
- 1 -
Luận văn
Định hướng chiến lược đầu
tư phát triển ngành Dệt -
May Việt Nam đến năm
2010

- 2 -
LỜI MỞ ĐẦU
Hơn 15 năm đổi mới không phải là một thời gian quá dài, song Việt Nam
đã đạt được những thành tựu phát triển đáng kể. Nền kinh tế sau khi chuyển từ
cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường đã trở nên linh hoạt hơn,
nhanh chóng thích nghi với những điều kiện mới, với những đòi hỏi phát triển
của đất nước. Minh chứng cho sự đổi mới này là việc duy trì tốc độ tăng trưởng
bình quân hàng năm luôn ở mức 7-8%, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt,
mức độ hội nhập quốc tế được tăng cường, môi trường đầu tư trong nước được
cải thiện không ngừng...
Tuy nhiên, đây mới chỉ là giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Để bắt
kịp trình độ của các nước tiên tiến chúng ta cần phải nỗ lực hơn nữa, tập trung
mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, đặc biệt là đầu tư phát triển các ngành trọng
điểm, mũi nhọn. Với mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp, Đảng và Nhà nước đã xác định Dệt - May là một trong những
ngành mũi nhọn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ngành đã khẳng
định được vai trò quan trọng của mình bằng thành tựu luôn luôn đứng thứ hai về
kim ngạch xuất khẩu qua các năm.
Để xứng đáng với vị trí của mình, ngành Dệt - May Việt Nam đã có những
nỗ lực không ngừng trong thời gian qua. Tuy nhiên, để có được sự bứt phá cần
thiết nhằm "tăng tốc" phát triển, Ngành Dệt - May cần tiếp tục được đầu tư
mạnh mẽ bởi hiện trạng của Ngành không đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Đây là
lý do em chọn đề tài "Định hướng chiến lược đầu tư phát triển ngành Dệt -
May Việt Nam đến năm 2010" cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
Đề tài được thực hiện với mục đích nghiên cứu lý luận và ứng dụng vào
thực tiễn ngành Dệt - May Việt Nam, từ đó đề xuất ra các quan điểm, ph ương
pháp cho đầu tư phát triển ngành này. Các phương pháp nghiên cứu được sử
dụng bao gồm phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê mô tả, suy luận logic...
Kết cấu đề tài bao gồm những phần sau:
- Lời mở đầu.

- 3 -
- Chương I: ý nghĩa của việc định hướng chiến lược đầu tư phát triển
ngành Dệt - May.
- Chương II: Thực trạng đầu tư của ngành Dệt - May Việt Nam giai đoạn
1995 - 2002.
- Chương III: Phương hướng và giải pháp đầu tư cho phát triển ngành
Dệt - May Việt Nam đến năm 2010.
- Kết luận.
Đề tài này được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo Ts. Lê
Huy Đức, giảng viên khoa Kế hoạch và phát triển - trường Đại học Kinh tế quốc
dân; cô Nguyễn Thị Luận, Phó Ban Kỹ thuật Đầu tư - Tổng công ty Dệt - May
Việt Nam. Em xin chân thành cảm ơn.

- 4 -
Chương I: Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN
LƯỢC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
I. ĐẦU TƯ VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN.
1. Khái niệm.
a) Khái niệm
Thuật ngữ “đầu tư” (investment) có thể được hiểu đồng nghĩa với “sự bỏ
ra”, “sự hy sinh”. Từ đó, có thể coi đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh những cái ở
hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ) nhằm đạt được những kết
quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai.
Tuy nhiên, một số hành động nếu xem xét trên giác độ từng cá nhân hoặc
đơn vị thì là hành động đầu tư, nhưng nếu xét trên giác độ toàn bộ nền kinh tế thì
không phải tất cả các hành động này đều đem lại lợi ích cho nền kinh tế và được
coi là đầu tư. Các hoạt động như gửi tiết kiệm, mua cổ phần, mua hàng tích trữ
không hề làm tăng tài sản (tài chính, vật chất, trí tuệ...) cho nền kinh tế. Các hành
động này thực chất chỉ là việc chuyển giao quyền sử dụng tiền, quyền sở hữu cổ
phần và hàng hoá từ người này sang người khác, và do đó chỉ làm cho số tiền thu
về của người đầu tư lớn hơn só tiền mà họ đã bỏ ra. Giá trị tăng thêm của người
đầu tư ở đây lại chính là giá trị mất đi của quỹ tiết kiệm (lãi suất phải trả), của cổ
đông đã bán lại cổ phần (lợi tức cổ phần), của người mua hàng (với giá cao). Tài
sản của nền kinh tế trong trường hợp này không có sự thay đổi một cách trực
tiếp.
Các hoạt động bỏ tiền xây dựng thêm kho chứa nguyên vật liệu, phát hành
chứng khoán để xây dựng thêm một phân xưởng mới, mua sắm trang thiết bị
máy móc cho sản xuất, tổ chức báo cáo khoa học đã làm tăng thêm các tài sản
vật chất ( xây thêm kho chứa nguyên vật liệu, thêm một phân xưởng mới...), tài
sản trí tuệ và nguồn nhân lực (bồi dưỡng giáo viên) cho nền kinh tế. Các hoạt
động này được gọi là đầu tư phát triển hay đầu tư trên giác độ nền kinh tế.
Như vậy, đầu tư phát triển là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra
các tài sản mới cho chủ thể đầu tư (cho nền kinh tế). Các hoạt động mua bán,
phân phối lại, chuyển giao tài sản hiện có giữa các cá nhân, các tổ chức không
phải là đầu tư đối với nền kinh tế.

- 5 -
b) Bản chất của các loại đầu tư trong phạm vi quốc gia
Từ bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại chúng ta có thể phân biệt
các loại đầu tư sau đây:
Đầu tư tài chính (đầu tư tài sản tài chính) là loại đầu tư trong đó người có
tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định
trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành. Đầu tư tài sản tài
chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc
tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, các
nhân đầu tư. Công ty mở sòng bạc để phục vụ nhu cầu giải trí của người đến
chơi nhằm thu lợi nhuận cho công ty thì đây lại là đầu tư phát triển nếu được nhà
nước cho phép và tuân theo đầy đủ các quy chế hoạt động do nhà nước quy định
để không gây ra các tệ nạn xã hội. Với sự hoạt động của hinh thức đầu tư tài
chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễ dàng, khi cần có thể rút ra một cách
nhanh chóng. Điều đó khuyến khích người có tiền bỏ ra để đầu tư. Để giảm độ
rủi ro, họ có thể đầu tư vào nhiều nơi, mỗi nơi một ít. Đây là một nguồn cung
cấp vốn quan trọng cho đầu tư phát triển.
Đầu tư thương mại là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua
hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá
khi mua và khi bán. Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh
tế (nếu không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người
đầu tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa
người bán với người đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ. Tuy nhiên,
đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do
đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách,
tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản
xuất xã hội nói chung.
Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động là hoạt động đầu tư trong đó
người có tiền bỏ ra để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền
kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là
điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã
hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ

