intTypePromotion=1

Luận văn: Những giải pháp vượt qua hàng rào phi thuế quan đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU và Mỹ

Chia sẻ: Nguyen Bao Ngoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:42

0
251
lượt xem
74
download

Luận văn: Những giải pháp vượt qua hàng rào phi thuế quan đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU và Mỹ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao với liên minh Châu Âu (EU) vào ngày 20/10/1990, (kí hợp đồng buôn bán hàng dệt may với EU ngày 15/12/1992) và hiệp định khung với EU ngày 17/7/1995. Các sự kiện quan trọng trên chính là yếu tố thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Liên minh Châu Âu phát triển mạnh trên cả ba lĩnh vực : thương mại, đầu tư và viện trợ, đặc biệt là lĩnh vực thương mại....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Những giải pháp vượt qua hàng rào phi thuế quan đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU và Mỹ

  1. Luận văn Những giải pháp vượt qua hàng rào phi thuế quan đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU và Mỹ
  2. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ................................................................................................................................. 2 PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN VÀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA EU VÀ MỸ............................................................................................ 5 I.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN .............................................. 5 I.1.1. Khái niệm và vai trò của hàng rào phi thuế quan .......................................................... 5 I.1.2. Các loại hàng rào phi thuế quan.................................................................................... 5 I.1.2.1. Hạn ngạch nhập khẩu ............................................................................................ 6 I.1.2.2. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện................................................................................. 6 I.1.2.3. Biện pháp liên quan đến quản lý giá ...................................................................... 7 I.1.2.4. Biện pháp liên quan đến doanh nghiệp .................................................................. 8 I.1.2.5. Biện pháp liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật .......................................................... 8 I.1.2.6. Biện pháp quản lý hành chính................................................................................ 9 I.2. CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA EU VÀ MỸ ......................................................... 9 I.2.1. Chính sách thương mại chung của liên minh Châu Âu (EU) ..................................... 9 I.2.1.1. Chính sách thương mại nội khối ........................................................................ 9 I.2.1.2. Chính sách ngoại thương của EU ...................................................................... 9 I.2.1.3. Quy chế nhập khẩu chung của EU ................................................................... 10 I.2.2. Chính sách thương mại của Mỹ .............................................................................. 13 I.2.2.1. Quy định về hải quan ...................................................................................... 13 I.2.2.2. Quy chế nhập khẩu chung của Mỹ ................................................................... 14 PHẦN II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM VÀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN ĐỐI VỚI HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM XUẤT KHẨU VÀO EU VÀ MỸ ............................................................................................................................ 18 II.1. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 18 II.1.1. Tình hình sản xuất, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản ............................................. 18 II.1.2. Thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào các thị trường ........................... 20 II.2. CÁC HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN CHỦ YẾU CỦA EU VÀ MỸ ĐỐI THỦY SẢN XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM ............................................................................... 26 II.2.1. Đối với thị trường EU ......................................................................................... 26 II.2.2. Đối với thị trường Mỹ .......................................................................................... 30 PHẦN III: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP VƯỢT QUA HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN NHẰM THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM VÀO. 33 THỊ TRƯỜNG EU VÀ MỸ .................................................................................................. 33 III.1.ĐỊNH HƯỚNG CHUNG ............................................................................................ 33 III.2. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ..................................................................................... 34 III.2.1. Chính sách tạo nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu ................................... 34 III.2.2. Chính sách thị trường ........................................................................................... 35 III.2.3. Chính sách tạo vốn .............................................................................................. 35 III.2.4. Chính sách công nghệ .......................................................................................... 36 KẾT LUẬN ........................................................................................................................... 38 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................... 40 1
  3. MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao với liên minh Châu Âu (EU) vào ngày 20/10/1990, (kí hợp đồng buôn bán hàng dệt may với EU ngày 15/12/1992) và hiệp định khung với EU ngày 17/7/1995. Các sự kiện quan trọng trên chính là yếu tố thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Liên minh Châu Âu phát triển mạnh trên cả ba lĩnh vực : thương mại, đầu tư và viện trợ, đặc biệt là lĩnh vực thương mại. Hiện nay EU thực sự là thị trường tiềm năng của Việt Nam. Điều này được thể hiện ở chỗ EU là một trong những trung tâm tiêu thụ lớn trên thế giới, có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về hàng hóa, nhu cầu nhập khẩu hàng năm của EU về những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là rất lớn. Đồng thời chính sách thương mại của EU đối với Việt Nam đang dần hoàn thiện. Hơn nữa EU là khu vực phát triển kinh tế khá ổn định trên thế giới, cùng với sự ra đời của đồng EURO, vị thế của EU ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Tại thời điểm này, Việt Nam lại đang thực hiện chiến lược “Công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu”. Do vậy, thị trường EU là môi trường lí tưởng cho các nhà xuất khẩu Việt Nam thể hiên sức mạnh của mình. Bên cạnh đó, một thị trường tiềm năng không kém thị trường EU là Hoa Kỳ. Kể từ ngày B.Clinton ký quyết định xóa bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam (3/2/1994), thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai nước (28/1/1995) và đặc biệt sau khi hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực (10/12/2001), quan hệ thương mại Việt - Mỹ đã có những bước phát triển đáng kể, kim ngạch hàng hóa hai chiều tăng mạnh, mở ra cho các doanh nghiệp hai nước cơ hội đầu tư, kinh doanh bình đẳng cùng có lợi, tạo đà quan trọng cho tiến trình phát triển Việt Nam – Hoa Kỳ sau bình thường hóa quan hệ. Trên thị trường thế giới, hàng thủy sản đựợc xếp vào nhóm sản phẩm cơ bản, luôn trong tình trạng cung không đáp ứng nổi cầu trên quy mô toàn cầu. 2
  4. Trong mấy năm vừa qua, Việt Nam luôn được xếp vào nhóm những nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, tính đến hết tháng 11 năm 2006 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã vượt ngưỡng trên ba tỷ USD (3,08 tỷ USD, tăng gần 25% so với cùng kỳ năm trước). Cơ hội còn rất nhiều, áp lực cạnh tranh cũng rất lớn, nếu muốn trụ vững trên thương trường quốc tế, đặc biệt khi một số nước tham gia xuất khẩu tăng lên và mở rộng năng lực sản xuất, đồng thời các nước nhập khẩu sẽ đưa ra những hàng rào thương mại ngày càng khắt khe hơn mà nhất là những rào cản phi thuế quan của hai thị trường lớn là EU và Mỹ. Để xuất khẩu thủy sản Việt Nam trụ vững trên thương trường thế giới, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản vào hai thị trường lớn này, chúng ta phải làm gì để vượt qua được hàng rào phi thuế quan đó? Xuất phát từ thực tế nêu trên và là một trong những người quan tâm đến vấn đề này , em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Những giải pháp vượt qua hàng rào phi thuế quan đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU và Mỹ” 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU a. Mục tiêu chung Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam, từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm vượt qua hàng rào phi thuế quan của hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU và Mỹ. b.Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu những rào cản phi thuế, cụ thể ở thị trường EU và Mỹ. - Đánh giá thực trạng xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam và tìm ra các nguyên nhân chủ yếu. - Đề xuất định hướng và đưa ra một số giải pháp cụ thể để vượt qua hàng rào phi thuế quan của ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam trên hai thị trường EU và Mỹ. 3
  5. 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU a. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan về xuất khẩu hàng thủy sản và một số hàng rào phi thuế quan. b.Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về nội dung: Tập trung vào nghiên cứu hàng rào phi thuế quan và các giải pháp vượt qua các hàng rào phi thuế quan của hàng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trên hai thị trường EU và Mỹ. Phạm vi về thời gian: tìm hiểu vấn đề chủ yếu qua các năm 2000 - 2006 4
  6. PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN VÀ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA EU VÀ MỸ I.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN I.1.1. Khái niệm và vai trò của hàng rào phi thuế quan Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu, biện pháp và các công cụ mà các quốc gia sử dụng nhằm điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế phù hợp với các lợi thế quốc gia trong từng thời kỳ nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho quốc gia từ thương mại quốc tế. Khi tham gia vào thương mại quốc tế, các quốc gia sẽ phát huy được các thế mạnh của nước mình, tận hưởng được những lợi thế từ thị trường thế giới. Nhưng mặt khác cũng sẽ bộc lộ những mặt yếu kém và bất lợi của chính quốc gia đó. Do vậy các quốc gia thường phải sử dụng một hệ thống các cộng cụ để điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế. Trong đó phải kể đến việc sử dụng hàng rào phi thuế quan – một công cụ được coi là linh hoạt, tác động nhanh, mạnh. Hiện nay có nhiều quan niệm về hàng rào phi thuế quan, tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) năm 1997 đã định nghĩa : “Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp biên giới nằm ngoài phạm vi thuế quan có thể được các quốc gia sử dụng, thông thường dựa trên cơ sở lựa chọn, nhằm hạn chế nhập khẩu”. Như vậy vai trò chính của hàng rào phi thuế quan chính là nhằm hạn chế nhập khẩu, một quốc gia khi sử dụng hàng rào phi thuế quan này thực chất là việc bảo hộ cho nền sản xuất trong chính quốc gia đó. Ngoài ra, hàng rào phi thuế quan không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo hộ thị trường nội địa, hướng dẫn tiêu dùng, điều tiết vĩ mô nền kinh tế khá có hiệu quả mà còn là công cụ dùng để phân biệt đối xử trong quan hệ đối ngoại. I.1.2. Các loại hàng rào phi thuế quan Các hàng rào phi thuế quan chủ yếu mà các nước thường áp dụng là: 5
  7. I.1.2.1. Hạn ngạch nhập khẩu Hạn ngạch nhập khẩu được hiểu là quy định của Nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hoặc một nhóm hàng được phép nhập khẩu từ thị trường nhất định trong một khoảng thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép. Hạn ngạch nhập khẩu đưa tới sự hạn chế số lượng hàng nhập khẩu đồng thời gây ra ảnh hưởng đến giá nội địa của hàng hóa, do mức cung hàng hóa thấp đi làm cho giá cân bằng cao hơn so với giá trong thương mại tự do. Hạn ngạch nhập khẩu tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước thực hiện quy mô sản xuất với hiệu quả thấp hơn so với điều kiện thương mại tự do. Hạn ngạch nhập khẩu là một công cụ quan trọng để thực hiện chiến lược sản xuất thay thuế nhập khẩu bảo hộ nền sản xuất nội địa. I.1.2.2. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là biện pháp hạn chế xuất khẩu mà theo đó một quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt lượng hàng xuất sang nước mình một cách “tự nguyện”, nếu không các quốc gia nhập khẩu sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết để buộc các quốc gia xuất khẩu phải giảm bớt số lượng hàng hóa xuất khẩu sang nước mình. Thực chất hạn chế xuất khẩu tự nguyện là những cuộc thương lượng mậu dịch giữa bên xuất khẩu và bên nhập khẩu để hạn chế bớt sự xâm nhập của hàng hóa nhập khẩu nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định ở các nước nhập khẩu, chẳng hạn: tạo công ăn việc làm, bảo hộ những ngành công nghiệp non trẻ có tiềm năng... Khi thực hiện hạn chế xuất khẩu tự nguyện nó có tác động kinh tế tương tự như hạn ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên hạn ngạch nhập khẩu mang tính chủ động và thường là biện pháp tự bảo vệ thị trường trong nước còn hạn chế xuất khẩu tự nguyện thực ra mang tính miễn cưỡng và gắn với những điều kiện nhất định. Hình thức này thường được áp dụng đối với những quốc gia có sản lượng xuất khẩu quá lớn ở một số mặt hàng nào đó. 6
  8. I.1.2.3. Biện pháp liên quan đến quản lý giá Các biện pháp quản lý giá nhập khẩu hoặc giá bán trong nước có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới xuất nhập khẩu hàng hóa. Việc tính giá tùy tiện sẽ gây nên những khó khăn lớn cho thương mại quốc tế vì giá tính thuế cao thì giá của sản phẩm nhập về sẽ cao, khả năng thanh toán sẽ giảm. Một số nước ngoài mục tiêu tránh gian lận thương mại họ khéo sử dụng biện pháp liên quan đến việc xác định trị giá tính thuế hải quan như một công cụ gián tiếp bảo hộ sản xuất trong nước. Trị giá tính thuế hải quan cao hoặc thấp sẽ tác động trực tiếp đến khoản thuế nhập khẩu mà các doanh nghiệp phải nộp và qua đó tác động lên giá bán của sản phẩm. Ở một số nước phát triển thường không sử dụng giá bán thực tế ghi trên hóa đơn để tính thuế mà dùng trị giá tính thuế tối thiểu hoặc giá tham khảo. Thậm chí có nước còn sử dụng giá hóa đơn cao nhất của sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ bất kì nước nào trong thời gian trước đó để xác định trị giá tính thuế. Cách xác định trị giá tính thuế như vậy khiến các nhà xuất khẩu phải chịu giá cao một cách vô lý và không thể dự đoán được khả năng cạnh tranh về giá sản phẩm của mình. Hiệp định xác định trị giá tính thuế quan của tổ chức thương mại thế giới quy định giá tính thuế hàng nhập khẩu là giá giao dịch, tức giá đã trả hoặc phải trả cho hàng hóa khi được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu có tính đến những điều chỉnh nhất định như phí hoa hồng, môi giới, đóng gói… Tổ chức thương mại thế giới không cho phép xác định trị giá tính thuế quan theo giá nhập khẩu tối thiểu và giá bán trong nước của hàng hóa tương tự được sản xuất tại nước nhập khẩu. Giá bán tối đa trong nước đối với một hàng hóa nào đó cũng có thể hạn chế nhập khẩu. Chính vì vậy Tổ chức thương mại thế giới thừa nhận các biện pháp quản lý giá tối đa dù cho có phù hợp với nguyên tắc không phân biệt đối sử cũng có thể tác động xấu tới lợi ích của các nước thành viên xuất khẩu. 7
  9. I.1.2.4. Biện pháp liên quan đến doanh nghiệp Với các hình thức sở hữu khác nhau nếu Nhà nước ban cho doanh nghiệp Nhà nước những độc quyền nhất định thì có thể gây ra những trở ngại nhất định đối với hoạt động thương mại quốc tế. Các doanh nghiệp Nhà nước được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu đã tạo ra một rào cản đối với hoạt động mua bán trên thị trường thế giới. Các nước sử dụng biện pháp này thường cho rằng họ cần phải bình ổn giá cả và khối lượng của các mặt hàng có ảnh hưởng lớn đến các cân đối lớn của nền kinh tế. Tuy nhiên trên thực tế biện pháp này đã hạn chế quyền kinh doanh xuất nhập khẩu tạo độc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định. I.1.2.5. Biện pháp liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật đều là những quy định về vệ sinh đo lường, an toàn lao động, bao bì, đóng gói ….Các tiêu chuẩn này thường được các nước áp dụng, một mặt chúng tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế bằng cách giúp cho người mua đánh giá được quy cách chất lượng sản phẩm, mặt khác chúng dễ trở thành rào cản thương mại nếu quá khác biệt giữa các nước. Trên thực tế một sản phẩm nhập khẩu nếu không đáp ứng được các quy định của yêu cầu kỹ thuật thì sẽ không được phép bán ra trên thị trường; về mặt tiêu chuẩn, nếu hàng nhập khẩu không tuân thủ các tiêu chuẩn đặt ra thì vẫn được phép bán ra trên thị trường mặc dù có thể bị người tiêu dùng không ưa chuộng. Nói chung những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật là xuất phát từ đòi hỏi thực tế của đời sống xã hội phản ánh trình độ phát triển mà con người đã đạt được. Tuy nhiên, trên thực tế người ta thường khéo sử dụng các quy định này một cách thiên lệch giữa các doanh nghiệp trong nước với các công ty nước ngoài để biến chúng trở thành công cụ cạnh tranh trong quan hệ thương mại quốc tế. Để khắc phục tình trạng này người ta tìm cách ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế thống nhất. 8
  10. I.1.2.6. Biện pháp quản lý hành chính Mặc dù hầu hết các nước trên thế giới đều có mục tiêu chung là tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại quốc tế. Nhưng trên thực tế vì những lý do kinh tế chính trị nhất định mà mỗi nước áp dụng những biện pháp khá tinh vi nhằm cản trở tự do hóa thương mại quốc tế. Ví dụ như: quy định về thanh toán, quy định về đặt cọc, quy định về quảng cáo… I.2. CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CỦA EU VÀ MỸ I.2.1. Chính sách thương mại chung của liên minh Châu Âu (EU) Liên minh Châu Âu (EU) ngày nay được xem như một đại quốc gia ở Châu Âu, bởi vậy chính sách thương mại của EU cũng giống như chính sách thương mại của một quốc gia, gồm: chính sách thương mại nội khối, chính sách ngoại thương và quy chế nhập khẩu chung của EU . I.2.1.1. Chính sách thương mại nội khối Chính sách này tập trung vào việc xây dựng và vận hành thị trường chung Châu Âu nhằm xóa bỏ việc kiểm soát biên giới lãnh thổ quốc gia, biên giới hải quan (xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan) để tự do lưu thông hàng hóa, sức lao động, dịch vụ và vốn, điều hòa các chính sách kinh tế xã hội của các nước thành viên. I.2.1.2. Chính sách ngoại thương của EU Tất cả các nước thành viên EU cùng áp dụng một chính sách ngoại thương chung đối với các nước ngoài khối. Ủy ban Châu Âu (EC) là người đại diện duy nhất cho liên minh trong việc đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại và dàn xếp tranh chấp trong lĩnh vực này. Chính sách ngoại thương của EU gồm: chính sách thương mại tự trị và chính sách thương mại dựa trên cơ sở hiệp định. Các biện pháp được áp dụng phổ biến trong chính sách này là: thuế quan, hạn chế về số lượng (Quota), hàng rào kỹ thuật (TBT: Technical Barrier to Trade), hàng rào an thực phẩm và dịch bệnh thủy sản (SPS: Sanitary and Phitosanitary), chống bán phá giá (Untidumping), và trợ cấp xuất khẩu. 9
  11. Hiện nay, 25 nước thành viên EU (bao gồm 15 nước cũ và 10 nước mới gia nhập ngày 1/5/2004) đều áp dụng một biểu thuế quan chung đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, EU đang thực hiện chương trình mở rộng hàng hóa: đẩy mạnh tự do hóa thương mại (giảm thuế quan đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu và tiến tới xóa bỏ hạn ngạch). Đối với hàng hóa xuất khẩu vào EU, mức thuế trung bình đánh vào hàng nông sản là 18%, còn hàng công nghiệp chỉ là 2%. Chính sách phát triển ngoại thương của EU từ năm 1951 đến nay gồm những nhóm chính sách chủ yếu sau: chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách thay thế nhập khẩu, chính sách tự do hóa thương mại. Việc ban hành và thực hiện các chính sách này có liên quan chặt chẽ đến tình hình phát triển kinh tế, tiến trình nhất thể hóa Châu Âu và khả năng cạnh tranh trong từng thời kỳ của các sản phẩm trong liên minh trên thị trường thế giới. Ngoài các chính sách trên, EU còn có Quy chế nhập khẩu chung. EU không chỉ sử dụng các biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại mà còn sử dụng hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập GSP (General System of Preferences) – một biện pháp quan trọng nhằm đẩy mạnh thương mại với các nước đang phát triển và chậm phát triển. Bằng cách này, EU có thể làm cho nhóm các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam ) và các nước chậm phát triển dễ dàng thâm nhập vào thị trường của mình. Nhóm các nước chậm phát triển được hương ưu đãi cao hơn nhóm các nước phát triển. EU áp dụng chương trình thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP) cho thời kỳ từ 1/7/1999 đến 31/12/2001. I.2.1.3. Quy chế nhập khẩu chung của EU Tất cả các nước thành viên EU đều áp dụng chính sách thương mại chung đối với những nước ngoài khối. Để thực thi chính sách thương mại, ngoài các biện pháp thuế quan và phi thuế quan, EU còn ban hành và thực hiện Quy chế nhập khẩu chung. Các nhà xuất khẩu có thể xâm nhập vào thị trường EU với điều kiện có các hiệp định thương mại song phương, vượt qua hàng rào thuế quan và phi thuế 10
  12. quan, tuân thủ quy chế nhập khẩu chung và các yêu cầu của thị trường về chất lượng, an toàn cho người sử dụng và bảo vệ môi trường. Hiện nay hàng rào kỹ thuật (TBT), quy chế nhập khẩu chung và các yêu cầu của thị trường chính là những rào cản khó vượt qua đối với hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Quy chế nhập khẩu chung của EU chính là quy định cụ thể để thực hiện chính sách nhập khẩu của EU như sau: i. Về thuế 1. Thuế nhập khẩu: một trong những việc đáng chú ý nhất của việc hình thành thị trường chung là các thủ tục thông quan đồng nhất và thuế nhập khẩu chỉ phải thanh toán tại cảng vào EU. Khi đã vào EU thì không cần các thủ tục thông quan tại biên giới nội địa. Bởi vậy, hàng có thể được vận chuyển nhanh với giá cước rẻ trong phạm vi EU. Thuế nhập khẩu được áp dụng đối với tất cả các sản phẩm nhập khẩu vào EU. Nhờ chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập và các hiệp định thương mại mà xuất khẩu từ các nước đang phát triển có thể miễn thuế nhập khẩu hoặc chịu một mức thuế thấp. Trong các trường hợp đặc biệt, hàng hóa có thể được miễn thuế vì các lý do khác nhau: vận chuyển hàng mẫu không có giá thương mại, hàng hóa để sửa chữa hoặc các sản phẩm nhập khẩu tạm thời. 2. Thuế nhằm bảo hộ Các sản phẩm thực phẩm: chính sách nông nghiệp chung (CAP) đã được ban hành và thực thi ở EU trong nỗ lực để bảo hộ sản xuất thực phẩm nội địa. Một đặc điểm quan trọng của CAP là hệ thống thuế. Các loại thuế được hợp nhất thành hệ thống giá khởi điểm. Nếu giá nhập khẩu nằm dưới giá khởi điểm tối thiểu, một mức thuế bổ sung được đánh thêm vào thuế hải quan. Thuế chống bán phá giá: thuế chống bán phá giá là thuế đánh vào các sản phẩm nhập khẩu được bán ở EU với mức giá thấp hơn so với mức giá được bán ở các nước sản xuất. Khi các sản phẩm nhập khẩu gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đối với ngành công nghiệp nội địa của EU, ngành công nghiệp này 11
  13. có thể gửi đơn kiện đến Brussels. Nếu qua điều tra nhận thấy có hiện tượng bán phá giá thì thuế chống bán phá giá được áp dụng trên cơ sở điều khoản 113 của hiệp ước EU. Thuế này có thể đánh vào hàng hóa ngay khi thông báo. 3. Thuế tiêu thụ Thuế tiêu thụ áp dụng đối với một số sản phẩm phụ thuộc vào dung lượng, được áp dụng phổ biến đối với các sản phẩm nội địa và hàng nhập khẩu. Mức thuế tiêu thụ đối với một sản phẩm nhất định có thể rất khác biệt giữa các nước thành viên EU. Thuế giá trị gia tăng (VAT): Tất cả sản phẩm bán ở EU là đối tượng chịu thuế VAT. Nhìn chung mức thuế áp dụng đối với các sản phẩm thiết yếu là thấp và mức thuế áp dụng đối với các sản phẩm xa xỉ là cao. Mặc dù mục tiêu ban đầu là hài hòa thuế quan, các miền thuế đã được thu hẹp, nhưng sự khác biệt vẫn còn tồn tại giữa các nước thành viên EU. ii.Giấy phép nhập khẩu Giấy phép nhập khẩu có thể được yêu cầu đối với hàng nhạy cảm và hàng chiến lược, trong số này có hàng dệt, các sản phẩm đá, thép và vũ khí. Giấy phép nhập khẩu thông thường được cấp không có quá nhiều khó khăn và các nhà nhập khẩu có trách nhiệm viết đơn xin giấy cấp phép. iii.Hạn ngạch Hạn ngạch là sự hạn chế về số lượng nhập khẩu hoặc xuất khẩu và được sử dụng để điều chỉnh nguồn cung. Hạn ngạch phổ biến nhất ở EU là hạn ngạch số lượng. Các quốc gia EU đang tiến hành hủy bỏ dần hạn ngạch nên hệ thống hạn ngạch đang bị tháo dỡ ở một số nước. Sự điều chỉnh hoạt động nhập khẩu hàng nông sản vẫn được thực hiện thông qua hệ thống thuế và giá khởi điểm. Như vậy hạn ngạch sẽ không tồn tại lâu. iv. Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật Các quy định kiểm dịch thực vật có thể áp dụng đối với các sản phẩm tươi như hoa quả. Điều đó có nghĩa là giấy chứng nhận phải được cung cấp bởi nước có sản phẩm xuất khẩu trong điều kiện đảm bảo sức khỏe. Sản phẩm phải được 12
  14. giám định bởi cơ quan giám định thực phẩm có thẩm quyền của nước sản xuất để đảm bảo rằng không bị côn trùng và dịch bệnh. v. Lệnh cấm EU ban hành lệnh cấm đối với một số sản phẩm, điều này có nghĩa là sản phẩm nhập khẩu bị cấm hoặc chỉ cho phép trong những điều kiện nhất định. Lệnh cấm này chủ yếu được áp dụng đối với việc mua bán các sản phẩm nguy hiểm như: phế thải hóa chất, thuốc tân dược, thuốc trừ sâu. Thực phẩm, cây trồng và vật nuôi nhập khẩu cũng có thể là đối tượng bị cấm trên cơ sở cân nhắc về an toàn và sức khỏe. Các luật quốc tế đối với sản phẩm này là: luật về chất thải hóa chất và công ước thương mại quốc tế về các loại hàng hóa gây nguy hiểm. vi. Chính sách hóa chất – rào cản mới của EU Ủy ban Châu Âu (EC) đang chuẩn bị ban hành chính sách hóa chất trên lãnh thổ EU nhằm ngăn ngừa tác hại của hóa chất đối với sức khỏe con người và môi trường. Theo đó, chính sách mới sẽ ban hành những quy định về đăng ký, kiểm tra, cấp phép và hạn chế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu hành và sử dụng hóa chất được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào và hóa chất để xử lý nguyên liệu trong quá trình sản xuất. I.2.2. Chính sách thương mại của Mỹ Dù là một nước chủ trương tự do hóa thương mại, nhưng Mỹ cũng có những chính sách về nhập khẩu nhằm bảo vệ người tiêu dùng và sản xuất trong nước. I.2.2.1. Quy định về hải quan Hải quan Mỹ là cơ quan thực thi và áp dụng các quy định của luật thuế quan và những luật lệ khác của các bộ để điều chỉnh việc nhập khẩu hàng hóa. Họ cũng phụ trách việc chống các hành vi buôn lậu, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng gian, hàng giả được nhập khẩu. Ngoài các yêu cầu khắt khe của hải quan và nhà nhập khẩu, doanh nghiệp phải chú ý đến xuất xứ của các linh kiện hoặc nguyên liệu được dùng để sản 13
  15. xuất. Hải quan không cho phép lô hàng nhập khẩu nào có linh kiện hay nguyên liệu từ các nước bị lệnh cấm vận và trừng phạt của Mỹ như: Cuba, Iran… Sản phẩm do phạm nhân, trẻ em dưới tuổi vị thành niên tại các trại lao động cải tạo làm ra cũng bị coi bất hợp pháp và không được hải quan Mỹ chấp nhận. Hải quan Mỹ cũng có quyền bắt giữ và phạt rất nặng những lô hàng nhập khẩu bị nghi ngờ là hàng giả, hàng ăn cắp bản quyền và những lô hàng ghi nhãn hiệu, thành phần … sai với thực tế kiểm tra của hải quan.Một nhà nhập khẩu có thể bị khép tội lừa dối khách hàng nếu không ghi chi tiết, thành phần sản phẩm ngay trên nhãn hiệu bao bì. I.2.2.2. Quy chế nhập khẩu chung của Mỹ a) Về thuế Điều này ở Mỹ được căn cứ trên bảng hệ thống điều hòa trong mô tả và mã hàng (HS – Harmonized tarriff System) của hội đồng hợp tác hải quan. Bảng này liệt kê các loại hàng hóa và mã số của chúng với mức thuế áp dụng. Giá tính thuế của Mỹ dựa trên cơ sở giá FOB chứ không phải giá CIF, áp dụng cho cả hàng xuất và nhập khẩu, do đó chi phí vận tải và bảo hiểm không bị gộp vào giá trị hàng hóa để tính thuế. Hoa Kỳ ấn định thuế quan theo ba cách: Thứ nhất, thuế tính theo giá (ad valorem ) là thuế tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá hàng hóa nhập khẩu. Cách tính này chiếm tỷ lệ lớn trong biểu thuế của Hoa Kỳ. Thứ hai, thuế đặc định hay thuế theo lượng (specific) là thuế đánh theo trọng lượng hay dung tích hàng hóa. Thứ ba, thuế hàng hóa được tính dựa trên cơ sở cả hai cách tính trên. Ngoài ra có một số mặt hàng phải chịu thêm thuế doanh thu hay mua bán (ngoài thuế quan) như rượu, bia, thuốc lá, nước hoa và các sản phẩm dầu khí. b) Lệ phí Lệ phí gồm có: phí xử lý hàng và phí bảo dưỡng cảng. 14
  16. Phí xử lý hàng: được đánh vào từng chuyến tàu hàng. Biểu thuế dành cho việc nhập hàng chính thức (tức là hàng có giá trị trên 1500 USD, gọi là hàng mậu dịch) liệt kê các loại phí khác nhau từ 21 đến 400 USD cho mỗi lần nhập cùng với một số phí đánh theo tỷ lệ của món hàng này là 19%. Cũng chi phí này nhưng cho loại hàng hóa nhập không chính thức (tức là phi mậu dịch) thì mức phí là 2 USD cho hàng xử lý bằng máy, 4 USD cho hàng xử lý bằng tay mà không phải do hải quan Mỹ làm và 8 USD do họ làm. Giá trị cho hàng phi mậu dịch lớn nhất là 2500 USD. Một vài mặt hàng như vải sợi không được nhập theo lối phi mậu dịch và nếu có thì giá trị tối đa cũng rất thấp. Phí bảo dưỡng cảng: là phí tính theo giá trị % của chuyến tàu hàng nhập vào, phí này là 0,125% trên giá trị tiền hàng và trả hàng quý. c) Hạn ngạch (quota) Hạn ngạch là sự kiểm soát về mặt số lượng hàng nhập khẩu trong một thời gian nhất định vào Mỹ. Có một số mặt hàng nằm trong sự hạn chế này theo luật của Quốc hội, quy định của các cơ quan quản lý theo lệnh của Tổng thống. Có hai loại hạn ngạch:  Hạn ngạch ấn định theo mức thuế quan: loại này cho người nhập được đem vào Mỹ một mặt hàng nhất định nào đó với mức thuế được giảm bớt trong một khoảng thời gian nhất định. Số hàng nào nhập vào mà vượt quá số lượng cho phép sẽ bị đánh thuế cao. Các mặt hàng này thường là: sữa, kem, cá hồi…  Hạn ngạch tuyệt đối: cho phép nhập một số lượng của mặt hàng nào đó trong một khoảng thời gian nhất định. Hàng đem vào quá hạn ngạch sẽ bị trả về hay cho vào kho để chờ đưa vào trong thời gian có hiệu lực của hạn ngạch mới. Các mặt hàng này là: một vài loại cồn, sữa đặc, bơ hỗn hợp… d) Giấy phép nhập khẩu Những mặt hàng dưới đây khó đem vào Mỹ, muốn nhập phải xin giấy phép cơ quan có thẩm quyền: vũ khí đạn dược,rượu và thức uống có cồn, sản phẩm từ sữa, thuốc, vật liệu sinh học và côn trùng, các loại giống gây nguy hiểm 15
  17. hay có tính đe dọa, các chất độc hại, côn trùng, gia súc, thịt và các sản phẩm từ thịt, máy móc động cơ, các chất phống xạ và phản ứng hạt nhân. Yêu cầu giấy phép nhập khẩu có thể là một biện pháp duy trì sự kiểm soát trong quản lý ngoại hối, quota, và thuế quan. Giấy phép nhập khẩu cũng có thể được sử dụng tương tự như quota để hạn chế số lượng hàng hóa nhập vào.Sự khác nhau giữa quota và giấy phép nhập khẩu là quota kiểm soát lượng hàng đưa vào một nước, còn chế độ giấy phép nhập khẩu mềm mại hơn. Nói chung quota chỉ nêu ra một giai đoạn thời gian nhất định, còn giấy phép thì hạn chế số lượng dựa trên cơ sở trù tính cho từng ngày. e) Các tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc Có nhiều mặt hàng cả nội lẫn ngoại bán ở Mỹ đều phải tuân thủ những tiêu chuân về chất lượng an toàn. Ai nhập khẩu vào Mỹ những mặt hàng này đều phải xin giấy xác nhận đạt chuẩn. Giấy này phải được xuất trình cùng lúc với hàng rào và người nhập phải nộp số tiền kí quỹ đảm bảo để chắc chắn là hàng phù hợp với tiêu chuẩn đòi hỏi. Các mặt hàng thuộc loại này thường là: xe hơi và phụ tùng, sản phẩm men,đò điện gia dụng… f) Ghi dấu hiệu * Nước xuất xứ: Thông thường, người nhập hàng phải ghi rõ ở bên ngoài sản phẩm một nhãn hàng bằng tiếng Anh của nước sản xuất hay chế tạo món hàng. Dấu hiệu phải ghi ở nơi dễ thấy, rõ ràng và bền như chính tuổi thọ của sản phẩm. Nếu sản phẩm không có nhãn hàng đúng cách, khi nhập vào nước Mỹ thì người nhập phải trả một khoản thu bằng 10% của tiền thuế quan đóng cho sản phẩm đó. * Ghi dấu đặc biệt: Ngoài những yêu cầu về ghi nước xuất xứ của hàng hóa, có một số mặt hàng đòi hỏi phải có dấu hiệu đặc biệt như: chữ không được phai, chữ nổi, chữ lõm cho những mặt hàng như ống sắt hay thép, khung, xi lanh, các dụng cụ kỹ thuật, kéo kim…Có những cơ quan chỉ dẫn việc ghi những nhãn hiệu đặc biệt này. Trong trường hợp sản phẩm bị ghi sai làm người tiêu thụ hiểu nhầm sẽ không được nhập khẩu. 16
  18. g) Các biện pháp hỗ trợ thương mại * Thuế chống bán phá giá: Luật chống bán phá giá phân tích hành vi định giá của các nhà sản xuất nước ngoài. Việc phân tích luôn được thực hiện theo cách riêng biệt đối với từng công ty. Khái niệm đơn giản nhất về chống bán phá giá tại thị trường Mỹ là bán một sản phẩm ở Mỹ với mức giá thị trường thấp hơn giá của chính sản phẩm đó tại thị trường nước xuất khẩu. Mỹ sẽ áp dụng quy định tính tỷ lệ lợi nhuận đặc biệt đối với các nước mà họ coi là nền kinh tế phi thị trường như Trung Quốc, Việt Nam …Giá sản phẩm ở những nước này không được công nhận với lý do là nền kinh tế do Chính phủ điều tiết. Một vấn đề tiếp theo được xem xét là việc xét duyệt hành chính nhằm xác định mức thuế phá giá thực tế mà người nhập khẩu phải nộp. Nếu chưa được xét duyệt, khoản tiền mặt đặt cọc nộp cho hải quan Mỹ sẽ chính thức là mức thuế chống bán phá giá. Việc định giá này có thể được thực hiện hàng năm. Còn một lệnh chống bán phá giá có thể có hiệu lực vô hạn, mặc dù cứ 5 năm một lần công tác đánh giá lại được tiến hành. * Thuế chống trợ giá: Luật pháp Mỹ quy định những hình thức trợ giúp doanh nghiệp của Chính phủ bao gồm: trợ cấp tiền mặt,trợ cấp xuất khẩu, các khoản cho vay với lãi suất ưu đãi, các khoản bảo lãnh tín dụng, xóa nợ, giảm thuế. Giống như trong một vụ điều tra thuế chồng bán phá giá, số tiền trợ cấp được định lượng và tính theo tỷ lệ % để làm cơ sở áp thuế theo giá hàng vào tất cả các sản phẩm nhập khẩu được trợ giá. 17
  19. PHẦN II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM VÀ HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN ĐỐI VỚI HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM XUẤT KHẨU VÀO EU VÀ MỸ II.1. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA II.1.1. Tình hình sản xuất, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Việt Nam là nước có tiềm năng lớn về NTTS với diện tích mặt nước nội địa khoảng 1 triệu ha, vùng triều khoảng 0,7 triệu ha và hệ thống đầm phá ven biển có thể phát triển NTTS. Trong khi diện tích có khả năng NTTS của cả nước ước tính khoảng gần 2 triệu ha thì mới chỉ sử dụng 902.900 ha (năm 2004). Từ giữa thập kỷ 90 trở lại đây, NTTS của Việt Nam phát triển rất nhanh. Qua bảng dưới ta cũng có thể thấy tổng diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản của nước ta trong mấy năm qua tăng rất nhanh, tăng từ 641,9 nghìn ha năm 2000 lên đến 959,9 nghìn ha năm 2005. Bảng 1: Diện tích mặt nước nuôi trồng và sản lượng thuỷ sản giai đoạn 2000 – 2006 2006 1) Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 (ước tính) A.Tổng số diện tích nuôi trồng (nghìn ha) 641,9 755,2 797,7 867,6 920,1 959,9 1.Diện tích nước mặn, lợ 397,1 502,2 556,1 612,8 642,3 677,2 Nuôi cá 50,0 24,7 14,3 13,1 11,2 16,5 Nuôi tôm 324,1 454,9 509,6 574,9 598,0 616,9 Nuôi hỗn hợp và thuỷ sản khác 22,5 22,4 31,9 24,5 32,7 43,4 Ươm, nuôi giống thuỷ sản 0,5 0,2 0,3 0,3 0,4 0,4 2. Diện tích nước ngọt 244,8 253,0 241,6 254,8 277,8 282,7 Nuôi cá 225,4 228,9 232,3 245,9 267,4 272,1 Nuôi tôm 16,4 21,8 6,6 5,5 6,4 6,5 Nuôi hỗn hợp và thuỷ sản khác 2,2 0,5 0,4 1,0 1,1 1,2 Ươm, nuôi giống thuỷ sản 0,8 1,8 2,3 2,4 2,9 2,9 B. Tổng sản lượng thuỷ sản (nghìn tấn) 2250,5 2434,7 2647,4 2859,2 3142,5 3432,8 3707,4 Khai thác 1660,9 1724,8 1802,6 1856,1 1940,0 1995,4 2155,0 Nuôi trồng 589,6 709,9 844,8 1003,1 1202,5 1437,4 1552,4 Nguồn: Tổng cục Thống kê 18
  20. Những nỗ lực trong việc đổi mới đã đem lại kết quả đáng khích lệ là ngành thuỷ sản phát triển toàn diện trên các mặt nuôi trồng, khai thác, chế biến và xuất khẩu. Cũng từ đầu năm 2006 đến nay, toàn ngành đã khai thác được gần 3,5 triệu tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó sản lượng thu được từ nuôi trồng thuỷ sản trên 1,5 triệu tấn và còn lại là từ khai thác biển. Tốc độ tăng bình quân hàng năm của giá trị sản xuất thuỷ sản thời kỳ 1986 – 2006 đạt mức cao, gần 10%. Theo Bộ Thủy sản, tính đến ngày 24-11, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước đã đạt gần 3,1 tỉ USD, bằng 110,06% kế hoạch đề ra cho cả năm (3 tỉ USD) và tăng 24,45% so với cùng kỳ. Quá trình tăng trưởng sản lượng thuỷ sản diễn ra đồng thời với quá trình tăng trưởng diện tích NTTS. Tuy nhiên, tốc độ tăng sản lượng nhanh hơn do năng suất nuôi trồng tăng lên. Bảng 2:Xuất khẩu thuỷ sản chính ngạch sang các thị trường năm 2005 Thị trường Số Giá trị(USD) lượng(tấn) Châu Á (không kể Nhật 131559.9 378035774 Bản) Châu Âu 115696.6 380904754 Mỹ 89025.6 617172589 Nhật Bản 123078.8 785875894 Thị trường khác 177018.9 576737747 Total 636379.8 2738726758 Nguồn: Trung tâm Tin học - Bộ Thủy sản Tuy vậy, trong quá trình phát triển và nuôi trồng thủy sản cũng đã thể hiện nhiều bất cập như: diện tích nuôi tôm và diện tích thâm canh ở nhiều địa phương tăng quá nhanh, chưa có hoặc không theo quy hoạch đang diễn ra ở nhiều nơi. Việc quản lý chất lượng con giống và quản lý an toàn vệ sinh trong nuôi trồng thủy sản còn chưa đáp ứng yêu cầu, mặc dù đã đầu tư khá nhiều. Cả nước chỉ có 7 phòng kiểm nghiệm lớn,nhiều địa phương thiếu cán bộ và phương 19
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2