TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ---------(cid:9)--------- NGUYỄN VĂN TRUNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HÙNG VƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. NGUYỄN BÌNH GIANG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ----------------------------- NGUYỄN VĂN TRUNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HÙNG VƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ NỘI - 2013

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của

tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguốn gốc rõ ràng.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Tiến sĩ Nguyễn Bình Giang đã tận tình

hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Viện Kinh tế và Quản lý –

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi

hoàn thành bản luận văn thạc sĩ này./.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Văn Trung

i

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT..........................................................................v

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ.................................................................. vi

PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CÁC

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI................................................................................4

1.1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại ...............................................4

1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại..............................................................4

1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại.....................................5

1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn......................................................................5

1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn: .......................................................................7

1.1.3. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.........................................9

1.1.3.1. Khái niệm và bản chất tín dụng ngân hàng.........................................9

1.1.3.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng .........................................................10

1.1.3.3. Các hình thức tín dụng ngân hàng: ...................................................12

1.1.4 Những quy định pháp lý về hoạt động tín dụng .......................................13

1.1.4.1 Nguyên tắc cho vay:...........................................................................13

1.1.4.2 Điều kiện cho vay: .............................................................................14

1.1.4.3 Bảo đảm tiền vay................................................................................15

1.2. Chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại ...........................15

1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng............................................................15

1.2.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng ...............18

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại.....19

1.2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá mang tính định tính: ........................................19

1.2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá mang tính định lượng: ...........................................20

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của NHTM: .................24

1.2.4.1 Các nhân tố mang tính chủ quan:.......................................................24

1.2.4.2 Các nhân tố mang tính khách quan:...................................................28

ii

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN

HÀNG TMCP CT VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÙNG VƯƠNG......................32

2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công Thương VN -

Chi nhánh Hùng Vương ........................................................................................32

2.1.1. Lịch sử hình thành của Ngân hàng TMCP Công Thương VN - Chi nhánh

Hùng Vương ......................................................................................................32

2.1.2. Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực Vietinbank Hùng Vương .................33

2.1.3. Kết quả hoạt động chủ yếu của Vietinbank Hùng Vương trong những

năm gần đây :.....................................................................................................36

2.1.3.1. Tình hình huy động vốn :..................................................................36

2.1.3.2. Hoạt động cho vay và đầu tư vốn. ....................................................40

2.1.3.3 Hoạt động dịch vụ Ngân hàng: ..........................................................44

2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng tại Vietinbank Hùng Vương ........................45

2.2.1. Quy mô tín dụng tại Vietinbank Hùng Vương .......................................45

2.2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng tại Vietinbank Hùng Vương .................46

2.2.2.1 Tình hình cho vay - thu nợ tại chi nhánh: ..........................................47

2.2.2.2.Tình hình nợ xấu, nợ quá hạn: ...........................................................48

2.2.2.3.Tình hình cho vay không có Bảo đảm bằng tài sản: ..........................51

2.2.2.4. Chỉ tiêu doanh số thu nợ và vòng quay vốn tín dụng: ......................52

2.2.2.5. Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng: ..........................................54

2.2.2.6. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn..........................................................54

2.3. Đánh giá chất lượng tín dụng của Vietinbank Hùng Vương..........................55

2.3.1 Kết quả đạt được.......................................................................................55

2.3.2. Những tồn tại. ..........................................................................................57

2.4. Những yếu tố ảnh hưởng ................................................................................58

2.4.1. Yếu tố chủ quan:......................................................................................58

2.4.2. Yếu tố khách quan ..................................................................................63

iii

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI

NGÂN HÀNG TMCP CT VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÙNG VƯƠNG ........66

3.1 Định hướng hoạt động tín dụng trong giai đoạn 2013-2018 của Vietinbank

Hùng Vương ..........................................................................................................66

3.1.1. Định hướng phát triển chung ...................................................................66

3.1.2. Định hướng phát triển hoạt động tín dụng...............................................69

3.2. Một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng

TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Hùng Vương. ..................................70

3.2.1. Xây dựng và hoàn thiện chính sách tín dụng tại chi nhánh:....................70

3.2.2. Nâng cao chất lượng thẩm định và quản lý tín dụng...............................71

3.2.3. Giảm tỷ trọng dư nợ cho vay trung dài hạn:............................................76

3.2.4. Hạn chế cho vay không có tài sản bảo đảm, tăng cường áp dụng các biện

pháp bảo đảm đối với khách hàng vay vốn: ......................................................77

3.2.5. Đẩy mạnh hoạt động huy động vốn.........................................................79

3.2.6. Giải pháp về nhân sự và cơ cấu tổ chức: .................................................80

3.3. Kiến nghị: .......................................................................................................83

3.3.1. Đối với Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam: .............................83

3.3.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: ................................................85

3.3.3. Đối với UBND tỉnh Phú Thọ...................................................................88

3.3.4. Đối với Nhà nước ....................................................................................88

PHẦN KẾT LUẬN..................................................................................................90

TÀI LIỆU THAM KHẢO

iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nội dung

Trung tâm thông tin Tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam CIC

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

DN NQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

H Hiệu suất sử dụng vốn

NHTM Ngân hàng thương mại

NHNN Ngân hàng nhà nước

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

NQH Nợ Quá hạn

PGD Phòng Giao dịch

SXKD Sản xuất kinh doanh

TD Tín dụng

TDNH Tín dụng ngân hàng

TCTD Tổ chức tín dụng

TMCP Thương mại cổ phần

TSBĐ Tài sản bảo đảm

NHCT Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam

Vietinbank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam

Vietinbank Hùng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam - Chi

Vương nhánh Hùng Vương

v

Bảng 2.1: Cơ cấu cán bộ tại chi nhánh....................................................................35

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo loại tiền. .....................................37

Bảng 2.3: Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo loại hình kinh tế.........................38

Bảng 2.4: Nguồn vốn huy động phân theo thời gian ................................................39

Bảng 2.5: Cơ cấu tín dụng theo thời hạn cho vay:....................................................41

Bảng 2.6: Cơ cấu tín dụng theo loại hình kinh tế : ...................................................42

Bảng 2.7: Cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế:.........................................................43

Bảng 2.8: Doanh số hoạt động dịch vụ ngân hàng: ..................................................44

Bảng 2.9: Kết quả kinh doanh của Vietinbank Hùng Vương ...................................45

Bảng 2.10: Thị phần dư nợ........................................................................................46

Bảng 2.11: Tình hình cho vay thu nợ........................................................................47

Bảng 2.12: Phân loại nợ theo nhóm nợ ....................................................................48

Bảng 2.13: Nợ xấu, nợ quá hạn.................................................................................49

Bảng 2.14: Nợ quá hạn phân theo kỳ hạn cho vay..................................................50

Bảng 2.15: Nợ quá hạn phân theo loại hình kinh tế:.................................................51

Bảng 2.16 : Tình hình cho vay không có TSBĐ......................................................52

Bảng 2.17: Vòng quay vốn tín dụng ngắn hạn:.........................................................53

Bảng 2.18. Tình hình thu nhập từ hoạt động tín dụng ..............................................54

Bảng 2.19. Hiệu suất sử dụng vốn ............................................................................54

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Vietinbank Hùng Vương .................................33

Hình 2.2: Nợ xấu, nợ quá hạn ...................................................................................50

vi

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế nước ta

liên tục phát triển và ngành ngân hàng cũng có sự thay đổi rõ rệt. Các TCTD hình

thành mạng lưới trên hầu khắp các địa bàn cả nước. Ngoài hệ thống NHTM quốc

doanh còn có các NHTM Cổ phần, Ngân hàng liên doanh,Chi nhánh Ngân hàng

nước ngoài…Nghiệp vụ ngân hàng cũng được đổi mới và từng bước hiện đại hoá,

tiếp cận với công nghệ và thông lệ quốc tế. Với hoạt động tín dụng và các dịch vụ

đa dạng, ngân hàng đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu của khách hàng, góp phần

đáng kể vào sự nghiiệp phát triển kinh tế đất nước. Cùng với các ngành kinh tế khác

Ngân hàng có nhiệm vụ tham gia bình ổn thị trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm

phát, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, tạo công ăn việc làm, phát triển thị trường

ngoại hối.

Tín dụng ngân hàng được coi là đòn bẩy quan trọng cho nền kinh tế. Nghiệp

vụ này không chỉ có ý nghĩa đối với nền kinh tế, mà nó vẫn là nghiệp vụ hàng đầu,

có ý nghĩa quan trọng và quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của hệ thống

ngân hàng tại Việt Nam hiện nay.

Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế thế giới chưa thoát khỏi thời kỳ khủng

hoảng đã ảnh hưởng không nhỏ tới Việt Nam. Mặt khác, trong điều kiện môi trường

kinh tế chưa ổn định, môi trường pháp lý đang dần được hoàn thiện nên hoạt động

kinh doanh của các NHTM đang gặp nhiều khó khăn, nhất là chất lượng tín dụng

chưa cao mà biểu hiện là nợ quá hạn, nợ khó đòi lớn. Việc phân tích một cách chính

xác, khoa học các nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng, từ đó đề ra những giải

pháp hữu hiệu nhằm hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro, đảm bảo an toàn cho hoạt động

tín dụng là một vấn đề được đặt lên hàng đầu của các NHTM.

Trước tình hình trên, là một học viên Viện Kinh tế và Quản lý - Trường Đại học

Bách Khoa Hà Nội, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng

tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam- Chi nhánh Hùng

1

Vương”.

Tôi hy vọng rằng bài viết của mình sẽ góp một phần đẩy lùi những khó khăn

trong công tác tín dụng, đưa ra một số giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả

tín dụng ngày càng tốt hơn, tạo đà cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Chi

nhánh phát triển.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu, phân tích, đánh giá chất lượng tín dụng tại

Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam- Chi nhánh Hùng Vương (Vietinbank

Hùng Vương). Từ đó, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tín

dụng và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại

Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam- Chi nhánh Hùng Vương.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến

hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam- Chi nhánh Hùng

Vương

- Phạm vi nghiên cứu: hoạt động tín dụng hiện đang được Vietinbank Hùng

Vương cung cấp với các số liệu nghiên cứu thu thập trong khoảng thời gian từ năm

2010 đến năm 2012.

4. Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu là phân tích

tổng hợp, diễn giải, quy nạp, phân tích thống kê, so sánh.

- Trực tiếp thu thập số liệu thực tế về hoạt động của Ngân hàng TMCP Công

Thương Việt Nam- Chi nhánh Hùng Vương.

- Thu thập thông tin liên quan từ cán bộ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công

Thương Việt Nam- Chi nhánh Hùng Vương.

-Sử dụng một số chỉ tiêu tài chính để phân tích hiệu quả hoạt động của Ngân

hàng.

- Tham khảo tài liệu: sách, báo và internet, qua trung tâm tín dụng CIC…

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

2

- Về lý luận: đề tài góp phần nghiên cứu sâu hơn thực trạng công tác tín dụng

tại Ngân hàng thương mại hiện nay.

- Về thực tiễn: đề tài góp phần đánh giá thực trạng của công tác tín dụng tại

Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam- Chi nhánh Hùng Vương từ đó đưa ra

các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Chi nhánh trong thời gian tới.

6. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài

được kết cấu thành 3 chương:

Chương I: Lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương

mại.

Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công

Thương Việt Nam - Chi nhánh Hùng Vương.

Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP

3

Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hùng Vương.

CHƯƠNG 1:

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại

Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền

kinh tế hàng hoá và sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường đã làm

biến đổi mạnh mẽ hệ thống ngân hàng thương mại từ những hệ thống ngân hàng

giản đơn, sơ khai ban đầu trở thành những ngân hàng hiện đại. Khi mới ra đời,

Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu là cho vay đối với lĩnh vực thương mại

nhưng ngày nay hoạt động của nó đã mang tính tổng hợp và đa năng. Tuỳ thuộc vào

đặc thù hoàn cảnh thực tế của từng quốc gia, từng đạo luật mà Khái niệm ngân hàng

thương mại có thể được nhìn nhận dưới góc độ này hay góc độ khác.

Theo luật pháp Hoa Kỳ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi

cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh

doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem như là một ngân hàng thương mại.

Luật ngân hàng của Ấn Độ 1950, được bổ sung 1959 đã nêu: “ngân hàng là

cơ sở nhận các khoản tiền gửi để cho vay hay tài trợ, đầu tư”.

Hay như nhà kinh tế học David Begg định nghĩa “Ngân hàng thương mại là

trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của chính phủ để cho vay tiền và mở

các tài khoản tiền gửi”.

Theo khoản 1, điều 20 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật các tổ

chức tín dụng của Việt Nam năm 2004 có nêu:

“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động

ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục

tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng

phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại

4

hình ngân hàng khác”.

Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích, khai thác nội

dung của các định nghĩa trên, người ta dễ nhận thấy các ngân hàng thương mại đều

có chung các đặc trưng cơ bản:

- Là một tổ chức được phép nhận tiền gửi với trách nhiện hoàn trả.

- Sử dụng tiền gửi của khách hàng để cho vay, chiết khấu và đầu tư.

- Thực hiện các khoản thanh toán và các dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng.

Như vậy, có thể đưa ra một định nghĩa Khái quát về ngân hàng thương mại

như sau:

Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ

- tín dụng, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các

dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân.

1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại.

Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo

lập và cung cấp các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho công chúng cũng như thực hiện

nhiều vai trò khác trong nền kinh tế. Có thể chia các hoạt động cơ bản của ngân

hàng thương mại thành 03 nhóm hoạt động chính là:

- Hoạt động huy động vốn.

- Hoạt động sử dụng vốn.

- Hoạt động dịch vụ ngân hàng.

1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn

Đây là hoạt động mang tính chất tiền đề nhằm tạo lập nguồn vốn hoạt động

của ngân hàng. Bởi vậy, để đảm bảo nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của

mình, các ngân hàng thương mại có thể thực hiện các hoạt động huy động vốn từ

hai bộ phận: vốn huy động từ tiền gửi và vốn huy động thông qua phát hành giấy tờ

có giá.

1.1.2.1.1 Vốn huy động từ tiền gửi

Bao gồm các loại sau:

Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc

5

nào. Do tính chất có thể rút ra bất cứ lúc nào nên dạng tiền gửi này thường chỉ được

hưởng lãi suất rất thấp hoặc không được ngân hàng trả lãi. Mục đích của loại tiền

gửi này là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản chi trả trong

hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Tài khoản được sử dụng cho loại tiền

gửi thanh toán là tài khoản giao dịch hay còn gọi là tài khoản séc. Ưu điểm của tiền

gửi không kỳ hạn là chi phí huy động thấp, sinh lời kể cả trong việc trực tiếp sử

dụng cũng như sinh lời thông qua việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ nhưng có

nhược điểm là tính ổn định không cao nên các ngân hàng thương mại thường phải

thực hiện một mức dự trữ bắt buộc để đảm bảo khả năng thanh toán.

Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà người gửi chỉ được rút sau một thì hạn

nhất định. Mức lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn thường cao hơn tiền gửi thanh toán

và mục đích chủ yếu của những người gửi tiền là để lấy lãi. Đối với ngân hàng đây

là nguồn vốn ổn định trong kinh doanh.

Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn quan trọng và là hình thức

huy động truyền thống của ngân hàng. Đặc điểm của loại tiền gửi này là người gửi

tiền được ngân hàng giao cho một sổ tiết kiệm, sổ này được coi như giấy chứng

nhận có tiền gửi vào quỹ tiết kiệm của ngân hàng và trong thời gian gửi tiền sổ tiết

kiệm có thể dùng làm vật cầm cố hoặc được chiết khấu để vay vốn ngân hàng.

Tiền gửi khác: ngoài các loại tiền gửi trên, tại các ngân hàng thương mại còn

có các loại tiền gửi khác như: tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác, tiền gửi của

Kho bạc nhà nước, tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội …

1.1.2.1.2 Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá:

Đây là nguồn vốn mà các ngân hàng thương mại có được thông qua việc phát

hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ

tiền gửi…. Các kỳ phiếu, trái phiếu này có khả năng chuyển đổi dễ dàng ra tiền khi

cần thiết bằng các mua bán chuyển nhượng trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tại

ngân hàng. Với cách huy động vốn này, ngân hàng có khả năng tập trung một lượng

vốn lớn trong thời gian ngắn và hoàn toàn chủ động sử dụng. Tuy nhiên, việc này

6

chỉ được thực hiện sau khi đã tiến hành lên cân đối toàn hệ thống giữa nguồn vốn và

sử dụng vốn, xác định thấy khả năng nguồn vốn toàn hệ thống không đủ đáp ứng

nhu cầu sử dụng vốn và sau khi được sự chấp thuận của ngân hàng nhà nước.

Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ vốn

kinh doanh của ngân hàng thương mại. Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn đến

chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn này có xu

hướng ngày càng gia tăng phù hợp với xu hướng tăng trưởng và ổn định của nền

kinh tế, việc cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng, với việc gia

tăng nhu cầu thanh toán của dân cư.

1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn:

Hoạt động sử dụng vốn là hoạt động đem lại nguồn thu cho ngân hàng và bù

đắp các chi phí trong hoạt động. Ngân hàng thường sử dụng nguồn vốn vào các hoạt

động kinh doanh chủ yếu sau:

1.1.2.2.1 Hoạt động cho vay:

Cho vay là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, là việc ngân hàng

thương mại cho khách hàng vay một số tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất

định và khi hết hạn vay, người vay phải hoàn trả ngân hàng một khoản tiền bao gồm

cả gốc và lãi.

Hoạt động cho vay hiện nay vẫn là một trong những hoạt động cơ bản, truyền

thống và đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động tạo ra thu nhập của ngân hàng

thương mại. Tuy nhiên hoạt động này cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro (rủi ro thanh

khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro chính trị và rủi ro đạo đức), khi những rủi ro này xảy ra

sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của ngân hàng.

Nghiệp vụ cho vay có thể được phân loại theo các tiêu thức khác nhau như:

+ Theo thời hạn cho vay: gồm có cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

+ Theo hình thức đảm bảo tiền vay: gồm cho vay có đảm bảo và cho vay

không có đảm bảo

+ Theo ngành kinh tế: gồm có cho vay nông nghiệp, công nghiệp, thương

mại...

7

+ Theo đặc điểm luân chuyển vốn: gồm có cho vay bổ sung vốn lưu động và

cho vay hình thành tài sản cố định.

+ Theo các cách phân loại khác: theo rủi ro, theo mục đích sử dụng vốn vay,

lãi suất cho vay…

1.1.2.2.2 Hoạt động đầu tư:

Là khoản mục quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay. Để đa dạng hóa

việc sử dụng nguồn vốn, giảm rủi ro trong hoạt động, tăng thu nhập và hỗ trợ thanh

khoản khi cần thiết, ngoài hoạt động cho vay các ngân hàng thương mại còn thực

hiện các hoạt động đầu tư như: hoạt động đầu tư gián tiếp (các hoạt động đầu tư trên

thị trường chứng khoán thông qua việc mua bán các chứng khoán do chính phủ, côg

ty phát hành), hoặc các hoạt động đầu tư trực tiếp (góp vốn vào các doanh nghiệp,

các công ty tài chính…)

1.1.2.2.3 Các hoạt động dịch vụ ngân hàng:

Cùng với sự phát triển kinh tế, các hoạt động cung cấp dịch vụ ngày càng

đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa các hoạt động của ngân hàng, đồng

thời cũng mang lại cho ngân hàng các khoản thu nhập không nhỏ. Thông thường

ngân hàng cung cấp các dịch vụ trung gian như:

- Hoạt động bảo lãnh: Là việc ngân hàng (bên bảo lãnh) cam kết trả thay cho

khách hàng (bên được bảo lãnh) trong trường hợp khách hàng không có khả năng

thanh toán hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với bên yêu cầu bảo lãnh (bên

nhận bảo lãnh).

- Dịch vụ thanh toán

- Kinh doanh ngoại hối, vàng bạc đá quý…

- Nhận ủy thác, ký gửi…

- Hoạt động tư vấn đầu tư, tư vấn tài chính tiền tệ.

- Hoạt động đại lý kinh doanh chứng khoán…

Ngoài ra, trước sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin, hiện nay các

ngân hàng còn phát triển và cung cấp các dịch vụ mới như các dịch vụ thẻ, internet

banking, phone banking…cũng như phát triển mạnh các dịch vụ ngân hàng quốc tế.

8

Các hoạt động của ngân hàng thương mại có quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho

nhau. Trong đó hoạt động huy động vốn là cơ sở để thực hiện hoạt động cho vay,

hoạt động cho vay làm tăng khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại. Trên cơ

sở hoạt động tín dụng, các ngân hàng thương mại có thể thực hiện được các hoạt

động nghiệp vụ trung gian. Nếu thực hiện tốt hoạt động nghiệp vụ trung gian thì

ngân hàng thương mại có điều kiện tăng nguồn vốn vì hoạt động nghiệp vụ trung

gian vừa gần hoạt động cho vay vừa gần hoạt động huy động vốn.

1.1.3. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

1.1.3.1. Khái niệm và bản chất tín dụng ngân hàng

Quan hệ tín dụng ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá

trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thường

xuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế.

Một cách khái quát, tín dụng là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa những

người đi vay và những người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả nhằm thoả mãn

nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống.

Từ định nghĩa trên có thể thấy ngay rằng tín dụng cũng là quan hệ tài chính

cơ bản, với đặc trưng của loại quan hệ này là tính chất có hoàn trả trong phân phối.

Sự hoàn trả của quan hệ phân phối trong tín dụng là bắt buộc và không kèm theo bất

cứ một điều kiện nào, vì vậy còn có thể gọi quan hệ phân phối trong tín dụng là

quan hệ phân phối hoàn trả không điều kiện. Quan hệ này được thực hiện giữa hai

nhóm chủ thể kinh tế cơ bản trong nền kinh tế, đó là giữa những người đang tạm

thời có vốn nhàn rỗi sang những người đang tạm thời thiếu vốn và ngược lại.

Xét về bản chất, tín dụng là một loại quan hệ phát sinh từ nhu cầu thực tế của

con người. Với một người đang có một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi thì nhu cầu nảy

sinh sẽ là phải làm cho lượng vốn nhàn rỗi đó đem lại một lợi ích nào đó cho bản

thân, còn đối với những người đang tạm thời thiếu vốn, họ sẵn sàng bỏ ra một

khoản chi phí phụ thêm để có được lượng vốn cần thiết phục vụ cho các nhu cầu

của mình. Khi hai nhu cầu này gặp nhau thì tín dụng tự nhiên hình thành. Vì vậy có

9

thể nói tín dụng là một hiện tượng kinh tế khách quan.

Theo quan điểm của Mác, tín dụng là một quá trình vận động của tiền với

công thức biểu diễn rút gọn là T-H-T’ (T’>T). Để có thể có được một T’ lớn hơn so

với lượng tiền T lúc ban đầu, trong giai đoạn sản xuất (H), lượng vốn này phải được

sử dụng vào sản xuất, với đặc điểm của hàng hoá sức lao động, lượng giá trị mới tạo

ra sẽ lớn hơn lúc ban đầu, và một phần của lượng giá trị mới tạo ra đó sẽ được trích

ra để trả phần phụ trội cho lượng tiền T lúc đầu. Và như vậy có thế thấy bản chất

của tín dụng là việc chia sẻ lợi nhuận giữa tư bản thương nghiệp và tư bản sản xuất.

1.1.3.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng

Trước hết tín dụng ngân hàng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng

góp phần đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường. Tín dụng là

hoạt động kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng thương mại, để thực hiện kinh

doanh tín dụng ngân hàng cần có vốn bằng cách “đi vay để cho vay”. Trong xã hội

luôn có một số người thừa vốn cần đầu tư và một số người thiếu vốn cần đi vay,

song những người này khó có thể trực tiếp gặp nhau để cho nhau vay hoặc có thể

gặp nhau nhưng chi phí rất cao và không kịp thời nên tín dụng ngân hàng là cầu nối

giữa người có vốn và người cần vốn, giải quyết thoả đáng các nhu cầu trong mối

quan hệ này. Tín dụng ngân hàng làm trung gian để điều tiết nguồn vốn từ bộ phận

nhàn rỗi đến bộ phận thiếu vốn một cách linh hoạt, giảm thiểu tình trạng lãng phí

vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Sau nữa tín dụng ngân hàng tác động hiệu quả đến nhịp độ phát triển sôi

động, thúc đẩy cạnh tranh nền kinh tế và góp phần tạo nên một cơ cấu hợp lý.

Hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp

không ngừng vận động để phù hợp những biến động của thị trường. Trong quá trình

sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng vốn của mình doanh nghiệp phải đi vay ngân

hàng và hoàn trả “gốc và lãi” sau một thì gian nhất định do đó doanh nghiệp cần

phải tìm hiểu và đầu tư vào những ngành có lợi nhuận cao, qua đó vừa duy trì được

hoạt động của mình vừa hoàn trả được vốn vay ngân hàng. Bên cạnh đó tín dụng

10

ngân hàng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển vì chỉ có tín dụng ngân

hàng mới đáp ứng được nhu cầu vốn lớn như vậy cho nền kinh tế nói chung và các

doanh nghiệp nói riêng trở nên năng động, mền dẻo và linh hoạt.

Bên cạnh đó tín dụng ngân hàng tạo điều kiện hội nhập vào kinh tế thế giới.

Tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện để nối liền nền kinh

tế của các nước với nhau. Đặc biệt với các nước đang phát triển, tín dụng ngân hàng

đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá đồng thời nhờ

nguồn vốn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho ngành kinh tế kém phát triển và

các ngành kinh tế mũi nhọn. Bằng việc sử dụng lãi suất ưu đãi với những ngành

kinh tế mũi nhọn cũng như các ngành kinh tế kém phát triển nhưng có lợi thế cho

nền kinh tế, tín dụng ngân hàng thúc đẩy các ngành kinh tế này phát triển. Tín dụng

ngân hàng góp phần hạn chế và xoá bỏ tệ nạn cho vay nặng lãi.

Tín dụng ngân hàng có vai trò kiểm soát đối với nền kinh tế. Ngân hàng

muốn tồn tại và phát triển thì phải nắm vững hiểu sâu sắc hoạt động của doanh

nghiệp để giảm mức rủi ro trong cho vay. Như vậy ngân hàng có khả năng tổng hợp

được tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có thể đánh giá được mức độ

phát triển của từng ngành từ đó có thể nêu lên ý kiến, góp phần để thực hiện điều

chỉnh khi có sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế.

Tóm lại: Tín dụng ngân hàng là biện pháp cơ bản và chủ yếu để điều hoà

vốn, đáp ứng nhu cầu vốn cho toàn bộ nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng đóng vai trò

là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, biến mọi nguồn tiền tệ phân tán trong xã hội

thành nguồn vốn tập trung qua đó điều hoà quan hệ cung cầu về tiền tệ trong xã hội

góp phần ổn định tiền tệ. Tín dụng ngân hàng giữ vai trò rất quan trọng với nền kinh

tế nhưng nó tác động theo chiều hướng nào đến nền kinh tế còn phụ thuộc vào việc

thực hiện các nghiệp vụ tín dụng ở ngân hàng thương mại có chất lượng và hiệu quả

hay không. Trên cơ sở đó ta thấy rõ vai trò và tác động của tín dụng ngân hàng với

nền kinh tế thị trường do đó mỗi ngân hàng thương mại cần chú trọng quan tâm đến

công tác tín dụng và đổi mới nâng cao chất lượng tín dụng để đem lại hiệu quả thiết

11

thực.

1.1.3.3. Các hình thức tín dụng ngân hàng:

Trong nền kinh tế hiện đại, tín dụng ngân hàng có phạm vi hoạt động rộng

lớn và đa dạng. Tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân

hàng mà người ta phân loại tín dụng ngân hàng thành các hình thức tín dụng khác

nhau.

* Phân loại theo thời gian::

- Tín dụng ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở

xuống. Mục đích là đáp ứng nhu cầu vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp về mua nguyên vật liệu, chi phí sản xuất hoặc

nhu cầu tiêu dùng, thanh toán của cá nhân có giá trị nhỏ.

- Tín dụng trung hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 12 tháng và không

quá 60 tháng. Mục đích vay vốn để sửa chữa, khôi phục, thay thế tài sản cố định

hoặc cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quá trình sản xuất, đổi mới quy trình công nghệ và

xây dựng mới những công trình loại nhỏ thu hồi vốn nhanh.

- Tín dụng dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 60 tháng. Mục đích là

sử dụng vốn vay gần như tín dụng trung hạn nhưng với những công trình quy mô

lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu hơn.

* Phân loại theo hình thức:

- Cho vay: là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu

là ngân hàng sang người sử dụng (người vay - khách hàng) với cam kết của khách

hàng là sẽ hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.

- Chiết khấu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với

giá trị của chứng từ có giá trừ đi phần thu nhập của ngân hàng (mức chiết khấu) để

sở hữu một chứng từ có giá chưa đến hạn.

- Bảo lãnh: là việc ngân hàng (bên bảo lãnh) cam kết thực hiện các nghĩa vụ

tài chính hộ khách hàng của mình (bên được bảo lãnh) trong trường hợp khách hàng

không có khả năng thanh toán hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với bên yêu

12

cầu bảo lãnh (bên nhận bảo lãnh).

- Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung, dài hạn trên cơ sở hợp đồng

cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là ngân hàng với khách hàng thuê. Khi kết thúc

thời hạn thuê, khách hàng có thể mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo điều kiện

đã thoả thuận trong hợp đồng.

* Phân loại theo đặc điểm luân chuyển vốn::

- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được cung cấp để bổ sung vốn lưu

động cho các tổ chức kinh tế.

- Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được cung cấp để hình thành nên tài

sản cố định cho các tổ chức kinh tế.

1.1.4 Những quy định pháp lý về hoạt động tín dụng

Những quy định pháp lý về cho vay là các quy định của luật pháp điều chỉnh

các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể (ngân hàng và khách hàng) khi tham gia hoạt

động cho vay của ngân hàng. Những quy định này quy định tính chất, quy mô,

phạm vi giao dịch trong hoạt động cho vay của ngân hàng, nó có vai trò rất lớn đối

với trạng thái rủi ro và an toàn trong hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động

cho vay nói riêng.

1.1.4.1 Nguyên tắc cho vay:

Khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo nguyên tắc sau:

- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.

Đây là nguyên tắc cơ bản trong cho vay của ngân hàng bởi vì có sử dụng vốn vay

đúng mục đích thì khách hàng mới có thể đạt được lợi ích dự kiến tạo nguồn trả nợ

cho ngân hàng. Do vậy, ngân hàng phải thường xuyên giám sát về mục đích sử

dụng vốn vay. Nguyên tắc này nhằm hạn chế rủi ro đạo đức và hạn chế khả năng

khách hàng dùng vốn vay để thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm.

- Phải hoàn trả nợ gốc và tiền lãi vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng

tín dụng. Nguyên tắc này đảm bảo phương châm hoạt động của ngân hàng là “đi

vay để cho vay” và thực hiện nguyên tắc trong hạch toán kinh doanh lấy thu bù chi

13

và có lãi để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.

1.1.4.2 Điều kiện cho vay:

Điều kiện vay vốn là những quy định cụ thể của ngân hàng đối với khách hàng

có nhu cầu vay vốn. Có năm điều kiện vay vốn bao gồm:

- Thứ nhất: Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu

trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật

Nếu khách hàng là pháp nhân thì phải có đủ năng lực pháp luật dân sự.

Nếu khách hàng là các nhân, đại diện của hộ gia đình, đại diện của tổ hợp tác

và thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng

lực hành vi dân sự.

- Thứ hai: mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

Khách hàng không được vay vốn để sử dụng cho các mục đích mà pháp luật

cấm và phải phù hợp với giấy phép đăng ký kinh doanh. Đây là điều kiện chuyển

tiếp để xét phương án, dự án kinh doanh có hiệu quả hay không?

- Thứ ba: có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.

+ Có vốn tự có tham gia vào dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

và đời sống.

+ Kinh doanh có hiệu quả, có lãi; trường hợp bị lỗ thì phải có phương án khả

thi khắc phục lỗ đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.

+ Không có nợ khó đòi tại ngân hàng cho vay

+ Khách hàng phải mua bảo hiểm tài sản đầy đủ trong suốt thời gian vay vốn

(trường hợp Pháp luật bắt buộc phải mua bảo hểm cho tài sản hoặc có sự thoả

thuận giữa ngân hàng và khách hàng).

- Thứ tư: có dự án, phương án đầu tư, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi,

có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống kèm phương án trả

nợ khả thi. Đây là điều kiện quan trọng nhất vì đây là căn cứ đánh giá khả năng trả

nợ của khách hàng vay vốn và đưa ra quyết định cho vay của ngân hàng.

- Thứ năm: thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của

chính phủ, ngân hàng nhà nước Việt Nam và hướng dẫn của ngân hàng cho vay

14

nhằm nâng cao trách nhiệm của khách hàng trong việc sử dụng vốn.

1.1.4.3 Bảo đảm tiền vay

Bảo đảm tiền vay là việc các tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm

phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được khoản nợ đã cho

khách hàng vay. Tuỳ từng trường hợp mà ngân hàng có thể áp dụng riêng lẻ hoặc

phối hợp sử dụng các biện pháp cho vay có bảo đảm bằng tài sản và cho vay không

có bảo đảm bằng tài sản.

Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay vốn của các tổ chức tín

dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực

hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng

vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để

ngân hàng có thêm nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu

chắc chắn.

Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản là việc tổ chức tín dụng cho khách

hàng vay vốn không có tài sản cầm cố, thế chấp, hoặc không có bảo lãnh của người

thứ ba. Ngân hàng cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng theo đó ngân

hàng lựa chọn cho vay không có tài sản bảo đảm (cho vay bằng tín chấp), hoặc ngân

hàng cho vay không có tài sản bảo đảm theo chỉ định của chính phủ hoặc bảo lãnh

bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội cho các cá nhân, hộ gia đình

nghèo vay vốn theo các văn bản hiện hành.

1.2. Chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng

Do đặc thù của hoạt động ngân hàng là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín

dụng nên hoạt động tín dụng chứa đựng rất nhiều rủi ro, tuy nhiên hoạt động này lại

chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập của ngân hàng. Bởi vậy, các ngân hàng không

ngừng phải nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của mình nhằm đảm bảo duy trì

sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.

Chất lượng tín dụng là một Khái niệm được các nhà kinh tế tiếp cận theo

nhiều cách khác nhau nhưng có thể hiểu chất lượng tín dụng là sự thoả mãn nhu cầu

15

mà khoản tín dụng đó mang lại cho người đi vay cũng như người cho vay.

Tuy nhiên, trong sản phẩm tín dụng nguyên liệu kinh doanh là tiền với đặc

điểm chỉ một biến động nhỏ của nó về mặt giá trị trên thị trường có thể ảnh hưởng

đến nhiều hoạt động kinh tế xã hội và hoạt động kinh doanh của các ngân hàng

thương mại. Do đó, xét ở góc độ ngân hàng, sản phẩm tín dụng không chỉ nhằm

thoả mãn nhu cầu của khách hàng (những nhu cầu pháp luật không cấm), mà còn

phải đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước nói chung, địa phương

nói riêng trên cơ sở khả năng thu hồi được gốc và lãi đúng hạn như đã thoả thuận

trên hợp đồng tín dụng.

Chất lượng tín dụng được thể hiện trên các mặt sau:

*Đối với khách hàng:

Tiền vay phát ra phải phù hợp với mục đích sử dụng của người vay, phù hợp

với lãi suất và kỳ hạn nợ hợp lý. Thủ tục đơn giản, thuận tiện, thu hút được nhiều

khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng. Ngoài ra, chất lượng tín dụng

còn thể hiện ở sự thoả mãn cơ hội kinh doanh về các khía cạnh không gian, thời

gian và quy mô cho khách hàng.

- Không gian: tín dụng ngân hàng phải luôn gần gũi với khách hàng và có sự

thuận lợi trong giao dịch.

- Thời gian: tín dụng ngân hàng phải thoả mãn được thời điểm kinh doanh

của khách hàng khi giải ngân và khi hoàn vốn.

- Quy mô: tín dụng ngân hàng phải đảm bảo yêu cầu về khối lượng mà khách

hàng mong muốn.

Ngoài các yếu tố cốt lõi là cung ứng vốn cho khách hàng, chất lượng tín

dụng ngân hàng còn thể hiện ở nhiều yếu tố phụ trợ: tiết kiệm chi phí đi lại, giao

dịch thuận tiện, điều kiện vay vốn hợp lý…để khách hàng dễ dàng đáp ứng nhưng

vẫn đảm bảo chặt chẽ về việc sử dụng vốn có hiệu quả.

* Đối với NHTM:

Tín dụng ngân hàng phải mang lại lợi ích cho nhà kinh doanh ngân hàng

đồng thời đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của ngân hàng một cách bền vững, ít

16

rủi ro nhất.

Như vậy, chất lượng tín dụng là một nhân tố xuyên suốt trong quá trình hoạt

động của tín dụng ngân hàng. Để đảm bảo tín dụng luôn có chất lượng, đòi hỏi

trong quá trình xét duyệt cho vay, cán bộ tín dụng cần phải thẩm định, phân tích kỹ

lưỡng về các mặt tư cách, khả năng tài chính…để từ đó đi đến quyết định cho vay

hay không. Nếu cho vay thì mức cho vay bao nhiêu để vừa có thể hỗ trợ nhằm đáp

ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng vừa nằm trong giới hạn và phạm vi cho phép.

Mặt khác về phương thức cho vay và thời gian vay cũng phải xác định như

thế nào để khách hàng có điều kiện sử dụng vốn vay có hiệu quả và trả nợ ngân

hàng cả gốc và lãi đúng theo kỳ hạn nợ. Bên cạnh đó, Ngân hàng cũng cần có sự lựa

chọn phương pháp thu nợ, thu lãi, có biện pháp xử lý những khoản tín dụng có vấn

đề sau khi cho vay, đến hạn mà người vay chưa trả.

* Đối với Nhà nước :

Chất lượng tín dụng thể hiện ở việc tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông

hàng hoá, góp phần giỉa quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong

nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết mối quan hệ

giữa tăng trưởng Tín dụng và tăng trưởng Kinh tế.

Như vậy, từ những phân tích trên ta có thể rút ra:

- Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi

của NHTM và sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sưc mạnh của một

ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.

- Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được khách

hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn của vốn tín dụng, mức độ sinh

lời của hoạt động tín dụng....

- Chất lượng tín dụng không tự nhiên mà có, nó là kết quả của mộy quy trình

kết hợp hoạt động giữa con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với nhau vì

một mục đích

chung, do đó để đạt đươc chất lượng tín dụng cần có sự quản lý.

Quản lý chất lượng về cơ bản là những hoạt động và kỹ thuật được sử dụng

17

nhằm đạt được chất lượng tốt nhất.

Tuy nhiên, chất lượng tín dụng không chỉ phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của

NHTM mà còn phải chịu sự tác động rất lớn vào những điều kiện ngoại cảnh như

hoàn cảnh quốc tế, hoàn cảnh trong nước về môi trường tự nhiên, môi trường kinh

tế, môi trường pháp luật…hay sự thay đổi về giá cả thị trường. Đó chính là những

nhân tố tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng. Chất lượng có thể là tốt tại

thời điểm phân tích, nhưng sau đó có thể trở lên xấu đi. Vì vậy, ta chỉ có thể hiểu

chất lượng tín dụng ở một Khái niệm tương đối mà thôi.

1.2.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng

Trong thời gian qua, lĩnh vực tín dụng của các ngân hàng thương mại đã tăng

trưởng mạnh mẽ. Tuy nhiên, sự tăng trưởng nhanh chóng này đã đạt đến mức độ

quá nóng nên tiềm ẩn nhiều rủi ro, thậm chí có thể gây nên sụp đổ cả một ngân hàng

nếu không có sự kìm hãm đúng lúc. Như vậy, điều cốt lõi của quá trình phát triển

trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là lĩnh vực tín dụng không chỉ là tăng trưởng tín

dụng mà chất lượng tín dụng mới là vấn đề có ý nghĩa quyết định.

Tăng trưởng tín dụng có chất lượng là đặc trưng biểu hiện phát triển bền

vững ngành ngân hàng. Từ bền vững ở đây không phải là duy ttì tốc độ tăng trưởng

cao và lâu dài về thời gian, mà sự phát triển bền vững ngành ngân hàng phải bảo

toàn và phát triển ba nguồn lực: vốn, nhân lực và công nghệ, trong đó nhân lực và

công nghệ đặc biệt được quan tâm vì nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của

một ngân hàng.

Tăng trưởng tín dụng có chất lượng cao sẽ dẫn tới hiệu quả hoạt động tín

dụng cao, điều đó cho thấy tăng trưởng tín dụng có chất lượng và hiệu quả hoạt

động tín dụng có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau. Nói một cách

khác, tốc độ tăng trưởng tín dụng của một ngân hàng phải đạt đến một giới hạn dựa

theo yếu tố nguồn lực và điều kiện kinh tế cụ thể của ngân hàng đó. Nếu tăng

trưởng tín dụng vượt quá tầm kiểm soát của ngân hàng sẽ dẫn đến tình trạng ngân

hàng có thể mất khả năng thanh toán, chất lượng tín dụng giảm sút, từ đú dẫn đến

18

hiệu quả hoạt động tín dụng kém, thậm chí thua lỗ.

Để đảm bảo tăng trưởng có chất lượng thì các nhà quản trị ngân hàng phải có

biện pháp quản trị rủi ro phù hợp trên cơ sở nhận định và lượng hoá những loại rủi

ro có thể gặp trong hoạt động tín dụng của mình.

Ngoài ra, nguồn vốn dùng để cho vay chủ yếu là nguồn vốn huy động từ các

thành phần kinh tế, do đó việc cấp tín dụng phải đảm bảo an toàn thu hồi được cả

vốn lẫn lãi đúng hạn, muốn vậy việc sử dụng vốn phải đảm bảo đúng mục đích và

đúng quy định về cấp tín dụng của ngân hàng nhà nước thì nguồn vốn cho vay mới

đảm bảo an toàn. Nghĩa là, việc tăng trưởng tín dụng phải hiệu quả và an toàn mới

đảm bảo là tín dụng có chất lượng.

Như vậy, mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với chất lượng tín dụng và

hiệu quả tín dụng (lợi nhuận mang lại từ tín dụng) và an toàn trong hoạt động tín

dụng luôn là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Các ngân hàng

luôn đặt cho mình mục tiêu phải tăng trưởng tín dụng, đồng thời phải luôn đảm bảo

chất lượng tín dụng để có hiệu quả cao, mà muốn có hiệu quả thì tín dụng phải đảm

bảo an toàn vốn cho vay. Để thực hiện mục tiêu trên thì các nhà quản trị ngân hàng

cần phải có những biện pháp quản trị rủi ro hiệu quả, có như vậy thì tăng trưởng tín

dụng mới hiệu quả và bền vững.

1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại

Chất lượng tín dụng vừa mang tính cụ thể vừa mang tính trừu tượng, vì vậy

có nhiều chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng:

1.2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá mang tính định tính:

- Chất lượng tín dụng được coi là tốt khi ngân hàng đáp ứng được một cách

đầy đủ, kịp thời thoả mãn nhu cầu của khách hàng.

Điều này quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, bởi không có một

ngân hàng nào tồn tại và phát triển được mà không có khách hàng. Đáp ứng tốt nhu

cầu của khách hàng là một trong những dấu hiệu cho thấy chất lượng tín dụng của

ngân hàng là khả quan. Điều này được thể hiện trước hết ở khối lượng tín dụng mà

ngân hàng cung cấp phải thoả mãn được yêu cầu, phù hợp với mục đích sử dụng

19

của khách hàng với một chính sách lãi suất thích hợp, linh hoạt, thủ tục vay vốn đơn

giản, thuận tiện trên cơ sở đảm bảo những nguyên tắc an toàn vốn. Cung cấp vốn

một cách nhanh chúng, kịp thời, an toàn, nhờ đú doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi

phí giao dịch, tiếp kiệm thời gian và không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên làm

được điều này thì bản thân các ngân hàng thương mại phải năng động hơn trong

việc nâng cao chất lượng tín dụng, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên cả về chất

và lượng của khách hàng.

- Sau khi đáp ứng một cách đầy đủ những nhu cầu của khách hàng, chất

lượng tín dụng của ngân hàng chỉ được coi là tốt khi ngân hàng thu được về đầy đủ

và đúng hạn cả gốc và lãi.

Hoạt động tín dụng của ngân hàng phải mang lại cho ngân hàng những

khoản thu nhập đủ để trang trải các chi phí cần thiết và đảm bảo có lãi, hạn chế thấp

nhất nguy cơ rủi ro. Việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tín dụng cùng với sự

năng động nhạy bén trong kinh doanh của doanh nghiệp và sự giúp đỡ hiệu quả của

ngân hàng cho vay sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đạt được kết quả kinh

doanh như mong muốn, từ đú giúp doanh nghiệp thực hiện được các nghĩa vụ đối

với ngân hàng đầy đủ và đúng hạn. Điều này đảm bảo sự tồn tại và phát triển của cả

ngân hàng và bản thân doanh nghiệp.

- Chất lượng tín dụng tốt phải giúp vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế –

xã hội của vùng, của địa phương và của đất nước. Điều này là hệ quả tất yếu sẽ đạt

được khi cả ngân hàng và doanh nghiệp đều hoạt động có hiệu quả trên cơ sở khoản

tín dụng đã cấp. Nó sẽ gúp phần ổn định nền tài chính – tiền tệ quốc gia, thúc đẩy

tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, tăng

thu nhập và nâng cao mức sống dân cư.

Các chỉ tiêu định tính như trên chỉ là những căn cứ để đánh giá chất lượng tín

dụng ngân hàng một cách Khái quát. Để có được kết luận chính xác hơn về chất

lượng tín dụng của ngân hàng cần phải xem xét các chỉ tiêu định lượng.

1.2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá mang tính định lượng:

- Chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng tín dụng:

20

+ Doanh số cho vay: là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng

đối với nền kinh tế. Chỉ tiêu này phản ánh chính xác về hoạt động cho vay trong

một thời gian dài, qua đó thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua các năm của

ngân hàng.

Ý nghĩa: tốc độ tăng doanh số qua các năm cho ta biết khả năng mở rộng

quy mô tín dụng. Nếu doanh số lớn, tốc độ tăng nhanh và đều đặn qua các năm cho

thấy khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng và ngược lại. Tuy nhiên đây mới chỉ

là điều kiện cần chứ chưa đủ để khẳng định chất lượng tín dụng của ngân hàng mà

còn phải kết hợp xem xét tổng hợp các chỉ tiêu khác.

+ Tổng dư nợ cho vay: phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng tại một

thời điểm.

Ý nghĩa: khối lượng tín dụng lớn chỉ có thể đạt được thông qua việc áp dụng

các chính sách tín dụng năng động để phục vụ nền kinh tế và khách hàng, trong đó

có cả biện pháp tiếp thị để thu hút khách hàng.

Nếu tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động của ngân hàng chưa tốt, khả năng

tiếp thị khách hàng chưa hiệu quả, trình độ cán bộ tín dụng còn thấp và khả năng

mở rộng thị phần bị hạn chế. Vì vậy, để nâng cao chất lượng tín dụng thì phải tăng

quy mô tín dụng, vì quy mô tín dụng có tác động lớn tới kết quả kinh doanh, đến

hiệu quả kinh tế của ngân hàng.

- Chỉ tiêu về nợ xấu, nợ quá hạn:

Đây là hai chỉ tiêu rất quan trọng, phản ánh chất lượng tín dụng rất rõ nét và

cho biết mức độ rủi ro mất vốn, từ đú ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân

hàng ở hiện tại và trong tương lai.

x 100% Tỷ lệ NQH = Số dư NQH Tổng dư nợ

Ý nghĩa: Tỷ lệ này càng cao thì chất lượng tín dụng của ngân hàng càng thấp

và ngược lại. Ngoài ra ngân hàng còn tính toán tỷ lệ nợ xấu:

x 100%

21

Tỷ lệ nợ xấu = Tổng số nợ xấu Tổng dư nợ

Nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu nợ quá hạn để đánh giá chất lượng tín dụng của một

ngân hàng thì chưa đủ chính xác. Vì vậy quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày

22/04/2005 và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 sửa đổi quyết

định 493 của ngân hàng nhà nước ra đời, ban hành quy định về phân loại nợ, trích

lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các

tổ chức tín dụng đã đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng của các tổ chức tín

dụng và dần tiếp cận theo thông lệ quốc tế. Theo các quyết định trên thì dư nợ của

các tổ chức tín dụng được chia thành 05 nhóm :

+ Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn- bao gồm các khoản nợ trong hạn được đánh

giá có khả năng trả nợ đúng hạn )

+ Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý)

Nợ xấu bao gồm các loại:

+ Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn).

+ Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ).

+ Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)

Ý nghĩa: tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng

của các tổ chức tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì chất lượng tín dụng càng kém và

ngược lại. Nếu tỷ lệ nợ xấu nhỏ hơn 5% thì chất lượng tín dụng xem như bình

thường, càng nhỏ hơn 5% càng tốt. Ngược lại, nếu tỷ lệ nợ xấu lớn hơn 5% thì chất

lượng tín dụng đang có vấn đề.

- Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn:

x 100% H = Tổng dư nợ cho vay Tổng vốn huy động Ý nghĩa: chỉ tiêu này phản ánh nguồn vốn của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu

tín dụng của nền kinh tế nhưng chỉ nhìn vào kết quả của chỉ số này thì chưa thể

khẳng định được là tốt hay xấu bởi nếu hiệu suất này thấp chứng tỏ lượng vốn ngân

hàng cho vay thấp so với lượng vốn huy động được, còn chỉ tiêu này cao thì ngân

hàng phải kiếm nguồn vốn có chi phí cao hơn, điều này đều làm ảnh hưởng đến kết

22

quả kinh doanh của ngân hàng.

- Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng:

Chỉ tiêu này được xác định bằng doanh số thu nợ trên dư nợ bình quân của một

ngân hàng thương mại trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Chỉ tiêu

này được tính theo công thức:

Doanh số thu nợ

Dư nợ bình quân

Vòng quay vốn tín dụng = Đây là chỉ tiêu phản ánh số vòng chu chuyển của vốn vay (thường là một

năm). Chỉ tiêu này càng tăng thì việc tổ chức và quản lý tín dụng càng tốt, chất

lượng cho vay càng cao. Tuy nhiên, chỉ tiêu này phản ánh một cách tương đối, vì

nếu một ngân hàng thương mại cho vay các doanh nghiệp sản xuất chiếm tỷ trọng

lớn dư nợ, thì tiêu chí này thấp hơn các ngân hàng thương mại khác cho vay các

doanh nghiệp thương mại. Như vậy, không vì thế mà chất lượng cho vay của ngân

hàng thương mại này kém hiệu quả hơn. Từ thực tế trên, để đánh giá chất lượng tín

dụng dựa trên tiêu chí trên tương đối chính xác thì tiêu thức tính toán phải thống

nhất, vòng quay tín dụng phải tính toán cho từng loại vay, thời hạn vay và từng đối

tượng vay cụ thể.

- Chỉ tiêu sinh lời từ hoạt động tín dụng:

Một khoản tín dụng có chất lượng tốt sẽ đem lại cho ngân hàng một khoản

thu nhập. Điều này chứng tỏ ngân hàng không những thu hồi được vốn vay mà cả

lãi tiền vay, đảm bảo độ an toàn của nguồn vốn cho vay. Vì tín dụng là hoạt động

chủ yếu của ngân hàng nên đây là nguồn thu chủ yếu và cũng là điều kiện tồn tại và

phát triển của ngân hàng. Để đánh giá chính xác hơn về chất lượng tín dụng, ngân

hàng còn sử dụng các tỷ lệ sau:

Lãi từ tín dụng Tỷ lệ sinh lời của tín dụng = x 100%

Tổng dư nợ bình quân Ý nghĩa: chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời của tín dụng, nó phản ánh

cứ một đồng đem đầu tư vào hoạt động tín dụng thì tạo ra được bao nhiêu đồng thu

23

nhập cho ngân hàng; tức là cho biết hiệu quả cho vay của ngân hàng. Chỉ tiêu này

càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng càng tốt. Chỉ tiêu này càng gần với lãi suất

bình quân càng tốt, chứng tỏ ngân hàng thu dóc lãi, không để lãi tồn đọng nhiều.

Ngoài các chỉ tiêu trên, thì các quy định về an toàn vốn tối thiểu cũng giữ

vai trò quan trọng trong việc đánh giá chất lượng tín dụng tại tổ chức tín dụng,

chẳng hạn như theo quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/04/2005 có quy định:

+ Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không

được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, đối với một nhóm khách hàng

có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín dụng.

+ Tổng mức cho vay và bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách

hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng, đối với một nhóm

khách hàng không được vượt quá 60% vốn tự có của tổ chức tín dụng.

+ Tổng mức cho vay và bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một doanh

nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát không được vượt quá 10% vốn tự

có của tổ chức tín dụng, đối với các doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền

kiểm soát không được vượt quá 20% vốn tự có của tổ chức tín dụng.

+ Tổng mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá

30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính và đối với một nhóm khách hàng

không được vượt quá 80% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính.

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của NHTM:

Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của một ngân hàng, hoạt động tín

dụng phát triển cũng kéo theo các hoạt động khác của ngân hàng phát triển. Nâng

cao chất lượng tín dụng đã, đang và sẽ là cái đích mà tất cả các ngân hàng thương

mại hướng tới. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Bên cạnh các

nhân tố từ chính ngân hàng, còn có những nhân tố từ khách hàng của ngân hàng và

các nhân tố khách quan khác.

1.2.4.1 Các nhân tố mang tính chủ quan:

- Từ phía ngân hàng:

+ Chính sách tín dụng của ngân hàng:

24

Chính sách tín dụng của ngân hàng là một hệ thống các biện pháp liên quan

đến việc mở rộng hoặc hạn chế tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu của ngân hàng

trong từng thời kỳ. Nội dung cơ bản của chính sách tín dụng bao gồm toàn bộ các

vấn đề có liên quan tới cấp tín dụng nói chung như các tiêu chuẩn, các hướng dẫn

và các giới hạn để chỉ đạo và ra quyết định cho vay.

Mỗi ngân hàng sẽ xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng phù hợp

với điều kiện, đặc điểm của ngân hàng mình nhằm đảm bảo cho hoạt động tín dụng

đạt hiệu quả cao nhất, hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh tín dụng

của ngân hàng. Chính sách tín dụng phải có nội dung phù hợp với đường lối, chủ

trương phát triển kinh tế – xã hội của nhà nước đồng thời được xây dựng khoa học

và chặt chẽ, đảm bảo kết hợp hài hoà quyền lợi của ngân hàng, khách hàng và xã

hội thì sẽ hứa hẹn một chất lượng tín dụng tốt.

Nếu chính sách tín dụng đúng đắn, phù hợp sẽ thu hút được khách hàng, mở

rộng quy mô cho vay, đảm bảo được khả năng sinh lời trên cơ sở tuân thủ pháp luật

và có thể phân tán được rủi ro. Như vậy, chất lượng tín dụng có được nâng cao hay

không phụ thuộc rất lớn vào việc xây dựng chính sách tín dụng của ngân hàng.

+ Công tác tổ chức của ngân hàng:

Công tác tổ chức là việc sắp xếp các phòng ban theo đúng chức năng, nhiệm

vụ và phù hợp với năng lực chuyên môn nhưng vẫn có sự phối hợp chặt chẽ nhằm

phát huy hiệu quả hoạt động cao nhất.

Công tác tổ chức tốt là việc giao đúng người, đúng việc sao cho mọi người

phát huy hết khả năng của mình và phải tự chịu trách nhiệm về phần công việc của

mình.

+ Quy trình tín dụng:

Đây là những quy định cần phải thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ

nhằm mục đích bảo toàn vốn.

Quy trình tín dụng được bắt đầu từ khi ngân hàng thẩm định cho vay đến khi

giải ngân, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay và thu hồi nợ. Chất lượng tín dụng có

đảm bảo hay không tuỳ thuộc vào việc thực hiện tốt các quy định ở từng bước với

25

sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng từ đó sẽ

tạo điều kiện cho vốn tín dụng được luân chuyển bình thường, theo đúng kế hoạch

đã định.

Trong quy trình tín dụng, bước thẩm định cho vay là khâu quan trọng, quyết

định đến chất lượng tín dụng và là định hướng rủi ro trong cho vay. Việc thẩm định

phải được tiến hành một cách kỹ lưỡng và phải tuân thủ chặt chẽ những quy định,

và đưa ra quyết định đúng đắn trong cho vay nhằm hạn chế thấp nhất những rủi ro,

đảm bảo tính ổn định của khoản vay.

Trong quá trình khách hàng sử dụng vốn vay thì ngân hàng phải thường

xuyên kiểm tra xem nguồn vốn của mình có được sử dụng đúng mục đích không, rà

soát để kịp thời phát hiện những sai phạm, có biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế rủi

ro, gúp phần nâng cao chất lượng tín dụng.

Thu nợ và thanh lý nợ là khâu để ngân hàng tồn tại và phát triển được, bước

này là kết quả cuối cùng của công tác cho vay do đó cán bộ tín dụng phải tích cực

trong công tác thu hồi vốn và lãi tiền vay, hạn chế nợ quá hạn.

Việc ngân hàng làm tốt các bước của quy trình tín dụng sẽ tạo điều kiện cho

ngân hàng bảo toàn vốn, nâng cao được chất lượng tín dụng.

+ Chất lượng nhân sự:

Con người là nhân tố trung tâm trong mọi hoạt động và trong hoạt động tín

dụng cũng không phải là ngoại lệ. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, hệ thống

ngân hàng ngày càng hiện đại đòi hỏi chất lượng con người trong các ngân hàng

ngày càng phải biến đổi về chất, chất lượng ngày càng cao để đáp ứng kịp thời và

có hiệu quả trong hoạt động ngân hàng nói chung và trong hoạt động tín dụng nói

riêng.

Chất lượng nhân sự ở đây không chỉ là vấn đề về trình độ chuyên môn

nghiệp vụ, tác phong làm việc, tinh thần trách nhiệm, kỷ luật lao động mà còn bao

gồm cả lương tâm, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ ngân hàng. Đặc biệt là

trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng luôn chứa đựng những cám dỗ về vật chất, do đó

26

đòi hỏi người cán bộ tín dụng phải có lòng kiên định vững chắc.

+ Thông tin tín dụng:

Thông tin tín dụng rất quan trọng đối với hoạt động ngân hàng nói chung và

hoạt động tín dụng nói riêng. Thông tin tín dụng là cơ sở, yếu tố cơ bản trong quản

lý tín dụng để đưa ra các quyết định cho vay hay không của ngân hàng. Thông tin

tín dụng giúp ngân hàng theo dõi, quản lý các khoản tín dụng; thông tin càng đầy

đủ, chính xác, kịp thời thì khả năng phòng ngừa rủi ro càng lớn, hạn chế những tổn

thất cho ngân hàng.

Thông tin tín dụng có thể lấy từ nhiều nguồn khác nhau: từ báo cáo tài chính

của khách hàng vay vốn; từ trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của ngân hàng nhà

nước việt nam; thông qua các trung tâm tư vấn về tài chính ngân hàng hay thông

qua các mối quan hệ làm ăn của khách hàng. Thông tin nhanh chúng, kịp thời, chính

xác, bao quát là cơ sở để ngân hàng nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của

mình.

+ Kiểm soát nội bộ:

Kiểm soát nội bộ giúp cho ban lãnh đạo ngân hàng có được các thông tin về

tình hình cho vay của các cán bộ tín dụng có phù hợp với chủ trương, đường lối,

chính sách mà ngân hàng đưa ra hay không. Hoạt động này gồm có những việc như:

kiểm tra các thủ tục về thẩm quyền điều hành, quản lý, giám sát các khoản tiền vay,

thủ tục, hồ sơ xin vay vốn… hoạt động này do kiểm toán viên nội bộ trong ngân

hàng thực hiện nhằm mục đích phát hiện ra các sai phạm trong quá trình cho vay, từ

đó giúp ban lãnh đạo đưa ra các quyết định để hạn chế rủi ro tín dụng. Hệ thống

kiểm soát nội bộ hoạt động tốt thì sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng nâng cao chất

lượng tín dụng của mình.

+ Công nghệ ngân hàng:

Trong điều kiện nền kinh tế hội nhập, sự cạnh tranh ngày càng diễn ra gay

gắt hơn. Điều này càng thấy rõ hơn trong lĩnh vực ngân hàng, các trang thiết bị,

máy múc, phương tiện kỹ thuật hiện đại sẽ tạo điều kiện đơn giản hoá các thủ

tục,rút ngắn thời gian giao dịch, thông tin thu thập nhanh và chính xác hơn, tiết

27

kiệm chi phí…hơn nữa với công nghệ ngân hàng hiện đại sẽ giúp ngân hàng kịp

thời nắm bắt những thông tin, diễn biến trên thị trường, dự báo về khả năng phát

triển kinh tế xã hội và hoạt động tín dụng nhằm đưa ra các quyết sách phù hợp với

tình hình thực tế và đem lại sự tiện ích cho khách hàng.

1.2.4.2 Các nhân tố mang tính khách quan:

Như chúng ta đều biết, tín dụng ngân hàng là một trong những yếu tố hết sức

quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các NHTM và đối với toàn bộ nền

kinh tế. Để quản lý chất lượng tín dụng có hiệu quả và đồng bộ đòi hỏi các NHTM

phải hiểu rất rõ các tác nhân mang tính khách quan ảnh hưởng đến chất lượng tín

dụng ngân hàng như các yếu tố kinh tế - xã hội, môi trường pháp lý, tự nhiên, từ

phía khách hàng vay vốn...

- Từ phía khách hàng:

Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn vay được vốn của ngân hàng thì đều

phải đáp ứng được các điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng mà ngân hàng cho vay đưa ra

nhằm đảm bảo an toàn, ngăn ngừa và phòng tránh những rủi ro khi cho vay. Chỉ

những khách hàng đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của ngân hàng thì sẽ được ngân

hàng cho vay, như vậy, khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng ảnh hưởng trực

tiếp đến chất lượng tín dụng.

Khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng mà ngân hàng đưa ra cho khách

hàng gồm:

+ Năng lực thị trường của khách hàng:

Năng lực này thể hiện ở thị phần sản phẩm, chất lượng sản phẩm mà khách

hàng đang cung cấp trên thị trường, thương hiệu, tương lai về sản phẩm hay ngành

nghề mà khách hàng đang kinh doanh, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm…năng lực này

càng cao thì nhu cầu vốn đầu tư của khách hàng càng lớn và đây là một trong những

cơ sở để ngân hàng xem xét khi cho vay.

+ Năng lực sản xuất của khách hàng:

Năng lực này thể hiện ở toàn bộ giá trị tài sản mà khách hàng đưa ra để sản

xuất kinh doanh, biểu hiện cụ thể là các công nghệ mà khách hàng đưa vào sản xuất

28

hiện đại hay lạc hậu, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp có hiệu quả hay không?

năng lực sản xuất của khách hàng là cơ sở để ngân hàng tính toán đến tính khả thi,

nhu cầu vốn của dự án.

+ Năng lực tài chính của khách hàng:

Năng lực này thể hiện ở cơ cấu vốn, khả năng tự tài trợ, các chỉ tiêu tài chính

của khách hàng.

+ Năng lực quản lý của khách hàng:

Khách hàng vay vốn phải có năng lực quản lý tốt điều này thể hiện ở khả năng

tổ chức nhân sự, sắp xếp các phòng ban, tổ chức hệ thống hạch toán kế toán, quản

lý tài chính vừa đúng theo quy định của nhà nước lại bảo đảm tính hiệu quả của hệ

thống mà khách hàng đang quản lý

+ Quyền sở hữu tài sản và khả năng đáp ứng các biện pháp bảo đảm:

Như chúng ta đều biết, hoạt động kinh doanh của khách hàng gắn liền với

việc sở hữu một khối lượng tài sản nhất định, quyền sở hữu tài sản biểu hiện ở khả

năng pháp lý của khách hàng được chiếm hữu, sử dụng và định đoạt khối tài sản đú.

Giá trị, chất lượng và cơ cấu tài sản mà khách hàng sở hữu quyết định hoạt động

sản xuất kinh doanh, đo lường năng lực tài chính và quyết định khối lượng tín dụng

cần cung cấp. Quyền sở hữu tài sản gắn liền với năng lực của khách hàng và khả

năng sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện biện pháp đảm bảo tín

dụng.

+ Tính khả thi của dự án/ phương án:

Khi khách hàng đã xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh khả thi thì

bản thân khách hàng cũng thấy được đường hướng công việc của mình và nó sẽ

càng đảm bảo an toàn hơn cả cho khách hàng khi được ngân hàng đánh giá, tư vấn.

phương án sản xuất kinh doanh khả thi là phương án phải mang tính thị trường,

không trái pháp luật, có khả năng được cung cấp “đầu vào” và “đầu ra”, có hiệu quả

kinh tế. Phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả sẽ đảm bảo vững chắc nguồn trả

nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Tuy nhiên, điều kiện phương án sản xuất kinh doanh

khả thi còn phải gắn trách nhiệm của ngân hàng là việc cung cấp tín dụng phải đủ

29

và đúng vào phương án, đồng thời quản lý tốt nguồn thu từ phương án để có thể

hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi. Việc tham gia vốn tự có của khách hàng vào dự án sẽ

làm tăng thêm hiệu quả khả thi của dự án, khách hàng sẽ có trách nhiệm trong việc

bảo toàn và phát triển vốn tự có của mình trong dự án đó.

+ Tư cách đạo đức của người vay:

Chỉ tiêu này rất khó nắm bắt và thẩm định nhưng trước khi cho vay buộc

ngân hàng phải xem xét một cách kỹ lưỡng vì điều này liên quan tới việc khách

hàng trả nợ sau này. Khách hàng yếu về tư cách đạo đức sẽ dẫn đến việc trây ỳ

trong việc trả nợ, rất khó và tốn nhiều chi phí cho ngân hàng việc xử lý các khoản

nợ.

- Nhân tố thuộc về quản lý vĩ mô của Nhà nước:

Đó là sự quản lý vĩ mô của nhà nước và các cơ quan chức năng trong việc

khuyến khích hay hạn chế phát triển một ngành nghề hay một lĩnh vực nào đó. Nó

là kim chỉ nam cho tất cả các hoạt động kinh doanh trong tất cả các lĩnh vực của nền

kinh tế. Một sự thay đổi nhỏ trong cơ chế, chính sách của nhà nước ảnh hưởng rất

lớn đến hoạt động của nền kinh tế. Vì vậy, sự đồng bộ, đúng đắn và hợp lý trong

đường lối, chính sách sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngân hàng cũng

như của doanh nghiệp, gúp phần tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển

kinh tế.

- Môi trường kinh tế - xã hội:

Môi trường kinh tế – xã hội là đồng hoà các mối quan hệ về kinh tế và xã hội

khác tác động lên hoạt động của doanh nghiệp.

Sự biến động của nền kinh tế theo chiều hướng tốt hay xấu đều làm cho hoạt

động của ngân hàng và doanh nghiệp biến động theo, đặc biệt là trong nền kinh tế

hội nhập, sự cạnh tranh diễn ra rất gay gắt và quyết liệt.

Môi trường kinh tế – xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện cho lưu thông hàng ổhá,

thúc đẩy sản xuất phát triển, làm cho hoạt động tín dụng sẽ thuận lợi hơn. Kinh tế

phát triển ổn định khiến cho các luồng tài chính luân chuyển nhanh, hàng ổhá tiêu

thụ tốt và khả năng hoàn trả vốn của các doanh nghiệp được đảm bảo.

- Môi trường pháp lý:

30

Môi trường pháp lý bao gồm hệ thống luật pháp, các văn bản của nhà nước

ban hành liên quan đến hoạt động tín dụng của ngân hàng.

Bất kỳ một hoạt động nào trong xã hội đều nằm trong khuôn khổ của pháp

luật, đặc biệt là kinh doanh trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Một hệ thống pháp

luật đồng bộ, đầy đủ, thống nhất, ổn định sẽ có tác động rất lớn đến chất lượng hoạt

động tín dụng.

Nền kinh tế càng phát triển thì hệ thống các văn bản này càng phải hoàn

chỉnh để bắt kịp sự phát triển đú. Hệ thống các văn bản pháp luật của hoạt động

ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng có tác động hết sức mạnh mẽ

tới sự rủi ro trong hoạt động tín dụng hay bảo toàn vốn mà ngân hàng bỏ ra, trong

điều kiện các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng tuân thủ đúng các văn bản pháp luật

thì quan hệ tín dụng mới đem lại lợi ích cho các bên tham gia.

Chất lượng tín dụng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến, do đó muốn nâng cao

chất lượng tín dụng thì các ngân hàng phải nắm rõ được cơ chế tác động và mức độ

ảnh hưởng của từng nhân tố sẽ giúp ngân hàng tìm được giải pháp hữu hiệu nhất.

- Môi trường tự nhiên:

Những biến động bất khả kháng xảy ra trong môi trường tự nhiên như thiên tai

(hạn hán, lũ lụt, động đất...) hoả hạon làm ảnh hưởng tới hoạt động SXKD của

khách hàng, đặc biệt là các ngành có liên quan đến nông nghiệp, thuỷ sản, hải sản.

Vì vậy khi môi trường tự nhiên không thuận lợi thì doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó

khăn trong SXKD, từ đó ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của NHTM.

Tóm lại , qua nghiên cứu các lý luận cơ bản về hoạt động tín dụng của các

NHTM và các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ta thấy: tuỳ theo sự phát

triển, điều kiện kinh tế xã hội và sự hoàn thiện môi trường pháp lý, cũng như khả

năng quản lý, cơ sở vật chất, trình độ cán bộ của từng NHTM mà các nhân tố này có

anh hưởng khác nhau tới chất lượng tín dụng. Vấn đề cơ bản đặt ra là chúng ta phải

nắm chắc các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng và biêt vận dụng sáng tạo

sự ảnh hưởng của các nhân tố này trong hoàn cảnh thực tế. Từ đó tìm ra được

những biện pháp quản lý có hiệu quả để củng cố nâng cao chất lượng tín dụng, hạn

chế đến mức thấp nhất rủi ro , sẽ tạo điều kiện cho thành công của hoạt động tín

31

dụng nói riêng cũng như toàn bộ hoạt động NHTM nói chung.

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

TẠI NGÂN HÀNG TMCP CT VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÙNG VƯƠNG

2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công Thương

VN - Chi nhánh Hùng Vương

2.1.1. Lịch sử hình thành của Ngân hàng TMCP Công Thương VN - Chi

nhánh Hùng Vương

Vietinbank Hùng Vương được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân

hàng Nhà nước Việt Trì, hoạt động theo mô hình quản lý tập trung dưới sự điều

hành từ trụ sở chính Vietinbank. Với chức năng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ,

tín dụng và dịch vụ ngân hàng đối với các thành phần kinh tế và dân cư trên địa bàn.

Trụ sở chính Chi nhánh tại : Số 806 , Đường Hùng Vương, Phường Thanh

Miếu, Thành phố Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ.

Trải qua 23 năm hình thành và phát triển, Vietinbank Hùng Vương không

ngừng đổi mới các hoạt động kinh doanh, dịch vụ để thích ứng với nền kinh tế thị

trường. Bằng sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên, đồng thời được sự chỉ

đạo của Vietinbank, Vietinbank Hùng Vương đã tự đổi mới để hoàn thiện và phát

triển, mở rộng quy mô kinh doanh.

* Các nghiệp vụ chủ yếu của Vietinbank Hùng Vương

- Huy động vốn bằng đồng Việt Nam đồng và ngoại tệ với nhiều hình thức

như tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi

với lãi suất hấp dẫn và phương thức thanh toán linh hoạt.

- Đầu tư vốn tín dụng bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với lãi suất thích hợp:

Cho vay ngắn hạn, trung dài hạn và cho vay chiết khấu các loại giấy tờ có giá, cho

vay tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay các chương trình chỉ định của chính phủ

- Bảo lãnh bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ: Bảo lãnh thư Tín dụng hoặc tái

bảo lãnh tín dụng, bảo lãnh đấu thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thưc hiện hợp

32

đồng

- Thanh toán bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ: Thanh toán chuyển tiền điện

tử trong nước, thanh toán qua mạng SWIFT, thánh toán L/C..; Cung ứng các dịch

vụ thẻ, chi trả tiền lương cho các tổ chức, doanh nghiệp; chi trả kiều hối....

2.1.2. Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực Vietinbank Hùng Vương

Phó Giám đốc

Phó Giám đốc

hh

Giám đốc

Phòng Tổng hợp Phòng Tổ chức - Hành chính Phòng Tiền tệ Kho quỹ Phòng Kế toán - Tài chính Phòng Khách hàng Cá nhân 07 Phòng giao dịch Phòng Khách hàng Doanh nghiệp

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Vietinbank Hùng Vương

- Phòng Khách hàng Doanh nghiệp: Có nhiệm vụ Khai thác và quản lý vốn huy

động từ khách hàng Doanh nghiệp; thẩm định, tái thẩm định, đề xuất cấp tín dụng

và quản lý các khoản tín dụng đã cấp đối với Khách hàng Doanh nghiệp; Quản lý và

xử lý nợ có vấn đề; thực hiện các nghiệp vụ tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế,

mua – bán, chuyển đổi ngoại tệ phục vụ khách hàng của chi nhánh; Tiếp thị, chăm

sóc khách hàng, từ vấn cho khách hàng về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng…

- Phòng Khách hàng Cá nhân: Có nhiệm vụ Khai thác và quản lý vốn huy động từ

khách hàng Cá nhân; thẩm định, tái thẩm định, đề xuất cấp tín dụng và quản lý các

khoản tín dụng đã cấp đối với Khách hàng Cá nhân, hộ gia đình; Quản lý và xử lý

nợ có vấn đề; Quản lý kiểm tra giám sát hoạt động của Phòng giao dịch; Tiếp thị,

33

chăm sóc khách hàng, từ vấn cho khách hàng về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng.

- Phòng Kế toán Tài chính: Thực hiện các giao dịch kế toán, thanh toán với khách

hàng; Cung cấp các sản phảm dịch vụ ngân hàng liên qua đến nghiệp vụ thanh toán

và nghiệp vụ khác; Tiếp nhận Hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ từ Phòng Khách

hàng, thực hiện kiểm soát hạch toán giải ngân, thu nợ, thu lãi, tất toán khoản vay và

quản lý, lưu giữ hồ sơ theo quy định; Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến việc

cung cấp sản phẩm thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử cho các khách hàng; Kiểm soát

sau các đối với tất cả các giao dịch tài chính đã phát sinh tại đơn vị hàng ngày,

tháng, quý, năm; thực hiện nghiệp vụ và các công tác liên quan đến quản lý tài

chính tại chi nhánh.

- Phòng Tổng hợp: Tham mưu cho Ban giám đốc về lãi suất huy động, lãi suất cho

vay, chiến lược phát triển kinh doanh của chi nhánh; tổng hợp phân tích đánh giá

tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh, thực hiện báo cáo tổng hợp, lưu trữ

số liệu hoạt động chung toàn chi nhánh.

- Phòng Tiền tệ kho quỹ: quản lý toàn bộ tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá, ấn chỉ

quan trọng, hồ sơ tài sản bảo đảm; Điều hành và sử dụng tiền mặt tiết kiệm, hiệu

quả; tổ chức thu, chi, giao, nhận, điều chuyển tiền mặt đáp ứng tốt nhu cầu giao

dịch của khách hàng.

- Các phòng giao dịch: tại chi nhánh có 07 phòng giao dịch nằm trên địa bàn thành

phố Việt Trì, trong đó có 01 PGD loại 1 và 06 PGD loại 2. Chức năng nhiệm vụ

chung của PGD là: Thực hiện hầu hết các nghiệp vụ ngân hàng theo sự phân cấp uỷ

quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương và Giám đốc chi nhánh và

quy định có liên quan của NHNN Việt Nam bao gồm: Thực hiện nghiệp vụ tín

dụng, huy động vốn, cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Riêng đối với phòng GD loại

2 chỉ được thực hiện nghiệp vụ tín dụng đối với khách hàng là hộ gia đình, cá nhân,

cho vay có bảo đảm bằng 100 số dư tiền gửi, sổ tiết kiệm và giấy tờ có giá do

34

NHCT hoặc tổ chức khác phát hành trong danh mục quy định từng thời kỳ.

Bảng 2.1: Cơ cấu cán bộ tại chi nhánh

Chỉ tiêu Số lượng CB Tỷ lệ / Tổng CB

Tổng số CB tại Chi nhánh 86

1, Độ tuổi

- Dưới 30 tuổi 45 52,3%

- Từ 30 đến 45 tuổi 28 32,6%

- Trên 45 tuổi 13 15,1%

2, Trình độ chuyên môn

- Đại Học 80 93%

- Trên Đại học 6 7%

3, Kinh nghiệm công tác

- Dưới 3 năm 25 29,1%

- Từ 3 năm đến 5 năm 26 30,2%

- Trên 5 năm 35 40,7%

20,9% 18 4, Cán bộ làm công tác Tín dụng

(Nguồn: Phòng Tổ chức HC - Vietinbank Hùng Vương)

Tính đến thời điểm 31/12/2012, Vietinbank Hùng Vương có tổng số 86 cán

bộ, nhân viên là các chuyên gia tư vấn tài chính được đào tạo bài bản, có kinh

nghiệm.Trong đó, Ban Giám đốc có Giám đốc và 02 Phó Giám đốc. Đội ngũ lãnh

đạo cấp Phòng có 18 cán bộ. Cán bộ, nhân viên là nữ chiếm gần 70%. Lực lượng

lao động chủ yếu ở độ tuổi trẻ với độ tuổi bình quân là 34. So với các NHTM trên

địa bàn, quy mô lao động của Vietinbank Hùng Vương được xếp thứ 5. Trình độ

cán bộ, nhân viên ngày càng nâng cao, năm 2010 trình độ đại học trở lên chiếm

90%, nhưng đến 2012 đã nâng lên 100% trên tổng số cán bộ, nhân viên, trong đó có

6 cán bộ có trình độ sau đại học. Đội ngũ cán bộ ngày càng được trẻ hoá, đến nay

lực lượng lao động có độ tuổi dưới 30 chiếm 52,3%; từ 30 đến 45 tuổi chiếm

32,6%, từ trên 45 tuổi chiếm 15,1%.

Trong việc phân bổ nguồn nhân lực cho các phòng nghiệp vụ cho thấy số

35

lượng lao động đang làm việc trong nghiệp vụ Tín dụng , là nghiệp vụ trực tiếp

kinh doanh mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, chiếm tỷ lệ thấp so với tổng số cán

bộ, nhân viên toàn chi nhánh (18 cán bộ chiếm 20,9% tổng số cán bộ, nhân viên tại

chi nhánh) . Trong khi đó, khối quản lý nội bộ là 28 cán bộ, có tỷ trọng chiếm đến

32,6%.

2.1.3. Kết quả hoạt động chủ yếu của Vietinbank Hùng Vương trong

những năm gần đây :

Về cơ bản, một Ngân hàng hiện đại luôn hoạt động với ba nghiệp vụ kinh

doanh chính đó là: nghiệp vụ tài sản nợ (nghiệp vụ huy động vốn); nghiệp vụ tài sản

có (nghiệp vụ Tín dụng) và nghiệp vụ cung ứng dịch vụ Ngân hàng. Ba nghiệp vụ

này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy

tín và thế mạnh cạnh tranh cho NHTM. Nhận thức được điều đó, Chi nhánh đã vượt

qua mọi khó khăn trở ngại bằng ý chí vươn lên, không ngừng đổi mới tăng cường

các biện pháp mở rộng kinh doanh với phương châm “Phát triển - An toàn - Hiệu

quả - Chất lượng”, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của chính quyền địa phương cũng

như sự tín nhiệm của khách hàng, nên trong thời gian qua Chi nhánh đã đạt được

những thành tích đáng khích lệ trên các mặt hoạt động kinh doanh Ngân hàng, cụ

thể như sau:

2.1.3.1. Tình hình huy động vốn :

Trong công tác huy động vốn, mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng từ những biến

động của thị trường trong nước và thị trường quốc tế, lãi suất huy động vốn không

cao so với mặt bằng chung của các NHTM khác hoạt động trên cùng địa bàn.

Nhưng do thường xuyên coi trọng yếu tố chất lượng dịch vụ và có những biện pháp

kết hợp tốt chính sách khách hàng đồng thời phối hợp nhiều giải pháp đồng bộ để

tăng cường huy động vốn như: mở rộng mạng lưới các phòng giao dịch, mạng lưới

máy rút tiền tự động, cung cấp các dịch vụ ngân quỹ, truy vấn thông tin tài khoản

của khách hàng qua điện thoại, mạng Internet, … đa dạng nhiều hình thức huy động

vốn, áp dụng các tài khoản đầu tư tự động đối với các doanh nghiệp có số dư tiền

gửi thanh toán lớn …. nên nguồn vốn huy động của Chi nhánh trong những năm

36

qua tăng trưởng tốt đảm bảo được cân đối một

phần vốn cung cho hoạt động kinh doanh. Ta có thể nhận thấy sự tăng trưởng này

rõ hơn qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo loại tiền. Đơn vị: Tỷ đồng

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Chỉ tiêu Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng Số dư Tỷ trọng

100% 1.285 100% 909 100% 485 N/vốn huy động

86% 82 % 73% + Bằng VND 1.105 745 354

14% 180 18 % 164 27% 131 +USD,EUR (quy

đổi VND)

(Nguồn: BC tổng kết HĐKD của Vietinbank Hùng Vương năm 2010, 2011,2012)

Qua bảng số liệu trên ta thấy cơ cấu nguồn vốn huy động có những biến đổi

đáng kể. Nguồn vốn huy động bằng VND tăng trưởng ổn định đều qua các năm kể

cả về số dư và tỷ trọng : năm 2011 là 745 tỷ đồng (tăng 391 tỷ đo với năm 2010,

chiếm 82% tổng nguồn vốn huy động), năm 2012 là 1.105 tỷ đồng (tăng 360 tỷ

đồng, chiếm 86% tổng nguồn vốn). Ngược lại tỷ trọng nguồn vốn huy động bằng

USD, EUR năm 2010 chiếm 27%, nhưng đến năm 2011 là 18% và đến năm 2012

chỉ chiếm 14 %. Nguyên nhân là do các năm gần đây tình hình thanh khoản banừg

ngoại tệ khan hiếm, nên nền kinh tế còn thiếu hụt ngoại tệ cho SXKD dẫn đến việc

huy động nguồn vốn ngoại tệ khó khăn hơn. Tuy nhiên xét về mặt số dư tuyệt đối

thì chi nhánh đã rất tích cực để tăng trưởng được ngồn vốn huy động này: năm 2011

37

là 164 tỷ đồng, tăng 33 tỷ đồng, năm 2012 là 184 tỷ đồng, tăng 26 tỷ đồng.

Bảng 2.3: Cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo loại hình kinh tế. Đơn vị: Tỷ đồng

Năm 2011 Năm 2012

So với So với Chỉ tiêu Số dư Năm 2010 Số dư năm 2011 năm 2010

61 51 51 10 0 - TG các TCKT

4,7 Tỷ trọng(%) 10,5 5,6 -0,9 -4,9

434 603 727 169 124 - TG của dân cư

Tỷ trọng(%) 56,6 89,5 67,9 -11,3 -21,6

497 0 255 242 255 - TG của các tổ chức khác

38,7 Tỷ trọng(%) 0 28,1 10,6 28,1

424 376 Tổng NV 485 909 1.285

(Nguồn: BC tổng kết HĐKD của Vietinbank Hùng Vương năm 2010, 2011,2012)

- Tiền gửi các TCKT: Nguồn vốn huy động từ các TCKT của chi nhánh chiếm

tỷ thấp và có xu hướng giảm dần. Nếu năm 2010 nguồn này chiếm tỷ trọng 10,5%

thì đến thì đến năm 2012 tỷ trọng này chỉ còn 4,7% với số dư chỉ tăng 10 tỷ đồng

so với năm 2010. Nguyên nhân là do các năm vừa qua tình hình kinh tế khó khăn đã

làm các doanh nghiệp phải thắt chặt chi tiêu, hạn chế mở rộng SXKD, tăng cường

quay vòng vốn để tăng hiệu quả kinh doanh nên nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi thấp,

nên nguồn vốn huy động từ nguồn này rất khó tăng trưởng. Nguồn vốn này có đặc

điểm là chi phí lãi suất thấp nhưng tính ổn định thường không cao.

- Tiền gửi của dân cư: Đến năm 2010 nguồn vốn huy động từ dân cư là 434 tỷ

đồng, nguồn vốn này liên tục tăng từ năm 2010 đến 2012 tuy nhiên tỷ trọng lại

giảm qua các năm do chi nhánh phải kết hợp tăng trưởng huy động các tổ chức khác

để đảm bảo kế hoạch kinh doanh. Nhìn chung nguồn vốn huy động từ tiền gửi dân

cư của Chi nhánh có bước tiến phù hợp với chủ trương và định hướng của Ban lãnh

đạo chi nhánh. Về lâu dài cần đẩy mạnh tăng trưởng nguồn tiền gửi từ dân cư vì đây

là nguồn tiền gửi có tính ổn định cao và bán chéo được nhiều sản phẩm dịch vụ đi

38

kèm hướng tới một thị trường bán lẻ đầy tiềm năng.

- Nguồn tiền gửi của các tổ chức khác những năm trước thường chiếm tỷ trọng

rất nhỏ, trong năm 2012 nguồn tiền này tăng lên và đạt mức 497 tỷ đồng (tương

đương 38,7% tổng nguồn) chủ yếu từ tiền gửi của Bảo hiểm xã hội. Chi nhánh cũng

đang tích cực hợp tác với Kho bạc Nhà nước tỉnh Phú Thọ, Chi cục Hải Quan, chi

cục thuế Tỉnh Phú thọ về việc thu Ngân sách Nhà nước, phí, lệ phí,...để đầy mạnh

ngồn huy động từ những tổ chức này vì đây là nguồn lớn, chi phí khá rẻ.

Bảng 2.4: Nguồn vốn huy động phân theo thời gian Đơn vị: Tỷ đồng

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Chỉ tiêu Tỷ Tỷ Tỷ Số dư Số dư Số dư trọng trọng trọng

Tổng Nguồn vốn 100% 100% 485 909 100% 1.285 huy động

+ TG không kỳ hạn 85 17,5% 136 15% 164 12,8%

+ TG kỳ hạn < 12 360 74,2% 725 79,7% 1.049 81,6% tháng

+ TG kỳ hạn >= 12 40 8,3% 48 5,3% 72 5,6% tháng

(Nguồn: BC tổng kết HĐKD của Vietinbank Hùng Vương năm 2010, 2011,2012)

Thông qua bảng 2.4 ta thấy:

- Tiền gửi không kỳ hạn tăng trưởng không nhiểu cụ thể: Năm 2010 tiền gửi

không kỳ hạn là 85 tỷ đồng (chiếm 17,5% ), đến năm 2011 là 136 tỷ đồng (chiếm

15%) và đến năm 2012 là 164 tỷ đồng, tỷ lệ là 12,8%. Như vậy có thể thấy tỷ lệ

nguồn huy động này chiếm tỷ trọng không cao và có chiều hướng sụt giảm trong

năm qua. Điều này sẽ gây bất lợi cho Chi Nhánh vì nguồn tiền gửi không kỳ hạn

có chi phí vốn nhỏ nhất so với các nguồn huy động theo thời hạn khác.

- Tiền gửi kỳ hạn < 12 tháng: Năm 2010 là 360 tỷ đồng, đến năm 2011 là 725

39

tỷ đồng và đến năm 2012 là 1.049 tỷ đồng. Như vậy lượng tiền gửi kỳ hạn < 12

tháng mà Chi nhánh huy động được liên tục tăng qua các năm.

* Tiền gửi kỳ hạn > 12 tháng: Lượng tiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng những năm

qua rất thấp do lãi suất gửi dài hạn thường không chênh lệch nhiều so với lãi suất

tiền gửi ngắn hạn , thậm chí có thời điểm thấp hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn dưới

12 tháng do sự biến động về lãi suất thời gian qua thường xuyên xảy ra nên xu

hướng các NHTM không quá chủ trọng vào việc huy động kỳ hạn dài nhằm hạn chế

rủi ro về lãi suất đầu vào. Mặt khác do tình hình kinh tế không ổn định, lạm phát

cao nên ảnh hưởng đến tâm lý người gửi tiền, họ thường chọn gửi những kỳ hạn

thấp để hưởng ưu đãi về lãi suất và có thể dễ dàng hơn trong việc rút tiền để tìm

kiếm kênh đầu tư khác.

Như vậy, Nguồn vốn huy động tại Chi nhánh những năm qua tăng trưởng đều và

có sự chuyển dịch về cơ cấu nguồn huy động. Hiện nay, nguồn vốn huy động ổn định

thường xuyên của Chi nhánh cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư. Việc tăng

nguồn vốn huy động tại chỗ kéo theo chi phí đầu vào của Chi nhánh giảm và làm tăng

chênh lệch thu chi của chi nhánh, đồng thời Chi nhánh cũng chủ động được vốn để đầu

tư, mà không phụ thuộc vào nguồn vốn của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.

Trên đây là những nét khái quát về cơ cấu nguồn vốn huy động và mức biến

động của từng loại nguồn vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam – Chi

nhánh Hùng Vương.

2.1.3.2. Hoạt động cho vay và đầu tư vốn.

Cũng như bất kỳ một NHTM nào, công tác đầu tư, cho vay luôn giữ vai trò

chủ đạo trong hoạt động kinh doanh của Chi nhánh, bởi vì đây là hoạt động đem lại

phần thu nhập chính cho Chi nhánh.

Trong năm vừa qua, với bối cảnh môi trường đầu tư hết sức khó khăn do sự

cạnh tranh quyết liệt của các NHTM khác trên cùng địa bàn, Vietinbank Hùng

Vương đã đặt ra và quyết tâm phấn đấu nhằm đạt mục tiêu: “Đưa dư nợ tăng trưởng

một cách lành mạnh, vững chắc”. Chi nhánh đã triển khai đồng bộ nhiều biện pháp

tích cực, chủ động bám sát doanh nghiệp, phân tích kỹ những khó khăn thuận lợi và

40

dự đoán những vấn đề có nguy cơ xảy ra làm tổn hại đến Chi nhánh nhằm hạn chế

rủi ro đến mức thấp nhất, nhưng đồng thời vẫn tạo mọi thuận lợi cho các doanh

nghiệp tiếp cận với đồng vốn của ngân hàng. Và quan trọng hơn là đồng vốn của

Ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, cải tiến kỹ thuật,

nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động... đồng thời tăng trưởng

được lợi nhuận của chi nhánh, nâng cao đời sống người lao động.

Với nỗ lực tiếp thị tìm kiếm khách hàng, đa dạng hoá các sản phẩm tín dụng,

áp dụng linh hoạt các chính sách ưu đãi lãi suất hỗ trợ khách hàng vay vốn, dư nợ

của Chi nhánh qua các năm có sự tăng trưởng khá cao: năm 2011 tăng 196 tỷ đồng,

năm 2012 tăng 353 tỷ đồng so với năm trước.

* Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời hạn cho vay :

Việc phân chia dư nợ theo thời hạn vay có ý nghĩa khá quan trọng đối với ngân

hàng vì thời hạn khoản vay liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín

dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng.

Cơ cấu dư nợ theo thời hạn vay tại chi nhánh được thể hiện tại bảng 2.5 dưới

đây :

Bảng 2.5: Cơ cấu tín dụng theo thời hạn cho vay: Đơn vị: Tỷ đồng

Năm 2011 Năm 2012

Năm 2010 So với So với Chỉ tiêu Số dư Số dư 2011 2010

- Dư nợ ngắn hạn 265 322 57 478 156

Tỷ trọng (%/tổng dư nợ) 44 40,3 41,5 -3,7 1,2

- Dư nợ trung, dài hạn 337 476 145 673 197

Tỷ trọng (%/tổng dư nợ) 56 59,7 58,5 3,7 -1,2

Tổng dư nợ: 602 798 1.151 353 196

(Nguồn: BC tổng kết HĐKD của Vietinbank Hùng Vương năm 2010, 2011,2012)

Dư nợ trung dài hạn năm 2012 có xu hướng giảm tỷ trọng trên tổng dư nợ so

41

với năm trước (58,5% giảm so với năm 2011 là 1,2%,). Mặc dù nguồn vốn này

thường có mức lãi suất cao, tạo nên nguồn thu nhập khá ổn định, nhưng việc giảm

tỷ trọng dư nợ trung dài hạn của chi nhánh phù hợp với chủ trương của Ngân hàng

TMCP Công thương Việt Nam giai đoạn hiện nay là giảm tỷ lệ cho vay trung dài

hạn về một mức hợp lý để hạn chế rủi ro về thời hạn thanh khoản do phải sử dụng

nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn. Tuy nhiên xét về tỷ lệ cho vay trung

dài hạn hiện tại vẫn còn ở mức cao.

* Cơ cấu tín dụng theo loại hình kinh tế và ngành kinh tế:

Thực hiện chủ trương của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, xác

định khách hàng là trung tâm của mọi chính sách do Ngân hàng xây dựng, Chi

nhánh đã triển khai Chương trình tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ, Doanh nghiệp

vi mô, Cho vay tiêu dùng, cho vay trả góp, thẻ tín dụng...

Bảng 2.6: Cơ cấu tín dụng theo loại hình kinh tế : Đơn vị: Tỷ đồng

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Loại hình kinh tế

Tỷ trọng

Tỷ trọng

Tỷ trọng

Dư nợ

Dư nợ

Dư nợ

(%)

(%)

(%)

- DNNN 213 225 308 35,3 28,2 26,8

- DN ngoài NN 220 392 609 36,6 49,1 52,9

- Cá nhân, hộ gia đình 169 181 234 28,1 22,7 20,3

Tổng dư nợ: 602 100 798 100 1.151 100

(Nguồn: BC tổng kết HĐKD của Vietinbank Hùng Vương năm 2010, 2011,2012)

Từ bảng 2.6 cho ta thấy rằng tỷ trọng dư nợ cho vay khối DNNN có xu hướng

giảm từ 35,3 % /tổng dư nợ năm 2010 xuống 26,8% năm 2012. Ngược lại tỷ trọng

cho vay khách hàng DN ngoài nhà nước đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ từ cả về tỷ

trọng và dư nợ (năm 2010 dư nợ của đối tượng khách hàng này là 220 tỷ đồng, tỷ

trọng 36,6% đến năm 2012 đã đạt dư nợ 609 tỷ đồng (tăng 389 tỷ đồng, tỷ trọng đạt

42

55,1 %).

Dư nợ cho vay khách hàng cá nhân nhìn chung không tăng trưởng được nhiều

về dư nợ, chiếm tỷ trọng ngày càng nhỏ cho thấy hoạt động tín dụng của chi nhánh

vẫn tập trung vào đối tượng khách hàng doanh nghiệp và chưa thực sự chú ý đẩy

mạnh công tác bán lẻ.

Bảng 2.7: Cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế: Đơn vị: Tỷ đồng

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Ngành kinh tế

Tỷ trọng

Tỷ trọng

Tỷ trọng

Dư nợ

Dư nợ

Dư nợ

(%)

(%)

(%)

- Công nghiệp 253 401 634 42 50,3 55,1

- Xây dựng 20 28 55 3,3 3,5 4,8

- Thương nghiệp 68 73 110 11,3 9,2 9,6

- Vận tải, kho bãi 86 57 68 14,3 7,1 5,9

- Cho vay tiêu dùng 144 155 182 23,9 19,4 15,8

- Ngành khác 31 84 102 5,2 10,5 8,8

Tổng dư nợ: 602 100 798 100 1.151 100

(Nguồn: BC tổng kết HĐKD của Vietinbank Hùng Vương năm 2010, 2011,2012)

Tuỳ vào tình hình kinh tế xã hội từng thời kỳ, chính sách tín dụng của Nhà nước

cũng như của Vietinbank và Chi nhánh mà cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế cũng có

xu hướng thay đổi theo. Dư nợ giai đoạn 2010-2012 của Chi nhánh chủ yếu tập trung

vào các ngành công nghiệp sản xuất, thương nghiệp.. Trong đó ngành sản xuất Công

nghiệp có xu hướng tăng nhanh cả về số tuyệt đối và tỷ trọng, chủ yếu do năm 2012

chi nhánh đã đầu tư vào 1 số đơn vị lớn như Công ty CP Hoá chất Việt Trì, Công ty

CP Giấy Việt Trì và một số đơn vị sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu...

Ngành xây dựng là một trong những ngành thuộc diện hạn chế cấp Tín dụng

trong giai đoạn hiện nay nên chi nhánh không tập trung tăng trưởng nhiều, ngành

43

này không biến động nhiều cả về số dư nợ và tỷ trọng cho vay.

2.1.3.3 Hoạt động dịch vụ Ngân hàng:

Bảng 2.8: Doanh số hoạt động dịch vụ ngân hàng:

Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

- Doanh số thanh toán Triệu USD 4,5 6,7 7,1 xuất, nhập khẩu

- Doanh số mua bán ngoại tệ Triệu USD 4,9 5,5 6

- Phát hành thẻ nội địa Thẻ 15.389 22.941 17.865

- Đăng ký sử dụng các dịch Lượt 2.300 2.800 4.500 vụ ngân hàng điện tử

(Nguồn: BC tổng kết HĐKD của Vietinbank Hùng Vương năm 2010, 2011,2012)

Nhìn chung , hoạt động dịch vụ của chi nhánh cũng có sự tăng trưởng khá.

Năm 2012, doanh số thanh toán xuất nhập khẩu đạt 7,1 triệu USD, tăng 57% so với

năm 2010; doanh số mua bán ngoại tệ đạt 6 triệu USD; tuy nhiên doanh số hoạt

động các dịch vụ này vẫn còn thấp, một phần do tại địa phương ít có các doanh

nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu, quy mô hoạt động của các doanh nghiệp này

thường không lớn.

Số thẻ ghi nợ nội địa phát hành trong năm 2012 là hơn 17 ngàn thẻ (trong đó

có khoảng 4 ngàn thẻ phát hành thay thế thẻ cũ), được duy trì ở mức độ khá so với

các NHTM khác trên địa bàn.

Dịch vụ ngân hàng điện tử có sự tăng trưởng do Vietinbank Hùng Vương phát

động phong trào quảng bá tại các máy rút tiền tự động của chi nhánh. Số lượng

khách hàng đăng ký mới dịch vụ SMS banking và internet banking năm 2012 là

44

4.500 lượt khách hàng.

2.1.3.4. Kết quả kinh doanh:

Bảng 2.9: Kết quả kinh doanh của Vietinbank Hùng Vương Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

- Tổng thu nhập 120 180 209

- Tổng chi phí 97 154 180

- Lợi nhuận 26 26 29

- Tỷ lệ chi phí / thu nhập 80,8% 85,7% 86,1%

(Nguồn: BC tổng kết HĐKD của Vietinbank Hùng Vương năm 2010,

2011,2012)

Kết quả kinh doanh của Vietinbank Hùng Vương thời gian qua khá hiệu quả.

Doanh thu và lợi nhuận có sự tăng trưởng hàng năm. Tuy nhiên tỷ lệ chi phí qua

các năm đều tăng do 2 năm vừa qua lãi suất cho vay liên tục giảm, chênh lệch giữa

lãi suất huy động và cho vay ngày càng thu hẹp, mặt khác việc đầu tư cho công tác

tiếp thị, quảng cáo, khuyến mại để thu hút khách hàng gửi tiền cũng làm cho chi phí

tăng cao.

2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng tại Vietinbank Hùng Vương

2.2.1. Quy mô tín dụng tại Vietinbank Hùng Vương

Quy mô tín dụng Năm 2010 tổng dư nợ là 602 tỷ đồng, năm 2011 là 798 tỷ

đồng và năm 2012 dư nợ đạt 1.151 tỷ đồng.

Hoạt động cho vay của Vietinbank Hùng Vương đã không ngừng tăng trưởng

và mở rộng, chi nhánh đã rất tích cực tìm các biện pháp chủ động tiếp cận, thẩm

định khách hàng và áp dụng các phương thức linh hoạt để thu hút khách hàng vay

vốn. Tốc độ tăng trưởng quy mô tín dụng cũng như chiếm lĩnh thị phần tín dụng

45

trên địa bàn của chi nhánh được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.10: Thị phần dư nợ Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu/năm Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

602 798 1.151 - Dư nợ của Vietinbank Hùng Vương

20,1 32,5 44,2 Tốc độ tăng trưởng dư nợ (%)

- Tổng dư nợ trên địa bàn 14.714 17.263 20.626

Tốc độ tăng trưởng dư nợ (%) 17,9 17,3 19,5

-Thị phần Dư nợ của Chi nhánh (%) 4,1 4,6 5,6

(Nguồn: Phòng Tổng hợp Ngân hàng Nhà nước VN -CN tỉnh Phú Thọ)

Tốc độ tăng trưởng dư nợ của Chi nhánh 3 năm gần đây khá cao năm 2011 là

32,% % cao hơn tốc độ tăng trưởng trên địa bàn 15,2%, năm 2012 là 44,2% cao hơn

tốc độ tăng trưởng trên địa bàn 24,7%. Tốc độ tăng trưởng trên là phù hợp với kế

hoạch cấp trên giao cho chi nhánh do tại địa bàn tỉnh Phú Thọ thị phần của

Vietinbank Hùng Vương còn thấp đến năm 2012 tỷ trọng dư nợ mới đạt 5,6% tổng

dư nợ toàn địa bàn tỉnh. Nguyên nhân một phần do thị phần dư nợ tỉnh Phú thọ nhỏ

nhưng đã có đến 11 hệ thống NHTM và 3 TCTD khác hoạt động, trong đó chỉ tính

riêng Vietinbank đã có tới 4 chi nhánh cùng hoạt động trên địa bàn (Chi nhánh

Hùng Vương, Chi nhánh Phú Thọ, Chi nhánh Đền Hùng, Chi nhánh Thị xã Phú

Thọ).

Với sự cạnh tranh thu hút khách hàng ngày càng gay gắt, đặc biệt trong lĩnh

vực tín dụng nên tăng trưởng thị phần cũng là một nhiệm vụ khá khó khăn.

2.2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng tại Vietinbank Hùng Vương

Qua phân tích số liệu ở trên, ta thấy quy mô hoạt động tín dụng tại Chi nhánh

tăng trưởng khá mạnh qua các năm từ 2010 đến 2012 với tốc độ tăng trưởng bình

quân trên 30%/năm. Bên cạnh đó, Chi nhánh không ngừng tăng cường mở rộng

quan hệ với những khách hàng mới, thu hút những khách hàng có tình hình hoạt

động tốt, Cơ cấu tín dụng theo đối tượng khách hàng, theo thành phần kinh tế có

46

những biến chuyển theo hướng tích cực.

Tuy nhiên, tăng trưởng quy mô tín dụng chưa thể khẳng định chất lượng tín

dụng tại Vietinbank . Sau đây, ta sẽ đi phân tích thực trạng chất lượng tín dụng tại

Vietinbank Hùng Vương.

2.2.2.1 Tình hình cho vay - thu nợ tại chi nhánh:

Bảng 2.11: Tình hình cho vay thu nợ Đơn vị: Tỷ đồng

Năm 2011 Năm 2012 Năm Chỉ tiêu So sánh So sánh 2010 Số dư Số dư với 2011 với 2010

1. Doanh số cho vay 568 1.065 739 171 326

- Ngắn hạn 473 808 555 82 253

- Trung dài hạn 95 257 184 89 73

2. Doanh số thu nợ 220 712 169 543 323

- Ngắn hạn 301 652 498 197 154

- Trung dài hạn 22 60 45 23 15

3. Dư nợ 602 196 1.151 353 798

- Ngắn hạn 265 478 322 157 156

- Trung dài hạn 337 673 476 139 197

(Nguồn: Phòng Kế toán Tài chính- Vietinbank Hùng Vương)

- Doanh số cho vay nền kinh tế tại Vietinbank Hùng Vương năm 2012 là:

1.065 tỷ đồng, tăng 44,11 % so với năm 2011. Trong đó :

- Doanh số cho vay ngắn hạn : 808 tỷ đồng chiếm 75,9% tổng doanh số cho

vay, tăng 253 tỷ đồng, tốc độ tăng 45,6% so với năm 2011.

- Doanh số cho vay trung và dài hạn : 257 tỷ đồng, chiếm 24,1% tổng doanh số

cho vay và tăng 73 tỷ đồng , tỷ lệ tăng 39,6 % so với năm 2011.

- Doanh số thu nợ tại Vietinbank Hùng Vương năm 2012 là 712 tỷ đồng, tăng

169 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 31,1% so với năm 2011.

Dư nợ tại Chi nhánh có xu hướng tăng khá, năm 2012 tổng dư nợ đạt 1.151 tỷ

47

đồng, tăng 44,2% so với năm 2011.

Giai đoạn năm 2010-2012 là giai đoạn hoạt động của Vietinbank Hùng Vương

đã có những bước phát triển mang tính đột phá, đặc biệt là trong công tác tín dụng,

biểu hiện cụ thể ở các khía cạnh sau: Dư nợ tín dụng tăng trưởng cao (bình quân 32

%/năm). Chỉ sau 3 năm, dư nợ tín dụng năm 2012 tăng gần gấp 2 lần so với năm

2010. Bên cạnh đó, doanh số cho vay cũng có sự tăng trưởng cao: đạt 1.065 tỷ

đồng, tốc độ tăng tương đối tốt (30,1% năm 2011 và 44,2% năm 2012) cho thấy

Chi nhánh đã rất nỗ lực mở rộng quy mô tín dụng.

2.2.2.2.Tình hình nợ xấu, nợ quá hạn:

Để đánh giá chính xác chất lượng tín dụng, ta cần xem xét chính xác về nợ quá

hạn, nợ xấu tình hình diễn biến tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu từ năm 2010 đến năm 2012

được phản ánh trên bảng số liệu sau:

Bảng 2.12: Phân loại nợ theo nhóm nợ Đơn vị: Tỷ đồng

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Chỉ tiêu Dư nợ Tỷ trọng Dư nợ Tỷ trọng Dư nợ Tỷ trọng

- Nợ nhóm 1 587.8 780 97.6% 97.7% 97.3%

- Nợ nhóm 2 3.3 4.5 1,119.5 6.4 0.5% 0.6% 0.6%

- Nợ Nhóm 3 2 4.9 7.2 0.3% 0.6% 0.6%

- Nợ Nhóm 4 1.3 1.1 3.7 0.2% 0.1% 0.3%

- Nợ Nhóm 5 7.6 7.5 14.2 1.3% 0.9% 1.2%

Tổng dư nợ 798 602 100% 100% 1,151 100%

(Nguồn: BC tổng kết HĐKD của Vietinbank Hùng Vương năm 2010, 2011,2012)

Qua bảng số liệu phân loại nợ cho thấy nợ nhóm 1 của chi nhánh chiếm tỷ

trọng cao và khá ổn định qua các năm, năm 2012 tỷ lệ nợ tại các nhóm nợ khác

cũng không có sự thay đổi nhiều nhưng nợ nhóm 5 tăng 0,3 % so với năm 2011

chủ yếu do nợ quá hạn tồn đọng từ các năm trước .

Một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của chi

48

nhánh là nợ xấu, nợ quá hạn sẽ được phân tích dưới đây.

Bảng 2.13: Nợ xấu, nợ quá hạn Đơn vị : Tỷ đồng

Năm 2011 Năm 2012 Năm

2010 Chỉ tiêu Số dư So với Số dư So với

2010 2011

Tổng dư nợ 602 798 196 1,151 353

Nợ quá hạn 14.2 18 3.8 31.5 14

Tỷ lệ nợ quá hạn 2.4% 2.3% -0.1% 2.7% 0.5%

Nợ xấu (nhóm 3-> nhóm 5) 10.9 13.5 2.6 25.1 12

Tỷ lệ nợ xấu 1.81% 1.69% -0.12% 2.18% 0.49%

(Nguồn: BC tổng kết HĐKD của Vietinbank Hùng Vương năm 2010, 2011,2012)

Năm 2010, 2011 cùng với sự tăng trưởng nhanh của dư nợ thì tình hình nợ xấu

cũng được kiểm soát tốt, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu dao động ở mức an toàn cho

phép.

Tuy nhiên, tình hình khó khăn chung của nền kinh tế nước ta trong năm 2012

đã đánh dấu một năm cực kỳ khó khăn trong hoạt động ngân hàng cũng đã chi phối

toàn bộ hoạt động tín dụng của Chi nhánh. Nợ quá hạn thời điểm cuối năm là 31,5

tỷ đồng, chiếm 2,7% tổng dư nợ; nợ xấu của chi nhánh là 25,1 tỷ đồng, chiếm

2,18% tổng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu tăng 0,49% so với năm 2011, tuy nhiên xét về số dư

nợ quá hạn tăng khá cao 14 tỷ đồng, trong đó nợ xấu tăng 12 tỷ đồng . Năm 2012

nợ xấu nhóm 5 là 14,2 tỷ đồng, tăng 6,7 tỷ đồng so với năm 2011 chủ yếu do nợ quá

hạn tồn đọng từ các năm trước cho thấy công tác thu hồi nợ xấu của chi nhánh còn

49

chưa có hiệu quả cao.

1200

1000

800

600

Tổng dư nợ Nợ Quá hạn Nợ xấu

400

200

0

Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Hình 2.2: Nợ xấu, nợ quá hạn

So sánh với các Ngân hàng trong địa bàn và bình quân toàn hệ thống thì nợ

xấu của Chi nhánh vẫn ở mức thấp nhưng việc nợ quá hạn tăng nhanh cho thấy có

thể tiềm ẩn nguy cơ giảm chất lượng tín dụng trong năm 2013 nếu Chi nhánh không

có những biện pháp tích cực hơn nữa để giải quyết nợ xấu.

Bảng 2.14: Nợ quá hạn phân theo kỳ hạn cho vay

Đơn vị : Tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1, Nợ quá hạn Ngắn hạn 5.5 6.4 10.3

Tỷ trọng / Tổng dư NQH 38.7% 35.6% 32.7%

2, Nợ quá hạn trung, dài hạn 8.7 11.6 21.2

Tỷ trọng / Tổng dư NQH 61.3% 64.4% 67.3%

Tổng nợ quá hạn: 14.2 18 31.5

(Nguồn thông tin: Phòng Tổng hợp - Vietinbank Hùng Vương)

Nhìn vào bảng NQH theo kỳ hạn cho thấy NQH của cho vay trung, dài hạn

luôn chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng, năm 2012 cũng tăng khá cao về số dư

50

NQH (tăng 9.6 tỷ đồng). Điều này cho thấy công tác thẩm định cho vay đối với các

Dự án đầu tư còn nhiều hạn chế, mặt khác do hoạt động SXKD của doanh nghiệp

gặp khó khăn đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các dự án đầu tư TSCĐ.

Bảng 2.15: Nợ quá hạn phân theo loại hình kinh tế: Đơn vị : Tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1, Nợ quá hạn của DNNN 0.4 0.3 0.5

3.5% Tỷ trọng /Tổng dư NQH 2.2% 1.0%

9.2 2, Nợ quá hạn DN NQD 11.8 24

Tỷ trọng /Tổng dư NQH 64.8% 65.6% 76.2%

3, Nợ quá hạn Cá nhân 4.5 5.8 7.2

Tỷ trọng/ Tổng dư NQH 31.7% 32.2% 22.9%

4, Tổng dư nợ quá hạn: 14.2 18 31.5

(Nguồn: Phòng Tổng hợp - Vietinbank Hùng Vương)

Phân tích NQH các thành phần kinh tế cho thấy NQH thuộc khối DN NQD

luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, điều này cho thấy việc đầu tư tín dụng cho đối tượng

khách hàng này đi đôi với cơ hội tăng trưởng dư nợ cao cũng kèm theo nhiều yếu tố

rủi ro về chất lượng tín dụng. Ngoài ra, NQH của đối tượng khách hàng cá nhân

cũng chiếm tỷ lệ khá cao trên tổng dư NQH.

2.2.2.3.Tình hình cho vay không có Bảo đảm bằng tài sản:

Tỷ lệ cho vay không có TSBĐ của chi nhánh giảm dần qua các năm, tuy

nhiên vẫn còn ở mức khá cao và mức dư nợ cho vay không có TSBĐ vẫn tăng qua

các năm (đến năm 2012 dư nợ cho vay không có TSBĐ là 352 tỷ đồng tăng 83 tỷ

đồng so với năm 2011 và tăng 139 tỷ đồng so với năm 2010 , chiếm tỷ lệ 30,3%

51

tổng dư nợ.

Dư nợ quá hạn không có TSBĐ qua các năm cũng chiếm tỷ lệ khá cao : năm

2010 là 17,6%, đến năm 2012 đã tăng lên 42,9% cho thấy việc đầu tư cho vay

không có bảo đảm bằng tài sản trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay tiềm

ẩn những yếu tố rủi ro rất lớn khi khách hàng không trả được nợ đến hạn cho ngân

hàng.

Đơn vị : Tỷ đồng

Bảng 2.16 : Tình hình cho vay không có TSBĐ

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1, Tổng dư nợ cho vay: 602 798 1,151

- Dư nợ cho vay không có TSBĐ 213 269 352

- Tỷ trọng / Tổng dư nợ 35.4% 33.7% 30.6%

2, Tổng Dư nợ vay trong hạn: 778 1,123.5 587.6

210.5 261.4 340.2 - Dư nợ trong hạn không có TSBĐ

33.6% 30.3% - Tỷ trọng / Tổng dư nợ trong hạn 35.8%

14.2 18 27.5 3, Dư NQH :

2.5 7.6 11.8 - Dư NQH không có TSBĐ

- Tỷ trọng / Tổng dư NQH 17.6% 42.2% 42.9%

(Nguồn : Phòng Tổng hợp - Vietinbank Hùng Vương)

2.2.2.4. Chỉ tiêu doanh số thu nợ và vòng quay vốn tín dụng:

Để đánh giá chất lượng của các khoản tín dụng ta cần phải xem xét chỉ tiêu

doanh số thu nợ. Chất lượng tín dụng của Chi nhánh đảm bảo khi các khoản tín

52

dụng đến hạn phải được thanh toán đầy đủ cả gốc lẫn lãi.

Bảng 2.17: Vòng quay vốn tín dụng ngắn hạn: Đơn vị : Tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

1, Doanh số thu nợ 543 712 323

2, Dư nợ bình quân 555 700 975

3, Vòng quay vốn tín dụng 0,58 0,78 0,73

4, Doanh số thu nợ ngắn hạn 301 498 652

5, Dư nợ ngắn hạn bình quân 262 294 400

6, Vòng quay vốn tín dụng ngắn hạn 1,15 1,7 1,63

(Nguồn: Phòng Tổng hợp - Vietinbank Hùng Vương)

Qua bảng số liệu ta thấy: Vòng quay vốn TD của Chi nhánh còn tương đối thấp,

nguyên nhân chủ yếu do tỷ lệ cho vay trung dài hạn còn khá cao.Do vậy để đanh giá

chính xác hơn hiệu quả sử dụng vốn chúng ta phải xem xét đến chỉ tiêu vòng quay

vốn TD ngắn hạn của chi nhánh: Vòng quay vốn TD ngắn hạn qua các năm 2011,

2012 là 1,7 và 1,63 vòng tương đối phù hợp với đặc điểm cho vay ngắn hạn tại chi

nhánh đan xen giữa phương thức cho vay hạn mức với thời hạn quay vòng nhanh và

cho vay từng lần để quản lý chặt chẽ hơn tình hình SXKD của khách hàng. Vòng

quay vốn TD ngắn hạn chưa thực sự cao do 2 năm gần đây chi nhánh có mức độ tăng

trưởng dư nợ ngắn hạn khá nhanh và thường tập trung vào cuối năm chứ không tăng

đều trong năm do vậy số dư nợ bình quân tính tại các thời điểm cuối năm có xu

hướng cao hơn thực tế. Tuy nhiên, các số liệu trên cũng cho thấy chi nhánh cần phải

cải thiện hơn nữa doanh số thu nợ phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của từng loại

53

hình SXKD, từng đối tượng khách hàng để nâng cao chất lượng đầu tư tín dụng.

2.2.2.5. Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng:

Bảng 2.18. Tình hình thu nhập từ hoạt động tín dụng

Đơn vị : Tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

Tổng thu nhập 120 170 209

Thu lãi từ CV 96 132 161

Tỷ lệ thu lãi cho vay / Tổng thu nhập 80% 78% 77%

(Nguồn: Phòng kế toán Tài chính – Vietinbank Hùng Vương)

Nhìn vào bảng biểu thu nhập từ hoạt động kinh doanh ta thấy: thu nhập từ hoạt

động tín dụng đều có sự tăng trưởng qua các năm và đóng góp chính vào thu nhập

của Chi nhánh. Năm 2011 thu nhập từ hoạt động tín dụng có sự gia tăng do thực

trạng năm 2011 có thời điểm lãi suất cho vay tăng mạnh lên mức 18-20%/ năm.

Năm 2012, mặc dù tổng dư nợ tăng gần 30% nhưng thu nhập từ hoạt động tín dụng

chỉ tăng 21,9% (tăng 29 tỷ đồng), tỷ lệ thu lãi cho vay /Tổng dư nợ giảm so với

những năm trước do mặt bằng lãi suất cho vay trong năm giảm mạnh, ngay từ đầu

năm Chi nhánh đã thực hiện nghiêm túc thông tư 14/TT-NHNN về việc cho vay ưu

đãi các đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, nông nghiệp nông thôn,…với mức lãi

suất ưu đãi bình quân 12%;

2.2.2.6. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn.

Bảng 2.19. Hiệu suất sử dụng vốn Đơn vị : Tỷ đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012

798 1.150 602 Tổng dư nợ

909 1.285 485 Tổng vốn huy động

88% 89% 124% Hiệu suất sử dụng vốn

54

(Nguồn: Phòng kế toán Tài chính – Vietinbank Hùng Vương)

Nhìn chung, hiệu suất sử dụng vốn tại Vietinbank Hùng Vương những năm

qua là phù hợp, đảm bảo lượng vốn Chi nhánh huy động đáp ứng được nhu cầu đầu

tư và cho vay phục vụ nền kinh tế.

2.3. Đánh giá chất lượng tín dụng của Vietinbank Hùng Vương.

2.3.1 Kết quả đạt được.

Trong các năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của Ban lãnh đạo cũng như cán bộ

nghiệp vụ của toàn chi nhánh, hoạt động tín dụng của Vietinbank Hùng Vương đã

đạt được một số kết quả khả quan như sau:

- Vietinbank Hùng Vương luôn xác định tín dụng là mặt trận hàng đầu, mang

lại thu nhập chính cho ngân hàng. Do đó, công tác thẩm định tín dụng đã được quan

tâm nâng cao chất lượng thẩm định cho vay, các bước thẩm định, giải ngân, kiểm

tra trong và sau cho vay được bộ phận tín dụng thực hiện theo quy trình do

Vietinbnak ban hành , chi nhánh thường xuyên rà soát, phân tích tình hình tài

chính, tình hình tài sản bảo đảm…nhờ vậy chất lượng tín dụng tại chi nhánh khá

cao so với các NHTM trên địa bàn, nợ quá hạn mặc dù còn phát sinh song ở mức

cho phép.

- Tăng trưởng tín dụng của chi nhánh luôn ở mức cao, quy mô và thị phần tín

dụng không ngừng tăng trưởng, tổng thu từ hoạt động tín dụng liên tục tăng qua các

năm đã góp phần quyết định đến kết quả hoạt động SXKD : năm 2012 Chi nhánh đã

hoàn thành 102% kế hoạch lợi nhuận Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam

giao (đạt 29 tỷ đồng lợi nhuận từ hoạt động SXKD).

- Việc chấm điểm, xếp loại khách hàng dựa trên phần mềm do Vietinbank xây

dựng theo Quyết đinh số 3730/QĐ-NHCT35. Từ những kết quả đánh giá trên Chi

nhánh đã đưa ra các chính sách và điều kiện tín dụng để áp dụng đối với từng đối

tượng khách hàng.

- Chuyển dịch cơ cấu đầu tư vào các thành phần kinh tế hợp lý. Hầu hết dư nợ

cho vay tập trung vào đối tượng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ . Đây là loại

hình doanh nghiệp hoạt động năng động và khá hiệu quả tại địa bàn Phú Thọ. Cho

55

vay bán lẻ đến các khách hàng cá nhân và hộ gia đình cũng có sự tăng trưởng.

Công tác cho vay theo định hướng các ngành hàng cũng được Chi nhánh thực hiện

theo hướng hạn chế các ngành KD mang lại nhiều rủi ro trong giai đoạn hiện nay

như: cho vay lĩnh vực đầu tư chứng khoán, bất động sản, vật liệu xây dựng…mặt

khác chi nhánh tập trung mở rộng cho vay các doanh nghiệp SX hàng hoá, kinh

doanh thương mại, hoạt động xuất nhập khẩu…

- Năm 2012 trước những diễn biến hết sức khó khăn của nền kinh tế, thị

trường tiền tệ, song Vietinbank Hùng Vương đã chủ động bám sát khách hàng và có

chính sách lãi suất linh hoạt, hấp dẫn đã khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn tại

Chi nhánh, đặc biệt là các Doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu để thu hút

nguồn vốn ngoại tệ do các doanh nghiệp đem lại.

- Thực hiện chủ trương của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, Chi

nhánh Hùng Vương đã và đang tập trung khai thác các khách hàng là doanh nghiệp

vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân và tiếp tục mở rộng triển khai mô hình ngân hàng

bán lẻ, đây là các thành phần kinh tế rất năng động dễ thích ứng với những biến

động phức tạp của tình hình kinh tế trong nước và thế giới.

- Đội ngũ cán bộ công nhân viên trẻ có năng lực, nhiệt tình, có đạo đức nghề

nghiệp, có trình độ đại học và trên đại học. Chi nhánh thường xuyên có chính sách

bồi dưỡng, nâng cao trình độ của cán bộ bằng việc cử cán bộ theo học các lớp sau

đại học, các lớp học tập nâng cao nghiệp vụ của Trường đào tạo và PT nguồn nhân lực

thuộc Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, nhờ vậy mà kiến thức nghiệp vụ của

cán bộ không ngừng được nâng cao và đáp ứng khá tốt yêu cầu của công việc đặt ra

trong thời kỳ đổi mới - công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

- Công tác đánh giá khách hàng được tiến hành thường xuyên, đúng quy định

(tối thiểu 1 năm 1 lần). Mỗi lĩnh vực hoạt động như sản xuất công nghiệp, dịch vụ,

xây lắp được đánh giá theo một đề cương khác nhau phù hợp với đặc thù của từng

ngành. Bên cạnh đó, việc đánh giá, xếp loại doanh nghiệp không chỉ căn cứ vào báo

cáo tài chính do đơn vị cung cấp mà còn căn cứ vào báo cáo tài chính theo đánh giá

56

của Ngân hàng sau khi đã loại bỏ các khoản lỗ tiềm ẩn của doanh nghiệp v.v. Chính

công tác đánh giá này đã phát hiện ra các dấu hiệu rủi ro của khách hàng để Ngân

hàng sớm có ứng xử phù hợp.

- Công tác thu hồi nợ xấu, nợ quá hạn đã cũng đã được quan tâm đúng mức,

chi nhánh đã thành lập Ban chỉ đạo xử lý nợ do đồng chí giám đốc làm trưởng ban,

thường xuyên tổ chức các cuộc họp đánh giá, phân tích nắm bắt thực trạng của từng

khách hàng có nợ quá hạn, từ đó đề ra phương án thu hồi nợ và chỉ đạo các bộ phận

liên quan thực hiện nghiêm túc việc thu hồi nợ xấu, nợ quá hạn.

2.3.2. Những tồn tại.

- Dư nợ các năm qua mặc dù tăng trưởng mạnh, cơ cấu tín dụng đã dịch

chuyển tích cực theo hướng tăng tỷ trọng dư nợ có tài sản bảo đảm, tuy nhiên tỷ

trọng cho vay không có TSBĐ đến 31/12/2012 vẫn còn ở mức khá cao (30,6%/tổng

dư nợ) dẫn đến tiềm ẩn rủi ro nợ xấu cao.

- Tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng tăng lên, một phần do ảnh hưởng tiêu cực của

khủng hoảng kinh tế, tuy nhiên nó cũng phần nào phản ánh mặt trái của việc tăng

trưởng nóng quy mô tín dụng nhưng chưa quản lý được chặt chẽ chất lượng tín

dụng.

- Công tác thu hồi nợ xấu, nợ quá hạn đã được quan tâm nhưng hiệu quả chưa

thực sự cao ( đến 31/12/2012 trong tổng số 25,1 tỷ nợ xấu thì dư nợ xấu tồn tại từ

những năm trước chuyển sang chiếm gần 50%).

- Chiến lược khách hàng đôi khi còn chưa rõ ràng, chưa xác định chiến lược

ở tầm vĩ mô lâu dài. Chưa đưa ra các định hướng cụ thể để phát triển thị trường bán

lẻ phát triển, trong đó có hoạt động cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, cho vay cá nhân

sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng. Tại Vietinbank Hùng Vương, tỷ trọng cho

vay đối với các đối tượng khách hàng này còn khá thấp.

- Thị phần tín dụng của Chi nhánh trên địa bàn đã được cải thiện đáng kể trong

3 năm gần đây, tuy nhiên quy mô còn khá thấp (đến 31/12/2012 là 5,6% thị phần

dư nợ toàn tỉnh Phú Thọ), chưa tương xứng với bề dày 25 năm hoạt động của chi

57

nhánh.

- Cán bộ tín dụng đảm trách khối lượng hồ sơ tín dụng quá nhiều, dễ gây tình

trạng quá tải. Hiện nay tại chi nhánh có 13 cán bộ tín dụng phụ trách bình quân 90

tỷ dư nợ và 130 khách hàng/cán bộ là khá cao nên dẫn đến việc thực hiện chưa đầy

đủ các quy trình, quy định cho vay tiềm ẩn phát sinh rủi ro trong công tác thẩm định

và giám sát khách hàng vay .

- Đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu công

việc, song do hầu hết tuổi nghề thấp nên còn thiếu kinh nghiệm thực tế, chưa phát

huy được tính chủ động, sáng tạo trong công việc.

2.4. Những yếu tố ảnh hưởng

2.4.1. Yếu tố chủ quan:

* Thực hiện quy trình tín dụng:

Hoạt động tín dụng tại Vietinbank tuân thủ chặt chẽ quy trình tín dụng do

Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam ban hành. Theo đó, quy trình cho vay

bắt đầu khi cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơ khách hàng và kết thúc khi tất toán,

thanh lý hợp đồng tín dụng, được tiến hành theo 3 bước:

- Thẩm định trước khi cho vay

- Kiểm tra, giám sát trong khi cho vay

- Kiểm tra, giám sát, tổ chức thu hồi nợ sau khi cho vay.

1. Tiếp nhận hồ sơ vay vốn, đánh giá thẩm định

Khi một khách hàng có nhu cầu đề nghị Ngân hàng cung cấp các sản phẩm tín

dụng, cán bộ tín dụng trao đổi với ngân hàng và tuỳ thuộc là khách hàng cụ hay mới

để xác định những nội dung sau:

- Tìm hiểu về hoạt động kinh doanh của khách hàng, cấu trúc hoạt động, vị thế

khách hàng trong ngành nghề khách hàng đang kinh doanh, tiêu chuẩn đội ngũ quản

lý.

- Mục đích vay vốn

Qua thảo luận, cán bộ tín dụng chịu trách nhiệm tập hợp tất cả các thông tin

cần thiết để phục vụ cho việc lập tờ trình tín dụng. Trong tờ trình tín dụng, cán bộ

58

tín dụng phản ánh được những nội sung sau:

- Dự án, phương án sắp được tài trợ có nằm trong phạm vi và khả năng tổ chức

của khách hàng hay không. Việc xác định này sẽ phụ thuộc vào mục đích của khách

hàng, sự thành công của khách hàng cho đến thời điểm hiện tại, kế hoạch kinh

doanh của khách hàng có tham chiếu các dự án, phương án đã hoàn thành trước đó.

- Đề xuất cấp tín dụng có phù hợp với chiến lược của ngân hàng, với chính

sách của Ngân hàng TMCP Ngoại ThươngViệt Nam trong từng giai đoạn.

Nếu phù hợp, cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng về hồ sơ vay vốn, đầu

mối tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp của các tài liệu. Nếu hồ sơ được

chấp nhận thì cán bộ tín dụng chuyển hồ sơ sang quy trình thẩm định.

2. Phân tích, thẩm định khách hàng vay vốn.

Thẩm định khách hàng vay vốn theo những nội dung sau:

- Tìm hiểu và phân tích về khách hàng, tư cách và năng lực pháp lý, năng lực

điều hành, năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, mô hình tổ chức, bố trí lao động

trong doanh nghiệp.

- Thẩm định đánh giá khả năng tài chính.

+ Kiểm tra tính chính xác của báo cáo tài chính

+ Phân tích đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tài chính

- Phân tích tình hình quan hệ với ngân hàng

3. Phân tích, thẩm định dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh

4. Dự kiến lợi ích của ngân hàng nếu khoản vay được phê duyệt.

5. Các biện pháp bảo đảm tiền vay.

6. Chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng.

7. Lập báo cáo thẩm định cho vay.

8. Xác định phương thức và nhu cầu cho vay.

9. Xem xét khả năng nguồn vốn và điều kiện thanh toán của Ngân hàng

10. Phê duyệt khoản vay.

- Sau khi nghiên cứu, thẩm định các điều kiện vay vốn, cán bộ tín dụng lập báo

59

cáo thẩm định và đề xuất phê duyệt tín dụng.

- Trên cơ sở tờ trình của cán bộ tín dụng và hồ sơ vay vốn, Trưởng phòng

Khách hàng xem xét, kiểm tra, ghi rõ ý kiến về việc đề xuất cho vay hoặc không

cho vay vào tờ trình và trình Lãnh đạo. Nếu trưởng phòng chấp thuận đề xuất vay

vốn thì sẽ ký vào đề xuất vay vốn.

- Căn cứ bộ hồ sơ vay vốn, căn cứ ý kiến đề xuất của cán bộ tín dụng và

trưởng phòng khách hàng, khoản vay sẽ được Ban lãnh đạo cho vay phê duyệt trực

tiếp xem xét và quyết định. Trường hợp vượt thẩm quyền phán quyết của chi nhánh,

hồ sơ vay vốn sẽ được trình lên Ngân hàng TMCP Công ThươngViệt Nam để giải

quyết theo quy định.

11. Ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay

12. Giải ngân.

13. Kiểm soát, giám sát khoản vay: Kiểm tra và giám sát khoản vay là quá

trình thực hiện các bước công việc sau khi cho vay nhằm hướng dẫn, đôn đốc người

vay sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả số tiền vay, hoàn trả nợ gốc, lãi vay đúng

hạn đồng thời thực hiện các biện pháp thích hợp nếu người vay không thực hiện đầy

đủ, đúng hạn các cam kết.

Hoạt động tín dụng của Chi nhánh được thực hiện thông qua: Phòng khách

hàng doanh nghiệp; phòng Khách hàng cá nhân; các phòng giao dịch (03 phòng)

trực thuộc.

Trong quá trình thực hiện quy trình tín dụng tại chi nhánh còn có một số vấn

đề nổi lên như sau:

- Do áp lực về chỉ tiêu kế hoạch trong điều kiện kinh tế xã hội tại địa phương

không có sư tăng trưởng cao, thị phần nhỏ lại có nhiều đối thủ cạnh tranh trong hoạt

động Ngân hàng nên để phát triển được dư nợ Chi nhánh đã phải hạ thấp các điều

kiện tín dụng như cho vay khách hàng một phần không có tài sản bảo đảm dẫn đến

tỷ lệ cho vay không có bảo đảm còn cao, tiềm ẩn yếu tố rủi ro khi khách hàng

không trả được nợ đến hạn. Năm 2012 tỷ lệ nợ quá hạn không có TSBĐ chiếm đến

60

42,9% tổng dư nợ quá hạn và tăng dần qua các năm đã cho thấy khá rõ vấn đề này.

- Chất lượng công tác thẩm định chưa cao: Một số trường hợp xác định giới

hạn tín dụng cao hơn nhu cầu vốn thực tế của khách hàng dẫn đến việc khách hàng

sử dụng vốn vay không đúng mục đích, khó kiểm soát. Trong số dư nợ xấu đến

31/12/2012 tại chi nhánh có 02 khách hàng Kinh doanh thương mại với tổng dư nợ

xấu là 8,5 tỷ đồng do chi nhánh xác định nhu cầu vốn lớn hơn thực tế kinh doanh

của khách hàng nên người vay đã sử dụng một phần vốn vay để Kinh doanh bất

động sản dẫn đến thua lỗ, khó khăn trong trả nợ đến hạn ngân hàng.

- Chưa thận trọng khi cấp tín dụng cho khách hàng trong các trường hợp tình

hình tài chính của khách hàng đang bị mất cân đối, luồng tiền suy giảm, ngân hàng

cho vay ngắn hạn để tài trợ bù đắp cho các nhu cầu vốn trung dài hạn.

- Sự hạn chế trong khả năng thu thập thông tin về khách hàng: Việc thu thập

thông tin về khách hàng là hết sức quan trọng, song bản thân ngân hàng vẫn còn bị

động trong vấn đề này. Đôi khi chưa khai thác đầy đủ các nguồn thông tin, nhất là

các thông tin từ bên ngoài. Các thông tin mà ngân hàng sử dụng để phân tích thẩm

định chủ yếu trên cơ sở nguồn thông tin do khách hàng cung cấp, vì thế việc kiểm

tra mức độ xác thực của thông tin là khá phức tạp dẫn đến việc phân tích đánh giá

khách hàng (tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh, đầu ra của sản phẩm, khả năng

cân đối vốn...) nhiều khi còn chưa thật sát với thực tế..

- Việc định giá tài sản còn thiếu căn cứ và chưa hợp lý, nhất là đối với tài sản

bảo đảm là MMTB, khoản phải thu, hàng tồn kho: Chi nhánh chủ yếu căn cứ vào

giá trị sổ sách trên cân đối kế toán của doanh nghiệp, ít trường hợp thuê thẩm định

giá; việc kiểm tra, giám sát và đánh giá lại giá trị tài sản chưa được thực hiện

thường xuyên.Một số trường hợp chi nhánh chỉ nhận tài sản bảo đảm là hàng tồn

kho và khoản phải thu như là biện pháp thế chấp bổ sung. Đây là những tài sản có

sự biến động liên tục nhưng chưa có biện pháp để kiểm soát đối với những tài sản

này.

- Công tác kiểm tra sau khi cho vay còn hạn chế: Chưa thực hiện thường xuyên

61

công tác kiểm tra sau cho vay, vì vậy chưa nắm bắt kịp thời tình hình khách hàng,

không phát hiện sớm được những rủi ro của khách hàng để có biện pháp xử lý kịp

thời hạn chế rủi ro cho ngân hàng (như bổ sung tài sản bảo đảm, giảm dần dư nợ....)

* Hoạt động Marketing trong ngân hàng còn chưa được quan tâm một cách

đúng mức, hiện nay chi nhánh còn khá bị động trong việc mở rộng tìm kiếm khách

hàng. Việc giới thiệu những sản phẩm tín dụng mới còn khá hạn chế. Vì thế nên

những loại hình tín dụng mà ngân hàng áp dụng còn chưa đa dạng. Trong tình hình

mới khi việc cạnh tranh trong các lĩnh vực truyền thống trở nên ngày càng gay gắt

thì việc chuyển hướng trong chính sách khách hàng, khai thác những khách hàng

mới là hết sức cần thiết.

* Lực lượng cán bộ tín dụng:

Cán bộ tín dụng là người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, và cũng là người

theo dõi khoản nợ từ khi khách hàng đến xin vay cho đến khi khoản nợ được giải

quyết. Vì thế khả năng, kinh nghiệm trình độ của cán bộ tín dụng sẽ quyết định đến

chất lượng tín dụng của chi nhánh. Hiện nay, lực lượng cán bộ tín dụng của chi

nhánh mặc dù đã sự quan tâm bồi dưỡng, chăm lo nâng cao trình độ nghiệp vụ

nhưng trên 70% cán bộ tín dụng có tuổi nghề dưới 5 năm, trong đó 50% có tuổi

nghề dưới 3 năm, do đó kinh nghiệm nghề nghiệp còn hạn chế. Đây cũng có nguyên

nhân từ chính sách trẻ hoá đội ngũ cán bộ của Vietinbank, thay thế lớp cán bộ cao

tuổi bằng cán bộ trẻ năng động hơn, tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy bất kỳ môi

trường làm việc nào cũng cần có sự kế cận, chuyển giao một cách hài hoà, việc bố

trí nhân lực đan xen giữa các độ tuổi sẽ phát huy được tính năng động, nhiệt tình

của tuổi trẻ, kết hợp với bề dày kinh nghiệm của cán bộ lâu năm sẽ tạo ra được môi

trường làm việc có chất lượng hơn.

Mặt khác, lực lượng cán bộ làm công tác tín dụng còn khá mỏng, tại chi nhánh

hiện tại chỉ có 18 / tổng số 86 cán bộ làm công tác tín dụng, chiếm 21%, trong đó

có 13 cán bộ tín dụng. Một phần nguyên nhân do 3 năm gần đây chi nhánh phát

triển nhanh màng lưới nên định biên lao động bổ sung chủ yếu đáp ứng nhu cầu lao

động ở các phòng giao dịch nên việc tăng cường nhân sự cho công tác tín dụng

62

chưa được chú trọng.

Không những vậy, sự cạnh tranh của các ngân hàng cổ phần không chỉ nhằm

lôi kéo những khách hàng của chi nhánh mà còn lôi kéo cả những cán bộ có trình độ

chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm trình độ. Điều này đã dẫn tới hiện

tượng “chảy máu chất xám” tại chi nhánh trong thời gian qua.

* Công tác chỉ đạo điều hành:

- Từ chỉ đạo điều hành đến tác nghiệp cụ thể, có lúc, có nơi chưa được tập

trung cao độ, chưa sát sao với nhiệm vụ được phân công và chưa thật sự quyết liệt

trong công tác chỉ đạo điều hành hoạt động tín dụng.

- Hoạt động ngân hàng đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cấp chính

quyền, đặc biệt trong việc thu nhập và xử lý thông tin đối với hoạt động tín dụng,

đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của ngân hàng và các cấp chính quyền như việc chứng

thực hợp đồng bảo đảm, việc phối hợp xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ

vay…Tuy nhiên, việc tăng cường mối quan hệ và tranh thủ sự ủng hộ của các cấp

chính quyền trong các vấn đề xử lý và thu hồi nợ vay vẫn chưa được chú trọng.

2.4.2. Yếu tố khách quan

* Từ phía khách hàngvay vốn:

Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn vay được vốn của ngân hàng thì đều

phải đáp ứng được các điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng mà ngân hàng cho vay đưa ra

nhằm đảm bảo an toàn, ngăn ngừa và phòng tránh những rủi ro khi cho vay. Tuy

nhiên, tại chi nhánh còn nổi lên một số khách hàng có tồn tại ảnh hưởng đến chất

lượng tín dụng của chi nhánh như:

- Để có thể được ngân hàng cho vay vốn, một số khách hàng đã tìm mọi cách

để đưa ra nhưng số liệu thiếu trung thực, làm tăng tính khả thi của phương án, khả

năng tài chính một cách giả tạo. Trong khi trình độ thẩm định của một số cán bộ còn

hạn chế dẫn đến việc quyết định đầu tư vốn cao hơn nhu cầu, khả năng SXKD thực

tế của khách hàng, dẫn đến vốn tín dụng không được sử dụng hiệu quả, khách hàng

63

sử dụng vốn sai mục đích, làm suy giảm khả năng trả nợ vay Ngân hàng.

-Năng lực sản xuất của một số khách hàng còn yếu, sử dụng các máy móc

thiết bị có công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm thấp, chưa đáp ứng được

nhu cầu của thị trường dẫn đến khả năng tiêu thụ sản phẩm và cạnh tranh thấp.

- Trình độ quản lý tài chính, SXKD của các đối tượng khách hàng Doanh

nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế, nhiều Doanh nghiệp phát triển từ hoạt động KD cá

nhân đi lên nên khả năng điều hành các hoạt động kinh tế, dự báo biến động của thị

trường còn hạn chế. Trong điều kiện nền kinh tế khủng hoảng nhiều doanh nghiệp

đã không có khả năng chống đỡ nên dẫn đến KD thua lỗ, thậm chí bị giải thể, phá

sản.

* Môi trường kinh tế- xã hội:

- Khủng hoảng tài chính thế giới và tình hình kinh tế trong nước đã làm ảnh

hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp (

đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô nhỏ) đang rất khó khăn .Thậm chí nhiều doanh

nghiệp thua lỗ nặng và trở nên “chới với” vì đang chịu đồng thời của các sức ép:

Liên tục từ năm 2010 đến 2012, giá cả các yếu tố chi phí đầu vào (điện, xăng dầu,

sắt thép…) tăng cao nhưng giá nhiều sản phẩm sản xuất ra không tăng, nhu cầu

mua hàng, tiêu dùng sụt giảm, hàng tồn kho lớn…Các yếu tố như trên đã làm suy

giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực tài chính của các khách hàng vay

vốn tại Vietinbank Hùng Vương.

- Thị trường chứng khoán ảm đạm, chỉ số VN-Index và HaSTC- Index

xuống thấp kỷ lục làm cho khả năng huy động vốn để đầu tư dự án của các doanh

nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ trong hoạt động đầu tư

tài chính, dẫn đến suy giảm khả năng tài chính làm ảnh hưởng đến chất lượng tín

dụng ngân hàng.

* Sự quản lý vĩ mô của Nhà nước:

- Để điều hành thị trường tiền tệ theo định hướng kiềm chế lạm phát, Ngân

hàng Nhà nước đã liên tục hạ lãi suất cơ bản, quy định mức lãi suất cho vay tối đa

đối với một số lĩnh vực đã làm cho lãi suất cho vay liên tục giảm, chênh lệch lãi

64

suất giữa cho vay và huy động vốn ngày càng thu hẹp đã làm cho hoạt động của

các NHTM, trong đó có Vietinbank Hùng Vương gặp nhiều khó khăn.

- Sự hợp tác của các cấp chính quyền địa phương còn chưa như mong đợi, ,

thủ tục hành chính của một số cấp chính quyền còn lòng vòng gây trở ngại cho

ngân hàng và khách hàng (ví dụ: việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với các khách

hàng thế chấp bằng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo thông tư liên tịch 05

của Bộ Tư pháp và Bộ tài nguyên môi trường của khách hàng cá nhânphải đăng ký

tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm tại các quận huyện, song cơ quan này áp

dụng cơ chế giao dịch một cửa và thời gian trả kết quả thường là sau 5 -7 ngày nên

để làm được thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm rất khó khăn), điều này đã gây nên

sự phiền hà nhất định cho ngân hàng và khách hàng trong công tác cho vay.

Tóm lại: Những phân tích về thực trạng chất lượng tín dụng tại Vietinbank

Hùng Vương thời gian qua đã cho thấy những kết quả đạt được cũng như các tồn tại

hạn chế trong hoạt động tín dụng. Đồng thời cũng chỉ rõ các nguyên nhân chủ yếu

ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại Chi nhánh trong thời gian qua.

Để phát huy những kết quả đạt được và khắc phục những hạn chế trong hoạt

động tín dụng nhằm tăng trưởng an toàn và hiệu quả trong hoạt động ngân hàng thì

Vietinbank Hùng Vương cần phải đề ra những giải pháp cụ thể nâng cao nâng cao

65

chất lượng tín dụng của Chi nhánh.

CHƯƠNG III

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG

TẠI NGÂN HÀNG TMCP CT VIỆT NAM - CHI NHÁNH HÙNG VƯƠNG

3.1 Định hướng hoạt động tín dụng trong giai đoạn 2013-2018 của

Vietinbank Hùng Vương

3.1.1. Định hướng phát triển chung

Để phấn đấu hoàn thành tất các mục tiêu đề ra Trong giai đoạn 2013 - 2018,

Vietinbank Hùng Vương xác định hoạt động kinh doanh sẽ tập trung các mục tiêu

chính là:

1. Công tác phát triển nguồn vốn là nhiệm vụ hàng đầu.

- Toàn chi nhánh tập trung công tác khai thác nguồn vốn. Tăng cường và chủ

động công tác tiếp thị, tìm kiếm và phân tích được khách hàng tiềm năng, tập trung

thu hút khách hàng có nguồn tiền gửi lớn tại các TCTD khác, chú trọng các tổ chức,

đơn vị hành chính sự nghiệp,...

- Tích cực chăm sóc khách hàng truyền thống, khách hàng chiến lược nhằm

giữ ổn định và phát triển nguồn vốn theo hướng đổi mới, nâng cao chất lượng dịch

vụ, linh hoạt gắn kết các hoạt động dịch vụ với khai thác vốn.

- Tập trung các nguồn lực về tài chính để dành phục vụ cho công tác thu hút,

chăm sóc khách hàng nguồn vốn.

- Đối với tiền gửi dân cư: Xác định đây là nguồn vốn hết sức quan trọng (tính

ổn định cao). Để tăng trưởng nguồn vốn này các phòng nghiệp vụ chủ động, thường

xuyên bám sát thị trường, đa dạng hoá các hình thức huy động, hình thức khuyến

mại hấp dẫn, có cơ cấu kỳ hạn và lãi suất hợp lý. Đồng thời, các giáo dịch viên

không ngừng đạo tạo nắm chắc kiến thức về sản phẩm và kỹ năng tư vấn, nâng cao

thái độ và phong cách phục vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng.

2. Đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, phát triển khách hàng mới với phương

66

châm gắn kết sản phẩm tín dụng với các sản phẩm dịch vụ khác, tích cực bán chéo

sản phẩm. Tiếp tục minh bạch hoá chất lượng tín dụng và nâng cao chất lượng tín

dụng với các giải pháp cụ thể:

- Định hướng đổi mới nhanh, mạnh mẽ cơ cấu tín dụng theo hướng: tăng dư nợ

cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho vay tư nhân cá thể, cho vay các ngành nghề

sản xuất công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu.

- Chủ động rà soát lại danh mục khách hàng hiện có, đánh giá thực lực tài

chính, khả năng chịu đựng rủi ro và triển vọng phát triển của khách hàng, xác định

và cấp giới hạn tín dụng phù hợp với từng khách hàng. Đồng thời, phân tích đánh

giá khách hàng mới có nhu cầu vay vốn trên địa bàn, chủ động tìm kiếm phương án,

dự án, các khách hàng tốt với biện pháp kiên trì, bền bỉ... thuyết phục khách hàng

chuyển sang gíao dịch tại chi nhánh.

- Quan tâm phát triển cho vay tiêu dùng: cho vay mua nhà trả góp theo dự

án, cho vay du học, cho vay đi lao động nước ngoài, cho vay mua ôtô...

- Nghiên cứu phát triển các giải pháp tín dụng hiện đại. Phát triển tín dụng gắn

liền với cung cấp sản phẩm dịch vụ đồng bộ (dịch vụ bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm

tài sản, thẻ ATM, thẻ tín dụng, ngân hàng điện tử...), trọn gói và tiện ích.

- Không ngừng nâng cao chất lượng công tác thẩm định, quản lý, giám sát

hoạt động tín dụng, đảm bảo kiểm soát tốt chất lượng và tăng trưởng tín dụng.

3. Tập trung phát triển dịch vụ ngân hàng theo hướng nâng cao chất lượng các

sản phẩm dịch vụ hiện có và mở rộng khai thác các sản phẩm mới, đây là một trong

nhiệm vụ quan trọng trong năm với mục tiêu: Tăng cả doanh số và số lượng các sản

phẩm dịch vụ, từng bước tăng thu nhập từ dịch vụ, đồng thời nâng cao hình ảnh và

uy tín của chi nhánh, bằng các biện pháp cụ thể:

- Nâng cao tinh thần trách nhiệm và tính chủ động, sáng tạo của bộ phận giao

dịch, đảm bảo tính chuyên nghiệp trong khâu tác nghiệp tạo ấn tượng tốt với khách

hàng.

- Nghiên cứu ứng dụng các sản phẩm dịch vụ mới. Trong đó, chú trọng nghiên

67

cứu và ứng dụng ngay các sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh đang áp dụng đối

với khách hàng của chi nhánh. Tăng cường phát triển các sản phẩm dịch vụ thẻ và

hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, tài trợ thương mại trong tình hình mới.

- Phát huy thế mạnh về kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế. Tăng cường

hợp tác với các đơn vị có nguồn ngoại tệ dồi dào để khai thác phục vụ nhu cầu của

các khách hàng nhằm tạo sức hút về nguồn vốn, về tín dụng và tăng nguồn thu dịch

vụ.

4. Phát huy phong trào học tập nâng cao trình độ đối với CBCNV, có chính

sách khuyến học thỏa đáng, công bằng và có hiệu quả cao. Chú trọng hơn nữa công

tác cán bộ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thực hiện thường xuyên, có kết

quả công tác quy hoạch và đánh giá cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất

chính trị, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cao,

có đủ bản lĩnh và năng lực chuyên môn để hoàn thành tốt công việc đảm nhiệm,

nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh doanh và hội nhập quốc tế.

5. Phát huy sức mạnh tập thể, nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức

Đảng. Phát huy dân chủ toàn diện, rộng rãi và thiết thực kể cả trong tác nghiệp và

quản trị điều hành, nhằm khai thác, phát huy tính chủ động, sáng tạo của toàn thể

cán bộ và các phòng ban. Tăng cường đấu tranh phê bình, tự phê bình để tạo được

sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động.

6. Tăng cường công tác quản trị điều hành, hàng tháng tổ chức đánh giá, phân

loại các phòng làm cơ sở chi lương theo đúng kết quả từng phòng, tạo động lực các

phòng phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ. Tập trung cải cách hành chính, xây dựng

phong cách văn hóa kinh doanh, lề lối làm việc đảm bảo tính kỷ cương, kỷ luật

nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.

7. Thực hiện tốt đề án về tổ chức bộ máy theo chỉ đạo của Ngân hàng TM CP

Công thương Việt Nam. Rà soát, tinh gỉảm bộ máy theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả,

đáp ứng yêu cầu của ngân hàng cấp trên.

8. Phối hợp chặt chẽ hoạt động chuyên môn với các đoàn thể nhằm tạo sự

68

đồng thuận, thống nhất cao trong hoạt động kinh doanh. Tổ chức có kết quả các

phong trào thi đua tạo không khí vui tươi, phấn khởi, hăng hái lao động đảm bảo

hoạt động kinh doanh đạt kết quả cao.

3.1.2. Định hướng phát triển hoạt động tín dụng

Đối với hoạt động tín dụng, Vietinbank Hùng Vương đề ra định hướng phát

triển như sau:

- Kiểm soát quy mô tăng trưởng tín dụng theo đúng mục tiêu đề ra, đảm bảo

tăng trưởng gắn với chuyển dịch cơ cấu tín dụng để nâng cao hiệu quả kinh doanh

và an toàn tín dụng. Tăng trưởng phải gắn với chuyển dịch cơ cấu dư nợ của từng

ngành kinh tế và đạt các mục tiêu tỷ lệ dư nợ có tài sản đảm bảo, tỷ lệ dư nợ ngoài

quốc doanh, tỷ lệ dư nợ trung dài hạn, dài hạn theo đúng mục tiêu định hướng đề ra.

+ Ưu tiên cho vay các ngành kinh tế có thế mạnh, đảm bảo đầu ra và được

đánh giá là ít rủi ro như: cơ khí chế tạo, thực phẩm chế biến, thức ăn gia súc, chăn

nuôi, thương nghiệp, hộ gia đình, công chế biến gỗ ….

+ Kiểm soát chặt chẽ cho vay khách hàng thuộc các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro lớn

như thu mua nông sản, đầu tư bất động sản, ….

- Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu khách hàng, mở rộng được khách hàng thuộc

ngành kinh tế ưu tiên, hướng mạnh vào các khách hàng là các doanh nghiệp vừa và

nhỏ. Tạo bứt phá trong tín dụng bán lẻ thông qua mở rộng quy mô khách hàng là tư

nhân cá thể…

- Tận thu nợ và lãi hạch toán ngoại bảng thông qua đôn đốc khách hàng trả nợ,

cưỡng chế xử lý phát mại tài sản kết hợp với bán nợ.

- Nâng cao hiệu quả kinh doanh tín dụng: Đảm bảo tăng trưởng doanh thu từ

hoạt động tín dụng cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng.

- Tăng cường công tác thu hồi nợ quá hạn, nợ xấu, hạ thấp tỷ lệ nợ xấu để

giảm gánh nặng trích dự phòng rủi ro. Nâng cao vai trò chỉ đạo và hiệu quả hoạt

động của Ban xử lý nợ tại chi nhánh.

Từ định hướng trên, Vietinbank Hùng Vương đã đặt ra mục tiêu cơ bản của

hoạt động tín dụng giai đoạn 2013-2018 như sau:

69

- Tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân: từ 15%/năm trở lên

- Chênh lệch lãi suất đầu ra-đầu vào bình quân: >3,5%

- Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ: <2,0 %

3.2. Một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân

hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Hùng Vương.

3.2.1. Xây dựng và hoàn thiện chính sách tín dụng tại chi nhánh:

Chính sách khách hàng: Đây là việc nên làm đầu tiên trong điều kiện cạnh

tranh khốc liệt giữa các Ngân hàng như hiện nay. Xây dựng chính sách khách hàng,

phân nhóm khách hàng hợp lý để có những ưu đãi phù hợp nhằm giữ chân khách

hàng cũ, thu hút khách hàng mới theo hướng đa dạng hóa khách hàng, phân tán rủi

ro. Những biện pháp cụ thể là:

- Phân loại khách hàng dựa vào các tiêu chí cả về quá khứ, hiện tại lẫn dự

đoán trong tương lai như tiền gửi thanh toán, chất lượng tín dụng, thu nhập mang lại

cho Ngân hàng... để áp dụng giá vốn phù hợp trong cho vay và huy động, ưu tiên

khi giao dịch và các chính sách khác phù hợp với các nhóm khách hàng đã được

phân loại.

- Yếu tố tâm lý của khách hàng/phong tục tập quán cũng nên được quan tâm

một cách đặc biệt và có hệ thống theo dõi tập trung trên toàn hệ thống, có thể

nghiên cứu bổ sung. Thu thập thông tin từ những nhân viên/bộ phận trực tiếp tiếp

xúc với khách hàng để có chính sách chăm sóc phù hợp với từng nhóm đối tượng

khách hàng. Thường xuyên trao đổi, tham khảo và thăm dò ý kiến khách hàng để

tạo mối quan hệ tốt đẹp và có những góp ý hữu ích từ khách hàng.

Thiết lập một danh mục cho vay hợp lý, phù hợp với tình hình kinh tế xã

hội của từng vùng, từng khu vực, từng đối tượng khách hàng cụ thể trong từng thời

kỳ, đồng thời phải phù hợp với định hướng chính sách của Chính phủ và của

NHNN. Danh mục tín dụng phải đảm bảo các yếu tố: Đa dạng hóa được ngành

nghề, khách hàng vay, yếu tố địa lý và cả loại hình cho vay; Phù hợp tình hình kinh

tế vĩ mô và điều kiện, xu hướng phát triển của thị trường hoạt động; Phù hợp quy

70

mô, năng lực và khả năng kiểm soát rủi ro của bản thân NHTM; Phù hợp định

hướng phát triển và lợi thế so sánh của Ngân hàng. Để giải quyết vấn đề này,

Vietinbank Hùng Vương cần thực hiện các biện pháp cụ thể:

- Tập trung vào nhóm khách hàng kinh doanh các mặt hàng được Nhà nước

khuyến khích như: công nghiệp chế biến, dệt may, sản xuất hàng tiêu dùng trong

nước, sản xuất hàng xuất khẩu, …

- Ưu tiên cho vay các doanh nghiệp có trụ sở chính tại địa bàn hoạt động để

tiện cho việc nắm bắt thông tin khách hàng, tái thẩm định khách hàng.

- Cụ thể hóa tiêu chí phân nhóm khách hàng nhằm tuyển chọn các khách

hàng thực sự tốt, có uy tín trả nợ để cho vay, tránh tình trạng cấp tín dụng chạy theo

chỉ tiêu.

Chính sách lãi suất: Trong môi trường cạnh tranh hiện nay, khi lãi suất

được kiểm soát bởi NHNN và có thỏa thuận, nên xây dựng chính sách lãi suất dựa

vào uy tín trả nợ của khách hàng, tính khả thi của phương án kinh doanh. Trên cơ sở

đó, có chính sách lãi suất ưu đãi linh hoạt cho những khách hàng có uy tín trả nợ tốt,

hoạt động kinh doanh hiệu quả, tài sản đảm bảo thích hợp, khách hàng tiềm năng

theo chính sách khách hàng cụ thể. Mở rộng hơn nữa thẩm quyền giảm lãi suất của

Trưởng Phòng Khách hàng/Phòng Giao dịch để chi nhánh thuận tiện trong việc tiếp

thị khách hàng, tránh trường hợp bỏ sót những khách hàng tốt, đồng thời có thể tổng

kết, kiểm soát được lượng khách hàng này nhanh chóng. Ngược lại, đối với những

món vay nhỏ, khoản vay tín chấp thì áp dụng mức lãi suất cao để bù đắp được

những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng, nhưng phải giới hạn ở một

tỷ lệ có thể chấp nhận được, tránh những rủi ro không đáng có.

3.2.2. Nâng cao chất lượng thẩm định và quản lý tín dụng

Nâng cao chất lượng thẩm định và quản lý tín dụng là một giải pháp quan

trọng trong việc góp phần nâng cao chất lượng tín dụng nói chung và hoạt động tín

dụng của Vietinbank Hùng Vương nói riêng. Để lựa chọn được những khách hàng

tốt, những dự án/phương án khả thi để cho vay, Vietinbank Hùng Vương tiếp tục

71

quán triệt thực hiện tuân thủ đầy đủ các bước và đúng quy trình thẩm định và cần

tập trung vào phân tích đánh giá năng lực của khách hàng vay và tính khả thi của

Dự án/Phương án cụ thể như sau:

* Nâng cao chất lượng thực thi quy trình thẩm định Tín dụng:

- Giai đoạn tiếp nhận hồ sơ: Thông tin khách hàng cung cấp có thể không

đúng thực tế, việc thẩm định tính chính xác của những thông tin này phụ thuộc rất

nhiều vào nhân viên, đặc biệt là đối với những tiêu chí định tính, cần sự nhạy bén và

óc phán đoán của người làm tín dụng. Cán bộ tín dụng nên khai thác tất cả các

nguồn thông tin để tìm hiểu khách hàng, ví dụ như các thông tin từ các chứng từ

khách hàng cung cấp, thông tin từ nội bộ Ngân hàng, từ các cơ quan có liên quan

(cơ quan thuế, CIC, …), từ đối thủ cạnh tranh, …

- Giai đoạn thẩm định hồ sơ vay: Thẩm định phương án vay vốn và khả

năng trả nợ của khách hàng phải đặt mục tiêu an toàn lên trên hết, có những đề xuất

hợp lý nhằm hạn chế những rủi ro và giảm thiểu những thiệt hại có thể xảy ra trong

quá trình cấp tín dụng.

Phân tích Dự án/Phương án vay vốn: Tuỳ thuộc vào từng dự án/phương án vay

vốn cần tập trung vào phân tích các nội dung như sự cần thiết phải vay vốn; phân

tích thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án/phương án;

Đánh giá thị trường khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào; Đánh

giá, nhận xét các nội dung về phương diện kỹ thuật; đánh giá về phương diện tổ

chức, quản lý thực hiện dự án/phương án…

Phân tích năng lực của khách hàng : Về năng lực tài chính cần phải đí sâu

phân tích các chỉ tiêu: Phân tích cơ cấu và sự biến động tài sản & nguồn vốn, Phân

tích tình hình công nợ, chỉ tiêu về khả năng thanh toán, hệ số tự tài trợ, hệ số đòn

bẩy tài chính, hệ số tài sản cố định, hệ số vòng quay tổng tài sản, chu kỳ hàng tồn

kho, thời gian thu hồi công nợ, vòng quay tiền, Chỉ tiêu về khả năng tăng trưởng,

Chỉ tiêu về khả năng sinh lời. Về năng lực quản lý, năng lực sản xuất kinh doanh :

Cần phải đánh giá về cách điều hành công việc của người lãnh đạo, cách bố trí

nguồn nhân lực, đánh giá sự thích nghi với những biến đổi trong môi trường sản

72

xuất kinh doanh.

Chú ý thẩm định cả về tư cách của khách hàng, tính hợp tác với Ngân hàng

và cả sự trung thực khi giao tiếp với nhân viên tín dụng.

Phát hiện kịp thời các trường hợp như vay hộ, sử dụng vốn vào các mục đích

trái pháp luật, những khách hàng thuộc đối tượng hạn chế và cấm cho vay, …

Thẩm định tài sản đảm bảo: Đối với đặc thù của tín dụng tại Việt Nam,

trước mắt, tài sản đảm bảo vẫn là nguồn trả nợ chính thứ hai nên việc thẩm định kỹ

tài sản đảm bảo sẽ giúp ích rất nhiều trong xử lý tài sản nếu khách hàng không trả

được nợ. Từ việc định giá phải thật chính xác, không quá nhỏ để khách hàng duy trì

quan hệ tín dụng với Ngân hàng, không quá lớn để gây rủi ro khi xử lý; cho đến

việc soạn thảo, ký kết và thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết như công

chứng, đăng ký giao dịch đảm bảo trước khi cho vay.

Cần thiết phải có bộ phận chuyên trách trong việc xử lý tài sản đảm bảo, việc

kiểm tra tài sản định kỳ nên giao cho nhân viên định giá tài sản thay vì nhân viên tín

dụng như hiện nay để tránh tiêu cực xảy ra do các mối quan hệ thân thiết với khách

hàng vay.

Hợp đồng thế chấp là cơ sở pháp lý quan trọng nhất. Đây là nguồn trả nợ thứ

hai nếu khách hàng mất khả năng chi trả, do đó phải xem xét kỹ các yếu tố sau:

+ Tình trạng pháp lý của tài sản: thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của

khách hàng, không có tranh chấp, không thuộc diện quy hoạch, giải toả …

+ Phải có nguồn thông tin tham khảo rõ ràng về giá trị, định giá phải thật

chính xác, an toàn, đảm bảo tính khách quan.

+ Xem xét các yếu tố về điều kiện an toàn (phòng cháy, chống trộm cắp, điều

kiện an toàn), có cần phải mua bảo hiểm hay không.

+ Lợi thế thương mại, quy hoạch xây dựng, khả năng bán, thanh lý.

Việc định giá tài sản phải thường xuyên cập nhật theo giá thị trường, trường

hợp có biến động lớn về giá phải nhanh chóng định giá lại và có biện pháp giảm dư

nợ hoặc yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản kịp thời, tránh gây tổn thất cho Ngân

hàng. Trong quá trình quan hệ tín dụng, kiểm tra thấy giá trị tài sản đảm bảo bị sụt

73

giảm, không đủ điều kiện đảm bảo món vay, Ngân hàng phải thông báo để khách

hàng bổ sung tài sản đảm bảo. Nếu không có tài sản đảm bảo, phải có phương án rút

dần vốn tín dụng để đảm bảo an toàn cho Ngân hàng.

Đối với tài sản bảo đảm của bên thứ ba, cần phải thông báo rõ về khoản vay,

tình trạng khoản vay cho bên bảo đảm, xem xét mối quan hệ với khách hàng (tránh

tình trạng bên bảo đảm không nắm được thông tin về khoản vay, dẫn đến nảy sinh

tranh chấpp, khó khăn khi xử lý tài sản đảm bảo).

- Giai đoạn phê duyệt hồ sơ vay: đây mặc dù là giai đoạn người có thẩm

quyền đưa ra quyết định tín dụng trên cơ sở xem xét đánh giá các nội dung thẩm

định của bộ phận nghiệp vụ. Tuy nhiên để đưa ra được quyết định cuối cùng thì

người phê duyệt cũng cần nâng cao vai trò, tính cẩn trọng trong việc đánh giá lại

các nội dung thẩm định và các đề xuất tín dụng của cán bộ nghiệp vụ. Đối với các

hồ sơ lớn, độ phức tạp và rủi ro cao, Cấp phê duyệt nên có thời gian nghiên cứu hồ

sơ, đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng ngay từ đầu bằng cách đưa

ra các điều kiện trước và sau khi giải ngân hợp lý, khả thi và hiệu quả. Tránh trường

hợp ra quyết định tín dụng không rõ ràng, gây khó hiểu hoặc hiểu nhầm cho nhân

viên nghiệp vụ khi tác nghiệp.

* Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát khách hàng

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các dự án, hợp tác chặt chẽ với các

chủ đầu tư để xử lý nợ quá hạn, nợ xấu. Kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền vay là

việc làm cần thiết để phòng ngừa và ngăn chặn rủi ro tín dụng. Việc kiểm tra, giám

sát chặt chẽ, thường xuyên sẽ giúp ngân hàng phát hiện kịp thời những biểu hiện sai

phạm như sử dụng vốn vay sai mục đich, tẩu tán tài sản, lừa đảo… của khách hàng.

Đồng thời, công tác giám sát cũng giúp Chi nhánh bám sát tình hình hoạt động, tiến

độ thực tế của dự án, nắm được những vấn đề mới nẩy sinh trong quá trình thực

hiện dự án của khách hàng để có biện pháp đối phó kịp thời.

Công tác kiểm tra, giám sát sau cho vay tại Vietinbank Hùng Vương vẫn đang

được thực hiện nhưng đôi khi vẫn còn mang tính hình thức. Cán bộ tín dụng chủ

yếu kiểm tra, giám sát dựa trên những tài liệu do khách hàng cung cấp. Việc kiểm

74

tra trực tiếp tại cơ sở được tiến hành định kỳ mỗi quý hoặc một năm một lần, cách

làm như vậy không mang lại hiệu quả cao, bởi lẽ không có gì đảm bảo những tài

liệu do khách hàng cung cấp là hoàn toàn đáng tin cậy. Ngay cả việc kiểm tra trực

tiếp được tiến hành định kỳ, không thường xuyên cũng có thể không phản ánh hết

tình hình thực tại của khách hàng trong trường hợp khách hàng cố ý che mắt cán bộ

kiểm tra. Thực tế này là một trong những nguyên nhân gây ra nợ xấu tại Chi nhánh.

Để khắc phục điều này, trong thời gian tới, Chi nhánh cần đẩy mạnh công tác kiểm

tra, giám sát sau cho vay, các thông tin thu thập được không chỉ dựa vào tài liệu

khách hàng cung cấp mà CN cần chủ động tìm kiếm từ nhiều nguồn khác nhau như

từ chính những khách hàng, những nhà cung cấp của doanh nghiệp, từ những tổ

chức tín dụng đã đang có quan hệ tín dụng với doanh nghiệp,… Đồng thời, ngoài

những thông tin về khách hàng, cán bộ tín dụng còn phải tìm kiếm những thông tin

về môi trường kinh doanh và những vấn đề khác liên quan đến hoạt động sản xuất

kinh doanh của khách hàng như thị trường nguyên liệu đầu vào, chính sách pháp

luật liên quan, đối thủ cạnh tranh… Qua đó, cán bộ tín dụng sẽ có một bức tranh

vừa tổng thể vừa chi tiết phản ánh chính xác về tình hình hoạt động của khách hàng.

Bên cạnh đó, ngoài việc tiến hành kiểm tra định kỳ cơ sở sản xuất của khách

hàng mà còn tiến hành kiểm tra đột xuất để có những “bức ảnh chân thật” nhất về

hoạt động thường nhật của khách hàng.

Trong quá trình kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nếu

nhận thấy những hạn chế, vướng mắc trong hoạt động của doanh nghiệp, cán bộ tín

dụng nên tư vấn, hướng dẫn doanh nghiệp trong phạm vi có thể, giúp doanh nghiệp

tìm ra những biện pháp khắc phục hạn chế, vướng mắc, nhằm đạt hiệu quả cao nhất

trong kinh doanh.

Trường hợp cán bộ tín dụng phát hiện doanh nghiệp gặp khó khăn, ảnh hưởng

đến khả năng trả nợ theo kế hoạch, cán bộ tín dụng không nên tiến hành thu hồi nợ

ngay lập tức, hành động này có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng mất khả năng

thanh toán và càng lâm vào khó khăn nhanh hơn. Cán bộ tín dụng nên cùng doanh

75

nghiệp tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn, tạo nguồn thu trả nợ ngân hàng.

* Phân cấp rõ ràng trách nhiệm thẩm định, quản lý tín dụng:

Để nâng cao chất lượng công tác thẩm định thì quy trình thẩm định, cho vay

của Vietinbank cũng cần phải có một số thay đổi liên quan đến việc phân cấp trách

nhiệm của cán bộ tín dụng. Hiện tại cán bộ tín dụng vẫn phải đảm nhiệm cả 3 khâu

cơ bản trong quá trình cho vay là: Tiếp xúc khách hàng – Thẩm định phương án vay

vốn- Giải ngân và thu nợ.Việc phân công trách nhiệm quá lớn đối với cán bộ tín

dụng cũng làm cho khả năng giải quyết công việc bị hạn chế do phải đầu tư thời

gian cho nhiều khâu nghiệp vụ khác nhau nên dễ dẫn đến bỏ sót các bước quy trình

thẩm định hoặc chất lượng thẩm định không cao. Để hạn chế nhược điểm này, sau

khi nghiên cứu và tham khảo mô hình tín dụng tại một số ngân hàng trên địa bàn

cho thấy quy trình thẩm định và cho vay nên tách ra thành 3 bộ phận:

- Bộ phận chăm sóc khách hàng: chịu trách nhiệm tiếp thị, chăm sóc, timg hiểu

nhu cầu khách hàng, trực tiếp nhận hồ sơ vay vốn nhưng không có trách nhiệm

thẩm định và đề xuất đối với khoản vay. Sau khi xem xét hồ sơ đầy đủ, theo đúng

quy định, chuyển hồ sơ sang bộ phận thẩm định để thẩm định khách hàng vay vốn.

- Bộ phận thẩm định và phê duyệt khoản vay: Thực hiện thẩm định, phân tích

đánh giá khách hàng, phương án vay vốn, định lượng rủi ro và đề xuất lãnh đạo

quyết định tín dụng;

- Bộ phận tác nghiệp/quản lý nợ vay (quản trị tín dụng): có chức năng lưu trữ

hồ sơ, nhập máy tính, theo dõi và quản lý khoản vay theo đúng quy định, điều kiện

đã được phê duyệt từ bộ phận thẩm định và phê duyệt khoản vay.

Hiện nay, Vietinbank cũng đang nghiên cứu đổi mới mô hình tín dụng, theo

hướng phân cấp trách nhiệm đối với từng bước thực hiện quy trình thẩm định, cho

vay, hạn chế tập trung trách nhiệm quá nhiều vào một cán bộ tín dụng nhằm chuyên

môn hoá công tác tín dụng, nâng cao công tác thẩm định, quản lý khoản vay cũng

như nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.

3.2.3. Giảm tỷ trọng dư nợ cho vay trung dài hạn:

Tỷ lệ cho vay trung dài hạn của chi nhánh vẫn đang được duy trì ở mức khá

76

cao (chiếm 58,5% tổng dư nợ). Mặc dù dư nợ cho vay này có mức lãi suất cao hơn

dư nợ vay ngắn hạn tuy nhiên nó cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro hơn do thời hạn

cho vay dài, khả năng trả nợ dễ bị ảnh hưởng những biến động từ hoạt động SXKD

của doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn hiện nay, việc đầu tư các dự án thường

kém hiệu quả trước những khó khăn của nền kinh tế. Mặt khác, nguồn vốn huy

động của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn (năm 2012 Tiền gửi có kỳ hạn

trên 12 tháng tại chi nhánh chỉ chiếm 5,6% tổng nguồn vốn huy động) do vậy việc

sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư trung dài hạn sẽ dễ dẫn đến thiếu

hụt vốn huy động tài trợ cho dư nợ vay trung dài hạn khi khách hàng rút tiền gửi

đến hạn và ngân hàng không huy động bù đắp được.

Trong giai đoạn hiện nay, chủ trương của Vietinbank khuyến khích tăng

trưởng dư nợ ngắn hạn để bảo đảm cân đối giữa việc hạn chế rủi ro việc sử dụng

nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư trung dài hạn cũng như tăng hiệu quả sử dụng vốn.

Vì vậy, chi nhánh cần có định hướng lại cơ cấu đầu tư tăng trưởng dư nợ ngắn

hạn, hạ thấp tỷ lệ cho vay trung dài hạn về mức dưới 45% là hợp lý.

3.2.4. Hạn chế cho vay không có tài sản bảo đảm, tăng cường áp dụng các

biện pháp bảo đảm đối với khách hàng vay vốn:

Để có thể tăng trưởng được quy mô tín dụng trong điều kiện cạnh tranh

quyết liệt của các NHTM trên địa bàn trong những năm vừa qua, Chi nhánh đã phải

nỗ lực tìm mọi biện pháp để thu hút khách hàng. Trong đó việc giảm các yêu cầu về

thế chấp tài sản đã được Chi nhánh áp dụng khá phổ biến. Mặc dù đa số khách hàng

đủ điều kiện để cho vay không có bảo đảm, tuy nhiên việc áp dụng biện pháp này

với tỷ trọng cao cũng sẽ tiềm ẩn nguy cơ không thu hồi được vốn vay rất cao nếu

khách hàng gặp khó khăn không có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Tỷ trọng cho

vay không có bảo đảm bằng tài sản tại chi nhánh năm 2012 là 30,3%/tổng dư nợ,

trong khi đó tỷ lệ NQH không có TSBĐ là 42,9%/tổng dư NQH cũng cho thấy tiềm

ẩn nguy cơ này.

Do vậy, trong thời gian tới Chi nhánh cần phải thực hiện các biện pháp để hạ

thấp tỷ trọng dư nợ cho vay không có TSBĐ như: bổ sung thêm TSBĐ kể cả việc

77

nhận thế chấp hàng hoá luân chuyển trong quá trình SXKD, quyền đòi nợ ... , đặc

biệt cần yêu cầu khách hàng tăng cường thế chấp bổ sung các TSBĐ của cá nhân

Ban lãnh đạo, thành iên của các Doanh nghệp.... để tăng thêm tính trách nhiệm đối

với việc trả nợ của khách hàng.

Tuy nhiên, biện pháp tăng cường cho vay có tài sản bảo đảm để đạt được hiệu

quả thì Ngân hàng cũng cần phải đánh giá chính xác về chất lượng và tính thanh

khoản của tài sản đảm bảo nợ vay. Tài sản bảo đảm nợ vay là một biện pháp quan

trọng trong quá trình cho vay của Ngân hàng, nó tạo ra cơ sở pháp lý giúp ngân

hàng có khả năng thu hồi nợ vay một khi khách hàng không có khả năng trả

nợ,giảm tối đa thiệt hại khi có rủi ro xảy ra.

Việc thu hồi nợ bằng tài sản cầm cố thế chấp là việc làm mà không ngân hàng

nào muốn. Vì đây là biện pháp cuối cùng giúp ngân hàng có thể thu hồi được vốn

của mình khi khách hàng không trả được nợ khi đến hạn. Mặt khác không phải tài

sản thế chấp nào cũng có thể bán đi một cách dễ dàng để cho ngân hàng thu nợ kịp

thời vì thực tế hiện nay việc phát mại tài sản rất khó thực hiện do tâm lý người mua

vẫn còn hiện tượng mê tín sợ gặp rủi ro. Vì vậy, để nâng cao chất lượng tài sản bảo

đảm khi nhận cầm cố, thế chấp Chi nhánh cần thực hiện đầy đủ các giải pháp sau:

- Tăng cường nhận tài sản bảo đảm có tính thanh khoản cao.

- Định giá tài sản bảo đảm phù hợp với chất lượng và giá cả trên thị trường

đồng thời thường xuyên tiến hành kiểm tra định giá lại tài sản bảo đảm

- Yêu cầu tất cả các tài sản bảo đảm phải được công chứng, chứng thực và

đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng, quản lý TSBĐ của khách

hàng, kịp thời phát hiện các biến động bất lợi về hiện trạng, sụt giảm về chất lượng

TSBĐ cũng như giá cả thị trường của TSBĐ để đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời

như định giá lại TSBĐ, yêu cầu khách hàng bổ sung thêm TSBĐ nếu giá trị bị giảm

sút không đủ để bảo đảm cho dư nợ vay vốn, yêu cầu khách hàng khắc phục lại

nguyên trạng TSBĐ nếu bị thay đổi về hình thái vật chất khi không được sự đồng ý

78

của ngân hàng, đề nghị khách hàng thường xuyên đầu tư kinh phí để duy trì, bảo

dưỡng hạn chế hao mòn tự nhiên cũng như bị giảm sút giá trị TSBĐ trong quá trình

sử dụng....

3.2.5. Đẩy mạnh hoạt động huy động vốn

Huy động vốn và sử dụng vốn là hai mặt của một vấn đề, giữa chúng có mối

quan hệ biện chứng với nhau. Huy động vốn tạo nền móng cho sự mở rộng quy mô

tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng. Do đó, bên cạnh những giải pháp tác

động trực tiếp tới nghiệp vụ tín dụng, Vietinbank Hùng Vương cũng cần xây dựng

cho mình một nền móng vốn vững chắc.

Với nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế, ngân hàng chỉ phải trả một chi

phí thấp, do mục đích của các tổ chức kinh tế khi mở tài khoản tại ngân hàng không

phải là lãi tiền gửi thu được mà là các dịch vụ tiện ích mà họ được hưởng. Do đó, để

thu hút được nguồn vốn này, Vietinbank Hùng Vương cần phải cung cấp các dịch

vụ mang tính tiện ích cao cho các doanh nghiệp như thanh toán nhanh, chính xác,

dịch vụ internet-banking, dịch vụ chi trả lương cho doanh nghiệp, dịch vụ thu tiền

lưu động cho doanh nghiệp… Đồng thời, trên cơ sở nguồn thu từ các dịch vụ này,

Chi nhánh cần đưa ra những ưu đãi về lãi suất đầu ra cho những doanh nghiệp có

doanh số chuyển tiền và số dư tiền gửi lớn nhằm cân bằng lợi ích của hai bên.

Nguồn vốn huy động từ cá nhân thông qua các khoản tiết kiệm có kỳ hạn cũng

là một nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng. Nguồn vốn này có tính chất ổn định hơn,

tuy nhiên, ngân hàng phải trả một chi phí cao, bởi mục đích của người dân khi gửi

tiền vào ngân hàng là lãi tiền gửi họ thu được. Do đó, xác định khung lãi suất tiền

gửi áp dụng đối với khách hàng cá nhân như thế nào để hài hoà lợi ích giữa ngân

hàng và khách hàng là điều bất cứ ngân hàng nào cũng đặt nên hàng đầu.

Trên địa bàn Phú Thọ, lãi suất huy động của các NHTM cổ phần ngoài quốc

doanh đang ở mức tương đối cao hơn so với các NHTM có vốn Nhà nước. Bản thân

tôi nhận thấy cạnh tranh về lãi suất không phải là biện pháp duy nhất và luôn phù

hợp trong điều kiện hiện nay. Vietinbank Hùng Vương cần chú trọng đến việc tạo ra

một nét phong cách riêng cho mình nhằm năng cáo hình ảnh, uy tín của Ngân hàng

79

đối với khách hàng như thái độ phục vụ tận tình, chính xác của các giao dịch viên;

địa điểm giao dịch thuận lợi, khang trang, sạch sẽ; danh mục các sản phẩm huy

động vốn đa dạng, phù hợp với từng đối tượng khách hàng…

Đa dạng hoá sản phẩm huy động bao gồm đa dạng hoá các loại tiền gửi với các

kỳ hạn khác nhau như tiền gửi kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, …phù hợp

với chu kỳ sản xuất kinh doanh và dòng tiền của doanh nghiệp. Đồng thời, đa dạng

hoá hình thức hợp đồng như thay vì Hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn thông thường, bổ

sung các loại hợp đồng khác như Hợp đồng tiền gửi có chuyển nhượng, Thoả thuận

tiền gửi có chuyển nhượng… để khách hàng dễ dàng sử dụng, chuyển đổi cho các

đơn vị khác, tạo tính lỏng cho các sản phẩm huy động…

Triển khai hiệu quả sản phẩm huy động vốn như chứng chỉ tiền gửi USD kỳ

hạn 3-5 năm, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm lãi suất phân tầng, lãi suất bậc thang,

Tiết kiệm rút gốc linh hoạt, chứng chỉ tiền gửi dài hạn USD...

3.2.6. Giải pháp về nhân sự và cơ cấu tổ chức:

Yếu tố con người là quan trọng nhất khi xem xét đến bất kỳ một hoạt động

nào trên mọi lĩnh vực. Trong tín dụng, yếu tố con người lại càng quan trọng hơn gấp

nhiều lần, con người quyết định đến chất lượng tín dụng, chất lượng dịch vụ và hiệu

quả tín dụng của Ngân hàng. Có được giải pháp hợp lý về nhân sự sẽ góp phần

quan trọng nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh, trong thời gian tới

Vietinbank Hùng Vương cần thực hiện những biện pháp sau:

* Sắp xếp lại cơ cấu lao động tại chi nhánh

Hiện tại cơ cấu lao động của chi nhánh đang có sự bất hợp lý đối với công tác

tín dụng: dư nợ tăng trưởng khá nhanh qua các năm nhưng số lượng cán bộ làm

nghiệp vụ tín dụng không tăng, thậm chí còn giảm đi so năm 2011 (năm 2011 số

lượng cán bộ làm nghiệp vụ TD là 21, chiếm tỷ trọng 25% tổng số cán bộ toàn chi

nhánh, trong đó cán bộ tín dụng 16 cán bộ, nhưng đến năm 2012 số lượng này chỉ

còn 18 cán bộ, tỷ trọng 21%, trong đó có 13 cán bộ tín dụng. Khối lượng công việc

đối với cán bộ tín dụng ngày càng có biểu hiện quá tải dẫn đến chất lượng công việc

bị giảm sút, dễ bỏ qua các bước quy trình nghiệp vụ.

80

Do vậy, để nâng cao chất lượng tín dụng chi nhánh cần quan tâm đến việc sắp

xếp lại lao động theo hướng tăng tỷ cán bộ làm nghiệp vụ này, lựa chọn các cán bộ

có trình độ, có nhiệt tình công việc để đưa về làm cán bộ tín dụng. Mặt khác nên bố

trí lực lượng cán bộ tín dụng có sự đan xen về độ tuổi và kinh nghiệm công tác ở

mức hợp lý để có thể phát huy được tính năng động, nhiệt tình của tuổi trẻ, kết hợp

với bề dày kinh nghiệm của cán bộ lâu năm sẽ tạo ra được môi trường làm việc có

chất lượng hơn. Theo quan điểm cá nhân thì tỷ lệ này sẽ là phù hợp nếu cơ cấu cán

bộ làm công tác tín dụng nên có tối thiểu 50% có kinh nghiệm công tác từ 5 năm trở

lên. Điều này có thể thực hiện được tại chi nhánh một số lao động có kinh nghiệm

làm tín dụng trước đây đã được điều chuyển sang làm nghiệp vụ khác để phục vụ

cho việc phát triển màng lưới các PGD. Chi nhánh có thể sắp xếp lại lao động để

tăng cường cán bộ có kinh nghiệm cho nghiệp vụ tín dụng.

* Tiêu chuẩn hóa cán bộ làm công tác tín dụng: các tiêu chuẩn cơ bản cần

có đối với nhân viên tín dụng là:

Cán bộ tín dụng phải là người có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cao, trung

thực, có trách nhiệm và tâm huyết với Ngân hàng, đặc biệt là đối với các cấp lãnh

đạo.

Cán bộ tín dụng phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, được đào tạo bồi

dưỡng chu đáo về kiến thức chuyên môn, am hiểu thị trường, pháp luật, chuyên

môn

hóa trong thẩm định từng ngành, nghề và từng đối tượng khách hàng.

Kiên quyết xử lý đối với các cán bộ tín dụng có liên quan đến tiêu cực tín

dụng, không trung thực và chuyển cán bộ sang bộ phận công tác khác nếu thiếu kiến

thức về chuyên môn nghiệp vụ.

* Nâng cao trình độ cán bộ làm công tác tín dụng:

Hầu hết nhân viên mới tuyển dụng vào Chi nhánh sẽ được phân về các phòng

nghiệp vụ tự đào tạo và tiếp nhận công việc ngay sau thời gian thử việc mà không

qua các khóa đào tạo chuyên sâu. Vì vậy họ là các cán bộ có trình độ kiến thức, có

nhiệt tình công việc nhưng thường còn thiếu kiến thức về chuyên môn.

81

Vietinbank Hùng Vương cần tổ chức thường xuyên các khóa đào tạo về

những sản phẩm tín dụng của ngân hàng đang cung cấp, giới thiệu các quy trình,

quy định liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ, chính sách khách hàng, và đặc biệt

là phong cách phục vụ khách hàng và văn hóa Vietinbank cho nhân viên mới.

Công tác đào tạo cần được duy trì thường xuyên và khuyến khích cá nhân các

phòng ban không ngừng tự đào tạo, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau. Ngân hàng cần

có chính sách đào tạo và đào tạo lại nhằm cập nhật và nâng cao trình độ cho nhân

viên ngân hàng, đặc biệt là nhân viên tín dụng cần nâng cao kỹ năng và kinh

nghiệm khi thẩm định các dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp, từ đó làm cơ sở để ngân hàng cho vay vốn có hiệu quả.

* Thực hiện chính sách đãi ngộ hợp lý cho nhân viên, đặc biệt đối với nhân

viên làm công tác tín dụng nhằm thu hút và giữ được nhân viên giỏi gắn bó lâu dài

với ngân hàng vì nhân viên tín dụng là người tiếp xúc và bán hàng trực tiếp với

khách hàng. Họ phải thực hiện từ công tác tiếp thị chào bán tất cả các sản phẩm,

dịch vụ của ngân hàng như tiền gửi, tiền vay, thẻ, thanh toán trong và ngoài nước,

mua bán ngoại tệ, thanh toán lương … đến thẩm định hồ sơ vay, thẩm định dự án,

định giá tài sản, đi công chứng, đăng ký, thay đổi hoặc xóa thế chấp tài sản, theo

dõi, kiểm tra tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, kiểm tra trước trong và sau khi

cho vay. Ngoài ra, công tác chăm sóc khách hàng cũng là công việc rất quan trọng

đối với nhân viên tín dụng.

Nhìn chung, công việc của nhân viên tín dụng khá phức tạp, khá nhiều, và có

tính rủi ro cao, đòi hỏi mỗi nhân viên phải tự trang bị những kiến thức cần thiết cho

công việc. Tuy nhiên, chính sách đãi ngộ đối với nhân viên tín dụng hiện nay chưa

tương xứng với áp lực, trách nhiệm công việc mà họ đang phải giải quyết. Đây cũng

là nguyên nhân khiến một số cán bộ tín dụng tại Vietinbank Hùng Vương đã

chuyển sang làm tại các ngân hàng khác. Do vậy chi nhánh cần có chế độ đãi ngộ

hợp lý, tránh tình trạng “chảy máu chất xám” ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn

82

nhân sự.

3.3. Kiến nghị:

3.3.1. Đối với Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam:

- Tổ chức kịp thời giải quyết các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động kinh

doanh của chi nhánh như trong việc phê duyệt mức cho vay, giải ngân vượt thẩm

quyền phán quyết của chi nhánh…

- Tăng cường phân cấp trong xét duyệt tín dụng, xác định rõ trách nhiệm của

từng người từ chi nhánh đến hội sở chính trong việc xử lý tín dụng.

- Thiết lập một danh mục cho vay hợp lý, phù hợp với tình hình kinh tế xã

hội của từng vùng, từng khu vực, từng đối tượng khách hàng cụ thể trong từng thời

kỳ, đồng thời phải phù hợp với định hướng chính sách của Chính phủ và của

NHNN. Danh mục tín dụng phải đảm bảo các yếu tố: Đa dạng hóa được ngành

nghề, khách hàng vay, yếu tố địa lý và cả loại hình cho vay; Phù hợp tình hình kinh

tế vĩ mô và điều kiện, xu hướng phát triển của thị trường hoạt động; Phù hợp quy

mô, năng lực và khả năng kiểm soát rủi ro của bản thân Vietinbank; Phù hợp định

hướng phát triển và lợi thế so sánh của Ngân hàng.

- Đơn giản hoá các quy trình quy chế tín dụng để các cấp, các khâu trong

nghiệp vụ tín dụng dễ thực hiện cũng như giảm bớt thời gian giải quyết hồ sơ TD

của khách hàng. Hiện nay, Vietinbank đã đưa ra nhiều sản phẩm TD đa dạng, phong

phú, đáp ứng được hầu hết các nhu cầu vay vốn của khách hàng.

Tuy nhiên việc chia quá nhỏ các sản phẩm vay vốn cũng làm cho việc thực

hiện gặp nhiều khó khăn, dễ bị nhầm lẫn và không thực hiện được đầy đủ quy định

hiện hành. Ví dụ: hiện nay đối với sản phẩm cho vay mua ô tô tại Vietinbank chia

ra thành các sản phẩm chi tiết và quy định riêng cho mỗi sản phẩm này một quy

trình, quy định riêng như: cho vay mua ô tô tiêu dùng của cá nhân thế chấp bằng tài

sản bảo đảm (không phải là TSBĐ hình thành bằng vốn vay), cho vay mua ô tô

khách hàng cá nhân đảm bảo bằng chính TSBĐ hình thành từ vốn vay, cho vay mua

ô tô khách hàng Doanh nghiệp đảm bảo bằng chính TSBĐ hình thành từ vốn

vay,cho vay mua ô tô phục vụ mục đích Kinh doanh, cho vay mua ô tô Trường Hải.

83

Việc quy định quá nhiều quy định riêng đối với sản phẩm này đã làm cho cán bộ

Tín dụng dễ bị nhầm lẫn và bỏ sót các bước thực hiện theo quy định...Do vậy kiến

nghị Ngân hàng TMCP CT Việt Nam nên nghiên cứu giảm bớt các quy định quá chi

tiết đối với cùng một nhóm đối tượng sản phẩm để đơn giản hoá quá trình thực hiện,

giảm bớt thời gian cũng như số lượng hồ sơ giấy tờ liên quan.

- Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu phát sinh

Việc xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu phát sinh

cần được đặc biệt quan tâm. Hệ thống này phải bao gồm các thủ tục và quy trình

thích hợp để xây dựng một hệ thống cảnh báo toàn diện. Một quy trình cảnh báo

sớm điển hình bao gồm rất nhiều các yếu tố cơ bản, trong đó tính đầy đủ, cập nhật

và chính xác của thông tin là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng tín dụng.

Yêu cầu cảnh báo sớm từ nợ nhóm 2 đòi hỏi ngân hàng cho vay phải kiểm tra

trực tiếp và thu thập thông tin về khách hàng để giải đáp ngay câu hỏi: Nguyên nhân

nào dẫn đến chậm trả lãi và / hoặc gốc của khách hàng? (Nguyên nhân trực tiếp: do

lỗ một phi vụ, do công nợ không thu được, do mất một phần thị trường, do lô sản

phẩm hỏng không bán được, do bị lừa đảo …; Nguyên nhân sâu xa: do thiếu vốn

chủ sở hữu, lỗ kéo dài, dòng ngân qũy âm, đầu tư tràn lan, sử dụng vốn sai mục

đích, dự án kém hiệu qủa, mất thị trường đầu vào, đầu ra, năng lực quản lý yếu…)

Lúc này việc phát hiện, cảnh báo sớm sẽ có tác động tích cực cho cả hai bên (người

vay lẫn ngân hàng cho vay) còn kịp thời gian toan tính khắc phục hay chí ít ra là cả

hai bên không tiếp tục dấn sâu vào những khó khăn nhiều hơn nữa. Nếu qúa hạn do

một lô hàng thua lỗ, một khoản công nợ đọng … cũng còn lời cảnh báo của ngân

hàng cho vay để người vay tìm nguồn trả nợ, đồng thời soát xét, sửa đổi quyết định

kinh doanh nhằm phòng tránh rủi ro. Nếu quá hạn do những khó khăn tài chính sâu

xa thì kết qủa này giúp cả hai bên cùng thông đạt lẫn nhau về giải pháp trả nợ, thống

nhất lộ trình xử lý nợ toàn diện. Riêng với ngân hàng cho vay, cần xây dựng sẵn

một ma trận xử lý tín dụng hợp lý tùy vào chuyển biến thực tế tình hình.

- Tăng cường công tác đào tạo để đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn cán bộ

chuyên môn nghiệp vụ, đảm bảo năng lực thực sự của cán bộ (không chỉ về hình

84

thức văn bằng chứng chỉ). Đây là cơ sở để cán bộ nghiệp vụ tiếp cận kiến thức kinh

doanh của ngân hàng hiện đại, nắm bắt và chủ động ngay khi được công nghệ tiên

tiến. Đồng thời thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ như thu hút nhân tài, chính

sách sử dụng, bố trí cán bộ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng và chính sách đãi ngộ.

- Nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi tin học hiện đại vào hoạt động tín dụng

ngân hàng. Đảm bảo hoạt động giao dịch ngân hàng được thực hiện trên một nền kỹ

thuật công nghệ hiện đại đáp ứng yêu cầu của khách hàng và đảm bảo cho sự an

toàn và hiệu quả của ngân hàng.

3.3.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

- Bổ sung, hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách liên quan hoạt động

tín dụng góp phần nâng cao hiệu quả quản trị RRTD cho các NHTM và tháo gỡ

vướng mắc trong thực hiện: bổ sung, sửa đổi Nghị định 163/NĐ-CP ngày

29/12/2006 về giao dịch bảo đảm trong đó nâng cao tính chủ động của TCTD trong

xử lý TSBĐ (rủi ro đọng vốn, mất vốn do xử lý TSBĐ phức tạp, ngân hàng phải

khởi kiện, tham gia tố tụng, vướng mắc trong chuyển quyền sở hữu cho người mua

do chủ sở hữu không hợp tác…).

- Nâng cao chất lượng quản lý, điều hành:

+ Nâng cao vai trò định hướng trong quản lý và tư vấn cho các NHTM thông

qua việc thường xuyên tổng hợp, phân tích thông tin thị trường, đưa ra các nhận

định và dự báo khách quan, mang tính khoa học, đặc biệt là liên quan đến hoạt động

tín dụng để các NHTM có cơ sở tham khảo, định hướng trong việc hoạch định

chính sách tín dụng của mình sao cho vừa đảm bảo phát triển hợp lý, vừa phòng

ngừa được rủi ro.

+ Tiếp tục hoàn thiện quy chế cho vay, đảm bảo tiền vay trên cơ sở bảo đảm

an toàn cho hoạt động tín dụng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các NHTM, quy

định chặt chẽ trách nhiệm của các NHTM về việc tuân thủ quy chế cho vay và bảo

đảm tiền vay, hạn chế bớt các thủ tục pháp lý phức tạp, gây khó khăn cho các

NHTM.

+ NHNN cần phối hợp với các bộ ngành có liên quan trong quá trình xử lý

85

nợ xấu, tập trung tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong thủ tục phát mại tài sản.

Nên có những hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục, trách nhiệm của TCTD, của cơ

quan Công an, của Chính quyền cơ sở, của Sở Tài nguyên Môi trường làm cơ sở

pháp lý để đi đến ban hành thông tư liên ngành hướng dẫn thêm nhằm nâng cao

hiệu quả công tác phối hợp đẩy nhanh tiến độ, cụ thể hóa từng công việc trong thi

hành án.

+ Nghiên cứu, ban hành các quy định cụ thể để các NHTM áp dụng chuẩn

xác, kịp thời các công cụ bảo hiểm cho hoạt động tín dụng như: bảo hiểm tiền vay,

quyền chọn và các công cụ tài chính phái sinh khác. Đồng thời, tổ chức đào tạo,

hướng dẫn các nghiệp vụ trên để giúp các NHTM vừa đa dạng hóa các sản phẩm tín

dụng, vừa phòng ngừa và phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng.

- Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác thanh tra, giám sát hoạt động

của các NHTM.

+ Thực hiện thường xuyên công tác thanh tra, kiểm soát dưới nhiều hình

thức để kịp thời phát hiện và ngăn chặn những vi phạm tiêu cực trong hoạt động tín

dụng nhằm đưa hoạt động tín dụng của ngân hàng vào đúng quỹ đạo luật pháp.

+ Cần phải xây dựng đội ngũ thanh tra, giám sát chuẩn về nghiệp vụ ngân

hàng, nghiệp vụ kiểm tra, có phẩm chất đạo đức tốt, được cập nhật thông tin về

chính sách, pháp luật, thị trường để một mặt thực hiện công tác thanh tra, giám sát

hoạt động của các NHTM, mặt khác có thể đưa ra các nhận định, kết luận giúp

NHTM nâng cao hiệu quả hoạt động.

+ NHNN phải theo dõi chặt chẽ việc xử lý, chỉnh sửa sau thanh tra nhằm

đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của công tác thanh tra.

- NHNN cần cải tiến và nâng cao vai trò của Trung tâm thông tin tín dụng

(CIC).

Một trong những bộ phận được NHTM sử dụng là Trung tâm thông tin tín

dụng (CIC). Và một trong những điều kiện cần thiết để thực hiện quản trị rủi ro tốt

là hệ thống thông tin phải đầy đủ, cập nhật, chính xác. Chất lượng thông tin càng

cao thì rủi ro trong kinh doanh tín dụng của các TCTD càng giảm. Vì vậy, việc hoàn

86

thiện hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng là rất cần thiết chẳng hạn như là:

thông tin tín dụng phải bao hàm tất cả các thông tin về tình hình vay vốn của khách

hàng tại các TCTD, phải có sự phân tích thông tin tổng hợp về khách hàng để lưu ý

các NHTM. Bên cạnh đó, cần chú trọng đổi mới và hiện đại hóa các trang thiết bị,

thiết lập hệ thống sao cho việc thu thập cũng như cung cấp thông tin tín dụng được

thông suốt, kịp thời.

Hiện nay, các ngân hàng chưa có sự hợp tác tích cực với CIC chủ yếu là do

muốn giữ bí mật thông tin về khách hàng để cạnh tranh. Vì vậy, NHNN nên có

những biện pháp thích hợp để các ngân hàng nhận thức đúng đắn về quyền lợi và

nghĩa vụ trong việc báo cáo và khai thác thông tin tín dụng từ CIC nhằm góp phần

ngăn ngừa và hạn chế RRTD. NHNN cần phải có biện pháp khuyến khích và đi dần

đến quy định bắt buộc các NHTM hợp tác, cung cấp thông tin một cách đầy đủ cho

trung tâm. Thanh tra NHNN nên kiểm tra việc báo cáo, khai thác thông tin của các

ngân hàng, đồng thời có biện pháp xử lý kiên quyết, kịp thời đối với những ngân

hàng vi phạm chế độ báo cáo thông tin tín dụng như: báo cáo thiếu, báo cáo thông

tin sai lệch. Đồng thời, NHNN cần phải có biện pháp khuyến khích các ngân hàng

sử dụng thông tin tín dụng từ CIC như là một tài liệu bắt buộc phải có trong quá

trình thẩm định cho vay.

- Đẩy nhanh tiến độ hiện đại hoá hệ thống ngân hàng nhất là nghiệp vụ

thanh toán tự động qua ngân hàng, bảo đảm nhanh chóng, kịp thời, chính xác. phát

triển mạnh các công cụ và dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt với doanh

nghiệp và dân cư. Xúc tiến nhanh và có hiệu quả dự án hiện đại hoá ngân hàng

nhằm nâng cao năng lực quản lý, điều hành kinh doanh, phát triển các dịch vụ

mới…

Các kiến nghị đối với NHNN nhằm nâng cao năng lực, quản lý điều hành

quản lý điều hành cũng như tạo các chính sách đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho

hoạt động TD của NHTM phát triển. Tuy nhiên, sự chỉ đạo đúng đắn của ngân

hàng nhà nước chỉ nên dừng lại ở tầm vĩ mô, những vấn đề tính định hướng chứ

không nên đưa ra những quy định quá chi tiết, có thể gây khó khăn cho ngân hàng

87

trong việc thích ứng với điều kiện thực tế tại mỗi ngân hàng, đồng thời phát huy

tính chủ động, linh hoạt, khả năng thích ứng của ngân hàng với môi trường kinh

doanh.

3.3.3. Đối với UBND tỉnh Phú Thọ

- Nhằm thuận lợi trong hoạt động nhận TSBĐ tiền vay tại các TCTD, đề nghị

Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Tài nguyên Môi trường triển khai, thực hiện việc

cấp, đăng ký, chứng nhận quyền sở hữu các tài sản là công trình, vật kiến trúc trên

đất (hiện nay một số hệ thống NHTM yêu cầu tài sản trên đất phải có chứng nhận

quyền sở hữu hoặc ghi rõ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như MHB, MB);

chỉ đạo phòng tài nguyên môi trường huyện, thành, thị xác nhận đầy đủ nội dung

đăng ký giao dịch bảo đảm đối với bất động sản trên địa bàn. Chỉ đạo Uỷ ban nhân

dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm trong việc xác nhận hộ khẩu; chứng thực cụ

thể, chính xác về giao dịch bảo đảm và TSBĐ (là bất động sản). Chỉ đạo Sở tư pháp

tăng cường quản lý hoạt động các phòng công chứng (đáp ứng đủ điều kiện hoạt

động, cán bộ đủ năng lực, đạo đức, trình độ chuyên môn).

- Uỷ ban nhân dân tỉnh và các huyện, thành, thị thực tốt cơ chế công khai,

minh bạch trong quy hoạch đất và sử dụng đất; quy hoạch dự án, vùng kinh tế, lĩnh

vực và ngành nghề trọng điểm, các ngành nghề để gắn với định hướng phát triển tín

dụng; công bố kế hoạch nguồn vốn đối với các dự án, công trình xây dựng thuộc

nguồn vốn ngân sách.

3.3.4. Đối với Nhà nước

- Trong việc hoạch định chính sách, cần cân đối một cách thích hợp giữa các

mục tiêu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, ổn định tiền tệ và sự phát triển bền

vững của hệ thống ngân NHTM, tránh tình trạng thắt chặt hoặc thả lỏng quá mức,

thay đổi định hướng quá đột ngột gây ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng là một đòi hỏi cấp bách. Nhà

nước phải không ngừng tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh để khuyến khích sản

xuất kinh doanh, tạo hành lang pháp lý vững chắc để các thành phần kinh tế yên

tâm bỏ vốn ra đầu tư. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần tiếp tục hoàn thiện, đổi mới

88

môi trường kinh tế, coi đó là giải pháp tổng thể và cơ bản nhất trong quá trình đổi

mới mọi lĩnh vực kinh doanh nói chung và lĩnh vực kinh doanh tiền tệ nói riêng,

chẳng hạn như:

- Trong việc ban hành và thực hiện các cơ chế chính sách pháp luật cần nắm

bắt nhanh và kịp thời mọi sự phát triển của nền kinh tế xã hội, cần phải thu thập ý

kiến đầy đủ, khách quan từ các cơ quan ban ngành, doanh nghiệp để đảm bảo việc

thực thi được chính xác, hiệu quả, công bằng và phù hợp với điều kiện thực tế.

- Hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp lý liên quan đến đảm bảo tiền vay,

làm thế nào để trong trường hợp ngân hàng đã thực hiện đúng các quy định về thế

chấp, cầm cố tài sản khi cho vay thì khi xử lý nợ, ngân hàng được toàn quyền trong

việc thanh lý tài sản nhận làm đảm bảo đó để thu nợ nhằm khắc phục các khó khăn

về quy trình, thủ tục và thời gian xử lý TSBĐ thu hồi vốn vay như hiện nay.

- Chính phủ cần chỉ đạo ban hành các văn bản pháp luật quy định rõ trách

nhiệm của các công ty kiểm toán, các công ty tư vấn các vấn đề liên quan đến tài

sản như giá trị, quyền sở hữu, thủ tục phá sản… Nhằm hạn chế những trường hợp

có sự thông đồng giữa các cơ quan này với doanh nghiệp (đánh giá sai tình trạng

thực tế của doanh nghiệp để có đủ điều kiện vay vốn ngân hàng).

- Chính phủ cần nghiên cứu ban hành các quy định và đưa vào thực hiện các

loại bảo hiểm bắt buộc như: bảo hiểm tài sản đảm bảo tiền vay, bảo hiểm các khoản

vay.

- Thúc đẩy thị trường tài chính, trước hết là thị trường liên ngân hàng và thị

trường tiền tệ nhằm xác định khuôn khổ hoạt động của các ngân hàng, tạo thêm

nhiều cơ hội đầu tư nhằm phân tán rủi ro, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và đa

dạng hóa các công cụ thanh toán nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng.

- Hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật như hệ thống thông tin, kiểm toán, kế

toán theo chuẩn mực quốc tế,…để thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định, tạo điều

kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và NHTM

89

nói riêng phát triển an toàn, bền vững và hội nhập quốc tế.

PHẦN KẾT LUẬN

Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh tiền tệ của

NHTM. Muốn tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, ngân hàng cần phải đảm

bảo cho các hoạt động của mình vừa an toàn vừa có hiệu quả. “ Nâng cao chất

lượng tín dụng” có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về hiện tại và trong lâu dài. Việc

nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng vừa góp phần khuyến

khích đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, vừa đảm bảo sự phát triển

an toàn và bền vững cho ngành Ngân hàng.

Qua nghiên cứu về công tác tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương

Việt Nam - Chi nhánh Hùng Vương, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt

động tín dụng, trên cơ sở đó đánh giá đúng chất lượng tín dụng của chi nhánh. Bên

cạnh những ưu điểm thì Ngân hàng vẫn phải đối mặt với những tồn tại khó khăn

nhất định. Xuất phát từ từ tình hình đó, em xin nêu ra một số giải pháp và đề xuất

kiến nghị mong muốn sẽ góp phần giải quyết những vấn đề đang đặt ra nhằm nâng

cao chất lượng tín dụng đối với NHTM nói chung và Ngân hàng TMCP Công

thương Việt Nam - Chi nhánh Hùng Vương nói riêng, nhằm cải thiện chất lượng

hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên do điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kinh

nghiệm thực tế nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định.

Em kính mong nhận được sự góp ý, bổ sung của Quý thầy, cô cùng bạn bè để luận

văn được hoàn chỉnh hơn.

90

Em xin chân thành cảm ơn!

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ Diệu (2008), Giáo trình Tín dụng Ngân hàng, Học Viện Ngân Hàng, Hà Nội.

2. Ferderic S.Mishkin (1999), Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính, Nhà xuất

bản Khoa học và kỹ thuật.

3. Phan Thị Thu Hà (2008), Giáo trình Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Thống

kê, Hà Nội.

4. Nguyễn Minh Kiều (2008), Tín dụng và thẩm định tín dụng Ngân hàng, Nhà xuất

bản Thống kê, Hà Nội.

5. Nguyễn Thị Mùi (2008), Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Nhà xuất

bản Tài chính, Hà Nội.

6. Nguyễn Văn Tiến (2008), Quản trị rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng, Nhà xuất

bản Thống kê, Hà Nội.

7. Nguyễn Văn Tiến (2009), Giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mạ , Nhà xuất

bản Thống kê, Hà Nội.

8. Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Hùng Vương, Báo cáo kết

quả hoạt động kinh doanh các năm 2010, 2011, 2012.

9. Web: http://www.vietinbank.vn