của 5 năm 2006-2010 là: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công
cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho CNH, HĐH đất
nước, phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tăng cường
quốc phòng an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta ra
khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Để hiện thực hóa mục tiêu tổng quát trên, Nghị quyết Đại hội X của
Đảng chỉ rõ nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng là:
Phát huy truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân và
tính tiên phong của Đảng, xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch
vững mạnh cả về chính trị tư tưởng và tổ chức, đoàn kết nhất trí cao,
90
gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương châm lãnh đạo khoa học, có
đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực. Đây là nhiệm vụ
then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng
của nhân dân ta [34, tr.130].
Trong đó, trước hết chú trọng đến chất lượng đội ngũ đảng viên và chất
lượng TCCSĐ, Nghị quyết Đại hội X của Đảng nhấn mạnh:
Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên gắn liền với việc nâng cao
chất lượng TCCSĐ. Đẩy mạnh và đảm bảo công tác phát triển Đảng
viên. Chú trọng trẻ hóa và nâng cao trình độ đảng viên; lấy đạo đức
làm gốc, đồng thời bồi dưỡng về kiến thức, trí tuệ, năng lực để làm
tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đi tiên phong trên các lĩnh vực
công tác được giao [34, tr.133].
Như vậy, đến Đại hội X Đảng đã nhận thức toàn diện hơn về xây dựng
Đảng thực sự TSVM cả về tư tưởng chính trị và tổ chức, trong đó coi trọng vai
trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ
đảng viên gắn liền với việc nâng cao chất lượng TCCSĐ, đặc biệt chú trọng “lấy
đạo đức làm gốc” trong xây dựng Đảng. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên tăng cường xây dựng phát triển TCCSĐ toàn diện nhằm đáp ứng
yêu cầu của thực tế của tỉnh.
Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ngày
2-2-2008, ban hành Nghị quyết về Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đã cụ thể
hóa việc chỉ đạo công tác phát triển đảng viên và TCCSĐ, đưa ra mục tiêu
giải pháp thực hiện cho các cấp ủy, tổ chức đảng, đã nhấn mạnh:
Thứ nhất, tập trung sức để xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo được sự chuyển biến rõ rệt về
chất lượng hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức
đảng ở cơ sở vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là cầu nối
91
giữa Ðảng với nhân dân, lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và kịp thời
giải quyết những vấn đề xảy ra ở cơ sở.
Thứ hai, kiện toàn, sắp xếp tổ chức của hệ thống chính trị đồng bộ,
thống nhất, bảo đảm sự lãnh đạo của Ðảng ở cơ sở. Tập trung củng cố, xây
dựng tổ chức đảng và kết nạp đảng viên ở những nơi chưa có tổ chức cơ sở
đảng, có ít hoặc chưa có đảng viên. Bảo đảm các loại hình tổ chức cơ sở đảng
đều có quy định về chức năng, nhiệm vụ và quy chế làm việc phù hợp.
Thứ ba, chăm lo xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, trước hết là bí thư cấp
ủy và cán bộ, đảng viên thật sự tiền phong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức
cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Kiên quyết thay thế những cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không
hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời đưa ra khỏi Ðảng những người không đủ tư
cách đảng viên [36, tr.53-54].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa X xác định những định hướng lớn về xây dựng TCCSĐ trong điều kiện
lịch sử mới. Tập trung sức để xây dựng TCCSĐ vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức, xây dựng TCCSĐ và kết nạp đảng viên ở những nơi chưa
có tổ chức Đảng, xây dựng đội ngũ bí thư, cấp ủy, đảng viên gương mẫu, có
phẩm chất đạo đức cách mạng. Đó là cơ sở để Đảng bộ tỉnh Hưng Yên vận
dụng vào thực tế địa phương.
Quán triệt quan điểm của Trung ương Đảng về đẩy mạnh xây dựng
TCCSĐ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đổi mới toàn diện, Đại hội đại biểu Đảng
bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVI (2005) xác định: Xây dựng TCCSĐ thực sự
TSVM, giải quyết kịp thời cơ sở yếu kém, giữ đúng vai trò hạt nhân chính trị
ở cơ sở, huy động và quy tụ được sức mạnh của địa phương, đơn vị, giải
quyết các vấn đề nảy sinh tại cơ sở, thực hiện tốt nhất nhiệm vụ chính trị được
giao [17, tr.55-56].
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên xác định mục tiêu tổng
quát trong 5 năm 2006-2010:
92
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, năng lực
quản lý, hiệu lực điều hành của chính quyền các cấp. Tăng cường vai
trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, phát huy sức mạnh đại đoàn
kết toàn dân. Tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ và đồng bộ, khai
thác tốt lợi thế, huy động mọi nguồn lực, chủ động hội nhập, đẩy
mạnh CNH, HĐH, đạt mức tăng trưởng kinh tế bền vững. Phát triển
văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, giữ vững quốc phòng an
ninh, nâng cao đời sống nhân dân,... phấn đấu đến năm 2020 Hưng
Yên trở thành tỉnh khá trong cả nước, tạo cơ sở để trở thành tỉnh công
nghiệp phát triển theo hướng hiện đại trước năm 2020 [17, tr.30].
Trong đó, Nghị quyết nhấn mạnh: đẩy mạnh phong trào thi đua xây
dựng cơ sở Đảng TSVM, nâng cao chất lượng đảng viên trên các nội dung cụ
thể sau:
Một là, xây dựng TCCSĐ thực sự trong sạch vững mạnh, giải quyết kịp
thời cơ sở yếu kém, giữ đúng vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở, huy động và
quy tụ được sức mạnh của địa phương, đơn vị, giải quyết các vấn đề nảy sinh
tại cơ sở, thực hiện tốt nhất nhiệm vụ chính trị được giao.
Hai là, các cấp uỷ thường xuyên quan tâm đến TCCSĐ, động viên
khen thưởng những nơi có thành tích, hướng dẫn giúp đỡ những nơi khó
khăn, phát hiện sớm và xử lý kịp thời những sai phạm, mất đoàn kết, phong
trào yếu kém. Chú trọng thành lập TCCSĐ và phát triển đảng viên ở doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.
Ba là, các cơ sở đảng phải nghiêm túc chấp hành điều lệ, nghị quyết,
chỉ thị, các quy định của Đảng và Pháp luật của Nhà nước. Đổi mới nâng cao
chất lượng sinh hoạt đảng uỷ, chi uỷ, chi bộ, phân công đảng viên đúng người,
đúng việc, tăng cường quản lý và đánh giá đúng chất lượng đảng viên. Đổi mới
công tác đánh giá TCCSĐ theo hướng coi trọng chất lượng, lấy hiệu quả lãnh
đạo thực hiện nhiệm vụ là thước đo chủ yếu. Chú trọng xây dựng đội ngũ đảng
viên, nhất là đảng viên ở nông thôn, ở doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp
93
có vốn đầu tư nước ngoài, giữ vững lập trường của giai cấp công nhân, tích cực
phấn đấu vì lý tưởng của Đảng, có kiến thức và năng lực để làm tròn nhiệm vụ.
Làm tốt công tác bồi dưỡng phát triển đảng viên, trước hết là đoàn viên thanh
niên, quần chúng ưu tú trong công nhân, nông dân, trí thức, phấn đấu mỗi năm
kết nạp mới từ 1.500 đảng viên đến 1.600 đảng viên. Mặt khác, thường xuyên
xem xét và kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người thoái hóa, biến chất, không
đủ tiêu chuẩn đảng viên bằng các hình thức phù hợp [17, tr.55-56].
Ngày 26 tháng 7 năm 2006, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên ban hành
Quyết định số 68/2006/QĐ - UBND Về việc quy tiêu chuẩn cơ quan, đơn vị
trong sạch vững mạnh và quy trình xét duyệt công nhận. Quyết định nêu rõ
mục đích việc quy tiêu chuẩn đơn vị TSVM nhằm giữ vững an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội, tăng cường pháp chế XHCN; thực hiện tốt quy chế dân
chủ trong hoạt động của các cơ quan và cơ sở, tập trung chỉ đạo phát triển
kinh tế, văn hóa xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa ở địa phương. Quyết định
nêu rõ các đối tượng được xét duyệt công nhận và những tiêu chí để tính điểm
đơn vị đạt TSVM.
Nhằm đẩy mạnh công tác xây dựng TCCSĐ, nhất là khắc phục các
TCCSĐ yếu kém, Tỉnh ủy Hưng Yên ban hành Chương trình số 07-CTr/TU
ngày 20-4-2007 Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, giải
quyết cơ sở đảng yếu kém nâng cao chất lượng đảng viên giai đoạn 2006-
2010. Mục tiêu chung là: Nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của
TCCSĐ nhằm giữ vững, nâng cao vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị của
Đảng cơ sở, xây dựng TCCSĐ thực sự TSVM về chính trị, tư tưởng, tổ
chức, xây dựng hệ thống chính trị TCCSĐ vững mạnh; đảm bảo lãnh đạo
thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị và những vấn đề nảy sinh của địa
phương, cơ quan, đơn vị; giải quyết cơ bản không còn TCCSĐ yếu kém.
94
Gắn xây dựng TCCSĐ trong sạch vững mạnh và giải quyết TCCSĐ yếu
kém với xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, đảng viên ở cơ sở có bản lĩnh chính
trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức lối sống trong sạch, lành mạnh, có ý
thức tổ chức, kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm cao, năng động, sáng tạo,
gương mẫu trong công tác, lao động, học tập và lối sống; có năng lực vận
động và lãnh đạo quần chúng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của đảng bộ,
chi bộ cơ sở đảng. Chương trình đã đưa ra tiêu chuẩn TCCSĐ trong sạch
vững mạnh trong giai đoạn hiện nay, biện pháp nâng cao chất lượng đảng
viên, thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên và đề ra nhiệm vụ và giải
pháp đối với TCCSĐ yếu kém.
Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa X) về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, Tỉnh uỷ
Hưng Yên xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X (số 14-Ctr/TU
ngày 27-4-2008). Chương trình đề ra mục tiêu phấn đấu: Có trên 95%
TCCSĐ hoàn thành vượt mức các mục tiêu KT-XH, an ninh quốc phòng và
thực hiện nhiệm vụ chính trị do Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XVI
(2005) đề ra. Hàng năm, có trên 85% TCCSĐ đạt trong sạch vững mạnh,
cơ bản không có TCCSĐ yếu kém; trên 95% đảng viên đủ tư cách hoàn
thành nhiệm vụ, trong đó, trên 70% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt
nhiệm vụ; tỷ lệ đảng viên hoàn thành nhiệm vụ còn hạn chế từng mặt, đảng
viên vi phạm tư cách giảm hàng năm; hàng năm, kết nạp trên 1.500 đảng
viên, đảm bảo chất lượng từ nhiều nguồn, trong đó chú trọng công tác bồi
dưỡng phát triển Đảng trong công nhân; nâng cao chất lượng đổi mới mạnh
mẽ nội dung, phương thức hoạt động của các loại hình TCCSĐ. Thường
xuyên tiến hành phê bình và tự phê bình, thực hiện sinh hoạt Đảng nhất là
trong quá trình thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh”; kịp thời phát hiện, nêu gương những đảng viên
95
gương mẫu có thành tích xuất sắc và giáo dục giúp đỡ những đảng viên có
sai phạm. Thi hành kỷ luật nghiêm minh đối với đảng viên vi phạm điều lệ
Đảng; định kỳ 6 tháng một lần, cấp uỷ cấp trên trực tiếp của TCCSĐ kiểm
tra việc thực hiện nề nếp, nội dung chất lượng sinh hoạt của các chi bộ và
thông báo kết quả điều tra trong toàn Đảng bộ, phấn đấu đến năm 2010 có
100% cơ sở đảng TSVM.
3.2.3. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên triển khai thực hiện xây dựng tổ
chức cơ sở đảng từ năm 2006 đến năm 2010
Về công tác tư tưởng chính trị
Cấp uỷ các cấp tập trung chỉ đạo nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền và
tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng,
Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nghiên cứu, học tập các chuyên đề
về tư tưởng Hồ Chí Minh, tổ chức hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm
cơ bản đáp ứng yêu cầu, kế hoạch của Tỉnh ủy.
Chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh”, vận dụng đa dạng các hình thức tuyên truyền
sâu rộng và sinh động nội dung cơ bản và giá trị to lớn tư tưởng và tấm gương
đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo sự chuyển biến quan trọng trong toàn
Đảng, toàn dân về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức
của Người. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” được gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí, tham những, quan liêu ở các địa phương, đơn vị; gắn với xây
dựng và nâng cao chất lượng TCCSĐ, phát triển đảng viên. Từ tỉnh tới cơ sở
đã tiến hành sơ kết 3 năm thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh”, 40 năm thực hiện Di chúc của Người; triển
khai thực hiện cuộc vận động năm 2010 theo chủ đề: xây dựng Đảng thật sự
TSVM, “Đảng là đạo đức, là văn minh”.
96
Công tác đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị, nghiệp vụ chuyên môn
cho cán bộ, đảng viên được hết sức quan tâm. Từ năm 2006 đến năm 2010,
Đảng bộ tỉnh đã cử 300 cán bộ các cấp học cử nhân và cao cấp lý luận chính
trị; mở 35 lớp với 3575 học viên học trung cấp lý luận chính trị; bồi dưỡng lý
luận chính trị và nghiệp vụ công tác đảng, chính quyền đoàn thể cho 90.000
lượt người. Mặt khác, Tỉnh ủy cũng chủ trương mở các hội nghị tập huấn bồi
dưỡng phương pháp giảng dạy lý luận chính trị và chuyên đề hội nhập kinh tế
quốc tế cho đội ngũ giảng viên, giảng viên kiêm chức ở các trung tâm bồi
dưỡng chính trị trong tỉnh; hoàn chỉnh, đưa vào sử dụng một số bộ đề thi và
hướng dẫn chấm thi chương trình sơ cấp lý luận chính trị; biên soạn đề cương
bài giảng về Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI.
Công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ được các cấp quan tâm,
đạt được kết quả tốt: cấp tỉnh nghiên cứu biên soạn cuốn "Lịch sử Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên tập III (1975 - 2005)"; 130 xã, phường, thị trấn đã và đang
nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ cơ sở. Trong đó, có 65 xã hoàn thành
biên soạn, xuất bản lịch sử đảng bộ, các cơ sở còn lại đang ở giai đoạn nghiên
cứu, tập hợp tư liệu. Hoàn thành việc biên soạn tài liệu lịch sử địa phương đưa
vào giảng dạy tại các trường phổ thông, Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh,
trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thành phố. Các hoạt động nghiên
cứu, biên soạn, phát hành, lịch sử đảng bộ các cấp, các ngành, đoàn thể và
hoạt động văn hoá, văn nghệ, báo chí có tiến bộ, góp phần giáo dục truyền
thống cách mạng, tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc, tự hào
về Đảng; xây dựng đời sống văn hoá.
Ban Tuyên giáo các cấp kịp thời tham mưu với cấp uỷ ban hành các
văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng, văn hoá, khoa giáo và tổ chức
các hoạt động nghiệp vụ cơ bản đáp ứng yêu cầu, đảm bảo định hướng chính
trị. Năm 2010, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ được Chủ tịch nước tặng thưởng
Huân chương Lao động hạng Ba về thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” [136, tr.7].
97
Về xây dựng tổ chức
Tập trung củng cố, phát triển và xây dựng TCCSĐ, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên bằng những chủ trương giải pháp thiết thực.
Sớm thực hiện chương trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng TSVM, giải quyết
cơ sở đảng yếu kém; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, chất lượng sinh
hoạt, nhất là sinh hoạt chi bộ theo chuyên đề.
Cấp uỷ các cấp chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng TCCSĐ trong
sạch vững mạnh, củng cố cơ sở còn hạn chế, yếu kém, xây dựng hệ thống
chính trị, duy trì thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tập
thể cấp uỷ và cấp uỷ viên nghiêm túc tiến hành kiểm điểm tự phê bình cuối
năm; chỉ đạo kiểm điểm đánh giá TCCSĐ và đảng viên cuối năm theo quy định
của Trung ương và của Tỉnh uỷ. Công tác đánh giá, phân loại, khen TCCSĐ,
đảng viên và cơ quan, cán bộ làm công tác xây dựng Đảng bảo đảm dân chủ,
công khai và thiết thực hơn. Bình quân hàng năm số TCCSĐ đạt TSVM là
81,42%, tăng so với chỉ tiêu đề ra tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI 1,42%,
số yếu kém giảm còn 0,6%.
Trong 5 năm (2006-2010), số TCCSĐ trong Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
tăng từ 553 TCCSĐ (năm 2006) gồm: xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã)
161 TCCSĐ; cơ quan hành chính: 149 TCCSĐ; lực lượng công an, quân đội:
51 TCCSĐ; cơ quan sự nghiệp: 56 TCCSĐ; doanh nghiệp nhà nước: 73
TCCSĐ; doanh nghiệp cổ phần: 51 TCCSĐ; doanh nghiệp tư nhân: 6
TCCSĐ; loại hình khác: 6 TCCSĐ. Đến năm 2010 tăng lên 585 TCCSĐ (tăng
32 TCCSĐ so với năm 2006) bao gồm; xã phường thị trấn 161 TCCSĐ;
doanh nghiệp nhà nước: 68 TCCSĐ (giảm so với 2006 nguyên nhân là do
chuyển đổi cơ cấu một số doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa); doanh nghiệp
cổ phần: 69 TCCSĐ; doanh nghiệp tư nhân giảm còn 2 TCCSĐ; cơ quan
hành chính: 151 TCCSĐ (tăng 2 so với năm 2006); cơ quan sự nghiệp 72
TCCSĐ; quân đội công an 52 TCCSĐ và loại hình khác 10 TCCSĐ (trong đó
có cơ quan báo chí, hợp tác xã, dân quân tự vệ) [137, tr.1].
98
Nhìn chung trong nhiệm kỳ (2006-2010), số TCCSĐ đạt trong sạch
vững mạnh tăng lên theo từng năm, số lượng TCCSĐ toàn tỉnh đạt TSVM
bình quân 5 năm đạt 81,69%, hoàn thành nhiệm vụ 17,47% và yếu, kém chỉ
còn 0,56%. Năm 2006, toàn Đảng bộ có 439 TCCSĐ đạt TSVM, chiếm
80,40%; 98 TCCSĐ hoàn thành nhiệm vụ, chiếm 17,95% (tăng 4,66% so với
năm 2005); còn 9 TCCSĐ yếu, kém, chiếm 1,65%,) [Phụ lục 1]. Đến năm
2010, tăng lên 491 TCCSĐ đạt TSVM, chiếm 84,22%, số TCCSĐ hoàn thành
nhiệm vụ giảm còn 34 TCCSĐ (92 TCCSĐ, chiếm 15,78%), không có
TCCSĐ yếu kém. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quyết định tặng Cờ cho 12 Đảng
bộ trực thuộc Tỉnh uỷ và TCCSĐ đạt trong sạch vững mạnh tiêu biểu 5 năm
liền (2006 - 2010), trong đó có Đảng bộ các huyện Kim Động, Khoái Châu,
Mỹ Hào, tặng Bằng khen cho 26 TCCSĐ đạt TSVM tiêu biểu 3 năm liền
(2008 - 2010) [137, tr.3].
Biểu đồ 3.2: Phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng của tỉnh Hưng Yên (2006- 2010)
[Phụ lục 1].
Trong đó năm 2008, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quyết định tặng Cờ cho
14 TCCSĐ đạt TSVM tiêu biểu trong 5 năm liền; tặng bằng khen cho 14
TCCSĐ đạt TSVM tiêu biểu trong 3 năm liền; tặng bằng khen cho 20 chi bộ
trực thuộc Đảng uỷ cơ sở đạt TSVM tiêu biểu 5 năm liền và tặng Bằng khen cho
25 đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ [129, tr.3].
99
Trong 5 năm, số TCCSĐ thuộc xã, phường, thị trấn hàng năm tham gia
đánh giá đủ 161 TCCSĐ. Số TCCSĐ đạt TSVM bình quân hàng năm 73,04%
tăng nhẹ; Năm 2006, có 115 TCCSĐ đạt TSVM, đến 2010 có 118 TCCSĐ
đạt TSVM tăng 3 TCCSĐ, hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm 18,39% biến động
tăng giảm không đồng đều trong 5 năm; hoàn thành nhiệm vụ tăng từ 12
TCCSĐ năm 2006 lên 19 TCCSĐ năm 2010, chiếm 7,95%; số TCCSĐ yếu kém
giảm mạnh chiếm 0,62%; năm 2006 có 4 TCCSĐ, đến 2007 còn 1 TCCSĐ và 3
năm tiếp theo không có TCCSĐ nào yếu, kém [Phụ lục 11].
Đạt được kết quả trong xây dựng TCCSĐ hàng năm đạt TSVM và
TCCSĐ yếu, kém giảm là sự cố gắng của các cấp ủy, chính quyền, ủy ban
Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp, các ngành đã nêu cao trách nhiệm thực
hiện nhiệm vụ, chăm lo xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết thống nhất trong
toàn bộ Đảng bộ, toàn dân; chú trọng khai thác lợi thế, tiểm năng, động viên
cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức và nhân dân phấn đấu vươn lên.
Về phát triển đảng viên
Trên cơ sở phân tích tình hình TCCSĐ và đội ngũ cán bộ, đảng viên
trong việc triển khai Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp
hành Trung ương khóa X đã ra Nghị quyết về nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng
viên, đã cụ thể hóa việc chỉ đạo công tác phát triển đảng viên và TCCSĐ, đưa
ra mục tiêu giải pháp thực hiện cho các cấp ủy, tổ chức Đảng:
Chăm lo xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự là tiên phong gương
mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật,
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Kiên quyết thay thế những cán bộ
yếu kém về phẩm chất năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ đồng
thời đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách đảng viên [36].
Trong nhiệm kỳ (2006-2010), Đảng bộ tỉnh Hưng Yên chú trọng xây
dựng đội ngũ đảng viên, nhất là đảng viên ở nông thôn, ở doanh nghiệp tư
100
nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, làm tốt công tác bồi dưỡng
phát triển đảng viên, trước hết là đoàn viên thanh niên, quần chúng ưu tú
trong công nhân, nông dân, trí thức, thường xuyên xem xét và kịp thời đưa ra
khỏi Đảng những người thoái hóa, biến chất, không đủ tiêu chuẩn đảng viên
bằng các hình thức phù hợp.
Kết quả công tác phát triển đảng viên trong những từ năm 2006 đến tháng
10/2010 cho thấy: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên tổ chức thường xuyên các lớp “Bồi
dưỡng nhận thức về Đảng” với 122 lớp cho gần 10.896 quần chúng, trung bình
trên 2.000 quần chúng ưu tú mỗi năm. Số lượng đảng viên được kết nạp tương đối
ổn định, trong 5 năm kết nạp được 7.484 đảng viên mới chiếm 68,68%, tăng 24
đảng viên được kết nạp mới so với 5 năm (2001- 2005) [Phụ lục 3; 22].
Về trình độ học vấn: trình độ học vấn ®¶ng viªn míi kÕt n¹p tõ n¨m
2006 ®Õn th¸ng 10/2010 được nâng cao, 100% đảng viên có trình độ THPT,
không có đảng viên nào có trình độ tiểu học và THCS.
Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ: đảng viên có trình độ là công nhân
kỹ thuật: 956 đảng viên, chiếm 12,43%; trung học chuyên nghiệp: 2.498 đảng
viên chiếm 32,49%; cao đẳng, đại học: 2.755 đảng viên, chiếm 35,9%; thạc
sỹ, tiến sỹ: 112 đảng viên, chiếm 1,46%. So với nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên lần thứ XV: đảng viên là công nhân kỹ thuật giảm 503 đảng
viên tương ứng giảm 5,97%; đảng viên có trình độ trung học chuyên nghiệp
tăng 221 đảng viên tương ứng tăng 2,79%; số đảng viên có trình độ cao đẳng
đại học tăng 106 đảng viên, tương ứng 1,3%; số đảng viên có trình độ thạc sỹ,
tiến sỹ tăng 43 đảng viên, tương ứng tăng 0,56% [Phụ lục 5].
Về thành phần cơ cấu đảng viên mới kết nạp nhiệm kỳ Đại hội XVI so
với nhiệm kỳ Đại hội XV của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên: số đảng viên có độ
tuổi dưới 30 tuổi là 3.767, chiếm 54,2%, ít hơn 386 đảng viên, tương ứng
giảm 16,76%; số đảng viên nữ là 4.076 đảng viên, chiếm 53,2%, tăng 101
đảng viên, tăng 11,11%; số đảng viên là nông dân giảm 467 đảng viên, tương
101
ứng giảm 4,28%; trong khi đó đảng viên mới là công nhân tăng 127 đảng viên,
tương ứng tăng 0,28%; số đảng viên là tôn giáo tăng 5 đảng viên tương ứng tăng
0,07%. Kết nạp được một đảng viên là người dân tộc thiểu số chiếm 0,01% tổng
số đảng viên kết nạp mới…[Phụ lục 5; 6].
Như vậy, nếu như trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã
chú trọng đến phát triển đảng viên nữ thì nhiệm kỳ Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên số đảng viên nữ mới kết nạp ngày một tăng về cả số lượng và tỷ lệ,
đáp ứng chủ trương bình đẳng giới. Tuy nhiên, số đảng viên kết nạp mới có
độ tuổi dưới 30 tuổi lại giảm, hạn chế đó phần nào ảnh hưởng đến chủ trương
trẻ hóa đội ngũ đảng viên của Đảng bộ.
Theo thực tế khảo sát chất lượng đảng viên trong toàn tỉnh Hưng Yên số
đảng viên tham gia đánh giá chất lượng tăng đều hàng năm. Bình quân mỗi năm
tăng hơn 1.000 đảng viên, từ 45.073 đảng viên năm 2006 tăng lên 48.081 đảng viên
năm 2010. Số đảng viên đủ tư cách phát huy tác dụng tốt tăng từ 32.153 đảng viên,
chiếm 71,3% năm 2006, đến năm 2010 tăng lên 41.337 đảng viên, chiếm 86,0%
tăng bình quân 79,51% năm. Số đảng viên đủ tư cách hạn chế từng mặt giảm dần
từng năm; năm 2006 là 12.725 đảng viên, chiếm 28,2% đến năm 2007 giảm còn
11.847 đảng viên chiếm 25,8%, đến 2008 giảm tiếp còn 7.780 đảng viên,chiếm
16,2%, đặc biệt đến năm 2010 còn 6.479 đảng viên, chiếm 13,5%, so với năm 2006
giảm 6.246 đảng viên. Tuy nhiên, số lượng đảng viên vi phạm tư cách tăng từ 195
đảng viên, chiếm 0,35% năm 2006 tăng lên 265 đảng viên chiếm 0,55%) năm
2010, đặc biệt, năm 2009 tăng lên 299 đảng viên, chiếm 0,63% [Phụ lục 2].
Từ năm 2006 đến năm 2010, số đảng viên khu vực xã phường, thị trấn
là được đánh giá chất lượng đạt 80,29%, bao gồm hoàn thành tốt nhiệm vụ
đạt bình quân 81,81%, hoàn thành nhiệm vụ 18,66%, vi phạm tư cách 0,48%.
Số lượng đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ biến động không đều nhưng so
sánh số lượng đầu nhiệm kỳ với cuối nhiệm kỳ tăng từ 23.543 đảng viên năm
2006 tăng lên 30.136 đảng viên năm 2010 (tăng 6.593 đảng viên), đảng viên
102
hoàn thành nhiệm vụ giảm mạnh từ 11.214 đảng viên năm 2006 xuống còn
5.802 đảng viên năm 2010 (giảm 5.412), nhưng đảng viên vi phạm tư cách
tăng dần 168 đảng viên năm 2006 tăng lên 235 đảng viên năm 2010, trong đó
năm 2008 tăng 261 đảng viên [Phụ lục 12].
Trong 5 năm (2006 -2010), số đảng viên được kết nạp mới là 7.688, nhiều
hơn số đảng viên được kết nạp mới của 5 năm (2001-2005) là 204 đảng viên.
Tuy nhiên, số đảng viên bị kỷ luật và khai trừ ra khỏi Đảng và số đảng viên bị
đưa ra khỏi Đảng với các lý do khác nhiều hơn 83 đảng viên, tăng 1,06%.
Nhưng cần lưu ý là trong 5 năm (2006-2010), số lượng đảng viên được kết nạp ở
khu vực nông thôn nhìn chung giảm (năm 2005 kết nạp 505 đảng viên, năm
2006: 443 đảng viên, năm 2007: 518 đảng viên, năm 2008: 369 đảng viên, năm
2009: 309 đảng viên, năm 2010: 254 đảng viên) [136, tr.5].
Đây là vấn đề Đảng bộ tỉnh Hưng Yên cần tiếp tục tìm cách khắc phục
trong công tác phát triển Đảng nói chung, công tác phát triển đảng viên nói
riêng và công tác đào tạo, sử dụng cán bộ cho nhiệm kỳ đại hội tiếp theo.
Về công tác cán bộ
Công tác cán bộ được tiến hành đồng bộ với các nội dung, góp phần
xây dựng đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến cơ sở có bước trưởng thành về mọi mặt,
cơ bản đáp ứng yếu cầu nhiệm vụ.
Quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ
Sau đại hội các đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ
XVI, ban tổ chức các cấp tham mưu giúp Ban Thường vụ cấp uỷ các cấp kịp thời
phân công, giới thiệu ứng cử, bổ nhiệm chức vụ cho các đồng chí cấp uỷ viên, ổn
định tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể. Đặc biệt, công tác
quy hoạch cán bộ từ 2008 đến năm 2010 và quy hoạch A1 nhiệm kỳ 2010-2015
các chức danh thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý ở các huyện, thị uỷ và
Đảng uỷ khối cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh đối với 175 đồng chí, trong đó, nữ có
21 đồng chí (chiếm 12,6%). Các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp Tỉnh uỷ quản lý,
103
quy hoạch 44 đồng chí, trong đó, nữ 05 đồng chí (chiếm 11,36%). Các đơn vị
ngành dọc Trung ương, quy hoạch được 97 đồng chí [135, tr.2].
Tình hình cấp ủy cơ sở tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ (2006-2010) có
3.817 ủy viên: Nữ chiếm 16% (xã 14,12%, cơ quan hành chính 17,01%,
doanh nghiệp 20,59%); tuổi bình quân là 48,55 (xã là 43,2; cơ quan hành
chính là 46,27; doanh nghiệp là 44,76); chuyên môn trung cấp chiếm 24,
12% (xã là 31,27%, cơ quan hành chính là 9,76%, doanh nghiệp là
29,41%); chuyên môn cao đẳng, đại học chiếm 41,39% (xã chiếm 10,62%,
cơ quan hành chính chiếm 83,14%, doanh nghiệp chiếm 58,9%); lý luận
chính trị trung cấp chiếm 44,06% (xã chiếm 42,62%, cơ quan hành chính
chiếm 44,59%, doanh nghiệp chiếm 25,34%); lý luận chính trị cao cấp, cử
nhân chiếm 8,20% (xã chiếm 0,05%, cơ quan hành chính chiếm 22,95%,
doanh nghiệp chiếm 6,79%). So với nhiệm kỳ trước, nhiệm kỳ này có tiến
bộ: tuổi bình quân giảm 1,17, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy tăng 1,7%, trình độ
văn hóa phổ thông trung học tăng 9,96%, chuyên môn cao đẳng, đại học
tăng 7,14%, lý luận chính trị từ trung cấp trở lên tăng 9,36% [137, tr.4].
Công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo quản lý thực hiện đúng quy
định. Coi trọng xem xét tiêu chuẩn cán bộ trước khi đề bạt. Trong nhiệm kỳ,
đã đề bạt bổ nhiệm, bổ nhiệm lại 274 cán bộ, trong đó bổ nhiệm lại 56 cán bộ,
10 cán bộ cơ quan Trung ương quản lý, 98 cán bộ thuộc diện Tỉnh ủy quản lý,
33 cán bộ thuộc diện huyện ủy quản lý, 40 cán bộ trưởng cơ quan ban ngành,
47 cấp phó cơ quan. Trong nhiệm kỳ, đã bầu bổ sung, kiện toàn 2 Bí thư, 1
Phó Bí thư Tỉnh ủy, 2 Chủ tịch UBND tỉnh và Chủ tịch HDND tỉnh, 3 Ủy
viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, 2 Phó Chủ tịch UBND tỉnh, 3 Tỉnh ủy viên và 2
Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy thực hiện luân chuyển trên 20 cán bộ thuộc
diện Tỉnh ủy quản lý [18, tr.29].
Công tác đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chính sách cán bộ
Công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ
đảng viên được quan tâm; cử 300 cán bộ các cấp đi học đại học và cao cấp lý
104
luận chính trị; 3.575 học viên trung cấp lý luận chính trị và bồi dưỡng lý luận
nghiệp vụ cho 90.000 lượt cán bộ cơ sở. Đặc biệt, năm 2006 sau khi tiến hành
Đại hội lần thứ XVI thành công, công tác đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện
chính sách cán bộ, phát triển đảng viên được quan tâm. Đã cử 14 cán bộ đi
học cao cấp lý luận chính trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
khoá học 2006-2007; mở 17 lớp đào tạo trình độ chuyên môn lý luận cho
3.297 học viên tại Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh; 16 lớp bồi dưỡng cho
các đơn vị với 1.741 học viên; 10 lớp lý luận chính trị sơ cấp với 447 đồng
chí đạt 88%; mở 12 lớp bí thư chi bộ và cấp uỷ với 1.028 đồng chí; 9 lớp cán
bộ tuyên giáo với 623 đồng chí; 69 lớp cán bộ đoàn thể với 5.012 đồng chí;
14 lớp chuyên đề với 1.257 đồng chí; 6 lớp chuyên đề đạo đức với 594 học
viên; 31 lớp cho đội ngũ cán bộ cấp xã với 2.482 đồng chí [123, tr.2].
Trong nhiệm kỳ, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã quyết định tặng, truy tặng
Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng trở lên cho 6.493 đồng chí đảng viên; tặng Huy
hiệu 40 năm trở lên 4.991; tặng Huy hiệu đảng 50 năm tuổi đảng cho 1.553
đồng chí; tặng 17.512 Huy hiệu Đảng cho đảng viên theo quy định. Mua bảo
hiểm y tế cho 13.037 đồng chí cán bộ hưu trí; mua bảo hiểm y tế cho 1.719
đồng chí được tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng trở lên (không thuộc diện
hưởng chế độ hưu trí, mất sức và trợ cấp thường xuyên); điều dưỡng đối với
cán bộ diện Ban Thường vụ quản lý nghỉ hưu; tuyển dụng cán bộ khối Đảng,
đoàn thể thực hiện đúng quy định [18, tr.29; 106].
Về công tác kiểm tra
Đến năm 2010, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên có 585 TCCSĐ, trong đó,
Đảng bộ xã, phường, thị trấn là 161 TCCSĐ, chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở
toàn tỉnh là 2.366, chi bộ trực thuộc đảng ủy xã, phường, thị trấn là 1.767, với tổng số đảng viên toàn tỉnh là 276.982 [129, tr.1].
Trong nhiệm kỳ (2006-2010) Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã coi trọng
công tác kiểm tra, chất lượng và hiệu quả được nâng lên. Cấp ủy và ủy ban
kiểm tra các cấp đã tích cực chủ động xây dựng chương trình kế hoạch kiểm
105
tra, giám sát phù hợp với chương trình kết hoạch của cấp trên và yêu cầu thực
tiễn, đồng thời, tổ chức thực hiện toàn diện nhiệm vụ kiểm tra giám sát.
UBKT các cấp kiện toàn về tổ chức, tăng cường và quan tâm đến chế độ
chính sách, nâng cao chất lượng hoạt động.
Trong 5 năm, các cấp ủy kiểm tra 4.925 lượt TCCSĐ và 5.290 lượt
đảng viên; giám sát 708 lượt TCCSĐ và 11.096 lượt đảng viên. UBKT các
cấp kiểm tra 662 TCCSĐ và 2.341 đảng viên có dấu hiệu vi phạm (trong đó
1.241 đảng viên là cấp ủy viên các cấp); giám sát 848 TCCSĐ và 18.880
đảng viên. Giải quyết đơn tố cáo 15 TCCSĐ và 848 đảng viên. Xử lý kỷ
luật 35 TCCSĐ và 971 đảng viên vi phạm, trong đó có 337 cấp ủy viên;
khai trừ 114 đảng viên, xử ký bằng pháp luật 85 đảng viên [23, tr.30].
Qua khảo sát thực tế tại tỉnh Hưng Yên, trong 5 năm (2006-2010) toàn
Đảng bộ tỉnh đã phát hiện 776 TCCSĐ vi phạm, phải thi hành kỷ luật 35
TCCSĐ, không có tổ chức đảng nào phải giải tán. Số TCCSĐ có dấu hiệu vi
phạm tăng từ 125 TCCSĐ năm 2006 lên 176 TCCSĐ năm 2010, nhưng số
TCCSĐ thi hành kỷ luật giảm từ 8 TCCSĐ năm 2006 xuống còn 4 TCCSĐ
năm 2010 [Phụ lục 7; 22].
Năm 2006, có 8 TCCSĐ bị thi hành kỷ luật, tăng 6 TCCSĐ so với năm
2005, gồm 2 Ban Chấp hành đảng bộ, 3 chi bộ, 3 chi uỷ. Nội dung vi phạm: 2
TCCSĐ vi phạm chấp hành nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật
Nhà nước, 2 TCCSĐ vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, 2 TCCSĐ vi
phạm việc ra quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định của cấp mình, 1
TCCSĐ vi phạm đoàn kết nội bộ, 1 TCCSĐ cố ý làm trái. Hình thức kỷ luật: 7
TCCSĐ bị khiển trách, 1 TCCSĐ bị cảnh cáo. Các cấp xử lý kỷ luật đảng viên và
TCCSĐ đảm bảo phương hướng, phương châm, nguyên tắc, trình tự thủ tục [123,
tr.5]. Đến năm 2010 số TCCSĐ bị kỷ luật còn có 4, giảm 4 TCCSĐ so với năm
2006, nội dung vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ 2 TCCSĐ, cố ý làm trái 2
TCCSĐ, thuộc các huyện: Văn Lâm (2 TCCSĐ), Mỹ Hào (1 TCCSĐ), và Ân
Thi (1 TCCS) [136, tr.4].
106
Trong nhiệm kỳ, đáng lưu ý năm 2009, tổng số TCCSĐ bị kỷ luật là 10
TCCSĐ. Trong đó, 2 TCCSĐ vi phạm chấp hành nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, 1 TCCSĐ vi phạm nguyên tắc tập
trung dân chủ; 2 TCCSĐ vi phạm việc ra quyết định và tổ chức thực hiện các
quyết định của cấp mình; 2 TCCSĐ vi phạm mất đoàn kết nội bộ; 3 TCCSĐ
cố ý làm trái. Hình thức kỷ luật: khiển trách 8 TCCSĐ, cảnh cáo 2 TCCSĐ.
Trong đó, có 3 TCCSĐ phải thi hành lỷ luật thuộc huyện Ân Thi, nội dung vi phạm cố ý làm trái luật đất đai 2 TCCSĐ [134, tr.5].
Nhiệm kỳ (2006-2010), toàn tỉnh Hưng Yên đã tiến hành xử lý kỷ luật
973 đảng viên (chiếm 0,35%), trong đó, khiển trách 368 đảng viên (chiếm
0,13%), cảnh cáo 471 đảng viên (chiếm 0,15%), cách chức 72 đảng viên
(chiếm 0,03%) và khai trừ 114 đảng viên (chiếm 0,04%). Số lượng đảng viên
bị thi hành kỷ luật trong nhiệm kỳ về cơ bản giảm, nhưng không đồng đều,
năm 2010, số đảng viên bị kỷ luật còn 140 đảng viên, giảm 44 đảng viên so
với năm 2006, nhưng năm 2009 số lượng đảng viên bị kỷ luật tăng đột biến
lên 288 đảng viên, gấp 2 lần số đảng viên bị kỉ luật năm 2010. Số đảng viên
thuộc khu vực xã, phường, thị trấn bị khiển trách trong 5 năm là 325, chiếm
83,32% đảng viên toàn tỉnh bị khiển trách, đảng viên bị cảnh cảo 285, chiếm
68,35%, đảng viên bị cách chức 72 bằng với số đảng viên bị cách chức toàn
tỉnh, đảng viên bị khai trừ là 70 đảng viên chiếm 60,40% [Phụ lục 8; 23].
Như vậy, số TCCSĐ bị thi hành kỷ luật nhiệm kỳ (2006-2010) là 35
TCCSĐ tăng 17 TCCSĐ so với nhiệm kỳ (2000-2005). Tổng số đảng viên bị kỷ
luật trong 5 năm (2006-2010) là 971 đảng viên, giảm 31 đảng viên so với nhiệm
kỳ (2001-2005), số đảng viên bị khai trừ năm (2006-2010) là 114 đảng viên, giảm
6 đảng viên so với năm (2001-2005). Đây là hạn chế của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
trong quá trình lãnh đạo xây dựng, phát triển TCCSĐ và cũng là những kinh
nghiệm được đúc kết từ công tác phát triển Đảng nói chung, công tác kiểm tra,
giám sát, kỷ luật TCCSĐ và đảng viên nói riêng trong nhiệm kỳ Đại hội tiếp theo.
107
Tiểu kết chương 3
Qua 10 năm thực hiện nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ theo tinh thần Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, lần thứ X của Đảng và Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XV, XVI, Chương trình số 35, Chỉ thị
số 03, Chỉ thị số 05, Nghị quyết số 24, (khóa XV), Chương trình số 07, Chương
trình số 14, (khóa XVI), Tỉnh ủy Hưng Yên đã thường xuyên chăm lo công tác
kiện toàn củng cố TCCSĐ, nâng cao công tác đánh giá, phân tích chất lượng
TCCSĐ và đảng viên, công tác sinh hoạt đảng, phát triển đảng ở địa bàn nông
thôn, trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài...
Củng cố kiện toàn các TCCSĐ trên các mặt: về vai trò lãnh đạo, về chấp hành kỷ
luật Đảng, về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, về chế độ tự phê bình và
phê bình, về lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở...
Trong thời gian 10 năm, công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên đã đạt được nhiều kết quả, góp phần vào những thành tựu chung của
công tác xây dựng Đảng. TCCSĐ tăng lên về số lượng, nâng cao về chất lượng,
đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung hoạt động...góp phần quan trọng
vào việc lãnh đạo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Để
đạt được kết quả trên, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã tập trung chỉ đạo các tiến hành
nhiều cuộc điều tra, khảo sát trực tiếp ở địa bàn xã, phường, thị trấn và các
doanh nghiệp để nắm chắc thực trạng, phát hiện những khó khăn, vướng mắc từ
cơ sở. Từ đó, đề ra chủ trương, giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của
TCCSĐ các cấp. Qua đó, đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động
của một số loại hình TCCSĐ cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới, nhất là
đối với các TCCSĐ khu vực nông thôn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Tuy vậy, công tác xây dựng TCCSĐ giai đoạn (2001-2010) của Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên cũng gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Sự phát triển của nền
kinh tế thị trường làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời cũng kéo
theo nhiều hệ lụy tiêu cực, đòi hỏi các cấp ủy đảng phải quan tâm, giải quyết.
Nhiều TCCSĐ chưa quan tâm đúng mức tới công tác giáo dục chính trị tư tưởng,
108
đạo đức lối sống cho cán bộ đảng viên, tự phê bình và phê bình còn mang tính
hình thức, ít tác dụng. Không ít TCCSĐ còn né tránh, đùn đẩy, chưa tập trung
lãnh đạo giải quyết các vấn đề nảy sinh phức tạp tại cơ sở. Phát triển đảng viên ở
các doanh nghiệp ngoài Nhà nước, ở địa bàn nông thôn kết quả thấp…
Thành công và hạn chế trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng TCCSĐ thời
kỳ (2001-2010) là cơ sở quan trọng để Đảng bộ tỉnh Hưng Yên tổng kết rút
kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng TCCSĐ.
Từ đó, đề ra phương hướng, giải pháp lãnh đạo xây dựng Đảng và xây dựng
TCCSĐ trong sạch, vững mạnh trong những nhiệm kỳ tiếp theo.
109
CHƯƠNG 4
NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
4.1. NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ
ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HƯNG YÊN (1997 - 2010)
4.1.1. Về ưu điểm
4.1.1.1. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã vận dụng đúng đắn đường lối quan
điểm của Trung ương Đảng, bám sát yêu cầu, đặc điểm của địa phương từng
bước đề ra những chủ trương, giải pháp xây dựng tổ chức cơ sở đảng phù
hợp với thực tiễn
Trong những năm đầu tái lập tỉnh, quá trình lãnh đạo công tác xây dựng
TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã xác định rõ thuận lợi và khó khăn,
thách thức, từ đó đề ra những chủ trương, giải pháp đúng đắn đối với từng loại hình
TCCSĐ cụ thể, để đẩy nhanh, có hiệu quả quá trình xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ
tỉnh, tạo thế và lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới.
Nghiên cứu thực tế quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên quán triệt quan
điểm của Đảng, chỉ đạo công tác xây dựng TCCSĐ (1997-2010) cho thấy, việc
quán triệt kịp thời, có hiệu quả nội dung các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về
công tác xây dựng TCCSĐ đã trở thành nền nếp, thường xuyên của các cấp ủy
Đảng trong tỉnh.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII (6-1996) về nâng cao sức
chiến đấu của TCCSĐ, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, Ban
Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành như là (Chỉ thị số 29-CT/TW (14-2-
1998); Chỉ thị số 30-CT/TW (18-2-1998); Nghị quyết số 10-NQ/TW (2-1999);
Quy chế số 53-QC/TW (05-5-1999; Công văn số 194-CV/TW (02-7-1999) …)
Trên cơ sở vận dụng linh hoạt những chủ trương của Đảng, Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên đã xây dựng các chỉ thị, nghị quyết, chương trình xây dựng TCCSĐ
vừa mang tính khoa học, vừa phù hợp với điều kiện của tỉnh mới tái lập và xu
110
hướng phát triển chung của công tác xây dựng TCCSĐ. Đảng bộ tỉnh Hưng
Yên tập trung chỉ đạo cấp ủy Đảng các cấp, đoàn thể, sở, ban, ngành, các huyện
ủy phát huy nội lực, khai thác tiềm năng trong xây dựng TCCSĐ. Đẩy mạnh
giao lưu học hỏi để tranh thủ nguồn lực bên ngoài vào công tác xây dựng
TCCSĐ, kịp thời tranh thủ sự lãnh đạo của Trung ương và tiếp nhận ý kiến
đóng góp của nhân dân để xây dựng TCCSĐ.
Tỉnh ủy đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch thiết thực
đối với công tác xây dựng TCCSĐ, đề cập trực tiếp vào những vấn đề cần
kíp trước mắt mà các cấp ủy Đảng như: Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng
bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XIV năm 1997; Chỉ thị số 05-CT/TU (02-04-
1997), Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng tổ chức cơ sở đảng
trong sạch vững mạnh; Hướng dẫn số 70-HD/TC (15-4-1997) về Thực hiện
Chỉ thị Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng tổ chức cơ sở đảng
trong sạch vững mạnh; Chỉ thị số 08-CT/TU (6-9-1997) về Chương trình
đưa thông tin xuống cơ sở; Kế hoạch số 17-KH/TU (6-7-1999) về Tự phê
bình và phê bình thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2); Kế hoạch số
17-KH/TU (20-10-1999) về việc Thực hiện bước 2 triển khai Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) và cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn
Đảng; Kế hoạch số 23-KH/TU (2000) về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính
trị cho cán bộ, đảng viên...
Trên cơ sở bám sát những đặc điểm của địa phương ngay những năm đầu
tái lập tỉnh, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã có những quyết sách sáng tạo, thể hiện rõ
tư duy nhạy bén, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước
BCH Trung ương Đảng và trước nhân dân. Chính vì thế chủ trương quyết sách
của đảng bộ đã thực sự đi vào cuộc sống, làm thay đổi một cách tích cực nhiều
mặt của công tác xây dựng TCCSĐ, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động
của các TCCSĐ của tỉnh Hưng Yên những năm (1997-2000).
Giai đoạn (2001-2010), Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trải qua hai nhiệm kỳ
Đại hội với những mục tiêu và nhiệm vụ mới của thời kỳ đẩy mạnh CNH,
111
HĐH. Đảng bộ tỉnh đã đề ra chiến lược phát triển KT-XH 10 năm đầu thế kỷ
XXI, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát
huy mọi nguồn lực, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng tỉnh
Hưng Yên giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trong các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ XV, XVI
đều xác định rõ công tác xây dựng Đảng bộ vững mạnh trên cả 3 mặt: chính
trị, tư tưởng và tổ chức. Xây dựng TCCSĐ thực sự TSVM, giải quyết kịp thời
cơ sở yếu kém, giữ vững vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở, huy động và quy
tụ sức mạnh của địa phương, đơn vị, giải quyết các vấn đề nảy sinh tại cơ sở,
thực hiện tốt nhất nhiệm vụ chính trị được giao.
Bước sang thế kỷ XXI với nhiều thuận lợi và thách thức trong công tác
xây dựng TCCSĐ, kế thừa những kết quả và kinh nghiệm đã đạt được Đảng
bộ tỉnh Hưng Yên đã nghiên cứu tìm tòi đề ra những giải pháp tích cực, phù
hợp, nhằm tăng cường hiệu quả nâng cao chất lượng của TCCSĐ.
Đảng bộ tỉnh đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, chương trình, kế
hoạch gắn liền với công tác xây dựng TCCSĐ, như: Chỉ thị số 03-CT/TU
(21-6-2001) về đẩy mạnh phong trào thi đua và nâng cao chất lượng tổ
chức đảng trong sạch vững mạnh trong giai đoạn hiện nay; Chương trình
số 35-Ctr/TU (27-6-2002) về Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống
chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn; Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành
Nghị quyết số 24-NQ/TU (3-11-2005) về việc thực hiện Nghị quyết số 42-
NQ/TW (30-11-2004) của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ
lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước; Chương trình số 07-CTr/TU (20-4-2007) về Xây dựng tổ chức cơ
sở đảng trong sạch vững mạnh, giải quyết cơ sở đảng yếu kém, nâng cao
chất lượng đảng viên giai đoạn 2006-2010; Chương trình hành động thực
hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá X (số 14- Ctr/TV ngày 27-4-2008)...
112
Những văn bản, chỉ thị của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã tác động trực
tiếp và có hiệu quả tới công tác xây dựng TCCSĐ, xác định rõ tiêu chuẩn về
TCCSĐ và cán bộ đảng viên, nâng cao vai trò, vị thế của cấp ủy đảng ở cơ sở,
tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi khả năng để phát triển
KT-XH, an ninh, quốc phòng...
4.1.1.2. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở
đảng toàn diện, thống nhất và quyết tâm cao
Hơn 10 năm (1997-2010) của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã chú trọng chỉ
đạo xây dựng TCCSĐ với sự đồng thuận và quyết liệt trong tổ chức thực hiện
toàn diện trên tất cả các mặt: về tư tưởng chính tri; về xây dựng tổ chức; về
phát triển đảng viên; về công tác cán bộ; về công tác kiểm tra.
Về công tác tư tưởng chính trị đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.
Ngay từ những năm đầu tái lập tỉnh, công tác tư tưởng, chính trị được Đảng
bộ coi trọng đúng mực. Công tác tư tưởng đã góp phần nâng cao nhận thức
chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng củng cố lòng tin của nhân dân đối với
sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới, thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ
chính trị của địa phương. Cán bộ, đảng viên nhận thức rõ hơn về chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về con đường đi lên CNXH, về nội dung
và nhiệm vụ đẩy mạnh CNH, HĐH ở địa phương, tạo sự thống nhất trong
Đảng bộ và đồng thuận trong xã hội.
Các cấp ủy đã lãnh đạo, tổ chức thực hiện kịp thời, có hiệu quả việc
quán triệt, tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước tới cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.
Các hoạt động thông tin, tuyên truyền nội bộ và đại chúng được duy trì
đều đặn, chất lượng được nâng lên. Đội ngũ báo cáo viên các cấp được kiện
toàn và hoạt động tích cực. Tài liệu tuyên truyền, bản thông tin nội bộ, Báo
Hưng Yên và Báo Hưng Yên điện tử phát hành đưa tin đều đặn, tăng thời
lượng thông tin và số lượng phát hành đến tận các chi bộ.
113
Công tác giáo dục truyền thống lịch sử được chú trọng, kỷ niệm các
ngày lễ lớn được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú, có tác dụng giáo
dục tốt. Việc biên soạn, xuất bản phát hành lịch sử Đảng bộ địa phương,
ngành, đoàn thể được cấp ủy quan tâm. Xuất bản Lịch sử Đảng bộ tập 2 giai
đoạn (1945-1975), tập 3 giai đoạn (1975-2005)…, đưa lịch sử địa phương vào
giảng dạy trong các trường THPT, trường Chính trị Nguyễn Văn Linh và các
trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, thành phố, góp phần nâng cao giáo dục
truyền thống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Trên tinh thần tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng
theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, công tác tự phê bình và
phê bình, việc quản lý, nhận xét, đáng giá, lấy ý kiến nhận xét của TCCSĐ
và góp ý nhân dân nơi cư trú đối với cán bộ, đảng viên được thực hiện
thường xuyên nghiêm túc; tiếp nhận và giải quyết cơ bản, kịp thời đơn thư
khiếu nại, tố cáo của nhân dân; Coi trọng nhiệm vụ xây dựng đạo đức, lối
sống trong cán bộ, đảng viên. Tập trung chỉ đạo thực hiện Cuộc vận động
“Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với nhiều hình thức
phong phú, sinh động, tạo sức lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân,
khơi dậy phong trào thi đua sâu rộng trong xã hội. Kết quả Cuộc vận động
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã có tác dụng tốt
trong đời sống chính trị ở cơ sở. Cụ thể xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm và
một số địa phương khác.
Cán bộ, đảng viên và nhân dân qua học tập tư tưởng, tấm gương đạo
đức Bác Hồ đã có những chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong tư
tưởng và hành động. Cán bộ, đảng viên làm việc cần mẫn, trách
nhiệm, đề cao tinh thần phục vụ nhân dân, ứng xử nhân văn, thực
hành dân chủ hơn. Nhân dân đã có chuyển biến rõ nét trong thực
hành tiết kiệm, chống lãng phí từ những việc thiết thực hàng
ngày...[Phụ lục 14].
114
Trên lĩnh vực kiện toàn và củng cố tổ chức, từ năm 1997 đến năm 2010
của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đạt kết quả tốt và có nhiều chuyển biến tích cực.
Các TCCSĐ đã lãnh đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị, xã hội của
địa phương. Xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc, các nguyên tắc
trong tổ chức xây dựng Đảng, duy trì nghiêm túc nề nếp, chế độ sinh hoạt
đảng bộ, chi bộ, đề ra nghị quyết lãnh đạo đúng đắn sát với yêu cầu nhiệm
vụ của địa phương, cơ quan đơn vị. Cấp uỷ cơ sở, nhất là đồng chí Bí thư
có uy tín, năng lực và phẩm chất đạo đức tốt, giữ vững, đoàn kết nội bộ,
luôn đặt lợi ích của tập thể, của nhân dân lên trên hết, tích cực đấu tranh
chống tiêu cực, tham nhũng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của cán
bộ, đảng viên và nhân dân; phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ
thống chính trị, quy tụ được cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân
trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Biểu đồ 4.1: Phân loại tổ chức cơ sở đảng tỉnh Hưng Yên (1997-2010)
[Phụ lục 1].
Trong 14 năm từ 1997 đến 2010, tỉnh Hưng Yên có số lượng TCCSĐ
tăng từ 415 TCCSĐ năm 1997, lên 585 TCCSĐ năm 2010, số TCCSĐ tăng
thêm là 170 TCCSĐ, tương ứng với 41%. Trong đó đảng bộ xã, phường, thị
trấn tăng 1 TCCSĐ, từ 160 TCCSĐ năm 1997 tăng lên 161 TCCSĐ năm
2010 (chi bộ trực thuộc đảng ủy xã phường, thị trấn 1.767) [137, tr.2].
115
Phong trào thi đua xây dựng cơ sở đảng TSVM được duy trì, hàng
năm có từ 72,56% đến 81,69% TCCSĐ đạt TSVM, số TCCSĐ yếu kém
giảm dần. Năm 1997 có 295/415 TCCSĐ đạt TSVM, chiếm 65,41%, đến
năm 2010 có 490/583 TCCSĐ đạt TSVM, chiếm 84,5%. Năm 1997 có 22
TCCSĐ yếu kém, chiếm 4,48% đến năm 2010 không còn TCCSĐ nào yếu
kém [Phụ lục 1].
Biểu đồ 4.2: So sánh chất lượng tổ chức cơ sở đảng tỉnh Hưng Yên với
một số tỉnh lân cận qua hai nhiệm kỳ (2001-2005), (2006-2010)[Phụ lục 9].
Nhìn tổng thể, công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng
Yên so với một số tỉnh lân cận thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng từ năm
2001 đến năm 2010, số TCCSĐ đạt TSVM qua 2 nhiệm kỳ chiếm tỷ lệ cao
trên 81%; hơn hẳn tỷ lệ này ở tỉnh Thái Bình 17,76% trong nhiệm kỳ
(2001-2005) và cao hơn 11,41% nhiệm kỳ (2006-2010). So sánh tỉ lệ
TCCSĐ đạt TSVM của tỉnh Hưng Yên với tỉnh Hải Dương: nhiệm kỳ
(2001-2005) tỉnh Hưng Yên có số TCCSĐ đạt TSVM chiếm 82,56%, tỉnh
Hải Dương số TCCSĐ đạt TSVM chiếm 76,55%, đến nhiệm kỳ (2006-
2010) số TCCSĐ đạt TSVM của tỉnh Hưng Yên vẫn chiếm tỉ lệ cao hơn
tỉnh Hải Dương. Từ những kết quả trên cho thấy, sau 14 năm tái lập tỉnh
116
với điều kiện thuận lợi không bằng tỉnh Hải Dương nhưng Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên đã chủ động sáng tạo trong công tác xây dựng TCCSĐ.
Về phát triển đảng viên. Tổng số đảng viên tính đến năm 2010, toàn
tỉnh có 57.398 đảng viên trong đó chia theo loại hình TCCSĐ, đảng viên khu
vực xã phường, thị trấn có 45.304 đảng viên [133, tr.1]. Số đảng viên năm
1997 là 45.401 đến năm 2000 tăng lên 48.047 đảng viên, năm 2005 tăng lên
52.493 đảng viên, năm 2010 số đảng viên tăng lên 57.398. Như vậy, sau 14
năm tái lập tỉnh số đảng viên tăng dần theo năm (đến năm 2010 tăng 12.357
đảng viên). Tuy nhiên, đảng viên được kết nạp ở loại hình xã, phường, thị trấn
giảm. Số lượng đảng viên được kết nạp ở khu vực nông thôn nhìn chung giảm
(năm 2005 kết nạp 505 đảng viên, 2006 kết nạp được 443 đảng viên, 2007 kết
nạp được 518 đảng viên, 2008 kết nạp được 369 đảng viên, 2009 kết nạp được
309 đảng viên, đến năm 2010 chỉ kết nạp được 254 đảng viên) [136, tr.4].
Biểu đồ 4.3: Phân tích số lương đảng viên kết nạp (1997-2010) [Phụ lục 3].
Công tác phát triển đảng viên tăng về số lượng và nâng cao về chất
lượng từ năm 1997 đến năm 2010, tỷ lệ đảng viên nữ tăng 1,53%, độ tuổi
bình quân giảm 1 tuổi, trình độ giáo dục phổ thông trung học tăng 8,88%,
trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học tăng 10,62%, lý luận chính trị trung
cấp, cao cấp, cử nhân tăng 8,06%; đảng viên khu vực nông thôn không có
trình độ chuyên môn còn 59,96%.
117
Biểu đồ 4.4: So sánh số lượng đảng viên kết nạp qua 2 nhiệm kỳ
(2001-2005), (2006-2010) của tỉnh Hưng Yên với một số tỉnh lân cận
[Phụ lục 10].
Trong thời gian 10 năm (2001-2010), tổng số lượng đảng viên mới của
tỉnh Hưng Yên được kết nạp nhiệm kỳ sau tăng hơn nhiệm kỳ trước, đây là
kết quả phù hợp với tình hình chung của các tỉnh lân cận. Số lượng đảng viên
được kết nạp mới của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ (2001-2005) là 7.484
đảng viên, nhiệm kỳ (2006-2010) là 7.688 đảng viên, tăng 2,7%. So sánh với
các tỉnh lân cận, thấp hơn tỷ lệ kết nạp đảng viên mới của tỉnh Thái Bình,
nhưng cao hơn tỷ lệ kết nạp đảng viên mới của tỉnh Hải Dương; Trong khi đó
tại tỉnh Bắc Ninh thì tỷ lệ kết nạp đảng viên mới nhiệm kỳ sau giảm so với
nhiệm kỳ trước.
Công tác đánh giá chất lượng đảng viên hàng năm được quan tâm, thực
hiện đúng quy trình và theo nội dung các văn bản hướng dẫn. Năm 1997 có
41.997/45.401 đảng viên tham gia đánh giá chất lượng, đến năm 2010 là
48.081/57.398 đảng viên tham gia đánh giá chất lượng. Qua phân tích chất
lượng đảng viên của tỉnh Hưng Yên, số đảng viên đủ tư cách trong 14 năm
tăng giảm không đồng đều, nhưng về cơ bản tăng lên; Nếu trong những năm
(1997-2000) đảng viên đủ tư cách đạt 84,98%, đến năm (2001-2005) viên đủ
tư cách giảm còn 70,60%, đến năm (2006-2010) đảng viên đủ tư cách tăng lên
118
79,50%. Đảng viên vi phạm tư cách năm 1997 là 291 đảng viên (chiếm
0,64%) giảm còn 265 đảng viên (chiếm 0,55%) năm 2010 [Phụ lục 2].
Biểu đồ 4.5: Phân loại chất lượng đảng viên tỉnh Hưng Yên (1997-2010)
[Phụ lục 2].
Thực hiện chủ trương của Đảng về công tác cán bộ, Đảng bộ tỉnh Hưng
Yên đã từng bước trẻ hóa, tiêu chuẩn hóa, chính sách hóa công tác cán bộ.
Trong nhiệm kỳ (2001-2005) Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã bổ nhiệm lại và bộ
nhiệm mới 157 đồng chí thuộc Tỉnh ủy quản lý và các sở ban ngành tương
đương, trong đó 5 Tỉnh ủy viên, 89 đồng chí lãnh đạo sở, ban; chỉ định và
chuẩn y kết quả bầu Bí thư, Phó Bí thư huyện, Thị ủy và tương đương, luân
chuyển và quy hoạch 224 đồng chí [17, tr.22]. Đến nhiệm kỳ (2006-2010),
Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã đề bạt, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại 274 cán bộ, trong
đó bổ nhiệm lại 56 cán bộ, 10 cán bộ cơ quan Trung ương quản lý, 98 cán bộ
thuộc diện Tỉnh ủy quản lý, 33 cán bộ thuộc diện huyện ủy quản lý, 40 cán bộ
trưởng cơ quan ban ngành, 47 cấp phó cơ quan; Bầu bổ sung, kiện toàn 2 Bí
thư, 1 Phó Bí thư Tỉnh ủy, 2 Chủ tịch UBND tỉnh và Chủ tịch HDND tỉnh, 3
Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, 2 Phó chủ tịch UBND tỉnh, 3 Tỉnh ủy viên
và 2 Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, thực hiện luân chuyển trên 20 cán bộ
thuộc diện Tỉnh ủy quản lý [18, tr.25].
119
Công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán
bộ được chú trọng nhằm bồi dưỡng, lựa chọn cán bộ cơ sở có phẩm chất
năng lực, bố trí vào vị trí phù hợp. Kết quả, từ năm 1997 đến 2010 đã có
566 cán bộ được cử đi học đại học và cao cấp lý luận chính trị; 8.059 cán
bộ học trung cấp lý luận chính trị. Bên cạnh những kết quả đạt được trong
công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ vẫn còn nhiều hạn chế. Việc trẻ
hóa đội ngũ cán bộ, luân chuyển cán bộ và công tác cán bộ nữ chưa đáp
ứng yêu cầu. trình độ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của một số cán bộ
còn hạn chế….
Để nâng cao vai trò trách nhiệm của đảng viên và TCCSĐ, công tác
kiểm tra, giám sát của Đảng được coi trọng, chất lượng, hiệu quả được nâng
lên. Nhiều cấp ủy quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và chủ động xây dựng chương
trình, kế hoạch thực hiện. UBKT các cấp được kiện toàn về tổ chức, tăng
cường và nâng cao chất lượng hoạt động.
Từ năm 1997 đến năm 2010, các cấp uỷ đã kiểm tra 10.985 lượt
TCCSĐ và 16.393 lượt đảng viên. UBKT các cấp kiểm tra 1.101 TCCSĐ và
4.560 đảng viên có dấu hiệu vi phạm trong đó 1.743 đảng viên các cấp ủy
viên các cấp [101; 136].
Trong 14 năm Đảng bộ tỉnh đã tiến hành xử lý kỷ luật 85 TCCSĐ trong
đó, 32 TCCSĐ (1997-2000), 21 TCCSĐ (2001-2005), đến năm (2006-2010) kỷ
luật 35 TCCSĐ, tăng lên 14 TCCSĐ bị thi hành kỷ luật so với năm (2001-2005).
Nguyên nhân dẫn đến sự biến động số lượng TCCSĐ phải thi hành kỷ luật trong
mỗi nhiệm kỳ chủ yếu là do số TCCSĐ bị xử lý kỷ luật tăng đột biến so với
những năm trước: Năm 1999 (12 TCCSĐ), 2004 (7 TCCSĐ), và 2009 (10
TCCSĐ). Trong đó, nguyên nhân trực tiếp là do công tác kiểm tra Đảng được
chú trọng hơn để chuẩn bị cho việc tiến hành Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV,
XVI, XVII [Phụ lục 7].
800
700
600
500
1997-2000
400
2001-2005
300
2006-2010
200
100
0
Vi phạm
Kỷ luật
Giải tán
120
Biểu đồ 4.6: Thi hành kỷ luật tổ chức cơ sở đảng tỉnh Hưng Yên (1997-2010)
[Phụ lục 7].
Tổng số đảng viên phải thi hành kỷ luật từ năm 1997 đến năm 2010 là
3.139 đảng viên vi phạm, trong đó 1.118 cấp uỷ viên các cấp, khai trừ khỏi
Đảng 465 đảng viên, xử lý bằng pháp luật 162 đảng viên. Qua khảo sát
thực tế, số đảng viên phải kỷ luật nhiệm kỳ (2006- 2010) là 973 đảng viên,
giảm 31 đảng viên, số đảng viên bị khai trừ giảm 127 đảng viên, nhưng số
đảng viên bị thi hành kỷ luật bằng pháp luật tăng 51 đảng viên so với năm
(2001-2005) [15; 17; 18].
Biểu đồ 4.7: Thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm (1997-2010) [Phụ lục 8].
121
Như vậy, trong 14 năm (1997-2010) công tác kiểm tra và thi hành kỷ
luật của Đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã góp phần tích cực trong giáo
dục cán bộ, đảng viên, ngăn ngừa vi phạm, chống quan liêu tham nhũng, tiêu
cực, giữ gìn sự trong sạch của Đảng, củng cố lòng tin trong Đảng bộ và trong
nhân dân.
Qua thực tế nghiên cứu cho thấy, đạt được những kết quả trên do nhiều
nguyên nhân. Trước hết do Tỉnh ủy luôn coi trọng kiên trì đổi mới phương
thức lãnh đạo, quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Trung ương
về xây dựng TCCSĐ.
Việc quán triệt chủ trương đổi mới cách thức ra nghị quyết và học
tập nghiên cứu nghị quyết, để từng bước cụ thể hóa các nghị quyết của
Trung ương. Tỉnh ủy Hưng Yên đã tập trung xây dựng các chương trình
công tác và chỉ đạo thực hiện bằng các kế hoạch và hướng dẫn cụ thể.
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã chú ý khắc phục tình trạng ra quá nhiều chỉ thị,
nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết thiếu tập trung, ít hiệu quả.
Mặt khác, Đảng bộ tỉnh đã đổi mới cách chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị
quyết. Các đề án, nghị quyết, chương trình, kế hoạch công tác đều có lộ trình,
bước đi cụ thể, phân công tổ chức, cá nhân triển khai thực hiện với phương châm
“nói đi đôi với làm”, đã quyết là phải làm. Mở rộng phân cấp, phát huy tính chủ
động sáng tạo của cấp ủy đảng các cấp ở địa phương, đơn vị cơ sở, lập kế
hoạch và xây dựng chỉ tiêu cụ thể cho từng phong trào.
Trong những năm đầu tái lập tỉnh, nhằm triển khai có hiệu quả Chỉ
thị số 05-CT/TU (1997) về Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng
tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
Hưng Yên, Ban tổ chức Tỉnh ủy Hưng Yên ban hành Hướng dẫn số 07-
HD/TU (15-4-1997) nhằm cụ thể hóa đến từng loại hình cơ sở. Ngay từ đầu
năm, cấp trên cơ sở phải xây dựng được định mức cho từng chỉ tiêu làm cơ
sở cho việc đăng ký và phân loại cơ sở hàng năm theo đúng kế hoạch về
122
thời gian quy định. Các huyện, thị ủy và Đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy cần
tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, chính quyền, các đoàn thể để
phần loại cơ sở một cách đồng bộ thống nhất. Nhờ vậy, số lượng TCCSĐ
đạt TSVM ngày một tăng.
Tăng cường đi cơ sở, tiếp xúc với cán bộ, đảng viên và nhân dân, cùng
nhau trao đổi, tháo gỡ những khó khăn, giải quyết công việc tại chỗ. Thực
hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình.
Xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính
trị toàn tỉnh. Làm rõ cơ chế tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và trách nhiệm
của người đứng đầu cấp ủy. Phát huy tính chủ động và chất lượng tham mưu của
các ban đảng, trách nhiệm và vai trò của các cấp ủy viên.
Trong công tác đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ,
đảng viên và Chương trình đưa thông tin xuống cơ sở, tỉnh gặp rất nhiều khó
khăn, từ cơ sở vật chất, phương tiện đến con người. Bằng sự đoàn kết nhất trí,
bản lĩnh, trí tuệ và sự nắm bắt công việc một cách khoa học, nghiêm túc, tập
thể lãnh đạo Tỉnh ủy đã quyết tâm trong một thời gian ngắn sẽ giải quyết căn
bản những khó khăn của việc đưa thông tin xuống cơ sở. Mốt số huyện như
Phù Cừ, Ân Thi, Yên Mỹ... đã tổ chức các cuộc thi: cán bộ tuyên truyền viên
giỏi, thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tổ chức cuộc thi bí thư
chi đoàn, bí thư chi bộ giỏi...nhiều cá nhân đạt được giải thưởng cao. Phong
trào này đã làm dấy lên khí thế thi đua học tập trong ban chi ủy và đảng viên,
từ đó tìm được nhiều cán bộ tuyên truyền giỏi, khắc phục tình trạng thiếu cán
bộ tuyên truyền.
Trong công tác kiểm tra, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã chủ động sáng tạo
trong cách giải quyết những TCCSĐ yếu kém kéo dài hoặc có vấn đề phức
tạp nghiêm trọng thì Thường trực Huyện ủy trực tiếp lập tổ công tác xuống
chỉ đạo giải quyết, có nơi cử Uỷ viên Thường trực hoặc Phó Bí thư phụ trách
tổ công tác giải quyết yếu kém. Đồng thời tổ chức huy động các ngành, nhất
123
là các ngành trong khối nội chính làm rõ những sai phạm, quy trách nhiệm và
giải quyết triệt để.
UBKT các cấp thực hiện theo chương trình kế hoạch và Điều lệ Đảng, cơ
bản đảm bảo nguyên tắc, quy trình. Tỉnh ủy, huyện, thị ủy, đảng ủy trực thuộc
Tỉnh đã xây dựng chương trình kiểm tra ngày từ đầu năm. Qua khảo sát thực tế
tỉnh Hưng Yên các cấp ủy cơ sở xây dựng được chương trình kiểm tra tốt đạt
hiệu quả như các huyện ủy: Yên Mỹ, Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, Phù
Cừ, Tiên Lữ...Với biện pháp này một số TCCSĐ yếu kém dần đi vào ổn định
(huyện Tiên Lữ, huyện Kim Động không còn TCCSĐ yếu kém)
Thực hiện nghiêm nền nếp sinh hoạt Đảng được chấn chỉnh, nội dung và
chất lượng sinh hoạt được cải tiến và nâng lên. Gắn nội dung sinh hoạt chi bộ,
đảng bộ với việc kiểm điểm trách nhiệm lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị
của đơn vị và kết quả thực hiện nhiệm vụ của từng đảng viên. Chăm lo xây dựng
TCCSĐ về chính trị, tư tưởng và tổ chức, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi biểu
hiện suy thoái trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.
4.1.2. Một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng tổ chức
cơ sở đảng và nguyên nhân
4.1.2.1. Hạn chế, khuyết điểm
Mặc dù chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đề ra sát hợp với tình hình
thực tiễn của địa phương, đặc biệt là đối với công tác xây dựng TCCSĐ, tuy
nhiên, trong quá trình chỉ đạo, triển khai thực hiện vẫn còn hạn chế, khuyết điểm.
Một là, về nhận thức và quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng.
- Công tác tư tưởng chính trị còn bất cập, việc phổ biến, quán triệt các
chỉ thị, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số
cấp uỷ và lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa nghiêm, chưa xây dựng chương trình
kế hoạch cụ thể. Công tác thông tin tuyên truyền, đào tạo bồi dưỡng lý luận,
phổ biến giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước chậm đổi mới hình thức, biện pháp, chưa chú trọng phát hiện,
124
phổ biến nhân rộng các điển hình tiên tiến và hướng mạnh về cơ sở. Công tác tư
tưởng chưa được quan tâm thường xuyên. Một bộ phận cán bộ đảng viên còn thờ
ơ, mơ hồ về chính trị, đã hạn chế không nhỏ tới hiệu quả công tác tư tưởng.
Một số TCCSĐ còn xem nhẹ vai trò của cán bộ làm công tác tuyên
truyền, các TCCSĐ chủ yếu chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, cán bộ không
xếp được vào vị trí nào nữa rồi mới đưa vào làm tuyên giáo, với quan điểm
không có tư tưởng không chết được, không có kinh tế vật chất không sống
được [Phụ lục 12].
Công tác tư tưởng, lí luận, như: hoạt động của đội ngũ báo cáo viên,
cộng tác viên dư luận xã hội chất lượng còn hạn chế; chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, đảng viên ở một số trung tâm bồi dưỡng chính trị chưa đáp ứng
yêu cầu. Một bộ phận đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên giáo, nhất là ở cơ sở
năng lực, trình độ chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ mới đặt ra; việc nắm bắt tư
tưởng tâm trạng xã hội để phân tích, định hướng dư luận còn hạn chế; công
tác tuyên truyền có lúc còn chưa bám sát cơ sở và xuất phát từ yêu cầu thực
tiễn, việc cung cấp thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân còn chưa kịp
thời. Công tác giáo dục lý luận chính trị, bồi dưỡng nghiệp vụ chưa bám sát
- Tự phê bình và phê bình có một số tổ chức cơ sở đảng triển khai
sự vận động và yêu cầu của đời sống xã hội.
chưa nghiêm túc và hiệu quả. Kiện toàn bộ phận chuyên trách Ban chỉ đạo
Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) còn chậm. Kiểm điểm phê bình có nơi
còn chung chung, chưa rõ trách nhiệm cá nhân đối với từng lĩnh vực ban,
ngành cụ thể. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thẳng thắn trong đấu
tranh tự phê bình và phê bình, chưa nghiêm túc tiếp thu, sửa chữa khuyết
điểm, còn có biểu hiện mất đoàn kết, kèn cựa, cá nhân chủ nghĩa, đảng viên
giảm sút ý chí chiến đấu, suy thoái đạo đức. Một số TCCSĐ và một bộ
phận đảng viên tính tiên phong gương mẫu giảm sút, chấp hành Nghị quyết
Đảng không nghiêm.
125
Việc chuẩn bị các chương trình, dự án còn chậm về thời gian, chất lượng
các đề án chưa cao. Biện pháp tổ chức thực hiện chưa quan tâm đúng mực. Một
số cán bộ, ngành tổ chức thiếu cụ thể kém hiệu quả. Qua kiểm tra đã tiến hành
chấn chỉnh kịp thời nhưng chưa phúc tra việc sửa chữa, khắc phục.
Nhiều cấp uỷ đảng mới chỉ quan tâm lãnh đạo quản lý xã hội, chưa
quan tâm lãnh đạo phát triển kinh tế, thậm chí có nơi vai trò tổ chức đảng lu
mờ. Cụ thể một số Đảng bộ xã như: Nghĩa Hiệp huyện Văn Giang; Phù Ủng
huyện Khoái Châu, Phan Sào Nam huyện Phù Cừ…
Hai là, về chỉ đạo, tổ chức thực hiện
- Công tác xây dựng TCCSĐ TSVM ở một số đơn vị còn làm hình
thức, chưa chú trọng vào những nội dung quan trọng, cụ thể. Trong công tác
xử lý kỷ luật của cấp uỷ, UBKT các cấp có nơi còn biểu hiện hữu khuynh, né
tránh, buông lỏng kỷ luật, đùn đẩy nhiệm vụ lên trên, có trường hợp còn sai
thẩm quyền và vi phạm nguyên tắc. Nhiều nơi chưa kiểm tra được cấp uỷ
viên cùng cấp và cán bộ diện cấp uỷ quản lý, chậm phát hiện sửa chữa yếu
kém, bao che khuyết điểm, không xử lý khuyết điểm còn để kéo dài, chưa
tập trung lãnh đạo giải quyết các vấn đề nảy sinh phức tạp tại cơ sở. Xây
dựng TCCSĐ và phát triển đảng viên trong doanh nghiệp ngoài nhà nước
còn thấp. Nhiều cấp uỷ chưa quan tâm kiện toàn đội ngũ cán bộ kiểm tra,
cấp uỷ xã, phường, thị trấn chưa bố trí phó chủ nhiệm UBKT chuyên trách
như hướng dẫn của tỉnh.
Một số đảng bộ cơ sở chưa quán triệt và thực hiện đầy đủ Quy định số
94,95 QĐ/TW (3-3-2004) của Ban Bí thư Trung ương (khóa IX) về chức
năng nhiệm vụ của cán bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn. Nội dung lãnh
đạo, chỉ đạo chưa chú trọng vào những vấn đề trọng yếu, vấn đề phức tạp nảy
sinh từ cơ sở. Chất lượng sinh hoạt chi bộ còn hạn chế, tính chiến đấu trong tự
phê bình, phê bình ở một số chi bộ chưa cao tinh thần trách nhiệm. Mô hình
đảng bộ bộ phận, một thôn có nhiều chi bộ, chi bộ cơ quan, chi bộ quân sự,
chi bộ dân quân tự vệ, chưa được tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời.
126
Vai trò cấp ủy một số chi bộ cơ sở còn hạn chế trong việc xem xét giới
thiệu Bí thư nên khi đưa ra bầu thì tín nhiệm của đồng chí Bí thư thấp. Đến
năm 2005, số trưởng thôn là quần chúng là 115/846 trưởng thôn, chiếm
13,59% số thôn, nhiều thôn vẫn do hai người là Bí thư chi bộ và trưởng thôn
đảm nhiệm [121, tr.2].
Do trình độ cán bộ, đảng viên ở một số nơi còn hạn chế nên còn tình
trạng một số cấp uỷ, nhất là cấp uỷ cơ sở chưa nhận thức đầy đủ chức năng
nhiệm vụ của TCCSĐ dẫn tới triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị còn hình
thức, kém hiệu quả.
- Công tác phát triển đảng viên, một số chi bộ, đảng bộ trong công tác
xây dựng kế hoạch phát triển đảng viên chưa được quan tâm đúng mức; một
số Đảng bộ các cấp chưa đưa nội dung công tác phát triển đảng viên vào
chương trình hoạt động của chi bộ, đảng bộ mình và cá biệt có nơi thực hiện
theo kiểu “đến hẹn lại lên”. Một bộ phận cán bộ đảng viên trong đó có những
đảng viên có vai trò chủ chốt, có chức có quyền nhưng yếu về năng lực công
tác, phẩm chất đạo đức, thiếu tính tiên phong gương mẫu, thiếu sự gắn bó với
quần chúng, thiếu sự tâm huyết nghề nghiệp đã tác động xấu đến công tác
phát triển đảng viên.
Công tác tạo nguồn còn nhiều bất cập, nhiều thanh niên không muốn
vào Đảng; nhiều đoàn viên thanh niên ưu tú muốn được tự khẳng định mình
thể hiện vai trò tiên phong gương mẫu nhưng không có điều kiện thực hiện;
các phong trào và hoạt động của đoàn thể còn nghèo nàn; một số TCCSĐ
chưa gắn công tác phát triển đảng viên với công tác xây dựng phong trào cách
mạng trong quần chúng, nếu có thì hiệu quả thấp, còn hình thức nên không
phát hiện được những đoàn viên thanh niên có năng lực phẩm chất cách mạng
để tạo nguồn kết nạp; nhiều cơ sở đoàn hoạt động mang tính chất chiếu lệ
hoặc nặng tư tưởng thành tích cho nên cũng không lựa chọn được những đoàn
viên ưu tú; thanh niên chỉ làm kinh tế không muốn vào Đảng....Cụ thể một số
127
TCCSĐ nhiều năm không kết nạp được đảng viên như: chi bộ thôn Giữa và
thôn Ngọc xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm; chi bộ khu phố Nam Trung, phường
Quang Trung, thành phố Hưng Yên.
Thực tế thôn Ngọc, xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm: Một thời gian dài
chi bộ chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế nông thôn nên không để ý
đến công tác tạo nguồn đảng viên. Có cử thanh niên ưu tú cử đi học
nhận thức về Đảng, nhưng khi về địa phương lại không tạo cơ hội để
họ tiếp tục phấn đấu vào Đảng, nên nhiều trường hợp học xong về
địa phương cũng không vào được Đảng. Một thực tế là: thanh niên đi
học, đi làm kinh tế, hoặc đi làm công nhân trong các công ty ở ngay
Hưng Yên họ cũng không muốn vào Đảng. Số thanh niên còn lại ở
nhà nếu làm kinh tế giỏi thì lại chưa học hết lớp 12 không đủ tiêu
chuẩn và Đảng và bản thân họ cũng không muốn vào Đảng. Nông
dân thì lại càng không muốn vào Đảng vì họ không nhìn thấy ngay
cái lợi [Phụ lục 14].
Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền bồi dưỡng quần chúng phấn đấu
vào Đảng ở một số cơ sở đảng chưa được thường xuyên liên tục. Nội dung
tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng quần chúng về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước
còn thiếu sức hấp dẫn, còn nặng về lý thuyết, xa rời thực tiễn cho nên thiếu
sức thuyết phục đối với thế hệ trẻ.
- Tính trạng khép kín trong công tác quy hoạch cán bộ, vẫn còn xẩy ra
ở một số nơi; một số cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa chủ động xây
dựng quy hoạch cán bộ, còn bị động và lúng túng, còn tình trạng hẫng hụt cán
bộ lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là cán bộ cơ sở xã, phường thị trấn chưa được
quan tâm đúng mực. Việc nhận xét đánh giá cán bộ, điều chỉnh, bổ sung quy
hoạch cán bộ chưa thường xuyên, cụ thể, dân chủ và khách quan, do đó chất
lượng quy hoạch hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài
cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
128
Qua khảo sát thực tế Đảng bộ xã Nghĩa Hiệp cho thấy một thực trạng:
Cán bộ trẻ cho đi học để nâng cao trình độ chuyên môn thì không
muốn đi nhưng lại muốn làm chức to... Người có bằng cấp thì đi
công tác ở cơ quan, còn lại những người không đi được đâu thì làm
cán bộ địa phương...Khi thí điểm ở một số thôn trong xã mô hình bí
thư chi bộ kiêm trưởng thôn một vài thôn tìm được cán bộ đủ đức
đủ tài thì phát huy tốt tác dụng của mô hình này, còn một vài thôn
không tìm được cán bộ tốt dẫn đến hiện tượng cán bộ độc đoán
chuyên quyền...[Phụ lục 13].
Một số đồng chí cán bộ trẻ chưa thường xuyên học tập, rèn luyện để
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, còn thiếu kiến thức thực tiễn nên
hiệu quả công việc còn thấp. Luân chuyển, điều động cán bộ còn ít; đề bạt, bổ
nhiệm cán bộ chưa kịp thời; chưa có quy hoạch tổng thể đội ngũ cán bộ lãnh
đạo của toàn hệ thống chính trị. Quy hoạch cán bộ trẻ, cán bộ nữ ở một số địa
phương, cơ quan, đơn vị ít, cơ cấu chưa đảm bảo tính kế thừa liên tục; tỉ lệ
học đại học chính quy còn thấp so với tổng số cán bộ được quy hoạch trong
toàn tỉnh Hưng Yên.
- Việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ
Đảng chưa đồng đều giữa các đơn vị. Còn nhiều UBKT cơ sở chưa tiến hành
kiểm tra được cấp ủy viên cùng cấp. Kết quả thực hiện nhiệm vụ giám sát
theo chuyên đề chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ trọng tâm; còn một
bộ phận cấp ủy và UBKT các cấp chưa thực hiện nhiệm vụ này.
Thực hiện chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ kiểm tra chưa đồng đều
ở các cấp và UBKT các cấp. Còn một số cấp ủy, nhất là cấp ủy cơ sở chưa nhận
thức đầy đủ về chức năng nhiệm vụ, không phân biệt rõ nhiệm vụ kiểm tra của
cấp ủy và UBKT, xây dựng kế hoạch còn hình thức, tiến hành kiểm tra chưa
đảm bảo quy trình. Số lượng kiểm tra đảng viên và TCCSĐ có dấu hiệu vi phạm
129
tăng, nhưng vẫn chưa phản ánh đúng thực trạng vi phạm. Việc xử lý kỉ luật cả
cấp ủy, UBKT có nơi còn biểu hiện né tránh, buông lỏng, đùn đẩy nhiệm vụ lên
cấp trên. UBKT Đảng ủy cơ sở, đặc biệt là khối hành chính - sự nghiệp và doanh
nghiệp hoạt động còn yếu, ý thức khắc phục khuyết điểm và thực hiện nhiệm vụ
chưa nghiêm. Kiểm tra chấp hành điều lệ, nghị quyết của Đảng.
Có nơi chưa kiểm tra được cấp ủy viên cùng cấp và cán bộ diện cấp ủy
quản lý. Còn 177/299 UBKT cơ sở chưa thực hiện được nhiệm vụ kiểm tra
đảng viên (trong đó có 54/161 xã, phường, thị trấn). 241/299 UBKT cơ sở
chưa kiểm tra tổ chức đảng (trong đó 110/161 tổ chức thuộc khối xã, phường,
thị trấn) [120, tr.6].
Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành với Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể trong việc nắm tư tưởng, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân
và tham mưu giúp cấp uỷ, chính quyền giải quyết nguyện vọng và những vấn
đề bức xúc ở địa phương, cơ sở có lúc, có nơi chưa kịp thời và đồng bộ. Nội
dung, phương thức hoạt động của một số đoàn thể cấp cơ sở chậm đổi mới,
còn nặng tính hành chính; việc tập hợp nhân dân tham gia vào các hoạt động
của mặt trận, đoàn thể ở một số địa phương còn hạn chế. Thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở nhiều nơi chưa nghiêm, hiệu quả chưa cao. Việc nhân rộng
các điển hình "Dân vận khéo" và thực hiện “Năm dân vận chính quyền” ở một
số nơi còn chậm, kết quả chưa rõ nét. Thực trạng này tồn tại ở một số TCCSĐ
thuộc xã Xuân Quan, Phụng Công, huyện Văn Giang, lúng túng trong giải
quyết dứt điểm việc đền bù tiền cho bà con xã viên bị thu hồi đất nông nghiệp
cho dự án đường Quốc lộ 5.
4.1.2.2. Nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm
Những hạn chế, khuyết điểm trên trước hết là do nguyên nhân khách
quan: Thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế, kinh tế tri
thức... đã và đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác xây dựng tổ chức
cơ sở đảng của cả nước nói chung và của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nói riêng.
130
Mặt trái của nền kinh tế theo cơ chế thị trường tác động đến mọi mặt của đời
sống xã hội, bên cạnh đó các cấp ủy chưa tích cực, chủ động kiểm tra, thanh
tra kịp thời phát hiện những sai phạm, khuyết điểm mới phát sinh của cơ chế
để khắc phục, ngăn chặn.
Do tác động của cơ chế thị trường làm cho một số đoàn viên thanh niên
và quần chúng nhân dân bị dao động trước lợi ích vật chất trước mắt, dẫn đến
thiếu ý thức phấn đấu vào Đảng. Thực tế này ảnh hưởng rất lớn đến công tác
tạo nguồn phát triển Đảng.
Về nguyên nhân chủ quan: Việc triển khai chỉ thị và hướng dẫn của
Ban Tổ chức Tỉnh uỷ ở một số TCCSĐ chưa được coi trọng thường xuyên; có
biểu hiện làm lướt, nghèo về nội dung, biện pháp. Do vậy, cán bộ, đảng viên
và quần chúng chưa nhận thức đúng đắn, sâu sắc về yêu cầu, mục tiêu của
phong trào. Nhiều tổ chức đảng, nhất là của cấp uỷ cơ sở chưa giành thời gian
bàn chuyên đề về công tác thi đua, chưa thực hiện đúng quy trình đăng ký, chỉ
đạo thi đua theo tinh thần chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.
Việc cụ thể hoá tiêu chuẩn cơ sở đảng TSVM để xây dựng tiêu chuẩn
thi đua cho các tổ chức thuộc hệ thống ở một số Đảng đoàn, Ban cán sự đảng
còn chậm, chưa thật hoàn chỉnh, đồng bộ. Công tác kiểm tra, hướng dẫn chưa
thường xuyên, kiên quyết. Những chủ trương, kế hoạch của Tỉnh uỷ nhằm
ngăn chặn yếu kém chưa được thực hiện nghiêm túc, nhất là việc xem xét giải
quyết những tồn tại, sai phạm trong quản lý đất đai, huy động và quản lý xây
dựng cơ sở hạ tầng v.v... Trong khi đó, chất lượng sinh hoạt Đảng, tự phê
bình và phê bình ở chi bộ, Đảng bộ còn nhiều hạn chế chậm được khắc phục.
Một số nơi cấp uỷ cấp trên thiếu sâu sát, nương nhẹ với cơ sở, xử lý không
kiên quyết, không tập trung giải quyết để cơ sở yếu kém kéo dài, có nơi
nghiêm trọng hoặc phát sinh mới. Cấp uỷ cấp trên còn tình trạng thiếu kiên
quyết trong việc xử lí kỉ luật TCCSĐ và đảng viên, hiệu quả giáo dục, phòng
ngừa vi phạm chưa cao.
131
Chưa chú trọng đúng mức công tác tư tưởng trong Đảng bộ và nhân
dân; thiếu đôn đốc kiểm tra, giám sát, kịp thời uốn nắn những thiếu sót; chưa
chủ động giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo và những vấn đề phát sinh ở cơ
sở. Tính chiến đấu, vai trò tiền phong gương mẫu của một bộ phận cán bộ,
đảng viên chưa cao; chất lượng sinh hoạt, tinh thần tự phê bình và phê bình
trong sinh hoạt đảng của khá nhiều TCCSĐ còn hạn chế.
Còn không ít cấp uỷ đảng, nhất là cấp uỷ cơ sở, trước hết là người đứng
đầu chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc, thiếu quyết tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo,
do đó chưa nghiêm túc quán triệt, tổ chức thực hiện có hiệu quả chỉ thị, nghị
quyết của cấp trên và nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng, làm
giảm sút vai trò lãnh đạo và uy tín của Đảng.
Một số cán bộ, đảng viên, cấp uỷ viên chưa thường xuyên rèn luyện tu
dưỡng đạo đức lối sống. Một bộ phận cán bộ, đảng viên năng lực còn hạn chế.
Kiểm tra, đôn đốc thực hiện nghị quyết và các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy
còn chậm, một số việc chưa đáp ứng yêu cầu.
Trình độ nghiệp vụ, năng lực thực tiễn và tinh thần trách nhiệm của một
bộ phận cán bộ các cấp, các ngành chưa đáp ứng yêu cầu vị trí công tác, nhất là
trong tham mưu, đề xuất giúp cấp uỷ, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ
chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng và lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KT-XH.
4.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU
Từ những ưu điểm, hạn chế, khiếm khuyết của quá trình lãnh đạo xây
dựng TTCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (1997-2010) có thể đúc kết một số
kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn.
4.2.1. Nhận thức đúng vai trò tầm quan trọng và nhiệm vụ chính trị
của tổ chức cơ sở Đảng trong từng giai đoạn lịch sử
Thực tiễn xây dựng các chi bộ, đảng bộ cơ sở TSVM cùng những kết
quả đạt được của cuộc vận động củng cố và kiện toàn các TCCSĐ ở Hưng Yên
những năm (1997-2010) càng khẳng định vị trí, tầm quan trọng của TCCSĐ.
132
Thực tiễn đó cũng đã chỉ ra rằng quá trình để có được nhận thức đúng đắn về vị
trí, tầm quan trọng của TCCSĐ ở Hưng Yên phải kiên trì trên hai mặt: vừa đấu
tranh chống lại tư tưởng coi nhẹ và nhận thức mơ hồ, lệch lạc về vai trò lãnh
đạo của TCCSĐ; vừa đấu tranh để nâng cao nhận thức tư tưởng, trình độ mọi
mặt của cán bộ, đảng viên ở cơ sở và kiện toàn tổ chức, cải tiến phương pháp
công tác của cấp ủy nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ lãnh đạo của thời kỳ mới.
Để nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, quần chúng về tầm quan
trọng của TCCSĐ, vấn đề không phải ở chỗ giải thích, tuyên truyền với quần
chúng về Đảng, mà vấn đề là TCCSĐ cố gắng phấn đấu để nâng cao trình độ
như thế nào.
Kinh nghiệm ở Đảng bộ tỉnh Hưng Yên chỉ ra, quá trình xác lập và
nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của TCCSĐ chính là quá trình rèn
luyện lập trường tư tưởng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở, làm cho họ quán
triệt đường lối, chủ trương của Đảng; là quá trình phấn đấu để nâng cao kiến
thức về mọi mặt của cán bộ, đảng viên; là quá trình bồi dưỡng, bố trí đúng
cán bộ, đảng viên cốt cán trong lãnh đạo nhân dân phát triển KT-XH; là xác
định đúng nhiệm vụ chính trị ở cơ sở…
Quán triệt tinh thần đào tạo bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yếu cầu nhiệm
vụ mới, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 24-
NQ/TU (3-11-2004) về việc thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW (30-11-
2004) của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời
kỳ đẩy manh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Chương trình số 35-
CTr/TU (27-6-2002) về đổi mới nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ
sở xã, phường, thị trấn; Đề án 01-ĐA/TU (6-2-2009) quy hoạch cán bộ lãnh
đạo, quản lý trẻ... Thông qua thực hiện các chương trình, đề án, Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên bước đầu xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên cấp xã,
phường, thị trấn đủ năng lực xây dựng Đảng trong điều kiện phát triển kinh
tế thị trường.
133
Những kết quả bước đầu trong công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ
Hưng Yên trong những năm đầu sau tái lập được thể hiện rõ, trước tiên ở việc
xác định đúng nhiệm vụ chính trị của cơ sở. Đó là những vấn đề về mục tiêu,
phương hướng và những giải pháp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh,
quốc phòng v.v.. của cơ sở theo quan điểm, đường lối của Đảng. Trong thời
điểm nào, nhiệm vụ chính trị của TCCSĐ phải luôn luôn phản ánh được tâm tư,
nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân lao động. Nhiệm vụ chính trị của
TCCSĐ thể hiện mục tiêu, phương hướng hoạt động trên tất cả các mặt, còn là
sự định hướng hoạt động của chính quyền và các đoàn thể quần chúng ở cơ sở.
Để xác định đúng nhiệm vụ chính trị, TCCSĐ trước hết là tập thể cấp
uỷ phải nắm chắc và thực hiện đúng đường lối chính trị của Đảng, pháp luật
của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên. Trong từng giai đoạn cách
mạng cụ thể, nhiệm vụ chính trị của TCCSĐ cần tập trung vào những nhiệm
vụ và địa bàn trọng yếu như: Thực hiện tốt chính sách kinh tế nhiều thành
phần, trong đó cần chú ý phát triển kinh tế hộ gia đình, coi trọng, khuyến
khích và giúp đỡ kinh tế hộ phát triển; Phát huy tính năng động, sáng tạo với
những hình thức, biện pháp, bước đi, cách làm phù hợp với điều kiện và đặc
điểm của từng vùng, từng cơ sở, đồng thời phải nắm vững tâm tư, nguyện
vọng, lợi ích chính đáng của người lao động, đó là điều kiện vững chắc để đề
ra phương hướng đúng đắn, hợp lòng dân và có khả năng thực thi. Khi xác
định nhiệm vụ chính trị, từng TCCSĐ cần phải thực hiện tốt quan điểm "Dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".
4.2.2. Để xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, các cấp ủy đảng
chú trọng và thường xuyên nâng cao chất lượng công tác đánh giá, phân
loại tổ chức cơ sở đảng và đảng viên
Đánh giá, phân loại đúng thực chất TCCSĐ và đảng viên có ý nghĩa
quan trọng đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
TCCSĐ. Đánh giá, phân loại đúng thực chất TCCSĐ và đảng viên có nghĩa là
134
chất lượng ấy phải được thể hiện ở sự phát triển KT-XH, đảm bảo quốc
phòng, an ninh ở địa phương, ở kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ
quan, đơn vị. Đây là căn cứ, thước đo quan trọng nhất để đánh giá, phân loại
đúng thực chất TCCSĐ và đảng viên. Nhận thức sâu sắc và thực hiện tốt điều
này hạn chế và loại trừ được tình trạng xảy ra ở nhiều nơi: chi bộ, đảng bộ cơ
sở TSVM, đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ chiếm tỷ
lệ rất cao, song chi bộ, đảng bộ vẫn không mạnh, KT-XH trên địa bàn phát
triển chậm, an ninh trật tự còn nhiều vấn đề phức tạp, kết quả thực hiện nhiệm
vụ chính trị của cơ quan, đơn vị không cao.
Cấp ủy và UBKT các cấp tích cực chủ động thực hiện khá toàn diện các
nhệm vụ công tác kiểm tra, giám sát. Trong 14 năm từ năm 1997 đến năm 2010,
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã tiến hành kiểm tra 11.647 lượt TCCSĐ, 13.180 lượt
đảng viên; giám sát 1.147 lượt TCCSĐ và 12.1177 lượt đảng viên. Trong đó,
5.883 lượt TCCSĐ đạt TSVM và 477.930 lượt đảng viên hoàn thành tốt nhiệm
vụ [Phụ lục 2].
Năm 2008, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã tiến hành thí điểm, tổ chức 5
cuộc kiểm tra và 3 cuộc giám sát tại một số địa phương với những nội dung
kiểm tra khác nhau: Kiểm tra việc thực hiện, nhiệm vụ kiểm tra tại Đảng bộ
huyện Mỹ Hào, Văn Lâm, Phù Cừ; kiểm tra việc triển khai, quán triệt và tổ
chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X) về đẩy mạnh cải cách
hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý bộ máy nhà nước tại Đảng
bộ huyện Kim Động, Tiên Lữ, Ân Thi; kiểm tra việc thực hiện các chủ
trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí trong quản lý và sử dụng ngân sách Nhà nước vào
mục đích chi tiêu, mua sắm, đầu tư xây dựng cơ bản; kiểm tra việc quán
triệt, định hướng đến 2015” tại sở Giáo dục - đào tạo, Đảng bộ huyện Văn
Giang, Phù Cừ, thị xã Hưng Yên; giám sát việc triển khai, quán triệt Nghị
quyết số 03-NQ/TU (13-7-2006) của Tỉnh uỷ về phát triển công nghiệp, tiểu
135
thủ công nghiệp giai đoạn 2006-2010 tại Đảng bộ huyện Yên Mỹ và Sở
Công nghiệp; giám sát việc triển khai, quán triệt và thực hiện Nghị quyết số
08-NQ/TU (20-10-2006) của Tỉnh uỷ về chương trình phát triển nông
nghiệp, nông thôn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2006-2010 tại Đảng bộ huyện
Văn Giang và Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn; giám sát việc quán
triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU (7-6-2006) của Tỉnh uỷ
về đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân
trong tình hình mới tại sở Y tế, Đảng bộ huyện Mỹ Hào và huyện Văn Lâm.
Từ kết quả kiểm tra cụ thể tại một số địa phương đã giúp Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên kịp thời rút kinh nghiệm trong công tác đánh giá, phân loại TCCSĐ
và đảng viên đúng thực chất. Tỉnh uỷ đã tập trung chỉ đạo khắc phục tình trạng
nể nang, hữu khuynh và “bệnh thành tích” trong đánh giá, phân loại bằng cách:
tăng cường việc quán triệt, hướng dẫn, nghiên cứu và thực hiện các văn bản
hướng dẫn của Đảng và của Tỉnh uỷ về đánh giá, phân loại TCCSĐ và đảng
viên; chỉ đạo các cơ quan tham mưu, nhất là Ban Tổ chức Tỉnh uỷ cụ thể hoá
các tiêu chí đánh giá tổ chức cơ sở đảng TSVM và chất lượng đảng viên phù
hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình TCCSĐ. Tăng cường kiểm tra,
giám sát hoạt động này, thành lập và nâng cao chất lượng hoạt động tổ công tác
của ban thường vụ cấp ủy để hướng dẫn, kiểm tra, thẩm định kết quả đánh giá
chất lượng TCCSĐ và đảng viên. Ở những địa phương, cơ quan, đơn vị có số
lượng TCCSĐ đạt TSVM, đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt và xuất sắc
nhiệm vụ chiến tỷ lệ rất cao nhưng kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị thấp,
phải tiến hành đánh giá, phân loại lại dưới sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát chặt
chẽ của cấp uỷ cấp trên trực tiếp. Ở những đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ, nếu xảy
ra tình trạng này, Tỉnh uỷ xem xét, kiểm tra và chấn chỉnh việc cấp uỷ phê
duyệt và công nhận TCCSĐ đạt TSVM.
Tăng cường công tác kiểm tra, sàng lọc đội ngũ đảng viên, đưa những
người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng. Đây là một trong những biện
pháp quan trọng để có được đội ngũ đảng viên TSVM, tổ chức cơ sở đảng được
136
củng cố, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu được tăng cường, uy tín và ảnh
hưởng của Đảng trong nhân dân được nâng lên. Tuy nhiên đây là việc làm khá
phức tạp, đòi hỏi khi tiến hành phải kiên quyết, nghiêm túc, thận trọng trên cơ sở
những qui định của Điều lệ Đảng, các chỉ thị, nghị quyết và hướng dẫn của
Trung ương. Phải làm cho TCCSĐ, đảng viên và quần chúng nắm vững được
tiêu chuẩn đảng viên, những qui định của Trung ương về những đối tượng không
đủ tư cách đảng viên phải đưa ra khỏi Đảng và ý nghĩa cấp thiết của việc sàng
lọc, làm trong sạch đội ngũ đảng viên trong tình hình hiện nay.
4.2.3. Luôn chú trọng nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ đảng
viên ở cơ sở ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương
Chất lượng đội ngũ đảng viên là một trong những yếu tố cơ bản,
quyết định đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ. Điều đó
đúng ở tất cả các thời kỳ cách mạng, song trong giai đoạn Đảng cầm
quyền, vấn đề đó càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã từng chỉ rõ: Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh
là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt. Vì vậy, để nâng cao
chất lượng TCCSĐ không thể không nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
đảng viên. Vấn đề này phụ thuộc nhiều vào việc thực hiện các mặt trong
công tác đảng viên như: xác định đúng tiêu chuẩn đảng viên phù hợp với
từng loại hình TCCSĐ, công tác giáo dục rèn luyện, công tác quản lý, kiểm
tra, sàng lọc đội ngũ đảng viên và phát triển đảng viên mới. Từ thực trạng
chất lượng đội ngũ đảng viên và những đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Hưng Yên đã khẩn trương tiến hành
công tác xây dựng đội ngũ đảng viên theo hướng nâng cao chất lượng
thông qua tiêu chuẩn đảng viên.
Tiêu chuẩn đảng viên là những điều kiện cơ bản về phẩm chất và năng lực
mà người đối với cần có để làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong của giai cấp công
nhân, là cơ sở để phân rõ ranh giới giữa đảng viên và quần chúng tích cực ngoài
137
Đảng. Tiêu chuẩn đảng viên là tổng hợp điều kiện người kết nạp vào Đảng và
nhiệm vụ đảng viên. Tiêu chuẩn đảng viên không trừu tượng mà phải được thể
hiện rất cụ thể bằng những lời nói, việc làm trong hoạt động hàng ngày của mỗi
đảng viên. Phấn đấu để giữ vững tư cách đảng viên và làm tròn nhiệm vụ của
người đảng viên là yêu cầu cơ bản trước hết đối với mọi đảng viên. Để nâng cao
chất lượng đảng viên, Tỉnh ủy Hưng Yên đã tập trung chỉ đạo công tác này trên
nhiều phương diện: Kiện toàn lại đội ngũ cán bộ cấp ủy các cấp, tùy theo năng lực
sở trường của cán bộ, đảng viên để sắp xếp công việc phù hợp, tăng cường đào tạo
và đào tạo lại lí luận chính trị cũng như chuyên môn cho cán bộ, đảng viên...
Từ năm 2000 đến năm 2010, một số TCCSĐ trong tỉnh công tác
cán bộ gặp nhiều khó khăn. Cụ thể xã Nghĩa Hiệp huyện Văn
Giang, khu phố Nam Trung thành phố Hưng Yên ...có lúc không có
nguồn để bổ sung cho những người nghỉ, nên quan điểm yếu còn
hơn thiếu dẫn đến lựa chọn cán bộ chưa thực sự đáp ứng với yêu
cầu thực tiễn, hoặc một người kiêm nhiều vị trí công tác cùng một
lúc…[Phụ lục 13].
Muốn xây dựng TCCSĐ thực sự vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của tình
hình mới, các TCCSĐ phải không ngừng nâng cao nhận thức chính trị, và trình độ
mọi mặt cho cán bộ, đảng viên, để mọi đảng viên thực sự là lực lượng tiên phong
ở cơ sở. Thực tế trình độ mọi mặt của một bộ phận trong đội ngũ đảng viên cơ sở
ở tỉnh Hưng Yên chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Đó là trở ngại lớn đối với
việc nhận thức và quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước, Nghị quyết của cấp ủy các cấp. Điều này gây khó khăn trước hết là việc
thống nhất ý chí, sau nữa là thống nhất hành động thực hiện đường lối, chính sách
của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.
Giáo dục, nâng cao phẩm chất và năng lực cho đảng viên không phải
chỉ bằng mở các lớp học, mà điều quan trọng là phải được tiến hành trong tất
cả các hoạt động của đảng bộ cơ sở và chi bộ như: nâng cao chất lượng sinh
hoạt Đảng, làm tốt công tác quản lý và phân công công tác cho đảng viên, tiến
138
hành thường xuyên kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng... Chú ý phát
huy tính tích cực, chủ động của đảng viên tự học tập, rèn luyện, phấn đấu và
trưởng thành theo cương vị và nhiệm vụ của mình.
Để tạo điều kiện cho đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, chú trọng sự phân
công công tác cho đảng viên phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng tổ chức,
với năng lực, sở trường, điều kiện gia đình và sức khoẻ của từng người. Mỗi
đảng viên, ngoài công tác chuyên môn trong bộ máy Đảng, chính quyền và
các tổ chức quần chúng, đều phải tham gia công tác quần chúng, công tác xã
hội theo sự phân công của chi bộ; khắc phục tình trạng đảng viên thoát ly thực
tế, xa rời quần chúng.
Làm tốt công tác vận động quần chúng, tuỳ theo khả năng của từng
đảng viên mà bố trí phụ trách, quản lý các tổ chức hội quần chúng, các nhóm hộ
gia đình, tổ an ninh, tổ hoà giải ở từng thôn để tuyên truyền, giải thích các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; liên hệ với những quần chúng tích
cực trong các tổ chức mà mình tham gia để thông qua họ, vận động các quần
chúng khác, đồng thời dìu dắt họ, bồi dưỡng phấn đấu trở thành đảng viên.
Công tác phát triển đảng viên mới là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng
bộ tỉnh Hưng Yên, nhưng được thực hiện chủ yếu ở TCCSĐ và chi bộ. Vì
vậy, các TCCSĐ phải chăm lo công tác phát triển đảng viên mới vừa đáp ứng
yêu cầu hiện tại, vừa thể hiện trách nhiệm xây dựng Đảng đối với sự phát
triển của tương lai. Trong công tác phát triển đảng viên mới phải bảo đảm tiêu
chuẩn và chất lượng.
Từ năm 1997 đến năm 2010 toàn tỉnh Hưng Yên đã tổ chức cho 29.474
quần chúng ưu tú học lớp đối tượng Đảng và kết nạp được 20.765 đảng viên mới
(chiếm 70,45%). Mỗi chi bộ tùy thuộc vào đặc điểm của địa phương mà đưa ra
những biện pháp cho phù hợp với tình hình thực tế. Có chi bộ tạo nguồn từ sinh
viên chưa tìm được việc về sinh hoạt đoàn thanh niên tại địa phương (chi bộ khu
phố Nam Thành, phường Quang Trung, thành phố Hưng Yên). Tạo nguồn từ
giáo viên mầm non và cấp 1 (Đảng bộ xã Nghĩa Hiệp, huyện Văn Giang)...
139
Kinh nghiệm của Đảng bộ xã Lạc Đạo trong công tác tạo nguồn đảng viên:
Trước hết, phải xác định đó nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy
nhằm tăng cường đội ngũ và sức mạnh của Đảng. Thứ hai, phải tạo
nguồn kết nạp đảng: nguồn chính là từ đoàn viên, thanh niên ưu tú,
cán bộ đương chức, giáo viên, công nhân, và nhất là con em của đảng
viên. Thứ ba, phải thăm dò nhu cầu và có biện pháp để thử thách, rèn
luyện nguồn kết nạp đảng. Cử đi học lớp nhận thức về Đảng, sau đó
tiếp tục tạo điều kiện để các đồng chí ưu tú có môi trường hoạt động,
để thể hiện minh trong các phong trào ở địa phương. Thứ tư, khi kết
nạp rồi thì phải bồi dưỡng, theo dõi, khích lệ, giao nhiệm vụ để đảng
viên mới phấn đấu, trưởng thành [Phụ lục 14].
Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, các TCCSĐ phải đặt công tác phát triển
Đảng thành chương trình, kế hoạch cụ thể, có tổ chức chỉ đạo sát sao, chặt
chẽ. Từng cơ sở đảng phải có kế hoạch tạo nguồn, làm tốt việc bồi dưỡng đối
tượng đảng, có những hình thức mở lớp tại cơ sở hoặc theo vùng, chú trọng
phát triển đảng viên mới ở những nơi còn ít hoặc chưa có đảng viên, phấn đấu
tất cả các địa phương đều có đảng viên. Trong công tác phát triển đảng viên
mới phải coi trọng chất lượng, không nên chạy theo số lượng đơn thuần, khắc
phục tư tưởng hẹp hòi, thành kiến, đố kỵ, cầu toàn.
Các cấp ủy Đảng cần coi công tác phát triển đảng viên là một nhiệm vụ
quan trọng và thường xuyên, có tính quy luật phát triển Đảng, là nhiệm vụ
quan trọng của toàn Đảng bộ nhằm bổ sung, tăng cường lực lượng cho Đảng,
trẻ hóa đội ngũ của Đảng, bảo đảm tính kế thừa của Đảng. Từ đó quán triệt
sâu sắc, nghiêm túc các quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác
phát triển đảng viên gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ
tỉnh, các chi Đảng bộ các cấp và bản thân các đảng viên, thống nhất nhận thức,
hành động một cách đúng đắn trong công tác phát triển đảng viên. Việc xác
định tăng cường số lượng đảng viên là một trong những nhiệm vụ cấp bách, cơ
140
bản, thường xuyên, liên tục của các cấp ủy Đảng và mỗi đảng viên, coi đây là
một trong những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên; bồi
dưỡng về chính trị, lý tưởng của Đảng và có động cơ phấn đấu vào Đảng.
Chủ động làm tốt công tác tạo nguồn trong công tác phát triển đảng
viên. Công tác tạo nguồn có ý nghĩa lớn trong công tác phát triển đảng viên.
Trên cơ sở làm tốt công tác tạo nguồn các cấp ủy cần phải căn cứ vào điều
kiện thực tế ở địa phương để kịp thời xây dựng kế hoạch tạo nguồn cho có
hiệu quả, trên cơ sở chủ động giáo dục, bồi dưỡng tạo điều kiện cho quần
chúng phấn đấu, đồng thời có cơ sở để cân nhắc, lựa chọn những quần chúng
ưu tú để chi bộ, Đảng bộ lựa chọn kết nạp. Để chủ động trong việc tạo nguồn,
phải bắt tay vào việc chăm lo nâng cao nhận thức về Đảng cho đối tượng bằng
việc phối hợp mở các lớp bồi dưỡng chính trị tại các trung tâm chính trị huyện
nhằm làm cho quần chúng có sự nhận thức đúng đắn hơn về Đảng, về CNXH
và vai trò nhiệm vụ của người đảng viên trong công cuộc đổi mới, xây dựng
quê hương trong thời kỳ CNH, HĐH. Tạo nguồn tốt chính là giúp cho mỗi
quần chúng có điều kiện phấn đấu vào Đảng bằng việc giúp họ phát huy khả
năng, năng lực của mình trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn, xứng đáng
với danh hiệu đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thực sự chăm lo xây dựng tổ chức đoàn thể vững mạnh về tư tưởng
chính trị, tổ chức, Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã chú ý đến Đoàn Thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội liên hiệp phụ
nữ Việt Nam… thật sự vững mạnh có năng lực tham gia công tác phát triển
đảng viên, tạo điều kiện cho các tổ chức này hoạt động để từ đó xây dựng
được đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là bí thư đoàn cơ sở, bí thư đoàn thôn, chi hội
trưởng hội phụ nữ, chủ tịch công đoàn. Xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn thể này
có năng lực, phẩm chất gắn bó với tổ chức và đoàn viên, hội viên để rèn
luyện, giáo dục những thanh niên, hội viên, bồi dưỡng họ nhanh chóng trưởng
thành đứng trong hàng ngũ của Đảng.
141
4.2.4. Sự lãnh đạo chỉ đạo của các cấp ủy cấp trên có ý nghĩa quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng của tổ chức cơ sở đảng
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ nông thôn được quyết
định chủ yếu bởi sự nỗ lực vươn lên của bản thân cơ sở, song không thể thiếu
sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ cấp trên, nhất là cấp trên trực tiếp của cơ sở.
Ở tầm vĩ mô sự lãnh đạo của cấp trên thể hiện ở việc khẩn trương nghiên cứu
và ban hành những chính sách, chủ trương, qui định đúng đắn làm chuẩn mực
hướng dẫn hoạt động của cơ sở. Sự lãnh đạo của cấp trên còn thể hiện ở sự
gương mẫu trong công cuộc đổi mới toàn diện của Đảng, nhất là sự đổi mới tư
duy, đổi mới tổ chức cán bộ, đổi mới phương thức lãnh đạo.
Để năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ nông thôn thì
nhất thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ cấp trên trực tiếp đối
với TCCSĐ. Ngoài việc phân công cán bộ theo dõi định kỳ, thì nhất
thiết hàng tháng phải có đồng chí lãnh đạo cấp trên trực tiếp xuống làm
việc trực tiếp với TCCSĐ, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cán bộ,
đảng viên và nhân dân, phối hợp giải quyết ngay những vấn đề cần kíp
trong phạm vi quyền hạn của mình. Lãnh đạo cấp trên trực tiếp phải
thường xuyên có những báo cáo chuyên đề, truyền đạt chủ trương,
đường lối của Đảng, Nhà nước và của tỉnh đến với TCCSĐ. Đi đôi với
việc tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ cấp trên trực tiếp đối với
TCCSĐ là công tác kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện ở TCCSĐ, để
thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt ở cơ sở [Phụ lục 15].
Sự lãnh đạo của cấp ủy cấp trên trực tiếp đã tập trung chỉ đạo chặt chẽ việc
kiện toàn TCCSĐ, thu hẹp diện cơ sở yếu kém. Tổng kết, phổ biến kinh nghiệm
của những TCCSĐ trong sạch vững mạnh. TCCSĐ thường là nơi đề xuất, phát
huy những sáng tạo cần được tổng kết đúc rút. Song tính chủ động, sáng tạo ấy chỉ
có thể được phát huy theo phương hướng đúng đắn trên cơ sở quán triệt đường lối,
chính sách của Đảng và được sự chỉ đạo chặt chẽ của cấp trên. Do đó, các cấp uỷ
đảng và cơ quan Nhà nước cấp trên trực tiếp phải coi trọng việc nghiên cứu để
142
tổng kết và phát huy những kinh nghiệm sáng kiến của cơ sở, giúp cơ sở giải
quyết những khó khăn trong việc thực hiện các nhiệm vụ KT-XH.
Tỉnh uỷ và các cấp uỷ trực thuộc thực hiện tốt phương châm hướng về
cơ sở, bám chắc cơ sở, tạo chuyển biến về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của cơ sở. Sự lãnh đạo đó được thể hiện bằng những chủ trương, giải pháp cụ
thể: Đổi mới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy cấp trên đối với cơ sở theo chức
trách của mình, tiến hành đánh giá thực trạng của từng TCCSĐ, xác định
đúng nguyên nhân thành công và yếu kém, từ đó có chủ trương, kế hoạch chỉ
đạo cụ thể đối với từng vùng, từng loại đảng bộ, chi bộ. Trong đánh giá, phân
tích có sự chỉ đạo, kiểm tra chặt chẽ, đảm bảo cho kết quả phân loại được
chính xác đúng với thực tế, khắc phục cách làm hình thức, chạy theo thành
tích; Tập trung hướng dẫn, giúp đỡ TCCSĐ xác định đúng nhiệm vụ chính trị,
nhất là nhiệm vụ phát triển KT-XH. Quan tâm đến việc kiểm tra, hướng dẫn
các TCCSĐ điều chỉnh, bổ sung quy chế hoạt động theo đúng chức năng,
nhiệm vụ và phù hợp với đặc điểm tình hình cơ sở để phát huy ưu điểm, phát
huy nhân tố mới, uốn nắn những lệch lạc; Làm tốt công tác đánh giá, xây
dựng nguồn cán bộ chủ chốt cho cơ sở; Kịp thời sơ kết, tổng kết rút kinh
nghiệm trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng TSVM, phát hiện và tổ chức học
tập, nhân rộng các điển hình tiên tiến, những kinh nghiệm, sáng tạo được đúc
rút từ thực tiễn, quan tâm giúp đỡ các cơ sở gặp khó khăn vươn lên.
Tuy nhiên, sự lãnh đạo của cấp trên chỉ đạt được kết quả mong muốn khi
bản thân TCCSĐ ý thức được đầy đủ trách nhiệm của mình, chủ động và sáng
tạo khắc phục những yếu kém, tồn tại để đi lên. Cần chú ý đề phòng cả hai thiên
hướng không đúng đắn: Dựa vào cấp trên, thiếu sự nỗ lực của cơ sở hoặc thoát
ly sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên, tuỳ tiện, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật. Để
thực hiện tốt sự kết hợp này cần nghiên cứu kế hoạch chỉ đạo, hướng dẫn của
cấp trên, đánh giá đúng những mặt tích cực và những mặt yếu kém của đảng bộ,
chi bộ trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, làm tốt công tác tổ chức cán
143
bộ, dân chủ hoá và công bằng xã hội... Trên cơ sở đó, xác định kế hoạch nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ. Căn cứ vào đặc điểm của
đơn vị cơ sở, từ trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên để có sự phân
công công việc hợp lý và xác định trách nhiệm rõ ràng cho từng người.
Quá trình củng cố, nâng cao chất lượng của TCCSĐ phải gắn với củng cố
kiện toàn các tổ chức khác trong hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là củng cố cơ
quan chính quyền và các tổ chức kinh tế, gắn với sản xuất và đời sống của quần
chúng, thật sự dân chủ lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân.
Thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo lên cấp trên, trong đảng bộ và
trước quần chúng những kết quả, tồn tại và phương hướng tiếp tục phấn đấu
của đảng bộ, chi bộ. Từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ trong
những năm đầu tái lập đã hình thành những kinh nghiệm bước đầu giúp cho
cấp uỷ các cấp, nhất là ở cơ sở lãnh đạo chi bộ, đảng bộ nhanh chóng khắc
phục những yếu kém, từng bước phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ
sở, góp phần quyết định hoàn thành nhiệm vụ chính trị ở cơ sở, đẩy mạnh phát
triển KT-XH, giữ vững ổn định chính trị. Sự phát triển về mọi mặt của Hưng
Yên từ 1997 đến 2010 đã khẳng định những chủ trương, giải pháp và quá trình
chỉ đạo của Tỉnh uỷ đối với công tác xây dựng Đảng nói chung, xây dựng
TCCSĐ nói riêng là khoa học, đáp ứng kịp thời với đặc điểm tình hình của Đảng
bộ, với nhu cầu phát triển của cách mạng trong thời kỳ mới.
4.2.5. Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng, coi trọng
công tác tư tưởng trong đảng bộ và nhân dân
Sinh hoạt Đảng có vị trí quan trọng trong việc củng cố, kiện toàn chi
bộ. Chất lượng sinh hoạt tác động trực tiếp đến chất lượng lãnh đạo và xây
dựng nội bộ Đảng. Do vậy, phải thường xuyên cải tiến và nâng cao chất lượng
sinh hoạt chi bộ, chi uỷ, đảng uỷ. Mỗi loại hình chi, đảng bộ có hình thức và
nội dung sinh hoạt cụ thể phù hợp với yêu cầu, tính chất và điều kiện công tác
của từng cơ sở, song điều quan trọng là sinh hoạt chi bộ, đảng bộ phải đúng
144
kỳ, có nội dung thiết thực và bảo đảm đúng nguyên tắc, tính chất sinh hoạt
đảng. Mỗi TCCSĐ phải coi đây là vấn đề quan trọng để nâng cao chất lượng
đảng viên, phát huy vai trò tiên phong, có tác dụng lãnh đạo nhân dân thực
hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Thực tế ở Đảng bộ huyện Ân Thi cho thấy, để nâng cao chất lượng sinh
hoạt chi bộ, Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo cấp ủy cơ sở tăng cường kiểm tra
giám sát thực hiện chế độ sinh hoạt chi bộ; phân công các đồng chí huyện ủy
viên đi công tác tại cơ sở và dự sinh hoạt chi bộ thuộc địa bàn phụ trách, thông
qua đó nắm tình hình, hướng dẫn và rút kinh nghiệm để phát huy những ưu
điểm, khắc phục hạn chế, tồn tại trong sinh hoạt chi bộ cũng như trong lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Để đảm bảo sinh hoạt có nội
dung, chất lượng thì chi uỷ, trước hết là đồng chí Bí thư chi bộ phải chuẩn bị kỹ
nội dung, chọn vấn đề, tuỳ theo thời điểm và tình hình cụ thể mà sinh hoạt cho
thích hợp. Hàng tháng, hàng quý trong sinh hoạt đảng có kế hoạch hoặc nghị
quyết chuyên đề bàn sâu công tác trọng tâm, bức xúc, nổi cộm ở địa phương để
chỉ đạo giải quyết. Với những việc làm trên, nội dung sinh hoạt cấp ủy, chi bộ
thiết thực, cụ thể, tập trung thảo luận, tranh luận để có giải pháp sát, đúng đối với
việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm.
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên quan tâm chỉ đạo, quán triệt chủ trương đổi
mới cách ra nghị quyết và học tập nghiên cứu nghị quyết. Để cụ thể hóa các
nghị quyết của Trung ương, Đảng bộ tỉnh đã tập trung xây dựng các chương
trình công tác và chỉ đạo thực hiện bằng các kế hoạch và hướng dẫn cụ thể,
khắc phục tình trạng ra quá nhiều chỉ thị, nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị
quyết thiếu tập trung, ít hiệu quả.
Để các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của Đảng bộ tỉnh đi vào
cuộc sống, Đảng bộ tỉnh quan tâm đổi mới mạnh mẽ phương pháp quán triệt,
đặc biệt là đổi mới việc quán triệt nghị quyết ở cơ sở. Đồng thời, gắn việc học
tập nghị quyết với xây dựng chương trình, kế hoạch, tổ chức triển khai thực
hiện các chỉ thị, nghị quyết trong hệ thống chính trị của tỉnh theo tinh thần
145
hiệu quả, thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, thống nhất tư tưởng và hành
động trong toàn Đảng bộ và sự đồng thuận trong nhân dân, tạo động lực, phấn
đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Đổi mới cách chỉ đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết, xác định các đề án,
nghị quyết, chương trình, kế hoạch công tác đều phải có lộ trình, bước đi cụ
thể, phân công tổ chức, cá nhân triển khai thực hiện với phương châm nói đi
đôi với làm, đã quyết là phải làm. Tỉnh ủy quán triệt, trong quá trình thực hiện
có gì khó khăn thì cùng tập trung tháo gỡ. Nếu bộ phận nào làm chậm, làm
không hiệu quả thì phải chịu trách nhiệm.
Tăng cường đi cơ sở, tiếp xúc với cán bộ, đảng viên và nhân dân, cùng
nhau trao đổi, tháo gỡ những khó khăn, giải quyết công việc tại chỗ. Thực
hiện phong cách nói đi đôi với làm. Chỉ đạo quyết liệt, tăng cường kiểm tra,
sâu sát cơ sở, sát dân, nắm chắc thực tiễn, tiếp thu cái mới, quyết đoán, dám
chịu trách nhiệm. Làm rõ cơ chế tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và trách
nhiệm của người đứng đầu cấp ủy. Phát huy tính chủ động của các TCCSĐ,
trách nhiệm và vai trò của các cấp ủy viên. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong
Đảng từ Tỉnh ủy đến cơ sở, kiên quyết chống bệnh quan liêu, “giấy tờ”, giảm bớt
hội họp, thực hành tiết kiệm, chống phô trương hình thức lãng phí.
Theo kinh nghiệm của Đảng bộ xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm về xây
dựng TCCSĐ ở địa phương:
Đảng muốn vững thì xây dựng TCCSĐ ở ngay tại địa phương là hết
sức cần thiết. Muốn làm được điều đó trước hết phải tạo sự ổn định
về mặt tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, nhân dân. Người ta có nhìn
thấy lợi ích cụ thể người ta mới vào Đảng, nếu chỉ tuyên truyền
suông người ta không nghe, cán bộ chỉ nói mà không làm người ta
phản đối ngay. Phải tích cực nghiên cứu nghị quyết, chỉ thị cấp trên
rồi phổ biến, thực hiện linh hoạt cho phù hợp với địa phương mình.
Vận động nhân dân thì mình phải gắn bó với họ, tạo điều kiện cho
146
cán bộ trẻ hoạt động, phát triển để kế cận và thay cho mình, phải tin
vào lớp trẻ [Phụ lục 14].
Thực tế ở Đảng bộ huyện Mỹ Hào cho thấy, để đổi mới, nâng cao năng
lực lãnh đạo của TCCSĐ, Đảng bộ huyện chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác tư tưởng, lãnh đạo và triển khai tốt công tác tuyên truyền, quán
triệt triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước; đổi mới việc ban hành các văn bản của cấp ủy cơ sở theo
hướng ngắn gọn, cụ thể, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ làm. Các cấp ủy đảng rà soát, bổ
sung và hoàn thiện quy chế làm việc, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của từng bộ phận, từng chức danh, phân công công tác cho đảng viên gắn
với việc kiểm điểm bình xét, khen thưởng đảng viên, xây dựng TCCSĐ kết
hợp chặt chẽ với học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Chính những việc làm trên đã tạo nên không khí dân chủ, thẳng thắn,
đoàn kết, đồng thuận giữa Đảng, chính quyền với nhân dân, góp phần thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh và
xây dựng nông thôn mới.
Tiểu kết chương 4
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh ở bất cứ giai đoạn cách mạng nào,
các TCCSĐ luôn luôn có vai trò quan trọng, là hạt nhân lãnh đạo chính trị, là
nơi hình thành và trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống và lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-XH, củng cố an
ninh quốc phòng, nâng cao đời sống nhân dân.
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên luôn xác định rõ, nâng cao chất lượng các
TCCSĐ là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ, đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp đổi mới, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước, đó cũng là một trong những vấn đề lớn của công tác xây dựng Đảng hiện
147
nay. Nắm vững phương châm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng
Đảng là nhiệm vụ then chốt, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Hưng Yên đã
đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhân từ khi tái lập tỉnh (1997-2010). Năng lực
lãnh đạo, sức chiến đấu của nhiều TCCSĐ đã được nâng lên rõ rệt. Những
TCCSĐ yếu kém không đạt tiêu chuẩn TSVM thu hẹp dần. Đội ngũ đảng viên
phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, đã phát huy được vai trò tiên phong
trong công cuộc lao động xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi các
nhiệm vụ phát triển KT-XH, an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, nâng
cao đời sống nhân dân. Tuy vậy, công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010 cũng gặp không ít khó khăn, hạn chế,
thiếu sót do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên cần phải khắc phục trong những nhiệm kỳ tiếp theo.
Từ những kết quả và hạn chế của công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng
bộ tỉnh Hưng Yên (1997-2010) đã để lại những kinh nghiệm sâu sắc. Một số
kinh nghiệm bước đầu về xây dựng TCCSĐ mà Đảng bộ tỉnh Hưng Yên tổng
kết có ý nghĩa đóng góp về lý luận và hoạt động thực tiễn cho các cấp uỷ
Đảng trong công tác xây dựng TCCSĐ cũng như quá trình thực hiện nhiệm
vụ chính trị ở địa phương. Những kinh nghiệm đó không chỉ có ý nghĩa đối
với tỉnh Hưng Yên mà còn giúp cho công tác xây dựng TCCSĐ nói chung,
nhất là đối với các địa phương khác có những điều kiện tương tự như Hưng
Yên, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
148
KẾT LUẬN
Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng là nhân tố hàng
đầu quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Qua tổng kết thực tiễn
lãnh đạo công tác xây dựng TCCSĐ ở Đảng bộ tỉnh Hưng Yên giai đoạn
1997-2010, cho thấy: Công tác xây dựng TCCSĐ luôn giữ vai trò quan trọng,
là nền tảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở, là nơi hình thành và trực tiếp đưa
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Nếu
TCCSĐ ở cơ sở giữ vững và phát huy được vai trò tiên phong trong chỉ đạo tổ
chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước thì nơi đó các nhiệm vụ phát triển KT-XH, củng cố an
ninh, quốc phòng được đảm bảo, đời sống nhân dân được cải thiện và từng
bước nâng cao cả về vật chất và tinh thần, quyền làm chủ được phát huy.
Nâng cao chất lượng TCCSĐ là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của TCCSĐ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh
CNH, HĐH của đất nước và tỉnh Hưng Yên. Đây là một vấn đề lớn đang đặt
ra cho công tác xây dựng TCCSĐ ở Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nhiều khó khăn
thách thức. Năng lực lãnh đạo ở đây thể hiện trước hết là năng lực nhận thức
và năng lực vận dụng để cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết của Trung ương,
của Đảng bộ tỉnh vào tình hình cụ thể của địa phương; tiếp đến là thực hiện
đúng công tác kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện nhiệm vụ và giải quyết
những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn lãnh đạo tại cơ sở. Sức chiến đấu
của TCCSĐ là ý chí, tinh thần nỗ lực vượt khó, dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm, nói đi đôi với làm, đấu tranh với tư tưởng bảo thủ, trì trệ, hữu
khuynh, tham ô, lãng phí, quan liêu, tự phê bình và phê bình nghiêm túc của
các TCCSĐ trực thuộc Đảng bộ tỉnh Hưng Yên.
Với vị thế trung tâm của đồng bằng sông Hồng, Hưng Yên đang trong
quá trình chuyển dịch mạnh mẽ sang CNH, HĐH, công tác xây dựng TCCSĐ
149
được Đảng bộ tỉnh chú trọng. Các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh từ khóa XIV
đến khóa XVII, cũng như các nghị quyết, chương trình...của Tỉnh ủy đều
nhấn mạnh tới công tác xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh, đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới. Nắm vững quan điểm phát
triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt,
công tác xây dựng TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên những năm (1997-
2010) đã tạo được những chuyển biến rõ nét, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
của nhiều TCCSĐ đã được nâng lên rõ rệt. Những TCCSĐ yếu kém đã từng
bước được thu hẹp và có nhiều chuyển biến tích cực. Đội ngũ đảng viên phát
triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng, đã phát huy vai trò tiền
phong gương mẫu trong công cuộc đổi mới, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát
triển KT-XH, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH của đất
nước và tỉnh Hưng Yên thì công tác xây dựng TCCSĐ vẫn còn những mặt hạn
chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra.
Có thể nhận thấy, những thành tựu trong công tác xây dựng TCCSĐ ở
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên đã thể hiện sự nỗ lực, cố gắng và quyết tâm cao của
cấp ủy đảng từ Tỉnh ủy tới cơ sở, góp phần quyết định đảm bảo cho sự ổn
định và phát triển mọi mặt của Hưng Yên. Thực tiễn hơn 10 năm (1997-2010)
cho thấy, những thành tựu, kết quả và hạn chế yếu kém mà tỉnh Hưng Yên đạt
được đều gắn với trách nhiệm của Đảng bộ tỉnh. Chính vì vậy, việc chăm lo
xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong
tình hình mới phải được tiến hành thường xuyên, đồng bộ từ Tỉnh ủy đến cơ
sở. Những kinh nghiệm được đúc kết từ quá trình xây dựng TCCSĐ đảng của
Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ khi tái lập tỉnh (1997) đến 2010 có giá trị tổng kết
thực tiễn, góp phần quan trọng cho việc tiếp tục lãnh đạo xây dựng TCCSĐ
đáp ứng với yêu cầu cách mạng của từng địa phương trong tình hình mới.
150
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
1. Vũ Thị Duyên (2014), “Một số kinh nghiệm về xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở
tỉnh Hưng Yên hiện nay”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (287), tr.94-97.
2. Vũ Thị Duyên (2015), “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ
sở đảng từ năm 1997 đến năm 2010”, Tạp chí Giáo dục Lý luận chính
trị, (235), tr.142- 143.
3. Vũ Thị Duyên (2015), “Một số kinh nghiệm trong công tác phát triển đảng
viên của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên từ khi tái lập tỉnh đến nay”, Tạp chí
Giáo dục Lý luận chính trị, (236), tr.82- 86.
4. Vũ Thị Duyên (2015), “Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên trong
phát triển giáo dục đáp ứng nhu cầu nhân lực của sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Thiết bị giáo dục, (122), tr.89-91.
5. Vũ Thị Duyên (2015), “Hưng Yên chăm lo và nâng cao đời sống người có
công góp phần đảm bảo an sinh xã hội”, Tạp chí Lao động xã hội,
(512), tr.38-40.
6. Vũ Thị Duyên (2016), “Xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh
Hưng Yên (2006-2010)” Tạp chí Lịch sử Đảng, (302), tr. 89-92.
151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đức Ái (2001), Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng nông thôn vùng cao phía Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
2. Ban Biên tập (2011), "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng", Tạp chí Cộng sản (55).
3. Ban Chấp hành Trung ương (1998), Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 14-2-
1998 về tăng cường công tác kiểm tra của Đảng, Hà Nội.
4. Ban Chấp hành Trung ương (1998), Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18-2-1998
về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Hà Nội.
5. Nguyễn Thị Minh Bích (chủ nhiệm) (1998), Thực trạng và những yêu cầu
xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn một số tỉnh miền núi, vùng
cao phía Bắc nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ, Viện Xây
dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
6. Nguyễn Văn Biều (chủ nhiệm) (2001), Đổi mới phương thức lãnh đạo của
các đảng bộ xã ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn hiện
nay, Đề tài khoa học cấp bộ do tiến sĩ, Viện Xây dựng Đảng, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
7. Nguyễn Văn Biều (2005), "Công tác quần chúng của tổ chức cơ sở đảng
ở nông thôn trong thời kỳ hiện nay", Tạp chí Lịch sử Đảng (6)
8. Lê Đức Bình (2003), Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
9. Bộ Chính trị (1995), Nghị quyết số 09-NQ/TƯ về một số định hướng
trong công tác tư tưởng hiện nay, Hà Nội.
10. Bộ Chính trị (1998), Nghị quyết số 06-NQ/TƯ ngày 10-11-1998 của Bộ Chính
trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn, Hà Nội.
152
11. Trần Văn Bộ (2000), Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình ở tổ
chức cơ sở đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận
án Tiến sĩ Quân sự.
12. Hà Duy Dĩnh (2008), Chất lượng tổ chức cơ sở Đảng ở các đơn vị sản xuất
kinh doanh thuộc Tập đoàn dầu Dầu khí Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay, Luận án tiến sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Xây dựng
Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
13. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (1997), Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu lần
thứ XIV Đảng bộ tỉnh, Hưng Yên.
14. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2000), Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu
lần thứ XV "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng bộ, phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng tỉnh Hưng Yên giầu mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh", Hưng Yên.
15. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
lần thứ XV, Hưng Yên.
16. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2005), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, tập 3
(1975-2005) NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
lần thứ XVI, Hưng Yên.
18. Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
lần thứ XVII, Hưng Yên.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam,
NXB Sự thật, Hà Nội.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi
Điều lệ Đảng tại Đại hội VII, NXB Sự thật, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VII, NXB Sự thật, Hà Nội.
153
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Một số văn kiện đổi mới và chỉnh đốn
Đảng, Hà Nội.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Nghị quyết số 03 NQ/HNTW khóa VII
về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Một số văn kiện về
đổi mới và chỉnh đốn Đảng, Hà Nội.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban
chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) Tiếp tục đổi mới và phát
triển kinh tế xã hội nông thôn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII), NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
26. Đảng Cộng sản Việt Nam - Ban Tổ chức Trung ương (1994), "Hướng
dẫn xây dựng TCCSĐ trong sạch vững mạnh", Tạp chí Xây dựng
Đảng, (9).
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp
hành Trung ương Đảng (khóa VIII), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
thời kỳ đổi mới, phần 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 1) Ban
Chấp hành Trung ương khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban
Chấp hành Trung ương khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
32. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
33. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới Đại hội
VI, VII, VIII, IX về nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
154
34. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
35. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Biên niên các Đại hội Đảng Cộng sản
Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
36. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Nghị quyết Hội nghị Trung ương
Đảng lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa X, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
37. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
38. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
39. Cao Văn Định (2000), Chất lượng công tác tư tưởng của tổ chức cơ sở
đảng (cấp xã) vùng đồng bào dân tộc ít người ở các tỉnh Bắc Trung
Bộ trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Học viện
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
40. Hoàng Mạnh Đoàn (2002), Công tác vận động giáo dân của tổ chức cơ
sở đảng (cấp xã) ở đồng bằng Bắc Bộ nước ta hiện nay, Luận án
tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
41. Hoàng Văn Đông (2005), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng đồn biên phòng tuyến biên giới đất liền Việt
Nam trong thời kỳ mới, Luận án Tiến sĩ Chính trị học, Học viện
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
42. Nguyễn Văn Dũng (2002), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của các tổ chức cơ sở đảng nông thôn tỉnh Long An hiện nay,
Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
155
43. Nguyễn Văn Giang (2006), "Kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức
cơ sở đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X", Tạp chí Lịch sử
Đảng (7).
44. Nguyễn Đức Hà (2008), "Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của
tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên", Tạp
chí Cộng sản, (số 13) (157)
45. Nguyễn Đức Hà (2010), Một số vấn đề về xây dựng tổ chức cơ sở đảng
hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
46. Nguyễn Thị Hai (2008), "Đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng bộ xã
ở huyện Châu Thành, An Giang”, Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử,
ngày 9/10/2008
47. Trần Thị Thu Hằng (2012), Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của
Đảng bộ thành phố Hà Nội từ năm 1996 đến năm 2005, Luận án
Tiến sĩ Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội.
48. Bùi Hữu Hanh (2009), Đảng bộ Hải Dương lãnh đạo công tác xây dựng
TCCSĐ xã, phường, thị trấn từ năm 1997 đến 2005 (qua khảo sát ở
Thành phố Hải Dương và một số huyện), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử
Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
49. Trần Đình Hoan (2004), "Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của
tổ chức cơ sở đảng gắn với xây dựng củng cố hệ thống chính trị ở
cơ sở", Tạp chí Xây dựng Đảng (6).
50. Nguyễn Khắc Hưng (2006), "Đảng bộ thành phố Nam Định xây dựng tổ
chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên", Tạp chí Cộng sản (19).
51. Nguyễn Thị Thu Hương (2009), Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở
nông thôn tỉnh Hưng Yên trong những năm 1997-2005, Luận văn
Thạc sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội.
52. Phạm Văn Khánh (1997), "Tăng cường sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng nông thôn", Tạp chí Tư tưởng văn hóa, (43).
156
53. Hồ Thanh Khôi, Pham Thị Thiểu (1995), Để nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.
54. Phan Thanh Kiều (2004), "Đồng Nai nâng cao vai trò tổ chức cơ sở đảng
trong vùng đồng bào theo đạo Thiên Chúa", Tạp chí Cộng sản (10).
55. Phạm Thị La (2001), Nâng cao chất lượng đảng bộ xã, thị trấn ở huyện
Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ
khoa học lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
56. Thành Lâm (2006), "Đảng bộ phường Vĩnh Ninh nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu, phát huy vai trò hạt nhân chính trị, Tạp chí
Lịch sử Đảng (2).
57. Lê Tiến Lập (2007), Sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong việc thực thi
quyền lực của nhân dân ở nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long (2007),
Luận án Tiến sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội.
58. Đức Lượng (1997), "Về nâng cao chất lượng của các tổ chức cơ sở
đảng", Tạp chí Cộng sản, (8).
59. Hiền Lương (2006), "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
tổ chức cơ sở đảng trong điều kiện hiện nay", Tạp chí Lý luận chính
trị (10).
60. Lê Văn Lý (1997), "Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng
như thế nào?", Tạp chí Cộng sản, (13).
61. Hồ Chí Minh (1993), Về xây dựng Đảng, Tập 1, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
62. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 11, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
63. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 14, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
64. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
65. Nguyễn Minh (2009), "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
tổ chức cơ sở đảng", Tạp chí xây dựng Đảng, (7).
157
66. Phạm Văn Minh (1998), Chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông thôn ở tỉnh
Sơn La, thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ Khoa học lịch
sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
67. Đỗ Mười (1992), Thời cuộc hiện nay và nhiệm vụ của chúng ta, Bài phát
biểu tại Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương khóa VII,
Hà Nội.
68. Nguyễn Văn Nam (2005), "Xây dựng củng cố tổ chức cơ sở đảng ở
Quảng Nam - thực trạng và giải pháp", Tạp chí Cộng sản (19).
69. Đỗ Ngọc Ninh (1995), Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông
thôn (cấp xã) vùng đồng bằng sông Hồng, Luận án phó tiến sĩ
chuyên ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội.
70. Ngô Kim Ngân (1999), Về nâng cao chất lượng đảng viên trong sự
nghiệp đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
71. Ngô Kim Ngân (2006), "Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng", Tạp chí Xây dựng Đảng (6).
72. Nguyễn Công Ngọ (2009), "Tăng cường vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ
sở đảng trong các doanh nghiệp Bắc Ninh", Tạp chí Cộng sản (803).
73. Ngọc Ngô Bích Ngọc (2004), Sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng đối
với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các trường đại
học và cao đẳng ở Hà Nội hiện nay, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Học
viện Chính trị quốc gia, Hà Nội.
74. Đức Nhuận (2013), Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng -
Nhân tố then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, Báo Hưng Yên.
75. Đỗ Ngọc Ninh (1995), Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông
thôn (cấp xã) vùng đồng bằng sông Hồng, Luận án phó tiến sĩ, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
76. Bùi Đình Phong (2006), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác
cán bộ, NXB Lao động, Hà Nội.
158
77. Đặng Đình Phú (1996), Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên ở các tổ
chức cơ sở đảng phường và xã ven đô trong công cuộc đổi mới hiện
nay, Luận án Phó tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội.
78. Vũ Văn Phúc (2011), "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của tổ chức cơ sở đảng" Tạp chí Cộng sản (55).
79. Nguyễn Việt Phương (2011), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của các loại hình tổ chức cơ sở đảng xã ở các tỉnh miền núi
Tây Bắc Việt Nam - thực trạng và giải pháp (Đề tài khoa học cấp
Bộ) Học viện Chính trị - Hành chính khu vực I, Hà Nội.
80. Lê Thành Quân (2009), "Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng vùng
đồng bằng dân tộc Khmer ở Sóc Trăng", Tạp chí Cộng sản (8).
81. Lê Quang (1996), "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các
loại hình tổ chức cơ sở đảng", Tạp chí Cộng sản, (15).
82. Thành Quang (2009) Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong
xây dựng tổ chức cơ sở đảng, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội
83. Trần Trung Quang (1997), "Vấn đề dân chủ và kỷ luật trong Đảng ta
hiện nay", Tạp chí Kiểm tra, (5).
84. Trần Trung Quang (2002), Tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp
nhà nước - những vấn đề đặt ra và phương hướng giải quyết (qua
các xí nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng), Đề tài cấp Bộ, Hà Nội.
85. Tô Huy Rứa (2005), Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng vì công cuộc đổi
mới (tái bản), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
86. Nguyễn Công Soái (2008), "Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở
đảng ở Hà Nội", Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử, ngày 16/5/2008.
87. Nguyễn Thành Sơn (2008), "Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của các đảng bộ xã ở tỉnh Phú Yên", Tạp chí Xây dựng
Đảng điện tử, ngày 4/9/2008.
159
88. Phúc Sơn (2006), "Bốn kinh nghiệm thực hiện đánh giá chất lượng tổ
chức cơ sở đảng và đảng viên, Tạp chí Xây dựng Đảng (9).
89. Nguyễn Thị Thấm (2010), Công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên từ năm 1997 đến năm 2010, Luận văn Thạc sĩ Lịch
sử, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội.
90. Lê Ngọc Thắng (2007), "Để nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở
một số tỉnh miền núi phía Bắc", Tạp chí Xây dựng Đảng (1).
91. Nguyễn Ngọc Thịnh (chủ nhiên) (2007), Nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đảng viên, Đề
tài khoa học cấp Bộ, Ban Tổ chức Trung ương.
92. Trương Thị Thông (2008), "Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng", Tạp chí Lý luận
chính trị (4).
93. Cao Xuân Thưởng (2001), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng ở các trung đoàn không quân chiến đấu
hiện nay, Luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Xây dựng Đảng, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
94. Lê Quang Thưởng (1996), "Tiếp tục nâng cao chất lượng các tổ chức cơ
sở đảng trong sạch vững mạnh và làm tốt công tác chính sách cán
bộ đáp ứng yêu cầu mới", Tạp chí Xây dựng Đảng, (6).
95. Lê Quang Thưởng (1997), "Về xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong
sạch vững mạnh", Tạp chí Cộng sản, (2).
96. Ngô Đức Tính (1994), Công tác Đảng ở cơ sở, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
97. Ngô Đức Tính (2003), Xây dựng Đảng về tổ chức, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
98. Tỉnh ủy Hưng Yên (1997), Báo cáo số 02 BC/TU về tình hình kinh tế xã
hội năm 1997, Hưng Yên.
160
99. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (1997), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
1997, Hưng Yên.
100. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (1997), Chỉ thị 05-CT/TU Tiếp tục đẩy mạnh
phong trào thi đua xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững
mạnh, Hưng Yên.
101. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (1997), Chỉ thị số 08 -CT/TU Chương trình đưa
thông tin xuống cơ sở, công tác nghiên cứu biên soạn lịch sử Đảng
và địa chính tỉnh Hưng Yên, Hưng Yên.
102. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (1997), Hướng dẫn số 70-HD/TC tiếp tục đẩy
mạnh phong trào thi đua xây dựng tổ chức có sở Đảng trong sạch
vững mạnh, Hưng Yên.
103. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (1998), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
1998, Hưng Yên.
104. Tỉnh ủy Hưng Yên (1998), Báo cáo số 22 BC/TU công tác tháng 12-
1998, Hưng Yên.
105. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (1999), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
1999, Hưng Yên.
106. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (1999), Kế hoạch số 16-KH/TU Thực hiện bước
1 triển khai Nghị quyết Hội nghị TW 6 (lần 2) và cuộc vận động xây
dựng, chỉnh đốn Đảng, Hưng Yên.
107. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (1999), Kế hoạch số 17-KH/TU Tự phê bình và
phê bình thực hiện nghị quyết TW 6 (lần 2), Hưng Yên.
108. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (1999), Kế hoạch số 19-KH/TU Thực hiện bước
2 triển khai Nghị quyết Hội nghị TW 6 (lần 2)và cuộc vận động xây
dựng, chỉnh đốn Đảng, Hưng Yên.
109. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (1999), Kế hoạch số 23-KH/TU Đào tạo, bồi
dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên (Triển khai chương
trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 6
(lần 2) và Quy định số 54-QĐ/TƯ của Bộ Chính trị), Hưng Yên.
161
110. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2000), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
2000, Hưng Yên.
111. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2000), Báo cáo tổng kết xây dựng, củng cố cơ
sở Đảng và giải quyết có sở Đảng yếu kém 4 năm (1997-2000),
Hưng Yên.
112. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2000), Kế hoạch số 23-KH/TU Đào tạo, bồi
dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, Hưng Yên.
113. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2000), Kế hoạch số 26-KH/TU Tổ chức Đại hội
Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng bộ tỉnh lân thứ XV, Hưng Yên.
114. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2001), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
2001, Hưng Yên.
115. Tỉnh ủy Hưng Yên (2001), Chỉ thị số 03-CT/TU, về việc “đẩy mạnh
phong trào thi đua và nâng cao chất lượng tổ chức Đảng TSVM
trong giai đoạn hiện nay”, Hưng Yên.
116. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2002), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
2002, Hưng Yên.
117. Tỉnh ủy Hưng Yên (2002), Chương trình số 35-CTr/TU về đổi mới và
nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn
(gọi chung là cơ sở), Hưng Yên.
118. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2002), Nghị quyết số 16-NQ/TU Về việc khuyến
khích chuyển đổi cơ sấu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
tỉnh Hưng Yên đến năm 2005, Hưng Yên.
119. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2003), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
2003, Hưng Yên.
120. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2004), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
2004, Hưng Yên.
121. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2005), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
2005, Hưng Yên.
162
122. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2005), Nghị quyết số 24-NQ/TU về việc thực
hiện Nghị quyết số 42-NQ/TƯ ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị về
công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hưng Yên.
123. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2006), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
2006, Hưng Yên.
124. Tỉnh ủy Hưng Yên, Ban Tuyên giáo (2006), Đề cương Tuyên truyền kỷ
niệm 175 năm thành lập tỉnh Hưng Yên (1831-2006) và 10 năm tái
lập tỉnh, Hưng Yên.
125. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2006), Chương trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng
trong sạch vững mạnh, giải quyết cơ sở đảng yếu kém, Hưng Yên.
126. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2007), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
2007, Hưng Yên.
127. Tỉnh ủy Hưng Yên (2007), Chương trình số 07 - CTr/TU Xây dựng
TCCSĐ trong sạch vững mạnh, giải quyết cơ sở Đảng yếu kém
nâng cao chất lượng đảng viên giai đoạn 2006-2010, Hưng Yên.
128. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2007),Nghị quyết số 13-NQ/TU Thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2007, mục tiêu, nhiệm vụ
giải pháp năm 2008), Hưng Yên.
129. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2008), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
2008, Hưng Yên.
130. Tỉnh ủy Hưng Yên, Ban Tổ chức (2008), Báo cáo kết quả thực hiện đề
tài khoa học và công nghệ, Hưng Yên.
131. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2008), Chương trình xây dựng tổ chức cơ sở đảng
trong sạch vững mạnh, giải quyết cơ sở đảng yếu kém, Hưng Yên.
132. Tỉnh ủy Hưng Yên (2008), Chương trình số 14-Ctr/TV Chương trình
hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa X, Hưng Yên.
163
133. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2008), Nghị quyết số 14-NQ/TU Thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2008, mục tiêu, nhiệm vụ
giải pháp năm 2009, Hưng Yên.
134. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2009), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
2009, Hưng Yên.
135. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2009), Đề án số 01-ĐA/TU về quy hoạch cán bộ
lãnh đạo, quản lý trẻ, Hưng Yên.
136. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2010), Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng năm
2010, Hưng Yên.
137. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2010), Báo cáo tổng kết công tác xây dựng
Đảng, 08/09/2010 trình Đại hội XVII Công tác tổ chức xây dựng
Đảng, Hưng Yên.
138. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2010),Nghị quyết số 01-NQ/TU Thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2010, mục tiêu, nhiệm vụ
giải pháp năm 201, Hưng Yên.
139. Tỉnh ủy tỉnh Hưng Yên (2011), Chương trình số 06-Ctr/TU Xây dựng hệ
thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn trong sạch vững mạnh,
giai đoạn (2011-2015), Hưng Yên.
140. Tỉnh ủy Hưng Yên (2012), Chương trình số 14- Ctr/TV Chương trình
hành động thực hiện, Hưng Yên.
141. Trương Thị Mỹ Trang (2012), Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng
trong các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa ở các tỉnh Trung
Trung bộ giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ khoa học chính trị,
chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
142. Lưu Minh Trí (1992), "Về vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong hệ thống
chính trị ở cấp xã", Tạp chí Xây dựng Đảng, (4).
143. Lưu Minh Trí (chủ biên) (1995), Một số vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt
động của tổ chức Đảng ở nông thôn và đường phố, NXB Hà Nội.
164
144. Trần Minh Trưởng (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chi bộ
đảng gắn với xây dựng tôt chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh,
NXB Thông tin và truyền thông, Hà Nội.
145. Nguyễn Phú Trọng (1996), "Công tác xây dựng Đảng nên đánh giá thế
nào cho đúng", Tạp chí Cộng sản, (2).
146. Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa và Trần Khắc Việt (Đồng chủ biên)
(2004), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
trong thời kỳ mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
147. Nguyễn Văn Bé Tư (2000), Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng cấp
xã ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
148. Nguyễn Minh Tuấn (2006), "Tổ chức cơ sở đảng với nhiệm vụ phòng,
chống tham nhũng, lãng phí", Tạp chí Lịch sử Đảng (11).
149. Nguyễn Minh Tuấn (2006), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của tổ chức cơ sở đảng ở doanh nghiệp Nhà nước hiện nay,
Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội.
150. Đỗ Đức Tuệ (chủ biên) (2000), Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch
vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện
trong giai đoạn cách mạng mới, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội
151. Ủy ban Kiểm tra Trung ương (1998), Hướng dẫn số 07- HD/KT ngày
19-3-1998 hướng dẫn thực hiện Chỉ thị 29-CT/TW của Ban Chấp
hành Trung ương về công tác kiểm tra của Đảng, Hà Nội.
152. Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên (2006), Quyết định số 26-QD/UBND
Về việc quy định tiêu chuẩn, có quan đơn vị trong sạch vững mạnh
và quy trình xét duyệt công nhận, Hưng Yên.
153. Hoàng Văn Uyên (2004), "Nét mới trong đánh giá chất lượng tổ chức cơ
sở đảng và đảng viên", Tạp chí Xây dựng Đảng (1+2).
165
154. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 12, NXB Tiến bộ, Mátxcơva.
155. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 41, NXB Tiến bộ, Mátxcơva.
156. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 14, NXB Tiến bộ, Mátxcơva.
157. Viện Mác - Lênin (1995), Vấn đề xây dựng Đảng ở một số vùng đồng bào
theo đạo Thiên chúa ở miền Bắc hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ.
158. Hà Duy Vĩnh (2009), Chất lượng tổ chức cơ sở đảng ở các đơn vị sản
xuất kinh doanh thuộc Tập đoàn dầu Dầu khí Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay (2009), Luận án Tiến sĩ Chính trị học, Học viện
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
159. Phạm Quang Vinh (2006), "Để nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng ở Tây Nguyên", Tạp chí Xây dựng Đảng (6).
160. Ngô Đức Vượng (2008), "Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ
sở đảng ở Phú Thọ", Tạp chí Xây dựng Đảng (4).
161. Lê Hữu Xanh (1993), "Tình hình đội ngũ cán bộ nông thôn hiện nay",
Tạp chí Cộng sản, (12).
162. Dương Trung Ý (2006), "Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và
đảng viên dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội X", Tạp chí Lịch sử
Đảng (8).
163. Dương Trung Ý (2006), "Về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng ở xã", Tạp chí Xây dựng Đảng (6).
PHỤ LỤC BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH HƯNG YÊN
Phụ lục 1 Phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (1997-2010)
Đơn vị: %
Đánh giá chất lượng
Năm
TSVM
%
HTNV
%
%
Yếu kém
Số TCCS đảng được đánh giá 451
1997
295
65.41
134
29.71
22
4.88
455
1998
317
69.67
118
25.93
18
3.96
507
1999
379
74.75
107
21.10
19
3.75
515
2000
408
79.22
109
21.17
12
2.33
Tỷ lệ % TB 4 năm
72.56
24.27
3.68
521
2001
424
81.38
87
16.70
10
12.29
517
2002
417
80.66
93
17.99
7
1.35
522
2003
433
82.95
87
16.67
2
0.38
526
2004
440
83.65
85
16.16
1
0.19
529
2005
445
84.12
81
15.31
3
0.57
Tỷ lệ % TB 5 năm
82.56
16.56
0.88
546
2006
439
80.40
98
17.95
9
11.19
571
2007
484
84.76
84
14.71
3
0.53
575
2008
455
79.13
119
20.70
1
0.17
571
2009
457
80.04
111
19.44
3
0.53
583
2010
490
84.05
93
15.95
0
0.00
Tỷ lệ % TB 5 năm
81.69
17.74
0.56
Nguồn: Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng [99; 103; 105; 110; 114; 116; 119;
120; 121; 123; 126; 129; 134; 137]
Phụ lục 2 Phân loại chất lượng đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (1997-2010)
Đơn vị: %
Trong đó:
Năm
Đủ tư cách phát huy tốt
Vi phạm tư cách
Tổng số đảng viên
Số đảng viên tham gia đánh giá
%
%
%
Số lượng 41997 32595 77.61 42338 41898 98.96
45401 46010
Đủ tư cách còn hạn chế Số lượng 8718 8797
20.76 20.78
Số lượng 291 304
0.69 0.72
1997 1998
146
46572
42054 34578 82.22
6986
16.61
0.35
1999
334
48047
41907 33950 81.01
7542
18.00
0.80
2000
Tỷ lệ % TB 4 năm
84.98
19.04
0.64
48453
41589 35561 85.51
5656
13.60
0.68
283
2001
49286
41772 26708 63.94
14678
35.14
0.92
386
2002
49976
41684 26050 62.49
15402
36.95
0.56
232
2003
51050
43086 30185 70.06
12659
29.38
0.48
206
2004
52493
43703 31053 71.05
12625
28.89
0.12
52
2005
Tỷ lệ % TB 5 năm
70.60
28.81
0.55
53240
45073 32153 71.34
12725
28.23
0.43
195
2006
54450
45999 33979 73.87
11847
25.75
0.38
173
2007
55427
46798 38725 82.75
7780
16.62
0.63
293
2008
56467
47180 39158 83.00
7723
16.37
0.63
299
2009
57398
6479
13.48
0.55
265
2010
Tỷ lệ % TB 5 năm
48081 41337 85.97 79.51
19.97
0.53
Nguồn: Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng [99; 103; 105; 110; 114; 116; 119;
120; 121; 123; 126; 129; 134; 137].
Phụ lục 3
Số lượng người học lớp “Bồi dưỡng nhận thức về Đảng”
và được kết nạp sau khi học lớp “ Bồi dưỡng nhận thức về Đảng”
(1997-2010)
Đơn vị: %
Năm
Số người được học
Số đảng viên được kết nạp
Tỷ lệ %
63.13 64.14 64.45 69.71 65.40
Số lớp bồi dưỡng 20 22 24 24 90
2015 2005 2110 2116 8246
1272 1286 1360 1475 5393
1997 1998 1999 2000 TS 4 năm
69.25 64.47 62.44 75.39 72.41 68.69
24 21 23 27 27 122
2322 2077 2295 2060 2142 10896
1608 1339 1433 1553 1551 7484
2001 2002 2003 2004 2005 TS 5 năm
2006 2007 2008 2009 2010 TS 5 năm
23 22 22 24 20 111
2304 2005 1822 2208 1983 10322
1562 1667 1479 1424 1556 7688
67.80 83.14 81.17 64.49 78.47 74.48
Nguồn: Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng [99; 103; 105; 110; 114; 116; 119;
120; 121; 123; 126; 129; 134; 137].
Phụ lục 4
Số lượng đảng viên mới kết nạp sau khi học lớp “ Bồi dưỡng nhận thức
về Đảng” và chất lượng đội ngũ đảng viên mới kết nạp
(1997-2000)
Số đảng viên nữ
Năm
Trình độ cao đẳng, đại học
Số đảng viên được kết nạp
Lớp bồi dưỡng nhận thức về đảng (số lượng)
Trính độ văn hóa trung học phổ thông
20
Số lượng người học lớp bồi dưỡng về đảng 2015
1272
370
398
310
1997
22
2005
1286
492
396
315
1998
24
2110
1360
575
417
312
1999
24
2116
1475
579
419
322
2000
100
8246
5593
2016
1630
1259
Tổng
Nguồn:Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng [99; 103; 105; 110]
Phụ lục 5 Phân tích về dội ngũ đảng viên mới được kết nạp tỉnh Hưng Yên (2001-2005)
Tổng
8
2001 2002 1539 1608 6 6 782 722 0 0 1 2
Năm 2003 2004 2005 1433 1553 1551 7684 29 904 3975 0 8
4 846 0 1
5 721 0 1
0 3
1074 311
1246 396
1169 1205 326 295
829 5523 324 1652
368 95
456 115
422 118
413 185
252 1911 637 124
62 611
71 518
75 497
83 512
96 387 489 2627
58 54
60 49
49 61
65 60
81 55
313 279
1539 1045 442 46 6
1608 44 1502 57 5
99 12
0 28
0 35
0 1
1433 1553 1551 7684 192 3381 980 1120 322 1132 3724 326 447 126 119 132 101 8 35.60 28.07 28.58 28.00 36.19 1608 1 118 1489
1433 1553 1551 7684 2 219 1398 1525 1550 7463
1539 1 37 1501
1211
1315
1355 1403 1125 6409
Đảng viên mới kết nạp Trong đó:+ Kết nạp lại + Phụ nữ + Dân tộc thiểu số + Tôn giáo + Là đoàn viên TNCS HCM + Cán bộ nhà nước + Viên chức hoạt động trong sự nghiệp + Viên chức kinh doanh + CN, Lao động trong các TPKT + Nông dân + Sĩ quan, chiến sĩ quân đội, công an + Sinh viên, học sinh Phân tích đảng viên mới kết nạp Tuổi đời + 18 -30 tuổi + 31- 40 tuổi + 41 - 50 tuổi + 51 tuổi trở lên + Độ tuổi bình quân Trình độ học vấn phổ thông + Tiểu học + Trung học cơ sở + Trung học phổ thông Trình độ kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ + Công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ + Trung học chuyên nghiệp + Cao Đẳng, Đại học + Thạc sĩ, Tiến sĩ
288 448 463 12
332 418 554 11
275 479 586 15
289 508 590 16
225 1409 424 2277 461 2654 69 15
Nguồn:Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng [114; 116; 119; 120; 121]
Phụ lục 6
Phân tích về đội ngũ đảng viên mới được kết nạp tỉnh Hưng Yên (2006-2010)
Tổng
0
Năm 2006 2007 2008 2009 2010 1562 6 893 0 5
1667 1479 0 748 1 4
1424 1556 7688 12 781 4076 1 13
0 741 0 2
6 913 0 2
0 0
1074 369
1246 1113 256 299
1084 1084 5601 314 1562 324
321 117
331 215
527 125
476 75
531 2186 597 65
92 518
112 543
89 369
107 309
114 514 421 2160
53 56
90 43
102 48
96 65 1562 201 1244 105 12
83 30 1667 1479 1045 1092 351 467 36 145 0 10
28 0
0 0
0 0
0 0
424 242 1424 1556 7688 387 3767 1042 354 1127 3543 356 42 22 0 34.85 29.28 27.25 27.28 32.91 1562 0 0 1562
1424 1556 7688 0 0 1424 1556 7688
1667 1479 0 0 1667 1479
1316
1301 1027
1230 1447 6321
Đảng viên mới kết nạp Trong đó:+ Kết nạp lại +Phụ nữ + Dân tộc thiểu số + Tôn giáo + Là đoàn viên TNCS HCM + Cán bộ nhà nước +Viên chức hoạt động trong sự nghiệp + Viên chức kinh doanh + CN, Lao động trong các TPKT + Nông dân + Sĩ quan, chiến sĩ quân đội, công an + Sinh viên, học sinh Phân tích đảng viên mới kết nạp Tuổi đời + 18 -30 tuổi + 31- 40 tuổi + 41 - 50 tuổi + 51 tuổi trở lên + Độ tuổi bình quân Trình độ học vấn phổ thông + Tiểu học + Trung học cơ sở + Trung học phổ thông Trình độ kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ + Công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ + Trung học chuyên nghiệp + Cao Đẳng, Đại học + Thạc sĩ
296 537 463 20
311 422 554 14
131 349 499 48
84 403 730 13
956 134 787 2498 509 2755 112 17
Nguồn:Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng [123; 126; 129; 134; 137]
Phụ lục 7 Tình hình xử lý kỷ luật tổ chức đảng của tỉnh Hưng Yên (1997-2010)
Trong đó:
Năm
Vi phạm
Kỷ luật
Giải tán
Tổng số TCCS đảng
1997 1998 1999 2000
451 455 507 515
Tỷ lệ % TB 4 năm
0 0 0 0 0.0
2001 2002 2003 2004 2005
521 517 522 526 529
Tỷ lệ % TB 5 năm
0.0
2006 2007 2008 2009 2010
546 571 575 571 583
Tỷ lệ % TB 5 năm
49 58 60 50 2.8 76 66 84 86 93 3.1 125 132 160 183 176 5.5
5 8 12 7 0.4 3 3 3 7 2 0.1 8 7 6 10 4 0.2
0.0
Nguồn:Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng [99; 103; 105; 110; 114; 116; 119;
120; 121; 123; 126; 129; 134]
Phụ lục 8 Tình hình xử lý kỷ luật đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (1997-2010)
Đơn vị: %
Trong đó:
Năm
%
%
%
%
Tổng số đảng viên
Tỷ lệ % ĐV Khiển trách
Cảnh cáo
Cách chức
Khai trừ
Tổng số đảng viên bị KL
45401 46010 46572 48047
351 363 248 310
0.77 0.79 0.53 0.65
218 211 124 150
0.48 0.46 0.27 0.31
0.13 0.17 0.14 0.19
60 79 66 89
0.03 0.03 0.02 0.04
13 14 10 21
59 58 48 50
0.13 0.13 0.10 0.10
0.68
0.38
0.16
0.03
0.12
48453 49286 49976 51050 52493
204 266 226 155 151
0.42 0.54 0.45 0.30 0.29
85 133 122 79 65
0.18 0.27 0.24 0.15 0.12
0.15 0.20 0.13 0.10 0.10
71 98 65 52 51
0.02 0.02 0.03 0.02 0.02
10 12 16 12 11
38 23 23 12 24
0.08 0.05 0.05 0.02 0.05
0.40
0.19
0.13
0.02
0.05
53240 54450 55427 56467 57398
184 158 201 288 140
0.35 0.29 0.36 0.51 0.24
92 65 83 93 35
0.17 0.12 0.15 0.16 0.06
0.13 0.09 0.15 0.24 0.14
68 51 82 134 82
0.01 0.02 0.03 0.05 0.02
4 12 16 30 10
20 30 20 31 13
0.04 0.06 0.04 0.05 0.02
0.35
0.13
0.15
0.03
0.04
1997 1998 1999 2000 Tỷ lệ % TB 4 năm 2001 2002 2003 2004 2005 Tỷ lệ % TB 5 năm 2006 2007 2008 2009 2010 Tỷ lệ % TB 5 năm
Nguồn:Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng [99; 103; 105; 110; 114; 116; 119;
120; 121; 123; 126; 129; 134]
Phụ lục 9 Chất lượng tổ chức cơ sở đảng tỉnh Hưng Yên và một số tỉnh lân cận
(2001-2005), (2006-2010)
Đơn vị: %
Đảng bộ
Nhiệm kỳ 2001-2005
Nhiệm kỳ 2006-2010
Tỉnh
TSVM
HTNV
Yếu
TSVM
HTNV
Yếu
Hưng Yên
82,56%
16,56%
0,88%
81,69%
17,75%
0,56%
Hải Dương
76,55%
22,19%
1,26%
80,10%
19,04%
0,86%
Bắc Ninh
80,00%
19,50%
0,50%
82,00%
17,70%
0,30%
Thái Bình
64,80%
34,40%
0,80%
70,28%
29,43%
0,38%
Nguồn: Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng [114; 116; 119; 120; 121; 123; 126;
129; 134; 137]
Phụ lục 10
Số lượng đảng viên kết nạp của tỉnh Hưng Yên qua hai nhiệm kỳ
(2001-2005), (2006-2010) và một số tỉnh lân cận
Đảng bộ Tỉnh Nhiệm kỳ 2001-2005 Nhiệm kỳ 2006-2010
7.484 7.688 Hưng Yên
13.632 13.680 Hải Dương
6.551 5.172 Bắc Ninh
10384 11735 Thai Binh
Nguồn: Báo cáo tổng kết xây dựng Đảng [114; 116; 119; 120; 121; 123; 126;
129; 134; 137]
Phụ lục 11 Phân tích trình độ và độ tuổi đảng viên của Đảng bộ tỉnh Hưng Yên (2006-2010)
Đơn vị: %
Văn hóa
Chuyên môn
Lý luận CT
Độ tuổi
STT
Năm
Đảng viên
Tổng số
18-30
31-40
41-60
trên 60
Tiểu học
TH CS
TH PT
Trung học
Trên ĐH
Sơ cấp
Trung cấp
CN, CC
Cao đẳng, đại học
Sơ cấp và chưa đào tạo
2006 53240
4886 16107 32247 31860
9685 11360
335 39744
8659
1048
7954
10144
23632
11510
2007 54450
2717 15988 35745 31707
10185 12178
380 43121
10402
1132
8267
10436
22976
12771
2008 55427
2692 15821 36914 31670
10323 13131
303 42389
14274
1464
8819
10912
22874
12822
2009 56467
2565 15663 38239 29678
12689 13668
432 42481
12710
1288
9338
11150
23146
12833
1
Đảng viên toàn tỉnh
2010 57398
2439 15411 39548 30918
11308 14645
527 43488
13419
1373
9652
11248
23439
13059
Tỷ lệ %
5.52
28.52
65.96
56.26
19.56
23.46
0.71
76.26
21.47
2.28
15.90
19.46
41.90
22.74
2006 42905 12237 12666 18002 31123
9457
2304
21 33647
8546
15
2142
7711
23376
9967
2007 43666 12454 12907 18305 31434
9892
2318
22 33616
10239
20
2180
9872
22847
8697
2008 44243 12754 13060 18429 29872
9939
4405
25 33361
11426
20
2433
8206
22596
10935
2
2009 44720 12731 13012 18977 29571
11703
3418
26 33467
11478
20
2439
8227
22948
11031
2010 45304 12533 13790 18981 30103
11252
3927
26 33435
11529
20
2447
9904
23345
9536
Đảng viên khu vực xã, phường thị trấn
Tỷ lệ %
28.40
29.63
41.97
68.88
23.66
7.41
0.05
75.86
24.10
0.04
5.27
19.89
52.12
22.72
Nguồn: Đề án số 01-ĐA/TU về quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ [135].
Phụ lục 12
PHIỂU PHỎNG VẤN
THÔNG TIN CÁ NHÂN
Phỏng vấn đồng chí: Vũ Văn Toàn
Chức vụ: Nguyên Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên
giáo Tỉnh ủy Hưng Yên
Thời gian công tác: Từ năm (2007-2012)
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
NCS: Thưa đồng chí, thời kỳ đồng chí công tác, tỉnh Hưng Yên có
những loại hình tổ chức cơ sở đảng nào?
TL: Có các loại hình chi bộ nông thôn xã, phường, thị trấn, chi bộ hành
chính sự nghiệp, chi bộ công an, bộ đội, chi bộ doanh nghiệp nhà nước. Trong
đó chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn có ảnh hưởng lớn vì đây là nơi đưa những
chủ trương chính sách của Đảng vào cuộc sống, gần dân nhất, còn các tổ chức
đảng thuộc loại hình khác chủ yếu mang tích chất chuyên ngành. Từ sau
2005, có thêm loại hình tổ chức đảng dân quân tự vệ ở một số xã, và thêm tổ
chức đảng thuộc doanh nghiệp tư nhân.
NCS: Thưa đồng chí, thời kỳ đầu mới tách tỉnh công tác xây dựng
Đảng của tỉnh Hưng Yên có những thuận lợi và khó khăn gi?
Thuận lợi cơ bản là: Đất đai trù phú, đa dạng, người dân có truyền
thống cần cù lao động sản xuất. Đảng bộ, chính quyền đã có một số kinh
nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác kinh tế - xã hội. Với vị trí nằm trong
trọng điểm kinh tế phía Bắc, là cửa ngõ phía Đông của Thủ đô Hà Nội, có 23
km đường quốc lộ 5, có tuyến đường sắt chạy qua, Hưng Yên có thế mạnh lớn
thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, phát triển công nghiệp và dịch vụ.
Việc tái lập tỉnh hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của cán bộ và nhân dân
toàn tỉnh và đáp ứng nhu cầu thời kỳ đổi mới.
Khó khăn là: Một trong những khó khăn căn bản của Hưng Yên thời
điểm đó chính là ở công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng: Sự lãnh đạo của
cấp ủy các cấp trong chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trường còn lúng túng, trình độ cán bộ, đảng viên chưa tương xứng
với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Do là tỉnh mới tái lập, thiếu cán
bộ, đảng viên mỏng, một số cán bộ, đảng viên yếu về năng lực, kém về phẩm
chất đạo đức, trình độ cán bộ, đảng viên chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm
vụ trong tình hình mới. Một bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí chiến
đấu, chưa thẳng thắn trong đấu tranh tự phê bình và phê bình, chưa nghiêm
túc tiếp thu, sửa chữa khuyết điểm.
NCS: Vai trò của tác tư tưởng làm như thế nào trong xây dựng tổ
chức cơ sở đảng ở địa phương?
TL: Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh vẫn
làm theo Trung ương, mang tính hình thức, khi xẩy ra sự vụ gì thì tổ chức
đảng ở nơi đó tê liệt hết, giải quyết các vấn đề nổi cộm của địa phương mang
tính hình thức chưa đi vào tận gốc của vấn đề. Công tác tư tưởng lý luận của
Đảng là quan trọng lắm, Đảng coi công tác tư tưởng là dẫn đầu, nhưng trong
thực tế lại không như vậy, các tổ chức đang chưa coi tư tưởng là quan trọng
chỉ lo xây dựng kinh tế, cán bộ không xếp được vào vị trí nào nữa rồi mới đưa
vào làm tuyên giáo, với quan điểm không có tư tưởng không chết được,
không có kinh tế vật chất không sống được.
NSC: Xin đồng chí cho biết nội dung cơ bản trong các cuộc họp chi bộ?
TL: Ở nông thôn họp chi bộ chủ yếu nói về các vấn đề kinh tế - xã hội,
an ninh quốc phòng, không đưa ra trao đổi vấn đề xây dựng Đảng, họp chi bộ
đảng viên chủ yếu nghe đọc báo cáo là chính không thảo luận.
NCS: Xin cám ơn đồng chí!
Phụ lục 13
PHIỂU PHỎNG VẤN
THÔNG TIN CÁ NHÂN
Phỏng vấn đồng chí: Tạ Thị Dung
Chức vụ: Chủ tịch UBND xã Nghĩa Hiệp, huyện Văn Giang, Bí
thư chi bộ thôn Trung, xã Nghĩa Hiệp
Thời gian công tác: Từ năm (2000-2010)
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
NCS: Thưa đồng chí, theo đồng chí vai trò của tổ chức cơ sở đảng
đối với những hoạt động của địa phương?
TL: Tổ chức cơ sở đảng là gần dân nhất trực tiếp với dân nhất, tổ chức
cơ sở đảng có vững mạnh thì chính quyền mới mạnh. Muốn có tổ chức đảng
vững mạnh thì phải có đội ngũ cán bộ có đức, có tầm, giỏi chuyên môn, phải
có cán bộ trẻ và cán bộ giả. Trẻ có năng lực kiến thức nhưng lại không có
kinh nghiệm nên trong quá trình làm việc dễ bị vấp. Cho nên, có cán bộ trẻ
kết hợp với cán bộ già có kinh nghiệm, cán bộ được tiếp xúc va chạm nhiều vị
công tác thì có nhiều kinh nghiệm.
NCS: Thưa đồng chí, công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng những
năm đầu tái lập tỉnh có những thuận lợi, khó khăn gì?
Thuận lợi là: Tại địa phương có 24 dự án đầu tư, có thêm nhiều nhà
máy xí nghiệp, tạo công ăn việc làm cho con em trong xã, nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân, nhưng bên cạnh đó cũng nhiều vấn đề
phức tạp lắm, nhất là trật tự trị an xã hội….
Khó khăn là: Sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trường còn lúng túng, trình độ cán bộ, đảng viên chưa tương xứng
với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Khi tỉnh mới tái lập, lực lượng cán
bộ, đảng viên mỏng, một số cán bộ, đảng viên yếu về năng lực, kém về phẩm
chất đạo đức, sách nhiễu, phiền hà gây trở ngại cho công việc, tệ quan liêu,
tham nhũng, thiếu dân chủ ở một số nơi chậm được khắc phục gây bất bình
trong nhân dân. Một bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu, chưa
thẳng thắn trong đấu tranh tự phê bình và phê bình, chưa nghiêm túc tiếp thu,
sửa chữa khuyết điểm, còn có biểu hiện mất đoàn kết, kèn cựa, cá nhân chủ
nghĩa. Cũng do điều kiện mới tái lập tỉnh nên cơ sở vật chất còn thiếu thốn,
còn tình trạng phổ biến làm việc ghép, chung địa điểm giữa các phòng, ban
trong các đơn vị, các tổ chức cơ sở đảng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu
quả công việc.
NCS: Trong thời kỳ đồng chí lãnh đạo có những loại hình tổ chức cơ
sở đảng nào?
TL: Có chi bộ thôn, chi bộ trường học, chưa có chi bộ trong doanh
nghiệp cổ phần và tư nhân, nhưng đảng viên ở đó ít có một vài người, chủ yếu
xin về sinh hoạt tại địa phương.
NCS: Đảng bộ xã có hiện tượng chi bộ “khóm tre”, chi bộ “dòng
họ” không? Điều này có ảnh hưởng gì đến hoạt động của tổ chức Đảng
hay không?
TL: Trước năm 2005, nhiều địa phương nổi lên hiện tượng các dòng họ
lớn và người là bí thư thuộc dòng họ nào thì lôi kéo con em dòng họ đấy vào
Đảng. Nhưng từ 2006 đến nay đã hạn chế nhiều vì các cán bộ về hưu sinh
hoạt tại địa phương là những người có trình độ, có bề dầy kinh nghiệm và
dám làm dám nói nên không để hiện tượng bè cánh nũa.
NCS: Công tác phát triển đảng viên mới ở chi bộ ta nói riêng và
Đảng bộ xã Nghĩa Hiệp nói chung thời gian qua như thế nào?
TL: Những năm trước thì còn thuận lợi, từ năm 2005 đến nay gặp
nhiều khó khăn trong công tác phát triển đảng viên. Thanh niên nông thôn
các cháu học hết lớp 12 không đi học đại học thì cũng đi làm công ty, số
thanh niên ở lại địa phương cũng có nhiều vấn đề về tư tưởng, lối sống, các
cháu nữ lập gia đình rồi cũng bị ràng buộc gia đình thôi không sinh hoạt
đoàn thể, không thích vào Đảng, thanh niên làm kinh tế giỏi cũng không
muốn vào Đảng. Phát triển đảng viên chủ yếu là các cơ quan, đơn vị bộ
đội, công an, còn ở xã thì nguồn phát triển đảng viên chủ yếu là nữ từ cán
bộ giáo viên mấy trương mần non và cấp 1 trong xã, cán bộ nữ làm công
tác phụ nữ. Cấp ủy cũng còn thiếu cán bộ vì đảng viên không muốn làm, 2
khóa nay không đưa được cán bộ nữ vào chi ủy, các đồng chí ấy đều lấy lý
do bận công tác chuyên môn.
NCS: Chất lượng đảng viên trong xã thời kỳ đồng chí còn công tác
như thế nào?
TL: Về cơ bản là hoàn thành nhiệm vụ nhiều năm không có đảng
viên bị kỷ luật, nếu bị kỉ luật thi cũng chỉ là vi phạm về kinh tế. Một
thực tế là đảng viên chỉ quan tâm đến làm kinh tế ít quan tâm đến chính
trị, đảng viên phân công làm chi ủy nhưng không muốn làm, đảng viên
có tình trạng nhận việc theo cảm tính thấy có lợi thì làm không có lợi thì
không làm.
NCS: Thưa đồng chí, công tác kiểm tra, giám sát của đảng bộ xã
Nghĩa Hiệp trong thời gian qua như thế nào?
TL: Công tác kiểm tra, giám sát ngày buông lỏng nhiều hơn, “dĩ hòa vi
quý”, nể nang nhau cùng xóm, đảng viên thoái thác nhiệm vụ không bị khiển
trách, có đồng chí nữ Hiệu trưởng trường mần non phân công làm Chủ tịch
phụ nữ xã nhưng không làm cũng không bị khiển trách. Có nơi đảng bộ đạt
trong sạch vững mạnh nhưng dân vẫn lấn bừa đất (xã Lưu Xá), đảng viên
được phân công nhiệm vụ mà không làm hoặc có vi phạm về đạo đức lối sống
cũng chi nhắc nhở qua loa.
Kiểm tra tiến hành theo định kỳ theo kế hoạch của đảng bộ tỉnh, còn
địa phương xa chủ yếu là giám sát. Việc thi hành kỷ luật đảng viên ở mức độ
khai trừ ít, chủ yếu các đảng viên thuộc diện này thì vận động tự xin rút.
NCS: Thưa đồng chí, chi bộ có bao nhiêu đảng viên, độ tuổi trung
bình của đảng viên là bao nhiêu?
TL: Hiện nay đảng bộ xã Nghĩa Hiệp có 100 đảng viên, trong đó
miễn sinh hoạt do già yếu là 18 đảng viên, độ tuổi trung bình trên 40, đảng
viên nữ chiếm 60%. Đảng viên là cán bộ về hưu nhiều. Trình độ chuyên
môn yếu.
NCS: Thưa đồng chí, tình hình sinh hoạt chi bộ tại chi bộ Nghĩa
Hiệp như thế nào?
TL: Sinh hoạt đều đặn hàng tháng vào mùng 5 hoặc mùng 6, nhưng
triển khai nghị quyết hay chương trình hành động chỉ 5 phút là xong, đôi lúc
cũng mang tính hình thức, đảng viên thì ít phát biểu vì sợ quy chụp. Trước
năm 2006 mỗi xã có một báo cáo viên nhưng sau đó không có nữa mà các
đồng chí trong chi ủy là người trực tiếp báo cáo, nên một số chi bộ cán bộ
không có năng lực không lĩnh hội được hết tinh thần nghị quyết của Đảng,
trình độ hạn chế nên tuyên truyền không phục, đảng viên không nghe dẫn đến
nói chuyên riêng.
NSC: Thực trạng công tác phát triển cán bộ ở địa phương như thế nào?
TL: Cũng nhiều khó khăn, trước năm 2000 thì còn nhiều cán bộ nhiệt
huyết với công tác, nhưng từ 2000 trở lại đây công tác cán bộ gặp nhiều khó
khăn, có lúc không có nguồn để bổ sung cho những người nghỉ, nên quan
điểm yếu còn hơn thiếu dẫn đến lựa chọn cán bộ chưa thực sự đáp ứng với
yêu cầu thực tiễn, hoặc một người kiêm nhiều công việc, vị trí công tác cùng
một lúc. Cán bộ trẻ cho đi học để nâng cao trình độ chuyên môn thì không đi
nhưng lại muốn làm chức to, ở cấp xã đã có hiện tượng này. Người có bằng
cấp thì đi công tác ở cơ quan hết còn lại những người không đi được đâu thì
làm cán bộ. Cán bộ thì phân công vào hết các việc khác rồi còn thừa ra mới
cho sang làm tuyên giáo.
NCS: Trong nhiều năm công tác tại địa phương, theo đồng chí cần
làm gì để xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong giai đoạn hiện nay?
TL: Muốn xây dựng được tổ chức cơ sở đảng ở địa phương tốt phải cần
yếu tố con người, cán bộ tốt có năng lực lãnh đạo, được đào tạo quy mô, có
cán bộ tuyên truyền nói có sức thuyết phục để dân nghe. Mấy năm trước có
thí điểm ở một số nơi mô hình bí thư chi bộ kiêm chủ tịch xã, nên xem xét lại
mô hình này vì nếu tìm được cán bộ đủ đức đủ tài thì tốt, nhưng không tìm
được thì sẽ tạo điều kiện cho cán bộ độc đoán chuyên quyền, lộng hành.
Công tác tư tưởng quan trọng lắm vì vậy cần có cán bộ tuyên giáo có
trình độ chuyên môn để có khả năng lĩnh hội được tinh thần của các chủ
trương, nghị quyết của đảng rồi tuyên truyền cho các đảng viên, nếu không có
trình độ không thuyết phục được người nghe, dẫn đến chủ chương chính sách
của Đảng và Nhà nước không đến được với nhân dân. Nhất là bây giờ các
phương tiện thông tin đại chúng nhiều, cán bộ tuyên truyền không lĩnh hội
được tinh thần nghị quyết thì tuyên truyền ai nghe.
NCS: Xin cám ơn đồng chí!
Phụ lục 14
PHIỂU PHỎNG VẤN
THÔNG TIN CÁ NHÂN
Phỏng vấn đồng chí: Nguyễn Văn Lâm
Chức vụ: Bí thư Đảng ủy xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Thời gian công tác: Từ năm 1995 đến năm 2005
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
NCS: Thưa đồng chí, công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng có
những thuận lợi và khó khăn gì khi tách tỉnh?
TL: Nói chung là cơ bản chính trị tư tưởng của chúng tôi là ổn định vì
chúng tôi cũng được cấp trên chuẩn bị tâm lý, tinh thần rồi, nhưng về cơ sở
vật chất và lực lượng con người thì nhiều khó khăn lắm. Ngày đấy ở đâu
người ta cũng nói đến chuyện tách tỉnh, đến tỉnh mới.
Về cơ sở vật chất, chỉ có duy nhất một phòng họp là phòng sinh hoạt
chung với các tổ chức đoàn thể khác, chứ không có cơ sở riêng cho Đảng bộ
xã hoạt động, ở các chi bộ thôn còn sinh hoạt chi bộ tại nhà đồng chí Bí thư
chi bộ, khó khăn nhất là khâu con người. Mới tách tỉnh nên thiếu cán bộ lắm,
cán bộ huyện thì luân chuyển lên tỉnh, cán bộ xã thì lên huyện, còn lại cán bộ
xã thì nói thật là yếu.
NCS: Trong tình hình ấy thì công tác xây dựng Đảng thực hiện như
thế nào?
TL: Năm 1994 xã tôi có hơn 300 đảng viên. Bình quân mỗi năm kết
nạp được khoảng 8-10 đảng viên mới, nhưng phải khó khăn lắm mới có được
con số ấy. Đảng viên sinh hoạt tại chi bộ chủ yếu là bộ đội và cán bộ về hưu.
Thanh niên vào Đảng những năm gần đây ít dần, có năm không có.
Thanh niên bây giờ không khéo vận động còn không vào Đảng nữa, vì họ
muốn đi làm kinh tế nhiều hơn. Đảng viên là nông dân hầu như chúng tôi
không kết nạp được, vẫn chủ yếu là giáo viên nữ ở 2 trường phổ thông. Từ
năm 2012 đến năm 2014 xã kết nạp được có 4 đảng viên mới.
NCS: Nguồn để kết nạp đảng viên tại chi bộ chủ yếu là từ những đối
tượng nào, kinh nghiệm của đồng chí trong công tác phát triển đảng viên?
TL: Theo kinh nghiệm của Đảng ủy xã Lạc Đạo, để làm tốt công tác
phát triển đảng viên nhất là ở cấp cơ sở, đó là: Trước hết, phải xác định nhiệm
vụ thường xuyên của cấp ủy nhằm tăng cường đội ngũ và sức mạnh của
Đảng; Thứ hai, phải tạo nguồn kết nạp đảng: nguồn chính là từ đoàn viên,
thanh niên ưu tú, cán bộ đương chức, giáo viên, công nhân, và nhất là con em
của đảng viên; Thứ ba, phải thăm dò nhu cầu và có biện pháp để thử thách,
rèn luyện nguồn kết nạp đảng; Thứ tư, khi đã cử đi học lớp nhận thức về
Đảng rồi thì phải bồi dưỡng, theo dõi, khích lệ, giao nhiệm vụ để đảng viên
mới phấn đấu, trưởng thành.
NCS: Thưa đồng chí, công tác phát triển đảng viên tại địa phương có
những khó khăn, hạn chế gì?
TL: Cũng có thời gian chi bộ chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế nông
thôn nên cũng không để ý đến công tác tạo nguồn, có lúc cho được thanh niên
ưu tú cử đi học nhận thức về Đảng, đến khi về địa phương lại không tạo cơ
hội để họ tiếp tục phấn đấu vào Đảng, nên có nhiều trường hợp học xong về
cũng không vào được Đảng. Nhưng hạn chế khó khăn có ở một thực tế là:
thanh niên đi học, đi làm kinh tế xa nhà, hoặc đi làm trong các công ty ở ngay
Hưng Yên thì họ không muốn vào Đảng. Số thanh niên còn lại mà ở nhà nếu
làm kinh tế giỏi thì lại chưa học hết lớp 12 và cũng không muốn vào Đảng.
Nông dân thì nói họ vào Đảng khó lắm, họ phải nhìn thấy ngay cái lợi họ mới
vào. Còn riêng chuyện vào Đảng mà một tháng phải mất mấy nghìn tiền Đảng
phí là họ đã không vào rồi.
NCS: Thưa đồng chí, công tác kiểm tra giám sát những năm qua
thực hiện như thế nào?
TL: Đầu năm Đảng ủy xã xây dựng chương trình cụ thể, triển khai
xuống các thôn. Các thôn kiểm tra, giám sát là chính thông qua họp chi bộ.
Cái khó của phát hiện, xử lý sai phạm đảng viên là trong xóm ngoài làng đều
là anh em, nên thành ra nhiều khi công tác này chưa thực hiện nghiêm túc.
Đảng viên bị khai trừ hay kỷ luật chủ yếu là vi phạm kinh tế, hoặc dân số kế
hoạch hóa gia đình không có trường hợp vi phạm nguyên tắc Đảng. Nếu phải
khai trừ chúng tôi chủ yếu vận động xin tự rút khỏi Đảng.
NCS: Sinh hoạt Đảng ở xã diễn ra như thế nào, thưa đồng chí?
TL: Chủ yếu vẫn là họp chi bộ vào mùng 10 hàng tháng. Đảng ủy xã
họp thường từ 8h-11h, nhưng cũng có khi họp tranh thủ, triển khai nghị quyết chi
5 phút là xong. Về đến chi bộ thôn hiệu quả hơn, thường họp vào các buổi tối.
trước khi họp thông báo cho đảng viên từ 5-7 ngày. Cứ đúng ngày giờ là họp, kể
cả đảng viên đang làm việc cũng phải tranh thủ bố trí công việc mà về họp.
NCS: Theo đồng chí, công tác cán bộ hiện nay khó khăn nhất là gì?
TL: Nói chung vẫn là con người. Cái đặc thù làng quê thì không phải ai
làm Bí thư chi bộ cũng được. Xã tôi có cả đại tá về hưu, cũng tham gia cấp
ủy, nhưng làm Bí thư không được, không phù hợp, nhiều vấn đề phức tạp nên
tâm lý chung là ngại làm Bí thư chi bộ.
Kết nạp đảng viên cũng phải nhằm đúng đối tượng rõ ràng, sau đó làm
công tác tư tưởng với cá nhân và gia đình, định hướng kết nạp đảng để tạo
nguồn làm bí thư, chủ tịch xã… Hiện nay, số lượng đảng viên có tuổi đời bình
quân 50, cao nhất có người trên 70, còn toàn ngoài 60. Thanh niên làm kinh tế
giỏi có muốn vào Đảng đâu. Có đảng viên có trình độ về nghỉ hưu nhưng họ
cũng không muốn tham gia công tác Đảng.
Thế rồi cử cán bộ đi học bồi dưỡng cũng thế. Học thì không muốn đi vì
mất thời gian nhưng lại muốn được làm chức to ngay. Nói chung vướng mắc
nhiều nhất hiện nay vẫn là khâu con người.
NCS: Theo đồng chí, Cuộc vận động học tập làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh đã có tác dụng như thế nào trong đời sống chính trị ở cơ sở?
TL: Cuộc vận động học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
đã có tác dụng tốt trong đời sống chính trị ở cơ sở. Cán bộ, đảng viên và nhân
dân qua học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Bác Hồ đã có những chuyển biến
mạnh mẽ, tích cực trong tư tưởng và hành động. Cán bộ, đảng viên làm việc cần
mẫn, trách nhiệm, đề cao tinh thần phục vụ nhân dân, ứng xử nhân văn, thực
hành dân chủ hơn...Nhân dân đã có chuyển biến rõ nét trong thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí....từ những việc thiết thực hàng ngày.
NCS: Qua thời gian lãnh đạo và thực tế địa phương, đồng chí rút
được kinh nghiệm gì trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng?
TL: Kinh nghiệm thì tương đối nhiều. Đảng muốn vững thì xây dựng tổ
chức cơ sở đảng ở ngay tại địa phương là hết sức cần thiết. Muốn làm được
điều đó trước hết phải tạo sự ổn định về mặt tư tưởng cho cán bộ, đảng viên,
nhân dân. Nhân dân người ta có nhìn thấy lợi ích cụ thể người ta mới vào
Đảng, nếu chỉ tuyên truyền suông người ta không nghe, cán bộ chỉ nói mà
không làm người ta phản đối ngay. Phải tích cực nghiên cứu nghị quyết, chỉ
thị cấp trên rồi phổ biến, thực hiện linh hoạt cho phù hợp với địa phương
mình. Vận động nhân dân thì mình phải gắn bó với họ, tạo điều kiện cho cán bộ
trẻ hoạt động, phát triển để kế cận và thay cho mình, phải tin vào lớp trẻ.
NCS: Xin cảm ơn đồng chí!
Phụ lục 15
PHIỂU PHỎNG VẤN
THÔNG TIN CÁ NHÂN
Phỏng vấn đồng chí: Lê Xuân Vựng
Chức vụ: Bí thư chi bộ thôn Kim Lũ, xã Phù Ùng, huyện Ân Thi
Thời gian công tác: Từ năm 2005 đến nay
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
NCS: Thưa đồng chí, công tác xây dựng tổ chức cơ Đảng có những
thuận lợi và khó khăn gì?
TL: Thuận lợi chính là có chủ trương của Đảng rồi, chỉ thực hiện theo
thôi. Chủ trương về là tổ chức họp rồi triển khai thôi.
Còn khó khăn nhất là có đoàn kết được đảng viên không. Không đoàn
kết thì chả làm được gì.
NCS: Hiện tại tình hình đảng viên thôn mình như thế nào thưa đồng chí?
TL: Hiện nay có 25 đảng viên chủ yếu là bộ đội về hưu, đảng viên tích
cực thì tuổi đã cao. Thanh niên trẻ mải đi làm kinh tế không có đủ thời gian,
tâm huyết dành cho Đảng được.
Công tác phát triển đảng phải nói là rất chậm và không phát triển được.
Có đợt 5-6 năm không kết nạp được đảng viên mới nào. Thanh niên nông
thôn không hào hứng vào Đảng. Với họ kinh tế là quan trọng nhất. Các cháu
đi làm ăn xa không ở quê, không theo dõi phát triển được; cháu ở lại địa
phương làm kinh tế giỏi, nuôi tôm, nuôi lươn kinh tế vững mạnh, muốn tham
gia công tác địa phương thì lại chưa học hết lớp 12.
Phát triển Đảng chủ yếu dựa vào các đoàn thể thôi, hội phụ nữ, chi
đoàn xã, các cô dạy mẫu giáo, nhưng phải đủ tiêu chuẩn cứng là hết lớp 12,
tham gia công tác địa phương…các cháu đi làm nửa ngày đến tối về cũng
không đưa vào dạng nguồn kết nạp.
Đã thế nhiều khi tư tưởng hẹp hòi cũng ảnh hưởng nhiều đến công tác
phát triển Đảng. Có những cá nhân có sức ảnh hưởng lớn, khi hội họp có ý
kiến là mọi người cũng theo nên nhiều khi công tác xây dựng Đảng khó khăn,
tính chiến đấu kém.
NCS: Vậy theo đồng chí có biện pháp nào khắc phục khó khăn
trên không?
TL: Tôi thì tôi vẫn làm. Thứ nhất, là vẫn phải kiên trì vận động nhân
dân và đảng viên chi bộ mình thôi, cứ chấp hành đúng chủ trương của Đảng,
sau đó, giao công việc cho cá nhân, giao rồi vẫn phải giám sát họ thực hiện.
Cũng nhìn vào xuất thân gia đình bố mẹ các cháu là đảng viên thì vận động
tạo điều kiện để các cháu hoạt động, qua phong trào mới có thể kết nạp được.
NCS: Theo đồng chí làm thế nào để nâng cao chất lượng tổ chức cơ
sở đảng?
TL: Cấp ủy các cấp cần phát động và chỉ đạo một cách sâu sát, tích cực
các phong trào, như xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, xây dựng hương
ước làng văn hóa, ông bà mẫu mực, con trung hiếu, cháu thảo hiền... Tổ chức
hội thi Bí thư chi bộ giỏi từ cấp cơ sở đến toàn huyện, thị. Đây là một hình thức
hoạt động bổ ích, qua hội thi sẽ có nhiều bí thư chi bộ đạt giỏi, nhiều chi ủy đạt
chi ủy vững mạnh. Thông qua đó tinh thần trách nhiệm của cấp ủy mang tính
tự giác cao hơn, không khí xây dựng cơ sở đảng, chính quyền địa phương ngày
càng sôi nổi, thiết thực. Đây là nét tiêu biểu trong công tác xây dựng Đảng
chính quyền địa phương ở Ân Thi và có thể lan rộng ra các vùng khác.
NCS: Theo đồng chí làm thế nào để tạo nguồn kết nạp đảng?
TL: Cứ tiêu chuẩn là hết lớp 12 rồi thông qua theo dõi, phát hiện từ các
tổ chức đoàn thể như hội phụ nữ, công đoàn, đoàn thanh niên. Rồi tạo các
phong trào quần chúng hoạt động, và tiếp tục theo dõi. Khi nào các tổ chức
đoàn thể giới thiệu thì đảng ủy xã ra nghị quyết cử đi học lớp tìm hiểu nhận
thức về Đảng. Học xong về đảng ủy phân công đảng viên phụ trách, giao
nhiệm vụ, công việc cụ thể và lại theo dõi. Khi đảng ủy xã thấy được tổ chức
kết nạp cử đi học lớp đảng viên mới.
NCS: Trong nhiều năm công tác tại địa phương, theo đồng chí nên
làm gì để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức Đảng tại địa
phương?
TL: Kinh nghiệm để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
tổ chức cơ sở đảng nông thôn thì nhất thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của
cấp uỷ cấp trên trực tiếp đối với tổ chức cơ sở đảng. Ngoài việc phân công
cán bộ theo dõi định kỳ, thì nhất thiết hàng tháng phải có đồng chí lãnh đạo
cấp trên trực tiếp xuống làm việc trực tiếp với tổ chức cơ sở đảng, nắm bắt
tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, phối hợp giải quyết
ngay những vấn đề cần kíp trong phạm vi quyền hạn của mình. Lãnh đạo cấp
trên trực tiếp phải thường xuyên có những báo cáo chuyên đề, truyền đạt chủ
trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và của tỉnh đến với tổ chức cơ sở
đảng. Đi đôi với việc tăng tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ cấp trên trực
tiếp đối với tổ chức cơ sở đảng là công tác kiểm tra, giám sát kết quả thực
hiện ở tổ chức cơ sở đảng, để thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt ở cơ sở.
NCS: Xin cảm ơn đồng chí!
Phụ lục 16
PHIỂU PHỎNG VẤN
THÔNG TIN CÁ NHÂN
Phỏng vấn đồng chí: Nguyễn Thị Tiến
Chức vụ: Bí thư chi bộ khu phố Nam Thành, phường Quang Trung,
thành phố Hưng Yên.
Thời gian công tác: Từ năm 2006 đến nay
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
NCS: Thưa đồng chí, Đảng bộ phường Quang Trung có bao nhiêu
chi bộ?
TL: Từ 2006 đến nay có 8 chi bộ, được chia theo khu dân phố.
NCS: Thưa đồng chí, chi bộ có bao nhiêu đảng viên, độ tuổi trung
bình của đảng viên trong chi bộ là bao nhiêu?
TL: Hiện nay chi bộ có 46 đảng viên, trong đó miễn sinh hoạt do già
yếu là 12 đảng viên, độ tuổi trung bình trên 40, vì chủ yếu các cô chú đã về
hưu sinh hoạt tại chi bộ, năm 2010 có kết nạp được một đồng chí sinh năm
1972 hiện giờ đang là đảng viên trẻ nhất chi bộ. Số lượng đảng viên không
đồng đều gữa các chi bộ, phụ thuộc vào mật độ dân cư của khu phố, khu nào
đông dân thi số lượng đảng viên nhiều.
NCS: Nguyên nhân vì sao mà số tuổi trung bình của đảng viên trong
chi bộ khu phố Nam Thành lại cao như vậy?
TL: Vì các cháu học hết lớp 12 đều đi học cao đẳng, đại học và học
nghề, đi làm ở các công ty hết, còn lại số đảng viên là dân cư sinh sống ở khu
phố thì cũng sinh hoạt chi bộ tại cơ quan. Nên số lượng đảng viên trẻ không
có hoặc có thi cũng rất ít, cũng chỉ sinh hoạt tạm thời rồi chuyển đến sinh hoạt
tại cơ quan.
NCS: Thưa đồng chí, tình hình sinh hoạt chi bộ ở phường ta như thế nào?
TL: Sinh hoạt đều đặn chi bộ cơ sở tùy khu dân phố nhưng từ mùng 5
đến 10 hàng tháng, nội dung chủ yếu là triển khai đầy đủ những nội dung của
cấp trên. Nhưng tổ chức thực hiện thì gặp khó khăn vì chủ yếu là cán bộ chủ
chốt làm, vì các đảng viên đều đã về hưu, đều đã hoàn thành công tác. Các
phong trào đều do cấp ủy trực tiếp hoạt động, ví dụ tổ chức trung thu cho các
cháu thiếu nhi cũng là các bác cấp ủy.
NCS: Thưa đồng chí, công tác phát triển đảng viên ở chi bộ như thế nào?
TL: Đây là vấn đề gặp khó khăn nhất, vì không có nguồn, thanh niên đi
học và đi làm công ty. Đối với thanh niên đi làm tại các công ty thì các cháu
này hầu như không sinh hoạt đoàn thể tại địa phương. Vì vậy, ở chi bộ này
vài năm mới kết nạp được một đảng viên. Năm 2008 có kết nạp được một
đảng viên là sinh viên trường Cao đẳng y trong thời gian học xong chưa xin
được việc sinh hoạt tại khu dân phố, nhưng đến năm 2011 xin được việc tại
Bệnh viện huyện Ân Thi lại chuyển về đó sinh hoạt.
NCS: Chi bộ khu phố Nam Thành có đạt trong sạch vững mạnh không?
TL: 7 năm liên tiếp đạt trong sạch vững mạnh từ 2006 đến 2012, năm
2013 chỉ hoàn thành nhiệm vụ vì có một đảng viên vi phạm luật kinh tế (làm
bảo vệ cho một nhà nghỉ, có tổ chức gái mại dâm). Chưa năm nào bị kỷ luật.
NCS: Trong nhiều năm công tác đồng chí rút ra được những kinh
nghiệm như thế nào trong xây dựng cơ sở Đảng của địa phương?
TL: Với đặc thù là chi bộ thuộc khu dân phố và đặc điểm là nhiều đảng
viên già đã về hưu, không có chi bộ dòng họ, không có bè cánh, nên không có
nhiều sự biến động trong hoạt động, cần nhất là động viên được các đảng viên
tích cực sinh hoạt đảng, thực hiện đúng chủ trương chính sách của Đảng và
qua họ để tuyên truyền đến gia đình chủ trương chính sách của Đảng.
NCS: Xin cảm ơn đồng chí!
Phụ lục 17
Kết quả công tác phát triển đảng viên của tỉnh Hưng Yên (2001-2005)
Nguồn: [Phụ lục 3].
Phụ lục 18
Kỷ luật tổ chức cơ sở đảng của tỉnh Hưng Yên (2001-2005)
Nguồn: [Phụ luc 7]
Phụ lục 19
Phân loại đảng viên tỉnh Hưng Yên (2001 - 2005)
Nguồn: [Phụ lục 2].
Phụ lục 20
Kỷ luật đảng viên tỉnh Hưng Yên (2001-2005)
Nguồn: [Phụ luc 8].
Phụ lục 21
Kết quả công tác phát triển đảng viên của tỉnh Hưng Yên (2006 - 2010)
Nguồn: [Phụ lục 3].
Phụ lục 22
Phân tích chất lượng đảng viên toàn tỉnh Hưng Yên (2006-2010)
Nguồn: [Phụ lục 2].
Phụ lục 23
Kỷ luật đảng viên tỉnh Hưng Yên (2006-2010)
Nguồn: [Phụ lục 8].
Phụ lục 24
Kỷ luật tổ chức đảng của tỉnh Hưng Yên (2006-2010)
Nguồn: [Phụ lục 1].

