BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Cẩm Tú
CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT NGUYÊN NGỌC SAU 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Cẩm Tú
CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT NGUYÊN NGỌC SAU 1975
Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Bạch Văn Hợp
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Bạch Văn Hợp đã tận tình
hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong quá trình làm luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô trong khoa Ngữ Văn
đã có những ý kiến đóng góp quý báu cho tôi trong quá trình thực
hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Sau Đại Học, gia đình và
bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Dù đã nỗ lực và cố gắng rất nhiều, nhưng sẽ không tránh khỏi
có sai sót, rất mong sự đóng góp ý kiến chân thành của Quý Thầy
Cô trong Hội đồng chấm luận văn để luận văn hoàn thiện hơn.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 29/3/2013
Tác giả
Nguyễn Thị Cẩm Tú
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC ......................................................................................................... 1
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 4
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 11
3.1. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................... 11
3.2. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................... 12
4. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 12
4.1. Phương pháp lịch sử .......................................................................... 12
4.2. Phương pháp so sánh – đối chiếu ...................................................... 12
4.3. Phương pháp thi pháp học ................................................................. 13
4.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp ...................................................... 13
5. Đóng góp của luận văn ............................................................................ 13
6. Cấu trúc của luận văn ............................................................................... 13
Chương 1 ......................................................................................................... 15
NGUYÊN NGỌC – NHÀ VĂN LUÔN TÌM KIẾM NHỮNG ...................... 15
TÍNH CÁCH ANH HÙNG, NHỮNG SỰ TÍCH ANH HÙNG ..................... 15
1.1. Khái niệm cảm hứng và cảm hứng anh hùng trong văn học Cách mạng
Việt Nam ...................................................................................................... 15
1.1.1. Về khái niệm cảm hứng .................................................................. 15
1.1.2. Cảm hứng anh hùng trong văn học Cách mạng Việt Nam giai đoạn
1945 – 1975 ............................................................................................... 20
2
1.2. Cảm hứng anh hùng trong hành trình nghệ thuật của Nguyên Ngọc ... 24
1.2.1. Giai đoạn trước 1975 ...................................................................... 24
1.2.2. Giai đoạn sau 1975 ......................................................................... 31
1.3. Cội nguồn cảm hứng anh hùng của Nguyên Ngọc ............................... 34
1.3.1. Tâm lý xã hội, ý thức nghệ thuật thời chiến ................................... 34
1.3.2. Hoàn cảnh gia đình và môi trường sống ......................................... 40
1.3.3. Cá tính nhà văn ............................................................................. 43
Chương 2: ........................................................................................................ 49
CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN XUÔI NGHỆ
THUẬT CỦA NGUYÊN NGỌC SAU 1975 - MỘT SỰ TIẾP NỐI LIỀN
MẠCH, NHẤT QUÁN ................................................................................... 49
2.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam sau 1975 ..................................................... 49
2.2. Đề tài, chủ đề nhất quán, tính cách anh hùng đa diện .......................... 51
2.2.1. Đề tài ............................................................................................... 51
2.2.2. Chủ đề ............................................................................................. 56
2.2.3. Tính cách anh hùng đa diện ............................................................ 58
2.3. Thái độ, tình cảm của nhà văn đối với người anh hùng ....................... 69
Chương 3 ......................................................................................................... 76
BÚT PHÁP THỂ HIỆN CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG
VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT NGUYÊN NGỌC SAU 1975 .......................... 76
3.1. Cách tiếp cận gián cách mang đầy hoài niệm ....................................... 76
3.1.1. Không gian thời gian tâm tưởng ..................................................... 76
3.1.2. Nghệ thuật trần thuật ....................................................................... 79
3.2. Nghệ thuật miêu tả ấn tượng ................................................................. 89
3
3.1.1. Nghệ thuật miêu tả nhân vật ........................................................... 89
3.1.2 Miêu tả không gian – thời gian ........................................................ 92
3.1.3. Ngôn ngữ ........................................................................................ 99
3.3. Kết cấu lồng ghép đan xen hiện tại và quá khứ, truyện lồng truyện .. 104
3.3.1. Về khái niệm kết cấu – kết cấu lồng ghép đan xen ...................... 104
3.3.2. Kết cấu lồng ghép đan xen hiện tại và quá khứ, truyện lồng truyện
trong văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975 ................................ 105
KẾT LUẬN ................................................................................................... 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 114
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 116
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau năm 1975, đất nước đã bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, trong
đó có văn học. Trong cuộc sống thời bình, con người trở về với cuộc sống đời
thường, với những cái bình thường mà muôn thuở, tất cả những mối quan hệ
phức tạp của cuộc sống bị che lấp trong chiến tranh bây giờ thức dậy, vây
quanh con người từng giờ. Đời sống xã hội đã thay đổi rõ rệt. Do đó, văn học
cũng phải thay đổi theo cho phù hợp với tình hình mới, với cái nhìn toàn diện
và đa diện hơn.
Nguyên Ngọc là nhà văn nổi tiếng trước năm 1975 với những tác phẩm
viết về người anh hùng như: Đất nước đứng lên, Rừng xà nu, Đất Quảng
(tập 1), Rẻo cao. Sau năm 1975, cảm hứng về người anh hùng được tác giả tô
đậm với Trở lại Mèo Vạc, Người hát rong giữa rừng, Cát cháy, Có một con
đường mòn trên biển Đông, Tháng Ninh Nông. Ở những tác phẩm này,
Nguyên Ngọc vẫn viết về những người anh hùng. Một mặt, họ vẫn là những
người anh hùng kiên cường sắt thép, mặt khác còn là những con người của
tình yêu, đẹp và anh hùng trong tình yêu. Trong chiến tranh, họ sống và chiến
đấu vì đất nước, hòa bình họ lại tiếp tục những hành động đẹp của mình để
dựng xây xã hội. Những người anh hùng ấy tuy đời sống hiện tại còn nhiều
khó khăn nhưng bản lĩnh của người cách mạng đã rèn luyện cho họ, vững
vàng hơn, kiên cường hơn đối mặt với mặt trận không tiếng súng, vì thế càng
làm đẹp hơn những hình ảnh của họ trong sự phồn tạp của xã hội hôm nay.
Họ là những tấm gương sáng về sự hy sinh cho ta học tập và noi theo. Vì vậy,
tác phẩm của ông không những có tác dụng giáo dục sâu sắc thế hệ trẻ hôm
nay mà nó còn giúp chúng ta có cái nhìn trung thực hơn về người anh hùng.
Có thể khẳng định rằng Nguyên Ngọc là một cây bút văn xuôi hiện đại
5
có nhiều đóng góp xuất sắc cho nền văn học cách mạng Việt Nam. Ông là
một trong những nhà văn – chiến sĩ đi tiên phong cùng các phong trào của
cách mạng Việt Nam từ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và đặc biệt ngòi
bút của ông càng sâu sắc, chiêm nghiệm hơn, nhiều suy tư trăn trở hơn trong
thời kì đổi mới ngày hôm nay.
Tìm hiểu Cảm hứng về người anh hùng trong văn xuôi nghệ thuật
Nguyên Ngọc sau 1975 là một việc làm cần thiết. Ngoài việc giúp hiểu thêm
về phong cách sáng tác của nhà văn Nguyên Ngọc và sự thay đổi cách nhìn về
người anh hùng của ông, thì việc nghiên cứu đề tài cũng góp thêm vào cái
nhìn toàn diện về sự chuyển biến của văn học Việt Nam sau năm 1975 – nhất
là mảng sáng tác về đề tài chiến tranh, về người chiến sĩ cách mạng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong suốt quá trình sáng tác của mình, Nguyên Ngọc vẫn nhất quán
trước sau như một là viết về người anh hùng. Điều đó đã trở thành nguồn cảm
hứng chủ đạo làm nên sự nghiệp sáng tác của ông. Những sáng tác của
Nguyên Ngọc thường đậm chất anh hùng, đề cập đến những con người của
thời đại, của đất nước anh hùng, những người thật việc thật. Và trong cuộc
sống ngày hôm nay, họ là những người anh hùng đã hy sinh tuổi xuân của
mình cho ngày vui chiến thắng, nhà văn viết về họ như một sự chia sẻ, cảm
thông cho những mất mát của họ, đồng thời trăn trở với chính cuộc sống hiện
tại còn nhiều thiếu thốn của họ. Điều này đã được nhiều nhà văn, nhà nghiên
cứu, nhà phê bình văn học giới thiệu, phân tích và chọn làm đề tài khoa học.
2.1. Những ý kiến đánh giá chung về Nguyên Ngọc
Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Nguyên Ngọc – Con người lãng mạn đã
có một đánh giá tổng quát về con người và phong cách của nhà văn Nguyên
Ngọc, một cảm nhận trực cảm về nhà văn Nguyên Ngọc như sau: “…chuyện
6
của Nguyên Ngọc thường là những trải nghiệm khác thường, dữ dội, gây ấn
tượng mạnh…tâm hồn Nguyên Ngọc bắt rất nhạy những gì dữ dằn, quyết liệt
và có một vẻ hoang dã như sự sống thời nguyên thuỷ” [55;329]. Và ông kết
luận: “…Vì anh viết bằng lý tưởng, vì anh nhìn đời bằng lý tưởng” [55;339].
“Trong sử thi cổ đại, lấy nguồn ở thần thoại và truyền thuyết lịch sử, là những
tác phẩm lớn, đưa ra một bức tranh toàn cục về đời sống nhân dân thông qua
câu chuyện về người anh hùng qua khứ” [3;83]. Vì thế người anh hùng trong
sử thi là những con người vĩ đại, phi thường, con người chiến đấu vì cộng
đồng, bộ tộc. Theo ông, cái tạo nên phong cách riêng của nhà văn Nguyên
Ngọc là “người thực nhìn qua con mắt đầy lãng mạn của Nguyên Ngọc.
Nguyên Ngọc không phải chỉ viết sử thi, viết văn lãng mạn. Anh thật sự sống
trong không khí sử thi và mang hẳn trong máu mình chất lãng mạn” [55;337].
Phan Tứ người bạn cùng học, người chiến sĩ, là nhà văn cùng thời với
Nguyên Ngọc trong bài Nguyễn Trung Thành cuộc sống và tác phẩm đã
nhận định như sau: “Trong cuộc sống miền Nam muôn màu muôn vẻ, anh
chọn và xoáy sâu vào cái vấn đề sinh tử ấy. Tất cả suy nghĩ và cảm xúc của
anh xói vào hướng ấy như những mũi chông thép song song, có thể nói rằng
toàn bộ những gì anh đã viết – ký tên Nguyễn Trung Thành hoặc vài ba tên
khác, tùy lúc…anh trả lời bằng hình tượng văn học. Anh viết về những con
người gan góc và thông minh đã đánh thắng Mỹ, về chủ nghĩa anh hùng cách
mạng Việt Nam”[90;120]. Như vậy, ở bài viết này, tác giả đã khẳng định
rằng, Nguyên Ngọc luôn viết về người anh hùng bằng chính lý tưởng của
mình, ngòi bút của ông tập trung vào những vấn đề sinh tử của đất nước, vào
những phẩm chất anh hùng để ngợi ca về những chiến công của họ, người anh
hùng luôn là những con người phi thường như những mũi chông mũi thép,
sẵn sàng xông pha lửa đạn chiến tranh.
Lê Trí Viễn trong bài Theo anh Núp trích trong “Đất nước đứng lên”
7
của Nguyên Ngọc, ông khẳng định: “Bài văn nhỏ nhưng ý nghĩa thật không
nhỏ. Nó là một câu chuyện anh hùng. Câu chuyện anh hùng ấy lại là của
những người bình thường” [95;302]. Từ đó ông đi đến kết luận: “Cho đến
nay, nó vẫn còn là bài học đích đáng và thấm thía về sự trung thành với đất
nước, với Tổ quốc, với độc lập tự do với dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong
giai đoạn cách mạng hiện tại” [95;302].
Trần Đăng Khoa trong bài Nguyên Ngọc – chân dung văn đã nhấn
mạnh một đặc điểm riêng biệt của nhà văn Nguyên Ngọc trong sáng tác là
viết về người tốt, việc tốt: với những trang văn của Nguyên Ngọc người đọc
cứ như đi dự một Đại hội Chiến sĩ Thi đua “từng con người, từng nhân vật là
có thật, ông viết bằng tất cả hồn mình và cái hồn ấy thuộc về cách mạng. Bắt
đầu từ Đất nước đứng lên, tiếp nối mạch cảm xúc lãng mạn anh hùng,
Nguyên Ngọc lại đưa người đọc đến với vùng rừng núi. Ở đây, người đọc lại
có dịp gặp được Tnú trong Rừng xà nu” [65;92].
Trung Trung Đỉnh trong bài Nhà văn Nguyên Ngọc, con đẻ của cách
mạng, cho rằng tất cả các sáng tác của nhà văn Nguyên Ngọc đều là những
sáng tác về người thật, việc thật. Tây Nguyên qua ngòi bút của Nguyên Ngọc
“...không còn là Tây Nguyên chỉ có trong huyền thoại, không còn là Tây
Nguyên chỉ có trong truyền thuyết huyền bí mà là Tây Nguyên của một đất
nước có những con người cụ thể...Hình tượng Núp và bà con làng Kông Hoa
của dân tộc Bah Nar từ đây gần gũi hơn, máu thịt hơn” [61;487]. Về mặt
nghệ thuật, tác giả cũng khẳng định rằng: “Đất nước đứng lên đã nhanh
chóng tách đàn vượt lên, ào vào đời sống một cách hồn nhiên nhờ sức mạnh
của cảm hứng sáng tạo giàu chất thơ với một bút pháp trữ tình, lãng mạn,
hào hùng...” [61;488].
Phong Lê trong bài Con đường sáng tác của Nguyên Ngọc đã khẳng
định rằng: “...trong Đất nước đứng lên chan chứa một chất thơ say người. Ở
8
đây bút pháp hữu tình và anh hùng ca luôn luôn cất lên những cung bậc anh
hùng cao, phù hợp với khung cảnh cuộc sống và con người miền núi gần gũi
với thiên nhiên bao la, rộng rãi, tươi thắm các sắc màu; phù hợp với tính
cách con người chuộng cuộc sống phóng khoáng, tự do” [39;149].
Trong luận văn Thạc sĩ Cảm hứng lãng mạn – anh hùng trong văn
xuôi Nguyên Ngọc 1945 – 1975 [83], tác giả đã khẳng định được phong cách
nghệ thuật của nhà văn Nguyên Ngọc là cảm hứng lãng mạn anh hùng trong
văn xuôi giai đoạn trước 1975. Người anh hùng trong sáng tác của Nguyên
Ngọc ở giai đoạn trước 1975 là thủ lĩnh, người anh hùng mang màu sắc bi
tráng, oai hùng trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, với những hành
động gan dạ, dũng cảm, căm thù giặc ngùn ngụt, sẵn sàng hy sinh, xả thân vì
tổ quốc. Chiến đấu vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Về mặt nghệ thuật: luận văn cũng khẳng định trong các sáng tác trước 1975
của Nguyên Ngọc là giọng văn hào hùng, ngợi ca, đậm sắc thái anh hùng. Kết
hợp một cách nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ miền núi và ngôn ngữ địa phương
trong sáng tác. Với luận văn này, đã góp thêm hướng nghiên cứu mới, là tiền
đề, là điều kiện cho các nghiên cứu về văn xuôi Nguyên Ngọc ở giai đọan sau
1975.
2.2. Những ý kiến bàn riêng về Cảm hứng anh hùng trong văn xuôi
nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975
Sau 1975, nhiều cây bút lại thể hiện mình trên nhiều thể loại khác nhau,
có người không thể viết tiếp được nữa cũng có người thay đổi cách viết cho
phù hợp với cuộc sống mới, duy chỉ có Nguyên Ngọc, dòng chảy ấy vẫn tiếp
tục và còn mạnh mẽ hơn trước. Ông vẫn viết theo lối cũ. Trần Đăng Khoa
trong bài Nguyên Ngọc – chân dung văn có nhận xét rất xác đáng, như sau:
“Truyện của Nguyên Ngọc hầu hết là thế. Ông ca tụng chủ nghĩa anh hùng
cách mạng.... Bút pháp ông nhất quán trước sau như một, không thay đổi,
9
không quay quắt. Trong khi đó có rất nhiều cây bút chuyển hướng hoặc thay
đổi theo cách tiếp cận hiện thực để thu hút sự chú ý của bạn đọc. Trước viết
người tốt việc tốt thì sau viết người xấu việc xấu. Nguyên Ngọc không thể,
suốt đời dường như ông chỉ viết truyện người tốt việc tốt. Ngay cả khi dựng
nhân vật tiểu thuyết, ông cũng dựa trên những con người có thật, những sự
kiện có thật ở ngoài đời” [65;96]. Cảm hứng về người anh hùng là cảm hứng
chủ đạo mà Nguyên Ngọc theo đuổi bởi “Văn Nguyên Ngọc là một dạng văn có
ma lực. Giản dị, chắt lọc và trong veo. Đó cũng là dòng văn chủ đạo rất cần có
trong đời sống chúng ta hiện nay” [65;100].
Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Nguyên Ngọc – nhà văn lãng mạn đã
khẳng định như sau: “Nguyên Ngọc vẫn tiếp tục hướng về đối tượng cũ, vẫn
viết về người anh hùng, với giọng văn càng sôi nổi hơn, với những hình ảnh
càng chói lọi hơn, lãng mạn hơn....Giờ đây cũng vẫn những người anh hùng
kiên cường sắt thép ấy, nhưng họ còn là những con người của tình yêu, đẹp
và anh hùng trong tình yêu”[55;335].
Huỳnh Như Phương trong bài Nguyên Ngọc – Người ở tuyến đầu đã có
những nhận định rất tinh tế về mặt nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên
Ngọc: “Một trong những đặc điểm của văn chương Nguyên Ngọc chính là sự
kết hợp kỳ lạ giữa hiện thực và lãng mạn, giữa thực tế và lý tưởng, giữa văn
phi hư cấu và văn hư cấu. Ai cũng biết hầu hết tác phẩm của Nguyên Ngọc
đều bắt nguồn từ sự thật lịch sử, từ những con người và sự kiện có thực….Là
hiện thực mà cũng là huyền thoại…” Cùng bài viết ấy, tác giả khẳng định
“Những tác phẩm văn xuôi phi hư cấu gần đây của Nguyên Ngọc thể hiện sự
quan tâm ngày càng lớn đến tính chất xác thực của tư liệu, ngày càng thường
xuyên hướng đến những sự kiện không thêu dệt, từ đó mở ra dòng cảm xúc
của mạch văn. Đồng thời, chính trong các văn bản phi hư cấu đó, yếu tố ngày
càng trở nên quan trọng không chỉ là những chứng từ được bảo chứng về mặt
10
tư liệu mà còn là sự chính xác của ấn tượng, sự trải nghiệm qua các sự kiện,
sự suy tưởng và trầm tư thế sự ghi dấu sự hiện hữu của cá tính nhà
văn”[71;106,107].
Thúy Nga trong Nỗi lòng của nhớ và quên đã thừa nhận rằng: “Nguyên
Ngọc đã tìm thấy cái lớn lao đằng sau những điều bình thường, nhỏ nhặt, và
kể về điều đó bằng một giọng văn vừa dịu nhẹ vừa nóng bỏng, đã như là
“mảnh đất” của riêng Nguyên Ngọc....Điện Bàn viết năm 1971, Cát cháy viết
năm 1998, và bây giờ 2005, mà câu chuyện dữ dội về người và đất Điện Bàn
những ngày “nung bão”, hay ngọn nguồn của cái sức mạnh kỳ lạ như huyền
thoại của vùng cát trắng Bình Dương (Thăng Bình, Quảng Nam) ba lần được
tuyên dương anh hùng, vẫn đủ sức lay động người đọc. Nhất là với bút ký Có
một con đường mòn trên biển Đông, với khúc ca bi tráng của những người
quyết quên đi cái chết của mình vì sự sống còn của miền Nam ruột thịt”
[57;518].
Nhìn chung, các bài nghiên cứu về Nguyên Ngọc ở giai đoạn trước 1975
và những bài nghiên cứu về Nguyên Ngọc ở giai đoạn sau 1975 của Nguyễn
Đăng Mạnh, Phan Tứ, Lê Trí Viễn, Trần Đăng Khoa, Trung Trung Đỉnh,
Phong Lê, Thúy Nga, Ngô Thảo, Huỳnh Như Phương... chỉ mới dừng lại ở
một số bài báo hay những nhận định, đánh giá, khái quát về phong cách nghệ
thuật của Nguyên Ngọc. Riêng luận văn của tác giả Vũ Thị Thu phần nào đã
khái quát rõ phong cách nghệ thuật của Nguyên Ngọc là viết văn với cảm
hứng anh hùng ở giai đoạn trước 1975, còn giai đoạn sau 1975 thì tác giả vẫn
để ngỏ. Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những người đi trước, chúng tôi xác lập
hướng nghiên cứu có hệ thống hơn. Xuyên suốt hành trình nghệ thuật của
mình Nguyên Ngọc đều nhất quán với cảm hứng anh hùng nhưng người anh
hùng trong sáng tác sau 1975 là người anh hùng được phục dựng lại, vẫn là
cảm hứng ngợi ca nhưng cách nhìn người anh hùng đa diện hơn, với thái độ
11
chia sẻ, cảm thông cho những mất mát, đau thương của họ. Đồng thời, qua tác
phẩm tác giả cũng thể hiện những ray rứt, trăn trở và xót xa cho cuộc sống
còn nhiều thiếu thốn và bất hạnh của người người anh hùng trong hiện tại.
Viết về họ, tác giả không chỉ ca ngợi những hành đồng anh dũng trong chiến
tranh mà còn chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống đời thường với sự giản
dị, trong sáng trong tính cách và hành động của họ. Đồng thời, khẳng định
những đóng góp to lớn của nhà văn Nguyên Ngọc cho sự phát triển của văn học
Việt Nam đương đại trong giai đoạn đổi mới của văn học chặng đường sau 1975
đến nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của luận văn là Cảm hứng về người anh hùng trong
văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975. Tuy nhiên để thực hiện mục
tiêu nghiên cứu, luận văn sẽ phải khảo sát một số sáng tác tiêu biểu của
Nguyên Ngọc thời kì trước 1975 để thấy được sự nhất quán, liền mạch trong
cảm hứng của nhà văn khi viết về người anh hùng.
Các tác phẩm viết trước 1975:
- Đất nước đứng lên (tiểu thuyết) (1955)
- Rừng xà nu (truyện ngắn) (1965)
- Đất Quảng (tiểu thuyết) (1971)
Các tác phẩm viết sau 1975:
- Trở lại Mèo Vạc (bút ký) (1990)
- Tháng Ninh Nông (truyện ngắn) (1999)
- Người hát rong giữa rừng (truyện ngắn) (1996)
- Cát cháy (bút ký) (1998)
12
- Có một con đường mòn trên biển Đông (bút ký) (1998)
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nhằm khẳng định những đóng góp của nhà văn Nguyên Ngọc
ở lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật sau 1975 với sự tiếp nối cảm hứng về người
anh hùng trong một hoàn cảnh mới. Từ đó, khẳng định sự nhất quán, liền
mạch trong phong cách của nhà văn. Với cảm hứng ngợi ca, trân trọng cùng
những chia sẻ với cuộc sống của người anh hùng trong hiện tại, nhà văn
Nguyên Ngọc đã có cái nhìn mới về họ. Luận văn góp tiếng nói khẳng định vị
trí xứng đáng của nhà văn trong nền văn học đương đại Việt Nam sau 1975.
Để thấy rõ sự nhất quán trong phong cách của Nguyên Ngọc, người viết sẽ
tiến hành so sánh các tác phẩm trước và sau 1975 để thấy được cảm hứng
trong sáng tác của ông là cảm hứng anh hùng.
4. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng nghiên cứu, xuất phát từ mục đích
của đề tài, trên cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu văn học, người viết
sử dụng các phương pháp sau:
4.1. Phương pháp lịch sử
Khi nghiên cứu các sáng tác của Nguyên Ngọc phải gắn liền với hoàn
cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam những năm trước và sau 1975 để thấy được
sự tác động của hoàn cảnh đối với hoạt động sáng tác của nhà văn từ việc
hình thành cảm hứng, lựa chọn đề tài, xác định chủ đề đến tổ chức kết cấu tác
phẩm, xây dựng hình tượng, sử dụng ngôn từ, chọn điểm nhìn trần thuật và
lựa chọn giọng điệu.
4.2. Phương pháp so sánh – đối chiếu
Để thấy rõ sự khác biệt trong phong cách nghệ thuật của Nguyên Ngọc
với những nhà văn cùng thời cũng như cảm hứng về người anh hùng ở hai giai
13
đoạn sáng tác trước và sau 1975, người viết tiến hành so sánh những sáng tác của
Nguyên Ngọc với các sáng tác của các tác giả cùng thời, đồng thời so sánh với các
tác phẩm của chính nhà văn Nguyên Ngọc ở giai đoạn trước và sau 1975.
4.3. Phương pháp thi pháp học
Thi pháp học là một phương pháp nghiên cứu văn học. Để thực hiện đề
tài này, luận văn sẽ tìm hiểu cách tiếp cận về người anh hùng ở giai đoạn sau
1975. Do đó, việc tìm hiểu nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật miêu tả, kết cấu
tác phẩm là việc làm cần thiết để hiểu được phong cách sáng tác của tác giả
cũng như giúp người đọc có cái nhìn bao quát và toàn diện hơn về người anh
hùng trong quá khứ và hiện tại.
4.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phân tích, tổng hợp là một trong những thao tác không thể thiếu đối với
mọi công trình nghiên cứu. Trên cơ sở những tư liệu đã được thống kê, phân
loại, luận văn sẽ tập trung vào những điểm cần thiết, tìm ra những điểm đặc
sắc và độc đáo trong cảm hứng về người anh hùng trong văn xuôi nghệ thuật
của Nguyên Ngọc sau 1975.
5. Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài này, luận văn sẽ khẳng định lại lần nữa những đóng góp
to lớn của nhà văn cả về nghệ thuật lẫn nội dung trong giai đoạn sáng tác sau
1975 khi viết về người anh hùng. Nghiên cứu cảm hứng về người anh hùng
trong sáng tác của Nguyên Ngọc sau 1975 một lần nữa khẳng định được
phong cách nhất quán của nhà văn – một cây bút sử thi tràn đầy cảm hứng
lãng mạn – anh hùng. Qua đó, người đọc có cái nhìn toàn cảnh về sáng tác của ông
cũng như đóng góp của Nguyên Ngọc đối với nền văn học Việt Nam đương đại.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn gồm 3
14
chương được trình bày như sau:
Chương 1 - được trình bày từ trang 15 đến trang 48. Ở chương này,
người viết tập trung làm rõ nội hàm khái niệm cảm hứng, cảm hứng anh hùng
trong văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn trước 1975. Từ đó thấy được
cảm hứng trong sáng tác của Nguyên Ngọc sau 1975 cũng vẫn là cảm hứng
anh hùng với những trăn trở, chiêm nghiệm về cuộc đời, đặc biệt là về cuộc
đời người anh hùng trong hiện tại. Đồng thời ở chương này, người viết cũng
trình bày khái quát hành trình nghệ thuật qua hai giai đoạn sáng tác trước và
sau 1975 của Nguyên Ngọc để thấy được sự nhất quán trong cảm hứng của
nhà văn. Từ đó, lí giải cội nguồn của cảm hứng anh hùng trong sáng tác của
Nguyên Ngọc.
Chương 2 – được trình bày từ trang 49 đến trang 76. Ở chương này,
người viết sẽ trình bày sự tiếp nối và bổ sung cảm hứng về người anh hùng
trong văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc giai đoạn sau 1975 tìm hiểu về bối
cảnh xã hội Việt Nam sau 1975. Từ cách chọn đề tài, chủ đề thể hiện đến cách
xây dựng tính cách anh hùng đa diện. Tất cả những yếu tố đó đã cho thấy
được sự nhất quán trong phong cách nghệ thuật của nhà văn. Từ đó, tìm hiểu
về thái độ, tình cảm của nhà văn đối với người anh hùng.
Chương 3 – được trình bày từ trang 77 đến trang 108. Ở chương này,
người viết tập trung làm rõ bút pháp nghệ thuật của Nguyên Ngọc thể hiện
trong các sáng tác sau 1975. Từ cách tiếp cận nhân vật anh hùng gián cách
mang đầy hoài niệm với những cảm thông sâu sắc và chia sẻ những mất mát
của chính họ. Thể hiện kết cấu lồng ghép đan xen quá khứ, hiện tại là cách tác
giả đưa người đọc trở về với quá khứ để có cái nhìn nhiều chiều về người anh
hùng của hôm qua và cuộc sống hiện tại của họ hôm nay. Đồng thời thấy
được sự thay đổi điểm nhìn trần thuật cũng như cách miêu tả giàu ấn tượng để
làm bộc lộ tính cách chân thật, giản dị, đời thường của nhân vật.
15
Chương 1
NGUYÊN NGỌC – NHÀ VĂN LUÔN TÌM KIẾM NHỮNG
TÍNH CÁCH ANH HÙNG, NHỮNG SỰ TÍCH ANH HÙNG
1.1. Khái niệm cảm hứng và cảm hứng anh hùng trong văn học Cách
mạng Việt Nam
Cảm hứng là sự kết hợp hài hòa giữa tình cảm và tư tưởng trong một tác
phẩm nghệ thuật, đóng vai trò quan trọng trong việc sáng tạo văn học của nhà
văn. Chính cảm hứng là động lực thôi thúc nhà văn sáng tác để bày tỏ tư
tưởng và tình cảm của mình về thế giới mà mình phản ánh trong tác phẩm.
Tìm hiểu cảm hứng sáng tác của một tác giả, đồng nghĩa với việc tìm hiểu tư
tưởng sáng tạo của tác giả đó. Đây là một việc làm cần thiết, vì nắm bắt được
tư tưởng sáng tạo của tác giả, ta sẽ hiểu và lý giải được cách lựa chọn đề tài,
xây dựng nhân vật, sắp xếp các chi tiết…trong tác phẩm.
1.1.1. Về khái niệm cảm hứng
Sáng tạo văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần và theo
phương thức chiếm lĩnh riêng của từng nghệ sĩ. Văn học nghệ thuật phản ánh
đời sống xã hội bằng hình tượng nghệ thuật, do đó đời sống xã hội chính là
nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn thỏa sức sáng tạo. Có thể khẳng định
rằng sự dồi dào về cảm xúc của tác phẩm nghệ thuật là một đặc điểm cơ bản
của việc tái tạo hiện thực bằng hình tượng, là một đặc điểm của sự thể hiện
những tư tưởng sáng tạo, sự phát triển của các tính cách. Cảm hứng chỉ hình
thành và xuất hiện ở nhà văn khi trong anh ta có vốn sống đầy ắp và được
nuôi dưỡng bằng sự sống, bằng tinh thần, được nghiền ngẫm kĩ và khi bắt gặp
những sự kiện, những cảnh đời, thì cảm hứng ấy được bộc lộ ra và thôi thúc
sự sáng tạo của nhà văn, nó kêu gọi nhà văn, kêu gọi anh ta lao động để tạo
dựng hình thức cho nó. Không những vậy, nhà văn phải luôn mang một tấm
16
lòng rộng mở, biết ngạc nhiên dù là với một vẻ đẹp bình dị của cuộc sống, rất
nhạy cảm với những thay đổi chung quanh “nhà văn hiện thực, hoàn toàn
không phải là chiếc máy hát cần mẫn tái hiện lại những khúc nhạc được ghi
trên đĩa hát”[37;88] mà là người phải biết thể hiện những vẻ đẹp của cuộc
sống bằng chính trái tim của mình, tức là thể hiện cuộc sống khách quan qua
lăng kính chủ quan của mình.
Khái niệm cảm hứng được đề cập đến từ lâu trong lý luận nghệ thuật ở
châu Âu. Có lẽ Hegel là nhà mỹ học đầu tiên đưa ra một lý luận tương đối
hoàn chỉnh về cảm hứng và đưa nó vào một trong các phạm trù mỹ học. Hegel
cho rằng cảm hứng là trung tâm của vương quốc nghệ thuật. “Tình cảm tạo
nên trung tâm thực sự trên vương quốc chân chính của nghệ thuật; thể hiện
tình cảm là cái chủ yếu trong tác phẩm nghệ thuật, cũng như trong cảm thụ
của công chúng” [28;244]. Hegel xem cảm hứng là “sức mạnh của tâm hồn
tự thể hiện trong chính nó, là nội dung chủ yếu của lý tính và ý chí tự do”
[28;299]. Hegel cho rằng cảm hứng thực sự có được khi có một nội dung đã
được quy định. Đồng tình với quan điểm của Hegel, nhà phê bình Nga
Bêlinski cũng đề cao vai trò của cảm hứng. Ông xác định vai trò và nguồn
gốc tư tưởng trong tác phẩm: “Trong những tác phẩm nghệ thuật chân chính
tư tưởng đâu phải là một khái niệm trừu tượng được thể hiện một cách giáo
điều mà nó là linh hồn của chúng, nó chan hòa trong chúng như ánh sáng
chan hòa trong pha lê. Trong những tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng là cảm
hứng chủ đạo của chúng. Cảm hứng chủ đạo là gì? Đó là sự thâm nhập say
mê và sự ham thích một tư tưởng nào đó, mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là kết
quả chủ đạo phải thấm đượm. Thiếu cảm hứng chủ đạo thì không thể hiểu
được là cái gì đã buộc nhà thơ cầm bút và cung cấp cho anh ta sức lực và khả
năng khởi đầu và kết thúc một tác phẩm đôi khi khá đồ sộ” [7;111].
Cảm hứng cũng không phải tự nhiên mà đến, cảm hứng là một trạng thái
17
hưng phấn tột độ và khi bắt gặp hiện thực khách quan thì chính nó – cảm
hứng được nhà văn chuyển thành cái chủ quan của mình, cảm hứng ấy được
kết tinh từ sự lao tâm khổ tứ của nhà văn, từ sự thai nghén đứa con tinh thần,
suy tư, cấu tứ, tưởng tượng trước đó và nói cho đúng hơn là nhà văn đã cảm
thấy đau ở đâu trên chính cơ thể của mình nên buộc nhà văn cầm bút, cảm
hứng được nuôi dưỡng bằng lao động miệt mài, sự khổ công của nhà văn và
chỉ khi người nghệ sĩ làm việc và sáng tạo thì lúc đó cảm hứng mới đến. Nói
như Traicốpki: Cảm hứng là một khách hàng không ưa đến thăm những kẻ
lười […]. Khi đã có một khách thể thẩm mỹ và cảm hứng chính là cái trạng
thái hoạt động tích cực ở trong thế giới bên trong của nhà nghệ sĩ. Theo Hegel
thì yêu cầu quan trọng nhất đối với người nghệ sĩ là khi người nghệ sĩ ấy quan
tâm nghiêm túc tới một đối tượng mà đối tượng ấy trở thành một cái gì sinh
động trong tâm hồn người nghệ sĩ và lúc đó cảm hứng sẽ tự đến và “một nghệ
sĩ dồi dào thực sự nhờ cái sức sống này sẽ tìm thấy hàng ngàn điều kích thích
hoạt động và cảm hứng, những kích thích mà người khác sẽ bỏ qua và chẳng
hề chú ý tới” [27;229].
Trong tác phẩm nghệ thuật nếu như tình cảm bao giờ cũng phải chứa
đựng tư tưởng thì tư tưởng bao giờ cũng thấm đượm tình cảm. “Tư tưởng của
tác phẩm không thể là tư tưởng khô khan thuần tuý mà phải biến thành khát
vọng, thành cảm hứng” [87;15]. Nói khác đi, thì tư tưởng nghệ thuật phải
vượt lên trên mọi trở ngại, nó chính là sự nung nấu là tình yêu, là sự dằn vặt
trong chính tâm hồn của tác giả, là tình cảm chân thành nhất mà tác giả dành
cho đứa con tinh thần của mình. Tình cảm là một trong những động lực thúc
đẩy cảm hứng sáng tạo. Tư tưởng sẽ không thể chuyển hóa được vào hình
tượng một cách nhuần nhuyễn nếu thiếu đi nguồn cảm hứng. Chính cảm hứng
đã tạo nên linh hồn của hình tượng, làm cho hình tượng trở thành một chỉnh
thể nghệ thuật sinh động. Chính nhà văn là người thâm nhâp vào đối tượng
18
với một trạng thái tràn đầy cảm hứng để chuyển hóa cái khách quan ấy thành
cái chủ quan. Vì vậy, tác phẩm văn học không chỉ là khách thể được phản ánh
mà còn là chủ thể được biểu hiện. Người đọc đến với tác phẩm là đến với
cuộc sống đã được tái tạo đồng thời còn khai phá tâm hồn của nhà văn, đến
với tư tưởng, thái độ của nhà văn đối với hiện thực cuộc sống. Công việc của
một nhà văn cả đời thực ra chỉ có thể làm một việc: đem máu thịt và cả tâm
hồn mình vào trong tác phẩm. Và người đọc chính là người chia sẻ cảm xúc
với chính tác giả, người đọc đồng sáng tạo với tác giả.
Riêng với Pospelov, ông chủ yếu quan tâm đến những yêu cầu đối với
cảm hứng. Đối với ông, cảm hứng phải là “sự đánh giá sâu sắc và chân thực
– lịch sử đối với các tính cách được miêu tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc
khách quan của các tính cách ấy là cảm hứng tư tưởng sáng tạo của nhà văn
và của tác phẩm của nhà văn” [74;152]. Ở đây, Pospelov đã quan tâm đến
tính chân lí lịch sử của tác phẩm văn học. Cảm hứng ấy chính là trạng thái
hưng phấn cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc
sống mà nhà văn miêu tả. Tức là nhà văn phải yêu những cái đáng yêu, ghét
những cái đáng ghét, ca ngợi những cái đáng ca ngợi. Nếu nhà văn ca ngợi
hành động chiến đấu dũng cảm của một tên giặc ngoại xâm hay đề cao vai trò
của một giai cấp thống trị mục ruỗng thì sự ca ngợi ấy, đề cao ấy không trở
thành cảm hứng hoặc đó chỉ là thứ cảm hứng giả tạo vì nó mất tính khách
quan lịch sử. Ông viết tiếp: “Ở những tác phẩm không có chiều sâu của hệ
vấn đề, sự lí giải và đánh giá các tính cách sẽ không được nâng lên thành
cảm hứng. Ở những tác phẩm mang tư tưởng giả tạo, cảm hứng chỉ được tạo
nên do ý chí chủ quan của nhà văn và vì vậy cảm hứng sẽ mang tính chất
gượng gạo, cố tình” [74;153].
K. Paustovsky lại có cách nhận định riêng của mình ông cho rằng cảm
hứng không phải là cái gì khó hình dung mà đó là “sự cao hứng của tâm hồn,
19
sự thoải mái, sự tiếp nhận hiện thực một cách sinh động, khi trong người tràn
đầy ý nghĩ và tri thức về sức mạnh sáng tạo của mình” [74;45]. Chính trong
quá trình sáng tạo của mình, nhà văn thấy lóe lên một tia chớp sáng tạo, thấy
mình bỗng nhiên bị cuốn hút vào một cảm giác, một hình ảnh, một âm điệu
hay một ý nghĩ nào đó và muốn bắt tay vào sáng tác là nhà văn đang có cảm
hứng. Và như thế “cảm hứng là một trạng thái phấn chấn về tinh thần giúp
cho người ta thấy rõ, thấy nhanh nhiều vấn đề theo một hướng tập trung, phát
hiện được nhiều điều mới, thực hiện được công việc một cách thích thú và đạt
kết quả cao” [26;116].
Tác phẩm văn học nghệ thuật khác với các ngành lao động nghệ thuật
khác vì nó chứa đựng tình cảm chủ quan của chủ thể sáng tạo, cho nên cảm
hứng sáng tạo của văn nghệ sĩ vốn phải dạt dào, phải mãnh liệt. Cảm hứng là
một trạng thái tâm lí căng thẳng nhưng say mê khác thường. Sự căng thẳng
của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc khi đã đạt đến sự hài hòa, kết tinh
sẽ bùng cháy trong tư duy nghệ thuật của nhà văn dẫn dắt họ đến những mục
tiêu da diết bằng con đường gần như trực giác, bản năng. Cảm hứng chính là
những mạch cảm xúc đạt đến đỉnh cao và bắt buộc nhà văn phải cầm bút để
viết ra những điều nhà văn cảm thấy để từ đó nhận được sự chia sẻ đồng cảm
từ độc giả. Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lí tưởng xã hội của
nhà văn nhằm phát triển và cải tạo lại thực tại.
Như vậy, từ những quan niệm của các nhà mỹ học, các nhà nghiên cứu
và phê bình văn học, chúng tôi đi đến kết luận cảm hứng là nhiệt tâm, là say
mê một tình cảm mạnh mẽ mang tư tưởng của nhà văn hướng về đối tượng.
Cảm hứng trong tác phẩm nghệ thuật không phải là một thứ tình cảm giả tạo
hay hời hợt mà phải là một thứ tình cảm sâu sắc mãnh liệt. Đó phải là một nỗi
đau xé lòng, một tình yêu tha thiết…Cảm hứng trong tác phẩm phải là thứ
tình cảm nghiêng về lẽ phải, gắn liền với những tư tưởng lành mạnh, tiến bộ,
20
cao đẹp. Nói đúng hơn, “đó là niềm say mê khẳng định chân lý, lí tưởng, phủ
định sự giả dối và mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực, là thái độ ngợi ca, đồng
tình với những nhân vật chính diện, là sự phê phán, tố cáo các thế lực đen tối,
các hiện tượng tầm thường ” [26;268].
1.1.2. Cảm hứng anh hùng trong văn học Cách mạng Việt Nam giai
đoạn 1945 – 1975
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một thời kì phát triển mới
của đất nước trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa – giáo dục…Đi
cùng với sự phát triển đó, văn học nghệ thuật chuyển sang một bước ngoặt
mới và thu được nhiều thắng lợi. Năm 1951, trong thư gửi các anh chị em
nghệ sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Văn hóa nghệ thuật cũng là một
mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Vì Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã
hội là phương châm lớn của văn nghệ trong suốt thời kì dài lịch sử. Đường lối
văn nghệ đó đã xác định cho người viết lập trường nhân dân, phát huy truyền
thống dân tộc, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Nhân dân là cội
nguồn khơi gợi mọi hoạt động sáng tạo nghệ thuật và nhân dân cũng là đối
tượng thưởng thức, tiếp nhận. Nhà văn phải đứng trên lập trường nhân dân,
lấy quan điểm của nhân dân để nhận thức và giải quyết mọi vấn đề. Đồng
thời, nền văn học mới phải biết phát huy và khai thác những giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc. Tính nhân đạo và tính dân tộc luôn là phương châm
và chuẩn mực cho các tác phẩm văn chương.
Khuynh hướng sử thi là đặc điểm bao trùm nền văn học kháng chiến, nền
văn học phục vụ cách mạng. Sử thi trong văn học 1945 – 1975 không phải là
khái niệm thể loại như sử thi cổ đại, mà là một khái niệm để chỉ đặc điểm của
văn học được sáng tạo trên nền tảng của ý thức cộng đồng toàn dân, xuất hiện
vào thời kì có đấu tranh chống giặc ngoại xâm, có phong trào xã hội bảo vệ
các lợi ích toàn dân. Trong đó, xung đột có tính sử thi là xung đột của dân tộc
21
ta với kẻ thù xâm lược, của cộng đồng toàn dân ta với giặc ngoại xâm. Chủ đề
có tính sử thi là dân tộc, nhân dân, Tổ quốc. Nhân vật là những người anh
hùng đại diện cho phẩm chất, ý chí và sức mạnh của dân tộc. Đặc biệt, là hình
tượng người lãnh tụ, người chiến binh, hình tượng người mẹ được thể hiện
bằng giọng điệu ngợi ca, khẳng định, cổ vũ nhân dân. Chất sử thi không đối
lập với hiện thực mà có khả năng hòa hợp, gắn bó với chất hiện thực, từ đó
nảy sinh chất trữ tình trong sáng tác.
Vì thế, chất trữ tình thể hiện khá đậm nét trong nhiều truyện ngắn. Các
nhà văn thường nhạy cảm với cái đẹp của thiên nhiên, đất nước, nhất là vẻ
đẹp của tâm hồn con người, thiên về khai thác các mối quan hệ tình cảm,
những rung động tâm hồn, nhưng không vượt ra ngoài mạch sử thi – anh
hùng. Đồng thời, mỗi tác giả lại có cách thể hiện riêng, có sự kết hợp riêng
tùy theo cá tính của mỗi nhà văn. Tiêu biểu cho văn xuôi giàu chất trữ tình,
đậm chất lãng mạn là Hòn đất của Anh Đức, nhân vật trong tác phẩm của
Anh Đức là những con người hoàn hảo, mang lí tưởng với tình cảm trong
sáng, đậm nét truyền thống và thời đại. Phong cảnh thiên nhiên đẹp, phóng
khoáng mang nét đặc trưng của Nam Bộ. Một số truyện ngắn của Nguyễn
Minh Châu cũng thể hiện nổi bật chất trữ tình và cảm hứng lãng mạn của thời
đại. Đến với Tô Hoài, ta bắt gặp chất thơ của thiên nhiên và tâm hồn của
người miền núi. Tất cả được tác giả cảm nhận bằng sự thâm nhập, quan sát
phong cảnh, và gắn với những phong tục sinh hoạt, được thể hiện trên trang
viết bằng một phong cách riêng.
Văn xuôi giai đọan 1945 – 1975 có nhiều biến đổi khá rõ về hình thức
thể loại, về phương thức trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ, tạo nên những
đặc điểm về thi pháp của thể loại tự sự trong giai đoạn này. Trong các truyện
ngắn, quan điểm trần thuật của người trần thuật xích gần và tiến tới hòa nhập
với quan điểm của nhân vật quần chúng. Không gian đặc trưng nhất trong văn
22
học thời kỳ kháng chiến là con đường, mặt trận và chiến khu. Văn xuôi giai
đoạn này đã phát huy được ưu thế của thể loại, bám sát các sự kiện và diễn
biến cuộc kháng chiến, dựng lại bức tranh nhiều vẻ về cuộc kháng chiến toàn
dân, toàn diện ở mọi miền đất nước. Nguyễn Tuân thâm nhập vào đời sống
kháng chiến trên mọi nẻo đường. Hăm hở, nhiệt tình từ khu Năm trở ra khu
Bốn, xuống khu Ba vào sâu vùng địch hậu và lọt cả vào vùng địch tạm chiếm,
rồi theo bộ đội lên sông Thao, lại vượt sông Thao vào Tây Bắc theo chân các
đoàn quân giải phóng. Đọc truyện và ký kháng chiến, chúng ta có thể hình
dung một khung cảnh rộng lớn từ tiền tuyến, hậu phương, trong vùng chiến
khu và cả trong vùng địch tạm chiếm, từ Việt Bắc đến chiến trường Nam
Bộ...để phản ánh kịp thời các sự kiện của cuộc kháng chiến, thể ký có điều
kiện phát triển mạnh mẽ. Một trong những cây bút viết ký chiến tranh xuất
sắc nhất là Trần Đăng. Những ký sự tuy ngắn nhưng vẫn nổi bật tài năng
dựng cảnh, phác họa chân dung và do đó, tạo được không khí sôi động và giữ
được tính khách quan của tác phẩm.
Thời kì đầu kháng chiến, văn học hướng tới một đối tượng mới là quần
chúng cách mạng, truyện ngắn đã thu được một số thành tựu đáng kể. Một lớp
nhà văn đã chuyển hướng sáng tác, họ mạnh dạn đặt ra lập trường mới. Nhiều
truyện ngắn ghi lại được những hình ảnh về cuộc sống, về nét đẹp tâm hồn
trong tâm trạng của người kháng chiến ở nhiều vùng trên cả nước.
Vợ nhặt của Kim Lân đã lên ác tội ác của bọn thống trị Nhật – Pháp
cùng bè lũ tay sai. Chúng đã đẩy nhân dân ta vào nạn đói khủng khiếp năm
1945 đến nỗi cái giá của con người như cái rơm, cái rác có thể dễ dàng nhặt
được. Tác phẩm cũng phản ánh được khí thế sôi sục của cách mạng trong
những ngày dân tộc ta cùng đứng lên chống giặc.
Với tập Truyện Tây Bắc, Tô Hoài đã đóng góp vào sự phát triển của
truyện ngắn kháng chiến. Truyện Tây Bắc tập trung thể hiện cuộc sống tủi
23
nhục, đau khổ của đồng bào dân tộc miền núi dưới ách thống trị của thực dân
phong kiến với khát vọng giải phóng và quá trình thức tỉnh đến với cách
mạng, nâng sự giác ngộ chính trị cho họ.
Truyện ngắn của Nam Cao được xem là tuyên ngôn nghệ thuật của một
lớp nhà văn đi theo kháng chiến, đứng về phía đại chúng, thực sự thay đổi
quan điểm, lập trường. Đôi mắt là bản tuyên ngôn về tư tưởng, lập trường
cách mạng, khẳng định cái nhìn tích cực của những văn nghệ sĩ kháng chiến
đối với quần chúng nhân dân. Chỉ có thể đứng trên lập trường yêu nước và
cách mạng, xuất phát từ tư tưởng cách mạng, văn nghệ sĩ mới có thể hiểu
được bản chất của nhân dân lao động. Điều đó có quan hệ mật thiết tới việc
xác định đối tượng chính của nền văn học mới là nhân dân, những con người
bình thường mà vĩ đại.
Truyện ngắn 1945 – 1975 đã xây dựng được nhiều hình tượng tiêu biểu
cho các tầng lớp, giai cấp, cho số phận và con đường đi của quần chúng nhân
dân trong thời đại cách mạng và kháng chiến. Đóng góp đáng kể là truyện ký
về những người anh hùng và tập thể anh hùng như: Người mẹ cầm súng
(Nguyễn Thi), Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng), Sống như anh (Trần
Đình Vân). Dù dung lượng hạn chế, nhưng truyện ngắn vẫn thể hiện đậm nét
khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, đề cập đến những vấn đề hệ
trọng của dân tộc và thời đại, vận mệnh của đất nước và nhân dân. Nhiều tác
phẩm trực tiếp thể hiện hình ảnh nhân dân trong quá trình thức tỉnh cách
mạng và cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng anh hùng: Rừng xà nu (Nguyễn
Trung Thành), Quán rượu người câm (Nguyễn Quang Sáng), Một chuyện
chép ở bệnh viện (Bùi Đức Ái).
Nhân vật trung tâm của truyện ngắn thời kỳ này là người chiến sĩ. Đó là
con người sử thi tiêu biểu cho khát vọng và ý chí chiến đấu quyết thắng của
dân tộc, tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cho sức mạnh và phẩm
24
chất của con người kết tinh truyền thống từ mấy ngàn năm lịch sử và sức
mạnh của cách mạng. Các nhân vật anh hùng cũng thường được xây dựng
như những con người toàn diện trong các mối quan hệ chung và riêng. Cuộc
đời riêng của họ hòa vào cuộc đời chung của dân tộc, những suy nghĩ riêng tư
của họ cũng hướng về cái chung, vì lợi ích của tập thể, của cộng đồng. Các
nhân vật cũng thường được đặt trong những hoàn cảnh thử thách gay go,
những tình huống căng thẳng, nghiệt ngã trong chiến tranh để làm bộc lộ vẻ
đẹp và những phẩm chất cao quý của họ. Họ đều là những con người giàu
lòng yêu nước, yêu lí tưởng cách mạng. Khuynh hướng sử thi đã tạo nên một
giọng điệu trang trọng, ngợi ca.
Đời sống hiện thực bộc lộ nhiều vẻ đẹp, gợi lên những niềm vui và mơ
ước dễ làm nảy sinh ảm hứng lãng mạn. Đây là những năm tháng con người
tuy đứng trong gian khổ tột cùng nhưng tâm hồn lại sống trong niềm vui ấm
áp của tình đồng chí, đồng bào và trong ánh sáng rực rỡ của lí tưởng, của
tương lai. Khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn anh hùng ca là khuynh
hướng sáng tác chung của nền văn học lúc bấy giờ. Nó không chỉ sôi nổi
trong thơ mà cả trong văn xuôi. Từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến tùy bút đều
rất giàu chất thơ.
1.2. Cảm hứng anh hùng trong hành trình nghệ thuật của Nguyên Ngọc
1.2.1. Giai đoạn trước 1975
Giai đoạn 1945 – 1975, cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc ta diễn ra
trên quy mô rộng lớn chưa từng có. Nó đã tác động mạnh mẽ đến thời đại làm
nảy sinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Văn học giai đoạn này đã
xây dựng được những hình tượng cao đẹp về Tổ quốc và nhân dân. Đặc biệt
là về người anh hùng. Văn học tập trung ngợi ca vẻ đẹp của người chiến sĩ
trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, luôn nêu cao tinh thần
yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ngợi ca phẩm chất và sức mạnh
25
của con người Việt Nam. Phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và
tinh thần cách mạng thời đại. Điều đó, được thể hiện rõ nét trong tác phẩm
của Nguyên Ngọc và cả một thế hệ nhà văn cùng lứa với ông “đi theo cách
mạng là để làm cách mạng chứ không phải viết văn” [61;489]. Nhưng những
hoàn cảnh thực tế của chiến tranh buộc họ phải cầm bút để sáng tác. Trước
hết là để cho mình, để động viên đồng chí, và cho đất nước. Tất cả họ là con
của cách mạng, nhà văn Nguyên Ngọc là con đẻ của cách mạng.
Văn học là sự phản ánh trung thực hình ảnh của đời sống xã hội. Trong
các trang viết của mình, Nguyên Ngọc đều nhất quán với cảm hứng anh hùng.
Do đó, những vấn đề được đề cập đến trong tác phẩm là những vấn đề trọng
đại của dân tộc. Những người anh hùng trong sáng tác của ông luôn đậm tính
chiến đấu, phản ánh kịp thời với những sự kiện lớn của dân tộc, của đất nước.
Với Nguyên Ngọc, ông luôn ý thức rõ, vai trò, sứ mệnh của nhà văn –
chiến sĩ. Nguyên Ngọc đã dùng văn chương của mình làm vũ khí chiến đấu.
“Không phải vì văn chương mà Nguyên Ngọc tìm đến người anh hùng, mà vì
người anh hùng mà anh thấy cần tìm đến văn chương” [55;334]. Do đó, ngay
từ khi bắt đầu cầm bút, ông đã bám sát các vấn đề lớn của cách mạng, của dân
tộc, của sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước “…những ai theo
dõi bước đường sáng tác của Nguyên Ngọc đều nhận thấy một đặc điểm là
nhà văn mà mỗi sáng tác đều được viết với một ý định chính trị rất cụ thể,
mỗi sáng tác đều muốn làm một vũ khí chiến đấu này lại rất chú trọng đến
hình thức” [61;510]. Trong sáng tác của Nguyên Ngọc, chất trữ tình gắn liền
với cái hùng tráng của sử thi. Những nhân vật trong tác phẩm của Nguyên
Ngọc “đại diện đầy đủ và tập trung cao độ những khát vọng, ý chí, sức mạnh
và phẩm chất của cả cộng đồng” [84;29]. Đồng thời, họ còn là những con
người có tình cảm thật trong sáng, hết mực thủy chung với quê hương, đất
nước, với dân tộc. Tác phẩm của ông ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
26
tiêu biểu là Đất nước đứng lên. Tác phẩm ra đời là một bước tiến quan trọng
trong văn xuôi Việt Nam hiện đại theo đường lối văn nghệ của Đảng vạch ra.
Đất nước đứng lên là bản anh hùng ca về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của
con người Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Bên cạnh đó, tác phẩm
còn thể hiện tinh thần quật cường, ý chí quyết chiến, quyết thắng, với lòng
yêu chuộng tự do, độc lập của nhân dân Tây Nguyên dưới sự lãnh đạo của
Đảng, của cách mạng họ đã đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược.
Người anh hùng trong văn học giai đoạn 1945 – 1975, là những con
người mới, xuất hiện từ cuộc sống đời thường. Họ có cuộc đời, số phận, tính
cách riêng. Đó là những con người nghèo khổ xuất thân từ tầng lớp lao động
trong xã hội. Thế nhưng, những con người ấy cũng có thể trở thành người anh
hùng bởi họ vượt lên hoàn cảnh, số phận bằng những hành động, những việc
làm phi thường. Nguyên Ngọc rất quan tâm đến cuộc sống người anh hùng
bằng cả tấm lòng của người cầm bút. Vì thế, ông đã xây dựng nhân vật người
anh hùng chân thực và sinh động, vừa có giá trị nhận thức lại vừa có tác dụng
giáo dục sâu sắc. Cái tạo nên phong cách riêng độc đáo của nhà văn Nguyên
Ngọc chính là ở chỗ xây dựng điển hình người anh hùng trên cơ sở: người
thực, việc thực. Núp trong Đất nước đứng lên là một điển hình nghệ thuật:
người thực, việc thực, là người anh hùng miền núi Tây Nguyên.
Anh hùng Núp (Đất nước đứng lên) trưởng thành từ trong tập thể nhân
dân, yêu thương lũ làng, yêu thương gia đình và yêu tự do. Điều đó được thể
hiện ở những chi tiết Núp không chịu đi xâu cho Pháp mà tìm cách đánh
Pháp, đoàn kết dân làng Kông Hoa đấu tranh chống Pháp. Anh hùng Núp kết
tinh từ phẩm chất ưu tú của người dân Ba Na. Người anh hùng trưởng thành
từ trong nhân dân và lãnh đạo nhân dân phát huy sức mạnh tập thể, kiên trì
vượt qua gian khổ. Vì thế, mối quan hệ giữa người anh hùng với quần chúng
luôn luôn khăng khít, bền chặt. Núp đích thực là người anh hùng của quần
27
chúng, sống trong lòng quần chúng, anh hùng của thời đại cách mạng. Núp là
anh hùng được sinh ra từ trong quần chúng, có những tình cảm lớn, những
hành động sáng suốt, kiên quyết thúc đẩy và dẫn dắt quần chúng ngày càng
tiến bộ.
Nguyên Ngọc rất thành công trong việc xây dựng một tập thể anh hùng,
mọi người Ba Na, đặc biệt là người Kông Hoa đều dũng cảm vượt qua gian
nan để đứng lên chống Pháp. Núp xứng đáng là anh hùng của thời đại, anh
hùng Núp đã thức tỉnh và lãnh đạo được cả một tập thể từ trong gian khổ. Và
đời sống của anh hùng Núp cũng như bao nhiêu người dân Tây Nguyên là say
mê ca hát, hòa nhịp theo tiếng đàn tơ rưng để đàn lên khúc ca, ngợi ca cuộc
sống, núi rừng và Tổ quốc.
Câu chuyện về cuộc đời và con đường của anh Núp (Đất nước đứng
lên), của Tnú (Rừng xà nu) mang ý nghĩa tiêu biểu của người anh hùng đại
diện cho số phận và con đường của dân tộc Tây Nguyên trong thời đại đấu
tranh giải phóng. Những con người ấy được thể hiện trong văn học không
phải chỉ với tư cách cá nhân mà họ còn đại diện cho cộng đồng. Tính cách
nhân vật được khai thác chủ yếu ở khía cạnh tích cực. Số phận nhân vật
thường trải qua những biến cố bất lợi ban đầu nhưng kết thúc cuối cùng đều
thắng lợi hoặc tạo ra một niềm tin lạc quan về sự chiến thắng. Đó là cảm hứng
lãng mạn tích cực, cảm hứng anh hùng. Nó giúp con người ta vượt lên trên
cuộc sống gian khổ và ác liệt mà hướng về tương lai chiến thắng, về cuộc
sống hạnh phúc và xây dựng xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh.
Có thể nói mỗi nhà văn đều sống và sáng tác trong những điều kiện và
giới hạn của một thời đại. Nhà văn chính là người đại biểu tinh thần chịu
những ràng buộc và giới hạn của một giai cấp. Hoàn cảnh lịch sử kêu gọi, đất
nước yêu cầu. Các văn nghệ sĩ lần lượt thâm nhập vào đời sống, chiến đấu của
quần chúng nhân dân với trái tim nóng bỏng căm hờn và sôi sục ý chí chống
28
giặc. Họ nhiệt tình đón nhận hồ hởi những thay đổi của đời sống và biểu lộ
niềm vui trước những thành công và thắng lợi của cách mạng là nét chung,
quán xuyến trên các sáng tác ra đời năm đầu tiên sau khi cách mạng thành
công. “Đã qua cái thời nhà văn chỉ cần khơi sâu vào huyệt lòng mình, soi
gương mà ngắm nghía mình… Đã qua những câu chuyện phù phiếm, dông
dài của những chàng, nàng trong hàng pho tiểu thuyết lãng mạn” [40;334].
Cuộc chiến đấu chống Mỹ ác liệt đã đặt mỗi người Việt bình thường nhất
vào tình huống không thể không trở thành anh hùng và mỗi cá nhân đều hết
sức gắn bó với cộng đồng và vì cộng đồng mà suy nghĩ và hành động. Cũng
với mạch cảm hứng về người anh hùng, nhưng cách nhìn người anh hùng
trong kháng chiến chống Mỹ đã có bước chuyển biện chứng hơn so với giai
đoạn trước đó. Nguyên Ngọc đã nhận thức về cuộc chiến một cách tường tận
hơn, rõ ràng hơn. Những vốn sống, trải nghiệm đầy ăm ắp cùng với hào khí
thời đại đã cho Nguyên Ngọc tiếp tục góp nhặt cho văn xuôi cảm hứng lãng
mạn về người anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ. Với bút danh Nguyễn
Trung Thành, Nguyên Ngọc bám sát chiến trường Tây Nguyên và cho ra đời
truyện ngắn Rừng xà nu. Tác phẩm là đỉnh cao cho cái lãng mạn – anh hùng
trong phong cách sáng tác của ông. Đây là thời kì ra ngõ gặp anh hùng. Do
đó, hình tượng người anh hùng không mang màu sắc cái thế, bi tráng mà
người anh hùng được tôi luyện bởi bản lĩnh cách mạng, được rèn luyện qua
lửa đạn của chiến tranh. Tnú trong Rừng xà nu là người anh hùng của tập thể,
ở đây tính chất cộng đồng đã chi phối rất rõ nét, người anh hùng Tnú vừa
mang màu sắc cá thể vừa là một cá nhân trong một tập thể rộng lớn giữa
những người anh hùng khác của bản làng Xô – man, nhưng người anh hùng
của Tnú vẫn có nét riêng dũng mãnh khác thường, “những con người thép,
thẳng băng, nhọn hoắt, như mũi chông, như ngọn dáo, như mầm xà nu đâm
thẳng lên trời…Nhưng lại có một cái gì rất hoang dại. Trái tim chất chứa
29
căm thù ngùn ngụt, nhưng tâm hồn trong suốt và hết sức hồn nhiên như
những con người ở thời thơ ấu xa xăm của nhân loại” [55;331]. Người anh
hùng Tnú đã có sự thay đổi trong nhận thức và hành động. Chín chắn hơn,
quyết liệt hơn và cũng có tổ chức hơn. Anh hùng Tnú được cộng hưởng giữa
một tập thể những người anh hùng khác như cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng.
Trong Rừng xà nu, Nguyên Ngọc đã đưa người đọc đến với cả một tập thể
anh hùng. Đó chính là dân làng Xô – man. Mỗi anh hùng trong Rừng xà nu
đa dạng về lứa tuổi, giới tính, vừa có những nét chung cụ thể, vừa có một số
phận riêng trong cuộc đời của họ. Nhưng, ở họ đều giống nhau về những
phẩm chất: gan dạ, dũng cảm, kiên cường, sẵn sàng hy sinh và một lòng đi
theo cách mạng và làm cách mạng.
Điểm giống nhau giữa cảm hứng lãng mạn về hai người anh hùng là anh
hùng Núp (Đất nước đứng lên) và anh hùng Tnú (Rừng xà nu) có chăng chỉ
là cái cảm hứng mạnh mẽ và thiên hướng anh hùng táo bạo, qua từng bước đi
của sự nhận thức ngày càng trưởng thành hơn trong chính sự sáng tạo của tác
giả bởi lẽ, sự sáng tạo bao giờ cũng phải có nguồn gốc từ thực tế và được khái
quát từ nhiều kinh nghiệm sống. Đó chính là thực tế của chiến trường khu V
ác liệt, là sự chiến đấu dũng cảm của những con người yêu chuộng độc lập tự
do. Do đó, cái lãng mạn ở người anh hùng là chất men say, là sự kết tinh giữa
chất anh hùng của thời đại và cảm hứng hứng riêng của nhà văn. Cái lãng
mạn của người anh hùng được tập trung vào những hành động anh hùng mà
không nói đến cái đời thường. Cái đời thường ẩn đằng sau cái cao cả cho cuộc
đấu tranh để chiến thắng kẻ thù của cả dân tộc anh hùng. Chính chất anh hùng
ấy hòa quyện chặt chẽ với cái hào sảng của rừng núi Tây Nguyên bạt ngàn để
làm nên cảm hứng này.
Mạch cảm hứng về người anh hùng càng ở giai đoạn sau lại càng thấm
sâu vào từng nhân vật, từng nội dung của mỗi câu chuyện, bởi lẽ chính tác giả
30
là người được trải nghiệm và chứng kiến rõ nhất về những hình ảnh ấy. Có
thể nói từng mẩu chuyện của Nguyên Ngọc được nhà văn gọt giũa với một sự
kiên trì và cần mẫn của người thợ kim hoàn. Thành công với cảm hứng lãng
mạn về người anh hùng dường như là nguồn tiếp thêm sức mạnh cho Nguyên
Ngọc và cảm hứng anh hùng được bổ sung trong Đất Quảng (tập I) với hình
ảnh ông già Sông Trúc một đời lặng lẽ bám đất, bám làng. Cảm hứng về
người anh hùng còn chan hòa trong nhiệt huyết đánh Pháp của mẹ con chị
Thắm với tình yêu nước, yêu đồng đội. Chị Thắm là một phụ nữ nông dân, chị
vừa giỏi việc nước, đảm việc nhà. Chị là người tiêu biểu cho vẻ đẹp toàn vẹn
của người phụ nữ Việt Nam. Chồng chị - anh Quế, mà cũng chính là người
đồng đội của chị, người đã tập cho chị những bước đi đầu tiên đến với cách
mạng, động viên chị thay anh để gây lại cơ sở cho vùng đất bị cày trắng này.
Từ mối thù kẻ đã giết chồng chị, con chị, chị đã quyết tâm đi theo con đường
cách mạng và hy sinh cả cuộc đời cho cách mạng.
Người anh hùng trong tác phẩm của Nguyên Ngọc là những con người
nhiệt thành yêu nước, căm thù giặc sâu sắc và sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu
chung. Họ vừa đánh giặc, vừa tự trưởng thành trong kháng chiến. Nguyên
Ngọc rất thành công khi viết về những người anh hùng trong chiến đấu. Bởi
những anh hùng, những chiến công ấy đều là những sự kiện mà ông được
chứng kiến, ông được sống, gắn bó, phát hiện, ngợi ca và khẳng định vẻ đẹp
trong suốt của họ. Điều đó đã tạo nên một phong cách riêng của nhà văn là
viết văn với cảm hứng lãng mạn anh hùng.
Có thể nói, chính trong những giai đoạn tích lũy vốn sống, sống trong
lòng nhân dân, tìm hiểu cuộc sống và những suy nghĩ của người dân Tây
Nguyên cùng với cá tính của chính mình đã tạo nên ở Nguyên Ngọc một sự
sáng tạo mà không phải nhà văn nào cũng có thể đạt được. Đó là xây dựng
hình ảnh người anh hùng dựa trên cơ sở người thực việc thực. Tuy có hư cấu,
31
nhưng không nhiều. Cảm hứng anh hùng là sự nhất quán, liền mạch trong
quan điểm nghệ thuật của nhà văn. Bởi lẽ trong từng sáng tác của mình, trong
lý tưởng và cả trong đường đời của mình, người đọc chỉ bắt gặp mỗi cảm
hứng anh hùng ở nhà văn mà thôi.
1.2.2. Giai đoạn sau 1975
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, nhà văn Nguyên Ngọc luôn nhất
quán với phong cách nghệ thuật là viết văn với cảm hứng anh hùng. Do đó,
cảm hứng chủ đạo xuyên suốt hành trình sáng tạo nghệ thuật của ông là cảm
hứng về người anh hùng.
Sau năm 1975, hàng loạt những cây bút đã từng tâm huyết với đề tài
chiến tranh cách mạng, về chủ nghĩa anh hùng đã tìm hướng đi mới cho mình
là viết về đề tài thế sự, đời tư với những mặt trái của xã hội kinh tế thị trường.
Trong khi đó, nhà văn Nguyên Ngọc vẫn kiên trì theo đuổi lý tưởng của mình.
Vẫn viết về người anh hùng. Nguyễn Đăng Mạnh cứ ngỡ rằng trong thời kỳ
đổi mới này, Nguyên Ngọc đã bế tắc về con đường nghệ thuật của mình,
không thể viết về người anh hùng, nhưng ông thực sự ngạc nhiên là: “anh vẫn
viết, vẫn viết về người anh hùng, vẫn viết bằng cái văn ấy, bằng giọng ấy,
bằng cái cảm hứng lãng mạn sôi nổi ấy” [55;335].
Sự kiên trì ấy được thể hiện trong chính chủ đề mà ông khai thác, tìm
chọn. Người anh hùng trong sáng tác của Nguyên Ngọc sau 1975 không phải
là những thủ lĩnh mà là người anh hùng của đời thường với những lo toan cho
cuộc sống hiện tại còn nhiều khó khăn của họ“...Nguyên Ngọc đã tìm thấy cái
lớn lao đằng sau những điều bình thường, nhỏ nhặt, và kể về điều đó bằng
một giọng văn vừa dịu nhẹ vừa nóng bỏng, đã như là “mảnh đất” của riêng
Nguyên Ngọc” [57;518].
Với Nguyên Ngọc, ông luôn dị ứng với căn bệnh nhạt của văn xuôi, bởi
32
chính căn bệnh ấy nó làm thui chột mọi sự sáng tạo của người nghệ sĩ. Nếu
trước 1975, chính tác giả là người được sống, được chiêm nghiệm chính ngay
trong không khí của một thời đại anh hùng nên không mất công lắm về sự đẽo
gọt, tỉa tót hay trau chuốt thêm về hình tượng người anh hùng. Sau 1975, ông
vẫn sáng tác với cảm hứng anh hùng nhưng có khác trước ở chỗ người anh
hùng được nhìn ở nhiều chiều, đa diện hơn. Để tiếp tục với đề tài về người
anh hùng, nhà văn Nguyên Ngọc đã tìm về với quá khứ, tìm về chiến trường
xưa bằng cách phục dựng lại gần như một cách trọn vẹn về họ. Người anh
hùng trong các sáng tác sau 1975 đa diện hơn, phong phú hơn vì bây giờ họ là
những con người cụ thể, có lí lịch riêng, tiểu sử riêng. Chân dung của người
anh hùng như là tiểu sử của từng người anh hùng. Chính tiểu sử ấy cho thấy
được hành trình hình thành phẩm chất người anh hùng là một quá trình đầy
gian khổ và hy sinh.
Nguyên Ngọc được biết đến là một cây bút sống trong lòng thực tế, mỗi
nhân vật của ông đều có từ nguyên mẫu thực tế cuộc sống, những con người
giản dị, trong sáng, tinh khiết đến lạ lùng, say đắm đến lạ lùng.
Sau 1975, ông quay trở lại chiến trường xưa, nơi mà ông đã từng sống và
chiến đấu, cũng có thể là những nơi ông được nghe kể lại về một huyền thoại
anh hùng. Tìm lại những người anh hùng trong những trận chiến năm xưa là
cách để ông bày tỏ sự biết ơn và tri ân họ. Đồng thời, tìm hiểu về cuộc sống
hiện tại còn nhiều khó khăn để sẻ chia và đồng cảm cho những mất mát và bất
hạnh của họ. Vì họ mà lên tiếng cảnh tỉnh xã hội đừng quay lưng với những con
người đã hy sinh tuổi xuân, hạnh phúc của mình cho cuộc sống ngày hôm nay.
Trong Trở lại Mèo Vạc, là hình ảnh người anh hùng Thào Mỹ và Sùng
Chóa Vàng. Họ là những người anh hùng H’mông trong cuộc diệt phỉ năm
xưa. Chiến đấu dũng cảm, gan dạ, sẵn sàng hy sinh và cũng anh hùng trong
tình yêu. Nhưng cuộc sống hiện tại của họ rất túng thiếu và rất nghèo. Viết về
33
họ là cách để tác giả thức tỉnh chính mình đồng thời kêu gọi những cơ quan
có thẩm quyền quan tâm hơn đến chế độ chính sách dành cho họ.
Trong Tháng Ninh Nông, là hình ảnh người sơn nữ không ngại hiểm
nguy sẵn sàng che chở cho người chiến sĩ cách mạng, cô gái đã quên đi những e
thẹn của người phụ nữ mà cứu lấy người chiến sĩ cách mạng thoát khỏi hiểm nguy.
Với Người hát rong giữa rừng, là sự trân trọng cho tài năng và nhân
cách cao đẹp của người nghệ sĩ Tây Nguyên - Y Yơn. Cả cuộc đời, ông dùng
nghệ thuật của mình – tiếng hát – để đưa những người lạc lối quay trở về với
đất nước, với tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Nhưng cuộc sống hiện tại
của Y Yơn còn rất túng thiếu, chật vật.
Trong Cát cháy, người đọc bắt gặp một câu chuyện dữ dội về đất và
người Điện Bàn những ngày “nung bão”, hay ngọn nguồn của cái sức mạnh
kỳ lạ như huyền thoại của vùng cát trắng Bình Dương (Thăng Bình, Quảng
Nam) ba lần được tuyên dương anh hùng, vẫn đủ sức lay động người đọc.
Trong bút ký này, Nguyên Ngọc đã tái hiện lại cuộc sống và chiến đấu của
nhân dân Quảng Nam trong những ngày đối đầu với giặc Mỹ xâm lược. Đồng
thời, tác giả cũng miêu tả cuộc sống hiện tại còn nhiều khó khăn, thiếu thốn
và bất hạnh của những người anh hùng nơi đây.
Với bút ký Có một con đường mòn trên biển Đông, là khúc ca bi tráng
của những người anh hùng quyết quên đi cái chết của mình vì sự sống còn của
miền Nam ruột thịt. Vì nhiệm vụ thiêng liêng với Tổ quốc, họ sẵn sàng hy
sinh hạnh phúc của mình. Nhưng giờ đây, cuộc sống hiện tại của họ còn gặp
nhiều khó khăn, thiếu thốn. Họ vẫn kiên cường sống, kiên cường vượt qua
gian khổ, không hề than oán, kêu ca mà lặng lẽ sống, lặng lẽ cống hiến cho
đời. Chấp nhận đau thương cho riêng mình. Viết về họ như một cách để nhà
văn thể hiện sự trăn trở xót xa của mình với người anh hùng. Đồng thời, lên
tiếng cảnh tỉnh xã hội và những người làm công tác đền ơn đáp nghĩa, đừng
34
quay lưng với những nỗi đau và bất hạnh của họ - những người đã hy sinh
tuổi xuân và hạnh phúc của mình cho chúng ta có ngày hôm nay.
1.3. Cội nguồn cảm hứng anh hùng của Nguyên Ngọc
1.3.1. Tâm lý xã hội, ý thức nghệ thuật thời chiến
Hoàn cảnh đất nước trước 1975 là một hoàn cảnh đặc biệt. Cả nước đối
mặt với hai cuộc chiến tranh ác liệt chống Pháp và chống Mĩ, vấn đề được
quan tâm hàng đầu là sự sống còn của cả dân tộc. Yêu cầu đặt ra cho tất cả
mọi người lúc này là phải lấy trách nhiệm công dân, nghĩa vụ đối với đất
nước làm phương châm hành động, là thước đo cao nhất để đánh giá mọi giá
trị. Văn học giai đoạn này dưới sự lãnh đạo của Đảng, lấy việc phục vụ chính
trị, phục vụ công nông binh, phục vụ cách mạng làm nhiệm vụ hàng đầu. Ý
thức công dân cùng với nhiệt tình của người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư
tưởng đã thúc giục các nhà văn hòa mình vào cuộc sống lao động và chiến
đấu của nhân dân, “trong thời chiến, thói tài tử là một cái gì rất lạc lõng.
Trong thời chiến chỉ có những kẻ vô liêm sỉ mới có thể dửng dưng đóng vai
trò một anh tài tử” [24;381].
Văn học tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản, có ý nghĩa sống còn
của đất nước, của lịch sử. Văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm
hứng lãng mạn. Chủ đề bao trùm văn học giai đoạn này là ngợi ca Tổ quốc,
quần chúng cách mạng và những tấm gương vì nước hy sinh, kêu gọi tinh
thần đoàn kết toàn dân, cổ vũ đấu tranh. Nhân vật chính tiêu biểu cho lý
tưởng chung của dân tộc, gắn bó số phận mình với số phận đất nước, thể hiện
và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cả cộng đồng. Con người chủ yếu
được khám phá ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lẽ sống lớn, tình
cảm lớn.
Hiện thực cách mạng với những sự kiện vang dội sôi động đã khơi
35
nguồn sáng tạo của người nghệ sĩ và là đối tượng phản ánh chủ yếu của nhiều
tác phẩm văn chương. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần phải miêu tả cho
hay, cho chân thật, cho hùng hồn những sự việc và con người tiêu biểu. Cùng
với chủ trương đó của Đảng, trong bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và vấn đề
văn hóa của Việt Nam, Trường Chinh cũng nêu rõ: “Về xã hội lấy giai cấp
công nhân làm gốc. Về chính trị, lấy độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân và
chủ nghĩa xã hội làm gốc...Về sáng tác văn nghệ, lấy chủ nghĩa hiện thực xã
hội chủ nghĩa làm gốc” [54;13]. Đó chính là yêu cầu tác phẩm phản ánh được
chiều sâu của cuộc sống mới và miêu tả cho chân thật, sinh động con người
mới. Hiện thực ấy vô cùng phong phú, bộc lộ nhiều vẻ đẹp, gợi lên niềm vui
và mơ ước dễ làm nảy sinh những cảm hứng lãng mạn. Chất trữ tình cách
mạng là một thành tố quan trọng của văn học thời đại lịch sử này.
Đảng và nhân dân đã có được một đội ngũ nhà văn với nhiều phẩm chất
tốt đẹp: giàu lí tưởng, gắn bó với thực tế, với nhân dân để làm tròn vai trò
sáng tạo của mình. Họ giàu nhiệt tình cách mạng, giàu sức sáng tạo, có lập
trường sáng tác vững vàng. Họ luôn có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động, sẵng
sàng dấn thân vào cuộc chiến đấu ác liệt. Vượt bao khó khăn gian khổ, thậm
chí hy sinh cả tính mạng để có được những trang viết giá trị. Họ được xem là
những nhà văn – chiến sĩ, nhà văn của nhân dân.
Xuất phát từ những tiền đề trên, văn học cách mạng 1945 – 1975 đã đạt
nhiều thành tựu, nhất là về văn xuôi. Ở thể loại văn học này, nội dung trực
tiếp hướng về hiện thực cách mạng và đời sống quần chúng nhân dân. Từ đề
tài sinh hoạt, đời tư, các nhà văn chuyển sang đề tài lịch sử dân tộc, hướng
vào khai thác hiện thực đời sống cách mạng với cảm hứng sử thi. Văn học
giai đoạn này nảy sinh và phát triển trên nền tảng của ý thức cộng đồng.
Văn học là vũ khí chiến đấu không gì có thể thay thế được của nhà văn,
văn nghệ phải phục vụ nhân dân, phục vụ “công, nông, binh”. Hồ Chí Minh
36
trong thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa (1951), chỉ rõ: “Cũng như
các chiến sĩ khác, chiến sĩ Nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định là phụng sự
kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là phục vụ
công nông, binh”, bên cạnh đó văn học còn phản ánh hiện thực đời sống, nó
ghi nhận những thay đổi của cuộc sống, theo dõi sát sao quá trình đấu tranh
và phát triển của đất nước, do đó, mức độ phản ánh cuộc sống của nhân dân
có chân thật hay không là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá
mức độ tiến bộ hay không tiến bộ của nhà văn đó. Nhà văn được xã hội tín
nhiệm giao cho nhiệm vụ là người thư kí của thời đại. Kháng chiến toàn quốc
bùng nổ, đòi hỏi người viết những nhiệm vụ khó khăn hơn là từ quan niệm
viết như một đòi hỏi tự nhiên phải thay đổi để viết phục vụ kháng chiến. Văn
học lúc này phải phản ánh chân thực cuộc sống lao động và chiến đấu của
quân dân ta. Văn nghệ phục vụ chính trị mà xét đến cùng là phục vụ nhân
dân, phục vụ cách mạng với cảm hứng ngợi ca. Vì thế, cảm hứng anh hùng
xuất hiện như một điều tất yếu.
Có thể thấy rằng, đề tài chính trong các sáng tác của các nhà văn lúc này
là viết về người thật việc thật với cảm hứng anh hùng. Các nhà văn thâm nhập
vào đời sống, chiến đấu của nhân dân. Nguyễn Thi lên đường vào Nam, ở
đây, nhà văn đã phát hiện ra vẻ đẹp trong sáng của những điển hình người
thật việc thật, những người anh hùng miền Nam chân chất, giản dị, giàu lòng
yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Có thể kể như: Người mẹ cầm súng, Đại đội anh
hùng, Dòng kênh quê hương, Ở xã Trung Nghĩa…
Nhà văn là người hơn ai hết luôn nhận thức rõ vị trí của dân tộc trong
bước phát triển chung của thời đại. Chính tầm thời đại của sự nghiệp cách
mạng dân tộc đã chắp cánh và tạo cảm hứng trong văn chương. Giờ đây, vượt
lên tất cả và bao trùm đó là chuyện con đường vô Nam, lên chiến khu, hoặc
xuống đường với hình ảnh “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” (thơ Phạm Tiến
37
Duật). Những chuyến đi từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam của anh em văn
nghệ Khu Năm và Nam Bộ. Những chuyến đi thực tế ấy đã cho văn nghệ sĩ
nguồn cảm hứng dạt dào, có những tác phẩm họ viết ngay trên đường hành
quân nhưng cũng có những tác phẩm được lưu giữ lại và tích lũy trong tâm
trí, sau này mới thành văn. Trường hợp Đất nước đứng lên là một điển hình.
Những ngày sống, chiến đấu cùng đồng bào của dân làng Kông Hoa đã giúp
Nguyên Ngọc thành công rực rỡ với Đất nước đứng lên, tác phẩm mở đường
cho cảm hứng anh hùng ca. Có thể nói Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc
là hình ảnh những con người Việt Nam yêu nước, cùng đoàn kết chống lại
gông cùm, xiềng xích của thực dân Pháp, luôn xả thân vì sự nghiệp chung của
dân tộc. Là chân dung người anh hùng mang màu sắc bi tráng, anh hùng Núp
chiến đấu vì lý tưởng chung để đánh đuổi giặc ngoại xâm. Hay nói rõ hơn, khi
mà ý thức của cá nhân thống nhất với ý thức của cộng đồng thì lúc đó con
người tự mình nhận thức được trách nhiệm của mình với đất nước, với dân
tộc và anh hùng Núp là một trường hợp như thế.
Bên cạnh văn xuôi, thơ ca kháng chiến cũng góp tiếng nói của mình vào
cuộc đấu tranh chống kẻ thù của dân tộc, “thơ ca đã được huy động vào cuộc
chiến đấu của dân tộc, trở thành một vũ khí lợi hại và một nhu cầu không thể
thiếu trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam kháng chiến.”[53;84]
Cách mạng và kháng chiến đã khơi nguồn và làm bừng dậy những cảm hứng
thơ ca mới mẻ, sôi nổi, mãnh liệt, làm thay đổi hẳn sắc điệu và giọng điệu của
nền thơ. Cảm hứng nổi bật và bao trùm trong thơ ca lúc này là niềm vui
sướng, tự hào đến mức say mê, nồng nhiệt trước cuộc tái sinh mầu nhiệm của
đất nước và con người Việt Nam. Cảm hứng lãng mạn trong thơ ca cách mạng
được tiếp nối bằng cảm hứng lãng mạn anh hùng của những con người đi vào
cuộc chiến đấu với tinh thần chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Đây là thời
điểm thơ kháng chiến ghi được khá nhiều thành công và có những tác phẩm
38
tạo được tiếng vang như: Cảnh khuya (Hồ Chí Minh), Tây Tiến (Quang
Dũng), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Đồng chí (Chính Hữu).
Lòng yêu nước là tình cảm bao trùm và sâu rộng nhất, nó gắn bó mọi
con người Việt Nam trong một khối thống nhất của tình đồng bào, đồng chí,
nay lại càng chặt chẽ và thắm thiết hơn trong cách mạng và kháng chiến. Đó
là tình cảm thiết tha và nỗi nhớ da diết về một quê hương Kinh Bắc trù phú
tươi đẹp đang bị giày xéo dưới gót giày của quân xâm lược (Bên kia sông
Đuống – Hoàng Cầm) hay một mùa thu Hà Nội với hương cốm mới và
“những phố dài xao xác hơi may” trong thơ Nguyễn Đình Thi. Ở Nguyễn
Đình Thi, chất thơ trầm tĩnh và tươi sáng hơn. Nhân vật trong tác phẩm có vẻ
đẹp tâm hồn sâu thẳm, thường có những mất mát đau xót, và những tình yêu
thắm thiết.
Thơ ca được tiếp cận với hiện thực đầy gian lao, hy sinh và những con
người kháng chiến rất bình dị mà vĩ đại. Thơ ca kháng chiến tập trung biểu
hiện những tình cảm cộng đồng và tinh thần công dân mà bao trùm là tình yêu
nước với những biểu hiện phong phú, thấm sâu vào mọi mặt trong đời sống
của con người kháng chiến. Cũng như trong văn xuôi, thơ ca nảy nở và phát
triển trên nền tảng ý thức cộng đồng được trỗi dậy mãnh liệt. Con người cá
nhân hòa vào con người tập thể, thế giới của “cái tôi” trở nên chật hẹp, vô
nghĩa khi nó không hòa nhập vào “cái ta” cộng đồng. Với hình ảnh những
người trai làng hăng hái ra đi “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày/ Gian nhà
không mặc kệ gió lung lay.” (Đồng chí – Chính Hữu) để dấn thân vào cuộc
đời chiến đấu, họ thấu hiểu sự cao đẹp và sâu nặng của tình đồng chí, đồng
đội.
Nhân vật quần chúng trong thơ kháng chiến là một thế giới nhân vật
phong phú, thuộc nhiều tầng lớp, lứa tuổi, địa phương, dân tộc, với nhiều nét
phẩm chất, vẻ đẹp được thể hiện trong nhiều tình huống, hoàn cảnh. Nhưng
39
có lẽ tiêu biểu và nổi bật nhất là hình ảnh người mẹ (Bầm ơi! – Tố Hữu),
người phụ nữ (Phá đường – Tố Hữu) và anh bộ đội vệ quốc quân (Nhớ -
Hồng Nguyên). Nhân vật trữ tình quần chúng được thể hiện ra như ở cuộc đời
thực của họ, trong lao động và chiến đấu, trong sinh hoạt hàng ngày và trong
đời sống tập thể. Con người kháng chiến được thể hiện trong các mối quan hệ
xã hội là chủ yêu chứ không phải trong các quan hệ riêng tư, gia đình. Nếu có
nói đến những quan hệ và tình cảm này thì cũng là để làm cụ thể hóa và sâu
sắc thêm cho những tình cảm xã hội, quan hệ cộng đồng.
Ở giai đoạn này, thơ kháng chiến mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực,
mà trước hết là hiện thực cách mạng và kháng chiến nhằm tăng cường chất
liệu đời sống và yếu tố tự sự trong thơ, để phù hợp với nội dung phản ánh, thơ
ca kháng chiến sử dụng phổ biến các thể thơ có nguồn gốc dân gian, dân tộc,
đồng thời phát triển thể thơ tự do và lối thơ hợp thể. Những câu chuyện cảm
động, những tấm gương cao đẹp trong cuộc chiến đấu, những sự việc của đời
sống hiện thực được phản ánh rõ nét trong thơ. Đời sống như vậy đã tác động
và làm biến đổi cách nhìn, cách nghĩ, điệu cảm xúc của người làm thơ. Nhà
thơ của thời đại mới trước hết là một công dân, một cán bộ hay chiến sĩ, sống
với cuộc đời thực, với mọi gian khổ, lo lắng, hy vọng của con người kháng
chiến, cùng với đông đảo mọi người.
Có thể khẳng định rằng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và
chống Mỹ, văn học luôn kịp thời phản ánh cuộc sống chiến đấu của nhân dân
ta trên mọi miền của Tổ quốc. Trong những năm tháng chiến tranh, con người
tuy sống trong đau khổ, gông cùm nhưng tâm hồn của họ lại sống trong niềm
vui ấm áp của tình đồng chí, trong ánh sáng lí tưởng của Đảng, của cách
mạng. Cảm hứng lãng mạn chính là cảm hứng về lí tưởng, về một ngày mai
tươi sáng, niềm tin về sự chiến thắng kẻ thù xâm lược. Chính vì vậy, các sáng
tác trong giai đoạn này các nhà văn ít nói đến đau thương mất mát mà tập
40
trung thể hiện những hành động phi thường, bi tráng, dũng cảm của con
người. Đó chính là sự cao cả, vượt lên trên sự tàn phá của chiến tranh, là hiện
thực chiến tranh khốc liệt, là sự đương đầu với hai kẻ thù hùng mạnh. Con
người và đặc biệt là người chiến sĩ muốn đứng vững, muốn vượt qua hiện
thực ấy cần phải có niềm tin và tâm hồn lãng mạn. Và như vậy chủ nghĩa anh
hùng cách mạng là cảm hứng chủ đạo, xuyên suốt trong tiến trình phát triển
của văn học Cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975.
1.3.2. Hoàn cảnh gia đình và môi trường sống
Trong hoàn cảnh đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, việc kêu gọi
từng người dân chung tay đoàn kết để đấu tranh giải phóng dân tộc là một
điều cần thiết, từng người dân phải ý thức được trách nhiệm của mình với đất
nước và như thế cảm hứng ngợi ca, cảm hứng về người anh hùng như một
điều tất yếu của dòng văn học cách mạng.
Nguyên Ngọc sinh ra và lớn lên trong một gia đình công chức. Đó chính
là một điều kiện thuận lợi cho sự học tập và hiểu biết về cuộc sống và đấu
tranh của nhà văn. Do công việc của cụ thân sinh ông nên gia đình thường đổi
nơi ở từ thành phố này sang thành phố khác, chính điều này đã giúp Nguyên
Ngọc có điều kiện tìm hiểu về những vùng đất khác nhau của dãy đất miền
Trung kiên cường, hy sinh với những con người chịu nhiều gian khó từ thiên
nhiên khắc nghiệt, từ sự tàn phá của chiến tranh. Ông cũng chịu ảnh hưởng từ
quê hương Hội An cổ kính của mình, điều mà ông đã tự thuật lại rằng “…từ
nhỏ tôi may mắn được sống trong cái nôi văn hóa đó, ấn tượng về Hội An
luôn in đậm trong tôi: một miền đất cổ kính, đậm đà không khí lịch sử hơi
buồn, trữ tình, hoành tráng và trầm tư” [21;344]. Bản thân Nguyên Ngọc lại
từng được đào tạo ở nhà trường Pháp thuộc, ảnh hưởng sâu sắc từ các tác
phẩm văn chương Pháp là một điều dễ hiểu mà sau này ông đã thừa nhận:
“Tôi đã chịu ảnh hưởng rất sâu sắc, có thể đến tận máu thịt mình, của văn
41
học, hay nói cho thật chính xác hơn, của văn chương Pháp. Khi bắt đầu cầm
bút tôi đã viết bằng cái “lối” văn chương (Pháp) đó, tất nhiên nó đã được
khúc xạ, qua tôi…viết bằng cái lối tâm hồn đã được tạo nên một phần rất
quan trọng bằng văn chương ấy. Chính cái nền văn chương Pháp vĩ đại được
dạy trong các trường “thực dân” ấy ít nhất cũng góp phần tạo ra – cả một
thế hệ thanh niên Cách mạng kiên cường và trung thành ở nước ta, thế hệ
chúng tôi” [64;167, 168, 169]. Những tác phẩm của văn học Pháp mà ông và
cả một thế hệ mình được tiếp xúc phần nào đã tôi luyện bản lĩnh cách mạng
và lập trường chiến đấu nơi ông.
Nhà văn Nguyên Ngọc luôn có ý thức về sứ mệnh của người cầm bút.
Đó chính là sự gắn bó và không dễ quay lưng với thời đại của mình. Cũng
như nhiều văn nghệ sĩ khác, Nguyên Ngọc rời ghế nhà trường, theo tiếng gọi
thiêng liêng của Tổ quốc lên đường chiến đấu bảo vệ độc lập tự do cho đất
nước, một thế hệ những nhà văn cầm súng trước khi cầm bút. Như một sự tình
cờ, Nguyên Ngọc đến với Tây Nguyên. Thuở thiếu niên, ông chỉ được biết về
miền núi qua những trang thơ của Thanh Tịnh (Ngậm Ngãi tìm trầm) hay
những trang văn của Lan Khai (Truyện đường rừng). Tây Nguyên trong ông
hiện lên rất thơ mộng và đầy lãng mạn của một tâm hồn mới bước vào thực tế
chiến đấu “có nàng sơn nữ, có chàng tráng sĩ, có suối chảy thác reo…đến đó
là đến nơi đầy phiêu lưu, mạo hiểm, ly kỳ” [20;346] như một mảnh đất thơ
mộng, mời gọi. Nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược lại. Tây Nguyên là một
vùng rừng núi anh hùng, bất khuất. Có một điều, người đọc nhận thấy ở
Nguyên Ngọc, ngoài sự ảnh hưởng từ nền văn học Pháp được tiếp xúc từ khi
còn ngồi trên ghế nhà trường, cảm hứng sáng tác về người anh hùng ở ông
còn bắt rễ từ chính môi trường mà ông sinh sống và rèn luyện. Đó chính là môi
trường quân đội, là chiến trường Tây Nguyên khốc liệt, là nơi đồng bào các dân tộc
ngày đêm bị giày xéo, áp bức bởi bọn xâm lược.
42
Là người được gắn bó với Tây Nguyên trong suốt hai cuộc kháng chiến.
Từng sống và chiến đấu trong lòng người dân Tây Nguyên. Nguyên Ngọc có
điều kiện tiếp xúc với bà con dân tộc Tây Nguyên, tìm hiểu lời ăn tiếng nói
của họ. Từ đó, ông có điều kiện xâm nhập vào nền văn hóa của họ. Được tiếp
xúc với nguyên mẫu anh hùng. Cảm phục và ngưỡng mộ những chiến công,
những sự kiện, những tấm gương anh hùng. Chính những yếu tố đó đã thôi
thúc Nguyên Ngọc cầm bút để viết và ngợi ca họ. Cảm hứng lãng mạn anh
hùng được hình thành như thế.
Tây Nguyên cũng chính là mảnh đất tạo nên cảm hứng về người anh
hùng trong ông “Tây Nguyên cũng tạo nên tôi, tâm hồn, cuộc đời – và rồi văn
chương của tôi” [64;171]. Bởi theo ông, “các dân tộc Tây Nguyên đã “cấy
trồng” trên đất đai của mình một nền văn hóa lớn, cực kỳ độc đáo và đặc sắc,
lâu đời và bền vững” [64;169]. Con người ở đây hài hòa với thiên nhiên,
không có chút cách biệt nào. Sức mạnh và vẻ đẹp man dại của thiên nhiên nơi
đây cũng chính là sức mạnh, sự hùng dũng của con người. Vẻ đẹp thuần khiết,
yêu kiều của mây nước, của trăm vạn loài chim trời, của núi rừng nơi
đây…cũng chính là vẻ yêu kiều của con người. Và ông thừa nhận “Tôi có may
mắn hạnh phúc được sống với bà con dân tộc Tây Nguyên suốt thời chiến
tranh chống Pháp, được cùng tham gia cuộc chiến đấu gian nan anh hùng
của họ. Nhưng có lẽ điều còn quan trọng hơn đối với tôi là đã dần dần tự
“đồng hóa” mình cùng với họ được tắm mình trong cái văn hóa kỳ diệu ấy”
[64; 171].
Chiến đấu ở Tây Nguyên nhưng nhiệm vụ đầu tiên của ông là làm công
tác tuyên truyền cho đồng bào hiểu và đi theo cách mạng. Muốn làm được
điều đó không còn cách nào khác là phải học tiếng dân tộc. Chính trong quá
trình học tiếng dân tộc, Nguyên Ngọc có điều kiện tìm hiểu sâu hơn nền văn
hóa Tây nguyên. Chất hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng cộng hưởng với hào khí
43
của thời đại đã làm nên cảm hứng lãng mạn anh hùng ở nhà văn này. Những
ngày sống ở gần đồng bào Tây nguyên, làm công tác dân vận, tuyên truyền đã
giúp cho Nguyên Ngọc thấm dần nét văn hóa của họ và hiểu thêm về tâm hồn
của họ tuy vẻ ngoài lạnh lùng nhưng tràn đầy tình cảm chân chất. Chính
những tư liệu quý giá ấy đã góp phần giúp ông hình thành Đất nước đứng lên
với cảm hứng lãng mạn về người anh hùng Núp, những trang viết rất thật về
người anh hùng của núi rừng đã quá đủ để Nguyên Ngọc đưa nó lên thành
hình ảnh bi tráng mà không cần phải thêm thắt hay hư cấu gì nữa. Hình ảnh
anh hùng Núp là hình ảnh rất chân thật đậm đà với tính cách đặc trưng của
con người Tây Nguyên rất thật thà, hoang sơ nhưng đầy hào sảng, cái hào
sảng của chính núi rừng Tây Nguyên bạt ngàn. Cái lãng mạn anh hùng ở nhà
văn Nguyên Ngọc được tạo nên từ hào khí của thời đại kết hợp chặt chẽ với
cái chất đậm đà của rừng núi, hào sảng mà rất tinh khôi.
1.3.3. Cá tính nhà văn
Trên đây là những yếu tố cơ bản góp phần hình thành nên cảm hứng anh
hùng xuyên suốt hành trình nghệ thuật của Nguyên Ngọc từ lúc bắt đầu cầm
bút cho đến nay. Những yếu tố đó chỉ có thể được tiếp nối và bổ sung trong
hành trình nghệ thuật nhất quán thông qua cá tính của nhà văn để rồi hình
thành những tác phẩm văn chương với cảm hứng chủ đạo là cảm hứng về
người anh hùng với sự ngợi ca.
Thuở niên thiếu, Nguyên Ngọc được trải hồn từ quê hương Quảng Nam
cổ kính, trầm mặc, hoang sơ chưa nhuốm mùi đô thị của mình, được tắm
trong dòng văn học Pháp lãng mạn khi còn ngồi trên ghế nhà trường Pháp
thuộc, được tiếp xúc với dòng văn học cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, đã
hình thành nên ở ông một lý tưởng sống cao đẹp với những hoài bão lớn lao.
Bởi chính Nguyên Ngọc và những đồng đội của ông đã tình nguyện rời ghế
nhà trường đi theo kháng chiến và dùng ngòi bút của mình làm vũ khí chiến
44
đấu chống giặc ngoại xâm. Nhà văn được trưởng thành từ trong hai cuộc
kháng chiến thần thánh của dân tộc. Trong quá trình cùng sống và chiến đấu
trong lòng nhân dân, sống trong một thời đại hào hùng của dân tộc, tiếp xúc
với những nguyên mẫu anh hùng thực tế đã cho ông vốn hiểu biết sâu sắc về
người anh hùng của thời đại “...không phải vì văn chương mà Nguyên Ngọc
tìm đến những người anh hùng, mà vì người anh hùng mà anh thấy cần đến
văn chương” [55;334]. Người anh hùng vượt lên trên lợi ích cá nhân, hy sinh
vì lý tưởng cao đẹp đã đi vào trang văn của ông đầy chất thơ với những hình
ảnh bi tráng, oai hùng.
Nguyên Ngọc là một người luôn theo đuổi những lý tưởng cao đẹp với
những nguyên tắc sống rất nghiêm túc. Do đó, khi xây dựng nhân vật cho tác
phẩm của mình, ông luôn tìm đến những nguyên mẫu người anh hùng có thực
trong chiến đấu và trong cuộc sống hiện tại. Với ông, người anh hùng phải
“dũng mãnh khác thường, những con người thép thẳng băng nhọn hoắt, như
mũi chông, như ngọn dáo, như mầm xà nu đâm thẳng lên trời…nhưng lại có
một cái gì rất hoang dại” [55;331]. Với ông, viết về người anh hùng là một
nhu cầu tự thân, một sự thôi thúc bên trong, thôi thúc của máu và cả lẽ sống
nữa.
Với Nguyên Ngọc, viết về người anh hùng là một nhu cầu của riêng nhà
văn, Nguyên Ngọc luôn luôn đặt người anh hùng ở một vị trí xứng đáng. Nhà
văn luôn tìm kiếm và sáng tạo không ngừng. Trong mỗi tác phẩm viết với
cảm hứng anh hùng, Nguyên Ngọc luôn ý thức phải gắn bó với cuộc sống,
quan tâm đến những yêu cầu cách mạng đặt ra, từ đó mà biết cách nhìn nhận,
đánh giá thực tế và rút ra những vấn đề có ý nghĩa nhất. Từ cái ý thức được
trang bị ấy nhà văn sẽ không bao giờ đóng vai trò một kẻ đứng bên ngoài hiện
thực cuộc sống, quay lưng với hiện thực. Mỗi trang văn của Nguyên Ngọc
đến giờ vẫn còn nóng hổi tính thời sự, tính chiến đấu bởi lẽ những gì nhà văn
45
viết ra đều là một hiện thực sống động. Khi xây dựng nhân vật của mình,
Nguyên Ngọc không hề tự nghĩ ra mà dựa trên những nguyên mẫu thực tế, có
thật. Nhân vật Đinh Núp (Đất nước đứng lên) có đầy đủ tính cách và hành
động của một người anh hùng, thương yêu đồng bào của mình, những người
trong làng Kông Hoa, Đê Ta nữa, sẵn sàng nhường lúa của mình để cứu đói
cả làng. Những hình ảnh ấy cứ bám đuổi lấy Nguyên Ngọc và cứ thế đi vào
trang văn của ông một cách tự nhiên. Nguyên Ngọc là người gắn bó với Tây
Nguyên trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, được tắm
mình trong văn hóa Tây Nguyên tinh khiết và nguyên sơ. Do đó, khi xây dựng
nhân vật cho tác phẩm của mình, ông dựa trên nền văn hóa Tây Nguyên với
những con người yêu tự do đến cháy bổng. Vì thế, khi viết về Tây Nguyên,
ông luôn dành cho mảnh đất và con người nơi đây một tình cảm triều mến, từ
những người anh hùng đến những người dân bình thường ông đều dùng giọng
văn rất triều mến, rất ngọt ngào, chứa chan tình cảm đối với họ. Đó là tình
yêu mến đặc biệt dành cho Tây Nguyên của ông.
Người anh hùng của Nguyên Ngọc không phải là người anh hùng trong
trí tưởng tượng, mà là người anh hùng của thời đại, người anh hùng yêu tự do,
họ chiến đấu cũng vì tự do, yêu bản làng và hơn hết là yêu chính nhân dân của
mình. Từ Đinh Núp (Đất nước đứng lên) đến Tnú (Rừng xà nu), những
người anh hùng ấy họ luôn đặt lợi ích chung của tập thể lên trên lợi ích cá
nhân mình. Nguyên Ngọc là người say mê cái đẹp hoàn hảo, cái đẹp tuyệt đối.
Nhân vật anh hùng trong tác phẩm của ông phải là người rất đẹp, người anh
hùng của lý tưởng. Chính vì vậy, khi xây dựng nhân vật cho tác phẩm của
mình, Nguyên Ngọc chỉ chọn những tính cách cao đẹp, mà không chọn những
người anh hùng đã tha hóa, biến chất. Nhân vật anh hùng của Nguyên Ngọc là
nguyên mẫu có thật ngoài đời. Chính vì say mê cái đẹp hoàn thiện nên nhiều
khi đọc tác phẩm của ông người đọc có cảm giác ông say mê người anh hùng
46
đến mức cực đoan “cái yêu cái ghét của anh thì khác, phân minh lắm và
không dễ thay đổi, lắm lúc dường như là cố chấp” [51;328].
Nguyên Ngọc đã thấm nhuần ý thức “Văn học là một vũ khí, nhà văn là
một chiến sĩ” sáng tác trên tinh thần trách nhiệm như một hoạt động đấu tranh
khi Tổ quốc cất tiếng gọi. Ông luôn xông xáo, kịp thời cho ra đời những tác
phẩm nóng hổi tính thời sự, phản ánh hiện thực cuộc kháng chiến. Đó chính là
cơ sở để ông viết tiểu thuyết “Đất Quảng” (tập 1). Tác phẩm mang đậm cảm
hứng anh hùng ca về chính quê hương của nhà văn.
Chính vì thế mà khi phác thảo Đất Quảng (tập II), mặc dù đã viết xong
phần bản thảo nhưng khi hay tin nguyên mẫu nhân vật của mình quay ra đầu
hàng giặc thì Nguyên Ngọc cũng không ngại ngần gì mà đốt luôn bản thảo:
"…. Toàn bộ không gian và nhân vật chính của "Đất Quảng" được gắn với
vùng đất này. Trong tiểu thuyết, chân dung anh bí thư xã ấy có tên là "Thiệt".
Thiệt thành "Giả" mà Giả thành "Thiệt" là vậy. Tôi với anh Giả có một kỷ
niệm nhớ đời. Mùa đông năm 69, địch càn bất ngờ, tôi và anh chui xuống một
hầm bí mật. Bọn địch đánh hơi biết được vùng ấy có hầm bí mật nên chúng
giăng hàng ngang để xăm hầm. Nằm dưới hầm, hai chúng tôi nghe rõ từng
bước chân của đám lính ngụy và cả tiếng của những mũi sắt chúng khoan vào
lòng đất. Hai chúng tôi bàn với nhau: "Rút chốt lựu đạn ra. Nếu chúng khui
được hầm, anh hoặc tôi lên trước, tung lựu đạn, sống chết gì cũng "chơi" như
thế". Toán du kích làng bên thấy bọn ngụy tiến sát về phía căn hầm nên càng
bắn rát vào đám lính. Trời nhá nhem tối, sợ ta bao vây, bọn ngụy bỏ đi. Tôi
và Giả thoát hiểm lần ấy. Sau đó tôi được điều động đi nơi khác và Giả lại
gặp lần xăm hầm thứ hai. Lần này, thay vì tung lựu đạn, Giả lại chọn cách
"giơ tay đầu hàng". Trong chiến tranh, khoảnh khắc cho hành động "giơ tay"
hoặc "bung lựu đạn" là vô cùng tơ tóc. Chỉ cần một thoáng dao động trong tư
tưởng, anh sẽ chọn ngay cái cách "giơ tay". Và cái cách mà Giả đã chọn
47
không phải là trường hợp hiếm hoi thời chiến tranh. Thế nhưng, qua cách
chọn của Giả như thế, tình yêu của tôi đối với nhân vật đã bị tổn thương. Tôi
không muốn viết tiếp cuốn tiểu thuyết dở dang ấy nữa là vì vậy"[62]. Với ông,
người chiến sĩ, đặc biệt là người anh hùng phải luôn luôn trung thành với
Đảng, với cách mạng và đặc biệt là với nhân dân. Nguyên Ngọc không chấp
nhận cái nhìn dễ dãi, lệch lạc của người anh hùng. Viết về người anh hùng,
Nguyên Ngọc luôn hướng tới cái cao cả, nhưng rất sớm phát hiện “mạch nước
ngầm” của hiện thực cuộc sống. Ông không chịu được sự phản bội, cụ thể
trong một trận đánh, trong một con người, nhưng rộng ra là đối với một lý
tưởng, một sự nghiệp. Trường hợp cuốn tiểu thuyết Đất Quảng của ông vĩnh
viễn bị bỏ dở là một thí dụ điển hình.
Ở những sáng tác sau 1975 của Nguyên Ngọc, người đọc thấy nhân vật
hiện lên với một tính cách hết sức phi thường, nhưng cũng hết sức giản dị,
trong sáng. Người anh hùng ấy hiện lên trang viết của ông với đầy những suy
tư, trăn trở bởi những nhân vật ấy là nhân vật có thật, không hư cấu. Và đó
cũng chính là con người của Nguyên Ngọc cũng giản dị, cũng trong veo, tinh
khiết đến lạ thường.
Nguyên Ngọc là một nhà văn sống bằng lý tưởng, lý tưởng ấy được cách
mạng soi sáng và được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn. Trong
cuộc đời cầm bút của mình, ông luôn bám sát các vấn đề lớn của cách mạng,
của sự nghiệp chiến đấu để viết lên những bản anh hùng ca, ngợi ca vẻ đẹp
của người anh hùng. Nguyên Ngọc là một người có tâm hồn nhạy cảm với
những vẻ đẹp lớn lao. Đó chính là nét đặc trưng của nhà văn cộng sản. Ở ông,
luôn nhất quán một điều trước sau như một, phải minh bạch, phải là anh hùng.
Nguyên Ngọc là một nhà văn trước sau luôn nhất quán với cảm hứng anh
hùng. Ông luôn tìm kiếm những tính cách anh hùng, những sự tích anh hùng
để ngợi ca, để tuyên dương. Đó chính là lý tưởng và cũng là lẽ sống của nhà
48
văn. Có thể khẳng định rằng cảm hứng lãng mạn về người anh hùng là cảm
hứng chủ đạo xuyên suốt của văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược. Chính cảm hứng này đã đem lại
thành công vang dội cho nền văn học cách mạng Việt Nam. Với Nguyên
Ngọc, dù viết trước hay sau 1975 thì cảm hứng về người anh hùng vẫn là sự
nhất quán trong suốt hành trình nghệ thuật của nhà văn. Thành công ở giai
đoạn trước là tiền đề để nhà văn tiếp nối cho giai đoạn sau và góp phần hình
thành những chân dung về người anh hùng cho văn học nước ta ở giai đoạn
tiếp sau.
49
Chương 2
CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG TRONG VĂN
XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA NGUYÊN NGỌC SAU 1975 -
MỘT SỰ TIẾP NỐI LIỀN MẠCH, NHẤT QUÁN
Từ sau năm 1975, cuộc sống dần trở lại với những quy luật bình thường
của nó, con người trở về với muôn mặt đời thường, phải đối mặt với bao
nhiêu vấn đề trong một giai đoạn có nhiều biến động, đổi thay của xã hội. Bối
cảnh đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm đến mỗi
người và từng số phận. Sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn
học nhiều đề tài và chủ đề mới, làm thay đổi quan niệm về con người. Con
người, đặc biệc là người anh hùng được nhìn nhiều chiều hơn. Với cảm hứng
về người anh hùng nhưng ở giai đọan sau 1975, Nguyên Ngọc có cái nhìn đa
chiều hơn về họ. Đó là những cảm thông, chia sẻ cho những mất mát và hy
sinh của người anh hùng cho cuộc chiến, đồng thời nhà văn thể hiện sự trăn
trở, ray rứt, xót xa cho cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, bất hạnh
của người anh hùng trong hiện tại.
2.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam sau 1975
Đại thắng mùa xuân năm 1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ
xâm lược, mở ra một thời kỳ mới cho đất nước, thời kì độc lập tự do, cả nước
đi lên chủ nghĩa xã hội. Chuyển sang thời bình, cuộc sống đã thực sự đi vào
quỹ đạo đời thường, con người phải đối mặt với muôn vàn vấn đề của cuộc
sống, những vấn đề phồn tạp mà vĩnh hằng. Những thay đổi trên đã tác động
rất lớn đến đời sống văn học và nó đòi hỏi chính những người cầm bút phải
thay đổi cách nhìn cuộc sống hay nói rõ hơn chính nền văn học phải vận động
theo xu hướng mới để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống mới, nhà văn đặc biệt
50
phải nhạy cảm với những đổi thay của cuộc sống, là người phải luôn lắng
nghe hơi thở của cuộc sống và phản ánh trung thực cuộc sống. Đời sống xã
hội nói chung và đời sống văn học nói riêng vận động với những nét lớn sau đây:
Thứ nhất, từ sau 1975 dân chủ hóa trở thành xu thế lớn của xã hội và
trong đời sống tinh thần của con người, xu hướng này vận động bao trùm cả
nền văn học. Đặc biệt, với chủ trương cởi trói cho nền văn học, với tinh thần
đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật đã tạo cơ sở cho tư tưởng, cho xu
hướng dân chủ hóa trong văn học được khơi dòng và phát triển mạnh mẽ. Dân
chủ hóa đã trở thành những mạch nước ngầm ngấm sâu vào nhiều cấp độ và
bình diện của đời sống văn học. Sự thay đổi về ý thức nghệ thuật đã tạo cho
nhà văn có cái nhìn mới về cuộc sống, về con người. Văn học giai đoạn này
được nhấn mạnh trước hết ở sức mạnh khám phá thực tại và thức tỉnh ý thức
về sự thật, ở vai trò dự cảm, dự báo. Trong văn học, con người thực sự được
tôn trọng, được là chính mình, được nói lên chính kiến của mình trước những
vấn đề của xã hội. Cuộc sống thời bình là hiện thực của đời sống hằng ngày
với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan đa sự, phức tạp chằng chịt, đan dệt nên
những mạch nổi, mạch ngầm của đời sống. Hiện thực đó chính là đời sống
của mỗi cá nhân con người. Đặc biệt là cá nhân những người anh hùng một
thời với những khát vọng, những sâu kín bên trong tâm hồn cần được cảm
thông và sẻ chia.
Thứ hai, văn học cách mạng Việt Nam trước 1975 được xây dựng trên
nền tảng nhân đạo với cảm hứng chủ đạo là chủ nghĩa yêu nước, khát vọng
độc lập, tự do và lí tưởng xã hội chủ nghĩa. Từ sau 1975, cuộc sống dần trở lại
với những quy luật bình thường. Chính những quy luật bình thường của cuộc
sống đã thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm đến mỗi
người, từng số phận. Đặc biệt là những khát khao rất đời thường. Sự thức tỉnh
ý thức cá nhân đã làm thay đổi quan niệm về con người. Con người ấy không
51
còn là những anh hùng với tính cách oai hùng, bi tráng nữa mà con người
trong văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của
mọi mối quan hệ, con người được văn học khám phá, soi chiếu ở đời sống tư
tưởng, ở tình cảm, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường trong
tính nhân loại phổ quát.
Thứ ba, sau 1975 con người có điều kiện để nhìn nhận một cách chính
xác hơn về cuộc sống hôm nay, nhìn người khác và nhìn chính mình trong
tổng thể của cuộc sống. Con người hôm nay có được một độ lùi cần thiết về
thời gian cho phép mỗi người đánh giá đúng hơn, chính xác hơn bản thân
mình để thấy được rằng con người vẫn có những nhu cầu chính đáng cần
được đáp ứng và tôn trọng. Đó chính là yêu thương, đồng cảm và sẻ chia, đặc
biệt là những người anh hùng từng tham gia cuộc chiến. Đó chính là số phận,
là đời tư, là những góc khuất còn sâu kín trong tâm hồn của họ mà trong thời
chiến chưa có dịp bộc lộ.
2.2. Đề tài, chủ đề nhất quán, tính cách anh hùng đa diện
2.2.1. Đề tài
Đề tài người anh hùng là một đề tài quen thuộc trong văn học Việt Nam
hiện đại nói chung, văn học cách mạng nói riêng. Nhất là trong khí thế hào
hùng của cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc, mọi người đều nhất trí chung
lòng vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Một thời đại ra ngõ gặp anh
hùng. Lúc ấy, những người con ưu tú nhất của đất nước đều tham gia cầm
súng hay hỗ trợ cách mạng. Những tính cách cao đẹp được tôn vinh, được
ngợi ca, trở thành vẻ đẹp chung của thời đại. Đề tài người anh hùng, đương
nhiên, cũng trở thành một đề tài được tập trung sáng tác nhiều nhất – vừa ca
ngợi những người anh hùng, vừa tiếp thêm sức mạnh cho mọi người tham gia
chiến đấu.
52
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, nước ta bắt đầu công cuộc tái thiết
đất nước sau chiến tranh với hàng loạt những vấn đề được cải cách, đổi mới
sâu rộng trên mọi mặt cho phù hợp với tình hình của thời hậu chiến, con
người dần dần thích nghi với cuộc sống thời bình. Văn học có cái nhìn tỉnh
táo hơn về thực trạng xã hội, không lẩn tránh những mặt tiêu cực, gai góc của
cuộc sống. Với tinh thần đề cao nhân tố con người, lấy dân làm gốc, mở rộng
dân chủ, tôn trọng sự thật và quy luật cuộc sống, giải phóng sức sản xuất cùng
với tinh thần cởi trói càng khuyến khích những suy nghĩ, tìm tòi của văn nghệ
sĩ. Ý thức rõ hơn chức năng và sức mạnh riêng của văn học, trách nhiệm của
người cầm bút, nhà văn càng thâm nhập sâu hơn vào thế giới nội tâm con
người, vào cuộc sống. Và chính trong thời gian này, văn học đã xuất hiện
những tác phẩm với tiếng nói mạnh mẽ viết về cuộc sống đời thường của
những người chiến sĩ sau chiến tranh như: Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn
Kháng), Ánh trăng (Nguyễn Duy), Người đàn bà ngồi đan (Ý Nhi), Khối
vuông Rubich (Thanh Thảo)....
Hiện thực được văn học khám phá không chỉ là hiện thực cách mạng, các
biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà còn là hiện thực của đời sống hàng
ngày. Hiện thực, đó còn là đời sống cá nhân của mỗi con người với những vấn
đề riêng tư, số phận, nhân cách, với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi
kịch. Hiện thực đó là những giá trị truyền thống đã dần dần bị con người lãng
quên (Mùa lá rụng trong vườn – Ma Văn Kháng), con người tự thú trước
chính mình, (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành – Nguyễn Minh Châu)
con người đang đi tìm cái hoàn hảo nhất nhưng khi tìm được thì mọi cái đã
vụt mất khỏi tầm tay mới chợt nhận ra cuộc sống không có gì là hoàn hảo như
ta luôn lầm tưởng.
Đề tài chiến tranh và khuynh hướng sử thi vẫn nổi trội. Song, cảm hứng
đời thường hướng vào các vấn đề thế sự, đạo đức trong đời sống hàng ngày
53
của con người ngày càng được khai thác mạnh. Với yêu cầu nhận thức lại,
nhiều cây bút đã mạnh dạn nhìn nhận lại hiện thực của thời kì vừa qua. Với
Thời xa vắng của Lê Lựu, người đọc hôm nay nhận thức được rằng cả một
thời đại con người phải sống trong sự xếp đặt của người khác, nhân vật –
Giang Minh Sài đã phải yêu cái mà người khác yêu nhưng đến khi đã về già
thì lại yêu cái mình không có, cái không thuộc về mình. Chiến tranh cũng
được nhận thức lại từ sự tác động ghê gớm đến tính cách và số phận con
người với bao nỗi bi kịch (Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai), éo le và ám ảnh (Mùa
trái cóc ở miền Nam và Cỏ lau – Nguyễn Minh Châu), là sự đồng cảm xót xa
đến nhức nhối (Tướng về hưu – Nguyễn Huy Thiệp ) về con người và thân
phận của họ - những người anh hùng.
Tiếp nối cảm hứng về người anh hùng, nhưng ở giai đoạn sau 1975,
người anh hùng được nhìn nhận dưới góc nhìn đời thường, vẫn ngợi ca những
phẩm chất tốt đẹp, kiên cường, hy sinh, dũng cảm, gan dạ trong chiến đấu
nhưng người ta đã nhận ra sự thật của cuộc sống những người bước ra từ quá
khứ vinh quang ấy. Người anh hùng hiên ngang trong văn học kháng chiến
bây giờ được nhìn ở một góc độ khác, khía cạnh khác để thấy rằng tất cả
những người anh hùng hóa ra họ đều là những con người của cuộc đời thường
với những nỗi đau khổ, những khát khao, những dục vọng bình thường vốn có
như bao nhiêu con người bình thường khác. Gánh nặng cơm áo gạo tiền trở
thành nỗi lo đè nặng trên đôi vai tất cả mọi người, kể cả những người anh
hùng năm xưa. Trước thực tế khắc nghiệt của cuộc sống, người anh hùng đã
sống như thế nào là mối quan tâm của các nhà văn, là đề tài được các nhà văn
khai thác. Đó là anh lính Vạn (Bến không chồng - Dương Hướng) hy sinh cả
tuổi trẻ, hạnh phúc của mình cho cuộc chiến nhưng nỗi niềm riêng lại không
dám thổ lộ cùng ai. Người anh hùng ấy đã không vượt qua được những e ngại,
định kiến và dư luận nên đành đánh mất cái hạnh phúc mà lẽ ra anh xứng
54
đáng nhận được. Cuối cùng, anh vẫn là con người cô đơn, bất hạnh. Cuộc đời
của Nguyễn Vạn là hết lòng vì công việc chung, vì tập thể nhưng lại quên đi
hạnh phúc của bản thân. Đó là Giang Minh Sài (Thời xa vắng – Lê Lựu), vì
không thể yêu người vợ lớn tuổi hơn mình nên Giang Mình Sài đã trốn nhà đi
bộ đội, anh trở thành người anh hùng bất đắc dĩ. Và cả một đời đã phải yêu
cái mà người khác yêu nhưng khi về già thì lại yêu cái mình không có. Với
Thời xa vắng, Lê Lựu đã cho người đọc hôm nay thấy được con người cá
nhân không những bị cái tập thể vô danh tính che lấp, mà chính mình cũng tự
che lấp mình đi, không dám tự bộc lộ với chính mình. Cả đời người anh hùng
này phải sống và hành động theo những sắp đặt của người khác mà không
được sống với chính mình, không được nói tiếng nói của cá nhân mình. Đó là
Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai), người anh hùng bước ra từ quá khứ
hào hùng của cuộc chiến, anh chưa thể hòa nhập với cuộc sống hiện thực
nghiệt ngã của nó, anh trở thành một kẻ ăn mày, “ăn mày dĩ vãng”. Một kẻ ăn
mày không cần tiền bạc, chức tước mà chỉ cần một cái quá khứ bị đánh cắp,
anh lội ngược dòng để tìm người thương, tìm lại một tình yêu đẹp, cảm động
và lung linh tỏa ra từ những ánh sáng muôn vẻ. Đó là một vị tướng chỉ huy tài
ba (Tướng về hưu – Nguyễn Huy Thiệp) khi trở về với gia đình, với cuộc
sống bộn bề của nền kinh tế thị trường, trước thực trạng của xã hội, ông
hoang mang, bất lực và cảm thấy mình lạc lõng, cô đơn, trở thành một người
thừa ngay trong chính gia đình của mình. Tất cả những cách nhìn ấy, những
thay đổi ấy đã gây nên một làn sóng tranh cãi của xã hội vốn có thói quen
nhìn một chiều về người anh hùng như những tượng đài bất tử luôn luôn cao
đẹp. Qua rất nhiều cuộc tranh luận trên các báo, có người đồng tình, ủng hộ,
nhưng cũng có người không chấp nhận bởi cách nhìn quá mới, quá bất ngờ so
với cách nhìn trước đây trong văn học khi viết về người anh hùng. Độ lùi về
thời gian đã cho người đọc, cho thế hệ hôm nay một cái nhìn tỉnh táo hơn,
một đánh giá chính xác hơn về những vinh quang và mất mát của cuộc chiến
55
ngày hôm qua.
“Văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về
con người mà nền tảng triết học và hạt nhân cơ bản của quan niệm ấy là tư
tưởng nhân bản” [47, 16]. Con người vừa là điểm xuất phát, đối tượng khám
phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời là điểm quy
chiếu, thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử.
Văn xuôi trong thời kì đổi mới cũng đã đem lại nhiều biến đổi trong nghệ
thuật trần thuật. Để từ bỏ sự áp đặt, người viết phải chuyển dịch điểm nhìn
vào nhiều nhân vật để mỗi nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của
mình và để cho các ý thức cùng có quyền phát ngôn. Sự thay đổi vai kể,
truyện lồng truyện, sự đảo ngược và xen kẽ các tình tiết sự việc không theo
một trật tự thời gian; vấn đề thể loại của tác phẩm cũng được chú ý khai thác
cho phù hợp với nội dung của tác phẩm. Tất cả đều nhằm tạo ra được hiệu quả
nghệ thuật mới cho tác phẩm.
Nhà văn Nguyên Ngọc là một người gắn bó sâu sắc với núi rừng và con
người Tây Nguyên cũng như người anh hùng. Các sáng tác của ông trước năm
1975 đều viết về người anh hùng và những tập thể anh hùng tiêu biểu cho tinh
hoa của cộng đồng, cho vẻ đẹp hào hùng của thời đại. Nếu trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp ông có Đất nước đứng lên với hình ảnh anh hùng
Núp hiên ngang, luôn chiến đấu vì cộng đồng, thì trong kháng chiến chống
Mỹ ông lại có Rừng xà nu với hình ảnh Tnú và sự quật cường của dân làng
Xô - man kiên cường bám trụ để giữ vững từng tấc đất của quê hương. Những
tác phẩm đã ghi dấu ấn và đi vào lòng bạn đọc bao thế hệ như: Đất nước
đứng lên, Rừng xà nu, Đất Quảng (tập 1). Nét đặc sắc của những tác phẩm
trên là ở chỗ Nguyên Ngọc đã đi từ thực tế đời sống cách mạng, những đòi
hỏi của chiến trường mà tìm hiểu người anh hùng và từ người anh hùng mà
giúp ông hiểu thêm về một thời đại và một dân tộc anh hùng. Dù viết về nhân
56
vật nào, đối tượng nào Nguyên Ngọc vẫn luôn luôn nhất quán với cảm hứng
anh hùng và ở mỗi tác phẩm người đọc nhận thấy rõ người anh hùng trong tác
phẩm luôn đậm chất lãng mạn, mang đầy tính bi tráng, với giọng văn hào
sảng đầy ngợi ca, điểm chung trong tác phẩm trước 1975 của ông là người
anh hùng luôn gắn bó với Đảng, với cách mạng, căm thù giặc sâu sắc, luôn
chiến đấu dũng cảm, ngoan cường vì độc lập tự do cho dân tộc.
Sau năm 1975, tuy đời sống xã hội thay đổi nhưng với một lối viết nhạy
cảm và trung thành với đề tài chiến tranh cách mạng, Nguyên Ngọc vẫn bám
sát cuộc sống, vẫn luôn lắng nghe từng hơi thở, nhịp đập của cuộc sống, đặc
biệt là cuộc sống hiện tại của những người anh hùng – những người trực tiếp
cầm súng chiến đấu và phục vụ cho cuộc chiến đấu. Ông vẫn tiếp tục viết về
người anh hùng như một món nợ lòng mà suốt đời ông theo đuổi. Từng trang
văn đầy cảm xúc đã mang đến cho người đọc hình ảnh đời thường giản dị và
bình lặng của những người anh hùng trong quá khứ, mang đến cho người đọc
những ưu tư, ray rứt, trăn trở về con người và cuộc đời thông qua số phận
những con người ấy. Với một loạt các tác phẩm như: Trở lại Mèo Vạc,
Tháng Ninh Nông, Người hát rong giữa rừng, Cát cháy, Có một con đường
mòn trên biển Đông.
2.2.2. Chủ đề
Chủ đề được hình thành và xây dựng trên cơ sở của đề tài. Đó là vấn đề
cơ bản là phương diện chính yếu của đề tài. Khi phản ánh hiện thực, nhà văn
chẳng những xác định một phạm vi của đời sống mà còn tập trung soi rọi một
số ý nghĩa hàng đầu trong phạm vi đó.
Cách lựa chọn chủ đề thể hiện bản sắc tư duy, chiều sâu tư tưởng và khả
năng thâm nhập vào đời sống của chính tác giả. Chủ đề cuộc sống của người
anh hùng trong quá khứ giờ đây phải đối mặt với những khó khăn đời thường,
với những thay đổi nhanh chóng của đời sống kinh tế thị trường là một chủ đề
57
hay, được nhiều tác giả khai thác. Trong số đó, Nguyên Ngọc là nhà văn đặc
biệt say mê và sáng tác theo chủ đề này như: Trở lại Mèo Vạc, Tháng Ninh
Nông, Người hát rong giữa rừng, Cát cháy, Có một con đường mòn trên
biển Đông.
Cùng viết về đề tài người anh hùng, nhưng mỗi tác giả có cách khai thác
khác nhau mang đậm dấu ấn cá nhân của mình. Với Nguyên Ngọc, viết về
người anh hùng là sự nối tiếp chủ đề người anh hùng trong chiến tranh – vốn
là trọng tâm trong các sáng tác của nhà văn trước 1975. Sau 1975, để phù hợp
với sự chuyển biến của thời đại, cũng như phù hợp với yêu cầu đổi mới của
văn học lúc bấy giờ, Nguyên Ngọc đã có cách nhìn người anh anh hùng bằng
những quan niệm cá nhân của mình, vẫn ca ngợi người anh hùng với những
phẩm chất cao đẹp, nhưng ông cũng nhìn ra được những góc khuất trong cuộc
sống thời bình của họ. Viết về người anh hùng sau chiến tranh, nhà văn
Nguyên Ngọc chú ý khắc họa cuộc sống của người anh hùng với những xô bồ
và khắc nghiệt của thời buổi kinh tế thị trường. Họ là những con người bình
thường nhưng những gì họ làm, họ hy sinh thì thật phi thường. Viết về họ, tác
giả vẫn tiếp tục ngợi ca, trân trọng và ngưỡng mộ. Tuy nhiên đi liền với cảm
hứng ngợi ca là những chia sẻ, cảm thông những mất mát và đau thương với
thái độ trăn trở, xót xa cho cuộc sống hiện tại còn nhiều thiếu thốn, chật vật
của người anh hùng. Xoáy sâu vào đời sống tinh thần, vào nguyện vọng chính
đáng ở cuộc sống hiện tại của họ. Từ đó, ông trăn trở và đau đáu về số phận
không may của họ và gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh xã hội đừng vì những
bộn bề của cuộc sống mà quay lưng với họ, lãng quên họ - những người đã
một thời hết lòng chiến đấu cho chúng ta có được cuộc sống bình yên hôm
nay.
Với cảm hứng về người anh hùng nhưng ở giai đoạn sau 1975 cái nhìn
người anh hùng của Nguyên Ngọc khác trước, tác giả không nhìn người anh
58
hùng ở tư thế hiên ngang, đậm chất sử thi và đầy hào sảng nữa mà người anh
hùng được nhìn ở những phần sâu kín nhất trong tâm hồn, những khao khát
rất đời của người anh hùng với cái muôn mặt, muôn vẻ của cuộc sống đời
thường. Điều đó là do chính nhận thức của nhà văn về cuộc sống và cũng là
do hoàn cảnh xã hội đã thay đổi. Nếu như trước đây Nguyên Ngọc được sống
trong một thời đại âm vang với những người anh hùng, một thời đại anh hùng
thì giờ đây sau khi chiến tranh đã kết thúc, ông khắc họa lại toàn bộ hình ảnh
về người anh hùng trong những trận chiến năm nào, bên cạnh đó, từng người
anh hùng có những lí lịch rõ ràng ở đâu và làm gì? Phác họa lại cuộc sống của
người anh hùng sau 1975 với sự cảm thông, chia sẻ những mất mát, đồng thời
tri ân những cống hiến của họ cho đất nước.
2.2.3. Tính cách anh hùng đa diện
2.2.3.1. Tính cách người anh hùng trong hoài niệm
Với hành trình nghệ thuật nhất quán, liền mạch là viết văn với cảm hứng
anh hùng, do đó, trong các sáng tác sau năm 1975 của mình, Nguyên Ngọc
vẫn tiếp tục khắc họa chân dung người anh hùng với những tính cách cao đẹp,
anh dũng kiên cường và sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp chung.
Người anh hùng mà tác giả mong mỏi và nóng lòng tìm gặp nhất trong
chuyến hành trình về lại nơi xưa là Thào Mỹ - cô gái H’mông (Trở lại Mèo
Vạc) ở cao nguyên đá Đồng Văn, bởi tác giả muốn gặp lại hay đúng hơn là
muốn nghe lại tiếng hát của núi rừng cao chót vót và trầm sâu đến đáy, muốn
nhìn ngắm lại đôi mắt xanh nâu đẹp im lặng của người con gái năm xưa. Đặc
biệt, muốn biết được sự thay đổi của núi rừng và con người nơi đây. Dường
như chính cảnh hùng vĩ bạt ngàn của núi rừng nơi đây làm nên những tính
cách, những suy nghĩ của họ. Hoang dại nhưng không thô bạo, mạnh mẽ
nhưng không quá ồn ào. Vẻ đẹp của người anh hùng được miêu tả như vẻ đẹp
đầy hoang dại của núi rừng “một vẻ đẹp rất lạ, cuốn hút vô cùng, khi im lặng
59
trầm uất như một ngọn núi Mèo cô độc, khi lẳng lơ như những bông hoa
thuốc phiện quyến rũ, khi phấp phới như ngọn gió ào ạt trên đỉnh Sam Pun”
[61;430]. Thào Mỹ - cô gái H’mông nghèo có cuộc đời bất hạnh đã vượt lên
số phận, trở thành người dẫn đường cho cán bộ, cho cách mạng đánh dẹp bọn
phỉ và được bầu vào vị trí lãnh đạo cao nhất tiếp tục gìn giữ nơi địa đầu Tổ
quốc. Thào Mỹ hát hay, làm cách mạng giỏi, yêu đến say đắm và đẹp đến mê
hồn như chính cảnh đẹp ở cao nguyên đá này. Chính những yếu tố đó đã làm
nên tính cách kiên cường, cao đẹp của người anh hùng này. Thào Mỹ từng
vượt lên hoàn cảnh nghiệt ngã của chính mình, khi có gia đình, chị lại là một
người phụ nữ yêu chồng, thương con, tiếp tục hy sinh để lo cho chồng con.
Chị đã từng anh dũng, mưu trí, gan dạ trong chiến đấu với kẻ thù, khi trở về
với cuộc sống đời thường, chị lại là người phụ nữ chịu thương, chịu khó, giàu
đức hy sinh. Thào Mỹ chính là hiện thân của những người con gái H’mông
mạnh mẽ, táo bạo, yêu hết mình và cũng sống hết mình. Ở chị kết tinh được
cái đẹp của phẩm chất và cái tinh khiết của núi rừng như những con suối
trong veo đầy thách thức, mời gọi. Chị như đất Mẹ luôn che chở, ấp ủ, yêu
thương, thai nghén, sinh nở, đau khổ, hạnh phúc, quen chịu đựng gian khổ.
Đó là một đặc điểm chung vốn có ở người phụ nữ Việt Nam.
Nhân vật thứ hai được tác giả nhắc đến với sự ngưỡng mộ trân trọng
trong bút kí này là Sùng Chóa Vàng – một chiến sĩ thiện chiến, dũng cảm,
một tay súng cực kỳ thiện xạ, một cái thùng rượu không đáy và cũng là người
vô cùng tự do. Cũng như Thào Mỹ, cái làm nên tính cách của người anh hùng
này là sự kiên cường, những hành động dũng cảm khi đối mặt với kẻ thù.
Người anh hùng mà tác giả nhìn thấy được ở Sùng Chóa Vàng chính là tình
yêu và tinh thần tự do. Tình yêu với chính mảnh đất anh sinh ra, với gia đình,
với đồng bào, đồng chí. Tính cách tự do chính là một đặc điểm chung của
những con người miền núi. Họ yêu tự do và họ chiến đấu vì sự tự do. Những
60
gì hoang dã, hùng vĩ nhất của thiên nhiên nơi đây mang đến đã làm nên tính
cách anh hùng sử thi thời hiện đại của họ.
Trong truyện ngắn Tháng Ninh Nông, nhân vật tôi hồi tưởng lại quá
khứ, một việc đã cách đây nhiều năm trong kháng chiến chống Mỹ khi đồng
đội của nhân vật tôi bị đánh tan tác, một số đồng đội bị thương phải tìm nơi
để dưỡng thương thì họ tìm được một làng hẻo lánh, cao chót vót ở trên đỉnh
núi Ngok Linh [sic]. Đó là làng của người Tơ Trá. Theo dòng hồi tưởng của
người kể, nhân vật tôi được một cô gái người Tơ Trá cưu mang, cứu sống:
“Cô gái đã nhai nhão những hạt bắp khô và mớm cho tôi...và nghe rõ lắm cái
vị đắng đậm đà của bắp già hong lửa xà nu lẫn vị nước miếng mặn ấm và vị
mát ngọt của đôi môi cô gái” [61;466]. Bằng tất cả những gì có thể, người sơn
nữ đã cứu sống và cưu mang một người con trai xa lạ, chưa một lần quen biết
quên đi những hiểm nguy, quên cả sự e ngại mà chăm sóc và giành lại sự
sống cho cho người chiến sĩ bằng cả tấm chân tình và một tình yêu chân thành
“Và tôi chợt hiểu ra ngay rằng tôi còn sống, đó là sự sống và tôi đã gặp lại
được nó, bởi vì chỉ có sự sống mới có thể đen láy đến vậy, long lanh thương
yêu mặn nồng và âu yếm đến vậy” [61;465]. Sự hy sinh ấy là sự hy sinh của
một tấm lòng cao đẹp, của nhân dân với Đảng, với đất nước khi dân tộc chìm
trong lửa đạn chiến tranh. Người sơn nữ ấy không nghĩ đến hạnh phúc cá
nhân mình mà nghĩ đến cái chung của dân tộc, vì sự tự do của dân tộc.
Tính cách người anh hùng cao đẹp còn thấy trong nhân vật Y Yơn
(Người hát rong giữa rừng). Y Yơn là một nghệ sĩ đã từng là một chiến sĩ
trong những ngày Tây Nguyên đứng lên chống Pháp. Tuy là một chiến sĩ
nhưng nhiệm vụ chính của Y Yơn và đội vũ trang tuyên truyền là hát. Họ hát
đúng nghĩa là một gánh hát rong - một gánh hát rong cách mạng. Nhiệm vụ
của đội là tuyên truyền để đồng bào hiểu và đi theo cách mạng, để làm cách
mạng. Trong đội vũ trang tuyên truyền ấy thì Y Yơn chính là linh hồn của
61
đội, là ngọn gió tự do của Tây Nguyên bạt ngàn. Y Yơn nổi tiếng là nghệ sĩ từ
nhỏ bởi ông được nuôi dưỡng từ những tâm hồn nghệ sĩ, ông hát hay, đàn
giỏi. Kháng chiến bùng nổ, Y Yơn bỏ học và tham gia công tác ở làng của
mình nhưng sau đó bị Pháp bắt. Y Yơn đã dùng chính tiếng hát của mình để
trốn thoát và quay trở về hoạt động cách mạng. Và ông chuyển hẳn sang đội
vũ trang tuyên truyền để làm công việc mình yêu thích. Đó là được hát.
Những bài hát mà Y Yơn hát có lẽ chẳng liên quan gì đến Cách mạng, kháng
chiến. Nó đơn giản chỉ là những bài tình ca. Tình ca về quê hương, về bản
làng, về rẫy lúa, về con suối đầu nguồn nhưng rất lạ là nó tập hợp được mọi
người, nó kêu gọi mọi người đứng dậy để bảo vệ tự do của rừng núi và buôn
làng. Và hình như những người Tây Nguyên họ hiểu rằng chỉ có tự do thì trai
gái mới được yêu nhau, mới có thể lên nương làm cái rẫy, mới ra suối lấy
nước được và mới săn thú rừng được. Tự do với người Tây Nguyên còn là
được hát, được đắm mình trong rừng núi bao la, bạt ngàn. Trong kháng chiến
chống Mỹ, Y Yơn ở Hà Nội đi học trường nhạc và đêm đêm ông làm cái việc
không ồn ào mà mặn mà, thú vị đó là nói chuyện với bà con quê hương mình
trên làn sóng của đài tiếng nói Việt Nam. Ông hát về cuộc đời mình bằng đủ
thứ tiếng của các dân tộc. Và chính những bài tình ca ấy, rất lạ, nó kêu gọi
lính ngụy cầm súng theo giặc quay trở về với quê hương, với cách mạng, với
đất nước. Những con người lầm lỗi ấy, họ biết ơn Y Yơn. Vì chính ông đã
làm họ thức tỉnh và quay trở về với ánh sáng, với tiếng gọi thiêng liêng của
non sông đất nước. Đến thời Fulro hoành hành ở Tây Nguyên, có thể nói
không cán bộ nào của ta có thể tiếp cận được. Và Y Yơn với cây đàn Gong và
một thứ nghệ thuật không thực dụng đã giúp cho những người lính Fulro trở
về. Chính nhờ những bài hát đậm tính dân ca ấy ông đã thức tỉnh được tận
đáy sâu tâm hồn của những con người Việt Nam yêu nước, giúp họ quay trở
về với quê hương. Đơn giản, ông chỉ hát bài Gọi con heo thôi. Nghệ thuật của
ông đơn giản đến vậy, nó bình thường nhưng lại trường tồn, vĩnh cửu. Và ở
62
đó chính là Tây Nguyên, chính là Y Yơn.
Trong Cát cháy, người đọc còn bắt gặp những tính cách kiên cường, anh
dũng và sẵn sàng hy sinh của những người anh hùng vì sự nghiệp chung của
dân tộc ở các mẹ như: mẹ Mãi, mẹ Lứt, mẹ Hữu. Các mẹ đã lặng lẽ nuôi giấu
thương binh, đấu tranh chính trị với địch. Một đứa con xa lạ tận miền Bắc vào
công tác như chị Vũ Thị Thúy Mùi cũng được các mẹ ân cần chăm sóc như
chính con đẻ của mình. Họ không nghĩ tới những mất mát, hy sinh của mình mà
chỉ nghĩ tới sự sống còn của tập thể, của những đứa con, nói rộng ra là của đồng
bào đồng chí. Trước cái chết đang đến gần vẫn âm thầm báo tin cho đồng đội
của mình, vẫn hiên ngang trước nòng súng của kẻ thù. Tính cách cao đẹp, anh
dũng còn thể hiện ở anh Hai Toán, anh Dương Xang - những chiến sĩ chiến đấu
kiên cường, quyết cùng đồng đội bám đất, giữ làng, giữ dân với một tinh thần
anh dũng, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp chung của dân tộc. Chị Vũ Thị Thúy
Mùi, người nữ thanh niên xung phong tình nguyện đi B để được chiến đấu ở một
chiến trường ác liệt. Là sự chiến đấu ngoan cường, dũng cảm của chị Nga, chị
Huyền, chị Cúc, chị Hoa. Những cán bộ du kích mật đã kiên cường chiến đấu
quên mình vì quê hương anh hùng.
Vì lợi chung của tập thể có những anh hùng phải hy sinh hạnh phúc cá
nhân mình. Trong bút ký Có một con đường mòn trên biển Đông đó chính là
người anh hùng quân đội Đặng Văn Thanh và máy trưởng Huỳnh Văn Sao,
trong những ngày đối mặt với kẻ thù, cái chết có thể đến bất cứ lúc nào nhưng
những người anh hùng này vẫn ở lại giữ tàu, giữ gìn bí mật cho con đường
biển Đông.
Đó còn là hành động chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng của anh
hùng Nguyễn Phan Vinh. Trong trận đối đầu với địch, để bảo vệ cho anh em thủy
thủ thoát vòng vây, anh Nguyễn Phan Vinh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng:
“Quanh chỗ anh Vinh nằm, rất nhiều dấu vết bông băng đỏ thấm máu khô…nhìn
63
tư thế, có thể đoán ra anh đã đánh đến viên đạn cuối cùng” [61;972]. Đó chính là
sự hy sinh của anh hùng Nguyễn Văn Hiệu – người thủy thủ từng trải và gan lì. Là
người có nhiều uẩn khúc trong cuộc sống gia đình nhưng khi chiến đấu thì gan dạ,
dũng cảm vô song. Tàu của anh từng bị vây đánh ở hải phận quốc tế. Trong khi
tàu không còn khả năng cơ động được, là người chỉ huy, anh ra lệnh cho anh em
rời tàu. Một mình ở lại hy sinh cùng tàu để bảo vệ bí mật về con đường biển Đông
“…Anh ở lại trên tàu, để đến khi tàu vòng ra xa chỗ chúng tôi nhất…lúc đó tự tay
anh sẽ cho phát hỏa ngòi nổ tức thì, phá tan tàu, cùng hy sinh với tàu…Anh
Nguyễn Văn Hiệu đã làm đúng như vậy” [61;982]. Để có thể thực hiện nhiệm vụ
đưa vũ khí từ Bắc vào Nam, qua mặt kẻ thù. Anh Tư Mau phải cải dạng thành một
người hoàn toàn khác. Đó là phẫu thuật “thay hình đổi dạng”. Tuy rất đau đớn,
nhưng để thực hiện được nhiệm vụ, anh sẵn sàng hy sinh chính mình: “…Anh Tư
Mau phải nằm nửa tháng, rất đau đớn, chịu bịt kín hai mắt, mặt sưng vù”
[61;1000]. Đó là sự hy sinh cả thời tuổi trẻ của thủy thủ Huỳnh Ba. Từng là một
chiến sĩ kiên cường, dũng cảm trong cuộc vượt biển đầu tiên đưa vũ khí vào Nam
nhưng không thành. Anh địch bị bắt, bỏ tù, bị tra tấn. Bị chuyển qua nhiều nhà
lao. Ngày anh được ra tù cũng là ngày đất nước được độc lập, tự do.
Đó chính là mối tình vượt bom đạn chiến tranh của chị Sáu Thùy và anh
Tư Thắng. Tình yêu của chị Sáu Thùy – cô gái nơi mũi Cà Mau – là tình yêu
kiên cường lẫn sự hy sinh, hy sinh hạnh phúc cá nhân của chị cho lợi ích
chung của Tổ quốc, tình yêu gắn liền với lý tưởng cao cả, tình yêu vượt lên
trên cả huyền thoại, chị quyết chí đi tìm người yêu dù phải lặn lội dưới hàng
nghìn cây số bom đạn địch để gặp một người quen biết chưa thân ở miền Bắc
xa xôi của Tổ quốc cũng ngày đêm đối diện với những nguy hiểm của chiến
tranh và “một cuộc đi vô cùng liều lĩnh, vô cùng phiêu lưu, hầu như chẳng
chút “lôgic” nào cả. Nếu có thì chỉ là một thứ lôgic: Lôgíc kì lạ của tình yêu”
[61;947]. Những tính cách kiên cường ấy còn bắt gặp trong hình ảnh của vợ
64
của chú Năm Sao. Sẵn sàng hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của tập thể.
Đó là hình ảnh má Mười Rìu, người đã dốc cạn toàn bộ tài sản của mình,
thậm chí còn vay mượn thêm cho chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc chở vũ khí
vào Nam, sự hy sinh của má thật cao cả, vượt lên tất cả đó chính là tính cách
cao đẹp của người má anh hùng.
Trong những ngày đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, việc vận
chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam là một nhiệm vụ vô cùng thiêng liêng và cao
cả. Nhưng với sự kiên cường của các chiến sĩ đoàn tàu không số thì ở hậu
phương, những người vợ, người mẹ vẫn lặng lẽ nuôi con và chờ chồng, thậm
chí là phải sống trong sự nghi ngờ và tủi nhục vì bị hàng xóm và đồng đội
hiểu nhầm nhưng họ vẫn cắn răng để giữ gìn một bí mật về con đường mòn
trên biển Đông. Đó chính là sự hy sinh thầm lặng của vợ anh Ba Thắng.
Trong khi anh Ba Thắng đang ngày đêm lênh đênh trên những con tàu, đối
mặt với nhưng trận chiến đấu độc đảm, dữ dội, ác liệt sẵn sàng dội xuống bất
cứ lúc nào thì vợ anh lại âm thầm chịu đựng một mình cảnh “cô đơn dằng dặc
hơn mười năm trời, để khư khư cắn răng giữ kín một điều ngày ấy vô cùng
thiêng liêng: bí mật của con đường biển Đông” [61;909]. Vợ anh Ba Thắng -
một đảng viên hoạt động bí mật, lại là vợ của một chiến sĩ quân giải phóng.
Chị được mọi người tôn trọng và ân cần chăm sóc. Vậy mà trong một lần bí
mật đi thăm chồng trở về, chị có thai. Sau lần đó, mọi người nhìn chị với thái
độ khinh bỉ. Chị bị khai trừ ra khỏi Đảng, bị hàng xóm và gia đình khi rẻ.
Nhưng để giữ gìn bí mật về công tác của chồng, bí mật về con đường biển
Đông, chị đã cắn răng chịu đựng hơn mười năm trời, cho đến ngày đất nước
được độc lập và anh Ba Thắng trở về.
Là sự hy sinh thầm lặng của vợ anh Đặng Văn Thanh, chị đã âm thầm
chịu đựng, lo lắng khi anh ra đi và lặng lẽ đón anh trở về “…Chị thấy bồn
chồn lo lắng mỗi lần anh từ giã ra đi…Chị hao gầy đi những ngày chờ đợi.
65
Và như sống lại tươi tắn, tinh khôi…mỗi lần anh trở về” [61; 870]. Tính cách
cao đẹp và hy sinh ấy ta còn bắt gặp trong hình ảnh bà Năm Lạt, vợ máy
trưởng Huỳnh Văn Sao, người đã dành cả một thời tuổi trẻ nuôi con chờ
chồng trong những ngày tháng người máy trưởng anh hùng lênh đênh trên
biển Đông với những chuyến hàng chở nặng vũ khí vào Nam.
Có thể nói nhân vật trong tác phẩm của Nguyên Ngọc luôn luôn là
những người anh hùng với những tính cách cao đẹp, anh dũng, kiên cường,
sẵn sàng hy sinh, quên mình vì tập thể, chiến đấu vì những mục tiêu và lợi ích
chung của cộng đồng. Tuy nhiên, cuộc sống đời thường hết sức giản dị và
trong sáng. Họ không chỉ là những người hiên ngang cầm súng chiến đấu mà
tất cả những người anh hùng ấy luôn lặng lẽ, âm thầm cống hiến cho cách
mạng, cho Đảng, cho đất nước.
2.2.3.2. Tính cách người anh hùng trong hiện tại
Chiến tranh đã khép lại, cuộc sống đã đi vào quỹ đạo đời thường với
những khắc nghiệt và lo toan thường nhật. Người anh hùng năm xưa vẫn giữ
được những tính cách cao đẹp một thời là sự kiên cường và giàu đức hy sinh.
Sự kiên cường và đức hy sinh giúp họ đương đầu và vượt qua những thử
thách khắc nghiệt của cuộc sống. Trong Cát cháy, người đọc một lần nữa bắt
gặp sự kiên cường của những chiến sĩ anh hùng. Chị Cúc, anh Thắng từng là
những chiến sĩ kiên cường trong đấu tranh bảo vệ quê hương. Hòa bình, chính
sự kiên cường ấy giúp người anh hùng – chị Cúc thích nghi nhanh chóng hơn
trong cuộc đương đầu và vượt qua những khắc nghiệt của đời sống, điều đó
được thể hiện trong việc làm và lời nói của chị: “...Hồi đó, không đánh được
giặc, mất dân, mất đất là nhục. Không được nuôi thương binh cũng coi là
nhục...Còn bây giờ, cam chịu nghèo đói, để con cái ngu dốt, không được học
hành là nhục....” [61;747]. Trải qua bom đạn của chiến tranh, những người
anh hùng năm xưa đã hy sinh tuổi xuân của mình cho cuộc chiến. Ngày hôm
66
nay, trong cuộc sống đời thường còn nhiều khó khăn, chật vật, họ vẫn tiếp tục
hy sinh mà không kêu ca, than oán: “Nhà chị Huyền không đến nỗi là một túp
lều, nhưng cũng không thật ra nhà. Tường gạch, nhưng có chỗ xây vữa, có
chỗ là gạch xếp chồng lên nhau, chông chênh. Mái nửa ngói, nửa tranh. Cửa
sửa là mấy tấm các – tông gỡ ra từ một thùng mì ăn liền. Nền nhà gạch xếp
không đủ, đất cát tràn lên cả mặt nền. Chỉ có mỗi một chiếc bàn” [61;730].
Từng là một bí thư thời Bình Dương còn chìn trong khói lửa chiến tranh, với
sự mưu trí và dũng cảm của mình, chị Huyền đã cùng đồng đội ngày đêm bám
đất, bám dân để giữ vững căn cứ cách mạng ở vùng đất anh hùng. Nhưng
trong cuộc sống hiện tại, đời sống vật chất và tinh thần của chị không đủ đầy.
Chị sống trong một ngôi nhà không thật là nhà, công việc hàng ngày của chị
là bám ruộng để mưu sinh “...trong số bốn năm người đàn bà đang tất tả trên
cách đồng cát kia, người lui cui bón phân lúa, người kiũ kịt đôi gàu to tướng
gánh hước tưới khoai dưới nắng lửa...,trong số bốn năm người đàn bà cằn cỗi
ấy, bạn có nhận ra được người bí thư từng lãnh đạo cả cái xã Bình Dương
chính trong những ngày ấy” [61;716].
Những người anh hùng bước ra từ cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc,
trở về với cuộc sống đời thường với gánh nặng áo cơm, họ bắt buộc phải thích
nghi với cuộc sống đời thường khắc nghiệt, để phù hợp với cuộc sống bình dị
và có phần lặng lẽ: “Xin bạn đi cùng tôi và ta thử cố cùng nhau làm một điều
này: tìm và nhận ra những con người Bình Dương của thời ấy..., hôm nay còn
sống và đang chen chúc giữa đời thường. Mới thấy, chẳng dễ gì…” [61;716].
Những con người ấy, từng là những người anh hùng chiến đấu hết mình vì
Bình Dương, nay “trong số tám hay chín người phụ nữ lam lũ đang bận bịu
nhanh nhẹn rối rít chọn, xếp, đếm từng giỏ trứng vịt nặng trĩu, mặc cả, cãi vả,
cười nói, giành giật, la hét kia..., có một cô gái anh hùng của Bình Dương
đấy” [61;716]. Anh Hai Toán vẫn gắn bó với mảnh đất quê hương mình: “Đất
67
quê mình nghèo nhưng gắn bó. Những gì sâu sắc máu thịt nhất trong cuộc đời
đều là ở đây...” [61;720]. Người anh hùng ấy vẫn một cuộc sống bình dị và
lặng lẽ trong cuộc sống đời thường ngày hôm nay. Là cuộc sống lặng lẽ và
chấp nhận mất mát của chị Hoa – người chuyên trách công tác mua thuốc tây
trong kháng chiến. Trong những ngày vận chuyển thuốc tây cho cách mạng,
chị bị bắt, bị đánh đập, bị tra tấn đến điên mất mấy tháng “Em điên mất ba
tháng. Mặt méo xệch đi. Tóc rụng sạch. Mặt sưng vù. Miệng vêu lên. Răng
rụng. Các chân răng tứa máu. Máu ra ở mũi, ở miệng suốt ngày. Lưỡi rộp
lên, húp cháo cũng rát buốt, không chịu nổi” [61;787]. Chính những di chứng
ấy đã làm chị không thể thực hiện được thiên chức làm mẹ, làm vợ. Trong
cuộc sống đời thường ngày hôm nay chị cũng không nhận được một chút trợ
cấp gì từ các cơ quan làm chính sách, bởi theo như kết luận của họ thì công
tác mua thuốc tây trong kháng chiến của chị là “không có chức danh” nên
cũng không có căn cứ gì để trợ cấp cho chị.
Đó còn là sự kiên cường, vượt qua số phận của anh hùng Dương Xang
(Cát cháy). Bước ra khỏi cuộc chiến, anh thật sự gặp nhiều khó khăn từ cuộc
sống mưu sinh. Con trai anh bị bệnh hiểm nghèo, tuy không đủ khả năng chữa
bệnh cho con nhưng anh chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ cuộc, hay gục ngã
mà đầu hàng số phận. Vì thế khi nhận được sự trợ cấp từ các cơ quan làm
chính sách, số tiền dù ít ỏi là chỉ hai trăn ngàn thôi nhưng điều đó cũng làm
anh rất vui và cảm thấy ấm lòng.
Trong Có một con đường mòn trên biển Đông là cuộc sống bình dị,
lặng lẽ của anh Tư Thắng – sáu Thùy, anh Ba Thắng. Họ vẫn sống hết sức tằn
tiện bằng đồng lương hưu ít ỏi, nơi ở chật hẹp ở khu tập thể chưa đầy đủ cho
cuộc sống hiện tại. Là cuộc sống đời thường, đậm chất nông dân của anh
hùng quân đội Đặng Văn Thanh. Hòa bình rồi anh không về quê mà ở lại Hải
Phòng – nơi “có một mối tình sâu đậm nào đó đã giữ chân người lính bôn ba
68
lại nơi cái làng quê hẻo lánh này” [61;870]. Nhà vợ chồng anh Đặng Văn
Thanh nằm ở ven sườn đồi. Những cụm đồi nối nhau thoai thoải, cao dần về
hướng đông bắc, trên đồi là nhà, có vườn, dưới chân là ruộng, có vườn, có ao
nuôi cá. Trong chiến tranh, anh đã kiên cường, dũng cảm chống lại kẻ thù, thì
nay trong cuộc sống đời thường cuộc sống của anh cũng hết sức thầm lặng và
giản dị. Là cuộc sống của người ngư dân người anh hùng Huỳnh Ba ngày đêm
bám biển. Người ngư dân ở làng chày Nam Ô giờ tóc đã muối tiêu, chân mày
đã có sợi bạc. Trở về cuộc sống đời thường anh cũng rất bận bịu với cuộc
sống mưu sinh của gia đình với trăm công ngàn việc linh tinh của cuộc sống
hàng ngày. Người anh hùng lặn lội khắp miền Nam năm xưa để liên lạc với
những người ở bên sông Ray, để mở thêm bến đón vũ khí cho miền Nam là
Đồng chí Dương Quang Đông giờ sinh hoạt ở trụ sở câu lạc bộ hưu trí thành
phố Hồ Chí Minh, số nhà 41, Nguyễn Đình Chiểu, quận I. Người chiến sĩ năm
nào từng bôn ba khắp Đông Nam Á để vận chuyển vũ khí về, rồi vượt vòng
vây của địch để tìm ra cửa sông Ray làm bến giao nhận vũ khí, giờ con người
lịch sử ấy đã là một cụ già và chính cụ già ấy sẽ là một pho sử sống về con
đường mòn trên biển Đông. Đó còn là sự kiên cường, hy sinh thầm lặng của
Má Mười Rìu, người má anh hùng đã vay mượn đủ mọi thứ chuẩn bị cho
chiếc thuyền đầu tiên vượt biển ra Bắc ở cửa sông Ray – Vũng Tàu giờ cũng
đã hơn lục tuần. Má Mười giờ đang bận bịu với đủ các công việc cho cuộc
sống mưu sinh của mình và còn để trả nợ, trả nợ dùm cách mạng. Cuộc sống
của má giờ là bán cái quán với đủ thứ trên đời ở ven làng chài này. Hy sinh
cho cách mạng nhiều là thế nhưng khi được hỏi đã có ai đền ơn hay trả số nợ
năm xưa mà má đã vay chưa thì má trả lời “Thế xương máu anh em hy sinh, ai
trả?” [61;860]. Cuộc sống hiện tại vẫn còn khó khăn nhưng má vẫn kiên
cường sống. Để làm được điều đó đòi hỏi ở má một nghị lực phi thường. Một
tấm lòng cao đẹp của người má anh hùng bừng sáng hơn trong tính cách lẫn
sự hy sinh lợi ích của riêng mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Con trai
69
má Mười Rìu, anh Lê Hà đã tham gia nhiều chuyến vận chuyển vũ khí từ Bắc
vào Nam. Chuyến cuối cùng anh bị địch bắt trên vịnh Thái Lan, ở tù ra hầu
như anh bị mất sạch quân tịch, đảng tịch. Dù đã nhiều lần đến gõ cửa các cơ
quan chức năng nhờ giúp đỡ, nhưng vẫn chưa có câu trả lời. Cuộc sống hiện
tại quá bận rộn, người ta không có thời gian để giúp đỡ những người đồng đội
năm xưa tìm lại sự trong sạch cho mình.
Tất cả những người anh hùng năm xưa họ đã thực sự trở về với cuộc
sống đời thường, với những lo toan của cuộc sống mưu sinh. Có người đã trở
thành người nông dân như chị Huyền (Cát cháy), anh hùng Đặng Văn Thanh
(Có một con đường mòn trên biển Đông), thành ngư dân thực thụ như
Huỳnh Ba (Có một con đường mòn trên biển Đông), có người vất vả với
chuyện mua bán hàng ngày như má Mười Rìu (Có một con đường mòn trên
biển Đông), chị Cúc (Cát cháy), Thào Mỹ (Trở lại Mèo Vạc). Tất cả họ đều
đã hòa mình vào cuộc sống mới, họ đã hoàn toàn sống cuộc đời của một
người lao động. Dù cuộc sống hiện tại còn nhiều vất vả, thiếu thốn nhưng
những người anh hùng năm nào vẫn luôn kiên cường vượt qua những khắc
nghiệt của cuộc sống, vững tin vào tương lai.
2.3. Thái độ, tình cảm của nhà văn đối với người anh hùng
2.3.1. Ca ngợi và trân trọng những phẩm chất cao đẹp của người anh hùng
Tình cảm và thái độ của nhà văn Nguyên Ngọc dành cho người anh hùng
trong các tác phẩm của mình trước sau vẫn như một. Ông luôn hết lòng trân
trọng và ngợi ca những phẩm chất cao đẹp của những người anh hùng trong
thời chiến cũng như trong thời bình. Đó chính là sự kiên cường và đức hy sinh
cao đẹp của họ.
Sự kiên cường đã giúp họ vượt qua chiến tranh ác liệt, giờ đây giúp họ
trụ vững trong đời sống kinh tế thị trường. Chị Cúc (Cát cháy) đã từng chiến
70
đấu kiên cường trong chiến tranh, giờ trong đời sống hiện tại chị lại là người
đi đầu trong kinh tế, chăm lo làm kinh tế, nuôi dạy các con nên người. Chị
Huyền, chị Nga, những người nữ du kích anh hùng năm xưa trở về với cuộc
sống đời thường vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng họ vẫn kiên cường
sống và tiếp tục làm đẹp thêm cho cuộc đời.
Bước ra từ cuộc chiến tranh, với sự kiên cường của người chiến sĩ, anh
hùng Đặng Văn Thanh đã vượt lên những khó khăn của đời sống hiện tại để
làm kinh tế gia đình (Có một con đường mòn trên biển Đông). Đó là má
Mười Rìu (Có một con đường mòn trên biển Đông), đã hy sinh của cải cho
cách mạng, vẫn lặng lẽ mưu sinh chứ không trông chờ vào sự trợ cấp hay đền
bù của xã hội. Những người anh hùng ấy đã hy sinh tuổi xuân, sức lực và của
cải cho sự nghiệp thống nhất đất nước. Ngày nay, trước sự thờ ơ của người
đời với những thiệt thòi và khổ đau của mình, họ lại tiếp tục chịu đựng, hy
sinh lợi ích bản thân mình vì người khác mà không một lời oán than.
Họ đã hy sinh tuổi xuân, tính mạng của mình vì sự nghiệp giải phóng đất
nước. Đó là anh hùng Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Phan Vinh (Có một con
đường mòn trên biển Đông), những người anh hùng đã khuất, một phần
xương thịt của họ đã nằm lại đâu đó dưới lòng đại dương bao la, tên tuổi của
họ bị lãng quên trong trí nhớ của con người.
Và trên hết, sau những cống hiến của mình trong thời chiến, họ lại trở về
với nếp sống bình dị như vốn có của mình. Những người lính anh dũng năm
nào giờ trở thành những người nông dân, những người thuyền chài, những
người buôn bán nhỏ,v.v. và sống những tháng ngày bình dị. Nếu chưa từng
biết qua quá khứ hào hùng của họ, có lẽ, ít ai ngờ rằng họ đã từng một thời
sống hết mình, chiến đấu can trường như thế. Viết về họ, là cách để nhà văn
ngợi ca và trân trọng những hy sinh của họ cho lợi ích chung của Tổ Quốc
ngày hôm nay.
71
2.3.2. Trăn trở trước số phận không may của người anh hùng và sự thờ ơ
của người đời đối với họ
Ông trăn trở trước những khó khăn và bất hạnh của người anh hùng
trong cuộc sống thường nhật. Với những cống hiến và hy sinh của mình, họ
hoàn toàn xứng đáng có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Thế mà, như một sự trớ
trêu của số phận, họ luôn thiếu thốn, kham khổ về vật chất. Đau đớn, xót xa,
âm thầm về tinh thần.
Y Yơn (Người hát rong giữa rừng), người anh hùng sống hết mình vì
người khác, không nghĩ cho lợi ích cá nhân. Cuộc sống của người anh hùng Y
Yơn sau bao nhiêu năm đất nước đã đổi mới cũng không có gì thay đổi, vẫn
“một túp lều..., đúng bằng cái lều chăn vịt ta vẫn gặp trên các cánh đồng lênh
láng dưới xuôi, cuối những vụ gặt” [61;540]. Đồ đạc trong căn lều ấy cũng
chẳng có gì xứng đáng ngoài giải thưởng âm nhạc mà Y Yơn nhận được.
Cũng như những chiến sĩ khác, người anh hùng Dương Xang (Cát cháy)
bước ra từ cuộc chiến đấu và trở về với cuộc sống đời thường với hai bàn tay
trắng. Cuộc sống hiện tại của người anh hùng này cũng rất chật vật, khó khăn.
Khó khăn đến nỗi đứa con trai của anh mắc bệnh hiểm nghèo cũng không có
tiền chạy chữa. Anh tìm đến các cơ quan chính sách để xin trợ cấp thì nhận
được hai trăm ngàn. Món tiền ít ỏi ấy dù chẳng thấm vào so đâu với chi phí
điều trị bệnh tật của con anh, nhưng làm anh mừng đến "sáng ra cả mắt". Vì
ở đây chưa ai được trợ cấp số tiền lớn đến thế. Nhưng cũng đâu phải nhận
được ngay mà phải đi lại nhiều lần và chờ đợi. Vết thương cũ để lại từ trong
chiến tranh do bị tra tấn, làm chị Hoa không thể thực hiện được thiên chức
làm mẹ, nhưng khi đi khám để xác định thương tật thì các cơ quan làm chính
sách bảo rằng “không có chức danh chuyên đi mua thuốc tây”. Những người
nữ anh hùng (Cát cháy) trong những trận chiến anh dũng năm xưa, giờ trở về
cuộc sống đời thường, đời sống của họ rất khó khăn và chật vật, họ bị những
72
người từng là đồng đội năm xưa lãng quên và thờ ơ trước những số phận
không may của của mình “...Tất cả họ, không trừ một ai, đều long đong. Có
gần đến một nửa không có chồng. Chiến tranh đi qua, và bỏ quên họ. Cuộc
sống mới đi tới, và bỏ quên họ. Họ bị quá lứa” [61;718]. Bị thương tật là vậy,
nhưng khi đi khám để xác định thương tật thì các cơ quan có thẩm quyền lại
nói “không có vết thương thực thể”. Do đó, cũng không có cái căn cứ gì để trợ
cấp cho họ.
Mặc dù, cuộc sống hiện tại của những người anh hùng còn nhiều khó
khăn, chịu nhiều bất công, bất hạnh, thậm chí bị xã hội bỏ rơi, bị lãng quên.
Nhưng với nghị lực kiên cường của người anh hùng, họ vẫn sống cuộc đời rất
nhẹ nhàng dù bản thân còn gặp nhiều bất hạnh, đau khổ. Đó chính là một nghị
lực phi thường, một sự kiên cường đặc biệt mà không phải ai cũng có được.
Và Nguyên Ngọc càng thêm đau lòng khi nhận ra rằng, một trong những
nguyên nhân của hoàn cảnh khó khăn ấy của người anh hùng là sự thờ ơ của
người đời. Người anh hùng đã hy sinh rất nhiều cho mọi người có cuộc sống
thanh bình, thế nhưng khi họ gặp khó khăn hoặc cần giúp đỡ thì đáp lại họ chỉ
có sự thờ ơ và hờ hững.
Qua những điều trăn trở trên, những sự việc trên, ông muốn lên tiếng
cảnh tỉnh mọi người đừng quay lưng lại với những người anh hùng, đừng thờ
ơ với những khó khăn, bất hạnh trong cuộc sống còn quá nhiều thiếu thốn của
họ, đồng thời là thông điệp gửi đến những cơ quan làm chính sách nên có sự
hỗ trợ kịp thời và xứng đáng cho những cống hiến của họ trong quá khứ.
Người Việt Nam ngoài đạo lý “uống nước nhớ nguồn” còn có tinh thần
“tương thân tương ái”, việc quan tâm và giúp đỡ những người anh hùng là
một việc làm hợp tình hợp nghĩa. Trịnh Công Sơn đã từng viết “Sống trong
đời sống cần có một tấm lòng…”, và tấm lòng ấy cần mở ra để sống tri ân,
yêu thương và giúp đỡ mọi người, đừng để sự xô bồ của cuộc sống mưu sinh
73
cuốn đi mất trong ta những xúc cảm chân thành và tốt đẹp ấy.
2.3.3. Ân hận và áy náy trước số phận người anh hùng trong hiện tại
Với những gì đã cống hiến cho đất nước, những người anh hùng hoàn
toàn xứng đáng được đền đáp, nhưng thực tế lại không phải như vậy. Đời
sống của họ hiện tại vẫn còn rất chật vật, túng thiếu. Viết về họ, để ngợi ca,
trân trọng nhưng đồng thời nhà văn luôn cảm thấy ân hận và áy náy vì ông
vẫn chưa làm được gì cho họ trong hiện tại.
Tác giả là người từng tham gia chiến đấu trong trận diệt phỉ ở cao
nguyên đá Đồng Văn (Trở lại Mèo Vạc) cùng với những người anh hùng năm
xưa là Thào Mỹ và Sùng Chóa Vàng. Hòa bình, trở về với cuộc sống đời
thường, tác giả bị cuốn vào nhịp sống với hàng núi công việc có tên và không
tên, tuy “lòng vẫn day dứt một nỗi nhớ và ước ao được thăm lại chốn xưa, mà
chẳng dễ gì” [61;413]. Tác giả bận rộn với bao nhiêu là công việc “hữu tích
sự và vô tích sự”, với những vướng bận gia đình, vướng bận những công việc
bình thường nhiêu khê nên chưa thể trở về thăm lại và đền đáp với những
người đã hết lòng vì mình trong quá khứ. Tác giả xót xa trước cuộc sống vật
chất và đời sống tinh thần của người dân nơi đây đã thật sự xuống thấp, thiếu
thốn và kham khổ, đặc biệt là đời sống của những người anh hùng. Ông băn
khoăn, ray rứt vì mình chưa làm gì được cho họ. Chính vì bận rộn với những
công việc, có lúc tác giả cũng thừa nhận rằng mình đã quên mất Mèo Vạc,
quên đi những người anh hùng năm xưa hơn ba mươi năm nếu không nhờ nhà
văn Tô Hoài nhắc nhở: “- A lô, Tô Hoài đây....Này, mình đang viết cái hồi ký,
vui lắm ...Được ba tập rồi. Tập bốn sẽ có chuyện ông với bà Thào Mỹ đấy...”
[61;415]. Đã ba mươi năm ông chưa trở lại nơi đây, tìm lại những người anh
hùng cùng chiến đấu năm nào để giúp đỡ họ. Ba mươi năm – một khoảng thời
gian xấp xỉ nửa đời người, khoảng thời gian ấy người ta có thể làm được
nhiều việc. Tuy nhiên cuộc sống của người anh hùng ở nơi đây đã 30 năm
74
phải sống trong những thiếu thốn, chật vật và sự lãng quên của người đời
cũng như của chính những người đồng đội năm nào. Ông chợt nhận ra và
“...sực tỉnh, nghe đâu đó trong tận sâu của chính mình, tê tái buồn và nhớ”
[61;431]. Buồn và giận chính mình vì sự vô tâm, vì bận rộn công việc nên đã
quên đi những lời hứa của mình với Đồng Văn – Mèo Vạc, với những người
anh hùng kiên cường hy sinh nhưng cũng hết sức lãng mạn, lãng mạn trong
tình yêu “Ừ, phải viết chứ, Xuân Thiều đã hứa hộ tôi trước bàn dân thiên hạ
rồi...Và tôi cũng tự hứa với mình, với Mèo Vạc – Đồng Văn, với Lũng Phìn,
Mậu Duệ, Yên Minh, Cổng trời...Chỉ nóng lòng về đến nhà là ngồi vào bàn và
cầm bút” [61;414]. Ông nhớ những người anh hùng năm nào và cảm thấy bất
lực vì mình vẫn chưa giúp được gì cho họ trong đời sống hiện tại “…xao
xuyến gặp lại đất cũ người xưa; người xưa chẳng còn mấy, trải sóng gió
thăng trầm,…đều đã già đi, tàn tạ như chính mình; và lại trằn trọc thêm
những lo âu mới mà biết chắc rằng…mình chẳng còn góp phần tháo gỡ được
chút gì.” [61;414]. Là thái độ đồng cảm, chia sẻ, lo lắng cho cuộc sống của họ
với tư cách là người trong cuộc: “- Chẳng lẽ trở lại trồng cây thuốc phiện sao
anh? Thì chính anh đã viết “Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng”. Chính anh
phải trả lời đi chứ?” [61;442].
Ý thức được sự trở về với những người quen xưa quá đỗi muộn màng
của mình, nhân vật tôi (Tháng Ninh Nông) thường tự độc thoại với chính
lương tâm của mình, đối diện với con người của mình để “tự thú” về sự hờ
hững, vô tâm của mình: “Tôi biết người Tơ Trá rồi, tôi không chờ anh chủ
nhà niềm nở vồ vập. Thậm chí tôi sẵn sàng chờ anh chửi cho một trận nữa:
Mày còn vác mặt lên đây làm gì! Bây giờ chúng mày ở thành phố nhà to cửa
lớn ô tô nhà lầu, chúng mày còn nhớ gì tới chúng tao nữa đâu. Chúng mày
quên hết đồng bào rồi...” [61;470]. Có lúc, nhân vật tôi như tự biện hộ cho sự
vô tâm của mình “tôi cũng chưa đến nỗi hư đốn quá đâu, cứ mỗi bước một ô
75
tô...” [61;475] nhưng nhân vật tôi cũng tự biết rằng những lý lẽ ấy chỉ là sự cố
gắng để xoa dịu bớt sự áy náy, dằn vặt trong lòng mình. Nhưng càng nghĩ
nhân vật tôi càng thấy day dứt, trăn trở nhiều hơn “Thôi, tôi quay về đây, với
thành phố, với trăm sự eo xèo nhiễu nhương, hữu tích sự và vô tích sự của
cuộc đời” [61;475].
Nguyên Ngọc là một nhà văn luôn trung thành với đề tài chiến tranh
cách mạng, đặc biệt là viết văn với cảm hứng anh hùng. Và đây chính là cảm
hứng chủ đạo trong toàn bộ sáng tác của ông. Tuy nhiên, nhân vật anh hùng ở
giai đoạn sau năm 1975 là những nhân vật có đời sống và lí lịch riêng, được
ông soi rọi, khắc họa ở nhiều chiều hơn. Vẫn là ngợi ca nhưng đi liền với sự
ngợi ca những hình ảnh cao đẹp, những tính cách kiên cường, anh dũng, hy
sinh của người anh hùng trong quá khứ là sự cảm thông, chia sẻ với cuộc sống
đời thường còn chật vật, thiếu thốn và bất hạnh của người anh hùng trong hiện
tại. Viết về họ, Nguyên Ngọc luôn cảm thấy ray rứt, trăn trở, xót xa trước
những số phận không may của người anh hùng, trước sự thờ ơ, vô tâm của xã
hội và những người làm chính sách cho người có công. Đồng thời, ông cũng
luôn cảm thấy ân hận và áy náy vì vẫn chưa giúp gì được cho họ. Với ông,
người anh hùng phải được đền đáp xứng đáng với những gì mà họ đã hiến
dâng cho Tổ quốc. Chính nhờ tiếng nói của ông mà người đọc và thế hệ hôm
nay thức tỉnh mình mà có những hành động đền đáp xứng đáng với họ. Viết
về họ, ngoài trách nhiệm của người cầm bút, còn là sự đồng cảm của những
người trong cuộc, vì họ mà lên tiếng.
76
Chương 3
BÚT PHÁP THỂ HIỆN CẢM HỨNG VỀ NGƯỜI ANH HÙNG
TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT NGUYÊN NGỌC SAU 1975
Nguyên Ngọc được biết đến là một nhà văn có phong cách nghệ thuật
liền mạch, nhất quán với cảm hứng anh hùng. Để khẳng định sự nhất quán
trong phong cách của nhà văn thì phải tìm hiểu cả nội dung lẫn bút pháp thể
hiện. Trong chương ba, chúng tôi chủ yếu khai thác cách tiếp cận người anh
hùng gián cách mang đầy hoài niệm được thể hiện qua không gian thời gian
nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật cũng như nghệ thuật miêu tả trong văn xuôi
Nguyên Ngọc sau 1975.
3.1. Cách tiếp cận gián cách mang đầy hoài niệm
Trong các sáng tác sau 1975, Nguyên Ngọc chủ yếu tiếp cận nhân vật
anh hùng bằng những hoài niệm, gián cách với hình ảnh người anh hùng được
xây dựng lại. Do đó, khi tìm hiểu về bút pháp nghệ thuật của Nguyên Ngọc ở
giai đoạn sau năm 1975, người viết tìm hiểu về không gian thời gian gián
cách trong tác phẩm của ông. Điều này, góp phần thấy rõ cách nhìn nhiều
chiều về người anh hùng ở giai đoạn sau năm 1975.
3.1.1. Không gian thời gian tâm tưởng
Không gian thời gian tâm tưởng trong tác phẩm văn học là không gian
thời gian được xây dựng với những vật liệu từ kí ức bằng những kỷ niệm,
những hoài niệm về quá khứ. Trong tác phẩm của Nguyên Ngọc sau năm
1975, không gian thời gian tâm tưởng là sự hoài niệm về những kí ức hào
hùng, anh dũng trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.
Trong Trở lại Mèo Vạc, tác giả nhiều lần đưa người đọc trở về với quá
khứ, với những kỷ niệm khi tác giả tham gia diệt phỉ năm xưa cùng Thào Mỹ
77
và Sùng Chóa Vàng ở Đồng Văn - Mèo Vạc. Những ngày tháng ấy là những
ngày đẹp nhất, lãng mạn nhất, cho nên “cả những hiểm nguy của cuộc chiến
đấu đang chờ phía trước, đều chẳng nghĩa lý gì so với cảnh đẹp đến nghẹt thở
nơi đất trời núi non biên giới” [61;417].
Trong Tháng Ninh Nông, là những tháng ngày nhân vật tôi phải vật lộn
với cái chết và sự sống, nhờ sự cưu mang và chăm sóc của đồng bào nên “tôi”
đã vượt qua được hiểm nguy “...Ngày nay nhớ lại, tất cả đều như trong một
giấc mơ”, “Không, có thật mà, cô gái ấy, tôi đoan đấy. Bởi vì chính cô mớm
cho tôi chút nước bắp nhai nhỏ đầu tiên” [61;465]. Suốt câu chuyện là lời kể
của nhân vật tôi về những kỷ niệm chiến đấu. Nhân vật tôi đã được đồng bào
cưu mang và cứu sống, những hành động đẹp và những ân tình sâu nặng ấy
nhân vật tôi vẫn luôn canh cánh bên lòng, mong có một ngày trở về và đền
đáp những ân tình của người cũ.
Trong Người hát rong giữa rừng, là những kỷ niệm chiến đấu của “tôi”
với người nghệ sĩ của núi rừng – Y Yơn. Những ngày khói lửa chiến tranh họ
cùng cất cao giọng hát để cổ vũ tinh thần chiến đấu của đồng bào, đồng chí:
“...ngày ấy chúng tôi là một gánh hát rong, lang thang trên rừng núi Tây
Nguyên, và giữa chiến tranh” [61;543]. Trong sự hồi tưởng của nhân vật tôi,
Y Yơn là một nghệ sĩ tài hoa, yêu tự do, yêu quê hương và đồng bào của
mình. Cũng chính vì những yếu tố đó mà chàng nghệ sĩ tài hoa – Y Yơn đã
lang thang khắp núi rừng chỉ để làm một việc. Đó là hát. Cất cao tiếng hát để
quên đi những đau thương mất mát của chiến tranh mà cổ vũ tinh thần cho
đồng đội ngày đêm chiến đấu.
Trong Cát cháy, là sự hồi tưởng lại những ngày Bình Dương (Quảng
Nam) còn chìm trong khói lửa chiến tranh “Ngày ấy, trên đất Quảng Nam,
địch cày ủi điên cuồng. Bị vây đánh liên miên, cùng quẫn trên cả một vùng
đất không chỉ mỗi con người mà đến cả mỗi mô đất, mỗi ngọn cỏ, gốc cây
78
...cũng có thể tung cái chết vào mặt kẻ thù”[61;711]. Và những người anh
hùng quyết giành từng mảnh đất, từng người dân với địch “...Không ai còn có
thể tin và hiểu tại sao hồi đó những con người Bình Dương lại đứng ra gánh
vác những trách nhiệm ghê gớm như vây, và gánh được, tồn tại được, cho
mình, tất nhiên rồi, nhưng cũng là cho cả huyện, cả tỉnh, cả miền Nam, cả
nước” [61;722]. Từng câu chuyện, được chính những nhân chứng sống từng
tham gia chiến đấu kể lại. Và suốt trong dòng hồi tưởng ấy, những người anh
hùng được sống trở lại với quá khứ hào hùng, anh dũng rất đỗi cao đẹp của
họ.
Với bút ký Có một con đường mòn trên biển Đông, là sự hồi tưởng của
chính những người anh hùng tham gia trong chuyến vận chuyển vũ khí từ Bắc
vào Nam. Trong dòng hồi tưởng ấy, tác giả được nghe và được gặp gỡ những
nhân chứng sống của lịch sử, những hải trình dài trên biển phải đối mặt với sự
khắc nghiệt của thiên nhiên cùng những hiểm nguy từ sự tấn công của kẻ thù.
Những trận đối đấu trực tiếp với địch ở bãi Vũng Rô, bãi ngang – khu V, cửa
sông Ray – Vũng Tàu, trên hải phận quốc tế...đều cho thấy sự kiên cường,
dũng cảm đầy mưu trí trong chiến đấu và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ bí mật về
con đường biển Đông của những thủy thủ tàu.
Bằng việc xây dựng không gian thời gian tâm tưởng trong các tác phẩm
của mình, tác giả giúp người đọc có cái nhìn đa chiều và bao quát về sự thay
đổi của cuộc sống, của số phận nhân vật cũng như thấu hiểu hơn những xúc
cảm đan xen phức tạp diễn ra trong tâm hồn nhân vật.
Trước năm 1975, Nguyên Ngọc thường xây dựng nhân vật trong không
gian và thời gian thực tuyến tính. Nhiệm vụ của văn học cách mạng là phản
ánh hiện thực cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc với những người anh
hùng được xây dựng dựa trên nhân vật có thật. Tất cả những tính cách của
người anh hùng được quy tụ vào một điểm sáng là ca ngợi cái oai hùng nhất,
79
bi tráng nhất, gạt bỏ đi những yếu tố của đời thường. Do đó, nhân vật được
phản ánh trong tác phẩm của Nguyên Ngọc trước năm 1975 là người anh
hùng được xây dựng dựa trên nguyên mẫu thực tế như anh hùng Núp (Đất
nước đứng lên), anh hùng Tnú (Rừng xà nu) với không gian tập thể, không
gian rộng lớn, hoành tráng mang đậm tính sử thi.
Sau năm 1975, Nguyên Ngọc vẫn nhất quán với phong cách sáng tác của
mình là viết với cảm hứng anh hùng. Ông càng trăn trở về người anh hùng
bước ra khỏi quá khứ với những tâm thế khác nhau và luôn hướng về tương
lai với một cái nhìn lạc quan, tin tưởng. Đó là người anh hùng sống một cuộc
đời thầm lặng với những lo toan đời thường. Quá khứ hào hùng tuy vẫn là
những kỷ niệm đẹp nhưng họ biết rằng, giờ đây, họ phải thích nghi với cuộc
sống xô bồ, đầy khắc nghiệt.
3.1.2. Nghệ thuật trần thuật
3.1.2.1. Điểm nhìn trần thuật
Điểm nhìn trần thuật là vị trí mà người kể chuyện lựa chọn để quan sát,
thâu tóm hiện thực phản ánh trong tác phẩm, luôn gắn liền với nhân vật trần
thuật. Trong Trở lại Mèo Vạc, điểm nhìn trần thuật mà tác giả chọn lựa là ở
ngôi thứ nhất, nhân vật xưng tôi kể về một cuộc hành trình sau ba mươi năm
trở lại chiến trường xưa để gặp lại những người đồng đội cũ. Trong câu
chuyện này, nhân vật tôi hồi tưởng lại những kỉ niệm xưa đồng thời là người
kể ở ngôi thứ nhất, là người trong cuộc do đó lời kể mang tính chân thật cao.
Mở đầu câu chuyện là lời của nhân vật tôi “Tôi trở lại Đồng Văn – Mèo Vạc
những ngày cuối tháng tư 91” [61;413]. Tác giả kể lại bằng dòng hồi tưởng
của mình về những ngày tham gia diệt phỉ cùng những kỉ niệm về những
người H’mông can đảm, dũng cảm và kiên cường trong chiến đấu như Thào
Mỹ, như Sùng Chóa Vàng. Sau ba mươi năm nhân vật tôi trở lại thì cuộc sống
nơi đây đã khác nhiều, từ phiên chợ vùng cao “cũng đã bắt mùi kinh tế thị
80
trường của đổi mới” [61;424] đến đời sống con người nơi đây đã thực sự
xuống thấp khi mà những phiên chợ “không còn những chõ xôi vàng rực, chỉ
nhìn đủ thèm…Không còn những chú lợn béo ụ được dòng dây vào cổ, người
bán và người mua thách và mặc cả ầm ĩ…Vắng hẳn những chiếc váy H’mông
xúng xính rung rinh. Ngay đến hàng thắng cố truyền thống cũng lơ thơ”
[61;439]. Từng câu chuyện như là từng kỉ niệm của nhân vật tôi về nơi này
được nhìn qua lăng kính chủ quan, do đó, nó mang tính khách quan, chân thật
hơn. Thào Mỹ - cô gái H’mông có đôi mắt xanh nâu đẹp năm nào từng ngồi
ghế hội thẩm nhân dân, bây giờ ngồi hàng nước chợ Mèo Vạc. Sùng Chóa
Vàng từng là một tay súng thiện xạ, bây giờ đang sống trong: “một túp lều
tranh xơ xác. …. quấn tấm chăn rách tả tơi nằm ngủ ngay bên bờ rào. Cúi
xuống, kéo chăn, thấy ló ra một cái đầu trọc lóc: Sùng Chóa
Vàng!...”[61;441]. Trong bút kí này, điểm nhìn trần thuật lần lượt được tác giả
trao cho từng nhân vật, đầu tiên là những suy nghĩ của nhân vật tôi về câu
chuyện tiễu phỉ năm xưa cùng người anh hùng Thào Mỹ. Qua câu chuyện là
những trăn trở riêng của Thào Mỹ về cuộc chiến chống đói nghèo, chống việc
trồng cây thuốc phiện ở vùng núi cao nguyên này.
Tháng Ninh Nông là câu chuyện kể về một kỉ niệm đẹp đầy ân tình của
nhân vật tôi trong kháng chiến. Ở truyện ngắn này, tác giả cũng chọn cách
trần thuật ở ngôi thứ nhất, xưng tôi. Câu chuyện diễn biến theo dòng hồi
tưởng của nhân vật tôi. Mở đầu bằng “Tôi đã làm một chuyện dại dột: tôi đi
Mường Hon đúng giữa mùa mưa…Nhưng…Bạn đã nghe nói đến Mường Hon
bao giờ chưa?” [61;464]. Nhân vật tôi kể lại chuyện mình đã từng được một
cô gái người Tơ Trá cứu sống trong một trận sốt rét rừng. Khi ấy, trong trạng
thái nửa tỉnh nửa mê, nhân vật tôi đã cảm nhận được sự chăm sóc đầy thương
yêu của người con gái Tơ Trá “Cô gái đã nhai nhão những hạt bắp khô và
mớm cho tôi. Tôi hớp từng tí một và nghe rõ lắm cái vị đắng đậm đà của bắp
81
già hong lửa lẫn vị nước miếng mặn ấm và vị mát ngọt của đôi môi cô gái…”
[61;466]. Vị ngọt đôi môi thiếu nữ mớm nước bắp nhai nhão đã cứu nhân vật
tôi khi ở giữa lằn ranh sống chết luôn in đậm trong tâm tưởng của nhân vật
tôi. Nhưng khi nhân vật tôi trở lại thì người thiếu nữ năm xưa đã là vợ của
một người khác vì tưởng lầm rằng đó chính là người cô đã cứu sống. Nhận ra
điều đó, nhân vật tôi đã vội vã ra đi trong cơn mưa gió như một thằng điên,
như một trốn chạy người thiếu nữ kia để tránh sự phiền phức cho cuộc sống
hiện tại và cũng là giữ cho mình hình ảnh những hoài niệm đẹp đẽ và lý tưởng
về người con gái anh hùng trong suốt vô ngần.
Trong truyện ngắn Người hát rong giữa rừng, người kể chuyện ở vị trí
là người bạn thân lâu năm trở về tìm người cũ. Mở đầu tác phẩm là lời tác giả
cùng bạn trở về nơi xưa để “tìm Y Yơn”. Suốt câu chuyện là dòng hồi tưởng
của tác giả về người anh hùng của Tây Nguyên trong âm nhạc – Y Yơn. Ông
đã lang thang qua những khu rừng, qua những buôn làng, dạy cho mọi người
hát ca những bài ca – chủ yếu là tình ca – “tình yêu trai gái, yêu rừng, yêu con
suối đầu làng, yêu trái núi muôn đời cô quạnh, yêu con nai tơ ra ăn chồi
tranh buổi sớm mờ sương, yêu con chim k’tia chuyên ăn cắp lúa trên rẫy”
[61; 547]. Nhưng chính những bài hát ấy lại có sức mạnh thần kỳ thôi thúc
con người đứng lên chiến đấu giành lại tự do từ rừng núi và buôn làng.
Nguyên Ngọc đã suy ngẫm và nhận ra giá trị to lớn của nghệ thuật Y Yơn, đó
là nghệ thuật “không “kịp thời” kiểu thực dụng, không “chính trị” kiểu bây
giờ thường gọi là “minh họa” [61; 547].
Trong Cát cháy, người kể chuyện xưng tôi, nghe những người từng tham
gia cuộc chiến năm xưa thuật lại cuộc đấu tranh oanh liệt của những người
con anh hùng ở xã Bình Dương trong kháng chiến chống Mỹ. Mở đầu tác
phẩm, tác giả viết “Đây là câu chuyện về một vùng quê nghèo của tỉnh Quảng
Nam, một xã vào loại nghèo và khó khăn nhất của tỉnh, ngày nay vẫn rất khó
82
khăn, trong chiến tranh càng khó khăn hơn nhiều” [61;711]. Từng câu chuyện
được chính những người trong cuộc kể lại, những người anh hùng đã từng
tham gia chiến đấu trong những trận chiến năm nào, họ chính là những cuốn
sử sống của Bình Dương. Điểm nhìn trần thuật được dịch chuyển từ người
trần thuật sang nhân vật rồi cũng có khi trao điểm nhìn ấy cho nhiều nhân vật
như lời của anh Hai Toán, chị Huyền, chị Cúc…mỗi người cùng nói về những
suy nghĩ của mình về cuộc chiến tranh vừa qua. Hào hùng nhưng cũng đầy
mất mát và hy sinh, về chính mảnh đất mà mình đã từng gắn bó “Mình từ đây
mà ra đi. Đi ra thì có đi về…Đất quê mình nghèo nhưng gắn bó. Những gì
sâu sắc máu thịt nhất trong cuộc đời đều là ở đây” [61;720], về cuộc sống
hiện tại còn nhiều thiếu thốn và bất hạnh. Đó là sự luân phiên, phối hợp nhiều
điểm nhìn khác nhau trong cách trần thuật về một vấn đề về chiến tranh, về
cuộc sống hôm nay, tạo điều kiện thuận lợi cho tinh thần đối thoại nhằm tạo
tính dân chủ trong sáng tạo. Đồng thời, từ điểm nhìn của người kể được trao
cho các nhân vật, người đọc thấy được tính trung thực của lời kể tính chân
thực, xác thực về những người anh hùng.
Trong Có một con đường mòn trên biển Đông, tác giả chọn ngôi kể thứ
nhất, xưng tôi đi tìm hiểu về một huyền thoại một thời “Đây là câu chuyện về
một con đường. Chúng ta đang đi tìm một con đường” [61;832]. Câu chuyện
là lời kể của từng nhân vật gắn liền với những sự việc, sự tích có thật mà ở đó
mỗi nhân vật là một anh hùng, là người trong cuộc, là một pho sử sống về
cuộc chiến của ngày hôm qua được tái hiện lại bằng chính lời kể của họ. Mỗi
nhân vật là một cảm xúc, một hoàn cảnh, một số phận khác nhau. Nhưng tất
cả đều là những suy cảm chân thật về cuộc chiến tranh hào hùng nhưng cũng
vô cùng khắc nghiệt, đầy mất mát, đau thương trong quá khứ.
Tóm lại, điểm nhìn trần thuật Nguyên Ngọc chọn sử dụng trong các tác
phẩm sau 1975 của mình chủ yếu ở ngôi thứ nhất, người kể xưng tôi. Chọn
83
cách trần thuật ở ngôi thứ nhất, giúp tác giả có thể nói lên chính kiến của
mình, đồng thời thể hiện những cảm thông, chia sẻ cũng như những trăn trở,
xót xa của chính tác giả về cho cuộc sống hiện tại còn khó khăn, thiếu thốn
của người anh hùng. Điểm nhìn trần thuật cũng được tác giả lần lượt trao cho
các nhân vật trong tác phẩm, để họ nói lên suy nghĩ của mình về quá khứ anh
hùng cũng như hiện tại còn nhiều thiếu thốn, khó khăn trong cuộc sống. Điều
đó, giúp mang lại tính chân thực cho nội dung của tác phẩm. Với những thủ
pháp nghệ thuật như sự dịch chuyển điểm nhìn nghệ thuật; sự luân chuyển
điểm nhìn người trần thuật và nhân vật; gấp bội điểm nhìn người viết nhằm
tạo ra một hiệu quả nghệ thuật là tạo tinh thần dân chủ trong đối thoại và từ
đó giúp người đọc có cái nhìn trung thực hơn về cuộc sống hiện tại của những
người anh hùng.
3.1.2.2. Giọng điệu
Giọng điệu là một yếu tố quan trọng trong tác phẩm văn học, thể hiện
thái độ của nhà văn với hiện thực được mô tả trong tác phẩm. Giọng điệu là
yếu tố hàng đầu trong việc thể hiện phong cách nhà văn. Có thể nói, nó là
thước đo không thể thiếu để xác định tài năng nghệ thuật của một tác giả. Các
tác phẩm có giá trị đều phải có một giọng điệu riêng. Từ điển thuật ngữ văn
học chỉ ra rằng giọng điệu thể hiện “thái độ, tình cảm, lập trường, đạo đức
của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định
cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân
sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm,...” [27, 134]. Trong tác
phẩm văn học, không tồn tại một giọng duy nhất mà nó là sự hòa âm của
nhiều giọng điệu. Những giọng điệu này lại kết hợp với nhau để tạo nên một
giọng điệu bao trùm tác phẩm. Giọng điệu cũng liên kết với các yếu tố hình
thức khác của tác phẩm để góp phần hình thành nên một chỉnh thể nghệ thuật
trọn vẹn. Trong các sáng tác của mình trước 1975, người đọc đều bắt gặp ở
84
nhà văn Nguyên Ngọc là giọng điệu ngợi ca, trang trọng đầy hào sảng. Tuy nhiên, ở
những sáng tác sau 1975, vẫn là giọng điệu ngợi ca nhưng đi liền với nó là giọng
cảm thông, chia sẻ những mất mát và đau thương của người anh hùng cho cuộc
chiến. Đồng thời cũng qua giọng điệu, tác giả thể hiện những trăn trở, xót xa trước
những thiếu thốn về đời sống vật chất và tinh thần của người anh hùng trong hiện
tại.
Nguyên Ngọc được biết đến là một nhà văn có phong cách nhất quán bởi
cảm hứng lãng mạn anh hùng. Cũng là viết về người anh hùng nhưng ở những
tác phẩm ông viết sau 1975, người anh hùng được Nguyên Ngọc nhìn một
cách đa diện hơn. Một mặt, họ vẫn là những người anh hùng kiên cường dũng
cảm, hy sinh. Nhưng mặt khác, họ còn là những người anh hùng trong tình
yêu, trở về với cuộc sống đời thường bình dị và lặng lẽ ““...Những anh hùng
của anh xưa kia là những chiến sĩ gang thép, căm thù ngùn ngụt Giờ đây
cũng vẫn những người anh hùng kiên cường, sắt thép ấy, nhưng họ còn là
những con người của tình yêu, đẹp và anh hùng trong tình yêu” [55;335].
Bằng giọng văn đầy hoài niệm pha lẫn những ray rứt của người trong
cuộc, trong bút ký Trở lại Mèo Vạc, tác giả đã thể hiện những suy tư và trăn
trở của riêng mình về những thiếu thốn trong cuộc sống của những người anh
hùng mà tác giả đã từng gắn bó trong cuộc tiễu phỉ năm xưa ở Đồng Văn –
Mèo Vạc. Mở đầu bút kí, ông viết: “…Tôi lặn lội gần 200 cây số Hà Nội –
Tuyên Quang, rồi gần 400 cây số leo ngược mấy Cổng Trời, chính là để thầm
mong gặp lại đúng cái kỷ niệm thời xưa cũ long lanh ấy. Một miền đất có thể
nào lắng sâu mãi trong lòng mình dẫu đã xa cách nghìn dặm và hàng mấy
chục năm trường nếu ở đấy thiếu đi bóng dáng một người con gái không dễ
quên. Mà Thào Mỹ thì chẳng hề là một người con gái bình thường chút nào,
con người và số phận” [61;416]. Ngoài nỗi nhớ về những người anh hùng
năm nào đã cùng mình kề vai sát cánh tác chiến, về thiên nhiên hùng vĩ nơi
85
đây, tác giả còn khắc khoải và trăn trở về cuộc sống hiện tại của họ trong nhịp
sống hiện đại vốn xô bồ, phức tạp. Bởi, “cái thơ mộng lâu đời những vùng
rẻo cao cũng đã bắt mùi kinh tế thị trường của đổi mới rồi. Còn số phận
những con người ở đây, những Thào Mỹ, những Sùng Chóa Vàng, những
Lùng Sùng Páo…từng rất thân thiết một thời xưa của tôi trải cuộc dâu bể ba
mươi năm nay ra sao?”[61;424].
Khác hẳn với giọng trang trọng, hào hùng mang âm hưởng anh hùng ca
trong truyện ngắn Rừng xà nu, giọng điệu trong Tháng Ninh Nông mang
đầy suy tư, phảng phất hoài niệm về một thời đã xa và bây giờ chính nhân vật
tôi đang tìm về với những hoài niệm ấy, về với lý tưởng, với tiếng gọi của trái
tim, tiếng gọi của những ân tình “Đi Mường Hon giữa mùa mưa, ắt phải có
một tiếng gọi nào đó da diết, sâu thẳm lắm” [61;465]. “Có cô gái Tơ Trá nào,
không, người đàn bà Tơ Trá nào dưới kia ngước nhìn lên chiếc máy bay đang
bay thản nhiên bay qua kia, mà biết rằng trên đó có một người con trai một
phần tư thế kỉ trước mình dùng đôi môi trinh nữ mớm từng chút sữa ngô nghĩa
tình nuôi sống….mà vẫn không sao nguôi được nỗi canh cánh như một món duyên
nợ tiền kiếp…” “Tôi có một tiếng gọi như thế đấy ở Mường Hon. Cho nên tôi có
điên khùng liều lĩnh đi Mường Hon đúng giữa mùa mưa thì cũng đáng điên một lần
trong đời,…”[61;468].
Trong Người hát rong giữa rừng, là giọng văn đầy xót xa về cuộc sống hiện
tại của người anh hùng Y Yơn “Ôi Y Yơn của tôi. Lại vẫn thế sao anh? Vẫn Tây
Nguyên đến tận đáy tâm hồn. Vẫn nghệ sĩ lang bạt kỳ hồ đến tận máu thịt. Và vẫn
nghèo đến thế suốt đời, công danh chẳng thiết, tiền bạc chẳng xu dính túi, cuộc đời
như một cuộc phiêu lưu bất định,…”[61;540] Người nghệ sĩ Y Yơn dùng tài năng
âm nhạc của mình để cảm hóa, thức tỉnh những người còn lạc lối quay trở về với
quê hương nhưng cuộc sống đời thường của ông còn rất bấp bênh. Cuộc sống đã
thay đổi nhiều, con người phải lo toan cho cuộc sống của mình, người ta không thể
86
dành thời gian để quan tâm đến người khác, và chính nhân vật tôi cũng thừa nhận
rằng “…hai mươi năm hòa bình rồi, bây giờ tôi mới tìm đến thăm ông, tôi có lỗi
quá…” [61;549]. Thể hiện sự áy náy vì chưa làm gì được cho người nghệ sĩ này,
Nguyên Ngọc viết: “Tôi đã viết về mấy người anh hùng Tây Nguyên. Còn ông, ông
đâu phải là một “người anh hùng”….Còn ông, ông chẳng có danh hiệu gì cả”
[61;549].
Trong Cát cháy, giọng văn khâm phục sự kiên cường, vượt lên đau
thương một cách phi thường của con người đất Bình Dương “…Như một hiện
tượng vật lý đứng ngoài tất cả các quy luật vật lý. Một hiện tượng chiến tranh
bất chấp mọi quy luật chiến tranh” [61;715]. Giọng văn thể hiện sự đồng cảm
và chia sẻ với những mất mát và đau thương của cả một thế hệ anh hùng trong
thời chống Mỹ “…Đất quê mình nghèo nhưng gắn bó. Những gì sâu sắc máu
thịt nhất trong cuộc đời đều là ở đây” [61;720]. Cảm thông cho số phận của
những người nữ du kích anh hùng sau chiến tranh tác giả viết “…Tôi xin nói
trước với bạn nhé: trong số tám hay chín người phụ nữ lam lũ đang bận bịu
nhanh nhẹn rối rít chọn, xếp, đếm từng giỏ trứng vịt nặng trĩu, mặc cả, cãi vã,
cười nói, giành giật, la hét kia..., có một cô gái anh hùng của Bình Dương
đấy.” “Và trong số bốn năm người đàn bà đang tất tả trên cánh đồng cát
kia…trong số bốn năm người đàn bà cằn cỗi ấy, bạn có nhận ra được người
bí thư từng lãnh đạo cả cái xã Bình Dương…” [61;716] “…Tất cả họ, không
trừ một ai, đều long đong. Có đến gần một nửa không có chồng. Chiến tranh
đi qua và bỏ lại họ. Cuộc sống mới đi tới, và bỏ quên họ. Họ bị quá lứa.
Người nào cũng thương tật, có người đến tàn phế…toàn nội thương, do bị tra
tấn”. Nhưng khi đến các cơ quan làm chính sách xin xác nhận thì những
người đồng đội cũ bảo họ rằng: “không có vết thương thực thể” [61;718]. Sự
ngoảnh mặt lạnh lùng của những người có thẩm quyền thật phủ phàng và tàn
nhẫn, làm đắng lòng người.
87
Trong Có một con đường mòn trên biển Đông, giọng văn trang trọng
cùng những sẻ chia về một quá khứ oai hùng của những thủy thủ anh hùng
trên con đường vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam “…câu chuyện về một con
đường, ngày xưa hoàn toàn câm lặng, hôm nay vẫn còn câm lặng, và rồi chắc
sẽ mãi mãi chìm sâu vào câm lặng, đến vĩnh hằng…nếu chúng ta không đánh
thức nó dậy” [61;834]. “Còn những con người? Người đã hy sinh, mãi mãi
vùi thân trong biển sâu. Người đã qua đời sau chiến tranh, vì già yếu, vì
những di chứng của chiến tranh. Những người còn lại thì đang tản mát khắp
đất nước, trong những xóm làng, những kênh rạch hẻo lánh đấu đó. Họ vốn
vô danh. Hôm qua vô danh vì sự khắc nghiệt của nhiệm vụ. Hôm nay vô danh
trong ồn ào cuộc sống đua chen” [61;835]. Nói về cuộc sống hiện tại còn
nhiều khó khăn của những người anh hùng năm xưa vì nhiệm vụ cao cả đối
với Tổ quốc họ đã hy sinh quên mình, nhưng hôm nay, những gì mà họ được
nhận gần như một con số không tròn trĩnh, tác giả đã thể hiện bằng giọng trăn
trở đầy cảm thông cho cuộc đời và số phận của họ. Má Mười Rìu đã vét cạn
gia tài của mình để chuẩn bị cho cuộc vượt biển đầu tiên ra Bắc đưa vũ khí
vào Nam, giờ đây phải tự bươn chải với cuộc sống mưu sinh để trả cái nợ mà
má đã vay cho cuộc vượt biển ra Bắc năm xưa. Và con trai má, thuyền trưởng
Lê Hà vì tham gia vận chuyển nhiều chuyến vũ khí từ Bắc vào Nam bị địch
bắt và bỏ tù. Đến khi được tự do, anh lại bị mất cả quân tịch, đảng tịch, chạy
vạy khắp nơi xin xác minh mãi vẫn chưa được.
Bằng giọng văn đầy hoài niệm, với những chia sẻ, cảm thông pha lẫn
những trăn trở, xót xa cho cuộc sống hiện tại của người anh hùng, Nguyên
Ngọc đã tái hiện lại gần như trọn vẹn chân dung những người anh hùng đã hy
sinh nhiều cho cuộc chiến ngày hôm qua. Đồng thời, ông muốn nhắc nhở
những thế hệ trẻ hôm nay đừng lãng quên quá khứ, đừng quay lưng lại với sự
bất hạnh và khó khăn của những người đã từng xả thân vì Tổ quốc. Với cách
88
thể hiện bằng giọng văn này, Nguyên Ngọc đã giúp người đọc thấy được cách
nhìn người anh hùng của ông đã có sự thay đổi. Nhưng viết về họ với cảm
hứng anh hùng vẫn là sự nhất quán trong phong cách sáng tác của ông. Ở
những tác phẩm sáng tác sau 1975 của Nguyên Ngọc, với đề tài người anh
hùng nhưng cách nhìn người anh hùng không trong tư thế hiên ngang, sừng
sững mang cảm hứng sử thi mà nhìn người anh hùng ở khía cạnh thế sự đời
tư, với thái độ trân trọng, sẻ chia với những mất mát và đau thương mà họ đã
hy sinh cho cuộc chiến. Chính cách nhìn người anh hùng như thế đã thôi thúc
ông chọn bút ký làm thể loại sáng tác. Vì ở thể loại này, nhà văn có điều kiện
trình bày những vấn đề thực của xã hội, về “người thực việc thực”, những vấn
đề mang tính thời sự thể hiện được trách nhiệm của người cầm bút trước hiện
thực xã hội. Việc dùng thể loại bút kí cho thấy sự chính xác của tư liệu, sự
trung thực trong cách miêu tả và xây dựng nhân vật cho tác phẩm. Từ cách
chọn thể loại đã chi phối việc xác định điểm nhìn trần thuật và giọng điệu của
tác phẩm. Điểm nhìn trần thuật đã được dịch chuyển từ ngôi thứ ba, người
trần thuật biết trước mọi việc ở những sáng tác trước 1975 sang điểm nhìn
trần thuật ở ngôi thứ nhất người trần thuật xưng tôi để mang lại cái nhìn chân
thực khách quan trong tác phẩm.
Tóm lại, ở những tác phẩm viết sau 1975, Nguyên Ngọc vẫn thể hiện
giọng ngợi ca, trân trọng, khâm phục sự kiên cường, vượt lên đau thương, bất
hạnh một cách phi thường của những người anh hùng đã hy sinh hạnh phúc,
tuổi xuân của mình cho Tổ quốc. Đi liền với giọng ngợi ca, trân trọng là thể
hiện sự đồng cảm và chia sẻ với những mất mát và đau thương của họ trong
hiện tại. Đồng thời, nhà văn cũng thể hiện những xót xa, ray rứt, trăn trở cho
cuộc sống hiện tại còn nhiều chật vật, bất hạnh của người anh hùng, nhưng
bản thân họ vẫn không than oán hay kêu ca mà vẫn lặng lẽ sống và vươn lên,
viết về họ là cách nhà văn lên tiếng cảnh tỉnh xã hội đừng quay lưng với những
89
khó khăn và bất hạnh của họ, những người đã hy sinh và mất mát quá nhiều cho
cuộc chiến ngày hôm qua.
3.2. Nghệ thuật miêu tả ấn tượng
3.1.1. Nghệ thuật miêu tả nhân vật
Nhân vật trong tác phẩm văn học là thể hiện quan điểm thẩm mĩ và lí
tưởng của nhà văn đồng thời thể hiện chủ đề của tác phẩm văn học. Nhân vật
trong các tác phẩm của Nguyên Ngọc ở giai đoạn trước năm 1975 thường
được đặt trong những hoàn cảnh nghiệt ngã của cuộc chiến tranh ác liệt, liên
quan đến sự sống cái chết. Nhân vật buộc phải hành động hiên ngang để bộc
lộ những tính cách anh hùng. Người anh hùng trong chiến đấu với lòng căm
thù giặc sâu sắc, ngùn ngụt, với một ý chí bằng thép, những hành động mưu
trí, quả cảm, xả thân.
Ở giai đoạn sau năm 1975, cuộc sống đã trở về quỹ đạo của đời thường,
con người trở về với muôn mặt của cuộc sống. Người anh hùng cũng trở về
với sự giản dị vốn có, tâm hồn hồn nhiên và hết sức trong sáng với cuộc sống
bộn bề vất vả. Phản ánh trong tác phẩm của mình về người anh hùng ở giai
đoạn sau năm 1975, Nguyên Ngọc chủ yếu thể hiện sự đồng cảm với những
mất mát của họ đồng thời cũng thể hiện những trăn trở của mình trước cuộc
sống hiện tại nhiều khó khăn của họ.
Viết về người anh hùng ở giai đoạn sau 1975, ông không nhìn người anh
hùng ở tư thế của những thủ lĩnh oai hùng, hiên ngang mà ông nhìn người anh
hùng ở góc độ thế sự đời tư, ở sự thông cảm sẻ chia những mất mát, những
thiếu thốn của họ trong cuộc sống thường nhật của ngày hôm nay. Trước đây,
khi nhắc đến nhà văn Nguyên Ngọc, người ta nghĩ ngay đến Tây Nguyên anh
hùng cùng những nhân vật anh hùng. Cũng viết về người anh hùng nhưng ở
giai đoạn sau 1975, Nguyên Ngọc đã tìm về với chiến trường xưa, với những
90
nguyên mẫu về người anh hùng chống Mỹ của một thời để tìm hiểu và khắc
họa chân thực cuộc sống hiện tại của họ.
Trong Trở lại Mèo Vạc, hệ thống nhân vật tương đối đơn giản, họ là
Thào Mỹ, là Sùng Chóa Vàng, những người H’mông lãng mạn, anh hùng và
đầy chất nghệ sĩ. Họ đẹp, họ anh hùng bởi con người và tính cách của họ
được tác giả nhìn qua lăng kính chủ quan lãng mạn của nhà văn. Với việc sử
dụng thể loại bút ký cho phép Nguyên Ngọc có thể khắc họa rõ nét về hình
ảnh người anh hùng ở giai đoạn sau 1975 này. Thào Mỹ, cô gái có đôi mắt
xanh nâu đẹp đã từng ngồi ghế hội thẩm nhân dân vùng sơn cước với đồng
lương hưu chật vật nên phải ngồi cái quán trước cổng ủy ban với vài món
hàng ít ỏi. Sùng Chóa Vàng, người anh hùng thiện xạ năm xưa giờ trở về với
cuộc sống mưu sinh thời kinh tế thị trường anh chẳng có gì ngoài một túp lều
xơ xác và một tấm chăn không lành. Cuộc sống của họ là những khó khăn
chồng chất bởi đời sống mưu sinh. Trong Tháng Ninh Nông, nhân vật chính
được nhân vật tôi đề cập đến là cô gái Tơ Trá đã từng cứu sống “tôi” trong
kháng chiến chống Mỹ, chính hành động ấy đã làm cho “tôi” giữ mãi những
kí ức đẹp về hình ảnh người con gái năm xưa. Trong Người hát rong giữa
rừng, nhân vật được tác giả nhắc đến là người nghệ sĩ Tây Nguyên Y Yơn.
Qua dòng hồi tưởng của tác giả về nhân vật người đọc thấy hiện lên một
người nghệ sĩ Tây Nguyên hết sức tài hoa và cũng hết sức anh hùng “Y Yơn,
đó là Tây Nguyên. Con người Tây Nguyên. Đất nước Tây Nguyên. Rừng rú
Tây Nguyên. Văn hóa Tây Nguyên...tâm hồn Tây Nguyên” [61;543]. Anh hùng
trong tính cách và cả trong nghệ thuật với một thứ nghệ thuật hết sức đời
thường nhưng lại hết sức vững bền. Những đóng góp của Y Yơn không phải
chỉ để được ghi nhận tên tuổi của một nghệ sĩ mà chỉ để thỏa mãn niềm đam
mê của mình. Đó chính là được hát - hát như một con chim về với rừng, như
con nai về với suối nguồn, như tình yêu trai gái đến với nhau. Trong tác phẩm
91
của Nguyên Ngọc, người anh hùng Tây Nguyên hiện lên với một vẻ đẹp
nguyên sơ, tinh khiết nhưng cũng đậm chất anh hùng.
Trong Cát cháy, nhân vật anh hùng đều được tác giả miêu tả rất cụ thể từ
tên tuổi, ở đâu và làm gì đến những chiến công của họ đều được kể một cách
rõ ràng. Đó là anh Phan Thanh Toán “một người đàn ông đã luống tuổi, nho
nhã, hơi gầy, tóc đã nhiều sợi bạc...Đó là một người từng trải, có thể nói có
mặt với phong trào Bình Dương từ đầu đến cuối”[61;719], là anh Dương
Xang, là chị Huyền, chị Cúc, chị Hoa, là má Dỗi, má Lứt ngày đêm nuôi giấu
thương binh, che chở cho các chiến sĩ....Qua miêu tả của tác giả, ta thấy họ là
những con người bình thường nhưng ánh lên sự phi thường. Bình Dương, một
xã nghèo, khó khăn và không được thiên nhiên ưu đãi, từng hai lần được
tuyên dương anh hùng trong chiến tranh và trong xây dựng quê hương mới. Ở
nơi đây, đất và con người đều là anh hùng. Những nhân vật do vậy mang tính
cụ thể, tính thời sự bởi qua ngòi bút của tác giả người đọc phần nào cảm nhận
rõ được cuộc sống hiện tại còn nhiều khó khăn, bất hạnh của họ. Ngợi ca
nhưng đồng thời là những chia sẻ, những cảm thông với những mất mát của
họ. Tuổi xuân, tình yêu và cả tuổi trẻ của họ đã để lại nơi ấy và hiện tại thì
cuộc sống của họ đầy khó khăn, nhất là khi mọi người lại thời ơ với họ. Anh
Dương Xang vẫn nghèo, vẫn đi xin trợ cấp để lo cho đứa con bệnh tật. Chị
Huyền, người phụ nữ luống tuổi này ngày xưa từng là một xã đội trưởng kiên
cường, luôn xông pha ở những tuyến đầu nhưng cuộc sống hiện tại của chị thì
không chồng không con, mái nhà tranh thì cũng chẳng ra nhà, khi đi khám
xác định thương tật thì các cơ quan chức năng bảo không có vết thương thực
thể. Và còn nhiều những người anh hùng nữa vẫn sống trong cảnh khó khăn
về vật chất, thiếu thốn về tinh thần.
Trong Có một con đường mòn trên biển Đông, những người được nhắc
đến là những thủy thủ của đoàn tàu không số. Nguyên Ngọc đã rất thành công
92
trong việc khắc họa nhân vật anh hùng trước 1975 mang tính sử thi và cảm
hứng lãng mạn ngợi ca là chủ đạo. Sau 1975, cũng vẫn là những người anh
hùng ấy, nhưng được nhà văn khắc họa chân thật trong cuộc sống mưu sinh
vất vả. So với những người anh hùng của đoàn tàu không số năm xưa thì cuộc
sống của anh hùng Đặng Văn Thanh có thể nói là sung túc với “...nhà tường
vôi, mái ngói. Vườn sau nhà trồng toàn dứa. Trước sân là cái giàn mướp sai
quả...Phía ngoài sân là chiếc giếng rất sâu...Cạnh đấy là ao cá, anh Thanh
bảo mỗi mùa thu được hàng 5, 6 tạ cá mè...” [61,871]. Người thủy thủ năm
xưa giờ đã là một bác nông dân chính cống với những lo toan của cuộc sống
hằng ngày. Trong khi đó, gia đình anh Hồ Đức Thắng và anh Nguyễn Đức
Thắng thì còn nhiều khó khăn, bởi gia đình các anh vẫn ở trong khu tập thể
của Lữ đoàn Hải quân và vẫn chật vật xoay sở cuộc sống bằng những đồng
lương hưu ít ỏi.
Với những sáng tác sau năm 1975, khi xây dựng tính cách nhân vật,
Nguyên Ngọc không chú trọng đến việc miêu tả ngoại hình, những hành động
phi thường của nhân vật như trước năm 1975, mà chủ yếu khai thác tính cách
cao đẹp, tập trung miêu tả nội tâm của nhân vật, chú ý phân tích số phận cũng
như cuộc sống của người anh hùng. Nhà văn đồng cảm và sẻ chia với hoàn
cảnh khó khăn của họ cũng như trăn trở với sự thờ ơ của mọi người trước
những khó khăn của những người anh hùng ấy.
3.1.2 Miêu tả không gian – thời gian
3.1.2.1. Nghệ thuật miêu tả không gian
Trong tác phẩm văn học, không gian nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ
dùng để tái hiện lại địa điểm, nơi nhân vật sống và hoạt động cũng như những
chân trời mới mà nhân vật ước mơ. Đó có thể là không gian rộng trong tâm
tưởng và cũng có thể là không gian hẹp trong đời sống hiện thực. Tác giả của
giáo trình Lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ cũng chỉ ra rằng: “Trong tác
93
phẩm văn học, không gian vừa là hình thức hiện hữu của con người, vừa là kí
hiệu nghệ thuật thuộc về thế giới sáng tạo của người nghệ sĩ, nó bộc lộ cái
nhìn của nhà văn trước đời người và người đời,...” [26,178]. Ngoài ra, các tác
giả còn khẳng định rằng, không gian trong tác phẩm nghệ thuật không chỉ là
nơi diễn ra các sự kiện, nơi liên kết cốt truyện, nơi gặp gỡ của các nhân vật
mà nó còn tái hiện những đặc trưng của những vùng miền, những địa phương
khác nhau.
Trong phạm vi luận văn, chúng tôi chỉ tìm hiểu về không gian rộng của
quá khứ và không gian hẹp của đời thường trong các tác phẩm của Nguyên
Ngọc ở giai đoạn trước và sau năm 1975.
Không gian rộng trong quá khứ gắn liền với thời đại hào hùng của dân
tộc, mà khi đó con người sống hết lòng vì lí tưởng chung của dân tộc. Ở đó,
con người bộc lộ hết những phẩm chất cao đẹp của mình qua các tác phẩm
như Đất nước đứng lên, Rừng xà nu, Đất Quảng. Trong các tác phẩm viết
trước năm 1975, Nguyên Ngọc thường chọn không gian cho nhân vật hoạt
động là những không gian lớn gắn liền với hình ảnh nhân vật hoạt động tập
thể như không gian cả làng cùng nhau trồng lúa, cùng nhau rời làng để đi lên
núi cao chống giặc Pháp, cùng nhau lập kế hoạch tác chiến để chống giặc
(Đất nước đứng lên) dưới sự lãnh đạo của anh hùng Núp. Đó là không gian
nhà rông Tây Nguyên, không gian cả tập thể dân làng Xô – Man cùng vót
chông, mài rựa để chống lại giặc Mỹ xâm lược dưới sự chỉ huy của già làng –
cụ Mết (Rừng xà nu); là không gian rộng nơi xứ Quảng của những người con
ngày đêm bám đất bám làng, giữ dòng sông Trúc được xuôi nhịp như chị
Thắm, anh Hoàng,... (Đất Quảng).
Trong các sáng tác sau năm 1975 của Nguyên Ngọc, không gian hẹp
trong hiện tại thường gói gọn trong căn nhà, thửa ruộng, cửa hàng tạp hóa,
mảnh vườn gắn liền với cuộc sống đời thường đầy lo toan, với cuộc sống mưu
94
sinh vất vả của người anh hùng.
Nguyên Ngọc là một nhà văn có nhiều vốn sống cũng như kiến thức
phong phú: từ địa lý, lịch sử đến kiến thức quân sự. Ông đã đem vốn hiểu biết
của mình vào trong tác phẩm, tạo nên sự hấp dẫn cho tác phẩm. Trong bút ký
Có một con đường mòn trên biển Đông, kiến thức phong phú của Nguyên
Ngọc thể hiện rõ nét. Mở đầu câu chuyện về con đường huyền thoại trên biển
tác giả đã tái hiện hình ảnh vùng biển bao la. Nguyên Ngọc đã tái hiện chân
thực, sinh động và tỉ mỉ những hải trình gian nan trên biển của các thủy thủ
đoàn tàu không số từ: Quảng Ninh, Khánh Hòa đến cửa sông Ray tỉnh Bà Rịa
Vũng Tàu, rồi Rạch Gốc, Gành Hào tỉnh Cà Mau.
Trong bút ký này, tác giả tập trung miêu tả về vùng biển dọc hình chữ S,
với những địa điểm đã từng là nơi giao nhận vũ khí trong chiến tranh. Với
những bến đón ở vùng Cà Mau, Bạc Liêu thì an toàn hơn rất nhiều, phần lớn
những bến đón này là đất bùn, tàu thuyền có thể lợi dụng sự thuận lợi ấy mà
cho tàu thuyền đi sâu “theo những đường lạch quanh co và luồn thẳng vào
rạch có vòm đước kín bưng” [61;881] với “con sông Cửu Long to lớn và
mạnh mẽ, đậm đặc phù sa, tạo ra hàng trăm cửa biển, vàm lũng lớn
nhỏ…trơn trật bùn đất đục ngàu và rậm rạp những rừng mắm, sú vẹt”
[61;939]. Điều đó rất thuận lợi cho việc đưa tàu ra vào và che giấu tàu, thậm
chí có thể che giấu những kho vũ khí lớn và làm chỗ nghỉ ngơi cho thủy thủ
đoàn, nhưng với những bến đón ở khu V miền trung thì nguy hiểm hơn rất
nhiều bởi khu V là những vùng cát trống trải “sát mép nước biển là những
đụn cát nối dài không có cây cối, chỉ toàn một loại cỏ lông chông khô cháy.
Sâu trong đất liền đến hàng cây số mới có một ít khoảnh rừng rải rác”
[61;906]. Nơi đây các con sông đều ngắn, không có phù sa, biển hoàn toàn
trong xanh không có bùn. Hai bên bờ thì trống trải thỉnh thoảng đôi chỗ cũng
có cây cối nhưng cũng đã cằn cỗi xác xơ. Có những vịnh nước sâu nhưng gần
95
đó lại là những căn cứ hải quân Mỹ. Việc miêu tả điều này cho ta thấy rằng
vận chuyển vũ khí vào khu V là một điều vô cùng khó khăn và nguy hiểm.
Chẳng những phải chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt mà còn đối mặt với
một lực lượng địch nguy hiểm, hùng mạnh lúc bấy giờ. Chính sự gan dạ, táo
bạo đầy bất ngờ của những chiến sĩ Lữ đoàn Hải quân 125 đã tạo nên những
chiến công vang dội.
Không gian hiện tại được tác giả đề cập đến trong bút ký Có một con
đường mòn trên biển Đông là cuộc sống hiện tại của những người anh hùng.
Anh Huỳnh Ba giờ là một anh ngư dân bình dị. Cuộc sống của anh phụ thuộc
vào biển, ngày tạnh thì ra khơi đánh cá, ngày bão thì ở lại nhà cùng gia đình
làm nước mắm, làm pháo. Không gian hoạt động của anh được giới hạn ở hai
nơi là biển cả và gia đình.
Không gian hoạt động của người má Mười Rìu giờ ở “Ngay sát mém
biển, một làng chài nghèo, chen chúc nhà mái tôn, vây quanh một cái chợ
nhỏ” [61,857]. Cuộc sống được giới hạn trong quán – “một trong những cái
quán “lạ lùng” ta vẫn thường gặp ở bất cứ làng chài nào” [61,858]. Nơi ở
của má hết sức chật hẹp “Bây giờ má Mười sống với cô con dâu, vợ Hà. Gian
bên này là của vợ chồng Hà, gian bên kia chỉ kê vừa đủ một chiếc giường,
đêm là chỗ nằm của má, ngày là chỗ bày cái mớ hàng tạp hóa linh tinh”
[61,862].
Cuộc sống của người anh hùng quân đội Đặng Văn Thanh thì lại khác
hẳn. Qua cách miêu tả của tác giả, người đọc có thể hình dung đây là một gia
đình nông dân chính cống, sống an nhàn ở một vùng quê yên ả của miền Bắc
“Từ Hải Phòng, qua phà Bính, rẽ về tay trái khoảng mươi cây số, sẽ gặp một
vùng đất có dáng dấp trung du: những cụm đồi nối nhau thoai thoải, cao dần
về hướng đông bắc. Làng xóm nằm ven đồi, thượng gia hạ điền, trên đồi là
nhà, có vườn, dưới chân là ruộng” [61;869]. Không gian của người anh hùng
96
này được giới hạn bởi ruộng và vườn nơi anh đang sống “Bây giờ thì người
thủy thủ già đã thực sự trở thành nông dân chính cống. Nhà anh chị nằm ven
sườn đồi. Đá tường vôi, mái ngói. Vườn sau nhà trồng toàn dứa. Trước sân là
cái giàn mướp sai quả ...Phía ngoài sân là chiếc giếng rất sâu,...Cạnh đấy là
ao cá” [61,871].
Ngược dòng địa lý, Nguyên Ngọc lại đưa người đọc trở về với vùng
sông nước miền Tây với những am hiểu về kiến trúc đô thị của miền Nam Bộ
“Có lẽ ở đồng bằng sông Cửu Long có hai thị xã đẹp hơn cả: Long Xuyên và
Trà Vinh. Long Xuyên, tỉnh lỵ An Giang nhỏ gọn, xinh xắn, như một vườn hoa
được cắt tỉa bằng một bàn tay khéo léo...Trà Vinh đẹp một cách khác. Cổ
kính. U trầm...”[61;901,902]. Không gian nhà của người thợ máy anh hùng –
chú Năm Sao thì lại rất đơn sơ “trong căn nhà nhỏ lợp lá dừa, chỉ còn một
người thiếu phụ...Chị đang may. Chiếc máy khâu cũ kỹ” [903].
Không gian nhà anh hùng Ba Thắng và Tư Thắng - Sáu Thùy cũng rất
hẹp vì họ đang ở tại khu tập thể của đoàn 962, đơn vị hải quân đóng tại Trà
Nóc, Cần Thơ. “Ở vùng biển xa xôi này chưa có điện, dầu lửa cũng khó khăn,
người ta đi ngủ rất sớm” [61;906].
Trong Cát cháy, không gian hoạt động của anh Hai Toán được giới hạn
trong ở ngôi nhà và “đám thổ” của anh “Nhà anh Hai Toán ở gần cuối xóm,
trên sườn một động cát. Bước ra sau hè đã là cát miên man. Không loại cây
gì cao lớn mọc lên nổi trên cát cháy này” [61,723]. Không gian hoạt động của
chị Huyền, người nữ anh hùng năm xưa còn chật hẹp và có phần thiếu thốn
hơn “Nhà chị Huyền không đến nỗi là một túp lều, nhưng cũng không thật ra
nhà. Tường gạch nhưng có chỗ xây vữa, có chỗ là gạch xếp chồng lên nhau,
chông chênh. Mái nửa ngói nửa tranh. Cửa sổ là mấy tấm các – tông gỡ ra từ
một thùng mì ăn liền. Nền nhà gạch xếp không đủ, đất cát tràn lên cả mặt
nền. Chỉ có môt chiếc bàn...” [61,730]. Không gian của chị Cúc thì rộng hơn
97
với ngôi nhà “sát quốc lộ 1...Là nhà xây, mái bằng, khá lịch sự. Lại có vườn
rộng. Và toàn cây cảnh” [61,737] và nơi chị buôn bán tảo tần ở chợ.
Trong Trở lại Mèo Vạc, tác giả có dịp thăm lại chiến trường xưa – nơi
ông đã từng tham gia trận tiễu phỉ năm 1959, nơi được mệnh danh là Cổng
trời của đất nước ta với cảnh đẹp đến nghẹt thở nơi địa đầu của Tổ quốc với
“Những sườn núi Nùng thoáng rộng đến vô cùng, nở nang và hoang vắng như
những khuôn ngực đàn bà hoang sơ nào đấy.”[61;417] Nguyên Ngọc đã vẽ
cho người đọc thấy được một bức tranh bằng ngôn từ về vùng Tây Bắc phóng
tầm mắt “ngước lên thăm thẳm màu xanh biên thùy, nhìn xuống thung sâu
hun hút” [61;417]. Và chính tác giả cũng bị đắm đuối bởi cái đẹp quá thể tràn
ngập bốn bề. Không gian của người anh hùng Thào Mỹ chỉ giới hạn ở “cái
quán ngay trước cổng cơ quan” [61,436]. Còn không gian của người anh
hùng thiện xạ Sùng Chóa Vàng là ngôi nhà của anh “một ngôi nhà tranh, một
túp lều xơ xác...quấn tấm chăn rách đang nằm ngủ ngay bờ rào” [61,441].
Trong truyện ngắn Tháng Ninh Nông, không gian được giới hạn ở ngôi
nhà của người con gái Tơ Trá năm xưa mà nhân vật tôi đặt chân đến đầu tiên
sau bao nhiêu năm xa cách. Trong truyện ngắn Người hát rong giữa rừng,
không gian là quãng giữa Daklak và Gia Lai và “một túp lều...đúng bằng cái
lều chăn vịt ta vẫn gặp trên các cánh đồng lênh láng dưới xuôi, cuối những vụ
gặt” [61,540].
Tóm lại, không gian trong tác phẩm của Nguyên Ngọc trước 1975 là
không gian rộng, hoành tráng, là nơi hoạt động của những anh hùng, những
thủ lĩnh, là nơi tập hợp mọi người đấu tranh vì mục tiêu chung. Không gian
trong tác phẩm Nguyên Ngọc sau 1975 là không gian hẹp, không gian cụ thể,
được giới hạn ở một ngôi nhà hay một địa điểm cụ thể gắn liền với nhân vật
cụ thể, từ đó làm nổi bật lên hình ảnh người anh hùng trong cuộc sống hiện tại
gắn với lí lịch riêng của họ. Qua việc miêu tả không gian người đọc thấy được
98
đời sống của những người anh hùng năm xưa còn nhiều khó khăn, thiếu thốn
trong cuộc sống hiện tại. Cách miêu tả không gian như thế giúp người đọc có
cái nhìn bao quát về cuộc sống của người anh hùng. Trân trọng và ngợi ca
những cống hiến của họ cho đất nước. Đồng thời sẻ chia, cảm thông cho
những mất mát của họ trong cuộc sống hiện tại.
3.1.2.2. Nghệ thuật miêu tả thời gian
Sự miêu tả, trần thuật trong văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm
nhìn nhất định trong thời gian. Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra
trong thời gian.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả chỉ ra rằng: “Khác với
thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có
thể được đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có
thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, lại có thể kéo dài cái
chốc lát thành vô tận” [27,322].
Trong giáo trình Lý luận văn học, Lê Ngọc Trà chia thời gian thành hai
bình diện là nhịp độ thời gian và trình tự thời gian. Trong phạm vi luận văn,
chúng tôi chỉ nghiên cứu trình tự thời gian để phục vụ cho việc phân tích tác
phẩm. Theo như cách nói của tác giả thì trình tự thời gian là “tương quan giữa
trật tự thời gian kể chuyện và thời gian hiện thực của các sự kiện được kể lại
trong tác phẩm. Tương quan này có thể biểu hiện theo kiểu quá trình “trước
kia – sau đó” [85,150]. Và tác giả bài viết cũng chỉ ra việc tuân theo hay phá
vỡ thời gian của sự kiện đều nằm trong ý đồ của nhà văn và nhằm vào những
mục đích tư tưởng – nghệ thuật nào đó.
Trong các sáng tác sau năm 1975 của Nguyên Ngọc, tác giả chủ yếu
trần thuật theo trình tự thời gian, tức là câu chuyện được kể ở hiện tại sau đó
người kể ngược trở về quá khứ để hồi tưởng lại những kí ức năm xưa. Trong
99
bút ký Có một con đường mòn trên biển Đông, là sự hồi tưởng lại những trận
đánh năm xưa cuả những thủy thủ đoàn và những người tham gia vào công
tác vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam, thời gian hiện tại là cuộc sống của
chính họ. Trong Cát cháy cũng là câu chuyện của những người anh hùng ở xã
Bình Dương, từng câu chuyện là sự ngược dòng về quá khứ và hiện tại là
cuộc sống mưu sinh của những người anh hùng. Trong Trở lại Mèo Vạc là
những hồi tương về mảnh đất Đồng Văn yên ả nên thơ khi xưa và đã bắt mùi
kinh tế thị trường trong hiện tại. Trong hai truyện ngắn Tháng Ninh Nông và
Người hát rong giữa rừng cũng là thời gian hồi tưởng. Trước kia nhân vật
xưng tôi có những kỷ niệm với người bạn của mình và giờ đây anh tìm về
thăm những người bạn đó, suốt câu chuyện nhân vật tôi luôn nói về những kỷ
niệm trong dòng hồi tưởng của chính mình.
Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm của Nguyên Ngọc sau 1975 là sự
thay đổi, từ đó dẫn đến sự thay đổi hoàn cảnh và số phận của người anh hùng
trong quá khứ cũng như hiện tại. Trong chiến tranh họ là những chiến sĩ anh
hùng, chiến đấu trong một tập thể, giữa cộng đồng cùng chung lý tưởng. Hiện
tại họ phải “chiến đấu” đơn độc với bệnh tật, với sự bất hạnh cuộc sống, với
sự nghèo khó của cuộc sống mưu sinh. Nhờ sự lồng ghép thời gian, người đọc
thấy được sự tương phản của số phận, sự nghiệt ngã của cuộc sống mà con
người phải đối mặt và chấp nhận nó. Qua sự đối lập đó ta còn thấy được nét
đẹp đời thường của người anh hùng là chấp nhận và tự mình vượt qua gian
khổ, không kêu ca hay cần đền đáp. Đó chính là cách tác giả để cho nhân vật
tự bộc lộ và cũng là để cho người đọc thấy được cuộc sống thật của người anh
hùng trong hiện tại.
3.1.3. Ngôn ngữ
“Trong tác phẩm, ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố quan
trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn” [27,215].
100
Theo Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học thì ngôn từ nghệ thuật là
“dạng ngôn ngữ được dùng để biểu đạt nội dung hình tượng của các tác
phẩm nghệ thuật ngôn từ” [1,227] và nó khác ngôn ngữ cuộc sống ở chỗ nó
“sử dụng liên tục chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ, do chỗ nó có nhiệm vụ
thể hiện ý đồ tác giả; trong khi đó ở các dạng thức khác của lời nói, chức
năng này chỉ biểu lộ thất thường” [1,227].
Trước 1975, hầu hết trong sáng tác của mình, Nguyên Ngọc đều thể hiện
cảm hứng lãng mạn về người anh hùng với ngôn ngữ mang đậm chất sử thi,
đậm chất thơ với một loạt từ ngữ mang âm hưởng anh hùng ca. Trong Đất
nước đứng lên là lớp ngôn ngữ mang đậm không khí Tây Nguyên. Ngôn ngữ
cụ thể giàu hình, giàu âm sắc qua nhiều đoạn tả thiên nhiên, khắc họa chân
dung nhân vật nhằm làm nổi bật sức mạnh phi thường của người dân Tây
Nguyên, đặc biệt là anh hùng Núp “Bàn tay gân guốc khi nói, đưa lên đưa
xuống chắc chắn, mạnh như hòn đá ném xuống nước” [61;64]. Nguyên Ngọc
là người am hiểu Tây Nguyên sâu sắc. Vì thế, ông nhìn Tây Nguyên dưới con
mắt của một nhà thơ, tha thiết yêu thương và gắn bó xương thịt với cuộc sống,
con người và cảnh vật nơi đây. Chính vẻ đẹp giản dị của ngôn ngữ khẩu ngữ
được tác giả nâng cao và làm trong sáng thêm khi nó được lọc qua tâm hồn
của nhà văn làm cho lời văn giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu và cảm xúc. Với
một lớp từ ngữ sinh hoạt giản dị, mộc mạc như lời nói của người dân Tây
Nguyên “Chim ôi! Lần này khổ lắm rồi nhé! Khổ hung rồi nhé! Lần này tao
phải lấy cái tay to mà chặt cái rẫy rồi! Phải lấy cái ngón tay to mà đào củ
mài sâu dưới đất rồi! Phải lấy cái răng mà cắn miếng da con trâu rồi”
[61;93]. Trong tác phẩm này, ngoài việc sử dụng ngôn ngữ khẩu ngữ Nguyên
Ngọc còn sử dụng lớp ngôn ngữ mang yếu tố cổ kính, tính chất huyền thoại
nhằm làm sống lại một truyền thống lịch sử hào hùng của đất rừng Tây
Nguyên.
101
Trong Rừng xà nu là lớp ngôn ngữ giàu chất tạo hình, giàu âm sắc, gây
ấn tượng sâu đậm, giàu nhịp điệu và cảm xúc. Ở truyện ngắn này, Nguyên
Ngọc đã vận dụng thành công đặc trưng của ngôn ngữ thơ, vừa gợi, vừa tả,
vừa mở ra những liên tưởng, tưởng tượng phong phú cho người đọc “Cạnh
cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình
nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời...” [61;443]. Chính những yếu tố ngôn
ngữ trên kết hợp với một tâm hồn dạt dào chất lãng mạn của tác giả đã tạo nên
cảm hứng lãng mạn anh hùng trong sáng tác của ông ở giai đoạn trước 1975.
Sau 1975, Nguyên Ngọc tìm về với chiến trường xưa, ông đi hầu khắp
đất nước để phục dựng lại hình ảnh về người anh hùng nhưng với một cách
nhìn mới. Ở những sáng tác sau 1975 với thể loại bút ký, tác sử dụng hệ thống
ngôn ngữ đời thường với những hoài niệm về người anh hùng.
Trong Trở lại Mèo Vạc, là những hoài niệm về một thời còn tươi đẹp
trong quá khứ và tâm sự của người từng tham gia tiễu phỉ cùng những người
anh hùng năm xưa, Nguyên Ngọc nói: “Còn tôi trăm mối ngổn ngang, bồi hồi
bao kỉ niệm một thời trai trẻ trong veo và nông nổi, xao xuyến gặp lại người
cũ đất xưa.”[61;414]. Đó là sự tiếc nuối của nhân vật tôi về những ngày tươi
đẹp đã qua của một vùng cao yên ả nên thơ với những người anh hùng năm
nào “Ra cái thơ mộng lâu đời những vùng rẻo cao cũng đã bắt mùi kinh tế thị
trường của đổi mới. Còn số phận những con người ở đây, những Thào Mỹ,
những Sùng Chóa Vàng, những Lùng Sùng Páo…từng rất thân thiết một thời
xưa của tôi trải cuộc dâu bể ba mươi năm nay ra sao?” [61;424]. Đó là câu
chuyện về cuộc sống của người H’mông trên vùng cao với những trăn trở của
người lãnh đạo về việc trồng cây gì để sống.
Trong Tháng Ninh Nông, để nói về việc trở lại thăm Mường Hon trong
mùa mưa là một điều nguy hiểm, đồng thời minh họa cho thái độ quyết tâm
của mình, tác giả viết “Đi Mường Hon bao giờ và bằng đường nào…cũng là
102
một cuộc phiêu lưu. Vậy mà dám đi giữa mùa mưa, thế mới liều” [61;464], vì
Mường Hon ở cheo leo trên đỉnh Ngok Linh [sic] trên hai nghìn rưỡi mét.
Là lời trách bản thân mình, tự thấy áy náy với chính mình cũng như với
những người từng được đồng bào Tây Nguyên cưu mang trong kháng chiến,
nhưng khi hòa bình rồi mà chưa quay về để giúp đỡ đồng bào, nhân vật tôi
viết: “Tôi không chờ anh chủ nhà niềm nở vồ vập. Thậm chí tôi sẵn sàng chờ
anh chửi một trận nữa: Mày còn vác mặt lên đây làm gì! Bây giờ chúng mày
ở thành phố nhà to cửa lớn ô tô nhà lầu, chúng mày còn nhớ gì tới chúng tau
nữa đâu. Chúng mày quên hết đồng bào rồi...” [61;470]. Như là để tự minh
oan cho mình cũng như là để an ủi chính mình rằng nhân vật tôi không quên
những ân tình của đồng bào nên đã quay trở lại đây trong điều kiện thời tiết
khắc nghiệt, Nguyên Ngọc đã viết nên những câu tự trách mình: “Chúng ta
lăng xăng lít xít bao nhiêu thứ hàng ngày, hơn hai mươi năm qua, có mấy ai
trở lại với những người cha, người mẹ ở chốn hang cùng hóc núi này, đã đùm
bọc mình, sống chết vì mình ngày xưa đâu.” [61;470] Hoặc tự giải bày: “Tôi
cũng chưa đến nỗi hư đốn quá đâu, cứ mỗi bước một ô tô...tôi quay về đây,
với thành phố, với trăm sự eo xèo nhiễu nhương, hữu tích sự và vô tích sự của
cuộc đời” [61;475]. Thông qua ngôn ngữ đời thường, tác giả phần nào bộc lộ
được niềm ân hận của mình với những người anh hùng, những người đã cưu
mang và giúp đỡ mình trong kháng chiến.
Ngôn ngữ đời thường mang đầy hoài niệm còn được tác giả thể hiện
trong bút ký Người hát rong giữa rừng. Để nói về tính nghệ sĩ của Y Yơn,
tác giả viết: “Ôi Y Yơn của tôi. Lại vẫn thế sao anh? Vẫn Tây Nguyên đến tận
đáy tâm hồn. Vẫn nghệ sĩ lang bạt kì hồ đến tận máu thịt” [61; 544]. Ở bút ký
này, ông đã vận dụng lại ngôn ngữ Tây Nguyên mà ông đã sử dụng thành thạo
trước đó. Ấy thế mà khi đọc văn Nguyên Ngọc, nhà báo Vu Gia có nói
“…Đọc truyện của Nguyên Ngọc, tôi thấy bà con dân tộc anh em ở vùng cao
103
sao mà gần gũi đến thế, máu thịt đến thế, và anh hùng đến thế…” [61;174] Y
Yơn được giao cho việc tìm những người lính Fulro về, khi đi ông chỉ mang
trên người cây đàn Gong nhưng kì lạ những người lính Fulro lại theo ông về
làng. Khi được hỏi ông đã hát bài gì cho họ nghe, ông nói “Có gì đâu. Mình
hát bài Gọi con heo thôi mà...” [61;548].
Là một người con của quê hương Quảng Nam, trong kháng chiến chống
Mỹ, Nguyên Ngọc từng thành công với Đất Quảng. Sau 1975, ông lại tiếp tục
viết về đất Quảng với Cát cháy. Nguyên Ngọc đã tìm về với những người con
anh hùng của đất Bình Dương, phục dựng lại chân dung những người anh
hùng năm nào trong hoài niệm. Điều đó ta nhận thấy rõ qua hệ thống ngôn
ngữ mà tác giả sử dụng mang đậm ngôn ngữ địa phương: “Mẹ ơi sắp tới, mẹ
biết không, mình đưa lực lượng về đánh lớn nghen...Rứa à? Đánh ở đâu con?
Không, trong ni. Trong ni...làm răng đánh được” [61;778]. “Bữa ni làm chi
mà lính đi lung tung ri, hả?” [61;781] “Để tang cho mi chớ cho ai!” [61;783]
Có một con đường mòn trên biển Đông là bút ký đầu tiên được thể hiện
trong văn học sau 1975 mang đậm cảm hứng về người anh hùng. Qua bút ký
này, người đọc thấy được một hệ thống ngôn ngữ phong phú cho những sự
hiểu biết về kỹ thuật quân sự, về hành trình đi biển, về tình đồng đội, và đặc
biệt là tình yêu. Khi tiếp chuyện với má Mười Rìu, ta nhận thấy được tâm hồn
của người mẹ miền Nam chân chất, giản dị nhưng cũng rất đỗi hào hùng “Úi
cha, chuyện dông dài lắm. Anh Năm chỉ bọn bay xuống đây chớ gì...Nhưng
mà tau luôn chưn luôn tay suốt ngày. Còn mấy con heo dưới bếp nữa, không
kịp xắt chuối, nó làm reo inh lên. Bọn bay cứ ngồi đây chơi, khi nào rảnh thì
má kể cho mà nghe từng đoạn. Mà tụi bay ở ngoài Bắc vô đây hả?...”
[57;859]. Để tái hiện lại trận đánh lịch sử tại Vũng Rô, Nha Trang, tỉnh
Khánh Hòa, tác giả đã dùng những hiểu biết của mình về chiến thuật quân sự
để mô tả lại trận đánh giữa thủy thủ tàu và địch tại Vũng Rô “Tối, máy bay
104
địch lại đến thả pháo sáng: chúng tôi tập hợp, kiểm điểm lại lực lượng, chỉ có
1 người bị thương...Chúng dùng bộ binh từ các điểm cao đánh xuống, kết hợp
tàu thủy đổ bộ, cả máy bay liên tục ném bom yểm hộ” [57;920].
Nguyên Ngọc là một nhà văn sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ trong
sáng tạo nghệ thuật, ở mỗi tác phẩm người đọc thấy được sự công phu trong
cách dùng từ của ông. Qua đó, người đọc thấy được sự gian khổ, hy sinh của
những người anh hùng trong quá khứ cũng như những khó khăn trong cuộc
sống hiện tại của họ.
3.3. Kết cấu lồng ghép đan xen hiện tại và quá khứ, truyện lồng truyện
3.3.1. Về khái niệm kết cấu – kết cấu lồng ghép đan xen
Trong tác phẩm tự sự nói riêng và nghệ thuật ngôn từ nói chung, kết cấu
được xem là cách tổ chức, sắp xếp các yếu tố trong tác phẩm thành một chỉnh
thể nghệ thuật. Kết cấu trước hết là hình thức nhưng là hình thức chứa nội
dung, không tách rời tư tưởng tác phẩm: “Kết cấu là yếu tố quan trọng của
hình thức nghệ thuật mang tính nội dung…không chỉ tìm thấy trong đặc điểm
của những bộ phận riêng lẻ mà cả trong những mối quan hệ phụ thuộc trong
sự kết hợp phức tạp giữa chúng” [9, 63]. Vai trò của kết cấu được xác định là
góp phần bộc lộ chủ đề, tư tưởng thông qua việc cấu trúc hợp lí các hệ thống
tính cách triển khai trình bày hấp dẫn cốt truyện; tổ chức không gian, thời
gian. Trong luận văn này, chúng tôi tìm hiểu kết cấu lồng ghép đan xen thời
gian trong văn xuôi nghệ thuật của Nguyên Ngọc sau năm 1975.
Theo chúng tôi, kết cấu lồng ghép là một khái niệm dùng để chỉ một thủ
pháp nghệ thuật dùng trong văn học, là cách kết hợp các yếu tố của một chỉnh
thể nghệ thuật như thời gian hiện tại và quá khứ, cách sử dụng truyện lồng
truyện trong một tác phẩm để làm nổi bật chủ đề của tác phẩm. Trong các
sáng tác của Nguyên Ngọc ở giai đoạn sau năm 1975, tác giả đã vận dụng kết
105
cấu này một cách phổ biến. Với việc sử dụng kết cấu lồng ghép đan xen giúp
ta có cái nhìn bao quát, toàn diện về cuộc đời và số phận của nhân vật ở hiện
tại cũng như trong quá khứ, cùng những chuỗi sự kiện, hình tượng được tác
giả nói tới trong tác phẩm.
3.3.2. Kết cấu lồng ghép đan xen hiện tại và quá khứ, truyện lồng truyện
trong văn xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975
Trong tác phẩm văn học, việc sử dụng kết cấu lồng ghép về thời gian là
cách mà nhà văn giúp cho người đọc có thể bao quát được câu chuyện đã xảy
ra trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Giúp người đọc hiểu được những
diễn biến trong dòng hồi tưởng của nhân vật cũng như dự đoán những sự kiện
sẽ xảy ra cho nhân vật. Trong các sáng tác ở giai đoạn trước 1975, Nguyên
Ngọc đều chọn kết cấu theo trình tự thời gian để thể hiện được cảm hứng lãng
mạn anh hùng như trong Đất nước đứng lên, Rừng xà nu, Đất Quảng.
Sau 1975, đời sống xã hội đã thay đổi, do đó, phương thức phản ánh
cũng như kết cấu của tác phẩm cũng phải thay đổi để phù hợp với chủ đề tác
phẩm. Nguyên Ngọc vẫn viết với cảm hứng anh hùng nhưng cách nhìn người
anh hùng đa diện hơn. Để phù hợp với ý thức nghệ thuật đó, ông đã chọn cách
lồng ghép thời gian hiện tại - quá khứ, truyện lồng truyện để thể hiện trong tác
phẩm của mình. Với thủ pháp nghệ thuật này, nhà văn có thể phản ánh được
cuộc sống hiện tại của người anh hùng còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, đồng
thời cũng chia sẻ những mất mát đau thương của họ. Qua đó, tác giả thể hiện
sự ngợi ca cũng như trăn trở trước cuộc sống còn nhiều khó khăn, bất hạnh
của họ.
Trong Trở lại Mèo Vạc, tác giả cũng sử dụng kết cấu lồng ghép đan xen
thời gian giữa hiện tại và quá khứ. Hiện tại nhân vật xưng tôi là người kể
chuyện đang trở về thăm lại những người đồng đội cùng tham gia trong trận
diệt phỉ ba mươi năm trước. Nhân vật tôi hồi tưởng lại những ngày Mèo Vạc
106
còn sung túc, đời sống người dân còn ấm no để thấy được cuộc sống của
những người anh hùng nơi đây còn nhiều khó khăn, chật vật trong cuộc sống
mưu sinh hiện tại. Trong khi kể, tác giả cũng khéo léo lồng vào chuyện gia
đình và cuộc sống của Thào Mỹ. Chuyện Thào Mỹ yêu say đắm, hết lòng
thương yêu, chăm sóc gia đình để làm nổi bật tính cách kiên cường và hy sinh
của chị.
Trong Tháng Ninh Nông, tác giả cũng sử dụng kết cấu lồng ghép đan
xen giữa quá khứ và hiện tại. Hiện tại nhân vật xưng tôi đang trở về tìm người
con gái Tơ Trá năm nào đã cứu sống anh, nhưng hiện tại làm anh thất vọng vì
người con gái ấy đã kết duyên với một người khác vì lầm tưởng rằng đó chính
là người mà cô đã cứu sống. Nhân vật xưng tôi đã trở lại vội vã bỏ về, “tôi”
không muốn để phiền phức thêm cho người con gái mà anh đã nhớ thương,
nhưng đồng thời, “tôi” cũng muốn giữ mãi hình ảnh về một người con gái anh
hùng, đẹp và lý tưởng trong lòng mình. Trong tác phẩm này, tác giả cũng đã
khéo léo sử dụng kết cấu truyện lồng truyện. Mở đầu là những tâm sự của
nhân vật tôi, rồi lại lồng vào câu chuyện xác định nhầm người đã cứu sống
mình của cô gái Tơ Trá để làm nổi bật chủ đề của tác phẩm. Để giải thích cho
lối ít nói của người Tây Nguyên nhân vật xưng tôi đã lồng vào câu chuyện ở
đơn vị mình năm xưa có một chiến sĩ là người Tơ Trá, cũng ít nói mà chỉ làm
“Anh đi săn, chiều tối về, vào nhà, không nói một lời, chậm rãi đàng hoàng
tắm rửa sạch sẽ, vào bếp lấy cơm ra ăn bình thản, ăn xong bưng cả nồi nước
chè xanh ngửa cổ uống một hơi, đặt xuống, phủi hai tay, bấy giờ mới thông
thả bảo.”[57;470]
Trong Người hát rong giữa rừng, tác giả sử dụng kết cấu truyện lồng
truyện, mở đầu là câu chuyện tìm diễn viên cho vai già làng của anh bạn thân.
Sau đó, chính nhân vật tôi đã ngược thời gian đưa người đọc trở về với quá
khứ để hiểu thêm về tính cách cũng như phẩm chất của người anh hùng Y
107
Yơn. Nhân vật tôi và Y Yơn vừa kể chuyện vừa hồi tưởng lại những kỷ niệm
đẹp trong kháng chiến. Đó là cách tác giả đan xen thời gian hiện tại - quá khứ
để thấy được tính cách cao đẹp của Y Yơn và những cống hiến của ông cho
âm nhạc dân tộc.
Trong Cát cháy, người kể chuyện đưa người đọc trở về với một xã anh
hùng để viết tiếp về những câu chuyện của những người con anh hùng. Bằng
kết cấu lồng ghép hiện tại và quá khứ, người đọc thấy được sự hy sinh của
những người anh hùng trong chiến tranh và cuộc sống còn nhiều khó khăn
hiện tại của họ. Sử dụng kết cấu truyện lồng truyện để thấy được cuộc sống
lặng lẽ của những người anh hùng đang hòa vào cuộc sống nhộn nhịp của xã
hội ngày hôm nay, đồng thời thức tỉnh xã hội đừng quay lưng với những khó
khăn hiện tại của họ.
Trong Có một con đường mòn trên biển Đông, là kết cấu lồng ghép đan
xen thời gian hiện tại – quá khứ. Quá khứ hào hùng của những chiến sĩ quả
cảm trên con đường vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam. Hiện tại là cuộc sống
còn nhiều khó khăn và thiếu thốn.
Từ đó, ta cảm thấy xót xa trước hoàn cảnh hiện tại của họ. Vì lẽ ra, với
những đóng góp của mình cho Tổ quốc, họ xứng đáng có cuộc sống tốt hơn.
Bằng kết cấu lồng ghép thời gian hiện tại – quá khứ và sử dụng kết cấu
truyện lồng truyện trong các sáng tác của mình ở giai đoạn sau năm 1975,
Nguyên Ngọc đã tái hiện toàn bộ cuộc sống và số phận của người anh hùng
trong quá khứ cũng như hiện tại còn nhiều khó khăn trong cuộc sống của họ.
Mặc dù, điều kiện vật chất còn thiếu thốn nhưng họ vẫn luôn lạc quan, yêu
đời và sống với một lý tưởng cao đẹp. Đó chính là vẻ đẹp tâm hồn cao thượng
của họ. Bằng thủ pháp lồng ghép hiện tại - quá khứ, truyện lồng truyện. Tác
giả còn cảnh báo và thức tỉnh chúng ta rằng chính sự thờ ơ của người đời,
cũng như chế độ chính sách còn hạn hẹp đã góp phần làm cuộc sống của
108
những người anh hùng vất vả và khó khăn hơn. Trước hoàn cảnh trớ trêu ấy,
những người chiến sĩ ấy vẫn âm thầm, lặng lẽ tiếp tục sống và đối mặt với
những khó khăn của chính số phận của mình mà không hề kêu ca, than vãn.
Đó chính là nét đẹp trong tâm hồn của họ.
109
KẾT LUẬN
01. Trong dòng chảy của văn học cách mạng Việt Nam, văn xuôi nghệ
thuật giai đoạn 1945 – 1975 nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung đã làm
tròn nhiệm vụ của nó là trở thành vũ khí chiến đấu đắc lực cho công cuộc
đấu tranh giành độc lập tự do của đất nước, với cảm hứng ngợi ca, tôn
vinh người anh hùng cùng với những hành động quả cảm, xả thân. Do
hoàn cảnh lịch sử của đất nước là đấu tranh giải phóng dân tộc, văn học
với nhiệm vụ phục vụ chính trị, phục vụ cách mạng, tuyên truyền và cổ vũ
cuộc chiến đấu nên ngợi ca chính là khuynh hướng bao trùm các sáng tác
với cảm hứng lịch sử và âm hưởng anh hùng ca, những hình tượng con
người sử thi, con người kết tinh và tiêu biểu cho sức mạnh, vẻ đẹp, ý chí
và khát vọng của nhân dân và dân tộc với khuynh hướng sử thi là khuynh
hướng chính của giai đoạn này. Người anh hùng luôn luôn được nhìn một
chiều với thái độ ngợi ca, tôn vinh.
02. Sau 1975, đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sau năm 1986, đất nước đã có những bước “chuyển mình”, đổi mới. Cuộc
sống đã thực sự đi vào quỹ đạo đời thường với những cái bình thường mà
muôn thuở vốn bị che lấp trong chiến tranh bây giờ thức dậy, vây quanh
con người. Cuộc sống được phản ánh trung thực hơn với đầy đủ, toàn diện
những góc khuất trong tâm hồn con người. Người anh hùng trong văn học
sau 1975 được nhìn nhiều chiều hơn, đa diện hơn có cái phi thường cao cả
và cũng có cái đời thường, giản dị, với những khao khát hạnh phúc cá
nhân lẫn những dục vọng đời thường, con người được nhìn ở góc độ cá
nhân. Tất cả những văn nghệ sĩ nhạy cảm với tình hình mới đã nhận ra sự
thay đổi của đất nước và nhanh chóng hòa vào dòng chảy chung đó của
dân tộc, họ thay đổi cách nhìn, cách nghĩ và cả trong cách viết của mình
về những người anh hùng bước ra từ quá khứ vinh quang.
110
03. Với Nguyên Ngọc, sau năm 1975, ông vẫn nhất quán với cảm
hứng anh hùng, tìm viết về những sự tích anh hùng và những tính cách
anh hùng, ông đã truy tìm, phục dựng về người anh hùng trong quá khứ,
trong hoài niệm. Vẫn là ngợi ca người anh hùng nhưng đi liền với ngợi ca
là những cảm thông, chia sẻ cho những mất mát và hy sinh của họ, cái
lãng mạn nhường chỗ cho cái đời thường. Với những trăn trở, xót xa có cả
những ray rứt của người cầm bút. Những người anh hùng được nhà văn
miêu tả một cách rõ nét về những khó khăn trong cuộc sống hiện tại của
họ. Họ là những người đã chiến đấu quên mình vì đất nước, hy sinh nằm
lại nơi trong lòng đại dương bao la, hy sinh hạnh phúc riêng của mình vì
nhiệm vụ thiêng liêng của Tổ quốc, thậm chí hiến tặng tài sản cá nhân cho
cuộc kháng chiến của dân tộc (Có một con đường mòn trên biển Đông),
cả tuổi thanh xuân, hạnh phúc của họ đã hiến dâng cho cuộc đấu tranh
giành độc lập tự do của đất nước (Cát cháy), là đồng bào đã cưu mang họ
trong cuộc chiến nhưng hiện tại đời sống của họ vẫn còn nhiều khó khăn
(Tháng Ninh Nông). Viết về họ như một cách để Nguyên Ngọc “nối vào
danh sách những người anh hùng được nhà nước tuyên dương phong
tặng, một danh sách những người anh hùng vô danh đang sống lẫn khuất
đâu đó trong sương mù đỉnh núi hay tản mạn ở những vùng biển xa...”
[55;335]. Những tác phẩm của ông đã đem lại cho văn học hiện đại Việt
Nam một cái nhìn đa diện về người anh hùng. Nguyên Ngọc như một
người thư kí mẫn cán của thời đại, ông lặng lẽ góp nhặt những hình ảnh
đẹp về người anh hùng, từ đó giúp người đọc mọi thế hệ có cái nhìn và
thái độ đúng đắn hơn về người anh hùng. Với cảm hứng về người anh
hùng, trong các sáng tác sau năm 1975 của Nguyên Ngọc, còn là người
anh hùng trong tình yêu, một tình yêu lý tưởng, trong sáng vô ngần (Trở
lại Mèo Vạc, Có một con đường mòn trên biển Đông), là sự hy sinh thầm
lặng của những người mẹ, người vợ (Có một con đường mòn trên biển
111
Đông) để góp thêm vào những chiến thắng của ngày hôm nay.
04. Nghệ thuật thể hiện là một trong những yếu tố hấp dẫn ở tác
phẩm của Nguyên Ngọc. Việc tìm hiểu ngôn ngữ và giọng điệu, cũng như
cách trần thuật, điểm nhìn được thể hiện trong sáng tác của Nguyên Ngọc
cũng giúp chúng ta hiểu thêm phong cách nhất quán của ông khi viết về
người anh hùng sau 1975. Với giọng điệu sẻ chia, đầy cảm thông cùng với
điểm nhìn trần thuật thay đổi linh hoạt theo từng đối tượng đã tạo cho văn
xuôi nghệ thuật Nguyên Ngọc sau 1975 những tiếng nói đa âm sắc hơn, đa
giọng điệu hơn. Chính cảm hứng anh hùng đã đem đến cho ông những
thành công vang dội trong văn học đương đại Việt Nam. Những tác phẩm
của ông chứng tỏ tâm huyết mà ông dành cho người anh hùng. Việc ông
viết về người anh hùng không phải chỉ là trách nhiệm của một người cầm
bút đối với đất nước mà còn là chuyện lẽ sống, là lý tưởng. Bởi “không
phải vì văn chương mà ông tìm đến người anh hùng mà vì người anh hùng
ông thấy cần đến văn chương” [55;333]. Vì chỉ có văn chương mới làm
cho những người anh hùng bất tử và sống mãi trong lòng các thế hệ mai
sau. Cùng với việc sử dụng nhiều chất liệu ngôn ngữ được ông vận dụng
đầy sáng tạo, sử dụng thủ pháp lồng ghép thời gian quá khứ - hiện tại, kết
cấu truyện lồng truyện, dịch chuyển điểm nhìn trần thuật vào các nhân vật
trong mỗi câu chuyện là cách tác giả thể hiện được sự trăn trở, xót xa cho
cuộc sống hiện tại còn nhiều khó khăn của người anh hùng. Đồng thời, là
tiếng nói cảnh tỉnh xã hội đừng quay lưng với những khó khăn và bất
hạnh của họ trong hiện tại. Những tác phẩm văn xuôi phi hư cấu này còn
thể hiện sự quan tâm ngày càng lớn đến tính chất xác thực của tư liệu, từ
đó mở ra dòng cảm xúc của mạch văn. Và chính trong các văn bản phi hư
cấu đó, yếu tố ngày càng trở nên quan trọng hơn chính là sự trải nghiệm
qua các sự kiện, những suy tưởng và trầm tư thế sự ghi dấu sự hiện hữu
112
của cá tính nhà văn. Do đó, những sáng tác ở giai đoạn này, cách trần
thuật khác với giai đoạn trước năm 1975 ở chỗ người trần thuật đồng cảm
với nhân vật trong tác phẩm được thể hiện qua người trần thuật xưng tôi,
người trần thuật là người trong cuộc luôn suy tư, trăn trở với những khó
khăn, bất hạnh của chính những người đồng đội mình. Chính vì thế, tác
phẩm của ông có sức lay động người đọc mọi thế hệ, khơi dậy sự đồng
cảm của người đọc đồng cảm với số phận của nhân vật và day dứt về sự
khắt nghiệt của cuộc sống hiện tại.
05. Nguyên Ngọc là một nhà văn có phong cách nghệ thuật nhất
quán, viết văn với cảm hứng anh hùng. Trong cuộc đời cầm bút của mình,
nhà văn Nguyên Ngọc vẫn trước sau như một là viết về người anh hùng
với những tính cách anh hùng. Tuy nhiên, trong giai đoạn trước 1975, do
yêu cầu của thời đại nên người anh hùng được phản ánh trong tác phẩm
của ông là người anh hùng của những thủ lĩnh (Đất nướcc đứng lên,
Rừng xà nu), vượt lên trên lợi ích cá nhân, chiến đấu vì những mục tiêu
chung. Khi miêu tả người anh hùng thì chỉ tập trung phản ánh những hình
ảnh đẹp, chói lọi và những hành động hào hùng mà không nói đến cái đời
thường. Sau 1975, đất nước đã có những bước chuyển mình, đời sống xã
hội thay đổi với những mặt trái của kinh tế thị trường. Bằng quan niệm cá
nhân và trách nhiệm của người cầm bút, Nguyên Ngọc vẫn tiếp tục viết về
người anh hùng bằng những suy tư trăn trở về cuộc sống của họ sau chiến
tranh, nhìn người anh hùng trong cuộc sống đời thường với những lo toan
thường nhật. Ông đau đáu, xót xa cho cuộc sống thực tại đầy bất hạnh và
mất mát của họ. Một lần nữa Nguyên Ngọc tiếp tục khẳng định vị trí xứng
đáng của mình trong nền văn học đương đại Việt Nam bằng những dòng
văn nóng hổi tính thời sự và và đậm chất suy tư. Dòng văn học hiện thực
sau 1975.
113
Nhìn chung, những sáng tác sau năm 1975 của Nguyên Ngọc có đóng
góp đáng kể cho nền văn học hiện đại Việt Nam. Những nhân vật anh
hùng của Nguyên Ngọc sẽ là những tượng đài bất tử mãi mãi đi vào lòng
người đọc mọi thế hệ. Tuy cách tiếp cận người anh hùng có khác so với
trước năm 1975 nhưng như đã nói dù sáng tác trước hay sau năm 1975 thì
vẫn là một sự nhất quán từ đề tài, chủ đề, cảm hứng anh hùng. Và chính
cách nhìn người anh hùng đa diện hơn đã đem lại cho văn học sau 1975
một diện mạo mới.
114
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ Văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội.
2. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới.
3. Lại Nguyên Ân (1980), Vấn đề thể loại sử thi của văn học hiện đại, Tạp chí văn
học, (số 1).
4. Lại Nguyên Ân (1987), “Sống với văn học cùng thời”, Tạp chí văn học, (số 3).
5. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí
Văn học, (số 9).
6. Nguyễn Thị Bình (2012), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư Phạm.
7. V. G. Bêlinxki (1955), Toàn tập tác phẩm, tập VI, VII (bản dịch), Nxb Viện
Hàn Lâm khoa học Liên Xô.
8. M. Bakhtin (1991), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch và giới
thiệu, Trường viết văn Nguyễn Du.
9. M. Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
10. Các nhà văn nói về văn (1986), Nxb Tác phẩm mới – Hội nhà văn Việt Nam.
11. Nguyễn Minh Châu (2001), Toàn tập (tập 3) (2001), Nxb Văn học, Hà Nội.
12. Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội.
13. Đỗ Chu (1995), Một nền văn học gắn lền với vận mệnh dân tộc, Báo Văn nghệ
(số 7).
14. Nguyễn Đình Chú, Lê Trí Viễn (1978), Lịch sử văn học, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
15. Trần Đăng (2004), Lan man với nhà văn Nguyên Ngọc, Báo Bình Định ra ngày
25/10/2004.
115
16. Phan Cự Đệ (1978), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (Tập 1 và 2), Nxb Đại học
và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
17. Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức (1979), Nhà văn Việt Nam (tập 1), Nxb Đại học
và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
18. Phạm Văn Đồng (2006), Về văn hóa và văn học nghệ thuật, Nxb Văn học, Hà
Nội.
19. Hà Minh Đức (Chủ biên) (2008), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
20. Hà Minh Đức (1998), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội.
21. Hà Minh Đức (1998), Chặng đường mới của Văn học Việt Nam, Nxb Chính
trị Quốc gia.
22. Hà Minh Đức – Lê Bá Hán (1985), Cơ sở lý luận văn học (tập 2), Nxb Đại
học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
23. M. Gorki (1965), Bàn về văn học (Tập 1 và 2), (bản dịch), Nxb Văn học, Hà
Nội.
24. M.Gulaiev (1982), Lí luận văn học, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp,
Hà Nội.
25. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương (1995), Lí luận văn học vấn đề và
suy nghĩ, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
26. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2004), Từ điển
thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Tp. Hồ Chí Minh.
27. Heghen (2004), Mỹ học (bản dịch), Nxb văn học, Hà Nội.
28. Nguyễn Hải Hoành (2012), Nhà văn của nhân dân, Văn hóa Nghệ An.
http://www.vanhoanghean.com.vn
29. Hoàng Ngọc Hiến (2000), Văn học gần và xa, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
116
30. Hoàng Ngọc Hiến (1999), Năm bài giảng về thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
31. Hoàng Ngọc Hiến (1997), Tập bài giảng nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
32. Bạch Văn Hợp (2011), Phong cách nghệ thuật Nguyên Hồng, Nxb ĐHSP Tp.
HCM
33. Nguyễn Văn Kha (2006), Đổi mới quan niệm về con người trong truyện Việt
Nam 1975 – 2000, Nxb Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh.
34. Trần Đăng Khoa (2002), Nhà văn Nguyên Ngọc (Để hiểu thêm một số tác
phẩm – Phan Ngọc Thu chủ biên), Nxb Giáo dục và thời đại.
35. Phùng Ngọc Kiếm (1998), Con người trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại
1945 – 1975, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
36. Lê Đình Kỵ (1984), Tìm hiểu văn học, Nxb Tp.HCM.
37. M.B. Khrapchenkô (1972), Cá tính sáng tạo và sự phát triển của văn học, Nxb
Tác phẩm mới, Lê Sơn, Nguyễn Minh dịch.
38. Tôn Phương Lan sưu tầm và giới thiệu (2002), Trang giấy trước đèn, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội.
39. Phong Lê (1998), Con đường sáng tác của Nguyên Ngọc (trích “Phê bình bình
luận văn học” – Vũ Tiến Quỳnh biên soạn) Nxb Văn nghệ Tp.HCM.
40. Phong Lê (1980), Văn xuôi Việt Nam trên con đường hiện thực xã hội chủ
nghĩa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
41. Phong Lê (2003), Văn học Việt Nam hiện đại – Lịch sử và lý luận, Nxb Khoa
học Xã hội, Hà Nội.
42. Phong Lê (1991), Nhận dạng văn học Việt Nam sau 1975, Tạp chí Văn nghệ (số
4).
117
43. Phong Lê (1997), Văn học trên hành trình của thế kỉ XX, Nxb Quốc gia
Hà Nội.
44. Nguyễn Văn Long (2012), Phê bình Văn học Việt Nam 1975 – 2005, Nxb Đại
học Sư Phạm, Hà Nội.
45. Nguyễn Văn Long (2003), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
46. Nguyễn Văn Long (1999), Cách mạng – kháng chiến và sự đổi mới ý thức của
thời đại, Văn nghệ Quân đội (số 10).
47. Nguyễn Văn Long – Lã Nhâm Thìn (đồng Chủ biên) (2006), Văn học Việt
Nam sau 1975, Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
48. Nguyễn Văn Long, Trần Hữu Tá (1981), Tư liệu tham khảo Văn học Việt
Nam 1945 – 1954 (1981), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
49. Nguyễn Văn Long (4/1985), “Văn xuôi sau 1975 viết về cuộc kháng chiến
chống Mĩ”, Văn nghệ Quân đội (số 4).
50. Nguyễn Văn Long (2007), Tiếp cận và đánh giá Văn học Việt Nam sau Cách
Mạng Tháng Tám, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
52. Phương Lựu (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La
Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình (2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục.
52. Phan Trọng Luận (Chủ biên) (2009) Ngữ văn 12, tập I, Nxb Giáo dục Hà
Nội.
53. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Nguyễn Văn Long (đồng Chủ biên) (2002),
Lịch sử văn học Việt Nam, Nxb ĐHSP, Hà Nội.
54. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên) (1998), Văn học Việt Nam 1945 – 1975, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
118
55. Nguyễn Đặng Mạnh (2000), Nhà văn Việt Nam hiện đại: Chân dung và
phong cách, NXB Trẻ Tp.HCM
56. Nguyễn Đăng Mạnh (1992), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của
nhà văn, Nxb Giáo dục Hà Nội.
57. Thúy Nga (2009), Nỗi lòng nhớ và quên (trích Tác phẩm Nguyên Ngọc), Nxb
Hội nhà văn, Hà Nội.
58. Phùng Quý Nhâm (1992), Thẩm định văn học, Nxb Văn nghệ Tp.HCM
59. Phùng Quý Nhâm, Lâm Vinh (1995), Tiếp cận văn học, Trường ĐHSP Tp.
HCM.
60. Nguyễn Nghiệp (1966), Bàn thêm một ít vấn đề “anh hùng và bình thường”,
Tạp chí văn học (số 10).
61. Nguyên Ngọc (2009), Toàn tập Tác phẩm (tập 1,2 và 3), Nxb Hội nhà văn.
62. Nguyên Ngọc (2009), Chiến trường những năm tháng ấy, sống và viết (trích
“Tác phẩm Nguyên Ngọc”), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
63. Nguyên Ngọc (2002), Văn xuôi Việt Nam hiện nay, Lô-gíc quanh co của các
thể loại, những vấn đề đang đặt ra, và triển vọng. Tạp chí Văn học (Số 4).
64. Nguyên Ngọc (1998), Đôi điều nói thêm...sau 35 năm về “Đất nước đứng
lên”, (Phê bình bình luận văn học – Vũ Tiến Quỳnh biên soạn) Nxb Văn nghệ
Tp.HCM.
65. Nhiều tác giả (2012), Nguyên Ngọc vẫn trên đường xa, Nxb Tri thức.
66. Phạm Xuân Nguyên (2012), “Chính ủy” Nguyên Ngọc, Văn hóa Nghệ An.
http://vietnamnet.vn
67. Nguyễn Thị Ninh (2011), “Chất thơ trong ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam
đương đại”, Nghiên cứu Văn học, (số 11).
119
68. Vũ Ngọc Phan (1989), Nhà văn hiện đại (2 tập), Nxb Khoa học Xã hội,
Hà Nội.
69. Huỳnh Như Phương (1985 - 1986), Dẫn vào tác phẩm văn chương, Trường
ĐH Tổng hợp Tp. HCM.
70. Huỳnh Như Phương (2008), Những nguồn cảm hứng trong văn học, Nxb Văn
nghệ Tp.HCM.
71. Huỳnh Như Phương (1991), Văn học hôm nay đang nhìn lại chính mình,
Tạp chí văn học số 4 – 1991. http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
72. Huỳnh Như Phương (2012), Nguyên Ngọc, người ở tuyến đầu (trích “Nguyên
Ngọc vẫn trên đường xa”), Nxb Tri thức.
73. Huỳnh Như Phương (2007), Trường phái hình thức Nga, Nxb Đại học Quốc
gia Thành Phố Hồ Chí Minh, TP.HCM.
74. K. Pauxtopxki (1999), Bông hồng vàng và bình minh mưa, Nxb Hà Nội.
75. G.Pospelov (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học, (bản dịch) Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
76. Trần Đình Sử (1998), Giáo trình Thi pháp học, NXB Tp.HCM.
77. Trần Đình Sử (2000), Lý luận và phê bình văn học, NXB Giáo dục Tp. HCM.
78. Trần Đình Sử tuyển tập, tập 2: Những công trình lý luận và phê bình văn học
(2005), Nguyễn Đăng Điệp tuyển chọn, NXB Giáo Dục, Hà Nội.
79. Trần Đình Sử (2004), Tự sự học: một số vấn đề lí luận và lịch sử, Nxb Đại học
Sư Phạm, Hà Nội.
80. Hà Công Tài (2011), Nguyễn Khải – nhận thức mãnh liệt về nhân dân và đất
nước, Tạp chí văn tháng 12. http://vanvn.net/news
81. Đào Thản (1994), “Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện trong văn
120
xuôi”, Tạp chí nghiên cứu văn học (số 2).
82. Ngô Thảo, Lại Nguyên Ân (1995), Chân dung tự họa, NXB Văn học, Hà Nội.
83. Ngô Thảo (1984), Nguyên Ngọc, nhà văn chiến sĩ, Văn nghệ Quân đội (số 5).
84. Vũ Thị Thu (2010), Luận văn thạc sĩ Cảm hứng lãng mạn - anh hùng trong
văn xuôi Nguyên Ngọc 1945 – 1975, ĐH KHXH và NV Tp.HCM.
85. Trịnh Thu Tuyết (1999), “Nguyễn Minh Châu với nghệ thuật xây dựng nhân
vật truyện ngắn”, Tạp chí văn học (số 1).
86. Lê Ngọc Trà (2001), Văn chương thẩm mỹ và văn hóa, NXB Giáo dục.
87. Lê Ngọc Trà (1994), Mỹ học đại cương, NXB Văn hóa Thông tin.
88. Lê Ngọc Trà (2005), Lý luận và văn học, NXB Trẻ.
89. Lê Ngọc Trà (2002), “Văn học Việt Nam những năm đổi mới”, Tạp chí
Văn học (số 2).
90. Phan Tứ (1970), “Nguyễn Trung Thành – Cuộc sống và tác phẩm”, Văn nghệ
Quân đội (số 8).
91. Phùng Văn Tửu (2010), Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật, Nxb
Tri Thức, Hà Nội.
92. Marian Tkachov (1982), “Người được cách mạng động viên và trao cho sứ
mệnh.” Tạp chí văn học (số 3).
93. Hoàng Thị Văn (2000), Đặc trưng truyện ngắn Việt Nam 1975 – 1995, Luận
án tiến sĩ Ngữ văn, Đại học sư phạm Tp HCM.
94. Lê Trí Viễn (1998), Quy luật phát triển lịch sử văn học Việt Nam, NXB
Giáo dục.
95. Lê Trí Viễn (1998), Theo anh Núp (Phê bình bình luận văn học – Vũ Tiến
Quỳnh biên soạn) NXB Văn nghệ Tp.HCM.
PHỤ LỤC
(1) Trở lại Mèo Vạc: ở bút ký này tác giả lấy bối cảnh ở xã Mèo Vạc,
huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Nhân vật trong bút ký này là hai nhân vật có
thực là Sùng Chóa Vàng và Thào Mỹ. Họ là những người H’mông anh hùng,
một chiến sĩ thiện xạ từng cùng nhau tham gia diệt phỉ ở biên giới Việt –
Trung nhưng năm sáu mươi của thế kỷ trước. Trong trận diệt phỉ này, nhân
vật tôi cũng từng tham gia. Sau ba mươi năm xa cách bằng hữu, nhân vật tôi
có điều kiện trở lại thăm bạn cũ thì nơi đây đã thay đổi rất nhiều. Từ cảnh vật
đến con người. Cuộc sống người dân ở đây ngày càng xuống thấp, đời sống
tinh thần lẫn vật chất của họ không bằng ngày trước. Những người anh hùng
năm xưa như Thào Mỹ, như Sùng Chóa Vàng cũng không khá hơn vì ở vùng
đất đá này họ không biết phải mưu sinh với loại cây trồng gì. Đời sống ở vùng
cao thơ mộng này cũng đã bắt đầu nhuốm mùi kinh tế thị trường. Tác giả cảm
thấy những gì thơ mộng, tươi đẹp của năm xưa đã không còn nữa duy chỉ có
những người anh hùng H’mông xưa là không thay đổi. Họ vẫn anh hùng
nhưng nghèo.
(2) Tháng Ninh Nông: Truyện ngắn viết về Tây Nguyên. Tác giả lấy bối
cảnh ở Mường Hon, một làng cheo leo trên đỉnh núi Ngok Linh cách mặt
nước biển hơn hai nghìn mét. Trong kháng chiến chống Mỹ những năm sáu
mươi của thế kỷ trước, nhân vật tôi và đồng đội của mình bị sốt rét rừng nên
được nhân dân trong bản Mường Hon cưu mang và chăm. Đặc biệt cô gái
người Tơ Trá ấy đã cứu sống tôi bằng cả tính mạng lẫn trái tim. Hòa bình hơn
ba mươi năm sau, tôi trở lại đây thăm lại người xưa thì người con gái Tơ Trá
năm nào đã xây dựng gia đình với anh lính thông tin quê tận Phú Thọ. Tôi
cảm thấy đau đớn vì niềm tin của mình sụp đổ, lý tưởng về người con gái ấy
giờ chỉ còn là hoài niệm. Tôi không kịp gặp lại người con gái Tơ Trá ấy, anh
lao đi về với thành phố. Ở nơi mà chính anh cho rằng nó muôn sự nhiễu
nhương, hữu tích sự và vô tích sự.
(3) Người hát rong giữa rừng: truyện ngắn về người anh hùng của Tây
Nguyên, nghệ sĩ Y Yơn. Trong bút ký này, tác giả đã tái hiện lại cuộc gặp gỡ
giữa Y Yơn và nhân vật tôi. Trong câu chuyện là giọng kể xen lẫn giữa quá
khứ và hiện tại. Y Yơn trong quá khứ và Y Yơn hiện tại. Người nghệ sĩ Tây
Nguyên tài ba, bằng giọng hát của mình ông đã làm lay động những tâm hồn
lãng mạn. Chính Y Yơn đã dùng nghệ thuật của mình. Loại nghệ thuật đời
thường với những câu hát dân ca, với tiếng con chim K’tia, với tình yêu trai
gái…đã làm lay động tâm hồn người Tây Nguyên đưa họ về với đất nước, với
bản làng…Chính cái nghệ thuật đời thường ấy lại có giá trị bền vững nhưng
cuộc đời Yơn không giống tài năng của ông. Yơn vẫn nghèo. Vẫn sống cuộc
đời lang bạt của một nghệ sĩ vô danh dẫu rằng nghệ thuật của ông là nghệ
thuật tuyệt vời.
(4) Cát cháy: Tập bút ký về những đứa con của đất Quảng thân yêu, xã
Bình Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam những ngày trong khói lửa
chiến tranh. Là câu chuyện về một xã nghèo nhất tỉnh Quảng Nam ba lần
được vinh danh anh hùng. Anh hùng trong đấu tranh và anh hùng trong xây
dựng quê hương mới. Xã anh hùng Bình Dương đã từng cưu mang và che chở
cho những người con anh hùng. Họ là những người lãnh đạo giỏi trong thời
kỳ kháng chiến chống Mỹ, cũng có khi chỉ là người dân vì yêu nước nên tham
gia chống giặc góp phần của mình vào công cuộc xây dựng đất nước. Nhưng
hòa bình rồi, những người anh hùng của xã anh hùng ấy lại mang nhiều nỗi
đau thương. Đó là nỗi đau về tinh thần vì họ đã bỏ lại tuổi thanh xuân của
mình trong chiến tranh, đó là những mất mát về vật chất của cuộc sống hôm
nay còn nhiều thiếu thốn.
(5) Có một con đường mòn trên biển Đông: bút ký về những người anh
hùng tham gia đội công tác bí mật vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam. Nhận
nhiệm vụ trong hoàn cảnh bí mật những người anh hùng của Lữ đoàn Hải
quân 125 năm xưa giờ đã là những cụ già với cuộc sống hiện tại thiếu thốn.
Có người đã mãi mãi nằm lại nơi biển sâu bao la bởi sự khắc nghiệt của
nhiệm vụ, sẵn sàng hy sinh để giữ vững bí mật về con đường biển Đông.
Không chỉ những người anh hùng trực tiếp tham gia vào vận chuyển vũ khí
trên biển là những người anh hùng mà những người mẹ, người vợ, người phục
vụ cho công tác vận chuyển cũng là những người anh hùng bởi họ cũng đã âm
thầm chịu đựng, âm thầm hy sinh để bảo toàn tuyệt mật về tung tích con
đường. Đảm bảo cho sự vận chuyển vũ khí được thông suốt từ Bắc vào Nam.
Tất cả vì miền Nam thân yêu. Ngày hôm nay khi đất nước hòa bình thì cuộc
sống của những người anh hùng năm xưa dần bị lãng quên, xã hội chưa có sự
đền đáp xứng đáng với những đóng góp của họ cho Tổ quốc.

