BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Đức Thuận

CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG

KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

(1954 – 1975)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Đức Thuận

CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG

KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

(1954 – 1975)

Chuyên ngành: Lịch Sử Việt Nam

Mã số: 60 22 02 13

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. LÊ VĂN ĐẠT

Thành phố Hồ Chí Minh - 2013

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu được

trích dẫn trong luận văn là trung thực. Công trình nghiên cứu này chưa từng công bố

trong bất kỳ một công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Phạm Đức Thuận

1

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê Văn Đạt đã hướng dẫn tôi luận văn tốt

nghiệp trong suốt thời gian qua.

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí

Minh, đặc biệt là quý thầy cô Khoa Lịch Sử đã giảng dạy, giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều

kiện cho tôi học tập tốt trong suốt khóa học (2011 – 2013).

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng đã dành thời gian cung

cấp thông tin trong quá trình thu thập dữ liệu để thực hiện việc nghiên cứu đề tài.

Tác giả luận văn

Phạm Đức Thuận

2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1

LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2

MỤC LỤC .................................................................................................................... 3

MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 5

1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 5

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................... 6

3. Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 8

4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 8

5. Đóng góp của đề tài ....................................................................................................... 8

6. Bố cục của luận văn ........................................................................................................ 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975 ) ..... 10

1.1. Cơ sở lý luận ............................................................................................................... 10

1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................... 11

1.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống đấu tranh của nhân dân tỉnh Sóc Trăng ........................................................................................................................... 14

1.3.1. Điều kiện tự nhiên – Địa lý ................................................................................... 14

1.3.2. Về Kinh tế - xã hội ................................................................................................ 16

1.3.3. Truyền thống đấu tranh của nhân dân tỉnh Sóc Trăng .......................................... 20

1.4. Chủ trương xây dựng căn cứ của Đảng, Khu ủy và Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng ..... 22

CHƯƠNG 2 - QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975) ............................................................................................................................ 25

2.1. Giai đoạn 1954 – 1967 ................................................................................................ 25

2.1.1. Xây dựng căn cứ địa .............................................................................................. 25

2.1.2. Hoạt động bảo vệ căn cứ ....................................................................................... 36

2.2. Giai đoạn 1967 – 1975 ................................................................................................ 50

2.2.1. Xây dựng căn cứ địa .............................................................................................. 50

2.2.2. Hoạt động bảo vệ căn cứ ....................................................................................... 56

CHƯƠNG 3 - ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM XÂY DỰNG CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975) ................................................................................ 70

3

3.1. Đặc điểm của căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước ............................................................................................................................................. 70

3.1.1. Vị trí ở thế áp sát Cần Thơ, thủ phủ của địch ở khu vực đồng bằng sông cửu long71

3.1.2. Là nơi có cơ sở chính trị vững mạnh, thế trận lòng dân được phát huy cao độ .... 72

3.1.3. Là căn cứ chỉ huy và chiến đấu có qui mô lớn và hoàn chỉnh ở khu vực đồng bằng sông cửu long .......................................................................................................... 73

3.2. Vai trò của căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) ...................................................................................................................... 74

3.2.1. Là nơi đứng chân của các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, nơi xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng ............................................................................ 75

3.2.2. Là nơi diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt chống càn, tiêu diệt địch trong các chiến lược chiến tranh .............................................................................................. 76

3.2.3. Đảm bảo vai trò hậu phương tại chỗ cho cuộc kháng chiến................................. 77

3.3. Kinh nghiệm xây dựng căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước ............................................................................................................................ 78

3.3.1. Căn cứ cách mạng an toàn là điều kiện quan trọng đưa sự lãnh đạo cách mạng của Đảng đến thắng lợi. ......................................................................................................... 79

3.3.2. Xây dựng căn cứ cách mạng trên cơ sở đoàn kết dân tộc trong khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy truyền thống yêu nước của đồng bào tại địa phương ....................... 80

3.3.3. Xây dựng Đảng bộ vững mạnh, lực lượng quân sự vững mạnh là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển căn cứ cách mạng ..................................................... 81

KẾT LUẬN ................................................................................................................ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 89

PHỤ LỤC ................................................................................................................... 92

4

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã để lại cho dân tộc ta nhiều bài học kinh

nghiệm quí giá. Trong đó, bài học về xây dựng hậu phương kháng chiến có ý nghĩa quan

trọng. Như V.I. Lênin từng nói: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách nghiêm chỉnh,

phải có một hậu phương được tổ chức vững chắc”[22, tr. 90].

Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, có một nội dung quan trọng là vấn đề căn cứ

địa và hậu phương, theo đó: “Căn cứ địa là nơi đứng chân xây dựng, là nguồn cung cấp,

tiếp tế, là bàn đạp tiến công của các lực lượng vũ trang cách mạng trong khởi nghĩa vũ

trang. Hậu phương là chỗ dựa, là nguồn chi viện nhân lực, vật lực và cổ vũ về tinh thần

cho tiền tuyến đánh giặc, là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh” [8,

tr. 360].

Tiếp thu học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác-Lênin và kế thừa truyền thống đấu

tranh chống ngoại xâm của cha ông ta trong lịch sử, Đảng ta luôn đặt vấn đề xây dựng hậu

phương lên hàng quan trọng bậc nhất, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt

Nam, nên đã nhân lên gấp bội sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé, kinh tế còn nghèo nàn,

lạc hậu nhưng đủ sức đánh bại kẻ thù là một cường quốc. Một trong những chìa khóa tạo

nên sức mạnh của hậu phương chiến tranh Việt Nam là vấn đề xây dựng căn cứ địa. Chủ

tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến

phải có hậu phương”[8, tr 378].

Từ thực tiễn Việt Nam – một nước đất không rộng, người không đông, nền

kinh tế nông nghiệp lạc hậu phải chống lại những tên đế quốc có nền công nghiệp và khoa

học kỹ thuật phát triển, có tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, Hồ Chí Minh xác định:

“thắng lợi phải đi đôi với trường kỳ, kháng chiến càng lâu dài và ác liệt, càng phải huy

động cao nhất sức người, sức của của căn cứ địa, hậu phương. Vì vậy, nhất thiết phải

xây dựng căn cứ, hậu phương vững mạnh, toàn diện về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh

tế, văn hóa…” [8, tr. 378].

Trên cơ sở lý luận đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 –

1975), căn cứ địa cách mạng đã được xây dựng và phát triển mạnh mẽ, rộng khắp toàn

miền Nam, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến. Đồng bằng sông

Cửu Long vốn là nơi diễn ra tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Mỹ - ngụy bỏ ra nhiều

5

công sức xây dựng hàng ngàn đồn bốt, ấp chiến lược, khu trù mật từ Tiền Giang đến Cà

Mau nhằm tách nhân dân ra khỏi cách mạng, hàng loạt các cuộc càn đi quét lại của địch

nhằm đánh bật và tiến đến tiêu diệt lực lượng kháng chiến của ta ở các tỉnh miền Tây Nam

bộ diễn ra quyết liệt, quy mô. Nhưng cuối cùng, Mỹ – ngụy cũng phải thất bại trước sức

mạnh của nhân dân ta.

Để có được thắng lợi to lớn này là nhờ vào những khu căn cứ kháng chiến hình thành

ở các tỉnh miền Tây Nam bộ, đó là trái tim và đầu não chỉ huy tại chỗ cho những đơn vị

quân chủ lực địa phương giành chiến thắng vẻ vang.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân dân Sóc Trăng đã làm thất bại âm

mưu xâm lược của kẻ thù, khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ, có được những chiến công này là

nhờ vào sự chỉ đạo sáng suốt của Tỉnh ủy Sóc Trăng trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ

cứu nước. Tại căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng (xã Gia Hòa - huyện Mỹ Xuyên và xã Mỹ Phước -

huyện Mỹ Tú), Tỉnh ủy đã ra nhiều quyết định quan trọng và lãnh đạo nhân dân Sóc Trăng

giành lấy nhiều thắng lợi quyết định, tiến lên giải phóng tỉnh nhà.

Với tư cách là giáo viên đang giảng dạy Lịch Sử cho thế hệ trẻ, bản thân tôi thấy cần

thiết đi sâu tìm hiểu về vấn đề này nhằm góp phần làm rõ hơn một mảng quan trọng của

lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Qua đó, góp

phần giáo dục truyền thống yêu nước, kiên cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc cho

thế hệ trẻ ngày nay.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Do tầm quan trọng của vấn đề hậu phương – căn cứ địa trong chiến tranh nên đề

tài này đã được sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi của các lãnh tụ, tướng lĩnh, các cơ quan

nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học… Những tác phẩm, bài viết, luận án…đề cập đến

vấn đề căn cứ địa ngày càng nhiều hơn, nội dung sâu sắc hơn.

Trong các tác phẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1970), “Mấy vấn đề về

đường lối quân sự của Đảng ta” - Nhà xuất bản Sự Thật - Hà Nội và “Đường lối quân sự

của Đảng là ngọn cờ trăm trận trăm thắng của chiến tranh nhân dân ở nước ta” - Nhà

xuất bản Quân đội nhân dân - Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trình bày về căn

cứ địa dưới góc độ lý luận, giải quyết một số vấn đề: Khái niệm căn cứ địa, các hình thức

phát triển từ thấp đến cao của căn cứ địa, cơ sở để xây dựng và vai trò của căn cứ địa trong

chiến tranh giải phóng.

6

Sau năm 1975, do nhu cầu bảo vệ tổ quốc, đề tài căn cứ địa được tiếp tục nghiên

cứu trên cả hai bình diện: lý luận, tổng kết và viết lịch sử.

Về lý luận, xuất hiện nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài quân

đội, đáng chú ý là các bài của nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng: “Vài suy nghĩ về hậu

phương chiến tranh nhân dân Việt Nam” (Tạp chí lịch sử quân sự số 3/1993) và của nhà

nghiên cứu Sử học Văn Tạo: “Căn cứ địa cách mạng – truyền thống và hiện tại” (Tạp chí

lịch sử quân sự số 4/1995). Các bài viết này tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận về căn

cứ địa như: khái niệm, nguồn gốc, tính chất, đặc điểm… nêu bật những đặc trưng của căn

cứ địa ở Việt Nam nói chung và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng.

Về tổng kết, có một số công trình quan trọng, tổng kết chung của cả nước có sách:

“Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 – 1975) ( Bộ quốc phòng – Viện

lịch sử quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997), sách “Hậu

phương lớn, tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) (Nhà xuất

bản Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005)…Bên cạnh đó còn có sách “Tổng kết công tác hậu

cần chiến trường Nam Bộ - Cực Nam Trung Bộ (B2) trong kháng chiến chống Mỹ” (Tổng

cục hậu cần, 1986) có liên quan nhiều đến vấn đề căn cứ.

Ngoài các sách tổng kết chung, một số căn cứ địa trên địa bàn miền Tây Nam Bộ

cũng được quan tâm, nghiên cứu trong các công trình tổng kết hoặc viết lịch sử như: “Lịch

sử Đảng bộ Sóc Trăng (1954 – 1975)”, “Lịch sử Đảng bộ Hậu Giang (1954 – 1975)”,

“Lịch sử Đảng bộ Cần Thơ (1954-1975)”…

Qua đó, có thể thấy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm…đề cập đến

một số mặt lý luận và thực tiễn của việc xây dựng căn cứ địa ở các thời kỳ và các địa

phương cụ thể. Qua các nghiên cứu này, các tác giả đã lý giải về khái niệm căn cứ địa, về

chức năng hoạt động, nội dung xây dựng và vai trò của căn cứ địa đối với sự nghiệp kháng

chiến nói chung và kháng chiến chống Mỹ nói riêng, đưa ra một số đặc trưng của căn cứ

địa ở Việt Nam, các kiến thức về một số căn cứ địa cụ thể.

Đối với căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ được đề cập rải rác

đến trong “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng (1954 – 1975)” (Ban Tuyên giáo tỉnh Sóc

Trăng xuất bản năm 1999), “Phát huy các giá trị Di sản văn hóa tại địa phương” (Tiểu

luận cử nhân – Nguyễn Chiến Chinh - nhân viên bảo tàng tỉnh Sóc Trăng), trong bài giới

thiệu về căn cứ Mỹ Phước (Bảo tàng căn cứ Mỹ Phước), hay trong các quyển Lịch sử Đảng

7

bộ huyện Châu Thành (huyện Mỹ Tú ngày nay) (Huyện Ủy Mỹ Tú – 1999), Lịch sử Đảng

bộ xã Mỹ Phước (1954 – 1975) (Huyện Ủy Mỹ Tú - 2010). Tuy vậy vẫn chưa có công trình

nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về căn cứ địa trong cuộc kháng chiến

chống Mỹ cứu nước trên địa bàn Sóc Trăng.

3. Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn này, tôi tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và các

hoạt động chức năng của căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống

đế quốc Mỹ. Từ đó, rút ra những đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm của nó đối với

tiến trình chung của cuộc kháng chiến trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.

Phạm vi thời gian nghiên cứu được tính từ sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết

đến khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ và miền Nam hoàn toàn giải phóng (1954 – 1975).

Không gian đề cập của luận văn là vùng đất căn cứ địa Sóc Trăng qua từng giai đoạn

trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên và huyện Mỹ Tú của tỉnh Sóc Trăng ngày nay.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là lý

luận về cách mạng giải phóng dân tộc và căn cứ địa để làm cơ sở nghiên cứu. Về phương

pháp chuyên ngành, luận văn vận dụng phương pháp lịch sử là chủ yếu, kết hợp với

phương pháp lôgic để dựng lại toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và các hoạt động

chức năng của căn cứ địa ở Sóc Trăng với tất cả những diễn biến, sự kiện điển hình một

cách chân thực như nó từng có.

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp liên

ngành, tiếp xúc các nhân chứng lịch sử, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp tổng

hợp, trên cơ sở khảo cứu các nguồn tư liệu… để nghiên cứu và trình bày luận văn.

5. Đóng góp của đề tài

Trên cơ sở tiếp thu những kết quả của các công trình nghiên cứu trước, luận văn góp

phần dựng lại toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và những hoạt động của căn cứ địa

tỉnh ủy Sóc Trăng trong tiến trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ dưới sự lãnh đạo

của Xứ ủy Nam Bộ và Đảng bộ địa phương các cấp. Từ đó, thấy được những giá trị và

kinh nghiệm mà nó để lại, bổ sung thêm vào những mảng còn trống trong nghiên cứu lịch

sử Việt Nam hiện đại, đặc biệt là lịch sử địa phương; góp phần vào nghiên cứu về chiến

8

tranh cách mạng nói chung và về căn cứ địa trong chiến tranh cách mạng nói riêng.

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng giảng dạy lịch sử địa phương

ở Sóc Trăng, giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Từ đó, khơi dậy ý thức

giữ gìn, bảo tồn khu di tích lịch sử căn cứ Tỉnh ủy trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là

thế hệ trẻ hiện nay.

6. Bố cục của luận văn

Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 - Cơ sở hình thành căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ

cứu nước (1954 – 1975).

Chương 2 - Quá trình xây dựng và phát triển căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng

chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975).

Chương 3 - Đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm xây dựng căn cứ Tỉnh ủy Sóc

Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975).

9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC

TRĂNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC

(1954 – 1975 )

1.1. Cơ sở lý luận

Vấn đề xây dựng căn cứ địa làm bàn đạp cho các cuộc khởi nghĩa, chiến tranh cách

mạng luôn có tầm quan trọng đặc biệt trong bất kỳ thời kỳ lịch sử nào, ở bất cứ quốc gia

nào. Nó là vấn đề có ý nghĩa sống còn, quyết định sự thành bại của chiến tranh. V.I. Lênin

từng nói: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách nghiêm chỉnh, phải có một hậu phương

được tổ chức vững chắc” [22, tr. 90]. Trong lịch sử Việt Nam, mỗi khi dân tộc ta đứng lên

chiến đấu để giành hoặc bảo vệ độc lập chủ quyền cho Tổ quốc, ông cha ta đều đã biết tìm

chỗ đứng chân. Những nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cứu nước trong lịch sử

dân tộc đã chú trọng vào điều kiện "thiên thời, địa lợi, nhân hòa", khi tìm nơi rừng núi, khi

chọn vùng đầm lầy, khi dựa vào vùng đồng bằng để lập đại bản doanh, khai thác sức người

sức của trong nhân dân và phát triển tiềm lực. Khởi nghĩa vũ trang và căn cứ địa cách mạng

là hai vấn đề có mối quan hệ khăng khít với nhau. Do đó trong xây dựng lực lượng, khởi

nghĩa vũ trang thì trước hết phải chú ý đến vấn đề xây dựng căn cứ địa để làm nơi dự trữ

lực lượng cách mạng, hậu cần cách mạng, làm bàn đạp đấu tranh vũ trang và là trung tâm

thúc đẩy phong trào cách mạng.

Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, có một nội dung quan trọng là vấn đề căn cứ

địa và hậu phương, theo đó: “Căn cứ địa là nơi đứng chân xây dựng, là nguồn cung cấp,

tiếp tế, là bàn đạp tiến công của các lực lượng vũ trang cách mạng trong khởi nghĩa vũ

trang. Hậu phương là chỗ dựa, là nguồn chi viện nhân lực, vật lực và cổ vũ về tinh thần

cho tiền tuyến đánh giặc, là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh” [8,

tr. 360].

Tiếp thu học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác-Lênin và kế thừa truyền thống đấu

tranh chống ngoại xâm của cha ông ta trong lịch sử, Đảng ta luôn đặt vấn đề xây dựng hậu

phương lên vị trí quan trọng bậc nhất, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt

Nam nên đã nhân lên gấp bội sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé, kinh tế còn nghèo nàn,

lạc hậu, nhưng đủ sức đánh bại kẻ thù là một cường quốc. Một trong những chìa khóa tạo

nên sức mạnh của hậu phương chiến tranh Việt Nam là vấn đề xây dựng căn cứ địa. Chủ

10

tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến

phải có hậu phương” [8, tr. 378].

Từ thực tiễn Việt Nam – một nước đất không rộng, người không đông, nền

kinh tế nông nghiệp lạc hậu phải chống lại những tên đế quốc có nền công nghiệp và khoa

học kỹ thuật phát triển, có tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, Hồ Chí Minh xác định:

“thắng lợi phải đi đôi với trường kỳ, kháng chiến càng lâu dài và ác liệt, càng phải huy

động cao nhất sức người, sức của của căn cứ địa, hậu phương. Vì vậy, nhất thiết phải

xây dựng căn cứ, hậu phương vững mạnh, toàn diện về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh

tế, văn hóa…” [8, tr. 378].

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tác phẩm “Mấy vấn đề về đường lối quân sự của

Đảng ta” lý giải “căn cứ địa cách mạng là những vùng giải phóng xuất hiện trong vòng

vây của địch, cách mạng dựa vào đó để tích lũy và phát triển lực lượng của mình về mọi

mặt, tạo thành những trận địa vững chắc về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, lấy đó

làm nơi xuất phát để mở rộng dần ra, cuối cùng tiến lên đánh bại kẻ thù lớn mạnh, giải

phóng hoàn toàn đất nước. Căn cứ địa là chỗ đứng chân của cách mạng, đồng thời là

chỗ dựa để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh đấu trang vũ trang cách

mạng; trên ý nghĩa đó, nó cũng là hậu phương của chiến tranh cách mạng” [ 22, tr.

90].

Ngay từ khi Đảng ta ra đời và vạch ra con đường cách mạng bạo lực để đánh đổ đế

quốc và tay sai thì vấn đề xây dựng chỗ đứng chân cũng được đặt ra. Từ chủ trương xây

dựng cơ sở chính trị cho cách mạng ở thành thị và nông thôn tiến lên xây dựng căn cứ cách

mạng ở miền núi. Đó là những vùng với lãnh thổ rộng lớn và dân cư ủng hộ cách mạng, nó

tương đối an toàn, là nơi đứng chân, hoạt động của các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo kháng

chiến, các tổ chức cách mạng của địa phương và các lực lượng vũ trang.

Như vậy căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước được hình

thành trên cơ sở vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng.

1.2. Cơ sở thực tiễn

Lịch sử dân tộc là lịch sử của quá trình dựng nước đi đôi với giữ nước. Trong suốt

chiều dài lịch sử dân tộc nhân dân ta luôn phải chống lại các thế lực xâm lược bên ngoài để

11

bảo vệ nền độc lập của mình, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học

về thực tiễn xây dựng căn cứ địa.

Ngay từ thời Bắc thuộc, Hai Bà Trưng chọn vùng đất Mê Linh, Triệu Quang Phục

chiến đấu chống quân Lương, đã dựa vào vùng đầm Dạ Trạch (Hưng Yên) để xây dựng lực

lượng, chờ thời cơ thuận lợi tiến lên đánh quân xâm lược. Thế kỷ XIII, sau ba lần chiến

thắng giặc Mông - Nguyên tướng quân Trần Quốc Tuấn đã viết trong sách "Binh thư yếu

lược" rằng: "Cái đạo hành binh quý nhất ở địa lợi, địa lợi không rõ thì rất khó ra quân kỳ,

đặt quân phục". Thế kỷ XV, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi và quân sư Nguyễn Trãi

cũng dựa vào vùng núi Thọ Xuân (Thanh Hóa) để xây dựng đại bản doanh - căn cứ địa làm

nên nghiệp lớn, đúng như Nguyễn Trãi viết "Quan hà bách nhị do thiên thiết, hào kiệt công

danh thử địa tàng" (Quan hà hiểm yếu trời kia đặt, hào kiệt công danh đất ấy từng). Cuối

thế kỷ XVIII, cuộc khởi nghĩa nông dân của ba anh em nhà Tây Sơn cũng mở đầu bằng việc

lập căn cứ ở ấp Tây Sơn (Bình Định). Từ đây nghĩa quân lần lượt lật đổ các thế lực phong

kiến Đàng Trong và Đàng Ngoài tiến tới thống nhất lãnh thổ, giải phóng dân tộc và bảo vệ

nền độc lập dân tộc khi đánh đuổi quân Xiêm và quân Mãn Thanh.

Trong phong trào kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ XIX, các nhà yêu nước cũng

nhận thức được tầm quan trọng của căn cứ địa. Nguyên soái Trương Định xây dựng căn cứ

ở Gò Công, Tân An (Gia Định); Nguyễn Trung Trực xây dựng căn cứ kháng chiến ở Hòn

Chông (Rạch Giá), Phú Quốc (Kiên Giang); Đinh Công Tráng xây dựng căn cứ Ba Đình

(Thanh Hóa); Nguyễn Thiện Thuật xây dựng căn cứ ở vùng Bãi Sậy (Hưng Yên); Phan

Đình Phùng trong khởi nghĩa Hương Khê đã xây dựng căn cứ ở Vụ Quang (Hà Tĩnh); Khởi

nghĩa nông dân của Hoàng Hoa Thám dựa vào vùng núi rừng hiểm trở Yên Thế (Bắc

Giang) để chống Pháp trong thời gian dài.

Trong điều kiện lịch sử mới, Đảng ta kế thừa và phát huy những truyền thống đánh

giặc đã được tổ tiên ta đúc kết "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" xây dựng căn cứ địa đặt trong

mối quan hệ với quốc tế và sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Nhờ đó Đảng ta xây

dựng thành công căn cứ địa Việt Bắc làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính

quyền vào tháng Tám năm 1945.

Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 căn cứ địa Việt Bắc tiếp tục làm chỗ dựa

cho cuộc kháng chiến chống Pháp tái xâm lược. Khi chiến tranh lan rộng ra cả nước, ta vẫn

giữ được các vùng tự do rộng lớn ở Việt Bắc, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Sau đó nối

12

liền Việt Bắc và Bắc Trung Bộ với nhau qua vùng tự do Liên khu V. Ở Nam bộ, trong điều

kiện chiến trường bị chia cắt, ta cũng xây dựng được những chiến khu nổi tiếng như chiến

khu D, chiến khu Dương Minh Châu, chiến khu U Minh…

Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, trước hành động khủng bố,

trả thù của Mỹ - Diệm, cách mạng miền Nam bị tổn thất về tổ chức và lực lượng ngày càng

nặng. Quần chúng cách mạng bị kìm kẹp, khống chế gắt gao. Nhiều nơi đảng viên phải rút

vào hoạt động bí mật, chuyển vùng… Một số địa phương, cán bộ, đảng viên, quần chúng

cách mạng chuyển vào các căn cứ kháng chiến cũ ở rừng núi, bưng biền, tổ chức sản xuất

tự túc và tự vệ. Miền rừng núi Khu 5, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên xuất hiện các “trại bí

mật”. Ở chiến khu D, Dương Minh Châu (miền Đông Nam Bộ) hình thành “làng chiến

đấu”, “làng thoát ly”. Vùng Đồng Tháp Mười ra đời các “túi dân tản cư”. Sâu trong miệt

rừng U Minh thuộc Tây Nam Bộ có các “làng rừng”. Vùng đồng bào S.Tiêng có các “làng

Độc Lập”… Đó là những hình thức khác nhau, là cơ sở ban đầu hình thành các căn cứ địa

trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ.

Khi qui mô và cường độ cuộc chiến tranh tăng lên thì căn cứ địa cũng phát triển

rộng khắp. Tùy theo điều kiện tự nhiên, xã hội, địa hình… mà căn cứ địa được xây

dựng dưới nhiều hình thức. Bên cạnh căn cứ vùng rừng núi, ở miền Trung và Tây Nam

Bộ nước ta còn có các căn cứ từ thời kháng chiến chống Pháp như căn cứ Đồng Tháp

Mười, là vùng đồng nước mênh mông vào mùa mưa hoặc dạng rừng tràm, đước ngập nước

như căn cứ U Minh. Căn cứ rừng Sác cũng là một căn cứ nổi tiếng từ thời chống Pháp. Là

một vùng rừng ngập mặn, nằm ở phía Đông Nam thành phố Sài Gòn. Tại đây, hàng trăm

sông rạch lớn nhỏ dọc ngang chằng chịt như mạng nhện, chia cắt rừng Sác thành hàng

nghìn đảo triều lớn nhỏ, thoắt chìm thoắt nổi theo nước thủy triều. Phủ lên rừng Sác đủ các

loại cây rừng ngập mặn, đan níu nhau tầng tầng lớp lớp. Sông rạch, đảo triều, rừng cây làm

cho Rừng Sác trở thành một khu vực cực kỳ hiểm trở, lại nằm sát cạnh thành phố Sài Gòn

và ôm gọn đường giao thông thủy chiến lược nối Sài Gòn ra quốc tế.

Ở địa bàn tỉnh Sóc Trăng, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp giành được thắng

lợi, bước vào cuộc chiến mới với đế quốc Mỹ và tay say, căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng được

dời từ căn cứ Bố Thảo về đặt tại xã Gia Hòa và một số xã tiếp giáp như Thạnh Quới, Quới

Thiện – huyện Mỹ Xuyên – tỉnh Sóc Trăng… đây là khu vực tương đối thuận lợi di chuyển

vì gần cửa sông Bassac, thuận lợi cho lối đánh du kích, di chuyển quân và phát động chiến

13

tranh trên quy mô toàn tỉnh. Nhưng để chuẩn bị cho cuộc tổng nổi dậy công kích và khởi

nghĩa vào các căn cứ của địch, nhất là đánh vào thị xã Sóc Trăng cùng với cả nước tiến

công Xuân Mậu Thân 1968 thì Thường vụ tỉnh ủy Sóc Trăng đã quyết định di chuyển từ

căn cứ Gia Hòa về căn cứ Tỉnh ủy cũ ở rừng tràm Mỹ Phước – huyện Châu Thành (nay là

huyện Mỹ Tú) (Căn cứ Tỉnh ủy Bố Thảo trong kháng chiến chống Pháp là một tên gọi cũ

của khu rừng tràm Mỹ Phước) để chỉ đạo cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân và lãnh đạo

nhân dân toàn tỉnh kháng chiến.

Như vậy, căn cứ địa ở nước ta nói chung, ở Nam Bộ nói riêng đa dang về hình thức.

Tùy điều kiện tự nhiên, xã hội, địa hình mà từng nơi, Đảng bộ các cấp đã lãnh đạo nhân

dân xây dựng căn cứ địa với dạng thức phù hợp, tạo nên sự phong phú, đa dạng về các loại

hình căn cứ địa ở nước ta

1.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống đấu tranh của nhân dân

tỉnh Sóc Trăng

1.3.1. Điều kiện tự nhiên – Địa lý

Sóc Trăng là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong vùng hạ lưu

sông Hậu, trên trục lộ giao thông thuỷ bộ nối liền thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh miền

Tây Nam bộ.

Về thời tiết Sóc Trăng ở vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa, hàng năm theo mùa khô và mùa mưa rõ rệt, nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,80C, ít khi bị bão lụt.

Lượng mưa trung bình trong năm là 1.846 mm, tập trung nhất từ tháng 8, 9, 10, thuận lợi

cho cây lúa và các loại hoa màu phát triển.

Về vị trí địa lý thì tỉnh Sóc Trăng, phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây Bắc

giáp tỉnh Cần Thơ, phía Đông Nam giáp biển Đông và phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu.

Diện tích tự nhiên là 3.200,27 km2; dân số 1.175.462 người, trong đó người Kinh 752.443,

người Khơ - me 349.935; người Hoa 72.644, còn lại 440 người là các dân tộc khác.

Địa lý hành chính của Sóc Trăng nhiều lần thay đổi theo sự biến thiên của lịch sử.

Vào năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ

Đàng trong (Nam bộ) và tiến hành xác lập địa giới hành chính vùng đất này, lập thành phủ

Gia Định. Lấy lất Đồng Nai (Nông Nại) làm huyện Phước Long và đặt dinh Trấn Biên, lưu

mộ dân từ Quảng Bình trở vào đến ở, chia đặt thôn, ấp. Năm 1732 chúa Nguyễn lập dinh

Long Hồ tại Cái Bè lúc đó là Cái Bè Dinh, năm 1780 được đặt tại vùng chợ Vĩnh Long và

14

đổi tên là Vĩnh Trấn Dinh, sau đó đổi thành trấn Vĩnh Thanh. Lúc này Sóc Trăng thuộc

vùng Ba Thắc nằm trong trấn Vĩnh Thanh, phủ Gia Định.

Năm 1832, vua Minh Mạng chia Nam kỳ thành 6 tỉnh, 3 tỉnh Miền Đông là: Gia

Định, Biên Hòa, Định Tường; 3 tỉnh Miền Tây gồm: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Vùng

đất Sóc Trăng thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Năm 1835 lại lấy đất Ba Thắc (tức vùng đất Sóc Trăng) nhập vào tỉnh An Giang, lập

thêm phủ Ba Xuyên, gồm 3 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thạnh và Vĩnh Định. Đây là điểm

mốc có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng về địa danh hành chính tỉnh Sóc Trăng sau này.

Năm 1867, thực dân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây trong đó có Sóc Trăng, sau đó Pháp

chia Nam kỳ lục tỉnh thành nhiều hạt. Đến năm 1876 thực dân Pháp chia toàn Nam kỳ thành

4 khu vực hành chính gồm: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Sắc (Bassac), mỗi khu vực

hành chánh lớn lại chia nhỏ thành nhiều tiểu khu, tiểu khu Sóc Trăng thuộc khu vực Bát

Sắc. Năm 1882, Pháp tách 2 tổng của tiểu khu Sóc Trăng và 3 tổng của tiểu khu Rạch Giá

thành lập thêm tiểu khu Bạc Liêu. Tiếp theo một vài thay đổi (tách, nhập, xóa bỏ), nghị định

của toàn quyền Đông Dương ngày 27-12-1892 qui định Nam kỳ có 2 thành phố Sài Gòn,

Chợ Lớn và 20 khu xếp theo thứ tự A, B, C như sau: Bạc Liêu, Bà Rịa, Bến Tre, Biên Hoà,

Cần Thơ, Châu Đốc, Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công, Hà Tiên, Long Xuyên,... Mỹ Tho, Rạch

Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng, Tân An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Vĩnh Long. Đến tháng

5-1895 lập thêm thành phố Cap Saint Jacques (Vũng Tàu). Nghị định ngày 20-12-1899 của

toàn quyền Đông Dương qui định: kể từ ngày 1-1-1900 tất cả các đơn vị hành chính cấp tỉnh

ở Đông Dương trong đó có các khu ở Nam kỳ đều thống nhất gọi là tỉnh (Provine). Đứng

đầu mỗi tỉnh ở Nam kỳ là một chủ tỉnh, cũng gọi là Chánh tham biện (Administrateur de

la). Cho đến cuối thời kỳ Pháp thuộc 20 tỉnh vẫn giữ nguyên tên cũ. Tỉnh Sóc Trăng thuộc

miền Tây Nam kỳ, gồm 3 quận: Châu Thành, Kế Sách, Bang Long (nay là Long Phú).

Năm 1926 thực dân Pháp chia tỉnh Sóc Trăng thành 4 quận: Châu Thành, Kế Sách,

Long Phú và Phú Lộc. Năm 1932 Thống đốc Nam kỳ quyết định giải tán một số quận trong

các tỉnh Nam kỳ, trong đó có quận Phú Lộc, nhưng đến năm 1941, Thống đốc Nam kỳ

quyết định thành lập lại quận Phú Lộc.

Về phía ta, sau cách mạng tháng 8-1945, quận Phú Lộc được gọi là quận Thạnh Trị.

Trong kháng chiến chống Pháp, tỉnh Sóc Trăng có thêm quận Vĩnh Châu của tỉnh Bạc Liêu

15

giao qua. Sau đó ta nhập huyện Vĩnh Châu vào huyện Thạnh Trị lấy tên là Thạnh Trị. Thời

kỳ chống Pháp, Sóc Trăng có một số xã của tỉnh Rạch Giá và tỉnh Cần Thơ giao qua.

Năm 1955, thực hiện sự chỉ đạo của Liên Tỉnh ủy, tỉnh Sóc Trăng giao huyện Vĩnh

Châu cho tỉnh Bạc Liêu. Cuối năm 1957 tỉnh Sóc Trăng nhận thêm thị xã Bạc Liêu và các

huyện: Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai của tỉnh Bạc Liêu và huyện Hồng Dân của tỉnh Rạch

Giá. Năm 1957 tỉnh Sóc Trăng sáp nhập 2 huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu thành một huyện lấy

tên là Vĩnh Lợi - Vĩnh Châu, năm 1962 lại tách 2 huyện ra như cũ. Đầu năm 1958 huyện Kế

Sách sáp nhập về tỉnh Cần Thơ. Như vậy, vào thời gian này tỉnh Sóc Trăng có 2 thị xã (thị

xã Sóc Trăng, thị xã Bạc Liêu) và 7 huyện (Châu Thành, Long Phú, Thạnh Trị, Vĩnh Châu,

Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai).

Tháng 11 năm 1973, theo quyết định của Khu ủy Tây Nam Bộ, Sóc Trăng giao các

huyện Vĩnh Lợi, Hồng Dân, thị xã Bạc Liêu cho tỉnh Bạc Liêu (riêng huyện Giá Rai giao lại

cho tỉnh Cà Mau từ năm 1961).

Nghị định số 31/NĐ ngày 21-2-1976 của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa

Miền Nam Việt Nam qui định giải thể cấp khu, hợp nhất một số tỉnh. Tỉnh Sóc Trăng hợp

nhất với tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang.

Trong kỳ họp lần thứ 10, khóa VIII Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam vào ngày 26 tháng 12 năm 1991, quyết định tách tỉnh Hậu Giang thành 2 tỉnh Sóc

Trăng và Cần Thơ. Tỉnh Sóc Trăng chính thức đi vào hoạt động vào đầu tháng 4 năm 1992,

gồm các huyện: Mỹ Tú, Kế Sách, Thạnh Trị, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu và thị xã

Sóc Trăng. Ngày 11-01-2002, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra

Nghị định số: 04/2002/NĐ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Phú để thành lập

huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc trăng. Như vậy, tính đến 2010, tỉnh Sóc Trăng có 1 thị xã, 7

huyện với 102 xã, phường, thị trấn.

1.3.2. Về Kinh tế - xã hội

Chính nhờ các điều kiện thiên nhiên nói trên, nên trong suốt hai cuộc kháng chiến ác

liệt, tuy một phần đất đai ruộng vườn bị bỏ hoang, song người nông dân Sóc Trăng không

những tự đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm mà còn cung cấp cho một số tỉnh bạn

và Trung ương, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Hiện nay nông nghiệp vẫn

được coi là thế mạnh của kinh tế Sóc Trăng, toàn tỉnh có 263.831 ha đất nông nghiệp, với cơ

cấu nông - lâm - ngư nghiệp, trong đó ngư nghiệp là mũi nhọn.

16

Với việc đầu tư xây dựng tuyến đê ngăn mặn, tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ

thuật cho cây lúa, đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, phát triển nhiều giống lúa mới có năng

suất, chất lượng cao. Chính sách ruộng đất phù hợp, người nông dân được giao quyền sử

dụng lâu dài. Nhờ vậy từ năm 1992 đến nay, sản lượng lúa luôn phát triển, từ 780.000 tấn

năm 1992 lên 1.620.000 tấn năm 2000, lượng lương thực hàng hóa ngày càng tăng, góp

phần cho việc xuất khẩu, đời sống nông dân từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, Sóc

Trăng còn một số vùng độc canh cây lúa, lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nên hiệu quả sản

xuất chưa cao, đời sống nhân dân còn gặp khó khăn.

Cùng với sự phát triển lương thực và hoa màu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm

cũng phát triển, tạo nguồn thực phẩm phong phú, chẳng những cung cấp thực phẩm cho

nhân dân trong và ngoài tỉnh mà còn có một khối lượng xuất khẩu đáng kể. Sóc Trăng có

diện tích khá lớn rẫy chuyên canh, luân canh như rau màu, dưa hấu, hành, tỏi, dây thuốc cá

và nhiều loại cây ăn trái khác như: cam, quít, chuối, nhãn, bưởi, Sa bô chê, v.v... tập trung ở

các huyện Kế Sách, Long Phú, Vĩnh Chậu. Bên cạnh đó còn có những loại cây công nghiệp

ngắn ngày như mía, dừa v.v... có giá trị kinh tế cao.

Thủy sản được xác định là ngành mũi nhọn của tỉnh. Với ưu thế có bờ biển dài 72

km, nội địa nhiều sông rạch, rất thuận lợi cho việc nuôi trồng các loại tôm, cua, cá... đã giúp

cho việc chế biến xuất khẩu ngày càng phát triển, thu được nhiều ngoại tệ cho tỉnh. Từ sau

tái lập tỉnh, việc nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thuỷ sản phát triển rất nhanh. Năm 1992 diện

tích nuôi trồng 19.800 ha, đến năm 2001 diện tích tăng lên 53.245 ha, trong đó diện tích

nuôi tôm dạt 49.300 ha: Xuất khẩu thủy sản có bước tiến vượt bậc từ 4,5 triệu đô-la năm

1992 lên 203,14 triệu đô-la năm 2001.

Về công nghiệp, dưới thời thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược Sóc Trăng trong

tình trạng chung của khu vực, có nền công nghiệp yếu kém, kéo dài hơn một thế kỷ. Sau

ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30-4-1975, đất nước thống nhất, Đảng bộ Sóc Trăng

mới có điều kiện lãnh đạo phát triển nền công nghiệp địa phương phục vụ cho sản xuất nông

ngư nghiệp, xuất khẩu và đời sống nhân dân. Nhiều xí nghiệp chế biến tôm đông lạnh, nhà

máy xay xát công suất lớn, xí nghiệp sửa chữa cơ khí, nhà máy đường kết tinh, nhà máy

nước đá, xí nghiệp gạch Tuy-nen, trạm biến điện, nhà máy PP (kéo sợi ni-lon), nhà máy bia,

dịch vụ Bưu điện... đã được xây dựng, ngày càng mở rộng và phát triển. Các nghề truyền

thống như đan dát, dệt chiếu, làm bánh pía (Vũng Thơm), lạp xưởng... được phát triển.

17

Về giao thông vận tải, đã đầu tư nâng cấp, mở thêm nhiều tuyến đường thuỷ, bộ và

một số bến cảng, kho tàng v.v... đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc

phòng và phục vụ đời sống nhân dân. Hiện nay các tuyến đường đi các huyện trong tỉnh đã

tương đối hoàn chỉnh, hệ thống giao thông nông thôn xã, ấp được nối liền, giao lưu, kinh tế

xã hội được mở rộng. Hệ thống điện lưới quốc gia được đưa về tất cả trung tâm các xã trong

huyện. Hết năm 2001 toàn tỉnh có 126.482 hộ có điện sử dụng, đạt tỉ lệ 53,71%.

Việc quy hoạch xây dựng đô thị cũng được quan tâm. Thị xã Sóc Trăng và các thị

trấn, thị tứ ngày càng được mở rộng, nâng cấp khang trang. Trong thời gian mười năm từ

khi tái lập tỉnh, nhiều công trình phục vụ cho sản xuất, đời sống nhân dân như trường học,

bệnh viện, trụ sở làm việc, khu văn hóa, sân vận động, khách sạn,v.v... được xây mới.

Trên lĩnh vực bưu chính viễn thông, Sóc Trăng đã lắp đặt hệ thống tổng đài điện tử tự

động, bảo đảm thông tin nhanh chóng trong nước, quốc tế và các huyện, xã trong tỉnh.

Sóc Trăng còn là trung tâm buôn bán sầm uất, ngay từ thế kỷ XVIII có thương cảng

Đại Ngãi (trước kia gọi là Vàm Tấn), Bãi Xàu(l) và chợ Khánh Hưng, là tụ điểm dân cư

đông đúc, buôn bán tấp nập, giao lưu trong nước và các nước phía Nam Châu Âu từ bao đời

nay. Thực dân Pháp và phát xít Nhật, xây dựng sân bay ở Sóc Trăng. Pháp còn lập một số

trường tiểu học ở tỉnh lỵ và ở một số quận nhằm đào tạo lớp người phục vụ cho chính sách

cai trị thuộc địa của chúng. Chính trong những trường này, nhiều học sinh tiến bộ, có tinh

thần yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng, chống lại chế độ thực dân và tay sai. Từ khi đất

nước được thống nhất, công tác giáo dục được xã hội đặc biệt quan tâm, hệ thống trường

lớp tăng lên nhanh chóng. Năm học 2001- 2002 toàn tỉnh có 385 trường, 4.574 phòng học,

227.801 học sinh, 11.821 cán bộ, giáo viên. Huyện nào cũng có trường phổ thông trung học,

các xã có trường tiểu học và trung học cơ sở. Ngoài ra còn có 1 trường Cao Đẳng sư phạm,

1 Trung tâm giáo dục thường xuyên, 4 trường dân tộc nội trú và 1 trường bổ túc văn hóa

trung cấp Pa li Nam Bộ.

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân cũng được quan tâm, 98/98 phường, xã có

trạm y tế và cơ sở khám, điều trị bệnh, ở ấp, khóm đều có tổ y tế. Ngoài ra còn có các trung

tâm y tế huyện, thị, phòng khám khu vực; bệnh xá quân đội và hệ thống bệnh viện, trung

tâm trạm, trại cấp tỉnh với đội ngũ cán bộ y tế có tay nghề, nhiệt tình chăm sóc sức khỏe cho

nhân dân. Đặc biệt đã xây dựng bệnh viện đa khoa tỉnh, có 400 giường bệnh, trang thiết bị

khá hiện dại. Toàn ngành có 2.062 cán bộ, trong đó có 6 thạc sĩ, 361 bác sĩ và tương đương.

18

Về văn hóa nghệ thuật: Nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật kiến trúc phát triển sớm và

rất phong phú. Hát bội của người Kinh, hát Dù kê, múa trống Xay-dăm của người Khơ me,

hát Tiều của người Hoa được nhân dân yêu thích. Những công trình kiến trúc cổ kính mang

đặc trưng riêng của từng dân tộc như chùa Phật, đình thần, thánh thất. Ở Sóc Trăng hiện nay

còn có nhiều chùa xây dựng từ rất xa xưa, với đường nét kiến trúc độc đáo. Đình chùa là nơi

thờ cúng thiêng liêng của nhân dân, nhưng đồng thời cũng là nơi gặp gỡ của các nhà yêu

nước và chiến sĩ cách mạng hoạt động.

Dân cư Sóc Trăng chủ yếu là 3 dân tộc Kinh, Khơ me, Hoa, đã cùng chung sức khai

phá, xây dựng và bảo vệ vùng đất này. Vì vậy, trải qua bao bước thăng trầm của lịch sử, ý

thức dân tộc, tinh thần yêu nước, đoàn kết chống giặc ngoại xâm ngày càng được củng cố

bền vững. Ở đây trong quá trình phát triển, cộng đồng ba dân tộc đã có mối quan hệ gắn bó

huyết thống, xây dựng nên tình thân ái, đùm bọc lẫn nhau trong cơn hoạn nạn, giúp đỡ nhau

trong lao động sản xuất, tôn trọng nhau trong sinh hoạt, phong tục tập quán, tự do tín

ngưỡng v.v... tạo nên cuộc sống hài hòa về kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng các dân

tộc. Đặc biệt, trong quan hệ giao tiếp, người dân lao động ở đây còn thể hiện đức tính quí

trọng nhân nghĩa, thẳng thắn, bộc trực, sống hào phóng, giản dị, tình cảm mộc mạc chân

thành, đó là bản tính truyền thống của người dân Nam bộ nói chung, của người dân Sóc

Trăng nói riêng.

Là vùng đất mới khai phá, nền kinh tế nông nghiệp đầy hấp dẫn. Do đó bọn địa chủ

quan lại phong kiến, thực dân Pháp đổ xô vào vùng đất này, chúng dùng mọi thủ đoạn để

cướp đất của nông dân, biến họ thành những tá điền phải mướn lại ruộng đất, nộp tô hoặc

suốt đời làm thuê cho địa chủ, đồng thời chúng tập trung khai thác, vơ vét nông sản, thu

nhiều lợi nhuận. Vì vậy, quá trình tập trung ruộng đất ở Sóc Trăng diễn ra với mức độ rất

nhanh. Đến năm 1936 đã có 70 điền chủ người Âu, chiếm 29.052 ha, bằng 15% đất canh

tác, số điền chủ bản xứ chiếm 177.000 ha, gần bằng 85%, chỉ còn 8.000 ha là của nông dân.

Chính vì thế trong xã hội nổi lên 2 mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực

dân Pháp xâm lược; giữa giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến.

Tỉnh Sóc Trăng có nhiều tôn giáo như: Phật giáo với hai hệ phái, Nam tông (người

Khơ me) Bắc tông (người Kinh, người Hoa) Thiên chúa, Tin lành, Cao đài, phật giáo Hòa

hảo. Toàn tỉnh có 263 cơ sở thờ tự, 206 đình, miếu, 1 Hội Dòng nữ tu Mến Thánh Giá, 1

Cộng đoàn Nữ tu Chúa Quang Phòng, 2951 chức sắc, nhà tu hành, 8266; Chức việc và

19

583.679 Tín đồ, trong đó tín đồ phật giáo chiếm đa số. Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao

động, có truyền thống yêu nước, nên khi Đảng có đường lối, chính sách phù hợp thì họ sẵn

sàng đi theo.

1.3.3. Truyền thống đấu tranh của nhân dân tỉnh Sóc Trăng

Tinh thần yêu nước của nhân dân Sóc Trăng được thể hiện ngay từ buổi đầu khai

phá, mở mang vùng đất mới đã anh dũng chống lại bọn cướp biển Java, quân xâm lược

Xiêm La, giữ gìn xóm làng quê hương, bảo vệ mồ mả ông bà tổ tiên. Khi nghĩa quân Tây

Sơn tiến đánh Nguyễn Ánh lần thứ nhất vào mùa hè năm 1776, nhân dân ở các phủ Trà

Vinh, Ba Thắc (Sóc Trăng) đã nổi dậy hưởng ứng. Năm 1782 Nguyễn Ánh tháo chạy qua

Rạch Giá trốn ra biển, nhân dân ở đây đã phối hợp chặt chẽ với nghĩa quân Tây Sơn dùng

30 chiến thuyền truy địch ra tận ngoài khơi. Năm 1785, Nguyễn Ánh lại cầu viện 5 vạn

quân Xiêm, nhưng một lần nữa bị đánh bại ở Rạch Gầm - Xoài Mút. Nhân dân Sóc Trăng

cùng nhân dân các tỉnh lân cận đã tích cực phối hợp chặt chẽ, quét sạch quân Xiêm xâm

lược ra khỏi lãnh thổ.

Sau trận đại bại này, Nguyễn Ánh một lần nữa rước quân Pháp về chiếm lại miền Gia

Định. Tuy quân địch đông và mạnh hơn, lại có sự hỗ trợ của Pháp, nhưng nhân dân Nam kỳ

nói chung và Sóc Trăng nói riêng không cam chịu làm nô lệ đã anh dũng chiến đấu chống

lại. Sử Đại Nam thực lục chính biên kể lại: vào tháng 12 năm 1787, quân Tây Sơn giữ đồn

Cần Thơ, bày chiến thuyền để chống cự quân của Nguyễn Ánh. Đến tháng 3-1788, Phạm

Văn Tham đóng giữ đồn Ba Thắc (Sóc Trăng) đã phối hợp, với 1.500 quân địa phương,

dựng thành đất ở hai ven sông Bassac làm chiến lũy. Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra quyết liệt

kéo dài đến tháng 12 năm 1789, bọn địch phải lập thêm đồn phòng thủ lớn ở Bãi Xàu để đàn

áp nghĩa quân. Mặc dù nghĩa quân đã kiên cường chống giặc nhưng lực lượng ngày càng

suy yếu vì không có sự chi viện của quân Tây Sơn, nên dần dần bị quân Nguyễn Ánh đánh

bật ra khỏi nơi này.

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình Nhà Nguyễn hèn nhát dâng ba tỉnh

miền Đông, rồi dâng luôn ba tỉnh miền Tây cho giặc Pháp. Nhân dân Sóc Trăng cùng với

nhân dân lục tỉnh đã liên tục kiên cường khởi nghĩa chiến đấu chống giặc Pháp do các sĩ phu

yêu nước lãnh đạo như Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực... đặc biệt

một nông dân tên Chương đã chỉ huy 1.000 nghĩa quân, tập trung ở Duy Hòa nay là Hòa Tú,

Gia Hòa, huyện Mỹ Xuyên), Pháp kéo lính mã tà từ Rạch Chùa vào đàn áp. Quân khởi

20

nghĩa dưới sự chỉ huy của ông Chương dũng cảm xông lên giết giặc. Quân địch bị đánh bất

ngờ nên đã nếm đòn thất bại. phong trào chống Pháp của anh em Đỗ Thừa Luông và Đỗ

Thừa Tự từ vùng U Minh Hạ đến Sóc Trăng cũng được đông đảo nhân dân tham gia.

Không chỉ bằng những cuộc đấu tranh chống giặc, nhân dân Sóc Trăng còn tham gia

những cuộc vận động yêu nước, vận động chính trị để giành độc lập cho dân tộc. Phong trào

yêu nước do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh khởi xướng đã lan

rộng đến Sóc Trăng. Hội kín "Thiên địa hội" xuất hiện ở ngay thị xã Sóc Trăng. Các phong

trào vận động yêu nước đó đã khơi dậy truyền thống bất khuất chống giặc ngoại xâm của tổ

tiên ta để lại.

Phát huy truyền thống của dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, dưới sự

lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp là Đảng bộ tỉnh, nhân dân Sóc Trăng đã

làm nên những chiến thắng vẻ vang qua các chặng đường lịch sử, đặc biệt đã vùng lên

hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, mà điển hình là cuộc nổi dậy của quân dân làng Hòa

Tú chống lại thực dân Pháp và bọn tay sai.

Tuy cuộc khởi nghĩa Nam kỳ bị địch khủng bố đẫm máu, nhưng nhân dân Sóc Trăng

vẫn giữ vững niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng, cùng cả nước làm cuộc khởi nghĩa tháng

Tám năm 1945 thành công, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Bước vào cuộc kháng chiến 9

năm chống thực dân Pháp xâm lược với sức mạnh của lòng yêu nước, chí căm thù giặc sâu

sắc và tinh thần chiến đấu ngoan cường, quân dân Sóc Trăng đã góp phần cùng cả nước

đánh thắng kẻ thù hung bạo, buộc thực dân Pháp phải rút khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Năm 1954, hòa bình lập lại chưa được bao lâu, đế quốc Mỹ lại tiếp tục can thiệp và

tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Nhân dân Sóc Trăng một lần nữa cùng cả

nước đứng lên làm cuộc kháng chiến vĩ đại suốt 21 năm. Kẻ thù lần này nguy hiểm, tàn bạo

gấp nhiều lần so với trước, chúng có đầy đủ phương tiện chiến tranh hiện đại và nhiều thủ

đoạn lừa mị nhân dân. Mặc dù vậy dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam,

Đảng bộ Sóc Trăng đã lãnh đạo nhân dân trong tỉnh quyết chiến đấu không sợ hy sinh gian

khổ, người trước ngã, người sau xông tới tiêu diệt quân thù, thực hiện lời dạy của Bác Hồ

kính yêu "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", góp phần vào thắng lợi chung của cả nước,

giải phóng miền Nam và giải phóng quê hương Sóc Trăng ngày 30-4-1975.

21

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ và nhân dân Sóc Trăng cùng cả

nước quyết tâm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng Chủ nghĩa xã hội và

bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.

Ngày nay, trước những biến cố về chính trị trên thế giới, Đảng bộ và nhân dân Sóc

Trăng vẫn tuyệt đối trung thành với Chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vững

bước đi lên Chủ nghĩa xã hội, xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp phấn đấu vì

mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

1.4. Chủ trương xây dựng căn cứ của Đảng, Khu ủy và Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng

Trong kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta nhận rõ âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ

nên sớm chủ trương duy trì, củng cố căn cứ kháng chiến. Trong hội nghị lần thứ 6 của

Trung ương Đảng (ngày 15 – 18/7/1954) đã chỉ rõ: “hướng của ta là củng cố cơ sở ở những

vùng căn cứ cũ, dựa vào những vùng đó mà phát triển thành những trung tâm chính trị,

kinh tế và những nơi có tính chất quan trọng về quân sự, chuyển hương công tác cho thích

hợp với điều kiện mới, nắm vững phương châm, chính sách mới, sắp xếp cán bộ, bố trí lực

lượng, vừa che giấu lực lượng, vừa lợi dụng công khai hợp pháp” [31, tr 34].

Tiếp theo đó, trong chỉ thị về tình hình và nhiệm vụ công tác mới của miền nam

(ngày 6/9/1954) của Bộ chính trị đã chỉ rõ: “đẩy mạnh công tác phát triển cơ sở nông thôn,

đặc biệt là cơ sở vùng căn cứ du kích cũ” [31, tr 49]. Tháng 12/ 1954, xứ ủy Nam bộ ra chủ

trương xây dựng các khu căn cứ kháng chiến ở miền Đông, miền Tây Nam bộ và Đồng

Tháp Mười, Xứ ủy xác định: “căn cứ phải là nơi an toàn để tích lũy vật chất, duy trì và

phát triển lực lượng cách mạng, tạo điều kiện cho ta tổ chức những trận tiến công tiêu hao,

tiêu diệt sinh lực địch” [31, tr 77].

Trước yêu cầu của tình hình mới và được sự chỉ đạo của cấp trên, cuối tháng 10-1954

tại ấp Bà Ai, ấp Cai Giảng - xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân (nay thuộc tỉnh Bạc

Liêu), Tỉnh uỷ bí mật Sóc Trăng được thành lập gồm 9 đồng chí, đồng chí Lâm Hớn Thanh

làm Bí thư, đồng chí Phan Văn Hoành làm Phó bí thư. Đây là hội nghị đầu tiên của Tỉnh uỷ

Sóc Trăng trong thời kì kháng chiến chống Mỹ.

Thực hiện chủ trương của Trung ương, Xứ ủy về xây dựng căn cứ cách mạng, Tỉnh

ủy Sóc Trăng quyết định dời căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng từ căn cứ Bố Thảo trong thời kỳ

kháng chiến chống Pháp về đặt tại xã Gia Hòa – huyện Mỹ Xuyên, đây là khu vực tương

đối thuận lợi di chuyển vì gần cửa sông Bassac vì vậy lực lượng ta dễ di chuyển, bao quát

22

chiến trường Bạc Liêu, tiếp vận vũ khí, đặc biệt thuận lợi cho lối đánh du kích và phát động

chiến tranh trên quy mô toàn tỉnh.

Để chuẩn bị cho cuộc tổng nổi dậy công kích và khởi nghĩa vào các căn cứ của địch,

nhất là đánh vào thị xã Sóc Trăng cùng với cả nước tiến công Xuân Mậu Thân 1968.

Thường vụ tỉnh Ủy Sóc Trăng đã quyết định di chuyển từ căn cứ Gia Hòa về căn cứ tỉnh ủy

cũ ở rừng tràm Mỹ Phước – huyện Châu Thành để chỉ đạo cuộc tổng tiến công tết Mậu

Thân và lãnh đạo nhân dân toàn tỉnh kháng chiến. Lý do chọn căn cứ rừng tràm Mỹ Phước

làm nơi chỉ đạo Xuân Mậu Thân năm 1968 và làm nơi lãnh đạo kháng chiến lâu dài của

Tỉnh ủy cho đến năm 1975, lý do chọn Mỹ Phước làm căn cứ được Tỉnh ủy xác định:

Thứ nhất: Khu vực này gần với thị xã Sóc Trăng dễ dàng cho việc tiến quân vào và rút ra

nhanh chóng.

Thứ hai: Nơi tiếp giáp với các căn cứ đóng quân của địch như chi khu Phú Lộc, chi khu

Ngã Năm, chi khu Mỹ Tú, khu trù mật.

Thứ ba: Là nơi án ngữ cho rừng U Minh và ngăn chặn việc tiến quân đánh vào căn cứ Khu

ủy ở U Minh của địch.

Bên cạnh đó do căn cứ này có những yếu tố tiện lợi cho việc đóng quân với diện tích

rừng lớn liên thông với các nơi dễ cho việc đánh ra và rút vào rừng sâu an toàn. Nơi đây

vốn có truyền thống cách mạng, dễ liên lạc được với Liên tỉnh ủy Hậu Giang, Tỉnh ủy Cần

Thơ, Khu ủy khu 9. Chính những ưu thế này mà Tỉnh ủy quyết định chọn đây làm căn cứ

chỉ đạo chung cho toàn tỉnh. Dù trải qua nhiều cuộc bao vây càn quét, đánh phá nhiều lần

nhưng căn cứ vẫn giữa vững. Bên cạnh căn cứ rừng tràm Mỹ Phước còn có các căn du kích

của ấp, xã, huyện và căn cứ lưu động ở Ngang Dừa (Hồng Dân – Bạc Liêu). Với các căn cứ

này làm tuyến ngoài bảo vệ Tỉnh ủy và là nơi di chuyển khi bị địch phá ác liệt

Về cơ sở vật chất của căn cứ như Hội trường được xây dựng bằng cây tràm trước năm

1968, đến khi Tỉnh ủy di chuyển về cuối năm 1967 đầu năm 1968 thì được xây dựng lại lớn

hơn rộng 4m và dài 20m, khang trang hơn bằng gỗ dầu. Cạnh hội trường có nhà làm việc của Bí thư tỉnh ủy có diện tích 22m2, có bốn hầm trú ẩn. Ngoài ra, còn có các nhà cơ quan

của tỉnh, hầm bí mật dành cho các đồng chí lãnh đạo trong ban Thường vụ tỉnh. Ngoài ra,

còn có hệ thống giao thông hào, hầm chữ A, hầm tránh bom tránh pháo…

Việc đi lại của căn cứ chủ yếu là đường thủy với chiếc xuồng nhỏ nhờ vào kênh đào

nhỏ. Nhờ vào ưu thế này đã làm cho việc di chuyển quân với số lượng lớn của Mỹ - Ngụy

23

quân đánh vào căn cứ vô cùng khó khăn. Nhưng Mỹ - Ngụy vẫn liên tục đưa quân vào đây

nhằm tiêu diệt căn cứ khi phát hiện nơi đây là cơ quan đầu não của Tỉnh. Khi Hiệp định

Paris được kí kết, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vẫn ra sức gây chiến, trên các chiến

trường ở miền Nam tiếng súng vẫn nổ. Tại Sóc Trăng, ngụy quyền ngụy quyền Ba Xuyên

liên tục cho máy bay ném bom oanh tạc, bắn pháo, hành quân vào các vùng giải phóng và

căn cứ của Tỉnh ủy, Ngụy quân Ba Xuyên điên cuồng hành quân càn quét vào các căn cứ và

vùng giải phóng của ta. Tại căn cứ, ta đã chuẩn bị từ trước nên tại đây khi chúng hành quân

vào căn cứ đã bị quân ta đánh tiêu hao, buộc chúng phải rút quân khỏi căn cứ, không dám

hành quân vào phá hoại căn cứ. Nhờ thế, mà căn cứ Tỉnh ủy đã được giữ vững an toàn cho

tới ngày giải phóng.

Tiểu kết chương 1

Căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng được xây dựng trong kháng chiến chống Mỹ là một là

một yêu cầu tất yếu của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.

Căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng là sự kế thừa và phát triển có tính sáng tạo từ kinh nghiệm xây

dựng căn cứ địa của dân tộc ta trong các thời kỳ lịch sử. Từ những kinh nghiệm về cơ sở lý

luận và thực tiễn mà quân dân trong toàn tỉnh đã xây dựng một hệ thống căn cứ địa vững

chãi và làm nền tảng quan trọng để đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống đế quốc, giải phóng quê

hương.

Cơ sở và tiền đề quan trọng đảm bảo cho căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng hình thành và

phát triển là dựa trên diễn biến, tình hình cách mạng miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

ta, Xứ ủy Nam kỳ, Liên khu ủy miền Tây về việc xây dựng căn cứ địa. Căn cứ tỉnh ủy Sóc

Trăng cùng với hệ thống căn cứ Đồng Tháp Mười, căn cứ U Minh, Căn cứ Phương Bình là

hệ thống những căn cứ địa liên hoàn, hỗ trợ lẫn nhau, có tác dụng quan trọng trong cuộc

chiến tranh giải phóng dân tộc ở vùng đồng bằng Sông Cửu long.

Truyền thống anh dũng, quả cảm của nhân dân Sóc Trăng, cùng với tinh thần đoàn

kết của đồng bào Kinh, Hoa, Khmer vốn được tôi luyện trong kháng chiến chống Pháp là cơ

sở vững chắc cho việc bảo vệ căn cứ địa cách mạng, phát triển cuộc chiến tranh nhân dân,

đánh bại mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù xâm lược.

24

CHƯƠNG 2 - QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CĂN CỨ

TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

CỨU NƯỚC (1954 – 1975)

2.1. Giai đoạn 1954 – 1967

2.1.1. Xây dựng căn cứ địa

2.1.1.1. Về chính trị

Trước yêu cầu của tình hình mới và được sự chỉ đạo của cấp trên, cuối tháng 10-1954

tại ấp Bà Ai, ấp Cai Giảng - xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân (nay thuộc tỉnh Bạc

Liêu), Tỉnh uỷ bí mật Sóc Trăng được thành lập gồm 9 đồng chí, đồng chí Lâm Hớn Thanh

làm Bí thư, đồng chí Phan Văn Hoành làm Phó bí thư. Đây là hội nghị đầu tiên của Tỉnh uỷ

Sóc Trăng trong thời kì kháng chiến chống Mỹ. Thực hiện chủ trương của Trung ương, Xứ

ủy về xây dựng căn cứ cách mạng, Tỉnh ủy Sóc Trăng quyết định dời căn cứ Tỉnh ủy Sóc

Trăng từ căn cứ Bố Thảo về đặt tại xã Gia Hòa – huyện Mỹ Xuyên, đây là khu vực tương

đối thuận lợi di chuyển vì gần cửa sông Bassac, thuận lợi cho lối đánh du kích và phát động

chiến tranh trên quy mô toàn tỉnh.

Trong công tác tổ chức chính trị, Tỉnh uỷ chỉ định các Huyện uỷ, Thị uỷ phải thực

hiện phương châm bí mật tuyệt đối, nhất là các khu vực thị xã, trung tâm kháng chiến của ta

trên địa bàn tỉnh và huyện trong bối cảnh kẻ thù điên cuồng chống phá cách mạng, giết hại

cán bộ. Tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên đều được sắp xếp lại. Các xã đều có chi bộ, toàn

tỉnh có 4.200 đảng viên, xã cao nhất là trên 300 đảng viên. Khi chuyển hướng hoạt động bí

mật, để đảm bảo chất lượng Đảng bộ, đảng viên được phân làm 3 loại: Loại A: là những

đảng viên trung kiên có lập trường vững vàng, tích cực, nghiêm chỉnh chấp hành nhiệm vụ,

được tập hợp thành tổ Đảng hoặc chi bộ; Loại B: yếu hơn loại A về các mặt kể trên một

mức, được sinh hoạt đơn tuyến, có giao nhiệm vụ vừa sức; Loại C: là những đảng viên lập

trường thiếu kiên định, tư tưởng không vững vàng, công tác yếu kém, không hoàn thành

nhiệm vụ, đối với số này phải hết sức giúp đỡ và không giao nhiệm vụ.

Do tình hình thực tế giữa ta và địch lúc bấy giờ, bộ máy tổ chức của ta cần đơn giản

gọn, nhẹ nên Liên tỉnh ủy Hậu Giang và Tỉnh ủy chỉ đạo không thành lập các ban, ngành

cấp tỉnh và huyện, chỉ có một số bộ phận chuyên môn như: Văn phòng, Tổ chức, Tuyên

huấn, Binh vận, Thanh vận, Giao liên, Tài chánh, Bảo vệ căn cứ. Trong vùng căn cứ địa, các

25

đoàn thể quần chúng như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội ủng hộ Issarak đều giải thể, thay

vào đó là xây dựng hệ thống cốt cán, nòng cốt từ những quần chúng tích cực cách mạng ra

đến quần chúng khác. Đoàn Thanh niên được duy trì tổ chức ở cơ sở, chịu sự lãnh đạo trực

tiếp của chi bộ, nhưng không có hệ thống dọc lên trên (Đoàn Thanh niên Lao động gọi tắt là

Thanh lao).

Tại Căn cứ tỉnh ủy, Tỉnh ủy Sóc Trăng đã lãnh đạo Đảng bộ bám chặt quần chúng,

giáo dục lòng căm thù, tổ chức quần chúng đấu tranh. Đầu năm 1957, tại căn cứ Tỉnh ủy,

Tỉnh ủy Sóc Trăng họp Tiếp thu Nghị quyết của Bộ Chính trị (tháng 6-1956). Sau đó thảo

luận bản đề cương soạn thảo (tháng 8-1956) của đồng chí Lê Duẩn về “Đường lối cách

mạng miền Nam” và tiếp thu Nghị quyết của Xứ ủy Nam bộ (1-12-1956). Bản đề cương

cách mạng miền Nam có nêu “Để chống lại Mỹ - Diệm, nhân dân miền Nam chỉ có một con

đường cứu nước là tự cứu lấy mình, là con đường cách mạng. Ngoài con đường cách mạng

không có con đường nào khác” [31, tr. 144]. Nghị quyết Xứ ủy cũng có nêu rõ: “Lúc này

đấu tranh chính trị đơn thuần thì không được, mà đấu tranh vũ trang thì chưa phải” [31, tr.

146] và xác định phương châm cách mạng miền Nam là “Đấu tranh chính trị có vũ trang tự

vệ” [31, tr. 146].

Tiếp theo đó, vào tháng 12/1956 tại căn cứ Tỉnh ủy, Tỉnh ủy tiếp tục mở đợt học tập

trong Đảng bộ về tinh thần bản dự thảo đường lối cách mạng miền Nam nhằm làm cho cán

bộ, đảng viên thông suốt tình hình và nhiệm vụ, nâng cao nhân sinh quan cộng sản chủ

nghĩa, lập trường cách mạng triệt để và tư tưởng cách mạng tiến công. Tỉnh ủy họp Hội nghị

nêu lên phương hướng hoạt động: “Tiếp tục lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi quyền dân

sinh, dân chủ, chống Mỹ - Diệm khủng bố trả thù, duy trì đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp

định Genève, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, duy trì các tổ chức dưới hình thức bán công

khai như đội chống cướp bảo vệ xóm ấp, tổ chức này có nhiệm vụ giáo dục tề điệp và bọn

phản động, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị; đồng thời có kế hoạch xây dựng lực

lượng vũ trang bí mật, bảo vệ an toàn tuyệt đối khu căn cứ tỉnh ủy” [2, tr. 31]

Sau phong trào Đồng khởi trên toàn miền nam giành được những thắng lợi hết sức

quan trọng thì trước tình hình địch thay đổi chiến lược chiến tranh ở Việt Nam, Bộ chính trị

sáng suốt nhận định “Thời kì tạm ổn định của chế độ Mỹ - Diệm đã qua và thời kì khủng

hoảng liên tiếp suy sụp nghiêm trọng bắt đầu” [31, tr. 278].

26

Về phương châm đấu tranh, Bộ Chính trị nêu rõ: “Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh

chính trị, đồng thời đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh

chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự” [31, tr. 278]. Tháng 10-1961,

Trung ương Cục họp hội nghị mở rộng lần thứ nhất bàn về phương hướng, nhiệm vụ trước

mắt của cách mạng miền Nam. Sau khi phân tích mối quan hệ giữa đấu tranh chính trị và

đấu tranh vũ trang, Trung ương Cục kết luận: “Cần phải duy trì đấu tranh vũ trang mới có

thể chống khủng bố một cách mạnh mẽ, nơi có điều kiện tiến công đánh cả hai mặt quân sự

và chính trị. Trái lại nếu không duy trì đấu tranh chính trị thì đấu tranh vũ trang cũng gặp

nhiều khó khăn” [31, tr. 322].

Ở Sóc Trăng, sau thắng lợi to lớn của phong trào “Đồng khởi” dưới sự lãnh đạo của

Tỉnh Đảng bộ, nhân dân nô nức xây dựng vùng căn cứ, vùng giải phóng, xây dựng cuộc

sống mới, tích cực tham gia phong trào du kích chiến tranh, xây dựng căn cứ và phát triển

thực lực cách mạng, quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được. Song, tình hình

mới đặt ra, phong trào cách mạng ở tỉnh phát triển nhanh chóng nhưng lực lượng Đảng bộ

quá ít, đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng do bị tiêu hao quá nặng của thời kỳ 1957 – 1959

nên không đủ sức lãnh đạo phong trào đang lên. Lực lượng vũ trang mới thành lập, trang bị

chưa có gì đáng kể, phương châm, phương thức hoạt động chưa thành thạo. Phong trào

chính trị chưa rộng lớn, chặt chẽ nhưng một số địa phương lực lượng Phong trào chưa cao,

nhất là vùng tranh chấp, vùng kềm. Vì vậy Tỉnh ủy chủ trương trước mắt phải khẩn trương

phát triển Đảng, củng cố và phát triển các cơ sở cách mạng từ thị xã, thị trấn đến vùng nông

thôn, tổ chức lực lượng chính trị thành đội ngũ, xây dựng lực lượng vũ trang nhanh chóng,

vững chắc; đi đôi với tiến công địch để mở rộng và giữ vững quyền làm chủ ở nông thôn.

Đối với vùng giải phóng, chú trọng phát triển chiến tranh du kích, xây dựng xã, ấp chiến

đấu, thành lập các đội du kích ở cơ sở, phát triển rộng rãi phong trào dân quân tự vệ, tổ chức

chống địch càn quét, tái chiếm, giữ vững quyền làm chủ ở nông thôn và bảo vệ tính mạng,

tài sản của nhân dân, đồng thời có kế hoạch phát triển văn hóa, xã hội và sản xuất.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy, về công tác xây dựng và phát triển Đảng, xây

dựng và bảo vệ khu căn cứ tỉnh ủy, củng cố chi bộ vững mạnh, gầy dựng chi bộ ở vùng yếu,

chọn những quần chúng cốt cán, đoàn viên thanh niên có thành tích trong phong trào Đồng

khởi để bồi dưỡng trở thành đảng viên, phát triển đảng viên vùng thị xã, thị trấn, vùng tôn

giáo và vùng đồng bào Khmer, giữ vững cơ sở cách mạng nhất là vùng yếu. Song song với

27

công tác tổ chức, Tỉnh ủy quan tâm đẩy mạnh công tác chính trị tư tưởng, ra tờ báo “Chiến

đấu” làm cơ quan ngôn luận của Tỉnh Đảng bộ trong vùng căn cứ cách mạng và trên toàn

địa bàn tỉnh. Tờ báo “Chiến đấu” trở thành một trong những cơ quan quan trọng phổ biến,

hướng dẫn thường xuyên về đường lối, chủ trương của Đảng, về tình hình và phong trào

cách mạng của tỉnh nhà, của cả nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh. Ngoài ra

còn có tờ tin, truyền đơn, biểu ngữ, các loại tranh cổ động, áp phích được truyền đi khắp nơi

trong tỉnh nhằm tuyên truyền rộng rãi trong quần chúng về chủ trương, chính sách của Đảng

và Mặt trận giải phóng dân tộc miền Nam Việt Nam.

Để phù hợp với tình hình và sát hợp với chỉ đạo hơn, đầu năm 1961, Tỉnh ủy quyết

định tách một số xã thuộc hai huyện Thạnh Trị, Châu Thành để thành lập huyện Mỹ Xuyên,

Từ nay căn cứ Tỉnh ủy nằm trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên, thường vụ Tỉnh ủy quyết định

điều một số Huyện ủy viên ở một số huyện về thành lập Huyện ủy Mỹ Xuyên, đồng chí Lê

Văn Mỹ (Năm A) Phó bí thư Huyện ủy Vĩnh Lợi – Vĩnh Châu về làm Bí thư Huyện ủy Mỹ

Xuyên.

Vào cuối năm 1960, Tỉnh ủy quyết định thành lập Trường Đảng Tỉnh Sóc Trăng.

Đồng chí Nguyễn Văn Thới (Ba Hữu) Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách Tuyên huấn

kiêm phụ trách trường Đảng, trường Đảng nằm trong khu vực căn cứ cách mạng thuộc xã

Gia Hòa – huyện Mỹ Xuyên. Đầu năm 1961, Trường Đảng tỉnh Sóc Trăng được kiện toàn

và tăng cường, đảm trách nhiệm vụ đào tạo cán bộ chi ủy viên là chủ yếu, đồng thời góp

phần bồi dưỡng cán bộ các đoàn thể. Trường Đảng lúc này do đồng chí Nguyễn Văn On

(Phạm Lưu Thức – Năm Thức) - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách. Ngoài ra, tỉnh còn

bố trí cán bộ quân sự, mở lớp đào tạo cán bộ xã đội, xã đội trưởng; cán bộ y tế mở lớp y tá,

cứu thương v.v… nhằm xây dựng lực lượng vũ trang, phục vụ cho chiến đấu, điều trị

thương bệnh binh và đồng bào bị tai nạn chiến tranh.

Để lãnh đạo phong trào cách mạng ở tỉnh nhà ngày càng phát triển, đầu tháng 5-

1961, tại xã An Thạnh Nhì và xã Đại Ân - huyện Long Phú, Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ

họp mở rộng do đồng chí Dương Minh Cảnh (Ba Hòa) Bí thư Tỉnh ủy chủ trì. Đây cũng là

hội nghị chuyển hướng chỉ đạo của Đảng bộ Sóc Trăng sang giai đoạn mới. Hội nghị nhất

trí sự đánh giá của trung ương sau Đồng khởi “Thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ - Diệm

đã chấm dứt, thời kì khủng hoảng triền miên bắt đầu. Hình thức du kích cục bộ, khởi nghĩa

từng phần đã xuất hiện, mở đầu cho một cao trào cách mạng ở miền Nam” [2, tr. 59]. Hội

28

nghị cũng xác định phương châm đấu tranh sắp tới của trung ương vạch ra là: “đấu tranh vũ

trang phải song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch cả hai mặt đấu tranh chính trị

và quân sự …” [2, tr. 61]. Về 3 vùng chiến lược theo sự chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy

vận dụng chia 3 vùng để chỉ đạo. Vùng tranh chấp và vùng giải phóng đấu tranh chính trị và

quân sự song song. Vùng kềm (thị xã, thị trấn) lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu. Trong

đấu tranh chính trị phải giữ thế hợp pháp với địch nhưng tùy từng lúc cũng dùng cả đấu

tranh không hợp pháp.

Hội nghị Tỉnh ủy thống nhất thành lập các Ban: Quân sự, An ninh, Tuyên văn giáo,

Tổ chức, Dân vận, Phụ vận, Nông vận, Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh cùng một số ban

ngành khác của tỉnh, đồng thời chỉ định thành lập Ban đấu tranh chính trị, các Ban này tập

trung trong khu vực căn cứ Tỉnh ủy tại Gia Hòa – Mỹ Xuyên.

Trước ý đồ đen tối của đế quốc Mỹ chuyển từ chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” sang

chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, ngày 20-7-1965 chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn

Đàng, toàn quân và toàn dân ta: “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền

Bắc và Miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10

năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn

toàn” [28, tr 498].

Hưởng ứng lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 3-8-1965, Mặt Trận Dân tộc

giải phóng Miền nam Việt Nam long trọng xác định lập trường sắt đá của 14 triệu đồng bào

Miền nam: “Sẽ hy sinh tất cả, thà chế chứ không chịu làm nô lệ, sẽ chiến đấu đến cùng để

bảo vệ tổ quốc, giành độc lập hoàn toàn”.

Trong tình hình chung đó, ở Sóc Trăng, được sự chỉ đạo của Khu ủy, Tỉnh ủy mở

cuộc sinh hoạt chính trị phát động trong toàn Đảng bộ, các lực lượng vũ trang, ban ngành

đoàn thể và nhân dân nhận thức đúng tình hình, không ngán ngại đánh Mỹ, chủ động đánh

Mỹ, quán triệt nội dung lời kêu gọi cảu chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên bố của Mặt trân dân

tộc giải phóng miền Nam Việt Nam nhằm xây dựng một quyết tâm sắt đá, đánh Mỹ và

thắng Mỹ, kẻ thù xâm lược của dân tộc Việt Nam. Để đánh bại Mỹ và quân ngụy, phương

hướng của tỉnh Đảng bộ là: Ta phải giành và nắm thế chủ động. Thế chủ động của ta là phải

dựa trên cơ sở bố trí hợp lý các lực lượng vũ trang của tỉnh; củn cố các chi bộ cơ sở; phát

triển lực lượng dân quân du kích và lực lượng chính trị quần chúng. Đồng thời xác định

công tác xây dựng Đảng và phát triển thực lực cách mạng, phát triển lực lượng vũ trang

29

nhân dân trong lúc này là yêu cầu bức xúc, có mối quan hệ mật thiết với nhau. Từ đó phải

tăng cường đội ngũ Đảng viên cho vùng kềm, vùng tranh chấp, thị xã, thị trấn và các đơn vị

vũ trang.

Qua đợt chỉnh huấn, luyện quân, cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang đều nâng cao

được ý chí chiến đấu, xác định được lập trường tư tưởng vững vàng, quyết chiến và quyết

thắng quân Mỹ xâm lược. Đối với các huyện mà địch coi là trọng điểm đánh phá thì phải

kiên quyết đánh trả để bảo vệ như thị xã, căn cứ tỉnh ủy Mỹ Xuyên.

Trong vùng căn cứ các đoàn thể: Hội Nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên lao

động, ban Khmer vận, ban Hoa vận đều được tăng cường làm cầu nối vững chắc giữa Đảng

với nhân dân. Các đoàn viên, hội viên đã phát huy vai trò nòng cốt trong quần chúng, thực

hiện các chủ trương của Đảng, đưa phong trào cách mạng phát triển trong tình hình mới.

Chống do thám gián điệp là nhiệm vụ gắn liền với xây dựng, bảo vệ vùng giải phóng,

vùng căn cứ. Ban An ninh tình báo tỉnh ủy phối hợp với các đoàn thể Nông dân, Phụ nữ,

Đoàn Thanh niên tình triển khai, thực hiện chỉ thị của Tỉnh ủy về phòng gian, bảo mật, bảo

vệ an toàn vùng giải phóng, vùng căn cứ cách mạng. Công tác tuyên truyền, giáo dục được

đẩy mạnh. Đã có có hơn 1000 lượt quần chúng tham gia học tập, nâng cao tinh thần cảnh

giác, ý thức phòng gian bảo mật. chống dọ thám gián điệp. Giáo dục gần 3.000 người có

lầm lỗi, cải tạo trên 3.000 tên điềm, điệp, phá 44 vụ án, bắt 35 tên. Vùng giải phóng đuợc ổn

định, nhân dân yên tâm lao động, sản xuất. Căn cứ địa cách mạng được bảo vệ an toàn, lực

lượng cách mạng ít bị tổn thất.

Từ giai đoạn 1967 trở về sau, căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng được dời về rừng tràm Mỹ

Phước thuộc xã Mỹ Phước – huyện Châu Thành (nay là huyện Mỹ Tú), căn cứ Tỉnh ủy tại

Mỹ Xuyên đã kết thúc sứ mạng lịch sử của mình trong giai đoạn đầy cam go từ sau khi hiệp

định Gernever được ký kết đến cuối năm 1967. Khu Căn cứ Mỹ Phước thuộc rừng tràm rậm

rạp xã Mỹ Phước có một lợi thế to lớn để thiết lập lại vùng căn cứ tỉnh ủy, từ đây cách mạng

Sóc Trăng chuyển sang một giai đoạn mới đầy quyết liệt khó khăn và thử thách.

2.1.1.2. Về kinh tế - xã hội

Trong hoạt động xây dựng khu căn cứ tỉnh ủy trên mặt lĩnh vực kinh tế, xã hội thì

phong trào tăng gia sản xuất được chú trọng phát triển. Diện tích đất hoang được khai hoang

phục hồi. Việc sản xuất tự túc của bộ đội và cán bộ được đẩy mạnh. Nhân dân hăng hái vào

các tổ chức đổi công nhổ mạ, chế phát, cấy gặt… để giúp đỡ lẫn nhau. Cuộc chiến tranh

30

diễn ra ngày càng quy mô, ác liệt, nhiệm vụ xây dựng vùng nông thôn giải phóng, vùng căn

cứ để làm hậu phương cho cuộc kháng chiến là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên.

Ở vùng căn cứ và vùng giải phóng, hội nông dân các cấp làm nòng cốt tổ chức thi

đua phát triển nông nghiệp, khai hoang phục hóa diện tích gieo trồng, tổng số mở rộng được

4.000 ha diện tích trồng trọt. Phát động nhân dân làm thủy lợi, đào kinh xổ phèn và dẫn

nước ngọt vào ruộng. Trong vùng căn cứ, ta đã đào được 16 kinh mới (các kinh dọc ngang

nhỏ để di chuyển và tưới tiêu), nạo vét 4 kinh cũ để cải tạo đồng ruộng, phục vụ sản xuất

thâm canh, tăng vụ. Ta đã động viên nhân dân nhượng trên 300 ha ruộng đất cho những hộ

không đất, thiếu đất sản xuất, cấp phát ruộng cho những hộ gia đình thiếu ăn và thiêu đất

sản xuất.

Để chống lại chính sách đồng hóa dân tộc của bọn Mỹ - Diệm, các sư sãi chùa

Kh`leang (tại thị xã Sóc Trăng), tiêu biểu là Lục cả Thạch Khean (Trần Kế An) và Achar

Huỳnh Cương, hai ông thuyết pháp giải thích cho tín đồ hiểu rõ âm mưu đồng hóa dân tộc

và tôn giáo, đòi địch phải thi hành đúng các điều khoản của Hiệp định Genève, hoạt động

này của 2 vị Lục cả lan ra rộng khắp trong vùng căn cứ và có tiếng vang lớn ở thị xã Sóc

Trăng, nhờ đó những cán bộ cách mạng người dân tộc khmer đã được tiếp thêm ngọn lửa

đấu tranh vì nền văn hóa, vì độc lập, vì tự do, do đó tất cả tín đồ đều đồng lòng đấu tranh

chống lại Mỹ - Diệm. Cuộc đấu tranh đã có ảnh hưởng khắp các chùa trong tỉnh. Các vị sư

cả và đồng bào Phật giáo khmer trở thành lực lượng quan trọng trong đấu tranh chính trị

chống lại bọn Mỹ và tay sai, các hoạt động đấu tranh sôi nổi của đồng bào tôn giáo Phật

giáo Nam tông khmer gây được tiếng vang lớn và có tác động cổ vũ cho phong trào cách

mạng chung trên toàn tỉnh Sóc Trăng.

Trong vùng căn cứ Tỉnh ủy, các hoạt động vận động nhân dân các dân tộc đoàn kết,

tham gia kháng chiến diễn ra sôi nổi nhất là việc thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc giữa

đồng bào Khmer và người Kinh, người Hoa.

2.1.1.3. Về Quân sự

Sau khi ổn định tổ chức cơ sở Đảng và xây dựng vùng căn cứ, thực hiện chủ trương

bảo vệ và xây dựng căn cứ trên lĩnh vực quân sự thì đầu năm 1956 Tỉnh ủy rút đồng chí

Nguyễn Văn Chương (Mười Tiễn) - Huyện ủy viên huyện Kế Sách về tỉnh phụ trách xây

dựng lực lượng ngầm (bí mật) làm nhiệm vụ bảo vệ khu căn cứ cách mạng. Thành lập bộ

phận chỉ đạo xây dựng lực lượng ngầm trực thuộc Tỉnh ủy, do Thường vụ Tỉnh ủy nắm và

31

chỉ đạo. Đối tượng được chọn để xây dựng lực lượng này là những đoàn viên thanh niên

nòng cốt tích cực, những đảng viên trẻ tuổi, tất cả đều phải tự giác tham gia vào lực lượng

ngầm.

Theo chỉ thị của Liên Tỉnh ủy Hậu Giang về công tác quân sự, khoảng tháng 10-

1957, tỉnh Sóc Trăng tuyển chọn lực lượng ngầm đưa về trên một đại đội để xây dựng lực

lượng vũ trang. Đến tháng 12-1957 Liên Tỉnh ủy đưa về cho Sóc Trăng một trung đội vũ

trang để làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh. Về trang bị thì sử dụng số vũ

khí chôn giấu trước đây, đồng thời làm súng tự tạo và lấy súng của địch trang bị cho ta. Lực

lượng vũ trang tỉnh Sóc Trăng được thành lập mệnh danh là tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng,

hoạt động chủ yếu thực hiện nhiệm vụ diệt ác, trấn áp bọn phản động, làm công tác vũ trang

tuyên truyền, xây dựng cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào đấu tranh chính trị

trong tỉnh; đồng thời thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ sở và phong trào cách

mạng.

Trong hoàn cảnh mới, tuy lực lượng chuyên trách công an không còn nhưng công tác

an ninh vẫn được cấp ủy quan tâm, trực tiếp lãnh đạo. Ta thực hiện phương châm “đề cao

cảnh giác”, “tích cực bảo vệ mình”. Mỗi cán bộ, đảng viên ở nơi nào đều phải có ý thức

cảnh giác cách mạng và giáo dục nhân dân thực hiện “ba không” (không biết, không nghe,

không thấy), để phòng chống do thám gián điệp. Những nơi thiết yếu hoặc hội họp của cấp

ủy đều có tổ chức bảo vệ nghiêm ngặt, có mạng lưới báo tin, làm ám hiệu báo động. Trong

thời gian này căn cứ của Tỉnh ủy được bảo vệ hết sức an toàn và nghiêm ngặt.

Sau phong trào Đồng Khởi, trong công xây dựng căn cứ tỉnh ủy trên mặt trận quân sự

thì vào tháng 7-1961, đơn vị Phú Lợi (sau khi được lấy phiên hiệu là đại đội 761) kết hợp

với quân chủ lực miền bao vây bức rút chi khu Ngang Dừa, phục kích đánh thiệt hại nặng

đại đội biệt động quân ngụy do tên trung úy Thủy chi khu trưởng chi khu phước Long chỉ

huy. Đây là quả đấm vũ trang mạnh nhất của địa bàn tỉnh Sóc Trăng lúc bấy giờ, góp phần

bảo vệ hành lang phía nam khu căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng. Phong trào du kích chiến tranh

mà Đoàn Thanh niên làm nòng cốt ngày càng phát triển khắp nơi, điển hình như ở Ngã Năm

(huyện Thạnh Trị), xã Hồ Đắc Kiện (huyện Châu Thành), vùng ven thị xã Sóc Trăng, Bạc

Liêu… làm cho bọn địch không yên ổn, nơi đâu chúng cũng bị nhân dân tiến công..

Trong vùng căn cứ tỉnh ủy, nhân dân, ai ai cũng tham gia vót chông, làm chông đào

hầm, cắm chông làm bãi chiến đấu. các phương án chiến đấu của du kích đều được xây

32

dựng, nam nữ thanh niên hăng hái tham gia phong trào du kích. Lực lượng du kích ấp, xã

phát triển mạnh, ấp có tiểu đội du kích, có trung đội dân quân; xã có 2,3 tiểu đội du kích.

Chỉ sau một thời gian ngắn phần lớn các xã, vùng giải phóng xung quanh đã khắc phục

được tình trạng khó khăn về vũ khí đánh địch. Phong trào dân quân tự vệ, du kích chiến

tranh phát triển mạnh mẽ, chống địch càn quét, giữ vững và bảo vệ an toàn khu căn cứ tỉnh

ủy, giữ vững quyền làm chủ; bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.

Về lực lượng quân sự, để tăng cường sức mạnh chiến đấu, Thường vụ Tỉnh ủy quyết

định thành lập đơn vị cấp tiểu đoàn của tỉnh, phương thức hoạt động tập trung, phân tán linh

hoạt, cơ động trong toàn tỉnh, làm nòng cốt cho hoạt động vũ trang tiêu diệt sinh lực địch,

bảo vệ căn cứ tỉnh ủy và chống, phá ấp chiến lược, đẩy mạnh cuộc chiến tranh nhân dân,

ngày 1-7-1964 tiểu đoàn Phú Lợi của tỉnh được thành lập để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ

mới. Sau 2 ngày thành lập, ngày 3-7-1964 tiểu đoàn Phú Lợi đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn

biệt động quân “Cọp Đen” (có sự yểm trợ của tàu chiến và máy bay chiến đấu Mỹ) càn quét

tại Xóm Lương, xã Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu. Ta diệt và làm bị thương trên 300 tên

địch, thu nhiều súng, đạn, có 8 trung liên. Chiến thắng Xóm Lương đã thể hiện sức mạnh

của lực lượng vũ trang tỉnh, làm nức lòng nhân dân ta.

Được sự chỉ đạo kịp thời, phong trào du kích chiến tranh, bao vây đánh lấn, bao vây

bắn tỉa trong nhựng năm 1965, 1966 phát triển mạnh, các điểm bao vây đánh lấn của các nơi

trong tỉnh ngày càng xiết chặt, những điểm này bao xung quanh căn cứ tỉnh ủy, có vị trí

chiến lược quan trọng như: Chi khu Mỹ Tú (huyện Châu Thành), đồn nhà thờ Nàng Rền,

các đồn Trà Âu, Evôra, Xáng Chìm, Phó Sinh, Cây Bàng, Cổ Cò, Lạc Hòa, Ba Rinh, Mỹ

Phước, Búng Tàu, Rạch Tráng... Du kích đã bao vây bắn tỉa làm chết và bị thương hơn 500

tên địch, làm tan rã 114 tên khác. Đồn Nhà thờ Nàng Rền bị bao vây từ đầu năm 1965 bằng

3 mũi giáp công chính trị, binh vận, vũ trang, có lực lượng an ninh tỉnh, huyện tham gia, đến

ngày 7-2-1966 ta diệt và làm bị thương hơn 50 tên địch. Các đồn Evôra xã Hòa Bình, đồn

Trà Âu xã Tuân Tức, đồn Xáng Chìm xã Vĩnh Quới có hàng chục tên lính bị diệt buộc số

còn lại phải tháo chạy, ta giải phóng thêm 16 ấp, 14.300 dân, các ấp tân sinh ở đây bị phá rã.

Trước sự lớn mạnh của ta trên mặt trận quân sự trong hoạt động xây dựng và bảo vệ khu căn

cứ tỉnh ủy, kẻ thù đã không thể uy hiếp, đe dọa đến sự an toàn của khu căn cứ, từ đây, Tỉnh

ủy Sóc Trăng kiên cường vượt qua mọi khó khăn, chỉ đạo quân dân tỉnh nhà vươn lên giành

những thắng lợi to lớn trước kẻ thù.

33

Trên các đuờng vào khu căn cứ, dân quân du kích làm hầm chông, đặt đạp lôi, gài

lựu đạn, làm chướng ngại vật Đồng thời, trong xóm, ấp, quân, dân ta chuẩn bị sẵn sàng, nếu

địch ngoan cố kéo vào càn quét, bắn phá thì lập tức lực lượng ta bằng 3 mũi giáp công tiến

công địch làm cho địch bị tiêu hao, tan rã. Phong trào bao vây đồn bốt địch, phong trào ở

các xã ấp chiến đấu ngày càng phát triển mạnh. Có nơi bao vây đến mức địch hành quân

giải tỏa, chúng đi đến đâu cũng bị nhân dân ta đánh và bị sụp hầm chông, thậm chí lúc

chúng bắt gà, mở khạp gạo cũng bị trái nổ. Phong trào chiến tranh nhân dân đã làm cho

quân địch vô cùng khiếp sợ. Du kích ta đánh, chống càn hơn 600 trận làm hơn 400 tên địch

chết và bị thương. Du kích bắn máy bay 256 trận, kết hợp với lực lưọng vũ trang tỉnh, địa

phương quân huyện bắn rớt và bị thương 64 chiêc. Đồng thời còn đánh cháy và hỏng 16 xe

M113, MI 18. Riêng du kích xã Gia Hòa, khu căn cứ tỉnh ủy, từ ngày 29-8 đến 29-9-1966,

đã bắn cháy 3 máy bay địch, trở thành đơn vị dẫn đầu trong phong trào bắn máy bay của

tỉnh.

2.1.1.4. Về văn hóa – Giáo dục – Y tế

Về công tác văn hóa trong vùng căn cứ cách mạng mặc dù có nhiều khó khăn, thiếu

các phương tiện hoạt động nhưng ngay từ những ngày đầu mới ký Hiệp định đến những

năm, các đồng chí trong bộ phận chuyên môn ngày đêm vẫn miệt mài chép từng bản tin đọc

chậm của Đài Phát thanh Hà Nội, bí mật tổ chức in, bảo đảm hàng tuần ra tờ “Tin tức”, và

tạp chí “Văn nghệ Sóc Trăng” để phản ánh tình hình và cổ vũ phong trào đấu tranh cách

mạng của quần chúng.

Hòa với khí thế chung, phong trào văn hóa, văn nghệ được phát triển mạnh đem lại

lời ca tiếng hát, sinh khí vui tươi ở vùng giải phóng, vùng căn cứ. Ở xã, ấp có đội ca múa,

một số xã có đoàn cải lương như đoàn “Ánh Hồng” xã Gia Hòa, đoàn “Bình Minh”, “Dân

Tiến” xã Vĩnh Hưng, đoàn “Sao Vàng” xã Phước Long, đoàn cải lương xã Châu Hưng.

Ngoài ra còn có hai tờ “Văn Nghệ” và “Văn Nghệ Khmer” của tỉnh, phục vụ đông đảo đồng

bào.

Các bộ phận chuyên môn của Tỉnh ủy như: Văn phòng, Tuyên huấn, Tổ chức, Tài

chánh, Điện đài, In ấn, Giao thông liên lạc, v.v... không ngừng hoạt động, vượt qua muôn

ngàn khó khăn nguy hiểm do địch gây ra, triển khai thực hiện các chủ trương của Tỉnh ủy

một cách tốt nhất, bảo đảm mọi công việc được thông suốt, kịp thời, căn cứ tỉnh ủy được an

toàn. Khu căn cứ bước đầu được xây dựng về mọi mặt, thực lực cách mạng ngày một phát

34

triển. Quần chúng ở xã, ấp được tập hợp vào Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên

giải phóng. Ban chấp hành đoàn thể cấp huyện cũng lần lượt ra đời.

Trong khu căn cứ, bên cạnh các hoạt động văn hóa, nhân dân không ngừng xây dựng,

củng cố và phát triển khu căn cứ, hơn 18.600 lượt quần chúng tham gia xây dựng ấp, xã

chiến đấu, đào chiến hào chiến lũy, các hầm hố tránh bom pháo, hầm chông, cặm trên 450

bãi chông mới, cắm hàng triệu mũi chông các loại. Tăng cuờng phát động phòng gian bảo

mật, chống do thám gián diệp bằng nhiều hình thức, thực hiện cải tạo tại chỗ nhiều điềm

điệp, nghi vấn, phá 20 vụ án. Điển hình như vụ y sĩ Nguyễn Văn Khoa và vụ án tên Thiệt,

trung đội trưởng điện đài của tiểu đoàn Phú Lợi, làm tình báo cho tiểu khu Ba Xuyên, báo

điểm cho địch bỏ bom, gây tổn thất lớn cho lực lượng tiểu đoàn. Quần chúng đã thực hiện

tốt công tác bảo vệ an ninh vùng giải phóng.

Trên lĩnh vực giáo dục cũng đạt được nhiều kết quả. Vùng căn cứ được mở rộng,

trường lớp được xây dựng. Trường tập trung Lê Văn Tám được thành lập vào giữa năm

1960, nhằm dạy học, chăm sóc các con em cán bộ với yêu cầu đào tạo cho trước mắt và lâu

dài. Trong vùng căn cứ ta đã xây dựng thêm các trường học mới mang tính chất phong trào

bình dân học vụ, bổ túc văn hóa, duy trì với nhiều hình thức học tập thích hợp. Xây dựng 1

phòng thông tin. Phát động phong trào vệ sinh phòng bệnh uống nước chín, làm cầu tiêu

kiểu mẫu. Việc đóng góp đảm phụ được nhân dân tham gia tích cực.

Trên lĩnh vực y tế nhằm phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân, toàn tỉnh đã mở thêm

17 trạm y tế, 11 nhà bảo sanh, trong đó vùng căn cứ địa cách mạng có 7 trạm y tế, 3 nhà bảo

sanh và các trang thiết bị y tế cơ bản, dù có nhiều khó khăn nhưng quân dân vùng căn cứ

vẫn nỗ lực khắc phục để đảm bảo y tế cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vùng căn cứ. Bên

cạnh đó, ta còn tuyên truyền phát động rộng rãi phong trào giữ vệ sinh cho từng gia đình,

từng xóm ấp. Tổ chức chích ngừa, điều trị bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, sửa chữa xây

cất thêm nhà bảo sanh. Tình đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong thôn xóm được củng cố và

phát triển, nhất là đối với gia đình bị tai nạn chiến tranh và đời sống khó khăn. Trong vùng

căn cứ, nhân dân còn trồng các loại cây thước Nam để tăng cường nguồn thuốc, phục vụ cho

công cuộc kháng chiến, cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Trong lĩnh vực y tế, có trường hợp hy hữu xảy ra trong thời gian này như vụ nội gián

Nguyễn Văn Khoa, dược sĩ quân y tỉnh đội. Hắn cùng đồng bọn bào chế thuốc có chất độc

để làm giảm dần sức khỏe của chiến sĩ và đi đến tử vong, làm mất sức chiến đấu của quân

35

ta; đồng thời phá hoại một số thuốc quý có giá trị lớn. Hắn còn báo cáo cho địch danh sách

cán bộ, công nhân viên cơ quan, báo điểm cho địch đánh bom gây thiệt hại cho cơ quan và

tài sản của nhân dân. Khi bị phát hiện, hắn lẩn trốn nhưng đã bị quần chúng tóm gọn, bị đưa

ra tòa án cách mạng xử lý và tuyên án xử tử hình, sau vụ án này, công tác an ninh được thắt

chặt hơn, công tác tiếp nhận cán bộ y tế được đặc biệt quan tâm, kiểm soát chặt chẽ để tránh

tái diễn sự việc vừa qua.

2.1.2. Hoạt động bảo vệ căn cứ

2.1.2.1. Thủ đoạn đánh phá của Mỹ - Ngụy

Với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, giai đoạn từ năm 1954 – 1957 và từ năm 1957

– 1959, Mỹ - Diệm càng tăng cường đánh phá phong trào cách mạng, khủng bố tàn khốc,

gây cảnh nồi da xáo thịt đối với nhân dân ta. Chúng đẩy mạnh quân sự hóa bộ máy chính

quyền ở các cấp, thành lập các tổ chức chính trị phản động như: Thanh niên cộng hào, Phụ

nữ liên đới, đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức phong trào cách mạng quốc gia, Ngũ gia

liên bảo; tiếp tục đóng thêm đồn bốt, bắt thanh niên các đi lính, tổ chức dân vệ tại xóm, ấp

để kềm kẹp quần chúng. Nguy hiểm nhất là Mỹ - Diệm tiến công quyết liệt vào lực lượng

cách mạng ở cơ sở, liên tục thực hiện các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”, ra luật phát xít

10/59 (ngày 6-5-1959), “Đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật” (ngày 3-7-1959), lê máy

chém khắp nơi sẵn sàng chém bất kỳ người nào chúng cho rằng theo cộng sản, ráo riết lùng

bắt, chém giết cán bộ, đảng viên, quyết tâm tiêu diệt lực lượng cách mạng. Song song đó,

chúng triển khai kế hoạch lập khu dinh điền, khu trù mật nhằm bảo đảm an ninh ở những

vùng mà chúng cho rằng lực lượng cách mạng của ta còn mạnh. Tháng 5-1957 Ngô Đình

Diệm tuyên bố biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17 và ban hành Luật quân dịch bắt

thanh niên đi lính.

Ở Sóc Trăng, tháng 3-1957 Ngô Đình Diệm đưa trung tá Lê Quang Hiền thay thế

trung tá Huỳnh Văn Tư làm Tỉnh trưởng tỉnh Ba Xuyên. Lê Quang Hiền đưa ra nhiều biện

pháp thâm độc nhằm “tố cộng”, “diệt cộng” một cách ác liệt hơn.

Mục tiêu của chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” là đánh vào Đảng Cộng sản và tinh

thần yêu nước, cách mạng của quần chúng, trước hết là đánh vào Đảng, đánh vào tổ chức,

vào tư tưởng; tiêu diệt con người đi đôi với tiêu diệt tinh thần, ý chí buộc phải khuất phục

chính quyền phản động và trở thành người phản cách mạng. Về phương châm, chúng nêu

lên “từng bước, lâu dài nhưng kiên quyết và triệt để, tiêu diệt nội tuyến, diệt trừ nội tâm, đạp

36

lên oán thù để thực thi chủ nghĩa nhân vị quốc gia, giết lầm hơn thả lầm”. Ở tỉnh, ngụy

quyền đưa xuống mỗi quận một đoàn công dân vụ cùng với quận xuống xã ấp, tổ chức học

tập tố cộng, phát triển mạng lưới tề điệp, củng cố “Ngũ gia liên bảo”. Bọn công dân vụ đi từ

ấp này qua xóm khác kiểm tra kê khai gia đình, tra xét người lạ mặt, điều tra phân loại gia

đình quần chúng để phân biệt đối xử, cô lập, theo dõi và buộc làm tờ “ly khai cộng sản”.

Chúng âm mưu tổ chức tố cáo lẫn nhau, gây nghi kỵ, chia rẽ trong nhân dân, trong mỗi gia

đình. Chúng cưỡng bức vợ con cán bộ kháng chiến bỏ chồng để lấy những tên ngụy quân,

ngụy quyền ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân. Mỗi nhà, ghe, tàu phải mua bản tố cộng và

ghi bản “Nhà (ghe, tàu) tôi không chứa cộng sản”. Ban đêm bắt nhân dân tổ chức canh gác,

thấy Việt cộng là phải đốt đuốc, đánh trống mõ, vây bắt đánh đập. Ai không thực hiện thì

chúng bắt giam tra tấn. Mặt khác, chúng cấm tổ chức họp hội đồng người, bắt những người

tham gia kháng chiến trước đây ra “trình diện”, “đầu thú quốc gia”, buộc phải “ly khai”

cách mạng, xé cờ Tổ quốc, cờ Đảng, hình Bác Hồ, tập trung cải huấn, truy bức tinh thần, bôi

đen cán bộ hòng làm mất uy tín của Đảng đối với nhân dân. Lực lượng bảo an, công an,

cảnh sát liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá cơ sở, lùng bắt, khủng bố những

người kháng chiến cũ. Cảnh bắt bớ đánh đập, chém giết xảy ra hàng ngày ở khắp mọi nơi.

Nhiều cán bộ, đảng viên và quần chúng, cốt cán bị giết hại, bị địch bắt. Trên địa bàn huyện

Mỹ Xuyên, địch tăng cường các hoạt động càn quét đánh phá, cài gián điệp và mua chộc dụ

dỗ quần chúng cán bộ vì chúng biết rằng đây là nơi đứng chân của căn cứ Tỉnh ủy.

Căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng với chức năng là trung tâm đầu não của cách mạng trong

tỉnh, chỉ đạo mọi mặt cuộc kháng chiến, là nơi giữ gìn, bảo vệ lực lượng hạt nhân cách

mạng và các cơ quan trực thuộc Tỉnh ủy. Vì vậy trong quá trình chiến tranh, Mỹ - Diệm

luôn tìm mọi cách đánh phá căn cứ tỉnh ủy, đây luôn là tâm điểm cho các đợt càn quét, tấn

công của kẻ thù.

Trước tình hình địch khủng bố ác liệt và trắng trợn không thi hành Hiệp định

Genève, còn ta thì vẫn tiếp tục đấu tranh dân sinh, dân chủ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử

nên tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân diễn biến khá phức tạp, băn khoăn, lo lắng,

không tin ở khả năng dựa vào pháp lý Hiệp định Genève để đấu tranh giành thắng lợi. Quần

chúng rất căm thù địch nhưng lúng túng trong đấu tranh, không có lối thoát do đó từng nơi,

từng lúc diễn ra tâm trạng bi quan. Đa số cán bộ đảng viên tuy kiên định mục tiêu lý tưởng

cách mạng, bám trụ chiến đấu nhưng thiếu tin ở đấu tranh chính trị đơn thuần mà yêu cầu

37

đấu tranh chính trị có kết hợp với vũ trang thì ta mới giành được thắng lợi. Một số cán bộ,

đảng viên hoang mang dao động, bỏ cuộc, không dám liên hệ với quần chúng hoặc bỏ đi nơi

khác làm ăn; một số ra đầu hàng, làm việc cho địch như Lâm Hớn Thanh – Bí thư Tỉnh ủy,

Trương Văn Bền (Bảy Đỏ) – Phó bí thư Thị xã ủy, các tên Lâm Văn Nấu (cán bộ đại đội Vệ

Quốc Đoàn), bọn đầu hàng phản bội đã nhìn mặt, dẫn lính về đánh phá cơ sở gây thiệt hại

rất nhiều cho cách mạng, căn cứ Tỉnh ủy bị đánh phá nặng nề, tổ chức cơ sở Đảng bị tổn

thất nặng.

Ở vùng căn cứ Tỉnh ủy ta từng có trên 300 đảng viên thì nay không còn được 50

đảng viên. Ở 2 xã Phú Mỹ, Mỹ Hương hầu hết đảng viên trong chi bộ đều bị bắt và bị giết.

Ở huyện Thạnh Trị có trên 100 đảng viên, chỉ còn 16 đảng viên. Xã Tuân Tức là xã có đông

đảng viên, chỉ còn 2 đồng chí. Cả huyện Kế Sách chỉ còn 43 đảng viên loại I. Ở huyện Giá

Rai, xã Phong Thạnh từ 300 đảng viên, chỉ còn 27 đảng viên. Các xã Phong Thạnh Tây,

Vĩnh Mỹ, mỗi xã trên 100 đảng viên, chỉ còn 15 – 20 đồng chí. Huyện Hồng Dân là huyện

có số lượng đảng viên đông nhất, nay mỗi chi bộ chỉ còn 7 – 8 đảng viên.

Với thủ đoạn càn quét vào khu căn cứ nhằm ngăn chặn tiếp tế và làm tê liệt đầu não

cách mạng tỉnh, địch đã khiến ta gặp nhiều khó khăn nhất là trong hoạt động xây dựng và

bảo vệ căn cứ tỉnh ủy. Nhiều tổ chức cơ sở Đảng không liên hệ được với cấp ủy cấp trên,

Huyện ủy có lúc không liên hệ được với Tỉnh ủy. Nhân dân trong tỉnh hầu hết bị dồn vào

khu trù mật, tuyến lộ giao thông chiến lược và quanh các chi khu. Nhiều vùng ở nông thôn

sâu không còn dân. Cán bộ, đảng viên không bám được vào dân, không có nơi ăn ở, việc

hoạt động vô cùng khó khăn. Còn quần chúng thì không bám được ruộng vườn để sản xuất,

nên đời sống rất vất vả và không tiếp tế được cho cách mạng và khu vực căn cứ. Tình hình

vô cùng căng thẳng, ta tưởng chừng như không vượt qua được cơn thử thách. Có thể nói từ

năm 1957 đến năm 1959 phong trào cách mạng trong tỉnh Sóc Trăng nói chung và vấn đề

bảo vệ sự an toàn cho khu căn cứ Tỉnh ủy đứng trước một thử thách hết sức nghiêm trọng.

Sau giai đoạn 1954 – 1960 chịu thất nại nặng nề, thì từ năm 1961 – 1965 đế quốc Mỹ

áp dụng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” vào miền Nam Việt Nam hòng dập tắt phong trào

cách mạng, cứu nguy cho chính quyền bù nhìn tay sai Mỹ. “Chiến tranh đặc biệt” (còn gọi

là “Chiến tranh chống lật đổ) lấy lấy lực lượng ngụy làm lực lượng chủ yếu, dưới sự lãnh

đạo và chi viện của Mỹ, dùng biện pháp quân sự kết hợp với chính trị, tình báo, cảnh sát và

chiến tranh tâm lý nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng, tiêu diệt cơ sở Đảng giành

38

lại trận địa nông thôn, kết hợp ngăn chặn biên giới, phong tỏa vùng biển, cắt nguồn chi viện

từ miền Bắc vào để cuối cùng đánh bại chiến tranh cách mạng, bóp chết phong trào quần

chúng của ta hòng giành thắng lợi trong thời gian ngắn.

Để thực hiện được mưu đồ trên, Mỹ - ngụy tiến hành 5 biện pháp lớn: Xây dựng và

phát triển ngụy quân, đặc biệt là xây dựng lực lượng quân địa phương và các binh chủng

chống chiến tranh du kích; tập trung thực hiện chương trình bình định theo “Quốc sách ấp

chiến lược” để gom dân; phong tỏa biên giới và vùng biển, cắt đứt sự chi viện của ta từ

miền Bắc; củng cố ngụy quyền các cấp; tăng cường cố vấn quân sự và lực lượng yểm trợ

Mỹ bao gồn không quân, hải quân, thiết giáp, hậu cần.

Trước khi đi vào chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, để đối phó với phong trào cách

mạng đang dâng lên mạnh mẽ ở miền Nam, Đế quốc Mỹ cho thực hiện kế hoạch “Chống

nổi dậy”. Nội dung kế hoạch này là tăng cường viện trợ Mỹ, xây dựng lực lượng phát triển

ngụy quân, chống du kích tại chỗ, nhằm cứu nguy sự sụp đổ nhanh của Ngụy quyền ở miền

Nam. Kế đó chúng thực hiện kế hoạch Stalây – Taylo là kế hoạch đầu tiên của “Chiến tranh

đặc biệt”. Kế hoạch Stalây – Taylo nhằm bình định miền Nam trong vòng 18 tháng và

chuẩn bị tiến công miền Bắc. Kế hoạch này gồm 2 điểm chủ yếu là “ấp chiến lược” để tập

trung dân, cô lập lực lượng cách mạng với quần chúng và tăng cường hoạt động quân sự để

tiêu diệt lực lượng yêu nước, lực lượng vũ trang cách mạng, tăng cường cố vấn Mỹ vào

miền Nam Việt Nam nhằm điều khiển có hiệu quả hơn bộ máy chính quyền, quân sự ngụy.

Để thực hiện kế hoạch trên, trước hết Mỹ - Diệm điều chỉnh tổ chức theo chiến

trường, bố trí chiến lược, giải tán các tổ chức quân khu, chia lãnh thổ thành vùng chiến

thuật, khu chiến thuật, tiểu khu (tỉnh), chi khu (quận); chú trọng kiện toàn cấp tiểu khu, chi

khu nhằm tạo điều kiện cho việc càn quét, bình định từng địa phương có hiệu quả.

Ở Sóc Trăng, ngụy quyền tập trung đẩy mạnh mọi hoạt động để ngăn chặn mọi

phong trào hoạt động cách mạng và phục hồi thế lực ở địa phương. Chúng cử thiếu tá

Hoàng Mạnh Thường và sau đó là trung tá Nguyễn Ngọc Thắng về làm tỉnh trưởng. chúng

đẩy mạnh việc bắt lính để tăng cường cho lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát, củng cố bộ

máy ngụy quyền cơ sở. Đến cuối năm 1961 ngụy quân Ba Xuyên (lúc này địch gọi Sóc

Trăng là tỉnh Ba Xuyên) tăng lên 3.300 tên, trong đó có 1.300 tên bảo an và 1.600 tên dân

vệ. Ở tỉnh có một số đại đội bảo an ứng chiến và mỗi quận có một đại đội bảo an mạnh,

phục vụ cho việc càn quét, lấn chiếm. Song song đó địch còn xây dựng hệ thống đồn bốt

39

(chỉ tình riêng quận Thạnh Trị đã tăng lên 32 đồn, bốt) và tăng cường quân lính chiếm đóng

các trục lộ giao thông như lộ Đông Dương (nay là quốc lộ 1A), lộ 38 (Bạc Liêu – Vĩnh

Châu), lộ 16 (Ngã Năm – Phú Lộc), lộ Bố Thảo – Mỹ Tú và vùng ven thị xã, thị trấn, vùng

tôn giáo, vùng có nhiều đồng bào Khmer sinh sống. Hành động này của chúng đã tạo ra một

thế trận bao vây căn cứ Tỉnh ủy từ nhiều hướng, đe dọa nghiêm trọng đầu não cách mạng ở

Sóc Trăng.

Trong 6 tháng đầu năm 1961, địch liên tục mở hơn 50 cuộc càn quét vào căn cứ tỉnh

ủy Sóc Trăng và vùng nông thôn giải phóng, chúng liên tục hành quân phục kích, biệt kích

nhằm tiêu diệt và ngăn chặn mọi hoạt động của các lực lượng cách mạng.

Vào năm 1963, địch đưa trung tá Nguyễn Linh Chiếu, rồi trung tá Nguyễn Thanh

Hoàng về làm tỉnh trưởng và tăng cường 2 trung đoàn của sư đoàn 21 ngụy: trung đoàn 33

đóng tại thị xã Bạc Liêu, đưa chi đoàn thiết xa vận số 9 gồm 12 chiếc xe M113 đóng tại đầu

sân bay để phối hợp hoạt động, tăng cường phát triển đội Tuần giang có lúc lên đến 43 chiếc

hoạt động trên sông Bassac, ngăn cắt hành lang vận chuyển của ta từ khu 9 qua khu 8. Tăng

cường pháo 105 ly để thành lập những trận địa pháo. Cường độ hoạt động của địch tăng

nhanh, các cuộc càn quét tăng gấp 3 lần năm 1962, phi cơ đánh phá gấp 10 lần. lực lượng

càn quét của địch nâng lên cấp tiểu đoàn. Một số vùng địch bắt đầu dùng chất độc hóa học

để khai hoang, triệt phá địa hình. Trong khu vực căn cứ tỉnh ủy địch đưa không đoàn 84 với

hai đại đội máy bay lên thẳng HU1A, HU1B, chung đẩy mạnh hoạt động giang thuyền trên

sông Bassac ven vùng căn cứ tỉnh ủy. Tăng cường trang bị pháo 105 ly cho các chi khu

đóng ở Thạnh Trị, Hồng Dân, Cái Nước…chúng còn thường xuyên sử dụng chất độc khai

quang cũng như thực hiện các cuộc hành quân lớn nhằm tiêu diệt đầu não của Tỉnh ủy Sóc

Trăng.

Từ khi đế quốc Mỹ triển khai chiến lược “chiến tranh cục bộ”, chúng tăng thêm cố

vấn và sỹ quan Mỹ vào các cơ quan chỉ huy tác chiến đồng thời tăng cường sử dụng đến

mức cao nhất hỏa lực không quân, hải quân và pháo quân để đánh phá có tính chất hủy diệt

vùng giải phóng, vùng căn cứ tỉnh ủy và yểm trợ cho ngụy quân càn quét, bình định các khu

vực hành lang. Trong năm 1966, ngụy quân ở Sóc Trăng tăng lên gấp 2 lần so với năm

1965, địch bổ sung cho đơn vị biệt động quân số 42, tăng quân số 2 tiểu đoàn bảo an 448 và

411, tổ chức nhiều toán biệt kích, 2 sư đoàn của trung đoàn 21 thường xuyên túc trực ở đây.

40

Chúng mở liên tục các cuộc càn quét lớn nhỏ vào khu căn cứ, cho bắn pháo, dùng

trực thăng soi đèn bắn phá hàng đêm, chúng dùng máy bay B57 bỏ bom liên tục, gây nhiều

thiệt hại cho quân dân ta. Cùng với hoạt động quân sự, địch tăng cường hoạt động tình báo

gián điệp, dùng mọi thủ đoạn thâm nhập vào vùng căn cứ, chui vào vùng nội bộ để nắm tình

hình, thu lượm tinh tức, tung tin thất thiệt gây chia rẽ cho quân sự và càn quét, đánh phá…

Với những thủ đoạn chống phá cách mạng và đánh phá căn cứ tỉnh ủy, đế quốc Mỹ

và tay sau đặt quyết tâm rất lớn nhằm tiêu diệt đầu não kháng chiến của ta tại căn cứ Mỹ

Xuyên, lúc này Đảng bộ và nhân dân Sóc Trăng kiên cường hơn lúc nào hết, quyết tâm đánh

bại kẻ thù xâm lược, bảo vệ thành quả cách mạng đã đạt được, bảo vệ căn cứ tỉnh ủy được

an toàn.

2.1.2.2. Tổ chức bố phòng, chiến đấu bảo vệ căn cứ Tỉnh ủy

Trước yêu cầu bức xúc của cách mạng miền Nam, tháng 1-1959 Ban Chấp hành

Trung ương Đảng ra Nghị quyết 15 khẳng định: “Con đường phát triển cơ bản của cách

mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Căn cứ tình

hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần

chúng, dựa vào lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền cách mạng của nhân dân” [31, tr.

144]. Nghị quyết 15 đã đáp ứng được yêu cầu của cách mạng ở miền Nam, đáp ứng sự

mong muốn của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tháng 11-1959, Hội nghị Xứ ủy Nam bộ

nghiên cứu và quán triệt Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, Hội nghị đề ra nhiệm vụ

trước mắt của Đảng bộ miền Nam là: “Giữ vững và đẩy mạnh phong trào quần chúng, lấy

đấu tranh chính trị của quần chúng làm chính, đồng thời kết hợp với lực lượng vũ trang

tuyên truyền để chống chính sách khủng bố tàn bạo, ngăn chặn và đẩy lùi từng bước mọi kế

hoạch của địch, đẩy địch vào thế bị động. Cần kết hợp các hình thức đấu tranh hợp pháp,

nửa hợp pháp và không hợp pháp, giữ thế hợp pháp cho phong trào quần chúng” [32, tr.

146] .

Từ ngày 28-1-1960 đến ngày 10-02-1960, tại xã Lâm Kiết, huyện Thạnh Trị, Ban

Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng họp tiếp thu Nghị quyết của Xứ ủy Nam bộ do đồng chí

Trần Văn Bỉnh (Bảy Thạng) đại diện Liên Tỉnh ủy trực tiếp phổ biển. Tỉnh ủy Sóc Trăng

quyết tâm biến nội dung, tinh thần Nghị quyết của Trung ương Đảng, của Xứ ủy, thành

hành động cách mạng của nhân dân trong tỉnh, quyết tâm nổi dậy phá kềm giành quyền làm

chủ ở nông thôn. Tỉnh ủy đề ra nhiệm vụ: “Dùng bạo lực chính trị của quần chúng kết hợp

41

với vũ trang nổi dậy khởi nghĩa đồng loạt. Phát huy công tác binh vận, sử dụng cơ sở trong

lòng địch kết hợp với lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang để tiến công địch. Tập trung

đánh vào bộ máy kềm kẹp của địch ở nông thôn để giành quyền làm chủ” [2, tr. 65]

Do tình hình cụ thể giữa ta và địch, Tỉnh ủy chỉ đạo quá trình nổi dậy của quần chúng

chia làm các bước:

− Bước 1: Tổ chức học tập trong Đảng bộ để thống nhất Nghị quyết, chủ trương và kế

hoạch, đồng thời phát động ra quần chúng.

− Bước 2: Tạo thế, tạo lực, nhanh chóng xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang, binh

vận thành lập các đội vũ trang huyện, xã để phối hợp với phong trào chính trị tiến

công địch, sử dụng cơ sở trong lòng địch diệt ác ôn, gỡ đồn bốt. Cần phát huy thế

mạnh thuận lợi trong tuần khu vực, từng địa phương để tiến công giành thắng lợi.

− Bước 3: Đồng loạt nổi dậy tiến công địch diệt ác, mở mảng giành quyền làm chủ ở

nông thôn. Đánh bại các đợt càn quét của địch ở các khu vực hành lang, bảo vệ khu

vực căn cứ Tỉnh ủy.

Đối với lực lượng vũ trang phải nhanh chóng xây dựng lực lượng ở xã, huyện để làm

nòng cốt cho cuộc nổi dậy, tổ chức vữ trang tuyên truyền, vũ trnag diệt ác, trấn áp bọn phản

cách mạng. Đối với lực lượng vũ trang tỉnh, Tỉnh ủy chỉ đạo cho hoạt động công khai, phối

hợp với địa phương đánh địch, diệt ác, phá kềm, lấy vũ khí địch trang bị cho ta. Về địa bàn

hoạt động, trước mắt lấy huyện Hồng Dân làm điểm chuyển lên giành quyền làm chủ để rút

kinh nghiệm.

Căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ đã nêu, Tỉnh ủy quyết định phát động cuộc khởi

nghĩa trong toàn tỉnh.

Chỉ trong 4 ngày ra quân (từ ngày 10 đến ngày 13-2-1960) ta đã giành thắng lợi, diệt

ác phá kềm, tiêu diệt sinh lực địch ở xã Phong Thạnh, huyện Giá Rai (ngày 10 và ngày 13-

2-1960) và xã Vĩnh Hưng huyện Vĩnh Lợi (ngày 12-2-1960), cổ vũ mạnh mẽ tinh thần nhân

dân nổi dậy đánh địch. Ở huyện Châu Thành, ngày 14-2-1960 lực lượng quần chúng xã Mỹ

Phước có vũ trang hỗ trợ, kết hợp với nội tuyến nổi dậy lấy đồn Trần An, tên cảnh sát

trưởng và tên trưởng đồn dân vệ đền tội. Ta thu được 14 súng, số binh lính được giáo dục,

phóng thích. Địch dựng lại đồn, ta lại phá. Lực lượng quần chúng ấp Trần An cùng với lực

lượng xã Mỹ Phước nổi dậy diệt tề, phá bộ máy kềm kẹp, giải tán thanh niên cộng hòa và

các tổ chức phản động. Tên chủ tịch hội đồng hương chính gian ác bị tiêu diệt, đồn Trần An

42

bị bức rút, nhân dân xông lên san bằng đồn. Tại ấp Giồng Cát, xã Phú Tâm ta tiêu diệt 2 tên

ác ôn (1 tên trưởng ấp, 1 tên tình báo đột lốt giáo viên) giải tán thanh niên cộng hòa. Cũng

tại xã Phú Tâm lực lượng vũ trang huyện cùng du kích xã phục kích đánh tiêu diệt 1 tiểu đội

dân vệ thu 1 súng Tomsom, 2 súng trường. Ở huyện Kế Sách, tại xã Xuân Hòa, đội bảo vệ

của Liên tỉnh ủy miền Tây phối hợp với lực lượng vũ trang xã cải trang dùng tàu dò đột

nhập đồn Cái Côn kết hợp nội tuyến tiêu diệt tên trưởng đồn, bắt 3 tên lính, số còn lại bỏ

súng tháo chạy. Ta thu toàn bộ vũ khí, có một súng trung liên. Tại xã Ba Trinh, nhân dân

được lực lượng vũ trang hỗ trợ đã nổi dậy tiến công bọn tề xã, các tên ác ôn phải đền tội.

Tiếp theo, nhân dân 2 xã Ba Trinh, Thới An Hội vùng lên tiến công bao vậy đồn Bến Đổi và

đồn Cầu Lộ. Binh lính 2 đồn hốt hoảng hốt rút chạy, nhân dân xông lên san bằng 2 đồn.

Những chiến thắng trên đã tạo ra một vùng đệm an toàn cho khu vực căn cứ tỉnh ủy ở

phía Nam và phía Đông, vốn là nơi đóng giữ của các chi khu Cái Nước, Chà Là, nơi tập

trung hỏa lực mạnh của địch, nhờ đó mà vùng căn cứ được mở rộng, an toàn và là bàn đạp

quan trọng để tổ chức các cuộc khởi nghĩa tiếp theo trên toàn địa bàn tỉnh.

Cuối tháng 4-1960, Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị tại huyện Vĩnh Châu để sơ

kết đợt học tập Nghị quyết 15, đánh giá tình hình chuyển biến ở một số địa phương và hoạt

động của các lực lượng vũ trang trong tỉnh; đồng thời chỉ đạo việc mở rộng diện tiến công

đều, nhanh chóng tạo thế và lực, phát triển lực lượng cách mạng, tích cực chuẩn bị cho bước

hai. Thường vụ nhất trí cho đơn vị Đinh Tiên Hoàng mang tên là đơn vị Phú Lợi.

Tỉnh ủy quyết định điều một bộ phận của đơn vị Phú Lợi qua huyện Long Phú làm

nòng cốt để bước đầu xây dựng một trung đội địa phương quân huyện và quyết định thành

lập trung đội thứ ai của tỉnh hoạt động trên tuyến ven biển Giá Rai; đồng thời chỉ đạo tiến

hành vũ trang tuyên truyền ở thị trấn Vĩnh Châu để phát huy thanh thế của cách mạng ở

vùng đồng bào Khmer, đưa phong trào cách mạng của đồng bào Khmer tiến lên một bước.

Ở khu vực huyện Châu Thành, sau khi mở rộng vùng căn cứ tỉnh ủy và tạo một hành

lang an toàn thì vào ngày 5-6-1960, lực lượng vũ trang tỉnh kết hợp với đội vũ trang xã Mỹ

Tú rải truyền đơn ở ấp Mỹ Thuận, đồng thời tổ chức đánh diệt 3 tên, làm bị thương 2 tên,

thu 5 súng. Ngày 19-5-1960 nhiều xã trong huyện tổ chức mít tinh kỷ niệm sinh nhật Hồ

Chủ tịch kính yêu, khẩu hiệu “Hồ Chí Minh muôn năm” được truyền đi nhiều nơi. Trống

mõ nổi lên khắp nơi, nhân dân kéo nhau đi truy bắt bon phản cách mạng. Xã Long Hưng,

lực lượng xã kết hợp với nội tuyến tiến công đồn Búng Tàu, bọn ác ôn trong đồn bị diệt, ta

43

thu toàn bộ vũ khí. Hội đồng hương chính xã bị lực lượng ta truy lùng, các tổ chức phản

động bị giải tán.

Tiếp theo, ngày 14 – 09 – 1960, thực hiện sự chỉ đạo chung của Xứ ủy đối với toàn

Nam bộ, được sự chỉ đạo trực tiếp của Liên tỉnh ủy, nhân dân trong tỉnh lại bừng bừng khí

thế đồng loạt nổi dậy tiến công địch. Tiếng trống, mõ vang dội khắp nơi. Nhân dân ở các

vùng vừa được giải phóng đã xông ra vùng yếu, vùng kềm góp sức tiến công địch, truy lung

trấn áp bọn phản cách mạng. Nhiều đồn bốt của địch bị ta vây chặt. Các trục lộ giao thông

quan trọng bị ta phá hoại, cắt đứt nhiều đoạn như lộ giao thông 16 Ngã Năm – Phú Lộc, lộ

38 Vĩnh Châu – Bạc Liêu, lộ Bố Thảo – Xẻo Gừa – Mỹ Tú. Nhiều binh sĩ bị phân hóa

hoang mang dao động, có một số bỏ súng trốn chạy, đồn Bến Bạ bị bức hàng, ta bắt 14 tù

binh, giải phóng xã 3 giờ chiều ngày 15-9-1960. Đồn Bến Bạ vốn là căn cứ quân sự địa

phương án ngữ lộ 16 huyết mạch, việc đánh bại đồn này đã tạo ra một thế đứng vững chắc

cho căn cứ Tỉnh ủy, mạch liên lạc, giao thông, hậu cần của căn cứ được giữ vững.

Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Mỹ, bước sang năm 1962 đế quốc Mỹ chính thức thi

hành kế hoạch Stalây – Taylo đẩy mạnh mọi hoạt động thực hiện chiến lược “Chiến tranh

đặc biệt”, quân ngụy liên tục mở những cuộc hành quân càn quét lớn, càn đi quét lại khắp

các vùng ở miền Nam để tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng. Về quân sự chúng bắt đầu

thực hiện các chiến thuật “Tân kỳ”, “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận”, “Bủa lưới phóng lao”

bằng các phương tiện chiến tranh tối tân để đánh phá cách mạng. Đồng thời Mỹ - ngụy thực

hiện “quốc sách ấp chiến lược” để bình định miền Nam.

Để thực hiện “quốc sách ấp chiến lược”, Mỹ - ngụy đã thành lập hệ thống chỉ huy từ

Trung ương đến tận cơ sở, huy động mọi lực lượng tiến hành bao gồn các sư đoàn chủ lực,

lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát, thanh niên chiến đấu v.v… chúng mở nhiều cuộc hành

quân càn quét nhằm đánh vào khu căn cứ và vùng nông thôn, tiêu diệt lực lượng vũ trang

cách mạng, mở đường cho các hoạt động tát dân, gom dân lập ấp chiến lược.

Ở Sóc Trăng với đặc thù của tỉnh, bọn địch tập trung lập ấp chiến lược ở những vùng

mà chúng cho là xung yếu như trục lộ giao thông (thủy, bộ), vùng ven thị xã, thị trấn, vùng

đông đồng bào Khmer, vùng ven biển hai huyện Long Phu, Vĩnh Châu. Đặc biệt ở vùng

Thiên Chúa giáo, chúng lập ấp chiến lược theo từng họ đạo, theo khu vực nhà thờ, chúng

lấy nhà thờ làm nơi ăn chốn ở. Khi có tiến công vào áp chiến lược phải vượt qua nhà thờ,

nếu ta có thiếu sót hoặc sơ hở thì chúng tạo cớ để xuyên tạc. Mặt khác bọn chúng âm mưu

44

mua chuộc dụ dỗ linh mục và giáo dân để chống, phá cách mạng, do đó ta gặp nhiều khó

khăn. Đầu tháng 3-1962, Mỹ - Diệm đưa không đoàn 42 đến đóng tại sân bay Sóc Trăng

đảm nhiệm dân vận, cơ động lực lượng để càn quét, đánh phá phong trào cách mạng ở miền

Tây Nam Bộ, đồng thời để đánh phá vùng căn cứ. Địch tăng cường cho Sóc Trăng một số

phương tiện chiến tranh (như tàu chiến, xe cơ giới, pháo 105 ly) và hàng trăm cố vấn Mỹ,

chuyên viên kỹ thuật phục vụ cho đánh phá, gom dân lập ấp chiến lược. Trước tình hình đó

đã đe dọa rất lớn đến sự an toàn của khu vực căn cứ tỉnh ủy Sóc Trang trên địa bàn xã Gia

Hòa - huyện Mỹ Xuyên.

Tháng 9-1962 theo sự chỉ đạo của Thường vụ Tỉnh ủy, quân dân ta phải bằng mọi

cách đánh đồn Cầu Trâu để mở đường giao thông liên lạc bằng đường thủy từ phía Tây qua

phía Đông của huyện nối liền với huyện Mỹ Xuyên vào khu căn cứ tỉnh ủy. Vì địch mới xây

dựng thêm đường cầu Trâu cắt đường giao thông thủy của huyện và tỉnh tạo thế hành quân

vào khu căn cứ cách mạng. Sau một thời gian nghiên cứu, địa phương quân huyện Thạnh

Trị ra quyết tâm đánh tiêu diệt đồn này. Đồn Cầu Trâu do 20 tên dân vệ đóng giữ. Sau một

giờ chiến đấu ta chiếm toàn bộ 3 góc đồn, nhưng còn cao điểm chuồng cu một số tên còn

chốt giữ, dùng lựu đạn chống trả làm cho lực lượng ta bị thương vong. Với quyết tâm của

đơn vị tiêu diệt bằng được chuồng cu để hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí Mai Thanh Thế dù

bị thương (cánh tay bị gãy), xin tình nguyện ôm mìn xông vào đánh cao điểm này. Để khỏi

vướng bận, đồng chí dùng lưỡi lê cắt bỏ cánh tay gãy, ôm mìn xông vào đánh điểm. Mìn nổ,

đồng chí bị văng ra xa bất tỉnh. Chuồng cu vẫn không hạ được, hết mìn, không còn khả năng

khắc phục, đơn vị đành phải rút ra. Dù bị thương, cánh tay đứt đoạn, máu ra nhiều, trên

đường về đồng chí vẫn bình thản; trước khi trút hơi thở cuối cùng đồng chí còn hô khẩu

hiêu: “Bác Hồ muôn năm!”. Với hành động anh hùng và cả quá trình tham gia đánh giặc,

lập nhiều chiến công, đồng chí Mai Thanh Thế được nhà nước ta xét phong tặng danh hiệu

“Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Hòa trong khí thế đấu tranh chung của toàn miền, đặc biệt là chiến thắng Ấp Bắc (1-

1963) đã đánh dấu sự thất bại của địch về chiến thuật “Trực Thăng Vận”, “Thiết Xa Vận”

và mở ra một cao trào tiêu diệt sinh lực địch, bắn máy bay, đánh thiết giáp và phá ấp chiến

lược, phong trào cách mạng tỉnh nhà càng thêm sôi nổi.

Sau khi được thành lập, tháng 2-1963 đại đội 74 (đại đội cơ động thứ 2 của tỉnh)

cùng với du kích xã Gia Hòa chống lại tiểu đoàn chủ lực địch càn quét vào khu căn cứ tỉnh

45

ủy tại các ấp Long Hòa, Trung Hòa, Tam Hòa, làm hàng trăm tên địch chết và bị thương,

một tàu sắt, một máy bay bị bắn cháy. Tiếp theo (ngày 5-3-1963) đại đội Phú Lợi cùng địa

phương quân huyện Mỹ Xuyên chặn đánh tiểu đoàn chủ lực địch càn quét vào xóm Cây

Gừa xã Hòa Tú, bị quân ta phản công quyết liệt, bọn địch phải rút chạy, nhiều tên bị chết và

bị thương.

Tháng 9-1963 đại 602 phối hợp với biệt động thị xã Sóc Trăng dùng cối 82 tập kích

bất ngờ vào sân bay Sóc Trăng, phá hủy và làm hư nhiều máy bay các loại, tiêu diệt và làm

bị thương giặc lái và chuyên viên kỹ thuật (trong đó có cố vấn Mỹ). Các chiến thắng của lực

lượng vũ trang đã làm nức lòng nhân dân trong tỉnh, đây là sự đọ sức ban đầu và là đòn

giáng trả lực lượng quân sự Mỹ, lực lượng không vận “Tân kỳ” của Mỹ - ngụy. Những

chiến thắng đó đã góp phần làm phân tán lực lượng địch, giữ vững và bảo vệ vững chắc đầu

não căn cứ cách mạng của tỉnh Sóc Trăng.

Ở vùng căn cứ tỉnh ủy chưa đầy nửa năm 1964 đến đầu năm 1965, đã có đến hơn 100

lần máy bay ném bom, hơn 200 lần bắn pháo, 15 lần rải chất độc hóa học, gây nhiều khó

khăn cho các căn cứ của ta, làm thiệt hại nặng nề về tài sản và tính mạng của nhân dân. Với

thủ đoạn trên, địch có đạt được kết quả nhất định, vùng nông thôn giải phóng có nơi không

còn dân, nhân dân tạm thời ra đô thị, vùng kềm để tránh bom đạn và sự khủng bố của địch,

nhưng ở nhiều khu vực giải phóng và đặc biệt là khu căn cứ tỉnh ủy vẫn trụ vững, đa số

nhân dân vẫn bám trụ cùng với du kích chiến đấu bảo vệ khu căn cứ, bảo vệ xóm làng. Lòng

căm thù bọn Mỹ-ngụy của nhân dân ta càng lên cao độ.

Bước vào chiến dịch Đông Xuân 1964 -1965, cuối tháng 12-1964 tại trọng điểm

huyện Châu Thành, tiểu đoàn Phú Lợi kết hợp với địa phương quân huyện tập trung đánh

phá tuyến ấp chiến lược Tà Ông – Tam Sóc. Ngày 5-1-1965, một bộ phận C603 kết hợp với

quân địa phương huyện tiêu diệt đồn Tam Sóc, diệt tề, truy lung ác ôn, giải tán thanh niên

chiến đấu. Ngày hôm sau, 6-1-1965, tiểu khu Ba Xuyên cho tiểu đoàn bảo an đến cứu viện;

đông thời cho pháo 105 ly từ Bố Thảo bắn giải tỏa 2 bên lộ. Tiểu đoàn Phú Lợi và địa

phương quân huyện Châu Thành đã phát huy thắng lợi, kiên quyết chặn đánh địch, chia cắt

và tiêu diệt chúng. Quân địch hoảng hốt, bỏ xe, vứt đạn để vượt sông tẩu thoát, nhưng

chúng đã bị quân ta bắt sống toàn bộ. Sau đó địch cho máy bay và pháo 105 ly bắn liên tiếp

vào trận địa. ta tổ chức băn máy bay và chuẩn bị đánh binh cứu viện. Đến 14 giờ, 24 máy

bay trực thăng đổ tiểu đoàn biệt động quân số 42 đến can viện, nhưng chúng ở cách xa

46

quân ta 2 km và không dám tiến quân vào. Đến tối quân ta mới rút đi. Trận này ta tiêu diệt

và bắt sống gọn tiểu đoàn bảo an, tên quận trưởng Mỹ Tú cũng bị bắt. Ta tiêu diệt đồn dân

vệ, phá rã 3 ấp chiến lược, giải tán trên 100 thanh niên chiến đấu và bộ máy kềm kẹp, đốt

cháy 4 xe quân sự (có 12 xe bọc thép), thu trên 100 khẩu súng và nhiều đạn được.

Chiến thắng Tam Sóc làm rúng động bọn địch ở Ba Xuyên, làm nức lòng quân dân ta

trong tỉnh. Trận đánh này có tính quết định làm cho địch hoảng sợ, góp phần đi đến kết thúc

“Chiến tranh đặc biệt” của địch tại địa phương. Chiến thắng Tam Sóc còn góp phần giải tỏa

khu vực hành lang phía Bắc của căn cứ Tỉnh ủy, nhờ đó mà đầu não của ta ở Sóc Trăng

được giữ vững và từ đó phát động cuộc chiến tranh nhân dân trên toàn tỉnh, tiến lên đánh

bại hoàn toàn kẻ thù trong chiến tranh đặc biệt.

Phát huy chiến thắng, quân dân ta lại tổ chức đánh địch ở khắp nơi. Trên tuyến lộ Trà

Ôn – Lai Hòa (Vĩnh Châu) phía tây nam căn cứ Tỉnh ủy, tiểu đoàn Phú Lợi cùng với trung

đoàn I (Quân khu IX) chặn đánh đoàn xe quân sự địch (chở quân trung đoàn 32 sư đoàn 21

ngụy từ Bạc Liêu). Trước sự tiến công mạnh mẽ của quân ta, bọn địch không dám chống trả,

chúng tháo chạy bỏ cả xe và máy thông tin. Trận đánh của ta đã làm cho địch hoang mang,

đồng thời tạo thuận lợi cho phong trào quần chúng và lực lượng vũ trang địa phương chống,

phá ấp chiến lược. Cùng thời gian này, ở tuyến lộ Đại Ngãi – Trường Khánh (Long Phú),

trung đoàn II (Quân khu) kết hợp với du kích xã Hậu Thạnh, Đại Ngãi tiến công tiêu diệt

đồn số 5. Ngày hôm sau, địch cho hai đoàn xe lội nước và dùng máy bay đổ quân trung

đoàn 33 sư đoàn 21, tổ chức đánh vào lực lượng ta. Quân ta chiến đấu quyết liệt với địch.

Bọn địch cho hàng chục đợt máy bay oanh kích vá pháo 105ly bắn phá; đồng thời đổ thêm

quân (trung đoàn 32, sư đoàn 21) quyết bao vây, tiêu diệt lực lượng ta. Trung đoàn II và du

kích xã Hậu Thành, Đại Ngãi đã kiên cường chiến đấu suốt một ngày, đánh bật nhiều cuộc

tiến công của địch. Đến tối quân ta rút khổi trận địa. Ta đã tiêu diệt và làm bị thương gần

300 tên địch, bắn rơi và hư 6 máy bay, bắn cháy 3 xe M113. Bên ta cũng có bị thương vong.

Ở các nơi khác như Thạnh Thới An (Mỹ Xuyên), Phó Sinh (Hồng Dân), tuyến sân bay (thị

xã Bạc Liêu) v.v… bọn địch đều bị ta liên tiếp tiến công tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực và

thu nhiều vũ khí. Chúng buộc phải rút lui phần lớn lực lượng về thị xã Sóc Trăng, ra khỏi

khu vực căn cứ Tỉnh ủy và đưa các phương tiện chiến đấu hiện đại về Cần Thơ sửa chữa.

Từ ngày 15 đến 24-11-1965 và đầu tháng 12-1965 với 5 ngày liền tại khu vục căn cứ

tỉnh ủy trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên, ở hai xã Gia hòa và Hòa Tú, dân quân du kích địa

47

phương quân huyện cùng tiêu đoàn Phú Lợi đã đánh gãy 2 cuộc càn quét lớn, dài ngày của

sư đoàn 21 vào khu căn cứ tỉnh ủy. Mỗi cuộc càn quét, địch sử dụng từ 1000 đến 1.500

quân, nhiều xe bọc thép kết hợp với máy bay và tàu chiến. Địch bị các lực lượng của ta đánh

đau, gây thiệt hại nặng. Nhiều tên địch bị loại khỏi vong chiến đấu, 12 tàu sắt bị đánh chìm,

bắn cháy, 6 xe M113 bị tan xác và hư hỏng, 15 trực thăng bị bắn rơi. Chiến thắng vang dội

này làm cho quân và dân ta rất phấn khởi và làm kẻ thù rất lo ngại. Khu căn cứ tỉnh ủy an

toàn trước đợt càn quét lớn này của kẻ thù.

Tháng 11-1967, địch tổ chức một trận càn quét lớn vào căn cứ Tỉnh ủy tại ấp Thạnh

Hòa, xã Gia Hòa, huyện Mỹ Xuyên. Một bộ phận hỏa lực mạnh của Đội phòng thủ Tỉnh ủy

do đồng chí Nguyễn Văn Đạt (Tám Đạt) trực tiếp chỉ huy, cùng với dân quân du kích xã Gia

Hòa đã dũng cảm chiến đấu, kéo địch về ấp Tân Hòa nơi đơn vị phòng ngự để tiêu hao địch,

bảo vệ an toàn cho hơn 50 đại biểu của Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng.

Sau khi xem xét tình hình chính trị, quân sự của ta và địch trong nước và trên thế

giới, tháng 12-1967 Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tổng công kích và tổng khởi nghĩa. Sau

đó Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1-1968) nhất trí với Bộ

Chính trị và nhận định “Chúng ta đang đứng trước triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Đế

quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến luợc” [31, tr. 763]. Trên cơ sở

đó, Bộ Chính trị Trung ương Đảng hạ quyết tâm: “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của

nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới – thời kỳ giành thắng lợi quyết định” [31, tr.

764]. Để thực hiện quyết tâm chiến lược đó, “nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta trong

thời kỳ mới là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ở cả

2 miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên buớc phát triển cao nhất, dùng phương

pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa dể giành thắng lợi quyết định” [31, tr. 764]

Theo sự chỉ đạo của Khu ủy, trung tuần tháng 1-1968 Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ

Sóc Trăng họp tại Cái Cuôi, xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân, nhằm đánh giá tình hình

năm 1967 đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 1968. Ngày 28-1-1968 (ngày 29 tháng chạp)

Tỉnh ủy được đồng chí Phan Công Cương (Chín Lân) Khu ủy viên, thay mặt Khu ủy truyền

đạt ngày giờ tổng công kích - tổng khởi nghĩa toàn miền Nam. Tình hình khẩn trương nên

không kịp triệu tập tất cả các đồng chí trong Ban Thương vụ Tỉnh ủy, chỉ triệu tập các đồng

chí ở gần điểm họp. Cuộc họp tại căn cứ Tỉnh ủy huyện Mỹ Xuyên, có các đồng chí:

48

Nguyễn Văn Hơn (Hai Tân), Lưu Khánh Đức (Ba Dân), Lê Đại (Năm Quân), Lê Phước Thọ

(Sáu Hậu).

Sau Hội nghị ở Căn cứ tỉnh ủy Mỹ Xuyên, Thường trực Tỉnh ủy quyết định dời căn

cứ Tỉnh ủy từ Gia Hòa (huyện Mỹ Xuyên) về Rừng Tràm Mỹ Phước (huyện Châu Thành).

Đơn vị phòng thủ được Tỉnh ủy chỉ thị cùng với Ban căn cứ Tỉnh ủy tổ chức việc di dời cơ

quan, đồng thời bổ sung quân số, củng cố đơn vị phòng thủ thành một đại đội. Đại đội được

mang tên là B68. Trong lúc các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện bắt dầu hành quân về điểm

tập kết để tiến công vào 2 thị xã, thi đơn vị B68 tổ chức đưa các đồng chí Thường trực Tỉnh

ủy và tất cả các bộ phận trực thuộc Tỉnh ủy về Rừng Tràm. Sau đó đơn vị nhận được lệnh

tổng tiến công với nhiệm vụ Tỉnh ủy giao: Tổ chức một trung đội chiến đấu, tham gia cùng

các lực lượng vũ trang đánh chiếm thị xã Sóc Trăng và phối hợp với du kích địa phương gỡ

đồn bốt ở tuyến ven thị xã. Số cán bộ chiến sĩ còn lại chia thành 2 bộ phận. Bộ phận thứ

nhất bảo vệ các đồng chí trong Ban chỉ huy tổng công kích - tổng khởi nghĩa. Bộ phận thứ

hai có nhiệm vụ bảo vệ căn cứ, bảo vệ cơ quan, Thường trực Tỉnh ủy. Đồng thời phân công

một tổ liên lạc hỏa tốc giữa Thuờng trực Tỉnh ủy với hai Ban chỉ huy ở 2 thị xã Sóc Trăng,

Bạc Liêu.

Như vậy qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển, căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng vẫn kiên

cường trụ vững, cùng với nhân dân Sóc Trăng và nhân dân miền Nam chống lại mọi âm

mưu của đế quốc Mỹ. Thế và lực của ta mạnh lên, lực lượng chính trị, vũ trang phát triển

toàn diện về số lượng và chất lượng. Thế của địch yếu dần, chúng phải co cụm, phòng thủ

đối phó. Thắng lợi của quân dân Sóc Trăng trong công cuộc bảo vệ vùng căn cứ Tỉnh ủy đã

góp phần làm phá sản các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, tạo điều kiện giành nhiều

thắng lợi lớn mới ở địa phương trong giai đoạn tiếp sau. Do sự thay đổi trên chiến trường và

ứng phó trước tình hình mới, căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng từ Mỹ Xuyên được dời về Mỹ

Phước, từ đây căn cứ Mỹ Phước đóng một vai trò quan trọng trong cuộc chiến đấu chống đế

quốc Mỹ trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.

49

2.2. Giai đoạn 1967 – 1975

2.2.1. Xây dựng căn cứ địa

2.2.1.1. Về chính trị

Sau Hội nghị ở Căn cứ tỉnh ủy Mỹ Xuyên vào cuối năm 1967, Thường trực Tỉnh ủy

quyết định đời căn cứ Tỉnh ủy từ Gia Hòa (huyện Mỹ Xuyên) về Rừng Tràm Mỹ Phước –

xã Mỹ Phước (huyện Châu Thành). Từ nay mọi hoạt động của cơ quan đầu não kháng chiến

của Tỉnh được dời về khu vực rừng Tràm Mỹ Phước – xã Mỹ Phước.

Để lãnh đạo phong trào cách mạng miền Nam vượt qua thử thách, ngày 1-1-1969,

nhân dịp năm mới, Chủ tịch Hổ Chí Minh gủi Thư kêu gọi nhân dân cả nước ra sức chiến

đấu “Vì độc lập, vì tự do; đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Tại căn cứ Tỉnh ủy Mỹ

Phước, Tỉnh ủy tổ chức học tập Thư chúc xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nghị quyết Bộ

Chính trị, Nghị quyết 8 của Trung ương Cục nhằm nâng cao nhận thức về tình hình nhiệm

vụ năm 1969, khắc phục khó khăn, yếu kém về tư tưởng, củng cố tổ chức, bố trí cán bộ theo

yêu cầu nhiệm vụ cấp bách là: bám dân, bám địa bàn vùng giải phóng, vùng tranh chấp,

vùng căn cứ tỉnh ủy, tiếp tục đánh địch, phát động phong trào quần chúng vươn lên.

Sau Mậu Thân 1968, tư tưởng của đảng viên và quần chúng có diễn biến, băn khoăn,

lo lắng đối với phong trào. Thêm khó khăn nữa là vào cuối năm 1968, đầu năm 1969, hầu

hết cán bộ Khu ủy tăng cường cho Tỉnh ủy trong các đợt tổng công kích tổng khởi nghĩa

đựợc rút về và điều động 4 đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy (trong đó có đồng chí

Hai Tân – Bí thư Tỉnh ủy) về khu. Khu ủy đồng thời chỉ định đồng chí Lê Văn Mỹ (Năm

A) Phó Bí thư Tỉnh ủy giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy. Tuy cấp trên rút nhiều đồng chí cán bộ

lãnh đạo trong Thường vụ Tỉnh ủy nhưng Tỉnh ủy cùng các cơ quan ban, ngành cấp trong

khu căn cứ Tỉnh ủy vẫn bám sát địa bàn chiến đấu, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên.

Trước những yêu cầu cấp thiết của giai đoạn mới, tháng 6-1969 Đại hội đại biểu

Quốc dân miền Nam họp và thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam

Việt Nam. Đây là một sự kiện chính trị quan trọng đối với nhân dân ta và cả nhân dân trên

thế giới. Đại hội ra Lời hiệu triệu quân và dân miền Nam tăng cường đoàn kết, ra sức chiến

đâu, đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Nhân dân Sóc Trăng rất

vui mừng trước sư kiện chính trị lịch sử này. Các địa phương trong tỉnh đều tổ chức mít tinh

và phát động một đợt thi đua tiến công địch lập thành tích chào mừng Chính phủ cách mạng

lâm thời được thành lập.

50

Sau ngày Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam thành lập, các địa

phương trong tỉnh đều tiến hành thành lập chính quyền cách mạng. Ủy ban nhân dân cách

mạng tỉnh Sóc Trăng ra mắt đồng bào, đồng chí Phạm Lưu Thức (Năm Thức) - Phó Bí thư

Tỉnh ủy được đề cử làm Chủ tịch. Đến cuối tháng 12-1969, toàn tỉnh đã có 8 huyện, 2 thị xã

và 48 xã thành lập ủy ban nhân dân Chính quyền cách mạng các cấp đã từng bước cụ thể

hóa các chính sách của Đảng thành kế hoạch hành động, phối họp với Mặt trận và các đoàn

thể không ngừng vận động nhân dân đóng góp sức người, sức của cho công cuộc kháng

chiến

Giữa lúc phong trào cách mạng miền Nam đang ở vào thời kỳ đầy thử thách, ác liệt

thì ngày 2-9-1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Người mất đi là một tổn thất lớn khống gì

bù đắp được cho cách mạng Việt Nam vá ảnh hưởng sâu sắc đến tình cảm của đồng bào,

chiến sĩ cả nước. Ủy ban Trung ương Mật trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Chính phủ

cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quyết định ngừng tiến công quân sự

trong 3 ngày để thọ tang Hồ Chủ tịch và kêu gọi nhân dân miền Nam biến đau thương thành

sức mạnh đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược.

Tại tỉnh Sóc Trăng, Tỉnh ủy thông báo cho toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh tổ

chức lễ truy điệu Hồ Chủ tịch theo thông báo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương

Đảng. Ngày 4-9-1969, khắp các địa phương, từ cơ quan trong khu căn cứ Tỉnh ủy, các đơn

vị và trường học trong tỉnh tiến hành tổ chức lễ truy điệu Hồ Chủ Tịch, đồng thời phát động

phong trào “Biến đau thương thành hành động cách mạng”, ở vùng giải phóng, mỗi gia

đình đều làm bàn thờ Bác.

Đầu tháng 10-1969, thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, tại căn cứ Tỉnh ủy, Thường

vụ Tỉnh ủy quyết định mở một đợt sinh hoạt chính trị quan trọng: Hoc tập di chúc của Hồ

Chủ Tịch nhằm tiếp tục giải quyết những nhận thức, tư tưởng lệch lạc sợ khó khăn gian khổ,

xây dựng quyết tâm sắt đá “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Qua học tập, tất cả cán

bộ, chiến sĩ và nhân dân ta được truyền thêm sức mạnh, tăng thêm niềm tin tưởng ở thắng

lợi của cách mạng như Lời khẳng định của Người trong di chúc “Cuộc chống Mỹ cứu nước

của nhân dân ta dù phải trải qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi

hoàn toàn. Đó là điều chắc chắn”. Dù khó khăn gian khổ đến mây nhân dân ta nhất định sẽ

hoàn toàn thắng lợi. Đê quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ

thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” [28, tr 502].

51

Sau khi hiệp định Paris được ký kết (27/1/1973), địch vẫn nuôi âm mưu chiếm lại các

vùng giải phóng, vùng căn cứ của ta, xóa thế “da báo”. Đứng trước diễn biến phức tạp đó

Khu ủy Tây Nam bộ đã bám sát chiến trường, thấy được tình hình thực tế diễn ra, thấy rõ bộ

mặt phá hoại Hiệp định của địch ngay từ ngày đầu mới ký kết.

Ngày 3-2-1973, Thường vụ Khu ủy tổ chức hội nghị Khu ủy mở rộng có một số đồng

chí đại diện Tỉnh ủy các tỉnh trong miền và ban, ngành của Khu dự. Hội nghị nhận định:

“Đối với đồng bằng sông cửu Long, con đường duy nhất của địch là tiếp tục bình định trong

điều kiện có Hiệp định, trong tình hình không có quân Mỹ và không quân, hải quân, pháo

binh đều giảm. Do không thể tiến hành chiến tranh như trước cho nên trước mắt chúng sẽ

phản kích chiếm lại những vùng đã mất sau ngày 26-1-1973; đồng thời bằng mọi hành động

phát xít chúng quyết tâm ngăn chặn phong trào quần chúng nổi dậy ở các vùng còn bị

chiếm” [31, tr. 1190]. Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu đều nhất trí đề nghị lên Trung ương

Cục tiếp tục giữ thế tiến công, kiên quyết đánh trả địch lấn chiếm, bình định, đồng thời đẩy

mạnh đấu tranh chính trị, tăng cường công tác binh vận nhằm giữ vững thành quả cách

mạng và đưa phong trào tiếp tục tiến lên. Sự nhận định sáng suốt, chủ trương kịp thời của

Khu ủy đã có tác động trực tiếp đến hoạt động tiến công địch của các tỉnh miền Tây Nam

bộ.

Tỉnh ủy cũng đã lãnh đạo ngăn ngừa những nhận thức và tư tưởng lệch lạc cho rằng

lúc này ta nên “dừng cương, vỗ béo con ngựa vũ trang”, chỉ tiến công bằng chính trị và binh

vận, mà khẳng định phải dùng cả chính trị, vũ trang và binh vận để tiến công địch. Sau đó

được Khu ủy lãnh dạo, ngày 9-2-1973 Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị 03/CT uốn nắn chỉ đạo,

khẳng định nhiệm vụ tiến công bằng 3 mũi không có gì thay dổi, khi Hiệp đinh được ký kết

và có hiệu lực là thêm thuận lợi để ta tiến lên đánh bại địch. Chỉ thị nêu rõ nhiệm vụ của

công tác chính trị, binh vận là làm tan rã ngụy quân, công cụ của ngụy quyền, làm sụp đổ

chế độ tay sai của đế quốc Mỹ... Đối với cơ sở trong lòng địch phải nâng chất, bồi dưỡng về

nhiệm vụ làm tan rã hàng ngũ địch bằng mọi cách: rã tập thể, ly khai, binh biến, phản chiến,

khởi nghĩa, bỏ đồn bốt mang súng về với cách mạng, thực hiện giải phóng nông thôn, giành

quyền làm chủ cho nhân dân.

2.2.1.2. Về kinh tế - xã hội

Mặc dù địch tiến hành đánh phá ác liệt, trong vùng căn cứ ta vẫn vừa chiến đấu, vừa

sản xuất, diện tích sản xuất nông nghiệp được giữ vững, một số nơi tổ chức thâm canh, tăng

52

vụ, ngoài ra còn vét kênh làm đập ngăn mặn… trong hai năm 1968 – 1969 ta đã sản xuất

được 20.000 giạ lúa. Kết hợp với tiến công địch, ta đã phát động phong trào quần chúng làm

nghĩa vụ đóng góp, được hơn 5.000 giạ lúa và 8.387.000 đồng;

Ngoài ra, trong công tác xã hội, trong vùng căn cứ, các lực lượng các đoàn thể phát

triển mạnh, các tổ chức nông dân, thanh niên, phụ nữ phát triển được gần 4.000 hội viên,

đoàn viên trên tổng số 40.000 hội viên, đoàn viên toàn tỉnh. Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo

các Huyện ủy và Tỉnh đoàn thanh niên lao động và vùng căn cứ tổ chức triển khai Chỉ thị

60/CT.NT của Trung ương Cục: “Tăng cường hơn nữa công tác thanh vận của Đảng trong

tình hình mới”. Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên là : Phát động rộng rải trong thanh niên lòng

yêu nước, chí căm thù giặc, hăng hái xông ra tiền tuyến chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Tiếp tục vận động “Phong trào năm xung phong chống Mỹ cứu nước ở vùng nông thôn giải

phóng, bốn dũng cảm của thanh niên ở thị xã, thị trấn” và tập trung xây dựng “Chi đoàn bốn

tốt”. Đoàn còn tiếp tục xây dựng và phát triển đội thiếu niên tiền phong với mục tiêu: “Vì

độc lập tự do, vâng lời Bác Hồ dạy, làm việc nhỏ góp phần thắng Mỹ”, phát động rộng rãi

phong trào thiếu nhi thực hiện "Việc nhỏ chí lớn", các đoàn thể phụ nữ cũng phát triển mạnh

phong trào thi đua đạt danh hiệu “Phụ nữ năm tốt”.

Qua các chủ trương phát động, phong trào đoàn viên, thanh, thiếu niên trong vùng

căn cứ có bước chuyển biến rõ nét; phong trào chống bình định, phong trào du kích chiến

tranh, phong trào xây dựng lực lượng vũ trang... có nhiều tiến bộ đáng kể. Một lần nữa

chứng minh vai trò quần chúng nói chung, vai trò của thanh niên nói riêng càng thể hiện rõ

trong lúc khó khăn gay gắt quyết liệt

Đối với vùng kềm, vùng tranh chấp tranh chấp xung quanh vùng căn cứ Tỉnh ủy và

nhất là vùng có đông đồng bào Hoa, Khmer. Tỉnh ủy chỉ đạo tăng cường cán bộ chính trị,

binh vận, quân sự có năng lực bao gồm cả cán bộ người Hoa, người Khmer để xây dựng cơ

sở cách mạng và lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng.

Như vậy có thể thấy rõ công tác xây dựng căn cứ Tỉnh ủy trên các mặt kinh tế - xã

hội được diễn ra một cách khẩn trương, nhằm tạo thế và lực để từ đó lãnh đạo phong trào

cách mạng trong tỉnh tiến lên phía trước.

2.2.1.3. Về Quân sự

Đối với công tác xây dựng căn cứ Tỉnh ủy trên lĩnh vực quân sự, ta chủ trương tuyển

thêm nhiều quân mới. Theo đó, ở vùng giải phóng và tranh chấp, chỉ tiêu vận động tòng

53

quân là đưa 1/3 đoàn viên vào lực lượng chiến đấu, tổ chức thành đội ngũ sẵn sàng lên

đường làm nhiệm vụ. Vùng nông thôn ven và kềm có nhiệm vụ động viên đại bộ phận đoàn

viên và nam nữ thanh niên tham gia du kích chiến tranh, diệt ác phá kềm, truy quét bọn

điềm điệp, chống địch càn quét, giữ vững quyền làm chủ. Vùng thị xã, thị trấn có nhiệm vụ

phát động thanh niên và học sinh chống bắt lính.

Để có phương thức hoạt động thích hợp với yêu cầu mới, được sự chỉ đạo của

Thường vụ Tỉnh ủy, ngày 1-9-1969 tại xã Lạc Hòa, huyện Vĩnh Châu, Ban cán sự, Ban chỉ

huy Tỉnh đội mở Hội nghị tổng kết phong trào du kích chiến tranh lần thứ III bao gồm đại

diện các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện, đại diện của các đơn vị cấp tiểu đoàn, đại đội và Ban

chỉ huy Huyện đội do đồng chí Lê Phước Thọ (Sáu Hậu) ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Chính

trị viên Tỉnh đội và đồng chí Ngô Quang Tảo (Năm Nhẫn) Tỉnh đội phó, Tham mưu trưởng

chủ trì. Nội dung hội nghị lá: Đánh giá tình hình địch ta, đề ra yêu cầu nhiệm vụ tiên công

địch, xây dựng phong trào du kích chiến tranh và xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh, quyết

tâm bảo vệ vững chắc căn cứ Tỉnh ủy, đồng thời rút kinh nghiệm và phát động phong trào

du kích chiến tranh chống bình định cấp tốc của địch. Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu, nhiệm

vụ của phong trào du kích chiến tranh là: Phải bám dân, bám đất, bám đánh địch (3 bám),

phải đánh địch bằng 3 mũi: vũ trang, chính trị và binh vận… Du kích phải giữ thế bám trụ,

phải có hầm chông, bãi lửa để đánh lại các cuộc biệt kích của địch, đánh gãy các cuộc càn

quét, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch và diệt ác, phá kềm. Ở vùng kềm mới, vùng kềm cũ,

đẩy mạnh việc xây dựng du kích mật, tự vệ mật, ban ngày hợp pháp, ban đêm hoạt động

đánh địch. Một chiến sĩ du kích phải biết đánh địch bằng 3 mũi. Về vũ khí phải lấy vũ khí

địch đánh lại địch và tích cực làm vũ khi tự tạo như đạp lôi, mìn gạt, lựu đạn miểng, lựu đạn

gài cùng với việc phát triển mạnh làm hầm, hố chông. Tại khu vực căn cứ Tỉnh ủy, ta đã

huy động hơn 1.000 lượt quần chúng tham gia đào 300 hầm chông, xuống thêm 266 bãi

chông, đào đắp mới và tu bổ 3.000 mét chiến hào. Tại hội nghị tổng kết phong trào du kích

chiến tranh, đồng chí Lê Phước Thọ (Sáu Hậu) thay mặt Tỉnh ủy và Ban chỉ huy Tỉnh đội đã

phát động phong trào không ngừng tiến công địch trong toàn thể các lực lượng vũ trang của

tỉnh. Hội nghị có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy hoạt động vũ trang tiến lên.

Về vũ trang, tích cực xây dựng các lục lượng vũ trang của tỉnh, chú trọng phát triển

lực lượng du kích rộng mạnh cả nông thôn, thị xã, thị trấn, đẩy mạnh phong trào du kích

chiến tranh. Phải dùng sức mạnh tổng hợp 3 mũi tiến công địch, nhằm nâng cao hiệu suất

54

chiến đấu của lực lượng vũ trang tập trung và du kích, thực hiện phong trào 3 bám để diệt

địch, phá kế hoạch bình định, đưa cán bộ vũ trang bám sát quần chúng tuyên truyền chống

lại mọi âm mưu thủ đoạn của địch.

Như vậy với những hoạt động quân sự trong thời gian đầu sau năm 1968 đã giúp ta

phần nào khôi phục lại lực lượng cách mạng, nhờ đó mà phong trào cách mạng trong toàn

tỉnh được giữ vững, khu căn cứ tỉnh ủy tại xã Mỹ Phước được bảo vệ an toàn tuyệt đối, là

đầu não quan trọng trong lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ trong giai đoạn quyết định.

2.2.1.4. Về Văn hóa – Giáo dục – Y tế

Tỉnh ủy luôn chú trọng công tác giữ gìn phát huy giá trị văn hóa của nhân dân,

của đồng bào Khmer, Hoa, xem đó như là vũ khí sắc bén chống lại kẻ thù. Phong trào

văn hóa văn nghệ của nhân dân vùng căn cứ có bước phát triển, có tác dụng tập hợp

thanh niên, nam nữ, đoàn viê. Các vở cải lương cũng như các vở tuồng, ca mua khmer,

Hoa thường xuyên được tổ chức để giúp nhân dân có nhựng giờ phút thanh bình trước

khi bước vào cuộc chiến đấu với kẻ thù. Bên cạnh đó đoàn văn công Tỉnh ủy thường

xuyên đến các xã vùng giải phóng diễn phục vụ đồng bào, chiến sĩ.

Tờ báo “Chiến đấu” của Tỉnh Ủy vẫn được in đều đặn đến tay các chiến sĩ, đồng

bào, cập nhật đầy đủ những diễn biến về quân sự, chính trị, những tin tức về thắng lợi

của ta, có tác dụng động viên to lớn đến tinh thần và sức chiến đấu của quân dân ta.

Về giáo dục, Tỉnh ủy chỉ đạo thành lập trường nội trú Thiếu sinh quân Võ Thị

Sáu, trong năm đầu tiên 1969 đã có 60 em nhập học, sang năm 1970 có thêm 30 em

nhập học. Ngoài ra còn mở thêm các lớp bổ túc từ lớp 2 đến lớp 5. Trong năm 1973 đã

mở hai lớp bồi dưỡng cán bộ Đảng viên cốt cán cho gần 50 cán bộ. Trong vùng căn cứ ta

đã mở thêm được 4 lớp văn hóa công nông và 3 lớp bình dân hoc vụ. Ngoài ra còn mở

nhiều lớp đào tạo giáo viên cấp tốc với gần 50 giáo viên.

Ngành y tế đã phối hợp với ngành thông tin tuyên truyền, phát động phong trào

phòng bệnh rộng rãi trong nhân dân, từng người dân được hướng dẫn tận tình cách

phòng bệnh, trị bệnh.

55

2.2.2. Hoạt động bảo vệ căn cứ

2.2.2.1. Thủ đoạn đánh phá của Mỹ - Ngụy

Tuy bị thất bại trong chiến lược “chiến tranh cục bộ” nhưng với bản chất hiếu chiến

và còn có tiềm lực, đế quốc Mỹ vẫn kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược và duy trì chủ nghĩa

thực dân mới ở Việt Nam.

Năm 1969, đế quốc Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh tại miền Nam với chiến lược

“Việt Nam hóa chiến tranh”. Mục tiêu cơ bản của chiến lược này là rút quân Mỹ rút khỏi

cuộc chiến tranh Việt Nam xây dựng quân ngụy thay thế quân Mỹ, dùng người Việt đánh lại

người Việt, đẩy mạnh chính sách bình định miền Nam Việt Nam. Đế bảo đảm thưc hiện

chương trình bình định, địch giải tán Bộ xây dựng nông thôn, thành lập Hôi đồng Bình định

Trung ương do Nguyền Văn Thiệu, tổng thống ngụy trực tiếp chỉ huy. Ở cấp Tỉnh, Tỉnh

trưởng kiêm tiểu khu trưởng trực tiếp chỉ đao chương trình bình định. Ở cấp xã, ấp kết hợp

hoạt động giữa 3 hình thức “Trung tâm điều hợp” gồm mạng lưới “tề, điệp”. “Cục cảnh sát”

và “Khối hành chánh” dưới sự chi viện và bổ trợ của lực lượng quân sự địa phương và các

đoàn cán bộ bình định từ trên phái xuống.

Về xây dựng lực lượng quân sự hỗ trợ cho bình định, ở tỉnh Sóc Trăng địch tập trung

bắt lính, đôn quân, tăng cường lưc lượng chiếm đóng. Các sắc lính đều tăng vọt. Chỉ hơn

nửa năm 1969 địch bắt trên 2000 thanh niên đi lính, đôn gần 900 phòng vệ dân sự lên dân

vệ, bảo an, chủ lực. Lực lượng bảo an phát triển nhanh. Đến tháng 9-1969 ngoài 2 tiểu đoàn

bảo an, địch thành lập thêm 6 liên đội và 30 đại đội, toàn tỉnh có 54 đại đội bảo tề. Mỗi chi

khu có ít nhất 4 đại đội. Một số chi khu: Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Phước Long có đến 7 đại

đội bảo an. Lực lượng bảo an bắt đầu thay dần lục Iượng chủ lực làm nhiệm vụ cơ động,

ứng chiến, bình định địa phương. Các lực lượng bảo an, dân vệ, phòng vệ chia thành đơn vị

nhỏ đóng đồn bốt, giữ dân, gom dân.

Lực lượng bình định phát triển nhanh chóng, từ 9 đoàn tăng lên 34 đoàn gồm với hơn

1.000 tên. Các đoàn bình định cùng lực lượng bảo an tràn ra phía trước (vùng nông thôn giải

phóng) đóng chốt, bình định. Ở thị xã, thị trấn địch phát triển mạnh lực lượng cảnh sát đã

chiến đảm nhiệm “Giữ và quét” nội ngoại ô và tập trung bình định giành lại vùng ven đã bị

mất. Mỗi quận có 1 trung đội cảnh sát dã chiến, ở hai thị xã lực lượng này tăng gấp nhiều

lần.

56

Để thực hiện bình định, địch chia nhỏ địa bàn, ngoài chi khu, địch thành lập các phân

chi khu, yếu khu (khu vực xa xôi hẻo lánh). Mỗi phân chi khu địch bố trí một đại đội bảo

an, một đoàn bình định cùng với cuộc cảnh sát và bộ phận hành chính chỉ đạo điều hành.

Đến giữa năm 1970 toàn tỉnh địch thành lập 33 phân chi khu, yếu khu.

Ngoài ra, địch cồn tung tổ chức “Phượng Hoàng” từ tỉnh đến tận xã, ấp. Mục tiêu của

tổ chức “Phượng Hoàng” cũng chính là mục tiêu chủ yếu của chương trình bình định là

“Diệt và vô hiệu hóa hạ tầng cơ sở cách mạng, bình định gom dân". Chúng dùng tổ chức

tình báo, cảnh sát chìm kết hợp khai thác người bị bắt và bọn đầu hàng để phân loại hạ tầng

cơ sở của ta, đồng thời phối hợp với các cuộc hành quân càn quét truy bắt, diệt các cơ sở

loại A, B (đảng viên, cán bộ và những người nhận nhiệm vụ cách mạng), tổ chức kêu gọi

hồi chánh, dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ và cưỡng ép để bôi đen gia đình cán bộ ở vùng địch,

tiến tới làm công cụ chiêu hồi cho chúng. Mặt khác, chúng tiến hành thanh lọc nội bộ, thực

hiện chính sấch mị dân.

Trong những tháng đầu năm 1969 địch chuyển hướng tập trung mọi lực lượng và khả

năng tiến hành giai đoạn “Bình định cấp tốc”. Mục tiêu của kế hoạch bình định cấp tốc là

tấn công vào vùng căn cứ tỉnh ủy, tiêu diệt đầu não kháng chiến của ta tại Sóc Trăng, chiếm

và tái chiếm đóng lại đồn bốt và đánh chiếm vùng giải phóng nhằm phục hồi vùng nông

thôn bị mất trong và sau tết Mậu Thân, mở rộng vùng kiểm soát, tiêu hao va đẩy lùi lực

lượng ta ra xa hơn nữa, làm suy yếu và tiêu diệt cơ sở của ta, bắt lính bổ sung quân, đặc biệt

khẩn trương phát triển lực lượng bảo an dân vệ, củng cố ngụy quyền ấp, xã.

Thực hiện kế hoạch bình định, địch cho quân chủ lực chốt sâu vào vùng giải phóng

và vùng căn cứ của ta vừa tổ chức chiếm đóng, vừa tiến hành càn quét qui mô, dài ngày đối

với những nơi quan trọng. Chúng tập trung mở rộng cứ điểm Tam Sóc để tiến hành bình

định và đánh sâu vào căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Phước. Từng bước lấn sâu hơn vào vùng giải

phóng của ta như: Xóm Tre, Lái Viết, Dầy Quán (Ninh Quới), Cống Tuần Bảy (Vĩnh

Qưới.)…; mở rộng diện lấn chiếm như ở Tân Lập (Long Hưng), Mỹ Hòa (Mỹ Tú), Bưng

Côi (Lâm Kiết), Kho Lầu (Tân Long), Lung Sen, Mỹ Tây (Mỹ Quới)... Ở các huyện trong

tỉnh, trọng tâm là những vùng có đông đồng bào Khmer, công giáo, địch tập trung các lực

lượng mạnh và bung ra thực hiện chiếm đóng, chúng chiếm tuyến sông Cổ Cồ, Vàm Lẽo,

các xã Gia Hòa, Hòa Tú, tái chiếm các xà Cù Lao Dung và các xã đất liền huyện Long Phú.

Tại huyện Hồng Dân, quân chủ lực trung đoàn 33, sư đoàn 21 ngụy thường xuyên đổ quân

57

dài ngày vào các xã Vĩnh Lộc, Ninh Thạnh Lợi, Phước Long để ngăn chặn quân chủ lực ta

tù U Minh lên; đồng thời yểm trợ các liên đội bảo an Bạc Liêu chốt các tuyến Cầu số 2 vào

chi khu Phước Long, Cầu Sập vào Vĩnh Hưng; đánh phá cơ sở và xúc hết các bồ lúa thu

đảm phụ của ta gởi trong dân. Có nơi, một ấp địch đóng 2 đồn, một tháng chúng đóng 15

đến 20 đồn, đóng đến đâu địch gom dân lập ấp tân sinh chung quanh đồn bốt đến đó, tiến

hành tổ chức phòng vệ dân sự và ráo riết bắt lính đôn quân. Đến cuối năm 1969, địch lân

chiếm, tái chiếm, đóng đồn trong toàn tỉnh cả cũ và mới gần 400 cái, trong tỉnh không còn

xã giải phóng hoàn toàn, chỉ còn 180 ấp giải phóng với 125.000 dân Các cơ quan của ta giờ

đây phải đóng trong tầm pháo cối của địch.

Địch khoanh vùng, tự do pháo kích, dùng phi pháo bắn phá ném bom đêm ngày theo

mục tiêu chúng đã định, dùng máy bay B52 ném bom vùng căn cứ cách mạng thuộc xã Mỹ

Phước - huyện Châu Thành; các xã Ninh Quới, Ninh Hòa, Vĩnh Lộc, Lộc Ninh huyện Hồng

Dân. Đêm đêm máy bay bắn liên tục dọc theo các tuyến sông Cái: Ngan Dừa, Vĩnh Lộc,

Dầy Quán, Lái Viết, ngã tư Phó Sinh, Chủ Chọt, Nhà Lầu. Chúng còn dùng lực lượng biệt

kích đánh liên tục vào căn cứ và phục kích trên các đường đi lại của ta, đồng thời rải truyền

đơn kêu gọi chiêu hồi khắp nơi. Nơi ăn ở của Tỉnh ủy và các ban ngành trong vùng căn cứ

đều không an toàn, không ổn định. Có lúc một ngày phải di chuyển nhiều lần, các đồng chí

phải chịu đói, chịu khát, lặn lội, ngâm mình dưới mương, đìa, hầm hố đầy đỉa, nước hoặc ở

trong lùm, bụi đầy sương, vắt; bên trên thì máy bay, pháo địch thả bom, đạn liên hồi, gây

thương vong; đồng thời máy bay địch liên tiếp săn tìm, phát hiện bắt cán bộ, chiến sĩ ta.

Trong tình hình ngày càng ác liệt, đa số cán bộ vẫn vững vàng nhưng cũng có một số cán

bộ, đảng viên hoang mang, dao động, bỏ cuộc, có số ra đầu hàng địch. Nhiều cơ quan cấp

tỉnh phải dời từ Mỹ Xuyên, Thạnh Trị về Ninh Thạnh Lợi hoặc tạm lánh sang xã Xà Phiên,

huyện Long Mỹ, tỉnh Cần Thơ.

Địch còn tiến hành đánh ta về mặt kinh tế, phong tỏa các cửa khẩu thu mua, tiếp tế

lương thực của dân, kiểm soát chặt việc ra vào các ấp tân sinh, các khu đồn, hòng “không để

một hạt muối, một hạt gạo rơi vào tay Việt cộng”, điều này đã gây khó khăn rất nhiều cho

hoạt động của khu căn cứ tỉnh ủy.

2.2.2.2. Tổ chức bố phòng, chiến đấu bảo vệ căn cứ Tỉnh ủy

Trong các hoạt động bố phòng, chiến đấu bảo vệ khu căn cứ Tỉnh ủy, đêm 22/2/1969,

tiểu đoàn Phú Lợi kết hợp với đội phòng thủ Tỉnh ủy B68, đánh tiêu diệt đồn Tam Sóc, đây

58

là chốt chỉ huy bình định của địch ở quận Châu Thành (trong đó có 4 cố vấn Mỹ), vào tháng

1/1965 quân ta đã đánh tan địch ở Tam Sóc nhưng từ sau Mậu Thân năm 1968 chúng nhanh

chóng thiết lập lại đồn này với âm mưu phong tỏa khu vực căn cứ Tỉnh ủy, cắt chi viện của

quân ta từ mặt trận Minh Hải lên Sóc Trăng, Cần Thơ. Quân ta đã tiêu diệt được đồn Tam

Sóc. Riêng bọn cố vấn Mỹ, ta đã diệt 2 tên và bắt sống 2 tên.

Sau trận tiêu diệt đồn Tam Sóc, trong tháng 3-1969 tiểu đoàn Phú Lợi tiếp tục đánh

các trận lớn ở Vĩnh Mỹ, Vĩnh Phú tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Trận tập kích sân bay Bạc

Liêu (vào đêm 11-3-1969) do tiểu đoàn Phú Lợi và địa phương quân huyện Vĩnh Lợi thực

hiện đã có tiếng vang lớn, làm cho địch rúng động. trận tập kích sân bay Bạc Liêu làm tê liệt

hoạt động các phi đội máy bay trực thăng của Mỹ tại đây, buộc chúng phải hoãn các cuộc

hành quân đánh phá bằng đường không vào khu căn cứ.

Tại khu vực Gia Hòa, căn cứ cũ của Tỉnh ủy, giờ là hành lang phía Nam của căn cứ

Mỹ Phước, đại đội 602 cùng du kích xã Gia Hòa chống lại 2 tiểu đoàn chủ lực địch càn quét

vào xã, ta đánh thiệt hại nặng một đại đội, bắn rơi một máy bay trinh sát. Địa phương quân

huyện Lịch Hội Thượng kết hợp với binh vận tước vũ khí bọn phòng vệ dân sự ấp Bãi Giá

thu 30 súng. Du kích các xã Thạnh Phú, Thạnh Quới (huyện Mỹ Xuyên), Thạnh Thới An,

Tân Thạnh (huyện Lịch Hội Thượng), Long Đức, Phú Hữu (huyện Long Phú), Ba Trinh

(huyện Kế Sách) v.v... bằng 3 mũi giáp công liên tục tiến công, diệt và làm bị thương nhiều

tên địch, thu nhiều vũ khí. Những chiến công của tiểu đoàn Phú Lợi, đại đội 602 và dân

quân du kích Sóc Trăng đã góp phần làm suy yếu ý chí quyết tâm xâm lược của kẻ thù,

đồng thời tạo một vành đai an toàn cho khu căn cứ tỉnh ủy trong điều kiện mới, khi mà ta

gặp phải những khó khăn rất lớn về nhân lực, vật lực từ sau Tiến công và nổi dậy Mậu Thân

1968.

Vào mùa khô năm 1970, lực lương dân vệ địch, bọn bảo an có phi cơ, pháo yểm trợ

đánh phá ác liệt vào các căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng tại Mỹ Phước, các vùng lõm, vùng giải

phóng thuộc các xã Gia Hòa, Hòa Tú (huyện Mỹ Xuyên), Ninh Thạnh Lợi, Vĩnh Lộc, Lộc

Ninh (huyện Hồng Dân). Trong đợt tấn công này của địch, lực lượng vũ trang của ta đã đẩy

lùi hơn 700 quân địch ra khỏi khu vực căn cứ Tỉnh ủy, làm thất bại âm mưu chiếm vùng giải

phóng của địch.

Trong hai năm 1969 -1970 quân dân Sóc Trăng đã chiến đấu vô cùng gay go ác liệt

với chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - ngụy, chúng dùng các phương tiện và

59

vũ khí hiện đại cùng với cố vấn Mỹ và đủ các sắc lính ngụy để đánh phá ta. Lực lượng cách

mạng bị hao hụt nhiều, tính mạng và tài sản của nhân dân bị tổn thất nghiêm trọng. Chiến

tranh cài răng lược diễn ra giữa ta và địch rất quyết liệt ở một chiến trường đồng bằng trống

trải. Việc ăn, ở, đi lại hoạt động của cán bộ trong vùng căn cứ vô cùng khó khăn thậm chí

phải tính đến nhiều phương án ăn ở đối với mọi tình huống xấu nhất để sẵn sàng đối phó với

địch.

Để đối phó với tình hình địch bình định lấn chiếm, tái lấn chiếm, đẩy ta vào thế bị

động, tháng 1-1971, Trung ương Cục đã ra chỉ thị 01-CT/71 về: “Nắm vững nhiệm vụ và

phương hướng công tác trước mắt, ra sức xây dựng thế tiên công chiến lược mới” [31, tr.

1051]. Nội dung chính của chỉ thị là: “Bung ra bám dân, xây dựng cơ sở (vùng đô thị và

vùng địch bình định lấn chiếm, tái lấn chiêm) tạo thời cơ phát động quần chúng nổi dậy diệt

ác phá kềm, tiến tới gỡ mảng chuyển vùng, đưa phong trào cách mạng lên một bước mới”

[31, tr. 1051].

Hội nghị Thường vụ Khu ủy mở rộng (từ ngày 5 đến ngày 26-1-1971) đã quán triệt

chỉ thị 01-CT/71 của Trung ương Cục và nêu ra yêu cầu, nhiệm vụ sắp tới là: “Giữ vững

vùng căn cứ hành lang bảo đảm tiếp tế hậu cần, nâng cao vai trò quân chủ lực thu hút tiêu

diệt kềm chế quân cơ động của địch; mở rộng thế lực làm chủ khắp vùng nông thôn bình

định, phá lỏng hệ thống phòng thủ kềm kẹp của địch và mở rộng nâng cao phong trào ở

thành thị với đội ngũ chính trị vững mạnh, phá thế khống chế của địch trong các xóm

phường, tổ chức quần chúng nhằm làm cho kế hoạch bình định và Việt Nam hóa chiến tranh

của địch thất bại một bước nặng nề” [31, tr. 1052]

Đầu tháng 2-1971 đồng chí Võ Văn Kiệt, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Cục,

Bí thư Khu ủy Khu Tây Nam bộ đến Sóc Trăng triển khai chỉ thị 01-CT/71 của Trung ương

Cục cho Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ. Hội nghị học tập chỉ thị 01-CT/71 của Trung ương

Cục được tổ chức tại căn cứ huyện ủy Hồng Dân tại Cái Cui (xã Ninh Thạnh Lợi, huyện

Hồng Dân) trong thời gian 28 ngày, với yêu cầu là kiểm điểm đánh giá lại tình hình giữa ta

và địch từ sau Tết Mậu Thân 1968 đến nay; kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy

trong việc tổ chức thực hiện chủ trương, Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 9 của

Trung ương Cục; đồng thời yêu cầu tập trung xây dựng Nghị quyết của Tỉnh Đảng bộ và

kiểm điểm tự phê bình trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng như từng đồng chí trong Ban

Chấp hành Tỉnh Đảng bộ.

60

Tại Sóc Trăng, bước vào đợt tấn công mùa hè năm 1971, tiểu đoàn Phú Lợi được

phân công về huyện Châu Thành kết hợp với đơn vị Cl-70 gỡ mảng tuyến kinh xáng Mỹ

Phước, đây là khu vực địch đóng quân nhằm bao vậy, cô lập khu căn cứ Tỉnh ủy, Tiểu đoàn

Phú Lợi đã đánh diệt cụm đồn phân chi khu số 1, tiêu diệt và bắt sống 1 đại đội bảo an, 1

đoàn bình định cùng ban tề xã, giải tán một trung đội phòng vệ dân sự và thu toàn bộ vũ khí,

đạn được, dồn dân về ngang sông bị lực lượng của ta pháo kích, bỏ đồn tháo chạy. Đại đội

603 kết hợp với bộ phận hỏa lực đại đội 368 đánh hủy diệt một đại đội bảo an, một đại đội

công binh tại thị trấn Phú Lộc, tiêu diệt và làm bị thương trên 100 tên địch, tên quận trưởng

và quận phó đền tội. Địa phương quân huyện Thạnh Trị kết hợp nội ứng đánh tiêu diệt đồn

Lung Sen (xã Mỹ Quới) và tiếp theo đó kết hợp với đại đội 368 tiêu diệt đồn Mỹ Quới. Địa

phương quân huyện Kế Sách phối hợp lực lượng vũ trang tỉnh Cần Thơ chống càn, đánh 2

đại đội bảo an 535, 904 tại xã Ba Trinh, ta diệt 59 tên địch, bắt sống 3 tên, thu 15 súng và 3

máy thông tin. Địa phương quân huyện Mỹ Xuyên luồn sâu vào hậu địch đánh hủy diệt 2

chiếc bo bo của trường huấn luyện Dù Tho. Đại đội 602 đánh diệt 1 trung đội địch tại Nhu

Gia. Đội phòng thủ Tỉnh ủy (Cl-70) kết hợp với cơ sở nội tuyến đánh tiêu diệt đồn Tân Hội

xã Tân Long, huyện Thạnh Trị vào ban ngày, thu trên 20 khẩu súng và nhiều đạn dược. Kết

thúc chiến dịch, con đường chi viện cho khu căn cứ Tỉnh ủy được thông thoáng, an toàn, các

đơn vị ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh tỉnh nhà

phát triển trong giai đoạn mới.

Từ ngày 8-3 đến ngày 8-4-1972, với một quyết tâm cao độ nhằm tiêu diệt đầu não

kháng chiến của ta tại Sóc Trăng, địch đưa trên 2.000 quân cùng với hơn 20 khẩu pháo và

nhiều đột máy bay ném bom, tiến công càn quét triệt phá Căn cứ tỉnh ủy Sóc trăng tại rừng

tràm Mỹ Phước và rừng lá xã Tuân Tức, Lâm Kiết. Mỗi ngày hàng trăm lượt máy bay, pháo

trút vào đây hàng chục tấn bom và từ 500 - 1.000 quả pháo trên một diện tích chỉ hơn 20 km

. Địch cho máy bay đổ quân cùng lực lượng bên ngoài mở nhiều mũi đánh vào rừng tràm và

cho lực lượng phục kích các nẻo đường từ trong rừng tràm đi ra. Chúng bắt binh lính, phòng

vệ dân sự và nhân dân ở ấp tân sinh vào chặt cây phá rừng nhưng nhân dân phản đối và bỏ

trốn. Ngay từ ngày đầu, đội phòng thủ Tỉnh ủy đã anh dũng chiến đấu vừa đánh địch vừa

bảo vệ an toàn cơ quan lãnh đạo của tỉnh, tổ chức đưa các đồng chí ra khỏi rừng tràm trước

vòng vây của địch. Suốt 31 ngày đêm, Cl-70 cùng với Tỉnh đội, An ninh, Binh vận tỉnh, đại

đội 603, địa phương quân huyện Châu Thành và du kích xã phối hợp chiến đấu kiên cường

61

chống lại cuộc càn quét qui mô lớn này, ta đã tiêu diệt và làm bị thương trên 100 tên địch,

150 tên đào rã ngũ. Cuối cùng bọn địch phải chịu rút quân. Tuy nhiên bên ta cũng có thiệt

hại, rừng tràm bị chặt phá gần hết, địch phá một số công sự và một hầm bí mật, lấy một số

tài liệu, một đồng chí cán bộ Ban căn cứ của Tỉnh ủy hy sinh. Trong trận chống càn quét với

quy mô lớn này, căn cứ Tỉnh ủy bị thiệt hại nặng nề, nhưng trên hết ta vẫn giữ vững được

khu vực đứng chân của Tỉnh ủy Sóc Trăng, buộc kẻ thù phải rút lui, làm thất bại dã tâm tiêu

diệt căn cứ Tỉnh ủy của chúng.

Phối hợp với cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ Rừng Tràm Mỹ Phước, du kích xã Mỹ

Phước cùng với địa phương quân huyện Châu Thành tiêu diệt đồn Kinh Mới thu toàn bộ vũ

khí, đạn dược và máy thông tin. Lực lượng vũ trang của tỉnh tiến công các đồn bốt ở các

huyện Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Châu Thành để phân tán lực lượng của địch. Buộc lực lượng

địch phải phân tán, góp phần đẩy lùi địch khỏi khu căn cứ Mỹ Phước. Ngày 7-4-1972 quân

dân trong tỉnh đã đồng loạt mở cuộc tiến công địch. Lực lượng vũ trang tỉnh cùng địa

phương quân các huyện, du kích các xã phối hợp 3 mũi giáp công tiến công, bao vây trên

140 đồn bốt, tiêu hao tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Tại trọng điểm Mỹ Xuyên, tiểu đoàn Phú

Lợi cùng đại đội 603 - 602 và địa phương quân huyện mở đầu đánh phân chi khu Rạch Gò

diệt Ban chỉ huy liên đại đội 87, 1 đại đội bảo an, 1 trung đội dân vệ và bọn cảnh sát, tề xã,

thu nhiều vũ khí; nhân dân tham gia phá ấp tân sinh Rạch Gò. Thắng lợi Rạch Gò đã góp

phần làm sụp đổ kế hoạch đánh phá rừng tràm của địch, buộc địch phải rút lực lượng càn

quét rừng tràm về đối phó với phong trào tiến công của quân dân ta ở Mỹ Xuyên và trong

toàn tỉnh. Đại đội 602 pháo kích chi khu Cổ Cồ, sân bay Sóc Trăng và trận địa pháo Đào

Viên... làm địch thiệt hại nặng. Quân chủ lực Khu phối hợp với địa phương quân huyện

Hồng Dân đánh chi khu Ngan Dừa diệt nhiều sinh lực địch, có 2 tên Mỹ, thu nhiều súng

đạn, có 1 pháo 105 ly. Du kích xã Phú Hữu (Long Phú) hỗ trợ binh sĩ khởi nghĩa đồn Phú

Đa thu 30 súng. Lực lượng vũ trang huyện Lịch Hội Thượng cùng du kích xã Thạnh Thới

An kêt hợp hội ứng tước vũ khí đội phòng vệ dân sự ấp Thạnh Nhân, pháo kích làm thiệt hại

đồn dân vệ, thu 30 súng. Du kích xã Mỹ Quới, kết hợp với nội ứng khởi nghĩa đồn phòng vệ

dân sự, diệt tên cảnh sát trưởng, thu 20 súng.

Cuối tháng 4 và đầu tháng 5 địch phản kích quyết liệt để cứu nguy cho đồn bốt đang

bị ta tiến công bao vây. Ở trọng điểm Mỹ Xuyên, địch tập trung 2 tiểu đoàn, 3 liên đội bảo

an để đánh phá. Tại huyện Hồng Dân, địch cho liên đội 44 ở Vĩnh Hưng, cho tiểu đoàn 411

62

Bạc Liêu và một bộ phận sư đoàn 9 đối phó can viện vào các xã Ninh Quới, Ninh Hòa, cho

B52 bỏ bom ở Hốc Hỏa, Cái Chanh, Kinh Ranh thuộc 2 xã Vĩnh Lộc, Ninh Thạnh Lợi.

Trong những tháng 7, 8, 9 năm 1972, địch tăng cường đánh phá, đối phó lại cuộc tiến công

của ta. Địch tập trung lực lượng quân sự cùng với pháo, phi cơ quyết chiếm lại một số vùng

đã mất. Chúng tập trung đánh phá vào căn cứ Tỉnh ủy tại Mỹ Phước, các xã Gia Hòa, Hòa

Tú (huyện Mỹ Xuyên), Mỹ Quới, Vĩnh Quới, Vĩnh Lợi (huyện Thạnh Tri) Vĩnh Hưng, Vĩnh

Phú, Ninh Quới, Ninh Hòa (huyện Hồng Dân). Mật độ phi cơ, phi pháo rất cao. Có trận càn

địch tập trung nhiều khẩu pháo bắn hàng ngàn quả pháo, dội hàng tấn bom vào các xã Ninh

Quới, Ninh Hòa. Máy bay B52 lại bỏ bom vào kinh Xã Lý (kinh số 3, là nơi cơ quan của an

ninh Tỉnh ủy ở) sát rừng tràm Mỹ Phước để uy hiếp ta. Mặc dù địch tập trung đối phó quyết

liệt nhưng chúng đang ở trong thế bị động chống đỡ, chúng không chống lại nổi sức mạnh

tổng hợp 3 mũi giáp công của quân dân ta. Từ tháng 7 đến tháng 9-1972, lực lượng 3 thứ

quân của ta đã đánh địch hàng trăm trận làm thiệt hại nặng 2 đại đội bảo an, tiêu diệt và bức

rút 7 đồn bốt, thu nhiều vũ khí, giải phóng thêm một sô ấp. Tiểu đoàn Phú Lợi đánh thiệt hại

nặng đại đội bảo an biệt kích đóng ở Chủ Xiệp (Hồng Dân) diệt đồn Ngã Tư Trà Niên, Lền

Buối (Vĩnh Châu), đánh phản kích đại đội bảo an Vĩnh Châu vào can viện, tập kích đánh

thiệt hại nặng tiểu đoàn 411 Bạc Liêu can viện ở Trà Teo. Đại đội 368 đóng ở Thạnh Trị,

phối hợp với địa phương quân huyện đánh thiệt hại nặng đại đội 905 bảo an chi khu Ngã

Năm. Địa phương quân các huyện và du kích xã liên tục tiến công địch. Các trận đánh của

quân dân ta có tính quyết định góp phần đánh bại chính sách bình định phát triển của địch.

Qua những trận tiến công tiêu diệt địch, quân dân Sóc trăng đã giành được những thắng lợi

vang dội, bảo vệ vững chắc khu vực căn cứ Tỉnh ủy, giải tỏa các hành lang, vùng ven vùng

căn cứ, tạo thế hậu phương vững chắc cho căn cứ Tỉnh ủy, tạo nền tảng để quân dân toàn

tỉnh tiến lên tiêu diệt kẻ thù trong giai đoạn mới.

Tháng 10-1972, Thuờng vụ Tỉnh ủy nhận được thông tri của cấp trên về việc Mỹ

thỏa thuận với phái đoàn ta về các văn bản ký kết của Hiệp định Paris. Quán triệt chủ trương

của Khu ủy, Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo mở đợt tiến công mới bằng quân sự, chính trị, binh

vận nhằm làm thất bại nặng nề chính sách bình định của địch ở nông thôn và phải tập trung

tiến công chiếm lĩnh các nơi, nhất là các trục giao thông chiến lược, bao vây bức rút nhiều

đồn bốt và bao vây các đồn bốt còn lại, đồng thời kiên quyết đánh bại âm mưu phản kích

giành dân, giành đất của địch. Lực lượng vũ trang của tỉnh, tiểu đoàn Phú Lợi II vừa được

63

thành lập, chiếm lĩnh các vùng trọng điểm chiến lược thuộc huyện Châu Thành. Tiểu đoàn

Phú Lợi I chiếm tuyến trọng điểm huyện Mỹ Xuyên, từ nay những khu vực vành đai vùng

căn cứ Tỉnh ủy được bảo vệ bởi các tiểu đoàn chủ lực của ta.

Đế quốc Mỹ lại lật lọng không chịu ký kết Hiệp định, mưu toan trì hoàn, sửa lại

những điểm đã thỏa thuận để có lợi cho Mỹ. Ta không bị bất ngờ đối với địch về việc ký kết

Hiệp định. Đợt tiến công tháng 10 và đầu tháng 11-1972 của quân dân trong tỉnh góp phần

giáng cho địch những đòn đau, làm cho địch càng thất bại nặng nề về quân sự, chính trị,

thêm lúng túng đối phó với ta.

Trước những thắng lợi to lớn của quân dân miền Nam, đế quôc Mỹ rất cay cú, chúng

muốn giành thế mạnh trên bàn Hội nghị Paris, nên từ ngày 18 đến 29-12-1972 Mỹ tiến hành

tập kích chiến lược bằng máy bay B52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và một số vùng lân cận.

Quân dân miền Bắc đã lập chiến công xuất sắc, trận “Điện Biên Phú trên không” đã đập tan

ý đồ dùng sức mạnh không lực Hoa Kỳ hòng khuất phục nhân dân Việt Nam của đê quốc

Mỹ.

Hiệp định Paris được ký kết mở ra một bước ngoặt mới của cách mạng Việt Nam.

Theo Hiệp định Paris, đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Việt Nam, rút hết

quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của

nhân dân Việt Nam là: Độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, cam kết tôn trọng

quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, chấm dứt mọi dính líu quân sự và không

được can thiệp vào nội bộ của nhân dân miền Nam Việt Nam; thừa nhận thực tế ở miền

Nam có 2 chính quyền, 2 quân đội, 2 vùng kiểm soát và 3 lực lượng chính trị.

Trên cơ sở kế hoạch đã vạch sẵn, lợi dụng lúc “Hiệp định ngừng bắn” mới ký và

trước giờ có hiệu lực (rạng ngày 28-1-1973) địch tung lực lượng ồ ạt thực hiện chiến dịch

“Tràn ngập lãnh thổ” trên toàn chiến trường miền Nam. Ở Sóc Trăng, Mỹ - ngụy ra sức thực

hiện chương trình bình định, đẩy mạnh đánh phá ác lỉệt và liên tục vào các khu vực trọng

điểm trong tỉnh như các huyện Mỹ Xuyên, Châu Thành, Thạnh Trị, Hồng Dân, cù lao Long

Phú; đồng thời tích cực đối phó với ta khi Hiệp định Paris được ký kết. Trong tháng 1-1973

địch mở hàng trăm cuộc càn quét, tập trung phi cơ, pháo, máy bay B52 đánh phá ác liệt vào

các huyện Hồng Dân, Châu Thành, Thạnh Trị làm nhiều người chết và bị thương; lấn tái

chiếm, đóng lại 8 đồn thuộc các xã Hòa Tú, Thuận Hưng, Ninh Quới, Mỹ Quới, An Thạnh

Nhất, An Thạnh Nhì.

64

Ngày 1-2-1973, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, toàn tỉnh mở đợt tiến công địch bằng

chính trị, binh vận. Các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và huyện, nòng cốt là Văn phòng cấp

Ủy, Ban Tuyên huấn, Ban Binh vận, Hội Phụ nữ v.v... tổ chức thực hiện theo nhiệm vụ cụ

thể đã được phân công, các đồng chí ráo riết chuẩn bị băng cờ, khẩu hiệu, loa phóng thanh,

in ấn bản tin phát hành cho kịp thời gian. Các đồng chí làm việc không kể ngày đêm, vượt

qua mọi khó khăn, thiếu thốn vật chất, phương tiện để đáp ứng yêu cầu; đồng thời tích cực

vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh, ở khắp các vùng nông thôn còn bị địch kềm kẹp

và thị xã, thị trấn, nhân dân hưởng ứng rầm rộ. Ta lấy Hiệp định Paris làm nội dung tuyên

truyền phát động. Lực lượng ta đã tiến vào 130 ấp nông thôn bị kềm phát động quần chúng.

Phong trào xuống đường hoan hô hòa bình, hoan hô Hiệp định Paris diễn ra sôi nổi.

Trước tình hình địch phá hoại hiệp định Paris ngày càng nghiêm trọng và phong trào

chống trả địch vi phạm Hiệp định ngày càng phát triển, tháng 7-1973 Hội nghị lần thứ 21

của Ban chấp hành Trung ương Đảng đánh giá tình hình địch, ta và nêu rõ “Dù phát triển

theo khả năng nào, con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực, bất kể tình

huống nào cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo

linh hoạt đưa cách mạng tiến lên” [22, tr 123]. Về phương châm đấu tranh, hội nghị xác

định: “Kiên quyết phản công và tiến công, phát huy thế chủ động về mọi mặt của ta, đánh

bại các cuộc hành quân của địch lấn chiếm vùng giải phóng hoặc bình định. Việc vận dụng

phương châm phải gắn liền với yêu cầu giành dân và giành quyền làm chủ, nhằm giành lấy

thế mạnh để thắng địch”. [22, tr 124].

Tháng 10-1973, tại căn cứ tỉnh ủy xã Mỹ Phước, Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ Sóc

Trăng triệu tập hội nghị học tập quán triệt nghị quyết của cấp trên. Sau khi phân tích đánh

giá tình hình, hội nghị đã đề ra nhiệm vụ cấp bách trước mắt của Đảng Bộ và quân dân

trong tỉnh là: “Động viên sự nổ lực cao nhất của Đảng bộ và quân dân trong tỉnh, phát huy

thế tiến công, đẩy mạnh tiến công chính trị, quân sự, binh vận kết hợp với pháp lý Hiệp định

Paris đánh bại âm mưu phá hoại hòa bình, vi phạm Hiệp định của địch. Trước mắt tập

trung việc bình định, lấn chiếm của chúng, làm tan rã ngụy quân, ngụy quyền nhiều hơn.

Làm cho vùng kiểm soát của địch luôn luôn không ổn định. Giữ vững, củng cố, xây dựng

vùng căn cứ, vùng giải phóng thành hậu phương vững chắc toàn diện và phát huy tác dụng

hỗ trợ, thúc đẩy vùng tranh chấp vùng lên giành dân, giành quyền làm chủ trên diện rộng,

chuyển vùng kềm cũ lên một bước. Đưa phong trào cách mạng lên thị xã, thị trấn lên từng

65

bước vững chắc tạo điều kiện tiến tới cao trào, khẩn trương xây dựng, phát triển lực lượng

chính trị, vũ ttrang song song với việc giữ vững thế bố trí chiến lược, đẩy lùi, đánh bại các

cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm, các thủ đoạn quân sự, chính trị của địch, giành thắng

lợi tùng phần tiến lên đánh bại bình định, làm thay đổi tương qua có lợi cho ta…” [2, tr

257].

Tình hình trong tỉnh bấy giờ địch ra sức bình định, ở cả 3 vùng với nhiều thủ đoạn

xảo nguyệt. Vì vậy, để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ trên, phương châm chiến tranh chung

là: “Đấu tranh chính trị, binh vận, quân sự kết hợp với pháp lý Hiệp định để giành dân,

giành quyền làm chủ, giữ vững và phát huy thành quả cách mạng đã giành được, từng bước

đánh bại địch…đồng thời nắm vững phương châm hành động là: Tiến công địch để giành

đất, giành dân, giành quyền làm chủ, giành đất, giành dân, giành quyền làm chủ để tiến

công địch…” [ 2, tr 258]. Vận dụng phương châm phải sát hợp với tương quan lực lượng và

từng vùng cụ thể để đánh địch giành quyền thắng lợi.

Ngày 6-4-1975, tại Hội truờng Căn cứ Tỉnh ủy ở Rừng Tràm, xã Mỹ Phước, huyện

Châu Thành, Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ họp mở rộng có các đồng chí đại diện ban

ngành, đoàn thể tỉnh và Bí thư Huyện ủy dự do đồng chí Hồ Trung Hiền (Hồ Nam) Thường

trực Tỉnh ủy chủ trì để phổ biến Nghị quyết 15 của Trung ương Cục và bàn Nghị quyết của

Tỉnh ủy với tinh thần toàn thể Đảng bô, quân dân trong tỉnh quyết tâm phát huy thuận lợi,

khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ lịch sử trong bất cứ tình huống nào.

Nhiệm vụ của Ban chỉ huy chiến dịch tỉnh là: căn cứ vào nhiệm vụ đã giao mà có kế

hoạch thực hiện cụ thể đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ dứt điểm giải phóng thị xã. Tổ chức

lực lượng, giáo dục huấn luyện lực lượng 3 mũi, nắm chặt tinh hình địch, bố trí lực lượng

tiến công vào các mục tiêu đã định, chuẩn bị chu đáo cả tinh thần và vật chất, sẵn sàng chiến

đấu, tổ chức chỉ huy thống nhất, linh hoạt sáng tạo, hợp đồng chặt chẽ, thực hiện tốt các

chính sách của Đảng. Tổ chức tiếp quản và quản lý chặt chẽ các nơi mới được giải phóng.

Sau khi giải phóng, Ban chỉ huy chiến dịch làm nhiệm vụ quân quản để ổn định tình hình

mọi mặt ở thị xã.

Vào lúc 17 giờ ngày 26-4-1975 cuộc tổng công kích đánh vào thành phố Sài Gòn

được mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Ở Sóc Trăng, bọn địch vô cùng lo sợ,

chúng nhanh chóng tập trung mọi lực lượng để hòng thủ thị xã, thị trấn. Mặc dù các lực

lượng chủ lực của trung đoàn 33 sư đoàn 21 và các phương tiện chiến tranh cơ động nhất

66

như máy bay chiến đấu đều được rút về tập trung cho trung tâm vùng IV tại Cần Thơ, nhưng

lực lượng địch có tại Sóc Trăng cũng rất đáng kể.

Vào 8 giờ đêm 16-4-1975, Thường trực Tỉnh ủy nhận được điện của khu Ủy về ngày

N và giờ G của chiến dịch lịch sử, là vào 3 giờ ngày 30-4-1975 bắt đầu đồng loạt tiến công.

Vào 17 giờ 30 phút ngày 29-04 tại căn cứ tỉnh ủy rừng tràm Mỹ Phước, Ban chỉ huy chiến

dịch hạ lệnh tiến quân ra tiền phương để đêm 29 sáng 30-4 toàn bộ lực lượng tiến hành tổng

công kích – tổng khởi nghĩa. Thống nhất giờ G là 3 giờ sáng ngày 30-4 các lực lượng của ta

nổ súng tiến công địch. Tiểu đoàn Phú Lợi I được giao nhiệm vụ nổ súng đầu tiên làm phát

súng lệnh để các lực lượng đồng loạt tiến đánh các mục tiêu đã định.

Đúng 4 giờ, các mũi tiến quân của các tiểu đoàn đều tiếp cận mục tiêu và bắt đầu tiến

công địch. Trước sức tiến công của quân ta, bọn chỉ huy liên đoàn 953 liên tục kêu cứu, xin

cho máy bay đến giải tỏa, bỏ bom tuyến lộ sát sân bay, nhưng không quân Cần Thơ không

ứng cứu được vì tại sân bay Cần Thơ cũng đang bị ta tiến công. 9 giờ 30 phút, Đài phát

thanh Sài Gòn phát lời Tuyên bố ngừng bắn và giao chính quyền cho cách mạng của ngụy

quyền. Lời Tuyên bố đơn phương của ngụy quân, ngụy quyền không thể ngăn chặn được

cuộc tiến công của quân, dân ta. Quân ta không chần chờ, do dự trước giờ phút lịch sử, đã

kiên quyết tiến công địch, giành thắng lợi cuối cùng, Ban chỉ đạo liền chỉ thị cho các cánh

quân tiến công địch.

Ngay sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, Ban chỉ đạo, chỉ huy tổng công

kích – tổng khởi nghĩa của tỉnh lập tức chỉ đạo bằng 3 lực lượng vũ trang, chính trị, binh vận

tập trung dồn sức tiến công địch quyết liệt, vừa đánh, vừa gọi địch đầu hàng để giành thắng

lợi nhanh nhất. Các lực lượng tiến công của ta với mọi phương tiện thông tin, phát thanh

nhanh chóng công bố tiếng nói đầu hàng của Dương Văn Minh và kêu gọi địch đầu hàng

quân giải phóng. Vào 14 giờ ngày 30-4-1975 tên trung tá Nguyễn Hương Rĩnh liên đoàn

trưởng 953, tên trung tá Trần Duy Sinh, trung đoàn trưởng trung đoàn tiếp vận, cùng toàn

bộ Ban chỉ huy liên đoàn, Ban chỉ huy sân bay, Ban chỉ huy trung đoàn tiếp vận và các lực

lượng còn lại của địch hạ vũ khí đầu hàng.

Với tinh thần chiến đấu dũng cảm kiên cường quyết tâm tiêu diệt địch, chỉ trong 11

giờ tiến công quân và dân Sóc Trăng đã đánh chiếm và bức hàng tất cả các vị trí của ngụy

quân, ngụy quyền đóng trong thị xã. 14 giờ ngày 30-4-1975 thị xã Sóc Trăng được hoàn

toàn giải phóng. Đúng 15 giờ ngày 30-4-1975, Ban chỉ đạo chỉ huy tổng công kích - tổng

67

khởi nghĩa từ sở chỉ huy tiền phương tại Căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Phước tiến vào trung tâm thị xã

trước sự hoan hô vang dội của đồng bào.

Tiểu kết chương 2

Từ khi hiệp định Gernever được ký kết (7/1954), Mỹ - Ngụy đã tiến hành đàn áp

nhân dân Miền Nam, phong trào cách mạng miền Nam nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói

riêng với nhiều hành động tàn ác, dã man, với các loại phương tiện chiến tranh hiện đại và

các phương thức chiến tranh đầy thâm độc nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng, đưa nước

ta trở thành một nước thuộc địa, một căn cứ của Mỹ ở Đông Nam Á.

Đứng trước những khó khăn và thử thách, trên cơ sở vận dụng sáng tạo lý luận của

chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng căn cứ địa, đồng thời phát

huy kinh nghiệm của cha ông ta trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Căn cứ tỉnh ủy Sóc

Trăng trải qua các giai đoạn chiến tranh gian khổ vẫn kiên cường đứng vững trước các cuộc

càn quét của kẻ thù, vẫn là thành trì vững chắc cho đầu não kháng chiến của ta tại Sóc

Trăng.

Từ khi thành lập tại Gia Hòa – Mỹ Xuyên, căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng (1954 – 1967)

là nơi thường xuyên chịu các trận pháo kích lớn của kẻ thù, hàng trăm cuộc càn quét của kẻ

thù đã không thể đánh bại được ý chí kiên cường, anh dũng của quân dân ta, từ đó, căn cứ

được bảo vệ một cách vững chắc, là bàn đạp quan trọng đưa quân dân tỉnh Sóc Trăng giành

được các thắng lợi to lớn trong giai đoạn 1954 – 1967.

Từ cuối năm 1967, căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng được dời về khu vực rừng tràm xã

Mỹ Phước, đây là giai đoạn kẻ thù tại Sóc Trăng tiến hành đánh phá cao độ, chúng điên

cuồng hành quân càn quét, ném bom, rải chất độc hóa học nhằm tiêu diệt căn cứ cách mạng

của ta. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, lòng chiến đấu quả cảm của quân dân Sóc

Trăng, căn cứ Mỹ Phước luôn được bảo vệ và là nền tảng quan trọng để quân dân Sóc

Trăng tiến lên giành thắng lợi quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Đến 30/4/1975, từ căn cứ Tỉnh ủy Mỹ Phước, Tỉnh ủy và quân dân Sóc Trăng tiến

về giải phóng thị xã Sóc Trăng và giải phóng hoàn toàn tỉnh Sóc Trăng, góp phần cùng cả

nước làm nên đại thắng mùa xuân 1975 vĩ đại, từ đó kết thúc vai trò lịch sử của mình trong

cuộc chiến tranh chống lại đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai của chúng. Lịch sử căn cứ Tỉnh

ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ từ khi căn cứ Mỹ Xuyên được thiết lập đến khi

dời về căn cứ Mỹ Phước là một chặng đường đầy vinh vang và hào hùng, hai căn cứ có vai

68

trò quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và là niềm tự hào của quân dân

tỉnh Sóc Trăng.

Căn cứ cách mạng Tỉnh ủy Sóc Trăng đã hoàn thành xuất sắc vai trò của mình trong

cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trước những cống hiến hy sinh lớn lao đó, toàn Tỉnh

vinh dự có 53 đơn vị được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thì trong đó

vinh dự có Dân quân xã Gia Hòa – huyện Mỹ Xuyên, Lực lượng vũ trang huyện Mỹ Xuyên,

Đội bảo vệ Tỉnh ủy Sóc Trăng, Lực lượng vũ trang xã Mỹ Phước, Lực lượng vũ trang huyện

Mỹ Tú đó là những lực lượng nòng cốt trong chiến đấu bảo vệ và xây dựng căn cứ Tỉnh ủy

Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Có 20 cá nhân nhận danh hiệu Anh hùng

lực lượng vũ trang nhân dân, riêng Mỹ Xuyên có 3 anh hùng, Mỹ Tú có 1 anh hùng. Toàn

tỉnh có 656 bà mẹ Việt Nam anh hùng, riêng hai huyện Mỹ Tú và Mỹ Xuyên có 285 mẹ, ở

hai huyện Mỹ Tú và Mỹ Xuyên còn vinh dự được trao tặng 244 Huân chương kháng chiến

hạng nhất và hàng ngàn Huân huy chương, giấy khen khác cho thành tích kháng chiến

chống Mỹ cứu nước và thành tích bảo vệ căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến

chống Mỹ cứu nước.

69

CHƯƠNG 3 - ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

XÂY DỰNG CĂN CỨ TỈNH ỦY SÓC TRĂNG TRONG KHÁNG

CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975)

3.1. Đặc điểm của căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu

nước

Quá trình xây dựng, phát triển căn cứ tỉnh ủy ở Sóc Trăng là quá trình lâu dài, liên

tục 21 năm của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Suốt quá trình đó, căn cứ tỉnh ủy ở Sóc

Trăng cũng tuân theo qui luật chung của sự hình thành và phát triển của căn cứ địa cách

mạng ở nước ta là đi “từ không đến có, từ thấp lên cao, từ nhỏ đến lớn, từ bị chia cắt đến

liên hoàn, hoàn chỉnh”. Quá trình xây dựng căn cứ địa thường bắt đầu từ việc xây dựng,

củng cố và mở rộng cơ sở chính trị, sau đó chuyển các vùng có cơ sở chính trị mạnh thành

những cơ sở vũ trang bí mật, phát triển đấu tranh vũ trang, biến vùng địch tạm chiếm

thành khu du kích, là khu vực tranh chấp giữa lực lượng cách mạng và địch, rồi tiến lên

thành lập các căn cứ du kích, là những vùng giải phóng tương đối nhỏ ở vùng sau lưng

địch. Theo sự phát triển đi lên của cuộc kháng chiến, các căn cứ du kích dần dần mở

rộng, liên hoàn với nhau thành những vùng căn cứ lớn được xây dựng vững mạnh về các

mặt chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa xã hội; có điều kiện để các cơ quan lãnh đạo chỉ

huy đứng chân, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân mạnh, đặc biệt là bộ đội chủ lực;

có khả năng cung ứng một phần lớn nhu cầu kháng chiến trên địa bàn khu vực.

Do sự chi phối của những đặc điểm về vị trí, địa hình và diễn biến cuộc kháng chiến

mà các căn cứ địa ở miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ ngoài những nét

chung còn có những đặc điểm riêng của nó.

Từ trước đến nay, các căn cứ địa ở nước ta có chung nét phổ biến là được lựa chọn

ở những vùng có vị trí địa lý hiểm trở, nhân dân có truyền thống cách mạng, có điều kiện

đáp ứng kinh tế tự cung tự cấp. Nội dung xây dựng căn cứ địa được thể hiện trên các mặt

chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những nét chung, mỗi căn

cứ địa có những đặc điểm riêng phụ thuộc vào các yếu tố địa lý, điều kiện kinh tế, xã hội

và chiến sự trên chiến trường. Trong đó, căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng là một trong những căn

cứ du kích vùng đồng bằng với các đặc điểm như sau:

70

3.1.1. Vị trí ở thế áp sát Cần Thơ, thủ phủ của địch ở khu vực đồng bằng sông cửu

long

Vận dụng và phát triển một cách sáng tạo những kinh nghiệm xây dựng căn cứ địa

và hậu phương của ông cha ta trước đây vào điều kiện lịch sử mới, trong kháng chiến

chống Mỹ, nhân dân miền Nam không những đã xây dựng căn cứ địa vững chắc ở rừng

núi, nơi có địa thế hiểm trở mà còn xây dựng thành công những bàn đạp vững chắc ngay

cả ở những địa bàn xung yếu sát các thành thị, đồn bót giặc chi chít, sông ngòi ngang dọc

và ở một số thành thị. Những “vùng giải phóng còn cứ điểm địch” đã xuất hiện ngay

những căn cứ lớn của địch. Ở những nơi này, mặc dù kẻ địch đã thi hành những thủ đoạn

quân sự vô cùng tàn bạo và những thủ đoạn mị dân hết sức xảo quyệt, nhưng chúng đã

không thể nào xây dựng nổi bộ máy kìm kẹp nhân dân. Trái lại, bằng cuộc đấu tranh rất

kiên quyết, dũng cảm và sáng tạo của mình, nhân dân vẫn giữ vững quyền làm chủ ở đó,

tạo nên một thế bao vây, uy hiếp nghiêm trọng đối với các căn cứ và hậu phương của địch.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng đóng tại Gia

Hòa – Huyện Mỹ Xuyên (giai đoạn 1955 – 1967), sau đó được dời về Rừng Tràm xã Mỹ Phước

– huyện Châu Thành, sự lựa chọn khu vực đóng căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng là một sự lựa chọn

đúng đắn, nếu như căn cứ Gia Hòa – Mỹ Xuyên nằm ngay cửa sông Bassac thì căn cứ rừng

Tràm Mỹ Phước là một căn cứ được che chắn cẩn thận, tránh được các cuộc hành quân và ném

bom rải thảm của kẻ thù, vừa bảo đảm bí mật và an toàn cho các đồng chí lãnh đạo của Tỉnh ủy

Sóc Trăng. Cả 2 căn cứ đều có thuận lợi là nằm trên con đường huyết mạch từ Cần Thơ về Bạc

Liêu – Rạch Giá – Cà Mau, Cần Thơ lại là thủ phủ của miền tây Nam bộ, nơi địch đóng một số

lượng quân lớn tại đây, lúc thường trực quân số Mỹ - Ngụy có thể lên đến hơn 30.000 người, có

sân bay Trà Nóc là sân bay liên hợp lớn nhất miền Tây, tại đây hằng ngày địch tổ chức các cuộc

xuất kích ném bom các khu vực ở đồng bằng sông Cửu long và khi cần thiết thì phục vụ hỗ trợ

cho chiến trường miền Đông Nam bộ. Việc căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng đóng tại Gia Hòa hay Mỹ

Phước đều có tác dụng to lớn trong việc hỗ trợ cho phong trào cách mạng ở toàn miền Tây và

miền Nam nói chung.

Chính những hoạt động tiến công địch tại Sóc Trăng và đánh thắng các cuộc hành quân

càn quét của địch vào vùng căn cứ đã hỗ trợ rất lớn cho hoạt động của Liên tỉnh ủy Hậu Giang

và sự an toàn của khu căn cứ Liên tỉnh ủy tại Phương Bình – Cần Thơ.

71

3.1.2. Là nơi có cơ sở chính trị vững mạnh, thế trận lòng dân được phát huy cao độ

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin ở truyền thống yêu nước nồng nàn của dân

tộc ta, Người khẳng định: “Địch chiếm trời, địch chiếm đất, nhưng chúng không làm

sao chiếm được lòng nồng nàn yêu nước của nhân dân ta”. Quán triệt quan điểm của chủ

nghĩa Mác – Lênin coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, kế thừa và phát

huy truyền thống quân sự của dân tộc là cả nước chung sức đánh giặc, Đảng và Hồ Chí

Minh chủ trương phát động kháng chiến toàn dân, kiên quyết dựa vào sức mạnh vĩ đại và

năng lực sáng tạo vô tận của quần chúng nhân dân vì: “Chiến tranh ngày nay phức tạp và

hết sức khó khăn, không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó không thể

nào thắng lợi được” [28, tr 304].

Suốt chặng đường dài 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân dân cả nước ta

phải khắc phục bao trở ngại, khó khăn, phải chịu nhiều hi sinh, mất mát để lực lượng

cách mạng không ngừng phát triển ngày càng lớn mạnh. Một trong những nguyên nhân

quan trọng của thực tế đó là cách mạng miền Nam đã dựa vào lòng dân, dựa vào sức dân

để xây dựng và mở rộng hậu phương tại chỗ làm cơ sở để bảo tồn và phát triển lực lượng

cách mạng.

Đi đôi với sự phát triển của đấu tranh cách mạng, Đảng ta đã gây dựng nên hậu

phương từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ cơ sở chính trị của quần chúng đến có một nền

quốc phòng nhân dân tương đối hoàn chỉnh. Trong những ngày đầu, khi Đảng ta mới đề ra

chủ trương chuẩn bị đấu tranh vũ trang thì chúng ta chưa có một tất đất tự do. Lúc đó, hậu

phương duy nhất của ta là cơ sở chính trị bí mật, là lòng trung thành vô hạn của nhân dân

đã được giác ngộ đối với sự nghiệp cách mạng. Chính từ những cơ sở chính trị bí mật đó,

Đảng ta đã ra sức gây dựng những căn cứ vũ trang bí mật, tiến lên phát động chiến tranh

du kích cục bộ, mở ra Khu giải phóng. Ở vùng giặc tạm chiếm, qui luật xây dựng hậu

phương cũng diễn ra từ những cơ sở của nhân dân giác ngộ che giấu cán bộ và du kích,

có khi hàng tháng trời trong các hầm bí mật mà phát triển thành khu du kích, căn cứ du

kích. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân miền Nam, nhờ phong trào đấu

tranh chính trị của quần chúng kết hợp với chiến tranh du kích được phát động mạnh mẽ và

rộng khắp, các vùng giải phóng đã hình thành và ngày càng được củng cố và mở rộng,

phát huy tác dụng ngày càng to lớn đối với thắng lợi của chiến tranh. Theo quan điểm

chiến tranh nhân dân của Đảng ta, “xây dựng và củng cố hậu phương cần phải toàn diện,

72

các mặt chính trị, kinh tế, quân sự đều quan trọng, nhưng quan trọng hơn hết là nhân tố

chính trị, nhân tố nhân dân”.

Nắm vững quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng “lấy dân làm gốc”,

với đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cách sinh”, Đảng ta

luôn đặt công tác vận động, tổ chức quần chúng là một trong những công tác quan trọng

hàng đầu. Trong quá trình xây dựng căn cứ địa cách mạng, vấn đề giành dân, giữ dân

giữa lực lượng cách mạng và địch diễn ra hết sức quyết liệt. Địch luôn dùng mọi thủ đoạn

để mua chuộc, lôi kéo kết hợp với sức ép về bạo lực để giành dân với lực lượng cách

mạng.

Sóc Trăng là vùng đất có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, trong kháng

chiến chống Mỹ cứu nước, quân dân Sóc Trăng đã kiên cường chống lại các chiến lược chiến

tranh quy mô lớn của kẻ thù. Khu căn cứ tỉnh ủy Mỹ Phước là bản thiên anh hùng ca của quân

dân Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ, Mỹ và quân đội Sài Gòn đã liên tục cày xới vùng

đất này để truy quét lực lượng cách mạng của ta, chúng dùng máy bay B52, chất độc hóa học,

bom napal…. Những loại vũ khí sát thương dã man nhất thời bấy giờ nhưng chúng vẫn không

khuất phục được tinh thần bất khuất của quân dân Sóc Trăng trong việc kiên quyết bảo vệ sự an

toàn của khu căn cứ Tỉnh ủy, từ nay những quyết định quan trọng, những trận đánh then chốt

được tiến hành một cách sáng tạo, mưu trí,buộc địch phải đi từ thất bại này đến thất bại khác

trong việc thực hiện mưu đồ biến miền nam thành thuộc địa kiểu mới của mình.

3.1.3. Là căn cứ chỉ huy và chiến đấu có qui mô lớn và hoàn chỉnh ở khu vực đồng

bằng sông cửu long

Trong quá trình lãnh đạo nhân dân kháng chiến, Đảng ta luôn coi trọng việc

xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến

chống Mỹ, lực lượng vũ trang của Sóc Trăng từ chổ chỉ là tiểu đoàn Phú Lợi thì đến nửa

sau cuộc kháng chiến chống Mỹ đã phát triển lên thành 3 tiểu đoàn Phú Lợi (Phú Lợi I, Phú

Lợi II, Phú Lợi III).

Về cơ sở vật chất của căn cứ như Hội trường được xây dựng bằng cây tràm trước

năm 1968, đến khi Tỉnh ủy di chuyển về cuối năm 1967 đầu năm 1968 thì được xây dựng

lại lớn hơn rộng 4m và dài 20m, khang trang hơn bằng gỗ dầu. Cạnh hội trường có nhà làm việc của Bí thư tỉnh có diện tích 22m2, có bốn hầm trú ẩn. Ngoài ra, còn có các nhà cơ quan

của tỉnh, hầm bí mật dành cho các đồng chí lãnh đạo trong ban Thường vụ tỉnh. Ngoài ra,

73

còn có hệ thống giao thông hào, hầm chữ A, hầm tránh bom tránh pháo. Việc đi lại của căn

cứ chủ yếu là đường thủy với chiếc xuồng nhỏ nhờ vào kênh đào nhỏ. Nhờ vào ưu thế này

đã làm cho việc di chuyển quân với số lượng lớn của Mỹ - Ngụy quân đánh vào căn cứ vô

cùng khó khăn. Nhưng Mỹ - Ngụy vẫn liên tục đưa quân vào đây nhằm tiêu diệt căn cứ khi

phát hiện nơi đây là cơ quan đầu não của Tỉnh. Khi Hiệp định Pa-ri được kí, chính quyền

Việt Nam Cộng Hòa vẫn ra sức gây chiến, trên các chiến trường ở miền Nam tiếng súng vẫn

nổ. Tại Sóc Trăng, ngụy quyền ngụy quyền Ba Xuyên liên tục cho máy bay ném bom oanh

tạc, bắn pháo, hành quân vào các vùng giải phóng và căn cứ của Tỉnh ủy Ngụy quân Ba

Xuyên điên cuồng hành quân càn quét vào các căn cứ và vùng giải phóng của ta. Tại căn cứ,

ta đã chuẩn bị từ trước nên tại đây khi chúng hành quân vào căn cứ đã bị quân ta đánh tiêu

hao, buộc chúng phải rút quân khỏi căn cứ, không dám hành quân vào phá hoại căn cứ. Nhờ

thế, mà căn cứ Tỉnh ủy đã được giữ vững an toàn cho tới ngày giải phóng.

Có thể nói căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng tại Gia Hòa – Mỹ Xuyên (1955 – 1967) và căn

cứ tỉnh ủy Sóc Trăng tại rừng tràm Mỹ Phước trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước cùng

với căn cứ U Minh, căn cứ Phương Bình là một trong ba căn cứ quan trọng nhất ở miền

Tây, nó có vị trí liên hoàn và được tổ chức hết sức chặt chẽ và có quy mô cũng như mức độ

tổ chức hoàn thiện, góp phần to lớn vào chiến thắng giặc Mỹ xâm lược.

3.2. Vai trò của căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống Mỹ cứu

nước (1954 – 1975)

Thắng lợi oanh liệt của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm

của nhân dân ta đã khẳng định vị trí to lớn của hậu phương chiến tranh nhân dân Việt

Nam. Đó là một hậu phương được tổ chức chặt chẽ theo đường lối đúng đắn, sáng tạo và

bằng những biện pháp có hiệu quả. Vì thế, trước thử thách ác liệt của chiến tranh, hậu

phương kháng chiến của ta được xây dựng, bảo vệ và ngày càng mở rộng đã phát huy

mạnh mẽ vai trò, tác dụng to lớn, toàn diện, góp phần quyết định vào thắng lợi chung của

toàn dân tộc.

Trong tác phẩm “Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta”, Đại tướng Võ

Nguyên Giáp viết: “Muốn tiến hành thắng lợi chiến tranh cách mạng, cần có hậu

phương vững chắc. Hậu phương vững chắc là một nhân tố thường xuyên của thắng lợi

bởi vì hậu phương là nguồn cổ vũ, động viên về chính trị, tinh thần cho tiền tuyến, là

nguồn cung cấp, chi viện về nhân lực, vật lực, tài lực cho chiến tranh. Quy mô chiến

74

tranh càng lớn, vai trò của hậu phương càng quan trọng” [22, tr 169]

Đường lối quân sự của Đảng ta hết sức coi trọng vai trò của hậu phương trong chiến

tranh. Từ khi đặt vấn đề đấu tranh vũ trang thì vấn đề đất đứng chân làm nơi che giấu,

huấn luyện, tiếp tế, củng cố, nghỉ ngơi của lực lượng vũ trang nhân dân cũng đồng thời được

đặt ra

Sự tồn tại và hoạt động của căn cứ cách mạng trên toàn miền Nam nói chung, ở

Sóc Trăng nói riêng đã giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống

Mỹ của nhân dân ta. Căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng có vai trò:

3.2.1. Là nơi đứng chân của các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, nơi xây dựng,

củng cố và phát triển lực lượng cách mạng

Căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng được xem như một căn cứ du kích ngay sát nách đô thị

Cần Thơ. Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải

phóng (tháng 4 năm 1975), căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng là nơi đứng chân hoạt động của cơ

quan Tỉnh ủy Sóc Trăng, tại đây, các cơ quan dân, chính, Đảng, các ban, ngành, đoàn thể

cách mạng của tỉnh không ngừng được củng cố, hoàn thiện về tổ chức, nâng cao chất lượng

công tác, tham gia có hiệu quả vào quá trình điều hành công cuộc kháng chiến ở địa

phương. Tại vùng căn cứ này, đã diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như:

Cuộc họp ngày 29/1/1968, theo Nghị quyết của Bộ chính trị, lời kêu gọi của Trung

ương cục và sự chỉ đạo của Khu ủy, Tỉnh ủy Sóc Trăng họp quyết định thành lập Ban chỉ

huy cuộc tổng công kích – tổng khởi nghĩa trên toàn tỉnh Sóc Trăng. Thành lập hai Ban chỉ

huy chiến đấu ở hai thị xã: Ban chỉ huy chiến đấu tại thị xã Sóc Trăng và Ban chỉ huy chiến

đấu tại thị xã Bạc Liêu. Sau khi di chuyển về vùng căn cứ Tỉnh ủy kháng chiến cũ tại rừng

tràm Mỹ Phước, Ban chỉ huy tác chiến chung của tỉnh Sóc Trăng ra lệnh các đơn vị tiến

công trên toàn tỉnh bắt đầu vào 2 giờ sáng ngày 30 tháng 1 năm 1968.

Từ các chỉ thị của Trung ương cục và Khu ủy, từ căn cứ Mỹ Phước Tỉnh ủy chỉ đạo

các lực lượng vũ trang tỉnh củng cố lại lực lượng và tiếp tục tiến công địch trên các chiến

trường của Tỉnh. Tỉnh ủy quyết định mở các đợt cao điểm tiến công đánh vào căn cứ địch ở

các huyện từ năm 1972, mở các chiến dịch mùa Đông – Xuân (1973 – 1974, 1974-1975)

đánh vào các cứ Mỹ - ngụy trên các huyện. Qua các cuộc phản công, lực lượng vũ trang của

tỉnh Sóc Trăng đã đóng góp phần nào làm thất bại chiến lược “Việt Nam hóa” của Mỹ, làm

75

cho lực lượng của địch ngày càng bị suy yếu, tinh thần chiến đấu của bọn Ngụy quân bị suy

sụp.

Từ Căn cứ, Thường vụ tỉnh ủy chỉ đạo cho toàn tỉnh mở đồng loạt các đợt phản

công, tiến công địch nhằm đẩy lùi địch ra khỏi vùng Căn cứ và vùng xung quanh rừng tràm

Mỹ Phước. Sau đó, ngày 9 tháng 2 năm 1973 chỉ thị 03/CT của tỉnh ủy uốn nắn khuynh

hướng ngủ trong chiến thắng cán bộ và chiến sĩ sau Hiệp định Pari. Tỉnh ủy cho các lực

lượng vũ trang của tỉnh tiến công giành lại thế chủ động đánh bại kẻ thù từng bước. Đồng

thời chỉ thị 02 của Trung ương cục được Thường vụ tỉnh ủy triển khai từ ngày 28 tháng 2

đến ngày 7 tháng 3 năm 1973. Chỉ thị chỉ rõ cách mạng miền Nam chỉ giành thắng lợi khi

tiến hành đấu tranh bằng vũ trang là chính, kết hợp với đấu tranh bằng chính trị.

Vào 17 giờ 30 phút ngày 29-04 tại căn cứ tỉnh ủy rừng tràm Mỹ Phước, Ban chỉ huy

chiến dịch hạ lệnh tiến quân ra tiền phương để đêm 29 sáng 30-4 toàn bộ lực lượng tiến

hành tổng công kích – tổng khởi nghĩa. Thống nhất giờ G là 3 giờ sáng ngày 30-4 các lực

lượng của ta nổ súng tiến công địch. Và tại sở chỉ huy tiền phương tại căn cứ Tỉnh ủy Mỹ

Phước, quân dân ta đã đã tiến về giải phóng thị xã Sóc Trăng trong niềm vui sướng của

nhân dân toàn Tỉnh, có thể nói Căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng đóng một vai trò hết sức quan

trọng trong việc đảm bảo cho việc chỉ huy cách mạng trong toàn Tỉnh, nhờ đó quân dân Sóc

Trăng liên tục tiến lên giành nhiều thắng lợi quan trọng và giải phóng hoàn toàn Tỉnh nhà.

3.2.2. Là nơi diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt chống càn, tiêu diệt địch

trong các chiến lược chiến tranh

Lịch sử xây dựng và phát triển căn cứ luôn luôn gắn liền với hoạt động quân sự

diễn ra ở bên trong và bên ngoài căn cứ. Đó là nơi giao tranh quyết liệt giữa một bên là

kẻ địch mưu toan tiêu diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến, tiêu diệt lực lượng vũ trang cách

mạng, xóa sạch căn cứ và một bên là lực lượng kháng chiến quyết tâm giữ vững căn cứ,

bảo toàn lực lượng và từ đó làm chỗ dựa mở rộng phạm vi hoạt động quân sự, tiến công vào

hậu phương của địch.

Trong quá trình tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ và chính

quyền Sài Gòn đã dồn những nỗ lực lớn nhất của lực lượng và vũ khí, phương tiện chiến

tranh để thực hiện những cuộc càn có qui mô lớn vào các vùng căn cứ cách mạng nhằm tiêu

diệt cơ quan lãnh đạo ở các tỉnh Nam bộ trong đó có căn cứ của Tỉnh ủy Sóc Trăng.

76

Chiến đấu bảo vệ cơ quan lãnh đạo, bảo vệ sức người sức của trong căn cứ luôn là

nhiệm vụ hàng đầu của quân và dân vùng căn cứ. Ở Sóc Trăng, quân và dân đã thực hiện

vũ trang toàn dân, cùng với các lực lượng đứng chân trong vùng căn cứ không ngừng tổ

chức lại chiến trường, lợi dụng và cải tạo địa hình để xây dựng xã, ấp chiến đấu, đào

đắp công sự, bố trí hầm chông, hố đinh, bãi mìn, đào thêm địa đạo… tạo thành một hệ

thống trận địa vừa có tác dụng phòng thủ, bảo vệ cho các cơ quan lãnh đạo, vừa là trận địa

tiêu diệt địch.

Từ năm 1955 đến năm 1967 và từ năm 1968 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, căn

cứ Gia Hòa và căn cứ Mỹ Phước có vai trò rất quan trọng đối với cuộc kháng chiến chống

Mỹ của nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Tại đây, Tỉnh ủy Sóc Trăng đã có những chỉ đạo chỉ huy

nhân dân cả hai tỉnh Bạc Liêu và Sóc Trăng kháng chiến giành nhiều thắng lợi gây cho địch

nhiều tổn thất. Suốt thời gian tồn tại và phát triển của căn cứ, nơi đây là mồ chôn của nhiều

tên Mỹ - ngụy hung tàn. Vượt lên trên bao mọi khó khăn, căn cứ vẫn đứng vững trước bom

đạn, âm mưu của kẻ thù. Bao lần căn cứ Mỹ Phước phải hứng chịu bao nhiêu bom đạn,

pháo của kẻ thù nhưng những cây tràm vẫn đứng vững và luôn che chở cho các cơ quan

Tỉnh ủy hoạt động. Điều này đã nói lên sự lựa chọn sáng suốt của các đồng chí trong

Thường vụ Tỉnh ủy là lấy khu rừng tràm này làm nơi chỉ huy, chỉ đạo cuộc kháng chiến anh

hùng. Qua bao năm tháng của chiến tranh, căn cứ đã chứng tỏ được vai trò của mình và làm

sáng hơn về quyết định lựa chọn sáng suốt của Tỉnh ủy. Mặc dù, Mỹ - ngụy đã sử dụng hết

mọi âm mưu thâm độc nhằm cố tình hủy diệt cho bằng được căn cứ rừng tràm. Nhưng mọi

hành động của chúng điều bị thất bại thảm hại trước sức mạnh và ý chí của quân dân ta.

3.2.3. Đảm bảo vai trò hậu phương tại chỗ cho cuộc kháng chiến

Cơ quan Tỉnh ủy Sóc Trăng đã được nhân dân ở đây che chở, nuôi giấu, bảo vệ an

toàn. Quần chúng xung quanh đã ủng hộ nhiều lương thực, thực phẩm để bồi dưỡng cho

lực lượng kháng chiến.

Khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn quyết liệt, Mỹ và quân đội Việt Nam

cộng hòa luôn tìm mọi cách triệt nguồn lương thực nuôi sống quân dân Sóc Trăng bằng

cách phá hủy ruộng vườn, đốt cháy thóc gạo, dùng chất độc hóa học để phá hoại cây cối,

mùa màng…Đứng trước tình hình kẻ địch phá hoại điên cuồng như vậy, quân dân Sóc

Trăng không còn con đường nào khác là phải ra sức chiến đấu, phục vụ tăng gia sản xuất.

Ban lãnh đạo tỉnh ủy đã đề ra nhiệm vụ cho cán bộ và dân quân du kích phải đi đầu và tích

77

cực giúp đỡ nhân dân trong việc sản xuất, coi đó là khâu quyết định để giữ dân bám trụ.

Trong đợt càn quét lớn vào năm 1972 vào căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng, địch đã chứng

kiến tinh thần chiến đấu của Đảng bộ, quân dân Sóc Trăng nói chung và quân dân xã Mỹ

Phước nói riêng hết sức bền bỉ và kiên quyết. Với 31 ngày đêm địch tập trung tiến hành

đánh phá, khai quang rừng tràm, cũng là 31 ngày đêm quân dân vùng căn cứ dũng cảm đoàn

kết chiến đấu, đáng trân trọng nhất là trong lúc lính đồn xiết chặt không cho nhân dân ra

khỏi ấp chiến lược, vì chúng biết rằng nhân dân Mỹ Phước hàng ngày đều chở nước ngọt,

chở gạo, thuốc men về vùng căn cứ chi viện cho lực lượng cách mạng, chúng ngỡ rằng

trong lúc này là cơ hội để thực hiện tốt nhất khẩu hiệu của Nguyễn Văn Thiệu “Một hạt gạo

là một viên đạn bắn vào đầu Cộng sản”, vì thế bất cứ ai đem cơm, gạo ra khỏi nhà đều là

việt cộng cần phải ngăn cắm tuyệt đối, nếu ai đó lén lúc mang là bị bắt đánh đập dã man.

Thế nhưng suốt 31 ngày đêm các Má, các Chị đều tranh thủ len lỏi thay nhau đưa nước

ngọt, gạo, thuốc men và các nhu cầu cần dùng trong sinh hoạt hay chiến đấu cung cấp đầy

đủ cho du kích bao vây đánh địch ngót 31 ngày đêm không nghỉ; nếu như trong những ngày

chiến đấu ác liệt có ý nghĩa quyết định này không có sự dũng cảm khéo léo của nhân dân,

nhất là các Má các Chị trong các hội đoàn thể quân dân ta khó giành thắng lợi như thế.

Thực tế, trong những lúc khó khăn, nhân dân càng thương yêu cán bộ và du kích,

càng chăm sóc, giúp đỡ họ hơn cả con em của mình. Thực tế cuộc kháng chiến chống

Mỹ đã thể hiện rõ căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng vừa là nơi đứng chân để giải quyết vấn đề

tiềm lực, vừa là mặt trận đấu tranh với địch một cách toàn diện; vừa là tiền tuyến, vừa là

hậu phương; vừa là kết quả của việc thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện

của Đảng, vừa là điều kiện để biến đường lối đó thành hiện thực; vừa là kết quả của cuộc

chiến tranh nhân dân, vừa là nguyên nhân làm cho chiến tranh nhân dân phát triển.

3.3. Kinh nghiệm xây dựng căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng trong kháng chiến chống

Mỹ cứu nước

Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng vô cùng phong phú, vô cùng gian khổ và phức tạp

của việc xây dựng, phát triển và bảo vệ căn cứ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

cứu nước của Đảng bộ, quân và dân Sóc Trăng đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc:

78

3.3.1. Căn cứ cách mạng an toàn là điều kiện quan trọng đưa sự lãnh đạo cách

mạng của Đảng đến thắng lợi.

Đường lối cách mạng do Trung ương Đảng đề ra là quá trình vận dụng sáng tạo chủ

nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, là kết quả

sự lựa chọn những kinh nghiệm thực tiễn của phong trào cách mạng trên thế giới và trong

nước. Do đó quán triệt, chấp hành nghiêm chỉnh và vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng

vào điều kiện cụ thể của địa phương là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi. Quán

triệt và chấp hành đúng đắn, vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng là phải dựa trên cơ sở

đánh giá đúng tình hình, tương quan lực lượng địch, ta trong từng lúc từng nơi để từ đó đề

ra nghị quyết, chủ trương, biện pháp sát đúng ở mỗi lúc, mỗi nơi, mỗi lĩnh vực đấu tranh

cách mạng. Khi lãnh đạo cách mạng thì đầu não cách mạng phải được bảo vệ một cách

nghiêm ngặt, vì đây là điều kiện rất quan trọng để đảm bảo cách mạng đi đến thắng lợi.

Tỉnh ủy Sóc Trăng đã nhạy bén, nắm sát tình hình ở địa phương, hiểu được âm mưu

của địch, từng lúc, từng thời điểm đã đề ra được những nghị quyết, chủ trương và phương

pháp thích hợp trong xây dựng lực lượng cách mạng, căn cứ cách mạng và tiến công địch.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vùng đất Sóc Trăng chứng kiến những cuộc

hành quân lớn của Mỹ - Ngụy, đây là chiến trường trọng điểm đánh phá của địch vì vị trí

quan trọng trên cón đường từ căn cứ U Minh và căn cứ Liên tỉnh ủy miền Tây, cùng với các

chiến thắng quan trọng như chiến thắng Tam Sóc, hay các chiến công vang dội của tiểu

đoàn Phú Lợi anh hùng đã góp phần to lớn giúp căn cứ địa được giữ vững, được an toàn, tạo

điều kiện để tỉnh ủy lãnh đạo cách mạng. Có thể nói căn cứ cách mạng tỉnh ủy từ Gia Hòa

đến Mỹ Phước đều là những căn cứ có vị trí quan trọng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ

của nhân dân ta trên địa bàn miền Tây, có giá trị chiến lược đảm bảo cho công tác điều hành

lãnh đạo của tỉnh ủy đối với cách mạng trong toàn tỉnh.

Như vậy, bài học kinh nghiệm về xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng là một

nét nổi bật trong nghệ thuật quân sự Việt Nam, đó là nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân

dân, dựa vào nhân dân để bảo vệ đầu não cách mạng, từ đó phát động những cuộc tấn công,

tiêu diệt kẻ thù, bảo vệ thành quả cách mạng.,

79

3.3.2. Xây dựng căn cứ cách mạng trên cơ sở đoàn kết dân tộc trong khối đại đoàn

kết toàn dân, phát huy truyền thống yêu nước của đồng bào tại địa phương

Trong quá trình thực hiện đường lối xây dựng xây dựng căn cứ cách mạng của Đảng

bộ, Đảng bộ Sóc Trăng đã luôn quan tâm đến sự đoàn kết dân tộc, đặc biệt giữa ba dân tộc

Kinh – Hoa – Khmer, việc gắn liền lợi ích dân tộc với lợi ích giai cấp, giải quyết vấn đề

đoàn kết dân tộc Kinh, Khmer, Hoa và vấn đề tôn giáo trên lập trường giai cấp công nhân;

xử lý hài hòa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp trên mỗi bước đi của cách mạng là yếu tố

quan trọng để cách mạng tỉnh nhà thắng lợi và là yếu tố quan trọng để bảo vệ vững chắc căn

cứ Tỉnh ủy.

Đặc biệt là thực hiện chính sách giải quyết quyền lợi chính đáng và nguyện vọng

ngàn đời của nguời nông dân đó là vấn đề ruộng đất. Xuyên suốt trong cuộc kháng chiến,

Tỉnh ủy đã thực hiện cấp đất cho nông dân sản xuất trong vùng căn cứ, nhờ đó đời sống

nông dân được nâng cao, làm chổ dựa, là hậu phương vững chắc cho cách mạng. Cho nên

dù địch có bình định đánh phá ác liệt, vùng căn cứ, vùng nông thôn nhằm tách dân ra khỏi

Đảng nhưng nông dân vẫn không rời Đảng, vẫn đi theo Đảng đến cùng và bảo vệ căn cứ của

Đảng đến cùng.

Vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa

phương, Đảng bộ đã động viên tập hợp được sức mạnh của toàn thể nhân dân, của ba dân

tộc đoàn kết kháng chiến, hình thành thế trận lòng dân trong việc bảo vệ đầu não, bảo vệ

căn cứ cách mạng của tỉnh ủy. Trong thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, một mặt

phải tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết cấp trên,

nhưng mặt khác phải phát huy tính năng động sáng tạo, kịp thời phát hiện, đề đạt với cấp

trên những vấn đề về chủ trương chính sách và những kinh nghiệm của địa phương để góp

phần việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên.

Do đặc thù Sóc Trăng là địa bàn có nhiều dân tộc sinh sống, trong đó đồng bào

khmer và Hoa chiếm hơn 60% dân số, vì vậy việc thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc là

yếu tố rất quan trọng để xây dựng một thế trận lòng dân hiệu quả. Căn cứ tỉnh ủy Sóc Trang

trải hơn 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đó

là minh chứng sống động cho tình đoàn kết trong chiến đấu của 3 dân tộc sinh sống trên địa

bàn Sóc Trăng, là bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác xây dựng và bảo vệ căn cứ

địa cách mạng.

80

3.3.3. Xây dựng Đảng bộ vững mạnh, lực lượng quân sự vững mạnh là nhân tố cơ

bản quyết định sự tồn tại và phát triển căn cứ cách mạng

Đây là vấn đề có ý nghĩa then chốt quyết định và bao trùm các vấn đề đã nêu trên.

“Sự lãnh đạo cúa Đảng là nhân tố quyết đinh mọi thắng lợi. Vì vậy muốn làm tròn nhiệm vụ

cách mạng hiện nay điều mấu chốt vẫn là phải ra sức tăng cường sự lãnh đạo của Đảng”

[2, tr 360]. Nhận thức sâu sắc điều đó, Đảng bộ Sóc Trăng không ngừng xây dựng Đảng bộ

vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức để đủ sức lãnh đạo nhân dân trong tỉnh kháng

chiến thắng lợi. Trong xây dựng Đảng bộ biết lấy đường lối chính trị, đường lối chiến tranh

nhân dân, đường lối quần chúng và phương pháp cách mạng của Đảng, làm nội dung cơ bản

xây dựng Đảng vững mạnh.

Cán bộ, đảng viên luôn phát huy tính tiên phong trong thực hiện đường lối, biến

đường lối của Đảng thành hành đông cách mạng của quần chúng và đưa phong trào cách

mạng trong tỉnh tiến lên không ngừng. Cán bộ, đảng viên luôn luôn được học tập rèn luyện

quan điểm giai cấp, lập trường cách mạng vững vàng, có tinh thần tiến công cách mạng, ý

thức tự lực tự cường, không ngại gian khổ hy sinh, kiên trì bám đất, bám dân lãnh đạo nhân

dân đậu tranh chống địch.

Đặc biệt Tỉnh ủy rất quan tâm xây dựng tố chức cơ sở Đảng. Chi bộ, đảng bộ cơ sở là

nền tảng của Đảng, là nơi gắn liền giữa Đảng và quần chúng, là nơi tổ chức thực hiện mọi

đường lối, chủ trương của Đảng và cũng là nơi rèn luyện, đào tạo, bổi dưỡng cán bộ, đảng

viên. Muốn Đảng bộ vững mạnh, tổ chức cơ sơ Đảng phải đông về số lượng, vững mạnh về

chất lượng, đảng viên phải tiên phong gương mẫu. Trải qua cuộc kháng chiến chông Mỹ

cứu nước, Đảng bộ Sóc Trăng đã thực hiện các cuộc vận động xây dựng chi bộ cơ sở vững

mạnh (kể cả các tổ chức cơ sở Đảng trong lực lượng vũ trang) như: “Chi bộ tự động”, “Chi

bộ 4 tốt”, thực hiện “5 xây, 5 chống”. Tỉnh và huyện thường xuyên thành lập các đoàn chỉ

đạo xuống cơ sở xây dựng chi bộ vững mạnh toàn diện. Qua các cuộc vận động này các chi

bộ cơ sở và Đảng bộ tỉnh không ngừng được nâng cao sức chiến đâu, cùng gắn bó với nhân

dân vượt qua những khó khăn thử thách, ác liệt. Chi bộ cơ sở đã trở thành thành trì vững

chắc của Đảng, đương đầu với địch ở khắp mọi nơi và đã hướng dẫn, lãnh đạo quần chúng

đấu tranh, giành được nhiều thắng lợi.

Sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí, ở sự thống nhất về quan điểm, tư tưởng

và hành động, dựa trên nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng là tập trung dân chủ. Quán triệt

81

ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng bộ Sóc Trăng đã nghiêm túc thực hiện chê

độ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, “tự phê bình và phê bình” là phương pháp căn bản

để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ. Kinh nghiệm cho thấy, lúc nào cấp ủy

thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ thì sẽ giải quyết các vấn đề đúng đắn, sát hợp

với tình hình thực tế khách quan. Những lúc nào cấp ủy nặng vai trò tập trung, nhẹ phát huy

dân chủ hoặc ngược lại thì dễ dẫn đến chủ quan duy ý chí, hoặc không chặt chẽ tùy tiện. Từ

đó sẽ đi đến sai lầm, khuyết điểm. Vì vậy phải gắn chặt mối quan hệ giữa tập trung và dân

chủ trong nội bộ Đảng để không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững sự

thống nhất ý chí và hành động của Đảng bộ. Đảng bộ luôn luôn giữ vững tính tổ chức kỷ

luật, nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết cấp trên, như giai đoạn 1954 - 1960 và trong cuộc

tổng công kích - tổng khởi nghĩa Mậu Thân 1968, mặc dù có những vấn đề chưa thông suốt,

chưa thống nhất cao nhưng vẫn nghiêm chỉnh thực hiện nghi quyết đồng thời để đạt ý kiến

về trên. Cán bộ đảng viên luôn luôn có niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, kể cả

trong những lúc khó khăn nhất.

Xây dựng căn cứ Đảng phải gắn liền với bảo vệ căn cứ của Đảng, không ngừng nâng

cao ý thức cảnh giác cách mạng, ngăn ngừa sự phân hóa trong nội bộ Đảng, ngăn ngừa bọn

phản động chui vào hàng ngũ Đảng. Trong những thời điểm cách mạng gặp khó khăn, ỏ

Đảng bộ ta hầu hết đảng viên rất kiên trung, bất khuất, anh dũng chiến đấu chống quân xâm

lược, nhưng còn một số cán bộ, đảng viên nằm im, chạy dài, thoái hóa biến chất hoặc đầu

hàng địch gây thiệt hại không nhỏ cho cách mạng, bài học về việc Bí thư Tỉnh ủy Lâm Hớn

Thanh phản bội theo giặc vẫn còn giá trị thực tiễn lớn lao. Đó là bài học thấm thía mà Đảng

bộ ta cần rút kinh nghiệm để tăng cường công tác giáo dục rèn luyện cán bộ, đảng viên.

Song song với củng cố Đảng phải quan tâm phát triển đảng viên, tăng cường cả số lượng và

chất lượng, chú ý tạo nguồn bồi dưỡng, thử thách quần chúng tích cực từ những tổ chức

đoàn thể ban ngành, lực lượng vũ trang xuât hiện trong phong trào cách mạng Đảng bộ Sóc

Trăng làm tốt việc này tuy trong cuộc kháng chiến ác liệt, lực lượng đảng viên có bị tiêu hao

nhưng số lượng ngày càng tăng, lấp được hầu hết các ấp trắng, nhất là những ấp ở vùng

xung yếu, vùng đông đồng bào Khmer.

Để bảo toàn và phát triển lực lượng cách mạng, đặc biệt là cơ quan đầu não của tỉnh,

vấn đề xây dựng căn cứ cách mạng phải được coi trọng, phải tạo một địa bàn đứng chân

tương đối ổn dịnh, trong thế cài răng lược tranh chấp ác liệt giữa ta và địch để chỉ đạo

82

phong trào. Căn cứ cách mạng, kể cả căn cứ các cấp, phải bám địa bàn, bám dân thì cấp ủy

mới có điều kiện chỉ đạo sát đúng và kịp thời đối với tình hình ở địa phương. Dù căn cứ ở

đâu vấn đề quan trọng là ở lòng dân, ta xây dựng “căn cứ ở lòng dân” mới bền vững.

Căn cứ của Đảng an toàn còn gắn với các lực lượng bảo vệ căn cứ, hệ thống giao

thông liên lạc bí mật, công khai, tổ chức điện đài tốt, làm cho mạch máu lưu thông trong

toàn Đảng bộ thông suốt. Trong xây dựng Đảng, về mặt tổ chức, công tác cán bộ là rất quan

trọng. “Để đảm bảo cho cách mạng thắng lợi, sau khi có đường lôi chính sách đúng đắn thì

điều kiện quyết định là tổ chức thực hiện đường lối, trong đó vấn đề then chốt là phải có

một đội ngũ cán bộ vững mạnh về mọi mặt”. Đánh giá đúng vai trò, vị trí cán bộ trong

guồng máy hoạt động của Đảng, cũng như cán bộ công tác ở các ban, ngành, đoàn thể và

lực lượng vũ trang, Đảng bộ không ngừng xây dựng, bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ có

đạo đức phẩm chất tốt, có trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trước

mắt và lâu dài. Trong quá trình hoạt động thực tế cho thấy nơi nào cán bộ vững vàng thi nơi

đó phong trao cách mạng được phát triển, ngược lai nơi nào cán bộ yếu kém, mất đạo đức

phẩm chất nơi đó phong trào giảm sút, gặp nbiều khó khăn. Trong công tác cán bô, ngoài

việc đào tạo, bổi dưỡng cán bộ, còn phải kiểm tra, nhận xét, đánh giá, đề bạt cán bộ một

cách thận trọng, đúng đắn, kịp thời, đồng thời hết sức thương yêu, tôn trọng, bố trí cán bộ

phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng.

Tiểu kết chương 3

Căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng có trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bên cạnh

những đặc điểm chung của căn cứ địa Việt Nam còn có những đặc điểm đặc trưng như vị trí

ở thế áp sát thủ phủ Tây đô của địch ở khu vực đồng bằng sông cửu long, là nơi có cơ sở

chính trị vững mạnh, thế trận lòng dân được phát huy cao độ và là căn cứ chỉ huy và chiến

đấu có qui mô lớn và hoàn chỉnh ở khu vực đồng bằng sông cửu long. Cùng với đó, Căn cứ

Tỉnh ủy Sóc Trăng cũng có vai trò hết sức quan trọng đó là nơi đứng chân của các cơ quan

lãnh đạo kháng chiến, nơi xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng trong toàn

Tỉnh Sóc Trăng, là nơi diễn ra những trận chiến đấu quyết liệt chống càn, tiêu diệt địch

trong các chiến lược chiến tranh và có vai trò to lớn trong đảm bảo vai trò hậu phương tại

chỗ cho cuộc kháng chiến. Cuộc kháng chiến thắng lợi, căn cứ Tỉnh ủy đã để lại những bài

học kinh nghiệm sâu sắc như: Căn cứ cách mạng an toàn là điều kiện quan trọng đưa sự

lãnh đạo cách mạng của Đảng đến thắng lợi, đồng thời phải ý thức việc xây dựng căn cứ

83

cách mạng trên cơ sở đoàn kết dân tộc trong khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy truyền

thống yêu nước của đồng bào tại địa phương là hết sức quan trọng, ngoài ra tuyệt đối nắm

vững bài học kinh nghiệm về xây dựng Đảng bộ vững mạnh, lực lượng quân sự vững mạnh

là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển căn cứ cách mạng.

84

KẾT LUẬN

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, để đối phó với kẻ thù hung bạo,

có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần, cha ông ta đã biết chọn những nơi

có “địa lợi”, “nhân hòa” để xây dựng căn cứ, từ đó dần dần xây dựng và phát triển thực

lực, khi thời cơ đến sẽ phản công tiêu diệt quân thù, giải phóng đất nước.

Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng đã vận dụng sáng tạo học thuyết quân

sự của chủ nghĩa Mác Lênin cùng với kinh nghiệm hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm

của dân tộc, đã học tập một cách có chọn lọc những kinh nghiệm của Liên Xô, Trung

Quốc và các nước anh em khác để đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, đưa sự nghiệp đấu

tranh giải phóng dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong đó, đường lối xây

dựng căn cứ địa cách mạng là một bộ phận của đường lối chính trị, quân sự của Đảng, là

một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong tác phẩm

“Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ rõ

là khi nói đến đấu tranh vũ trang, đến xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng thì

không thể không nói đến vấn đề căn cứ địa cách mạng, vấn đề hậu phương của chiến

tranh cách mạng... Đối với những cuộc chiến tranh cách mạng của các giai cấp hay dân

tộc bị áp bức đứng lên đấu tranh nhằm lật đổ chính quyền của tập đoàn thống trị trong

hoàn cảnh chưa có một mảnh đất tự do nào làm chỗ đứng chân, thì quá trình gây dựng

hậu phương từ không đến có, từ nhỏ đến lớn cũng tức là quá trình gây dựng và củng cố

căn cứ địa cách mạng. Với ý nghĩa và tầm quan trọng đó, trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước, Đảng ta luôn chỉ đạo sâu sát nhiệm vụ xây dựng căn cứ địa cách mạng để

làm hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến.

Sóc Trăng là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, khu vực miền Tây Nam Bộ cùng

các tỉnh Cà Mau, Cần Thơ, Kiên Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long tạo thành một vùng chiến

lược quan trọng đối với ta. Địch cũng coi đây là một vùng rất quan trọng nằm trong vùng IV

chiến thuật có vị trí cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng. Là một tỉnh đồng bằng, ít rừng

lá, rừng chồi ven sông và ven biển, không có căn cứ sâu ổn định như một số tỉnh khác, chiến

trường bị địch chia cắt ra thành nhiều mạnh. Nhân dân trong tỉnh đa số là nông dân bị đế

quốc thực dân phong kiến bóc lột lâu đời, nghèo khổ, có lòng căm thù giặc sâu sắc và lòng

yêu nước nồng nàn. Là tỉnh có nhiều tôn giáo, trong đó phật giáo là đông tín đồ nhất. Đồng

bào Khmer chủ yếu là theo Phật giáo Nam Tông. Cộng đồng dân cư gồm có 3 dân tộc Kinh,

85

Khmer, Hoa sống xen kẽ, có truyền thống đoàn kết, gắn bó lâu đời; là một trong hai tỉnh ở

Nam bộ có đông đồng bào Khmer nhất. Địch luôn rắp tâm muốn chia rẽ các dân tộc, các tôn

giáo, nhất là với hai dân tộc Kinh, Khmer. Chúng có nhiều âm mưu, thủ đoạn nắm các chùa,

sư sãi, trí thức Khmer. Ta phải thường xuyên chủ động phòng chống với những âm mưu,

thủ đoạn, gian xảo, lừa mị của kẻ thù để tập hợp sức mạnh đoàn kết dân tộc, tôn giáo và các

tầng lớp nhân dân thành sức mạnh vĩ đại, chung lòng kháng chiến cứu nước.

Quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ căn cứ cách mạng ở Sóc Trăng trong

kháng chiến chống Mỹ cũng đã tuân theo những qui luật chung về xây dựng và phát triển

căn cứ địa của cả nước mà đường lối quân sự của Đảng ta đã đúc kết, trong đó qui luật

xây dựng căn cứ địa đi từ không đến có, từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn được thể hiện rõ

nét.

Về tương quan lực lượng giữa ta và địch ở Sóc Trăng, địch mạnh hơn ta về quân số,

vũ khí hiện đại; là căn cứ của trung đoàn 33, sư đoàn 21 ngụy với sự chi viện mạnh của

trung tâm vùng IV chiến thuật. Ở tỉnh có 2 sân bay, 2 tiểu khu (Ba Xuyên và Bạc Liêu).

Địch xem Sóc Trăng là một chiến trường, một địa bàn chiếm đất, chiếm dân, bắt lính đôn

quân, vơ vét lúa gạo để đánh phá cách mạng; đồng thời lấy nơi đây làm bàn đạp dánh phá U

Minh, căn cứ cách mạng của miền Tây Nam bộ. Về ta, tỉnh tự lực tự cường đánh địch với

lực lượng địa phương là chính, việc chi viện của lực lượng vũ trang khu 9 chỉ ở một mức độ

nhất định và trong những thời điểm nhất định.

Từ những đặc điểm, khó khăn, phức tạp đó, trong suốt 21 năm kháng chiến chống

Mỹ, Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng có lúc thiệt hại khá nặng, nhất là những năm 1957 – 1959,

1969 – 1970, Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ liên tục bị tiêu hao, cán bộ Đảng viên và quần

chúng bị địch giết hại, tù đày và khủng bố vô cùng tàn khốc, cơ sở cách mạng ở nhiều nơi bị

mất trắng, ở 2 thị xã cơ sở Đảng cũng phải lặp đi lặp lại nhiều lần, căn cứ tỉnh ủy nhiều lần

bị càn quét, phải di chuyển và dời địa điểm. Thế nhưng, còn đảng viên, còn quần chúng là

còn cách mạng. Ngay trong những năm 1957 – 1958 với tinh thần bản đề cương “Đường lối

cách mạng Việt Nam”, Tỉnh ủy Sóc Trăng đã có sự vận dụng sáng tạo về phối hợp phong

trào đấu tranh chính trị với ít nhiều hoạt động vũ trang tự vệ để bảo tồn lực lượng, giữ vững

phong trào. Đến khi có Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng, phong trào Đồng khởi có điều

kiện đã nổ ra rất mạnh mẽ. Khi chuyển sang thời kỳ chiến tranh cách mạng tỉnh Sóc Trăng

liên tiếp giành được thắng lợi, nổi bật là trong giai đoạn chống phá ấp chiến lược, chống

86

bình dịnh, lấn chiếm, tỉnh thực hiện tốt phương châm “hai chân ba mũi”, tạo thành sức

mạnh tổng hợp liên tục tiến công địch. Trong chiến tranh nhân dân, giành dân, giành đất với

địch, tỉnh có phong trào bao vây đánh lấn gỡ nhiều đồn bốt, mở mảng chuyển vùng, giải

phóng được cả một chi khu (chi khu Ngã Năm). Giai đoạn 1969 - 1970 đã diễn ra vô cùng

gian khổ ác liệt, Đảng bộ đã kiên cuờng dũng cảm vượt qua và tiến lên giành thắng lợi lớn

trong năm 1972. Đồng thời, sau khi ký Hiệp định Paris, Sóc Trăng không mơ hồ, mất cảnh

giác vẫn chủ động tiến công địch giành quyền chủ động ở chiến trường. Trong chiến dịch

Đông Xuân 1974 - 1975, đặc biệt trong cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa mùa xuân

1975 chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Sóc Trăng đã có một quyết định sáng suốt, đúng đắn.

Là kiên quyết tiến công địch, tự lực giải phóng tỉnh nhà, giành thắng lợi trọn vẹn, hoàn

thành nhiệm vụ một cách xuất sắc góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Quá trình xây dựng căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng là sự vận dụng đúng đắn đường lối

và phương châm chiến lược trong nghệ thuật quân sự của Đảng vào thực tiễn chiến

trường. Quân dân Sóc Trăng đã tiếp thu những kinh nghiệm xây dựng căn cứ địa. Tại

vùng căn cứ, các cơ quan dân, chính, Đảng,…không ngừng củng cố và hoàn thiện về tổ

chức, nâng cao chất lượng công tác, tham gia có hiệu quả vào quá trình điều hành cuộc

kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở địa phương.

Di tích căn cứ Tỉnh uỷ Sóc Trăng là một minh chứng có một không hai của Đảng bộ

tỉnh Sóc Trăng. Nó khẳng định lòng tin yêu, cưu mang, che chở của nhân dân đối với Đảng.

Đó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân giúp cho tỉnh Đảng bộ Sóc Trăng hoàn thành sứ

mệnh lịch sử của mình là lãnh đạo quân và dân trong tỉnh giành hết thắng lợi này đến thắng

lợi khác trên các lĩnh vực: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội… trong suốt hai thời

kì chống Pháp và Mỹ. Cùng góp phần với các Đảng bộ toàn miền Nam dẫn tới thắng lợi

của sự nghiệp chống xâm lược do Đảng ta lãnh đạo. Đó là minh chứng quan trọng giúp thế

hệ trẻ khẳng định mục đích, lý tưởng của Đảng là thực sự vì dân, vì nước, Đảng chấp nhận

mọi gian khổ hy sinh để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân… Vì vậy, di tích đã và đang

được phục chế, giữ gìn để giáo dục truyền thống cách mạng và kháng chiến cho các thế hệ

hiện tại và mai sau. Căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng được công nhận là di tích lịch sử cách mạng

cấp quốc gia, theo Quyết định số 734/QĐ-BVHTT, ký ngày 16 tháng 6 năm 1992, điều này

đã tạo động lực to lớn, tiếp thêm lòng yêu nước cho thế hệ trẻ tỉnh Sóc Trăng trong hôm

nay và tương lai góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của

87

quê hương Sóc Trăng anh hùng.

88

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng (2002), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng từ năm

1930 đến năm 1954, Sóc Trăng.

2. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng (2005), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng từ năm

1954 đến năm 1975, Sóc Trăng.

3. Ban Tổng kết chiến tranh tỉnh Hậu Giang (1987), Hậu Giang 21 năm kháng chiến

chống Mỹ, Nxb Tổng hợp Hậu Giang, Hậu Giang.

4. Ban Tổng kết lịch sử Quân khu 9 (1995), Quân Khu 9 - 30 năm kháng chiến giai

đoạn 1945 – 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

5. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Sóc Trăng (1993), Lược sử 30 năm kháng chiến chống thực

dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược của lực lượng vũ trang tỉnh Sóc Trăng từ tháng

8-1945 đến 30-4-1975, Sóc Trăng.

6. Bộ Chỉ huy quân sự Cần Thơ (1997), Cần Thơ 30 năm vũ trang chống Thực dân

Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược 1945 – 1975, Cần Thơ.

7. Bộ Chỉ huy quân sự Cần Thơ (1995), Những trận đánh trong chiến tranh chống Mỹ

của lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Cần Thơ, Cần Thơ.

8. Bộ Quốc phòng (2002), Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân,

Hà Nội.

9. Bộ Quốc phòng (1997), Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 – 1975),

Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

10. Bộ Quốc phòng (2000), Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

11. Vũ Tang Bồng (1999), “Đảm bảo vũ khí, trang bị - Một thành công chiến lược của

Đảng ta trong 30 năm kháng chiến”, Tạp chí Lịch sử quân sự, (số 2), tr.43 – 45.

12. Văn Tiến Dũng (1996), Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội.

13. Hoàng Dũng (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975: Thắng lợi và

bài học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

14. Đảng ủy xã Gia Hòa (1985), Lịch sử xã Gia Hoà anh hùng trong cuộc kháng chiến

chống Mỹ (1954 - 1975), Cần Thơ.

89

15. Đảng uỷ Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Cần Thơ (2002), Lực lượng vũ trang nhân dân

Cần Thơ 30 năm kháng chiến 1945 – 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

16. Đảng bộ Thành phố Cần Thơ (1987), 21 năm chống Mỹ cứu nước của thành phố

Cần Thơ : 1954 – 1975, Hậu Giang.

17. Trần Bạch Đằng (1993), “Vài suy nghĩ về hậu phương chiến tranh nhân dân Việt

Nam”, Tạp chí Lịch sử quân sự, (số 3), tr. 35 – 37.

18. Huyện ủy Mỹ Tú (2010), Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ

và nhân dân xã Mỹ Tú, Sóc Trăng.

19. Huyện ủy Mỹ Tú (2009), Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ

và nhân dân xã Mỹ Phước, Sóc Trăng.

20. Huyện ủy Mỹ Tú (1999), Lịch sử Đảng bộ huyện Châu Thành giai đoạn 1954 –

1975, Sóc Trăng.

21. Huyện ủy Mỹ Xuyên (2005), Lịch sử Đảng bộ huyện Mỹ Xuyên (1930 – 1975), Sóc

Trăng.

22. Võ Nguyên Giáp (1970), Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta, Nxb

Sự Thật, Hà Nội.

23. Võ Nguyên Giáp (1973), Đường lối quân sự của Đảng là ngọn cờ trăm trận

trăm thắng của chiến tranh nhân dân ở nước ta, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

24. Võ Nguyên Giáp (1959), Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, Nxb Sự

Thật, Hà Nội.

25. Trần Văn Giàu (1978), Miền Nam giữ vững thành đồng, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội.

26. Trần Thị Thu Hương (2003), Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá “Quốc

sách” Ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1961 – 1965,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

27. Học viện Quốc phòng (2003), Đại thắng mùa xuân 1975 nguyên nhân và bài học,

Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

28. Hồ Khang, Tết Mậu Thân 1968 bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ

cứu nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

29. Hồ Chí Minh (2000), Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

90

30. Lê Ngọc - Ngọc Dũng - Phạm Xuân Nam (1985), Sức mạnh chiến thắng của cuộc

kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

31. Trịnh Nhu (2008), Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam bộ và Trung ương cục miền Nam (1954

– 1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

32. Sở văn hóa thông tin Sóc Trăng (2000), Sóc Trăng một số hình ảnh trong kháng

chiến chống Mỹ cứu nước, Sóc Trăng.

33. Văn Tạo (1995), “Căn cứ địa cách mạng – truyền thống và hiện tại”, Tạp chí lịch

sử quân sự, (số 4), tr. 23 – 28.

34. Hoàng Minh Thảo (1995), Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến

chống Mỹ cứu nước và bảo vệ tổ quốc, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

35. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2012), Địa chí tỉnh Sóc Trăng, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội.

91

PHỤ LỤC

Nguồn ảnh tư liệu sao chụp lại từ: Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Sóc Trăng (2002), Sóc

Trăng một số hình ảnh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Sóc Trăng.

Ảnh 1: Rừng tràm Mỹ Phước

Ảnh 2: Phong trào phá ấp chiến lược

92

Ảnh 3: Nữ du kích xã Gia Hòa luyện tập

Ảnh 4: Cắm chông bảo vệ căn cứ

93

Ảnh 5: Sản xuất vũ khí trong khu căn cứ Tỉnh ủy

Ảnh 6: Họp tổ phụ nữ trong khu căn cứ

94

Ảnh 7: Hoạt động giao bưu vận trong khu căn cứ

Ảnh 8: Chống càn quét vào khu căn cứ Tỉnh ủy

95

Ảnh 9: Hoạt động giáo dục trong khu căn cứ

Ảnh 10: Hoạt động y tế trong khu căn cứ

96

Ảnh 11: Sau một cuộc họp ở khu căn cứ

Ảnh 12: Thị xã Sóc Trăng ngày giải phóng 30/4/1975

97

Ảnh 13: Bản đồ hành chính huyện Mỹ Xuyên

Ảnh 14: Bản đồ hành chính huyện Mỹ Tú

98