BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Đức Thuận
CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
(1954 – 1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Đức Thuận
CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG
KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
(1954 – 1975)
Chuyên ngành: Lịch Sử Việt Nam
Mã số: 60 22 02 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ VĂN ĐẠT
Thành phố Hồ Chí Minh - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu được
trích dẫn trong luận văn là trung thực. Công trình nghiên cứu này chưa từng công bố
trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Phạm Đức Thuận
1
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê Văn Đạt đã hướng dẫn tôi luận văn tốt
nghiệp trong suốt thời gian qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí
Minh, đặc biệt là quý thầy cô Khoa Lịch Sử đã giảng dạy, giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều
kiện cho tôi học tập tốt trong suốt khóa học (2011 – 2013).
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng đã dành thời gian cung
cấp thông tin trong quá trình thu thập dữ liệu để thực hiện việc nghiên cứu đề tài.
Tác giả luận văn
Phạm Đức Thuận
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................... 6
3. Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 8
4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 8
5. Đóng góp của đề tài ....................................................................................................... 8
6. Bố cục của luận văn ........................................................................................................ 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975 ) ..... 10
1.1. Cơ sở lý luận ............................................................................................................... 10
1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................... 11
1.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống đấu tranh của nhân dân tỉnh Sóc Trăng ........................................................................................................................... 14
1.3.1. Điều kiện tự nhiên – Địa lý ................................................................................... 14
1.3.2. Về Kinh tế - xã hội ................................................................................................ 16
1.3.3. Truyền thống đấu tranh của nhân dân tỉnh Sóc Trăng .......................................... 20
1.4. Chủ trương xây dựng căn cứ của Đảng, Khu ủy và Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng ..... 22
CHƯƠNG 2 - QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975) ............................................................................................................................ 25
2.1. Giai đoạn 1954 – 1967 ................................................................................................ 25
2.1.1. Xây dựng căn cứ địa .............................................................................................. 25
2.1.2. Hoạt động bảo vệ căn cứ ....................................................................................... 36
2.2. Giai đoạn 1967 – 1975 ................................................................................................ 50
2.2.1. Xây dựng căn cứ địa .............................................................................................. 50
2.2.2. Hoạt động bảo vệ căn cứ ....................................................................................... 56
CHƯƠNG 3 - ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM XÂY DỰNG CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975) ................................................................................ 70
3
3.1. Đặc điểm của căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước ............................................................................................................................................. 70
3.1.1. Vị trí ở thế áp sát Cần Thơ, thủ phủ của địch ở khu vực đồng bằng sông cửu long71
3.1.2. Là nơi có cơ sở chính trị vững mạnh, thế trận lòng dân được phát huy cao độ .... 72
3.1.3. Là căn cứ chỉ huy và chiến đấu có qui mô lớn và hoàn chỉnh ở khu vực đồng bằng sông cửu long .......................................................................................................... 73
3.2. Vai trò của căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) ...................................................................................................................... 74
3.2.1. Là nơi đứng chân của các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, nơi xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng ............................................................................ 75
3.2.2. Là nơi diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt chống càn, tiêu diệt địch trong các chiến lược chiến tranh .............................................................................................. 76
3.2.3. Đảm bảo vai trò hậu phương tại chỗ cho cuộc kháng chiến................................. 77
3.3. Kinh nghiệm xây dựng căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước ............................................................................................................................ 78
3.3.1. Căn cứ cách mạng an toàn là điều kiện quan trọng đưa sự lãnh đạo cách mạng của Đảng đến thắng lợi. ......................................................................................................... 79
3.3.2. Xây dựng căn cứ cách mạng trên cơ sở đoàn kết dân tộc trong khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy truyền thống yêu nước của đồng bào tại địa phương ....................... 80
3.3.3. Xây dựng Đảng bộ vững mạnh, lực lượng quân sự vững mạnh là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển căn cứ cách mạng ..................................................... 81
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 89
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 92
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã để lại cho dân tộc ta nhiều bài học kinh
nghiệm quí giá. Trong đó, bài học về xây dựng hậu phương kháng chiến có ý nghĩa quan
trọng. Như V.I. Lênin từng nói: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách nghiêm chỉnh,
phải có một hậu phương được tổ chức vững chắc”[22, tr. 90].
Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, có một nội dung quan trọng là vấn đề căn cứ
địa và hậu phương, theo đó: “Căn cứ địa là nơi đứng chân xây dựng, là nguồn cung cấp,
tiếp tế, là bàn đạp tiến công của các lực lượng vũ trang cách mạng trong khởi nghĩa vũ
trang. Hậu phương là chỗ dựa, là nguồn chi viện nhân lực, vật lực và cổ vũ về tinh thần
cho tiền tuyến đánh giặc, là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh” [8,
tr. 360].
Tiếp thu học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác-Lênin và kế thừa truyền thống đấu
tranh chống ngoại xâm của cha ông ta trong lịch sử, Đảng ta luôn đặt vấn đề xây dựng hậu
phương lên hàng quan trọng bậc nhất, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt
Nam, nên đã nhân lên gấp bội sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé, kinh tế còn nghèo nàn,
lạc hậu nhưng đủ sức đánh bại kẻ thù là một cường quốc. Một trong những chìa khóa tạo
nên sức mạnh của hậu phương chiến tranh Việt Nam là vấn đề xây dựng căn cứ địa. Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến
phải có hậu phương”[8, tr 378].
Từ thực tiễn Việt Nam – một nước đất không rộng, người không đông, nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu phải chống lại những tên đế quốc có nền công nghiệp và khoa
học kỹ thuật phát triển, có tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, Hồ Chí Minh xác định:
“thắng lợi phải đi đôi với trường kỳ, kháng chiến càng lâu dài và ác liệt, càng phải huy
động cao nhất sức người, sức của của căn cứ địa, hậu phương. Vì vậy, nhất thiết phải
xây dựng căn cứ, hậu phương vững mạnh, toàn diện về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh
tế, văn hóa…” [8, tr. 378].
Trên cơ sở lý luận đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 –
1975), căn cứ địa cách mạng đã được xây dựng và phát triển mạnh mẽ, rộng khắp toàn
miền Nam, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến. Đồng bằng sông
Cửu Long vốn là nơi diễn ra tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Mỹ - ngụy bỏ ra nhiều
5
công sức xây dựng hàng ngàn đồn bốt, ấp chiến lược, khu trù mật từ Tiền Giang đến Cà
Mau nhằm tách nhân dân ra khỏi cách mạng, hàng loạt các cuộc càn đi quét lại của địch
nhằm đánh bật và tiến đến tiêu diệt lực lượng kháng chiến của ta ở các tỉnh miền Tây Nam
bộ diễn ra quyết liệt, quy mô. Nhưng cuối cùng, Mỹ – ngụy cũng phải thất bại trước sức
mạnh của nhân dân ta.
Để có được thắng lợi to lớn này là nhờ vào những khu căn cứ kháng chiến hình thành
ở các tỉnh miền Tây Nam bộ, đó là trái tim và đầu não chỉ huy tại chỗ cho những đơn vị
quân chủ lực địa phương giành chiến thắng vẻ vang.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân dân Sóc Trăng đã làm thất bại âm
mưu xâm lược của kẻ thù, khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ, có được những chiến công này là
nhờ vào sự chỉ đạo sáng suốt của Tỉnh ủy Sóc Trăng trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước. Tại căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng (xã Gia Hòa - huyện Mỹ Xuyên và xã Mỹ Phước -
huyện Mỹ Tú), Tỉnh ủy đã ra nhiều quyết định quan trọng và lãnh đạo nhân dân Sóc Trăng
giành lấy nhiều thắng lợi quyết định, tiến lên giải phóng tỉnh nhà.
Với tư cách là giáo viên đang giảng dạy Lịch Sử cho thế hệ trẻ, bản thân tôi thấy cần
thiết đi sâu tìm hiểu về vấn đề này nhằm góp phần làm rõ hơn một mảng quan trọng của
lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Qua đó, góp
phần giáo dục truyền thống yêu nước, kiên cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc cho
thế hệ trẻ ngày nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Do tầm quan trọng của vấn đề hậu phương – căn cứ địa trong chiến tranh nên đề
tài này đã được sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi của các lãnh tụ, tướng lĩnh, các cơ quan
nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học… Những tác phẩm, bài viết, luận án…đề cập đến
vấn đề căn cứ địa ngày càng nhiều hơn, nội dung sâu sắc hơn.
Trong các tác phẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1970), “Mấy vấn đề về
đường lối quân sự của Đảng ta” - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội và “Đường lối quân sự
của Đảng là ngọn cờ trăm trận trăm thắng của chiến tranh nhân dân ở nước ta” - Nhà
xuất bản Quân đội nhân dân - Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trình bày về căn
cứ địa dưới góc độ lý luận, giải quyết một số vấn đề: Khái niệm căn cứ địa, các hình thức
phát triển từ thấp đến cao của căn cứ địa, cơ sở để xây dựng và vai trò của căn cứ địa trong
chiến tranh giải phóng.
6
Sau năm 1975, do nhu cầu bảo vệ tổ quốc, đề tài căn cứ địa được tiếp tục nghiên
cứu trên cả hai bình diện: lý luận, tổng kết và viết lịch sử.
Về lý luận, xuất hiện nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài quân
đội, đáng chú ý là các bài của nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng: “Vài suy nghĩ về hậu
phương chiến tranh nhân dân Việt Nam” (Tạp chí lịch sử quân sự số 3/1993) và của nhà
nghiên cứu Sử học Văn Tạo: “Căn cứ địa cách mạng – truyền thống và hiện tại” (Tạp chí
lịch sử quân sự số 4/1995). Các bài viết này tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận về căn
cứ địa như: khái niệm, nguồn gốc, tính chất, đặc điểm… nêu bật những đặc trưng của căn
cứ địa ở Việt Nam nói chung và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng.
Về tổng kết, có một số công trình quan trọng, tổng kết chung của cả nước có sách:
“Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 – 1975) ( Bộ quốc phòng – Viện
lịch sử quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997), sách “Hậu
phương lớn, tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) (Nhà xuất
bản Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005)…Bên cạnh đó còn có sách “Tổng kết công tác hậu
cần chiến trường Nam Bộ - Cực Nam Trung Bộ (B2) trong kháng chiến chống Mỹ” (Tổng
cục hậu cần, 1986) có liên quan nhiều đến vấn đề căn cứ.
Ngoài các sách tổng kết chung, một số căn cứ địa trên địa bàn miền Tây Nam Bộ
cũng được quan tâm, nghiên cứu trong các công trình tổng kết hoặc viết lịch sử như: “Lịch
sử Đảng bộ Sóc Trăng (1954 – 1975)”, “Lịch sử Đảng bộ Hậu Giang (1954 – 1975)”,
“Lịch sử Đảng bộ Cần Thơ (1954-1975)”…
Qua đó, có thể thấy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm…đề cập đến
một số mặt lý luận và thực tiễn của việc xây dựng căn cứ địa ở các thời kỳ và các địa
phương cụ thể. Qua các nghiên cứu này, các tác giả đã lý giải về khái niệm căn cứ địa, về
chức năng hoạt động, nội dung xây dựng và vai trò của căn cứ địa đối với sự nghiệp kháng
chiến nói chung và kháng chiến chống Mỹ nói riêng, đưa ra một số đặc trưng của căn cứ
địa ở Việt Nam, các kiến thức về một số căn cứ địa cụ thể.
Đối với căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ được đề cập rải rác
đến trong “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng (1954 – 1975)” (Ban Tuyên giáo tỉnh Sóc
Trăng xuất bản năm 1999), “Phát huy các giá trị Di sản văn hóa tại địa phương” (Tiểu
luận cử nhân – Nguyễn Chiến Chinh - nhân viên bảo tàng tỉnh Sóc Trăng), trong bài giới
thiệu về căn cứ Mỹ Phước (Bảo tàng căn cứ Mỹ Phước), hay trong các quyển Lịch sử Đảng
7
bộ huyện Châu Thành (huyện Mỹ Tú ngày nay) (Huyện Ủy Mỹ Tú – 1999), Lịch sử Đảng
bộ xã Mỹ Phước (1954 – 1975) (Huyện Ủy Mỹ Tú - 2010). Tuy vậy vẫn chưa có công trình
nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về căn cứ địa trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước trên địa bàn Sóc Trăng.
3. Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, tôi tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và các
hoạt động chức năng của căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống
đế quốc Mỹ. Từ đó, rút ra những đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm của nó đối với
tiến trình chung của cuộc kháng chiến trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
Phạm vi thời gian nghiên cứu được tính từ sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết
đến khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ và miền Nam hoàn toàn giải phóng (1954 – 1975).
Không gian đề cập của luận văn là vùng đất căn cứ địa Sóc Trăng qua từng giai đoạn
trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên và huyện Mỹ Tú của tỉnh Sóc Trăng ngày nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là lý
luận về cách mạng giải phóng dân tộc và căn cứ địa để làm cơ sở nghiên cứu. Về phương
pháp chuyên ngành, luận văn vận dụng phương pháp lịch sử là chủ yếu, kết hợp với
phương pháp lôgic để dựng lại toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và các hoạt động
chức năng của căn cứ địa ở Sóc Trăng với tất cả những diễn biến, sự kiện điển hình một
cách chân thực như nó từng có.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp liên
ngành, tiếp xúc các nhân chứng lịch sử, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp tổng
hợp, trên cơ sở khảo cứu các nguồn tư liệu… để nghiên cứu và trình bày luận văn.
5. Đóng góp của đề tài
Trên cơ sở tiếp thu những kết quả của các công trình nghiên cứu trước, luận văn góp
phần dựng lại toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và những hoạt động của căn cứ địa
tỉnh ủy Sóc Trăng trong tiến trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ dưới sự lãnh đạo
của Xứ ủy Nam Bộ và Đảng bộ địa phương các cấp. Từ đó, thấy được những giá trị và
kinh nghiệm mà nó để lại, bổ sung thêm vào những mảng còn trống trong nghiên cứu lịch
sử Việt Nam hiện đại, đặc biệt là lịch sử địa phương; góp phần vào nghiên cứu về chiến
8
tranh cách mạng nói chung và về căn cứ địa trong chiến tranh cách mạng nói riêng.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng giảng dạy lịch sử địa phương
ở Sóc Trăng, giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Từ đó, khơi dậy ý thức
giữ gìn, bảo tồn khu di tích lịch sử căn cứ Tỉnh ủy trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là
thế hệ trẻ hiện nay.
6. Bố cục của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 - Cơ sở hình thành căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ
cứu nước (1954 – 1975).
Chương 2 - Quá trình xây dựng và phát triển căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng
chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975).
Chương 3 - Đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm xây dựng căn cứ Tỉnh ủy Sóc
Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975).
9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC
TRĂNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
(1954 – 1975 )
1.1. Cơ sở lý luận
Vấn đề xây dựng căn cứ địa làm bàn đạp cho các cuộc khởi nghĩa, chiến tranh cách
mạng luôn có tầm quan trọng đặc biệt trong bất kỳ thời kỳ lịch sử nào, ở bất cứ quốc gia
nào. Nó là vấn đề có ý nghĩa sống còn, quyết định sự thành bại của chiến tranh. V.I. Lênin
từng nói: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách nghiêm chỉnh, phải có một hậu phương
được tổ chức vững chắc” [22, tr. 90]. Trong lịch sử Việt Nam, mỗi khi dân tộc ta đứng lên
chiến đấu để giành hoặc bảo vệ độc lập chủ quyền cho Tổ quốc, ông cha ta đều đã biết tìm
chỗ đứng chân. Những nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cứu nước trong lịch sử
dân tộc đã chú trọng vào điều kiện "thiên thời, địa lợi, nhân hòa", khi tìm nơi rừng núi, khi
chọn vùng đầm lầy, khi dựa vào vùng đồng bằng để lập đại bản doanh, khai thác sức người
sức của trong nhân dân và phát triển tiềm lực. Khởi nghĩa vũ trang và căn cứ địa cách mạng
là hai vấn đề có mối quan hệ khăng khít với nhau. Do đó trong xây dựng lực lượng, khởi
nghĩa vũ trang thì trước hết phải chú ý đến vấn đề xây dựng căn cứ địa để làm nơi dự trữ
lực lượng cách mạng, hậu cần cách mạng, làm bàn đạp đấu tranh vũ trang và là trung tâm
thúc đẩy phong trào cách mạng.
Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, có một nội dung quan trọng là vấn đề căn cứ
địa và hậu phương, theo đó: “Căn cứ địa là nơi đứng chân xây dựng, là nguồn cung cấp,
tiếp tế, là bàn đạp tiến công của các lực lượng vũ trang cách mạng trong khởi nghĩa vũ
trang. Hậu phương là chỗ dựa, là nguồn chi viện nhân lực, vật lực và cổ vũ về tinh thần
cho tiền tuyến đánh giặc, là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh” [8,
tr. 360].
Tiếp thu học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác-Lênin và kế thừa truyền thống đấu
tranh chống ngoại xâm của cha ông ta trong lịch sử, Đảng ta luôn đặt vấn đề xây dựng hậu
phương lên vị trí quan trọng bậc nhất, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt
Nam nên đã nhân lên gấp bội sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé, kinh tế còn nghèo nàn,
lạc hậu, nhưng đủ sức đánh bại kẻ thù là một cường quốc. Một trong những chìa khóa tạo
nên sức mạnh của hậu phương chiến tranh Việt Nam là vấn đề xây dựng căn cứ địa. Chủ
10
tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến
phải có hậu phương” [8, tr. 378].
Từ thực tiễn Việt Nam – một nước đất không rộng, người không đông, nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu phải chống lại những tên đế quốc có nền công nghiệp và khoa
học kỹ thuật phát triển, có tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, Hồ Chí Minh xác định:
“thắng lợi phải đi đôi với trường kỳ, kháng chiến càng lâu dài và ác liệt, càng phải huy
động cao nhất sức người, sức của của căn cứ địa, hậu phương. Vì vậy, nhất thiết phải
xây dựng căn cứ, hậu phương vững mạnh, toàn diện về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh
tế, văn hóa…” [8, tr. 378].
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tác phẩm “Mấy vấn đề về đường lối quân sự của
Đảng ta” lý giải “căn cứ địa cách mạng là những vùng giải phóng xuất hiện trong vòng
vây của địch, cách mạng dựa vào đó để tích lũy và phát triển lực lượng của mình về mọi
mặt, tạo thành những trận địa vững chắc về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, lấy đó
làm nơi xuất phát để mở rộng dần ra, cuối cùng tiến lên đánh bại kẻ thù lớn mạnh, giải
phóng hoàn toàn đất nước. Căn cứ địa là chỗ đứng chân của cách mạng, đồng thời là
chỗ dựa để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh đấu trang vũ trang cách
mạng; trên ý nghĩa đó, nó cũng là hậu phương của chiến tranh cách mạng” [ 22, tr.
90].
Ngay từ khi Đảng ta ra đời và vạch ra con đường cách mạng bạo lực để đánh đổ đế
quốc và tay sai thì vấn đề xây dựng chỗ đứng chân cũng được đặt ra. Từ chủ trương xây
dựng cơ sở chính trị cho cách mạng ở thành thị và nông thôn tiến lên xây dựng căn cứ cách
mạng ở miền núi. Đó là những vùng với lãnh thổ rộng lớn và dân cư ủng hộ cách mạng, nó
tương đối an toàn, là nơi đứng chân, hoạt động của các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo kháng
chiến, các tổ chức cách mạng của địa phương và các lực lượng vũ trang.
Như vậy căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước được hình
thành trên cơ sở vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Lịch sử dân tộc là lịch sử của quá trình dựng nước đi đôi với giữ nước. Trong suốt
chiều dài lịch sử dân tộc nhân dân ta luôn phải chống lại các thế lực xâm lược bên ngoài để
11
bảo vệ nền độc lập của mình, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học
về thực tiễn xây dựng căn cứ địa.
Ngay từ thời Bắc thuộc, Hai Bà Trưng chọn vùng đất Mê Linh, Triệu Quang Phục
chiến đấu chống quân Lương, đã dựa vào vùng đầm Dạ Trạch (Hưng Yên) để xây dựng lực
lượng, chờ thời cơ thuận lợi tiến lên đánh quân xâm lược. Thế kỷ XIII, sau ba lần chiến
thắng giặc Mông - Nguyên tướng quân Trần Quốc Tuấn đã viết trong sách "Binh thư yếu
lược" rằng: "Cái đạo hành binh quý nhất ở địa lợi, địa lợi không rõ thì rất khó ra quân kỳ,
đặt quân phục". Thế kỷ XV, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi và quân sư Nguyễn Trãi
cũng dựa vào vùng núi Thọ Xuân (Thanh Hóa) để xây dựng đại bản doanh - căn cứ địa làm
nên nghiệp lớn, đúng như Nguyễn Trãi viết "Quan hà bách nhị do thiên thiết, hào kiệt công
danh thử địa tàng" (Quan hà hiểm yếu trời kia đặt, hào kiệt công danh đất ấy từng). Cuối
thế kỷ XVIII, cuộc khởi nghĩa nông dân của ba anh em nhà Tây Sơn cũng mở đầu bằng việc
lập căn cứ ở ấp Tây Sơn (Bình Định). Từ đây nghĩa quân lần lượt lật đổ các thế lực phong
kiến Đàng Trong và Đàng Ngoài tiến tới thống nhất lãnh thổ, giải phóng dân tộc và bảo vệ
nền độc lập dân tộc khi đánh đuổi quân Xiêm và quân Mãn Thanh.
Trong phong trào kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ XIX, các nhà yêu nước cũng
nhận thức được tầm quan trọng của căn cứ địa. Nguyên soái Trương Định xây dựng căn cứ
ở Gò Công, Tân An (Gia Định); Nguyễn Trung Trực xây dựng căn cứ kháng chiến ở Hòn
Chông (Rạch Giá), Phú Quốc (Kiên Giang); Đinh Công Tráng xây dựng căn cứ Ba Đình
(Thanh Hóa); Nguyễn Thiện Thuật xây dựng căn cứ ở vùng Bãi Sậy (Hưng Yên); Phan
Đình Phùng trong khởi nghĩa Hương Khê đã xây dựng căn cứ ở Vụ Quang (Hà Tĩnh); Khởi
nghĩa nông dân của Hoàng Hoa Thám dựa vào vùng núi rừng hiểm trở Yên Thế (Bắc
Giang) để chống Pháp trong thời gian dài.
Trong điều kiện lịch sử mới, Đảng ta kế thừa và phát huy những truyền thống đánh
giặc đã được tổ tiên ta đúc kết "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" xây dựng căn cứ địa đặt trong
mối quan hệ với quốc tế và sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Nhờ đó Đảng ta xây
dựng thành công căn cứ địa Việt Bắc làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính
quyền vào tháng Tám năm 1945.
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 căn cứ địa Việt Bắc tiếp tục làm chỗ dựa
cho cuộc kháng chiến chống Pháp tái xâm lược. Khi chiến tranh lan rộng ra cả nước, ta vẫn
giữ được các vùng tự do rộng lớn ở Việt Bắc, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Sau đó nối
12
liền Việt Bắc và Bắc Trung Bộ với nhau qua vùng tự do Liên khu V. Ở Nam bộ, trong điều
kiện chiến trường bị chia cắt, ta cũng xây dựng được những chiến khu nổi tiếng như chiến
khu D, chiến khu Dương Minh Châu, chiến khu U Minh…
Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, trước hành động khủng bố,
trả thù của Mỹ - Diệm, cách mạng miền Nam bị tổn thất về tổ chức và lực lượng ngày càng
nặng. Quần chúng cách mạng bị kìm kẹp, khống chế gắt gao. Nhiều nơi đảng viên phải rút
vào hoạt động bí mật, chuyển vùng… Một số địa phương, cán bộ, đảng viên, quần chúng
cách mạng chuyển vào các căn cứ kháng chiến cũ ở rừng núi, bưng biền, tổ chức sản xuất
tự túc và tự vệ. Miền rừng núi Khu 5, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên xuất hiện các “trại bí
mật”. Ở chiến khu D, Dương Minh Châu (miền Đông Nam Bộ) hình thành “làng chiến
đấu”, “làng thoát ly”. Vùng Đồng Tháp Mười ra đời các “túi dân tản cư”. Sâu trong miệt
rừng U Minh thuộc Tây Nam Bộ có các “làng rừng”. Vùng đồng bào S.Tiêng có các “làng
Độc Lập”… Đó là những hình thức khác nhau, là cơ sở ban đầu hình thành các căn cứ địa
trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ.
Khi qui mô và cường độ cuộc chiến tranh tăng lên thì căn cứ địa cũng phát triển
rộng khắp. Tùy theo điều kiện tự nhiên, xã hội, địa hình… mà căn cứ địa được xây
dựng dưới nhiều hình thức. Bên cạnh căn cứ vùng rừng núi, ở miền Trung và Tây Nam
Bộ nước ta còn có các căn cứ từ thời kháng chiến chống Pháp như căn cứ Đồng Tháp
Mười, là vùng đồng nước mênh mông vào mùa mưa hoặc dạng rừng tràm, đước ngập nước
như căn cứ U Minh. Căn cứ rừng Sác cũng là một căn cứ nổi tiếng từ thời chống Pháp. Là
một vùng rừng ngập mặn, nằm ở phía Đông Nam thành phố Sài Gòn. Tại đây, hàng trăm
sông rạch lớn nhỏ dọc ngang chằng chịt như mạng nhện, chia cắt rừng Sác thành hàng
nghìn đảo triều lớn nhỏ, thoắt chìm thoắt nổi theo nước thủy triều. Phủ lên rừng Sác đủ các
loại cây rừng ngập mặn, đan níu nhau tầng tầng lớp lớp. Sông rạch, đảo triều, rừng cây làm
cho Rừng Sác trở thành một khu vực cực kỳ hiểm trở, lại nằm sát cạnh thành phố Sài Gòn
và ôm gọn đường giao thông thủy chiến lược nối Sài Gòn ra quốc tế.
Ở địa bàn tỉnh Sóc Trăng, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp giành được thắng
lợi, bước vào cuộc chiến mới với đế quốc Mỹ và tay say, căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng được
dời từ căn cứ Bố Thảo về đặt tại xã Gia Hòa và một số xã tiếp giáp như Thạnh Quới, Quới
Thiện – huyện Mỹ Xuyên – tỉnh Sóc Trăng… đây là khu vực tương đối thuận lợi di chuyển
vì gần cửa sông Bassac, thuận lợi cho lối đánh du kích, di chuyển quân và phát động chiến
13
tranh trên quy mô toàn tỉnh. Nhưng để chuẩn bị cho cuộc tổng nổi dậy công kích và khởi
nghĩa vào các căn cứ của địch, nhất là đánh vào thị xã Sóc Trăng cùng với cả nước tiến
công Xuân Mậu Thân 1968 thì Thường vụ tỉnh ủy Sóc Trăng đã quyết định di chuyển từ
căn cứ Gia Hòa về căn cứ Tỉnh ủy cũ ở rừng tràm Mỹ Phước – huyện Châu Thành (nay là
huyện Mỹ Tú) (Căn cứ Tỉnh ủy Bố Thảo trong kháng chiến chống Pháp là một tên gọi cũ
của khu rừng tràm Mỹ Phước) để chỉ đạo cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân và lãnh đạo
nhân dân toàn tỉnh kháng chiến.
Như vậy, căn cứ địa ở nước ta nói chung, ở Nam Bộ nói riêng đa dang về hình thức.
Tùy điều kiện tự nhiên, xã hội, địa hình mà từng nơi, Đảng bộ các cấp đã lãnh đạo nhân
dân xây dựng căn cứ địa với dạng thức phù hợp, tạo nên sự phong phú, đa dạng về các loại
hình căn cứ địa ở nước ta
1.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống đấu tranh của nhân dân
tỉnh Sóc Trăng
1.3.1. Điều kiện tự nhiên – Địa lý
Sóc Trăng là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong vùng hạ lưu
sông Hậu, trên trục lộ giao thông thuỷ bộ nối liền thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh miền
Tây Nam bộ.
Về thời tiết Sóc Trăng ở vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa, hàng năm theo mùa khô và mùa mưa rõ rệt, nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,80C, ít khi bị bão lụt.
Lượng mưa trung bình trong năm là 1.846 mm, tập trung nhất từ tháng 8, 9, 10, thuận lợi
cho cây lúa và các loại hoa màu phát triển.
Về vị trí địa lý thì tỉnh Sóc Trăng, phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây Bắc
giáp tỉnh Cần Thơ, phía Đông Nam giáp biển Đông và phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu.
Diện tích tự nhiên là 3.200,27 km2; dân số 1.175.462 người, trong đó người Kinh 752.443,
người Khơ - me 349.935; người Hoa 72.644, còn lại 440 người là các dân tộc khác.
Địa lý hành chính của Sóc Trăng nhiều lần thay đổi theo sự biến thiên của lịch sử.
Vào năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ
Đàng trong (Nam bộ) và tiến hành xác lập địa giới hành chính vùng đất này, lập thành phủ
Gia Định. Lấy lất Đồng Nai (Nông Nại) làm huyện Phước Long và đặt dinh Trấn Biên, lưu
mộ dân từ Quảng Bình trở vào đến ở, chia đặt thôn, ấp. Năm 1732 chúa Nguyễn lập dinh
Long Hồ tại Cái Bè lúc đó là Cái Bè Dinh, năm 1780 được đặt tại vùng chợ Vĩnh Long và
14
đổi tên là Vĩnh Trấn Dinh, sau đó đổi thành trấn Vĩnh Thanh. Lúc này Sóc Trăng thuộc
vùng Ba Thắc nằm trong trấn Vĩnh Thanh, phủ Gia Định.
Năm 1832, vua Minh Mạng chia Nam kỳ thành 6 tỉnh, 3 tỉnh Miền Đông là: Gia
Định, Biên Hòa, Định Tường; 3 tỉnh Miền Tây gồm: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Vùng
đất Sóc Trăng thuộc tỉnh Vĩnh Long.
Năm 1835 lại lấy đất Ba Thắc (tức vùng đất Sóc Trăng) nhập vào tỉnh An Giang, lập
thêm phủ Ba Xuyên, gồm 3 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thạnh và Vĩnh Định. Đây là điểm
mốc có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng về địa danh hành chính tỉnh Sóc Trăng sau này.
Năm 1867, thực dân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây trong đó có Sóc Trăng, sau đó Pháp
chia Nam kỳ lục tỉnh thành nhiều hạt. Đến năm 1876 thực dân Pháp chia toàn Nam kỳ thành
4 khu vực hành chính gồm: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Sắc (Bassac), mỗi khu vực
hành chánh lớn lại chia nhỏ thành nhiều tiểu khu, tiểu khu Sóc Trăng thuộc khu vực Bát
Sắc. Năm 1882, Pháp tách 2 tổng của tiểu khu Sóc Trăng và 3 tổng của tiểu khu Rạch Giá
thành lập thêm tiểu khu Bạc Liêu. Tiếp theo một vài thay đổi (tách, nhập, xóa bỏ), nghị định
của toàn quyền Đông Dương ngày 27-12-1892 qui định Nam kỳ có 2 thành phố Sài Gòn,
Chợ Lớn và 20 khu xếp theo thứ tự A, B, C như sau: Bạc Liêu, Bà Rịa, Bến Tre, Biên Hoà,
Cần Thơ, Châu Đốc, Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công, Hà Tiên, Long Xuyên,... Mỹ Tho, Rạch
Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng, Tân An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Vĩnh Long. Đến tháng
5-1895 lập thêm thành phố Cap Saint Jacques (Vũng Tàu). Nghị định ngày 20-12-1899 của
toàn quyền Đông Dương qui định: kể từ ngày 1-1-1900 tất cả các đơn vị hành chính cấp tỉnh
ở Đông Dương trong đó có các khu ở Nam kỳ đều thống nhất gọi là tỉnh (Provine). Đứng
đầu mỗi tỉnh ở Nam kỳ là một chủ tỉnh, cũng gọi là Chánh tham biện (Administrateur de
la). Cho đến cuối thời kỳ Pháp thuộc 20 tỉnh vẫn giữ nguyên tên cũ. Tỉnh Sóc Trăng thuộc
miền Tây Nam kỳ, gồm 3 quận: Châu Thành, Kế Sách, Bang Long (nay là Long Phú).
Năm 1926 thực dân Pháp chia tỉnh Sóc Trăng thành 4 quận: Châu Thành, Kế Sách,
Long Phú và Phú Lộc. Năm 1932 Thống đốc Nam kỳ quyết định giải tán một số quận trong
các tỉnh Nam kỳ, trong đó có quận Phú Lộc, nhưng đến năm 1941, Thống đốc Nam kỳ
quyết định thành lập lại quận Phú Lộc.
Về phía ta, sau cách mạng tháng 8-1945, quận Phú Lộc được gọi là quận Thạnh Trị.
Trong kháng chiến chống Pháp, tỉnh Sóc Trăng có thêm quận Vĩnh Châu của tỉnh Bạc Liêu
15
giao qua. Sau đó ta nhập huyện Vĩnh Châu vào huyện Thạnh Trị lấy tên là Thạnh Trị. Thời
kỳ chống Pháp, Sóc Trăng có một số xã của tỉnh Rạch Giá và tỉnh Cần Thơ giao qua.
Năm 1955, thực hiện sự chỉ đạo của Liên Tỉnh ủy, tỉnh Sóc Trăng giao huyện Vĩnh
Châu cho tỉnh Bạc Liêu. Cuối năm 1957 tỉnh Sóc Trăng nhận thêm thị xã Bạc Liêu và các
huyện: Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai của tỉnh Bạc Liêu và huyện Hồng Dân của tỉnh Rạch
Giá. Năm 1957 tỉnh Sóc Trăng sáp nhập 2 huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu thành một huyện lấy
tên là Vĩnh Lợi - Vĩnh Châu, năm 1962 lại tách 2 huyện ra như cũ. Đầu năm 1958 huyện Kế
Sách sáp nhập về tỉnh Cần Thơ. Như vậy, vào thời gian này tỉnh Sóc Trăng có 2 thị xã (thị
xã Sóc Trăng, thị xã Bạc Liêu) và 7 huyện (Châu Thành, Long Phú, Thạnh Trị, Vĩnh Châu,
Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai).
Tháng 11 năm 1973, theo quyết định của Khu ủy Tây Nam Bộ, Sóc Trăng giao các
huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân, thị xã Bạc Liêu cho tỉnh Bạc Liêu (riêng huyện Giá Rai giao lại
cho tỉnh Cà Mau từ năm 1961).
Nghị định số 31/NĐ ngày 21-2-1976 của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa
Miền Nam Việt Nam qui định giải thể cấp khu, hợp nhất một số tỉnh. Tỉnh Sóc Trăng hợp
nhất với tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang.
Trong kỳ họp lần thứ 10, khóa VIII Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam vào ngày 26 tháng 12 năm 1991, quyết định tách tỉnh Hậu Giang thành 2 tỉnh Sóc
Trăng và Cần Thơ. Tỉnh Sóc Trăng chính thức đi vào hoạt động vào đầu tháng 4 năm 1992,
gồm các huyện: Mỹ Tú, Kế Sách, Thạnh Trị, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu và thị xã
Sóc Trăng. Ngày 11-01-2002, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra
Nghị định số: 04/2002/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Phú để thành lập
huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc trăng. Như vậy, tính đến 2010, tỉnh Sóc Trăng có 1 thị xã, 7
huyện với 102 xã, phường, thị trấn.
1.3.2. Về Kinh tế - xã hội
Chính nhờ các điều kiện thiên nhiên nói trên, nên trong suốt hai cuộc kháng chiến ác
liệt, tuy một phần đất đai ruộng vườn bị bỏ hoang, song người nông dân Sóc Trăng không
những tự đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm mà còn cung cấp cho một số tỉnh bạn
và Trung ương, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Hiện nay nông nghiệp vẫn
được coi là thế mạnh của kinh tế Sóc Trăng, toàn tỉnh có 263.831 ha đất nông nghiệp, với cơ
cấu nông - lâm - ngư nghiệp, trong đó ngư nghiệp là mũi nhọn.
16
Với việc đầu tư xây dựng tuyến đê ngăn mặn, tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật cho cây lúa, đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, phát triển nhiều giống lúa mới có năng
suất, chất lượng cao. Chính sách ruộng đất phù hợp, người nông dân được giao quyền sử
dụng lâu dài. Nhờ vậy từ năm 1992 đến nay, sản lượng lúa luôn phát triển, từ 780.000 tấn
năm 1992 lên 1.620.000 tấn năm 2000, lượng lương thực hàng hóa ngày càng tăng, góp
phần cho việc xuất khẩu, đời sống nông dân từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, Sóc
Trăng còn một số vùng độc canh cây lúa, lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nên hiệu quả sản
xuất chưa cao, đời sống nhân dân còn gặp khó khăn.
Cùng với sự phát triển lương thực và hoa màu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm
cũng phát triển, tạo nguồn thực phẩm phong phú, chẳng những cung cấp thực phẩm cho
nhân dân trong và ngoài tỉnh mà còn có một khối lượng xuất khẩu đáng kể. Sóc Trăng có
diện tích khá lớn rẫy chuyên canh, luân canh như rau màu, dưa hấu, hành, tỏi, dây thuốc cá
và nhiều loại cây ăn trái khác như: cam, quít, chuối, nhãn, bưởi, Sa bô chê, v.v... tập trung ở
các huyện Kế Sách, Long Phú, Vĩnh Chậu. Bên cạnh đó còn có những loại cây công nghiệp
ngắn ngày như mía, dừa v.v... có giá trị kinh tế cao.
Thủy sản được xác định là ngành mũi nhọn của tỉnh. Với ưu thế có bờ biển dài 72
km, nội địa nhiều sông rạch, rất thuận lợi cho việc nuôi trồng các loại tôm, cua, cá... đã giúp
cho việc chế biến xuất khẩu ngày càng phát triển, thu được nhiều ngoại tệ cho tỉnh. Từ sau
tái lập tỉnh, việc nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thuỷ sản phát triển rất nhanh. Năm 1992 diện
tích nuôi trồng 19.800 ha, đến năm 2001 diện tích tăng lên 53.245 ha, trong đó diện tích
nuôi tôm dạt 49.300 ha: Xuất khẩu thủy sản có bước tiến vượt bậc từ 4,5 triệu đô-la năm
1992 lên 203,14 triệu đô-la năm 2001.
Về công nghiệp, dưới thời thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược Sóc Trăng trong
tình trạng chung của khu vực, có nền công nghiệp yếu kém, kéo dài hơn một thế kỷ. Sau
ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30-4-1975, đất nước thống nhất, Đảng bộ Sóc Trăng
mới có điều kiện lãnh đạo phát triển nền công nghiệp địa phương phục vụ cho sản xuất nông
ngư nghiệp, xuất khẩu và đời sống nhân dân. Nhiều xí nghiệp chế biến tôm đông lạnh, nhà
máy xay xát công suất lớn, xí nghiệp sửa chữa cơ khí, nhà máy đường kết tinh, nhà máy
nước đá, xí nghiệp gạch Tuy-nen, trạm biến điện, nhà máy PP (kéo sợi ni-lon), nhà máy bia,
dịch vụ Bưu điện... đã được xây dựng, ngày càng mở rộng và phát triển. Các nghề truyền
thống như đan dát, dệt chiếu, làm bánh pía (Vũng Thơm), lạp xưởng... được phát triển.
17
Về giao thông vận tải, đã đầu tư nâng cấp, mở thêm nhiều tuyến đường thuỷ, bộ và
một số bến cảng, kho tàng v.v... đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc
phòng và phục vụ đời sống nhân dân. Hiện nay các tuyến đường đi các huyện trong tỉnh đã
tương đối hoàn chỉnh, hệ thống giao thông nông thôn xã, ấp được nối liền, giao lưu, kinh tế
xã hội được mở rộng. Hệ thống điện lưới quốc gia được đưa về tất cả trung tâm các xã trong
huyện. Hết năm 2001 toàn tỉnh có 126.482 hộ có điện sử dụng, đạt tỉ lệ 53,71%.
Việc quy hoạch xây dựng đô thị cũng được quan tâm. Thị xã Sóc Trăng và các thị
trấn, thị tứ ngày càng được mở rộng, nâng cấp khang trang. Trong thời gian mười năm từ
khi tái lập tỉnh, nhiều công trình phục vụ cho sản xuất, đời sống nhân dân như trường học,
bệnh viện, trụ sở làm việc, khu văn hóa, sân vận động, khách sạn,v.v... được xây mới.
Trên lĩnh vực bưu chính viễn thông, Sóc Trăng đã lắp đặt hệ thống tổng đài điện tử tự
động, bảo đảm thông tin nhanh chóng trong nước, quốc tế và các huyện, xã trong tỉnh.
Sóc Trăng còn là trung tâm buôn bán sầm uất, ngay từ thế kỷ XVIII có thương cảng
Đại Ngãi (trước kia gọi là Vàm Tấn), Bãi Xàu(l) và chợ Khánh Hưng, là tụ điểm dân cư
đông đúc, buôn bán tấp nập, giao lưu trong nước và các nước phía Nam Châu Âu từ bao đời
nay. Thực dân Pháp và phát xít Nhật, xây dựng sân bay ở Sóc Trăng. Pháp còn lập một số
trường tiểu học ở tỉnh lỵ và ở một số quận nhằm đào tạo lớp người phục vụ cho chính sách
cai trị thuộc địa của chúng. Chính trong những trường này, nhiều học sinh tiến bộ, có tinh
thần yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng, chống lại chế độ thực dân và tay sai. Từ khi đất
nước được thống nhất, công tác giáo dục được xã hội đặc biệt quan tâm, hệ thống trường
lớp tăng lên nhanh chóng. Năm học 2001- 2002 toàn tỉnh có 385 trường, 4.574 phòng học,
227.801 học sinh, 11.821 cán bộ, giáo viên. Huyện nào cũng có trường phổ thông trung học,
các xã có trường tiểu học và trung học cơ sở. Ngoài ra còn có 1 trường Cao Đẳng sư phạm,
1 Trung tâm giáo dục thường xuyên, 4 trường dân tộc nội trú và 1 trường bổ túc văn hóa
trung cấp Pa li Nam Bộ.
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân cũng được quan tâm, 98/98 phường, xã có
trạm y tế và cơ sở khám, điều trị bệnh, ở ấp, khóm đều có tổ y tế. Ngoài ra còn có các trung
tâm y tế huyện, thị, phòng khám khu vực; bệnh xá quân đội và hệ thống bệnh viện, trung
tâm trạm, trại cấp tỉnh với đội ngũ cán bộ y tế có tay nghề, nhiệt tình chăm sóc sức khỏe cho
nhân dân. Đặc biệt đã xây dựng bệnh viện đa khoa tỉnh, có 400 giường bệnh, trang thiết bị
khá hiện dại. Toàn ngành có 2.062 cán bộ, trong đó có 6 thạc sĩ, 361 bác sĩ và tương đương.
18
Về văn hóa nghệ thuật: Nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật kiến trúc phát triển sớm và
rất phong phú. Hát bội của người Kinh, hát Dù kê, múa trống Xay-dăm của người Khơ me,
hát Tiều của người Hoa được nhân dân yêu thích. Những công trình kiến trúc cổ kính mang
đặc trưng riêng của từng dân tộc như chùa Phật, đình thần, thánh thất. Ở Sóc Trăng hiện nay
còn có nhiều chùa xây dựng từ rất xa xưa, với đường nét kiến trúc độc đáo. Đình chùa là nơi
thờ cúng thiêng liêng của nhân dân, nhưng đồng thời cũng là nơi gặp gỡ của các nhà yêu
nước và chiến sĩ cách mạng hoạt động.
Dân cư Sóc Trăng chủ yếu là 3 dân tộc Kinh, Khơ me, Hoa, đã cùng chung sức khai
phá, xây dựng và bảo vệ vùng đất này. Vì vậy, trải qua bao bước thăng trầm của lịch sử, ý
thức dân tộc, tinh thần yêu nước, đoàn kết chống giặc ngoại xâm ngày càng được củng cố
bền vững. Ở đây trong quá trình phát triển, cộng đồng ba dân tộc đã có mối quan hệ gắn bó
huyết thống, xây dựng nên tình thân ái, đùm bọc lẫn nhau trong cơn hoạn nạn, giúp đỡ nhau
trong lao động sản xuất, tôn trọng nhau trong sinh hoạt, phong tục tập quán, tự do tín
ngưỡng v.v... tạo nên cuộc sống hài hòa về kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng các dân
tộc. Đặc biệt, trong quan hệ giao tiếp, người dân lao động ở đây còn thể hiện đức tính quí
trọng nhân nghĩa, thẳng thắn, bộc trực, sống hào phóng, giản dị, tình cảm mộc mạc chân
thành, đó là bản tính truyền thống của người dân Nam bộ nói chung, của người dân Sóc
Trăng nói riêng.
Là vùng đất mới khai phá, nền kinh tế nông nghiệp đầy hấp dẫn. Do đó bọn địa chủ
quan lại phong kiến, thực dân Pháp đổ xô vào vùng đất này, chúng dùng mọi thủ đoạn để
cướp đất của nông dân, biến họ thành những tá điền phải mướn lại ruộng đất, nộp tô hoặc
suốt đời làm thuê cho địa chủ, đồng thời chúng tập trung khai thác, vơ vét nông sản, thu
nhiều lợi nhuận. Vì vậy, quá trình tập trung ruộng đất ở Sóc Trăng diễn ra với mức độ rất
nhanh. Đến năm 1936 đã có 70 điền chủ người Âu, chiếm 29.052 ha, bằng 15% đất canh
tác, số điền chủ bản xứ chiếm 177.000 ha, gần bằng 85%, chỉ còn 8.000 ha là của nông dân.
Chính vì thế trong xã hội nổi lên 2 mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực
dân Pháp xâm lược; giữa giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến.
Tỉnh Sóc Trăng có nhiều tôn giáo như: Phật giáo với hai hệ phái, Nam tông (người
Khơ me) Bắc tông (người Kinh, người Hoa) Thiên chúa, Tin lành, Cao đài, phật giáo Hòa
hảo. Toàn tỉnh có 263 cơ sở thờ tự, 206 đình, miếu, 1 Hội Dòng nữ tu Mến Thánh Giá, 1
Cộng đoàn Nữ tu Chúa Quang Phòng, 2951 chức sắc, nhà tu hành, 8266; Chức việc và
19
583.679 Tín đồ, trong đó tín đồ phật giáo chiếm đa số. Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao
động, có truyền thống yêu nước, nên khi Đảng có đường lối, chính sách phù hợp thì họ sẵn
sàng đi theo.
1.3.3. Truyền thống đấu tranh của nhân dân tỉnh Sóc Trăng
Tinh thần yêu nước của nhân dân Sóc Trăng được thể hiện ngay từ buổi đầu khai
phá, mở mang vùng đất mới đã anh dũng chống lại bọn cướp biển Java, quân xâm lược
Xiêm La, giữ gìn xóm làng quê hương, bảo vệ mồ mả ông bà tổ tiên. Khi nghĩa quân Tây
Sơn tiến đánh Nguyễn Ánh lần thứ nhất vào mùa hè năm 1776, nhân dân ở các phủ Trà
Vinh, Ba Thắc (Sóc Trăng) đã nổi dậy hưởng ứng. Năm 1782 Nguyễn Ánh tháo chạy qua
Rạch Giá trốn ra biển, nhân dân ở đây đã phối hợp chặt chẽ với nghĩa quân Tây Sơn dùng
30 chiến thuyền truy địch ra tận ngoài khơi. Năm 1785, Nguyễn Ánh lại cầu viện 5 vạn
quân Xiêm, nhưng một lần nữa bị đánh bại ở Rạch Gầm - Xoài Mút. Nhân dân Sóc Trăng
cùng nhân dân các tỉnh lân cận đã tích cực phối hợp chặt chẽ, quét sạch quân Xiêm xâm
lược ra khỏi lãnh thổ.
Sau trận đại bại này, Nguyễn Ánh một lần nữa rước quân Pháp về chiếm lại miền Gia
Định. Tuy quân địch đông và mạnh hơn, lại có sự hỗ trợ của Pháp, nhưng nhân dân Nam kỳ
nói chung và Sóc Trăng nói riêng không cam chịu làm nô lệ đã anh dũng chiến đấu chống
lại. Sử Đại Nam thực lục chính biên kể lại: vào tháng 12 năm 1787, quân Tây Sơn giữ đồn
Cần Thơ, bày chiến thuyền để chống cự quân của Nguyễn Ánh. Đến tháng 3-1788, Phạm
Văn Tham đóng giữ đồn Ba Thắc (Sóc Trăng) đã phối hợp, với 1.500 quân địa phương,
dựng thành đất ở hai ven sông Bassac làm chiến lũy. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra quyết liệt
kéo dài đến tháng 12 năm 1789, bọn địch phải lập thêm đồn phòng thủ lớn ở Bãi Xàu để đàn
áp nghĩa quân. Mặc dù nghĩa quân đã kiên cường chống giặc nhưng lực lượng ngày càng
suy yếu vì không có sự chi viện của quân Tây Sơn, nên dần dần bị quân Nguyễn Ánh đánh
bật ra khỏi nơi này.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình Nhà Nguyễn hèn nhát dâng ba tỉnh
miền Đông, rồi dâng luôn ba tỉnh miền Tây cho giặc Pháp. Nhân dân Sóc Trăng cùng với
nhân dân lục tỉnh đã liên tục kiên cường khởi nghĩa chiến đấu chống giặc Pháp do các sĩ phu
yêu nước lãnh đạo như Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực... đặc biệt
một nông dân tên Chương đã chỉ huy 1.000 nghĩa quân, tập trung ở Duy Hòa nay là Hòa Tú,
Gia Hòa, huyện Mỹ Xuyên), Pháp kéo lính mã tà từ Rạch Chùa vào đàn áp. Quân khởi
20
nghĩa dưới sự chỉ huy của ông Chương dũng cảm xông lên giết giặc. Quân địch bị đánh bất
ngờ nên đã nếm đòn thất bại. phong trào chống Pháp của anh em Đỗ Thừa Luông và Đỗ
Thừa Tự từ vùng U Minh Hạ đến Sóc Trăng cũng được đông đảo nhân dân tham gia.
Không chỉ bằng những cuộc đấu tranh chống giặc, nhân dân Sóc Trăng còn tham gia
những cuộc vận động yêu nước, vận động chính trị để giành độc lập cho dân tộc. Phong trào
yêu nước do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh khởi xướng đã lan
rộng đến Sóc Trăng. Hội kín "Thiên địa hội" xuất hiện ở ngay thị xã Sóc Trăng. Các phong
trào vận động yêu nước đó đã khơi dậy truyền thống bất khuất chống giặc ngoại xâm của tổ
tiên ta để lại.
Phát huy truyền thống của dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Đảng bộ tỉnh, nhân dân Sóc Trăng đã
làm nên những chiến thắng vẻ vang qua các chặng đường lịch sử, đặc biệt đã vùng lên
hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, mà điển hình là cuộc nổi dậy của quân dân làng Hòa
Tú chống lại thực dân Pháp và bọn tay sai.
Tuy cuộc khởi nghĩa Nam kỳ bị địch khủng bố đẫm máu, nhưng nhân dân Sóc Trăng
vẫn giữ vững niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng, cùng cả nước làm cuộc khởi nghĩa tháng
Tám năm 1945 thành công, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Bước vào cuộc kháng chiến 9
năm chống thực dân Pháp xâm lược với sức mạnh của lòng yêu nước, chí căm thù giặc sâu
sắc và tinh thần chiến đấu ngoan cường, quân dân Sóc Trăng đã góp phần cùng cả nước
đánh thắng kẻ thù hung bạo, buộc thực dân Pháp phải rút khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Năm 1954, hòa bình lập lại chưa được bao lâu, đế quốc Mỹ lại tiếp tục can thiệp và
tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Nhân dân Sóc Trăng một lần nữa cùng cả
nước đứng lên làm cuộc kháng chiến vĩ đại suốt 21 năm. Kẻ thù lần này nguy hiểm, tàn bạo
gấp nhiều lần so với trước, chúng có đầy đủ phương tiện chiến tranh hiện đại và nhiều thủ
đoạn lừa mị nhân dân. Mặc dù vậy dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Đảng bộ Sóc Trăng đã lãnh đạo nhân dân trong tỉnh quyết chiến đấu không sợ hy sinh gian
khổ, người trước ngã, người sau xông tới tiêu diệt quân thù, thực hiện lời dạy của Bác Hồ
kính yêu "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", góp phần vào thắng lợi chung của cả nước,
giải phóng miền Nam và giải phóng quê hương Sóc Trăng ngày 30-4-1975.
21
Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ và nhân dân Sóc Trăng cùng cả
nước quyết tâm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng Chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay, trước những biến cố về chính trị trên thế giới, Đảng bộ và nhân dân Sóc
Trăng vẫn tuyệt đối trung thành với Chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vững
bước đi lên Chủ nghĩa xã hội, xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp phấn đấu vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
1.4. Chủ trương xây dựng căn cứ của Đảng, Khu ủy và Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng
Trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta nhận rõ âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ
nên sớm chủ trương duy trì, củng cố căn cứ kháng chiến. Trong hội nghị lần thứ 6 của
Trung ương Đảng (ngày 15 – 18/7/1954) đã chỉ rõ: “hướng của ta là củng cố cơ sở ở những
vùng căn cứ cũ, dựa vào những vùng đó mà phát triển thành những trung tâm chính trị,
kinh tế và những nơi có tính chất quan trọng về quân sự, chuyển hương công tác cho thích
hợp với điều kiện mới, nắm vững phương châm, chính sách mới, sắp xếp cán bộ, bố trí lực
lượng, vừa che giấu lực lượng, vừa lợi dụng công khai hợp pháp” [31, tr 34].
Tiếp theo đó, trong chỉ thị về tình hình và nhiệm vụ công tác mới của miền nam
(ngày 6/9/1954) của Bộ chính trị đã chỉ rõ: “đẩy mạnh công tác phát triển cơ sở nông thôn,
đặc biệt là cơ sở vùng căn cứ du kích cũ” [31, tr 49]. Tháng 12/ 1954, xứ ủy Nam bộ ra chủ
trương xây dựng các khu căn cứ kháng chiến ở miền Đông, miền Tây Nam bộ và Đồng
Tháp Mười, Xứ ủy xác định: “căn cứ phải là nơi an toàn để tích lũy vật chất, duy trì và
phát triển lực lượng cách mạng, tạo điều kiện cho ta tổ chức những trận tiến công tiêu hao,
tiêu diệt sinh lực địch” [31, tr 77].
Trước yêu cầu của tình hình mới và được sự chỉ đạo của cấp trên, cuối tháng 10-1954
tại ấp Bà Ai, ấp Cai Giảng - xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân (nay thuộc tỉnh Bạc
Liêu), Tỉnh uỷ bí mật Sóc Trăng được thành lập gồm 9 đồng chí, đồng chí Lâm Hớn Thanh
làm Bí thư, đồng chí Phan Văn Hoành làm Phó bí thư. Đây là hội nghị đầu tiên của Tỉnh uỷ
Sóc Trăng trong thời kì kháng chiến chống Mỹ.
Thực hiện chủ trương của Trung ương, Xứ ủy về xây dựng căn cứ cách mạng, Tỉnh
ủy Sóc Trăng quyết định dời căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng từ căn cứ Bố Thảo trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp về đặt tại xã Gia Hòa – huyện Mỹ Xuyên, đây là khu vực tương
đối thuận lợi di chuyển vì gần cửa sông Bassac vì vậy lực lượng ta dễ di chuyển, bao quát
22
chiến trường Bạc Liêu, tiếp vận vũ khí, đặc biệt thuận lợi cho lối đánh du kích và phát động
chiến tranh trên quy mô toàn tỉnh.
Để chuẩn bị cho cuộc tổng nổi dậy công kích và khởi nghĩa vào các căn cứ của địch,
nhất là đánh vào thị xã Sóc Trăng cùng với cả nước tiến công Xuân Mậu Thân 1968.
Thường vụ tỉnh Ủy Sóc Trăng đã quyết định di chuyển từ căn cứ Gia Hòa về căn cứ tỉnh ủy
cũ ở rừng tràm Mỹ Phước – huyện Châu Thành để chỉ đạo cuộc tổng tiến công tết Mậu
Thân và lãnh đạo nhân dân toàn tỉnh kháng chiến. Lý do chọn căn cứ rừng tràm Mỹ Phước
làm nơi chỉ đạo Xuân Mậu Thân năm 1968 và làm nơi lãnh đạo kháng chiến lâu dài của
Tỉnh ủy cho đến năm 1975, lý do chọn Mỹ Phước làm căn cứ được Tỉnh ủy xác định:
Thứ nhất: Khu vực này gần với thị xã Sóc Trăng dễ dàng cho việc tiến quân vào và rút ra
nhanh chóng.
Thứ hai: Nơi tiếp giáp với các căn cứ đóng quân của địch như chi khu Phú Lộc, chi khu
Ngã Năm, chi khu Mỹ Tú, khu trù mật.
Thứ ba: Là nơi án ngữ cho rừng U Minh và ngăn chặn việc tiến quân đánh vào căn cứ Khu
ủy ở U Minh của địch.
Bên cạnh đó do căn cứ này có những yếu tố tiện lợi cho việc đóng quân với diện tích
rừng lớn liên thông với các nơi dễ cho việc đánh ra và rút vào rừng sâu an toàn. Nơi đây
vốn có truyền thống cách mạng, dễ liên lạc được với Liên tỉnh ủy Hậu Giang, Tỉnh ủy Cần
Thơ, Khu ủy khu 9. Chính những ưu thế này mà Tỉnh ủy quyết định chọn đây làm căn cứ
chỉ đạo chung cho toàn tỉnh. Dù trải qua nhiều cuộc bao vây càn quét, đánh phá nhiều lần
nhưng căn cứ vẫn giữa vững. Bên cạnh căn cứ rừng tràm Mỹ Phước còn có các căn du kích
của ấp, xã, huyện và căn cứ lưu động ở Ngang Dừa (Hồng Dân – Bạc Liêu). Với các căn cứ
này làm tuyến ngoài bảo vệ Tỉnh ủy và là nơi di chuyển khi bị địch phá ác liệt
Về cơ sở vật chất của căn cứ như Hội trường được xây dựng bằng cây tràm trước năm
1968, đến khi Tỉnh ủy di chuyển về cuối năm 1967 đầu năm 1968 thì được xây dựng lại lớn
hơn rộng 4m và dài 20m, khang trang hơn bằng gỗ dầu. Cạnh hội trường có nhà làm việc của Bí thư tỉnh ủy có diện tích 22m2, có bốn hầm trú ẩn. Ngoài ra, còn có các nhà cơ quan
của tỉnh, hầm bí mật dành cho các đồng chí lãnh đạo trong ban Thường vụ tỉnh. Ngoài ra,
còn có hệ thống giao thông hào, hầm chữ A, hầm tránh bom tránh pháo…
Việc đi lại của căn cứ chủ yếu là đường thủy với chiếc xuồng nhỏ nhờ vào kênh đào
nhỏ. Nhờ vào ưu thế này đã làm cho việc di chuyển quân với số lượng lớn của Mỹ - Ngụy
23
quân đánh vào căn cứ vô cùng khó khăn. Nhưng Mỹ - Ngụy vẫn liên tục đưa quân vào đây
nhằm tiêu diệt căn cứ khi phát hiện nơi đây là cơ quan đầu não của Tỉnh. Khi Hiệp định
Paris được kí kết, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vẫn ra sức gây chiến, trên các chiến
trường ở miền Nam tiếng súng vẫn nổ. Tại Sóc Trăng, ngụy quyền ngụy quyền Ba Xuyên
liên tục cho máy bay ném bom oanh tạc, bắn pháo, hành quân vào các vùng giải phóng và
căn cứ của Tỉnh ủy, Ngụy quân Ba Xuyên điên cuồng hành quân càn quét vào các căn cứ và
vùng giải phóng của ta. Tại căn cứ, ta đã chuẩn bị từ trước nên tại đây khi chúng hành quân
vào căn cứ đã bị quân ta đánh tiêu hao, buộc chúng phải rút quân khỏi căn cứ, không dám
hành quân vào phá hoại căn cứ. Nhờ thế, mà căn cứ Tỉnh ủy đã được giữ vững an toàn cho
tới ngày giải phóng.
Tiểu kết chương 1
Căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng được xây dựng trong kháng chiến chống Mỹ là một là
một yêu cầu tất yếu của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
Căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng là sự kế thừa và phát triển có tính sáng tạo từ kinh nghiệm xây
dựng căn cứ địa của dân tộc ta trong các thời kỳ lịch sử. Từ những kinh nghiệm về cơ sở lý
luận và thực tiễn mà quân dân trong toàn tỉnh đã xây dựng một hệ thống căn cứ địa vững
chãi và làm nền tảng quan trọng để đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống đế quốc, giải phóng quê
hương.
Cơ sở và tiền đề quan trọng đảm bảo cho căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng hình thành và
phát triển là dựa trên diễn biến, tình hình cách mạng miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
ta, Xứ ủy Nam kỳ, Liên khu ủy miền Tây về việc xây dựng căn cứ địa. Căn cứ tỉnh ủy Sóc
Trăng cùng với hệ thống căn cứ Đồng Tháp Mười, căn cứ U Minh, Căn cứ Phương Bình là
hệ thống những căn cứ địa liên hoàn, hỗ trợ lẫn nhau, có tác dụng quan trọng trong cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc ở vùng đồng bằng Sông Cửu long.
Truyền thống anh dũng, quả cảm của nhân dân Sóc Trăng, cùng với tinh thần đoàn
kết của đồng bào Kinh, Hoa, Khmer vốn được tôi luyện trong kháng chiến chống Pháp là cơ
sở vững chắc cho việc bảo vệ căn cứ địa cách mạng, phát triển cuộc chiến tranh nhân dân,
đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù xâm lược.
24
CHƯƠNG 2 - QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CĂN CỨ
TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
CỨU NƯỚC (1954 – 1975)
2.1. Giai đoạn 1954 – 1967
2.1.1. Xây dựng căn cứ địa
2.1.1.1. Về chính trị
Trước yêu cầu của tình hình mới và được sự chỉ đạo của cấp trên, cuối tháng 10-1954
tại ấp Bà Ai, ấp Cai Giảng - xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân (nay thuộc tỉnh Bạc
Liêu), Tỉnh uỷ bí mật Sóc Trăng được thành lập gồm 9 đồng chí, đồng chí Lâm Hớn Thanh
làm Bí thư, đồng chí Phan Văn Hoành làm Phó bí thư. Đây là hội nghị đầu tiên của Tỉnh uỷ
Sóc Trăng trong thời kì kháng chiến chống Mỹ. Thực hiện chủ trương của Trung ương, Xứ
ủy về xây dựng căn cứ cách mạng, Tỉnh ủy Sóc Trăng quyết định dời căn cứ Tỉnh ủy Sóc
Trăng từ căn cứ Bố Thảo về đặt tại xã Gia Hòa – huyện Mỹ Xuyên, đây là khu vực tương
đối thuận lợi di chuyển vì gần cửa sông Bassac, thuận lợi cho lối đánh du kích và phát động
chiến tranh trên quy mô toàn tỉnh.
Trong công tác tổ chức chính trị, Tỉnh uỷ chỉ định các Huyện uỷ, Thị uỷ phải thực
hiện phương châm bí mật tuyệt đối, nhất là các khu vực thị xã, trung tâm kháng chiến của ta
trên địa bàn tỉnh và huyện trong bối cảnh kẻ thù điên cuồng chống phá cách mạng, giết hại
cán bộ. Tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên đều được sắp xếp lại. Các xã đều có chi bộ, toàn
tỉnh có 4.200 đảng viên, xã cao nhất là trên 300 đảng viên. Khi chuyển hướng hoạt động bí
mật, để đảm bảo chất lượng Đảng bộ, đảng viên được phân làm 3 loại: Loại A: là những
đảng viên trung kiên có lập trường vững vàng, tích cực, nghiêm chỉnh chấp hành nhiệm vụ,
được tập hợp thành tổ Đảng hoặc chi bộ; Loại B: yếu hơn loại A về các mặt kể trên một
mức, được sinh hoạt đơn tuyến, có giao nhiệm vụ vừa sức; Loại C: là những đảng viên lập
trường thiếu kiên định, tư tưởng không vững vàng, công tác yếu kém, không hoàn thành
nhiệm vụ, đối với số này phải hết sức giúp đỡ và không giao nhiệm vụ.
Do tình hình thực tế giữa ta và địch lúc bấy giờ, bộ máy tổ chức của ta cần đơn giản
gọn, nhẹ nên Liên tỉnh ủy Hậu Giang và Tỉnh ủy chỉ đạo không thành lập các ban, ngành
cấp tỉnh và huyện, chỉ có một số bộ phận chuyên môn như: Văn phòng, Tổ chức, Tuyên
huấn, Binh vận, Thanh vận, Giao liên, Tài chánh, Bảo vệ căn cứ. Trong vùng căn cứ địa, các
25
đoàn thể quần chúng như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội ủng hộ Issarak đều giải thể, thay
vào đó là xây dựng hệ thống cốt cán, nòng cốt từ những quần chúng tích cực cách mạng ra
đến quần chúng khác. Đoàn Thanh niên được duy trì tổ chức ở cơ sở, chịu sự lãnh đạo trực
tiếp của chi bộ, nhưng không có hệ thống dọc lên trên (Đoàn Thanh niên Lao động gọi tắt là
Thanh lao).
Tại Căn cứ tỉnh ủy, Tỉnh ủy Sóc Trăng đã lãnh đạo Đảng bộ bám chặt quần chúng,
giáo dục lòng căm thù, tổ chức quần chúng đấu tranh. Đầu năm 1957, tại căn cứ Tỉnh ủy,
Tỉnh ủy Sóc Trăng họp Tiếp thu Nghị quyết của Bộ Chính trị (tháng 6-1956). Sau đó thảo
luận bản đề cương soạn thảo (tháng 8-1956) của đồng chí Lê Duẩn về “Đường lối cách
mạng miền Nam” và tiếp thu Nghị quyết của Xứ ủy Nam bộ (1-12-1956). Bản đề cương
cách mạng miền Nam có nêu “Để chống lại Mỹ - Diệm, nhân dân miền Nam chỉ có một con
đường cứu nước là tự cứu lấy mình, là con đường cách mạng. Ngoài con đường cách mạng
không có con đường nào khác” [31, tr. 144]. Nghị quyết Xứ ủy cũng có nêu rõ: “Lúc này
đấu tranh chính trị đơn thuần thì không được, mà đấu tranh vũ trang thì chưa phải” [31, tr.
146] và xác định phương châm cách mạng miền Nam là “Đấu tranh chính trị có vũ trang tự
vệ” [31, tr. 146].
Tiếp theo đó, vào tháng 12/1956 tại căn cứ Tỉnh ủy, Tỉnh ủy tiếp tục mở đợt học tập
trong Đảng bộ về tinh thần bản dự thảo đường lối cách mạng miền Nam nhằm làm cho cán
bộ, đảng viên thông suốt tình hình và nhiệm vụ, nâng cao nhân sinh quan cộng sản chủ
nghĩa, lập trường cách mạng triệt để và tư tưởng cách mạng tiến công. Tỉnh ủy họp Hội nghị
nêu lên phương hướng hoạt động: “Tiếp tục lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi quyền dân
sinh, dân chủ, chống Mỹ - Diệm khủng bố trả thù, duy trì đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp
định Genève, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, duy trì các tổ chức dưới hình thức bán công
khai như đội chống cướp bảo vệ xóm ấp, tổ chức này có nhiệm vụ giáo dục tề điệp và bọn
phản động, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị; đồng thời có kế hoạch xây dựng lực
lượng vũ trang bí mật, bảo vệ an toàn tuyệt đối khu căn cứ tỉnh ủy” [2, tr. 31]
Sau phong trào Đồng khởi trên toàn miền nam giành được những thắng lợi hết sức
quan trọng thì trước tình hình địch thay đổi chiến lược chiến tranh ở Việt Nam, Bộ chính trị
sáng suốt nhận định “Thời kì tạm ổn định của chế độ Mỹ - Diệm đã qua và thời kì khủng
hoảng liên tiếp suy sụp nghiêm trọng bắt đầu” [31, tr. 278].
26
Về phương châm đấu tranh, Bộ Chính trị nêu rõ: “Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh
chính trị, đồng thời đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh
chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự” [31, tr. 278]. Tháng 10-1961,
Trung ương Cục họp hội nghị mở rộng lần thứ nhất bàn về phương hướng, nhiệm vụ trước
mắt của cách mạng miền Nam. Sau khi phân tích mối quan hệ giữa đấu tranh chính trị và
đấu tranh vũ trang, Trung ương Cục kết luận: “Cần phải duy trì đấu tranh vũ trang mới có
thể chống khủng bố một cách mạnh mẽ, nơi có điều kiện tiến công đánh cả hai mặt quân sự
và chính trị. Trái lại nếu không duy trì đấu tranh chính trị thì đấu tranh vũ trang cũng gặp
nhiều khó khăn” [31, tr. 322].
Ở Sóc Trăng, sau thắng lợi to lớn của phong trào “Đồng khởi” dưới sự lãnh đạo của
Tỉnh Đảng bộ, nhân dân nô nức xây dựng vùng căn cứ, vùng giải phóng, xây dựng cuộc
sống mới, tích cực tham gia phong trào du kích chiến tranh, xây dựng căn cứ và phát triển
thực lực cách mạng, quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được. Song, tình hình
mới đặt ra, phong trào cách mạng ở tỉnh phát triển nhanh chóng nhưng lực lượng Đảng bộ
quá ít, đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng do bị tiêu hao quá nặng của thời kỳ 1957 – 1959
nên không đủ sức lãnh đạo phong trào đang lên. Lực lượng vũ trang mới thành lập, trang bị
chưa có gì đáng kể, phương châm, phương thức hoạt động chưa thành thạo. Phong trào
chính trị chưa rộng lớn, chặt chẽ nhưng một số địa phương lực lượng Phong trào chưa cao,
nhất là vùng tranh chấp, vùng kềm. Vì vậy Tỉnh ủy chủ trương trước mắt phải khẩn trương
phát triển Đảng, củng cố và phát triển các cơ sở cách mạng từ thị xã, thị trấn đến vùng nông
thôn, tổ chức lực lượng chính trị thành đội ngũ, xây dựng lực lượng vũ trang nhanh chóng,
vững chắc; đi đôi với tiến công địch để mở rộng và giữ vững quyền làm chủ ở nông thôn.
Đối với vùng giải phóng, chú trọng phát triển chiến tranh du kích, xây dựng xã, ấp chiến
đấu, thành lập các đội du kích ở cơ sở, phát triển rộng rãi phong trào dân quân tự vệ, tổ chức
chống địch càn quét, tái chiếm, giữ vững quyền làm chủ ở nông thôn và bảo vệ tính mạng,
tài sản của nhân dân, đồng thời có kế hoạch phát triển văn hóa, xã hội và sản xuất.
Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, về công tác xây dựng và phát triển Đảng, xây
dựng và bảo vệ khu căn cứ tỉnh ủy, củng cố chi bộ vững mạnh, gầy dựng chi bộ ở vùng yếu,
chọn những quần chúng cốt cán, đoàn viên thanh niên có thành tích trong phong trào Đồng
khởi để bồi dưỡng trở thành đảng viên, phát triển đảng viên vùng thị xã, thị trấn, vùng tôn
giáo và vùng đồng bào Khmer, giữ vững cơ sở cách mạng nhất là vùng yếu. Song song với
27
công tác tổ chức, Tỉnh ủy quan tâm đẩy mạnh công tác chính trị tư tưởng, ra tờ báo “Chiến
đấu” làm cơ quan ngôn luận của Tỉnh Đảng bộ trong vùng căn cứ cách mạng và trên toàn
địa bàn tỉnh. Tờ báo “Chiến đấu” trở thành một trong những cơ quan quan trọng phổ biến,
hướng dẫn thường xuyên về đường lối, chủ trương của Đảng, về tình hình và phong trào
cách mạng của tỉnh nhà, của cả nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh. Ngoài ra
còn có tờ tin, truyền đơn, biểu ngữ, các loại tranh cổ động, áp phích được truyền đi khắp nơi
trong tỉnh nhằm tuyên truyền rộng rãi trong quần chúng về chủ trương, chính sách của Đảng
và Mặt trận giải phóng dân tộc miền Nam Việt Nam.
Để phù hợp với tình hình và sát hợp với chỉ đạo hơn, đầu năm 1961, Tỉnh ủy quyết
định tách một số xã thuộc hai huyện Thạnh Trị, Châu Thành để thành lập huyện Mỹ Xuyên,
Từ nay căn cứ Tỉnh ủy nằm trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên, thường vụ Tỉnh ủy quyết định
điều một số Huyện ủy viên ở một số huyện về thành lập Huyện ủy Mỹ Xuyên, đồng chí Lê
Văn Mỹ (Năm A) Phó bí thư Huyện ủy Vĩnh Lợi – Vĩnh Châu về làm Bí thư Huyện ủy Mỹ
Xuyên.
Vào cuối năm 1960, Tỉnh ủy quyết định thành lập Trường Đảng Tỉnh Sóc Trăng.
Đồng chí Nguyễn Văn Thới (Ba Hữu) Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách Tuyên huấn
kiêm phụ trách trường Đảng, trường Đảng nằm trong khu vực căn cứ cách mạng thuộc xã
Gia Hòa – huyện Mỹ Xuyên. Đầu năm 1961, Trường Đảng tỉnh Sóc Trăng được kiện toàn
và tăng cường, đảm trách nhiệm vụ đào tạo cán bộ chi ủy viên là chủ yếu, đồng thời góp
phần bồi dưỡng cán bộ các đoàn thể. Trường Đảng lúc này do đồng chí Nguyễn Văn On
(Phạm Lưu Thức – Năm Thức) - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách. Ngoài ra, tỉnh còn
bố trí cán bộ quân sự, mở lớp đào tạo cán bộ xã đội, xã đội trưởng; cán bộ y tế mở lớp y tá,
cứu thương v.v… nhằm xây dựng lực lượng vũ trang, phục vụ cho chiến đấu, điều trị
thương bệnh binh và đồng bào bị tai nạn chiến tranh.
Để lãnh đạo phong trào cách mạng ở tỉnh nhà ngày càng phát triển, đầu tháng 5-
1961, tại xã An Thạnh Nhì và xã Đại Ân - huyện Long Phú, Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ
họp mở rộng do đồng chí Dương Minh Cảnh (Ba Hòa) Bí thư Tỉnh ủy chủ trì. Đây cũng là
hội nghị chuyển hướng chỉ đạo của Đảng bộ Sóc Trăng sang giai đoạn mới. Hội nghị nhất
trí sự đánh giá của trung ương sau Đồng khởi “Thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ - Diệm
đã chấm dứt, thời kì khủng hoảng triền miên bắt đầu. Hình thức du kích cục bộ, khởi nghĩa
từng phần đã xuất hiện, mở đầu cho một cao trào cách mạng ở miền Nam” [2, tr. 59]. Hội
28
nghị cũng xác định phương châm đấu tranh sắp tới của trung ương vạch ra là: “đấu tranh vũ
trang phải song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch cả hai mặt đấu tranh chính trị
và quân sự …” [2, tr. 61]. Về 3 vùng chiến lược theo sự chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy
vận dụng chia 3 vùng để chỉ đạo. Vùng tranh chấp và vùng giải phóng đấu tranh chính trị và
quân sự song song. Vùng kềm (thị xã, thị trấn) lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu. Trong
đấu tranh chính trị phải giữ thế hợp pháp với địch nhưng tùy từng lúc cũng dùng cả đấu
tranh không hợp pháp.
Hội nghị Tỉnh ủy thống nhất thành lập các Ban: Quân sự, An ninh, Tuyên văn giáo,
Tổ chức, Dân vận, Phụ vận, Nông vận, Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh cùng một số ban
ngành khác của tỉnh, đồng thời chỉ định thành lập Ban đấu tranh chính trị, các Ban này tập
trung trong khu vực căn cứ Tỉnh ủy tại Gia Hòa – Mỹ Xuyên.
Trước ý đồ đen tối của đế quốc Mỹ chuyển từ chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” sang
chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, ngày 20-7-1965 chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn
Đàng, toàn quân và toàn dân ta: “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền
Bắc và Miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10
năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn
toàn” [28, tr 498].
Hưởng ứng lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 3-8-1965, Mặt Trận Dân tộc
giải phóng Miền nam Việt Nam long trọng xác định lập trường sắt đá của 14 triệu đồng bào
Miền nam: “Sẽ hy sinh tất cả, thà chế chứ không chịu làm nô lệ, sẽ chiến đấu đến cùng để
bảo vệ tổ quốc, giành độc lập hoàn toàn”.
Trong tình hình chung đó, ở Sóc Trăng, được sự chỉ đạo của Khu ủy, Tỉnh ủy mở
cuộc sinh hoạt chính trị phát động trong toàn Đảng bộ, các lực lượng vũ trang, ban ngành
đoàn thể và nhân dân nhận thức đúng tình hình, không ngán ngại đánh Mỹ, chủ động đánh
Mỹ, quán triệt nội dung lời kêu gọi cảu chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên bố của Mặt trân dân
tộc giải phóng miền Nam Việt Nam nhằm xây dựng một quyết tâm sắt đá, đánh Mỹ và
thắng Mỹ, kẻ thù xâm lược của dân tộc Việt Nam. Để đánh bại Mỹ và quân ngụy, phương
hướng của tỉnh Đảng bộ là: Ta phải giành và nắm thế chủ động. Thế chủ động của ta là phải
dựa trên cơ sở bố trí hợp lý các lực lượng vũ trang của tỉnh; củn cố các chi bộ cơ sở; phát
triển lực lượng dân quân du kích và lực lượng chính trị quần chúng. Đồng thời xác định
công tác xây dựng Đảng và phát triển thực lực cách mạng, phát triển lực lượng vũ trang
29
nhân dân trong lúc này là yêu cầu bức xúc, có mối quan hệ mật thiết với nhau. Từ đó phải
tăng cường đội ngũ Đảng viên cho vùng kềm, vùng tranh chấp, thị xã, thị trấn và các đơn vị
vũ trang.
Qua đợt chỉnh huấn, luyện quân, cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang đều nâng cao
được ý chí chiến đấu, xác định được lập trường tư tưởng vững vàng, quyết chiến và quyết
thắng quân Mỹ xâm lược. Đối với các huyện mà địch coi là trọng điểm đánh phá thì phải
kiên quyết đánh trả để bảo vệ như thị xã, căn cứ tỉnh ủy Mỹ Xuyên.
Trong vùng căn cứ các đoàn thể: Hội Nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên lao
động, ban Khmer vận, ban Hoa vận đều được tăng cường làm cầu nối vững chắc giữa Đảng
với nhân dân. Các đoàn viên, hội viên đã phát huy vai trò nòng cốt trong quần chúng, thực
hiện các chủ trương của Đảng, đưa phong trào cách mạng phát triển trong tình hình mới.
Chống do thám gián điệp là nhiệm vụ gắn liền với xây dựng, bảo vệ vùng giải phóng,
vùng căn cứ. Ban An ninh tình báo tỉnh ủy phối hợp với các đoàn thể Nông dân, Phụ nữ,
Đoàn Thanh niên tình triển khai, thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy về phòng gian, bảo mật, bảo
vệ an toàn vùng giải phóng, vùng căn cứ cách mạng. Công tác tuyên truyền, giáo dục được
đẩy mạnh. Đã có có hơn 1000 lượt quần chúng tham gia học tập, nâng cao tinh thần cảnh
giác, ý thức phòng gian bảo mật. chống dọ thám gián điệp. Giáo dục gần 3.000 người có
lầm lỗi, cải tạo trên 3.000 tên điềm, điệp, phá 44 vụ án, bắt 35 tên. Vùng giải phóng đuợc ổn
định, nhân dân yên tâm lao động, sản xuất. Căn cứ địa cách mạng được bảo vệ an toàn, lực
lượng cách mạng ít bị tổn thất.
Từ giai đoạn 1967 trở về sau, căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng được dời về rừng tràm Mỹ
Phước thuộc xã Mỹ Phước – huyện Châu Thành (nay là huyện Mỹ Tú), căn cứ Tỉnh ủy tại
Mỹ Xuyên đã kết thúc sứ mạng lịch sử của mình trong giai đoạn đầy cam go từ sau khi hiệp
định Gernever được ký kết đến cuối năm 1967. Khu Căn cứ Mỹ Phước thuộc rừng tràm rậm
rạp xã Mỹ Phước có một lợi thế to lớn để thiết lập lại vùng căn cứ tỉnh ủy, từ đây cách mạng
Sóc Trăng chuyển sang một giai đoạn mới đầy quyết liệt khó khăn và thử thách.
2.1.1.2. Về kinh tế - xã hội
Trong hoạt động xây dựng khu căn cứ tỉnh ủy trên mặt lĩnh vực kinh tế, xã hội thì
phong trào tăng gia sản xuất được chú trọng phát triển. Diện tích đất hoang được khai hoang
phục hồi. Việc sản xuất tự túc của bộ đội và cán bộ được đẩy mạnh. Nhân dân hăng hái vào
các tổ chức đổi công nhổ mạ, chế phát, cấy gặt… để giúp đỡ lẫn nhau. Cuộc chiến tranh
30
diễn ra ngày càng quy mô, ác liệt, nhiệm vụ xây dựng vùng nông thôn giải phóng, vùng căn
cứ để làm hậu phương cho cuộc kháng chiến là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên.
Ở vùng căn cứ và vùng giải phóng, hội nông dân các cấp làm nòng cốt tổ chức thi
đua phát triển nông nghiệp, khai hoang phục hóa diện tích gieo trồng, tổng số mở rộng được
4.000 ha diện tích trồng trọt. Phát động nhân dân làm thủy lợi, đào kinh xổ phèn và dẫn
nước ngọt vào ruộng. Trong vùng căn cứ, ta đã đào được 16 kinh mới (các kinh dọc ngang
nhỏ để di chuyển và tưới tiêu), nạo vét 4 kinh cũ để cải tạo đồng ruộng, phục vụ sản xuất
thâm canh, tăng vụ. Ta đã động viên nhân dân nhượng trên 300 ha ruộng đất cho những hộ
không đất, thiếu đất sản xuất, cấp phát ruộng cho những hộ gia đình thiếu ăn và thiêu đất
sản xuất.
Để chống lại chính sách đồng hóa dân tộc của bọn Mỹ - Diệm, các sư sãi chùa
Kh`leang (tại thị xã Sóc Trăng), tiêu biểu là Lục cả Thạch Khean (Trần Kế An) và Achar
Huỳnh Cương, hai ông thuyết pháp giải thích cho tín đồ hiểu rõ âm mưu đồng hóa dân tộc
và tôn giáo, đòi địch phải thi hành đúng các điều khoản của Hiệp định Genève, hoạt động
này của 2 vị Lục cả lan ra rộng khắp trong vùng căn cứ và có tiếng vang lớn ở thị xã Sóc
Trăng, nhờ đó những cán bộ cách mạng người dân tộc khmer đã được tiếp thêm ngọn lửa
đấu tranh vì nền văn hóa, vì độc lập, vì tự do, do đó tất cả tín đồ đều đồng lòng đấu tranh
chống lại Mỹ - Diệm. Cuộc đấu tranh đã có ảnh hưởng khắp các chùa trong tỉnh. Các vị sư
cả và đồng bào Phật giáo khmer trở thành lực lượng quan trọng trong đấu tranh chính trị
chống lại bọn Mỹ và tay sai, các hoạt động đấu tranh sôi nổi của đồng bào tôn giáo Phật
giáo Nam tông khmer gây được tiếng vang lớn và có tác động cổ vũ cho phong trào cách
mạng chung trên toàn tỉnh Sóc Trăng.
Trong vùng căn cứ Tỉnh ủy, các hoạt động vận động nhân dân các dân tộc đoàn kết,
tham gia kháng chiến diễn ra sôi nổi nhất là việc thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc giữa
đồng bào Khmer và người Kinh, người Hoa.
2.1.1.3. Về Quân sự
Sau khi ổn định tổ chức cơ sở Đảng và xây dựng vùng căn cứ, thực hiện chủ trương
bảo vệ và xây dựng căn cứ trên lĩnh vực quân sự thì đầu năm 1956 Tỉnh ủy rút đồng chí
Nguyễn Văn Chương (Mười Tiễn) - Huyện ủy viên huyện Kế Sách về tỉnh phụ trách xây
dựng lực lượng ngầm (bí mật) làm nhiệm vụ bảo vệ khu căn cứ cách mạng. Thành lập bộ
phận chỉ đạo xây dựng lực lượng ngầm trực thuộc Tỉnh ủy, do Thường vụ Tỉnh ủy nắm và
31
chỉ đạo. Đối tượng được chọn để xây dựng lực lượng này là những đoàn viên thanh niên
nòng cốt tích cực, những đảng viên trẻ tuổi, tất cả đều phải tự giác tham gia vào lực lượng
ngầm.
Theo chỉ thị của Liên Tỉnh ủy Hậu Giang về công tác quân sự, khoảng tháng 10-
1957, tỉnh Sóc Trăng tuyển chọn lực lượng ngầm đưa về trên một đại đội để xây dựng lực
lượng vũ trang. Đến tháng 12-1957 Liên Tỉnh ủy đưa về cho Sóc Trăng một trung đội vũ
trang để làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh. Về trang bị thì sử dụng số vũ
khí chôn giấu trước đây, đồng thời làm súng tự tạo và lấy súng của địch trang bị cho ta. Lực
lượng vũ trang tỉnh Sóc Trăng được thành lập mệnh danh là tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng,
hoạt động chủ yếu thực hiện nhiệm vụ diệt ác, trấn áp bọn phản động, làm công tác vũ trang
tuyên truyền, xây dựng cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào đấu tranh chính trị
trong tỉnh; đồng thời thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ sở và phong trào cách
mạng.
Trong hoàn cảnh mới, tuy lực lượng chuyên trách công an không còn nhưng công tác
an ninh vẫn được cấp ủy quan tâm, trực tiếp lãnh đạo. Ta thực hiện phương châm “đề cao
cảnh giác”, “tích cực bảo vệ mình”. Mỗi cán bộ, đảng viên ở nơi nào đều phải có ý thức
cảnh giác cách mạng và giáo dục nhân dân thực hiện “ba không” (không biết, không nghe,
không thấy), để phòng chống do thám gián điệp. Những nơi thiết yếu hoặc hội họp của cấp
ủy đều có tổ chức bảo vệ nghiêm ngặt, có mạng lưới báo tin, làm ám hiệu báo động. Trong
thời gian này căn cứ của Tỉnh ủy được bảo vệ hết sức an toàn và nghiêm ngặt.
Sau phong trào Đồng Khởi, trong công xây dựng căn cứ tỉnh ủy trên mặt trận quân sự
thì vào tháng 7-1961, đơn vị Phú Lợi (sau khi được lấy phiên hiệu là đại đội 761) kết hợp
với quân chủ lực miền bao vây bức rút chi khu Ngang Dừa, phục kích đánh thiệt hại nặng
đại đội biệt động quân ngụy do tên trung úy Thủy chi khu trưởng chi khu phước Long chỉ
huy. Đây là quả đấm vũ trang mạnh nhất của địa bàn tỉnh Sóc Trăng lúc bấy giờ, góp phần
bảo vệ hành lang phía nam khu căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng. Phong trào du kích chiến tranh
mà Đoàn Thanh niên làm nòng cốt ngày càng phát triển khắp nơi, điển hình như ở Ngã Năm
(huyện Thạnh Trị), xã Hồ Đắc Kiện (huyện Châu Thành), vùng ven thị xã Sóc Trăng, Bạc
Liêu… làm cho bọn địch không yên ổn, nơi đâu chúng cũng bị nhân dân tiến công..
Trong vùng căn cứ tỉnh ủy, nhân dân, ai ai cũng tham gia vót chông, làm chông đào
hầm, cắm chông làm bãi chiến đấu. các phương án chiến đấu của du kích đều được xây
32
dựng, nam nữ thanh niên hăng hái tham gia phong trào du kích. Lực lượng du kích ấp, xã
phát triển mạnh, ấp có tiểu đội du kích, có trung đội dân quân; xã có 2,3 tiểu đội du kích.
Chỉ sau một thời gian ngắn phần lớn các xã, vùng giải phóng xung quanh đã khắc phục
được tình trạng khó khăn về vũ khí đánh địch. Phong trào dân quân tự vệ, du kích chiến
tranh phát triển mạnh mẽ, chống địch càn quét, giữ vững và bảo vệ an toàn khu căn cứ tỉnh
ủy, giữ vững quyền làm chủ; bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.
Về lực lượng quân sự, để tăng cường sức mạnh chiến đấu, Thường vụ Tỉnh ủy quyết
định thành lập đơn vị cấp tiểu đoàn của tỉnh, phương thức hoạt động tập trung, phân tán linh
hoạt, cơ động trong toàn tỉnh, làm nòng cốt cho hoạt động vũ trang tiêu diệt sinh lực địch,
bảo vệ căn cứ tỉnh ủy và chống, phá ấp chiến lược, đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân,
ngày 1-7-1964 tiểu đoàn Phú Lợi của tỉnh được thành lập để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
mới. Sau 2 ngày thành lập, ngày 3-7-1964 tiểu đoàn Phú Lợi đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn
biệt động quân “Cọp Đen” (có sự yểm trợ của tàu chiến và máy bay chiến đấu Mỹ) càn quét
tại Xóm Lương, xã Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu. Ta diệt và làm bị thương trên 300 tên
địch, thu nhiều súng, đạn, có 8 trung liên. Chiến thắng Xóm Lương đã thể hiện sức mạnh
của lực lượng vũ trang tỉnh, làm nức lòng nhân dân ta.
Được sự chỉ đạo kịp thời, phong trào du kích chiến tranh, bao vây đánh lấn, bao vây
bắn tỉa trong nhựng năm 1965, 1966 phát triển mạnh, các điểm bao vây đánh lấn của các nơi
trong tỉnh ngày càng xiết chặt, những điểm này bao xung quanh căn cứ tỉnh ủy, có vị trí
chiến lược quan trọng như: Chi khu Mỹ Tú (huyện Châu Thành), đồn nhà thờ Nàng Rền,
các đồn Trà Âu, Evôra, Xáng Chìm, Phó Sinh, Cây Bàng, Cổ Cò, Lạc Hòa, Ba Rinh, Mỹ
Phước, Búng Tàu, Rạch Tráng... Du kích đã bao vây bắn tỉa làm chết và bị thương hơn 500
tên địch, làm tan rã 114 tên khác. Đồn Nhà thờ Nàng Rền bị bao vây từ đầu năm 1965 bằng
3 mũi giáp công chính trị, binh vận, vũ trang, có lực lượng an ninh tỉnh, huyện tham gia, đến
ngày 7-2-1966 ta diệt và làm bị thương hơn 50 tên địch. Các đồn Evôra xã Hòa Bình, đồn
Trà Âu xã Tuân Tức, đồn Xáng Chìm xã Vĩnh Quới có hàng chục tên lính bị diệt buộc số
còn lại phải tháo chạy, ta giải phóng thêm 16 ấp, 14.300 dân, các ấp tân sinh ở đây bị phá rã.
Trước sự lớn mạnh của ta trên mặt trận quân sự trong hoạt động xây dựng và bảo vệ khu căn
cứ tỉnh ủy, kẻ thù đã không thể uy hiếp, đe dọa đến sự an toàn của khu căn cứ, từ đây, Tỉnh
ủy Sóc Trăng kiên cường vượt qua mọi khó khăn, chỉ đạo quân dân tỉnh nhà vươn lên giành
những thắng lợi to lớn trước kẻ thù.
33
Trên các đuờng vào khu căn cứ, dân quân du kích làm hầm chông, đặt đạp lôi, gài
lựu đạn, làm chướng ngại vật Đồng thời, trong xóm, ấp, quân, dân ta chuẩn bị sẵn sàng, nếu
địch ngoan cố kéo vào càn quét, bắn phá thì lập tức lực lượng ta bằng 3 mũi giáp công tiến
công địch làm cho địch bị tiêu hao, tan rã. Phong trào bao vây đồn bốt địch, phong trào ở
các xã ấp chiến đấu ngày càng phát triển mạnh. Có nơi bao vây đến mức địch hành quân
giải tỏa, chúng đi đến đâu cũng bị nhân dân ta đánh và bị sụp hầm chông, thậm chí lúc
chúng bắt gà, mở khạp gạo cũng bị trái nổ. Phong trào chiến tranh nhân dân đã làm cho
quân địch vô cùng khiếp sợ. Du kích ta đánh, chống càn hơn 600 trận làm hơn 400 tên địch
chết và bị thương. Du kích bắn máy bay 256 trận, kết hợp với lực lưọng vũ trang tỉnh, địa
phương quân huyện bắn rớt và bị thương 64 chiêc. Đồng thời còn đánh cháy và hỏng 16 xe
M113, MI 18. Riêng du kích xã Gia Hòa, khu căn cứ tỉnh ủy, từ ngày 29-8 đến 29-9-1966,
đã bắn cháy 3 máy bay địch, trở thành đơn vị dẫn đầu trong phong trào bắn máy bay của
tỉnh.
2.1.1.4. Về văn hóa – Giáo dục – Y tế
Về công tác văn hóa trong vùng căn cứ cách mạng mặc dù có nhiều khó khăn, thiếu
các phương tiện hoạt động nhưng ngay từ những ngày đầu mới ký Hiệp định đến những
năm, các đồng chí trong bộ phận chuyên môn ngày đêm vẫn miệt mài chép từng bản tin đọc
chậm của Đài Phát thanh Hà Nội, bí mật tổ chức in, bảo đảm hàng tuần ra tờ “Tin tức”, và
tạp chí “Văn nghệ Sóc Trăng” để phản ánh tình hình và cổ vũ phong trào đấu tranh cách
mạng của quần chúng.
Hòa với khí thế chung, phong trào văn hóa, văn nghệ được phát triển mạnh đem lại
lời ca tiếng hát, sinh khí vui tươi ở vùng giải phóng, vùng căn cứ. Ở xã, ấp có đội ca múa,
một số xã có đoàn cải lương như đoàn “Ánh Hồng” xã Gia Hòa, đoàn “Bình Minh”, “Dân
Tiến” xã Vĩnh Hưng, đoàn “Sao Vàng” xã Phước Long, đoàn cải lương xã Châu Hưng.
Ngoài ra còn có hai tờ “Văn Nghệ” và “Văn Nghệ Khmer” của tỉnh, phục vụ đông đảo đồng
bào.
Các bộ phận chuyên môn của Tỉnh ủy như: Văn phòng, Tuyên huấn, Tổ chức, Tài
chánh, Điện đài, In ấn, Giao thông liên lạc, v.v... không ngừng hoạt động, vượt qua muôn
ngàn khó khăn nguy hiểm do địch gây ra, triển khai thực hiện các chủ trương của Tỉnh ủy
một cách tốt nhất, bảo đảm mọi công việc được thông suốt, kịp thời, căn cứ tỉnh ủy được an
toàn. Khu căn cứ bước đầu được xây dựng về mọi mặt, thực lực cách mạng ngày một phát
34
triển. Quần chúng ở xã, ấp được tập hợp vào Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên
giải phóng. Ban chấp hành đoàn thể cấp huyện cũng lần lượt ra đời.
Trong khu căn cứ, bên cạnh các hoạt động văn hóa, nhân dân không ngừng xây dựng,
củng cố và phát triển khu căn cứ, hơn 18.600 lượt quần chúng tham gia xây dựng ấp, xã
chiến đấu, đào chiến hào chiến lũy, các hầm hố tránh bom pháo, hầm chông, cặm trên 450
bãi chông mới, cắm hàng triệu mũi chông các loại. Tăng cuờng phát động phòng gian bảo
mật, chống do thám gián diệp bằng nhiều hình thức, thực hiện cải tạo tại chỗ nhiều điềm
điệp, nghi vấn, phá 20 vụ án. Điển hình như vụ y sĩ Nguyễn Văn Khoa và vụ án tên Thiệt,
trung đội trưởng điện đài của tiểu đoàn Phú Lợi, làm tình báo cho tiểu khu Ba Xuyên, báo
điểm cho địch bỏ bom, gây tổn thất lớn cho lực lượng tiểu đoàn. Quần chúng đã thực hiện
tốt công tác bảo vệ an ninh vùng giải phóng.
Trên lĩnh vực giáo dục cũng đạt được nhiều kết quả. Vùng căn cứ được mở rộng,
trường lớp được xây dựng. Trường tập trung Lê Văn Tám được thành lập vào giữa năm
1960, nhằm dạy học, chăm sóc các con em cán bộ với yêu cầu đào tạo cho trước mắt và lâu
dài. Trong vùng căn cứ ta đã xây dựng thêm các trường học mới mang tính chất phong trào
bình dân học vụ, bổ túc văn hóa, duy trì với nhiều hình thức học tập thích hợp. Xây dựng 1
phòng thông tin. Phát động phong trào vệ sinh phòng bệnh uống nước chín, làm cầu tiêu
kiểu mẫu. Việc đóng góp đảm phụ được nhân dân tham gia tích cực.
Trên lĩnh vực y tế nhằm phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, toàn tỉnh đã mở thêm
17 trạm y tế, 11 nhà bảo sanh, trong đó vùng căn cứ địa cách mạng có 7 trạm y tế, 3 nhà bảo
sanh và các trang thiết bị y tế cơ bản, dù có nhiều khó khăn nhưng quân dân vùng căn cứ
vẫn nỗ lực khắc phục để đảm bảo y tế cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vùng căn cứ. Bên
cạnh đó, ta còn tuyên truyền phát động rộng rãi phong trào giữ vệ sinh cho từng gia đình,
từng xóm ấp. Tổ chức chích ngừa, điều trị bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, sửa chữa xây
cất thêm nhà bảo sanh. Tình đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong thôn xóm được củng cố và
phát triển, nhất là đối với gia đình bị tai nạn chiến tranh và đời sống khó khăn. Trong vùng
căn cứ, nhân dân còn trồng các loại cây thước Nam để tăng cường nguồn thuốc, phục vụ cho
công cuộc kháng chiến, cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.
Trong lĩnh vực y tế, có trường hợp hy hữu xảy ra trong thời gian này như vụ nội gián
Nguyễn Văn Khoa, dược sĩ quân y tỉnh đội. Hắn cùng đồng bọn bào chế thuốc có chất độc
để làm giảm dần sức khỏe của chiến sĩ và đi đến tử vong, làm mất sức chiến đấu của quân
35
ta; đồng thời phá hoại một số thuốc quý có giá trị lớn. Hắn còn báo cáo cho địch danh sách
cán bộ, công nhân viên cơ quan, báo điểm cho địch đánh bom gây thiệt hại cho cơ quan và
tài sản của nhân dân. Khi bị phát hiện, hắn lẩn trốn nhưng đã bị quần chúng tóm gọn, bị đưa
ra tòa án cách mạng xử lý và tuyên án xử tử hình, sau vụ án này, công tác an ninh được thắt
chặt hơn, công tác tiếp nhận cán bộ y tế được đặc biệt quan tâm, kiểm soát chặt chẽ để tránh
tái diễn sự việc vừa qua.
2.1.2. Hoạt động bảo vệ căn cứ
2.1.2.1. Thủ đoạn đánh phá của Mỹ - Ngụy
Với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, giai đoạn từ năm 1954 – 1957 và từ năm 1957
– 1959, Mỹ - Diệm càng tăng cường đánh phá phong trào cách mạng, khủng bố tàn khốc,
gây cảnh nồi da xáo thịt đối với nhân dân ta. Chúng đẩy mạnh quân sự hóa bộ máy chính
quyền ở các cấp, thành lập các tổ chức chính trị phản động như: Thanh niên cộng hào, Phụ
nữ liên đới, đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức phong trào cách mạng quốc gia, Ngũ gia
liên bảo; tiếp tục đóng thêm đồn bốt, bắt thanh niên các đi lính, tổ chức dân vệ tại xóm, ấp
để kềm kẹp quần chúng. Nguy hiểm nhất là Mỹ - Diệm tiến công quyết liệt vào lực lượng
cách mạng ở cơ sở, liên tục thực hiện các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”, ra luật phát xít
10/59 (ngày 6-5-1959), “Đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật” (ngày 3-7-1959), lê máy
chém khắp nơi sẵn sàng chém bất kỳ người nào chúng cho rằng theo cộng sản, ráo riết lùng
bắt, chém giết cán bộ, đảng viên, quyết tâm tiêu diệt lực lượng cách mạng. Song song đó,
chúng triển khai kế hoạch lập khu dinh điền, khu trù mật nhằm bảo đảm an ninh ở những
vùng mà chúng cho rằng lực lượng cách mạng của ta còn mạnh. Tháng 5-1957 Ngô Đình
Diệm tuyên bố biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17 và ban hành Luật quân dịch bắt
thanh niên đi lính.
Ở Sóc Trăng, tháng 3-1957 Ngô Đình Diệm đưa trung tá Lê Quang Hiền thay thế
trung tá Huỳnh Văn Tư làm Tỉnh trưởng tỉnh Ba Xuyên. Lê Quang Hiền đưa ra nhiều biện
pháp thâm độc nhằm “tố cộng”, “diệt cộng” một cách ác liệt hơn.
Mục tiêu của chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” là đánh vào Đảng Cộng sản và tinh
thần yêu nước, cách mạng của quần chúng, trước hết là đánh vào Đảng, đánh vào tổ chức,
vào tư tưởng; tiêu diệt con người đi đôi với tiêu diệt tinh thần, ý chí buộc phải khuất phục
chính quyền phản động và trở thành người phản cách mạng. Về phương châm, chúng nêu
lên “từng bước, lâu dài nhưng kiên quyết và triệt để, tiêu diệt nội tuyến, diệt trừ nội tâm, đạp
36
lên oán thù để thực thi chủ nghĩa nhân vị quốc gia, giết lầm hơn thả lầm”. Ở tỉnh, ngụy
quyền đưa xuống mỗi quận một đoàn công dân vụ cùng với quận xuống xã ấp, tổ chức học
tập tố cộng, phát triển mạng lưới tề điệp, củng cố “Ngũ gia liên bảo”. Bọn công dân vụ đi từ
ấp này qua xóm khác kiểm tra kê khai gia đình, tra xét người lạ mặt, điều tra phân loại gia
đình quần chúng để phân biệt đối xử, cô lập, theo dõi và buộc làm tờ “ly khai cộng sản”.
Chúng âm mưu tổ chức tố cáo lẫn nhau, gây nghi kỵ, chia rẽ trong nhân dân, trong mỗi gia
đình. Chúng cưỡng bức vợ con cán bộ kháng chiến bỏ chồng để lấy những tên ngụy quân,
ngụy quyền ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân. Mỗi nhà, ghe, tàu phải mua bản tố cộng và
ghi bản “Nhà (ghe, tàu) tôi không chứa cộng sản”. Ban đêm bắt nhân dân tổ chức canh gác,
thấy Việt cộng là phải đốt đuốc, đánh trống mõ, vây bắt đánh đập. Ai không thực hiện thì
chúng bắt giam tra tấn. Mặt khác, chúng cấm tổ chức họp hội đồng người, bắt những người
tham gia kháng chiến trước đây ra “trình diện”, “đầu thú quốc gia”, buộc phải “ly khai”
cách mạng, xé cờ Tổ quốc, cờ Đảng, hình Bác Hồ, tập trung cải huấn, truy bức tinh thần, bôi
đen cán bộ hòng làm mất uy tín của Đảng đối với nhân dân. Lực lượng bảo an, công an,
cảnh sát liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá cơ sở, lùng bắt, khủng bố những
người kháng chiến cũ. Cảnh bắt bớ đánh đập, chém giết xảy ra hàng ngày ở khắp mọi nơi.
Nhiều cán bộ, đảng viên và quần chúng, cốt cán bị giết hại, bị địch bắt. Trên địa bàn huyện
Mỹ Xuyên, địch tăng cường các hoạt động càn quét đánh phá, cài gián điệp và mua chộc dụ
dỗ quần chúng cán bộ vì chúng biết rằng đây là nơi đứng chân của căn cứ Tỉnh ủy.
Căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng với chức năng là trung tâm đầu não của cách mạng trong
tỉnh, chỉ đạo mọi mặt cuộc kháng chiến, là nơi giữ gìn, bảo vệ lực lượng hạt nhân cách
mạng và các cơ quan trực thuộc Tỉnh ủy. Vì vậy trong quá trình chiến tranh, Mỹ - Diệm
luôn tìm mọi cách đánh phá căn cứ tỉnh ủy, đây luôn là tâm điểm cho các đợt càn quét, tấn
công của kẻ thù.
Trước tình hình địch khủng bố ác liệt và trắng trợn không thi hành Hiệp định
Genève, còn ta thì vẫn tiếp tục đấu tranh dân sinh, dân chủ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử
nên tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân diễn biến khá phức tạp, băn khoăn, lo lắng,
không tin ở khả năng dựa vào pháp lý Hiệp định Genève để đấu tranh giành thắng lợi. Quần
chúng rất căm thù địch nhưng lúng túng trong đấu tranh, không có lối thoát do đó từng nơi,
từng lúc diễn ra tâm trạng bi quan. Đa số cán bộ đảng viên tuy kiên định mục tiêu lý tưởng
cách mạng, bám trụ chiến đấu nhưng thiếu tin ở đấu tranh chính trị đơn thuần mà yêu cầu
37
đấu tranh chính trị có kết hợp với vũ trang thì ta mới giành được thắng lợi. Một số cán bộ,
đảng viên hoang mang dao động, bỏ cuộc, không dám liên hệ với quần chúng hoặc bỏ đi nơi
khác làm ăn; một số ra đầu hàng, làm việc cho địch như Lâm Hớn Thanh – Bí thư Tỉnh ủy,
Trương Văn Bền (Bảy Đỏ) – Phó bí thư Thị xã ủy, các tên Lâm Văn Nấu (cán bộ đại đội Vệ
Quốc Đoàn), bọn đầu hàng phản bội đã nhìn mặt, dẫn lính về đánh phá cơ sở gây thiệt hại
rất nhiều cho cách mạng, căn cứ Tỉnh ủy bị đánh phá nặng nề, tổ chức cơ sở Đảng bị tổn
thất nặng.
Ở vùng căn cứ Tỉnh ủy ta từng có trên 300 đảng viên thì nay không còn được 50
đảng viên. Ở 2 xã Phú Mỹ, Mỹ Hương hầu hết đảng viên trong chi bộ đều bị bắt và bị giết.
Ở huyện Thạnh Trị có trên 100 đảng viên, chỉ còn 16 đảng viên. Xã Tuân Tức là xã có đông
đảng viên, chỉ còn 2 đồng chí. Cả huyện Kế Sách chỉ còn 43 đảng viên loại I. Ở huyện Giá
Rai, xã Phong Thạnh từ 300 đảng viên, chỉ còn 27 đảng viên. Các xã Phong Thạnh Tây,
Vĩnh Mỹ, mỗi xã trên 100 đảng viên, chỉ còn 15 – 20 đồng chí. Huyện Hồng Dân là huyện
có số lượng đảng viên đông nhất, nay mỗi chi bộ chỉ còn 7 – 8 đảng viên.
Với thủ đoạn càn quét vào khu căn cứ nhằm ngăn chặn tiếp tế và làm tê liệt đầu não
cách mạng tỉnh, địch đã khiến ta gặp nhiều khó khăn nhất là trong hoạt động xây dựng và
bảo vệ căn cứ tỉnh ủy. Nhiều tổ chức cơ sở Đảng không liên hệ được với cấp ủy cấp trên,
Huyện ủy có lúc không liên hệ được với Tỉnh ủy. Nhân dân trong tỉnh hầu hết bị dồn vào
khu trù mật, tuyến lộ giao thông chiến lược và quanh các chi khu. Nhiều vùng ở nông thôn
sâu không còn dân. Cán bộ, đảng viên không bám được vào dân, không có nơi ăn ở, việc
hoạt động vô cùng khó khăn. Còn quần chúng thì không bám được ruộng vườn để sản xuất,
nên đời sống rất vất vả và không tiếp tế được cho cách mạng và khu vực căn cứ. Tình hình
vô cùng căng thẳng, ta tưởng chừng như không vượt qua được cơn thử thách. Có thể nói từ
năm 1957 đến năm 1959 phong trào cách mạng trong tỉnh Sóc Trăng nói chung và vấn đề
bảo vệ sự an toàn cho khu căn cứ Tỉnh ủy đứng trước một thử thách hết sức nghiêm trọng.
Sau giai đoạn 1954 – 1960 chịu thất nại nặng nề, thì từ năm 1961 – 1965 đế quốc Mỹ
áp dụng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” vào miền Nam Việt Nam hòng dập tắt phong trào
cách mạng, cứu nguy cho chính quyền bù nhìn tay sai Mỹ. “Chiến tranh đặc biệt” (còn gọi
là “Chiến tranh chống lật đổ) lấy lấy lực lượng ngụy làm lực lượng chủ yếu, dưới sự lãnh
đạo và chi viện của Mỹ, dùng biện pháp quân sự kết hợp với chính trị, tình báo, cảnh sát và
chiến tranh tâm lý nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng, tiêu diệt cơ sở Đảng giành
38
lại trận địa nông thôn, kết hợp ngăn chặn biên giới, phong tỏa vùng biển, cắt nguồn chi viện
từ miền Bắc vào để cuối cùng đánh bại chiến tranh cách mạng, bóp chết phong trào quần
chúng của ta hòng giành thắng lợi trong thời gian ngắn.
Để thực hiện được mưu đồ trên, Mỹ - ngụy tiến hành 5 biện pháp lớn: Xây dựng và
phát triển ngụy quân, đặc biệt là xây dựng lực lượng quân địa phương và các binh chủng
chống chiến tranh du kích; tập trung thực hiện chương trình bình định theo “Quốc sách ấp
chiến lược” để gom dân; phong tỏa biên giới và vùng biển, cắt đứt sự chi viện của ta từ
miền Bắc; củng cố ngụy quyền các cấp; tăng cường cố vấn quân sự và lực lượng yểm trợ
Mỹ bao gồn không quân, hải quân, thiết giáp, hậu cần.
Trước khi đi vào chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, để đối phó với phong trào cách
mạng đang dâng lên mạnh mẽ ở miền Nam, Đế quốc Mỹ cho thực hiện kế hoạch “Chống
nổi dậy”. Nội dung kế hoạch này là tăng cường viện trợ Mỹ, xây dựng lực lượng phát triển
ngụy quân, chống du kích tại chỗ, nhằm cứu nguy sự sụp đổ nhanh của Ngụy quyền ở miền
Nam. Kế đó chúng thực hiện kế hoạch Stalây – Taylo là kế hoạch đầu tiên của “Chiến tranh
đặc biệt”. Kế hoạch Stalây – Taylo nhằm bình định miền Nam trong vòng 18 tháng và
chuẩn bị tiến công miền Bắc. Kế hoạch này gồm 2 điểm chủ yếu là “ấp chiến lược” để tập
trung dân, cô lập lực lượng cách mạng với quần chúng và tăng cường hoạt động quân sự để
tiêu diệt lực lượng yêu nước, lực lượng vũ trang cách mạng, tăng cường cố vấn Mỹ vào
miền Nam Việt Nam nhằm điều khiển có hiệu quả hơn bộ máy chính quyền, quân sự ngụy.
Để thực hiện kế hoạch trên, trước hết Mỹ - Diệm điều chỉnh tổ chức theo chiến
trường, bố trí chiến lược, giải tán các tổ chức quân khu, chia lãnh thổ thành vùng chiến
thuật, khu chiến thuật, tiểu khu (tỉnh), chi khu (quận); chú trọng kiện toàn cấp tiểu khu, chi
khu nhằm tạo điều kiện cho việc càn quét, bình định từng địa phương có hiệu quả.
Ở Sóc Trăng, ngụy quyền tập trung đẩy mạnh mọi hoạt động để ngăn chặn mọi
phong trào hoạt động cách mạng và phục hồi thế lực ở địa phương. Chúng cử thiếu tá
Hoàng Mạnh Thường và sau đó là trung tá Nguyễn Ngọc Thắng về làm tỉnh trưởng. chúng
đẩy mạnh việc bắt lính để tăng cường cho lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát, củng cố bộ
máy ngụy quyền cơ sở. Đến cuối năm 1961 ngụy quân Ba Xuyên (lúc này địch gọi Sóc
Trăng là tỉnh Ba Xuyên) tăng lên 3.300 tên, trong đó có 1.300 tên bảo an và 1.600 tên dân
vệ. Ở tỉnh có một số đại đội bảo an ứng chiến và mỗi quận có một đại đội bảo an mạnh,
phục vụ cho việc càn quét, lấn chiếm. Song song đó địch còn xây dựng hệ thống đồn bốt
39
(chỉ tình riêng quận Thạnh Trị đã tăng lên 32 đồn, bốt) và tăng cường quân lính chiếm đóng
các trục lộ giao thông như lộ Đông Dương (nay là quốc lộ 1A), lộ 38 (Bạc Liêu – Vĩnh
Châu), lộ 16 (Ngã Năm – Phú Lộc), lộ Bố Thảo – Mỹ Tú và vùng ven thị xã, thị trấn, vùng
tôn giáo, vùng có nhiều đồng bào Khmer sinh sống. Hành động này của chúng đã tạo ra một
thế trận bao vây căn cứ Tỉnh ủy từ nhiều hướng, đe dọa nghiêm trọng đầu não cách mạng ở
Sóc Trăng.
Trong 6 tháng đầu năm 1961, địch liên tục mở hơn 50 cuộc càn quét vào căn cứ tỉnh
ủy Sóc Trăng và vùng nông thôn giải phóng, chúng liên tục hành quân phục kích, biệt kích
nhằm tiêu diệt và ngăn chặn mọi hoạt động của các lực lượng cách mạng.
Vào năm 1963, địch đưa trung tá Nguyễn Linh Chiếu, rồi trung tá Nguyễn Thanh
Hoàng về làm tỉnh trưởng và tăng cường 2 trung đoàn của sư đoàn 21 ngụy: trung đoàn 33
đóng tại thị xã Bạc Liêu, đưa chi đoàn thiết xa vận số 9 gồm 12 chiếc xe M113 đóng tại đầu
sân bay để phối hợp hoạt động, tăng cường phát triển đội Tuần giang có lúc lên đến 43 chiếc
hoạt động trên sông Bassac, ngăn cắt hành lang vận chuyển của ta từ khu 9 qua khu 8. Tăng
cường pháo 105 ly để thành lập những trận địa pháo. Cường độ hoạt động của địch tăng
nhanh, các cuộc càn quét tăng gấp 3 lần năm 1962, phi cơ đánh phá gấp 10 lần. lực lượng
càn quét của địch nâng lên cấp tiểu đoàn. Một số vùng địch bắt đầu dùng chất độc hóa học
để khai hoang, triệt phá địa hình. Trong khu vực căn cứ tỉnh ủy địch đưa không đoàn 84 với
hai đại đội máy bay lên thẳng HU1A, HU1B, chung đẩy mạnh hoạt động giang thuyền trên
sông Bassac ven vùng căn cứ tỉnh ủy. Tăng cường trang bị pháo 105 ly cho các chi khu
đóng ở Thạnh Trị, Hồng Dân, Cái Nước…chúng còn thường xuyên sử dụng chất độc khai
quang cũng như thực hiện các cuộc hành quân lớn nhằm tiêu diệt đầu não của Tỉnh ủy Sóc
Trăng.
Từ khi đế quốc Mỹ triển khai chiến lược “chiến tranh cục bộ”, chúng tăng thêm cố
vấn và sỹ quan Mỹ vào các cơ quan chỉ huy tác chiến đồng thời tăng cường sử dụng đến
mức cao nhất hỏa lực không quân, hải quân và pháo quân để đánh phá có tính chất hủy diệt
vùng giải phóng, vùng căn cứ tỉnh ủy và yểm trợ cho ngụy quân càn quét, bình định các khu
vực hành lang. Trong năm 1966, ngụy quân ở Sóc Trăng tăng lên gấp 2 lần so với năm
1965, địch bổ sung cho đơn vị biệt động quân số 42, tăng quân số 2 tiểu đoàn bảo an 448 và
411, tổ chức nhiều toán biệt kích, 2 sư đoàn của trung đoàn 21 thường xuyên túc trực ở đây.
40
Chúng mở liên tục các cuộc càn quét lớn nhỏ vào khu căn cứ, cho bắn pháo, dùng
trực thăng soi đèn bắn phá hàng đêm, chúng dùng máy bay B57 bỏ bom liên tục, gây nhiều
thiệt hại cho quân dân ta. Cùng với hoạt động quân sự, địch tăng cường hoạt động tình báo
gián điệp, dùng mọi thủ đoạn thâm nhập vào vùng căn cứ, chui vào vùng nội bộ để nắm tình
hình, thu lượm tinh tức, tung tin thất thiệt gây chia rẽ cho quân sự và càn quét, đánh phá…
Với những thủ đoạn chống phá cách mạng và đánh phá căn cứ tỉnh ủy, đế quốc Mỹ
và tay sau đặt quyết tâm rất lớn nhằm tiêu diệt đầu não kháng chiến của ta tại căn cứ Mỹ
Xuyên, lúc này Đảng bộ và nhân dân Sóc Trăng kiên cường hơn lúc nào hết, quyết tâm đánh
bại kẻ thù xâm lược, bảo vệ thành quả cách mạng đã đạt được, bảo vệ căn cứ tỉnh ủy được
an toàn.
2.1.2.2. Tổ chức bố phòng, chiến đấu bảo vệ căn cứ Tỉnh ủy
Trước yêu cầu bức xúc của cách mạng miền Nam, tháng 1-1959 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng ra Nghị quyết 15 khẳng định: “Con đường phát triển cơ bản của cách
mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Căn cứ tình
hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần
chúng, dựa vào lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền cách mạng của nhân dân” [31, tr.
144]. Nghị quyết 15 đã đáp ứng được yêu cầu của cách mạng ở miền Nam, đáp ứng sự
mong muốn của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tháng 11-1959, Hội nghị Xứ ủy Nam bộ
nghiên cứu và quán triệt Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, Hội nghị đề ra nhiệm vụ
trước mắt của Đảng bộ miền Nam là: “Giữ vững và đẩy mạnh phong trào quần chúng, lấy
đấu tranh chính trị của quần chúng làm chính, đồng thời kết hợp với lực lượng vũ trang
tuyên truyền để chống chính sách khủng bố tàn bạo, ngăn chặn và đẩy lùi từng bước mọi kế
hoạch của địch, đẩy địch vào thế bị động. Cần kết hợp các hình thức đấu tranh hợp pháp,
nửa hợp pháp và không hợp pháp, giữ thế hợp pháp cho phong trào quần chúng” [32, tr.
146] .
Từ ngày 28-1-1960 đến ngày 10-02-1960, tại xã Lâm Kiết, huyện Thạnh Trị, Ban
Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng họp tiếp thu Nghị quyết của Xứ ủy Nam bộ do đồng chí
Trần Văn Bỉnh (Bảy Thạng) đại diện Liên Tỉnh ủy trực tiếp phổ biển. Tỉnh ủy Sóc Trăng
quyết tâm biến nội dung, tinh thần Nghị quyết của Trung ương Đảng, của Xứ ủy, thành
hành động cách mạng của nhân dân trong tỉnh, quyết tâm nổi dậy phá kềm giành quyền làm
chủ ở nông thôn. Tỉnh ủy đề ra nhiệm vụ: “Dùng bạo lực chính trị của quần chúng kết hợp
41
với vũ trang nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt. Phát huy công tác binh vận, sử dụng cơ sở trong
lòng địch kết hợp với lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang để tiến công địch. Tập trung
đánh vào bộ máy kềm kẹp của địch ở nông thôn để giành quyền làm chủ” [2, tr. 65]
Do tình hình cụ thể giữa ta và địch, Tỉnh ủy chỉ đạo quá trình nổi dậy của quần chúng
chia làm các bước:
− Bước 1: Tổ chức học tập trong Đảng bộ để thống nhất Nghị quyết, chủ trương và kế
hoạch, đồng thời phát động ra quần chúng.
− Bước 2: Tạo thế, tạo lực, nhanh chóng xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang, binh
vận thành lập các đội vũ trang huyện, xã để phối hợp với phong trào chính trị tiến
công địch, sử dụng cơ sở trong lòng địch diệt ác ôn, gỡ đồn bốt. Cần phát huy thế
mạnh thuận lợi trong tuần khu vực, từng địa phương để tiến công giành thắng lợi.
− Bước 3: Đồng loạt nổi dậy tiến công địch diệt ác, mở mảng giành quyền làm chủ ở
nông thôn. Đánh bại các đợt càn quét của địch ở các khu vực hành lang, bảo vệ khu
vực căn cứ Tỉnh ủy.
Đối với lực lượng vũ trang phải nhanh chóng xây dựng lực lượng ở xã, huyện để làm
nòng cốt cho cuộc nổi dậy, tổ chức vữ trang tuyên truyền, vũ trnag diệt ác, trấn áp bọn phản
cách mạng. Đối với lực lượng vũ trang tỉnh, Tỉnh ủy chỉ đạo cho hoạt động công khai, phối
hợp với địa phương đánh địch, diệt ác, phá kềm, lấy vũ khí địch trang bị cho ta. Về địa bàn
hoạt động, trước mắt lấy huyện Hồng Dân làm điểm chuyển lên giành quyền làm chủ để rút
kinh nghiệm.
Căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ đã nêu, Tỉnh ủy quyết định phát động cuộc khởi
nghĩa trong toàn tỉnh.
Chỉ trong 4 ngày ra quân (từ ngày 10 đến ngày 13-2-1960) ta đã giành thắng lợi, diệt
ác phá kềm, tiêu diệt sinh lực địch ở xã Phong Thạnh, huyện Giá Rai (ngày 10 và ngày 13-
2-1960) và xã Vĩnh Hưng huyện Vĩnh Lợi (ngày 12-2-1960), cổ vũ mạnh mẽ tinh thần nhân
dân nổi dậy đánh địch. Ở huyện Châu Thành, ngày 14-2-1960 lực lượng quần chúng xã Mỹ
Phước có vũ trang hỗ trợ, kết hợp với nội tuyến nổi dậy lấy đồn Trần An, tên cảnh sát
trưởng và tên trưởng đồn dân vệ đền tội. Ta thu được 14 súng, số binh lính được giáo dục,
phóng thích. Địch dựng lại đồn, ta lại phá. Lực lượng quần chúng ấp Trần An cùng với lực
lượng xã Mỹ Phước nổi dậy diệt tề, phá bộ máy kềm kẹp, giải tán thanh niên cộng hòa và
các tổ chức phản động. Tên chủ tịch hội đồng hương chính gian ác bị tiêu diệt, đồn Trần An
42
bị bức rút, nhân dân xông lên san bằng đồn. Tại ấp Giồng Cát, xã Phú Tâm ta tiêu diệt 2 tên
ác ôn (1 tên trưởng ấp, 1 tên tình báo đột lốt giáo viên) giải tán thanh niên cộng hòa. Cũng
tại xã Phú Tâm lực lượng vũ trang huyện cùng du kích xã phục kích đánh tiêu diệt 1 tiểu đội
dân vệ thu 1 súng Tomsom, 2 súng trường. Ở huyện Kế Sách, tại xã Xuân Hòa, đội bảo vệ
của Liên tỉnh ủy miền Tây phối hợp với lực lượng vũ trang xã cải trang dùng tàu dò đột
nhập đồn Cái Côn kết hợp nội tuyến tiêu diệt tên trưởng đồn, bắt 3 tên lính, số còn lại bỏ
súng tháo chạy. Ta thu toàn bộ vũ khí, có một súng trung liên. Tại xã Ba Trinh, nhân dân
được lực lượng vũ trang hỗ trợ đã nổi dậy tiến công bọn tề xã, các tên ác ôn phải đền tội.
Tiếp theo, nhân dân 2 xã Ba Trinh, Thới An Hội vùng lên tiến công bao vậy đồn Bến Đổi và
đồn Cầu Lộ. Binh lính 2 đồn hốt hoảng hốt rút chạy, nhân dân xông lên san bằng 2 đồn.
Những chiến thắng trên đã tạo ra một vùng đệm an toàn cho khu vực căn cứ tỉnh ủy ở
phía Nam và phía Đông, vốn là nơi đóng giữ của các chi khu Cái Nước, Chà Là, nơi tập
trung hỏa lực mạnh của địch, nhờ đó mà vùng căn cứ được mở rộng, an toàn và là bàn đạp
quan trọng để tổ chức các cuộc khởi nghĩa tiếp theo trên toàn địa bàn tỉnh.
Cuối tháng 4-1960, Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị tại huyện Vĩnh Châu để sơ
kết đợt học tập Nghị quyết 15, đánh giá tình hình chuyển biến ở một số địa phương và hoạt
động của các lực lượng vũ trang trong tỉnh; đồng thời chỉ đạo việc mở rộng diện tiến công
đều, nhanh chóng tạo thế và lực, phát triển lực lượng cách mạng, tích cực chuẩn bị cho bước
hai. Thường vụ nhất trí cho đơn vị Đinh Tiên Hoàng mang tên là đơn vị Phú Lợi.
Tỉnh ủy quyết định điều một bộ phận của đơn vị Phú Lợi qua huyện Long Phú làm
nòng cốt để bước đầu xây dựng một trung đội địa phương quân huyện và quyết định thành
lập trung đội thứ ai của tỉnh hoạt động trên tuyến ven biển Giá Rai; đồng thời chỉ đạo tiến
hành vũ trang tuyên truyền ở thị trấn Vĩnh Châu để phát huy thanh thế của cách mạng ở
vùng đồng bào Khmer, đưa phong trào cách mạng của đồng bào Khmer tiến lên một bước.
Ở khu vực huyện Châu Thành, sau khi mở rộng vùng căn cứ tỉnh ủy và tạo một hành
lang an toàn thì vào ngày 5-6-1960, lực lượng vũ trang tỉnh kết hợp với đội vũ trang xã Mỹ
Tú rải truyền đơn ở ấp Mỹ Thuận, đồng thời tổ chức đánh diệt 3 tên, làm bị thương 2 tên,
thu 5 súng. Ngày 19-5-1960 nhiều xã trong huyện tổ chức mít tinh kỷ niệm sinh nhật Hồ
Chủ tịch kính yêu, khẩu hiệu “Hồ Chí Minh muôn năm” được truyền đi nhiều nơi. Trống
mõ nổi lên khắp nơi, nhân dân kéo nhau đi truy bắt bon phản cách mạng. Xã Long Hưng,
lực lượng xã kết hợp với nội tuyến tiến công đồn Búng Tàu, bọn ác ôn trong đồn bị diệt, ta
43
thu toàn bộ vũ khí. Hội đồng hương chính xã bị lực lượng ta truy lùng, các tổ chức phản
động bị giải tán.
Tiếp theo, ngày 14 – 09 – 1960, thực hiện sự chỉ đạo chung của Xứ ủy đối với toàn
Nam bộ, được sự chỉ đạo trực tiếp của Liên tỉnh ủy, nhân dân trong tỉnh lại bừng bừng khí
thế đồng loạt nổi dậy tiến công địch. Tiếng trống, mõ vang dội khắp nơi. Nhân dân ở các
vùng vừa được giải phóng đã xông ra vùng yếu, vùng kềm góp sức tiến công địch, truy lung
trấn áp bọn phản cách mạng. Nhiều đồn bốt của địch bị ta vây chặt. Các trục lộ giao thông
quan trọng bị ta phá hoại, cắt đứt nhiều đoạn như lộ giao thông 16 Ngã Năm – Phú Lộc, lộ
38 Vĩnh Châu – Bạc Liêu, lộ Bố Thảo – Xẻo Gừa – Mỹ Tú. Nhiều binh sĩ bị phân hóa
hoang mang dao động, có một số bỏ súng trốn chạy, đồn Bến Bạ bị bức hàng, ta bắt 14 tù
binh, giải phóng xã 3 giờ chiều ngày 15-9-1960. Đồn Bến Bạ vốn là căn cứ quân sự địa
phương án ngữ lộ 16 huyết mạch, việc đánh bại đồn này đã tạo ra một thế đứng vững chắc
cho căn cứ Tỉnh ủy, mạch liên lạc, giao thông, hậu cần của căn cứ được giữ vững.
Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Mỹ, bước sang năm 1962 đế quốc Mỹ chính thức thi
hành kế hoạch Stalây – Taylo đẩy mạnh mọi hoạt động thực hiện chiến lược “Chiến tranh
đặc biệt”, quân ngụy liên tục mở những cuộc hành quân càn quét lớn, càn đi quét lại khắp
các vùng ở miền Nam để tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng. Về quân sự chúng bắt đầu
thực hiện các chiến thuật “Tân kỳ”, “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận”, “Bủa lưới phóng lao”
bằng các phương tiện chiến tranh tối tân để đánh phá cách mạng. Đồng thời Mỹ - ngụy thực
hiện “quốc sách ấp chiến lược” để bình định miền Nam.
Để thực hiện “quốc sách ấp chiến lược”, Mỹ - ngụy đã thành lập hệ thống chỉ huy từ
Trung ương đến tận cơ sở, huy động mọi lực lượng tiến hành bao gồn các sư đoàn chủ lực,
lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát, thanh niên chiến đấu v.v… chúng mở nhiều cuộc hành
quân càn quét nhằm đánh vào khu căn cứ và vùng nông thôn, tiêu diệt lực lượng vũ trang
cách mạng, mở đường cho các hoạt động tát dân, gom dân lập ấp chiến lược.
Ở Sóc Trăng với đặc thù của tỉnh, bọn địch tập trung lập ấp chiến lược ở những vùng
mà chúng cho là xung yếu như trục lộ giao thông (thủy, bộ), vùng ven thị xã, thị trấn, vùng
đông đồng bào Khmer, vùng ven biển hai huyện Long Phu, Vĩnh Châu. Đặc biệt ở vùng
Thiên Chúa giáo, chúng lập ấp chiến lược theo từng họ đạo, theo khu vực nhà thờ, chúng
lấy nhà thờ làm nơi ăn chốn ở. Khi có tiến công vào áp chiến lược phải vượt qua nhà thờ,
nếu ta có thiếu sót hoặc sơ hở thì chúng tạo cớ để xuyên tạc. Mặt khác bọn chúng âm mưu
44
mua chuộc dụ dỗ linh mục và giáo dân để chống, phá cách mạng, do đó ta gặp nhiều khó
khăn. Đầu tháng 3-1962, Mỹ - Diệm đưa không đoàn 42 đến đóng tại sân bay Sóc Trăng
đảm nhiệm dân vận, cơ động lực lượng để càn quét, đánh phá phong trào cách mạng ở miền
Tây Nam Bộ, đồng thời để đánh phá vùng căn cứ. Địch tăng cường cho Sóc Trăng một số
phương tiện chiến tranh (như tàu chiến, xe cơ giới, pháo 105 ly) và hàng trăm cố vấn Mỹ,
chuyên viên kỹ thuật phục vụ cho đánh phá, gom dân lập ấp chiến lược. Trước tình hình đó
đã đe dọa rất lớn đến sự an toàn của khu vực căn cứ tỉnh ủy Sóc Trang trên địa bàn xã Gia
Hòa - huyện Mỹ Xuyên.
Tháng 9-1962 theo sự chỉ đạo của Thường vụ Tỉnh ủy, quân dân ta phải bằng mọi
cách đánh đồn Cầu Trâu để mở đường giao thông liên lạc bằng đường thủy từ phía Tây qua
phía Đông của huyện nối liền với huyện Mỹ Xuyên vào khu căn cứ tỉnh ủy. Vì địch mới xây
dựng thêm đường cầu Trâu cắt đường giao thông thủy của huyện và tỉnh tạo thế hành quân
vào khu căn cứ cách mạng. Sau một thời gian nghiên cứu, địa phương quân huyện Thạnh
Trị ra quyết tâm đánh tiêu diệt đồn này. Đồn Cầu Trâu do 20 tên dân vệ đóng giữ. Sau một
giờ chiến đấu ta chiếm toàn bộ 3 góc đồn, nhưng còn cao điểm chuồng cu một số tên còn
chốt giữ, dùng lựu đạn chống trả làm cho lực lượng ta bị thương vong. Với quyết tâm của
đơn vị tiêu diệt bằng được chuồng cu để hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí Mai Thanh Thế dù
bị thương (cánh tay bị gãy), xin tình nguyện ôm mìn xông vào đánh cao điểm này. Để khỏi
vướng bận, đồng chí dùng lưỡi lê cắt bỏ cánh tay gãy, ôm mìn xông vào đánh điểm. Mìn nổ,
đồng chí bị văng ra xa bất tỉnh. Chuồng cu vẫn không hạ được, hết mìn, không còn khả năng
khắc phục, đơn vị đành phải rút ra. Dù bị thương, cánh tay đứt đoạn, máu ra nhiều, trên
đường về đồng chí vẫn bình thản; trước khi trút hơi thở cuối cùng đồng chí còn hô khẩu
hiêu: “Bác Hồ muôn năm!”. Với hành động anh hùng và cả quá trình tham gia đánh giặc,
lập nhiều chiến công, đồng chí Mai Thanh Thế được nhà nước ta xét phong tặng danh hiệu
“Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Hòa trong khí thế đấu tranh chung của toàn miền, đặc biệt là chiến thắng Ấp Bắc (1-
1963) đã đánh dấu sự thất bại của địch về chiến thuật “Trực Thăng Vận”, “Thiết Xa Vận”
và mở ra một cao trào tiêu diệt sinh lực địch, bắn máy bay, đánh thiết giáp và phá ấp chiến
lược, phong trào cách mạng tỉnh nhà càng thêm sôi nổi.
Sau khi được thành lập, tháng 2-1963 đại đội 74 (đại đội cơ động thứ 2 của tỉnh)
cùng với du kích xã Gia Hòa chống lại tiểu đoàn chủ lực địch càn quét vào khu căn cứ tỉnh
45
ủy tại các ấp Long Hòa, Trung Hòa, Tam Hòa, làm hàng trăm tên địch chết và bị thương,
một tàu sắt, một máy bay bị bắn cháy. Tiếp theo (ngày 5-3-1963) đại đội Phú Lợi cùng địa
phương quân huyện Mỹ Xuyên chặn đánh tiểu đoàn chủ lực địch càn quét vào xóm Cây
Gừa xã Hòa Tú, bị quân ta phản công quyết liệt, bọn địch phải rút chạy, nhiều tên bị chết và
bị thương.
Tháng 9-1963 đại 602 phối hợp với biệt động thị xã Sóc Trăng dùng cối 82 tập kích
bất ngờ vào sân bay Sóc Trăng, phá hủy và làm hư nhiều máy bay các loại, tiêu diệt và làm
bị thương giặc lái và chuyên viên kỹ thuật (trong đó có cố vấn Mỹ). Các chiến thắng của lực
lượng vũ trang đã làm nức lòng nhân dân trong tỉnh, đây là sự đọ sức ban đầu và là đòn
giáng trả lực lượng quân sự Mỹ, lực lượng không vận “Tân kỳ” của Mỹ - ngụy. Những
chiến thắng đó đã góp phần làm phân tán lực lượng địch, giữ vững và bảo vệ vững chắc đầu
não căn cứ cách mạng của tỉnh Sóc Trăng.
Ở vùng căn cứ tỉnh ủy chưa đầy nửa năm 1964 đến đầu năm 1965, đã có đến hơn 100
lần máy bay ném bom, hơn 200 lần bắn pháo, 15 lần rải chất độc hóa học, gây nhiều khó
khăn cho các căn cứ của ta, làm thiệt hại nặng nề về tài sản và tính mạng của nhân dân. Với
thủ đoạn trên, địch có đạt được kết quả nhất định, vùng nông thôn giải phóng có nơi không
còn dân, nhân dân tạm thời ra đô thị, vùng kềm để tránh bom đạn và sự khủng bố của địch,
nhưng ở nhiều khu vực giải phóng và đặc biệt là khu căn cứ tỉnh ủy vẫn trụ vững, đa số
nhân dân vẫn bám trụ cùng với du kích chiến đấu bảo vệ khu căn cứ, bảo vệ xóm làng. Lòng
căm thù bọn Mỹ-ngụy của nhân dân ta càng lên cao độ.
Bước vào chiến dịch Đông Xuân 1964 -1965, cuối tháng 12-1964 tại trọng điểm
huyện Châu Thành, tiểu đoàn Phú Lợi kết hợp với địa phương quân huyện tập trung đánh
phá tuyến ấp chiến lược Tà Ông – Tam Sóc. Ngày 5-1-1965, một bộ phận C603 kết hợp với
quân địa phương huyện tiêu diệt đồn Tam Sóc, diệt tề, truy lung ác ôn, giải tán thanh niên
chiến đấu. Ngày hôm sau, 6-1-1965, tiểu khu Ba Xuyên cho tiểu đoàn bảo an đến cứu viện;
đông thời cho pháo 105 ly từ Bố Thảo bắn giải tỏa 2 bên lộ. Tiểu đoàn Phú Lợi và địa
phương quân huyện Châu Thành đã phát huy thắng lợi, kiên quyết chặn đánh địch, chia cắt
và tiêu diệt chúng. Quân địch hoảng hốt, bỏ xe, vứt đạn để vượt sông tẩu thoát, nhưng
chúng đã bị quân ta bắt sống toàn bộ. Sau đó địch cho máy bay và pháo 105 ly bắn liên tiếp
vào trận địa. ta tổ chức băn máy bay và chuẩn bị đánh binh cứu viện. Đến 14 giờ, 24 máy
bay trực thăng đổ tiểu đoàn biệt động quân số 42 đến can viện, nhưng chúng ở cách xa
46
quân ta 2 km và không dám tiến quân vào. Đến tối quân ta mới rút đi. Trận này ta tiêu diệt
và bắt sống gọn tiểu đoàn bảo an, tên quận trưởng Mỹ Tú cũng bị bắt. Ta tiêu diệt đồn dân
vệ, phá rã 3 ấp chiến lược, giải tán trên 100 thanh niên chiến đấu và bộ máy kềm kẹp, đốt
cháy 4 xe quân sự (có 12 xe bọc thép), thu trên 100 khẩu súng và nhiều đạn được.
Chiến thắng Tam Sóc làm rúng động bọn địch ở Ba Xuyên, làm nức lòng quân dân ta
trong tỉnh. Trận đánh này có tính quết định làm cho địch hoảng sợ, góp phần đi đến kết thúc
“Chiến tranh đặc biệt” của địch tại địa phương. Chiến thắng Tam Sóc còn góp phần giải tỏa
khu vực hành lang phía Bắc của căn cứ Tỉnh ủy, nhờ đó mà đầu não của ta ở Sóc Trăng
được giữ vững và từ đó phát động cuộc chiến tranh nhân dân trên toàn tỉnh, tiến lên đánh
bại hoàn toàn kẻ thù trong chiến tranh đặc biệt.
Phát huy chiến thắng, quân dân ta lại tổ chức đánh địch ở khắp nơi. Trên tuyến lộ Trà
Ôn – Lai Hòa (Vĩnh Châu) phía tây nam căn cứ Tỉnh ủy, tiểu đoàn Phú Lợi cùng với trung
đoàn I (Quân khu IX) chặn đánh đoàn xe quân sự địch (chở quân trung đoàn 32 sư đoàn 21
ngụy từ Bạc Liêu). Trước sự tiến công mạnh mẽ của quân ta, bọn địch không dám chống trả,
chúng tháo chạy bỏ cả xe và máy thông tin. Trận đánh của ta đã làm cho địch hoang mang,
đồng thời tạo thuận lợi cho phong trào quần chúng và lực lượng vũ trang địa phương chống,
phá ấp chiến lược. Cùng thời gian này, ở tuyến lộ Đại Ngãi – Trường Khánh (Long Phú),
trung đoàn II (Quân khu) kết hợp với du kích xã Hậu Thạnh, Đại Ngãi tiến công tiêu diệt
đồn số 5. Ngày hôm sau, địch cho hai đoàn xe lội nước và dùng máy bay đổ quân trung
đoàn 33 sư đoàn 21, tổ chức đánh vào lực lượng ta. Quân ta chiến đấu quyết liệt với địch.
Bọn địch cho hàng chục đợt máy bay oanh kích vá pháo 105ly bắn phá; đồng thời đổ thêm
quân (trung đoàn 32, sư đoàn 21) quyết bao vây, tiêu diệt lực lượng ta. Trung đoàn II và du
kích xã Hậu Thành, Đại Ngãi đã kiên cường chiến đấu suốt một ngày, đánh bật nhiều cuộc
tiến công của địch. Đến tối quân ta rút khổi trận địa. Ta đã tiêu diệt và làm bị thương gần
300 tên địch, bắn rơi và hư 6 máy bay, bắn cháy 3 xe M113. Bên ta cũng có bị thương vong.
Ở các nơi khác như Thạnh Thới An (Mỹ Xuyên), Phó Sinh (Hồng Dân), tuyến sân bay (thị
xã Bạc Liêu) v.v… bọn địch đều bị ta liên tiếp tiến công tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực và
thu nhiều vũ khí. Chúng buộc phải rút lui phần lớn lực lượng về thị xã Sóc Trăng, ra khỏi
khu vực căn cứ Tỉnh ủy và đưa các phương tiện chiến đấu hiện đại về Cần Thơ sửa chữa.
Từ ngày 15 đến 24-11-1965 và đầu tháng 12-1965 với 5 ngày liền tại khu vục căn cứ
tỉnh ủy trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên, ở hai xã Gia hòa và Hòa Tú, dân quân du kích địa
47
phương quân huyện cùng tiêu đoàn Phú Lợi đã đánh gãy 2 cuộc càn quét lớn, dài ngày của
sư đoàn 21 vào khu căn cứ tỉnh ủy. Mỗi cuộc càn quét, địch sử dụng từ 1000 đến 1.500
quân, nhiều xe bọc thép kết hợp với máy bay và tàu chiến. Địch bị các lực lượng của ta đánh
đau, gây thiệt hại nặng. Nhiều tên địch bị loại khỏi vong chiến đấu, 12 tàu sắt bị đánh chìm,
bắn cháy, 6 xe M113 bị tan xác và hư hỏng, 15 trực thăng bị bắn rơi. Chiến thắng vang dội
này làm cho quân và dân ta rất phấn khởi và làm kẻ thù rất lo ngại. Khu căn cứ tỉnh ủy an
toàn trước đợt càn quét lớn này của kẻ thù.
Tháng 11-1967, địch tổ chức một trận càn quét lớn vào căn cứ Tỉnh ủy tại ấp Thạnh
Hòa, xã Gia Hòa, huyện Mỹ Xuyên. Một bộ phận hỏa lực mạnh của Đội phòng thủ Tỉnh ủy
do đồng chí Nguyễn Văn Đạt (Tám Đạt) trực tiếp chỉ huy, cùng với dân quân du kích xã Gia
Hòa đã dũng cảm chiến đấu, kéo địch về ấp Tân Hòa nơi đơn vị phòng ngự để tiêu hao địch,
bảo vệ an toàn cho hơn 50 đại biểu của Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng.
Sau khi xem xét tình hình chính trị, quân sự của ta và địch trong nước và trên thế
giới, tháng 12-1967 Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tổng công kích và tổng khởi nghĩa. Sau
đó Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1-1968) nhất trí với Bộ
Chính trị và nhận định “Chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Đế
quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến luợc” [31, tr. 763]. Trên cơ sở
đó, Bộ Chính trị Trung ương Đảng hạ quyết tâm: “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của
nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới – thời kỳ giành thắng lợi quyết định” [31, tr.
764]. Để thực hiện quyết tâm chiến lược đó, “nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong
thời kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ở cả
2 miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên buớc phát triển cao nhất, dùng phương
pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa dể giành thắng lợi quyết định” [31, tr. 764]
Theo sự chỉ đạo của Khu ủy, trung tuần tháng 1-1968 Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ
Sóc Trăng họp tại Cái Cuôi, xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân, nhằm đánh giá tình hình
năm 1967 đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 1968. Ngày 28-1-1968 (ngày 29 tháng chạp)
Tỉnh ủy được đồng chí Phan Công Cương (Chín Lân) Khu ủy viên, thay mặt Khu ủy truyền
đạt ngày giờ tổng công kích - tổng khởi nghĩa toàn miền Nam. Tình hình khẩn trương nên
không kịp triệu tập tất cả các đồng chí trong Ban Thương vụ Tỉnh ủy, chỉ triệu tập các đồng
chí ở gần điểm họp. Cuộc họp tại căn cứ Tỉnh ủy huyện Mỹ Xuyên, có các đồng chí:
48
Nguyễn Văn Hơn (Hai Tân), Lưu Khánh Đức (Ba Dân), Lê Đại (Năm Quân), Lê Phước Thọ
(Sáu Hậu).
Sau Hội nghị ở Căn cứ tỉnh ủy Mỹ Xuyên, Thường trực Tỉnh ủy quyết định dời căn
cứ Tỉnh ủy từ Gia Hòa (huyện Mỹ Xuyên) về Rừng Tràm Mỹ Phước (huyện Châu Thành).
Đơn vị phòng thủ được Tỉnh ủy chỉ thị cùng với Ban căn cứ Tỉnh ủy tổ chức việc di dời cơ
quan, đồng thời bổ sung quân số, củng cố đơn vị phòng thủ thành một đại đội. Đại đội được
mang tên là B68. Trong lúc các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện bắt dầu hành quân về điểm
tập kết để tiến công vào 2 thị xã, thi đơn vị B68 tổ chức đưa các đồng chí Thường trực Tỉnh
ủy và tất cả các bộ phận trực thuộc Tỉnh ủy về Rừng Tràm. Sau đó đơn vị nhận được lệnh
tổng tiến công với nhiệm vụ Tỉnh ủy giao: Tổ chức một trung đội chiến đấu, tham gia cùng
các lực lượng vũ trang đánh chiếm thị xã Sóc Trăng và phối hợp với du kích địa phương gỡ
đồn bốt ở tuyến ven thị xã. Số cán bộ chiến sĩ còn lại chia thành 2 bộ phận. Bộ phận thứ
nhất bảo vệ các đồng chí trong Ban chỉ huy tổng công kích - tổng khởi nghĩa. Bộ phận thứ
hai có nhiệm vụ bảo vệ căn cứ, bảo vệ cơ quan, Thường trực Tỉnh ủy. Đồng thời phân công
một tổ liên lạc hỏa tốc giữa Thuờng trực Tỉnh ủy với hai Ban chỉ huy ở 2 thị xã Sóc Trăng,
Bạc Liêu.
Như vậy qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển, căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng vẫn kiên
cường trụ vững, cùng với nhân dân Sóc Trăng và nhân dân miền Nam chống lại mọi âm
mưu của đế quốc Mỹ. Thế và lực của ta mạnh lên, lực lượng chính trị, vũ trang phát triển
toàn diện về số lượng và chất lượng. Thế của địch yếu dần, chúng phải co cụm, phòng thủ
đối phó. Thắng lợi của quân dân Sóc Trăng trong công cuộc bảo vệ vùng căn cứ Tỉnh ủy đã
góp phần làm phá sản các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, tạo điều kiện giành nhiều
thắng lợi lớn mới ở địa phương trong giai đoạn tiếp sau. Do sự thay đổi trên chiến trường và
ứng phó trước tình hình mới, căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng từ Mỹ Xuyên được dời về Mỹ
Phước, từ đây căn cứ Mỹ Phước đóng một vai trò quan trọng trong cuộc chiến đấu chống đế
quốc Mỹ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
49
2.2. Giai đoạn 1967 – 1975
2.2.1. Xây dựng căn cứ địa
2.2.1.1. Về chính trị
Sau Hội nghị ở Căn cứ tỉnh ủy Mỹ Xuyên vào cuối năm 1967, Thường trực Tỉnh ủy
quyết định đời căn cứ Tỉnh ủy từ Gia Hòa (huyện Mỹ Xuyên) về Rừng Tràm Mỹ Phước –
xã Mỹ Phước (huyện Châu Thành). Từ nay mọi hoạt động của cơ quan đầu não kháng chiến
của Tỉnh được dời về khu vực rừng Tràm Mỹ Phước – xã Mỹ Phước.
Để lãnh đạo phong trào cách mạng miền Nam vượt qua thử thách, ngày 1-1-1969,
nhân dịp năm mới, Chủ tịch Hổ Chí Minh gủi Thư kêu gọi nhân dân cả nước ra sức chiến
đấu “Vì độc lập, vì tự do; đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Tại căn cứ Tỉnh ủy Mỹ
Phước, Tỉnh ủy tổ chức học tập Thư chúc xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nghị quyết Bộ
Chính trị, Nghị quyết 8 của Trung ương Cục nhằm nâng cao nhận thức về tình hình nhiệm
vụ năm 1969, khắc phục khó khăn, yếu kém về tư tưởng, củng cố tổ chức, bố trí cán bộ theo
yêu cầu nhiệm vụ cấp bách là: bám dân, bám địa bàn vùng giải phóng, vùng tranh chấp,
vùng căn cứ tỉnh ủy, tiếp tục đánh địch, phát động phong trào quần chúng vươn lên.
Sau Mậu Thân 1968, tư tưởng của đảng viên và quần chúng có diễn biến, băn khoăn,
lo lắng đối với phong trào. Thêm khó khăn nữa là vào cuối năm 1968, đầu năm 1969, hầu
hết cán bộ Khu ủy tăng cường cho Tỉnh ủy trong các đợt tổng công kích tổng khởi nghĩa
đựợc rút về và điều động 4 đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy (trong đó có đồng chí
Hai Tân – Bí thư Tỉnh ủy) về khu. Khu ủy đồng thời chỉ định đồng chí Lê Văn Mỹ (Năm
A) Phó Bí thư Tỉnh ủy giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy. Tuy cấp trên rút nhiều đồng chí cán bộ
lãnh đạo trong Thường vụ Tỉnh ủy nhưng Tỉnh ủy cùng các cơ quan ban, ngành cấp trong
khu căn cứ Tỉnh ủy vẫn bám sát địa bàn chiến đấu, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên.
Trước những yêu cầu cấp thiết của giai đoạn mới, tháng 6-1969 Đại hội đại biểu
Quốc dân miền Nam họp và thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam
Việt Nam. Đây là một sự kiện chính trị quan trọng đối với nhân dân ta và cả nhân dân trên
thế giới. Đại hội ra Lời hiệu triệu quân và dân miền Nam tăng cường đoàn kết, ra sức chiến
đâu, đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Nhân dân Sóc Trăng rất
vui mừng trước sư kiện chính trị lịch sử này. Các địa phương trong tỉnh đều tổ chức mít tinh
và phát động một đợt thi đua tiến công địch lập thành tích chào mừng Chính phủ cách mạng
lâm thời được thành lập.
50
Sau ngày Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam thành lập, các địa
phương trong tỉnh đều tiến hành thành lập chính quyền cách mạng. Ủy ban nhân dân cách
mạng tỉnh Sóc Trăng ra mắt đồng bào, đồng chí Phạm Lưu Thức (Năm Thức) - Phó Bí thư
Tỉnh ủy được đề cử làm Chủ tịch. Đến cuối tháng 12-1969, toàn tỉnh đã có 8 huyện, 2 thị xã
và 48 xã thành lập ủy ban nhân dân Chính quyền cách mạng các cấp đã từng bước cụ thể
hóa các chính sách của Đảng thành kế hoạch hành động, phối họp với Mặt trận và các đoàn
thể không ngừng vận động nhân dân đóng góp sức người, sức của cho công cuộc kháng
chiến
Giữa lúc phong trào cách mạng miền Nam đang ở vào thời kỳ đầy thử thách, ác liệt
thì ngày 2-9-1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Người mất đi là một tổn thất lớn khống gì
bù đắp được cho cách mạng Việt Nam vá ảnh hưởng sâu sắc đến tình cảm của đồng bào,
chiến sĩ cả nước. Ủy ban Trung ương Mật trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Chính phủ
cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quyết định ngừng tiến công quân sự
trong 3 ngày để thọ tang Hồ Chủ tịch và kêu gọi nhân dân miền Nam biến đau thương thành
sức mạnh đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.
Tại tỉnh Sóc Trăng, Tỉnh ủy thông báo cho toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh tổ
chức lễ truy điệu Hồ Chủ tịch theo thông báo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng. Ngày 4-9-1969, khắp các địa phương, từ cơ quan trong khu căn cứ Tỉnh ủy, các đơn
vị và trường học trong tỉnh tiến hành tổ chức lễ truy điệu Hồ Chủ Tịch, đồng thời phát động
phong trào “Biến đau thương thành hành động cách mạng”, ở vùng giải phóng, mỗi gia
đình đều làm bàn thờ Bác.
Đầu tháng 10-1969, thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, tại căn cứ Tỉnh ủy, Thường
vụ Tỉnh ủy quyết định mở một đợt sinh hoạt chính trị quan trọng: Hoc tập di chúc của Hồ
Chủ Tịch nhằm tiếp tục giải quyết những nhận thức, tư tưởng lệch lạc sợ khó khăn gian khổ,
xây dựng quyết tâm sắt đá “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Qua học tập, tất cả cán
bộ, chiến sĩ và nhân dân ta được truyền thêm sức mạnh, tăng thêm niềm tin tưởng ở thắng
lợi của cách mạng như Lời khẳng định của Người trong di chúc “Cuộc chống Mỹ cứu nước
của nhân dân ta dù phải trải qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi
hoàn toàn. Đó là điều chắc chắn”. Dù khó khăn gian khổ đến mây nhân dân ta nhất định sẽ
hoàn toàn thắng lợi. Đê quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ
thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” [28, tr 502].
51
Sau khi hiệp định Paris được ký kết (27/1/1973), địch vẫn nuôi âm mưu chiếm lại các
vùng giải phóng, vùng căn cứ của ta, xóa thế “da báo”. Đứng trước diễn biến phức tạp đó
Khu ủy Tây Nam bộ đã bám sát chiến trường, thấy được tình hình thực tế diễn ra, thấy rõ bộ
mặt phá hoại Hiệp định của địch ngay từ ngày đầu mới ký kết.
Ngày 3-2-1973, Thường vụ Khu ủy tổ chức hội nghị Khu ủy mở rộng có một số đồng
chí đại diện Tỉnh ủy các tỉnh trong miền và ban, ngành của Khu dự. Hội nghị nhận định:
“Đối với đồng bằng sông cửu Long, con đường duy nhất của địch là tiếp tục bình định trong
điều kiện có Hiệp định, trong tình hình không có quân Mỹ và không quân, hải quân, pháo
binh đều giảm. Do không thể tiến hành chiến tranh như trước cho nên trước mắt chúng sẽ
phản kích chiếm lại những vùng đã mất sau ngày 26-1-1973; đồng thời bằng mọi hành động
phát xít chúng quyết tâm ngăn chặn phong trào quần chúng nổi dậy ở các vùng còn bị
chiếm” [31, tr. 1190]. Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu đều nhất trí đề nghị lên Trung ương
Cục tiếp tục giữ thế tiến công, kiên quyết đánh trả địch lấn chiếm, bình định, đồng thời đẩy
mạnh đấu tranh chính trị, tăng cường công tác binh vận nhằm giữ vững thành quả cách
mạng và đưa phong trào tiếp tục tiến lên. Sự nhận định sáng suốt, chủ trương kịp thời của
Khu ủy đã có tác động trực tiếp đến hoạt động tiến công địch của các tỉnh miền Tây Nam
bộ.
Tỉnh ủy cũng đã lãnh đạo ngăn ngừa những nhận thức và tư tưởng lệch lạc cho rằng
lúc này ta nên “dừng cương, vỗ béo con ngựa vũ trang”, chỉ tiến công bằng chính trị và binh
vận, mà khẳng định phải dùng cả chính trị, vũ trang và binh vận để tiến công địch. Sau đó
được Khu ủy lãnh dạo, ngày 9-2-1973 Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị 03/CT uốn nắn chỉ đạo,
khẳng định nhiệm vụ tiến công bằng 3 mũi không có gì thay dổi, khi Hiệp đinh được ký kết
và có hiệu lực là thêm thuận lợi để ta tiến lên đánh bại địch. Chỉ thị nêu rõ nhiệm vụ của
công tác chính trị, binh vận là làm tan rã ngụy quân, công cụ của ngụy quyền, làm sụp đổ
chế độ tay sai của đế quốc Mỹ... Đối với cơ sở trong lòng địch phải nâng chất, bồi dưỡng về
nhiệm vụ làm tan rã hàng ngũ địch bằng mọi cách: rã tập thể, ly khai, binh biến, phản chiến,
khởi nghĩa, bỏ đồn bốt mang súng về với cách mạng, thực hiện giải phóng nông thôn, giành
quyền làm chủ cho nhân dân.
2.2.1.2. Về kinh tế - xã hội
Mặc dù địch tiến hành đánh phá ác liệt, trong vùng căn cứ ta vẫn vừa chiến đấu, vừa
sản xuất, diện tích sản xuất nông nghiệp được giữ vững, một số nơi tổ chức thâm canh, tăng
52
vụ, ngoài ra còn vét kênh làm đập ngăn mặn… trong hai năm 1968 – 1969 ta đã sản xuất
được 20.000 giạ lúa. Kết hợp với tiến công địch, ta đã phát động phong trào quần chúng làm
nghĩa vụ đóng góp, được hơn 5.000 giạ lúa và 8.387.000 đồng;
Ngoài ra, trong công tác xã hội, trong vùng căn cứ, các lực lượng các đoàn thể phát
triển mạnh, các tổ chức nông dân, thanh niên, phụ nữ phát triển được gần 4.000 hội viên,
đoàn viên trên tổng số 40.000 hội viên, đoàn viên toàn tỉnh. Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo
các Huyện ủy và Tỉnh đoàn thanh niên lao động và vùng căn cứ tổ chức triển khai Chỉ thị
60/CT.NT của Trung ương Cục: “Tăng cường hơn nữa công tác thanh vận của Đảng trong
tình hình mới”. Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên là : Phát động rộng rải trong thanh niên lòng
yêu nước, chí căm thù giặc, hăng hái xông ra tiền tuyến chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
Tiếp tục vận động “Phong trào năm xung phong chống Mỹ cứu nước ở vùng nông thôn giải
phóng, bốn dũng cảm của thanh niên ở thị xã, thị trấn” và tập trung xây dựng “Chi đoàn bốn
tốt”. Đoàn còn tiếp tục xây dựng và phát triển đội thiếu niên tiền phong với mục tiêu: “Vì
độc lập tự do, vâng lời Bác Hồ dạy, làm việc nhỏ góp phần thắng Mỹ”, phát động rộng rãi
phong trào thiếu nhi thực hiện "Việc nhỏ chí lớn", các đoàn thể phụ nữ cũng phát triển mạnh
phong trào thi đua đạt danh hiệu “Phụ nữ năm tốt”.
Qua các chủ trương phát động, phong trào đoàn viên, thanh, thiếu niên trong vùng
căn cứ có bước chuyển biến rõ nét; phong trào chống bình định, phong trào du kích chiến
tranh, phong trào xây dựng lực lượng vũ trang... có nhiều tiến bộ đáng kể. Một lần nữa
chứng minh vai trò quần chúng nói chung, vai trò của thanh niên nói riêng càng thể hiện rõ
trong lúc khó khăn gay gắt quyết liệt
Đối với vùng kềm, vùng tranh chấp tranh chấp xung quanh vùng căn cứ Tỉnh ủy và
nhất là vùng có đông đồng bào Hoa, Khmer. Tỉnh ủy chỉ đạo tăng cường cán bộ chính trị,
binh vận, quân sự có năng lực bao gồm cả cán bộ người Hoa, người Khmer để xây dựng cơ
sở cách mạng và lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng.
Như vậy có thể thấy rõ công tác xây dựng căn cứ Tỉnh ủy trên các mặt kinh tế - xã
hội được diễn ra một cách khẩn trương, nhằm tạo thế và lực để từ đó lãnh đạo phong trào
cách mạng trong tỉnh tiến lên phía trước.
2.2.1.3. Về Quân sự
Đối với công tác xây dựng căn cứ Tỉnh ủy trên lĩnh vực quân sự, ta chủ trương tuyển
thêm nhiều quân mới. Theo đó, ở vùng giải phóng và tranh chấp, chỉ tiêu vận động tòng
53
quân là đưa 1/3 đoàn viên vào lực lượng chiến đấu, tổ chức thành đội ngũ sẵn sàng lên
đường làm nhiệm vụ. Vùng nông thôn ven và kềm có nhiệm vụ động viên đại bộ phận đoàn
viên và nam nữ thanh niên tham gia du kích chiến tranh, diệt ác phá kềm, truy quét bọn
điềm điệp, chống địch càn quét, giữ vững quyền làm chủ. Vùng thị xã, thị trấn có nhiệm vụ
phát động thanh niên và học sinh chống bắt lính.
Để có phương thức hoạt động thích hợp với yêu cầu mới, được sự chỉ đạo của
Thường vụ Tỉnh ủy, ngày 1-9-1969 tại xã Lạc Hòa, huyện Vĩnh Châu, Ban cán sự, Ban chỉ
huy Tỉnh đội mở Hội nghị tổng kết phong trào du kích chiến tranh lần thứ III bao gồm đại
diện các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện, đại diện của các đơn vị cấp tiểu đoàn, đại đội và Ban
chỉ huy Huyện đội do đồng chí Lê Phước Thọ (Sáu Hậu) ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chính
trị viên Tỉnh đội và đồng chí Ngô Quang Tảo (Năm Nhẫn) Tỉnh đội phó, Tham mưu trưởng
chủ trì. Nội dung hội nghị lá: Đánh giá tình hình địch ta, đề ra yêu cầu nhiệm vụ tiên công
địch, xây dựng phong trào du kích chiến tranh và xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh, quyết
tâm bảo vệ vững chắc căn cứ Tỉnh ủy, đồng thời rút kinh nghiệm và phát động phong trào
du kích chiến tranh chống bình định cấp tốc của địch. Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu, nhiệm
vụ của phong trào du kích chiến tranh là: Phải bám dân, bám đất, bám đánh địch (3 bám),
phải đánh địch bằng 3 mũi: vũ trang, chính trị và binh vận… Du kích phải giữ thế bám trụ,
phải có hầm chông, bãi lửa để đánh lại các cuộc biệt kích của địch, đánh gãy các cuộc càn
quét, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch và diệt ác, phá kềm. Ở vùng kềm mới, vùng kềm cũ,
đẩy mạnh việc xây dựng du kích mật, tự vệ mật, ban ngày hợp pháp, ban đêm hoạt động
đánh địch. Một chiến sĩ du kích phải biết đánh địch bằng 3 mũi. Về vũ khí phải lấy vũ khí
địch đánh lại địch và tích cực làm vũ khi tự tạo như đạp lôi, mìn gạt, lựu đạn miểng, lựu đạn
gài cùng với việc phát triển mạnh làm hầm, hố chông. Tại khu vực căn cứ Tỉnh ủy, ta đã
huy động hơn 1.000 lượt quần chúng tham gia đào 300 hầm chông, xuống thêm 266 bãi
chông, đào đắp mới và tu bổ 3.000 mét chiến hào. Tại hội nghị tổng kết phong trào du kích
chiến tranh, đồng chí Lê Phước Thọ (Sáu Hậu) thay mặt Tỉnh ủy và Ban chỉ huy Tỉnh đội đã
phát động phong trào không ngừng tiến công địch trong toàn thể các lực lượng vũ trang của
tỉnh. Hội nghị có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy hoạt động vũ trang tiến lên.
Về vũ trang, tích cực xây dựng các lục lượng vũ trang của tỉnh, chú trọng phát triển
lực lượng du kích rộng mạnh cả nông thôn, thị xã, thị trấn, đẩy mạnh phong trào du kích
chiến tranh. Phải dùng sức mạnh tổng hợp 3 mũi tiến công địch, nhằm nâng cao hiệu suất
54
chiến đấu của lực lượng vũ trang tập trung và du kích, thực hiện phong trào 3 bám để diệt
địch, phá kế hoạch bình định, đưa cán bộ vũ trang bám sát quần chúng tuyên truyền chống
lại mọi âm mưu thủ đoạn của địch.
Như vậy với những hoạt động quân sự trong thời gian đầu sau năm 1968 đã giúp ta
phần nào khôi phục lại lực lượng cách mạng, nhờ đó mà phong trào cách mạng trong toàn
tỉnh được giữ vững, khu căn cứ tỉnh ủy tại xã Mỹ Phước được bảo vệ an toàn tuyệt đối, là
đầu não quan trọng trong lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ trong giai đoạn quyết định.
2.2.1.4. Về Văn hóa – Giáo dục – Y tế
Tỉnh ủy luôn chú trọng công tác giữ gìn phát huy giá trị văn hóa của nhân dân,
của đồng bào Khmer, Hoa, xem đó như là vũ khí sắc bén chống lại kẻ thù. Phong trào
văn hóa văn nghệ của nhân dân vùng căn cứ có bước phát triển, có tác dụng tập hợp
thanh niên, nam nữ, đoàn viê. Các vở cải lương cũng như các vở tuồng, ca mua khmer,
Hoa thường xuyên được tổ chức để giúp nhân dân có nhựng giờ phút thanh bình trước
khi bước vào cuộc chiến đấu với kẻ thù. Bên cạnh đó đoàn văn công Tỉnh ủy thường
xuyên đến các xã vùng giải phóng diễn phục vụ đồng bào, chiến sĩ.
Tờ báo “Chiến đấu” của Tỉnh Ủy vẫn được in đều đặn đến tay các chiến sĩ, đồng
bào, cập nhật đầy đủ những diễn biến về quân sự, chính trị, những tin tức về thắng lợi
của ta, có tác dụng động viên to lớn đến tinh thần và sức chiến đấu của quân dân ta.
Về giáo dục, Tỉnh ủy chỉ đạo thành lập trường nội trú Thiếu sinh quân Võ Thị
Sáu, trong năm đầu tiên 1969 đã có 60 em nhập học, sang năm 1970 có thêm 30 em
nhập học. Ngoài ra còn mở thêm các lớp bổ túc từ lớp 2 đến lớp 5. Trong năm 1973 đã
mở hai lớp bồi dưỡng cán bộ Đảng viên cốt cán cho gần 50 cán bộ. Trong vùng căn cứ ta
đã mở thêm được 4 lớp văn hóa công nông và 3 lớp bình dân hoc vụ. Ngoài ra còn mở
nhiều lớp đào tạo giáo viên cấp tốc với gần 50 giáo viên.
Ngành y tế đã phối hợp với ngành thông tin tuyên truyền, phát động phong trào
phòng bệnh rộng rãi trong nhân dân, từng người dân được hướng dẫn tận tình cách
phòng bệnh, trị bệnh.
55
2.2.2. Hoạt động bảo vệ căn cứ
2.2.2.1. Thủ đoạn đánh phá của Mỹ - Ngụy
Tuy bị thất bại trong chiến lược “chiến tranh cục bộ” nhưng với bản chất hiếu chiến
và còn có tiềm lực, đế quốc Mỹ vẫn kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược và duy trì chủ nghĩa
thực dân mới ở Việt Nam.
Năm 1969, đế quốc Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh tại miền Nam với chiến lược
“Việt Nam hóa chiến tranh”. Mục tiêu cơ bản của chiến lược này là rút quân Mỹ rút khỏi
cuộc chiến tranh Việt Nam xây dựng quân ngụy thay thế quân Mỹ, dùng người Việt đánh lại
người Việt, đẩy mạnh chính sách bình định miền Nam Việt Nam. Đế bảo đảm thưc hiện
chương trình bình định, địch giải tán Bộ xây dựng nông thôn, thành lập Hôi đồng Bình định
Trung ương do Nguyền Văn Thiệu, tổng thống ngụy trực tiếp chỉ huy. Ở cấp Tỉnh, Tỉnh
trưởng kiêm tiểu khu trưởng trực tiếp chỉ đao chương trình bình định. Ở cấp xã, ấp kết hợp
hoạt động giữa 3 hình thức “Trung tâm điều hợp” gồm mạng lưới “tề, điệp”. “Cục cảnh sát”
và “Khối hành chánh” dưới sự chi viện và bổ trợ của lực lượng quân sự địa phương và các
đoàn cán bộ bình định từ trên phái xuống.
Về xây dựng lực lượng quân sự hỗ trợ cho bình định, ở tỉnh Sóc Trăng địch tập trung
bắt lính, đôn quân, tăng cường lưc lượng chiếm đóng. Các sắc lính đều tăng vọt. Chỉ hơn
nửa năm 1969 địch bắt trên 2000 thanh niên đi lính, đôn gần 900 phòng vệ dân sự lên dân
vệ, bảo an, chủ lực. Lực lượng bảo an phát triển nhanh. Đến tháng 9-1969 ngoài 2 tiểu đoàn
bảo an, địch thành lập thêm 6 liên đội và 30 đại đội, toàn tỉnh có 54 đại đội bảo tề. Mỗi chi
khu có ít nhất 4 đại đội. Một số chi khu: Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Phước Long có đến 7 đại
đội bảo an. Lực lượng bảo an bắt đầu thay dần lục Iượng chủ lực làm nhiệm vụ cơ động,
ứng chiến, bình định địa phương. Các lực lượng bảo an, dân vệ, phòng vệ chia thành đơn vị
nhỏ đóng đồn bốt, giữ dân, gom dân.
Lực lượng bình định phát triển nhanh chóng, từ 9 đoàn tăng lên 34 đoàn gồm với hơn
1.000 tên. Các đoàn bình định cùng lực lượng bảo an tràn ra phía trước (vùng nông thôn giải
phóng) đóng chốt, bình định. Ở thị xã, thị trấn địch phát triển mạnh lực lượng cảnh sát đã
chiến đảm nhiệm “Giữ và quét” nội ngoại ô và tập trung bình định giành lại vùng ven đã bị
mất. Mỗi quận có 1 trung đội cảnh sát dã chiến, ở hai thị xã lực lượng này tăng gấp nhiều
lần.
56
Để thực hiện bình định, địch chia nhỏ địa bàn, ngoài chi khu, địch thành lập các phân
chi khu, yếu khu (khu vực xa xôi hẻo lánh). Mỗi phân chi khu địch bố trí một đại đội bảo
an, một đoàn bình định cùng với cuộc cảnh sát và bộ phận hành chính chỉ đạo điều hành.
Đến giữa năm 1970 toàn tỉnh địch thành lập 33 phân chi khu, yếu khu.
Ngoài ra, địch cồn tung tổ chức “Phượng Hoàng” từ tỉnh đến tận xã, ấp. Mục tiêu của
tổ chức “Phượng Hoàng” cũng chính là mục tiêu chủ yếu của chương trình bình định là
“Diệt và vô hiệu hóa hạ tầng cơ sở cách mạng, bình định gom dân". Chúng dùng tổ chức
tình báo, cảnh sát chìm kết hợp khai thác người bị bắt và bọn đầu hàng để phân loại hạ tầng
cơ sở của ta, đồng thời phối hợp với các cuộc hành quân càn quét truy bắt, diệt các cơ sở
loại A, B (đảng viên, cán bộ và những người nhận nhiệm vụ cách mạng), tổ chức kêu gọi
hồi chánh, dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ và cưỡng ép để bôi đen gia đình cán bộ ở vùng địch,
tiến tới làm công cụ chiêu hồi cho chúng. Mặt khác, chúng tiến hành thanh lọc nội bộ, thực
hiện chính sấch mị dân.
Trong những tháng đầu năm 1969 địch chuyển hướng tập trung mọi lực lượng và khả
năng tiến hành giai đoạn “Bình định cấp tốc”. Mục tiêu của kế hoạch bình định cấp tốc là
tấn công vào vùng căn cứ tỉnh ủy, tiêu diệt đầu não kháng chiến của ta tại Sóc Trăng, chiếm
và tái chiếm đóng lại đồn bốt và đánh chiếm vùng giải phóng nhằm phục hồi vùng nông
thôn bị mất trong và sau tết Mậu Thân, mở rộng vùng kiểm soát, tiêu hao va đẩy lùi lực
lượng ta ra xa hơn nữa, làm suy yếu và tiêu diệt cơ sở của ta, bắt lính bổ sung quân, đặc biệt
khẩn trương phát triển lực lượng bảo an dân vệ, củng cố ngụy quyền ấp, xã.
Thực hiện kế hoạch bình định, địch cho quân chủ lực chốt sâu vào vùng giải phóng
và vùng căn cứ của ta vừa tổ chức chiếm đóng, vừa tiến hành càn quét qui mô, dài ngày đối
với những nơi quan trọng. Chúng tập trung mở rộng cứ điểm Tam Sóc để tiến hành bình
định và đánh sâu vào căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Phước. Từng bước lấn sâu hơn vào vùng giải
phóng của ta như: Xóm Tre, Lái Viết, Dầy Quán (Ninh Quới), Cống Tuần Bảy (Vĩnh
Qưới.)…; mở rộng diện lấn chiếm như ở Tân Lập (Long Hưng), Mỹ Hòa (Mỹ Tú), Bưng
Côi (Lâm Kiết), Kho Lầu (Tân Long), Lung Sen, Mỹ Tây (Mỹ Quới)... Ở các huyện trong
tỉnh, trọng tâm là những vùng có đông đồng bào Khmer, công giáo, địch tập trung các lực
lượng mạnh và bung ra thực hiện chiếm đóng, chúng chiếm tuyến sông Cổ Cồ, Vàm Lẽo,
các xã Gia Hòa, Hòa Tú, tái chiếm các xà Cù Lao Dung và các xã đất liền huyện Long Phú.
Tại huyện Hồng Dân, quân chủ lực trung đoàn 33, sư đoàn 21 ngụy thường xuyên đổ quân
57
dài ngày vào các xã Vĩnh Lộc, Ninh Thạnh Lợi, Phước Long để ngăn chặn quân chủ lực ta
tù U Minh lên; đồng thời yểm trợ các liên đội bảo an Bạc Liêu chốt các tuyến Cầu số 2 vào
chi khu Phước Long, Cầu Sập vào Vĩnh Hưng; đánh phá cơ sở và xúc hết các bồ lúa thu
đảm phụ của ta gởi trong dân. Có nơi, một ấp địch đóng 2 đồn, một tháng chúng đóng 15
đến 20 đồn, đóng đến đâu địch gom dân lập ấp tân sinh chung quanh đồn bốt đến đó, tiến
hành tổ chức phòng vệ dân sự và ráo riết bắt lính đôn quân. Đến cuối năm 1969, địch lân
chiếm, tái chiếm, đóng đồn trong toàn tỉnh cả cũ và mới gần 400 cái, trong tỉnh không còn
xã giải phóng hoàn toàn, chỉ còn 180 ấp giải phóng với 125.000 dân Các cơ quan của ta giờ
đây phải đóng trong tầm pháo cối của địch.
Địch khoanh vùng, tự do pháo kích, dùng phi pháo bắn phá ném bom đêm ngày theo
mục tiêu chúng đã định, dùng máy bay B52 ném bom vùng căn cứ cách mạng thuộc xã Mỹ
Phước - huyện Châu Thành; các xã Ninh Quới, Ninh Hòa, Vĩnh Lộc, Lộc Ninh huyện Hồng
Dân. Đêm đêm máy bay bắn liên tục dọc theo các tuyến sông Cái: Ngan Dừa, Vĩnh Lộc,
Dầy Quán, Lái Viết, ngã tư Phó Sinh, Chủ Chọt, Nhà Lầu. Chúng còn dùng lực lượng biệt
kích đánh liên tục vào căn cứ và phục kích trên các đường đi lại của ta, đồng thời rải truyền
đơn kêu gọi chiêu hồi khắp nơi. Nơi ăn ở của Tỉnh ủy và các ban ngành trong vùng căn cứ
đều không an toàn, không ổn định. Có lúc một ngày phải di chuyển nhiều lần, các đồng chí
phải chịu đói, chịu khát, lặn lội, ngâm mình dưới mương, đìa, hầm hố đầy đỉa, nước hoặc ở
trong lùm, bụi đầy sương, vắt; bên trên thì máy bay, pháo địch thả bom, đạn liên hồi, gây
thương vong; đồng thời máy bay địch liên tiếp săn tìm, phát hiện bắt cán bộ, chiến sĩ ta.
Trong tình hình ngày càng ác liệt, đa số cán bộ vẫn vững vàng nhưng cũng có một số cán
bộ, đảng viên hoang mang, dao động, bỏ cuộc, có số ra đầu hàng địch. Nhiều cơ quan cấp
tỉnh phải dời từ Mỹ Xuyên, Thạnh Trị về Ninh Thạnh Lợi hoặc tạm lánh sang xã Xà Phiên,
huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ.
Địch còn tiến hành đánh ta về mặt kinh tế, phong tỏa các cửa khẩu thu mua, tiếp tế
lương thực của dân, kiểm soát chặt việc ra vào các ấp tân sinh, các khu đồn, hòng “không để
một hạt muối, một hạt gạo rơi vào tay Việt cộng”, điều này đã gây khó khăn rất nhiều cho
hoạt động của khu căn cứ tỉnh ủy.
2.2.2.2. Tổ chức bố phòng, chiến đấu bảo vệ căn cứ Tỉnh ủy
Trong các hoạt động bố phòng, chiến đấu bảo vệ khu căn cứ Tỉnh ủy, đêm 22/2/1969,
tiểu đoàn Phú Lợi kết hợp với đội phòng thủ Tỉnh ủy B68, đánh tiêu diệt đồn Tam Sóc, đây
58
là chốt chỉ huy bình định của địch ở quận Châu Thành (trong đó có 4 cố vấn Mỹ), vào tháng
1/1965 quân ta đã đánh tan địch ở Tam Sóc nhưng từ sau Mậu Thân năm 1968 chúng nhanh
chóng thiết lập lại đồn này với âm mưu phong tỏa khu vực căn cứ Tỉnh ủy, cắt chi viện của
quân ta từ mặt trận Minh Hải lên Sóc Trăng, Cần Thơ. Quân ta đã tiêu diệt được đồn Tam
Sóc. Riêng bọn cố vấn Mỹ, ta đã diệt 2 tên và bắt sống 2 tên.
Sau trận tiêu diệt đồn Tam Sóc, trong tháng 3-1969 tiểu đoàn Phú Lợi tiếp tục đánh
các trận lớn ở Vĩnh Mỹ, Vĩnh Phú tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Trận tập kích sân bay Bạc
Liêu (vào đêm 11-3-1969) do tiểu đoàn Phú Lợi và địa phương quân huyện Vĩnh Lợi thực
hiện đã có tiếng vang lớn, làm cho địch rúng động. trận tập kích sân bay Bạc Liêu làm tê liệt
hoạt động các phi đội máy bay trực thăng của Mỹ tại đây, buộc chúng phải hoãn các cuộc
hành quân đánh phá bằng đường không vào khu căn cứ.
Tại khu vực Gia Hòa, căn cứ cũ của Tỉnh ủy, giờ là hành lang phía Nam của căn cứ
Mỹ Phước, đại đội 602 cùng du kích xã Gia Hòa chống lại 2 tiểu đoàn chủ lực địch càn quét
vào xã, ta đánh thiệt hại nặng một đại đội, bắn rơi một máy bay trinh sát. Địa phương quân
huyện Lịch Hội Thượng kết hợp với binh vận tước vũ khí bọn phòng vệ dân sự ấp Bãi Giá
thu 30 súng. Du kích các xã Thạnh Phú, Thạnh Quới (huyện Mỹ Xuyên), Thạnh Thới An,
Tân Thạnh (huyện Lịch Hội Thượng), Long Đức, Phú Hữu (huyện Long Phú), Ba Trinh
(huyện Kế Sách) v.v... bằng 3 mũi giáp công liên tục tiến công, diệt và làm bị thương nhiều
tên địch, thu nhiều vũ khí. Những chiến công của tiểu đoàn Phú Lợi, đại đội 602 và dân
quân du kích Sóc Trăng đã góp phần làm suy yếu ý chí quyết tâm xâm lược của kẻ thù,
đồng thời tạo một vành đai an toàn cho khu căn cứ tỉnh ủy trong điều kiện mới, khi mà ta
gặp phải những khó khăn rất lớn về nhân lực, vật lực từ sau Tiến công và nổi dậy Mậu Thân
1968.
Vào mùa khô năm 1970, lực lương dân vệ địch, bọn bảo an có phi cơ, pháo yểm trợ
đánh phá ác liệt vào các căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng tại Mỹ Phước, các vùng lõm, vùng giải
phóng thuộc các xã Gia Hòa, Hòa Tú (huyện Mỹ Xuyên), Ninh Thạnh Lợi, Vĩnh Lộc, Lộc
Ninh (huyện Hồng Dân). Trong đợt tấn công này của địch, lực lượng vũ trang của ta đã đẩy
lùi hơn 700 quân địch ra khỏi khu vực căn cứ Tỉnh ủy, làm thất bại âm mưu chiếm vùng giải
phóng của địch.
Trong hai năm 1969 -1970 quân dân Sóc Trăng đã chiến đấu vô cùng gay go ác liệt
với chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - ngụy, chúng dùng các phương tiện và
59
vũ khí hiện đại cùng với cố vấn Mỹ và đủ các sắc lính ngụy để đánh phá ta. Lực lượng cách
mạng bị hao hụt nhiều, tính mạng và tài sản của nhân dân bị tổn thất nghiêm trọng. Chiến
tranh cài răng lược diễn ra giữa ta và địch rất quyết liệt ở một chiến trường đồng bằng trống
trải. Việc ăn, ở, đi lại hoạt động của cán bộ trong vùng căn cứ vô cùng khó khăn thậm chí
phải tính đến nhiều phương án ăn ở đối với mọi tình huống xấu nhất để sẵn sàng đối phó với
địch.
Để đối phó với tình hình địch bình định lấn chiếm, tái lấn chiếm, đẩy ta vào thế bị
động, tháng 1-1971, Trung ương Cục đã ra chỉ thị 01-CT/71 về: “Nắm vững nhiệm vụ và
phương hướng công tác trước mắt, ra sức xây dựng thế tiên công chiến lược mới” [31, tr.
1051]. Nội dung chính của chỉ thị là: “Bung ra bám dân, xây dựng cơ sở (vùng đô thị và
vùng địch bình định lấn chiếm, tái lấn chiêm) tạo thời cơ phát động quần chúng nổi dậy diệt
ác phá kềm, tiến tới gỡ mảng chuyển vùng, đưa phong trào cách mạng lên một bước mới”
[31, tr. 1051].
Hội nghị Thường vụ Khu ủy mở rộng (từ ngày 5 đến ngày 26-1-1971) đã quán triệt
chỉ thị 01-CT/71 của Trung ương Cục và nêu ra yêu cầu, nhiệm vụ sắp tới là: “Giữ vững
vùng căn cứ hành lang bảo đảm tiếp tế hậu cần, nâng cao vai trò quân chủ lực thu hút tiêu
diệt kềm chế quân cơ động của địch; mở rộng thế lực làm chủ khắp vùng nông thôn bình
định, phá lỏng hệ thống phòng thủ kềm kẹp của địch và mở rộng nâng cao phong trào ở
thành thị với đội ngũ chính trị vững mạnh, phá thế khống chế của địch trong các xóm
phường, tổ chức quần chúng nhằm làm cho kế hoạch bình định và Việt Nam hóa chiến tranh
của địch thất bại một bước nặng nề” [31, tr. 1052]
Đầu tháng 2-1971 đồng chí Võ Văn Kiệt, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Cục,
Bí thư Khu ủy Khu Tây Nam bộ đến Sóc Trăng triển khai chỉ thị 01-CT/71 của Trung ương
Cục cho Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ. Hội nghị học tập chỉ thị 01-CT/71 của Trung ương
Cục được tổ chức tại căn cứ huyện ủy Hồng Dân tại Cái Cui (xã Ninh Thạnh Lợi, huyện
Hồng Dân) trong thời gian 28 ngày, với yêu cầu là kiểm điểm đánh giá lại tình hình giữa ta
và địch từ sau Tết Mậu Thân 1968 đến nay; kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy
trong việc tổ chức thực hiện chủ trương, Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 9 của
Trung ương Cục; đồng thời yêu cầu tập trung xây dựng Nghị quyết của Tỉnh Đảng bộ và
kiểm điểm tự phê bình trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng như từng đồng chí trong Ban
Chấp hành Tỉnh Đảng bộ.
60
Tại Sóc Trăng, bước vào đợt tấn công mùa hè năm 1971, tiểu đoàn Phú Lợi được
phân công về huyện Châu Thành kết hợp với đơn vị Cl-70 gỡ mảng tuyến kinh xáng Mỹ
Phước, đây là khu vực địch đóng quân nhằm bao vậy, cô lập khu căn cứ Tỉnh ủy, Tiểu đoàn
Phú Lợi đã đánh diệt cụm đồn phân chi khu số 1, tiêu diệt và bắt sống 1 đại đội bảo an, 1
đoàn bình định cùng ban tề xã, giải tán một trung đội phòng vệ dân sự và thu toàn bộ vũ khí,
đạn được, dồn dân về ngang sông bị lực lượng của ta pháo kích, bỏ đồn tháo chạy. Đại đội
603 kết hợp với bộ phận hỏa lực đại đội 368 đánh hủy diệt một đại đội bảo an, một đại đội
công binh tại thị trấn Phú Lộc, tiêu diệt và làm bị thương trên 100 tên địch, tên quận trưởng
và quận phó đền tội. Địa phương quân huyện Thạnh Trị kết hợp nội ứng đánh tiêu diệt đồn
Lung Sen (xã Mỹ Quới) và tiếp theo đó kết hợp với đại đội 368 tiêu diệt đồn Mỹ Quới. Địa
phương quân huyện Kế Sách phối hợp lực lượng vũ trang tỉnh Cần Thơ chống càn, đánh 2
đại đội bảo an 535, 904 tại xã Ba Trinh, ta diệt 59 tên địch, bắt sống 3 tên, thu 15 súng và 3
máy thông tin. Địa phương quân huyện Mỹ Xuyên luồn sâu vào hậu địch đánh hủy diệt 2
chiếc bo bo của trường huấn luyện Dù Tho. Đại đội 602 đánh diệt 1 trung đội địch tại Nhu
Gia. Đội phòng thủ Tỉnh ủy (Cl-70) kết hợp với cơ sở nội tuyến đánh tiêu diệt đồn Tân Hội
xã Tân Long, huyện Thạnh Trị vào ban ngày, thu trên 20 khẩu súng và nhiều đạn dược. Kết
thúc chiến dịch, con đường chi viện cho khu căn cứ Tỉnh ủy được thông thoáng, an toàn, các
đơn vị ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh tỉnh nhà
phát triển trong giai đoạn mới.
Từ ngày 8-3 đến ngày 8-4-1972, với một quyết tâm cao độ nhằm tiêu diệt đầu não
kháng chiến của ta tại Sóc Trăng, địch đưa trên 2.000 quân cùng với hơn 20 khẩu pháo và
nhiều đột máy bay ném bom, tiến công càn quét triệt phá Căn cứ tỉnh ủy Sóc trăng tại rừng
tràm Mỹ Phước và rừng lá xã Tuân Tức, Lâm Kiết. Mỗi ngày hàng trăm lượt máy bay, pháo
trút vào đây hàng chục tấn bom và từ 500 - 1.000 quả pháo trên một diện tích chỉ hơn 20 km
. Địch cho máy bay đổ quân cùng lực lượng bên ngoài mở nhiều mũi đánh vào rừng tràm và
cho lực lượng phục kích các nẻo đường từ trong rừng tràm đi ra. Chúng bắt binh lính, phòng
vệ dân sự và nhân dân ở ấp tân sinh vào chặt cây phá rừng nhưng nhân dân phản đối và bỏ
trốn. Ngay từ ngày đầu, đội phòng thủ Tỉnh ủy đã anh dũng chiến đấu vừa đánh địch vừa
bảo vệ an toàn cơ quan lãnh đạo của tỉnh, tổ chức đưa các đồng chí ra khỏi rừng tràm trước
vòng vây của địch. Suốt 31 ngày đêm, Cl-70 cùng với Tỉnh đội, An ninh, Binh vận tỉnh, đại
đội 603, địa phương quân huyện Châu Thành và du kích xã phối hợp chiến đấu kiên cường
61
chống lại cuộc càn quét qui mô lớn này, ta đã tiêu diệt và làm bị thương trên 100 tên địch,
150 tên đào rã ngũ. Cuối cùng bọn địch phải chịu rút quân. Tuy nhiên bên ta cũng có thiệt
hại, rừng tràm bị chặt phá gần hết, địch phá một số công sự và một hầm bí mật, lấy một số
tài liệu, một đồng chí cán bộ Ban căn cứ của Tỉnh ủy hy sinh. Trong trận chống càn quét với
quy mô lớn này, căn cứ Tỉnh ủy bị thiệt hại nặng nề, nhưng trên hết ta vẫn giữ vững được
khu vực đứng chân của Tỉnh ủy Sóc Trăng, buộc kẻ thù phải rút lui, làm thất bại dã tâm tiêu
diệt căn cứ Tỉnh ủy của chúng.
Phối hợp với cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ Rừng Tràm Mỹ Phước, du kích xã Mỹ
Phước cùng với địa phương quân huyện Châu Thành tiêu diệt đồn Kinh Mới thu toàn bộ vũ
khí, đạn dược và máy thông tin. Lực lượng vũ trang của tỉnh tiến công các đồn bốt ở các
huyện Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Châu Thành để phân tán lực lượng của địch. Buộc lực lượng
địch phải phân tán, góp phần đẩy lùi địch khỏi khu căn cứ Mỹ Phước. Ngày 7-4-1972 quân
dân trong tỉnh đã đồng loạt mở cuộc tiến công địch. Lực lượng vũ trang tỉnh cùng địa
phương quân các huyện, du kích các xã phối hợp 3 mũi giáp công tiến công, bao vây trên
140 đồn bốt, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Tại trọng điểm Mỹ Xuyên, tiểu đoàn Phú
Lợi cùng đại đội 603 - 602 và địa phương quân huyện mở đầu đánh phân chi khu Rạch Gò
diệt Ban chỉ huy liên đại đội 87, 1 đại đội bảo an, 1 trung đội dân vệ và bọn cảnh sát, tề xã,
thu nhiều vũ khí; nhân dân tham gia phá ấp tân sinh Rạch Gò. Thắng lợi Rạch Gò đã góp
phần làm sụp đổ kế hoạch đánh phá rừng tràm của địch, buộc địch phải rút lực lượng càn
quét rừng tràm về đối phó với phong trào tiến công của quân dân ta ở Mỹ Xuyên và trong
toàn tỉnh. Đại đội 602 pháo kích chi khu Cổ Cồ, sân bay Sóc Trăng và trận địa pháo Đào
Viên... làm địch thiệt hại nặng. Quân chủ lực Khu phối hợp với địa phương quân huyện
Hồng Dân đánh chi khu Ngan Dừa diệt nhiều sinh lực địch, có 2 tên Mỹ, thu nhiều súng
đạn, có 1 pháo 105 ly. Du kích xã Phú Hữu (Long Phú) hỗ trợ binh sĩ khởi nghĩa đồn Phú
Đa thu 30 súng. Lực lượng vũ trang huyện Lịch Hội Thượng cùng du kích xã Thạnh Thới
An kêt hợp hội ứng tước vũ khí đội phòng vệ dân sự ấp Thạnh Nhân, pháo kích làm thiệt hại
đồn dân vệ, thu 30 súng. Du kích xã Mỹ Quới, kết hợp với nội ứng khởi nghĩa đồn phòng vệ
dân sự, diệt tên cảnh sát trưởng, thu 20 súng.
Cuối tháng 4 và đầu tháng 5 địch phản kích quyết liệt để cứu nguy cho đồn bốt đang
bị ta tiến công bao vây. Ở trọng điểm Mỹ Xuyên, địch tập trung 2 tiểu đoàn, 3 liên đội bảo
an để đánh phá. Tại huyện Hồng Dân, địch cho liên đội 44 ở Vĩnh Hưng, cho tiểu đoàn 411
62
Bạc Liêu và một bộ phận sư đoàn 9 đối phó can viện vào các xã Ninh Quới, Ninh Hòa, cho
B52 bỏ bom ở Hốc Hỏa, Cái Chanh, Kinh Ranh thuộc 2 xã Vĩnh Lộc, Ninh Thạnh Lợi.
Trong những tháng 7, 8, 9 năm 1972, địch tăng cường đánh phá, đối phó lại cuộc tiến công
của ta. Địch tập trung lực lượng quân sự cùng với pháo, phi cơ quyết chiếm lại một số vùng
đã mất. Chúng tập trung đánh phá vào căn cứ Tỉnh ủy tại Mỹ Phước, các xã Gia Hòa, Hòa
Tú (huyện Mỹ Xuyên), Mỹ Quới, Vĩnh Quới, Vĩnh Lợi (huyện Thạnh Tri) Vĩnh Hưng, Vĩnh
Phú, Ninh Quới, Ninh Hòa (huyện Hồng Dân). Mật độ phi cơ, phi pháo rất cao. Có trận càn
địch tập trung nhiều khẩu pháo bắn hàng ngàn quả pháo, dội hàng tấn bom vào các xã Ninh
Quới, Ninh Hòa. Máy bay B52 lại bỏ bom vào kinh Xã Lý (kinh số 3, là nơi cơ quan của an
ninh Tỉnh ủy ở) sát rừng tràm Mỹ Phước để uy hiếp ta. Mặc dù địch tập trung đối phó quyết
liệt nhưng chúng đang ở trong thế bị động chống đỡ, chúng không chống lại nổi sức mạnh
tổng hợp 3 mũi giáp công của quân dân ta. Từ tháng 7 đến tháng 9-1972, lực lượng 3 thứ
quân của ta đã đánh địch hàng trăm trận làm thiệt hại nặng 2 đại đội bảo an, tiêu diệt và bức
rút 7 đồn bốt, thu nhiều vũ khí, giải phóng thêm một sô ấp. Tiểu đoàn Phú Lợi đánh thiệt hại
nặng đại đội bảo an biệt kích đóng ở Chủ Xiệp (Hồng Dân) diệt đồn Ngã Tư Trà Niên, Lền
Buối (Vĩnh Châu), đánh phản kích đại đội bảo an Vĩnh Châu vào can viện, tập kích đánh
thiệt hại nặng tiểu đoàn 411 Bạc Liêu can viện ở Trà Teo. Đại đội 368 đóng ở Thạnh Trị,
phối hợp với địa phương quân huyện đánh thiệt hại nặng đại đội 905 bảo an chi khu Ngã
Năm. Địa phương quân các huyện và du kích xã liên tục tiến công địch. Các trận đánh của
quân dân ta có tính quyết định góp phần đánh bại chính sách bình định phát triển của địch.
Qua những trận tiến công tiêu diệt địch, quân dân Sóc trăng đã giành được những thắng lợi
vang dội, bảo vệ vững chắc khu vực căn cứ Tỉnh ủy, giải tỏa các hành lang, vùng ven vùng
căn cứ, tạo thế hậu phương vững chắc cho căn cứ Tỉnh ủy, tạo nền tảng để quân dân toàn
tỉnh tiến lên tiêu diệt kẻ thù trong giai đoạn mới.
Tháng 10-1972, Thuờng vụ Tỉnh ủy nhận được thông tri của cấp trên về việc Mỹ
thỏa thuận với phái đoàn ta về các văn bản ký kết của Hiệp định Paris. Quán triệt chủ trương
của Khu ủy, Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo mở đợt tiến công mới bằng quân sự, chính trị, binh
vận nhằm làm thất bại nặng nề chính sách bình định của địch ở nông thôn và phải tập trung
tiến công chiếm lĩnh các nơi, nhất là các trục giao thông chiến lược, bao vây bức rút nhiều
đồn bốt và bao vây các đồn bốt còn lại, đồng thời kiên quyết đánh bại âm mưu phản kích
giành dân, giành đất của địch. Lực lượng vũ trang của tỉnh, tiểu đoàn Phú Lợi II vừa được
63
thành lập, chiếm lĩnh các vùng trọng điểm chiến lược thuộc huyện Châu Thành. Tiểu đoàn
Phú Lợi I chiếm tuyến trọng điểm huyện Mỹ Xuyên, từ nay những khu vực vành đai vùng
căn cứ Tỉnh ủy được bảo vệ bởi các tiểu đoàn chủ lực của ta.
Đế quốc Mỹ lại lật lọng không chịu ký kết Hiệp định, mưu toan trì hoàn, sửa lại
những điểm đã thỏa thuận để có lợi cho Mỹ. Ta không bị bất ngờ đối với địch về việc ký kết
Hiệp định. Đợt tiến công tháng 10 và đầu tháng 11-1972 của quân dân trong tỉnh góp phần
giáng cho địch những đòn đau, làm cho địch càng thất bại nặng nề về quân sự, chính trị,
thêm lúng túng đối phó với ta.
Trước những thắng lợi to lớn của quân dân miền Nam, đế quôc Mỹ rất cay cú, chúng
muốn giành thế mạnh trên bàn Hội nghị Paris, nên từ ngày 18 đến 29-12-1972 Mỹ tiến hành
tập kích chiến lược bằng máy bay B52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và một số vùng lân cận.
Quân dân miền Bắc đã lập chiến công xuất sắc, trận “Điện Biên Phú trên không” đã đập tan
ý đồ dùng sức mạnh không lực Hoa Kỳ hòng khuất phục nhân dân Việt Nam của đê quốc
Mỹ.
Hiệp định Paris được ký kết mở ra một bước ngoặt mới của cách mạng Việt Nam.
Theo Hiệp định Paris, đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Việt Nam, rút hết
quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của
nhân dân Việt Nam là: Độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, cam kết tôn trọng
quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, chấm dứt mọi dính líu quân sự và không
được can thiệp vào nội bộ của nhân dân miền Nam Việt Nam; thừa nhận thực tế ở miền
Nam có 2 chính quyền, 2 quân đội, 2 vùng kiểm soát và 3 lực lượng chính trị.
Trên cơ sở kế hoạch đã vạch sẵn, lợi dụng lúc “Hiệp định ngừng bắn” mới ký và
trước giờ có hiệu lực (rạng ngày 28-1-1973) địch tung lực lượng ồ ạt thực hiện chiến dịch
“Tràn ngập lãnh thổ” trên toàn chiến trường miền Nam. Ở Sóc Trăng, Mỹ - ngụy ra sức thực
hiện chương trình bình định, đẩy mạnh đánh phá ác lỉệt và liên tục vào các khu vực trọng
điểm trong tỉnh như các huyện Mỹ Xuyên, Châu Thành, Thạnh Trị, Hồng Dân, cù lao Long
Phú; đồng thời tích cực đối phó với ta khi Hiệp định Paris được ký kết. Trong tháng 1-1973
địch mở hàng trăm cuộc càn quét, tập trung phi cơ, pháo, máy bay B52 đánh phá ác liệt vào
các huyện Hồng Dân, Châu Thành, Thạnh Trị làm nhiều người chết và bị thương; lấn tái
chiếm, đóng lại 8 đồn thuộc các xã Hòa Tú, Thuận Hưng, Ninh Quới, Mỹ Quới, An Thạnh
Nhất, An Thạnh Nhì.
64
Ngày 1-2-1973, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, toàn tỉnh mở đợt tiến công địch bằng
chính trị, binh vận. Các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và huyện, nòng cốt là Văn phòng cấp
Ủy, Ban Tuyên huấn, Ban Binh vận, Hội Phụ nữ v.v... tổ chức thực hiện theo nhiệm vụ cụ
thể đã được phân công, các đồng chí ráo riết chuẩn bị băng cờ, khẩu hiệu, loa phóng thanh,
in ấn bản tin phát hành cho kịp thời gian. Các đồng chí làm việc không kể ngày đêm, vượt
qua mọi khó khăn, thiếu thốn vật chất, phương tiện để đáp ứng yêu cầu; đồng thời tích cực
vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh, ở khắp các vùng nông thôn còn bị địch kềm kẹp
và thị xã, thị trấn, nhân dân hưởng ứng rầm rộ. Ta lấy Hiệp định Paris làm nội dung tuyên
truyền phát động. Lực lượng ta đã tiến vào 130 ấp nông thôn bị kềm phát động quần chúng.
Phong trào xuống đường hoan hô hòa bình, hoan hô Hiệp định Paris diễn ra sôi nổi.
Trước tình hình địch phá hoại hiệp định Paris ngày càng nghiêm trọng và phong trào
chống trả địch vi phạm Hiệp định ngày càng phát triển, tháng 7-1973 Hội nghị lần thứ 21
của Ban chấp hành Trung ương Đảng đánh giá tình hình địch, ta và nêu rõ “Dù phát triển
theo khả năng nào, con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực, bất kể tình
huống nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo
linh hoạt đưa cách mạng tiến lên” [22, tr 123]. Về phương châm đấu tranh, hội nghị xác
định: “Kiên quyết phản công và tiến công, phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta, đánh
bại các cuộc hành quân của địch lấn chiếm vùng giải phóng hoặc bình định. Việc vận dụng
phương châm phải gắn liền với yêu cầu giành dân và giành quyền làm chủ, nhằm giành lấy
thế mạnh để thắng địch”. [22, tr 124].
Tháng 10-1973, tại căn cứ tỉnh ủy xã Mỹ Phước, Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ Sóc
Trăng triệu tập hội nghị học tập quán triệt nghị quyết của cấp trên. Sau khi phân tích đánh
giá tình hình, hội nghị đã đề ra nhiệm vụ cấp bách trước mắt của Đảng Bộ và quân dân
trong tỉnh là: “Động viên sự nổ lực cao nhất của Đảng bộ và quân dân trong tỉnh, phát huy
thế tiến công, đẩy mạnh tiến công chính trị, quân sự, binh vận kết hợp với pháp lý Hiệp định
Paris đánh bại âm mưu phá hoại hòa bình, vi phạm Hiệp định của địch. Trước mắt tập
trung việc bình định, lấn chiếm của chúng, làm tan rã ngụy quân, ngụy quyền nhiều hơn.
Làm cho vùng kiểm soát của địch luôn luôn không ổn định. Giữ vững, củng cố, xây dựng
vùng căn cứ, vùng giải phóng thành hậu phương vững chắc toàn diện và phát huy tác dụng
hỗ trợ, thúc đẩy vùng tranh chấp vùng lên giành dân, giành quyền làm chủ trên diện rộng,
chuyển vùng kềm cũ lên một bước. Đưa phong trào cách mạng lên thị xã, thị trấn lên từng
65
bước vững chắc tạo điều kiện tiến tới cao trào, khẩn trương xây dựng, phát triển lực lượng
chính trị, vũ ttrang song song với việc giữ vững thế bố trí chiến lược, đẩy lùi, đánh bại các
cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm, các thủ đoạn quân sự, chính trị của địch, giành thắng
lợi tùng phần tiến lên đánh bại bình định, làm thay đổi tương qua có lợi cho ta…” [2, tr
257].
Tình hình trong tỉnh bấy giờ địch ra sức bình định, ở cả 3 vùng với nhiều thủ đoạn
xảo nguyệt. Vì vậy, để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ trên, phương châm chiến tranh chung
là: “Đấu tranh chính trị, binh vận, quân sự kết hợp với pháp lý Hiệp định để giành dân,
giành quyền làm chủ, giữ vững và phát huy thành quả cách mạng đã giành được, từng bước
đánh bại địch…đồng thời nắm vững phương châm hành động là: Tiến công địch để giành
đất, giành dân, giành quyền làm chủ, giành đất, giành dân, giành quyền làm chủ để tiến
công địch…” [ 2, tr 258]. Vận dụng phương châm phải sát hợp với tương quan lực lượng và
từng vùng cụ thể để đánh địch giành quyền thắng lợi.
Ngày 6-4-1975, tại Hội truờng Căn cứ Tỉnh ủy ở Rừng Tràm, xã Mỹ Phước, huyện
Châu Thành, Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ họp mở rộng có các đồng chí đại diện ban
ngành, đoàn thể tỉnh và Bí thư Huyện ủy dự do đồng chí Hồ Trung Hiền (Hồ Nam) Thường
trực Tỉnh ủy chủ trì để phổ biến Nghị quyết 15 của Trung ương Cục và bàn Nghị quyết của
Tỉnh ủy với tinh thần toàn thể Đảng bô, quân dân trong tỉnh quyết tâm phát huy thuận lợi,
khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ lịch sử trong bất cứ tình huống nào.
Nhiệm vụ của Ban chỉ huy chiến dịch tỉnh là: căn cứ vào nhiệm vụ đã giao mà có kế
hoạch thực hiện cụ thể đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ dứt điểm giải phóng thị xã. Tổ chức
lực lượng, giáo dục huấn luyện lực lượng 3 mũi, nắm chặt tinh hình địch, bố trí lực lượng
tiến công vào các mục tiêu đã định, chuẩn bị chu đáo cả tinh thần và vật chất, sẵn sàng chiến
đấu, tổ chức chỉ huy thống nhất, linh hoạt sáng tạo, hợp đồng chặt chẽ, thực hiện tốt các
chính sách của Đảng. Tổ chức tiếp quản và quản lý chặt chẽ các nơi mới được giải phóng.
Sau khi giải phóng, Ban chỉ huy chiến dịch làm nhiệm vụ quân quản để ổn định tình hình
mọi mặt ở thị xã.
Vào lúc 17 giờ ngày 26-4-1975 cuộc tổng công kích đánh vào thành phố Sài Gòn
được mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Ở Sóc Trăng, bọn địch vô cùng lo sợ,
chúng nhanh chóng tập trung mọi lực lượng để hòng thủ thị xã, thị trấn. Mặc dù các lực
lượng chủ lực của trung đoàn 33 sư đoàn 21 và các phương tiện chiến tranh cơ động nhất
66
như máy bay chiến đấu đều được rút về tập trung cho trung tâm vùng IV tại Cần Thơ, nhưng
lực lượng địch có tại Sóc Trăng cũng rất đáng kể.
Vào 8 giờ đêm 16-4-1975, Thường trực Tỉnh ủy nhận được điện của khu Ủy về ngày
N và giờ G của chiến dịch lịch sử, là vào 3 giờ ngày 30-4-1975 bắt đầu đồng loạt tiến công.
Vào 17 giờ 30 phút ngày 29-04 tại căn cứ tỉnh ủy rừng tràm Mỹ Phước, Ban chỉ huy chiến
dịch hạ lệnh tiến quân ra tiền phương để đêm 29 sáng 30-4 toàn bộ lực lượng tiến hành tổng
công kích – tổng khởi nghĩa. Thống nhất giờ G là 3 giờ sáng ngày 30-4 các lực lượng của ta
nổ súng tiến công địch. Tiểu đoàn Phú Lợi I được giao nhiệm vụ nổ súng đầu tiên làm phát
súng lệnh để các lực lượng đồng loạt tiến đánh các mục tiêu đã định.
Đúng 4 giờ, các mũi tiến quân của các tiểu đoàn đều tiếp cận mục tiêu và bắt đầu tiến
công địch. Trước sức tiến công của quân ta, bọn chỉ huy liên đoàn 953 liên tục kêu cứu, xin
cho máy bay đến giải tỏa, bỏ bom tuyến lộ sát sân bay, nhưng không quân Cần Thơ không
ứng cứu được vì tại sân bay Cần Thơ cũng đang bị ta tiến công. 9 giờ 30 phút, Đài phát
thanh Sài Gòn phát lời Tuyên bố ngừng bắn và giao chính quyền cho cách mạng của ngụy
quyền. Lời Tuyên bố đơn phương của ngụy quân, ngụy quyền không thể ngăn chặn được
cuộc tiến công của quân, dân ta. Quân ta không chần chờ, do dự trước giờ phút lịch sử, đã
kiên quyết tiến công địch, giành thắng lợi cuối cùng, Ban chỉ đạo liền chỉ thị cho các cánh
quân tiến công địch.
Ngay sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, Ban chỉ đạo, chỉ huy tổng công
kích – tổng khởi nghĩa của tỉnh lập tức chỉ đạo bằng 3 lực lượng vũ trang, chính trị, binh vận
tập trung dồn sức tiến công địch quyết liệt, vừa đánh, vừa gọi địch đầu hàng để giành thắng
lợi nhanh nhất. Các lực lượng tiến công của ta với mọi phương tiện thông tin, phát thanh
nhanh chóng công bố tiếng nói đầu hàng của Dương Văn Minh và kêu gọi địch đầu hàng
quân giải phóng. Vào 14 giờ ngày 30-4-1975 tên trung tá Nguyễn Hương Rĩnh liên đoàn
trưởng 953, tên trung tá Trần Duy Sinh, trung đoàn trưởng trung đoàn tiếp vận, cùng toàn
bộ Ban chỉ huy liên đoàn, Ban chỉ huy sân bay, Ban chỉ huy trung đoàn tiếp vận và các lực
lượng còn lại của địch hạ vũ khí đầu hàng.
Với tinh thần chiến đấu dũng cảm kiên cường quyết tâm tiêu diệt địch, chỉ trong 11
giờ tiến công quân và dân Sóc Trăng đã đánh chiếm và bức hàng tất cả các vị trí của ngụy
quân, ngụy quyền đóng trong thị xã. 14 giờ ngày 30-4-1975 thị xã Sóc Trăng được hoàn
toàn giải phóng. Đúng 15 giờ ngày 30-4-1975, Ban chỉ đạo chỉ huy tổng công kích - tổng
67
khởi nghĩa từ sở chỉ huy tiền phương tại Căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Phước tiến vào trung tâm thị xã
trước sự hoan hô vang dội của đồng bào.
Tiểu kết chương 2
Từ khi hiệp định Gernever được ký kết (7/1954), Mỹ - Ngụy đã tiến hành đàn áp
nhân dân Miền Nam, phong trào cách mạng miền Nam nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói
riêng với nhiều hành động tàn ác, dã man, với các loại phương tiện chiến tranh hiện đại và
các phương thức chiến tranh đầy thâm độc nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng, đưa nước
ta trở thành một nước thuộc địa, một căn cứ của Mỹ ở Đông Nam Á.
Đứng trước những khó khăn và thử thách, trên cơ sở vận dụng sáng tạo lý luận của
chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng căn cứ địa, đồng thời phát
huy kinh nghiệm của cha ông ta trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Căn cứ tỉnh ủy Sóc
Trăng trải qua các giai đoạn chiến tranh gian khổ vẫn kiên cường đứng vững trước các cuộc
càn quét của kẻ thù, vẫn là thành trì vững chắc cho đầu não kháng chiến của ta tại Sóc
Trăng.
Từ khi thành lập tại Gia Hòa – Mỹ Xuyên, căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng (1954 – 1967)
là nơi thường xuyên chịu các trận pháo kích lớn của kẻ thù, hàng trăm cuộc càn quét của kẻ
thù đã không thể đánh bại được ý chí kiên cường, anh dũng của quân dân ta, từ đó, căn cứ
được bảo vệ một cách vững chắc, là bàn đạp quan trọng đưa quân dân tỉnh Sóc Trăng giành
được các thắng lợi to lớn trong giai đoạn 1954 – 1967.
Từ cuối năm 1967, căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng được dời về khu vực rừng tràm xã
Mỹ Phước, đây là giai đoạn kẻ thù tại Sóc Trăng tiến hành đánh phá cao độ, chúng điên
cuồng hành quân càn quét, ném bom, rải chất độc hóa học nhằm tiêu diệt căn cứ cách mạng
của ta. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, lòng chiến đấu quả cảm của quân dân Sóc
Trăng, căn cứ Mỹ Phước luôn được bảo vệ và là nền tảng quan trọng để quân dân Sóc
Trăng tiến lên giành thắng lợi quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Đến 30/4/1975, từ căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Phước, Tỉnh ủy và quân dân Sóc Trăng tiến
về giải phóng thị xã Sóc Trăng và giải phóng hoàn toàn tỉnh Sóc Trăng, góp phần cùng cả
nước làm nên đại thắng mùa xuân 1975 vĩ đại, từ đó kết thúc vai trò lịch sử của mình trong
cuộc chiến tranh chống lại đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai của chúng. Lịch sử căn cứ Tỉnh
ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ từ khi căn cứ Mỹ Xuyên được thiết lập đến khi
dời về căn cứ Mỹ Phước là một chặng đường đầy vinh vang và hào hùng, hai căn cứ có vai
68
trò quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và là niềm tự hào của quân dân
tỉnh Sóc Trăng.
Căn cứ cách mạng Tỉnh ủy Sóc Trăng đã hoàn thành xuất sắc vai trò của mình trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trước những cống hiến hy sinh lớn lao đó, toàn Tỉnh
vinh dự có 53 đơn vị được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thì trong đó
vinh dự có Dân quân xã Gia Hòa – huyện Mỹ Xuyên, Lực lượng vũ trang huyện Mỹ Xuyên,
Đội bảo vệ Tỉnh ủy Sóc Trăng, Lực lượng vũ trang xã Mỹ Phước, Lực lượng vũ trang huyện
Mỹ Tú đó là những lực lượng nòng cốt trong chiến đấu bảo vệ và xây dựng căn cứ Tỉnh ủy
Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Có 20 cá nhân nhận danh hiệu Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân, riêng Mỹ Xuyên có 3 anh hùng, Mỹ Tú có 1 anh hùng. Toàn
tỉnh có 656 bà mẹ Việt Nam anh hùng, riêng hai huyện Mỹ Tú và Mỹ Xuyên có 285 mẹ, ở
hai huyện Mỹ Tú và Mỹ Xuyên còn vinh dự được trao tặng 244 Huân chương kháng chiến
hạng nhất và hàng ngàn Huân huy chương, giấy khen khác cho thành tích kháng chiến
chống Mỹ cứu nước và thành tích bảo vệ căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến
chống Mỹ cứu nước.
69
CHƯƠNG 3 - ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
XÂY DỰNG CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG KHÁNG
CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975)
3.1. Đặc điểm của căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu
nước
Quá trình xây dựng, phát triển căn cứ tỉnh ủy ở Sóc Trăng là quá trình lâu dài, liên
tục 21 năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Suốt quá trình đó, căn cứ tỉnh ủy ở Sóc
Trăng cũng tuân theo qui luật chung của sự hình thành và phát triển của căn cứ địa cách
mạng ở nước ta là đi “từ không đến có, từ thấp lên cao, từ nhỏ đến lớn, từ bị chia cắt đến
liên hoàn, hoàn chỉnh”. Quá trình xây dựng căn cứ địa thường bắt đầu từ việc xây dựng,
củng cố và mở rộng cơ sở chính trị, sau đó chuyển các vùng có cơ sở chính trị mạnh thành
những cơ sở vũ trang bí mật, phát triển đấu tranh vũ trang, biến vùng địch tạm chiếm
thành khu du kích, là khu vực tranh chấp giữa lực lượng cách mạng và địch, rồi tiến lên
thành lập các căn cứ du kích, là những vùng giải phóng tương đối nhỏ ở vùng sau lưng
địch. Theo sự phát triển đi lên của cuộc kháng chiến, các căn cứ du kích dần dần mở
rộng, liên hoàn với nhau thành những vùng căn cứ lớn được xây dựng vững mạnh về các
mặt chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa xã hội; có điều kiện để các cơ quan lãnh đạo chỉ
huy đứng chân, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân mạnh, đặc biệt là bộ đội chủ lực;
có khả năng cung ứng một phần lớn nhu cầu kháng chiến trên địa bàn khu vực.
Do sự chi phối của những đặc điểm về vị trí, địa hình và diễn biến cuộc kháng chiến
mà các căn cứ địa ở miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ ngoài những nét
chung còn có những đặc điểm riêng của nó.
Từ trước đến nay, các căn cứ địa ở nước ta có chung nét phổ biến là được lựa chọn
ở những vùng có vị trí địa lý hiểm trở, nhân dân có truyền thống cách mạng, có điều kiện
đáp ứng kinh tế tự cung tự cấp. Nội dung xây dựng căn cứ địa được thể hiện trên các mặt
chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những nét chung, mỗi căn
cứ địa có những đặc điểm riêng phụ thuộc vào các yếu tố địa lý, điều kiện kinh tế, xã hội
và chiến sự trên chiến trường. Trong đó, căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng là một trong những căn
cứ du kích vùng đồng bằng với các đặc điểm như sau:
70
3.1.1. Vị trí ở thế áp sát Cần Thơ, thủ phủ của địch ở khu vực đồng bằng sông cửu
long
Vận dụng và phát triển một cách sáng tạo những kinh nghiệm xây dựng căn cứ địa
và hậu phương của ông cha ta trước đây vào điều kiện lịch sử mới, trong kháng chiến
chống Mỹ, nhân dân miền Nam không những đã xây dựng căn cứ địa vững chắc ở rừng
núi, nơi có địa thế hiểm trở mà còn xây dựng thành công những bàn đạp vững chắc ngay
cả ở những địa bàn xung yếu sát các thành thị, đồn bót giặc chi chít, sông ngòi ngang dọc
và ở một số thành thị. Những “vùng giải phóng còn cứ điểm địch” đã xuất hiện ngay
những căn cứ lớn của địch. Ở những nơi này, mặc dù kẻ địch đã thi hành những thủ đoạn
quân sự vô cùng tàn bạo và những thủ đoạn mị dân hết sức xảo quyệt, nhưng chúng đã
không thể nào xây dựng nổi bộ máy kìm kẹp nhân dân. Trái lại, bằng cuộc đấu tranh rất
kiên quyết, dũng cảm và sáng tạo của mình, nhân dân vẫn giữ vững quyền làm chủ ở đó,
tạo nên một thế bao vây, uy hiếp nghiêm trọng đối với các căn cứ và hậu phương của địch.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng đóng tại Gia
Hòa – Huyện Mỹ Xuyên (giai đoạn 1955 – 1967), sau đó được dời về Rừng Tràm xã Mỹ Phước
– huyện Châu Thành, sự lựa chọn khu vực đóng căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng là một sự lựa chọn
đúng đắn, nếu như căn cứ Gia Hòa – Mỹ Xuyên nằm ngay cửa sông Bassac thì căn cứ rừng
Tràm Mỹ Phước là một căn cứ được che chắn cẩn thận, tránh được các cuộc hành quân và ném
bom rải thảm của kẻ thù, vừa bảo đảm bí mật và an toàn cho các đồng chí lãnh đạo của Tỉnh ủy
Sóc Trăng. Cả 2 căn cứ đều có thuận lợi là nằm trên con đường huyết mạch từ Cần Thơ về Bạc
Liêu – Rạch Giá – Cà Mau, Cần Thơ lại là thủ phủ của miền tây Nam bộ, nơi địch đóng một số
lượng quân lớn tại đây, lúc thường trực quân số Mỹ - Ngụy có thể lên đến hơn 30.000 người, có
sân bay Trà Nóc là sân bay liên hợp lớn nhất miền Tây, tại đây hằng ngày địch tổ chức các cuộc
xuất kích ném bom các khu vực ở đồng bằng sông Cửu long và khi cần thiết thì phục vụ hỗ trợ
cho chiến trường miền Đông Nam bộ. Việc căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng đóng tại Gia Hòa hay Mỹ
Phước đều có tác dụng to lớn trong việc hỗ trợ cho phong trào cách mạng ở toàn miền Tây và
miền Nam nói chung.
Chính những hoạt động tiến công địch tại Sóc Trăng và đánh thắng các cuộc hành quân
càn quét của địch vào vùng căn cứ đã hỗ trợ rất lớn cho hoạt động của Liên tỉnh ủy Hậu Giang
và sự an toàn của khu căn cứ Liên tỉnh ủy tại Phương Bình – Cần Thơ.
71
3.1.2. Là nơi có cơ sở chính trị vững mạnh, thế trận lòng dân được phát huy cao độ
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin ở truyền thống yêu nước nồng nàn của dân
tộc ta, Người khẳng định: “Địch chiếm trời, địch chiếm đất, nhưng chúng không làm
sao chiếm được lòng nồng nàn yêu nước của nhân dân ta”. Quán triệt quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, kế thừa và phát
huy truyền thống quân sự của dân tộc là cả nước chung sức đánh giặc, Đảng và Hồ Chí
Minh chủ trương phát động kháng chiến toàn dân, kiên quyết dựa vào sức mạnh vĩ đại và
năng lực sáng tạo vô tận của quần chúng nhân dân vì: “Chiến tranh ngày nay phức tạp và
hết sức khó khăn, không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó không thể
nào thắng lợi được” [28, tr 304].
Suốt chặng đường dài 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân dân cả nước ta
phải khắc phục bao trở ngại, khó khăn, phải chịu nhiều hi sinh, mất mát để lực lượng
cách mạng không ngừng phát triển ngày càng lớn mạnh. Một trong những nguyên nhân
quan trọng của thực tế đó là cách mạng miền Nam đã dựa vào lòng dân, dựa vào sức dân
để xây dựng và mở rộng hậu phương tại chỗ làm cơ sở để bảo tồn và phát triển lực lượng
cách mạng.
Đi đôi với sự phát triển của đấu tranh cách mạng, Đảng ta đã gây dựng nên hậu
phương từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ cơ sở chính trị của quần chúng đến có một nền
quốc phòng nhân dân tương đối hoàn chỉnh. Trong những ngày đầu, khi Đảng ta mới đề ra
chủ trương chuẩn bị đấu tranh vũ trang thì chúng ta chưa có một tất đất tự do. Lúc đó, hậu
phương duy nhất của ta là cơ sở chính trị bí mật, là lòng trung thành vô hạn của nhân dân
đã được giác ngộ đối với sự nghiệp cách mạng. Chính từ những cơ sở chính trị bí mật đó,
Đảng ta đã ra sức gây dựng những căn cứ vũ trang bí mật, tiến lên phát động chiến tranh
du kích cục bộ, mở ra Khu giải phóng. Ở vùng giặc tạm chiếm, qui luật xây dựng hậu
phương cũng diễn ra từ những cơ sở của nhân dân giác ngộ che giấu cán bộ và du kích,
có khi hàng tháng trời trong các hầm bí mật mà phát triển thành khu du kích, căn cứ du
kích. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân miền Nam, nhờ phong trào đấu
tranh chính trị của quần chúng kết hợp với chiến tranh du kích được phát động mạnh mẽ và
rộng khắp, các vùng giải phóng đã hình thành và ngày càng được củng cố và mở rộng,
phát huy tác dụng ngày càng to lớn đối với thắng lợi của chiến tranh. Theo quan điểm
chiến tranh nhân dân của Đảng ta, “xây dựng và củng cố hậu phương cần phải toàn diện,
72
các mặt chính trị, kinh tế, quân sự đều quan trọng, nhưng quan trọng hơn hết là nhân tố
chính trị, nhân tố nhân dân”.
Nắm vững quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng “lấy dân làm gốc”,
với đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cách sinh”, Đảng ta
luôn đặt công tác vận động, tổ chức quần chúng là một trong những công tác quan trọng
hàng đầu. Trong quá trình xây dựng căn cứ địa cách mạng, vấn đề giành dân, giữ dân
giữa lực lượng cách mạng và địch diễn ra hết sức quyết liệt. Địch luôn dùng mọi thủ đoạn
để mua chuộc, lôi kéo kết hợp với sức ép về bạo lực để giành dân với lực lượng cách
mạng.
Sóc Trăng là vùng đất có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, trong kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, quân dân Sóc Trăng đã kiên cường chống lại các chiến lược chiến
tranh quy mô lớn của kẻ thù. Khu căn cứ tỉnh ủy Mỹ Phước là bản thiên anh hùng ca của quân
dân Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ, Mỹ và quân đội Sài Gòn đã liên tục cày xới vùng
đất này để truy quét lực lượng cách mạng của ta, chúng dùng máy bay B52, chất độc hóa học,
bom napal…. Những loại vũ khí sát thương dã man nhất thời bấy giờ nhưng chúng vẫn không
khuất phục được tinh thần bất khuất của quân dân Sóc Trăng trong việc kiên quyết bảo vệ sự an
toàn của khu căn cứ Tỉnh ủy, từ nay những quyết định quan trọng, những trận đánh then chốt
được tiến hành một cách sáng tạo, mưu trí,buộc địch phải đi từ thất bại này đến thất bại khác
trong việc thực hiện mưu đồ biến miền nam thành thuộc địa kiểu mới của mình.
3.1.3. Là căn cứ chỉ huy và chiến đấu có qui mô lớn và hoàn chỉnh ở khu vực đồng
bằng sông cửu long
Trong quá trình lãnh đạo nhân dân kháng chiến, Đảng ta luôn coi trọng việc
xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến
chống Mỹ, lực lượng vũ trang của Sóc Trăng từ chổ chỉ là tiểu đoàn Phú Lợi thì đến nửa
sau cuộc kháng chiến chống Mỹ đã phát triển lên thành 3 tiểu đoàn Phú Lợi (Phú Lợi I, Phú
Lợi II, Phú Lợi III).
Về cơ sở vật chất của căn cứ như Hội trường được xây dựng bằng cây tràm trước
năm 1968, đến khi Tỉnh ủy di chuyển về cuối năm 1967 đầu năm 1968 thì được xây dựng
lại lớn hơn rộng 4m và dài 20m, khang trang hơn bằng gỗ dầu. Cạnh hội trường có nhà làm việc của Bí thư tỉnh có diện tích 22m2, có bốn hầm trú ẩn. Ngoài ra, còn có các nhà cơ quan
của tỉnh, hầm bí mật dành cho các đồng chí lãnh đạo trong ban Thường vụ tỉnh. Ngoài ra,
73
còn có hệ thống giao thông hào, hầm chữ A, hầm tránh bom tránh pháo. Việc đi lại của căn
cứ chủ yếu là đường thủy với chiếc xuồng nhỏ nhờ vào kênh đào nhỏ. Nhờ vào ưu thế này
đã làm cho việc di chuyển quân với số lượng lớn của Mỹ - Ngụy quân đánh vào căn cứ vô
cùng khó khăn. Nhưng Mỹ - Ngụy vẫn liên tục đưa quân vào đây nhằm tiêu diệt căn cứ khi
phát hiện nơi đây là cơ quan đầu não của Tỉnh. Khi Hiệp định Pa-ri được kí, chính quyền
Việt Nam Cộng Hòa vẫn ra sức gây chiến, trên các chiến trường ở miền Nam tiếng súng vẫn
nổ. Tại Sóc Trăng, ngụy quyền ngụy quyền Ba Xuyên liên tục cho máy bay ném bom oanh
tạc, bắn pháo, hành quân vào các vùng giải phóng và căn cứ của Tỉnh ủy Ngụy quân Ba
Xuyên điên cuồng hành quân càn quét vào các căn cứ và vùng giải phóng của ta. Tại căn cứ,
ta đã chuẩn bị từ trước nên tại đây khi chúng hành quân vào căn cứ đã bị quân ta đánh tiêu
hao, buộc chúng phải rút quân khỏi căn cứ, không dám hành quân vào phá hoại căn cứ. Nhờ
thế, mà căn cứ Tỉnh ủy đã được giữ vững an toàn cho tới ngày giải phóng.
Có thể nói căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng tại Gia Hòa – Mỹ Xuyên (1955 – 1967) và căn
cứ tỉnh ủy Sóc Trăng tại rừng tràm Mỹ Phước trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước cùng
với căn cứ U Minh, căn cứ Phương Bình là một trong ba căn cứ quan trọng nhất ở miền
Tây, nó có vị trí liên hoàn và được tổ chức hết sức chặt chẽ và có quy mô cũng như mức độ
tổ chức hoàn thiện, góp phần to lớn vào chiến thắng giặc Mỹ xâm lược.
3.2. Vai trò của căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu
nước (1954 – 1975)
Thắng lợi oanh liệt của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm
của nhân dân ta đã khẳng định vị trí to lớn của hậu phương chiến tranh nhân dân Việt
Nam. Đó là một hậu phương được tổ chức chặt chẽ theo đường lối đúng đắn, sáng tạo và
bằng những biện pháp có hiệu quả. Vì thế, trước thử thách ác liệt của chiến tranh, hậu
phương kháng chiến của ta được xây dựng, bảo vệ và ngày càng mở rộng đã phát huy
mạnh mẽ vai trò, tác dụng to lớn, toàn diện, góp phần quyết định vào thắng lợi chung của
toàn dân tộc.
Trong tác phẩm “Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta”, Đại tướng Võ
Nguyên Giáp viết: “Muốn tiến hành thắng lợi chiến tranh cách mạng, cần có hậu
phương vững chắc. Hậu phương vững chắc là một nhân tố thường xuyên của thắng lợi
bởi vì hậu phương là nguồn cổ vũ, động viên về chính trị, tinh thần cho tiền tuyến, là
nguồn cung cấp, chi viện về nhân lực, vật lực, tài lực cho chiến tranh. Quy mô chiến
74
tranh càng lớn, vai trò của hậu phương càng quan trọng” [22, tr 169]
Đường lối quân sự của Đảng ta hết sức coi trọng vai trò của hậu phương trong chiến
tranh. Từ khi đặt vấn đề đấu tranh vũ trang thì vấn đề đất đứng chân làm nơi che giấu,
huấn luyện, tiếp tế, củng cố, nghỉ ngơi của lực lượng vũ trang nhân dân cũng đồng thời được
đặt ra
Sự tồn tại và hoạt động của căn cứ cách mạng trên toàn miền Nam nói chung, ở
Sóc Trăng nói riêng đã giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống
Mỹ của nhân dân ta. Căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng có vai trò:
3.2.1. Là nơi đứng chân của các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, nơi xây dựng,
củng cố và phát triển lực lượng cách mạng
Căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng được xem như một căn cứ du kích ngay sát nách đô thị
Cần Thơ. Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải
phóng (tháng 4 năm 1975), căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng là nơi đứng chân hoạt động của cơ
quan Tỉnh ủy Sóc Trăng, tại đây, các cơ quan dân, chính, Đảng, các ban, ngành, đoàn thể
cách mạng của tỉnh không ngừng được củng cố, hoàn thiện về tổ chức, nâng cao chất lượng
công tác, tham gia có hiệu quả vào quá trình điều hành công cuộc kháng chiến ở địa
phương. Tại vùng căn cứ này, đã diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như:
Cuộc họp ngày 29/1/1968, theo Nghị quyết của Bộ chính trị, lời kêu gọi của Trung
ương cục và sự chỉ đạo của Khu ủy, Tỉnh ủy Sóc Trăng họp quyết định thành lập Ban chỉ
huy cuộc tổng công kích – tổng khởi nghĩa trên toàn tỉnh Sóc Trăng. Thành lập hai Ban chỉ
huy chiến đấu ở hai thị xã: Ban chỉ huy chiến đấu tại thị xã Sóc Trăng và Ban chỉ huy chiến
đấu tại thị xã Bạc Liêu. Sau khi di chuyển về vùng căn cứ Tỉnh ủy kháng chiến cũ tại rừng
tràm Mỹ Phước, Ban chỉ huy tác chiến chung của tỉnh Sóc Trăng ra lệnh các đơn vị tiến
công trên toàn tỉnh bắt đầu vào 2 giờ sáng ngày 30 tháng 1 năm 1968.
Từ các chỉ thị của Trung ương cục và Khu ủy, từ căn cứ Mỹ Phước Tỉnh ủy chỉ đạo
các lực lượng vũ trang tỉnh củng cố lại lực lượng và tiếp tục tiến công địch trên các chiến
trường của Tỉnh. Tỉnh ủy quyết định mở các đợt cao điểm tiến công đánh vào căn cứ địch ở
các huyện từ năm 1972, mở các chiến dịch mùa Đông – Xuân (1973 – 1974, 1974-1975)
đánh vào các cứ Mỹ - ngụy trên các huyện. Qua các cuộc phản công, lực lượng vũ trang của
tỉnh Sóc Trăng đã đóng góp phần nào làm thất bại chiến lược “Việt Nam hóa” của Mỹ, làm
75
cho lực lượng của địch ngày càng bị suy yếu, tinh thần chiến đấu của bọn Ngụy quân bị suy
sụp.
Từ Căn cứ, Thường vụ tỉnh ủy chỉ đạo cho toàn tỉnh mở đồng loạt các đợt phản
công, tiến công địch nhằm đẩy lùi địch ra khỏi vùng Căn cứ và vùng xung quanh rừng tràm
Mỹ Phước. Sau đó, ngày 9 tháng 2 năm 1973 chỉ thị 03/CT của tỉnh ủy uốn nắn khuynh
hướng ngủ trong chiến thắng cán bộ và chiến sĩ sau Hiệp định Pari. Tỉnh ủy cho các lực
lượng vũ trang của tỉnh tiến công giành lại thế chủ động đánh bại kẻ thù từng bước. Đồng
thời chỉ thị 02 của Trung ương cục được Thường vụ tỉnh ủy triển khai từ ngày 28 tháng 2
đến ngày 7 tháng 3 năm 1973. Chỉ thị chỉ rõ cách mạng miền Nam chỉ giành thắng lợi khi
tiến hành đấu tranh bằng vũ trang là chính, kết hợp với đấu tranh bằng chính trị.
Vào 17 giờ 30 phút ngày 29-04 tại căn cứ tỉnh ủy rừng tràm Mỹ Phước, Ban chỉ huy
chiến dịch hạ lệnh tiến quân ra tiền phương để đêm 29 sáng 30-4 toàn bộ lực lượng tiến
hành tổng công kích – tổng khởi nghĩa. Thống nhất giờ G là 3 giờ sáng ngày 30-4 các lực
lượng của ta nổ súng tiến công địch. Và tại sở chỉ huy tiền phương tại căn cứ Tỉnh ủy Mỹ
Phước, quân dân ta đã đã tiến về giải phóng thị xã Sóc Trăng trong niềm vui sướng của
nhân dân toàn Tỉnh, có thể nói Căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng đóng một vai trò hết sức quan
trọng trong việc đảm bảo cho việc chỉ huy cách mạng trong toàn Tỉnh, nhờ đó quân dân Sóc
Trăng liên tục tiến lên giành nhiều thắng lợi quan trọng và giải phóng hoàn toàn Tỉnh nhà.
3.2.2. Là nơi diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt chống càn, tiêu diệt địch
trong các chiến lược chiến tranh
Lịch sử xây dựng và phát triển căn cứ luôn luôn gắn liền với hoạt động quân sự
diễn ra ở bên trong và bên ngoài căn cứ. Đó là nơi giao tranh quyết liệt giữa một bên là
kẻ địch mưu toan tiêu diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến, tiêu diệt lực lượng vũ trang cách
mạng, xóa sạch căn cứ và một bên là lực lượng kháng chiến quyết tâm giữ vững căn cứ,
bảo toàn lực lượng và từ đó làm chỗ dựa mở rộng phạm vi hoạt động quân sự, tiến công vào
hậu phương của địch.
Trong quá trình tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ và chính
quyền Sài Gòn đã dồn những nỗ lực lớn nhất của lực lượng và vũ khí, phương tiện chiến
tranh để thực hiện những cuộc càn có qui mô lớn vào các vùng căn cứ cách mạng nhằm tiêu
diệt cơ quan lãnh đạo ở các tỉnh Nam bộ trong đó có căn cứ của Tỉnh ủy Sóc Trăng.
76
Chiến đấu bảo vệ cơ quan lãnh đạo, bảo vệ sức người sức của trong căn cứ luôn là
nhiệm vụ hàng đầu của quân và dân vùng căn cứ. Ở Sóc Trăng, quân và dân đã thực hiện
vũ trang toàn dân, cùng với các lực lượng đứng chân trong vùng căn cứ không ngừng tổ
chức lại chiến trường, lợi dụng và cải tạo địa hình để xây dựng xã, ấp chiến đấu, đào
đắp công sự, bố trí hầm chông, hố đinh, bãi mìn, đào thêm địa đạo… tạo thành một hệ
thống trận địa vừa có tác dụng phòng thủ, bảo vệ cho các cơ quan lãnh đạo, vừa là trận địa
tiêu diệt địch.
Từ năm 1955 đến năm 1967 và từ năm 1968 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, căn
cứ Gia Hòa và căn cứ Mỹ Phước có vai trò rất quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống
Mỹ của nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Tại đây, Tỉnh ủy Sóc Trăng đã có những chỉ đạo chỉ huy
nhân dân cả hai tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng kháng chiến giành nhiều thắng lợi gây cho địch
nhiều tổn thất. Suốt thời gian tồn tại và phát triển của căn cứ, nơi đây là mồ chôn của nhiều
tên Mỹ - ngụy hung tàn. Vượt lên trên bao mọi khó khăn, căn cứ vẫn đứng vững trước bom
đạn, âm mưu của kẻ thù. Bao lần căn cứ Mỹ Phước phải hứng chịu bao nhiêu bom đạn,
pháo của kẻ thù nhưng những cây tràm vẫn đứng vững và luôn che chở cho các cơ quan
Tỉnh ủy hoạt động. Điều này đã nói lên sự lựa chọn sáng suốt của các đồng chí trong
Thường vụ Tỉnh ủy là lấy khu rừng tràm này làm nơi chỉ huy, chỉ đạo cuộc kháng chiến anh
hùng. Qua bao năm tháng của chiến tranh, căn cứ đã chứng tỏ được vai trò của mình và làm
sáng hơn về quyết định lựa chọn sáng suốt của Tỉnh ủy. Mặc dù, Mỹ - ngụy đã sử dụng hết
mọi âm mưu thâm độc nhằm cố tình hủy diệt cho bằng được căn cứ rừng tràm. Nhưng mọi
hành động của chúng điều bị thất bại thảm hại trước sức mạnh và ý chí của quân dân ta.
3.2.3. Đảm bảo vai trò hậu phương tại chỗ cho cuộc kháng chiến
Cơ quan Tỉnh ủy Sóc Trăng đã được nhân dân ở đây che chở, nuôi giấu, bảo vệ an
toàn. Quần chúng xung quanh đã ủng hộ nhiều lương thực, thực phẩm để bồi dưỡng cho
lực lượng kháng chiến.
Khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn quyết liệt, Mỹ và quân đội Việt Nam
cộng hòa luôn tìm mọi cách triệt nguồn lương thực nuôi sống quân dân Sóc Trăng bằng
cách phá hủy ruộng vườn, đốt cháy thóc gạo, dùng chất độc hóa học để phá hoại cây cối,
mùa màng…Đứng trước tình hình kẻ địch phá hoại điên cuồng như vậy, quân dân Sóc
Trăng không còn con đường nào khác là phải ra sức chiến đấu, phục vụ tăng gia sản xuất.
Ban lãnh đạo tỉnh ủy đã đề ra nhiệm vụ cho cán bộ và dân quân du kích phải đi đầu và tích
77
cực giúp đỡ nhân dân trong việc sản xuất, coi đó là khâu quyết định để giữ dân bám trụ.
Trong đợt càn quét lớn vào năm 1972 vào căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng, địch đã chứng
kiến tinh thần chiến đấu của Đảng bộ, quân dân Sóc Trăng nói chung và quân dân xã Mỹ
Phước nói riêng hết sức bền bỉ và kiên quyết. Với 31 ngày đêm địch tập trung tiến hành
đánh phá, khai quang rừng tràm, cũng là 31 ngày đêm quân dân vùng căn cứ dũng cảm đoàn
kết chiến đấu, đáng trân trọng nhất là trong lúc lính đồn xiết chặt không cho nhân dân ra
khỏi ấp chiến lược, vì chúng biết rằng nhân dân Mỹ Phước hàng ngày đều chở nước ngọt,
chở gạo, thuốc men về vùng căn cứ chi viện cho lực lượng cách mạng, chúng ngỡ rằng
trong lúc này là cơ hội để thực hiện tốt nhất khẩu hiệu của Nguyễn Văn Thiệu “Một hạt gạo
là một viên đạn bắn vào đầu Cộng sản”, vì thế bất cứ ai đem cơm, gạo ra khỏi nhà đều là
việt cộng cần phải ngăn cắm tuyệt đối, nếu ai đó lén lúc mang là bị bắt đánh đập dã man.
Thế nhưng suốt 31 ngày đêm các Má, các Chị đều tranh thủ len lỏi thay nhau đưa nước
ngọt, gạo, thuốc men và các nhu cầu cần dùng trong sinh hoạt hay chiến đấu cung cấp đầy
đủ cho du kích bao vây đánh địch ngót 31 ngày đêm không nghỉ; nếu như trong những ngày
chiến đấu ác liệt có ý nghĩa quyết định này không có sự dũng cảm khéo léo của nhân dân,
nhất là các Má các Chị trong các hội đoàn thể quân dân ta khó giành thắng lợi như thế.
Thực tế, trong những lúc khó khăn, nhân dân càng thương yêu cán bộ và du kích,
càng chăm sóc, giúp đỡ họ hơn cả con em của mình. Thực tế cuộc kháng chiến chống
Mỹ đã thể hiện rõ căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng vừa là nơi đứng chân để giải quyết vấn đề
tiềm lực, vừa là mặt trận đấu tranh với địch một cách toàn diện; vừa là tiền tuyến, vừa là
hậu phương; vừa là kết quả của việc thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện
của Đảng, vừa là điều kiện để biến đường lối đó thành hiện thực; vừa là kết quả của cuộc
chiến tranh nhân dân, vừa là nguyên nhân làm cho chiến tranh nhân dân phát triển.
3.3. Kinh nghiệm xây dựng căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống
Mỹ cứu nước
Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng vô cùng phong phú, vô cùng gian khổ và phức tạp
của việc xây dựng, phát triển và bảo vệ căn cứ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước của Đảng bộ, quân và dân Sóc Trăng đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc:
78
3.3.1. Căn cứ cách mạng an toàn là điều kiện quan trọng đưa sự lãnh đạo cách
mạng của Đảng đến thắng lợi.
Đường lối cách mạng do Trung ương Đảng đề ra là quá trình vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, là kết quả
sự lựa chọn những kinh nghiệm thực tiễn của phong trào cách mạng trên thế giới và trong
nước. Do đó quán triệt, chấp hành nghiêm chỉnh và vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng
vào điều kiện cụ thể của địa phương là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi. Quán
triệt và chấp hành đúng đắn, vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng là phải dựa trên cơ sở
đánh giá đúng tình hình, tương quan lực lượng địch, ta trong từng lúc từng nơi để từ đó đề
ra nghị quyết, chủ trương, biện pháp sát đúng ở mỗi lúc, mỗi nơi, mỗi lĩnh vực đấu tranh
cách mạng. Khi lãnh đạo cách mạng thì đầu não cách mạng phải được bảo vệ một cách
nghiêm ngặt, vì đây là điều kiện rất quan trọng để đảm bảo cách mạng đi đến thắng lợi.
Tỉnh ủy Sóc Trăng đã nhạy bén, nắm sát tình hình ở địa phương, hiểu được âm mưu
của địch, từng lúc, từng thời điểm đã đề ra được những nghị quyết, chủ trương và phương
pháp thích hợp trong xây dựng lực lượng cách mạng, căn cứ cách mạng và tiến công địch.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vùng đất Sóc Trăng chứng kiến những cuộc
hành quân lớn của Mỹ - Ngụy, đây là chiến trường trọng điểm đánh phá của địch vì vị trí
quan trọng trên cón đường từ căn cứ U Minh và căn cứ Liên tỉnh ủy miền Tây, cùng với các
chiến thắng quan trọng như chiến thắng Tam Sóc, hay các chiến công vang dội của tiểu
đoàn Phú Lợi anh hùng đã góp phần to lớn giúp căn cứ địa được giữ vững, được an toàn, tạo
điều kiện để tỉnh ủy lãnh đạo cách mạng. Có thể nói căn cứ cách mạng tỉnh ủy từ Gia Hòa
đến Mỹ Phước đều là những căn cứ có vị trí quan trọng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ
của nhân dân ta trên địa bàn miền Tây, có giá trị chiến lược đảm bảo cho công tác điều hành
lãnh đạo của tỉnh ủy đối với cách mạng trong toàn tỉnh.
Như vậy, bài học kinh nghiệm về xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng là một
nét nổi bật trong nghệ thuật quân sự Việt Nam, đó là nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân
dân, dựa vào nhân dân để bảo vệ đầu não cách mạng, từ đó phát động những cuộc tấn công,
tiêu diệt kẻ thù, bảo vệ thành quả cách mạng.,
79
3.3.2. Xây dựng căn cứ cách mạng trên cơ sở đoàn kết dân tộc trong khối đại đoàn
kết toàn dân, phát huy truyền thống yêu nước của đồng bào tại địa phương
Trong quá trình thực hiện đường lối xây dựng xây dựng căn cứ cách mạng của Đảng
bộ, Đảng bộ Sóc Trăng đã luôn quan tâm đến sự đoàn kết dân tộc, đặc biệt giữa ba dân tộc
Kinh – Hoa – Khmer, việc gắn liền lợi ích dân tộc với lợi ích giai cấp, giải quyết vấn đề
đoàn kết dân tộc Kinh, Khmer, Hoa và vấn đề tôn giáo trên lập trường giai cấp công nhân;
xử lý hài hòa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trên mỗi bước đi của cách mạng là yếu tố
quan trọng để cách mạng tỉnh nhà thắng lợi và là yếu tố quan trọng để bảo vệ vững chắc căn
cứ Tỉnh ủy.
Đặc biệt là thực hiện chính sách giải quyết quyền lợi chính đáng và nguyện vọng
ngàn đời của nguời nông dân đó là vấn đề ruộng đất. Xuyên suốt trong cuộc kháng chiến,
Tỉnh ủy đã thực hiện cấp đất cho nông dân sản xuất trong vùng căn cứ, nhờ đó đời sống
nông dân được nâng cao, làm chổ dựa, là hậu phương vững chắc cho cách mạng. Cho nên
dù địch có bình định đánh phá ác liệt, vùng căn cứ, vùng nông thôn nhằm tách dân ra khỏi
Đảng nhưng nông dân vẫn không rời Đảng, vẫn đi theo Đảng đến cùng và bảo vệ căn cứ của
Đảng đến cùng.
Vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa
phương, Đảng bộ đã động viên tập hợp được sức mạnh của toàn thể nhân dân, của ba dân
tộc đoàn kết kháng chiến, hình thành thế trận lòng dân trong việc bảo vệ đầu não, bảo vệ
căn cứ cách mạng của tỉnh ủy. Trong thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, một mặt
phải tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết cấp trên,
nhưng mặt khác phải phát huy tính năng động sáng tạo, kịp thời phát hiện, đề đạt với cấp
trên những vấn đề về chủ trương chính sách và những kinh nghiệm của địa phương để góp
phần việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên.
Do đặc thù Sóc Trăng là địa bàn có nhiều dân tộc sinh sống, trong đó đồng bào
khmer và Hoa chiếm hơn 60% dân số, vì vậy việc thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc là
yếu tố rất quan trọng để xây dựng một thế trận lòng dân hiệu quả. Căn cứ tỉnh ủy Sóc Trang
trải hơn 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đó
là minh chứng sống động cho tình đoàn kết trong chiến đấu của 3 dân tộc sinh sống trên địa
bàn Sóc Trăng, là bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác xây dựng và bảo vệ căn cứ
địa cách mạng.
80
3.3.3. Xây dựng Đảng bộ vững mạnh, lực lượng quân sự vững mạnh là nhân tố cơ
bản quyết định sự tồn tại và phát triển căn cứ cách mạng
Đây là vấn đề có ý nghĩa then chốt quyết định và bao trùm các vấn đề đã nêu trên.
“Sự lãnh đạo cúa Đảng là nhân tố quyết đinh mọi thắng lợi. Vì vậy muốn làm tròn nhiệm vụ
cách mạng hiện nay điều mấu chốt vẫn là phải ra sức tăng cường sự lãnh đạo của Đảng”
[2, tr 360]. Nhận thức sâu sắc điều đó, Đảng bộ Sóc Trăng không ngừng xây dựng Đảng bộ
vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức để đủ sức lãnh đạo nhân dân trong tỉnh kháng
chiến thắng lợi. Trong xây dựng Đảng bộ biết lấy đường lối chính trị, đường lối chiến tranh
nhân dân, đường lối quần chúng và phương pháp cách mạng của Đảng, làm nội dung cơ bản
xây dựng Đảng vững mạnh.
Cán bộ, đảng viên luôn phát huy tính tiên phong trong thực hiện đường lối, biến
đường lối của Đảng thành hành đông cách mạng của quần chúng và đưa phong trào cách
mạng trong tỉnh tiến lên không ngừng. Cán bộ, đảng viên luôn luôn được học tập rèn luyện
quan điểm giai cấp, lập trường cách mạng vững vàng, có tinh thần tiến công cách mạng, ý
thức tự lực tự cường, không ngại gian khổ hy sinh, kiên trì bám đất, bám dân lãnh đạo nhân
dân đậu tranh chống địch.
Đặc biệt Tỉnh ủy rất quan tâm xây dựng tố chức cơ sở Đảng. Chi bộ, đảng bộ cơ sở là
nền tảng của Đảng, là nơi gắn liền giữa Đảng và quần chúng, là nơi tổ chức thực hiện mọi
đường lối, chủ trương của Đảng và cũng là nơi rèn luyện, đào tạo, bổi dưỡng cán bộ, đảng
viên. Muốn Đảng bộ vững mạnh, tổ chức cơ sơ Đảng phải đông về số lượng, vững mạnh về
chất lượng, đảng viên phải tiên phong gương mẫu. Trải qua cuộc kháng chiến chông Mỹ
cứu nước, Đảng bộ Sóc Trăng đã thực hiện các cuộc vận động xây dựng chi bộ cơ sở vững
mạnh (kể cả các tổ chức cơ sở Đảng trong lực lượng vũ trang) như: “Chi bộ tự động”, “Chi
bộ 4 tốt”, thực hiện “5 xây, 5 chống”. Tỉnh và huyện thường xuyên thành lập các đoàn chỉ
đạo xuống cơ sở xây dựng chi bộ vững mạnh toàn diện. Qua các cuộc vận động này các chi
bộ cơ sở và Đảng bộ tỉnh không ngừng được nâng cao sức chiến đâu, cùng gắn bó với nhân
dân vượt qua những khó khăn thử thách, ác liệt. Chi bộ cơ sở đã trở thành thành trì vững
chắc của Đảng, đương đầu với địch ở khắp mọi nơi và đã hướng dẫn, lãnh đạo quần chúng
đấu tranh, giành được nhiều thắng lợi.
Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí, ở sự thống nhất về quan điểm, tư tưởng
và hành động, dựa trên nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng là tập trung dân chủ. Quán triệt
81
ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng bộ Sóc Trăng đã nghiêm túc thực hiện chê
độ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, “tự phê bình và phê bình” là phương pháp căn bản
để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ. Kinh nghiệm cho thấy, lúc nào cấp ủy
thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ thì sẽ giải quyết các vấn đề đúng đắn, sát hợp
với tình hình thực tế khách quan. Những lúc nào cấp ủy nặng vai trò tập trung, nhẹ phát huy
dân chủ hoặc ngược lại thì dễ dẫn đến chủ quan duy ý chí, hoặc không chặt chẽ tùy tiện. Từ
đó sẽ đi đến sai lầm, khuyết điểm. Vì vậy phải gắn chặt mối quan hệ giữa tập trung và dân
chủ trong nội bộ Đảng để không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững sự
thống nhất ý chí và hành động của Đảng bộ. Đảng bộ luôn luôn giữ vững tính tổ chức kỷ
luật, nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết cấp trên, như giai đoạn 1954 - 1960 và trong cuộc
tổng công kích - tổng khởi nghĩa Mậu Thân 1968, mặc dù có những vấn đề chưa thông suốt,
chưa thống nhất cao nhưng vẫn nghiêm chỉnh thực hiện nghi quyết đồng thời để đạt ý kiến
về trên. Cán bộ đảng viên luôn luôn có niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, kể cả
trong những lúc khó khăn nhất.
Xây dựng căn cứ Đảng phải gắn liền với bảo vệ căn cứ của Đảng, không ngừng nâng
cao ý thức cảnh giác cách mạng, ngăn ngừa sự phân hóa trong nội bộ Đảng, ngăn ngừa bọn
phản động chui vào hàng ngũ Đảng. Trong những thời điểm cách mạng gặp khó khăn, ỏ
Đảng bộ ta hầu hết đảng viên rất kiên trung, bất khuất, anh dũng chiến đấu chống quân xâm
lược, nhưng còn một số cán bộ, đảng viên nằm im, chạy dài, thoái hóa biến chất hoặc đầu
hàng địch gây thiệt hại không nhỏ cho cách mạng, bài học về việc Bí thư Tỉnh ủy Lâm Hớn
Thanh phản bội theo giặc vẫn còn giá trị thực tiễn lớn lao. Đó là bài học thấm thía mà Đảng
bộ ta cần rút kinh nghiệm để tăng cường công tác giáo dục rèn luyện cán bộ, đảng viên.
Song song với củng cố Đảng phải quan tâm phát triển đảng viên, tăng cường cả số lượng và
chất lượng, chú ý tạo nguồn bồi dưỡng, thử thách quần chúng tích cực từ những tổ chức
đoàn thể ban ngành, lực lượng vũ trang xuât hiện trong phong trào cách mạng Đảng bộ Sóc
Trăng làm tốt việc này tuy trong cuộc kháng chiến ác liệt, lực lượng đảng viên có bị tiêu hao
nhưng số lượng ngày càng tăng, lấp được hầu hết các ấp trắng, nhất là những ấp ở vùng
xung yếu, vùng đông đồng bào Khmer.
Để bảo toàn và phát triển lực lượng cách mạng, đặc biệt là cơ quan đầu não của tỉnh,
vấn đề xây dựng căn cứ cách mạng phải được coi trọng, phải tạo một địa bàn đứng chân
tương đối ổn dịnh, trong thế cài răng lược tranh chấp ác liệt giữa ta và địch để chỉ đạo
82
phong trào. Căn cứ cách mạng, kể cả căn cứ các cấp, phải bám địa bàn, bám dân thì cấp ủy
mới có điều kiện chỉ đạo sát đúng và kịp thời đối với tình hình ở địa phương. Dù căn cứ ở
đâu vấn đề quan trọng là ở lòng dân, ta xây dựng “căn cứ ở lòng dân” mới bền vững.
Căn cứ của Đảng an toàn còn gắn với các lực lượng bảo vệ căn cứ, hệ thống giao
thông liên lạc bí mật, công khai, tổ chức điện đài tốt, làm cho mạch máu lưu thông trong
toàn Đảng bộ thông suốt. Trong xây dựng Đảng, về mặt tổ chức, công tác cán bộ là rất quan
trọng. “Để đảm bảo cho cách mạng thắng lợi, sau khi có đường lôi chính sách đúng đắn thì
điều kiện quyết định là tổ chức thực hiện đường lối, trong đó vấn đề then chốt là phải có
một đội ngũ cán bộ vững mạnh về mọi mặt”. Đánh giá đúng vai trò, vị trí cán bộ trong
guồng máy hoạt động của Đảng, cũng như cán bộ công tác ở các ban, ngành, đoàn thể và
lực lượng vũ trang, Đảng bộ không ngừng xây dựng, bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ có
đạo đức phẩm chất tốt, có trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trước
mắt và lâu dài. Trong quá trình hoạt động thực tế cho thấy nơi nào cán bộ vững vàng thi nơi
đó phong trao cách mạng được phát triển, ngược lai nơi nào cán bộ yếu kém, mất đạo đức
phẩm chất nơi đó phong trào giảm sút, gặp nbiều khó khăn. Trong công tác cán bô, ngoài
việc đào tạo, bổi dưỡng cán bộ, còn phải kiểm tra, nhận xét, đánh giá, đề bạt cán bộ một
cách thận trọng, đúng đắn, kịp thời, đồng thời hết sức thương yêu, tôn trọng, bố trí cán bộ
phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.
Tiểu kết chương 3
Căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng có trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bên cạnh
những đặc điểm chung của căn cứ địa Việt Nam còn có những đặc điểm đặc trưng như vị trí
ở thế áp sát thủ phủ Tây đô của địch ở khu vực đồng bằng sông cửu long, là nơi có cơ sở
chính trị vững mạnh, thế trận lòng dân được phát huy cao độ và là căn cứ chỉ huy và chiến
đấu có qui mô lớn và hoàn chỉnh ở khu vực đồng bằng sông cửu long. Cùng với đó, Căn cứ
Tỉnh ủy Sóc Trăng cũng có vai trò hết sức quan trọng đó là nơi đứng chân của các cơ quan
lãnh đạo kháng chiến, nơi xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng trong toàn
Tỉnh Sóc Trăng, là nơi diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt chống càn, tiêu diệt địch
trong các chiến lược chiến tranh và có vai trò to lớn trong đảm bảo vai trò hậu phương tại
chỗ cho cuộc kháng chiến. Cuộc kháng chiến thắng lợi, căn cứ Tỉnh ủy đã để lại những bài
học kinh nghiệm sâu sắc như: Căn cứ cách mạng an toàn là điều kiện quan trọng đưa sự
lãnh đạo cách mạng của Đảng đến thắng lợi, đồng thời phải ý thức việc xây dựng căn cứ
83
cách mạng trên cơ sở đoàn kết dân tộc trong khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy truyền
thống yêu nước của đồng bào tại địa phương là hết sức quan trọng, ngoài ra tuyệt đối nắm
vững bài học kinh nghiệm về xây dựng Đảng bộ vững mạnh, lực lượng quân sự vững mạnh
là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển căn cứ cách mạng.
84
KẾT LUẬN
Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, để đối phó với kẻ thù hung bạo,
có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần, cha ông ta đã biết chọn những nơi
có “địa lợi”, “nhân hòa” để xây dựng căn cứ, từ đó dần dần xây dựng và phát triển thực
lực, khi thời cơ đến sẽ phản công tiêu diệt quân thù, giải phóng đất nước.
Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng đã vận dụng sáng tạo học thuyết quân
sự của chủ nghĩa Mác Lênin cùng với kinh nghiệm hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm
của dân tộc, đã học tập một cách có chọn lọc những kinh nghiệm của Liên Xô, Trung
Quốc và các nước anh em khác để đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, đưa sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong đó, đường lối xây
dựng căn cứ địa cách mạng là một bộ phận của đường lối chính trị, quân sự của Đảng, là
một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong tác phẩm
“Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ rõ
là khi nói đến đấu tranh vũ trang, đến xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng thì
không thể không nói đến vấn đề căn cứ địa cách mạng, vấn đề hậu phương của chiến
tranh cách mạng... Đối với những cuộc chiến tranh cách mạng của các giai cấp hay dân
tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh nhằm lật đổ chính quyền của tập đoàn thống trị trong
hoàn cảnh chưa có một mảnh đất tự do nào làm chỗ đứng chân, thì quá trình gây dựng
hậu phương từ không đến có, từ nhỏ đến lớn cũng tức là quá trình gây dựng và củng cố
căn cứ địa cách mạng. Với ý nghĩa và tầm quan trọng đó, trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước, Đảng ta luôn chỉ đạo sâu sát nhiệm vụ xây dựng căn cứ địa cách mạng để
làm hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến.
Sóc Trăng là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, khu vực miền Tây Nam Bộ cùng
các tỉnh Cà Mau, Cần Thơ, Kiên Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long tạo thành một vùng chiến
lược quan trọng đối với ta. Địch cũng coi đây là một vùng rất quan trọng nằm trong vùng IV
chiến thuật có vị trí cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng. Là một tỉnh đồng bằng, ít rừng
lá, rừng chồi ven sông và ven biển, không có căn cứ sâu ổn định như một số tỉnh khác, chiến
trường bị địch chia cắt ra thành nhiều mạnh. Nhân dân trong tỉnh đa số là nông dân bị đế
quốc thực dân phong kiến bóc lột lâu đời, nghèo khổ, có lòng căm thù giặc sâu sắc và lòng
yêu nước nồng nàn. Là tỉnh có nhiều tôn giáo, trong đó phật giáo là đông tín đồ nhất. Đồng
bào Khmer chủ yếu là theo Phật giáo Nam Tông. Cộng đồng dân cư gồm có 3 dân tộc Kinh,
85
Khmer, Hoa sống xen kẽ, có truyền thống đoàn kết, gắn bó lâu đời; là một trong hai tỉnh ở
Nam bộ có đông đồng bào Khmer nhất. Địch luôn rắp tâm muốn chia rẽ các dân tộc, các tôn
giáo, nhất là với hai dân tộc Kinh, Khmer. Chúng có nhiều âm mưu, thủ đoạn nắm các chùa,
sư sãi, trí thức Khmer. Ta phải thường xuyên chủ động phòng chống với những âm mưu,
thủ đoạn, gian xảo, lừa mị của kẻ thù để tập hợp sức mạnh đoàn kết dân tộc, tôn giáo và các
tầng lớp nhân dân thành sức mạnh vĩ đại, chung lòng kháng chiến cứu nước.
Quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ căn cứ cách mạng ở Sóc Trăng trong
kháng chiến chống Mỹ cũng đã tuân theo những qui luật chung về xây dựng và phát triển
căn cứ địa của cả nước mà đường lối quân sự của Đảng ta đã đúc kết, trong đó qui luật
xây dựng căn cứ địa đi từ không đến có, từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn được thể hiện rõ
nét.
Về tương quan lực lượng giữa ta và địch ở Sóc Trăng, địch mạnh hơn ta về quân số,
vũ khí hiện đại; là căn cứ của trung đoàn 33, sư đoàn 21 ngụy với sự chi viện mạnh của
trung tâm vùng IV chiến thuật. Ở tỉnh có 2 sân bay, 2 tiểu khu (Ba Xuyên và Bạc Liêu).
Địch xem Sóc Trăng là một chiến trường, một địa bàn chiếm đất, chiếm dân, bắt lính đôn
quân, vơ vét lúa gạo để đánh phá cách mạng; đồng thời lấy nơi đây làm bàn đạp dánh phá U
Minh, căn cứ cách mạng của miền Tây Nam bộ. Về ta, tỉnh tự lực tự cường đánh địch với
lực lượng địa phương là chính, việc chi viện của lực lượng vũ trang khu 9 chỉ ở một mức độ
nhất định và trong những thời điểm nhất định.
Từ những đặc điểm, khó khăn, phức tạp đó, trong suốt 21 năm kháng chiến chống
Mỹ, Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng có lúc thiệt hại khá nặng, nhất là những năm 1957 – 1959,
1969 – 1970, Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ liên tục bị tiêu hao, cán bộ Đảng viên và quần
chúng bị địch giết hại, tù đày và khủng bố vô cùng tàn khốc, cơ sở cách mạng ở nhiều nơi bị
mất trắng, ở 2 thị xã cơ sở Đảng cũng phải lặp đi lặp lại nhiều lần, căn cứ tỉnh ủy nhiều lần
bị càn quét, phải di chuyển và dời địa điểm. Thế nhưng, còn đảng viên, còn quần chúng là
còn cách mạng. Ngay trong những năm 1957 – 1958 với tinh thần bản đề cương “Đường lối
cách mạng Việt Nam”, Tỉnh ủy Sóc Trăng đã có sự vận dụng sáng tạo về phối hợp phong
trào đấu tranh chính trị với ít nhiều hoạt động vũ trang tự vệ để bảo tồn lực lượng, giữ vững
phong trào. Đến khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, phong trào Đồng khởi có điều
kiện đã nổ ra rất mạnh mẽ. Khi chuyển sang thời kỳ chiến tranh cách mạng tỉnh Sóc Trăng
liên tiếp giành được thắng lợi, nổi bật là trong giai đoạn chống phá ấp chiến lược, chống
86
bình dịnh, lấn chiếm, tỉnh thực hiện tốt phương châm “hai chân ba mũi”, tạo thành sức
mạnh tổng hợp liên tục tiến công địch. Trong chiến tranh nhân dân, giành dân, giành đất với
địch, tỉnh có phong trào bao vây đánh lấn gỡ nhiều đồn bốt, mở mảng chuyển vùng, giải
phóng được cả một chi khu (chi khu Ngã Năm). Giai đoạn 1969 - 1970 đã diễn ra vô cùng
gian khổ ác liệt, Đảng bộ đã kiên cuờng dũng cảm vượt qua và tiến lên giành thắng lợi lớn
trong năm 1972. Đồng thời, sau khi ký Hiệp định Paris, Sóc Trăng không mơ hồ, mất cảnh
giác vẫn chủ động tiến công địch giành quyền chủ động ở chiến trường. Trong chiến dịch
Đông Xuân 1974 - 1975, đặc biệt trong cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa mùa xuân
1975 chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Sóc Trăng đã có một quyết định sáng suốt, đúng đắn.
Là kiên quyết tiến công địch, tự lực giải phóng tỉnh nhà, giành thắng lợi trọn vẹn, hoàn
thành nhiệm vụ một cách xuất sắc góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Quá trình xây dựng căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng là sự vận dụng đúng đắn đường lối
và phương châm chiến lược trong nghệ thuật quân sự của Đảng vào thực tiễn chiến
trường. Quân dân Sóc Trăng đã tiếp thu những kinh nghiệm xây dựng căn cứ địa. Tại
vùng căn cứ, các cơ quan dân, chính, Đảng,…không ngừng củng cố và hoàn thiện về tổ
chức, nâng cao chất lượng công tác, tham gia có hiệu quả vào quá trình điều hành cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở địa phương.
Di tích căn cứ Tỉnh uỷ Sóc Trăng là một minh chứng có một không hai của Đảng bộ
tỉnh Sóc Trăng. Nó khẳng định lòng tin yêu, cưu mang, che chở của nhân dân đối với Đảng.
Đó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân giúp cho tỉnh Đảng bộ Sóc Trăng hoàn thành sứ
mệnh lịch sử của mình là lãnh đạo quân và dân trong tỉnh giành hết thắng lợi này đến thắng
lợi khác trên các lĩnh vực: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội… trong suốt hai thời
kì chống Pháp và Mỹ. Cùng góp phần với các Đảng bộ toàn miền Nam dẫn tới thắng lợi
của sự nghiệp chống xâm lược do Đảng ta lãnh đạo. Đó là minh chứng quan trọng giúp thế
hệ trẻ khẳng định mục đích, lý tưởng của Đảng là thực sự vì dân, vì nước, Đảng chấp nhận
mọi gian khổ hy sinh để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân… Vì vậy, di tích đã và đang
được phục chế, giữ gìn để giáo dục truyền thống cách mạng và kháng chiến cho các thế hệ
hiện tại và mai sau. Căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng được công nhận là di tích lịch sử cách mạng
cấp quốc gia, theo Quyết định số 734/QĐ-BVHTT, ký ngày 16 tháng 6 năm 1992, điều này
đã tạo động lực to lớn, tiếp thêm lòng yêu nước cho thế hệ trẻ tỉnh Sóc Trăng trong hôm
nay và tương lai góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của
87
quê hương Sóc Trăng anh hùng.
88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng (2002), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng từ năm
1930 đến năm 1954, Sóc Trăng.
2. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng (2005), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng từ năm
1954 đến năm 1975, Sóc Trăng.
3. Ban Tổng kết chiến tranh tỉnh Hậu Giang (1987), Hậu Giang 21 năm kháng chiến
chống Mỹ, Nxb Tổng hợp Hậu Giang, Hậu Giang.
4. Ban Tổng kết lịch sử Quân khu 9 (1995), Quân Khu 9 - 30 năm kháng chiến giai
đoạn 1945 – 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
5. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Sóc Trăng (1993), Lược sử 30 năm kháng chiến chống thực
dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược của lực lượng vũ trang tỉnh Sóc Trăng từ tháng
8-1945 đến 30-4-1975, Sóc Trăng.
6. Bộ Chỉ huy quân sự Cần Thơ (1997), Cần Thơ 30 năm vũ trang chống Thực dân
Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược 1945 – 1975, Cần Thơ.
7. Bộ Chỉ huy quân sự Cần Thơ (1995), Những trận đánh trong chiến tranh chống Mỹ
của lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Cần Thơ, Cần Thơ.
8. Bộ Quốc phòng (2002), Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân,
Hà Nội.
9. Bộ Quốc phòng (1997), Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 – 1975),
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
10. Bộ Quốc phòng (2000), Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
11. Vũ Tang Bồng (1999), “Đảm bảo vũ khí, trang bị - Một thành công chiến lược của
Đảng ta trong 30 năm kháng chiến”, Tạp chí Lịch sử quân sự, (số 2), tr.43 – 45.
12. Văn Tiến Dũng (1996), Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
13. Hoàng Dũng (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975: Thắng lợi và
bài học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
14. Đảng ủy xã Gia Hòa (1985), Lịch sử xã Gia Hoà anh hùng trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ (1954 - 1975), Cần Thơ.
89
15. Đảng uỷ Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Cần Thơ (2002), Lực lượng vũ trang nhân dân
Cần Thơ 30 năm kháng chiến 1945 – 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
16. Đảng bộ Thành phố Cần Thơ (1987), 21 năm chống Mỹ cứu nước của thành phố
Cần Thơ : 1954 – 1975, Hậu Giang.
17. Trần Bạch Đằng (1993), “Vài suy nghĩ về hậu phương chiến tranh nhân dân Việt
Nam”, Tạp chí Lịch sử quân sự, (số 3), tr. 35 – 37.
18. Huyện ủy Mỹ Tú (2010), Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ
và nhân dân xã Mỹ Tú, Sóc Trăng.
19. Huyện ủy Mỹ Tú (2009), Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ
và nhân dân xã Mỹ Phước, Sóc Trăng.
20. Huyện ủy Mỹ Tú (1999), Lịch sử Đảng bộ huyện Châu Thành giai đoạn 1954 –
1975, Sóc Trăng.
21. Huyện ủy Mỹ Xuyên (2005), Lịch sử Đảng bộ huyện Mỹ Xuyên (1930 – 1975), Sóc
Trăng.
22. Võ Nguyên Giáp (1970), Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta, Nxb
Sự Thật, Hà Nội.
23. Võ Nguyên Giáp (1973), Đường lối quân sự của Đảng là ngọn cờ trăm trận
trăm thắng của chiến tranh nhân dân ở nước ta, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
24. Võ Nguyên Giáp (1959), Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, Nxb Sự
Thật, Hà Nội.
25. Trần Văn Giàu (1978), Miền Nam giữ vững thành đồng, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội.
26. Trần Thị Thu Hương (2003), Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá “Quốc
sách” Ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1961 – 1965,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
27. Học viện Quốc phòng (2003), Đại thắng mùa xuân 1975 nguyên nhân và bài học,
Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
28. Hồ Khang, Tết Mậu Thân 1968 bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
29. Hồ Chí Minh (2000), Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
90
30. Lê Ngọc - Ngọc Dũng - Phạm Xuân Nam (1985), Sức mạnh chiến thắng của cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
31. Trịnh Nhu (2008), Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam bộ và Trung ương cục miền Nam (1954
– 1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
32. Sở văn hóa thông tin Sóc Trăng (2000), Sóc Trăng một số hình ảnh trong kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, Sóc Trăng.
33. Văn Tạo (1995), “Căn cứ địa cách mạng – truyền thống và hiện tại”, Tạp chí lịch
sử quân sự, (số 4), tr. 23 – 28.
34. Hoàng Minh Thảo (1995), Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến
chống Mỹ cứu nước và bảo vệ tổ quốc, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
35. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2012), Địa chí tỉnh Sóc Trăng, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
91
PHỤ LỤC
Nguồn ảnh tư liệu sao chụp lại từ: Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Sóc Trăng (2002), Sóc
Trăng một số hình ảnh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Sóc Trăng.
Ảnh 1: Rừng tràm Mỹ Phước
Ảnh 2: Phong trào phá ấp chiến lược
92
Ảnh 3: Nữ du kích xã Gia Hòa luyện tập
Ảnh 4: Cắm chông bảo vệ căn cứ
93
Ảnh 5: Sản xuất vũ khí trong khu căn cứ Tỉnh ủy
Ảnh 6: Họp tổ phụ nữ trong khu căn cứ
94
Ảnh 7: Hoạt động giao bưu vận trong khu căn cứ
Ảnh 8: Chống càn quét vào khu căn cứ Tỉnh ủy
95
Ảnh 9: Hoạt động giáo dục trong khu căn cứ
Ảnh 10: Hoạt động y tế trong khu căn cứ
96
Ảnh 11: Sau một cuộc họp ở khu căn cứ
Ảnh 12: Thị xã Sóc Trăng ngày giải phóng 30/4/1975
97
Ảnh 13: Bản đồ hành chính huyện Mỹ Xuyên
Ảnh 14: Bản đồ hành chính huyện Mỹ Tú
98

