intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 849_1568189308.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 15:08:43
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

LUẬN VĂN: Hoàn thiện kế toán hoạt động nhập khẩu hàng hoá tại Công ty xuất nhập khẩu và xây dựng Nông lâm nghiệp

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:72

0
116
lượt xem
39
download

LUẬN VĂN: Hoàn thiện kế toán hoạt động nhập khẩu hàng hoá tại Công ty xuất nhập khẩu và xây dựng Nông lâm nghiệp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn: hoàn thiện kế toán hoạt động nhập khẩu hàng hoá tại công ty xuất nhập khẩu và xây dựng nông lâm nghiệp', luận văn - báo cáo, thạc sĩ - tiến sĩ - cao học phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Hoàn thiện kế toán hoạt động nhập khẩu hàng hoá tại Công ty xuất nhập khẩu và xây dựng Nông lâm nghiệp

  1. LUẬN VĂN: Hoàn thiện kế toán hoạt động nhập khẩu hàng hoá tại Công ty xuất nhập khẩu và xây dựng Nông lâm nghiệp
  2. Lời nói đầu Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta mở ra đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp về các ngành sản xuất trong nước nói chung và hàng hoá xuất nhập khẩu nói riêng. Các doanh nghiệp phải chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh của mình. Đứng trước những thức thách đó nhiều doanh nghiệp không thể bắt kịp với những phương thức sản xuất mới mà không nhìn ra thị trường Quốc tế, vì vậy mà hoạt động kinh doanh XNK là không thể thiếu. Hiện nay, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu được coi là tất yếu của nền kinh tế thị trường "mở cửa" và không thể thiếu được ở mỗi quốc gia. Nó gắn với thị trường hàng hóa và sự phát triển của một đất nước. Hoạt động KDXNK giúp chuyên môn hóa sản xuất của mỗi nước và đáp ứng nhu cầu khác nhau về hàng hóa và dịch vụ của từng thị trường. Xét ở góc độ một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, nhiệm vụ đặt ra là đảm bảo hiệu quả trong các hoạt động. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn năng động và linh hoạt trong tìm kiếm, mở rộng và giữ thị trường, mặt khác cũng phải quản lý tốt doanh thu và chi phí để tối đa hoá lợi nhuận thông qua các số liệu do kế toán cung cấp. Mục đích nghiên cứu đề tài là nhận thức được tầm quan trọng của kế toán trong công tác quản lý doanh nghiệp, với mong muốn được góp phần hoàn thiện kế toán hoạt động nhập khẩu hàng hoá trong các doanh nghiệp hiện nay, em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện kế toán hoạt động nhập khẩu hàng hoá tại Công ty xuất nhập khẩu và xây dựng Nông lâm nghiệp .” Đề tài được thực hiện nhằm đưa ra những cơ sở lý luận chung về kế toán nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá trong các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay, nghiên cứu thực tế công tác kế toán nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá tại Công ty XNK và XD Nông Lâm Nghiệp, từ đó đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện lĩnh vực này trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương.
  3. Chương I: Lý luận chung về kế toán hoạt động nhập khẩu hàng hoá trong các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. Chương II: Thực trạng kế toán hoạt động nhập khẩu hàng hoá tại Công ty XNK và XD Nông Lâm Nghiệp. Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán hoạt động nhập khẩu hàng hoá tại Công ty XNK và XD Nông Lâm Nghiệp. Chương I Lý luận chung về kế toán nhập khẩu hàng hoá trong doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu . I. đặc điểm hoạt động nhập khẩu hàng hoá trong cơ chế thị trường. 1.Vai trò hoạt động kinh doanh nhập khẩu trong nền kinh tế thị trường. Nhập khẩu có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam, góp phần mở rộng thị trường cho sản xuất trong nước đồng thời bổ xung những tư liệu sản xuất và nguyên vật liệu giúp nền kinh tế nước nhà. 1.1 Vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động nhập khẩu có vai trò mua hàng hoá dịch vụ để thực hiện cân đối cơ cấu kinh tế, kích thích sản xuất trong nước phát triển và lại tác động ngược trở lại đối với hoạt động xuất khẩu. Hoạt động nhập khẩu tạo ra xu hướng hợp tác hoá toàn cầu, các nước có điều kiện liên kết và hợp tác kinh tế lại với nhau. Các nước phát huy thế mạnh và tận dụng lợi thế của nước khác nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế của nước mình. Đối tượng của nhập khẩu không chỉ đơn thuần là những mặt hàng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân mà còn cung cấp trang thiết bị, tư liệu sản xuất hiện đại phục vụ cho sự phát triển sản xuất cho tất cả các ngành, các địa phương, sản xuất trong nước chưa đáp ứng được vật tư, máy móc, thiết bị, dây truyền công nghệ phục vụ cho sản xuất trong nước. Thông qua hoạt động nhập khẩu thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật dưới hình thức mua bán máy móc, thiết bị, dây truyền công nghệ của
  4. nước ngoài. Tất nhiên nhập khẩu hàng hoá không phải là con đường chủ yếu để phát triển một nền kinh tế tự chủ. Mà xu thế chung của thế giới hiện nay là “Thay thế hàng nhập khẩu là con đường dẫn đến công nghiệp hoá”. Nước ta là nước có nền kinh tế đang phát trỉên nên có sự mất cân đối trên nhiều mặt: Tiền tệ, hàng hoá, sản xuất & tiêu dùng… Vì vậy nhập khẩu đóng một vai trò quan trọng. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn phát triển chậm chạp, kỹ thuật lạc hậu, thiếu vốn, trình độ quản lý còn hạn chế thì việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, vốn, công nghệ…sẽ tạo điều kiện tiền đề, vật chất thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hoạt động nhập khẩu còn tranh thủ khai thác được tiềm năng thế mạnh về hàng hoá, về vốn, công nghệ của nước ngoài cũng như tăng cường giao lưu quốc tế nhằm mở rộng quan hệ đối ngoại, tăng cường hiểu biết lẫn nhau trên thương trường quốc tế. Như vậy nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nước. Tuy nhiên chọn mặt hàng nhập khẩu nào, thị trường ở đâu, phương thức thanh toán như thế nào vẫn là những vấn đề cần thiết phải đặt ra cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Do nước ta có nền kinh tế kém phát triển nên việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ là cần thiết. Nhưng Nhà nước cần phải quản lý chặt chẽ để tránh tình trạng chạy theo lợi nhuận để nhập các thiết bị máy móc lỗi thời, lạc hậu và những mặt hàng tiêu dùng kém phẩm chát nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển và bảo vệ sức khoẻ cho người tiêu dùng. Do vậy, đối tượng của hoạt động nhập khẩu thường xuyên chịu sự chi phối của chính sách xuất nhập khẩu cuả Nhà nước. Nhà nước tiến hành quản lý hoạt động này bằng các chính sách như: Giấy phép nhập khẩu, thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, điều chỉnh tỷ giá hối đoái và các văn bản pháp luật quy định danh mục mặt hàng được phép nhập khẩu. Những quy định này thường xuyên được điều chỉnh, sửa đổi sao cho phù hợp với mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay, vai trò quan trọng của nhập khẩu được thể hiện ở các khía cạnh sau:
  5. - Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng công nghiệp hoá đất nước. - Bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn định. - Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân, vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của người dân về hàng tiêu dùng, vừa đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động. - Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu. Sự tác động này thể hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng Việt Nam ra nước ngoài. 2. Đặc điểm hoạt động nhập khẩu trong doanh nghiệp. 2.1.Đặc điểm nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá. 2.1.1Nội dung, phạm vi thời điểm xác định hàng nhập khẩu. * Hàng nhập khẩu là hàng hoá nước ta mua của nước ngoài theo các hợp đồng ký kết giữa các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu trong nước với nước ngoài. Hàng nhập khẩu thường được đóng bao, gói nguyên đai, nguyên kiện, nguyên toa, nguyên tàu, bên ngoài ghi rõ các ký hiệu để phục vụ cho việc giao nhận, vận chuyển. * Những hàng hoá sau được coi là hàng nhập khẩu: - Hàng mua của nước ngoài bao gồm cả máy móc thiết bị tư liệu sản xuất hàng tiêu dùng và dịch vụ khác căn cứ vào những hợp đồng nhập khẩu mà các doanh nghiệp của nước ta đã ký kết với doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế của nước ngoài. - Hàng hoá nước ngoài đưa vào tham gia hội chợ, triển lãm nước ta, sau đó doanh nghiệp xuất nhập khẩu mua lại và thanh toán bằng ngoại tệ. - Hàng hoá nước ngoài viện trợ cho nước ta trên cơ sở các hiệp định, nghị định thư ký kết hợp giữa Chính phủ nước ta và nước ngoài thực hiện thông qua các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. * Thời điểm xác định hàng nhập khẩu.
  6. Theo thông lệ chung và nguyên tắc kế toán được thừa nhận thì thời điểm xác định là hàng nhập khẩu khi có sự chuyển quyền sở hữu hàng hoá và tiền tệ. Thời điểm này phụ thuộc vào điều kiện cơ sở giao hàng mà hai bên thoả thuận. - Nếu hàng nhập khẩu vận chuyển theo đường biển thì hàng nhập khẩu được tính từ ngày hàng đến hải vận nước nhập, hải quan cảng biển đã ký xác nhận vào tờ khai hàng nhập khẩu. - Nếu hàng hoá nhập khẩu vận chuyển bằng đường sắt hoặc đường bộ thì hàng nhập khẩu theo xác nhận của hải quan cửa khẩu. - Nếu hàng nhập khẩu bằng đường hàng không thì hàng nhập khẩu được tính từ ngày hàng đến sân bay đầu tiên của nước nhập khẩu theo xác nhận của hải quan sân bay đã hoàn thành thủ tục. Việc xác định hàng nhập khẩu có ý nghĩa rất lớn trong việc ghi chép kế toán đúng đắn chỉ tiêu doanh số nhập khẩu, giải quyết những thủ tục thanh toán, tranh chấp, khiều nại... 2.1.2. Các phương thức, hình thức kinh doanh nhập khẩu hàng hoá. a. Phương thức nhập khẩu: Hoạt động nhập khẩu được thực hiện bằng hai phương thức: - Nhập khẩu theo nghị định thư - Nhập khẩu tự cân đối: Ngoài nghị định thư Hai phương thức trên đều có thể được thực hiện theo các hình thức sau: - Nhập khẩu trực tiếp - Nhập khẩu uỷ thác. b. Các hình thức nhập khẩu: - Nhập khẩu trực tiếp: Là hình thức nhập khẩu mà trong đó các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu có đầy đủ những điều kiện kinh doanh nhập khẩu và được bộ thương mại cấp giấy phép cho phép trực tiếp giao dịch, ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá và thanh toán với nước ngoài phù hợp với luật pháp của hai nước.
  7. - Nhập khẩu uỷ thác là hình thức nhập khẩu được áp dụng đối với các doanh nghiệp có hàng hoá nhưng không có khả năng điều kiện và chưa được nhà nước cho phép nhập khẩu trực tiếp nên phải nhờ các doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp và nhập khẩu hộ. Theo hình thức này doanh nghiệp uỷ thác được hạch toán doanh thu nhập khẩu. Còn đơn vị nhận uỷ thác chỉ đóng vai trò đại lý và được hưởng hoa hồng theo sự thoả thuận giữa hai bên ký kết hợp đồng uỷ thác nhập khẩu. - Nhập khẩu hỗn hợp: là sự kết hợp của hai hình thức trên . Doanh nghiệp có thể vừa nhập khẩu trực tiếp vừa nhờ đơn vị khác nhập khẩu hoặc nhận uỷ thác nhập khẩu. 2.1.3. Đồng tiền thanh toán Trong qua trình đàm phán, ký kết hợp đồng, các bên phải thoả thuận với nhau về việc dùng loại tiền nào để thanh toán và cách xử lý khi giá trị đồng tiền đó bị biến động. Đồng tiền dùng vào việc thanh toán gọi là đồng tiền thanh toán (Money of payment). Đồng tiền thanh toán có thể bằng đồng tiền mước xuất khẩu hoặc đồng tiền của nước nhập khẩu hoặc bằng đồng tiền của nước thứ ba. Đó thường là một trong những ngoại tệ mạnh như USD, EUR, GBP, JPY… Việc sử dụng đồng tiền nào là tiền thanh toán trong hợp đồng thương mại quốc tế nói chung phụ thuộc các yếu tố sau: - Sự so sách lực lượng của hai bên mua và bán. - Vị trí của đồng tiền trên trường quốc tế. - Tập quán sử dụng đồng tiền thanh toán trên thế giới. - Đồng tiền thanh toán thống nhất trong các khu vực kinh tế trên thế giới. Khi tiến hành thanh toán, đặc biệt trong nhập khẩu hàng hoá bên nào cũng muốn sử dụng đồng tiền của nước mình vì có những lợi điểm sau: - Có thể qua đó nâng cao địa vị đồng tiền nước mình trên thị trường thế giới. - Không phải dùng đến ngoại tệ để trả nợ nước ngoài. - Có thể tránh được rủi ro do tỷ giá tiền tệ nước ngoài biến động gây ra.
  8. - Có thể tạo điều kiện tăng thêm xuất khẩu hàng của nước mình. Đồng tiền thanh toán có thể trùng hợp với đồng tiền tính giá (Account currency – Đồng tiền thể hiện giá cả và dùng để tính toán tổng giá trị hợp đồng) và cũng có thể không trùng hợp. Khi đồng tiền thanh toán và đồng tiền tính giá là hai đồng tiền khác nhau, người ta phải xác định tỷ giá để quy đổi hai đồng tiền đó. Trong đó, đặc biệt người ta lựa chọn: - Đó là tỷ giá chính thức hay tỷ giá thị trường. - Đó là tỷ giá của công cụ thanh toán nào (tỷ giá chuyển tiền bằng điện hay bằng thư). - Đó là tỷ giá tiền tệ nước nào (ở nước xuất khẩu, ở nước nhập khẩu hay ở nước thứ ba). - Đó là tỷ giá mua vào hay bán ra. Vì lợi ích của mình, người xuất khẩu muốn chọn đồng tiền thanh toán là một đồng tiền ít có khả năng mất giá, tự do chuyển đổi hoặc dễ dàng đổi ra vàng còn người nhập khẩu thì ngược lại. 2.1.4. Địa điểm thanh toán: Khi quy định địa điểm thanh toán vì lợi ích của mình, cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu đều muốn lấy nước mình làm địa điểm thanh toán, cụ thể là: - Đối với người nhập khẩu, khi trả tiền tại nước mình có thể đến ngày trả tiền mới phải chi tiền ra, đỡ bị đọng vốn. Còn đối với người xuất khẩu, có thể thu tiền về nhanh chóng nên luân chuyển vốn nhanh. - Ngân hàng nước mình thu được thủ tục phí của nghiệp vụ thanh toán quốc tế. - Có thể tạo điều kiện nâng cao được địa vị của thị trường tiền tệ nước mình trên thị trường thế giới. Địa điểm thanh toán trong thương mại quốc tế có thể ở nước người nhập khẩu hoặc ở nước người xuất khẩu hoặc ở nước thứ ba. Nhưng trong thực tế việc xác định địa điểm thanh toán phụ thuộc quan trọng vào thế và lực của hai bên, ngoài ra còn có thể thấy nếu sử dụng đồng tiền của nước người xuất khẩu hay nước người nhập khẩu
  9. để thanh toán thì địa điểm thanh toán thường là ở nước có đồng tiền được sử dụng để thanh toán. 2.1.5. Thời gian thanh toán. Thời hạn thanh toán có quan hệ chặt chẽ tới việc luân chuyển vốn, lợi tức khả năng có thể tránh được rủi ro do biến động về tiền tệ thanh toán, nên nó là vấn đề quan trọngvà thường là sự thoả thuận khó khăn trong giao dịch đàm phán khi ký kết hợp đồng. Hiện nay, có ba cách quy định về thời gian thanh toán mà hai bên phải thoả thuận chọn lấy một. Đó là trả tiền trước, trả tiền ngay hay trả tiền sau: a. Trả tiền trước ( Advance Paymen) Điều kiện trả tiền trước nghĩa là sau khi hợp đồng mua bán ngoại thương được ký kết, doanh nghiệp xuất nhập khẩu giao cho đối tác toàn bộ hoặc một phần tiền hàng trước khi hàng hoá được đặt dưới quyền định đoạt của mình hoặc trước khi đối tác thực hiện đơn hàng của mình. Mức tiền ứng trước nhiều hay ít phụ thuộc vào tầm quan trọng của hàng hoá. Hiện nay, tiền ứng trước thường chỉ từ 5 – 10% giá trị hợp đồng. Số tiền này chính là khoản tiền tín dụng mà người mua cung cấp cho người bán. Mục đích của việc trả tiền trước có thể là người mua muốn cấp tín dụng ngắn hạn cho người bán hay để đảm bảo thực hiện hợp đồng. Nếu khoản tiền trả trước lớn, thời hạn tương đối dài, thì giá hàng khi bán sẽ giảm bớt so với giá thị trường, còn nếu trả trước để đảm bảo thực hiện hợp đồng thì thời hạn trả trước thường rất ngắn (10 hay 15 ngày). người bán chỉ giao hàng khi nhận được báo có số tiền ứng trước và thông thường không tính lãi đối với số tiền ứng trước này. b. Trả tiền ngay Là việc thanh toán vào trước lúc hoặc trong lúc người xuất khẩu đặt chứng từ hàng hoá hoặc đặt bản thân hàng hoá dưới quyền định đoạt của người mua. Việc trả tiền ngay có thể được tiến hành bằng cách trả toàn bộ tiền hàng ngay một lúc, hoặc bằng cách trả từng phần. Việc trả toàn bộ tiền hàng ngay một lúc đòi hỏi người mua phải trả toàn bộ giá trị hàng theo một trong các điều kiện sau:
  10. - Khi nhận được điện báo của người xuất khẩu về việc đã sẵn sàng để gửi hàng. - Khi nhận được điện báo của người chuyên chở về việc đã hoàn thành việc bốc hàng ở địa điểm đã gửi hàng. - Khi toàn bộ chứng từ quy định trong hợp đồng được trao cho người mua. - Sau một số ngày hoặc một số giờ ưu huệ nhất định kể từ khi toàn bộ chứng từ quy định được trao cho người mua. Việc trả ngay từng phần đòi hỏi người mua phải trả tiền hàng trong một số đợt được thoả thuận trong hợp đồng, căn cứ vào các điều kiện giao hàng hoặc mức độ sẵn sàng của hàng hoá. c. Trả tiền sau Là việc người bán cung cấp cho người mua một khoản tín dụng theo sự thoả thuận của hai bên. Khoản tín dụng này được hoàn trả bằng tiền hoặc bằng hàng hoá. Trả tiền sau thường gồm các loại: - Trả tiền sau một ngày nào đó kể từ ngày nhận được thông báo của người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, không trên phương tiện vận tải tại nơi giao hàng quy định (Chẳng hạn: Các điều kiện giao hàng tại xưởng EXW, giao dọc mạn tàu FAS, giao tại biên giới DAF, giao cho người vận tải FCA – Incoterms 2000). - Trả tiền sau một số ngày nào đó kể từ ngày người bán đã hoàn thành giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi giao hàng. - Trả sau một số ngày nào đó kể từ ngày người mua nhận được toàn bộ chứng từ quy định trong hợp đồng. - Trả tiền sau một số ngày nào đó kể từ ngày nhận xong hàng hoá. ở hai hình thức trả trước và trả sau các bên thường quan tâm đến số tiền tín dụng, thời hạn tín dụng, lãi suất tín dụng và điều kiện hoàn trả. Hiện tại đồng tiền nước ta mất giá liên tục so với ngoại tệ, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu không nên mua hàng trả chậm, nếu cần thiết thì khi mua phải tính toán chu đáo, phải lường trước sự tăng giá của ngoại tệ khi đến hạn thanh toán và phải tôn trọng các quy định của Nhà nước. 2.1.7. Phương thức thanh toán.
  11. Phương thức thanh toán quốc tế là điều kiện quan trọng bậc nhất trong các điều kiện thanh toán quốc tế cũng như trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh ngoại thương. Phù hợp với thông lệ quốc tế, tập quán của mỗi nước cũng như từng hợp đồng ngoại thương, hiện nay các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu sử dụng một số phương thức thanh toán quốc tế thông dụng sau: * Phương thức trả tiền mặt Người mua thanh toán tiền mặt cho người bán khi ký hợp đồng hoặc đặt hàng (CWD - cash with order) hoặc trước khi người bán giao hàng (CBD – Cash before delivery) hoặc khi người bán giao hàng ( COD – Cash on delivery) hoặc khi người bán xuất trình chứng từ . Phương thức này tuy đơn giản nhưng trong thanh toán quốc tế hiện nay ít dùng vì rủi ro cao và hiệu quả thấp. * Phương thức chuyển tiền Có thể trả bằng điện (T/T) hoặc có thể chuyển bằng thư(M/T) Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán mà trong đó khách hàng (người trả tiền, người mua, người nhập khẩu) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán, người xuất khẩu) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu. * Phương thức nhờ thu. Bao gồm nhờ thu phiếu trơn hoặc nhờ thu kèm chứng từ. Là phương thức thanh toán mà trong đó, người bán sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho người mua sẽ ký phát hối phiếu đòi tiền người mua, uỷ thác cho ngân hàng của mình thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ hàng hoá thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng. * Phương thức tín dụng chứng từ: Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là sự thoả thuận mà trong đó, một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền cuả thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó
  12. khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong một văn bản gọi là thư tín dụng (Letter of credit – L/C). Trong thương mại quốc tế, các bên tham gia trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bao gồm: - Người xin mở thư tín dụng: là người mua, người nhập khẩu hàng hoá. - Ngân hàng mở thư tín dụng: là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, nó cung cấp tín dụng cho người nhập khẩu. - Người hưởng lợi thư tín dụng: là người bán, người xuất nhập khẩu hay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định. - Ngân hàng thông báo thư tín dụng: là ngân hàng ở nước người hưởng lợi. * Sơ đồ trình tự hạch toán bằng thư tín dụng: 2 5 Ngân hàng mở L/C Ngân hàng thông 6 báoL/C 8 7 1 6 5 3 3. 4 Người nhập khẩu Người xuất khẩu Giải thích sơ đồ: 1 Người nhập khẩu làm đơn xin mở L/C và gửi cho ngân hàng phục vụ mình yêu cầu mở L/C cho người xuất nhập khẩu hưởng. 2 Căn cứ vào yêu cầu và đơn xin mở L/C, ngân hàng mở L/C sẽ lập một hộp thư tín dụng và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu thông báo về việc mở L/C và chuyển L/C đến người xuất khẩu. 3 Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở L/C, và khi nhận được bản gốc L/C thì chuyển ngay cho người xuất khẩu. 4
  13. Người bán nếu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, nếu không thì đề nghị người mua và ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng, đến khi chấp nhận mới giao hàng. 5 Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ thanh toán theo yêu cầu của L/C xuất trình trong ngân hàng L/C thông qua ngân hàng thông báo để đòi tiền. 6 Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy không phù hợp với L/C thì trả tiền cho người xuất khẩu. Nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại 7 toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu. Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ hàng hoá cho người nhập khẩu. 8 Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì hoàn trả tiền lại cho ngân hàng mở L/C, nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền. Các loại thư tín dụng sử dụng trong thanh toán quốc tế: - Thư tín dụng có thể huỷ bỏ ( Revocable L/C ). - Thư tín dụng không thể huỷ bỏ (Irrevocable L/C ) - Thư tín dụng không thể huỷ bỏ, miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C ). - Thư tín dụng không thể huỷ bỏ, có xác nhận - Thư tín dụng đối ứng - Thư tín dụng có thể chuyển nhượng - Thư tín dụng tuần hoàn - Thư tín dụng giáp lưng - Thư tín dụng với điều khoản đỏ - Thư tín dụng dự phòng Ngoài các phương thức thanh toán trên người ta còn sử dụng các phương tiện thanh toán quốc tế như hối phiếu, séc, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, thẻ thông minh. ..Trong các loại thanh toán trên thì séc và hối phiếu được sử dụng nhiều nhất hiện nay.
  14. III. Kế toán hoạt động nhập khẩu hàng hoá theo chế độ kế toán hiện hành. 1. Kế toán nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá: 1.1. Kế toán nghiệp vụ nhập khẩu trực tiếp: - Chứng từ sử dụng trong hạch toán nghiệp vụ này gồm: + Hợp đồng XNK + Hoá đơn thương mại + Vận tải đơn + Giấy chứng nhận bảo hiểm + Giấy chứng nhận xuất xứ + Biên bản giám định chất lượng + Giấy chứng nhận kiểm dịch và giấy chứng nhận vệ sinh + Biên lai nộp thuế; tờ khai hải quan... Tài khoản sử dụng. - Trong hạch toán nghiệp vụ nhập khẩu kế toán sử các tài khoản sau: TK 151, TK 156, TK 157, TK 133, TK 3331, TK 3332, TK 144, TK 007, TK 002, TK413, TK 242, TK515, TK635, TK 131, TK 331. * Kết cấu của một số tài khoản: * TK 151 “ Hàng mua đang đi đường”: Dùng để theo dõi, ghi chép hàng nhập khẩu của doanh nghiệp đến cuối kỳ kế toán, chứng từ đã về nhưng hàng chưa về nhập kho. `Bên nợ: Phản ánh giá trị hàng nhập khẩu chưa về nhập kho, số tiền thuế nhập khẩu của lô hàng nhập khẩu. Bên Có:Phản ánh giá trị hàng hóa đã về nhập kho hoặc chuyển bán thẳng cho khách hàng. - Số dư nợ: trị giá hàng nhập khẩu chưa về nhập kho đến cuối kỳ.
  15. * TK 156 “ Hàng hoá”: được dùng để ghi chép, phản ánh hàng nhập khẩu đã nhập kho hàng của doanh nghiệp. - Bên nợ: + Giá mua vào của hàng hoá nhập kho, nhập quầy. + Chi phí thu mua hàng hoá thực tế phát sinh. + Trị giá hàng hoá thuê ngoài gia công, chế biến hoàn thành, nhập kho,nhập quầy (bao gồm giá mua vào, chi phí gia công, chế biến) + Trị giá hàng hoá bị người mua trả lại nhập kho, nhập quầy. + Trị giá hàng hoá phát hiện thừa qua kiểm kê tại kho, tại quầy. - Bên có: + trị giá mua thực tế của hàng hoá xuất kho, xuất quầy. + Chi phí thu mua phân bổ cho hàng hoá tiêu thụ trong kỳ. + Các khoản bớt giá, giảm giá, hồi khấu hàng mua. + Trị giá hàng hoá phát hiện thiếu tại kho, tại quầy. - Số dư nợ: + Trị giá mua vào của hàng hoá tồn kho, tồn quầy. + Chi phí thu mua của hàng hoá tồn kho, của hàng gưỉ bán. * TK 157 “ Hàng gửi bán”: dùng để phản ánh trị giá mua vào hàng hoá chuyển bán, gửi bán đại lý, ký gửi. dịch vụ dã hoàn thành nhưng chưa xác định là tiêu thụ. TK 157 được mở chi tiết theo từng loại hàng hoá, từng lần gửi hàng từ khi gửi đi cho đến khi được chấp nhận thanh toán... - Bên Nợ: + Tập hợp trị giá mua thực tế của hàng hoá đã chuyển bán hoặc giao bên nhận đại lý, ký gửi. + Giá thành thực tế dịch vụ đã hoàn thành nhưng chưa được chấp nhận thanh toán.
  16. - Bên có: + Kết chuyển trị giá mua thực tế hàng hoá chuyển bán, gửi đại lý, ký gửi và giá thành dịch vụ đẫ được xác định là tiêu thụ. + Trị giá mua thực tế hàng hoá không bán dã được thu hồi (bị người mua, người nhận đại lý, ký gưỉ trả lại). - Số dư nợ: Trị giá mua thực tế hàng hoá đã được gưỉ đi chưa được xác định là tiêu thụ. *TK 133 “ Thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ”: được dùng để phản ánh số thuế giá trị gia tăng đầu vào và tình hình khấu trừ thuế. - Bên Nợ: Số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ tăng trong kỳ. - Bên có: + Khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. + Hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào. + Phân bổ thuế giá trị gia tăng đầu vào không được khấu trừ. - Số dư bên nợ: Số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ ở kỳ sau. * TK 331 “ Phải trả cho người bán”: Dùng để ghi chép, phản ánh tình hình thanh toán tiền hàng nhập khẩu cho người bán. Bên có: + Nhận hàng liên quan đến việc trả trước cho người bán. + Công nợ phải trả người bán tăng trong kỳ. - Bên Nợ: + Thanh toán công nợ cho người bán. + Hàng mua bị trả lại. + Giảm giá hàng mua. + Chiết khấu mua hàng. + Trả trước tiền mua hàng.
  17. - Số dư bên có: Công nợ phải trả người bán hiện còn đến cuối kỳ. - Số dư bên nợ: Số tiền đã đặt trước cho người bán đến cuối kỳ chưa nhận hàng. * TK 413 “ Chênh lệch tỷ giá” được dùng để theo dõi số chênh lệch do thay đổi tỷ giá ngoại tệ của doanh nghiệp (ngoại tệ tồn quỹ, ngoại tệ gửi ngân hàng, ngoại tệ đang chuyển, công nợ bằng ngoại tệ) và tình hình xử lý số chênh lệch ngoại tệ. Kết cấu TK 413 như sau: - Bên nợ: + Khoản chênh lệch giảm tỷ giá đối với số dư ngoại tệ, công nợ phải thu cuối kỳ khi mua vật tư, hàng hoá, tài sản, ngoại tệ, chi phí kinh doanh. + Khoản chênh lệch tăng tỷ giá đối với số dư công nợ phải trả cuối kỳ và doanh thu bán hàng trong kỳ. + Kết chuyển số chênh lệch tỷ giá cuối kỳ. - Bên có: + Khoản chênh lệch tăng tỷ giá đối với số dư ngoại tệ và công nợ phải thu cuối kỳ và chi phí mua vật tư, tài sản, hàng hoá, ngoại tệ, chi phí kinh doanh. + Khoản chênh lệch giảm tỷ giá đối với công nợ phải trả cuối kỳ và doanh thu bán hàng trong kỳ. +Xử lý số chênh lệch tỷ giá cuối kì -Dư nợ (nếu có ): Số chênh lệch tỷ giá chưa có nguồn bù đắp -Dư có (nếu có) : Chênh lệch tỷ giá chưa sử dụng *TK 002 ‘’Vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ , nhận gia công’’:được dùng để phản ánh giá trị vật tư, hàng hoá của đơn vị khác đến thuê gia công , chế biến hoặc giữ hộ , được mở chi tiết theo từng loại vật tư , hàng hoá , từng nơi bảo quản và từng chủ sở hữu.Mọi chi phí liên quan đến việc gia công , chế biến , bảo quản vật tư hàng hoá được phản ánh vào các TK tập hợp chi phí trong bảng cân đối kế toán Kết cấu của TK 002:
  18. -Bên nợ : Giá trị vật tư hàng hoá nhận giữ hộ , chậm gia công tăng thêm. -Bên có : Giá trị vật tư tiêu hao theo định mức nằm trong số sản phẩm giao trả. -Dư nợ : Giá trị vật tư , hàng hoá hiện còn giữ hộ hay nhận gia công * TK 007 ‘’Ngoại tệ các loại’’dùng để theo dõi tình hình thu, chi, còn lại của các loại ngoại tệ trong đơn vị và được mở chi tiết theo từng loại ngoại tệ (USD, JPY, GBP, DEM....) Kết cấu của TK 007 : -Bên nợ : Số ngoại tệ tăng thêm trong kì Bên có :Số ngoại tệ giảm trong kì Dư nợ: Số nguyên tệ hiện còn - Trình tự hạch toán: Khi chuyển tiền ký quỹ ở ngân hàng để mở LC thì Kế toán ghi Nợ TK 144: Thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn. Có TK 111: Tiền mặt( TK 1112- ngoại tệ) CóTK 112 : Tiền gửi ngân hàng( TK1122- ngoại tệ) Đồng thời ghi Có TK 007: số nguyên tệ sử dụng ký quỹ. - Khi nhận thông báo số hàng Nhập khẩu đã về đến cảng hoàn thành thủ tục hải quan được xác định là hàng Nhập khẩu. Kế toán ghi: + Nếu phát sinh lỗ tỷ giá trong giao dịch mua ngoài hàng hóa vật tư, dịch vụ thì kế toán ghi: Nợ TK 151:(Theo tỷ giá hối đoái ngày giao dịch) Nợ TK 635: Chi phí tài chính( Lỗ tỷ giá hối đoái) Có TK 144: (Theo tỷ giá hối đoái ghi sổ kế toán) Có TK 331:( Theo tỷ giá hối đoái ngày giao dịch) + Nếu phát sinh lãi tỷ giá trong giao dịch mua ngoài hàng hoá vật tư, dịch vụ thì kế toán ghi:
  19. Nợ TK 151:( Theo tỷ giá hối đoái ngày giao dịch) Có TK 144: ( Theo tỷ giá ghi sổ kế toán) Có TK 331: ( Theo tỷ giá ngày giao dịch) Có TK 515: Doanh thu từ hoạt động tài chính( Lãi tỷ giá hối đoái) Đồng thời ghi Có TK007- Số ngoại tệ đã thanh toán - Tính thuế nhập khẩu của hàng nhập khẩu. Kế toán ghi: Nợ TK 151: Theo thuế nhập khẩu Có TK 333(3333): Theo thuế nhập khẩu - Tính thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu. Kế toán ghi: + Nếu Doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ Nợ TK 1331: Theo thuế giá trị gia tăng phải nộp Có TK 33312: Theo thuế giá trị gia tăng phải nộp + Nếu Doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp trực tiếp Nợ TK 151: Theo thuế giá trị gia tăng phải nộp Có TK 33312: Theo thuế giá trị gia tăng phải nộp + Khi nộp thuế Nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu Nợ TK 333(3333):Theo số nộp Có TK 111,112: Theo số nộp. - Khi hàng nhập khẩu về nhập kho kế toán ghi: Nợ TK 156.1: Theo giá mua thực tế hàng nhập khẩu. - Chi phí phát sinh liên quan đến hàng nhập khẩu về nhập kho, Kế toán ghi; Nợ TK 1562: Chi phí chưa thuế Nợ TK 1331 Có TK 111,112,141: Chi phí theo giá thanh toán
  20. - Nếu hàng nhập khẩu không nhập kho gửi bán thẳng hoặc bán thẳng trao tay ba, kế toán ghi: Nợ TK 157 Nợ TK 632 Có TK 151 - Bán hàng nhập khẩu tại cảng, kế toán ghi: Nợ TK 111,113,131: Số tiền theo giá thanh toán Có TK 5111: Doanh thu chưa thuế Có TK 33311: Thuế giá trị gia tăng đầu ra - Kết chuyển hàng hoá tiêu thụ, kế toán ghi Nợ TK 632: Trị giá thực tế Có TK 151: Trị giá thực tế * Cuối năm tài chính kế toán đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ( đơn vị tiền tệ khác với đơn vị tiền tệ chính thức sử dụng trong kế toán) theo tỷ giá hối đoái ở thời điểm cuối năm tài chính theo tỷ giá hối đoái bình quân liên ngân hàng do ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm cuối năm tài chính, có thể phát sinh chênh lệch tỷ giá( lãi hoặc lỗ). - Nếu phát sinh lãi tỷ giá hối đoái, kế toán ghi: Nợ các TK111(1112),112(1122),131,136,138,311,315,.... Có TK 413: Chênh lệch tỷ giá hối đoái - Nếu phát sinh lỗ tỷ giá hối đoái, kế toán ghi: Nợ TK 413: Chênh lệch tỷ giá hối đoái Có TK 111(1112),112(1122),131,136,138,311,315..... *Xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái đánh giá lại cuối năm Cuối năm kết chuyển toàn bộ khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái đánh giá lại cuối năm tài chinh của hoạt động kinh doanh

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản