
LUẬN VĂN:
Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất vào công cuộc đổi mới
nền kinh tế nước ta
Đề tài:
.

Lời nói đầu
Triết học Mác- Lênin đã trải qua một chặng đường dài phát triển lịch sử nhân loại
.Nhờ có quan điểm triết học và dựa vào những quy luật kinh tế mà xã hội ngày càng
phát triển. Chúng ta đã thu được khá nhiều thành công trong công cuộc xây dựng
XHCN do chúng ta biết áp dụng đắn các quy luật kinh tế vào thực tiễn xã hội đất
nước mình nhưng khôngphải ngành nào cũng vận dụng được mà ở mỗi ngành vận
dụng mỗi cách khác nhau.
Ngày nay, mục tiêu để đưa đất nước tiến lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước và xây dựng XHCN là mục tiêu rất cần thiết. Nhưng khi thực hiện đường lối
chính sách đề ra chúng ta gặp không ít khó khăn do chưa quán triệt hay hiểu đúng về
những vấn đề cần giải quyết trước mắt .Đất nước muốn phát triển được trước hết phải
có LLSX phát triển cùng với nó kéo theo QHSX phát triển vì thế trong những năm
gần đây chúng ta đã chú trọng hơn đến việc phát triển trình độ LLSX và QHSX nhằm
phục vụ cho nền kinh tế phát triển đi lên của đất nước.
Dựa vào quan điểm lý luận của triết học Mác Xít thì LLSX và QHSX tạo thành
một quy luật ràng buộc giữa hai yếu tố này, yếu tố này quyết định yếu tố kia, còn yếu
tố kia tác động trở lại.Trong khi vận dụng quy luật này chúng ta đã không tránh khỏi
những sai lầm, vì thế việc vận dụng nó không hề đơn giản, mà trái lại sẽ gặp rất nhiều
khó khăn nếu không nghiên cứu chiều sâu quy luật này.Vì vậy vận dụng nó như thế
nào là hợp lí với tình hình đất nước ta hiện nay là một câu hỏi lớn.
Và chính vì câu hỏi này nó có phần lôi cuốn mạnh mẽ và cũng là một nhà quản lí
trong tương lai nên từ bây giờ chúng ta hãy quan tâm hơn đến kinh tế đất nước, nhận
thức đúng đắn hơn về vai trò và trách nhiệm của mình đối với xã hội. Bởi vậy không
phải ngẫu nhiên mà em chọn đề tài này để viết tiểu luận, không chỉ riêng em mà nhiều
sinh viên khác cũng quan tâm đến vấn đề này.

Chương I: Khái quát chung về sự phù hợp của QHSX
với LLSX.
I.Khái niệm về QHSX và LLSX.
Trước hết muốn hiểu được quy luật về sự phù của LLSX với tính chất và trình độ
phát triển của LLSX thì ta phải biết rõ khái niệm về QHSX và LLSX, biết được nó
hình thành như thế nào, tại sao lại goi là QHSX và LLSX.
Khi nhân loại trải qua một chặng đường dài thì khi đó các nhà triết học mới nghiên
cứu và đặt ra câu hỏi là cái gi quyết định sự phát triển của xã hội. Nhiều nhà triết học
đã đi tìm câu trả lời nhưng không đạt kết quả. Mặc dù là người nối tiếp những người
đi trước nhưng Mác lại có một tư tưởng hoàn toàn khác, Mác đã đi tìm thấy nguyên
nhân phát triển của lịch sử ngay trong đời sống vật chất của con người. Sau những nỗ
lực tìm kiếm Mác đã phát hiện ra rằng con người muốn tồn tại trước hết ăn mặc, ở, đi
lại. Điều này đã chứng tỏ rằng Mác đã kế thừa và phát huy chủ nghĩa duy vật cổ
truyền “ có thực mới vực được đạo”. Để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người thì
phải tiến hành lao động sản xuất mà muốn vậy thì phải chế tạo công cụ lao động phục
vụ cho quá trình sản xuất. Nhưng sản xuất không chỉ tác động vào tự nhiên mà còn
phải có mối quan hệ nhất định với nhau và chỉ có trong phạm vi những mối liên hệ và
sự tác động của họ vào tự nhiên tức sự sản xuất. Những mối quan hệ này chính là
QHSX mà trước đây Mác chưa khái niệm về nó. Con người tồn tại và phát triển là do
có sự phát triển của LLSX và QHSX của con người.
Dựa trên cơ sỏ này Mác đã Vận dụng chủ nghĩa duy vật vào việc xem xét mối quan
hệ giữa LLSX và QHSX. Từng bước Mác đã phát hiện ra mối quan hệ giữa sự phát
triển của LLSX với sự thay đổi của QHSX.
1. Lực lượng sản xuất.
LLSX biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên nghĩa là trong quá trình
thực hiện sản xuất con người chinh phục giới tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực
của mình.
LLSX bao gồm:

Tư liệu sản xuất do xã hội tạo ra, trước hết là công cụ lao động.Người lao động với
những kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động biết sử dụng công cụ sản xuất để tạo
ra của cải vật chất.
Tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao động và công cụ lao động. Đối tượng lao
động không phải là toàn bộ giới tự nhiên mà chỉ có bộ phận nào của giới tự nhiên
đưọc đưa vào sản xuất, đựoc con người sử dụng. Con người không chỉ tìm trong giới
tự nhiên những đối tượng lao động có sẵn, mà còn sáng tạo ra bản thân đối tượng lao
động.
Tư liệu lao động là vật thể hay phức hợp vật thể mà con người đặt giữa mình với đối
tượng lao động, chúng dẫn truyền tích cực sự tác động của con người với đối tượng
lao động.
Trong tư liệu lao động, công cụ là yếu tố quan trọng nhất.Trong quá trình sản xuất,
công cụ lao động luôn luôn được cải tiến. Nó là yếu tố động nhất và cách mạng nhất
trong lực lượng sản xuất.
Trình độ phát triển của tư liệu lao động mà chủ yếu là công cụ lao động là thước đo
trình độ chinh phục tự nhiên của loài người, là cơ sở xác định trình độ phát triển của
sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế.
Cùng với trí tuệ và kinh nghiệm của mình con người đã biết chế tạo ra tư liệu lao
động và sử dụng nó. Lênin viết: “ lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại
là công nhân, là người lao động”.
Ngày nay khoa học kĩ thuật phát triển đã tạo ra những kĩ thuật công nghệ mới làm
cho năng suất lao động tăng cao, tạo ra một nền sản xuất tự động hoá. Khoa học trở
thành một bộ phận không thể thiếu của LLSX.
.
2.Quan hệ sản xuất
QHSX biểu thị mối quan hệ giữa con người với con người và con người với tự
nhiên. Sở dĩ quá trình sản xuất Xã hội có thể diễn ra một cách bình thường chính là vì
quan hệ giữa con người với con người tồn tại thống nhất với mối quan hệ giữa con
ngừơi với tự nhiên.
Trong tác phẩm “ lao động làm thuê và tư bản” Mác viết “ trong sản xuất người ta
không chỉ quan hệ với giới tự nhiên, người ta không thể sản xuất được nếu không kết

hợp nhau theo một theo một cách nào đó để hoạt động chung và trao đổi hoạt động
với nhau. Muốn sản xuất được người ta phải có mối liên hệ và quan hệ nhất định với
nhau và quan hệ của họ với giới tự nhiên tức là việc sản xuất”. Như vậy sự sản xuất ra
của cải vật chất cho xã hội ta dù muốn hay không cũng buộc phải duy trì và thực hiện
những mối quan hệ nhất định với nhau. Tuy QHSX là do con người tạo ra song nó lại
tuân theo những quy luật tất yếu khách quan của sự vận động của đời sống xã hội.
Mỗi loại QHSX tiêu biểu cho bản chất kinh tế của một phương thức sản xuất xã hội
nhất định.
QHSX bao gồm những mặt cơ bản sau:
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
Quan hệ về tổ chức quản lí
Quan hệ phân phối sản phẩm lao động
QHSX là hình thức Xã hội của LLSX và là cơ sở sâu xa của đời sống tinh thần ,xã
hội. Ba mặt quan hệ trên trong quá trình sản xuất xã hội luôn gắn bó với nhau, tạo
thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động không ngừng của
LLSX. Các QHSX của một phương thức sản xuất là một hệ thống bao gồm các mối
quan hệ phong phú, đa dạng biểu hiện dưới nhiều hình thức và quan hệ sở hữu đối với
tư liệu sản xuất là đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất.
Trong hệ thống các QHSX thì quah hệ sở hữu về tư liệu sản xuất luôn có vai trò
quyết định với tất cả các quan hệ xã hội khác, quan hệ về mặt tổ chức quản lí sản xuất
có khả năng quyết định trực tiếp quy mô, tốc độ và hiệu quả xu hướng của mỗi nền
sản xuất cụ thể.Bên cạnh các quan hệ này thì quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao
động cũng là nhân tố có ý nghiã hết sức to lớn đối với sự vận động của toàn bộ nền
kinh tế xã hội.
I. Quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với tính chất và trình độ phát
triển của LLSX.
1.Tính chất và trình độ của LLSX.
Khái niệm trình độ của LLSX nói lên khả năng của con người thông qua việc sử dụng
công cụ lao đông thực hiện quá trình cải biến tự nhiên nhằm đảm bảo sự sinh tồn và
phát triển của mình .Trình độ LLSX thể hiện trình độ của các công cụ lao động, của

