VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ DIỄM

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

ĐẮK LẮK, 2021

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ DIỄM

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

Ngành: Chính sách công Mã số: 8340402

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. NGUYỄN DUY THỤY ĐẮK LẮK, 2021

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Thực hiện Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể trên địa bàn huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk” là công trình nghiên cứu

khoa học độc lập của Học viên dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Duy

Thụy. Các số liệu, kết quả nghiên cứu được công bố trong công trình hoàn toàn

trung thực. Mọi tham khảo, trích dẫn đều được chú thích rõ ràng.

Tác giả luận văn

Trần Thị Diễm

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu Luận văn: “Thực hiện Chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk”, tác giả

đã gặp phải rất nhiều khó khăn, xong nhờ có sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo, lãnh

đạo Phòng Quản lý di tích Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, Phòng

Văn hóa và Thông tin huyện Krông Pắc nơi thực hiện khảo sát. Tác giả đã hoàn

thành được Luận văn theo đúng kế hoạch đặt ra.

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS. Nguyễn Duy

Thụy người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ dạy, giúp đỡ tác giả trong suốt

quá trình thực hiện Luận văn. Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy

cô bộ môn khoa Chính Sách Công và khoa Sau đại Học của Học Viện Khoa Học Xã

Hội đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình viết Luận văn thạc sĩ.

Xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo Phòng Quản lý di tích Sở Văn hóa, Thể

thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Krông Pắc đã tạo

điều kiện giúp đỡ tác giả thực hiện khảo sát, nghiên cứu Luận văn.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè vì đã luôn hỗ trợ tôi

và khuyến khích liên tục trong suốt những năm học tập và qua quá trình nghiên cứu

và viết luận văn này. Thành tựu này sẽ không thể có được nếu không có họ.

Trong bài Luận văn, chắc hẳn không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu

sót. Tôi mong muốn sẽ nhận được nhiều đóng góp quý báu đến từ các quý thầy cô,

ban cố vấn và bạn đọc để Luận văn được hoàn thiện hơn nữa và có ý nghĩa thiết

thực áp dụng trong thực tiễn cuộc sống.

Xin chân thành cảm ơn.

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................... .

LỜI CẢM ƠN .......................................................................................................... .

MỤC LỤC ............................................................................................................... .

DANH MỤC BẢNG BIỂU ...................................................................................... .

MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1

CHƯƠNG 1 .......................................................................................................... 16

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ .................................................................... 16

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ............................................................ 16

1.2. NỘI DUNG CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ

VĂN HÓA PHI VẬT THỂ .................................................................................. 22

1.3. CHỦ THỂ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ

TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ............................................................................ 25

1.4. CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ .................................................................... 25

1.5. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ........................................ 32

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ........................................................................................ 36

CHƯƠNG 2 .......................................................................................................... 37

THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CÔNG TÁC BẢO TỒN ............................ 37

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN ............ 37

HUYỆN KRÔNG PẮC ......................................................................................... 37

2.1. KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, CHÍNH TRỊ, KINH TẾ- XÃ HỘI,

LỊCH SỬ VĂN HÓA, HUYỆN KRÔNG PẮC .................................................... 37

2.2. PHÂN TÍCH VIỆC BAN HÀNH VÀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHÍNH

SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ

TẠI HUYỆN KRÔNG PẮC ................................................................................. 45

2.3. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ

TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG

PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK......................................................................................... 48

2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK .......................................................................... 51

2.5. NGUYÊN NHÂN .......................................................................................... 56

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ........................................................................................ 57

CHƯƠNG 3 .......................................................................................................... 59

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN ................ 59

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TẠI ................... 59

HUYỆN KRÔNG PẮC ......................................................................................... 59

3.1. QUAN ĐIỂM VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐỐI VỚI HUYỆN KRÔNG PẮC 59

3.2. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ HUYỆN KRÔNG PẮC ................ 60

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 ........................................................................................ 67

KẾT LUẬN........................................................................................................... 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 70

DANH MỤC BẢNG BIỂU

BẢNG 2.1. DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ THUỘC LOẠI HÌNH NGỮ VĂN

DÂN GIAN. .......................................................................................................... 46

BẢNG 2.2. DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ THUỘC LOẠI HÌNH NGHỆ

THUẬT TRÌNH .................................................................................................... 46

DIỄN DÂN GIAN ................................................................................................ 46

BẢNG 2.3. DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ THUỘC LOẠI HÌNH NGHI LỄ,

.............................................................................................................................. 47

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG .................................................................................. 47

BẢNG 2.4. DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

KRÔNG PẮC ....................................................................................................... 47

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong sự phát triển của mỗi đất nước, văn hóa được coi như một nguồn lực,

một nguồn vốn có vai trò quan trọng trong phát triển bền vững. Ở Việt Nam, nguồn

vốn văn hóa được biểu hiện ở hệ thống di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi

vật thể. Di sản văn hóa là những gì được sáng tạo trong quá khứ và truyền lại cho

thế hệ sau, là những sáng tạo của cha ông, thể hiện được chiều sâu của dân tộc,

mang tính lịch sử.

Trải qua các giai đoạn lịch sử, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công

tác bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa của dân tộc. Đặc biệt Hội nghị Ban

chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 5 (khóa VIII) đã ban hành

Nghị quyết “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản

sắc dân tộc”. Hội nghị xác định rõ: “Những thành tựu của cách mạng khoa học -

công nghệ thế giới cùng với việc mở rộng giao lưu quốc tế là cơ sở để chúng ta tiếp

thu những thành quả trí tuệ của loài người, đồng thời cũng đặt ra những thách thức

mới trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc" [10, tr.41].

Tuy nhiên, do tác động của cơ chế thị trường và quá trình hội nhập, nhiều di

sản văn hóa phi vật thể đang bị pha tạp và dần mai một. Thậm chí nhiều làn điệu

dân ca, điệu múa cổ truyền, nhạc cụ dân tộc, lễ hội dân gian, một số nghề thủ công

truyền thống và phương tiện sinh hoạt hằng ngày bị thất truyền, số còn lại cũng

đang ở tình trạng không có điều kiện sản xuất, bị sức ép cạnh tranh rất lớn. Các tài

liệu, tư liệu đề cập từng lĩnh vực lưu giữ không nhiều, số còn lại đang nằm rải rác,

chưa có điều kiện sưu tầm, tập hợp. Những nghệ sĩ, nghệ nhân am tường chuyên

môn đã lớn tuổi...

Mặc dù việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể từng bước

đã được thể chế hóa, nhưng từ chủ trương, chính sách cho đến việc triển khai thực

hiện vẫn còn nhiều khoảng cách, khâu chỉ đạo điều hành chưa có sự thống nhất cao.

Nguồn kinh phí, ngân sách, phương tiện, con người cần đầu tư, bố trí cho lĩnh vực

này còn khó khăn. Bên cạnh đó là những thách thức không dễ một sớm một chiều

có thể giải quyết được, vì lâu nay mối quan tâm của chúng ta mới chỉ dừng ở các di

1

sản văn hóa phi vật thể mà chưa quan tâm đến chủ thể sáng tạo nó. Nhiều ý kiến

cho rằng đó là sáng tạo của nhân dân mà chưa ý thức đầy đủ khởi thủy sáng tạo, lưu

truyền, lưu giữ, trao truyền các di sản văn hóa phi vật thể thống từ thế hệ này qua

thế hệ khác. Việc sưu tầm, nghiên cứu còn có vai trò của các nghệ nhân. Phát huy

vai trò nghệ nhân trong cộng đồng là công việc cần thiết, phải duy trì thường xuyên,

nhưng đáng tiếc chúng ta làm chưa tốt.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: những vấn đề về chính sách, con người, nhà

đầu tư, các tổ chức xã hội và cộng đồng, nhất là các tổ chức quốc tế... đều là những

bộ phận quan trọng trong việc phát huy những giá trị của các di sản văn hóa phi vật

thể được UNESCO công nhận. Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

một cách căn cơ, giải pháp nhận thức là quan trọng nhất. Vì từ nhận thức được giá

trị, vai trò của di sản văn hóa này, chính cộng đồng sẽ biết phải làm gì để bảo tồn và

phát huy. Trong những trường hợp cá biệt, chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu

di sản là một cộng đồng cư dân, thì ý chí, khát vọng, nhu cầu, thậm chí lợi ích của

họ cũng có tác động không nhỏ đến sự tồn vong của di sản văn hóa phi vật thể, bởi

chính họ là nhân tố quyết định những di sản văn hóa phi vật thể nào cần được sử

dụng và khai thác nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cá nhân và cộng

đồng. Bên cạnh đó, Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn ở lĩnh vực này để đáp ứng nhu

cầu thực tiễn, có kế hoạch hoàn chỉnh, xác định những mốc thời gian cụ thể. Có

chính sách thỏa đáng, quan tâm hơn nữa các nghệ nhân để họ truyền dạy cho cộng

đồng những di sản còn lưu giữ được trong tâm thức. Biết cách khơi dậy sức sáng

tạo chủ động của nhân dân trong các hình thức sinh hoạt cộng đồng nhằm đáp ứng

nhu cầu hoạt động văn hóa trong thời kỳ mới. Giữ gìn truyền thống văn hóa trong

gia đình, trong làng, bản, tạo điều kiện cho quần chúng tiếp nhận thông tin về mọi

mặt đời sống kinh tế - xã hội và thực hiện quyền làm chủ của mình. Đặc biệt chú

trọng đến tiếng nói của các chủ thể văn hóa, bảo đảm quyền của họ trong sáng tạo

và hưởng thụ văn hóa. Mặt khác khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân

nghiên cứu, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể. Nâng cao

chất lượng nghiên cứu khoa học về các giá trị di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, mở

2

lớp bồi dưỡng về dân ca, dân vũ truyền thống. Nên học tập cách làm ngân hàng dữ

liệu di sản văn hóa của các nước đã có kinh nghiệm và điều kiện đi trước.

Ngoài ra, yêu cầu có tính cấp bách là phải chọn lọc được đội ngũ cán bộ thực

hiện chính sách bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể giỏi chuyên môn, am hiểu về văn

hóa, phong tục tập quán của đồng bào ở khắp mọi miền Tổ quốc. Bởi điều quan

trọng đối với việc phát huy những di sản văn hóa phi vật thể là làm cho di sản ấy

“sống” giữa cuộc đời, như chính bản chất của nó, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa

dân tộc, đưa văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, đưa di sản văn hóa nói

chung, di sản văn hóa phi vật thể nói riêng mãi là tài nguyên phong phú, là sản

phẩm du lịch lợi thế của nhiều địa phương.

Nhận thức rõ vai trò to lớn của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội,

định hình nên diện mạo của một dân tộc. Chính vì vậy, công tác bảo tồn và phát huy

các giá trị văn hóa dân tộc là một trong những điểm cốt lõi trong chính sách về văn

hóa của Đảng và Nhà nước ta. Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, khi đưa ra chủ

trương “bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số”, Đảng Cộng

sản Việt Nam đã khẳng định: “Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền

thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của

các dân tộc thiểu số"[10, tr.63]. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số

124/2003/QĐ-TTG ngày 17 tháng 6 năm 2003 về việc phê duyệt đề án bảo tồn,

phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam với các mục tiêu để bảo tồn, kế

thừa có chọn lọc và phát huy những tinh hoa văn hoá truyền thống của các dân tộc.

Cũng như trên tinh thần của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Đề án

“Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiếu số Việt Nam đến năm 2020” đã được

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 27/7/2011.

Thực hiện theo đề án này, UBND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Kế hoạch thực

hiện Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm

2020” trên địa bàn tỉnh nhằm triển khai hiệu quả các tiểu Đề án theo Quyết định số

1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ, qua đó thực hiện tốt công

tác bảo tồn và nâng cao năng lực tự bảo vệ trước nguy cơ mai một văn hoá của các

dân tộc thiểu số rất ít người, tạo điều kiện phát huy văn hoá các dân tộc thiểu số có

3

số dân đông; bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đến

năm 2020.

Krông Pắc cũng như các địa phương khác ở tỉnh Đắk Lắk đang nỗ lực triển

khai thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Việc thực

hiện các chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở địa phương đạt

được những thành tựu nhất định, tuy nhiên bên cạnh đó, việc thực hiện chính sách

này còn gặp phải những tồn tại, hạn chế. Việc ban hành cơ chế chính sách đặc thù

của địa phương để thực thi chính sách còn chậm dẫn đến tình trạng một số di sản

phi vật thể của cộng đồng nhân dân các dân tộc huyện Krông Pắc ngày một mai

một, thậm chí một số di sản đã thất truyền Trước sự vận động và biến đổi không

ngừng của thế giới, sự phát triển của nền kinh tế thị trường, xu thế hội nhập hiện

nay đã ảnh hưởng lớn đến văn hóa của các dân tộc nói chung và ảnh hưởng tới giá

trị văn hóa truyền thống của các dân tộc ở huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk nói

riêng. Do sự tác động của nền kinh tế thị trường, do ảnh hưởng mạnh mẽ của các

giá trị văn hóa từ các cộng đồng dân cư khác mang tới; ảnh hưởng của tôn giáo

mới…, những giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người có nguy cơ mai một,

đứt gãy trong quá trình hội nhập. Thực trạng này đã đặt ra vấn đề về tính cấp thiết

của việc hoàn thiện các giải pháp triển khai thực hiện chính sách về bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể ở huyện Krông Pắc hiện nay.

Từ thực tiễn đó, vấn đề “Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị

văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk” được chọn làm

đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Chính sách công là có ý nghĩa thời sự, lý luận

và thực tiễn cấp bách.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Di sản văn hóa phi vật thể nói riêng và hệ thống di sản văn hóa nói chung có

quá trình hình thành và phát triển lâu đời, gắn bó hữu cơ với đời sống văn hóa, đời

sống xã hội của mỗi quốc gia, do con người tạo ra, được kế thừa, giữ gìn từ thế hệ

này sang thế hệ khác.

Văn kiện của Tổ chức UNESCO (1971) mang tên “Khả năng thiết lập các văn

kiện quốc tế để bảo vệ văn hóa dân gian” (Posibility establishing international

4

instrument to protect Folklore). Năm 1989, UNESCO đưa ra văn kiện có tính chất

quy phạm quốc tế đầu tiên đó là ‘The recommendation on the Safeguarding of

Traditional Culture and Folklore” (Khuyến nghị bảo vệ văn hóa truyền thống và

văn hóa dân gian). Như vậy, có thể nói trong năm 1971 đã được hiện thực hóa

thành một văn kiện chính thức; phạm vi bảo vệ được mở rộng bao gồm cả văn hóa

truyền thống. Năm 1992, một chương trình về di sản văn hóa phi vật thể đã được

thiết lập. Năm 1997, chương trình này được UNESCO nâng lên thành chương trình

được ưu tiên hàng đầu trong lĩnh vực văn hóa của UNESCO thể hiện cụ thể ở dự án

mang tên “công bố chính thức kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của

nhân loại”. Điều này đã giúp cho khái niệm “di sản thế giới” được hoàn thiện hơn

khi mà trước đó chỉ được hiểu là di sản thiên nhiên và các di sản văn hóa vật thể.

Đến năm 2003, sau rất nhiều phiên họp thảo luận của UNESCO, Công ước về di sản

văn hóa phi vật thể đã được thông qua; đây là kết quả của quá trình nhận thức lâu

dài, qua đó đã thiết lập được khái niệm khá toàn diện về di sản văn hóa phi vật thể.

Qua những quan niệm trên có thể rút ra một số nhận xét như sau:

Hầu hết các khái niệm đều cố gắng liệt kê ra các dạng của di sản văn hóa phi

vật thể như nghệ thuật múa, nhạc, ngôn ngữ, nghề thủ công truyền thống,… Các

công trình nghiên cứu này có thể loại trừ một vài nét văn hóa mà trong tương lai

mới được biết đến và công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Tuy nhiên, họ cũng

đưa ra biểu hiện cụ thể của di sản văn hóa phi vật thể một cách rõ ràng, sẽ trả lời

được câu hỏi: loại hình mà chúng ta đang cần bảo vệ cụ thể hiện nay là loại hình

nào. Các quan niệm trên đều xác định các giá trị nổi bật của di sản văn hóa phi vật thể

đó là: giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật, giá trị học thuật. Những giá trị ấy là cốt lõi của

vấn đề bảo vệ di sản văn hóa. Bảo vệ không chỉ vì sự hiện diện của một loại hình di

sản trong hệ thống di sản văn hóa, mà bảo vệ để lưu giữ những giá trị mà nó đem đến

cho cộng đồng. Giá trị ấy là động lực thúc đẩy mỗi quốc gia có những hành động tích

cực bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.

Việc cụ thể hóa di sản văn hóa phi vật thể là một điều khó khăn bởi nó không

có hình dáng nhất định nhưng có thể thấy con người chính là nơi chứa đựng những

di sản văn hóa đó. Những di sản này không hiện hữu một cách rõ ràng như một ngôi

5

chùa, hay một công trình kiến trúc mà cần có con người sử dụng, truyền tải thì

người khác mới biết đến sự tồn tại của nó. Nếu những người cuối cùng lưu giữ di

sản đó mất đi thì những di sản ấy cũng sẽ biến mất. Vì vậy, con người là trung tâm

của di sản văn hóa phi vật thể.

Ở nước ta, Tại Việt Nam mặc dù đến năm 2001 mới có Luật Di sản văn hóa

nhưng việc bảo vệ di sản văn hóa đã được đặt ra trước đó khá lâu. Các bộ Luật thời

trung đại (Quốc triều hình luật - đời Lý; Lê triều hình luật - Luật Hồng Đức, thời

Lê; Hoàng Việt luật lệ - Luật Gia Long, thời Nguyễn) và các bộ sử, chí, lục thời

trung đại (Đại Việt sử kí toàn thư, Lam Sơn thực lục, Việt sử thông giám cương

mục, Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí, Đại Nam thực lục…) có

thể thấy, các vị vua phong kiến xưa cũng đã ý thức được việc phải bảo vệ các di sản

văn hóa. Đặc biệt là các công trình kiến trúc tôn giáo thể hiện sự tôn nghiêm, uy

quyền của thần thánh, của nhà vua, được xây dựng với công sức đóng góp của toàn

dân, thể hiện tài năng, trí óc, tâm linh, tình cảm, niềm tin, hi vọng của các vương

triều cũng như cộng đồng nhân dân được hết sức giữ gìn.

Đến thời kì lịch sử hiện đại, văn bản đầu tiên đề cập đến vấn đề này là Sắc

lệnh số 65/SL ngày 23 ngày 11 năm 1945 của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ

cộng hòa “Ấn định nhiệm vụ của Đông phương bác cổ học viện”. Sắc lệnh khẳng

định việc bảo tồn cổ tích là công việc rất quan trọng và rất cần thiết cho công cuộc

kiến thiết nước Việt Nam.

Năm 1958, tại Hội nghị cán bộ văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

“Những câu tục ngữ, những câu vè, cao dao rất hay là những sáng tác của quần

chúng. Các sáng tác ấy rất hay mà lại ngắn, chứ không “trường thiên đại hải”, dây

cà ra dây muống. Các cán bộ văn hóa cần phải giúp sáng tác của quần chúng.

Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý” [31, tr.125-127 ]

Những lời nói giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ cách đây hơn nửa thế kỷ

đã là những định hướng đầu tiên về vấn đề bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.

Đến năm 2001, lần đầu tiên vấn đề bảo vệ di sản văn hóa được thể chế hóa

thành Luật. Ngày 29/06/2001 Quốc hội nước ta đã ban hành Luật di sản văn hóa,

tiếp đó được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 32/2009/QH12 sửa đổi bổ sung một số

6

điều của Luật di sản văn hóa 2001. [chương I, điều 4] đây là cơ sở pháp lý để chúng

ta thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong bối

cảnh vừa phát triển kinh tế-xã hội; vừa bảo vệ di sản văn hóa cho muôn đời sau.

Tác giả Lê Đình Thành có nghiên cứu về “Thực hiện chính sách bảo tồn di sản

văn hóa phi vật thể ở Phú Thọ”. Tác giả phân tích đánh giá: Để di sản văn hóa phi

vật thể lan tỏa trong cộng đồng, có thể nói, đến thời điểm này, Phú Thọ đã rất chú

trọng, quan tâm tới công tác thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị các di sản

văn hóa phi vật thể và đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng. Tuy nhiên,

cũng như các địa phương khác trên cả nước, Phú Thọ còn rất nhiều khó khăn trong

quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật

thể với thực trạng nguy cơ thất truyền, mai một của nhiều loại hình di sản văn hóa

phi vật thể, việc phát huy giá trị các lễ hội truyền thống còn nhiều hạn chế; việc sưu

tầm, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể chưa tương xứng với tiềm

năng hiện có; nguồn kinh phí, ngân sách, phương tiện, con người cần đầu tư, bố trí

cho lĩnh vực này còn khó khăn [40].

Tác giả nêu lập luận: Để nâng cao chất lượng và hiệu quả trong thực hiện

chính sách bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh, việc

cần thiết và cơ bản chính là bằng biện pháp đưa những di sản văn hóa này trở lại với

cộng đồng sinh hoạt văn hóa, bằng cách khơi dậy tình yêu, lòng tự hào đối với

truyền thống của dân tộc trong mỗi người dân tới toàn cộng đồng. Thực hiện tốt

công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương một

cách khoa học và có hệ thống thông qua việc tư liệu hóa, vật thể hóa hệ thống di sản

văn hóa phi vật thể nhằm nhận diện và xác định mức độ tồn tại, giá trị và sức sống

của từng loại di sản văn hóa phi vật thể trong cộng đồng trên cơ sở đó đề xuất

phương án bảo tồn, phát huy một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, cần tăng cường thực

hiện cơ chế chính sách đặc thù để tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động

trên, gắn trách nhiệm của các cấp chính quyền, đoàn thể và người dân nhằm thực

hiện xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa; tăng cường

tuyên truyền về bảo tồn văn hóa phi vật thể cho người dân nâng cao nhận thức về

truyền thống văn hóa của dân tộc để từ đó mỗi cá nhân có ý thức bảo vệ di sản.

Đồng thời đưa di sản văn hóa phi vật thể vào bảo quản trong các kho tư liệu, vào

giảng dạy trong nhà trường, tổ chức sinh hoạt trong cộng đồng hay tại các bảo tàng

7

và có chính sách, chế độ cho các nghệ nhân, những cá nhân có công sức gìn giữ,

bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.

Tác giả Khánh Vân trong chuyên đề khoa học “Thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở Sơn La” [53], tác giả phân tích sâu sắc:

Thực hiện Luật Di sản Văn hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La đã

làm tốt công tác xây dựng chính sách này thông qua các hoạt động: kiểm kê di tích

lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn, đánh giá thực trạng về tổ

chức thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị các di tích đã được xếp hạng.

Đồng thời, tổ chức điều tra, khảo sát, nghiên cứu lập hồ sơ khoa học đề nghị các cấp

xếp hạng các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn toàn tỉnh.

Tác giả phân tích để thực hiện chính sách này, cơ quan chủ trì thực hiện chính sách

đã xây dựng kế hoạch thực hiện; tiến hành các hoạt động như: thống kê, tỉnh ta hiện

có 96 di tích được đưa vào danh mục, trong đó, 1 di tích quốc gia đặc biệt, 16 di tích

quốc gia, 46 di tích cấp tỉnh, 33 di tích chưa được xếp hạng. Các đơn vị, địa phương

được giao quản lý các di tích lịch sử và danh lam, thắng cảnh đã làm tốt công tác

bảo tồn và khai thác hiệu quả, hàng năm thu hút hàng nghìn lượt người tham quan,

học tập và nghiên cứu, góp phần vào việc giáo dục truyền thống, ý thức phát huy

bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong các tầng lớp

nhân dân. Một số di tích đã có nguồn thu từ phí tham quan để đầu tư trở lại cho

công tác trùng tu, tôn tạo, chống xuống cấp, như: Di tích Quốc gia đặc biệt Nhà tù

Sơn La, Di tích Văn bia Quế lâm Ngự chế - Đền thờ Vua Lê Thái Tông, Di tích lịch

sử lưu niệm Trung đoàn Tây Tiến...Để thực hiện duy trì chính sách ở địa phương,

cơ quan chủ trì thực hiện chính sách là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đã phối hợp

với chính quyền địa phương tổ chức bảo tồn các tư liệu, hiện vật văn hóa, lịch sử,

dân tộc luôn được quan tâm, Bảo tàng tỉnh đang lưu giữ hơn 20 ngàn tài liệu, hiện

vật, trong đó có các sưu tập hiện vật quý, như: Sưu tập đồ đồng, trống đồng; sách

chữ Thái cổ, Dao cổ; trang phục các dân tộc thiểu số... được trưng bày theo một số

chuyên đề trong không gian của Di tích quốc gia đặc biệt Nhà tù Sơn La, như: Đặc

trưng văn hóa các dân tộc Sơn La; Khảo cổ học Sơn La thời kỳ Tiền - Sơ sử; Bác

Hồ với nhân dân các dân tộc Sơn La; các di sản văn hóa tiêu biểu của các dân tộc

8

được công nhận và đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nhà

trưng bày “Di sản văn hóa vùng lòng hồ Thủy điện Sơn La” với hệ thống kho bảo

quản hơn 6.000 hiện vật được sưu tầm, khai quật trong vùng ngập của Nhà máy

thủy điện Sơn La và hệ thống trưng bày các hiện vật được khai quật từ các di chỉ

khảo cổ học, quá trình xây dựng Nhà máy thủy điện Sơn La; văn hóa các dân tộc

trong vùng ngập của lòng hồ thủy điện Sơn La.

Đề công tác thực hiện chính sách được duy trì liên tục, Sở Văn hóa Thể thao

và Du lịch đã thực hiện việc kiểm tra thực hiện các nội dung của chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể như: tiến hành kiểm kê di sản văn hóa của

các dân tộc trên địa bàn để nhận diện đầy đủ đặc trưng văn hóa của các dân tộc, các

ngành và các nhóm địa phương với 9 dân tộc, gồm: Thái, Mông, Dao, Mường, Xinh

Mun, Khơ Mú, La Ha, Lào, Kháng và nghiên cứu lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa

phi vật thể tiêu biểu, đề nghị đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Kết quả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận và đưa vào danh mục di

sản văn hóa phi vật thể quốc gia 12 di sản văn hóa tiêu biểu, đó là: Chữ viết cổ dân

tộc Thái, Lễ Hết Chá dân tộc Thái (nhóm Thái trắng Mộc Châu); nghệ thuật xòe

Thái; lễ cúng dòng họ dân tộc Mông; lễ Pang A (cầu an) của dân tộc La Ha; nghi lễ

cấp sắc của dân tộc Dao; nghệ thuật khèn của người Mông huyện Mộc Châu; nghi

lễ truyền thống trong đám cưới của người Dao tiền; lễ gội đầu của người Thái trắng

huyện Quỳnh Nhai; nghệ thuật tạo hoa văn trên trang phục của người Mông hoa

huyện Mộc Châu; nghi lễ Mạng Ma (cầu sức khỏe) của người Xinh Mun, xã Chiềng

On, huyện Yên Châu; nghi lễ Kin Pang Then của người Thái trắng. Duy trì tốt hoạt

động nghiên cứu, sưu tầm, chế tác, thể hiện, truyền dạy và tư liệu hóa văn hóa

truyền thống của các dân tộc, như: Nhạc cụ của người Mông, Thái, Dao, Khơ Mú;

các làn điệu dân ca của người Dao, Thái, Mường, Mông; nghề làm giấy và nghệ

thuật vẽ tranh thờ trên giấy dó của người Dao; nghi lễ cúng vía trâu của người Thái;

lễ cúng bản của người La Ha; lễ mừng cơm mới của người Lào; nghề thêu và in hoa

văn bằng sáp ong trên vải của dân tộc Mông...

Bên cạnh đó, từ năm 1992 đến nay toàn tỉnh thường xuyên duy trì trên 3.000

đội văn nghệ quần chúng tại các bản, tổ, tiểu khu. Ngoài kinh phí hỗ trợ 2 triệu

9

đồng/bản/năm theo chính sách của tỉnh, các đội văn nghệ đã kêu gọi xã hội hóa, huy

động nhân dân đóng góp để duy trì hoạt động, tham gia biểu diễn giao lưu, liên

hoan, hội thi, hội diễn. Nhờ đó, phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng của tỉnh

phát triển mạnh, là môi trường tốt để bảo tồn những điệu múa, dân ca, nhạc cụ

truyền thống, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho

nhân dân và tổ chức phục vụ khách du lịch. [http://www.vhttdlsonla.gov.vn ]

Trương Bi, Bùi Minh Vũ (2009), trong công trình Bảo tồn, phát huy di sản

văn hóa các dân tộc Êđê, Mnông, trên cơ sở đặc trưng văn hóa của người Êđê,

Mnông trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, các tác giả đã cho thấy việc cần thiết phải bảo

tồn, phát huy di sản văn hóa của dân tộc Êđê, Mnông đặc biệt là di sản VHPVT

không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – đã được UNESCO công nhận là Di

sản VHPVT đại diện của nhân loại [6].

Năm 2016, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên phối hợp với Cơ quan đại

diện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Đà Nẵng đã tổ chức Hội thảo “Bảo tồn và

phát huy giá trị văn hóa truyền thống các DTTS tại chỗ vùng Tây Nguyên”. Hội

thảo đã nhận được nhiều bài tham luận liên quan đến thực trạng văn hóa của các

DTTS và vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của Tây Nguyên. Các tác giả

như Trương Quốc Bình, H’Lim, Bùi Minh Đạo,… đã quan tâm đến các chính sách

bảo tồn văn hóa và đưa ra một số vấn đề tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện chính

sách này đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa

của các dân tộc ở Tây Nguyên nói chung [54].

Nghiên cứu của tác giả Mã Thị Hạnh (2016), Giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá

của dân tộc Mnông ở huyện Lăk hiện nay đã tập trung nhấn mạnh về công tác giữ gìn

và phát huy các giá trị văn hóa của tộc người Mnông ở huyện Lăk, tỉnh Đăk Lăk [23].

Ngay trong đầu năm 2021, Trong khuôn khổ chương trình Hội thảo Triển khai

thực hiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn phát huy giá trị văn hóa

truyền thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi trên địa bàn các

tỉnh Tây Nguyên và duyên hải miền Trung do Hội đồng Dân tộc, Ủy ban Văn hóa,

Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội phối hợp với Ủy ban

Dân tộc và Tỉnh ủy Đắk Lắk tổ chức ngày 13/01 tại Đắk Lắk; ngoài thảo luận, bàn

10

giải pháp triển khai thưc hiện Chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội

vùng DTTS và miền núi, các đại biểu đặc biệt quan tâm đến nội dung bảo tồn phát

huy giá trị văn hóa truyền thống vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ngay

trong bài phát biểu khai mạc Hội thảo, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị

Phóng nhấn mạnh: Tây Nguyên là trung tâm giao thoa nhiều nguồn văn hóa, đồng bào

các dân tộc bao đời nay đã sưu tầm và giữ gìn các giá rị văn hóa đặc sắc như: sử thi,

thơ ca, múa, cồng chiêng…. Đó là tinh hoa văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo riêng

có của Tây Nguyên. Mỗi chúng ta phải có trách nhiệm cùng đồng bào Tây Nguyên giữ

gìn những giá trị văn hóa rất riêng đó,… Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội đề nghị,

Hội thảo cần bàn kỹ về bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa Tây Nguyên để có những

chương trình cụ thể nhằm tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa độc đáo của

đồng bào các dân tộc Tây Nguyên; bảo tồn không gian văn hóa Tây Nguyên gắn với

phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh chính trị.[ https://baodantoc.vn, ngày 13/01/2021]

Tác giả Lê Thọ Quốc và Nguyễn Chí Ngàn trong nghiên cứu ”Vấn đề bảo tồn,

phát huy giá trị văn hóa tinh thần trong các cộng đồng tái định cư ở vùng kinh tế

trọng điểm Trung bộ hiện nay” đã phân tích:

Miền Trung Việt Nam đang có những bước chuyển mình về kinh tế với việc

thu hút đầu tư trong và ngoài nước trên nhiều lĩnh vực ngày một tăng. Vùng kinh tế

trọng điểm Trung Bộ với những trung tâm phát triển như Đà Nẵng, Thừa Thiên

Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định đã tạo nên một nền móng khá vững

trong chiến lược phát triển kinh tế vùng và bước đầu có những tác động, hiệu quả

thiết thực trong đời sống cư dân. Tuy nhiên, những chuyển biến này đã gây nhiều

xáo trộn đối với các cộng đồng cư dân sinh sống ở đây và việc tái định cư đã, đang

đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu. Trong đó, vấn đề thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy các giá trị văn hóa tinh thần trong các cộng đồng tái định cư ở các vùng

kinh tế trọng điểm miền Trung được đặc biệt chú ý bên cạnh việc đảm bảo kinh tế,

ổn định đời sống của cư dân trên vùng đất mới. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã

hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Cho nên,

việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa luôn có sứ mệnh quan trọng

trong việc xây dựng và phát triển đời sống các cộng đồng cư dân tái định cư. Mặt

11

khác, phát triển và quản lý xã hội luôn lấy các thành tố kinh tế, văn hóa và chỉ số

phát triển con người (HDI) làm thước đo chuẩn mực trong chiến lược phát triển bền

vững. Từ mối quan hệ này, các giá trị văn hóa tinh thần lẫn vật chất nếu được bảo

tồn và phát huy tốt sẽ tạo nên diện mạo mới trong đời sống cho mỗi cộng đồng. Hơn

nữa, nếu vận dụng một cách hiệu quả sẽ phát huy được tác dụng của nó trong việc

phục hồi các di sản văn hóa không riêng ở những bộ phận tái định cư mà còn làm

giàu thêm văn hóa dân tộc trước những tác động của xu hướng toàn cầu hiện nay.

[38, tr.41- 42]

phát triển tài sản trí tuệ vùng Tây Nguyên trong bối cảnh hội nhập mới” được

Tác giả Vũ Tuấn Hưng trong Đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Bảo tồn và

phân tích, đánh giá dưới góc độ nhìn nhận vai trò của các tài sản trí tuệ là một trong

những yếu tố quan trọng thúc đẩy cho sự phát triển bền vững của cộng đồng dân cư

các đồng bào dân tộc thiểu số của Tây Nguyên cũng như trong mối quan hệ biện

chứng giữa bảo tồn và phát triển, phát triển nhằm bảo tồn, và bảo tồn để phát triển.

Nghiên cứu đã chỉ ra: Tây Nguyên là một vùng có nhiều tiềm năng về tài sản trí tuệ,

trong đó, đặc biệt là các tài sản trí tuệ gắn với văn hóa bản địa, tri thức truyền thống

và vô vàn sản phẩm đặc trưng Tây Nguyên. Nhóm tác giả cũng đã đánh giá những

thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của của nó trong việc thực hiện chính sách bảo

tồn và phát triển tài sản trí tuệ vùng Tây Nguyên. Trên cơ sở đó, các tác giả đề xuất

quan điểm, định hướng, giải pháp chính sách cho bảo tồn và phát triển tài sản trí tuệ

vùng Tây Nguyên trong bối cảnh hội nhập quốc tế mới [27].

Tác giả Nguyễn Duy Thụy (Chủ nhiệm) (2018) trong Đề tài cấp Bộ với tiêu

đề: “An sinh xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk hiện

nay”, đã chỉ rõ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Đắk Lắc, Nhà nước

cần quan tâm thực hiện các chính sách an sinh xã hội; trong đó có việc nâng cao

đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số. Để thực hiện được các

mục tiêu này thì công tác tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị

văn hóa phi vật thể cần được sự quan tâm của các cấp các ngành và các tổ chức

chính trị xã hội ở địa phương; góp phần bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ở vùng

đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân

12

tộc thiểu số; góp phần vào công tác thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở

những vùng khó khăn ở nước ta trong giai đoạn hiện nay [44].

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích

Trên cơ sở hệ thống hoá cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện

chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Krông

Pắc, tỉnh Đắk Lắk, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách

bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Krông Pắc, tỉnh

Đắk Lắk trong những năm tới.

3.2. Nhiệm vụ

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách bảo tồn và phát huy giá

trị văn hóa phi vật thể.

- Phân tích đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị

văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk trong

thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể trên địa bàn huyện Krông Pắc.

- Phạm vi không gian: Huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Phạm vi thời gian: Từ 2018 đến 2020.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cách tiếp cận

Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và dựa trên quan điểm của

Đảng, Nhà nước về vấn đề chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi

13

vật thể nói chung, thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi

vật thể trên địa bàn huyện Krông Pắc nói riêng.

5.2. Câu hỏi nghiên cứu

- Những vấn đề lý luận về chính sách đối với Di sản văn hóa phi vật thể là gì?

- Thực trạng ban hành và thực hiện chính sách đối với Di sản văn hóa phi vật

thể tại huyện Krông Pắc hiện nay được thực hiện như thế nào? Có được kết quả như

thế nào so với mục tiêu chính sách đề ra chưa?

- Giải pháp như thế nào nhằm đổi mới, hoàn thiện thực hiện chính sách về Di

sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Krông Pắc.

5.3. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nhiều phương

pháp khác.

- Phương pháp định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu 20người gồm: các cụ cao

niên, các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa Huyện Krông Pắc, hội viên Hội Bảo tồn

dân ca huyện Krông Pắc, hội viên Hội Di sản văn hóa huyện Krông Pắc, cán bộ làm

công tác văn hóa từ cơ sở đến huyện, cán bộ bảo tàng tỉnh, chuyên viên văn xã văn

phòng UBND huyện.

- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê.

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội:

Bao gồm chính sách công, kinh tế học, xã hội học, chính trị học, nhân học, văn

hóa học… để phân tích, tổng hợp, làm nổi bật được vấn đề nghiên cứu.

- Phương pháp tổng hợp, thu thập số liệu:

+ Các văn bản: Nghị quyết, chỉ thị của Đảng; chính sách của Nhà nước về Di

sản văn hóa phi vật thể.

+ Số liệu thứ cấp: Các số liệu về tên, địa chỉ các di sản văn hóa phi vật thể tại

huyện Krông Pắc.

+ Số liệu sơ cấp: Tác giả luận văn tự thu thập thông tin qua điều tra thực tế tại

các địa chỉ có di sản, tư liệu tại Phòng Văn hóa và Thông tin huyện, Hội Bảo tồn

dân ca huyện Krông Pắc và Hội Di sản văn hóa Krông Pắc,

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

14

Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách bảo tồn và phát huy giá

trị văn hóa phi vật thể; vận dụng lý thuyết về chính sách công để đánh giá việc thực

hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở cấp quận/huyện.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

- Đánh giá mặt đạt được và chưa được thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể tại huyện Krông Pắc hiện nay.

- Từ thực tiễn đề xuất, khuyến nghị bổ sung, hoàn thiện thực hiện chính sách

bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể tại huyện Krông Pắc để di sản phi vật

thể được phát huy giá trị, tiềm năng vốn có của nó, đưa di sản văn hóa phi vật thể là

nét truyền thống văn hóa đặc sắc của vùng miền, địa phương đặc biệt là đối với

huyện Krông Pắc. Đây có thể là tư liệu cho các nhà quản lý văn hóa ở địa phương

tham khảo.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn có 3 chương:

Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn

hóa phi vật thể.

Chương 2. Thực trạng việcthực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn

hóa phi vật thể trên địa bànhuyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

Chương 3. Giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá

trị văn hóa phi vật thể trên địa bànhuyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.

15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT

HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ

1.1. Một số khái niệm liên quan

1.1.1. Khái niệm Chính sách công

Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chính sách

công” được sử dụng rất phổ biến. Có thể nêu ra một số quan niệm sau:

Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà

chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các

giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978). [University Press, 1995, p.5]

Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà

nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công

nhằm đạt được các mục tiêu phát triển [41, tr.10].

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để

thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất

định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của

chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn

hóa...” [47, tr.475]

Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính

quyền để đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách thức và mục

tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và

thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and

Furlong, 2004). [56, tr.1-9]

Tác giả Nguyễn Hữu Hải định nghĩa chính sách công có thể được nhìn nhận

như sau:

Trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do

chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói

chung của mỗi nước.

Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt động cũng

như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công

cộng cho nền kinh tế.

16

Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để:

Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế,

khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư; Quản lý nguồn lực công

một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi

trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn. Nói cách khác chính sách công là một

trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xác định mục tiêu,

căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công

như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước. [17, tr.14]

Tác giả Hồ Việt Hạnh đưa ra khái niệm về chính sách công như sau: “Chính

sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải

quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng” [22, tr.3-6.]. Đây là khái niệm

chung nhất liên quan đến chính sách công và tác giả luận văn đồng tình sử dụng

khái niệm này.

Tác giả Nguyễn Khắc Bình đưa ra khái niệm về chính sách công như sau:

“Chính sách công là hoạt động mà chính phủ chọn thực hiện hoặc không thực hiện

để điều hòa các xung đột trong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định

hướng nhất định”.[5]

1.1.2. Khái niệm thực hiện chính sách công

Tác giả Nguyễn Khắc Bình đã định nghĩa về thực hiện chính sách công như sau:

Thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong

chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lí nhằm đạt được mục tiêu định

hướng của Nhà nước.

Trong nghiên cứu này, người viết theo quan điểm của tác giả Nguyễn Khắc

Bình để phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy

giá trị văn hóa phi vật thể tại huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

1.1.3. Khái niệm Chính sách văn hóa

Chính sách văn hóa là tổng thể các nguyên tắc hoạt động, các cách thực hành,

các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách của Nhà nước dùng

làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật (UNESCO).

17

Chính sách văn hóa có các công cụ khác nhau, gồm: Luật pháp và các phương

pháp hành chính; ngân sách và hệ thống thuế, trong đó các bộ luật, luật, văn bản

pháp quy; cách thức đầu tư từ ngân sách, hệ thống thuế là công cụ quan trọng nhất

để điều hành sự phát triển văn hóa.

Các chính sách văn hóa đều là các thực hành nhà nước dựa trên các nguồn lực

về tài chính, vật lực và nhân lực, trong những điều kiện có thể có của thời điểm. Các

tổ chức văn hóa dựa vào các nguồn lực này mà triển khai các hoạt động thực thi

chính sách.

Trong những hoàn cảnh của Việt Nam, khái niệm chính sách văn hóa đã được

xác định dựa trên các quan niệm về văn hóa, về vai trò của văn hóa trong phát triển

đất nước, xây dựng con người mới của chế độ mới. Trong bối cảnh nước ta, văn hóa

được coi là một lĩnh vực của công tác tư tưởng, văn hóa là một mặt trận, bên cạnh

các chức năng đặc thù khác về mặt thẩm mỹ, giải trí, tái tạo sáng tạo.

Từ đặc điểm này, có thể định nghĩa về chính sách văn hóa: “Chính sách văn

hóa là một hệ thống các nguyên tắc, các thực hành của nhà nước trong lĩnh vực văn

hóa nhằm phát triển và quản lý thực tiễn của đời sống văn hóa theo những quan

điểm phát triển và cách thức quản lý riêng, đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống

văn hóa tinh thần của nhân dân trên cơ sở vận dụng các điều kiện vật chất và tinh

thần sẵn có của xã hội”.

1.1.4. Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể

1.1.4.1. Khái niệm văn hóa

Văn hóa là một từ có nhiều cách hiểu, từ xưa đến nay, không chỉ ở nghĩa từ

nguyên mà cho đến khi được các học giả định nghĩa. Tác giả Phan Ngọc nhận định,

hiện nay có không dưới 400 định nghĩa về văn hóa [Phan Ngọc (2019), Bản sắc văn

hóa Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, tr. 24]. Điều này chứng minh vai trò to lớn

của văn hóa cũng như sự quan tâm của nhiều tổ chức, nhiều người về vấn đề gọi tên

là văn hóa. Mỗi định nghĩa thể hiện quan điểm riêng của học giả về văn hóa.

Theo tác giả Taylor định nghĩa: “Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về

tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật

18

pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với

tư cách một thành viên của xã hội”[16, tr. 13].

Trong “Thập kỷ thế giới vì sự phát triển văn hóa”, ông Phederico Mayor

Laragoza nguyên Tổng giám đốc UNESCO đưa ra khái niệm: “Văn hóa là tổng thể

sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ

hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống

và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.

Định nghĩa này rất phù hợp với quan điểm của Hồ Chí Minh nêu ra cách đó

trên 40 năm: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo

và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn

học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các

phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn hóa.

Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó

mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của

sự sinh tồn”. [ Nhật ký trong tù - HCM]

Trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm cho rằng:

Văn hoá là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích luỹ trong

lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Các giá trị này được cộng

đồng chấp nhận, vận hành trong đời sống xã hội và truyền lại cho thế hệ sau. Văn

hoá thể hiện trình độ phát triển và những đặc tính riêng của mỗi dân tộc. Từ đó Trần

Ngọc Thêm đưa ra định nghĩa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị

vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động

thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội” [ 7 ].

Từ những quan niệm về văn hóa, chúng ta thấy văn hóa có mặt trong toàn bộ

đời sống của xã hội loài người. Mọi sự sáng tạo có giá trị của con người đều là văn

hóa. Tuy nhiên cũng cần phải khu biệt khái niệm để công việc nghiên cứu văn hóa

tránh sự trùng lặp với nhiều ngành khoa học khác. Văn hóa, theo cách hiểu thông

thường nhất, chính là bộ mặt tinh thần và vật chất của xã hội. Văn hóa làm nên diện

mạo của dân tộc này so với dân tộc khác. Văn hóa phản ánh mọi mặt đời sống của

một dân tộc.

19

Có thể nói, những quan niệm về văn hoá vừa rất linh hoạt vừa có nhiều nghĩa,

nên khó có thể có được một định nghĩa cụ thể mà bao hàm đầy đủ ý nghĩa của nó.

Hơn thế nữa, văn hoá là kết quả của quá trình lao động và hoạt động xã hội của con

người, nên đề cập đến vấn đề này, các nhà lãnh đạo Đảng và nhà nước ta đã khẳng

định: “văn hoá sản sinh ra trong quá trình con người tác động vào tự nhiên và tiến

hành đấu tranh xã hội”.

Từ những khái niệm đó, theo chúng tôi, văn hoá dùng để chỉ sự phản ánh tổng

thể những năng lực bản chất của con người trong tất cả các dạng hoạt động, là tổng

thể các hệ thống giá trị (cả giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần) do con người sáng

tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử xã hội của mình.

1.1.4.2. Văn hoá phi vật thể

Văn hóa như một hệ thống thường được chia làm hai dạng: văn hóa vật chất

và văn hóa tinh thần. Hoặc văn hóa vật thể và VHPVT. VHPVT bao gồm toàn bộ

những sản phẩm do hoạt động sáng tạo tinh thần của con người. Bao gồm các biểu

hiện tượng trưng và “không sờ thấy được” của văn hoá được lưu truyền và biến đổi

qua thời gian, với một quá trình tái tạo, “trùng tu” của cộng đồng. Những di sản văn

hoá tạm gọi là vô hình này theo UNESCO bao gồm tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo,

nghệ thuật, lễ hội, phong tục, tập quán, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương,...

Tác giả Nguyễn Trọng Hoàng cho rằng, VHPVT là những sáng tạo của con

người nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt xã hội của con người như tôn giáo, triết học,

nghệ thuật, âm nhạc, luật pháp, đạo đức, phong cách, lối sống, phong tục tập quán

[Nguyễn Trọng Hoàng (2011), Bài giảng cơ sở văn hóa Việt Nam, Trường Đại học

Đà Lạt, https://baigiang.violet.vn/present/co-so-van-hoa-viet-nam-5879767.html,

Truy cập ngày 05/04/2021],…

Tác giả Ngô Đức Thịnh định nghĩa VHPVT “là một dạng tồn tại (hay thể hiện)

của văn hóa không phải dưới dạng vật thể có hình khối tồn tại tong không gian và

thời gian, mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ, tập tính, hành vi, ứng xử của con người và

thông quan các hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội trong

hoạt động tư tưởng và văn hóa-nghệ thuật mà thể hiện ra khiến người ta nhận biết

được sự tồn tại của nó”[45, tr. 91].

20

Cũng theo tác giả Ngô Đức Thịnh, các dạng thức chính của VHPVT bao gồm

Ngữ văn truyền miệng (thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ca dao, thành ngữ, tục

ngữ, hò, vè, ngụ ngôn...); Diễn xướng dân gian: ca múa, nhạc, sân khấu (nghệ thuật

diễn xướng), các hoạt động lễ hội, nghi lễ, trò diễn, phong tục (trình diễn); Những

hành vi ứng xử của con người, đó là ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân trong

cộng đồng, ứng xử giữa các cộng đồng; Những hành vi và chuẩn mực ứng xử của

con người thường gắn liền với phong tục, tập quán, nghi lễ và chịu chi phối bởi các

hình thức tôn giáo, tín ngưỡng [45, tr. 92].

Đặc trưng của VHPVT không tồn tại dưới dạng vật chất, vật thể cụ thể (không

kể một số hình thức đã được văn bản hóa) mà nó tiềm ẩn trong trí nhớ và tâm thức

của con người và chỉ bộc lộ thông qua hành vi và hoạt động (tức diễn xướng) của

con người. Nó mang dấu ấn cá nhân và vai trò sáng tạo của cá nhân rất rõ rệt.

Trong điều 4 của luật di sản văn hóa có ghi rõ: “Di sản VHPVT là sản phẩm

tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết,

được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu

giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa

học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết

về nghề thủ công truyền thống, tri thức y học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, trang

phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác”.

Tác giả Trần Quốc Vượng (2000) đưa ra khái niệm cho thấy VHPVT là các

biểu hiện tượng trưng của văn hóa, là những yếu tố tinh thần trong văn hóa như: âm

nhạc, múa, ngôn ngữ, huyền thoại, nghi lễ, bí quyết của nghệ nhân trong chế tác

nghề thủ công [55, tr.24]. Và chúng tôi đồng tình với quan điểm này của tác giả.

1.1.4.3. Di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa là tài sản do các thế hệ đi trước để lại, có vai trò vô cùng quan

trọng trong diễn trình văn hóa của một dân tộc nói riêng và hiểu theo nghĩa rộng là của

cả nhân loại nói chung. Phần mở đầu của Luật Di sản văn hóa Việt Nam đã viết: "Di

sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một

bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và

giữ nước của nhân dân ta”.

21

Luật Di sản văn hóa của Việt Nam tại Điều 1 đã nêu rõ: “Di sản văn hóa bao

gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật

chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ

khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Di sản văn hóa tồn tại dưới hai dạng: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi

vật thể theo quan niệm của UNESCO:

Văn hoá vật thể là các giá trị văn hoá tồn tại một cách hữu hình, con người có

thể nhận biết nó một cách cảm tính, trực tiếp thông qua các giác quan.

Văn hoá phi vật thể là các giá trị văn hoá tồn tại một cách vô hình, chủ yếu

được ghi nhận trong ký ức của xã hội.

Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO sử dụng trong Công ước

quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là

các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là

những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các

cộng đồng và các nhóm và trong một số trường hợp là cá nhân công nhận là một

phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di

sản văn hóa phi vật thể được cộng đồng, các nhóm không ngừng tái tạo để thích

nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử

của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích

lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người.

Trong Luật Di sản văn hóa năm 2013 tại điều 4 đã nêu rõ:

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc

cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa

học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các

hình thức khác. [ điều 4, 2013]

1.2. Nội dung Chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi

vật thể

Bảo tồn di sản văn hóa là một vấn đề được quan tâm ở Việt Nam trong những

năm gần đây. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc

đều có những di sản văn hóa tạo nên sự đa dạng và phong phú trong kho di sản

chung của cả nước.

22

Mục tiêu của chính sách

Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng

cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của nhân

dân; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp, tài trợ cho

việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt

động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hoá phi vật

thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn

hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Các giải pháp tổ chức thực hiện

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi

là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) chỉ đạo việc tổ chức lập hồ sơ khoa học di

sản văn hoá phi vật thể ở địa phương để bảo vệ và phát huy giá trị.

Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định thủ tục lập hồ sơ khoa

học về các di sản văn hoá phi vật thể.

- Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục,

Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận di sản văn hoá phi

vật thể tiêu biểu của Việt Nam là Di sản văn hoá thế giới, theo đề nghị của Bộ

trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ phải có

ý kiến thẩm định bằng văn bản của Hội đồng di sản văn hoá quốc gia.

- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để

bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể, ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch, bị mai một hoặc

thất truyền.

- Nhà nước có chính sách và tạo điều kiện để bảo vệ và phát triển tiếng nói,

chữ viết của các dân tộc ở Việt Nam. Mọi tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giữ gìn

sự trong sáng của tiếng Việt.

- Nhà nước và xã hội bảo vệ, phát huy những thuần phong mỹ tục trong lối sống,

nếp sống của dân tộc; bài trừ những hủ tục có hại đến đời sống văn hoá của nhân dân.

- Nhà nước có chính sách khuyến khích việc sưu tầm, biên soạn, dịch thuật,

thống kê, phân loại và lưu giữ các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn

23

truyền miệng, diễn xướng dân gian của cộng đồng các dân tộc Việt Nam để lưu

truyền trong nước và giao lưu văn hoá với nước ngoài.

- Nhà nước có chính sách khuyến khích việc duy trì, phục hồi và phát triển các

nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu; nghiên cứu và ứng dụng những tri

thức về y, dược học cổ truyền; duy trì và phát huy giá trị văn hoá ẩm thực, giá trị về

trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác.

- Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị văn hoá của các lễ hội

truyền thống; bài trừ các hủ tục và chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hoá

trong tổ chức và hoạt động lễ hội. Việc tổ chức lễ hội truyền thống phải theo quy

định của pháp luật.

- Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ

và có công phổ biến nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt.

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài được

tiến hành nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hoá phi vật thể ở Việt Nam sau khi có sự

đồng ý bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Các giải pháp cụ thể:

Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hoá bao gồm:

1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách

phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;

2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản

văn hoá;

3. Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;

tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hoá;

4. Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội

ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hoá;

5. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di

sản văn hoá;

6. Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản

văn hoá;

7. Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá;

24

8. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và

xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hoá.

9. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các hội về văn học và nghệ

thuật, khoa học và công nghệ tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di

sản văn hoá.

Nhà nước khuyến khích việc xã hội hoá hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di

sản văn hoá.

10. Nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá bao gồm:

- Ngân sách nhà nước;

- Các khoản thu từ hoạt động sử dụng và phát huy giá trị di sản văn hoá;

- Tài trợ và đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.

1.3. Chủ thể thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể

Trong giai đoạn thực hiện chính sách này, chủ thể quan trọng nhất là cơ quan

nhà nước ban hành chính sách đó là Chính phủ mà Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là

cơ quan thường trực. Bên cạnh đó là các cơ quan nhà nước Trung ương khác có liên

quan đến chính sách, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan chuyên môn của Ủy ban

nhân dân các cấp. Bên cạnh các cơ quan nhà nước trên đây, các tổ chức chính trị, xã

hội, các doanh nghiệp và quần chúng nhân dân là những chủ thể tham gia thực hiện

chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở địa phương.

1.4. Các giai đoạn thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn

hóa phi vật thể

Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể là một công cụ quản

lý xã hội của nhà nước về lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể.

Do đó Nhà nước sử dụng chính sách này để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể ở cả nước. Vì thế, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

sau khi được nhà nước xây dựng và ban hành, việc tổ chức thực hiện chính sách bảo

tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể là công việc trọng tâm của nhà nước ở

giai đoạn tiếp theo của chu trình chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể. Thực hiện chính sách công là đưa chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn

25

hóa phi vật thể vào trong thực tiễn đời sống xã hội với mong muốn đem lại những

kết quả tốt đẹp để phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng.

Do đó, việc tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể có vai trò quyết định thành công hay thất bại trong giai đoạn thực hiện

chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong thực tiễn xã hôi.

1. Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể

Giai đoạn thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài. Do đó, toàn bộ các hoạt động

của giai đoạn này phải được lập kế hoạch, lên chương trình để các cơ quan nhà

nước chủ trì thực hiện chính sách chủ động triển khai thực hiện.

Kế hoạch thực hiện chính sách công được xây dựng trước khi đưa chính sách

vào thực tiễn cuộc sống. Các cơ quan chủ trì thực hiện chính sách từ Trung ương

(Bộ văn hóa, thể thao, du lịch) đến UBND các cấp ở địa phương đều phải xây dựng

kế hoạch, chương trình thực hiện theo nhiệm vụ được giao; có khi các nhiệm vụ đó

được ghi cụ thể trong các giải pháp của chính sách. Kế hoạch thực hiện chính sách

phải nêu được các vấn đề sau đây: Kế hoạch tổ chức, điều hành; Kế hoạch dự kiến

các nguồn lực; Kế hoạch thời gian thực hiện; Dự kiến những nội quy, quy chế về tổ

chức, điều hành hệ thống tham gia thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị

văn hóa phi vật thể.

2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể

Ngay sau khi cơ quan nhà nước chủ trì thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể phê duyệt kế hoạch thực hiện chính sách, thì các cơ

quan nhà nước ở các cấp, tổ chức, cá nhân có tên trong kế hoạch triển khai thực

hiện các nội dung của kế hoạch. Giai đoạn tiếp theo xây dựng kế hoạch thực hiện

chính sách là giai đoạn tuyên truyền phổ biến chính sách bảo tồn và phát huy giá trị

văn hóa phi vật thể. Như chúng ta đều biết, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị

văn hóa phi vật thể đối tượng chịu tác động của chính sách hẹp, nhưng trên phạm vi

toàn xã hội; liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Vì vậy, giai đoạn

26

phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể là

một khâu hết sức quan trọng. Các hoạt động phổ biến, tuyên truyền chính sách có ý

nghĩa to lớn đối với cơ quan nhà nước chủ trì thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể.

3. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn

hóa phi vật thể

a. Phân công, phối hợp các cơ quan, chính quyền điều hành thực hiện chính

sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

Trên cơ sở kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, Bộ văn hóa, Thể thao và Du

lịch chủ trì phối hợp với các cơ quan khác được phân công thực hiện chính sách,

UBND các cấp để phân công, giao các nhiệm vụ cụ thể cũng như việc phối hợp

thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể giữa các cơ

quan nhà nước với nhau.

Do đó, để việc tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn

hóa phi vật thể đạt kết quả cao nhất, cơ quan nhà nước chủ trì ở Trung ương (Bộ

văn hóa, Thể thao và Du lịch và UBND các cấp tham gia thực hiện chính sách bảo

tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể và các cơ quan nhà nước phối hợp ở các

cấp như ngành Tài chính, Đầu tư, Công an, các tổ chức chính trị xã hội ở địa

phương tham gia thực hiện chính sách phải có sự phối hợp, phân công nhiệm vụ cho

từng tổ chức, cá nhân thực hiện các nội dung của chính sách trên cơ sở nhiệm vụ và

quyền hạn của mỗi cơ quan nhà nước đã được quy định trong pháp luật. Sự phân

công phối hợp đó còn diễn ra giữa cơ quan nhà nước ở Trung ương với chính quyền

địa phương các cấp để chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể đến

tận cơ sở và người dân. Trong thực tế, dù chính sách chỉ ở trong một lĩnh vực cụ thể

với một phạm vi hẹp ở một vùng nhưng khi thực hiện chính sách thì cũng phải có

nhiều cơ quan nhà nước tham gia phối hợp điều hành thực hiện chính sách.

b. Phân công, phối hợp các đối tượng thực hiện chính sách

Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể khi thực hiện có thể

tác động đến lợi ích của các bộ phận dân cư theo các hướng khác nhau. Có bộ phận

27

được hưởng lợi nhiều, có bộ phận được hưởng lợi ít, có bộ phận không được hưởng

lợi, thậm chí còn bị tác động tiêu cực.

Việc thành công của một chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể do nhiều yếu tố cấu thành. Do đó, để cho việc thực hiện chính sách công

thực hiện được đúng mục tiêu quản lí thì cần phải phối hợp các yếu tố, bộ phận, đối

tượng tác động và liên quan. Ở Trung ương, Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ

quan chủ trì thực hiện chính sách này phải phối hợp với các bộ như Bộ Kế hoạch và

Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo để xây dựng kế hoạch

thực hiện ở cấp quốc gia. Còn ở địa phương, Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ

quan chuyên môn giúp UBND cấp tỉnh (đơn vị chủ trì ở địa phương) phối hợp với

các sở có liên quan, UBND cấp huyện, cấp xã, các tổ chức chính trị xã hội (như

Hiệp hội bảo tồn di tích lịch sử, Hội văn hóa nghệ thuật…), doanh nghiệp, xây dựng

kế hoạch, phân công phối hợp thực hiện các nội dung của chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị văn hóa phi vật thể.

4. Duy trì chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

Giai đoạn duy trì chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể là

giai đoạn các hoạt động thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể được triển khai theo kế hoạch và có sự phân công giữa các chủ thể tham gia

thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Các hoạt động

đó được triển khai và duy trì sự hoạt động trong suốt quá trình thực hiện chính sách

và diễn ra trong thực tiễn nhằm hướng tới những mục tiêu đã định sẵn trong chính

sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể để có ảnh hưởng tốt đến đời

sống xã hội. Để chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể được duy

trì các hoạt động và tiếp diễn liên tục trong đời sống, cơ quan nhà nước, các tổ chức

chính trị - xã hội, đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể phải có sự nhất trí đồng lòng, phối hợp chặt chẽ với

nhau để cho chính sách được triển khai mọi hoạt động ở mọi lúc, mọi nơi, mọi đối

tượng tác động trong phạm vi của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể.

28

5. Điều chỉnh giải pháp thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn

hóa phi vật thể

Trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể, do các hoạt động kinh tế - xã hội luôn luôn phát triển nên có thể một số nội

dung về giải pháp thực hiện chính chính sách này không còn phù hợp hoặc đối với

địa phương, vùng miền khác nhau cũng có thể có giải pháp đưa ra trước đây không

phù hợp cho tất cả các địa phương. Hơn thế nữa, quá trình xây dựng chính sách bảo

tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể cũng diễn ra trong một khoảng thời gian

nhất định. Từ khi bắt đầu xây dựng chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể đến khi ban hành chính sách và triển khai thực hiện chính sách thì thực

tiễn đã có những thay đổi nhất định. Vì vậy, trong quá trình thực hiện chính sách

bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể, việc điều chỉnh giải pháp thực hiện

chính sách này là một hoạt động tất yếu, khách quan. Như vậy, trong quá trình thực

hiện chính sách, giai đoạn điều chỉnh giải pháp thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể là cần thiết. Các cơ quan nhà nước thực hiện chính

sách, căn cứ vào thực tiễn của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước để điều

chỉnh các giải pháp thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật

thể cho phù hợp với thực tiễn địa phương trong từng giai đoạn .

6. Theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể

Trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể, các hoạt động được triển khai có thể ở một lĩnh vực nhưng cũng có thể trên

nhiều lĩnh vực. Hơn nữa, chính sách được thực hiện không chỉ ở một vùng, địa

phương mà có thể ở tất cả các vùng trên cả nước. Thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị văn hóa phi vật thể được nhiều cơ quan nhà nước, các tổ chức chính

trị và đông đảo người dân tham gia. Bên cạnh đó, các điều kiện kinh tế - xã hội ở

những vùng miền khác nhau cũng có những khác biệt. Trình độ chuyên môn, năng

lực quản lý của đội ngũ cán bộ, công chức cũng khác nhau; năng lực tổ chức điều

hành các hoạt động thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật

thể ở từng cơ quan cũng khác nhau. Vì vậy, tiến độ thực hiện chính sách bảo tồn và

29

phát huy giá trị văn hóa phi vật thể; các hoạt động tổ chức thực hiện chính sách ở

các địa phương, các ngành không giống nhau. Do đó, cơ quan nhà nước chủ trì (Bộ

văn hóa, Thể thao và Du lịch) thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn

hóa phi vật thể phải cùng với các cơ quan nhà nước có liên quan khác, chính quyền

địa phương các cấp thường xuyên theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Thông qua theo dõi, kiểm tra việc tổ chức thực

hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể để kịp thời phát hiện

những bất cập trong quá trình thực hiện chính sách; kịp thời điều chỉnh những bất

cập đó. Đồng thời nếu có những sai lệch trong thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể thì phải ngăn chặn và uốn nắn kịp thời để làm cho

chính sách không bị biến dạng trong thực tiễn. Theo dõi, kiểm tra thực hiện chính

sách còn phát hiện những nhân tố tích cực, sáng tạo trong quá trình thực hiện chính

sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể để động viên, khen thưởng kịp

thời nhằm khích lệ, động viên các lực lượng tham gia thực hiện chính sách. Theo

dõi, kiểm tra thực hiện chính sách cũng góp phần phát hiện những bất hợp lý trong

nội dung chính sách đã ban hành để giúp cho cơ quan chủ trì ban hành chính sách

có những giải pháp điều chỉnh nội dung giải pháp thực hiện chính sách cho phù hợp

với thực tiễn của đời sống xã hội đang diễn ra trong quá trình thực hiện chính sách.

Việc theo dõi và kiểm tra thực hiện chính sách được dựa trên kế hoạch đã được phê

duyệt và được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền đã được quy định trong kế

hoạch thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể do cơ

quan chủ trì thực hiện chính sách hoặc cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Thông qua công tác theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách, cơ quan chủ trì

thực hiện chính sách có thể nắm vững quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở các khía cạnh khác nhau như:

- Những ưu điểm và nhược điểm trong quá trình thực hiện chính sách ở từng

giai đoạn cụ thể.

- Những bất cập trong xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách.

- Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước chủ trì thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể với các cơ quan nhà nước có liên quan cùng

30

thực hiện chính sách; giữa cơ quan nhà nước trung ương với chính quyền địa

phương các cấp; giữa cơ quan nhà nước với tổ chức chính trị và với người dân.

- Sự tập trung của các lực lượng cơ quan, tổ chức, nguồn lực trong việc thực

hiện mục tiêu chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể, nhất là

những mục tiêu ưu tiên của chính sách.

7. Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy

giá trị văn hóa phi vật thể

Trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể, cơ quan nhà nước thực hiện chính sách đánh giá, tổng kết từng giai đoạn

thực hiện chính sách hoặc đánh giá tổng kết từng khu vực, địa phương thực hiện

chính sách. Đây không phải là đánh giá toàn bộ chính sách bảo tồn và phát huy giá

trị văn hóa phi vật thể mà là đánh giá một phần thực hiện chính sách nhằm tổng kết,

rút kinh nghiệm trong việc tiếp tục thực hiện chính sách ở các giai đoạn tiếp theo.

Thông qua đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm cũng giúp cho cơ quan thực hiện

chính sách ở trung ương có thể điều chỉnh các giải pháp thực hiện chính sách. Đối

với chính quyền địa phương, thông qua đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm thực hiện

chính sách có thể điều chỉnh các biện pháp tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Qua đó cũng có thể có kiến nghị với cơ quan

chủ trì thực hiện chính sách hoặc cơ quan có thẩm quyền cấp trên điều chỉnh giải

pháp hay cơ chế chính sách để thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn

hóa phi vật thể ở giai đoạn tiếp theo tốt hơn; khắc phục được những nhược điểm của

giai đoạn thực hiện trước. Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm là quá trình xem xét,

kết luận về sự điều hành các hoạt động thông qua các giải pháp chính sách để thực

hiện các mục tiêu của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể.

Trên cơ sở đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm để đề ra các giải pháp tốt hơn trong

thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở từng địa

phương, trong từng giai đoạn cụ thể; phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội

của từng địa phương.

31

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy

giá trị văn hóa phi vật thể

1.5.1. Yếu tố khách quan

Quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

là một quá trình phức tạp, đầy biến động và chịu tác động của một loạt các yếu tố

làm thúc đẩy hoặc cản trở các kết quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá

trị văn hóa phi vật thể.

Bản chất của vấn đề cần giải quyết

Như chúng ta đã biết, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật

thể được đề ra nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh trong kinh tế - xã hội. Vì vậy

bản chất của các vấn đề cần giải quyết sẽ tác động bằng nhiều cách đến quá trình

thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể đó. Đây là một

chính sách đúng đắn của Nhà nước nhằm bảo tồn di sản của đất nước; đồng thời

phát huy những giá trị của di sản văn hóa phi vật thể để phục vụ cho công cuộc phát

triển kinh tế xã hội của mọi miền tổ quốc. Tuy nhiên, do việc phát triển kinh tế nóng

ở một số địa phương, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

chưa được sự quan tâm của các cơ quan nhà nước. Do đó, tính chất cấp bách của

vấn đề thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể cũng tác

động lớn đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách.

Bối cảnh thực tế:

Các bối cảnh xã hội, kinh tế, công nghệ và chính trị có tác động lớn đến việc

thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể.

- Bối cảnh xã hội: Những thay đổi về điều kiện xã hội có thể tác động đến

cách lí giải vấn đề và vì vậy tác động đến cách thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể. Nói chung, xã hội càng văn minh hiện đại, nhận thức

của con người càng tiến bộ, trình độ dân trí càng cao thì càng thuận lợi cho việc

thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể.

- Bối cảnh kinh tế: Những thay đổi về điều kiện kinh tế cũng có tác động đối

với việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Kinh tế

tăng trưởng cao thì chính phủ sẽ bớt khó khăn hơn trong việc thực hiện các chính

32

sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể, kinh phí để phục vụ việc thực

hiện chính sách sẽ dễ được phê duyệt để đảm bảo kinh phí tối thiểu trong thực hiện

chính sách này. Ngoài ra các địa phương kinh tế phát triển tốt thì ngoài ngân sách

trung ương, các địa phương có thể có cơ chế chính sách đặc thù hỗ trợ thực hiện

chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở địa phương.

Mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá

trị văn hóa phi vật thể

Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể nhìn chung sẽ đem

lại lợi ích cho các nhóm đối tượng khác nhau. Mặc dù chính sách đem đến cho toàn

bộ người dân thì những người ở các tầng lớp khác nhau, ở địa phương khác nhau

cũng không thỏa mãn như nhau bởi họ vẫn muốn đòi hỏi khác biệt. Do đó, chính

sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể cho người lao động dù được

hưởng thụ nhưng trong quá trình thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn do các nguồn

lực ở từng địa phương khác nhau và thái độ của mọi tầng lớp nhân dân cũng có thái

độ khác nhau khi chính sách này được triển khai thực hiện.

Tiềm lực của các nhóm đối tượng chính sách

Khi dân giàu có, tiềm lực kinh tế, khả năng kinh tế của dân mạnh thì biện

pháp Nhà nước và nhân dân cùng làm sẽ hiệu quả hơn và Nhà nước có thể huy động

được sự đóng góp về chất xám, tiền của từ các tổ chức, các nhà khoa học và từ dân

cư trong việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Ở

nước ta, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chính sách bảo

tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể liên quan đến nhóm đối tượng thuộc kinh tế

Nhà nước (ngân sách nhà nước) cấp, tài chính từ nguồn xã hội hóa ủng hộ của người

dân, doanh nghiệp trong việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể. Kinh tế phát triển thì Nhà nước sẽ cấp ngân sách nhiều; người dân giàu có

thì sẽ có nguồn kinh phí xã hội hóa để giữ gìn tốt di sản văn hóa phi vật thể nhằm thực

hiện các mục tiêu của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể.

Đặc tính của đối tượng chính sách

Đặc tính của đối tượng chính sách thường có liên quan đến tính tự giác, tính

kỷ luật, tính sáng tạo, lòng quyết tâm, tính truyền thống của đối tượng. Đặc tính này

33

gắn liền với các hành động của các đối tượng thực hiện chính sách. Do đó, chủ thể

thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể phải biết rõ các

đặc tính này để đề ra các phương pháp tiến hành thực hiện chính sách này cho phù

hợp; nhất là đối tượng là người dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Để giữ gìn di

sản văn hóa phi vật thể không bị thất truyền thì các giải pháp thực hiện chính sách

bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể phải phù hợp với thực tiễn, phong tục

tập quán, đặc tính của đối tượng thực hiện chính sách ở từng vùng miền khác nhau.

Ở nước ta, nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Do đó chính

sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của nhà nước sau khi ban hành

được nhân dân đồng tình và ủng hộ. Nhà nước tuyên truyền, vận động người dân

thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của nhà nước để

phục vụ cho sự phát triển chung của đất nước, của dân tộc.

1.5.2. Yếu tố chủ quan

Bộ máy và cán bộ làm nhiệm vụ thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá

trị văn hóa phi vật thể

Thành công của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể phụ

thuộc rất nhiều vào khả năng và sự hoạt động của cơ quan thường trực thực hiện

chính sách (Bộ văn hóa, thể thao, du lịch) các cơ quan phối hợp như UBND các tỉnh

ở địa phương và năng lực chuyên môn và thực hiện công vụ của đội ngũ cán bộ,

công chức trong các cơ quan này.

Nếu bộ máy hành chính quan liêu, hoạt động kém hiệu lực và hiệu quả, nếu

các cán bộ công chức thiếu năng lực, trách nhiệm và sự trong sạch thì nó sẽ gây khó

dễ cho việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể.

Năng lực thực hiện của cán bộ, công chức là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản

ánh về đạo đức công vụ, về năng lực thiết kế tổ chức, năng lực thực tế, năng lực

phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh

trong tương lai. Năng lực thực tế và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức còn thể

hiện ở thủ tục giải quyết những vấn đề trong quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước

với cá nhân, tổ chức và trong xã hội. Nhìn chung, cán bộ, công chức có năng lực

thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể tốt không những

34

chủ động điều phối được các yếu tố chủ quan tác động theo định hướng mà còn khắc

phục những ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố khách quan để công tác thực hiện chính

sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể mang lại kết quả thực sự.

Nguồn lực thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

Việc thực hiện bất kì một chính sách công nào cũng đòi hỏi phải có một nguồn

lực nhất định nhất định. Nguồn lực để thực hiện một chính sách bảo tồn và phát huy

giá trị văn hóa phi vật thể của nhà nước thường do ngân sách nhà nước cấp, do các tổ

chức xã hội và tư nhân đóng góp, do huy động trong dân hoặc do nước ngoài tài trợ

bao gồm tài chính, máy móc, cơ sở vật chất khác….Trong quá trình Thực hiện chính

sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể, các tổ chức thực hiện cần khai thác

triệt để các nguồn đầu tư, nhất là các nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước.

Vì vậy, việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật

thể phải đi liền với việc đảm bảo đủ kinh phí. Nếu điều kiện vật chất đáp ứng được

yêu cầu sẽ giúp cho tính khả thi của công tác thực hiện chính sách luôn được tăng

cường. Chẳng hạn, nếu thiếu các điều kiện vật chất, kĩ thuật cho công tác tuyên

truyền, phổ biến chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể thì các cơ

quan Nhà nước khó có thể chuyển tải nội dung chính sách đến với đối tượng một

cách thường xuyên. Ngay từ khi xây dựng và thông qua chính sách công cần phải

dự tính trước nguồn kinh phí về mặt số lượng cũng như các nguồn đầu tư. Nguồn

kinh phí cần được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Cơ quan nhà nước có

thẩm quyền giám sát, kiểm tra chặt chẽ và định kỳ xem xét việc sử dụng kinh phí,

đánh giá hiệu quả kinh phí được giao.

Thái độ và hành động của nhân dân

Mọi chính sách cuối cùng cũng tác động đến người dân. Do đó, thái độ của

người dân đối với chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể rất quan

trọng. Có thể nói vai trò của người dân cũng là một yếu tố quyết định đến sự thành

công hay thất bại của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Ở

nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu; khó

vạn lần dân liệu cũng xong”. Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật

thể chỉ có thể thành công khi nó nhận được thái độ và hành động ủng hộ, hưởng ứng

35

của nhân dân. Nếu bản thân chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật

thể không đem lại lợi ích cho đất nước và cho đại đa số nhân dân hoặc nếu nhân dân

chưa hiểu đúng ý đồ và lợi ích của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể thì họ sẽ không ủng hộ và không thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể. Có thể nói, yếu tố có tính chất quyết định là ở chỗ

chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể tác động như thế nào đến

lợi ích của công chúng, sự tương quan giữa những người có lợi và những người bị

thiệt hại do thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể đem

lại. Nhân dân vừa là người trực tiếp tham gia hiện thực hóa mục tiêu chính sách bảo

tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể, vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích

mang lại từ chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Nếu chính

sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể đáp ứng đúng những đòi hỏi bức

xúc của nhân dân thì nó sẽ được duy trì và phát triển.

Tiểu kết chương 1

Chương 1 đã phân tích về lý luận chung về chính sách bảo tồn và phát huy giá

trị di sản văn hóa phi vật thể. Từ việc làm rõ một số khái niệm công cụ liên quan

đến nội dung của luận văn (chính sách văn hóa, khái niệm văn hóa, di sản văn hóa,

văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể), chương 1 đã làm rõ những nội dung cơ bản

lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể cũng

như Nôi dung chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể; Quy trình

thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể và các yếu tố

ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể.

Đây là những cơ sở lý luận để tác giả thực hiện đánh giá thực trạng thực hiện

chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể tại huyện Krông Pắc, tỉnh

Đắk Lắk ở chương 2.

36

Chương 2

THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CÔNG TÁC BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN KRÔNG PẮC

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế- xã hội, lịch sử văn

hóa, huyện Krông Pắc

2.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên

Huyện Krông Pắc nằm ở phía Đông tỉnh Đắk Lắk, dọc hai bên Quốc lộ 26,

cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 30 km, gồm có 16 đơn vị hành chính cấp

xã bao gồm có 05 xã, trị trấn thuộc khu vực I; 08 xã thuộc khu vực II; 03 xã thuộc

khu vực III, trong đó có 35 thôn, buôn đặc biệt khó khăn. Toàn huyện có 284 thôn,

buôn, tổ dân phố, trong đó có 49 buôn đồng bào dân tộc Ê đê, 07 buôn đồng bào

dân tộc Xơ Đăng, 06 buôn đồng bào dân tộc Vân Kiều [50].

Diện tích tự nhiên toàn huyện có 62.581 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp

43.699 ha, đất lâm nghiệp là 4.208 ha và diện tích đất chưa sử dụng 6.973 ha. Nhìn

chung, điều kiện địa hình khá bằng phẳng, đất đai màu mỡ; khí hậu nhiệt đới cao

nguyên rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp [51]. Vị trí địa lí hành chính của

huyện nằm tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp các huyện Cư M'gar, thị xã Buôn Hồ;

phía Nam giáp các huyện Kông Bông, Cư Kuin; phía Đông giáp huyện Ea Kar; phía

Tây giáp thành phố Buôn Ma Thuột.

Huyện Krông Pắc có mạng lưới giao thông thuận lợi để phát triển giao lưu

kinh tế - xã hội, thương mại, dịch vụ, du lịch... Nằm trên trục Quốc lộ 26, cách

thành phố Nha Trang - tỉnh Khánh Hoà khoảng 160 km, cách sân bay Buôn Ma

Thuột khoảng 30 km, đây chính là điều kiện để tăng cường các quan hệ hợp tác đầu

tư phát triển kinh tế, xã hội.

- Địa hình

Địa hình huyện Krông Pắc tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình 500m

so với mực nước biển, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam; nhìn chung địa hình

đặc trưng bởi 3 dạng sau đây:

37

Vùng cao nguyên, dãy đồi lượn sóng: Nằm ở phía Bắc huyện, thuộc phía

Đông Cao Nguyên Buôn Ma Thuột và Buôn Hồ, phân bố từ Tây sang Đông. Đây là

vùng chiếm diện tích lớn nhất huyện (khoảng 40.000ha), độ cao trung bình 500m -

550m. Đây là địa hình chiếm phần lớn diện tích trên địa bàn toàn huyện, hiện đang

là khu vực sản xuất chính và rất thuận lợi cho việc bố trí dân cư, xây dựng cơ sở hạ

tầng, phát triển kinh tế - xã hội.

Vùng núi thấp, sườn dốc: Nằm ở phía Nam và Tây Nam huyện; vùng này có

nhiều dãy núi rải rác như: Cư Drang (664m), Cư Kplang (648m) giáp huyện Krông

Bông và dãy cao nhất là Cư Ouie (788m) giáp huyện Cư Kuin; độ dốc vùng này

trung bình từ 20,5% trở lên.

Vùng trũng - thấp: Có diện tích khoảng 12.000 ha, nằm ở phía Nam và Đông -

Nam huyện, ven hạ lưu sông Krông Buk và sông Krông Păc; vùng này có độ cao trung

bình 400m - 500m, tương đối bằng phẳng, xen lẫn núi sót (Cư Mui cao 502m, Cư

Plung cao 581m), có nhiều sình lầy, một số khu vực ngập nước vào mùa mưa.

- Chế độ thủy văn (khí hậu, chế độ mưa và sông suối)

Khu vực huyện mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới cao nguyên; nhiệt độ điều

hòa quanh năm, không có mùa đông; khí hậu trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt. Mùa

mưa: Từ tháng 5 đến tháng 12 chiếm 81,60% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô: Từ

tháng 1 đến tháng 4, thời kỳ mưa ít (8,4% lượng mưa cả năm). Sự chênh lệch nhiệt độ

tháng nóng nhất và lạnh nhất trong vùng không lớn chỉ khoảng 5 - 6oC. Tuy nhiên,

biên độ nhiệt ngày đêm là khá đáng kể, có khi đến 10oC. Đây là điều kiện thuận lợi

cho việc phát triển cây công nghiệp và hoa màu khác cũng như việc phát triển mùa

vụ trong năm. Nhìn chung điều kiện thời tiết khí hậu khá thuận lợi cho đời sống và

hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn huyện.

Hệ thống sông, suối phân bổ tương đối đều khắp và khá dày trên địa bàn

huyện, những hệ thống sông, suối lớn như: Ea Knuếc, Ea Wy, Ea Kuăng, Krông

Buk, Krông Pắc. Đây là điều kiện thuận lợi để xây dựng các hồ chứa nước, đập

dâng phục vụ sản xuất nông nghiệp, khai thác du lịch sinh thái; trên địa bàn huyện

hiện có trên 70 hồ chứa nước, đập dâng lớn, nhỏ, trong đó có những hồ lớn như: Hồ

Krông Buk hạ, Hồ Ea Nhái, Hồ Ea Wy...cung cấp nguồn nước chính dùng cho sản

38

xuất và sinh hoạt của người dân, tuy nhiên vào mùa khô hạn các hồ đập nhỏ vẫn

không đủ nước phục vụ cho sản xuất. Quan sát một số giếng nước của người dân

trong vùng cho thấy độ sâu của các giếng đào khoảng 8 - 15m, mùa khô thường xảy

ra tình trạng khô hạn gây khó khăn cho sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.

Đặc điểm địa hình, chế độ thuỷ văn và với diện tích rừng bị thu hẹp làm cho khả năng

thoát nước nhanh gây thiếu nước trầm trọng ở khu vực cao vào mùa khô, ngập úng ở

những vùng trũng vào mùa mưa.

Nguồn nước ngầm: Theo báo cáo tổng kết Dự án "Quy hoạch cấp nước sạch

và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Đắk Lắk", tại khu vực thị trấn Phước An, mức độ

phong phú theo tỷ lệ lưu lượng là 0,01 - 0,05 l/s.m. Có thể nói huyện Krông Pắc là

vùng có điều kiện thuận lợi cho việc khai thác và sử dụng nguồn nước ngầm phục vụ

sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp. Tuy nhiên, do hiện tượng nước ngầm

tầng trên chảy xuống tầng dưới nên nguy cơ bị ô nhiễm nguồn nước ngầm rất lớn.

- Tài nguyên đất

Huyện Krông Pắc có nguồn tài nguyên đất đai khá đa dạng, gồm 8 nhóm đất

chính với 16 loại đất: nhóm đất đỏ vàng 39.754 ha (trong đó đất nâu đỏ trên đá

Bazan 25.750 ha), chiếm 63,85%; nhóm đất phù sa 9.513,8 ha, chiếm 15,28%;

nhóm đất đen 7.411 ha, chiếm 11,9%; nhóm đất xám 2.912 ha, chiếm 4,68%; nhóm

đất lầy và than bùn 181 ha, chiếm 0,29%; nhóm đất thung lũng, dốc tụ 1.546 ha,

chiếm 2,48%; nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá 18 ha, chiếm 0,03%; sông, suối, hồ 911,2

ha, chiếm 1,46% [51].

Hiện trạng sử dụng đất: Theo niên giám thống kê năm 2010 của tỉnh Đắk Lắk,

tổng diện tích đất tự nhiên 62.581 ha, trong đó: đất nông nghiệp 42.988 ha, chiếm

68,69%; đất lâm nghiệp 4.248 ha, chiếm 6,79%; đất chuyên dùng 8.262 ha, chiếm

13,20%; đất ở 1.561 ha, chiếm 2,49%; đất chưa sử dụng 5.522 ha, chiếm 8,82%.

Tài nguyên khoáng sản: Địa bàn huyện Krông Pắc có nhiều mỏ khoáng sản

như: đá, sét, than bùn, cát được đánh giá có trữ lượng khá; đang được các đơn vị

khai thác phục vụ sản xuất nông nghiệp và xây dựng như: sản xuất phân vi sinh, sản

xuất đá, ngạch ngói phục vụ ngành xây dựng...

39

Nhóm đất đỏ Bazan có tỷ trọng lớn (63,85% diện tích tự nhiên) là điều kiện rất

tốt cho phát triển ngành nông nghiệp, nhất là các cây công nghiệp có giá trị cao.

Gần 18.500ha (29,7%) đất phù sa, đất đen, đất dốc tụ dọc sông, suối sẽ là nơi phát

triển các vùng chuyên canh lúa nước cao sản và các loại rau, màu có giá trị. Đây là

thế mạnh, là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế của huyện.

2.1.2. Khái quát Bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội

Có được vùng đất ổn định như ngày nay, Krông Păc đã trải qua nhiều biến đổi

về địa giới hành chính và tên gọi. Khi thành lập tỉnh Đăk Lăk, thực dân và chính

phủ Nam Triều đã chia Đăk Lăk thành 5 quận để cai trị, trong đó phần đất phía Tây

Krông Păc những năm 30 thuộc quận Buôn Ma Thuột, phần phía đông thuộc quận

M' Đrắk, phần phía bắc đường 26 thuộc quận Buôn Hồ và phía nam đường 26 thuộc

quận Lạc Thiện (huyện Lăk ngày nay). Đến năm 1965, chế độ cũ thành lập quận

Phước An.

Tháng 10 năm 1965, do yêu cầu đòi hỏi của phong trào cách mạng trong tỉnh

lúc bấy giờ, theo Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, sau khi hợp nhất B3

và B5, mật danh H8 (huyện 8, tiền thân của huyện Krông Păc ngày nay) được thành

lập cùng với 9 huyện, thị khác trong toàn tỉnh, lấy tên H1 đến H10. Từ đó cho đến

trước giải phóng năm 1975, có thêm hai lần tách, nhập, điều chỉnh địa giới hành

chính và thay đổi tên gọi H89, đông H6 rồi H11.

Sau giải phóng năm 1975, hợp nhất 3 huyện: H1, H9 và H11 thành huyện

Krông Păc. Huyện được mang tên một con sông lớn nhất huyện "sông Krông Păc"

bắt nguồn từ Chư Tông - M' Đrăk, chảy ngang qua trung tâm huyện rồi nhập vào

sông Krông Bông. Đến tháng 7 năm 1977, toàn bộ khu vực H1 cũ được tách ra

thành lập huyện M'Đrăk. Tháng 10 năm 1981, tách các xã phía nam huyện bao gồm

cả H9 cũ, thành lập huyện Krông Bông; cùng lúc tách 3 xã phía Tây: Êa Bhôk, Hoà

Hiệp, Ea Ktur tiếp giáp đường 21 Bis (nay là Quốc lộ 27) sáp nhập vào huyện

Krông Ana. Tháng 12 năm 1985, tách các xã phía Đông huyện thành lập huyện Ea

Kar. Tháng 4 năm 1995, xã Hoà Đông được tách ra từ thành phố Buôn Ma Thuột,

sáp nhập về huyện Krông Păc theo Nghị định 71 của Chính phủ. Từ đó cho đến nay

huyện Krông Păc được ổn định diện tích tự nhiên 62.581 ha.

40

- Về kinh tế:

Phát triển kinh tế của huyện ổn định, tốc độ tăng trưởng bình quân qua các

năm khoảng 9,42%. Trong đó, lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư nghiệp tăng khoảng

5,81%; công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 15,98%; dịch vụ tăng 14,70%. Thu

nhập bình quân đầu người theo giá thực tế (giá hiện hành) năm 2015 là 28 triệu

đồng, năm 2018 là 37,63 triệu đồng, năm 2020 là 45 triệu đồng người/năm, năm

2019 ước đạt là 45,6 triệu đồng; trong đó vùng DTTS nói riêng là 23 triệu đồng

người/năm (năm 2018), ước đạt 21,4% tổng thu nhập bình quân của huyện.

Sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò trọng yếu trong nền kinh tế của huyện.

nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện thường xuyên được hướng dẫn thực hiện

gieo trồng đúng thời vụ, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thâm

canh cây trồng tạo nên sản lượng có năng xuất.

Sản xuất trồng trọt tăng mạnh về diện tích và sản lượng, với tổng diện tích

gieo trồng hàng năm khoảng 59.574 ha của toàn huyện. Tiếp tục chú trọng phát

triển chăn nuôi quy mô lớn, tập trung, nâng dần tỷ trọng trong sản xuất nông

nghiệp; nhận thức của nhân dân các dân tộc thiểu số về áp dụng các tiến bộ khoa

học kỹ thuật, thức ăn được nâng lên, nên quy mô đàn gia súc, gia cầm tăng nhanh.

Tổng đàn gia súc, gia cầm trong vùng người dân tộc thiểu số có khoảng 220.500

con/tổng số 642.200 con, trong đó: trâu, bò 8.500 con, heo 14.000 con, dê 3000 con,

gia cầm 225.000 con.

Một số mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, nhất là mô hình trồng

lúa lai; mô hình ghép cải tạo cây cà phê; mô hình nuôi cá, kỹ thuật trồng và chăm

sóc cây tiêu… Hầu hết các mô hình này đều tạo điều kiện cho người dân có cơ hội

học hỏi và ứng dụng vào trong sản xuất.

- Công nghiệp, thương mại và dịch vụ:

Phát triển ngành công nghiệp ở huyện chủ yếu tập trung phát triển các ngành

có quy mô vừa và nhỏ, một số lĩnh vực có nhiều lợi thế để phát triển như Chế biến

nông lâm sản, khai khoáng, sản xuất gạch, cơ khí sửa chữa, sản phẩm mỹ nghệ…

Tính đến nay, hầu hết các thôn buôn người dân tộc thiểu số đã có điện dùng

sinh hoạt, điều này cũng tạo điều kiện quan trọng để phát triển sản xuất nông

41

nghiệp, công nghiệp chế biến và các ngành nghề dịch vụ góp phần cải thiện đời

sống vật chất, tinh thần cho người dân.

Các hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn huyện phát triển mạnh với

hàng loạt các điểm kinh doanh bán hàng điện tử, siêu thị… Các hoạt động mua bán

và trao đổi hàng hóa của người dân chủ yếu diễn ra tại các chợ và các hộ kinh

doanh. Dịch vụ ăn uống, nhà hàng, khách sạn trên địa bàn huyện phát triển đa dạng,

dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển là điều kiện thuận lợi để người dân có thể

tiếp cận được với các tiện ích xã hội một cách dễ dàng hơn.

- Về xã hội:

Về tổ chức hành chính, toàn huyện hiện có 16 xã, thị trấn với 284 thôn, buôn,

tổ dân phố.

Về dân số (tính hết năm 2020), huyện có khoảng 219.080 người, với 23 dân

tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có trên 69.433 người, chiếm

33,4%. Thành phần dân cư ở Krông Păc, công nhân, nông dân là thành phần đông

đảo nhất, trước năm 1954 chủ yếu là người dân tộc Ê Đê Kpă, một ít người

M’Nông, sau 1954 giai cấp nông dân tăng lên đột biến do chính sách cưỡng bức di

dân từ các tỉnh đồng bằng khu 5 lên Tây Nguyên, trong đó có địa bàn huyện Krông

Pắc, sau 1975 giai cấp nông dân lại tiếp tục được bổ sung bằng các cuộc vận động

nhân dân đi xây dựng vùng kinh tế mới của Đảng, nhà nước ta và một phần di cư

ngoài kế hoạch. [51]

Các hoạt động văn hoá, thông tin được tổ chức với nhiều hình thức phong phú,

đa dạng. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn

minh” được triển khai sâu rộng thu hút được đông đảo nhân dân tham gia, góp phần

vào việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, văn minh. Văn hoá truyền thống

của các dân tộc được giữ gìn và phát huy; các hoạt động thông tin tuyên truyền, thể

dục, thể thao được triển khai sâu rộng; thể thao truyền thống các dân tộc được duy

trì, phát triển.

Trình độ dân trí của các dân tộc thiểu số tiếp tục được nâng lên. Quy mô và

chất lượng giáo dục được giữ vững và ngày càng tiến bộ; tỷ lệ học sinh lên lớp, tốt

nghiệp hàng năm đều tăng; đội ngũ giáo viên phát triển cả về số lượng và chất

42

lượng; thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập

THCS. Trường Phổ thông Dân tộc nội trú huyện luôn dẫn đầu trong các cuộc thi

học sinh giỏi do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức.

Mạng lưới y tế từ huyện đến các xã, thị trấn phát triển toàn diện; chất lượng

khám, chữa bệnh ngày một nâng lên, cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của công tác

chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân. Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình,

nhất là trong vùng dân tộc thiểu số triển khai thực hiện đồng bộ và có hiệu quả.

2.1.3. Khái quát truyền thống lịch sử - văn hóa

Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Krông Păc vốn là một chiến

trường địch hậu trong kháng chiến chống Pháp, nhiều mặt còn non yếu thực lực

cách mạng hầu như không có gì đáng kể, tuyệt đại bộ phận là vùng trắng trừ một số

ít nơi như khu vực đồn điền Ca Đa và vùng dân tộc Pok Kênh – Ea Nhái, nên khi

bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ - tên đế quốc đầu sỏ mạnh hơn ta gấp nhiều

lần cả về quân số, vũ khí và phương tiện chiến tranh, Krông Păc phải đương đầu với

muôn vàn khó khăn, thách thức.

Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ huyện cùng với sự tác động

mạnh mẽ từ các hướng, nhất là sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương, quân và

dân huyện Krông Pắc vừa phải phấn đấu, chịu đựng vượt qua gian khổ, hy sinh, vừa

phải ra sức phát huy cao độ tinh thần căm thù địch và ý chí đấu tranh cách mạng

kiên cường của dân tộc, bền bĩ bám trụ địa bàn, vừa chiến đấu vừa xây dựng địa

bàn, vừa xây dựng lực lượng và đã liên tục lập được nhiều thành tích xuất sắc qua

các thời kỳ, tiêu biểu nhất là thắng lợi trong cuộc tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân

năm 1968, trong đó đòn đấu tranh chính trị của quần chúng cánh Đông, gồm 6.000

người là cánh đông nhất, quyết liệt nhất và cũng chịu nhiều hy sinh, tổn thất nhất,

đặc biệt là thắng lợi toàn diện trong cuộc phối hợp cùng cả tỉnh và các lực lượng

chủ lực, tiến hành tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải phóng huyện

nhà, góp phần giải phóng toàn tỉnh Đăk Lăk và toàn miền Nam. [30].

Hiện nay, huyện Krông Pắc có 23 dân tộc trong đại gia đình các dân tộc anh

em cùng sinh sống, tạo nên một bản sắc văn hóa rất phong phú, đa dạng với nhiều

43

sinh hoạt văn hóa đặc sắc như: Lễ hội cồng chiêng, lễ hội xuống đồng, lễ hội cúng

bến nước, hát quan họ, đi cà kheo, đẩy gậy, võ vật truyền thống…

- Khái quát truyền thống văn hóa:

Truyền thuyết về Lễ bỏ mã một lễ hội lớn nhất và có ý nghĩa quan trọng trong

đời sống tinh thần của các dân tộc Tây Nguyên như: Bahnar, Ê đê, Jarai. Theo quan

niệm của các dân tộc này thì sau khi người ta chết đi, linh hồn vẫn còn quanh quất

đâu đó, giữa người chết và người sống vẫn còn mối quan hệ ràng buộc, do vậy hàng

ngày người sống vẫn ra thăm mả, quét dọn sạch sẽ và mang cơm nước cho người đã

khuất. Chỉ sau khi làm lễ bỏ mả thì mối quan hệ ràng buộc này mới chấm dứt,

người chết hoàn toàn yên nghỉ và chờ đầu thai, còn người sống thì yên tâm lo cho

cuộc sống riêng mình, được quyền lấy vợ, lấy chồng khác.

Về kho tàng truyện kể, bên cạnh những câu truyện dã sử chung, dân tộc nào

cũng có các thể loại cổ tích, ngụ ngôn..., cùng với các thể loại văn vần phong phú

như tục ngữ, đồng dao, câu đố. Mỗi dân tộc đều có tiếng nói riêng của mình, đặc

biệt người Tày đã sáng tạo ra chữ Nôm với các tác phẩm văn học thành văn đề cập

đến nhiều phương diện tri thức về y tế, địa lý, phong tục tập quán, lịch sử, lịch thời

gian; hiện còn lưu giữ 85 văn bản chữ Nôm Tày tại viện Hán Nôm.

Về phong tục tập quán, tín ngưỡng, mỗi dân tộc đều có nếp sinh hoạt riêng

cùng với các quy định nghi lễ của vòng đời con người từ khi sinh ra cho đến khi

khuất núi. Ví dụ như nghi lễ ma chay, đám cưới của dân tộc…

Về dân ca, huyện Krông Pắc là tỉnh có nhiều làn điệu dân ca truyền thống

mang tính bản sắc từ các vùng miền như: dân ca quan họ Bắc Ninh ở xã Vụ Bổn,

một số nghi lễ truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn cũng đã góp

phần bảo tồn, lưu giữ các làn điệu dân ca, dân vũ khá độc đáo như hát Kưt, Ay ray,

hát Then, hòa tấu nhạc cụ...

Lễ hội của huyện Krông Pắc hiện có 3 lễ hội tiêu biểu được tổ chức hằng

năm, thu hút đông đảo du khách là: Lễ hội võ vật truyền thống xã Vụ Bổn, Lễ hội

mừng lúa mới xã Krông Búk và Lễ hội ném còn của dân tộc Tày Nùng xã Ea Kênh.

44

Với thành phần đa sắc tộc, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng biệt, độc

đáo. Kho tàng văn hóa vật thể và phi vật thể Huyện Krông Pắc rất đa dạng và phong

phú có rất nhiều làn điệu dân ca như: Kưt, Ay ray, hát Then.

2.2. Phân tích việc ban hành và triển khai thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tại Huyện Krông Pắc

2.2.1. Chủ thể thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn

hóa phi vật thể tại Huyện Krông Pắc

Phòng Văn hóa Thông tin huyện có địa chỉ tại 177 khối 6, Thị trấn Phước

An, Huyện Krông Pắk, Đắk Lắk là cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp Ủy ban

nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Văn hóa; gia đình;

thể dục, thể thao; du lịch; quảng cáo; bưu chính; viễn thông; công nghệ thông tin;

phát thanh truyền hình; báo chí; xuất bản; thông tin cơ sở; thông tin đối ngoại; hạ

tầng thông tin.

Trong Phòng Văn hóa và Thông tin có bộ phận chuyên môn là 01 công chức

quản lý nhà nước về văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể

trên địa bàn huyện, hàng năm tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện ban hành kế

hoạch phục dựng các nghi thức lễ hội của đồng bào các dân tộc đặc sắc như: Lễ

cúng bến nước của đồng bào dân tộc Êđê xã Ea Kênh, Mừng lúa mới của xã Krông

Buk, Võ vật tại thôn 8 xã Vụ Bổn, lễ bỏ mã của dân tộc Ê đê xã Ea Hiu,…

Hàng năm chi khoảng 60 triệu đồng tiền ngân sách và xã hội hóa mở 06 đến

08 lớp truyền dạy những di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc như: chiêng ram, chiêng

tre, hát then, đàn tính, hát Ea Ray và dân ca quan họ Bắc Ninh, đến nay huyện đã có

16 đội văn nghệ truyền thống của từng vùng miên ở các xã, thị trấn. Đặc biệt là đội

nghệ nhân hát then đàn tính thôn Thạch Lũ xã Ea Yông được công nhận là nghệ

nhân ưu tú, đạt nhiều giải cấp tỉnh và khu vực.

2.2.2. Các chủ thể văn hóa thụ hưởng chính sách

“Chủ thể văn hóa là cộng đồng, nhóm người hoặc cá nhân sở hữu, thực hành

và sáng tạo di sản văn hóa phi vật thể” được quy định tại Khoản 3 Điều 2 Thông tư

04/2010/TT-BVHTTDL.

45

Di sản văn hóa phi vật thể gồm các loại hình: Ngữ văn dân gian (lời nói vần,

sử thi, truyện cổ, câu đố); Nghệ thuật trình diễn dân ca (dân ca, dân vũ, bài chiêng,

nhạc cụ); Lễ hội truyền thống (hệ thống Lễ hội: Đời người, chu kỳ nông nghiệp và

cộng đồng).

Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk tính đến năm 2020 gồm có các Di sản văn hóa phi

vật thể như sau :

Bảng 2.1. Di sản văn hóa phi vật thể thuộc loại hình ngữ văn dân gian.

STT

Loại hình Ý kiến Tỷ lệ (%)

322 33.3 01 Lời nói vần

253 26.1 02 Câu đố

Không có hình thức nào nói trên 198 20.5 03

104 10.7 04 Sử thi

64 6.6 05 Truyện cổ

27 2.8 06 Hình thức khác

968 100 Tổng cộng

Nguồn: báo cáo khảo Sát di Sản Văn hóa phi vật thể - Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch - 2020

Bảng 2.2. Di sản văn hóa phi vật thể thuộc loại hình nghệ thuật trình

diễn dân gian

Loại hình Ý kiến Tỷ lệ (%) Stt

01 Bài chiêng 411 37.7

02 Dân ca 243 22.3

03 Nhạc cụ 213 19.5

04 Không có 112 10.3

05 Dân vũ 102 9.4

06 Khác 9 0.8

Tổng cộng 1.090 100

46

Nguồn: báo cáo khảo Sát di Sản Văn hóa phi vật thể - Sở Văn hóa, Thể thao và Du

lịch - 2020”.

Bảng 2.3. Di sản văn hóa phi vật thể thuộc loại hình nghi lễ,

lễ hội truyền thống

Tỷ lệ (%) 35.0 21.5 19.7 16.5 7.3 100 Ý kiến 317 195 178 149 66 905

Stt Loại hình 01 Nghi lễ vòng đời người 02 Lễ hội cộng đồng 03 Không có các nghi lễ, lễ hội nói trên 04 Lễ hội về chu kỳ nông nghiệp 05 Nghi lễ, lễ hội khác Tổng cộng Nguồn: Báo cáo khảo Sát di Sản Văn hóa phi vật thể - Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch - 2020”.

Các chủ thể văn hóa trên địa bàn huyện Krông Pắc gồm có các lễ hội truyền

thống như cồng chiêng Tây Nguyên, Lễ cúng bến nước, Cúng cầu mưa... của dân

tộc Ê- đê, Các tiết mục múa lân, võ vật, đi cà kheo, ném còn...của dân tộc Tày,

Nùng; dệt thổ cẩm, gùi nước, tạc tượng, làm cây nêu, chế tác nhạc cụ dân tộc…của

các nghệ nhân ưu tú người dân tộc.

Bảng 2.4. Di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Krông Pắc

Thầy cúng

Nghệ nhân dạy đánh chiêng

Bộ chiêng

Nghệ nhân đánh chiêng

Nghệ nhân chỉnh chiêng

Nghệ nhân chơi nhạc cụ

Nghệ nhân chế tác nhạc cụ

Nghệ nhân tạc tượng

Nghệ nhân kể sử thi

Đội văn nghệ (múa xoang)

Nghệ nhân xử luật tục

Nghệ nhân kể truyệ n cổ

Nghệ nhân biết lời nói vần

119

363

45

27

101

27

11

29

78

56

06

33

16

Nguồn: báo cáo khảo Sát di Sản Văn hóa phi vật thể - phòng văn hóa thông

tin huyện Krông Pắc - 2020”.

47

2.3. Tình hình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn

hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk

2.3.1. Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách là hoạt động đầu tiên của quá trình

thực hiện chính sách. Kế hoạch được xây dựng để các cơ quan nhà nước chủ trì và

phối hợp thực hiện chính sách chủ động triển khai thực hiện. Trên cơ sở các giải

pháp trong chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của Nhà nước

Huyện ủy Krông Pắc đã có nghị quyết về thực hiện chính sách về bảo tồn và phát

huy các giá trị văn hóa đặc sắc truyền thống trong đó có bảo tồn và phát huy giá trị

văn hóa phi vật thể. Từ nghị quyết của Huyện ủy, UBND huyện đã có văn bản chỉ

đạo, triển khai các văn bản chính sách lớn liên quan đến bảo tồn và phát huy các giá

trị văn hóa phi vật thể. Cơ quan giúp chuyên môn giúp việc cho UBND huyện là

Phòng văn hóa và Thông tin huyện đã xây dựng kế hoạch trình UBND huyện phê

duyệt về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trên địa

bàn huyện.

Trong Kế hoạch thực hiện này thể hiện nội dung về: Kế hoạch tổ chức, điều

hành trong đó phân công Phòng văn hóa và Thông tin huyện (VHTT) là cơ quan

thường trực, các phòng tham gia thực hiện như Phòng Tài chính, Phòng Nông

nghiệp, Phòng Kế hoạch đầu tư, Hội văn nghệ dân gian v.v.; Kế hoạch dự kiến về

tài chính, các hỗ trợ về phương tiện thông tin, xây dựng quy chế hoạt động của Ban

chỉ đạo thực hiện chính sách này. Nhìn chung công tác xây dựng để triển khai thực

hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của huyện tương đối

nhanh và kịp thời.

2.3.2. Thực trạng về phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy

giá trị văn hóa phi vật thể

Giai đoạn tiếp theo xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể là giai đoạn tuyên truyền phổ biến chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Tuy nhiên do phương tiện thông tin của

huyện còn hạn chế nên công tác tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy giá trị

48

văn hóa phi vật thể chưa được triển khai kịp thời. Một phần cán bộ tuyên truyền biết

ít tiếng dân tộc nên hạn chế trong việc phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị văn hóa phi vật thể đến tận người dân còn chậm và chưa được các

cấp lãnh đạo quan tâm. Do là một huyện còn khó khăn nên lãnh đạo địa phương chỉ

tập trung vào vấn đề phát triển kinh tế của các xã mà chưa chú ý đến việc thực hiện

chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Đây là một nhược điểm

trong thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở huyện

trong thời gian qua.

2.3.3. Thực trạng công tác phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo

tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

Trên cơ sở kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể đã được UBND huyện Krông Pắc phê duyệt, Phòng văn hóa và Thông

tin huyện đã chủ trì cuộc họp phân công các đơn vị để thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Cụ thể như phòng Tài chính chuẩn bị nguồn

kinh phí thực hiện trong từng giai đoạn, Phòng văn hóa và Thông tin huyện chuẩn

bị kế hoạch, nội dung thực hiện và phối hợp với UBND các xã để triển khai các

hoạt động liên quan đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể theo các kế hoạch cụ thể để thực hiện mục tiêu cho từng giai đoạn; kết nối

với các tổ chức, hiệp hội văn nghệ văn hóa dân gian tại địa phương để tổ chức các

hoạt động trong kế hoạch. Nhìn chung việc phân công phối hợp thực hiện chính

sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của huyện đã làm tốt do UBND

huyện đã có văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ cho từng đơn vị chuyên môn thuộc

UBND huyện Krông Pắc. Trong giai đoạn vừa qua, UBND huyện đã có phân công

cho từng ngành và UBND các xã có di sản văn hóa phi vật thể thực hiện từng nhiệm

vụ rất cụ thể nên nhìn chung không có sự chồng chéo và công tác thực hiện chính

sách này tương đối thuận lợi.

2.3.4. Thực trạng việc duy trì chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể

Trên cơ sở phân công thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể của UBND huyện, các hoạt động triển khai và duy trì theo sự chỉ đạo

49

chung của UBND huyện và sự triển khai cụ thể của từng phòng ban thuộc UBND

huyện và các xã trong huyện. Bên cạnh việc đảm bảo nguồn tài chính thực hiện

chính sách. UBND huyện đã huy động các nhà tài trợ để hỗ trợ các xã khó khăn

trong việc duy trì bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể để không bị mai một, thất

truyền. Những giá trị của các di sản này đã phát huy tác dụng trong việc phát triển

kinh tế - xã hội ở nhiều buôn đồng bào dân tộc thiểu số trong huyện. Nhờ sự chỉ đạo

chặt chẽ và thường xuyên nên các hoạt động phục vụ thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong thời gian qua thường xuyên được duy

trì; không có sự gián đoạn.

2.3.5. Thực trạng về điều chỉnh giải pháp thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

Trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể tại huyện Krông Pắc đã phải điều chỉnh kế hoạch thực hiện. Năm 2018, do

ảnh hưởng của hạn hán, kế hoạch tổ chức một số lễ hội đã phải hoãn lại do bà con

tập trung vào công tác chống hạn cho cây trồng. Bên cạnh đó việc điều chỉnh nguồn

kinh phí thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể cho

từng xã cũng phải điều chỉnh. Một số xã khó khăn, UBND huyện đã có cơ chế

chính sách đặc thù để hỗ trợ các hoạt động lễ hội truyền thống; có nơi được các nhà

tài trợ hỗ trợ thêm các phương tiện thông tin để phục vụ các hoạt động lễ hội. Nhờ

có sự điều chỉnh kịp thời mà các xã có di sản văn hóa phi vật thể được tổ chức thực

hiện đúng các mục tiêu và giải pháp của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn

hóa phi vật thể của Chính phủ.

2.3.6. Theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị

văn hóa phi vật thể

Trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể ở huyện Krông Pắc trong những năm qua mặc dù được UBND huyện quan

tâm thực hiện. Tuy nhiên, do những hoạt động phát triển kinh tế là nhiệm vụ được

ưu tiên nên công tác kiểm tra, theo dõi việc tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị văn hóa phi vật thể chưa thường xuyên được quan tâm. Do đó có

thời kỳ, một số xã việc tổ chức thực hiện không đúng mục tiêu của chính sách làm

50

ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Một vài

lễ hội tổ chức quá dài, không đúng với mục tiêu là giữ gìn và phát huy di sản văn

hóa phi vật thể mà mang tính chất thương mại; không có ảnh hưởng tốt đến phát

triển kinh tế xã hội ở địa phương; không nâng cao được đời sống tinh thần của người

dân; nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Do không thường xuyên kiểm tra nên

một số nơi kinh phí dành cho thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể được sử dụng sai mục đích gây dư luận không tốt trong đồng bào.

2.3.7. Thực trạng việc tổng kết rút kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo

tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

Trong những năm gần đây, việc tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể ở huyện được quan tâm. Tuy nhiên việc đánh giá

tổng kết thực hiện chính sách này trong từng giai đoạn chưa được sự quan tâm đúng

mức. Một số nơi không tổ chức đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm trong việc thực

hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể mà chỉ họp sơ sài để

đối phó với sự kiểm tra của cơ quan chủ trì thực hiện chính sách ở huyện. Có nơi

việc tổng kết thực hiện chính sách không đúng mục đích mà chỉ mang tính liên

hoan; không đi vào thực chất và không đáp ứng được những yêu cầu về đánh giá

thực hiện chính sách. Đây là một bất cập trong công tác thực hiện chính sách bảo

tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở địa phương.

2.4. Đánh giá chung về việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá

trị văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk

2.4.1. Kết quả thực hiện chính sách

-Văn hóa cồng chiêng

Ngày 25-11-2005, sau khi tổ chức UNESCO công nhận “Không gian Văn hóa

Cồng chiêng là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại”, Bộ Văn hóa - Thông

tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã đề ra chương trình bảo tồn Không gian

Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên. Trên tinh thần đó Sở Văn hóa - Thông tin (nay là

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng Đề án “Bảo

tồn, phát huy Di sản Văn hóa Cồng chiêng Đắk Lắk (giai đoạn 2007-2010)”. Đề án này

đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua và cho phép triển khai thực hiện từ trung

51

tuần tháng 7-2007. Đến nay công tác điều tra cồng chiêng của các buôn làng đồng bào

dân tộc thiểu số đã hoàn tất; công tác truyền dạy đánh cồng chiêng cho con em đồng

bào dân tộc tại chỗ khá thuận lợi; việc phục hồi lễ hội truyền thống gắn với văn hóa

cồng chiêng đã được tiến hành đồng bộ, có hiệu quả. Điều đặc biệt là các di sản văn

hóa phi vật thể của người đồng bào dân tộc thiểu số tại chổ đều đi đôi, gắn lền với

không gian văn hóa cồng chiêng như tổ chức các lễ, hội truyền thống đều phải có diễn

tấu chiêng, vì lẽ, Cồng chiêng là di sản quý báu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên

nói chung, đồng bào các dân tộc tỉnh Đắk Lắk nói riêng, trong đó có đồng báo các dân

tộc của huyện Lắk. Cồng chiêng được coi là vật linh thiêng nhất, có giá trị nhất của

mỗi gia đình, là bản sắc của cộng đồng. Từ bao đời nay, cồng chiêng đã gắn bó mật

thiết với đời sống cộng đồng, với các nghi lễ - lễ hội truyền thống, do đó, cồng

chiêng là tài sản vô giá mà đồng bào các dân tộc thiểu số phải gìn giữ, bảo vệ và

phát huy có hiệu quả những giá trị của văn hóa cồng chiêng.

Từ năm 2017 – 2020 UBND huyện Krông Pắc phối hợp với Sở VHTTDL

tỉnh Đắk Lắk cấp 03 bộ chiêng cho các buôn Kplang xã Tân Tiến, buôn Hăng xã Ea

Uy để bảo tồn và phát huy không gian văn hóa cồng chiêng, đồng thời kiểm kê di

sản cồng chiêng trên địa bàn huyện.

Năm 2020 thực hiện Kế hoạch số 597/KH-SVHTTDL ngày 16/03/2020 về

Kế hoạch thực hiện kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể, cho đến hiện nay, kết quả cụ

thể như sau: Tổng số dàn chiêng: 119; Tổng số nghệ nhân diễn tấu chiêng: 363;

Tổng số nghệ nhân biết chỉnh chiêng: 27; Tổng số nghệ nhân truyền dạy chiêng: 45.

Phòng VH&TT đã phối hợp với Sở VHTT&DL tỉnh tổ chức được 06 lớp

đánh chiêng K'nah (chiêng đồng), chiêng K'ram.

Hiện nay trên địa bàn huyện có 3 buôn thường xuyên tổ chức nghi thức Lễ

cúng ăn cơm mới, cúng sức khỏe, lễ kết nghĩa; huyện tổ chức mở 08 lớp truyền dạy

đánh chiêng cho con em là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tại các nhà sinh hoạt

cộng đồng buôn của các xã Tân Tiến, Ea Uy, Ea Yiêng, Ea Knuếc, Ea Yông, trường

Dân Tộc Nội Trú, Công an huyện... Tổ chức kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên

địa bàn toàn huyện. Qua đó đã giúp đồng bào nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng

của công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phát hiện và lưu giữ

52

những di sản văn hóa quý giá. Đồng thời tôn vinh và động viên đồng bào các dân

tộc có ý thức bảo tồn gìn giữ các di sản vật thể và phi vật thể về văn hóa của dân tộc

mình, tự hào phát huy có hiệu quả các giá trị văn hóa dân tộc.

Văn hóa lễ hội, nghi lễ truyền thống

Phòng Văn hoá và thông tin huyện phối hợp với UBND các xã, thị trấn, các

cán bộ, nghệ nhân địa phương trong huyện tổ chức các đợt điều tra, khảo sát và

thống kê được một bản danh mục với 06 nghi lễ - lễ hội truyền thống của dân tộc

Mnông, Êđê, Tày, Nùng, Xơ Đăng… thuộc hệ thống nghi lễ - lễ hội: các lễ hội như

(lễ cúng bến nước; lễ cúng rẩy, mừng lúa mới; lễ cúng sức khỏe, cưới, hỏi vòng đời

người; ...). Đã phục dựng được 02 nghi lễ truyền thống : lễ cúng bến nước Ea Nuếc,

cúng lúa mới Krông Buk.

Nhìn chung các lễ hội truyền thống đều liên quan đến không gian văn hóa

cồng chiêng, như: Lễ cúng bến nước, lễ kết nghĩa anh em, lễ cúng sức khỏe, lễ cúng

vào nhà mới, lễ cúng lúa mới, lễ cưới… góp phần giáo dục ý thức cho đồng bào các

dân tộc thiểu số gìn giữ, phát huy các lễ hội truyền thống và không gian diễn xướng

cồng chiêng của buôn làng.

Hầu hết những nghi lễ truyền thống được phục dựng đã phần nào thỏa mãn

được nhu cầu về đời sống tâm linh của đồng bào các dân tộc bản địa ở huyện Krông

Pắc nói riêng và tỉnh Đắk Lắk nói chung, đồng thời đáp ứng yêu cầu nội dung mà

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk khóa XVI đã đề ra.Từng bước góp phần

khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc thiểu số tại

chỗ huyện Krông Pắc; công tác phục dựng cũng giúp cho huyện - tỉnh, đặc biệt là

bộ phận chuyên môn có được những hình ảnh, tư liệu quý để lưu giữ phục vụ công

tác nghiên cứu.

- Các nghi lễ, lễ hội trong toàn huyện gồm

- Văn hóa sử thi, lời nói vần

Sử thi là tiếng nói của cha ông để lại nhằm dạy bảo, khuyên răn con cháu. Có

thể nói không ngoa rằng, sử thi là "tủ sách bách khoa" của đồng bào chứa đựng

nhiều tri thức, kinh nghiệm cuộc sống cùng những vốn liếng văn hóa được sáng tạo

và tích lũy ngàn đời, giúp con cháu biết điều hay lẽ phải, biết cái đúng cái sai để

53

ứng xử trong các mối quan hệ giữa người với người, giữa người với thiên nhiên. Ở

các buôn làng, khi màn đêm buông xuống, bên ánh lửa hồng dưới mái nhà sàn bình

yên, mọi người quây quần thưởng thức rượu cần và lắng nghe già làng kể lại các

câu chuyện xưa. Các già làng, nghệ nhân trổ tài biểu diễn nghệ thuật như thổi kèn,

diễn tấu cồng chiêng, hát kể sử thi, kể chuyện cổ tích...đồ sộ và phong phú hơn cả là

kho tàng văn học dân gian với những bản sử thi (Dân tộc Êđê gọi là Khan, dân tộc

Mnông gọi là Ót Ndrông), thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn,

lời nói vần...đậm đà bản sắc dân tộc lưu truyền qua bao thế hệ. Trước đây cũng như

hiện nay, quan hệ xã hội cơ bản của đồng bào các dân tộc vẫn còn mang đậm tính

huyết thống và tính cộng đồng bền chặt. Nói chung, đồng bào các dân tộc Ê đê cũng

như M’nông, Vân Kiêu...đều có một đặc điểm lớn, đó là sự tồn tại bền vững của những

mối quan hệ xã hội cổ truyền tốt đẹp được hình thành qua các thời kỳ lịch sử lâu dài.

Tinh thần cộng đồng, dân chủ, bình đẳng, tương thân tương ái. Điểm tô thêm nền văn

hóa truyền thống của các dân tộc tại chổ là còn có sự du nhập nền văn hóa của các dân

tộc thiểu số phía Bắc và nền văn hóa của dân tộc Kinh với đủ sắc thái của ba miền

Trung - Nam - Bắc. Tất cả đều được gìn giữ và phát triển, hòa quyện trong quá trình

xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Về nhạc cụ dân tộc, nghề thủ công truyền thống

Đó là nhạc cụ: đàn đá, ché cổ, bộ cồng chiêng, khèn 6 ống (nong pro), kèn

rlet..., về kiến trúc có: kiến trúc nhà sàn dài của người Ê đê; nghề truyền thống có: dệt

thổ cẩm, làm gốm, đan lát, tạc tượng, chế tác nhạc cụ, chế tác dụng cụ công cụ lao

động truyền thống…

2.4.2. Một số tồn tại, hạn chế

Có thể khẳng định, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn

huyện Krông Pắc luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm. Tăng cường công

tác lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi

vật thể ở địa phương là góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Đảng trong việc xây

dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, trong quá trình thực

hiện chính sách còn tồn tại một số hạn chế khiến cho các di sản văn hóa phi vật thể trở

nên mai một: Nghề thủ công, trang phục truyền thống, nhạc cụ dân tộc, các lễ hội

54

truyền thống, kiến trúc nhà dài … trước biến đổi nhanh chóng của đời sống xã hội,

nhiều di sản văn hóa của đồng bào đang đứng trước nguy cơ mai một. Các lễ hội

dần dần thưa vắng trong đời sống cộng đồng. Rừng mất, những di sản văn hóa gắn

với rừng cũng bị xóa sổ như điêu khắc gỗ, kiến trúc nhà làng truyền thống, những

tri thức bản địa gắn bó máu thịt với cuộc sống của đồng bào dần dần cũng mất theo.

Nghề dệt vải thổ cẩm lâu đời của đồng bào bị thất truyền, hầu hết các buôn làng đều

không còn nghề trồng bông, kéo sợi, dệt vải... Đó là nguyên nhân chính làm cho

trang phục, sắc phục của đồng bào không còn được bảo lưu, giữ gìn, thậm chí trong

các lễ hội truyền thống. Điều này liên quan đến các hạn chế trong quá trình triển

khai thực hiện chính sách như sau:

+ Việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn chưa sát với thực tiễn.

Đây là hạn chế lớn nhất ảnh hưởng đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách bảo

tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở các xã, thị trấn, dù về mặt hình

thức đã có kế hoạch 5 năm và hàng năm trong việc thực hiện chính sách này.

+ Trên thực tế công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy

giá trị di sản văn hóa phi vật thể chưa thật sự phù hợp đối với đặc thù địa bàn

huyện có các chủ thể văn hóa khác nhau. Mặt khác, một số hình thức phổ biến,

tuyên truyền cho các chủ thể văn hóa còn thiếu sáng tạo.

+ Việc phân công phối hợp thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di

sản văn hóa phi vật thể với các cơ quan liên quan trên địa bàn huyện còn nhiều hạn

chế, chồng chéo nên chưa mang lại hiệu quả như mục tiêu của chính sách.

+ Chưa duy trì được chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi

vật thể do việc vận dụng các chính sách vào thực tiễn trên địa bàn huyện Krông Pắc

gặp nhiều khó khăn, bởi không chỉ vì sự đa dạng của các chủ thể văn hóa ở đây, mà

còn thiếu sự năng động của người tổ chức thực hiện chính sách.

+ Chưa kịp thời và thiếu chủ động trong điều chỉnh chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể từ thực tiễn địa bàn.

+ Hạn chế trong theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện, đặc biệt liên quan

55

đến việc triển khai các văn bản chính sách nhằm phù hợp với điều kiện thực tế của

từng xã/thị trấn.

+ Dù xác định việc đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình tổ chức

thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể đối với

các chủ thể văn hóa trên địa bàn huyện Krông Pắc là vô cùng quan trọng nhưng việc

đánh giá còn mang tính hình thức, còn tình trạng nể nang nên hiệu quả của công tác

này còn bất cập.

2.5. Nguyên nhân

Nguyên nhân của những thành tựu và bất cập trong việc thực hiện chính sách

bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyên Krông Pắc trong

thời gian qua có thể nêu lên như sau:

- Công tác chỉ đạo thực hiện chính sách này của UBND huyện được quan tâm

đúng mức nên đã đạt được một số thành tựu trên đây.

- Kinh nghiệm quản lý nhà nước, năng lực chuyên môn của một số cán bộ,

công chức tham gia thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện và lãnh đạo một số xã còn còn hạn chế, nên

việc tổ chức thực hiện một số hoạt động trong thực hiện chính sách này chưa đúng mục

tiêu; gây lãng phí về ngân sách và nhân lực cho địa phương. Một số hoạt động thực

hiện chính sách chưa mang lại hiệu quả kinh tế xã hội của chính sách.

- Một số cán bộ lãnh đạo xã chưa nhận thức đầy đủ về thực hiện chính sách

bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể nên không kiểm tra việc thực hiện

dẫn đến có thời điểm theo kế hoạch thì có các hoạt động nhưng không được tổ

chức; Kinh phí tổ chức các hoạt động không được sử dụng vào các hoạt động của

chính sách gây bức xúc trong dư luận nhân dân.

- Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc ở nhiều xã còn

nghèo nàn, khó khăn. Sự xâm nhập của nền văn hóa bên ngoài từ nhiều luồng đã tấn

công vào nền văn hóa dân tộc vốn đã yếu sức đề kháng. Lứa tuổi thanh niên chưa ý

thức đầy đủ về nền văn hóa dân tộc của mình nên dễ tiếp thu văn hóa bên ngoài

không có sự chọn lọc, có biểu hiện xu hướng vọng ngoại, quay lưng lại với những

sinh hoạt văn hóa dân tộc.Việc kế thừa, phát huy nền văn hóa của các dân tộc thiểu

56

số trong huyện mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đạt được kết quả như

mong muốn, thế hệ trẻ là đối tượng tiếp nối, gìn giữ và phát huy bản sắc đã và đang

bị ảnh hưởng văn hóa ngoại lai, dần phai nhạt nét văn hóa đặc trưng, đặc sắc của

dân tộc mình.

- Ý thức tự giác, tự tôn của chủ thể văn hóa: Sức tự vệ văn hóa yếu xuất phát từ

bản thân chủ thể văn hóa. Tâm lý quay lưng lại với văn hóa dân tộc đã làm cản trở quá

trình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình đặc biệt đối với lớp trẻ.

Một số buôn làng, lễ hội truyền thống hầu như không còn, thậm chí sinh hoạt văn hóa

dân tộc nói chung và sinh hoạt văn hóa cồng chiêng nói riêng cũng bị thưa vắng trong

sinh hoạt văn hóa của đồng bào. Nhiều nơi cồng chiêng được mang bán như là phế

liệu vì mục đích kinh tế. Lớp trẻ hiện nay không thích mặc trang phục của dân tộc

mình, không thích nghe nhạc cụ và xem cái mới lạ là cái tiến bộ. Bên cạnh đó, sự xâm

nhập ồ ạt của tư tưởng văn hóa ngoại lai, lối sống thực dụng đã đưa lớp thanh niên các

dân tộc tiếp cận nhanh chóng với những trào lưu mới, với lối sống hưởng thụ xa rời

các phong tục, tập quán truyền thống. Lứa tuổi thanh thiếu niên chứa ý thức đầy đủ về

nền văn hóa của dân tộc mình, nên dễ tiếp nhận nền văn hóa từ bên ngoài một cách ồ

ạt, thụ động, không chọn lọc với xu hướng vọng ngoại. Họ quay lưng lại với âm nhạc

cồng chiêng, với thổ cẩm dân tộc và lối sống cộng đồng cùng những sinh hoạt văn hóa

truyền thống của buôn làng. Trong khi đó, trên thực tế, lực lượng nghệ nhân dân gian

trên địa bàn huyện hầu hết đã già yếu, lớp trẻ lại không mặn mà lắm với văn hóa dân

tộc mình nên các giá trị văn hóa, nghệ thuật không có tính kế thừa dẫn đến sự mai một

văn hóa là một tất yếu.

Tiểu kết chương 2

Chương 2 giới thiệu tài nguyên nhân văn của huyện Krông Pắc, trong đó, tập

trung đi vào phân tích việc tổ chức thực hiện các giai đoạn trong quá trình thực

hiện chính sách chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể. Nội dung

đã làm rõ thực trạng của từng giai đoạn trong chu trình thực hiện chính sách chính

sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện Krông Pắc

trong những năm gần đây. Chương này cũng đánh giá ưu điểm và nhược điểm của

việc tổ chức thực hiện chính sách và tìm ra những nguyên nhân của thực trạng thực

57

hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể trong thời gian qua ở

địa phương. Đây là cơ sở thực tiễn để xây dựng các giải pháp ở chương 3.

58

Chương 3

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TẠI

HUYỆN KRÔNG PẮC

3.1. Quan điểm về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản

văn hóa phi vật thể đối với huyện Krông Pắc

Trong bối cảnh Tây Nguyên cần đến sự định hướng chính sách từ phía Nhà

nước nhằm phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể gắn với phát triển kinh tế xã

hội của Tây Nguyên, gắn với phát triển kinh tế xã hội của các địa phương trong đó

có huyện Krông Pắc, định hướng của chính sách sách phát huy giá trị di sản văn hóa

phi vật cần tập trung:

- Xác định phương hướng chung của việc xây dựng chính sách bảo tồn và phát

huy các giá trị văn hóa nói chung và văn hóa phi vật thể nói riêng chính là xây dựng

chính sách nhằm phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc,

ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây

dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thụ

tinh hoa văn hoá nhân loại.

- Để nâng cao chất lượng và hiệu quả trong thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện, việc cần thiết và cơ

bản chính là đưa những di sản văn hóa này trở lại với cộng đồng sinh hoạt văn hóa,

bằng cách khơi dậy tình yêu, lòng tự hào đối với truyền thống của dân tộc trong mỗi

người dân tới toàn cộng đồng. Thực hiện tốt công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di

sản văn hóa phi vật thể tại địa phương một cách khoa học và có hệ thống thông qua

việc tư liệu hóa, vật thể hóa hệ thống di sản văn hóa phi vật thể nhằm nhận diện và

xác định mức độ tồn tại, giá trị và sức sống của từng loại di sản văn hóa phi vật thể

trong cộng đồng trên cơ sở đó đề xuất phương án bảo tồn, phát huy một cách hiệu

quả. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động trên,

gắn trách nhiệm của các cấp chính quyền, đoàn thể và người dân nhằm thực hiện xã

hội hóa công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa; tăng cường tuyên truyền

về bảo tồn văn hóa phi vật thể cho người dân nâng cao nhận thức về truyền thống

59

văn hóa của dân tộc để từ đó mỗi cá nhân có ý thức bảo vệ di sản. Đồng thời đưa di

sản văn hóa phi vật thể vào bảo quản trong các kho tư liệu, vào giảng dạy trong nhà

trường, tổ chức sinh hoạt trong cộng đồng hay tại các bảo tàng và có chính sách, chế

độ cho các nghệ nhân, những cá nhân có công sức gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá

trị di sản văn hóa dân tộc

3.2. Các giải pháp thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di

sản văn hóa phi vật thể huyện Krông Pắc

- Các giải pháp theo bảy bước thực hiện chính sách (rút ra từ 7 hạn chế của

chính sách đã nói trên)

+ Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể sát với thực tiễn.

+ Công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản

văn hóa phi vật thể phù hợp với đối với đặc thù địa bàn huyện có các chủ thể văn

hóa khác nhau.

+ Phân công chặt chẽ hơn công tác phối hợp thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể với các cơ quan liên quan trên địa bàn huyện.

+ Duy trì cho được chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi

vật thể vận dụng chính sách vào thực tiễn trên địa bàn huyện Krông Pắc để tổ chức

thực hiện chính sách.

+ Kịp thời điều chỉnh chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi

vật thể từ thực tiễn địa bàn.

+ thường xuyên theo theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách

bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn huyện, đặc biệt

liên quan đến việc triển khai các văn bản chính sách nhằm phù hợp với điều kiện

thực tế của từng xã, thị trấn.

+ Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách

bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể đối với các chủ thể văn hóa trên địa

bàn huyện Krông Pắc không mang tính hình thức, tránh tình trạng nể nang.

- Các giải pháp khác:

60

3.2.1. Giải pháp về nâng cao chất lượng tuyên truyền nhận thức và ý

thức cộng đồng, bản sắc văn hóa dân tộc

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong nhân dân để nâng cao ý thức của nhân

dân các dân tộc huyện Krông Pắc về bản sắc văn hóa vùng miền, đặc trưng của từng

văn hóa các dân tộc; nâng cao lòng tự trọng, từ hào truyền thống văn hóa dân tộc, sự

giao thoa về văn hóa cũng không làm mất đi nét đặc sắc của mỗi dân tộc anh em

vùng Tây Nguyen. Nâng cao chất lượng tuyên truyền nhận thức và ý thức cộng

đồng về bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy nhận thức của người dân đối với nét

đẹp, tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc mình chính là góp phần bảo tồn

và phát huy giá trị giá trị văn hóa phi vật thể mà mỗi dân tộc vốn có từ lâu đời.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục ý thức tự giác của người dân trong

việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa và văn hóa phi vật thể. Chúng ta cần

nhận thức rằng, sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa chỉ có thể được

đẩy mạnh và đạt hiệu quả cao khi người dân tự giác tham gia. Do đó, việc giáo dục

để nâng cao ý thức tự giác của người dân, khơi dậy ở họ lòng tự hào đối với di sản

văn hóa của cộng đồng mình là công việc có ý nghĩa quan trọng, để hướng người

dân chủ động tìm tòi, sưu tầm và bảo tồn các loại hình di sản văn hóa. Ngoài ra, cần

làm rõ và gắn lợi ích của người dân khi tham gia các hoạt động bảo tồn. Đây cũng

là cách thức thu hút đông đảo người dân tham gia lưu giữ di sản văn hóa truyền

thống của mình. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, việc vận động, tuyên

truyền để nâng cao ý thức tự giác của người dân cần gắn với cuộc vận động xã hội

hóa trong công tác bảo tồn phát huy giá trị văn hóa. Khi người dân có ý thức trong

việc bảo tồn di sản văn hóa thì mọi khó khăn đều có thể được giải quyết nhanh

chóng và hiệu quả. Tuyên truyền, vận động cần phải thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể phải đồng bộ với nhiều phương thức khác

nhau, tránh làm ồ ạt, cẩu thả. Bên cạnh việc đa dạng hóa các chương trình tuyên

truyền, cần đưa vào nội dung chương trình những thông tin cụ thể, sát thực và gần

gũi với đời sống, sinh hoạt của người dân, nhằm mang lại hiệu quả cao. Những năm

qua, việc tuyên truyền, tập huấn về quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị di tích chủ yếu

tập trung cho các cán bộ làm công tác quản lý, còn người dân thì chưa được chú ý.

61

Do vậy, cần tăng cường giáo dục, tuyên truyền về di tích cho người dân, bởi lẽ sự

ủng hộ và vai trò của cộng đồng là một trong những yếu tố quan trọng, bởi chính

cộng đồng tạo ra di sản văn hóa và cũng chính cộng đồng là người hưởng thụ những

di sản đó, bây giờ cộng đồng phải là người quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản

theo hướng tích cực, phát triển. Để chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa

phi vật thể huyện Krông Pắc gắn với tư duy, nhận thức cộng đồng, gắn với sự

phát triển.

3.2.2. Giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và năng

lực thực thi chính sách cho đội ngũ cán bộ, công chức tham gia thực hiện

chính sách

- Thống nhất và nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành về

văn hóa và thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa, bảo tồn và phát huy bản sắc văn

hóa các dân tộc huyện Krông Pắc. Đưa mục tiêu, nhiệm vụ phát triển văn hóa, bảo

tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc vào Nghị quyết của các cấp ủy Đảng, kế

hoạch của chính quyền các cấp.

Hoạt động tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể cần được thực hiện theo hướng: phát huy vai trò của từng cán bộ thực thi

công vụ; nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ bên cạnh đó phải nâng

cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ

thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở ngay cơ quan

chủ trì thực hiện chính sách ơ cấp huyện và cấp xã, thị trấn. Đội ngũ này cần được

đào tạo hoặc bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ liên quan đến việc thực hiện

chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể; một chính sách mang

nhiều nét đặc thù của ngành văn hóa, du lịch. Nếu đội ngũ này có trình độ chuyên

môn, nghiệp vụ cao, có năng lực thực thi công vụ tốt thì chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể sẽ thực hiện tốt ở các địa phương.

3.2.3. Giải pháp kết hợp giữa đầu tư nguồn lực từ ngân sách nhà nước và

xã hội hóa để thực hiện chính sách

Từ bất cập trong thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi

vật thể ở địa phương đã phân tích ở chương 2, giải pháp để thực hiện tốt chính sách

62

này là phải kết hợp các nguồn Ngân sách từ trung ương đến địa phương, nguồn thực

hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá, các dự án nghiên cứu bảo tồn

bản sắc văn hoá của Nhà nước và khuyến khích các các nhà hảo tâm, các doanh

nghiệp tham gia vào các hoạt động trong quá trình thực hiện chính sách Có chính

sách kết hợp các nguồn Ngân sách từ trung ương đến địa phương, nguồn thực hiện

các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá, các dự án nghiên cứu bảo tồn bản

sắc văn hoá ở địa phương. Chỉ có đa dạng hóa nguồn ngân sách đầu tư cho thực

hiện chính sách như trên thì việc tổ chức thực hiện chính sách trên mới có thể thành

công ở Vùng Tây Nguyên.

3.2.4. Giải pháp về Đổi mới cơ chế chính sách đặc thù trong thực hiện

chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể

Cơ chế chính sách đặc thù trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát

huy giá trị văn hóa phi vật thể cần trở thành động lực để cho nhiều đối tượng tham

gia thực hiện chính sách. Mở rộng mọi nguồn lực vào quá trình thực hiện chính sách

bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể nhằm tăng cường nguồn lực để thực

hiện chính sách. Để làm được việc huy động nguồn lực này cần phải đổi mới cơ chế

chính sách đặc thù để khuyến khích các đối tượng tham gia; nhất là các doanh

nghiệp, các nhà đầu tư tham gia trong bối cảnh kinh tế xã hội và mức sống của

người dân ở huyện Krông Pắc còn thấp.

Thực tiễn trong quá trình thực hiện chính sách có thể thấy qua việc trùng tu

các di tích, tổ chức hoạt động văn hóa, khôi phục lễ hội hay các loại hình nghệ thuật

dân gian, khi nguồn kinh phí đóng góp từ xã hội trong những năm qua trên địa bàn

huyện rất thấp, chủ yếu là dựa vào đầu tư từ ngân sách nhà nước nên chưa đáp ứng

được thực tiễn. Với phương thức xã hội hóa, hình thức hoạt động bảo tồn và phát

huy các giá trị văn hóa nghệ thuật dân gian ngày càng đa dạng với các câu lạc bộ,

các nhóm hội, bảo tàng ngoài công lập, tập hợp được những người có tâm huyết,

hoạt động hiệu quả mà không phải dựa vào nguồn kinh phí hỗ trợ của Nhà nước,

tránh được tình trạng xuống cấp của hệ thống các di sản văn hóa. Đã có nhiều lễ hội

truyền thống tốt đẹp và các loại hình diễn xướng dân gian độc đáo ở các địa phương

63

tưởng chừng đã mai một lại được phục hồi mà phần đóng góp quan trọng, mang

tính quyết định là từ cộng đồng.

Các chính sách của Đảng và Nhà nước cần tiếp tục chú trọng đến bảo tồn và

phát huy văn hóa phi vật thể (VHPVT) truyền thống của các dân tộc thiểu số phù

hợp theo từng vùng miền.

Theo Luật Di sản văn hóa, Nhà nước tăng cường các nguồn lực để: Xây dựng

các thiết chế văn hóa cơ sở; Tổ chức kiểm kê, phân loại di sản văn hóa các tộc

người thiểu số, trong đó có giá trị tín ngưỡng; Xây dựng kế hoạch bảo tồn, phát huy

giá trị di sản văn hóa trong đời sống đương đại, bao gồm bảo tồn động và bảo tồn

tĩnh; Xây dựng chính sách đãi ngộ, tôn vinh các nghệ nhân tộc người thiểu số đang

nắm giữ và có công phổ biến nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá

trị đặc biệt; Tạo nguồn kinh phí hỗ trợ các nghệ nhân tổ chức các lớp trao truyền tri

thức, kinh nghiệm trong dòng họ, gia đình, cộng đồng,... Như vậy, việc bảo tồn và

phát huy các di sản VHPVT đòi hỏi nỗ lực từ hai phía: Nhà nước và người dân. Nhà

nước đảm bảo về chính sách, cơ chế quản lý linh hoạt, các thiết chế cơ sở phù hợp,

hỗ trợ bảo tồn dưới dạng tĩnh,... Người dân không chỉ vừa là chủ thể vừa là người

thực hành các hình thức thờ cúng, các nghi lễ và lễ hội của tộc người mình, mà còn

là người quyết định việc duy trì hay chuyển đổi, thậm chí bỏ bớt đi những chi tiết

trong mỗi nét văn hóa không còn phù hợp với cuộc sống mới.

Nâng cao nhận thức của chủ thể văn hóa để thấy được cái hay cái đẹp của văn

hóa mình.

Mỗi gia đình, dòng họ, cộng đồng ở địa phương cần thấy rõ việc bảo tồn và

phát huy các giá trị VHPVT của dân tộc mình là việc làm quan trọng. Như việc cá

nhân thầy cúng cần thấy rõ việc thực hành các hình thức thờ cúng theo tín ngưỡng

của mình là vinh dự, góp phần duy trì bản sắc tộc người. Việc tổ chức các nghi lễ, lễ

hội của tộc người cần tiết kiệm thời gian, công sức và tiền của, song không vì thế

mà giản lược, bỏ qua những chi tiết đặc trưng, tức cần làm đầy đủ: từ cách trang trí

không gian, dựng đàn cúng, sử dụng đầy đủ các lễ phục, lễ vật, nhạc cụ, tranh thờ,...

cho đến các bước diễn trình, các bài cúng, múa, bùa chú, phép thuật, kiêng kỵ. Việc

đổi mới cần đảm bảo không làm mất giá trị của truyền thống, nhưng sẽ giảm được

64

thời gian, bởi vì đa số chi tiết nếu làm đúng tập quán sẽ ít tốn kém. Sự lãng phí hiện

nay chủ yếu do thương mại hóa, đua đòi về lễ vật dâng cúng, tổ chức ăn uống đa

dạng món ăn, trang hoàng nghi lễ, mời khách đến đông,... Trên cơ sở thực hành đủ

các hình thức thờ cúng, nghi lễ và lễ hội đúng theo tập quán thì mỗi gia đình, dòng

họ, cộng đồng và thầy cúng có uy tín cần tự giác phát huy vai trò giáo dục con em

giữ lấy những giá trị truyền thống như tiếng nói, chữ viết nếu có, các nghi lễ của gia

đình hoặc trong dòng họ, cộng đồng buôn, làng. Thời điểm nông nhàn cuối năm,

trưởng họ và thầy cúng có uy tín nên xin phép chính quyền địa phương mở lớp học

theo tập quán tộc người để dạy cho lớp trẻ về các giá trị trong tín ngưỡng của tộc

người mình, về các bài cúng lễ, múa, cách sử dụng nhạc cụ dân tộc, diễn trình một

số nghi lễ lớn,... Tuy nhiên, lớp trẻ hiện nay thường không thích văn hóa dân tộc

mình nhưng lại tiếp thu rất nhanh luồng văn hóa mới, do đó đòi hỏi sự nỗ lực thuyết

phục của lớp người già, nhất là trợ giúp của trưởng thôn, trưởng dòng họ, chủ mỗi

gia đình. Việc làm này có ý nghĩa rất lớn, bởi vì tín ngưỡng và các nghi lễ, lễ hội

liên quan là tài sản quý giá của thế hệ trước dành tặng cho thế hệ kế tiếp, nếu chủ

nhân văn hóa bảo tồn không tốt thì sẽ làm đứt mạch với quá khứ, tạo nguy cơ mai

một các đặc trưng của văn hóa truyền thống, mở đường cho tôn giáo mới xâm nhập.

Đối với các ban ngành đoàn thể tại địa phương

Các chủ thể văn hóa ở địa phương cần được tuyên truyền thường xuyên để họ

tự ý thức về giá trị tín ngưỡng cổ truyền; cần được tham gia có hiệu quả vào công

tác phát huy bản sắc của dân tộc mình. Vì vậy, các ban, ngành ở địa phương không

nên áp đặt mà cần kiên trì tuyên truyền, khuyến khích đồng bào lựa chọn đúng

hướng, phù hợp với nhu cầu cá nhân, gia đình, cộng đồng nhưng vẫn giữ được giá

trị các hình thức tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội truyền thống. Lớp trẻ là chủ nhân

tương lai, nên các ban, ngành và đoàn thể ở huyện cần gia tăng thời lượng tuyên

truyền cho họ hiểu và biết trân trọng các giá trị di sản VHPVT của dân tộc mình.

Cần tiếp tục nâng cao nhận thức cho cán bộ cơ sở về vai trò tín ngưỡng của

các dân tộc ở địa phương. Từ đó, cán bộ cơ sở sẽ được củng cố thêm ý thức bảo tồn

văn hóa dân tộc, tích cực phối hợp với các trưởng thôn, buôn, các trưởng họ, các

thầy cúng cùng tham gia duy trì, thực hành nghiêm cẩn các hình thức thờ cúng, nghi

65

lễ tín ngưỡng, nhằm phát huy và làm phong phú thêm bản sắc các dân tộc trên địa

bàn, tạo điều kiện hướng tới phát triển du lịch thông qua các hình thức quảng bá.

Phát huy hơn nữa vai trò các đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ,... Đặc

biệt, cần đưa nội dung tuyên truyền về bảo tồn giá trị tín ngưỡng vào các cuộc sinh

hoạt của hội, thôn, buôn; vận động các thành viên các hội, nhất là Hội Người cao

tuổi để nhắc nhở con cháu giữ gìn các nghi lễ tín ngưỡng. Tuyên truyền trên các

phương tiện thông tin đại chúng, vì hiện nay đa số các gia đình đều có tivi, sử dụng

điện thoại,...Cần gia tăng chương trình về trang tin địa phương giới thiệu các dân

tộc ở nước ta để đồng bào thấy sự phong phú trong văn hóa các dân tộc, sẽ thêm

trân trọng bản sắc dân tộc mình, nhất là các nghi lễ tiêu biểu gắn với đó là lễ phục,

nhạc cụ, tranh thờ, nghệ thuật trang trí... Bên cạnh việc tuyên truyền cho các chủ thể

văn hóa có ý thức tự giữ gìn giá trị di sản VHPVT truyền thống, các ban ngành và

đoàn thể huyện cần thu hút họ vào các buổi sinh hoạt liên quan đến các di sản

VHPVT ở địa phương. Đồng thời, cần có chế độ tôn vinh những thầy cúng có uy

tín, trưởng dòng họ giữ được nhiều hình thức thờ cúng, nghi lễ, lễ hội cổ truyền, các

nghệ nhân…nhằm khuyến khích họ trao truyền lại cho thế hệ trẻ.

Đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương:

Một thực tế là tộc người hay một bộ phận sinh sống ở những nơi còn khó khăn

về điều kiện cơ sở vật chất thì khả năng lưu giữ, thực hành các hình thức tín ngưỡng

của tộc người sẽ càng nhiều hơn, nghĩa là sự “lạc hậu” đôi khi tỷ lệ thuận với hoạt

động bảo tồn di sản văn hóa tộc người. Song, đây cũng là vấn đề dễ bị thế lực thù

địch và tôn giáo ngoại lai lợi dụng, do vậy cần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội

kết hợp nâng cao trình độ dân trí cho các tộc người ở các vùng miền. Đó là mục

tiêu, tác động trực tiếp đến các hoạt động văn hóa tại cơ sở, bao gồm phát huy các

giá trị tín ngưỡng. Khi người dân có cuộc sống ổn định, có trình độ hiểu biết thì

việc vận động họ duy trì và phát huy giá trị tín ngưỡng truyền thống sẽ rất thuận lợi,

mà không bị tôn giáo ngoại lai lợi dụng. Hơn nữa, phát triển kinh tế - xã hội kết hợp

nâng cao dân trí cho người dân ở địa phương còn góp phần hình thành những giá trị

văn hóa mới trong quá trình bảo tồn, phát huy các di sản VHPVT của tộc người,

khiến cho các di sản VHPVT ngày càng phong phú, phù hợp với đời sống đương

66

đại. Qua đó, gìn giữ được bản sắc văn hóa riêng của tộc người trên cơ sở vừa có yếu

tố truyền thống vừa có yếu tố đương đại - bản sắc có sức đề kháng để “hòa nhập mà

không hòa tan” trong quá trình hội nhập với văn hóa, văn minh của nhân loại. Đây

cũng chính là nhằm giải quyết tốt hơn vấn đề tự đổi mới các hình thức thờ cúng, các

nghi lễ và lễ hội truyền thống cho phù hợp với bối cảnh mới, để không bị coi là “lạc

hậu”, nhưng quan trọng nhất là vẫn giữ được hầu hết các giá trị VHPVT truyền

thống mà không bị tôn giáo khác lợi dụng, lôi kéo.

Vấn đề cán bộ cơ sở, nghệ nhân:

Lực lượng cán bộ làm công tác văn hóa tại cơ sở hiện nay vừa thiếu lại vừa

yếu. Trước hết về kiến thức và sự hiểu biết VHPVT truyền thống ở cơ sở rất hạn

chế, những kiến thức trang bị ở trường học vẫn còn xa lạ với đời sống thực tế, khó

lòng phát huy. Mặt khác, phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ trong công tác quản lý

nhà nước. Do đó, không toàn tâm, toàn ý trong nhiệm vụ được giao, lương bổng và

chính sách đãi ngộ cho cán bộ văn hóa ở cơ sở cũng hết sức khó khăn. Do đó, lực

lượng cán bộ cơ sở cần thường xuyên phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn,

quản lý, đặc biệt là kiến thức về di sản VHPVT để kịp thời nắm bắt, có sự phối hợp

trong việc tổ chức đúng định hướng và có hiệu quả.

Hiện nay, lực lượng nghệ nhân ở các buôn làng trên địa bàn huyện Krông Pắc

hiện đã tuổi cao, sức yếu, khả năng truyền đạt, trao truyền cho các thế hệ trẻ đã gặp

rất nhiều khó khăn. Khả năng thế hệ trẻ không tiếp cận đầy đủ và nhận lấy những

dữ liệu quan trọng từ thế hệ đi trước để tiếp tục giữ gìn và phát huy. Do do, cần có

một chính sách đãi ngộ, nuôi dưỡng, hỗ trợ kịp thời để họ có cơ hội làm tốt hơn

nhiệm vụ truyền đạt và lưu giữ giá trị di sản VHPVT cho thế hệ trẻ.

Tiểu kết chương 3

Chương 3 đã nêu một số quan điểm cụ thể về chính sách bảo tồn và phát huy

giá trị di sản văn hóa phi vật thể đối với huyện Krông Pắc. Bên cạnh đó, chương 3

cũng đã nêu lên một số giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk trong những

năm tới. Những giải pháp trên xuất phát từ cơ sở lý luận thực hiện chính sách bảo

67

tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể và thực trạng thực hiện chính sách này ở

địa phương trong thời gian qua.

Hy vọng những giải pháp này sẽ góp phần vào việc thực hiện chính sách bảo

tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể ở địa phương; góp phần phát triển kinh tế

xã hội ở huyện thuộc vùng Tây Nguyên.

68

KẾT LUẬN

Di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam rất phong phú và giàu bản sắc, đã

góp phần tạo nên nền văn hóa Việt Nam đa dạng trong sự thống nhất. Từ nhiều

năm nay, chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể được

Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo thực hiện từ Trung ương đến các địa

phương. Tuy nhiên, công tác này hiện đang gặp nhiều khó khăn, thách thức, đòi

hỏi phải có những giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm nâng cao tính hiệu quả.

Trong những năm qua, việc ban hành và triển khai thự hiện chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị văn hóa dân gian truyền thống của các dân tộc, đặc biệt là di sản

văn hóa phi vật thể đã được huyện Krông Pắc quan tâm, chỉ đạo và từng bước tổ

chức thực hiện, đạt được một số kết quả như: Một số dự án, đề tài khoa học về di

sản văn hóa phi vật thể đã được triển khai thực hiện, các tư liệu quý trong lĩnh vực

di sản văn hóa phi vật thể như dân ca, dân vũ của các dân tộc, lễ hội, bí quyết nghề

thủ công truyền thống… đã và đang có kế hoạch tiến hành điều tra, nghiên cứu, sưu

tầm; việc bảo tồn, khôi phục các lễ hội dân gian đang từng bước phát huy hiệu quả.

Tuy nhiên, thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa

phi vật thể thời gian qua của huyện Krông Pắc còn bộc lộ những hạn chế đó là: chưa

phát huy được hiệu quả trong thực thi chính sách, xây dựng Chương trình, quy hoạch,

đề án chưa quan tâm đến các nguồn lực... Chính vì vậy, một số nghi lễ trong lễ hội

truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số bị thất truyền, chưa được phục dựng;

lực lượng nghệ nhân dân gian ngày càng thiếu vắng; không ít hủ tục, tệ mê tín dị đoan

có chiều hướng gia tăng; nhiều nét đẹp văn hóa trong lối sống, phong tục cùng lễ hội

truyền thống đang đứng trước nguy cơ bị biến dạng và mai một; công tác tuyên truyền,

trưng bày, giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể còn nhiều hạn chế...

Từ thực tiễn thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật

thể ở huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk trong những năm qua, Luận văn đã đề xuất

một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy

giá trị văn hóa phi vật thể ở địa phương trong những năm tới; góp phần phát triển

kinh tế xã hội; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc

trên địa bàn huyện và khu vực Tây Nguyên

69

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đào Duy Anh (1964), Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB KHXH

2. Nguyễn Duy Bắc (Chủ biên) (2008), Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối

cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, NXB Từ điển bách

khoa và Viện Văn hóa.

3. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Vụ Giáo dục lý luận chính trị (1994), Tìm

hiểu về văn hóa, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

4. Trần Văn Bính (2010), Văn hóa Việt Nam trên con đường đổi mới những thời

cơ và thách thức, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

5. Nguyễn Khắc Bình (2013), Tập bài giảng về Những vấn đề cơ bản về chính

sách công,Học viện Khoa học xã hội.

6. Trương Bi, Bùi Minh Vũ (2009), Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc

Êđê, Mnông

7. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2006), Một con đường tiếp cận di sản văn

hóa, (Tập 2-2006; Tập 3-2008; Tập 4-2009; Tập 5-2010), Hà Nội.

8. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2008), Thống kê Lễ Hội Việt Nam, Tập 1,

Cục Văn hóa thông tin cơ sở, Hà Nội.

9. Hoàng Chương (2012), "Thực trạng vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa dân

tộc", Báo Nhân dân, ngày 2/4/2012, tr.5.

10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp

hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.41

11. Đoàn Bá Cự (1997), "Bảo tồn di tích và vấn đề xã hội hóa văn hóa", Tạp chí

Văn hóa nghệ thuật, (1/151).

12. Đại Việt sử ký toàn thư (1972), NXB Khoa học xã hội.

13. Đại Việt sử ký tiên biên (1997), NXB Khoa học xã hội.

14. Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên) (2002), Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên

tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

15. Phạm Duy Đức (Chủ biên) (2009), Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-

2020 những vấn đề phương pháp luận, NXB Chính trị Quốc gia, HN.

70

16. E.B Tylor (2000), Văn hóa nguyên thủy, Nxb Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà

Nội,

17. Giáo trinh Hoạch định và phản tích chính sách công (2008). Nxb. Khoa học và

Kỹ thuật, Hà Nội.

18. Phạm Thanh Hà (2011), Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn

cầu hóa hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

19. Đỗ Phú Hải, Tài liệu tham khảo môn Phân tích Chính sách công

20. Nguyễn Hữu Hải – Lê Văn Hòa (Đồng chủ biên) (2013), Đại cương Phân tích

Chính sách công (sách chuyên khảo), NXB Chính trị Quốc gia.

21. Nguyễn Duy Hinh, Bàn về nước Âu Lạc và An Dương Vương, Tạp chí KC 3+4,

12 1969. tr.144 - 145.

22. Hồ Việt Hạnh (2017), “Bàn về khái niệm chính sách công”, Tạp chí Nhân lực

khoa học xã hội, Số 12, tr. 3-6.

23. Mã Thị Hạnh (2016), Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Mnông

ở huyện Lăk hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Đại học Sư phạm Hà Nội.

24. Học viện Khoa học xã hội (2001), Chính sách văn hóa, XB 2001, Hà Nội.

25. Nguyễn Văn Huyên (2007), "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và vấn đề giữ gìn

bản sắc văn hóa dân tộc", Tạp chí Triết học.

26. Nguyễn Thị Hương (Chủ biên), Trần Kim Cúc (2011), Một số vấn đề lý luận và

thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia - Sự

thật, Hà Nội.

27. Vũ Tuấn Hưng “Bảo tồn và phát triển tài sản trí tuệ vùng Tây Nguyên trong bối

cảnh hội nhập mới”

28. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1985), Lịch sử

Việt Nam, Tập 1, NXB ĐH & THCN.

29. Liên hiệp các Hội KH-KT Việt Nam - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí

Minh (2015), Kỷ yếu Hội thảo vận động chính sách công trên Thế giới và Việt

Nam, Tài trợ bởi Viện Rosa Luxemburg Đông Nam Á.

30. Hồ Chí Minh (1972), Về văn hóa văn nghệ, NXB Văn hóa, Hà Nội.

71

31. Hồ Chí Minh (1960), Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà

Nội, 1960, t.V, tr. 125-127

32. Ngân hàng thế giới (2018) Báo cáo thường niên tại khu vực châu Á.

33. Nguyễn Quang Ngọc (2006), Đóng góp của các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày -

Thái trong tiến trình lịch sử Việt Nam, NXB ĐHQG Hà Nội.

34. Phòng văn hóa thông tin huyện Krông Pắc (2020), Báo cáo khảo Sát di Sản Văn

hóa phi vật thể - phòng văn hóa thông tin huyện Krông Pắc - 2020”.

35. Quốc hội (2003), Luật Di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

36. Quốc hội (2009), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa

của Quốc hội khóa XII, kỳ họp 5, số 32/2009/QH12, ngày 18/6/2009.

37. Quốc hội (2013), Luật di sản văn hóa, số 10/VBHN-VPQH, ngày 23/7/2013.

38. Lê Thọ Quốc và Nguyễn Chí Ngàn, :Vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa

tinh thần trong các cộng đồng tái định cư ở vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ

hiện nay”

39. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2020), Báo cáo khảo Sát di Sản Văn hóa phi

vật thể

40. Lê Đình Thành“Thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở Phú

Thọ”

41. Lê Như Thanh, Lê Văn Hòa (2016), Hoạch định và thực thực thi chính sách

công, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội

42. Trần Ngọc Thêm Tác giả cuốn sách: “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nhà

xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 7/2006.

43. Nguyễn Duy Thụy đề tài khoa học cấp Bộ (2015),“Vấn đề di cư của người dân

tộc thiểu số từ nơi khác đến Tây Nguyên từ năm 1975 đến nay”.

44. Nguyễn Duy Thụy (Chủ nhiệm) (2018) “An sinh xã hội đối với đồng bào dân

tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk hiện nay”, Đề tài cấp Bộ

45. Ngô Đức Thịnh (2006), Văn hóa văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, Nxb

Khoa học xã hội

72

46. Nguyễn Danh Tiên (2012), Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển văn hóa

trong thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

47. Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,

48. UBND huyện Krông Pắc, Báo cáo kinh tế xã hội năm 2018.

49. UNESCO, Hà nội, (2016) Báo cáo về bảo vệ di sản văn hóa ở Việt Nam.

50. UBND huyện Krông Pắc (2019) Báo cáo kết quả chương trình dân tộc thiểu số

và phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ 2019 – 2024.

51. UBND huyện Krông Pắc (2020) Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ phát triển

kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh năm 2019 và phương hướng nhiệm

52. Việt sử lược (1960), NXB Sử học.

vụ năm 2020.

53. Khánh Vân, “Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật

thể ở Sơn La”

54. Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên phối hợp với Cơ quan đại diện Bộ Văn

hóa, Thể thao và Du lịch tại Đà Nẵng đã tổ chức Hội thảo “Bảo tồn và phát huy

giá trị văn hóa truyền thống các DTTS tại chỗ vùng Tây Nguyên”.

55. Trần Quốc Vượng (chủ biên, 2000), Nhân học đại cương, Nxb Đại học Quốc

gia thành phố Hồ Chí Minh

56. Michael E. Kraft and Scott R. Furlong, Phần I, chương 1; James E. Anderson,

chương 1, trang 1-9

73