BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Cẩm Tú

CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT NGUYÊN NGỌC SAU 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Cẩm Tú

CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT NGUYÊN NGỌC SAU 1975

Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. Bạch Văn Hợp

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Bạch Văn Hợp đã tận tình

hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong quá trình làm luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong khoa Ngữ Văn

đã có những ý kiến đóng góp quý báu cho tôi trong quá trình thực

hiện đề tài.

Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Sau Đại Học, gia đình và

bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.

Dù đã nỗ lực và cố gắng rất nhiều, nhưng sẽ không tránh khỏi

có sai sót, rất mong sự đóng góp ý kiến chân thành của Quý Thầy

Cô trong Hội đồng chấm luận văn để luận văn hoàn thiện hơn.

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 29/3/2013

Tác giả

Nguyễn Thị Cẩm Tú

1

MỤC LỤC

MỤC LỤC ......................................................................................................... 1

PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 4

1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 4

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 5

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 11

3.1. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................... 11

3.2. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 12

4. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 12

4.1. Phương pháp lịch sử .......................................................................... 12

4.2. Phương pháp so sánh – đối chiếu ...................................................... 12

4.3. Phương pháp thi pháp học ................................................................. 13

4.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp ...................................................... 13

5. Đóng góp của luận văn ............................................................................ 13

6. Cấu trúc của luận văn ............................................................................... 13

Chương 1 ......................................................................................................... 15

NGUYÊN NGỌC – NHÀ VĂN LUÔN TÌM KIẾM NHỮNG ...................... 15

TÍNH CÁCH ANH HÙNG, NHỮNG SỰ TÍCH ANH HÙNG ..................... 15

1.1. Khái niệm cảm hứng và cảm hứng anh hùng trong văn học Cách mạng

Việt Nam ...................................................................................................... 15

1.1.1. Về khái niệm cảm hứng .................................................................. 15

1.1.2. Cảm hứng anh hùng trong văn học Cách mạng Việt Nam giai đoạn

1945 – 1975 ............................................................................................... 20

2

1.2. Cảm hứng anh hùng trong hành trình nghệ thuật của Nguyên Ngọc ... 24

1.2.1. Giai đoạn trước 1975 ...................................................................... 24

1.2.2. Giai đoạn sau 1975 ......................................................................... 31

1.3. Cội nguồn cảm hứng anh hùng của Nguyên Ngọc ............................... 34

1.3.1. Tâm lý xã hội, ý thức nghệ thuật thời chiến ................................... 34

1.3.2. Hoàn cảnh gia đình và môi trường sống ......................................... 40

1.3.3. Cá tính nhà văn ............................................................................. 43

Chương 2: ........................................................................................................ 49

CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ

THUẬT CỦA NGUYÊN NGỌC SAU 1975 - MỘT SỰ TIẾP NỐI LIỀN

MẠCH, NHẤT QUÁN ................................................................................... 49

2.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam sau 1975 ..................................................... 49

2.2. Đề tài, chủ đề nhất quán, tính cách anh hùng đa diện .......................... 51

2.2.1. Đề tài ............................................................................................... 51

2.2.2. Chủ đề ............................................................................................. 56

2.2.3. Tính cách anh hùng đa diện ............................................................ 58

2.3. Thái độ, tình cảm của nhà văn đối với người anh hùng ....................... 69

Chương 3 ......................................................................................................... 76

BÚT PHÁP THỂ HIỆN CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG

VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT NGUYÊN NGỌC SAU 1975 .......................... 76

3.1. Cách tiếp cận gián cách mang đầy hoài niệm ....................................... 76

3.1.1. Không gian thời gian tâm tưởng ..................................................... 76

3.1.2. Nghệ thuật trần thuật ....................................................................... 79

3.2. Nghệ thuật miêu tả ấn tượng ................................................................. 89

3

3.1.1. Nghệ thuật miêu tả nhân vật ........................................................... 89

3.1.2 Miêu tả không gian – thời gian ........................................................ 92

3.1.3. Ngôn ngữ ........................................................................................ 99

3.3. Kết cấu lồng ghép đan xen hiện tại và quá khứ, truyện lồng truyện .. 104

3.3.1. Về khái niệm kết cấu – kết cấu lồng ghép đan xen ...................... 104

3.3.2. Kết cấu lồng ghép đan xen hiện tại và quá khứ, truyện lồng truyện

trong văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975 ................................ 105

KẾT LUẬN ................................................................................................... 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 114

PHỤ LỤC ...................................................................................................... 116

4

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Sau năm 1975, đất nước đã bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, trong

đó có văn học. Trong cuộc sống thời bình, con người trở về với cuộc sống đời

thường, với những cái bình thường mà muôn thuở, tất cả những mối quan hệ

phức tạp của cuộc sống bị che lấp trong chiến tranh bây giờ thức dậy, vây

quanh con người từng giờ. Đời sống xã hội đã thay đổi rõ rệt. Do đó, văn học

cũng phải thay đổi theo cho phù hợp với tình hình mới, với cái nhìn toàn diện

và đa diện hơn.

Nguyên Ngọc là nhà văn nổi tiếng trước năm 1975 với những tác phẩm

viết về người anh hùng như: Đất nước đứng lên, Rừng xà nu, Đất Quảng

(tập 1), Rẻo cao. Sau năm 1975, cảm hứng về người anh hùng được tác giả tô

đậm với Trở lại Mèo Vạc, Người hát rong giữa rừng, Cát cháy, Có một con

đường mòn trên biển Đông, Tháng Ninh Nông. Ở những tác phẩm này,

Nguyên Ngọc vẫn viết về những người anh hùng. Một mặt, họ vẫn là những

người anh hùng kiên cường sắt thép, mặt khác còn là những con người của

tình yêu, đẹp và anh hùng trong tình yêu. Trong chiến tranh, họ sống và chiến

đấu vì đất nước, hòa bình họ lại tiếp tục những hành động đẹp của mình để

dựng xây xã hội. Những người anh hùng ấy tuy đời sống hiện tại còn nhiều

khó khăn nhưng bản lĩnh của người cách mạng đã rèn luyện cho họ, vững

vàng hơn, kiên cường hơn đối mặt với mặt trận không tiếng súng, vì thế càng

làm đẹp hơn những hình ảnh của họ trong sự phồn tạp của xã hội hôm nay.

Họ là những tấm gương sáng về sự hy sinh cho ta học tập và noi theo. Vì vậy,

tác phẩm của ông không những có tác dụng giáo dục sâu sắc thế hệ trẻ hôm

nay mà nó còn giúp chúng ta có cái nhìn trung thực hơn về người anh hùng.

Có thể khẳng định rằng Nguyên Ngọc là một cây bút văn xuôi hiện đại

5

có nhiều đóng góp xuất sắc cho nền văn học cách mạng Việt Nam. Ông là

một trong những nhà văn – chiến sĩ đi tiên phong cùng các phong trào của

cách mạng Việt Nam từ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và đặc biệt ngòi

bút của ông càng sâu sắc, chiêm nghiệm hơn, nhiều suy tư trăn trở hơn trong

thời kì đổi mới ngày hôm nay.

Tìm hiểu Cảm hứng về người anh hùng trong văn xuôi nghệ thuật

Nguyên Ngọc sau 1975 là một việc làm cần thiết. Ngoài việc giúp hiểu thêm

về phong cách sáng tác của nhà văn Nguyên Ngọc và sự thay đổi cách nhìn về

người anh hùng của ông, thì việc nghiên cứu đề tài cũng góp thêm vào cái

nhìn toàn diện về sự chuyển biến của văn học Việt Nam sau năm 1975 – nhất

là mảng sáng tác về đề tài chiến tranh, về người chiến sĩ cách mạng.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong suốt quá trình sáng tác của mình, Nguyên Ngọc vẫn nhất quán

trước sau như một là viết về người anh hùng. Điều đó đã trở thành nguồn cảm

hứng chủ đạo làm nên sự nghiệp sáng tác của ông. Những sáng tác của

Nguyên Ngọc thường đậm chất anh hùng, đề cập đến những con người của

thời đại, của đất nước anh hùng, những người thật việc thật. Và trong cuộc

sống ngày hôm nay, họ là những người anh hùng đã hy sinh tuổi xuân của

mình cho ngày vui chiến thắng, nhà văn viết về họ như một sự chia sẻ, cảm

thông cho những mất mát của họ, đồng thời trăn trở với chính cuộc sống hiện

tại còn nhiều thiếu thốn của họ. Điều này đã được nhiều nhà văn, nhà nghiên

cứu, nhà phê bình văn học giới thiệu, phân tích và chọn làm đề tài khoa học.

2.1. Những ý kiến đánh giá chung về Nguyên Ngọc

Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Nguyên Ngọc – Con người lãng mạn đã

có một đánh giá tổng quát về con người và phong cách của nhà văn Nguyên

Ngọc, một cảm nhận trực cảm về nhà văn Nguyên Ngọc như sau: “…chuyện

6

của Nguyên Ngọc thường là những trải nghiệm khác thường, dữ dội, gây ấn

tượng mạnh…tâm hồn Nguyên Ngọc bắt rất nhạy những gì dữ dằn, quyết liệt

và có một vẻ hoang dã như sự sống thời nguyên thuỷ” [55;329]. Và ông kết

luận: “…Vì anh viết bằng lý tưởng, vì anh nhìn đời bằng lý tưởng” [55;339].

“Trong sử thi cổ đại, lấy nguồn ở thần thoại và truyền thuyết lịch sử, là những

tác phẩm lớn, đưa ra một bức tranh toàn cục về đời sống nhân dân thông qua

câu chuyện về người anh hùng qua khứ” [3;83]. Vì thế người anh hùng trong

sử thi là những con người vĩ đại, phi thường, con người chiến đấu vì cộng

đồng, bộ tộc. Theo ông, cái tạo nên phong cách riêng của nhà văn Nguyên

Ngọc là “người thực nhìn qua con mắt đầy lãng mạn của Nguyên Ngọc.

Nguyên Ngọc không phải chỉ viết sử thi, viết văn lãng mạn. Anh thật sự sống

trong không khí sử thi và mang hẳn trong máu mình chất lãng mạn” [55;337].

Phan Tứ người bạn cùng học, người chiến sĩ, là nhà văn cùng thời với

Nguyên Ngọc trong bài Nguyễn Trung Thành cuộc sống và tác phẩm đã

nhận định như sau: “Trong cuộc sống miền Nam muôn màu muôn vẻ, anh

chọn và xoáy sâu vào cái vấn đề sinh tử ấy. Tất cả suy nghĩ và cảm xúc của

anh xói vào hướng ấy như những mũi chông thép song song, có thể nói rằng

toàn bộ những gì anh đã viết – ký tên Nguyễn Trung Thành hoặc vài ba tên

khác, tùy lúc…anh trả lời bằng hình tượng văn học. Anh viết về những con

người gan góc và thông minh đã đánh thắng Mỹ, về chủ nghĩa anh hùng cách

mạng Việt Nam”[90;120]. Như vậy, ở bài viết này, tác giả đã khẳng định

rằng, Nguyên Ngọc luôn viết về người anh hùng bằng chính lý tưởng của

mình, ngòi bút của ông tập trung vào những vấn đề sinh tử của đất nước, vào

những phẩm chất anh hùng để ngợi ca về những chiến công của họ, người anh

hùng luôn là những con người phi thường như những mũi chông mũi thép,

sẵn sàng xông pha lửa đạn chiến tranh.

Lê Trí Viễn trong bài Theo anh Núp trích trong “Đất nước đứng lên”

7

của Nguyên Ngọc, ông khẳng định: “Bài văn nhỏ nhưng ý nghĩa thật không

nhỏ. Nó là một câu chuyện anh hùng. Câu chuyện anh hùng ấy lại là của

những người bình thường” [95;302]. Từ đó ông đi đến kết luận: “Cho đến

nay, nó vẫn còn là bài học đích đáng và thấm thía về sự trung thành với đất

nước, với Tổ quốc, với độc lập tự do với dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong

giai đoạn cách mạng hiện tại” [95;302].

Trần Đăng Khoa trong bài Nguyên Ngọc – chân dung văn đã nhấn

mạnh một đặc điểm riêng biệt của nhà văn Nguyên Ngọc trong sáng tác là

viết về người tốt, việc tốt: với những trang văn của Nguyên Ngọc người đọc

cứ như đi dự một Đại hội Chiến sĩ Thi đua “từng con người, từng nhân vật là

có thật, ông viết bằng tất cả hồn mình và cái hồn ấy thuộc về cách mạng. Bắt

đầu từ Đất nước đứng lên, tiếp nối mạch cảm xúc lãng mạn anh hùng,

Nguyên Ngọc lại đưa người đọc đến với vùng rừng núi. Ở đây, người đọc lại

có dịp gặp được Tnú trong Rừng xà nu” [65;92].

Trung Trung Đỉnh trong bài Nhà văn Nguyên Ngọc, con đẻ của cách

mạng, cho rằng tất cả các sáng tác của nhà văn Nguyên Ngọc đều là những

sáng tác về người thật, việc thật. Tây Nguyên qua ngòi bút của Nguyên Ngọc

“...không còn là Tây Nguyên chỉ có trong huyền thoại, không còn là Tây

Nguyên chỉ có trong truyền thuyết huyền bí mà là Tây Nguyên của một đất

nước có những con người cụ thể...Hình tượng Núp và bà con làng Kông Hoa

của dân tộc Bah Nar từ đây gần gũi hơn, máu thịt hơn” [61;487]. Về mặt

nghệ thuật, tác giả cũng khẳng định rằng: “Đất nước đứng lên đã nhanh

chóng tách đàn vượt lên, ào vào đời sống một cách hồn nhiên nhờ sức mạnh

của cảm hứng sáng tạo giàu chất thơ với một bút pháp trữ tình, lãng mạn,

hào hùng...” [61;488].

Phong Lê trong bài Con đường sáng tác của Nguyên Ngọc đã khẳng

định rằng: “...trong Đất nước đứng lên chan chứa một chất thơ say người. Ở

8

đây bút pháp hữu tình và anh hùng ca luôn luôn cất lên những cung bậc anh

hùng cao, phù hợp với khung cảnh cuộc sống và con người miền núi gần gũi

với thiên nhiên bao la, rộng rãi, tươi thắm các sắc màu; phù hợp với tính

cách con người chuộng cuộc sống phóng khoáng, tự do” [39;149].

Trong luận văn Thạc sĩ Cảm hứng lãng mạn – anh hùng trong văn

xuôi Nguyên Ngọc 1945 – 1975 [83], tác giả đã khẳng định được phong cách

nghệ thuật của nhà văn Nguyên Ngọc là cảm hứng lãng mạn anh hùng trong

văn xuôi giai đoạn trước 1975. Người anh hùng trong sáng tác của Nguyên

Ngọc ở giai đoạn trước 1975 là thủ lĩnh, người anh hùng mang màu sắc bi

tráng, oai hùng trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, với những hành

động gan dạ, dũng cảm, căm thù giặc ngùn ngụt, sẵn sàng hy sinh, xả thân vì

tổ quốc. Chiến đấu vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Về mặt nghệ thuật: luận văn cũng khẳng định trong các sáng tác trước 1975

của Nguyên Ngọc là giọng văn hào hùng, ngợi ca, đậm sắc thái anh hùng. Kết

hợp một cách nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ miền núi và ngôn ngữ địa phương

trong sáng tác. Với luận văn này, đã góp thêm hướng nghiên cứu mới, là tiền

đề, là điều kiện cho các nghiên cứu về văn xuôi Nguyên Ngọc ở giai đọan sau

1975.

2.2. Những ý kiến bàn riêng về Cảm hứng anh hùng trong văn xuôi

nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975

Sau 1975, nhiều cây bút lại thể hiện mình trên nhiều thể loại khác nhau,

có người không thể viết tiếp được nữa cũng có người thay đổi cách viết cho

phù hợp với cuộc sống mới, duy chỉ có Nguyên Ngọc, dòng chảy ấy vẫn tiếp

tục và còn mạnh mẽ hơn trước. Ông vẫn viết theo lối cũ. Trần Đăng Khoa

trong bài Nguyên Ngọc – chân dung văn có nhận xét rất xác đáng, như sau:

“Truyện của Nguyên Ngọc hầu hết là thế. Ông ca tụng chủ nghĩa anh hùng

cách mạng.... Bút pháp ông nhất quán trước sau như một, không thay đổi,

9

không quay quắt. Trong khi đó có rất nhiều cây bút chuyển hướng hoặc thay

đổi theo cách tiếp cận hiện thực để thu hút sự chú ý của bạn đọc. Trước viết

người tốt việc tốt thì sau viết người xấu việc xấu. Nguyên Ngọc không thể,

suốt đời dường như ông chỉ viết truyện người tốt việc tốt. Ngay cả khi dựng

nhân vật tiểu thuyết, ông cũng dựa trên những con người có thật, những sự

kiện có thật ở ngoài đời” [65;96]. Cảm hứng về người anh hùng là cảm hứng

chủ đạo mà Nguyên Ngọc theo đuổi bởi “Văn Nguyên Ngọc là một dạng văn có

ma lực. Giản dị, chắt lọc và trong veo. Đó cũng là dòng văn chủ đạo rất cần có

trong đời sống chúng ta hiện nay” [65;100].

Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Nguyên Ngọc – nhà văn lãng mạn đã

khẳng định như sau: “Nguyên Ngọc vẫn tiếp tục hướng về đối tượng cũ, vẫn

viết về người anh hùng, với giọng văn càng sôi nổi hơn, với những hình ảnh

càng chói lọi hơn, lãng mạn hơn....Giờ đây cũng vẫn những người anh hùng

kiên cường sắt thép ấy, nhưng họ còn là những con người của tình yêu, đẹp

và anh hùng trong tình yêu”[55;335].

Huỳnh Như Phương trong bài Nguyên Ngọc – Người ở tuyến đầu đã có

những nhận định rất tinh tế về mặt nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên

Ngọc: “Một trong những đặc điểm của văn chương Nguyên Ngọc chính là sự

kết hợp kỳ lạ giữa hiện thực và lãng mạn, giữa thực tế và lý tưởng, giữa văn

phi hư cấu và văn hư cấu. Ai cũng biết hầu hết tác phẩm của Nguyên Ngọc

đều bắt nguồn từ sự thật lịch sử, từ những con người và sự kiện có thực….Là

hiện thực mà cũng là huyền thoại…” Cùng bài viết ấy, tác giả khẳng định

“Những tác phẩm văn xuôi phi hư cấu gần đây của Nguyên Ngọc thể hiện sự

quan tâm ngày càng lớn đến tính chất xác thực của tư liệu, ngày càng thường

xuyên hướng đến những sự kiện không thêu dệt, từ đó mở ra dòng cảm xúc

của mạch văn. Đồng thời, chính trong các văn bản phi hư cấu đó, yếu tố ngày

càng trở nên quan trọng không chỉ là những chứng từ được bảo chứng về mặt

10

tư liệu mà còn là sự chính xác của ấn tượng, sự trải nghiệm qua các sự kiện,

sự suy tưởng và trầm tư thế sự ghi dấu sự hiện hữu của cá tính nhà

văn”[71;106,107].

Thúy Nga trong Nỗi lòng của nhớ và quên đã thừa nhận rằng: “Nguyên

Ngọc đã tìm thấy cái lớn lao đằng sau những điều bình thường, nhỏ nhặt, và

kể về điều đó bằng một giọng văn vừa dịu nhẹ vừa nóng bỏng, đã như là

“mảnh đất” của riêng Nguyên Ngọc....Điện Bàn viết năm 1971, Cát cháy viết

năm 1998, và bây giờ 2005, mà câu chuyện dữ dội về người và đất Điện Bàn

những ngày “nung bão”, hay ngọn nguồn của cái sức mạnh kỳ lạ như huyền

thoại của vùng cát trắng Bình Dương (Thăng Bình, Quảng Nam) ba lần được

tuyên dương anh hùng, vẫn đủ sức lay động người đọc. Nhất là với bút ký Có

một con đường mòn trên biển Đông, với khúc ca bi tráng của những người

quyết quên đi cái chết của mình vì sự sống còn của miền Nam ruột thịt”

[57;518].

Nhìn chung, các bài nghiên cứu về Nguyên Ngọc ở giai đoạn trước 1975

và những bài nghiên cứu về Nguyên Ngọc ở giai đoạn sau 1975 của Nguyễn

Đăng Mạnh, Phan Tứ, Lê Trí Viễn, Trần Đăng Khoa, Trung Trung Đỉnh,

Phong Lê, Thúy Nga, Ngô Thảo, Huỳnh Như Phương... chỉ mới dừng lại ở

một số bài báo hay những nhận định, đánh giá, khái quát về phong cách nghệ

thuật của Nguyên Ngọc. Riêng luận văn của tác giả Vũ Thị Thu phần nào đã

khái quát rõ phong cách nghệ thuật của Nguyên Ngọc là viết văn với cảm

hứng anh hùng ở giai đoạn trước 1975, còn giai đoạn sau 1975 thì tác giả vẫn

để ngỏ. Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những người đi trước, chúng tôi xác lập

hướng nghiên cứu có hệ thống hơn. Xuyên suốt hành trình nghệ thuật của

mình Nguyên Ngọc đều nhất quán với cảm hứng anh hùng nhưng người anh

hùng trong sáng tác sau 1975 là người anh hùng được phục dựng lại, vẫn là

cảm hứng ngợi ca nhưng cách nhìn người anh hùng đa diện hơn, với thái độ

11

chia sẻ, cảm thông cho những mất mát, đau thương của họ. Đồng thời, qua tác

phẩm tác giả cũng thể hiện những ray rứt, trăn trở và xót xa cho cuộc sống

còn nhiều thiếu thốn và bất hạnh của người người anh hùng trong hiện tại.

Viết về họ, tác giả không chỉ ca ngợi những hành đồng anh dũng trong chiến

tranh mà còn chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống đời thường với sự giản

dị, trong sáng trong tính cách và hành động của họ. Đồng thời, khẳng định

những đóng góp to lớn của nhà văn Nguyên Ngọc cho sự phát triển của văn học

Việt Nam đương đại trong giai đoạn đổi mới của văn học chặng đường sau 1975

đến nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng khảo sát của luận văn là Cảm hứng về người anh hùng trong

văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975. Tuy nhiên để thực hiện mục

tiêu nghiên cứu, luận văn sẽ phải khảo sát một số sáng tác tiêu biểu của

Nguyên Ngọc thời kì trước 1975 để thấy được sự nhất quán, liền mạch trong

cảm hứng của nhà văn khi viết về người anh hùng.

Các tác phẩm viết trước 1975:

- Đất nước đứng lên (tiểu thuyết) (1955)

- Rừng xà nu (truyện ngắn) (1965)

- Đất Quảng (tiểu thuyết) (1971)

Các tác phẩm viết sau 1975:

- Trở lại Mèo Vạc (bút ký) (1990)

- Tháng Ninh Nông (truyện ngắn) (1999)

- Người hát rong giữa rừng (truyện ngắn) (1996)

- Cát cháy (bút ký) (1998)

12

- Có một con đường mòn trên biển Đông (bút ký) (1998)

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nhằm khẳng định những đóng góp của nhà văn Nguyên Ngọc

ở lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật sau 1975 với sự tiếp nối cảm hứng về người

anh hùng trong một hoàn cảnh mới. Từ đó, khẳng định sự nhất quán, liền

mạch trong phong cách của nhà văn. Với cảm hứng ngợi ca, trân trọng cùng

những chia sẻ với cuộc sống của người anh hùng trong hiện tại, nhà văn

Nguyên Ngọc đã có cái nhìn mới về họ. Luận văn góp tiếng nói khẳng định vị

trí xứng đáng của nhà văn trong nền văn học đương đại Việt Nam sau 1975.

Để thấy rõ sự nhất quán trong phong cách của Nguyên Ngọc, người viết sẽ

tiến hành so sánh các tác phẩm trước và sau 1975 để thấy được cảm hứng

trong sáng tác của ông là cảm hứng anh hùng.

4. Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng nghiên cứu, xuất phát từ mục đích

của đề tài, trên cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu văn học, người viết

sử dụng các phương pháp sau:

4.1. Phương pháp lịch sử

Khi nghiên cứu các sáng tác của Nguyên Ngọc phải gắn liền với hoàn

cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam những năm trước và sau 1975 để thấy được

sự tác động của hoàn cảnh đối với hoạt động sáng tác của nhà văn từ việc

hình thành cảm hứng, lựa chọn đề tài, xác định chủ đề đến tổ chức kết cấu tác

phẩm, xây dựng hình tượng, sử dụng ngôn từ, chọn điểm nhìn trần thuật và

lựa chọn giọng điệu.

4.2. Phương pháp so sánh – đối chiếu

Để thấy rõ sự khác biệt trong phong cách nghệ thuật của Nguyên Ngọc

với những nhà văn cùng thời cũng như cảm hứng về người anh hùng ở hai giai

13

đoạn sáng tác trước và sau 1975, người viết tiến hành so sánh những sáng tác của

Nguyên Ngọc với các sáng tác của các tác giả cùng thời, đồng thời so sánh với các

tác phẩm của chính nhà văn Nguyên Ngọc ở giai đoạn trước và sau 1975.

4.3. Phương pháp thi pháp học

Thi pháp học là một phương pháp nghiên cứu văn học. Để thực hiện đề

tài này, luận văn sẽ tìm hiểu cách tiếp cận về người anh hùng ở giai đoạn sau

1975. Do đó, việc tìm hiểu nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật miêu tả, kết cấu

tác phẩm là việc làm cần thiết để hiểu được phong cách sáng tác của tác giả

cũng như giúp người đọc có cái nhìn bao quát và toàn diện hơn về người anh

hùng trong quá khứ và hiện tại.

4.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phân tích, tổng hợp là một trong những thao tác không thể thiếu đối với

mọi công trình nghiên cứu. Trên cơ sở những tư liệu đã được thống kê, phân

loại, luận văn sẽ tập trung vào những điểm cần thiết, tìm ra những điểm đặc

sắc và độc đáo trong cảm hứng về người anh hùng trong văn xuôi nghệ thuật

của Nguyên Ngọc sau 1975.

5. Đóng góp của luận văn

Thực hiện đề tài này, luận văn sẽ khẳng định lại lần nữa những đóng góp

to lớn của nhà văn cả về nghệ thuật lẫn nội dung trong giai đoạn sáng tác sau

1975 khi viết về người anh hùng. Nghiên cứu cảm hứng về người anh hùng

trong sáng tác của Nguyên Ngọc sau 1975 một lần nữa khẳng định được

phong cách nhất quán của nhà văn – một cây bút sử thi tràn đầy cảm hứng

lãng mạn – anh hùng. Qua đó, người đọc có cái nhìn toàn cảnh về sáng tác của ông

cũng như đóng góp của Nguyên Ngọc đối với nền văn học Việt Nam đương đại.

6. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn gồm 3

14

chương được trình bày như sau:

Chương 1 - được trình bày từ trang 15 đến trang 48. Ở chương này,

người viết tập trung làm rõ nội hàm khái niệm cảm hứng, cảm hứng anh hùng

trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn trước 1975. Từ đó thấy được

cảm hứng trong sáng tác của Nguyên Ngọc sau 1975 cũng vẫn là cảm hứng

anh hùng với những trăn trở, chiêm nghiệm về cuộc đời, đặc biệt là về cuộc

đời người anh hùng trong hiện tại. Đồng thời ở chương này, người viết cũng

trình bày khái quát hành trình nghệ thuật qua hai giai đoạn sáng tác trước và

sau 1975 của Nguyên Ngọc để thấy được sự nhất quán trong cảm hứng của

nhà văn. Từ đó, lí giải cội nguồn của cảm hứng anh hùng trong sáng tác của

Nguyên Ngọc.

Chương 2 – được trình bày từ trang 49 đến trang 76. Ở chương này,

người viết sẽ trình bày sự tiếp nối và bổ sung cảm hứng về người anh hùng

trong văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc giai đoạn sau 1975 tìm hiểu về bối

cảnh xã hội Việt Nam sau 1975. Từ cách chọn đề tài, chủ đề thể hiện đến cách

xây dựng tính cách anh hùng đa diện. Tất cả những yếu tố đó đã cho thấy

được sự nhất quán trong phong cách nghệ thuật của nhà văn. Từ đó, tìm hiểu

về thái độ, tình cảm của nhà văn đối với người anh hùng.

Chương 3 – được trình bày từ trang 77 đến trang 108. Ở chương này,

người viết tập trung làm rõ bút pháp nghệ thuật của Nguyên Ngọc thể hiện

trong các sáng tác sau 1975. Từ cách tiếp cận nhân vật anh hùng gián cách

mang đầy hoài niệm với những cảm thông sâu sắc và chia sẻ những mất mát

của chính họ. Thể hiện kết cấu lồng ghép đan xen quá khứ, hiện tại là cách tác

giả đưa người đọc trở về với quá khứ để có cái nhìn nhiều chiều về người anh

hùng của hôm qua và cuộc sống hiện tại của họ hôm nay. Đồng thời thấy

được sự thay đổi điểm nhìn trần thuật cũng như cách miêu tả giàu ấn tượng để

làm bộc lộ tính cách chân thật, giản dị, đời thường của nhân vật.

15

Chương 1

NGUYÊN NGỌC – NHÀ VĂN LUÔN TÌM KIẾM NHỮNG

TÍNH CÁCH ANH HÙNG, NHỮNG SỰ TÍCH ANH HÙNG

1.1. Khái niệm cảm hứng và cảm hứng anh hùng trong văn học Cách

mạng Việt Nam

Cảm hứng là sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm và tư tưởng trong một tác

phẩm nghệ thuật, đóng vai trò quan trọng trong việc sáng tạo văn học của nhà

văn. Chính cảm hứng là động lực thôi thúc nhà văn sáng tác để bày tỏ tư

tưởng và tình cảm của mình về thế giới mà mình phản ánh trong tác phẩm.

Tìm hiểu cảm hứng sáng tác của một tác giả, đồng nghĩa với việc tìm hiểu tư

tưởng sáng tạo của tác giả đó. Đây là một việc làm cần thiết, vì nắm bắt được

tư tưởng sáng tạo của tác giả, ta sẽ hiểu và lý giải được cách lựa chọn đề tài,

xây dựng nhân vật, sắp xếp các chi tiết…trong tác phẩm.

1.1.1. Về khái niệm cảm hứng

Sáng tạo văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần và theo

phương thức chiếm lĩnh riêng của từng nghệ sĩ. Văn học nghệ thuật phản ánh

đời sống xã hội bằng hình tượng nghệ thuật, do đó đời sống xã hội chính là

nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn thỏa sức sáng tạo. Có thể khẳng định

rằng sự dồi dào về cảm xúc của tác phẩm nghệ thuật là một đặc điểm cơ bản

của việc tái tạo hiện thực bằng hình tượng, là một đặc điểm của sự thể hiện

những tư tưởng sáng tạo, sự phát triển của các tính cách. Cảm hứng chỉ hình

thành và xuất hiện ở nhà văn khi trong anh ta có vốn sống đầy ắp và được

nuôi dưỡng bằng sự sống, bằng tinh thần, được nghiền ngẫm kĩ và khi bắt gặp

những sự kiện, những cảnh đời, thì cảm hứng ấy được bộc lộ ra và thôi thúc

sự sáng tạo của nhà văn, nó kêu gọi nhà văn, kêu gọi anh ta lao động để tạo

dựng hình thức cho nó. Không những vậy, nhà văn phải luôn mang một tấm

16

lòng rộng mở, biết ngạc nhiên dù là với một vẻ đẹp bình dị của cuộc sống, rất

nhạy cảm với những thay đổi chung quanh “nhà văn hiện thực, hoàn toàn

không phải là chiếc máy hát cần mẫn tái hiện lại những khúc nhạc được ghi

trên đĩa hát”[37;88] mà là người phải biết thể hiện những vẻ đẹp của cuộc

sống bằng chính trái tim của mình, tức là thể hiện cuộc sống khách quan qua

lăng kính chủ quan của mình.

Khái niệm cảm hứng được đề cập đến từ lâu trong lý luận nghệ thuật ở

châu Âu. Có lẽ Hegel là nhà mỹ học đầu tiên đưa ra một lý luận tương đối

hoàn chỉnh về cảm hứng và đưa nó vào một trong các phạm trù mỹ học. Hegel

cho rằng cảm hứng là trung tâm của vương quốc nghệ thuật. “Tình cảm tạo

nên trung tâm thực sự trên vương quốc chân chính của nghệ thuật; thể hiện

tình cảm là cái chủ yếu trong tác phẩm nghệ thuật, cũng như trong cảm thụ

của công chúng” [28;244]. Hegel xem cảm hứng là “sức mạnh của tâm hồn

tự thể hiện trong chính nó, là nội dung chủ yếu của lý tính và ý chí tự do”

[28;299]. Hegel cho rằng cảm hứng thực sự có được khi có một nội dung đã

được quy định. Đồng tình với quan điểm của Hegel, nhà phê bình Nga

Bêlinski cũng đề cao vai trò của cảm hứng. Ông xác định vai trò và nguồn

gốc tư tưởng trong tác phẩm: “Trong những tác phẩm nghệ thuật chân chính

tư tưởng đâu phải là một khái niệm trừu tượng được thể hiện một cách giáo

điều mà nó là linh hồn của chúng, nó chan hòa trong chúng như ánh sáng

chan hòa trong pha lê. Trong những tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng là cảm

hứng chủ đạo của chúng. Cảm hứng chủ đạo là gì? Đó là sự thâm nhập say

mê và sự ham thích một tư tưởng nào đó, mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là kết

quả chủ đạo phải thấm đượm. Thiếu cảm hứng chủ đạo thì không thể hiểu

được là cái gì đã buộc nhà thơ cầm bút và cung cấp cho anh ta sức lực và khả

năng khởi đầu và kết thúc một tác phẩm đôi khi khá đồ sộ” [7;111].

Cảm hứng cũng không phải tự nhiên mà đến, cảm hứng là một trạng thái

17

hưng phấn tột độ và khi bắt gặp hiện thực khách quan thì chính nó – cảm

hứng được nhà văn chuyển thành cái chủ quan của mình, cảm hứng ấy được

kết tinh từ sự lao tâm khổ tứ của nhà văn, từ sự thai nghén đứa con tinh thần,

suy tư, cấu tứ, tưởng tượng trước đó và nói cho đúng hơn là nhà văn đã cảm

thấy đau ở đâu trên chính cơ thể của mình nên buộc nhà văn cầm bút, cảm

hứng được nuôi dưỡng bằng lao động miệt mài, sự khổ công của nhà văn và

chỉ khi người nghệ sĩ làm việc và sáng tạo thì lúc đó cảm hứng mới đến. Nói

như Traicốpki: Cảm hứng là một khách hàng không ưa đến thăm những kẻ

lười […]. Khi đã có một khách thể thẩm mỹ và cảm hứng chính là cái trạng

thái hoạt động tích cực ở trong thế giới bên trong của nhà nghệ sĩ. Theo Hegel

thì yêu cầu quan trọng nhất đối với người nghệ sĩ là khi người nghệ sĩ ấy quan

tâm nghiêm túc tới một đối tượng mà đối tượng ấy trở thành một cái gì sinh

động trong tâm hồn người nghệ sĩ và lúc đó cảm hứng sẽ tự đến và “một nghệ

sĩ dồi dào thực sự nhờ cái sức sống này sẽ tìm thấy hàng ngàn điều kích thích

hoạt động và cảm hứng, những kích thích mà người khác sẽ bỏ qua và chẳng

hề chú ý tới” [27;229].

Trong tác phẩm nghệ thuật nếu như tình cảm bao giờ cũng phải chứa

đựng tư tưởng thì tư tưởng bao giờ cũng thấm đượm tình cảm. “Tư tưởng của

tác phẩm không thể là tư tưởng khô khan thuần tuý mà phải biến thành khát

vọng, thành cảm hứng” [87;15]. Nói khác đi, thì tư tưởng nghệ thuật phải

vượt lên trên mọi trở ngại, nó chính là sự nung nấu là tình yêu, là sự dằn vặt

trong chính tâm hồn của tác giả, là tình cảm chân thành nhất mà tác giả dành

cho đứa con tinh thần của mình. Tình cảm là một trong những động lực thúc

đẩy cảm hứng sáng tạo. Tư tưởng sẽ không thể chuyển hóa được vào hình

tượng một cách nhuần nhuyễn nếu thiếu đi nguồn cảm hứng. Chính cảm hứng

đã tạo nên linh hồn của hình tượng, làm cho hình tượng trở thành một chỉnh

thể nghệ thuật sinh động. Chính nhà văn là người thâm nhâp vào đối tượng

18

với một trạng thái tràn đầy cảm hứng để chuyển hóa cái khách quan ấy thành

cái chủ quan. Vì vậy, tác phẩm văn học không chỉ là khách thể được phản ánh

mà còn là chủ thể được biểu hiện. Người đọc đến với tác phẩm là đến với

cuộc sống đã được tái tạo đồng thời còn khai phá tâm hồn của nhà văn, đến

với tư tưởng, thái độ của nhà văn đối với hiện thực cuộc sống. Công việc của

một nhà văn cả đời thực ra chỉ có thể làm một việc: đem máu thịt và cả tâm

hồn mình vào trong tác phẩm. Và người đọc chính là người chia sẻ cảm xúc

với chính tác giả, người đọc đồng sáng tạo với tác giả.

Riêng với Pospelov, ông chủ yếu quan tâm đến những yêu cầu đối với

cảm hứng. Đối với ông, cảm hứng phải là “sự đánh giá sâu sắc và chân thực

– lịch sử đối với các tính cách được miêu tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc

khách quan của các tính cách ấy là cảm hứng tư tưởng sáng tạo của nhà văn

và của tác phẩm của nhà văn” [74;152]. Ở đây, Pospelov đã quan tâm đến

tính chân lí lịch sử của tác phẩm văn học. Cảm hứng ấy chính là trạng thái

hưng phấn cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc

sống mà nhà văn miêu tả. Tức là nhà văn phải yêu những cái đáng yêu, ghét

những cái đáng ghét, ca ngợi những cái đáng ca ngợi. Nếu nhà văn ca ngợi

hành động chiến đấu dũng cảm của một tên giặc ngoại xâm hay đề cao vai trò

của một giai cấp thống trị mục ruỗng thì sự ca ngợi ấy, đề cao ấy không trở

thành cảm hứng hoặc đó chỉ là thứ cảm hứng giả tạo vì nó mất tính khách

quan lịch sử. Ông viết tiếp: “Ở những tác phẩm không có chiều sâu của hệ

vấn đề, sự lí giải và đánh giá các tính cách sẽ không được nâng lên thành

cảm hứng. Ở những tác phẩm mang tư tưởng giả tạo, cảm hứng chỉ được tạo

nên do ý chí chủ quan của nhà văn và vì vậy cảm hứng sẽ mang tính chất

gượng gạo, cố tình” [74;153].

K. Paustovsky lại có cách nhận định riêng của mình ông cho rằng cảm

hứng không phải là cái gì khó hình dung mà đó là “sự cao hứng của tâm hồn,

19

sự thoải mái, sự tiếp nhận hiện thực một cách sinh động, khi trong người tràn

đầy ý nghĩ và tri thức về sức mạnh sáng tạo của mình” [74;45]. Chính trong

quá trình sáng tạo của mình, nhà văn thấy lóe lên một tia chớp sáng tạo, thấy

mình bỗng nhiên bị cuốn hút vào một cảm giác, một hình ảnh, một âm điệu

hay một ý nghĩ nào đó và muốn bắt tay vào sáng tác là nhà văn đang có cảm

hứng. Và như thế “cảm hứng là một trạng thái phấn chấn về tinh thần giúp

cho người ta thấy rõ, thấy nhanh nhiều vấn đề theo một hướng tập trung, phát

hiện được nhiều điều mới, thực hiện được công việc một cách thích thú và đạt

kết quả cao” [26;116].

Tác phẩm văn học nghệ thuật khác với các ngành lao động nghệ thuật

khác vì nó chứa đựng tình cảm chủ quan của chủ thể sáng tạo, cho nên cảm

hứng sáng tạo của văn nghệ sĩ vốn phải dạt dào, phải mãnh liệt. Cảm hứng là

một trạng thái tâm lí căng thẳng nhưng say mê khác thường. Sự căng thẳng

của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc khi đã đạt đến sự hài hòa, kết tinh

sẽ bùng cháy trong tư duy nghệ thuật của nhà văn dẫn dắt họ đến những mục

tiêu da diết bằng con đường gần như trực giác, bản năng. Cảm hứng chính là

những mạch cảm xúc đạt đến đỉnh cao và bắt buộc nhà văn phải cầm bút để

viết ra những điều nhà văn cảm thấy để từ đó nhận được sự chia sẻ đồng cảm

từ độc giả. Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lí tưởng xã hội của

nhà văn nhằm phát triển và cải tạo lại thực tại.

Như vậy, từ những quan niệm của các nhà mỹ học, các nhà nghiên cứu

và phê bình văn học, chúng tôi đi đến kết luận cảm hứng là nhiệt tâm, là say

mê một tình cảm mạnh mẽ mang tư tưởng của nhà văn hướng về đối tượng.

Cảm hứng trong tác phẩm nghệ thuật không phải là một thứ tình cảm giả tạo

hay hời hợt mà phải là một thứ tình cảm sâu sắc mãnh liệt. Đó phải là một nỗi

đau xé lòng, một tình yêu tha thiết…Cảm hứng trong tác phẩm phải là thứ

tình cảm nghiêng về lẽ phải, gắn liền với những tư tưởng lành mạnh, tiến bộ,

20

cao đẹp. Nói đúng hơn, “đó là niềm say mê khẳng định chân lý, lí tưởng, phủ

định sự giả dối và mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực, là thái độ ngợi ca, đồng

tình với những nhân vật chính diện, là sự phê phán, tố cáo các thế lực đen tối,

các hiện tượng tầm thường ” [26;268].

1.1.2. Cảm hứng anh hùng trong văn học Cách mạng Việt Nam giai

đoạn 1945 – 1975

Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời kì phát triển mới

của đất nước trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa – giáo dục…Đi

cùng với sự phát triển đó, văn học nghệ thuật chuyển sang một bước ngoặt

mới và thu được nhiều thắng lợi. Năm 1951, trong thư gửi các anh chị em

nghệ sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Văn hóa nghệ thuật cũng là một

mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Vì Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã

hội là phương châm lớn của văn nghệ trong suốt thời kì dài lịch sử. Đường lối

văn nghệ đó đã xác định cho người viết lập trường nhân dân, phát huy truyền

thống dân tộc, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Nhân dân là cội

nguồn khơi gợi mọi hoạt động sáng tạo nghệ thuật và nhân dân cũng là đối

tượng thưởng thức, tiếp nhận. Nhà văn phải đứng trên lập trường nhân dân,

lấy quan điểm của nhân dân để nhận thức và giải quyết mọi vấn đề. Đồng

thời, nền văn học mới phải biết phát huy và khai thác những giá trị truyền

thống tốt đẹp của dân tộc. Tính nhân đạo và tính dân tộc luôn là phương châm

và chuẩn mực cho các tác phẩm văn chương.

Khuynh hướng sử thi là đặc điểm bao trùm nền văn học kháng chiến, nền

văn học phục vụ cách mạng. Sử thi trong văn học 1945 – 1975 không phải là

khái niệm thể loại như sử thi cổ đại, mà là một khái niệm để chỉ đặc điểm của

văn học được sáng tạo trên nền tảng của ý thức cộng đồng toàn dân, xuất hiện

vào thời kì có đấu tranh chống giặc ngoại xâm, có phong trào xã hội bảo vệ

các lợi ích toàn dân. Trong đó, xung đột có tính sử thi là xung đột của dân tộc

21

ta với kẻ thù xâm lược, của cộng đồng toàn dân ta với giặc ngoại xâm. Chủ đề

có tính sử thi là dân tộc, nhân dân, Tổ quốc. Nhân vật là những người anh

hùng đại diện cho phẩm chất, ý chí và sức mạnh của dân tộc. Đặc biệt, là hình

tượng người lãnh tụ, người chiến binh, hình tượng người mẹ được thể hiện

bằng giọng điệu ngợi ca, khẳng định, cổ vũ nhân dân. Chất sử thi không đối

lập với hiện thực mà có khả năng hòa hợp, gắn bó với chất hiện thực, từ đó

nảy sinh chất trữ tình trong sáng tác.

Vì thế, chất trữ tình thể hiện khá đậm nét trong nhiều truyện ngắn. Các

nhà văn thường nhạy cảm với cái đẹp của thiên nhiên, đất nước, nhất là vẻ

đẹp của tâm hồn con người, thiên về khai thác các mối quan hệ tình cảm,

những rung động tâm hồn, nhưng không vượt ra ngoài mạch sử thi – anh

hùng. Đồng thời, mỗi tác giả lại có cách thể hiện riêng, có sự kết hợp riêng

tùy theo cá tính của mỗi nhà văn. Tiêu biểu cho văn xuôi giàu chất trữ tình,

đậm chất lãng mạn là Hòn đất của Anh Đức, nhân vật trong tác phẩm của

Anh Đức là những con người hoàn hảo, mang lí tưởng với tình cảm trong

sáng, đậm nét truyền thống và thời đại. Phong cảnh thiên nhiên đẹp, phóng

khoáng mang nét đặc trưng của Nam Bộ. Một số truyện ngắn của Nguyễn

Minh Châu cũng thể hiện nổi bật chất trữ tình và cảm hứng lãng mạn của thời

đại. Đến với Tô Hoài, ta bắt gặp chất thơ của thiên nhiên và tâm hồn của

người miền núi. Tất cả được tác giả cảm nhận bằng sự thâm nhập, quan sát

phong cảnh, và gắn với những phong tục sinh hoạt, được thể hiện trên trang

viết bằng một phong cách riêng.

Văn xuôi giai đọan 1945 – 1975 có nhiều biến đổi khá rõ về hình thức

thể loại, về phương thức trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ, tạo nên những

đặc điểm về thi pháp của thể loại tự sự trong giai đoạn này. Trong các truyện

ngắn, quan điểm trần thuật của người trần thuật xích gần và tiến tới hòa nhập

với quan điểm của nhân vật quần chúng. Không gian đặc trưng nhất trong văn

22

học thời kỳ kháng chiến là con đường, mặt trận và chiến khu. Văn xuôi giai

đoạn này đã phát huy được ưu thế của thể loại, bám sát các sự kiện và diễn

biến cuộc kháng chiến, dựng lại bức tranh nhiều vẻ về cuộc kháng chiến toàn

dân, toàn diện ở mọi miền đất nước. Nguyễn Tuân thâm nhập vào đời sống

kháng chiến trên mọi nẻo đường. Hăm hở, nhiệt tình từ khu Năm trở ra khu

Bốn, xuống khu Ba vào sâu vùng địch hậu và lọt cả vào vùng địch tạm chiếm,

rồi theo bộ đội lên sông Thao, lại vượt sông Thao vào Tây Bắc theo chân các

đoàn quân giải phóng. Đọc truyện và ký kháng chiến, chúng ta có thể hình

dung một khung cảnh rộng lớn từ tiền tuyến, hậu phương, trong vùng chiến

khu và cả trong vùng địch tạm chiếm, từ Việt Bắc đến chiến trường Nam

Bộ...để phản ánh kịp thời các sự kiện của cuộc kháng chiến, thể ký có điều

kiện phát triển mạnh mẽ. Một trong những cây bút viết ký chiến tranh xuất

sắc nhất là Trần Đăng. Những ký sự tuy ngắn nhưng vẫn nổi bật tài năng

dựng cảnh, phác họa chân dung và do đó, tạo được không khí sôi động và giữ

được tính khách quan của tác phẩm.

Thời kì đầu kháng chiến, văn học hướng tới một đối tượng mới là quần

chúng cách mạng, truyện ngắn đã thu được một số thành tựu đáng kể. Một lớp

nhà văn đã chuyển hướng sáng tác, họ mạnh dạn đặt ra lập trường mới. Nhiều

truyện ngắn ghi lại được những hình ảnh về cuộc sống, về nét đẹp tâm hồn

trong tâm trạng của người kháng chiến ở nhiều vùng trên cả nước.

Vợ nhặt của Kim Lân đã lên ác tội ác của bọn thống trị Nhật – Pháp

cùng bè lũ tay sai. Chúng đã đẩy nhân dân ta vào nạn đói khủng khiếp năm

1945 đến nỗi cái giá của con người như cái rơm, cái rác có thể dễ dàng nhặt

được. Tác phẩm cũng phản ánh được khí thế sôi sục của cách mạng trong

những ngày dân tộc ta cùng đứng lên chống giặc.

Với tập Truyện Tây Bắc, Tô Hoài đã đóng góp vào sự phát triển của

truyện ngắn kháng chiến. Truyện Tây Bắc tập trung thể hiện cuộc sống tủi

23

nhục, đau khổ của đồng bào dân tộc miền núi dưới ách thống trị của thực dân

phong kiến với khát vọng giải phóng và quá trình thức tỉnh đến với cách

mạng, nâng sự giác ngộ chính trị cho họ.

Truyện ngắn của Nam Cao được xem là tuyên ngôn nghệ thuật của một

lớp nhà văn đi theo kháng chiến, đứng về phía đại chúng, thực sự thay đổi

quan điểm, lập trường. Đôi mắt là bản tuyên ngôn về tư tưởng, lập trường

cách mạng, khẳng định cái nhìn tích cực của những văn nghệ sĩ kháng chiến

đối với quần chúng nhân dân. Chỉ có thể đứng trên lập trường yêu nước và

cách mạng, xuất phát từ tư tưởng cách mạng, văn nghệ sĩ mới có thể hiểu

được bản chất của nhân dân lao động. Điều đó có quan hệ mật thiết tới việc

xác định đối tượng chính của nền văn học mới là nhân dân, những con người

bình thường mà vĩ đại.

Truyện ngắn 1945 – 1975 đã xây dựng được nhiều hình tượng tiêu biểu

cho các tầng lớp, giai cấp, cho số phận và con đường đi của quần chúng nhân

dân trong thời đại cách mạng và kháng chiến. Đóng góp đáng kể là truyện ký

về những người anh hùng và tập thể anh hùng như: Người mẹ cầm súng

(Nguyễn Thi), Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng), Sống như anh (Trần

Đình Vân). Dù dung lượng hạn chế, nhưng truyện ngắn vẫn thể hiện đậm nét

khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, đề cập đến những vấn đề hệ

trọng của dân tộc và thời đại, vận mệnh của đất nước và nhân dân. Nhiều tác

phẩm trực tiếp thể hiện hình ảnh nhân dân trong quá trình thức tỉnh cách

mạng và cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng anh hùng: Rừng xà nu (Nguyễn

Trung Thành), Quán rượu người câm (Nguyễn Quang Sáng), Một chuyện

chép ở bệnh viện (Bùi Đức Ái).

Nhân vật trung tâm của truyện ngắn thời kỳ này là người chiến sĩ. Đó là

con người sử thi tiêu biểu cho khát vọng và ý chí chiến đấu quyết thắng của

dân tộc, tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cho sức mạnh và phẩm

24

chất của con người kết tinh truyền thống từ mấy ngàn năm lịch sử và sức

mạnh của cách mạng. Các nhân vật anh hùng cũng thường được xây dựng

như những con người toàn diện trong các mối quan hệ chung và riêng. Cuộc

đời riêng của họ hòa vào cuộc đời chung của dân tộc, những suy nghĩ riêng tư

của họ cũng hướng về cái chung, vì lợi ích của tập thể, của cộng đồng. Các

nhân vật cũng thường được đặt trong những hoàn cảnh thử thách gay go,

những tình huống căng thẳng, nghiệt ngã trong chiến tranh để làm bộc lộ vẻ

đẹp và những phẩm chất cao quý của họ. Họ đều là những con người giàu

lòng yêu nước, yêu lí tưởng cách mạng. Khuynh hướng sử thi đã tạo nên một

giọng điệu trang trọng, ngợi ca.

Đời sống hiện thực bộc lộ nhiều vẻ đẹp, gợi lên những niềm vui và mơ

ước dễ làm nảy sinh ảm hứng lãng mạn. Đây là những năm tháng con người

tuy đứng trong gian khổ tột cùng nhưng tâm hồn lại sống trong niềm vui ấm

áp của tình đồng chí, đồng bào và trong ánh sáng rực rỡ của lí tưởng, của

tương lai. Khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn anh hùng ca là khuynh

hướng sáng tác chung của nền văn học lúc bấy giờ. Nó không chỉ sôi nổi

trong thơ mà cả trong văn xuôi. Từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến tùy bút đều

rất giàu chất thơ.

1.2. Cảm hứng anh hùng trong hành trình nghệ thuật của Nguyên Ngọc

1.2.1. Giai đoạn trước 1975

Giai đoạn 1945 – 1975, cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc ta diễn ra

trên quy mô rộng lớn chưa từng có. Nó đã tác động mạnh mẽ đến thời đại làm

nảy sinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Văn học giai đoạn này đã

xây dựng được những hình tượng cao đẹp về Tổ quốc và nhân dân. Đặc biệt

là về người anh hùng. Văn học tập trung ngợi ca vẻ đẹp của người chiến sĩ

trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, luôn nêu cao tinh thần

yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ngợi ca phẩm chất và sức mạnh

25

của con người Việt Nam. Phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và

tinh thần cách mạng thời đại. Điều đó, được thể hiện rõ nét trong tác phẩm

của Nguyên Ngọc và cả một thế hệ nhà văn cùng lứa với ông “đi theo cách

mạng là để làm cách mạng chứ không phải viết văn” [61;489]. Nhưng những

hoàn cảnh thực tế của chiến tranh buộc họ phải cầm bút để sáng tác. Trước

hết là để cho mình, để động viên đồng chí, và cho đất nước. Tất cả họ là con

của cách mạng, nhà văn Nguyên Ngọc là con đẻ của cách mạng.

Văn học là sự phản ánh trung thực hình ảnh của đời sống xã hội. Trong

các trang viết của mình, Nguyên Ngọc đều nhất quán với cảm hứng anh hùng.

Do đó, những vấn đề được đề cập đến trong tác phẩm là những vấn đề trọng

đại của dân tộc. Những người anh hùng trong sáng tác của ông luôn đậm tính

chiến đấu, phản ánh kịp thời với những sự kiện lớn của dân tộc, của đất nước.

Với Nguyên Ngọc, ông luôn ý thức rõ, vai trò, sứ mệnh của nhà văn –

chiến sĩ. Nguyên Ngọc đã dùng văn chương của mình làm vũ khí chiến đấu.

“Không phải vì văn chương mà Nguyên Ngọc tìm đến người anh hùng, mà vì

người anh hùng mà anh thấy cần tìm đến văn chương” [55;334]. Do đó, ngay

từ khi bắt đầu cầm bút, ông đã bám sát các vấn đề lớn của cách mạng, của dân

tộc, của sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước “…những ai theo

dõi bước đường sáng tác của Nguyên Ngọc đều nhận thấy một đặc điểm là

nhà văn mà mỗi sáng tác đều được viết với một ý định chính trị rất cụ thể,

mỗi sáng tác đều muốn làm một vũ khí chiến đấu này lại rất chú trọng đến

hình thức” [61;510]. Trong sáng tác của Nguyên Ngọc, chất trữ tình gắn liền

với cái hùng tráng của sử thi. Những nhân vật trong tác phẩm của Nguyên

Ngọc “đại diện đầy đủ và tập trung cao độ những khát vọng, ý chí, sức mạnh

và phẩm chất của cả cộng đồng” [84;29]. Đồng thời, họ còn là những con

người có tình cảm thật trong sáng, hết mực thủy chung với quê hương, đất

nước, với dân tộc. Tác phẩm của ông ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng,

26

tiêu biểu là Đất nước đứng lên. Tác phẩm ra đời là một bước tiến quan trọng

trong văn xuôi Việt Nam hiện đại theo đường lối văn nghệ của Đảng vạch ra.

Đất nước đứng lên là bản anh hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của

con người Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Bên cạnh đó, tác phẩm

còn thể hiện tinh thần quật cường, ý chí quyết chiến, quyết thắng, với lòng

yêu chuộng tự do, độc lập của nhân dân Tây Nguyên dưới sự lãnh đạo của

Đảng, của cách mạng họ đã đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược.

Người anh hùng trong văn học giai đoạn 1945 – 1975, là những con

người mới, xuất hiện từ cuộc sống đời thường. Họ có cuộc đời, số phận, tính

cách riêng. Đó là những con người nghèo khổ xuất thân từ tầng lớp lao động

trong xã hội. Thế nhưng, những con người ấy cũng có thể trở thành người anh

hùng bởi họ vượt lên hoàn cảnh, số phận bằng những hành động, những việc

làm phi thường. Nguyên Ngọc rất quan tâm đến cuộc sống người anh hùng

bằng cả tấm lòng của người cầm bút. Vì thế, ông đã xây dựng nhân vật người

anh hùng chân thực và sinh động, vừa có giá trị nhận thức lại vừa có tác dụng

giáo dục sâu sắc. Cái tạo nên phong cách riêng độc đáo của nhà văn Nguyên

Ngọc chính là ở chỗ xây dựng điển hình người anh hùng trên cơ sở: người

thực, việc thực. Núp trong Đất nước đứng lên là một điển hình nghệ thuật:

người thực, việc thực, là người anh hùng miền núi Tây Nguyên.

Anh hùng Núp (Đất nước đứng lên) trưởng thành từ trong tập thể nhân

dân, yêu thương lũ làng, yêu thương gia đình và yêu tự do. Điều đó được thể

hiện ở những chi tiết Núp không chịu đi xâu cho Pháp mà tìm cách đánh

Pháp, đoàn kết dân làng Kông Hoa đấu tranh chống Pháp. Anh hùng Núp kết

tinh từ phẩm chất ưu tú của người dân Ba Na. Người anh hùng trưởng thành

từ trong nhân dân và lãnh đạo nhân dân phát huy sức mạnh tập thể, kiên trì

vượt qua gian khổ. Vì thế, mối quan hệ giữa người anh hùng với quần chúng

luôn luôn khăng khít, bền chặt. Núp đích thực là người anh hùng của quần

27

chúng, sống trong lòng quần chúng, anh hùng của thời đại cách mạng. Núp là

anh hùng được sinh ra từ trong quần chúng, có những tình cảm lớn, những

hành động sáng suốt, kiên quyết thúc đẩy và dẫn dắt quần chúng ngày càng

tiến bộ.

Nguyên Ngọc rất thành công trong việc xây dựng một tập thể anh hùng,

mọi người Ba Na, đặc biệt là người Kông Hoa đều dũng cảm vượt qua gian

nan để đứng lên chống Pháp. Núp xứng đáng là anh hùng của thời đại, anh

hùng Núp đã thức tỉnh và lãnh đạo được cả một tập thể từ trong gian khổ. Và

đời sống của anh hùng Núp cũng như bao nhiêu người dân Tây Nguyên là say

mê ca hát, hòa nhịp theo tiếng đàn tơ rưng để đàn lên khúc ca, ngợi ca cuộc

sống, núi rừng và Tổ quốc.

Câu chuyện về cuộc đời và con đường của anh Núp (Đất nước đứng

lên), của Tnú (Rừng xà nu) mang ý nghĩa tiêu biểu của người anh hùng đại

diện cho số phận và con đường của dân tộc Tây Nguyên trong thời đại đấu

tranh giải phóng. Những con người ấy được thể hiện trong văn học không

phải chỉ với tư cách cá nhân mà họ còn đại diện cho cộng đồng. Tính cách

nhân vật được khai thác chủ yếu ở khía cạnh tích cực. Số phận nhân vật

thường trải qua những biến cố bất lợi ban đầu nhưng kết thúc cuối cùng đều

thắng lợi hoặc tạo ra một niềm tin lạc quan về sự chiến thắng. Đó là cảm hứng

lãng mạn tích cực, cảm hứng anh hùng. Nó giúp con người ta vượt lên trên

cuộc sống gian khổ và ác liệt mà hướng về tương lai chiến thắng, về cuộc

sống hạnh phúc và xây dựng xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh.

Có thể nói mỗi nhà văn đều sống và sáng tác trong những điều kiện và

giới hạn của một thời đại. Nhà văn chính là người đại biểu tinh thần chịu

những ràng buộc và giới hạn của một giai cấp. Hoàn cảnh lịch sử kêu gọi, đất

nước yêu cầu. Các văn nghệ sĩ lần lượt thâm nhập vào đời sống, chiến đấu của

quần chúng nhân dân với trái tim nóng bỏng căm hờn và sôi sục ý chí chống

28

giặc. Họ nhiệt tình đón nhận hồ hởi những thay đổi của đời sống và biểu lộ

niềm vui trước những thành công và thắng lợi của cách mạng là nét chung,

quán xuyến trên các sáng tác ra đời năm đầu tiên sau khi cách mạng thành

công. “Đã qua cái thời nhà văn chỉ cần khơi sâu vào huyệt lòng mình, soi

gương mà ngắm nghía mình… Đã qua những câu chuyện phù phiếm, dông

dài của những chàng, nàng trong hàng pho tiểu thuyết lãng mạn” [40;334].

Cuộc chiến đấu chống Mỹ ác liệt đã đặt mỗi người Việt bình thường nhất

vào tình huống không thể không trở thành anh hùng và mỗi cá nhân đều hết

sức gắn bó với cộng đồng và vì cộng đồng mà suy nghĩ và hành động. Cũng

với mạch cảm hứng về người anh hùng, nhưng cách nhìn người anh hùng

trong kháng chiến chống Mỹ đã có bước chuyển biện chứng hơn so với giai

đoạn trước đó. Nguyên Ngọc đã nhận thức về cuộc chiến một cách tường tận

hơn, rõ ràng hơn. Những vốn sống, trải nghiệm đầy ăm ắp cùng với hào khí

thời đại đã cho Nguyên Ngọc tiếp tục góp nhặt cho văn xuôi cảm hứng lãng

mạn về người anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ. Với bút danh Nguyễn

Trung Thành, Nguyên Ngọc bám sát chiến trường Tây Nguyên và cho ra đời

truyện ngắn Rừng xà nu. Tác phẩm là đỉnh cao cho cái lãng mạn – anh hùng

trong phong cách sáng tác của ông. Đây là thời kì ra ngõ gặp anh hùng. Do

đó, hình tượng người anh hùng không mang màu sắc cái thế, bi tráng mà

người anh hùng được tôi luyện bởi bản lĩnh cách mạng, được rèn luyện qua

lửa đạn của chiến tranh. Tnú trong Rừng xà nu là người anh hùng của tập thể,

ở đây tính chất cộng đồng đã chi phối rất rõ nét, người anh hùng Tnú vừa

mang màu sắc cá thể vừa là một cá nhân trong một tập thể rộng lớn giữa

những người anh hùng khác của bản làng Xô – man, nhưng người anh hùng

của Tnú vẫn có nét riêng dũng mãnh khác thường, “những con người thép,

thẳng băng, nhọn hoắt, như mũi chông, như ngọn dáo, như mầm xà nu đâm

thẳng lên trời…Nhưng lại có một cái gì rất hoang dại. Trái tim chất chứa

29

căm thù ngùn ngụt, nhưng tâm hồn trong suốt và hết sức hồn nhiên như

những con người ở thời thơ ấu xa xăm của nhân loại” [55;331]. Người anh

hùng Tnú đã có sự thay đổi trong nhận thức và hành động. Chín chắn hơn,

quyết liệt hơn và cũng có tổ chức hơn. Anh hùng Tnú được cộng hưởng giữa

một tập thể những người anh hùng khác như cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng.

Trong Rừng xà nu, Nguyên Ngọc đã đưa người đọc đến với cả một tập thể

anh hùng. Đó chính là dân làng Xô – man. Mỗi anh hùng trong Rừng xà nu

đa dạng về lứa tuổi, giới tính, vừa có những nét chung cụ thể, vừa có một số

phận riêng trong cuộc đời của họ. Nhưng, ở họ đều giống nhau về những

phẩm chất: gan dạ, dũng cảm, kiên cường, sẵn sàng hy sinh và một lòng đi

theo cách mạng và làm cách mạng.

Điểm giống nhau giữa cảm hứng lãng mạn về hai người anh hùng là anh

hùng Núp (Đất nước đứng lên) và anh hùng Tnú (Rừng xà nu) có chăng chỉ

là cái cảm hứng mạnh mẽ và thiên hướng anh hùng táo bạo, qua từng bước đi

của sự nhận thức ngày càng trưởng thành hơn trong chính sự sáng tạo của tác

giả bởi lẽ, sự sáng tạo bao giờ cũng phải có nguồn gốc từ thực tế và được khái

quát từ nhiều kinh nghiệm sống. Đó chính là thực tế của chiến trường khu V

ác liệt, là sự chiến đấu dũng cảm của những con người yêu chuộng độc lập tự

do. Do đó, cái lãng mạn ở người anh hùng là chất men say, là sự kết tinh giữa

chất anh hùng của thời đại và cảm hứng hứng riêng của nhà văn. Cái lãng

mạn của người anh hùng được tập trung vào những hành động anh hùng mà

không nói đến cái đời thường. Cái đời thường ẩn đằng sau cái cao cả cho cuộc

đấu tranh để chiến thắng kẻ thù của cả dân tộc anh hùng. Chính chất anh hùng

ấy hòa quyện chặt chẽ với cái hào sảng của rừng núi Tây Nguyên bạt ngàn để

làm nên cảm hứng này.

Mạch cảm hứng về người anh hùng càng ở giai đoạn sau lại càng thấm

sâu vào từng nhân vật, từng nội dung của mỗi câu chuyện, bởi lẽ chính tác giả

30

là người được trải nghiệm và chứng kiến rõ nhất về những hình ảnh ấy. Có

thể nói từng mẩu chuyện của Nguyên Ngọc được nhà văn gọt giũa với một sự

kiên trì và cần mẫn của người thợ kim hoàn. Thành công với cảm hứng lãng

mạn về người anh hùng dường như là nguồn tiếp thêm sức mạnh cho Nguyên

Ngọc và cảm hứng anh hùng được bổ sung trong Đất Quảng (tập I) với hình

ảnh ông già Sông Trúc một đời lặng lẽ bám đất, bám làng. Cảm hứng về

người anh hùng còn chan hòa trong nhiệt huyết đánh Pháp của mẹ con chị

Thắm với tình yêu nước, yêu đồng đội. Chị Thắm là một phụ nữ nông dân, chị

vừa giỏi việc nước, đảm việc nhà. Chị là người tiêu biểu cho vẻ đẹp toàn vẹn

của người phụ nữ Việt Nam. Chồng chị - anh Quế, mà cũng chính là người

đồng đội của chị, người đã tập cho chị những bước đi đầu tiên đến với cách

mạng, động viên chị thay anh để gây lại cơ sở cho vùng đất bị cày trắng này.

Từ mối thù kẻ đã giết chồng chị, con chị, chị đã quyết tâm đi theo con đường

cách mạng và hy sinh cả cuộc đời cho cách mạng.

Người anh hùng trong tác phẩm của Nguyên Ngọc là những con người

nhiệt thành yêu nước, căm thù giặc sâu sắc và sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu

chung. Họ vừa đánh giặc, vừa tự trưởng thành trong kháng chiến. Nguyên

Ngọc rất thành công khi viết về những người anh hùng trong chiến đấu. Bởi

những anh hùng, những chiến công ấy đều là những sự kiện mà ông được

chứng kiến, ông được sống, gắn bó, phát hiện, ngợi ca và khẳng định vẻ đẹp

trong suốt của họ. Điều đó đã tạo nên một phong cách riêng của nhà văn là

viết văn với cảm hứng lãng mạn anh hùng.

Có thể nói, chính trong những giai đoạn tích lũy vốn sống, sống trong

lòng nhân dân, tìm hiểu cuộc sống và những suy nghĩ của người dân Tây

Nguyên cùng với cá tính của chính mình đã tạo nên ở Nguyên Ngọc một sự

sáng tạo mà không phải nhà văn nào cũng có thể đạt được. Đó là xây dựng

hình ảnh người anh hùng dựa trên cơ sở người thực việc thực. Tuy có hư cấu,

31

nhưng không nhiều. Cảm hứng anh hùng là sự nhất quán, liền mạch trong

quan điểm nghệ thuật của nhà văn. Bởi lẽ trong từng sáng tác của mình, trong

lý tưởng và cả trong đường đời của mình, người đọc chỉ bắt gặp mỗi cảm

hứng anh hùng ở nhà văn mà thôi.

1.2.2. Giai đoạn sau 1975

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà văn Nguyên Ngọc luôn nhất

quán với phong cách nghệ thuật là viết văn với cảm hứng anh hùng. Do đó,

cảm hứng chủ đạo xuyên suốt hành trình sáng tạo nghệ thuật của ông là cảm

hứng về người anh hùng.

Sau năm 1975, hàng loạt những cây bút đã từng tâm huyết với đề tài

chiến tranh cách mạng, về chủ nghĩa anh hùng đã tìm hướng đi mới cho mình

là viết về đề tài thế sự, đời tư với những mặt trái của xã hội kinh tế thị trường.

Trong khi đó, nhà văn Nguyên Ngọc vẫn kiên trì theo đuổi lý tưởng của mình.

Vẫn viết về người anh hùng. Nguyễn Đăng Mạnh cứ ngỡ rằng trong thời kỳ

đổi mới này, Nguyên Ngọc đã bế tắc về con đường nghệ thuật của mình,

không thể viết về người anh hùng, nhưng ông thực sự ngạc nhiên là: “anh vẫn

viết, vẫn viết về người anh hùng, vẫn viết bằng cái văn ấy, bằng giọng ấy,

bằng cái cảm hứng lãng mạn sôi nổi ấy” [55;335].

Sự kiên trì ấy được thể hiện trong chính chủ đề mà ông khai thác, tìm

chọn. Người anh hùng trong sáng tác của Nguyên Ngọc sau 1975 không phải

là những thủ lĩnh mà là người anh hùng của đời thường với những lo toan cho

cuộc sống hiện tại còn nhiều khó khăn của họ“...Nguyên Ngọc đã tìm thấy cái

lớn lao đằng sau những điều bình thường, nhỏ nhặt, và kể về điều đó bằng

một giọng văn vừa dịu nhẹ vừa nóng bỏng, đã như là “mảnh đất” của riêng

Nguyên Ngọc” [57;518].

Với Nguyên Ngọc, ông luôn dị ứng với căn bệnh nhạt của văn xuôi, bởi

32

chính căn bệnh ấy nó làm thui chột mọi sự sáng tạo của người nghệ sĩ. Nếu

trước 1975, chính tác giả là người được sống, được chiêm nghiệm chính ngay

trong không khí của một thời đại anh hùng nên không mất công lắm về sự đẽo

gọt, tỉa tót hay trau chuốt thêm về hình tượng người anh hùng. Sau 1975, ông

vẫn sáng tác với cảm hứng anh hùng nhưng có khác trước ở chỗ người anh

hùng được nhìn ở nhiều chiều, đa diện hơn. Để tiếp tục với đề tài về người

anh hùng, nhà văn Nguyên Ngọc đã tìm về với quá khứ, tìm về chiến trường

xưa bằng cách phục dựng lại gần như một cách trọn vẹn về họ. Người anh

hùng trong các sáng tác sau 1975 đa diện hơn, phong phú hơn vì bây giờ họ là

những con người cụ thể, có lí lịch riêng, tiểu sử riêng. Chân dung của người

anh hùng như là tiểu sử của từng người anh hùng. Chính tiểu sử ấy cho thấy

được hành trình hình thành phẩm chất người anh hùng là một quá trình đầy

gian khổ và hy sinh.

Nguyên Ngọc được biết đến là một cây bút sống trong lòng thực tế, mỗi

nhân vật của ông đều có từ nguyên mẫu thực tế cuộc sống, những con người

giản dị, trong sáng, tinh khiết đến lạ lùng, say đắm đến lạ lùng.

Sau 1975, ông quay trở lại chiến trường xưa, nơi mà ông đã từng sống và

chiến đấu, cũng có thể là những nơi ông được nghe kể lại về một huyền thoại

anh hùng. Tìm lại những người anh hùng trong những trận chiến năm xưa là

cách để ông bày tỏ sự biết ơn và tri ân họ. Đồng thời, tìm hiểu về cuộc sống

hiện tại còn nhiều khó khăn để sẻ chia và đồng cảm cho những mất mát và bất

hạnh của họ. Vì họ mà lên tiếng cảnh tỉnh xã hội đừng quay lưng với những con

người đã hy sinh tuổi xuân, hạnh phúc của mình cho cuộc sống ngày hôm nay.

Trong Trở lại Mèo Vạc, là hình ảnh người anh hùng Thào Mỹ và Sùng

Chóa Vàng. Họ là những người anh hùng H’mông trong cuộc diệt phỉ năm

xưa. Chiến đấu dũng cảm, gan dạ, sẵn sàng hy sinh và cũng anh hùng trong

tình yêu. Nhưng cuộc sống hiện tại của họ rất túng thiếu và rất nghèo. Viết về

33

họ là cách để tác giả thức tỉnh chính mình đồng thời kêu gọi những cơ quan

có thẩm quyền quan tâm hơn đến chế độ chính sách dành cho họ.

Trong Tháng Ninh Nông, là hình ảnh người sơn nữ không ngại hiểm

nguy sẵn sàng che chở cho người chiến sĩ cách mạng, cô gái đã quên đi những e

thẹn của người phụ nữ mà cứu lấy người chiến sĩ cách mạng thoát khỏi hiểm nguy.

Với Người hát rong giữa rừng, là sự trân trọng cho tài năng và nhân

cách cao đẹp của người nghệ sĩ Tây Nguyên - Y Yơn. Cả cuộc đời, ông dùng

nghệ thuật của mình – tiếng hát – để đưa những người lạc lối quay trở về với

đất nước, với tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Nhưng cuộc sống hiện tại

của Y Yơn còn rất túng thiếu, chật vật.

Trong Cát cháy, người đọc bắt gặp một câu chuyện dữ dội về đất và

người Điện Bàn những ngày “nung bão”, hay ngọn nguồn của cái sức mạnh

kỳ lạ như huyền thoại của vùng cát trắng Bình Dương (Thăng Bình, Quảng

Nam) ba lần được tuyên dương anh hùng, vẫn đủ sức lay động người đọc.

Trong bút ký này, Nguyên Ngọc đã tái hiện lại cuộc sống và chiến đấu của

nhân dân Quảng Nam trong những ngày đối đầu với giặc Mỹ xâm lược. Đồng

thời, tác giả cũng miêu tả cuộc sống hiện tại còn nhiều khó khăn, thiếu thốn

và bất hạnh của những người anh hùng nơi đây.

Với bút ký Có một con đường mòn trên biển Đông, là khúc ca bi tráng

của những người anh hùng quyết quên đi cái chết của mình vì sự sống còn của

miền Nam ruột thịt. Vì nhiệm vụ thiêng liêng với Tổ quốc, họ sẵn sàng hy

sinh hạnh phúc của mình. Nhưng giờ đây, cuộc sống hiện tại của họ còn gặp

nhiều khó khăn, thiếu thốn. Họ vẫn kiên cường sống, kiên cường vượt qua

gian khổ, không hề than oán, kêu ca mà lặng lẽ sống, lặng lẽ cống hiến cho

đời. Chấp nhận đau thương cho riêng mình. Viết về họ như một cách để nhà

văn thể hiện sự trăn trở xót xa của mình với người anh hùng. Đồng thời, lên

tiếng cảnh tỉnh xã hội và những người làm công tác đền ơn đáp nghĩa, đừng

34

quay lưng với những nỗi đau và bất hạnh của họ - những người đã hy sinh

tuổi xuân và hạnh phúc của mình cho chúng ta có ngày hôm nay.

1.3. Cội nguồn cảm hứng anh hùng của Nguyên Ngọc

1.3.1. Tâm lý xã hội, ý thức nghệ thuật thời chiến

Hoàn cảnh đất nước trước 1975 là một hoàn cảnh đặc biệt. Cả nước đối

mặt với hai cuộc chiến tranh ác liệt chống Pháp và chống Mĩ, vấn đề được

quan tâm hàng đầu là sự sống còn của cả dân tộc. Yêu cầu đặt ra cho tất cả

mọi người lúc này là phải lấy trách nhiệm công dân, nghĩa vụ đối với đất

nước làm phương châm hành động, là thước đo cao nhất để đánh giá mọi giá

trị. Văn học giai đoạn này dưới sự lãnh đạo của Đảng, lấy việc phục vụ chính

trị, phục vụ công nông binh, phục vụ cách mạng làm nhiệm vụ hàng đầu. Ý

thức công dân cùng với nhiệt tình của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư

tưởng đã thúc giục các nhà văn hòa mình vào cuộc sống lao động và chiến

đấu của nhân dân, “trong thời chiến, thói tài tử là một cái gì rất lạc lõng.

Trong thời chiến chỉ có những kẻ vô liêm sỉ mới có thể dửng dưng đóng vai

trò một anh tài tử” [24;381].

Văn học tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản, có ý nghĩa sống còn

của đất nước, của lịch sử. Văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm

hứng lãng mạn. Chủ đề bao trùm văn học giai đoạn này là ngợi ca Tổ quốc,

quần chúng cách mạng và những tấm gương vì nước hy sinh, kêu gọi tinh

thần đoàn kết toàn dân, cổ vũ đấu tranh. Nhân vật chính tiêu biểu cho lý

tưởng chung của dân tộc, gắn bó số phận mình với số phận đất nước, thể hiện

và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cả cộng đồng. Con người chủ yếu

được khám phá ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lẽ sống lớn, tình

cảm lớn.

Hiện thực cách mạng với những sự kiện vang dội sôi động đã khơi

35

nguồn sáng tạo của người nghệ sĩ và là đối tượng phản ánh chủ yếu của nhiều

tác phẩm văn chương. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần phải miêu tả cho

hay, cho chân thật, cho hùng hồn những sự việc và con người tiêu biểu. Cùng

với chủ trương đó của Đảng, trong bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và vấn đề

văn hóa của Việt Nam, Trường Chinh cũng nêu rõ: “Về xã hội lấy giai cấp

công nhân làm gốc. Về chính trị, lấy độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân và

chủ nghĩa xã hội làm gốc...Về sáng tác văn nghệ, lấy chủ nghĩa hiện thực xã

hội chủ nghĩa làm gốc” [54;13]. Đó chính là yêu cầu tác phẩm phản ánh được

chiều sâu của cuộc sống mới và miêu tả cho chân thật, sinh động con người

mới. Hiện thực ấy vô cùng phong phú, bộc lộ nhiều vẻ đẹp, gợi lên niềm vui

và mơ ước dễ làm nảy sinh những cảm hứng lãng mạn. Chất trữ tình cách

mạng là một thành tố quan trọng của văn học thời đại lịch sử này.

Đảng và nhân dân đã có được một đội ngũ nhà văn với nhiều phẩm chất

tốt đẹp: giàu lí tưởng, gắn bó với thực tế, với nhân dân để làm tròn vai trò

sáng tạo của mình. Họ giàu nhiệt tình cách mạng, giàu sức sáng tạo, có lập

trường sáng tác vững vàng. Họ luôn có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động, sẵng

sàng dấn thân vào cuộc chiến đấu ác liệt. Vượt bao khó khăn gian khổ, thậm

chí hy sinh cả tính mạng để có được những trang viết giá trị. Họ được xem là

những nhà văn – chiến sĩ, nhà văn của nhân dân.

Xuất phát từ những tiền đề trên, văn học cách mạng 1945 – 1975 đã đạt

nhiều thành tựu, nhất là về văn xuôi. Ở thể loại văn học này, nội dung trực

tiếp hướng về hiện thực cách mạng và đời sống quần chúng nhân dân. Từ đề

tài sinh hoạt, đời tư, các nhà văn chuyển sang đề tài lịch sử dân tộc, hướng

vào khai thác hiện thực đời sống cách mạng với cảm hứng sử thi. Văn học

giai đoạn này nảy sinh và phát triển trên nền tảng của ý thức cộng đồng.

Văn học là vũ khí chiến đấu không gì có thể thay thế được của nhà văn,

văn nghệ phải phục vụ nhân dân, phục vụ “công, nông, binh”. Hồ Chí Minh

36

trong thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa (1951), chỉ rõ: “Cũng như

các chiến sĩ khác, chiến sĩ Nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định là phụng sự

kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là phục vụ

công nông, binh”, bên cạnh đó văn học còn phản ánh hiện thực đời sống, nó

ghi nhận những thay đổi của cuộc sống, theo dõi sát sao quá trình đấu tranh

và phát triển của đất nước, do đó, mức độ phản ánh cuộc sống của nhân dân

có chân thật hay không là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá

mức độ tiến bộ hay không tiến bộ của nhà văn đó. Nhà văn được xã hội tín

nhiệm giao cho nhiệm vụ là người thư kí của thời đại. Kháng chiến toàn quốc

bùng nổ, đòi hỏi người viết những nhiệm vụ khó khăn hơn là từ quan niệm

viết như một đòi hỏi tự nhiên phải thay đổi để viết phục vụ kháng chiến. Văn

học lúc này phải phản ánh chân thực cuộc sống lao động và chiến đấu của

quân dân ta. Văn nghệ phục vụ chính trị mà xét đến cùng là phục vụ nhân

dân, phục vụ cách mạng với cảm hứng ngợi ca. Vì thế, cảm hứng anh hùng

xuất hiện như một điều tất yếu.

Có thể thấy rằng, đề tài chính trong các sáng tác của các nhà văn lúc này

là viết về người thật việc thật với cảm hứng anh hùng. Các nhà văn thâm nhập

vào đời sống, chiến đấu của nhân dân. Nguyễn Thi lên đường vào Nam, ở

đây, nhà văn đã phát hiện ra vẻ đẹp trong sáng của những điển hình người

thật việc thật, những người anh hùng miền Nam chân chất, giản dị, giàu lòng

yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Có thể kể như: Người mẹ cầm súng, Đại đội anh

hùng, Dòng kênh quê hương, Ở xã Trung Nghĩa…

Nhà văn là người hơn ai hết luôn nhận thức rõ vị trí của dân tộc trong

bước phát triển chung của thời đại. Chính tầm thời đại của sự nghiệp cách

mạng dân tộc đã chắp cánh và tạo cảm hứng trong văn chương. Giờ đây, vượt

lên tất cả và bao trùm đó là chuyện con đường vô Nam, lên chiến khu, hoặc

xuống đường với hình ảnh “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” (thơ Phạm Tiến

37

Duật). Những chuyến đi từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam của anh em văn

nghệ Khu Năm và Nam Bộ. Những chuyến đi thực tế ấy đã cho văn nghệ sĩ

nguồn cảm hứng dạt dào, có những tác phẩm họ viết ngay trên đường hành

quân nhưng cũng có những tác phẩm được lưu giữ lại và tích lũy trong tâm

trí, sau này mới thành văn. Trường hợp Đất nước đứng lên là một điển hình.

Những ngày sống, chiến đấu cùng đồng bào của dân làng Kông Hoa đã giúp

Nguyên Ngọc thành công rực rỡ với Đất nước đứng lên, tác phẩm mở đường

cho cảm hứng anh hùng ca. Có thể nói Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc

là hình ảnh những con người Việt Nam yêu nước, cùng đoàn kết chống lại

gông cùm, xiềng xích của thực dân Pháp, luôn xả thân vì sự nghiệp chung của

dân tộc. Là chân dung người anh hùng mang màu sắc bi tráng, anh hùng Núp

chiến đấu vì lý tưởng chung để đánh đuổi giặc ngoại xâm. Hay nói rõ hơn, khi

mà ý thức của cá nhân thống nhất với ý thức của cộng đồng thì lúc đó con

người tự mình nhận thức được trách nhiệm của mình với đất nước, với dân

tộc và anh hùng Núp là một trường hợp như thế.

Bên cạnh văn xuôi, thơ ca kháng chiến cũng góp tiếng nói của mình vào

cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc, “thơ ca đã được huy động vào cuộc

chiến đấu của dân tộc, trở thành một vũ khí lợi hại và một nhu cầu không thể

thiếu trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam kháng chiến.”[53;84]

Cách mạng và kháng chiến đã khơi nguồn và làm bừng dậy những cảm hứng

thơ ca mới mẻ, sôi nổi, mãnh liệt, làm thay đổi hẳn sắc điệu và giọng điệu của

nền thơ. Cảm hứng nổi bật và bao trùm trong thơ ca lúc này là niềm vui

sướng, tự hào đến mức say mê, nồng nhiệt trước cuộc tái sinh mầu nhiệm của

đất nước và con người Việt Nam. Cảm hứng lãng mạn trong thơ ca cách mạng

được tiếp nối bằng cảm hứng lãng mạn anh hùng của những con người đi vào

cuộc chiến đấu với tinh thần chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Đây là thời

điểm thơ kháng chiến ghi được khá nhiều thành công và có những tác phẩm

38

tạo được tiếng vang như: Cảnh khuya (Hồ Chí Minh), Tây Tiến (Quang

Dũng), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Đồng chí (Chính Hữu).

Lòng yêu nước là tình cảm bao trùm và sâu rộng nhất, nó gắn bó mọi

con người Việt Nam trong một khối thống nhất của tình đồng bào, đồng chí,

nay lại càng chặt chẽ và thắm thiết hơn trong cách mạng và kháng chiến. Đó

là tình cảm thiết tha và nỗi nhớ da diết về một quê hương Kinh Bắc trù phú

tươi đẹp đang bị giày xéo dưới gót giày của quân xâm lược (Bên kia sông

Đuống – Hoàng Cầm) hay một mùa thu Hà Nội với hương cốm mới và

“những phố dài xao xác hơi may” trong thơ Nguyễn Đình Thi. Ở Nguyễn

Đình Thi, chất thơ trầm tĩnh và tươi sáng hơn. Nhân vật trong tác phẩm có vẻ

đẹp tâm hồn sâu thẳm, thường có những mất mát đau xót, và những tình yêu

thắm thiết.

Thơ ca được tiếp cận với hiện thực đầy gian lao, hy sinh và những con

người kháng chiến rất bình dị mà vĩ đại. Thơ ca kháng chiến tập trung biểu

hiện những tình cảm cộng đồng và tinh thần công dân mà bao trùm là tình yêu

nước với những biểu hiện phong phú, thấm sâu vào mọi mặt trong đời sống

của con người kháng chiến. Cũng như trong văn xuôi, thơ ca nảy nở và phát

triển trên nền tảng ý thức cộng đồng được trỗi dậy mãnh liệt. Con người cá

nhân hòa vào con người tập thể, thế giới của “cái tôi” trở nên chật hẹp, vô

nghĩa khi nó không hòa nhập vào “cái ta” cộng đồng. Với hình ảnh những

người trai làng hăng hái ra đi “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày/ Gian nhà

không mặc kệ gió lung lay.” (Đồng chí – Chính Hữu) để dấn thân vào cuộc

đời chiến đấu, họ thấu hiểu sự cao đẹp và sâu nặng của tình đồng chí, đồng

đội.

Nhân vật quần chúng trong thơ kháng chiến là một thế giới nhân vật

phong phú, thuộc nhiều tầng lớp, lứa tuổi, địa phương, dân tộc, với nhiều nét

phẩm chất, vẻ đẹp được thể hiện trong nhiều tình huống, hoàn cảnh. Nhưng

39

có lẽ tiêu biểu và nổi bật nhất là hình ảnh người mẹ (Bầm ơi! – Tố Hữu),

người phụ nữ (Phá đường – Tố Hữu) và anh bộ đội vệ quốc quân (Nhớ -

Hồng Nguyên). Nhân vật trữ tình quần chúng được thể hiện ra như ở cuộc đời

thực của họ, trong lao động và chiến đấu, trong sinh hoạt hàng ngày và trong

đời sống tập thể. Con người kháng chiến được thể hiện trong các mối quan hệ

xã hội là chủ yêu chứ không phải trong các quan hệ riêng tư, gia đình. Nếu có

nói đến những quan hệ và tình cảm này thì cũng là để làm cụ thể hóa và sâu

sắc thêm cho những tình cảm xã hội, quan hệ cộng đồng.

Ở giai đoạn này, thơ kháng chiến mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực,

mà trước hết là hiện thực cách mạng và kháng chiến nhằm tăng cường chất

liệu đời sống và yếu tố tự sự trong thơ, để phù hợp với nội dung phản ánh, thơ

ca kháng chiến sử dụng phổ biến các thể thơ có nguồn gốc dân gian, dân tộc,

đồng thời phát triển thể thơ tự do và lối thơ hợp thể. Những câu chuyện cảm

động, những tấm gương cao đẹp trong cuộc chiến đấu, những sự việc của đời

sống hiện thực được phản ánh rõ nét trong thơ. Đời sống như vậy đã tác động

và làm biến đổi cách nhìn, cách nghĩ, điệu cảm xúc của người làm thơ. Nhà

thơ của thời đại mới trước hết là một công dân, một cán bộ hay chiến sĩ, sống

với cuộc đời thực, với mọi gian khổ, lo lắng, hy vọng của con người kháng

chiến, cùng với đông đảo mọi người.

Có thể khẳng định rằng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và

chống Mỹ, văn học luôn kịp thời phản ánh cuộc sống chiến đấu của nhân dân

ta trên mọi miền của Tổ quốc. Trong những năm tháng chiến tranh, con người

tuy sống trong đau khổ, gông cùm nhưng tâm hồn của họ lại sống trong niềm

vui ấm áp của tình đồng chí, trong ánh sáng lí tưởng của Đảng, của cách

mạng. Cảm hứng lãng mạn chính là cảm hứng về lí tưởng, về một ngày mai

tươi sáng, niềm tin về sự chiến thắng kẻ thù xâm lược. Chính vì vậy, các sáng

tác trong giai đoạn này các nhà văn ít nói đến đau thương mất mát mà tập

40

trung thể hiện những hành động phi thường, bi tráng, dũng cảm của con

người. Đó chính là sự cao cả, vượt lên trên sự tàn phá của chiến tranh, là hiện

thực chiến tranh khốc liệt, là sự đương đầu với hai kẻ thù hùng mạnh. Con

người và đặc biệt là người chiến sĩ muốn đứng vững, muốn vượt qua hiện

thực ấy cần phải có niềm tin và tâm hồn lãng mạn. Và như vậy chủ nghĩa anh

hùng cách mạng là cảm hứng chủ đạo, xuyên suốt trong tiến trình phát triển

của văn học Cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975.

1.3.2. Hoàn cảnh gia đình và môi trường sống

Trong hoàn cảnh đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, việc kêu gọi

từng người dân chung tay đoàn kết để đấu tranh giải phóng dân tộc là một

điều cần thiết, từng người dân phải ý thức được trách nhiệm của mình với đất

nước và như thế cảm hứng ngợi ca, cảm hứng về người anh hùng như một

điều tất yếu của dòng văn học cách mạng.

Nguyên Ngọc sinh ra và lớn lên trong một gia đình công chức. Đó chính

là một điều kiện thuận lợi cho sự học tập và hiểu biết về cuộc sống và đấu

tranh của nhà văn. Do công việc của cụ thân sinh ông nên gia đình thường đổi

nơi ở từ thành phố này sang thành phố khác, chính điều này đã giúp Nguyên

Ngọc có điều kiện tìm hiểu về những vùng đất khác nhau của dãy đất miền

Trung kiên cường, hy sinh với những con người chịu nhiều gian khó từ thiên

nhiên khắc nghiệt, từ sự tàn phá của chiến tranh. Ông cũng chịu ảnh hưởng từ

quê hương Hội An cổ kính của mình, điều mà ông đã tự thuật lại rằng “…từ

nhỏ tôi may mắn được sống trong cái nôi văn hóa đó, ấn tượng về Hội An

luôn in đậm trong tôi: một miền đất cổ kính, đậm đà không khí lịch sử hơi

buồn, trữ tình, hoành tráng và trầm tư” [21;344]. Bản thân Nguyên Ngọc lại

từng được đào tạo ở nhà trường Pháp thuộc, ảnh hưởng sâu sắc từ các tác

phẩm văn chương Pháp là một điều dễ hiểu mà sau này ông đã thừa nhận:

“Tôi đã chịu ảnh hưởng rất sâu sắc, có thể đến tận máu thịt mình, của văn

41

học, hay nói cho thật chính xác hơn, của văn chương Pháp. Khi bắt đầu cầm

bút tôi đã viết bằng cái “lối” văn chương (Pháp) đó, tất nhiên nó đã được

khúc xạ, qua tôi…viết bằng cái lối tâm hồn đã được tạo nên một phần rất

quan trọng bằng văn chương ấy. Chính cái nền văn chương Pháp vĩ đại được

dạy trong các trường “thực dân” ấy ít nhất cũng góp phần tạo ra – cả một

thế hệ thanh niên Cách mạng kiên cường và trung thành ở nước ta, thế hệ

chúng tôi” [64;167, 168, 169]. Những tác phẩm của văn học Pháp mà ông và

cả một thế hệ mình được tiếp xúc phần nào đã tôi luyện bản lĩnh cách mạng

và lập trường chiến đấu nơi ông.

Nhà văn Nguyên Ngọc luôn có ý thức về sứ mệnh của người cầm bút.

Đó chính là sự gắn bó và không dễ quay lưng với thời đại của mình. Cũng

như nhiều văn nghệ sĩ khác, Nguyên Ngọc rời ghế nhà trường, theo tiếng gọi

thiêng liêng của Tổ quốc lên đường chiến đấu bảo vệ độc lập tự do cho đất

nước, một thế hệ những nhà văn cầm súng trước khi cầm bút. Như một sự tình

cờ, Nguyên Ngọc đến với Tây Nguyên. Thuở thiếu niên, ông chỉ được biết về

miền núi qua những trang thơ của Thanh Tịnh (Ngậm Ngãi tìm trầm) hay

những trang văn của Lan Khai (Truyện đường rừng). Tây Nguyên trong ông

hiện lên rất thơ mộng và đầy lãng mạn của một tâm hồn mới bước vào thực tế

chiến đấu “có nàng sơn nữ, có chàng tráng sĩ, có suối chảy thác reo…đến đó

là đến nơi đầy phiêu lưu, mạo hiểm, ly kỳ” [20;346] như một mảnh đất thơ

mộng, mời gọi. Nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược lại. Tây Nguyên là một

vùng rừng núi anh hùng, bất khuất. Có một điều, người đọc nhận thấy ở

Nguyên Ngọc, ngoài sự ảnh hưởng từ nền văn học Pháp được tiếp xúc từ khi

còn ngồi trên ghế nhà trường, cảm hứng sáng tác về người anh hùng ở ông

còn bắt rễ từ chính môi trường mà ông sinh sống và rèn luyện. Đó chính là môi

trường quân đội, là chiến trường Tây Nguyên khốc liệt, là nơi đồng bào các dân tộc

ngày đêm bị giày xéo, áp bức bởi bọn xâm lược.

42

Là người được gắn bó với Tây Nguyên trong suốt hai cuộc kháng chiến.

Từng sống và chiến đấu trong lòng người dân Tây Nguyên. Nguyên Ngọc có

điều kiện tiếp xúc với bà con dân tộc Tây Nguyên, tìm hiểu lời ăn tiếng nói

của họ. Từ đó, ông có điều kiện xâm nhập vào nền văn hóa của họ. Được tiếp

xúc với nguyên mẫu anh hùng. Cảm phục và ngưỡng mộ những chiến công,

những sự kiện, những tấm gương anh hùng. Chính những yếu tố đó đã thôi

thúc Nguyên Ngọc cầm bút để viết và ngợi ca họ. Cảm hứng lãng mạn anh

hùng được hình thành như thế.

Tây Nguyên cũng chính là mảnh đất tạo nên cảm hứng về người anh

hùng trong ông “Tây Nguyên cũng tạo nên tôi, tâm hồn, cuộc đời – và rồi văn

chương của tôi” [64;171]. Bởi theo ông, “các dân tộc Tây Nguyên đã “cấy

trồng” trên đất đai của mình một nền văn hóa lớn, cực kỳ độc đáo và đặc sắc,

lâu đời và bền vững” [64;169]. Con người ở đây hài hòa với thiên nhiên,

không có chút cách biệt nào. Sức mạnh và vẻ đẹp man dại của thiên nhiên nơi

đây cũng chính là sức mạnh, sự hùng dũng của con người. Vẻ đẹp thuần khiết,

yêu kiều của mây nước, của trăm vạn loài chim trời, của núi rừng nơi

đây…cũng chính là vẻ yêu kiều của con người. Và ông thừa nhận “Tôi có may

mắn hạnh phúc được sống với bà con dân tộc Tây Nguyên suốt thời chiến

tranh chống Pháp, được cùng tham gia cuộc chiến đấu gian nan anh hùng

của họ. Nhưng có lẽ điều còn quan trọng hơn đối với tôi là đã dần dần tự

“đồng hóa” mình cùng với họ được tắm mình trong cái văn hóa kỳ diệu ấy”

[64; 171].

Chiến đấu ở Tây Nguyên nhưng nhiệm vụ đầu tiên của ông là làm công

tác tuyên truyền cho đồng bào hiểu và đi theo cách mạng. Muốn làm được

điều đó không còn cách nào khác là phải học tiếng dân tộc. Chính trong quá

trình học tiếng dân tộc, Nguyên Ngọc có điều kiện tìm hiểu sâu hơn nền văn

hóa Tây nguyên. Chất hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng cộng hưởng với hào khí

43

của thời đại đã làm nên cảm hứng lãng mạn anh hùng ở nhà văn này. Những

ngày sống ở gần đồng bào Tây nguyên, làm công tác dân vận, tuyên truyền đã

giúp cho Nguyên Ngọc thấm dần nét văn hóa của họ và hiểu thêm về tâm hồn

của họ tuy vẻ ngoài lạnh lùng nhưng tràn đầy tình cảm chân chất. Chính

những tư liệu quý giá ấy đã góp phần giúp ông hình thành Đất nước đứng lên

với cảm hứng lãng mạn về người anh hùng Núp, những trang viết rất thật về

người anh hùng của núi rừng đã quá đủ để Nguyên Ngọc đưa nó lên thành

hình ảnh bi tráng mà không cần phải thêm thắt hay hư cấu gì nữa. Hình ảnh

anh hùng Núp là hình ảnh rất chân thật đậm đà với tính cách đặc trưng của

con người Tây Nguyên rất thật thà, hoang sơ nhưng đầy hào sảng, cái hào

sảng của chính núi rừng Tây Nguyên bạt ngàn. Cái lãng mạn anh hùng ở nhà

văn Nguyên Ngọc được tạo nên từ hào khí của thời đại kết hợp chặt chẽ với

cái chất đậm đà của rừng núi, hào sảng mà rất tinh khôi.

1.3.3. Cá tính nhà văn

Trên đây là những yếu tố cơ bản góp phần hình thành nên cảm hứng anh

hùng xuyên suốt hành trình nghệ thuật của Nguyên Ngọc từ lúc bắt đầu cầm

bút cho đến nay. Những yếu tố đó chỉ có thể được tiếp nối và bổ sung trong

hành trình nghệ thuật nhất quán thông qua cá tính của nhà văn để rồi hình

thành những tác phẩm văn chương với cảm hứng chủ đạo là cảm hứng về

người anh hùng với sự ngợi ca.

Thuở niên thiếu, Nguyên Ngọc được trải hồn từ quê hương Quảng Nam

cổ kính, trầm mặc, hoang sơ chưa nhuốm mùi đô thị của mình, được tắm

trong dòng văn học Pháp lãng mạn khi còn ngồi trên ghế nhà trường Pháp

thuộc, được tiếp xúc với dòng văn học cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, đã

hình thành nên ở ông một lý tưởng sống cao đẹp với những hoài bão lớn lao.

Bởi chính Nguyên Ngọc và những đồng đội của ông đã tình nguyện rời ghế

nhà trường đi theo kháng chiến và dùng ngòi bút của mình làm vũ khí chiến

44

đấu chống giặc ngoại xâm. Nhà văn được trưởng thành từ trong hai cuộc

kháng chiến thần thánh của dân tộc. Trong quá trình cùng sống và chiến đấu

trong lòng nhân dân, sống trong một thời đại hào hùng của dân tộc, tiếp xúc

với những nguyên mẫu anh hùng thực tế đã cho ông vốn hiểu biết sâu sắc về

người anh hùng của thời đại “...không phải vì văn chương mà Nguyên Ngọc

tìm đến những người anh hùng, mà vì người anh hùng mà anh thấy cần đến

văn chương” [55;334]. Người anh hùng vượt lên trên lợi ích cá nhân, hy sinh

vì lý tưởng cao đẹp đã đi vào trang văn của ông đầy chất thơ với những hình

ảnh bi tráng, oai hùng.

Nguyên Ngọc là một người luôn theo đuổi những lý tưởng cao đẹp với

những nguyên tắc sống rất nghiêm túc. Do đó, khi xây dựng nhân vật cho tác

phẩm của mình, ông luôn tìm đến những nguyên mẫu người anh hùng có thực

trong chiến đấu và trong cuộc sống hiện tại. Với ông, người anh hùng phải

“dũng mãnh khác thường, những con người thép thẳng băng nhọn hoắt, như

mũi chông, như ngọn dáo, như mầm xà nu đâm thẳng lên trời…nhưng lại có

một cái gì rất hoang dại” [55;331]. Với ông, viết về người anh hùng là một

nhu cầu tự thân, một sự thôi thúc bên trong, thôi thúc của máu và cả lẽ sống

nữa.

Với Nguyên Ngọc, viết về người anh hùng là một nhu cầu của riêng nhà

văn, Nguyên Ngọc luôn luôn đặt người anh hùng ở một vị trí xứng đáng. Nhà

văn luôn tìm kiếm và sáng tạo không ngừng. Trong mỗi tác phẩm viết với

cảm hứng anh hùng, Nguyên Ngọc luôn ý thức phải gắn bó với cuộc sống,

quan tâm đến những yêu cầu cách mạng đặt ra, từ đó mà biết cách nhìn nhận,

đánh giá thực tế và rút ra những vấn đề có ý nghĩa nhất. Từ cái ý thức được

trang bị ấy nhà văn sẽ không bao giờ đóng vai trò một kẻ đứng bên ngoài hiện

thực cuộc sống, quay lưng với hiện thực. Mỗi trang văn của Nguyên Ngọc

đến giờ vẫn còn nóng hổi tính thời sự, tính chiến đấu bởi lẽ những gì nhà văn

45

viết ra đều là một hiện thực sống động. Khi xây dựng nhân vật của mình,

Nguyên Ngọc không hề tự nghĩ ra mà dựa trên những nguyên mẫu thực tế, có

thật. Nhân vật Đinh Núp (Đất nước đứng lên) có đầy đủ tính cách và hành

động của một người anh hùng, thương yêu đồng bào của mình, những người

trong làng Kông Hoa, Đê Ta nữa, sẵn sàng nhường lúa của mình để cứu đói

cả làng. Những hình ảnh ấy cứ bám đuổi lấy Nguyên Ngọc và cứ thế đi vào

trang văn của ông một cách tự nhiên. Nguyên Ngọc là người gắn bó với Tây

Nguyên trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, được tắm

mình trong văn hóa Tây Nguyên tinh khiết và nguyên sơ. Do đó, khi xây dựng

nhân vật cho tác phẩm của mình, ông dựa trên nền văn hóa Tây Nguyên với

những con người yêu tự do đến cháy bổng. Vì thế, khi viết về Tây Nguyên,

ông luôn dành cho mảnh đất và con người nơi đây một tình cảm triều mến, từ

những người anh hùng đến những người dân bình thường ông đều dùng giọng

văn rất triều mến, rất ngọt ngào, chứa chan tình cảm đối với họ. Đó là tình

yêu mến đặc biệt dành cho Tây Nguyên của ông.

Người anh hùng của Nguyên Ngọc không phải là người anh hùng trong

trí tưởng tượng, mà là người anh hùng của thời đại, người anh hùng yêu tự do,

họ chiến đấu cũng vì tự do, yêu bản làng và hơn hết là yêu chính nhân dân của

mình. Từ Đinh Núp (Đất nước đứng lên) đến Tnú (Rừng xà nu), những

người anh hùng ấy họ luôn đặt lợi ích chung của tập thể lên trên lợi ích cá

nhân mình. Nguyên Ngọc là người say mê cái đẹp hoàn hảo, cái đẹp tuyệt đối.

Nhân vật anh hùng trong tác phẩm của ông phải là người rất đẹp, người anh

hùng của lý tưởng. Chính vì vậy, khi xây dựng nhân vật cho tác phẩm của

mình, Nguyên Ngọc chỉ chọn những tính cách cao đẹp, mà không chọn những

người anh hùng đã tha hóa, biến chất. Nhân vật anh hùng của Nguyên Ngọc là

nguyên mẫu có thật ngoài đời. Chính vì say mê cái đẹp hoàn thiện nên nhiều

khi đọc tác phẩm của ông người đọc có cảm giác ông say mê người anh hùng

46

đến mức cực đoan “cái yêu cái ghét của anh thì khác, phân minh lắm và

không dễ thay đổi, lắm lúc dường như là cố chấp” [51;328].

Nguyên Ngọc đã thấm nhuần ý thức “Văn học là một vũ khí, nhà văn là

một chiến sĩ” sáng tác trên tinh thần trách nhiệm như một hoạt động đấu tranh

khi Tổ quốc cất tiếng gọi. Ông luôn xông xáo, kịp thời cho ra đời những tác

phẩm nóng hổi tính thời sự, phản ánh hiện thực cuộc kháng chiến. Đó chính là

cơ sở để ông viết tiểu thuyết “Đất Quảng” (tập 1). Tác phẩm mang đậm cảm

hứng anh hùng ca về chính quê hương của nhà văn.

Chính vì thế mà khi phác thảo Đất Quảng (tập II), mặc dù đã viết xong

phần bản thảo nhưng khi hay tin nguyên mẫu nhân vật của mình quay ra đầu

hàng giặc thì Nguyên Ngọc cũng không ngại ngần gì mà đốt luôn bản thảo:

"…. Toàn bộ không gian và nhân vật chính của "Đất Quảng" được gắn với

vùng đất này. Trong tiểu thuyết, chân dung anh bí thư xã ấy có tên là "Thiệt".

Thiệt thành "Giả" mà Giả thành "Thiệt" là vậy. Tôi với anh Giả có một kỷ

niệm nhớ đời. Mùa đông năm 69, địch càn bất ngờ, tôi và anh chui xuống một

hầm bí mật. Bọn địch đánh hơi biết được vùng ấy có hầm bí mật nên chúng

giăng hàng ngang để xăm hầm. Nằm dưới hầm, hai chúng tôi nghe rõ từng

bước chân của đám lính ngụy và cả tiếng của những mũi sắt chúng khoan vào

lòng đất. Hai chúng tôi bàn với nhau: "Rút chốt lựu đạn ra. Nếu chúng khui

được hầm, anh hoặc tôi lên trước, tung lựu đạn, sống chết gì cũng "chơi" như

thế". Toán du kích làng bên thấy bọn ngụy tiến sát về phía căn hầm nên càng

bắn rát vào đám lính. Trời nhá nhem tối, sợ ta bao vây, bọn ngụy bỏ đi. Tôi

và Giả thoát hiểm lần ấy. Sau đó tôi được điều động đi nơi khác và Giả lại

gặp lần xăm hầm thứ hai. Lần này, thay vì tung lựu đạn, Giả lại chọn cách

"giơ tay đầu hàng". Trong chiến tranh, khoảnh khắc cho hành động "giơ tay"

hoặc "bung lựu đạn" là vô cùng tơ tóc. Chỉ cần một thoáng dao động trong tư

tưởng, anh sẽ chọn ngay cái cách "giơ tay". Và cái cách mà Giả đã chọn

47

không phải là trường hợp hiếm hoi thời chiến tranh. Thế nhưng, qua cách

chọn của Giả như thế, tình yêu của tôi đối với nhân vật đã bị tổn thương. Tôi

không muốn viết tiếp cuốn tiểu thuyết dở dang ấy nữa là vì vậy"[62]. Với ông,

người chiến sĩ, đặc biệt là người anh hùng phải luôn luôn trung thành với

Đảng, với cách mạng và đặc biệt là với nhân dân. Nguyên Ngọc không chấp

nhận cái nhìn dễ dãi, lệch lạc của người anh hùng. Viết về người anh hùng,

Nguyên Ngọc luôn hướng tới cái cao cả, nhưng rất sớm phát hiện “mạch nước

ngầm” của hiện thực cuộc sống. Ông không chịu được sự phản bội, cụ thể

trong một trận đánh, trong một con người, nhưng rộng ra là đối với một lý

tưởng, một sự nghiệp. Trường hợp cuốn tiểu thuyết Đất Quảng của ông vĩnh

viễn bị bỏ dở là một thí dụ điển hình.

Ở những sáng tác sau 1975 của Nguyên Ngọc, người đọc thấy nhân vật

hiện lên với một tính cách hết sức phi thường, nhưng cũng hết sức giản dị,

trong sáng. Người anh hùng ấy hiện lên trang viết của ông với đầy những suy

tư, trăn trở bởi những nhân vật ấy là nhân vật có thật, không hư cấu. Và đó

cũng chính là con người của Nguyên Ngọc cũng giản dị, cũng trong veo, tinh

khiết đến lạ thường.

Nguyên Ngọc là một nhà văn sống bằng lý tưởng, lý tưởng ấy được cách

mạng soi sáng và được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn. Trong

cuộc đời cầm bút của mình, ông luôn bám sát các vấn đề lớn của cách mạng,

của sự nghiệp chiến đấu để viết lên những bản anh hùng ca, ngợi ca vẻ đẹp

của người anh hùng. Nguyên Ngọc là một người có tâm hồn nhạy cảm với

những vẻ đẹp lớn lao. Đó chính là nét đặc trưng của nhà văn cộng sản. Ở ông,

luôn nhất quán một điều trước sau như một, phải minh bạch, phải là anh hùng.

Nguyên Ngọc là một nhà văn trước sau luôn nhất quán với cảm hứng anh

hùng. Ông luôn tìm kiếm những tính cách anh hùng, những sự tích anh hùng

để ngợi ca, để tuyên dương. Đó chính là lý tưởng và cũng là lẽ sống của nhà

48

văn. Có thể khẳng định rằng cảm hứng lãng mạn về người anh hùng là cảm

hứng chủ đạo xuyên suốt của văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn kháng

chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược. Chính cảm hứng này đã đem lại

thành công vang dội cho nền văn học cách mạng Việt Nam. Với Nguyên

Ngọc, dù viết trước hay sau 1975 thì cảm hứng về người anh hùng vẫn là sự

nhất quán trong suốt hành trình nghệ thuật của nhà văn. Thành công ở giai

đoạn trước là tiền đề để nhà văn tiếp nối cho giai đoạn sau và góp phần hình

thành những chân dung về người anh hùng cho văn học nước ta ở giai đoạn

tiếp sau.

49

Chương 2

CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN

XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA NGUYÊN NGỌC SAU 1975 -

MỘT SỰ TIẾP NỐI LIỀN MẠCH, NHẤT QUÁN

Từ sau năm 1975, cuộc sống dần trở lại với những quy luật bình thường

của nó, con người trở về với muôn mặt đời thường, phải đối mặt với bao

nhiêu vấn đề trong một giai đoạn có nhiều biến động, đổi thay của xã hội. Bối

cảnh đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm đến mỗi

người và từng số phận. Sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn

học nhiều đề tài và chủ đề mới, làm thay đổi quan niệm về con người. Con

người, đặc biệc là người anh hùng được nhìn nhiều chiều hơn. Với cảm hứng

về người anh hùng nhưng ở giai đọan sau 1975, Nguyên Ngọc có cái nhìn đa

chiều hơn về họ. Đó là những cảm thông, chia sẻ cho những mất mát và hy

sinh của người anh hùng cho cuộc chiến, đồng thời nhà văn thể hiện sự trăn

trở, ray rứt, xót xa cho cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, bất hạnh

của người anh hùng trong hiện tại.

2.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam sau 1975

Đại thắng mùa xuân năm 1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ

xâm lược, mở ra một thời kỳ mới cho đất nước, thời kì độc lập tự do, cả nước

đi lên chủ nghĩa xã hội. Chuyển sang thời bình, cuộc sống đã thực sự đi vào

quỹ đạo đời thường, con người phải đối mặt với muôn vàn vấn đề của cuộc

sống, những vấn đề phồn tạp mà vĩnh hằng. Những thay đổi trên đã tác động

rất lớn đến đời sống văn học và nó đòi hỏi chính những người cầm bút phải

thay đổi cách nhìn cuộc sống hay nói rõ hơn chính nền văn học phải vận động

theo xu hướng mới để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống mới, nhà văn đặc biệt

50

phải nhạy cảm với những đổi thay của cuộc sống, là người phải luôn lắng

nghe hơi thở của cuộc sống và phản ánh trung thực cuộc sống. Đời sống xã

hội nói chung và đời sống văn học nói riêng vận động với những nét lớn sau đây:

Thứ nhất, từ sau 1975 dân chủ hóa trở thành xu thế lớn của xã hội và

trong đời sống tinh thần của con người, xu hướng này vận động bao trùm cả

nền văn học. Đặc biệt, với chủ trương cởi trói cho nền văn học, với tinh thần

đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật đã tạo cơ sở cho tư tưởng, cho xu

hướng dân chủ hóa trong văn học được khơi dòng và phát triển mạnh mẽ. Dân

chủ hóa đã trở thành những mạch nước ngầm ngấm sâu vào nhiều cấp độ và

bình diện của đời sống văn học. Sự thay đổi về ý thức nghệ thuật đã tạo cho

nhà văn có cái nhìn mới về cuộc sống, về con người. Văn học giai đoạn này

được nhấn mạnh trước hết ở sức mạnh khám phá thực tại và thức tỉnh ý thức

về sự thật, ở vai trò dự cảm, dự báo. Trong văn học, con người thực sự được

tôn trọng, được là chính mình, được nói lên chính kiến của mình trước những

vấn đề của xã hội. Cuộc sống thời bình là hiện thực của đời sống hằng ngày

với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan đa sự, phức tạp chằng chịt, đan dệt nên

những mạch nổi, mạch ngầm của đời sống. Hiện thực đó chính là đời sống

của mỗi cá nhân con người. Đặc biệt là cá nhân những người anh hùng một

thời với những khát vọng, những sâu kín bên trong tâm hồn cần được cảm

thông và sẻ chia.

Thứ hai, văn học cách mạng Việt Nam trước 1975 được xây dựng trên

nền tảng nhân đạo với cảm hứng chủ đạo là chủ nghĩa yêu nước, khát vọng

độc lập, tự do và lí tưởng xã hội chủ nghĩa. Từ sau 1975, cuộc sống dần trở lại

với những quy luật bình thường. Chính những quy luật bình thường của cuộc

sống đã thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm đến mỗi

người, từng số phận. Đặc biệt là những khát khao rất đời thường. Sự thức tỉnh

ý thức cá nhân đã làm thay đổi quan niệm về con người. Con người ấy không

51

còn là những anh hùng với tính cách oai hùng, bi tráng nữa mà con người

trong văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của

mọi mối quan hệ, con người được văn học khám phá, soi chiếu ở đời sống tư

tưởng, ở tình cảm, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường trong

tính nhân loại phổ quát.

Thứ ba, sau 1975 con người có điều kiện để nhìn nhận một cách chính

xác hơn về cuộc sống hôm nay, nhìn người khác và nhìn chính mình trong

tổng thể của cuộc sống. Con người hôm nay có được một độ lùi cần thiết về

thời gian cho phép mỗi người đánh giá đúng hơn, chính xác hơn bản thân

mình để thấy được rằng con người vẫn có những nhu cầu chính đáng cần

được đáp ứng và tôn trọng. Đó chính là yêu thương, đồng cảm và sẻ chia, đặc

biệt là những người anh hùng từng tham gia cuộc chiến. Đó chính là số phận,

là đời tư, là những góc khuất còn sâu kín trong tâm hồn của họ mà trong thời

chiến chưa có dịp bộc lộ.

2.2. Đề tài, chủ đề nhất quán, tính cách anh hùng đa diện

2.2.1. Đề tài

Đề tài người anh hùng là một đề tài quen thuộc trong văn học Việt Nam

hiện đại nói chung, văn học cách mạng nói riêng. Nhất là trong khí thế hào

hùng của cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc, mọi người đều nhất trí chung

lòng vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Một thời đại ra ngõ gặp anh

hùng. Lúc ấy, những người con ưu tú nhất của đất nước đều tham gia cầm

súng hay hỗ trợ cách mạng. Những tính cách cao đẹp được tôn vinh, được

ngợi ca, trở thành vẻ đẹp chung của thời đại. Đề tài người anh hùng, đương

nhiên, cũng trở thành một đề tài được tập trung sáng tác nhiều nhất – vừa ca

ngợi những người anh hùng, vừa tiếp thêm sức mạnh cho mọi người tham gia

chiến đấu.

52

Sau năm 1975, đất nước thống nhất, nước ta bắt đầu công cuộc tái thiết

đất nước sau chiến tranh với hàng loạt những vấn đề được cải cách, đổi mới

sâu rộng trên mọi mặt cho phù hợp với tình hình của thời hậu chiến, con

người dần dần thích nghi với cuộc sống thời bình. Văn học có cái nhìn tỉnh

táo hơn về thực trạng xã hội, không lẩn tránh những mặt tiêu cực, gai góc của

cuộc sống. Với tinh thần đề cao nhân tố con người, lấy dân làm gốc, mở rộng

dân chủ, tôn trọng sự thật và quy luật cuộc sống, giải phóng sức sản xuất cùng

với tinh thần cởi trói càng khuyến khích những suy nghĩ, tìm tòi của văn nghệ

sĩ. Ý thức rõ hơn chức năng và sức mạnh riêng của văn học, trách nhiệm của

người cầm bút, nhà văn càng thâm nhập sâu hơn vào thế giới nội tâm con

người, vào cuộc sống. Và chính trong thời gian này, văn học đã xuất hiện

những tác phẩm với tiếng nói mạnh mẽ viết về cuộc sống đời thường của

những người chiến sĩ sau chiến tranh như: Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn

Kháng), Ánh trăng (Nguyễn Duy), Người đàn bà ngồi đan (Ý Nhi), Khối

vuông Rubich (Thanh Thảo)....

Hiện thực được văn học khám phá không chỉ là hiện thực cách mạng, các

biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà còn là hiện thực của đời sống hàng

ngày. Hiện thực, đó còn là đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn

đề riêng tư, số phận, nhân cách, với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi

kịch. Hiện thực đó là những giá trị truyền thống đã dần dần bị con người lãng

quên (Mùa lá rụng trong vườn – Ma Văn Kháng), con người tự thú trước

chính mình, (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành – Nguyễn Minh Châu)

con người đang đi tìm cái hoàn hảo nhất nhưng khi tìm được thì mọi cái đã

vụt mất khỏi tầm tay mới chợt nhận ra cuộc sống không có gì là hoàn hảo như

ta luôn lầm tưởng.

Đề tài chiến tranh và khuynh hướng sử thi vẫn nổi trội. Song, cảm hứng

đời thường hướng vào các vấn đề thế sự, đạo đức trong đời sống hàng ngày

53

của con người ngày càng được khai thác mạnh. Với yêu cầu nhận thức lại,

nhiều cây bút đã mạnh dạn nhìn nhận lại hiện thực của thời kì vừa qua. Với

Thời xa vắng của Lê Lựu, người đọc hôm nay nhận thức được rằng cả một

thời đại con người phải sống trong sự xếp đặt của người khác, nhân vật –

Giang Minh Sài đã phải yêu cái mà người khác yêu nhưng đến khi đã về già

thì lại yêu cái mình không có, cái không thuộc về mình. Chiến tranh cũng

được nhận thức lại từ sự tác động ghê gớm đến tính cách và số phận con

người với bao nỗi bi kịch (Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai), éo le và ám ảnh (Mùa

trái cóc ở miền Nam và Cỏ lau – Nguyễn Minh Châu), là sự đồng cảm xót xa

đến nhức nhối (Tướng về hưu – Nguyễn Huy Thiệp ) về con người và thân

phận của họ - những người anh hùng.

Tiếp nối cảm hứng về người anh hùng, nhưng ở giai đoạn sau 1975,

người anh hùng được nhìn nhận dưới góc nhìn đời thường, vẫn ngợi ca những

phẩm chất tốt đẹp, kiên cường, hy sinh, dũng cảm, gan dạ trong chiến đấu

nhưng người ta đã nhận ra sự thật của cuộc sống những người bước ra từ quá

khứ vinh quang ấy. Người anh hùng hiên ngang trong văn học kháng chiến

bây giờ được nhìn ở một góc độ khác, khía cạnh khác để thấy rằng tất cả

những người anh hùng hóa ra họ đều là những con người của cuộc đời thường

với những nỗi đau khổ, những khát khao, những dục vọng bình thường vốn có

như bao nhiêu con người bình thường khác. Gánh nặng cơm áo gạo tiền trở

thành nỗi lo đè nặng trên đôi vai tất cả mọi người, kể cả những người anh

hùng năm xưa. Trước thực tế khắc nghiệt của cuộc sống, người anh hùng đã

sống như thế nào là mối quan tâm của các nhà văn, là đề tài được các nhà văn

khai thác. Đó là anh lính Vạn (Bến không chồng - Dương Hướng) hy sinh cả

tuổi trẻ, hạnh phúc của mình cho cuộc chiến nhưng nỗi niềm riêng lại không

dám thổ lộ cùng ai. Người anh hùng ấy đã không vượt qua được những e ngại,

định kiến và dư luận nên đành đánh mất cái hạnh phúc mà lẽ ra anh xứng

54

đáng nhận được. Cuối cùng, anh vẫn là con người cô đơn, bất hạnh. Cuộc đời

của Nguyễn Vạn là hết lòng vì công việc chung, vì tập thể nhưng lại quên đi

hạnh phúc của bản thân. Đó là Giang Minh Sài (Thời xa vắng – Lê Lựu), vì

không thể yêu người vợ lớn tuổi hơn mình nên Giang Mình Sài đã trốn nhà đi

bộ đội, anh trở thành người anh hùng bất đắc dĩ. Và cả một đời đã phải yêu

cái mà người khác yêu nhưng khi về già thì lại yêu cái mình không có. Với

Thời xa vắng, Lê Lựu đã cho người đọc hôm nay thấy được con người cá

nhân không những bị cái tập thể vô danh tính che lấp, mà chính mình cũng tự

che lấp mình đi, không dám tự bộc lộ với chính mình. Cả đời người anh hùng

này phải sống và hành động theo những sắp đặt của người khác mà không

được sống với chính mình, không được nói tiếng nói của cá nhân mình. Đó là

Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai), người anh hùng bước ra từ quá khứ

hào hùng của cuộc chiến, anh chưa thể hòa nhập với cuộc sống hiện thực

nghiệt ngã của nó, anh trở thành một kẻ ăn mày, “ăn mày dĩ vãng”. Một kẻ ăn

mày không cần tiền bạc, chức tước mà chỉ cần một cái quá khứ bị đánh cắp,

anh lội ngược dòng để tìm người thương, tìm lại một tình yêu đẹp, cảm động

và lung linh tỏa ra từ những ánh sáng muôn vẻ. Đó là một vị tướng chỉ huy tài

ba (Tướng về hưu – Nguyễn Huy Thiệp) khi trở về với gia đình, với cuộc

sống bộn bề của nền kinh tế thị trường, trước thực trạng của xã hội, ông

hoang mang, bất lực và cảm thấy mình lạc lõng, cô đơn, trở thành một người

thừa ngay trong chính gia đình của mình. Tất cả những cách nhìn ấy, những

thay đổi ấy đã gây nên một làn sóng tranh cãi của xã hội vốn có thói quen

nhìn một chiều về người anh hùng như những tượng đài bất tử luôn luôn cao

đẹp. Qua rất nhiều cuộc tranh luận trên các báo, có người đồng tình, ủng hộ,

nhưng cũng có người không chấp nhận bởi cách nhìn quá mới, quá bất ngờ so

với cách nhìn trước đây trong văn học khi viết về người anh hùng. Độ lùi về

thời gian đã cho người đọc, cho thế hệ hôm nay một cái nhìn tỉnh táo hơn,

một đánh giá chính xác hơn về những vinh quang và mất mát của cuộc chiến

55

ngày hôm qua.

“Văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về

con người mà nền tảng triết học và hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy là tư

tưởng nhân bản” [47, 16]. Con người vừa là điểm xuất phát, đối tượng khám

phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời là điểm quy

chiếu, thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử.

Văn xuôi trong thời kì đổi mới cũng đã đem lại nhiều biến đổi trong nghệ

thuật trần thuật. Để từ bỏ sự áp đặt, người viết phải chuyển dịch điểm nhìn

vào nhiều nhân vật để mỗi nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của

mình và để cho các ý thức cùng có quyền phát ngôn. Sự thay đổi vai kể,

truyện lồng truyện, sự đảo ngược và xen kẽ các tình tiết sự việc không theo

một trật tự thời gian; vấn đề thể loại của tác phẩm cũng được chú ý khai thác

cho phù hợp với nội dung của tác phẩm. Tất cả đều nhằm tạo ra được hiệu quả

nghệ thuật mới cho tác phẩm.

Nhà văn Nguyên Ngọc là một người gắn bó sâu sắc với núi rừng và con

người Tây Nguyên cũng như người anh hùng. Các sáng tác của ông trước năm

1975 đều viết về người anh hùng và những tập thể anh hùng tiêu biểu cho tinh

hoa của cộng đồng, cho vẻ đẹp hào hùng của thời đại. Nếu trong thời kỳ

kháng chiến chống Pháp ông có Đất nước đứng lên với hình ảnh anh hùng

Núp hiên ngang, luôn chiến đấu vì cộng đồng, thì trong kháng chiến chống

Mỹ ông lại có Rừng xà nu với hình ảnh Tnú và sự quật cường của dân làng

Xô - man kiên cường bám trụ để giữ vững từng tấc đất của quê hương. Những

tác phẩm đã ghi dấu ấn và đi vào lòng bạn đọc bao thế hệ như: Đất nước

đứng lên, Rừng xà nu, Đất Quảng (tập 1). Nét đặc sắc của những tác phẩm

trên là ở chỗ Nguyên Ngọc đã đi từ thực tế đời sống cách mạng, những đòi

hỏi của chiến trường mà tìm hiểu người anh hùng và từ người anh hùng mà

giúp ông hiểu thêm về một thời đại và một dân tộc anh hùng. Dù viết về nhân

56

vật nào, đối tượng nào Nguyên Ngọc vẫn luôn luôn nhất quán với cảm hứng

anh hùng và ở mỗi tác phẩm người đọc nhận thấy rõ người anh hùng trong tác

phẩm luôn đậm chất lãng mạn, mang đầy tính bi tráng, với giọng văn hào

sảng đầy ngợi ca, điểm chung trong tác phẩm trước 1975 của ông là người

anh hùng luôn gắn bó với Đảng, với cách mạng, căm thù giặc sâu sắc, luôn

chiến đấu dũng cảm, ngoan cường vì độc lập tự do cho dân tộc.

Sau năm 1975, tuy đời sống xã hội thay đổi nhưng với một lối viết nhạy

cảm và trung thành với đề tài chiến tranh cách mạng, Nguyên Ngọc vẫn bám

sát cuộc sống, vẫn luôn lắng nghe từng hơi thở, nhịp đập của cuộc sống, đặc

biệt là cuộc sống hiện tại của những người anh hùng – những người trực tiếp

cầm súng chiến đấu và phục vụ cho cuộc chiến đấu. Ông vẫn tiếp tục viết về

người anh hùng như một món nợ lòng mà suốt đời ông theo đuổi. Từng trang

văn đầy cảm xúc đã mang đến cho người đọc hình ảnh đời thường giản dị và

bình lặng của những người anh hùng trong quá khứ, mang đến cho người đọc

những ưu tư, ray rứt, trăn trở về con người và cuộc đời thông qua số phận

những con người ấy. Với một loạt các tác phẩm như: Trở lại Mèo Vạc,

Tháng Ninh Nông, Người hát rong giữa rừng, Cát cháy, Có một con đường

mòn trên biển Đông.

2.2.2. Chủ đề

Chủ đề được hình thành và xây dựng trên cơ sở của đề tài. Đó là vấn đề

cơ bản là phương diện chính yếu của đề tài. Khi phản ánh hiện thực, nhà văn

chẳng những xác định một phạm vi của đời sống mà còn tập trung soi rọi một

số ý nghĩa hàng đầu trong phạm vi đó.

Cách lựa chọn chủ đề thể hiện bản sắc tư duy, chiều sâu tư tưởng và khả

năng thâm nhập vào đời sống của chính tác giả. Chủ đề cuộc sống của người

anh hùng trong quá khứ giờ đây phải đối mặt với những khó khăn đời thường,

với những thay đổi nhanh chóng của đời sống kinh tế thị trường là một chủ đề

57

hay, được nhiều tác giả khai thác. Trong số đó, Nguyên Ngọc là nhà văn đặc

biệt say mê và sáng tác theo chủ đề này như: Trở lại Mèo Vạc, Tháng Ninh

Nông, Người hát rong giữa rừng, Cát cháy, Có một con đường mòn trên

biển Đông.

Cùng viết về đề tài người anh hùng, nhưng mỗi tác giả có cách khai thác

khác nhau mang đậm dấu ấn cá nhân của mình. Với Nguyên Ngọc, viết về

người anh hùng là sự nối tiếp chủ đề người anh hùng trong chiến tranh – vốn

là trọng tâm trong các sáng tác của nhà văn trước 1975. Sau 1975, để phù hợp

với sự chuyển biến của thời đại, cũng như phù hợp với yêu cầu đổi mới của

văn học lúc bấy giờ, Nguyên Ngọc đã có cách nhìn người anh anh hùng bằng

những quan niệm cá nhân của mình, vẫn ca ngợi người anh hùng với những

phẩm chất cao đẹp, nhưng ông cũng nhìn ra được những góc khuất trong cuộc

sống thời bình của họ. Viết về người anh hùng sau chiến tranh, nhà văn

Nguyên Ngọc chú ý khắc họa cuộc sống của người anh hùng với những xô bồ

và khắc nghiệt của thời buổi kinh tế thị trường. Họ là những con người bình

thường nhưng những gì họ làm, họ hy sinh thì thật phi thường. Viết về họ, tác

giả vẫn tiếp tục ngợi ca, trân trọng và ngưỡng mộ. Tuy nhiên đi liền với cảm

hứng ngợi ca là những chia sẻ, cảm thông những mất mát và đau thương với

thái độ trăn trở, xót xa cho cuộc sống hiện tại còn nhiều thiếu thốn, chật vật

của người anh hùng. Xoáy sâu vào đời sống tinh thần, vào nguyện vọng chính

đáng ở cuộc sống hiện tại của họ. Từ đó, ông trăn trở và đau đáu về số phận

không may của họ và gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh xã hội đừng vì những

bộn bề của cuộc sống mà quay lưng với họ, lãng quên họ - những người đã

một thời hết lòng chiến đấu cho chúng ta có được cuộc sống bình yên hôm

nay.

Với cảm hứng về người anh hùng nhưng ở giai đoạn sau 1975 cái nhìn

người anh hùng của Nguyên Ngọc khác trước, tác giả không nhìn người anh

58

hùng ở tư thế hiên ngang, đậm chất sử thi và đầy hào sảng nữa mà người anh

hùng được nhìn ở những phần sâu kín nhất trong tâm hồn, những khao khát

rất đời của người anh hùng với cái muôn mặt, muôn vẻ của cuộc sống đời

thường. Điều đó là do chính nhận thức của nhà văn về cuộc sống và cũng là

do hoàn cảnh xã hội đã thay đổi. Nếu như trước đây Nguyên Ngọc được sống

trong một thời đại âm vang với những người anh hùng, một thời đại anh hùng

thì giờ đây sau khi chiến tranh đã kết thúc, ông khắc họa lại toàn bộ hình ảnh

về người anh hùng trong những trận chiến năm nào, bên cạnh đó, từng người

anh hùng có những lí lịch rõ ràng ở đâu và làm gì? Phác họa lại cuộc sống của

người anh hùng sau 1975 với sự cảm thông, chia sẻ những mất mát, đồng thời

tri ân những cống hiến của họ cho đất nước.

2.2.3. Tính cách anh hùng đa diện

2.2.3.1. Tính cách người anh hùng trong hoài niệm

Với hành trình nghệ thuật nhất quán, liền mạch là viết văn với cảm hứng

anh hùng, do đó, trong các sáng tác sau năm 1975 của mình, Nguyên Ngọc

vẫn tiếp tục khắc họa chân dung người anh hùng với những tính cách cao đẹp,

anh dũng kiên cường và sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp chung.

Người anh hùng mà tác giả mong mỏi và nóng lòng tìm gặp nhất trong

chuyến hành trình về lại nơi xưa là Thào Mỹ - cô gái H’mông (Trở lại Mèo

Vạc) ở cao nguyên đá Đồng Văn, bởi tác giả muốn gặp lại hay đúng hơn là

muốn nghe lại tiếng hát của núi rừng cao chót vót và trầm sâu đến đáy, muốn

nhìn ngắm lại đôi mắt xanh nâu đẹp im lặng của người con gái năm xưa. Đặc

biệt, muốn biết được sự thay đổi của núi rừng và con người nơi đây. Dường

như chính cảnh hùng vĩ bạt ngàn của núi rừng nơi đây làm nên những tính

cách, những suy nghĩ của họ. Hoang dại nhưng không thô bạo, mạnh mẽ

nhưng không quá ồn ào. Vẻ đẹp của người anh hùng được miêu tả như vẻ đẹp

đầy hoang dại của núi rừng “một vẻ đẹp rất lạ, cuốn hút vô cùng, khi im lặng

59

trầm uất như một ngọn núi Mèo cô độc, khi lẳng lơ như những bông hoa

thuốc phiện quyến rũ, khi phấp phới như ngọn gió ào ạt trên đỉnh Sam Pun”

[61;430]. Thào Mỹ - cô gái H’mông nghèo có cuộc đời bất hạnh đã vượt lên

số phận, trở thành người dẫn đường cho cán bộ, cho cách mạng đánh dẹp bọn

phỉ và được bầu vào vị trí lãnh đạo cao nhất tiếp tục gìn giữ nơi địa đầu Tổ

quốc. Thào Mỹ hát hay, làm cách mạng giỏi, yêu đến say đắm và đẹp đến mê

hồn như chính cảnh đẹp ở cao nguyên đá này. Chính những yếu tố đó đã làm

nên tính cách kiên cường, cao đẹp của người anh hùng này. Thào Mỹ từng

vượt lên hoàn cảnh nghiệt ngã của chính mình, khi có gia đình, chị lại là một

người phụ nữ yêu chồng, thương con, tiếp tục hy sinh để lo cho chồng con.

Chị đã từng anh dũng, mưu trí, gan dạ trong chiến đấu với kẻ thù, khi trở về

với cuộc sống đời thường, chị lại là người phụ nữ chịu thương, chịu khó, giàu

đức hy sinh. Thào Mỹ chính là hiện thân của những người con gái H’mông

mạnh mẽ, táo bạo, yêu hết mình và cũng sống hết mình. Ở chị kết tinh được

cái đẹp của phẩm chất và cái tinh khiết của núi rừng như những con suối

trong veo đầy thách thức, mời gọi. Chị như đất Mẹ luôn che chở, ấp ủ, yêu

thương, thai nghén, sinh nở, đau khổ, hạnh phúc, quen chịu đựng gian khổ.

Đó là một đặc điểm chung vốn có ở người phụ nữ Việt Nam.

Nhân vật thứ hai được tác giả nhắc đến với sự ngưỡng mộ trân trọng

trong bút kí này là Sùng Chóa Vàng – một chiến sĩ thiện chiến, dũng cảm,

một tay súng cực kỳ thiện xạ, một cái thùng rượu không đáy và cũng là người

vô cùng tự do. Cũng như Thào Mỹ, cái làm nên tính cách của người anh hùng

này là sự kiên cường, những hành động dũng cảm khi đối mặt với kẻ thù.

Người anh hùng mà tác giả nhìn thấy được ở Sùng Chóa Vàng chính là tình

yêu và tinh thần tự do. Tình yêu với chính mảnh đất anh sinh ra, với gia đình,

với đồng bào, đồng chí. Tính cách tự do chính là một đặc điểm chung của

những con người miền núi. Họ yêu tự do và họ chiến đấu vì sự tự do. Những

60

gì hoang dã, hùng vĩ nhất của thiên nhiên nơi đây mang đến đã làm nên tính

cách anh hùng sử thi thời hiện đại của họ.

Trong truyện ngắn Tháng Ninh Nông, nhân vật tôi hồi tưởng lại quá

khứ, một việc đã cách đây nhiều năm trong kháng chiến chống Mỹ khi đồng

đội của nhân vật tôi bị đánh tan tác, một số đồng đội bị thương phải tìm nơi

để dưỡng thương thì họ tìm được một làng hẻo lánh, cao chót vót ở trên đỉnh

núi Ngok Linh [sic]. Đó là làng của người Tơ Trá. Theo dòng hồi tưởng của

người kể, nhân vật tôi được một cô gái người Tơ Trá cưu mang, cứu sống:

“Cô gái đã nhai nhão những hạt bắp khô và mớm cho tôi...và nghe rõ lắm cái

vị đắng đậm đà của bắp già hong lửa xà nu lẫn vị nước miếng mặn ấm và vị

mát ngọt của đôi môi cô gái” [61;466]. Bằng tất cả những gì có thể, người sơn

nữ đã cứu sống và cưu mang một người con trai xa lạ, chưa một lần quen biết

quên đi những hiểm nguy, quên cả sự e ngại mà chăm sóc và giành lại sự

sống cho cho người chiến sĩ bằng cả tấm chân tình và một tình yêu chân thành

“Và tôi chợt hiểu ra ngay rằng tôi còn sống, đó là sự sống và tôi đã gặp lại

được nó, bởi vì chỉ có sự sống mới có thể đen láy đến vậy, long lanh thương

yêu mặn nồng và âu yếm đến vậy” [61;465]. Sự hy sinh ấy là sự hy sinh của

một tấm lòng cao đẹp, của nhân dân với Đảng, với đất nước khi dân tộc chìm

trong lửa đạn chiến tranh. Người sơn nữ ấy không nghĩ đến hạnh phúc cá

nhân mình mà nghĩ đến cái chung của dân tộc, vì sự tự do của dân tộc.

Tính cách người anh hùng cao đẹp còn thấy trong nhân vật Y Yơn

(Người hát rong giữa rừng). Y Yơn là một nghệ sĩ đã từng là một chiến sĩ

trong những ngày Tây Nguyên đứng lên chống Pháp. Tuy là một chiến sĩ

nhưng nhiệm vụ chính của Y Yơn và đội vũ trang tuyên truyền là hát. Họ hát

đúng nghĩa là một gánh hát rong - một gánh hát rong cách mạng. Nhiệm vụ

của đội là tuyên truyền để đồng bào hiểu và đi theo cách mạng, để làm cách

mạng. Trong đội vũ trang tuyên truyền ấy thì Y Yơn chính là linh hồn của

61

đội, là ngọn gió tự do của Tây Nguyên bạt ngàn. Y Yơn nổi tiếng là nghệ sĩ từ

nhỏ bởi ông được nuôi dưỡng từ những tâm hồn nghệ sĩ, ông hát hay, đàn

giỏi. Kháng chiến bùng nổ, Y Yơn bỏ học và tham gia công tác ở làng của

mình nhưng sau đó bị Pháp bắt. Y Yơn đã dùng chính tiếng hát của mình để

trốn thoát và quay trở về hoạt động cách mạng. Và ông chuyển hẳn sang đội

vũ trang tuyên truyền để làm công việc mình yêu thích. Đó là được hát.

Những bài hát mà Y Yơn hát có lẽ chẳng liên quan gì đến Cách mạng, kháng

chiến. Nó đơn giản chỉ là những bài tình ca. Tình ca về quê hương, về bản

làng, về rẫy lúa, về con suối đầu nguồn nhưng rất lạ là nó tập hợp được mọi

người, nó kêu gọi mọi người đứng dậy để bảo vệ tự do của rừng núi và buôn

làng. Và hình như những người Tây Nguyên họ hiểu rằng chỉ có tự do thì trai

gái mới được yêu nhau, mới có thể lên nương làm cái rẫy, mới ra suối lấy

nước được và mới săn thú rừng được. Tự do với người Tây Nguyên còn là

được hát, được đắm mình trong rừng núi bao la, bạt ngàn. Trong kháng chiến

chống Mỹ, Y Yơn ở Hà Nội đi học trường nhạc và đêm đêm ông làm cái việc

không ồn ào mà mặn mà, thú vị đó là nói chuyện với bà con quê hương mình

trên làn sóng của đài tiếng nói Việt Nam. Ông hát về cuộc đời mình bằng đủ

thứ tiếng của các dân tộc. Và chính những bài tình ca ấy, rất lạ, nó kêu gọi

lính ngụy cầm súng theo giặc quay trở về với quê hương, với cách mạng, với

đất nước. Những con người lầm lỗi ấy, họ biết ơn Y Yơn. Vì chính ông đã

làm họ thức tỉnh và quay trở về với ánh sáng, với tiếng gọi thiêng liêng của

non sông đất nước. Đến thời Fulro hoành hành ở Tây Nguyên, có thể nói

không cán bộ nào của ta có thể tiếp cận được. Và Y Yơn với cây đàn Gong và

một thứ nghệ thuật không thực dụng đã giúp cho những người lính Fulro trở

về. Chính nhờ những bài hát đậm tính dân ca ấy ông đã thức tỉnh được tận

đáy sâu tâm hồn của những con người Việt Nam yêu nước, giúp họ quay trở

về với quê hương. Đơn giản, ông chỉ hát bài Gọi con heo thôi. Nghệ thuật của

ông đơn giản đến vậy, nó bình thường nhưng lại trường tồn, vĩnh cửu. Và ở

62

đó chính là Tây Nguyên, chính là Y Yơn.

Trong Cát cháy, người đọc còn bắt gặp những tính cách kiên cường, anh

dũng và sẵn sàng hy sinh của những người anh hùng vì sự nghiệp chung của

dân tộc ở các mẹ như: mẹ Mãi, mẹ Lứt, mẹ Hữu. Các mẹ đã lặng lẽ nuôi giấu

thương binh, đấu tranh chính trị với địch. Một đứa con xa lạ tận miền Bắc vào

công tác như chị Vũ Thị Thúy Mùi cũng được các mẹ ân cần chăm sóc như

chính con đẻ của mình. Họ không nghĩ tới những mất mát, hy sinh của mình mà

chỉ nghĩ tới sự sống còn của tập thể, của những đứa con, nói rộng ra là của đồng

bào đồng chí. Trước cái chết đang đến gần vẫn âm thầm báo tin cho đồng đội

của mình, vẫn hiên ngang trước nòng súng của kẻ thù. Tính cách cao đẹp, anh

dũng còn thể hiện ở anh Hai Toán, anh Dương Xang - những chiến sĩ chiến đấu

kiên cường, quyết cùng đồng đội bám đất, giữ làng, giữ dân với một tinh thần

anh dũng, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp chung của dân tộc. Chị Vũ Thị Thúy

Mùi, người nữ thanh niên xung phong tình nguyện đi B để được chiến đấu ở một

chiến trường ác liệt. Là sự chiến đấu ngoan cường, dũng cảm của chị Nga, chị

Huyền, chị Cúc, chị Hoa. Những cán bộ du kích mật đã kiên cường chiến đấu

quên mình vì quê hương anh hùng.

Vì lợi chung của tập thể có những anh hùng phải hy sinh hạnh phúc cá

nhân mình. Trong bút ký Có một con đường mòn trên biển Đông đó chính là

người anh hùng quân đội Đặng Văn Thanh và máy trưởng Huỳnh Văn Sao,

trong những ngày đối mặt với kẻ thù, cái chết có thể đến bất cứ lúc nào nhưng

những người anh hùng này vẫn ở lại giữ tàu, giữ gìn bí mật cho con đường

biển Đông.

Đó còn là hành động chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng của anh

hùng Nguyễn Phan Vinh. Trong trận đối đầu với địch, để bảo vệ cho anh em thủy

thủ thoát vòng vây, anh Nguyễn Phan Vinh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng:

“Quanh chỗ anh Vinh nằm, rất nhiều dấu vết bông băng đỏ thấm máu khô…nhìn

63

tư thế, có thể đoán ra anh đã đánh đến viên đạn cuối cùng” [61;972]. Đó chính là

sự hy sinh của anh hùng Nguyễn Văn Hiệu – người thủy thủ từng trải và gan lì. Là

người có nhiều uẩn khúc trong cuộc sống gia đình nhưng khi chiến đấu thì gan dạ,

dũng cảm vô song. Tàu của anh từng bị vây đánh ở hải phận quốc tế. Trong khi

tàu không còn khả năng cơ động được, là người chỉ huy, anh ra lệnh cho anh em

rời tàu. Một mình ở lại hy sinh cùng tàu để bảo vệ bí mật về con đường biển Đông

“…Anh ở lại trên tàu, để đến khi tàu vòng ra xa chỗ chúng tôi nhất…lúc đó tự tay

anh sẽ cho phát hỏa ngòi nổ tức thì, phá tan tàu, cùng hy sinh với tàu…Anh

Nguyễn Văn Hiệu đã làm đúng như vậy” [61;982]. Để có thể thực hiện nhiệm vụ

đưa vũ khí từ Bắc vào Nam, qua mặt kẻ thù. Anh Tư Mau phải cải dạng thành một

người hoàn toàn khác. Đó là phẫu thuật “thay hình đổi dạng”. Tuy rất đau đớn,

nhưng để thực hiện được nhiệm vụ, anh sẵn sàng hy sinh chính mình: “…Anh Tư

Mau phải nằm nửa tháng, rất đau đớn, chịu bịt kín hai mắt, mặt sưng vù”

[61;1000]. Đó là sự hy sinh cả thời tuổi trẻ của thủy thủ Huỳnh Ba. Từng là một

chiến sĩ kiên cường, dũng cảm trong cuộc vượt biển đầu tiên đưa vũ khí vào Nam

nhưng không thành. Anh địch bị bắt, bỏ tù, bị tra tấn. Bị chuyển qua nhiều nhà

lao. Ngày anh được ra tù cũng là ngày đất nước được độc lập, tự do.

Đó chính là mối tình vượt bom đạn chiến tranh của chị Sáu Thùy và anh

Tư Thắng. Tình yêu của chị Sáu Thùy – cô gái nơi mũi Cà Mau – là tình yêu

kiên cường lẫn sự hy sinh, hy sinh hạnh phúc cá nhân của chị cho lợi ích

chung của Tổ quốc, tình yêu gắn liền với lý tưởng cao cả, tình yêu vượt lên

trên cả huyền thoại, chị quyết chí đi tìm người yêu dù phải lặn lội dưới hàng

nghìn cây số bom đạn địch để gặp một người quen biết chưa thân ở miền Bắc

xa xôi của Tổ quốc cũng ngày đêm đối diện với những nguy hiểm của chiến

tranh và “một cuộc đi vô cùng liều lĩnh, vô cùng phiêu lưu, hầu như chẳng

chút “lôgic” nào cả. Nếu có thì chỉ là một thứ lôgic: Lôgíc kì lạ của tình yêu”

[61;947]. Những tính cách kiên cường ấy còn bắt gặp trong hình ảnh của vợ

64

của chú Năm Sao. Sẵn sàng hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của tập thể.

Đó là hình ảnh má Mười Rìu, người đã dốc cạn toàn bộ tài sản của mình,

thậm chí còn vay mượn thêm cho chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc chở vũ khí

vào Nam, sự hy sinh của má thật cao cả, vượt lên tất cả đó chính là tính cách

cao đẹp của người má anh hùng.

Trong những ngày đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, việc vận

chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam là một nhiệm vụ vô cùng thiêng liêng và cao

cả. Nhưng với sự kiên cường của các chiến sĩ đoàn tàu không số thì ở hậu

phương, những người vợ, người mẹ vẫn lặng lẽ nuôi con và chờ chồng, thậm

chí là phải sống trong sự nghi ngờ và tủi nhục vì bị hàng xóm và đồng đội

hiểu nhầm nhưng họ vẫn cắn răng để giữ gìn một bí mật về con đường mòn

trên biển Đông. Đó chính là sự hy sinh thầm lặng của vợ anh Ba Thắng.

Trong khi anh Ba Thắng đang ngày đêm lênh đênh trên những con tàu, đối

mặt với nhưng trận chiến đấu độc đảm, dữ dội, ác liệt sẵn sàng dội xuống bất

cứ lúc nào thì vợ anh lại âm thầm chịu đựng một mình cảnh “cô đơn dằng dặc

hơn mười năm trời, để khư khư cắn răng giữ kín một điều ngày ấy vô cùng

thiêng liêng: bí mật của con đường biển Đông” [61;909]. Vợ anh Ba Thắng -

một đảng viên hoạt động bí mật, lại là vợ của một chiến sĩ quân giải phóng.

Chị được mọi người tôn trọng và ân cần chăm sóc. Vậy mà trong một lần bí

mật đi thăm chồng trở về, chị có thai. Sau lần đó, mọi người nhìn chị với thái

độ khinh bỉ. Chị bị khai trừ ra khỏi Đảng, bị hàng xóm và gia đình khi rẻ.

Nhưng để giữ gìn bí mật về công tác của chồng, bí mật về con đường biển

Đông, chị đã cắn răng chịu đựng hơn mười năm trời, cho đến ngày đất nước

được độc lập và anh Ba Thắng trở về.

Là sự hy sinh thầm lặng của vợ anh Đặng Văn Thanh, chị đã âm thầm

chịu đựng, lo lắng khi anh ra đi và lặng lẽ đón anh trở về “…Chị thấy bồn

chồn lo lắng mỗi lần anh từ giã ra đi…Chị hao gầy đi những ngày chờ đợi.

65

Và như sống lại tươi tắn, tinh khôi…mỗi lần anh trở về” [61; 870]. Tính cách

cao đẹp và hy sinh ấy ta còn bắt gặp trong hình ảnh bà Năm Lạt, vợ máy

trưởng Huỳnh Văn Sao, người đã dành cả một thời tuổi trẻ nuôi con chờ

chồng trong những ngày tháng người máy trưởng anh hùng lênh đênh trên

biển Đông với những chuyến hàng chở nặng vũ khí vào Nam.

Có thể nói nhân vật trong tác phẩm của Nguyên Ngọc luôn luôn là

những người anh hùng với những tính cách cao đẹp, anh dũng, kiên cường,

sẵn sàng hy sinh, quên mình vì tập thể, chiến đấu vì những mục tiêu và lợi ích

chung của cộng đồng. Tuy nhiên, cuộc sống đời thường hết sức giản dị và

trong sáng. Họ không chỉ là những người hiên ngang cầm súng chiến đấu mà

tất cả những người anh hùng ấy luôn lặng lẽ, âm thầm cống hiến cho cách

mạng, cho Đảng, cho đất nước.

2.2.3.2. Tính cách người anh hùng trong hiện tại

Chiến tranh đã khép lại, cuộc sống đã đi vào quỹ đạo đời thường với

những khắc nghiệt và lo toan thường nhật. Người anh hùng năm xưa vẫn giữ

được những tính cách cao đẹp một thời là sự kiên cường và giàu đức hy sinh.

Sự kiên cường và đức hy sinh giúp họ đương đầu và vượt qua những thử

thách khắc nghiệt của cuộc sống. Trong Cát cháy, người đọc một lần nữa bắt

gặp sự kiên cường của những chiến sĩ anh hùng. Chị Cúc, anh Thắng từng là

những chiến sĩ kiên cường trong đấu tranh bảo vệ quê hương. Hòa bình, chính

sự kiên cường ấy giúp người anh hùng – chị Cúc thích nghi nhanh chóng hơn

trong cuộc đương đầu và vượt qua những khắc nghiệt của đời sống, điều đó

được thể hiện trong việc làm và lời nói của chị: “...Hồi đó, không đánh được

giặc, mất dân, mất đất là nhục. Không được nuôi thương binh cũng coi là

nhục...Còn bây giờ, cam chịu nghèo đói, để con cái ngu dốt, không được học

hành là nhục....” [61;747]. Trải qua bom đạn của chiến tranh, những người

anh hùng năm xưa đã hy sinh tuổi xuân của mình cho cuộc chiến. Ngày hôm

66

nay, trong cuộc sống đời thường còn nhiều khó khăn, chật vật, họ vẫn tiếp tục

hy sinh mà không kêu ca, than oán: “Nhà chị Huyền không đến nỗi là một túp

lều, nhưng cũng không thật ra nhà. Tường gạch, nhưng có chỗ xây vữa, có

chỗ là gạch xếp chồng lên nhau, chông chênh. Mái nửa ngói, nửa tranh. Cửa

sửa là mấy tấm các – tông gỡ ra từ một thùng mì ăn liền. Nền nhà gạch xếp

không đủ, đất cát tràn lên cả mặt nền. Chỉ có mỗi một chiếc bàn” [61;730].

Từng là một bí thư thời Bình Dương còn chìn trong khói lửa chiến tranh, với

sự mưu trí và dũng cảm của mình, chị Huyền đã cùng đồng đội ngày đêm bám

đất, bám dân để giữ vững căn cứ cách mạng ở vùng đất anh hùng. Nhưng

trong cuộc sống hiện tại, đời sống vật chất và tinh thần của chị không đủ đầy.

Chị sống trong một ngôi nhà không thật là nhà, công việc hàng ngày của chị

là bám ruộng để mưu sinh “...trong số bốn năm người đàn bà đang tất tả trên

cách đồng cát kia, người lui cui bón phân lúa, người kiũ kịt đôi gàu to tướng

gánh hước tưới khoai dưới nắng lửa...,trong số bốn năm người đàn bà cằn cỗi

ấy, bạn có nhận ra được người bí thư từng lãnh đạo cả cái xã Bình Dương

chính trong những ngày ấy” [61;716].

Những người anh hùng bước ra từ cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc,

trở về với cuộc sống đời thường với gánh nặng áo cơm, họ bắt buộc phải thích

nghi với cuộc sống đời thường khắc nghiệt, để phù hợp với cuộc sống bình dị

và có phần lặng lẽ: “Xin bạn đi cùng tôi và ta thử cố cùng nhau làm một điều

này: tìm và nhận ra những con người Bình Dương của thời ấy..., hôm nay còn

sống và đang chen chúc giữa đời thường. Mới thấy, chẳng dễ gì…” [61;716].

Những con người ấy, từng là những người anh hùng chiến đấu hết mình vì

Bình Dương, nay “trong số tám hay chín người phụ nữ lam lũ đang bận bịu

nhanh nhẹn rối rít chọn, xếp, đếm từng giỏ trứng vịt nặng trĩu, mặc cả, cãi vả,

cười nói, giành giật, la hét kia..., có một cô gái anh hùng của Bình Dương

đấy” [61;716]. Anh Hai Toán vẫn gắn bó với mảnh đất quê hương mình: “Đất

67

quê mình nghèo nhưng gắn bó. Những gì sâu sắc máu thịt nhất trong cuộc đời

đều là ở đây...” [61;720]. Người anh hùng ấy vẫn một cuộc sống bình dị và

lặng lẽ trong cuộc sống đời thường ngày hôm nay. Là cuộc sống lặng lẽ và

chấp nhận mất mát của chị Hoa – người chuyên trách công tác mua thuốc tây

trong kháng chiến. Trong những ngày vận chuyển thuốc tây cho cách mạng,

chị bị bắt, bị đánh đập, bị tra tấn đến điên mất mấy tháng “Em điên mất ba

tháng. Mặt méo xệch đi. Tóc rụng sạch. Mặt sưng vù. Miệng vêu lên. Răng

rụng. Các chân răng tứa máu. Máu ra ở mũi, ở miệng suốt ngày. Lưỡi rộp

lên, húp cháo cũng rát buốt, không chịu nổi” [61;787]. Chính những di chứng

ấy đã làm chị không thể thực hiện được thiên chức làm mẹ, làm vợ. Trong

cuộc sống đời thường ngày hôm nay chị cũng không nhận được một chút trợ

cấp gì từ các cơ quan làm chính sách, bởi theo như kết luận của họ thì công

tác mua thuốc tây trong kháng chiến của chị là “không có chức danh” nên

cũng không có căn cứ gì để trợ cấp cho chị.

Đó còn là sự kiên cường, vượt qua số phận của anh hùng Dương Xang

(Cát cháy). Bước ra khỏi cuộc chiến, anh thật sự gặp nhiều khó khăn từ cuộc

sống mưu sinh. Con trai anh bị bệnh hiểm nghèo, tuy không đủ khả năng chữa

bệnh cho con nhưng anh chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ cuộc, hay gục ngã

mà đầu hàng số phận. Vì thế khi nhận được sự trợ cấp từ các cơ quan làm

chính sách, số tiền dù ít ỏi là chỉ hai trăn ngàn thôi nhưng điều đó cũng làm

anh rất vui và cảm thấy ấm lòng.

Trong Có một con đường mòn trên biển Đông là cuộc sống bình dị,

lặng lẽ của anh Tư Thắng – sáu Thùy, anh Ba Thắng. Họ vẫn sống hết sức tằn

tiện bằng đồng lương hưu ít ỏi, nơi ở chật hẹp ở khu tập thể chưa đầy đủ cho

cuộc sống hiện tại. Là cuộc sống đời thường, đậm chất nông dân của anh

hùng quân đội Đặng Văn Thanh. Hòa bình rồi anh không về quê mà ở lại Hải

Phòng – nơi “có một mối tình sâu đậm nào đó đã giữ chân người lính bôn ba

68

lại nơi cái làng quê hẻo lánh này” [61;870]. Nhà vợ chồng anh Đặng Văn

Thanh nằm ở ven sườn đồi. Những cụm đồi nối nhau thoai thoải, cao dần về

hướng đông bắc, trên đồi là nhà, có vườn, dưới chân là ruộng, có vườn, có ao

nuôi cá. Trong chiến tranh, anh đã kiên cường, dũng cảm chống lại kẻ thù, thì

nay trong cuộc sống đời thường cuộc sống của anh cũng hết sức thầm lặng và

giản dị. Là cuộc sống của người ngư dân người anh hùng Huỳnh Ba ngày đêm

bám biển. Người ngư dân ở làng chày Nam Ô giờ tóc đã muối tiêu, chân mày

đã có sợi bạc. Trở về cuộc sống đời thường anh cũng rất bận bịu với cuộc

sống mưu sinh của gia đình với trăm công ngàn việc linh tinh của cuộc sống

hàng ngày. Người anh hùng lặn lội khắp miền Nam năm xưa để liên lạc với

những người ở bên sông Ray, để mở thêm bến đón vũ khí cho miền Nam là

Đồng chí Dương Quang Đông giờ sinh hoạt ở trụ sở câu lạc bộ hưu trí thành

phố Hồ Chí Minh, số nhà 41, Nguyễn Đình Chiểu, quận I. Người chiến sĩ năm

nào từng bôn ba khắp Đông Nam Á để vận chuyển vũ khí về, rồi vượt vòng

vây của địch để tìm ra cửa sông Ray làm bến giao nhận vũ khí, giờ con người

lịch sử ấy đã là một cụ già và chính cụ già ấy sẽ là một pho sử sống về con

đường mòn trên biển Đông. Đó còn là sự kiên cường, hy sinh thầm lặng của

Má Mười Rìu, người má anh hùng đã vay mượn đủ mọi thứ chuẩn bị cho

chiếc thuyền đầu tiên vượt biển ra Bắc ở cửa sông Ray – Vũng Tàu giờ cũng

đã hơn lục tuần. Má Mười giờ đang bận bịu với đủ các công việc cho cuộc

sống mưu sinh của mình và còn để trả nợ, trả nợ dùm cách mạng. Cuộc sống

của má giờ là bán cái quán với đủ thứ trên đời ở ven làng chài này. Hy sinh

cho cách mạng nhiều là thế nhưng khi được hỏi đã có ai đền ơn hay trả số nợ

năm xưa mà má đã vay chưa thì má trả lời “Thế xương máu anh em hy sinh, ai

trả?” [61;860]. Cuộc sống hiện tại vẫn còn khó khăn nhưng má vẫn kiên

cường sống. Để làm được điều đó đòi hỏi ở má một nghị lực phi thường. Một

tấm lòng cao đẹp của người má anh hùng bừng sáng hơn trong tính cách lẫn

sự hy sinh lợi ích của riêng mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Con trai

69

má Mười Rìu, anh Lê Hà đã tham gia nhiều chuyến vận chuyển vũ khí từ Bắc

vào Nam. Chuyến cuối cùng anh bị địch bắt trên vịnh Thái Lan, ở tù ra hầu

như anh bị mất sạch quân tịch, đảng tịch. Dù đã nhiều lần đến gõ cửa các cơ

quan chức năng nhờ giúp đỡ, nhưng vẫn chưa có câu trả lời. Cuộc sống hiện

tại quá bận rộn, người ta không có thời gian để giúp đỡ những người đồng đội

năm xưa tìm lại sự trong sạch cho mình.

Tất cả những người anh hùng năm xưa họ đã thực sự trở về với cuộc

sống đời thường, với những lo toan của cuộc sống mưu sinh. Có người đã trở

thành người nông dân như chị Huyền (Cát cháy), anh hùng Đặng Văn Thanh

(Có một con đường mòn trên biển Đông), thành ngư dân thực thụ như

Huỳnh Ba (Có một con đường mòn trên biển Đông), có người vất vả với

chuyện mua bán hàng ngày như má Mười Rìu (Có một con đường mòn trên

biển Đông), chị Cúc (Cát cháy), Thào Mỹ (Trở lại Mèo Vạc). Tất cả họ đều

đã hòa mình vào cuộc sống mới, họ đã hoàn toàn sống cuộc đời của một

người lao động. Dù cuộc sống hiện tại còn nhiều vất vả, thiếu thốn nhưng

những người anh hùng năm nào vẫn luôn kiên cường vượt qua những khắc

nghiệt của cuộc sống, vững tin vào tương lai.

2.3. Thái độ, tình cảm của nhà văn đối với người anh hùng

2.3.1. Ca ngợi và trân trọng những phẩm chất cao đẹp của người anh hùng

Tình cảm và thái độ của nhà văn Nguyên Ngọc dành cho người anh hùng

trong các tác phẩm của mình trước sau vẫn như một. Ông luôn hết lòng trân

trọng và ngợi ca những phẩm chất cao đẹp của những người anh hùng trong

thời chiến cũng như trong thời bình. Đó chính là sự kiên cường và đức hy sinh

cao đẹp của họ.

Sự kiên cường đã giúp họ vượt qua chiến tranh ác liệt, giờ đây giúp họ

trụ vững trong đời sống kinh tế thị trường. Chị Cúc (Cát cháy) đã từng chiến

70

đấu kiên cường trong chiến tranh, giờ trong đời sống hiện tại chị lại là người

đi đầu trong kinh tế, chăm lo làm kinh tế, nuôi dạy các con nên người. Chị

Huyền, chị Nga, những người nữ du kích anh hùng năm xưa trở về với cuộc

sống đời thường vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng họ vẫn kiên cường

sống và tiếp tục làm đẹp thêm cho cuộc đời.

Bước ra từ cuộc chiến tranh, với sự kiên cường của người chiến sĩ, anh

hùng Đặng Văn Thanh đã vượt lên những khó khăn của đời sống hiện tại để

làm kinh tế gia đình (Có một con đường mòn trên biển Đông). Đó là má

Mười Rìu (Có một con đường mòn trên biển Đông), đã hy sinh của cải cho

cách mạng, vẫn lặng lẽ mưu sinh chứ không trông chờ vào sự trợ cấp hay đền

bù của xã hội. Những người anh hùng ấy đã hy sinh tuổi xuân, sức lực và của

cải cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Ngày nay, trước sự thờ ơ của người

đời với những thiệt thòi và khổ đau của mình, họ lại tiếp tục chịu đựng, hy

sinh lợi ích bản thân mình vì người khác mà không một lời oán than.

Họ đã hy sinh tuổi xuân, tính mạng của mình vì sự nghiệp giải phóng đất

nước. Đó là anh hùng Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Phan Vinh (Có một con

đường mòn trên biển Đông), những người anh hùng đã khuất, một phần

xương thịt của họ đã nằm lại đâu đó dưới lòng đại dương bao la, tên tuổi của

họ bị lãng quên trong trí nhớ của con người.

Và trên hết, sau những cống hiến của mình trong thời chiến, họ lại trở về

với nếp sống bình dị như vốn có của mình. Những người lính anh dũng năm

nào giờ trở thành những người nông dân, những người thuyền chài, những

người buôn bán nhỏ,v.v. và sống những tháng ngày bình dị. Nếu chưa từng

biết qua quá khứ hào hùng của họ, có lẽ, ít ai ngờ rằng họ đã từng một thời

sống hết mình, chiến đấu can trường như thế. Viết về họ, là cách để nhà văn

ngợi ca và trân trọng những hy sinh của họ cho lợi ích chung của Tổ Quốc

ngày hôm nay.

71

2.3.2. Trăn trở trước số phận không may của người anh hùng và sự thờ ơ

của người đời đối với họ

Ông trăn trở trước những khó khăn và bất hạnh của người anh hùng

trong cuộc sống thường nhật. Với những cống hiến và hy sinh của mình, họ

hoàn toàn xứng đáng có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Thế mà, như một sự trớ

trêu của số phận, họ luôn thiếu thốn, kham khổ về vật chất. Đau đớn, xót xa,

âm thầm về tinh thần.

Y Yơn (Người hát rong giữa rừng), người anh hùng sống hết mình vì

người khác, không nghĩ cho lợi ích cá nhân. Cuộc sống của người anh hùng Y

Yơn sau bao nhiêu năm đất nước đã đổi mới cũng không có gì thay đổi, vẫn

“một túp lều..., đúng bằng cái lều chăn vịt ta vẫn gặp trên các cánh đồng lênh

láng dưới xuôi, cuối những vụ gặt” [61;540]. Đồ đạc trong căn lều ấy cũng

chẳng có gì xứng đáng ngoài giải thưởng âm nhạc mà Y Yơn nhận được.

Cũng như những chiến sĩ khác, người anh hùng Dương Xang (Cát cháy)

bước ra từ cuộc chiến đấu và trở về với cuộc sống đời thường với hai bàn tay

trắng. Cuộc sống hiện tại của người anh hùng này cũng rất chật vật, khó khăn.

Khó khăn đến nỗi đứa con trai của anh mắc bệnh hiểm nghèo cũng không có

tiền chạy chữa. Anh tìm đến các cơ quan chính sách để xin trợ cấp thì nhận

được hai trăm ngàn. Món tiền ít ỏi ấy dù chẳng thấm vào so đâu với chi phí

điều trị bệnh tật của con anh, nhưng làm anh mừng đến "sáng ra cả mắt". Vì

ở đây chưa ai được trợ cấp số tiền lớn đến thế. Nhưng cũng đâu phải nhận

được ngay mà phải đi lại nhiều lần và chờ đợi. Vết thương cũ để lại từ trong

chiến tranh do bị tra tấn, làm chị Hoa không thể thực hiện được thiên chức

làm mẹ, nhưng khi đi khám để xác định thương tật thì các cơ quan làm chính

sách bảo rằng “không có chức danh chuyên đi mua thuốc tây”. Những người

nữ anh hùng (Cát cháy) trong những trận chiến anh dũng năm xưa, giờ trở về

cuộc sống đời thường, đời sống của họ rất khó khăn và chật vật, họ bị những

72

người từng là đồng đội năm xưa lãng quên và thờ ơ trước những số phận

không may của của mình “...Tất cả họ, không trừ một ai, đều long đong. Có

gần đến một nửa không có chồng. Chiến tranh đi qua, và bỏ quên họ. Cuộc

sống mới đi tới, và bỏ quên họ. Họ bị quá lứa” [61;718]. Bị thương tật là vậy,

nhưng khi đi khám để xác định thương tật thì các cơ quan có thẩm quyền lại

nói “không có vết thương thực thể”. Do đó, cũng không có cái căn cứ gì để trợ

cấp cho họ.

Mặc dù, cuộc sống hiện tại của những người anh hùng còn nhiều khó

khăn, chịu nhiều bất công, bất hạnh, thậm chí bị xã hội bỏ rơi, bị lãng quên.

Nhưng với nghị lực kiên cường của người anh hùng, họ vẫn sống cuộc đời rất

nhẹ nhàng dù bản thân còn gặp nhiều bất hạnh, đau khổ. Đó chính là một nghị

lực phi thường, một sự kiên cường đặc biệt mà không phải ai cũng có được.

Và Nguyên Ngọc càng thêm đau lòng khi nhận ra rằng, một trong những

nguyên nhân của hoàn cảnh khó khăn ấy của người anh hùng là sự thờ ơ của

người đời. Người anh hùng đã hy sinh rất nhiều cho mọi người có cuộc sống

thanh bình, thế nhưng khi họ gặp khó khăn hoặc cần giúp đỡ thì đáp lại họ chỉ

có sự thờ ơ và hờ hững.

Qua những điều trăn trở trên, những sự việc trên, ông muốn lên tiếng

cảnh tỉnh mọi người đừng quay lưng lại với những người anh hùng, đừng thờ

ơ với những khó khăn, bất hạnh trong cuộc sống còn quá nhiều thiếu thốn của

họ, đồng thời là thông điệp gửi đến những cơ quan làm chính sách nên có sự

hỗ trợ kịp thời và xứng đáng cho những cống hiến của họ trong quá khứ.

Người Việt Nam ngoài đạo lý “uống nước nhớ nguồn” còn có tinh thần

“tương thân tương ái”, việc quan tâm và giúp đỡ những người anh hùng là

một việc làm hợp tình hợp nghĩa. Trịnh Công Sơn đã từng viết “Sống trong

đời sống cần có một tấm lòng…”, và tấm lòng ấy cần mở ra để sống tri ân,

yêu thương và giúp đỡ mọi người, đừng để sự xô bồ của cuộc sống mưu sinh

73

cuốn đi mất trong ta những xúc cảm chân thành và tốt đẹp ấy.

2.3.3. Ân hận và áy náy trước số phận người anh hùng trong hiện tại

Với những gì đã cống hiến cho đất nước, những người anh hùng hoàn

toàn xứng đáng được đền đáp, nhưng thực tế lại không phải như vậy. Đời

sống của họ hiện tại vẫn còn rất chật vật, túng thiếu. Viết về họ, để ngợi ca,

trân trọng nhưng đồng thời nhà văn luôn cảm thấy ân hận và áy náy vì ông

vẫn chưa làm được gì cho họ trong hiện tại.

Tác giả là người từng tham gia chiến đấu trong trận diệt phỉ ở cao

nguyên đá Đồng Văn (Trở lại Mèo Vạc) cùng với những người anh hùng năm

xưa là Thào Mỹ và Sùng Chóa Vàng. Hòa bình, trở về với cuộc sống đời

thường, tác giả bị cuốn vào nhịp sống với hàng núi công việc có tên và không

tên, tuy “lòng vẫn day dứt một nỗi nhớ và ước ao được thăm lại chốn xưa, mà

chẳng dễ gì” [61;413]. Tác giả bận rộn với bao nhiêu là công việc “hữu tích

sự và vô tích sự”, với những vướng bận gia đình, vướng bận những công việc

bình thường nhiêu khê nên chưa thể trở về thăm lại và đền đáp với những

người đã hết lòng vì mình trong quá khứ. Tác giả xót xa trước cuộc sống vật

chất và đời sống tinh thần của người dân nơi đây đã thật sự xuống thấp, thiếu

thốn và kham khổ, đặc biệt là đời sống của những người anh hùng. Ông băn

khoăn, ray rứt vì mình chưa làm gì được cho họ. Chính vì bận rộn với những

công việc, có lúc tác giả cũng thừa nhận rằng mình đã quên mất Mèo Vạc,

quên đi những người anh hùng năm xưa hơn ba mươi năm nếu không nhờ nhà

văn Tô Hoài nhắc nhở: “- A lô, Tô Hoài đây....Này, mình đang viết cái hồi ký,

vui lắm ...Được ba tập rồi. Tập bốn sẽ có chuyện ông với bà Thào Mỹ đấy...”

[61;415]. Đã ba mươi năm ông chưa trở lại nơi đây, tìm lại những người anh

hùng cùng chiến đấu năm nào để giúp đỡ họ. Ba mươi năm – một khoảng thời

gian xấp xỉ nửa đời người, khoảng thời gian ấy người ta có thể làm được

nhiều việc. Tuy nhiên cuộc sống của người anh hùng ở nơi đây đã 30 năm

74

phải sống trong những thiếu thốn, chật vật và sự lãng quên của người đời

cũng như của chính những người đồng đội năm nào. Ông chợt nhận ra và

“...sực tỉnh, nghe đâu đó trong tận sâu của chính mình, tê tái buồn và nhớ”

[61;431]. Buồn và giận chính mình vì sự vô tâm, vì bận rộn công việc nên đã

quên đi những lời hứa của mình với Đồng Văn – Mèo Vạc, với những người

anh hùng kiên cường hy sinh nhưng cũng hết sức lãng mạn, lãng mạn trong

tình yêu “Ừ, phải viết chứ, Xuân Thiều đã hứa hộ tôi trước bàn dân thiên hạ

rồi...Và tôi cũng tự hứa với mình, với Mèo Vạc – Đồng Văn, với Lũng Phìn,

Mậu Duệ, Yên Minh, Cổng trời...Chỉ nóng lòng về đến nhà là ngồi vào bàn và

cầm bút” [61;414]. Ông nhớ những người anh hùng năm nào và cảm thấy bất

lực vì mình vẫn chưa giúp được gì cho họ trong đời sống hiện tại “…xao

xuyến gặp lại đất cũ người xưa; người xưa chẳng còn mấy, trải sóng gió

thăng trầm,…đều đã già đi, tàn tạ như chính mình; và lại trằn trọc thêm

những lo âu mới mà biết chắc rằng…mình chẳng còn góp phần tháo gỡ được

chút gì.” [61;414]. Là thái độ đồng cảm, chia sẻ, lo lắng cho cuộc sống của họ

với tư cách là người trong cuộc: “- Chẳng lẽ trở lại trồng cây thuốc phiện sao

anh? Thì chính anh đã viết “Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng”. Chính anh

phải trả lời đi chứ?” [61;442].

Ý thức được sự trở về với những người quen xưa quá đỗi muộn màng

của mình, nhân vật tôi (Tháng Ninh Nông) thường tự độc thoại với chính

lương tâm của mình, đối diện với con người của mình để “tự thú” về sự hờ

hững, vô tâm của mình: “Tôi biết người Tơ Trá rồi, tôi không chờ anh chủ

nhà niềm nở vồ vập. Thậm chí tôi sẵn sàng chờ anh chửi cho một trận nữa:

Mày còn vác mặt lên đây làm gì! Bây giờ chúng mày ở thành phố nhà to cửa

lớn ô tô nhà lầu, chúng mày còn nhớ gì tới chúng tao nữa đâu. Chúng mày

quên hết đồng bào rồi...” [61;470]. Có lúc, nhân vật tôi như tự biện hộ cho sự

vô tâm của mình “tôi cũng chưa đến nỗi hư đốn quá đâu, cứ mỗi bước một ô

75

tô...” [61;475] nhưng nhân vật tôi cũng tự biết rằng những lý lẽ ấy chỉ là sự cố

gắng để xoa dịu bớt sự áy náy, dằn vặt trong lòng mình. Nhưng càng nghĩ

nhân vật tôi càng thấy day dứt, trăn trở nhiều hơn “Thôi, tôi quay về đây, với

thành phố, với trăm sự eo xèo nhiễu nhương, hữu tích sự và vô tích sự của

cuộc đời” [61;475].

Nguyên Ngọc là một nhà văn luôn trung thành với đề tài chiến tranh

cách mạng, đặc biệt là viết văn với cảm hứng anh hùng. Và đây chính là cảm

hứng chủ đạo trong toàn bộ sáng tác của ông. Tuy nhiên, nhân vật anh hùng ở

giai đoạn sau năm 1975 là những nhân vật có đời sống và lí lịch riêng, được

ông soi rọi, khắc họa ở nhiều chiều hơn. Vẫn là ngợi ca nhưng đi liền với sự

ngợi ca những hình ảnh cao đẹp, những tính cách kiên cường, anh dũng, hy

sinh của người anh hùng trong quá khứ là sự cảm thông, chia sẻ với cuộc sống

đời thường còn chật vật, thiếu thốn và bất hạnh của người anh hùng trong hiện

tại. Viết về họ, Nguyên Ngọc luôn cảm thấy ray rứt, trăn trở, xót xa trước

những số phận không may của người anh hùng, trước sự thờ ơ, vô tâm của xã

hội và những người làm chính sách cho người có công. Đồng thời, ông cũng

luôn cảm thấy ân hận và áy náy vì vẫn chưa giúp gì được cho họ. Với ông,

người anh hùng phải được đền đáp xứng đáng với những gì mà họ đã hiến

dâng cho Tổ quốc. Chính nhờ tiếng nói của ông mà người đọc và thế hệ hôm

nay thức tỉnh mình mà có những hành động đền đáp xứng đáng với họ. Viết

về họ, ngoài trách nhiệm của người cầm bút, còn là sự đồng cảm của những

người trong cuộc, vì họ mà lên tiếng.

76

Chương 3

BÚT PHÁP THỂ HIỆN CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG

TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT NGUYÊN NGỌC SAU 1975

Nguyên Ngọc được biết đến là một nhà văn có phong cách nghệ thuật

liền mạch, nhất quán với cảm hứng anh hùng. Để khẳng định sự nhất quán

trong phong cách của nhà văn thì phải tìm hiểu cả nội dung lẫn bút pháp thể

hiện. Trong chương ba, chúng tôi chủ yếu khai thác cách tiếp cận người anh

hùng gián cách mang đầy hoài niệm được thể hiện qua không gian thời gian

nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật cũng như nghệ thuật miêu tả trong văn xuôi

Nguyên Ngọc sau 1975.

3.1. Cách tiếp cận gián cách mang đầy hoài niệm

Trong các sáng tác sau 1975, Nguyên Ngọc chủ yếu tiếp cận nhân vật

anh hùng bằng những hoài niệm, gián cách với hình ảnh người anh hùng được

xây dựng lại. Do đó, khi tìm hiểu về bút pháp nghệ thuật của Nguyên Ngọc ở

giai đoạn sau năm 1975, người viết tìm hiểu về không gian thời gian gián

cách trong tác phẩm của ông. Điều này, góp phần thấy rõ cách nhìn nhiều

chiều về người anh hùng ở giai đoạn sau năm 1975.

3.1.1. Không gian thời gian tâm tưởng

Không gian thời gian tâm tưởng trong tác phẩm văn học là không gian

thời gian được xây dựng với những vật liệu từ kí ức bằng những kỷ niệm,

những hoài niệm về quá khứ. Trong tác phẩm của Nguyên Ngọc sau năm

1975, không gian thời gian tâm tưởng là sự hoài niệm về những kí ức hào

hùng, anh dũng trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.

Trong Trở lại Mèo Vạc, tác giả nhiều lần đưa người đọc trở về với quá

khứ, với những kỷ niệm khi tác giả tham gia diệt phỉ năm xưa cùng Thào Mỹ

77

và Sùng Chóa Vàng ở Đồng Văn - Mèo Vạc. Những ngày tháng ấy là những

ngày đẹp nhất, lãng mạn nhất, cho nên “cả những hiểm nguy của cuộc chiến

đấu đang chờ phía trước, đều chẳng nghĩa lý gì so với cảnh đẹp đến nghẹt thở

nơi đất trời núi non biên giới” [61;417].

Trong Tháng Ninh Nông, là những tháng ngày nhân vật tôi phải vật lộn

với cái chết và sự sống, nhờ sự cưu mang và chăm sóc của đồng bào nên “tôi”

đã vượt qua được hiểm nguy “...Ngày nay nhớ lại, tất cả đều như trong một

giấc mơ”, “Không, có thật mà, cô gái ấy, tôi đoan đấy. Bởi vì chính cô mớm

cho tôi chút nước bắp nhai nhỏ đầu tiên” [61;465]. Suốt câu chuyện là lời kể

của nhân vật tôi về những kỷ niệm chiến đấu. Nhân vật tôi đã được đồng bào

cưu mang và cứu sống, những hành động đẹp và những ân tình sâu nặng ấy

nhân vật tôi vẫn luôn canh cánh bên lòng, mong có một ngày trở về và đền

đáp những ân tình của người cũ.

Trong Người hát rong giữa rừng, là những kỷ niệm chiến đấu của “tôi”

với người nghệ sĩ của núi rừng – Y Yơn. Những ngày khói lửa chiến tranh họ

cùng cất cao giọng hát để cổ vũ tinh thần chiến đấu của đồng bào, đồng chí:

“...ngày ấy chúng tôi là một gánh hát rong, lang thang trên rừng núi Tây

Nguyên, và giữa chiến tranh” [61;543]. Trong sự hồi tưởng của nhân vật tôi,

Y Yơn là một nghệ sĩ tài hoa, yêu tự do, yêu quê hương và đồng bào của

mình. Cũng chính vì những yếu tố đó mà chàng nghệ sĩ tài hoa – Y Yơn đã

lang thang khắp núi rừng chỉ để làm một việc. Đó là hát. Cất cao tiếng hát để

quên đi những đau thương mất mát của chiến tranh mà cổ vũ tinh thần cho

đồng đội ngày đêm chiến đấu.

Trong Cát cháy, là sự hồi tưởng lại những ngày Bình Dương (Quảng

Nam) còn chìm trong khói lửa chiến tranh “Ngày ấy, trên đất Quảng Nam,

địch cày ủi điên cuồng. Bị vây đánh liên miên, cùng quẫn trên cả một vùng

đất không chỉ mỗi con người mà đến cả mỗi mô đất, mỗi ngọn cỏ, gốc cây

78

...cũng có thể tung cái chết vào mặt kẻ thù”[61;711]. Và những người anh

hùng quyết giành từng mảnh đất, từng người dân với địch “...Không ai còn có

thể tin và hiểu tại sao hồi đó những con người Bình Dương lại đứng ra gánh

vác những trách nhiệm ghê gớm như vây, và gánh được, tồn tại được, cho

mình, tất nhiên rồi, nhưng cũng là cho cả huyện, cả tỉnh, cả miền Nam, cả

nước” [61;722]. Từng câu chuyện, được chính những nhân chứng sống từng

tham gia chiến đấu kể lại. Và suốt trong dòng hồi tưởng ấy, những người anh

hùng được sống trở lại với quá khứ hào hùng, anh dũng rất đỗi cao đẹp của

họ.

Với bút ký Có một con đường mòn trên biển Đông, là sự hồi tưởng của

chính những người anh hùng tham gia trong chuyến vận chuyển vũ khí từ Bắc

vào Nam. Trong dòng hồi tưởng ấy, tác giả được nghe và được gặp gỡ những

nhân chứng sống của lịch sử, những hải trình dài trên biển phải đối mặt với sự

khắc nghiệt của thiên nhiên cùng những hiểm nguy từ sự tấn công của kẻ thù.

Những trận đối đấu trực tiếp với địch ở bãi Vũng Rô, bãi ngang – khu V, cửa

sông Ray – Vũng Tàu, trên hải phận quốc tế...đều cho thấy sự kiên cường,

dũng cảm đầy mưu trí trong chiến đấu và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ bí mật về

con đường biển Đông của những thủy thủ tàu.

Bằng việc xây dựng không gian thời gian tâm tưởng trong các tác phẩm

của mình, tác giả giúp người đọc có cái nhìn đa chiều và bao quát về sự thay

đổi của cuộc sống, của số phận nhân vật cũng như thấu hiểu hơn những xúc

cảm đan xen phức tạp diễn ra trong tâm hồn nhân vật.

Trước năm 1975, Nguyên Ngọc thường xây dựng nhân vật trong không

gian và thời gian thực tuyến tính. Nhiệm vụ của văn học cách mạng là phản

ánh hiện thực cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc với những người anh

hùng được xây dựng dựa trên nhân vật có thật. Tất cả những tính cách của

người anh hùng được quy tụ vào một điểm sáng là ca ngợi cái oai hùng nhất,

79

bi tráng nhất, gạt bỏ đi những yếu tố của đời thường. Do đó, nhân vật được

phản ánh trong tác phẩm của Nguyên Ngọc trước năm 1975 là người anh

hùng được xây dựng dựa trên nguyên mẫu thực tế như anh hùng Núp (Đất

nước đứng lên), anh hùng Tnú (Rừng xà nu) với không gian tập thể, không

gian rộng lớn, hoành tráng mang đậm tính sử thi.

Sau năm 1975, Nguyên Ngọc vẫn nhất quán với phong cách sáng tác của

mình là viết với cảm hứng anh hùng. Ông càng trăn trở về người anh hùng

bước ra khỏi quá khứ với những tâm thế khác nhau và luôn hướng về tương

lai với một cái nhìn lạc quan, tin tưởng. Đó là người anh hùng sống một cuộc

đời thầm lặng với những lo toan đời thường. Quá khứ hào hùng tuy vẫn là

những kỷ niệm đẹp nhưng họ biết rằng, giờ đây, họ phải thích nghi với cuộc

sống xô bồ, đầy khắc nghiệt.

3.1.2. Nghệ thuật trần thuật

3.1.2.1. Điểm nhìn trần thuật

Điểm nhìn trần thuật là vị trí mà người kể chuyện lựa chọn để quan sát,

thâu tóm hiện thực phản ánh trong tác phẩm, luôn gắn liền với nhân vật trần

thuật. Trong Trở lại Mèo Vạc, điểm nhìn trần thuật mà tác giả chọn lựa là ở

ngôi thứ nhất, nhân vật xưng tôi kể về một cuộc hành trình sau ba mươi năm

trở lại chiến trường xưa để gặp lại những người đồng đội cũ. Trong câu

chuyện này, nhân vật tôi hồi tưởng lại những kỉ niệm xưa đồng thời là người

kể ở ngôi thứ nhất, là người trong cuộc do đó lời kể mang tính chân thật cao.

Mở đầu câu chuyện là lời của nhân vật tôi “Tôi trở lại Đồng Văn – Mèo Vạc

những ngày cuối tháng tư 91” [61;413]. Tác giả kể lại bằng dòng hồi tưởng

của mình về những ngày tham gia diệt phỉ cùng những kỉ niệm về những

người H’mông can đảm, dũng cảm và kiên cường trong chiến đấu như Thào

Mỹ, như Sùng Chóa Vàng. Sau ba mươi năm nhân vật tôi trở lại thì cuộc sống

nơi đây đã khác nhiều, từ phiên chợ vùng cao “cũng đã bắt mùi kinh tế thị

80

trường của đổi mới” [61;424] đến đời sống con người nơi đây đã thực sự

xuống thấp khi mà những phiên chợ “không còn những chõ xôi vàng rực, chỉ

nhìn đủ thèm…Không còn những chú lợn béo ụ được dòng dây vào cổ, người

bán và người mua thách và mặc cả ầm ĩ…Vắng hẳn những chiếc váy H’mông

xúng xính rung rinh. Ngay đến hàng thắng cố truyền thống cũng lơ thơ”

[61;439]. Từng câu chuyện như là từng kỉ niệm của nhân vật tôi về nơi này

được nhìn qua lăng kính chủ quan, do đó, nó mang tính khách quan, chân thật

hơn. Thào Mỹ - cô gái H’mông có đôi mắt xanh nâu đẹp năm nào từng ngồi

ghế hội thẩm nhân dân, bây giờ ngồi hàng nước chợ Mèo Vạc. Sùng Chóa

Vàng từng là một tay súng thiện xạ, bây giờ đang sống trong: “một túp lều

tranh xơ xác. …. quấn tấm chăn rách tả tơi nằm ngủ ngay bên bờ rào. Cúi

xuống, kéo chăn, thấy ló ra một cái đầu trọc lóc: Sùng Chóa

Vàng!...”[61;441]. Trong bút kí này, điểm nhìn trần thuật lần lượt được tác giả

trao cho từng nhân vật, đầu tiên là những suy nghĩ của nhân vật tôi về câu

chuyện tiễu phỉ năm xưa cùng người anh hùng Thào Mỹ. Qua câu chuyện là

những trăn trở riêng của Thào Mỹ về cuộc chiến chống đói nghèo, chống việc

trồng cây thuốc phiện ở vùng núi cao nguyên này.

Tháng Ninh Nông là câu chuyện kể về một kỉ niệm đẹp đầy ân tình của

nhân vật tôi trong kháng chiến. Ở truyện ngắn này, tác giả cũng chọn cách

trần thuật ở ngôi thứ nhất, xưng tôi. Câu chuyện diễn biến theo dòng hồi

tưởng của nhân vật tôi. Mở đầu bằng “Tôi đã làm một chuyện dại dột: tôi đi

Mường Hon đúng giữa mùa mưa…Nhưng…Bạn đã nghe nói đến Mường Hon

bao giờ chưa?” [61;464]. Nhân vật tôi kể lại chuyện mình đã từng được một

cô gái người Tơ Trá cứu sống trong một trận sốt rét rừng. Khi ấy, trong trạng

thái nửa tỉnh nửa mê, nhân vật tôi đã cảm nhận được sự chăm sóc đầy thương

yêu của người con gái Tơ Trá “Cô gái đã nhai nhão những hạt bắp khô và

mớm cho tôi. Tôi hớp từng tí một và nghe rõ lắm cái vị đắng đậm đà của bắp

81

già hong lửa lẫn vị nước miếng mặn ấm và vị mát ngọt của đôi môi cô gái…”

[61;466]. Vị ngọt đôi môi thiếu nữ mớm nước bắp nhai nhão đã cứu nhân vật

tôi khi ở giữa lằn ranh sống chết luôn in đậm trong tâm tưởng của nhân vật

tôi. Nhưng khi nhân vật tôi trở lại thì người thiếu nữ năm xưa đã là vợ của

một người khác vì tưởng lầm rằng đó chính là người cô đã cứu sống. Nhận ra

điều đó, nhân vật tôi đã vội vã ra đi trong cơn mưa gió như một thằng điên,

như một trốn chạy người thiếu nữ kia để tránh sự phiền phức cho cuộc sống

hiện tại và cũng là giữ cho mình hình ảnh những hoài niệm đẹp đẽ và lý tưởng

về người con gái anh hùng trong suốt vô ngần.

Trong truyện ngắn Người hát rong giữa rừng, người kể chuyện ở vị trí

là người bạn thân lâu năm trở về tìm người cũ. Mở đầu tác phẩm là lời tác giả

cùng bạn trở về nơi xưa để “tìm Y Yơn”. Suốt câu chuyện là dòng hồi tưởng

của tác giả về người anh hùng của Tây Nguyên trong âm nhạc – Y Yơn. Ông

đã lang thang qua những khu rừng, qua những buôn làng, dạy cho mọi người

hát ca những bài ca – chủ yếu là tình ca – “tình yêu trai gái, yêu rừng, yêu con

suối đầu làng, yêu trái núi muôn đời cô quạnh, yêu con nai tơ ra ăn chồi

tranh buổi sớm mờ sương, yêu con chim k’tia chuyên ăn cắp lúa trên rẫy”

[61; 547]. Nhưng chính những bài hát ấy lại có sức mạnh thần kỳ thôi thúc

con người đứng lên chiến đấu giành lại tự do từ rừng núi và buôn làng.

Nguyên Ngọc đã suy ngẫm và nhận ra giá trị to lớn của nghệ thuật Y Yơn, đó

là nghệ thuật “không “kịp thời” kiểu thực dụng, không “chính trị” kiểu bây

giờ thường gọi là “minh họa” [61; 547].

Trong Cát cháy, người kể chuyện xưng tôi, nghe những người từng tham

gia cuộc chiến năm xưa thuật lại cuộc đấu tranh oanh liệt của những người

con anh hùng ở xã Bình Dương trong kháng chiến chống Mỹ. Mở đầu tác

phẩm, tác giả viết “Đây là câu chuyện về một vùng quê nghèo của tỉnh Quảng

Nam, một xã vào loại nghèo và khó khăn nhất của tỉnh, ngày nay vẫn rất khó

82

khăn, trong chiến tranh càng khó khăn hơn nhiều” [61;711]. Từng câu chuyện

được chính những người trong cuộc kể lại, những người anh hùng đã từng

tham gia chiến đấu trong những trận chiến năm nào, họ chính là những cuốn

sử sống của Bình Dương. Điểm nhìn trần thuật được dịch chuyển từ người

trần thuật sang nhân vật rồi cũng có khi trao điểm nhìn ấy cho nhiều nhân vật

như lời của anh Hai Toán, chị Huyền, chị Cúc…mỗi người cùng nói về những

suy nghĩ của mình về cuộc chiến tranh vừa qua. Hào hùng nhưng cũng đầy

mất mát và hy sinh, về chính mảnh đất mà mình đã từng gắn bó “Mình từ đây

mà ra đi. Đi ra thì có đi về…Đất quê mình nghèo nhưng gắn bó. Những gì

sâu sắc máu thịt nhất trong cuộc đời đều là ở đây” [61;720], về cuộc sống

hiện tại còn nhiều thiếu thốn và bất hạnh. Đó là sự luân phiên, phối hợp nhiều

điểm nhìn khác nhau trong cách trần thuật về một vấn đề về chiến tranh, về

cuộc sống hôm nay, tạo điều kiện thuận lợi cho tinh thần đối thoại nhằm tạo

tính dân chủ trong sáng tạo. Đồng thời, từ điểm nhìn của người kể được trao

cho các nhân vật, người đọc thấy được tính trung thực của lời kể tính chân

thực, xác thực về những người anh hùng.

Trong Có một con đường mòn trên biển Đông, tác giả chọn ngôi kể thứ

nhất, xưng tôi đi tìm hiểu về một huyền thoại một thời “Đây là câu chuyện về

một con đường. Chúng ta đang đi tìm một con đường” [61;832]. Câu chuyện

là lời kể của từng nhân vật gắn liền với những sự việc, sự tích có thật mà ở đó

mỗi nhân vật là một anh hùng, là người trong cuộc, là một pho sử sống về

cuộc chiến của ngày hôm qua được tái hiện lại bằng chính lời kể của họ. Mỗi

nhân vật là một cảm xúc, một hoàn cảnh, một số phận khác nhau. Nhưng tất

cả đều là những suy cảm chân thật về cuộc chiến tranh hào hùng nhưng cũng

vô cùng khắc nghiệt, đầy mất mát, đau thương trong quá khứ.

Tóm lại, điểm nhìn trần thuật Nguyên Ngọc chọn sử dụng trong các tác

phẩm sau 1975 của mình chủ yếu ở ngôi thứ nhất, người kể xưng tôi. Chọn

83

cách trần thuật ở ngôi thứ nhất, giúp tác giả có thể nói lên chính kiến của

mình, đồng thời thể hiện những cảm thông, chia sẻ cũng như những trăn trở,

xót xa của chính tác giả về cho cuộc sống hiện tại còn khó khăn, thiếu thốn

của người anh hùng. Điểm nhìn trần thuật cũng được tác giả lần lượt trao cho

các nhân vật trong tác phẩm, để họ nói lên suy nghĩ của mình về quá khứ anh

hùng cũng như hiện tại còn nhiều thiếu thốn, khó khăn trong cuộc sống. Điều

đó, giúp mang lại tính chân thực cho nội dung của tác phẩm. Với những thủ

pháp nghệ thuật như sự dịch chuyển điểm nhìn nghệ thuật; sự luân chuyển

điểm nhìn người trần thuật và nhân vật; gấp bội điểm nhìn người viết nhằm

tạo ra một hiệu quả nghệ thuật là tạo tinh thần dân chủ trong đối thoại và từ

đó giúp người đọc có cái nhìn trung thực hơn về cuộc sống hiện tại của những

người anh hùng.

3.1.2.2. Giọng điệu

Giọng điệu là một yếu tố quan trọng trong tác phẩm văn học, thể hiện

thái độ của nhà văn với hiện thực được mô tả trong tác phẩm. Giọng điệu là

yếu tố hàng đầu trong việc thể hiện phong cách nhà văn. Có thể nói, nó là

thước đo không thể thiếu để xác định tài năng nghệ thuật của một tác giả. Các

tác phẩm có giá trị đều phải có một giọng điệu riêng. Từ điển thuật ngữ văn

học chỉ ra rằng giọng điệu thể hiện “thái độ, tình cảm, lập trường, đạo đức

của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định

cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân

sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm,...” [27, 134]. Trong tác

phẩm văn học, không tồn tại một giọng duy nhất mà nó là sự hòa âm của

nhiều giọng điệu. Những giọng điệu này lại kết hợp với nhau để tạo nên một

giọng điệu bao trùm tác phẩm. Giọng điệu cũng liên kết với các yếu tố hình

thức khác của tác phẩm để góp phần hình thành nên một chỉnh thể nghệ thuật

trọn vẹn. Trong các sáng tác của mình trước 1975, người đọc đều bắt gặp ở

84

nhà văn Nguyên Ngọc là giọng điệu ngợi ca, trang trọng đầy hào sảng. Tuy nhiên, ở

những sáng tác sau 1975, vẫn là giọng điệu ngợi ca nhưng đi liền với nó là giọng

cảm thông, chia sẻ những mất mát và đau thương của người anh hùng cho cuộc

chiến. Đồng thời cũng qua giọng điệu, tác giả thể hiện những trăn trở, xót xa trước

những thiếu thốn về đời sống vật chất và tinh thần của người anh hùng trong hiện

tại.

Nguyên Ngọc được biết đến là một nhà văn có phong cách nhất quán bởi

cảm hứng lãng mạn anh hùng. Cũng là viết về người anh hùng nhưng ở những

tác phẩm ông viết sau 1975, người anh hùng được Nguyên Ngọc nhìn một

cách đa diện hơn. Một mặt, họ vẫn là những người anh hùng kiên cường dũng

cảm, hy sinh. Nhưng mặt khác, họ còn là những người anh hùng trong tình

yêu, trở về với cuộc sống đời thường bình dị và lặng lẽ ““...Những anh hùng

của anh xưa kia là những chiến sĩ gang thép, căm thù ngùn ngụt Giờ đây

cũng vẫn những người anh hùng kiên cường, sắt thép ấy, nhưng họ còn là

những con người của tình yêu, đẹp và anh hùng trong tình yêu” [55;335].

Bằng giọng văn đầy hoài niệm pha lẫn những ray rứt của người trong

cuộc, trong bút ký Trở lại Mèo Vạc, tác giả đã thể hiện những suy tư và trăn

trở của riêng mình về những thiếu thốn trong cuộc sống của những người anh

hùng mà tác giả đã từng gắn bó trong cuộc tiễu phỉ năm xưa ở Đồng Văn –

Mèo Vạc. Mở đầu bút kí, ông viết: “…Tôi lặn lội gần 200 cây số Hà Nội –

Tuyên Quang, rồi gần 400 cây số leo ngược mấy Cổng Trời, chính là để thầm

mong gặp lại đúng cái kỷ niệm thời xưa cũ long lanh ấy. Một miền đất có thể

nào lắng sâu mãi trong lòng mình dẫu đã xa cách nghìn dặm và hàng mấy

chục năm trường nếu ở đấy thiếu đi bóng dáng một người con gái không dễ

quên. Mà Thào Mỹ thì chẳng hề là một người con gái bình thường chút nào,

con người và số phận” [61;416]. Ngoài nỗi nhớ về những người anh hùng

năm nào đã cùng mình kề vai sát cánh tác chiến, về thiên nhiên hùng vĩ nơi

85

đây, tác giả còn khắc khoải và trăn trở về cuộc sống hiện tại của họ trong nhịp

sống hiện đại vốn xô bồ, phức tạp. Bởi, “cái thơ mộng lâu đời những vùng

rẻo cao cũng đã bắt mùi kinh tế thị trường của đổi mới rồi. Còn số phận

những con người ở đây, những Thào Mỹ, những Sùng Chóa Vàng, những

Lùng Sùng Páo…từng rất thân thiết một thời xưa của tôi trải cuộc dâu bể ba

mươi năm nay ra sao?”[61;424].

Khác hẳn với giọng trang trọng, hào hùng mang âm hưởng anh hùng ca

trong truyện ngắn Rừng xà nu, giọng điệu trong Tháng Ninh Nông mang

đầy suy tư, phảng phất hoài niệm về một thời đã xa và bây giờ chính nhân vật

tôi đang tìm về với những hoài niệm ấy, về với lý tưởng, với tiếng gọi của trái

tim, tiếng gọi của những ân tình “Đi Mường Hon giữa mùa mưa, ắt phải có

một tiếng gọi nào đó da diết, sâu thẳm lắm” [61;465]. “Có cô gái Tơ Trá nào,

không, người đàn bà Tơ Trá nào dưới kia ngước nhìn lên chiếc máy bay đang

bay thản nhiên bay qua kia, mà biết rằng trên đó có một người con trai một

phần tư thế kỉ trước mình dùng đôi môi trinh nữ mớm từng chút sữa ngô nghĩa

tình nuôi sống….mà vẫn không sao nguôi được nỗi canh cánh như một món duyên

nợ tiền kiếp…” “Tôi có một tiếng gọi như thế đấy ở Mường Hon. Cho nên tôi có

điên khùng liều lĩnh đi Mường Hon đúng giữa mùa mưa thì cũng đáng điên một lần

trong đời,…”[61;468].

Trong Người hát rong giữa rừng, là giọng văn đầy xót xa về cuộc sống hiện

tại của người anh hùng Y Yơn “Ôi Y Yơn của tôi. Lại vẫn thế sao anh? Vẫn Tây

Nguyên đến tận đáy tâm hồn. Vẫn nghệ sĩ lang bạt kỳ hồ đến tận máu thịt. Và vẫn

nghèo đến thế suốt đời, công danh chẳng thiết, tiền bạc chẳng xu dính túi, cuộc đời

như một cuộc phiêu lưu bất định,…”[61;540] Người nghệ sĩ Y Yơn dùng tài năng

âm nhạc của mình để cảm hóa, thức tỉnh những người còn lạc lối quay trở về với

quê hương nhưng cuộc sống đời thường của ông còn rất bấp bênh. Cuộc sống đã

thay đổi nhiều, con người phải lo toan cho cuộc sống của mình, người ta không thể

86

dành thời gian để quan tâm đến người khác, và chính nhân vật tôi cũng thừa nhận

rằng “…hai mươi năm hòa bình rồi, bây giờ tôi mới tìm đến thăm ông, tôi có lỗi

quá…” [61;549]. Thể hiện sự áy náy vì chưa làm gì được cho người nghệ sĩ này,

Nguyên Ngọc viết: “Tôi đã viết về mấy người anh hùng Tây Nguyên. Còn ông, ông

đâu phải là một “người anh hùng”….Còn ông, ông chẳng có danh hiệu gì cả”

[61;549].

Trong Cát cháy, giọng văn khâm phục sự kiên cường, vượt lên đau

thương một cách phi thường của con người đất Bình Dương “…Như một hiện

tượng vật lý đứng ngoài tất cả các quy luật vật lý. Một hiện tượng chiến tranh

bất chấp mọi quy luật chiến tranh” [61;715]. Giọng văn thể hiện sự đồng cảm

và chia sẻ với những mất mát và đau thương của cả một thế hệ anh hùng trong

thời chống Mỹ “…Đất quê mình nghèo nhưng gắn bó. Những gì sâu sắc máu

thịt nhất trong cuộc đời đều là ở đây” [61;720]. Cảm thông cho số phận của

những người nữ du kích anh hùng sau chiến tranh tác giả viết “…Tôi xin nói

trước với bạn nhé: trong số tám hay chín người phụ nữ lam lũ đang bận bịu

nhanh nhẹn rối rít chọn, xếp, đếm từng giỏ trứng vịt nặng trĩu, mặc cả, cãi vã,

cười nói, giành giật, la hét kia..., có một cô gái anh hùng của Bình Dương

đấy.” “Và trong số bốn năm người đàn bà đang tất tả trên cánh đồng cát

kia…trong số bốn năm người đàn bà cằn cỗi ấy, bạn có nhận ra được người

bí thư từng lãnh đạo cả cái xã Bình Dương…” [61;716] “…Tất cả họ, không

trừ một ai, đều long đong. Có đến gần một nửa không có chồng. Chiến tranh

đi qua và bỏ lại họ. Cuộc sống mới đi tới, và bỏ quên họ. Họ bị quá lứa.

Người nào cũng thương tật, có người đến tàn phế…toàn nội thương, do bị tra

tấn”. Nhưng khi đến các cơ quan làm chính sách xin xác nhận thì những

người đồng đội cũ bảo họ rằng: “không có vết thương thực thể” [61;718]. Sự

ngoảnh mặt lạnh lùng của những người có thẩm quyền thật phủ phàng và tàn

nhẫn, làm đắng lòng người.

87

Trong Có một con đường mòn trên biển Đông, giọng văn trang trọng

cùng những sẻ chia về một quá khứ oai hùng của những thủy thủ anh hùng

trên con đường vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam “…câu chuyện về một con

đường, ngày xưa hoàn toàn câm lặng, hôm nay vẫn còn câm lặng, và rồi chắc

sẽ mãi mãi chìm sâu vào câm lặng, đến vĩnh hằng…nếu chúng ta không đánh

thức nó dậy” [61;834]. “Còn những con người? Người đã hy sinh, mãi mãi

vùi thân trong biển sâu. Người đã qua đời sau chiến tranh, vì già yếu, vì

những di chứng của chiến tranh. Những người còn lại thì đang tản mát khắp

đất nước, trong những xóm làng, những kênh rạch hẻo lánh đấu đó. Họ vốn

vô danh. Hôm qua vô danh vì sự khắc nghiệt của nhiệm vụ. Hôm nay vô danh

trong ồn ào cuộc sống đua chen” [61;835]. Nói về cuộc sống hiện tại còn

nhiều khó khăn của những người anh hùng năm xưa vì nhiệm vụ cao cả đối

với Tổ quốc họ đã hy sinh quên mình, nhưng hôm nay, những gì mà họ được

nhận gần như một con số không tròn trĩnh, tác giả đã thể hiện bằng giọng trăn

trở đầy cảm thông cho cuộc đời và số phận của họ. Má Mười Rìu đã vét cạn

gia tài của mình để chuẩn bị cho cuộc vượt biển đầu tiên ra Bắc đưa vũ khí

vào Nam, giờ đây phải tự bươn chải với cuộc sống mưu sinh để trả cái nợ mà

má đã vay cho cuộc vượt biển ra Bắc năm xưa. Và con trai má, thuyền trưởng

Lê Hà vì tham gia vận chuyển nhiều chuyến vũ khí từ Bắc vào Nam bị địch

bắt và bỏ tù. Đến khi được tự do, anh lại bị mất cả quân tịch, đảng tịch, chạy

vạy khắp nơi xin xác minh mãi vẫn chưa được.

Bằng giọng văn đầy hoài niệm, với những chia sẻ, cảm thông pha lẫn

những trăn trở, xót xa cho cuộc sống hiện tại của người anh hùng, Nguyên

Ngọc đã tái hiện lại gần như trọn vẹn chân dung những người anh hùng đã hy

sinh nhiều cho cuộc chiến ngày hôm qua. Đồng thời, ông muốn nhắc nhở

những thế hệ trẻ hôm nay đừng lãng quên quá khứ, đừng quay lưng lại với sự

bất hạnh và khó khăn của những người đã từng xả thân vì Tổ quốc. Với cách

88

thể hiện bằng giọng văn này, Nguyên Ngọc đã giúp người đọc thấy được cách

nhìn người anh hùng của ông đã có sự thay đổi. Nhưng viết về họ với cảm

hứng anh hùng vẫn là sự nhất quán trong phong cách sáng tác của ông. Ở

những tác phẩm sáng tác sau 1975 của Nguyên Ngọc, với đề tài người anh

hùng nhưng cách nhìn người anh hùng không trong tư thế hiên ngang, sừng

sững mang cảm hứng sử thi mà nhìn người anh hùng ở khía cạnh thế sự đời

tư, với thái độ trân trọng, sẻ chia với những mất mát và đau thương mà họ đã

hy sinh cho cuộc chiến. Chính cách nhìn người anh hùng như thế đã thôi thúc

ông chọn bút ký làm thể loại sáng tác. Vì ở thể loại này, nhà văn có điều kiện

trình bày những vấn đề thực của xã hội, về “người thực việc thực”, những vấn

đề mang tính thời sự thể hiện được trách nhiệm của người cầm bút trước hiện

thực xã hội. Việc dùng thể loại bút kí cho thấy sự chính xác của tư liệu, sự

trung thực trong cách miêu tả và xây dựng nhân vật cho tác phẩm. Từ cách

chọn thể loại đã chi phối việc xác định điểm nhìn trần thuật và giọng điệu của

tác phẩm. Điểm nhìn trần thuật đã được dịch chuyển từ ngôi thứ ba, người

trần thuật biết trước mọi việc ở những sáng tác trước 1975 sang điểm nhìn

trần thuật ở ngôi thứ nhất người trần thuật xưng tôi để mang lại cái nhìn chân

thực khách quan trong tác phẩm.

Tóm lại, ở những tác phẩm viết sau 1975, Nguyên Ngọc vẫn thể hiện

giọng ngợi ca, trân trọng, khâm phục sự kiên cường, vượt lên đau thương, bất

hạnh một cách phi thường của những người anh hùng đã hy sinh hạnh phúc,

tuổi xuân của mình cho Tổ quốc. Đi liền với giọng ngợi ca, trân trọng là thể

hiện sự đồng cảm và chia sẻ với những mất mát và đau thương của họ trong

hiện tại. Đồng thời, nhà văn cũng thể hiện những xót xa, ray rứt, trăn trở cho

cuộc sống hiện tại còn nhiều chật vật, bất hạnh của người anh hùng, nhưng

bản thân họ vẫn không than oán hay kêu ca mà vẫn lặng lẽ sống và vươn lên,

viết về họ là cách nhà văn lên tiếng cảnh tỉnh xã hội đừng quay lưng với những

89

khó khăn và bất hạnh của họ, những người đã hy sinh và mất mát quá nhiều cho

cuộc chiến ngày hôm qua.

3.2. Nghệ thuật miêu tả ấn tượng

3.1.1. Nghệ thuật miêu tả nhân vật

Nhân vật trong tác phẩm văn học là thể hiện quan điểm thẩm mĩ và lí

tưởng của nhà văn đồng thời thể hiện chủ đề của tác phẩm văn học. Nhân vật

trong các tác phẩm của Nguyên Ngọc ở giai đoạn trước năm 1975 thường

được đặt trong những hoàn cảnh nghiệt ngã của cuộc chiến tranh ác liệt, liên

quan đến sự sống cái chết. Nhân vật buộc phải hành động hiên ngang để bộc

lộ những tính cách anh hùng. Người anh hùng trong chiến đấu với lòng căm

thù giặc sâu sắc, ngùn ngụt, với một ý chí bằng thép, những hành động mưu

trí, quả cảm, xả thân.

Ở giai đoạn sau năm 1975, cuộc sống đã trở về quỹ đạo của đời thường,

con người trở về với muôn mặt của cuộc sống. Người anh hùng cũng trở về

với sự giản dị vốn có, tâm hồn hồn nhiên và hết sức trong sáng với cuộc sống

bộn bề vất vả. Phản ánh trong tác phẩm của mình về người anh hùng ở giai

đoạn sau năm 1975, Nguyên Ngọc chủ yếu thể hiện sự đồng cảm với những

mất mát của họ đồng thời cũng thể hiện những trăn trở của mình trước cuộc

sống hiện tại nhiều khó khăn của họ.

Viết về người anh hùng ở giai đoạn sau 1975, ông không nhìn người anh

hùng ở tư thế của những thủ lĩnh oai hùng, hiên ngang mà ông nhìn người anh

hùng ở góc độ thế sự đời tư, ở sự thông cảm sẻ chia những mất mát, những

thiếu thốn của họ trong cuộc sống thường nhật của ngày hôm nay. Trước đây,

khi nhắc đến nhà văn Nguyên Ngọc, người ta nghĩ ngay đến Tây Nguyên anh

hùng cùng những nhân vật anh hùng. Cũng viết về người anh hùng nhưng ở

giai đoạn sau 1975, Nguyên Ngọc đã tìm về với chiến trường xưa, với những

90

nguyên mẫu về người anh hùng chống Mỹ của một thời để tìm hiểu và khắc

họa chân thực cuộc sống hiện tại của họ.

Trong Trở lại Mèo Vạc, hệ thống nhân vật tương đối đơn giản, họ là

Thào Mỹ, là Sùng Chóa Vàng, những người H’mông lãng mạn, anh hùng và

đầy chất nghệ sĩ. Họ đẹp, họ anh hùng bởi con người và tính cách của họ

được tác giả nhìn qua lăng kính chủ quan lãng mạn của nhà văn. Với việc sử

dụng thể loại bút ký cho phép Nguyên Ngọc có thể khắc họa rõ nét về hình

ảnh người anh hùng ở giai đoạn sau 1975 này. Thào Mỹ, cô gái có đôi mắt

xanh nâu đẹp đã từng ngồi ghế hội thẩm nhân dân vùng sơn cước với đồng

lương hưu chật vật nên phải ngồi cái quán trước cổng ủy ban với vài món

hàng ít ỏi. Sùng Chóa Vàng, người anh hùng thiện xạ năm xưa giờ trở về với

cuộc sống mưu sinh thời kinh tế thị trường anh chẳng có gì ngoài một túp lều

xơ xác và một tấm chăn không lành. Cuộc sống của họ là những khó khăn

chồng chất bởi đời sống mưu sinh. Trong Tháng Ninh Nông, nhân vật chính

được nhân vật tôi đề cập đến là cô gái Tơ Trá đã từng cứu sống “tôi” trong

kháng chiến chống Mỹ, chính hành động ấy đã làm cho “tôi” giữ mãi những

kí ức đẹp về hình ảnh người con gái năm xưa. Trong Người hát rong giữa

rừng, nhân vật được tác giả nhắc đến là người nghệ sĩ Tây Nguyên Y Yơn.

Qua dòng hồi tưởng của tác giả về nhân vật người đọc thấy hiện lên một

người nghệ sĩ Tây Nguyên hết sức tài hoa và cũng hết sức anh hùng “Y Yơn,

đó là Tây Nguyên. Con người Tây Nguyên. Đất nước Tây Nguyên. Rừng rú

Tây Nguyên. Văn hóa Tây Nguyên...tâm hồn Tây Nguyên” [61;543]. Anh hùng

trong tính cách và cả trong nghệ thuật với một thứ nghệ thuật hết sức đời

thường nhưng lại hết sức vững bền. Những đóng góp của Y Yơn không phải

chỉ để được ghi nhận tên tuổi của một nghệ sĩ mà chỉ để thỏa mãn niềm đam

mê của mình. Đó chính là được hát - hát như một con chim về với rừng, như

con nai về với suối nguồn, như tình yêu trai gái đến với nhau. Trong tác phẩm

91

của Nguyên Ngọc, người anh hùng Tây Nguyên hiện lên với một vẻ đẹp

nguyên sơ, tinh khiết nhưng cũng đậm chất anh hùng.

Trong Cát cháy, nhân vật anh hùng đều được tác giả miêu tả rất cụ thể từ

tên tuổi, ở đâu và làm gì đến những chiến công của họ đều được kể một cách

rõ ràng. Đó là anh Phan Thanh Toán “một người đàn ông đã luống tuổi, nho

nhã, hơi gầy, tóc đã nhiều sợi bạc...Đó là một người từng trải, có thể nói có

mặt với phong trào Bình Dương từ đầu đến cuối”[61;719], là anh Dương

Xang, là chị Huyền, chị Cúc, chị Hoa, là má Dỗi, má Lứt ngày đêm nuôi giấu

thương binh, che chở cho các chiến sĩ....Qua miêu tả của tác giả, ta thấy họ là

những con người bình thường nhưng ánh lên sự phi thường. Bình Dương, một

xã nghèo, khó khăn và không được thiên nhiên ưu đãi, từng hai lần được

tuyên dương anh hùng trong chiến tranh và trong xây dựng quê hương mới. Ở

nơi đây, đất và con người đều là anh hùng. Những nhân vật do vậy mang tính

cụ thể, tính thời sự bởi qua ngòi bút của tác giả người đọc phần nào cảm nhận

rõ được cuộc sống hiện tại còn nhiều khó khăn, bất hạnh của họ. Ngợi ca

nhưng đồng thời là những chia sẻ, những cảm thông với những mất mát của

họ. Tuổi xuân, tình yêu và cả tuổi trẻ của họ đã để lại nơi ấy và hiện tại thì

cuộc sống của họ đầy khó khăn, nhất là khi mọi người lại thời ơ với họ. Anh

Dương Xang vẫn nghèo, vẫn đi xin trợ cấp để lo cho đứa con bệnh tật. Chị

Huyền, người phụ nữ luống tuổi này ngày xưa từng là một xã đội trưởng kiên

cường, luôn xông pha ở những tuyến đầu nhưng cuộc sống hiện tại của chị thì

không chồng không con, mái nhà tranh thì cũng chẳng ra nhà, khi đi khám

xác định thương tật thì các cơ quan chức năng bảo không có vết thương thực

thể. Và còn nhiều những người anh hùng nữa vẫn sống trong cảnh khó khăn

về vật chất, thiếu thốn về tinh thần.

Trong Có một con đường mòn trên biển Đông, những người được nhắc

đến là những thủy thủ của đoàn tàu không số. Nguyên Ngọc đã rất thành công

92

trong việc khắc họa nhân vật anh hùng trước 1975 mang tính sử thi và cảm

hứng lãng mạn ngợi ca là chủ đạo. Sau 1975, cũng vẫn là những người anh

hùng ấy, nhưng được nhà văn khắc họa chân thật trong cuộc sống mưu sinh

vất vả. So với những người anh hùng của đoàn tàu không số năm xưa thì cuộc

sống của anh hùng Đặng Văn Thanh có thể nói là sung túc với “...nhà tường

vôi, mái ngói. Vườn sau nhà trồng toàn dứa. Trước sân là cái giàn mướp sai

quả...Phía ngoài sân là chiếc giếng rất sâu...Cạnh đấy là ao cá, anh Thanh

bảo mỗi mùa thu được hàng 5, 6 tạ cá mè...” [61,871]. Người thủy thủ năm

xưa giờ đã là một bác nông dân chính cống với những lo toan của cuộc sống

hằng ngày. Trong khi đó, gia đình anh Hồ Đức Thắng và anh Nguyễn Đức

Thắng thì còn nhiều khó khăn, bởi gia đình các anh vẫn ở trong khu tập thể

của Lữ đoàn Hải quân và vẫn chật vật xoay sở cuộc sống bằng những đồng

lương hưu ít ỏi.

Với những sáng tác sau năm 1975, khi xây dựng tính cách nhân vật,

Nguyên Ngọc không chú trọng đến việc miêu tả ngoại hình, những hành động

phi thường của nhân vật như trước năm 1975, mà chủ yếu khai thác tính cách

cao đẹp, tập trung miêu tả nội tâm của nhân vật, chú ý phân tích số phận cũng

như cuộc sống của người anh hùng. Nhà văn đồng cảm và sẻ chia với hoàn

cảnh khó khăn của họ cũng như trăn trở với sự thờ ơ của mọi người trước

những khó khăn của những người anh hùng ấy.

3.1.2 Miêu tả không gian – thời gian

3.1.2.1. Nghệ thuật miêu tả không gian

Trong tác phẩm văn học, không gian nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ

dùng để tái hiện lại địa điểm, nơi nhân vật sống và hoạt động cũng như những

chân trời mới mà nhân vật ước mơ. Đó có thể là không gian rộng trong tâm

tưởng và cũng có thể là không gian hẹp trong đời sống hiện thực. Tác giả của

giáo trình Lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ cũng chỉ ra rằng: “Trong tác

93

phẩm văn học, không gian vừa là hình thức hiện hữu của con người, vừa là kí

hiệu nghệ thuật thuộc về thế giới sáng tạo của người nghệ sĩ, nó bộc lộ cái

nhìn của nhà văn trước đời người và người đời,...” [26,178]. Ngoài ra, các tác

giả còn khẳng định rằng, không gian trong tác phẩm nghệ thuật không chỉ là

nơi diễn ra các sự kiện, nơi liên kết cốt truyện, nơi gặp gỡ của các nhân vật

mà nó còn tái hiện những đặc trưng của những vùng miền, những địa phương

khác nhau.

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi chỉ tìm hiểu về không gian rộng của

quá khứ và không gian hẹp của đời thường trong các tác phẩm của Nguyên

Ngọc ở giai đoạn trước và sau năm 1975.

Không gian rộng trong quá khứ gắn liền với thời đại hào hùng của dân

tộc, mà khi đó con người sống hết lòng vì lí tưởng chung của dân tộc. Ở đó,

con người bộc lộ hết những phẩm chất cao đẹp của mình qua các tác phẩm

như Đất nước đứng lên, Rừng xà nu, Đất Quảng. Trong các tác phẩm viết

trước năm 1975, Nguyên Ngọc thường chọn không gian cho nhân vật hoạt

động là những không gian lớn gắn liền với hình ảnh nhân vật hoạt động tập

thể như không gian cả làng cùng nhau trồng lúa, cùng nhau rời làng để đi lên

núi cao chống giặc Pháp, cùng nhau lập kế hoạch tác chiến để chống giặc

(Đất nước đứng lên) dưới sự lãnh đạo của anh hùng Núp. Đó là không gian

nhà rông Tây Nguyên, không gian cả tập thể dân làng Xô – Man cùng vót

chông, mài rựa để chống lại giặc Mỹ xâm lược dưới sự chỉ huy của già làng –

cụ Mết (Rừng xà nu); là không gian rộng nơi xứ Quảng của những người con

ngày đêm bám đất bám làng, giữ dòng sông Trúc được xuôi nhịp như chị

Thắm, anh Hoàng,... (Đất Quảng).

Trong các sáng tác sau năm 1975 của Nguyên Ngọc, không gian hẹp

trong hiện tại thường gói gọn trong căn nhà, thửa ruộng, cửa hàng tạp hóa,

mảnh vườn gắn liền với cuộc sống đời thường đầy lo toan, với cuộc sống mưu

94

sinh vất vả của người anh hùng.

Nguyên Ngọc là một nhà văn có nhiều vốn sống cũng như kiến thức

phong phú: từ địa lý, lịch sử đến kiến thức quân sự. Ông đã đem vốn hiểu biết

của mình vào trong tác phẩm, tạo nên sự hấp dẫn cho tác phẩm. Trong bút ký

Có một con đường mòn trên biển Đông, kiến thức phong phú của Nguyên

Ngọc thể hiện rõ nét. Mở đầu câu chuyện về con đường huyền thoại trên biển

tác giả đã tái hiện hình ảnh vùng biển bao la. Nguyên Ngọc đã tái hiện chân

thực, sinh động và tỉ mỉ những hải trình gian nan trên biển của các thủy thủ

đoàn tàu không số từ: Quảng Ninh, Khánh Hòa đến cửa sông Ray tỉnh Bà Rịa

Vũng Tàu, rồi Rạch Gốc, Gành Hào tỉnh Cà Mau.

Trong bút ký này, tác giả tập trung miêu tả về vùng biển dọc hình chữ S,

với những địa điểm đã từng là nơi giao nhận vũ khí trong chiến tranh. Với

những bến đón ở vùng Cà Mau, Bạc Liêu thì an toàn hơn rất nhiều, phần lớn

những bến đón này là đất bùn, tàu thuyền có thể lợi dụng sự thuận lợi ấy mà

cho tàu thuyền đi sâu “theo những đường lạch quanh co và luồn thẳng vào

rạch có vòm đước kín bưng” [61;881] với “con sông Cửu Long to lớn và

mạnh mẽ, đậm đặc phù sa, tạo ra hàng trăm cửa biển, vàm lũng lớn

nhỏ…trơn trật bùn đất đục ngàu và rậm rạp những rừng mắm, sú vẹt”

[61;939]. Điều đó rất thuận lợi cho việc đưa tàu ra vào và che giấu tàu, thậm

chí có thể che giấu những kho vũ khí lớn và làm chỗ nghỉ ngơi cho thủy thủ

đoàn, nhưng với những bến đón ở khu V miền trung thì nguy hiểm hơn rất

nhiều bởi khu V là những vùng cát trống trải “sát mép nước biển là những

đụn cát nối dài không có cây cối, chỉ toàn một loại cỏ lông chông khô cháy.

Sâu trong đất liền đến hàng cây số mới có một ít khoảnh rừng rải rác”

[61;906]. Nơi đây các con sông đều ngắn, không có phù sa, biển hoàn toàn

trong xanh không có bùn. Hai bên bờ thì trống trải thỉnh thoảng đôi chỗ cũng

có cây cối nhưng cũng đã cằn cỗi xác xơ. Có những vịnh nước sâu nhưng gần

95

đó lại là những căn cứ hải quân Mỹ. Việc miêu tả điều này cho ta thấy rằng

vận chuyển vũ khí vào khu V là một điều vô cùng khó khăn và nguy hiểm.

Chẳng những phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt mà còn đối mặt với

một lực lượng địch nguy hiểm, hùng mạnh lúc bấy giờ. Chính sự gan dạ, táo

bạo đầy bất ngờ của những chiến sĩ Lữ đoàn Hải quân 125 đã tạo nên những

chiến công vang dội.

Không gian hiện tại được tác giả đề cập đến trong bút ký Có một con

đường mòn trên biển Đông là cuộc sống hiện tại của những người anh hùng.

Anh Huỳnh Ba giờ là một anh ngư dân bình dị. Cuộc sống của anh phụ thuộc

vào biển, ngày tạnh thì ra khơi đánh cá, ngày bão thì ở lại nhà cùng gia đình

làm nước mắm, làm pháo. Không gian hoạt động của anh được giới hạn ở hai

nơi là biển cả và gia đình.

Không gian hoạt động của người má Mười Rìu giờ ở “Ngay sát mém

biển, một làng chài nghèo, chen chúc nhà mái tôn, vây quanh một cái chợ

nhỏ” [61,857]. Cuộc sống được giới hạn trong quán – “một trong những cái

quán “lạ lùng” ta vẫn thường gặp ở bất cứ làng chài nào” [61,858]. Nơi ở

của má hết sức chật hẹp “Bây giờ má Mười sống với cô con dâu, vợ Hà. Gian

bên này là của vợ chồng Hà, gian bên kia chỉ kê vừa đủ một chiếc giường,

đêm là chỗ nằm của má, ngày là chỗ bày cái mớ hàng tạp hóa linh tinh”

[61,862].

Cuộc sống của người anh hùng quân đội Đặng Văn Thanh thì lại khác

hẳn. Qua cách miêu tả của tác giả, người đọc có thể hình dung đây là một gia

đình nông dân chính cống, sống an nhàn ở một vùng quê yên ả của miền Bắc

“Từ Hải Phòng, qua phà Bính, rẽ về tay trái khoảng mươi cây số, sẽ gặp một

vùng đất có dáng dấp trung du: những cụm đồi nối nhau thoai thoải, cao dần

về hướng đông bắc. Làng xóm nằm ven đồi, thượng gia hạ điền, trên đồi là

nhà, có vườn, dưới chân là ruộng” [61;869]. Không gian của người anh hùng

96

này được giới hạn bởi ruộng và vườn nơi anh đang sống “Bây giờ thì người

thủy thủ già đã thực sự trở thành nông dân chính cống. Nhà anh chị nằm ven

sườn đồi. Đá tường vôi, mái ngói. Vườn sau nhà trồng toàn dứa. Trước sân là

cái giàn mướp sai quả ...Phía ngoài sân là chiếc giếng rất sâu,...Cạnh đấy là

ao cá” [61,871].

Ngược dòng địa lý, Nguyên Ngọc lại đưa người đọc trở về với vùng

sông nước miền Tây với những am hiểu về kiến trúc đô thị của miền Nam Bộ

“Có lẽ ở đồng bằng sông Cửu Long có hai thị xã đẹp hơn cả: Long Xuyên và

Trà Vinh. Long Xuyên, tỉnh lỵ An Giang nhỏ gọn, xinh xắn, như một vườn hoa

được cắt tỉa bằng một bàn tay khéo léo...Trà Vinh đẹp một cách khác. Cổ

kính. U trầm...”[61;901,902]. Không gian nhà của người thợ máy anh hùng –

chú Năm Sao thì lại rất đơn sơ “trong căn nhà nhỏ lợp lá dừa, chỉ còn một

người thiếu phụ...Chị đang may. Chiếc máy khâu cũ kỹ” [903].

Không gian nhà anh hùng Ba Thắng và Tư Thắng - Sáu Thùy cũng rất

hẹp vì họ đang ở tại khu tập thể của đoàn 962, đơn vị hải quân đóng tại Trà

Nóc, Cần Thơ. “Ở vùng biển xa xôi này chưa có điện, dầu lửa cũng khó khăn,

người ta đi ngủ rất sớm” [61;906].

Trong Cát cháy, không gian hoạt động của anh Hai Toán được giới hạn

trong ở ngôi nhà và “đám thổ” của anh “Nhà anh Hai Toán ở gần cuối xóm,

trên sườn một động cát. Bước ra sau hè đã là cát miên man. Không loại cây

gì cao lớn mọc lên nổi trên cát cháy này” [61,723]. Không gian hoạt động của

chị Huyền, người nữ anh hùng năm xưa còn chật hẹp và có phần thiếu thốn

hơn “Nhà chị Huyền không đến nỗi là một túp lều, nhưng cũng không thật ra

nhà. Tường gạch nhưng có chỗ xây vữa, có chỗ là gạch xếp chồng lên nhau,

chông chênh. Mái nửa ngói nửa tranh. Cửa sổ là mấy tấm các – tông gỡ ra từ

một thùng mì ăn liền. Nền nhà gạch xếp không đủ, đất cát tràn lên cả mặt

nền. Chỉ có môt chiếc bàn...” [61,730]. Không gian của chị Cúc thì rộng hơn

97

với ngôi nhà “sát quốc lộ 1...Là nhà xây, mái bằng, khá lịch sự. Lại có vườn

rộng. Và toàn cây cảnh” [61,737] và nơi chị buôn bán tảo tần ở chợ.

Trong Trở lại Mèo Vạc, tác giả có dịp thăm lại chiến trường xưa – nơi

ông đã từng tham gia trận tiễu phỉ năm 1959, nơi được mệnh danh là Cổng

trời của đất nước ta với cảnh đẹp đến nghẹt thở nơi địa đầu của Tổ quốc với

“Những sườn núi Nùng thoáng rộng đến vô cùng, nở nang và hoang vắng như

những khuôn ngực đàn bà hoang sơ nào đấy.”[61;417] Nguyên Ngọc đã vẽ

cho người đọc thấy được một bức tranh bằng ngôn từ về vùng Tây Bắc phóng

tầm mắt “ngước lên thăm thẳm màu xanh biên thùy, nhìn xuống thung sâu

hun hút” [61;417]. Và chính tác giả cũng bị đắm đuối bởi cái đẹp quá thể tràn

ngập bốn bề. Không gian của người anh hùng Thào Mỹ chỉ giới hạn ở “cái

quán ngay trước cổng cơ quan” [61,436]. Còn không gian của người anh

hùng thiện xạ Sùng Chóa Vàng là ngôi nhà của anh “một ngôi nhà tranh, một

túp lều xơ xác...quấn tấm chăn rách đang nằm ngủ ngay bờ rào” [61,441].

Trong truyện ngắn Tháng Ninh Nông, không gian được giới hạn ở ngôi

nhà của người con gái Tơ Trá năm xưa mà nhân vật tôi đặt chân đến đầu tiên

sau bao nhiêu năm xa cách. Trong truyện ngắn Người hát rong giữa rừng,

không gian là quãng giữa Daklak và Gia Lai và “một túp lều...đúng bằng cái

lều chăn vịt ta vẫn gặp trên các cánh đồng lênh láng dưới xuôi, cuối những vụ

gặt” [61,540].

Tóm lại, không gian trong tác phẩm của Nguyên Ngọc trước 1975 là

không gian rộng, hoành tráng, là nơi hoạt động của những anh hùng, những

thủ lĩnh, là nơi tập hợp mọi người đấu tranh vì mục tiêu chung. Không gian

trong tác phẩm Nguyên Ngọc sau 1975 là không gian hẹp, không gian cụ thể,

được giới hạn ở một ngôi nhà hay một địa điểm cụ thể gắn liền với nhân vật

cụ thể, từ đó làm nổi bật lên hình ảnh người anh hùng trong cuộc sống hiện tại

gắn với lí lịch riêng của họ. Qua việc miêu tả không gian người đọc thấy được

98

đời sống của những người anh hùng năm xưa còn nhiều khó khăn, thiếu thốn

trong cuộc sống hiện tại. Cách miêu tả không gian như thế giúp người đọc có

cái nhìn bao quát về cuộc sống của người anh hùng. Trân trọng và ngợi ca

những cống hiến của họ cho đất nước. Đồng thời sẻ chia, cảm thông cho

những mất mát của họ trong cuộc sống hiện tại.

3.1.2.2. Nghệ thuật miêu tả thời gian

Sự miêu tả, trần thuật trong văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm

nhìn nhất định trong thời gian. Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra

trong thời gian.

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả chỉ ra rằng: “Khác với

thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có

thể được đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có

thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, lại có thể kéo dài cái

chốc lát thành vô tận” [27,322].

Trong giáo trình Lý luận văn học, Lê Ngọc Trà chia thời gian thành hai

bình diện là nhịp độ thời gian và trình tự thời gian. Trong phạm vi luận văn,

chúng tôi chỉ nghiên cứu trình tự thời gian để phục vụ cho việc phân tích tác

phẩm. Theo như cách nói của tác giả thì trình tự thời gian là “tương quan giữa

trật tự thời gian kể chuyện và thời gian hiện thực của các sự kiện được kể lại

trong tác phẩm. Tương quan này có thể biểu hiện theo kiểu quá trình “trước

kia – sau đó” [85,150]. Và tác giả bài viết cũng chỉ ra việc tuân theo hay phá

vỡ thời gian của sự kiện đều nằm trong ý đồ của nhà văn và nhằm vào những

mục đích tư tưởng – nghệ thuật nào đó.

Trong các sáng tác sau năm 1975 của Nguyên Ngọc, tác giả chủ yếu

trần thuật theo trình tự thời gian, tức là câu chuyện được kể ở hiện tại sau đó

người kể ngược trở về quá khứ để hồi tưởng lại những kí ức năm xưa. Trong

99

bút ký Có một con đường mòn trên biển Đông, là sự hồi tưởng lại những trận

đánh năm xưa cuả những thủy thủ đoàn và những người tham gia vào công

tác vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam, thời gian hiện tại là cuộc sống của

chính họ. Trong Cát cháy cũng là câu chuyện của những người anh hùng ở xã

Bình Dương, từng câu chuyện là sự ngược dòng về quá khứ và hiện tại là

cuộc sống mưu sinh của những người anh hùng. Trong Trở lại Mèo Vạc là

những hồi tương về mảnh đất Đồng Văn yên ả nên thơ khi xưa và đã bắt mùi

kinh tế thị trường trong hiện tại. Trong hai truyện ngắn Tháng Ninh Nông và

Người hát rong giữa rừng cũng là thời gian hồi tưởng. Trước kia nhân vật

xưng tôi có những kỷ niệm với người bạn của mình và giờ đây anh tìm về

thăm những người bạn đó, suốt câu chuyện nhân vật tôi luôn nói về những kỷ

niệm trong dòng hồi tưởng của chính mình.

Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm của Nguyên Ngọc sau 1975 là sự

thay đổi, từ đó dẫn đến sự thay đổi hoàn cảnh và số phận của người anh hùng

trong quá khứ cũng như hiện tại. Trong chiến tranh họ là những chiến sĩ anh

hùng, chiến đấu trong một tập thể, giữa cộng đồng cùng chung lý tưởng. Hiện

tại họ phải “chiến đấu” đơn độc với bệnh tật, với sự bất hạnh cuộc sống, với

sự nghèo khó của cuộc sống mưu sinh. Nhờ sự lồng ghép thời gian, người đọc

thấy được sự tương phản của số phận, sự nghiệt ngã của cuộc sống mà con

người phải đối mặt và chấp nhận nó. Qua sự đối lập đó ta còn thấy được nét

đẹp đời thường của người anh hùng là chấp nhận và tự mình vượt qua gian

khổ, không kêu ca hay cần đền đáp. Đó chính là cách tác giả để cho nhân vật

tự bộc lộ và cũng là để cho người đọc thấy được cuộc sống thật của người anh

hùng trong hiện tại.

3.1.3. Ngôn ngữ

“Trong tác phẩm, ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố quan

trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn” [27,215].

100

Theo Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học thì ngôn từ nghệ thuật là

“dạng ngôn ngữ được dùng để biểu đạt nội dung hình tượng của các tác

phẩm nghệ thuật ngôn từ” [1,227] và nó khác ngôn ngữ cuộc sống ở chỗ nó

“sử dụng liên tục chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ, do chỗ nó có nhiệm vụ

thể hiện ý đồ tác giả; trong khi đó ở các dạng thức khác của lời nói, chức

năng này chỉ biểu lộ thất thường” [1,227].

Trước 1975, hầu hết trong sáng tác của mình, Nguyên Ngọc đều thể hiện

cảm hứng lãng mạn về người anh hùng với ngôn ngữ mang đậm chất sử thi,

đậm chất thơ với một loạt từ ngữ mang âm hưởng anh hùng ca. Trong Đất

nước đứng lên là lớp ngôn ngữ mang đậm không khí Tây Nguyên. Ngôn ngữ

cụ thể giàu hình, giàu âm sắc qua nhiều đoạn tả thiên nhiên, khắc họa chân

dung nhân vật nhằm làm nổi bật sức mạnh phi thường của người dân Tây

Nguyên, đặc biệt là anh hùng Núp “Bàn tay gân guốc khi nói, đưa lên đưa

xuống chắc chắn, mạnh như hòn đá ném xuống nước” [61;64]. Nguyên Ngọc

là người am hiểu Tây Nguyên sâu sắc. Vì thế, ông nhìn Tây Nguyên dưới con

mắt của một nhà thơ, tha thiết yêu thương và gắn bó xương thịt với cuộc sống,

con người và cảnh vật nơi đây. Chính vẻ đẹp giản dị của ngôn ngữ khẩu ngữ

được tác giả nâng cao và làm trong sáng thêm khi nó được lọc qua tâm hồn

của nhà văn làm cho lời văn giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu và cảm xúc. Với

một lớp từ ngữ sinh hoạt giản dị, mộc mạc như lời nói của người dân Tây

Nguyên “Chim ôi! Lần này khổ lắm rồi nhé! Khổ hung rồi nhé! Lần này tao

phải lấy cái tay to mà chặt cái rẫy rồi! Phải lấy cái ngón tay to mà đào củ

mài sâu dưới đất rồi! Phải lấy cái răng mà cắn miếng da con trâu rồi”

[61;93]. Trong tác phẩm này, ngoài việc sử dụng ngôn ngữ khẩu ngữ Nguyên

Ngọc còn sử dụng lớp ngôn ngữ mang yếu tố cổ kính, tính chất huyền thoại

nhằm làm sống lại một truyền thống lịch sử hào hùng của đất rừng Tây

Nguyên.

101

Trong Rừng xà nu là lớp ngôn ngữ giàu chất tạo hình, giàu âm sắc, gây

ấn tượng sâu đậm, giàu nhịp điệu và cảm xúc. Ở truyện ngắn này, Nguyên

Ngọc đã vận dụng thành công đặc trưng của ngôn ngữ thơ, vừa gợi, vừa tả,

vừa mở ra những liên tưởng, tưởng tượng phong phú cho người đọc “Cạnh

cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình

nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời...” [61;443]. Chính những yếu tố ngôn

ngữ trên kết hợp với một tâm hồn dạt dào chất lãng mạn của tác giả đã tạo nên

cảm hứng lãng mạn anh hùng trong sáng tác của ông ở giai đoạn trước 1975.

Sau 1975, Nguyên Ngọc tìm về với chiến trường xưa, ông đi hầu khắp

đất nước để phục dựng lại hình ảnh về người anh hùng nhưng với một cách

nhìn mới. Ở những sáng tác sau 1975 với thể loại bút ký, tác sử dụng hệ thống

ngôn ngữ đời thường với những hoài niệm về người anh hùng.

Trong Trở lại Mèo Vạc, là những hoài niệm về một thời còn tươi đẹp

trong quá khứ và tâm sự của người từng tham gia tiễu phỉ cùng những người

anh hùng năm xưa, Nguyên Ngọc nói: “Còn tôi trăm mối ngổn ngang, bồi hồi

bao kỉ niệm một thời trai trẻ trong veo và nông nổi, xao xuyến gặp lại người

cũ đất xưa.”[61;414]. Đó là sự tiếc nuối của nhân vật tôi về những ngày tươi

đẹp đã qua của một vùng cao yên ả nên thơ với những người anh hùng năm

nào “Ra cái thơ mộng lâu đời những vùng rẻo cao cũng đã bắt mùi kinh tế thị

trường của đổi mới. Còn số phận những con người ở đây, những Thào Mỹ,

những Sùng Chóa Vàng, những Lùng Sùng Páo…từng rất thân thiết một thời

xưa của tôi trải cuộc dâu bể ba mươi năm nay ra sao?” [61;424]. Đó là câu

chuyện về cuộc sống của người H’mông trên vùng cao với những trăn trở của

người lãnh đạo về việc trồng cây gì để sống.

Trong Tháng Ninh Nông, để nói về việc trở lại thăm Mường Hon trong

mùa mưa là một điều nguy hiểm, đồng thời minh họa cho thái độ quyết tâm

của mình, tác giả viết “Đi Mường Hon bao giờ và bằng đường nào…cũng là

102

một cuộc phiêu lưu. Vậy mà dám đi giữa mùa mưa, thế mới liều” [61;464], vì

Mường Hon ở cheo leo trên đỉnh Ngok Linh [sic] trên hai nghìn rưỡi mét.

Là lời trách bản thân mình, tự thấy áy náy với chính mình cũng như với

những người từng được đồng bào Tây Nguyên cưu mang trong kháng chiến,

nhưng khi hòa bình rồi mà chưa quay về để giúp đỡ đồng bào, nhân vật tôi

viết: “Tôi không chờ anh chủ nhà niềm nở vồ vập. Thậm chí tôi sẵn sàng chờ

anh chửi một trận nữa: Mày còn vác mặt lên đây làm gì! Bây giờ chúng mày

ở thành phố nhà to cửa lớn ô tô nhà lầu, chúng mày còn nhớ gì tới chúng tau

nữa đâu. Chúng mày quên hết đồng bào rồi...” [61;470]. Như là để tự minh

oan cho mình cũng như là để an ủi chính mình rằng nhân vật tôi không quên

những ân tình của đồng bào nên đã quay trở lại đây trong điều kiện thời tiết

khắc nghiệt, Nguyên Ngọc đã viết nên những câu tự trách mình: “Chúng ta

lăng xăng lít xít bao nhiêu thứ hàng ngày, hơn hai mươi năm qua, có mấy ai

trở lại với những người cha, người mẹ ở chốn hang cùng hóc núi này, đã đùm

bọc mình, sống chết vì mình ngày xưa đâu.” [61;470] Hoặc tự giải bày: “Tôi

cũng chưa đến nỗi hư đốn quá đâu, cứ mỗi bước một ô tô...tôi quay về đây,

với thành phố, với trăm sự eo xèo nhiễu nhương, hữu tích sự và vô tích sự của

cuộc đời” [61;475]. Thông qua ngôn ngữ đời thường, tác giả phần nào bộc lộ

được niềm ân hận của mình với những người anh hùng, những người đã cưu

mang và giúp đỡ mình trong kháng chiến.

Ngôn ngữ đời thường mang đầy hoài niệm còn được tác giả thể hiện

trong bút ký Người hát rong giữa rừng. Để nói về tính nghệ sĩ của Y Yơn,

tác giả viết: “Ôi Y Yơn của tôi. Lại vẫn thế sao anh? Vẫn Tây Nguyên đến tận

đáy tâm hồn. Vẫn nghệ sĩ lang bạt kì hồ đến tận máu thịt” [61; 544]. Ở bút ký

này, ông đã vận dụng lại ngôn ngữ Tây Nguyên mà ông đã sử dụng thành thạo

trước đó. Ấy thế mà khi đọc văn Nguyên Ngọc, nhà báo Vu Gia có nói

“…Đọc truyện của Nguyên Ngọc, tôi thấy bà con dân tộc anh em ở vùng cao

103

sao mà gần gũi đến thế, máu thịt đến thế, và anh hùng đến thế…” [61;174] Y

Yơn được giao cho việc tìm những người lính Fulro về, khi đi ông chỉ mang

trên người cây đàn Gong nhưng kì lạ những người lính Fulro lại theo ông về

làng. Khi được hỏi ông đã hát bài gì cho họ nghe, ông nói “Có gì đâu. Mình

hát bài Gọi con heo thôi mà...” [61;548].

Là một người con của quê hương Quảng Nam, trong kháng chiến chống

Mỹ, Nguyên Ngọc từng thành công với Đất Quảng. Sau 1975, ông lại tiếp tục

viết về đất Quảng với Cát cháy. Nguyên Ngọc đã tìm về với những người con

anh hùng của đất Bình Dương, phục dựng lại chân dung những người anh

hùng năm nào trong hoài niệm. Điều đó ta nhận thấy rõ qua hệ thống ngôn

ngữ mà tác giả sử dụng mang đậm ngôn ngữ địa phương: “Mẹ ơi sắp tới, mẹ

biết không, mình đưa lực lượng về đánh lớn nghen...Rứa à? Đánh ở đâu con?

Không, trong ni. Trong ni...làm răng đánh được” [61;778]. “Bữa ni làm chi

mà lính đi lung tung ri, hả?” [61;781] “Để tang cho mi chớ cho ai!” [61;783]

Có một con đường mòn trên biển Đông là bút ký đầu tiên được thể hiện

trong văn học sau 1975 mang đậm cảm hứng về người anh hùng. Qua bút ký

này, người đọc thấy được một hệ thống ngôn ngữ phong phú cho những sự

hiểu biết về kỹ thuật quân sự, về hành trình đi biển, về tình đồng đội, và đặc

biệt là tình yêu. Khi tiếp chuyện với má Mười Rìu, ta nhận thấy được tâm hồn

của người mẹ miền Nam chân chất, giản dị nhưng cũng rất đỗi hào hùng “Úi

cha, chuyện dông dài lắm. Anh Năm chỉ bọn bay xuống đây chớ gì...Nhưng

mà tau luôn chưn luôn tay suốt ngày. Còn mấy con heo dưới bếp nữa, không

kịp xắt chuối, nó làm reo inh lên. Bọn bay cứ ngồi đây chơi, khi nào rảnh thì

má kể cho mà nghe từng đoạn. Mà tụi bay ở ngoài Bắc vô đây hả?...”

[57;859]. Để tái hiện lại trận đánh lịch sử tại Vũng Rô, Nha Trang, tỉnh

Khánh Hòa, tác giả đã dùng những hiểu biết của mình về chiến thuật quân sự

để mô tả lại trận đánh giữa thủy thủ tàu và địch tại Vũng Rô “Tối, máy bay

104

địch lại đến thả pháo sáng: chúng tôi tập hợp, kiểm điểm lại lực lượng, chỉ có

1 người bị thương...Chúng dùng bộ binh từ các điểm cao đánh xuống, kết hợp

tàu thủy đổ bộ, cả máy bay liên tục ném bom yểm hộ” [57;920].

Nguyên Ngọc là một nhà văn sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ trong

sáng tạo nghệ thuật, ở mỗi tác phẩm người đọc thấy được sự công phu trong

cách dùng từ của ông. Qua đó, người đọc thấy được sự gian khổ, hy sinh của

những người anh hùng trong quá khứ cũng như những khó khăn trong cuộc

sống hiện tại của họ.

3.3. Kết cấu lồng ghép đan xen hiện tại và quá khứ, truyện lồng truyện

3.3.1. Về khái niệm kết cấu – kết cấu lồng ghép đan xen

Trong tác phẩm tự sự nói riêng và nghệ thuật ngôn từ nói chung, kết cấu

được xem là cách tổ chức, sắp xếp các yếu tố trong tác phẩm thành một chỉnh

thể nghệ thuật. Kết cấu trước hết là hình thức nhưng là hình thức chứa nội

dung, không tách rời tư tưởng tác phẩm: “Kết cấu là yếu tố quan trọng của

hình thức nghệ thuật mang tính nội dung…không chỉ tìm thấy trong đặc điểm

của những bộ phận riêng lẻ mà cả trong những mối quan hệ phụ thuộc trong

sự kết hợp phức tạp giữa chúng” [9, 63]. Vai trò của kết cấu được xác định là

góp phần bộc lộ chủ đề, tư tưởng thông qua việc cấu trúc hợp lí các hệ thống

tính cách triển khai trình bày hấp dẫn cốt truyện; tổ chức không gian, thời

gian. Trong luận văn này, chúng tôi tìm hiểu kết cấu lồng ghép đan xen thời

gian trong văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc sau năm 1975.

Theo chúng tôi, kết cấu lồng ghép là một khái niệm dùng để chỉ một thủ

pháp nghệ thuật dùng trong văn học, là cách kết hợp các yếu tố của một chỉnh

thể nghệ thuật như thời gian hiện tại và quá khứ, cách sử dụng truyện lồng

truyện trong một tác phẩm để làm nổi bật chủ đề của tác phẩm. Trong các

sáng tác của Nguyên Ngọc ở giai đoạn sau năm 1975, tác giả đã vận dụng kết

105

cấu này một cách phổ biến. Với việc sử dụng kết cấu lồng ghép đan xen giúp

ta có cái nhìn bao quát, toàn diện về cuộc đời và số phận của nhân vật ở hiện

tại cũng như trong quá khứ, cùng những chuỗi sự kiện, hình tượng được tác

giả nói tới trong tác phẩm.

3.3.2. Kết cấu lồng ghép đan xen hiện tại và quá khứ, truyện lồng truyện

trong văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975

Trong tác phẩm văn học, việc sử dụng kết cấu lồng ghép về thời gian là

cách mà nhà văn giúp cho người đọc có thể bao quát được câu chuyện đã xảy

ra trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Giúp người đọc hiểu được những

diễn biến trong dòng hồi tưởng của nhân vật cũng như dự đoán những sự kiện

sẽ xảy ra cho nhân vật. Trong các sáng tác ở giai đoạn trước 1975, Nguyên

Ngọc đều chọn kết cấu theo trình tự thời gian để thể hiện được cảm hứng lãng

mạn anh hùng như trong Đất nước đứng lên, Rừng xà nu, Đất Quảng.

Sau 1975, đời sống xã hội đã thay đổi, do đó, phương thức phản ánh

cũng như kết cấu của tác phẩm cũng phải thay đổi để phù hợp với chủ đề tác

phẩm. Nguyên Ngọc vẫn viết với cảm hứng anh hùng nhưng cách nhìn người

anh hùng đa diện hơn. Để phù hợp với ý thức nghệ thuật đó, ông đã chọn cách

lồng ghép thời gian hiện tại - quá khứ, truyện lồng truyện để thể hiện trong tác

phẩm của mình. Với thủ pháp nghệ thuật này, nhà văn có thể phản ánh được

cuộc sống hiện tại của người anh hùng còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, đồng

thời cũng chia sẻ những mất mát đau thương của họ. Qua đó, tác giả thể hiện

sự ngợi ca cũng như trăn trở trước cuộc sống còn nhiều khó khăn, bất hạnh

của họ.

Trong Trở lại Mèo Vạc, tác giả cũng sử dụng kết cấu lồng ghép đan xen

thời gian giữa hiện tại và quá khứ. Hiện tại nhân vật xưng tôi là người kể

chuyện đang trở về thăm lại những người đồng đội cùng tham gia trong trận

diệt phỉ ba mươi năm trước. Nhân vật tôi hồi tưởng lại những ngày Mèo Vạc

106

còn sung túc, đời sống người dân còn ấm no để thấy được cuộc sống của

những người anh hùng nơi đây còn nhiều khó khăn, chật vật trong cuộc sống

mưu sinh hiện tại. Trong khi kể, tác giả cũng khéo léo lồng vào chuyện gia

đình và cuộc sống của Thào Mỹ. Chuyện Thào Mỹ yêu say đắm, hết lòng

thương yêu, chăm sóc gia đình để làm nổi bật tính cách kiên cường và hy sinh

của chị.

Trong Tháng Ninh Nông, tác giả cũng sử dụng kết cấu lồng ghép đan

xen giữa quá khứ và hiện tại. Hiện tại nhân vật xưng tôi đang trở về tìm người

con gái Tơ Trá năm nào đã cứu sống anh, nhưng hiện tại làm anh thất vọng vì

người con gái ấy đã kết duyên với một người khác vì lầm tưởng rằng đó chính

là người mà cô đã cứu sống. Nhân vật xưng tôi đã trở lại vội vã bỏ về, “tôi”

không muốn để phiền phức thêm cho người con gái mà anh đã nhớ thương,

nhưng đồng thời, “tôi” cũng muốn giữ mãi hình ảnh về một người con gái anh

hùng, đẹp và lý tưởng trong lòng mình. Trong tác phẩm này, tác giả cũng đã

khéo léo sử dụng kết cấu truyện lồng truyện. Mở đầu là những tâm sự của

nhân vật tôi, rồi lại lồng vào câu chuyện xác định nhầm người đã cứu sống

mình của cô gái Tơ Trá để làm nổi bật chủ đề của tác phẩm. Để giải thích cho

lối ít nói của người Tây Nguyên nhân vật xưng tôi đã lồng vào câu chuyện ở

đơn vị mình năm xưa có một chiến sĩ là người Tơ Trá, cũng ít nói mà chỉ làm

“Anh đi săn, chiều tối về, vào nhà, không nói một lời, chậm rãi đàng hoàng

tắm rửa sạch sẽ, vào bếp lấy cơm ra ăn bình thản, ăn xong bưng cả nồi nước

chè xanh ngửa cổ uống một hơi, đặt xuống, phủi hai tay, bấy giờ mới thông

thả bảo.”[57;470]

Trong Người hát rong giữa rừng, tác giả sử dụng kết cấu truyện lồng

truyện, mở đầu là câu chuyện tìm diễn viên cho vai già làng của anh bạn thân.

Sau đó, chính nhân vật tôi đã ngược thời gian đưa người đọc trở về với quá

khứ để hiểu thêm về tính cách cũng như phẩm chất của người anh hùng Y

107

Yơn. Nhân vật tôi và Y Yơn vừa kể chuyện vừa hồi tưởng lại những kỷ niệm

đẹp trong kháng chiến. Đó là cách tác giả đan xen thời gian hiện tại - quá khứ

để thấy được tính cách cao đẹp của Y Yơn và những cống hiến của ông cho

âm nhạc dân tộc.

Trong Cát cháy, người kể chuyện đưa người đọc trở về với một xã anh

hùng để viết tiếp về những câu chuyện của những người con anh hùng. Bằng

kết cấu lồng ghép hiện tại và quá khứ, người đọc thấy được sự hy sinh của

những người anh hùng trong chiến tranh và cuộc sống còn nhiều khó khăn

hiện tại của họ. Sử dụng kết cấu truyện lồng truyện để thấy được cuộc sống

lặng lẽ của những người anh hùng đang hòa vào cuộc sống nhộn nhịp của xã

hội ngày hôm nay, đồng thời thức tỉnh xã hội đừng quay lưng với những khó

khăn hiện tại của họ.

Trong Có một con đường mòn trên biển Đông, là kết cấu lồng ghép đan

xen thời gian hiện tại – quá khứ. Quá khứ hào hùng của những chiến sĩ quả

cảm trên con đường vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam. Hiện tại là cuộc sống

còn nhiều khó khăn và thiếu thốn.

Từ đó, ta cảm thấy xót xa trước hoàn cảnh hiện tại của họ. Vì lẽ ra, với

những đóng góp của mình cho Tổ quốc, họ xứng đáng có cuộc sống tốt hơn.

Bằng kết cấu lồng ghép thời gian hiện tại – quá khứ và sử dụng kết cấu

truyện lồng truyện trong các sáng tác của mình ở giai đoạn sau năm 1975,

Nguyên Ngọc đã tái hiện toàn bộ cuộc sống và số phận của người anh hùng

trong quá khứ cũng như hiện tại còn nhiều khó khăn trong cuộc sống của họ.

Mặc dù, điều kiện vật chất còn thiếu thốn nhưng họ vẫn luôn lạc quan, yêu

đời và sống với một lý tưởng cao đẹp. Đó chính là vẻ đẹp tâm hồn cao thượng

của họ. Bằng thủ pháp lồng ghép hiện tại - quá khứ, truyện lồng truyện. Tác

giả còn cảnh báo và thức tỉnh chúng ta rằng chính sự thờ ơ của người đời,

cũng như chế độ chính sách còn hạn hẹp đã góp phần làm cuộc sống của

108

những người anh hùng vất vả và khó khăn hơn. Trước hoàn cảnh trớ trêu ấy,

những người chiến sĩ ấy vẫn âm thầm, lặng lẽ tiếp tục sống và đối mặt với

những khó khăn của chính số phận của mình mà không hề kêu ca, than vãn.

Đó chính là nét đẹp trong tâm hồn của họ.

109

KẾT LUẬN

01. Trong dòng chảy của văn học cách mạng Việt Nam, văn xuôi nghệ

thuật giai đoạn 1945 – 1975 nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung đã làm

tròn nhiệm vụ của nó là trở thành vũ khí chiến đấu đắc lực cho công cuộc

đấu tranh giành độc lập tự do của đất nước, với cảm hứng ngợi ca, tôn

vinh người anh hùng cùng với những hành động quả cảm, xả thân. Do

hoàn cảnh lịch sử của đất nước là đấu tranh giải phóng dân tộc, văn học

với nhiệm vụ phục vụ chính trị, phục vụ cách mạng, tuyên truyền và cổ vũ

cuộc chiến đấu nên ngợi ca chính là khuynh hướng bao trùm các sáng tác

với cảm hứng lịch sử và âm hưởng anh hùng ca, những hình tượng con

người sử thi, con người kết tinh và tiêu biểu cho sức mạnh, vẻ đẹp, ý chí

và khát vọng của nhân dân và dân tộc với khuynh hướng sử thi là khuynh

hướng chính của giai đoạn này. Người anh hùng luôn luôn được nhìn một

chiều với thái độ ngợi ca, tôn vinh.

02. Sau 1975, đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sau năm 1986, đất nước đã có những bước “chuyển mình”, đổi mới. Cuộc

sống đã thực sự đi vào quỹ đạo đời thường với những cái bình thường mà

muôn thuở vốn bị che lấp trong chiến tranh bây giờ thức dậy, vây quanh

con người. Cuộc sống được phản ánh trung thực hơn với đầy đủ, toàn diện

những góc khuất trong tâm hồn con người. Người anh hùng trong văn học

sau 1975 được nhìn nhiều chiều hơn, đa diện hơn có cái phi thường cao cả

và cũng có cái đời thường, giản dị, với những khao khát hạnh phúc cá

nhân lẫn những dục vọng đời thường, con người được nhìn ở góc độ cá

nhân. Tất cả những văn nghệ sĩ nhạy cảm với tình hình mới đã nhận ra sự

thay đổi của đất nước và nhanh chóng hòa vào dòng chảy chung đó của

dân tộc, họ thay đổi cách nhìn, cách nghĩ và cả trong cách viết của mình

về những người anh hùng bước ra từ quá khứ vinh quang.

110

03. Với Nguyên Ngọc, sau năm 1975, ông vẫn nhất quán với cảm

hứng anh hùng, tìm viết về những sự tích anh hùng và những tính cách

anh hùng, ông đã truy tìm, phục dựng về người anh hùng trong quá khứ,

trong hoài niệm. Vẫn là ngợi ca người anh hùng nhưng đi liền với ngợi ca

là những cảm thông, chia sẻ cho những mất mát và hy sinh của họ, cái

lãng mạn nhường chỗ cho cái đời thường. Với những trăn trở, xót xa có cả

những ray rứt của người cầm bút. Những người anh hùng được nhà văn

miêu tả một cách rõ nét về những khó khăn trong cuộc sống hiện tại của

họ. Họ là những người đã chiến đấu quên mình vì đất nước, hy sinh nằm

lại nơi trong lòng đại dương bao la, hy sinh hạnh phúc riêng của mình vì

nhiệm vụ thiêng liêng của Tổ quốc, thậm chí hiến tặng tài sản cá nhân cho

cuộc kháng chiến của dân tộc (Có một con đường mòn trên biển Đông),

cả tuổi thanh xuân, hạnh phúc của họ đã hiến dâng cho cuộc đấu tranh

giành độc lập tự do của đất nước (Cát cháy), là đồng bào đã cưu mang họ

trong cuộc chiến nhưng hiện tại đời sống của họ vẫn còn nhiều khó khăn

(Tháng Ninh Nông). Viết về họ như một cách để Nguyên Ngọc “nối vào

danh sách những người anh hùng được nhà nước tuyên dương phong

tặng, một danh sách những người anh hùng vô danh đang sống lẫn khuất

đâu đó trong sương mù đỉnh núi hay tản mạn ở những vùng biển xa...”

[55;335]. Những tác phẩm của ông đã đem lại cho văn học hiện đại Việt

Nam một cái nhìn đa diện về người anh hùng. Nguyên Ngọc như một

người thư kí mẫn cán của thời đại, ông lặng lẽ góp nhặt những hình ảnh

đẹp về người anh hùng, từ đó giúp người đọc mọi thế hệ có cái nhìn và

thái độ đúng đắn hơn về người anh hùng. Với cảm hứng về người anh

hùng, trong các sáng tác sau năm 1975 của Nguyên Ngọc, còn là người

anh hùng trong tình yêu, một tình yêu lý tưởng, trong sáng vô ngần (Trở

lại Mèo Vạc, Có một con đường mòn trên biển Đông), là sự hy sinh thầm

lặng của những người mẹ, người vợ (Có một con đường mòn trên biển

111

Đông) để góp thêm vào những chiến thắng của ngày hôm nay.

04. Nghệ thuật thể hiện là một trong những yếu tố hấp dẫn ở tác

phẩm của Nguyên Ngọc. Việc tìm hiểu ngôn ngữ và giọng điệu, cũng như

cách trần thuật, điểm nhìn được thể hiện trong sáng tác của Nguyên Ngọc

cũng giúp chúng ta hiểu thêm phong cách nhất quán của ông khi viết về

người anh hùng sau 1975. Với giọng điệu sẻ chia, đầy cảm thông cùng với

điểm nhìn trần thuật thay đổi linh hoạt theo từng đối tượng đã tạo cho văn

xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975 những tiếng nói đa âm sắc hơn, đa

giọng điệu hơn. Chính cảm hứng anh hùng đã đem đến cho ông những

thành công vang dội trong văn học đương đại Việt Nam. Những tác phẩm

của ông chứng tỏ tâm huyết mà ông dành cho người anh hùng. Việc ông

viết về người anh hùng không phải chỉ là trách nhiệm của một người cầm

bút đối với đất nước mà còn là chuyện lẽ sống, là lý tưởng. Bởi “không

phải vì văn chương mà ông tìm đến người anh hùng mà vì người anh hùng

ông thấy cần đến văn chương” [55;333]. Vì chỉ có văn chương mới làm

cho những người anh hùng bất tử và sống mãi trong lòng các thế hệ mai

sau. Cùng với việc sử dụng nhiều chất liệu ngôn ngữ được ông vận dụng

đầy sáng tạo, sử dụng thủ pháp lồng ghép thời gian quá khứ - hiện tại, kết

cấu truyện lồng truyện, dịch chuyển điểm nhìn trần thuật vào các nhân vật

trong mỗi câu chuyện là cách tác giả thể hiện được sự trăn trở, xót xa cho

cuộc sống hiện tại còn nhiều khó khăn của người anh hùng. Đồng thời, là

tiếng nói cảnh tỉnh xã hội đừng quay lưng với những khó khăn và bất

hạnh của họ trong hiện tại. Những tác phẩm văn xuôi phi hư cấu này còn

thể hiện sự quan tâm ngày càng lớn đến tính chất xác thực của tư liệu, từ

đó mở ra dòng cảm xúc của mạch văn. Và chính trong các văn bản phi hư

cấu đó, yếu tố ngày càng trở nên quan trọng hơn chính là sự trải nghiệm

qua các sự kiện, những suy tưởng và trầm tư thế sự ghi dấu sự hiện hữu

112

của cá tính nhà văn. Do đó, những sáng tác ở giai đoạn này, cách trần

thuật khác với giai đoạn trước năm 1975 ở chỗ người trần thuật đồng cảm

với nhân vật trong tác phẩm được thể hiện qua người trần thuật xưng tôi,

người trần thuật là người trong cuộc luôn suy tư, trăn trở với những khó

khăn, bất hạnh của chính những người đồng đội mình. Chính vì thế, tác

phẩm của ông có sức lay động người đọc mọi thế hệ, khơi dậy sự đồng

cảm của người đọc đồng cảm với số phận của nhân vật và day dứt về sự

khắt nghiệt của cuộc sống hiện tại.

05. Nguyên Ngọc là một nhà văn có phong cách nghệ thuật nhất

quán, viết văn với cảm hứng anh hùng. Trong cuộc đời cầm bút của mình,

nhà văn Nguyên Ngọc vẫn trước sau như một là viết về người anh hùng

với những tính cách anh hùng. Tuy nhiên, trong giai đoạn trước 1975, do

yêu cầu của thời đại nên người anh hùng được phản ánh trong tác phẩm

của ông là người anh hùng của những thủ lĩnh (Đất nướcc đứng lên,

Rừng xà nu), vượt lên trên lợi ích cá nhân, chiến đấu vì những mục tiêu

chung. Khi miêu tả người anh hùng thì chỉ tập trung phản ánh những hình

ảnh đẹp, chói lọi và những hành động hào hùng mà không nói đến cái đời

thường. Sau 1975, đất nước đã có những bước chuyển mình, đời sống xã

hội thay đổi với những mặt trái của kinh tế thị trường. Bằng quan niệm cá

nhân và trách nhiệm của người cầm bút, Nguyên Ngọc vẫn tiếp tục viết về

người anh hùng bằng những suy tư trăn trở về cuộc sống của họ sau chiến

tranh, nhìn người anh hùng trong cuộc sống đời thường với những lo toan

thường nhật. Ông đau đáu, xót xa cho cuộc sống thực tại đầy bất hạnh và

mất mát của họ. Một lần nữa Nguyên Ngọc tiếp tục khẳng định vị trí xứng

đáng của mình trong nền văn học đương đại Việt Nam bằng những dòng

văn nóng hổi tính thời sự và và đậm chất suy tư. Dòng văn học hiện thực

sau 1975.

113

Nhìn chung, những sáng tác sau năm 1975 của Nguyên Ngọc có đóng

góp đáng kể cho nền văn học hiện đại Việt Nam. Những nhân vật anh

hùng của Nguyên Ngọc sẽ là những tượng đài bất tử mãi mãi đi vào lòng

người đọc mọi thế hệ. Tuy cách tiếp cận người anh hùng có khác so với

trước năm 1975 nhưng như đã nói dù sáng tác trước hay sau năm 1975 thì

vẫn là một sự nhất quán từ đề tài, chủ đề, cảm hứng anh hùng. Và chính

cách nhìn người anh hùng đa diện hơn đã đem lại cho văn học sau 1975

một diện mạo mới.

114

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội.

2. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới.

3. Lại Nguyên Ân (1980), Vấn đề thể loại sử thi của văn học hiện đại, Tạp chí văn

học, (số 1).

4. Lại Nguyên Ân (1987), “Sống với văn học cùng thời”, Tạp chí văn học, (số 3).

5. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí

Văn học, (số 9).

6. Nguyễn Thị Bình (2012), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư Phạm.

7. V. G. Bêlinxki (1955), Toàn tập tác phẩm, tập VI, VII (bản dịch), Nxb Viện

Hàn Lâm khoa học Liên Xô.

8. M. Bakhtin (1991), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch và giới

thiệu, Trường viết văn Nguyễn Du.

9. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.

10. Các nhà văn nói về văn (1986), Nxb Tác phẩm mới – Hội nhà văn Việt Nam.

11. Nguyễn Minh Châu (2001), Toàn tập (tập 3) (2001), Nxb Văn học, Hà Nội.

12. Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội.

13. Đỗ Chu (1995), Một nền văn học gắn lền với vận mệnh dân tộc, Báo Văn nghệ

(số 7).

14. Nguyễn Đình Chú, Lê Trí Viễn (1978), Lịch sử văn học, Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

15. Trần Đăng (2004), Lan man với nhà văn Nguyên Ngọc, Báo Bình Định ra ngày

25/10/2004.

115

16. Phan Cự Đệ (1978), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (Tập 1 và 2), Nxb Đại học

và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

17. Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam (tập 1), Nxb Đại học

và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

18. Phạm Văn Đồng (2006), Về văn hóa và văn học nghệ thuật, Nxb Văn học, Hà

Nội.

19. Hà Minh Đức (Chủ biên) (2008), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

20. Hà Minh Đức (1998), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.

21. Hà Minh Đức (1998), Chặng đường mới của Văn học Việt Nam, Nxb Chính

trị Quốc gia.

22. Hà Minh Đức – Lê Bá Hán (1985), Cơ sở lý luận văn học (tập 2), Nxb Đại

học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

23. M. Gorki (1965), Bàn về văn học (Tập 1 và 2), (bản dịch), Nxb Văn học, Hà

Nội.

24. M.Gulaiev (1982), Lí luận văn học, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp,

Hà Nội.

25. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1995), Lí luận văn học vấn đề và

suy nghĩ, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

26. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2004), Từ điển

thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Tp. Hồ Chí Minh.

27. Heghen (2004), Mỹ học (bản dịch), Nxb văn học, Hà Nội.

28. Nguyễn Hải Hoành (2012), Nhà văn của nhân dân, Văn hóa Nghệ An.

http://www.vanhoanghean.com.vn

29. Hoàng Ngọc Hiến (2000), Văn học gần và xa, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

116

30. Hoàng Ngọc Hiến (1999), Năm bài giảng về thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

31. Hoàng Ngọc Hiến (1997), Tập bài giảng nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

32. Bạch Văn Hợp (2011), Phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng, Nxb ĐHSP Tp.

HCM

33. Nguyễn Văn Kha (2006), Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt

Nam 1975 – 2000, Nxb Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh.

34. Trần Đăng Khoa (2002), Nhà văn Nguyên Ngọc (Để hiểu thêm một số tác

phẩm – Phan Ngọc Thu chủ biên), Nxb Giáo dục và thời đại.

35. Phùng Ngọc Kiếm (1998), Con người trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại

1945 – 1975, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

36. Lê Đình Kỵ (1984), Tìm hiểu văn học, Nxb Tp.HCM.

37. M.B. Khrapchenkô (1972), Cá tính sáng tạo và sự phát triển của văn học, Nxb

Tác phẩm mới, Lê Sơn, Nguyễn Minh dịch.

38. Tôn Phương Lan sưu tầm và giới thiệu (2002), Trang giấy trước đèn, Nxb

Khoa học Xã hội, Hà Nội.

39. Phong Lê (1998), Con đường sáng tác của Nguyên Ngọc (trích “Phê bình bình

luận văn học” – Vũ Tiến Quỳnh biên soạn) Nxb Văn nghệ Tp.HCM.

40. Phong Lê (1980), Văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện thực xã hội chủ

nghĩa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

41. Phong Lê (2003), Văn học Việt Nam hiện đại – Lịch sử và lý luận, Nxb Khoa

học Xã hội, Hà Nội.

42. Phong Lê (1991), Nhận dạng văn học Việt Nam sau 1975, Tạp chí Văn nghệ (số

4).

117

43. Phong Lê (1997), Văn học trên hành trình của thế kỉ XX, Nxb Quốc gia

Hà Nội.

44. Nguyễn Văn Long (2012), Phê bình Văn học Việt Nam 1975 – 2005, Nxb Đại

học Sư Phạm, Hà Nội.

45. Nguyễn Văn Long (2003), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo

dục, Hà Nội.

46. Nguyễn Văn Long (1999), Cách mạng – kháng chiến và sự đổi mới ý thức của

thời đại, Văn nghệ Quân đội (số 10).

47. Nguyễn Văn Long – Lã Nhâm Thìn (đồng Chủ biên) (2006), Văn học Việt

Nam sau 1975, Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà

Nội.

48. Nguyễn Văn Long, Trần Hữu Tá (1981), Tư liệu tham khảo Văn học Việt

Nam 1945 – 1954 (1981), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

49. Nguyễn Văn Long (4/1985), “Văn xuôi sau 1975 viết về cuộc kháng chiến

chống Mĩ”, Văn nghệ Quân đội (số 4).

50. Nguyễn Văn Long (2007), Tiếp cận và đánh giá Văn học Việt Nam sau Cách

Mạng Tháng Tám, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

52. Phương Lựu (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La

Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình (2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục.

52. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (2009) Ngữ văn 12, tập I, Nxb Giáo dục Hà

Nội.

53. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Nguyễn Văn Long (đồng Chủ biên) (2002),

Lịch sử văn học Việt Nam, Nxb ĐHSP, Hà Nội.

54. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên) (1998), Văn học Việt Nam 1945 – 1975, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

118

55. Nguyễn Đặng Mạnh (2000), Nhà văn Việt Nam hiện đại: Chân dung và

phong cách, NXB Trẻ Tp.HCM

56. Nguyễn Đăng Mạnh (1992), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của

nhà văn, Nxb Giáo dục Hà Nội.

57. Thúy Nga (2009), Nỗi lòng nhớ và quên (trích Tác phẩm Nguyên Ngọc), Nxb

Hội nhà văn, Hà Nội.

58. Phùng Quý Nhâm (1992), Thẩm định văn học, Nxb Văn nghệ Tp.HCM

59. Phùng Quý Nhâm, Lâm Vinh (1995), Tiếp cận văn học, Trường ĐHSP Tp.

HCM.

60. Nguyễn Nghiệp (1966), Bàn thêm một ít vấn đề “anh hùng và bình thường”,

Tạp chí văn học (số 10).

61. Nguyên Ngọc (2009), Toàn tập Tác phẩm (tập 1,2 và 3), Nxb Hội nhà văn.

62. Nguyên Ngọc (2009), Chiến trường những năm tháng ấy, sống và viết (trích

“Tác phẩm Nguyên Ngọc”), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

63. Nguyên Ngọc (2002), Văn xuôi Việt Nam hiện nay, Lô-gíc quanh co của các

thể loại, những vấn đề đang đặt ra, và triển vọng. Tạp chí Văn học (Số 4).

64. Nguyên Ngọc (1998), Đôi điều nói thêm...sau 35 năm về “Đất nước đứng

lên”, (Phê bình bình luận văn học – Vũ Tiến Quỳnh biên soạn) Nxb Văn nghệ

Tp.HCM.

65. Nhiều tác giả (2012), Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa, Nxb Tri thức.

66. Phạm Xuân Nguyên (2012), “Chính ủy” Nguyên Ngọc, Văn hóa Nghệ An.

http://vietnamnet.vn

67. Nguyễn Thị Ninh (2011), “Chất thơ trong ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam

đương đại”, Nghiên cứu Văn học, (số 11).

119

68. Vũ Ngọc Phan (1989), Nhà văn hiện đại (2 tập), Nxb Khoa học Xã hội,

Hà Nội.

69. Huỳnh Như Phương (1985 - 1986), Dẫn vào tác phẩm văn chương, Trường

ĐH Tổng hợp Tp. HCM.

70. Huỳnh Như Phương (2008), Những nguồn cảm hứng trong văn học, Nxb Văn

nghệ Tp.HCM.

71. Huỳnh Như Phương (1991), Văn học hôm nay đang nhìn lại chính mình,

Tạp chí văn học số 4 – 1991. http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn

72. Huỳnh Như Phương (2012), Nguyên Ngọc, người ở tuyến đầu (trích “Nguyên

Ngọc vẫn trên đường xa”), Nxb Tri thức.

73. Huỳnh Như Phương (2007), Trường phái hình thức Nga, Nxb Đại học Quốc

gia Thành Phố Hồ Chí Minh, TP.HCM.

74. K. Pauxtopxki (1999), Bông hồng vàng và bình minh mưa, Nxb Hà Nội.

75. G.Pospelov (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học, (bản dịch) Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

76. Trần Đình Sử (1998), Giáo trình Thi pháp học, NXB Tp.HCM.

77. Trần Đình Sử (2000), Lý luận và phê bình văn học, NXB Giáo dục Tp. HCM.

78. Trần Đình Sử tuyển tập, tập 2: Những công trình lý luận và phê bình văn học

(2005), Nguyễn Đăng Điệp tuyển chọn, NXB Giáo Dục, Hà Nội.

79. Trần Đình Sử (2004), Tự sự học: một số vấn đề lí luận và lịch sử, Nxb Đại học

Sư Phạm, Hà Nội.

80. Hà Công Tài (2011), Nguyễn Khải – nhận thức mãnh liệt về nhân dân và đất

nước, Tạp chí văn tháng 12. http://vanvn.net/news

81. Đào Thản (1994), “Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện trong văn

120

xuôi”, Tạp chí nghiên cứu văn học (số 2).

82. Ngô Thảo, Lại Nguyên Ân (1995), Chân dung tự họa, NXB Văn học, Hà Nội.

83. Ngô Thảo (1984), Nguyên Ngọc, nhà văn chiến sĩ, Văn nghệ Quân đội (số 5).

84. Vũ Thị Thu (2010), Luận văn thạc sĩ Cảm hứng lãng mạn - anh hùng trong

văn xuôi Nguyên Ngọc 1945 – 1975, ĐH KHXH và NV Tp.HCM.

85. Trịnh Thu Tuyết (1999), “Nguyễn Minh Châu với nghệ thuật xây dựng nhân

vật truyện ngắn”, Tạp chí văn học (số 1).

86. Lê Ngọc Trà (2001), Văn chương thẩm mỹ và văn hóa, NXB Giáo dục.

87. Lê Ngọc Trà (1994), Mỹ học đại cương, NXB Văn hóa Thông tin.

88. Lê Ngọc Trà (2005), Lý luận và văn học, NXB Trẻ.

89. Lê Ngọc Trà (2002), “Văn học Việt Nam những năm đổi mới”, Tạp chí

Văn học (số 2).

90. Phan Tứ (1970), “Nguyễn Trung Thành – Cuộc sống và tác phẩm”, Văn nghệ

Quân đội (số 8).

91. Phùng Văn Tửu (2010), Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật, Nxb

Tri Thức, Hà Nội.

92. Marian Tkachov (1982), “Người được cách mạng động viên và trao cho sứ

mệnh.” Tạp chí văn học (số 3).

93. Hoàng Thị Văn (2000), Đặc trưng truyện ngắn Việt Nam 1975 – 1995, Luận

án tiến sĩ Ngữ văn, Đại học sư phạm Tp HCM.

94. Lê Trí Viễn (1998), Quy luật phát triển lịch sử văn học Việt Nam, NXB

Giáo dục.

95. Lê Trí Viễn (1998), Theo anh Núp (Phê bình bình luận văn học – Vũ Tiến

Quỳnh biên soạn) NXB Văn nghệ Tp.HCM.

PHỤ LỤC

(1) Trở lại Mèo Vạc: ở bút ký này tác giả lấy bối cảnh ở xã Mèo Vạc,

huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Nhân vật trong bút ký này là hai nhân vật có

thực là Sùng Chóa Vàng và Thào Mỹ. Họ là những người H’mông anh hùng,

một chiến sĩ thiện xạ từng cùng nhau tham gia diệt phỉ ở biên giới Việt –

Trung nhưng năm sáu mươi của thế kỷ trước. Trong trận diệt phỉ này, nhân

vật tôi cũng từng tham gia. Sau ba mươi năm xa cách bằng hữu, nhân vật tôi

có điều kiện trở lại thăm bạn cũ thì nơi đây đã thay đổi rất nhiều. Từ cảnh vật

đến con người. Cuộc sống người dân ở đây ngày càng xuống thấp, đời sống

tinh thần lẫn vật chất của họ không bằng ngày trước. Những người anh hùng

năm xưa như Thào Mỹ, như Sùng Chóa Vàng cũng không khá hơn vì ở vùng

đất đá này họ không biết phải mưu sinh với loại cây trồng gì. Đời sống ở vùng

cao thơ mộng này cũng đã bắt đầu nhuốm mùi kinh tế thị trường. Tác giả cảm

thấy những gì thơ mộng, tươi đẹp của năm xưa đã không còn nữa duy chỉ có

những người anh hùng H’mông xưa là không thay đổi. Họ vẫn anh hùng

nhưng nghèo.

(2) Tháng Ninh Nông: Truyện ngắn viết về Tây Nguyên. Tác giả lấy bối

cảnh ở Mường Hon, một làng cheo leo trên đỉnh núi Ngok Linh cách mặt

nước biển hơn hai nghìn mét. Trong kháng chiến chống Mỹ những năm sáu

mươi của thế kỷ trước, nhân vật tôi và đồng đội của mình bị sốt rét rừng nên

được nhân dân trong bản Mường Hon cưu mang và chăm. Đặc biệt cô gái

người Tơ Trá ấy đã cứu sống tôi bằng cả tính mạng lẫn trái tim. Hòa bình hơn

ba mươi năm sau, tôi trở lại đây thăm lại người xưa thì người con gái Tơ Trá

năm nào đã xây dựng gia đình với anh lính thông tin quê tận Phú Thọ. Tôi

cảm thấy đau đớn vì niềm tin của mình sụp đổ, lý tưởng về người con gái ấy

giờ chỉ còn là hoài niệm. Tôi không kịp gặp lại người con gái Tơ Trá ấy, anh

lao đi về với thành phố. Ở nơi mà chính anh cho rằng nó muôn sự nhiễu

nhương, hữu tích sự và vô tích sự.

(3) Người hát rong giữa rừng: truyện ngắn về người anh hùng của Tây

Nguyên, nghệ sĩ Y Yơn. Trong bút ký này, tác giả đã tái hiện lại cuộc gặp gỡ

giữa Y Yơn và nhân vật tôi. Trong câu chuyện là giọng kể xen lẫn giữa quá

khứ và hiện tại. Y Yơn trong quá khứ và Y Yơn hiện tại. Người nghệ sĩ Tây

Nguyên tài ba, bằng giọng hát của mình ông đã làm lay động những tâm hồn

lãng mạn. Chính Y Yơn đã dùng nghệ thuật của mình. Loại nghệ thuật đời

thường với những câu hát dân ca, với tiếng con chim K’tia, với tình yêu trai

gái…đã làm lay động tâm hồn người Tây Nguyên đưa họ về với đất nước, với

bản làng…Chính cái nghệ thuật đời thường ấy lại có giá trị bền vững nhưng

cuộc đời Yơn không giống tài năng của ông. Yơn vẫn nghèo. Vẫn sống cuộc

đời lang bạt của một nghệ sĩ vô danh dẫu rằng nghệ thuật của ông là nghệ

thuật tuyệt vời.

(4) Cát cháy: Tập bút ký về những đứa con của đất Quảng thân yêu, xã

Bình Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam những ngày trong khói lửa

chiến tranh. Là câu chuyện về một xã nghèo nhất tỉnh Quảng Nam ba lần

được vinh danh anh hùng. Anh hùng trong đấu tranh và anh hùng trong xây

dựng quê hương mới. Xã anh hùng Bình Dương đã từng cưu mang và che chở

cho những người con anh hùng. Họ là những người lãnh đạo giỏi trong thời

kỳ kháng chiến chống Mỹ, cũng có khi chỉ là người dân vì yêu nước nên tham

gia chống giặc góp phần của mình vào công cuộc xây dựng đất nước. Nhưng

hòa bình rồi, những người anh hùng của xã anh hùng ấy lại mang nhiều nỗi

đau thương. Đó là nỗi đau về tinh thần vì họ đã bỏ lại tuổi thanh xuân của

mình trong chiến tranh, đó là những mất mát về vật chất của cuộc sống hôm

nay còn nhiều thiếu thốn.

(5) Có một con đường mòn trên biển Đông: bút ký về những người anh

hùng tham gia đội công tác bí mật vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam. Nhận

nhiệm vụ trong hoàn cảnh bí mật những người anh hùng của Lữ đoàn Hải

quân 125 năm xưa giờ đã là những cụ già với cuộc sống hiện tại thiếu thốn.

Có người đã mãi mãi nằm lại nơi biển sâu bao la bởi sự khắc nghiệt của

nhiệm vụ, sẵn sàng hy sinh để giữ vững bí mật về con đường biển Đông.

Không chỉ những người anh hùng trực tiếp tham gia vào vận chuyển vũ khí

trên biển là những người anh hùng mà những người mẹ, người vợ, người phục

vụ cho công tác vận chuyển cũng là những người anh hùng bởi họ cũng đã âm

thầm chịu đựng, âm thầm hy sinh để bảo toàn tuyệt mật về tung tích con

đường. Đảm bảo cho sự vận chuyển vũ khí được thông suốt từ Bắc vào Nam.

Tất cả vì miền Nam thân yêu. Ngày hôm nay khi đất nước hòa bình thì cuộc

sống của những người anh hùng năm xưa dần bị lãng quên, xã hội chưa có sự

đền đáp xứng đáng với những đóng góp của họ cho Tổ quốc.