BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH _______________________________ Nguyễn Thị Ngọc Anh
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
Chuyên ngành: Địa lí học Mã số: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
ĐẶNG VĂN PHAN
PGS. TS. Thành phố Hồ Chí Minh – 2008
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới
PGS.TS. Đặng Văn Phan, Người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tác giả trong suốt
quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo trường
Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả
trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài.
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các cơ quan: Cục
Thống kê tỉnh Bình Dương, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương, Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Dương đã giúp đỡ tác giả trong quá
trình thu thập số liệu, tư liệu, các thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu.
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các bạn bè đồng nghiệp và những
người thân đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả trong suốt thời gian học tập và
thực hiện luận văn.
Bình Dương,... tháng.... năm 2008
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Anh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCKT : Cơ cấu kinh tế
CDCC : Chuyển dịch cơ cấu
CDCCKT : Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CNH : Công nghiệp hóa
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
LTTW3 : Lâm trường Trung ương 3
: Diện tích tự nhiên DTTN
: Tổng sản phẩm quốc dân GDP
: Giá trị sản xuất GTSX
: Hiện đại hóa HĐH
: Hợp tác xã HTX
KT - XH : Kinh tế - xã hội
L/s : Lít/giây
NN : Nông nghiệp
NN - NT : Nông nghiệp - nông thôn
: Nông thôn NT
: Nhà xuất bản Nxb
: Vườn, ao, chuồng VAC
: Ruộng, ao, chuồng RAC
: Sản xuất SX
: Sản xuất nông nghiệp SXNN
: Trách nhiệm hữu hạn TNHH
: Thị xã TX
UBND : Uỷ Ban nhân dân
UK : Ước khoảng
KTTĐPN : Kinh tế trọng điểm phía Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xét trên các mặt KT - XH, môi trường, NN có vai trò hết sức quan trọng đối
với sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ. CDCCKT NN - NT theo
hướng CNH - HĐH là một xu thế tất yếu khách quan của quá trình phát triển KT -
XH mỗi nước.
Đối với nước ta, từ một nước có nền kinh tế chủ yếu là NN và tuyệt đại bộ
phận dân cư đang sống ở NT thì NN - NT càng có vị trí quan trọng trong sự phát
triển kinh tế. Ở mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước, trong đường lối phát triển KT -
XH của Đảng đều chú trọng CDCCKT NN - NT theo hướng SX hàng hóa, chuyển
từ nền NN truyền thống, lạc hậu sang nền NN hiện đại.
Bình Dương là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ và vùng KTTĐPN nên có
thị trường tiêu thụ nông sản lớn nhất cả nước. Đây không chỉ là điều kiện thuận lợi
đối với các yếu tố “đầu ra” cho SXNN mà cũng là thuận lợi giảm chí phí “đầu
vào” cho nông - lâm - thuỷ sản. Mặc dù Bình Dương có rất nhiều lợi thế để phát
triển một nền NN hiện đại. Trong những năm qua, tỉnh cũng đã tiến hành CDCCKT
NN - NT và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể nhưng cho tới nay NN - NT Bình
Dương vẫn chưa thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có, CCKT NN -
NT vẫn còn nhiều bất cập. Việc xác định một CCKT NN - NT phù hợp và thực hiện
các biện pháp thúc đẩy chuyển dịch là nhân tố quan trọng quyết định tới sự phát
triển của NN - NT Bình Dương trong thời gian tới. Với những lý do trên và mong
muốn đóng góp một phần nhỏ công sức vào sự phát triển KT - XH của địa phương,
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông
thôn tỉnh Bình Dương trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa”.
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tổng quan những vấn đề lí luận, phương pháp luận và phương
pháp nghiên cứu về CCKT và CDCCKT NN - NT, đề tài bước đầu tìm hiểu hiện
trạng CDCCKT NN - NT tỉnh Bình Dương và cơ sở khoa học cho sự chuyển dịch
trong những năm tiếp theo. Đề ra những định hướng và giải pháp chuyển dịch cho
phù hợp với xu hướng CNH - HĐH của đất nước hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài cần thực hiện được
những nội dung nghiên cứu cơ bản sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận cơ bản về CCKT nói chung và CCKT
NN - NT nói riêng làm cơ sở vận dụng vào quá trình xem xét, phân tích CDCCKT
NN - NT Bình Dương.
- Đánh giá thực trạng CDCCKT NN - NT Bình Dương từ năm 1997 đến
2006. Từ đó rút ra những đặc trưng cơ bản của CCKT NN - NT và xu hướng
CDCCKT NN - NT Bình Dương.
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình CDCCKT NN -
NT Bình Dương diễn ra nhanh chóng theo hướng CNH - HĐH.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
CDCCKT NN - NT Bình Dương là một quá trình mang tính toàn diện, diễn
ra trên các mặt: cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu lãnh thổ và cả sự
thay đổi chất lượng cuộc sống dân cư. Quá trình chuyển dịch không chỉ ở cấp vĩ mô
mà còn cả ở cấp vi mô. Tuy nhiên, do hạn chế của bản thân, nguồn tư liệu và một số
yếu tố khách quan khác nên:
Về nội dung: trọng tâm của đề tài chủ yếu tập trung làm rõ sự CDCCKT
NN trên phương diện ngành và lãnh thổ, sự chuyển dịch về thành phần kinh tế chỉ
đề cập ở mức độ nhất định và chủ yếu quan tâm đến các thành phần kinh tế chiếm
vị trí quan trọng trong kinh tế NN. Về CDCCKT NT chủ yếu nghiên cứu sự biến
động của các ngành nghề phụ ở NT như tiểu thủ công nghiệp, CNCB nông sản, một
số hoạt động dịch vụ và tìm hiểu chất lượng cuộc sống dân cư NT.
NT là một khái niệm rộng bao gồm các hoạt động KT - XH và cuộc sống của
dân cư NT, khả năng nghiên cứu của bản thân tác giả cùng với những hạn chế khác
nên sự nghiên cứu CDCCKT NT Bình Dương còn chưa thật đầy đủ và chi tiết.
Về không gian: đề tài tập trung nghiên cứu trên phạm vi toàn bộ 7 huyện, thị
của tỉnh Bình Dương.
Về thời gian: đề tài nghiên cứu quá trình CDCCKT NN - NT từ năm 1997
(khi tỉnh Bình Dương được tái lập) đến năm 2006 và những định hướng, các giải
pháp chuyển dịch đến năm 2020.
4. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Do CDCCKT NN - NT là một vấn đề quan trọng đối với sự phát triển KT -
XH của đất nước nên hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước về vấn
đề này đã được công bố. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung vào
nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của quá trình CDCCKT NN - NT của một
vùng miền cụ thể hay một khu vực nhỏ như tỉnh, huyện, xã. Các công trình đã được
công bố và có ý nghĩa cao về mặt lí luận và thực tiễn có thể kể đến như:
Về mặt lí luận: CNH - HĐH ở Việt Nam: lí luận và thực tiễn (TS. Nguyễn
Trọng Chuẩn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2002); CDCCKT theo hướng
CNH - HĐH nền kinh tế quốc dân (tập I, II) (Ngô Đình Giao, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội năm 1994); Về đẩy nhanh CNH - HĐH NN - NT (TS. Nguyễn Thiện
Luân, Báo NN và Phát triển NT, số 12 năm 2004),...
Về mặt thực tiễn: có nhiều công trình nghiên cứu về CDCCKT NN - NT của
một số vùng trong cả nước như CDCCKT NT Bắc Trung Bộ theo CNH - HĐH (TS.
Nguyễn Đăng Bằng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội năm 2002).
5. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Quan điểm nghiên cứu
5.1.1. Quan điểm hệ thống
CCKT NN - NT chính là một hệ thống hoàn chỉnh gồm nhiều tầng bậc, bản
thân nó là sự hợp thành của nhiều hệ thống khác nhau và đồng thời lại là bộ phận
của hệ thống lớn hơn. CCKT NN - NT tỉnh có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường
xung quanh, bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường KT - XH.
5.1.2. Quan điểm lãnh thổ
Cơ cấu lãnh thổ kinh tế NN - NT Bình Dương được coi như một thể tổng
hợp tương đối hoàn chỉnh, trong đó các yếu tố tự nhiên, KT - XH có mối quan hệ
chặt chẽ, tác động chi phối lẫn nhau. Đặc biệt, lĩnh vực NN Bình Dương là ngành
thu hút một lực lượng lao động cơ bản và địa bàn NT Bình Dương tập trung phần
lớn dân cư của toàn tỉnh. Do vậy, cần phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát
triển và CDCCKT NN - NT Bình Dương để từ đó đưa ra những định hướng phát
triển có tính tổng hợp nhằm khai thác tốt những tiềm năng của vùng.
5.1.3. Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Vận dụng quan điểm vào trong nghiên cứu đề tài để thấy được nguồn gốc
nảy sinh, quá trình diễn biến của các yếu tố kinh tế trong từng giai đoạn, trong
những điều kiện thời gian và không gian cụ thể. Từ đó đánh giá chính xác các khả
năng phát triển của ngành kinh tế NN, của địa bàn NT Bình Dương.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu
Trong luận văn chúng tôi đã tiến hành thu thập các số liệu, tư liệu từ các
nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu là nguồn số liệu từ Niên giám thống kê của địa
phương, từ báo cáo thường niên của Sở NN và Phát triển NT. Trên cơ sở đó tiến
hành các phương pháp nghiên cứu trong phòng, xử lí số liệu để có được hệ thống
các số liệu có đủ độ tin cậy phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài.
5.2.2. Phương pháp phân tích hệ thống
Thực trạng cơ cấu NN - NT tỉnh được nhận biết thông qua phân tích các mối
quan hệ về không gian và thời gian, về các ngành và các lĩnh vực kinh tế. Đề tài chú
ý các mối quan hệ tự nhiên và nhân văn, mối quan hệ hình thức và bản chất.
5.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Để nhận biết được đặc điểm và xu thế phát triển của quá trình KT - XH trong
lĩnh vực kinh tế NN - NT Bình Dương, trên cơ sở số liệu đã thu thập được từ các
nguồn, quá trình nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê như một công cụ để
nhận biết những giá trị gần đúng, xác thực nhất.
5.2.4. Phương pháp bản đồ
Quá trình thực hiện đề tài đã sử dụng bản đồ như một phương tiện phản ánh
các kết quả nghiên cứu về các hiện tượng KT - XH của NN - NT Bình Dương.
5.2.5. Phương pháp thực địa
Do lĩnh vực NN - NT tương đối phức tạp, bao gồm nhiều ngành nghề khác
nhau cùng tồn tại đan xen trên địa bàn nên quá trình thực địa là hết sức quan trọng
để tìm hiểu sâu sắc về thực trạng phát triển.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Về mặt lí luận: đề tài đã làm rõ những lí thuyết căn bản về CCKT nói chung
và CDCCKT NN - NT nói riêng. Trên cơ sở những lí thuyết đó đề tài tìm hiểu và
làm rõ những vấn đề chủ yếu trong quá trình CDCCKT NN - NT Bình Dương từ
1997 - 2006 và đề ra những giải pháp chuyển dịch trong những năm tới.
Về mặt thực tiễn: trên cơ sở tổng hợp các số liệu thống kê về các chỉ tiêu
phát triển KT - XH trong những năm 1997 - 2006, đề tài đã nêu lên được những đặc
trưng cơ bản nhất trong quá trình CDCCKT NN - NT của Bình Dương. Từ những
kết quả nghiên cứu đó kết hợp với những định hướng phát triển đề ra những giải
pháp có tính khả thi nhất thúc đẩy quá trình chuyển dịch.
7. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài gồm 3 phần chính: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Trong đó phần nội dung có bố cục 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận CCKT và CDCCKT NN - NT.
Chương 2: Thực trạng quá trình CDCCKT NN - NT trong thời kì CNH -
HĐH tỉnh Bình Dương từ 1997 - 2006.
Chương 3: Định hướng và những giải pháp nhằm thúc đẩy CDCCKT NN -
NT tỉnh Bình Dương đến năm 2020.
Ngoài ra còn có phần phụ lục là những nội dung có liên quan đến các nội
dung nghiên cứu của đề tài do không có đủ điều kiện để trình bày hết trong đề tài.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1.1. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cơ cấu: là một khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một
hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc các bộ
phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và tổng thể,
biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sự
biến đổi của sự vật, hiện tượng. Như vậy, có thể thấy có nhiều kiểu tổ chức cơ cấu
của khách thể và các hệ thống [22, tr.28].
Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống phức tạp, được cấu thành bởi nhiều bộ
phận khác nhau. Các bộ phận đó có thể là các yếu tố “đầu vào” của quá trình SX,
gồm: đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kĩ thuật; các khâu trong vòng tuần hoàn của
tái SX xã hội, gồm: SX, phân phối, trao đổi và tiêu dùng; các ngành SX của một nền
kinh tế, gồm: NN, công nghiệp và dịch vụ. Giữa chúng luôn có quan hệ biện chứng
với nhau trong quá trình vận động và phát triển. Sự vận động và phát triển của nền
kinh tế còn chứa đựng sự thay đổi của chính bản thân các bộ phận và cách thức
quan hệ giữa chúng với nhau trong mỗi thời điểm và trong mỗi điều kiện cũng khác
nhau. Do đó, có thể khái quát CCKT là tổng thể những mối quan hệ về chất lượng
và số lượng giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong không gian, thời gian và
điều kiện KT - XH nhất định [22, tr.29]. CCKT được hình thành và phát triển dựa
trên những cơ sở chủ yếu sau:
- CCKT là kết quả của sự phân công lao động xã hội, được bắt đầu từ việc tăng
năng suất lao động và sự phát triển của các mối quan hệ trao đổi hàng hóa tiền tệ.
- CCKT phản ánh sự tương tác sống động giữa các yếu tố của lực lượng SX
và quan hệ SX, trong đó vai trò quyết định là sự phát triển của lực lượng SX.
- CCKT có sự cân đối, đồng bộ giữa các bộ phận trong một hệ thống với các
cấp độ khác nhau, gắn với thời gian, không gian và đặc điểm chính trị, KT - XH
nhất định nhằm bảo đảm sự phát triển và có thể tái SX cả về KT - XH.
Như vậy, bản chất của CCKT là sự biểu hiện của các mối quan hệ giữa các
yếu tố của quá trình SX xã hội, đó là mối quan hệ của lực lượng SX và quan hệ SX,
nhưng không đơn thuần chỉ là quan hệ về mặt số lượng và tỉ lệ giữa các yếu tố -
biểu hiện về lượng hay sự tăng trưởng của hệ thống, mà là những mối quan hệ bên
trong và bên ngoài của các yếu tố đó biểu hiện về chất hay sự phát triển của hệ
thống [35, tr.11]. Mối quan hệ giữa lượng và chất trong cơ cấu của nền kinh tế thực
chất là những biểu hiện về tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đó. Mặt khác,
nền kinh tế quốc dân được phân chia theo nhiều cách thức và ở nhiều cấp độ khác
nhau mới có thể thấy hết được các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của nền kinh
tế đó và nhìn chung người ta thường xem xét từ các góc độ chủ yếu sau:
Cơ cấu ngành kinh tế: phản ánh sự phân công lao động theo hướng chuyên
môn hóa SX, được hình thành dựa trên mối quan hệ giữa các đối tượng khác nhau
của nền SX, SX càng phát triển thì tập hợp ngành kinh tế càng đa dạng. Cho đến
nay, trên thế giới về cơ bản có hai hệ thống phân ngành kinh tế, đó là hệ thống SX
vật chất (Material Production System - MPS), được áp dụng đối với nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung và hệ thống tài khoản quốc gia (System of National Accounts -
SNA), được áp dụng đối với nền kinh tế thị trường.
Theo hệ thống tài khoản quốc gia, nền kinh tế thường được phân thành ba
khu vực: khu vực I gồm các ngành hoạt động nhằm khai thác các của cải từ thiên
nhiên (nông, lâm, thuỷ sản và khai khoáng); khu vực II gồm các ngành hoạt động
nhằm làm thay đổi hình thái của những của cải vật chất (công nghiệp chế tạo, chế
biến, xây dựng); khu vực III gồm các ngành nhằm cung ứng những dịch vụ có ích
cho nhu cầu SX và tiêu dùng của xã hội (thương nghiệp, bưu điện, vận tải, bảo
hiểm, các dịch vụ đời sống, dịch vụ quản lý Nhà nước, hoạt động đoàn thể, từ thiện,
tôn giáo) [2, tr.18]. Trong mỗi khu vực được phân thành các ngành kinh tế cấp 1 và
dưới cấp 1 được phân thành các ngành cấp 2, cấp 3, cấp 4,...
Sự phân chia các ngành như trên không phải là cách làm duy nhất mà có sự
khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, trình độ phát triển của nền kinh tế và cơ chế
quản lý của mỗi nước, nhưng có thể tìm được một cách thức duy trì một cơ cấu hợp
lý và có thể lựa chọn được những lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư các nguồn lực nhằm
thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách hiệu quả nhất.
Đối với nước ta, theo Quyết định số 10/2007/QĐ - TTg ngày 23/1/2007 của
Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam, nền kinh tế
nước ta được chia thành 21 ngành kinh tế cấp 1; 88 ngành kinh tế cấp 2; 242 ngành
kinh tế cấp 3; 437 ngành kinh tế cấp 4 và 642 ngành kinh tế cấp 5.
NN thường được xem là một ngành kinh tế, nếu hiểu theo nghĩa hẹp gồm có
trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ NN, nếu hiểu theo nghĩa rộng còn bao hàm cả lâm
nghiệp và thuỷ sản [4, tr.8]. Theo hệ thống phân ngành kinh tế của nước ta hiện nay,
SXNN, lâm nghiệp và thuỷ sản là 1 trong 21 ngành kinh tế cấp 1, trong đó được
phân chia thành:
- 3 ngành cấp 2 gồm: NN và hoạt động dịch vụ có liên quan (ngành NN); lâm
nghiệp và hoạt động dịch vụ có liên quan (ngành lâm nghiệp); khai thác và nuôi
trồng thuỷ sản (ngành thuỷ sản).
- 13 ngành cấp 3, gồm: trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, nhân và
chăm sóc cây giống NN, săn bắt, đánh bẫy và hoạt động dịch vụ có liên quan (7
ngành cấp 3 thuộc ngành NN); trồng rừng và chăm sóc rừng, khai thác gỗ và lâm
sản, thu nhặt sản phẩm từ rừng không phải là gỗ và lâm sản khác, hoạt động dịch vụ
lâm nghiệp (4 ngành cấp 3 thuộc ngành lâm nghiệp); khai thác thuỷ sản, nuôi trồng
thuỷ sản (2 ngành cấp 3 thuộc ngành thuỷ sản).
- 41 ngành cấp 4, bao gồm: 31 ngành thuộc ngành NN, 5 ngành thuộc ngành
lâm nghiệp và 5 ngành thuộc ngành thuỷ sản.
- 56 ngành cấp 5, bao gồm: 41 ngành thuộc ngành NN, 8 ngành thuộc ngành
lâm nghiệp và 7 ngành thuộc ngành thuỷ sản.
Cơ cấu thành phần kinh tế: gắn liền với các hình thức sở hữu về tư liệu SX
và xu hướng chung là là lực lượng SX ngày càng phát triển, các hình thức sở hữu
ngày càng đa dạng. Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu là thành phần kinh tế. Tuy
nhiên, ngày nay giữa các hình thức sở hữu có sự đan xen lẫn nhau tùy thuộc vào sự
phát triển của các nền kinh tế, dẫn đến sự phân chia nền kinh tế theo các thành phần
kinh tế ngày càng phức tạp. Từ mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong quá
trình vận động người ta có thể thấy được xu hướng phát triển và vai trò của từng
thành phần kinh tế để từ đó có thể đưa ra các giải pháp tác động phù hợp với yêu
cầu phát triển chung của nền kinh tế.
Cơ cấu vùng kinh tế: phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không
gian địa lí. Thực chất của việc phân chia này là để làm cơ sở cho hoạch định chiến
lược, xây dựng kế hoạch phát triển, thực thi chính sách phù hợp với đặc điểm của
từng vùng nhằm đạt hiệu quả cao trên từng vùng và toàn lãnh thổ.
Tùy theo mục đích quản lý mà có thể phân chia lãnh thổ của một quốc gia
thành các vùng với những đặc trưng về mặt kinh tế khác nhau và trong NN, cách
phân chia lãnh thổ thành các vùng sinh thái NN mang một ý nghĩa cực kì quan
trọng, vì từ đó có thể xác lập được các cơ cấu cây trồng - vật nuôi hợp lý, vừa khai
thác được lợi thế của mỗi vùng, vừa khắc phục tình trạng phát triển dàn trải, thiếu
tập trung để có thể hình thành được các vùng SX chuyên canh có khối lượng hàng
hóa lớn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường và thúc đẩy CDCCKT.
CCKT theo ngành, theo thành phần và theo vùng kinh tế là sự biểu hiện về
bản chất ở những khía cạnh khác nhau của một nền kinh tế, giữa chúng có quan hệ
tác động qua lại lẫn nhau, trong đó cơ cấu theo ngành giữ vai trò chủ đạo trong toàn
bộ quá trình phát triển, cơ cấu theo thành phần kinh tế giữ vai trò quan trọng để thực
hiện cơ cấu ngành, cơ cấu theo vùng là cơ sở cho các ngành, các thành phần kinh tế
phân bố hợp lý các nguồn lực, tạo sự phát triển đồng bộ, cân đối, đạt hiệu quả cao
giữa các ngành, giữa các thành phần kinh tế của một nền kinh tế.
NN: là một ngành SX vật chất cơ bản, là một bộ phận cấu thành quan trọng
của nền kinh tế quốc dân [18, tr.25], nên có thể hiểu CCKT NN là tổng thể các mối
quan hệ về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận cấu thành nền NN diễn ra trong
không gian, thời gian và điều kiện KT - XH nhất định.
Quá trình hình thành và biến đổi của các CCKT NN gắn liền với các hoạt
động SXNN nhưng không thể tách rời với quá trình hình thành và biến đổi của cơ
cấu nền kinh tế. Do đó, CCKT NN vừa có đặc điểm chung, vừa có đặc điểm riêng
so với cơ cấu nền kinh tế.
1.1.2. Cơ cấu kinh tế nông thôn
NT: là khu vực lãnh thổ bao gồm một không gian rộng lớn của một đất nước
hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, ở đó có một cộng đồng dân
cư sinh sống (gọi là dân cư NT) và hoạt động kinh tế chủ yếu là SXNN (theo nghĩa
rộng), bên cạnh đó còn có các hoạt động SX tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp và
hoạt động dịch vụ [4, tr.30].
Trên thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về kinh tế NT nhưng dù cách hiểu
nào thì kinh tế NT vẫn là tổng thể các hoạt động kinh tế diễn ra trên địa bàn NT, có
mối quan hệ chặt chẽ với NN. Kinh tế NT là phức hợp những nhân tố cấu thành của
lực lượng SX và quan hệ SX trong nông, lâm, thuỷ sản cùng với các ngành thủ công
truyền thống, tiểu thủ công nghiệp, CNCB và các ngành thương nghiệp, dịch vụ.
Tất cả các quan hệ hữu cơ với nhau trong nền kinh tế vùng, lãnh thổ và trong toàn
bộ nền kinh tế quốc dân. Kinh tế NT có những đặc điểm nổi bật sau:
- Kinh tế NT bao trùm trước hết vẫn là nông, lâm, thuỷ sản. Bởi lẽ dù có phát
triển đến đâu thì NT vẫn là nơi SX ra sản phẩm về lương thực, thực phẩm cho toàn
xã hội, cung cấp nguyên liệu cho CNCB, cung cấp lao động cho các ngành công
nghiệp ở thành thị.
- Kinh tế NT gắn bó chặt chẽ với điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái.
Đối tượng cơ bản của hoạt động kinh tế ở NT là cây trồng - vật nuôi, đất đai, khí
hậu, nguồn nước,…
- Kinh tế NT mang tính bền vững cao, mọi sự thay đổi đều nằm trong khuôn
khổ của tự nhiên, lịch sử, truyền thống.
Về CCKT NT còn nhiều quan niệm khác nhau, tổng quát có thể hiểu:
CCKT NT: là tổng thể các quan hệ kinh tế trong khu vực NT (bao gồm cơ
cấu các ngành nông - lâm - thuỷ sản, công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ, kể cả
hoạt động văn hóa - giáo dục - y tế được phát triển tại vùng NT), chúng có mối quan
hệ gắn bó hữu cơ với nhau theo những tỉ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt
chẽ về mặt chất; chúng tác động qua lại lẫn nhau trong không gian và thời gian nhất
định, phù hợp với điều kiện KT - XH nhất định, tạo thành một hệ thống kinh tế NT,
một bộ phận hợp thành không thể tách rời của hệ thống kinh tế quốc dân [4, tr.35].
CCKT NT cũng là một bộ phận của CCKT quốc dân, do đó CCKT NT cũng
có những đặc trưng cơ bản của CCKT nói chung, bên cạnh đó CCKT NT cũng có
những đặc trưng riêng biệt:
- CCKT NT mang tính khách quan, được hình thành trên cơ sở phát triển của
lực lượng SX và phân công lao động xã hội. Với trình độ phát triển nhất định của
lực lượng SX và phân công lao động xã hội thì sẽ có một CCKT cụ thể thích ứng.
- CCKT NT mang tính lịch sử, xã hội nhất định: là tổng hợp các mối quan hệ
kinh tế được xác lập theo những tỉ lệ nhất định về mặt lượng trong thời gian cụ thể.
- CCKT NT không ngừng vận động phát triển ngày càng hoàn thiện, hợp lí
và có hiệu quả hơn. Quá trình phát triển và biến đổi CCKT NT luôn gắn bó chặt chẽ
với sự biến đổi của các yếu tố về lực lượng SX và phân công lao động xã hội.
- CDCCKT NT là một quá trình và cũng không thể có một cơ cấu hoàn
chỉnh, bất biến.
CCKT NT nước ta hiện nay đang hình và biến đổi gắn với sự ra đời và phát
triển của nền NN SX hàng hóa. Để khắc phục dần tính thuần nông, tự cung tự cấp
và chuyển mạnh sang SX hàng hóa thì CCKT NT nước ta cần có những bước thay
đổi theo hướng CNH - HĐH.
Những khía cạnh biểu hiện của CCKT NT: kinh tế NT là lĩnh vực rộng lớn,
đa dạng gồm nhiều bộ phận hợp thành và cùng tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ.
Trong hệ thống các bộ phận hợp thành CCKT NT có 3 nội dung được xem là quan
trọng nhất: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu vùng kinh tế .
CCKT theo ngành: cơ sở để phân chia ngành trong CCKT NT là phân công
lao động. Điều kiện để hình thành các ngành nghề ở NT phụ thuộc vào đặc điểm tự
nhiên, kinh tế, kĩ thuật và truyền thống địa phương. Cơ cấu ngành trong kinh tế NT
bao gồm:
Nhóm ngành nông - lâm - thuỷ sản: chiếm vai trò chủ đạo trong cơ cấu
ngành của kinh tế NT, bởi vì NT dù cho phát triển đến trình độ nào thì hoạt động
kinh tế chủ yếu vẫn là NN (NN hiểu theo nghĩa rộng).
Nhóm ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở NT: rất đa dạng, bao
gồm nhiều nghề được phân bố trên địa bàn NT, gắn liền với hoạt động SXNN và
kinh tế NT nhằm đáp ứng nhu cầu SX và đời sống dân cư NT đồng thời đáp ứng
nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu. Công nghiệp NT bao gồm:
+ CNCB nông - lâm - thuỷ sản thành phẩm và bán thành phẩm;
+ Công nghiệp SX các loại tư liệu SX và tư liệu tiêu dùng phục vụ trực tiếp
cho SXNN và sinh hoạt ở NT;
+ Công nghiệp SX vật liệu xây dựng như gạch, vôi, đá,...
+ Nghề thủ công truyền thống như dệt, may, len, gốm sứ, sơn mài, đồ gỗ,...
Ở nước ta, công nghiệp NT tồn tại dưới nhiều hình thức: làng nghề, hộ nghề,
HTX nghề.
Nhóm ngành dịch vụ NT: ra đời và phát triển gắn liền với NN và công nghiệp
NT. Khi xuất hiện SX hàng hóa, năng suất lao động tăng lên, một bộ phận từ trồng
trọt, chăn nuôi đã tách ra làm dịch vụ thương mại “đầu vào”, “đầu ra”. Dịch vụ
NT bao gồm các hoạt động:
+ Dịch vụ mua bán hàng hóa, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm;
+ Dịch vụ kinh tế, tài chính, tín dụng ngân hàng;
+ Dịch vụ phục vụ sinh hoạt như điện nước, vệ sinh, văn hóa, pháp luật;
+ Dịch vụ giao thông vận tải, thuỷ lợi, bảo vệ thực vật.
Khi nền SX chuyển từ tự cung tự cấp sang SX hàng hóa, tỉ trọng công
nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng lên trong CCKT NT.
CCKT theo thành phần kinh tế: là mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế
tại NT, dựa trên những quan hệ sở hữu khác nhau về tự liệu SX và trình độ phát
triển khác nhau của lực lượng SX. Nền kinh tế quốc dân có bao nhiêu thành phần kinh
tế thì kinh tế NT có bấy nhiêu thành phần. Tuy nhiên, sự biểu hiện của các thành phần
kinh tế NT có những đặc điểm riêng:
Kinh tế Nhà nước ở NT: được biểu hiện tập trung ở các hình thức doanh
nghiệp Nhà nước (nông trường, lâm trường, trạm, trại), ngân hàng, tín dụng, các cơ
sở nghiên cứu khoa học. Kinh tế Nhà nước ở NT giữ vai trò chủ đạo cả về mặt SX
và lưu thông phân phối.
Kinh tế tập thể: phát triển với nhiều hình thức đa dạng trong đó tiêu biểu là
các HTX kiểu mới, SX kinh doanh nhiều ngành nghề (HTX đa chức năng), tập hợp
liên kết các hộ SX với nhau cùng giải quyết những yêu cầu của SX.
Kinh tế cá thể - tiểu chủ: là hình thức kinh tế thích hợp và năng động nhất ở
NT, tồn tại dưới nhiều hình thức tổ chức kinh tế như kinh tế hộ, kinh tế trang trại.
Đặc biệt kinh tế cá thể - tiểu chủ ở NT có ưu thế phát triển mạnh mẽ các hoạt động
dịch vụ SX và tiêu thụ.
Kinh tế tư bản Nhà nước: tồn tại dưới các hình thức liên doanh giữa kinh tế
Nhà nước và tư bản tư nhân trong và ngoài nước, các dự án có vốn đầu tư nước
ngoài và SX kinh doanh ở NT. Thành phần này chỉ tập trung ở những vùng NT SX
hàng hóa phát triển, ở những ngành chế biến, cơ sở hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi,...
có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế NT theo hướng CNH - HĐH.
Kinh tế tư bản tư nhân: có điều kiện phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công
nghiệp, dịch vụ, tín dụng ở NT. Nhưng kinh tế NT phát triển theo định hướng xã
hội chủ nghĩa cần tăng cường sự quản lí của Nhà nước.
CCKT theo lãnh thổ: kinh tế vùng là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế
quốc dân. Sự phát triển có hiệu quả kinh tế vùng sẽ tác động trực tiếp đến sự tăng
trưởng kinh tế không chỉ riêng trong vùng mà còn tác động qua lại đến toàn bộ nền
kinh tế quốc dân. CCKT vùng là mối quan hệ kinh tế giữa các ngành, các thành
phần kinh tế trên phạm vi lãnh thổ. Đặc điểm CCKT vùng là:
- CCKT vùng gắn với điều kiện tự nhiên, KT - XH và một không gian lãnh
thổ nhất định. Trong một vùng thường có đặc điểm về tự nhiên tương đồng và một
không gian thống nhất.
- Cơ cấu vùng là sự thể hiện cơ cấu ngành về mặt không gian, vị trí địa lí
được phân bố phù hợp với sự phân công và chuyên môn hóa trong nền kinh tế, tạo
nên những tiền đề của mối liên hệ giữa các vùng, làm cho mỗi vùng không đồng
nhất với các vùng khác.
1.1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp -
nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Quá trình phát triển KT - XH là quá trình biến đổi diễn ra trên tất cả các lĩnh
vực KT - XH nhưng trước hết là sự gia tăng năng lực SX và sự chuyển dịch các
nguồn lực được sử dụng vào quá trình SX của các ngành. Xu hướng chung trong
thực tế là khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên thì tỉ trọng sản phẩm NN trong
GDP sẽ giảm xuống, tỉ trọng sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng lên, đến một
trình độ nhất định thì tỉ trọng dịch vụ sẽ tăng nhanh so với công nghiệp. Để lý giải
cho quá trình này, có hai lý do chính:
- Từ cuối thế kỷ XIX, E. Engel nhận thấy rằng, khi thu nhập của các gia đình
tăng lên, tỉ lệ chi tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm sẽ giảm xuống và cho sản
phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng, dẫn tới tỉ trọng của NN trong GNP giảm xuống.
- I. Fisher ( 1867 - 1947 ), tiến bộ kĩ thuật có tác động đến thay đổi phân bố lao
động vào ba khu vực của nền kinh tế, tạo điều kiện cho nông dân tăng năng suất lao
động. Kết quả là để bảo đảm lương thực, thực phẩm cho xã hội, không cần đến lượng
lao động như cũ và tỉ lệ lao động NN giảm dần.
Ngoài ra, còn có một lý do khác cũng làm cho tỉ trọng NN trong GDP giảm
sút, đó là các lợi thế tương đối trong NN, nhất là đất đai và lao động ở các quốc gia
phát triển mất dần so với các quốc gia có trình độ phát triển thấp hơn.
1.1.3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thực chất là quá trình cải biến KT - XH từ lạc hậu, mang tính chất tự cấp, tự
túc bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kĩ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ
sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế [3,
tr.535]. Quá trình chuyển dịch này không chỉ diễn ra giữa các ngành của nền kinh tế
mà bắt đầu từ nội bộ của từng ngành theo những xu hướng nhất định và trong NN,
quá trình CDCC các ngành ở hầu hết các quốc gia thường diễn ra theo xu hướng có
tính quy luật như sau:
- Trong dài hạn, cầu nông sản chịu tác động mạnh bởi thu nhập của dân cư
theo hướng là khi mức thu nhập thấp, cầu về các nông sản thông thường lớn hơn và
khi thu nhập tăng lên, cầu về các nông sản có chất lượng cao tăng lên.
- Một nghiên cứu khác cho rằng: thịt, trứng, sữa và thuỷ sản là loại thực
phẩm có tính vận động. Mức độ tiêu dùng các loại thực phẩm này có quan hệ trực
tiếp đến bồi bổ sức khỏe và phát triển trí tuệ nhân loại, vì thế hầu hết các nước đều
đầu tư phát triển chăn nuôi và nghề cá [33, tr.7].
1.1.3.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
CDCCKT NN: là quá trình chuyển dịch các nguồn lực trong NN nhằm gia
tăng sản lượng các ngành, trong đó các ngành có năng suất lao động cao hơn sẽ có tỉ
trọng tăng và xu hướng chung đối với SXNN của hầu hết các nước là tỉ trọng giá trị
sản lượng nông sản phi lương thực, nhất là các sản phẩm chăn nuôi và thuỷ sản
ngày càng tăng khi thu nhập của dân cư tăng lên. CDCCKT NN là chuyển dịch toàn
diện cả cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng [3, tr.61].
CDCC ngành trong NN: là sự thay đổi tỉ trọng giữa các ngành và nhóm
ngành trong nội bộ ngành NN. Xu hướng CDCC ngành NN hiện nay là hướng tới
một nền NN hàng hóa, SX thâm canh, đa dạng theo hướng SX hàng hóa lớn tạo ra
nhiều sản phẩm hàng hóa có giá trị.
- Trong ngành trồng trọt, xu hướng độc canh cây lương thực đã được hạn chế
dần, thay vào đó là việc trồng những loại cây có năng suất cao, có giá trị hàng hóa lớn.
- Trong ngành chăn nuôi cũng sự thay đổi về cơ cấu, những loài vật nuôi có giá
trị dinh dưỡng tốt, phù hợp với những yêu cầu của thị trường được chú trọng phát triển.
CDCC thành phần kinh tế trong NN: chủ yếu diễn ra do sự tác động của
các nhân tố KT - XH, trong đó sự định hướng về mặt chính trị - xã hội có vai trò
chủ yếu. Số lượng các thành phần kinh tế tham gia trong lĩnh vực NN cũng tương
đương với số lượng các thành phần kinh tế tham gia trong nền kinh tế quốc dân.
CDCC lãnh thổ NN: đang diễn ra mạnh mẽ, hình thành nên những vùng
chuyên môn hóa có sự ổn định về phương hướng SX, về quy mô, về bảo đảm chất
lượng và hiệu quả xã hội.
Quá trình CDCCKT NN trong thời kì CNH - HĐH cũng chính là quá
trình CDCCKT NN nhằm vào các mục tiêu:
- Khai thác và sử dụng tốt nhất các lợi thế so sánh của NN trong phạm vi cả
nước cũng như từng địa phương.
- Khai thác có hiệu quả các tiềm năng NN như đất đai, khí hậu, nguồn nước,...
- CDCCKT NN đảm bảo an toàn lương thực, thực phẩm góp phần tạo nên
khối lượng của cải vật chất ngày càng lớn, cơ cấu sản phẩm NN phải đa dạng và
phong phú.
- CDCC NN phải góp phần vào việc ổn định và phát triển KT - XH NT và
nâng cao đời sống nhân dân.
Các chỉ tiêu phản ánh CDCCKT NN:
Khi phân tích tác động của các nhân tố tới sự CDCCKT NN cần chú ý phân
tích cả những thay đổi về lượng (các quan hệ tỉ lệ) hay kết quả CDCC và những
thay đổi về chất hay hiệu quả chuyển dịch do các yếu tố tác động mang lại. Tuy
nhiên, việc xác định chỉ tiêu đo lường các kết quả này cho đến nay vẫn còn có
những quan điểm khác nhau, nhưng về cơ bản gồm có các nhóm chỉ tiêu chủ yếu:
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả, hiệu quả CDCCKT NN: phản ánh sự
thay đổi CCKT NN trên 3 mặt cơ bản, gồm: cơ cấu GDP hoặc cơ cấu GTSX, cơ cấu
lao động và cơ cấu hàng xuất khẩu của các ngành trong NN.
Cơ cấu GDP hoặc GTSX NN: là một trong những thước đo khái quát nhất,
phổ biến nhất để đo lường, đánh giá trạng thái, xu hướng và mức độ thành công của
quá trình CDCCKT NN. Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá:
- GDP và tỉ trọng GDP NN trong GDP nền kinh tế (3 khu vực);
- GTSX và tỉ trọng GTSX các ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản;
- GTSX và tỉ trọng GTSX nội bộ ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản;
- Tăng trưởng GDP và GTSX của các ngành trong NN;
- GDP và GTSX của các ngành trong NN bình quân đầu người.
Thông qua kết quả của các chỉ tiêu có thể rút ra những nhận định về trạng thái
CDCCKT có ổn định hay không ổn định, xu hướng chuyển dịch nhanh hay chậm và
nền kinh tế tăng trưởng cao hay thấp, bền vững hay không bền vững. Quy luật chung
là tỉ trọng đóng góp của trồng trọt trong ngành NN có xu hướng giảm dần.
Cơ cấu lao động NN: phản ánh tầm quan trọng của từng ngành trong NN về
việc sử dụng nguồn lao động xã hội và chỉ tiêu chủ yếu được sử dụng để đánh giá:
- Tỉ trọng lao động làm việc trong ngành NN so với tổng lao động đang làm
việc trong nền kinh tế quốc dân;
- Tỉ trọng lao động NN làm việc trong các ngành của NN so với tổng lao
động NN;
- GDP và GTSX NN bình quân lao động NN (năng suất lao động NN).
Quy luật chung là tỉ trọng lao động NN trong nền kinh tế quốc dân và tỉ trọng
lao động trồng trọt có xu hướng giảm dần; đồng thời ngành nào có năng suất lao
động cao thì ngành đó có tốc độ tăng trưởng, tỉ trọng sản lượng “đầu ra” tăng.
Cơ cấu hàng xuất khẩu: phản ánh mức độ thành công của quá trình CDCCKT
NN theo hướng hội nhập và chỉ tiêu chủ yếu thường được dùng để đánh giá:
- Tỉ trọng giá trị xuất khẩu hàng nông, lâm, thuỷ sản trong tổng giá trị xuất
khẩu của nền kinh tế quốc dân;
- Tỉ trọng xuất khẩu của từng ngành trong tổng giá trị xuất khẩu hàng nông,
lâm nghiệp và thuỷ sản;
- Giá trị xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản bình quân đầu người.
Xu hướng chung là tỉ trọng giá trị xuất khẩu của nền kinh tế và giá trị xuất
khẩu nông, lâm, thuỷ sản bình quân đầu người tăng.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tác động của các nhóm nhân tố đến
CDCCKT NN:
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tác động của các nhân tố đến tổng cung: có rất
nhiều chỉ tiêu nhưng một số chỉ tiêu thường được sử dụng như yếu tố vốn (hiệu suất
sử dụng vốn đấu tư), yếu tố lao động (năng suất lao động), yếu tố đất đai (GTSX
bình quân/1 ha đất NN, diện tích đất canh tác bình quân/1 lao động), khoa học và
công nghệ (tỉ lệ diện tích hoặc tỉ lệ hộ sử dụng giống mới, chi phí sử dụng hay thuê
mướn máy móc, thiết bị bình quân/1 ha, tỉ lệ diện tích tưới tiêu chủ động, tỉ lệ diện
tích áp dụng kĩ thuật canh tác tiên tiến).
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tác động của các nhân tố đến tổng cầu: một số
chỉ tiêu phổ biến sử dụng: tỉ trọng giá trị nông sản hàng hóa tiêu dùng trong nước, tỉ
trọng giá trị nông sản xuất khẩu so với GTSX, tỉ lệ nông sản hàng hóa tiêu thụ
thông qua hợp đồng.
Các chỉ tiêu trên được tính cho toàn ngành và từng ngành trong NN để làm
cơ sở cho việc phân tích, đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố đến CDCCKT
NN. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ phân tích, đánh giá nêu trên thì chỉ có
thể thấy được mức độ tác động riêng rẽ của từng yếu tố, chưa xác định được mức độ
tác động và mối quan hệ giữa các yếu tố trong quá trình tác động đến CDCCKT
NN. Do đó, cần phải có một mô hình kiểm nghiệm thực tế phù hợp với mục đích,
yêu cầu phân tích, đánh giá và khả năng nguồn số liệu có được.
1.1.3.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
CDCCKT NT: là quá trình làm tăng dần các hoạt động công nghiệp và dịch
vụ; và quá trình làm thay đổi phương pháp, công cụ và công nghệ SX chủ yếu là thủ
công, tập quán lạc hậu cổ truyền ở NT bằng các phương pháp, công cụ, công nghệ
SX tiên tiến, hiện đại, đạt hiệu quả cao [23, tr.19].
CDCC ngành trong NT: là sự đổi mới quan hệ tương quan của mỗi ngành so
với tổng thể các ngành trong NT. Sự thay đổi đó do một trong hai yếu tố là số lượng
các tiểu ngành trong NT thay đổi và mối tương quan tốc độ phát triển giữa các
ngành có sự thay đổi hoặc đồng thời cả hai yếu tố.
CDCCKT NT theo thành phần kinh tế: là sự thay đổi tỉ lệ SX kinh doanh
của các thành phần kinh tế trong NT.
CDCCKT NT theo vùng: là sự chuyển dịch của các ngành kinh tế xét theo
vùng. Về thực chất đó cũng là sự chuyển dịch của các ngành, hình thành SX chuyên
môn hóa nhưng được xem xét ở phạm vi hẹp hơn theo từng vùng lãnh thổ.
Quá trình CDCCKT NT theo hướng CNH - HĐH phải từng bước hình thành
CCKT nông - công nghiệp - dịch vụ theo hướng SX hàng hóa, có năng suất, chất
lượng, hiệu quả kinh tế cao, trên cơ sở áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ,
nhất là công nghệ sinh học và trang thiết bị công cụ, thiết bị tiên tiến.
Về thể chế, phải thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần,
mọi thành phần kinh tế đều được phát huy thế mạnh của mình, tạo sự hợp tác hỗ trợ
nhau cùng phát triển.
Về mặt xã hội, phải là quá trình xây dựng NT mới văn minh, hiện đại, đảm
bảo sự công bằng, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Những chỉ tiêu đánh giá CDCCKT NT:
Để đo lường sự chuyển dịch và hiệu quả của sự CDCCKT NT cần dựa trên
hệ thống các chỉ tiêu đánh giá. Hệ thống chỉ tiêu này được thể hiện mặt định tính và
định lượng, thể hiện được hiện trạng và sự chuyển dịch của CCKT NT. Hệ thống
chỉ tiêu này có thể chia thành hai nhóm:
- Nhóm các chỉ tiêu đánh giá động thái của từng bộ phận trong tổng thể
CCKT NT để rút ra xu hướng vận động:
Chỉ tiêu về GTSX: cơ cấu GTSX các ngành ở NT thể hiện tỉ trọng về GTSX
của từng ngành trong tổng số các ngành của kinh tế NT, được biểu hiện bằng tỉ lệ
phần trăm của GTSX từng ngành so với tổng GTSX (được tính theo giá thực tế) của
các ngành trong kinh tế NT. Đây là chỉ tiêu trực tiếp và chủ yếu phản ánh mối tương
quan giữa các ngành trong NT.
Chỉ tiêu về lao động: cơ cấu lao động NT là tỉ lệ lao động theo từng ngành ở
NT, biểu hiện xu thế chuyển dịch trong quá trình phân công lao động theo ngành. Tỉ
trọng lao động các ngành nghề trong CCKT NT mang tính đặc trưng của từng thời
kì, từng địa phương.
Chỉ tiêu về giá trị đầu tư: cơ cấu đầu tư là tỉ lệ nguồn đầu tư vào từng ngành,
từng vùng và hiệu quả của quá trình đầu tư đó.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả, tính hợp lí của CDCCKT NT: vì mục
đích cuối cùng của CDCCKT NT là tăng trưởng kinh tế cao và nâng cao chất lượng
cuộc sống cho dân cư NT nên khi đánh giá hiệu quả chuyển dịch cần sử dụng các
chỉ tiêu: hiệu quả sử dụng các nguồn lực (tài nguyên, lao động, vốn, khoa học công
nghệ); tác động giữa các ngành, vùng, khu vực kinh tế; chỉ tiêu phản ánh việc làm,
thu nhập, đời sống của nông dân, khả năng xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội;
chỉ tiêu nâng cao tiềm lực kinh tế (GTSX, giá trị xuất nhập khẩu, tốc độ tăng trưởng
kinh tế, mức lương nội bộ, khả năng cạnh tranh); chỉ tiêu bảo vệ môi trường sinh
thái, tạo lập môi trường phát triển bền vững.
1.2. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN
Xu hướng có tính quy luật cho tất cả các nước là tỉ trọng của khu vực NN
ngày một giảm trong cơ cấu GDP nhưng kết quả ở mỗi nước sẽ không giống nhau.
Điều này phụ thuộc vào mức độ tác động của các nhân tố hình thành nên CCKT của
nước đó [35, tr.45].
Trong thực tế, có nhiều nhân tố tác động đến quá trình hình thành và biến đổi
cơ cấu của một nền kinh tế nói chung và cơ cấu của một ngành kinh tế nói riêng,
nhưng hầu như các nhà kinh tế học cơ bản thống nhất phân thành hai nhóm nhân tố
với tính chất và nội dung tác động khác nhau, đó là nhóm các nhân tố kinh tế và
nhóm các nhân tố phi kinh tế.
1.2.1. Nhóm nhân tố kinh tế
Quá trình tái SX xã hội luôn chịu tác động của các yếu tố “đầu vào” hay còn
gọi là các nhân tố tác động đến tổng cung và các yếu tố “đầu ra” hay còn gọi là các
nhân tố tác động đến tổng cầu.
Các nhân tố tác động đến tổng cung: mối liên hệ tác động của các nhân tố
“đầu vào” đến sản lượng “đầu ra” của một nền kinh tế, có rất nhiều yếu tố “đầu
vào” tác động đến tổng cung, trong đó có 4 yếu tố cơ bản có tác động trực tiếp đến
tổng cung, gồm: vốn SX, lao động (cả số và chất lượng), tài nguyên thiên nhiên (đất
đai, khoáng sản, rừng và tài nguyên biển), khoa học và công nghệ.
Đối với ngành NN, bên cạnh những đặc điểm chung còn có những đặc điểm
riêng nên tác động của các nhân tố đến tổng cung trong NN còn có những đặc điểm
khác biệt so với các ngành khác.
Vốn đầu tư NN: là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố SX. Nguồn
vốn trong NN được hình thành chủ yếu từ vốn tự có của nông dân do tiết kiệm được
và đầu tư tái SX mở rộng; vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước chủ yếu cho xây
dựng kết cấu hạ tầng, nghiên cứu và triển khai khoa học; vốn vay từ hệ thống định
chế tài chính NT; vốn viện trợ và cho vay ưu đãi từ các Chính phủ và tổ chức tài
chính - tiền tệ trên thế giới và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nhu cầu vốn đầu
tư cho tái SX mở rộng SXNN rất lớn, nhưng khả năng tiết kiệm của nông dân thấp,
đầu tư từ ngân sách Nhà nước hạn chế, thu hút đầu tư từ nguồn vốn tín dụng và đầu
tư nước ngoài vào NN không cao, dẫn tới cần phải có sự can thiệp tích cực từ Nhà
nước thông qua hệ thống cơ chế, chính sách về vốn. Các chỉ tiêu chủ yếu thường
được sử dụng để phân tích tình hình sử dụng vốn trong NN, gồm: quy mô vốn đầu
tư NN, cơ cấu vốn đầu tư vào các ngành và các lĩnh vực SX; mức đầu tư vốn bình
quân/1 ha hay trên 1 đầu con gia súc và hiệu quả sử dụng vốn các ngành.
Đất đai NN: là toàn bộ các loại đất mà xã hội sử dụng vào mục đích SXNN.
Các chỉ tiêu chủ yếu sử dụng phổ biến để đánh giá tình hình sử dụng đất NN, gồm:
quy mô đất SXNN bình quân nhân khẩu hoặc nhân khẩu NN, hệ số sử dụng đất
SXNN và hiệu quả sử dụng đất NN (năng suất ruộng đất tính bằng hiện vật hoặc giá
trị, lợi nhuận và thu nhập bình quân/1 ha đất NN).
Lao động NN: là toàn bộ những người tham gia vào các hoạt động SXNN.
Các chỉ tiêu chủ yếu sử dụng phổ biến để phân tích tình hình sử dụng lao động NN,
gồm: tỉ suất sử dụng lao động NN (để đánh giá mức độ sử dụng nguồn lao động
NN, xác định điểm ngoặt để dự báo thời điểm mà tại đó tốc độ tăng trưởng số lượng
lao động NN bằng zero), năng suất lao động NN (thường được tính bằng giá trị sản
lượng NN theo giá cố định bình quân 1 lao động NN).
Khoa học và công nghệ trong NN: nội dung chủ yếu của cách mạng khoa học
và công nghệ trong NN hiện nay tập trung vào 4 lĩnh vực cơ bản là thuỷ lợi hóa, cơ
giới hóa, hóa học hóa và sinh học hóa. Mỗi lĩnh vực có vai trò tác động đến
CDCCKT NN theo các khía cạnh và mức độ khác nhau. Các chỉ tiêu thường được
sử dụng để đánh giá trình độ: thuỷ lợi hóa (tổng diện tích và tỉ trọng diện tích được
tưới tiêu chủ động), trình độ cơ giới hóa (tổng diện tích và tỉ lệ diện tích được cơ
giới hóa trong các khâu của quy trình SXNN, mức độ trang bị máy móc/1 đơn vị
diện tích đất NN), trình độ hóa học (mức đầu tư phân bón hóa học và nông dược/1
ha gieo trồng hoặc trên 1 tấn sản phẩm), trình độ sinh học hóa (tỉ lệ diện tích gieo
trồng hoặc đầu gia súc, gia cầm áp dụng các thành tựu về công nghệ sinh học và
sinh thái như giống mới, phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM)).
Các nhân tố tác động đến tổng cầu: trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, có 4
yếu tố cơ bản được xem là tác động trực tiếp đến tổng cầu, gồm: chi tiêu cho cá
nhân, chi tiêu của Chính phủ, chi tiêu cho đầu tư và chi tiêu qua thương mại quốc tế
hay giá trị kim ngạch xuất khẩu ròng. Đối với ngành NN, tác động của các nhân tố
đến tổng cầu được thể hiện ở các khía cạnh chủ yếu sau:
Tiêu dùng cho cá nhân: là hàng hóa và dịch vụ NN do dân cư tiêu dùng. Mức
tiêu dùng này phụ thuộc chủ yếu vào quy mô dân số và mức thu nhập hay khả năng
thanh toán thực tế của dân cư. Xu hướng chung là quy mô dân số càng lớn, tiêu
dùng hàng hóa và dịch vụ NN càng nhiều, còn đối với thu nhập của dân cư, có hai
khuynh hướng xảy ra, khi thu nhập còn thấp, tiêu dùng các nông sản thông thường
tăng và khi thu nhập tăng, tiêu dùng các nông sản thông thường giảm và tiêu dùng
các nông sản chất lượng cao tăng. Ngoài ra, tính ưa thích theo thói quen tiêu dùng
một số loại sản phẩm nào đó đòi hỏi các nhà đầu tư phải tìm cách đáp ứng cũng như
tác động vào sự hình thành cơ cấu.
Chi tiêu của Chính phủ: là các khoản chi mua hàng hóa và dịch vụ NN của
chính phủ, bao gồm mua dự trữ quốc gia, hỗ trợ SX và viện trợ.
Chi tiêu cho đầu tư: là các khoản chi tiêu cho nhu cầu đầu tư của doanh
nghiệp và dân cư, chủ yếu là giống cho tái SX và hàng hóa NN được sử dụng làm
nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ SX của các ngành.
Chi tiêu qua hoạt động xuất nhập khẩu: là chênh lệch giữa kim ngạch xuất
nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ NN (hay chi phí ròng chi cho thương mại quốc tế).
Tuy nhiên, việc phân tích, đánh giá một cách rạch ròi tác động của từng nhân
tố đến CDCCKT của một ngành và trên phạm vi của một tỉnh là hết sức khó khăn.
1.2.2. Nhóm nhân tố phi kinh tế
Ngoài các nhân tố tác động mang tính định lượng, CDCCKT NN - NT còn
chịu tác động của các nhân tố phi kinh tế và các nhân tố này càng giữ vai trò quan
trọng. Có rất nhiều nhân tố phi kinh tế, mỗi nhân tố có tính chất, vai trò tác động
khác nhau đến cơ cấu nền kinh tế, trong đó một số nhân tố thường được đề cập tới:
Thể chế kinh tế - chính trị: gồm bộ máy tổ chức thực hiện, hệ thống luật
pháp và các cơ chế chính sách của Nhà nước, mà trước hết là các chính sách kinh tế,
nhưng nó tác động rất mạnh đến các nhân tố cung và cầu, đến việc lựa chọn các
ngành cũng như các sản phẩm ưu tiên đầu tư, qua đó làm cơ sở cho CCKT thay đổi.
Đặc điểm văn hóa - xã hội: gồm cả tri thức phổ thông và tinh hoa văn minh
của nhân loại về khoa học, công nghệ, lối sống, phong tục, tập quán, quan niệm tôn
giáo, dân tộc và cách ứng xử trong cuộc sống. Trình độ văn hóa của một dân tộc cao
hay thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn lao động, đến khả năng sáng
tạo và tiếp cận công nghệ mới, từ đó là ảnh hưởng đến tăng trưởng và CDCCKT.
Tóm lại, quá trình CDCCKT NN - NT chịu tác động của nhiều nhân tố, trong
đó nhân tố cung - cầu và cơ chế chính sách của Nhà nước được xem là những tác
nhân chủ yếu, có vai trò quyết định đến xu hướng chuyển dịch. Mặt khác, trong điều
kiện hiện nay, dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa, đặc biệt sự biến đổi nhanh
của khoa học và công nghệ, khi đánh giá tác động của từng nhân tố nêu trên lên
quá trình CDCCKT cần xem xét chúng trong thế vận động và có tính dài hạn.
1.3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN
1.3.1. Trung Quốc
Khuyến khích các thành phần kinh tế trong NN - NT phát triển, tập trung
đầu tư cho khoa học và công nghệ: năm 1978, Trung Quốc tiến hành thực hiện
phương thức khoán sản phẩm đến hộ nông dân, từng bước đa dạng hóa chủ sở hữu
ở NT và tập trung đầu tư cho NN với các nội dung chủ yếu là đẩy mạnh nghiên cứu
công nghệ sinh học, tạo giống cây trồng - vật nuôi tốt đưa vào SX, tăng cường tứ
hóa. Kết quả đến năm 1997, trên 40% diện tích lúa sử dụng giống lai cho hiệu quả
cao, tăng phân bón từ 80 kg/ha (1952) lên 257 kg/ha (2002), bảo đảm tưới tiêu nước
cho ½ diện tích canh tác.
Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm trồng trọt
theo hướng xuất khẩu: Trung Quốc còn đẩy mạnh chuyển đổi CCKT NN từ trồng
trọt sang chăn nuôi, đa dạng hóa trồng trọt và tăng cường xuất khẩu nông sản, tỉ
trọng trồng trọt và chăn nuôi trong GDP NN năm 1978 là 80% và 15%, đến năm
1997 là 56% và 30%.
Điều chỉnh cơ cấu NN theo hướng hội nhập: nhằm hội nhập vào nền kinh
tế toàn cầu khi gia nhập WTO (2001), CCKT NN Trung Quốc được điều chỉnh với
mục tiêu dài hạn là xây dựng một nền NN HĐH, nhất thể hóa với các sản phẩm chất
lượng và năng suất cao, có thể bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và phát triển
bền vững, mục tiêu ngắn hạn là tập trung nâng cao chất lượng và phát triển sản
phẩm đặc sản có lợi thế, tăng cường ý thức về thương hiệu, nâng cao hiệu quả sử
dụng tài nguyên thiên nhiên, điều chỉnh quy hoạch NN và từng bước nâng cao tỉ lệ
SX chuyên môn hóa theo từng khu vực, phát triển mạnh dịch vụ NN. Kết quả đạt
được năm 2003 so với năm 2000, diện tích cây lương thực sử dụng nhiều tài nguyên
đất và nước giảm từ 30,3 triệu ha xuống còn 28,5 triệu ha, các cây trồng sử dụng
nhiều lao động, nhất là rau quả tăng, tỉ trọng các sản phẩm có chất lượng tốt tăng
đáng kể, lúa chất lượng cao vượt 50% và trái cây chất lượng cao đạt 30%.
Giảm thuế NN cho nông dân, đầu tư phát triển hạ tầng và thúc đẩy phát
triển công nghiệp NT: để khắc phục tình trạng phát triển không đồng đều giữa các
vùng và các khu vực, Trung Quốc đã thực thị chiến lược “đại khai phát miền Tây”
và tập trung đầu tư cho NN - NT và nông dân thông qua chính sách giảm thuế NN
cho nông dân, tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp phục vụ NN và phát triển
hạ tầng ở khu vực NT.
1.3.2. Hàn Quốc
Phát triển NN trang trại quy mô vừa và nhỏ: từ những năm 1950, Hàn
Quốc đã hình thành nền NN trang trại trên cơ sở kinh tế hộ nông dân quy mô nhỏ,
không phát triển các trang trại quy mô lớn SX kinh doanh theo phương thức sử
dụng lao động làm thuê. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của NN ở giai đoạn này là
bảo đảm lương thực. Vì thế, ngoài quản lý việc nhập khẩu lúa gạo, Chính phủ đã tập
trung cho đầu tư mở rộng diện tích canh tác NN và đẩy mạnh SX lương thực.
Khuyến khích cộng đồng tham gia đầu tư phát triển NN - NT: Hàn Quốc
tập trung vào nhiệm vụ CNH - HĐH NN - NT thông qua chương trình phát triển các
xí nghiệp phong trào cộng đồng mới ở NT, tiếp theo là phong trào Làng mới
(saemaul Undong) nhằm vào nâng cao tinh thần và điều kiện sống, giảm bớt khoảng
cách thu nhập giữa vùng NT và thành thị.
Khuyến khích nông dân ứng dụng khoa học và công nghệ thông qua hỗ
trợ tín dụng ưu đãi: để HĐH NN, Hàn Quốc tập trung vào ứng dụng các thành tựu
công nghệ sinh học và hóa học, tăng đầu tư thuỷ lợi và cải tạo đồng ruộng, thực thi
chiến lược tổng thể về cơ giới hóa NN theo hướng cơ khí nhỏ thông qua khuyến
khích thành lập tổ cơ giới hóa NN, cho nông dân vay 60% trong thời hạn 5 năm với
lãi suất 6%/năm và hỗ trợ 40% tiền mua máy.
Phát triển NN ứng dụng công nghệ cao: để nâng cao chất lượng và hạ giá
thành nông sản phục vụ xuất khẩu, SXNN của Hàn Quốc vào đầu những năm 1990
có xu hướng chuyển sang NN kĩ thuật cao, giảm SX lúa, tăng SX rau, quả trong nhà
kính với thiết bị điện tử tự động hóa, phát triển nhanh CNCB thực phẩm với gần
5.000 xí nghiệp lớn, vừa và nhỏ trên cả nước. Năm 2002, chỉ còn khoảng 57% nông
dân Hàn Quốc làm nghề trồng lúa.
1.3.3. Malaysia
Đầu tư kết cấu hạ tầng, hỗ trợ nông dân để hình thành các vùng SX nông
sản phục vụ xuất khẩu: khác với các nước trong khu vực, Malaysia không lấy lúa
nước làm trọng tâm, mà tập trung phát triển các cây công nghiệp dài ngày, chăn
nuôi, khai thác lâm sản và nghề cá để thu sản phẩm xuất khẩu. Vào những năm
1950, Chính phủ vận động nhân dân đi đến các khu kinh tế mới kèm theo chính
sách căn cứ mỗi hộ đến được cấp 2,3 ha để trồng cây xuất khẩu và 0,8 ha để trồng
cây lương thực, cho vay vốn sau 12 năm hoàn lại; đồng thời chi những khoản tiền
lớn để đầu tư hạ tầng nối liền thành thị với NT, phát triển cơ sở y tế, giáo dục ở các
khu kinh tế mới để giúp nông dân nhanh chóng ổn định đời sống.
Phát triển công nghiệp phục vụ NN, sử dụng nhiều lao động: đến những
năm 1960, Chính phủ dồn mọi nỗ lực tiếp tục phát triển NN và bắt đầu phát triển
công nghiệp, khuyến khích đầu tư vào các ngành sử dụng nhiều lao động, trong đó
có CNCB nông sản. Với phương châm, đối với các nông sản xuất khẩu như cao su,
cọ dầu, sẽ xây dựng các nhà máy lớn với trang thiết bị hiện đại để đảm bảo tiêu
chuẩn chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế; đối với các mặt
hàng nông sản thực phẩm tiêu dùng trong nước, sẽ kết hợp giữa các quy mô và công
nghệ từ thủ công đến hiện đại với 24 ngành nghề khác nhau, trong đó chú ý đến các
ngành làm bột gạo và bột ngô, chế biến sắn, đậu tương và thức ăn gia súc.
Chú trọng phát triển lương thực và hỗ trợ nông dân nâng cao thu nhập:
bên cạnh đó, Malaysia còn chú trọng phát triển lương thực, hỗ trợ để tăng thu nhập
cho nông dân, trước hết là nông dân trồng lúa về phổ biến giống mới, tăng cường
xây dựng các công trình thuỷ lợi, trợ giá cho cả người SX và người tiêu thụ lúa.
Nhờ đó, NN luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao, xuất khẩu nông sản ở giai đoạn 1992 -
2002 tăng bình quân 1,6%/năm.
1.3.4. Thái Lan
Phát huy lợi thế đẩy mạnh SX, chế biến và xuất khẩu hàng nông sản: vào
những năm 1980, Chính phủ đã kịp thời chuyển hướng chiến lược ưu tiên CNH đô
thị sang chiến lược vừa CNH đô thị, vừa CNH NN - NT; kết hợp giữa đẩy mạnh
SX, chế biến và xuất khẩu các mặt hàng nông sản theo hướng đa dạng hóa, nhằm
phát huy thế mạnh sẵn có và giảm bớt rủi ro thị trường. Nhờ đó, cơ cấu nông sản
thời kì 1988 - 1998 biến đổi theo hướng: cao su, hoa quả, chăn nuôi, mía đường
tăng nhanh; lúa gạo và ngô tăng chậm; khoai mì và đậu tương giảm mạnh.
Hỗ trợ nông dân phát triển sản phẩm chất lượng cao phụ vụ xuất khẩu:
gần đây, Thái Lan chú trọng phát triển NN theo hướng thâm canh, xuất khẩu. Bên
cạnh đầu tư mạnh cho chọn lọc, lai tạo và ứng dụng các giống cây - con có năng
suất và chất lượng cao, tiếp tục phát triển mạnh các khu công nghiệp ở NT, hình
thành được các ngành cơ khí NN và chế biến nông sản tương đối hiện đại, góp phần
làm giảm giá thành và tăng sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa.
Khuyến khích các tổ chức kinh tế tham gia xuất khẩu: để gia tăng khả
năng tiêu thụ nông sản ổn định và tăng thu nhập cho nông dân, Thái Lan đã thực
hiện nhiều chính sách khuyến khích các công ty, doanh nghiệp khác nhau tham gia
xuất khẩu nông sản thông qua chính sách giảm thuế xuất khẩu, hỗ trợ tín dụng ưu
đãi cho các nhà xuất khẩu.
1.3.5. Indonesia
Đầu tư toàn diện cho NN, giải quyết tốt nhu cầu lương thực thực phẩm
trong nước: Indonesia có dân số đông nhất Đông Nam Á, NN có vai trò sống còn
đối với đất nước. Nhưng một thời gian dài (1945 - 1970), NN chậm phát triển, hàng
năm Indonesia phải nhập 1 - 2 triệu tấn lương thực. Từ năm 1970, Indonesia tập
trung cao độ cho SXNN thông qua thực hiện các chính sách lớn phát triển giống,
phân bón, nông dược và đến năm 1984 Indonesia đã cơ bản tự túc được lương thực.
Khuyến khích nông dân đầu tư thâm canh, đa dạng hóa SX thông qua
chính sách mở rộng tín dụng ưu đãi và phát triển dịch vụ ở NT: Indonesia tiến
hành “cải cách kinh tế vĩ mô” toàn diện, chuyển sang chiến lược CNH hướng về
xuất khẩu, thực hiện “cuộc cách mạng xanh” trong NN với với hai chương trình
rộng lớn được triển khai:
- Chương trình Nhà nước cung cấp vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi, phân
bón, giống cho nông dân thông qua mạng lưới trung gian là các tổ chức tín dụng và
mua bán; phát triển hệ thống thuỷ lợi, phương tiện vận chuyển, xây dựng đường xá
ở NT và hệ thống kho chứa lương thực để thu mua tại chỗ cho nông dân; khuyến
khích người dân sử dụng giống mới, hướng dẫn quy hoạch, cải tạo lại đồng ruộng
và đưa cơ khí, bán cơ khí vào SXNN, loại bỏ phương thức canh tác cổ truyền.
- Chương trình Nhà nước cấp vốn với lãi suất thông thường cho những hộ
nông dân có từ 5 ha canh tác trở lên, chủ yếu là các điền chủ nhỏ, để mua nguyên
nhiên liệu và thiết bị phục vụ NN. Ngược lại, họ có nghĩa vụ bán thóc cho Nhà
nước ngoài phần thuế thu nhập phải đóng.
Đẩy mạnh tiêu thụ nông sản thông qua chính sách khuyến khích phát
triển kinh tế tập thể, kinh tế trang trại và kinh tế tư nhân trong NN: Nhà nước
còn tổ chức di dân, khai hoang mở rộng đất canh tác, phân bố lại lao động, khuyến
khích tư bản tư nhân đầu tư phát triển đồn điền, đa dạng hóa cây công nghiệp xuất
khẩu; kiến lập thị trường tín dụng, buôn bán vật tư và nông sản trên cơ sở tổ chức
HTX SX và tiêu thụ ở NT. SXNN của Indonesia đã thu được những thành tựu to
lớn, xuất khẩu nông sản giai đoạn 1992 - 2002 tăng bình quân 3,3%/năm.
Qua phân tích thực tiễn về CDCCKT NN của một số nước trên thế giới nêu
trên, nhất là các nước trong khu vực, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho
CDCCKT NN - NT của tỉnh Bình Dương như sau:
Thứ nhất, khuyến khích nông dân đẩy mạnh phát triển các nông sản có lợi
thế cạnh tranh phục vụ xuất khẩu đi đôi với đầu tư thâm canh, đa dạng hóa SX trên
cơ sở Nhà nước tập trung đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hệ
thống thuỷ lợi, hỗ trợ tín dụng, khoa học và công nghệ, giảm thuế NN để nông dân
có điều kiện mở rộng SX, từng bước hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa tập
trung có quy mô lớn.
Thứ hai, phát triển công nghiệp phục vụ NN và sử dụng nhiều lao động ở
NT, nhất là CNCB thông qua quy hoạch các vùng SX chuyên canh kèm theo chính
sách khuyến khích đầu tư nhà máy chế biến, phát triển hệ thống tín dụng và thông
tin thị trường ngay tại địa bàn vùng SX nhằm đảm bảo thị trường “đầu ra” ổn định
cho nông dân.
Thứ ba, ưu tiên cho đầu tư khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh
học để tạo ra các giống có năng suất và chất lượng cao, hỗ trợ tín dụng để nông dân
mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ cơ giới hóa nhằm nâng cao năng suất lao động
và hạ giá thành SX nông sản.
Thứ tư, khuyến khích các công ty, doanh nghiệp tham gia vào thu mua, xuất
khẩu nông sản thông qua chính sách giảm thuế xuất khẩu, hỗ trợ tín dụng đầu tư xây
dựng nhà máy chế biến, kho chứa nông sản ngay tại địa bàn NT để nông dân yên
tâm đầu tư vào SX, giảm bớt rủi ro.
Thứ năm, tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế
trong NN và NT phát triển, nhất là kinh tế tập thể, kinh tế trang trại và kinh tế tư
nhân thông qua chính sách thuế, kiến lập thị trường tín dụng, thị trường buôn bán
vật tư và nông sản, nhằm từng bước hình thành các vùng SX chuyên môn hóa, đảm
bảo cả về quy mô số lượng cũng như chất lượng nông sản hàng hóa theo yêu cầu
của thị trường.
Thứ sáu, điều chỉnh cơ cấu NN theo hướng hội nhập, chú trọng nâng cao
chất lượng nông sản, nâng cao ý thức xây dựng thương hiệu; sử dụng hiệu quả tài
nguyên theo hướng bền vững; giảm dần các khoản hỗ trợ ưu đãi về thuế, tín dụng
đối với nông dân và doanh nghiệp; tăng các khoản đầu tư phát triển, nghiên cứu và
ứng dụng khoa học và công nghệ; phát huy sự tham gia xây dựng NT của cộng
đồng dân cư.
CHƯƠNG II
THỰ C TRẠ NG CHUYỂN DỊ CH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG THỜI KÌ
CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HOÁ
2.1. CÁC NGUỒN LỰC ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH BÌNH DƯƠNG
2.1.1. Nhóm nhân tố tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Bình Dương là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ và vùng KTTĐPN. Tổng
DTTN của tỉnh là 269.522 ha với 7 đơn vị hành chính (1 TX và 6 huyện). Hệ toạ độ địa lý của tỉnh là: 10052’ Bắc - 11030’Bắc và 106018’ Đông - 106058’ Đông. Phía Bắc
tỉnh giáp với tỉnh Bình Phước, phía Tây - Tây Bắc giáp với tỉnh Tây Ninh, phía
Đông giáp với tỉnh Đồng Nai, phía Nam - Tây Nam giáp với thành phố Hồ Chí
Minh. Đây là điều kiện thuận lợi để Bình Dương phát triển KT - XH, đặc biệt là nền
NN hàng hóa như:
- Vùng KTTĐPN với dân số gần 12 triệu người, dự báo đến 2010 có khoảng
14 - 15 triệu người (chưa kể lượng khách vãng lai từ 4 - 5 triệu lượt người/ năm) là
thị trường tiêu thụ nông sản lớn nhất cả nước.
- Vùng KTTĐPN cũng là nơi tập trung các ngành công nghiệp phát triển nhất
cả nước với công nghệ hiện đại như các công ty, viện, trường đại học,… nghiên cứu
chuyên sâu về nông - lâm - thuỷ sản; điều kiện này không chỉ thuận lợi đối với các
yếu tố “đầu ra”cho SXNN (gắn SXNN với CNCB nông sản) mà còn giảm chi phí
“đầu vào” cho nông - lâm - thuỷ sản như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống,
thức ăn chăn nuôi, công nghệ SX,...
- Ngành nông - lâm - thuỷ sản Bình Dương có cơ hội khá tốt trong việc mở
rộng liên kết và hỗ trợ trong SX, tư vấn kĩ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển
giao khoa học kĩ thuật và công nghệ để tăng năng suất, chất lượng, đa dạng hóa sản
phẩm, nhất là các sản phẩm có hàm lượng kĩ thuật cao, sản phẩm sạch và an toàn vệ
sinh thực phẩm. Ngoài ra, khả năng huy động vốn từ nhiều nguồn cho phát triển
nông - lâm - thuỷ sản cũng là điều kiện hết sức thuận lợi SX hàng hóa.
- Bao bọc theo ranh giới phía Tây là sông Sài Gòn, phía Đông là sông Đồng
Nai; ngoài ra còn có các sông Thị Tính, sông Bé và hồ Dầu Tiếng,... tạo cho Bình
Dương có tiềm năng lớn trong ngành dịch vụ du lịch. Đây là những điều kiện thuận
lợi để phát triển các mô hình NN kết hợp với dịch vụ du lịch.
- Nằm trong vùng có hệ thông giao thông khá thuận lợi với các tuyến giao
thông huyết mạch như quốc lộ 1 A, quốc lộ 13, tuyến đường sắt Bắc - Nam, đường
xuyến Á, đường Hồ Chí Minh,... đều đi qua địa phận tỉnh Bình Dương. Hệ thống
giao thông phát triển sẽ giúp cho hàng hóa tỉnh lưu thông với các tỉnh trong cả nước
và thế giới, mở ra một thị trường mới cho nông - lâm - thuỷ sản, đặc biệt Bình
Dương gần với Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu là nơi có vị trí thuận lợi cho phát triển
kinh tế mở “theo hướng ra biển Đông”, giao thông với các nước và khu vực.
2.1.1.2. Địa hình
Nhìn chung, tỉnh Bình Dương có địa hình tương đối bằng, song đi sâu phân
tích lát cắt địa hình cho thấy có dạng “lượn sóng”, xen giữa các đồi thấp là những
thung lũng nhỏ (địa hình bằng) hoặc ven sông là ruộng (địa hình thấp, thường ngập
nước trong mùa mưa). Hướng địa hình thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, phía
Đông Bắc cao trình biến đổi từ 112 - 193 m, phía Nam - Tây Nam có địa hình thấp
nhất 1 - 20 m. Do đó tạo cho Bình Dương có 2 kiểu địa hình chính như sau:
Địa hình đồng bằng: có nguồn gốc trầm tích sông, đầm lầy biển hoặc các
tích tụ thung lũng, phân bố ven các và ven các suối, chủ yếu là đất phù sa, đất phèn
hoặc đất dốc tụ.
Địa hình bậc thềm cao và đồi thấp: phần lớn là các bậc thềm phù sa cổ,
phân bố ở hầu hết các huyện thị trong tỉnh, chủ yếu là đất xám trên phù sa cổ và đất
nâu vàng trên phù sa cổ.
Về độ dốc: phân thành 5 cấp: cấp I (0 - 30) chiếm 218.190 ha (80,95% DTTN), cấp II ( 30 - 80) chiếm 25.231 ha (9,36% DTTN), cấp III (80 - 150) chiếm 14.489 ha (5,37% DTTN), cấp IV (150 - 200) chiếm 4.773 ha (1,77% DTTN), cấp V (> 200) chiếm 1.515 ha (0,56% DTTN), sông suối chiếm 5.357 ha (1,99% DTTN).
2.1.1.3. Tài nguyên đất
Nhóm và loại đất: tài nguyên đất trong tỉnh có 7 nhóm phân thành 14 đơn vị
thể hiện hình 2.3. Trong đó, nhóm đất xám có diện tích lớn nhất 157.958 ha
(58,60% DTTN), nhóm đất đỏ vàng diện tích 67.634 ha (25,09% DTTN), nhóm đất
dốc tụ diện tích 19.075 ha (7,08% DTTN), nhóm đất phù sa diện tích 16.136 ha
(5,99% DTTN), nhóm đất xáo trộn diện tích 2.323 ha (0,86% DTTN), nhóm đất
phèn diện tích 996 ha (0,37% DTTN), nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá diện tích 77 ha
(chiếm 0,03% DTTN).
Chất lượng đất: đất ở Bình Dương có tầng dày khá lớn (tầng dày 100 cm là 226.360 ha chiếm 83,97% DTTN) và địa hình tương đối bằng phẳng (độ dốc < 150,
chiếm 99,43% DTTN) thích hợp cho SXNN.
Tính chất vật lý: hầu hết có thành phần cơ giới nhẹ, tỉ lệ cát cao, nhất là các
loại đất phát sinh trên phù sa cổ (tỉ lệ cát từ 42 - 57%), dung tích hấp thụ thấp, khả
năng giữ nước và phân kém, dễ bị rửa trôi theo cả chiều ngang và chiều dọc, đây là
một hạn chế rất lớn. Riêng đất phù sa có thành phần cơ giới thịt nhẹ và thịt trung
bình; đất phèn, đất dốc tụ có tỉ lệ sét vật lý 44 - 51%.
Tính chất hóa học: các nhóm đất xám, đất đỏ vàng thuộc loại nghèo dưỡng
chất, hàm lượng mùn từ 2,3 - 2,5%, đạm tổng số 0,16 - 0,24%, lân 0,06 - 0,07%,
kali tổng số 0,06 - 0,08%. Đất phù sa và đất phèn có chứa nhiều độc tố, độ pH thấp.
Đất đai không phải là lợi thế cho SXNN ở Bình Dương, bởi có đến 66,08% là
“đất có vấn đề” (đất xám nghèo và mất cân đối chất dinh dưỡng, đất phèn và đất
xám đọng mùn có độ pH thấp, chứa nhiều độc tố,...). Muốn cây trồng có năng suất
cao phải đầu tư nhiều chi phí hơn, cần áp dụng các mô hình canh tác tổng hợp.
Hiện trạng sử dụng đất:
Theo đơn vị hành chính: đất phân bố không đều, tập trung 04 huyện phía Tây
- Bắc và Đông của tỉnh chiếm 91,4% DTTN (Dầu Tiếng, Tân Uyên, Bến Cát, Phú
Giáo), phần lớn diện tích đất ở các huyện này đang sử dụng cho SXNN, tập trung
phía Nam 8,6% DTTN ( TX. Thủ Dầu Một, Thuận An, Dĩ An) chủ yếu được sử
dụng cho công nghiệp và đô thị.
Bảng 2.1. Phân bố đất đai theo đơn vị hành chính tỉnh Bình Dương
Diện tích (ha)
Tỉ lệ (%)
Đơn vị hành chính
Toàn tỉnh
269.522
100,00
8.786
3,26
1. TX. Thủ Dầu Một
8.425
3,13
2. Huyện Thuận An
6.029
2,24
3. Huyện Dĩ An
58.817
21,82
4. Huyện Bến Cát
61.345
22,76
5. Huyện Tân Uyên
54.144
20,09
6. Huyện Phú Giáo
71.976
26,70
7. Huyện Dầu Tiếng
[Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương]
Theo mục đích sử dụng: hầu hết diện tích đất ở Bình Dương đều được đưa
vào sử dụng, phần diện tích đất chưa sử dụng chiếm một tỉ lệ nhỏ, thể hiện bảng 2.2.
Bảng 2.2. Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Bình Dương
(ha)
Loại đất
1997
2000
2003
2006
Tổng diện tích
269.522
269.522
269.522
269.522
1. Đất SXNN
197.891
215.476
215.479
215.482
- Đất trồng cây hàng năm
52.382
45.160
39.543
30.696
- Đất vườn tạp
754
349
455
180
- Đất trồng cây lâu năm
144.572
143.866
146.875
174.158
18.082
12.791
14.115
12.651
2. Đất lâm nghiệp
21.440
22.563
28.464
30.154
3. Đất chuyên dùng
4.685
5.845
6.317
7.322
4. Đất ở
29.503
12.879
11.587
1.110
5. Đất chưa sử dụng và sông suối
- Đất bằng chưa sử dụng
9.086
4.793
4.067
1.061
- Đất có mặt nước chưa sử dụng
847
184
182
-
- Đất đồi núi
5.042
1.102
896
40
- Đất chưa sử dụng khác
14.528
-
-
-
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Tổng DTTN tỉnh 269.522 ha; trong đó đất SXNN chiếm 79,94%, đất phi NN
chiếm 19,64% và đất chưa sử dụng chiếm 0,42% DTTN. Hiện có 1.110 ha đất chưa
sử dụng và đất bỏ hóa (do các nguyên nhân thiếu nguồn nước tưới, đất trong khu
quy hoạch, đất thấp lầy thụt ven sông) cần có kế hoạch đưa vào SXNN, nhất là đất
bỏ hóa hàng năm.
Theo số liệu thống kê diện tích đất SXNN của tỉnh ngày càng tăng nhưng
trên thực tế đất SXNN “ bị mất đi” do tư nhân rất lớn. Người nông dân trong tỉnh
không có đất SXNN trong khi các chủ đất SXNN là những người từ các địa phương
khác tới như thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Đồng Nai,... Chính nạn đầu cơ
đất đai là nguyên nhân làm mất đất SXNN. Do vậy, tỉnh cần có những biện pháp
quy hoạch rà soát lại để ngành NN có nguồn tư liệu SX và góp phần CNH - HĐH
NN - NT tỉnh trong khi dân số ngày một tăng và giá cả lương thực, thực phẩm ngày
một leo thang gây khó khăn cho dân cư NT nghèo.
2.1.1.4. Khí hậu
Bình Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo - gió mùa nên: Nhiệt độ trung bình: cao đều trong năm từ 25,00C - 27,20C, tổng tích ôn lớn 9.4680C - 9.6840C/năm. Tổng lượng bức xạ cao và ổn định: 75 - 80 Kcal/cm2/năm.
Số giờ nắng giàu: 2.401 giờ/năm, 6,7 - 7,2 giờ/ngày, có đến 11 tháng trong năm có
tổng số giờ nắng 200 giờ/năm. Thực tế, nếu đủ các điều kiện nước, dưỡng chất,...
có thể gieo trồng cây ngắn ngày 4 - 5 vụ/năm đạt năng suất và chất lượng cao.
Tổng lượng mưa hàng năm: khá lớn (1.641 - 2.147 mm/năm).
Mùa mưa: thực sự thường bắt đầu từ V và kết thúc X (kéo dài 158 - 179
ngày), lượng nước mưa chiếm trên 84% lượng mưa cả năm; trong điều kiện đất
xám, thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước và phân kém, nếu không có các
biện pháp thuỷ lợi giữ nước thì khó có thể canh tác 2 vụ/năm.
Mùa khô: thực sự bắt đầu từ cuối tháng X và kết thúc IV (131 - 155 ngày),
lượng nước mưa chỉ chiếm 12 - 15% lượng mưa cả năm; kết hợp với nắng nóng kéo
dài, lượng bốc hơi gia tăng, nếu không có các công trình thuỷ lợi, SXNN trong mùa
khô hầu như bị ngưng trệ. Việc lựa chọn các cây lâu năm không cần tưới nước như
cao su, điều,... trong điều kiện không có nước tưới là hoàn toàn hợp lý.
2.1.1.5. Nguồn nước và chế độ thuỷ văn
Tài nguyên nước mặt: nguồn nước trên lãnh thổ tỉnh khá phong phú, gồm:
Sông Bé: sẽ chuyển nước qua hồ Dầu Tiếng một phần phục vụ cho công
nghiệp tỉnh. Việc xây dựng công trình thuỷ lợi Phước Hoà ngành NN tỉnh Bình
Dương không được hưởng lợi nhiều, ngoài việc tăng mực nước ngầm khu vực ven
hồ và nước tưới cho khu vực ven sông Bé.
Sông Sài Gòn: khó khăn lớn nhất cho SXNN các xã ven sông Sài Gòn của
tỉnh là lượng nước xả từ hồ Dầu Tiếng trong mùa mưa sẽ gây úng ngập diện tích đất
thấp ven sông, ảnh hưởng đến SX và đời sống của nhân dân (vùng SXNN không ổn
định). Tuy không được hưởng lợi từ nguồn nước, nhưng sông Sài Gòn đã tạo cho
tỉnh một cảnh quan sông nước hết sức thơ mộng, để hình thành tuyến du lịch trên
sông Sài Gòn (từ Vĩnh Phú - Cầu Ngang - Thanh An - Núi Cậu - hồ Dầu Tiếng),
giúp NN tỉnh một hướng SX mới là phục vụ du lịch sinh thái.
Sông Đồng Nai: chiều dài sông thuộc địa phận tỉnh Bình Dương là 58 km.
Tuy nhiên, vùng được hưởng lợi nước từ sông Đồng Nai chỉ một số xã ven sông
phía Nam huyện Tân Uyên nhưng tạo cho Bình Dương một cảnh quan sông nước
nên thơ với những vườn cây ăn quả tươi tốt quanh năm. NN tỉnh cần khai thác tốt
lợi thế này để phát triển du lịch.
Các sông, suối khác: sông Thị Tính, suối Giai, suối Cái,... Các suối này do
không có nguồn sinh thuỷ, lòng suối dốc, nhỏ nên thường chỉ có nước mùa mưa. Để
khai thác nguồn nước này, ngành thuỷ lợi đã xây dựng những hồ, đập tràn vừa và
nhỏ theo từng bậc thang như các hồ Cần Nôm, đập Thị Tính, hồ Đá Bàn,... song lợi
ích đem lại thường không lớn do lượng nước ít và tỉ lệ thất thoát nhiều.
Nhìn chung, tổng nguồn nước mặt của tỉnh Bình Dương là khá lớn nhưng
phân bố không đều (cả về thời gian và không gian) nên khả năng khai thác phục vụ
SX và đời sống còn hạn chế, nhất là trong NN. Địa hình dốc, mặt ruộng cao hơn
mực nước sông, tỉ lệ thất thoát lớn, muốn khai thác phải đầu tư lớn và đồng bộ.
Tài nguyên nước ngầm: trữ lượng nước ngầm ở Bình Dương được đánh giá
ở mức độ trung bình đến nghèo, chất lượng tốt. Phân vùng nước ngầm ở tỉnh:
Khu vực giàu nước ngầm: phân bố ở các xã ven sông Sài Gòn thuộc huyện
Dầu Tiếng và một phần huyện Bến Cát. Các giếng đào có lưu lượng từ 0,1 - 1,1 l/s,
cá biệt gặp mạch nước có thể đạt 5 - 30 l/s, bề dày tầng chứa nước 15 - 10 m.
Khu vực nước ngầm có trữ lượng trung bình: phân bố các huyện Thuận An,
một phần Dĩ An, TX. Thủ Dầu Một, một phần phía Nam huyện Tân Uyên. Các
giếng đào có lưu lượng từ 0,05 - 0,6 l/s, những nơi gặp mạch nước, lưu lượng có thể
đạt 1,3 - 5,0 l/s; bề dày tầng chưa nước từ 10 - 12 m.
Khu vực nghèo nước ngầm: phân bố ở các huyện Bến Cát, Phú Giáo và Bắc
Tân Uyên. Lưu lượng các giếng đào từ 0,05 - 4,0 l/s nhưng do bề dày tầng chứa nước
mỏng, xuất hiện khá sâu nên khó khai thác, được xếp vào khu vực nghèo nước ngầm.
Ngoài ra, ở các vùng NN đất thấp, triền đồi, thường xuất hiện những mạch lộ
có áp, nước ngầm từ dưới trào lên mặt ruộng (gọi là nước mọi). Có thể tận dụng
nguồn nước này để chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở Bình Dương.
Chế độ thuỷ văn: do vị trí của tỉnh ở xa cửa sông nên chế độ thuỷ văn sông
Sài Gòn và Đồng Nai không ảnh hưởng nhiều đến SX nông - lâm - thuỷ sản; ngoại
trừ việc chênh lệch giữa chân triều và đỉnh triều để tưới tiêu cho các vùng NN đất
thấp ven sông. Tuy nhiên, nếu đồng thời kết hợp triều cường với mưa lớn cộng với
việc xả nước lũ từ hồ Trị An, hồ Dầu Tiếng sẽ làm cho phần lớn diện tích đất thấp
ven sông bị ngập nước, ảnh hưởng đến SX và đời sống của người dân ven sông.
2.1.1.6. Sinh vật
Đất đai Bình Dương tuy không màu mỡ nhưng thích hợp với nhiều loài cây
trồng nên tập đoàn giống cây trồng - vật nuôi hết sức phong phú và đa dạng.
Cây rừng và động vật dưới tán: Bình Dương vốn là khu vực rừng cây nhiệt
đới với tập đoàn cây rừng phong phú và đa dạng nhưng do quá trình khai phá mở
rộng đất SXNN, đến nay chỉ còn một số loài phổ biến thuộc họ dầu, họ đậu, họ cánh
bướm, họ ba mảnh vỏ,... tre, trúc, bạch đàn, tràm bông vàng. Động vật dưới tán
rừng đã bị săn bắt bừa bãi hoặc di chuyển lên các khu rừng tập trung của tỉnh Bình
Phước, Đồng Nai, Lâm Đồng; hiện chỉ còn các loài như chồn, thỏ, nhím, khỉ,...;
dưới nước có các loài rắn, trăn, ếch,... số lượng ngày càng giảm.
Động thực vật phiêu sinh và nguồn lợi thuỷ sản: động thực vật phiêu sinh
về thành phần giống, loài ở các thuỷ vực sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và khu vực
ao nuôi khá phong phú, còn các thuỷ vực khác như sông Bé, sông Thị Tính,... ít
phong phú hơn.
Bảng 2.3. Mật độ động thực vật phiêu sinh ở các thuỷ vực tỉnh Bình Dương
Thuỷ vực
Phiêu sinh thực vật
Phiêu sinh động vật
(tế bào/lít)
(cá thể/lít)
4.800 - 22.000
810 - 41.500
Sông Đồng Nai và các nhánh
14.000 - 152.000
1.500 - 47.000
Sông Sài Gòn và các nhánh
9.000 - 128.000
600 - 1.500
Sông Bé và các nhánh
40.000 - 112.000
31 - 2.066
Hồ thuỷ lợi
187.000 - 412.000
91 - 1.416
Khu vực ao nuôi
[Nguồn: Định hướng phát triển thuỷ sản tỉnh Bình Dương]
Nguồn lợi thuỷ sản gồm 41 loài cá thuộc 14 họ và 8 bộ; trong đó có các loài
hiếm như cá lăng, cá trèn, cá ngát, cá thát lát, cá rô đồng, cá lóc đen, cá bống
tượng,... Ngoài ra còn có một số loài giáp xác nước ngọt như tép ruộng, tôm trứng,
tép lòng hồ, tôm càng xanh,... Tuy nhiên, nguồn lợi thuỷ sản có xu thế giảm nghiêm
trọng do khai thác bừa bãi, một số loài đặc sản địa phương sắp bị tuyệt chủng.
Cây trồng và vật nuôi trong NN: cây trồng bao gồm tập đoàn cây công
nghiệp lâu năm, cây hàng năm, cây ăn quả khá phong phú. Riêng cây hàng năm tỉnh
hiện đang lưu giữ khoảng từ 5 - 50 loài giống khác nhau, đây là nguồn vật liệu di
truyền quan trọng phụ vụ công tác lai tạo, chọn lọc và phục tráng giống.
Những vật nuôi truyền thống như trâu, bò, gà,... đặc biệt có nhiều giống nhập
nội đã thích nghi với điều kiện địa phương và có hiệu quả. Ngoài ra, các giống vật
nuôi cảnh như chó, mèo, thú cảnh cũng trở thành những vật nuôi phổ biến.
2.1.2. Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Dân cư và nguồn lao động
Quy mô và tốc độ gia tăng dân số: năm 2006, dân số toàn tỉnh là 1.050.124 người. Mật độ dân số trung bình là 390 người/km2, các huyện thị phía Nam có mật
độ dân số cao (cao nhất là huyện Dĩ An 3.012 người/km2 ), các huyện phía Bắc có mật độ dân số thấp (thấp nhất là huyện Phú Giáo 131 người/km2 ).
Bảng 2.4. Quy mô và tốc độ gia tăng dân số tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
679.044
742.790
853.807
1.050.124
Số dân (người)
72,3
69,7
70,5
71,8
Tỉ lệ dân NT (%)
2,2
1,9
1,7
1,5
Gia tăng tự nhiên (%)
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Một đặc điểm nữa của dân số Bình Dương là do làn sóng người nhập cư đến
Bình Dương ngày càng đông nên tốc độ tăng dân số cơ giới hàng năm ở mức rất cao
(bình quân 4,44%/năm); nhất là huyện Dĩ An và Thuận An có tốc độ tăng dân số từ
9 - 10%/năm. Đây là một áp lực lớn đối với tỉnh Bình Dương về vấn đề xây dựng cơ
sở hạ tầng, giải quyết việc làm và trật tự an toàn xã hội; đồng thời cũng là cơ hội mở
rộng thị trường, đặc biệt thị trường nông - lâm - thuỷ sản.
Lao động: năm 2006 tỉnh có 705.410 người trong độ tuổi lao động, chiếm
67,2% dân số. Dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh cả về số lượng và tỉ trọng
là do lao động từ các tỉnh khác đến.
100%
16.2
17.9
19.3
19.6
80%
25.9
60%
35.7
53.6
Dịch vụ Công nghiệp
59.8
40%
Nông nghiệp
57.9
44.7
20%
28.5
20.9
0%
1997
2000
2003
2006
Hình 2.4. Biểu đồ cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế tỉnh Bình Dương (1997 - 2006)
Trong khi lao động toàn tỉnh tăng với tốc độ cao (bình quân 9,71%/năm) thì
lao động trong NN giảm với tốc độ khá nhanh (bình quân - 2,60%/năm), các huyện
có tốc độ giảm lao động trong NN nhanh là Dĩ An (- 2,03%/năm), Thuận An (-
7,90%/năm), TX. Thủ Dầu Một (- 7,40%/năm), Bến Cát (- 5,60%/năm) và Tân
Uyên (- 3,72%/năm). Đây thực sự là một thách thức lớn cho SX nông - lâm - thuỷ
sản bởi lực lượng lao động trẻ, khỏe, có trình độ đã và sẽ chuyển sang lao động
trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Nên tỉnh cần phải xem đây là một trong
những động lực lớn thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật - nuôi cho
phù hợp với xu thế mới theo hướng tăng nhanh năng suất, chất lượng sản phẩm và
giảm nhẹ lao động trong NN.
Chất lượng lao động trong NT Bình Dương được đánh giá là khá hơn so với
mức trung bình của vùng Đông Nam Bộ. Năm 2003 cho thấy tỉ lệ lao động ở khu
vực NT từ sơ cấp trở lên chiếm 29,91% lao động ở khu vực NT (bình quân toàn
vùng Đông Nam Bộ là 16%); trong đó, lao động được đào tạo có bằng cấp từ công
nhân kĩ thuật trở lên chiếm 8,41% (bình quân toàn vùng Đông Nam Bộ là 7,22%).
Tuy nhiên trong tương lai, lực lượng lao động ở NT bị già hóa, khả năng tiếp thu
khoa học công nghệ và thích ứng với cơ chế thị trường sẽ có nhiều hạn chế. Lao
động đang làm việc trong NN chiếm 20,9% nhưng đóng góp 7,0% GDP (năm
2006), điều này thể hiện rõ năng suất và thu nhập thấp của lao động NN.
2.1.2.2. Cơ sở hạ tầng
Các công trình thuỷ lợi: toàn tỉnh Bình Dương năm 2006 có 54 công trình
thuỷ lợi. Trong đó có 41 công trình phục vụ cho SXNN, năng lực tưới 30.676 ha,
phục vụ tiêu thoát nước là là 15.015 ha, năng lực ngăn lũ là 2.339 ha.
Các công trình thuỷ lợi (tưới, tiêu, ngăn lũ) ở tỉnh được chú trọng xây dựng
và phát huy hiệu quả tương đối tốt, hầu hết các công trình đều đáp ứng mục theo
nhiệm vụ công trình đề ra. Tuy nhiên, hiệu suất sử dụng các công trình còn thấp do
các nguyên nhân như địa hình không bằng phẳng, đất có thành phần cơ giới nhẹ (tỉ
lệ thất thoát nước lớn), một số công trình xuống cấp chưa được sửa, khu tưới phân
tán (kênh mương phải kéo dài), một số công trình chưa hoàn chỉnh,... Mặt khác,
trong quá trình CDCCKT và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, một số diện tích cây hàng
năm được chuyển sang cây lâu năm (không tưới); một số lớn khác chuyển sang đất
xây dựng cơ bản,... nên có nhiều công trình bị thu hẹp diện tích phục vụ và thay đổi
nhiệm vụ thiết kế.
Giao thông vận tải: mạng lưới giao thông về cơ bản đáp ứng nhu cầu vận
tải hàng hóa và hành khách trên địa bàn tỉnh.
Giao thông đường bộ: khá phát triển, 100% đường ôtô đã nhựa hóa đến các
trung tâm xã.
Bảng 2.5. Hệ thống giao thông đường bộ tỉnh Bình Dương năm 2006
Tổng độ dài (km)
Loại đường
Số tuyến
Tổng số
4.383
5.209,3
4
105,85
Quốc lộ
14
637,12
Đường do tỉnh quản lí
242
669,98
Đường do huyện thị quản lí
4.127
3.796,35
Đường xã, phường và nội bộ
[Nguồn: Báo cáo quy hoạch phát triển NN - NT tỉnh Bình Dương]
Ngoài ra, còn có hệ thống đường chuyên dùng 1.455,88 km
Giao thông đường thuỷ: sông ngòi đi qua địa bàn tỉnh Bình Dương dài
402,13 km. Hiện tại, nhân dân trong tỉnh vẫn tận dụng 2 con sông là sông Đồng Nai
(từ Hiếu Liêm về Thạnh Phước huyện Tân Uyên) và sông Sài Gòn (từ Dầu Tiếng về
Thuận An) dài 201,4 km có thể khai thác vận tải sông. Còn các sông khác (sông Bé
104,6 km, sông Thị Tính 15,8 km, sông TX. Thủ Dầu Một 2 km, sông huyện Thuận
An 12 km) do lòng sông hẹp, độ dốc lớn, lượng nước về mùa khô rất ít, không tận
dụng khai thác vận tải. Việc phát triển giao thông thuỷ ở tỉnh không thuận lợi tuyến
ngắn, sông Sài Gòn còn bị hạn chế bởi tĩnh không của cầu Bình Lợi, cầu sắt Lái
Thiêu, không đáp ứng cho ghe tàu có trọng tải trên 100 tấn. Khi nạo vét sông Thị
Tính để xây dựng khu NN sinh thái phụ vục phát triển ngành du lịch, có thể sử dụng
lòng sông làm tuyến giao thông trước hết phục vụ khách du lịch “chơi trên sông
nước”, sau đó là vận chuyển vật tư hàng hóa với trọng tải nhỏ.
Giao thông đường sắt: tuyến đường sắt Bắc - Nam có 8 km đi qua tỉnh Bình
Dương (khu vực Dĩ An), trong đoạn này có 2 ga: Sóng Thần và Dĩ An; hiện tại chỉ
là 2 ga xép. Tuyến Dĩ An - Lộc Ninh trước đây đã hoạt động nhưng trong chiến
tranh đã bị phá hủy nay chưa phục hồi. Dự án quy hoạch đường sắt Dĩ An - Lộc
Ninh, tuyến này nằm trong dự án đường sắt Xuyên Á, 2 ga này sẽ được mở rộng;
đặc biệt là ga Sóng Thần sẽ là đầu mối vận tải hàng hóa quan trọng nhất phía Nam.
Nhìn chung, hệ thống giao thông Bình Dương phát triển mạnh, đặc biệt là
các tuyến đường do tỉnh và huyện quản lí nên điều kiện đi lại và vận chuyển hàng
hóa của nhân dân trong vùng được cải thiện. Tuy nhiên, hệ thống giao thông nội
đồng vẫn còn thiếu và chất lượng rất kém, chưa đáp ứng được nhu cầu lưu thông
vật tư và nông sản cho người SX. Với quan điểm “đường đi đến đâu, vốn đi đến
đó”, muốn cho kinh tế và kinh tế NN - NT phát triển thì tỉnh cần đồng thời thực hiện
dự án giao thông, giao thông NT và giao thông nội đồng.
Công nghiệp và đô thị: quá trình đô thị hóa và CNH trong tỉnh diễn ra mạnh
mẽ góp tiêu thụ mạnh các sản phẩm NN; tuy nhiên SXNN tỉnh chưa đáp ưng được
nhu cầu thực phẩm nhất là các loại rau, quả, hoa, thuỷ sản cho dân cư đô thị nên các
mặt hàng đó được chuyển từ các tỉnh Đà Lạt, Bình Phước, Đồng Nai,... Đồng thời,
sự phát triển các hệ thống đô thị cũng tác động rất lớn đối với SXNN: thu hẹp diện
tích đất NN, chất thải rắn và nước thải làm cho môi trường đất, môi trường nước
trong SXNN bị suy thoái nghiêm trọng.
Công nghiệp: góp phần quan trọng đẩy nhanh tốc độ CDCCKT NN - NT tỉnh
thể hiện qua sự xuất hiện các ngành CNCB nông - lâm - thuỷ sản. Toàn tỉnh có 1.283
đơn vị tham gia hoạt động trong lĩnh vực chế biến nông - lâm - thuỷ sản. Các nông
sản chủ lực của Bình Dương đều có các cơ sở chế biến quy mô khá lớn, hiện đại đã
góp phần tạo đầu ra cho sản phẩm NN; nông dân tích cực mở rộng diện tích và thâm
canh tăng năng suất cây trồng; giảm chi phí vận chuyển; tạo thêm việc làm cho nông
dân và lao động công nghiệp, dịch vụ, góp phần phân công lại lao động và chuyên
môn hóa; tạo tiền đề để thúc đẩy việc hình thành mối quan hệ nông - công nghiệp.
Tuy nhiên, sự hỗ trợ công nghiệp tỉnh cho NN chưa thực sự hiệu quả vì vẫn còn thiếu
những xí nghiệp SX, cung cấp giống cây trồng - vật nuôi, vật tư SXNN phục vụ NN.
Nên sản phẩm ngành NN tạo ra chưa đáp ứng được cho nhu cầu nguyên liệu cho sự
tồn tại và phát triển CNCB. Điển hình như nhà máy đường Bình Dương, công ty chế
biến hạt điều Thành Lễ, công ty chế biến đậu phộng (lạc),... hiện tại gặp khó khăn rất
lớn về thiếu nguyên liệu vì thế nhà máy đường Bình Dương phải có kế hoạch di đời,
các công ty chế biến hạt điều giảm số lượng các cơ sở SX từ 13 cơ sở (năm 1997)
xuống còn 9 cơ sở (năm 2006). Điều này chưa thể hiện sự liên kết giữa nông - công
nghiệp một cách khoa học và có hiệu quả trong SX.
Các cơ sở hạ tầng khác liên quan đến SXNN:
Cơ giới hóa trong SXNN:
Bảng 2.6. Số lượng máy móc, thiết bị phục vụ SX nông - lâm - thuỷ sản tỉnh Bình Dương
Máy móc, thiết bị
Số lượng
Đơn vị
1.518
Máy
Máy kéo
502
Máy kéo lớn
1.116
Máy kéo nhỏ
9.391
Máy
Máy bơm nước
194
Máy
Máy tuốt lúa
71
Máy
Máy nghiền thức ăn gia súc
123
Bình
Bình phun thuốc sâu có động cơ
126
Chiếc
Xuồng ghe đánh cá cơ giới
12
Xe
Xe reo
[Nguồn: Báo cáo quy hoạch phát triển NN - NT tỉnh Bình Dương]
Máy kéo đảm nhận trên 90% nhu cầu làm đất. Do đặc thù NN tỉnh trồng chủ
yếu là cây lâu năm (cao su, điều, cây ăn quả) nên hoạt động cơ giới cơ bản đã hoàn
thành. Riêng cây ngắn ngày do địa hình, diện tích đồng ruộng nhỏ hẹp, nền đất yếu,
dễ lầy thụt,... cơ giới hóa trồng trọt gặp trở ngại. Trong chăn nuôi, việc cơ giới hóa
đã có tác động tích cực, nhất là với chăn nuôi lợn tại các trang trại, công ty,... vừa
giảm nhẹ sức lao động, vừa tăng năng suất, giảm chi phí.
Điện: 100% số xã, phường trên địa bàn tỉnh đã có điện từ nguồn điện lưới
quốc gia, tỉ lệ số hộ được sử dụng điện trong toàn tỉnh là 94,3%. Ngành điện lực
Bình Dương đã cố gắng cải tạo mạng lưới và nâng cấp hệ thống điện nhằm phục vụ
tốt hơn cho nhu cầu sử dụng điện ở khu vực NT. Tuy nhiên, do đặc điểm phân bố
dân cư, hạn chế về nguồn vốn và cả nguồn điện nên chất lượng điện NT ở một số
nơi ở hiện tại còn rất kém (thiếu trạm biến áp đủ công suất, khoảng cách từ trạm
đến phụ tải quá xa, dây dẫn không đủ tiết diện,...) gây tình trạng sụt áp; đặc biệt
trong giờ cao điểm, ảnh hưởng của độ bền phụ tải. Đây cũng là một trong những
nguyên nhân làm cho điện ở NT chưa phục vụ nhiều cho SX (khoảng 15% sản
lượng điện dùng cho các trạm bơm điện, trang trại chăn nuôi, các cơ sở xay xát,
tiêu thủ công nghiệp khác) mà chủ yếu phục vụ sinh hoạt (khoảng 85% sản lượng
điện), để CDCC sử dụng điện ở NT cần tăng tỉ lệ điện phục vụ SX lên 30 - 40%.
Thông tin liên lạc: 100% số xã đã có đường dây và được sử dụng điện
thoại. Đến 2006, toàn tỉnh có 201.297 máy, bình quân 20 máy/100 dân. Đây là
điều kiện thuận lợi cho SXNN và sinh hoạt NT. Tuy nhiên, với các huyện vùng
sâu, vùng xa như huyện Dầu Tiếng, Phú Giáo cần đầu tư thêm bình quân 8 - 10
máy/100 dân để nâng cao đời sống văn hóa nhân dân, thúc đẩy NT phát triển.
2.1.2.3. Hoạt động dịch vụ và du lịch
Ở góc độ “đầu vào” hoạt động thương mại trong lĩnh vực cung ứng vật tư
NN ở tỉnh khá đầy đủ về số lượng, chủng loại cũng như thời điểm cung ứng nhờ
các chủ trương “thương mại hóa vật tư NN”. Ở góc độ “đầu ra”, hệ thống chợ
đầu mối ở tỉnh cũng góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, kích thích SX phát
triển và phân công lại lao động. Tuy nhiên, các hoạt động thương mại ở tỉnh chủ
yếu ngoài quốc doanh và chưa thật hiểu sâu sắc về thị trường nên vai trò tư vấn
cho nông dân việc lựa chọn SX các loại sản phẩm hàng hóa chưa được phát huy có
hiệu quả.
Bình Dương có nhiều điểm du lịch khá nổi tiếng như khu du lịch Cầu
Ngang, vườn cây ăn quả Lái Thiêu, khu du lịch sinh thái Núi Cậu,... Các điểm du
lịch này đều gắn với vườn cây ăn quả nên đã góp phần thúc đẩy SXNN phát triển.
Tuy nhiên, hoạt động du lịch còn nặng về khai thác tự nhiên sẵn có nên khả năng
thu hút khách chưa cao. Nếu khai thác các tuyến du lịch sinh thái ven sông Sài
Gòn, sông Đồng Nai, sông Thị Tính với thế mạnh đặc trưng là cảnh quan sông
nước và vườn cây ăn quả sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế Bình Dương phát triển theo
hướng kết hợp chặt chẽ giữa NN, công nghiệp và dịch vụ du lịch.
2.1.2.4. Nguồn vốn đầu tư
Hoạt động ngân hàng, tín dụng ở Bình Dương đã tập trung hỗ trợ cho SX
nông - lâm - thuỷ sản. Nông dân, chủ trang trại có thể dùng giấy tờ chứng nhận
quyền sử dụng đất thế chấp để vay vốn từ ngân hàng phục vụ các nhu cầu của SX.
Hoạt động tín dụng đã đáp ứng khá tốt yêu cầu vay vốn phát triển SXNN, tránh tình
trạng nông dân phải vay vốn lãi suất cao hoặc cắt bỏ quy trình thâm canh.
Tuy nhiên, hoạt động tín dụng ngân hàng vẫn còn nhiều điều bất hợp lý, ảnh
hưởng nhiều đến kế hoạch phát triển SX của nông dân và chủ trang trại; đặc biệt là
với những đối tượng trồng cây lâu năm. Ngân hàng cần cho vay đúng đối tượng, đủ
số lượng, đủ thời lượng và lãi suất hợp lý. Có như vậy, người SX mới chủ động
trong kế hoạch của mình và hoạt động tín dụng mới góp phần quan trọng để thúc
đẩy phát triển nông - lâm - thuỷ sản.
2.1.2.5. Chính sách phát triển nông nghiệp - nông thôn
Trên cơ sở định hướng chung trên toàn quốc, Bình Dương đã ban hành một
số chính sách về chuyển đổi CCKT NN - NT.
Chính sách về đất đai: để hình thành nền NN hàng hóa phát triển bền vững
tỉnh phải “tích tụ đất đai”, có phương án sử dụng đất dành cho các đối tượng có
vốn, có kiến thức, biết làm ăn giỏi,... nên tạo cơ hội để người có đất và người muốn
phát triển SXNN gặp nhau thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ theo đúng pháp luật.
Chính sách về vốn: hỗ trợ vốn cho phát triển NN và ngành nghề NT bằng
các hình thức cho vay đầu tư phát triển, cấp hỗ trợ lãi suất đầu tư, bảo lãnh tín dụng
đầu tư,... Chính sách hỗ trợ về vốn ưu tiên cho áp dụng thử nghiệm nuôi trồng các
giống cây con mới (bò sữa, bò lai sind,...). Đồng thời, ngân hàng cho vay không thế
chấp hộ, trang trại là 30 triệu đồng, cho HTX là 500 triệu đồng,... Riêng các mô
hình chuyển đổi như VAC, du lịch sinh thái, bò sữa,... cần có chính sách phát triển
nhanh, nhân ra diện rộng và hỗ trợ vốn xử lý môi trường trong quá trình SXNN.
Chính sách thuế: miễn hoặc giảm thuế doanh thu cho các cơ sở SX giống
cây trồng - vật nuôi và giống thuỷ sản.
Chính sách đầu tư kết cấu hạ tầng KT - XH cho NN - NT: đã tập trung một
số vốn đấu tư khá lớn cho NN - NT tạo điều kiện đẩy nhanh CNH - HĐH. Các lĩnh
vực được đầu tư nhiều như xây dựng hệ thống giao thông, công trình thuỷ lợi, các
trạm trại giống và chăm sóc thú y, bảo vệ thực vật. Đồng thời, các làng nghề thủ
công truyền thống và CNCB ở NT cũng rất được chú trọng.
Chính sách khoa học và công nghệ: đã đưa nhanh những tiến bộ khoa học
kĩ thuật vào SX kinh doanh, chú trọng nhân giống cây trồng - vật nuôi, khuyến
khích đổi mới thiết bị, công nghệ trong các cơ sở SX, đào tạo và xây dựng đội ngũ
cán bộ kĩ thuật, công nhân lành nghề.
Chính sách tạo việc làm cho lao động NN - NT: đầu tư xây dựng trường
dạy nghề, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các làng nghề và phát triển công nghiệp
NT để thu hút lao động.
Chính sách về thị trường tiêu thụ sản phẩm: đầu tư xây dựng chợ đầu mối,
phát triển mạng lưới chợ, tổ chức quảng bá các sản phẩm. Thị trường là nhân tố tất
yếu rất quan trọng đối với tất cả các ngành nói chung và NN nói riêng. Do đó, cần
sự quan tâm hỗ trợ mọi mặt rất lớn từ các ngành, các cấp.
Nhìn chung, các chính sách về phát triển kinh tế, phát triển NN - NT ở Bình
Dương đã tạo được môi trường thuận lợi và ổn định cho NN - NT phát triển theo
hướng CNH - HĐH. Các chính sách này vẫn thường xuyên bổ sung và sửa đổi hàng
năm sau khi tổng kết tình hình phát triển thực tế địa phương.
2.1.2.6. Thị trường tiêu thụ
Trong thị trường WTO, hàng hóa nông sản trong tỉnh sẽ tham gia xuất khẩu
vào thị trường nhiều nước. Tuy nhiên, hàng hóa phải đảm bảo tiêu chuẩn về kích
cỡ, màu sắc, sạch và an toàn thực phẩm, có nhãn hiệu, uy tín, có khả năng cạnh
tranh với hàng nông sản các nước. Do vậy, đòi hỏi ngành NN phải nỗ lực rất lớn
trong tổ chức SX: từ khâu SX đến khâu chế biến, thị trường tiêu thụ. Nhân tố thị
trường còn mang tính chất quyết định đến SXNN và các sản phẩm các ngành thủ
công truyền thống trong tỉnh.
Các nhân tố có những mức độ ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển và
CDCCKT NN - NT trong thời kì CNH - HĐH được thể hiện ở bảng 2.7.
Bảng 2.7. Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự phát triển kinh tế NN - NT
tỉnh Bình Dương
Các nhóm nhân tố
Nông nghiệp Nông thôn
++
+
Vị trí địa lí
Nhóm
++
-
Địa hình
nhân
tố
+++
-
Thổ nhưỡng
tự nhiên
++
-
Khí hậu, thời tiết
++
++
Nguồn nước và chế độ thuỷ văn
+
-
Sinh vật
++
+++
Dân cư - lao động
Công trình thuỷ lợi
+++
+
Giao thông vận tải
+++
++
Cơ sở hạ
Đô thị và công nghiệp (đặc biệt CNCB)
+++
+++
tầng
Cơ giới hóa
++
-
Điện
+++
+++
Nhóm
Thông tin liên lạc
+
++
nhân
tố
++
++
Hoạt động du lịch và dịch vụ
KT - XH
+++
+++
Vồn đầu tư
Chính sách đất đai
++
+
Chính
Chính sách vốn
+++
+++
sách
Chính sách thuế
++
++
phát
Chính sách khoa học công nghệ
++
++
triển
Chính sách tạo việc làm cho NN - NT
+
++
Chính sách thị trường tiêu thụ sản phẩm
+++
++
+++
+++
Thị trường tiêu thụ
Chú thích : +++ : ảnh hưởng có tính chất quyết định + : ảnh hưởng yếu
++: ảnh hưởng mạnh - : không ảnh hưởng
2.1.3. Đánh giá các nguồn lực phát triển nông nghiệp - nông thôn tỉnh Bình Dương
2.1.3.1. Những lợi thế
- Là một tỉnh thuộc vùng KTTĐPN, nằm gần trung tâm kinh tế lớn thành phố
Hồ Chí Minh, tỉnh có điều kiện thuận lợi để phát triển và giao lưu KT - XH.
- Bình Dương có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú về khí hậu, đất
đai, nguồn nước,... cho phép phát triển nền NN hàng hóa thâm canh có năng suất
cao và đa dạng hóa sản phẩm.
- Trên địa bàn tỉnh có hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông vận tải, thông
tin liên lạc, thuỷ lợi, điện lực,... tương đối phát triển, bước đầu đáp ứng tích cực cho
yêu cầu phát triển KT - XH và cho phát triển NN - NT của tỉnh.
- Dân cư tỉnh nói chung và dân cư NT nói riêng nằm trong khu vực có mặt
bằng dân trí khá cao so với các vùng khác trong cả nước, có truyền thống SXNN,
truyền thống SX tiểu thủ công nghiệp đồng thời cũng khá năng động, nhạy bén
trước những tác động của nền kinh tế thị trường.
Các yếu tố trên là những lợi thế mang tính động lực thúc đẩy quá trình
CDCCKT NN - NT Bình Dương theo hướng phát triển hàng hóa một cách có hiệu
quả và bền vững, góp phần đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng KT - XH và NN - NT
tỉnh trong thời kì đi lên CNH - HĐH.
2.1.3.2. Những hạn chế
- Việc phát triển mạnh các khu công nghiệp, khu đô thị làm cho quỹ đất
SXNN giảm nhanh, giá thuê hoặc sang nhượng đất tăng, ảnh hưởng đến việc mở
rộng quy mô của các trang trại và xảy ra tình trạng đất SXNN bị bỏ hoang hóa, đầu
cơ đất đai, “bị mất đất” SXNN do tư nhân sẽ ảnh hưởng rất lớn đến SXNN.
- Lực lượng lao động trẻ, có kiến thức lại tham gia ngày càng nhiều vào hoạt
động công nghiệp và dịch vụ, làm cho lao động NN ngày càng giảm và tuổi bình
quân khá cao. Họ tích luỹ được nhiều kinh nghiệm nhưng khả năng tiếp thu tiến bộ
khoa học công nghệ hạn chế, ít nhạy bén trong kinh tế thị trường.
- Giá thuê mướn lao động NN tăng cao (50.000 - 60.000 đồng/ngày công)
làm cho giá thành nông sản tăng cao, giảm sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa
SX tại Bình Dương trên thị trường.
- Hoạt động các khu công nghiệp dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường, đặc
biệt là môi trường nước (kể cả nước mặt và nước ngầm), đất ngày càng hiện rõ.
- Chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa nông - công nghiệp trong SXNN.
- Hệ thống cơ sở hạ tầng còn chưa đồng bộ, nhất là giao thông NT và giao
thông nội đồng, nhiều vùng xa sâu chưa có đường giao thông vào đến tận nơi khó
khăn cho vận chuyển các sản phẩm NN của nông dân.
Những hạn chế trên là những thách thức mà Bình Dương phải vượt qua để
hoà nhập tích cực với quá trình phát triển KT - XH và quá trình phát triển NN - NT
của vùng KTTĐPN cũng như cả nước trong thời kì đi lên CNH - HĐH.
2.2. THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP -
NÔNG THÔN TỈNH BÌNH DƯƠNG
2.2.1. Tình hình phát triển kinh tế chung
2.2.1.1. Tình hình tăng trưởng kinh tế Bình Dương giai đoạn 1997 - 2006
Từ năm 1997, tỉnh bước vào thực hiện các mục tiêu KT - XH, cơ sở vật chất
kĩ thuật được tăng cường. Do đó nền kinh tế có điều kiện phát triển cả chiều rộng và
chiều sâu với mức cao hơn.
Bảng 2.8. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Dương thời kì 1997 - 2006
(Giá cố định 1994)
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
3.919.194
5.941.575
6.044.923
18.336.742
Tổng GDP (triệu đồng)
Các giai đoạn
1998 - 2000 2001 - 2003 2004 - 2006 1998 - 2006
14,98
0,66
44,70
18,70
Tốc độ tăng trưởng GDP (%/năm)
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp - xây dựng tăng nhanh, kế đến
khu vực dịch vụ, các ngành nông - lâm - thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng thấp nhất.
Với những chính sách, chủ trương phát triển đúng đắn và phương châm “trải thảm
đỏ” gọi mời các thành phần kinh tế đầu tư phát triển đã giúp cho tỉnh có tốc độ tăng
trưởng kinh tế nhanh. Tuy nhiên, tăng trưởng của các khu vực chưa cân đối; các
ngành dịch vụ có giá trị gia tăng còn chiếm tỉ trọng nhỏ so với công nghiệp, chất
lượng tăng trưởng chưa cao, chưa tạo thế phát triển bền vững cho thời kì tới.
2.2.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Dương
2.2.1.2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
Tỉ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ tăng lên, còn ngành nông -
lâm - thuỷ sản đã giảm. Nếu phân theo NN và phi NN, CCKT chuyển dịch mạnh theo
hướng giảm tỉ trọng các ngành NN, tăng tỉ trọng các ngành SX phi NN. So với toàn
vùng KTTĐPN thì quá trình chuyển dịch NN sang phi NN của Bình Dương nhanh hơn
toàn vùng. Đến năm 2005, tỉnh chuyển dịch 8,7% so với năm 2000 trong khi toàn vùng
KTTĐPN chuyển dịch 1,2% năm 2005 so với 2000.
Bảng 2.9. CCKT theo ngành kinh tế của tỉnh Bình Dương
( %)
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
26,3
16,7
12,0
7,0
Theo ngành
Nông nghiệp
45,4
58,1
62,0
64,1
Công nghiệp
28,3
25,2
26,0
28,9
Dịch vụ
71,7
74,8
74,0
71,1
Theo SX vật chất -
SX vật chất
phi vật chất
28,3
25,2
26,0
28,9
SX phi vật chất
26,3
16,7
12,0
7,0
Theo NN - phi NN
Nông nghiệp
73,3
83,3
88,0
93,0
Phi nông nghiệp
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
100%
25.2
26
28.9
28.3
80%
60%
Dịch vụ Công nghiệp
45.4
40%
58.1
62
64.1
Nông nghiệp
20%
26.3
16.7
12
7
0%
1997
2000
2003
2006
Hình 2.5. Biểu đồ CCKT theo ngành kinh tế của tỉnh Bình Dương (1997 - 2006)
Nếu phân theo ngành SX vật chất và phi vật chất, sự chuyển dịch từ các ngành
SX vật chất sang phi vật chất không lớn lắm và không có xu hướng chuyển dịch trong
những năm gần đây. CCKT của tỉnh là công nghiệp - dịch vụ - NN; nhưng tỉ trọng
của công nghiệp/GDP quá cao (chiếm 64,1% GDP), trong khi tỉ trọng của dịch vụ chỉ
chiếm phần quá nhỏ (chiếm 28,9% GDP). Chúng ta thấy rõ, CCKT tỉnh thể hiện sự
mất cân đối giữa các ngành trong nền kinh tế. Theo quy luật phát triển kinh tế, tăng
trưởng ngành công nghiệp sẽ luôn kéo theo tăng trưởng ngành dịch vụ. Trong giai
đoạn đầu của sự phát triển, CCKT thường có tỉ trọng công nghiệp cao hơn dịch vụ
nhưng không có sự cách biệt quá lớn như Bình Dương.
Sự phát triển các ngành dịch vụ phục vụ sự phát triển công nghiệp tỉnh chưa
phù hợp, đưa đến sự thiếu cân đối và vững chắc. Điều này còn thể hiện chính sách
phát triển kinh tế của tỉnh còn thiên về công nghiệp. Nhưng trong các ngành công
nghiệp chỉ mới chú trọng đến các ngành công nghiệp gia công, chưa tập trung phát
triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và mũi nhọn, chưa đầu tư thích đáng trong lĩnh
vực dịch vụ và NN - NT.
2.2.1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế
Lao động của tỉnh phần lớn hoạt động trong lĩnh vực NN, những năm qua có
sự chuyển dịch từ lĩnh vực NN sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.
Bảng 2.10. Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
325.356
374.940
526.602
639.223
Lao động
Tổng số
(người)
Nông nghiệp
182.715
167.673
150.239
133.744
Công nghiệp
81.917
134.011
282.503
382.477
Dịch vụ
50.742
73.256
93.860
123.002
Cơ cấu lao
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
động (%)
Nông nghiệp
57,9
44,7
28,5
20,9
Công nghiệp
25,9
35,7
53,6
59,8
Dịch vụ
16,2
19,6
17,9
19,3
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Tỉnh đã phát triển rất mạnh công nghiệp, các cơ sở SX công nghiệp phần lớn
là chế bến thực phẩm, SX hàng dệt may,... sử dụng nhiều lao động tại chỗ, nên đã
thu hút một phần lao động dư thừa trong lĩnh vực NN sang lao động công nghiệp.
Song song với quá trình phát triển công nghiệp, NN hàng hóa và nâng cao
chất lượng cuộc sống người dân thì nhu cầu về dịch vụ cũng gia tăng. Do đó, một
bộ phận không nhỏ lao động chuyển sang hoạt động trong các lĩnh vực dịch vụ.
Quá trình CNH diễn ra nhanh, năng suất lao động tăng nhanh, bình quân một
lao động tạo ra 16,2 triệu đồng/năm (năm 2000) thì tăng lên 24,2 triệu đồng/năm
(năm 2005) và tăng gấp 1,5 lần so với năm 2000. Tuy nhiên, trong các khu vực khác
có sự khác biệt rõ rệt. Năng suất lao động trong các ngành dịch vụ tăng rất nhanh, từ
21 triệu đồng/lao động/năm (năm 2000) tăng lên 36,8 triệu đồng/lao động/năm (năm
2005). Khu vực nông - lâm - thuỷ sản cũng tăng 1,5 lần năm 2005 so với năm
2000. Trong các ngành công nghiệp, mặc dù giá trị tăng thêm tạo ra rất lớn nhưng
năng suất lao động hầu như không tăng giữa năm 2005 so với năm 2000. Điều này
cho thấy, giá trị tăng thêm tạo ra chủ yếu là do đầu tư mới tăng thêm trong các
ngành công nghiệp gia công là chủ yếu.
Năm 2006, lao động trong công nghiệp và dịch vụ chiếm 79,1%, đóng góp
93% GDP, còn lao động NN vẫn chiếm một tỉ lệ cao 20,9% nhưng chỉ đóng góp 7%
GDP, thể hiện năng suất lao động trong NN rất thấp.
Đối với Bình Dương, nguồn lao động là một trong những nguồn lực rất quan
trọng, vừa đảm bảo lao động cho các khu công nghiệp đồng thời góp phần tăng lên
về quy mô đô thị cùng với sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ. Cần phải tiếp
tục CDCC lao động phù hợp để đáp ứng nhu cầu lao động trong các ngành kinh tế.
2.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Bình Dương từ 1997 - 2006
2.2.2.1. Khái quát tình hình sản xuất nông nghiệp tỉnh Bình Dương
Những năm qua, Bình Dương đã có sự phát triển tích cực trên cơ sở chú
trọng khai thác và phát huy các lợi thế sinh thái NN của một địa bàn nằm ở vùng đất
đỏ miền Đông màu mỡ, đồng thời là một bộ phận hợp thành vùng KTTĐPN. Nhờ
vậy đã tạo được sự chuyển dịch quan trọng trong cơ cấu SX theo hướng phát triển
hàng hóa cụ thể: diện tích các cây ngắn ngày (cây công nghiệp ngắn ngày, rau đậu
thực phẩm) và các cây hàng hóa khác (hoa, cây cảnh, dược liệu,...); diện tích cây
công nghiệp lâu năm và cây ăn quả; diện tích nuôi thuỷ sản, quy mô đàn gia súc, gia
cầm đã có sự tăng trưởng đáng kể.
- Đất SXNN tỉnh chiếm 79,9% tổng DTTN và tỉ lệ diện tích đất đỏ vàng, đất
xám lớn thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp lâu năm. Trong quỹ đất NN, đất
trồng cây có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao, diện tích tăng, chiếm tỉ lệ khá cao
khoảng 80,0%, chứng tỏ việc sử dụng hợp lí và hiệu quả. Hệ số sử dụng đất tăng từ
1,87 lần (năm 1997) lên 2,86 lần (năm 2006). Việc “tích tụ ruộng đất” bước đầu đã
phát huy tác dụng trong chuyển đổi cơ cấu SX. Đất đai được khai thác theo hướng
thâm canh và phát huy các đặc điểm sinh thái phù hợp với SX từng loại sản phẩm
thế mạnh của từng vùng. Nhờ vậy hiệu quả đầu tư và năng suất lao động trong NN
được nâng cao, nông sản hàng hóa không chỉ gia tăng về lượng mà cả về chất,
chủng loại sản phẩm phong phú, đa dạng hơn, phần nào đã đáp ứng nhu cầu khắt
khe của một nền NN hàng hóa trong cơ chế thị trường. Giá trị thu nhập bình quân/1
ha tăng cao, trung bình trên 50 triệu/ha/năm, đặc biệt có những mô hình SX tiên tiến
đạt giá trị sản lượng rất cao trên 100 triệu đồng/ha/năm như đất trồng hành, bưởi,
măng cụt, mô hình VAC, hồ tiêu,...
Cơ sở hạ tầng cho NN - NT được đầu tư, đặc biệt là các công trình thuỷ lợi,
giao thông NT, mạng lưới thông tin liên lạc và hệ thống điện,... góp phần cải thiện
điều kiện SX, đời sống và nâng cao khả năng thâm canh, lưu thông sản phẩm và
thông tin kinh tế. Các hoạt động dịch vụ kinh tế phát triển khá nhanh và phân bố
đều khắp, đáp ứng nhu cầu phát triển NN - NT trong thời kì CNH - HĐH.
2.2.2.2. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ 1997 - 2006
2.2.2.2.1. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành
Bình Dương là một tỉnh không giáp biển. CCKT NN theo nghĩa rộng của
Bình Dương chủ yếu NN và lâm nghiệp còn thuỷ sản chiếm tỉ lệ không đáng kể.
Bảng 2.11. Tốc độ phát triển nông - lâm - thuỷ sản tỉnh Bình Dương
(%)
Chỉ tiêu
1998 - 2000
2001 - 2003
2004 - 2006
1998 - 2006
Tổng số
18,88
6,27
5,97
10,27
19,58
6,27
5,67
10,37
Nông nghiệp
2,28
5,07
4,77
4,05
Lâm nghiệp
9,42
3,94
3,91
2,85
Thuỷ sản
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
GTSX nông - lâm - thuỷ sản giai đoạn 1997 - 2006 liên tục tăng ở mức khá
cao, đạt bình quân 6,8%/năm (gấp 1,5 lần so với mức tăng bình quân cả nước).
Trong đó, bình quân NN tăng 6,92%/năm, lâm nghiệp tăng 3,24%/năm, thuỷ sản
tăng 9,01%/năm. Trong bối cảnh diện tích đất SXNN liên tục giảm, tình hình thị
trường luôn biến động như hiện nay, được xem là một thành công lớn trong lĩnh vực
NN của Bình Dương.
Bảng 2.12. Cơ cấu GTSX NN - lâm - thuỷ sản tỉnh Bình Dương
(Giá cố định 1994)
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Tổng số
934.923
1.571.551
1.891.809
2.255.974
GTSX (triệu
Nông nghiệp
894.231
1.527.118
1.833.231
2.169.318
đồng)
Lâm nghiệp
37.159
39.808
46.056
52.997
Thuỷ sản
3.533
4.625
12.522
33.659
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
Cơ cấu (%)
Nông nghiệp
95,6
97,2
97,0
96,2
Lâm nghiêp
4,0
2,5
2,4
2,3
Thuỷ sản
0,4
0,3
0,6
1,5
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Trong cơ cấu nông - lâm - thuỷ sản thì NN vẫn chiếm vai trò quan trọng,
năm 2006 chiếm 96,5% GTSX nông - lâm - thuỷ sản, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm
tỉ lệ không đáng kể 2,3% và 1,5%. Thời kì 1997 - 2006, tỉ trọng ngành NN có xu
hướng tăng còn tỉ trọng ngành lâm nghiệp lại có xu hướng giảm nhanh, điều này
ngược với xu hướng chuyển dịch trong cơ cấu ngành NN tỉnh Bình Dương. Thuỷ
sản tuy chiếm tỉ lệ nhỏ bé nhưng lại tăng tỉ trọng nhanh.
100%
1.5 2.3
0.3 2.5
0.4 4
0.6 2.4
80%
Thuỷ sản
60%
Lâm nghiệp
97.2
97
96.2
95.6
40%
Nông nghiệp
20%
0%
1997
2000
2003
2006
Hình 2.6. Biểu đồ cơ cấu GTSX NN - Lâm - thuỷ sản tỉnh Bình Dương (1997 - 2006)
Trong 10 năm qua, sự CDCCKT NN theo ngành chưa thực sự chuyển dịch
đúng hướng, đúng với tiềm năng thực có của tỉnh. Xu hướng CDCCKT NN theo
ngành của tỉnh tăng tỉ trọng ngành lâm nghiệp và thuỷ sản nhưng thực tế cho thấy
tỉnh chưa thực hiện được sự CDCCKT NN theo ngành rõ nét.
* Chuyển dịch trong ngành nông nghiệp
NN của tỉnh chủ yếu là trồng trọt, chiếm khoảng 75,0% GTSX NN, ngành
trồng trọt đang có xu thế giảm nhanh nhưng vẫn còn chiếm ưu thế trong CCKT NN,
tỉ trọng chăn nuôi tăng, tỉ trọng dịch vụ NN giảm.
1.3
1.7
100%
1.3 12.9
2.3 13.8
18.2
19.6
80%
60%
Dịch vụ NN Chăn nuôi
85.8
83.9
83.5
40%
79.1
Trồng trọt
20%
0%
1997
2000
2003
2006
Hình 2.7. Biểu đồ cơ cấu GTSX ngành NN tỉnh Bình Dương (1997 - 2006)
Xu hướng CDCC trên cho thấy, CDCCKT NN theo hướng tích cực, đúng
hướng nhưng sự chuyển dịch chưa rõ nét, tỉ trọng chăn nuôi tăng chậm, tỉ trọng
trồng trọt giảm chậm và tỉ trọng dịch vụ NN giảm. Trong khi nền NN toàn quốc
đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi và dịch vụ
NN, giảm tỉ trọng ngành trồng trọt thì quá trình chuyển dịch ở tỉnh vẫn đang diễn ra
rất chậm. Chứng tỏ NN tỉnh chưa chuyển dịch mạnh sang hướng SXNN hàng hoá.
Sự CDCCKT NN tỉnh Bình Dương không chỉ thể hiện ở tỉ trọng của từng
ngành mà còn thể hiện ở tốc độ phát triển của chúng.
Bảng 2.13. Tốc độ tăng trưởng GTSX ngành NN tỉnh Bình Dương
(%)
Chỉ tiêu
1998 - 2000
2001 - 2003
2004 - 2006
1998 - 2006
Tổng số
19,58
6,27
5,67
10,37
20,51
5,37
3,85
9,64
Trồng trọt
16,72
12,66
14,98
14,75
Chăn nuôi
2,28
1,64
7,14
3,64
Dịch vụ NN
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Sự biến động về tỉ trọng GTSX của ngành NN phụ thuộc vào tốc độ phát
triển của mỗi tiểu ngành mà tốc độ phát triển này lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như sự biến động của tự nhiên, khả năng tổ chức và quản lí SX của người lao động,
sự biến động của thị trường.
Trong giai đoạn 1998 - 2006, ngành NN tỉnh có tốc độ tăng trưởng khá cao,
bình quân 10,37%/năm. Trong đó, chăn nuôi tăng trưởng nhanh nhất bình quân
14,75%/năm, kế đến ngành trồng trọt bình quân 9,64%/năm và cuối cùng dịch vụ
NN là 3,64%/năm. Tuy nhiên có giai đoạn tăng trưởng rất nhanh, có giai đoạn tăng
chậm. Điều này phần nào phản ánh sự phát triển chưa ổn định của ngành NN tỉnh.
- CDCC trong ngành trồng trọt tỉnh Bình Dương:
Trong nội bộ ngành trồng trọt đang diễn ra sự CDCC cây trồng. Sự chuyển
dịch có ý nghĩa to lớn trong CDCCKT ngành NN tỉnh vì trồng trọt hiện đang chiếm
một tỉ trọng lớn trong GTSX NN (theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp).
Bảng 2.14. Giá trị và cơ cấu GTSX ngành trồng trọt tỉnh Bình Dương
(Giá cố định 1994)
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Tổng số
750.668
1.310.160
1.531.201
1.715.661
Cây lương thực
165.347
166.195
182.034
149.289
Giá
trị
Cây công nghiệp
457.791
977.832
1.145.207
1.357.733
(triệu
Cây ăn quả
62.492
90.338
102.687
25.442
đồng)
Rau, đậu, gia vị
96.261
106.376
98.995
91.407
Cây khác
10.701
7.398
7.054
6.957
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
Cây lương thực
22,0
12,7
11,9
8,7
Cơ cấu
Cây công nghiệp
61,0
74,6
74,8
79,1
(%)
Cây ăn quả
3,4
4,8
5,9
6,0
Rau, đậu, gia vị
12,2
7,3
6,9
5,8
Cây khác
1,4
0,6
0,4
0,4
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Cây lương thực: chiếm tỉ trọng khoảng 15% GTSX NN và có xu hướng
giảm dần từ 22,0% (năm 1997) giảm xuống còn 8,7% (năm 2006). Tốc độ tăng
trưởng cây lương thực trong giai đoạn này cũng thấp hơn so với các loại cây khác,
bình quân đạt 1,3%/năm. Diện tích trồng cây lương thực cho năng suất thấp chuyển
sang trồng cây công nghiệp lâu năm, có yêu cầu lớn của thị trường.
Bảng 2.15. Tình hình SX một số cây lương thực tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
25.897
24.891
23.506
15.813
Diện tích (ha)
Lúa
26,6
25,8
28,7
29,0
Năng suất (tạ/ha)
68.886
64.292
67.512
45.883
Sản lượng (tấn)
7.037
9.428
9.453
7.476
Diện tích (ha)
Cây
chất bột
17,5
138,7
159,6
176,0
Năng suất (tạ/ha)
có củ
12.341
130.768
150.853
131.564
Sản lượng (tấn)
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Diện tích trồng lúa giảm với tốc độ giảm nhanh, nguyên nhân chủ yếu là do
quá trình phát triển công nghiệp và đô thị hóa đã chuyển dịch đất SXNN sang đất
chuyên dùng, đất ở và trồng những cây có giá trị kinh tế cao. Hiện nay, cây lúa tập
trung phát triển chủ yếu là huyện Tân Uyên, một ít ở huyện Bến Cát.
Rau, đậu và gia vị: chiếm 9,2% GTSX trồng trọt và đang có xu thế tăng.
Bảng 2.16. Tình hình SX cây rau, đậu tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
6.329
6.737
7.405
6.589
Diện tích (ha)
Rau các
loại
136,8
133,5
140,1
128,2
Năng suất (tạ/ha)
86.568
89.934
103.722
84.471
Sản lượng (tấn)
3.376
3.059
2.536
1.231
Diện tích (ha)
Đậu các
loại
6,8
5,7
6,9
6,6
Năng suất (tạ/ha)
2.295
1.751
17.42
8.110
Sản lượng (tấn)
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Do đặc thù về vị trí địa lí nên Bình Dương có điều kiện thuận lợi về thị
trường tiêu thụ rau, đậu. Song, vẫn chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về chủng loại,
chất lượng và mức độ đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Tỉnh chú trọng phát triển
các loại rau sạch, an toàn nhằm đáp ứng thị trường tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Các
vùng chuyên canh trồng rau sạch, an toàn được tập trung ở xã Thái Hòa huyện Tân
Uyên, huyện Bến Cát và TX. Thủ Dầu Một. Diện tích cũng như năng suất cây rau
tăng thì diện tích các loại đậu giảm nhanh. Tỉnh tập trung chuyên canh lạc xuất khẩu
ở TX. Thủ Dầu Một, huyện Bến Cát, huyện Tân Uyên.
Cây công nghiệp hàng năm: diện tích ngày càng giảm là hợp lý bởi trong
điều kiện thuỷ lợi chưa đáp ứng nhu cầu, SX dựa vào nước mưa, năng suất bấp bênh
và gia tăng suy thoái đất.
Cây khác: cây cảnh, hoa, dược liệu,... tận dụng nhu cầu tiêu thụ lớn nên đã
đẩy mạnh và đây là “tiền đồ” cho NN ven đô thị. Đặc biệt diện tích trồng hoa, cây
cảnh tăng rất nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu hoa, cây xanh cho đô thị và các khu
công nghiệp trong tỉnh.
Bảng 2.17. Tình hình SX một số cây công nghiệp hàng năm tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
3.970
3.344
3.604
1.080
Diện tích (ha)
Mía
444,5
432,4
456,2
486,9
Năng suất (tạ/ha)
177.260
144.605
164.635
52.588
Sản lượng (tấn)
225
116
112
-
Diện tích (ha)
Thuốc lá
13,0
10,4
15,2
-
Năng suất (tạ/ha)
292
121
170
-
Sản lượng (tấn)
94
28
3
64
Diện tích (ha)
Mè
4,5
5,0
6,7
5,9
Năng suất (tạ/ha)
42
13
2
38
Sản lượng (tấn)
331
963
1.144
1.112
Cây thức ăn gia súc (ha)
-
412
20
73
Vườn hoa, cây cảnh (ha)
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Cây công nghiệp lâu năm: chiếm tỉ trọng lớn nhất, chiếm trên 65,6% GTSX
ngành trồng trọt, đặc biệt trồng cây cao su, hồ tiêu.
Cây cao su: là cây trồng chủ lực của tỉnh, diện tích liên tục tăng, tốc độ tăng
diện tích là 5,46%/năm. Bình Dương luôn là tỉnh có diện tích cao su lớn nhất so với
các tỉnh, thành phố trồng cao su trong cả nước. Nông dân và các công ty cao su tỉnh
đã tận dụng địa hình khá bằng, tầng đất dày, khí hậu phù hợp với phát triển cao su.
Tuy nhiên, do những năm gần đây, giá mủ và gỗ cao su tăng nhanh; kết hợp với
phong trào chuyển đổi cơ cấu cây trồng (từ cây hàng năm sang cây lâu năm) nên có
khá nhiều hộ nông dân đã trồng cao su xuống vùng đất thấp, có ảnh hưởng của mực
nước ngầm bão hòa mùa mưa (nước mọi). Ở những chân đất này, khi rễ cao su tới
mực nước ngầm, cây sẽ chậm phát triển, rụng lá và không cho mủ; nếu không có
giải pháp thoát nước ngầm thì những cây cao su này sẽ không cho năng suất, phải
thay thế bằng cây hàng năm thích hợp hơn.
Cây điều: diện tích có xu hướng giảm dần từ 17.824 ha năm 1997 xuống còn
10.104 ha (năm 2006). Diện tích điều giảm là hợp quy luật bởi trồng điều hiệu quả
kinh tế thấp, giống điều đa phần đã thoái hóa, dễ gặp rủi ro bởi khí hậu. Tuy nhiên,
năng suất vẫn tăng, năm 1997 đạt 4,0 tạ/ha thì đến năm 2006 năng suất đạt 5,5 tạ/ha.
Nhờ cải tiến kĩ thuật, đưa giống điều mới vào SX, năng suất cao nên khi diện tích bị
thu hẹp nhưng sản lượng vẫn tăng nhanh.
Cây cà phê: do thời kì trước giá cà phê tăng nhanh; diện tích tăng nhanh, sau
đó giá cà phê xuống thấp người trồng cà phê lâm vào hoàn cảnh khó khăn, diện tích
giảm liên tục - 3,84/năm và tiếp tục giảm - 11,8%/năm (năm 2006 ).
Cây hồ tiêu: diện tích tăng nhanh là 244 ha (năm 1997) lên 664 ha (năm
2006) và đang được chú trọng đầu tư cả về giống, kĩ thuật.
Cây ăn quả: thống kê được 12 cây ăn quả phổ biến ở tỉnh với diện tích là
6.457 ha (năm 2006). Bình Dương có vùng cây ăn quả đặc sản nổi tiếng măng cụt
Lái Thiêu (chiếm 32,9% diện tích, hơn 50% sản lượng măng cụt cả nước), dâu và
bòn bon (chiếm 95% diện tích), bưởi Bạch Đằng. Song do trồng cây ăn quả chưa
theo quy hoạch kể cả về chủng loại và điều kiện sinh thái nên hiệu quả chưa cao.
Mặt khác, công chăm sóc cộng với giá phân bón, vật tư NN quá cao trong khi giá
bán sản phẩm thấp nên nhiều vườn cây ăn quả bị bỏ hoang, thiếu chăm sóc.
- CDCC trong ngành chăn nuôi:
Ngành chăn nuôi đang từng bước vươn lên để cân đối với trồng trọt. Tỉ trọng
của ngành chăn nuôi tăng từ 13,8% GTSX NN (năm 1997) lên 19,6% GTSX NN
(năm 2006). Chăn nuôi gia súc chiếm 85,7% GTSX chăn nuôi và 20,0% GTSX NN,
chăn nuôi gia cầm chiếm 8,3% GTSX chăn nuôi.
Xã hội càng phát triển, nhu cầu về lương thực được đảm bảo thì nhu cầu về
thực phẩm từ ngành chăn nuôi càng tăng. Trong CCKT NN, ngành chăn nuôi có xu
thế phát triển nhanh, tăng dần tỉ trọng và có sự chuyển dịch theo hướng đa dạng
hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Chăn nuôi gia súc: chăn nuôi lợn, trâu, bò sữa phát triển mạnh. Đàn lợn
tỉnh có quy mô rất lớn trong cả nước, quy mô đàn bò tỉnh xếp thứ 2 sau thành phố
Hồ Chí Minh.
Bảng 2.18. Số lượng và tốc độ phát triển một số loại gia súc tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
18.855
16.663
16.395
11.196
Số lượng
Trâu
(con)
28.937
27.128
29.880
44.408
Bò
87.133
178.894
291.666
298.927
Lợn
Các giai đoạn
1998 - 2000
2001 - 2003
2004 - 2006
1998 - 2006
- 4,17
- 0,67
- 12,06
- 5,69
Tốc độ tăng
Trâu
trưởng (%)
- 2,04
3,23
14,22
4,84
Bò
27,03
17,69
0,66
14,68
Lợn
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Giai đoạn 1998 - 2006, tốc độ phát triển nhanh nhất là chăn nuôi lợn
14,68%/năm, kế đến chăn nuôi bò 4,84%/năm, còn chăn nuôi trâu có xu hướng
giảm - 5,69%/năm. Nguyên nhân chủ yếu là do định hướng phát triển chăn nuôi của
tỉnh là chú trọng đầu tư phát triển chăn nuôi lợn, chăn nuôi bò với chương trình
“nạc hóa” đàn lợn và “sind hóa” đàn bò.
Chăn nuôi lợn: từ năm 1997 chương trình “nạc hóa” đàn lợn của tỉnh Bình
Dương được đưa vào thực hiện. Nhờ chuyển đổi phương thức chăn nuôi và áp dụng
kĩ thuật chăn nuôi công nghiệp, nữa tự động. Các giống lợn nhập giống thuần chủng
từ Anh, Đan Mạch, Mỹ,... nên chất lượng đàn lợn được cải thiện rõ nhất lợn lai 2 - 3
máu ngoại đã chiếm hơn 85% tổng đàn, thời gian nuôi rút ngắn chỉ còn 4,0 - 4,5
tháng, tiêu tốn thức ăn giảm (bình quân 2,5 - 3 kg/kg tăng trọng với lợn thịt), tỉ lệ
nạc đạt 55% - 58%, thịt móc hàm sau giết mổ cao 78 - 80% so với trọng lượng hơi.
Bảng 2.19. Tỉ lệ lợn hướng nạc trong đàn lợn tỉnh Bình Dương
Năm
1997 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
13
22
29
31,8
37
41
47
52
Tỉ lệ lợn hướng nạc (%)
[Nguồn: Báo cáo tình hình SXNN các năm từ 1997 - 2006]
Những năm 1997 - 1999, chương trình “nạc hóa” gặp nhiều khó khăn do tập
quán chăn nuôi tận dụng của người dân vì vậy tốc độ tăng đàn lợn thấp, tỉ lệ lợn
hướng nạc thấp. Từ những năm 2000 trở đi, chương trình “nạc hóa” đàn lợn mới
thực sự phát triển mạnh, tốc độ gia tăng cao. Số lượng lợn không ngừng tăng nhanh
do số lượng các trang trại chăn nuôi lợn gia tăng và quy mô mở rộng. Năm 2006, có
86 trang trại chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, tập trung ở huyện Tân Uyên,
Bến Cát, Phú Giáo và Dầu Tiếng. Tuy nhiên, hình thức chăn nuôi lợn theo hướng
tận dụng vẫn còn chiếm ưu thế.
Tỉnh có 79 cơ sở SX giống vật nuôi với chất lượng cao; riêng 2 công ty
TNHH 100% vốn đầu tư nước ngoài là công ty Nông Lâm Đài Loan và công ty
TNHH nông sản Đài Việt hiện đại nhất Việt Nam với quy trình khép kín: giống,
thức ăn, giết mổ,... cho phép tạo ra sản phẩm chất lượng cao.
Bảng 2.20. Số lượng và tỉ lệ lợn nái, lợn thịt trong đàn lợn tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Đàn
Tổng số
91.495
178.894
268.997
298.927
lợn
Lợn nái
9.569
23.879
33.660
41.605
(con)
Lợn thịt
81.514
152.774
231.571
257.322
Tỉ lệ
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
(%)
lợn nái
10,5
13,3
12,5
13,9
Lợn thịt
89,5
86,7
87,5
86,1
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Chăn nuôi bò: tỉ lệ bò cày kéo vẫn chiếm tỉ lệ cao trong đàn bò, từ năm
2003 đến nay số lượng giảm dần, điều đó thể hiện chăn nuôi bò của tỉnh đang được
chuyển mạnh theo hướng phát triển chăn nuôi bò thịt, bò sữa.
Bảng 2.21. Số lượng và tỉ lệ bò cày kéo, bò thịt trong đàn bò tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Đàn lợn
Tổng số
28.937
27.128
29.880
44.408
(con)
Bò cày kéo
12.026
10.841
8.387
7.973
Bò thịt, bò sữa
16.911
16.287
21.493
36.435
Tỉ lệ (%)
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
Bò cày kéo
41,6
40,0
28,1
20,0
Bò thịt, bò sữa
58,4
60,0
71,9
80,0
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Đàn bò sữa có tốc độ phát triển tăng nhanh, tỉ trọng bò sữa trong tổng đàn bò
của tỉnh liên tục tăng 3.983 con (năm 2006). Tỉnh phát triển mạnh đàn bò sữa đi lên
từ bò sind khá bền vững, chất lượng giống bò sữa đã và đang bước đầu được quản
lý chặt chẽ về di truyền. Tuy nhiên, do chăn nuôi bò sữa đòi hỏi phải có nguồn vốn
lớn, có kiến thức về chăm sóc và khai thác sữa. Vì thế người dân còn gặp nhiều khó
khăn khi tiến hành chuyển đổi sang chăn nuôi bò sữa.
Như vậy, trong cơ cấu đàn bò chủ yếu vẫn là bò kéo cày còn bò lấy thịt và
lấy sữa chiếm tỉ lệ không cao. Điều này một phần thể hiện tính truyền thống trong
chăn nuôi gia súc, mặt khác thể hiện sự chậm đổi mới cơ cấu chăn nuôi theo hướng
SX hàng hóa.
Chăn nuôi trâu: đàn trâu có xu hướng giảm từ 18.855 con năm 1997 đến
năm 2006 còn 11.196 con, tốc độ giảm bình quân giai đoạn 1998 - 2006 là -
5,69%/năm. Nguyên nhân là do hạn chế điều kiện chăn thả cộng với cơ giới hóa
SXNN nên số lượng trâu kéo cày giảm nhanh.
Bảng 2.22. Số lượng và tỉ lệ đàn trâu tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Đàn trâu
Tổng số
18.855
16.663
16.395
11.196
(con)
Trâu cày kéo
9.958
8.852
7.031
5.231
Tỉ lệ (%)
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
Trâu cày kéo
52,8
53,1
42,9
46,7
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Chăn nuôi gia cầm: tăng liên tục trong thời gian qua, giai đoạn 1998 - 2006
tăng bình quân 1,57%/năm.
Chăn nuôi gà: đàn gà tăng nhanh 1,95%/năm 1998 - 2006. Gà công nghiệp, gà
thả vườn (do các công ty hợp đồng gia công) có chất lượng giống bố mẹ tốt nên nuôi
có tốc độ tăng khá ổn định, ít hao hụt, xuất chuồng đúng thời gian theo hợp đồng gia
công và nuôi theo phương thức bán công nghiệp, công nghiệp và nữa tự động hóa.
Thuỷ cầm (vịt): liên tục giảm, tốc độ giảm bình quân 1998 - 2006 là - 3,29%.
Vịt lấy thịt chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số vịt. Tuy nhiên, quy mô đàn vịt biến
động thất thường và có xu hướng giảm. Trong phát triển chăn nuôi gia cầm, tỉnh
cũng chủ trương chuyển đổi cơ cấu giống, tăng tỉ lệ các giống vịt siêu thịt, siêu
trứng, giống ngan Pháp.
Bảng 2.23. Tình hình phát triển chăn nuôi gia cầm tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Số lượng
Tổng đàn
1.752.152
2.224.860
2.414.677
2.022.164
(con)
1.628.031
2.083.897
2.275.387
1.930.449
Gà
Vịt
124.121
140.963
139.290
91.715
Tỉ lệ (%)
Tổng đàn
100,0
100,0
100,0
100,0
Gà
92,9
93,7
94,2
95,5
Vịt
7,1
6,3
5,8
4,5
2.584
3.984
6.488
4.327
Sản lượng thịt hơi (tấn)
20.195
27.283
35.254
48.790
Trứng gia cầm (1.000 quả)
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Chăn nuôi khác: ngựa, dê, đà điểu, gà chọi, lợn rừng,... hàng năm cũng là
nguồn thu đáng kể của người dân, đồng thời cũng là nguồn nguyên liệu cho các nhà
hàng ăn uống đặc sản của tỉnh và của thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, các ngành
chăn nuôi này vốn đầu tư xây dựng cơ sở ban đầu lớn, SX dễ gặp rủi ro và còn chưa
được sự quan tâm cần thiết của chính quyền tỉnh nên dù giá trị kinh tế thu về từ hoạt
động chăn nuôi này rất cao, song thời gian qua các ngành chăn nuôi này chưa phát
triển rộng rãi mà mới chỉ dừng lại ở một số hộ SX theo mô hình trang trại.
Ngành chăn nuôi tỉnh Bình Dương trong những năm qua có sự phát triển
theo chiều hướng tích cực. Đặc biệt có sự chuyển đổi trong cơ cấu giống nhằm
nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Sự xuất hiện các trang trại với
phương thức SX tiên tiến đã góp phần thay đổi bộ mặt ngành chăn nuôi của tỉnh.
Song bên cạnh đó vẫn còn một số bất cập như:
- Tập quán chăn nuôi tận dụng, quy mô SX phần lớn là nhỏ chưa kết hợp với
trồng trọt, chăn nuôi với thuỷ sản, VAC, RAC,...
- Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các trang trại và công ty chăn nuôi bởi
thiếu hệ thống xử lý nước và rác thải.
- Quản lí giống và di truyền với bò sữa chưa thật khoa học và chặt chẽ, chưa
khắc phục được cận huyết làm thoái hóa giống.
- SX chăn nuôi còn chưa gắn với chế biến và thị trường nên chủ yếu dựa vào
buôn bán tiểu thương.
- Việc mở rộng mô hình chăn nuôi bán công nghiệp, công nghiệp và nữa tự
động hóa còn gặp khó khăn do thiếu vốn và năng lực trình, độ kĩ thuật của người
chăn nuôi còn hạn chế.
- Thiếu cơ sở CNCB sâu về sản phẩm chăn nuôi.
* Chuyển dịch trong ngành lâm nghiệp
Lâm nghiệp là ngành có GTSX đứng thứ hai sau NN; song xu thế tăng khá
chậm bình quân 4,05%/năm giai đoạn 1998 - 2006.
Bảng 2.24. GTSX ngành lâm nghiệp tỉnh Bình Dương
(Giá cố định 1994)
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
GTSX
Tổng số
37.159
39.808
46.056
52.997
(triệu
Trồng và nuôi rừng
590
1.584
3.045
2.273
đồng)
Khai thác gỗ và lâm sản
34.456
31.926
37.141
43.499
Dịch vụ lâm nghiệp
2.113
6.288
5.870
7.225
Cơ cấu
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
GTSX
Trồng và nuôi rừng
1,6
4,0
6,6
4,3
(%)
Khai thác gỗ và lâm sản
92,7
80,2
80,4
82,1
Dịch vụ lâm nghiệp
5,7
15,8
13,0
13,6
[Nguồn: Tính toán từ niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Diện tích rừng tâp trung Phú Giáo 8.103 ha (thuộc lâm trường Phú Bình),
Tân Uyên 6.208 ha (các xã Lạc An, Thường Tân và Tân Mỹ), huyện Dầu Tiếng
4.145 ha (chủ yếu rừng phòng hộ Núi Cậu và khu di tích Kiến An - Tân Lập). Nếu
tính cả cây NN có tán che và rừng trồng kinh tế của nhân dân thì đến năm 2006 tỉ lệ
che phủ trên toàn tỉnh đạt 54,5%.
100%
5.7
15.8
13
13.6
80%
60%
92.7
80.4
80.2
82.1
40%
20%
6.6
4
4.3
1.6
0%
Dịch vụ lâm nghiệp Khai thác gỗ - lâm sản Trồng - nuôi rừng
1997
2000
2003
2006
Hình 2.8. Biểu đồ cơ cấu GTSX ngành lâm nghiệp tỉnh Bình Dương (1997 - 2006)
Ngành lâm nghiệp của tỉnh đã xác định đúng hướng là giảm bớt khai thác gỗ,
tăng GTSX của trồng và nuôi rừng, dịch vụ lâm nghiệp nhằm mục tiêu bảo vệ nguồn
tài nguyên rừng. Năm 2006, toàn tỉnh trồng được 1.963,45 ha rừng. Hàng năm,
ngành lâm nghiệp tỉnh vẫn tiến hành trồng mới rừng tập trung và cây phân tán thông
qua các dự án phát triển vốn rừng như dự án 661, dự án 5 triệu ha rừng,... giao
khoán cho 889 hộ và 22 tổ chức với tổng diện tích giao khoán rừng và đất rừng là
8.559,15 ha ( năm 2006). Nhờ thực hiện tốt chủ trương giao đất, giao rừng và kêu
gọi các thành phần kinh tế tham gia vào công tác trồng và quản lí bảo vệ rừng nên
đã góp phần nâng diện tích trồng rừng và hạn chế tình trạng xâm chiếm đất rừng.
Bảng 2.25. Sản phẩm lâm nghiệp và diện tích rừng bị thiệt hại tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
74
110
702
236
Trồng rừng tập trung (ha)
Sản
phẩm
134
299
501
417
Trồng cây phân tán (ha)
lâm
212
469
475
1.142
Chăm sóc rừng (ha)
nghiệp
2
167
158
-
3.588
630
1.698
642
Tu bổ rừng (ha) Gỗ tròn khai thác (m3)
18.500
7.154
7.086
6.482
Củi khai thác (ster)
4.805
4.746
5.493
6.577
Tre, nứa, luồng (1.000 cây)
55
9
8
5
Diện tích rừng bị thiệt hại (ha)
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
* Chuyển dịch trong ngành thuỷ sản
Bình Dương không có tiềm năng lớn để phát triển ngành thuỷ sản. Tuy nhiên,
môi trường nước các thuỷ vực và nguồn thuỷ sinh vật khá phong phú là tiềm năng
cho nuôi thuỷ sản nước ngọt, nhất là cá ở các ao hầm, mương vườn, ruộng lúa trũng.
Bảng 2.26. GTSX ngành thuỷ sản tỉnh Bình Dương
(Giá cố định 1994)
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Tổng số
3.533
4.625
12.522
33.695
Giá trị
Nuôi trồng
1.326
1.856
8.899
28.910
(Triệu đồng)
Khai thác
2.018
2.148
2.698
3.804
Dịch vụ
189
621
925
981
Các giai đoạn
1998 - 2000
2001 - 2003
2004 - 2006
1998 - 2006
Tốc độ phát
Tổng số
9,42
39,42
39,07
28,48
triển
Nuôi trồng
11,87
65,10
48,12
40,31
(%/năm)
Khai thác
1,96
8,01
12,13
7,33
Dịch vụ
48,73
14,22
19,60
20,08
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương các năm]
2.8
100%
7.4
13.5
2.9 11.3
80%
21.5
59.7
46.4
Dịch vụ
60%
85.5
40%
Khai thác
71.1
20%
40.1
37.5
Nuôi trồng
0%
1997
2000
2003
2006
Hình 2.9. Biểu đồ cơ cấu GTSX ngành thuỷ sản Bình Dương (1997 - 2006)
Ngành thuỷ sản tốc độ phát triển nhanh giai đoạn 1998 - 2006 là
35,90%/năm, diện tích nuôi thuỷ sản 192 ha (năm 1997) tăng lên 442 ha (năm
2006). Cơ cấu các loài cá, giống cá nuôi trong ao hầm, hồ, lồng bè bao gồm: cá mè
trắng, mè hoa, trắm cỏ, cá phi, cá lóc bông, cá lóc đen, cá diêu hồng. Năng suất bình
quân rất thấp 1,12 tấn/ha/năm. Nguyên nhân là do các hộ chỉ tận dụng các ao sẵn có
để thả cá và nuôi theo kiểu quảng canh truyền thống; lao động nuôi thuỷ sản chưa
nắm bắt được kĩ thuật cơ bản trong nuôi cá; một số ít có biết ít nhiều về kĩ thuật
nhưng không chú tâm đầu tư đúng mức, do đó cá thiếu ăn, chậm lớn thất thoát nhiều
(do dịch hại và tràn bờ,...). Bên cạnh đó, chất lượng con giống thuỷ sản của các hộ
nuôi ít được kiểm tra, cá được lưu giữ trong thời gian khá lâu trước khi bán ra nên
cá sống sau khi thả thấp, một số loại thuỷ sản đặc sản vận chuyển không có vật
dụng chuyên dùng nên ảnh hưởng đến sức khỏe cá khi thả vào ao, hồ nuôi. Thức ăn
của cá khá đa dạng và phong phú nhưng phần lớn lại là thức ăn tận dụng từ các phụ
phẩm lại chưa qua chế biến và cá tạp nên cá năng suất thấp và có khả năng gây ô
nhiễm môi trường nước.
Đặc biệt trong tỉnh khuyến khích nuôi các thuỷ sản khác nhằm đa dạng hóa
sản phẩm thuỷ sản như ba ba, ếch, lươn, cá sấu,... cung cấp thịt cho các nhà hàng.
Bảng 2.27. Cơ cấu sản phẩm thuỷ sản tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Sản
Tổng số
416
443
1.247
4.009
lượng
Cá
354
366
1.146
3.877
(tấn)
Tôm
12
14
16
30
Thuỷ sản khác
-
-
85
48
Cơ cấu
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
(%)
Cá
85,1
82,6
91,9
96,7
Tôm
14,9
17,4
1,3
0,7
Thuỷ sản khác
-
-
6,8
2,6
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Tuy ngành CNCB sản phẩm thuỷ sản, nhà máy chế biến thức ăn cho ngành
chăn nuôi thuỷ sản trong tỉnh phát triển rất mạnh để hỗ trợ cho ngành thuỷ sản
nhưng hầu hết các sản phẩm thuỷ sản không đáp ứng được nhu cầu các cơ sở chế
biến về số lượng cũng như chất lượng.
Như vậy, quá trình CDCC theo ngành trong lĩnh vực kinh tế NN tỉnh Bình
Dương diễn biến chậm, tuy nhiên cũng có những biểu hiện tích cực. Trong ngành
trồng trọt, xu thế chuyển từ cây lương thực sang cây công nghiệp và cây ăn quả
trên cơ sở CDCC sử dụng đất phù hợp với lợi thế so sánh của Bình Dương về vị trí
địa lí, điều kiện tự nhiên và KT - XH tỉnh và đặc biệt là xu thế thị trường khi gia
nhập WTO. Trong ngành chăn nuôi và ngành thuỷ sản xu hướng chuyển dịch chính
lại là CDCC giống, các giống có năng suất cao, phẩm chất tốt được đưa vào SX
như lợn hướng nạc, bò lai sind, cá chép lai,... Xu hướng chuyển dịch này đã đem lại
hiệu quả kinh tế cao, nâng thu nhập cho người SX.
Song quá trình chuyển dịch cũng gặp một số khó khăn về vốn, trình độ khoa
học kĩ thuật và công nghệ, thị trường tiêu thụ,... Tuy nhiên, những khó khăn trên
cũng đang được chính quyền tháo gỡ và bản thân người nông dân trực tiếp SX cũng
đang tìm kiếm những giải pháp tốt nhất.
2.2.2.2.2. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế
Trong lĩnh vực NN, Bình Dương có sự tham gia đầy đủ các thành phần kinh
tế, bao gồm kinh tế Nhà nước (trong đó doanh nghiệp NN giữ vai trò chủ đạo), kinh
tế tập thể (phổ biến là các HTX chuyển đổi), kinh tế cá thể - tiểu chủ (chủ yếu là
kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại), kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà
nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, trên thực tế có ba thành phần
kinh tế chính tham gia hoạt động trong lĩnh vực NN Bình Dương là kinh tế Nhà
nước, kinh tế tập thể và kinh tế cá thể - tiểu chủ.
* Kinh tế Nhà nước
Kinh tế Nhà nước trong lĩnh vực NN bao gồm các nông trường, lâm trường,
các trạm trại và các đơn vị dịch vụ NN khác do Nhà Nước sở hữu, quản lí. Các nông
trường, lâm trường, trạm trại được gọi chung là doanh nghiệp Nhà nước.
Tỉnh có 4 doanh nghiệp Nhà nước (công ty cao su Phước Hoà, công ty cao su
Dầu Tiếng, Nông trường Cây Trường, xí nghiệp chế biến mũ cao su - công ty Becamex).
Ngoài ra, có 135 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài làm nhiệm vụ thu mua, chế biến nông
- lâm - thuỷ sản và kinh doanh vật tư “đầu vào” cho SXNN, 13 công ty thuỷ nông.
Tuy lợi nhuận của các doanh nghiệp này không cao nhưng đã thể hiện vai trò
không thể thiếu trong phát triển SXNN. Sự hoạt động các doanh nghiệp Nhà nước
trong các khâu quan trọng của dịch vụ SXNN đóng vai trò quan trọng trong chuyển
đổi cơ cấu và phát triển SX. Các doanh nghiệp Nhà nước tuy có những đóng góp
tích cực cho sự phát triển của NN song lại hoạt động chưa có hiệu quả do tổ chức
quản lí còn thiếu chặt chẽ, khả năng huy động vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng và cơ sở
vật chất kĩ thuật còn nhiều hạn chế.
* Kinh tế hợp tác
Hợp tác xã: cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể là một trong hai bộ
phận hợp thành kinh tế xã hội chủ nghĩa. Từ sau nghị quyết 10 của Bộ Chính trị,
trên cơ sở đánh giá những thành tựu và hạn chế của cơ chế quản lí HTX, tỉnh Bình
Dương đã đề ra chủ trương nhằm đổi mới một cách toàn diện cơ chế quản lí HTX
NN. Các HTX bắt đầu chuyển đổi chức năng, nhiệm vụ và từ đó chuyển đổi cả
phương thức tổ chức và phương thức hoạt động. Dựa theo chức năng và nhiệm vụ,
các HTX được phân chia ra hai lĩnh vực là HTX dịch vụ NN và HTX phi NN.
Năm 2006, tỉnh có 17 HTX (chiếm 0,23% tổng số HTX dịch vụ NN trên toàn
quốc). Các HTX đều là HTX NN không có HTX thuỷ sản và hầu hết các HTX hoạt
động dịch vụ tổng hợp, HTX chuyên khâu còn rất ít.
Bảng 2.28. Số lượng HTX phân theo chức năng tỉnh Bình Dương năm 2006
Chức năng
Số lượng
17
Tổng số
2
Làm đất
3
Giống cây
2
Thuỷ nông
2
Bảo vệ thực vật
5
Tiêu thụ
3
Cung ứng vật tư
[Nguồn: Kết quả điều tra NN - NT tỉnh Bình Dương]
Như vậy, số HTX ở tỉnh rất ít và các HTX thành lập hoặc chuyển đổi với
mục đích làm dịch vụ “đầu vào” và “đầu ra” cho SXNN. Nhưng trên thực tế phần
lớn HTX chỉ thực hiện được 1 trong 2 mục tiêu kể trên. Năm 2006, tổng số vốn hoạt
động của các HTX lên đến 20,2 tỷ đồng và giải quyết việc làm cho 1.072 lao động.
Do hầu hết các HTX thực hiện dịch vụ NN, không chỉ tổ chức tốt “đầu vào”
và “đầu ra” cho SXNN mà còn phát triển thêm nhiều ngành nghề khác nện tạo công
ăn việc làm và tăng thu nhập cho xã viên như HTX: Tân Ba, Phước Thái, Lai Uyên,
Thường Tân, Bông Trang,... Trong các HTX NN hoạt động có hiệu quả nhất là HTX
Phước Thái doanh thu trên 1,2 tỷ đồng, HTX Tân Ba đạt trên 300 triệu đồng.
Hiện nay, mặc dù vị thế kinh tế của HTX còn yếu nhưng cũng bước đầu phát
huy được vai trò hỗ trợ cho kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển, giải quyết công
ăn việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo cho xã viên. Chính mối
quan hệ gắn kết giữa kinh tế tập thể và kinh tế cá thể - tiêu chủ là một trong những
nhân tố tạo nên sự thành công của quá trình CNH - HĐH NN - NT Bình Dương.
Tuy nhiên, các tổ hợp vẫn còn nhiều hạn chế về vốn, trình độ và kĩ năng quản lí,
nắm bắt thông tin thị trường của đội ngũ cán bộ trong HTX chưa đáp ứng được nhu
cầu mới hiện nay nhất là trong bối cảnh thị trường WTO. Do vậy mà các hoạt động
của HTX còn kém hiệu quả và thiếu tính chủ động.
Tổ kinh tế hợp tác: toàn tỉnh năm 2006 có 1.373 tổ hợp tác SXNN với
26.571 thành viên, bao gồm: 236 tổ chăn nuôi, 136 tổ trồng trọt, 528 tổ liên kết SX,
67 câu lạc bộ nhà nông, 3 câu lạc bộ trang trại, 32 câu lạc bộ làm vườn và 371 tổ
hợp tác khác. Những hoạt động trong tổ đã và đang thể hiện rõ; trong đó đáng kể là
hoạt động hỗ trợ vốn, trao đổi kinh nghiệm SX, hợp tác cùng xây dựng cơ sở hạ
tầng, vần công, đổi công,... Tuy nhiên, vai trò của các tổ hợp tác chưa phát huy đáng
kể, chưa đủ sức để cùng nhau phối hợp các thành phần kinh tế khác chuyển đổi cơ
cấu SX, gắn SX với CNCB và thị trường tiêu thụ.
* Kinh tế cá thể - tiểu chủ: từ sau đổi mới, kinh tế cá thể - tiểu chủ được
thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ. Các đơn vị kinh tế này hoạt động một cách mạnh
mẽ, sôi động, sử dụng tốt các nguồn lực về đất, vốn,... đã tạo ra một bước phát triển
mới cho SXNN. Kinh tế cá thể, tiểu chủ hoạt động theo hai mô hình chủ yếu là kinh
tế hộ gia đình và kinh tế trang trại.
Trang trại: Bình Dương là một trong những tỉnh đi đầu trong việc sớm thành
lập các trang trại SXNN, đồng thời đây là thành phần kinh tế có số lao động trực
tiếp tham gia SX lớn nhất.
Bảng 2.29. Một số chỉ tiêu phát triển trang trại tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
Số lượng
Số lao động
Doanh thu
Lãi
(người)
(triệu đồng/năm)
(triệu đồng/năm)
trang trại
1.756
27.668
109.764
17.040
2002
1.802
28.404
171.320
23.638
2003
1.928
30.840
268.608
31.231
2004
1.913
30.508
374.693
52.400
2005
1.876
29.570
548.833
93.002
2006
[Nguồn: Điều tra hàng năm về trang trại các xã ở Bình Dương]
Những năm gần đây, số lượng các trang trại NN đạt tiêu chí của Bộ NN và
Phát triển NT ở Bình Dương ngày càng giảm nhưng vẫn tạo ra nguồn thu lớn cho
SXNN. Nguyên do là các trang trại đầu tư chiều sâu, ứng dụng các tiến bộ khoa học
công nghệ mới giống, kĩ thuật canh tác, bảo quản sản phẩm mang lại hiệu quả cao.
Trang trại chiếm tỉ trọng lớn nhất là trang trại trồng cây lâu năm, chiếm tỉ lệ
nhỏ là trang trại trồng cây hàng năm và trang trại nuôi thuỷ sản. Trong quá trình
phát triển, tỉ lệ trang trại trồng trọt và thuỷ sản giảm, trang trại chăn nuôi tăng.
Bảng 2.30. Số lượng trang trại tỉnh Bình Dương phân theo chức năng
Chức năng
2005
2006
Tỉ lệ (%)
Tỉ lệ (%)
Số lượng
Số lượng
Tổng số
1.913
100,0
1.876
100,0
1.636
85,5
1.526
81,3
Trồng trọt
212
11,1
235
12,5
Chăn nuôi
13
3,4
10
6,2
Thuỷ sản
[Nguồn: Điều tra hàng năm về trang trại xã ở Bình Dương]
Ngoài ra, năm 2006 toàn tỉnh có 28 mô hình kinh tế trang trại VAC.
Chủ các trang trại là dân từ các địa phương khác đến, họ không trực tiếp
quản lí và SX mà thuê nhân công địa phương nên hiệu quả kinh tế các trang trại
không cao so với các trang trại ở thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước,... Mặt khác,
cũng phần nào thể hiện sự thiếu liên kết giữa các trang trại và cũng là nguyên nhân
làm cho SXNN tỉnh bị manh mún. Trong thị trường WTO, nếu không có sự liên kết
chăt chẽ các trang trại thì chắc chắn những trang trại sẽ gặp khó khăn rất lớn về vốn,
thị thường tiêu thụ sản phẩm thậm chí có những trang trại phải nhượng đất cho
những trang trại khác.
Kinh tế hộ gia đình: là hình thức phổ biến nhất trong lĩnh vực NN Bình
Dương. Toàn tỉnh hiện có 64.784 hộ SXNN. Các nông hộ đều cần cù SX, tích luỹ
được khá nhiều kinh nghiệm. Song, hiện tại kinh tế nông hộ tỉnh còn gặp nhiều khó
khăn như chưa có tổ chức định hướng SX, khả năng tiếp thu tiến bộ mới về khoa
học công nghệ mới hạn chế, năng lực SX thấp,... nên giá thành cao, khó bán sản
phẩm, thu nhập thấp.
Tóm lại, quá trình CDCCKT NN Bình Dương theo thành phần kinh tế những
năm qua đã và đang diễn ra theo chiều hướng tích cực. Kinh tế Nhà nước giữ vai
trò chủ đạo, đặc biệt là trong lĩnh vực liên quan đến cơ sở hạ tầng NN - NT. Kinh tế
hợp tác cũng chuyển đổi nhằm thích ứng với những yêu cầu mới của nền kinh tế
hiện nay. Kinh tế cá thể - tiểu chủ phát triển vẫn mang tính tự phát dưới tác động
của yếu tố thị trường và do đó dẫn đến tình trạng phân hóa. Một bộ phận năng
động trong SX, tiên tiến trong tổ chức quản lí sẽ phát triển thành các trang trại tư
nhân; một bộ phận tiếp tục duy trì mô hình SX hộ; còn lại mộ bộ phận khác không
đủ năng lực kinh doanh có thể sẽ bán ruộng đất và trở thành người làm thuê hoặc
chuyển sang lĩnh vực SX phi NN. Trong quá trình chuyển dịch đó, mỗi thành phần
kinh tế đều tham gia hoạt động SX một cách tích cực nhất và đã góp phần vào quá
trình phát triển NN Bình Dương theo hướng CNH - HĐH.
2.2.2.2.3. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo lãnh thổ
Bình Dương có nhiều loại đất và địa hình đa dạng từ cao, thấp, trũng và
nguồn nước gắn với thuỷ lợi và chế độ thuỷ văn nên tỉnh đã phân vùng NN. Sự
phân vùng NN và CDCC NN theo lãnh thổ không thật rõ nét. Tuy nhiên, dưới tác
động tổng hợp các nhân tố tự nhiên, KT - XH, vị trí, điều kiện sinh thái, trình độ SX
của nông dân, kết hợp với CNCB và ngành nghề ở NT mà tỉnh đã hình thành 3 vùng
kinh tế NN với những đặc trưng khá riêng biệt.
Bảng 2.31. Một số chỉ tiêu 3 vùng NN tỉnh Bình Dương năm 2006
Chỉ tiêu
Vùng NN 1 (vùng
Vùng NN 2 (vùng
Vùng NN 3 (vùng NN
NN phía Nam)
NN phía Đông)
phía Tây - Tây Bắc)
583.308
157.347
309.469
Dân số (người)
Tỉ lệ so với toàn tỉnh (%)
66,4
7,9
26,7
10.186,22
54.493.71
150.802,07
Diện tích đất SXNN (ha)
Tỉ lệ so với toàn tỉnh (%)
4,7
25,3
70,0
[Nguồn: Quy hoạch phát triển NN - NT Bình Dương đến 2020]
Sự phát triển của NN trong mỗi vùng cũng không hoàn toàn thống nhất trong
nội bộ mỗi vùng cũng có sự phân hóa nhất định. Tuy nhiên, trong mỗi vùng có thể
xác định được một lợi thế và trên cơ sở đó có những hướng đầu tư để hình thành các
vùng SXNN chuyên môn hóa.
* Vùng NN 1: vùng NN phía Nam tỉnh Bình Dương bao gồm TX. Thủ Dầu
Một, huyện Thuận An và huyện Dĩ An. Vùng có vị trí nằm ven các khu đô thị và khu công nghiệp lớn, với tổng diện tích là 232,24 km2, dân số 583.308 người và mật độ trung bình 2.512 người/km2 (năm 2006). Đây là có mật độ dân số và tỉ lệ thị dân
cao nhất trong tỉnh.
Đất trồng cây hàng năm
0.5%
0.7%
Đất vườn tạp
29.1%
32.0%
57.7%
63.5%
12.5%
Đất trồng cây lâu năm
4,0%
Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
Năm 1997 Năm 2006
Hình 2.10. Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất SXNN vùng NN 1 tỉnh Bình Dương 1997, 2006
Vùng tập trung phát triển nền NN ven đô với các sản phẩm chủ yếu là rau
xanh, cây ăn quả đặc sản, hoa và cây cảnh phục vụ nhu cầu dân cư đô thị, công
nghiệp trong tỉnh, một phần cung cấp cho khách du lịch và các thành phố Hồ Chí
Minh, Biên Hòa, Vũng Tàu,... Đất trong vùng chủ yếu là đất phù sa (không bị ngập
nước), đất phèn, đất xám nên thuận lợi luân canh và chuyên canh rau, màu thực
phẩm, trồng các cây ăn quả đặc sản (như bòn bon, măng cụt, sầu riêng, bưởi), vườn
ăn quả du lịch sinh thái, phát triển mô hình kinh tế NN tổng hợp VAC.
Bảng 2.32.Cơ cấu sử dụng đất SXNN vùng NN 1 tỉnh Bình Dương
(%)
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
1. Đất trồng cây hàng năm
57,7
52,0
53,9
63,5
- Đất ruộng lúa, lúa màu
24,9
18,6
15,9
9,5
- Đất trồng cây hàng năm khác
26,4
33,4
38,0
53,1
2. Đất vườn tạp
12,5
10,6
7,5
4,0
29,1
36,7
38,0
32,0
3. Đất trồng cây lâu năm
22,9
29.2
29,0
26,8
- Đất trồng cây ăn quả
6,2
7.5
9,0
5,2
- Đất trồng cây lâu năm khác
4. Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
0,7
0,7
0,6
0,5
- Chuyên cá
0,5
0,4
0,3
0,1
- Thuỷ sản khác
0,2
0,3
0,3
0,4
[Nguồn: Tính toán từ Báo cáo thống kê diện tích đất các xã của tỉnh Bình Dương]
Cơ cấu sử dụng đất SXNN của vùng, diện tích đất trồng cây hàng năm chiếm
tỉ lớn. Lúa không phải là cây trồng thế mạnh của tỉnh nên chiếm khoảng 25% trong
diện tích đất trồng cây hàng năm, các cây trồng hàng năm khác chiếm trên 75%.
Nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu tiêu thụ rau thực phẩm trong vùng là rất lớn,
đất trong vùng thích hợp trồng rau, hoa, đậu có năng suất cao hơn trồng lúa. Đất
trồng cây lâu năm có xu hướng tăng. Trong cơ cấu diện tích đất trồng cây lâu năm
thì 90% diện tích đất là trồng cây ăn quả. Các cây ăn quả ưu thế vùng là măng cụt,
bưởi, bòn bon, dâu,... phục vụ cho nhu cầu đô thị và một phần làm nguyên liệu cho
CNCB tại chỗ, một phần phục vụ nhu cầu các thành phố lân cận và thu hút khách du
lịch tham quan “miệt vườn” đã mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Tỉ lệ đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản trong vùng chiếm tỉ lệ rất nhỏ nên
chủ yếu nuôi các loài thuỷ sản đặc sản, cá cảnh kết hợp với phát triển nhà hàng, kết
hợp với các vườn cây ăn trái phát triển du lịch sinh thái, nghỉ ngơi giải trí
Bảng 2.33. Tình hình SX một số cây trồng chính vùng NN 1 tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
2.861
2.868
2.631
1.202
Diện tích (ha)
Rau
100,9
111,4
126,9
135,2
Năng suất (tạ/ha)
28.876
31.952
33.394
16.253
Sản lượng (tấn)
170
210
230
256
Diện tích (ha)
Bưởi
55,3
71,1
72,9
79,6
Năng suất (tạ/ha)
940
1.493
1.677
2.038
Sản lượng (tấn)
522
557
553
582
Diện tích (ha)
Măng
cụt
20,5
29,6
29,4
29,8
Năng suất (tạ/ha)
1.070
1.650
1.626
1.734
Sản lượng (tấn)
192
226
224
205
Diện tích (ha)
Dâu,
bòn
32,8
34,4
32,7
35,5
Năng suất (tạ/ha)
bon
630
915
723
728
Sản lượng (tấn)
90
142
211
235
Diện tích (ha)
Mít
90,0
98,9
10,2
11,1
Năng suất (tạ/ha)
810
1.403
2.144
2.606
Sản lượng (tấn)
260
431
407
368
Diện tích (ha)
Cam,
quýt
28,5
39,0
44,2
49,7
Năng suất (tạ/ha)
741
1.681
1.799
1.829
Sản lượng (tấn)
4
20
73
412
Vườn hoa, cây cảnh (ha)
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Một số cây do thị trường tiêu thụ lớn, hiệu quả kinh tế cao nên được chú
trọng phát triển cả về giống, diện tích và hình thành vùng chuyên canh rau sạch như
vùng ngoài thành TX. Thủ Dầu Một, huyện Thuận An. Đặc biệt những năm gần
đây, vùng đẩy mạnh diện tích trồng hoa, cây cảnh mang lại thu nhập đáng kể cho
nông dân nhất là các cung cấp hoa trong dịp tết.
Vùng tập trung đông dân cư nên chăn nuôi chỉ khuyến khích nuôi các loại
chim thú cảnh, cá cảnh, thuỷ đặc sản, hạn chế chăn nuôi quy mô lớn và cả chăn nuôi
hộ gia đình để đảm bảo vệ sinh môi trường. Trong cơ cấu đàn gia súc, chiếm số
lượng lớn nhất là đàn lợn, tiếp đến là đàn bò (chủ yếu là bò sữa). Trong cơ cấu đàn
gia cầm, đàn gà chiếm số lượng đông nhất, chủ yếu là gà thả vườn nhằm đáp ứng
nhu cầu cung cấp thịt, trứng cho đô thị và các khu công nghiệp.
Bảng 2.34. Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản vùng NN 1 tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
Diễn biến hàng năm
Tốc độ tăng
(%/năm)
1997
2000
2003
2006
1998 - 2006
450
299
320
195
- 9,68
Số lượng gia súc
Trâu
(con)
2,60
6.960
6.465
7.338
8.752
Bò
3,13
37.182
45.551
53.953
48.941
Lợn
2,96
Tổng đàn
44.592
52.415
61.611
57.888
Tỉ lệ đàn gia súc so với toàn tỉnh (%)
-
22,0
23,5
19,5
16,3
- 7.62
12.425
10.411
8.217
6.138
Gà
Số lượng gia cầm
(con)
- 5,69
10.260
9.776
8.949
5.940
vịt
14,49
126
138
197
426
Thuỷ sản (tấn)
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Thuỷ sản đặc sản các loài: ba ba, ếch, cá tai tượng, cá cảnh,...
Nhìn chung, cơ cấu cây trồng vùng NN 1 ưu thế là các cây trồng phục vụ
cho nhu cầu của đô thị lớn như rau đậu, cây ăn quả, cây hoa, cây cảnh. Riêng
cây ăn quả không chỉ phục vụ nhu cầu đô thị còn là nguyên liệu cho các cơ sở
chế biến hoa quả trên địa bàn tỉnh.
* Vùng NN 2: vùng phía Đông tỉnh Bình Dương gồm huyện Tân Uyên với tổng DTTN là 613,44 km2, dân số 157.347 người và mật độ dân số 256 người/km2.
Phía Nam của vùng có địa hình thấp ven sông Đồng Nai và các suối. Đặc điểm cơ
bản của vùng là đất phù sa và dốc tụ, đất xám, đất đỏ vàng (địa hình thấp, có nguồn
nước mọi) nên thuận lợi cho việc trồng lúa, rau đậu, phát triển mô hình lúa + cá, mô
hình VAC, mô hình trồng cỏ thức ăn gia súc.
Cơ cấu sử dụng đất SXNN trong vùng chiếm ưu thế là diện tích đất trồng cây
lâu năm, kế đến là trồng cây hàng năm. Do địa hình thấp, thường xuyên bị ngập lụt
vào mùa mưa nên diện tích đất sử dụng trồng cây hàng năm cây lúa chiếm ưu thế.
Tuy nhiên, diện tích trồng lúa cũng chuyển dần sang trồng các loại rau đậu thực
phẩm có năng suất cao hơn.
Bảng 2.35. Cơ cấu sử dụng đất SXNN vùng NN 2 tỉnh Bình Dương
(%)
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
1. Đất trồng cây hàng năm
31,3
31,4
32,4
31,7
- Đất ruộng lúa, lúa màu
16,0
15,9
16,1
15,7
- Đất trồng cây hàng năm khác
15,3
15,5
16,3
16,0
2. Đất vườn tạp
5,6
3,2
2,8
1,7
63,0
65,3
64,6
66,3
3. Đất trồng cây lâu năm
1,1
1,3
1,9
2,2
- Đất trồng cây ăn quả
61,9
64,0
62,9
64,1
- Đất trồng cây lâu năm khác
4. Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
0,1
0,1
0,2
0,3
- Chuyên cá
0,1
0,1
0,2
0,3
- Thuỷ sản khác
0
0
0
0
[Nguồn: Tính toán từ Báo cáo thống kê diện tích đất các xã của tỉnh Bình Dương]
0.1%
Đất trồng cây hàng năm
0.3%
Đất vườn tạp
31.3%
31.7%
63.0%
66.3%
5.6%
Đất trồng cây lâu năm
1.7%
Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
Năm 1997 Năm 2006
Hình 2.11. Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất SXNN vùng NN 2 tỉnh Bình Dương 1997, 2006
Diện tích đất vườn tạp được chuyển sang mô hình trồng cỏ chăn nuôi và trồng
cây ăn quả. Những khu vực trũng được lên líp trồng cây ăn quả. Tỉ lệ diện tích mặt
nước trong vùng chủ yếu nuôi cá nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm.
Bảng 2.36. Tình hình SX một số cây trồng chính vùng NN 2 tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
8.971
8.932
9.082
8.560
Diện tích (ha)
Lúa
26,1
26,5
28,9
28,3
Năng suất (tạ/ha)
23.440
23.627
26.266
24.190
Sản lượng (tấn)
3.376
3.059
2.536
2.933
Diện tích (ha)
Đậu
các loại
6,8
5,7
6,9
8,5
Năng suất (tạ/ha)
2.295
1.751
1.742
1.643
Sản lượng (tấn)
9.164
12.353
13.254
18.261
Diện tích (ha)
Cao su
8,2
10,9
12,1
13,1
Năng suất (tạ/ha)
7.552
13.156
16.010
24.001
Sản lượng (tấn)
2.507
2.474
2.518
2.637
Diện tích (ha)
Điều
4,9
2,9
5,9
5,8
Năng suất (tạ/ha)
1.221
715
1.495
1.534
Sản lượng (tấn)
541
591
662
742
Diện tích (ha)
Chuối
9,4
10,08
10,5
11,3
Năng suất (tạ/ha)
5.085
5.957
6.951
8.399
Sản lượng (tấn)
168
326
440
381
Diện tích (ha)
Chanh,
tắc
33,0
36,9
40,4
48,0
Năng suất (tạ/ha)
554
1.203
1.778
1.723
Sản lượng (tấn)
136
245
342
418
Diện tích (ha)
Sầu
riêng
27,0
31,5
32,7
36,6
Năng suất (tạ/ha)
367
772
1.118
1.530
Sản lượng (tấn)
170
200
211
245
Diện tích (ha)
Bưởi
55,3
71,1
70,9
79,6
Năng suất (tạ/ha)
940
1.422
1.495
1.950
Sản lượng (tấn)
331
1.144
1.112
963
Cây thức ăn gia súc (ha)
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Những năm qua diện tích trồng lúa bị giảm nhưng năng suất và sản lượng
vẫn tăng do sử dụng giống lúa cao sản vừa cho năng suất cao, vừa cho chất lượng
gạo tốt. Cây công nghiệp lâu năm trồng chủ yếu cây cao su, còn các cây ăn quả
trong vùng diện tích ngày càng tăng. Giống bưởi (đặc biệt bưởi da xanh) không chỉ
trồng ở xã Bạch Đằng mà còn nhân rộng ra các xã Thạnh Hội, Thạnh Phước. Một số
trang trại trồng bưởi da xanh như trang trại Thanh Thuỷ - Tân Uyên cung cấp bưởi
rất lớn cho siêu thị Mêtrô thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm đem lại doanh thu cho
trang trại trung bình 600 - 800 triệu đồng. Vùng có diện tích trồng chuối lớn nhất
trong tỉnh, trồng những loại chuối được thị trường ưa chuộng như chuối tiêu, chuối
chà dẻo, chuối sáp.
Vùng đang phục hồi quy mô đàn trâu theo chủ trương của tỉnh ở các xã ven
sông, suối. Chăn nuôi bò cũng được chú trọng chủ yếu là bò thịt và bò sữa. Quy mô
đàn lợn, gà, vịt cũng tăng trong từng hộ gia đình, đặc biệt là mô hình trang trại, mô
hình VAC. Các mô hình nuôi thuỷ sản: lúa + cá, VAC, nuôi cá bè trên sông Đồng Nai.
Bảng 2.37. Tình hình nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản vùng NN 2 tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
Diễn biến hàng năm
Tốc độ tăng
(%/năm)
1997
2000
2003
2006
1998 - 2006
7.652
6.761
4.793
4.019
- 6,81
Số lượng gia súc
Trâu
(con)
12.215
9.857
9.465
14.328
1,76
Bò
17.038
19.109
18.073
21.721
2,69
Lợn
Tổng đàn
36.950
35.727
32.331
40.068
0.96
Tỉ lệ đàn gia súc so với toàn tỉnh (%)
26,5
16,0
10,3
11,3
-
268.633 343.321 421.222 366.849
3,56
Gà
Số lượng gia cầm
(con)
113.861 131.187 130.341 85.775
- 3,15
vịt
71
75
238
2.301
47,18
Thuỷ sản (tấn)
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Vùng có diện tích rừng 6.202 ha, tập trung ở các xã Lạc An, xã Thường Tân
và Tân Mỹ. Rừng ở đây chủ yếu giữ vai trò phòng hộ nên được tỉ lệ chăm sóc, tu bổ
cao hơn tỉ lệ khai thác.
Tóm lại, vùng NN 2 tỉnh tập trung SX lúa (đặc biệt là những giống lúa cao
sản) và cây rau đậu, cao su. Cây ăn quả của vùng chiếm một tỉ lệ nhỏ và không ổn
định dưới tác động của yếu tố thị trường. Chăn nuôi phát triển mạnh và chiếm một
tỉ lệ khá cao trong cơ cấu chăn nuôi của tỉnh.
* Vùng NN 3: vùng phía Tây - Tây Bắc tỉnh Bình Dương bao gồm huyện
Phú Giáo, huyện Bến Cát và huyện Dầu Tiếng. Vùng có DTTN lớn nhất trong tỉnh, với 1.849,45 km2, dân số 309.469 người và mật độ dân số thấp 167 người/km2.
Bảng 2.38. Cơ cấu sử dụng đất SXNN vùng NN 3 tỉnh Bình Dương
(%)
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
1. Đất trồng cây hàng năm
33,8
21,9
16,2
10,8
- Đất ruộng lúa, lúa màu
18,5
10,8
5,4
4,0
- Đất trồng cây hàng năm khác
15,3
11,1
10,8
6,8
2. Đất vườn tạp
8,9
8,3
7,8
6,9
57,3
69,8
75,9
82,2
3. Đất trồng cây lâu năm
2,8
3,6
1,5
2,7
- Đất trồng cây ăn quả
54,5
66,2
72,4
79,6
- Đất trồng cây lâu năm khác
4. Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
0
0
0,1
0,1
- Chuyên cá
0
0
0,1
0,1
- Thuỷ sản khác
0
0
0
0
[Nguồn: Tính toán từ Báo cáo thống kê diện tích đất các xã của tỉnh Bình Dương]
Đất trồng cây hàng năm
0.1%
10.8%
Đất vườn tạp
6.9%
33.8%
57.3%
82..2%
Đất trồng cây lâu năm
8.9%
Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
Năm 1997 Năm 2006
Hình 2.12. Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất SXNN vùng NN 3 tỉnh Bình Dương 1997, 2006
Độ cao trung bình của địa hình vùng cao nhất trong tỉnh, đặc biệt các xã thuộc
huyện Dầu Tiếng, Phú Giáo. Đất chủ yếu là đất xám, đất nâu vàng chiếm tỉ trọng rất
lớn thuận lợi cho vùng hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn ngày,
cây ăn quả, mô hình VAC (khu vực có điều kiện tưới hoặc giàu nước ngầm); cây
công nghiệp lâu năm (đối với vùng không tưới tập trung).
Trong cơ cấu sử dụng đất, diện tích trồng cây lâu năm chiếm ưu thế và tăng
nhanh 82,2% (năm 2006). Đặc điểm nổi bật trong tỉ lệ diện tích mặt nước nuôi trồng
thuỷ sản của vùng rất nhỏ.
Bảng 2.39. Tình hình SX một số cây trồng chính vùng NN 3 tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
39.196
46.280
54.749
70.143
Diện tích (ha)
Cao
su
7,1
13,2
15,9
17,5
Năng suất (tạ/ha)
34.361
61.156
86.424
122.458
Sản lượng (tấn)
69
144
352
529
Diện tích (ha)
Hồ
tiêu
23,0
29,1
35,5
24,2
Năng suất (tạ/ha)
159
419
1.249
1.280
Sản lượng (tấn)
10.587
10.377
8.776
5.954
Diện tích (ha)
Điều
4,0
2,4
4,5
6,8
Năng suất (tạ/ha)
4.266
2.467
3.976
4.025
Sản lượng (tấn)
76
680
1.250
881
Diện tích (ha)
Xoài
33,0
39,9
7,8
36,9
Năng suất (tạ/ha)
251
2.713
4.725
3.250
Sản lượng (tấn)
184
385
1.435
1.251
Diện tích (ha)
Nhãn
32,4
40,6
35,3
42,2
Năng suất (tạ/ha)
596
1.564
5.062
5.238
Sản lượng (tấn)
114
78
146
157
Diện tích (ha)
Mít
90,0
101,6
102,2
100,001
Năng suất (tạ/ha)
1.483
1.606
1.026
781
Sản lượng (tấn)
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương ]
Vùng NN 3 chiếm 70% tổng số trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm. Hình
thức chăn nuôi theo kiểu công nghiệp, bán tự động nên đem lại hiệu quả khá cao.
Song, cũng còn nhiều hạn chế do các trang trại chưa có hệ thống xử lý nước thải,
chất thải gây ô nhiễm môi trường nhất là phát sinh mùi hôi, ruồi,...
Bảng 2.40. Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trong vùng NN 3 tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
Diễn biến hàng năm
Tốc độ tăng
(%/năm)
1997
2000
2003
2006
1998 - 2006
10.943
9.603
11.282
6.982
- 4,84
Số lượng gia
Trâu
súc (con)
11.353
10.806
13.077
21.328
7,27
Bò
37.098
114.234
178.971
228.265
22,36
Lợn
Tổng đàn
59.394
134.643
203.330
256.575
17,65
-
Tỉ lệ đàn gia súc so với toàn tỉnh (%)
41,5
60,5
70,2
72,4
1.346.973
1.730.165
1.845.984
1.557.512
1,66
Số lượng gia
Gà
Gà công nghiệp
1.027.305
1.218.051
1.417.392
1.100.371
0,75
cầm (con)
Gà thả vườn
319.668
512.114
427.516
457.141
4,05
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Đàn trâu sẽ giảm dần do hạn chế điều kiện chăn thả và thực hiện chương
trình “sind hóa đàn bò”. Quy mô đàn bò tăng nhanh chủ yếu là bò thịt và bò sữa.
Quy mô đàn lợn có xu hướng tăng nhanh, những năm gần đây do dịch bệnh nên
tăng chậm lại. Đàn gà phát triển rất mạnh, dẫn đầu về số lượng đàn trong chăn nuôi
gia cầm, các trang trại gà tăng nhanh về số lượng. Bên cạnh trang trại nuôi gà công
nghiệp lấy thịt là chủ yếu cũng có rất nhiều trang trại nuôi gà công nghiệp lấy trứng
đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong tỉnh và các tỉnh lân cận. Ngoài ra, vùng còn chăn
nuôi các loài gia súc đặc sản khác (lợn rừng, dê,...) và gia cầm khác (đà điểu, cút,
chim,...). Thuỷ sản chỉ nuôi cá bè trong hồ thuỷ lợi Dầu Tiếng nên sản lượng chiếm
tỉ lệ không đáng kể.
Diện tích rừng của tỉnh tập trung phần lớn ở vùng 3 với 12.248 ha (trong đó
diện tích rừng tự nhiên 1.147,5 ha, diện tích rừng trồng là 11.100,5 ha). Các sản
phẩm lâm sản chủ yếu là gỗ, tre, nứa, luồng,... đáp ứng về cung cấp nhu cầu nguyên
liệu cho các cơ sở chế biến gỗ, SX đồ gia dụng, điêu khắc gỗ, đan mây tre lá,...
2.2.3. Sự phát triển của nông thôn tỉnh Bình Dương giai đoạn 1997 - 2006
Nhờ chính sách CNH - HĐH NN - NT của Nhà nước nói chung và của tỉnh
Bình Dương nói riêng nên bộ mặt NT tỉnh có những chuyển biến rõ rệt.
DCCKT NT Bình Dương theo ngành thể hiện rõ xu hướng giảm tỉ trọng
ngành NN, tăng tỉ trọng ngành công nghiệp (chủ yếu là CNCB và tiểu thủ công
nghiệp) và dịch vụ (chủ yếu là dịch vụ phục vụ cho SXNN như dịch vụ về giống,
vật tư NN, về giao thông, về thuỷ điện, về thuỷ lợi).
100%
16.7
24.6
30.9
41.3
80%
60%
Công nghiệp và dịch vụ
83.3
40%
77.4
69.1
Nông nghiệp
58.7
20%
0%
1997
2000
2003
2006
Hình 2.13. Biểu đồ GDP NT của tỉnh Bình Dương (1997 - 2006)
Quá trình CDCCKT, GDP NT tỉnh thể hiện rõ xu hướng chuyển từ SXNN
sang công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Năm 1997, SXNN chiếm
83,3% GDP NT thì đến năm 2006 giảm xuống một cách nhanh chóng còn 58,7%
GDP NT. Mặc dù tỉ lệ SXNN đã giảm nhanh song NN vẫn giữ vai trò nòng cốt
trong CCKT NT. Tỉ lệ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ NT (trong cơ
cấu GDP NT) tuy có tăng nhanh nhưng vẫn chiếm một tỉ lệ chưa cao, chưa phát huy
hết tiềm năng hiện có.
Về cơ cấu thành phần kinh tế ở NT, giữ vai trò chủ đạo vẫn là kinh tế Nhà
nước. Kinh tế tập thể (dưới hình thức các HTX) và kinh tế tư nhân là lực lượng SX
chính và tạo ra doanh thu lớn cho khu vực NT Bình Dương.
Sự CDCCKT NT kéo theo sự chuyển dịch của cơ cấu xã hội, thu nhập bình
quân đầu người ở NT tăng lên nhanh chóng, tỉ lệ hộ đói nghèo giảm. Vấn đề chăm
sóc sức khỏe cộng đồng phát triển, tỉ lệ cán bộ y tế và số giường bệnh ở NT gia tăng
nhanh. Đồng thời đời sống tinh thần cũng có cơ hội nâng cao hơn, tỉ lệ người dân
được tiếp cận với văn hóa, giáo dục,... tăng nhanh. Nhìn chung, chất lượng cuộc
sống của dân cư NT cả về chất và tinh thần đều được cải thiện.
Bảng 2.41. Dân số trung bình phân theo thành thị và NT tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Số dân
Tổng số
679.044
742.790
853.807
1.050.124
(người)
Thành thị
187.911
224.788
251.550
295.732
Nông thôn
491.133
518.002
602.257
754.392
Tổng số
Cơ
100,0
100,0
100,0
100,0
cấu
Thành thị
27,7
30,3
29,5
28,2
(%)
Nông thôn
72,3
69,7
70,5
71,8
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Dân cư NT của tỉnh chiếm một tỉ lệ rất cao, những năm gần đây có xu hướng
giảm nhưng không đáng kể, chiếm 71,8% trong tổng số dân (năm 2006). Như vậy,
việc CDCCKT NT Bình Dương có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển KT - XH của
tỉnh cũng như đến chất lượng cuộc sống dân cư vì đại bộ phận dân cư Bình Dương
sống trên địa bàn NT.
2.2.3.1. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp -
nông thôn
2.2.3.1.1. Tiểu thủ công nghiệp
Bình Dương là một tỉnh thuần nông và là địa bàn có con người cư trú rất
sớm. Việc độc canh cây lúa với kĩ thuật canh tác lạc hậu một mặt không đủ đảm bảo
đời sống người dân, mặt khác nông dân lại có nhiều thời gian nông nhàn nên nhiều
nghề phụ đã ra đời ở đây và tạo ra các làng nghề nổi tiếng. Qua quá trình phát triển
lâu dài, có những nghề mai một đi nhưng cũng có những nghề duy trì được đến
ngày nay và đang có xu hướng phát triển trong nền kinh tế hiện đại. Một số nghề
tiểu thủ nổi tiếng tỉnh như SX gạch ngói, gốm sứ, sơn mài, điêu khắc, tráng bánh
tráng, làm guốc, mộc,...
Trong xu thế phát triển NT theo hướng đa dạng hóa các ngành nghề, đặc biệt
là phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. Tuy Bình Dương không đa dạng
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như các tỉnh phía Bắc nhưng các nghề tiêu thủ tỉnh
khá nổi tiếng trong và ngoài nước, đây là một thế mạnh của Bình Dương. Dưới sự
chỉ đạo của Trung ương và địa phương, trong những năm qua các ngành nghề thủ
công truyền thống của tỉnh được khôi phục và phát triển mạnh mẽ, tạo việc làm cho
người dân và góp một phần khá lớn vào doanh thu của tỉnh.
Bảng 2.42. Lao động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Dương
1997
Chỉ tiêu
2000
2003
2006
2.440
11.900
22.645
34.938
Số lao động (người)
0,5
2,3
3,8
4,6
Tỉ lệ trong dân cư NT (%)
[Nguồn: Tính toán từ Báo cáo Tình hình phát triển NN - NT tỉnh Bình Dương]
Trong 10 năm qua, số lao động ở NT Bình Dương tham gia hoạt động
SX tiểu thủ công nghiệp ngày càng tăng. Như vậy, cơ cấu sử dụng lao động
NT tỉnh đã có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực, số lao động
tham gia các lĩnh vực phi NN (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ) ở
NT ngày càng tăng, góp phần giảm tỉ lệ thất nghiệp và nâng cao tỉ lệ sử dụng
thời gian lao động ở khu vực NT, cũng tạo thêm thu nhập đáng kể cho dân
cư NT. Đây là một dấu hiệu đáng mừng trong công cuộc CNH - HĐH NN -
NT Bình Dương.
Lao động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, phần lớn tại các cơ sở
SX hộ gia đình, còn lại một bộ phận nhỏ hoạt động ở HTX, các làng nghề
thủ công và các doanh nghiệp. Những năm gần đây, tỉnh đã khôi phục và
phát triển nhiều làng nghề tiểu thủ công nghiệp đến năm 2006 đã có 30 làng
nghề, HTX SX tiểu thủ công nghiệp cũng khá phổ biến và tăng nhanh. Riêng
hình thức doanh nghiệp tăng đột biến, phần lớn các doanh nghiệp là doanh
nghiệp tư nhân có quy mô SX nhỏ, vốn đầu tư thấp nên hiệu quả kinh tế
chưa cao, thị trường tiêu thụ chủ yếu là tại chỗ và một số địa phương lân
cận. Song, hình thức này có ưu thế là SX tập trung, tính chuyên môn hóa
cao, do đó sản phẩm SX được hàng loạt với chất lượng cao. Chiếm ưu thế
nhất là các hộ gia đình; hình thức này chia làm hai dạng: dạng thứ nhất là
các hộ SXNN là chính và SX tiểu thủ công nghiệp vào thời gian nông nhàn
(tráng bánh tráng, muối tiêu, mộc,...), dạng thứ hai là chuyên SX thủ công
nghiệp (gốm, sứ,...).
Bảng 2.43. Số lượng các cơ sở SX tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
(cơ sở)
(cơ sở)
(cơ sở)
(cơ sở)
(%)
(%)
(%)
(%)
Tổng số
4.658
100,0
8.166
100,0
10.015
100,0
10.053
100,0
37
48
0,6
53
0,5
62
0,6
0,8
HTX
21
25
0,3
28
0,3
30
0,3
0,5
Làng nghề
570
688
8,4
961
9,6
974
9,7
12,2
Doanh nghiệp
4.030
7.405
90,7
8.973
89,6
8.987
89,4
86,5
Hộ gia đình
[Nguồn: Báo cáo quy hoạch và phát triển tổng thể KT - XH tỉnh Bình Dương]
Doanh thu thực tế và tỉ trọng trong cơ cấu GDP NT của các cơ sở SX tiểu thủ
công nghiệp ngày càng tăng, góp phần quan trọng vào quá trình CDCCKT NT. Năm
1997, doanh thu của các cơ sở này là 202 tỷ đồng đến năm 2006 là 600 tỷ đồng.
Các cơ sở SX tiểu thủ công nghiệp hiện nay phát triển theo xu hướng hình
thành các cụm SX. Trên địa bàn tỉnh có các cụm SX như:
- Cụm SX gạch ngói: các xã Thạnh Phước, Thái Hoà, Khánh Bình, Bình Mỹ,
Hội Nghĩa của huyện Tân Uyên.
- Cụm SX gốm sứ: thị trấn Tân Phước Khánh, xã Tân Vĩnh Hiệp huyện Tân
Uyên, huyện Thuận An, huyện Dĩ An.
- Cụm SX vật liệu xây dựng: xã Thạnh Phước huyện Tân Uyên, huyện Bến Cát.
- Cụm sơn mài: Tương Bình Hiệp, Chánh Mỹ TX. Thủ Dầu Một.
- Cụm điêu khắc: xã Tân Định huyện Bến Cát, thị trấn Tân Phước Khánh
huyện Tân Uyên, Phú Thọ TX. Thủ Dầu Một.
- Cụm SX bánh tráng: xã Thanh An huyện Dầu Tiếng, xã Khánh Bình huyện
Tân Uyên.
- Cụm SX đan mây tre lá: xã Lạc An huyện Tân Uyên, huyện Dầu Tiếng.
- Cụm SX guốc, mộc: ở Lái Thiêu huyện Thuận An, TX. Thủ Dầu Một.
2.2.3.1.2. Công nghiệp chế biến
Sự phát triển các ngành nghề ở NT kết hợp với việc đầu tư phát triển công
nghiệp vào địa bàn NT đã đẩy mạnh CDCCKT và cơ cấu lao động khu vực NT.
Cuối năm 2006, có 3.273 doanh nghiệp chế biến (cả tỉnh 5.585 doanh nghiệp) với
tổng số vốn đầu tư 14.238 tỷ đồng và đã hình thành 11 khu công nghiệp (cả tỉnh
13 khu), 13 cụm (cả tỉnh 16 cụm) công nghiệp trên địa bàn NT.
Hiện nay, tỉnh đang phát huy mạnh mẽ ưu thế về nguồn nguyên liệu nông
sản thực phẩm dồi dào, phong phú về chủng loại và ưu thế về vị trí địa lí gần các
trung tâm lớn, các khu công nghiệp,... để phát triển mạnh CNCB nông sản (đặc
biệt là nông sản xuất khẩu), đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
CNCB trong tỉnh được coi là ngành kinh tế quan trọng trong khu vực kinh tế NT,
là hướng phát triển quan trọng và nhằm nâng cao giá trị nông sản, thu hút nhiều
lao động, phát huy hiệu quả đầu tư nhanh, đồng thời góp phần tăng trưởng và tích
luỹ cao trong GDP tỉnh.
Trong lĩnh vực CNCB, trên địa bàn NT tỉnh có 3.273 cơ sở chế biến. Trong
đó có 1.283 cơ sở chế biến nông - lâm - thuỷ sản, gồm 570 doanh nghiệp chến
biến nông - lâm - thuỷ sản có quy mô lớn (trong đó có 4 doanh nghiệp Nhà nước,
còn lại 566 công ty cổ phần và trách nhiệm hữu hạn). Bên cạnh, các doanh nghiêp
có quy mô lớn, các cơ sở chế biến có quy mô nhỏ dưới hình thức hộ gia đình và
HTX cũng tham gia chế biến các nông - lâm - thuỷ sản. CNCB nông sản trong tỉnh
khá phát triển, các cây trồng - vật nuôi có quy mô lớn như cao su, sữa, thịt lợn,...
đều có công suất chế biến bằng hoặc lớn hơn quy mô sản phẩm thể hiện bảng 2.47.
Ngoài ra, các ngành CNCB các nông sản khác như hạt tiêu, lạc, mè, rau, gừng,
cà tím, hành. Tuy nhiên, các sản phẩm qua chế biến còn ở tỉ lệ thấp và phần lớn chế
biến qua các công đoạn thủ công như phơi nắng, sấy thủ công,... nên chất lượng sản
phẩm kém và không đảm bảo vệ sinh thực phẩm. Một số cây trồng đang phát triển và
dự kiến sẽ phát triển mạnh trong tương lai như rau các loại, cây ăn quả,... hầu như
chưa có cơ sở chế biến nào đáng kể. Từ thực tế cho thấy, nguyên nhân là do ở cả bốn
nhà: nhà nông SX ra sản phẩm chất lượng kém, quy cách không đạt yêu cầu, thiếu
kinh nghiệm khoa học kĩ thuật; Nhà nước chưa có chính sách khuyến khích các nhà
đầu tư; nhà doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực vừa mới vừa khó khăn
này; nhà khoa học chưa tạo được những giống mới và công nghệ mới.
Bảng 2.44. Tình hình hoạt động của một số cơ sở CNCB trong tỉnh Bình Dương
Ngành
Số cơ
Công suất
Tình hình hoạt động các cơ sở CNCB
(tấn/năm)
sở
Đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nguyên liệu, nâng cao
CNCB cao su
95.000
cơ cấu sản phẩm và chất lượng sản phẩm, tạo
3
thuận lợi cho trồng cây cao su.
SX hạt điều trong tỉnh chỉ đáp ứng khoảng 7 -
CNCB hạt
58.000
11% nhu cầu nguyên liệu, nhiều cơ sở phải
9
điều
nhập điều thô, SX cầm chừng hoặc tạm thời
đóng cửa.
Chủ yếu chế biến gỗ, nguyên liệu từ gỗ cao su
CNCB gỗ
và nhập khẩu. Công nghệ ngày càng cải thiện,
140
đa dạng sản phẩm chế biến: gỗ xẻ, bao bì, đồ
gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ,...
Nghèo về số lượng, công nghệ lạc hậu và đơn
CNCB trái cây
điệu về chủng loại sản phẩm, chỉ giải quyết
5
được 5 - 7% nhu cầu chế biến và bảo quản hoa
quả tỉnh.
Sản lượng mía trong tỉnh không đáp ứng đủ
CNCB đường
1
360.000 -
nhu cầu nguyên liệu cho nhà máy (chỉ đáp ứng
400.000
40 - 45% nhu cầu nguyên liệu), nhà máy đang
có kế hoạch di dời vì trong tương lai tỉnh không
phải là vùng nguyên liệu của nhà máy.
Bước đầu đáp ứng nhu cầu ở thời điểm hiện tại
CNCB sản
nhưng ngành chế biến sản phẩm chăn nuôi cần
37
phẩm chăn nuôi
hướng ra thị trường xuất khẩu và các thị trường
33
- Lò mổ
cao cấp khác thì với số lượng và công nghệ
4
- Đơn vị chế biến
hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu.
sản phẩm
[Nguồn: Báo cáo quy hoạch phát triển NN - NT Bình Dương]
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn NT tỉnh Bình Dương có
nhiều tiềm lực để phát triển và hiện nay đã đạt tốc độ phát triển khá nhanh góp
phần thực hiện chương trình CNH - HĐH NT Bình Dương. Các cơ sở này đã giải
quyết việc làm cho một lượng lao động dân cư NT, nâng cao thu nhập và cải thiện
đời sống người dân NT. Tuy nhiên, các cơ sở chế biến nguồn nguyên liệu “đầu
vào” và thị trường tiêu thụ chưa được đảm bảo.
2.2.3.2. Các ngành dịch vụ nông thôn
Trong CCKT NT Bình Dương, dịch vụ ngày càng có vai trò quan trọng và
chiếm tỉ lệ không nhỏ. Cơ cấu dịch vụ NT chủ yếu phục vụ cho SXNN và đời sống
của người dân NT. Hệ thống dịch vụ NT tỉnh gồm:
Dịch vụ có tính thương mại: hệ thống cung ứng các loại vật tư NN (phân
bón, giống, thú y, thuốc bảo vệ thực vật) đã hình thành từ tỉnh đến huyện và các xã.
Trên địa bàn tỉnh có một số cơ sở tỉnh quản lí như công ty vật tư NN Bình Dương,
công ty cơ điện,... Ngoài ra, còn có nhiều công ty thương mại và mạng lưới dịch vụ
tư nhân tham gia vào cung ứng vật tư kĩ thuật NN phân bố rải rác trong tỉnh.
Dịch vụ kĩ thuật: các cơ sở dịch vụ kĩ thuật chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực
giống cây trồng - vật nuôi như trung tâm truyền tinh nhân tạo, trung tâm giống cây
cao su,... và một số kĩ thuật canh tác, kĩ thuật chế biến, bảo quản nông sản, chăm
sóc vật nuôi.
Dịch vụ bảo vệ thực vật: mỗi ngành trong lĩnh vực NN đều có một chi cục ở
tỉnh và mỗi huyện, thị đều có trạm bảo vệ thực vật và trạm thú y. Các chi cục và các
trạm này có nhiệm vụ cung cấp thuốc thú y, thuốc trừ dịch bệnh và tập huấn cho
nông dân cách sử dụng các sản phẩm đó.
Các loại dịch vụ khác: ở khu vực NT tỉnh còn có nhiều loại dịch vụ khác do
nhiều thành phần kinh tế khác nhau tham gia, đặc biệt là các hộ tư nhân như thu
mua và chế biến nông sản, vận chuyển nông sản, hàng hóa và hành khách.
Như vậy, NT Bình Dương đã hình thành một hệ thống cơ sở dịch vụ kĩ thuật
và cung ứng vật tư NN phân bố ở các khu vực trong tỉnh. Hệ thống này đã có những
chuyển biến tích cực, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của NN đồng thời tạo ra
việc làm, mang lại thu nhập cho một bộ phận dân cư NT. Tuy nhiên, cơ cấu ngành
dịch vụ NT còn bộc lộ nhiều hạn chế, chiếm phần lớn trong tỉ trọng dịch vụ NT là
thương mại SX và đời sống; lĩnh vực dịch vụ khoa học kĩ thuật phục vụ SX chưa
được chú trong phát triển. Nguyên nhân chủ yếu là do chưa tổ chức các hoạt động
dịch vụ ở NT một cách chặt chẽ, do đó tính cạnh tranh tự phát cao ảnh hưởng xấu
đến SX. Các cơ sở hoạt động dịch vụ thiếu vốn, thiếu cơ sở vật chất và hạ tầng nên
hoạt động thiếu nhạy bén trong cơ chế thị trường.
2.2.3.3. Chất lượng cuộc sống dân cư nông thôn
Tình hình giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo: do quá trình tiến
hành CNH - HĐH NN - NT, đặc biệt là chương trình giải quyết việc làm và xóa đói
giảm nghèo cho dân cư NT mà đời sống của dân cư NT Bình Dương ngày càng
được nâng cao, thu nhập bình quân của dân cư NT tăng khá nhanh, số hộ nghèo
ngày càng giảm. Tỉnh đã có nhiều giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng thất nghiệp
và thời gian nông nhàn trong NT như thành lập các trường dạy nghề, trung tâm dịch
vụ việc làm, hàng năm tổ chức nhiều ngày hội việc làm tại các địa phương; triển
khai thực hiện các dự án dạy nghề cho lao động NT.
Bảng 2.45. Số lao động giải quyết việc làm ở NT tỉnh Bình Dương
(nghìn người)
Chỉ tiêu
1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
17
19
22,5
24
28,4
28,4
33
35
35
129,4
Số lao động
[Nguồn: Báo cáo thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 - UBND tỉnh Bình Dương]
Năm 2006, tỉnh giải quyết được việc làm cho 129.447 lao động. Các hộ nông
dân có đất nằm trong vùng quy hoạch, giải tỏa làm khu công nghiệp, đô thị cũng
được đào tạo và chuyển đổi phương thức làm ăn cho các hộ này. Con các hộ có đất
bị giải tỏa cũng được đưa học nghề miễn phí tại các trường dạy nghề trong tỉnh.
Năm 2006, tỉnh đào tạo nghề được 2.879 lao động ở NT. Bên cạnh đó, trường trung
học Nông lâm Bình Dương mở rộng ngành nghề đào tạo, hàng năm bình quân đào
tạo 800 học sinh các chuyên ngành NN và địa chính; tổ chức đào tạo nghề cho 987
lượt hộ nông dân thuộc các xã nghèo.
Chương trình xóa đói giảm nghèo của tỉnh luôn được các ngành quan tâm
lồng ghép nhằm giúp các hộ nghèo làm ăn có hiệu quả như: tiêm phòng miễn phí
đàn cho gia súc, tập huấn khuyến nông và bảo vệ thực vật, đào tạo kiến thức quản lí
NN, hỗ trợ giống cho nông dân nghèo,... đã giúp nông dân NT phát triển SX, tăng
thu nhập, ổn định đời sống kinh tế khu vực NT.
Bình quân thu nhập đầu người ở khu vực NT tăng nhanh và cao hơn so với
bình quân thu nhập cả nước, năm 1997 là 3,8 triệu đồng/người/năm (mức thu nhập
chung của tỉnh là 5,8 triệu đồng/người năm) thì đến năm 2006 đã tăng lên 10,2 triệu
đồng/người/năm (mức thu nhập chung của tỉnh là 17,5 triệu đồng/người năm).
Theo tiêu chí chuẩn nghèo của Bộ lao động Thương binh - Xã hội (khu vực
NT là 200.000 đồng/người/tháng) thì tỉ lệ hộ nghèo của NT Bình Dương hiện nay
về cơ bản đã thoát nghèo. Tuy nhiên, theo tiêu chí mới chuẩn nghèo tỉnh (khu vực
NT là 400.000 đồng/người/tháng) thì tỉ lệ hộ nghèo trong tỉnh còn 5,52%.
Đây là kết quả của hàng loạt những chính sách ưu tiên, hỗ trợ, đầu tư cho
khu vực NT. Tuy nhiên, trong tỉnh vẫn còn các hộ nghèo mức sống thấp, đời sống
khó khăn, đặc biệt các các hộ sống ở các huyện phía Bắc của tỉnh Bình Dương.
Chất lượng y tế, giáo dục: song song với quá trình phát triển KT - XH thì
lĩnh vực y tế và giáo dục ở khu vực NT rất được coi trọng. Về giáo dục mần non,
hiện nay bình quân trên địa bàn NT tỉnh Bình Dương là 1 trường/1 xã. Trong những
năm qua, tỉnh đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học trên địa bàn tỉnh. 100% số xã
ở NT có trường cấp I và cấp II. Đến năm 2006, 100% các trường học và lớp học đã
được kiên cố hóa, khang trang. Công tác đào tạo nghề đã được quan tâm đầu tư có
trọng điểm, nhất là đào tạo nâng cao tay nghề cho lao động NT. Đến năm 2007, có
20 cơ sở dạy nghề phân bố trên địa bàn NT (toàn tỉnh có 28 cơ sở).
Y tế không ngừng phát triển, từng bước đáp ứng yêu cầu phục vụ khám chữa
bệnh cho nhân dân khu vực NT. Các bệnh viện tuyến huyện cũng đã được đầu tư
các máy móc, thiết bị và hầu hết các trạm y tế đều được xây dựng kiên cố, có xử lí
chất thải bệnh viện. Đến năm 2006, tỉ lệ bác sĩ bình quân 10 bác sĩ/10.000 dân;
100% khu, ấp các xã có cán bộ y tế; cấp thẻ bảo hiểm cho các hộ nghèo 61.081
người nghèo; tổ chức khám chữa bệnh và cấp thuốc miễn phí cho các hộ nghèo;
100% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm và uống đầy đủ các loại vaccin gây miễn dịch,...
2.3. ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG
NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 1997 - 2006
2.3.1. Những kết quả đạt được
Trong thời kì 1997 - 2006, quá trình CDCCKT NN - NT Bình Dương đã có sự
chuyển biến tích cực với tốc độ tăng trưởng khá cao. Nhìn chung, CCKT NN - NT
chuyển dịch theo hướng SX hàng hóa, các sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh, có
hiệu quả kinh tế cao được phát triển mạnh mẽ và hình thành các vùng SX chuyên
môn hóa, quy mô lớn, trang thiết bị và kĩ thuật SX hiện đại. NT đã được chú trọng
đầu tư tăng cường cơ sở hạ tầng. Bộ mặt NT đã có những chuyển đổi lớn, đời sống
vật chất, tinh thần của dân cư được cải thiện.
- Trong NN sự chuyển dịch diễn ra giữa các ngành và nội bộ của mỗi ngành.
Xu hướng chung là giảm tỉ trọng ngành NN, tăng tỉ trọng ngành lâm và thuỷ sản;
trong nội bộ ngành NN thì giảm tỉ trọng các ngành SX vật chất và tăng tỉ trọng
ngành dịch vụ NN. Cụ thể là trong NN, cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả vẫn
tiếp tục được coi là sản phẩm thế mạnh có tính hàng hóa cao, do đó chú trọng phát
triển các giống tốt, chất lượng cao và hướng tới hình thành những vùng chuyên
canh lớn. Các cây hàng năm khác như rau sạch, cây thực phẩm, cây hoa, cây cảnh
đang tăng dần tỉ trọng, đặc biệt là phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ hoa quả tươi của các
đô thị, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho CNCB nước uống hoa quả. Cây ăn quả
tăng dần tỉ trọng trong cơ cấu cây trồng, trong đó chiếm ưu thế gần như tuyệt đối là
cây bưởi, măng cụt, mít. Trong cơ cấu vật nuôi thì nổi lên xu hướng tăng tỉ trọng đàn
gà, đàn lợn và đàn bò (bò thịt, bò sữa) và giảm tỉ trọng đàn trâu với các chương trình
cải tạo giống như “sind hóa đàn bò”, “lợn hướng nạc”. Trong nội bộ ngành thuỷ sản
thì tăng tỉ trọng nuôi thuỷ sản, sản phẩm nuôi trước đây cá chiếm ưu thế thì hiện nay
đã xuất hiện các loại mới, thuỷ sản đặc sản (ba ba, ếch, lươn, cá cảnh,...). Trong lâm
nghiệp tăng tỉ trọng trồng rừng và tỉ lệ che phủ trong tỉnh, chú trọng bảo vệ rừng
trong quá trình khai thác các sản phẩm lâm nghiệp.
- Quá trình phát triển cũng dẫn tới hình thành các vùng SXNN chuyên môn hóa.
Như vậy, CDCCKT NN diễn ra theo chiều hướng tích cực, phát triển nền
NN có hệ số đa dạng cao, trong đó chú trọng phát triển các loại nông sản thế mạnh
và phù hợp với nhu cầu hiện nay của thị trường. Do đó, năng suất lao động trong
NN ngày càng cao, quá trình đầu tư cho phát triển tiến hành tập trung và thuận lợi
hơn, nền NN ngày càng phát triển theo hướng CNH - HĐH.
- Trong các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở NT ngày càng đa dạng và giải
quyết việc làm, mang lại nguồn thu đáng kể cho dân cư NT và đóng góp chung vào
sự phát triển KT - XH của tỉnh. Các làng nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống
đang được khôi phục và đầu tư phát triển, các nghề truyền thống cũng xuất hiện
thêm các nghề mới, trong số đó các làng nghề mà sản phẩm hiện nay đang được ưa
chuộng được sẽ ưu tiên đầu tư quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho ngành phát triển.
- Hoạt động dịch vụ NN - NT cũng ngày càng sôi động. Bên cạnh các hoạt
động dịch vụ của thành phần kinh tế Nhà nước thì hoạt động của các thành phần
kinh tế khác như kinh tế tập thể và HTX hoạt động tỏ ra có hiệu quả, đặc biệt hầu
hết các HTX đều đã tiến hành chuyển đổi và hoạt động dịch vụ tổng hợp (thuỷ lợi,
làm đất, giống, vật tư NN, thú y,...). Ngoài ra, thành phần kinh tế tư nhân cũng tham
gia vào các hoạt động dịch vụ NN chủ yếu ở các khâu vận tải, vật tư NN, thú y,...Vì
thế các thành phần kinh tế góp phần tích cực vào sự phát triển NN - NT tỉnh.
2.3.2. Những tồn tại
Mặc dù quá trình CDCCKT NN - NT Bình Dương đã đạt được những thành
tựu nhất định, tuy nhiên cũng còn bộc lộ một số hạn chế:
- Quá trình CDCC còn mang tính tự phát và chưa đồng đều giữa các vùng
trong tỉnh. Đặc biệt còn thể hiện sự thiếu đồng bộ giữa định hướng sản phẩm với
quy mô, địa bàn phát triển, giữa chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản, giữa yêu
cầu nâng cao chất lượng nông sản với việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật.
- Quy mô và nguồn vốn đầu tư còn hạn chế, chưa thu hút cao các nguồn đầu
tư từ bên ngoài cho phát triển NN - NT.
- Đất đai còn manh mún không thuận lợi cho SX hàng hóa và hình thành các
trang trại chuyên canh. Việc thực hiện “tích tụ ruộng đất” còn chậm, một số chính
sách về đất đai còn chưa tạo môi trường thuận lợi cho người đầu tư.
- Cơ sở hạ tầng NT tuy đã được cải thiện nhưng so với yêu cầu phát triển một
nền NN hàng hóa thì còn chưa đáp ứng được, tỉ lệ đường giao thông chưa được kiên
cố hóa còn nhiều, các cơ sở thương mại như chợ, kho bãi còn thiếu,...
- Quá trình CDCCKT NN - NT còn chú trọng nhiều đến hiệu quả kinh tế mà
chưa tiến hành kiểm soát và xử lí các tác động tiêu cực đến môi trường. Do đó, nhiều
nơi môi trường có hiện tượng ô nhiễm khá nghiêm trọng, đặc biệt là ở các làng nghề
tiểu thủ công nghiệp và ở những nơi phân bố các cơ sở chế biến lương thực, thực
phẩm.
CHƯƠNG III
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐẾN 2020
3.1. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
3.1.1. Quan điểm phát triển
3.1.1.1. Quan điểm phát triển kinh tế chung
- Bình Dương tập trung khai thác những lợi thế về vị trí địa lí, nắm bắt những
cơ hội phát triển lan tỏa ở các cực phát triển thành phố Hố Chí Minh, Đồng Nai, tác
động của sự phát triển cơ sở hạ tầng ở địa bàn vùng KTTĐPN tạo ra những bước
đột phá tăng trưởng về lượng và chất của nền kinh tế, tích cực CDCCKT theo
hướng CNH - HĐH.
- Chủ động hội nhập quốc tế nhằm thu hút vốn, công nghệ của các các nước
trên cơ sở đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tăng
nhanh số và chất lượng sản phẩm chủ lực của tỉnh, nhằm nhanh chóng tạo ra những
sản phẩm có chất lượng tham gia thị trường thế giới, trước hết là chú trọng thị
trường các nước trong khu vực ASEAN và mở rộng thị trường Nhật, châu Âu, Mỹ.
- Phát triển KT - XH, ưu tiên những lĩnh vực, ngành có lợi thế về lao động,
tài nguyên, nguyên liệu có sẵn trên địa bàn tỉnh và vùng nguyên liệu các tỉnh Tây
Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long,... nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và giải quyết
việc làm, tăng thu nhập và mức sống dân cư.
- Coi trọng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, khắc phục tình trạng xuống cấp,
thiếu đồng bộ của kết cấu hạ tầng hiện có, chuẩn bị tốt cho bước phát triển gia tốc sau.
- Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển các lĩnh vực y tế,
văn hóa, giáo dục,... nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
- Điều chỉnh tổ chức lãnh thổ, phát triển hệ thống đô thị gắn với phát triển
kết cấu hạ tầng, công nghiệp, dịch vụ và hình thành các khu công nghiệp hợp lí.
Phát triển NT, hạn chế bớt sự chênh lệch giữa thành thị và NT, chú trọng CNH NT.
- Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với tăng cường và củng cố quốc phòng,
an ninh, giữa phát triển với bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái.
3.1.1.2. Quan điểm phát triển nông nghiệp - nông thôn
- Khai thác tốt nhất các lợi thế và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên.
Xây dựng nền NN hiện đại, phát triển bền vững.
- NN tỉnh từng bước hội nhập với nền NN khu vực và thế giới, gia tăng sức
cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ NN ở thị trường trong nước và thế giới.
- Phát triển nông - lâm - thuỷ sản phải đi đôi với đẩy mạnh CDCCKT đưa
chăn nuôi sớm trở thành ngành SX chính với các vật nuôi chủ lực (lợn, bò thịt, bò
sữa, gà,...). Trồng trọt tập trung vào các loại cây công nghiệp lâu năm (cao su, điều,
hồ tiêu), cây ăn quả (măng cụt, bưởi,...), thuỷ sản và các loại thuỷ đặc sản.
- Chuyển nhanh mô hình NN truyền thống sang mô hình NN ven đô thị ở các
huyện phía Nam, chú trọng đầu tư thích đáng SX, chế biến các nông sản chủ lực.
- Phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề nhằm giải quyết
việc làm cho lao động NT. Chú trọng đào tạo nghề cho lao động NT.
3.1.2. Mục tiêu phát triển
- Phát triển ngành nông - lâm - thuỷ sản theo hướng bền vững, cung cấp hàng
hóa nông sản chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp và đô thị ngày càng cao,
phát triển kinh tế NT và xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại NN - NT.
- Tốc độ tăng trưởng ngành NN đạt bình quân 3,2%/năm thời kì 2006 - 2010,
3,4%/năm thời kì 2011 - 2015 và 3,6%/năm thời kì 2016 - 2020.
- Tỉ trọng của ngành NN có xu hướng giảm dần, đến năm 2010 chiếm 4,9%
GDP đến 2015 chiếm 3,4% GDP và 2020 chiếm 2,3% GDP.
- Cơ cấu nội bộ ngành NN chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng của ngành
lâm nghiệp và thuỷ sản. Tuy nhiên, tỉ trọng ngành NN chiếm phần lớn, năm 2010
đạt 90,0%, năm 2020 đạt 75,0% giá trị gia tăng của ngành nông - lâm - thuỷ sản.
- Ngành nông - lâm - thuỷ sản sẽ thu hút lao động đạt 20,0% năm 2010, năm
2015 đạt 14,0% và năm 2020 đạt 10,0% tổng số việc làm.
- Tiếp tục thực hiện “cánh đồng 50 triệu đồng” nhằm nâng cao diện tích cánh
đồng có doanh thu trên 50 triệu đồng năm 2010.
- Tỉ lệ che phủ thảm thực vật trên 80%.
- Kiên cố hóa 60% kênh mương nội đồng vào năm 2010 và 80% năm 2020.
- 100% số hộ NT sử dụng nước sạch và được cung cấp điện sinh hoạt ổn
định và có đủ các phương tiện nghe, nhìn. 100% hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh; 100%
chuồng trại, chăn nuôi có xử lí chất thải.
- Phổ cập giáo dục đúng độ tuổi, tăng cường công tác hướng nghiệp và đào
tạo nghề cho lao động NT, phấn đấu lao động NT đã qua đào tạo 50%.
3.2. ĐỊNH HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP -
NÔNG THÔN TỈNH BÌNH DƯƠNG
3.2.1. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành
3.2.1.1. Nhịp độ tăng trưởng và cơ cấu ngành
Từ thực tiễn trong phát triển KT - XH và NN - NT tỉnh, đồng thời dựa trên
những dự báo về bối cảnh và khả năng tăng trưởng kinh tế của cả nước, khu vực và
thế giới, phương hướng phát triển của nền kinh tế Bình Dương được đặt ra:
Bảng 3.1. Định hướng tăng trưởng nền kinh tế tỉnh Bình Dương đến 2020
Chỉ tiêu
2010
2015
2020
15,0
14,9
13,0
Tốc độ tăng trưởng GDP (%)
4,5
3,4
2,3
Cơ cấu
Nông nghiệp
(%)
65,5
62,9
55,5
Công nghiệp
30,0
33,7
42,2
Dịch vụ
[Nguồn: Tài liệu quy hoạch phát triển KT - XH tỉnh Bình Dương]
Trong cơ cấu GTSX NN (theo nghĩa rộng), tỉ trọng của ngành NN giảm dần
và tỉ trọng ngành lâm nghiệp và thuỷ sản tăng lên.
Bảng 3.2. Định hướng CCKT nông - lâm - thuỷ sản tỉnh Bình Dương đến 2020
Chỉ tiêu
2010
2015
2020
980
1.160
1.385
Gía trị SX (giá cố định 1994 - tỷ đồng)
Tốc độ tăng trưởng (%)
3,2
3,4
3,6
90,0
85,0
75,0
Cơ cấu
Nông nghiệp
(%)
4,0
5,0
6,0
Lâm nghiệp
6,0
10,0
19,0
Thuỷ sản
[Nguồn: Tài liệu quy hoạch phát triển KT - XH tỉnh Bình Dương]
Trong cơ cấu nội bộ ngành NN có sự định hướng theo xu hướng giảm tỉ trọng
ngành trồng trọt, tăng dần tỉ trọng ngành chăn nuôi và dịch vụ NN.
Bảng 3.3. Định hướng CCKT NN tỉnh Bình Dương đến 2020
( %)
Chỉ tiêu
2010
2015
2020
Tổng số
100,0
100,0
100,0
56,0
48,0
42,0
Trồng trọt
37,0
42,0
46,0
Chăn nuôi
7,0
10,0
12,0
Dịch vụ
[Nguồn: Tài liệu quy hoạch phát triển KT - XH tỉnh Bình Dương]
3.2.1.2. Định hướng phát triển ngành trồng trọt
Trong nội bộ ngành trồng trọt, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng với
triển vọng chung là phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả, rau sạch an toàn, hoa,
cây kiểng. Tuy nhiên, tỉnh vẫn phát triển theo hướng thâm canh diện lúa nước có
hiệu quả cao hơn trên diện tích phù hợp.
* Cây lương thực
Trong nhóm cây lương thực, cây lúa là chủ yếu nhưng cây lúa chưa bao giờ
là thế mạnh của tỉnh, tính hiệu quả kinh tế thấp nên diện tích canh tác lúa tỉnh sẽ
ngày càng thu hẹp để trồng các cây trồng khác có năng suất cao hơn. Do vậy, hướng
SX cây lúa 2020 là đảm bảo sự tăng trưởng không chỉ về lượng mà cả về chất trên
cơ sở khai thác hợp lí và nâng cao hiệu quả sử dụng đất bằng cách tăng vụ, tăng
năng suất và tăng cơ cấu gạo chất lượng cao.
Bảng 3.4. Dự báo một số chỉ tiêu cây lúa đến năm 2020
Chỉ tiêu
2010
2020
11.403
4.677
Diện tích (ha)
39,7
40,6
Năng suất (tạ/ha)
45.229
18.992
Sản lượng (tấn)
[Nguồn: Tài liệu quy hoạch phát triển KT - XH tỉnh Bình Dương]
Những vùng NN đất thấp ven các sông, suối huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến
Cát sẽ được đầu tư giống lúa cao sản, khoa học công nghệ, hoàn chỉnh hệ thống
thuỷ lợi, đảm bảo cung cấp nước.
* Cây thực phẩm, cây công nghiệp hàng năm
Với lợi thế của một địa bàn ven các thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa,
Vũng Tàu và các khu công nghiệp nên khả năng chế biến và xâm nhập vào thị
trường rất lớn. Tỉnh phát triển các giống rau đậu có chất lượng cao, an toàn
thực phẩm và hình thành vùng chuyên canh như vùng chuyên rau, màu thực
phẩm (TX. Thủ Dầu Một, huyện Bến Cát, huyện Tân Uyên), vùng chuyên canh
lạc xuất khẩu (TX. Thủ Dầu Một, xã Thới Hòa huyện Bến Cát).
Bảng 3.5. Dự báo một số chỉ tiêu cây rau, đậu đến năm 2020
Chỉ tiêu
2010
2020
9.184
14.135
Diện tích (ha)
Rau các loại
19,29
19,39
Năng suất (tạ/ha)
177.143
278.226
Sản lượng (tấn)
2.877
2.469
Diện tích (ha)
Đậu các loại
35,0
12,9
Năng suất (tạ/ha)
10.060
3.189
Sản lượng (tấn)
[Nguồn: Tài liệu quy hoạch phát triển KT - XH tỉnh Bình Dương]
Diện tích trồng rau tăng vì sẽ chuyển đất trồng lúa ven các sông, ven các
sang trồng rau. Năm 2010 diện tích chuyên trồng rau, màu là 600 ha; kết hợp với
diện tích luân canh rau + màu là 1.766 ha để đạt tổng sản lượng 180.000 tấn/năm.
Đến 2020, diện tích chuyên trồng rau (rau sạch, rau an toàn) là 1.200 ha. Trong cơ
cấu sản phẩm, tỉnh chú trọng phát triển các loại rau cao cấp và công nghệ sạch phục
vụ nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Đặc biệt quy mô SX các loại cây thực
phẩm có giá trị xuất khẩu cao sẽ được nhân rộng.
* Cây lâu năm
Cây công nghiệp lâu năm:
Cây cao su: giá cao su trên thị trường thế giới đang tăng nên cao su ở Bình
Dương tiếp tục được mở rộng diện tích. Những vùng đất trồng điều có năng suất
thấp, đất trồng hoa màu sẽ chuyển sang trồng cao su. Cây cao su phát triển theo
hướng thâm canh diện tích hiện có, thay thế cao su già cỗi, mở rộng diện tích mới
và chủ yếu là phát triển cao su tiểu điền. Đến năm 2010, diện tích cao su 110.000 ha
(diện tích cho sản lượng 88.000 ha), năng suất 17,4 tạ/ha và sản lượng 152.916 tấn
và giữ ổn định đến năm 2020.
Cao su tập trung trồng ở phía Bắc huyện Tân Uyên, Bến Cát, Phú Giáo và
Dầu Tiếng. Tỉnh thực hiện chuyển dịch cao su quốc doanh cho các hộ nông dân.
Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển cây cao su, tạo mọi điều
kiện để cây cao su trong tỉnh phát triển.
Cây hồ tiêu: Bình Dương tăng cường đầu tư vốn, khoa học kĩ thuật và mở
rộng diện tích SX. Đến năm 2010 diện tích 1.200 ha (diện tích cho sản phẩm 900
ha), sản lượng 2.187 tấn và giữ ổn định diện tích, sản lượng đến năm 2020. Cây hồ
tiêu tập trung trồng nhiều nhất ở huyện Bến Cát, huyện Phú Giáo và Dầu Tiếng.
Cây điều: có năng suất thấp (do đất xấu, giống thoái hóa, kĩ thuật chăm sóc
chưa đúng), giá bấp bênh, hiệu quả kinh tế rất thấp nên diện tích bị thu hẹp. Đến
năm 2010 diện tích còn 5.000 ha (diện tích cho sản phẩm 4.500 ha) và sản lượng
6250 tấn; đến năm 2020 diện tích còn 2.000 ha (diện tích cho sản phẩm 1.800 ha) và
sản lượng 2.428 tấn. Để đạt năng suất như trên, cây điều trồng thâm canh diện tích
đã có, trồng mới thay thế giống thoái hóa và trồng ở phía Bắc huyện Tân Uyên, Bến
Cát và còn trồng thêm ở rải rác ven đường, ven suối, quanh vườn hoặc trồng trong
đất lâm nghiệp như một phần cây rừng.
Cây ăn quả: với lợi thế là cửa ngõ thành phố Hồ Chí Minh, lại là vùng trái
cây truyền thống, Bình Dương ngoài việc cung cấp trái cây cho dân cư trong tỉnh
hoàn toàn có thể cung cấp trái cây cho thành phố Hồ Chí Minh với lợi thế cạnh
tranh khá hơn các tỉnh Đông Nam Bộ khác. Tại các khu công nghiệp Bình Dương
có khá nhiều doanh nghiệp chế biến thực phẩm có sử dụng nguyên liệu trái cây, đây
là những nguồn tiêu thụ khá lớn cho trái cây Bình Dương. Ngoài ra, cùng với sự
phát triển của ngành dịch vụ du lịch, nhu cầu trái cây cũng sẽ tăng theo. Bên cạnh
đó một số trái cây còn xuất khẩu sang các nước khác.
Các loại cây ăn quả chủ lực của Bình Dương như bưởi, cam, quýt, chanh (ở
tiểu vùng ven sông Đồng Nai), măng cụt, dâu, bòn bon, chuối, chôm chôm (ở tiểu
vùng ven sông Sài Gòn), sầu riêng, xoài (ở tiểu vùng Bắc Bến Cát), mít trồng khắp
các huyện. Các mô hình trồng cây ăn quả gồm: vườn cây ăn quả chuyên (chiếm
17%), vườn cây ăn quả 2 - 3 loại cây (chiếm 50%), cây ăn quả trong mô hình VAC
(chiếm 26%) và cây ăn quả trong mô hình du lịch sinh thái vườn (chiếm 17%).
Tổng diện tích cây ăn quả năm 2010 là 18.661 ha (diện tích cho sản phẩm 13.063
ha) và sản lượng 125.662 tấn; đến năm 2020 diện tích 20.651 ha (diện tích cho sản
phẩm 14.456 ha) và sản lượng 130.054 tấn.
Phát triển một số vùng chuyên canh cây ăn quả ở Tân Uyên, Bến Cát, Thuận
An. Quy hoạch một số vùng chuyên canh cây ăn quả ven sông ở các xã Vĩnh Phú
(Thuận An), xã Thạnh Phước (Tân Uyên) thành vùng du lịch sinh thái cảnh quan
kết hợp với các hoạt động du lịch - giải trí - nghỉ dưỡng cuối tuần.
* Hoa, cây cảnh, cỏ thức ăn gia súc
Nhu cầu tiêu thụ hoa, cây cảnh,... của nhân dân nhất là dân cư đô thị, công
sở, khách du lịch ngày một tăng; mặt khác, ven các khu đô thị, khu công nghiệp cần
có những thảm xanh trồng hoa, cây cảnh tạo cảnh quan và bảo vệ môi trường. Đến
năm 2010, diện tích trồng hoa, cây cảnh là 2.000 ha và năm 2020 là 4.000 ha.
Diện tích trồng cỏ thức ăn gia súc năm 2010 là 3.834 ha đến năm 2020 là
4.000 ha. Trồng các loại hoa phong lan, cúc, thược dược, hoa hồng, cây bonsai ở xã
Tân Bình (Dĩ An) và xã Tân Định (Bến Cát), TX. Thủ Dầu Một; cỏ làm thảm xanh
cho công viên, sân vườn, cỏ giống và cỏ thức ăn gia súc phát triển ở xã Tân Long
(Phú Giáo), xã Long Nguyên (Bến Cát), xã Long Tân (Dầu Tiếng).
3.2.1.3. Định hướng phát triển ngành chăn nuôi
Khai thác tối đa lợi thế của tỉnh về khả năng thức ăn, vị trí địa lí - kinh tế,
điều kiện ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật để phát triển mạnh chăn nuôi theo
hướng công nghiệp, tạo khối lượng sản phẩm lớn, chất lượng cao cung cấp cho thị
trường tiêu thụ tươi sống, chế biến và xuất khẩu. Từng bước chuyển biến cơ bản cả
về chất và lượng đưa chăn nuôi trở thành ngành SX chính, chiếm tỉ trọng ngày càng
cao trong cơ cấu NN (35 - 40% năm 2010, 45 - 50% năm 2020).
Bảng 3.6. Chỉ tiêu phát triển một số vật nuôi tỉnh Bình Dương đến năm 2020
Chỉ tiêu
Đơn vị
2006
UK 2008
UK 2009 UK2010 UK 2020
298.927
397.600
440.200
490.000
320.000
Con
Lợn
Sản lượng lợn hơi
41.756
86.219
93.907
101.880
68.660
Tấn
11.196
15.220
15.300
15.500
16.400
Con
Trâu
Sản lượng thịt trâu
1.638
1.169
1.187
1.160
1.300
Tấn
32.00
44.408
44.500
46.900
49.000
Con
Bò
Sản lượng thịt bò
2.630
4.897
4.880
4.950
4.890
Tấn
Sản lượng sữa tươi
10.400
18.800
22.100
25.200
19.550
Tấn
1.930.449
2.270.000 2.390.000 2.530.000 2.300.000
Con
Gà
Vịt
91.715
120.000
122.000
126.000
118.000
Con
Sản lượng thịt gia cầm
5.740
6.000
6.310
6.640
6.080
Tấn
Trứng gia cầm
48.790
58.830
62.130
65.860
59.520
1.000 quả
[Nguồn: Tài liệu quy hoạch phát triển KT - XH tỉnh Bình Dương]
Chăn nuôi lợn: phát triển theo hướng chọn lọc, nâng cao chất lượng giống
nội đã được phát triển hiện nay, tăng tỉ lệ giống lai, giống ngoại. Cải tạo đàn theo
hướng tăng tỉ lệ nạc, giảm tỉ lệ mỡ, đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu. Phát triển
mạnh mô hình chăn nuôi trang trại ở các huyện Tân Uyên, Bến Cát, Phú Giáo.
Chăn nuôi trâu: cung cấp thịt cho nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Xây
dựng và phát triển trung tâm nuôi trâu có khả năng cung cấp các giống trâu tốt. Đàn
trâu có khoảng 15.500 con (10% tổng số trâu của vùng Đông Nam Bộ).
Chăn nuôi bò: cùng với quá trình cơ giới hóa, chăn nuôi bò trong tỉnh giảm
tỉ trọng bò kéo, tăng tỉ trọng bò thịt và bò sữa, chủ yếu là bò lai sind. Quy mô đàn
bò sữa mở rộng, để cung cấp sữa cho các khu đô thị trong tỉnh và đưa ra ngoài tỉnh,
đồng thời cung cấp cho CNCB sữa trong tỉnh, tăng thêm giá trị của sản phẩm NN.
Cải tạo đàn bò bằng cách chọn lọc, loại thải và thay thế giống bò phát triển chậm,
có trọng lượng thấp. Tổng đàn bò khoảng 49.000 con (20,0% tổng đàn bò cả vùng
Đông Nam Bộ). Xây dựng mô hình trang trại chăn nuôi bò chuyên canh, tập trung
SX hàng hóa ở những địa bàn có điều kiện tốt, chủ yếu ở các huyện Tân Uyên, Bến
Cát, Phú Giáo và Dầu Tiếng.
Chăn nuôi gia cầm: phát triển mạnh đàn gà, vịt cung cấp trứng, thịt. Gà nuôi
theo mô hình trang trại với phương thức công nghiệp và bán công nghiệp. Tổng đàn
gà 2.530.0000 con, đàn vịt cũng tăng nhanh nhất là vịt ngoại siêu thịt, siêu trứng.
Hình thành các vùng SX hàng hóa gà, vịt ở các huyện Tân Uyên, huyện Bến Cát và
huyện Phú Giáo.
Chăn nuôi khác: chim cảnh, thú cảnh,... cũng được quan tâm phát triển về
quy mô đàn.
3.2.1.4. Định hướng phát triển ngành thuỷ sản
Thuỷ sản không là thế mạnh của Bình Dương, tuy nhiên phát triển mạnh
nuôi thuỷ sản nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tỉnh và các thành phố.
Nuôi thuỷ sản theo hướng tăng tỉ trọng sản phẩm thuỷ sản ngày càng cao trên
cơ sở đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, tạo ra hàng hóa có chất lượng
cao, sản lượng hàng hóa tham gia thị trường ngày càng nhiều. Tỉ trọng thuỷ sản
trong GDP nông - lâm - thuỷ sản năm 2010 đạt 2% và năm 2020 đạt 4%.
Bảng 3.7. Dự báo một số chỉ tiêu phát triển thuỷ sản nuôi tỉnh Bình Dương đến 2020
Chỉ tiêu
2010
2020
Diện tích nuôi (ha)
3.295
5.861,4
Sản lượng nuôi (tấn)
4.227,5
6.408,02
Diện tích (ha)
1.498
2.400
Nuôi trong ao, đầm
Sản lượng (tấn)
2.247
3.600
Diện tích (ha)
1.700
2.514,4
Nuôi trong mô hình VAC
Sản lượng (tấn)
1.360
2.012
Diện tích (ha)
590
810
Nuôi trong vườn du lịch sinh
thái
Sản lượng (tấn)
472
648
Diện tích (ha)
137
137
Nuôi trong hồ chứa
Sản lượng (tấn)
68,5
68,5
Diện tích (ha)
100
100
Nuôi cá bè
Sản lượng (tấn)
80
80
200
200
Ương cá bột (triệu con)
[Nguồn: Tài liệu quy hoạch phát triển KT - XH tỉnh Bình Dương]
Ngoài một số loài thuỷ sản nước ngọt truyền thống như cá rô phi, cá chép, cá
tra, cá mè trôi, cá trắm cỏ,... còn chú trọng phát triển một số loài là đặc sản của địa
phương để tạo sản phẩm đáp ứng tốt nhất thị hiếu tiêu dùng của thị trường trong
nước và xuất khẩu như cá lóc, cá rô đồng, cá tai tượng, các thát lát, cá lăng, cá
chình,... Trong mô hình VAC và đặc biệt vườn du lịch sinh thái phát triển mạnh các
loại thuỷ đặc sản như cá sấu, ba ba, lươn, ếch, các loại cá cảnh,...
3.2.1.5. Định hướng phát triển ngành lâm nghiệp
Tăng tỉ trọng GTSX lâm nghiệp trong cơ cấu nông - lâm - thuỷ sản, đạt 4%
GDP năm 2010 và 6,0% năm 2020. Đẩy mạnh công tác trồng cây gây rừng, tăng tỉ
lệ che phủ tạo “lá phổi xanh” cho đô thị và các khu công nghiệp, cải thiện môi
trường sinh thái, tạo cảnh quan du lịch, cung cấp gỗ dân dụng và công nghiệp. Tổng
diện tích đất lâm nghiệp sẽ giảm không đáng kể năm 2010 là 18.456 ha (chiếm
6,85% DTTN) và đến năm 2020 khoảng 18.405 ha (chiếm 6,8% DTTN).
Phân theo địa bàn các huyện: huyện Phú Giáo 8.103 ha, huyện Tân Uyên
6.208 ha, huyện Dầu Tiếng 4.145 ha.
Phân theo đơn vị quản lí dự án:
Tỉnh quản lí: 17.956 ha gồm lâm trường Phú Bình (Phú Giáo) 8.103 ha,
Ban quản lí Rừng phòng hộ Núi Cậu Dầu Tiếng 4.053 ha, rừng phòng hộ môi
trường cảnh quan An Lập 92 ha, Ban quản lí Rừng Tân Uyên 5.708 ha
Trung ương quản lí: 500 ha (Trường LNTW3)
Phân theo cơ cấu loại rừng:
Rừng phòng hộ: 4.145 ha (thuộc Núi Cậu xã An Lập)
Rừng SX: 14.311 ha (thuộc lâm trường Phú Bình và Ban quản lí rừng huyện
Tân Uyên quản lí).
Hàng năm, tỉnh phát động phong trào trồng cây trong nhân dân nhằm hưởng
ứng Tết trồng cây do Bác Hồ khởi xướng, tổng số cây trồng phân tán 4.000.000 cây
(khoảng 2.000 ha), bình quân trồng 500.000 cây/năm.
3.2.1.6. Định hướng phát triển ngành dịch vụ nông nghiệp
Đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ kĩ thuật SX trên cơ sở tăng cường năng lực
hoạt động của các cơ sở Nhà nước (trung tâm giống cây trồng, giống gia súc, thuỷ
sản, các chi cục thú y, các công ty cơ điện NN,...) đồng thời phát huy khả năng của
các cơ sở ngoài quốc doanh tham gia vào hoạt động dịch vụ kĩ thuật như SX, cung
ứng các giống đủ tiêu chuẩn, chất lượng cho phát triển trồng trọt và chăn nuôi,
phòng ngừa dịch bệnh cho cây trồng - vật nuôi, cơ giới hóa khâu làm đất, vận
chuyển, quản lí và cấp nước cho SX đúng với yêu cầu kĩ thuật,... Phát triển mạnh
các hoạt động dịch vụ kĩ thuật cả về bề rộng lẫn chiều sâu sẽ tạo sức thúc đẩy tích
cực tới việc nâng cao hiệu quả SX, nâng cao sức lao động, đáp ứng với nhu cầu
chuyển đổi cơ cấu NN theo hướng CNH.
Phát triển rộng hệ thống vật tư kĩ thuật, đảm bảo cung ứng kịp thời các loại
vật tư SX (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,...). Đặc biệt chú trọng nâng cao
chất lượng dịch vụ, cung ứng vật tư đúng tiêu chuẩn, chủng loại tránh gây thiệt hại
cho người SX. Các doanh nghiệp cung ứng vật tư của Nhà nước cần phát huy vai
trò chủ đạo, đổi mới phương thức kinh doanh dịch vụ, gắn hiệu quả kinh doanh với
hiệu quả SX của khách hàng thông qua định hướng SX các nông sản có sức cạnh
tranh trên thị trường, hướng dẫn, môi giới hoặc trực tiếp kí kết hợp đồng tiêu thụ
sản phẩm với người SX, phát triển mạnh mạng lưới đại lí cung ứng vật tư và tiêu
thụ nông sản, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển NN và hoạt động NN.
Đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, tìm kiếm thị trường, thu hút đầu tư SX gắn
với tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt chú trọng mở rộng thị trường NT thông qua nâng
cấp, phát triển hệ thống chợ NT. Hình thành các chợ buôn bán đầu mối và các trung
tâm thương mại dịch vụ ở các thị tứ, thị trấn, các vùng nông sản tập trung nhằm đẩy
nhanh quá trình lưu thông sản phẩm, tạo môi trường để các hoạt động dịch vụ
thương mại, dịch vụ đời sống NT phát triển mạnh và ổn định. Đến năm 2020 mỗi xã có ít nhất 2 chợ diện tích 1.000m2; trong đó, chia làm hai khu: khu bán hàng nông
sản và khu bán hàng công nghệ phẩm, vật tư NN, kim khí điện máy,.... Các chợ đầu
mối ở huyện TX. thủ Dầu Một, Tân Uyên và huyện Bến Cát sẽ tiếp tục phát huy vai
trò là những đầu mối giao lưu hàng hóa giữa các vùng chuyên canh với thị trường
và là cầu nối giữa người SX với người tiêu dùng.
Củng cố đi đôi với việc phát triển các HTX dịch vụ NN trên cơ sở đổi mới và
mở rộng các nội dung hoạt động, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm
dịch vụ (cả tổng hợp và dịch vụ chuyên ngành) với quy mô phù hợp, đảm bảo cho
các hoạt động dịch vụ ngày càng hiệu quả. Các HTX dịch vụ thực sự trở thành
những đầu mối quan trọng ở cơ sở làm cầu nối cho các hoạt động SX, tiêu thụ sản
phẩm và phục vụ đời sống NT. Giá trị hoạt động dịch vụ sẽ chiếm 7,0% GTSX NN
(năm 2010) tăng lên 12,0% GTSX NN (năm 2020).
3.2.2. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo lãnh thổ
Trong giai đoạn phát triển NN Bình Dương những năm tiếp theo sự phân hóa
theo lãnh thổ ngày càng rõ nét. Mỗi vùng sẽ phát huy những lợi thế của mình để
phát triển SXNN theo hướng SX hàng hóa, các vùng chuyên canh, vùng trọng điểm
SX sẽ được hình thành và đầu tư phát triển. Đặc biệt tính chuyên môn hóa trong SX
theo lãnh thổ ngày càng cao. Các vùng sẽ chỉ tiến hành SX các nông sản thế mạnh
của mình, SX nông sản xuất khẩu, các nông sản có hiệu quả kinh tế thấp sẽ dần
giảm tỉ trọng trong cơ cấu nông sản của Bình Dương.
Trong quy hoạch phát triển và định hướng CDCCKT NN Bình Dương từ nay
đến 2020 sẽ tiếp tục phát triển 3 vùng NN hiện nay theo hướng ngày càng chuyên
môn hóa SX.
3.2.2.1. Vùng NN 1
Đây là vùng giáp thành phố Hồ Chí Minh, có cơ sở hạ tầng, giao thông khá
thuận lợi vì thế xu thế phát triển trong giai đoạn đến 2020 là tiếp tục phát triển theo
hướng của một nền NN ven đô.
Trồng các loại rau sạch, cây thực phẩm, cây hoa, cây cảnh, một số cây ăn quả
sẽ tiếp tục được chú trọng đầu tư phát triển phục vụ cho nhu cầu các đô thị, các khu
công nghiệp trong và ngoài tỉnh. Các cây thực phẩm, rau, đậu sẽ phát triển thành
những vùng chuyên. Ngoài các cây cảnh, hoa truyền thống như cây mai, thược
dược, bonsai,... sẽ đầu tư nghiên cứu thêm các cây có giá trị kinh tế cao như hoa
phong lan và một số hoa quý khác, hình thành các vùng cây cảnh trong khu vực TX.
Thủ Dầu Một và huyện Thuận An. Các cây ăn quả đang được thị trường ưa chuộng
đặc sản như măng cụt, bưởi da xanh, dâu, bòn bon,... phát triển với quy mô lớn dưới
hình thức các trang trại kết hợp với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cuối tuần ở khu
vực Cầu Ngang - Lái Thiêu huyện Thuận An, Bạch Đằng huyện Tân Uyên.
Trong chăn nuôi, vùng hạn chế chăn nuôi gia súc, gia cầm có quy mô lớn,
khuyến khích nuôi các loài chim cảnh, thú cảnh, cá giống, cá cảnh và các loài thuỷ
sản đặc sản trong mô hình vườn du lịch sinh thái.
Tập trung đầu tư và mở rộng hệ thống các chợ nông sản, đặc biệt là chợ đầu
mối chợ Đình (TX. Thủ Dầu Một). Hiện nay chợ đầu mối này đang chiếm một vai
trò quan trọng trong phân phối và tiêu thụ nông sản từ Bình Dương đến các tỉnh
khác trong vùng Đông Nam Bộ.
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp sẽ được lựa chọn và phát triển những
ngành nghề có khả năng giải quyết được việc làm, tăng thu nhập cho người dân và ít
gây ảnh hưởng đến môi trường như gốm sứ mỹ nghệ, sơn mài, điêu khắc,....
3.2.2.2. Vùng NN 2
Các điều kiện tự nhiên và KT - XH của vùng có thể phát triển vùng chuyên
canh lúa + cá, rau đậu thực phẩm và cây ăn quả, phát triển mô hình trồng cỏ thức ăn
gia súc. Do địa hình thấp và ảnh hưởng của nước mọi nên vùng phát triển mạnh cây
lúa ven sông Đồng Nai, các suối với những giống lúa tốt và kĩ thuật SX hiện đại
nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực cho dân cư trong tỉnh. Phát triển mạnh mô hình
VAC, hình thành các vùng chuyên canh, khu NN công nghệ cao Tân Ba 30 ha ở xã
Thái Hòa hướng SX các loại rau sạch, khu NN công nghệ cao xã Bạch Đằng với
diện tích 100 ha, hướng SX bưởi đặc sản.
Về chăn nuôi trâu, bò thịt và bò sữa, lợn, gia cầm dựa trên cơ sở nguồn thức
ăn phong phú từ ngành trồng trọt và chăn nuôi theo mô hình VAC, trang trại.
Thuỷ sản trong vùng phát triển mạnh trong các mô hình nuôi cá bè trên sông,
mô hình VAC, nuôi ao, hầm. Ngoài ra, có một số diện tích ruộng trũng có thể phát
triển nuôi thuỷ sản theo hình thức lúa + cá.
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp của vùng hiện tại rất phát triển, đặc biệt
là loại hình các làng nghề thủ công truyền thống như gốm sứ, gạch, cát, đan mây tre
lá, tráng bánh tráng. Tuy nhiên, các làng nghề này hiện tại trình độ SX còn lạc hậu,
quy mô nhỏ, manh mún, thị trường tiêu thụ còn hạn chế và khả năng gây ô nhiễm
môi trường rất lớn. Vùng chú trọng đầu tư HĐH các làng nghề và tìm kiếm thị
trường, mở rộng tiêu thụ cho sản phẩm.
3.2.2.3. Vùng NN 3
Vùng có lợi phát triển ngành trồng trọt và chăn nuôi với quy mô lớn. Diện tích
đất đai rộng lớn nên thuận lợi cho việc phát triển các trang trại trồng cây công nghiệp,
cây ăn quả và các trang trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn theo hướng công nghiệp.
Vùng đang phát triển một nền NN có hệ số đa dạng cao, hình thành khu NN
công nghệ cao An Điền tại xã An Điền huyện Bến Cát với diện tích 20 ha sẽ tập
trung SX các loại cây ăn quả, rau sạch, hoa, cây cảnh. Các nông sản hàng hóa ưu
thế của vùng hiện tại là cây công nghiệp ngắn ngày, cây công nghiệp lâu năm, cây
ăn quả, bò sữa, bò thịt, lợn, gà công nghiệp và gà thả vườn.
Trong những năm tiếp theo, cây công nghiệp lâu năm (cao su, hồ tiêu) và cây
ăn quả (mít, nhãn) vẫn tiếp tục được xác định là thế mạnh của vùng. Để nâng cao
diện tích canh tác các loại nông sản thế mạnh trên cần chú trọng giảm diện tích
vườn tạp và cây trồng có năng suất thấp (cây điều, đất trồng hoa màu) và đồng thời
cũng đầu tư cho khoa học công nghệ để phát triển theo hướng thâm canh.
Trong chăn nuôi tập trung phát triển chăn nuôi bò thịt, bò sữa, lợn, gà công
nghiệp và gà thả vườn theo hướng công nghiệp. Các trang trại chăn nuôi đầu tư và
áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong chăn nuôi. Tuy nhiên, phần lớn các
trang trại chăn nuôi lợn, gà chưa xử lí nước thải nên gây ô nhiễm môi trường.
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trong vùng như điêu khắc, chạm trổ,
chế biến thực phẩm (nước tương, muối tiêu, bột mì, mít sấy,...) giải quyết được lao
động cho một bộ phận dân cư khá lớn, đặc biệt dân cư NT góp phần tăng thu nhập
và nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư.
Vùng luôn đẩy mạnh công tác trồng rừng, khoanh nuôi và bảo vệ rừng. Các
sản phẩm lâm sản: gỗ các loại, tre, nứa phục vụ cho ngành CNCB gỗ, đồ gia dụng,...
3.2.3. Định hướng cơ cấu kinh tế nông thôn và phát triển các ngành nghề nông
thôn để giải quyết việc làm
3.2.3.1. Định hướng cơ cấu kinh tế nông thôn
CCKT NT sẽ chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch
vụ, giảm tỉ trọng NN. Tỉ trọng công nghiệp - dịch vụ - NN trong GDP NT là: 40%
40% - 20% - 40% (năm 2010) và 55% - 30% - 15% (năm 2020).
Chú trọng khôi phục và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khắp
các địa phương trong tỉnh, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa các trung tâm đô thị - công
nghiệp với các vùng NT làm động lực thúc đẩy quá trình CNH NN - NT. Cụ thể là:
- Trong giai đoạn 2020, các ngành SX chú trọng và khuyến khích đầu tư phát
triển như gốm sứ, sơn mài, điêu khắc, sơ chế và chế biến nông sản,... Đặc biệt coi
trọng phát triển hàng thủ công mỹ nghệ: gốm sứ, sơn mài, đồ gỗ nội thất.
- Hình thành các khu, cụm công nghiệp phục vụ phát triển ngành tiểu thủ
công nghiệp tại các thị trấn, thị tứ, các cụm dân cư NT, các làng nghề,... nhất là dọc
các trục giao thông quan trọng thuận lợi cho lưu thông - tiếp thị sản phẩm và tạo
việc làm, thu hút lao động dư thừa trong khu vực NT (cả thời vụ và thường xuyên).
- Ưu tiên phát triển các cơ sở quy mô vừa và nhỏ với công nghệ phù hợp
nhằm đáp ứng yêu cầu SX các mặt hàng chất lượng cao, phục vụ xuất khẩu. Khôi
phục, củng cố, mở rộng các làng nghề truyền thống, tiếp nhận và phát triển một số
ngành nghề mới theo hướng gia công, sơ chế cho các khu công nghiệp tập trung.
Việc phát triển công nghiệp - ngành nghề NT gắn liền với xử lí ô nhiễm, vệ sinh
môi trường làm cơ sở đảm bảo SX bền vững.
- Khuyến khích, hỗ trợ, mở mang ngành nghề trong khu vực NT, đặc biệt các
ngành nghề mới, áp dụng công nghệ tiên tiến, sản phẩm phục vụ xuất khẩu và thị
trường cao cấp, các ngành nghề sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu tại chỗ.
3.2.3.2. Phát triển các ngành nghề ở NT để giải quyết việc làm
Hàng năm sẽ giải quyết việc làm thường xuyên cho 28.000 lao động trong
NN, đưa tỉ lệ quỹ sử dụng thời gian lao động thường xuyên trong năm của khu vực
dân cư NT lên khoảng 87% năm 2010 và 99% năm 2020, gắn liền với việc giảm tỉ
lệ lao động trong NN xuống còn 20% năm 2010; 14% năm 2015; 10% năm 2020.
Hướng thực hiện như sau:
- Trong SXNN sẽ chuyển đổi hàng nghìn ha đất lúa, cây trồng có năng suất
thấp sang các cây hàng hóa lâu năm, cây hàng hóa ngắn ngày (rau sạch, cây thực
phẩm, cây hoa, cây cảnh,...) theo hướng đẩy mạnh thâm canh, khả năng thu hút lao
động thường xuyên lên khoảng 14.000 lao động. Trong chăn nuôi, tăng quy mô đàn
gia súc, gia cầm theo phương thức tập trung của kinh tế trang trại theo hướng công
nghiệp sẽ tạo thêm việc làm thu hút khoảng trên 10.000 lao động thường xuyên.
- Phát triển các ngành nghề, dịch vụ NT có khả năng tạo thêm việc làm thu
hút khoảng 3.000 lao động.
- Đồng thời các hoạt động kinh tế khác ở NT như công nghiệp, xây dựng,
giao thông vận tải và các dịch vụ khác cũng có khả năng giải quyết việc làm cho
khoảng 20.000 lao động.
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN
Để thực hiện các mục tiêu phát triển NN - NT tỉnh Bình Dương đến năm
2020, tỉnh phải thực hiện hàng loạt các giải pháp tích cực và đồng bộ, trong đó quan
trọng là một số giải pháp:
3.3.1. Đào tạo - bố trí sử dụng nhân lực
Nhân lực là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình phát triển KT - XH nói
chung và trong quá trình CDCCKT NN - NT nói riêng. Vì thế cần hết sức coi trọng
vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt ở Bình Dương lao động trong
lĩnh vực NN - NT có trình độ văn hóa, trình độ kĩ thuật SX, trình độ quản lí theo
kinh tế thị trường, hiểu biết về pháp luật,... tương đối tốt nhưng cũng còn nhiều hạn
chế. Để có thể tiến hành CDCCKT NN - NT theo hướng CNH - HĐH cần có những
chính sách cụ thể để phát triển chất lượng nguồn nhân lực; cần có kế hoạch hỗ trợ
ngân sách để không ngừng nâng cao tỉ lệ lao động trong NN - NT đã qua đào tạo.
Các chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh cần thực hiện:
- Tiến hành đào tạo, nâng cao kĩ thuật SX, đặc biệt là các kĩ thuật SX hiện
đại qua các hình thức: mở các khóa tập huấn tập trung, mô hình trình diễn, hội thảo
đầu bờ, sinh hoạt hội, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, hướng
dẫn tại một số cơ sở SX tiêu biểu, đọc tài liệu ở thư viện xã, đọc tờ rơi, tổng kết và
giới thiệu các mô hình nông dân giỏi cho các nông dân khác học tập,... Đặc biệt đối
với các nông sản mới được đưa vào SX cần tiến hành hướng dẫn và tập huấn kĩ
thuật SX, thu hoạch, bảo quản và chế biến sản phẩm cho người lao động. Ngoài ra,
quá trình CNH - HĐH NN - NT cũng sẽ làm xuất hiện các phương tiện, thiết bị kĩ
thuật hiện đại. Do đó, cần cung cấp cho người SX những hiểu biết nhất định về các
trang thiết bị để người dân mạnh dạn đầu tư và áp dụng trong SX và để quá trình sử
dụng các trang thiết bị ít gặp rủi ro, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
- Nâng cao trình độ quản lí vì hiện nay trình độ quản lí của đội ngũ cán bộ
quản lí trong lĩnh vực NN - NT còn có nhiều hạn chế. Một bộ phận lớn cán bộ NN
cấp cơ sở còn chưa qua đào tạo hoặc chỉ được đào tạo ở trình độ trung cấp. Đây là
một khó khăn lớn cho quá trình phát triển NN hiện đại theo hướng SX hàng hóa,
khó khăn cho phát triển đa dạng ngành nghề SX và HĐH NT. Ngoài ra, trên địa bàn
NT Bình Dương đã xuất hiện và phát triển các cơ sở SX quy mô lớn và hiện đại nên
cần đào tạo nâng cao năng lực quản lí SX của các chủ SX.
- Có chính sách ưu đãi nhằm thu hút nhân tài hoạt động trong lĩnh vực NN -
NT. Xây dựng được một lực lượng lao động có trình độ khoa học kĩ thuật làm nòng
cốt cho quá trình phát triển và CDCCKT NN - NT trong xu thế phát triển hiện nay.
- Chú trọng giáo dục, đào tạo cho thế hệ trẻ của khu vực NT từ mẫu giáo,
tiểu học cho đến các bậc phổ thông; giảm đến mức thấp nhất sự chênh lệch về điều
kiện và chất lượng giáo dục giữa NT và thành thị. Đồng thời coi trọng công tác
hướng nghiệp và dạy nghề các đối tượng đặc biệt là thanh niên NT, hướng các em
theo học các chuyên ngành về NN (trồng trọt, chăn nuôi, quản lí SXNN,...) tại các
trường đại học Nông lâm của thành phố Hồ Chí Minh, trường trung học Nông lâm
của tỉnh Bình Dương.
Mục đích cuối cùng của đào tạo nhân lực cho lĩnh vực NN - NT Bình Dương
là đào tạo những con người cụ thể phù hợp với từng lĩnh vực, từng công việc:
- Nguồn nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng về quản trị kinh doanh, kế
hoạch, tài chính, kế toán, thương mại, về kĩ thuật trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp,
thuỷ sản. Nguồn nhân lực này có thể phân bố ở các đơn vị quản lí thuộc tỉnh, huyện,
xã, thôn, ấp để phục vụ cho mục đích phát triển NN - NT theo hướng CNH - HĐH.
- Nguồn nhân lực có trình độ trung cấp chuyên sâu về kinh tế, kĩ thuật cây
trồng - vật nuôi. Đây được coi là lực lượng chủ chốt về kinh tế, kĩ thuật cho các
trang trại, các HTX, các câu lạc bộ nhà nông,...
- Nguồn nhân lực thành thạo về nghề chuyên sâu như thành thạo trồng một
loại cây, nuôi một loại con hoặc chế biến một loại nông sản.
3.3.2. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn
CDCCKT NN - NT là quá trình lâu dài, diễn ra nhanh hay chậm tùy thuộc
vào mức độ đầu tư vật chất, tài chính, trong đó vốn đầu tư là tiền đề cần thiết của
quá trình này.
Bảng 3.8. Dự báo nguồn vốn đầu tư cho NN tỉnh Bình Dương
Nông nghiệp
2006 - 2010 2011 - 2015 2016 - 2020 2006 - 2020
1.908
2.291
2.870
7.067
Tổng vốn đầu tư (giá hiện hành: tỷ đồng)
2,7
1,6
1,5
2,7
Tỉ lệ trong tổng vốn đầu tư xã hội (%)
[Nguồn: Báo cáo quy hoạch tổng thể KT - XH tỉnh Bình Dương đến năm 2020]
Nguồn vốn tự có của nền kinh tế tỉnh chỉ có thể đáp ứng tối đa 60% nhu cầu
cho SXNN. Phần còn lại huy động từ nhiều nguồn khác nhau như vay tín dụng, hợp
tác liên doanh, vốn đầu tư từ bên ngoài. Do vậy, tỉnh phải khai thác tối đa nội lực để
thu hút mạnh mẽ nguồn đầu tư từ bên ngoài.
- Phát huy lợi thế vị trí địa lí - kinh tế để huy động khả năng đầu tư mọi
thành phần kinh tế, coi trọng mọi hình thức và quy mô đầu tư cho phát triển SXNN
và tăng cường cơ sở hạ tầng NT. Đặc biệt chú trọng phát huy mọi nguồn lực đầu tư
trong dân đồng thời đẩy mạnh việc tìm kiếm, thu hút đầu tư từ bên ngoài.
- Đẩy mạnh cải cách thủ tục và tạo môi trường đầu tư phát triển thuận lợi
nhằm gia tăng khả năng thu hút vốn đầu tư và đảm bảo cho sự đầu tư phát triển bền
vững vào lĩnh vực NN - NT.
- Tranh thủ các chương trình hợp tác quốc tế và đầu tư nước ngoài với các
hình thức thích hợp phát triển cơ sở hạ tầng và SX kinh doanh, đặc biệt đối với các
lĩnh vực ứng dụng khoa học công nghệ mới, chế biến và bảo quản sản phẩm, SX
giống và lai tạo giống, SX thức ăn chăn nuôi.
Chú trọng đầu tư vào phát triển các mục tiêu trọng yếu: CNCB, phát triển
nông sản có chất lượng cao cho xuất khẩu, đổi mới công nghệ (đặc biệt là công
nghệ SX giống và các khâu sau thu hoạch), phổ biến ứng dụng các tiến bộ khoa học
công nghệ trong SX,... Thực hiện đầu tư lồng ghép các chương trình, mục tiêu, các
dự án tạo hiệu quả tổng hợp trong đầu tư trên địa bàn NT.
Đối với ngân sách tỉnh, hàng năm cần tăng tỉ trọng cho đầu tư xây dựng cơ
bản trong NN - NT đi đôi với đảm bảo yêu cầu đầu tư tập trung các dự án ưu tiên,
tạo cơ sở cho sự phát triển nhanh và ổn định SX và đời sống khu vực NN - NT. Cần
chuyển đổi mạnh cơ cấu cho vay vốn tín dụng, tăng cường cho vay trung và dài hạn
đáp ứng với mục tiêu chuyển đổi CCKT và phát triển quy mô hàng hóa tập trung.
3.3.3. Phát triển, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ
- Trên cơ sở tăng cường năng lực hoạt động của các cơ sở trong tỉnh trung
tâm nghiên cứu và ứng dụng giống cây trồng - vật nuôi, cơ sở ứng dụng khoa học
công nghệ sinh học; công nghệ cây cảnh, công nghệ chế biến lượng thực, thực
phẩm,... Tạo mọi điều kiện để các kết quả nghiên cứu ở các cơ sở nghiên cứu có thể
ứng dụng vào thực tế SX ở các địa phương. Cần chú trọng khảo nghiệm, lựa chọn
để đưa các giống mới sản phẩm mới phù hợp với các điều kiện thực tiễn vào SX
trên địa bàn từng vùng và toàn tỉnh. Tiêu chuẩn giống tốt trước hết phải có năng
suất và chất lượng cao, chống chịu được các điều kiện ngoại cảnh địa phương,
kháng bệnh, đạt tiêu chuẩn hàng nông sản xuất khẩu (nông sản sạch).
Việc chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, cần ưu tiên cho giống cây trồng
trong những mô hình mới chuyển đổi (rau, cây ăn quả, cây cảnh, bò thịt, bò sữa, gà,
tôm, cá, chim cảnh, thú cảnh, cá cảnh,...), giảm bớt nghiên cứu và ứng dụng về
giống lúa, mía, khoai mì,... Sử dụng màng phủ nilon, xây dựng nhà lưới, nhà kính,
áp dụng phương pháp tiết kiệm nước tưới, hạn chế tình trạng rửa trôi, xói mòn đất
và cạnh tranh của cỏ dại, tận dụng ánh sáng,... trong SX rau sạch, rau an toàn.
Phòng trừ sâu bệnh theo phương pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (IMP) sẽ giảm
chi phí 0,2 - 0,3 triệu đồng/ha, năng suất sẽ cao hơn năng suất canh tác cũ. Trong
trồng cây cao su nên sử dụng máng chắn miệng cạo cho cây nhằm bảo vệ cây.
Trong chăn nuôi, nhập các giống vật nuôi thuần chủng (bò sind, lợn nái
ngoại thuần) và tiến hành nhân giống để đưa vào SX. Nhân rộng kiểu chuồng chăn
nuôi bò, lợn công nghiệp và bán công nghiệp vào các hộ, trang trại. Áp dụng rộng
rãi những tiến bộ khoa học kĩ thuật trong mô hình VAC, đặc biệt kĩ thuật xây dựng
và sử dụng hầm Biogas, ứng dụng cơ giới hóa hầu hết các khâu trong SXNN.
Trong lâm nghiệp phải đầu tư xây dựng kết cầu hạ tầng phục vụ lâm nghiệp
như điện, nước, giao thông, y tế, văn hóa, giáo dục,... Nghiên cứu khoa học và cơ
chế chính sách phát triển lâm nghiệp như vốn, công nghệ và tiến hành giao đất, giao
rừng cho hộ nông dân quản lí với sự giám sát của Nhà nước, thực hiện tốt chương
trình trồng rừng của Nhà nước.
- Đưa nhanh các tiến bộ sau thu hoạch và áp dụng rộng rãi quy mô phù hợp
với từng yêu cầu bảo quản chế biến của kinh tế nông hộ, kinh tế trang trại, các đầu
mối chế biến nhằm giảm tỉ lệ hao hụt, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Chú
trọng tới những sản phẩm dễ tổn thất, hư hại và nâng cao chất lượng sau khi thu
hoạch để tăng giá trị tiêu thụ.
- Hoàn thiện và nâng cao năng lực hoạt động của mạng lưới khuyến nông
làm cầu nối giữa khoa học kĩ thuật với SX, đáp ứng với yêu cầu SX thâm canh, phát
triển nông sản hàng hóa với hiệu quả kinh tế cao và ngày càng ổn định. Đẩy mạnh
các mô hình SX có hiệu quả kinh tế cao phù hợp với điều kiện tự nhiên, KT - XH
của từng vùng và định hướng phát triển NN - NT chung của toàn tỉnh.
- Tăng cường đầu tư cho các hoạt động khoa học công nghệ và môi trường từ
ngân sách, đồng thời huy động các doanh nghiệp và cá nhân tham gia đầu tư đổi
mới công nghệ ở các cơ sở chế biến, bảo quản nông sản và dịch vụ SXNN.
- Tổ chức tham quan, học tập, rút kinh nghiệm, cải tiến các mô hình du lịch
sinh thái ở Tiền Giang, Vĩnh Long, thành phố Hồ Chí Minh,... rồi phổ biến rộng rãi
kĩ thuật xây dựng mô hình vườn du lịch sinh thái cho nông dân trong tỉnh.
3.3.4. Giải pháp về thị trường tiêu thụ nông sản, sản phẩm tiểu thủ công nghiệp
Giải pháp về thị trường là một trong những giải pháp quan trọng để
CDCCKT NN - NT có hiệu quả. Các giải pháp về thị trường cần tập trung vào:
- Xúc tiến tổ chức các hoạt động đồng bộ như tiếp thị, quảng cáo, lập trang
Web giới thiệu sản phẩm, thiết lập mạng lưới phân phối và tìm kiếm thị trường
nông sản và sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt đối với các sản phẩm chủ lực
của tỉnh (hoa quả, rau đậu, cao su, hồ tiêu, thịt gia súc, gia cầm,gốm sứ, sơn mài,...).
Tăng cường hình thức liên doanh, liên kết, tiêu thụ sản phẩm với các đối tác có kinh
nghiệm và truyền thống với từng loại ngành hàng, từng khu vực thị trường. Có
chính sách khuyến khích, hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại với các thị trường
xuất khẩu trong đó thị trường khi nước ta gia nhập WTO. Coi trọng phát triển thị
trường nội tỉnh và các thị trường lận cận, đặc biệt là thị trường thành phố Hồ Chí
Minh. Tăng cường hợp tác và mở rộng liên doanh, liên kết với thành phố Hồ Chí
Minh và các tỉnh lân cận vì đây là thị trường tiêu thụ nông - lâm - thuỷ sản lớn nhất
cả nước; sẽ là hiệu quả hơn nếu có sự hợp tác trong phân khúc thị trường. Mặt khác,
thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm khoa học và đào tạo lớn của quốc gia và vùng
lãnh thổ; tiềm lực khoa học công nghệ, vốn đầu tư,... là khá lớn và là trung tâm
CNCB nông sản lớn của quốc gia. Vì thế tỉnh Bình Dương nên học tập để hình
thành và phát triển các khu NN ứng dụng công nghệ cao, trao đổi và phân công các
lĩnh vực về giống cây trồng - vật nuôi, công nghệ SX, chế biến, xây dựng thương
hiệu hàng hóa, xúc tiến thị trường,... Bên cạnh đó, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng
Tàu là những thành phố du lịch, trong khi Đồng Nai, Tây Ninh và Bình Dương cũng
có tiềm năng khá lớn trong lĩnh vực này, nếu có sự hợp tác để nâng cao chất lượng
và đa dạng hóa các loại hình du lịch sẽ được trao đổi, tham quan học tập kinh
nghiệm mô hình du lịch sinh thái, nuôi thuỷ đặc sản, cây cảnh,... Hợp tác hình thành
các tuyến du lịch mới, thu hút khách du lịch và nâng cao chất lượng phục vụ.
- Tranh thủ và chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ của các cơ quan chức
năng để tiếp cận với chiến lược phát triển sản phẩm và thị trường tiêu thụ nhằm
đảm bảo tính bền vững trong SX, tránh tình trạng phát triển quy mô SX một cách ồ
ạt, tự phát khi chưa có tiềm năng cơ bản về thị trường.
- Cần có chính sách trợ giá linh hoạt, chủ động và nhạy bén để giúp nông dân
ổn định SX trước những biến động bất thuận lợi về giá cả nông sản.
- Tổ chức chỉ đạo, coi vấn đề thị trường và tiêu thụ nông sản là mục tiêu
chiến lược của hoạt động thương mại - dịch vụ. Phát triển hợp lí và đều khắp hệ
thống chợ. Tăng cường hệ thống các kho bãi và phương tiên chuyên dùng đáp ứng
yêu cầu bảo quản, lưu thông, tiêu thụ nông sản thuận lợi và hiệu quả.
3.3.5. Giải pháp về chính sách phát triển nông nghiệp - nông thôn
Chính sách kinh tế luôn có ý nghĩa quan trọng đối với CDCC NN - NT.
Chính sách về tổ chức SX: tích cực đi đôi với bổ sung hoàn thiện các chính
sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển kinh tế nông hộ và kinh tế trang trại nhằm
nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên, nhân lực, vốn, trình độ
SX và quản lí. Khuyến khích phát triển kinh tế trang trại bằng những chính sách cụ
thể về sử dụng đất, thuế, hỗ trợ vốn tín dụng và kĩ thuật mới,... nhằm phát huy ưu
thế về tổ chức SX của kinh tế trang trại trong phát triển hàng hóa quy mô tập trung,
đáp ứng về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm cho chế biến và xuất khẩu.
Hỗ trợ phát triển kinh tế hợp tác và HTX, tăng cường vai trò của kinh tế
Nhà nước trong NN - NT thông qua các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp
kí hợp đồng dài hạn với các hộ nông dân, các HTX để cung ứng vật tư, nguyên liệu,
kĩ thuật và tiêu thụ sản phẩm nhằm tạo mối liên kết chặt chẽ lâu dài giữa nông dân,
vùng nguyên liệu và nhà máy chế biến, đầu mối xuất khẩu,... Liên kết “4 nhà”: Nhà
nước, nhà khoa học, nhà máy chế biến, nhà nông.
Chính sách đất đai: khuyến khích và đảm bảo tính pháp lí cho các chủ thể
sử dụng đất đai NN trong quá trình chuyển đổi cơ cấu SX (chuyển đổi phương
hướng SX từ đất trồng lúa sang cây hàng năm khác, cây lâu năm, chăn nuôi, nuôi
thuỷ sản,...) nhằm đẩy nhanh quá trình hợp lí hóa đất đai để các chủ sở hữu có thể
yên tâm và mạnh dạn đầu tư phát triển SX một cách chủ động, hiệu quả. Bình
Dương hình thành nền NN hàng hóa phát triển bền vững phải “tích tụ đất đai”, phải
có phương án sử dụng đất dành cho các đối tượng có vốn, có kiến thức, biết làm ăn
giỏi,... nên tạo cơ hội để cho người có đất và người muốn phát triển SXNN gặp
nhau thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ theo pháp luật.
Cần vận dụng hợp lí và nhạy bén các chính sách về đất đai nhằm đảm bảo
nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ và cải thiện độ màu mỡ của đất NN. Khuyến
khích các tổ chức, cá nhân được quyền thuê đất đai đầu tư tổ chức SXNN và phát
triển NT theo định hướng phát triển KT - XH.
Chính sách về tín dụng: các ngân hàng đầu tư, qũy hỗ trợ, các tổ chức tín
dụng,... có kế hoạch cho các tổ chức, cá nhân (đặc biệt các hộ nông dân) vay vốn
sao cho đảm bảo phương châm “5 đúng” là đúng đối tượng, đúng thời điểm, đúng
số lượng, đúng thời hạn, đúng lãi suất.
Các trang trại, HTX, các mô hình mới chuyển đổi như VAC, du lịch sinh
thái, cần có chính sách tín dụng đặc thù để khuyến khích phát triển nhanh và nhân
ra diện rộng.
Chính sách thuế: cần phải có chính sách miễn giảm thuế doanh thu cho các
cơ sở SX giống cây trồng - vật nuôi và giống thuỷ sản nhằm góp phần thực hiện tốt
phương châm xã hội hóa công tác giống.
Chính sách về bảo vệ môi trường NT: cần có chính sách bảo vệ môi trường
NT ngay từ giai đoạn đầu của CNH - HĐH NN - NT để đảm bảo phát triển nền NN
bền vững. Đặc biệt ở những khu vực tập trung các làng nghề tiểu thủ công nghiệp
và các khu CNCB là những nơi có nguy cơ ô nhiễm cao. Do đó, cần có những biện
pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường và có những giải
pháp xử lí phù hợp đối với rác thải, nước thải, khí thải của các cơ sở SX.
3.3.6. Công nghiệp hóa nông thôn
Xây dựng NT của tỉnh trù phú, có NN phát triển, đảm bảo cung ứng thực
phẩm cho thành phố, thị xã, thị trấn, đô thị, khu công nghiệp,... cung cấp nguyên
liệu cho CNCB và xuất khẩu.
Đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế khu vực NT, tăng cường đầu tư cho NT: thu
hút đầu tư trong dân cư trong nước, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển kinh tế tư
nhân, CDCCKT hợp lí, đưa khoa học công nghệ mới vào SX, giảm chi phí “đầu
vào”, chi phí trung gian, nâng cao khả năng cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm NN.
Xây dựng một CCKT NT hợp lí, không chỉ có những ngành nông - lâm - thuỷ
sản, mà chú trọng các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành dịch vụ
phục vụ các ngành nông - lâm - thuỷ sản, các ngành công nghiệp ở khu vực NT.
Phát triển các thành phần kinh tế tham gia SX kinh doanh ở NT, khuyến
khích phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế dân doanh.
Phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, các ngành công nghiệp tại
NT, SX các sản phẩm sử dụng nghiều lao động và cả sản phẩm có kĩ thuật trong
mối quan hệ với công nghiệp đô thị.
Phát triển các ngành dịch vụ như thương mại, du lịch nghỉ dưỡng, nhà an
dưỡng ở NT và các dịch vụ phục vụ SX và sinh hoạt NT.
Phát triển hệ thống tín dụng ở NT nhằm tạo điều kiện cho người lao động NT
có kĩ thuật SX, kinh doanh có việc làm và tăng thu nhập.
Khắc phục hiện tượng vừa thừa, vừa thiếu lao động, nguồn lao động NN -
NT không có chuyên môn được đào tạo để có thể chuyển sang SX công nghiệp và
dịch vụ hoặc xuất khẩu lao động. Tổ chức dạy nghề cho thanh niên NT miễn phí,
cho vay tín dụng hoặc trả sau khi có việc làm.
Xây dựng kết cấu hạ tầng ở các khu dân cư NT có một số điều kiện theo kiểu
đô thị.
Xây dựng đời sống văn hóa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống, chủ động phòng chống các tệ nạn xã hội đang có xu hướng gia tăng ở NT;
thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở ở NT.
Thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo theo tiêu chí mới tỉnh, tạo
điều kiện nâng cao nhận thức, tinh thần tự lực vươn lên thoát nghèo trong dân cư
NT. Quan tâm giúp đỡ những người có công, diện chính sách, người nghèo để thoát
nghèo, thông qua những hoạt động an sinh xã hội, phong trào đền ơn đáp nghĩa,...
KẾT LUẬN
Chuyển dịch cơ cấu NN - NT là một vấn đề đang đựơc Đảng và Nhà nước
quan tâm trong chiến lược phát triển KT - XH chung của cả nước. Vì vậy, việc
nghiên cứu quá trình CDCCKT NN - NT ở trên mỗi địa bàn trong cả nước đều có ý
nghiã quan trọng.
Riêng đối với tỉnh Bình Dương là một tỉnh thuần nông mới được tái lập từ
1997, việc nghiên cứu về quá trình CDCCKT NN - NT có một ý nghĩa đặc biệt
quan trọng. Một mặt có thể đưa ra cái nhìn tổng quan về quá trình chuyển dịch, mặt
khác có thể định hướng xu hướng chuyển dịch trong tương lai và tìm ra những giải
pháp hợp lí nhất. Trong quá thực hiện luận văn, chúng tôi đã tiếp cận được với hầu
hết các nội dung chủ yếu của quá trình CDCCKT NN - NT trên địa bàn tỉnh Bình
Dương và đạt được những kết quả cụ thể:
1. Luận văn đã tổng hợp được những lí luận có liên quan đến nội dung
CDCCKT NN - NT một cách có hệ thống.
2. Về nội dung CDCCKT NN - NT tỉnh Bình Dương, luận văn đã đưa ra
những nhận xét cụ thể:
- Nền NN có bước phát triển đáng kể, tuy tỉ trọng đóng góp trong cơ cấu
GDP toàn tỉnh của ngành NN có giảm nhưng giá trị thực tế ngày càng tăng. Cơ cấu
ngành có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỉ trọng NN, tăng tỉ trọng ngành
lâm nghiệp và thuỷ sản. Trong nội bộ ngành NN cũng có sự chuyển dịch tích cực, tỉ
trọng của ngành trồng trọt giảm, tăng tỉ trọng của ngành chăn nuôi. Tính hàng hóa
của sản phẩm NN ngày càng cao, nhiều nông sản của tỉnh đã có mặt trên thị trường
quốc tế.
- Trên địa bàn toàn tỉnh đã hình thành các vùng SXNN chuyên môn hóa như
trồng cây cao su, hồ tiêu, vùng cây ăn quả, vùng rau sạch an toàn, vùng trồng cây
cảnh, vùng chăn nuôi bò thịt và bò sữa,... Những vùng SXNN chuyên môn hóa tạo
ra khối lượng sản phẩm ngày càng lớn, chất lượng tốt đáp ứng được ngày càng cao
của thị trường. Tuy nhiên, tính chuyên môn hóa của các vùng chưa cao, trình độ SX
còn thiếu đồng bộ, sản phẩm hàng hóa chưa có chất lượng cao,... Các sản phẩm SX
chưa đáp ứng được nguồn nguyên liệu cho CNCB trong tỉnh mặc dù các ngành
CNCB của tỉnh rất đa dạng và quy mô lớn.
- Các ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn NT tỉnh
ngày càng phát triển, thu hút một lượng lao động khá lớn, đặc biệt là lao động ở NT.
- Chất lượng cuộc sống của dân cư NT ngày càng được nâng cao. Công tác
xóa đói giảm nghèo được thực hiện dưới nhiều hình thức và đạt được những kết quả
khả quan. Đời sống văn hóa tinh thần ở NT có nhiều chuyển biến, giáo dục đào tạo
và y tế được chú trọng phát triển. Tuy nhiên vẫn còn sự chênh lệch khá lớn giữa
chất lượng cuộc sống dân cư NT và dân cư thành thị.
- Cơ sở hạ tầng NT phục vụ SX và đời sống dân cư NT (hệ thống thuỷ lợi,
mạng lưới điện, hệ thống cung cấp nước sạch, bưu chính,...) ngày càng được tăng
cường và HĐH.
Quá trình nghiên cứu cơ cấu và sự CDCCKT NN - NT Bình Dương cũng
cho thấy một số kinh nghiệm tiến hành chuyển dịch:
- Trong điều kiện diện tích đất SXNN ngày càng giảm, dân cư NT đông thì
không thể chỉ chú trọng vào việc thâm canh, tăng năng suất cây trồng - vật nuôi mà
phải phát huy lợi thế của các ngành nghề ngoài NN như khôi phục các ngành nghề
truyền thống, phát triển các ngành nghề mới như tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để
thu hút lao động, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.
Đối với SXNN cần chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ,
xóa dần độc canh cây lương thực, tăng cường các loại cây công nghiệp lâu năm, cây
rau đậu, cây hoa quả, cây đặc sản phục vụ nhu cầu dân cư thành thị và tiến tới xuất
khẩu. Trồng trọt và thuỷ sản có khá nhiều mô hình chỉ phát huy được hiệu quả khi
có sự tham gia của ngành du lịch nên phải sớm tiến hành liên kết với ngành du lịch
tỉnh với các thành phố lân cận hình thành các tuyến du lịch để NN tỉnh có thị trường
tiêu thụ nông - thuỷ sản.
- Cần cụ thể hóa chính sách thu hút cán bộ, đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực
cho ngành NN - NT và sử dụng công nghệ thông tin để quảng bá sản phẩm. Các
báo, đài nên quảng bá về sản phẩm NN và thị trường cũng như thông tin về khuyến
nông, lâm, thuỷ sản,...
- Trước nguy cơ ô nhiễm môi trường do phát triển mạnh công nghiệp và đô
thị gây ô nhiễm nguồn nước do chất thải từ các khu công nghiệp cần có những biện
pháp để khắc phục giúp cho ngành trồng trọt và thuỷ sản phát triển.
Dựa trên kết quả nghiên cứu về tiềm năng và thực trạng phát triển NN - NT ở
địa bàn toàn tỉnh, luận văn đã mạnh dạn đề xuất phương án phân vùng hiện trạng
phát triển NN - NT và dự kiến thế mạnh phát triển của mỗi vùng trong tương lai.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá những lợi thế, khó
khăn đối với quá trình CDCCKT NN - NT Bình Dương đề tài đã tìm hiểu định
hướng phát triển và chuyển dịch từ nay đến năm 2020, đề ra những giải pháp để
thực hiện mục tiêu, định hướng đó.
Bên cạnh những mặt đạt được đề tài còn những nội dung cần được nghiên
cứu sâu sắc và cụ thể hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực CDCCKT NT. Nguyên nhân
chủ yếu là do thời gian nghiên cứu có hạn, nguồn số liệu thống kê còn hạn chế và sự
hạn chế trình độ hiểu biết tác giả. Vì thế nên các nội dung liên quan đến CDCC
thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế NT và chất lượng cuộc sống của dân cư
NT mới chỉ được đề cập một cách tổng quát nhất mà chưa có sự đi sâu phân tích
theo từng vùng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang (1999), Phát triển nông nghiệp - nông
thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Cành (2004), Các mô hình tăng trưởng và dự báo kinh tế lý
thuyết và thực nghiệm, Nxb Đại học Quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyễn Sinh Cúc (2003), Nông nghiệp - nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới
(1986 - 2002), Nxb Thống kê, Hà Nội.
4. Bùi Huy Đáp (1983), Về cơ cấu nông nghiệp - nông thôn Việt Nam, Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội.
5. Châu Ngọc Hà (2004), Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn
vùng ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh: hiện trạng và giải pháp, Luận văn
thạc sĩ địa lí KT - XH, Trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.
6. Phạm Xuân Hậu, Nguyễn Kim Hồng, Đặng Văn Phan (1995), Địa lí kinh tế -
xã hội Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo dục, Hồ Chí Minh.
7. Đinh Phi Hổ (2003), Kinh tế nông nghiệp: lý luận và thực tiễn, Nxb Thống
kê, Hồ Chí Minh.
8. Lê Mạnh Hùng, Nguyễn Sinh Cúc, Hoàng Vĩnh Lê (1998), Thực trạng công
nghiêp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Thống kê,
Hà Nội.
9. Lâm Quang Huyên (2002), Nông nghiệp - nông thôn Nam Bộ hướng tới thế
kỷ 21, Nxb Khoa học - Xã hội, Hà Nội.
10. Vũ Trọng Khải (2002), Hai mô hình kinh tế và sự đổi mới kinh tế qua thực
tiễn phát triển nông nghiệp ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
11. Chu Viết Luân (2003), Bình Dương thế và lực mới trong thế kỉ XXI, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
12. Phạm Xuân Nam (1999), Phát triển nông thôn (Rural Development), Nxb
Khoa học - Xã hội, Hà Nội.
13. Chu Hữu Quý (1996), Phát triển toàn diện kinh tế - xã hội nông nghiệp,
nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
14. Chu Hữu Quý (2002), Chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam: Thực trạng
và kinh nghiệm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
15. Đặng Văn Phan, Vũ Như Vân (2006), Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp - nông
thôn theo hướng phát triển bền vững, Tư liệu học chuyên đề cao học.
16. Đặng Văn Phan (2007), Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam, Nxb Giáo
dục, Hồ Chí Minh.
17. Trương Thị Minh Sâm (2002), Kinh tế trang trại ở khu vực Nam Bộ: thực
trạng và giải pháp, Nxb Khoa học - Xã hội, Hà Nội.
18. Trương Thị Minh Sâm (2003), Các giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở
Đồng bằng sông Cửu Long, Hội thảo khoa học vì sự phát triển đồng bằng
sông Cửu Long tại Cần Thơ 11/2004.
19. Trương Thị Minh Sâm (2001), Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở
thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Nxb
Khoa học - Xã hội, Hà Nội.
20. Đặng Kim Sơn (2006), Nông nghiệp - nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới
và phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
21. Lê Quốc Sử (2001), Chuyển dịch cơ cấu và xu hứơng phát triển của kinh tế
nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa từ thế kỷ
XX đến thế kỷ XXI trong “thời đại kinh tế tri thức”, Nxb Thống kê, Hà Nội.
22. Bùi Tất Thắng (2006), Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, Nxb
Khoa học - Xã hội, Hà Nội.
23. Hồng Vinh (1998), Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn:
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
24. Phát triển bền vững (2004), Kỷ yếu hội nghị toàn quốc lần thứ nhất, Hà Nội.
25. Tuyển tập báo cáo phối hợp nghiên cứu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của các chuyên gia quốc tế và Việt Nam (2001), Việt Nam hướng tới 2010
(tập 2), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
26. Cục Thống kê Bình Dương, Niên giám thống kê Bình Dương các năm từ
1997 - 2006, Bình Dương .
27. Đảng Công sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX. Http:// www.Cpv.Vn
28. Sở Công nghiệp Bình Dương (2006), Báo cáo tình hình phát triển các làng
nghề Bình Dương 2007 - 2010 và tầm nhìn 2020, Bình Dương.
29. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Dương (2006), Quy hoạch
tổng thể nông - lâm - thuỷ sản Bình Dương đến năm 2020, Bình Dương .
30. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Dương (2006), Báo cáo tình
hình và kết quả kinh doanh các trang trại và phương hướng giải pháp phát
triển kinh tế trang trại trong thời gian tới, Bình Dương.
31. Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Bình Dương (2006), Báo cáo Quy hoạch tổng thể
kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020, Bình Dương.
32. Trung tâm tư vấn đầu tư hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn VACVINA
CECARDE (1999), Nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn công nghiệp
hóa - hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
33. Trung tâm Thông tin Thương mại (1993), Một số vấn đề sản xuất, mậu dịch
nông sản Thế giới, Hà Nội.
34. Uỷ Ban nhân dân tỉnh Bình Dương (2000), Chương trình việc làm Bình
Dương giai đoạn 2001 - 2006, Bình Dương.
35. Viện chiến lược Phát triển, Bộ kế hoạch và Đầu tư (2002), Một số vấn đề lý
luận, phương pháp luận, phương pháp xây dựng chiến lược và quy hoạch
phát triển kinh tế Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
PHỤ LỤC
Phụ lục 2.1. Hiện trạng công trình thủy lợi phục vụ NN - NT tỉnh Bình Dương
Tên công trình Địa điểm xây
dựng
Số thứ tự
1 Đập
Ông
Công suất thiết kế Ngăn Tiêu Tưới (ha) (ha) lũ (ha)
20
Công suất thực tế Ngăn Tiêu Tưới (ha) (ha) lũ (ha)
Thiềng
Phú Mỹ TX. Thủ Dầu Một
2 Cản Ông Thiềng Định Hòa TX.
50
35
3 Giếng bơm Phú
150
140
Mỹ
4 Cản suối Cây
30
30
Khô
740
740
740
740
740
740
5 Đê bao Tân An –
Chánh Mỹ 6 Hồ Cần Nôm
380
140
7 Trạm bơm Bến
39
28
Trống
8 Đập Thị Tính
280
100
9 Trạm bơm Định
30
18
Thành
10 Trạm bơm Bàu
155
155
Sen
11 Cản Ông Gần
48
48
Thủ Dầu Một Phú Mỹ TX. Thủ Dầu Một Định Hòa TX. Thủ Dầu Một Tân An TX. Thủ Dầu Một Thanh An huyện Dầu Tiếng Thanh An huyện Dầu Tiếng An Lập, Long Hòa huyện Dầu Tiếng TT. Dầu Tiếng huyện Dầu Tiếng TT. Dầu Tiếng huyện Dầu Tiếng Long Tân huyện Dầu Tiếng
12 Đập Suối Nhánh Thới Hòa huyện
20
12
13 Cản cầu Định
15
12
Bến Cát Tân Định huyện Bến Cát
14 Dập Bòng Bong Hòa Lợi huyện
15
15
Bến Cát
15 Đập Cây Dương Thới Hòa huyện
30
22
30
16 Cản Cầu Trệt
15
Bến Cát Long Nguyên huyện Bến Cát
17 Cản Nhà Mát 1 Long Nguyên
36
15
huyện Bến Cát
18 Cản Nhà Mát 2 Long Nguyên
40
20
huyện Bến Cát
19 Đập Suối Máng Tân Định huyện
15
15
Bến Cát
250
250
20 Hồ Từ Vân I&I
1.449 1.449 1.449 1.449 1.449 1.449
21 Đê bao An Tây –
Phú An
Lai Hưng huyện Bến Cát An Tây, Phú An huyện Bến Cát
22 Đập Cây Chay An Tây huyện
20
20
23 Kênh hồ Suối Giai 24 Đập Ông Hựu
1.670 150
540 150
600
280
25 Hệ thống thủy lợi Đá Bàn – Suối Sâu
26 Đập Cua Định
15
15
27 Trạm bơm Tân
150
80
An
28 Trạm bơm Thường
150
108
Tân I
29 Trạm bơm Tân
110
79
Mỹ I
30 Trạm bơm Bạch
140
120
Đằng
31 Trạm bơm Thường
103
76
Tân II
32 Trạm bơm Tân
100
71
Mỹ II
33 Trạm bơm Lạc
52
52
An
34 Trạm bơm Tân
90
90
Long
35 Cống tiêu Bạch
150
150
Đằng
36 Cản Mọi Tiên
22
22
37 Cản Suối Cát
25
20
tiêu
38 Hệ
thống
580
580
Phú Hội
39 Hệ
tiêu
2.127
2.127
thống Bình Hòa 40 Hệ thống tiêu Sóng
1.787
1.787
Thần – Đồng An
41 Kênh tiêu Tân
18
18
Bình
41
6.479 7.283
2.189
4.982
7.373
2.189
Bến Cát Phú Giáo TT. Uyên Hưng huyện Tân Uyên Tân Thành – Lạc An huyện Tân Uyên Tân Bình huyện Tân Uyên Bạch Đằng huyện Tân Uyên Thường Tân huyện Tân Uyên Tân Mỹ huyện Tân Uyên Bạch Đằng huyện Tân Uyên Thường Tân huyện Tân Uyên Tân Mỹ huyện Tân Uyên Thường Tân huyện Tân Uyên Bạch Đằng huyện Tân Uyên Bạch Đằng huyện Tân Uyên Thuận Giao huyện Thuận An Bình Hòa huyện Thuận An Vĩnh Phú huyện Thuận An Bình Hòa huyện Thuận An Bình Hòa huyện Thuận An Tân Bình huyện Dĩ An Tổng cộng
[Nguồn: Quy hoạch phát triển KT – XH tỉnh Bình Dương]
Phụ lục 2.2. Cơ cấu GTSX ngành NN theo ngành tỉnh Bình Dương
(Giá c ố định 1994)
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Tổng số
894.213
1.527.118
1.833.231
2.169.318
GTSX
Trồng trọt
750.668
1.310.160
1.531.201
1.715.661
(triệu
Chăn nuôi
123.176
195.272
279.226
425.523
đồng) Dịch vụ NN
20.349
21.686
22.804
28.134
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
Cơ cấu
Trồng trọt
83,9
85,8
83,5
79,1
(%)
Chăn nuôi
13,8
12,9
18,2
19,6
Dịch vụ NN
2,3
1,3
1,7
1,3
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Phụ lục 2.3. Tình hình SX một số cây công nghiệp lâu năm trong tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
48.660
58.989
68.325
88.520
Diện tích (ha)
Cao su
8,7
12,7
13,4
16,6
Năng suất (tạ/ha)
42.134
74.658
102.830
146.613
Sản lượng (tấn)
138
254
483
622
Diện tích (ha)
Hồ tiêu
22,1
27,1
32,3
24,5
Năng suất (tạ/ha)
305
688
1.561
1.525
Sản lượng (tấn)
14.232
13.028
11.419
8.616
Diện tích (ha)
Điều
4,0
2,5
4,1
6,5
Năng suất (tạ/ha)
5.707
3.252
5.528
5.575
Sản lượng (tấn)
76
293
368
287
Diện tích (ha)
Cà phê
22,0
23,8
23,2
22,8
Năng suất (tạ/ha)
167
705
852
654
Sản lượng (tấn)
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Bảng 2.4. Tình hình SX một số cây ăn quả tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
191
336
435
501
Diện tích (ha)
Bưởi
55,3
71,7
70,9
79,6
Năng suất (tạ/ha)
1.056
1.837
3.082
3.988
Sản lượng (tấn)
522
557
553
582
Diện tích (ha)
Măng cụt
20,5
28,6
24,9
29,8
Năng suất (tạ/ha)
1.070
1.650
1.626
1.734
Sản lượng (tấn)
105
178
217
254
Diện tích (ha)
Dâu, bòn
bon
32,8
34,4
32,7
35,5
Năng suất (tạ/ha)
344
613
710
902
Sản lượng (tấn)
204
220
357
392
Diện tích (ha)
Mít
90,0
98,8
101,6
110,9
Năng suất (tạ/ha)
1.836
2.174
3.627
3.649
Sản lượng (tấn)
136
245
342
588
Diện tích (ha)
Sầu riêng
27,0
31,5
32,7
36,6
Năng suất (tạ/ha)
367
771
1.120
2.152
Sản lượng (tấn)
76
680
1.250
881
Diện tích (ha)
Xoài
33,0
39,9
37,8
36,9
Năng suất (tạ/ha)
251
2.713
4.725
3.250
Sản lượng (tấn)
184
385
1.435
1.251
Diện tích (ha)
Nhãn
32,4
40,6
35,3
42,2
Năng suất (tạ/ha)
596
1.564
5.062
5.238
Sản lượng (tấn)
541
591
662
742
Diện tích (ha)
Chuối
9,4
10,08
10,5
11,3
Năng suất (tạ/ha)
5.957
5.085
6.951
8.399
Sản lượng (tấn)
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Phụ lục 2.5. Tình hình phát triển chăn nuôi gà, vịt tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
Tổng đàn gà
1.628.031
2.083.897
2.275.387
1.930.449
Gà đẻ
271.633
345.321
423.322
512.031
Số
lượng
Gà thịt
1.356.389
1.738.567
1.852.165
1.418.468
(con)
Tổng đàn vịt
124.121
140.963
139.290
91.715
16.260
19.776
19.949
13.453
Vịt đẻ
107.861
121.187
119.341
78.262
Vịt thịt
Tổng đàn gà
100,0
100,0
100,0
100,0
Gà đẻ
16,7
16,6
18,6
26,5
Tỉ lệ (%)
Gà thịt
83,3
83,4
81,4
63,5
Tổng đàn vịt
100,0
100,0
100,0
100,0
Vịt đẻ
13,1
14,0
14,3
14,6
Vịt thịt
82,9
86,0
85,7
85,4
[Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Phụ lục 2.6. Tình hình phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Bình Dương
Chỉ tiêu
1997
2000
2003
2006
192
205
268
442
Diện tích nuôi trồng (ha)
Giá trị
(triệu
416
443
1.247
3.995
Sản lượng thuỷ sản (tấn)
đồng)
195
211
292
516
- Khai thác
221
232
955
3.493
- Nuôi trồng
18
43
77
125
SX giống (triệu con)
Các giai đoạn
1998 - 2000 2001 - 2003 2004 - 2006 1998 - 2006
2,28
9,42
18,17
9,70
Diện tích nuôi trồng (ha)
Tốc độ
phát
1,96
41,11
47,36
28,57
Sản lượng thuỷ sản (tấn)
triển
2,60
11,33
20,96
11,44
- Khai thác
(%/năm)
1,64
60,31
54,11
35,90
- Nuôi trồng
33,7
21,42
17,45
24,01
SX giống (triệu con)
[Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương]
Phụ lục 2.7. Hiện trạng sử dụng đất SXNN các vùng NN tỉnh Bình Dương 2006
Diện tích (ha)
Chỉ tiêu
Vùng NN 1
Vùng NN 2
Vùng NN 3
Tổng số
10.186,22
54.493,71
15.802,07
1.Đất trồng cây hàng năm
6.471, 35
17.275
16.104,27
- Đất ruộng lúa, lúa màu
9.269,11
8.560
6.043,33
- Đất trồng cây hàng năm khác
5.502,24
8.715
10.060,94
2. Đất vườn tạp
421
1.013,61
10.567,93
3. Đất trồng cây lâu năm
3.258,87
36.122,1
123.913,87
- Đất trồng cây ăn quả
2.732,45
1.201,3
3.892,25
- Đất trồng cây lâu năm khác
326,42
34.902,8
120.021,62
4. Đất có mặt nước nuôi thuỷ sản
43
183
216
- Chuyên cá
13
152
216
- Thuỷ sản khác
30
31
-
[Nguồn: Tính toán từ Báo cáo thống kê diện tích đất đai các xã của tỉnh Bình Dương]
Phụ lục 2.8 Các khu công nghiệp phân bố ở nông thôn tỉnh Bình Dương năm 2006
Diện tích(ha)
Số TT Tên cụm công nghiệp
Địa điểm
1
Bình Đường
Xã An Bình huyện Dĩ An
16,5
2
Tân Đông Hiệp A - B Xã Tân Đông Hiệp huyện Dĩ An
217,0
3
Dệt may Bình An
Xã Bình An huyện Dĩ An
26,0
4
Đồng An
Xã Bình Hòa huyện Thuận An
132,0
5
Việt Hương 1
Xã Thuận Giao huyện Thuận An
36,0
6
Việt Nam – Singapore Xã Bình Hòa huyện Thuận An
500,0
7
Mỹ Phước 1
Thị trấn Mỹ Phước huyện Bến Cát
377,0
8
Mỹ Phước 2
Thị trấn Mỹ Phước huyện Bến Cát
471,0
9
Việt Hương 2
Xã An Tây huyện Bến Cát
110,0
10 Mai Trung
Xã An Tây huyện Bến Cát
52,0
11
Nam Tân Uyên
Xã Khánh Bình huyện Tân Uyên
360,0
11
Tổng cộng
2.297,5
[Nguồn: Quy hoạch phát triển KT – XH tỉnh Bình Dương]
Phụ lục 2.9 Các cụm công nghiệp phân bố trên địa bàn nông thôn tỉnh Bình
Dương năm 2006
Tên cụm công nghiệp
Địa điểm
Diện tích
Số
(ha)
TT
An Phú
Xã An Phú huyện Thuận An
1
97.0
Tân Định An
Xã Tân Định huyện Bến Cát
2
47.0
Cây Trường - Trừ Văn Thố Xã Cây Trường - Trừ Văn Thố huyện Bến Cát
200.0
3
4
Thái Hoà
Xã Thái Hoà huyện Tân Uyên
68.0
5
Gốm sứ Tân Thành
Xã Tân Thành huyện Tân Uyên
200.0
6
Nam Tân Uyên
Xã Khánh Bình huyện Tân Uyên
198.0
7
Tân Lập
Xã Tân Lập huyện Tân Uyên
126.0
8
Cụm VLXD Thạnh Phước Xã Thạnh Phước huyện Tân Uyên
130.0
9
Cụm VLXD Khánh Bình
Xã Khánh Bình huyện Tân Uyên
180.0
10
Thạch Bàn
Xã Khánh Bình huyện Tân Uyên
242.0
11
Thanh An
Xã Thanh An huyện Dầu Tiếng
50.0
12
Thanh Tuyền
Xã Thanh Tuyền huyện Dầu Tiếng
50.0
Xã Vĩnh Hoà huyện Phú Giáo
13 Vĩnh Hoà
50.0
13
Tổng cộng
1.638
[Nguồn: Quy hoạch tổng thể KT - XH tỉnh Bình Dương]

