
Bàn vềnghiệp vụBảo hiểm nhân thọvà
các loại hình Bảo hiểm nhân thọ đang
đợc triển khai ởViệt Nam hiện nay
LỜI MỞĐẦU
Nh chúng ta dêu biết,trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày cũng nh trong hoạt dộng
sản xuất kinh doanh,dù đã luôn luôn chú ý ngăn ngừađề phòng nhng con ngời vẫn luôn
luôn phảiđối mặt với nguy cơrủi ro trong mọi lĩnh vực.Cảc rủi ro xảy ra có thểdo nhiều
nguyên nhân nh rủi ro do môi trờng,thiên nhiên,xã hôi nh:bão lụt,hạn hán, động đất,bệnh
dịch,tai nạn....Tất thảy mọi rủi ro đó đềuđe doạ đến khảnăng tài chính của mỗi cá
nhân,những con ngời không may găp tai nạn.Để ngăn ngừa,khắc phục những rủi ro trên
ngời ta nghỉ đến việc tai sao không đoàn kết cộng đồng,liên hợp nhiều ngời lạiđể chia sẻ
mất mát với những con ngời kém may mắnđó?Một cá thểhay một tập thểnhỏnếuđơn
phơng gánh chịu những hậu quảnặng nềcủa một hiểm hoạthì thiệt hạiđó có thểquá lớn
thạm chí có thểdẫn tới phá sản. Nhng nếu phân tán đợc cho nhiều ngời thì rủi ro có thểbớt
nặng nề, ai nấyđều có thểgánh chịu dễdàng mà không ảnh hởng gì đếnđời sống và hoạt
động sản xuất kinh doanh của cá nhân mình. Nh vậy xét trên diện rộng là cảcộng đồng thì
hành động này tận dụng đợc tốiđa mọi nguồn lực xã hội và lợi ích xã hội thu đợc là rất lớn.
ý niệm cộng đồng hoá các rủi ro phát sinh đã dẫn tới hình thành các Công ty bảo hiểm.
Các công ty bảo hiểm có thểhiểu nh một tổchức tài chínhmà hoạtđộng chủyếu nhằm bảo
vệtài chính cho những ngời tham gia hợpđồng bảo hiểm trong trờng hợp xảy ra các rủi ro
vềtửvong thơng tật, tuổi già, tài sản hay các rủi ro khác. Mặt khác, ngày nay khi nền kinh
tếhàng hoá - tiền tệngày càng phát triển thì ngời ta còn biếtđến các công ty bảo hiểm nh
các tổchức phi ngân hàng mà trong đó nó thực hiện chức năng nh một trung gian tài chính,
tức là góp phần giải quyết hiện tợng thừa thiếu vốn diễn ra thờng xuyên trong nền kinh tế,
đảm bảo cho quá trình tuần hoàn vốnđợc diễn ra troi chảy và nhanh chónh.

Nói tóm lại chúng ta có thểhiểu các công ty bảo hiểm là một tổchức hoạtđộng chủ
yếu nhằm bảo vệtài chính cho những ngời tham gia bảo hiểm trong những trờng hợp rủi
ro cam kết xảy ra hay là một loại hình tổchức tài chính phi ngân hàng đóng vai trò quan
trọng tong việc khơi nguồn vốn từnhững ngời cho vay - những ngời tiết kiệm tới những
ngờiđi vay - những ngời chi tiêu y nh một ngân hàng. Nó còn có thểhiểu nh một tổchức
tiết kiệm theo hợpđồng.
Bảo hiểm ra đời từrất lâu trên thếgiới và xuất hiệnđầu tiên ởnớc Anh.ởViệt nam
dới thời kỳpháp đô hộnăm 1918 Pháp đã thực hiện bảo hiểm cho công nhân viên chức bị
tàn tật. Đến năm 1945 chủtịch HồChí Minh kí xác lệnh vềBHXH, cho đến năm 1965
tổng công ty Bảo Hiểm việt nam ra đời gọi tắt là Bảo việt. Đây là đơn vịkd bảo hiểmđầu
tiên ởViệt Nam với hình thức là Bảo hiểm nhà nớc. Nhât là từkhi có nghị định 100CP về
BHTM thì hàng loạt công ty BHTM ra đời và từ đó đến nay nganh bảo hiểm của Việt Nam
không ngừng phát triển và đóng góp to lớn cho ngân sách nhà nớc. Đặc biệt là gần
đây(tháng 8 năm 1996)Bảo Việtđã triển khai mạnh mẽnghiệp vụmới, đó là bảo hiểm
nhân thọ,đây là nghiệp vụBH rất thiết thực và hiêu quảtrong cuộc sống vì nó vừa mang
tính tiết kiệm vừa mang tính Bảo hiểm rủi ro.
Với những u điểm của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọnói riêng thì việc
tham gia loại hình này luôn là vấnđề cần thiết.
Bảo Hiểm Nhân Thọlà loại hình Bảo hiểm con ngời mang tính chất một nghiêp vụ
Bảo hiểm bảođảm phân tán rủi ro theo qui luật số đông trong Bảo hiểm, đồng thời còn là
một hình thức tiết kiệm có kếhoạch. Mụcđích chính của Bảo hiểm nhân thọlà trảsốtiền
rất lớn ngay khi ngời tham gia Bảo hiểm mới tiết kiệmđợc sốtiền nhỏ. QuỹBảo hiểm
đợc hình thành trên cở đóng góp chung của cộng đồng ngời htam gia Bảo hiểm, trong quá
trình sửdụng nó tạo ra khoản lời cho nhà Bảo hiểm, nó đợc sửdụng hết vào viẹc trảtiền
Bảo hiểm khi có sựcốbảo hiểm xảy ra.
Thực tế ở Việt Nam hiện nay làm thếnào dểcho mọi ngời hiểu biết rõ vềBảo Hiểm
nhân thọvà thấyđợc lợi ích to lớn của nó từ đó thu hút đợc nhiều ngời tham gia Bảo hiểm
nhân thọ đủ lớn và hiệu quảsửdụng của nó có ý nghĩađối vớiđời sống xã hội, đây là một
vấnđề đang gạp nhiêù khó khăn nó phảiđợc sựquan tâm chung của mọi tổchức xã hội,
không chỉriêng ngành Bảo Hiểm. Xuất phát từnhững suy nghĩ đó nên việc chọnđề tài
“Bàn vềnghiệp vụBảo hiểm nhân thọvà các loại hình Bảo hiểm nhân thọ đang đợc
triển khai ởViệt Nam hiện nay” là rất thiết thực và có ý nghĩa to lớn vềmạt lý luận trong
lĩnh vực Bảo hiểm nói chung và trong Bảo hiểm nhân thọnói riêng.

Nội dung bài viết bao gồm:
Phần A: Lý luận chung.
I - Bảo hiểm nhân thọvà nguyên tác hoạtđộng.
II - Sựcần thiết và tác dụng của Bảo hiểm nhân thọ.
III - Các loại hình Bảo hiểm nhân thọcơbản.
Phần B: Những nội dung cơbản vềloại hình Bảo hiểm nhân thọ đang đợc triển
khai ởnớc ta hiện nay.
I - Bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam - khảnăng và triển vọng phát triển.
II - Bảo hiểm nhân thọcó thời hạn hỗn hợp và chơng trình AN SINH Giáo Dục.
III - Một sốý kiếnđề xuất.
PHẦN A
LÝ LUẬN CHUNG
Bảo hiểm nhân thọ đợc biết tới từthếkỷ16 và chính thức ra đời từnăm1583. Hợp
đồng đầu tiên ra đời tại nớc Anh. Công ty Bảo hiểm nhân thọra đờiđầu tiên tại châu
Mỹ(1579). Tuy vậy lúc đầu công ty này chỉbán cho các con chiên nhà thờcho nên nhiều
tầng lớp dân c trong xã hội cha biếtđến. Năm 1762 công ty Bảo hiểm nhân thọ ở nớc Anh
đơc thành lập và đã bắtđầu bán Bảo hiểm nhân thọcho tât cảmọi ngời dân. Bắtđầu từ
năm này mọi ngời dân trong xã hội mới biếtđến Bảo hiểm nhân thọvà dần dân cho đến
ngày nay Bảo hiểm nhân thọ ở các nớc phát triển cha từng thấy. Góp phầnđáng kểvào
GDP của quốc gia.
Vì vậy ta cần làm rõ vấnđề cơbản sau:
I- BẢO HIỂM NHÂN THỌVÀ NGUYÊN TẮC HOẠTĐỘNG:
1- Bảo Hiểm Nhân thọlà gì?
a- Khái niệm:
Bảo hiểm nhân thọlà sựcam kết giữa công ty bảo hiểm với ngời tham gia bảo hiểm
mà trong đó công ty bảo hiểm có trách nhiệm trảsốtiền bảo hiểm (sốtiền bảo hiểm) cho
ngời tham gia khi nguơì tham gia có những sựkiệnđã định trớc (chẳng hạn nh: chết thơng
tật toàn bộvĩnh viễn, hết hạn hợpđồng, sống đến một thời hạn nhấtđịnh. Còn ngời tham
gia Bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí Bảo hiểmđầyđủ và đúng thời hạn.

Nh vậy Bảo hiểm nhân thọ đơc hiểu nh một sựbảođảm”một hình thức tiết kiệm” và
mang tính chất tơg hỗ. Mỗi ngời mua hợpđồng Bảo hiểm nhân thọ(thờng gọi là ngờiđợc
BH) sẽ định kỳtrảnhững khoản tiền nhỏ( gọi là phí BH) trong mọt thời gian dài đã thoả
thuận trớc (gọi là thời hạn BH) vào một quỹlớn do công ty BH quản lý, và công ty BH có
trách nhiệm trảmột sốtiền lớnđã định trớc(gọi là sốtiền bảo hiểm) cho ngờiđợc bảo
hiểm khi ngờiđợc Bảo hiểmđạtđến mộtđộ tuổi nhấtđịnh, khi kết thúc thời hạn Bảo
hiểm hay khi có một sựkiện xảy ra ( ngờiđợc Bảo hiểm kết hôn hoặc vào đại học hoặc
nghỉhu... ) hoặc cho thân nhân và gia đình ngờiđợc Bảo hiểm nếu không may họchết
sớm hơn.
Sốtiền lớn trảcho thân nhân và gia đình ngời có hợpđồng Bảo hiểm nhân thọkhi
không may họchết sớm ngay khi họmới tiết kiệmđợc một khoản tiền rất nhỏsẽgiúp
những ngời còn sống chi trảnhững khoản phải chi tiêu rất lớn nh tiền thuốc thang, bác sỹ,
tiền ma chay, khoản tiền cần thiết cho những ngời còn sống, chi phí giáo giục cho con cái
nuôi dỡng cho chúng nên ngời. Chính vì vậy Bảo hiểm nhân thọ đợc coi là một hình thức
bảođảm và mang tính chất tơng hỗ, chia xẻrủi ro giữa một số đông ngời với một sốít
ngời trong sốhọphải gánh chịu. Với tính chất nh một hình thức tiết kiệm, hợpđồng Bảo
hiểm nhân thọgiúp cho mỗi ngời, mỗi gia đình có một kếhoạch tài chính dài hạn thực
hiện tiết kiệm thờng xuyên có kếhoạch.
Với xã hội nh một hình thức Bảo hiểm, Bảo hiểm nhân thọgóp phần xoá bỏ
nhữngđói nghèo, khó khăn của mỗi gia đình khi không may ngời trụcột trong gia đình mất
đi. Nh một hình thức tiết kiệm, việc triển khai Bảo hiểm nhân thọlà một hình thức tập
trung nguồn vốn tiết kiệm dài hạn trong nhân dân, góp phần tạo nên nguồn vốnđầu t dài
hạn trong nền kinh tế.
Bảo hiểm nhân thọ đợc coi là một hình thức tiết kiệm dài hạn nhng không phải là
hoàn toàn giống hệt nhau. Trong góc độ nghiên cứu ta cần phân biệt rõ vềhai hình thức
này vì nó rất thiết thực và gần gũi vơí đời sống của chúng ta. Thực tếBảo hiểm nhân thọ
xét vềmặt tích cực có những điểm giống và khác nhau so với hình thức tiết kiệm.
b- Sựgiống và khác nhau giữa Bảo hiểm nhân thọvà gửi tiền tiết kiệm:
+ Giống nhau:
- Giữa gửi tiền tiết kiệm và Bảo hiểm nhân thọlà đều thu hút đợc một lợng tiền mặt
rất lớn nằmởmọi cơquan dn, ởmọi thành phần kinh tế, mọi htành phần dân c từ đó tạo
lậpđợc một quỹ. Quỹnày đều góp phầnđầu t pt cho nền kinh tếtừ đó góp phần chống lạm
phát, tạo thêm công ăn việc làm cho mọi ngời trong xã hội.

- Ngời gửi tiền tiết kiệm khi kết thúc kì hạn gửi thì dợc nhận một hoản tiền gốc và
một khoản lãi xuất nhấtđịnh.
Bảo hiểm nhân thọkhi kết thúc các hợpđồng trong đạiđa sốcác nghiệp vụngời
tham gia cũng đợc nhận một khoản tiền nộp cho Bảo hiểmđồng thời cũng có thêm một
khoản lãi do đầu t nguồn vốn của công ty Bảo hiểm mang lại.
- Giữa gửi tiền tích kiệm và Bảo hiểm nhân thọ đều góp phần tích cực cho tăng trởng
và phát triển kinh tế, khắc phục những khó khăn tạođiều kiện thuận lợi cho mọi ngời lao
động và sinh hoạt hàng ngày có một tơng lai đảm bảoổnđịnh, thu hút những nguồn vốn
nhàn rỗi còn tồnđọng trong dân c mà cha đợc triển khai. Vì vậy mà cảhai hình thức này
đềuđợc nhà nớc bảo hộ.
+ Khác nhau:
- Mụcđích: cảhai hình thức khác nhau ởnhiềuđiểm nhiều khía cạnh.
Gửi tiền tiết kiệm mụcđích chính là nhận lãi suất và thờng đợc nhận trong một thời
gian thơì kì nhấtđịnh.
Bảo hiểm nhân thọmụcđích không chỉmang tính chất tiết kiệmđể lấy lãi mà còn
khắc phục những rủi ro. Nghĩa là Bảo hiểm nhân thọcòn mang tính chất tơng hỗ, tính xã
hội to lớn.
- Tính chất:
. Gởi tiền tích kiệm hoàn toàn mang tính kinh tế
. Bảo hiểm nhân thọngoài tính chất kinh tếra nó còn mang tính chất xã hội rõ rệt.
- Phơng th gửi và nộp:
. Gửi tiết kiệm: đợc tiến hành khi ngời có tiền mang đi gửi phảiđến các quỹtiết kiệm
hoạc ngân hàng để làm thủtục.
. Bảo hiểm nhân thọcó u thếhơn là làm thủtục và kí kết hợpđồng tại nhà.
- Ngời nhận quyền lợi tiền gửi tiết kiệm và ngời nhận sốtiền Bảo hiểm nhân thọ.
Trong gửi tiết kiệm ngời nhận và ngời gửi là một hoặc ngời thừa kếhợp pháp.
Trong Bảo hiểm nhân thọngời tham gia Bảo hiểm và ngời nhận sốtiền bảo hiểm có
nhiều khác nhau. cụthể:
-Đối với hoạtđộng Bảo hiểm nhân thọcó thời hạn: thờng thì ngời tham gia và ngời
nhận là nh nhau, chỉkhi ngời tham gia không may bịchết thì ngời nhận là ngời khác.
-Đối với hợpđồng ASGD thì ngời tham gia và ngời nhận là khác nhau.
2- Nguyên tắc hoạtđộng của Bảo hiểm nhân thọ:

