BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THÙY

TRUYỆN CƯỜI Ở CÁC LÀNG CƯỜI BẮC BỘ: ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP VÀ DIỄN XƯỚNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2023

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THÙY

TRUYỆN CƯỜI Ở CÁC LÀNG CƯỜI BẮC BỘ: ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP VÀ DIỄN XƯỚNG Chuyên ngành: Văn học Dân gian

Mã số: 9.22.01.25

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS. TS Nguyễn Việt Hùng 2. PGS.TS Vũ Thị Tú Anh

HÀ NỘI - 2023

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Truyện cười ở các làng cười Bắc Bộ: Đặc

điểm thi pháp và diễn xướng” là công trình nghiên cứu của cá nhân, được thực hiện dưới sự

hướng dẫn của PGS. TS Nguyễn Việt Hùng và PGS.TS Vũ Thị Tú Anh.

Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án này là trung thực và chưa

được ai công bố dưới bất kì hình thức nào.

Tôi xin chịu trách nhiệm về các kết quả nghiên cứu và tính trung thực trong

luận án này.

Tác giả

Nguyễn Thị Thùy

Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS Nguyễn Việt Hùng

và PGS.TS Vũ Thị Tú Anh, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em để

em có thể thực hiện và hoàn thành luận án một cách đầy đủ và tốt nhất.

Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy/cô giáo trong chuyên ngành Văn học

dân gian của Trường Đại học sư phạm Hà Nội, các thầy/ cô giáo trong các hội

đồng chấm luận án các cấp đã nhiệt tình giảng dạy, chỉ bảo, góp ý và giúp đỡ em

trong quá trình em thực hiện luận án.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thủ trưởng cơ quan công tác, đến

các đồng nghiệp tại Khoa Giáo dục Mầm non, Trường Đại học Hải Phòng; Ban

CHQS Quận Hồng Bàng, Bộ CHQS Hải Phòng đã tạo điều kiện để tôi có điều

kiện thực hiện và hoàn thành luận án.

Cuối cùng, con xin gửi lời cảm ơn đến gia đình nội ngoại hai bên đã luôn

làm hậu phương vững chắc cho con để con yên tâm học tập.

Xin chân thành cảm ơn!

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1

2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2

3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 2

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 2

5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 4

6. Đóng góp của luận án .................................................................................... 7

7. Cấu trúc luận án ............................................................................................ 7

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, TỔNG QUAN VỀ LÀNG VIỆT CỔ

TRUYỀN Ở BẮC BỘ, LỊCH SỬ SƯU TẦM, NGHIÊN CỨU

TRUYỆN CƯỜI .............................................................................................. 8

1.1. Khái niệm .................................................................................................. 8

1.1.1. Truyện cười dân gian .......................................................................... 8

1.1.2. Truyện cười dân gian cổ truyền, truyện cười dân gian hiện đại ......... 9

1.1.3. Truyện trạng, truyện cười kết chuỗi, truyện cười lẻ/ truyện

cười độc lập ................................................................................................ 10

1.1.4. Truyện khôi hài, truyện tiếu lâm ....................................................... 11

1.1.5. Truyện cười ở các làng cười ............................................................. 14

1.1.6. Thi pháp ............................................................................................ 14

1.1.7. Diễn xướng ........................................................................................ 15

1.2. Tổng quan về làng xã cổ truyền người Việt ở Bắc Bộ, cái nôi sinh

thành truyện cười .......................................................................................... 17

1.2.1. Bắc Bộ là một vùng văn hoá tiêu biểu .............................................. 17

1.2.2. Làng xã người Việt ở Bắc Bộ ........................................................... 19

1.2.3. Bắc Bộ, nơi tập trung của những làng cười ...................................... 27

1.3. Lịch sử sưu tầm và nghiên cứu truyện cười ........................................ 32

1.3.1. Lịch sử sưu tầm truyện cười ............................................................. 32

1.3.2. Lịch sử nghiên cứu truyện cười ........................................................ 36

1.4. Tiểu kết .................................................................................................... 43

CHƯƠNG 2: THI PHÁP TRUYỆN CƯỜI Ở CÁC LÀNG CƯỜI .......... 44

2.1. Quá trình nghiên cứu theo hướng vận dụng thi pháp học ở Việt Nam .. 44

2.2. Sự giống nhau giữa truyện cười ở các làng cười và truyện cười cổ

truyền về mặt thi pháp .................................................................................. 47

2.2.1. Thủ pháp sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và phù hợp ........................... 47

2.2.2. Thủ pháp kết thúc bất ngờ ................................................................. 50

2.2.3. Thủ pháp khai thác và tạo dựng mâu thuẫn ...................................... 54

2.2.4. Thủ pháp sử dụng văn vần xen vào truyện kể văn xuôi ................... 57

2.2.5. Thủ pháp phóng đại ở các làng cười ................................................. 60

2.2.6. Thủ pháp sử dụng yếu tố tục ............................................................. 66

2.2.7. Sử dụng phối hợp các thủ pháp gây cười .......................................... 72

2.3. Sự khác nhau giữa truyện cười các làng cười và truyện cười cổ

truyền về mặt thi pháp .................................................................................. 74

2.3.1. Chỉ có truyện cười ở các làng cười mới để người kể chuyện ở

ngôi thứ nhất................................................................................................ 74

2.3.2. Truyện cười ở các làng cười hầu như hoặc rất ít khi sử dụng các

thủ pháp gậy ông đập lưng ông và bắt chước không thành công ............... 74

2.3.3. Cả truyện ở làng cười và truyện cười cổ truyền đều sử dụng

những thủ pháp giống nhau, nhưng khác nhau về tính chất và mức độ ..... 77

2.4. Nhận xét sau khi so sánh ....................................................................... 80

2.5. Tiểu kết .................................................................................................... 81

CHƯƠNG 3: TỪ TRÀO LƯU BỐI CẢNH Ở HOA KỲ ĐẾN VIỆC

DIỄN XƯỚNG Ở CÁC LÀNG CƯỜI ........................................................ 83

3.1. Từ hướng tiếp cận bối cảnh trong folklore Hoa Kỳ đến việc vận

dụng ở Việt Nam ............................................................................................ 83

3.2. Diễn xướng truyện cười ở năm làng cười Bắc Bộ ............................. 101

3.2.1. Quá trình sưu tầm điền dã ............................................................... 101

3.2.2. Diễn xướng truyện cười ở năm làng cười ....................................... 103

3.3. Những nhận xét rút ra ......................................................................... 124

3.4. Tiểu kết chương 3 ................................................................................. 130

KẾT LUẬN .................................................................................................. 132

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN

LUẬN ÁN ..............................................................................................135

TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 136

PHỤ LỤC ............................................................................................................ 1.PL

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Cách viết tắt

GS.TS Giáo sư, Tiến sĩ

SL Số lượng

TP Thủ pháp

TL Tỉ lệ

1

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

1.1. Trong các thể loại tự sự dân gian, có thể nói truyện cười là thể loại mang

đậm chất quần chúng và chất bình dân nhất. Nếu như thần thoại mang tính chất

thiêng liêng, gắn với những nghi lễ của tín ngưỡng nguyên thủy; truyền thuyết là lời

tôn vinh, ngợi ca những người anh hùng của cộng đồng trong các lễ hội dân gian thì

truyện cười lại vô cùng giản dị, gần gũi với đời thường, mang tính giải trí cao và tố

cáo châm biếm sâu sắc. Dân tộc nào cũng biết cười và có truyện cười. Nhưng hiếm

có dân tộc nào lại hay cười, biết cười và giỏi cười như người Việt.

Truyện cười đã được sưu tập và nghiên cứu với nhiều thành tựu bởi những

tác giả tên tuổi. Trong kho tàng truyện cười của người Việt, truyện ở các làng cười

còn ít được sưu tầm và chưa nghiên cứu nhiều.

1.2. Người Việt sống ở làng. Mỗi một làng quê Bắc Bộ là một cảnh quan

hoàn chỉnh, là một cộng đồng cư dân đủ phong phú đến mức phức tạp. Làng xã là

cái nôi sinh thành ra các thể loại văn nghệ dân gian, trong đó có truyện cười dân

gian. Theo quy luật, truyện cười cổ truyền được hình thành từ cộng đồng dân làng

sau đó lan tỏa ra phạm vi rộng hơn: huyện, tỉnh, vùng, toàn quốc. Bên cạnh nguồn

gốc nội sinh, người Việt thông qua các nhà nho còn tiếp thu truyện cười của các

nước khác, chủ yếu là của Trung Quốc.

1.3. Hiện nay trong 1013 truyện cười đơn lẻ (không kể hàng chục sưu tập

truyện trạng) được Nguyễn Chí Bền và các cộng sự biên soạn trong tập 8 – “Truyện

cười” thuộc bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt, đã trở thành phổ biến và

quen thuộc đối với người Việt có trình độ văn hóa phổ thông. Nhưng đối với đa số

người dân cả nước, truyện cười ở các làng cười vẫn còn tương đối xa lạ. Vậy truyện

cười ở các làng cười có gì giống và khác với truyện cười cổ truyền phổ biến? Trong

khi hình thức diễn xướng truyện cười cổ truyền đã lùi vào thời gian thì theo quan sát

bước đầu của chúng tôi, tính diễn xướng, hình thức diễn xướng các truyện cười ở

một số làng cười vẫn có thể ghi nhận được ít nhiều. Để phân biệt giữa truyện cười

cổ truyền và truyện cười ở các làng cười, người nghiên cứu chú ý đến thi pháp thể

loại và hình thức diễn xướng.

2

Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Truyện cười ở các làng cười

Bắc Bộ: Đặc điểm thi pháp và diễn xướng để thực hiện luận án.

2. Mục đích nghiên cứu

2.1. Nêu được đặc điểm thi pháp truyện cười ở các làng cười;

2.2. Phân tích hình thức diễn xướng truyện cười ở các làng cười.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong luận án chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

3.1. Sưu tầm bổ sung truyện ở một làng cười mà chủ thể không làm nông

nghiệp, cụ thể ở đây là làng Trân Châu, huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng;

3.2. Tập hợp một số lượng đủ các truyện cười ở các làng cười, có tính đại

diện cho truyện làng cười ở Bắc Bộ;

3.3. Phân tích thi pháp truyện cười ở các làng cười đã được tập hợp ở nhiệm

vụ 3.2;

3.4. So sánh thi pháp truyện cười ở các làng cười với thi pháp truyện cười cổ

truyền phổ biến, được lưu hành sớm và rộng rãi trong phạm vi toàn quốc;

3.5. Trình bày diễn biến của hướng nghiên cứu diễn xướng/ trình diễn trong

bối cảnh ở nước ngoài và Việt Nam (để thấy rõ nhiều nhà khoa học Việt Nam

không chịu ảnh hưởng của hướng nghiên cứu này ở nước ngoài);

3.6. Phân tích các hình thức diễn xướng của truyện cười ở các làng cười.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Trong khuôn khổ bản luận án, chúng tôi nghiên cứu truyện cười ở các

làng cười trên phương diện thi pháp và diễn xướng. Thực ra nếu theo quan điểm

rộng về thi pháp thì các hình thức diễn xướng cũng nằm trong thi pháp nhưng cũng

có quan niệm nói đến thi pháp là nói đến nghệ thuật của phần ngôn từ.

4.2. Trong khuôn khổ thời gian thực hiện luận án, chúng tôi không thể nghiên

cứu tất cả truyện cười ở các làng cười. Vả lại theo kinh nghiệm của Prôpp (nhà nghiên

cứu nổi tiếng không chỉ ở Liên Xô cũ), cần chọn số tư liệu vừa đủ để tìm hiểu quy luật

của đối tượng. Đối với hàng trăm truyện cổ tích thần kỳ trong sưu tập của A.N.

Aphanaxiep, Prôpp khảo sát từ truyện thứ 50 đến truyện số 151, đúng 100 truyện. Từ

100 truyện này ông xây dựng lý thuyết hình thái học. Sau đó ông kiểm tra lại tính

3

thuyết phục của lý thuyết bằng những truyện còn lại [1, 38]. Trong số truyện cười ở các

làng cười Bắc Bộ, đã được nhà nghiên cứu Trần Quốc Thịnh tiến hành sưu tập, chúng

tôi lựa chọn truyện cười của bốn làng cười: Trúc Ổ, Hòa Làng, Dương Sơn, Văn Lang.

Trúc Ổ là một làng nay thuộc huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh. Tài nói khoác (đại ngôn)

của dân làng đã nổi tiếng đến mức trong thơ ca cổ đất Kinh Bắc đã nói đến [2, 17-18].

Truyện cười ở đây phong phú hơn truyện cười ở làng Đồng Sài cùng huyện, bởi nhiều

truyện cười ở Đồng Sài chỉ khai thác đề tài củ khoai. Truyện cười ở Trúc Ổ không chỉ

được gợi cảm hứng từ củ khoai mà còn từ con cá, do dân nơi đây có nghề câu cuốn.

Ngoài ra, truyện cười Trúc Ổ vừa có tính đại ngôn lại có tính chất lý sự, ngay cả trẻ em

làng này cũng biết nói khoác [2, 20]. Chính vì vậy trong số các làng cười ở tỉnh Bắc

Ninh chúng tôi chọn truyện ở làng cười Trúc Ổ làm đối tượng khảo sát. Đây là truyện ở

một làng đậm tính chất đồng bằng. Đối với truyện cười ở vùng trung du và miền núi, ở

tỉnh Bắc Giang chúng tôi chọn truyện cười ở làng Hòa Làng và Dương Sơn. Đây là hai

làng cạnh nhau, sự nổi tiếng của truyện cười nơi đây đã được ca dao địa phương ghi

nhận: “Hòa Làng nói phét có ca/ Dương Sơn nói phét bằng ba Hòa Làng” [2, 67].

Ngoài ra ở Dương Sơn có một đặc điểm khác với hai làng Trúc Ổ và Hòa Làng ở chỗ

cuộc sống vật chất tuy chưa được dồi dào, nhưng dễ chịu hơn, là nơi có một số người

theo đòi Nho học, trong làng có nhà bình văn gọi là “Dương Sơn hội quán”. Trong cái

gọi là dân chúng, ngoài nông dân là đa số, còn có những thành phần khác như chúng

tôi sẽ trình bày ở chương 1. Trong các thành phần đó, có nhà nho bình dân. Đặc biệt là

ở Dương Sơn có cụ Nguyễn Tam, một nghệ nhân dân gian chính cống thuở xưa.

Truyện cười ở làng Văn Lang là sáng tác của cư dân vùng trung du và miền núi phía

Bắc, nơi cội nguồn đất Tổ. Hơn nữa, truyện cười Văn Lang từ lâu đã rất nổi tiếng. Nói

tóm lại, truyện ở các làng cười Trúc Ổ, Hòa Làng, Dương Sơn, Văn Lang là sáng tạo

của người Việt ở đồng bằng, trung du và miền núi của Bắc Bộ. Tuy nhiên, người Việt

xưa không chỉ có nông dân, mặc dù bộ phận này chiếm đại đa số, mà còn có cả ngư

dân. Cho đến nay chưa có sưu tập truyện cười của một làng ngư nghiệp nào được xuất

bản. Trong thời gian thực hiện luận án, chúng tôi đã chọn làng Trân Châu của đảo Cát

Bà, thuộc huyện Cát Hải, Hải Phòng để sưu tầm bổ sung. Số lượng truyện cười tại làng

này do chúng tôi sưu tầm được trong quá trình điền dã là 20 truyện. Tổng số truyện

cười được sưu tầm bổ sung và đã được sưu tập xuất bản là 299 truyện. Trong đó, Văn

4

Lang có 180 truyện đã xuất bản; Trúc Ổ 20 truyện trong đó 14 truyện đã xuất bản, 6

truyện do chúng tôi sưu tầm; Hòa Làng 40 truyện, trong đó 26 truyện đã xuất bản, 14

truyện do chúng tôi sưu tầm; Dương Sơn 39 truyện, trong đó 26 truyện đã xuất bản, 13

truyện do chúng tôi sưu tầm. Đối với những truyện đã xuất bản được dùng làm đối

tượng nghiên cứu, chúng tôi lấy từ Truyện làng cười xứ Bắc (1988) của Trần Quốc

Thịnh và Làng cười Văn Lang (2011) của Trần Văn Thục. Tất cả là 246 truyện đã xuất

bản, 53 truyện do chúng tôi sưu tầm.

Như vậy, sự lựa chọn bốn làng cười nói trên có tính chất đại diện về phương

diện địa lý (làng trung du miền núi, làng đồng bằng, làng chài vùng biển), đồng thời

bốn làng cũng đại diện cho những cách thức sáng tạo truyện cười: nói khoác, nói tức…

5. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp dưới đây.

5.1. Phương pháp tập hợp các tài liệu đã xuất bản. Các tài liệu này bao gồm

những cuốn sách, bài báo sưu tầm, nghiên cứu truyện cười ở các làng cười, truyện cười

cổ truyền, phổ biến. Ở đây không chỉ đơn giản là sưu tầm, tập hợp tài liệu mà còn cần

giám định, phân tích tài liệu. Qua phân tích các tài liệu đã xuất bản, chúng tôi chọn tập

cuốn “Truyện cười”, tập 8 trong bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt, của nhóm

biên soạn Nguyễn Chí Bền làm tài liệu phân tích các tài liệu truyện cười cổ truyền phổ

biến, mà chẳng hạn, không chọn Truyện tiếu lâm Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong

(lý do sẽ được phân tích cụ thể ở mục Lịch sử vấn đề trong Chương 1 của luận án).

5.2. Phương pháp tổng hợp. Theo tác giả Đinh Gia Khánh, phương pháp tổng

hợp “có thể giúp cho việc tìm hiểu mối quan hệ tự nhiên và hữu cơ giữa giá trị ích

dụng và giá trị thẩm mỹ của các tác phẩm folklore và từ đó xác định được giá trị

đích thực của tác phẩm” [3, 15]. Cũng theo tác giả, phương pháp này “còn có thể

giúp cho việc tìm hiểu vai trò của môi trường, của tập tục xã hội, của sinh hoạt văn

hóa dân gian trong việc tạo nên giá trị đặc thù của tác phẩm folklore” [3, 16].

5.3. Phương pháp phân tích. Đây là “thao tác xuất phát từ tổng thể mà đi

ngược lên các nguyên tố ban đầu (éléments premiers). Vì vậy nó còn được gọi là

phương pháp thoái triển (méthode régressive)” [3, 17]. Các thao tác phân tích một

tác phẩm, một thành tố đã tách biệt riêng ra của chỉnh thể nguyên hợp để đi sâu vào

nội dung và cấu trúc của tác phẩm ấy, thành tố ấy.

5

Theo Đinh Gia Khánh, phương pháp tổng hợp là thao tác ngược chiều với

phương pháp phân tích. Phương pháp tổng hợp xuất phát từ các nguyên tố ban đầu

để đi tới chung cục tức là trên cơ sở các chi tiết mà lắp ráp lại cái toàn thể hoặc trên

cơ sở các thành tố mà xây dựng lại chỉnh thể đã được phân tích. Vì vậy phương

pháp tổng hợp còn được gọi là phương pháp tiến triển (méthode progressive).

5.4. Phương pháp thống kê. Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính, “từ kết quả

thống kê dẫn đến những nhận xét, những kết luận khoa học” [4, 127]. Thí dụ số

lượng truyện cười sử dụng thủ pháp phóng đại trong truyện cười làng Dương Sơn là

23/39 (58,9%), làng Trân Châu là 8/20 (40%), Văn Lang là 62/180 (34,4%) Hòa

Làng là 10/40 (25%), Trúc Ổ là 2/20 (10%). Như vậy chúng ta thấy người Trúc Ổ ít

sử dụng thủ pháp phóng đại nhất, người Dương Sơn lại ưa dùng cách gây cười này.

Mặt khác, “con số thống kê tăng thêm sức thuyết phục cho những dự cảm, những

suy luận khoa học” [4, 134]. Trong thời gian đầu thực hiện luận án, chúng tôi

thoáng nghĩ rằng có lẽ trong truyện cười ở các làng cười không hoặc có rất ít yếu tố

tục trong các câu chuyện kể. Cuối chặng đường nghiên cứu, qua việc phân tích 299

truyện, chúng tôi thấy có hai làng trong đó nghệ nhân sử dụng yếu tố tục, làng cười

Văn Lang có 51/180 và 1/20 truyện ở làng cười Trân Châu. Như vậy, thủ pháp sử

dụng yếu tố tục của năm làng cười chiếm 52/299 truyện, bằng 17,4%, trong khi thủ

pháp sử dụng yếu tố phóng đại chiếm 105/299 truyện, bằng 35,1%.

Có người cho rằng thống kê chỉ đơn giản là thao tác đếm. Thực ra không

phải như vậy. Trước và trong quá trình thống kê, chúng tôi phải thẩm định tư liệu.

Thí dụ đối với truyện cười cổ truyền lẻ, ở tập 8 Truyện cười do Nguyễn Chí Bền

chủ biên có 1029 truyện. Chúng tôi đã loại bỏ, không sử dụng 16 truyện. Đó là

những truyện cười hiện đại và những truyện không gây cười.

5.5. Phương pháp so sánh. Phương pháp này được sử dụng để làm nổi bật

đối tượng hoặc vấn đề đang khảo sát. Chỉ có so sánh thi pháp truyện kể ở các

làng cười với thi pháp truyện cười cổ truyền, phổ biến, chúng tôi mới nêu bật

được đặc điểm thi pháp truyện cười ở các làng cười. Ở đây có sự phân biệt giữa

phương pháp so sánh và khoa nghiên cứu so sánh văn học. Khoa nghiên cứu so

sánh văn học là một khoa học, ngoài đối tượng là các ngành văn học nghệ thuật,

6

khoa học xã hội, khoa học tự nhiên (thí dụ so sánh giữa văn học và âm nhạc,

giữa văn học và điện ảnh), đối tượng chủ yếu của khoa nghiên cứu văn học so

sánh là các nền văn học của các dân tộc. Điều tối kị ở đây là khi so sánh văn học

giữa các dân tộc không được nêu vấn đề hơn kém; trong khi so sánh giữa âm

nhạc và văn học, giữa văn học và khoa học, người ta có thể nói đối tượng này

kém đối tượng kia ở những điểm a, b, c và lại hơn đối tượng kia ở những điểm

khác. Phương pháp so sánh được vận dụng trong khi nghiên cứu văn học của nội

bộ một dân tộc, như so sánh truyện cười cổ truyền với truyện cười ở các làng

cười, chúng ta có thể nói đến câu chuyện hơn kém, nhưng quan trọng vẫn là chỉ

ra sự giống nhau và khác nhau và giải thích những điều đó [5, 188].

5.6. Phương pháp nghiên cứu ngữ văn dân gian. Đây là luận án thuộc chuyên

ngành Văn học dân gian, không thuộc chuyên ngành Nhân học văn hóa. Bởi vậy khi

phân tích những truyện cười, chúng tôi sẽ sử dụng các tri thức của ngành ngữ văn

như kết cấu, bố cục, phóng đại, thể thơ, thi pháp,…

5.7. Phương pháp điền dã dân tộc học. Chúng tôi sử dụng phương pháp này

khi đi xuống địa phương sưu tầm truyện cười ở làng Trân Châu, khi đến các làng

Dương Sơn, Hòa Làng, Trúc Ổ, Văn Lang để nghiên cứu hình thức diễn xướng

truyện cười. Phương pháp này yêu cầu người thực hiện phải hòa đồng với nhân dân

địa phương, cùng ăn cùng ở tạo sự tin cậy của đồng bào, phải gây được niềm tin để

họ có thể tâm sự và trình diễn truyện cười. Trước khi đi xuống mỗi làng, nghiên cứu

sinh đọc tài liệu về lịch sử, xã hội, phong tục tập quán của từng làng đó, chuẩn bị sổ

tay ghi chép, băng ghi âm, máy ảnh. Theo yêu cầu đạo đức khoa học, để tránh

những phiền hà, rắc rối không đáng có cho những người cung cấp tài liệu, trong

luận án chúng tôi đã đổi tên tất cả những người dẫn đường, kể truyện cười.

5.8. Phương pháp phỏng vấn chuyên gia. Ngoài việc xin ý kiến chỉ dẫn của

thầy, cô hướng dẫn, chúng tôi còn xin gặp và phỏng vấn hai chuyên gia trong lĩnh vực

nghiên cứu văn học dân gian là GS.TS Nguyễn Xuân Kính và GS.TS Vũ Anh Tuấn.

Do yêu cầu của việc diễn đạt, chúng tôi phải nêu thứ tự các phương pháp.

Điều này không có nghĩa là thực hiện xong phương pháp này, chúng tôi mới sử

dụng phương pháp kia.

7

6. Đóng góp của luận án

6.1. Sưu tầm mới 20 truyện cười ở làng Trân Châu, 14 truyện cười ở làng

Hòa Làng, 13 truyện cười ở làng Dương Sơn, 6 truyện cười ở làng Trúc Ổ. Đây là

53 truyện chưa được công bố và quan trọng hơn là những truyện này bổ sung vào

diện mạo của các truyện cười ở làng cười Bắc Bộ.

6.2. Nhận diện đặc điểm thi pháp truyện cười ở các làng cười.

6.3.Tiếp thu và giải thích lý do ra đời khuynh hướng tiếp cận bối cảnh/ diễn xướng.

6.4. Phân tích hình thức diễn xướng truyện kể ở các làng cười.

7. Cấu trúc luận án

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm

3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Khái niệm, tổng quan về làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ, lịch sử

sưu tầm, nghiên cứu truyện cười;

Chương 2: Thi pháp truyện cười ở các làng cười;

Chương 3: Từ trào lưu bối cảnh ở Hoa Kỳ đến việc diễn xướng ở các làng cười.

8

CHƯƠNG 1

KHÁI NIỆM, TỔNG QUAN VỀ LÀNG VIỆT CỔ TRUYỀN

Ở BẮC BỘ, LỊCH SỬ SƯU TẦM, NGHIÊN CỨU TRUYỆN CƯỜI

1.1. Khái niệm

1.1.1. Truyện cười dân gian

Truyện cười dân gian là những sáng tác do dân chúng sáng tạo và lưu truyền từ

xưa đến nay. Dân chúng là một khái niệm bao gồm nhiều tập hợp người với những

nghề nghiệp, sở thích, năng khiếu khác nhau. Cái gọi là dân, dân chúng cũng vận

động theo thời gian. Trong thời quân chủ/ phong kiến, dân chúng là những nông

dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và trí thức bình dân. Nông dân là những

người sống ở nông thôn, canh tác ruộng đất và chăn nuôi. Thợ thủ công là những

người chủ yếu không sản xuất nông nghiệp mà làm các công việc như đan lát, làm

đồ mộc, làm gạch, xây dựng nhà cửa,… Tuy phân biệt rành mạch như vậy, nhưng

thực tế, những người nông dân làm ruộng là chủ yếu, nhưng họ vẫn có thể đan lát,

đóng gạch, làm mộc cho gia đình mình hoặc làm các công việc trên để có sản phẩm

đem bán hoặc dựng nhà, dựng cửa cho người khác để nhận thù lao khi nông nhàn.

Số lượng những người thợ thủ công chỉ chuyên làm nghề này không nhiều. Ở Bắc

Bộ, thời quân chủ chỉ có hai làng không có nghề làm ruộng là làng gốm Bát Tràng

(Gia Lâm, Hà Nội) và làng gốm Quế Quyển (Hà Nam). Do không có đất đai sản

xuất, hai làng này không có người làm ruộng. Khi nói đến nghề thủ công, hiện nay

chúng ta hay nói đến làng nghề. Nói như vậy không có nghĩa là cả làng đó làm

nghề, mà chỉ có một bộ phận lớn sản xuất ra một mặt hàng nhất định như làng mây

tre đan, làng làm lược, làng làm trống... Trong làng vẫn có một bộ phận chuyên làm

nông nghiệp và những người thợ thủ công ở những làng vừa nêu cũng biết làm nghề

nông. Những người làm nghề buôn bán trong xã hội quân chủ thường là những

người buôn bán nhỏ và đại đa số là phụ nữ. Ngày xưa phụ nữ chỉ không làm các

nghề buôn gia súc (trâu, bò, lợn) và buôn bè. Ở Bắc Bộ cũng đã hình thành một số

làng buôn như Đan Loan, Báo Đáp, Phù Lưu nhưng xu thế của những người buôn

9

bán là không đầu tư tiền lãi vào việc phát triển nghề này mà khi có nhiều tiền lại

mua thêm ruộng đất. Cái căn tính nông dân đã không làm cho Bắc Bộ có những nhà

buôn lớn. Nói đến trí thức bình dân là nói đến các nhà nho đi thi không đỗ hoặc là

những người đã đỗ đạt nhưng chưa phải đại khoa, họ làm một chức quan nhỏ sau

một thời gian vì những lý do nhất định lại trở về làng làm dân. Những người đó ta

gọi là trí thức bình dân, bao gồm nhà nho chưa đi thi, nhà nho đi thi không đỗ và

những viên quan nhỏ về hưu. Bốn kiểu người vừa nêu được sách vở phong kiến xếp

vào loại dân, với trật tự ngược lại là sĩ, nông, công, thương. Một trò diễn cổ truyền

ở làng Tứ Xã (Phú Thọ) đã thể hiện các nhân vật này trong hội làng. Nói như trên

tuy đã chi tiết nhưng chưa bao gồm hết những người được gọi là dân. Còn có các

ngư dân, dân nghèo thành thị, các cô đào hát, anh kép hát, người xẩm mù, thậm chí

cả các cô gái bán hoa và binh lính,… tất cả họ đều là dân. Văn học dân gian nói

chung và truyện cười dân gian nói riêng là do những người trên sáng tác, lưu truyền.

Theo truyền thống, chúng ta nói tắt truyện cười dân gian là truyện cười. Thực

ra còn có các truyện cười bác học, có tác giả. Tuy nhiên ở nước ta loại truyện này

khá hiếm, chưa kể một số ít lại được dân gian hóa trở thành của dân.

Từ khi người Pháp xâm lược nước ta đến trước Cách mạng tháng Tám năm

1945, ngoài những người dân như trên, có thêm công nhân (đương thời gọi là cu li,

thợ thuyền) làm việc trong các hầm mỏ, các đồn điền, trong các nhà máy (dệt, xi

măng, diêm); trong khi các nhà nho bình dân ngày một ít đi, số lượng dân nghèo

thành thị lại càng ngày càng tăng lên, bên cạnh một bộ phận dân mới là trí thức tân

học (kiểu anh giáo Thứ của Nam Cao). Trong thời Pháp thuộc, những người vừa

nêu gọi là dân.

Từ sau Cách mạng tháng Tám đến năm 1954, thành phần dân có những

chuyển biến khác. Trong vài chục năm hiện nay, cái gọi là dân rõ ràng khác xa so

với dân thời quân chủ.

1.1.2. Truyện cười dân gian cổ truyền, truyện cười dân gian hiện đại

"Thời gian qua, nhiều nhà khoa học dùng từ cổ truyền (trong các khái niệm:

văn học dân gian cổ truyền, văn nghệ dân gian cổ truyền, văn hóa dân gian cổ

truyền, văn hóa cổ truyền) với ý nghĩa chỉ thời gian, trong tương quan so sánh với

10

từ hiện đại (trong các khái niệm: văn học dân gian hiện đại, văn hóa dân gian hiện

đại, văn hóa hiện đại…). Trong cách dùng này, cổ truyền là tính từ chỉ những gì ra

đời và lưu truyền từ Cách mạng tháng Tám (1945) trở về trước, hiện đại là tính từ

chỉ những gì ra đời và lưu hành từ sau Cách mạng tháng Tám (1945)” [6, 3].

Theo Nguyễn Xuân Kính, trong hai tập Văn học dân gian (xuất bản lần đầu

1972-1973), trong tập 1 (Văn học dân gian) của bộ Tinh tuyển văn học Việt Nam

(xuất bản năm 2004), trong sách Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ

(xuất bản lần đầu 1984, với bút danh Trần Từ), Đinh Gia Khánh, Kiều Thu Hoạch,

Nguyễn Từ Chi đã sử dụng hai từ cổ truyền và hiện đại với cách hiểu nêu trên.

Từ năm 1994 đến năm 2010, trong những tiết dạy chuyên đề Tiến trình văn

hóa dân gian và khoa nghiên cứu văn hóa dân gian tại các lớp cao học thuộc cơ sở

đào tạo Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian (sau đổi thành Viện Nghiên cứu văn

hóa), nhà giáo Nguyễn Xuân Kính sử dụng khái niệm văn hóa dân gian cổ truyền,

văn hóa dân gian hiện đại với cách hiểu văn hóa dân gian cổ truyền là văn hóa dân

gian được sáng tạo và lưu truyền từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Với

văn hóa dân gian đương đại, ông coi đây là khái niệm chỉ những sáng tạo dân gian

ra đời trong khoảng 15 đến 20 năm gần đây (tính từ thời điểm phát ngôn hai tiếng

“gần đây”).

Tóm lại, văn học dân gian nói chung và truyện cười nói riêng được sáng tác

và lưu truyền từ Cách mạng tháng Tám trở về trước được gọi là văn học dân gian cổ

truyền, truyện cười dân gian cổ truyền. Văn học dân gian từ sau Cách mạng tháng

Tám đến nay được gọi là văn học dân gian hiện đại. Văn học dân gian được sáng tác

và lưu truyền trong vài chục năm gần đây được gọi là văn học dân gian đương đại.

Tóm lại, có truyện cười dân gian cổ truyền, truyện cười dân gian hiện đại và truyện

cười dân gian đương đại.

1.1.3. Truyện trạng, truyện cười kết chuỗi, truyện cười lẻ/ truyện cười độc lập

Các truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Ngộ,… là những hệ thống truyện

xoay quanh một nhân vật chính là Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Ngộ. Các nhà

nghiên cứu gọi đó là truyện cười kết chuỗi, trong đó mỗi một truyện như “Trời sinh

ông Tú Cát”, “Dê đực chửa”… trong truyện Trạng Quỳnh có thể được kể độc lập.

11

Những truyện cười không nằm trong hệ thống truyện trạng vừa nêu được gọi là

truyện cười độc lập hoặc truyện cười đơn lẻ.

Tuy khác nhau về chi tiết, nhưng các tác giả Đinh Gia Khánh [7, 374-376],

Lê Chí Quế [8, 138], Hoàng Tiến Tựu [9, 85-86], Nguyễn Bích Hà [10, 115-126],

Nguyễn Việt Hùng [11, 154] đều xếp truyện cười kết chuỗi/ truyện trạng vào thể

loại truyện cười (cùng với truyện cười không kết chuỗi/ đơn lẻ/ độc lập). Đỗ Bình

Trị thì khác, từ năm 1978 đến năm 1999, ông nhất quán xác định truyện trạng/

truyện cười kết chuỗi là một bộ phận của truyện cổ tích sinh hoạt trong thể loại

truyện cổ tích [12, 116]. Các tác giả Trương Sĩ Hùng, Nguyễn Chí Bền, Mai

Hương, Phạm Lan Oanh, Vũ Mai Hoàng,.. [11, 154], Triều Nguyên [13] có xu

hướng tách truyện trạng thành một thể loại riêng, bên cạnh thể loại truyện cười. Khi

chủ trì bộ sách Tổng tập văn học dân gian người Việt, Nguyễn Xuân Kính dùng

biện pháp dung hòa: thống nhất với tác giả Nguyễn Chí Bền để các truyện cười độc

lập vào tập 8, đề tên Truyện cười; để các truyện trạng vào tập 9, đề Truyện cười. Phần truyện Trạng1.

Chúng tôi nghĩ, tuy truyện trạng khác truyện cười đơn lẻ/ độc lập ở mỗi hệ

thống truyện gồm nhiều truyện thành phần, có thể kể độc lập; nhân vật trung tâm

không phải là đối tượng bị chế giễu, phê phán (Trạng Quỳnh, Xiển Ngộ,…) nhưng

cả hai bộ phận truyện cười lẻ/ độc lập và truyện cười kết chuỗi/ trạng đều giống

nhau ở thủ pháp gây cười. Bởi vậy, khi bàn đến truyện cười cổ truyền, chúng tôi

dành sự quan tâm cho các truyện cười lẻ/ độc lập/ không kết chuỗi, khi cần thiết

mới liên hệ với truyện trạng/ truyện cười kết chuỗi.

1.1.4. Truyện khôi hài, truyện tiếu lâm

Truyện khôi hài cũng là truyện cười. Nhưng khi nói đến truyện khôi hài

người ta thường nghĩ đến tiếng cười nhẹ nhàng, ít khi là tiếng cười đả kích, châm

biếm dữ dội.

Về truyện tiếu lâm, theo nghĩa của từ thì tiếu lâm có nghĩa là rừng cười. Vậy

truyện tiếu lâm có nghĩa là truyện cười. Các sưu tập truyện cười ở Trung Quốc đều gọi

là truyện tiếu lâm, thí dụ Tiếu lâm quảng ký của Trung Quốc bản in đời Thanh [14, 1 Tư liệu phỏng vấn GS.TS Nguyễn Xuân Kính tại nhà riêng, tháng 12 năm 2022.

12

537]. Các nhà nho của ta cũng hay dùng từ tiếu lâm trong tên sách, thí dụ Tiếu lâm tân

truyện, khắc in năm Khải Định năm thứ nhất - 1916 [14, 539]. Song có một số người

nghĩ và hiểu rằng những truyện tiếu lâm là những truyện có yếu tố tục, thậm chí rất tục.

Những năm 1970 - 1971, khi sưu tầm văn học dân gian ở xã Ích Hậu, huyện Can Lộc,

tỉnh Hà Tĩnh, nhà nghiên cứu văn học dân gian nổi tiếng Nguyễn Đổng Chi cho rằng:

“Tiếu lâm nhiều lắm cũng chỉ là một yếu tố văn học”, nhưng khác với vè là nó không

thành văn. Ông xác định đặt vè vào văn học còn được, nhưng e rằng sẽ là một sự cưỡng

ép thực sự nếu đặt tiếu lâm vào văn học. Sở dĩ Nguyễn Đổng Chi không chủ trương đặt

truyện tiếu lâm vào văn học vì một trong những đặc điểm chủ yếu của tiếu lâm Việt

Nam là yếu tố dâm tục. Ngay cả những nhà sưu tầm cũng cảm thấy ngần ngại khi đưa

những tính chất dâm tục quá trắng trợn này lên giấy mực, chưa nói đến việc dám đặt nó

lên giường hoa của tuyển tập văn chương. Hơn nữa, ông nhấn mạnh sự gắn bó của tiếu

lâm với lối kể chuyện. Vì thế, nếu có lúc nó thành truyện trọn vẹn, thì cũng có lúc nào

đó nó chưa thành truyện trọn vẹn [15, 181-182]. Như thế, theo Nguyễn Đổng Chi,

truyện tiếu lâm là những truyện có các yếu tố dâm, tục. Thế nào là dâm là cả một vấn

đề thu hút sự tranh luận. Theo chúng tôi, trong truyện cười nước ta, có những truyện đề

cập, thậm chí ít nhiều miêu tả các hoạt động tính giao là những truyện có yếu tố tục

nhưng không khiêu dâm. Bằng chứng là trừ Nguyễn Đổng Chi, tất cả các sưu tập từ

năm 1957 trở về nửa cuối thế kỷ XIX và trong các sưu tập từ những năm 1970 của thế

kỷ XX đến gần đây đã được tập hợp lại đầy đủ trong tập 8 Truyện cười của bộ Tổng

tập, các truyện đó vẫn hiện diện. Không cứ gì truyện dân gian, thơ mộng như ca dao

khi cần thiết người ta vẫn sử dụng yếu tố tục: “Thân em như đóa hoa hồng/ Lấy phải

anh chồng như cứt bò khô”. Trong kho tàng tục ngữ có khá nhiều câu sử dụng yếu tố

tục. Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính, trong môi trường giáo dục học sinh phổ thông,

người soạn sách và người duyệt in không giới thiệu và không đồng ý công bố những

tác phẩm như các truyện “Ăn nhau về hòn đất, “C… mày là c… mày, c… tao là c…

tao”, “Ông Hàn đớp b…” là đúng. “Song trong phạm vi nghiên cứu, nếu loại bỏ những

tác phẩm như vậy thì làm sao có thể nhận diện chính xác, toàn diện về đời sống tinh

thần của dân chúng khi xưa? Dân gian không phải bao giờ cũng thanh, cũng nhã. Ngoài

13

ý nghĩa đấu tranh xã hội, cái tục còn được dùng để giải tỏa căng thẳng khi mệt nhọc,

làm lụng, còn để mua vui, giải trí. Có trường hợp cái tục được dùng rất đắc địa” [5, 93].

Tác giả cho biết, năm 1925 trong bức thư “Trả lời ông H”, Hồ Chủ tịch kể lại: “Có một

lần, một vị tướng của Napônêông đệ nhất bị bao vây ở Oateclô. Kẻ địch ra lệnh cho

ông ta đầu hàng; ông ta phản ứng, đối đáp ngay: Cứt!”. Vị tướng này chỉ dùng một từ,

lại là một từ mang tính chất tục tằn. Nhưng ở tình thế hiểm nguy và căng thẳng ấy,

nghìn lời nói khác cũng không thể nào thể hiện được hơn lòng dũng cảm của vị tướng,

và lòng khinh bỉ của ông ta với kẻ thù. Vị tướng ấy đã ngay lập tức củng cố được đội

ngũ của mình, đồng thời tên tuổi ông đã vang dội khắp châu Âu, tất cả đều nhờ một lời

nói ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều hơn là ý chí và sự căm thù quân giặc. Lời nói ấy

được ghi vào Niên biểu cho đến ngày nay; người Pháp ai cũng biết đến lời đối đáp ấy.

(dẫn theo [5, 93]). Trong những truyện được gọi là tiếu lâm như sưu tập Truyện tiếu

lâm Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong, xuất bản lần đầu năm 1957, có cả những

truyện có yếu tố tục như “Ông không mồm”, “Vừa sợ vừa buồn cười”, lại có những

truyện không hề tục như “Lợn cưới áo mới”, “Thần bia trả nghĩa”, “Con rắn

vuông”,… [16]. Một thí dụ khác, khi nhà văn Vũ Ngọc Phan qua đời, một người

bạn văn thân thiết và xem vợ chồng nhà văn Vũ Ngọc Phan – Nguyễn Hằng Phương

như là người anh, người chị thân thiết của mình là Tô Hoài, viết bài “Anh Phan chị

Phan”. Cuối bài, Tô Hoài viết: “Tôi đã kể miên man những chuyện tản mạn, từ khi

quen biết anh Phan chị Phan. Nhưng thôi, nói chuyện vui hơn. Anh Vũ Ngọc Phan

rất chuộng chuyện tiếu lâm. Anh ạ, nếu hôm đám tang, lúc ấy anh mà ngồi dậy, thế

nào anh cũng phải phì cười. Xe đưa anh, hoa nhiều không kể xiết. Như con voi mà

những tràng hoa rực rỡ quàng khắp. Vòng hoa sau cùng được đem vào đặt mễ dưới

chân anh. Vòng hoa giản dị với dòng chữ: Công ty Bia rượu kính viếng cụ Vũ Ngọc

Phan. Anh chị Phan có lẽ cả đời chưa biết mặt giọt rượu. Thế mà vòng hoa ngưỡng

mộ, quý mến, thương tiếc anh được đưa vào sau chót, lại là vòng hoa của bia, của

rượu” [17, 26]. Tô Hoài là một nhà văn giỏi chữ nghĩa, dùng tiếng Việt rất tài tình và

chính xác. Qua đoạn văn trên, chúng ta thấy ông hiểu tiếu lâm nghĩa là buồn cười,

không nhất thiết phải có yếu tố tục.

14

1.1.5. Truyện cười ở các làng cười

So với các khái niệm truyện cười độc lập/ lẻ, truyện trạng/ truyện cười kết

chuỗi thì truyện cười ở các làng cười là khái niệm ra đời muộn hơn. Có thể nói

những người đầu tiên dùng thuật ngữ những làng cười Việt Nam ở nước ta là tác giả

Nghiêm Đa Văn trong bài báo ông công bố trên Tạp chí Văn học năm 1984 [18], là

tác giả Nguyễn Đình Bưu và Trần Quốc Thịnh viết bài về “Làng cười, làng văn hóa

Hà Bắc” trên tạp chí Văn hóa dân gian, số 2, năm 1985 [19].

Nếu đem đối chiếu những truyện cười lẻ đã được chủ biên Nguyễn Chí Bền

và cộng sự sưu tập (1013 truyện) với các truyện cười ở các làng cười, cũng được

nhóm biên soạn do Nguyễn Chí Bền chủ biên hệ thống lại thì sẽ thấy về cơ bản

không có sự trùng nhau giữa truyện cười cổ truyền và truyện cười ở các làng cười.

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong luận án này là truyện cười ở các

làng cười. Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi không nghiên cứu tất cả truyện cười

các làng cười mà chỉ nghiên cứu truyện cười ở 5 làng: Văn Lang, Trúc Ổ, Dương

Sơn, Hòa Làng, Trân Châu. Các làng cười này đều ở Bắc Bộ. Những truyện cười đó

hầu hết là những truyện cười lẻ được sáng tác từ trước Cách mạng tháng Tám cho

đến gần đây. Số tác phẩm truyện cười của năm làng là 299 (trong đó đã được xuất

bản là 246 truyện, 53 truyện do chúng tôi mới sưu tầm). Trong đó, riêng truyện cười

làng Trân Châu chưa có ai sưu tầm nên chúng tôi đã sưu tầm từ năm 2017 đến năm

2022 là 20 truyện (về chi tiết xin xem phụ lục). Sở dĩ chúng tôi sưu tầm truyện cười

ở làng Trân Châu là vì truyện ở nơi đây có sắc thái của cư dân vùng biển và còn có

một nhánh nội dung thể hiện người dân quê ra thành phố.

1.1.6. Thi pháp

Ở Việt Nam hai tiếng thi pháp được dùng phổ biến từ những năm 80 của thế

kỷ XX trở lại đây. Từ đó, dấy lên một khuynh hướng nghiên cứu thi pháp, với

những tên tuổi mở đường như Trần Đình Sử, Phan Ngọc,… Khoảng 15 năm gần

đây, khuynh hướng này tuy chưa ngừng, nhưng không còn được sôi nổi như trước.

Thi pháp là nghệ thuật của tác phẩm, thể loại, tác giả, khuynh hướng văn học, bộ

phận văn học, nền văn học,… Khi nghiên cứu thi pháp ca dao trữ tình, Nguyễn

Xuân Kính phân tích các thành tố ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu, thời gian và không

15

gian nghệ thuật, biểu tượng. Khi nghiên cứu thi pháp truyện cười dân gian và ca dao

cười/ ca dao trào phúng, các tác giả Đinh Gia Khánh [20], Hoàng Tiến Tựu [9], Đỗ

Bình Trị [12], Nguyễn An Tiêm [21], Triều Nguyên [13], Phạm Thị Hằng [22], Bùi

Thị Diệu Thuý [23] quan niệm thi pháp truyện cười và thi pháp ca dao cười chính là

nghệ thuật gây cười. Các thủ pháp gây cười được các tác giả phân tích là thủ pháp

sử dụng ngôn ngữ linh hoạt phù hợp; thủ pháp kết thúc bất ngờ; thủ pháp khai thác

và tạo dựng mâu thuẫn; thủ pháp sử dụng văn vần xen lẫn truyện kể văn xuôi; thủ

pháp phóng đại; thủ pháp sử dụng yếu tố tục; thủ pháp gậy ông đập lưng ông; thủ

pháp bắt chước không thành công.

Khoa học nghiên cứu về thi pháp gọi là thi pháp học.

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi

pháp, tức là hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng

hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học. Mục đích của thi pháp học là chia tách

và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới

nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật.

Xét các chỉnh thể văn học mang thi pháp, có thể nói tới thi pháp tác phẩm cụ

thể, thi pháp tác giả (sáng tác một nhà văn), thi pháp một trào lưu, thi pháp văn học

một thời đại, thời kì lịch sử, thi pháp văn học dân tộc.

Xét các phương tiện, phương thức nghệ thuật đã được chia tách, có thể nói

tới thi pháp của thể loại, thi pháp của phương pháp, thi pháp của phong cách, thi

pháp kết cấu, thi pháp không gian, thời gian, thi pháp ngôn ngữ… [24, 304].

Từ điển thuật ngữ văn học do Trần Đình Sử chủ biên thiên về những hiện

tượng, sự kiện, vấn đề thuộc văn học viết. Trong văn học dân gian, người nghiên

cứu cũng phân tích thi pháp tác phẩm; song ở bộ phận văn học này, thi pháp thể loại

là quan trọng nhất.

Tóm lại trong cả hai bộ phận văn học viết và văn học dân gian, nghiên cứu

thi pháp là nghiên cứu văn bản tác phẩm, là nhấn mạnh đến thuộc tính nghệ thuật,

thẩm mỹ của văn chương.

1.1.7. Diễn xướng

Từ điển thuật ngữ văn học [24] và Từ điển Văn học bộ mới [25] đều không

có khái niệm diễn xướng.

16

Ở Việt Nam có lẽ người đầu tiên bàn về diễn xướng dân gian và sử dụng

cụm từ này là Đặng Văn Lung, trên Tạp chí Văn học năm 1977, số 6. Ông viết:

“Nên sử dụng từ diễn xướng mà ta đã quen dùng thành một thuật ngữ chỉ một khái

niệm, một đặc trưng trong việc nghiên cứu văn nghệ dân gian” [26, 37]. Các thí dụ

mà tác giả phân tích, đều chỉ các hoạt động văn nghệ dân gian, không nói đến văn

học dân gian. Năm 1986 trên Tạp chí Văn hóa dân gian số 2, Nguyễn Khắc Xương

công bố bài viết “Về vấn đề khái niệm trong nghiên cứu nghệ thuật biểu diễn dân

gian: Diễn xướng và trò diễn”. Gần đây nhất, trên Tạp chí Văn hóa dân gian năm

2012, số 5, Kiều Trung Sơn viết bài “Nhìn lại khái niệm diễn xướng” [27].

So với Từ điển thuật ngữ văn học và Từ điển văn học bộ mới thì đóng góp

của Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên có từ diễn xướng. Theo đó, “diễn

xướng là trình bày sáng tác dân gian bằng động tác, lời lẽ, âm thanh, nhịp điệu.

Nghệ thuật diễn xướng anh hùng ca” [28, 324]. Từ điển tiếng Việt là từ điển dùng

chung cho đại đa số người Việt nói tiếng Việt, không phải là từ điển thuật ngữ

chuyên ngành. Các tác giả biên soạn từ điển vừa nêu, không có vị nào là chuyên gia

về văn học dân gian. Theo các chuyên gia về văn hoá dân gian, về văn học dân gian

thì diễn xướng anh hùng ca (tức sử thi- trong giới nghiên cứu sử thi, hai thuật ngữ

này có ý nghĩa tương đương), những người đã trực tiếp quan sát, ghi âm, ghi hình

thì trong khi diễn xướng sử thi ở Tây Nguyên, nghệ nhân không dùng động tác. Đây

là quan sát của Tô Ngọc Thanh năm 1980 tại huyện An Khê, tỉnh Gia Lai – Kon

Tum: “Nghệ nhân hát kể sử thi trước một khối người đồng tộc đông đảo. Địa điểm

hát kể có thể là nhà rông, hay ở một nhà nào đó, hoặc ở chính nhà nghệ nhân. Phần

lớn người dân đến nghe và tham dự vào cuộc hát kể ngồi ở bên ngoài. Họ đốt nhiều

đống lửa bao quanh căn nhà và ngồi theo nhóm, im lặng, vừa rít tẩu thuốc vừa nghe.

Chỉ có một số người cao tuổi, thuộc lớp già làng, ngồi trong nhà, bên bếp lửa ở gian

tiếp khách để nghe. Tại gian đầu hồi phía tây, nghệ nhân nằm ngửa trên sàn, chân

chữ ngũ, tay phải đặt lên trán, tay trái đặt ở bụng, đầu gối lên một khúc gỗ hay tấm

vải choàng cuộn lại. Trong tư thế đó, nghệ nhân hát kể sử thi. Khi mỏi, nghệ nhân

có thể nghỉ một chút để uống nước hoặc chỉ đổi thế chân và tay. Khu vực nghệ nhân

nằm hát kể không có đèn hay bếp lửa”. Toàn thân ông ta chìm trong bóng tối. Thỉnh

thoảng ánh lửa từ bếp của gian tiếp khách bùng lên thì mới thấy thấp thoáng một

phần hay toàn bộ thân hình người nghệ nhân cùng với cái bóng của ông được ánh

17

sáng phóng đại lên trên vách ngăn đầu hồi. Và chỉ vài giây sau, tất cả lại chìm trong

bóng tối đã trở nên đen thẫm hơn. “Trong không gian im ắng của đêm đen mùa

đông giá lạnh chỉ có tiếng nghệ nhân vang lên, như vọng đến từ thuở xa xưa nào đó.

Tất cả mọi nhân tố có thể gây nhiễu đều bị triệt tiêu hoàn toàn. Với khung cảnh ấy,

cả người kể lẫn người nghe đều được tiếng hát dẫn vào không gian và thời gian lịch

sử của câu chuyện, khiến cho họ như được sống ngay trong diễn biến câu chuyện”

[29, 250-251]. Về diễn xướng sử thi Ê đê, Đỗ Hồng Kỳ cũng cho biết: Khi hát kể,

nghệ nhân thường nằm, một tay gác lên trán, chủ yếu dùng ngôn ngữ và giọng điệu

để biểu đạt câu chuyện, rất ít người dùng động tác nào đó để mô phỏng cử chỉ, hành

động của nhân vật. Khi nghe hát kể, người Ê đê thường ngồi theo thứ tự: đàn ông

(ông già, trung niên) ngồi trên ghế kpan, nam thanh niên và trẻ nhỏ ngồi xung

quanh, nghệ nhân lúc trầm, lúc bổng, lúc gấp gáp, lúc ngân dài. Sau một hồi lâu,

nghệ nhân tạm dừng để hút thuốc, uống nước [30, 92].

Như thế, trong văn học dân gian, khi diễn xướng, tuỳ từng trường hợp, từng

thể loại mà các yếu tố diễn xướng nhiều ít khác nhau. Tục ngữ dùng để nói, truyện

cổ tích dùng để kể, dân ca dùng để hát, kịch bản văn học chèo dùng để diễn (có

động tác của nghệ nhân). Năm 1990, Hoàng Tiến Tựu đã dùng từ biểu diễn và chỉ ra

bốn cách biểu diễn. Bởi vậy, đối với văn học dân gian, chúng tôi xin đưa ra cách

hiểu như sau về diễn xướng: Diễn xướng là việc truyền miệng tác phẩm văn học dân

gian như nói tục ngữ, hát hò dân ca, hát kể sử thi, trình diễn các trò chơi có lời và

biểu diễn các tích chèo, các trò rối nước dân gian có lời. Cách dùng từ diễn xướng

như vậy gần gũi với cách dùng từ biểu diễn mà Hoàng Tiến Tựu đã sử dụng từ năm

1990 [9, 3]. Sự truyền miệng này cần đảm bảo yếu tố đầu tiên là tách văn bản ngôn

từ ra khỏi trí nhớ nghệ nhân (và sau này là tách ra khỏi trang sách sưu tầm). Còn

việc có động tác phụ hoạ, trang phục kèm theo, giao lưu với người nghe hay không

là những yếu tố mà không phải trường hợp diễn xướng nào cũng có.

1.2. Tổng quan về làng xã cổ truyền người Việt ở Bắc Bộ, cái nôi sinh thành

truyện cười

1.2.1. Bắc Bộ là một vùng văn hoá tiêu biểu

“Vùng văn hoá là một khái niệm dùng để chỉ một vùng lãnh thổ, trên đó các

cộng đồng cư dân có những nét tương đồng về văn hoá hình thành do những tương

đồng về môi trường tự nhiên cũng như về lịch sử - xã hội. Vì văn hoá Việt Nam là

18

một nền văn hoá đa tộc người, nên cấu trúc văn hoá vùng có quan hệ với cấu trúc

văn hoá đa tộc người. Ở Việt Nam một vùng văn hoá không chỉ thuộc về một tộc

người mà thường thuộc về nhiều tộc người. Đồng thời, một tộc người không nhất

thiết chỉ nằm gọn trong một vùng văn hoá mà có thể có mặt ở những vùng văn hoá

khác nhau. Sở dĩ như vậy vì ở Việt Nam có nhiều nhân tố khác nhau tác động đến

sự hình thành vùng văn hoá” [31, 286].

Các nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh, Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, đặc

biệt là Ngô Đức Thịnh đã công bố nhiều công trình về các vùng văn hoá của nước

ta. Bên cạnh sự giống nhau giữa các tác giả có sự khác nhau nhất định về số lượng

vùng văn hoá. Theo Ngô Đức Thịnh, nước ta có 7 vùng văn hoá là: Đồng bằng Bắc

Bộ; vùng Văn hoá Việt Bắc; vùng văn hoá Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ;

vùng văn hoá duyên hải Bắc Trung Bộ; vùng văn hoá duyên hải Trung và Nam

Trung Bộ; vùng văn hoá Trường Sơn – Tây Nguyên, Vùng Văn hoá Nam Bộ [32,

74-84]. Đinh Gia Khánh cho rằng nước ta có 9 vùng văn hoá: vùng văn hoá đồng

bằng miền Bắc; vùng văn hoá Việt Bắc; vùng văn hoá Tây Bắc; vùng văn hoá Nghệ

Tĩnh; vùng văn hoá Thuận Hoá, Phú Xuân; vùng văn hoá Nam Trung Bộ; vùng văn

hoá Tây Nguyên; vùng văn hoá đồng bằng miền Nam. Thủ đô Hà Nội có vai trò đặc

biệt trong lịch sử văn hoá của nước ta từ xưa cho đến nay. Vì vậy, ông coi Hà Nội là

một vùng văn hoá lớn, gọi là vùng văn hoá Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội [33,

6]. Theo Chu Xuân Diên, Việt Nam có 6 vùng văn hoá: vùng văn hoá Tây Bắc và

miền núi Bắc Trung bộ, vùng văn hoá Việt Bắc, vùng văn hoá châu thổ đồng bằng

Bắc Bộ, vùng văn hoá đồng vằng và ven biển Trung bộ, vùng văn hoá Trường Sơn

– Tây Nguyên, vùng văn hoá Nam bộ [31, 288].

Tuy có sự khác nhau như vậy nhưng các tác giả đều thống nhất rằng có một

vùng văn hoá đồng bằng Bắc bộ. Tất nhiên đi vào chi tiết vẫn có sự khác biệt, người

thì cho rằng nếu tính từ Bắc trở vào thì vùng văn hoá này được tính đến Ninh Bình,

có tác giả tính đến Thanh Hoá. Theo chúng tôi, Thanh Hoá là vùng đệm và nếu tính

đồng bằng Thanh Hoá thuộc đồng bằng Bắc Bộ thì cũng không quá khiên cưỡng.

Nhỏ hơn vùng văn hoá là tiểu vùng văn hoá.

Ngoài ra Ngô Đức Thịnh và cộng sự còn phân tích một số vùng thể loại văn

hoá dân gian như vùng truyền thuyết diễn xướng Tản Viên, vùng truyền thuyết Lam

Sơn [34].

19

Các tác giả đều thống nhất vùng văn hoá đồng bằng Bắc Bộ “là vùng văn hoá

- lịch sử cổ, là cái nôi hình thành dân tộc Việt, là quê hương của các nền văn hoá

nổi tiếng – Đông Sơn, thời các vua Hùng, Thăng Long thời Đại Việt và Hà Nội thời

đại Việt Nam…” [32, 87].

1.2.2. Làng xã người Việt ở Bắc Bộ

Nếu ở bình diện xã hội, gia đình là tế bào của xã hội thì ở bình diện không

gian văn hoá, làng xã là tế bào của vùng văn hoá.

Năm 1984, nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi đã phân biệt ba khái niệm làng,

xã, thôn như sau: Làng, từ Nôm, chỉ đơn vị tụ cư nhỏ nhất, nhưng hoàn chỉnh của

người nông dân Việt. Xã, từ Hán chỉ đơn vị hành chính thấp nhất ở các vùng nông

thôn Việt Nam. Trên vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, xã của người Việt có thể

bao gồm từ một đến nhiều làng, tùy từng trường hợp. Được tích hợp vào một xã,

làng trở thành yếu tố cấu thành của một đơn vị hành chính, và, bấy giờ mang tên

thôn (lại một từ Hán). Như vậy làng và thôn là hai thuật ngữ gần như đồng nghĩa,

nhưng có thể phân biệt với những sắc độ khác nhau: làng với hàm nghĩa tình cảm

của nó, được sử dụng chủ yếu trong ngôn ngữ thông thường; còn thôn, với một biểu

nghĩa nặng chất hành chính, thường được dành cho các văn bản chính thức. Mặt

khác, trong nhiều trường hợp, trong xã chỉ có một làng, do đó có thể xảy ra những

trường hợp lẫn lộn giữa hai từ. Vả chăng, trong ngôn ngữ hằng ngày của họ, người

nông dân ở Bắc Bộ hay nối hai từ lại thành một từ kép, mà nghĩa được mở rộng ra,

do đó có phần mơ hồ: làng xã [35, 339]. Nhà dân tộc học Bùi Xuân Đính đã nhầm

lẫn khi cho rằng làng với xã và thôn là đơn vị hành chính cơ sở. Qua tư liệu ở tỉnh

Bắc Ninh và huyện Cẩm Giàng – Hải Dương của Nguyễn Văn Huyên, nhà nghiên

cứu Nguyễn Tùng cho biết ở tỉnh Bắc Ninh trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

trong tổng số 728 xã thì số xã gồm một thôn (tức một làng) là 74,18%, số xã gồm 2

làng chiếm 14%, số xã gồm 3 thôn/ làng là 8,1%, số xã nhiều hơn 3 thôn là 5,52%.

Trong tổng số 85 xã ở huyện Cẩm Giàng, trường hợp nhất xã nhất thôn là 58,7%, xã

có hai thôn là 23,5%, xã có ba thôn là 9,41%, xã nhiều hơn ba thôn là 8,23% [36,

99]. Như vậy là có khoảng 2/3 số xã chỉ có một thôn/ làng. Bởi vậy ở đây cho phép

chúng tôi hiểu làng xã là tương đương.

Tên làng có thể dựa theo một lý do cụ thể mà được đặt ra với những tên

gọi rất nôm na. Cái làng nằm bên cạnh một con rạch lúc đầu trồng nhiều dừa thì

20

có tên là làng Rạch Dừa. Dân chúng cư trú tập trung quanh một gốc cây sộp nên

có tên làng là làng Gốc Sộp. Mỗi một làng thường có tên Nôm và tên chữ (từ

Hán Việt). Chẳng hạn ở tỉnh Bắc Ninh trước Cách mạng tháng Tám, làng Vị có

tên chữ là làng Phương Vỹ; ở tỉnh Bắc Giang làng Đọ có tên chữ là làng Mi Độ;

ở tỉnh Vĩnh Yên cũ (nay là một bộ phận của tỉnh Vĩnh Phúc), làng Cói có tên chữ

là làng Hội Hộp [37, 37-39].

Những làng lâu đời ở Bắc Bộ thường có cổng làng. Nhà sử học Lê Văn Lan

nói đã thấy cổng làng xuất hiện từ thế kỷ XIII. Lúc đó cổng làng làm bằng tre. Còn

cổng làng xây bằng gạch có từ bao giờ thì chưa ai trả lời được. Tài liệu cho biết

chắc chắn những chiếc cổng gạch mà người ta còn biết được niên đại là từ khoảng

cuối thế kỷ XIX. Nhìn vào những chiếc cổng làng, người ta có thể biết được truyền

thống của làng, là làng giàu có hay là làng có người đỗ đạt, làm quan. Những bức

đại tự ở nóc cổng và những câu đối ở các trụ cổng cho biết nguyện vọng, mơ ước

của dân làng. Theo thời gian những chiếc cổng sẽ bị rêu phong, nước vôi và nét chữ

mờ nhòe, càng tạo nên vẻ cổ kính lâu đời. Người đi xa khi về quê, nhìn thấy cổng

làng là như đã về đến nhà. Ở những tỉnh kinh tế chưa dồi dào như Nghệ An, tuy đã

có cổng làng nhưng đó chỉ là cổng bằng tre, chưa có cổng xây. Khác với Bắc Bộ,

làng ở Trung Bộ không có cổng. Ngoài cổng làng, còn cây đa đầu làng, lũy tre làng,

chợ làng, đình làng, chùa làng. Đại đa số dân làng là người tiểu nông tư hữu. Nhà

nghiên cứu Nguyễn Từ Chi đã đưa ra quan điểm coi từng làng Việt cổ truyền ở

đồng bằng và trung du Bắc Bộ là một “biển” tiểu nông tư hữu, trong đó từng hộ

nông dân tự do, dù thuộc giai cấp hay thành phần xã hội nào, vẫn là một tế bào kinh

tế độc lập, với “lý tưởng” vươn lên riêng rẽ của nó. Bên cạnh vươn lên về mặt kinh

tế, những hộ nghèo nhất vươn lên để có một “gia sản”: chút ít ruộng tư, và một

mảnh thổ cư với một ngôi nhà. Những hộ khá hơn vươn lên để mở rộng thêm gia

sản: thêm ruộng đất tư và có “nhà ngói cây mít”… Họ còn tìm cách vươn lên cả về

mặt xã hội nữa, bởi cho dù có là một tiểu thế giới, với lũy tre làng và chân trời riêng

của nó, thì làng Việt cổ truyền cũng đã bị tích hợp từ lâu đời vào thang tôn ti của

một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền [35, 242]. Người tiểu nông tư hữu

luôn luôn mơ ước sẽ mua được thêm ruộng, tậu thêm trâu. Mơ ước đó là của nhà

21

này thì lại là nỗi bất hạnh của nhà kia nếu ước muốn ấy trở thành sự thật. Câu tục

ngữ “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời” chỉ đúng với Bắc Bộ mà không

đúng với Nam Bộ. Với một số ruộng đất khá ít, khi người chủ nhà bị tai nạn hoặc

khi cần tiền để mua chức tước trong làng, người dân buộc phải bán ruộng, không ít

nhà con cái phải đi ở cho nhà khác. Một gia đình đang sung túc nhưng một ngày kia

người chủ sa đà vào cờ bạc rượu chè. Thế là từ chỗ đủ ăn đủ mặc đến chỗ bán dần,

đến lúc bán hết ruộng đất thì lại trắng tay. Còn một số người nghèo nếu chăm chỉ,

chịu khó làm ăn và khi gặp thời cơ họ lại mua được ruộng, mà có thể những mảnh

ruộng ấy từ ba bốn đời trước tổ tiên họ đã bán đi. Trong mỗi làng, thường có địa

chủ, vài phú nông, đa số là trung nông, rồi đến bần nông, cố nông. Địa chủ và phú

nông là những hộ có nhiều ruộng đất, người nhà làm không xuể họ phải thuê mướn

những người bần cố nông thậm chí cả trung nông khi những người này rỗi rãi.

Trung nông là những hộ có vừa đủ ruộng đất để đảm bảo lương thực và cũng có

đủ số nhân lực để canh tác như câu ca dao đã diễn tả: “Chồng cầy vợ cấy con

trâu đi bừa”. Không phải người trung nông nào cũng có trâu cày, có một số

trường hợp hai nhà chung nhau một con trâu. Đối với người nông dân, “con trâu

là đầu cơ nghiệp”. Bần nông là những hộ không có đủ ruộng đất, ngoài việc canh

tác trên ruộng của mình, họ còn phải thuê mướn ruộng của địa chủ hoặc đi làm

thuê. Cố nông không có ruộng đất, là những người dưới đáy của xã hội [35].

Nghèo truyền kiếp, nhiều khi túng phải liều, họ thường có một số tính xấu: ác

khẩu, ăn cắp vặt, không mấy khi chú ý đến lễ giáo. Anh mõ rao làng thường do

cố nông đảm nhiệm. Trong những dịp ăn uống ở sân đình, không ai ngồi chung

với anh mõ. Ở một số làng còn có ông đồ. Đây là người học chữ Hán đến một

trình độ nhất định có thể dạy được trẻ con trong làng. Gia đình nhà nho không tổ

chức thành một đơn vị sản xuất như hộ trung nông. Gia đình ông đồ sống bằng

danh vị, sống trong sự tôn trọng của dân làng. Ông đồ không làm ruộng, không

làm bất kì việc lao động chân tay nào. Vợ ông có ít ruộng để canh tác, nhiều khi

được dân làng (bố mẹ học trò) làm giúp. Thời trước khi trẻ con đến học không

phải đóng học phí, tùy mỗi nhà vào dịp lễ tết có thể biếu thầy vài cân gạo, con

gà, đĩa xôi. Số quà biếu ấy chỉ đủ cho một thầy đồ tiêu dùng.

22

Làng là một tập hợp người theo địa vực: ngõ, xóm. Bên cạnh đó, làng còn là

một tập hợp người theo huyết thống. Trong mỗi làng thường có một số dòng họ

chính. Đấy là những dòng họ đông người, có mặt ở làng sớm hơn. Vì vậy họ có thế

lực hơn. Những họ đến sau thường ít người và lép vế hơn. Mỗi một dòng họ thường

có nhà thờ họ. Giữa các nhà trong họ nếu có xích mích, va chạm, thường là đóng

cửa bảo nhau không mấy khi đem ra kiện cáo ở làng ở xã. Làng còn là tập hợp

người theo lứa tuổi: theo giáp [35, 194].

Trong đa số trường hợp, làng là một tập hợp người trong bộ máy chính

quyền cấp xã. Xã là một đơn vị hành chính, đã xuất hiện từ thời nhà Lê. Lúc đó

người đứng đầu xã gọi là xã trưởng. Đến thời Nguyễn, xã trưởng đổi thành lý

trưởng. Giúp việc cho lý trưởng có phó lý, trương tuần,… Trong trường hợp nhất

xã, nhất thôn thì ranh giới giữa làng và xã trùng nhau. Trong trường hợp nhiều làng

nằm trong một xã thì ranh giới này khác nhau. Ở Bắc Bộ, thường lý trưởng là do

trung nông lớp trên đảm nhiệm. Đây là người năng nổ, chịu trách nhiệm thay dân

làng nộp thuế, nộp phu cho quan trên. Có thể nói anh ta ở trên dân và dưới quan.

Trong nhiều trường hợp, lý trưởng cũng thông đồng với dân để khai gian số ruộng,

số đinh để được giảm bớt thóc thuế và số người đi lao động công ích. Anh ta cũng

kiếm chác được một phần trong sự gian lận ấy. Sống giữa dân làng, anh ta không

thể nhất nhất dựa vào lệnh quan mà phải khéo ứng xử khi cứng khi mềm để được

việc và để vợ con được sống yên ổn trong đám dân làng. Trên lý trưởng là hội đồng

kỳ mục (về hình thức giống như hội đồng nhân dân bây giờ). Thời Pháp thuộc có

lúc người Pháp đánh giá sai vai trò của dòng họ, họ tưởng rằng dòng họ có quyền

lực ghê gớm lắm nên đã thay hội đồng kỳ mục bằng hội đồng dòng họ. Cách quản

lý đó không thành công, họ lại quay về hội đồng kỳ mục. Ngoài ra trong làng còn có

các hội, phường, thí dụ hội tư văn (nơi tập hợp những người biết chữ nghĩa của các

nhà nho), hội tư cấp (những người chơi họ), hội võ (những người biết võ nghệ),

phường mộc, phường nề, phường sơn, phường thêu… Hội tư văn là hội của những

người biết chữ nghĩa, có một số người đã đi thi nhưng không đậu đạt, trong làng

thường có văn chỉ. Mỗi dịp hội họp, những người trong hội tư văn thường gặp nhau

ở văn chỉ hoặc tại nhà một nhà nho nào đó. Số thành viên trong mỗi hội thường

không quá mười người [35].

23

Ngoài dân chính cư tức là những người đã có mặt lâu đời, một số làng còn có

dân ngụ cư. Ngụ cư là những người mới đến. Họ chỉ được ở rìa làng hoặc ở những

khu đất mới gọi là trại. Trải qua nhiều đời, ít nhất là ba đời, nếu họ chăm chỉ làm ăn,

cư xử đứng đắn, có bát ăn bát để và đóng góp nhiều cho làng (thí dụ họ công đức

nhiều những dịp làng sửa chùa, trùng tu đình), lúc đó họ mới trở thành thành viên

chính thức của làng. Tuy nhiên khi cần so sánh người ta vẫn nói, những hộ này định

cư lâu đời, những hộ này mới có năm, bảy đời.

“Nữ thập tam, nam thập lục” (tục ngữ), con trai tuổi mười sáu, con gái tuổi

mười ba là đã có thể dựng vợ gả chồng. Có nhiều nhà con trai còn bé (6-7 tuổi), đã

cưới người vợ lớn tuổi hơn nhiều. Có khi người vợ 19-20 tuổi. Đó là tệ tảo hôn, là

sự chênh lệch quá lớn về tuổi tác. Sở dĩ như vậy là vì nhà trai cần nhân công lao

động. Còn nhà gái do quá bí bách về kinh tế hoặc vì một hoạn nạn nào đó, buộc

phải gả bán con. Tuy nhiên đó là những trường hợp không phổ biến. Còn đa số thì

người ta lấy nhau vẫn theo kiểu vừa đôi phải lứa. Thường thì phụ nữ lấy chồng

trong làng, đúng như câu tục ngữ đã tổng kết: “Lấy chồng giữa làng hơn người

sang thiên hạ”. Thậm chí câu này có dị bản: “Thà lấy chó giữa làng, hơn lấy người

sang thiên hạ” [37]. Điều cốt yếu đối với người vợ là phải sinh được con trai cho

nhà chồng. Giáo lý đạo Khổng cũng thấm đến người dân quê mùa: Sinh được một

con trai cũng là có con, sinh mười con gái coi như không có con. Các cặp vợ

chồng thường đẻ nhiều, có trường hợp đẻ đến bảy tám người con nhưng hữu sinh

vô dưỡng, chỉ nuôi được ba bốn con. Chỉ có những gia đình khá giả, các thành

viên mới chung sống theo mô hình tam đại đồng đường hoặc tứ đại đồng đường.

Nhìn chung các đôi vợ chồng trẻ sau khi cưới nhau thì được bố mẹ cho ở riêng. Bố

mẹ chỉ ở chung hoặc với người con trai trưởng hoặc ở với gia đình người con trai

út. Bởi vậy số hộ gia đình gồm hai thế hệ chiếm đa số so với số hộ gia đình từ ba

thế hệ trở lên.

Làng người Việt ở Bắc Bộ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 là như

vậy. Các thành viên trong làng vừa đoàn kết vừa đùm bọc nhau (khi chống lại người

ngoài làng, chống giặc ngoại xâm, khi khắc phục thiên tai), vừa xích mích, ganh

ghét nhau (trong diễn biến ngày thường). Nói rằng có bóc lột tức là địa chủ bóc lột

24

nông dân, nhưng hiện tượng đó không xảy ra thường xuyên và không quá khốc liệt,

độc ác như một số người nông dân tố điêu trong cải cách ruộng đất năm 1954-1956.

Về địa chủ ở Nam Bộ, lúc sinh thời, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt (tên thường

gọi Sáu Dân) nói: “Địa chủ ở Nam Bộ lạ lắm. Họ sẵn sàng đi theo kháng chiến, theo

Đảng như Cao Triều Phát, Đốc phủ Trương, Đốc phủ Tào, Đốc phủ Xuân, Đốc phủ

Viễn… Rồi hàng chục luật sư, kỹ sư thời ấy như Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc

Thuần, Bùi Thị Cẩm, Phạm Thiều, Kha Vạn Cân, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Hữu

Thọ… Khi giặc Pháp quay trở lại, họ sẵn sàng từ bỏ vinh hoa phú quý, hiến điền

sản, sẵn sàng chấp nhận gian khổ, thậm chí hy sinh cả tính mạng cho kháng chiến.

Nếu chỉ với cách nghĩ thông thường thì thật khó có thể trả lời cho câu hỏi vì sao

tầng lớp địa chủ, trí thức thời ấy đã không màng lợi lộc, xếp tất cả riêng tư vào

chiến khu cứu nước? Cái đó là gì? Phải chăng là lòng yêu nước, tinh thần dân tộc

cao cả” [38, 16]. Nhận xét này cũng đúng với đại đa số địa chủ ở Bắc Bộ. Cả cộng

đồng như một tập thể thuần nhất, cùng sống trong một không gian thiêng, cùng sùng

bái, biết ơn vị thành hoàng làng, biết ơn những người có công với dân với nước và

mong một ngày mai tốt đẹp hơn.

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khoảng 90% nông dân không biết

chữ. Mặc dù ở các đô thị lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng đã có rạp chiếu phim

(lúc đó gọi là chớp bóng, là xinêma) nhưng ở làng quê, bà con không biết điện ảnh là

gì. Sách báo không đến tay họ và dù có đến thì không phải ai cũng đọc được. Đời

sống văn hóa tinh thần của họ là mẹ ru em, bà ru cháu. Trong những đêm đông giá

lạnh, thu mình trong hơi ấm ổ rơm của những căn bếp nhỏ, người ông có thể thong

thả, chậm rãi kể những sự tích anh hùng của đất nước, của làng quê mình cho các

cháu nghe. Vừa bỏm bẻm nhai trầu, bà vừa kể các câu chuyện cổ tích với những cô

Tấm, chú Cuội mà tuổi thơ đã nghe một lần thì nhớ mãi. Trong khi làm lụng vất vả

ngoài đồng áng, người ta có thể kể những câu chuyện cười, nhất là những câu chuyện

có nhiều phần tục tĩu để cho giảm bớt sự căng thẳng mệt nhọc. Có lẽ giờ phút hồ hởi

nhất của mỗi dân làng xưa là mỗi dịp làng vào hội. Vào dịp đó, trai gái trong làng

cũng như trẻ con mặc những bộ quần áo đẹp nhất có thể. Mọi nhà làm những món ăn

ngon nhất để dâng cúng thần linh, tổ tiên và đón khách nơi xa. Trai gái được đua tài

25

bởi các trò vui kéo co, chơi đu, thổi cơm thi, bịt mắt bắt dê, bịt mắt đập niêu, lội ao

bắt vịt. Ở đồng bằng Bắc Bộ, mỗi khi vào đám, làng thường đón một hai gánh chèo

đến biểu diễn. Chèo là một nghệ thuật tổng hợp, là một thể loại tự sự. Mỗi một tích

chèo là một câu chuyện, có nhiều nhân vật, có kẻ tốt người xấu. Các nghệ nhân biểu

diễn trên một chiếc chiếu trải ở sân đình, chiếc hòm đựng đồ của nghệ nhân được đặt

trên chiếc chiếu, tùy theo cách thể hiện của nghệ nhân mà người xem có thể hiểu đó

là tòa sen cửa Phật, là ngọn núi hay chiếc bàn học của chàng thư sinh; bởi chèo còn là

một nghệ thuật cách điệu [39]. Nghệ nhân diễn chèo cũng là những người nông dân

nhưng họ có năng khiếu và có lòng yêu nghệ thuật hơn những người khác. Trong

những lúc nông nhàn, họ thường tụ tập ở nhà một người biết chút chữ nghĩa, tự phân

vai, tự tập tành rồi biểu diễn trong làng. Khi trình độ khá hơn, họ có thể đi biểu diễn ở

những làng khác. Ngày trước các làng có thời gian mở hội khác nhau, vì vậy cuộc

biểu diễn của họ có khi kéo dài đến vài chục ngày rồi mới trở về nhà. Khi đi họ

thường có hai chiêc hòm gỗ để đựng đồ đạc rồi gánh đi, vì thế người ta gọi là gánh

chèo. Trừ những gánh chèo đã nổi tiếng, còn thì đa số các làng đều có những đội

chèo của làng mình. Ở huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh có gánh chèo nổi tiếng ở làng

Thất Gian. Một trong những đặc điểm của gánh chèo này là có hai người thuộc hai

thế hệ của một gia đình tương đối khá giả đã bán cả sản nghiệp (mỗi người bán một

nửa) để nuôi gánh chèo (Tư liệu phỏng vấn nhà nghiên cứu Trần Quốc Thịnh).

Không chỉ có chèo, người dân xưa còn biết đến nghệ thuật tuồng. Nhà văn Kim Lân

thuở nhỏ ở làng Phù Lưu (nay thuộc thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Làng ông có

một đội tuồng, ông mê tuồng từ nhỏ, rất thích nhân vật Đổng Kim Lân, nên sau này

viết văn ông đã lấy bút danh là Kim Lân, ít ai biết tên thật của ông là Nguyễn Văn

Tài. Dân làng Thạch Lâm ở Kinh Bắc xưa rất ham tuồng, nghiện xem tuồng. Vào

những đêm có trò, mọi người đều giục con cái rải chiếu từ chiều ở sân đình xí chỗ.

Thế là mọi người vừa ăn cơm, uống rượu vừa xem diễn tuồng. Mệt quá ngủ thiếp

(…). Dân làng (…) từ trẻ con đến người già, ai ai cũng biết một vài tích, thuộc vài

đoạn trong các tích tuồng cổ như Sơn Hậu, Ngũ Hổ Bình Liêu, còn biết đi xiến, đi

cầu, loan đơn, loan kép, nhảy thành tựa như các đào, kép trong những gánh hát cổ

[40, 6]. Làng Chèm (nay thuộc quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) có hẳn một gánh cải

26

lương của làng, dù chả có đạo diễn nào mà dám dựng hàng loạt vở dài hơi cỡ Kiều

Nguyệt Nga, Lý Công, Bao Công xử án Quách Hòe… Dân làng gọi luôn ông chủ

gánh phở là ông Tần Thúc Bảo (một nhân vật trong cải lương). Người dân Bắc Bộ

còn có rối nước. Rối nước là một trò diễn dân gian mà chỉ ở Bắc Bộ mới có. Đây là

nghệ thuật tạo tác quân rối và nghệ thuật điều khiển các quân rối trên mặt nước. Có

trò rối đơn lẻ như “Cho trâu đi cày”, “Đuổi cáo bắt vịt”, có trò rối gồm cả một tích

truyện như “Tào Tháo cắt râu”, “Vườn đào kết nghĩa”. Trước Cách mạng tháng Tám

ở Thái Bình có phường rối làng Đống (tức Đông Các), phường rối làng Nguyễn (tức

Nguyên Xá); Hải Dương có phường rối nước Hồng Phong; Sơn Tây cũ có phường rối

Chàng Thôn; huyện Đông Anh (nay thuộc Hà Nội) có phường rối Đào Thục; huyện

Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh có phường rối nước ở làng Đồng Ngư. Bên cạnh vốn văn

nghệ cổ truyền tương đối giống nhau, mỗi một làng quê lại có một đặc sản nổi tiếng.

Làng Quyển Sơn (Hà Nam) nổi tiếng về dân ca hát dậm. Làng Đức Bác (nay thuộc

tỉnh Vĩnh Phúc) được gần xa biết đến bởi lối hát trống quân. Nhiều làng ở Phú Thọ có

hát xoan, hát ghẹo. Còn tổng Phục Lễ xưa, (nay thuộc khu vực các xã Lập Lễ, Phục

Lễ, Phả Lễ, Tam Hưng của Thủy Nguyên, Hải Phòng) được thiên hạ biết đến bởi dân

ca hát đúm. Chỉ một vài thí dụ như vậy cũng đủ thấy sinh hoạt văn nghệ dân gian của

nhân dân xưa phong phú, đa dạng như thế nào, và càng thấy nhà sử học Trần Quốc

Vượng chính xác khi ông tổng kết rằng nền văn hóa dân gian xưa là nền văn hóa

ngôn từ, truyền miệng.

So với làng xã ở Trung bộ và Nam bộ, làng xã người Việt ở Bắc Bộ vừa có

những điểm chung vừa có những điểm riêng. Về sở hữu ruộng đất, một điền chủ Nam

Bộ ở mức vừa phải có trong tay trên dưới 100 hecta (300 mẫu Bắc Bộ). Trong khi đó

ở Bắc Bộ trước cách mạng tháng Tám năm 1945, tuyệt đại đa số hộ địa chủ có nhiều

nhất là mỗi hộ 20 mẫu (chưa đầy 7 hecta). Ở Bắc Bộ và Trung Bộ đều có sự phân biệt

giữa dân chính cư và dân ngụ cư, còn ở Nam Bộ thì không. Đa số làng Việt ở Bắc Bộ

dân đông, đất ít thường tụ cư theo kiểu co cụm, nơi ở tách khỏi đồng ruộng, được bao

bọc bởi luỹ tre làng và có cổng làng. Từ Thừa Thiên Huế trở vào, người Việt không

có cổng làng. Ở Nam Trung Bộ làng người Việt kéo dài, nhà cửa ở gần ngay ruộng

đất (để chống các loài vật phá hoại mùa màng). Làng người Việt ở Nam Bộ thường

27

toạ lạc hai bên bờ sông rạch và cũng kéo dài. Các phong tục tập quán, lễ nghi càng

xuôi về phía Nam, càng không chặt chẽ, chi tiết như ở làng xã Bắc Bộ [41, 506-509].

Thí dụ, trong nghi thức cúng tế, các lễ vật dâng cúng ở Bắc Bộ có quy định cụ thể,

còn ở Nam Bộ các món đồ ăn nào cũng có thể là lễ vật dâng cúng. Về đời sống vật

chất, người nông dân Nam Bộ sung túc hơn cả. Ở thế kỷ XIX, một viên quan quê ở

Bắc Bộ vào trấn nhậm ở Nam Bộ đã nhận xét: “Đời sống dân chúng dễ chịu. Ngoài ra

có kẻ nghèo đi ăn xin nhưng mỗi tháng họ chỉ đi xin một lần cũng đủ sống rồi. Họ

thường tụ tập ăn ngủ nơi đình miếu, mỗi người đều mùng màn riêng, họ sống vui vẻ,

an nhàn vô sự. Trộm cắp cũng ít xảy ra. Trâu thì có chuồng nhốt ngoài đồng. Họ

thích ca múa” [42,122]. Do điều kiện thời tiết không ưu đãi, đất đai không màu mỡ,

mặc dù rất cần cù lao động nhưng cuộc sống vật chất của người Trung Bộ khó khăn

hơn cả, nhà giáo Phan Đại Doãn trong cuốn sách Làng Việt Nam một số vấn đề kinh

tế - xã hội đã kể về vùng quê xứ Nghệ của ông cách ngay nay ba bốn chục năm, rằng:

Dù cho các sách báo ca ngợi rằng đây là nơi giàu đẹp, đất đai phì nhiêu. Nhưng với

ông, cái nghèo và cái khổ đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc chẳng thể phai mờ. Vào

mùa hè, bãi cát đầu làng ran rát bỏng đôi bàn chân không giày dép. Dây khoai gầy và

héo, ủ rũ trên vùng đất bạc màu trơ sỏi cát. Người nông dân đầu tắt mặt tối, đen, khô

sắt lại đến giới hạn tận cùng. Trẻ mục đồng đói bụng cồn cào, moi khoai sống mà

không cần phải rửa, phải cạo, cứ thế xoa xoa, phủi phủi rồi ngạp ngốn ngấu. Trước

cảnh ấy, tác giả thông cảm pha chút tủi buồn [43, 3].

1.2.3. Bắc Bộ, nơi tập trung của những làng cười

Dân chúng trong làng là một tập hợp người đông đảo không thuần nhất.

Bên cạnh những người thông tuệ lại có những người kém thông tuệ hơn, bên

cạnh những người tài hoa lại có những người vụng về, bên cạnh những người có

nhiều đức tính tốt lại có một số ít người có điều này điều kia. Chính đời sống

tinh thần của dân làng là nơi các sáng tác văn học dân gian ra đời và lưu truyền,

trong các sáng tác ấy có truyện cười. Ban đầu một phác thảo truyện cười có thể

do một người thông tuệ ứng tác. Phác thảo ấy được cộng đồng chấp nhận, lưu

truyền qua nhiều năm tháng, qua nhiều đời, dần dần người ta không nhớ ai là

người kể ban đầu. Trong quá trình giao lưu giữa làng này với làng khác, theo

28

chân những người buôn bán, theo chân các binh lính, theo chân các phường thợ

đi làm nơi xa đã có sự khu vực hóa, phổ biến hóa những câu chuyện hay, ý vị,

hoặc buồn cười. Về lý thuyết thì chúng ta có thể nghĩ đa số các truyện cười được

sáng tác tại một làng cụ thể lúc ban đầu. Các truyện cười đó được ghi chép lại.

Những sưu tập sớm nhất ghi bằng chữ quốc ngữ, chữ Hán Nôm mà chúng ta

được biết cách đây khoảng hơn hai thế kỷ (về vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày

kỹ ở mục 1.3. Lịch sử sưu tầm và nghiên cứu truyện cười). Rất tiếc người xưa

không để lại một sưu tập nào về truyện cười của một làng cụ thể.

Bởi vậy, thật là may mắn khi chúng ta có được các tập sách: Truyện làng

cười xứ Bắc (1988) do Trần Quốc Thịnh biên soạn, Làng cười Văn Lang (2006) do

Hữu Thục chủ biên… Chính tư liệu từ các làng cười này giúp người nghiên cứu

nhận rõ những phác thảo ban đầu chưa phổ biến rộng khắp, biết được người dân sở

tại đã tiếp thu truyện cười cổ truyền phổ biến như thế nào để sáng tác thành câu

chuyện của riêng làng họ.

Ở Bắc Ninh có sáu làng cười: Đồng Sài, Trúc Ổ, Can Vũ (huyện Quế Võ);

Đông Yên, Yên Từ (huyện Yên Phong), Ngang (huyện Tiên Du). Làng Đồng Sài

được thành lập cách đây 200 năm. Bốn họ chính ở đây là Trần Văn, Đặng Chi,

Nguyễn Quy và Nguyễn Đạo. Từ lúc lập làng cho đến nhiều trăm năm về sau cả

bốn họ đều tương đương về số đinh, về ruộng đất, về thế lực, không họ nào lấn át

được họ nào, vì vậy họ nương tựa lẫn nhau. Dưới thời thực dân Pháp, bốn chức vị

quan trọng trong làng là chánh tổng, tiên chỉ, lý trưởng, chánh hội do bốn họ chia

nhau nắm giữ. Vì thế Đồng Sài còn có tên là làng Đồng Tề (có nghĩa là cùng bằng

nhau). Làng ở theo chiều dài, hẹp chiều ngang. Có nhà có hàng mẫu đất ở, nhiều

vườn hoang dại trồng khoai lang nên chăn nuôi phát triển, nhà nào cũng có lợn sề

thả rông. Trước Cách mạng tháng Tám, đường làng rất bẩn, lầy lội, hai bên rìa làng

là hai dãy ao tù. Bởi vậy, nhiều người bị đau mắt. Dân làng khác trêu họ: “Nói phét

thì toét mắt ra”. Vì ở hạ lưu sông đất hay bị ngập, người Đồng Sài chỉ cấy vụ chiêm

là chính. Khoai lang là nguồn lương thực chủ yếu của dân làng. Chính vì vậy nhiều

truyện cười ở làng này được xây dựng xung quanh củ khoai. Dân Đồng Sài nói

giọng nghe “nặng và chua”. Hiện nay làng phong quang hơn trước nhiều, cảnh ao tù

29

nước đọng, mắt toét, mắt hột đã trở thành truyện cổ tích, nhưng tiếng cười của dân

làng vẫn còn sống trong thời đại ngày nay [2, 7-10].

Cùng ở huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh còn có làng Trúc Ổ nổi tiếng là “tổ nói

phét” [2, 17]. Trúc Ổ cách Đồng Sài 15 km về phía Nam theo đường chim bay.

Ngoài nghề nông, dân làng có nghề câu cuốn. “Câu cuốn là câu bằng cần vụt, với

sợi dây câu rất dài, mồi nhái, bàn cuộn” [2, 20]. Nghề câu cuốn vốn do một người

con rể của làng Trúc Ổ đem đến, dần dần trở thành nghề truyền thống. Hàng năm

vào dịp nông nhàn, trai tráng cả làng lại vác cần câu đi câu khắp các xứ đồng thiên

hạ. Và từ đó nhiều câu chuyện cười về con cá ra đời. Điều đặc sắc ở làng cười Trúc

Ổ là trẻ em cũng biết nói khoác.

Hòa Làng nay là một thôn của xã Phúc Hòa, huyên Tân Yên tỉnh Bắc Giang.

Trước đây dân làng có hai họ là họ Giáp và họ Thân vốn ở nơi khác, do lép vế nên

đã rời vào hẻm núi lập làng nên gọi là Hòa Làng. Đình Hòa Làng to và đẹp, ở cửa

võng chạm, trổ nhiều vũ nữ. Tương truyền ngôi đình do một cung nữ mạo nhận là

vương phi về đây xây dựng nên được chạm trổ như trên. Đất Hòa Làng chủ yếu là

ruộng bậc thang, bạc màu, dân nghèo. Mới nghe câu “Hòa Làng ăn cơm rang nói

phét” có người tưởng rằng đây là cơm rang với mỡ. Thực ra đây là cơm phơi khô

rang với muối, ăn vào uống nước cho no. Làng Hòa Làng thỉnh thoảng có mở cuộc

thi nói khoác, nhưng không thành hội, không thành lệ và không có tranh lèo, giật

giải như ở Đông Yên [2, 53].

Dương Sơn là một làng thuộc huyện Tân Yên, có ba xóm là Chiềng, Dương và

Sặt. Dân Dương Sơn nói chung là nghèo, nhưng dù sao so với những làng nghèo khác

thì dễ chịu hơn, vì vậy có một số người theo đòi Nho học, trong làng có nhà bình văn.

Người Dương Sơn tự hào không muốn kém ai điều gì, kể cả tài nói khoác. Câu

chuyện của họ chỉ để cười cho vui, không cần lý lẽ gì. Đến nay dân làng vẫn còn nhớ

và kể lại nhiều truyện mà người sáng tác ban đầu là cụ Nguyễn Tam [2, 67-68].

Văn Lang là một làng cổ. Làng Văn Lang xưa nay có tên hành chính là xã

Văn Lương, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Làng Văn Lang là nơi “giàu truyền

thống lịch sử và văn hóa dân gian” [44, 17] với “cái nôi của các câu chuyện cổ tích

và truyền thuyết” [44, 28]. Theo lời các cụ kể lại xưa kia Văn Lang là nơi trù phú,

30

nhưng cho đến năm 2005, theo chính lời người con của quê hương là nhà giáo Hữu

Thục thì làng này không còn sung túc nữa. “Gồng mình trong hai cuộc kháng chiến

với ba lần bị Pháp đốt làng, cuộc sống nghèo khó khiến người dân không thể dựng

lại những ngôi nhà cổ kính, khang trang khi xưa. Thảng hoặc trong làng mới có một

vài ngói, còn hầu hết là nhà lợp lá cọ, đơn xơ, tuềnh toàng. Làng Văn Lang ở khá xa

trung tâm huyện Tam Nông (phủ Hưng Hoá xưa), nhà cửa nằm san sát nhau vì đất

đai của làng không rộng như các vùng đồi khác. Là một làng thuần nông không hề

có chợ chính buôn bán, chỉ có một cái chợ Điếm, chợ chiều hàng ngày của làng,

trao đổi các sản phẩm tự túc, tự cấp với nhau. Vì vậy điều kiện sinh hoạt rất thiếu

thốn. Đất nông nghiệp của họ hạn hẹp, phần lớn chỉ có một ít ruộng giộc ven đồi là

cấy được hai vụ, còn lại là đồng chiêm trũng một vụ, nhiều năm lụt lội chưa đến kỳ

gặt hái đã mất trắng. Nghề trồng lúa nước hầu như không đủ ăn” [45, 30]. Làng Văn

Lang nổi tiếng với tục nói khoác bởi con người nơi đây vốn thuần túy lại có khiếu

hài hước và sáng tạo, vì thế mọi người gọi nơi đây là “làng nói phét”, rằng “đã là

dân Văn Lang thì phải biết nói phét”. “Văn Lang cả làng nói phét” là lời truyền tụng

trong dân gian về đặc trưng cũng như khả năng nói khoác một tấc đến trời của

người dân làng này.

Trân Châu (sách cũ gọi Chân Châu) tên nôm là Làng Nang, trước năm 1813

thuộc tổng Hà Sen, huyện Hòa Phong (sau đổi Nghiêm Phong, Cát Bà), trấn Yên

Quảng, sau là tỉnh Quảng Yên. Những năm 1945-1947 có tên Thái Hòa, năm 1948

đổi thành Việt Thắng, đến năm 1954 đổi lại là Trân Châu. Làng hải đảo Trân Châu

có địa hình rừng núi với ba phần giáp đất liền, một phần hướng biển. Ở đây, cư dân

thưa thớt, sống trong từng xóm nhỏ, mỗi xóm chỉ có đôi ba hộ gia đình. Khác với

làng xã nói chung của Bắc Bộ, các xóm thường liền kề và việc di chuyển tương đối

dễ dàng, thuận lợi; ở Trân Châu, các xóm không ở gần nhau, mất nhiều thời gian

trong việc di chuyển từ xóm này sang xóm kia. Điều này đã tạo nên sự khác biệt

cho vùng đất này so với làng xã nói chung của Bắc Bộ, có lẽ vì thế mà những nét

phong tục của văn hóa làng xã nơi đây phần nào vẫn giữ được nguyên vẹn, không bị

quá trình đô thị hóa ảnh hưởng nhiều. Người làng Trân Châu nổi tiếng với lối nói

hài hước, phóng đại. Truyện cười Trân Châu thể hiện tính cách tinh nghịch, dí dỏm,

31

có chút ngạo nghễ của những người con miền biển quanh năm “ăn sóng nói gió”.

Tất cả các làng cười so với mặt bằng chung đương thời đều là những làng rất

nghèo. Ở Bắc Bộ có hai nghệ thuật nổi tiếng mà Trung Bộ và Nam Bộ hầu như

không có là nghệ thuật chèo và nghệ thuật rối nước. Những làng tồn tại hai nghệ

thuật này thường là những làng trù phú hơn những làng khác, nhất là muốn duy trì

được một phường rối nước tại làng quê cần nhiều điều kiện về vật chất như có nơi

chế tác quân rối và bảo quản, hoặc cần có một số tài chính nhất định để mua quân

rối ở nơi khác, cần có tre nứa để dựng thuỷ đình, cần có những nghệ nhân thạo nghề

quen việc có thể bỏ công việc đồng áng để theo phường trong những ngày lưu diễn.

Thậm chí trong làng có những mạnh thường quân là những vị hưu quan hoặc những

người giàu có yêu nghệ thuật, xuất của nhà để “nuôi” phường rối. Những làng

nghèo quá hoặc dân cư quá thưa thớt thì không thể có điều kiện vật chất để phường

rối nước ra đời. Nhưng khát vọng sống, niềm tin yêu con người, tinh thần lạc quan

thì không cần phải có cơ sở vật chất làm bệ đỡ. Những làng cười ra đời từ bối cảnh

đó. Bài thơ “Làng cười” của nhà giáo Nguyễn Hưng Hải, không chỉ đúng với làng

Văn Lang mà còn đúng với những làng cười khác:

“… Nói khoác cả làng mà không ai lừa nhau

Ngỡ không cười làng tôi không sống được

Cười cho tạnh nỗi mưa thiêu, nắng đốt

Cười cho đầy trống vắng những ngày qua

Cười cho mềm sỏi đá để trồng hoa…” [45, 5]

Làng cười là những làng có nhiều người nói khoác, nói tức, nói trạng, là nơi

có những truyện cười thể hiện được đặc điểm của địa phương như sản vật, tiếng địa

phương, có từ một đến nhiều nghệ nhân dân gian nổi tiếng. Những làng cười đó,

cho đến năm 2005 đã được Nguyễn Chí Bền và cộng sự tập hợp lại trong Tập 8,

Truyện cười của bộ “Tổng tập Văn học dân gian người Việt”. Tất cả gồm 16 làng.

Trong số đó có 15 làng, nay thuộc địa phận các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Phú

Thọ. Chỉ có một làng duy nhất là làng Vĩnh Hoàng thuộc tỉnh Quảng Trị. Như vậy

Bắc Bộ là nơi tập trung các làng cười, những làng có khá nhiều truyện cười ở làng.

Về mặt công bố, những truyện cười ở làng chỉ được sưu tầm và xuất bản từ năm

1984 trở đi. Trong quá trình nghiên cứu mà kết quả chúng tôi sẽ trình bày ở chương

32

2, chỉ có một số rất ít truyện cười ở làng cười Văn Lang trùng với một số truyện

trong 1013 truyện cười cổ truyền, phổ biến truyền thống.

1.3. Lịch sử sưu tầm và nghiên cứu truyện cười

1.3.1. Lịch sử sưu tầm truyện cười

1.3.1.1. Lịch sử sưu tầm truyện cười cổ truyền

Về sưu tầm truyện cười, sách Hán Nôm có các cuốn Công dư tiệp ký tiền biên

của Vũ Phương Đề, Công dư tiệp ký tục biên của Trần Quý Nha ra đời vào cuối thế

kỷ XVIII. Trong sách của Trần Quý Nha có 18 truyện có yếu tố gây cười. Cuốn Sơn

cư tạp thuật của Đan Sơn (khoảng cuối thế kỷ XVIII) có 2 truyện “Người lái buôn

keo kiệt”, “Hội đổi quan” là các truyện cười. Cuối thế kỷ XIX có cuốn Vân nang tiểu

sử của Phạm Đình Dục có 6 truyện cười là “Tham thì thâm”, “Đầu người tiếng thú”,

“Thầy thuốc và thầy bói giỡn nhau”, “Tham, giận, ngu”, “Tham ăn”, “Thằng lính hư

nhanh trí” [16, 51]. Những truyện vừa nêu đều không ghi là được kể bởi dân chúng

làng nào. Về sách chữ quốc ngữ, cuốn sách Chuyện đời xưa lựa nhón những chuyện

hay và có ích (thường gọi tắt là Chuyện đời xưa) là cuốn sách đầu tiên trong sự

nghiệp trước tác của Trương Vĩnh Ký. Đây cũng là sưu tập truyện dân gian đầu tiên

bằng chữ quốc ngữ, được xuất bản lần đầu năm 1866. Năm 1882, Chuyện khôi hài

(cuốn sách 18 của Trương Vĩnh Ký) là cuốn sách cũng rất sớm trong lịch sử sưu tầm,

biên soạn văn học dân gian bằng chữ quốc ngữ”. Trong hai cuốn sách, Trương Vĩnh

Ký ghi lại 112 truyện, gồm 78 truyện cười, 15 truyện ngụ ngôn, 12 giai thoại, 6

truyện cổ tích, 1 truyền thuyết [5, 68]. Thí dụ các truyện cười đó là “Bụng làm dạ

chịu”, “Cháu nói láo hại chú trả thù”, “Thầy pháp râu đỏ”, “Hai anh sợ vợ”, “Mẹ

chồng nàng dâu ăn vụng”,… Điều đáng nói là tất cả những truyện này không được

ghi ở làng nào. Ưu điểm của Trương Vĩnh Ký là, ông không chỉ là người ghi chép

sớm nhất truyện dân gian bằng chữ quốc ngữ, ông còn là người ghi được một số

lượng đáng kể truyện cười. Không chỉ đặt tên cho mỗi truyện, soạn giả còn đánh số

thứ tự cho từng truyện, ngôn ngữ trong các câu chuyện hết sức giản dị, bình dân, hợp

với đại chúng lúc bấy giờ [46]. Có thể đến lúc Trương Vĩnh Ký ghi chép thì các

truyện đã được khu vực hóa, toàn quốc hóa. Thí dụ ở các truyện cười mà Trương

Vĩnh Ký ghi lại đã có một số truyện nằm trong hệ thống truyện Trạng Quỳnh, truyện

33

Ba Giai – Tú Xuất. Cũng có thể có một số ít truyện ông nghe được ở một vài làng cụ

thể ở Nam Bộ nhưng ông không ghi xuất xứ của câu chuyện.

Năm 1895, trong cuốn Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của có 1

truyện cười.

Về sách tiếng Pháp, năm 1986, trong Contes et légandes annamites của

A.Landes có 22 truyện cười được tác giả giới thiệu [16, 52].

Đầu thế kỷ XX có một cuốn truyện cười bằng chữ Nôm, không rõ thời gian

biên soạn được in năm 1916 là cuốn Tiếu lâm tân truyện, gồm 37 truyện, trong đó

những truyện cười có yếu tố tục là 11 truyện [16, 52].

Năm 1910, trong bộ sách Đối cổ kỳ quan do Đặng Lễ Nghi biên soạn có 3

truyện cười. Năm 1912, cuốn Tiếu lâm của Phụng Hoàng Sang được công bố nối

tiếp công trình sưu tầm và biên soạn Chuyện khôi hài của Trương Vĩnh Ký. Năm

1913, cuốn Chuyện khôi hài của Trần Phong Sắc có hai tập, tập 1 gồm 98 truyện

cười, tập 2 gồm 66 truyện cười. Cũng trong năm 1913, tập truyện Khôi hài do Hàn

Khanh xuất bản gồm 2 quyển, mỗi quyển gồm 16 truyện cười. Vẫn trong năm 1913,

cuốn Chuyện góp của Nguyễn Ngọc được xuất bản chỉ có 1 truyện cười. Năm 1914,

Phụng Hoàng Sang và Dương Diếp xuất bản cuốn Truyện tiếu đàm gồm 50 truyện

cười. Năm 1915, cuốn Khôi hài thú vị của Trần Văn Tý được xuất bản. Từ năm

1918 đến năm 1924, bộ ba cuốn Tiếu lâm An Nam của Thọ An Phạm Duy Tốn được

công bố (cuốn 3 in lần đầu năm 1918). Năm 1921, cuốn Góp cười truyện thế được

Trần Trung Viên biên soạn và xuất bản. Năm 1925, Tân tiếu lâm được Lạc Sinh

xuất bản. Năm 1929, Chuyện vui được nhà in Tiếng Dân (Huế) công bố. Năm 1932,

Chuyện vui của Huỳnh Khắc Trường được công bố, trong đó tập 1 chỉ gồm 4 truyện

cười. Cũng năm 1932, cuốn Chuyện tiếu lâm được nhà in Phạm Văn Thình, Sài Gòn

công bố. Trong năm này, trong cuốn Truyện cổ nước Nam, Nguyễn Văn Ngọc đã

đưa truyện cười (không bao gồm truyện tục) vào công trình. Năm 1949, Tiếu lâm

Việt Nam của Đồ Nam gồm 29 truyện được xuất bản. Năm 1950, có Chuyện tiếu

lâm và cổ tích do Công Thành giới thiệu gồm 2 quyển. Năm 1952, Tân tiếu lâm, Lò

Léc da du I của Lạc Sinh được ra mắt [16, 52-55].

Từ năm 1954-1975, đất nước chia thành hai miền Nam Bắc.

34

Ở miền Bắc, năm 1957 cuốn sách Truyện tiếu lâm Việt Nam của Nguyễn

Hồng Phong được xuất bản. Cuốn sách này bao gồm cả phần nghiên cứu và phần

sưu tập. Phần sưu tập gồm 148 truyện. Cũng trong năm 1957 có cuốn Tiếng cười

Việt Nam của Văn Tân. Đây là sách nghiên cứu, song tác giả đã đưa vào đây 28

truyện tiếu lâm và 17 truyện khôi hài (ở đây tác giả phân biệt tiếu lâm và khôi hài).

Cũng trong năm 1957, có tập Kho cười của Zuy Nhất, Tùng Giang. Năm 1964 có

tập Truyện cười dân gian Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong, Trương Chính, Đỗ

Thiện, Đặng Việt Thanh, Hoàng Tuấn Phổ [16, 55]. Từ năm 1965 đến năm 1975

không có một công bố truyện cười nào. Sở dĩ như vậy là vì trong bối cảnh quân dân

hai miền căng sức chống lại đế quốc Mĩ và quân đội Sài Gòn, việc xuất bản các tập

truyện cười cũng như các tiểu thuyết có nụ hôn trai gái tuy không phải là điều cấm

kị nhưng cũng làm người ta ngại ngần.

Ở miền Nam có các tập Cổ tích nực cười (1957) của Nguyễn Quỳnh, 101 chuyện

cấm cười (1963) của Tú Xe, Chuyện cấm đàn bà (1969) của Đặng Trần Huân. Đáng chú

ý là tập Chuyện cười cổ nhân (1971) của Vương Hồng Sển [16, 55].

Từ ngày 30/4/1975, non sông liền một dải. Đất nước thống nhất được 4 năm

mới có tập Tiếng cười dân gian Việt Nam của Trương Chính, Phong Châu do Nhà

xuất bản Khoa học xã hội công bố năm 1979. Trong sách này, có 230 truyện cười

bên cạnh các trích đoạn hề chèo, ca dao cười,… Năm 1985 có cuốn Truyện cười

dân gian Việt Nam, tập 1 của Minh Tâm, Nguyễn Xuân Kính, Tăng Kim Ngân.

Cùng năm, Trương Chính công bố Truyện cười dân gian Việt Nam. Năm 1986, có

tập Nụ cười kháng chiến. Đây là tập truyện cười gồm các truyện dân gian hiện đại.

Năm 1988, cuốn Sợ vợ chết cứng được Hội văn nghệ tỉnh Bắc Thái xuất bản. Cùng

năm, Đặt lờ trên cây gồm 81 truyện được Nguyễn Hữu Ái công bố. Vẫn trong năm

1988, Tuyển tập tiếng cười thế giới (tập 1) được Nguyễn Đức Dân chủ biên xuất

bản, trong đó có 11 truyện cười dân gian Việt Nam. Cùng năm này, Truyện cười

hiện đại được Thái Kim Đỉnh, Lê Thái Sơn, Thạch Quỳ, Nguyễn Hồng biên soạn.

Năm 1989, Truyện cười dân gian Nam Bộ gồm 107 truyện của các tác giả Bùi

Mạnh Nhị, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh được xuất bản. Năm 1992, tác giả

Ninh Viết Giao công bố Gánh bưởi qua sông. Cùng năm, tác giả Kinh Bắc cho ra

35

101 truyện cười dân gian Việt Nam gồm 2 tập. Năm 1993, Kho tàng truyện tiếu lâm

Việt Nam được Nguyễn Cừ, Phan Trọng Thưởng công bố gồm 342 truyện. Năm

1994, Ngọc Chi xuất bản Cười. Năm 1995, Vũ Ngọc Khánh xuất bản Truyện tiếu

lâm Việt Nam và Kho tàng truyện cười Việt Nam. Năm 1999 có Kho tàng truyện

tiếu lâm Việt Nam của Phạm Trường Tam. Năm 2001, Truyện tiếu lâm Việt Nam

chọn lọc của Thi Long; Truyện cười chọn lọc, kẻ ngốc nghếch của Quế Chi… được

công bố [16, 56-57].

Trong số các sưu tập truyện cười kể từ ngày đất nước thống nhất cho đến

nay, tập đại thành thuộc về Nguyễn Chí Bền và các cộng sự. Trong bộ Tổng tập văn

học dân gian người Việt có hai tập là tập 8 và tập 9 thuộc về sưu tập truyện cười đều

do Nguyễn Chí Bền chủ biên. Tập 8 có tên Truyện cười bao gồm 1013 truyện cười

cổ truyền độc lập và 395 truyện ở các làng cười. Tập 9 có tên Truyện cười. Phần

truyện trạng giới thiệu 18 tập truyện: Truyện Trạng Lợn, Truyện Trạng Quỳnh,

Truyện Thượng Nành, Truyện Ba Giai – Tú Xuất, Truyện Quản Bạt, Truyện Xiển

Bột, Truyện Mân Nhụy, Truyện Trạng Bờ Ao, Truyện Cố Duồn, Truyện Phủ Tuấn,

Truyện Nguyễn Kinh, Truyện Ông Tuyn, Truyện Thủ Thiệm, Truyện Bợm Bảy,

Truyện Bộ Ninh, Truyện Ông Me, Truyện Ông Ó, Truyện Ba Phi. Nguyễn Chí Bền

và các cộng sự không sưu tầm các truyện cười dân gian từ đời sống dân gian hoặc

trong báo chí. Ông cùng các cộng sự “vét” hết những sưu tập truyện cười ở các sách

đã xuất bản để đưa vào tổng tập. Như thế thường mỗi truyện sẽ có nhiều dị bản do

các sách kể khác nhau. Nhóm soạn giả chọn lấy một bản làm bản chỉnh in đầy đủ,

sau đó có phần khảo dị nêu rõ những chi tiết, tình tiết ở các sách khác. Tất cả đều

được dẫn nguồn đầy đủ (tên sách và số trang). Bởi vậy, trong luận án này khi so

sánh truyện ở các làng cười với truyện cười cổ truyền độc lập chúng tôi sử dụng

1013 truyện trong tập 8 của Nguyễn Chí Bền làm tài liệu phân tích.

1.3.1.2. Lịch sử sưu tầm truyện cười ở các làng cười

So với truyện cười đơn lẻ, cổ truyền, truyện cười ở các làng cười được biết

đến và được sưu tập muộn hơn, năm 1984 Võ Xuân Trang công bố Chuyện Trạng

Vĩnh Hoàng, gồm 31 truyện. Năm 1987 Nguyễn Huy công bố tập Bứt lầm đuôi cọp

gồm 19 truyện của làng Vĩnh Hoàng vừa nêu. Năm 1988 Trần Quốc Thịnh công bố

Truyện làng cười xứ Bắc với tổng số 241 truyện. Như vậy, tuy muộn màng hơn một

36

chút, Trần Quốc Thịnh đã giới thiệu được nhiều truyện cười hơn ở nhiều làng cười

trong phạm vi địa lý một tỉnh lúc bấy giờ. Năm 1994, Dương Huy Thiện công bố

Truyện cười Văn Lang gồm 47 truyện cười làng Văn Lang. Năm 1997, Trần Quốc

Thịnh xuất bản cuốn Tuyển tập truyện tiếu lâm xứ Bắc, ba tập. Năm sau, ông tập

hợp tất cả các truyện ở các làng cười trong cả nước trong cuốn sách Những làng

cười Việt Nam, in tại nhà xuất bản Văn hóa dân tộc. Nguyễn Chí Bền coi đây là một

sưu tập công phu về truyện cười ở các làng cười từ trước đến nay [16, 57]. Năm

2006, Hữu Thục và Dương Huy Thiện biên soạn cuốn Làng cười Văn Lang gồm

180 truyện.

Như trên đã nói, năm 2005 ngoài 1013 truyện cười lẻ cổ truyền, trong tập 8

Truyện cười, Nguyễn Chí Bền và cộng sự tập hợp 395 truyện ở các làng cười. Can

Vũ, Cua, Dương Sơn, Đông An, Đông Loan, Hiên Ngang – Hiên Đường, Hòa Làng,

Kẻ Nét – Yên Từ, Kẻ Xe – Kẻ Chuối, Nội Hoàng, Tiên Lục, Trúc Ổ, Văn Lang,

Vĩnh Hoàng.

Với cái nhìn toàn cảnh như trên, so với các truyện cười cổ truyền đơn lẻ,

truyện ở các làng cười được giới thiệu muộn hơn rất nhiều. Công việc sưu tập, sưu

tầm truyện ở các làng cười vẫn nên tiếp tục. Và điều này, trong quá trình thực hiện

luận án, chúng tôi đã có cố gắng. Cụ thể là chúng tôi đã sưu tầm mới ở làng Hòa

Làng 14 truyện, Dương Sơn 13 truyện, Trân Châu 20 truyện, Trúc Ổ 6 truyện.

1.3.2. Lịch sử nghiên cứu truyện cười

1.3.2.1. Lịch sử nghiên cứu truyện cười cổ truyền

Bài viết “Ý nghĩa nhân sinh trong truyện cười nước ta ngày xưa” của Đặng

Thai Mai là tiểu luận đầu tiên đánh giá truyện cười theo quan điểm mác xít. Bài viết

này được đăng lần đầu trên tạp chí Tri Tân (1943) [6, 839-849]. Trong bài báo, tác

giả kể câu chuyện về nguồn gốc truyện cười. Truyện kể rằng có hai cha con ông đồ

nọ thi trượt, buồn quá, trở về nhà, họ ghi chép các câu chuyện cười trong dân gian

vào một cuốn sách. Một ngày nọ, nhân trời mưa gió hai cha con mở sách ra đọc lại.

Đọc đến đâu họ lăn ra cười đến đó, cười đến đứt ruột mà chết. Tác giả Đặng Thai

Mai cho rằng câu chuyện này do giai cấp thống trị đặt ra với chủ ý rằng cái tài hài

hước là tài vô hậu. Theo tác giả Đặng Thai Mai, vấn đề không phải như vậy. Khi bị

áp bức, chính người dân đã sáng tác nên những câu chuyện cười để chống lại kẻ

37

thống trị. Trong truyện “Quan sắp đánh bố”, người cha nói với con mình rằng quan

sắp đánh bố là quan sắp đánh anh ta nhưng lời nói ra lại được hiểu rằng là quan sắp

đánh bố y. Trong truyện “Sang cả mình con”, sau khi được em nhỏ quạt mát, lão

nhà giàu hỏi mồ hôi của tao đâu cả rồi? Em nhỏ lễ phép thưa: “Sang cả mình con

ạ”. Câu chuyện vạch rõ sự bất công, hưởng thụ của những người giàu có. Những

truyện cười như vậy theo tác giả Đặng Thai Mai có giá trị xã hội, ý nghĩa tố cáo sâu

sắc. Đó chính là ý nghĩa nhân sinh của truyện cười. Tuy nhiên, ở thời điểm cách đây

80 năm, tác giả Đặng Thai Mai chưa đề cập đến hai mục đích nữa của truyện cười là

châm biếm thói hư tật xấu…

Cuốn sách Truyện tiếu lâm Việt Nam (1957) của Nguyễn Hồng Phong chẳng

những là một đóng góp đáng kể về mặt sưu tầm, mà còn là đóng góp quan trọng trong

tiến trình nghiên cứu truyện cười. Ở đây, trên cơ sở của học thuyết giai cấp và đấu

tranh giai cấp, Nguyễn Hồng Phong đã có những tiếp cận toàn diện, hệ thống về

truyện cười nước ta. Tác giả cho rằng đa số truyện cười nói về người nông dân, mà ở

đó họ đã thể hiện tâm lý lạc quan, lòng yêu ghét và thái độ tự phê của mình. Ông đã

đề cập đến một loại tiếng cười không liên quan gì đến công lý, luân lý xã hội, “cười

xong đầu óc không còn vương vấn gì đến ý nghĩa của tiếng cười. Vấn đề phải, trái,

yêu ghét, nên hay không nên căn bản không đặt ra đối với người nghe” [47, 444]. Đó

chính là tiếng cười mà thời gian sau các nhà nghiên cứu gọi là tiếng cười khôi hài.

Tác giả cũng đề cập đến loại tiếng cười trào phúng, mỉa mai đối với thói khoác lác,

thói khoe khoang. Ngoài ra còn loại tiếng cười đả kích đối với những thầy đồ dốt,

lười biếng, nhiều ham muốn. Tác giả đã rất đúng khi viết rằng: trong sinh hoạt thì

thầy đồ thuộc lớp bình dân, nhưng vốn là trí thức phong kiến nên thầy đồ mang ý

thức phong kiến, thích lối sinh hoạt của phong kiến. Tính cách chống phong kiến ở đa

số thầy đồ là do chỗ đó mà ra [47, 448]. Tương tự như vậy tác giả đã có những nhận

xét chính xác đối với tiếng cười trong các truyện kể về cường hào, quan lại, nhà sư,

thầy lang. Về nghệ thuật gây cười, tác giả cho rằng truyện cười đã khai thác, xếp đặt

cường điệu các mâu thuẫn trái tự nhiên, đã sử dụng phương pháp nói ngoa, nói phóng

đại, đã dùng yếu tố tục; đã sử dụng các kiểu kết cấu đa dạng, trong đó loại truyện bật

ra tiếng cười ở cuối câu chuyện thuộc loại kết cấu thứ hai.

38

Sau năm 1954, tại miền Bắc, việc nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian

được tiến hành ở các trường đại học. Theo thời gian, các tập giáo trình đại học về

văn học dân gian nối nhau ra đời. Năm 1961 tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội,

giáo trình Văn học dân gian được xuất bản lần đầu, lần 2 năm 1963, lần 3 năm 1970

và lần thứ 5 năm 1978. Năm 1990-1991 một bộ giáo trình mới về văn học dân gian

với tên gọi Văn học dân gian Việt Nam của Đỗ Bình Trị, Hoàng Tiến Tựu ra đời,

trong đó tập 2 do Hoàng Tiến Tựu viết, tập trung phân tích các thể loại. Năm 2012,

Giáo trình Văn học dân gian do Vũ Anh Tuấn chủ biên được xuất bản lần thứ nhất.

Năm 2016 giáo trình này được in lần thứ ba. Trong giáo trình này, tác giả Nguyễn

Việt Hùng viết về truyện cười. Đó là những giáo trình dành cho sinh viên khoa văn

ngành sư phạm. Ngoài ra ở trường đại học sư phạm còn có Giáo trình văn học dân

gian, dành cho hệ đào tạo từ xa do Phạm Thu Yến chủ biên. Năm 2008 có Giáo

trình Văn học dân gian Việt Nam của Nguyễn Bích Hà viết, dùng cho sinh viên Việt

Nam học.

Ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, năm 1962, Nhà xuất bản Giáo dục

công bố Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên. Năm

1972 – 1973 một bộ giáo trình mới ra đời với tên gọi Văn học dân gian gồm hai tập

của Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, trong đó tập 2 viết về các thể loại. Trong

hai giáo trình này, người chấp bút phần viết về truyện cười là Đinh Gia Khánh. Năm

1983, Văn học dân gian các dân tộc ít người Việt Nam của Võ Quang Nhơn được

xuất bản. Ở đây có phần viết về truyện cười các dân tộc thiểu số. Từ năm 1997 trở

đi, bộ giáo trình hai tập của Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên được in gộp với

cuốn sách của Võ Quang Nhơn thành cuốn sách Văn học dân gian Việt Nam, do

Đinh Gia Khánh chủ biên. Từ đó đến nay cuốn sách đồ sộ này liên tục được tái bản.

Năm 1990, giáo trình Văn học dân gian Việt Nam do Lê Chí Quế chủ biên

được xuất bản lần đầu. Đây là cuốn sách viết tinh giản nhằm phục vụ sinh viên trên

cơ sở số tiết dành cho môn Văn học dân gian ngày càng được rút gọn. Trong giáo

trình này, Lê Chí Quế viết về truyện cười.

Trong các giáo trình vừa nêu, điều đáng chú ý là tất cả các tác giả đều thống

nhất sử dụng thuật ngữ “truyện cười” thay cho các tên gọi như truyện khôi hài, truyện

39

tiếu lâm. Dù diễn đạt khác nhau, họ đều cho rằng có loại truyện cười hài hước (khôi

hài) và loại truyện cười trào phúng, đả kích [10]. Đinh Gia Khánh và Lê Chí Quế thì

chi tiết hơn khi phân loại tiếng cười. Theo các tác giả, có tiếng cười khôi hài giải trí,

có tiếng cười châm biếm nội bộ và có tiếng cười đả kích kẻ thù giai cấp. Còn Nguyễn

Việt Hùng cũng viết: “Truyện cười đem đến tiếng cười giải trí, hài hước”, “truyện

cười châm biếm, đả kích những cái xấu trong xã hội” [11, 157, 160].

Trong các giáo trình vừa nêu, các tác giả đã tập trung phân tích truyện cười ở

hai khía cạnh nội dung và nghệ thuật. Nhìn chung, do có số trang dầy dặn, phần

nghiên cứu về truyện cười trong sách Văn học dân gian của Đinh Gia Khánh phong

phú hơn cả. Cũng với lý do tương tự, phần truyện cười trong cuốn giáo trình xuất

bản năm 1990 của Hoàng Tiến Tựu có nhiều thông tin thuyết phục, bổ ích về truyện

cười. Các tác giả cũng thống nhất ở chỗ xem các truyện cười lẻ/ độc lập và các

truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn… đều là truyện cười. Do mục đích của giáo trình

nên phần nghiên cứu về truyện cười chỉ chiếm một số trang có hạn, song các tác giả

đã trình bày một cách hệ thống về cả nội dung và nghệ thuật của truyện cười.

Nghiên cứu sâu hơn về nghệ thuật truyện cười có các công trình sau: Những đặc

điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian (1999) của Đỗ Bình Trị, Tìm hiểu

truyện cười Việt Nam (2011) của Triều Nguyên, Cái hài trong truyện cười dân gian

người Việt (2015) của Nguyễn An Tiêm. Do mục đích của người viết, do khuôn khổ

số trang cho phép rộng mở, các tác giả vừa nêu đã phân tích kỹ các thủ pháp của

nghệ thuật gây cười. Đó là biện pháp khai thác mâu thuẫn, biện pháp phóng đại,

biện pháp kết thúc bất ngờ, biện pháp sử dụng cái tục, biện pháp ngắn gọn, biện

pháp sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và phù hợp, biện pháp xây dựng nhân vật đáng

cười. Các tác giả đều khẳng định ít có truyện cười nào chỉ sử dụng một biện pháp

mà thường phối hợp nhiều biện pháp gây cười.

Đáng chú ý, trong khi phân tích nghệ thuật truyện cười, Đinh Gia Khánh đã

so sánh nó với truyện ngụ ngôn. Triều Nguyên còn so sánh truyện cười dân gian

người Việt với truyện cười Trung Quốc, với truyện cười Bungari. Không chỉ có thế,

Triều Nguyên còn so sánh nghệ thuật truyện cười với nghệ thuật gây cười trong hề

chèo, trong ca dao cười.

40

Về nguồn gốc truyện cười, tác giả Kiều Thu Hoạch cho rằng cần đặt truyện

cười Việt Nam trong mối tương quan với truyện cười Trung Quốc. Theo ông, có

không ít truyện cười và giai thoại của ta vốn là được chuyển hóa từ các truyện tiếu

lâm Trung Quốc, mà khi sưu tầm, biên soạn, các soạn giả Việt Nam đã vô tình đưa

cả vào công trình của mình, không một lời chú thích, hay khảo dị. Tác giả quan

niệm việc giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc là chuyện bình thường; song

việc phân định rạch ròi đâu là cái ngoại lai, đâu là cái bản địa lại là điều không thể

xem thường đối với việc thẩm định giá trị của tác phẩm [14, 537]. Cũng theo Kiều

Thu Hoạch, khi tìm hiểu truyện cười của người Việt, cần nghiên cứu theo phương

pháp so sánh loại hình – lịch sử đối với các kiểu truyện cười của các dân tộc thiểu

số anh em. Một vấn đề nữa rất lí thú là nhiều nhà nghiên cứu (Đinh Gia Khánh, Cao

Huy Đỉnh…) đều dựa theo ý kiến của Các Mác mà cho rằng khi giai cấp thống trị

càng ngày càng suy vong thì truyện cười càng phát triển mạnh mẽ để cất tiếng cười

tống tiễn cái chế độ lỗi thời vào quá khứ. Kiều Thu Hoạch đặt câu hỏi vậy với

truyện cười hiện đại thì ý kiến của Các Mác còn phù hợp hay không? Tác giả viết:

“chức năng bản chất của truyện cười là chế giễu và phê phán những cái trái lẽ

thường và những thói hư tật xấu của tất cả các giai tầng xã hội của mọi thời đại. Và

phải chăng đó mới là chân lý vĩnh hằng, trường tồn của truyện cười?” [14, 542].

Điều này cho thấy ý kiến của Kiều Thu Hoạch đã được thể hiện trong phần viết của

Nguyễn Việt Hùng về truyện cười, khi tác giả cho rằng truyện cười châm biếm, đả

kích những cái xấu, không cần nói rõ cái xấu đó là của thống trị hay của nội bộ

nhân dân.

Một vấn đề lý thú khác là việc đánh giá tiếng cười trong truyện cười người

Việt, mà ở đây là trong truyện Trạng Quỳnh và Trạng Lợn. Các nhà nghiên cứu

không xa lạ với cuốn sách Cái cười vũ khí của người mạnh, của Gurannich do Hồ

Sơn trích dịch. Nhiều tác giả thống nhất khi cho rằng người dân Việt khi kể truyện

cười, khi sáng tác truyện cười là lúc họ đứng cao hơn kẻ thù giai cấp, họ đã chiến

thắng về mặt trí tuệ. Trái ngược với nhận định trên, Đỗ Lai Thúy có một cách lý

giải khác. Theo tác giả, cái cười trong truyện Trạng Quỳnh là cái cười thông minh,

có trí tuệ, thể hiện thái độ căm ghét kẻ trên. Đó là tâm lý của kẻ bị trị, kẻ yếu muốn

41

thắng lại kẻ cai trị mình. Còn cái cười trong truyện Trạng Lợn là cái cười của những

người dốt nát, và lười biếng nhưng lại gặp may. Đó là tâm lý với một chút hoang

tưởng của cư dân nông nghiệp mà người Việt nằm trong số đó. Tóm lại, cái tâm lý

trong truyện Trạng Quỳnh và cái tâm lý trong truyện Trạng Lợn là hai cái tâm lý

của người Việt, như một cỗ xe song mã [48, 55]. Ý kiến của Đỗ Lai Thúy thật độc

đáo nhưng chưa hẳn đã nhận được sự đồng tình của giới nghiên cứu. Rất tiếc là đã

hơn 10 năm trôi qua chưa thấy tác giả nào lên tiếng thảo luận.

1.3.2.2. Lịch sử nghiên cứu truyện cười ở các làng cười

Về truyện cười ở các làng cười, năm 1984, trên Tạp chí Văn học, số 2, Nghiêm

Đa Văn đã có nghiên cứu “Khảo sát bước đầu những làng cười Việt Nam”. Tác giả

thực hiện khảo sát ba làng cười của Bắc Ninh gồm: Đồng Sài, Đông An, Yên Từ,

đồng thời chỉ ra mỗi làng có những đặc trưng riêng. Theo ông: “Mỗi làng có cách

cười riêng, một phong vị riêng của cách kể chuyện của mình” [18, 20]. Từ ý kiến này,

một hướng tiếp cận truyện cười từng làng cười được mở ra và tạo ra những vấn đề

mới đáng chú ý. Năm 1985, hai nhà nghiên cứu, đồng thời là hai người con của đất

Kinh Bắc - Nguyễn Đình Bưu và Trần Quốc Thịnh – có bài đăng “Làng cười, làng

văn hóa Hà Bắc” trên Tạp chí Văn hóa dân gian, số 2. Bài viết nhận định làng cười

là một làng văn hóa như các làng quan họ, làng tranh Đông Hồ,… Đồng thời, hai

tác giả cũng khẳng định truyện cười mỗi làng có một nét riêng: “Tiếng cười đó gắn

rất chặt với truyền thống văn hóa riêng của mỗi làng, môi trường sinh hoạt văn hóa

độc đáo của mỗi làng. Chỉ có thể hiểu sâu sắc tiếng cười của làng ấy khi chúng ta đã

nắm được lịch sử làng” [19, 76]. Thật vậy, đặc trưng truyện cười từng làng là một

vùng đất cần được khám phá mà “lịch sử làng” được coi là chiếc chìa khóa giúp mở

ra cánh cửa đến với vùng đất đó.

Trong lời giới thiệu ngắn gọn Truyện làng cười xứ Bắc, Đỗ Bình Trị đặt vấn

đề với gần 250 truyện của tập sách liệu giới nghiên cứu đã có thể nói về những làng

cười xứ Bắc? Ngoài ra, ông có một nhận xét rất quan trọng về thi pháp truyện các

làng cười mà chúng tôi sẽ phân tích ở cuối chương 2.

Năm 1999, tác giả Kiều Thu Hoạch đặt vấn đề nghiên cứu các vùng văn hóa

cười, làng cười: phải chăng có thể xem đó “là những cái nôi sản xuất ra truyện cười.

42

Và việc nghiên cứu, tìm hiểu tận gốc những vùng văn hóa cười như thế chí ít cũng

giúp chúng ta hiểu sâu hơn quá trình sáng tạo truyện cười cũng như bản chất của thể

loại này” [14, 540-541].

Năm 2010, trên Tạp chí Văn học, số 4, tác giả Nguyễn Huy Bỉnh công bố bài

“Nghệ thuật gây cười trong truyện làng cười xứ Bắc”. Bài viết xác định chơi chữ và

phóng đại là đặc trưng cơ bản của nghệ thuật truyện làng cười xứ Bắc. Tác giả nhận

định tầm quan trọng của các phương thức gây cười trong truyện làng cười, bởi việc

phân tích những phương thức gây cười đó sẽ cho thấy dấu ấn văn hóa vật chất và tinh

thần của người dân xứ Bắc còn in dấu và đọng lại đậm đà trong mỗi câu chuyện vui

cười ấy [49, 14]).

Trong Giáo trình văn học dân gian do Vũ Anh Tuấn chủ biên xuất bản lần đầu

năm 2012, lần đầu tiên trong các giáo trình đại học, Nguyễn Việt Hùng đề cập đến

truyện cười ở các làng cười. Tác giả viết “Ngoài việc có mặt trong các sinh hoạt đời

thường, các hoạt động cá nhân, truyện cười còn có hình thức diễn xướng mang tính

chất tập trung tại những không gian, thời gian nhất định. Đó là truyện cười ở các làng

quê – còn được gọi là truyện làng cười, bởi ở những nơi đó xuất hiện truyện cười với

mật độ dày đặc, ai cũng có thể kể, trình diễn vốn truyện cười của mình, thậm chí

người làng còn mở hội thi kể truyện cười” [11, 150]. Trong phạm vi chưa đầy một

trang giấy, tác giả đã nhắc đến 14 làng cười khác nhau ở tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và

hai làng cười ở nơi khác là làng Văn Làng ở Phú Thọ và làng Vĩnh Hoàng ở Quảng

Trị. Tác giả đã có những nhận xét khái quát về các làng cười này.

Trong cuốn sách Truyện kể dân gian trong không gian văn hóa xứ Bắc

(2015), Nguyễn Huy Bỉnh đã dành một chương viết về truyện làng cười xứ Bắc.

Ông chia các truyện cười nơi đây thành hai loại là nói khoác tài tình và đối đáp

thông minh. Về nghệ thuật gây cười ông phân tích nghệ thuật chơi chữ, việc sử

dụng từ đồng âm khác nghĩa, lối nói nước đôi, kiểu nói khoe, kiểu nói giễu. Tác giả

nhận xét: “So với thể loại truyện cười Việt Nam nói chung thì truyện các làng cười

xứ Bắc chủ yếu tập trung kể về những sự vật hiện tượng trong đời sống thường

nhật, biến nó thành đối tượng vui đùa và giễu cợt, trong đó mục đích mua vui được

đặt lên hàng đầu” [50, 318].

43

1.4. Tiểu kết

Chỉ có thể thống nhất cách hiểu về các khái niệm quan trọng người nghiên cứu

mới không sa vào những cuộc tranh luận vô ích, xa rời mục tiêu làm việc. Trong

chương này chúng tôi đã giới thuyết các khái niệm truyện cười dân gian (gọi tắt là

truyện cười), truyện cười cổ truyền, truyện cười hiện đại, truyện cười đương đại,

truyện trạng, truyện cười kết chuỗi, truyện cười đơn lẻ, truyện cười không kết chuỗi,

truyện khôi hài, truyện tiếu lâm, truyện cười ở các làng cười. Chúng tôi cũng trình

bày tổng quan về làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ, từ cảnh quan, đến cư dân, đến sinh

hoạt vật chất, đời sống tinh thần của họ. Đây chính là môi trường sản sinh và lưu

truyền đầu tiên của truyện cười nói riêng, của văn học dân gian nói chung. Chương

này cũng trình bày lịch sử sưu tầm, nghiên cứu truyện cười cổ truyền và truyện cười

ở các làng cười. Truyện cười ở các làng cười không chỉ có truyện cổ truyền (ra đời

trước Cách mạng tháng Tám năm 1945) mà còn có truyện cười hiện đại, đương đại

(ra đời sau Cách mạng tháng Tám và trong khoảng mấy chục năm gần đây).

Tất cả những nội dung trên là tiền đề cần thiết để chúng tôi đi vào tìm hiểu

đặc điểm thi pháp của truyện cười ở các làng cười trong chương 2 tiếp theo.

44

CHƯƠNG 2

THI PHÁP TRUYỆN CƯỜI Ở CÁC LÀNG CƯỜI

2.1. Quá trình nghiên cứu theo hướng vận dụng thi pháp học ở Việt Nam

Trên thế giới, người đầu tiên viết về thi pháp là Arixtôt (trước Công nguyên).

Cho đến nay thi pháp học đã đi được một chặng đường dài.

Thi pháp và thi pháp học là những khái niệm được dùng phổ biến ở nước ta từ

những năm 80 của thế kỉ XX trở lại đây. Có nhiều cách hiểu về “thi pháp”, song nói

chung cụm từ “hình thức nghệ thuật” có ý nghĩa khá tương đồng với từ “thi pháp”.

Trước đây, khi tiếp xúc hàng nghìn năm với nền văn hóa và văn học Trung Quốc,

chúng ta đã học hỏi ở nền văn học này nhiều điều, trong đó có kỹ thuật văn chương,

các thể thơ phú. Người Trung Quốc cũng dùng từ “thi pháp”, nhưng nghĩa của nó thiên

về luyện từ và rèn câu. Bạch Cư Dị đã từng nói “Luyện tự không bằng luyện cú”. Sau

này, khi được tiếp xúc và học tập văn học Pháp, từ “thi pháp” với ý nghĩa là hình thức

nghệ thuật đã được cha ông ta tiếp nhận. Những cuốn sách của Bùi Kỷ, Phan Kế Bính

như Quốc văn cụ thể, Hán Việt văn khảo là những cuốn đã vận dụng kiến thức về thi

pháp. Bắt đầu từ lúc đó, cụm từ hình thức nghệ thuật có thể hiểu tương đương với “thi

pháp” [51, 22-32].

Do sự phát triển chậm chạp của khoa học xã hội ở nước ta, do điều kiện lịch

sử đặc biệt từ những năm 20 của thế kỷ XX cho đến cuối những năm 70 của thế kỷ

ấy, việc nghiên cứu thi pháp, tức là nghiên cứu nghệ thuật văn chương ở nước ta

không được chú ý thích đáng. Cuộc tranh luận về Truyện Kiều ở những năm 20 và

cuộc tranh luận giữa hai phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh vào

những năm 30 mà phần thắng nghiêng về phái nghệ thuật vị nhân sinh đã làm chùn

chân những người đi theo hướng thi pháp học. Trong kháng chiến chống Pháp, giữa

lúc quân dân ta đang căng sức chống lại giặc Pháp, việc xuất bản cuốn Giảng văn

Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm của Đặng Thai Mai là một việc làm không thích

hợp mặc dù không ai nghi ngờ lòng yêu nước của tác giả cũng như gia đình ông [51,

52]. Trong 20 năm (1954-1975) đất nước bị chia cắt, cả nước lại phải dồn sức cho

cuộc chiến đấu chống xâm lược Mỹ, lúc đó các nhà nghiên cứu, các văn nghệ sĩ đều

45

hướng tới mục tiêu chiến thắng quân xâm lược, tạm gác lại những vấn đề khác như

hạnh phúc riêng tư, như nhu cầu tìm hiểu cái đẹp. Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: “Dẫu

một cây chông trừ giặc Mỹ/ Hơn nghìn trang giấy luận văn chương” [52, 399]. “Hơn

nghìn trang giấy luận văn chương” chính là thi pháp học.

Chỉ sau khi đất nước thống nhất, sau khi đã khắc phục được một phần hậu

quả của chiến tranh, khoa nghiên cứu văn học mới ngày càng chú ý thích đáng đến

thi pháp học. Được đào tạo bài bản ở Liên Xô cũ, Trần Đình Sử là người khởi

xướng một phong trào nghiên cứu rầm rộ về thi pháp, với những công trình viết về

thi pháp thơ Tố Hữu, về thi pháp văn học trung đại, về thi pháp Truyện Kiều,…

Ngoài ra các bài viết của Vương Trí Nhàn, Chu Xuân Diên, Nguyễn Kim Đính, Lê

Chí Quế, các cuốn sách của Phan Ngọc, Nguyễn Hải Hà, Kiều Thu Hoạch, Nguyễn

Xuân Kính, Tăng Kim Ngân, Hà Văn Cầu, Phương Lựu, Lã Nhâm Thìn, Lý Hoài

Thu, Bùi Văn Tiếng, Nguyễn Thái Hòa, Võ Quang Trọng, Phan Diễm Phương, Hữu

Đạt, Nguyễn Bích Hà, Trương Đăng Dung, Nguyễn Thị Huế, Đỗ Bình Trị, Tôn

Phương Lan, Phan Thị Đào, Mã Giang Lân, Bùi Việt Thắng, Trần Đăng Suyền,

Nguyễn Đăng Điệp, Trần Khánh Thành, Nguyễn Xuân Đức, Vũ Anh Tuấn,… đã

tạo nên một trào lưu nghiên cứu chủ đạo về thi pháp từ những năm 80 của thế kỷ

XX đến những năm đầu thế kỷ XXI, diễn ra ở cả hai lĩnh vực nghiên cứu văn học

viết và nghiên cứu văn học dân gian [51, 64-66].

Nghiên cứu thi pháp thực chất là làm sáng tỏ bản chất nghệ thuật của văn

chương, tìm ra cái hay cái đẹp của tác phẩm. Hướng nghiên cứu theo thi pháp đã

góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa nghiên cứu văn học nước nhà. Tuy nhiên

nếu tuyệt đối hóa, cực đoan hóa hướng nghiên cứu này thì lại là một tai họa.

Tzvetian Todorov là một sử gia, lý luận gia có tầm ảnh hưởng rộng lớn ở châu Âu.

Ông sinh năm 1939 tại Bungari, tốt nghiệp đại học Sôphia năm 1962. Năm 1963,

ông sang Pháp và định cư ở đó, từng là chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ- nghệ thuật thuộc

Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp. Năm 1970, ông cùng với Gérard Genette

sáng lập Tạp chí Poétique (Thi pháp). Ông có công chuyển dịch một cách có hệ

thống lý thuyết hình thức Nga sang Pháp và góp phần làm thay đổi căn bản môi

trường nghiên cứu văn học của Pháp các thập niên 60, 70, 80 của thế kỷ trước. Ông

46

được mệnh danh là nhà cấu trúc luận, thi pháp học [53, 89-90]. Vậy mà đầu thế kỷ

XXI, ông đã công bố cuốn sách Văn chương lâm nguy, lên tiếng báo động tình trạng

cực đoan hóa, tuyệt đối hóa việc nghiên cứu các kỹ thuật văn chương, bỏ qua cảm

xúc, môi trường cũng như thân phận con người. Hình như chính bản thân ông cũng

hoài nghi các thành quả mà chính mình đã từng dấn thân sôi nổi hồi thập niên 60,

70, 80 từ thế kỉ trước [53, 95]. Ở Việt Nam, gần đây hướng nghiên cứu thi pháp

không còn được chú ý như trước. Giới nghiên cứu chuyển sang tự sự học, sang

hướng tiếp cận văn học dưới góc độ văn hóa, hoặc tìm đến các lý thuyết trò chơi,

diễn ngôn, nữ quyền, văn học chấn thương, văn học phê bình sinh thái… Theo

chúng tôi, tuyệt đối hóa theo hướng đề cao hoặc hạ thấp một lý thuyết nào đó đều

chưa thỏa đáng. Mỗi một trường phái, một hướng tiếp cận đều có lý do để ra đời và

có đóng góp của nó. Khi xem xét văn học dân gian với tư cách là tác phẩm ngôn từ

thì hướng nghiên cứu thi pháp vẫn tỏ ra đắc dụng.

Trong quá trình tiếp cận thi pháp thể loại của văn học dân gian, các nhà

nghiên cứu cũng đặt sự chú ý nhất định vào thể loại truyện cười. Nghiên cứu thi

pháp thể loại truyện cười tức là nghiên cứu các thủ pháp tạo dựng tiếng cười. Thi

pháp truyện cười, theo Đinh Gia Khánh chính là “nghệ thuật gây cười” [7, 386]. Đỗ

Bình Trị cũng viết: “Toàn bộ các yếu tố của thi pháp truyện cười như kết cấu, nhân

vật, ngôn ngữ,… đều phục vụ mục đích gây cười” [12, 106]. Có nhiều công trình

nghiên cứu truyện cười theo hướng thi pháp thể loại: Những đặc điểm thi pháp thể

loại văn học dân gian (1999), Đỗ Bình Trị, Nxb Giáo dục; Tìm hiểu truyện cười

Việt Nam (2011), Triều Nguyên, Nxb Lao động, Hà Nội; Cái hài trong truyện cười

dân gian người Việt (2015), Nguyễn An Tiêm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội…Từ

những nghiên cứu đó, các tác giả phân tích phương diện nghệ thuật của truyện cười

được quan tâm chủ yếu gồm: xung đột trong truyện cười, nghệ thuật/ phương thức

gây cười, kết cấu của truyện cười, ngôn ngữ truyện cười. Đây là nền tảng lý luận để

chúng tôi có cái nhìn đối chiếu giữa thi pháp của truyện cười nói chung với thi pháp

truyện cười ở làng nói riêng.

Có thể nói, thi pháp là sự gắn liền giữa hình thức nghệ thuật và nội dung, hình

thức không tách rời nội dung. Khi nói đến thi pháp cũng như tập trung nghiên cứu thi

47

pháp là chúng tôi nhấn mạnh đến bản chất nghệ thuật của tác phẩm văn chương nghệ

thuật. Nghĩa là, khi nghiên cứu thi pháp truyện cười ở các làng cười, chúng tôi sẽ tìm

hiểu các khía cạnh về nghệ thuật của một truyện cười như: lời kể, ngôi kể, thủ pháp

gây cười.

2.2. Sự giống nhau giữa truyện cười ở các làng cười và truyện cười cổ truyền

về mặt thi pháp

2.2.1. Thủ pháp sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và phù hợp

2.2.1.1. Giới thuyết về thủ pháp sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và phù hợp

Mỗi tác phẩm văn học là một văn bản nghệ thuật. Văn bản nghệ thuật gồm

hai loại là văn bản tạo hình và văn bản biểu hiện. Văn bản tạo hình là văn bản mà

nghĩa của nó bằng nghĩa đen các từ cộng lại, còn văn bản biểu hiện là văn bản mà

nghĩa của nó không đơn thuần chỉ là nghĩa đen của các từ cộng lại. Có thể nói

truyện cười đều là văn bản tạo hình, vì thế việc sử dụng ngôn ngữ có tác dụng đặc

biệt quan trọng trong diễn giải cũng như xây dựng tình huống truyện. Bằng việc

linh hoạt trong ngôn ngữ, biến đổi ngôn ngữ một cách tài tình, khéo léo, tiếng cười

có thể bật ra bởi người tiếp nhận khi nghe kể truyện cười sẽ bị chi phối trước hết ở

nghĩa đen (tức là ngôn ngữ được sử dụng trực tiếp trong truyện đó).

Thủ pháp sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và phù hợp có thể được hiểu là nghệ

thuật chơi chữ. Trong 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt, tác giả Đinh

Trọng Lạc đã giải thích: “Chơi chữ là một biện pháp tu từ, trong đó ngữ âm, ngữ

nghĩa, văn tự, văn cảnh…được vận dụng một cách đặc biệt nhằm đem lại những liên

tưởng bất ngờ lý thú” [54, 4]. Trong truyện cười nói chung và truyện cười ở làng

nói riêng, thủ pháp gây cười này thể hiện trí thông minh của người Việt trong việc

sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình một cách linh hoạt và phù hợp. Như vậy, việc

sử dụng thủ pháp chơi chữ hay sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, phù hợp sẽ mang đến

những tác dụng bất ngờ trong lời nói, từ đó dẫn đến tiếng cười trong truyện cười.

Chơi chữ có nhiều kiểu: dùng từ đồng âm; lối nói lái, nói tắt; sử dụng điệp từ, điệp

ngữ; từ láy, từ Hán Việt, điển cố Hán học. Một số truyện cười cổ truyền sử dụng thủ

pháp ngôn ngữ linh hoạt và phù hợp như: “Ba trọc” (từ đồng âm khác nghĩa); “Bẩm

chó cả” (nói tắt); “Biết ý” (từ láy); “Cần gì phải học nữa” (dùng từ Hán Việt),…

48

Thủ pháp sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và phù hợp chiếm một tỷ lệ đáng kể

trong truyện cưởi ở làng.

2.2.1.2. Thủ pháp sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và phù hợp trong truyện cười ở các

làng cười

Ở làng Trân Châu, truyện “Bán hàng” là truyện duy nhất trong tổng số 20

truyện có sử dụng thủ pháp gây cười này. Khi người nghe hỏi giá tiền “Bao nhiêu

một đôi thúng?” thì người bán đã chơi chữ khi trả lời: “Hai chiếc một đôi chứ mấy”:

“một đôi” đồng nghĩa với “hai chiếc”. Người bán có câu trả lời hoàn toàn khác với

mục đích hỏi của người mua (bao nhiêu tiền), nhưng câu trả lời vẫn không sai, điều

này tạo ra sự bất ngờ cho người nghe và tiếng cười được bật ra trong hoàn cảnh đó.

Ở Hòa Làng, khi kể truyện “Dây dom bền”, người ta cố tình tạo ra sự hiểu nhầm

cho người nghe khi phô: “Tôi cắt sợi dây dom về làm chão, cày hết đời trâu cái, tái đời

trâu đực, vực đời trâu con mà dây chưa gãy, chưa giòn, dom vẫn hoàn dom”. Câu nói

này khiến người nghe hiểu nhầm về độ bền của dây dom làm chão cày và không tin lời

người nói. Nhưng thực tế thì người nói lại giải thích dây dom như một loại dây (phân

biệt với chão được làm bằng loại dây khác) chứ không phải nói dây dom bền: “Chả tin

ông hỏi cả làng này xem, suốt đời tôi có cày thứ dây nào khác đâu?”.

Trong truyện “Cháu bé ba tuổi ăn hết một cỗ lòng lợn”, người kể khoe: “Cái

thằng cháu tôi nó đang học mẫu giáo, mà nó ăn hết một cỗ lòng lợn. Lên ba, đúng

học lớp 3 tuổi, ăn hết một cỗ lòng lợn”. Người nghe hiểu lầm rằng lợn ở đây là một

loài gia súc, nhưng thực ra thì đó là cách nói “gây nhiễu” với người nghe, khiến

người nghe ngạc nhiên và không tin vì người lớn còn chẳng ăn hết một bộ lòng lợn

nữa là một đứa trẻ. Đang lúc người nghe không tin, người kể nói tiếp: “Thực ra là

đầu năm, chúng em mua một con lợn bằng đất, chúng em để đấy để tiết kiệm. Có

bao nhiêu tiền lẻ thì cứ đút vào trong để tiết kiệm. Đợi đến tết về mới đập con lợn

ra. Thế là có bao nhiêu đồng tiền ở trong con lợn, thằng cháu nó mang đi, ra chợ nó

rủ bạn bè của nó ăn hết. Ăn toàn bộ cái số tiền ở trong con lợn luôn. Thế có phải nó

ăn hết cái bộ lòng lợn không?”. Vậy đến đây người nghe cũng chỉ biết…bó tay.

Việc chuyển nghĩa từ lợn nuôi sang lợn đất đã gây sự nhầm lẫn cho người nghe. Từ

đó làm bật ra tiếng cười khi người nghe hiểu rõ câu chuyện.

49

Hòa Làng còn có truyện “Chín mà không phải chín”. Người kể cho biết làng

ông ta có một ông lão nông tri điền “sáng sớm ra đồng cày chín sào ruộng, về đốt

chín gánh than, sau đó gánh cả thóc, gio, bò, mạ ra đồng, gieo hết ba nồi thóc mạ,

sực nhớ đến giỗ bố, xuống chợ mua đồ cúng, chợ vẫn không có người”. Người nghe

hiểu rằng “chín” ở đây là từ chỉ số lượng, nên rất ngạc nhiên vì sức lực kì lạ của ông

thợ cày. Thực ra người kể đã chơi chữ “chín”. Từ “chín” mà ông dùng không phải

là từ chỉ số lượng, mà là một từ chỉ mức độ cao nhất khi hoàn thành một công việc

(Cày chín sào ruộng nghĩa là cày hết một sào ruộng, đốt chín gánh than tức là đốt

chín nục, đốt hết được một gánh than,…). Khi ông ta xuống chợ, chợ vẫn không có

người vì hôm đó không phải là ngày chợ phiên.

Trong khi kể, không ít lần người dân tước bỏ ngữ cảnh. Người Hòa Làng khoe

rằng: “Một con gà làng mình nặng một cân rưỡi mà bốn tỉnh ăn không hết”. Không

người nghe nào chấp nhận được vì chỉ có một cân rưỡi thịt thì không thể chia ra cho

số người của cả bốn tỉnh. Thực ra, người kể đã cố tình tước bỏ ngữ cảnh. Đợi khi

người nghe phản ứng không tin, người kể mới nói tiếp: “Nhà tôi hôm ấy các cháu

chúng nó về. Mỗi đứa công tác một tỉnh: Lạng Sơn một cháu, Bắc Giang một cháu,

Hà Nội một cháu, Nghệ An một cháu. Chúng nó tập trung ăn một bữa cơm mà không

hết con gà. Tôi bảo: “Thế này là bốn tỉnh mà ăn không hết một con gà cân rưỡi”. Việc

tước bỏ ngữ cảnh còn được thể hiện trong các câu chuyện: “Gà mổ chết trâu”, “Một

đêm làm đóm hết năm gian nhà tre”, “Một tàu đu đủ treo nổi tám tạ lạc”…

Người Trúc Ổ sử dụng thủ pháp tước bỏ ngữ cảnh khi kể câu chuyện “Xương

cá ném vỡ chum tương”: “Nhà tôi làm tương ngọt lắm, hôm qua tôi đi câu được con cá

chuối, cháu nó đem kho dừ, ôi chà, ngon tuyệt. Thế mà các cháu ăn ném xương ra vỡ

ráo hai chum tương rồi”. Lời kể vô lý khiến người nghe không tin nổi, phải thắc mắc vì

cá to đến mấy thì cũng không ném vỡ được hai chum tương, chưa kể ở đây chỉ là

xương con cá chuối đã được kho nhừ. Lời giải thích của người kể mới chí lý làm sao:

“Cháu nó ném vào giữa khe hai cái chum, thế là đàn chó chạy ra tranh nhau, cắn nhau

ăng ẳng, chả làm vỡ chum là gì?”. Đúng như Trần Quốc Thịnh nhận định: “Truyện

cười Trúc Ổ vừa có tính đại ngôn, vừa có tính chất lý sự. Nói khoác càng phi lý, giải

thích ra lại có lý hiển nhiên, câu chuyện càng thú vị, thì thú vị hai lần” [2, 20].

50

Truyện “Mua tủ, nhốt gà” của làng Văn Lang cũng gây cười vì biện pháp này.

Một lão trọc phú mua được cái tủ mới, nói oang oang: “Chúng bay đâu? Ông mua tủ,

nhốt gà mau!”. Các gia nhân khấp khởi mừng thầm, chắc mẩm sẽ được chủ khao một

bữa ra trò mừng tủ mới. Thế mà chẳng ai ngờ, tủ mới kê xong, lão trọc phú hể hả, gật

gù khen cái tủ đẹp với quang dầu bóng lộn, gỗ lát da đồng,… Đến tận khi bà trọc phú

từ trong buồng ra thắc mắc tại sao mua tủ mà ông lại bảo nhốt gà thì lão chủ mới

khinh khỉnh: “Rõ là đồ đàn bà. Nhốt gà trống lại kẻo nó mà đâm đầu vào đây chọi

nhau thì sát hết nước sơn quang dầu bóng như gương này, chứ còn gì nữa!”. Lão chỉ

bảo nhốt gà mà cắt bỏ ngữ cảnh khiến gia nhân khấp khởi mừng hụt, sau đó khi ngữ

cảnh được điền vào đầy đủ, người nghe mới thấy được sự hà tiện, bủn xỉn của lão.

Lão chỉ chăm chăm bảo vệ nước sơn bóng loáng của cái tủ chứ chưa từng có ý định

khao gần một chục người đã ì ạch khiêng tủ (người nào người nấy mồ hôi nhễ nhại).

Người kể làm người nghe bật cười vì tước bỏ ngữ cảnh, sau đó ngẫm nghĩ người

nghe lại thêm coi thường sự tham lam ích kỷ của lão trọc phú nọ.

Ở từng làng, thủ pháp sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và phù hợp được dùng như

sau: Làng Hòa Làng 8/40 truyện, chiếm 20%; làng Dương Sơn 5/34, chiếm 14,7%;

làng Trúc Ổ 4/20 truyện chiếm 20%; làng Trân Châu chỉ có 1/20 chiếm 5% và làng

Văn Lang là 7/180 truyện chiếm 3,8%. Tổng hợp lại, thủ pháp này có mặt trong

25/299 truyện, chiếm 8,3%.

2.2.2. Thủ pháp kết thúc bất ngờ

2.2.2.1. Giới thuyết về thủ pháp kết thúc bất ngờ

Thủ pháp này là gây cười bằng sự thay đổi đột ngột của tình huống truyện dẫn

đến những kết thúc không thể đoán trước được với người nghe. Tiếng cười được bật ra

khi người nghe không thể dự đoán trước những diễn biến và sự việc trong truyện. Bàn

về thủ pháp này, Hoàng Tiến Tựu nhận xét rằng truyện cười “thường kết thúc đột ngột,

bất ngờ khi mà cái xấu (cái hài) được bộc lộ đầy đủ và tiếng cười đã phát triển đến độ

cao nhất so với khả năng gây cười của nó” [9, 104]. Thủ pháp này dân gian quen gọi là

“gói kín mở nhanh”.

Các truyện cười cổ truyền sử dụng thủ pháp kết thúc bất ngờ là: “Cháo gà mà

ăn”, “Chết vẫn còn lừa bịp”, “Ông già tham ăn”, “Phải hay không phải”,…

51

2.2.2.2. Thủ pháp kết thúc bất ngờ trong truyện cười ở các làng cười:

Ở làng Trúc Ổ, thủ pháp này có mặt ở 9/20 truyện (chiếm 45%). Trong

truyện “Em nói khoác thế”, một em bé xách giỏ đi bắt cua gặp một người lạ nhờ em

nói khoác cho nghe, em bé vội vàng từ chối vì lý do: “Eo ơi! Dừng lại nói cho anh

nghe một lúc thì em thiệt mấy giỏ cua, ai bù cho em?”. Câu nói hồn nhiên khiến

người hỏi bối rối và ngạc nhiên vì chỉ trong một thời gian ngắn với vài lời nói khoác

mà em bé thiệt mấy giỏ cua, chứng tỏ lượng cua vô cùng nhiều. Nhưng khi người

hỏi nêu thắc mắc thì mới hiểu ra mình đang bị em bé trêu đùa: “Ấy là em nói khoác

đấy chứ, làm gì có nhiều cua đến thế?”. Truyện “Cả làng phải sợ” cũng có kết thúc

bất ngờ khiến người nghe phải bật cười vì khả năng ứng biến tình huống của một

em bé khác. Khi bị người lớn hỏi có biết nói khoác không thì em trả lời: “Cháu

không nói khoác, chỉ cần cho cháu một vật nhỏ y như que diêm, cháu làm cho cả

làng phải sợ”. Ông nọ nghe xong bật cười bảo thằng bé nói khoác, nhưng ngay sau

đó cậu bé khẳng định: “Đây ông nhé, vật này “y như que diêm”, cháu quệt vào đây

(nó chỉ chỗ thuốc diêm) cháu đốt cả làng”. Nghe đến đây thì đương nhiên là ông kia

hoảng sợ: “Thôi thôi, cái này có mà đốt trụi cả tổng”. Đúng là không chỉ có cả làng

phải sợ mà cả tổng phải sợ như lời ông nói thật.

Thủ pháp kết thúc bất ngờ được người dân Trân Châu sử dụng 10/20 truyện

(chiếm 50%). Một trong những truyện có sử dụng thủ pháp này là truyện Ông

Vượng ra Hải Phòng. Ông Vượng vốn thông minh tinh quái, cũng đã ra Hải Phòng

chơi nhiều lần. Lần này ông đến nhà người cháu. Ông gặp phải một anh xích lô ít

lương thiện. Trước khi xe chạy, ông Vượng nhổ một bãi nước bọt. Cả anh xích lô

cũng như người nghe đều không nhận thấy có gì bất thường hay đáng lưu ý ở cử

chỉ này. Anh xích lô chở ông Vượng đi vòng vèo khoảng 20 phút rồi lại trở về nơi

đậu cũ (theo quy định thì xích lô phải đậu đúng vị trí). Nhà cháu ông rất gần, ông

ngồi xích lô với mục đích để đi chơi, không phải để đi tìm nhà. Đi hết 20 phút,

anh xích lô không đưa ông Vượng đến nhà cháu ông nhưng vẫn đòi tiền, bởi anh

ta nghĩ người khách không phải dân ở đây nên anh ta bảo đã đi một đoạn xa mà

không thấy nhà cháu ông đâu. Ông Vượng không đồng ý trả tiền. Hai người lời

qua tiếng lại, không ai chịu ai cho đến khi ông Vượng nói: “Này, nói để cho anh

52

biết nhé, cái cục nước bọt tôi nhổ ngay ở chỗ này vẫn còn nguyên”. Đến đây

người đọc lập tức ngạc nhiên và buồn cười vì sự tinh quái và nhanh trí của người

khách. Chi tiết nhổ nước bọt tưởng như là hành động vu vơ lại trở thành chi tiết

đắt giá gây cười, cái kết bất ngờ khiến người nghe nhận ra bước ngoặt của câu

chuyện nằm ở một chi tiết tưởng chừng rất ngẫu nhiên. Ông Vượng là người được

lợi nhất, vừa không cần phải trả tiền cho anh xích lô, vừa được ngồi trên xích lô đi

ngắm cảnh một vòng, lại vừa cho anh xích lô một bài học nhớ đời. Câu chuyện thể

hiện được tài ứng biến, sự nhanh trí, thông minh của người làng Trân Châu, đồng

thời phê phán những kẻ lừa đảo, lợi dụng điểm yếu của người khác để trục lợi cho

mình. Truyện “Ông Cờ tìm cháu” ở làng Trân Châu cũng có cái kết khiến người

đọc khó đoán. Ông Cờ vào Hải Phòng tìm cháu, đi xích lô tìm nhà cháu mà ông

chỉ có những thông tin là cháu ông “tên là Huệ, người Cát Bà, nhà ở phố Trung

Quốc”, và “không nhớ số nhà, nhưng chỉ biết là nhà cháu tôi có câu đối”. Với

thông tin thiếu đầy đủ như thế, người xích lô đạp mấy vòng mà chẳng thể tìm ra

nên phải xin tiền công để chở ông Cờ về chỗ cũ. Thế mà lúc đấy, đùng cái ông Cờ

lại nhìn thấy cháu mình đang dắt xe đạp đi làm. Đây là câu chuyện vui, không

châm biếm ai; song giống như câu chuyện về ông Vượng, truyện này đặt ra vấn đề

người dân quê cần ứng xử, thích nghi với cuộc sống nơi phố thị.

Theo khảo sát của người viết, có 8/40 truyện cười làng Hòa Làng và 4/39

truyện cười làng Dương Sơn sử dụng thủ pháp kết thúc bất ngờ. Họ dùng thủ pháp

này ít hơn người Trúc Ổ và Trân Châu. Tuy vậy, người Dương Sơn- Hòa Làng cũng

sử dụng thủ pháp gây cười này. Truyện “Cái nấm rơm” khiến người nghe bất ngờ vì

cái kết: “Trời mưa dầm, tối đen như mực, con chó nhà tôi tôi thỉnh thoảng lại sủa

nhanh nhách và hậm hực hướng ra phía đống rơm. Ngờ là có trộm rình, tôi khẽ đẩy

cửa lẻn ra. Bỗng tôi chột dạ, dựng tóc gáy, dừng lại. Thằng trộm đang rình sau đống

rơm, cạnh chuồng lợn. Nó đội nón, cúi lom khom, nó lại ngẩng đầu nghe ngóng rồi

dích lên, rồi nó lui xuống… Con chó vẫn sủa tiếng một, tôi quơ cái đòn càn, rón rén

đi dọc mái hiên, bò vòng qua gốc ổi đến sau lưng nó. Nó vẫn mải nhìn vào nhà tôi,

cái nón trên đầu rung rung. Tôi nhảy vọt lên lấy hết sức bình sinh phang một cái…

chỉ nghe tiếng bụp, thằng trộm chết thẳng cẳng, không kêu một tiếng. Bấy giờ thì

53

tôi sợ, thế là có án mạng ở nhà mình rồi, ở ngay chân đống rơm cạnh chuồng lợn.

Làm thế nào? Tôi đành kêu toáng lên:

- Trộm, trộm…bà con ơi trộm!

Vợ con tôi dậy, hàng xóm chạy sang, mọi người nhốn nháo soi đèn thì ra

…cái nấm rơm”. Như vậy, câu chuyện kịch tính và căng thẳng tưởng chừng “có án

mạng” đã trở thành câu chuyện buồn cười bởi sự hiểu nhầm tai hại của ông chủ nhà

khi cho rằng cái nấm rơm là “thằng trộm đội nón, cúi lom khom, ngẩng đầu nghe

ngóng rồi dích lên, lui xuống”. Ông không ngờ đó chỉ là cây nấm rơm đung đưa

trong gió. Đúng là một cái kết khó có thể tưởng tượng ra nổi.

Một bà nọ làng Dương Sơn khi gặp anh cán bộ đến tìm hiểu về nói khoác cụ

Ba, bà nói ngay: “À, anh về tìm chuyện nói khoác cụ Ba đây ư? Ôi trời, chuyện nói

khoác cụ Ba ở đất Dương Sơn chúng tôi ai mà chả biết hàng trăm truyện, có mà kể

hàng tháng không hết”. Tưởng thật, anh cán bộ mừng rỡ nhờ bà kể cho nghe vài

chục truyện, ai ngờ bà cụ lại nói câu chưng hửng: “Vài chục truyện cơ à? Thế thì tôi

chịu, tôi chỉ nhớ lõm bõm vài câu”.

Số lượng truyện cười sử dụng thủ pháp kết thúc bất ngờ ở làng Văn Lang là

21/180 truyện chiếm 11,6%. Truyện “Đưa cho ta khám nghiệm” khiến người nghe

bật cười vì cái kết độc đáo. Một lão nhà giàu lập mưu cướp trắng sào ruộng của anh

nông dân. Nhưng anh ta quyết không chịu, cuộc xô xát kéo dài dẫn đến sứt đầu mẻ

trán, cuối cùng phải đưa nhau lên quan. Lão nhà giàu đã đút lót nên yên trí thắng

kiện. Anh nông dân nghèo chẳng có gì, anh lại “vội chìa ra một cái bọc, cố ý dứ dứ

cho quan nhìn thấy”. Viên quan thấy thế thì nghĩ “cục to ấy là cục vàng cũng nên”,

bèn trở mặt xử cho người nông dân thắng kiện. Kết thúc phiên tòa, viên quan gọi

anh nông dân vào phòng riêng và đòi anh ta đưa cái bọc cho mình “khám nghiệm”.

Anh nông dân từ tốn thưa: “Dạ bẩm! Đó là cái cục giấy bọc cục đá, đề phòng đứa

nào mà xử sai thì con sẽ đập vỡ sọ nó ra”. Quan nhìn thấy cục đá sắc cạnh thì vội

đuổi anh ta về và nghĩ: “Cũng may, chớ nếu hôm nay mình xử nó thua thì có khi vỡ

đầu thật chứ chẳng chơi”. Đúng là cái kết bất ngờ nhưng làm thoả mãn người nghe.

Tên nhà giàu mất tiền mua chuộc viên quan mà công cốc, viên quan hám lợi tưởng

được cục vàng ai ngờ cục đá, cuối cùng công lý vẫn thuộc về anh nông dân tuy

54

nghèo nhưng thông minh, bảo vệ được sào ruộng của mình trước hai kẻ hám tiền

hám lợi. Không châm biếm, đả kích như truyện “Đưa cho ta khám nghiệm”, truyện

“Gẫy chân rồi” của làng Văn Lang chỉ có mục đích mua, vui giải trí khi kể về một

ông làm thuyền nan đẹp nhất làng mới đan một chiếc thuyền mới vừa chắc, vừa

khỏe, vừa đẹp. Ông dùng ngày nào đều cho các con khênh thuyền xuống, tối lại

khênh về úp xuống góc cái sân rộng. Đêm ấy, ông nghe tiếng “khích” một cái, đoán

chừng có kẻ trộm nên ông lao cây gậy ngáng chân làm nó mất đà ngã gục, bị chiếc

thuyền úp bên trong. Tên trộm giả vờ rên rỉ nói vọng ra: “Gẫy chân rồi! Ông làm ơn

làm phúc tha cho con, vào lấy cho con hai cái nẹp bó chân thì con xin thề suốt đời

này không đi ăn trộm nữa”. Tưởng thật, ông quay vào trong nhà lấy hai cái nẹp tre,

quay ra thì chẳng thấy thuyền và tên trộm đâu nữa. Ông giơ gậy lên dứ dứ nói: “Gẫy

chân rồi! Gẫy chân rồi mà vẫn vác được cái thuyền ba cắng ba người khiêng. Lần

sau thì ông đập chết mày”!

Mức độ sử dụng thủ pháp kết thúc bất ngờ ở từng làng là khác nhau: Trúc Ổ

45%, Trân Châu 50%, Hòa Làng 20% và Dương Sơn 10,2% và Văn Lang 11,6%.

Số truyện sử dụng thủ pháp bất ngờ ở cả năm làng là 52/299, chiếm 17,4%. Những

truyện cười ở làng cười sử dụng thủ pháp này khi kể phải là truyện mới hoàn toàn,

nếu nghe lần thứ hai, thứ ba thì người nghe không còn bất ngờ nữa. Nếu họ có cười

thì cũng chỉ để động viên người kể mà thôi!

Trong số các thủ pháp, thủ pháp kết thúc bất ngờ được dùng nhiều, chỉ sau thủ

pháp phóng đại. Điều này cũng dễ hiểu, bởi bất ngờ là một yếu tố quan trọng tạo nên

tiếng cười.

2.2.3. Thủ pháp khai thác và tạo dựng mâu thuẫn

2.2.3.1. Giới thuyết về thủ pháp khai thác và tạo dựng mâu thuẫn

Có một số lượng lớn truyện cười dân gian cổ truyền của người Việt gây cười

bằng cách phát hiện hoặc tạo dựng các mâu thuẫn nội tại trong truyện. Theo quan niệm

mĩ học Mác - Lênin, việc xây dựng các mâu thuẫn nội tại được coi là yếu tố cơ bản, là

nguyên nhân để tạo nên tiếng cười. Tổng hợp nhiều nghiên cứu của các tác giả với

những cách diễn đạt khác nhau, Nguyễn An Tiêm nhận định có hai dạng mâu thuẫn

chủ yếu trong truyện cười: thứ nhất là dạng mâu thuẫn cái xấu cứ tưởng là đẹp hay cái

55

bảo thủ, dốt nát, lạc hậu,… lại cứ tưởng là tiên tiến, tài giỏi, thông tuệ, có thể làm được

những việc to lớn; thứ hai là dạng mâu thuẫn khi cái xấu cố tỏ ra là đẹp (loại người ngu

dốt, độc ác, lại cố tỏ ra thông thái, nhân từ, đức cao vọng trọng).

Ở dạng thứ nhất, nhân vật trong truyện là kiểu người nhận thức sai về khả năng

của mình, không tự nhận thức được năng lực, trình độ của mình đến đâu, nhưng lại

luôn nghĩ mình là người tài giỏi hơn người. Người nghe, người đọc sẽ đánh giá được

“tài năng” của họ. Truyện “Thơ cái chuông” kể rằng: Bốn anh chàng kia vẫn tự đắc là

thơ hay. Một hôm lên chùa, họ rủ nhau cùng họa cái chuông. “Anh thứ nhất ngâm:

Chùa này có cái chuông. Anh thứ hai nối theo: Đánh tiếng kêu bôông bôông. Anh thứ

ba: Treo lên như cái vại. Anh thứ tư: Ấy nó vốn bằng đồng. Làm xong bốn anh ngâm đi

ngâm lại mãi, tấm tắc khen hay” [16, 1027]. Bỗng một anh nhớ ra rằng Vương Bột ở

Trung Quốc ngày trước do tài thơ quá mà chết sớm, lúc 17 tuổi. Anh thứ hai liền lo

lắng, bởi vì nếu họ chết bây giờ thì đường sá xa xôi biết làm thế nào. Một anh liền bảo

thấy trong chùa có mấy cỗ quan tài liền rủ nhau vào mua. Nghe xong lý do, nhà sư đem

ra năm cỗ quan tài. Bốn anh ngạc nhiên, bảo rằng họ chỉ mua có bốn cỗ thôi mà. Nhà

sư đáp: “Vâng, còn cỗ thứ năm là của tôi. Nguyên là ngày xưa tôi đã trót phát nguyện

một câu: Thằng nào dốt thơ hơn ông thì ông chết. Bây giờ số tôi đã đến, nên Trời Phật

đã run rủi cho tôi gặp bốn ông đây!” [16, 1027].

Các truyện “Quan dốt” [16, 879-880], “Tức cảnh sinh tình” [16, 1086-1087]

cũng thể hiện dạng mâu thuẫn cái xấu cứ tưởng là đẹp.

Dạng mâu thuẫn thứ hai cái xấu cố tỏ ra là đẹp được thể hiện trong truyện

“Rắm của con”. Một bà huyện đến chơi nhà chị em, cùng đi có anh đầy tớ theo hầu.

Đương đông đủ và vui chuyện, bà huyện bỗng đi trung tiện. Đứng hầu sau lưng bà,

anh đầy tớ bưng miệng cười. Về đến dinh, bà lớn gọi anh ta vào buồng mắng:

“Thằng ngu! Đồ ăn hại, sao mày không biết gì cả, như người ta thì mày nhận là của

mày có được không. Đằng này mày lại nhe răng ra mà cười có khác gì con khỉ. Bà

lại đánh tuốt xác ra bây giờ!”. Anh đầy tớ sợ quá, vội lui ra chạy một mạch đến nhà

nọ, hổn hển bảo mọi người: “Bẩm các bà! Cái rắm bà con vừa đánh lúc nãy là rắm

của con đấy ạ!” [16, 893].

Các truyện “Ba thứ không cần” [16, 160-161], “Ông huyện thanh liêm” [16,

849-850] cũng thể hiện cái mâu thuẫn cái xấu cố tỏ ra là đẹp.

56

2.2.3.2. Thủ pháp khai thác và tạo dựng mâu thuẫn trong truyện các làng cười

Thủ pháp khai thác và sử dụng mâu thuẫn trong truyện các làng cười được sử

dụng rất ít. Trong năm làng cười được chúng tôi khảo sát, chỉ có duy nhất làng Văn

Lang xuất hiện thủ pháp này nhưng cũng với số lượng ít. Theo khảo sát của chúng

tôi, chỉ có 2/180 truyện của làng Văn Lang dùng thủ pháp này. Thêm nữa, truyện

cười ở làng không xuất hiện dạng mâu thuẫn thứ nhất (nhân vật dốt nát tưởng mình

giỏi giang) mà chỉ có dạng mâu thuẫn thứ hai (nhân vật kém cỏi cố tỏ ra mình tài

cán, có năng lực).

Người Văn Lang kể truyện “Thầy đồ đỡ đẻ” thể hiện rất rõ mâu thuẫn này.

Thầy dốt quá nên không ai mời dạy học, túng thế thầy phải ra chợ làm thầy bói

kiếm ăn. Một hôm, có anh đi hỏi bà mụ đỡ đẻ cho vợ, nhưng đến nhà mới biết bà

mụ đang đi chợ. Anh ta hớt hải ra chợ tìm. Biết được sự tình, thầy đồ khẳng định

chắc nịch: “Tưởng gì, chứ đỡ đẻ thì tôi là thánh đấy. Anh cứ đưa tôi về nhà, tôi sẽ

cho biết vợ anh sinh con trai hay con gái”. Đến nhà, thầy chui tọt vào buồng người

đau đẻ, ngẩn tò te vì mình nói liều. Nhưng thầy bỗng nảy ra một ý bảo chủ nhà:

“Hãy đem vào đây một chiếc cần câu rô, một cuộn chỉ và một gói kẹo”. Thầy “bứt

sợi chỉ buộc vào một chiếc kẹo rồi lại buộc vào cần câu. Đứng nép vào cánh cửa

buồng, thầy cầm cái cần câu rung rung khiến cái kẹo cứ nhảy lên, nhảy xuống trên

bụng sản phụ và nói: Ê! Ê! Cu con ra ăn kẹo… Người đàn bà thấy cái kẹo đưa đi

đưa lại buồn buồn, lại trông thấy cái bộ mặt méo xệch của thầy thì bật cười, không

ngờ nhờ vậy mà tòi đứa bé ra”. Cả nhà thấy đứa bé là con trai thì tạ ơn thầy rối rít.

Được thế, anh này bốc phét: “Ta bói nó là con trai mà! Ta bói ra cu cậu mà!”. Như

vậy, thầy đồ dốt nát gặp may đã che giấu được bản chất dốt nát của mình, lại còn

vin vào đó mà thể hiện mình là thầy bói giỏi. Đúng là cái xấu, cái dốt đã biết mình

xấu, mình dốt lại còn tỏ ra là đẹp, là tài giỏi.

Truyện này giống truyện cười cổ truyền “Phước chủ, may thầy” [16, 870-

871] đến từng chi tiết. Trong sách, nhóm biên soạn cho biết truyện “Phước chủ,

may thầy” đã được in ở năm cuốn sưu tập truyện cười, trong đó cuốn có niên đại

sớm nhất là Truyện tiếu lâm Việt Nam (1957) của Nguyễn Hồng Phong. Trong bản

kể của Nguyễn Hồng Phong, truyện có tên là “Đỡ đẻ giỏi nhất đời” [16, 871-872]

57

Truyện “Dâng sao tống hạn” cũng vạch trần bộ mặt của bà đồng quàng

xiên mà tỏ ra mình là tài năng. Hôm ấy, bà đến cúng giải hạn cho một nhà

nghèo. Bà bị bọ chó cắn và muỗi đốt nhiều quá nên cứ ngọ nguậy, có lúc thò cả

tay vào trong người mà gãi. Đang chắp tay kính cẩn vái “Con nam mô a di đà

phật” thì bà giật thót mình: “Con nam ô a di đà phật!...Ối giời ơi! Nhà bay lắm

bọ chó, nó cắn đau điếng tao rồi!”. Lần khác, đến cúng cho một nhà khá giả. Bà

yêu cầu gia chủ sắm sanh rất nhiều thứ để “dâng sao tống hạn”. Bà cho bày bốn

hướng, bốn bàn cỗ lễ rồi quỳ giữa sân khấn vái. Gia chủ thấy bà cúng mà không

rót rượu thì nhắc khéo, bà liền bảo: “Dâng sao tống hạn không cần rượu, vì sao

không biết uống, tôi dành rượu mang về để tế thần trên điện bên nhà ấy chứ”!

Câu trả lời với lý do rất vớ vẩn “sao không biết uống rượu nên không cần rượu”

mà bà đồng dùng để lấp liếm cho sự ngu dốt kém cỏi của mình khiến người đọc

phải bật cười. Càng biện giải, bà đồng càng lộ rõ sự kém cỏi, quàng xiên của mình.

2.2.4. Thủ pháp sử dụng văn vần xen vào truyện kể văn xuôi

2.2.4.1. Giới thuyết về thủ pháp sử dụng văn vần xen vào truyện kể văn xuôi

Truyện cười là một thể loại văn học tự sự thường được kể bằng hình thức

văn xuôi. Nhưng không phải truyện cười nào cũng vậy. Trong một số truyện

châm biếm những những nhà nho, thầy đồ, những viên quan võ dốt nát nhưng lại

ra vẻ thích văn chương, tác giả dân gian cũng thường chêm vào những vế đối,

những dòng thơ để truyện thêm hấp dẫn và tạo điểm nhấn cho người nghe, có thể

kể đến một số truyện cười cổ truyền như: “Bốn anh một chị”; “Chó thui”; “Lộc

giời hơn lộc nước”; “Ông lang đòi ăn”, … Thủ pháp này làm cho câu chuyện

thêm sinh động.

2.2.4.2. Thủ pháp sử dụng văn vần xen vào truyện kể văn xuôi ở các làng cười

Ở làng Văn Lang, trong truyện “Hít hơi chả, giả tiếng tiền”, sau khi bị chủ

quán đòi tiền vì hít hà hương thơm của món thịt nướng mà quán làm cho khách, bà

khách nhà quê đã “lấy từ trong bọc ra đúng một quan tiền rồi vãi nhiều lần xuống

chậu, nghe xủng xoảng”:

58

“Tôi hít hơi chả

Tôi giả tiếng tiền

Ông nghe nhận luôn

Có quan làm chứng”.

Vậy là người phụ nữ nông thôn có tuổi đã trị được thói tham lam của tên chủ

quán và khiến cho viên quan xử kiện đã nhận đút lót rồi mà vẫn thua bà.

Cũng ở làng Văn Lang, trong truyện “Dế hãy còn non”, sau một đoạn văn

xuôi, người kể bắt vần:

Dế ăn từ xóm Liên Trì

Ăn qua Tứ Mỹ ăn về Thanh Sơn

Ấy là dế hãy còn non

Dế mà đủ cánh dế còn ăn xa.

Truyện “Khoai sọ lủi” cũng dùng thủ pháp này để “khoe” khóm khoai của Văn

Lang. Truyện kể rằng, khi đào khoai, sau khi “loay hoay đến hai giờ đồng hồ, hai bà

cháu mới bênh được một khóm. Xung quanh củ cái, củ con chằng chịt. Bà tách củ con

xếp được ba gánh nặng. Củ cái bổ làm tư cũng mỗi phần được một gánh”:

Văn Lang có một khóm khoai

Nhặt được ba gánh thừa hai cái đầu.

Truyện “Được cả nước lẫn cái” cho thấy cái hóm hỉnh của tiếng cười dân

gian. Truyện kể một chị bắt nhân tình với hàng xóm, một hôm chồng đi làm thì chị

giả giọng hát ru con:

“Hôm nay bố nó đi cày

Có sang một cái ban ngày thì sang”.

Anh hàng xóm nghe thế cũng đánh tiếng bằng một câu hát ru:

“Con ơi con ngủ cho ngoan

Để anh sắm sửa anh sang bây giờ”.

Cứ thế, những cuộc hẹn hò của họ trót lọt. Một hôm trời mưa to, anh chồng

bảo vợ ở nhà để mình đi cất chũm (cất vó). Thấy chồng đi rồi, chị nọ lại hát:

“Hôm nay bố nó đi rồi

Có sang một cái mát trời sang luôn.”

59

Anh hàng xóm cũng đáp lại bằng câu hát cũ. Như vậy, bằng việc sử dụng

những lời hát ru, chị vợ và anh hàng xóm đã hẹn hò hú hí với nhau và qua mắt được

người chồng.

Theo quan niệm đạo đức, thậm chí cả về mặt pháp luật xưa cũng như nay, việc

ngoại tình (nay gọi là quan hệ nam nữ bất chính) là đáng lên án, thậm chí bị xử lý, bị

trừng phạt. Nhưng ở đây cái “duyên” của những vần thơ lục bát đã làm cho người nghe

bật cười, người nghe ngầm khen đôi trai gái đã khéo “thông tin” cho nhau. Nghe xong

câu chuyện, người ta buồn cuời, cái cười vui vẻ thoải mái. Sau này có thì giờ ngẫm

nghĩ lại, người ta mới thấy việc làm của đôi trai gái kia là không được.

Đặc biệt, truyện “Đại Hà Tiện – Tiểu Hà Tiện dị bản” được kể hoàn toàn

bằng văn vần.

Dân làng Dương Sơn và Trúc Ổ, Hòa Làng cũng dùng xen kẽ văn vần vào

truyện, trong các tác phẩm: “Thơ về Dương Sơn”, “Con gà quý” (Dương Sơn);

“Đếm vịt” (Trúc Ổ). Đặc biệt, “Thơ về mật ong của ông Lập” (Dương Sơn) là một

tự sự toàn bằng văn vần:

“Đến nhà ông Lập Dương Sơn

Đường đi ngoắt ngoéo chập chờn bánh xe

Cháu đến thì ong đón vo ve

Con bay con lượn muốn khoe nó tài

(…) Thư cảm ơn còn nhiều hơn tiền mặt

Cứ mỗi ngày mấy chục vạn lá thư

Từ Mĩ Nga, Trung Hoa, Anh, Pháp,

Qua Nhật, Hàn, đến các đại dương

Mật ngon xuất khẩu bốn phương

Làm giàu chính đáng con đường ấm no”.

Thủ pháp sử dụng một ít văn vần, thậm chí toàn bài đều bằng văn vần không

được làng Trân Châu sử dụng. Thủ pháp này đã xuất hiện trong truyện cười các

làng khác: Dương Sơn: 15,4% (6/39 truyện); làng Trúc Ổ: 15% (3/20 truyện); làng

Hòa Làng 2,5% (1/40 truyện), làng Văn Lang: 7,2 % (13/180 truyện). Như vậy,

nhìn toàn bộ, thủ pháp này được dùng trong 23/299 truyện, chiếm 7,7%.

60

2.2.5. Thủ pháp phóng đại ở các làng cười

2.2.5.1. Giới thuyết về thủ pháp phóng đại

Đỗ Bình Trị đã nói rất đúng: “Truyện cười thường sử dụng thủ pháp phóng

đại. Không cứ truyện châm biếm mới phải phóng đại, mà truyện hài hước cũng cần

phóng đại. Đối với truyện cười, phóng đại có một tác dụng độc đáo. Đối với tục

ngữ, phóng đại giúp tô đậm, nhấn mạnh nét bản chất của sự vật, hiện tượng; đối với

sử thi, truyện cổ tích, phóng đại là biện pháp nghệ thuật cơ bản nhằm lý tưởng hóa

nhân vật anh hùng; đối với truyện cười, phóng đại có mục đích lố bịch hóa cái đáng

cười (trường hợp truyện hài hước) cùng nhân vật bị cười (trường hợp truyện châm

biếm) – nó vừa làm nổi rõ cái thật như là mặt trái của hành vi nhân vật (nhờ cường

điệu nét bản chất), vừa làm lộ cái giả như là mặt phải của hành vi ấy (nhờ phép

tương phản), khiến cho mâu thuẫn trong hành vi buồn cười tác động mạnh mẽ vào

nhận thức, vào ý thức tư tưởng của người nghe/ người đọc truyện” [12, 128].

Trong truyện cười cổ truyền, truyện “Con rắn vuông” chế giễu anh chồng nói

khoác bị vợ bóc mẽ: “Bề ngang hai mươi thước, bề dài hai mươi thước đúng. Thì ra

con rắn vuông bốn góc à?” [16, 405]. Ngày trước, bên cạnh những anh chồng vũ phu,

hay ức hiếp vợ, lại có một số anh râu quặp. Truyện kể rằng, “một anh đã phải vợ có

máu hay ghen, lại còn đi rước một cô vợ lẽ về nhà, để đến nỗi vợ cả sinh chuyện lôi

thôi, đêm đêm đem nhốt vợ lẽ vào trong buồng, mắc chõng nằm cạnh cửa canh giữ,

không cho anh chồng bén bảng đến. Anh ta tức quá, chẳng biết làm thế nào mà vào

lọt được” [16, 116]. Một đêm, nhân vợ cả ngủ say anh ta thừa cơ chui qua chõng lẻn

vào với vợ lẽ. Vợ cả thấy động trở dậy cầm đèn đi soi. Anh chàng vội vàng chui ngay

xuống gầm giường ngồi ẩn. Chẳng may vợ cả soi thấy hỏi rằng ngồi làm gì chồm

chỗm ở đấy. Túng thế quá, anh chồng đáp liều là ngồi ỉa. Vợ hỏi ỉa thì cứt đâu. Thật

là bất ngờ và cũng thật là phóng đại khi anh chồng trả lời: “Cứt ăn mất rồi, chứ đâu”.

Trong truyện cười cổ truyền còn nhiều truyện dùng thủ pháp phóng đại như: “Ăn

quen bén mùi”, “Ăn trong ăn ngoài”, “Ấp trứng voi”, “Ba điều ước”, “Bánh con lợn”,

“Bẩm quan lớn ngài minh lắm”, “Bố mày! Đã chết với tao chưa”,…

2.2.5.2. Thủ pháp phóng đại trong truyện cười ở các làng cười

Truyện cười ở các làng Trân Châu, Hòa Làng, Dương Sơn, Trúc Ổ và Văn

61

Lang thích dung thủ pháp này với một tần số đáng kể: từ 1/3 đến gần 1/2 số lượng

truyện mỗi làng được khảo sát. Phóng đại trong truyện cười ở làng cười thường

được chia làm hai dạng: phóng đại sản phẩm của con người (“Bánh dầy lớn”, “Củ

sắn dài”, “Trâu húc nhau”,…) và phóng đại hành vi của con người.

Sản phẩm của con người chính là những sản vật được người dân làng cười trồng

trọt, chăm sóc (khoai, sắn, bí…); làm nên (bánh dầy,…); hoặc thu hoạch được trong

chăn nuôi, lao động (trâu, chuột, cá,…). Những sản phẩm được phóng đại chủ yếu gắn

với cuộc sống làm lụng của người nông dân. Việc phóng đại các sản vật không chỉ là

một cách “nói khoác” hài hước vui vẻ, một cách “thách đấu tài bịa” mà còn thể hiện

mong muốn có cuộc sống no đủ, thậm chí thừa thãi. Bởi thực sự nếu có những sản

phẩm “khổng lồ” đến vậy, chắc hẳn cuộc sống của họ sẽ bớt vất vả, đói nghèo.

Như trên đã nói, phóng đại hành vi của con người là một dạng quen thuộc

trong truyện cười cổ truyền. Truyện cười cổ truyền dùng phóng đại để gây cười, giải

trí, để châm biếm, chế giễu. Không chỉ sử dụng thủ pháp phóng đại thổi phồng các

sự vật để mua vui, giải trí như các truyện cười ở làng khác, truyện cười làng Văn

Lang khi muốn châm biếm, đả kích thường tập trung phóng đại những hiện tượng

bất thường hay những nét tính cách đáng chê trách. Tính hà tiện là một điển hình

với truyện “Đại Hà Tiện – Tiểu Hà Tiện”: Đại Hà Tiện là người làng Văn, Tiểu Hà

Tiện ở làng bên nghe danh nên muốn sang “học hỏi”. Đón khách, Đại Hà Tiện bổ

một phần sáu quả cau trên cây, xẻo một phần sáu lá trầu trên giàn vào têm mời Tiểu

Hà Tiện. Gia chủ lấy cớ “đắng miệng” chỉ ngồi uống nước suông. Tiểu Hà Tiện

hôm sau mời Đại Hà Tiện sang chơi, thấy có một phần sáu miếng trầu têm với một

phần sáu quả cau thì tấm tắc khen, nhưng Tiểu Hà Tiện phân trần: “Thưa quý bác!

Đấy là miếng cau chính bác mời tôi hôm nọ, nhưng để tiết kiệm tôi chỉ ngậm ở bên

miệng, về nhà nhả ra, rửa sạch phơi khô để hôm nay mời bác”. Đại Hà Tiện nghe

thấy rất phục, quyết định ngỏ lời xin hỏi cưới con gái ông Tiểu cho con trai mình

cũng trạc tuổi ấy. Đại Hà Tiện thử lòng dâu mới, dặn con gái Tiểu Hà Tiện đi chợ

“mua cho cha hai bìa đậu, mấy mớ rau muống. Sau đó con đem đến chỗ hàng thịt

mặc cả, chọn mấy thỏi thịt mỡ dầy ném vào rổ rau, nhớ nhay đi nhay lại nhiều lần,

xong rồi lại chê đắt mà trả lại thịt, không mua nữa” để “mỡ bám vào rau, đậu”. Thế

62

mà cô con dâu lại không hiểu ý bố chồng đem rửa rau và đậu ngoài ao, làm phí mất

đống mỡ thịt dính trên rau và đậu nên bị Đại Hà Tiện giả về. Cuối cùng Tiểu Hà

Tiện phải đến “chữa cháy” cho con gái bằng cách gợi ý cho Đại Hà Tiện là đưa con

gái về nhà “tôi bảo nó trồng rau muống xuống ao, mỗi lần cọng rau mọc nhô lên

khỏi mặt nước, lá xòe ra, váng mỡ sẽ dính bết vào, thế là ông có cả một ao rau

muống đầy mỡ, ăn quanh năm chẳng hết”. Tận đến lúc gần chết, Đại Hà Tiện vẫn

muốn chọn người thừa kế gia sản của mình là anh con út kẹt sỉ đến mức khi cha

chết, anh ta “xin lấy một cây tre đan một cái rọ, đút cha vào đó, đốt ba nén hương

rồi quẳng xuống ao. Thịt cha rữa ra làm mồi cho cá tôm, còn nước rỉ ra sẽ nuôi rau

muống. Sau ba năm đến kì cải táng, con cho vớt cái rọ lên. Bao nhiêu xương còn

lại, con sẽ khảm mâm, bán cho bàn dân thiên hạ. Mâm là để bày thức ăn. Ngày

thường cũng như ngày giỗ, ngày tết,…linh hồn cha vẫn ở đó, thế là lúc nào cha

cũng được ăn no, uống say, con chẳng cần cúng tế gì nữa”. Sự hà tiện được phóng

đại đến mức đi ngược lại luân thường đạo lý, những phong tục tập quán từ nghìn

đời, nó khiến cho người nghe cảm thấy “giật mình” vì sự kì quặc của người con đối

với người cha, nhưng lại nhận được sự hài lòng của người cha mà thừa kế gia sản.

Sự phóng đại bất thường này càng nhấn mạnh sự chế giễu của tác giả dân gian đối

với tính hà tiện, bủn xỉn. Xin được lưu ý trong số 62 truyện mà người Văn Lang

dùng thủ pháp phóng đại, chỉ có 3 truyện nhằm mục đích châm biếm.

Ngoài ra người Văn Lang cũng dùng thủ pháp phóng đại để khổng lồ hóa, để

tuyệt đối hóa một số sản phẩm của mình. Truyện “Lúa nếp đìn” là sự phóng đại của

chị bán hàng khi thuyết phục ông khách hàng đang lưỡng lự mua hay không lúa nhà

chị với giọng dẻo quẹo: “Lúa nếp đìn nhà cháu dẻo thơm nhất làng đấy. Chả thế mà

hôm qua có giỗ cụ tam đại, nhà cháu đồ hông xôi. Lúc sắp ván xôi con gà xong, tay

ông cháu dính mấy hạt xôi, liền xoa xoa cho rơi xuống mà nó có chịu rơi đâu. Ai dè

con gà trống chuồng đứng cạnh đấy, nhảy lên đóc một hạt, bỗng nó chúi mỏ xuống

đất, lăn ra giãy đành đạch. Bác biết không, tại xôi dẻo quá gắn chặt mỏ gà lại, làm

chú ta bí thở đấy”. Hay truyện “Trâu húc nhau” lại phóng đại quả bí lớn đến độ khi

chúng cựa mình, ông lão trồng bí “chạy ra thì thấy quanh chuồng trâu, bụi bay mù

mịt, có mấy con trâu da bóng nhẫy đang vây quanh. Nhưng đến nơi định thần lại,

63

ông lão mới vỡ lẽ”. Hoặc cây đu đủ với kích thước khổng lồ đến mức có thể “lấy

nửa cái vỏ quả đu đủ khô hạ thủy làm thuyền đi tạm. Thế là người khách và em bé

trèo vào đó ngồi. Em lái, khách bơi, con thuyền nhẹ lướt như bay trên mặt đầm. Em

nào có dám nói ngoa: kể ra nếu có thêm vài người nữa, thuyền đu đủ vẫn cứ đi

ngon” trong truyện “Thuyền đu đủ”;…

Trong truyện cười ở các làng Trúc Ổ, Hòa Làng, Dương Sơn, Trân Châu

cũng có những tác phẩm dùng thủ pháp phóng đại nhằm thể hiện niềm tự hào về

chính mình và công cuộc lao động đáng quý của người nông dân.

Người Hòa Làng có truyện “Bánh dầy lớn”. Truyện kể rằng: “Bánh làm nhân

đỗ, mỡ, hạt tiêu, khi đem ra đình cả họ khiêng không nổi, phải nhờ hàng xóm. Cúng

thần xong, làng hạ lệnh chia, dao cắt không nổi phải lấy búa bổ. Làng cử hai anh lực

điền bổ bánh. Búa chém xuống một tiếng “bộp”, đỗ bắn ra, sức những anh lực điền

hơn hai mươi tuổi mà ngã lăn kềnh, mùi hạt tiêu sặc vào mũi ngạt ngất bốn ngày

liền”. Toàn bộ truyện là một chuỗi những thổi phồng về chiếc bánh dày với ở cả

kích thước và cân nặng khiến “cả họ khiêng không nổi”, bánh không cắt được bằng

dao mà phải dùng búa bổ, ngay cả thanh niên trai tráng, khỏe mạnh cũng không đủ

sức bổ bánh mà bị bật ngửa. Chiếc bánh phi thực tế với sự phóng đại rất chi tiết và

lớp lang: to đến mức cả họ khiêng không nổi, dày đến mức không cắt được bằng

dao, dùng búa mới bổ được bánh ra thì lại nhiều nhân đến mức làm trai tráng thanh

niên cũng phải ngã ngửa. Những chi tiết khuếch đại được sắp xếp liên tục khiến

người nghe không thể tin nổi mà buồn cười. Trên thực tế không thể làm được chiếc

bánh dầy với kích cỡ như vậy vì công cụ ngày xưa không cho phép. Đến tận thời

gian gần đây, chiếc bánh chưng khổng lồ đã được ra mắt trong lễ hội Mẫu Tổ Âu

Cơ tại xã Hùng Cường, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên bắt đầu từ ngày

4/4/2014. Chiếc bánh chưng có kích thước 2,5m x 2,5 m x 80 cm và nặng khoảng

4,3 tấn được làm từ 3 tấn gạo nếp, 3 tạ đường, 3 tạ đỗ, 5 tạ lá dong và 1,5 tạ lạt

buộc. Chiếc bánh chưng này đã được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam công nhận là

chiếc bánh chưng lớn nhất Việt Nam (Báo Nongnghiep.vn ngày 9/4/2014). Để làm

được chiếc bánh chưng đúng nghĩa “người bê không được” ấy, người dân phải

chuẩn bị được một chiếc nồi luộc chuyên biệt với kích cỡ không lồ được chế tạo

64

riêng và luộc chín bánh trong 3 ngày 3 đêm. Để đặt được ngay ngắn ở trên khán đài

người ta phải dùng tới 2 máy cẩu. Như vậy, với công nghệ và sự phát triển của các

công cụ, xã hội mới đã “hiện thực hóa” sự phóng đại của người dân Hòa Làng xưa.

Trong một đêm giao lưu văn nghệ ở sân đình Hòa Làng, có người khoe đánh

bả được “con chuột to bằng gốc tre”; người khác lại khoe đánh được “con chuột to

đầy giành tích”. Bỗng một em bé chen vào: “Nhà cháu thì không có gốc tre, không

đem giành tích ra so nhưng chỉ biết có một con chuột rơi uỵch từ gác xuống lún cả

nền nhà, lại nứt dọc bức tường xây 20”,…

Nhiều sản vật trong truyện cười ở làng Dương Sơn cũng được thổi phồng lên

quá sức tưởng tượng thông thường. “Củ sắn dài” là một truyện tiêu biểu sử dụng thủ

pháp này. Củ sắn được phóng đại của làng cười Dương Sơn được so sánh với củ sắn

khổng lồ ở Hòa Làng, bởi hai làng này vẫn có truyền thống so kè độ “khoác lác” với

nhau. Thấy người Hòa Làng kể có củ sắn “dài xiên qua sân”, người Dương Sơn lập

tức khoe, họ có củ sắn dài đến mức “đào qua đất nhà mình ra đến đường cái làng,

qua đường cái làng ra bãi tha ma nó cắm xuống áo bùn hấu”, người ta phải lôi mãi

vẫn chưa thấy hết, đành “ngoảnh lại đi và dắt như dắt bò. Trước còn từ từ, sau chạy.

Chạy đến đâu củ sắn lên tùn tụt đến đó. Chạy xa quá, ngoảnh lại tưởng con trăn

đuổi theo mình”. Củ sắn này chắc chắn phải… “gấp ba Hòa Làng”. Chúng ta thấy

khoảng cách hai làng rất gần nhau nhưng mỗi làng lại có một cách phóng đại riêng

về củ sắn quê mình.

Trên thực tế những củ sắn dài đến độ xiên qua sân hay đào tận qua đất nhà

đến đất làng đương nhiên không tồn tại, câu chuyện là “cuộc thi ngầm” về khả năng

phóng đại của người kể chuyện ở Dương Sơn với Hòa Làng, thể hiện tài nói khoác

để từ sự bất thường đến phi lý khiến người nghe bật cười. Rõ ràng, khoảng cách địa

lý dù rất gần nhau, nhưng đặc trưng truyện cười mỗi làng lại quy định cách sử dụng

phương thức gây cười khác nhau, điều này khẳng định tính độc lập trong tư duy

sáng tạo truyện cười của mỗi làng và làm nên sự độc đáo của truyện làng cười. Sở

dĩ có sự sáng tạo đầy “ngây thơ” về những sản vật to lớn này là bởi truyện cười ở

làng cười thường chỉ phục vụ mục đích giải trí, mang đến tiếng cười cho mọi người.

Người dân lao động phóng đại thường để “khoe” và tự hào về những sản vật của

65

làng mình, để “đọ” với khả năng phóng đại của làng bạn, để thể hiện ước mơ một

cuộc sống no đủ, giàu có.

Thủ pháp phóng đại hành vi của con người thường được sử dụng chủ yếu

trong truyện cười làng Trân Châu. Chẳng hạn truyện “Ô tô kẹp chết”. Truyện kể

rằng ông Tiểu Chú và ông già lần đầu tiên đến thành phố Hải Phòng. Hai ông đang

ngồi xích lô thì thấy một chiếc ô tô chạy đằng sau. Thế là ông Tiểu Chú cứ giơ hai

tay hô hoán: “Ối ôi, ô tô nó kẹp chết tôi rồi”, “Ối anh ôi, xe nó húc chết”. Sự hoảng

sợ và ngạc nhiên của ông Tiểu Chú được phóng đại khiến cho câu chuyện trở nên

buồn cười, đúng như ông xích lô “trấn an”: “Không sợ đâu ông ạ, hai ông ở quê vào

không biết, chúng tôi chạy xích lô phải cẩn thận, ô tô không đâm được đâu ạ”.

Truyện “Ông Vượng tìm ong” nói quá về tốc độ đi bộ của ông Vượng, ông

Vượng đi tìm đàn ong của mình, ông ấy đứng bên này đỉnh núi, nhìn thấy con ong

đang về tổ, thế là ông đi từ đỉnh núi bên này sang đến đỉnh núi bên kia, cũng vừa

kịp lúc ông về đến cửa tổ. Thế mới tài, không biết ông Vượng đi nhanh đến thế nào

mà còn bắt kịp cả tốc độ của ong bay. Truyện cười này ở làng Trân Châu có nhiều

điểm tương đồng với truyện cười ở làng Dương Sơn về cụ Ba: một người nông dân

có thể “bắn đình”, đánh hổ,… Cả hai truyện đều phóng đại phóng đại về sức lực của

những người nông dân, vừa là một cách gây cười, vừa thể hiện ước mơ về sức mạnh

của con người có thể sánh ngang với thiên nhiên.

Trong truyện cười Dương Sơn, sự phóng đại về hành vi của nhân vật được

thể hiện trong truyện về cụ Ba, một người nông dân có thể “bắn đình”, đánh hổ.

Ở làng Trúc Ổ, truyện “Ông tổ họ Đào” phóng đại đặc điểm “đầu rất rắn”

của những người thuộc họ này. Đầu của ông tổ họ Đào cứng đến độ khi vào cuộc thi

võ ở triều đình, mấy viên thị vệ đòi thi tài, cụ tổ “xin đổi ba mươi nhát búa đanh

khảo vào đầu lấy một cái vụt dọc thân người khác”. Một viên thị vệ chấp nhận,

khảo đủ ba chục nhát búa chan chát trên đầu nhưng ông tổ họ Đào vẫn trơ ra, mặt

tươi như hoa. Đến lượt ông khảo, ông sai gia nhân đẵn một cây tre nghẹ, “lấy móng

tay chẻ đôi ra, vụt cái dọc thân, viên thị vệ toác làm hai mảnh”. Sức mạnh của ông

tổ họ Đào cũng được phóng đại vượt xa sức mạnh người bình thường, giúp ông

giành chiến thắng trước viên thị vệ trong cuộc thi tài.

66

Thật thú vị, nếu thời xưa người Trúc Ổ giỏi giang võ nghệ, đầu rắn như thế thì

trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giữa lúc bom rơi đạn nổ, cháu con

họ lại phóng đại vẻ đẹp của phụ nữ quê hương. Trong truyện “Da trắng”, một anh

khoe: “Vợ mình trắng nhễ trắng nhại từ gót đến đầu, cô ấy mà bấn quần cao thì ái chà

chà, ai muốn gọi là đùi thì gọi, ai muốn gọi là dạ quang đồng hồ thì gọi”; thì anh kia

cũng không chịu kém cạnh mà khẳng định: “Cũng chưa bằng vợ tớ, dạo cái máy bay

Mĩ bắn phá, một hôm cô ta đi ăn cỗ lại mặc cái áo popolin pha lon Nhật trắng mới tinh,

lúc có máy bay, nghe báo động mọi người đã xuống hố mà cô ta còn chạy một đoạn

mới có chỗ ẩn, chợt có người kêu cởi áo ra không nó phát hiện thấy. Cô ta vội vàng cởi

áo thì mọi người lại gào lên: mặc áo vào, không nó bắn chết cả nút bây giờ?”. Thế là

một anh thì vợ trắng như dạ quang đồng hồ, một anh thì da vợ trắng hơn cả áo, trắng

đến độ cởi áo ra là bị máy bay Mĩ ở tít trên cao phát hiện.

Qua khảo sát, thủ pháp phóng đại được dùng trong truyện cười các làng:

làng Dương Sơn là 23/39 truyện, chiếm 58,9%; làng Trân Châu 8/20 truyện,

chiếm 40%; làng Văn Lang 62/180 truyện, chiếm 34,4%; làng Hòa Làng là 10/40

truyện, chiếm 25%. Riêng ở Trúc Ổ, chỉ có 2/20 truyện sử dụng thử pháp này,

chiếm 10%. Nhìn chung lại, ở năm làng, thủ pháp phóng đại được dùng trong

105/299 truyện, chiếm 35,1%.

2.2.6. Thủ pháp sử dụng yếu tố tục

2.2.6.1. Giới thuyết về thủ pháp sử dụng yếu tố tục

Chúng tôi quan niệm yếu tố tục bao gồm nói tục, văng tục, các từ chỉ sinh

thực khí nam, sinh thực khí nữ và một số bộ phận kín khác, các từ nêu tên hoặc mô

tả trực tiếp các hoạt động tính giao, một số hiện tượng sinh lý cùng “sản phẩm” của

chúng (tiểu tiện, trung tiện, đại tiện),… Có khi người ta không mô tả trực tiếp

nhưng câu nói gợi sự liên tưởng đến các hoạt động tính giao cũng thuộc phạm vi

yếu tố tục.

Trong truyện cười dân gian cổ truyền, yếu tố tục được dùng khá nhiều.

Truyện “Con b…” mô tả chi tiết sinh thực khí của người đàn ông [16, 387], truyện

“Hay nói ngang” miêu tả tỉ mỉ sinh thực khí nữ [16, 591], truyện “Lưỡng đầu…

thiên địa” ví đầu sư với sinh thực khí của nam [16, 699]. Trong truyện “Thầy trò đối

67

đáp”, tác giả dân gian không miêu tả trực tiếp, nhưng kể rằng một nhóm học trò đến

nhà thầy vào buổi trưa, thấy phòng đóng cửa bên trong có tiếng thì thầm và tiếng tre

kêu ọt ẹt. Chúng khúc khích cười. Nghe tiếng động, biết ngay là đám học trò, thầy

nói vọng ra: “Bọn chúng bay hãy đứng đó, hễ đứa nào đối được câu này thì thầy mở

của cho vào: Sĩ đáo ngoại gia, thầm bất thầm, thì bất thì, thầm thì thầm thì (Học trò

đến ngoài nhà, thầm bất thầm, thì bất thì, thầm thì thầm thì). Sau khi bàn bạc, đám

học trò đối lại: Sư ngoạ trung phòng, ọt bất ọt, ẹt bất ẹt, ọt ẹt ọt ẹt (Thầy nằm trong

phòng, ọt bất ọt, ẹt bất ẹt, ọt ẹt ọt ẹt)” [16, 995].

Các nhà nghiên cứu cho rằng yếu tố tục được dùng trong truyện cười nhằm

khôi hài giải trí cho cuộc sống đỡ căng thẳng, lao động đỡ mệt nhọc. Chẳng hạn

truyện “Của nhà đây cơ mà”. Truyện kể rằng có một anh mê vợ quá, lúc nào cũng kè

kè bên cạnh để giữ cái của quý của vợ, sợ người ta lấy mất. Không làm sao được,

người vợ liền thủ một mảnh sành rồi liệng xuống ao rồi nói: “Tôi vất xuống ấy để cho

đỡ phải giữ.” Anh chồng liền lội xuống ao để mò, tình cờ có chị đi mò cua, vô ý xắn

váy cao hở cả ra. Anh chàng trông thấy liền túm lấy: “A, của vợ tôi đây rồi!”. Chị này

không làm sao được, may lúc ấy vợ anh này về trông thấy liền tốc váy chỉ vào của

mình mà bảo chồng: “Của nhà đây cơ mà!”. Đến lúc ấy anh này mới chịu thôi [16,

434-435]. Các truyện “Của chị quý hơn đầu tôi” [16, 434], “Đằng trước hay đằng

sau” [16, 470-471], “Đứng mãi nó mỏi” [16, 524], “Giá được như… của bác” [16,

548-549] đều là những truyện sử dụng yếu tố tục để đem lại tiếng cười thoải mái, giải

trí mua vui. Ngoài ra cái tục còn được dùng để chế giễu châm biếm những thói hư tật

xấu. Chẳng hạn truyện “Bẩm quan lớn ngài minh lắm” [16, 193-194] đả kích viên

quan nọ thường dung cái lông đuôi voi để xỉa răng. Truyện “C… mày là c… mày,

c… tao là c… tao” chế giễu viên quan hống hạch, ngu dốt và sợ vợ. Truyện “Bố mày!

Đã chết với tao chưa” [16, 223] làm bật lên tiếng cười giòn giã khi người nông dân

vừa cất tiếng chửi, vừa tát vào mặt quan bởi y vừa mới bảo anh hễ thấy ruồi ở đâu cứ

việc đập chết, thì đúng lúc con ruồi đậu ngay lên má quan. Truyện “Rắm của con”

[16, 893] vạch trần thói sĩ diện giả dối của vợ quan huyện. Truyện “Ô hay nhỉ” [16,

842-843] cho thấy các quan bà chẳng đoan trang, nghiêm chỉnh, gia giáo lễ nghi như

người ta thường nghĩ. Ngoài ra còn có truyện “Con b…”, “Lưỡng đầu… thiên địa”

68

chế giễu sư hổ mang, truyện “Thầy trò đối đáp” châm biếm thầy đồ háo sắc.

Nhà giáo Đinh Gia Khánh cho rằng nhờ yếu tố tục mà tính chất trào phúng

trong các truyện cười có thể được nâng lên đến độ chót của nó, “yếu tố tục làm cho

tiếng cười giòn giã hơn, sự chế giễu cay độc hơn” [7, 372]. Mặt khác, tác giả cho

rằng: “Những truyện như “Úm ba la, ba ta cùng khỏi”, “Thuốc mọc râu”, “Lấy

giống râu”, “Thả cả ra”… sử dụng cái “tục” để nói về cái tục một cách thô lỗ, trắng

trợn. Những truyện ấy không có cái tế nhị của truyện khôi hài chân chính, mà cũng

không có ý nghĩa sâu sắc của truyện trào phúng chân chính. Tác giả dân gian đã có

thể sáng tạo ra những truyện cười tế nhị và sâu sắc, tại sao lại còn đặt ra những

truyện thô lỗ như vậy? Điều này cũng dễ hiểu. Kho tàng văn học dân gian nói chung

bao giờ cũng chứa đựng những phần mới chỉ có tính chất nguyên liệu bên cạnh

những phần đã được gia công. Những truyện tục tữu này gắn liền với đời sống bản

năng của con người, (…), không có tính chất lý trí rõ rệt mà cũng không có ý nghĩa

xã hội chân chính, không thể đóng góp được vào việc giáo dục thẩm mỹ cũng như

vào việc đấu tranh giai cấp của nhân dân” [7, 373]. Tác giả còn chú thích rằng “một

số truyện “tục” như vậy do những ông đồ nho bị ẩn ức (libido) đặt ra để tự thỏa mãn

hoặc do những phần tử thị dân để mua vui. Về sau các truyện ấy đã nhập vào kho

tàng truyện cười dân gian” [7, 373]. Chúng tôi nghĩ rằng, nếu quan niệm văn học

dân gian là một tác phẩm văn chương có tính chất thẩm mỹ thì những truyện tục

vừa nêu có thể không nằm trong lĩnh vực văn học dân gian. Còn nếu theo quan điểm

gần đây của Vũ Anh Tuấn: “Văn học dân gian vừa là văn học vừa là văn hóa” [11,

5], những truyện vừa nêu nằm trong văn hóa dân gian.

2.2.6.2. Thủ pháp sử dụng yếu tố tục trong truyện cười ở làng cười

Theo khảo sát của chúng tôi, trong số năm làng chỉ có người làng Văn Lang

và người làng Trân Châu sử dụng yếu tố tục trong truyện cười, trong đó người Văn

Lang dùng nhiều nhất.

Những truyện sử dụng yếu tố tục của người Văn Lang cũng có hai bộ phận là

dùng tiếng cười để mua vui giải trí và tạo nên tiếng cười để châm biếm chế giễu.

Câu chuyện “Chẳng phải mất tiền” nói về vấn đề châm cứu – một biện pháp

trị liệu của y học nhưng qua lời nói của một bà cụ thì biện pháp này lại trở nên rất

69

đáng xấu hổ đối với người nghe. Bà cụ bị ốm, đứa cháu đến thăm cho bà ít tiền và

dặn bà “bảo con gái gọi y tá đến tiêm cho mau khỏi”. Bà cầm tiền bảo cháu: “Ối

dào, gọi y tá làm gì. Hôm nọ bà váng mình váng mẩy, ông Mạc đến ngoáy ngoáy

mấy phát khỏi ngay, chả phải mất tiền”. Từ “ngoáy ngoáy” gây nên hiểu nhầm làm

cho người nghe là phụ nữ, đặc biệt những cô gái mới lớn phải đỏ mặt.

Truyện “Ăn cháo đái bát” kể rằng anh chàng láu cá nọ muốn “trị” một bà góa

vốn chua ngoa, đanh đá bằng cách gọi khác đi các đồ vật vốn đã có tên: cái ruột

tượng – cái “lòi tói”; cái rế - cái “đè trên”, cái nồi đồng – cái “tra vào”; đôi đũa cả -

cái “nghí ngoáy”; gói tôm khô – “chà xát ngâm tôm”; điếu cày – “vừa dấu vừa rít”.

Sau một đêm ngủ trọ, anh bỏ đi sớm. Mụ đàn bà góa trở dậy thì không thấy khách

đâu, tuy đồ đạc không mất nhưng bị vất linh tinh, thậm chí một chiếc bát còn được

dùng để đựng nước giải. Điên tiết, mụ góa tốc váy, vừa nhảy tang tang vừa chửi:

“Cha tiên nhân tổ bố nhà mày, cái thằng phó cối chết băm chết vằm kia, cái thằng

chết đường chết chợ, trời tru đất triệt kia! Mày đến ngủ nhà bà. Mày nhờ cởi lòi tói,

bà cởi lòi tói, mày xin đè trên, bà cho đè trên, mày cần tra vào bà cho tra vào, mày

đòi nghí ngoáy bà đưa cho nghí ngoáy, mày đem sanh chà xát ngâm tôm bà cho chà

xát ngâm tôm. Ăn xong, mày còn làm bộ làm tịch để được vừa dấu vừa rít bà cũng

chiều lòng cho mày vừa dấu vừa rít. Mày ăn no ngủ kỹ, sướng đời trên giường hoa

chiếu gấm nhà bà mà mày còn chơi tiếp bà cú này nữa à!...”.

Truyện “Ai hoạn…Hoạn đi?” cũng mang tiếng cười đầy sảng khoái khi anh

chàng nọ sau khi tầm sư học đạo nghề hoạn lợn thì quyết định làm việc ngay. Anh

ta vừa đi vừa rao: “Ai hoạn! Ho..ạ..an… đi…!”. Mấy cô gái đang đi về phía anh

nghe tiếng rao ù té chạy, miệng kêu la ầm ĩ. Dân làng thấy sự huyên náo, chạy đổ

xô ra đường. Anh chàng vẫn thản nhiên gân cổ rao tiếp: “Ai hoạn!

Ho…oạn….lơ…ợ…ợn đi”. Việc ngắt quãng tiếng rao “Ai hoạn lợn đi” của anh

chàng đã khiến các cô gái ở làng hú vía vì tưởng gặp phải kẻ mất nết làm càn trên

đường. Nhưng hóa ra tất cả chỉ là hiểu lầm. Như thế thì anh hoạn lợn cũng khá

thành công khi thu hút được nhiều người chú ý đến tiếng rao độc đáo của mình.

Truyện đố vui kể rằng hai vợ chồng nhà nọ chơi đố với mục đích đố tục

giảng thanh. Chẳng hạn, anh chồng đố vợ câu dưới đây chỉ hiện tượng gì:

70

“Hai tay cần lấy khư khư

Bụng thời bảo dạ rằng ư đút vào

Đút vào mới sướng làm sao

Dập lên, dập xuống nó trào nước ra…”

Sau khi chị giải rằng đó là việc đứa trẻ bú mẹ, chị liền đố phần của mình. Cứ

như thế, câu chuyện dắt ta đi từ tiếng cười vui này đến tiếng cười vui khác.

Về bộ phận truyện châm biếm, đả kích, có truyện “Cứt chó chè lam”. Một

anh chàng láu cá có con chó quý, đi đâu cũng khoe chó của mình ỉa ra chè lam, kì

thực là do anh ta nấu chè lam cho vào ống nứa rồi bí mật chọn những cái lá rụng

sạch sẽ trong vườn mà thụt lên trên. Tiếng đồn đến tai quan huyện, quan tưởng thật

mà mượn con chó rồi mời các quan phủ, quan bạn cùng các bà đến ăn tiệc, ăn xong

đến tráng miệng bằng món cứt chó chè lam. Quan huyện đánh cho chó vãi cứt, mùi

thối khắm khiến ai cũng kinh hãi bịt mũi. Dù vậy, anh chàng láu cá vẫn khiến quan

huyện đuối lý mà phải trả thêm cho anh 100 quan tiền và dắt chó về nhà. Chuyện

thật buồn cười, quan huyện đã trở thành một đối tượng bị cười cợt, bị chế giễu.

Những ông tai to mặt lớn đều bị giáng cấp, kể cả ông quan phủ cùng các bà cũng

ngồi chờ món… cứt chó chè lam thì làm gì còn tư thế gì nữa. Nếu người nào đã

từng biết đến truyện “Chó mật” của kho tàng truyện cười cổ truyền thì thấy rằng

truyện này khá giống với truyện của làng Văn Lang. Ở đây có vấn đề ai tiếp thu ai

hay là tình cờ các “ý tưởng lớn” gặp nhau? Theo chúng tôi, truyện “Chó mật” ra đời

trước, vì nó được in trong cuốn Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ của Ninh Viết

Giao, tập 3 xuất bản năm 1994 [16, 355-356, 44]. Còn “Cứt chó chè lam” được in

năm 2006 [45, 171-172].

Truyện cười “Rắm đương quy” kể về một anh lính lệ mắc tội phạm thượng

nên bị phạt, vừa đói vừa khát nên anh lính đành gặm vỏ cây nhai lấy nước uống, ai

ngờ đó là cây đương quy. Chiều xuống, anh ta bị điệu vào để quan trên hỏi tội tiếp,

quá sợ hãi nên anh chàng vãi rắm ra, kỳ lạ thay phát rắm đó lại tỏa ra mùi thơm

ngào ngạt. Quan phủ cho gọi quan bà đến ngửi mùi thơm kì lạ nhưng anh chàng cố

mãi mà không rặn được thêm. Quá tức tối, quan bà bèn dặn quan ông “bảo nó tắm

táp sạch sẽ, đêm nay cho nó đến ngủ ở phòng tôi để tôi được thưởng thức mùi rắm

71

quý”. Cả quan ông và quan bà đều ham của lạ, đến mùi rắm thơm cũng phải muốn

ngửi. Còn đêm ấy cái anh lính có sức vóc như lực điền được tắm rửa sạch sẽ cùng

với quan lớn bà hồi xuân trong buồng ngủ thì chưa biết việc gì xảy ra.

Truyện “Chùa nào mà chả thế” kể rằng, có “một bà vãi thường hay lên chùa

quét tước” béo tốt, trắng trẻo nên sư thầy lấy làm ưng ý lắm. Một hôm, vãi đang

quét sân chùa, sư thầy nấp bên trong dòm thấy cái yếm của vãi xộc xệch liền tiến ra

nắm tay vãi mà rằng: “A di đà phật! Quét gì mà quét lia quét lịa thế, để đây quét

giúp đấy một tay nào”. Bà vãi khẽ đẩy ra từ chối bảo rằng, nếu nhà chùa không giữ

gìn thì bà xin đi quét chùa khác. Sư thầy càng đứng áp sát vào vãi và cười hì hì: “A

di đà phật! Vãi cứ ở đây, quen cảnh quen chùa, còn chùa nào mà chả thế”.

Truyện “Mẹ đẻ ra sư” còn buồn cười hơn nữa. Một người đàn bà bụng mang dạ

chửa, sắp đẻ nhưng vẫn cố đi cấy, chẳng may bị con cua cắp ngay bẹn. Thấy thế, một

nhà sư ra giúp đỡ, vì tò mò nên “ông ta ghé mắt xuống để dòm cho rõ”. Chị bụng

chửa phàn nàn “nhờ thầy gỡ hộ chứ đừng dòm nữa”. Sư thầy càng cúi sát hơn và bảo:

“Ta sợ thò tay vào uế tạp, nên định dùng răng gỡ hộ đấy chứ”. Nhà sư càng ghé sát

hơn, bất ngờ vị “chân tu” bị con cua cắp vào ngay môi, cả người đàn bà và sư thầy

đều không làm sao được. Đứa con ra đồng tìm mẹ nhìn thấy cảnh này thì vội chạy

một mạch về nhà gọi: “Bố ơi! Bố ơi! Mẹ đẻ ra sư rồi, con thấy em bé đầu trọc lốc”.

Truyện trên của người Văn Lang rất giống với truyện cười cổ truyền “Đẻ ra

sư” [16, 485-486]. Truyện này được in lần đầu năm 1957. Vì vậy, người Văn Lang

đã tiếp thu từ truyện cười cổ truyền.

Trong số 180 truyện của làng cười Văn Lang có 54 truyện sử dụng yếu tố tục.

Trong 20 truyện của làng cười Trân Châu chỉ có 1 truyện dùng yếu tố tục. Bà

cụ từ làng quê biển ra Hải Phòng dự lễ trao giải thưởng mà cháu bà vinh dự được

nhận. Chẳng may mắc đi đại tiện, nhưng do không biết đường, không tìm được cái

cầu tiêu, khi lên sân khấu tặng hoa cho cháu, bà tranh thủ ghé tai hỏi cháu: “Cầu

tiêu ở đâu?”. Cháu bà chỉ bà lên tầng 3. Bà chui vào trong rồi lẩm bẩm: “Đi thế này

thì ỉa lên đầu người ngồi dưới à?”. Nghĩ vậy, bà bèn đi vào túi nilong rồi quẳng

xuống đường. Ngoài việc gây cười, truyện này còn đặt ra vấn đề người dân quê hòa

nhập vào cuộc sống phố thị như thế nào?

72

Như vậy là cả truyện cười Văn Lang và Trân Châu đều sử dụng yếu tố tục, với

hai mục đích gây cười giải trí và châm biếm đả kích. Ở truyện của làng Văn Lang

việc đả kích chĩa mũi nhọn vào quan lại, sư sãi. Đây cũng là đối tượng mà truyện

cười cổ truyền hướng đến. Có thể thấy truyện cười Văn Lang có những truyện mang

tính chất cổ truyền (trước 1945), có những truyện hiện đại (sau 1945). Sự giống

nhau giữa truyện cười cổ truyền và truyện cười Văn Lang không chỉ dừng ở mức độ

thủ pháp nói chung mà có hai truyện giống cả về chi tiết. Xét về thời gian công bố

tác phẩm, hai truyện cười này chịu ảnh hưởng từ truyện cười cổ truyền.

2.2.7. Sử dụng phối hợp các thủ pháp gây cười

Do yêu cầu của việc trình bày, chúng tôi đã lần lượt phân tích các thủ pháp

gây cười. Thực ra, ở truyện cười cổ truyền, trong một truyện, tác giả dân gian

thường dùng kết hợp nhiều thủ pháp. Trong truyện “Bẩm quan lớn ngài minh lắm”,

tiếng cười được tạo nên bởi các thủ pháp sử dụng yếu tố tục và kết thúc bất ngờ [16,

193-194]. Truyện “Bất là cây bất” chế giễu thầy đồ dốt nát bằng các thủ pháp khai

thác và tạo dựng mâu thuẫn, dùng chữ Hán và xen kẽ văn vần vào truyện kể văn

xuôi [16, 200-201]. Trong truyện “Cà xốc”, để chế giễu lão nhà giàu dốt nát, keo

kiệt, người bình dân sử dụng các điệp ngữ “giàu có kho”, “giàu hú”, “láo xược” và

thủ pháp kết thúc bất ngờ [16, 246-247]. Chính việc sử dụng phối hợp các thủ pháp

làm cho các truyện cười đa dạng và việc tạo nên tiếng cười cũng nghệ thuật hơn.

Hầu hết truyện cười ở các làng cười đều có dung lượng rất ngắn. Bởi vậy có

ít truyện mà một tác phẩm sử dụng nhiều thủ pháp gây cười. Tuy vậy vẫn có.

Trong truyện “Đề cao đức quân tử” ở làng cười Văn Lang, người dân nơi đây

bằng trí tưởng tượng của mình đã sáng tạo một câu chuyện mới cũng giòn giã tiếng

cười xung quanh nhân vật Trạng Quỳnh. Trong cuộc thi do vua Tàu tổ chức, Trạng

Quỳnh và nữ sứ thần Nhật Bản cùng nhau thi tài. Trước khi đi sứ, cô ả đã được nữ

hoàng căn dặn: “Làm gì cũng cứ để ý trạng An Nam mà bắt chước”. Vì thế, khi bắt

đầu cuộc thi, ả bí mật chọc thủng một lỗ cót để dòm trộm, thấy Quỳnh làm gì cũng

làm theo. “Quỳnh tụt quần ra, sứ thần Nhật Bản cũng tụt quần ra. Thấy Quỳnh ngồi

vào chậu mực rồi chống hai tay xuống, cô ả cũng ngồi vào chậu mực, chống hai tay

xuống…Một tiếng trống rung lên. Quỳnh từ trong chậu mực nhảy ra ngồi đánh

73

“oạch” một cái vào tờ giấy đã trải sẵn, rồi áp hai tay xuống hai bên, rí hai ngón trỏ

vẽ loằng ngoằng mấy nét. Nữ sứ giả Nhật Bản cũng làm y vậy…”. Như thế là

Quỳnh vẽ được hai quả bí thì trong cùng thời gian nữ sứ thần Nhật Bản cũng làm

được như vậy. Vua Tàu trao đồng giải nhất. Trạng Quỳnh không chịu và tâu “Quả

bí của hạ thần là quả bí tươi roi rói, đang sống sờ sờ ra đấy, còn quả bí của nữ thần

Nhật Bản là quả bí chết vì bí đã rụng mất cuống”. Như vậy, “cuống” được tạo ra bởi

sự khác biệt giữa bộ phận sinh dục của đàn ông và đàn bà. Ở đây người Văn Lang

đã dùng yếu tố tục và thủ pháp kết thúc bất ngờ nhằm chinh phục người nghe.

Trong truyện “Đại Hà Tiện – Tiểu Hà Tiện dị bản”, người Văn Lang sử dụng

thủ pháp phóng đại và dùng toàn bộ văn vần thay cho lời kể văn xuôi.

Truyện “Thề cá trê chui ống” kể rằng một ông vo tình nghe được những lời

hẹn thề của hai anh chị ở rìa làng, hai anh chị thề rằng không lấy được nhau thì chết.

Nghe thế, ông nghêu ngao hát:

“Cô rằng: cô chung, cô thủy, cô sắt, cô son

Nằm bờ, nằm bụi, sớm con, cô muộn chồng”.

Tiếng cười bật lên bởi yếu tố bất ngờ, và bất ngờ hơn nữa lại là hai dòng văn

vần kết thúc câu chuyện văn xuôi.

Trong truyện “Ếch kéo trâu”, một ông người Hòa Làng kể với ông làng Phúc

Lễ rằng: “Hôm đó ông hàng xóm của ông ta đi bừa bắt được một con ếch; ông ấy

buộc vào sừng trâu. Bừa xong thửa ruộng ấy ông rong trâu về rê cả bừa sang thửa

ruộng khác cùng một cánh đồng. Chẳng may qua bờ chuôm, ếch nhìn thấy nước nhảy

tõm xuống, kéo theo cả trâu cả bừa, ông ấy lôi lại không được, vốn không biết bơi,

ông đành kêu toáng lên: “Trời ơi! Con ếch kéo theo cả trâu, cả bừa xuống chuôm mất

rồi!”. Mọi người chạy đến, quả nhiên con ếch vẫn ra sức nhoài đi trước, xoải chân

đạp, cố kéo cả con trâu lẫn cái bừa ra giữa chuôm! Ông Phúc Lễ nghe thủng: “Ôi dào,

trời tháng tư nắng gắt, trâu thấy nước thì ào xuống kéo cả bừa theo, con ếch buộc ở

sừng trâu thấy nước là bơi chứ gì?” Ông Hòa Làng cười: “Ừ thế ếch bơi trước, trâu

bơi sau, ông bảo con nào kéo con nào? Không kéo mà cái dây buộc lại căng ra thế?”.

Truyện này sử dụng thủ pháp bất ngờ và thủ pháp sử dụng ngôn ngữ linh hoạt (tước

bỏ ngữ cảnh). Các truyện “Chó cắp bò”, “Một con gà Hòa Làng bốn tỉnh ăn không

hết” cũng sử dụng kết hợp hai thủ pháp như vậy.

74

2.3. Sự khác nhau giữa truyện cười các làng cười và truyện cười cổ truyền về

mặt thi pháp

2.3.1. Chỉ có truyện cười ở các làng cười mới để người kể chuyện ở ngôi thứ nhất

Nếu trong truyện cười cổ truyền, hầu hết người kể truyện đứng ở ngôi thứ ba

thì trong truyện cười ở các làng cười, người kể ở ngôi thứ nhất (xưng tôi) là một dấu

hiệu khu biệt khá rõ. Người kể ở ngôi thứ nhất diễn ra ở các làng như sau: Dương

Sơn: 13/39 truyện, chiếm 33,3% (“Củ sắn dài”, “Diều gà lớn”, “Ếch xay lúa”,…),

làng Văn Lang: 16/180 truyện, chiếm 8,8% (“Con đỉa trâu”, “Con tôm đồng”,

“Giống dền quý”, “Quả mướp hương”,…), làng Trúc Ổ: 1/20 truyện (“Ông tổ họ

Đào”), chiếm 5%. Nhìn tổng quát, người kể ở ngôi thứ nhất có mặt trong 30/299

truyện, chiếm 10,03%.

Thí dụ truyện “Bánh đa ròn” ở làng Dương Sơn:

“Nhà có khách chẳng có gì ăn, mẹ đĩ nhà tôi đành rang vài đấu lạc và mua

hai chục bánh đa.

Tôi bảo: Phải bảo họ quạt thật ròn, thật khéo và mang về mau để ăn nóng

mới ngon.

Một lát sau thấy mẹ cháu mang về hai chục bánh đa sống chưa quạt, tay

bưng chậu than: Phải về nhà quạt chứ quạt sẵn đem về thì nguội còn ròn gì nữa?

Tôi ngẫm: Đúng thật, quả là giầu vì bạn, sang vì vợ.

Thế là nhà tôi quạt bánh, được cái nào tôi để vào giường cái ấy, buông mành

cẩn thận.

Thế mà ai ngờ chồng bánh đa hai chục chiếc vừa để quay ra dọn mâm, một

con ruồi lọt vào đậu lên một cái thế là vỡ vụn cả chồng có chết hay không?” [2, 79].

2.3.2. Truyện cười ở các làng cười hầu như hoặc rất ít khi sử dụng các thủ pháp

gậy ông đập lưng ông và bắt chước không thành công

Trong truyện cười cổ truyền, có một số truyện sử dụng thủ pháp gậy ông đập

lưng ông. Thí dụ truyện “Cái phúc được ăn thịt”. Ngày xưa, có một lão nhà giàu

thường khoe khoang rằng lão là người có phúc, được ăn uống no say, vui chơi thoải

mái là do có phúc, là “cái số đã định”. Theo lão, những người đi ở vất vả, khổ sở cũng

là do “cái số đã định”. Một hôm lão chuẩn bị làm cỗ mời khách. Lão đem theo người ở

ra chợ mua rau, cá thịt, đựng một rổ đầy. Trên đường về bất ngờ có một con chó chạy

75

qua ngoạm mất một miếng thịt to. Lão nhà giàu cuống quýt bảo người ở đuổi theo.

Người ở giả vờ đuổi một hồi rồi quay lại nói với lão: “Ôi, con chó đáng chết thật là có

phúc!”. Lão chủ chẳng hiểu ra sao liền hỏi: “Mày nói cái gì?”, người ở đáp: “Con đi ở

nhà ông quanh năm ngày tháng chưa được ăn một miếng thịt nào, chẳng đúng như ông

đã nói hay sao, “cái số đã định” không có phúc mà”. Lão nhà giàu gật gù: Ừ, ăn thịt là

cái phúc của ăn thịt, vì sao ta luôn được ăn thịt, ấy là cái số đã định”. Người ở nói tiếp:

“Thưa ông, con chó ấy cũng giống như ông, cũng có cái phúc được ăn thịt” [16, 266].

Trong truyện cười cổ truyền, sử dụng thủ pháp này còn có các truyện: “Ba anh đầy tớ”

[16, 142], “Bố mày! Đã chết với tao chưa” [16, 233], “Cày xong thì bừa” , “Cái bụng

cổ” [16, 260], “C… mày là c mày, c… tao là c tao” [16, 271-272], “Đậu phụ” [16,

481], “Đầy tớ lù khù” [16, 480], “Đều là công sức của cái mồm” [16, 491-492],…

Người Văn Lang có truyện “Võ mèo”. Truyện kể về một con hổ theo học

mèo món võ rình mồi xong thì trở nên tham lam độc ác, chỉ có mấy hôm nó đã ăn

thịt gần hết các thú vật trong khu rừng đó. Quá đói, hổ đến gặp mèo, xin thầy truyền

cho miếng võ nữa để tìm mồi. Mèo không đồng ý, nhưng hổ vẫn tha thiết van xin

kêu là đã quên miếng vồ mồi, nhờ mèo làm mẫu cho ôn lại miếng võ. Thấy vậy,

mèo biết hổ là thằng học trò phản phúc đã quên hết những lời hứa trước khi dạy,

nhưng mèo vẫn làm mẫu cho nó. Khi thấy con hổ nhe nanh múa vuốt vồ vào mình,

mèo leo tót lên cây: “Ta còn võ mèo, ta cóc dạy cho”. Như vậy, sự thâm độc của

con hổ phản phúc muốn học võ thầy để giết thầy đã bị mèo phát hiện và “chơi cho

một vố”. Hổ mãi mãi không học được món võ mèo trèo cây, nên dù cho có to con

hơn, hung bạo hơn, hổ vẫn không thể nào bắt được mèo. Truyện này làm ta nghĩ

đến thủ pháp gậy ông đập lưng ông tuy chưa thực rõ ràng lắm.

Như vậy, có thể kết luận, thủ pháp gậy ông đập lưng ông gần như không xuất

hiện trong truyện các làng cười, chỉ có làng Văn Lang sử dụng thủ pháp này, chiếm

10,8%; còn đặt chung trong tổng số 299 truyện thì chiếm 5,8%.

Thủ pháp bắt chước không thành công được sử dụng nhiều lần trong truyện

cười cổ truyền. Truyện “Bên trọng bên khinh” kể rằng, có một anh thợ mộc hay

chữ vào làm cho nhà một ông quan hưu trí. Thấy anh ta nhanh nhẹn, thông minh,

quan hỏi: “Trước khi anh học hành được chữ nào không?”. Sau khi thấy anh bảo

76

có, quan liền chỉ vào con ngựa bạch của mình đang đứng ăn ở góc sân, bảo anh sẽ

thưởng nếu làm được bài thơ vịnh hay. Anh thợ mộc ứng khẩu luôn: “Bạch mã

mao như tuyết/ Tứ túc cương như thiết/ Tướng công kỵ bạch mã/ Bạch mã tẩu như

phi” (Nghĩa là: Ngựa trắng lông như tuyết/ Bốn chân cứng như sắt/ Tướng công

cưỡi ngựa trắng/ Ngựa trắng chạy như bay). Quan gật gù khen hay rồi thưởng cho

một thúng thóc, một quan tiền. Anh thợ mộc ra về, gánh bên thóc, bên đồ nghề,

thấy bên nặng bên nhẹ, liền nói: “Nhất bên trọng, nhất bên khinh”. Quan nghe nói

liền cho thêm thúng thóc nữa để người thợ gánh cho cân. Người thợ về kể lại câu

chuyện này. Một anh hàng xóm nghe được, tuy dốt nát nhưng thấy được lắm tiền,

nhiều thóc, nổi máu tham, liền bảo người thợ dạy cho bài thơ và câu nói chữ. Sau

khi học thuộc lòng bài thơ và câu chữ Hán, chàng dốt cũng sắp một đôi quang

gánh và một ít dụng cụ vào dinh quan xin làm việc. Quan cũng hỏi có được học

hành gì không, anh hí hửng đáp mình là học trò chính cống. Quan nhìn ra sân,

thấy bà cụ quét sân, liền bảo anh làm thơ vịnh bà cụ. Chàng dốt hơi lúng túng, vì

chỉ thuộc mỗi bài thơ về con ngựa. Túng thế, anh cũng phải đọc: “Bà cụ mao như

tuyết”. Quan gật đầu: “Ừ, được đấy”. Thấy quan khen, chàng dốt vững dạ đọc

tiếp: “Tứ túc cương như thiết”, quan chau mày: “Không ổn, nhưng cũng tạm được,

ngâm tiếp đi!”. Mừng quá, chàng dốt làm một mạch: “Tướng công kỵ bà cụ/ Bà cụ

tẩu như phi”. Quan giận quá, quát người nhà lôi ra đánh cho ba chục roi vào

mông. Đứng dậy, chàng dốt cười xoa vừa nói: “Nhất bên trọng, nhất bên khinh”.

Quan liền bảo, đánh thêm ba mươi roi nữa vào lưng cho cân [16, 204-206].

Trong truyện cười cổ truyền, các truyện “Bắt chước cha vợ” [16, 184-185],

“Bắt về cho trẻ chơi” [16, 190-191], “Đọc văn” [16, 506], “Thơ vịnh con chó” [16,

1034], “Tôi cũng nói được” [16, 1055-1056], “Trứng ngót” [16, 1076],… cũng sử

dụng thủ pháp này, dùng để phê phán, châm biếm những kẻ chỉ biết bắt chước học

theo nhưng cũng không nên thân, để lộ ra bản chất dốt nát, tham ăn của mình.

Trong truyện ở các làng cười, chỉ có một truyện dùng thủ pháp bắt chước

không thành công đắc địa. Đó là truyện “Đề cao đức quân tử” ở làng Văn Lang mà

chúng tôi đã được phân tích ở trên.

77

2.3.3. Cả truyện ở làng cười và truyện cười cổ truyền đều sử dụng những thủ

pháp giống nhau, nhưng khác nhau về tính chất và mức độ

2.3.3.1. Thủ pháp sử dụng yếu tố tục

Cả truyện ở các làng cười và truyện cười cổ truyền đều sử dụng yếu tố tục.

Tuy nhiên, chỉ truyện cười cổ truyền mới miêu tả tỉ mỉ, cụ thể sinh thực khí của

nam, của nữ; mới không ít lần gọi thẳng tên các yếu tố tục. Ngược lại, yếu tố tục

trong truyện cười các làng cười không như vậy.

Mục đích sử dụng yếu tố tục trong truyện cười cổ truyền rộng hơn: nhằm vui

đùa giải trí, nhằm châm biếm đả kích. Ở truyện cười các làng cười, yếu tố tục chỉ có

mặt trong truyện cười Văn Lang và truyện cười Trân Châu; và tất cả những truyện

cười này chủ yếu nhằm mục đích mua vui giải trí.

2.3.3.2. Thủ pháp phóng đại

Cả truyện cười các làng cười và truyện cười cổ truyền đều dụng thủ pháp

phóng đại. Trong truyện cười cổ truyền, những truyện dùng thủ pháp này nhằm

nhiều mục đích. Đó là việc phóng đại để vui cười. Trong thực tế làm gì có người sợ

vợ đến mức khi vợ chạy đến để hỏi “tội” thì “đã chết cứng tại chỗ” như truyện “Sợ

vợ chết cứng”. Truyện “Tam đại gàn” phóng đại sự gàn dở của đứa cháu, của người

cha và người ông chủ yếu đem lại tiếng cười mua vui. Ngoài ra thủ pháp phóng đại

còn dung để mỉa mai, châm biếm. Đã là thầy đồ ngày trước thì bộ sách Tam tự kinh

quá đơn giản. Vậy mà có thầy lại không biết được “bất” là gì, “huấn” là gì, “mông”

là gì. Truyện “Cây bất biển Đông” phóng đại sự ngu dốt của thầy đồ là nhằm mục

đích châm biếm. Truyện “C… mày là c… mày, c… tao là c… tao” phóng đại sự

hống hách, ngu dốt và sợ vợ của viên quan nọ nhằm châm biếm giới quan trường.

Trong khi đó thủ pháp phóng đại là thủ pháp được các truyện cười ở năm

làng cười sử dụng nhiều nhất. Tuy nhiên hầu hết các truyện phóng đại đều nhằm

thể hiện sản phẩm của địa phương, vẻ đẹp và sức mạnh của dân làng họ. Đó là độ

dẻo của khoai nước ở làng Hòa Làng, độ dài của củ sắn ở làng Dương Sơn, độ

giòn cũng của bánh đa làng này, nước da trắng của người Trúc Ổ, Hòa Làng,

Dương Sơn, đó là sức mạnh “Tát hổ rụng răng”, “Uốn cong sừng trâu” của người

Dương Sơn…

78

2.3.3.3. Thủ pháp nhân cách hóa khi xây dựng nhân vật

Hầu hết các nhân vật trong truyện các làng cười và truyện cười cổ truyền đều

là con người. Tuy nhiên trong truyện cười cổ truyền có một số truyện mà ở đó nhân

vật là con vật. Thí dụ: truyện “Buổi sáng sớm ở sân nuôi gia cầm” kể về cuộc “mây

mưa” của chú gà trống với cô gà mái mơ, có sự phụ họa tiếng kêu của con lợn trong

chuồng. Ở đây tác giả dân gian đã coi những con vật như con người và miêu tả

trạng thái, tiếng nói như con người. Kết thúc truyện con gà trống như một gã đàn

ông tự mãn “Ở đời thích nhất là thế thô-ô-ô-ôi!” [16, 239]. Trong truyện “Con lợn

biếu”, bà đỡ và con hổ là hai nhân vật chính. Bà đỡ đã coi con hổ như một “người

phụ nữ mang bầu” và tiến hành đỡ đẻ cho nó như con người, và con hổ biết trả ơn

bà [16, 397-398]. Truyện “Con b…” cũng tương tự khi hai nhân vật chính xuất

hiện là con hổ và bà già [16, 387]. Ở truyện cười của các làng cười, cũng có nhân

vật là con vật. Đó là con nhím, con rắn, con ếch, con trâu. Tuy nhiên, ở truyện cười

của các làng cười, không có truyện nào mà nhân vật chỉ toàn là con vật hoặc toàn là

bộ phận của con người. Ngược lại truyện cười cổ truyền có hiện tượng đó như

truyện “Buổi sáng sớm ở sân nuôi gia cầm” như đã phân tích, như truyện “Con mắt

tranh công” [16, 399].

2.3.3.4. Thủ pháp sử dụng ngôn ngữ linh hoạt

Cả truyện cười ở các làng cười và truyện cười cổ truyền đều sử dụng các tiểu

thủ pháp dùng từ đồng âm khác nghĩa, tước bớt ngữ cảnh. Tuy nhiên truyện cười ở

các làng cười không có các tiểu thủ pháp mà truyện cười cổ truyền sử dụng. Trong

truyện “Trời sinh ra thế”, khi ông bố vợ hỏi hai chàng rể tại sao tiếng con ngỗng lại

to như vậy. Chàng rể là học trò nói chữ “Trường cảnh tắc đại thanh” (Cổ dài thì

tiếng to). Chàng rể làm ruộng trả lời: “Trời sinh ra thế”. Khi thấy con vịt đang bơi,

bố vợ hỏi tại sao nó nổi. Chàng học trò nói chữ: “Đa mao tiểu nhục tắc phù” (Nhiều

lông ít thịt tất nổi). Chàng nông dân vẫn nói: “Trời sinh ra thế” [16, 1028]. Hoặc

truyện “Bên trọng bên khinh” mà chúng tôi đã phân tích, có cả một bài thơ chữ Hán

và câu chữ Hán “Nhất bên trọng nhất bên khinh”. Truyện cười cổ truyền còn không

ít lần đưa câu đối vào trong tác phẩm như chúng ta đã thấy ở truyện “Thầy trò đối

đáp” [16, 995]. Trong truyện cười ở các làng cười có từ địa phương, chẳng hạn

79

người làng Hòa Làng gọi củ khoai lang là củ, người Trân Châu gọi xích lô là xế lô.

Ngoài ra mỗi một làng thường có cách phát âm riêng một số từ. Tất cả đó là sắc thái

ngôn ngữ địa phương của từng làng. Đằng này trong truyện cười cổ truyền không ít

lần tác giả dân gian dùng tiểu thủ pháp nhại ngôn ngữ nơi nhân vật xuất thân. Trong

truyện “Ghẹo cô hàng nước” người kể (không phải là người Nghệ) kể chuyện về

một thầy đồ người Nghi Lộc ra Bắc tìm nơi dạy học. Đến Quỳnh Lưu, trời nắng

thầy vào một quán bên đường uống bát nước chè xanh. Cô chủ quán đổ gáo nước

vào bát xong, bưng ra mời thầy thì bắt gặp cái nhìn chằm chằm không chớp mắt của

thầy. Đáng lý chỉ uống bát nước, ngồi nghỉ chân một lát rồi tiếp tục cuộc hành trình,

nào ngờ bị sắc đẹp của cô gái cám dỗ, thầy gọi thêm cút rượu với vài cái nem rồi ăn

thêm quả chuối… Chẳng lẽ ngồi mãi, phải lên đường thôi. Trước khi “nhấc khu”

khỏi ghế cô hàng nước (không rõ thầy có đủ tiền trả tiền ăn quà không?) thầy gửi cô

bán hàng bài thơ (bằng tiếng Nghi Lộc):

“Bản hạng nay cô đã mấy tuổi

Nước cô còn nọng hay đã nguội

Lụng lặng trên treo mấy nắm nẹm

Lơ nhơ dưới móc một buồng chuội

Bánh rán bánh dày đều xoa mợ.

Khoai ngựa khoai lang cũng chấm muội.

Ăn uống xong rồi tiền chưa đụ

Biết nhau cho chịu một vài buội”.

Nào ngờ cô hàng nước cũng là người biết chữ. Xem qua cô liền lấy giấy thảo

ngay mấy câu trả lời:

“Này ới thầy đồ Nghi Lộc ơi,

Khoe tài chữ ngãi quá hông tôi.

Vần luật chưa rành còn ghẹo gái,

Tiền quà cho chịu, cút đi thôi!” [23, 79-80]

Tóm lại các tiểu thủ pháp dùng chữ Hán, dùng câu đối, nhại tiếng địa phương

nơi nhân vật xuất thân chỉ thấy ở trong truyện cười cổ truyền mà chưa thấy trong

truyện cười các làng cười.

80

2.4. Nhận xét sau khi so sánh

2.4.1. Khi so sánh một cách khách quan giữa 299 văn bản của truyện cười ở

năm làng cười với 1013 văn bản truyện cười cổ truyền, chúng tôi thấy các truyện

cười ở làng cười tuy không thật phong phú về các thủ pháp gây cười như truyện

cười cổ truyền, nhưng cũng không đến nỗi nghèo nàn, vẫn đem lại cho người đọc,

người nghe những rung cảm thú vị và tiếng cười mua vui, giải trí là chính.

2.4.2. Trong năm làng cười, bên cạnh nhiều chỗ giống nhau, mỗi làng cười

đã có sắc thái riêng. Truyện cười ở làng Trân Châu phản ánh rõ nét con người và

sinh hoạt của cư dân vùng hải đảo, thể hiện cách ứng xử, nhận thức của người dân

quê trước văn minh đô thị. Tuy không cách xa Dương Sơn và Hòa Làng bao nhiêu,

truyện cười Trúc Ổ khẳng định cái duyên của mình bằng nghệ thuật nói tức. So với

bốn làng còn lại, truyện cười của làng Văn Lang áp đảo về số lượng, phong phú về

tiếng cười, tức là có cả tiếng cười mua vui giải trí và tiếng cười đả kích châm biếm;

đặc biệt là sử dụng yếu tố tục ở mức độ đáng kể. Điều đặc biệt hơn nữa là bằng biện

pháp đối chiếu giữa các văn bản, chúng ta thấy truyện cười Văn Lang có đến 3

truyện giống truyện cười cổ truyền, có truyện giống đến từng chi tiết. Chúng tôi

không nghĩ rằng đây là sự gặp gỡ ngẫu nhiên. Đây chính là truyện Văn Lang đã tiếp

thu kho tàng truyện cười cổ truyền. Nếu người dân không tiếp thu thì ít nhất người

sưu tầm biên soạn là hai nhà giáo Trần Văn Thục và Dương Huy Thiện đã đóng vai

trò này một cách có ý thức hoặc vô thức. Các ông đều đã học khoa Ngữ văn, trường

Đại học Sư phạm Hà Nội, là người Phú Thọ, sau khi ra trường liên tục công tác tại

vùng Đất Tổ. Theo chính lời nhà giáo Trần Văn Thục, trong quá trình ghi chép, có

những câu chuyện ông phải đi lại nhiều lần để nghe và ghi mới chép lại được, có

truyện dù phải chỉnh sửa, in lại rồi nhưng vẫn bị thắc mắc. Thậm chí ngay cả khi đã

in thành sách thì có một số truyện vẫn vấp phải ý kiến trái chiều cho rằng chúng

không phải của làng Văn Lang và đã từng xuất hiện trong các tuyển tập truyện cười

khác. Những lúc ấy, ông phải bảo vệ ý kiến của mình, ông khẳng định những câu chuyện ông ghi chép là những “câu chuyện từ bé đã được nghe”2. Chúng tôi nghĩ

rằng có những truyện giống nhau nguyên xi là điều không nên khuyến khích. Song 2 Tư liệu phỏng vấn nhà giáo Trần Văn Thục tháng 10 năm 2022

81

từ truyện kết chuỗi Trạng Quỳnh đã có, truyện cười Văn Lang đã thêm được những

truyện mới khá độc đáo, mà truyện “Đề cao đức quân tử” là một thí dụ.

2.4.3. Truyện của năm làng cười đã được phân tích về mặt thi pháp cho thấy các

truyện đó đủ tiêu biểu cho truyện cười Bắc Bộ. So với bề dày của truyện cười cổ

truyền, có thể truyện cười ở các làng cười chưa hay bằng nhưng nó chứng tỏ sức sống

của văn học dân gian hiện đại như Nghiêm Đa Văn đã từng nhận xét năm 1984.

2.4.4. So với truyện cười cổ truyền, truyện cười ở các làng cười cũng có các

truyện lẻ, không kết chuỗi và cũng có nhiều truyện lẻ xung quanh một nhân vật như

ông Vượng (Trân Châu), cụ Ba (Dương Sơn). Về mục đích tiếng cười, truyện cười

ở các làng cười cũng có tiếng cười đùa vui giải trí và tiếng cười châm biếm; tuy số

truyện mang tiếng cười châm biếm có phần ít hơn. Về nghệ thuật gây cười, như

chúng tôi đã phân tích, truyện cười ở các làng cười cũng dùng thủ pháp sử dụng

ngôn ngữ linh hoạt, thủ pháp phóng đại, thủ pháp kết thúc bất ngờ, thủ pháp sử

dụng yếu tố tục, thủ pháp dùng xen kẽ một ít văn vần vào truyện kể văn xuôi. Như

vậy truyện cười ở các làng cười hoàn chỉnh cả về mặt nội dung và nghệ thuật. Bởi

vậy chúng tôi nghĩ rằng có thể nhà giáo Đỗ Bình Trị chưa chính xác khi ông cho

rằng truyện cười ở các làng cười “rõ ràng không hoàn toàn khớp với khái niệm

truyện cười như là thể loại, với cái khung phân loại kinh điển chia truyện cười thành

truyện khôi hài (hài hước) và truyện châm biếm (trào phúng)” [2, 3]. Chính vì về cơ

bản truyện cười ở các làng cười đã đáp ứng tiêu chuẩn của truyện cười nên nó đã

được phân tích trong giáo trình đại học [11, 150].

2.5. Tiểu kết

Thi pháp học là một hướng nghiên cứu nhằm phân tích tài năng nghệ thuật

của chủ thể sáng tạo và khẳng định bản chất nghệ thuật của các sáng tác văn học.

Trong lĩnh vực này người Việt Nam đã học tập được nhiều kinh nghiệm bổ ích từ

các tác giả Trung Quốc, Pháp và đặc biệt là Liên Xô cũ. Do lý do khách quan của

hoàn cảnh lịch sử, chính trị từ những năm 20 của thế kỷ XX đến trước những năm

80, việc nghiên cứu thi pháp ở Việt Nam còn hạn chế. Từ những năm 80 của thế kỷ

XX cho đến một vài năm đầu thế kỷ XXI, thi pháp học là một trào lưu nghiên cứu

chủ lưu ở các trường đại học và trong giới nghiên cứu. Trong lĩnh vực truyện cười,

82

nói đến thi pháp là nói đến nghệ thuật gây cười. So với truyện cười cổ truyền,

truyện cười ở các làng cười cũng đã sử dụng nhiều thủ pháp gây cười như: sử dụng

ngôn ngữ linh hoạt, sử dụng thủ pháp phóng đại, sử dụng thủ pháp kết thúc bất ngờ,

sử dụng yếu tố tục, dùng xen một ít văn vần vào truyện kể văn xuôi và vận dụng

phối hợp nhiều thủ pháp trong một tác phẩm. So với truyện cười cổ truyền, truyện

cười ở các làng cười có một số lượng đáng kể tác phẩm mà ở đó người kể truyện ở

ngôi thứ nhất. Tuy nhiên có những thủ pháp còn hiếm thấy trong truyện cười các

làng cười đó là thủ pháp gậy ông đập lưng ông, bắt chước không thành công và một

số tiểu thủ pháp khác mà chúng tôi đã trình bày.

Chính sự giống nhau và khác nhau so với thi pháp truyện cười cổ truyền đã

tạo nên đặc điểm của thi pháp truyện cười các làng cười.

83

CHƯƠNG 3

TỪ TRÀO LƯU BỐI CẢNH Ở HOA KỲ ĐẾN VIỆC

DIỄN XƯỚNG Ở CÁC LÀNG CƯỜI

3.1. Từ hướng tiếp cận bối cảnh trong folklore Hoa Kỳ đến việc vận dụng ở

Việt Nam

Năm 1964, Alan Dundes công bố “Kết cấu, văn bản và bối cảnh” (“Texture,

Text and Context”). Theo đó tác giả “đặt vấn đề định nghĩa folklore bằng con

đường định nghĩa (hay miêu tả kỹ) các hình thức khác nhau của folklore (các thể

loại folklore). Để giải quyết ông đề xuất ba cấp phân tích. Đối với một mục folklore

nào đó, có thể phân tích kết cấu, văn bản và bối cảnh của nó và tốt nhất là cả ba”

[55]. Theo tác giả, bối cảnh là tình huống xã hội riêng mà trong đó mục này được sử

dụng thực sự. Ông cho rằng nhiều tài liệu sưu tầm chỉ giới hạn các dữ liệu ghi chép

ở chỗ ở đâu, khi nào, do ai mà câu tục ngữ được sử dụng. Những dữ liệu như thế chỉ

là điểm bắt đầu chứ không phải là điểm kết thúc. Việc thể hiện bối cảnh cần có quan

điểm của người ngoài cuộc (người sưu tập), quan điểm của người trong cuộc (người

thể hiện). Năm 1967, tại Hội nghị thường niên của Hiệp hội Folklore Hoa Kỳ

(American Folklore Society), tác giả Dan Ben-Amos trình bày báo cáo “Folklore:

Một lần nữa lật lại trò chơi định nghĩa” (“Folklore: The Definition Game Once

Again”). Bốn năm sau, bản báo cáo này được tác giả phát triển thành bài viết “Tiến

tới một định nghĩa folklore trong bối cảnh” trên tạp chí Folklore Mỹ (Journal of

American Folklore). Trong bài viết này, Dan Ben-Amos khẳng định “Once viewed

as process, however, folklore does not have to be a marginal projection or

reflection; it can be considered a sphere of interaction on its own right”. (Khi được

coi là một quá trình, văn học dân gian không nhất thiết phải là một sự phóng chiếu

hay phản ảnh; nó có thể được coi là một lĩnh vực theo đúng nghĩa của nó), đây cũng

là vấn đề mà ông đã đặt ra trước đó trong “Folklore: The Definition Game Once

Again”, cần phải xét văn học dân gian trong một quá trình để nó được tồn tại như nó

vốn có [56, 15]. Năm 1968, ông Roger Welsch công bố bài viết “Một lưu ý về việc

định nghĩa” (“A Note on Definition” [57]) cũng trên tạp chí Folklore Mỹ. Đồng tình

84

với Dan Ben-Amos, phản bác lại Roger Welsch, năm 1969, Richard Bauman viết

bài “Tiến đến một lý thuyết hành vi trong folklore học: Đáp lời Roges Welsch”

(“Towards a Behavioral Theory of Folklore: A Reply to Roger Welsch”). Trong bài

viết này, Richard Bauman đã khẳng định tầm quan trọng của một định nghĩa mới về

văn học dân gian: “The essential point is that we now have befoefore us a

conceptualizatiob of folklore that makes a difference, one giving us an analytic

perpective that has proved to be of the greatest heuristic value in related disciplines”

[58, 170] (Điểm cốt yếu bây giờ là chúng ta có trước mắt một khoa học khái niệm

về văn hóa dân gian tạo ra sự khác biệt, một ngành khoa học mang lại cho chúng ta

một quan điểm phân tích có giá trị kinh nghiệm lớn nhất trong các ngành có liên

quan). Năm 1969 tại hội nghị thường niên của Hiệp hội Folklore Hoa Kỳ, có một

tiểu ban tên gọi “Folklore và giao tiếp”, hướng tiếp cận bối cảnh tạo được tiếng

vang bởi một loạt báo cáo của Dell Hymes, Bruce A. Rosenberg, Barbara

Kirshenblatt-Gimblett, Herminia Q. Menez, Ilhan Basgoz, Lida Dégh và Andrew

Vázsonyi, Richard Bauman, Barre Toelken, Roger D. Abrahams [59, 9-10]. Các báo

cáo này sau được in trong tuyển tập nhan đề Folklore: Trình diễn và giao tiếp xuất bản năm 1975.

Năm 1971, trên tờ tạp chí Folklore Mỹ, một nội dung chuyên đề mang tên

Tiến đến những hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu folklore thêm sức mạnh ủng

hộ hướng nghiên cứu mới.

Đáp trả lại xu hướng nghiên cứu folklore trong bối cảnh, năm 1972, trong hội

nghị thường niên của hiệp hội vừa nêu, D.K Wigus trình bày báo cáo “Văn bản mới

chính là vấn đề” (“The Text is the Thing”), nhắc lại quan điểm của Roger D.

Abrahams “folklore is folkore only when performed” (Văn học dân gian là chính nó

chỉ khi nó được đặt trong diễn xướng) [60, 243]. Tác giả bày tỏ sự quan ngại khi mà

việc nghiên cứu lấy bối cảnh làm trung tâm đang càng ngày càng bộc lộ tính cực đoan

của nó. Tác giả dần bắt đầu nhận thấy những biểu hiện đáng lo lắng, chẳng hạn như

“văn bản” và “lấy văn bản làm trung tâm” đang trở thành những cách diễn đạt có ý

nghĩa tiêu cực và bị dè bỉu. Đồng thời, ông cũng băn khoăn rằng vì không thể vận

dụng hướng nghiên cứu này cho những tư liệu folklore đã được các nhà nghiên cứu đi

85

trước sắp xếp và đang nằm trong văn khố, vì vậy nếu cứ chăm chăm theo đuổi hướng

đi này, “chúng ta có thể đốt cháy toàn bộ văn khố”. (“But if a school of “behavioral

folkorists” determines that its questions are the only valid ones and that its findings

cannot be applied to matertials of previous researchers, then the results will not be

revolutionary, but catastrophic. To be blunt, we might as well burn the archives” [60,

244-245]). Wilgus nhận định cuộc tranh luận giữa văn bản và bối cảnh của Folklore

là là một sự sai lầm, bởi nó phủ nhận tính thống nhất cũng như phủ nhận tính nhất

thiết phải nghiên cứu folklore trong chiều kích đồng đại và lịch đại của nó – đó là một

phần không thể thiếu của bất kỳ “sự kiện” folklore nào: “Furthermore, I see the

suggested dichotomy between the “things” of folklore and the “doing” of folklore as

false to the exent that it denies he validity and necessity of viewing a text in all its

synchronic and dimensions as a necessary part of the understanding of any folklore

“event” [60, 245]. Cũng trong năm 1972 nhà nghiên cứu Richard M. Dorson chủ biên

cuốn sách Folklore và đời sống dân gian: Một dẫn nhập (Folklore and Folklife: An

Introducation) tập hợp nhiều nghiên cứu theo hướng mới. Cuốn sách này là sự tranh

luận đối với bài viết của D.K Wigus. Đúng như Lê Thị Thanh Vy đã nhận xét, dù

không hình thành một trường phái gắn kết, nhưng các nhà nghiên cứu đi theo hướng

tiếp cận bối cảnh có nhiều điểm chung. Đó là họ được đào tạo tiến sỹ folklore học tại

các trường đại học của Indiana và Pennsylvania vào những năm 60 của thế kỷ XX; họ

nghiêng về các ngành khoa học xã hội như nhân học, ngôn ngữ học và các phương

diện văn hóa của tâm lý học và xã hội học, đặc biệt quan tâm đến môi trường mà văn

bản folklore “ăn sâu bám rễ”. Họ bác bỏ các kiểu thức tĩnh tại trước đây của văn bản

folklore và nhấn mạnh vào một bối cảnh ba chiều kích, thể hiện qua những cụm từ

như “tương tác giao tiếp có tính nghi thức của các nhóm nhỏ”, “sự kiện giao tiếp

phức tạp”, “kết cấu, văn bản và bối cảnh”, “các hệ thống phân loại giao tiếp có tính

văn hóa”, “quá trình hiện thực, nghệ thuật và giao tiếp xác định” [61, 7].

Trong các bài viết của các nhà nghiên cứu trẻ nêu trên, xuất hiện thường

xuyên thuật ngữ “contextual” nên Dorson đã gọi trào lưu nghiên cứu của họ là trào

lưu nghiên cứu bối cảnh. Theo Lê Thị Thanh Vy, chính bản thân Dorson cũng nhận

ra rằng thật ra thuật ngữ này không thật đạt lắm, không đại diện cho các nghiên cứu

86

đa dạng của các tác giả trẻ [59, 12]. Về sau hướng nghiên cứu này được đặt tên như

hướng tiếp cận lấy giao tiếp làm trung tâm, hướng tiếp cận lấy trình diễn làm trung

tâm, trường phái trình diễn/ dân tộc học lời nói/ thi pháp dân tộc học.

Đến năm 1979, Steven Jones lại khuấy động lại cuộc tranh luận văn bản/ bối

cảnh trên tạp chí Western Folklore. Ngay dưới bài viết của Steven Jones là bài đáp

trả của Dan Ben-Amos. Sang năm 1980, trên tạp chí Western Folklore còn có các

bài viết nối dài cuộc tranh luận. Mặc dù từ năm 1979, Ban biên tập tạp chí Western

Folklore đã có lời tạm ngưng thảo luận, chứ không phải hai bên đuối lý hoặc không

còn khả năng bút chiến. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu trẻ ở Mỹ lại

đề xuất hướng nghiên cứu bối cảnh, tức là nghiên cứu diễn xướng/ trình diễn. Có

hai nguyên nhân. Nguyên nhân thứ nhất là họ giành sự tự trị của folklore như một

ngành khoa học độc lập, mà trước hết là phân biệt folklore học với dân tộc học/

nhân học. Nguyên nhân thứ hai họ thể hiện vị thế nước lớn của khoa học Hoa Kỳ.

Theo Lê Thị Thanh Vy, hướng nghiên cứu folklore trong bối cảnh có tác

dụng làm rõ hơn những khái niệm liên quan như khái niệm truyền thống, dân gian,

làm sáng tỏ vấn đề folklore “có thể đóng góp, dự phần vào các quan hệ xã hội như

thế nào, tức nhìn folklore trong tính tích cực, chủ động của nó, chứ không chỉ là một

tấm gương phản ánh xã hội, hay một công cụ giúp soi sáng các vấn đề xã hội” [59,

6]. Hướng nghiên cứu này còn đóng góp vào việc nhận thức thể loại folklore, thay

đổi trong nhận thức về vấn đề thể loại và trong tương quan giữa các vấn đề thể loại,

có đóng góp đối với vấn đề sưu tầm và phân tích folklore.

Tại sao ở Hoa Kỳ lại ra đời trào lưu/ khuynh hướng tiếp cận/ nghiên cứu

folklore theo bối cảnh.

Chúng ta biết rằng việc nghiên cứu folklore ở Mỹ được khởi đầu bằng sự tiếp

thu khoa nghiên cứu văn học dân gian ở châu Âu, trong đó có Liên Xô cũ với những

tên tuổi tiêu biểu như Bôgatưrép, Prôpp,… Nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học

Nga đã được dịch sang tiếng Anh, trở thành tài liệu phổ biến ở Hoa Kỳ nói riêng và

phương Tây nói chung.

Theo truyền thống folklore Nga, folklore được đặt tại khoa Ngữ văn các

trường đại học tổng hợp và sư phạm. Nếu nhiều nước châu Âu quan niệm folklore

87

là văn nghệ dân gian hoặc văn hóa dân gian thì người Nga quan niệm folklore là

văn học dân gian. Theo họ mỗi tác phẩm folklore là một chỉnh thể nghệ thuật, là

một tác phẩm mang tính thẩm mỹ. Năm 1966, Krápxốp chủ trương hướng tiếp cận

Ngữ văn học. Trong khi thừa nhận thành tựu của các nhà folklore- âm nhạc học, cố

gắng nghiên cứu phần lời ca và giai điệu trong sự thống nhất- không loại trừ:

1. Trong quá trình nghiên cứu, có thể chia tách đối tượng để xem xét thật kỹ

lưỡng mặt này hoặc mặt khác.

2. Trong folklore, không phải tất cả các thể loại đều có sự gắn bó giữa lời và

giai điệu (tục ngữ, câu đố, truyện cổ tích, truyền thuyết). Như vậy, không phải tất cả

các thể loại đều có tính nguyên hợp.

3. Thành phần ngôn từ trong tác phẩm folklore có thể tồn tại mà không có

giai điệu nhưng nếu giai điệu mà thiếu lời thì không tồn tại, nếu có, chúng hiện ra

như một dạng đặc biệt của sang tác dân gian.

4. Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định rằng, trong sự thống nhất giữa lời

và giai điệu, yếu tố quyết định thường là phần lời. Phần này thường quy định đặc

trưng của giai điệu. Chẳng hạn, cấu trúc cú pháp và nhịp điệu của câu thường quy

định tính chất và nhịp của giai điệu; tính chất của phong cách âm nhạc, mặc dầu

cũng có cơ sở để nói về ảnh hưởng của mặt âm nhạc của tác phẩm đối với mặt ngôn

từ [62, 147-148].

Vì vậy từ năm 1966, tổ bộ môn Văn học dân gian Nga của Trường Đại học

Matxocova đã xác định đề tài “Folklore với tư cách là nghệ thuật ngôn từ” làm

nhiệm vụ nghiên cứu lâu dài và cơ bản.

Việc đề xuất hướng nghiên cứu bối cảnh/ trình diễn của các nhà folklore trẻ

Hoa Kỳ thể hiện sự phản ứng lại đối với ngành folklore học Nga. Điều này cũng

tương tự như sau khi tiếp thu khoa nghiên cứu văn học so sánh ở châu Âu với các

hướng nghiên cứu truy tìm nguồn gốc và xác định ảnh hưởng của nền văn học này

đối với nền văn học kia thì các nhà khoa học Mỹ đề xuất hướng nghiên cứu so sánh

song song, tức là giữa hai nền văn học không có mối liên hệ nguồn gốc hay ảnh

hưởng, họ tìm ra điểm giống nhau và khác nhau.

Ở Việt Nam, ngành nghiên cứu văn học dân gian non trẻ, đi sau ngành

nghiên cứu văn học dân gian Nga gần một thế kỷ. Nói như vậy không có nghĩa là

88

trước khi khoa nghiên cứu văn học dân gian được hình thành từ cuối những năm 50

của thế kỷ XX, ở nước ta không có những yếu tố mầm mống, tiền đề cho khoa học

về văn học dân gian. Ở đây chúng tôi chỉ trình bày những gì liên quan đến cái gọi là

bối cảnh, gọi là diễn xướng, biểu diễn.

Từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong cuốn Hát giặm Nghệ Tĩnh

(xuất bản lần đầu năm 1944, được tái bản năm 1962 với đồng tác giả Ninh Viết

Giao), Nguyễn Đổng Chi “đã cùng lúc chú ý đến các bình diện: đặc trưng, hình

thức, diễn xướng, tiểu sử, lề lối sinh hoạt của nghệ nhân. Khác với cách nghiên cứu

truyền thống chỉ thu hẹp trong văn bản, theo hướng này, người nghiên cứu phải trực

tiếp tham gia vào mọi hoạt động của đối tượng khảo sát, thông qua những trải

nghiệm của bản thân để lý giải xem “người trong cuộc” hành động và suy nghĩ như

thế nào. Đó là cách nhìn được gọi là cách nhìn emic (emic view). Ở đây, Nguyễn

Đổng Chi đặc biệt chú ý đến vai trò của nghệ nhân – ông gọi là người “kể chuyện”

– mà theo tôi là một điểm nhấn quan trọng, phù hợp với lối nghĩ và cách làm

thường phụ thuộc vào người khởi xướng, đầu tàu của nhân dân trong các lĩnh vực

sinh hoạt. Có lẽ vì vậy mà ông đã thoát ra khỏi “cái tôi” cố hữu của nhà nghiên cứu

truyền thống, để hòa vào đời sống cộng đồng, đúng hơn là đời sống của văn học dân

gian” [63, 110]. Theo Hồ Quốc Hùng, cùng với những người khác, trong Phương

pháp sưu tầm văn học dân gian ở nông thôn (1969) và tự bản thân trong “Qua việc

khoanh vùng văn học dân gian tại một xã thí điểm” (1971), Nguyễn Đổng Chi có

nhiều nhận xét tinh tường mà nếu ngày nay đối chiếu với trào lưu bối cảnh ở Mỹ thì

có nhiều điểm không hề xa lạ với nhau. “Cần phải nói rằng ông đã tiến hành

phương pháp của mình khi trào lưu bối cảnh của Mỹ chưa ra đời” [63, 111].

Thực ra không chỉ có Nguyễn Đổng Chi, trên giảng đường đại học và trong

giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (1962), khi viết về đặc trưng truyền miệng

của văn học dân gian, Đinh Gia Khánh phân tích: “Đặc trưng truyền miệng cũng thể

hiện ở trong sáng tác, diễn xướng và truyền bá. Vì truyền miệng mà tác phẩm tiến

hóa theo người diễn xướng, và theo công chúng thưởng thức. Vì truyền miệng mà

các tác phẩm văn học thường thay đổi về nội dung và hình thức và cũng vì thế mà

việc sáng tác linh hoạt vô cùng: từ khi tác giả vô danh tạo ra tác phẩm cho đến ngày

89

nay, tác phẩm đã được thay đổi, thêm bớt nhiều phen trước khi đạt được trình độ

hoàn chỉnh và tương đối ổn định.

Có thể nói hầu hết các làn điệu dân ca của ta đều được sáng tác tập thể: “thi

hứng” của các nhà thơ dân gian được kích thích mạnh mẽ trong các cuộc sinh hoạt

tập thể, trong lao động sản xuất (hát thợ cấy, hò chèo đò, hát phường vải…) trong hội

hè đình đám (hát quan họ, hát trống quân, hát đúm…). “Các truyện cổ tích, truyện

cười của ta cũng được sáng tác tập thể. Quá trình lưu truyền từ nơi này sang nơi khác,

từ đời nọ sang đời kia cũng đồng thời là quá trình sáng tác tập thể. Không có quá

trình đó thì không thể có sự hình thành những truyện dài và có tình tiết phức tạp” [64,

44]. Ở một chỗ khác, Đinh Gia Khánh viết tiếp: “Tác phẩm văn học dân gian do đặc

trưng tập thể và truyền miệng không bao giờ có nội dung và hình thức tuyệt đối cố

định. Nội dung và hình thức đó có thể thay đổi qua không gian và thời gian để thích

nghi với hoàn cảnh mới, đối tượng mới. Thơ ca dân gian có nhịp điệu, vần luật cho

nên ít nhiều có tính chất kiên cố. Tuy vậy, các bài ca dao, dân ca cũng thay đổi dần

khi lưu truyền trong nhân dân. Văn xuôi dân gian không có hình thức kiên cố như thơ

ca càng dễ có điều kiện luôn luôn thay đổi. Truyện dân gian không bao giờ có hình

thức cố định: chỉ từ người kể truyện này sang người kể truyện khác, một truyện cổ

tích đã thay đổi về lời văn rồi. Hơn nữa, bố cục của truyện, nội dung của truyện cũng

dần dần ít nhiều bị thay đổi cho phù hợp với những yêu cầu mới của cuộc sống.

Nhược điểm của các tác phẩm văn học dân gian một phần lớn là tính chất không kiên

cố đó. Nhưng đó cũng là ưu điểm của chúng. Tác phẩm văn học dân gian sau khi xuất

hiện thì luôn luôn được sửa chữa, bổ sung, nói một cách khác không phải là nhất

thành bất biến: quá trình sáng tác không bao giờ ngừng” [64, 44-45]

Chủ ý trích dẫn dài như trên, chúng tôi muốn nói rằng từ năm 1962, sinh viên

Khoa ngữ văn ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã biết đến khái niệm “Người

diễn xướng”, đã biết đến cái gọi là “bối cảnh”, “môi trường” như sinh hoạt tập thể,

lao động sản xuất, hội hè đình đám, mà ở đó văn nghệ, văn học dân gian nảy nở; đã

được dạy rằng trong đời sống dân gian kể cả văn vần và văn xuôi, tác phẩm văn học

dân gian luôn luôn thay đổi. Nếu bảo rằng khoa nghiên cứu văn học dân gian ở

miền Bắc chịu ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực của khoa nghiên cứu văn học dân

90

gian Xô Viết, thì nhận định đó không sai. Nhưng đặt vào thời điểm năm 1962 khi

bản dịch in roneo Mỹ học folklore của Guxev (do Hoàng Ngọc Hiến dịch), chưa trở

thành cuốn sách gối đầu giường của các hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam

thì có thể thấy những điều nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh trình bày ở trên là xuất

phát từ sự suy ngẫm tự thân và trải nghiệm vốn văn học dân gian của tác giả.

Năm 1969, trong công trình Người anh hùng làng Dóng, Cao Huy Đỉnh dành

hẳn một chương có nhan đề “Người trung châu kể truyện ông Dóng.” Nhiều công

trình khác của Cao Huy Đỉnh cũng chứng tỏ ông luôn thấy văn học dân gian trong

sự vận động, trong môi trường sinh hoạt văn hóa dân gian của dân chúng. Song từ

năm 1969, ảnh hưởng của Guxev đã đến với các nhà nghiên cứu Việt Nam.

Như chúng tôi đã trình bày ở chương 1, năm 1977, Đặng Văn Lung đã công

bố bài viết “Ý nghĩa của việc nghiên cứu diễn xướng dân gian”. Theo ông, “diễn

xướng là sự chở tải tác phẩm đến chuyển giao cho người nhận thức, người thưởng

thức. Tác phẩm là khâu đầu tiên, Diễn xướng là khâu thứ hai, Thưởng thức là khâu

thứ ba và cuối cùng là Hiệu quả nghệ thuật. Đây là một quá trình khép kín của văn

nghệ dân gian. (…) Sự sống cuả văn nghệ dân gian là một sự vận động, một sự trao

đổi liên tục không ngừng. Nếu ngừng quá trình đó là chết” [26, 38]. Ông còn trả lởi

câu hỏi “Diễn xướng bao gồm những gì?” Theo ông đó là môi trường diễn xướng,

đặc điểm diễn xướng, động tác diễn xướng, đạo cụ, hóa trang, phục trang, thời gian

diễn xướng, cách tổ chức một buổi diễn xướng, thứ tự nội dung xảy ra trong buổi

diễn xướng, vai trò tham gia của người thưởng thức vào diễn xướng, vai trò tham

gia của người sáng tác và diễn xướng [26, 48]. Đây chính là những suy nghĩ độc lập

của tác giả, không phụ thuộc vào sách vở nào hết. Điều cần chú ý là ông chỉ dùng từ

văn nghệ dân gian mà không nói văn học dân gian.

Năm 1978, Viện nghệ thuật thuộc Bộ Văn hóa tổ chức hội thảo bàn về diễn

xướng, trong đó có diễn xướng dân gian. Năm 1979, trên Tạp chí Nghiên cứu nghệ

thuật số 5, trong bài viết “Thế nào là một tác phẩm văn nghệ dân gian và đặc trưng

chủ yếu của nó”, Nguyễn Hữu Thu cho rằng tính diễn xướng là chủ yếu và bao trùm

lên các thuộc tính tập thể, truyền miệng và dị bản của văn nghệ dân gian, “tính

truyền miệng của một tác phẩm văn nghệ dân gian thực ra cũng là tính diễn xướng”.

91

Cũng trong số tạp chí vừa nêu, Tô Ngọc Thanh trong bài báo “Mấy ý kiến về đặc

trưng nguyên hợp trong nghiên cứu Phônclo” cho rằng “có diễn xướng, tác phẩm

mới được lưu truyền, cái duyên, cái phong cách của nó mới được bộc lộ ra… Loại

trừ khâu diễn xướng, tác phẩm văn học dân gian chỉ còn là cái xác không hồn, và

nếu ví các diễn xướng folklore như cá thì môi trường sẽ là nước. Cá ra khỏi nước,

cá chết” (dẫn theo [65, 98]).

Năm 1980, tại Hội nghị văn hóa dân gian, Chu Xuân Diên cho rằng từ năm

1972 ở Việt Nam, trong bài báo “Phương thức sáng tạo dân gian và văn học dân

gian” Cao Huy Đỉnh cũng đã đặt vấn đề: Quần chúng xưa luôn luôn gắn việc sáng

tác văn học với sinh hoạt thực tiễn và trình diễn nghệ thuật. Theo Cao Huy Đỉnh,

những người nghiên cứu văn học dân gian có nhiệm vụ sưu tầm và nghiên cứu cả

các hình thức sinh hoạt thực tiễn và các kiểu trình diễn nghệ thuật ấy. Theo Chu

Xuân Diên, các sưu tập văn học dân gian của nước ta còn thiếu những điều chỉ dẫn

phong phú về các hình thức sinh hoạt thực tiễn và các kiểu trình diễn nghệ thuật có

liên quan. Tại thời điểm những năm 1980 việc sưu tầm những loại tài liệu ấy cần

được tiến hành một cách khẩn trương. Sau khi khẳng định như vậy, nhà nghiên cứu

nêu lên một số vấn đề cần được làm sáng tỏ.

1. Giới nghiên cứu vẫn định nghĩa văn học dân gian là những sáng tác nghệ

thuật ngôn từ. Khi xem xét các sáng tác nghệ thuật dân gian có thành phần ngôn từ,

chúng ta nhận thấy thành phần này trong các thể loại khác nhau lại có những tỷ lệ

khác nhau so với những thành phần nghệ thuật khác như âm nhạc, nhảy múa, điệu

bộ. Giống như Nguyễn Đổng Chi, Chu Xuân Diên cũng cho rằng, nên tùy theo tỷ lệ

đó mà phân chia thành các lĩnh vực có thể đặt tên là văn học dân gian, âm nhạc dân

gian, sân khấu dân gian. “Trong văn học dân gian, thành phần ngôn từ là chủ thể.

Cho nên cần xem đối tượng nghiên cứu chính của văn học dân gian là nghệ thuật

ngôn từ, còn của âm nhạc dân gian là nghệ thuật âm nhạc, của sân khấu dân gian là

nghệ thuật biểu diễn. Sự tham gia của các thành phần khác phải được nghiên cứu

theo hướng xem chúng có tác động như thế nào đến sự hình thành của những đặc

điểm bên trong, đến cấu trúc nghệ thuật nội tại của thành phần chủ thể. Riêng sáng

tác dân ca thì phức tạp hơn. Ở những sáng tác này, việc xác định thành phần ngôn

92

từ hay thành phần âm nhạc là chủ thể còn phải phụ thuộc vào từng trường hợp cụ

thể (tùy theo chỗ đứng của người nghiên cứu và tùy theo từng thể loại dân ca)” [65,

99-100]. Trong dân ca đối đáp, một loại làn điệu như hát ví, hát trống quân chẳng

hạn người dân xưa đặt trọng tâm của sự sáng tạo vào phần lời là chính. Nói chung

có trên cơ sở phân biệt thành phần chủ thể như vậy thì chúng ta mới có thể thấy

được những biểu hiện khác nhau của những đặc trưng chung ở các loại hình nghệ

thuật dân gian khác nhau. “Đối với âm nhạc dân gian và nhất là sân khấu dân gian

thì tính diễn xướng là đặc tính bao trùm vì chính nó là bản chất của nghệ thuật ca

hát và nghệ thuật diễn trò. Còn đối với văn học dân gian thì không thể nói dứt khoát

được rằng “loại trừ khâu diễn xướng”, tác phẩm văn nghệ dân gian chỉ còn là cái

“xác không hồn”. Bởi vì xét bản chất của văn học dân gian, xét thành phần chủ thể

trong văn học dân gian thì cái hồn lại chính là ngôn từ dù nó được bộc lộ ra bằng

ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết. Và như vậy thì việc nghiên cứu văn bản văn học

của tác phẩm văn học dân gian không phải là nghiên cứu cái xác không hồn mà

chính là nghiên cứu cái hồn tồn tại trong thể xác của nó” [65, 100].

2. Ngày nay chúng ta càng ít có khả năng được tham gia trực tiếp vào những

sinh hoạt thực tiễn và trực tiếp thưởng thức các kiểu trình diễn nghệ thuật của vốn

văn học dân gian cổ truyền. Nghiên cứu văn bản văn học dân gian là bộ phận có

điều kiện tồn tại mãi mãi trong vốn văn học dân gian cổ truyền, chúng ta sẽ tìm thấy

được một phần quan trọng nguyên nhân tính độc đáo thẩm mỹ của loại hình nghệ

thuật này dưới dạng những dấu vết ấy ở ngay trong những đặc điểm thi pháp văn

học dân gian. Chẳng hạn Hoàng Tiến Tựu đã nói đến những yếu tố có tính chất kịch

trong dân ca, đặc biệt là dân ca đối đáp nam nữ. Trong khi nghiên cứu các danh từ

riêng trong một số truyện cổ tích, Đinh Gia Khánh cho rằng những danh từ này có

liên quan đến những vấn đề như nguồn gốc của truyện, kết cấu của truyện, hình

tượng của truyện, xu hướng tâm lý của dân chúng khi sáng tác, lưu truyền tác phẩm

văn học dân gian.

Người nghiên cứu văn học dân gian dễ bị hấp dẫn bởi những tài liệu dân tộc

học, “đó là một tình hình bình thường nếu nó chứng tỏ nhận thức ngày càng chính

xác của chúng ta về bản chất của văn học dân gian như là một hiện tượng không

93

phải chỉ thuộc lĩnh vực nghệ thuật, mà còn lĩnh vực văn hóa dân gian nói chung

chưa được phân hóa mạnh mẽ. Nhưng có vấn đề là: sự chú ý nhiều tới tài liệu dân

tộc học và tới việc phân tích dân tộc học về các sự kiện văn học dân gian có thể dẫn

đến khuynh hướng hoặc là quên lãng bản chất nghệ thuật của văn học dân gian hoặc

là tách rời sự phân tích văn học với sự phân tích dân tộc học về các sự kiện văn học

dân gian” [65, 103]. Theo nhà nghiên cứu, bản chất nghệ thuật của văn học dân gian

sẽ không thể bị hòa tan hay trộn lẫn với các yếu tố văn hóa dân gian khác dù cho

văn học dân gian có quan hệ hữu cơ và gắn bó chặt chẽ với văn hóa dân gian.

Như trên chúng ta đã nói, bài viết nổi tiếng của Chu Xuân Diên được trình

bày tại hội nghị về văn hóa dân gian năm 1980, sau đó được công bố trên Tạp chí

Văn học số 5, năm 1981. Từ đó đến nay, bài viết này nhiều lần được tái bản, thí dụ

trong cuốn sách Văn hóa dân gian mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể

loại (2001), (tái bản năm 2006); Mấy vấn đề văn hóa và văn học dân gian Việt Nam

(2004); Nghiên cứu Văn hóa dân gian phương pháp, lịch sử, thể loại (2008).

Năm 1989 trong cuốn sách Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Đinh Gia

Khánh phân tích kĩ vấn đề văn hóa dân gian (folklore là một nghệ thuật nguyên

hợp), bàn về sinh hoạt văn hóa dân gian [66]. Năm 2013, tại hội thảo về nhà khoa

học Đinh Gia Khánh, tác giả Nguyễn Hùng Vỹ cho biết “khi trình bày đặc trưng

tính nguyên hợp trong sáng tác ngôn từ dân gian, tác giả đã ứng dụng quan niệm

hợp lý của GS. Đinh Gia Khánh nhưng triển khai các vấn đề chi tiết và mạch lạc

hơn”. Thừa nhận căn nguyên của tính nguyên hợp là từ nhận thức có tính nguyên

hợp của dân chúng có truyền thống từ xa xưa, tác giả triển khai tính nguyên hợp

trên bốn cấp độ:

“- Nguyên hợp từ quan niệm không tách rời hoạt động thực tiễn và hoạt động

tinh thần.

- Nguyên hợp từ quan niệm không tách rời các hình thái tinh thần xã hội.

- Nguyên hợp từ quan niệm không tách rời các loại hình nghệ thuật.

- Nguyên hợp từ quan niệm tiếp biến trên thực tế các phẩm chất thể loại”

[67, 488-489].

Nhà giáo Nguyễn Hùng Vỹ “cũng nhìn nhận một đặc điểm là ngay trong văn học

94

dân gian, càng phát triển, tính nguyên hợp tổng thể có xu hướng mờ nhạt, ngày càng

chuyên biệt hơn do tư tưởng nhân dân ngày càng khác và đổi mới” [67, 11].

Năm 1990, nhà giáo Hoàng Tiến Tựu đã viết rằng “phương thức biểu diễn

chủ yếu” của tục ngữ, câu đố là nói, của các loại truyện kể dân gian, vè là kể, của

các loại ca dao dân ca là hát, của các loại trò diễn dân gian là diễn [9, 3].

Năm 2012, Kiều Trung Sơn công bố bài viết “Nhìn lại khái niệm diễn xướng”,

ông kết luận: “Diễn xướng là một loại hình nghệ thuật dân gian, ứng diễn, truyền khẩu,

sử dụng tổng hợp nhiều yếu tố nghệ thuật, trong đó diễn ngôn là yếu tố chủ đạo, nhằm

đáp ứng nhu cầu văn hóa của con người trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa con

người với tự nhiên, siêu nhiên và xã hội (trong giao tiếp, giao duyên, thực hiện các nghi

lễ phong tục, tín ngưỡng tôn giáo)” [27, 10]. Chúng tôi tôn trọng suy nghĩ của tác giả,

song ở đây chúng tôi theo quan niệm của Đinh Gia Khánh đã công bố năm 1962 tức là

mọi tác phẩm văn học dân gian đều được diễn xướng.

Cũng năm 2012, lần đầu tiên Giáo trình văn học dân gian do Vũ Anh Tuấn

chủ biên được xuất bản [11]. Tác giả viết: “Tính biểu diễn trong dạng hiện của tác

phẩm văn học dân gian cũng được tạo nên bởi các phương thức truyền thống: nói,

ngâm, hát, kể, diễn; đó là cách thức truyền miệng đầy tính sáng tạo dân gian, biểu

hiện dạng đặc trưng mỹ học dân gian và là thể sống của văn học dân gian” [11, 12].

Ông đặt hẳn một mục nhan đề: Văn học dân gian vừa là văn học vừa là văn hóa [11,

5]. Ở đây có thể thấy người viết vừa tiếp cận tác phẩm văn học dân gian dưới góc

độ thi pháp, vừa tiếp cận nó ở một góc độ rộng hơn tức là văn hóa, gần gũi với cách

nhìn của nhiều nhà folklore Hoa Kỳ.

Nếu nói rằng trước năm 1975, và trước năm 1986 (thời điểm bắt đầu quá

trình đổi mới) các nhà nghiên cứu Việt Nam biết tiếng Pháp và tiếng Anh, không

biết gì đến việc nghiên cứu folklore ở phương Tây và Hoa Kỳ thì có thể cho rằng

đây là một nhận xét cực đoan. Song bối cảnh lịch sử - xã hội và đời sống tư tưởng

lúc đó cho thấy rất khó có thể tiếp nhận các quan niệm của các nhà khoa học

phương Tây và Hoa Kỳ về folklore.

Từ nửa sau những năm 50 cho đến năm 1975, khoa học xã hội ở miền Bắc

được tiến hành với các định hướng khám phá, chứng minh truyền thống anh hùng

dựng nước và giữ nước của dân tộc, khoa học xã hội là một vũ khí trong cuộc đấu

95

tranh tư tưởng giữa ta và địch. Địch ở đây là tư sản phương Tây, là đế quốc Mỹ.

Khoa học xã hội đề cao vai trò của quần chúng nhân dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của

học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp. Những thí dụ dưới đây chứng tỏ điều đó.

“Trong cuốn sách Giáo sư Tiến sĩ Hoàng Tụy sĩ phu thời nay, GS. TS Hoàng Tụy và

các tác giả khác viết về nỗi gian truân tinh thần trong các năm 1963-1968 khi người

trí thức đã trải qua hàng trăm buổi kiểm điểm trước mặt các quan chức cấp trên chỉ vì

họ không chịu đưa tiêu chuẩn “Hồng” của chính trị vào làm lấn át tiêu chuẩn

“Chuyên” của khoa học” [68, 12]. Năm 1967, tác giả Đặng Văn Lung hoàn thành bài

viết “Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình”. Ông trình lên cấp trên trực tiếp là

nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh, nhận được ý kiến góp ý sửa chữa để đem công bố trên

tạp chí Văn học. Lúc đó Viện Văn học có một buổi sinh hoạt khoa học, ông được

trình bày trước viện bài tạp chí chưa in ấy, ông bị một người bạn thân nhất và một

người mà ông tôn kính nhất phê phán với những lời rất nặng “nào là sa vào chủ nghĩa

hình thức, xa rời nội dung; nào là không đúng với phương pháp nghiên cứu của chủ

nghĩa Mác, xa rời tính Đảng; nào là sai lầm về phương hướng cơ bản nên mới sai lầm

về phương pháp” [69, 560]. Cả tổ Văn học dân gian không ai bảo vệ cho ông, dù rằng

bài đã thông qua tổ. Rất may ông được cụ Cao Xuân Huy bênh vực. Cụ mắng những

người trong viện không biết thế nào là chủ nghĩa cấu trúc. Mặc dầu có ý kiến bênh

vực của nhà Hán học lão thành Cao Xuân Huy, nhưng cho đến bốn năm liền sau đó

tác giả Đặng Văn Lung không viết được gì do quá khiếp đảm và chán nản vì sự phê

phán mà ông đã trải qua [69, 562]. Năm 1972, Nguyễn Đức Nam đăng trên Tạp chí

Văn học số 2, bài báo “Về việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các nền văn học”. Tác

giả Nguyễn Đức Nam không công nhận văn học so sánh là một bộ môn khoa học và

tiên đoán sự phá sản của văn học so sánh phương Tây. Năm 1974, Lê Bá Hán cho

rằng văn học so sánh là một “trường phái nghiên cứu văn học theo quan điểm tư sản

(…), ngày nay đang ngày càng đi vào con đường hình thức chủ nghĩa, duy tâm và

phản động” (dẫn theo [5, 192]).

Vào nửa đầu những năm 80, Nguyễn Tấn Đắc được sang Liên Xô nghiên cứu

một tháng. Lúc đó ông là Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Đông Nam Á, thuộc Viện

hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam hiện nay. Đến thư viện Lênin ở Macxơcva, qua

96

phòng Văn học dân gian, tình cờ thấy bộ tra cứu môtip 6 tập to đùng của phương Tây

bằng tiếng Anh, ông “mừng đến rụng rời tay chân” và định từ đó chỉ ngồi ở thư viện

để đọc và học cho hiểu. Tối hôm ấy đến thăm Viện sỹ Riftin, ông mang việc ấy ra

khoe thì viện sỹ bảo có bộ này và sẵn sàng cho mượn. Mừng quá, Nguyễn Tấn Đắc

liền ôm bộ sách đồ sộ ấy về học và ghi ghi chép chép để về nước sử dụng [70, 11].

Thí dụ trên chứng tỏ các nhà khoa học Việt Nam dù biết tiếng Anh, tiếng Pháp đã

khó khăn thế nào khi tiếp cận tài liệu phương Tây và Hoa Kì.

Năm 1991, khi quá trình đổi mới đã diễn ra được 5 năm, Đỗ Bình Trị đã

đánh giá các cuốn sách, bài viết của các tác giả người Pháp (trong đó có học giả)

trước Cách mạng tháng Tám như sau: “Ở nước ta, thời này, chính quyền thuộc địa

quan tâm đến việc sưu tập, nghiên cứu folklore với ý đồ chính trị không che giấu. Ý

đồ chính trị ấy không phải chỉ là “tìm hiểu đời sống vật chất và tinh thần của dân

tộc mà bọn thực dân đang tìm mọi cách chinh phục” trong và sau cuộc bình định,

mà còn nhằm xuyên tạc nó để biện hộ cho mục đích “khai hóa” của nền đô hộ” [71,

72]. Ông viết tiếp: “Chắc ít có ai đủ khờ khạo và tự ti để ngây ngất với những lời

khen ngợi lèo lá về một vài giá trị xưa cũ nào đó của văn hóa dân gian bản xứ trong

các công trình mô tả dân tục của các quan Tây! Mấy đoạn văn hoa mĩ trong đống tài

liệu nói trên khác nào những màu sắc sặc sỡ nham hiểm ở cây nấm độc? Việc lọc ra

trong đó những tư liệu dùng được, cần được tiến hành trên cơ sở đánh giá toàn diện,

sâu sắc từng tài liệu một” [71, 73] (Năm 2019, Nguyễn Xuân Kính không tán thành

quan niệm này [72, 199-209]).

Sau khi Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu tan rã, các

nhà khoa học Việt Nam không chỉ học tập kinh nghiệm của các nhà khoa học Nga,

Trung Quốc mà còn tiếp thu lý luận, phương pháp của các nhà khoa học phương

Tây và Hoa Kỳ. Cho đến nay, thậm chí việc vận dụng sách vở của Hoa Kỳ trở thành

quen thuộc, thậm chí có một hai trường hợp rơi vào cực đoan. Đó là một luận văn

thạc sỹ văn học dân gian bảo vệ năm 2012 có tên gọi Nghiên cứu hiện tượng làng

cười dưới góc độ nhân học văn hóa (trường hợp làng cười Văn Lang, Phú Thọ)

[73]. Đó là luận án thuộc chuyên ngành văn học dân gian bảo vệ năm 2018 với tên

gọi Huyền thoại về nguồn gốc của các tộc người Việt Nam tiếp cận từ góc độ nhân

97

học văn hóa [74]. Trong buổi đánh giá luận án, một thành viên thuộc chuyên ngành

nhân học cho rằng luận án này đem bảo vệ ở khoa nhân học cũng được; một thành

viên thuộc chuyên ngành văn học dân gian lại chưa thỏa mãn với việc nghiên cứu sinh vận dụng tri thức chuyên ngành văn học dân gian3. Theo tác giả Nguyễn Xuân

Kính, luận án bảo vệ ở chuyên ngành văn học dân gian chỉ nên vận dụng tri thức

của ngành khoa học khác ở mức độ là khoa học phụ trợ, như vậy mới gọi là khoa

học liên ngành. Bởi từ năm 1990 tác giả Đinh Gia Khánh đã chỉ rõ: “Trong tổ chức

nghiên cứu liên ngành thường có một ngành khoa học giữ vai trò trung tâm, nói

đúng hơn là giữ vai trò tổ chức” [3, 13].

Các bài báo, cuốn sách của Nguyễn Tấn Đắc từ năm 1990 đến năm 2013, các

bài viết của Nguyễn Thị Hiền trên Tạp chí Văn học dân gian từ năm 1999 đến năm

2000, Trần Thị An từ năm 2005 đến năm 2008 trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, hai

tập sách Folklore thế giới một số công trình nghiên cứu cơ bản (2005), Folklore thế

giới một số thuật ngữ đương đại (2005) đều do Ngô Đức Thịnh và Frank Proschan chủ

biên, Từ điển Type truyện dân gian Việt Nam (2012) do Nguyễn Thị Huế chủ biên,…

thể hiện sự tiếp xúc và tiếp thu tư tưởng khoa học phương Tây và Hoa Kỳ. Do vậy

chúng tôi nghĩ rằng ở các nhà khoa học Việt Nam, những ý kiến, nhận xét mà ta thấy

giống với trào lưu nghiên cứu theo bối cảnh/ diễn xướng là sự gặp gỡ ngẫu nhiên, chứ

không phải các nhà khoa học Việt Nam tiếp thu từ bên ngoài. Chỉ có điều các tác giả

nước ngoài viết hệ thống hơn, tạo nên một trào lưu, một cuộc thảo luận sôi nổi hơn.

Riêng trào lưu nghiên cứu folklore trong bối cảnh (hoặc theo hình thức diễn

xướng) đã được thực hiện ở luận văn thạc sỹ Tục ngữ trong văn học: một trường

hợp của nghiên cứu folklore trong bối cảnh (2013) của Lê Thị Thanh Vy, một số

luận án Nghiên cứu truyện dân gian Khmer Nam Bộ theo hướng tiếp cận bối cảnh

(2015) của Huỳnh Vũ Lam, Truyện cổ dân gian Việt Nam và Myanmar nghiên cứu

theo hướng tiếp cận bối cảnh (sinh hoạt Phật giáo) (2016) của Nguyễn Hữu Nghĩa,

Dân ca nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyền ở Việt Nam, (2017)

của Bàn Thị Quỳnh Giao, và Nghiên cứu Folklore trong bối cảnh – lý thuyết và ứng

3 Theo lời GS. TS Nguyễn Xuân Kính và PGS. TS Nguyễn Việt Hùng, Chủ tịch và Ủy viên phản biện của luận án

dụng (trên cứ liệu tục ngữ Việt Nam) (2020) của Lê Thị Thanh Vy.

98

Theo Lê Thị Thanh Vy, trong nhiều luận án “sự khảo sát về diễn trình và sự

vận động của hướng tiếp cận bối cảnh trong folklore học Hoa Kỳ, các quan niệm lý

thuyết và thực hành của hướng tiếp cận bối cảnh (…) vẫn chưa thực sự đầy đủ khi

các tác giả tham khảo chủ yếu một số bài báo không nhiều lắm của hướng tiếp cận

này, mà đa phần đã được giới thiệu tại Việt Nam” [59, 42]. Ở phương diện diễn

xướng, những miêu thuật về diễn xướng trong dân ca của người Dao Tuyền do Bàn

Thị Quỳnh Giao thực hiện chủ yếu là những diễn xướng từ trước Cách mạng Tháng

8 năm 1945. Bối cảnh mà tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa cho thấy đó là những bối cảnh

không hoàn toàn tự nhiên, tác giả được người này người kia dẫn đến một số địa chỉ

rồi ngồi trò chuyện với chủ nhà. Qua đó tác giả tổng kết hình thức kể chuyện cổ tích

có yếu tố Phật giáo ở Việt Nam và Myanmar. Thí dụ “vào lúc 08 giờ 30, ngày 18

tháng 05 năm 2016, tại nhà ông Phan Thành Nguyên (73 tuổi), xã Hòa Mỹ, quận

Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, chúng tôi cùng bà Huỳnh Thị Cam đến nhà ông

Nguyên theo địa chỉ mà cô Ngọc – em gái ông và là bạn thân bà Huỳnh Thị Cam –

cung cấp và mong muốn được ông truyền kinh nghiệm về việc giáo dục thế hệ trẻ

thông qua những tích truyện chuyển tải các bài học đạo đức Phật giáo” [75, Phụ lục

18]. Vợ ông Nguyên mời trà khách xong thì lui vào phòng trong. Tác giả và bà Cam

được ông Nguyên tiếp chuyện tại gian giữa ngôi nhà. Khi tác giả hỏi nếu có thể giáo

dục những bài học đạo đức Phật giáo cho thanh thiếu niên bằng những tích truyện

nào có thể minh họa cho những bài học ấy thì ông Nguyên tránh né không trả lời.

Suốt gần một giờ đồng hồ trò chuyện, thật bất ngờ khi khuyên nghiên cứu sinh

không nên lệ thuộc vào lời nói của người khác, ông đã giải thích theo quan điểm

của Phật giáo về bốn điều không nên vin vào, không nên tự vướng vào bẫy của lời

nói và ông kể chuyện “Con bò bị mất”. [75, Phụ lục 19]. Về trường hợp Thiền sư

Thích Nhất Hạnh, tác giả bản luận án sử dụng tiết mục kể chuyện “Sự tích cây nêu

ngày tết” trong một buổi pháp đàm của Thiền sư vào dịp cuối năm tại Tu viện Làng

Mai, tư liệu được thu thập từ nguồn mạng internet [75, Phụ lục 14]…

Bối cảnh của việc diễn xướng tục ngữ mà Lê Thị Thanh Vy trình bày là bối

cảnh trong các sáng tác của các nhà văn. Cụ thể là tác giả đã tìm được 66 sáng tác

văn học viết, trong đó có nhiều tiểu thuyết, phóng sự, truyện ngắn, kịch của Vũ

Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyên

99

Hồng, Ngô Tất Tố, Kim Lân, Nam Khai, Lưu Trọng Lư, Mạnh Phú Tư, Nguyễn

Huy Tưởng, Tô Hoài. Đó là những sáng tác công bố lần đầu từ trước Cách mạng

Tháng 8. Khi chọn 66 tác phẩm, Lê Thị Thanh Vy dựa trên “tiêu chí quan trọng

nhất là có sự giao tiếp tục ngữ giữa các nhân vật văn học – dựa trên đòi hỏi lý

thuyết của hướng tiếp cận bối cảnh là tập trung vào bối cảnh hẹp (tuy nhiên, không

có nghĩa là phủ nhận bối cảnh rộng) – tức bối cảnh giao tiếp, sử dụng của một đơn

vị folklore trong một tình huống nói cụ thể” [59, 2]. Trong vở kịch “Rừng trúc”

(Nguyễn Đình Thi), Lê Thị Thanh Vy đã chỉ ra việc tác giả sử dụng tục ngữ “Cốc

mò cò xơi” để nhận xét về hành động của Trần Thủ Độ, tất nhiên hành động này

nằm trong tình huống được Chiêu Thánh vẽ ra cho Trần Liễu, nhằm mục đích thức

tỉnh Trần Liễu trước những mưu toan táo bạo về ngôi báu. Đồng thời, khi đưa ra ví

dụ này, Lê Thị Thanh Vy cũng phân biệt được chức năng của thành ngữ và tục ngữ.

Cả hai đối tượng này đều “khởi điểm từ tri thức, song tri thức của tục ngữ là một

thứ tri thức bậc cao, có thể hướng tới ý thức và hành động” [59, 104], còn tri thức

trong thành ngữ chỉ dừng lại ở việc chỉ ra được đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện

tượng. Cũng vẫn trong vở kịch này, câu tục ngữ “sểnh mẹ bú dì” được Hoàng hậu

Chiêu Thánh dùng như “một cụm danh từ, chỉ một cảnh huống (mất mẹ và nương

tựa dì)” của Trần Quang Khải. Cùng câu tục ngữ này nhưng trong bối cảnh của tiểu

thuyết “Sống nhờ” (Mạnh Phú Tư), nó lại là lời “nhắc nhở” của người bà đối với

người dì của nhân vật tôi. “Chết cha còn chú, sảnh mẹ bú dì”, vậy mà người dì trong

tiểu thuyết lại đang đi ngược lại điều này, tỏ thái độ ghẻ lạnh với cháu ruột của

mình. Những nỗ lực tìm tòi của Lê Thị Thanh Vy là rất đáng trân trọng. Nhưng dẫu

sao thì bản luận án cũng chứng tỏ tác giả không tìm được hay không có điều kiện để

nghiên cứu diễn xướng tục ngữ trong thực tiễn cuộc sống đương đại.

Tình hình trên không có gì lạ, bởi các sinh hoạt văn hóa dân gian nói chung,

văn học dân gian nói riêng ngày càng bị thu hẹp dần. Trong thời gian kháng chiến

chống Pháp, ở người Việt đã vắng bóng thần thoại và truyện cổ tích thì hết sức hiếm

hoi. Tuy nhiên người dân vẫn được chứng kiến những cuộc hát đối đáp giữa các

đơn vị bộ đội và các đoàn dân công, đã ra đời hình thức ca dao báng súng [39, 527].

Sau khi hoà bình lặp lại ở miền Bắc, cho đến năm 1957 vẫn còn hiện tượng trong

các gia đình người lớn kể truyện cổ tích cho trẻ em.

100

Năm 1964 tại miền Bắc “một đoàn sinh viên của Khoa Sử, Trường Đại học

Tổng hợp Hà Nội dưới sự hướng dẫn của thầy Vương Hoàng Tuyên lên Lạng Sơn thực

tập. Họ đã chứng kiến cảnh đồng bào Nùng hát si ở hai bên đường tàu, trong toa tàu

hỏa rất hồn nhiên, tự phát (không có sự sắp đặt của cán bộ văn hóa). Thời gian sau,

những sinh hoạt văn nghệ như vậy không được khuyến khích, thậm chí còn bị cấm bởi

quan niệm ca hát như vậy làm mất thời gian, ảnh hưởng đến lao động sản xuất, bởi

chính quyền sợ các nam thanh niên đánh nhau vì ghen tuông, bởi do chiến tranh phá

hoại của Mỹ nên không được tụ tập đông người” [39, 552-553].

Trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cuộc sống ngày nay đã khác

xưa rất nhiều, thôn làng nay không giống như thôn làng ngày trước. Rất nhiều làng

quê đã lên phường. Người già vẫn lưu luyến với cây đa mái đình, với hội làng, vẫn tự

hào khi nói “làng tôi”, nhưng không ít thanh thiếu niên không muốn nói làng tôi, mà

muốn nói đến khu đô thị, tổ dân phố. Đồng ruộng không còn là những khu vực canh

tác, nhiều nơi đã mọc lên nhà cửa, nhà máy, khu chế xuất. Ở những đất đai sản xuất

còn lại không còn con trâu đi trước, cái cày đi sau, máy móc đã làm tất cả, trang trại

đã ra đời. Thật là sự đổi thay một trời một vực khi đồng bào thiểu số ở Tây Nguyên

có thể ngồi ở một nơi rất xa nương rẫy dùng chiếc điện thoại thông minh điều khiển

việc tưới nước cho vườn cà phê. Nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới về

mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa với phương châm làm bạn với tất cả trên cơ sở hai

bên cùng có lợi, trên cơ sở độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ. Trong Báo cáo tổng

kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2006) của Ban Chỉ

đạo tổng kết thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, có vấn đề

động lực của đổi mới và phát triển ở Việt Nam. Báo cáo nêu ra sáu động lực là: “1,

Lợi ích (đảm bảo lợi ích, sự kết hợp hài hòa các lợi ích và phương thức thực hiện lợi

ích công bằng, hợp lý cho mọi người, cho các chủ thể, nhất là lợi ích kinh tế); 2, Lòng

yêu nước, tinh thần dân tộc; 3, Dân chủ; 4, Đoàn kết, đại đoàn kết; 5, Văn hóa; 6,

Tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức, cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận

lợi, quản lý kinh tế - xã hội một cách khoa học, minh bạch và đề cao trách nhiệm giải

trình, để đất nước phát triển nhanh và bền vững” (dẫn theo [72, 379]). Chủ biên giáo

trình Những vấn đề của khoa nghiên cứu văn học dân gian nhận xét: “Trong sáu động

lực trên, không có động lực đấu tranh giai cấp” [72, 379].

101

Văn học dân gian hiện đại, đương đại vẫn còn nhưng bị thu hẹp rất nhiều, chỉ

còn ở dạng truyện cười, truyện giai thoại và một bộ phận được tung lên mạng (tất

nhiên không phải những gì đưa lên mạng cũng là văn học dân gian).

Không chỉ do môi trường sinh hoạt văn hóa dân gian không còn được như

trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, mà còn do ở nước ta dần dần hình thành

một tập quán thưởng thức văn học dân gian như thưởng thức tác phẩm văn học viết.

Từ cuối thế kỷ XVIII trong khi sưu tầm các lời ca và biên soạn thành các

tập sách phong dao, ca dao bằng chữ Nôm, các nhà nho không quan tâm đến làn

điệu, môi trường diễn xướng, chỉ quan tâm đến phần lời, chủ yếu là các sáng tác

bằng lục bát có tính nghệ thuât cao. Từ đó hình thành một khuynh hướng thưởng

thức ca dao như thưởng thức văn chương bác học. Tức là đọc, ngâm hoặc xem

bằng mắt thường [51, 79].

Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính, từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX, do

giáo dục phổ thông, do các cuốn sách sưu tầm truyện cổ tích, ca dao, dân ca, tục

ngữ của Nguyễn Đổng Chi và Vũ Ngọc Phan được xuất bản và sau đó tái bản rất

nhiều lần, với số lượng in rất lớn, đã tạo nên khuynh hướng thưởng thức văn học

dân gian như thưởng thức văn học viết [39, 580].

Chính hiện trạng vừa trình bày đã buộc chúng tôi khi nghiên cứu diễn xướng

truyện kể ở các làng cười phải theo một phương cách mới.

3.2. Diễn xướng truyện cười ở năm làng cười Bắc Bộ

3.2.1. Quá trình sưu tầm điền dã

Chúng tôi bắt đầu điền dã từ năm 2017 đến năm 2022, mỗi lần điền dã kéo

dài từ 5 đến 7 ngày. Đối với 4 làng Hòa Làng, Dương Sơn, Trúc Ổ, Văn Lang,

chúng tôi có thuận lợi là đã có tài liệu sưu tập về truyện cười ở các vùng này. Đó là

những văn bản đã được xuất bản nhiều lần. Tuy nhiên, các sưu tập này không cho

biết tên người kể, người sưu tầm và thời gian sưu tầm, lại càng không có những ghi

chú về động tác, biểu cảm của người diễn xướng, cũng như sự hưởng ứng của người

nghe. Cá biệt chỉ có trường hợp nhà nghiên cứu Nghiêm Đa Văn cho biết người dân

Đồng Sài “giọng nặng và chua (…). Phát âm của dân làng Sài thường kéo dài hơi,

tiếng lanh lảnh và nâng cao nên lạc thanh” [18, 109]. Trước khi đến 4 làng này và

102

làng Trân Châu, chúng tôi đọc lịch sử, văn hóa, địa lý về các làng, rộng ra là cả tỉnh

Kinh Bắc xưa (nay là Bắc Giang, Bắc Ninh), Phú Thọ, thành phố Hải Phòng. Riêng

đối với làng Trân Châu chưa có truyện nào được công bố, chúng tôi phải tiến hành

sưu tầm từ đầu.

Chúng tôi không có điều kiện sống lâu dài như một người con của địa

phương, như một thành viên của dân làng, như trường hợp nhà nhân học Lâm

Minh Châu. Ông đã ở cùng với bà con nhân dân làng Xuân, huyện Đông Hưng,

Thái Bình trong vòng 14 tháng (tên làng tác giả đã thay đổi). Nhà nghiên cứu

cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc, trở nên gắn bó cùng gia đình chủ nhà đến mức

họ xem ông như thành viên trong gia đình, thổ lộ hết mọi nỗi vui buồn, kể cả

những chuyện mà người lạ không thể biết được [76]. Thường mỗi một làng

chúng tôi đi làm nhiều đợt và đợt dài nhất là 7 ngày. Nhìn chung sau khi chúng

tôi xuất trình giấy giới thiệu của cơ sở đào tạo nghiên cứu sinh, lãnh đạo địa

phương đều ủng hộ. Khi chúng tôi tiếp xúc với dân làng thì không ít người tỏ vẻ

ngạc nhiên. Bởi họ không coi những câu chuyện “bốc phét” của họ là những đối

tượng cần được tìm hiểu nghiêm túc và kỹ càng như thế. Thậm chí có trường hợp

ở xã X (Bắc Ninh), sau khi vui vẻ kể một số câu chuyện cười, vị chủ tịch xã

hướng dẫn chúng tôi sang gặp cô văn thư làm giấy giới thiệu xuống làng. Đáng

ngạc nhiên, cô ta tìm mọi cách trì hoãn, không cung cấp giấy giới thiệu với lý do

cô sinh ra và lớn lên ở đây nhưng chưa từng nghe nói gì về làng cười, và việc

chúng tôi xin giấy giới thiệu như thế này không thuộc mảng chuyên môn mà cô

ta phụ trách. Khi chúng tôi đến Trân Châu, dân làng bảo họ không có truyện nào,

câu ca nào đáng nói. Khi chúng tôi đưa cho họ tập Truyện cười dân gian xứ Bắc

của Trần Quốc Thịnh, họ bảo những truyện như này họ có nhiều hơn và hay hơn.

Như vậy, đối với những người được đào tạo trong nhà trường và có học thức thì

những khái niệm như truyện cười, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao hết sức

quen thuộc; nhưng đối với đông đảo nhân dân địa phương, đó là những từ ngữ xa

lạ với họ. Dưới đây chúng tôi xin lần lượt trình bày về việc diễn xướng truyện

cười ở năm làng đã khảo sát.

103

3.2.2. Diễn xướng truyện cười ở năm làng cười

3.2.2.1. Làng Hòa Làng

Người dân Hòa Làng đặc biệt tự hào về tài “nói khoác” làng mình. Theo quan

sát của chúng tôi, hầu hết người dân nơi đây ở độ tuổi từ 30 trở lên đều có thể trở

thành người diễn xướng. Đặc biệt, họ ưa thích môi trường diễn xướng mang tính

chất cộng đồng. Tất cả mọi người, già trẻ lớn bé, đều tập trung tại nhà văn hóa xã

hoặc nhà của một người có uy tín trong làng để thi nhau kể chuyện. Khi biết chúng

tôi đến tìm hiểu về truyện cười làng mình, bà con Hòa Làng tiếp đón nồng nhiệt và

vô cùng phấn khởi. Họ “khoe” bản tin thời sự của Trung ương đã đưa tin về làng

họ. Họ bê loa đài, lấy băng ghi phóng sự cho chúng tôi xem và “tranh nhau” kể

chuyện. Nhiều truyện cười được tiếp nối diễn xướng. Các bác trai là những người

khởi xướng, các bác gái thường là khán giả hưởng ứng, nhưng thỉnh thoảng cũng có

những bác gái đóng vai trò người kể chuyện. Mọi người đều tự tin, vui vẻ và không

bị mất tự nhiên trước sự xuất hiện của những người vốn thuộc ngoài bầu khí quyển

văn hóa của họ như chúng tôi. Trong buổi diễn xướng còn có mặt các em nhỏ. Đây

là làng duy nhất mà khi chúng tôi khảo sát có sự tham gia của thiếu niên và nhi

đồng. Hơn nữa, các em cũng vô cùng tập trung và thích thú trước những truyện cười

được kể, có em còn hùa theo, cười phá lên hay bắt chước điệu bộ của các ông, các

bác lúc kể chuyện.

Chúng tôi được người dân Hòa Làng tiếp đón vào chập tối của một ngày cuối

đông (năm 2017) tại nhà ông Tính trưởng thôn. Có mặt hôm đó là 28 người, trong

đó có 14 phụ nữ, 1 thanh niên, 3 em bé, còn lại là đàn ông trung niên. Tất cả đều

ngồi từ đầu đến cuối, không có ai đứng dậy ra về. Bình thường khi không có việc gì,

vào giờ này mọi người đã tắt điện đi ngủ. Hôm nay là ngày đặc biệt, ngày dân làng

đón cán bộ từ Hà Nội về với giấy giới thiệu tìm hiểu về truyện cười làng họ. Họ vui

mừng, nhiều người còn háo hức. Ông Tính giới thiệu: “làng Hòa Làng chúng tôi có

cái duyên từ thời xa xưa truyền lại, cứ cha ông truyền cho con cháu những truyện

không đầu không cuối, lúc nghỉ ngơi. Nói khoác của chúng tôi khác với nói điêu,

nói dối, nói khoác ở đây vẫn có tính sự thật, làm người ta tò mò tìm ra cách giải

104

thích, cứ nói là gây cười, mang đến niềm vui, sự đoàn kết của dân trong làng”4. Ông

Tính vừa dứt lời, bác Hiên xung phong dùng văn vần để nói về buổi gặp:

“Thầy về thăm xóm Hòa Làng

Thăm nhà văn hóa cây bàng giếng khơi

Hòa Làng xóm của tôi ơi

Ngôi làng nói phét nơi nơi tỏ tường.

Ông Tùng Đương mang băng đội trưởng

Anh Đình Thơm phân biệt ni căng

Cháu Hoài Linh, Xuân Đạt sẵn sàng

Thu Hiền, Diệu Hạch lại càng nói hay

Nói đến đây thì em xin chào tất cả”.

Tất cả mọi người đều vỗ tay hưởng ứng nhiệt liệt (chúng tôi xin được giải

thích về từ thầy trong bài văn vần trên. Khi chúng tôi về làng, dân làng gọi chúng

tôi là thầy cô vì mang theo giấy giới thiệu của một cơ quan sư phạm. Chúng tôi đã

nghe đi nghe lại đoạn băng vẫn không hiểu từ “ni căng” là gì. Nhiều làng quê hiện

nay, dân làng vẫn giữ thái độ nhũn nhặn, nhún mình khi giao tiếp. Đối với người

ngang hàng họ xưng “em”, và người đối thoại khi nói cũng xưng “em”.)

Bác Hiên là một người đàn bà mới trông đã thấy lam lũ với làn da đen dãi

nắng đặc trưng của một người dân lao động, chân tay dài lều khều, răng vổ. Không

hiểu sao khi nhìn bác, chúng tôi cứ liên tưởng đến hình ảnh người đàn bà làng chài

trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Nhưng

người đàn bà này có đôi mắt rất mắt sáng, có thái độ hứng khởi, cuộc sống có niềm

vui chứ không phải người đàn bà cam chịu, chấp nhận những gì trắc trở, vất vả mà

số phận đem đến. Những vần thơ bác đọc, cùng với những cử chỉ chân tay khiến

chúng tôi nhìn đã thấy buồn cười, cười ở ngay hình ảnh của bà chứ chưa cần nghe

câu chuyện bà kể. Bằng vài dòng giới thiệu ngắn gọn, bác đã thu trọn toàn bộ danh

sách những người kể chuyện hôm nay. Chúng tôi thán phục tài ứng khẩu của bác.

Không khí buổi diễn xướng sôi nổi, hào hứng. Tiếp ứng lời giới thiệu đầy hứng

4 Lời giới thiệu trực tiếp của ông Tính vào năm 2017 khi tác giả đi điền dã tại Hòa Làng

khởi của bác Hiên, ông Tính với gương mặt tự hào, với giọng nói hào sảng “khoe”

105

về sản vật làng quê mình: “Chỉ có ở Hòa Làng mới có con trâu to đến vậy, thầy cô

(cách xưng hô của người dân với chúng tôi) có tin rằng cái da trâu Hòa Làng che

một phần ba xã Liên Sơn không?”. Vừa nói, ông vừa vòng cả hai tay thể hiện độ to

và rộng của đối tượng được nhắc đến trong truyện, khiến chúng tôi ngay lập tức liên

tưởng đến một bộ da trâu “khổng lồ”. Mặc dù thấy câu chuyện phi lý nhưng chúng

tôi vẫn tò mò xem nó to lớn cỡ nào. Sau đó, với khuôn mặt tự tin và thái độ chắc

nịch như chưa từng…nói phét, ông Tính nhấn mạnh: “Không biết con trâu của Hòa

Làng nó to thế nào chứ nghe đã kinh rồi”. Ông còn giải thích thêm cho chúng tôi –

những người tham gia mới trong buổi diễn xướng: “Liên Sơn là xã bên kia, nói phét

gấp ba Hòa Làng đấy”. Ý tứ của ông có phần hơn thua: “Nói phét gấp ba chúng tôi,

vậy mà làm sao cái da trâu của chúng tôi đã che hết một phần ba xã họ rồi”. Ông

Tính – người kể chuyện có tài quan sát và bao quát tốt trong phạm vi buổi diễn

xướng. Trong cuộc diễn xướng của mình, ông Tính không để cho bất cứ người nghe

nào phải khúc mắc hay không hiểu được câu chuyện. Từ đó, người nghe sẽ được

ông dẫn dắt theo “định hướng”. Đến thời điểm người nghe cần thiết phải phát hiện

ra những điểm bất thường của thông tin câu chuyện, ông Tính sẽ “buộc” khán giả

phải tham gia vào câu chuyện của mình bằng những câu hỏi lựa chọn: “Độc cái da

trâu của làng tôi che một phần ba xã của ông, ông còn nói gì nữa? Thế các bác bảo

tôi nói thật hay là nói phét nào?” Khi người nghe phản đối: “Đấy là nói phét, lấy

đâu ra”, người kể chuyện tỏ ra thủng thẳng, ung dung như thể đã dự liệu được phản

ứng của mọi người. Sau đó, với một chút đắc thắng và nụ cười rất tự tin của một

người thắng cuộc, người kể chuyện tiếp tục: “Ừ, thế giải thích nhé: Cái xã Liên Sơn

là sau cái núi bờ cao của làng tôi. Khi mà tôi đi thả trâu vào buổi sáng bình minh ấy,

mặt trời đang lên, thì con trâu của tôi nó tới đỉnh cái núi Bờ Cao ấy. Cái bóng mặt

trời nó chiếu đúng gần hết xã Liên Sơn. Đấy nó cứ lan ra xã Liên Sơn xong bắt đầu

thu dần lại. Đấy, thế đúng là da con trâu nó che một phần ba xã Liên Sơn là cái lý

do ấy”. Thành công của buổi diễn xướng và tiếng cười của khán giả được tạo nên

bởi tất cả các yếu tố như cử chỉ, động tác và thái độ, chất giọng địa phương đặc

trưng. Trong lúc người kể chuyện kể, mọi người đều tập trung lắng nghe, có người

ngay lập tức phản bác sự vô lý, rồi lại gật gù khi được thuyết phục. Người này vừa

kết thúc, người kia lại bắt đầu một truyện mới. Để bắt đầu câu chuyện của mình, họ

106

thường tủm tỉm, rất nhẹ nhàng giới thiệu bằng câu: “Tôi xin kể một truyện là…”;

“Tôi kể một câu chuyện này nữa…”; “Hòa Làng có….”.

Buổi gặp mặt này có sự dàn xếp rõ ràng nhưng những người dân nơi đây

không hề “diễn” một cách gượng gạo. Họ kéo những con người xa lạ là chúng tôi

hòa chung vào bầu không khí kể chuyện của họ. Họ biến chúng tôi thành một phần

của buổi diễn xướng, và họ làm cho chúng tôi thấy rằng nếu không có khản giả là

chúng tôi thì những truyện họ kể không thể tiếp tục. Tiếp nối buổi gặp mặt này,

ông Tính nói: “Đây tôi kể cho các ông bà, thầy cô nghe. Mọi người có nhìn thấy

thằng cháu tôi kia không? Thằng bé đương học mẫu giáo, ba tuổi mà mình nó ăn

hết một cỗ lòng lợn”. Vừa nói ông vừa chỉ ra một thằng bé đang chơi dưới sàn

nhà. Ông lại nhắc lại như nhấn mạnh thông tin cho người nghe là chúng tôi: “Cái

thằng cháu tôi nó đang học mẫu giáo, mà nó ăn hết một cỗ lòng lợn. Lên ba, đúng

học lớp ba tuổi, ăn hết một cỗ lòng lợn. Thầy cô bảo nó ăn có khỏe không? Mà

con lợn nuôi một năm. Nuôi cả năm mới được con lợn để Tết thịt mời anh em đến

làm cỗ ăn, làm cháo lòng tiết canh, thế mà nó ăn vụng hết. Đi uống nước xuống

mà cháu nó xơi sạch, hết không còn tí nào”. Sau lời kể đó, người nghe bắt đầu

phản ứng khi nhận ra sự vô lý, người cau mày, người cười phì, người lắc đầu

không tin trước tình tiết vô lý, rồi họ một loạt câu hỏi: “Làm gì có thằng trẻ con ăn

được hết như thế? Ông chỉ nói khoác thôi”; “Đến người lớn còn chả ăn hết một bộ

lòng lợn nữa là…”. Sau khi kích thích sự tò mò đến cao điểm của người nghe, ông

Tính vỗ tay đét một cái thu hút tất cả mọi người, rồi cười hì hì giải thích: “Thực ra

là đầu năm, chúng em mua một con lợn bằng đất, chúng em để đấy để tiết kiệm.

Được bao nhiêu tiền thì cứ đút vào trong để tiết kiệm. Thế đến tết về mới đập con

lợn ra. Thế là có bao nhiêu cái tiền ở trong lợn, thằng cháu nó mang đi, ra chợ nó

rủ bạn bè của nó ăn hết. Ăn toàn bộ cái số tiền ở trong con lợn luôn. Thế có phải

nó ăn hết cái bộ lòng lợn không? Nuôi cả năm mà nó ăn hết”. Đến đây, tất cả mọi

người cười ồ lên, người gật gù bảo hợp tình hợp lý, người thì bảo thế mà cũng nói

được, có người lại cười cười nói: “Ôi dào đúng là lý sự không ai bằng”.

Trong suốt quãng thời gian hơn 3 tiếng (từ 19h – 22h hơn), truyện nối tiếp

truyện, những người dân ngày càng hồ hởi, hào hứng trước những câu chuyện đầy

107

thú vị của làng mình. Có truyện đã được kể, có truyện mới được diễn xướng lần đầu,

nhưng niềm vui và sự đón nhận của người dân Hòa Làng vẫn như lần đầu được nghe.

Đối với chúng tôi, đó là một thái độ tích cực, thể hiện sự trân trọng và niềm tự hào về

truyền thống quê hương của những người dân Hòa Làng. Trong quá trình khảo sát,

điều làm chúng tôi ấn tượng và bất ngờ chính là sự nhiệt tình, sôi nổi của những

người dân Hòa Làng. Họ mang đến cho chúng tôi – những người khách lạ một bầu

không khí gần gũi, ấm cùng và hiếu khách khi tất cả tập trung lại cùng nhau kể

chuyện, cùng nhau cười đùa, thi nhau “khoe” gia tài tinh thần bao đời nay của họ.

Mỗi người dân Hòa Làng đều có cái duyên kể chuyện trong cốt tủy, họ sẽ lần lượt

từng người kể chuyện một cách vui vẻ và thích thú, cứ lượt này rồi lượt khác, những

câu chuyện không hề lặp lại, vừa tự nhiên vừa mang dấu ấn “rất Hòa Làng”. Không

gian buổi diễn xướng dường như luôn có “lửa”, ngọn lửa được thắp lên bởi tình yêu,

niềm tự hào với kho tài sản vô giá của những người nông dân Hòa Làng.

3.2.2.2. Làng Dương Sơn

Thời tiết ngày cuối tháng 10 năm 2017 lành lạnh nhưng vẫn có nắng ấm.

Chúng tôi đến Dương Sơn vào một buổi sáng, đến quán nước đầu làng (quán này do

nhà dân mở trong nhà, sân nhà to, mọi người theo thói quen cứ phi thẳng xe vào sân

ngồi uống nước nói chuyện). Ngồi tại bàn uống nước lúc bấy giờ có 4 người đàn

ông trung niên, hai cụ già (tầm ngoài 70 tuổi), trong nhà có hai người phụ nữ trung

tuổi đang ngồi nói chuyện, chúng tôi hòa vào những người ngồi ở bàn nước ngoài

sân, họ biết ngay chúng tôi là người lạ. Chúng tôi có giấy giới thiệu của xã, được

bác trưởng thôn dẫn thẳng đến đây và bảo “Cô cứ ngồi đây bao nhiêu truyện cười

cũng có”, rồi ông xin phép về trước để đi làm ngoài đồng. Uống chén nước chè, ăn

cái kẹo lạc, tôi lân la hỏi chuyện làng, chuyện xã, rồi đến truyện cười. Khác với Hòa

Làng, những người diễn xướng ở làng Dương Sơn chủ yếu là những người có tuổi,

họ là một “kho tàng sống” bảo lưu những truyện cười của cha ông và đồng thời là

người sáng tạo ra những truyện cười mới. Môi trường diễn xướng của họ có thể là

bất cứ đâu: trong nhà, ngoài đường,… Nhưng thường họ không có sự tập trung

đông đảo và thống nhất như người dân Hòa Làng, họ thường tiện đâu ngồi đó. Nổi

tiếng về kể truyện cười của Dương Sơn phải kể đến cụ Ba. Những người dân nơi

108

đây nhắc đến cụ Ba như một thần tượng về tài ăn nói nhanh nhẹn, gợi chuyện, kể

chuyện hấp dẫn. Ông Tú (sinh năm 1965, làng Dương Sơn) vẫn còn nhớ câu chuyện

uốn sừng trâu được các thế hệ trước kể lại: “Theo cụ Ba, đó là con trâu có sừng

cong quá đà, không đúng tầm đẹp. Một lần, có người bán vôi đi qua, cụ Ba nghĩ

chuyện mua vôi uốn sừng trâu. Cụ nói: “Tôi lấy vôi bọc lá chuối sau đó ốp vào

sừng, lùa con trâu xuống ao. Trâu xuống ao, vôi tan ra, nóng quá làm mềm sừng

trâu. Thế là tôi tranh thủ uốn sừng theo ý muốn”. Dù biết cụ nói khoác nhưng người

nghe vẫn cười bò”. Vừa kể, ông vừa vỗ vào đùi, người nghiêng ngả cười rung lên

khiến chúng tôi cũng vì vậy mà buồn cười lây. Ông có vẻ rất khoái chí, liên tục cử

động tay để tạo sự thu hút cho người nghe. Hay ông Toàn (sinh năm 1950) người xã

Dương Sơn khẳng định đã từng được nghe truyện về cụ Ba. Ông Toàn nói:

“Khoảng năm 1965, một lần lên đồi sắn cạnh nhà để đào sắn, cụ Ba kể lại với mọi

người: Hôm đó, tôi đang sốt, người nóng lắm. Đào được củ sắn to, tôi cài vào cạp

quần rồi về nhà. Về đến nhà, thấy củ sắn bở tung như vôi. Ý là cụ bị sốt, người

nóng đến nỗi làm chín cả sắn. Cách nói chuyện tưng tửng, gương mặt thản nhiên

khiến người nghe không nhịn được cười”. Vậy là từ xưa, cụ Ba khi diễn xướng “nói

phét” cũng dùng điệu bộ tưng tửng nhằm chọc cười cho những “khán giả” đặc biệt.

Sáng hôm ấy, chúng tôi hòa vào không khí của hai người đàn ông phê pha chén

rượu buổi sáng hồi tưởng lại những truyện của ông tổ “nói phét” Dương Sơn.

Theo lời người địa phương, ông Tập là một trong những người diễn xướng dồi

dào sức sáng tạo và luôn mang lại tiếng cười cho dân làng. Họ dí dỏm bảo ông là

người “không nói phét thì bị ốm ngay”. Vừa nhắc đến thì thấy ông xuất hiện, chúng

tôi nhanh miệng hỏi: “Thưa, cụ đi làm đồng về ạ?”, ông trả lời ngay, mặt bình thản

như không, kể lại một sự việc độc đáo: “Tôi đi câu cá, một con cá rô dính lưỡi. Nó

quẫy ghê quá. Giằng co nhau mà đuôi cá phá nát mất sào mạ. Tôi phải về lấy cái

cào năm đinh ra để hạ nó. Nhất định có bữa chiều khao cả làng”. Trong khi chúng

tôi vẫn đang ngơ ngác trước câu chuyện của ông Tập thì ông Tú ngồi đó nói: “Đó,

đó, mới sáng sớm mà ông ấy đã tỉnh bơ nói phét”. Ông Tập lúc đó mới phá lên

cười: “Phải liên tục bịa chuyện đời mới vui”. Chúng tôi vỡ òa sau câu nói của hai

ông, thì ra cái tự nhiên của truyện cười nó là như thế. Ông lại tiếp tục phân bua:

“Đứa cháu cùng tôi đi bắt cá, vô ý nó dẫm mạ non”. Nguyên nhân là vậy, nhưng

109

ông lại cho rằng đó là do con cá quẫy mạnh, không phải cháu ông. Một cách chống

chế tài tình! Câu chuyện ở quán nước đầu làng tiếp tục “lai rai”. Chúng tôi giới

thiệu về mình cho ông Tập nghe, ông phấn khởi phong cho chúng tôi một danh

xưng làm chúng tôi xấu hổ: “Cô là người phục dựng truyện cười xứ Bắc”. Ông giới

thiệu luôn về ngôi làng Dương Sơn của mình: sơn là núi, dương là ánh sáng mặt

trời, Dương Sơn là ánh nắng bình minh buổi sáng. Xã này là xã Liên Sơn, núi liền

núi, có làng Dương Sơn bừng nắng:

“Dương Sơn phong cảnh hữu tình

Dân cư giăng khúc như hình con long

Bốn mùa xuân hạ thu đông

Lúa ngô khoai sắn mượt đồng màu xanh

Đường làng uốn khúc lượn quanh

Bê tông bóng lộn cây xanh mượt mà

Làng tôi xưa có cây đa

Bóng đa rợp tận sông Đà, sông Lô

Đà, sông Lô. Có đúng không?

Ngày xưa chưa có ô tô

Cổng làng thấp sát mái ô che đầu

Quan Tây cho chí quan Tàu

Vào làng đều phải bỏ mũ cúi đầu chào dân”.

Ông đọc luôn bài thơ giới thiệu về làng mình, trong đó không quên “phóng

đại”: cây đa to, ngả bóng rợp hết sông Đà, sông Lô; quan vào làng phải bỏ mũ

chào dân.

Qua thăm hỏi chúng tôi biết, gia đình ông không quá khá giả, thậm chí vợ ông

còn bị liệt vì tai biến, ông có hai người con trai đều làm thợ xây, đã có gia đình

riêng, không đủ điều kiện chăm sóc cho cha mẹ già. Vì vậy, tuy tuổi cao, mái tóc đã

bạc trắng, nhưng ông chưa được hưởng vui thú lúc xế chiều. Ông vừa phải chăm lo

cho bà, vừa làm mật ong để kiếm thêm. Tuy nhiên, ông lúc nào cũng vui vẻ, ông

nói, các cháu hãy cứ vui như ông đây này, vui thì mới khỏe được. Ông kể chuyện

cho chúng tôi với giọng nói nhiệt huyết cùng khuôn mặt đầy biểu cảm. Nụ cười ông

vẫn rạng rỡ, gương mặt hồng hào, tươi vui và lạc quan. Dường như cuộc sống khó

khăn không thể hạ gục được người đàn ông đã ngoài 80. Ngoài 80, với một người

110

dân thôn quê, ông vẫn chạy xe máy, vẫn đưa ong đi nhiều nơi kiếm mật – thứ mật

có một không hai qua lời giới thiệu dí dỏm của ông:

“Đến nhà ông Tập Dương Sơn

Đường đi ngoắt ngoéo chập chờn bánh xe

Cháu đến thì ong đón vo ve

Con bay con lượn muốn khoe nó tài

Gió đông thổi tạt vào tai

Gà vườn đùa giỡn cánh bay khỏi mình

Quanh nhà ông chó sủa linh tinh

Giằng co dây xích khoe mình giỏi giang

Nhà ông bát ngát nhiều sào

Ta ong kê kín lối vào phải lách nghiêng

Mật nhiều không vác không khiêng

Ông thuê cần cẩu lớn nhấc lên nhẹ nhàng.

Nhà ông Tập ong giỏi ong tài

Tìm hoa kiếm mật đẻ xa nhất vùng

Đường bay dài tận không trung

Kiếm mật khắp vùng lãnh thổ Việt Nam

Mật giòn như thể vàng thau

Mời con một giọt mười năm sau vẫn thèm.

Uống nhiều chữa được bệnh hen

Đau đầu chóng mặt nhanh thèm ăn cơm.

Thư cảm ơn còn nhiều hơn tiền mặt

Cứ mỗi ngày mấy chục vạn lá thư

Từ Mĩ Nga, Trung Hoa, Anh, Pháp,

Qua Nhật, Hàn, các đại tây dương

Mật ngon xuất khẩu bốn phương

Làm giàu chính đáng con đường ấm no”.

(Ta ong: dụng cụ để ong. Trên thế giới chỉ có một Đại Tây Dương. Nghệ nhân bảo

“các đại tây dương” chứng tỏ ông chỉ nghe áng áng ở đâu đấy ba tiếng Đại Tây Dương rồi

phóng tác thành “các đại tây dương”. Chúng tôi tôn trọng nguyên văn bài văn vần. Qua đó

thấy ông có khiếu văn nghệ nhưng về kiến thức địa lý học chưa được cao).

111

Vừa đọc, ông vừa nhún chân theo nhịp thơ, tay chỉ về phía xa hướng chúng tôi

về đàn ong mà ông nuôi. Đôi mắt ông sáng lên đầy niềm vui, dường như ông đang

chìm đắm trong sự tự hào về niềm vui và thành quả của những chuyến đưa ong đi

khắp năm châu bốn bể của mình. Ông đã mang đến một bầu không khí diễn xướng

sảng khoái cho người nghe. Ông nói, ong nhà ông giỏi, bay khắp lãnh thổ Việt

Nam, nhưng ông không cho bay sang Trung Quốc, đến biên giới quay đầu lại:

Từ Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Bạ

Qua Đèo Cả, Bố Hạ lại về Liên Sơn

(Quản Bạ là một huyện của tỉnh Hà Giang. Ở đây ông nghe nhầm thành

Quảng Bạ và để nó đồng đẳng với hai tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang. Đây là một hạn

chế nữa về kiến thức địa lý học của ông).

Mùa nào và nơi đâu có hoa, ông lại cho ong lên xe cẩu, chở lên đó cho chúng

kiếm mật, nên mật nhà ông lúc nào cũng có chất lượng tốt.

Vẫn là những vần thơ kể lại truyện đàn ong của mình, nhưng đàn ong của năm

2022 đã khác rất nhiều so với đàn ong những năm trước đó chúng tôi lên:

“Vào nhà cụ Tập Dương Sơn

Đường đi ngoắt ngoéo, chập chờn bánh xe

Khách đến ong đón vo ve

Con bay, con lượn muốn khoe nó tài

Gió Đông thổi tạt vào tai

Bồ câu bay lượn cánh nhoai khỏi mình

Quanh nhà chó sủa linh tinh

Giằng co dây xích khoe mình giỏi giang

Đơn sơ nhưng mà rất sang

Mật ong vàng óng cụ mang ra mời

Nhà cụ bát ngát nhiều sào

Thùng ong kê kín, lối vào lách nghiêng

Mật nhiều không vác không khiêng

Có cần cẩu lớn, nhấc lên nhẹ nhàng.

Uống nhiều chữa được bệnh hen

Chữa được Covid, nhanh thèm ăn cơm

Mật ngon xuất khẩu bốn phương

Gia đình cụ Tập lên hương mỗi ngày”.

112

Rõ ràng đây là dị bản, vẫn là ông Tập tự giới thiệu về nhà mình, đàn ong của

mình, nhưng nội dung đã thêm vào nhiều chi tiết khác. Ông nuôi thêm bồ câu trong

vườn nhà, và ông bắt kịp thời cuộc khi quảng cáo mật ong giúp tăng đề kháng, chữa

được covid. Tất nhiên đây là “nói khoác”, không ai chê trách ông.

Một lần khác (tháng 12 năm 2019), chúng tôi lên nhà ông Tập. Không gian diễn

xướng khi này là ngôi nhà cấp 4 đã cũ kĩ, bộ bàn ghế bạc màu, người vợ tai biến của

ông nằm liệt tại chỗ. Ông nói: “tôi thương bà nhà tôi lắm”, nhưng ông chỉ coi bà là bị

đau lưng, ông 80 tuổi chăm bà 77 tuổi mà vẫn lạc quan. Ông kể trước bà đẹp gái lắm,

hát hay nữa. Ông tếu táo: “Đợt vừa rồi tổ chức thi hoa hậu tôi cũng cho đi, người ta

vẫn chiếu cố cho cái giải khuyến khích”. Mấy bà hàng xóm ngồi quanh đó nói, bà này

trước hát hay có tiếng của làng mình. Rồi một ông cụ ngồi đó trêu: “Bà thế này thì

ông có tắm cho bà không?” Ông trả lời: “Chẳng tôi thì ai, con dâu con gái lên tắm bà

ấy không cho động vào người, tôi vừa tắm còn phải vừa nịnh đấy:

“Mời bà cửi áo ra mau

Để tôi kì cọ trước sau cho bà

Máy bà trong bọc bỏ ra

Lau dầu cho bà, tối lại ngủ chung”.

Mọi người xung quanh bò ra cười, nhất là mấy bà già quanh đó như chạm

đúng vào dây thần kinh cười. Cái cười sung sướng của đám thanh niên dường như

lan sang cả các cụ làm các cụ trẻ hóa tinh thần. Ông Tập lại tiếp lời: “Đấy già rồi

mà cứ nhất định phải ngủ chung mới chịu, ngồi ăn cơm còn phải gác cái chân của

bà ấy lên người tôi thế này này, mà ăn cơm cũng phải nịnh:

“Về già chỉ còn hai ta

Cơm ngon canh ngọt mời bà đi ăn

Tối đến đi ngủ trùm chăn

Rét thì mặc rét tôi văn tí bà

Tí bà thì ít thịt, nhiều da

Tôi văn tí bà, bà khẽ kêu đau”.

Đến lúc này bà vợ ông xấu hổ dùng tay đánh vai ông bồm bộp, còn các bà già

khác thì cười ngặt nghẽo, các cụ ông xung quanh cũng phá lên bảo cái ông này đúng

là giỏi “bốc phét”, mà bốc phét thành thơ cũng chỉ có mình ông ấy thôi.

113

Ông Tập vẫn tiếp tục thao thao xung quanh chuyện nhà, chuyện đời của mình.

Ông khiến người nghe dường như quên hết những thực tại đầy khó khăn để đến với

những tiếng cười và trò vui bất tận. Ông kể việc vợ mình sinh hai thằng con qua

truyện “Kiến cõng con”. Bắt đầu câu chuyện, ông Tập chép miệng: “Trước đây tao

đi bộ đội, tao đi vắng, bà ở nhà bà đẻ sinh đôi. Thời hợp tác thì hợp tác nó cứ giao

cho một ngày mấy sào ruộng. Bà cấy xong thì cho bà công điểm. Mà đang cấy lại

đẻ, bà còn bê cháu để lên bờ ruộng, thế là bà ấy bảo:

- Nằm đây rồi mẹ đi cấy nốt nắm mạ rồi về.

Phải thế mới được công điểm. Mà chuyện này thật. Xong một lúc nữa lại có

đứa nữa chui ra, bà ấy lại bảo:

- Mẹ cái bọn này ở đâu ra lắm thế”.

Đôi mắt ông nhìn về xa xăm, khuôn mặt trầm ngâm như vừa kể vừa nhớ lại một

thời đã qua. Một thời mà những người phụ nữ không chỉ lo việc đồng áng mà còn đóng

vai trò hậu phương vững chắc cho những người chồng đi lính. “Người chửa cửa mả”,

vậy mà ông Tập kể nhẹ tênh, có thêm phần hài hước và dí dỏm, người phụ nữ vừa lo

sinh con, vừa lo công điểm. Đến cao trào của truyện, “kiến cõng mất con, bà ấy đi tìm

mếu máo”, ông Tập nheo mắt cười đầy tinh nghịch. Chúng tôi nghĩ kiểu gì cũng không

ra đành thắc mắc: “Thế làm sao mà kiến cõng được con?”. Lúc này ông Tập cười hiền,

thủng thẳng giải thích: “Bà ấy đẻ xong bà ấy bọc vào vải mưa rồi qua ruộng khoai lang,

ăn rồi cái bã thì mẹ nuốt, còn nước mớm cho bé. Về đến nhà mở bọc bao ra mất một

đứa, nó rơi, thế lại quay lại ruộng khoai lang tìm. Tìm mãi mới thấy đứa thứ hai. Thế

chính là kiến cõng con ông còn gì, bà ấy để rơi một đứa rồi phải đi tìm”. Vừa giải thích

ông vừa nhấp ngụm nước chè, hai tay giơ lên miêu tả đứa bé ngày xưa nhỏ tí chứ

không được bụ bẫm như trẻ sơ sinh bây giờ. Lúc này chúng tôi mới ồ vỡ lẽ, còn ông

Tập cứ cười gật gù đắc ý. Chính ông khẳng định: “Người làm nghệ thuật nếu được đào

tạo chính chuyên được gọi là nghệ sĩ, còn người làm theo năng khiếu gọi là nghệ nhân.

Với “bộ môn” nghệ thuật dân gian, cốt yếu vẫn là tự lưu truyền qua các thế hệ thông

qua thói quen sinh hoạt, qua cuộc nói chuyện hàng ngày. Và gia đình tôi đang làm điều này ở thói nói phét có ca”5.

5 Phỏng vấn cụ Tập tại nhà riêng năm 2020

Cái duyên của người diễn xướng, chất giọng vùng miền đặc trưng của người

114

nông dân, sự dí dỏm và hài hước được thể hiện qua từng cái vung tay và cử chỉ của

họ góp phần làm nên giá trị của truyện cười ở làng. Truyện cười ở làn càng thêm

phần thu hút nhờ giọng điệu đặc biệt và những từ ngữ địa phương của những người

dân nơi đây. Là kể truyện cười nhưng cũng như cuộc nói chuyện diễn ra hàng ngày,

rất tự nhiên và hồn hậu, lối nói hàng ngày ấy khiến những điều nói khoác, nói tức,

nói “điêu” mà cứ như nói thật, làm nhiều người ngỡ ngàng và bật cười. Bên cạnh

đó, sự duyên dáng và cái tài kể chuyện của họ được thể hiện ở thái độ bình thản khi

phát ngôn. Họ kể một câu chuyện bịa đặt nhưng như thật, với thái độ hết sức bình

thường và tự nhiên, hoặc tạo ra điệu bộ thích hợp với hoàn cảnh. Những biểu hiện

đó khiến người nghe không chút nghi ngờ và làm tăng tính xác tín cho câu chuyện

mà họ đang… nói khoác. Ví dụ khi một phóng viên vào làng Dương Sơn, chưa biết

hỏi ai cho phải, anh ta đã đánh liều hỏi cụ bà chừng 80 tuổi đang rửa thúng ngay bờ

ao rằng đây có phải làng nói phét không. Bà cụ ngước nhìn người lạ với ánh mắt

nghiêm nghị: “Ai bảo anh ở đây nói phét. Vào đây mà cứ bô bô cái miệng, vu oan

nói phét là thanh niên ra úp sọt, đánh hội đồng đấy”. Lại một lần khác, anh phóng

viên hỏi về hai làng Dương Sơn và Hòa Làng, bà cụ ra dấu nói nhỏ: “Cẩn thận, dân

Hòa Làng sang vây bắt, không ai can ngăn, mau đi đi, thừa hơi đến đây gây sự à?”.

Nét mặt tỉnh bơ cùng thái độ có vẻ sốt sắng, lo lắng như thật của bà cụ khiến người

phóng viên thực sự hốt hoảng. Anh nhà báo không biết làm cách nào, định quay xe

ra khỏi làng. Lúc này thì nhà báo mới nhìn thấy mấy thanh niên đang tủm tỉm cười

ở đằng xa và nhận ra mình bị bà cụ “lỡm”.

Người nghe, người xem, người trực tiếp tham gia câu chuyện chính là những

khán giả công tâm nhất tong việc kiểm chứng tài năng của người nghệ sĩ dân gian.

Truyện cười ở làng kể về điều vô lý với một thái độ và lời giải thích thuyết phục

khiến người nghe chấp nhận được. Nếu không kết hợp với ngôn ngữ, giọng điệu,

thái độ thì câu chuyện sẽ khó có được niềm tin dồi dào nơi khán giả và từ đó cũng

không thể đạt được mục đích gây cười giờn giã. Vì thế, muốn thấy được cái hay của

truyện cười ở làng cười thì cần phải đến với chính những vùng đất đang nuôi dưỡng

và làm nảy mầm những hạt cười mỗi ngày, chứ không thể chỉ dựa vào văn bản.

115

3.2.2.3. Làng Văn Lang

Truyện cười làng Văn Lang thường do những người có kinh nghiệm diễn xướng.

Họ là những cái tên nổi bật và quen thuộc với dân làng. Tên tuổi của họ gắn liền với tài

năng và sự dí dỏm, khiến cho những người dân làng Văn Lang vốn có một kho tàng

truyện cười tương đối đáng kể cũng phải khâm phục. Người Văn Lang thường kể

chuyện trong những không gian gần gũi: ở trong nhà, nơi ngồi uống nước,… Một số

khác thì diễn xướng ngay tại bất cứ địa điểm nào (khi đang xây ngồi nghỉ, đi chợ

về,…). Trong những nghệ nhân kể truyện cười ở làng Văn Lang, cụ Áng được coi là

người thuộc nhiều truyện nhất và kể chuyện có duyên nhất. Cụ Áng dáng người nhỏ

thó nhưng nói chuyện rất có duyên. Ðặc biệt tuổi đã cao nhưng trí nhớ cụ còn tốt.

Chính thần thái và cách dẫn dắt tài tình của cụ khiến cho những truyện cụ kể nghe rấy

hấp dẫn và gây cười. Ngoài ra còn có ông Bá, người được tôn vinh là “truyền nhân nói

phét đệ nhất Văn Lang”. Ông là con trai cụ Hán Văn Sinh - người có công đầu tiên sưu

tầm, sáng tác đăng “Truyện cười Văn Lang” trên Báo Phú Thọ từ những năm 80 của

thế kỷ XX. Theo quan sát của chúng tôi, ở làng Văn Lang này, mỗi người nông dân

đều là một người kể chuyện tài năng. Khuôn mặt người đàn ông Văn Lang cứ quắt lại,

hàm răng thì vẩu ra, còn đàn bà Văn Lang ánh mắt lúng la lúng liếng, rồi cái miệng

xinh xinh lúc nào cũng chực nở nụ cười. Nhìn bất cứ ai ở vùng đất này cũng thấy được

sự duyên ngầm và vui vẻ, chứ chưa cần nói chuyện hay tiếp xúc với họ. Có lẽ từ trong

cốt tủy, trong tiềm thức của họ đã là biết bao tinh túy, bao câu chuyện hay, bao sự tếu

táo hài hước và đáng yêu. Một người phụ nữ đi làm về với dáng vẻ mệt nhọc, quần áo

còn dính đầy vôi vữa, khi được con gái ông Áng hỏi thăm:

- Hôm nay, chị đi phụ thợ xây có mệt không?

Chị ta nhanh miệng trả lời:

- Ba thằng nó vào cùng một lúc, phục vụ thì đứt cả hơi. Nhưng đến khi ba

thằng nó cùng xoa thì sướng.

Câu nói “nhiều nghĩa” khiến người nghe không khỏi liên tưởng của người phụ

nữ cùng nụ cười tủm tỉm đầy khó hiểu khiến chúng tôi khá ngạc nhiên, không biết

nói sao cho phải, và nếu có ai đó cười thì lại cười theo một cách hiểu khác. Điều

này khiến con gái ông Áng – cô bé sinh ra, lớn lên tại làng cười độc đáo này phải

116

giải thích: “Em đoán các anh, các chị cười gì rồi. Nghe vậy nhưng không phải

chuyện bậy đâu. Lúc ba anh thợ vào bả tường thì chị ấy phải phục vụ vữa cho ba

anh cùng lúc nên phải luôn chân luôn tay. Khi hồ đã ráo, ba thợ xoa tường, thợ phụ

được ngơi tay nên sướng thôi”.

Người dân Văn Lang vô cùng yêu quý và mến mộ người kể chuyện tài năng

này. Vừa thấy ông Áng bước vào quán, mọi người bắt đầu náo nhiệt, rôm rả hẳn

lên: “Cái ông này, chưa thấy người đã thấy tiếng, nói chuyện mà xã bên nghe

tiếng”. Nghe vậy, ông Áng bâng quơ trả lời như thật: “Ngày trước cụ thân sinh ra

tôi kể rằng, tôi lên 4 mà vẫn không biết nói biết cười, đặt đâu ngồi đấy, ăn cơm dính

mép, ruồi bâu cũng không đuổi. Thầy tôi giận bảo, cũng chỉ tại bầm tôi đặt tên là

Hiền nên ông cụ đổi thành Áng. Từ đấy, giọng tôi mới oang oang ra thế này”. Mọi

người nghe thấy vậy thì đều ôm bụng cười ngặt nghẽo bảo ông chỉ nói phét là giỏi,

chẳng khác gì ông thần,… Còn ông Áng vẫn giữ nụ cười tủm tỉm điềm nhiên như

không. Làng còn ông Bình. Khi kể truyện luôn giữ nụ cười điềm đạm dễ mến, ông

thường hay bồi thêm mấy vần thơ:

“Không cười làng tôi không sống nổi

Cười cho tạnh mưa dông, dịu nắng đốt

Cười cho mềm sỏi đá để trồng hoa”.

Ông Bình là một “bảo tàng sống” của làng cười Văn Lang. Kho tàng truyện cười

dân gian được ông lưu giữ chính là biết bao câu chuyện gây cười về những sự vật, sự

việc gần gũi, quen thuộc với đời sống lao động hàng ngày của người dân Văn Lang:

“Củ sắn mọc xuyên qua Quốc lộ 24”, “Con tôm to bằng con chó vàng”, “Quả bưởi

rụng chết con trâu”, “Gà đá chết lợn”… . Khi diễn xướng, ông luôn thu hút khán giả

bằng sự điềm đạm, thủng thẳng, dường như truyện vốn không có gì buồn cười nhưng

lại có sự hấp dẫn kì lạ bởi thái độ và giọng điệu của ông. Một lần, ông kể chuyện rau

mọc thành rừng, vừa diễn xướng, ông vừa gật gù tấm tắc như mình đang kể một sự thật

hiển nhiên và rất đáng tự hào về vườn rau nhà mình: “Nhà tôi trồng một vườn rau/

Trồng từ hôm trước, hôm sau bằng đầu/ Chiều tà ra ruộng hái rau/ Ngỡ ngàng trước

cảnh vườn rau thành rừng...”. Đa phần những câu chuyện của làng là tiếng lòng và ước

mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn của những người dân nghèo. Không có con gà nào to

117

mà đủ sức đá chết con lợn đâu, cũng chẳng có vườn rau nào mà lại thành rừng được

đâu. Dẫu hiểu được thực tế khó khăn nhưng người nông dân vẫn không ngừng mơ ước.

Mơ những điều kì diệu để có tương lai tươi sáng hơn, mơ những gì to lớn để phấn đấu

và quyết tâm đạt được. Nghe ông Bình nói, ông Áng cũng nói thêm: “Mơ ước cũng có

cái thành hiện thực, cũng có cái không. Nhưng không mơ ước thì sẽ không bao giờ

định hình được tương lai để mà thành sự thật, như chuyện bố mẹ quanh năm cày sâu

cuốc bẫm nhưng vẫn mơ con thành kỹ sư, bác sĩ, thành lãnh đạo tỉnh, Trung ương. Phải

mơ thì mới cho con có ý chí vươn lên”. Người Văn Lang có một chất giọng đặc trưng

làm nên sự độc đáo trong các buổi diễn xướng. Giọng nói người dân làng này hơi nặng,

khó nghe, đôi khi lại ề à, kéo dài phía cuối và hơi tưng tửng, cùng với trí thông minh và

hài hước của mình, họ đã khéo léo chuyển hóa những đề tài tưởng như rất đời thường,

không có gì đáng nói là củ sắn, củ khoai... trở thành hấp dẫn, bởi thủ pháp gây cười

bằng cách phóng đại, cách kết thúc bất ngờ, giọng kể chuyện đặc trưng của ngôn ngữ

địa phương.

3.2.2.4. Làng Trúc Ổ

Trong quá trình điền dã, chúng tôi nhận thấy người diễn xướng làng Trúc Ổ

cũng ở độ tuổi quá trung niên. Chúng tôi tìm đến ông Thảo – người nức tiếng xa

gần về tài kể chuyện. So với nhiều nghệ nhân ở năm làng cười mà chúng tôi khảo

sát, ông Thảo là người có cuộc sống vật chất sung túc và con cái thành đạt. Ông có

bốn người con, một bác sỹ, hai giáo viên, một bộ đội. Một người con rể làm chủ

một cửa hàng bán đồ điện máy. Các cháu ông đều học đại học hết. Nhà cửa ông

khang trang, gồm ba gian mái bằng, sân rộng lát gạch đỏ. Ông tiếp chúng tôi trong

ngôi nhà thờ, mé trái có bộ bàn ghế tràng kỷ, ông rót rượu mời khách uống và ông

cũng nhấp môi để kích thích câu chuyện. Trong điều kiện vật chất sung túc như vậy,

ông có quyền nghỉ ngơi, song như bao người nông dân khác, ông vẫn tiếp tục lao

động bằng công việc chăn bò. Ông chăn hẳn một đàn bò năm con. Chuồng bò to

rộng, sạch sẽ đặt trong khuôn viên gia đình, cạnh một đống rơm to và cây ổi.

Đón tiếp chúng tôi là một người đàn ông hiền lành, có giọng nói to, dõng

dạc. Với ông Thảo – người thường xuyên được mời đến các buổi giao lưu để giới

thiệu truyện cười “Trúc Ổ tổ nói phét” thì bất cứ nơi nào ông có mặt cũng có thể

118

trở thành tâm điểm của môi trường diễn xướng. Cách kể chuyện của ông rất vui

tươi, nhiều năng lượng. Chỉ cần giọng ông cất lên sang sảng là mọi người đều bị

thu hút. Ông Thảo là một “kho tàng sống” những truyện cười của làng. Cũng là

những truyện cười ấy, khi chúng tôi đọc trên tài liệu sưu tầm thì không thấy thực

sự quá đặc sắc, nhưng qua giọng điệu cùng thái độ của ông, câu chuyện đó lại trở

nên thú vị và ấn tượng hơn rất nhiều. Ví dụ truyện “Con ếch kéo đổ cây đa”, ông

Thảo dẫn dắt chúng tôi vào với không gian diễn xướng bằng hình ảnh những

người nông dân đi làm ruộng, rồi mới dẫn vào một bà nọ đi cày vô tình vồ được

con ếch. Vừa kể, tay ông vừa làm động tác vồ khiến chúng tôi còn …giật mình vì

tưởng ông đang vồ một con ếch thật. Sau đó, ông đứng dậy, chỉ vào một gốc cây

ngoài đường khiến chúng tôi dễ dàng liên tưởng đến hành động bà nọ buộc con

ếch vào gốc cây đa rồi quên mất mà đi về. Khi tả cảnh mưa bão, ông kể với giọng

điệu bình thường, không nhanh không chậm khiến người đọc dễ dàng bị “bỏ

quên”, không chú ý tới nội dung này. Sau đó, đến đoạn kết truyện, khi ông giải

thích về lý do nói con ếch kéo đổ gốc đa là do gốc đa đã bị trận mưa bão hôm qua

làm đổ, ông cười xuề hiền hòa, toàn thân thả lỏng, như chờ đợi người nghe có

thêm ý kiến phản bác. Nhưng rõ ràng, nụ cười tự tin khẳng định chắc nịch những

lập luận của ông đã khiến chúng tôi – những khán giả hoàn toàn bị thuyết phục.

Ông Thảo kể liền mạch, mỗi truyện đều có một lời khẳng định về điểm độc đáo

của truyện cười làng mình: “Trúc Ổ là tổ nói phét mà, nhưng chúng tôi nói phét để

cho vui, chứ không phải nói dối hay có ý đồ xấu gì cả”. Ông khẳng định: “Làng

tôi ngày xưa có nhiều truyện hài hước lắm. Ngày xưa các cụ hay làm vè cho nó tếu

táo. Ví dụ ngoài những truyện nói phét thì các cụ hay làm vè châm chọc nhau, trào

phúng nhau. Ví dụ như ông cụ ở làng tôi làm thơ trào phúng rất giỏi. Một hôm đi

cụ đi mượn một cái mai của thằng Phó Lòa”. Đến đây, ông dừng lại, hỏi chúng tôi

có biết cái mai là gì không, ông giảng giải kĩ về cái mai: “Ngày xưa hay dùng để

xắn đất, cán nó dài mà vuông vuông ấy”. Có thể thấy, ông Thảo rất biết nắm bắt

bầu không khí và tạo sự thu hút trong quá trình diễn xướng. Ông “lôi kéo” chúng

tôi vào câu chuyện bằng cách hỏi chúng tôi trực tiếp: “Các cháu có biết cái mai

không?”. Đây vừa là một cách khiến chúng tôi – những khán giả mới của ông cảm

119

thấy được gần gũi hơn với người diễn xướng, vừa giúp chúng tôi hiểu được câu

chuyện mà ông sẽ kể tới đây. Ông còn phân tích kĩ cho chúng tôi nghe sự khác

biệt giữa cái mai và cái xẻng. Nói rồi, ông tiếp tục trở lại nội dung chính của buổi

diễn xướng: Đấy, ông cụ mượn cái mai của thằng Phó Lòa nhưng nó không cho.

Thế là về nhà ông cụ làm một bài thơ châm biếm:

“Khoảnh ác lắm thay lão Phó Lòa

Mai không dùng đến mượn không cho

Ta lỡ lúc này mi lúc khác

Chớ nên cháo múc phải thịt thò”.

Ông Thảo có thói quen nhấn mạnh vào những chữ “đấy”, “thế là”, tạo sự ấn

tượng và dẫn dắt khán giả trở về với câu chuyện sau một hồi giảng giải về cái mai –

cái xẻng. Nghe ông đọc vè như hát, các chữ có sự luyến láy, phát âm rối vào nhau

tương đối khó nghe, nhưng lại tạo cảm giác có vần điệu ấn tượng. Sau khi đọc xong

bài thơ, ông cũng bình thêm, vừa nói tay vừa khua ra phía trước: “Rất thâm thúy.

Rất giỏi”. Ông nhẹ nhàng giải thích cho chúng tôi nghe về ý nghĩa của bài thơ và

khẳng định đây là những câu chuyện đã được truyền lại hàng chục, hàng trăm năm

nay, nhưng nó vẫn thể hiện được cái tài của người làng này. Đôi mắt sáng rỡ, nụ

cười hồ hởi, ông thể hiện niềm tự hào về truyền thống tốt đẹp được lưu giữ bao đời

của Trúc Ổ.

Ông Thảo nói bằng một giọng chắc nịch cùng một cái gật đầu khẳng định:

“Ở dưới Đồng Sài nói phét mà không có lý, Trúc Ổ thì phải có lý người ta mới kể.

Có nghĩa là khi người ta vặn lại phải giải thích được. Ví dụ như cái củ to quá, luộc

lên mà muốn ăn phải đưa nó lên võng quay ba vòng để nguội thì nó vô lý, chúng tôi

không kể”. Như vậy, những người diễn xướng ở Trúc Ổ ý thức được rất rõ truyện

cười làng mình là những truyện “có lý”, nói ra mà phải khiến khán giả “tâm phục

khẩu phục”, “không thể vặn lại” thì mới là truyện cười Trúc Ổ. Nội dung những

buổi diễn xướng của ông Thảo thường về “người xưa”, “thời các cụ”. Ví dụ ông tự

hào khi kể lại làng mình trước có ông Tiên làm bài thơ “Giả làm chùa mới”. Ông kể

bằng giọng hóm hỉnh về cái nghèo khó của làng mình: Dân mình thì nghèo, muốn

khách thập phương đến thì không có tiền, thế nên mới làm bài thơ:

120

Phen này đẹp nhất chùa ta

Nào đình Tri Nhị, nào nhà Đại Lâm.

Nói đoạn, ông dừng lại chỉ cho chúng tôi đình Tri Nhị ở bên sông, nhà Đại

Lâm bên chỗ Bắc Ninh ấy. Rồi ông bấm tay ngâm nga tiếp:

Các cụ bên Trúc sang thăm

Tri Nhị thách giá chín trăm có ngoài

Cụ Lý Tình vuốt bụng thở dài

Dân ta còn đói giết ai ra tiền

Tiền sưu tiền thuế liên miên

Tiền hương tiền lý lại tiền ma chay….

Có đoạn ông Thảo quên, sau một vài giây ngập ngừng làm không khí ngưng

đọng, ông cười hà hà: “Ôi đến đoạn này là quên mất rồi, lâu không đọc lại quên câu

ấy” với chất giọng tưng tửng, khiến mọi người cười ồ. Như vậy, không khí buổi

diễn xướng hoàn toàn thoải mái và không mang tính chất chuyên nghiệp (Diễn viên

chuyên nghiệp mà quên lời thoại trên sân khấu thì vai diễn thất bại và bị phạt).

Người kể chuyện ở Trúc Ổ không bị ràng buộc và không sợ mắc phải những “lỗi”

trong quá trình diễn xướng. Điều này khiến diễn xướng truyện cười ở làng có nhiều

khác biệt với diễn xướng các thể loại khác của Foklore. Khi diễn xướng ca dao, rối

nước,…, rất khó có thể dừng lại hoặc khiến khán giả tiếp tục theo dõi nếu quên một

tình tiết nào đó dù đó là lần tái diễn xướng thứ bao nhiêu và khán giả đã từng xem,

từng nghe nhiều lần. Nhưng với truyện cười ở làng, người diễn xướng có thể khéo

léo điều chỉnh không khí một cách thoải mái, đôi khi chính những “sai lầm” của

người diễn xướng lại là cái duyên gây cười. Như vậy, mục đích của buổi diễn

xướng để “gây cười” đã được hoàn thành, khán giả hoàn toàn không để tâm nhiều

đến chỗ quên của người diễn xướng.

3.2.2.5. Làng Trân Châu

Chúng tôi dành nhiều thời gian cho làng Trân Châu, chúng tôi đến làng liên

tục trong các khoảng thời gian: tháng 4 năm 2017, tháng 9 năm 2017, tháng 4 năm

2018, tháng 6 năm 2019, tháng 7 năm 2020. Trong quá trình đi điền dã ở làng Trân

Châu, chúng tôi tìm đến với ông Cường để thu thập những tư liệu về truyện cười

121

của làng. Tương tự như làng Trúc Ổ, người diễn xướng truyện cười ở làng chài này

cũng ở độ trung và cao tuổi. Không ai biết truyện cười làng Trân Châu ra đời từ khi

nào, nhưng chắc chắn hiện tại truyện cười ở làng vẫn tồn tại và phát triển. Một trong

những lý do quan trọng là tình yêu và sự gắn bó của người dân với mảnh đất nơi đây.

Dù ở đâu, đi đâu, họ vẫn không đổi giọng quê khi trở về và họ cũng không quên lề

thói của làng. Tuy nhiên, trước sự thay đổi của thời đại, nhiều người trẻ trong làng

học tập và làm ăn xa xứ, họ chỉ có cơ hội tập trung về quê vào dịp lễ tết, cuối tuần;

những người dân còn lại ở quê thường là các cụ, các ông bà lớn tuổi, việc đi lại của

các cụ còn hạn chế nên việc tập trung kể truyện cười không diễn ra thường xuyên. Có

thể nói, những cụ già là “bằng chứng sống”, là những “tập bút kí vô hình” ghi chép

lại những giá trị cốt lõi của mảnh đất này, họ vẫn hàng ngày hàng giờ gìn giữ, bảo tồn

truyện cười quê nhà. Ông Cường chính là một người như thế. Ông là một trong

những người kể chuyện có tiếng và được dân làng Trân Châu truyền tai nhau rằng

nếu đi thuyền mà thấy ông Cường thì không nên đi chung vì người ta sợ lật thuyền,

bởi vì ông kể truyện cười hay quá, ông ấy ngồi bên nào người dân lại dồn hết sang

bên ấy nên dễ gây lật thuyền. Chúng tôi được ông đón tiếp rất nhiệt tình. Phong cách

của một người con miền biển đậm chất nơi ông. Khi diễn xướng, ông vung tay cao,

dứt khoát, giọng nói hào sảng, chất giọng trầm, thể hiện đặc trưng của người dân Hải

Phòng. Ông thích thú kể cho chúng tôi nghe đến 20 truyện cười ở làng. Ông kể say

sưa khiến câu chuyện thêm phần hấp dẫn. Lúc kể, ông thường dừng lại để “lôi kéo”

chúng tôi vào câu chuyện bằng những câu nhấn nhá hoặc lời hỏi. Kể đến đâu, ông

thường chỉ cho chúng tôi đến đó để làm bằng chứng xác thực. Nói nhà bà A, bà B, là

ông chỉ cho chúng tôi biết đường đi đến đó. Trước khi bắt đầu diễn xướng một truyện

cười mới, ông thường chép miệng, nhấm thêm ngụm nước chè, từ tốn ngẩng đầu lên

rồi mở đầu bằng một câu dẫn dắt: “Nhiều chuyện nó buồn cười lắm, kể ra nó như

chuyện bịa”, hay “Trân Châu thì có nhiều chuyện bịa lắm…”. Ví dụ khi kể truyện

“Củ sắn và con rím”, ông Cường mở đầu bằng một giây ngẫm nghĩ rồi dẫn dắt:

“Trân Châu thì có nhiều chuyện bịa lắm. Tức là có cái câu chuyện như thế này, thì

đây cũng đi làm công nhân về nghe thôi. Chuyện ngày xưa nên là nó bịa, nhưng mà

nói bịa thì dân mình nó bịa giỏi mà hay”. Điểm độc đáo của người Trân Châu khi kể

122

chuyện chính là sự khẳng định kì lạ của người diễn xướng ngay đầu câu chuyện.

Nếu như ở truyện cười các làng khác (Hòa Làng, Dương Sơn, Văn Lang,…), mục

tiêu của người diễn xướng luôn làm khán giả phải trầm trồ, phải thán phục vì cái tài

nói phét như nói thật, lẫn lộn không phân biệt được thì người Trân Châu lại khẳng

định ngay từ đầu buổi diễn xướng rằng “đây là truyện bịa”, nhưng phải “chua” thêm

một câu “nhưng mà nói bịa thì dân mình nó bịa giỏi mà hay” để khẳng định cái tài

bịa của dân mình. Sau đó, ông Cường kể tiếp với giọng điệu hào hứng: “Thế này, có

ông tên là Lê. Bà vợ ông ấy mới bảo sáng ngủ dậy, bà ấy mới bảo:

- Ông có rỗi thì đi ra ngoài vườn. (Vừa kể, ông Cường vừa giải thích rằng vườn ở

đây là vườn ở cái chỗ đồi, trước nhà ông Lê ở trên ấy). Ông ra ông cuốc cái sắn về cho

gà nó ăn. Thế thì ông ấy đi ra, có cái gốc sắn, ông ấy mới cuốc. Ông ấy cuốc gốc sắn

thì được cái củ sắn to. Thế là ông ấy mới xách cả gốc về. Thế là ông ấy bảo:

- Bà ơi ra xem tôi cuốc được củ sắn to lắm.

Ông ấy vứt giữa sân. Thế là con rím trong củ sắn nó bò ra. Cái con rím con ấy

mà, nó ăn sắn xong chui vào ngủ trong ấy. Thế là bà ấy ra mới bảo:

- Ối giời ơi, ông cuốc sắn mà hôm nay may nhỉ, bắt được cả con rím”.

Vừa kể, ông Cường chỉ tay ngay ra sân khiến chúng tôi đều hướng ra nhìn và

tưởng tượng đến có con rím trong củ sắn bò ra. Nói rồi, ông Cường vẫn tiếp tục giải

thích cho câu chuyện được tường minh: “Thực ra cái chuyện này không biết có thật

không. Nếu nói là có thì khả năng cũng có, ví dụ như con nhím nó khoảng 2 hay 3

lạng thì nó chui vào củ sắn thì công nhận, bởi vì công nhận sắn hồi xưa nó tốt thật.

Chuyện như chuyện bịa, không biết có thật không”. Bản thân người kể cũng đưa ra

quan điểm của mình sau quá trình diễn xướng câu chuyện, điều này khiến người đọc

vừa nghe vừa hồ nghi liệu có hay không chuyện con rím bò ra từ củ sắn này. Đây là

hình thức “diễn xướng lại”, bản thân người diễn xướng không phải người sáng tạo

ra câu chuyện, nên họ đưa cảm xúc và suy nghĩ của mình vào lúc kể. Có thể nói chỉ

có truyện cười hay đúng hơn là truyện cười ở làng mới có được sự độc đáo và phạm

vi mở đến vậy, khi người diễn xướng không cần tuân theo quy tắc, họ được thoải

mái kể chuyện, dẫn dắt câu chuyện và bình phẩm về câu chuyện thay cho chính

khán giả, bởi bản thân họ cũng từng một thời là khán giả của những truyện này.

123

Truyện ông kể thường xoay quanh ông Vượng và ông Tiểu Chú, những người vốn

nổi tiếng ở làng Trân Châu về sự độc đáo. Khi nhắc đến những người đó, ông Cường hồ

hởi hơn hẳn. Đặc biệt khi nói về ông Vượng, ông cất cao giọng, có lúc còn vỗ đùi, có khi

lại tấm tắc khen ông Vượng làng Trân Châu vốn ranh mãnh, khôn ngoan, lại cao to, lên

Hải Phòng cũng không ai lừa được. Cũng với mở đầu khẳng định đây là chuyện nói phét,

ông Cường hào hứng kể: “Nhiều chuyện nó buồn cười lắm, kể ra nó như chuyện bịa. Đời

thủa nhà ai cái Hải Phòng nó đông như thế mà ông Vượng bảo công an là:

- Anh công an ơi, anh có biết anh Mạnh người Trân Châu đi qua đây không?

- Anh Mạnh ở đâu hả bác?

- Anh Mạnh ở Trân Châu đó

Anh công an ớ người ra, còn Ông Vượng ông ấy quay đi cười. Ông hỏi thế thì

có giời biết”.

Vừa kể, ông Cường vừa cười một cách sảng khoái, có khi chưa kể xong ông

đã cười, điều này khiến chúng tôi – những người chưa kịp nghe hết truyện cũng

“buồn cười lây”, tạo nên một hiệu ứng gây cười đặc biệt. Một trong những cái

duyên của người diễn xướng là họ luôn cười một cách hồn nhiên trong chính câu

chuyện mà họ kể - những đáp án họ đã sẵn có. Dẫu cho là lần diễn xướng nào thì

người kể ở cũng đảm bảo sự thú vị của câu chuyện giống như “nó ở vào lần diễn

xướng đầu tiên của nó”. Chính vì thế không khí của buổi diễn xướng không hề có

cảm giác gượng gạo. Để làm được điều này thực sự cần đến tài năng của người kể

chuyện, làm sao để mỗi lần họ “tái diễn xướng”, họ vẫn giữ nguyên vẹn niềm vui và

sự vỡ òa của lần kể đầu tiên.

Có thể nói, những truyện cười Trân Châu thêm phần độc đáo, hài hước bởi

chính niềm tự hào và thái độ đầy chân thành, thuyết phục của những người con sinh

ra và lớn lên ở nơi đây kết hợp cùng chất giọng hào sảng. Ở không gian là mái hiên

nhà sân gạch, nghe rì rào ngoài kia là tiếng sóng cùng với hương vị mặn mòi của

biển cả, giọng nói vang trầm ấm, cùng những tràng cười không ngớt của người diễn

xướng khiến truyện cười Trân Châu có một vị rất riêng của một làng hải đảo.

Điểm đặc biệt là với ngôn ngữ, giọng điệu trong quá trình diễn xướng, truyện

cười ở làng tạo nên sự khác biệt rất lớn giữa đọc và nghe; giữa truyện cười nói

124

chung và truyện cười ở làng. Nếu như chỉ đọc truyện cười ở làng trên văn bản, có lẽ

rất khó để…buồn cười. Bản thân chúng tôi cũng chưa tìm được sự thú vị và thu hút

của truyện cười ở làng khi chỉ tiếp cận trên những văn bản được ghi chép và sưu

tầm. Cho đến khi đi điền dã, trực tiếp tham gia vào quá trình diễn xướng của những

người dân làng, sống trong bầu khí quyển văn hóa được cộng đồng cư dân làng tạo

ra, chúng tôi mới thấy được sự hài hước, vui vẻ mà các câu chuyện mang lại. Trong

quá trình ghi chép, sẽ có một số nhà sưu tầm nghiên cứu đã phần nào “gọt giũa” để

lời ăn tiếng nói trong truyện cười ở làng trở nên chuẩn mực hơn, điều này dù thích

hợp cho việc biên soạn và xuất bản để giới thiệu với người đọc ngoài làng, nhưng

lại vô tình đánh mất đi cái độc đáo mà của truyện cười nơi đây. Thêm nữa, người

ghi cũng khẳng định dù đã cố gắng ghi chép trung thành những gì mình được nghe,

được chứng kiến, nhưng khi đọc lại văn bản, tác giả cũng thấy rõ sự khác biệt lớn

giữa truyện cười ở làng khi được diễn xướng và khi nằm trên văn bản. Cái hồn của

truyện cười ở làng nằm trong chính những cuộc diễn xướng của nó, nằm ở ngôn

ngữ, giọng điệu của người kể chuyện, người tham gia. Không có được cử chỉ, điệu

cười, tiếng nói, ngôn ngữ địa phương của cộng đồng cư dân làng thì không thể có

được truyện cười ở làng. Đó là lý do tại sao truyện cười ở làng gắn chặt với diễn

xướng, và sẽ là một thiếu sót lớn khi nghiên cứu truyện cười ở làng mà không đến

trực tiếp với làng. Điều này khiến không gian văn hóa làng trở nên đặc biệt cần thiết

trong việc lưu giữ và sáng tạo truyện cười ở làng.

Có thể nói, hầu hết những người dân ở làng cười vẫn không ngừng bảo tồn,

lưu giữ, sáng tạo và phát triển truyện cười. Với họ, đây vừa là một phần của cơ thể,

một thói quen mang tiếng cười vui sảng khoái đến với những người cùng thôn cùng

xóm, vừa là một niềm tự hào của ngôi làng nơi chôn rau cắt rốn, vừa là giá trị

truyền thống của cha ông không thể bị mai một.

3.3. Những nhận xét rút ra

3.3.1. Những người kể truyện ở năm làng cười Bắc Bộ đại đa số là nam giới.

Chúng tôi thấy ở làng Hòa Làng, Văn Lang có thêm sự tham gia của người phụ nữ.

Điều này thật khác với việc diễn xướng các thể loại khác. Trong sinh hoạt ca hát

dân ca, có sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ, thậm chí trong lúc hát đối đáp,

125

phần thắng lại thường nghiêng về phụ nữ. Thời xưa, trong việc kể truyện cổ tích,

người kể thường là bà kể cháu nghe. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, hầu

hết những người kể truyện cười là nam giới. Ở văn học dân gian đương đại, một lần

nữa những người kể truyện cười đa số vẫn là nam giới.

3.3.2. Về lứa tuổi những người kể truyện đều từ 30 tuổi trở lên. Trừ trường

hợp làng Hòa Làng có thêm thanh niên, trẻ con tham gia. Ở sinh hoạt văn học dân

gian cổ truyền, những người kể truyện cười cũng là những người từ 30 tuổi trở lên.

3.3.3. Trong khi kể truyện, trong nhiều trường hợp, người kể có những yếu tố

phụ họa cho nội dung như âm điệu, tiết tấu của giọng nói, sự biểu cảm trên nét mặt

và có cả động tác lắc đầu, gật đầu, vung tay, chỉ tay,… Điều này cho thấy trong xã

hội hiện đại, khi kể truyện, người kể vẫn sử dụng các yếu tố phụ trợ. Có điều so với

việc diễn xướng các thể loại khác thì các yếu tố phụ trợ trong việc kể truyện cười

như đã quan sát thấy không chiếm vị trí quan trọng bằng. Điều này phù hợp với

nhận xét dưới đây của tác giả Đinh Gia Khánh, khi ông bàn về vấn đề chỉnh thể

nguyên hợp trong văn hóa dân gian: “ (…) trong những hiện tượng có tính chất

nguyên hợp không phải các thành tố thuộc các loại hình khác nhau đều có vị trí

ngang nhau. Ví dụ như trong việc kể truyện dân gian, thì yếu tố lời nói, ngôn ngữ

chiếm vị trí quan trọng hơn cả, còn điệu bộ, nét mặt, động tác cũng như âm thanh,

giọng nói của người kể truyện chỉ có vai trò hỗ trợ. Trong hát đối đáp nam nữ, bên

cạnh yếu tố lời, thì yếu tố âm thanh cũng quan trọng. Còn như trong những điệu hò,

thì các động tác trèo thuyền, động tác kéo gỗ, động tác giã cốm lại có vai trò quan

trọng” [65, 117-119].

3.3.4. Về học vấn, những người kể truyện ở năm làng không có trình độ cao,

hiếm người tốt nghiệp phổ thông trung học. Ông Tập ở Dương Sơn, ông Cường ở làng

Trân Châu, ông Áng ở Văn Lang, ông Thảo ở Trúc Ổ,… là những người như thế.

Tuy không được đào tạo bài bản như ở các thể loại khác của văn học dân gian,

nhưng bản thân người kể chuyện làng cười Bắc Bộ đều là những “kho tri thức dân

gian”, là đại diện cho tinh thần và những giá trị quý báu ngàn đời. Từng là những

đứa trẻ được nuôi lớn trong những tiếng cười của các câu chuyện mà cha ông kể lại,

dần trưởng thành trong niềm vui thích và những tràng vỗ tay reo hò của cộng đồng,

126

trong những tiếng cười vang đầu thôn cuối xóm. Những người kể chuyện đã tự học

hỏi từ những thế hệ cha ông khi là một khán giả từng tham gia trong những lần diễn

xướng trước đó. Vì vậy, bản thân những người kể truyện cười là một sự đúc kết

những giá trị truyền thống lâu đời, họ trau dồi và trưởng thành từ chính quá trình

tham gia diễn xướng, để rồi sau đó trở thành người kể chuyện – người mang lại

tiếng cười và làm chủ những buổi diễn xướng tiếp theo. Họ sẽ kế tục cha ông, tiếp

tục truyền đến cho thế hệ sau những tiếng cười hồn hậu và bình dị đó, để gìn giữ và

nối tiếp sự sống bền lâu cho truyện cười trước những biến thiên của thời đại. Bên

cạnh sự tìm tòi học hỏi và sáng tạo, những người kể chuyện thành công là những

nông dân có sự duyên dáng, hóm hỉnh và tự tin. Họ không ngần ngại thể hiện sự

tinh nghịch, dí dỏm của mình trước đám đông và cảm nhận được trách nhiệm của

mình trong việc mang lại tiếng cười cho mọi người.

Nếu những liền anh, liền chị quan họ phải khổ luyện công phu từ lúc nhỏ, phải

được truyền nghề một cách chỉn chu bài bản, nếu các nghệ nhân trong lĩnh vực rối

nước phải được hướng dẫn, truyền nghề trong việc tạo tác quân rối, phải tập điều

khiển con rối trên mặt nước đến mức thành thạo mới được tham gia biểu diễn thì

những người kể truyện cười không cần như vậy. Họ không coi mình là nghệ sĩ kể

chuyện, cũng không nhất thiết phải có một sân khấu và một khoảng không gian

chuyên biệt cho những lần diễn xướng. Chính bản thân họ cũng không nhận thức và

không coi việc kể chuyện cười là một trình diễn nghệ thuật mà chỉ đơn thuần là việc

ngồi quây quần bên những bà con làng xóm, nói vài câu chuyện “khoác lác” cho vơi

đi những mệt nhọc. Người kể chuyện ở làng cười không mang trách nhiệm lớn lao

như những già làng diễn xướng thần thoại để con cháu lắng nghe và kế nhiệm, cũng

không cần phô diễn kiến thức và sự hiểu biết của mình. Mục tiêu của họ là kể lại

những truyện cười mà họ cảm thấy thích thú, mang lại niềm vui, tiếng cười cho tập

thể, cộng đồng và thể hiện với chúng tôi bản sắc của làng xã mình qua những câu

chuyện đó.

3.3.5. Mặc dù truyện cười ở bốn làng cười (trừ Trân Châu) đã được sưu tầm và

xuất bản, nhưng trong quá trình điền dã chúng tôi vẫn được nghe những truyện cười

mới. Như vậy, quá trình diễn xướng chính là quá trình nảy sinh những truyện cười mới.

127

3.3.6. Trong quá trình điền dã, chúng tôi được nghe kể truyện cười ở nhà riêng

của ông Tập, ông Thảo,… quán nước đầu làng, nhà văn hóa xã. Có khi số người

cùng nghe kể với chúng tôi chỉ có một hai người, khi lên đến bốn, năm người. Đặc

biệt, trong lần đến Hòa Làng, dân làng tập trung đến 28 người. Những người tham

gia không giữ thái độ thụ động. Hoặc họ chăm chú theo dõi, hoặc họ phá lên cười hỉ

hả, có khi họ kể thay hoặc nhắc người kể truyện. Điều đó thể hiện sự giao lưu giữa

người kể và người tham gia.

Trong quá trình điền dã, chúng tôi đã được trực tiếp tham dự vào quá trình

diễn xướng của những “nghệ sĩ dân gian” làng cười. Họ thu hút người nghe không

chỉ bằng giọng nói đặc trưng của làng xã, mà còn bởi những biểu cảm trên khuôn

mặt, sự kết hợp giữa “ngôn ngữ hình thể” cùng cái dí dỏm, duyên dáng rất riêng của

những con người được sinh ra và lớn lên cùng những câu chuyện hài hước. Một

điểm chung mà chúng tôi tổng kết lại sau quá trình điền dã là người diễn xướng

truyện cười các làng cười hầu hết là những người nông dân. Không giống như

những người diễn xướng trong các thể loại khác của văn học dân gian, người kể

chuyện các làng cười không cần phải học tập và không có sự “đào tạo bài bản”.

3.3.7. Theo lý thuyết và qua những thông tin về môi trường sinh hoạt văn hóa

dân gian trước Cách mạng tháng Tám, người dân kể truyện cười trong lúc làm đồng

áng, trong các công việc lao động khác (xây nhà, lợp nhà, kéo gỗ, kéo thuyền,…),

trong những lúc nghỉ ngơi, trong khi đi đường, khi tụ hội ở nhà và trong các cuộc

thi. Ở đây, do điều kiện hạn chế của bản thân, chúng tôi chỉ tham dự vào các cuộc

kể truyện cười khi đến nhà nghệ nhân. Chúng tôi đã hai lần theo một số người dân

Hòa Làng, Dương Sơn đi ra cánh đồng, nhưng trong hai ba tiếng khi làm việc

không thấy họ kể truyện cười. Về nguyên lý, truyện cười được nảy sinh và lưu

truyền trong môi trường làm việc nhưng không phải lúc nào người ta cũng kể. Cũng

như vậy, chúng tôi đã theo các cụ ở Trân Châu đi thuyền câu mực, song không thấy

họ kể truyện cười. Mặc dầu vậy, chỉ trong hai môi trường là gia đình và cuộc thi,

chúng tôi cũng thấy được vai trò của môi trường trong việc diễn xướng truyện cười.

Việc diễn xướng truyện cười ở các cuộc thi náo nhiệt hơn, sôi nổi hơn. Chính vì thế

cuộc thi còn kích thích sự sáng tạo của người tham gia.

128

3.3.8. Bên cạnh điểm chung đó, mỗi làng cười có những đặc trưng khác nhau

về đặc điểm của người diễn xướng cũng như không gian diễn xướng.

Những truyện cười Trân Châu thêm phần độc đáo, hài hước bởi chính niềm

tự hào và thái độ đầy chân thành, thuyết phục của những người con sinh ra và lớn

lên ở nơi đây kết hợp cùng chất giọng hào sảng. Ở không gian là những hiên nhà

sân gạch, nghe rì rào ngoài kia là tiếng sóng cùng với hương vị mặn mòi của biển

cả, giọng nói vang trầm ấm, cùng những tràng cười không ngớt của người diễn

xướng khiến truyện cười Trân Châu có một vị rất riêng của một làng hải đảo.

Điểm đặc biệt là với ngôn ngữ, giọng điệu trong quá trình diễn xướng, truyện

cười ở làng tạo nên sự khác biệt rất lớn giữa đọc và nghe; giữa truyện cười nói

chung và truyện cười ở làng. Nếu như chỉ đọc truyện cười ở làng trên văn bản, có lẽ

rất khó để…buồn cười. Bản thân tác giả cũng chưa tìm được sự thú vị và thu hút

của truyện cười ở làng khi chỉ tiếp cận trên những văn bản được ghi chép và sưu

tầm trước đó. Cho đến khi đi điền dã, trực tiếp tham gia vào quá trình diễn xướng

của những người dân làng, sống trong bầu khí quyển văn hóa được cộng đồng cư

dân làng tạo ra, tác giả mới thấy được sự hài hước, vui vẻ mà truyện cười ở làng

mang lại. Trong quá trình ghi chép, ắt hẳn những nhà sưu tầm nghiên cứu đã phần

nào “gọt giũa” để lời ăn tiếng nói trong truyện cười ở làng trở nên chuẩn mực hơn,

điều này dù thích hợp cho việc biên soạn và xuất bản để tiếp cận với người đọc

ngoài làng, nhưng lại vô tình đánh mất đi cái độc đáo của truyện cười ở làng. Hơn

nữa, tác giả cũng khẳng định dù đã cố gắng ghi chép trung thành những gì mình

được nghe, được chứng kiến, nhưng khi đọc lại văn bản, tác giả cũng thấy rõ sự

khác biệt lớn giữa truyện cười ở làng khi được diễn xướng và khi nằm trên văn bản.

Cái hồn của truyện cười ở làng nằm trong chính những cuộc diễn xướng của nó,

nằm ở ngôn ngữ, giọng điệu của người kể chuyện, người tham gia. Không có được

cử chỉ, điệu cười, tiếng nói, ngôn ngữ địa phương của cộng đồng cư dân làng thì

không thể có được truyện cười ở làng. Đó là lý do tại sao truyện cười ở làng gắn

chặt với diễn xướng, và sẽ là một thiếu sót lớn khi nghiên cứu truyện cười ở làng

mà không đến trực tiếp với làng. Điều này khiến không gian văn hóa làng trở nên

đặc biệt cần thiết trong việc lưu giữ và sáng tạo truyện cười ở làng. Tất cả những

129

người dân ở làng cười vẫn không ngừng bảo tồn, lưu giữ, sáng tạo và phát triển

truyện cười. Với họ, đây vừa là một phần của cơ thể, một thói quen mang tiếng cười

vui sảng khoái đến với những người cùng thôn cùng xóm, vừa là một niềm tự hào

của ngôi làng nơi chôn rau cắt rốn, vừa là giá trị truyền thống của cha ông không

thể bị mai một.

Về mặt lý thuyết, những người nông dân kể truyện cười trong môi trường lao

động: lúc đi cấy cày, khi đánh cá, lúc đan lát,…, thì trong quá trình điền dã, nghiên

cứu sinh không thấy và không ghi chép được. Ngoài ra, các hội thi kể truyện cười

có tồn tại, được lưu giữ đến ngày nay và chúng tôi đã được nghe kể lại, chưa có cơ

hội được chứng kiến. Bên cạnh đó, truyện cười còn được kể trong lúc người nông

dân tụ tập lại uống rượu, uống nước chè,… tức là khi họ kể trong lúc vui chơi, giải

trí. Một điều đáng chú ý là trong bầu khí quyển văn hóa làng ấy, dù có sự xuất hiện

của chúng tôi – những vị khách, những người lạ, thì người diễn xướng vẫn tự tin thể

hiện bản thân, và họ coi như đây là một dịp để “quảng bá” về khả năng “nói phét”

độc đáo của làng mình. Như vậy, người diễn xướng ở các làng cần một môi trường

diễn xướng tập thể, có người kể và người nghe, họ không quá chú trọng về người

nghe có là người thuộc về cộng đồng, tập thể làng hay không. Cũng có trường hợp

người diễn xướng chủ chốt là một người có tiếng trong làng, được mọi người công

nhận tài năng, và trong buổi diễn xướng còn có sự “hỗ trợ” của những người khác

trong làng.

Có thể thấy, tất cả các làng (trừ Trân Châu) thì các truyện cười được người

dân kể đều đã được sưu tập và xuất bản. So với truyện cười cổ truyền, truyện cười

ngày nay không phát triển bằng. Đây là kết quả của sự phát triển công nghệ số trong

thời đại 4.0. Trước kia, văn hóa truyền miệng phổ biến hơn hẳn vì chưa có sự can

thiệp của các thành tựu công nghệ, nhưng ngày nay, nhu cầu giải trí được thỏa mãn

bằng nhiều cách khác nhau. Dù vậy, chúng tôi khẳng định rằng truyện cười càng

ngày càng hẹp đi nhưng nó không mất hẳn. Việc diễn xướng truyện cười ở làng vẫn

được giữ gìn, dù là trong môi trường diễn xướng nào. Ở đây, cần có sự phân biệt

giữa cách trình diễn của người diễn xướng với từng đối tượng khác giả khác nhau.

Không giống với việc giải trí khi cùng ngồi với nhau uống chén trà chén rượu, ông

130

kể cháu nghe, bà con cô bác ngồi tụ tập bông đùa, tư thế và cách biểu hiện của

người diễn xướng trước nghiên cứu sinh – những vị khách ít nhiều vẫn có sự khác

biệt. Người diễn xướng tự điều tiết bản thân, không sử dụng quá nhiều những khẩu

ngữ tếu táo, không có những câu bông đùa như với người trong làng, họ sẽ tự diễn

giải những “từ khó” mang tính địa phương với những vị khách. Đồng thời họ kể

chuyện với tâm thế của một người đại diện cho tiếng nói của làng mình, vì thế họ sẽ

bổ sung thêm những nội dung giới thiệu làng mình, nhấn mạnh về tài “nói phét” của

làng, có sự so sánh giữa truyện cười làng mình và truyện cười làng khác. Điều này

thể hiện nét văn hóa làng, niềm tự hào và sự phân biệt về “làng mình” và “làng

người” rất đặc trưng của những người dân Việt Nam.

3.4. Tiểu kết chương 3

Trào lưu nghiên cứu theo bối cảnh (nghiên cứu diễn xướng/ trình diễn) ra đời

trong ngành folklore học Hoa Kỳ từ những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Hướng

nghiên cứu này do những nhà nghiên cứu trẻ muốn đổi mới phương pháp nghiên

cứu, muốn phủ định khuynh hướng nghiên cứu văn bản mà trước đó các bậc tiền

bối đã tiếp thu từ châu Âu, trong đó có khoa nghiên cứu Văn học dân gian Nga.

Việc nghiên cứu một hiện tượng văn hóa, văn nghệ dân gian trong môi trường diễn

xướng, việc người sưu tầm nghiên cứu tham dự vào quá trình sinh hoạt văn hóa dân

gian, việc nhìn văn bản văn học dân gian theo trạng thái động,… không xa lạ trong

nhiều bài viết, cuốn sách của các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam. Tuy

nhiên, do chịu ảnh hưởng của truyền thống văn học dân tộc, của việc tiếp thu kinh

nghiệm của Liên Xô cũ, ở Việt Nam khuynh hướng chủ đạo là xem xét folklore như

một tác phẩm ngôn từ, đặt văn học dân gian bên cạnh văn học viết trong các khoa

ngữ văn ở các trường đại học. Khi điều kiện lịch sử xã hội cho phép, việc tiếp nhận

và vận dụng kinh nghiệm, lý thuyết của khoa học phương Tây và Hoa Kỳ về

folklore, đã trở thành một trào lưu bình thường trong khoảng vài chục năm gần đây.

Việc nghiên cứu văn học dân gian trong bối cảnh, hay nghiên cứu diễn xướng làm

phong phú hướng tiếp cận, giúp cho ngành nghiên cứu văn học dân gian thêm phát

triển. Chúng tôi nghiên cứu diễn xướng truyện cười ở năm làng cười, thấy rõ vai trò

của người kể, người nghe, môi trường diễn xướng. Điều đó chứng tỏ văn học dân

131

gian không bao giờ bị mất đi trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên sự diễn xướng văn

học dân gian, mà ở đây là truyện cười không được phong phú như sinh hoạt văn hóa

dân gian trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Điều này được quy định bởi

khuynh hướng thưởng thức văn học dân gian như văn học viết, bởi thực tế xã hội và

con người ngày nay đã khác xã hội và con người trước Cách mạng tháng Tám năm

1945 rất nhiều. Do vậy, dù không bị mất đi, song văn học dân gian hiện đại sẽ

không bao giờ phong phú như văn học dân gian cổ truyền. Ngày nay người ta có

nhiều món ăn tinh thần hơn trước, sử dụng nhiều tiện nghi hiện đại hơn trước,

nhưng văn học dân gian đương đại vẫn cần đối với họ. Người ta rất thông minh khi

nhận ra rằng gà và những quả trứng trong môi trường nuôi dưỡng tự nhiên có chất

lượng cao hơn gà và trứng gà công nghiệp, thỉnh thoảng rời bỏ cuộc sống đô thị đi

về những vùng thôn quê, núi non thanh bình, dùng củi đốt thay cho bếp gas, bếp từ

là một dịp tăng cường sức khỏe,… Vậy là trong thời đại 4.0, những thứ thuộc về 1.0

vẫn không hoàn toàn bị loại bỏ.

132

KẾT LUẬN

1. Truyện cười là một thể loại văn học dân gian đặc sắc, tạo nên vẻ độc đáo

của folklore ngôn từ người Việt. Truyện cười dân gian cổ truyền là những truyện

cười được sáng tác và lưu hành từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 trở về trước, đã

được tác giả Nguyễn Chí Bền và các cộng sự tập hợp lại gồm 1013 truyện. So với

truyện cười cổ truyền, truyện cười ở các làng cười ít được biết đến, trong số đó có

một bộ phận ra đời trước Cách mạng tháng Tám, có một bộ phận được sáng tác

trong thời gian kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và gần đây. Trong khuôn khổ

luận án, chúng tôi sưu tầm và khảo sát truyện cười ở năm làng Hòa Làng, Dương

Sơn, Trúc Ổ, Văn Lang, Trân Châu. Năm làng cười này cũng như các làng cười còn

lại đều giống nhau ở chỗ nghề nghiệp chính của dân làng là nghề nông và các làng

đều rất nghèo. Số truyện cười mà luận án khảo sát bao gồm 246 truyện đã được xuất

bản, 53 truyện do chúng tôi trực tiếp sưu tầm. Những truyện cười này đủ về số

lượng và diện lưu truyền để tiêu biểu cho các truyện làng cười Bắc Bộ. Chúng

không chỉ là sản phẩm của những người nông dân, mà còn là sáng tạo của một bộ

phận ngư dân vốn có gốc gác từ nghề nông. Những truyện cười này đại đa số là

truyện cười hiện đại, song vẫn có một số tác phẩm thuộc phạm trù cổ truyền. Trừ

truyện cười ở làng Văn Lang có tiếp thu và phát triển truyện cười cổ truyền, còn về

mặt văn bản truyện cười ở các làng Dương Sơn, Hòa Làng, Trúc Ổ, Trân Châu

không chứng tỏ sự ảnh hưởng từ kho tàng truyện cười cổ truyền đã được định hình

trong rất nhiều sưu tập đã xuất bản.

2. Xét về mặt thi pháp, truyện cười ở các làng cười Bắc Bộ sử dụng nhiều thủ

pháp quen thuộc mà truyện cười cổ truyền hay dùng như: sử dụng ngôn ngữ linh

hoạt, phù hợp; phóng đại; dùng xen kẽ văn vần vào truyện kể văn xuôi, kết thúc bất

ngờ. Bên cạnh sự giống nhau, truyện cười ở các làng cười lại có những điểm khác

so với truyện cười cổ truyền. Chẳng hạn tuy cùng sử dụng thủ pháp phóng đại,

nhưng sự phóng đại trong truyện cười cổ truyền dùng để gây cười giải trí, châm

biếm đả kích thói hư tật xấu; còn thủ pháp này trong truyện cười của các làng cười

hầu hết dùng để tô đậm đặc sản nông nghiệp, ca ngợi vẻ đẹp và sức mạnh của con

người quê hương họ. Nếu việc sử dụng yếu tố tục là khá phổ biến trong truyện cười

cổ truyền thì trong truyện cười ở các làng cười thủ pháp này chỉ có mặt một cách

khiêm tốn. Cũng hiếm gặp hai thủ pháp gậy ông đập lưng ông và bắt chước không

133

thành công cùng một số tiểu thủ pháp khác ở truyện cười các làng cười. Nếu ở

truyện cười cổ truyền người kể ở ngôi thứ ba thì khá nhiều truyện cười ở các làng

cười lại để cho người kể ở ngôi thứ nhất. Sự khác nhau và giống nhau về mặt thi

pháp so với truyện cười cổ truyền chính là đặc điểm thi pháp của truyện cười ở các

làng cười Bắc Bộ.

3. Xét về chất lượng nghệ thuật, nhiều truyện cười ở các làng cười chưa đạt

tới mức điêu luyện, tài tình như truyện cười cổ truyền. Điều này không có gì lạ bởi

truyện cười ở các làng cười đang trên quá trình hoàn thiện, chỉ có một số ít truyện

đã thuần thục; còn nhiều truyện đang chờ một quá trình gia công, sáng tạo thêm qua

việc lưu truyền của cộng đồng. Hiếm thấy dấu vết của truyện cười cổ truyền ảnh

hưởng đến truyện cười ở các làng cười, trừ trường hợp ở làng Văn Lang có một số

truyện được gợi ý từ truyện Trạng Quỳnh và truyện một vài truyện khác. Như vậy

truyện cười các làng cười đang tiếp tục vận động. Những truyện đã được ghi chép

chỉ là sáng tác ở một điểm dừng nhất định. Khi chúng tôi đi điền dã, tại bốn làng đã

có xuất bản truyện cười, chúng tôi vẫn có sưu tập được những truyện mới. Điều này

cho thấy văn học dân gian hiện đại không bao giờ bị mất đi. So với truyện cười cổ

truyền, truyện cười ở các làng cười đã kịp thời phản ánh một nét hiện thực mới. Đó

là quá trình người nông dân khám phá và thích nghi với cuộc sống đô thị.

4. Trào lưu tiếp cận bối cảnh hay nghiên cứu diễn xướng của folklore Hoa

Kỳ diễn ra từ những năm 60 cho đến những năm 70 của thế kỷ XX. Sự ra đời của

trào lưu này đã diễn ra những cuộc thảo luận đáng chú ý và để lại những công trình

nghiên cứu khác với hướng nghiên cứu theo văn bản văn học dân gian. Sự ra đời

của trào lưu này thể hiện khuynh hướng các nhà khoa học Hoa Kỳ muốn tạo vị thế,

tạo ra cái mới so với truyền thống châu Âu, trong đó ngành folklore Nga đóng vai

trò đáng kể và không ít công trình của họ đã được dịch ở phương Tây và Hoa Kỳ.

Trào lưu bối cảnh làm phong phú khoa học về folklore. Cả hai khuynh hướng

nghiên cứu theo văn bản và nghiên cứu bối cảnh/ diễn xướng đều có đóng góp cho

khoa học. Một thái độ khoa học nhất là không nên tuyệt đối hóa, cực đoan hóa một

khuynh hướng nào.

Các nhà nghiên cứu Việt Nam từ rất lâu đã phân biệt giữa văn bản văn học

dân gian cố định trên trang giấy và sự vận động, lưu truyền không ngừng của tác

phẩm trong đời sống dân gian. Từ rất sớm, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã có

134

những nhận xét, phân tích gặp gỡ các phát biểu, quan niệm của trào lưu tiếp cận bối

cảnh trong giới folklore Hoa Kỳ. Trước năm 1975, ở miền Bắc Việt Nam việc vận

dụng các quan niệm học thuật của các tác giả phương Tây không được khuyến

khích. Trong bối cảnh mới hiện nay, ngoài việc giao lưu, tiếp thu kinh nghiệm, lý

luận của các nhà khoa học Trung Quốc, Nga, các nhà khoa học Việt Nam đã chủ

động giao lưu, vận dụng nhiều thành tựu, kinh nghiệm nghiên cứu của các học giả

phương Tây và Hoa Kỳ. Trong vài chục năm nay, nhiều luận văn cao học, luận án

Tiến sỹ đã vận dụng lý thuyết, kinh nghiệm của trào lưu bối cảnh và đã đạt được kết

quả khả quan.

5. Sau khi tổng kết đặc điểm thi pháp của các truyện cười ở làng cười Bắc Bộ,

chúng tôi khảo sát việc diễn xướng truyện cười ở năm làng Hòa Làng, Dương Sơn,

Trúc Ổ, Văn Lang, Trân Châu. Tuy các nghệ nhân kể truyện cười không còn phong

phú như thời gian trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhưng hầu như làng nào

cũng có những nghệ nhân chính. Họ được cộng đồng suy tôn là những người nhớ

nhiều truyện, kể hấp dẫn. Trừ một nghệ nhân có cuộc sống vật chất sung túc và đời

sống tinh thần viên mãn, hầu hết các nghệ nhân kể chuyện nổi tiếng là nam giới, tuổi

từ trung niên trở lên, đa phần là quá tuổi trung niên. Họ không khá giả về vật chất, có

một số người còn gặp khó khăn, nhưng đều lạc quan, vui chuyện. Chất giọng đặc

biệt, các động tác phụ trợ của tay chân, ánh mắt và thái độ hoặc thản nhiên tưng tửng,

hoặc vừa kể vừa hỏi sau đó giải thích cho người nghe đã làm thành công các buổi

diễn xướng. Có thể nói người kể chuyện cười ở các làng Bắc Bộ là nam giới. Khác

với dân ca đối đáp, vai trò của nam nữ nghệ nhân là bình đẳng, nếu không muốn nói

trong nhiều cuộc hát phụ nữ chiếm ưu thế và giành phần thắng. Còn việc kể chuyện

cổ tích ngày xưa thường do các cụ bà đảm nhiệm, kể truyền thuyết là do các cụ ông

nhất là những người ít nhiều được đào tạo Hán học. Tuy vậy trong việc kể truyện

cười ở năm làng, chúng tôi vẫn bắt gặp một vài người phụ nữ khá đặc biệt; họ cũng

tạo được cái duyên riêng khi tham gia diễn xướng truyện cười.

Do thực tế ngày nay đã khác xa với nông thôn cổ truyền trước Cách mạng

tháng Tám, do ở Việt Nam đã tồn tại một khuynh hướng thưởng thức văn học dân

gian như văn học viết bởi việc giáo dục phổ thông, bởi các nhà biên soạn nổi tiếng

như Nguyễn Đổng Chi, Vũ Ngọc Phan, do việc xem văn học dân gian là một tác

phẩm ngôn từ, việc nghiên cứu diễn xướng dân gian chưa đạt được như kỳ vọng.

135

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Nguyễn Thị Thùy (2020), “Truyện cười ở một làng hải đảo (Khảo

sát ở xã Trân Châu, huyện Cát Hải, Hải Phòng)”, Tạp chí Khoa học,

Đại học Sư phạm Hà Nội 2, 65(2), 68- 73.

2. Nguyễn Thị Thùy (2022), “Đặc điểm “Truyện làng cười” trong hệ

thống truyện cười nói chung về phương diện kết cấu (Khảo sát tại

Hải Phòng, Bắc Giang, Phú Thọ)”, Tạp chí Khoa học, Đại học Sư

phạm Hà Nội 2, 77(2), 35- 42.

3. Nguyễn Thị Thùy (2022), “Không gian – thời gian các buổi diễn

xướng truyện cười ở làng cười”, Tạp chí Khoa học, Đại học Sư

phạm Hà Nội 2, 79(6), 59- 66.

136

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đỗ Bình Trị (2017), Mấy nghiên cứu - ứng dụng học thuyết của V.Ja.Prôpp

về folklore, tập 1, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

2. Trần Quốc Thịnh (sưu tầm và biên soạn) (1988), Truyện làng cười xứ Bắc,

Sở Văn hóa thông tin Hà Bắc.

3. Đinh Gia Khánh (1990), “Phương pháp tổng hợp trong việc nghiên cứu

folklore”, trong: Văn hóa dân gian những phương pháp nghiên cứu (Ngô

Đức Thinh, Nguyễn Xuân Kính tổ chức bản thảo), Nhà xuất bản Khoa học xã

hội, Hà Nội, tr.9-20.

4. Viện Văn hóa dân gian, thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, (1990), Văn

hóa dân gian những phương pháp nghiên cứu, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

5. Nguyễn Xuân Kính (2022), Nhận thức mới về văn hóa dân gian, Nxb Đại

học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

6. Nguyễn Xuân Kính biên soạn (2003), Tập 19: Nhận định và tra cứu, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội (trong bộ Tổng tập Văn học dân gian người

Việt 19 tập).

7. Đinh Gia Khánh chủ biên, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1997), Văn học

dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục tái bản, Hà Nội.

8. Lê Chí Quế chủ biên (1998), Văn học dân gian Việt Nam, in lần thứ 3, Nxb

Đại học Quốc gia Hà Nội.

9. Hoàng Tiến Tựu (1990), Văn học dân gian Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

10. Nguyễn Bích Hà (2008), Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Đại

học Sư phạm, Hà Nội.

11. Vũ Anh Tuấn chủ biên (2012), Giáo trình văn học dân gian, Nxb Giáo dục

Việt Nam, Hà Nội.

12. Đỗ Bình Trị (1999), Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân

gian, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

13. Triều Nguyên (2011), Tìm hiểu truyện cười Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội.

14. Kiều Thu Hoạch (2006), Văn học dân gian người Việt góc nhìn thể loại, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội.

137

15. Nguyễn Đổng Chi (2003), Qua việc khoanh vùng sưu tầm văn học dân gian

tại một xã thí điểm, trong Tổng tập Văn học dân gian người Việt, tập 19,

Nhận định và tra cứu, (Nguyễn Xuân Kính biên soạn), Nxb Khoa học xã hội,

tr. 168-188 (bài này công bố lần đầu trên Tạp chí Văn học năm 1971, số 9)

16. Nguyễn Chí Bền chủ biên (2005), Tập 8: Truyện cười (trong bộ Tổng tập văn

học dân gian người Việt, 19 tập), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

17. Nhiều tác giả (1995), Nhà văn Vũ Ngọc Phan, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

18. Nghiêm Đa Văn (1984), “Khảo sát bước đầu về các làng cười Việt Nam”,

Tạp chí Văn học, số 2, tr.107-123.

19. Nguyễn Đình Bưu, Trần Quốc Thịnh (1985), “Làng cười, làng văn hóa Hà

Bắc”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 1, tr.73-80.

20. Đinh Gia Khánh chủ biên (1973), Văn học dân gian, tập 2, Nxb Đại học và

Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

21. Nguyễn An Tiêm (2015), Cái hài trong truyện cười dân gian người Việt,

Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.

22. Phạm Thị Hằng (2007), Ca dao cười Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

23. Bùi Thị Diệu Thúy (2022), So sánh truyện cười dân gian và cao dao cười

dưới góc độ thi pháp học, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam,

Trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Thái Nguyên.

24. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên (2004), Từ điển thuật

ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

25. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên (2004),

Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế giới, Hà Nội

26. Đặng Văn Lung (1977), “Ý nghĩa của việc nghiên cứu diễn xướng dân gian”,

trong: Đặng Văn Lung, Sông đời và hoa trôi, Nxb Khoa học xã hội, 36-52.

27. Kiều Trung Sơn (2012), “Nhìn lại khái niệm diễn xướng”, Tạp chí Văn hóa

dân gian, số 5, tr.3-12.

28. Hoàng Phê chủ biên (2021), Từ điển tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.

29. Tô Ngọc Thanh chủ biên (1988), Fônclo Bâhnar, Sở Văn hoá Thông tin Gia

Lai – Kon Tum

30. Đỗ Hồng Kỳ (2008), Văn học dân gian Ê Đê, Mơ Nông, Nxb Khoa học xã

hội, Hà Nội.

31. Chu Xuân Diên (2002), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Tp. HCM.

138

32. Ngô Đức Thịnh (2004), Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt Nam,

Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

33. Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận chủ biên (1995), Các vùng văn hoá Việt Nam,

Nxb Văn học, Hà Nội.

34. Ngô Đức Thịnh chủ biên (1993), Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt

Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

35. Nguyễn Từ Chi (2003), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb

Văn hóa dân tộc và Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội.

36. Nguyễn Tùng (2002), “Về không gian làng”, trong: Philippe Papin, Olivier

Tessier chủ biên, Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ, Nxb

Lao động – xã hội, Hà Nội.

37. Toan Ánh (1993), Làng xóm Việt Nam, tái bản, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

38. Trầm Hương (2023), “Món quà của chú Sáu Dân”, Văn nghệ, số 2+3+4, tr.16-17.

39. Nguyễn Xuân Kính, Bùi Thiên Thai (2020), Lịch sử văn học dân gian Việt

Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

40. Phan Đình Minh (2023), “Cha tôi Kép Cúc”, Phụ san 10 truyện ngắn hay

2022, trong Văn nghệ Tết Quý Mão 2023.

41. Nguyễn Xuân Kính chủ biên (2023), Văn hoá vật chất và văn hoá xã hội thời

kỳ Đại Việt, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.

42. Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng đồng chủ biên (1994), Lễ hội truyền thống

trong đời sống xã hội hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, bài “Mấy

đặc điểm của sinh hoạt lễ hội cổ truyền của người Việt ở Nam Bộ” của

Thạch Phương.

43. Phan Đại Doãn (1992), Làng Việt Nam một số vấn đề kinh tế - xã hội, Nxb

Khoa học xã hội và Nxb Mũi Cà Mau, Hà Nội – Cà Mau.

44. Trần Văn Thục (2011), Làng cười Văn Lang, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

45. Hữu Thục, Dương Huy Thiện (2006), Làng cười Văn Lang, Nxb Văn hoá

Thông tin, Trường Đại học Hùng Vương, Hà Nội.

46. Trương Vĩnh Ký (1888), Chuyện đời xưa, lựa nhón những chuyện hay và có

ích, xuất bản lần thứ 4, Sài Gòn.

139

47. Nguyễn Hồng Phong (2005), Một số công trình nghiên cứu khoa học xã hội

và nhân văn, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

48. Đỗ Lai Thúy (2001). “Người Việt cười”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 6,

tr.52-55.

49. Nguyễn Huy Bỉnh (2010), “Nghệ thuật gây cười trong truyện làng cười xứ

Bắc”, Tạp chí Văn học, số 4, tr.54-67.

50. Nguyễn Huy Bỉnh (2015), Truyện kể dân gian trong không gian văn hóa xứ

Bắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

51. Nguyễn Xuân Kính (2012), Thi pháp ca dao, in lần thứ 6, Nxb. Đại học

Quốc gia Hà Nội.

52. Tố Hữu (1995), Thơ, in lần thứ 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

53. Tzvetan Todorov (2010), Văn chương lâm nguy, Trần Huyền Sâm và Đan

Thanh dịch, Trần Thiện Đạo hiệu đính, Nxb Văn học, Hà Nội.

54. Đinh Trọng Lạc (1994), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

55. Alan Dundes (1964), “Texture, Text and Context”, in trong Southern

Folklore Quarterly, số 28, tr.251-265.

56. Dan Ben-Amos, “Toward a Definition of Folkore in Context”, in trong

Journal of American Folklore, số 84 (1971), tr.3-15.

57. Roges Welsch, “A Note on Definition”, in trong Journal of American

Folklore, số 81, tr.262-264.

58. Richard Bauman, “Towards a Behavioral Theory of Folklore: A Reply to

Roger Welsch”, số 82 (1969), tr.167-170.

59. Lê Thị Thanh Vy (2020), Nghiên cứu folklore trong bối cảnh: lý thuyết và

ứng dụng (trên cứ liệu tục ngữ trong văn học Việt Nam), Luận án Tiến sỹ Lý

luận văn học, Trường Đại học KHXH&NV – Đại học Quốc gia Tp. HCM.

60. D.K Wigus, “The Text is The Thing”, in trong Journal of American Folklore,

số 86 (1973), tr.241-252.

61. Dorson, Richard M. (1982), Concepts of Folklore and Folklife Studies.

Folklore and Folklife: An Introduction. Richard M. Dorson (biên tập).

Chicago: University of Chicago Press, 1-50.

62. Viện Văn hóa dân gian, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1989), Văn hóa

dân gian những lĩnh vực nghiên cứu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

140

63. Hồ Quốc Hùng (2015), “Nguyễn Đổng Chi – Nhà sưu tầm, khảo cứu văn học dân gian từ thực tiễn đến lý luận” trong Nguyễn Đổng Chi học giả - nhà văn,

Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

64. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên (1962), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

65. Chu Xuân Diên (2008), Nghiên cứu văn hóa dân gian phương, lịch sử, thể

loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

66. Đinh Gia Khánh (1989), Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội.

67. Nguyễn Hùng Vỹ (2014), “Giáo sư Đinh Gia Khánh: Quan niệm về folklore và tính nguyên hợp”, trong Giáo sư Đinh Gia Khánh, nhà giáo – nhà khoa

học tiên phong, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

68. Nhiều tác giả (2007), GS.TS Hoàng Tuỵ sĩ phu thời nay, Nxb Tri thức, Hà Nội. 69. Đặng Văn Lung (2001), “Một chặng đường và những mẩu đời”, trong: Đặng

Văn Lung, Sông đời và hoa trôi, Nxb Khoa học xã hội, tr.558-575.

70. Nguyễn Tấn Đắc (2013), Về Type, Motif và tiết truyện Tấm Cám, Nxb Thời

đại, Hà Nội.

71. Đỗ Bình Trị (1991), Văn học dân gian Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 72. Nguyễn Xuân Kính chủ biên (2019), Những vấn đề của khoa học nghiên cứu

văn học dân gian, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

73. Đoàn Thị Bích Thủy (2012), Nghiên cứu hiện tượng làng cười dưới góc độ nhân học văn hóa (trường hợp làng cười Văn Lang, Phú Thọ), Luận văn

Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

74. Lư Thị Thanh Lê (2018), Huyền thoại về nguồn gốc của các tộc người ở Việt Nam tiếp cận từ góc độ nhân học văn hóa, luận án Tiến sỹ Văn học dân gian,

trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. 75. Nguyễn Hữu Nghĩa (2016), Truyện kể dân gian Việt Nam và Myanmar nghiên cứu theo hướng tiếp cận bối cảnh (Sinh hoạt Phật giáo), Luận án tiến sỹ chuyên ngành Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.

76. Lâm Minh Châu (2017), Đổi mới, kinh tế thị trường và hiện đại hóa (Trải

nghiệm ở một làng nông thôn Bắc Bộ Việt Nam), Nxb Hà Nội.

MỤC LỤC PHỤ LỤC

1. Danh mục truyện cười các làng cười ......................................................... 1

1.1. Truyện cười làng Trân Châu .................................................................. 1

1.2. Truyện cười làng Hòa Làng .................................................................... 7

1.2.1. Truyện cười đã xuất bản ..................................................................... 7

1.2.2. Truyện cười do NCS sưu tầm ........................................................... 15

1.3. Truyện cười làng Dương Sơn ................................................................ 20

1.3.1. Truyện cười đã xuất bản ................................................................... 20

1.3.2. Truyện cười do NCS sưu tầm ........................................................... 30

1.4. Truyện cười làng Trúc Ổ ....................................................................... 35

1.4.1. Truyện cười đã xuất bản ................................................................... 35

1.4.2. Truyện cười do NCS sưu tầm ........................................................... 40

1.5. Truyện cười làng Văn Lang .................................................................. 41

2. Danh sách 1013 truyện cười cổ truyền do Nguyễn Chí Bền và cộng

sự biên soạn (từ tập 8: Truyện cười của bộ Tổng tập văn học dân gian

người Việt) ...................................................................................................... 49

3. Bảng khảo sát số lượng nhân vật xuất hiện trong truyện cười ở làng ........ 84

4. Bảng thống kê tỉ lệ sử dụng các thủ pháp gây cười trong truyện cười ở làng ... 84

5. Bảng thống kê các chủ đề xuất hiện trong truyện cười ở làng .................... 86

5.1. Bảng thống kê truyện cười ở làng có 1 chủ đề .................................... 86

5.2. Bảng thống kê truyện cười ở làng có 2 chủ đề .................................... 86

1.PL

PHỤ LỤC

1. DANH MỤC TRUYỆN CƯỜI CÁC LÀNG CƯỜI

1.1. TRUYỆN CƯỜI LÀNG TRÂN CHÂU

Ở Cát Bà có câu “Nhất Nghiễm, nhì Cuông, tam Rồng, tứ Thuận”

(1) Bán hàng

Một ông đó đi mua thúng hỏi:

- Bao nhiêu một đôi thúng?

- Hai chiếc một đôi chứ mấy – Bà bán thúng trả lời.

(2) Con cua khổng lồ

Buổi sáng ông Tiểu ngủ dậy vươn vai đứng trước cửa, giật mình nhìn ra ngõ

thấy cái thuyền nan úp đầu ngõ, không ai lại sau một đêm đi úp thuyền nan trước cổng

nhà mình, nhìn đi nhìn lại, dụi mắt đi lại lúc đang mơ ngủ không ngờ đó là một chiếc

mô cua úp trước cổng. (Mô cua là cái mai con cua sau khi ăn xong người ta ném ra

trước ngõ, ông nhìn cái mai cua mà nhìn hẳn thành chiếc thuyền nan úp ngược).

(3) Củ Sắn và con rím

“ Có một ông tên là Lê. Sáng ngủ dậy vợ ông mới bảo:

- Ông có rỗi thì đi ra ngoài vườn. (Vườn cái chỗ đồi, trước nhà ông Lê ở

trên ấy). Ông ra ông cuốc cái sắn về cho gà nó ăn.

Ông ấy đi cuộc gốc sắn và đào được củ sắn to. Ông ấy mới xách cả gốc về

nhà và bảo:

- Bà ơi ra xem tôi cuốc được củ sắn to lắm.

Ông ấy vứt củ sắn giữa sân, một con rím trong củ sắn nó bò ra. Đó là một

con rím con, nó ăn sắn xong chui vào ngủ trong. Vợ ông thấy thế bảo:

- Ối giời ơi, ông cuốc sắn mà hôm nay may nhỉ, bắt được cả con rím.

(4) Củ sắn sinh ra con nhím

- Tôi kể các ông bà nghe, nhà tôi có củ sắn to bằng con Nhím, không những

thế củ sắn nhà tôi còn sinh ra con Nhím, các ông bà tin không?

- Ông nói thế nào, làm gì có củ sẵn nào to như vậy, mà làm gì có chuyện đó.

- Thế mà thật đấy

- Ông nói đi chúng tôi xem nào

2.PL

- Tôi đi lên đồi cuốc được cái gốc sắn đem về vất ở sân, một lúc thấy con

Nhím trong củ sắn bò ra, thế chẳng phải củ sắn sinh ra con Nhím còn gì.

Giải thích: Con Nhím đi tìm ăn từ nhỏ, nó chui vào bụi sắn cứ thế chui thẳng

vào (không quay đầu được vì chật), nó cứ nằm trong đó ăn và nó lớn lên cùng bụi sắn.

(5) Cục nước bọt

Ông Rồng đi lên phố thấy chỗ nào cũng giống nhau bèn nhổ một cục nước

bọt của mình xuống chân để đánh dấu điểm xuất phát, cũng là đánh dấu chỗ mình

để xe đạp. Sau khi đi tham quan thành phố xong ông quay lại, không thấy xe đạp

cũng chẳng thấy cục nước bọt đâu, bèn hỏi người dân xung quanh: Các bác có thấy

cái xe đạp tôi để đây mà tôi đã đánh dấu bằng cục nước bọt của tôi không?

(6) Dẫm chết chín con gà

Ông Nên có đàn gà 11 con, buổi ông bước ra cho gà ăn mà lỡ chân dẫm chết

chín con, đấy chân voi mới dẫm được một phát chết chín con gà. Đấy thế mà thật,

giờ còn hai con bà Lục đang nuôi kia kìa. (Vừa nói vừa chỉ ra hai con gà ngoài sân)

(7) Gặp ma

“Ông già tôi đi đánh cá. Khi ông đi thì lạ làm sao cứ thấy có người đi trước

thôi. Mà gọi bảo đợi thì không đợi, vì trước đi đánh te thì đều rủ nhau đi đánh mà.

Ông già gọi không thưa, đi xuống đến một chỗ nó gọi là Gánh Biển (người kể tả lại

vị trí và con đường đi đến khu vực được nhắc đến), thì thấy biến mất. Bởi vì cứ đi

trước ông già mà giờ không thấy. Ông già đi đánh cá, hồi xưa cá nó nhiều lắm, ông

già bẩy 2 cái mà đầy thùng. Xong ông già về, về không gặp cái gì cả. Về đến sân bà

có hỏi nhưng ông không nói chuyện hôm qua, chỉ nói:

- Bà nhặt cá hộ tôi.

Bà già nhặt cá, nấu cá xong thì hỏi:

- Sao hôm nay đi đánh te được cá mà về không tắm rửa cũng không nói

năng gì?

Ông già mới khoe, bảo:

- Chính thức là gặp ma. Mà đánh te bao nhiêu năm không gặp, mà sao hôm

ấy lại gặp.

3.PL

(8) Hòn đá

Bà giục ông Lê là:

- Hôm nay trời nó đẹp ông đi đánh te đi.

Thế là ông ấy mới lấy te với các thứ để mà đi xiếc ở ngoài. Thấy con chim

nó đậu ở cây hồng trước cửa, ông lấy hòn đá ném nó, ném thì con chim nó không

chết, nó bay đi, hòn đá nó cũng bay đi. Đến khi ra đánh te được giỏ cá, ông kể:

- Lạ thật, mình nhặt hòn đá ném con chim mà đến khi ra đánh cá, mình bẩy lên

thì mình lại nhìn thấy cái hòn đá ấy. Làm sao mà đúng cái hòn đá mình ném con chim.

(9) Hòn đá kì lạ

Ông Tiểu và ông Tiếu đi đánh te, thấy con chim chào mào trên ngọn bạch

đàn, ông Tiểu cầm hòn đá ném chết con chim chào mào đó, hai ông nhổ lông nướng

ăn, ăn xong hai ông ra bãi đánh te, giương tùng te ra thấy cái tõm xuống, nhấc te lên

thấy đúng hòn đá mình ném con chim chào mào khi sáng. Kỳ lạ, chim thì chết

nướng ăn rồi, mà hòn đá giờ mới rơi.

(10) Lần đầu ra phố

Có một bà từ quê ra thành phố dự trao giải thưởng cháu trai mà bà ấy mắc đi

đại tiện, không cách nào tìm được cái cầu tiêu, bà bèn tìm cách lên sân khấu tặng

hoa cháu trai rồi ghé tai nói:” Cầu tiêu ở đâu?”. Người cháu trai bèn chỉ bác lên tầng

3, bà chui vào trong đó rồi còn lẩm bẩm, đi thế này thì ỉa lên đầu người ngồi dưới à.

Nghĩ vậy, bà bèn đi vào túi nilong rồi quẳng xuống đường.

(11) Mặc cả

Ông này gốc Trân Châu ra chợ mua ca, hỏi bà bán cá:

- Bao nhiêu tiền 1 cân cá?

- 25 nghìn một cân cá

- Đắt thế, tôi chỉ trả 1 cân 25 nghìn, bán không? Bán thì bán nhanh nhanh,

cân thì cân cẩn thận…

(12) Ô tô kẹp chết

Ổng Tiểu Chú với ông Già đi vào Hải Phòng, ông Tiểu ngồi xế lô với ông

già. Xế lô nó đạp xe cẩn thận lắm, ông Tiểu ngồi với ông Già thấy ô tô nó chạy

đằng sau, ông Tiểu mới kêu lên: ối ôi, ô tô nó kẹp chết tôi rồi. Ông Tiểu ngồi cứ giơ

tay lên kêu: ối ối a ơi, xe nó húc chết. Ông xế lô bảo:

4.PL

- Không sợ đâu ông ạ, hai ông ở quê vào không biết, chúng tôi chạy xế lô

phải cẩn thận, ô tô không đâm được đâu ạ.

(13) Ông Buông bắt tắc kè

Ông Buông đi vào rừng gặp một cái bang nhưng nhìn cái bang nhiều tắc kè

quá, không sao bắt được hết, ông bèn đi về nhà lấy một cái bao quấn quanh gốc, lấy

cục đá ném lên ngọn, tắc kè tự rơi vào bao, thế là ông có bao tắc kè mang về.

(14) Ông Chiểu và công an

Ông Chiểu đi ra nhà ông Mạnh – nhà ở bến Bính, ông ấy đi ra đến cửa nhà

hát lớn, hẹn ông Mạnh. Ông Chiểu hỏi anh công an:

- Anh ơi, anh có thấy ông Mạnh ở Trân Châu đi qua đây không?

- Ôi bác ơi, Hải Phòng này nó rộng lắm, thế anh Mạnh đấy ở đâu?

- Anh Mạnh người Trân Châu, tôi hẹn anh ấy ở đây.

- Thế thì em cháu cũng chịu không biết.

(15) Ông Cờ tìm cháu

Ông Cờ ông ấy vào Hải Phòng, đến Bến Bính gọi xế lô. Ông này không am

hiểu thành phố, muốn qua nhà ông Huệ. Ông lái xế lô hỏi:

- Ông già ơi ông về đâu?

- Tôi về nhà cháu tôi, tên là Huệ, người Cát Bà, nhà ở phố Trung Quốc.

Cháu tôi làm công nhân ở đây đó.

- Vậy ông có nhớ số nhà bao nhiêu không?

- Không nhớ số nhà, nhưng chỉ biết là nhà cháu tôi có câu đối

- Vậy thì khó lắm ông ạ!

- Thôi được rồi cứ giúp ông tìm được cháu ông, chả mấy khi mà Cát Bà vào đây.

Đạp mấy vòng, mà nhiều câu đối quá không biết nhà nào, nhà nào ông cũng

bắt dừng xe xuống hỏi, mệt quá ông xế lô bảo:

- Thôi ông ơi tôi không chở ông nữa đâu, làm gì có nhà cháu nào của ông,

ông cho tôi xin tiền công, tôi chở ông về chỗ cũ.

- Ông mệt để tôi, ông chỉ đường đi tôi chở. Nhưng đùng cái ông Cờ nhìn thấy

ông Huệ dắt xe đạp đi làm, ông kêu lên:

- Ối dồi ôi, cháu tôi đây rồi, cho tôi xuống xe.

5.PL

- Ối cháu ôi, ông vào tìm cháu mãi.

….

(16) Ông Rồng đi xế lô

Ông Rồng này ông ấy quái lắm, ông Rồng ông ấy thành thạo lắm. Ông ấy

vào Hải Phòng, ông ấy gọi xế lô. Ông xế lô mới bảo:

- Thế ông đi hả?

- À, thế ông chở tôi đến chỗ nhà thằng cháu tôi tí.

Ông xế lô bảo:

- Vậy cháu nó ở phố nào?

- Thôi cứ chở đi, nó gần ấy mà.

Trước khi ông Rồng đi ông ấy mới nhổ cái cục nước bọt ở cái chỗ xế lô đậu.

Ông xế lô tưởng là cái ông già này nhổ nước bọt thì cũng bình thường. Ông xế lô

chở ông Rồng đi phải đến 20 phút ở Hải Phòng. Quy định của xế lô là “Nếu mà anh

chạy ở chỗ nào thì anh phải đậu ở khu vực ấy”, để người ta dễ quản mà. Ông xế lô

đạp một chốc lại đạp về đấy. Thì nó cách cái nhà đấy khoảng chừng có cây thôi.

Đến đấy thì ý ông Rồng ông ấy muốn là đi chơi thôi chứ không phải đi tìm, vì ông

Rồng ông ấy còn lạ gì với cái rạp chiếu bóng. Thế là ông xế lô bảo:

- Tôi đạp xe mệt lắm rồi, ông cho tôi xin tiền.

Cái thời ấy tiền nó giá trị lắm, nếu nói về tiền thì cái thời ấy chú đi bộ đội

nhưng lương tháng chỉ coi như là 5 đồng hơn 5 đồng tí thôi. Tầm đấy là năm sáu

mấy, khoảng 71-72. Thế là ông Rồng với ông xế lô cãi nhau, ông ấy bảo là:

- Cái gì mà lấy nhiều tiền thế á?

Thì ông xế lô bảo:

- Tôi đạp bao nhiêu lối mà. Bây giờ tôi đạp ông đến đây mà ông vẫn chưa

tìm được cháu ông. Tôi đạp cho ông từ nãy giờ nên tôi lấy tưng đây tiền.

- Anh đạp xe, anh đạp vòng quanh rồi bây giờ anh lại quay về cái chỗ ban đầu.

Ông xế lô nó cứ cãi, vì nó tưởng nhà quê không biết gì. Ông Rồng cao to,

trông ông ấy dữ lắm. Ông Rồng ông ấy túm tai ông ấy bảo:

- Này, nói để cho anh biết nhé, cái cục nước bọt tôi nhổ ngay ở chỗ này vẫn

còn nguyên.

Cuối cùng ông xế lô ấy coi như ông ấy không giả tiền.

6.PL

(17) Ông Rồng và công an

Đời thủa nhà ai cái Hải Phòng nó đông như thế mà ông Rồng bảo công an là:

- Anh công an ơi anh có biết anh Mạnh người Trân Châu đi qua đây không?

- Anh Mạnh ở đâu hả bác?

- Anh Mạnh ở Trân Châu đó

Anh công an ớ người ra còn ông Rồng ông ấy quay đi cười. Ông hỏi thế thì

có giời biết.

(18) Ông Rồng tìm ong

Ông Rồng đi tìm đàn ong của mình, ông ấy đứng bên này đỉnh núi, nhìn thấy

con ong soi đã thấy ong về đến tổ, vậy mà ông ấy đi về đến nơi, ong cũng về đến tổ.

Đi từ đỉnh núi bên này về đến tổ ong, mà ong cũng về đến cửa tổ.

Có cái chuyện đi tìm ong, mà đứng bên này đỉnh núi nhìn thấy con ong. Ông

ấy sang đây thì ong bay về. Mà người đi về đến nơi ong mới đến tổ. Không biết

ông đi nhanh thế nào mà còn kịp cả ong. Thế mới tài, đi từ đỉnh núi bên nọ về đến

cửa mà ong cũng về đến tổ.

(19) Ông Thuận làm lật thuyền

Người làng Trân Châu truyền tai nhau rằng nếu đi thuyền mà thấy ông Thuận thì

không được đi chung vì người ta sợ lật thuyền.

- Sao lại thế hả ông? Ông Thuận to béo quá à?

- Không phải, ông Thuận ông ấy kể truyện cười hay quá, ông ấy ngồi bên

nào người dân lại dồn hết sang bên ấy nên dễ gây lật thuyền.

(20) Tìm người

Ông Mạnh và hai ông bạn đi vào Hải Phòng đến bến Bính hẹn nhau, ba ông

bắt đầu đánh dấu. Một ông cầm cành cây đánh dấu đường, một ông rải muối. Trời

nắng, muối tan hết, cành cây thì ông đem cắm vào đầu ô tô, đến khi ô tô chạy mất.

Ông Mạnh không còn cách nào hỏi bà bán nước:

- Cô ơi cho cháu hỏi cô có thấy ông Tiểu chú đi qua đây không?

- Tiểu bán vai ở ngoài Cát Bà, ngoài Trân Châu ấy

Bà bán nước ngớ người không hiểu hỏi kiều gì.

Ông bạn còn lại tỏ vẻ thông minh hơn hỏi:

- Bà có nhìn thấy cái ông mà cứ cắm cành cây ở đường không?

Ba ông lạc nhau đến mấy ngày mới về đến Trân Châu.

7.PL

1.2. TRUYỆN CƯỜI LÀNG HÒA LÀNG

1.2.1. TRUYỆN CƯỜI ĐÃ XUẤT BẢN

(1) Bánh dầy lớn

Tôi có mẫu ruộng thượng đẳng điền cha ông để lại hai chục năm nay tôi vẫn

cấy lúa giò (nếp cái). Hôm phải lo việc làng, cả họ tôi phải xúm vào giã bánh dầy.

Bánh làm nhân đỗ, mỡ, hạt tiêu, khi đem ra đình cả họ khiêng không nổi,

phải nhờ cả xóm.

Cúng thần xong, làng hạ lệnh chia, dao cắt không nổi, phải lấy búa bổ.

Làng cử hai anh lực điền bổ bánh. Búa chém xuống một tiếng “bộp”, đỗ bắn

ra, sức những anh lực điền hơn hai mươi tuổi mà ngã lăn kềnh, mùi hạt tiêu sặc vào

mũi ngạt ngất bốn ngày liền.

(2) Bắc thang hái rau dền

Khách vừa vào nhà, hỏi thằng bé:

- Bố cháu có nhà không?

- Bố cháu đang bắc thang hái rau dền ở ngoài vườn ấy!

Lấy làm lạ, ông khách hỏi lại:

- Làm sao hái rau dền lại phải bắc thang?

Thằng bé nói:

- Cây rau dền nhà cháu cao lắm, thang có dài mới bắc được, chứ thang ngắn

không với tới ấy!

Khách ra vườn quả thấy ông chủ đang treo thang hái những ngọn rau dền

mọc ở bờ tường đắp đất.

(3) Bắn một được ba

- Bố tao đi bắn hươu mày ạ, ông cụ bắn giỏi lắm một phát tên mà trúng ba con.

- Mày nói phét, bắn thế nào mà tài thế?

- Thật đấy, bắn trúng bụng con hươu cái, trúng dái con hươu đực, trúng ức

con hươu con, ba con chết nằm co tròn một đống.

- Nói phét, tên dài đến đâu mà xuyên mạnh thế.

- Này nhé! Nó là con hươu đang có mang, mổ ra có hai con hươu con nằm

giở đầu đuôi, bị tên xuyên suốt.

8.PL

(4) Cá rô đớp gẫy cành gạo

Đồng Hòa Làng làng chúng tôi cá rô nhiều vô kể, con nào con ấy to phàn

phạt như chiếc là mít, dạo mưa nó ngược lên cốc đồng cao đen xì một lượt, có

những con nhảy lên đớp gãy cành gạo.

- Ông nói khoác, cá rô mà đớp được gãy cành gạo?

- “Ấy là nó đớp gẫy những giẽ lúa mà không phải là cành gạo ư?”

(5) Cá trê rũi bật bè tre

Lại một ông Hòa Làng đi ăn giỗ, trong mâm có bát cá trê ôm giềng, có ông

khách nói:

- Vùng này lắm cá trê nên cỗ làm rẻ mà ngon, vùng tôi hiếm lắm, ốm đau có

tìm được một con mà dim cũng khó.

Ông Hòa Làng cũng ngồi mâm ấy:

- Thấm gì với làng tôi, cá trê còn nhiều hơn cá nóc đón mưa rào, cá trê nhiều

đến nỗi rũi bật cả mấy bè tre ngâm lên.

“Chứ sao? Mấy bè tre ngâm dưới ao bùn lâu, cá trê chui vào làm tổ, khi tát

ao, một vài người bới được, thế là ai nấy xúm vào bẩy bật bờ tre lên để bắt cá trê”.

(6) Chín mà không phải chín

Ở làng chúng tôi có ông lực điền, sáng sớm dậy ra đồng cày chin sào ruộng,

về đốt chín gánh than, sau đó gánh cả “thóc, gio, bò, mạ” ra đồng, gieo hết ba nồi

thóc mạ, sực nhớ đến giỗ bố, xuống chợ mua đồ cúng, chợ vẫn không có người:

- Thế là thế nào?

- Cày chín sào ruộng là cày “chín”, cày không đỏi một sào ruộng, chứ không

phải cày được 9 sào ruộng. Đốt chín gánh than là đốt “chín nục” một gánh than,

không còn lõ, gieo ba nồi thóc, mạ là gieo hết số thóc, mạ đựng trong “ba cái nồi”

chứ không phải “ba nồi” thóc mạ (nồi = 3 gánh hay 60kg thóc – đơn vị địa phương).

Xuống chợ, chợ vẫn không có người vì là không phải phiên chợ.

(7) Chim đậu bật gạch

Bà Hòa Làng đi chợ bán chim bồ câu. Đôi chim chưa ra ràng, đầu còn đầy

long hoa gáo và giống khí nhỏ, bà khách chê:

- Giống chim của bà thì khỏe nhưng phải cái bé con.

9.PL

Bà chủ:

- Bé phải gió, nó đã ra ràng đâu, chim này lớn lên ấy à?...Nhưng nóc nhà bà

xây gạch đặt hay đặt ngói úp?

- Ngói úp.

- Ngói úp? Thế thì được, chứ xây gạch mà nó đậu xuống là bật mạch rơi

xuống sân ngay, nếu là nhà tranh, lúc nó xà xuống sắp đậu là mái tốc sạch.

(8) Con cũng nói phét thế

Quan châu Lạng Giang vốn là người hách dịch, vừa về trị nhậm, nghe tin

Hòa Làng nói phét có ca mới về thị sát xem sao. Đến địa phận Hòa Làng thấy một

bác nông dân vác cuốc thăm đồng, y dừng ngựa, hỏi:

- Này thằng kia, tao nghe làng này nói khoác có ca, hãy nói tao nghe!

- Mời quan vào chỗ mát này, con nói quan nghe có hàng tháng cũng

không hết.

Quan châu xuống ngựa cùng tùy tùng và bác ta vào điếm, bác ta kính cẩn:

- Bẩm quan lớn đèn giời xoi sét, con cũng nói phét thôi, chứ con biết gì

mà nói!

(9) Củ sắn dài

Mình kén được giống sắn mới củ dài đáo để, ai lạ vào trong vườn, khi dỡ củ

cứ luống nọ ăn xiên qua luống kia.

Năm nọ, cháu nó cắm có một cây cọc rào thế là củ xiên qua vườn vào ân,

xiên qua sân vào làm nứt cả nền, cháu nó đào ngang sân lôi lên sát phơi được hơn

ba chục gạt. Còn đoạn ăn vào nền nhà đành bỏ. Giá đào được thì phải được mươi

gạt nữa!

(10) Dây dom bền

Dom là thứ dây leo khá dai, nhân dân thượng du thường lấy về làm chão cày.

Một ông người Hòa Làng phô:

- Tôi cắt sợi dây dom về làm chão, cày hết đời trâu cái, tái đời trâu đực,

vực đời trâu con mà dây chưa gẫy, chưa giòn, dom vẫn hoàn dom.

- Ông nói khóac! Dây bền đến đâu mà cày được tận ba đời trâu cơ lắm?

- Chả tin ông hỏi cả làng này xem, suốt đời tôi có cày thứ dây nào khác đâu?

10.PL

(11) Diều đỗ hai năm

Một ông chơi diều có tiếng nói với một ông khác rằng:

- Dạo hội thi diều làng Cả mở, tôi làm một chiếc thật to, đâm một lần mà đỗ

hai năm trên trời.

- bác nói khoác, diều nào mà lại dai thế được?

Ông ta giải thích:

- Chỉ là tôi đâm chiều ba mươi tết, nó đỗ đến sáng mồng một không là năm

trước năm sau à?

(12) Ếch khỏe hơn trâu

Một hôm tôi vẫn dậy đi cày sớm, hễ cứ xong bốn sào rưỡi thì vừa sáng. Lạ

sao hôm đó cày xong thửa ruộng năm sào thì trời vẫn còn tối.

Đến khi hết ruộng nhấc cày lên bờ toan tháo ra thả trâu cho ăn thì ôi thôi, bỏ

mẹ, tối tăm nhập nhoạng mình bắt nhầm vào con ếch đi cày, thảo nào mà nó cứ kéo

cà giật, cà giật.

(13) Ếch kéo trâu

- Ở Hòa Làng có truyện con ếch kéo con trâu lẫn cái bừa bơi ra giữa chuôm,

có đúng thế không ông?

- Có!

- Dễ nó là ếch thần?

- Không, ếch thường thôi.

- Nhưng nó to lắm à?

- Không nó cũng chỉ bằng con ếch khác thôi mà?

- Nói khoác, sao nó khỏe thế được?

- Thế mới tài!

Đó là câu chuyện tán gầu giữa ông Hòa Làng và ông Phúc Lễ.

Ông Hòa Làng kể rằng hôm đó ông hàng xóm của ông ta đi bừa bắt được

một con ếch; ông ấy buộc vào sừng trâu. Bừa xong thửa ruộng ấy ông rong trâu về

rê cả bừa sang thửa ruộng khác cùng một cánh đồng.

Chẳng may qua bờ chuôm, ếch nhìn thấy nước nhảy tõm xuống, kéo theo cả

trâu cả bừa, ông ấy lôi lại không được, vốn không biết bơi, ông đành kêu toáng lên:

11.PL

- Trời ơi! Con ếch khéo theo cả trâu, cả bừa xuống chuôm mất rồi!

Mọi người chạy đến, ông ta cũng ra thì quả nhiên con ếch vẫn ra sức ngoài đi

trước, xoải chân đạp, cố kéo cả con trâu lẫn cái bừa ra giữa chuôm!

Ông Phúc Lễ nghe thủng:

- Ôi dào, trời tháng tư nắng gắt, trâu thấy nước thì ào xuống kéo cả bừa theo,

con ếch buộc ở sừng trâu thấy nước là bơi chứ gì?

Ông Hòa Làng cười:

- Ừ thế ếch bơi trước, trâu bơi sau, ông bảo con nào kéo con nào? Không kéo

mà cái dây buộc lại căng ra thế?

(14) Gà bằng đại bàng

Nhà bà có mái gà ri mẹ bị cáo bắt, bà đem lồng gà con ra chợ bán, ai cũng

muốn mua nhưng sợ gà rù. Bà bảo:

- Gà nhà tôi cáo bắt mất mẹ đấy, các bà cứ mua về mà nuôi, đập đầu nó cũng

chết nữa là rù.

Khi sắp ngã giá thì có người gièm pha là gà ri.

Bà cãi:

- Có mà bà ri, gà này lớn lên thì nó phải bằng con đại bang, may nó không

biết bay, chứ nó biết bay nó cắp cả nồi cả bà lẫn công chúa bay lên trời ấy chứ lỵ.

(15) Khoai nước dẻo

Khoai nước làng tôi nhổ lên, dọc nó chẻ ra xào với lòng gà ăn ngon hơn

mướp; rễ muối dưa ăn giòn rau giá còn thua? Còn củ luộc ăn dẻo phải biết, nhưn

nhớ lấy dao mà cắt, đừng có mà cắn chết toi đấy!

Đã có nhà làng tôi vất một củ khoai lang nước luộc cho chó ăn, chó ngoạm

một cái, hai hàm rang gắn chặt vào nhau không há ồm ra được, có mà thánh cũng

không gỡ ra được, chỉ có mà thịt chó đi!

(16) Khoai sọ bở

Mất tiền mua khoai sọ, bà không tội gì mà không mua khoai sọ Hòa Làng

nhà chúng em, khoai đất cát trên đồi bở ơi là bở?

Khoai Hòa Làng nấu độn cơm bở tơi ra như com đỗ vậy. Nếu luộc ăn thì khi

bóc vỏ phải gượng nhẹ nếu không nó bở tung ra hết. Nếu có hầm thì phải hầm bằng

12.PL

nồi đồng, chứ cái kiểu quét sạch bếp úp khoai bằng nồi đất rồi quấn rơm vào để đốt,

thì đến lúc mở ra khoai bở vụn như cám, vỏ ruột lẫn lộn thì chọn chạy làm sao?

(17) Làm gì phải học

Một anh thích học nói khoác hỏi han tìm đến cụ già nhất và cũng nói khoác

giỏi nhất làng Hòa Làng:

- Con từ xa đến, xin thầy chỉ giáo cho.

Cụ nhìn anh:

- Thế dưới làng anh không có au biết nói khoác ư mà phải lên tận đây học

nói khoác?

Anh học trò thưa:

- Thưa thầy, cả làng con không có ai biết nói khoác cả ạ!

Ông cụ khen:

- Thế thì anh nói khoác hơn thầy rồi làm gì còn phải học nữa?

(18) Lễ nhập môn

Có hai anh người thiên hạ đến Hòa Làng xin học nói khoác. Thầy dạy bảo:

- Các anh muốn học nói khoác phải có đủ lễ nhập môn để thầy làm lễ thánh.

Hai trò kính cẩn:

- Lễ nghĩa thế nào xin thầy dạy cho.

Thầy dạy nói:

- Thế hử? Cũng dễ thôi, các anh về mua lấy một con gà có ba tấc méo và một

con trâu sừng dài bẩy thước đem lên đây.

- Thưa thầy, thế thì thầy nói khoác chứ tìm đâu ra những thứ ấy?

- Ừ thì các anh đến học nói khoác mà lại.

(19) Lươn kéo ngập chân bò

Bà Hòa Làng lên ăn giỗ ở Phúc Lễ. Hôm đó có món lươn bung chuối xanh

ngon lắm, Những khúc lươn to đập dẹp bằng ba ngón tay, khách ăn cỗ khen có

những con lươn to quá xá.

Bà Hòa Làng góp chuyện:

- Chả lấy gì làm lạ, nó là những con lươn già lâu năm không bắt được nên to đó

thôi. Ở trên Hòa Làng chúng tôi còn có cả lươn đớp chân bò kéo lút xuống bùn.

13.PL

- Bà nói thế thì ai tin được?

- Các cụ cứ hỏi cụ tiên chỉ làng tôi xem. Hôm ấy chính anh ở nhà cụ ấy

đang cầy thì con bò cứ lút mãi chân trước xuống. Khi ngập đến cổ nó kêu rống lên,

anh ở phải về gọi người ra khiêng bò. Lúc rút được chân bò lên, con lươn vẫn còn

lủng lẳng ở chân nó, thế có khiếp không?

- Có mà bò sa lầy, kẽ chân kẹp trung con lươn, kéo chân bò lên thì lươn lên theo.

- Thế nhưng con bò cứ lút mãi xuống, còn con lươn mãi khi người kéo lên

mới trồi lên, nó chả kéo mà lại thế?

(20) Mắt ếch

Mắt ếch ông tưởng là bé hử? Nó to như hai bát loa mà còn sáng hơn đèn

điện? Hôm qua bà ấy nhà tôi bắt được một con, thịt xào lên cả nhà ăn không hết.

Cái đầu, bà ấy chặt ra vứt ở bờ giếng, tối đến mắt nó lóe lên cả xóm phải sợ.

- Ông nói khoác, ếch nào mà mắt to thế, dễ đầu nó bằng cái bồ?

- Chả tin tối ông đến mà xem!

Tối đó, ông nọ đến thật. Chủ lấy đèn bảo soi ra, mắt ếch phản chiếu ánh đèn,

sáng lóe và to thật, nhưng không to và sáng quá như thế. Quả là “dân Hòa Làng”.

(21) Nói khoác được kiện

Hòa Làng mở cuộc thi nói khoác với Dươn Sơn, Hòa Làng thua phải để

Dương Sơn sang lĩnh giải.

Sắp đến kì treo giải, Hòa Làng phao tin:

- Nếu dân Dương Sơn dám sang lĩnh giải thì HÒa Làng sẽ kéo cả làng xông

ra đâm chết sạch.

Dân Dương Sơn sợ không dám sang lĩnh giải mà làm đơn kiện lên quan.

Quan cho gọi đại diện hai làng lên phân xử.

Quan chức sắc hỏi Hòa Làng:

- Tại sao thi nói khoác đã thua mà lại đe giết người không cho người ta lĩnh

giải?

Đại diện Hòa Làng thưa:

- Bẩm quan, đấy là dân làng con nói phét thế đấy chứ đâm thế nào được chết

cả làng?

14.PL

Hòa Làng được kiện và thế là lại được giải.

(22) Ớt cay

- Bác mua ớt hử? Mua đi, ớt Hòa Lang đây, ớt đồi đây, cay lắm. Ấy, đừng có

ngửi, ngửi một tí là cay xông lên tận óc, hắt hơi bảy ngày không thôi…

Khách vẫn chê:

- Bà nói ngoa quá, nhưng ớt đẹp quả thế này có khi là ớt ngọt chứ chưa chắc

đã cay.

Bà Hòa Làng:

- Lại chả cay, ông thử ngấm một tí xem, cay ngắn lưỡi lại ngay.

Ông khách ù té chạy:

- Thôi, thôi, thế thì cay quá, bố ai dám mua?

(23) Quan huyện bưng điếu

Một anh đánh dậm người Hòa Làng khoe với bạn:

- Anh đừng tưởng đánh dậm là xoàng đâu, đến như quan huyện còn phải

bưng điếu cho tôi hút thuốc đấy.

Anh bạn không chịu:

- Anh nói phét, quan huyện mà phải đi bưng điếu cho anh đánh dậm hút thuốc?

- Chả phải là gì?

Rồi anh ra kể: “Hôm đó quan đi đường, thấy tôi đánh dậm quan bảo: Mày là

người Hòa Làng nói phét có ca, hãy nói tao nghe. Tôi bẩm: Con đang rét lắm, quan

lớn cho con hút điếu thuốc lào cho ấm rồi con nói quan nghe. Thế là quan huyện vớ

ngay cái điếu ống từ tay anh hầu đưa cho tôi, quan còn sai lính thông điếu, đặt

thuốc, châm đóm, bắt cầm vào tận miệng cho tôi hút nữa ấy chứ lỵ”.

(24) Sáo diều chứa cá trê

Hội thi diều đã mở, những người chơi diều khắp vùng đến dự thi đang ngồi

chuyện trò, một ông Hòa Làng nói:

- Hội thi năm ngoái ở làng tôi, diều tôi lên cao và đứng nhất, sáo kêu át tiệt

các sáo bạn, thế mà giữa hội thi đổ.

Mọi người nghe xuýt xoa tiếc cho ông. Ông nói tiếp:

- Mà nó lại đổ xuống hồ, tôi chán bỏ, ba hôm sau ra vớt. Khi tôi kéo lên nặng

15.PL

quá phải gọi cả mẹ nó ra lôi mới được. Thì ra cá trê chui vào đầy mấy ống sáo, dốc

ra được đúng hai xề, bở hơn giải. Nhưng có cái một năm tiền công không bằng một

đồng tiền thưởng các ông ạ!

(25) Trâu bơi ngửa

Trẻ làng bên cho trâu qua ngòi sang chăn chung đồng với trẻ em Hòa Làng.

Gần tối, trâu no, các em làng bên lùa trâu xuống ngòi, đứng trên lưng chúng để

chúng bơi về bờ bên kia.

Một em ra vẻ hãnh diện nghê lên bờ, nói với em Hòa Làng:

- Mày coi, trâu tao bơi giỏi không?

Em Hòa Làng chê:

- Trâu bơi sấp thì có gì là giỏi, trâu bọn tao về làng toàn bơi ngửa.

Sang tới bên bờ các em cởi áo bơi lại xem trâu Hòa Làng bơi ngửa.

Đến nơi, các em Hòa Làng chỉ xuống bóng đàn trâu dưới ao, đúng là con nào

cũng bơi ngửa (chúng đi trên đường độc đạo, hai bên là ao).

(26) Xâu tiết canh

Có khách, ông sai con làm thịt vịt cả con, vịt chỉ ngon có bát tiết cánh thì con

trai đánh lại không đông, lúc uống rượu, ông khách xứ xuýt xoa:

- Khổ, bác khách khí quá, giá cứ để tôi đánh cho.

Ông chủ bảo:

- Thì khổ, để cháu làm cho quen ngờ đâu, chứ tôi mà đánh tiết canh ấy à? Cứ

gọi là lôi cả bát ra lấy lại xâu treo ở đầu nhà được.

1.2.2. TRUYỆN CƯỜI DO NCS SƯU TẦM

(1) Bò nhai không hết tiền

Làng tôi bò nhai không hết tiền. Các bác nói có thật không?

- Ông nói phét chứ, lấy đâu ra mà bò nhai không hết tiền.

- Thế nhưng mà làng tôi bò nhai không hết tiền thật. Ông có tin không?

- Tin làm sao được.

- Nó thế này: Tôi có ông bố nghiện rượu. Ông cụ nhà tôi ông ấy nghiện

rượu lắm. Cứ xin tiền con cái thì bố tôi cũng ngại. Mà tiền chúng tôi đi làm về cứ để

đấy có gì đâu. Thế là ông ấy dí dủm dí dủm lấy ra giấu ở đống rơm. Tôi chẳng biết

16.PL

thế nào lại buộc bò ra đống rơm để nó ăn. Bò nó rút rơm ăn, nó nhai tiền rồi nhè ra.

Đấy, thế là bò nhai không hết tiền.

(2). Cái hòm ba tấc làm nát một mẫu lúa

- Tôi quẳng cái hòm có ba tấc thôi mà đã làm nát một mẫu lúa, ông có tin không?

- Ông đã nói ra thì ông phải giải được cái nghĩa đấy ra thì người ra mới tin ông.

- Ông nói một cái hòm ba tấc làm nát một mẫu lúa thì ông giải thích ra đi.

- Thế tôi giải thích cho các ông biết nhá. Một cái hòm ba tấc tại sao mà nát

một mẫu lúa? Thì chẳng qua là có cái thằng ăn trộm, đêm đến nó mới vào nhà tôi,

nó thó một cái hòm. Trong đấy tôi có để tiền để của. Nó bắt đầu cầm hòm đi chạy

đi. Tôi thấy mất hòm, tôi hô một cái, thế là dân làng đến cứ ầm ầm ầm ầm. Rồi đuổi

nó. Thằng trộm nó chạy đến khu vực này, thế tất cả anh em làng xóm nó vây ở đấy.

Cuối cùng một mẫu lúa nát sạch để lấy một cái hòm.

(3) Cháu bé 3 tuổi ăn hết một cỗ lòng lợn

Cái thằng cháu tôi nó đang học mẫu giáo, mà nó ăn hết một cỗ lòng lợn. Lên

ba, đúng học lớp 3 tuổi, ăn hết một cỗ lòng lợn. Thầy cô bảo nó ăn có khỏe không?

Mà con lợn nuôi 1 năm. Nuôi cả năm mới được con lợn để Tết thịt mời anh em đến

làm cỗ ăn, làm cháo lòng tiết canh, thế mà nó ăn vụng hết. Đi uống nước xuống mà

cháu nó xơi sạch, hết không còn tí nào. Người ta bảo:

- Làm gì có thằng trẻ con ăn được hết như thế? Ông chỉ nói khoác thôi.

- Đến người lớn còn chả ăn hết một bộ lòng lợn nữa là.

- Thực ra là đầu năm, chúng em mua một con lợn bằng đất, chúng em để đấy

để tiết kiệm. Được bao nhiêu tiền thì cứ đút vào trong để tiết kiệm. Thế đến tết về

mới đập con lợn ra. Thế là có bao nhiêu cái tiền ở trong lợn, thằng cháu nó mang đi,

ra chợ nó rủ bạn bè của nó ăn hết. Ăn toàn bộ cái số tiền ở trong con lợn luôn. Thế

có phải nó ăn hết cái bộ lòng lợn không? Nuôi cả năm mà nó ăn hết.

(4). Chó cắp bò

Một ông Hòa Làng nói:

- Con chó con ba tháng tuổi nhà tôi mà cắp được cả con bò mộng.

- Ông nói luyên thuyên, làm gì có chuyện đấy.

- Thì nhé, nhà tôi nuôi mãi được con bò mộng, đem đi bán, tiền bán được để

17.PL

vào trong cái túi ni-lông. Về nhà, để túi tiền ngoài sân, lúc sau nhớ ra đi tìm thì thấy

con chó con ba tháng đang cắp túi tiền, thế chẳng phải chó cắp bò còn gì?

(5) Con ngựa bơi ngửa

Hòa Làng có ngựa bơi ngửa. Có người bảo:

- Các ông toàn nói phét chứ lấy đâu ra mà ngựa bơi ngửa.

Nhưng mà ở đây nó bơi ngửa thật. Tức là con ngựa nó đang kéo hàng. Hôm

đấy trời tháng 5, tháng 6, nắng quá, thế bắt đầu nó kéo cả cái xe hàng lao xuống hồ.

Xuống hồ thì cái xe ngựa bị lật, hai cái lốp nó nổi lên trên mặt nước, nó vặn bụng

con ngựa phải nổi ngược, 4 chân chọc lên giời. Bốn chân nó cứ đạp đạp thế này ,

thế là thành bơi ngửa. Đấy thế là ngựa bơi ngửa thật.

(6). Da con trâu che một phần ba xã

Chú kể một câu chuyện này nữa nhớ: Một cái da con trâu của Hòa Làng che

một phần ba xã Liên Sơn. Không biết con trâu của Hòa Làng nó to thế nào chứ nghe

đã kinh rồi.

- Liên Sơn là xã bên kia, nói phét gấp ba Hòa Làng đấy.

Ừ, nhưng mà chú nói câu Liên Sơn khiếp. Độc cái da trâu của làng tôi che

một phần ba xã của ông, ông còn nói gì nữa? Thế các bác bảo tôi nói thật hay là nói

phét nào?

- Đây là nói phét, lấy đâu ra.

Ừ, thế giải thích nhé: Cái xã Liên Sơn là sau cái núi bờ cao của làng tôi. Khi

mà tôi đi thả trâu vào buổi sáng bình minh ấy, mặt trời đang lên, thì con trâu của tôi

nó tới đỉnh cái núi Bờ Cao ấy. Cái bóng mặt trời nó chiếu đúng gần hết xã Liên

Sơn. Đấy nó cứ lan ra xã Liên Sơn xong bắt đầu thu dần lại. Đấy, thế đúng là da con

trâu nó che một phần ba xã Liên Sơn là cái lý do ấy.

(7). Ếch Hòa Làng

Một cái xương con ếch của Hòa Làng mà đáp vỡ tan chum tương. Nghe thế

có người nói:

- Làm sao con ếch nó to được ngần này mà cái chum nó to được ngần nào mà

đáp cái vỡ chum tương. Ông chỉ nói phét, làm gì có chuyện đấy.

- Thế mà nó làm vỡ chum tương thật. Thịt con ếch ra thì bắt đầu xào nấu.

18.PL

Ngồi ăn cơm, nhà lại có mấy con chó. Thế không may ném cho chó ăn lại vô tình

cái xương con ếch nó lăn gần đến chum tương, chó tranh nhau ăn, thế là mấy con

chó xổ vào vỡ tan chum tương của gia đình. Đấy, vì cái xương ếch mà vỡ chum

tương thật.

(8) Gà mổ chết trâu

Nhà tôi nuôi đàn gà. Thế thì gà nó mổ chết con trâu. Tôi thì tôi cứ phàn nàn:

- Khổ, chẳng nuôi nấng gì. Năm nay nuôi được đàn gà thì nó lại mổ chết

con trâu.

Người ta lại cứ bảo thế này chứ:

- Chắc là bà nói phét chứ gà lại mổ chết trâu.

Thì thật chứ còn gì nữa. Nói thì như nói phét nhưng nó thật, vì con gà nó mổ

chết con trâu mộng to thật. Thực tế là tôi bán con trâu đi để mua được đàn gà, chẳng

may nó bị toi, bị dù, gà chết, thế là cũng hết sạch con trâu. Đấy, nói là gà mổ chết

trâu, người ta nghe tưởng mổ thật nên người ta bảo là nói phét.

(9) Một đêm làm đóm hết năm gian nhà tre

Có cái chuyện mà có ông hút thuốc lào, độc một đêm mà ông ấy làm đóm hết

năm gian nhà tre. Cháu cứ thử nghĩ xem ông ấy nghiện thuốc lào thế nào mà một

đêm làm đóm hết năm gian nhà tre? Có người bào:

- Toàn nói phét. Một đêm làm sao làm đóm mà hút hết năm gian nhà tre được?

Thế mà giải thích ra là hiểu ngay: Ông này thì nghiện thuốc lào. Hôm ấy ông

ấy say, ngã vào cái mùng. Thế là từ cái mùng nó mới cháy hết năm gian nhà. Thế

chẳng phải vì hút thuốc mà làm đóm hết năm gian nhà à?

(10) Một tàu đu đủ treo nổi tám tạ lạc

Tôi kể một câu chuyện của Hòa Làng nhé, đấy là “Một tàu đu đủ treo nổi

tám tạ lạc”. Đu đủ Hòa Làng nó ghê thế ấy. Treo được gần một tấn còn gì nữa. Từ

chiều hôm trước đến sáng hôm sau không gẫy.

- Đu đủ Hòa Làng á? Ông nói thế nào ấy.

- Có mà nói phét.

Thế thì thế này nhé: Nhà tôi chiều hôm trước là bán tám tạ lạc, thế là cho vào

cái túi. Thế rồi quên, đi rửa tay thì mới treo vào tàu đu đủ. Thế sáng hôm sau dậy

19.PL

mới chợt nhớ ra, bảo: “Thôi chết rồi, thế chiều qua bán lạc rồi không biết tiền đâu”.

Ra nhà tôi mới kêu lên là: “Ô anh ơi tám tạ lạc vẫn còn trên tàu đu đủ này”.

Ông nói thế tôi bán rồi tôi treo ba tấn cũng được

(11) Một người ăn hết bảy quả mít

Một người ăn hết bảy quả mít. Đúng đứa cháu gái của tôi đây, nó ngồi đây,

ăn hết bảy quả mít. Mít Hòa Làng không biết to bé thế nào chứ ăn hết bảy quả. Đấy

cháu đây chứ không phải tôi nói phét. Không tin thì cứ hỏi nó xem.

- Làm gì có chuyện đấy, ông thử giải thích ra xem sao.

Tôi giải thích cho ông nhé: Cháu nó về đây thì nó ốm nghén có gì đâu. Đến

thời điểm nó ốm nghén thì nó sang ăn bảy quả mít meo. Mít meo thì ăn cả trăm quả

cũng được. Nhưng mà tôi chỉ nói là bảy quả mít thôi.

(12) Một con gà Hòa Làng bốn tỉnh ăn không hết

- Một con gà Hòa Làng 1 cân rưỡi mà thịt bốn tỉnh ăn không hết.

- Bác cứ nói thế nào ấy chứ, một con gà cân rưỡi làm sao thịt được cho bốn

tỉnh ăn.

- Nhà tôi hôm ấy các cháu chúng nó về. Mỗi đứa công tác một tỉnh: Lạng

Sơn một cháu, Bắc Giang một cháu, Hà Nội một cháu, Nghệ An một cháu. Chúng

nó tập trung ăn một bữa cơm mà không hết con gà. Tôi bảo: “Thế này bốn tỉnh mà

ăn không hết một con gà cân rưỡi.

(13) Trẻ con Hòa Làng cũng bảo được quan xuống ngựa

Trẻ con Hòa Làng cũng bảo được quan xuống ngựa. Các cháu có bảo là nói

phét không? Thế nhưng mà là có thật, vì thế này:

Thời xưa có một ông quan Khâm sai, ông ấy to lắm. Thế là khi về gần đến

khu vực của làng thì ông ấy mới bảo một thằng người hầu là:

- Đưa tao vào đây để xem dân Hòa Làng nó nói phét thế nào.

Thế là ông người hầu mới dắt ngựa cho quan đi đến rẽ vào Hòa Làng. Vừa

đến nơi thì gặp một cậu bé, quan mới hỏi:

- Cháu nhỏ, có phải đây là Hòa Làng không?

Cháu nhỏ đang đánh dậm, run rẩy bảo:

- Bẩm quan, đây chính là Hòa Làng ạ.

20.PL

- Thế có phải dân Hòa Làng nói phét lắm không?

- Bẩm quan, vâng, dân Hòa Làng chúng con ai cũng biết nói phét.

- Thế mày nói phét cho quan nghe xem nào.

- Vâng, nhưng quan phải xuống ngựa con nói quan nghe mới rõ.

Thế là quan xuống ngựa. Đứa trẻ gãi đầu, bảo:

- Con nói phét ấy, chứ con có biết gì đâu.

Thế là quan hậm hức, tức không nói được câu gì:

- Đúng là dân Hòa Làng, thôi không vào nữa.

(14) Vơ trên giường được bữa canh cua

Tôi vơ trên giường mà được bữa canh cua. Ở đây rất nhiều cua, chỉ cần vơ

trên giường được bữa canh cua rồi.

- Ông nói thế nào chứ làm gì có chuyện trên giường mà lại có cua?

Thế mới nói, đúng là chỉ vơ trên giường thôi.

- Thế thì ông giải thích cho tôi đi.

Lúc ấy nhà tôi đi làm đồng. Thấy ruộng nó nhiều cua, xong cứ bắt con nào

là gài vào vành quần, về để nấu bữa canh cua. Lúc về thì thằng Tùng kia nó đang

là trẻ con nó cứ đòi bú, thế là vội vội vàng vàng rửa chân chưa cả sạch lên rửa

chân để cho nó bú. Nó bú thì nằm trên giường, vừa bú thì tay với chân nó cứ đạp

lung tung cả. Thế nó mới tuột vành quần ra, cua nó bò ra hết. Thế lúc ấy mới vơ

vội cua trên giường được bữa canh cua. Đấy nói thật vơ trên giường được bữa

canh cua ngon luôn.

1.3. TRUYỆN CƯỜI LÀNG DƯƠNG SƠN

1.3.1. TRUYỆN CƯỜI ĐÃ XUẤT BẢN

(1) Bánh đa giòn

Nhà có khách chẳng có gì ăn, mẹ đĩ nhà tôi đành rang vài đấu lạc và mua hai

chục bánh đa. Tôi bảo:

- Phải bảo họ quạt thật khéo, thật giòn và mang về mau để ăn nóng mới ngon.

Một lát thấy mẹ cháu mang về hai chục bánh đa sống chưa quạt, một tay

bưng chậu than:

- Phải về nhà quạt chứ quạt sẵn đem về thì nguội còn giòn gì nữa?

21.PL

Tôi ngẫm:

- Đúng thật, quả là giàu vì bạn, sang vì vợ.

Thế là nhà tôi quạt bánh, được cái nào tôi để vào giường cái ấy, buông màn

cẩn thận.

Thế mà ai ngờ, chồng bánh đa hai chục chiếc vừa để quay ra dọn mâm, một

con ruồi lọt vào đậu lên một cái thế là vỡ vụn cả chồng có chết hay không?

(2) Bánh rán nhiều mỡ

Mấy ông ngồi ở quán ăn bánh rán, có người khen ngon, có người chê rắn.

Ông ở Dương Sơn vừa cắn một miếng đã kỳ kèo là rán ít mỡ, khô quá.

Nhà hàng thanh minh là đổ ngập mỡ nhưng trời hanh nó hút, ông Dương Sơn nói:

- Ông cho ít mỡ chứ hút thế nào, bánh rán làng tôi mà cầm ăn thế này, mỡ

chảy đầy lòng bàn tay, ăn hết bánh liếm bàn tay còn ngấy một tháng, liếm xong rồi

xoa vào hai bàn chân cũng dỡ nẻ được vài vụ cấy.

(3) Bắt hổ con

Tôi đem hai con hổ con ra Hà Thành bán. Tiếng đồn đến tai ông trưởng

phường xiếc Tạ Duy Hiển, ông ta mời tôi vào nhà đãi làm thượng khách rồi đặt mua

hổ con, tôi nhận tiền ra về.

Tìm được hang hổ con mọn, tôi chui vào, rón rén bò đến chỗ con hổ bố ngủ,

nhổ trụi râu nó, nó buồn lại càng ngủ say, vượt qua người hổ bố, tôi lần đến chỗ hổ

con, bịt mũi đem ra, hổ bố vẫn ngáy phe phe.

(4) Cái nấm rơm

Trời mưa dầm, tối đen như mực, con chó nhà tôi thỉnh thoảng lại sủa nhanh

nhách và hậm hực hướng ra phía đống rơm.

Ngờ là có trộm rình, tôi khẽ đẩy cửa lẻn ra.

Bỗng tôi chột dạ, dựng tóc gáy, dừng lại. Thằng trộm đang rình sau đống

rơm, cạnh chuồng lợn. Nó đội nón, cúi lom khom, nó lại ngẩng đầu nghe ngóng rồi

dích lên, rồi nó lui xuống…

Con chó vẫn sủa tiếng một, tôi quơ cái đòn càn, rón rén đi dọc mái hiên, bò

vòng qua gốc ổi đến sau lưng nó. Nó vẫn mải nhìn vào nhà tôi, cái nón trên đầu

rung rung.

22.PL

Tôi nhảy vọt lên lấy hết sức bình sinh phang một cái… chỉ nghe tiếng “bụp”

thằng trộm chết thẳng cẳng, không kêu một tiếng.

Bấy giờ thì tôi sợ, thế là có án mạng ở nhà mình rồi ở ngay chân đống rơm

cạnh chuồng lợn. Làm thế nào? Tôi đành kêu toáng lên:

- Trộm, trộm…bà con ơi trộm!

Vợ con tôi dậy, hàng xóm chạy sang, mọi người nhốn nhào soi đèn thì ra

…cái nấm rơm.

(5) Cắn chấy

- Ông có câu chuyện cắn một hột gạo mười người phải sợ hử?

Cụ cả Tam vui vẻ nói:

- Chứ bỡn! Không sợ dễ gì họ dạt ra cho mình nằm.

Cụ kể:

Cái năm đói kém, tôi phải xuống Hải Phòng làm thuê. Khi về tôi đi đò dọc từ

Phả Lại đến Bố Hạ, khách nằm đò chật như nêm cối, ngồi cũng dở mà nằm cũng dở,

cố chen mãi cũng chỉ được một chỗ nằm nghiêng và bị dồn ép dữ quá. Đêm buồn,

tôi đổ bao lấy vài hột gạo cắn chắt chậm cục cho đỡ buồn mồm. Bỗng có người hỏi:

- Bác này cắn cái gì công cốc thế?

Tôi bảo:

- Con rận!

Người nọ sửng sốt:

- Rận bằng ngần nào mà kinh thế?

- Bằng hột gạo!

Hồi ấy thì rận ơi là rận, thế là mấy người chung quanh cứ dạt mãi ra xa, mình

nằm thoải mái.

(6) Chó hụt cân

Một bác Dương Sơn, nhà nuôi được con chó đen tuyền, hay ăn chóng lớn,

giữ nhà chắc hơn thần giữ của. Tuy nhà ở trang trại nhưng không hề mất trộm bao

giờ, ai trả bao nhiêu tiền cũng không bán, mới nuôi một năm mà con chó nặng đến

hai chục cân.

Bác chăm con chó béo núc, béo nhẫy đến nỗi mỡ chảy cả ra lông, mùi bay

23.PL

vào rừng, thế là con hù xám chột mắt mới về rừng Dương Sơn chưa biết oai bác,

ngửi mùi mỡ chó nó lần vào định bắt.

Con chó đánh hơi thấy hùm, sủa lên mấy tiếng rồi quắp đuôi chạy biến ra

ngoài. Trời tối như mực mà bác phải đuổi theo con chó, nó chạy đến là nhanh mà

bác theo cũng thật là riết, chạy được độ ba mươi cây số thì bác mệt quá, đành phải

đi chậm lại và cất tiếng gọi.

Nghe tiếng chủ nhà, chó dừng lại, bác ôm mang nó về đến nhà thì trời vừa sáng.

Khi cân lại, con chó chỉ còn đúng sáu cân.

(7) Con chó lên cân

Vừa đem con chó về sáng thì đêm con hùm đó lại lần vào. Đêm trời tối lại

mưa phùn, biết rằng hùm vẫn hay đi kiếm ăn vào những đêm tối như thế này bác ra

đón lõng trước.

Vừa đứng vào chỗ lũy có thế vững thì ngửi thấy mùi hôi thối sực lên, bác

chuẩn bị tư thế.

Quả nhiên con hùm nhô đầu lên bờ lũy, bác lấy hết sức bình sinh tát một cái

cực mạnh, con hùm ngã vật ngửa, giãy giụa và vùng chạy.

Bác liền đốt đuốc soi đường lần theo vết máu, ra đến bờ suối đã thấy con

hùm uống no nước lăn ra chết, dơ đuốc soi, bác thấy nó gãy sáu cái răng và hộc máu

qua lỗ mũi, lỗ tai. Chẳng cần gọi ai, bác túm đuôi lôi về mổ thịt chia cho cả làng ăn

hai ngày mới hết, còn mật bác dốc ra được đầy một cái nồi hông.

Con chó thấy con hùm chết khoái quá mừng rối rít. Sauk hi cho chén bữa thịt

hùm no, cân lại cậu ta nặng tới hai mươi lăm cân, lãi năm cân.

(8) Cụ Tam “bắn đình”

- Đình Nẻo dựng xong hơi nghiêng về phía Bắc, hai hiệp thợ và cả dân xúm

vào bắn bốn ngày không được, cứ chịu để vậy.

Đến đời tôi, dân nhờ, tôi hái một bã lá giặt vào cột cái, về phía hướng đông.

Đình chuyển răng rắc, chỉ vài giờ sau đình thăng bằng, rồi suýt nữa nghiêng

về phía đông, nếu tôi không kịp giơ tay chặm lại.

Thế rồi tôi bóc bã lá ra, đình mới cân như bây giờ đấy chứ?

(9) Củ sắn dài

24.PL

Cứ bảo sắn dưới Hòa Làng củ dài xiên qua sân, đã thấm vào đâu, cổng nhà

tôi có một cây sấu sau lâu năm bão đổ, tiếc cái hốc nó hấu, tôi mới đặt một gốc sắn.

Đầy năm tôi dỡ cũng thấy có mỗi một củ nhưng dài. Củ sắn dài quá, đào qua

đất nhà mình ra đến đường cái làng, qua đường cái làng ra bãi tha ma, qua bãi tha

ma nó cắm xuống ao bùn hấu, nóng ruột quá, bấy giờ đất mềm, cứ thế tôi lôi, lôi

mãi vẫn chưa thấy hết, tôi noảnh lại đi và dắt như dắt bò. Trước còn đi từ từ, sau

chạy. Chạy đến đâu cậu ta lên tùn tụt đến đó.

Chạy quá xa, tôi ngoảnh lại, tưởng con trăn đuổi mình, hoảng quá, tôi rẽ

ngang, thế là nghe đanh “cấc” một cái, thành ra gãy mất một đoạn.

(10) Diều gà lớn

Nhà tôi thiến một con gà Đông Cảo, vừa đầy năm thì nó béo và to quá,

không có chuồng nào vừa cho nó ở nên đành bán đụng cho hàng xóm, bốn nhà chia

nhau mà ăn mấy ngày.

Chả có thế mà họ vứt cái diều ở đìa ao, thiên hạ đi qua kêu lên.

- Nhà ai bỏ quên bao thóc to thế này?

(11) Ếch Dương Sơn

Ông ở Dương Sơn nghe chuyện ếch ở Hòa Lang to đến nỗi một con mà cả

nhà ăn hai ngày mới hết, ông Dương Sơn không chịu, nói:

- Thấm gì với ếch ở Dương Sơn hôm nọ mưa rào tôi đi soi, thấy mắt một con

lóe lên bằng hai cái đèn ô tô, tôi tiến đến thì nó chui vào hang, đành đánh dấu bỏ về.

Sáng hôm sau, ba bố con đem xà beng ra đào, đào một buổi mới bắt được anh ta, tôi

lấy chạc trói nghiến lại cho hai thằng con khiêng về, lột da bưng trống họ, còn thịt

khao cả xóm còn phải ăn ba ngày.

(12) Ếch xay lúa

Lại một ông khác nữa kể:

Tôi cũng đi cày, vô tình vấp phải chú ếch nằm mà nó đạp một cái, cày bật trở

lại, tôi ngã ngồi xệp nhưng rồi tôi vùng dậy ngay, cố sức vồ cậu ta, tôi cũng trói lại

và buộc trên hò cày. Về nhà tôi buộc nó vào cái tai cối xay lúa và đi làm việc khác.

Chiều về vợ hỏi:

- Bố nó xay lúa hử?

25.PL

Tôi ngạc nhiên:

- Ai xay?

Vợ tôi gắt:

- Chỉ có tôi và bố nó không xay thì ai xay mà không hấng, không đậy gì cả,

để gà bới toanh, bới hoành ra thế này?

Bấy giờ tôi mới nghĩ ra:

- Thôi bỏ mẹ, con ếch nó nhảy, cối quay!

(13) Gồng bò

Cụ Tam nói chuyện với một bạn điền:

- Nhà mình nghèo không có bò cày mới phải mượn bò của lão chánh tổng.

Lão ta xỏ lá, cho mượn con bò đực thiến già, tuy to xác nhưng vừa yếu vừa lười.

Cày vài xá chán quá, tôi xách mẹ nó bốn chân lên lấy chạc buộc lại, cứ để

cày lễn bắp thế gồng về trả cho chủ nó, không thèm mượn nữa.

(14) Hai anh kẹt sỉ

Ông Hòa Làng lên chơi Dương Sơn, nói chuyện ở đám giỗ rằng:

- Ở làng tôi có một anh kiệt sỉ, kiệt đến nỗi con ốm đòi ăn cháo đường,

không dám để vợ đi chợ vì sợ vợ mua hớ, tự anh ta ra chợ mua về nửa lạng đường

cát, mặc cả hết hàng nọ đến hàng kia cuối cùng anh ta mua ở hàng có ít đường ướt

bị ế, giá rẻ hơn. Về đến nhà đặt gói đường xuống phản. Từ sau nhà nhìn vào qua

cửa sổ, tôi cứ thấy anh ta nhón đường đút miệng, mỗi lúc như thế lại thấy vẩy tay

một cái. Thấy sự lạ, tôi tò mò rình xem sự thế, thì ra anh ta nhặt những con kiến bò

trong gói đường, mút xong mới vất đi.

Ông Dương Sơn chả lấy làm lạ:

- Đấy là hắn còn có vợ có con, chứ thằng cha xóm tôi còn kiệt sỉ đến nỗi không

cả dám lấy vợ vì sợ mất tiền, đẻ con phải nuôi nên chỉ ở một mình. Sợ làm chuồng

phân tốn tiền hắn chỉ bĩnh ra gốc vườn, vài hôm nhặt gom lại phơi khô đem bnas.

Ông Hòa Làng bảo:

- Thế chó không sực mất à?

- Chó nào dám đụng vào đấy? Vì chó nhà thì không có do sợ nuôi mất cơm,

chó hàng xóm thì sợ mất vía rồi. Một hôm có con chó lạ ở làng bên theo chủ đi qua,

26.PL

tưởng bở sực ngay, vừa đớp vào liền gãy hết hàm răng, chạy kêu ăng ẳng như bị

làm thịt, máu me nhoe nhoét trông ghê quá.

Ông Hòa Lảng sửng sốt:

- Khiếp nhỉ? Sao thế bác?

- Thì cứt sắt mà lại!

(15) Nói khoác cụ Tam

Anh cán bộ sưu tầm về Dương Sơn, gặp một bà cụ hiền lành, chậm chạp đến

nỗi hỏi hai ba câu mới nói:

- Bà là người Dương Sơn. Bà có thuộc truyện nói khoác cụ Tam không?

Ậm à mãi, bà cụ mới nói lên được:

- À, anh về tìm chuyện nói khoác cụ Tam đây ư? Ối trời, chuyện nói khoác

cụ Tam ở đất Dương Sơn chúng tôi ai mà chả biết hàng tram truyện, có mà kể hàng

tháng không hết.

Anh cán bộ mừng rỡ:

- Vâng cụ có thể kể cho cháu nghe vài chục chuyện được không ạ?

Bà cụ nói ngay:

- Vài chục chuyện cơ ư? Thế thì tôi chịu, tôi chỉ nhớ lõm bõm vài câu.

(16) Nói khoác về lệ làng

Vì thờ chung thánh “Cao Minh Đại Vương” nên Kẻ Sậy và Kẻ Nẻo có ước

là: “Trai gái hai làng không được lấy nhau” và ba năm một lần đón hàng ước xuống

chơi đình vào ngày thứ ba của các trà đám, sau con cháu phá lệ lại nói khoác rằng:

- Dân hai làng quý nhau quá, mới xin thông hiếu, thánh cho lấy nhau nhưng

bắt nhà gái chỉ được lấy

Trăm miếng trầu tram quả cau

Và phải

Suốt đời không được cãi nhau một lần.

Cho nên, những cặp vợ chồng người hai làng này lấy nhau suốt đời hòa thuận.

(17) Nói khoác về tên đình

- Thánh làng tôi lấy gỗ về, thấy gỗ đẹp và nhiều, thanh Hòa Làng sợ đình

Nẻo đẹp hơn đình Hòa Làng mới hỏi dò la: Ông lấy gỗ ở đâu mà đẹp và nhiều?

27.PL

Thánh làng tôi trả lời:

- Tôi lấy ở chùa Mây Trắng và về ngủ ở đình Mây Xanh.

- Thế thì mẹ con tôi đàn bà, lấy thế nào được ở chỗ ấy?

Cho nên đình Kẻ Sậy mới gọi là “Thanh Vân đình” (đình Mây Xanh) và

chùa Kẻ Sậy gọi là “Bạch Vân Tự” (chùa Mây Trắng).

(18) Nói khoác về thánh

Tối hôm trước, nền đình làng tôi vẫn chưa có một cây gỗ nào nhưng sáng hôm

sau bỗng có một đống gỗ to như trái núi, thánh Hòa Làng đi qua hãi quá hỏi rằng:

- Ông làm thế nào mà đưa gỗ về đây nhanh thế?

Thánh làng tôi trả lời:

- Đây là anh tôi ở Kẻ Sậy hóa phép đưa về cho.

(19) Nốt răng chuột

Tôi đi cày vê, bắt được một con ếch, lại vồ được một con chuột, tôi buộc hai

con vào nhau móc trên hò cày gồng về.

Dọc đường, chuột và ếch đánh nhau lóe chóe, con chuột bị ếch vả rụng một

cái răng rơi xuống đất, sau có người nhổ lên về cưa nhỏ ra làm tảng nhà, lốt răng

của nó bây giờ thành ngay cái chuôm đồng Húng.

(20) Rắn nuốt xà beng

Hì hục đào ba ngày trời một cái hang rắn mới tới chỗ con hổ mang vằn nằm,

tôi đang định túm thì nó lao ra há mồm, thè lưỡi, tôi lấy xà beng lao, nó nuốt chửng

xà beng và lao ra đuổi… tôi đành bỏ chạy.

May quá, trong bụng nó có cái xà beng nặng, nó chạy chậm, nếu không nó sẽ

nuốt cả tôi.

Thế rồi, cậu ta mệt, nằm dí một chỗ, tôi lôi về mổ ra được gần hai chậu ang mật.

(21) Săn hổ

Lúc đó rừng núi Dương Sơn còn rậm lắm, hàng ngày hổ kéo về đi rầm rầm

như đàn trâu.

Tây ở đồn Cao Thượng sợ quá nên xin với lý trưởng Dương Sơn trị hộ giúp,

lý trưởng tìm tôi, tôi nói:

- Bẩm quan lớn, xin người cứ yên tâm, tôi sẽ bắt sống con hổ đầu đàn thì cả

đàn hổ phải sợ mà bỏ đi hết.

28.PL

Tây hỏi:

- Làm thế nào mà bắt được?

- Dễ thôi, đấy là một con hổ đực, hôm nó xuống làng định bắt bê nhà tôi, tôi

chọc hco một nhát đòn gãy hai cái răng cửa, nó vẫn sợ tôi, tôi nhớ nó rồi.

Tây lại hứa:

- Nếu ông bắt được hổ, quan lớn sẽ phong ông làm lý trưởng Dương Sơn,

còn thầy lý lên làm phó tổng.

Tôi đẽo lại cái đòn càn cho thật nhọn, nấp vào một gốc dẻ rình chờ đàn hổ

kéo về.

“Vỡ mây có rồng, lọng phong có cọp”. trời đang gió đông, tôi thấy nổi gió

Tây rồi một mùi thối tanh nồng nặc xộc đến.

Đàn hổ xồng xộc từ Hố Điềm kéo xuống. Hôm nay con đầu đàn đi sau cùng

bảo vệ, tôi chờ cả đàn đi qua rồi, đâm một nhát vào hậu môn con hổ đực ấy, nó gầm

lên, thế là cả đàn cứ thế bỏ chạy về rừng…

Tôi xiên mạnh đòn càn vào giữa bụng nó rồi nhấc bổng lên, cứ thế gồng trên

vai đi xuống Cao Thượng. Con hổ gầm rú, giãy giụa, hét vang cả trời đất…

Tây, lính chạy ra, tôi huê con hổ đến đâu, các cậu chạy dạt đến đó.

Sau đó, Tây bảo:

- Tiếc quá, ông bảo bắt sống mà ông lại làm chết nó rồi, giá nó sống thì quan

lớn đưa về Ba Lê triển lãm.

- Bẩm quan lớn, khó gì đâu? Quan lớn đóng lấy một cái cũi sắt mà nhốt, tôi

rút đòn càn ra và đặt một bã lá, nó lại khỏi liền thôi, thuốc của tôi đặt cột đình

nghiêng còn phải thẳng kia mà.

Thế là tôi rút đòn càn và vơ một nắm lá mua nhá nhỏ đặt vào và bỏ nó vào cũi.

Nó khỏi hẳn và bây giờ vẫn ở bên vườn bách thú Ba Lê.

(22) Sắn bở

Sắn nhà tôi bở quá thành ra chỉ luộc được chứ không dám nướng mà bà ấy

nhà tôi lại cứ thích ăn sắn nướng.

Hôm dỡ khóm sắn đầu nhà, bà ấy đem thui lùi một củ. Lúc chín, tôi vội vàng

đem bửa ra. Sắn bở quá, bột bay lên bạc trắng cả đầu, sắn bở tung ra nhà, hàng xóm

đi qua bảo: ông bà làm sao mà phải rắc vôi bột ra khắp cả nhà thế kia. Bửa một

miếng ăn, bụi tung lên, hai vợ chồng không nhìn thấy nhau.

29.PL

(23) Sốt cao

Suốt đời tôi, trận sốt ấy là cao nhất.

Hôm ấy tôi đang dỡ sắn trên đồi thì thấy gây gấy sốt, rồi cứ mỗi lúc một sốt

cao hơn, người nóng hầm hập, tôi không dỡ nữa mà phải bỏ về.

Tiện tay tôi dắt một xủ vào lưng quần để về cho cháu nó nướng. Nhưng sốt

cao quá, về dở sắn ra thì đã chín nục và bở tung ra rồi.

(24) Tát hổ rụng răng

Hôm đó, tôi đang cày thì nghe tiếng hổ con kêu lóe chóe trên đồi, chả lẽ lại

không lên bắt?

Tôi đang ôm hai con hổ con về thì hổ cái ở đâu chạy tới, nó nhe răng ra, nhảy

vào vồ tôi. Tức tiết, tôi tát tháo trái cho một cái, thế là rụng một cái răng nạnh, cái

răng bắn ra cắm vào cây dẻ, làm cho cây dẻ gãy gục ngay xuống.

(25) Tổ ong vò vẽ

Sáng sớm tôi dậy đi cày, cày xong sáu sào ruộng thì trời vừa sáng, vừa nhớ

đến giỗ ông tôi chẳng còn gì cúng, tôi mới lững thững vào rừng tìm kiếm.

May quá vớ được một tổ ong vò vẽ to bằng nửa cái sân.

Tôi nhúm những con ong gác cửa bỏ vào hỗ tổ rồi lấy tay bịt miệng và đứng

chờ, con nào về tôi nhúm con ấy nhét vào, đến lúc gần trưa thì các cậu về đủ, tôi

ngắt cuống tổ về dốc ra:

Con già băm viên, giã chả; con non rán vàng, nhộng bó giò, sáp nấu mì, xào

rau…sắp được mười hai mâm cỗ thịnh soạn.

(26) Uốn sừng trâu

Ông em kết nghĩa ở Kẻ Sậy đem trâu xuống chợ Mọc bán, con trâu khá đẹp

chỉ tội vênh sừng nên không ai mua, đành cho về nhà cụ cả Tam gửi, cụ bảo:

- Chú cứ yên tâm ở đây chơi, uống rượu, tối anh uốn lại sừng là mai bán

được ngay.

Ông ở Kẻ Sậy thắc mắc:

- Sừng trâu cứng thế, uốn thế nào được hả bác?

Cụ Tam giải thích:

- Khó gì đâu? Cắt một cây chuối con, nướng nóng lên cắm vào sừng nó là

uốn được ngay.

30.PL

1.3.2. TRUYỆN CƯỜI DO NCS SƯU TẦM

(1) Con cá rô làm nát mấy sào mạ

Ví dụ con cá rô làm nát mấy sào mạ. Trước nó chính là cái ao này, bây giờ

mới chia nhau. Ruộng bên kia là cái ruộng để reo mạ. Ở góc làng có cây đa, quả đa

chín thì nó nhảy lên nó đớp. Bọn trẻ con ra câu. Bọn nó giật con cá lên thì nó văng

sang một đám mạ. Thế là dăm bảy mười đứa tranh nhau làm nát mấy sào mạ.”

(2) Con gà quý

Thế ông với cháu nghe chưa, làng này có con gà đặc biệt. Ông Tam ông ấy

khoe mà, chúng tôi cũng chỉ biết láng váng thôi, sau ấy mới có truyền thống chăn gà

như bây giờ ấy chứ. Ông ấy nói khoác thế thì cái chuyện ấy nó vang khắp cả lên,

mọi người đều phải tần ngần lắng nghe. Làng này trước có con gà quý. Mọi người

đều hỏi quý thế nào. Ông Tam mới tả lại con gà là:

“Trong đàn gà quý thường nuôi

Có chú gà trống đẹp oai nhất làng

Đầu đội mũ đỏ chân đi giày vàng

Thêm đôi cửa sắc hiên ngang vô cùng

Trời vừa tang tảng rạng đông

Cúc cu chàng gáy vang đồng quê ta.

Tiếng chàng đánh thức mọi nhà

Người thì chợ búa, kẻ ra ngoài đồng

Tiếng chàng vang khắp xứ đông

Giặc nghe tưởng súng thần công

Mà nghe thế là giặc đến là bỏ chạy, không dám đến làng này nữa.

Mỏ gà trông thật là ghê

Như mũi cầy thổ mổ què thằng Tây (mỏ con gà to như cái xẻng)

Thằng Tây mà cứ đến đây

Có đàn gà quý phanh thây chúng mày.

Cổ gà vươn chín tầng mây

Quật máy bay Mĩ lăn quay giữa trời

Mỗi khi giặc Mĩ bay vào

31.PL

Gà liền quát lớn: Có tao không mày.

Cánh gà dang rộng đông tay

Che mát đến tận phía Tây nước Lào

Chân gà vừa to lại cao

Sừng sững như cột điện cao thế mới dựng ngã ba đầu làng.

Diều gà vừa to lại sang

Như bao tải lớn chở hàng quân nhu

Quê gà ở đất chiến khu

Giặc đến là đánh, giặc thua cho hàng.

(3) Cụ Tam dỗ hùm

Không phải nói phét đâu mà ở cái làng này có cụ dỗ được hùm là thật đấy.

- Cụ dỗ như thế nào hả ông?

Nhà cụ ấy là nhà tranh vách nát. Hùm đến kiếm mồi ăn thì cụ ấy đang nằm ở

giường, cụ ấy hút thuốc phiện xả hơi ra. Con hùm cuối cùng là nghiện, cứ hút cái

hơi thuốc của cụ. Cụ đấy là cụ Cả Tam. Ông ấy dỗ được hùm thật

(4) Đập nhiều cá

Gần đây cái lúc thời hợp tác ở trên này có một cái đập. Đập ấy đầy nước. Cụ

Cả Tam lúc ấy cũng già rồi, làm ăn thì ít mà có kinh tế đâu. Sáng sớm ra cụ ấy đánh

con bò, vác cái cày lên trên đập. Xong cụ ấy quay về, lúc ấy mọi người mới đánh

trâu bò ra. Mọi người mới bảo: “Thế sao ông lại về?”. Cụ mới bảo là:

- Trên đập hôm nay nó tháo nhiều cá lắm, tháo khoán. Nhiều cá lắm các ông

lên mà bắt.

Cả làng đánh trâu, đánh bò về nhốt xong kéo nhau lên bắt cá. Lên thì có gì

đâu. Chính người làng còn nói ông ấy nói khoác mà lừa cả làng: “Mẹ thằng Tam

mất dạy”.

(5) Kiến cõng con

Trước đây tao đi bộ đội, tao đi vắng, bà ở nhà bà đẻ sinh đôi. Thời hợp tác

thì hợp tác nó cứ giao cho một ngày mấy sào ruộng. Bà cấy xong thì cho bà công

điểm. Mà đang cấy lại đẻ, bà còn bê cháu để lên bờ ruộng, thế là bà ấy bảo:

- Nằm đây rồi mẹ đi cấy nốt nắm mạ rồi về.

32.PL

Phải thế mới được công điểm. Mà chuyện này thật. Xong một lúc nữa lại có

đứa nữa chui ra, bà ấy lại bảo:

- Mẹ cái bọn này ở đâu ra lắm thế.

Rồi bà ấy lại ôm đứa nữa lên để vào bờ ruộng, cứ để hai đứa nằm đấy rồi bà

ấy cấy nốt. Mà kiến nó cõng đi tìm con, thế là về mếu máo khóc. Cấy mạ lên rồi bà

ấy đi qua ruộng khoai lang, bới lên xong rồi nhai, uống nước rồi lại mớm vào con.

- Thế làm sao mà kiến cõng được con?

Thì nó chưa được một cân. Thời đấy có ai đẻ to như bây giờ đâu. Bà ấy đẻ

xong bà ấy bọc vào vải mưa rồi qua ruộng khoai lang, ăn rồi cái bã thì mẹ nuốt, còn

nước mớm cho bé. Về đến nhà mở bọc bao ra mất một đứa, nó rơi, thế lại quay lại

ruộng khoai lang tìm. Tìm mãi mới thấy hai đứa. Thế chính là kiến cõng con ông

còn gì, bà ấy để rơi một đứa rồi phải đi tìm.

(6) Một phát nỏ chết ba con hươu

Làng này còn nói phét hơn Hòa Làng đấy. Cụ Cả Tam là cụ ấy dỗ được hùm,

không thèm đánh hùm. Thời đấy là hươu nhiều lắm, chăn lẫn với bò mà. Lúc đó

người ta chỉ bắn nỏ thôi. Cụ ấy bắn một phát nỏ là chết ba con hươu đấy. Ông thử

nghe xem câu ấy là nói thật hay nói phét ông? Cụ ấy bắn vào bụng con hươu cái, dái

con hươu đực và ức con hươu con. Một phát chết cả 3 con hươu. Ông có biết tại sao

chuyện đấy lại là thật không? Vì con hươu ấy nó chửa, bắn một phát vào bụng, bên

trong có hai con, nó chửa một con đực một con cái. Thế không phải chết ba con à?

(7) Thơ về Dương Sơn

Dương Sơn phong cảnh hữu tình

Dân cư giăng khúc như hình con long (Làng này thì trước cũng hay nuôi

rồng, nhưng giờ thì không nuôi, không có nữa rồi)

Bốn mùa xuân hạ thu đông

Lúa ngô khoai sắn mượt đồng màu xanh

Đường làng uốn khúc lượn quanh

Bê tông bóng lộn cây xanh mượt mà

Làng tôi xưa có cây đa

Bóng đa rợp tận sông Đà, sông Lô

33.PL

Đà, sông Lô. Có đúng không?

Ngày xưa chưa có ô tô

Cổng làng thấp sát mái ô che đầu

Quan Tây cho chí quan Tàu

Vào làng đều phải bỏ mũ cúi đầu chào dân”

(8) Thơ về mật ong của ông Lập

Đến nhà ông Lập Dương Sơn

Đường đi ngoắt ngoéo chập chờn bánh xe

Cháu đến thì ong đón vo ve

Con bay con lượn muốn khoe nó tài

Gió đông thổi tạt vào ta

Gà vườn đùa giỡn cánh bay khỏi mình

Quanh nhà ông chó sủa linh tinh

Giằng co dây xích khoe mình giỏi giang

Nhà ông bát ngát nhiều sào

Thùng ong kê kín lối vào phải lách nghiêng

Mật nhiều không vác không khiêng

Ông thuê cần cẩu lớn nhấc lên nhẹ nhàng.

Nhà ông Lập ông giỏi ong tài

Tìm hoa kiếm mật đẻ xa nhất vùng

Đường bay dài tận không trung

Kiếm mật khắp vùng lãnh thổ Việt Nam (không cho sang Trung Quốc, sang

mất đoàn kết. Rõ chưa? Ong chỉ đến biên giới thôi là quay về).

Mật giòn như thể vàng thau

Mời con một giọt mười năm sau vẫn thèm. (Đến mùa hoa ở Lạng Sơn thì ông

lên đấy lấy mật, ở đâu có hoa thì mang ong theo lên)

Uống nhiều chữa được bệnh hen

Đau đầu chóng mặt nhanh thèm ăn cơm.

Thư cảm ơn còn nhiều hơn tiền mặt

Cứ mỗi ngày mấy chục vạn lá thư

34.PL

Từ Mĩ Nga, Trung Hoa, Anh, Pháp,

Qua Nhật, Hàn, các đại tây dương

Mật ngon xuất khẩu bốn phương

Làm giàu chính đáng con đường ấm no.”

(9) Thơ về vợ ông Lập

Mời bà cửi áo ra mau

Để tôi kì cọ trước sau cho bà

Máy bà trong bọc bỏ ra

Lau dầu cho bà, tối lại ngủ chung

(10) Toalet di động

Lóc cóc trong bọc trong bụng

Máy bà đầy dầu tôi tháo ra cho

Nhanh tay tôi xách xô to

Tôi xi bà đái ro ro thay dầu

(11) Mời vợ đi ăn

Về già chỉ còn hai ta

Cơm ngon canh ngọt mời bà đi ăn

Tối đến đi ngủ trùm chăn

Rét thì mặc rét tôi văn tí bà

Tí bà (thì) ít thịt, nhiều da

Tôi văn tí bà bà khẽ kêu đau

(12) Nịnh vợ

Ca sĩ bị đau mất rồi

Khi đi, khi đứng, khi ngồi vẫn đau

Nhà thơ luôn ở đằng sau

Nâng khan sửa túi đội đầu mũ len

Nhà thơ còn mắc bệnh hen

Nói năng ỏn ẻn như kẻ hết hơi

Nhà thơ tuổi sắp chầu trời

Chỉ vài ngày nữa là về phong teo

35.PL

(13) Giới thiệu mật ong

“Vào nhà cụ Lập Dương Sơn

Đường đi ngoắt ngéo, chập chờn bánh xe

Khách đến ong đón vo ve

Con bay, con lượn muốn khoe nó tài

Gió Đông thổi tạt vào tai

Bồ câu bay lượn cánh nhoai khỏi mình

Quanh nhà chó sủa linh tinh

Giằng co dây xích khoe mình giỏi giang

Đơn sơ nhưng mà rất sang

Mật ong vàng óng, cụ mang ra mời

Nhà cụ bát ngát nhiều sào

Thùng ong kê kín, lối vào lách nghiêng

Mật nhiều không vác, không khiêng

Có cần cẩu lớn, nhấc lên nhẹ nhàng

Uống nhiều chữa được bệnh hen

Chữa được Covid nhanh thèm ăn cơm

Mật ngon xuất khẩu bốn phương

Gia đình cụ Lập lên hương mỗi ngày”.

1.4. TRUYỆN CƯỜI LÀNG TRÚC Ổ

1.4.1. TRUYỆN CƯỜI ĐÃ XUẤT BẢN

(1) Ai nói khoác

Ông cụ đã có tuổi, đang mải miết câu trên một cánh đồng giộc chiêm, có

người lạ đến hỏi:

- Thưa cụ có phải cụ là người Trúc Ổ?

- Phải, ông hỏi gì?

- Có phải làng cụ hay nói khoác lắm phải không ạ?

Thấy người nọ hỏi xược làng mình, ông cụ nổi xung:

- Ai nói khoác? Thằng này láo nhỉ, ông thì lại giết bây giờ!

Nói xong ông cụ lại chậc lưỡi:

- Ấy nói khoác thế chứ nào đã giết được ai?

36.PL

(2) Bán hàng ở cửa hàng bách hóa

Chị ta ở nhà thuộc diện không hay làm mà lại hay ăn nên mò ra tỉnh theo

chồng buôn bán, có lần về nhà bà con hỏi:

- Dạo này làm ăn thế nào, có khá không?

Chị nói:

- Cũng bình thường, dạo này em bán hàng ở cửa hàng bách hóa thị xã.

Lần qua tỉnh, cô bạn cần mua mét vải hoa thêu đôi gối cưới, định bụng tìm

chị để nhờ, chẳng thấy chị đâu, ra cửa hàng khác thấy chị bán hàng vặt bày trên cái

mẹt, liền trách:

- Nói khoác thế, kêu bán ở cửa hàng bách hóa để người ta tìm mãi.

- Thì em chẳng bán ở cửa hàng bách hóa là gì, bảo ở cửa hàng sao lại vào

trong nhà mà tìm?

(3) Cả làng phải sợ

Một cháu nhỏ Trúc Ổ vào chơi nhà cô ruột ở làng Bùng, ông bố chồng của

cô nó hỏi:

- Làng cháu có người nói khoác giỏi lắm hả, cháu có biết nói khoác không?

Thằng cháu cười:

- Cháu không nói khoác, chỉ cần cho cháu một vật nhỏ y như que diêm, cháu

làm cho cả làng phải sợ.

Ông nó cũng cười:

- Vật gì mà có phép lạ thế, mày lại nói khoác rồi!

Nó dó túi ông móc ra một bao diêm, lấy một que dơ lên:

- Đây ông nhé, vật này “y như que diêm”, cháu quệt vào đây (nó chỉ chỗ

thuốc diêm) cháu đốt cả làng.

Ông vội xua tay:

- Thôi thôi, cái này có mà đốt trụi cả tổng.

(4) Con cá quẫy nát ba sào mạ

Ông ta đi câu cuốn, khoe với ông bạn làng bên:

- Hôm qua tôi giật được con cá chuối, nó quẫy nát ba sào mạ ông ạ!

Ông bạn thắc mắc:

- Ông nói khoác, cá chuối to đến đâu mà quẫy nát ba sào mạ?

37.PL

Ông Trúc Ổ nói ngay:

- Con cá bị giật, nó quẫy mạnh qua, đứt mồi rơi bẹt xuống kẽ nẻ, trẻ trâu xô

đến tranh nhau tìm, chúng nó tranh nhau vạch vòi, dẫm đạp làm nát cả ba sào mạ.

(5) Con chuột ăn hết năm thúng thóc

- Ông cụ nhà tôi có một cái bịch đựng hết năm thúng thóc, chỉ một đêm con

chuột cống nó khoét mà hết sạch!

- Ông nói khuếch, chỉ một đêm, một con chuột cống khoét mà hết sạch cả

năm thúng thóc?

- Thì nó khoét bịch, thóc chảy xuống, kẻ trộm vào hót nhẵn nhằn nhăn.

(6) Con ếch kéo đổ cây đa

Ông ra than thở:

- Khổ quá, hôm qua tôi đi cày, thà chẳng bắt được con ếch chết tiệt ấy thì

xong, bắt được nó, lúc về qua đầu đình, tôi xuống ao đình ruqra chân, buộc nó vào

gốc đa, thế là quên, sáng hôm sau ra tìm thì ôi thôi, nó kéo đổ cây đa đầu đình rồi!

- Nói phét đến thế là cùng, ếch mà kéo đổ được cây đa?

- Thì nó kéo đúng vào cái đêm có gió bão lớn mà lỵ.

(7) Da trắng

- Vợ mình trắng nhễ, trắng nhại từ gót đến đầu, cô ấy mà bấn quần cao thì ái

chà chà, ai muốn gọi là đùi thì gọi, ai muốn gọi là dạ quang đồng hồ thì gọi.

- Cũng chưa bằng vợ tớ, dạo cái máy bay Mỹ bắn phá một hôm cô ta đi ăn cỗ lại

mặc cái áo popolin pha lon Nhật trắng mới tinh, lúc có máy bay, nghe báo động mọi

người đã xuống hố mà cô ta còn chạy một đoạn mới có chỗ ẩn, chợt có người kêu:

- Cởi áo ra không nó phát hiện thấy, cởi áo ra!

Cô ta vội vàng cởi áo, bỗng mọi người gào lên:

- Mặc áo vào, không nó bắn chết cả nút bây giờ?

Cậu thấy không? Da cô ta trắng hơn áo mà lỵ.

(8) Em nói khoác thế

Một em bé xách giỏ đi bắt cua, có người hỏi:

- Thấy bảo Trúc Ổ nói khoác tài lắm, em hãy nói một lúc cho anh nghe nào!

Em bé kêu lên:

38.PL

- Eo ơi! Dừng lại nói cho anh nghe một lúc thì em thiệt mấy giỏ cua, ai bù

cho em?

Người kia trố mắt:

- Cua ở đầy nhiều thế kia à?

Em bé nói tự nhiên:

- Ấy là em nói khoac đấy chứ, làm gì có nhiều cua đến thế?

(9) Không phải đâu

Thằng nhỏ quê ở Trúc Ổ vào ông ngoại ăn cỗ. Bế nó trên lòng, ông hỏi cháu:

- Có phải ngoài cháu hay nói khoác lắm hử?

Nó lễ phép:

- Không phải đâu ông ạ.

Rồi nó khoe ông con châu chấu nó đang cầm trên tay:

- Con châu chấu này, ông dội nước sôi vào nó chín đỏ ra, cháu chỉ lấy cái cỏ

thông vào đít nó, nó lại bay đi liền.

(10) Nhiều người ăn hết cối gạo

- Các bác ơi! Tôi nói thật đấy, ở làng tôi ấy mà, nhiều người ăn hết cối gạo

(khoảng 9 cân).

- Bà chỉ nói dóc, làm gì có nhiều người ăn hết cối gạo?

- Úi chà, nhiều người lại không ăn hết cả thúng ấy à? Các bà thử thổi một

gánh, tôi gọi cả xóm đến ăn xem có hết không?

(11) Một con cá cả nhà ăn chán

Một tốp các bà đi chợ, bà nọ khoe:

- Hôm qua tôi mua chỉ một con cá mè, mà cả nhà ăn chán!

- Bà nói khoác, cá rẻ đến đâu mà bà dám mua con mè to thế, nhà tám người

có một con mè mà ăn chán?

Bà nọ nói ngay:

- Cháu nó mổ vô ý làm vỡ mật, cả nhà ăn chả kêu chán lắm mà lỵ.

(12) Ông tổ họ Đào

Họ Đào làng Trúc Ổ tuy nhỏ hơn họ Nguyễn Đức nhưng là họ “Thập bát tiến

sỹ” con cháu ở rải rác khắp hai xã Lãm Dương và Ngọc Đôi, người họ Đào Trúc Ổ

kể về tổ mình như sau:

39.PL

Mộ tổ gốc họ tôi để vào miến đất “ngưu đầu” nên đầu rất rắn. Có lần tổ tôi

vào thi đình, mấy viên thị vệ đòi thi tài, tổ tôi xin đổi ba mươi nhát búa đanh khảo

vào đầu lấy một cái vụt dọc thân người khác.

Một viên thị vệ đồng ý nhận cuộc.

Tổ tôi liền giơ đầu cho ông ta khảo.

Nhận khảo đủ ba chục nhát búa đanh chan chat trên đầu, tổ tôi vẫn trơ ra,

mặt tươi như hoa, đoạn tổ tôi cười bảo:

- Giờ thì quan anh nằm xuống đây!

Viên thị vệ kinh hãi nằm xuống đất. Tổ tôi sai gia nhân đẵn một cây tre nghẹ,

cụ lấy móng tay chẻ đôi ra, vụt cái dọc thân, viên thị vệ toác làm hai mảnh.

(13) Phải xuống ngựa hết

Quan huyện sở tại đang cưỡi ngựa đi trên đường. Ý dừng cương cho gọi một

bác nông dân đang cày lên hỏi:

- Này anh! Có phải Trúc Ổ nói khoác có lý, ai nghe cũng phải chịu hử?

Bác nông dân cung kính:

- Bẩm quan, chúng con đã nói thì dù quan huyện, quan tỉnh, ông cống, ông

nghè, thậm chí cả nhà vua cũng phải xuống ngựa hết ạ!

Quan huyện quắc mắt:

- Mày nói láo, nhà vua mà phải xuống ngựa nghe mày nói?

Bác nông dân cũng “giật mình”:

- Bẩm quan, ấy là con nói khoác thế đấy, chỉ có quan huyện ta thôi.

Quan “hừ” một tiếng rồi lên ngựa đi thẳng.

(14) Xương cá ném vỡ chum tương

Nhà tôi làm tương ngọt lắm, hôm qua tôi câu được con có chuối, cháu nó

đem kho dừ, ôi chà, ngon tuyệt! Thế mà các cháu ăn ném xương ra vỡ ráo hai chum

tương rồi, tiếc chết người đi được.

Người nghe vặn lại:

- Chả ai tin được, cá to đến đâu mà xương ném ra vỡ cả hai chum tương?

- Cháu nó ném vào giữa khe hai cái chum thế lá chó chạy ra tranh nhau

xương, cắn nhau lục đục, chả làm vỡ chum là gì!

40.PL

1.4.2. TRUYỆN CƯỜI DO NCS SƯU TẦM

(1) Bạn của bố mày

Một ông đi câu gặp đám ma, hỏi thăm người mất bao nhiêu tuổi, quê quán ra

sao. Hỏi xong, ông vào đám ma nhà người ta mắng xa xả:

- Thằng cả đâu, bố mày chết mà chúng mày chẳng bảo gì tao.

(2) Cái cổng bụi rào

Làm nên cái cổng bụi rào

Đẹp đẽ làm sao chẳng tốn bao

Tối tối đóng vào ngăn kẻ dữ

Sáng ra rộng mở đón hiền hào.

(3) Cứu trẻ chết đuối

Một ông đi câu quăng, thấy đứa trẻ con đang chơi, mấy bà cụ trông lại ngồi

nói chuyện, ông túm một đứa trẻ hất nước lên đầu rồi hô lên:

- Ối giời ơi cháu con nhà ai để chết đuối này.

Thế là cả nhà đứa trẻ mang ơn ông, đi về nhà người ta được mời cơm gà cá ngỗng.

(4) Dám trói quan huyện

Trước kia cụ tôi làm lý trưởng. Đợt ấy quan huyện về tuần thì nói:

- Tao nghe làng mày nói phét nhiều lắm.

- Không làng con làm gì dám nói phét. – Cụ tôi trả lời.

- Hôm nay chúng bay nói phét cho tao nghe xem có lý không.

Cụ nhà tôi chỉ vào mặt quan huyện và nói:

- Bọn chúng bây đâu mau trói thằng này lại cho tao.

Quan lớn sợ xanh mặt, nhưng sau đó cụ lại cười nói:

- Đấy là con nói phét ấy chứ ạ!

(5) Đếm vịt

Nghĩ đời mà ngán cho đời

Nuôi mươi con vịt cũng giấy mời ủy ban

Nói ra lại bảo rằng ngang

Vịt tôi tôi giữ lúa làng làng trông.

Đã bầu cái chức về nông

Lúa mạ không giữ ăn không công à?

41.PL

Bị lên gặp ủy ban, người ta hỏi có bao nhiêu con vịt thì ông đếm:

- Ba xám, tám đen, một con nhọ nhem, một con cà cuống.

(6) Thơ mượn mai

Ông cụ nhà tôi đi mượn cái mai, thằng phó lò không cho mượn nên ông về

làm thơ:

Khoảnh ác lắm thay lão phó lò

Mai không dùng đến mượn không cho

Ta nhỡ lúc này mi lúc khác

Chớ nên cháo múc phải thịt thò.

1.5. TRUYỆN CƯỜI LÀNG VĂN LANG

1. Ai bảo nó theo trai

2. Ai hoạn…Hoạn đi!

3. Ai thèm ngọc hành của nó

4. Ăn cá không phải giở mình

5. Ăn cháo đái bát

6. Ao bèo tấm

7. Ba lần hú vía

8. Bà này không tự giác

9. Ba phát khỏi liền

10. Ba vạ

11. Bác ấy đến rồi

12. Báo quan mà lĩnh thưởng

13. Bóp vỡ họng gấu

14. Bắt sống trăn gió

15. Bùm một cái

16. Bừng giơi

17. Bưởi rụng chết trâu cà

18. Cá mắm thính bà Lừng

19. Các ông ấy đủ rồi

20. Cái cọc mục

42.PL

21. Cái may

22. Cắt mũi

23. Cau nhà

24. Cây cải xanh

25. Cây chuổi

26. Cây rau dền

27. Cây sim

28. Cày về sớm

29. Chả phải mất tiền

30. Chạy đằng giời

31. Chỉ có mày với bà

32. Chỉ có nước chè “thanh thủy”

33. Chỉ còn có thịt…người

34. Chó còn mừng nữa là tao

35. Chợ đắt, xôi dẻo

36. Cho mẹ đi nghỉ mát

37. Cho vào hợp tác xã

38. Chốn dinh

39. Chưa biết đứa nào gian

40. Chùa nào mà chả thế

41. Chưa nóng đít ông táo đã về

42. Chúng nó không giận nhau

43. Chuyện rủi

44. Con đỉa trâu

45. Con ếch cốm

46. Con gà đậu gãy văng thành ngạnh (dị bản)

47. Con giống của bác

48. Con lươn đồng

49. Con mà nói sai

50. Con mắt thần

43.PL

51. Con rể làm bếp trưởng

52. Con tôm càng

53. Con vện

54. Còn xơi xơi

55. Cộp!...Cộp!...

56. Củ sắn xuyên đường

57. Cua hay bò

58. Củi nỏ lắm

59. Cứt chó chè lam

60. Cút hơn chai

61. Đại Hà Tiện, Tiểu Hà Tiện

62. Đại Hà Tiện, Tiểu Hà Tiện (dị bản)

63. Dấn cái nữa cho thoải

64. Dân chủ quá trớn

65. Dâng sao từng hạn

66. Đằng trước hay đằng sau

67. Dao sắc

68. Dấu bôi vôi

69. Đầu trâu luộc

70. Đề cao đức quân tử

71. Để chúng khỏi lạc đàn

72. Dễ hãy còn non

73. Dế hãy còn non (dị bản)

74. Để yên xem sao

75. Đĩa lưỡi chuột

76. Đỉa ở ao đình

77. Điểm hẹn

78. Đii chơi xem ngày lấy may

79. Đỗ bẩn thỉu

80. Đố vui

44.PL

81. Độc trị độc

82. Đồi mai mộc

83. Đưa cho ta khám nghiệm

84. Dứa Gò Sui

85. Dung bừa bắt trộm

86. Được cả nước lẫn cái

87. Gà bay

88. Gà đá chết lợn

89. Gà đủ hay thiếu

90. Gà trống gãy đạp văng trâu

91. Gan cóc tía

92. Gẫy chân rồi

93. Giã ơn cái cong tương

94. Giống rền quý

95. Giống sắn nghệ

96. Hang chua

97. Hít hơi chả, giả tiếng tiền

98. Kén rể thi thư

99. Kén rể ười

100. Khâu lại để dành

101. Khó chữa lắm đấy

102. Khoai dẻo

103. Khoai nước

104. Khoai sọ lủi

105. Khỏe như trâu

106. Khôn ăn cái, dại ăn nước

107. Không hoãn được

108. Lạ lắm nhé

109. Lẻ in nốt

110. Lúa nếp đìn

45.PL

111. Lúa nông nghiệp 5

112. Mặt đỏ

113. Mẹ đẻ ra sư

114. Mè ranh say rượu

115. Miếng dập ngực

116. Một công ba lợi

117. Một mình bảy vợ

118. Mua tủ ngốt gà

119. Ngọn rau muống

120. Nhà chú cũng có giỗ

121. Nhãn lồng

122. Nhất thế giới

123. Những chuyện về anh cu Dưng

124. Nóng giống

125. Nước mắm cà cuống đưa anh chàng tịt mũi

126. Ông vệ sinh

127. ớt cay

128. Phải lòng tây

129. Phích ngoại

130. Phụ hồ thay

131. Quả bí một hột

132. Quả mướp hương

133. Quan Ngài ăn trộm tép

134. Quan văn xỏ quan võ

135. Quạt mặt quan

136. Rắm đương quy

137. Rửa tai

138. Rượu ngọt

139. Sáng kiến của mẹ cu

140. Sao giống của nhà em đến thế

46.PL

141. Sao mày chả lái

142. Sao mày không đẻ

143. Sáu cẳng hơn bốn cẳng

144. Sờ cái được ngay cơ mà

145. Su hào bánh xa

146. Suýt cháy nhà

147. Tai nạn giao thông

148. Tài sắp bữa

149. Tàu ráy

150. Tay ải tay ai

151. Te hẻ

152. Thầy đồ đỡ đẻ

153. Thầy trò kẻ cướp

154. Thề cá trê chui ống

155. Thứ nhất quận công, thứ nhì…

156. Thủng bụng

157. Thùng! Thùng! Thùng!

158. Thuở đương thì

159. Thút thít! Thịt nó đôt

160. Thuyền đu đủ

161. Thuyền tróc

162. Tiếng đàn bầu

163. Tính tang

164. Tinh trứng

165. Tổ ong rừng

166. Tôm dậm

167. Tôm đồng Liên Trì

168. Trà thượng hạng

169. Trạng Phét

170. Trâu húc nhau

47.PL

171. Trổ hết tài ta xem

172. Trương Phì

173. Vẫn ngồi xổm

174. Vợ cháu đẻ

175. Vợ điếc

176. Võ mèo

177. Vống hay kiến

178. Vườn gỗ lem

179. Xin tí vôi 180. Xôi dẻo

49.PL

2. DANH SÁCH 1013 TRUYỆN CƯỜI CỔ TRUYỀN DO NGUYỄN CHÍ BỀN VÀ CỘNG SỰ BIÊN SOẠN (TỪ TẬP 8:

TRUYỆN CƯỜI CỦA BỘ TỔNG TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT)

Tên gọi khác trong sách (Sở dĩ có tên gọi khác nhau là bởi do người soạn sách tự đặt tên) Truyện ST T

Đãng trí/ Tính hay quên/ Vô tâm Thầy đồ với thầy cúng/ Tín chủ Nguyễn Thị Thẹo

Ai lấy, bán rẻ đây Không biết làm ăn (nhờ phụ ấm)/ Ai nuôi tui

Không dám lấy vợ

Mù và gù Người hay đi kiếm ăn/ Thang thuốc máu cam

1 A, tao được con dao 2 Ai bảo ông dốt 3 Ai biểu chị sui ngoắc tui? 4 5 Ai ngốc hơn ai Ai nuôi tôi 6 Ai sanh trước 7 Ai sợ vợ nhất 8 9 Anh cả lắc 10 Anh còng và anh mù 11 Anh chàng ăn chực 12 Anh chồng lười 13 Anh chồng ngốc 14 Anh giỏi thật đó

15 Anh hai vợ Nhớ lời bà nói Khen giỏi Chẳng hiểu anh chồng có "xuôi" được không/ Xiêu cái cột buồm/ Nạp thuế/ Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

Anh này sao mà hoang quá?

16 Anh kẻ noi làm thơ huê tình 17 Anh kỳ cào 18 Anh làm quan, em làm dân 19 Anh lười được vợ 20 Anh mù cười 21 Anh mù và anh gù nhảy xuống nước... tự tử 22 Anh này hoang quá 23 Anh thợ rèn bừa 24 Anh vô, tôi về!

50.PL

Chó ăn cháo/ Cháo cám

Chả còn một mống nào/ Không còn ai cả/ Ăn cỗ/ Hư ăn

Củi sòi, cá thòi lòi

Ăn ở hai nơi/ Ưng cả hai/ Ăn ở ra làm sao/ Như ý

Thu vía

25 Ăn chả cò 26 Ăn cháo tấm 27 Ăn cho ích vào thân 28 Ăn cỗ với ai 29 Ăn cướp buồm vì thằng bạn khùng 30 Ăn hàng quen thói 31 Ăn hiếp con nít 32 Ăn hơi 33 Ăn khỏe 34 Ăn mất rồi 35 Ăn một nơi, ngủ một nơi 36 Ăn nhau về hòn đất 37 Ăn no không lo việc nước 38 Ăn no to bãi 39 Ăn ốc đổ vỏ 40 Ăn phúng cháo kê 41 Ăn quen bén mùi 42 Ăn tham 43 Ăn tham húp cháo cứt rùa 44 Ăn theo bằng trắc

45 Ăn thịt gà Nấu cháo rùa/ Ham ăn/ Ở chung/ Anh chồng tham ăn Dấu huyền/ Ăn dấu gì?/ Nói lái Kinh nghiệm làm thầy thuốc/ Kinh nghiệm/ Kinh nghiệm làm thầy lang/ Bắt mạch giỏi/ Chổi lông gà/ Cái chổi lông gà

46 Ăn trong ăn ngoài 47 Ăn trộm địt 48 Ăn trộm thật thà 49 Ăn trộm và cọp rình nhà 50 Ăn vắt đỗ

51 Ăn vụng khoai Mỹ tự rởm/ Sĩ diện/ Anh hà tiện Tôi mừng quá/ Tôi mừng quá đấy mà/ Thằng cha nhảy cà tứng/ Ăn vụng/ Tao tưởng là/ Nhanh trí 52 Ấp trứng voi

51.PL

Ba anh chàng ở đợ Ba chàng mê ngủ

Ba chàng rể/ Lại chuyện kén rể/ Văn hay/ Nhờ văn được vợ Lại như cũ/ Miếng dồi chó/ Ước ăn giồi chó

Chuyện hai ông thầy chùa

Không nói nữa Có lẽ/ Có lẽ giống Cháy nhà tôi thì răng?

Kẹo ra mua/ Chàng rể tò mò 53 Ấu bất học lão hà vi 54 Ba anh đầy tớ 55 Ba anh mê ngủ 56 Ba chàng rể mê ngủ 57 Ba chàng rể tế bố vợ 58 Ba điều ước 59 Ba gánh sách 60 Ba năm tìm vợ 61 Ba nẹt tre được vợ 62 Ba quan không mua được con chó 63 Ba quan mắc quá thà chết còn hơn Chết còn hơn/ Thà chết còn hơn/ Anh keo kiệt 64 Ba thầy tụng và cái rìu 65 Ba thứ không cần 66 Ba trọc 67 Ba tu 68 Bay qua 69 Bà đẻ phượng hoàng 70 Bà già đuổi trộm 71 Bà mẹ chồng và hai người con dâu 72 53 73 Bà vợ ghen 74 Bác cứ mời đi! 75 Bác tìm gì? 76 Bài học đầu năm của một thầy đố 77 Bài thơ vĩnh biệt 78 Bài thuốc bắc kỳ lạ 79 Bài vàng 80 Bài văn tế bất đắc dĩ 81 Bán kẹo 82 Bán trận một dù

52.PL

83 Bát canh hương án 84 Bát vạn là quả ớt 85 Bạn gái nói chữ

86 Trả ơn con lợn/ Giả ơn con lợn Bạn học trò một người đậu một người rớt

Cái bánh ít/ Nói sao cũng được/ Vô phép

Băm lăm hạng nặng/ Nghe tiếng chim Con xin chịu/ Cái ấy thì con xin chịu/ Làm dọi/ Ông tài thế tôi theo sao kịp/ Theo sao kịp Ăn trộm trâu/ Trộm cái dây thừng

Tất cả là chó/ Bẩm toàn là chó cả/ Ngài "minh" lắm/ Cái lông voi

Giờ nó mới chịu thò đầu ra/ Bây giờ mới ló đầu ra/ Mới ló đầu ra/ Bây giờ nó mới ló Thầy đồ dốt/ Cây bất ở bể Đông

Ta hay sư/ Có phải ta không hả ta

87 Bảng xuân 88 Bánh con lợn 89 Bánh tao đâu 90 Bào vưa (vừa) cưa ngắn 91 Bay nón 92 Băm lăm hạn nặng 93 Bắt chước cha vợ 94 Bắt được sợi dây 95 Bắt ong nguồn 96 Bắt vạ 97 Bắt về cho trẻ chơi 98 Bắt vợ phải quỳ 99 Bẩm chó cả 100 Bẩm quan lớn ngài minh lắm 101 Bẩm toàn gạo muối 102 Bây giờ nó mới thò đầu ra 103 Bất là cây bất 104 Bất lịch sự thế! 105 Bất quá thì khiêng 106 Bất tỉnh nhân sự 107 Bẻ cau 108 Bẹo con

109 Bên trọng bên khinh Ám hiệu Nhất bên trọng, nhất bên khinh/ Ngựa của anh chàng thợ mộc và chuyện anh hàng xóm mắc vạ/ Tướng công kỵ bà lão

53.PL

Cối rút

Tên nhà giàu bị chơi khăm

Chen vô không đặng/ Họ quá đông

Cái bàn tám chân Thông gia tương lai/ Hóc xương/ Nhanh trí Con bọ cạp nước

Chết vẫn hà tiện/ Sao phí quá thế

Con ruồi mà quan huyện/ Con ruồi bị thưa bị đập/ Kiện ruồi Phúc thống phục nhân sâm/ Chết ở trang sau

Sáu cẳng nhanh hơn bốn vó/ Sao bác ngốc thế/ Bốn cẳng so với sáu cẳng/ Tùng giả

Chàng ngốc nói chữ

Hai vợ Thầy dốt/ Vẫn chi hai quan Lấy đâu ra mà rặn/ Lấy gì mà rặn/ Trong bụng không có gì hết/ Ai đẻ ra được chữ

110 Bệnh lạ 111 Bệnh tình! 112 Bị chơi xỏ 113 Bị lừa 114 Bị mắng 115 Bìm bịp kêu mở cày 116 Biết giữ lời hứa 117 Biết ý 118 Bò cạp nước 119 Bò say mật 120 Bỏ vạc nước sôi cũng được 121 Bói kiều 122 Bôi mặt đỏ 123 Bố mày! Đã chết với tao chưa? 124 Bốc thuốc theo sách 125 Bốn anh học trò đặt thơ trong chùa Bốn anh học trò làm thơ trong chùa/ Vịnh cái đền/ Vịnh cảnh đền 126 Bốn anh một chị 127 Bốn anh thầy chùa làm phước mà phải chết 128 Bốn cẳng, sáu cẳng 129 Bốn dài hai ngắn 130 Bông xơ hay bông hột 131 Bới cơm trưa 132 Bờm đối thơ 133 Bợm nhậu đi buôn 134 Bớt gạo đi dì mi ạ! 135 Bớt tiền thầy 136 Bụng không 137 Bụng trống 138 Buổi sáng sớm ở sân nuôi gia cầm 139 Buồng vợ chồng mới

54.PL

Hai con dê và cái chũm chọe/ Vợ chồng dốt/ Đọc thư Quặc đuôi cọp

Vật quý

Cho khát nước chết luôn/ Cá rô cây/ Con đừng thèm nói/ Hà tiện/ Để cho nó uống nước Cá rô nghệ Cô rô lạch ngược Có roi

Thợ chạm rồng trỗ phụng

Có bán cá tươi/ Cái biển/ Cả nghe Hư hốt/ Lý luận ăn tham Khen đồ cổ/ Tất cả đều tốt

Không xài nó dài ra

140 Bữa rượu cháy nhà 141 Bức thư lạ 142 Bứt củi 143 Cà cuống với người tịt mũi 144 Cà xốc 145 Cày đôi 146 Cày xong thì bừa 147 Cả Khuếch 148 Cả nhà ngốc 149 Cá gỗ 150 Cá rô nghê 151 Cá rô rạch ngược 152 Các cháu đã có roi 153 Cách mấy cây 154 Cãi chối 155 Cái ấy của làng 156 Cái biển hàng 157 Cái bọn hư hốt thật 158 Cái bụng cổ 159 Cái can dài 160 Cái gì không xài nó dài ra 161 Cái mũ nỉ 162 Cái mũi thính 163 Cái ngà voi 164 Cái, nước 165 Cái phải trả 166 Cái phúc được ăn thịt 167 Cái tên 168 Cái tội ham ăn 169 Cạo váy Cái tên hèm Thèm bánh Đau thấu bên kia/ Thầy hù

55.PL

170 Cắn răng mà chịu 171 Cắt cơm Còn răng đâu mà cắn/ Không răng/ Răng đâu mà cắn? Nhớ trưa nya đừng nấu phần cơm cho tôi/ Trưa nay đừng nấu phần cơm tôi

172 Cặc mày là cặc mày, cặc tao là cặc tạo

May mà ông cầm tinh con cày/ May là ông cầm tinh con cầy/ May mà…/ Tuổi tuất Nghe qua thì biết/ Chữ Vạn mắc quá/ Học làm gì cho nó tốn tiền

Ba người coi biển/ Anh em nhìn

Học trò dốt gặp may Còn rầy con gì nữa/ Dạo vườn Thi tài đố chữ/ Cha cố và sư ông đối đáp Tối ngủ với ai?/ Ngủ với ai?/ Mẹ ngủ với ai

Con bất hiếu/ Thiên lôi cựu

173 Cầm tinh con cầy 174 Cần gì phải học nữa 175 Cần tiền mà không cần cái mặt 176 Cẩn thận thì không lo 177 Cận thị 178 Cấp trí 179 Câu đối của người vợ nhỏ 180 Cầu mưa 181 Cây đơn 182 Cây gì cưa chẳng được 183 Cậu đánh ngũ liên lên cho 184 Cậu học trò dốt gặp may 185 Cha còn rầy la con chi nữa 186 Cha cố và sư ông thi tài 187 Cha dạy con 188 Cha điếc, mẹ điếc, con điếc, rể điếc 189 Cha nào con nấy 190 Chanh chua 191 Chà lọ nghẹ 192 Chào sư phụ 193 Chàng khờ 194 Chàng ngốc đi buôn 195 Chàng ngốc múc nước 196 Chàng rể bé 197 Chàng rể khờ 198 Chả dấu gì bác Chàng rể mới Miếng trầu hôm nọ/ Vẫn miếng trầu ấy

56.PL

Nấu cháo gà mà ăn

Hai anh sợ vợ/ Tưởng là gì/ Phải tay ông/ Phải tay tôi thì/ Đỗ thùng/ Sợ vợ

Dập…cheng… Rượu chua

Người chết nhầm thì có/ Sao thầy lại nhầm/ Sao văn tế/ Chép văn tế cũ

Khuyến giáo

199 Chánh thầy ngoại khoa 200 Chánh tổng phải đòn 201 Cháo gà mà ăn 202 Cháu có hiếu 203 Chạy lối nào 204 Cháu nói láo hại chú trả thù 205 Chẳng lấy gì 206 Chẳng phải tay ông 207 Chẳng thèm 208 Chặt tre 209 Chân mới dài ra 210 Chập ... cheng 211 Chế giấm 212 Chết đuối 213 Chết nhầm 214 Chết nửa người 215 Chết vẫn còn lừa bịp 216 Chi đó? 217 Chi vậy?

218 Chỉ có một con ma

Diêm Vương rước thầy thuốc/ Ông lang xuống âm phủ/ Mới dựng kệ/ Chữa bệnh Diêm Vương Chỉ mỗi thằng trọc/ Thầy chùa thầy pháp giành con

Tại thầy địa lý/ Tại anh thầy địa lý Chỉ tiêu những chữ lẻ/ Chữ lẻ Tao cũng ở/ Tao cũng ở nốt với mẹ mày Tranh nhau ăn

Từ rày suốt sàng không ngủ nữa/ Chiêm bao gì mà cười 219 Chỉ có mỗi thẳng trọc 220 Chỉ mặc cái áo thôi 221 Chỉ tại ông thầy 222 Chỉ tiêu chữ lẻ 223 Chia của chia con 224 Chiếc bánh này phải là của tôi 225 Chiếc khăn rơi 226 Chiêm bao rủi 227 Chiêm bao thấy chết một ngàn năm Chiêm bao/ Chết một ngàn năm/ Nói đi còn nói lại/ Nói lừa nhà sang/ Nịnh nhà giầu

57.PL

228 Chiêm bao thấy lợn kêu 229 Chiếm hết chỗ 230 Chim dồng dộc 231 Chín rưỡi chưa đủ 232 Chính xác

233 Chịu thua

Lợn kêu (van)/ Mơ thấy con bò kêu Chiếm hết chỗ rồi/ Chiếm hết chỗ cả rồi Độc miệng Cướp ngay/ Làm xầy Phú ông khám rể/ Kén rể Xin mời thầy nội khoa/ Thầy thuốc ngoại khoa/ Thầy ngoại khoa sơ học/ Phải mời thầy nội khoa/ Nội khoa, ngoại khoa/ Không phải nghề tôi Hà tiện Hai đôi đủ cặp/ Khỏi lạc đàn/ Kẻo hắn lạc đàn đi/ Kẻo hắn lạc đàn/ Cho có bạn

Ông gia và chàng rể/ Ông già và rể Không ăn thì tao cho ông lý ăn/ Chó già gà non

Xin nước lạnh/ Rửa tay cho sạch/ Xin bát nước lạnh/ Cho xin thau nước

Làm cho trăng lặn/ Thái cực sinh lưỡng nghi/ Ông thầy ăn khín bánh của trò

Bẩm quan ạ!/ Một quan ạ

Con chó quý Ông điếc đi mừng tuổi

234 Cho đỡ hỏng vải 235 Cho đủ cặp 236 "Cho húp một miếng” 237 Cho một đá này 238 Cho mượn cái áo 239 Cho ông lý ăn 240 Cho sống lại 241 Cho xin bát nước lạnh 242 Chó biết nói... 243 Chó cắn 244 Chó cắn tay 245 Chó chắp 246 Chó có sừng 247 Chó đá 248 Chó đá đổ máu 249 Chó hơn quan 250 Chó khô cổ 251 Chó mật 252 Chó ngáp 253 Chó tha bạc 254 Chó thui 255 Chọc gái có duyên 256 Chọn ... lầm

58.PL

257 Chọn một trong hai

258 Chọn người gầy mà chữa

Chọn người gầy/ Phạt khiêng quan tài? Chọn người gầy mà chữa bệnh/ Đừng cho thuốc người mập/ Trị bệnh thủng/ Lần sau chỉ chữa kẻ gầy thôi Cô gái chanh chua/ Muốn gì bà cũng cho

Lười đâu mà lười thế

Chuộc cắn

Sư, vãi, tiểu

Nói lái quen mồm/ Nói lái

Bõm và vút

Hàn

259 Chọn trưởng tràng 260 Chôn của 261 Chồng điếc vợ câm 262 Chồng keo vợ kiệt 263 Chống ra, chống vô! 264 Chờ sung rụng 265 Chủ nhà róng, đầy tớ khùng 266 Chú lái ăn 30 đồng thịt heo 267 Chúc thầy sống lâu trăm tuổi 268 Chuối "đòn gánh” 269 Chuột cắn 270 Chuyện gì vậy? 271 Chuyện ông quan mua chim 272 Chuyện trong chùa 273 Chưa chắc 274 Chừa 275 Chừa tên cúng cơm 276 Chữ bõm và chữ vút 277 Chữ gì? 278 Chữ hiếu của thầy đồ nọ 279 Chữ thiên trồi đầu 280 Chữa ma ra người 281 Chức hàn 282 Chứng minh 283 Coi đầu mua nón 284 Coi hát 285 Coi sách

59.PL

286 Coi tao đây nè 287 Con bắt chước cha 288 Con buồi 289 Con cầu con khấn 290 Con cóc kêu bằng chi 291 Con cu 292 Con cũng vậy 293 Con cười cái gì? 294 Con dã hổ 295 Con điếm 296 Con gà chọi 297 Con gà có bảy đức 298 Con gái nhà quê 299 Con gái thật thà 300 Con hổ xám 301 Con kia kén chồng gạt thầy sãi, xã trưởng với ông huyện 302 Con lợn biếu 303 Con mắt dọc 304 Con mắt tranh công

305 Con nói hợp ý ta Tranh nhau chỗ ngồi Không mất gì cả/ Giống ý cha/ Có chết cũng yên lòng/ Hà tiện đến chết cũng hà tiện/ Đến chết hãy còn hà tiện

Thanh tịnh/ Chặt trốc, lột da

Con vịt hai chân/ Tính hay nịnh/ Vịt hai chân

Nói một đường quàng một nẻo 306 Con quỷ và địa ngục 307 Con rắn vuông 308 Con tép 309 Con thanh tịnh 310 Con thứ nhì 311 Con vịt có những ... hai chân 312 Con xin chín chục 313 Con xin xuống ạ 314 Còn dài ngày ăn

60.PL

Ông thợ cắt tóc/ Tại cái đầu/ Đầu là quả bí đao/ Thầy hù Con gì bằng Con giỏi hơn thầy nhiều/ Con khá hơn thầy Sợ vỡ mật Nhà giàu keo bẩn/ Sao dám hẹn trước/ Sợ mắc nợ đời

Nhẽ đâu thế!/ Lại nói đấy nhé

Đẻ non trước hai tháng đấy/ Nghén bảy tháng Đàng lên trời ở mô?/ Thầy đồ nói liều/ Có phải đường lên trời/ Đường lên trời

Nhân đức

Thử tài

Mách nước cờ/ Mách nước/ Chỉ nước cờ

Củ đủ nuôi mày

Cái gì/ Khỏi nhọc công mò

Nói chữ/ Có con giun đất

315 Còn non quá 316 Còn gì cho bằng... 317 Còn phải học gì nữa 318 Còn phương cứu chữa 319 Có ai mời không? 320 Có ai thủng bụng không? 321 Có nhẽ đâu thế 322 Có nọ thì có kia 323 Có nuôi được không? 324 Có phải đường lên trời? 325 Có tiền thì biết nói 326 Cọp bị đá 327 Cọp đành quay lại 328 Cọp mắc đuôi trong bụi dừa nước 329 Cô dâu thử tài chú rể 330 Cô lô gốc mít 331 Cổ oán thầy coi số 332 Cờ gian bạc lận 333 Cờ ngoài, bài trong 334 Cớ gì vậy ông 335 Củ này củ gì? 336 Củ khoai và cái cầu 337 Của chẳng lìa mình 338 Của chị quý hơn đầu tôi 339 Của nhà đây cơ mà 340 Cũng chết 341 Cũng đòi nói chữ 342 Cũng một môn 343 Cũng vậy 344 Cúng giỗ Ngày cúng mẹ của bốn anh em họ Đào

61.PL

Răng phô/ Răng hô

Cho mượn một con/ Không đãi khách Dạy con Thế vẫn còn hoang/ Của bền tại người/ Giữ quạt được lâu Cứ nằm xuống xem/ Chiêm bao coi hát

Mẹo kẻ trộm/ Nắm mũi mới sợ/ Thầy rờ Đi thú/ Lâu ngày

Dài tới rỗ môn

Dốt hay nói chữ/ Thế cũng đòi học Nếu không có quan

Tao thèm quá!/ Thôi thôi đừng nói nữa/ Đừng nói nữa tao thèm/ Quan tòa địa phủ

Đổi chỗ ở/ Dời chỗ ở

Về đi cày/ Ngưu là con bò tót

Không phải nuôi chó Văn hay

345 Cúng tổ 346 Cục đỗ ngon hơn 347 Cưa ly 348 Cưỡi ngồng mà về 349 Cửu sừng hay cửu vạn 350 Cứ lắc đầu cho mát 351 Cứ nằm xuống xem cho hết 352 Cứu cụ cho khỏi bắt 353 Cứu học trò 354 Dạ chính em đây 355 Dạ thưa, tôi đi đào củ mài ạ 356 Dài tới rá xôi 357 Dám cho thua 358 Dạy vợ 359 Dân giần quan 360 Dâu dọi cha chồng 361 Diêm vương thèm ăn thịt 362 Diệu kế 363 Dĩ vãng 364 Dời nhà 365 Dốt coi chữ 366 Dốt cũng làm thầy đồ 367 Dốt hay chưng hiệu 368 Dốt làm bộ hay chữ 369 Dốt mà dạy khôn 370 Dốt mà giỏi 371 Dùng làm gì được 372 Dùng quan để thử gì 373 Dụng mưu làm thuốc 374 Dưỡng thai cắt đách Ăn chả ăn nem

62.PL

Đồ ngu! Đứng sau tao! Thầy đồ mắc lỡm

Đái mau cho làng uống Viên là tròn Bát to chén bé Ông đánh cháu/ Gàn ba đời/ Tam đại gàn/ Tam đại dở hơi

Làm khổ lây ông ra/ Đâu dám khổ đến ông/ Đâu dám làm ông khổ lây

Tử tự bằng thuốc độc không chết/ Hai ve thuốc độc/ Thầy rượu Nói xỏ/ Đậu phụ làng với đậu phụ chùa Hai thầy đồ đố chữ

U tớ đẻ ra sư/ Sư ông mắc oan/ Cạch đến già/ Chừa đến tận già/ Cua cắp thầy vườn

Mất vía/ Bốn cu

375 Đa thê 376 Đã có thầy giữ nhà hộ 377 Đã nói là đi vắng 378 Đàng trước hay đàng sau 379 Đái mau đưa vô 380 Đãng trí 381 Đánh cha già 382 Đánh cháu 383 Đánh chết nửa người 384 Đánh chết tôi trước 385 Đánh cờ tướng ăn tiền 386 Đánh phách 387 Đánh quân ngũ sách 388 Đặt tên con 389 Đắp chăn 390 Đâu dám làm khổ lây đến ông 391 Đâu phải con ngủ mà 392 Đầy tớ là khu 393 Đậu phụ 394 Đậu phụ mắm tôm 395 Đẽo cày giữa đường 396 Đẻ ra sư 397 Đêm động phòng 398 Để cho tao một cẳng 399 Để cô tồ tồ. 400 Đều là công sức của cái mồm 401 Đi hồ

402 Đi làm rể Trừ nợ lần trước Chàng rể lém/ Không bán nữa/ Người ta không bán nữa/ Chuyện mua nhà/ Thiếu cơm/ To hơn cái nồi này 403 Đi lừa tiền cơm

63.PL

Tích con ếch/ Đi tu mà chẳng trót đời Làm phúc phải tội/ Bé cái nhầm/ Xin đại vương đình lại cho một đêm

Hết chỗ ngồi

Hết đâu mà sợ Tiền "đồng môn" Mồ hôi đen/ Đậu đen chườm đầu Vẫn thế/ Đày tớ giống chủ nhà/ Cũng đúng

Đôi câu đối chọi/ Đối thật chọi/ Đối Quan đối với "chó" Câu đối được vợ

Cọp táp sáp ong

404 Đi tu mà chẳng trọn đời 405 Đi tu phải tội 406 Địa là cứt gà sáp 407 Địa lý 408 Địa trung thiên hạ 409 Đít mày mặt tao 410 Địt hay 411 Đo đất 412 Đòi nợ 413 Đón lên tỉnh rồi 414 Đóng oản 415 Đọc văn 416 Đọi rưỡi thì vừa 417 Đôi củ 418 Đồng môn đồng khoai 419 Đổ mồ hôi mực 420 Đổi giầy 421 Đổi thăm 422 Đố biết tay phải hay tay trái 423 Đối chọi 424 Đối được 425 Đối được vợ 426 Đội làm sao hết 427 Đợi món nhắm 428 Đàn bà đau máu 429 Đuổi con lợn 430 Đuổi khách 431 Đút sáp cho cọp ăn khỏi chết 432 Đưa cha lên rừng 433 Đưa ma chồng

64.PL

434 Đứa con báo hiếu 435 Đứng mãi nó mỏi 436 Được cả đơn lẫn kép

437 Được một bữa thả cửa

Ngồi lâu phải đổi/ Sớm đỏ tối đen Được cả nước lẫn cái/ Thuốc đau bụng Tham ăn/ Chỉ tại con gà/ Thằng chồng khờ ngồi ăn có dây giụi/ Thằng chồng khờ ngồi ăn có day dụi/ Anh tham ăn Đầu vua những cứt/ Rồng ỉa vào đâu

Khỏi nuôi chó dữ

Chỉ thương con trai Đàn bầu/ Tiếng đàn bầu/ Tiếng đàn cò Xin tiền tiên/ Nói láo ăn tiền/ Láo dinh láo quê/ Nói dóc mất tiền/ Hai anh em bốc phét Nổi cơn ghen

Giá mà con giống của tôi/ Con giống Nhiêu học nghèo/ Giả nợ tiền kiếp/ Xin làm bố để trả nợ Giàn hoa lý sắp đổ Cùng thập vạn

Nó lấy mất cày rồi/ Nghe lời vợ dặn/ Nói nhỏ/ Nói nhỏ, nói to/ Nghe lời vợ/ Nói to, nói nhỏ

Điếc hay ngóng, ngọng hay nói 438 Ẻ đầu vua 439 Ẻ vô ấm 440 Gà nhỏ nỏ có mề 441 Gã thừa kế ma lanh 442 Gãy xương sống 443 Gạo biết nói 444 Gánh bưởi qua sông 445 Gắp bỏ cho con 446 Gặp được tri âm 447 Gặp phải tổ sư 448 Ghen 449 Ghen vợ 450 Ghẹo cô hàng nước 451 Già bảy mươi còn cưới vợ 452 Giá được như ... của bác 453 Giáo tập 454 Giàn lý đổ 455 Giàu nghèo như nhau 456 Giày chẹt 457 Giấu cày 458 Giấu đầu hở đuôi 459 Giấu đầu ra đuôi 460 Giấu đồ kẻo chúng giựt

461 Giết dê lừa ông hàng xóm Cười cũng được vợ/ Vừa buồn cười vừa sợ/ Đánh trống thổi kèn/ Giết dê dạm vợ/ Giết dê lừa ông hàng xóm

65.PL

Miếng vọp vồ/ Ra miếng cọp

Giữa thì nục nận

May cả hai kiểu/ May áo cho quan

Tưởng bở Ở với ông

Cũng là thằng đui sướng

Tham ăn mắc lừa/ Thối mầm thâm rễ

Hết phép Nói ý

Nói dại/ Vì hắn hay nói dại Nói ngang

462 Giỏi đấu dịu 463 Giống ông bộ râu 464 Giở miếng cọp vồ 465 Giữ dép được lâu 466 Giữa 467 Hà tiện 468 Hà tiện vải 469 Hạ khí thông 470 Hai anh chàng cận thị 471 Hai anh em làm ruộng 472 Hai bên cùng nhầm 473 Hai kiểu áo 474 Hai ông phó cối 475 Hai ông quan võ đi coi hát 476 Hai ông thổ công 477 Hai phần cơm 478 Hai sui gia khoe của 479 Hai thằng ăn trộm và con ngựa 480 Hai thằng đui nói phách 481 Hai thầy đi làm đám 482 Hai thầy đồ 483 Hai thứ một khác nhau 484 Hại bốn nhân mạng 485 Háu ăn nói trạng 486 Hay cãi tên 487 Hay là sư không có cha 488 Hay nói dại 489 Hay nói ngang 490 Hay nói xâm 491 Hay quên

66.PL

Hâm nước mắm Thầy đồ xay lúa Khoe chữ Thầy các chú

Hồ khoan hồ nậy không bằng địt nậy du tôi

Hỏi thăm sư Hóc dao rựa/ Hóc búa/ Đến hóc mà chết/ Tu chí làm ăn Thầy thuốc học lội

Hùn vốn nấu rượu/ Góp vốn nấu rượu

Chọn rể nhác/ Rể lười/ Kiếm rể lười

Chích máu ăn thề/ Thật xứng đáng/ Gan nhất/ Sợ chết cứng/ Sợ vợ chết cứng Mua kiến (kính) đọc sách/ Mua kính làm gì/ Mua kính

492 Hắc sâm 493 Hâm lên chứ! 494 Hết gạo 495 Hết khoe chữ 496 Hết trị 497 Hiện hồn làm dử 498 Hò khoan hò huậy 499 Hòn đá bạc 500 Hỏi đón chị dâu 501 Hỏi khách qua đường 502 Hỏi thăm 503 Hóc lưỡi búa 504 Học lội 505 Học trò khó 506 Hối thắp đèn 507 Hùn vốn đặt rượu 508 Kẻ bủn xỉn nói lái 509 Kén chồng 510 Kén rể 511 Kén rể hay trớ trinh láo xược 512 Kén rể lười 513 Kêu làm sao được 514 Kêu trước lên là vừa 515 Kể chồng 516 Kết bạn thiếu một người 517 Kết lương hữu 518 Kính mang coi sách 519 Kiện trời 520 Kì phùng địch thủ 521 Khách hữu tình

67.PL

Thèm thịt với xôi/ Thần khịt khịt Khoai từ khoai tía

Hao tuổi/ Tuổi sụt

Con biết làm sao Khoe tài thiện xạ/ Một thiện xạ

Kém rượu Thuốc chữa bệnh khờ Oại, oại, không biết trống hay mái

Mất ngựa

Không ham giàu

Thịt heo cái Ngoại tình Lười

Nói khoác phải thì/ Anh ngốc đi thi/ Tài đối đáp/ Đối quan

522 Khỉ hiểu tiếng người 523 Khỉ uống rượu 524 Khịt khịt, thèm thịt với xôi 525 Khoai từ, khoai lang 526 Khoái thật 527 Khóc cái tuổi 528 Khóc chồng 529 Khóc mẹ chồng 530 Khoe tài bắn giỏi 531 Khôn ăn cái, dại ăn nước 532 Khôn lỏi 533 Khôn ra 534 Không biết trống hay mái 535 Không bỏ thói cũ 536 Không chột mắt nào cả 537 Không có gì đáng chép 538 Không có trà 539 Không hoa, không chồng 540 Không hưỡn để nói chuyện 541 Không muốn giàu 542 Không ngờ chân ngựa ngắn thế 543 Không phải đóng đâu 544 Không phải thịt lợn sề 545 Không say 546 Không sợ ăn trộm 547 Không sợ cọp 548 Khúc ruột cũng không cho 549 Lai niên bất đáo 550 Làm biếng hai kiếp 551 Làm bộ chị thợ làm bánh Không phải mất công/ Mèo lười Có khổ cho tôi không

68.PL

Chàng rể bắt chước cha vợ/ Theo lời mẹ dặn/ Làm đỡ/ Phải làm theo/ Làm rể

Thuốc trồng râu/ Phép trồng râu/ Thuốc mọc râu

Lễ tết thầy

Mẹ tròn con vuông/ Quan nhà chú dốt như bò đực ấy

552 Làm dấu 553 Làm giường cho vợ đẻ 554 Làm mai 555 Làm mặt hiền 556 Làm mặt ông thầy 557 Làm một cái sốt đi 558 Làm rể 559 Làm rể Chương Đài 560 Làm theo bố vợ 561 Làm thơ chia gà 562 Lá húng, lá húng 563 Lại chuyện ăn vụng cháo chè! 564 Lại chuyện ba anh chàng rể 565 Lại chuyện thầy thuốc 566 Lại còn trách tôi 567 Lại một anh tham ăn 568 Làm tinh được việc, rộn không xong 569 Lão phú hộ keo kiệt 570 Lấy cái giẻ rách 571 Lấy giống râu 572 Lấy thuốc mọc râu 573 Lấy vợ chửa sẵn 574 Lễ độ 575 Lễ tết mồng năm 576 Lễ tiễn 577 Lính cứ truyền 578 Liên hữu hội 579 Lo cái gì 580 Lo xa 581 Lò mò Bò đi chơi/ Ngủ chẳng được thì bỏ đi chơi/ Ai bò mặc ai/ Bò tới bò lui/ Của dì dì giữ/ Đừng

69.PL

có lo

Ít ra còn được vài chén

Yên tâm

Khoe của/ Khoe áo mới

Thua chí đàn bà/ Sư và quan bị mắc cỡ Thầy đồ ăn vụng chè Khi cứng, khi mềm

Thăm bệnh

582 Lọ không đáy 583 Lọc rượu từ đất 584 Lòng gan đâu? 585 Lộc giời hơn lộc nước 586 Lộn chồng 587 Lộn hồn 588 Lộn thuốc 589 Lời hứa với thần 590 Lời rao 591 Lớn nhỏ là bao nhiêu 592 Lợn cưới, áo mới 593 Lợn đực hết 594 Lưỡng đầu ... thiên địa 595 Lưu thầy ở lại 596 Lý luận 597 Mau phai 598 May quá! 599 May mũ 600 May không đi giầy 601 Má nó còn rầy gì nữa? 602 Mày chào tao ạ! 603 Mả cha anh đấy! 604 Máy làm dồi 605 Mánh khóe 606 Mạt cưa và mướp đắng 607 Mắc chồng thua, bốn mùa chịu lạnh 608 Mắt tinh, tai tinh 609 Mặc váy nha! 610 Mặt dày Mắt tinh tai thính Tôi mặc cho tôi Cái gì cứng nhất/ Vật gì cứng nhất/ Da mặt dày

70.PL

Phải mắng oan/ Đỏ mặt

Mất một con/ Thừa một con thì có/ Thương quá/ Anh khờ

Mình đâu rồi Cháy/ Ra ngoài đi chơi/ Dạy con/ Tối qua vứt đi rồi

Thì ra thế

Mèo lại hoàn mèo Mẹ chồng vô ý/ Mời mẹ xơi thêm

Mẹo bắt hổ/ Uổng công tôi quá/ Mưu bắt cọp/ Bắt hổ Thầy pháp chữa mèo Thêm cho ba quan nữa

Phiền phức quá để tôi về

Nói bất lợi/ Nói gở Cột có mối/ Mối ăn vụng/ Nó ăn ở trong

611 Mặt đỏ 612 Mặt mày như mặt... 613 Mặt tiến sĩ 614 Mần đực, mẩn cái 615 Mần nghề mô, biết chuyện nớ 616 Mầy cho nó một chút 617 Mất bò 618 Mất buổi cày 619 Mất chiếc đại hồng chung 620 Mất giỗ, đổ cau 621 Mất mình 622 Mất rồi! 623 Mất toi tiền chữa nhà dột 624 Mất trộm bò 625 Mất vợ 626 Mấy pho thần chú 627 Mèo là mèo 628 Mẹ chồng nàng dâu ăn vụng 629 Mẹ đánh con 630 Mẹo bắt cọp 631 Mẹo thầy cúng 632 Mẹo trừ được nợ 633 Mê ngủ 634 Mít nác gì 635 Mọc đuôi trên đầu 636 Mồm, miệng 637 Mối ăn nhà 638 49 639 Một cuộc mặc cả 640 Một đồng cũng không đáng nữa Rể bất lợi/ Rể quý

71.PL

Đừng dọn nhiều nữa

Mời anh ra trước Ngọc hành/ Mời bác xơi ngọc/ Mời bác xơi "ngọc" hành

Say rượu/ Canh gác

Chủ tớ đối đáp

Phường thuốc hiệu nghiệm

Sáng kiến/ Để cho tao một cẳng Quan ăn trộm

Sợ chó Làm mướn không tiền

641 Một lít không bằng một xị 642 Một mất, mười ngờ 643 Một món cũng đủ 644 Một tháng ba kỳ 645 42 646 Mời ngài ra 647 Mời ông xơi... "ngọc"! 648 Mời ông ăn mít 649 Mới đêm ba mươi mà đã rượu 650 Mới thấy đã la 651 Mua cả cái rào 652 Mua dầu 653 Mua pháo 654 Mua phân 655 Mua rượu không tiền 656 Mù-gù-què thông minh 657 Múi lái, xơ lơ 658 Mượn cái mủi 659 Mưu chồng mẹo vợ 660 Mưu kẻ trộm 661 Mưu kế chàng rể 662 Mưu trí ăn trộm 663 Mừng vợ đi chợ về 664 Mừng vợ quan sinh con trai 665 Mượn đầy tớ 666 Mướn đầy tớ không tiền 667 Mượn một đũa tôm 668 Mượn ngựa 669 Na mô boong 670 Na mô chuỳnh Truyện mượn ngựa/ Chốc nữa tao sang Cục đá biết la/ Ối chao ôi! Boong!/ Thầy chùa bị động chuông/ Lạy ông con là sư…boong Nam mô chuỳnh

72.PL

Thế thì không mất

Thiên văn rởm/ Luận trời/ Bàn việc giời Có đầu có đuôi/ Nói cho có đầu có đuôi/ Nói có đầu có đuôi/ Phải nói cho có đầu có đuôi Tao chạy mặt mày Nói khoác gặp thời/ Mười voi/ Kén chồng cho con

Nói khoác gặp nhau

Điếc

Xuống đây mà lấy/ Nói chữa thẹn/ Đánh vợ hay vợ đánh Nước mắm hâm/ Chàng sợ vợ/ Nước chấm này

671 Nàng dâu khéo nói 672 Nằm dưới đáy sông 673 Nói chữ An Nam ra chữ Tây 674 Nói chuyện thiên văn 675 Nói có đầu đuôi 676 Nói dóc tổ 677 Nói khoác gặp thì 678 Nói láo được vợ 679 Nói láo mắc nói láo 680 Nói láo như bò 681 Nói láo phải đòn 682 Nói một tiếng buồn cười 683 Nói “nhảy chữ” 684 Nói phạm thượng 685 Nói tới khi... 686 Nồi kê ông thổ 687 Nổi ghen 688 Nỗi khổ 689 Nối ngôi thiên tử 690 Nợ anh hùng 691 Nợ nhiều 692 Nuốt cái lò 693 Nửa trự cơm, nửa trự canh 694 Nước chấm này 695 Nước mắm không hâm 696 Nước mắt vu quy 697 Nước tới trôn mái nhảy 698 Ngáp phải muỗi 699 Ngáp phải ruồi 700 Ngày tốt, ngày xấu Hay cữ

73.PL

Ngoảnh mặt bên nào?

Râu dài Ăn trộm bò/ Ngốc đi ăn trộm

Tớ là ngốc mà

Tài ngửi văn

Việc gì phải xu nịnh/ Thích xu nịnh/ Chẳng vị giàu Thằng lùn 701 Ngậm sâm 702 Nghe trống ném ki đi về 703 Nghẹt lối 704 Nghiện thuốc phiện 705 Ngoảnh mặt bên nào 706 Ngồi cao hơn đứng 707 Ngồi dai 708 Ngồi mâm trên 709 Ngốc ăn trộm 710 Ngốc chưa 711 Ngốc đi ăn trộm 712 Ngu như bò 713 Ngựa giống phú ông 714 Ngửi văn 715 Người bán thuốc 716 Người không xu nịnh 717 Người lùn hun vợ 718 Người này còn nóng vội hơn

Để cho người ta sợ chứ 719

Tám bước Thần còn sợ/ Thần phải còn sợ/ Thành hoàng cũng phải nể

Người ta đã sợ thì để cho người ta sợ chứ! 720 Người vô ý 721 Người vợ giỏi tính 722 Nhà có động 723 Nhà giàu kén rể 724 Nhà làm chắc chắn 725 Nhà quê coi hát 726 Nhà sư nhặt được của rơi 727 Nhà vô phúc 728 Nhả ngay ra không thì chết 729 Nhảy xuống sông

74.PL

Nhưng nó phải bằng hai mày/ Lẽ phải về con mà/ Xữ kiện

Thú thật

730 Nhắc người khác 731 Nhất khí tuyệt hay 732 Nhắm mắt trái 733 Nhong! Nhong! Nhong! 734 Nhổ răng 735 Nhờ quan dốt 736 Nhớ ra rồi 737 Nhưng nó lại phải bằng hai mày 738 Oan con quá 739 Ô hay nhỉ! 740 Ông ấy ăn cả 741 Ông cả hay đối đáp 742 Ông đồ nghệ làm thơ

743 Ông già có miệng Rậm râu/ Ông già không miệng/ Ông già không có miệng/ Ông không mồm/ Có ba sợi le the/ Ông rậm râu/ Ông râu rậm

744 Ông già tham ăn 745 Ông hàn đớp B...

746 Ông huyện thanh liêm cả đời, vì một lời nói mất đức thanh liêm Ông huyện thanh liêm/ Cứ bảo tuổi sửu có được không?/ Sao không bảo tuổi sửu?/ Sao ngu thế/ Quan huyện thanh liêm

Đòi ăn/ Thầy lang đòi ăn

Dương phù âm trợ/ Thần bia trả nghĩa

747 Ông huyện với ông đồ 748 Ông lang đòi ăn 749 Ông mắng cháu 750 Ông quan mắt lé 751 Ông rột rẹt 752 Ông thần bia 753 Ông thầy cúng 754 Ông tới thì tôi lui 755 Ở rể 756 Phải chi có nạng thun 757 Phải đánh oan Tử viết

75.PL

Vẽ truyền thần Rượu chua Phê đơn chữ Hán/ Vẫn do cách ngắt câu

Bé, bé! Ra mà ăn kẹo!/ Đỡ đẻ giỏi nhất đời

Quả mít hay trầu

Thưa cô tôi làm giáo học

Trả phân nửa/ Nói ngược mà xuôi Quan đi hành hạt/ Gánh thịt Có dịp báo thù

Thầy ngủ ngày/ Đừng có nói dối/ Về bảo cái thằng thầy mày đừng có nói dối

758 Phải hay không phải 759 Phép trị rượu chua 760 Phê đơn xin ly dị 761 Phu kiệu lãnh lương 762 Phù thuỷ phải đòn 763 Phủ định 764 Phụ thân phụ mẫu 765 Phước chủ, may thầy 766 Qua hồ cá sấu 767 Qua một chuyến đò 768 Quà biếu 769 Quả báo 770 Quả trầu không 771 Quan ăn cay 772 Quan biểu tôi làm chớ bộ 773 Quan dốt 774 Quan huyện xét xử bọn trộm trâu 775 Quan lái lợn làm cụ trong dân 776 Quan lớn đỗ khuê (khoa) nào ạ! 777 Quan lớn mua vàng 778 Quan rẻ thối 779 Quan sắp đánh bố 780 Quan sợ ai 781 Quân tử ruồi 782 Quyết liều phanh bụng 783 Ra mắt Châu công 784 Ráng mà ăn đi con 785 Rắn mùng năm 786 Rắm của con 787 Rắm quý Thằng đầy tớ nỡm/ Đầy tớ Tú tài hay chữ/ Khóc tài

76.PL

Râu rượu, râu cơm

Vuốt râu cho thẳng Rèn của quí

Tài ứng đối/ Chàng rể hay chữ

Táo khôn táo dại

Nó ham đồ xào chứ không biết uống rượu Mồ hôi đi đâu mất rồi

Sao đắt thế/ Phóng sinh Tửu sắc

Nói vô doan

Vợ đẻ/ Thằng chồng khờ

788 Râu cơm 789 Râu quai nón 790 Rau quặp 791 Rèn 792 Rét và run 793 Rể dốt 794 Rể hay chữ 795 Rể khùng 796 Rể quê 797 Rước ông táo 798 Rượu lạt 799 Rượu thịt 800 Sang cả mình con 801 Sách thấp 802 Sao đã vội chết 803 Sao không nộp thuế cho quan 804 Sao tôi chưa giàu 805 Sát sinh tội nặng lắm 806 Sắc nóng 807 Sĩ diện 808 So sánh 809 Sợ bạc cả đuôi 810 Sợ sét bà 811 Sợ vợ đẻ 812 Súc miệng dai 813 Sư tre đè sư mít 814 Sửa lại mái nhà 815 Sửa mũ mấn

816 Xướng hàng dầu, đau thợ hoạn, hạn anh nồi dang Sướng hàng dầu, đau thợ hoạn, hạn anh nồi rang

77.PL

Ăn cứt chó

Biệt tài nói láo/ Nói trạng có sách/ Quan huyện thông minh/ Nói lái

Ăn nói khoan thai/ Nói có đầu có đuôi Kiêng chữ

Tôi đây bác ạ!/ Tôi đây chú ạ

Trầm trầm tại hạ/ Đối đáp

Thành hoàng lấy mất Xin đừng thả ra mà hại chúng tôi 817 Tam đại con gà 818 Tài ăn cứt chó 819 Tài đánh cờ 820 Tài đoán số 821 Tài nói láo 822 Tay ải tay ai? 823 Tá thơ ngu, hườn thơ ngu 824 Tánh không chừng 825 Tánh người chậm lụt 826 Tánh người hay cữ 827 Tạ ơn Châu công 828 Tại ông không hỏi 829 Tại vì tối 830 Tạm biệt, vĩnh biệt 831 Tằm anh đã đói chưa 832 Tâm đầu ý hợp 833 Tấm áo mặc mùa hè 834 Tập tầm vông 835 Tệ 836 Tết quan 837 Than kinh 838 Tham ăn mắc cỡ 839 Tham thì thâm 840 Thang thuốc giục 841 Thành hoàng lấy mất chữ 842 Thả cả ra 843 Thách cưới

844 Bắt thằng trộm Thằng ăn trộm được mời uống nước trà 845 Thằng ăn trộm gà bỏ quần mà chạy Ăn trộm bị lỗ vốn/ Kẻ trộm mất quần

78.PL

Lạy cụ đề ạ

Chàng ngốc đi buôn/ Anh khờ đi buôn/ Buôn vịt giời/ Buôn vịt trời

Thầy trừ muỗi/ Thuốc ngứa

Chúng bây dốt quá/ Thầy đồ liếm nước cốt dừa/ Chữ này là chữ gì?/ Liếm chưa đến đáy

846 Thằng bé ngu tối 847 Thằng chèo đò 848 Thằng khờ đi mua vịt 849 Thằng ớt tơ 850 Thắng quan 851 Thân anh như dậu tôi 852 Thần tài xuống trần 853 Thầy binh học trò 854 Thầy bói 855 Thầy bói ăn gỏi 856 Thầy bói bị trác cởi quần vắt vai đi giữa chợ 857 Thầy bói bơi xuồng 858 Thầy bói đui 859 Thầy bói sợ mèo 860 Thầy bói xem voi 861 Thầy cho thuốc trừ muỗi 862 Thầy chùa 863 Thầy chùa qua sông 864 Thầy chùa thầy pháp bà bóng 865 Thầy coi ngày 866 Thầy dạy con nít 867 Thầy dạy học trò 868 Thầy điếc 869 Thầy đồ 870 Thấy đồ ăn bánh rán 871 Thầy đồ gàn 872 Thầy đồ liếm mật 873 Thầy đồ và cô vợ đần 874 Thầy kiện 875 Thầy nội khoa ngoại khoa

79.PL

Giải bày/ Phù thủy sợ ma/ Phù thủy sợ…ma/ Thầy pháp sợ ma

Trúng tửu

Thầy bị bắt thường Thầm thì, ọt ẹt/ Mai vô học thẳng

Thấy mà thèm

Thế có điên ông không?/ Thế có đen không/ Vỡ vò rượu/ Hũ rượu vỡ mất rồi Bị trăn nuốt trộng

876 Thầy nhát 877 Thầy pháp cho bùa trừ tà 878 Thầy pháp ếm 879 Thầy pháp râu đỏ 880 Thầy quên mặt nhà con rồi hay sao? Thợ truyền hình/ Thợ vẽ/ Thầy quên rồi hay sao/ Thợ vẽ hình/ Thợ vẽ có tài 881 Thầy say rượu 882 Thầy thuốc đánh lộn 883 Thầy thuốc hay 884 Thầy thuốc sợ mắc mưu 885 Thầy trò đối đáp 886 Thầy trừ chồn 887 Thầy tu và cô gái 888 Thấy dễ mà thèm 889 Thèm 890 Thế có đen ông không 891 Thế có ghê không 892 Thi đỗ trạng ngươn 893 Thi nói khoác

894 Thì mời cả làng nữa à?

Bẩm con biết ạ/ Tứ đại nói khoác/ Chuyện lạ phương xa Thì mời cả làng nữa/ Thì mời cả làng à?/ Tham ăn với con/ Chả có con nào nhỏ cả/ Chả có con nào nhỏ Tau lại sợ à Con to con nhỏ/ Thật vô ý/ Lại tau sợ à Rành tính ông quá rồi/ Hà tiện/ Biết tính cả rồi/ Đi tới Tây Ninh Thuốc nhuộm râu

Chú bé thông minh/ Thần đồng

895 Thì tao 896 Thì tôi biết trước 897 Thỉnh sao được 898 Thiếu gì thuốc nhuộm râu 899 Thịt ngoé canh cà 900 Thôi chưa đến chết 901 Thôi để lứa sau! 902 Thông minh lắm đấy 903 Thổ công bị lột da 904 Thổi sáo

80.PL

Viết theo đuôi/ Bợ đít nhà giầu/ Thơm rồi lại thối/ Thơm Anh hoa phát tiết/ Thơ cóc/ Thơ con cóc/ Ba anh dốt làm thơ

Thơ con chó/ Thơ nịnh con chó/ Bài thơ con chó

Trả thù/ Có chứng điên/ Ác giả ác báo

Dễ hiểu quá/ Thày bùa/ Thế thôi, chứ có gì đâu

Thuốc linh nghiệm Bợm già mắc lỡm/ Khóc nhầm ăn đòn

Trò hơn thầy/ Đã hơn thầy rồi/ Học phép hà tiện/ Tết thầy

Chiếc da cọp/ Đừng làm rách da hổ

905 Thối quá, thối thật 906 Thơ cái chuông 907 Thơ con voi 908 Thơ đuổi cò 909 Thơ ngày tết 910 Thơ vịnh con chó 911 Thợ bạc 912 Thợ hàn kim 913 Thợ kéo một be, thợ đè một hũ 914 Thợ may bị đập dùi đục trên đầu 915 Thợ mả 916 Thuật trường sinh 917 Thuốc chuột 918 Thuốc mắc cổ 919 Thuốc quên 920 Thuốc rất linh nghiệm 921 Thương người mà bị nhục 922 Thương vợ con quá! 923 Thừa một miếng 924 Thứ gì tao cũng ăn 925 Tía đừng vác gậy rượt tôi nữa 926 Tiêu chảy 927 Tìm cái sướng 928 Tình tang 929 Tính toán giỏi 930 Tiếc của trời 931 Tiếc da cọp 932 Tiếng không xa 933 Tiệm cầm đồ 934 Tiệm thuốc bắc

81.PL

Tôi chẳng ngu đâu Thế thì phải lắm

Ai bảo ông dốt

Ít lời Thùng không Cao thủ cờ tướng/ Cao cờ/ Không chịu thua

Dài thêm tất nữa

Trên vua dưới…tao

Giời sinh ra thế/ Hai chàng rể Trung thần nghĩa sĩ cả/ Tôi chưa thấy/…Ông nào cũng mặt mũi hồng hào béo tốt cả 935 Tò te tí te 936 Tóc le the ba sợi 937 Tôi bị đau bụng 938 Tôi cũng nói được 939 Tôi khiêng bà 940 Tôi là thầy chùa mà 941 Tôi ngu sao được 942 Tôi với ông thông gia là phải lắm 943 Tổ sư hà tiện 944 Tra chuôi vào 945 Tranh phần hơn 946 Trả lời vắn tắt 947 Trách người ít đánh chầu 948 Tránh chữ 949 Trâu mọt chảy nước 950 Trên dưới thông đồng 951 Trên đỉnh đầu là cái gì? 952 Trên trời có mấy Thiên Lôi 953 Trên vua dưới tôi 954 Trinh với liêm 955 Trồng cà 956 Trời sinh ra thế 957 Trung thần nghĩa sĩ 958 Truyền thuyết về con chuột

959 Truyện ngôi đền thiêng ở Thanh Hoa

Trứng nó ngót đi Nhà quê hay nói tước/ Con vịt muối 960 Truyện người râu ba chòm, người râu rìa 961 Trứng ngót 962 Trứng vịt muối 963 Tu hành đạt đạo

82.PL

Đến con vịt cũng không nuôi nổi

Bắt rận

Tự tử

964 Tui đói lắm rồi 965 Tung cái mền, bể cái quần 966 Tuần tự nhi tiến 967 Tú tài khoe khoang 968 Túng không nuôi nổi con vịt 969 Từ cha 970 “Từ” thì tao đi! 971 Tưởng là không phải 972 Tức cảnh sinh tình 973 Tự tử bằng bún, rượu 974 Uống gió Nam 975 Uống "hai cái” rượu

976 Tại chén nhỏ quá/ Chết chóc Uống rượu bằng chén con mà chết hóc

Uống cái lỗ Vị 977 Úm ba la, ba ta cùng khỏi 978 Ướt át trời mưa xôi nếp trăm đường Rầu rĩ "trăm đường"/ Vợ chồng ăn vụng 979 Vác tấm vách ra! 980 Vạc, cò 981 Van như vạc 982 Văn chương thủ khoa 983 Vắt cổ chày ra nước 984 Vẽ mặt khi vay tiền 985 Vì sao ông vua tiếu lâm lại chết 986 Vị cà 987 Vịnh cây môn

988 Vỏ quýt dày, móng tay nhọn Thầy lang và thầy bói/ Thầy lang và thầy bói xỏ nhau/ Xỏ nhau/ Thầy bói và thầy thuốc/ Làm bà chờ mãi/ Thầy bói với thầy lang

989 Vua bị chơi khăm 990 Vừa cả 991 Vừa mới ăn khoai đó

83.PL

992 Voi ơi dậy mà ăn cháo! 993 Vô tâm quá 994 Vợ còn đồng trinh 995 Vợ chồng thầy bói 996 Vợ lười 997 Vợ quê 998 Vợ tao, tao sợ... 999 Vua ăn chực

Cái gương/ Soi kiến Thông minh thua trí đàn bà Một tý là xong Thơ ngựa hay/ Ngựa hay

Bài học lễ phép

1000 Vụ án soi gương 1001 Xấu hay làm tốt dốt hay nói chữ 1002 Xắn mấn một tí là xong 1003 Xem thơ kén rể 1004 Xèo xẹt 1005 Xin ở mướn 1006 Xơi chim 1007 Xơi... đại tiện! 1008 Xuân hoá thung 1009 Χưa và nay 1010 Xứng sui gia 1011 Xứng vợ xứng chồng 1012 Ỷ a vất 1013 Yết thị

84.PL

3. BẢNG KHẢO SÁT SỐ LƯỢNG NHÂN VẬT XUẤT HIỆN TRONG TRUYỆN CƯỜI Ở LÀNG

Tên làng 1 nhân vật 2 nhân vật > 2 nhân vật

Số lượng Tỉ lệ (TL) Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ

(%) (%) (%)

8/20 40% 60% 0/20 0% 12/20 Trúc Ổ

7/40 17,5% 82,5% 0/40 0% 33/40 Hòa Làng

59% 41% 0/39 0% 16/39 Dương Sơn 23/39

31,1% 80/180 44,4% 44/180 24,5% Văn Lang 56/180

30% 11/20 55% 3/20 15% Trân Châu 6/20

100/299 33,4% 152/299 50,8% 47/299 15,8% Tổng kết

4. BẢNG THỐNG KÊ TỈ LỆ SỬ DỤNG CÁC THỦ PHÁP GÂY CƯỜI TRONG TRUYỆN CƯỜI Ở LÀNG

Kí hiệu: TP (1): Thủ pháp sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và phù hợp

TP (2): Thủ pháp kết thúc bất ngờ TP (3): Thủ pháp khai thác và tạo dựng mâu thuẫn TP (4): Thủ pháp một ít văn vần xen vào truyện kể văn xuôi TP (5): Thủ pháp phóng đại TP (6): Thủ pháp sử dụng yếu tố tục TP (7): Sử dụng phối hợp các thủ pháp gây cười

TP (8): Thủ pháp gậy ông đập lưng ông

TP (9): Thủ pháp bắt chước không thành công

85.PL

(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9)

Tên làng TL TL TL TL TL TL TL SL SL SL SL SL SL SL TL SL TL SL (%) (%) % (%) (%) % %

4/20 20 9/20 45 3/20 15 2/20 10 2/20 10 Trúc Ổ

20 1/40 2,5 10/40 25 4/40 10 Hòa Làng 19/40 47,5 8/40

6/39 15,4 23/39 58,9 2/39 5,3 Dương Sơn 4/39 10,2 4/39 10,2

2/180 62/180 34,4 54/180 29,9 14/180 7 17/180 10,8 1/180 0,5 1 Văn Lang 7/180 3,8 21/180 11,6 2/180 1

5 10/20 50 8/20 40 1/20 5 Trân Châu 1/20

105/299 35,1 55/299 18,4 22/299 7,3 17/299 5,2 1/299 0,3 Tổng kết 35/299 11,7 52/299 17,4 2/299 0,6 12/299 4

86.PL

5. BẢNG THỐNG KÊ CÁC CHỦ ĐỀ XUẤT HIỆN TRONG TRUYỆN CƯỜI Ở LÀNG 5.1. BẢNG THỐNG KÊ TRUYỆN CƯỜI Ở LÀNG CÓ 1 CHỦ ĐỀ

(1) (2) (3) (4) (5) Tên làng SL SL TL SL TL TL SL TL SL TL

0 1/15 6,7 12/15 80 0 0 0 2/15 13,3 Trúc Ổ

2/19 4/19 21 13/19 68,4 10,6 0 0 0 0 Trân Châu

4/22 2/22 9 12/22 54,5 18,2 1/22 4,5 3/22 13,8 Hòa Làng

1/22 5/22 22,9 14/22 63,6 4,5 1/22 4,5 1/22 4,5 Dương Sơn

21/143 3/143 2,1 46/143 32,1 14,7 14/143 9,7 59/143 41,4 Văn Lang

15/221 6,7 97/221 43,9 12,6 16/221 7,2 65/221 29,6 Tổng kết

28/221

5.2. BẢNG THỐNG KÊ TRUYỆN CƯỜI Ở LÀNG CÓ 2 CHỦ ĐỀ

(1) – (4) (2) – (3) (2) – (4) (2) – (5) (1) – (5) (4) – (5) (1) – (3) (1) – (2) Tên làng SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL

2/5 40 2/5 40 1/5 20 Trúc Ổ

100 Trân Châu 1/1

14/18 78 1/18 5,5 2/18 1/18 5,5 11

53 2/17 11,7 1/17 5/17 13,7 5,8 1/17 5,8 Hòa Làng Dương Sơn 9/17

17/37 45,9 4/37 10,8 2/37 5/37 13,5 5,4 3/37 8,1 1/37 2,8 5/37 13,5 0 0 Văn Lang

8,9 3,8 1/78 1,3 5/78 5,3 1/78 1,3 43/78 55,1 7/78 8,9 7/78 12/78 15,4 3/78 Tổng kết