BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐỖ THỊ NGỌC ANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN Ở HUYỆN THẠCH
THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐỖ THỊ NGỌC ANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO
THANH NIÊN NÔNG THÔN Ở HUYỆN THẠCH THẤT,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN HỮU HẢI
HÀ NỘI, 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách trung thực. Kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận
văn nào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên
cứu nào khác trước đây.
Học viên
Đỗ Thị Ngọc Anh
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên
cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý
Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt
thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ.
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Nguyễn Hữu Hải đã
hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em hoàn thành luận văn
này. Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong
chuyên ngành Chính sách công và khoa sau đại học Đại học – Học viện Hành
chính quốc gia đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo
mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình học tập nghiên cứu
và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các
bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh.
Học viên
Đỗ Thị Ngọc Anh
DANH MỤC VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nội dung đầy đủ
CNH-HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
CTMT Chương trình mục tiêu
ĐTN Đào tạo nghề
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
GDNN&GDTX Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên
KT-XH Kinh tế xã hội
LĐNT Lao động nông thôn
LĐ-TB&XH Lao động thương binh và xã hội
NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội
NN Nông nghiệp
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NXB Nhà xuất bản
TB&XH Thương binh và xã hội
TNNT Thanh niên nông thôn
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TTTT Thông tin truyền thông
TW Trung ương
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VIẾT TẮT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO
NGHỀ CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN .................................................. 11
1.1. Tầm quan trọng của đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn .................. 11
1.1.1. Vai trò của thanh niên trong phát triển kinh tế nông thôn .................... 11
1.1.2. Sự cần thiết phải đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn .................... 13
1.1.3. Khó khăn, thách thức trong đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn ... 15
1.2.Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn ................. 17
1.2.1. Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn ............................. 17
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên nông thôn ....................................................................................... 31
1.3. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước và bài học tham khảo
cho huyện Thạch Thất trong thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
nông thôn. ........................................................................................................ 35
Tiểu kết Chương 1 ........................................................................................... 41
Chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN Ở HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI .................................................................................................. 42
2.1. Thực trạng về công tác đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn trên địa
bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội ...................................................... 42
2.1.1. Khái quát chung về tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Thạch Thất, thành
phố Hà Nội ...................................................................................................... 42
2.1.2. Thực trạng về lực lượng thanh niên nông thôn huyện Thạch Thất, thành
phố Hà Nội ...................................................................................................... 47
2.2. Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên ở nông thôn huyện
Thạch Thất ....................................................................................................... 50
2.2.1. Thực hiện xây dựng kế hoạch, triển khai thực thi chính sách .............. 50
2.2.2. Thực hiện tuyên truyền vận động ......................................................... 51
2.2.3. Thực tế phối hợp thực hiện giữa các cấp, các ngành, các chủ thể ........ 52
2.2.4. Thực tế kiểm tra, đôn đốc thực hiện ..................................................... 55
2.3. Đánh giá tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
nông thôn tại huyện Thạch Thất trong thời gian qua ...................................... 55
2.3.1. Đánh giá vai trò của các chủ thể trong thực hiện chính sách ................ 55
2.3.2. Về những kết quả chính trong thực hiện chính sách ............................. 57
2.3.3. Tồn tại, hạn chế trong thực hiện chính sách ......................................... 61
2.3.4. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong thực hiện chính sách .................... 63
Tiểu kết Chương 2 ........................................................................................... 65
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN Ở HUYỆN THẠCH
THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ...................................................................... 66
3.1. Định hướng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn
tại huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội ........................................................ 66
3.1.1. Quan điểm hoàn thiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông
thôn .................................................................................................................. 66
3.1.2. Quan điểm huy động các nguồn lực đào tạo nghề cho thanh niên nông
thôn .................................................................................................................. 67
3.1.3. Quan điểm đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm ........................... 68
3.2. Mục tiêu, nhiệm vụ tiếp tục thực hiện chính sách đào tạo và đào tạo nghề
cho thanh niên nông thôn ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội ................ 69
3.3. Giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn ở huyện Thạch Thất, thành phố
Hà Nội thời gian tới ......................................................................................... 71
3.3.1. Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm sau đào tạo .......................... 71
3.3.2. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và thanh niên về
học nghề .......................................................................................................... 72
3.3.3. Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên nông thôn ở Huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội..................... 74
3.4. Kiến nghị .................................................................................................. 79
Tiểu kết Chương 3 ........................................................................................... 81
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 84
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở mỗi quốc gia, thanh niên luôn là lực lượng dân số quan trọng cấu
thành nên lực lượng lao động chủ yếu của nền kinh tế, là nhóm xã hội giữ vai
trò quan trọng trong sự phát triển của quốc gia. Theo số liệu thống kê, hiện
nay thanh niên chiếm tỷ lệ khá cao trong lực lượng lao động xã hội, là tiềm
năng vô cùng to lớn cho sự phát triển đất nước. Tuy nhiên, cùng với sự gia
tăng nhanh chóng số người đến tuổi lao động, vấn đề đào tạo nghề cho thanh
niên, đặc biệt là các thanh niên ở nông thôn ngày càng trở nên khó khăn hơn.
Hàng năm có hàng triệu thanh niên cần việc làm, bao gồm số thanh
niên mới bước sang độ tuổi lao động, học sinh thôi học, công nhân dôi ra từ
những xí nghiệp làm ăn thua lỗ, bộ đội xuất ngũ, thanh niên xung phong, lao
động từ nước ngoài về nước... chính vì vậy đòi hỏi Nhà nước phải quan tâm
đặc biệt và có chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên.
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương,
chính sách trong lĩnh vực dạy nghề, giải quyết việc làm cho lao động ở độ
tuổi thanh niên. Tuy nhiên, việc làm cho thanh niên nông thôn vẫn trong tình
trạng thiếu ổn định, thất nghiệp có chiều hướng gia tăng, là một trong những
nguyên nhân nảy sinh nhiều tiêu cực, hệ lụy cho xã hội.
Xác định công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho thanh niên là
một trong 4 chủ trương của phong trào “Đồng hành với thanh niên lập thân,
lập nghiệp”, trong những năm qua, các cấp bộ Đoàn đã luôn chú trọng hoạt
động dạy nghề, hướng nghiệp, tạo điều kiện cho đoàn viên thanh niên tiếp cận
được mô hình kinh tế hiệu quả, góp phần tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo.
Cùng với đó, phối hợp với các đơn vị tổ chức dạy nghề cho thanh niên nông
1
thôn ở các vùng khác nhau: vùng có đất giải toả làm khu công nghiệp, dân tộc
thiểu số, bộ đội xuất ngũ, thanh niên xung phong, người sau khi cải tạo trở về
địa phương... Đồng thời, các cấp bộ đoàn tích cực tuyên truyền nâng cao nhận
thức cho thanh niên về nghề nghiệp, việc làm; chủ động phối hợp với các
ngành liên quan tổ chức các hoạt động “Thanh niên với nghề nghiệp”, “Giúp
bạn chọn nghề”, “Thắp sáng ước mơ”,... mở lớp tập huấn, trao đổi kinh
nghiệm ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, bảo vệ môi trường...
Thạch Thất là một huyện của Hà Nội, có vị trí địa lý thuận lợi, nơi hội
tụ nhiều tiềm năng về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và cũng là nơi tập
trung nhiều làng nghề thủ công. Với đặc thù là vùng sản xuất, những năm gần
đây, các làng nghề ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội phát triển rất mạnh
mẽ, thu hút một lực lượng lao động lớn, không chỉ của huyện mà còn từ các
địa phương về làm việc.
Huyện Thạch Thất cũng đã có nhiều chủ trương, chính sách ĐTN cho
TNNT trên địa bàn huyện, hoạt động ĐTN cho TNNT trên địa bàn huyện đã
có những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong quá trình ĐTN cho TNNT trong
địa bàn huyện, bên cạnh những kết quả đạt được còn gặp không ít khó khăn,
vướng mắc từ nhiều vấn đề nảy sinh: từ việc quản lý, đội ngũ những người
thực hiện, xây dựng chương trình, mô hình đào tạo, đến chọn ngành nghề gì,
đối tượng đào tạo, kết quả đào tạo, đầu ra cho ĐTN,… Do vậy, việc nghiên
cứu, đánh giá thực trạng của quá trình thực hiện chính sách ĐTN ở huyện
Thạch Thất để thấy được những mặt tích cực và hạn chế trong công tác thực
hiện chính sách của huyện; từ đó rút ra những bài học và đề xuất những giải
pháp sẽ có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, góp phần thực hiện các mục tiêu giải
quyết việc làm cũng như phát triển kinh tế - xã hội của huyện cũng như yêu
2
cầu về trình độ của lực lượng lao động trên địa bàn huyện Thạch Thất.
Xuất phát từ những lý do trên đây, tác giả đã chọn : "Thực hiện chính
sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn ở huyện Thạch Thất, thành
phố Hà Nội" làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Kể từ khi đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn và các văn bản
hướng dẫn thực hiện đề án được ban hành, công tác đào tạo nghề cho thanh
niên nông thôn được các cấp, các ngành từ TW đến địa phương, nhất là các
cấp chính quyền ở địa phương quan tâm; đã có nhiều bài báo, nhiều hội thảo,
một số luận án Tiến sỹ, Thạc sỹ bàn về vấn đề đào tạo nghề cho thanh niên
nông thôn, qua đó đã giúp cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ và đa chiều hơn về
công tác này.
Những năm vừa qua đã có các công trình nghiên cứu và nhiều bài viết
nhằm tìm hiểu thực trạng công tác đào tạo nghề nói chung, đào tạo nghề cho
LĐNT nói riêng như:
- Bộ trưởng Bộ Lao động-TB&XH Đào Ngọc Dung (12/4/2018): “Có
nghề nông dân mới thoát nghèo bền vững”, Báo Dân trí
- Thứ trưởng Bộ Lao động - TB&XH Lê Quân (28/7/2018): “Đào tạo
nghề phải gắn với doanh nghiệp”, Báo Lao động.
- TS. Nguyễn Văn Đại (2012): “Đào tạo nghề cho LĐNT vùng đồng
bằng Sông Hồng trong thời kỳ CNH-HĐH”, luận án tiến sĩ Kinh tế nông
nghiệp, trường Đại học Kinh tế quốc dân, đã chỉ rõ sự cần thiết phải đào tạo
nghề cho thanh niên nông thôn, nội dung và các hình thức đào tạo nghề cho
thanh niên nông thôn.
- TS. Nguyễn Bá Ngọc, KS. Trần Văn Hoan (chủ biên), "Toàn cầu
hoá: cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam", NXB Lao động - xã
hội, Hà Nội 2002. Các tác giả đã trình bày tổng quan tác động của toàn cầu
hoá đến lao động và các vấn đề xã hội của Việt Nam, những xu hướng vận
3
động của nguồn nhân lực, lao động và việc làm Việt Nam dưới tác động của
toàn cầu hoá kinh tế, phân tích những cơ hội và thách thức đối với lao động
Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế. Từ đó, đề ra các giải pháp đối
với lao động Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế.
- TS. Nguyễn Thị Lan Hương: "Thị trường lao động Việt Nam: Định
hướng và phát triển", NXB Lao động - xã hội, Hà Nội, 2002. Tác giả đi từ
việc phân tích các luận cứ cơ bản định hướng phát triển thị trường lao động
Việt Nam, sự hình thành và phát triển của thị trường lao động Việt Nam. Từ
đó đề xuất các giải pháp định hướng phát triển thị trường lao động Việt Nam
giai đoạn 2001- 2010.
- Cuốn “Nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị
hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Nguyễn Tiệp đã nêu những
vấn đề về những đặc trưng cơ bản của nguồn lực nông thôn trong quá trình đô
thị hóa tác động chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Dòng lao động di
chuyển từ nông thôn ra thành thị bao gồm có lao động nhập cư và sinh sống
làm việc tại các tỉnh và lao động nông thôn đến tỉnh làm việc mang tính thời
vụ. Các chính sách hỗ trợ hoặc phát triển hệ thống tín dụng ưu đãi cho đào tạo
nhân lực nông nghiệp nông thôn từ nhà nước còn hạn chế.
- Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách đào tạo nghề:
Nguyễn Chí Trường (2012), Luận án tiến sĩ "Phân tích các yếu tố ảnh
hướng đến công tác dạy nghề Việt Nam: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng giai đoạn 2013 - 2020” chuyên ngành Quản trị kinh doanh Trường Đại
học Nông lâm. Đại học Thái Nguyên. Luận án đã xác định và phân tích các yếu
tố có ảnh hưởng đến chất lượng dạy nghề gồm: đặc tính cá nhân; trình độ giáo
viên dạy nghề; Cơ sở vật chất giảng dạy. Năng lực quản lý; Cơ hội việc làm:
Thông tin thị trường lao động: Hỗ trợ chính sách về dạy nghề. Trên cơ sở đó,
luận án cũng đề xuất các giải pháp. chiến lược nhằm nâng cao chất lượng dạy
nghề góp phần tăng năng xuất lao động và nâng cao năng lực cạnh tranh của
4
đất nước gồm các giải pháp, chiến lược như: nâng cao năng lực giáo viên cán
bộ quản lý dạy nghề, nâng cao năng lực quản lý về dạy nghề, tăng cường cơ sở
vật chất dạy nghề, hỗ trợ cơ hội việc làm; tăng cường thông tin thị trường lao
động và chính sách phát triển dạy nghề; nâng cao chất lượng phát triển các bộ
tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (NOSS), nâng cao năng lực hệ thống đánh
giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Mặt khác, luận án đã phân tích
những mô hình điển hình, các kinh nghiệm hay của một số nước phát triển có
mô hình dạy nghề hiện đại đáp ứng hiệu quả nhu cầu của ngành công nghiệp
trên thế giới và đề xuất mô hình mới nhằm gắn kết dạy nghề với thực tiễn
ngành công nghiệp cho Việt Nam, gồm: mô hình trường trung học đào tạo
nghề cao cấp; mô hình Cơ quan quản lý đánh giá kỹ năng nghề quốc gia
(NSTMA), mô hình Hội đồng nghề, khung trình độ quốc gia, đề xuất sửa đổi,
bổ sung một số quy định của pháp luật liên quan như luật lao động, luật dạy
nghề, đề xuất thông qua luật việc làm liên quan đến các quy định quyền hạn,
trách nhiệm của người lao động được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia,
đặc biệt là quy định vể thang bảng lương, quyền hạn, trách nhiệm của bên sử
dụng lao động đối với người được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, quyền
hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với người lao động và
người sử dụng lao động có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Ngô Phan Anh Tuấn (2012) Luận án Tiến sỹ “Đảm bảo chất lượng đào
tạo của trung tâm dạy nghề công lập vùng Đông Nam Bộ " chuyên ngành
Quản lý giáo dục. Luận án đã đưa ra được những đánh giá khách quan về thực
trạng, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và đề xuất được các giải pháp đảm bảo
chất lượng đào tạo, nhằm duy trì và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo ở
trung tâm dạy nghề công lập vùng Đông Nam bộ. Bước đầu khẳng định được
tính đúng đắn của giả thuyết khoa học: “Đảm bảo chất lượng là cấp độ quản lí
chất lượng phù hợp với các trung tâm dạy nghề công lập. Nếu đánh giá đúng
thực trạng và triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp theo một hệ thống
5
đảm bảo chất lượng đào tạo phù hợp với đặc điểm và điều kiện cụ thể của
trung tâm dạy nghề công lập thì sẽ duy trì và từng bước nâng cao được chất
lượng đào tạo ở các trung tâm dạy nghề công lập vùng Đông Nam Bộ”. Về
mặt lí luận: Luận án đã tiếp cận quan điểm đảm bảo chất lượng đào tạo ở các
trung tâm dạy nghề công lập theo quá trình: Đầu vào - Quá trình đào tạo -
Đầu ra, phù hợp với đặc thù đào tạo nhân lực trong nền kinh tế thị trường.
Phân tích được các cấp độ quản lí chất lượng, từ đó lựa chọn cấp độ quản lí
chất lượng và thiết lập được hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo phù hợp với
đặc thù và điều kiện của trung tâm dạy nghề công lập; Lựa chọn được các tiêu
chuẩn, tiêu chí để đo kết quả cho việc thực hiện và có thể kiểm định được khi
cần thiết. Nếu được áp dụng vào thực tiễn sẽ hiện thực hóa việc công khai và
minh bạch trong quản lí chất lượng đào tạo ở các trung tâm dạy nghề công lập
hiện nay. Về mặt thực tiễn: Luận án đã phân tích và đánh giá một cách khách
quan thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo, chỉ rõ những tồn tại, nguyên
nhân làm cho đảm bảo chất lượng ở các trung tâm dạy nghề công lập vùng
Đông Nam Bộ còn hạn chế.
Đào Thị Phương Nga, luận văn “Tăng cường sự liên kết giữa trường
dạy nghề với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc giang nhằm nâng cao
chất lượng đào tạo nghề” chuyên ngành Quản trị kinh doanh của Đại học
Nông nghiệp Hà Nội (2008).
Những bài báo, công trình nghiên cứu trên đã cung cấp một cái nhìn
tổng thể về thực trạng công tác đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn, thực
trạng về việc làm và giải quyết việc làm, cũng như thực trạng về thực hiện các
chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn hiện nay.
Các bài báo, công trình này hầu hết đã chỉ ra được các tồn tại, hạn chế
trong công tác đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn như: Công tác đào tạo
nghề cho thanh niên nông thôn ở nước ta vừa qua chưa được quan tâm đúng
mức; nhiều cơ quan, bộ ngành, nhiều địa phương và xã hội nhận thức chưa
6
đầy đủ về công tác đào tạo nghề, trong đó có đào tạo nghề cho thanh niên
nông thôn; xem công tác này chỉ là nhiệm vụ nhất thời, giai đoạn, chưa phải
là công việc thường xuyên, được tổ chức một cách liên tục và có hệ thống;
việc thực hiện còn cầm chừng, chưa có sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, các
ngành, các địa phương. Ngoài ra, bản thân người dân và người nông dân nhận
thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của công tác đào tạo nghề dẫn đến thái độ
không mặn mà, thậm chí còn thờ ơ với công tác này. Công tác tuyên truyền
của các cấp, các ngành, các cơ quan thực hiện chưa tốt; công tác điều tra,
khảo sát và dự báo nhu cầu về đào tạo còn gặp nhiều khó khăn đã làm cho
công tác đào tạo nghề, trong đó có đào tạo nghề thanh niên nông thôn thời
gian qua chưa thực sự hiệu quả.
Bên cạnh đó, các công trình, bài viết cũng đã nêu lên được thực trạng
của chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn ở nước ta hiện nay, qua
đó đề xuất nhiều giải pháp, cách làm nhằm giúp cho chính sách đào tạo nghề
cho thanh niên nông thôn ngày càng hoàn thiện hơn. Các tác giả đều nhất trí
cho rằng để hoạt động đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn ngày càng đi
vào thực tiễn, mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân, cần phải có sự vào
cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, nhất là
các cấp chính quyền ở địa phương từ tỉnh đến xã và nhu cầu đào tạo nghề phải
xuất phát từ yêu cầu thực tế của người dân, người nông dân, từ tình hình phát
triển KT-XH của đất nước, của từng địa phương và của các doanh nghiệp…
thì việc triển khai, tổ chức thực hiện mới có hiệu quả được…
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu vấn đề
chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn ở huyện Thạch Thất, thành
phố Hà Nội. Xuất phát từ lý do trên học viên chọn đề tài này làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình, đề tài luận văn thực hiện có sự kế thừa, phát triển những
thành quả của những tài liệu liên quan trước đó để đánh giá, phân tích, từ đó
đề xuất ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế và chủ trương phát triển
7
kinh tế - xã của huyện Thạch Thất trong những năm tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận, thực tiễn về thực hiện
chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn, đồng thời phân tích, đánh
giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn,
luận văn đưa ra định hướng và những giải pháp hoàn thiện thực hiện chính
sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn ở huyện Thạch Thất, thành phố
Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải cơ sở lý luận về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên nông thôn
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên nông thôn ở huyện Thạch Thất.
- Đưa ra những định hướng cơ bản và giải pháp hoàn thiện việc thực
hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn từ thực tiễn huyện
Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện các nội dung chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
nông thôn ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác giả tập trung nghiên cứu thực hiện chính sách ĐTN cho TNNT của
Huyện Thạch Thất.
+ Nội dung: Hoạt động thực hiện chính sách ĐTN cho TNNT
+ Không gian: Địa bàn huyện Thạch Thất
+ Thời gian: Từ năm 2015-2020
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
8
- Phương pháp luận:
Luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật. Cơ sở lý luận
là tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về đào
tạo nghề và chính sách ĐTN.
- Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, dự báo,...
để đưa ra các giải pháp.
Các phân tích dựa trên số liệu thu thập được từ nguồn cung cấp chính
thống ở huyện Thạch Thất và các tài liệu tham khảo khác.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu, làm rõ thêm một số vấn đề về lý luận của chính
sách ĐTN cho TNNT từ thực tiễn huyện Thạch Thất; làm rõ thêm một số xu
hướng trong ĐTN cho TNNT trong cơ chế, điều kiện KT – XH hiện nay của
nước ta và của huyện Thạch Thất.
Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan
chuyên môn, các sở, ban, ngành liên quan đến việc hoạch định chính sách,
chiến lược ĐTN cho TNNT tại huyện cũng như vận dụng cho các địa phương
khác một cách hợp lý. Đề xuất những định hướng, giải pháp để tiếp tục thực
hiện và hoàn thiện chính sách ĐTN tại huyện Thạch Thất.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận
dụng các lý thuyết về chính sách công để xem xét giữa lý thuyết và thực tiễn
về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn ở huyện
Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban
ngành trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo nghề một cách hiệu quả
9
hơn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên nông thôn
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách chính sách đào tạo nghề
cho thanh niên nông thôn ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Định hướng và giải pháp thực hiện chính sách đào tạo nghề
10
cho thanh niên nông thôn ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN
1.1. Tầm quan trọng của đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn
1.1.1. Vai trò của thanh niên trong phát triển kinh tế nông thôn
Thanh niên là lực lượng xã hội hùng hậu, có sức khoẻ, có trình độ học
vấn, có tiềm năng sáng tạo, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học hiện
đại. Trong giai đoạn cách mạng mới, với bối cảnh thế giới biến động phức
tạp, trước những thách thức to lớn của xu thế toàn cầu hoá về kinh tế, sự phát
triển của kinh tế tri thức. Thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng, là
nguồn nhân lực quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước nói chung, của sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển kinh tế
nông thôn nói riêng.
Phát triển kinh tế nông thôn là một trong những chủ trương lớn của
Đảng và Nhà nước ta. Để chương trình đạt được hiệu quả cao cần có sự chung
tay góp sức của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội,
trong đó, thanh niên có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng.
Có thể khẳng định, thanh niên là một lực lượng quan trọng góp phần
đáng kể trong việc tạo ra của cải vật chất cho gia đình và xã hội; là lực lượng
xung kích trong các phong trào thi đua xây dựng quê hương ngày càng văn
minh giàu đẹp. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thanh niên có
trình độ và tay nghề ngày càng cao, được trau dồi các kỹ năng nghề nghiệp,
không ngừng phấn đấu vươn lên đáp ứng nhu cầu của quá trình đổi
mới. Nhiều thanh niên đã tích cực tiếp thu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản
xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần không nhỏ vào sự phát
11
triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn.
Phát triển kinh tế nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và
toàn xã hội. Trong đó, vai trò của đoàn thanh niên là rất lớn. Thanh niên với
tinh thần xung kích đi đầu trong các hoạt động, dám nghĩ, dám làm và dám
chịu trách nhiệm. Vì vậy, thanh niên là những người tích cực hưởng ứng, thực
hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước; tuyên truyền, vận động và đưa các chủ trương, chính sách đó vào
cuộc sống, đến với các các tầng lớp nhân dân. Vai trò của thanh niên trong
tiến trình phát triển kinh tế nông thôn được thể hiện bằng những việc làm thiết
thực và cụ thể sau:
Thứ nhất, đoàn viên là người xung kích đi đầu vận động thanh niên
nông thôn tham gia học tập, nâng cao trình độ, tổ chức và xây dựng các phong
trào thanh niên tại địa phương như: phong trào thanh niên lập nghiệp, thanh
niên nông thôn trong công tác bảo vệ môi trường, thanh niên nông thôn trong
phong trào văn nghệ, văn hóa của địa phương.
Thứ hai, từng đoàn viên thật sự là người tuyên truyền viên, vận động
gia đình, hàng xóm hiểu rõ được vai trò quan trọng của việc phát triển kinh tế
nông thôn. Gia đình có đoàn viên thanh niên là những gia đình đi đầu trong
các hoạt động phát triển kinh tế nông thôn như: tích cực tăng gia phát triển
sản xuất, nâng cao thu nhập cho hộ gia đình, tham gia trồng cây xanh bảo vệ
môi trường...
Thứ ba, tuyên truyền vận động tham gia phát triển kinh tế nông thôn
bằng các hoạt động: vận động nông dân hiến đất và góp ngày công để xây
dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; tích cực tham gia phát triển sản xuất, nâng
cao thu nhập; vận động nông dân tham gia các hợp tác xã, áp dụng các kiến
thức khoa học kỹ thuật để sản xuất ra các sản phẩm an toàn; đẩy mạnh hỗ trợ
phát triển các ngành nghề; vay vốn tín dụng để phát triển sản xuất, xây dựng
12
các công trình hầm biogas, nhà vệ sinh…
Với phương châm hành động “Mỗi thanh niên một việc tốt, mỗi cơ sở
Đoàn một hoạt động thiết thực tham gia phát triển kinh tế nông thôn”, Thành
Đoàn Thanh niên đã phối hợp với các Đoàn cơ sở thực hiện những công trình,
phần việc cụ thể góp phần xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân
chủ, công bằng, văn minh.
1.1.2. Sự cần thiết phải đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn
Đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn cũng
như chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn nói riêng luôn được
Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày
05/8/2008 của BCH TW Đảng khóa X về “nông nghiệp, nông thôn, nông
dân” đã nêu rõ quan điểm, định hướng, mục tiêu của Đảng ta trong chiến lược
phát triển đất nước đó là: “…CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là một
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình CNH-HĐH hoá đất nước. Một
trong những giải pháp và nhiệm vụ quan trọng của Nghị quyết là việc thực
hiện đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho LĐNT; với mục tiêu Nghị quyết
phấn đấu đến năm 2020 lao động NN còn khoảng 30% trên tổng lao động xã
hội, tỉ lệ LĐNT qua đào tạo đạt trên 50%, bảo đảm phát triển hài hòa, thu hẹp
khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, giữa thành thị và nông thôn”.
Để triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành
Chương trình hành động tại Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008;
trong đó việc xây dựng CTMT quốc gia về đào tạo nguồn nhân ở nông thôn là
một trong những Chương trình quan trọng của Nghị quyết, với mục tiêu: “Tập
trung đào tạo nguồn nhân lực nông thôn, chuyển một bộ phận lao động NN và
dịch vụ, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của LĐNT tăng lên 2,5 lần so
với hiện nay; tập trung xây dựng kế hoạch, đề ra các giải pháp để đào tạo con
em nông dân có đủ trình độ, năng lực để vào làm việc trong các cơ sở sản
xuất công nghiệp, cơ sở dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp; đối với bộ phận nông
13
dân còn tiếp tục sản xuất NN thì tiến hành đào tạo, trang bị kiến thức, kỹ năng
cho họ, để nâng cao trình độ, nắm bắt được kỹ thuật, công nghệ sản xuất mới;
bên cạnh đó tập trung đào tạo nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý, các
bộ cơ sở”.
Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ thể hiện rõ quan điểm “Đào tạo
nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của các
ngành, các cấp và của toàn xã hội nhằm đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn
lao động nông thôn, phục vụ cho yêu cầu CNH-HĐH nông nghiệp, nông
thôn”; thể hiện các chính sách về đào tạo nghề lao động nông thôn của Nhà
nước, là cơ sở để huy động các nguồn lực thực hiện nhằm tăng cường, nâng
cao số lượng và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực lao động nông thôn theo
mục tiêu đề ra. Với thời gian thực hiện trong 11 năm (2010-2020), mục tiêu
của Đề án là: “Dạy nghề cho khoảng 10,6 triệu lao động nông thôn, trong đó
hỗ trợ dạy nghề cho 6,54 triệu người theo chính sách của Đề án; bình quân
hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1 triệu lao động nông thôn, trong đó đào
tạo, bồi dưỡng 100 ngàn lượt cán bộ, công chức xã; đến năm 2020, lao động ở
nông thôn còn khoảng dưới 30% lao động xã hội, tỷ lệ qua đào tạo đạt trên
50%, tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề tối thiểu đạt 80%”[43].
Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn có vai trò đặc biệt
quan trọng đối với việc phát triển nguồn vốn con người, nguồn nhân lực trong
tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Đào tạo
nghề là một trong những giải pháp đột phá của chiến lược phát triển KT-XH,
nhằm đào tạo nguồn nhân lực, phát triển nhanh đội ngũ lao động kỹ thuật trực
tiếp, phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, góp phần đảm bảo an sinh
xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước. Việc đào tạo nghề cho thanh
niên nông thôn có ý nghĩa rất lớn trong việc góp phần chuyển dịch lao động,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà
nước ta là thực hiện giảm nghèo bền vững, từng bước giảm bớt sự chênh lệch
14
giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn. Vì vậy đào tạo nghề và nâng cao chất
lượng đào tạo nghề cho lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng
có một ý nghĩa rất lớn, là yêu cầu cần thiết và cấp bách, là chính sách hàng
đầu trong phát triển KT-XH của nước ta trong thời gian qua cũng như trong
giai đoạn đến.
1.1.3. Khó khăn, thách thức trong đào tạo nghề cho thanh niên nông
thôn
Một là, đào tạo nghề còn có một số hạn chế về nhận thức của xã hội.
Công tác thông tin tuyên truyền dạy nghề, giải quyết việc làm chưa được sâu
rộng, do đó thanh niên chưa thật mặn mà với việc học nghề, chưa có khái
niệm đúng về việc làm. Có nhiều lý do như: vì quá nghèo, không có tiền đi
học nghề; mang nặng tư tưởng đi làm thuê sẽ có "tiền ngay"; kén chọn nghề
để học... Phần đông thanh niên nông thôn là lao động phổ thông chưa qua đào
tạo. Việc thay đổi nhận thức để dạy nghề cho thanh niên nông thôn là bài toán
không hề đơn giản. Họ ra thành phố làm việc và chỉ tìm được những công
việc đơn giản làm theo mùa vụ, với mức thu nhập thấp. Số ở lại địa phương
làm kinh tế nhỏ lẻ, chưa áp dụng được các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất nông nghiệp nên năng suất thu được không cao. Do có sự chuyển dịch về
lao động tới các vùng miền, lực lượng thanh niên đi làm ăn xa chiếm tỉ lệ lớn,
vì vậy gặp rất nhiều khó khăn trong công tác nắm bắt tình hình, nhu cầu việc
làm của thanh niên cũng như công tác đào tạo nghề, tư vấn việc làm cho họ.
Khi đã tham gia học nghề, số lượng học viên tại các lớp dạy nghề lao động
nông thôn nói chung và thanh niên nông thôn nói riêng chưa được duy trì
thường xuyên do ảnh hưởng của thời vụ sản xuất nông nghiệp.
Hai là, chương trình, chất lượng, quy mô đào tạo cũng như chất lượng
giáo viên và trang thiết bị chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức. Kinh phí
dành cho dạy nghề còn hạn chế, dạy nghề chưa gắn với việc làm thực tế. Cơ
sở vật chất ở các trung tâm dạy nghề quy mô nhỏ, yếu kém: máy móc,
15
phương tiện, dụng cụ phục vụ cho việc học và thực hành của học viên lạc hậu,
chậm đổi mới. Việc mua sắm phương tiện, dụng cụ, nguyên liệu phục vụ đào
tạo của một số nghề chưa hợp lý. Quá trình dạy nghề ở các trường dạy nghề
còn nặng về lý thuyết, dành ít thời gian cho thực hành tại xưởng và thực tập ở
các doanh nghiệp nên thiếu tính thực tế.
Ba là, chất lượng học nghề chưa cao. Người học có trình độ văn hóa
thấp; năng lực của một bộ phận giáo viên, cán bộ quản lý, dạy nghề còn hạn
chế. Hầu hết các trung tâm dạy nghề ở các địa phương còn thiếu đội ngũ giáo
viên. Đội ngũ giáo viên hiện có phần lớn đều được ký hợp đồng thời vụ. Thời
gian đào tạo nghề, chuyển đổi ngành nghề cho thanh niên nông thôn còn ngắn
dẫn tới chất lượng dạy nghề chưa cao.
Bốn là, công tác phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong công tác
chăm lo, giáo dục, đào tạo, giải quyết việc làm cho thanh niên chưa thường
xuyên, thiếu chặt chẽ và chưa mang lại hiệu quả cao. Chưa huy động được sự
đóng góp của toàn xã hội và sự tham gia của các doanh nghiệp. Hoạt động
của đa số các cơ sở dạy nghề còn trông chờ, ỷ lại, dựa vào chỉ tiêu ngân sách
nhà nước cấp, thiếu chủ động đổi mới để đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động.
Năm là, việc đào tạo chưa thật sự gắn với giải quyết việc làm cho thanh
niên. Tỷ lệ thanh niên sau đào tạo nghề được giải quyết việc làm còn thấp, cơ
hội, khả năng tìm được việc làm của họ chưa cao. Nhiều học viên sau khi đào
tạo không tìm được việc làm phù hợp với nhu cầu cũng như đáp ứng được yêu
cầu của các doanh nghiệp tại địa phương. Công tác nắm bắt thị trường lao
động, dự báo nhu cầu lao động chưa được quan tâm đúng mức nên việc định
hướng nghề nghiệp chưa làm được tốt, nhiều lao động học xong không có
việc làm. Thiếu sự phối hợp với các doanh nghiệp để đào tạo theo địa chỉ hay
đào tạo nghề theo đơn đặt hàng; đồng thời, chưa hình thành hệ thống các
trung tâm thông tin về cung - cầu lao động cũng như xây dựng được các tiêu
chí kiểm định chất lượng đào tạo nghề. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế
16
toàn cầu suy thoái như hiện nay, nhu cầu tuyển dụng lao động có sự suy giảm
đáng kể, cùng với đó là chế độ tiền lương và các chế độ phúc lợi khác dành
cho người lao động không được đảm bảo, thậm chí thấp, dẫn đến khó khăn
trong việc giới thiệu lao động đúng theo yêu cầu của doanh nghiệp cũng như
không có sự thống nhất giữa các bên nên lao động có việc làm ngày một
giảm. Bên cạnh đó, nguồn vốn cho thanh niên vay để đầu tư phát triển kinh tế
còn hạn chế, vì vậy khó khăn cho việc đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
đối với các dự án của thanh niên...
1.2.Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn
1.2.1. Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn
1.2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Theo Điều 5, Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11 năm 2006, “Đào tạo
nghề” được hiểu: “là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng
và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc
làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học”
Như vậy, đào tạo nghề có những đặc trưng cơ bản sau:
- Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó
là dạy nghề và học nghề.
+ Dạy nghề: “Là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý
thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự
khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp”
+ Học nghề: “Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực
hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định”
+ Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho
người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo
nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề.
Các hình thức đào tạo nghề gồm có: Hình thức kèm cặp trong sản xuất,
hình thức mở các lớp nghề tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hình thức đào
17
tạo tại cơ cơ sở đào tạo nghề tập trung.
Sự khác nhau giữa khái niệm “Đào tạo nghề” và “Đào tạo nghề cho
thanh niên nông thôn” là ở đối tượng đào tạo nghề; là những thanh niên trong
độ tuổi lao động vùng nông thôn và những điều kiện gắn với quá trình đào tạo
nghề đó. Từ sự phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm:
- Đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn: Là quá trình giảng viên
truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những thanh niên ở
nông thôn có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất
định về nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH nông thôn.
- Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn là hệ thống những
chủ trương, biện pháp của Đảng, Nhà nước, Bộ ngành TW và chính quyền địa
phương đề ra nhằm thúc đẩy hoạt động ĐTN cho TNNT, đáp ứng yêu cầu nâng
cao chất lượng nguồn lao động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn thúc đẩy quá
trình CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn.
1.2.1.2. Nội dung của chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn
Mục tiêu của chính sách ĐTN cho TNNT
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước,
của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Chuyển mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ theo năng lực
sẵn có của cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của lao động
nông thôn và yêu cầu của thị trường lao động; gắn đào tạo nghề với chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng vùng,
từng ngành, từng địa phương. Đổi mới và phát triển đào tạo nghề cho lao
động nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều
kiện thuận lợi để lao động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình độ
18
học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình.
Để tiếp tục thực hiện nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo
nghề cho lao động nông thôn đến năm 2021 và giai đoạn 2022-2025 cần xác
định rõ mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng năm và giai đoạn như sau:
Mục tiêu năm 2021: Đào tạo nghề các cấp trình độ cho 1,43 triệu lao
động nông thôn, trong đó, hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo
dưới 3 tháng cho 990.000 lao động nông thôn (350.000 người học nghề nông
nghiệp, 640.000 người học nghề phi nông nghiệp). Tỷ lệ lao động có việc làm
sau đào tạo đạt trên 80%.
Nhiệm vụ năm 2021: Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương: Rà soát, đánh giá và tổ chức tổng kết Đề án Đào tạo nghề cho
lao động nông thôn tại địa phương, trong đó có sự so sánh, đánh giá kết quả đạt
được so với mục tiêu trong Đề án, kế hoạch thực hiện, từ đó chỉ ra nguyên nhân,
đề xuất kiến nghị triển khai thực hiện trong giai đoạn sau năm 2021.
Chỉ đạo xây dựng, phê duyệt ban hành danh mục nghề đào tạo, định
mức kinh tế kỹ thuật cho từng nghề, định mức chi phí đào tạo cho từng nghề
đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 03 tháng; xây dựng và ban hành chuẩn
đầu ra và minh chứng kèm theo để làm cơ sở đặt hàng đào tạo.
Rà soát, đánh giá lại hoạt động của các Trung tâm GDNN-GDTX sau
sát nhập. Xây dựng, phê duyệt mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại
địa phương.
Xây dựng kế hoạch hàng năm, trung hạn về chỉ tiêu đào tạo, nguồn lực
thực hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói riêng, chính sách hỗ trợ
đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và tổ chức triển khai thực hiện
có hiệu quả.
Gắn chặt việc rà soát, xác định danh mục nghề đào tạo với làm tốt công
tác định hướng, tư vấn nghề để người lao động lựa chọn. Có những biện pháp
19
tích cực giải quyết đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp. Tạo mọi điều kiện thuận
lợi để người lao động được vay vốn sản xuất kinh doanh và tạo việc làm sau
khi học để phát huy hiệu quả dạy và học nghề.
Tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành, tổ chức chính trị xã hội,
tổ chức xã hội, cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn, Hợp
tác xã, cơ sở sản xuất trong việc đào tạo nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu xã hội,
vị trí việc làm của doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn, Hợp tác xã, cơ sở sản
xuất và quy hoạt phát triển kinh tế của các Vùng/miền trong cả nước.
Tiếp tục chỉ đạo các cơ quan phát thanh, truyền hình, báo, đài của địa
phương xây dựng, duy trì, cập nhật chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền về
đào tạo nghề, tạo việc làm đối với lao động nông thôn, người khuyết tật, lao
động nữ.
Chủ động bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương,
ngân sách địa phương) để triển khai công tác đào tạo nghề cho lao động nông
thôn. Thực hiện lồng ghép, huy động có hiệu quả các nguồn lực từ các
chương trình, dự án để cùng với nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Trung
ương của Đề án để thực hiện hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đào
tạo nghề cho người khuyết tật và lao động nữ. Xây dựng, phê duyệt mức chi
phí đào tạo đối với từng nghề và mức hỗ trợ cụ thể đối với từng đối tượng
theo quy định tại Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ
tướng Chính phủ.
Theo chức năng, nhiệm vụ được phân công tại Quyết định số 971/QĐ-
TTg ngày 01/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành, cơ quan Trung
ương thực hiện rà soát, đánh giá các giải pháp đã triển khai để điều chỉnh, bổ
sung cho phù hợp với thực tiễn.
Năm 2020, tổ chức tổng kết Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông
thôn năm 2020”. Trong đó, Các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương liên quan
(Công Thương, LĐTBXH, NN&PTNT, TTTT, Hội Nông dân, Phụ nữ, Đoàn
20
thanh niên, NHCSXH, các tổ chức của người khuyết tật…) đi sâu nghiên cứu,
tổng kết Đề án theo các nội dung, nhiệm vụ được phân công tại Quyết định số
971/QĐ-TTg.
Xây dựng Dự án “Đào tạo nghề, tạo việc làm cho lao động nông thôn,
vùng dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách thực hiện giảm nghèo bền
vững” trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn
2021-2025 với mục tiêu hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1,5 triệu lao động
nông thôn, trong đó có khoảng 1 triệu lao động thông được hỗ trợ đào tạo
nghề.
Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn được triển khai nhất
quán từ TW đến các địa phương, trên cơ sở các văn bản về chủ trương của
Đảng và chính sách cụ thể của nhà nước như: Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày
5/8/2008 của BCH Trung ương Đảng, Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày
27/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho
LĐNT đến năm 2020, Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
ngày 04/6/2010 phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông
thôn mới giai đoạn 2010 -2020”; đây là chương trình tổng thể về xây dựng
nông thôn mới với các nhiệm vụ, mục tiêu trên tất cả các lĩnh vực về kinh tế,
văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng...; trong đó có việc tập trung đào tạo,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao
động ở vùng nông thôn...
Theo xu thế phát triển, nông thôn sẽ từng bước được đô thị hóa, các
khu đô thị, khu công nghiệp, sản xuất tập trung được hình thành, kéo theo các
công ty, doanh nghiệp sản xuất ra đời, với nhu cầu rất lớn về nguồn lao động,
mà chủ yếu là lao động giản đơn, tay nghề thấp, thậm chí lao động không đòi
hỏi tay nghề kỹ thuật. Do đó, việc ban hành và thực hiện các chiến lược,
chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn sẽ góp phần tạo ra nguồn
21
lao động có tay nghề phục vụ trong sản xuất công nghiệp, NN, phi NN ngay
tại địa phương, cũng như phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hoá.
Nội dung thực hiện chính sách chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
nông thôn
Chỉ thị số 19/CT-TW ngày 05/11/2012 của Ban Bí Thư Trung ương
Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho
LĐNT, tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên,
các cấp ủy, chính quyền các cấp về thực hiên công tác dạy nghề cho LĐNT và
ĐTN phát triển nguồn nhân lực.
Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên nông thôn. Thể chế có thể hiểu là những thiết chế chính trị, luật lệ
và quy định mang tính pháp lý của một chế độ xã hội. Trong chính sách đào
tạo nghề cho thanh niên nông thôn thể chế chính sách có thể hiểu là các văn
bản Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền liên quan đến việc xác định các mục tiêu, Giải pháp, các chủ thể với
nhau cũng như các quy trình hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách.
Lập kế hoạch, phổ biến tuyên truyền chính sách đào tạo nghề cho thanh
niên nông thôn cần xác định các mục tiêu tuyên truyền về chính sách và lựa
chọn các phương thức tuyên truyền để đạt được các mục tiêu đó. Nâng cao
chất lượng hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách ĐTN cho
LĐNT thông qua các hình thức như tuyên truyền trực tiếp,tuyên truyền trên
các phương tiện truyền thông các loại báo hình, qua mạng internet, thông qua
các hoạt động tư vấn về đào tạo nghề....
Phổ biến chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn qua hình
thức tuyên truyền trực tiếp( tuyên truyền miệng ). Tuyên truyền miệng về
chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn là hình thức tuyên truyền
mà đặc trưng là dùng lời lẽ trực tiếp truyền đạt nội dung chính sách cho người
22
nghe. Tuyên truyền miệng có nhiều ưu thế, đặc biệt là tính linh hoạt, có thể
tiến hành ở bất cứ địa điểm nào, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh. Do đây là
hình thức phổ biến chính sách một cách trực tiếp nên người nói có điều kiện
thuận lợi để giải thích, phân tích, người nghe có cơ hội trao đổi, thảo luận.
Tuyên truyền chính sách trên các loại hình báo chí. Đây là hình thức có
tính phổ cập, thường xuyên, kịp thời và rộng khắp, rất có ưu thế trong tuyên
truyền chính sách đao tạo nghề cho thanh niên nông thôn. Tiếp nhận chính
sách thông qua báo chí là con đường tự nhiên, dễ tiếp thu bởi báo chí có các
hình thức thể hiện rất sinh động và có nhiều thể loại tin, bài viết hết sức
phong phú. Phổ biến chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn trên
các loại hình báo chí là một công cụ tuyên truyền giáo dục pháp luật có hiệu
quả xã hội cao. Các phương tiện thông tin đại chúng làm cho mỗi người dân
trong đời sống sinh hoạt thường ngày của mình được tiếp cận với các phương
tiện thông tin đại chúng một cách trực tiếp, cập nhật, phong phú, đa dạng. Các
phương tiện thông tin đại chúng cũng phê phán, nêu rõ các hiện tượng sai trái
thực hiện không đúng chính sách, những hậu quả cho cá nhân, gia đình và xã
hội. Cho nên việc tuyên truyền chính sách thông qua các phương tiện thông
tin đại chúng là cần thiết, có nhiều ưu thế và là một trong những phương
pháp, phương thức tuyên truyefn giáo dục chính sách hiện nay có hiệu quả
cao, được nhiều người ở nhiều lứa tuổi quan tâm
Một số cách thức phổ biến tuyên truyền chính sách qua mạng intenet.
Cung cấp văn bản liên quan đến chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông
thôn. Hỏi đáp chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn, Xây dựng
các chuyên mục chuyên sâu về chính sách. Tổ chức giao lưu trực tuyến.
Tuyên truyền thông qua hoạt động tư vấn đào tạo nghề. Hình thức này
có đặc trưng chính là thông qua việc cung cấp dịch vụ giải đáp về chính sách
đào tạo nghề, hướng dẫn người nghe để họ hưởng những quyền, lợi ích của
23
mình.
Chuẩn bị nguồn lực tài chính thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
TNNT. Nguồn ngân sách nhà nước gồm 3 nội dung: Nguồn kinh phí thường
xuyên, vốn đầu tư xây dựng cơ bản và vốn chương trình mục tiêu quốc gia.
Nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước gồm học phí, lệ phí tuyển sinh, các
khoản thu từ dịch vụ, hoạt động sản xuất kinh doanh, tư vấn chuyển giao công
nghệ, vốn đầu tư tài trợ của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.
Nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước thời gian qua luôn quan tâm đầu
tư cho đào tạo nghề, đặc biệt là đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn và đào
tạo nghề cho đối tượng yếu thế. Ngân sách nhà nước cũng được bố trí đào tạo
nghề cho lao động nông thôn thông qua các chương trình cho vay giải quyết
việc làm, cho vay vốn hộ nghèo… Tuy ngân sách nhà nước hiện nay dành cho
công tác đào tạo nghề khá cao, song hiệu quả dạy nghề cho thanh niên nông
thôn không đồng đều giữa các vùng trong cả nước, các vùng trung du và miền
núi phía Bắc, tây nguyên có số lao dộng nông thôn được hỗ trợ học nghề và tỷ
lệ lao động có việc làm sau học nghề thấp. Trong khi đó cả nước có không ít
cơ sở đào tạo hoạt động cầm chừng hoặc đứng trước nguy cơ ngừng hoạt
động. Nguồn lực tài chính ngoài ngân sách dành cho lao động nông thôn bao
gòm các nguồn sau học phí, nguồ viện trợ phát triển ODA trong khi nguồn
kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước còn hạn chế thì việc phát triển các
nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề trong thòi gian tới là rất cần thiết. Cần
tăng cường thu hút nguồn xã hội hóa vào hỗ trợ đào tạo nghề, đồng thời đẩy
mạnh cơ chế tự chủ để đổi mới quản lý giáo dục nghề nghiệp.
Thanh tra, kiểm tra, giám sát. Hằng năm, đưa việc thanh tra, kiểm tra
các cơ sở dạy nghề đóng trên địa bàn vào kế hoạch kiểm tra pháp luật dạy
nghề nói riêng. Công tác quản lý nhà nước về ĐTN cho TNNT đã được tăng
cường, đặc biêt là sự phối hợp giữa các sở ban ngành trong công tác kiểm tra,
24
giám sát.
Nội dung thanh tra, kiểm tra, giám sát bao gồm. Việc chấp hành các
quy định về đăng ký hoạt động dạy nghề, việc xây dựng điều lệ trường, liên
kết đào tạo nghề, việc bổ nhiệm hiệu trưởng, hiệu phó, việc thực hiện công tác
tuyển sinh, việc phối hợp các cơ quan, doanh nghiệp trong việc tổ chức lớp
dạy nghề, việc thực hiện mục tiêu chương trình đào tạo biên soạn giáo trình
đào tạo, biên soạn giáo trình dạy nghề, việc chấp hành các quy chế, quy định
ở tất cả các khâu trong quá trình đào tạo nghề.
1.2.1.3 Các bước thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
nông thôn
Thứ nhất, việc xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo nghề cho
thanh niên đã được triển khai sâu rộng, thông qua việc phát triển mạng lưới
cơ sở dạy nghề bao gồm các trường dạy nghề, các trung tâm dạy nghề và các
tổ chức cá nhân.
Đây là nội dung rất quan trọng và có ý nghĩa hàng đầu để thực hiện
chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn hiện nay, bởi thông qua
thực hiện chính sách dạy nghề giúp cho các cơ sở đào tạo có sự phát triển về
số lượng, chất lượng, hình thức, quy mô các cơ sở đào tạo. Mỗi bước tiến của
sự phát triển về chính sách xã hội nói chung và chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên nói riêng là sự phản ánh của các cơ sở đào tạo nghề, đến lượt mình
các cơ sở đào tạo chính là nơi cụ thể hóa của chính sách đào tạo nghề.
Vì thế, mối quan hệ giữa chính sách đào tạo nghề và cơ sở đào tạo nghề
là mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau. Chính sách đào tạo nghề
khoa học, hợp lý, phản ánh đúng thực trạng các cơ sở đào tạo là điều kiện,
tiền đề để cho những cơ sở đào tạo nghề có những điều chỉnh cho phù hợp với
thực tiễn vận động, phát triển của xã hội. Trong những năm vừa qua, UBND
thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều chỉ thị, hướng dẫn về việc điều chỉnh,
mở rộng, xây dựng, đầu tư mới cho các cơ sở đào tạo dạy nghề cho thanh niên
25
nói chung và thanh niên nông thôn nói riêng: Chỉ thị số 15/2009/CT-TU ngày
20/7/2009 của Thành ủy Hà Nội về “Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh
công tác dạy nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội”; Đề án Đào tạo nghề cho
lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2015 của
Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
đến năm 2020” trên địa bàn thành phố Hà Nội; Quyết định số 3658/QĐ-
UBND ngày 17/7/2016 về tổ chức điểu tra, khảo sát nhu cầu đào tạo nghề cho
lao động nông thôn thành phố Hà Nội… UBND thành phố đã lãnh đạo, chỉ
đạo các sở, ban, ngành các tổ chức lực lượng có liên quan làm tốt công tác
tuyên truyền, giáo dục về các văn bản, chỉ thị, hướng dẫn đó đến từng cơ sở
đào tạo, cử lực lượng tiến hành phát tờ rơi cho thanh niên để họ nắm bắt được
quan điểm chỉ đạo thực hiện đề án 1956 của Đảng, Nhà nước, UBND thành
phố, trên cơ sở đó quán triệt và nghiêm túc thực hiện.
Qua việc thực hiện những chính sách đó đã thu hút được lượng lớn
lao động nông thôn vào làm việc. Mô hình thực hiện hiệu quả, người lao động
sau khi học nghề có kiến thức, tích cực, chủ động vận động thanh niên tham
gia vào công tác đào tạo nghề.
Thứ hai, việc phân công phối hợp giữa các cơ quan, các cấp được
tiến hành thường xuyên, liên tục trong xây dựng và thực hiện chương trình
đào tạo nghề cho thanh niên
Thực chất của việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
nông thôn là giải quyết việc làm cho thanh niên. Do đó, chính sách đào tạo
nghề cũng phải hướng vào thanh niên, đem lại nhiều cơ hội mới cho thanh
niên, tạo hành lang thông thoáng cho thanh niên có điều kiện tìm kiếm cơ hội
việc làm nhờ vào những chính sách đào tạo nghề do Đảng, Nhà nước, UBND
thành phố, các cơ quan, chức năng, ban ngành ban hành. Thanh niên nông thôn
là lực lượng trẻ, khỏe có trình độ, có khả năng tiếp thu nhanh những tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào một lĩnh vực cụ thể. Thực hiện tốt chính sách đào tạo
26
nghề cho thanh niên nông thôn sẽ lôi kéo, thu hút được nhiều lao động khác,
giúp cho các cơ sở đào tạo có thêm nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình giáo
dục, đào tạo. Mặt khác, chính sách đào tạo nghề là một mặt hoạt động của
những chính sách xã hội nói chung, do đó, thực hiện chính sách đào tạo nghề
cho thanh niên nông thôn sẽ giúp cho việc phát triển sản xuất, kinh doanh, phát
triển nghề truyền thống, chuyển đối cơ cấu kinh tế ở khu vực ngoại thành tạo
việc làm cho thanh niên ngoại thành được tạo điều kiện vay từ Quỹ Quốc gia
giải quyết việc làm. Chính sách thị trường giúp cho việc sản xuất kinh doanh
của thanh niên ngoại thành phát triển thuận lợi như giúp quảng bá, trưng bày
sản phẩm, giới thiệu ấn phẩm, tham gia hội chợ. Thực hiện tốt chính sách về
đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn sẽ tạo điều kiện về thủ tục đầu tư và xây
dựng, đền bù giải phóng mặt bằng, ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất,
thuế sử dụng đất đối với các tổ chức, cá nhân có các dự án xây nhà cho thuê,
bán cho thanh niên ngoại thành theo phương thức trả góp với thời hạn và giá cả
hợp lý ở những khu vực ngoại thành tập trung nhiều lao động trẻ.Từ đó, hỗ trợ
thanh niên ngoại thành lập nghiệp, khởi sự doanh nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng về
khởi sự doanh nghiệp, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật, biểu dương, tôn
vinh các doanh nghiệp trẻ tiêu biểu, làm kinh tế giỏi. Chính sách đào tạo nghề
cho thanh niên nông thôn khi được mở rộng sẽ tạo rất nhiều thời cơ thuận lợi
cho họ tìm kiếm việc làm như: Chính sách thuế, tín dụng ưu đãi để đào tạo bồi
dưỡng doanh nhân trẻ và khởi sự doanh nghiệp, mở rộng làng nghề, phát triển
sản xuất kinh doanh; tự tạo việc làm, xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh thu
hút thanh niên ngoại thành vào làm việc; xuất khẩu lao động. Đồng thời UBND
các cấp và hệ thống chính quyền cơ sở cũng có những cơ chế, chính sách đúng
đắn, hợp lý để lôi kéo, động viên, khuyến khích thanh niên nông thôn vào học
nghề như: chính sách hỗ trợ vốn cho thanh niên làm kinh tế tại địa phương,
chính sách mời những chuyên gia của phòng, tỉnh, thành phố về tư vấn cho
27
thanh niên, tìm kiếm thị trường lao động cho thanh niên, bảo trợ cho thanh niên
trong quá trình đi xuất khẩu lao động, tìm việc làm cho thanh niên sau khi học
nghề xong....
Thứ ba, việc huy động các nguồn lực bao gồm xây dựng đội ngũ giáo
viên, trường nghề vững mạnh được tiến hành chặt chẽ nghiêm túc bảo đảm về
số lượng và chất lượng
Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên không chỉ hướng tới một đối
tượng cụ thể mà còn hướng tới các tổ chức, lực lượng có liên quan để góp
phần nâng cao chất lượng của các cơ sở đào tạo nghề cho thanh niên nông
thôn. Đội ngũ giáo viên ở các cơ sở đào tạo là nhân tố cấu thành trong việc
thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên, họ là chủ thể truyền tải
những chủ trương, đường lối về thực hiện chính sách đào tạo nghề đến thanh
niên, căn cứ vào những văn bản, chỉ thị, hướng dẫn đó, đội ngũ giáo viên cụ
thể hóa vào từng đối tượng, từng chuyên ngành đào tạo cụ thể. Thực hiện
chính sách đào tạo nghề cũng tạo điều kiện để kiện toàn lại cơ cấu tổ chức,
biên chế đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên ở các cơ sở đào tạo bảo đảm đủ về
số lượng và chất lượng; hỗ trợ đào tạo chuẩn hoá giáo viên, tạo điều kiện cho
giáo viên học tập nâng cao trình độ, công tác đào tạo lại giáo viên cho phù
hợp với thực tế của xã hội để cập nhật phương pháp dạy học mới, đánh giá
công tác cho đi đào tạo và tự đào tạo trong nhà trường.
Các chính sách về chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho giáo viên
được quan tâm, chú trọng như: ưu tiên giáo viên có kinh nghiệm trong dạy
nghề bằng việc hỗ trợ kinh phí; bồi dưỡng giáo viên dạy ở những ngành đỏi
hỏi hàm lượng khoa học cao; tổ chức cho giáo viên đi nghỉ mát thăm quan
vào những dịp hè, lễ tết... Việc đầu tư nhiều cho trong công tác giảng dạy như
soạn giáo trình, đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm cập nhật các kiến thức
mới nhất cho bài giảng để nâng cao chất lượng của giờ giảng, nâng cao tinh
thần tự học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện bản thân đáp ứng tiêu chí của trường:
28
“Mỗi thầy giáo là một tấm gương để sinh viên noi theo”. Hiện nay, đội ngũ
giáo viên ở các cơ sở đào tạo nghề về cơ bản là đáp ứng được với mục tiêu,
yêu cầu của quá trình đổi mới nội dung, chương trình giáo dục, đào tạo.
Thứ tư, Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học tập
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học ở các cơ sở
đào tạo có ý nghĩa rất quan trọng, tác động rất lớn đến việc nâng cao chất
lượng ở các cơ sở đào tạo đó. Cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng là sự phản
ánh của chính sách đào tạo nghề và đến lượt mình các cơ sở đào tạo tác động
trở lại đối với việc thực hiện những chính sách đào tạo nghề. Đối với bất kỳ
cơ sở đào tạo nghề nào thì hệ thống cơ sở vật chất bao gồm: địa điểm, hệ
thống phòng học, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho việc dạy và học của giáo
viên và sinh viên; chỗ ở cho sinh viên, tài liệu nghiên cứu là những yếu tố
không thể thiếu, nói lên tiềm lực của cơ sở đào tạo đó, thu hút được sinh viên
vào học ở mức độ nào. Nếu không có cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ
cho việc dạy và học tập thì bất thành cơ sở đào tạo, cho nên cơ sở vật chất,
trang thiết bị được coi là điều kiện đủ để bảo đảm cho sự hoạt động bền vững
của các cơ sở đào tạo. Trong các văn bản, chỉ thị, hướng dẫn của UBND
thành phố về đầu tư, xây dựng các cơ sở đào tạo dạy nghề cho thanh niên
nông thôn đã thể hiện rõ thông qua những dự án tăng cường đầu tư kinh phí
vốn, sửa chữa lại các phòng chuyên dùng, các trang thiết bị máy móc, phương
tiện kỹ thuật phục vụ cho việc dạy và học của giáo viên, sinh viên; Đặc biệt,
trong điều kiện ngày nay, để quá trình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên được tốt thì những máy móc, trang thiết bị phục vụ cho quá trình
thực hành phải là những máy móc tốt nhất và hiện đại nhất hay ít nhất cũng
phải phù hợp với quá trình sản xuất để người học sau khi kết thúc khóa học
mới không bị bỡ ngỡ khi tiến hành thực tế. Cơ sở vật chất là cầu nối giữa
khoa học giáo dục và thực tiễn sản xuất, là yếu tố căn bản tạo nên môi trường
tiếp cận dẫn đến sản xuất, giúp người học có cái nhìn trực quan hơn về nghề
29
mà mình theo học.
Trang thiết bị giảng dạy là một trong các yếu tố quyết định hình thành
kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp của học sinh, quyết định tính chất công nghệ sản
xuất, gia công chế tạo sản phẩm, chất lượng bài thực hành của học sinh học
nghề. Một cơ sở vật chất, kỹ thuật tốt sẽ cho ra một kết quả đào tạo rất khả
quan, sản phẩm của quá trình đó là những người lao động có trình độ chuyên
môn, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc.
Nếu cơ sở vật chất không đáp ứng được yêu cầu đặt ra thì quá trình học
lý thuyết, thực hành có những hụt hẫng, việc học với các cơ sở dạy nghề và ra
ngoài thực tế làm việc có những khoảng cách lớn, từ đó giảm hiệu quả của
công tác đào tạo, gây lãng phí cho quá trình đào tạo.
Thứ năm, việc duy trì và đôn đốc thực hiện các chính sách đào tạo
nghề cho thanh niên
Duy trì và thực hiện chính sách là hoạt động của cơ quan, cán bộ, công
chức có thẩm quyền thực hiện thông qua các công cụ hữu ích nhằm làm cho
các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp
theo định hướng chính sách. Trên thực tế, khi triển khai thực hiện chính sách,
không phải bộ phận nào cũng làm tốt, làm nhanh như nhau, vì thế, cần có hoạt
động đôn đốc để vừa thúc đẩy các chủ thể nỗ lực nhiều hơn để hoàn thành
nhiệm vụ, vừa phòng, chống những hành vi vi phạm quy định trong thực hiện
chính sách đào tạo nghề cho thanh niên. Những nội dung về thực hiện chính
sách đào tạo nghề cho thanh niên khu vực ngoại thành Hà Nội là một chỉnh
thể thống nhất có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau, thực
hiện tốt nội dung này là cơ sở, tiền đề để thực hiện các nội dung tiếp theo.
Trong đó, nội dung về tăng cường công tác đào tạo và giải quyết việc làm cho
thanh niên nông thôn là quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến việc nâng
cao tính hiệu quả, bền vững của những chính sách đào tạo nghề của Đảng,
30
Nhà nước, UBND và của các cơ quan, chức năng, ban ngành có liên quan.
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đào tạo
nghề cho thanh niên nông thôn
Chính sách đào tạo nghề cho TNNT chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố
khác nhau, nhưng xem xét trên một số mặt, một số khía cạnh nhất định, thì
chính sách này chịu ảnh hưởng của một số yếu tố chính như sau:
1.2.2.1. Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên các vùng có tác động đến sự phân bố lao động,
chất lượng lao động, từ đó sẽ ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề. Điều
kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu tạo ra các đặc điểm con người khác nhau
giữa các địa phương, vùng, miền dẫn đến những đặc điểm khác nhau giữa
lao động các vùng, miền như lao động thuộc các dân tộc khác nhau, lao
động ở các vùng sinh thái khác nhau, lao động ở đồng bằng và miền núi,
hải đảo đều có những đặc trưng về tập quán, phương thức sản xuất khác
nhau. Khí hậu, thời tiết giữa các vùng khác nhau dẫn đến hệ sinh thái khác
nhau, cây trồng, con vật nuôi khác nhau, tạo ra cách thức sản xuất, cách
thức canh tác khác nhau của người lao động. Vùng đồng bằng người dân
thường giỏi về nghề trồng lúa, người dân ở vùng ven biển thường giỏi nghề
thủy sản, người dân vùng miền núi, trung du lại giỏi về nghề trồng cây
công nghiệp, lâm nghiệp…
Điều kiện về khí hậu, thời tiết cũng tạo ra tính chất mùa vụ khác nhau
dẫn đến công việc và thời gian của lao động làm nghề nông cũng khác nhau.
Điều kiện khí hậu, thời tiết làm cho một số vùng thường xuyên gặp bão lụt,
dẫn đến sản xuất của người dân hay gặp rủi ro... Tất cả các yếu tố về điều kiện
tự nhiên đều ảnh hưởng đến việc xây dựng kế hoạch, lựa chọn hình thức, danh
mục nghề đào tạo cho lao động nông thôn.
1.2.2.2. Quy mô và chất lượng của lực lượng thanh niên nông thôn
Để chính sách đào tạo nghề cho TNNT thực hiện đạt hiệu quả, thì
31
người lao động cần phải có trình độ học vấn nhất định. Điều kiện này có sự
khác biệt giữa các ngành nghề đào tạo mà người lao động mong muốn học
nghề cho bản thân; như đối với đào tạo nghề trong lĩnh vực NN thì điều kiện
học vấn của người lao động chỉ cần ở mức tốt nghiệp THCS (chiếm khoảng
64%); nhưng đối với ngành công nghiệp và dịch vụ thì điều kiện về học vấn
cao hơn, tối thiểu người lao động phải tốt nghiệp THPT (chiếm khoảng 61%),
còn đối với việc làm trong ngành dịch vụ thì đòi hỏi người lao động phải có
học vấn cao hơn (gần 80% yêu cầu tối thiểu tốt nghiệp THPT).
Quy mô và chất lượng của lực lượng lao động phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó yếu tố đào tạo là rất quan trọng và trong thực tế mỗi ngành nghề
hoạt động nhu cầu về trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề của lao động
khác nhau; do đó, trong quá trình tư vấn cho người lao động tham gia học
nghề cũng cần chú ý đến trình độ, khả năng để người lao động học các nghề
nào là phù hợp thì mới phát huy được khả năng, tay nghề sau đào tạo; bên
cạnh đó, chính sách đào tạo nghề cho các đối tượng cũng khác nhau thì mới
mang lại hiệu quả.
1.2.2.3. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và cơ sở vật chất trong dạy
nghề
Đội ngũ nhà giáo có trình độ chuyên môn, có kỹ năng, kinh nghiệm và
nhiệt huyết trong dạy nghề, truyền nghề sẽ góp phần rất lớn trong việc nâng
cao chất lượng đào tạo. Bên cạnh đó đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý trong
dạy nghề được xác định là chủ thể trong quá trình dạy nghề, truyền nghề;
trong quản lý, sử dụng phương tiện, thiết bị, cơ sở vật chất giảng dạy; trong
xây dựng chương trình, giáo trình phục vụ giảng dạy…; do đó, đội ngũ nhà
giáo, cán bộ quản lý là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất
lượng dạy nghề cũng như sự thành công trong việc thực hiện chính sách đào
tạo nghề, trong đó có đào tạo nghề cho TNNT.
Theo chương trình đào tạo nghề, bên cạnh học lý thuyết thì việc thực
32
hành rèn luyện tay nghề và rèn luyện kỹ năng cho người học là chủ yếu (thời
gian thực hành chiếm trên 70% chương trình đào tạo) [7]; do đó, cơ sở vật
chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, nhất là vật tư phôi liệu sử dụng trong
quá trình thực hành là những yếu tố, điều kiện cần thiết liên quan đến chất
lượng đào tạo, liên quan đến việc thực hiện thành công các mục tiêu của chính
sách đào tạo nghề đề ra.
1.2.2.4. Tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH ở nước ta có tác
động đến việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho TNNT trên các mặt sau:
- Đối với lĩnh vực NN và phi NN: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XII của Đảng đã nêu: “...Nông nghiệp có bước phát triển theo
hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao;
chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động;... tạo môi
trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào NN và nông thôn, nhất
là đầu tư của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thu hút nhiều lao động nông
thôn...; cơ cấu lại NN gắn với xây dựng nông thôn mới...” [24, tr.4]. Chủ
trương này tác động rất lớn đến việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
TNNT, do có sự chuyển đổi nghề nên một bộ phận TNNT rất lớn cần phải
được đào tạo phục vụ cho quá trình đô thị hoá ở nông thôn.
Chiến lược dạy nghề cùng lúc phải đáp ứng hai yêu cầu vừa là đào tạo
mới, chuyển đổi ngành nghề đối với lao động trước đây họ là nông dân, để
cung ứng cho các nhà máy, cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
đồng thời phải đào tạo đội ngũ lao động có trình độ cao để đáp ứng, tiếp cận
các ngành nghề mới xuất hiện áp dụng công nghệ sinh học, các loại giống mới
để nâng cao năng suất lao động và phục vụ cho xuất khẩu lao động.
- Đối với lĩnh vực công nghiệp: Trong chiến lược phát triển KT-XH
giai đoạn 2011 - 2020 đã nêu: “Chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ NN
nông thôn, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và vật liệu mới đi đôi với áp
33
dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu. Từng bước phát triển công
nghiệp sinh học và công nghiệp môi trường. Tiếp tục phát triển phù hợp các
ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động nông thôn”.
Chiến lược dạy nghề của Chính phủ đã từng bước làm thay đổi căn bản
xu hướng phát triển, từng bước thay đổi cơ cấu lao động ở nông thôn hiện
nay; khi sản phẩm công nghiệp do gia công, sử dụng nhiều lao động nông
thôn hoặc sản phẩm công nghiệp xuất khẩu thô trong tương lai không phải là
ưu thế vì tính hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh rất thấp trên thị trường thế
giới; do vậy, một mặt phải nâng cao chất lượng các ngành công nghiệp có lợi
thế cạnh tranh, sử dụng nhiều lao động như: chế biến nông, lâm, thuỷ sản,
may mặc, giày da, đồ nhựa…, mặt khác đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực
có công nghệ hiện đại, công nghệ cao, sử dụng nhiều vốn. Những ảnh hưởng
về công nghiệp như trên sẽ tác động trực tiếp đến công tác đào nghề và chính
sách đào tạo nghề cho TNNT.
1.2.2.5. Hệ thống cơ chế chính sách
Cơ chế chính sách của Nhà nước các cấp là yếu tố quan trọng nhất, có
ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển đào tạo nghề, đến việc thực hiện chính
sách đào tạo nghề cho TNNT cả về quy mô, cơ cấu và chất lượng đào tạo.
Các chính sách khuyến khích phát triển hệ thống đào tạo nghề chủ yếu tác
động vào các mặt, những nội dung trọng yếu tạo ra khuôn khổ pháp lý, môi
trường KT-XH, khuyến khích các lực lượng xã hội tham gia vào hoạt động
phát triển dạy nghề. Hệ thống chính sách đồng bộ sẽ là căn cứ, cơ sở pháp lý
quan trọng để tổ chức thực hiện thành công chiến lược phát triển nguồn nhân
lực cho đất nước.
Do đào tạo nghề cần phải có nguồn lực lớn, hiệu quả kinh tế mang lại
phải có thời gian mới thấy được, vì vậy chính sách đào tạo nghề, trong đó có
đào tạo nghề cho TNNT cần phải có các chính sách đầu tư, xã hội hóa, thu hút
34
các nguồn bên ngoài (ngoài nguồn ngân sách nhà nước) một cách rộng rãi, lâu
dài; đồng thời phải có hệ thống văn bản đồng bộ, nhằm tạo hành lang pháp lý,
tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích đào tạo nghề phát triển.
Luật Dạy nghề ra đời năm 2006 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho
việc ra đời hàng loạt chính sách mới liên quan đến người lao động nói chung
và TNNT nói riêng; các chính sách liên quan đến công tác dạy nghề, học nghề
cũng được hình thành như: Chính sách đối với giáo viên, giảng viên và cán bộ
quản lý trong các cơ sở dạy nghề; Chính sách đối với người học nghề, trong
đó có người học nghề thuộc đối tượng LĐNT; các chính sách của Đề án 1956
đến năm 2020; dự án CTMT tiêu quốc gia về dạy nghề và việc làm các giai
đoạn; Chính sách miễn, giảm học phí cho học sinh, sinh viên học nghề...
Kết quả của việc thực hiện các chính này trong thời gian qua đã hình
thành nên hệ thống cơ sở dạy nghề rộng khắp trên cả nước, với đội ngũ nhà
giáo và quản lý dạy nghề tăng lên cả về số lượng và chất lượng, cơ sở vật
chất, trang thiết bị giảng dạy được đầu tư ngày càng nhiều hơn...
Hiện nay, Luật GDNN ra đời (thay thế Luật Dạy nghề năm 2006) và
chính thức đi vào thực hiện từ đầu năm 2017, tiếp đó hàng loạt các văn bản
hướng dẫn dưới Luật được ban hành, đã tạo ra hành lang, cơ sở pháp lý đồng
bộ để triển khai thực hiện công tác GDNN trên cả nước, trong đó có công tác
đào tạo nghề cho TNNT.
1.3. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước và bài học
tham khảo cho huyện Thạch Thất trong thực hiện chính sách đào tạo
nghề cho thanh niên nông thôn.
Kinh nghiệm một số địa phương trong nước
Kinh nghiệm của tỉnh Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh có diện tích tự nhiên 16.487 km2, dân số
3.003.000 người, trong đó LLLĐ từ 15 tuổi trở lên là 1.477.687 người, đa số
là lao động khu vực nông thôn với 1.335.473 người, chiếm khoảng 90%
35
LLLĐ của tỉnh (số liệu đến 31/12/2012).
Trong quá trình phát triển KT-XH, Nghệ An luôn quan tâm và xác định
đào tạo nghề và đào tạo nghề cho TNNT là một trong những nội dung quan
trọng, góp phần tích cực phát triển KT-XH của tỉnh. Từ năm 2018 Nghệ An
đã triển khai các chương trình phát triển KT-XH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
lồng ghép các chương trình, dự án đầu tư phát triển các loại hình doanh
nghiệp... đạt nhiều kết quả. Để thực hiện, Nghệ An đã triển khai đồng bộ các
nhóm giải pháp, trong đó có công tác đào tạo nghề, đào tạo nghề cho TNNT
là một trong những nhiệm vụ quan trọng, được các cấp, các ngành của Nghệ
An quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt.
Thực hiện chính sách Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ, Nghệ An
được phê duyệt theo lộ trình từ năm 2010 đến năm 2020 nguồn kinh phí hơn
800 tỷ đồng; thời gian triển khai từ tháng 10/2010 đến nay, với sự chỉ đạo
quyết liệt từ tỉnh đến huyện, xã, sự vào cuộc của các tổ chức, đoàn thể nên đã
có những kết quả bước đầu đáng ghi nhận.
Năm 2018, toàn tỉnh có 66.000 lượt người được đào tạo nghề, trong đó
có 5.600 lượt TNNT được đào tạo theo Đề án 1956. Năm 2019, có 70.000
lượt người tham gia các lớp học nghề; trong đó, kết quả đào tạo nghề theo Đề
án 1956 là 7.980 người với 266 lớp (nông nghiệp: 166 lớp với 4.980 người;
phi nông nghiệp: 100 lớp với 3.000 người). Tỷ lệ lao động nông thôn có việc
làm sau đào tạo nghề là 75%. Với cách làm sáng tạo, tổ chức dạy nghề cho
nông dân thông qua một số mô hình hiệu quả như nuôi lợn siêu nạc tại xã
Thanh Lĩnh, huyện Thanh Chương; Chăn nuôi vịt bầu Quỳ Châu tại huyện
Quế Phong; Trồng rau cao sản ở xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu, ...
Chăn nuôi trâu, bò hàng hóa tại xã Thanh Dương, huyện Thanh Chương đã
giúp các học viên vừa nắm vững được lý thuyết, vừa học tập được kinh
nghiệm của các mô hình hiệu quả. Để triển khai đào tạo nghề cho TNNT, toàn
tỉnh đã huy động 48 cơ sở đào tạo nghề bao gồm các trường dạy nghề công
36
lập, các trung tâm dạy nghề của huyện và các cơ sở ngoài công lập.
Qua 2 năm thực hiện Đề án "Đào tạo nghề cho LĐNT" theo Đề án
1956, Nghệ An đã thực hiện cơ bản các yêu cầu, nhiệm vụ theo Quyết định
của Chính phủ đề ra. Đề án đã góp phần nâng cao chất lượng dạy nghề cho
TNNT, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã đủ tiêu chuẩn phục vụ cho
CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn; tạo việc làm, chuyển đổi nghề, tăng thu
nhập cho người dân.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn không ít tồn tại, khó khăn như: Tỷ lệ
chưa qua đào tạo trong TNNT còn cao, tập trung vào người nghèo, vùng núi
cao, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng ven biển. Không phải tất cả các lớp mở
ra đều thật sự hiệu quả, nhiều người học xong không có điều kiện áp dụng vào
thực tế, không có việc làm phù hợp với công việc được đào tạo nên quay về
với NN và công việc cũ... Việc mở các lớp và vận động người dân theo học
cũng gặp không ít khó khăn do thị trường việc làm chưa phát triển, thu nhập
của lao động có nghề không góp phần ổn định được cuộc sống khiến cho công
tác đào tạo nghề chưa thu hút được sự tham gia rộng rãi của người lao động,
chưa giúp được các hộ gia đình thoát nghèo bền vững...
Kinh nghiệm của Thái Bình
Thái Bình là một tỉnh thuần nông. Hiện nay có trên một triệu lao động
tập trung ở nông thôn. Thời gian sử dụng lao động trong nông nghiệp thấp,
dưới 75% và tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chỉ có 16%. Cũng như nhiều địa
phương khác, hiện nay, cơ cấu lao động có trình độ kỹ thuật ở Thái Bình đang
mất cân đối so với yêu cầu của sự phát triển. Tỷ lệ lao động trí óc thấp, nhất là
ở khu vực nông thôn, chỉ chiếm dưới 5%. Ngành nông, ngư nghiệp chiếm trên
90% lao động trong tỉnh nhưng chỉ có khoảng 15% lao động kỹ thuật tập
trung ở khu vực quản lý Nhà nước, các cơ quan nghiên cứu, đào tạo còn khu
vực sản xuất chỉ chiếm số lượng nhỏ. Các khu công nghiệp, khu chế xuất vừa
hình thành cũng đang trong tình trạng thiếu trầm trọng lao động kỹ thuật. Sự
37
thiếu vắng đội ngũ lao động có trình độ đã hạn chế khả năng tạo việc làm và
chuyển đổi cơ cấu lao động, tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ để có
thể thúc đẩy kinh tế nông thôn. Mục tiêu của tỉnh Thái Bình trong năm 2017
là nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên 78%, nâng tỷ lệ
lao động qua đào tạo lên 30% và lao động được đào tạo nghề lên 18%, tạo
việc làm mới cho 20.000 người. Để đạt được mục tiêu này, Thái Bình đã và
đang thực hiện một số biện pháp như: từng bước chuyển dịch cơ cấu cây
trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, đẩy mạnh nâng cao chất lượng,
mở rộng quy mô đào tạo và tăng cường cơ sở vật chất cho các trường, các cơ
sở dạy nghề...
Kinh nghiệm của Bình Dương
Bình Dương là một trong những tỉnh được coi là có tốc độ phát triển
kinh tế nhanh của khu vực trọng điểm kinh tế phía Nam (bao gồm TP Hồ Chí
Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu) và cả nước. Trong những
năm qua, Bình Dương là tỉnh có điều kiện thu hút và giải quyết việc làm cho
lực lượng lao động trẻ của cả nước mà chủ yếu là thanh niên nông thôn. Kinh
nghiệm tạo việc làm của Bình Dương là:
- Tập trung phát triển kinh tế - xã hội tạo nhiều việc làm mới cho người
lao động.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và sản xuất hàng hóa lớn.
- Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp. khu chế xuất tập trung
một cách liên hoàn theo hướng đa ngành, hiệu quả kinh tế.
- Tập trung phát triển cơ sở hạ tầng gắn với cải cách thủ tục hành chính
để thu hút đầu tư sản xuất.
- Liên kết dạy nghề phổ thông qua các trường đại học, cao đẳng, dạy
nghề của TP Hồ Chí Minh để nâng cao chất lượng nguồn lao động trẻ.
- Tổ chức các trung tâm dịch vụ việc làm của thanh niên gắn với thị
38
trường lao động của tỉnh và cả nước.
Tóm lại, qua kinh nghiệm của một số địa phương trong nước có thể
thấy công tác đào tạo nghề luôn được Chính phủ các nước quan tâm đặc biệt
với vai trò là một nhân tố quan trọng trong Chiến lược phát triển nguồn nhân
lực quốc gia. Qua đó, Việt Nam có thể nghiên cứu vận dụng một cách hợp lý
những bài học kinh nghiệm sau:
- Phát triển nguồn nhân lực phải nhất quán từ khâu đào tạo, sử dụng
sau đào tạo và thường xuyên quan tâm công tác bồi dưỡng, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực để đảm bảo cân bằng cung cầu lao động trên thị trường
giữa các ngành kinh tế cũng như theo vùng địa lý.
- Chính phủ các nước thường có các chính sách nhất quán và đồng bộ
về phát triển đào tạo nghề, lồng ghép trong Chiến lược phát triển nguồn nhân
lực; đồng thời, Chính phủ giao các cơ quan quản lý xác định và thiết lập hệ
thống tiêu chuẩn để quản lý thống nhất chất lượng đào tạo trên phạm vi cả
nước tương ứng với hệ thống bằng cấp, chứng chỉ nghề.
Việc quy hoạch phát triển dạy nghề được thực hiện trên cơ sở tầm nhìn
xa về xu hướng phát triển KT-XH, trong đó chú ý đến việc ảnh hưởng các
thành tựu khoa học và công nghệ, để từ đó có chiến lược đáp ứng về nhân lực.
- Phân cấp việc quản lý nhà nước về đào tạo nghề theo ngành dọc và
theo vùng địa lý để đảm bảo tính chủ động của các cơ quan quản lý, đồng thời
tạo sự linh hoạt cho hoạt động đào tạo nghề tại các vùng địa phương theo quy
hoạch tổng thể trong cả nước.
- Đào tạo nghề được phát triển đa dạng và vai trò của đối tác xã hội
được chú trọng; đồng thời phát huy tính chủ động của cá nhân trong một xã
hội học tập suốt đời; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo lý thuyết và thực hành tại
cơ sở đào tạo với thực hành tại nơi sử dụng lao động, gắn kết chặt chẽ giữa
“học” và “hành”, đào tạo theo địa chỉ, gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của nơi sử
39
dụng lao động.
- Thực tế cho thấy những nơi nào có sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt
của cấp ủy, chính quyền các cấp, huy động được sự tham gia của cả hệ thống
chính trị; có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, sự phối hợp chặt chẽ giữa các
cơ quan trong tổ chức, triển khai thực hiện thì ở nơi đó các chính sách, hoạt
động đào tạo nghề được triển khai có hiệu quả.
- Công tác tuyên truyền, tư vấn, quảng bá học nghề, hướng nghiệp
phải đi trước một bước; người làm công tác tuyên truyền phải am hiểu chính
sách, nắm bắt đầy đủ thông tin, trong đó có các thông tin liên quan về ngành
nghề đào tạo, chính sách về chế độ học nghề của nhà nước, về giải quyết việc
làm sau đào tạo...
Công tác giám sát, kiểm tra hoạt động đào tạo nghề, đào tạo nghề cho
TNNT phải được thực hiện thường xuyên ở tất cả các “khâu”, các nội dung và
tất cả các cấp.
- Phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa chính quyền các cấp; giữa các công
ty, doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề; giữa công ty, doanh nghiệp và người học
nghề từ khâu xác định nhu cầu đào tạo (đầu vào), tổ chức đào tạo, đến giải
quyết việc làm, tiêu thụ sản phẩm (đầu ra).
Quan tâm đẩy mạnh thực hiện chính sách xã hội hóa, nhằm huy động
nguồn lực đầu tư cho đào tạo nghề, đào tạo nghề cho TNNT. Thực hiện mô
hình công - tư kết hợp một cách phù hợp để xã hội hóa và phát huy được
nguồn lực xã hội, đẩy mạnh công tác dạy nghề nói chung và dạy nghề cho
40
LĐNT nói riêng.
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 của luận văn đã trình bày khái quát những vấn đề lý luận cơ
bản về đào tạo nghề, chính sách đào tạo nghề cho TNNT; qua đó, luận văn đã
trình bày các khái niệm có liên quan đến dạy nghề, dạy nghề cho TNNT; các
quan điểm, mục tiêu, đặc điểm và đặc trưng của công tác đào tạo nghề; các chủ
thể, thể chế của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn; các nội dung,
hình thức đào tạo nghề; ý nghĩa của chính sách đào tạo nghề cho TNNT; các
nhân tố ảnh hưởng và nhất là kinh nghiệm trong nước và kinh nghiệm của một
số quốc gia trên thế giới về đào tạo nghề, đào tạo nghề cho TNNT.
Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn là một nội
dung quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện
nay. Bao gồm các nội dung: Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề: các trường
dạy nghề, các trung tâm dạy nghề và các tổ chức cá nhân, tăng cường công tác
đào tạo và giải quyết việc làm cho thanh niên khu vực ngoại thành Hà Nội,
nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ giáo viên phục vụ cho các cơ sở dạy
nghề, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học tập.
Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn chịu sự
chi phối tác động bởi các nhân tố: Mở cửa - hợp tác quốc tế đã tạo điều kiện
thuận lợi cho Đảng, Nhà nước, UBND thành phố và các lực lượng có liên
quan đề ra các chủ trương, chính sách về giải quyết việc làm cho thanh niên
nói chung và thanh niên nông thôn nói riêng; phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lý của nhà nước.
Nội dung nghiên cứu ở Chương 1 sẽ là cơ sở cần thiết cho việc khảo
sát, nghiên cứu thực trạng tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
TNNT ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội sẽ được trình bày trong
41
Chương 2 tiếp theo.
Chương 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN
Ở HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Thực trạng về công tác đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn
trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
2.1.1. Khái quát chung về tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Thạch
Thất, thành phố Hà Nội
Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Huyện Thạch Thất thuộc vùng bán sơn địa nằm ở phía Tây Bắc thành
phố Hà Nội. Phía Bắc giáp huyện Phúc Thọ và thị xã Sơn Tây. Phía Tây giáp
huyện Lương Sơn (tỉnh Hoà Bình cũ), huyện Ba Vì và thị xã Sơn Tây. Phía
Đông và phía Nam giáp huyện Quốc Oai. Cách Hà Đông 28 km về hướng
Đông Nam, cách trung tâm thành phố Hà Nội gần 40 km về hướng Đông.
Hình 2.1. Sơ đồ hành chính huyện Thạch Thất
42
Nguồn Cổng giao tiếp điện tử - Ủy ban Nhân dân huyện Thạch Thất
Khí hậu
Thạch Thất là khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa,
hình thành hai mùa rõ rệt. Do đặc điểm địa hình, Thạch Thất được chia thành
2 vùng khác nhau:
- Vùng đồng bằng, độ cao trung bình từ 5m – 7m, có khí hậu của Đồng
bằng sông Hồng, khí hậu nóng ẩm hơn, nhiệt độ trung bình năm 23.80C,
lượng mưa trung bình 1700mm – 1800mm.
- Vùng đồi, độ cao trung bình 15m – 50m, khí hậu lục địa, chịu ảnh
hưởng của gió Lào, nhiệt độ trung bình năm 24.50C, lượng mưa trung bình
2300mm – 2400mm. Mùa hạ có mưa nhiều, thường có bão (hàng năm có 5-7
cơn bão) với lượng mưa khoảng 300mm trong 2-3 ngày.
Địa hình
Thạch Thất có địa hình đa dạng, vùng đồi núi phía Tây và vùng đồng
bằng phía Đông, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
- Vùng đồi gò, bán sơn địa: nằm ở phía hữu sông Tích, diện tích
khoảng 72 km2, chiếm 60.7% diện tích tự nhiên của huyện. Địa hình trong
vùng không đồng đều, gồm những đồi thấp xen kẽ những dộc trũng. Đất đai
chủ yếu nằm trên nền đất phong hoá xen lẫn lớp sỏi ong. Tầng đất canh tác
thấp. Với đặc điểm như vậy thích hợp cho phát triển trồng cây công nghiệp và
cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Đến thời điểm năm 2004 một phần diện tích
của vùng bán sơn địa huyện đã quy hoạch thành các vùng phát triển đô thị và
công nghiệp.
- Vùng đồng bằng phía Đông: nằm ở phía tả ngạn sông Tích, địa hình
tương đối bằng phẳng. Địa chất tương đối đồng nhất, chủ yếu nằm trên vùng
đất phù sa, riêng ven sông Tích là nền địa chất phù sa cổ. Với đặc điểm như
vậy thuận lợi cho việc đa dạng hoá vật nuôi cây trồng, thâm canh tăng vụ,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, song khó khăn về công tác chống úng
43
và sự lựa chọn chế độ canh tác thích hợp đối với các vùng trũng.
Tài nguyên: Đây là yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế địa phương.
Tài nguyên đất
Thống kê phân loại đất, thổ nhưỡng Thạch Thất bao gồm các loại đất sau:
- Vùng đồng bằng: có loại đất phù sa không được bồi và đất phù sa gley.
- Vùng đồi, núi: có loại đất nâu, vàng trên phù sa cổ và đất đỏ vàng trên
đá phiến sét.
Đất phù sa cổ không được bồi hàng năm có diện tích lớn, phân bổ rộng.
Tại các vùng có địa hình trũng, ngập nước lâu ngày, mức nước ngầm nông có
đất gley. Đất nâu vàng trên phù sa cổ và đỏ vàng trên đất phiến sét phân bố
chủ yếu ở vùng đồi gò.
Nhìn chung, đất Thạch Thất có độ phì cao, với nhiều loại địa hình nên
có thể bố trí được nhiều loại cây trồng ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực,
cây công nghiệp, trồng cây gây rừng.
Tài nguyên nước
Nhìn chung tài nguyên nước dồi dào phục vụ cho nông nghiệp và sinh
hoạt. Tuy nhiên, cũng cần có hệ thống tưới tiêu hợp lý để điều hoà nước, giữ
nước và cấp nước vào mùa khô. Với nguồn nước mặn và nước ngầm hiện có
tuy chưa chủ động điều tiết đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống
nhưng trong tương lai khi xây dựng chuỗi đô thị Miếu Môn – Xuân Mai –
Hoà Lạc – Sơn Tây thời kỳ sau 2020, trục đường 21A, tỉnh lộ 80 với hệ thống
nhiều khu công nghiệp, trường đại học, cụm, điểm công nghiệp… cần có giải
pháp cấp thoát nước phù hợp.
Khoáng sản
Thạch thất là huyện nghèo tài nguyên khoáng sản. Theo kết quả điều
tra địa chất về khoáng sản, Thạch Thất có một số khoáng sản chính sau: Sét
44
gạch ngói ở xã Đại Đồng, đá ong ở Bình Yên.
Đá ong là vật liệu xây dựng nên việc khai thác đá đã có lịch sử từ lâu
đời, đến nay vẫn khai thác theo phương pháp thủ công, hiệu quả kinh tế thấp,
trữ lượng đá tốt đã giảm nhiều.
Tình hình kinh tế - xã hội
Về kinh tế
Trên cơ sở đánh giá và vận dụng đúng thế mạnh, tiềm năng của địa
phương trong việc phát triển kinh tế xã hội, những năm qua kinh tế huyện
Thạch Thất đã đạt được nhiều thành công ngoài mong đợi. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2010 – 2015 đạt 11,8%, tổng nguồn vốn
đầu tư trong nhiệm kỳ đạt 9.886 tỷ đồng. Năm 2015 tổng giá trị sản xuất ước
đạt 12.500 tỷ đồng tăng 176% so với năm 2010, thu nhập bình quân đầu
người đạt 35 triệu đồng/năm vượt 116% so với Nghị quyết đại hội đề ra. Cơ
cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, đến nay tỷ trọng giá trị công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm 67,7%, thương mại dịch vụ chiếm 20,7%,
nông lâm thủy sản còn 11,6%. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng
cơ bản tiếp tục được đầu tư phát triển, đã hoàn thiện đồng bộ hạ tầng 1 khu
công nghiệp và 7 cụm công nghiệp với diện tích 160 ha, giải quyết cho 1.294
doanh nghiệp và hộ gia đình vào sản xuất kinh doanh, toàn huyện có 10 làng
được công nhận làng nghề truyền thống, có 925 doanh nghiệp, hợp tác xã và
21.500 hộ sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp. Huyện đã chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá
giới thiệu sản phẩm tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển sản
xuất. Hoạt động thương mại dịch vụ du lịch phát triển phong phú đa dạng,
trong 5 năm đã xây mới 7 chợ, hình thành nhiều khu vực kinh doanh thương
mại. Trong sản xuất nông nghiệp tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất và thu
hoạch đạt 98%, đưa giống lúa mới có năng suất chất lượng cao vào sản xuất
chiếm 95% diện tích, nhân rộng các mô hình trồng hoa rau an toàn, cây ăn
45
quả, cây bóng mát, cây cảnh cho thu nhập cao gấp 3 đến 4 lần so với cấy lúa.
Toàn huyện có 167 mô hình chăn nuôi hiệu quả. Công tác xây dựng nông
thôn mới đạt được nhiều kết quả, toàn huyện đã đầu tư trên 3.700 tỷ đồng xây
dựng nông thôn mới, trong đó huy động xã hội hóa được gần 1.600 tỷ đồng và
20.100m2 đất, có 13 xã đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới, những xã còn lại đạt
từ 14 đến 18 tiêu chí.
Về xã hội
- Về công tác giáo dục – đào tạo: Từng là vùng đất nổi tiếng với truyền
thống hiếu học, sự nghiệp giáo dục – đào tạo luôn được các cấp uỷ, chính
quyền huyện chăm lo và đặt làm nhiệm vụ trọng tâm. Công tác xã hội hoá
giáo dục và công tác khuyến học được đẩy mạnh, thu hút nhiều nguồn lực
trong xã hội đầu tư cho giáo dục – đào tạo, trên cơ sở đó tạo xu hướng tích
cực cho việc học văn hóa và học nghề trong nhân dân, vì vậy chất lượng giáo
dục toàn diện được nâng lên rõ rệt. Giai đoạn 2010 – 2015, tỷ lệ chuyển lớp
bậc tiểu học, trung học cơ sở đạt 99,3%, tỷ lệ tốt nghiệp THCS hàng năm đạt
trên 98%, trong 5 năm có 4.676 học sinh trúng tuyển vào các trường đại học,
cao đẳng. Ngành giáo dục đào tạo luôn giữ vững là đơn vị tốp đầu của ngành
giáo dục đào tạo thủ đô. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi rất được quan tâm,
chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trong các trường cũng được nâng
cao. Đến nay 100% giáo viên tiểu học và giáo viên trung học cơ sở trong toàn
huyện đã đạt chuẩn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học ngày càng được
củng cố và tăng cường.
- Công tác y tế: Huyện đã tập trung chỉ đạo thực hiện công tác chăm
sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới 1
tuổi đạt 100%, tiêm uốn ván cho phụ nữ có thai đạt 98%, thực hiện tốt công
tác khám chữa bệnh cho nhân dân và công tác phòng chống dịch. Cơ sở vật
chất cho tuyến xã được tăng cường. Đến nay toàn huyện có 23/23 xã có trạm
y tế với hơn 100 giường bệnh, các trạm được xây dựng tại nơi thoáng mát,
46
rộng rãi, cán bộ y tế tăng cường về số lượng và chất lượng, 100% trạm y tế có
bác sĩ, 117/169 thôn có cán bộ y tế thôn. Công tác dân số kế hoạch hoá gia
đình và chăm sóc sức khỏe trẻ em ngày càng được quan tâm. Tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên hàng năm giảm, tuy nhiên vẫn ở mức cao. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
suy dinh dưỡng hàng năm đều giảm rõ rệt.
- Đời sống dân cư: Nhờ đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh
những năm qua nên thu nhập của người dân trong huyện cũng tăng, từ đó chất
lượng cuộc sống của họ ngày càng được nâng cao, trong giai đoạn 2010 -
2015 đã giảm 5.186 hộ nghèo, đến nay tỷ lệ hộ nghèo của toàn huyện còn
2,64. Song mức sống lại không đồng đều giữa các vùng, các xã. Các xã vùng
đồng bằng có sản xuất nông nghiệp và nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
phát triển nên đời sống nhân dân khá, còn các xã vùng đồi gò đời sống nhân
dân còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập thấp.
2.1.2. Thực trạng về lực lượng thanh niên nông thôn huyện Thạch
Thất, thành phố Hà Nội
2.1.2.1. Thực trạng về quy mô thanh niên nông thôn
Việt Nam là nước có dân số đông thứ 2 ở khu vực Đông Nam Á, đứng
thứ 13 trên thế giới đồng nghĩa với nó là số người trong độ tuổi lao động cũng
gia tăng nhanh về số lượng, gây áp lực rất lớn về quá trình đô thị hóa, về thực
hiện chính sách đào tạo nghề cho nhóm trong độ tuổi lao động mà chủ yếu là
thanh niên.
Ngày 21/8, UBND thành phố Hà Nội có Báo cáo số 238/BC-UBND, về
việc thẩm tra hồ sơ đề nghị xét, công nhận huyện Thạch Thất đạt chuẩn nông
thôn mới năm 2020.
Theo báo cáo, huyện Thạch Thất có 19 xã và thị trấn. Số xã xây dựng
nông thôn mới của huyện là 18 xã. Sau nhiều nỗ lực, đến nay, toàn huyện có
18/18 xã được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Theo số liệu thống kê, Huyện Thạch Thất có hơn 80.000 người trong
47
độ tuổi lao động, ở 19 xã, thị trấn. Những năm qua, đời sống kinh tế của nhân
dân được nâng lên do các ngành nghề thủ công ở các làng nghề phát triển, đặc
biệt là từ khi Chính phủ phê duyệt Khu công nghệ cao Hòa Lạc, thu hút đầu
tư, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động.
Trong phát triển kinh tế, huyện tập trung nguồn lực để đầu tư phát triển
đồng bộ cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông, thủy lợi, xử lý rác thải,
các thiết chế văn hóa, cơ sở hạ tầng xây dựng nông thôn mới phục vụ nhu cầu
phát triển kinh tế. Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi của Trung ương và
thành phố để tháo gỡ khó khăn, động viên khuyến khích các doanh nghiệp, hộ
sản xuất đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Đồng thời, huyện cũng đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; phát triển
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở các nhóm sản phẩm làng nghề truyền
thống, có thế mạnh, có uy tín và thương hiệu; khai thác hiệu quả các cụm
công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề; hỗ trợ khuyến khích các doanh
nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ đổi mới máy móc thiết bị nâng cao
năng lực cạnh tranh.
Đặc biệt, nhờ khai thác các tiềm năng lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện
tự nhiên, các di tích lịch sử văn hóa, làng nghề truyền thống huyện đã chủ
trương phát triển thương mại dịch vụ du lịch.
Song song với đó, huyện Thạch Thất cũng tiếp tục đầu tư nguồn lực
cho lĩnh vực văn hóa, con người. Quy hoạch, phát triển đồng bộ các thiết chế
văn hóa gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới; huy động và sử dụng có
hiệu quả nguồn lực hiện có. Tăng cường đầu tư hạ tầng cho văn hóa - xã hội
và tiếp tục phát huy hiệu quả công tác xã hội trong các hoạt động văn hóa trên
địa bàn. Thực hiện quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ
làm công tác văn hóa, đáp ứng yêu cầu.
Thạch Thất có trên 80% dân số sinh sống ở vùng nông thôn, cao hơn so
48
với mặt bằng chung cả nước (cả nước là 65,4%); LLLĐ dồi dào.
Theo điều tra lao động - việc làm hàng năm của Sở Lao động-TB&XH,
nhóm LĐNT thường được xác định (nhóm từ đủ tuổi 15 tuổi đến 34 tuổi) năm 2019 là hơn 80.000 người; điều này cho thấy, cơ cấu dân số trong độ tuổi lao động, đặt biệt là lực lượng thanh niên ở nông thôn của huyện rất dồi dào.
2.2.1.2. Thực trạng về trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật của
thanh niên nông thôn
Theo số liệu điều tra của Sở Lao động - TB&XH, LLLĐ là thanh niên
của huyện đến hết năm 2019 có khoảng 89.670 người, chiếm 72,9% trên tổng
LLLĐ nông thôn (123.004 người). Về trình độ học vấn: Có 43.400 người đã
tốt nghiệp THPT, chiếm khoản 48,4%; 34.343 người đã tốt nghiệp THCS, chiếm
khoảng 38,3%; 10.670 người đã tốt nghiệp Tiểu học, chiếm khoảng 11,9%;
1.120 người chưa tốt nghiệp Tiểu học, chiếm khoảng 1,25%.
Theo số liệu điều tra hàng năm của Sở Lao động-TB&XH thành phố
[36], nếu như năm 2015, đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
của huyện có khoảng 7.379 người, chiếm 11,5% trên tổng số TNNT (64.170
người), thì đến 2019 tăng lên 22.417 người, chiếm khoảng 25% so với số
LĐNT trong độ tuổi (89.670 người). Qua kết quả điều tra các năm, nhóm lao
động ly hương chiếm đa số là lao động ở nông thôn đã qua đào tạo dưới các
hình thức khác nhau và nhóm công nhân, lao động có tay nghề nhưng chưa
được các cơ sở đào tạo kiểm tra công nhận cấp chứng chỉ, nên ở đây có thể
thống nhất xem các nhóm lao động này thuộc lao động có trình độ chuyên
49
môn kỹ thuật. (Bảng 2.1):
Bảng 2.1. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của LĐNT giai đoạn 2015-2019
(ĐVT: Người / %)
Trong đó
Năm
Cao đẳng
Đại học
TN ly hương
CN kỹ thuật không bằng/ chứng chỉ
Trung học chuyên nghiệp
Tổng số LĐ có trình độ CMKT
%
SL
%
SL
%
SL
SL
%
SL
%
14,2
2015
7379
1424
19,3
1218
16,5
1048
2590
35,1
1099
14,9
22,4
2019
22417 4640
20,7
4842
21,6
5021
5178
23,1 2736
12,2
Nguồn: Số liệu điều tra LĐ-VL năm 2015 và 2019 của Sở LĐ-TB&XH
thành phố Hà Nội.
2.2. Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên ở nông thôn
huyện Thạch Thất
2.2.1. Thực hiện xây dựng kế hoạch, triển khai thực thi chính sách
Công tác xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách đào tạo
nghề cho thanh niên tại huyện Thạch Thất là thực hiện từ sự chỉ đạo và các
văn bản của Bộ lao động - TB&XH: Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội; Ủy
ban nhân dân huyện Thạch Thất. Huyện đã bám sát vào Luật Thanh niên; Bộ
luật Lao động năm 2012; Luật Giáo dục nghề nghiệp; Nghị quyết của BCH
Trung ương Đảng (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Chương trình thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai
đoạn 2011-2020; Đề án “Phát triển giáo viên dạy nghề thôn trên địa bàn thành
phố Hà Nội giai đoạn 2013 - 2020”; và Quyết định 22/2011/QĐ-UBND ngày
22/8/2011 của UBND Thành phố Hà Nội ban hành chính sách hỗ trợ học
nghề, chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp,
50
nông thôn, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, huyện Thạch
Thất đã kịp thời ban hành nhiều văn bản triển khai thực hiện:
- Nghị quyết số 08/NQ-HĐND ngày 25/12/2017 của HĐND huyện về
chương trình việc làm năm 2019.
- Chương trình số 89/CTr-UBND ngảy 15/11/2017 của UBND huyện
về chiến lược phát triển thanh niên huyện Thạch Thất giai đoạn 2012 - 2020.
- Kế hoạch số 172/KH-UBND ngày 20/02/2019 của UBND huyện
Thạch Thất về giao chỉ tiêu đào tạo nghề năm 2015; Kế hoạch số 154/KH -
UBND ngày 15/03/2019 của UBND huyện về giao chỉ tiêu đào tạo nghề năm
2020....
Ngoài ra, để việc triển khai thực hiện chính sách được kịp thời, đầy đủ,
UBND huyện đã ban hành các công văn đôn đốc về việc giao chỉ tiêu: hướng
dẫn xây dựng kế hoạch; hoặc hướng dẫn thực hiện chính sách cũng như văn
bản phân công trách nhiệm các phòng, ban. Ngành có liên quan trong việc
phối hợp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên.
2.2.2. Thực hiện tuyên truyền vận động
Xác định được vị trí và tầm quan trọng của việc triển khai phổ biến,
tuyên truyền chính sách trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên, huyện Thạch Thất đã đưa ra nhiều hình thức phong phú, đa dạng
hình thức phổ biến, tuyên truyền. Trong thời gian qua, hình thức được áp
dụng phổ biến là hình thức truyền thông tuyên truyền trực tiếp. Huyện đã chỉ
đạo các phòng, ban tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, các hội nghị tập
huấn, các cuộc giao ban ...đây là một hình thức truyền thông mang lại nhiều
hiệu quả. Tuy nhiên do việc cung cấp thông tin đơn thuần hoặc do ảnh hưởng
bởi kỹ năng của cán bộ tuyên truyền nên cũng không tránh khỏi sự nhàm chán
và khô cứng.
Đồng thời, các nội dung về chính sách vay vốn giải quyết việc làm,
51
xuất khẩu lao động ... còn được tuyên truyền qua hệ thống loa truyền thanh và
các bản tin, các chuyên mục hỏi đáp chính sách. Bên cạnh đó, việc biên soạn,
in ấn các tờ rơi, tờ gấp, sách pháp luật với hình thức bắt mắt, linh động thu
hút trực quan... cũng được áp dụng thường xuyên.
Trong thời gian từ 2019 đến nay, ngoài các hình thức tuyên truyền mang
tính truyền thông thì các hình thức mới áp dụng ứng dụng của công nghệ thông
tin và mạng xã hội Internet như giao lưu trực tuyến: hỏi đáp trực tiếp hoặc trao
đổi qua hộp thư điện tử .. đã được áp dụng và triển khai thực hiện.
Đặc biệt hình thức tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin
đại chúng trên các báo Trung ương, địa phương, các tạp chí, Tập san chuyên
ngành Đài phát thanh truyền hình, loa truyền thanh cơ sở...bằng các phóng sự
tọa đàm, hộp thư truyền hình; hỏi đáp pháp luật; các tin, bài ghi chép, phản
ánh, gương người thanh niên làm kinh tế giỏi; các dịp tôn vinh được tổ chức ..
thu hút sự quan tâm của cộng đồng.
2.2.3. Thực tế phối hợp thực hiện giữa các cấp, các ngành, các chủ thể
Nhằm tăng cường trách nhiệm của các phòng, ban, ngành trong tổ chức
thực hiện chính sách việc làm cho thanh niên, ngày 16/6/2019, UBND huyện
đã ban hành Kế hoạch số 179 về việc thực hiện chương trình phát triển thanh
niên giai đoạn 2020 — 2025. Theo đó, kế hoạch cũng đã phân công rõ trách
nhiệm của các phòng, ban, ngành như sau:
(1) Phòng Nội vụ:
Phối hợp với Phòng Tư pháp, UBND các xã tổ chức, tuyên truyền phổ
biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh niên. Đồng
thời, có kế hoạch đào tạo cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực hiện
nhiệm vụ quản lý nhà nước, hoặc nhiệm vụ liên quan tới việc thực hiện chính
sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên. Việc đào tạo, bồi
dưỡng sẽ góp phần nâng cao trỉnh độ, kỹ năng giải quyết công việc cho các
đối tượng cán bộ, công chức, viên chức trong độ tuổi thanh niên trong các cơ
52
quan hành chính, sự nghiệp trong quận.
Phối hợp với các cơ quan có liên quan đề xuất UBND huyện triển khai
thực hiện quyết định số 158/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành bộ chỉ
tiêu thống kê thanh niên Việt Nam trên địa bản cấp huyện, phối hợp với Phòng
Kinh tế, Phòng Lao động và TBXH. Quận đoàn tiếp tục tổ chức thực hiện triển
khai có hiệu quả Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
(2) Phòng Tài chính – Kế hoạch
Phối hợp với Phòng Nội vụ, các phòng, ban, đoàn thể, UBND các xã tổng hợp
trình UBND huyện phân bổ các nguồn kinh phí đầu tư phát triển cho thanh
niên và thực hiện Chương trình phát triển thanh niên huyện; hướng dẫn việc
sử dụng, thanh quyết toán kinh phí; giám sát việc thực hiện tài chính của
chương trình theo quy định.
(3) Phòng Giáo dục và Đào tạo
Lồng ghép các mục tiêu, giải pháp của chương trình vào kế hoạch phát triển
giáo dục, trong đó có giáo dục nghề nghiệp tại huyện đến năm 2025. Chỉ đạo
các Trường trung học cơ sở trong việc thực hiện nhiệm vụ hướng nghiệp dạy
nghề. Xây dựng kế hoạch và dự toán kinh phí đầu tư cho công tác hướng
nghiệp dạy nghề, báo cáo với UBND huyện xem xét, quyết định.
(4) Phòng Lao động và TBXH
Là cơ quan thường trực công tác giải quyết đào tạo nghề nói chung, giải
quyết đào tạo nghề cho thanh niên nói riêng. Phòng Lao động – Thương binh
và Xã hội huyện có trách nhiệm tham mưu cho UBND huyện ban hành Kế
hoạch, đồng thời trực tiếp chỉ đạo, thực hiện việc lồng ghép các mục tiêu, giải
pháp của chương trình vào chương trình dạy nghề, chương trình phát triển
việc làm.
Phối hợp với cơ sở giáo dục nghề nghiệp tổ chức các hội chợ giao dịch
việc làm, tuyên truyền phổ biến và cung cấp thông tin về cung cầu lao động.
Phối hợp với các phòng, ban, ngành, UBND các xã đề xuất, xây dựng
53
cơ chế, chính sách đối với thanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự,
các chương trình đào tạo nghề cho thanh niên; chính sách tạo việc làm cho
người nghiện. người hết hạn tù trở về địa phương hòa nhập cộng đồng.
(5) Phòng Văn hóa - Thông tin
Phối hợp với các phòng, ban, UBND các xã lồng ghép các mục tiêu,
giải pháp của Chương trình vào Chương trình phát triển văn hóa đến năm
2025. Tập trung xây dựng các chương trình, phóng sự, các chuyên đề mang
tính nêu gương, các điển hình tiên tiến trong phong trào học nghề lập nghiệp;
các tấm gương thanh niên tiêu biểu mạnh dạn khẳng định bản thân làm giàu
chính đáng. Tăng cường công tác truyền thông về ý nghĩa của học nghề lập
nghiệp, lập thân.
Tăng cường công tác tham mưu, đổi mới phương thức, cách thức hoạt
động thông tin, truyền thông, cách tiếp nhận thông tin về giáo dục nghề
nghiệp và các văn bản chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước về công tác thanh niên.
Thanh tra, kiểm tra các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản liên quan
đến thanh niên; xử lý nghiêm những trường hợp sai phạm về sản phẩm văn
hóa không lành mạnh nhất là qua mạng viễn thông, internet, điện thoại di
động và các phương tiện thông tin có nội dung xấu ảnh hưởng tiêu cực đến
thanh niên.
(6) Huyện Thạch Thất
Phối hợp với Phòng Nội vụ, các phòng, ban, UBND các xã: Xây dựng
đề án hỗ trợ lãi suất vay vốn giúp thanh niên phát triển kinh tế - xã hội và giải
quyết việc làm cho thanh niên; đề án đầu tư các trang thiết bị vui chơi cho
thanh thiếu nhi ở cơ sở; đề án phát triển văn phòng giới thiệu việc làm, tổ hợp
tác thanh niên.
Tiếp tục triển khai thực hiện: đề án, tổ chức, tư vấn, giới thiệu việc làm
54
cho bộ đội xuất ngũ và xuất khẩu lao động cho thanh niên; đề án thanh niên
tham gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2020 - 2025; Phối hợp với Ngân
hàng chính sách xã hội và các cơ quan liên quan tham mưu, đề xuất các cơ
chế ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi để thanh niên được vay vốn phục vụ nhu
cầu học tập. đầu tư kinh doanh, phát triển sản xuất nông nghiệp.
(7) Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Hiện nay, huyện Thạch Thất có 6 cở sở. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là
chủ thể chính trong công tác đào tạo nghề. Thực hiện các nhiệm vụ từ tuyên
truyền, tuyển sinh, đào tạo, cấp bằng, chứng chỉ, kiểm định chất lượng đào tạo...
2.2.4. Thực tế kiểm tra, đôn đốc thực hiện
Công tác theo dõi, kiểm tra chỉ đạo cơ sở được tiến hành thường xuyên,
UBND huyện ban hành Kế hoạch kiểm tra và tự kiểm tra việc thực hiện chính
sách đào tạo nghề cho thanh niên hàng năm, trên cơ sở Hướng dẫn và Thông
báo của UBND huyện tiến hành kiểm tra chính sách đào tạo nghề cho thanh
niên nói chung, việc thực hiện các đề án nói riêng, nhằm kịp thời phát hiện
những mặt tồn tại, hạn chế để có biện pháp hướng dẫn khắc phục, nhân rộng
những mô hình điển hình, cách làm hay trong việc thực hiện chính sách đào
tạo nghề cho thanh niên trên phạm vi toàn huyện.
Hàng năm, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với
Huyện đoàn tổ chức nhiều đoàn kiểm tra về công tác cho vay vốn giải quyết
việc làm: kiểm tra công tác đào tạo nghề. Các cuộc kiểm tra một mặt mang
tính đôn đốc thực hiện kế hoạch, nắm bắt tiến độ triển khai nhiệm vụ đồng
thời kịp thời nắm bắt những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện chính
sách đào tạo nghề cho thanh niên, việc kiểm tra chỉ đạo cơ sở đảm bảo thời
gian chất lượng, kịp thời có những kiến nghị, đề xuất phù hợp.
2.3. Đánh giá tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên nông thôn tại huyện Thạch Thất trong thời gian qua
2.3.1. Đánh giá vai trò của các chủ thể trong thực hiện chính sách
55
Vai trò của các cơ quan nhà nước
Để triển khai thực hiện chính sách tại Đề án 1956 của Thủ tướng Chính
phủ và các chính sách đào tạo nghề của địa phương, UBND huyện Thạch Thất
đã chỉ đạo việc thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án ở các cấp.
Ban Chỉ đạo các cấp (huyện, xã) hoạt động và có sự phối hợp chặt chẽ
với các sở, ngành, cơ quan, đơn vị liên quan tại địa phương; Ban Chỉ đạo ở
các cấp có vai trò, nhiệm vụ là cơ quan trực tiếp tham mưu về công tác thực
hiện đề án đào tạo nghề TNNT cho UBND ở từng cấp.
* Về cơ chế hoạt động: Ban Chỉ đạo cấp huyện tham mưu xây dựng, ban
hành các chính sách về đào tạo nghề cho TNNT; xây dựng kế hoạch dài hạn,
trung hạn, ngắn hạn và hàng năm về dạy nghề, xây dựng các chương trình, dự
án, đề án dạy nghề trình UBND, HĐND cấp huyện thông qua; đảm bảo về
nguồn kinh phí và các điều kiện thực hiện chính sách đề ra; chỉ đạo quán triệt,
phổ biến, tuyên truyền thực hiện các chủ trương, cơ chế, chính sách của nhà
nước và địa phương về công tác đào tạo nghề cho TNNT; chỉ đạo triển khai, tổ
chức thực hiện chính sách; thực hiện công tác kiểm tra, giám sát; công tác sơ
kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện chính sách của Đề án...
Đối với cấp huyện, xã: Chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc điều tra, khảo
sát, lập dữ liệu về lao động, nhu cầu học nghề, nhu cầu sử dụng lao động của
các địa phương. Phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai hướng
dẫn, tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách, kế hoạch đào tạo nghề cho
LĐNT của địa phương; phối hợp tổ chức thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát,
đánh giá tình hình, kết quả thực hiện chính sách trên địa bàn...
Vai trò của người lao động ở vùng nông thôn
Thanh niên ở vùng nông thôn tham gia học nghề là chủ thể chính trong
thực hiện đề án đào tạo nghề cho TNNT. Để việc thực hiện thành công mục
tiêu của đề án, thì nhận thức của người dân về học nghề là rất quan trọng, cho
nên chúng ta cần làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền các chính sách về đào
56
tạo nghề, học nghề để người dân được biết và hiểu rõ về chính sách mà họ
được hưởng, về những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức đối với họ khi
tham gia học nghề, tránh tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách nhà nước. Do
vậy công tác tuyên truyền cần đi trước một bước, các cơ quan, đơn vị, nhất là
đối với cấp xã cần thông tin thường xuyên bằng nhiều hình thức, từng bước
nâng dần nhận thức của người dân, để họ tham gia tích cực, có hiệu quả hơn
hoạt động đào tạo nghề tại địa phương. Cần phát huy vai trò của các tổ chức
của dân để người dân có thể tham gia tích cực vào hoạt động đào tạo nghề.
Tóm lại: Việc thực hiện thành công chính sách đào tạo nghề cho TNNT
được quyết định bởi nhiều yếu tố, tuy nhiên vai trò của các chủ thể trong thực
hiện chính sách là rất quan trọng, trong đó có phát huy vai trò, trách nhiệm
của các cơ quan nhà nước các cấp từ TW đến địa phương, đến cơ sở; vai trò
của các doanh nghiệp tham gia trong quá trình đào tạo và tiếp nhận lao động
sau đào tạo; nhất là vai trò của người dân, của người lao động tham gia học
nghề; việc người lao động có việc làm, có thu nhập ổn định sau học nghề, đời
sống vật chất, tinh thần của của người dân được nâng lên..., đây là một trong
những “thước đo“ đánh giá sự thành công của chính sách.
2.3.2. Về những kết quả chính trong thực hiện chính sách
Thạch Thất là huyện có phần đông là lao động phổ thông chưa qua đào
tạo. Những năm qua mặc dù công tác đào tạo nghề còn gặp nhiều khó khăn,
nguồn ngân sách của địa phương còn hạn chế, chủ yếu đầu tư cho đào tạo
nghề bằng nguồn vốn các chương trình, dự án của TW; do đó, để thu hút
nguồn lực ngoài xã hội huyện đã nỗ lực, ban hành một số cơ chế, chính sách,
giải pháp đột phá nhằm huy động nguồn lực thực hiện tốt công tác đào tạo
nghề, trong đó đào tạo nghề cho TNNT.
Để thực hiện tốt chính sách đào tạo nghề cho TNNT, huyện Thạch Thất
đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ về mặt tài chính để hỗ trợ cho các cơ sở
dạy nghề, cơ sở sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp tiếp nhận lao động là
57
người địa phương trong việc đào tạo nghề cho lao động địa phương nhằm
giảm bớt chi phí đào tạo, chi phí sản xuất của doanh nghiệp như các chính
sách: Vay vốn với lãi suất ưu đãi từ Quỹ đầu tư của huyện để đầu tư thành lập
cơ sở đào tạo; chính sách miễn, giảm thuế trong hoạt động đào tạo; chính sách
hỗ trợ cho người lao động sau đào tạo được vay vốn để đầu tư sản xuất, mở
rộng sản xuất theo dự án; chính sách kêu gọi đầu tư xây dựng nhà ở giá rẻ cho
công nhân đang lao động trong các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn
huyện (cho công nhân thuê nhà hoặc mua nhà giá rẻ nếu có điều kiện); chính
sách hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết khó khăn về nguồn vốn trong hoat động
sản xuất và các hộ gia đình nhằm giúp họ duy trì, mở rộng sản xuất, thu hút
lao động vào làm việc; chính chính sách miễn, giảm thuế thu nhập cho các
nhà đầu tư, các doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực dạy nghề; chính sách đất
đai; chính sách hỗ trợ đào tạo lao động nhằm chuyển đổi ngành nghề khi Nhà
nước thu hồi đất; chính sách hỗ trợ, khuyến khích đầu tư một số ngành nghề
truyền thống, sử dụng nhiều lao động.
Những năm qua, công tác giải quyết việc làm cho thanh niên huyện
Thạch Thất đã đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng. Cơ chế, chính sách
về lao động, việc làm được chú trọng, phù hợp với cơ chế thị trường và từng
bước hội nhập với thị trường lao động quốc tế. Hệ thống văn bản quản lý nhà
nước về lao động, việc làm được bổ sung ngày càng hoàn thiện. Nhiều luật
mới ra đời và đi vào thực tiễn đời sống như Bộ luật Lao động, Luật Dạy nghề,
Luật Bảo hiểm xã hội, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài, ... và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra hành lang pháp lý về
giải quyết việc làm cho thanh niên của huyện.
Cùng với cơ chế. chính sách và hệ thống văn bản pháp luật là các
chương trình mục tiêu: Chương trình phát triển nông nghiệp. nông thôn;
Chương trình phát triển công nghiệp, dịch vụ; Chương trình xây dựng và phát
triển các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao và các
58
chương trình, dự án trọng điểm kinh tế - xã hội được thực hiện, góp phần giải
quyết việc làm, từng bước nâng cao đời sống của người lao động Thực hiện
Chương trình về việc làm, thông qua các chính sách, nguồn lực hỗ trợ có sự
lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác như Chương
trình 134, Chương trình 135, phát triển kết cấu hạ tầng về đường giao thông.
thủy lợi, điện, nước sạch, trạm xá, trường học, công trình văn hoá, ...
Bên cạnh những cơ chế, chính sách ưu đãi, vượt trội, các giải pháp thực
hiện chính sách nhằm thu hút các nhà đầu tư, các doanh nghiệp vào đầu tư sản
xuất kinh doanh các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực dạy nghề. Ngoài ra, huyện
còn triển khai thực hiện quyết liệt giải pháp cải cách thủ tục hành chính, tạo
các điều kiện thuận lợi, cơ chế thông thoáng, thủ tục nhanh gọn cho người dân
nói chung và các nhà đầu tư nói riêng trên các lĩnh vực hoạt động, trong đó có
việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho TNNT.
Thông qua những cơ chế, chính sách, giải pháp chính sách của huyện,
thời gian qua đã thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư vào các khu kinh tế, khu
công nghiệp trong nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đào tạo nguồn nhân
lực, góp phần tạo cơ hội việc làm cho lao động và thực hiện chính sách đào
tạo nghề cho TNNT tại địa phương.
Các giải pháp chính sách nêu trên của huyện đã góp phần rất lớn để
thực hiện công tác đào tạo nghề và đào tạo nghề cho TNNT đạt nhiều kết quả
trong những năm qua.
Hiệu quả của chính sách đào tạo nghề được nâng lên: Số lượng qua đào
tạo tăng liên tục, năm sau cao hơn năm trước; chất lượng đào tạo cũng được
quan tâm, ngày càng tốt hơn. Việc tiếp cận, phổ cập được kiến thức mới về
lĩnh vực được đào tạo, giúp họ biết cách làm ăn, giảm chi phí sản xuất, tăng
năng suất lao động, dễ có cơ hội tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm, nâng
cao thu nhập, góp phần ổn định cuộc sống gia đình và xã hội.
Hệ thống cơ sở dạy nghề được đầu tư, không ngừng phát triển, mở
59
rộng, tăng chỉ tiêu, quy mô đào tạo đào tạo. Bên cạnh đó, huyện cũng đẩy
mạnh thực hiện chủ trương, chính sách xã hội hóa trong lĩnh vực dạy nghề, đã
huy động được một nguồn lực lớn đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực, trong
đó có công tác dạy nghề; nhiều cơ sở dạy nghề tư thục, cơ sở của doanh
nghiệp được thành lập...
Nhiều nghề đào tạo mới được mở thêm để đáp ứng nhu cầu từ thực tế
của sự phát triển, nhu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn như các nghề:
Công nghệ chế tạo máy, công nghệ điện tử viễn thông, quản lý sản xuất công
nghiệp...; nhiều mô hình dạy nghề gắn với việc làm được hình thành; các điều
kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề đã được tăng lên; chất lượng dạy nghề
ngày càng được nâng lên rõ rệt, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu lao động
kỹ thuật cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn huyện, nhu cầu của
thị trường lao động trong nước và xuất khẩu lao động; góp phần giảm đói
nghèo, nhất là ở khu vực nông thôn.
Việc gắn kết giữa dạy nghề với tạo việc làm ngay tại địa phương đã có
hiệu quả thiết thực trong việc góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động ở các
vùng nông thôn. Số học HS-SV, học viên ra trường tìm được việc làm ổn định
đạt bình quân cao, vào khoảng 80% [38]. Công tác kiểm tra, giám sát trong
thực hiện chế độ, chính sách đào tạo nghề, đào tạo nghề cho TNNT được các
cấp quan tâm, đã kịp thời chấn chỉnh, ngăn chặn, khắc phục các sai phạm, vi
phạm chính sách xảy ra. Đội ngũ giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý dạy
nghề, trong đó có dạy nghề cho TNNT được đào tạo, bồi dưỡng, tăng lên cả
về số lượng và chất lượng với tổng số 1.308 người, trong đó kỹ năng nghề:
204 người; nghiệp vụ sư phạm dạy nghề: 106 người; chuyên môn, nghiệp vụ
cho giáo viên, cán bộ quản lý: 998 lượt người. Có 669 giáo viên tham gia dạy
nghề LĐNT được cử đi đào tạo, bồi dưỡng. Đào tạo sau đại học được 35
người (Tiến sỹ 03 người, Thạc sỹ 30 người); các xã cơ bản đều được bố trí
60
cán bộ chuyên trách quản lý, theo dõi công tác dạy nghề cho TNNT [38]...
2.3.3. Tồn tại, hạn chế trong thực hiện chính sách
Mặc dù nhận thức của các cấp, các ngành, các cơ quan về chính sách
đào tạo nghề, trong đó có đào tạo nghề cho TNNT đã có bước chuyển biến
tích cực, nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số các cơ quan, ban, ngành, địa
phương chưa nhận thức đầy đủ, đúng mức về vai trò của công tác đào tạo
nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho TNNT...
Công tác thông tin, tuyên truyền, tư vấn học nghề cho TNNT ở các địa
phương trong huyện chưa được thực hiện tốt (một số xã chưa ban hành kế
hoạch tuyên truyền đề án của địa phương); chưa xây dựng được chuyên mục
để thường xuyên tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước về dạy nghề, chính sách về đào tạo nghề cho TNNT, những
thông tin về nghề học, địa chỉ đào tạo, việc làm sau học nghề... trên các
phương tiện thông tin đại chúng; các hội, đoàn thể chưa thực sự tích cực trong
tuyên truyền, vận động hội viên của tổ chức mình tham gia học nghề lập
nghiệp. Chính vì vậy, nhiều người dân vẫn chưa nhận thức đúng và đủ về học
nghề, chưa thực sự tha thiết học nghề trong khi bản thân hiện chưa có nghề và
chưa có việc làm ổn định.
Một số xã tổ chức điều tra, khảo sát hằng năm về nhu cầu học nghề của
người dân chưa được tốt, chưa sát với thực tế, số liệu điều tra, thống kê không
chính xác, dẫn đến việc lập kế hoạch hỗ trợ dạy nghề cho TNNT hằng năm
không sát thực tế. Việc lựa chọn nghề đào tạo của một số địa phương chưa
đúng, chưa xuất phát từ nhu cầu thực tế của người lao động, hiệu quả đào tạo
và giải quyết việc làm sau đào tạo chưa cao. Việc khảo sát nhu cầu sử dụng
lao động tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn hầu như các địa
phương chưa thực hiện được; việc định hướng nghề đào tạo cho LĐNT để
phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển thực hiện chưa tốt.
Việc đầu tư cho cơ sở dạy nghề công lập thực hiện chưa đồng bộ như
61
việc đầu tư cho trung tâm dạy nghề tại các huyện nghèo theo chính sách tại
Nghị quyết số 30a của Chính phủ (các trung tâm này đã được đầu tư trụ sở
nhưng thiết bị dạy nghề chưa được đầu tư đồng bộ...).
Nguồn lực đầu tư cho các cơ sở dạy nghề công lập của huyện khó khăn,
thời gian vừa qua chủ yếu dựa vào nguồn kinh phí của TW từ các CTMT
quốc gia, nên việc đầu tư cho các cơ sở dạy nghề còn hạn chế, chưa đáp ứng
được so với nhu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp
ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho sự phát triển của huyện. Số lượng chương
trình, giáo trình dạy nghề có được quan tâm xây dựng, biên soạn, chỉnh sửa
nhưng thực tế còn quá ít so với số nghề đào tạo theo nhu cầu của TNNT và
của các doanh nghiệp; hầu hết các cơ sở đào tạo xây dựng, biên soạn chương
trình đào tạo chưa có sự tham gia của các doanh nghiệp.
Trong quá trình tổ chức các lớp dạy nghề cho TNNT, giữa các địa
phương, doanh nghiệp và các cơ sở dạy nghề còn thiếu sự gắn kết, phối hợp.
Một số địa phương (Phòng Lao động - TB&XH huyện; UBND các xã,
phường, thị trấn) chưa theo dõi, nắm bắt chính xác được số lượng lao động
nông thôn trên địa bàn được hỗ trợ học nghề, số lao động có việc làm sau khi
học nghề, thu nhập sau khi học nghề... từ đó không đánh giá chuẩn xác được
kết quả, hiệu quả của việc thực hiện Đề án theo bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá
đã được Bộ Lao động -TB&XH ban hành tại Quyết định 1582/QĐ-LĐTBXH
ngày 02/12/2011.
Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách có triển khai thực hiện
nhưng chưa thường xuyên; chế độ thông tin, báo cáo định kỳ theo quy định
chưa kịp thời; nhiều Ban Chỉ đạo ở cấp huyện chưa có sự phân công nhiệm vụ
cụ thể cho các thành viên Ban Chỉ đạo, dẫn đến không kiểm điểm được trách
nhiệm của các thành viên Ban Chỉ đạo khi có sai phạm, thiếu sót hoặc thực
hiện không hiệu quả xảy ra.
Có một số lớp, người học nghề sau khi hoàn thành khóa học đã gặp khó
62
khăn trong tìm việc làm, tự giải quyết việc làm hoặc tiêu thụ sản phẩm tự làm
ra do thiếu sự hỗ trợ của địa phương, doanh nghiệp; cá biệt có một số người
học nghề thiếu ý chí phấn đấu vươn lên, từ đó không tiếp tục ổn định sản
xuất, không duy trì phát triển được nghề, hiệu quả chưa cao.
Việc tổ chức các lớp dạy nghề cho TNNT không đồng đều, không rộng
khắp giữa các địa phương trong huyện; xảy ra tình trạng có địa phương tổ
chức rất nhiều lớp dạy nghề, có địa phương chưa tổ chức được lớp nào.
Trong quá trình thực hiện chính sách tại Thạch Thất, đã có một số cá
nhân, tập thể cố ý làm sai nguyên tắc, sai quy định của nhà nước, tiêu cực
trong quản lý, sử dụng nhằm trục lợi tiền của chính sách cho cá nhân, tập thể;
làm ảnh hưởng đến kết quả, ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách.
2.3.4. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong thực hiện chính sách
Có thể chỉ ra một số nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế trong việc
thực hiện chính sách đào tạo nghề cho TNNT của huyện trong thời gian qua
như sau:
- Chính quyền địa phương nhận thức chưa đầy đủ vai trò và tầm quan
trọng của việc đào tạo nghề cho TNNT; nhiều địa phương chưa gắn chỉ tiêu
dạy nghề cho TNNT với kế hoạch, quy hoạch phát triển KT-XH của địa
phương; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các địa phương trong tổ chức
có lúc, có nơi chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ. Bên cạnh đó, do công tác quán
triệt, phổ biến, tuyên truyền chưa tốt, nên nhận thức của số đông người dân,
trong đó có lao động ở nông thôn chưa coi trọng công tác học nghề, tư tưởng
còn nặng về khoa cử, bằng cấp, thích vào học trong các trường chuyên
nghiệp, còn suy nghĩ nặng về việc làm “thầy” hơn làm “thợ”, nhiều người chỉ
mong muốn con em mình được vào các trường đại học, các trường chuyên
nghiệp để hi vọng sau này sẽ làm “cán bộ” hơn làm công nhân.
Mặt khác tâm lý chung của người dân là đi học nghề sẽ tốn thời gian,
63
phải nghỉ lao động, ảnh hưởng đến thu nhập đang có trước mắt...; một bộ
phận người nông dân tương đối lớn tuổi, trình độ văn hóa, khả năng tiếp thu
kiến thức hạn chế, nên họ ngại đến lớp...
- Công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề ở một số địa phương, tổ chức
còn hạn chế, phương pháp tổ chức tuyên truyền chưa phong phú, hiệu quả
chưa cao. Công tác theo dõi, quản lý và đánh giá hiệu quả của công tác đào
tạo nghề được thực hiện nhưng chưa chặt chẽ, thiếu cập nhật về tình hình việc
làm của người lao động sau đào tạo. Đối tượng học nghề thuộc hộ nghèo, hộ
cận nghèo tham gia học nghề chưa cao.
- Chính sách đầu tư cơ sở vật chất cho các cơ sở dạy nghề công lập ở
một số cơ sở chưa phát huy hết công năng sử dụng, một số trang thiết bị được
bố trí chưa được sử dụng phù hợp với ngành nghề đào tạo và nhu cầu đào tạo.
Kinh phí thực hiện Đề án được trung ương phân bổ còn hạn chế và theo
hướng giảm dần ở các năm sau, không đáp ứng được so với nhu cầu đào tạo
nghề ngày càng tăng của người dân, của lao động nông thôn, nhất là trong
điều kiện nguồn kinh phí của huyện còn nhiều khó khăn.
- Cán bộ quản lý dạy nghề nhiều người không được đào tạo cơ bản
(nhất là cấp xã), hạn chế về năng lực chuyên môn, hiệu quả làm việc
còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đề ra.
- Một số mức chi của chính sách hỗ trợ cho TNNT học nghề còn thấp,
chưa phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế ở các địa phương…
Một số địa phương, đơn vị chưa thật sự quan tâm đến công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức xã; một bộ phận cán bộ công chức xã còn tư
tưởng bằng lòng với kiến thức hiện tại, không chịu khó tìm tòi, học hỏi nâng
64
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngại đi học.
Tiểu kết Chương 2
Chương 2 của Luận văn đã phản ánh một cách khái quát về điều kiện tự
nhiên cũng như tình hình KT-XH, đặc điểm về địa lý, dân số, lực lượng lao
động, trong đó có lực lượng TNNT của huyện Thạch Thất; những tác động,
ảnh hưởng liên quan đến chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên
địa bàn huyện.
Luận văn tập trung phản ánh, đánh giá về thực trạng của chính sách đào
tạo nghề cho lao động nông thôn trên các khía cạnh thực trạng về lao động
nông thôn, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các chính sách đối
với người học nghề, người dạy nghề, các cơ cơ sở dạy nghề..., đánh giá vai trò
của các chủ thể trong việc thực hiện chính sách; đánh giá chung về kết quả
thực hiện chính sách, nêu lên nhưng kết quả, những ưu điểm, mặt làm tốt
cũng như những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong việc
thực hiện chính sách này tại huyện Thạch Thất trong thời gian vừa qua.
Những năm qua, bên cạnh những thành tựu đạt được. trong quá trình
thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn huyện Thạch
Thất thì vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định trong việc thực hiện chính
sách đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn.
Những hạn chế thiếu xót đó có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan,
trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Đòi hỏi, các tổ chức, lực lượng, ban
ngành có liên quan cần phối kết hợp giải quyết, thực hiện đồng bộ nhiều hình
thức, biện pháp, tiếp tục thực hiện có hiệu quả chính sách đào tạo nghề cho
65
TNNT của huyện trong giai đoạn kế tiếp tại Chương 3 của Luận văn.
Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN
Ở HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Định hướng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
nông thôn tại huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
3.1.1. Quan điểm hoàn thiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên
nông thôn
Đào tạo nghề cho LĐNT là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là
trách nhiệm của các cấp, các ngành và xã hội nhằm đào tạo, nâng cao chất
lượng LĐNT nói chung, TNNT nói riêng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất
nước, yêu cầu CNH-HĐN nông nghiệp, nông thôn. Nhà nước các cấp luôn
quan tâm đầu tư, có chính sách đảm bảo thực hiện công tác đào tạo nghề cho
LĐNT; khuyến khích, huy động và tạo các điều kiện thuận lợi để các nhà đầu
tư, các doanh nghiệp và toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho LĐNT.
Đối với người lao động, học nghề là quyền lợi và nghĩa vụ, nhằm tạo
việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và nâng cao chất
lượng cuộc sống của họ. Thời gian qua huyện Thạch Thất luôn quan tâm công
tác đào tạo nghề cho người lao động bị Nhà nước thu hồi đất sản xuất, các đối
tượng chính sách, lao động hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật và
LĐNT khác.
Để các chính sách đào tạo nghề cho TNNT đã ban hành tiếp tục phát
huy hiệu quả trong giai đoạn tới, cần phải tiến hành rà soát để sửa đổi, bổ
sung những chính sách chưa hợp lý, chưa phù hợp, còn bất cập khi đưa vào
thực hiện trong thực tế; hoặc những chính sách không còn phù hợp sau thời
gian đưa vào thực hiện, có như vậy chính sách mới có tác dụng tích cực, góp
66
phần nâng cao hiệu công tác quả đào tạo nghề cho TNNT.
Giai đoạn sắp tới, Huyện Thạch Thất tiếp tục xem đào tạo nguồn nhân
lực, trong đó có đào tạo nghề là một trong ba giải pháp đột phá trong chiến
lược phát triển KT-XH của huyện; do đó, huyện cần tiếp tục hoàn thiện chính
sách và nghiên cứu ban hành những chính sách mới, thiết thực, có tính đột phá
để nâng cao hiệu quả trong công tác đào tạo nghề, đào tạo nghề cho TNNT.
3.1.2. Quan điểm huy động các nguồn lực đào tạo nghề cho thanh
niên nông thôn
Yêu cầu công tác đào tạo nghề cho TNNT ở huyện trong giai đoạn sắp
tới có quy mô lớn, thời gian thực hiện dài, tác động tới chục ngàn người lao
động trên toàn huyện, nên cần có sự tham gia vào cuộc của cả hệ thống chính
trị, của các tổ chức, cá nhân trong xã hội để đảm bảo thực hiện được mục tiêu
của Đề án. Nhất là trong điều kiện nguồn kinh phí hỗ trợ từ các CTMT quốc
gia của TW mức độ đáp ứng còn thấp và giảm dần, nguồn ngân sách của
huyện còn nhiều hạn chế thì việc thu hút nguồn lực xã hội nhằm hỗ trợ, thực
hiện xã hội hóa công tác đào tạo nghề là rất quan trọng và cần thiết, góp phần
giảm tải sức ép đầu tư từ ngân sách nhà nước, huy động sự tham gia của các
doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và xã hội cho công tác đào tạo nghề, nâng cao
chất lượng lao động nông thôn.
Việc xã hội hóa không chỉ là đóng góp về kinh phí mà còn cả sự hỗ trợ
về thiết bị, cơ sở vật chất, hỗ trợ chương trình, giáo trình, cử đội ngũ cán bộ
kỹ thuật, chuyên gia giỏi tham gia dạy nghề... phù hợp với yêu cầu trong các
phương thức, ngành nghề đào tạo.
Tuy nhiên, để thu hút được các nguồn lực xã hội hóa, trước hết, bản
thân các cơ sở đào tạo phải đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới cách tiếp
cận trong việc tổ chức đào tạo, đào tạo gắn với doanh nghiệp, thị trường lao
động. Đồng thời, cần rà soát, điều chỉnh bổ sung các cơ chế, chính sách
khuyến khích xã hội hóa trong việc thực hiện công tác dạy nghề nói chung và
67
dạy nghề cho TNNT nói riêng cho phù hợp; có vậy, mới thu hút các doanh
nghiệp đặt hàng đào tạo, thu hút lao động tham gia học nghề để nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, đáp ứng thị trường lao động.
3.1.3. Quan điểm đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm
Để phát huy hiệu quả chính sách đào tạo nghề, đào tạo nghề cho
TNNT, vấn đề quan trọng là định hướng và gắn việc đào tạo nghề với nhu cầu
sử dụng lao động của xã hội cũng như thực hiện tốt công tác giới thiệu, giải
quyết việc làm sau đào tạo.
Khó khăn hiện nay là việc định hướng nghề nghiệp cho TNNT sao cho
phù hợp, không chỉ nhu cầu của người học mà còn nhu cầu của nhà tuyển
dụng, đặc biệt là nhóm nghề phi nông nghiệp. Nếu không có sự định hướng
cho người lao động một cách rõ ràng, toàn diện thì họ không thể nắm được
thông tin một cách đầy đủ, làm cơ sở cho việc chọn ngành phù hợp để học,
nhằm giúp họ dễ dàng tìm kiếm được việc làm thích hợp sau đào tạo.
Song song với đào tạo nghề, các cấp, các ngành của huyện tích cực tìm
kiếm, khai thác các thị trường lao động; khuyến khích phát triển các mô hình
kinh tế; quan tâm công tác xuất khẩu lao động; tạo điều kiện để các doanh
nghiệp tham gia đầu tư, sản xuất trên địa bàn nhằm giải quyết việc làm cho
người lao động như một số kết quả thời gian vừa qua đã thực hiện được.
Để đổi mới và phát triển đào tạo nghề theo hướng chất lượng, hiệu quả,
gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm, thời gian tới Sở Lao động-TB&XH
phối hợp chặt chẻ với các cơ quan liên quan tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và xã hội; tăng cường cơ
sở vật chất, đội ngũ giáo viên đào tạo nghề; có cơ chế, chính sách hỗ trợ trực
tiếp để học nghề, tạo việc làm, xuất khẩu lao động; tăng cường quản lý Nhà
nước về đào tạo nghề, việc làm và xuất khẩu lao động; công tác tư vấn, thông
tin về việc làm, thị trường lao động phải thường xuyên cập nhật, nắm bắt kịp
68
thời; Trung tâm giới thiệu việc làm của huyện, các địa phương trên địa bàn
huyện cần quan tâm hơn nữa việc khai thác, cập nhật thông tin thường xuyên
về ”cung lao động" để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo nghề,
giải quyết việc làm trên địa bàn huyện.
3.2. Mục tiêu, nhiệm vụ tiếp tục thực hiện chính sách đào tạo và
đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn ở huyện Thạch Thất, thành phố
Hà Nội
Trong giai đoạn 2020 – 2025, mục tiêu của huyện sẽ đào tạo bình quân
mỗi năm khoảng 5000 lao động, trong đó số TNNT được hỗ trợ chính sách từ
Đề án 1956 mỗi năm khoảng hơn 2000 người.
- Tỷ lệ qua đào tạo đạt 70% và qua đào tạo nghề đạt 60%; tỷ lệ lao
động có việc làm sau khi học nghề này đạt tối thiểu 85%.
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, trong đó có đào tạo
nghề cho TNNT nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của TNNT; góp phần
chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh.
- Cơ cấu lao động trong nông lâm ngư nghiệp đến năm 2025 dự kiến
giảm xuống còn dưới 30% lao động xã hội. Hỗ trợ tạo việc làm cho trên 6.500
lao động thông qua cho vay nguồn vốn Quỹ quốc gia về việc làm.
- Đưa 1.500 lao động đi làm việc ở nước ngoài (bình quân mỗi năm
300 lao động) [20].
- Với những mục tiêu chủ yếu trên, nhiệm vụ trọng tâm phát triển đào
tạo nghề, đào tạo nghề cho TNNT của huyện giai đoạn 2020 - 2025 đặt ra là:
- Trước hết, triển khai quy hoạch, tổ chức củng cố, sắp xếp lại mạng
lưới các cơ sở GDNN trên địa bàn huyện theo tinh thần Nghị quyết số 19-
NQ/TW ngày 25/10/2017 của BCH TW Đảng khóa XII” về tiếp tục đổi mới
hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của
69
các đơn vị SNCL” [2].
- Tiếp tục quan tâm đầu tư thích hợp cho các cơ sở dạy nghề trên địa
bàn huyện để các cơ sở đảm bảo điều kiện tăng chỉ tiêu tuyển sinh, tăng quy
mô đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo; chú ý tăng tỷ lệ đào tạo nghề trình
độ cao đẳng.
- Tiếp tục triển khai thực hiện chủ trương, chính sách xã hội hóa, nhằm
huy động các nguồn lực xã hội đầu tư công tác đào tạo nguồn nhân lực, trong
đó có đào tạo nghề và đào tạo nghề cho TNNT; cho phép những tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nước mở thêm các trung tâm, trường đào tạo nghề dân
lập, tư thục theo đúng quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề của huyện. Khuyến
khích các doanh nghiệp, hợp tác xã, làng nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh,
dịch vụ có đủ điều kiện mở lớp đào tạo nghề, kèm nghề, truyền nghề.
- Quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện để có sự
kết nối trong hoạt động đào tạo và hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người lao
động sau đào tạo.
- Tiếp tục rà soát, củng cố, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo
nghề, đào tạo nghề cho LĐNT từ cấp huyện đến các xã, thôn một cách chuyên
nghiệp, chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.
- Tiếp tục quan tâm và có chính sách hợp lý cho công tác đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề và cán bộ quản lý dạy nghề,
nhất là chính sách đào tạo sau đại học; có chính sách đãi ngộ hợp lý, tôn vinh
các giáo viên dạy nghề có nhiều thành tích nhằm khuyến khích, động viên để
họ có động lực phấn đấu làm tốt hơn công tác dạy nghề.
- Làm tốt công tác dự báo nhu cầu lao động chung và theo từng ngành
nghề của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh ở từng thời điểm để lập, triển
70
khai thực hiện các kế hoạch về cung - cầu lao động một cách hợp lý, sát đúng.
3.3. Giải pháp cụ thể nhằm thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
thanh niên nông thôn ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội thời gian tới
3.3.1. Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm sau đào tạo
Giải quyết việc làm cho người lao động sau đào tạo là chủ trương, công
việc quan trọng và là nhu cầu cần thiết, có nhiều ý nghĩa đối với công tác đào
tạo nghề và sự phát triển KT-XH của huyện Thạch Thất trong thời gian qua
cũng như trong thời gian sắp tới. Chính sách đào tạo nghề gắn với giải quyết
việc làm sẽ là động lực để thúc đẩy người lao động tham gia học nghề tích
cực hơn, giúp họ có sự yên tâm trong học tập, phát huy khả năng, có ý thức,
trách nhiệm trong học tập, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Giải quyết
việc làm sau đào tạo nghề cho TNNT là một bước “kiểm tra” kết quả của quá
trình đào tạo nghề cho TNNT về tay nghề, chất lượng đào tạo của các cơ sở
dạy nghề.
Thực hiện chính sách đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm sau đào
tạo sẽ giúp cho các cơ sở đạo tạo nghề gắn kết chặt chẽ giữa “Nhà trường và
doanh nghiệp”, chuyển đổi cách đào tạo từ “Đào tạo theo những gì mình có”
sang “Đào tạo theo những gì doanh nghiệp cần”; bên cạnh đó sẽ có sự cam
kết, ràng buộc giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp tuyển dụng về việc tổ chức
đào tạo, trình độ, tay nghề của lao động qua đào tạo; tiếp nhận người học
nghề sau đào tạo; mức lương của lao động vào làm việc tại doanh nghiệp...
Cơ chế, chính sách này sẽ có tác động tích cực cho xã hội, giảm đi đáng
kể sự lãng phí trong đào tạo; hạn chế thấp nhất tình trạng người học ra trường
không có việc làm, thất nghiệp nhiều như thời gian vừa qua.
Bên cạnh đó, tập trung thực hiện những giải pháp, các dự án đổi mới và
nâng cao chất lượng GDNN, dự án phát triển thị trường lao động và việc làm;
đề án hỗ trợ HS-SV khởi nghiệp đến năm 2025 của Chính phủ; dự án hỗ trợ
thanh niên lập nghiệp, “khởi sự doanh nghiệp” qua Quỹ quốc gia về việc làm
71
và các nguồn tín dụng ưu đãi khác; nâng cao chất lượng, tăng số lượng lao
động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Tăng cường công tác tư vấn,
giới thiệu việc làm, định hướng nghề nghiệp cho HS-SV và người lao động
thông qua Trung tâm Dịch vụ việc làm của huyện; đa dạng hóa các hoạt động
giao dịch việc làm; nâng tần suất, phạm vi các hoạt động của sàn giao dịch
việc làm ở các địa phương; xây dựng cơ sở dữ liệu “việc tìm người - người
tìm việc”, ứng dụng công nghệ thông tin. Tăng cường thông tin, tuyên truyền
về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về các chính sách hỗ trợ
đào tạo nghề nghiệp, hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên nông thôn.
3.3.2. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và
thanh niên về học nghề
Nhận thức của các chủ thể trong thực hiện chính sách đào tạo nghề, đào
tạo nghề cho TNNT là hết sức quan trọng, là yếu tố quyết định sự thành công
hay không thành công của việc thực thi chính sách; do đó, cả hệ thống chính
trị và người dân, xã hội phải có nhận thức đầy đủ về công tác này:
- Đối với việc nâng cao nhận thức của các Cấp ủy Đảng, cơ quan nhà
nước, chính quyền các cấp:
Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng
cao nhận thức của các Cấp ủy đảng, chính quyền, của cán bộ, đảng viên và
người dân, xã hội về tầm quan trọng chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát
triển NN, nông dân, nông thôn và vai trò của công tác đào tạo, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, công tác đào tạo nghề cho TNNT thông qua tổ chức
các cuộc họp, hội nghị, hội thảo, các cuộc tọa đàm... về chuyên đề đào tạo
nghề và đào tạo nghề cho TNNT.
Bên cạnh đó, các cấp ủy Đảng, chính quyền từ huyện xuống xã, thôn
phải tăng cường triển khai, quán triệt Đề án 1956 và các chính sách của Trung
ương và của huyện về đào tạo nghề và đào tạo nghề cho LĐNT; Sở Thông tin
- Truyền thông, các Báo, các Đài phát thanh và Truyền hình của thành
72
phố, của UBND các huyện, thị, tăng cường tuyên truyền chủ trương chính
sách để mọi người hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng, chính sách của Đề án và
trách nhiệm tham gia thực hiện.
- Tuyên truyền tư vấn học nghề và việc làm cho LĐNT bằng nhiều hình
thức phong phú: Tuyên truyền thông qua các chương trình thời sự, phóng sự,
chuyên đề trên các Báo, Đài phát thanh, phát lại truyền hình các huyện, thành
phố, Đài truyền thanh của các địa phương; trang Thông tin điện tử của huyện,
qua sàn giao dịch việc làm, chương trình công tác của các cơ quan, đơn vị,
các hội, đoàn thể, doanh nghiệp...
- Đối với việc nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân, đặc biệt là
nhân dân ở vùng nông thôn và nhận thức của xã hội.
Huyện Thạch Thất có số dân sinh sống ở vùng nông thôn rất đông
(chiếm trên 80%), nhu cầu lao động học nghề tương đối lớn, nhưng chính
sách đào tạo nghề đến được với người dân còn gặp nhiều khó khăn; phần
đông người dân chưa thấy được tầm quan trọng của học nghề, vì bao đời nay
không học nghề họ vẫn sản xuất, chăn nuôi bình thường; tuy nhiên thực tế thì
lâu nay họ chỉ sản xuất theo kinh nghiệm, năng suất lao động trong NN rất
thấp, đời sống nông dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo chiếm
tỷ lệ cao trong nông dân...
Để cho người lao động ở nông thôn yên tâm học tập, sau khi học xong
phải làm được việc và làm đúng nghề thì đòi hỏi phải làm tốt công tác tư vấn
cho họ khi chọn nghề để học, sau đó là chính sách hỗ trợ cho người lao động
trong việc tổ chức sản xuất kinh doanh, tìm việc làm mới sau đào tạo. Vì vậy,
giải pháp cần thiết là làm tốt công tác quảng bá, tuyên truyền nhằm nâng cao
nhận thức cho người dân về những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước, của địa phương về đào tạo nghề cho LĐNT. Cần tập trung công tác vận
động, tuyên truyền ở vùng có nhiều LĐNT, đưa nội dung tuyên truyền lồng
ghép với các nội dung chuyên môn trong những buổi sinh hoạt, họp thôn, tổ,
73
xóm... mới đạt được hiệu quả cao, nhằm làm cho người dân thay đổi nhận
thức và hành vi của mình về học nghề và thấy được sự cần thiết của học nghề;
xem học nghề như một nhu cầu cần thiết thật sự để lập thân, lập nghiệp, giúp
họ có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Bên cạnh đó, phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể, các tổ chức hội
trong quần chúng nhân dân, như Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội phụ
nữ, Hội Cựu chiến binh... trong việc tuyên truyền, tư vấn học nghề, vận động
đoàn viên, hội viên tham gia học nghề. Mỗi đoàn thể, tổ chức cần xây dựng
chương trình, kế hoạch công tác tuyên truyền, vận động, tư vấn học nghề,
cách làm thống nhất từ cấp tỉnh, huyện, xuống đến xã, phường có LĐNT;
khích lệ hội viên, đoàn viên tham gia học nghề hiệu quả.
3.3.3. Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện chính sách đào tạo nghề
cho thanh niên nông thôn ở Huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội
Để tiếp tục hoàn thiện chính sách đào tạo nghề cho TNNT của huyện
trong thời gian tới, cần có các giải pháp cụ thể sau:
- Sự quyết liệt trong chỉ đạo thực hiện chính sách.
Các cấp ủy Đảng, chính quyền cần quyết liệt trong chỉ đạo thực hiện
chính sách đào tạo nghề cho TNNT; có sự kiểm tra, giám sát định kỳ, thường
xuyên công tác này; xem đây là một tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ
chính trị hàng năm của cá nhân, tập thể, của các cấp, các ngành, của địa
phương có liên quan. Huy động sự tham gia của các cơ quan trong hệ thống
chính trị từ huyện xuống đến cấp xã; phân cấp, phân công trách nhiệm của
từng thành viên trong Ban Chỉ đạo các cấp một cách rõ ràng, rành mạch; có
sự phối hợp chặt chẽ giữa các các cơ quan, đơn vị, các cấp có liên quan. Củng
cố, kiện toàn lại hoạt động của Ban Chỉ đạo các cấp để Ban Chỉ đạo đi vào
hoạt động một cách đồng bộ, chặt chẽ và thực chất nhằm chỉ đạo, tổ chức,
triển khai thực hiện chính sách được tốt hơn.
74
- Tăng cường công tác tuyên truyền, tư vấn thực hiện chính sách.
Việc triển khai công tác tuyên truyền, tư vấn thực hiện chính sách phải
được thực hiện trước một bước; đây được xem là một hoạt động quan trọng,
nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức của người lao động, của nhân dân và xã
hội về tầm quan trọng của công tác dạy nghề, học nghề, nhất là chính sách
dạy nghề cho TNNT. Chính quyền các cấp cần chủ động chỉ đạo triển khai
xây dựng kế hoạch tuyên truyền, xây dựng chuyên mục và dành thời lượng
tuyên truyền, tư vấn học nghề cho TNNT để người dân, nhất là người dân ở
vùng sâu, vùng xa nhận thức đầy đủ được lợi ích của việc học nghề đối với
bản thân, gia đình mình và xã hội để có sự quan tâm và chủ động, tích cực
tham gia học nghề.
- Tiếp tục triển khai thực hiện chính sách đào tạo nghề theo các
chương trình khuyến nông
Đây là các chương trình có hình thức đào tạo đã được thực hiện khá ổn
định, cần tiếp tục mở rộng đối tượng tham gia, không ngừng nâng cao chất
lượng đào tạo; trong đó cần chú trọng thu hút những người tham gia đào tạo
vào mạng lưới tiêu thụ sản phẩm; bởi vì chỉ đảm bảo được “đầu ra” thì người
học nghề mới thực hành nghề được đào tạo. Chính sách đào tạo nghề cho
TNNT là một trong những nội dung quan trọng của các chương trình này;
việc xây dựng, thực hiện có kết quả các chính sách, chương trình khuyến
nông ở địa phương có ý nghĩa hết sức quan trọng, mang tính thuyết phục cao
khi người nông dân được tận mắt nhìn thấy những kết quả sản xuất nông
nghiệp qua việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, từ đó họ tin tưởng và tự
quyết định làm theo.
- Tăng cường thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề phục vụ chiến
lược xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp và xuất khẩu lao động.
Nền kinh tế nói chung và nền NN nước ta nói riêng đã và sẽ tiếp tục
thực hiện chiến lược xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài; dó đó, công tác đào
75
tạo nghề theo chiến lược xuất khẩu là một nội dung cần quan tâm đầu tư và có
nghĩa quan trọng đối với TNNT. Hỗ trợ người LĐNT học bổ túc văn hóa, học
nghề, học ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết để người lao động tham
gia xuất khẩu lao động; chính sách đối với người đi xuất khẩu lao động được
vay tín dụng ưu đãi với lãi suất chỉ bằng 50% lãi suất cho vay tại thời điểm
của Ngân hàng chính sách xã hội; các cơ sở dạy nghề cho người đi xuất khẩu
lao động được vay tín dụng lãi suất ưu đãi để đầu tư tăng quy mô đào tạo.
Ngoài ra, đối với lĩnh vực xuất khẩu khác cũng cần có chính sách hỗ trợ đào
tạo nghề như vậy.
- Giải pháp gắn công tác đào nghề với việc tư vấn, giới thiệu, giải
quyết việc làm.
Để thực hiện được mục tiêu của tỉnh đến năm 2025 lao động sau đào
tạo nghề tìm được việc làm ổn định đạt tỷ lệ từ 85% trở lên, cần tăng cường
thực hiện công tác kết nối cung - cầu lao động giữa cơ sở đào tạo nghề và các
doanh nghiệp trên địa bàn huyện, nhằm hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người
học sau đào tạo; giữa khu vực có LĐNT nhàn rỗi và các khu vực thiếu hụt lao
động mùa vụ để góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân…
Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin trong thu thập, cập nhật và phổ biến thông tin thị trường lao
động, gắn việc thực hiện chính sách đào tạo nghề nghiệp với chính sách giải
quyết việc làm sau đào tạo.
Thường xuyên tổ chức các hội nghị tư vấn, ngày hội việc làm, sàn giao
dịch giới thiệu việc làm tại các xã, phường để người dân nâng cao nhận thức,
nắm bắt thông tin, tiếp cận được các chính sách của nhà nước.
- Giải pháp có sự liên kết đào tạo nghề giữa doanh nghiệp, nhà
trường và người học nghề trong đào tạo nghề.
Đây là một trong những giải pháp đột phá trong thực hiện chính sách
đào tạo nghề và được xác định là sự tăng cường hợp tác, gắn kết giữa doanh
76
nghiệp với các cơ sở đào tạo và với người học nghề nhằm tạo việc làm ổn
định cho người lao động sau học nghề; thực tế vừa qua sự liên kết này thực
hiện chưa được hiệu quả do những cơ chế, chính sách thực hiện chưa đầy đủ,
chưa rõ ràng. Để làm được việc đó trước mắt cần phải giải quyết những khó
khăn đang tồn tại giữa doanh nghiệp và nhà trường thông qua cơ chế, chính
sách hỗ trợ cụ thể và những văn bản pháp lý rõ ràng. Giữa các bên phải có
những buổi gặp gỡ và đi đến thống nhất chương trình đào tạo cũng như những
yêu cầu doanh nghiệp đặt ra đối với người học và nhà trường; phía doanh
nghiệp có những hỗ trợ, tạo điều kiện cần thiết để người học có thể tiếp cận
với các thiết bị, công nghệ hiện đại, nhằm giúp người học làm quen với thiết
bị của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ phù hợp để doanh
nghiệp đào tạo và hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Làm tốt sự liên kết thực hiện các chính sách này được đánh giá là định
hướng tích cực, đem lại lợi ích cho cả các bên: Người học, nhà trường, doanh
nghiệp và xã hội; sẽ góp phần rất lớn hạn chế tình trạng học viên, HS-SV ra
trường thất nghiệp ngày càng tăng, giảm bớt tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”
và cũng giảm bớt sự “lệch pha” giữa “cung” và “cầu” trong đào tạo.
- Giải pháp chính sách kết hợp giữa truyền nghề với đào tạo nghề
chính quy; đa dạng hóa phương thức đào tạo nghề.
Hiện nay truyền nghề là hình thức đào tạo phổ biến tại các làng nghề,
do đó cần có chính sách hỗ trợ cho các nghệ nhân, thợ lành nghề, nhất là tại
các làng nghề. Tăng cường mở các lớp đào tạo nghề theo kiểu truyền nghề,
hoặc liên kết với với các trường, trung tâm dạy nghề để đào tạo nghề theo
kiểu bán chính quy. Duy trì và tăng cường thực hiện tốt chính sách liên kết
đào tạo theo quy định của Bộ Lao động - TB&XH, đặc biệt là liên kết đào tạo
giữa nhà trường và doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp có thể đảm nhận đến
40% chương trình đào tạo; hai bên cùng hợp tác trong xác định chuẩn đầu ra,
xây dựng chương trình, phát triển đội ngũ giảng viên doanh nghiệp; tổ chức
77
tuyển sinh/tuyển dụng; tổ chức đào tạo doanh nghiệp, ký kết hợp đồng đào tạo
với người học… Có chính sách khuyến khích các cơ GDNN, các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân hợp tác để tổ chức và công nhận kết quả đào tạo một
số modun, môn học lý thuyết và thực hành, bao gồm cả phương thức đào tạo
tập trung, đào tạo từ xa, học nghề tại cơ sở sản xuất và tự học có hướng dẫn...
- Cần làm tốt công tác dự báo cung - cầu nguồn lao động, nhu cầu sử
dụng lao động qua đào tạo; các ngành nghề cần đào tạo trong từng giai đoạn.
Việc làm tốt công tác dự báo nhu cầu nguồn lao động của từng ngành
nghề trên thị trường lao động ở từng giai đoạn sẽ góp phần quan trọng để các
địa phương đề ra các chiến lược, kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực một cách
hợp lý cả về số lượng và ngành nghề đào tạo, phục vụ cho sự phát triển KT-
XH của địa phương mình. Đây là giải pháp góp phần hạn chế sự “lệch pha”,
mất cân đối giữa “cung lao động” và “cầu lao động” gây lãng phí cho gia đình
và xã hội như thời gian vừa qua.
- Tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách xã hội hóa công tác
dạy nghề.
Trong điều kiện nguồn ngân sách nhà nước khó khăn, hạn chế, việc đào
tạo không đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển
KT-XH của địa phương, thì việc đẩy mạnh thực hiện chính sách xã hội hoá
nhằm khuyến khích, huy động các nguồn lực bên ngoài (ngoài nhà nước) là
chủ trương cần thiết, phù hợp với điều kiện, cơ chế thị trường hiện nay...
- Giải pháp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các
chính sách đào tạo nghề cho LĐNT.
Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho
LĐNT là một nội dung quan trọng không thể thiếu trong việc triển khai thực
hiện chính sách đào tạo nghề cho LĐNT tại địa phương. Qua đó, biết được
tình hình triển khai thực hiện chính sách ở cơ sở, kịp thời phát hiện và chấn
chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện chính sách; chỉ ra những mặt
78
mạnh, mặt hạn chế để từ đó, đưa ra các biện pháp, giải pháp tổ chức thực hiện
sát hơn với thực tế, nhằm đảm bảo cho chính sách được thực hiện đầy đủ,
đúng nội dung, đúng chế độ và đối tượng quy định.
3.4. Kiến nghị
Để chính sách đào tạo, trong đó có đào tạo nghề cho TNNT được hoàn
thiện và thực hiện có hiệu quả hơn trong thời gian sắp tới, học viên có một số
kiến nghị, đề xuất như sau:
* Đối với các cơ quan Trung ương:
- Đề nghị cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số nội dung, mức hỗ trợ
của Đề án 1956: Điều chỉnh tăng mức hỗ trợ cho người học nghề (kinh phí
đào tạo, tiền ăn, tiền đi lại), vì đến nay Đề án 1956 thực hiện đã lâu, một số
mức chi không còn phù hợp; hơn nữa một số mức hỗ trợ thực tế còn thấp,
chưa khuyến khích được lao động ở nông thôn tích cực tham gia học nghề.
- Đối với mức chi hỗ trợ đào tạo nghề cho LĐNT có thể quy định
khung, không nên quy định cụ thể áp dụng chung trong toàn quốc; TW có thể
giao HĐND các tỉnh căn cứ vào điều kiện, đặc điểm địa bàn cụ thể để quy
định mức hỗ trợ sát thực, phù hợp trên cơ sở mức khung của TW.
- Quan tâm chỉ đạo các địa phương thực hiện quyết liệt chủ trương
phân luồng học sinh phổ thông sau tốt nghiệp THCS theo Chỉ thị số 10 -
CT/BCT ngày 05/12/2011 của Bộ Chính trị [4]; cần có chính sách đột phá,
khuyến khích hơn nữa người vào học nghề, nhất là lao động ở nông thôn,
nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ“, góp phần giảm bớt
tình trạng sinh viên đại học thất nghiệp sau đào tạo, gây lãng phí cho gia đình
và xã hội như hiện nay.
- Cần có hướng dẫn để Hội đồng trường trong các trường trung cấp,
cao đẳng hoạt động thực chất, hiệu quả, thực hiện được chức năng, nhiệm vụ
theo quy định.
79
* Đối với huyện Thạch Thất
- Đề nghị HĐND huyện, UBND huyện Thạch Thất xem xét, điều chỉnh,
bổ sung một số nội dung cho TNNT như sau:
- Bổ sung hỗ trợ chi phí ban đầu cho lao động vào làm việc tại doanh
nghiệp; bổ sung chính sách hỗ trợ tiền giữ trẻ đối với lao động nữ khi vào làm
việc tại các doanh nghiệp.
- Để hạn chế tiêu cực trong thực hiện chính sách (như đã xảy ra tại một
số địa phương) trong quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí của đề án đào tạo
nghề cho TNNT cần phải thực hiện tốt công tác công khai, minh bạch, đúng
quy định, chế độ, nhất là các nội dung chi phí trực tiếp cho người lao động
cần được thông tin đầy đủ, thanh toán kịp thời.
- Cần có chế độ phụ cấp kinh phí cho cán bộ theo dõi công tác dạy
nghề, đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn tại các xã, phường, thị trấn.
Sớm hướng dẫn để khuyến khích các cơ sở GDNN công lập trên địa bàn
80
huyện thực hiện công tác tự chủ trong hoạt động theo quy định của Chính phủ.
Tiểu kết Chương 3
Chương 3 của Luận văn đã nêu lên các quan điểm tiếp tục hoàn thiện
chính sách đào tạo nghề cho TNNT; định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ trong giai
đoạn tới trong công tác đào tạo nghề, đào tạo nghề cho TNNT và thực hiện
chính sách đào tạo nghề cho TNNT ở huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Để chính sách đào tạo nghề cho TNNT tiếp tục được hoàn thiện và thực
hiện có hiệu quả trong điều kiện, đặc điểm, tình hình kinh tế-xã hội cụ thể của
huyện, luận văn đã đề xuất các giải pháp chủ yếu, sát thực với địa phương
như: Giải pháp đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm; giải pháp nâng cao
nhận thức của các cấp uỷ, các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp từ trung
ương đến địa phương và đặc biệt nhận thức của người dân, người lao động
học nghề; giải pháp hoàn thiện công cụ chính sách; giải pháp tăng cường đầu
tư cho các cơ sở dạy nghề như: Đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo,
chương trình giáo trình dạy nghề..., đầu tư cho các làng nghề, làng nghề
truyền thống...
Hy vọng với các giải pháp này sẽ góp phần làm cho việc triển khai, tổ
chức thực hiện tốt hơn công tác đào tạo nghề, đào tạo nghề cho TNNT; đồng
thời cũng góp phần trong việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện chính sách
đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn của huyện, đưa chính sách vào thực
81
hiện có hiệu quả hơn tại huyện Thạch Thất trong thời gian tới.
KẾT LUẬN
Trong xu thế phát triển chung của thế giới cũng như của nước ta hiện
nay, cùng với những thành tựu to lớn của khoa học, công nghệ, của đổi mới,
sáng tạo thì lao động chân tay cũng dần được thay thế bằng lao động máy
móc; con người từng bước nắm bắt, làm chủ công nghệ, thiết bị; cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0 đang có những tác động lan tỏa đến các nước nghèo,
trong đó có Việt Nam cùng với sự thay thế lao động giản đơn bằng các robot
tự động... Công tác đào tạo, trong đó có đào tạo nghề để cung cấp nguồn nhân
lực có chất lượng, có tay nghề ở nước ta nói chung và huyện Thạch Thất,
thành phố Hà Nội nói riêng cần có cách tiếp cận mới, trong đó việc chủ động
đón nhận những tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Một LLLĐ
có trình độ, tay nghề cao mới có thể làm chủ được nền công nghiệp số, kết nối
thế giới thực - ảo, tự động hóa và dựa trên trí tuệ nhân tạo...
Hiện nay, công tác đào tạo nguồn nhân lực của Thạch Thất nhằm phục
vụ cho sự phát triển của huyện được xác định là một trong ba đột phá của
huyện trong thời gian vừa qua cũng như trong thời gian tới. Sự hình thành của
hàng loạt khu công nghiệp, khu kinh tế đã tạo ra nhu cầu nguồn nhân lực rất
lớn, đòi hỏi lãnh đạo, chính quyền các cấp từ huyện đến địa phương phải tập
trung, quan tâm chỉ đạo công tác đào tạo nguồn nhân lực cả về số lượng và về
mặt chất lượng; đẩy mạnh thực hiện chính sách đào tạo nghề, trong đó có đào
tạo nghề cho TNNT.
Trên cơ sở chính sách của Đề án 1956; HĐND, UBND huyện Thạch
Thất cũng đã ban hành một số nghị quyết, quyết định về cơ chế, chính sách
đào tạo nghề cho TNNT trên địa bàn huyện. Việc thực hiện các cơ chế, chính
sách của Trung ương cũng như của địa phương trong thời gian qua đã tạo ra
82
đội ngũ lao động qua đào tạo rất lớn cung cấp cho các doanh nghiệp trên địa
bàn huyệ. Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được thì qua thời gian thực
hiện, cơ chế, chính sách đào tạo nghề, đào tạo nghề cho TNNT cũng bộc lộ
một số tồn tại, hạn chế, vướng mắc cần phải sửa đổi, bổ sung, thay thế... cho
phù hơn trong tình hình mới.
Luận văn đã khái quát cơ sở lý luận chung về chính sách đào tạo nghề
cho TNNT; trên cơ sở thực trạng việc thực hiện chính sách này tại huyện
Thạch Thất trong thời gian qua để phân tích, đánh giá, nêu lên được những
kết quả, những thành công cũng như như tồn tại, hạn chế của chính sách, để
từ đó tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách.
Luận văn kết hợp phân tích có minh họa bằng số liệu cụ thể hiện trạng
về TNNT và chính sách dạy nghề cho TNNT tại huyện trong thời gian qua;
bên cạnh những kết quả đạt được, luận văn cũng phân tích, nêu lên được
những tồn tại, hạn chế của chính sách và nguyên nhân của những tồn tại, bất
cập trong thực hiện chính sách đào tạo nghề cho TNNT ở huyện.
Luận văn đã đề xuất, hệ thống một số quan điểm, định hướng nhằm huy
động các nguồn lực cho đào tạo nghề; quan điểm hoàn thiện chính sách; quan
điểm gắn đào tạo nghề và giải quyết việc làm...; bên cạnh là các mục tiêu,
nhiệm vụ, giải pháp để tiếp tục thực hiện và hoàn thiện chính sách đào tạo
nghề cho TNNT ở huyện Thạch Thất. Trên cơ sở đó, học viên đã đề xuất, hệ
thống một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách đào tạo nghề cho
83
TNNT ở Thạch Thất trong những năm tới ./.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đặng Khắc Ánh- Đồng chủ biên (2018), Giáo trình những vấn đề cơ bản
của chính sách công, Nxb Bchs khoa Hà Nội.
2. Triệu Văn Cường- Chủ biên(2016), Phân tích các bên liên quan trong quy
trình chính sách. Nxb Lao động xã hội.
3. Nguyễn Hoàng Hiệp (2016), "Việc làm cho thanh niên trong tiến trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", Tạp chí Lao động và Xã hội, (292).
tr. 11-13.
4. Lê Bạch Hồng (2017), "Một số giải pháp giải quyết việc làm cho thanh
niên trong giai đoạn 2017-2020”, Tạp chí Lao động và Xã hội, tr.5-7.
5. Lê Thị Mai Lan (2016), Thị trường lao động Hà Nội: Thực trạng và giải
pháp phát triển đến năm 2020”, Luận văn thạc sĩ kinh tế lao động,
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội.
6. Ngân hàng Thế giới (2018), Giáo dục và Tiền Công trong nên kinh tế
chuyên đổi.
7. Ngân hàng Thế giới (2019), Báo cáo phát triển Việt Nam 2015, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
8. Nguyễn Duy Phúc (2019), Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường
lao động tỉnh Hà Tĩnh”, Luận văn thạc sĩ kinh tế lao động, Trường Đại
học Kinh tế quốc dân Hà Nội.
9. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Bộ Luật Lao
động và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, Nxb Lao
động, Hà Nội.
10. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2020), Luật Thanh
niên 2020
11. Quốc hội nước CHXHCNVN, Luật dạy nghề, số 76/2016/QHIl, ngày 29
84
tháng l1 năm 2016.
12. Sở Lao động - Thương bình và Xã hội (2016 - 2020), Điều tra Lao động -
việc làm hàng năm 2016-2020 của Thành phố Hà Nội.
13. Sở Lao động - Thương bình và Xã hội (2018-2019), Báo cáo kết quả giải
quyết việc làm của thành phố Hà Nội.
14. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (2019), Báo cáo đào tạo dạy nghề
2019 của thành phổ Hà Nội.
15. Nguyễn Hồng Thanh (2018), Sự dịch chuyển lao động trẻ vùng ven đô và
trách nhiệm của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Báo cáo chuyên đề Viện
Nghiên cứu Thanh niên.
16. Nguyễn Hồng Thanh (2019), Báo cáo tổng hợp vai trò của đoàn TNCS
Hồ Chí Minh trong việc đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn, Đề tải
KTN 98- 08, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
17. Nguyễn Thị Kim Thanh (2016), Xây dựng đội ngũ cán hộ, công chức
quản lý nhà nước về kinh tế cấp cơ sở của thành phố Hà Nội trong giai
đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
25. Phan Nguyên Thái, Nguyễn Văn Buồm (2017), "Vấn đề giải quyết việc
làm cho thanh niên hiện nay", Quản lý nhà nước, (3), tr.28-3 1.
18. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 70/2018/QĐ-TTg ngày 29/4/2018
Phê duyệt chiến lược Phát triển Thanh niên Việt Nam đến năm 2020.
19. Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 06/2019/CT- TTg 21/3/2019 về phát huy
vai trò thanh niên tham gia phát triển kinh tế xã hội.
20. Thủ tướng Chính phủ , Quyết định số 246/2016/QĐ-TTg 27/10/2016 về
việc thành lập Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã.
20. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 101/2017/QĐ-TTg ngày 6/7/2017
phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm đến năm 2020.
21. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 103/2018/QĐ-TTg ngày 21/7/2018
phê duyệt Đề án Hỗ trợ Thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn
85
2018-2020.
22. Nguyễn Tiệp (2016), Nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá
trình đô thị hoá trên địa bàn thành phố Hà Nội, Nxb Lao động - Xã hội,
Hà Nội.
23. Trần Minh Trang (2017), Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
trong quá trình đô thị hóa ở tỉnh Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ kinh tế lao
động, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội.
24. Lê Quang Trung (2017). "Việc làm cho thanh niên trong quá trình hội
nhập và phát triển", Tạp chí Lao động và Xã hội, (32). tr.7-8.19.
25. Trung tâm Dịch vụ Việc làm thanh niên Hà Nội (2016), Giải pháp đào
tạo, dạy nghề, tạo việc làm cho thanh niên để củng cố, phát triển làng
nghề Hà Nội, Báo cáo tổng hợp đề tài mã số 01X-07/2.1.2016-I.
26. Trung tâm Dịch vụ Việc làm thanh niên Hà Nội (2018), Xây đựng nội
dung và phương thức tuyên truyền hướng nghiệp, tư vấn đào tạo nghề
nghiệp cho lao động trẻ Hà Nội, Báo cáo tổng kết đề tài cấp thành phố mã
số 01X-06/07- 2018.
27. Trung tâm Dịch vụ Việc làm thanh niên Hà Nội (2016), Ứng dụng một số
mô hình dạy nghề ngắn hạn cho thanh niên ngoại thành Hà Nội, Báo cáo
tổng kết đề tài mã số 0 I/X-06/05-2016-2.
28. Trung tâm Tin học, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2016), Số liệu
Thống kê Việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1996-2005, Nxb
Lao động - Xã hội, Hà Nội.
29. Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội (2001), Giáo trình Kinh tế lao
động, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội.
30. Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội (2004), Giáo trình Quản trị
Nguồn nhân lực, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội.
31. Từ Điển Bách khoa Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 1995,
86
tr. 475.

