BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN THU HƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA VŨ
BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH- 2002
1
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô
và bạn bè. Tôi xin chân thành cám ơn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS. TS. Phùng Quí Nhâm, người
đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn tận tình, giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Phan Thiết, tháng 1 năm 2002.
TRẦN THU HƯƠNG
3
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................... 3
MỤC LỤC ......................................................................................................................... 4
DẪN NHẬP ....................................................................................................................... 6
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: ........................................................................................................ 6
2. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI: ............................................................................................................ 9
2.1. Đối tượng khảo sát: ....................................................................................................... 9
2.2. Nội dung vấn đề:.......................................................................................................... 11
3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI: .................................................................................................... 12
4. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ: ........................................................................................................... 12
4.1. Điểm qua việc nghiên cứu Vũ Bằng và các sáng tác của ông ..................................... 12
4.2. Để hình dung cụ thể có hệ thống những công trình, những bài nghiên cứu phê bình có
nhận xét sắc sảo liên quan đến đề tài luận án, chúng tôi phân ra các loại ý kiến như sau: 15
4.3. Nhận định chung:......................................................................................................... 18
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: .................................................................................... 20
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN: ........................................................................ 20
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN: ......................................................................................... 21
CHƯƠNG 1: HIỆN THỰC CUỘC SỐ NG VÀ TẤM LÒNG NHÀ VĂN TRONG
VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA VŨ BẰNG ............................................................. 22
1.1. Hiện thực cuốc sống trong các sáng tác của Vũ Bằng: ................................................ 22
1.1.1. Vấn đề hồi cư và người hồi cư: ................................................................................ 23
1.2. Tấm lòng nhà văn trong các sáng tác của Vũ Bằng. .................................................... 38
1.2.1. Sự khám phá vẻ đẹp tâm hồn của những con người bất hạnh: ................................. 38
1.2.2. Sự ưu tiên cho việc bộc lộ cái "tôi" nội cảm. ........................................................... 45
4
1.3. Sự đan xen hài hòa giữa hiện thực cuốc sống và tấm lòng nhà văn. .......................... 54
CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI, THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN
NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA VŨ BẰNG ................. 60
2.1. Hình tượng con người: ................................................................................................... 60
2.1.1. Con người lạc loài, cô đơn: ...................................................................................... 61
2.1.2. Con người lo âu, đau khổ trong nỗi mềm khắc khoải không nguôi. ........................ 71
2.1.2.1. Con người lo âu, đau khổ. ................................................................................. 71
2.1.2.2. Con người trong nỗi niềm khắc khoải không nguôi .......................................... 75
2.2. Thời gian và không gian nghệ thuật. ............................................................................. 82
2.2.1. Thời gian nghệ thuật: ................................................................................................ 82
2.2.2. Không gian nghệ thuật .............................................................................................. 87
CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG DIỆU "TRONG VĂN XUÔI NGHỆ
THUẬT CỦA VŨ BẰNG ............................................................................................... 96
3.1. Một giọng văn thủ thỉ tâm tình: ..................................................................................... 96
3.2. Những câu văn dồi dào cảm giác. ................................................................................ 107
3.3. Những trang viết giàu nhạc tính, nhạc điệu. .............................................................. 112
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 121
THƯ MỤC ..................................................................................................................... 125
PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 132
5
DẪN NHẬP
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong số các nhà văn, nhà báo Việt Nam, Vũ Bằng là một trường hợp đặc biệt. Ông tên
thật là Vũ Đăng Bằng sinh ngày 3.6.1913 (Tuyển tập Vũ Bằng, NXB Văn học. 2000 ghi năm
1914) tại Hà Nội. Cụ thân sinh là Vũ Đăng Tự, hiệu Ân Học, xuất thân từ dòng họ Vũ Hồn -
một dòng họ nổi tiếng về truyền thống khoa bảng nhiều đời thuộc xã Ngọc Cục, huyện Lương
Ngọc, tỉnh Hải Dương. Cha mẹ ông làm nghề xuất bản, có nhà sách Quảng Thịnh ở số nhà 115
phố Hàng Gai, Hà Nội, chuyên in ân và phát hành những truyện kể dân gian như Ba Giai Tú
Xuất, Trê Cóc, Tâm Cám... Sau, gia đình Vũ Bằng chuyển về số 11 Hàng Da, vẫn tiếp tục làm
nghề xuất bản truyện Nôm, lây tên là Tam hữu tu thư cục.
Lớn lên, Vũ Bằng theo học trường Lycée Albert Sarraut - một trường trung học Pháp nổi
tiếng hồi ây. Vào những năm cuối bậc trung học, ông đã bỏ học theo nghề viết báo. Từ những
năm 30 đầu thế kĩ XX, Vũ Bằng liên tục viết cho nhiều báo, sáng tác nhiều tác phẩm với nhiều
thể loại khác nhau. Sau hơn 40 năm cầm bút, Vũ Bằng đã để lại cho đời (nếu in thành sách)
cũng được gần 100 cuốn, "trong đó có hàng ngàn trang sách văn học lấp kính tài hoa và chứa
chan lòng nhân ái" [8;11]. Trên lĩnh vực báo chí, Vũ Bằng có những luận thuyết và quan niệm
về nghề báo thật là nghiêm cẩn. Con người ây trong suốt cuộc đời cầm bút đã âm thầm chịu
đựng nhiều tai tiếng. Nói như nhà văn Triệu Xuân, ông là "người lữ hành đơn côi". Mặc dù
vậy, sau chặng đường dài hơn 40 năm làm báo, viết văn nhọc nhằn ông vẫn cứ nguyện: "Nếu
trở lại làm người, con cứ lại xin làm báo" [8; 593 ].
Trên địa hạt văn chương, từ 1937 trở đi, Vũ Bằng đã xuất hiện như một cây bút chuyên
nghiệp chăm chú vào nghề. Ông có nhiều sáng tác bàn về nghệ thuật và những vấn đề liên quan
đến nghệ thuật như: Khảo về tiểu thuyết (P. Văn Tươi xuất bản, Sài Gòn. 1955); Cười đông,
cười tây, cười cổ, cười kim; Những cây cười tiền chiến cùng nhiều sáng tác nghệ thuật như:
Một mình trong đêm tối (tiểu thuyết, 1937), Tội ác và hối hận (tiểu thuyết, năm 1940), Truyện
hai người (tiểu thuyết, năm 1940), Để cho chàng khỏi khổ (tiểu thuyết, 1941), Ba truyện mổ
bụng (tập truyện vừa, 1941), Bèo nước (tập truyện vừa, 1944), Cai (1944), Miếng ngon Hà Nội
6
(1950), Thương nhớ mười hai (khởi bút 1960, tiếp tục viết 1965, viết xong 1970 -1971)...
Trong đó có nhiều tác phẩm mãi mãi neo đậu trong tâm hồn độc giả, được bạn đọc xa gần đánh
giá rất cao.
Trong quá trình sáng tác nghệ thuật, Vũ Bằng tỏ ra là một người ưa tìm tòi, khám phá và
đổi mới. Trước 1945, các sáng tác của Vũ Bằng là sự thể nghiệm quan niệm văn chương do
chính ông khởi xướng : "việc cốt yếu của nhà văn tiểu thuyết là phải làm thể nào bày tỏ cho
độc giả thấy cái mắt thấy hàng ngày (...) và thêm vào đó, đem thêm một ít cần thiết cho kiến
văn của họ, cho cái quan niệm về "người" của họ" [12; 1165]. Vì thế, ông được tác giả "Nhà
văn hiện đại" xếp vào hàng các tiểu thuyết gia thuộc khuynh hướng tiểu thuyết tả chân, bên
cạnh các tiểu thuyết gia Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Lạp, Tô Hoài.
Từ 1945 trở về sau, các sáng tác của Vũ Bằng về cơ bản vẫn bám sát hiện thực nhưng
giọng văn, hơi văn chất chứa nhiều ưu tư, trăn trở. Ở đó, tồn tại tình trạng hòa trộn giữa các yếu
tố khác của các thể loại, cùng thâm nhập về hình thức, Vũ Bằng sáng tác bằng văn xuôi nhưng
trong các tác phẩm văn xuôi của ông lại bao gồm nhiều đoạn mang tính chất trữ tình; nhiều suy
nghĩ mang tính cảm xúc của nhà văn đã thâm nhập vào các biến cố của câu chuyện. Trong
nhiều đoạn, nhiều bài cái "tôi" trữ tình của nhà văn mặc sức tung hoành, bay bổng. Ở đấy, yếu
tố tự sự và yếu tố trữ tình đa kết hợp ở mức "ngang quyền như nhau" (chữ của Pospelov) tạo
thành một thể hài hòa thống nhất. Đặc điểm này thể hiện rõ ở một loạt các truyện ngắn: Giai
đoạn mới, Ở đây bán sách cũ, Tiếp theo và hết truyện Lưu Bình - Dương Lễ, Bát cơm...và kết
tinh rực rỡ ở các hồi kí: Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam ...
Là một người có nhiều đóng góp cho nền văn học hiện đạiViệt Nam nhưng về đời tư,
"ông hẳn là trường hợp éo le vào bậc nhất trong đội ngữ những nhà văn hiện đại Việt Nam kề
từ 1945 đến nay" [20; l0]. Ông đã hai lần kết hôn. Lần thứ nhất vào khoảng 1934 - 1935, khi
Vũ Bằng mới ngoài 20 tuổi một chút. Người mà ông lấy làm vợ lúc ấy là bà Nguyễn Thị Quỳ,
hơn ông 7 tuổi, đã có bốn con với người chồng trước. Bà Quỳ quê ở xã Tư Thế, huyện Thuận
Thành, Bắc Ninh; là một người con gái Kinh Bắc chính gốc đẹp người, đẹp nết. Hai người sống
với nhau khá hạnh phúc và có một người con chung là Vũ Hoàng Tuấn, tục gọi là Lạc, có khi
gọi là Lăng.
7
Sau sự kiện kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12-1946), như bao người dân Hà Nội khác,
Vũ Bằng cùng gia đình tản cư về Hà Nam, Hòa Bình thuộc vùng khu Ba. Mùa đông năm 1948,
Vũ Bằng nhận nhiệm vụ bí mật lên đường hoạt động tình báo cách mạng. Ông đã cùng gia
đình"dinh tê" (Entrer- vào trong) vào thành. Núp dưới danh nghĩa dân "hồi cư", Vũ Bằng chịu
mang tiếng xấu là quay lưng lại với cuộc kháng chiến, bất hợp tác với kháng chiến. Rồi đến
năm 1954, ông lại bỏ vợ con, quê hương vào định cư ở Sài Gòn, hành nghề viết văn, viết báo
dưới chế độ Mỹ ngụy để tiếp tục hoạt động tình báo cho cách mạng. Do tính chất đặc biệt của
công việc, hành động "di cư" vào Nam của Vũ Bằng đã gây nên nhiều điều đồn thổi về ông.
Ông lại tiếp tục mang thêm cái tiếng đi theo bọn phản động vào Nam. ở Sài Gòn, những năm
1965-1966, Vũ Bằng thường được người phụ nữ miền Nam, quê tận cần Thơ tên là Lương Thị
Phấn đưa cơm bữa giúp. Hai người đem lòng thương yêu nhau rồi nên vợ nên chồng. Một lũ
ton lít nhít lần lượt ra đời. Gia đình ông thường sống trong cảnh túng quẫn.
Sau 1975, cả nước rơi vào tình trạng nghèo đói khó khăn. Gia đình Vũ Bằng ngày càng
túng quẫn. Lúc này Vũ Bằng tuổi đã cao, sức khỏe ngày càng sa sút nghiêm trọng, lại thêm
những hy sinh cống hiến của cả đời chưa được nhìn nhận một cách đúng mức đã khiến những
ngày cuối cuộc đời của ông đã khổ về vật chất lại ít thanh thản về tâm hồn.
Theo lời Vũ Hoàng Tuấn - con trai Vũ Bằng kể lại thì sau ngày giải phóng miền Nam
1975, Vũ Hoàng Tuấn, đã nhiều lần mời cha- người đã viết Thương nhớ mười hai với tất cả
tấm lòng yêu mến, nhớ thương không nguôi Hà Nội-mảnh đất chôn rau cắt rốn, nơi lưu giữ
những kỷ niệm đẹp nhất, gắn bó nhất với cuộc đời ông từ thuở ấu thơ - về Hà Nội nhưng ông
đã từ chối bởi ông còn băn khoăn: Nếu về Hà Nội bây giờ, ông sẽ về với tư cách gì ?
Ngày 8.4.1984, nhà văn Vũ Bằng qua đời, con ông đến một tòa soạn đăng cáo phó (mất
tiền). Tòa soạn này đồng ý đăng nhưng nhất quyết không cho đăng hai chữ "Nhà văn" trước tên
của Vũ Bằng...
Vũ Bằng mất đi nhưng nhiều tác phẩm của ông còn sống mãi với đời. Nhiều người yêu
mến Vũ Bằng đã bỏ công sức tìm hiểu lai lịch đời hoạt động cách mạng của ông. Vì thế, vấn đề
Vũ Bằng đã được Hội Nhà văn Việt Nam cử người xác minh - dù quá muộn màng.
Ngày 1.3.2000, Cục Chính trị thuộc Tổng cục 2 - Bộ Quốc phòng đã có văn bản xác nhận
nhà văn Vũ Bằng là chiến sĩ quân báo hoạt động suốt từ 1952 đến 30.4.1975.
8
Tiếp đến ngày 04.12.2000, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết
định tặng thưởng "Huân chương kháng chiến hạng ba" cho nhà văn Vũ Bằng vì đã có thành
tích trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Cũng trong khoảng thời gian này, một bộ phim tư liệu truyền hình ra đời có tên gọi: "Đến
với nhà văn Vũ Bằng”.
Năm 2000, Nhà xuất bản Văn học -Hà Nội cho ra Tuyển tập Vũ Bằng (3 tập) với trên
3000 trang.
Năm 2001, Nhà xuất bản Hội Nhà văn ra mắt độc giả cuốn "Nhà văn Việt Nam thế kĩ XX"
gồm 9 tập. Ở tập thứ 9 có một "mảnh đất" không nhỏ dành cho Vũ Bằng (từ trang 121 đến
trang 168) gồm các mục: Tiểu sử - Thư mục tác phẩm - Hồi ức và trích tác phẩm "Thương nhớ
mười hai".
Những sự kiện trên đã làm nức lòng những ai đã từng đọc và yêu mến Vũ Bằng qua
những tác phẩm: Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam, Bốn mươi năm
nói láo ...
Từ đây, một giai đoạn mới được tiếp tục mở ra trong việc nghiên cứu cuộc đời và sự
nghiệp của Vũ Bằng. Luận văn này của chúng tôi cũng không đi ngoài cái xu hướng ấy với
mong muốn cùng với bạn đọc cả nước làm sáng tỏ đôi điều về giá trị nghệ thuật văn chương
Vũ Bằng.
2. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:
2.1. Đối tượng khảo sát:
Vũ Bằng là người chuyên cần, viết nhanh, viết khỏe. Nhận xét về cuộc đời cầm bút của
ông, nhà văn Tô Hoài trong bài Vũ Bằng "Thương nhớ mười hai" đã viết: "Như một ông thợ
nấu cực kỳ thành thạo tay dao tay thớt, mắt để vào món vừa chín, mắt nhìn vào món bưng ra.
Những chồng báo ấy là thức ăn nuôi bài. Vũ Bằng làm báo, viết báo, thầu báo, cai đầu dài ba
bốn tờ một lúc - anh viết đủ thứ thượng vàng hạ cám, từ cái hộp thư, cái tin vặt, cái vui cười,
cái "biết ai tâm sự" đến chuyện ngắn, chuyện dài đăng từng kỳ..." [9; 963]. Riêng trong lĩnh
vực văn chương Vũ Bằng đã để lại một khối lượng khá lớn các tác phẩm được sáng tác từ
những năm 30 cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Nhà xuất bản Văn học đã tập hợp chưa đầy
9
đủ các sáng tác của ông trong Tuyển tập Vũ Bằng (3 tập) với trên 3000 trang viết. Sự nghiệp
sáng tác của ông có thể chia làm 3 giai đoạn : Trước 1945, từ 1945 đến 1954 và từ 1954 đến
khi mất.
Ở giai đoạn đầu, Vũ Bằng cá nhiều bài viết bàn về tiểu thuyết in nhiều kỳ trên Trung Bắc
chủ nhật, sau gom thành tập Khảo về tiểu thuyết (P.Văn Tươi xuất bản SG. 1955) dài 170 trang
in. Trong Tuyển tập Vũ Bằng tập II, nhà xuất bản Văn học đổi thành Khảo luận, Biên soạn (tr.
1139 -> tr.1328). Đồng thời ông cũng cho ra đời một loạt "truyện mới" (truyện không có
chuyện) - truyện "gần đời" thiết thực : Một mình trong đêm tối (tiểu thuyết 1937), Tội ác và hối
hận (tiểu thuyết,1940), Ba truyện mổ bụng (tập truyện .1941)... và hồi ký Cai (1940) (Sau này
nhà xuất bản Thế giới tái bản đổi tên thành Phù dung ơi ! Vĩnh biệt (1969), Tuyển tập Vũ Bằng
- Nhà xuất bản Văn học. 2000 cũng gọi theo cái tên thứ hai này).
Các sáng tác nghệ thuật của Vũ Bằng ở giai đoạn này đã thể hiện một sự nỗ lực lớn của
ông Ương việc tìm kiếm một hình thức thể hiện mới (cách xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng
điệu ...) cho văn xuôi Việt Nam, kết quả mà ông thu lượm được cũng mới dừng ở bước đầu hết
sức khiêm tốn .
Đến giai đoạn thứ 2, từ 1945 đến 1954, do hoàn cảnh riêng về công việc, nhiệm vụ, Vũ
Bằng gần như độc chiếm một "mảnh đất" khá mầu mỡ trong văn chương:"mảnh đất", "khoảnh
trời" của những người hồi cư, những người dinh -tê. Ông đã miệt mài "canh tác" trên "mảnh
đất" ấy với thái độ nghiêm túc của người cùng cảnh ngộ và ông đã gặt hái được khá nhiều điều
từ một loạt truyện ngắn: Giai đoạn mới (Tiểu thuyết thứ bảy, số 8, 1949), Ở đây bán sách cũ
(Tiểu thuyết thứ bảy, số 10, 1949), Cây hoa hiên bên bờ sông Na (Tiểu thuyết thứ bảy, số 11,
1949), Tiếp theo và hết truyện Lưu Bình - Dương Lễ (Tiểu thuyết thứ bảy, số 21, 1949), Bát
cơm (Tiểu thuyết thứ bảy, Số 23, 1949), Bữa cỗ (Tiểu thuyết thứ bảy, số 29, 1949) ... Ở giai
đoạn này, các sáng tác của Vũ Bằng là sự kết hợp hài hòa giữa hiện thực cuộc sống và tấm lòng
nhà văn, tạo nên một lối văn xuôi mới, rất gần với văn xuôi của Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh
Tịnh.
Đến giai đoạn cuối của sự nghiệp sáng tác (từ 1954 -> 1984), Vũ Bằng ở trong một hoàn
cảnh đặc biệt : Tuổi không còn trẻ (ngoài 40) lại phải xa quê hương, xa gia đình mà ông vô
cùng yêu thương và gắn bó để làm một công việc nguy hiểm và bí mật. Bao điều cần nói, muốn
10
nói ông đều đem gửi gắm trong các sáng tác của mình: Đợi con, Người làm mả vợ, Cái thích kỳ
lạ của người đàn bà thời loạn (Người làm mả vợ, truyện ký, Văn, Sài Gòn, 1973), Mơ về một
cuộc chọi trâu, Ăn tết thủy tiên, Mê chữ, Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Món lạ
miền Nam...Trong đó hai cuốn nói về nghệ thuật ẩm thực của hai vùng Hà Nội và Nam Bộ và
một cuốn nói về quê hương Bắc Việt được coi là những bài "thơ bằng văn xuôi.", đã để lại dấu
ấn rất sâu đậm trong tâm hồn nhiều thế hệ độc giả.
Như vậy, so với giai đoạn sáng tác đầu, hai giai đoạn sáng tác sau của Vũ Bằng khá thông
nhất về phong cách và bút pháp. Vì thế, với đề tài khoa học đề ra, luận văn chỉ tập chung làm
sáng tỏ vấn đề cơ bản xoay quanh những sáng tác thuộc hai giai đoạn sáng tác sau của Vũ
Bằng. Còn giai đoạn sáng tác đầu của ông, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu khi điều kiện cho
phép.
Từ những suy nghĩ trên, bên cạnh việc xem đối tượng nghiên cứu chính là những tác
phẩm văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng sáng tác từ 1945 cho đến khi ông qua đời, để làm rõ
vấn đề, chúng tôi đã tiếp thu có chọn lọc những nhận định, đánh giá có liên quan từ các bài
viết, các công trình nghiên cứu về Vũ Bằng mà chúng tôi SƯU tập được .
2.2. Nội dung vấn đề:
Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật là một vấn đề khá rộng và phức tạp, thể -hiện cụ thể và tinh
tế ở cả nội dung và hình thức của tác phẩm. Để hiểu nó một cách thấu đáo, tường tận phải có
một vốn kiến thức sâu rộng về mọi mặt và phải có một sự đầu tư lâu dài về thời gian. Mặc dù
điều kiện chủ quan còn có nhiều hạn chế, phải cố gắng nhiều cũng mới chỉ hy vọng đạt được
một phần nhỏ của yêu cầu trên nhưiig với lòng ham thích tìm hiểu khoa học chúng tôi cũng cố
gắng trên cơ sở tiếp thu ý kiến những người đi trước, vận dụng một số hiểu biết về văn học dân
tộc, về phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc và thi pháp học của M.Bakhtin, thi pháp
học của Trần Đình Sử để khảo sát đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng. Với khả năng
cho phép, chúng tôi xin mạnh dạn đề cập đến ba vấn đề cơ bản, bô" trí ở 3 chương sau:
Chương 1: Hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn trong văn xuôi nghệ thuật của Vũ
Bằng .
11
Chương 2 : Hình tượng con người, thời gian và không gian nghệ thuật trong văn xuôi
nghệ thuật của3 IU : Ngôn ngữ và giọng điệu trong văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng.
3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI:
3.1. Ý nghĩa quan trọng nhất của đề tài là khẳng định sự tồn tại và giá trị đặc sắc của văn
xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của
Vũ Bằng cũng nằm trong ý nghĩa của việc nghiên cứu phong cách tác giả văn học hiện đại Việt
Nam nói chung. Chúng ta không thể hình dung rõ nét diện mạo của một giai đoạn, một thời đại
văn học nếu không bắt đầu từ việc nghiên cứu tư tưởng và phong cách của những tác giả tiêu
biểu trong giai đoạn, thời đại ấy. Bởi lịch sử phát triển của văn học, suy cho cùng là lịch sử
hình thành và phát triển của các tư tưởng và phong cách nhà văn trên sự hình thành và phát
triển của các thể loại văn học.
3.2. Nghiên cứu đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng, vì vậy không chỉ nhằm đánh
giá một phần tài năng và những nỗ lực có hiệu quả đối với văn xuôi nghệ thuật mà còn giúp ta
đánh giá đúng mực, có sức thuyết phục về đóng góp của Vũ Bằng trong công cuộc hiện đại hóa
nền văn xuôi nước nhà.
4. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
4.1. Điểm qua việc nghiên cứu Vũ Bằng và các sáng tác của ông
Theo nhà nghiên cứu phê bình Vương Trí Nhàn thì "Những người có tìm hiểu kĩ đời sống
văn học 1932-1945 đều biết Vũ Bằng là một trường hợp hết sức mâu thuẫn" [4; 14- 15]. Vào
năm 1930, Vũ Bằng đã được mọi người biết đến với truyện Con ngựa già đăng trên mục "Bút
mới" báo Đông Tây (Hoàng Tích Chu chủ trương). Đến năm 1937 khi Một mình trong đêm tối
của Vũ Bằng được in ra, Khái Hưng đã viết ngay bài giới thiệu trên báo Ngày nay trong đó
công nhận đây là một cuốn sách "không tầm thường chút nào". Từ đó đến 1945, Vũ Bằng viết
nhiều (cả báo, cả văn) lại xuất hiện với tư cách một ông lớn trong nghề làm báo, từng giữ chân
Thư ký tòa soạn các tờ báo như Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thống bán nguyệt san, Truyền bá,
Trung Bắc chủ nhật "vậy mà hầu như không có nhà nghiên cứu nào khi xem, xét lịch sử văn
học 1932-1945 để công viết riêng viết kĩ về ông" ngoại trừ trường hợp Vũ Ngọc Phan. Trong số
78 người được Vũ Ngọc Phan xếp vào đội ngũ "Nhà văn hiện đại" có Vũ Bằng . Vũ Bằng được
12
Vũ Ngọc Phan xếp vào hàng các tiểu thuyết gia, tại chương "Tiểu thuyết tả chân", ở chương
này có bốn nhà văn được Vũ Ngọc Phan đề cập đến là Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Nguyễn
Đình Lạp và Tô Hoài. Nguyễn Công Hoan được Vũ Ngọc Phan dành cho 29 trang, Vũ Bằng 19
trang, Nguyễn Đình Lạp 6 trang và Tô Hoài 15 trang. Trong phần viết về Vũ Bằng, Vũ Ngọc
Phan tỏ ra khá khắt khe nhưng ông vẫn ghi nhận Vũ Bằng có cái cách riêng của mình. Ông đã
nhiều lần nhấn mạnh đến "một lối văn rất ngộ, làm cho người ta thích đọc" [20; 98] của Vũ
Bằng.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Vũ Bằng bị xếp vào loại nhà văn có “vấn đề”. Vì thế
trong suốt một thời gian dài, ở miền Bắc, việc phổ biến cũng như nghiên cứu về các sáng tác
của ông hầu như bị rơi vào im lặng.
Ở Sài Gòn, tháng 5.1969, trong "Lời giới thiệu" cho cuốn Bốn mươi năm nói láo xuất bản
lần đầu tiên, do cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai ấn hành tại Sài Gòn, 1969, nhà phê bình
Thượng Sỹ đã giới thiệu Vũ Bằng "là một nhà văn phong phú, một tiểu thuyết gia, một cây bút
phóng sự, tả chân đã gây ảnh hưởng không ít cho một lớp độc giả và một lớp người viết văn"
[20;119]. Thương Sỹ Nguyễn Đức Long cũng nhấn mạnh đến "lối diễn tả giản dị, thân mật,
chan chứa tính cách trào lộng" trong văn phong Vũ Bằng và cho rằng "đọc "Bốn mươi năm nói
láo " chẳng khác đọc lịch sử báo chí xứ này trong vòng già nửa thế kỷ XX", "Bốn mươi năm nói
láo" là "mọi tác phẩm văn chương được trình bày dẹp cả về nội dung lẫn hình thức." [20; 120].
Phải đến sau sự kiện Vũ Bằng qua đời (8.4.1984), vấn đề Vũ Bằng và sự nghiệp sáng tác
của ông mới trở thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học. Tô Hoài
trong bài viết: Vũ Bằng "Thương nhớ mười hai" đăng trên Tạp chí Văn học, số 1 - năm 1991 đã
bênh vực, bảo vệ các giá trị văn chương đích thực của Vũ Bằng. Ông thấy "mỗi trang của Vũ
Bằng là một li uẩn, một ước mong tức tưởi không tới được, không bao giờ tới được, không thể
cầu được ước thấy...". Tác giả Dế Mèn phiêu lưu kí năm nào cũng trở lại với vấn đề mà Vũ
Ngọc Phan đã đặt ra trong những năm 40 của thế kỉ XX (về sáng tác Vũ Bằng) và khẳng định
"Vũ Bằng chủ tâm và mở đầu một lối riêng". Ông đã viết về Vũ Bằng với sự trân trọng và
khâm phục một văn tài, nâng niu một tâm hồn, một nhân cách.
Cùng với Tô Hoài, nhà thơ Nguyễn Vỹ đã có những lời đánh giá rất cao về -Vũ Bằng,
thậm chí còn đòi hỏi một vị trí văn học sử cho Vũ Bằng.
13
Cùng chung cách đánh giá với nhà thơ Nguyên Vỹ, nhà nghiên cứu Vương Tri Nhàn
trong "Lời dẫn" cuốn Khảo về tiều thuyết của Vũ Bằng đã viết: "..Một trong những người có
ảnh hưởng nhất trong đám nhà văn đứng ngoài Tự lực văn đoàn cũng là người có tác động rõ
rệt đối với việc xuất bản tiểu thuyết lúc ấy chính là nhà văn Vũ Bằng".
Một trong những người có công ứong quá trình "Đi tìm chỗ đứt gãy trong lý lịch nhà văn
Vũ Bằng" là Văn Giá. Văn Giá cũng bỏ nhiều- công sức tìm hiểu sự nghiệp văn chương của Vũ
Bằng. Ông đã đánh giá rất cao về Vũ Bằng. Với ông, Vũ Bằng "không những là nhà báo bậc
thầy mà còn là một nhà văn đầy tài năng" [20; 5], đã có công "khai thông một lối trần thuật
mới trong tiểu thuyết: kết hợp giữa miêu tả và giải thích, miêu tả tâm lý như một quá trình,
nhân vật tự phản biện chính ý nghĩ của mình, lời hai giọng hoặc nhiều giọng đan xen" [20; 44].
Để Phác thảo chân dung (chữ của Văn Giá), Văn Giá đã sắp xếp các sáng tác của Vũ Bằng theo
từng giai đoạn, ứng với một số giai đoạn trong lịch sử dân tộc, từ đó chỉ ra, chứng minh cái
mới, sự đóng góp của Vũ Bằng trong việc thúc đẩy nền văn xuôi dân tộc phát triển.
Năm 1996 là năm nở rộ của những bài viết nghiên cứu về tác phẩm Thương nhớ mười
hai, một trong những tác phẩm được đánh giá là hay nhất của Vũ Bằng và của văn học Việt
Nam thế kỷ XX. Đặng Anh Đào nhân Tháng ba đi tìm thời gian đã mất; Nguyễn Thị Thanh
Xuân có Khúc ca hoài cảm của kẻ tình nhân; Nguyễn Thị Minh Thái viết Tháng ba rét Bắc
trong sầu xứ phương Nam; Văn Giá đọc Tháng ba rét nàng Bân (tên một phần của cuốn
Thương nhớ mười hai) mà cảm được Khúc nhạc hển non nước...
Ngoài ra còn có nhiều bài giới thiệu phê bình có giá trị về các tác phẩm của Vũ Bằng như
: Vũ Bằng và những tìm tòi văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Buồn vui đời viết, Thương
nhớ mười hai và một cảnh quan vãn hóa độc đáo của Vương Trí Nhàn ; Lời giới thiệu cho
cuốn Miếng ngon Hà Nội, Vũ Bằng thương nhớ của Vũ Quần Phương; Lời nói đầu cuốn
Thương nhớ mười hai của giáo sư Hoàng Như Mai...
Mặc dù muộn nhưng đến nay, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Vũ Bằng đã được
nghiên cứu trên nhiều phương diện và được tiếp cận ở các khuynh hướng: xã hội, phương pháp
sáng tác, phong cách nghệ thuật và ở rải rác một số bài phê bình đã đi vào nghiên cứu nghệ
thuật tác phẩm dựa trên các thành tựu của thi pháp học.
14
Trong phạm vi giới hạn của đề tài luận án, chúng tôi sẽ trình bày những ý kiến nổi bật
trong các công tình, các bài nghiên cứu phê bình quan trọng, trực tiếp và có liên quan đến đề
tài: Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng.
4.2. Để hình dung cụ thể có hệ thống những công trình, những bài nghiên cứu phê bình
có nhận xét sắc sảo liên quan đến đề tài luận án, chúng tôi phân ra các loại ý kiến như
sau:
4.2.1. Những ý kiến liên quan đến vấn đề hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn trong
các sáng tác của Vũ Bằng .
4.2.1.1. Trên Tạp chí văn học số 1-1991 Tô Hoài trong bài Vũ Bằng "Thương nhớ mười
hai" đã nói đến cái tâm sự của người tha hương suốt đời ám ảnh Vũ Bằng. Nhà văn viết
"Thương nhớ mười hai, bàn tay giơ lên đếm một tháng, một ngày, một năm, một đời. Đấy là cái
tha thiết đầu tiên và cuối cùng".
4.2.1.2. Cũng về Thương nhớ mười hai, Vũ Quần Phương có đến hai bài viết. Trong "Lời
giới thiệu" Miếng ngon Hà Nội, ông đã nhấn mạnh đến giá trị văn chương, nỗi niềm hoài niệm
về quá khứ, về quê hương của Vũ Bằng: "Quyển sách này còn là quyển sách văn chương, nó
cho thấy một tâm hồn, một nỗi lòng giàu tình cảm dân tộc, quyến luyến trân trọng những nếp
sống của ông bà đã để lại đang ngày càng mai một (...) Trên tất cả các hàng chữ, trên 200
trang sách luôn xao xuyến những hoài niệm. Một nỗi niềm tương tư sông núi cỏ cây, thời tiết,
bàng bạc, thấm thìa, xót thương" [20; 10- 11].
4.2.1.3. Đến bài Vũ Bằng "Thương nhớ mười hai", Vũ Quần Phương lại chú ý đến đặc
điểm văn phong Vũ Bằng. Ông viết "Văn Vũ Bằng, đặc biệt trong "Thương nhớ mười hai" và
"Miếng ngon Hà Nội" có cái buồn xa vắng ấy, nỗi buồn nhớ đất đai và năm tháng. Đổ là cái
buồn nhớ đặc thù thuở đất nước cắt chia Nam Bắc (...) Văn ông là một nỗi nhớ. Ở Sài Gòn
những năm ấy, nhìn về Hà Nội cố hương, ổng có nỗi lòng của một kẻ ra đi không hạn định.
Nhớ đốt ruột đốt gan nhưng hy vọng ngày về lại quá mong manh" [20; 132- 133].
4.2.1.4. Trong số những người viết Lời giới thiệu cho các tác phẩm của Vũ Bằng đến nay,
có lẽ Vương Trí Nhàn là người đầu tiên nói kỹ về một lối văn mới tồn tại ở trong sáng tác Vũ
Bằng, đặc biệt là trong tác phẩm Cai. Ông đã phân biệt thơ với văn xuôi rồi sau đó đặt Vũ Bằng
15
bên cạnh các nhà văn Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX như Khái Hưng, Nguyễn Công Hoan và chỉ
ra: "Cái độc đáo của Vũ Bằng khi viết "Cai" là tác giả không định biến nó thành một thứ tiểu
thuyết thông thường tức là khách quan hóa câu chuyện của mình theo kiểu trên đây vừa nói.
Ông không có ý tạo ra những bức tranh phong cảnh làm nền cho câu chuyện mà cũng chả
buồn phác họa đầy đủ các nhãn vật phụ trợ để gộp cả lại làm nên một tấn trò đời thú vị. Ngược
lại có vẻ như ông chỉ chú ý đến bản thân cùng người đọc vô hình mà ông cảm thấy như đang ở
bên cạnh và muốn dốc hết bầu tâm sự cho người đó nghe. Tuy người ta cũng thấy ở đây một
câu chuyện - câu chuyện tôi, tức là Vũ Bằng cai thuốc phiện - nhưng cái nổi lên rõ hơn, bao
quát các trang viết, là cái giọng riêng của người kể (...) Trước mắt chúng ta toàn bộ tác phẩm
như sự bột phát vừa liên tục vừa đứt đoạn của một đời sống nội tâm nồng nhiệt, chỉ biết có
mình, ào ạt muốn bộc lộ mình, và nếu đôi lúc một vài hình hài của cuộc sống chung quanh có
hiện lên đây đó, thì cũng chẳng qua là nhân tiện mà nói tới.." [4; 10].
Dù không gọi thẳng tên của nó ra, nhưng Vương Trí Nhàn đã đánh giá rất cao sự thành
công của Vũ Bằng trong thể văn này ở tác phẩm Cai và Thương nhớ mười hai. Theo ông
'''trong cuộc đời viết đông viết tây, viết xuôi viết ngược đủ thứ của Vũ Bằng, "Cai" đánh dấu
một sự chín đầy trọn vẹn của ngòi bút, cái mức chín đẹp trước đó, ông chưa đạt tới và phải
mấy chục năm sau, tới "Thương nhớ mười hai", ông mới có dịp lặp lại" [4; 8].
4.2.1.5. Năm 1996, trong bài viết Khúc ca hoài cảm của kẻ tình nhân, Nguyễn Thị Thanh
Xuân đã từ Tháng ba rét nàng Bân trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng mà liên tưởng đến
Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ, đến câu "Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà" của Nguyễn Xuân Sanh
và tác phẩm tuyệt vời Bốn mùa thiên nhiên của Prisvin, để rồi quay trở lại khẳng định sự cảm
nhận tinh tế của Vũ Bằng trước những đổi thay của đất trời trong tiết tháng ba. Tác giả bài viết
đã phát hiện ra "cái bản chất tình nhân (...) không chỉ với cố nhân mà cả với cố hương" [20;
154] của Vũ Bằng .
4.2.1.6. Người tâm đắc và nói nhiều đến vấn đề hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn
ương các sáng tác nghệ thuật của Vũ Bằng là Văn Giá. Năm 1994, toong Tiếng kêu rỏ máu Văn
Giá đã nói đến cái gọi là "thiên lý tương tư" của Vũ Bằng và nhận xét: "Quê hương xứ Bắc
trong cái nhìn của Vũ Bằng hiện lên như một người tình" [20; 149] và ""Thương nhớ mười hai"
16
là một bản sầu ca đằng đẵng của một kiếp sống tha hương khắc khoải nỗi nhớ thương về miền
viễn xứ" [20; 151].
4.2.1.7. Phải đến năm 2000, trong một công trình nghiên cứu khá dày giãn mang tên Vũ
Bằng bên trời thương nhớ, Văn Giá mới có điều kiện để nói nhiều về cuộc đời và sự nghiệp
sáng tác của Vũ Bằng. Văn Giá nhận thấy "có một đề tài quán xuyến hầu hết tất cả các tác
phẩm Vũ Bằng" giai đoạn 1945 đến 1954 "Là vấn đề hồi cư và người hồi cư" [20; 47]. Ở đó,
Văn Giá chú ý đến "cái tâm lý mặc cảm, nỗi dằn vặt day dứt của những người hồi cư" [20; 48]
trong các sáng tác của Vũ Bằng. Nhà nghiên cứu dành đến 14 trang sách để nói về "tấm lòng
tìm về cội nguồn của một kẻ tha hương" là Vũ Bằng [20; 64].
4.2.2. Những ý kiến liên quan đến hình tượng con người, thời gian và không gian nghệ
thuật.
4.2.2.1. Năm 1999, trong bài Thương nhớ mười hai một cảnh quan văn hóa độc đáo,
Vương Trí Nhàn nhận định cảnh quan văn hóa trong Thương nhớ mười hai là cảnh quan "nhất
trí trong không gian và liên tục trong thời gian" [20;165] và "Tình yêu của Vũ Bằng với đất
Bắc là một thứ tình yêu được gián cách trong khống gian (...) Còn một thứ gián cánh nữa, cũng
gợi thương nhớ đến quay quắt, là gián cách trong thời gian" [20; 165-167].
4.2.2.2. Trong Vũ Bằng bên trời thương nhớ, Văn Giá nhận xét về Vũ Bằng: "từ 1954 đến
khi ông nhắm mắt lìa đời 1984, với 30 năm chẵn ấy, ông thực sự hiện ra như một thân phận lạc
loài" [20; 59]. Văn Giá dành nhiều trang để lý giải hiện tượng này dưới góc độ tâm lý. Theo
ông, việc Vũ Bằng di chuyển vào Sài Gòn ở tuổi 40 là "một trường hợp bị bứng ra khỏi sinh
quyển văn hóa của mình" để, "quăng thân vào một không gian sinh tồn, một sinh quyển văn
hóa có nhiều điểm khác" mà ông không có khả năng hòa nhập.
4.2.2.3. Cũng trong Vũ Bằng bên trời thương nhớ, Văn Giá nhận xét: "Thời gian trong ký
ức Vũ Bằng mang tính chất song hành: hiện tại và quá khứ, quá khứ được nhìn từ hiện tại" [20;
79] và Vũ Bằng thường "trở về với thế giới hoài niệm", "với một không gian văn hóa Hà Nội và
miền Bắc" [20; 65]. Trong cái không gian văn hóa Hà Nội và miền Bắc ấy, Vũ Bằng đã "hướng
tới không gian gia đình, tổ ấm gia đình (...) ông đã kéo hình ảnh gia đình lùi về rất sâu trong
tính chất khởi thủy thuần khiết của nó" [20; 71].
17
4.2.3. Những ý kiến nhận xét về câu văn, giọng văn, cấu trúc ... trong tác phẩm của Vũ
Bằng .
4.2.3.1. Trong Tiếng kêu rỏ máu, Văn Giá nhận xét: "Các trang văn của Vũ Bằng câu chữ
cứ miên man, si mê nhưng nhức nỗi yêu đắm đuối (...) Các câu văn cứ kéo dài, chồng chất, hối
hả, xoắn cuộn, hổn hển dội lên từng đợi không dứt (...) Đó là thơ của niềm thương nhớ. Trong
văn Vũ Bằng, có những bức tranh phong cảnh tuyệt đẹp, đẹp màu, đẹp nét, đẹp cả cái không
khí, tâm trạng phổ vào trong cảnh" [20; 149-150].
4.2.3.2. Đến Khúc nhạc hồn non nước, quan sát phần Tháng ba rét nàng Bân (Thương
nhớ mười hai), Văn Giá nhận thấy: "Hầu hết các câu văn Vũ Bằng đều được xây dựng bằng
những nội dung của các cảm giác ngũ quan như vậy. (...) toàn là những câu văn ấp đầy cảm
giác" [20; 127-128].
4.2.3.3. Nếu như Văn Giá trong hai bài viết trên mới ghi lại những nhận xét thuần trực
cảm về câu văn của Vũ Bằng thì trong bài Tháng ba rét nàng Bân Đặng Anh Đào đã tiếp cận
một đoạn trích của tác phẩm Thương nhớ mười hai ở bình diện ngôn ngữ nghệ thuật. Đây là
một hướng khai thác tốt, có nhiều triển vọng, rất tiếc là lượng thông tin từ bài viết quá khiêm
tốn .
4.2.3.4. Trở lại với Văn Giá và cuốn Vũ Bằng bên trời thương nhớ. Trong phần Phác thảo
một chân dung Văn Giá nhận xét: "Hầu như không có một câu văn nào trong trạng thái miêu tả
khách quan trung tính ị...) Có nhiều câu văn cảm thán với những lời hô gọi, nhiều từ hỏi đáp,
nhiều quán ngữ. Không ít những câu văn được bố trí theo cách đăng đối, hổ ứng nhịp nhàng,
mang dáng dấp biền ngẫu, đưa lại cảm giác du dương, đắm đuôi ... Lại thêm các câu văn với
nhiều thành phẩn mở rộng, nhiều điệp ngữ biến hóa linh hoạt !...) Ở cấp độ ngôn ngữ cũng
vậy, rất ừ hệ ngôn ngữ khái niệm, mà chả yếu là ngôn ngữ của lời ấn tiếng nói hàng ngày,
mang tính chất giản dị, giàu giá trị biểu cảm" [20; 82].
4.3. Nhận định chung:
Như trên chúng tôi đã trình bày, trong số những nhà văn hiện đại Việt Nam ở thế kỷ XX,
Vũ Bằng hình như "không gặp may" (chữ của Vương Trí Nhàn). Là một trong số những nhà
vãn mở đầu cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, Vũ Bằng sáng tác nhiều và đã có tác phẩm để
18
đời (ít nhất là Thương nhớ mười hai). Ẩy vậy mà phải hơn nửa thế kỷ sau sáng tác đầu tiên của
Vũ Bằng, dư luận mới quan tâm tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông. Dù muộn
màng nhưng những sự tìm kiếm ấy quả là cần thiết và đáng trân trọng. Các ý kiến về tác phẩm
Vũ Bằng tuy còn rải rác nhưng đã được chú ý ở trên nhiều phương diện, lý giải từ nhiều góc
độ: xã hội học, phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật và đặc biệt là thi pháp ở những
năm gần đây. Hầu hết những nhà nghiên cứu tâm huyết về vấn đề Vũ Bằng như: Vương Trí
Nhàn, Vũ Quần Phương, Tô Hoài, Văn Giá, Nguyễn Thị Thanh Xuân, Đặng Anh Đào ... đều
công nhận :
- Văn Vũ Bằng có cái buồn xa vắng, chất chứa nỗi niềm hoài niệm về quá khứ, về quê
hương .
- Ngôn ngữ trong tác phẩm Vũ Bằng là ngôn ngữ mang đậm chất đời thường, gần gũi,
giản dị, mang tính đối thoại.
- Nhiều nhà nghiên cứu đều cho Thương nhớ mười hai là tác phẩm ký (hay tùy bút) trữ
tình hay nhất của Vũ Bằng và của văn học hiện đại Việt Nam thế kỷ XX. ở đố nhà văn hay sử
dụng các câu dài, phép điệp ngữ biến hóa linh hoạt làm tăng giá trị biểu cảm của tác phẩm.
Từ các công trình, các bài nghiên cứu trên chúng ta thấy rằng: dung lượng khảo sát của
các bài nghiên cứu chưa bao quát, hầu hết chỉ xét từ một tác phẩm (trường hợp Vương Trí
Nhàn giới thiệu tác phẩm Cai) hay một phần tác phẩm (trường hợp Văn Giá, Nguyễn Thị
Thanh Xuân, Đặng Anh Đào... nghiên cứu Tháng ba rét nàng Bân); Có khi đưa ra đoạn văn và
lời nhận xét rút ra tuy sâu sắc nhưng phần lổn mang tính chất tổng quát, giới thiệu tùy theo góc
nhìn của từng tác giả (trường hợp Vương Trí Nhàn so sánh văn Vũ Bằng với Nam Cao, Văn
Giá so sánh văn Vũ Bằng với văn Nguyễn Tuân, Thạch Lam). Nói chung, các bài nghiên cứu
về Vũ Bằng mới chỉ dừng ở mức "Phác thảo một chân dung" (chữ của Văn Giá), chưa có một
công trình thuần túy nào nghiên cứu về đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng. Cho nên
đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng vẫn là vấn đề còn bỏ ngỏ, cần nghiên cứu thêm.
Theo chúng tôi, những phát hiện của những nhà nghiên cứu về Vũ Bằng là nền tảng, là cơ
sở và những gợi ý quý báu để chúng tôi vận dụng, khảo sát ở nhiều tác phẩm, đặt chúng vào
trong một hệ thống chung, nhằm làm nổi bật những đặc điểm của văn xuôi nghệ thuật của Vũ
Bằng và phân tích chúng ở một mức độ nhất định mà khả năng và điều kiện cho phép.
19
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
5.1.Để thực hiện luận văn này, chúng tôi dựa vào những luận điểm cơ bản trong hệ thống
lý luận Mác xít: quan điểm duy vật, quan điểm lịch sử và phương pháp biện chứng làm nền
tảng lý luận trong nhận thức và nghiên cứu.
5.2.Tổng hợp và vận dụng những thành tựu của các khoa học liên ngành: Lý luận văn học,
lý thuyết tiếp nhận văn học, thi pháp học, phương pháp luận nghiên cứu văn học... vào thực tiễn
nghiên cứu .
5.3. Ngoài những quan điểm có tính chất phương pháp krận như trên, trong luận án này
chúng tôi sử dụng một số phương pháp cụ thể rất quen thuốc trong nghiên cứu văn học:
5.3.1. Khảo sát văn bản tác phẩm.
5.3.2. Đặt đối tượng nghiên cứu (văn xuôi nghệ thuật của Vũ'Bằng) trong các mối quan hệ
: cuộc sống <- >nhà văn <-> tác phẩm - người đọc, để nhận thức nghiên cứu.
5.3.3. Dùng phương pháp so sánh theo hai trục lịch đại và đồng đại nhằm đem đến những
nhận xét có sức thuyết phục.
5.3.4. Luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê xem các hình thức như từ ngữ, các
hình ảnh, các đoạn... được "lặp" lại bao nhiêu lần, còn gọi là hệ thống " hình tượng ám ảnh", từ
những cơ sở này để phát hiện những quy luật, những vấn đề thuộc thi pháp tác giả.
5.3.5. Phương pháp phân tích - tổng hợp cũng được sử dụng rộng rãi trong luận văn ở
nhiều cấp độ, có tác dụng lớn ương việc đem lại những nhận thức mới từ vấn đề nghiên cứu.
Tất nhiên, các phương pháp nghiên cứu trên đây không phải được thực hiện riêng rẽ, biệt
lập mà phối hợp với nhau trong suốt quá trình nghiên cứu, giải quyết vấn đề mà luận văn đề ra
nhằm phản ảnh trung thực các đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng .
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:
Luận văn tập trung nghiên cứu đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng nhằm :
6.1.Phát hiện những đặc điểm phong cách bút pháp của ông; phân tích những biểu hiện cụ
thể và giá trị của các đặc điểm phong cách bút pháp ấy qua các sáng tác cụ thể, tiêu biểu từ
1945 trở đi của ông.
20
6.2.Khẳng định sự thống nhất chặt chẽ giữa bút pháp nghệ thuật với tư tưởng, cảm hứng
trong tính chỉnh thể của các sáng tác của Vũ Bằng.
Thực hiện thành công những nhiệm vụ trên, chúng tôi hy vọng đề tài sẽ mang lại những
đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng. Chúng tôi sẽ đề
cập đến nhiều tác phẩm hơn để có cái nhìn' tương đối toàn diện về vấn đề đặt ra, mạnh dạn đưa
ra những ý kiến bổ sung trên cơ sở những gợi ý từ các công trình đi trước. Và, quan trọng hơn
là từ góc độ thi pháp, luận văn đưa ra và làm sáng tỏ hơn những đặc điểm của văn xuôi nghệ
thuật của Vũ Bằng. Như vậy cũng có nghĩa là luận văn góp thêm một tiếng nói khẳng định tài
năng và sự đóng góp của Vũ Bằng đối với nền văn xuôi hiện đại Việt Nam ở thế kỷ XX.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn gồm ba chương tập trung
vào các vấn đề sau:
- Chương 1: Hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn trong văn xuôi nghệ thuật của Vũ
Bằng.
- Chương 2 : Hình tượng con người, thời gian và không gian nghệ thuật trong văn xuôi
nghệ thuật của Vũ Bằng.
- Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng.
21
CHƯƠNG 1: HIỆN THỰC CUỘC SỐ NG VÀ TẤM LÒNG NHÀ VĂN
TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA VŨ BẰNG
Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên độc lập, tự do
cho dân tộc. Văn học cũng khép lại một chặng đường. Đồng thời một nền văn học mới được
khai sinh và phát ữiển dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhiều nhà văn Việt Nam lúc này đã thực sự
trỏ thành những chiến sì trên mặt trận văn hóa văn nghệ. Họ đã hòa vào cuộc sống kháng chiến
khẩn trương, vất vả nhưng cũng rất đỗi hào hùng của dân tộc để tìm hiểu, học hỏi và để viết.
Hiện thực kháng chiến đã ùa vào trong các tác phẩm của họ, kết tinh ở các nhân vật nông dân,
bộ đội, em bé giao liên ... Vũ Bằng cũng tham gia kháng chiến nhưng nhiệm vụ giao cho ông
có phần đặc biệt, khó khăn hơn so với các chiến sĩ - văn nghệ si khác: Ông phải hồi cư (1948)
rồi di cư (1954), bí mật tham gia vào mạng lưới hoạt động tình báo nội thành, chịu cái án
"dinh- tê", chịu mang tiếng xấu trong con mắt đồng bào, đồng chí. Để có thể vừa hoàn thành
nhiệm vụ của người tình báo lại vừa thực hiện được trọng trách của một nhà văn trong một giai
đoạn lịch sử có nhiều biến cố, Vũ Bằng buộc phải chọn cho mình một hướng đi, một cách viết.
Vì thế, hầu hết các sáng tác văn xuôi của ông, từ đây, là văn xuôi nghệ thuật. Lối văn này là sự
kết hợp hài hòa giữa hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn. Điều này đã tạo nên một dấu ấn
khó lẫn ở khuynh hướng thẩm mi trong sáng tác của ông.
1.1. Hiện thực cuốc sống trong các sáng tác của Vũ Bằng:
Ngay từ những năm 40 của thế kỷ XX, chỉ với vài tác phẩm, Vũ Bằng đã được xếp vào
hàng ngũ những nhà văn "tả chân"- Ông đã đưa vào tác phẩm của mình những cuộc đời như
ông nghĩ "thường xuôi đuột, bình dị khổng có khúc mắc như các tiểu thuyết gia thường tả" [20;
39]. Nhân vật trong chuyện của ông lúc ấy có thể là "một cô gái yêu một chàng trai nhất định
phải lấy nhau cho bằng được nhưng hoàn cảnh không cho lấy nhau (...) cặp trai gái ấy dắt
nhau ra bờ sông cùng than khốc và đòi cùng trầm mình một lúc, song le đến lúc chót thì họ
chẳng nhảy xuống sông, mà cũng chẳng đi tu, nhưng chia tay từ giã, ai về nhà ấy ngủ ngon''
[20; 39]... Nghĩa là ông đã tái hiện cuộc sống như nó vốn có, trong các mối quan hệ nhằng nhịt
của nó.
22
Nhưng rồi hiện thực đời sống chiến tranh như một vòng xoáy dữ dội đã kéo tất cả mọi
người vào vòng ảnh hưởng của nó. Vũ Bằng không phải là trường hợp ngoại lệ. Có khác chăng,
mặt trận mà ông hoạt động là mặt Mịn thầm lặng, ít có tiếng súng và đầy cam go. Đã thế, trước
mắt mọi người, trước các bạn văn, ông lại bị coi là kẻ đào ngũ, kẻ phản bội. Dù muốn hay
không, Vũ Bằng không thể tránh khỏi cái nhu cầu tự bảo vệ cho danh dự của mình trước sự
phán xét của mọi người. Cuộc sống thực tiễn, đặc điểm của công việc được giao không cho
phép ông công khai tự vệ, Vũ Bằng đã tìm đến một cách tự "bào chữa" cho mình thông qua các
trang viết. Sáng tác của Vũ Bằng từ 1948 trở đi vẫn đầy ắp hiện thực nhưng không phải là hiện
thực rộng lớn, khái quát cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ với những mất mát,
hy sinh cụ thể có thể đong đếm được, với chủ thể của nó là các tầng lớp công, nông, binh như
trong các sáng tác của các nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa đương thời mà là hiện thực được
lắng lọc qua tâm hồn đầy ưu tư nhưng vô cùng nhạy cảm, tinh tế của người viết. ở đây, hiện
thực tâm lý, hiện thực tâm trạng đóng vai trò then chốt và quyết định. Nghĩa là thông qua
những động thái tâm lý, những sắc thái tình cảm của nhà văn hay nhân vật chính, ta nắm bắt
được cái "hồn" của hiện thực với niềm cảm thông sâu sắc trước những cảnh đời, những số phận
mòn mỏi, bất hạnh trong một xã hội thời chiến.
1.1.1. Vấn đề hồi cư và người hồi cư:
Là một nhà văn "dinh-tê", dù vì mục đích gì, Vũ Bằng cũng ít nhiều phải chịu chung số
phận của những người hồi cư. Hơn ai hết, ông hiểu rất rõ cuộc sống của họ. Theo thống kê
chưa đầy đủ của chúng tôi, trong giai đoạn từ 1945 đến 1954, Vũ Bằng viết 15 tác phẩm trong
đó có 12 tác phẩm đề cập trực tiếp đến vấn đề hồi cư và người hồi cư, trong ba tác phẩm còn lại
chỉ có 1 tác phẩm hoàn toàn thuần tứy là sự hồi tưởng một kỉ niệm êm đềm thưở thiếu thời
(Truyện trăm năm cũ) còn hai truyện Cây hoa hiên bên bờ sông Na và Cái cóng thuốc của Hàn
Lang tuy mang âm hưởng của Truyền kì mạn lục nhưng lấp ló đằng sau từng câu chữ vẫn là
cuộc sống loạn lạc thời chiến tranh, vẫn là vân đề thân phận con người trong một xã hội thời
chiến (Phụ lục 1). Điều đó chứng tỏ hồi cư là một vấn đề ám ảnh đối với nhà văn, nó chi phối
rất nhiều đến suy nghĩ, tình cảm của nhà văn trong giai đoạn này.
Trong một truyện dài ít nhiều có tính chất tự truyện như truyện Chớp bể mưa nguồn (ký
dưới bút đanh Hoàng Thị Trâm, đăng nhiều kỳ trên Tiểu thuyết thứ bảy, bắt đầu từ số 1,
23
Thượng tuần tháng 3.1949), Vũ Bằng đã chạm đến một mặc cảm khá phổ biến của những
người dân hồi cư lúc ấy thông qua suy nghĩ của nhân vật Lộc: "Tôi thấy chính tôi là một người
nên đứng lui ra làm cái công việc sở trường của mình là... viết láo. Tôi viết láo và không có
quan điểm chính trị gì, vì quan điểm của tôi không có gì đặc biệt, nhưng là của tất cả những
người hồi cư về đây: Hà Nội là đất nước của tôi, tôi ở, tôi ở đâu thì tôi theo pháp luật ở đấy, và
không ai cấm tôi yêu và xót xa đồng bào tôi".
Đã có một thời vấn đề "dinh-tế" được đặt ra trong lịch sử Việt Nam và vấp phải sự phản
ứng gay gắt của công luận. Hãy thử tưởng tượng: Cuộc kháng chiến chống Pháp mỏ ra trên
diện rộng. Toàn dân hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
"Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy
gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước" [77; 135]. Khắp nơi nhân dân nổi lên phá
đường, ngăn chặn bước tiến của quân thù ; ở tiền tuyến, bộ đội và dân cổng thi đua đánh giặc; ở
hậu phương, công nhân "tay súng tay búa" cùng nông dân "chắc tay súng vững tay cày" hăng
hái thi đua tăng gia sản xuất. Từ các thị thành, nhân dân theo lệnh của Chính phủ kháng chiến,
tản cư về nông thôn, góp công góp sức cùng đánh quân thù. Khắp nơi, từ miền ngược đến miền
xuôi đều hừng hực không khí khẩn trương, sôi nổi, quyết tâm đánh thắng kẻ thù xâm lược.
Hiện thực hào hùng ấy đã đi vào thơ ca một thuở, còn đọng mãi trong lòng người.
Vậy mà lại có một lớp người đi ngược dòng chảy chung của thời đại, quay về thành. Lí do
và động cơ hồi cư của họ có thể là vô vàn, nhưng dù gì đi nữa cũng không thể biện minh nổi
cho một thực tế là phải dựa vào thực dân Pháp để nương thân, mứu cầu cuộc sống êm ấm, sung
túc. Một người dân yêu nước chân chính, một người giàu lòng tự trọng ít chọn những hành xử
đáng trách như vậy. Vì thế, trước mắt mọi người, trước công luận, họ là những kẻ phản bội,
những kẻ quay lưng lại với cuộc kháng chiến chung của dân tộc.
1.1.1.1. Vũ Bằng là một nhà văn hồi cư, đành rằng với động cơ khác, nên hơn ai hết ông
rất thấm thìa nỗi khổ của người hồi cư và phần nào thông cảm với họ. Những trang văn của ông
giờ đây được chắt ra từ chính cuộc đời bất yên và nhiều nông nỗi của chính ông và những con
người bất hạnh kia. Ông quan tâm đến nỗi khổ về đời sống vật chất thiếu thốn của những người
hồi cư. -Trước đây, sống ngoài vùng tản cư kháng chiến, họ cũng rất nghèo khổ, thiếu thốn,
nhưng nhìn ra xung quanh, hầu hết mọi người cũng trong tình cảnh như vậy, nên cái nghèo, cái
24
khổ cũng nhẹ đi phần nào. Họ dinh-tê vào thành hầu hết chỉ vì hi vọng kiếm được miếng ăn, có
đời sống khâm khá hơn. Nhân vật người vợ trong Đất khách đã hối chồng: "...Cứ nhất định đi.
Trời thương, kiếm ăn được, về lấy cái đất nhà Hai Đỗi. Bảy tám chục bạc một nải chuối. Gánh
rau cạn đem ra của ổ bán cũng được vài trăm" [20; 335]. Còn người chồng "khi có người về
đón nhà vợ lẽ Phán Tảo ra, nói chắc như cua gạch là ở Hà Nội làm ăn bở thật, người chồng
mới nhất quyết ra đi ..." [20; 335].
Nhiừig rồi thực tế cuộc sống thực hồi cư không dễ dàng như những điều họ đã nghe, đã
tưởng. Đói khổ về vật chất cộng thêm nỗi khổ vê tinh thần càng làm cho cuộc sống của họ vốn
đã nặng nề lại nặng nề hơn.
Cuộc sống của đôi vợ chồng hồi cư trong Bữa cỗ thật tù túng, ngột ngạt. Hàng ngày,
người vợ "đan cái giỏ hay làm cái toe toe để bán". Người chồng đi làm thuê. Ở trong tình trạng
đói khổ, túng quẫn thường xuyên, người ta dễ vị kỷ, ít có điều kiện để nghĩ tốt về nhau. Trong
suy nghĩ của người chồng, người vợ hiện lên thật đáng ghét. “Con mụ ở nhà cứ động một tí là
sinh sự” [20; 321]. Vì vậy, thường trực trong anh là ý thức đối phó. Sau khi ăn cỗ xong, trên
đường từ nhà chủ về "Anh ta còn đang mải nghĩ sẵn mấy câu đối đáp sắp đem ra dùng với vợ.
Mà chỉ cổ chính trị thôi thì không đủ nhé. Phải có võ lực nói chuyện nữa, nếu cần. Anh ta gật
gù đắc chí vì cảm giác à đầu hai cánh tay mình lại có hai bàn tay, hai bàn tay chỉ có mười
ngón nhưng là mười ngón sắt, Vô phúc cho đứa nào gây chuyện với anh. Hai bàn tay ấy mà
"tẩn" thì chỉ có hộc máu ra mà chết" [20; 322]. Cả hai con người đáng thương ấy đều khổ. Họ
khổ vì vật chất túng thiếu, họ còn khổ hơn vì thường xuyên làm cho nhau thêm khổ. Người vợ
khốn khổ đó đã chết trong cô đơn, nghèo khổ: Chồng vắng nhà, "mụ vợ anh ta chết cứ lịm đi"
[20; 323]. Người chồng trong cơn say đã luận về cái chết của người vợ khốn khổ theo cách
nghĩ của kẻ say nhưng vẫn còn ý thức được những món nợ chưa trả:
"Rõ thật con tườu ! Lại chọn đúng ngày mình lãnh lương mà chết! Thế này thì còn giết ai
ra mà trả những món nợ người ta đòi từ sáng?" [20; 323].
Ta còn có thể tìm thấy bóng dáng của những cảnh đời ấy trong các truyện ngắn Bát cơm,
Giai đoạn mới...
1.1.1.2 Không chỉ quan tâm đến nỗi khổ về vật chất thiếu thốn, Vũ Bằng còn đặc biệt chú
ý đến cái tâm lý mặc cảm, nỗi dằn vặt, day dứt của những người hồi cư. Đây là điểm khác biệt
25
cơ bản giữa Vũ Bằng với các nhà văn cách mạng cùng thời như Nam Cao, Tô Hoài, Ngô Tất
Tố... Nam Cao lúc ấy viết Đôi mắt. Hiện thực trong Đôi mắt là cuộc sống kháng chiến ở vùng
tản cư, vùng thuộc quyền kiểm soát của chính phủ ta. Buổi chợ trung du của Ngô Tất Tố là
buổi chợ ở vùng tản cư. Còn Làng của Kim Lân là làng ở vùng tạm chiếm nhưng làng ấy không
được trực tả mà lại được tái hiện thông qua lăng kính chủ quan, thông qua tâm trạng của một
người đại diện cho dân làng- Ông Hai tản cư. Trong truyện, Kim Lân miêu tả khá chi tiết cụ thể
nhân vật ông Hai. Ông Hai tản cư hay khoe về làng. Hồi còn đế quốc Pháp, ông "chỉ khoe cái
sinh phần của viên tổng đốc làng ông" [62; 173]. Từ ngày khởi nghĩa, ông "khoe khác. Ông
khoe những ngày khởi nghĩa dồn dập ở làng mà ông gia nhập phong trào từ thời kỳ còn bóng
tôi Những buổi tập quân sự..." [62; 174]. Ông Hai không muốn đi tản cư. Bà Hai khóc lóc, năn
nỉ, ông suy nghĩ và quyết định: "Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được, thì tản cư âu
cũng là kháng chiến" [62; 178].
Ở nơi tản cư, ông lão thường đến phòng thông tin nghe đọc báo. Ông quan tâm đến
chuyện cầy cấy, lúa má ở quê nhà. Ông hả hê: "Nắng này là bỏ mẹ chúng nó". Khi nghe tin "Cả
làng chúng nó Việt gian theo Tây"(...) Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông
lão lặng đi tưởng như đến không thở được..:”[62; 186].
Nhân vật trong các sáng tác của Kim Lân sau cách mạng tháng Tám nói riêng, của văn
học hiện đại Việt Nam từ 1945 trở đi nói chung, hầu hết đều là nhân vật của sử thi. Những nhân
vật này thường nói tiếng nói chung của cộng đồng, họ thường quan tâm đến những vân đề lớn
lao, có tính chất cộng đồng. ở họ, quyền lợi và tình cảm của cá nhân hòa lẫn trong quyền lợi,
tình cảm cộng đồng rộng lớn. Ông Hai đi tản cư vừa vì thương vợ, thương con vừa là chấp
hành chủ trương chung của Chính phủ kháng chiến. Ông lo lắng quan tâm và cả xấu hổ cái lo
lắng, quan tâm và xấu hổ của một người dân bình thường yêu nước... Còn những nhân vật của
Vũ Bằng từ 1945 trở đi là những nhân vật của đời thường, suy nghĩ, nỗi niềm của họ là những
suy nghĩ, nỗi niềm xuất phát từ chính cuộc đời đầy éo le của họ. Bằng sự trải nghiệm của bản
thân cộng với sự nhạy cảm của một tâm hồn đồng điệu, Vũ Bằng hiểu được sự phân vân giống
như là sự giằng xé trong việc quyết định "hồi cư" của đôi vợ chồng trong Đất khác. Vì thế, ông
đã để cho "Hai vợ chồng và ba đứa con lén lút đi về Bển Sém như một đoàn ăn trộm đi đêm".
Việc đôi vợ chồng ấy chọn cách đi lén lút chứng tỏ họ đã ít nhiều ý thức được một cái gì không
26
phải trong quyết định của mình, tức là ở những người như họ, ngọn lửa lương tri chưa phải đã
hoàn toàn nguội tắt.
Cũng trong Đất khách, sự dằn vặt, day dứt, cái tâm lý mặc cảm của đôi vợ chồng hồi cư
đã diễn ra như một quá trình. Bắt đầu là việc cảm thấy quyết định ra đi của mình có cái gì
không phải, tiếp đến là ý "muốn quay về ngay sáng hôm sau" của người vợ. Sau đó là chuỗi
ngày "lòng chán ngán vô cùng", cùng bao điều muốn biết tường tận về về quê hương, làng
xóm. Đọng lại, thường trực trong tâm khảm người hồi cư là mặc cảm lạc loài:"ai cũng biết vợ
chồng nhà này thấy mình lạc loài ở thủ đô" [20; 341].
Trong Bát cơm, nỗi dằn vặt day dứt của những người hồi cư lại thể hiện ở một khía cạnh
khác, tinh tế hơn. Truyện kể về một thiếu phụ "xinh lắm", "chết trong một trận giặc, xa hết cả
họ hàng thân thích. Chồng và đứa con nhỏ lúc ấy đi xa, không về kịp". Vì lúc sống nàng "làm
nhiều việc thiện" nên khi lên trời "Bọn sứ giả thừa hành (của Nam Tào) đối đãi với thiếu phụ
kia cực tốt..." [20; 301]. Mặc dù được sống trong "Thiên Đình, Kinh đô của Độc lập, Tự do,
Hạnh phúc thực sự" nhưng "nàng không ngớt khóc thầm" và nàng chỉ ao ước một điều: “được
về hạ giới để gặp chồng con”. Trời chiều lòng, cho linh hồn nàng xuống trần ở cạnh họ. Ở
được "mười tám hôm. Đến đêm hôm thứ mười chín, giữa lúc thiếu phụ đương vuốt tóc vỗ về
chồng con, mười ba cái máy bay, gừ gừ như mười ba con chó dại, bất thình lình đến ném bom.
Ném loạn xạ, ném như điên, ném chết thôi.
Trong số những người chết một cách oan ức, căm hờn, có chồng và con thiếu phụ" [20;
308].
Ba cái vong được sứ giả dắt về trời, tại đây, sứ giả giúp họ cất cái nhà "y như cái lều ở
chợ Kẹo nhưng lành lặn. Chiều tà, hai vợ chồng giải một cái chiếu rách nhìn về cánh đồng chợ
Kẹo ăn với nhau bát cơm rau. Họ hơi hối rằng mình đã sung sướng quá và ăn nhiều quá" [20;
309].
1.1.1.3. Trong số những người hồi cư, bên cạnh những người có lương tri, biết dằn vặt,
day dứt về hành động của mình, ý thức được thân phận "lạc loài, bị biếm chích" của mình có
không ít nhân vật bị tha hóa. Tha hóa ở đây hiểu theo nghĩa rộng là tình trạng con người bị bóp
nghẹt bởi hoàn cảnh xã hội, con người không thể sống như mình mong muốn. Đó là nhân vật
Lưu Bình trong Tiếp theo và hết truyện Lưu Bình - Dương Lễ. Trước khi vào vùng tạm chiếm,
27
Lưu Bình đã được Dương Lễ giúp đỡ chí tình. Dương Lễ đem cả tính mạmg và tài sản ra cứu
vớt và bảo đảm cho Lưu Bình. Lưu Bình ranh ma, lợi dụng công việc của mình, "rút lui vào
thành" một cách dễ dàng "và ở lì đó làm quan" [20, 289]. Y sống no đủ nhờ bợ đỡ bọn có chức
có quyền kể cả người ta lẫn người Tây. Bất ngờ, Dương Lễ từ vùng kháng chiến về thành
không rõ vì lí do gì nhưng có ý nhờ Lưu Bình đứng ra bảo đảm. Lưu Bình chẳng những không
giúp đỡ mà còn báo mật thám đến bắt Dương Lễ, rồi y rắp tâm chiếm đoạt nàng Châu Long,
người vợ thủy chung của Dương Lễ, người đã từng thay Dương Lễ nâng đỡ Lưu Bình trong
cơn hoạn nạn năm nào.
Cùng một "tuýp" người với nhân vật Lưu Bình là nhân vật ông Đổng trong Tất cả để
chiến thắng. Để có tiền "làm cho kì được cái nhà thật oách" ông Đổng lí văn phòng nọ đã bỏ
ngoài tai mọi lời khuyên, mọi điều chê trách rằng "ông cũng nên xin thôi là phải. Cho nó đúng
phép tí ti (...) rằng ông cố đấm ăn xôi, ở lại như thế là tồi" [10; 409- 410]. Với ông "Phương
tiện không xá nói làm gì, chỉ có cứu cánh mới là đấng kể (...) Ông có thể làm bất cứ trò gì cũng
được, ngồi ở bất cứ địa vị nào cũng được miễn có tí tiền lẻ thì thôi" [10; 419- 421], mặc cho
nhiều "người bàn tán và đồ rằng ông buôn vợ" [10; 416].
Nhân vật ông Đổng làm ta liên tưởng đến những con người bị tha hóa trong truyện ngắn
của Nguyễn Công Hoan: bố anh kép Tư Bền làm trò "lịch sự tân thời"; cô Nguyệt đóng vai
"người tình chung thủy" với nhiều người bằng trò "làm gãy chân tay" để xin cho đắt; Cụ Chánh
Bá thì đóng trò "mất giày"... Tất cả những nhân vật này (cả ông Đổng của Vũ Bằng lẫn những
nhân vật kể trên của Nguyễn Công Hoan) đều "sống không theo bản chất người mà theo những
tính toán vụ lợi, sống phi tự nhiên (...) Đó là những con người thấp hơn đạo lý bình thường, ở
dưới "ngưỡng" của con người" [85; 31].
Đến truyện Giai đoạn mới, sự tha hóa biến chất đã tiến lên một bước theo chiều hướng
xấu, rất đau lòng. Nhân vật chính trong truyện là bà Nhiêu Lương. Bà có hai người con trai đi
bộ đội bặt vô âm tín. Bà đã cho hai vợ chồng ông Phán tản cư ở nhà mình. "Chỗ nào tốt nhất
thì để ông phán, bà phán nằm. Nước giếng đi gánh được thì để ông phán, bà phán tắm. Ngày
mùa đi mót được cử khoai nào to nhất thì đem về hầm thật kĩ cho ông bà phán xơi" [20; 253].
Sau đó, gia đình ông Phán hồi cư , họ mời bà Nhiêu Lương cùng đi vì "Bà ấy tốt quá, nhân đức
quá, để người ta một mình ở đây phải tội!" [20; 254]. Lúc đầu, "bà đi ngang bà phận" vào
28
trong các của hàng, các chợ, trong các nhà của của những người chị em bà Phán, bà ăn cơm với
ổng bà Phán và các cháu.
"Nhưng được một tháng thì bà lại đi sau.
Hai tháng nữa, bà ăn cơm với các cháu". Sau nữa "bác ăn cơm với cậu nhỏ và anh xe".
Lúc đầu, mọi người gọi bà Nhiêu Lương là “bà”, sau "Sợ khách khứa lầm rằng bà là chủ, bà
phán gọi bà bằng bác. Các trẻ nhỏ cũng kêu "Bác Lương lấy cho tôi cái này", "Bác Lương lấy
cho tôi cái nọ", "Bác Lương cứ đứng ỳ ra đấy, sao không vào dọn cơm đi?" [20; 254].
ở trong gia đình ông Phán, bà từ địa vị một ân nhân, dần dần trở thành con ỏ rồi nạn nhân.
Lúc đầu bác là nạn nhân của những trò đùa tai quái của lũ trẻ: “mấy đứa con gái vứt trầu ở
trong đi, cho đất vào. Mắt kèm nhèm bà bốc đất cho vào mồm nhai nhổm nhèm. Lũ trẻ hô hổ
cười...”. Về sau, bác trở thành cái gai trong mắt mọi người. "Người ta mắng mỏ. Ai cũng mắng
mỏ được bác. Người ta còn kinh tởm là khác . Người ta cấm trẻ con được ngồi gần bác sợ chấy
rận bò sang quần áo...” [20; 255]. Từ chỗ có tên bác trở thành không tên. Người ta gọi bác là
"Con Mụ" một cách đầy khinh miệt.
Sự tha hóa của vợ chồng ông Phán là quá rõ, đáng rên án. Nhưng còn một sự tha hóa
khác, đau lòng hơn, đáng để chúng ta suy ngẫm. Đó là sự tha hóa của chính bà Nhiêu Lương.
Bị cả nhà ông Phán “đổ thuốc ghép”, khinh miệt, bà không lấy đó làm điều, trái lại, bà vẫn vui
vẻ, coi cuộc sống ổ nhà ông bà Phán là cái may mắn mà "trời đền cho'' những người "ăn ở phức
đức" như bà. Bà rất lo cho địa vị của mình và hết sức nịnh nọt ổng Phán, bà Phán và các cô các
cậu.
Mỗi khi nói, bà không còn xưng là tôi. Bà xưng mình là "cháu". Bà xưng mình là "chúng
cháu". Rồi cuối cùng, bà xưng mình là "con".
Câu' chuyện kết thúc trong niềm chua chát của tác giả trước sự tha hóa đến thảm hại ăn
sâu vào tận tiềm thức của bà Nhiêu Lương :
"Và thường thường đêm ngủ, bác lại giựt mình đánh thót một cái và nổi mê:
"Ấy ông chủ gọi"
"Ẩy bà chủ gọi" [20; 256].
29
Giai đoạn mới có thể coi là một trong những tác phẩm đặc sắc của Vũ Bằng về chủ đề sự
tha hóa của một số nhân vật hồi cư. Tất cả các nhân vật ưong truyện, từ bà Nhiêu Lương đến vợ
chồng ông Phán, rồi mấy đứa trẻ, mỗi người một cách, đều bị tha hóa, sa sút về nhân cách.
Trong số đó, có một người đáng thương và nhiều kẻ đáng ghét. Điều khiến chúng ta suy nghĩ là
những kẻ đáng ghét còn có tên họ, nếu không vẫn còn phẩm hàm, chức phận, thì tên tuổi người
đáng thương dần dần nhòe đi, mất hẳn; cuối cùng chỉ còn cái tên "Con Mụ" vừa cụ thể, vừa
chung chung đầy khinh miệt.
1.1.2. Dựng lên những nhân vật bị tha hóa, méo mó về nhân cách, Vũ Bằng ngay từ
những buổi đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp đã chỉ ra những mặt trái của nền văn
minh đô thị ở vùng giặc tạm chiếm với những biểu hiện phi đạo lí, trái ngược với thuần
phong mĩ tục của dân tộc. Thực ra, mặt trái của nền văn minh đô thị đã manh nha xuất hiện từ
những buổi đầu thực dân Pháp mới đặt nền thống trị lên đất nước ta. Trần Tế Xương năm nào
đã điểm qua những biểu hiện của nó với thái độ phê phán của một nhà nho chân chính:
"Nhà kia lôi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng ".
(Xuân- Trần Tế Xương)
Đến những năm 30 đầu thế kỉ XX, mặt trái của xã hội văn minh 'đô thị được phơi bày cụ
thể, chi tiết qua một loạt truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan (Báo hiếu: trả nghĩa cha, Thế là
mợ nó đi Tây, Xuất giá tòng phu, Một tấm gương sáng...).
Nếu sở trường của Nguyễn Công Hoan là thể hiện bề nổi, bề rộng của xã hội văn minh' đô
thị ở mặt trái của nó bằng "những đòn rất mạnh mẽ, cay độc, nghe rất sướng tai" [110; 151] thì
Vũ Trọng Phụng trong số đỏ lại thâu tóm toàn bộ cái xã hội ấy ở cả chiều sâu lẫn bề rộng của
nó. "Số đỏ với các đám nhân vật điển hình đủ các hạng người, với những hoàn cảnh điển hình
từ gia đình ra xã hội, từ vỉa hè vào nhà săm đến nơi đón rước vua chúa (...) là một bộ sử thỉ về
xã hội thành thị Việt nam trong thời thuộc Pháp..." [2; 100].
Sau cách mạng tháng Tám, những tàn tích của lối sống xa hoa, suy đồi tưởng đã bị chôn
vùi cùng chế độ thực dân nửa phong kiến. Nào ngờ nó lại có cơ ưỗi dậy, như chọc, như xoáy
vào mắt, vào tim những người có lương tri, biết trân trọng truyền thống văn hóa dân tộc khi
30
thực dân Pháp quay trở lại chiếm đóng Hà nội và một số vùng lân cận. Lúc này, ở nước ta,
cùng với cổng cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta còn phải xây dựng nền văn
hóa, văn nghệ mới với nhiệm vụ: phản ánh chân thực, hùng hồn cuộc sống mới và con người
mới. Nhiệm vụ của văn nghệ sĩ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Văn hóa nghệ
thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy" [68; 47]. Thấm nhuần lời
dạy của Người, các văn nghệ sĩ của chúng ta đã tỏa đi khắp các mặt trận, khắp các địa bàn:
chiến đấu và xây dựng; miền xuôi và miền ngược; công trường, xưởng máy và những cánh
đồng... Có một địa bàn gần như chúng ta bỏ ngỏ: các đô thị tạm chiếm. Có lẽ phải đợi đến Vũ
Bằng với nhiệm vụ bí mật: hoạt động trong lòng địch cùng những sáng tác của ông thì bức
tranh hiện thực về cuộc sông của dân tộc trong những năm 1945 - 1954 mới có dịp được bể
sung cho hoàn chỉnh.
Dưới ngòi bút đầy tâm huyết của Vũ Bằng, những cảnh "chướng tai gai mắt" từ thời Tú
Xương nay như được nhân lên, mở rộng ra. Trong Truyện của một người cũng biết cười là
cảnh: "Buổi mai, các người đi làm cho hai tay vào túi ca những bài ca có những cố tiên xanh
xiêm áo trắng toát; đến trưa, máy truyền thanh vang um những điệu kèn nên thơ và giật gân;
rồi thì là những tiệm ăn, những người đàn ông béo tốt và những nàng con gái cười rúc rích
làm co cả những cái váy ngắn lên đến bẹn" [74; 312].
Vốn là người nặng lòng với quá khứ, với nền văn hóa truyền thống của dân tộc, Vũ Bằng
đã bộc lộ nhiều day dứt trước cuộc sống đổ thị vùng tạm chiếm ngày một xô bồ, hỗn độn. Ở
Người Hà Nội nhớ người Hà Nội ông viết: "ở những phố ăn chơi buôn bán, Hà Nội tấp nập và
vui vẻ như mở hội. Con gái mặc quần Tây. Tiểu thư đi với nhân ngãi, ngực cắm một bông hoa
khiêu khích. Chàng trai trẻ con tóc như sóng lượn, huýt sáo miệng như Nã-phá-luân khi mới
chiếm được một thành trì nguy nga. Báu lắm! No đôi lắm! Đầy đủ lắm!" [74; 51 ].
Nói chung, mặt ưải của xã hội văn minh đô thị ở miền Bắc những năm 1945- 1954 chưa
được Vũ Bằng nói nhiều. Có lẽ do cuộc sống thời chiến cũng như vị tá của thực dân Pháp trên
đất nước ta lúc này khác với thời điểm trước 1945 về cơ bản nên qui mô, mức độ bành trướng
của lối sống lai căng, Tây hóa có bị hạn chế. Vũ Bằng đã nhìn xã hội ấy ở bề nối của nó, xuất
phát từ cảm giác khó chịu, khổng chấp nhận của người vốn gắn bó với những giá trị cổ truyền
mà tổ tiên, ông bà để lại.
31
Phải đến sau sự kiện 1954, Vũ Bằng vì nhiệm vụ cách mạng giao, đã theo đoàn người di
cư xuống tàu vào Nam thì mảng đề tài này mới được ông đào thêm, khơi tiếp.
Tại các đô thị miền Nam những năm giặc Mỹ chiếm đóng, cách sống, cách cảm của một
bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân đã thay đổi nhanh chóng đến không ngờ. Việc khẳng
định, đề cao con người cá nhân; yêu cầu giải phóng và phát huy những tiềm năng sẩn có của
con người đã có từ thế kỉ trước, nay dần dần trở thành chủ nghĩa cá nhân cực đoan, vị kỉ, tàn
nhẫn và vô cảm. Nếp sống phổ biến là tĩnh tại, trọng tình, giản dị, chan hòa với thiên nhiên của
dân tộc dần dần được thay thế bằng lối sống chạy theo đồng tiền, ăn chơi sa đọa, ngang tàng,
phá phách. Các quan hệ cơ bản của con người như cha con, vợ chồng, anh em, bạn bè... gắn
liền với những nguyên tắc đạo li tối thiểu đã bị vi phạm nghiêm trọng. Xã hội đô thị Sài Gòn đã
xuất hiện những chốn ăn chơi cực kì xa hoa, trác táng và khiếp đảm thú vật.
Tất cả những đổi thay từ lớn đến nhỏ, ở phần cơ bản nhất của nền văn minh kiểu Mỹ
trong các đô thị miền Nam, tiêu biểu là Sài Gòn đã được phản ánh khá đầy đủ qua những sáng
tác của các nhà văn tiến bộ như: Vũ Hạnh (Người chồng thời đại [35; 107]), Phan Du (Trăng
vỡ [103; 49]), Vũ Duy (Vùng biển động [103; 85]), Mặc Khải (Địa ngục trần gian [103;
143]), NguyễnVăn Ngữ (Con thứ tật nguyền [103;249])... Trong đó có Vũ Bằng cùng các sáng
tác của ông.
Truyện Đợi con là sự tiếp nối mạch cảm hứng về số phận bất hạnh của những người hồi
cư. Người chồng trong truyện là nạn nhân trực tiếp của lối sống thực dụng kiểu Mỹ. Khi mới di
cư vào Nam, còn nhiều tiền, anh mua nhà rồi cho cha vợ mượn... Đến lúc tiền hết lại đổ bệnh,
người vợ bỏ đi làm sở Mỹ "tiền "đô" từng tệp, hột xoàn đeo đầy cả ngực cả tay", anh trở thành
"một vật thừa trong nhà bị bố vợ và vợ phỉ nhổ" [20; 391]...
Có một hình ảnh cứ Mồ đi trở lại trong những trang viết của Vũ Bằng sau khi di cư vào
Nam. Đó là hình ảnh người đàn bà ngoại tình. O73 truyện Người làm mả vợ là người đàn bà lừa
dối chồng đi ngoại tình, dẫn đến cái chết thế thảm của hai kẻ đàn ông. Trong Cái thích kì lạ của
một người đàn bà thời loạn, mụ vợ ngang nhiên theo tên Mỹ đen trước mắt người chồng. Trước
khi ra đi, mụ đã sắp đặt một màn kịch để tận mắt chứng kiến cảnh người chồng hờ của mình
cầm dao giết tình nhân. Ở trong mụ tồn tại một cái tâm lí thật lạ: "nàng ghét bỏ giả, nhưng lại
thích thú cái không khí mâu thuẫn của gia đình (...) nàng muốn có một án mạng, nhưng án
32
mạng đó phải suy nghĩ, phải tính toán, phải lạnh lùng thực hiện theo mệnh lệnh của nàng, phải
do nàng chỉ huy. Nàng đã tính-toán lâu rồi, nàng đã sửa soạn Hai từng li từng tí, liều thuốc
độc phải nhỏ từng giọt, từng giọt trong máu Hai mới làm cho nàng mãn ý" [20; 407- 410].
Người chồng tội nghiệp sau khi giết người đã phát điên rồi trong một cơn say đã ngã từ
tầng năm xuống, bất tỉnh. Trong khi đó mụ vợ vẫn nhởn nhơ sống một cách đàng điếm và vô
sự. Có thể nói nhân vật người vợ trong tác phẩm là điển hình cho sự tha hóa của con người
trong cái nền văn minh xác thịt kiểu Mỹ.
Đỉnh cao của lối sống kì quái và tàn bạo là lối sống của đám người bị bệnh cùi trong
Nước mắt người tình (Truyện dài, 1973). Ở thời điểm ấy, bệnh cùi vẫn còn là căn bệnh nan y,
hết thuốc chữa. Trong tình trạng tuyệt vọng chờ chết, họ kéo nhau đến chỗ ăn chơi, uống rượu,
tìm thú vui xác thịt, coi đó là một cách trả thù đời, một cách hủy hoại cuộc đời mình. Những
khung cảnh dị thường với các trò chơi man rợ, những cơn bạo dâm, những lời chửi bới, khói
thuốc và đặc quánh mùi bệnh tật đã trở thành một món hàng kinh doanh của chủ tiệm dành cho
những kẻ đã chán chê những ngón chơi ở đời, đến đây để được nhìn qua lỗ thoáng với hi vọng
tìm được cảm giác lạ. Nhân vật nghị Ninh đã được tác giả miêu tả thế này: "Riêng đối với ông
nghị Ninh thì cái không khí xa hoa đàng điếm ấy không mới mẻ gì, xa lạ gì (...). Ông đã đi dăm
bảy nước và nước nào cũng có chỗ ăn chơi tuyệt diệu, những món ăn tuyệt hảo, những vũ nữ
tuyệt kỹ. Nhưng kì thay, tất cả những chốn ăn chơi ấy không đem lại cho ông Nghị sự thoải
mái, sự phè phỡn như ở ngay đất Sài Gòn. (...) ta phải nhận rằng Sài Gòn từ năm 1954, 1955
đã tiến bộ nhiều về cách ăn chen, đĩ bợm, về cờ bạc xỏ xiên bịp bợm, về sự sa đọa linh hồn"
[20; 56].
Cùng với các nhà văn tiến bộ tại miền Nam trước 1975, Vũ Bằng bằng những tác phẩm
của mình đã góp thêm tiếng nói khẳng định "sự phồn vinh của đô thị chỉ là sự tiến triển của
một bệnh tật, một ung nhọt trên một thân thể phù thủng" [103; 5]. Như bao tác phẩm tiến bộ
khác xuất bản tại miền Nam lúc ấy, những tác phẩm của Vũ Bằng "mới làm nhiệm vụ tố cáo,
lên án mà không tìm được giải pháp cho sự bể tắc và ngột ngạt của cuộc sống và nhân vật"
[103; 6].
33
Trong các tác phẩm: Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam và đặc biệt trong tác phẩm
nổi tiếng Thương nhớ mười hai, Vũ Bằng cũng nhiều lần nhắc đến cái mặt trái của nền văn
minh đô thị kiểu Mỹ, chúng tôi xin tiếp tục bàn đến ở phần sau của luận văn này.
1.1.3. Là một nhà văn mà sự nghiệp sáng tác ưải dài theo hai cuộc kháng chiến trường kì,
dai dẳng; hơn ai hết, Vũ Bằng hiểu rất rõ thân phận, số phận của con người trong một xã hội
thời chiến. Ông đặc biệt quan tâm và dành nhiều tâm huyết để viết về những số phận mòn
mỏi, bất hạnh trong xã hội mà ông đang sống.
Con người là sản phẩm tuyệt vời, đẹp đẽ nhất của tạo hóa. Trong dòng chảy của cuộc đời,
con người đã và sẽ hòa nhập vào đó với tất cả "những niềm vui và nỗi buồn, được và mất,
thành công và thất bại diễn ra trên bôi cảnh những vấn đề của xã hội" [111; 22]. Con người
không thể tách ra khỏi lịch sử, thời đại mà mình đang sống. Dấu ấn của lịch sử, của đời sống
chạm khắc sắc nét lên số phận con người "số phận cá nhân gắn với số phận của dân tộc như
hai mặt của tờ giấy" [63; 118].
Trong thế giới nghệ thuật của Vũ Bằng, họ là những người hồi cư hoặc di cư bị cuộc đời
xô đẩy vào những cảnh ngộ éo le, tuyệt vọng. Hầu hết trong số họ chọn con đường hồi cư hoặc
di cư chỉ vì mong đổi đời, mong có cuộc sống khác khá hơn cuộc sống hiện tại hoặc giả vì suy
nghĩ coi việc di cư như một chuyến du lịch "chỉ một hai năm ở tạm đây rồi kéo nhau về" [20;
389]. Thực tế không hoàn toàn như họ đã nghĩ. Đôi vợ chồng hồi cư trong Bữa cô chưa một lần
được hưởng cảnh no đủ thì người vợ ấy đã ra đi mãi mãi. Người vợ ấy như ngọn đèn cạn dầu
đã "đau ốm từ lúc hồi cư đến giờ. Ôm đứng, ốm ngồi, ốm lay, ốm lắt". Hồi sáng, trước khi
người chồng ra đi, "mụ vợ anh vẫn còn ngồi dậy được" [20; 323] vậy mà "bây giờ anh ta thấy
mụ vợ chết còng queo (...) cái mặt tím ngắt và choai cheo, trơ những chiếc răng cải mả ra
trông gớm chết" [20; 324]. Cuộc sống của con người thật mong manh, sống đấy, chết đấy, khôn
lường.
Cùng chung nỗi khổ vì cuộc sống túng thiếu của đôi vợ chồng hồi cư trong Bữa cỗ là
cuộc sống của ông cháu ông từ già trong Ở đây bán sách cũ. Ông làm quản gia cho một hiệu
buôn, cháu đi học, tuần lễ hai kì đóng sách cho một nhà in kiếm tiền phụ ông, Rồi "Ông mất
công ăn việc làm. Ba tháng sau, giấu cháu, đem cái áo sa tanh đi bán" [20; 257]. "ông cụ nghĩ
đến những món nợ lãi mỗi ngày một cao hơn, đến cái quần của cháu đã rách cần phải may cái
34
mới và những bữa cơm dà không có gì nhưng cũng cần phải có mấy ngọn rau, quả cà" [20;
259]. Ông quyết định mang những cuốn sách cũ của con ra bán nhưng rồi ông lại không bán
khi nhìn thấy chữ kí của con trên ba cuốn sách. Còn thằng cháu thì ý thức được "ông cháu mình
cũng không sung sướng, và hơn thế, không bằng cả những tên ăn mày" [20; 261].
Trong Đất khách, cuộc sống mòn mỏi, bất hạnh của người hồi cư được thể hiện sắc nét
hơn cả. Đôi vợ chồng trong Đất khách vốn quê ở một vùng tản cư. Ở đó, họ có ruộng nương,
đất cát, có nhà của và cuộc sống tương đối yên ổn. Nghe nói ở Hà Nội "kiếm tiền cứ như vỗ
tay" [20; 334], vợ chồng, con cái bồng bế, dắt díu nhau kéo ra. Ra Hà Nội, người chồng "kéo xe
bò bởi vì Hà Nội hiếm bò" [20; 338]; người vợ "ốm mấy phen tưởng chết (...) Người cứ héo hắt
đi" [20; 339]. Mọi lời đồn đại về một Hà Nội sung sướng, dễ kiếm tiền là đúng với "ngày trước
kia!" [20; 338]. Cả cái gia đình ấy sống chật vật, "ngột ngạt" "trong cái gian nhà trống hếch
trống hoác". Họ luôn chìm đắm trong sự nuối tiếc, dằn vặt và nhớ nhung. Họ luôn ý thức "Đất
này là đất khách. Họ sống nhờ đất khách" [20; 341]. Nếu lúc ở nhà quê, họ gắn bó với vườn
rau, ruộng lúa, họ thường qua hàng xóm "nói chuyện thóc cao gạo kém" mỗi khi cơm chiều
xong thì ỏ đây, "người ta sống lẻ loi không còn biết làm bạn với ai" [20; 339]. Gắn bó với cuộc
sống của gia đình ấy là bãi tha ma với "những cái mộ có cỏ mọc và có những mộ mới, chưa có
cỏ mọc". Người chồng ban ngày kéo xe bò, tối về, "vén quần lên, uống rượu một mình, tem tép
cái lưỡi và nhìn ra bãi tha ma u uất" [20; 338]. Người vợ chẳng còn hát "được nữa những câu
hát yêu yêu với chị em", "Rỗi rãi phút nào thì lại nhìn ra bãi tha ma xem những cái mả, những
bức tường hủi, những đám khói xám bay lên trời" [20; 339]. Khi thằng bé "quấy không còn làm
ăn gì được (...) người mẹ mặc cho nó một cái quần, dắt đi vòng đầu phố, ra ngồi ở bãi tha ma
..." [20; 340]. Chắc chắn, chẳng phải ngẫu nhiên mà với 11 trang truyện, Vũ Bằng đã 8 lần lặp
lại hình ảnh bãi tha ma, 6 lần lặp lại hình ảnh cái mộ- cái mả. Dù hiểu theo nghĩa nào thì "mộ",
"bãi tha ma" cũng là nơi dừng chân cuối cùng trong hành trình làm người của mỗi cuộc đời, là
dâu chấm hết cho một số phận. Vậy mà mọi nỗi niềm của cặp vợ chồng hồi cư kia đều gắn liền
với những ngôi mộ, với bãi tha ma.
Giữa Hà Nội ồn ào, sang trọng "Tiếng xe ô tô đi, chuyền cả đất. Tiếng hát cứ oang oang",
cuộc sống của đôi vợ chồng hồi cư trở nên lạc lõng và cô đơn. Thường trực trong lòng người
chồng là những nỗi lo sợ, là bao điều chất chứa không dám giãi bày: "Người chồng uống rượu
say, nằm nhắm mắt lại, nhưng thực ra không ngủ. Anh ta tem tép cái lưỡi, như cố nuốt những
35
nỗi khổ ải vào trong bụng. Nói ra, đã đành sẽ nhẹ đi, nhưng mật thám nó như rươi, nó mà nghe
thấy thì bỏ mẹ" [20; 340]. cả trong giấc ngủ, những nỗi lo sợ ấy vẫn không thôi ám ảnh, buông
tha anh. Anh nằm mê "thấy chính mình chết treo cổ trên xà nhà (...) Anh ta rú lên một tiếng,
bừng tỉnh dậy. Sờ lên mắt thì thấy nước mắt còn ươn ướt. Anh ta lại lấy rượu ra tu một tợp rồi
nằm lăn ra ngủ lại" [20; 340].
Còn người vô, ở trong nhà thì không dám nói với chồng "vì động nói thì chồng gắt" [20;
340]. Ra ngoài đường, người vợ thấy "Cách có ba bước đường mà rõ ra hai thế giới; người
đàn bà thấy người ta sung sướng, sang trọng quá, đâm ra sợ, không dám đi quá bước" [20;
341]. Bóng dáng, cuộc đời của những con người nhỏ bé ấy cứ thu lại, thu lại rồi nhỏ dần trong
ngôi nhà hẹp ba chủ, "ở giữa có một lối đi ngắn như cái đuôi con thỏ" nhưng "lại thuộc về địa
phận nhà ông Ký máy đèn" [20; 339].
Nếu các nhân vật trong Đất khách, Giai đoạn mới, Đợi con hiện lên như những số phận có
cuộc đời mòn mỏi, lay lắt vì "muốn chết nhưng đời còn dài nên phải sống" [68; 227] thì số
phận của những nhân vật trong một số tác phẩm khác như Ở đầy bán sách cũ, Bất cơm ... lại
hiện lên thật mong manh. Người con dâu ông từ trong Ở đây bán sách cũ "đi chợ xa, bị thiệt
mạng" [20; 258]. Người thiếu phụ trong Bát cơm xinh đẹp là vậy, trong một "trận giặc", chết.
Rồi chồng và con nàng, trong đêm máy bay oanh tạc, chết trong "một cái ổ rơm bẩn thỉu" [20;
307]. Đứa trẻ lên 6 nọ, vừa mới ngồi cạnh mẹ ăn cái bỏng, trông thấy "một ông lão phất phất
mấy lá cờ vàng vạch đỏ" [20; 349], chạy ra xem, bị xe cán chết. Ranh giới giữa sự sống và cái
chết trong cuộc đời vốn đã mong manh, trong xã hội thời chiến nó càng trở nên mong manh
hơn. Cuộc đời con người thoắt còn, thoắt mất, biến ảo khôn lường. Vì thế, những người chết
oan ức "vẫn không thôi gặm nhấm khối căm hờn ở dưới suối vàng. Người chết mà lòng buồn
khống chết được" [20; 299].
Ghi lại những cảnh đời này, Vũ Bằng cùng nhiều nhà văn khác đã dóng lên hồi chuông
báo động, cảnh báo sự hủy diệt tàn bạo của chiến tranh. Ngòi bút nhân đạo của nhà vãn cứ bình
thản lướt trên từng trang văn, lách qua từng số phận, giống như một nhà phẫu thuật tài ba, đầy
bản lĩnh, để lại trong lòng người đọc một nỗi niềm cảm thông sâu sắc, một sự nhức nhối khôn
nguôi về những kiếp người đau khổ, mong manh.
36
Xuất phát từ tấm lòng nhân đạo, từ niềm cảm thông chân thành của một người trong cuộc,
Vũ Bằng đã tổng kết nỗi đau của con người, của kiếp người trong một xã hội thời chiến qua bài
kí Người Hà Nội nhớ người Hà Nội. Nguyễn Du ngày xưa đã khóc thập loại chúng sinh bằng
bài Văn chiêu hồn thống thiết, lâm li. Tình thương của Nguyễn Du khi ấy giống như cái áo cà
sa của nhà Phật, phủ lên tất cả mọi chúng sinh, không phân biệt trước đó họ tốt hay xấu, thiện
hay ác, giàu hay nghèo... Nay Vũ Bằng viết Người Hà Nội nhớ người Hà Nội để ghi lại những
cảnh đời, những kiếp "sống mòn", lay lắt, mong manh trong một xã hội loạn lạc bởi chiến
tranh. Từ "người đàn ông thất thế không có công việc làm. Cô con gái tử tế ở hậu phương ra
không có vốn phải đem thịt mình ra bán đề lấy tiền nuôi mẹ" đến tình cảnh Mổ trêu của người
đàn bà có chồng chết vì "ăn thuốc", con sài đẹn luôn. Đưa con về Hà Nội, người đàn bà ấy
"Tưởng thế là yên thân thì đánh đùng một cái. Nước lã ra sông cả!" [20; 352]: Con chết vì xe
cán...
Sau năm 1954, khi ở Sài Gòn, Vũ Bằng đã quay trở lại đề tài này trong tác phẩm Đợi con
. So với Đất khách và những tác phẩm viết trước 1954, tiếng nói của Đợi con yếu ớt hơn, dễ bị
chìm lấp giữa muôn ngàn âm thanh hỗn độn của cuộc sống thời chiến lúc ấy.
Giống Nguyễn Du, Vũ Bằng ghi lại hiện thực xuất phát từ chữ tâm của người "xót tình
máu mủ" nhưng tình thương của Vũ Bằng là tình thương của một nhà văn cách mạng, vì vậy,
ngòi bút của ông thường dừng lại trước những con người khốn khổ, nạn nhân của chiến tranh.
So với những nhà văn cùng thời như Nam Cao, Tô Hoàiở một phương diện nào đó, Vũ Bằng đã
"vượt rào": Ông đã đến với những con người mà có một thời đã bị lịch sử phê phán, bị coi là
phản bội. Thực tế, viết về đối tượng này, Vũ Bằng không hề có ý bao che, biện bạch cho họ.
Ngòi bút của ông khá khách quan trước những lỗi lầm của họ. Giống như Nguyễn Du, ông ưân
trọng cái tình. Ông đến với họ bằng trái tim, vì thế, ông đã nghe được, cảm được sự thổn thức
ương mỗi trái tim của họ. Ông đã làm được nhiều điều mà những nhà văn khác cùng thời với
ông không có điều kiện để làm. Đó là một đóng góp lớn, rất đáng trân trọng của Vũ Bằng đối
với nền văn học dân tộc. Đồng thời, đó cũng là lí do khiến những trang viết của ông thấm
đượm phong vị trữ tình.
37
1.2. Tấm lòng nhà văn trong các sáng tác của Vũ Bằng.
Ngay từ những năm 30 đầu thế kỉ XX, Vũ Bằng xuất hiện trên văn đàn Việt Nam vừa với
tư cách của một nhà báo, vừa với tư cách của một nhà văn. ơ một phương diện nào đó, hai tư
cách này lại có sự đan xen, hòa trộn tạo nên một dáng vẻ độc đáo, một sự khác biệt ít nhiều cho
văn xuôi nghệ thuật của ông so với các loại hình văn xuôi khác.
1.2.1. Sự khám phá vẻ đẹp tâm hồn của những con người bất hạnh:
"Văn học là nhân học" (M. Gorki), văn học nghiên cứu về con người nhưng không phải là
con người thuần vật chất như trong sinh vật học hay các khoa học khác với nhịp tim, cân nặng,
kích thước của bộ não... Văn học nhìn con người như một sản phẩm tuyệt vời của tạo hóa, như
là "tổng hòa các mối quan hệ xã hội". Văn học luôn đặt con người giữa cộng đồng, trong mối
quan hệ với thiên nhiên, cuộc đời để tìm hiểu, khám phá. Và cũng chỉ khi được đặt trong mối
quan hệ gần gũi và rộng lớn ấy con người mới hiện lên trọn vẹn, rõ nét như nó vốn có trong
cuộc đời. Cảm hứng lãng mạn ương văn học cũng được khơi nguồn từ những điểm tựa ấy. Qua
cách nhìn con người và cuộc đời, cảm hứng lãng mạn được thể hiện. Nó thường chắt lọc trong
cuộc sống bộn bề, muôn hình nhiều vẻ phần thi vị, thơ mộng để điểm trang cho cuộc đời vốn
khốn khó, cơ cực.
Do sự đẩy đưa của số phận, Vũ Bằng đã từ một nhà văn của trường phái nghệ thuật tả
chân trở thành tác giả của những tác phẩm văn xuôi nghệ thuật thấm đượm phong vị trữ tình,
trở thành người phát ngôn cho những ẩn ức sâu kín trong cõi lòng của những người hồi cư rồi
di cư. Với bút pháp trữ tình sâu lắng, Vũ Bằng thiên về khai thác, khám phá vẻ đẹp của những
con người nhỏ bé trong cuộc sống tối tăm, tuyệt vọng của họ. Nếu Nguyễn Công Hoan "nhìn
cuộc đời như một sân khấu hài kịch đầy những tấn tuồng khôi hài và chua chát", Vũ Trọng
Phụng đến với cuộc đời bằng thái độ phẫn uất không nguôi "đối với xã hội độc ác, bất công, vô
lí và"chó đểu" thời thuộc Pháp" [71; 106] thì Vũ Bằng thuộc vào số những người cầm bút với
thiên chức là tôn vinh cái đẹp và sự sống ở đời. Giống như một người thợ cần mẫn đãi cát tìm
vàng, Vũ Bằng trân trọng, chắt chiu những vẻ đẹp khiêm nhường, bình dị và khác nhau của
cuộc sống. Thế giới nghệ thuật trong các sáng tác của Vũ Bằng thường lung linh huyền ảo, đôi
khi có cả cái xô bồ nghiệt ngã của cuộc đời. Dù ở ương trường hợp nào, người ta vẫn thấy sáng
lên một thứ ánh sáng diệu kì rất người. Chất thơ của cuộc đời ấy, khi lãng đãng, xác xao trên
38
những cuộc đời, những số phận hẩm hiu; khi tràn ngập trong từng câu văn, trang viết. Sự khám
phá, tìm kiếm và trân trọng những dáng vẻ khác nhau của cái Đẹp ẩn giấu tiềm tàng trong cuộc
sống đời thường đã tạo cho trang viết của Vũ Bằng một chất lãng mạn đặc biệt, rất riêng tư,
khó lẫn lộn với các văn phong khác.
Là một người nhân hậu, Vũ Bằng luôn hướng lòng mình tới những cuộc đời, những số
phận đáng thương. Ông đã đón nhận được từ đó những điểm sáng đáng trân trọng.
Bà Nhiêu Lương (Giai đoạn mới) khi hồi cư tha hóa thật đáng giận. Bát cơm manh áo
hàng ngày đã làm bà hèn đi, chai sạn đi trước những tiếng chửi, trước thái độ gằn hắt của bà
Phán và của cả lũ trẻ nhà bà Phán. Truyện có bảy trang, tác giả dành gần một trang để nói
chuyện bà Nhiêu Lương ăn cơm. Không hẹn mà gặp, Vũ Bằng đã trở lại với đề tài quen thuộc
mà ở giai đoạn trước Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao... đã nhiều lần khai thác. Đọc phần
đầu truyện Giai đoạn mới, chúng ta ngờ ngự: hình như Vũ Bằng chịu ảnh hưởng Một bữa no
của Nam Cao? Chúng ta thử so sánh vài đoạn văn:
- Ở Một bữa no: ... "Cả nhà quẩy quần vào, chỉ ngồi có một mâm. Bà lão chẳng đợi ai
bảo, ngồi ngay xuống cạnh cháu, tay run run so đũa...
... Nhưng bà mới ăn chưa hết hai lượt cơm thì bà phó đã quăng bát đũa xuống đất Chỉ
một thoáng sau, mọi người cũng thôi. Họ thôi gần một lượt ( ...) Bà đoán họ khảnh ăn. No dồn,
đói góp. Người đói mãi, vớ được một bữa, tất bằng nào cũng chưa thấm tháp. Nhưng người no
mãi. Người ta có cầu ăn nhiều lắm đâu. Vậy thì bà cứ ăn. Ăn đến kì no. Đã ăn rình thì ăn ít
cũng là ăn. Đằng nào cũng mang tiếng rồi thì dại gì mà chịu đói? Bà ăn nữa thật...
... - À! Bây giờ thì bà lão hiểu. Người ta đứng lên tất cả rồi. Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn
với bà phó Thụ ngồi lại để lườm với nguýt. Nhưng bà lão còn thấy đói! Còn cơm mà thôi ăn thì
khí tiếc. Vả lại đã đi ăn chực thì còn danh giá gì mà còn làm khách. Bà cứ ăn như không biết
gì. Đến khi bà đã tạm no, thì cơm vừa hết. Nhưng còn một ít bám dưới đáy và chung quanh nồi.
Bà vẫn tiếc. Bà kéo cái nồi vào lòng (...) bà cạo cải nồi sồn sột. Bà trộn mắm. Bà rẩm nốt. Ai
chà! Bây giờ thì bà no... [67; 266-267-268].
- Ở Giai đoạn mới: "Cả làng hiện bây giờ chết chóc như ngóe. Nhà bị Tây đốt rào rào.
Những người sống sót, hiện nay không có cả khoai ăn. Thế mà mình vẫn còn sống, ngày ăn
39
những hai bữa cơm mà đêm lại được ngủ trong một manh chiếu giải trên hè gạch - Còn mong
gì hơn thế ? Ở nhà quê đất đồng chiêm, ngay trong lúc thái bình, may lắm mới được một bữa
ngổ và một bữa cơm gạo đỏ. Bây giờ bữa nào trên nhà ăn xong, mụ cũng được ba bốn bát cơm
trắng muốt như hạt ngọc. Mụ rờn rợn, có vẻ như ăn vào sợ phú Mụ và cơm từ từ, như vừa nhai
vừa sợ hạt gạo nó đau, Nhưng rồi bao giờ mụ cũng nhai hết cả cơm lẫn đồ ăn. Hai mươi phút,
nửa giở một bữa ăn: ăn nhanh thì uổng quá.
Ăn cơm mà bữa nào cũng có cá kho, rau muống hoặc vừng rang mà ăn vội thì uổng quá.
Thằng nhỏ hay anh xe ăn xong đã lâu rồi. Mụ vẫn cứ ngồi. Ai cũng sốt ruột. Người ta giục:
"Ăn gì mà chậm rề rề như là mèo
Mụ cuống cả lên, te tái thu dọn mâm bát lại. Đến lúc có việc bà chủ sai, người ta tìm mãi
chẳng thấy mụ ta đâu. Cả nhà gọi ầm ầm. Mụ lẩn vào, tận gần nhà xí. Mụ ăn nốt bữa cơm ở
dưới ấy vừa xong. Bây giờ, mụ mới lù lù đứng dậy, đi lập cập lên trên nhà trên và nói:
"Tôi đây cơ mà!" [20; 251].
Phần trích dẫn trên của hai tác giả có nhiều điểm giống nhau: cả hai đều viết về người đàn
bà nông dân nghèo khổ, cả hai người đàn bà đó đều ăn cơm ở nhà giàu, đều ăn chậm và ăn hết
mình trong sự sốt ruột, khó chịu của nhà chủ.
Đọc kĩ lại, ta thấy chúng khác nhau ở phần cơ bản nhất: góc nhìn của tác giả đối với nhân
vật. Bà cái Tý trong Một bữa no đã chịu đựng một cái đói liên tục và dai dẳng "Hơn ba tháng,
bà lão chỉ ăn toàn bánh đúc ( ...). Mấy hôm nay bà lại nhịn đói". Vì vậy, ở nhà bà Phó Thụ, gặp
dịp, bà phải cố ăn, tranh thủ ăn bằng mọi giá, hòng dự trữ "năng lượng" để tiếp tục cầm cự với
cái đói trong những ngày tới. Viết Một bữa no, Nam Cao muốn nhấn mạnh "cái nhục mà con
người phải chấp nhận vì đói. Con người phải chịu nhục có nghĩa là phải từ bỏ nhân phẩm, từ
bỏ tính chất người của mình để chấp nhận cái sống của con vật" [71; 183].
Còn bà Nhiêu Lương thì khác, đời sống vật chất của bà chưa đến nỗi cùng cực như bà cái
Tý. Bình thường, ở quê, bà vẫn được "mọi bữa ngô và một bữa cơm gạo đỏ". Ở nhà ông bà
Phán, mỗi bữa "mụ cũng được ba, bốn bát cơm trắng muốt" lại ăn với "cá kho, rau muống hay
vừng rang" [20; 251]. Cả một sự đổi thay lớn về lượng cũng như về chất. Mụ Nhiêu Lương ý
thức được điều đó với tất cả sự hài lòng và hãnh diện của một người mà tầm nhìn chưa vượt
40
khỏi cái ăn, cái uống hằng ngày. Mụ bằng lòng, thỏa mãn với sự thay đổi đó: "Còn mong gì
hơn thế"... Mụ trân trọng cái lộc mà "trời đền bù" cho những người “ăn ở phức đức” như mụ
trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nhìn "bát cơm trắng muốt như hạt ngọc, mụ rờn rợn, có vẻ như ăn
vào sợ phí". Có đặt vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước ta, một đất nước nông nghiệp lạc hậu
không ngớt thiên tai địch họa, chế độ phong kiến kéo dài, lại thêm ách thống trị của thực dân
trên tám mươi năm thì mới hiểu hết ý nghĩa của miếng ăn, của bát cơm trong đời sống người
nông dân nói riêng, người dân Việt Nam nói chung lúc ấy. Với người nông dân Việt Nam, hạt
gạo là hạt vàng, là kết tinh của mồ hôi nước mắt, của cả bao lo toan và niềm hi vọng. Bà Nhiêu
Lương vốn là một người nông dân, bà đi ra thành thị từ cuộc sống thiếu đói gần như quanh
năm. Bà nhìn "bát cơm trắng muốt như hạt ngọc" là hợp lẽ. Bà không dám ăn nhanh "Mụ và
cơm từ từ, như vừa nhai vừa sợ hạt gạo nó đau..." là điều có thể hiểu được.
Hai ví dụ trên còn khác nhau ở một điểm: Một bữa no đặc tả một bữa ăn, một "cái cảnh
ăn uống vừa liều lĩnh, vừa lóng ngóng vụng về và nhất là vô cùng nhếch nhác, rất "đáng xấu hể
của bà cái Tí" [71; 145]. Còn phần trích trên trong Giai đoạn mới là một cảnh phổ biến thường
xuyên lặp lại ở nhà ông Phán. Đặt bên cạnh sự tha hóa của không ít người hồi cư, việc bà
Nhiêu Lương vẫn giữ mãi được thái độ trân trọng đối với bát cơm, hạt gạo quả là một phát hiện
có ý nghĩa của Vũ Bằng.
Cuộc sống của đôi vợ chồng hồi cư trong Bữa cỗ thật nặng nề. Truyện tập trung đặc tả
tâm trạng, suy nghĩ của người chồng sau khi ăn cỗ ở nhà chủ về, gặp cảnh vợ chết, các con ngủ
cả. Đọc truyện, ta tưởng như đang bày ra trước mắt một gia đình mà ở đó có một người vợ suốt
ngày ở nhà "động một tí là sinh sự" và một ông chồng hay đi sớm về khuya, sấn sàng giở cả võ
miệng lẫn "vỡ lực" đối với vợ. Từ đầu đến cuối truyện, tuyệt nhiên không có câu nào chứng tỏ
họ thù ghét nhau và cũng chẳng có câu nào thể hiện sự âu yếm của họ đối với nhau. Có cảm
tưởng cuộc sống hồi cư vất vả, túng thiếu đã làm tiêu hủy hết chất thơ của cuộc đời. Và cuộc
sống gia đình chỉ còn lại những gì xù xì, góc cạnh nhất. Thực ra không hoàn toàn như vậy. Khi
bị đẩy vào tình huống "có vấn đề", vào khúc ngoặt của cuộc đời, những gì tốt đẹp xưa nay vẫn
tồn tại dưới dạng tiềm ẩn ở họ sẽ được bộc lộ một cách tự nhiên nhất. Người chồng, trước cái
chết của người vợ bạc mệnh, mặc dù đang say vẫn còn có được những suy nghĩ rất nghiêm túc,
rết người:
41
"Vợ chồng ăn ở với nhau chốc cũng đã mười nấm, mà chẳng được một ngày nào thanh
thản. Túng thiếu cả đời. Cả đời đói rét. (...) Nghĩa tử là nghĩa tận. Chẳng nên tiếc rẻ nhau làm
gì." [20; 324]. Chỉ một chút tình chân thật, hiếm hoi ấy thôi, chắc chắn cũng an ủi linh hồn
người đàn bà đáng thương đang nằm trước mặt anh say rất nhiều.
Vũ Bằng có nhiều trang văn miêu tả rất tinh tế nỗi niềm của những người hồi cư. Qua
những trang viết này, chúng ta hiểu được sự nhạy cảm, cảm được nỗi đau cái đau chung của
ông. Ở nhiều tác phẩm, Vũ Bằng dường như đã hóa thân trong nhân vật, trăn trở cái nỗi niềm
mà nhân vật trăn trở. Vì thế, ông thường diễn tả rất đạt cuộc sống nội tâm đầy sóng gió của
nhân vật. Đây là nỗi niềm của người chồng hồi cư trong Đất khách:
"... tối về đến nhà, y rảnh, thường thấy lòng buồn vẩn vơ. Người đàn ông vén quần lên,
uống rượu một mình, tem tép cái lưỡi và nhìn ra bãi tha ma u uất" [20; 338].
Đàn ông thường kiệm lời, họ ít phô diễn điều mình lo, mình nghĩ. Viết về họ, Vũ Bằng
cũng rất kiệm chữ. Chỉ bằng một hình ảnh "Người đàn ông vén quần lên, uống rượu một mình,
tem tép cái lưỡi và nhìn ra bãi tha ma u uất" Vũ Bằng đã diễn tả được bao suy nghĩ, tình cảm
đan xen, rối bời trong lòng người chồng mỗi khi "tối về": vừa buồn khi nhớ tới "cái nhà tranh",
"mảnh vườn rau"; vừa cô đơn giữa cuộc đời, giữa mọi người (uống rượu một mình), vừa như
hối hận và đành cúi đầu chấp nhận sự việc đã rồi và cuối cùng là một sự tuyệt vọng, u uất.
Về nỗi niềm của người đàn bà hồi cư, Vũ Bằng tả chi tiết hơn :
"Mụ không rên rẩm nhưng lòng chán ngán vô cùng. Mụ không biết rồi sẽ ra thế nào.
Thỉnh thoảng lại khóc và chỉ mong có ai ở quê ra thì hỏi thăm xem trong làng bây giờ ra thế
nào...
Mụ lo sợ không biết mấy gốc bưởi ở cuối sân vẫn còn, hay nhà cả Tráng nó lại chặt mất
đi thì hoài..:' [20; 338].
... "Mụ nhớ đến mảnh vườn, đến mái nhà tranh, mỗi khi mưa, có tiếng giọt ranh kêu tí
tách. Mụ nhớ đến mấy gốc bưởi và thửa ruộng ở Nghè mụ vẫn riu tôm ngày trước" [20; 341].
Câu chuyện gói gọn trong mười một trang, có bốn trang tả cuộc sống của vợ chồng người
hồi cư nơi "đất khách". Trong bốn trang ấy, từ "nhớ" được dùng 6 lần, từ "mong" 1 lần. Gắn
liền với các từ "nhớ, mong" là hình ảnh quê hương ruộng vườn... Vũ Bằng tỏ ra rất am hiểu tâm
42
trạng, đặc điểm tâm lý nhân vật của mình. Ông hiểu và trân trọng tình cảm gắn bó sâu đậm của
người vợ hồi cư với quê hương ruột thịt. Nỗi niềm của người đàn bà ây trải dài theo thời gian,
bao trùm và mở rộng khắp không gian làng quê yêu dấu của "mụ". Nỗi niềm nhớ quê da diết ấy
vừa cụ thể vừa có ý nghĩa khái quát. Nó vừa là nỗi nhớ riêng của nhân vật, vừa là nỗi nhớ
chung của những người hồi cư trong đó có Vũ Bằng. Vì thế, nó có sức hút kỳ lạ đôi với độc
giả.
Một biểu hiện khác của tấm lòng nhà văn là những trang ông viết với rất nhiều dư vị ngọt
ngào về tấm lòng của những người hồi cư, di cư (những người vốn bị dư luận thời ấy cho là
phản động, là quay lưng lại với cuộc kháng chiến) đối với cuộc kháng chiến thần thánh của dân
tộc, đối với đồng chí đồng bào mình.
Người thiếu phụ trong Bát cơm sau cái chết "oan ức nhiều bề", linh hồn được đưa lên trời,
được đối đãi "cực tốt", vẫn không sao quên được cuộc sống khổ sở ở trần gian, nơi có chồng
con đang "lo ngày lo đêm tránh đạn lạc tên bay và chạy ẩn náu vì có những chiếc phi cơ đem
mầm chết chóc giội những quả bom khổng lồ xuống những người dân vô tội"[20; 303]. Được
sống ở "Thiên Đình kinh đô của Độc lập, Tự do, Hạnh phúc thực sự" nhưng "nàng không ngớt
khóc thầm. Vũ Bằng phát hiện ra "Trong nỗi đau khổ của người thiếu phụ, có cả một điểm
trong sáng và cao cả” [20; 304]. Bởi "trong sáng và cao cả" nên âm hưởng của tiếng khóc ấy
vang xa, nó lay động, thức tỉnh những tâm hồn lầm lạc.
Tương tự như vậy trong Truyện của một người cũng biết cười Vũ Bằng cũng nhận thấy
trong tiếng khóc của con người rừng "có một cái gì là lạ thì ra nó chứa cả một tấm lòng đáng
trọng". Nhà văn nghiệm thấy "có cần nhiều nhõi gì đâu, chỉ một tiếng khóc mà người ngồi ăn
vụt nhớ đến cái tình thương yêu đồng bào cốt nhục". Ông đã để cho "người sầu nhất ở trong
bọn chúng tôi lên tiếng”:
"Chúng ta sẽ nhớ mãi rằng những bữa tiệc làm bằng xương máu của đồng bào mình thì
bao giờ cũng là những bữa tiệc rất sầu. Mà cái chết của anh em con cháu mình không thể làm
cho người ta sung sướng" [20; 319].
Đến khi cả chồng và con của người thiếu phụ (Bát cơm ) đều đã lên Thiên đình, hạnh
phúc cá nhân đã được hoàn toàn bảo đảm, cuộc sống không vì thế mà thanh thản hơn. Họ vẫn
hướng lòng mình xuống cuộc sống trần gian, nơi có "một cái nồi vĩ đại cũng đương sôi lên
43
sùng sục: Trời- ông Trời bằng chữ hoa đang luộc anh em đồng bào cốt nhục" họ [20; 320]. Họ
băn khoăn:"Lúc này không biết hàng ngày các chiến sĩ có đủ ăn cầm hơi đánh giặc, giữ nước
không? " [20; 309].
Trong Ở đây bán sách cũ, Vũ Bằng đã ưu ái hướng ngòi bút tới những suy nghĩ đầy tự
trọng của ông cháu ông từ già đang ương cảnh thất nghiệp túng thiếu:
"Thằng cháu trông thấy oản, bỏng, xôi cháo, thèm quá, muốn chạy ra đề gỡ. Chết một nỗi
là muốn ăn như thế, người ta phải là quân ăn mày mới được.(...) từ lúc đó trở đi, thằng bé biết
rằng ông cháu mình cũng không sưng sướng, và hơn thể nữa, lại không bằng cả những tên ăn
mày. Bởi ăn mày mà đói thì đi ăn mày mà ăn được, chứ ông nó và nó mà đói thì chỉ có cách là
ngồi nhìn đống sách cũ vứt bừa bộn trên mặt quầy"...[20; 260- 261].
Vẫn với cái nhìn hiểu biết và thông cảm, trong truyện Một chục bạc, một trận đòn, một
kiếp người, Vũ Bằng đã đóng vai "luật sư" bào chữa cho hành động đánh con đến chết của anh
chồng nghiện rượu nọ. Nhà văn đã để cho nhân vật xứng "tôi" (anh chồng) sống trong dằn vặt,
hối hận. Anh đã giả điên để được ở Dưỡng trí viện lâu hơn sau khi gây ra tội ác. Khi phải ra
viện, anh đã bỏ đi lang thang. Để có đủ dũng cảm trở về nhà, nơi mình đã gây ra tội ác, anh đã
"uống rượu say đến nỗi lăn ra đường, hàng xóm phải chở về nhà, nằm li bì suốt một ngày mới
tỉnh" [10; 105]. Anh tâm sự: "Tôi cố không nghĩ nữa, mà không thể được, cứ bước chân về đến
nhà là mắt tôi lại hướng về phía thằng Hanh nằm lăn lộn trên mặt đất, chắp hai tay lại "cắn cỏ
lạy ba" "... [10; 104].
Đọc Một chục bạc, một trận đòn, một kiếp người, có cảm tưởng bao nhiêu yêu thương,
trân trọng tác giả đã dành trọn cho nhân vật thằng Hanh. Thằng bé con nhà nghèo, chưa đầy
mười tuổi đã phải "làm mọi công việc trong nhà (...) còn thừa thì giờ mới đem sách ra để học"
[10; 98]. Thằng bé bị bố đánh đòn oan. Mặc dù vậy, cho đến chết, nó vẫn "giấu giếm đến cùng
cái tội sát nhân của bố nó" [10; 103] vì sợ ba nó bị tù, mẹ và các em nó bị mang tiếng là người
thân của kẻ sát nhân. Nổi lên ở thằng bé là tấm lòng vị tha cao cả. sống, nó không nghĩ đến
mình; chết đi, hồn nó vẫn không thôi lo nghĩ. Nó vẫn thương, thông cảm, bỏ qua lỗi lầm của ba
nó. Nó tha thiết yêu cầu má nó "đừng giữ cái gậy ba đánh con ở nhà làm gì. Nó sẽ là cái rớp...
sau này ba con có thể lại lấy để đánh em con chết oan chết uổng" [10; 105].
44
Trong truyện Bữa cỗ, người chồng sau khi ăn cỗ trở về, thấy vợ chết nằm còng queo đã
xót thương và quyết định: "mua một bao nến và lại mua thêm một nghìn vàng hoa nữa" [20;
325]. Hành động ấy chính là chất thơ của cuộc đời. Chất thơ này thường bị khuất lấp đâu đó
giữa những mối lo cơm áo hàng ngày. Khi gặp dịp, nó mới bộc lộ trọn vẹn , sáng ngời, tươi
mới.
Trân trọng yêu thương những con người nhỏ bé, bất hạnh trong một xã hội thời chiến, Vũ
Bằng đã hiểu họ như hiểu chính bản thân mình. Ngòi bút của ông đã khám phá, nâng niu từng
vẻ đẹp ương những tâm hồn này. Sự khám phá trân trọng ấy là một biểu hiện rõ nét của một
tấm lòng nhân hậu, bao dung. Khi miêu tả, thể hiện những điều mình khám phá được về đối
tượng, Vũ Bằng hoàn toàn ưu tiên cho việc bộc lộ cái "tôi" nội cảm.
1.2.2. Sự ưu tiên cho việc bộc lộ cái "tôi" nội cảm.
Trong văn xuôi nghệ thuật, đặc biệt trong kí trữ tình, việc thể hiện cái "tôi" nội cảm
thường được xem trọng. Việc xem trọng sự thể hiện cái "tôi" nội cảm đã tạo ra những khoảng
không rộng rãi cho người viết và nhân vật tự bộc lộ Người kể thường lồng những suy nghĩ, cảm
xúc, những rung động tinh tế trong từng cốt truyện, từng chi tiết. Do đó, văn xuôi nghệ thuật có
lợi thế giống như thơ trong khả năng giãi bày, bộc bạch. Ở đây, các yếu tố như tình tiết, sự
kiện, nhân vật thường được triển khai theo mạch vận động của cảm xúc, của các động thái tâm
lý. Thông qua tâm hồn tác giả, cuộc sống được hiện lên trong chiều sâu bản chất của nó. Đây là
biểu hiện đặc sắc của bút pháp lãng mạn ữong văn xuôi nghệ thuật. Với văn xuôi nghệ thuật
"chất liệu của cuộc đời và cảm xúc của tác giả đã luyện thành một thứ hợp kìm nhuyễn từng
phân tử". Vì thế mà diện mạo, chân dung tính thần, cá tính sáng tạo được thể hiện với một dâu
ấn đậm nét, giống như một "chứng minh thư tâm hồn" (Nietzsche) qua những gì nhà văn tự
biểu hiện. Nhà văn thường thông qua tác phẩm của mình mà giãi bày, chia xẻ với người đọc về
những cảm giác, những ấn tượng, những ứải nghiệm... chất chứa, dồn nén trong lòng mình. Họ
đã thổi vào tác phẩm tâm hồn mình với tất cả mọi nỗi niềm: vui, buồn, đau khổ, nhớ nhung...
và giãi bày một cách rung động, tha thiết nhất.
Ngay từ những năm 1942- 1943, khi viết hồi kí Cai, Vũ Bằng đã giãi bày tâm tình, thể
hiện cái "tôi" của mình "trong sự tha thiết đến chới với, muốn nói thật nhanh muốn nói ra bằng
được những điều bấy lâu dồn ép, và lấy việc được bộc lộ làm sung sướng" [4; 10]. Càng về sau,
45
trong các sáng tác của mình, cái "tôi" nội cảm của Vũ Bằng càng được khẳng định, vừa có cái
chung vừa mang những nét riêng khó lẫn.
Ở một góc độ nào đó, cái "tôi" của Vũ Bằng có nét giống cái "tôi" trong các sáng tác Đứa
con đầu lòng, Gió đầu mùa, Cô hàng xén... của Thạch Lam. Cái "tôi" trong văn xuôi nghệ thuật
của Vũ Bằng thường mang một tâm hồn tinh tế, một vẻ đẹp thuần khiết, luôn hiện diện và hóa
thân đằng sau những trang viết đầy ắp ấn tượng, kỉ niệm với những lời bộc bạch chân tình. Cái
"tôi" trong văn ông không hề dấu mình. Nó cứ hiển hiện đằng sau những số phận mong manh,
những cảnh đời tù túng, ngột ngạt...với một niềm cảm thông pha xót xa, canh cánh. Nó tương
tự như sự bộc lộ trong thơ trữ tình: dào dạt, tuôn trào, tưởng như không có gì cản nổi. Đây là
cảm xúc của ông trước những cuộc chia li thường diễn ra trong những năm kháng chiến chống
Pháp:
... "Ở hậu phương bao nhiều cảnh chia lìa như thế đã xẩy ra trong hơn một năm ròng trên
khắp bển sổng? Chúng ta đã từng chứng kiến bao nhiêu cảnh vợ trẻ khóc chồng son, mẹ già
thương con dại? Chúng ta đã quặn đau vì phải dự bao thảm cảnh người thân yêu phải chia rẽ
nhau lúc sống, mà chia rẽ không biết bao giờ tái ngộ?
Sóng đập vào mạn thuyền và bất cứ về mùa nào, cũng có những cuộc chia li não nùng
đến thể. Khi thì là trên một cái gò gió thổi đìu hiu; khi thì ở lưng chừng một đỉnh núi giăng treo
quạnh cõi; khi thì là trong một cái miếu bên ngoài gió heo lay phần phật mấy tầu tiêu; khi thì
là trong một gian nhà nát có tiếng gà gáy sương eo óc; khi thì là một cánh bãi le te mặt nước,
cỏ biếc um, dâu mướt màu xanh" [20; 355].
Hai đoạn văn tổng cộng năm câu. Đoạn một có ba câu, cả ba đều là câu hỏi tu từ, vừa như
hỏi, vừa thể hiện sự băn khoăn, khắc khoải không yên. Đoạn hai có hai câu, kết cấu theo lối
diễn dịch, câu thứ hai khá dài hơi, nhiều lần lặp lại "khi thì" như diễn giải, như chứng minh,
như khẳng định: "mùa nào cũng có những cuộc chia li não nùng đến thế".
Trong Đám cưới hai u hồn ở chùa Dâu, cái"tôi" nội cảm của Vũ Bằng lại -hướng đến các
oan hồn với những uẩn ức chưa được giải tỏa mang theo từ cõi sống. Đạo Phật thường tìm sự
giải thoát ở cái chết, thường khuyên con người diệt dục để diệt khổ vậy mà trong truyện, Vũ
Bằng đã để cho Sư Phổ Giác nhận "thấy rằng âm cảnh cũng như dương thế không có nơi nào
sung sướng vui vẻ, nếu người ta còn chất chứa những khổ thống trong lòng (...) Chỉ có tình
46
thương yêu ở đời này rửa hết được nhơ bẩn mà thôi". Nhận thức của Sư Phổ Giác (phải chăng
là nhận thức của Vũ Bằng) lúc này dễ gợi liên tưởng đến lời dặn dò của Giăng Văn Giăng đối
với Cô đét trước lúc từ giã cõi đời: "Cha sắp đi đây các con ạ, các con hãy yêu nhau mãi mãi.
Trong đời chỉ có một điều ấy thôi: là yêu nhau..." [99; 569]. Anh hưởng của chủ nghĩa lãng
mạn ương văn học Pháp đã chắp cánh cho ngòi bút Vũ Bằng. Ông đã để cho Sư Phổ Giác "vượt
rào" làm lễ cưới cho hai oan hồn Mai Chi và Thạch bởi lẽ "ở âm cảnh cũng như dương trần, sự
ly biệt chia lìa còn khổ hơn là cái chết. Đạo Phật chỉ hợp nhau lại, chứ không bao giờ chìa
nhau ra" [10; 26-27].
Nếu cái "tôi" trong Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn là cái là cái “tôi” cá nhân, "làm cho
người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa" (Điều thứ 8 trong tôn chỉ của Tự lực văn đoàn)
đồng thời cũng là cái "tôi" đại diện cho tầng lớp trí thức Tây học thì cái "tôi" trong văn xuôi
nghệ thuật của Vũ Bằng là cái "tôi" của chính nhân vật, nó là chính nó, hoàn toàn cá nhân, cá
thể. Dẫu rằng đằng sau nó, ta có thể thấy bóng dáng của cả một lớp người. Đó là cái "tôi" đặc
biệt, có tính tổng hợp cao. Trong Giai đoạn mới là cái "tôi" thuần chất, một chiều. Nhân vật bà
Nhiêu Lương thuộc "tuýp" người sống đơn giản, luôn bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Vì thế,
tác giả chỉ tập trung thể hiện sự bằng lòng, thỏa mãn của nhân vật. Bà Nhiêu Lương luôn thấy
việc mình theo ông bà Phán hồi cư về Hà Nội là may, là kịp lúc. Bà hết nói ra miệng lại "nghĩ
rằng": "Vào cái thời buổi loạn li này ăn ở phức đức cũng được trời đền cho thật" [20; 251]. Bà
đã ra sức giữ gìn và tìm đủ mọi cách để tận hưởng cái may mắn đó. Nếu không hiểu nỗi ám ảnh
bởi cái đói của người nông dân Việt Nam những năm 1940 - 1945, ta dễ nghĩ Vũ Bằng cường
điệu khi miêu tả những cảm giác, cảm tưởng và thái độ trân trọng quá đáng của bà Nhiêu
Lương đối với bát cơm.
Đến Thương nhớ mười hai ngòi bút lãng mạn của Vũ Bằng mặc sức bay bổng cùng thiên
nhiên, đất trời, những phong tục tập quán của miền quê Bắc Việt trong niềm thương nỗi nhớ.
Sự ưa tiên bộc lộ cái "tôi" nội cảm đã làm cho thiên nhiên xứ Bắc trong Thương nhớ mười hai
hiện lên như một con người, có khi lộng lẫy kiêu sa như một mĩ nữ:
"Cái trăng tháng giêng, non như người con gái mơn mởn đào tơ, hình như cũng đẹp hơn
các tháng khác trong năm thì phải: sáng nhưng không sáng như trăng sáng mùa thu, đẹp
nhưng không đẹp một cách héo uá như trăng tháng một; cái đẹp của trăng thánng giêng là cái
47
đẹp của nàng trinh nữ thẹn thùng, vén màn hoa ở lầu cao nhìn xuống để xem ai là tri kỉ, mặc
dầu không có ai thấy để đoán biết tâm sự mình, nhưng cứ thẹn bâng khuâng, thẹn với chính
mình" [5; 30-31].
Có khi thân thương, gần gũi, gắn liền với hình ảnh "người vợ tấm mẳn" mà tác giả hết
lòng thương yêu, trân trọng. Đọc Thương nhớ mười hai chắc chẳng ai quên được những đoạn
văn tả cảnh thiên nhiên xứ Bắc trong tiết Tháng ba, rét nàng Bân:
"Trời trong như ngọc, đất sạch như lau. Ngủ dậy lúc còn tối trời, anh ngồi uống nước trà
đợi sáng thì uống chưa xong ấm nước, anh bỗng thấy có những đám mây hồng từ phía đông
kéo tới giữa một nền trời xanh ngăn ngắt một màu. Ở đằng sau nhà, chim hót ríu ran, đánh
thức những người còrrđang thiêm thiếp. Anh mở của nhìn ra ngoài thì lá cây sạch bong ra,
lóng lánh như ở trong một phim ảnh mầu tuyệt đẹp: sương móc ban đêm rửa hoa lá cỏ cảy^
ràa cả cát bụi trên các nẻo đường thành phố.
Giẫm đôi giày lên trên đất mịn màng, anh cảm thấy cái mát mẻ của đất, cái sương vương
trên cỏ thấm vào trong lòng anh y như thể anh đi chân khống vậy. Chìm vẫn hót ríu ran. Anh
nhìn lên trời cười thì những đám mây hồng tỏa ra một thứ ánh sáng trắng như sữa, nhẹ như
bông, tràn lan trong không khí và úp chụp lấy các làm cây nội cỏ..." [5; 56-57].
Đặng Anh Đào ương Tháng ba đi tìm thời gian đã mất đã có lí khi ví Tháng ba, rét nàng
Bân như là cuốn "phim ảnh mầu tuyệt đẹp" về những biến động tinh tế nhất của "cỏ cây mây
nước" và tác giả hiện lên là "một con người cực kì nhạy cảm với tự nhiên và hãy còn sống theo
nhịp sống của đất trời" [20; 136]. Cũng qua đoạn trích trên, Nguyễn Thị Thanh Xuân đã phát
hiện ra "cái bản chất tình nhân (...) không chỉ với cố nhân mà cả với cố hương" của Vũ Bằng.
Tác giả bài viết Khúc ca hoài cảm của kẻ tình nhân đã nhận ra "sự chủ động" của con người Vũ
Bằng "trong việc tìm đến thiên nhiên” khi "đã xưng là anh ông lại ví tháng ba ấy như một cô
gái có sắc đẹp nghiêng thành, nghiêng nước", nhà phê bình khẳng định: "Nhân vật trữ tình
trong tùy bút Vũ Bằng là một chàng tình nhân hào hoa, lịch lãm, biết sống đẹp, và cảm người
yêu của mình đến từng chân tơ kẽ tóc..." [20; 155].
Còn ""Miếng ngon Hà Nội" đâu chỉ nói miếng ngon của một vùng đất mà nhiều hơn nổ
nói với ta về Hà Nội, về đất nước" [5; 10]. Trong Miếng ngon Hà Nội Vũ Bằng đã viết về hầu
hết các món ăn ở Hà Nội, từ ngô rang, khoai lùi đơn giản đến phở, bún thang, bún mọc... cầu
48
Ki. Tất cả, với Vũ Bằng đều rất ngon, rất đáng nhớ. Bởi "Nhớ đến những quà ấy là nhớ tất cả
một dải đồng bằng phì nhiêu Bắc Việt, cổ sáo sậu nhẩy trên lưng bò, với những người nhà quê
vạm vỡ cầy ruộng, với những cô gái vừa hát vừa quay tơ, với những đứa trẻ chăn trâu, mặt
mày lem luốc nhưng trông duyên dáng biết bao!" [8; 53].
Vũ Bằng "thường thích nghĩ rằng những miếng ăn đó thật quả là giống như những tác
phẩm văn chương bất hủ (...) nhiều Miếng ngon Hà Nội cũng có thể ví như tác phẩm của
Nguyễn Du. Không thể khéo hơn được, không thể ngon hơn được, vì thế, khổng thể thay đổi
được" [8; 53-54].
Thương nhớ mười hai rồi Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng gợi sự liên tưởng đến Chân
trời cữ của Hồ Dzếnh. Khi viết những tác phẩm này, cả hai nhà văn đều sử dụng những tài liệu
có tính chất tự thuật, khai thác vốn sống có tính chất riêng tư của mình. Cả hai đều mặc sức thả
lòng theo những dòng tâm sự tha thiết, chân thành về quê mẹ, về Tổ quốc Việt Nam. Mơ về
nước Chúa của Hồ Dzếnh có đoạn: "Tôi sinh ra giữa cái ánh sáng dịu dàng, mùi hương thơm
ngát, tâm hồn được tiếp xúc ngay với cảm giác thân yêu buộc ngay vào cội rễ của đất nước.
Mặt trời viết phương tuy đẹp đẽ, tuy thôi miên nhưng vẫn khống giảm được cái thi vị của căn
lầu biết ánh nến. Tôi đưa đổi chân chạy tìm cái chân trời xa lạ nhưng mỗi lúc dừng chân, tôi
vẫn thích quay về quê mẹ. Ở đó mới thực rộn và sôi lên cái gì là lồng, là máu, máu và lòng
khống vay mượn, khống chế tạo, thiết thực và đơn sơ". Và trong Chị Yên ông viết:"Hỡi nước
Việt, tôi nghiêng lòng xuống người, trên những luống cày mà hương thơm còn phảng phất, và
tôi đã từng uống nước người và nối tiếng của người, vỉ tôi đã thề yêu người trên bậc tột cùng
của tôn giáo. Trên giải đất súc tích những tinh hoa của văn chương, những công trạng lịch sử,
tôi còn ghi cả những bóng dáng người xưa tôi thương yêu và trong số những người này chị Yên
tôi là một" [104; 494].
Giống như Hồ Dzếnh, Vũ Bằng cũng tự bộc lộ một cách tha thiết, đầy đủ các trạng thái
tinh thần của mình với một sự thành thực cảm động, trong một biên độ thoáng rộng thoải mái.
Trong Tự ngôn (Thương nhớ mười hai) là một nỗi nhớ cồn cào, da diết, bao trùm khắp không
gian, trải dài theo mùa, tháng:
"Nhớ quá, bất cứ cái gì của Hà Nội cũng nhớ, bất cứ cái gì của Bắc Việt cũng nhớ, nhớ
từ cánh đồng lúa con gái mơn mởn nhớ đi, nhớ từ tiếng hát của người mẹ hát ru con buổi trưa
49
hè mà nhớ lại; nhớ hoa sấu rụng đầu đường Hàng Trống, nhớ quả bàng ở Hải Hậu rụng xuống
bờ sông Đào, nhớ sen Linh Đường thơm ngào ngạt cả bầu trời nhớ lên, nhớ nhãn Hưng Yên,
nhớ vải Vụ Bản, cá Anh Vũ Việt Trì, na Láng, bưỏi Vạn Phúc, cam Bố Hạ, đào Sa Pa, mà nhớ
xuống.
(...) Càng nhớ như vậy thì càng yêu Hà Nội biết bao nhiêu, lại càng say đắm Bắc Việt biết
bao nhiêu" [5; 12-13].
Đến Tháng sáu thèm nhãn Hưng Yên, nhà văn không hề giấu diếm niềm yêu thương, tự
hào về quê hương đất nước của mình: "Tôi yêu đất nước tôi vì mỗi vừng cổ những con cá lá
rau, những hoa thơm trái ngọt nổi tiếng; tôi yêu người nước tôi đã khéo biết đem các thức
ngon lành nổi tiếng đó làm thành tục ngữ ca dao, muôn đời nghìn kiếp không sao quên được:
cam xã Đoài, xoài Bình Định, bưởi Đoan Hùng, mít Gio Linh, nhót Thanh Chương, tương Nam
Đàn, nhãn Hưng Yên, giò Văn Điển, vịt Bầu Bến, gà trống thiến Lạng Sơn... dưa La, cà Láng,
nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét... [5; 131].
Có khác chăng, ở Chân trời cũ, nhân vật "tôi" đã biểu lộ, hiện diện một cách rõ nét tấm
lòng đôn hậu, hiếu đễ, giàu yêu thương xao xuyến của mình trên cơ sở tình mẹ con, anh em, chị
em trong quan hệ đời tư, giữa một cuộc đời đầy cay đắng; còn trong Thương nhớ mười hai,
Miếng ngon Hà Nội là một cái "tôi" cô đơn, đắm mình trong hoài niệm về một không gian văn
hóa Bắc Việt, một không gian gia đình. Nơi ấy "có người vợ tấm mẳn tao khang, khéo tay hay
làm, thể tất cho chồng nhiều thói tật đáng trách. Nơi đây có một anh chồng đoảng tính, ham
chơi, bỗng có lúc nhận ra cái phù phiếm trôi nổi ở đời, để rồi biết trở về bên người vợ thương
yêu, được ngồi ăn uổng cùng nhau, nhìn ngắm nhau, săn sốc cho nhau, để có lúc anh ta còn
làm nũng vợ..." [20; 71].
Cũng ở Thương nhớ mười hai và Miếng ngon Hà Nội cái "tôi" nội cảm của Vũ Bằng đã
gặp cái "tôi" duy cảm của Thạch Lam, Nguyễn Tuân. Vũ Bằng đã dành cả Miếng ngon Hà Nội
và nhiều trang trong Thương nhớ mười hai để viềt về nền văn hóa ẩm thực của người Hà Nội;
Thạch Lam có Hà Nội băm sáu phố phường; Nguyễn Tuân có nhiều tác phẩm không thành tập.
Cả ba cùng viết về phở, cốm, giò lụa..., những món quà bình dân phổ biến trong đời sống dân
gian, tuyệt nhiên không có thứ "cao lương mĩ vị" của giai cấp lắm tiền nhiều của. Quan trọng
hơn cả là cả ba, qua món ăn mà "thấy được cá tính Việt, tâm hồn Việt với tất cả những nét đặc
50
sắc và tinh tế của Hà Nội và miền Bắc, rộng ra là của dân tộc và đất nước" [20; 71]. Nếu
Nguyễn Tuân "Trong một miếng ăn cũng thấy rộng được ra những điều cao cả yên vui trên đất
nước bao la giàu có tươi đẹp." [96; 51] thì Thạch Lam nhận thấy "Phần nhiều là những thức
quà có từ xưa, đã có nền nếp, có qui củ hẳn hoi, và mang trong hương vị cái mùi ngon đằm
thắm của đất nước nhà. Sản phẩm của đồng ruộng, của núi sông, những thức quà ấy là dấu
hiệu sự thưởng thức của người mình, vừa tao nhã lại vừa chân thật" [56; 173]; Còn Vũ Bằng
trong Miếng ngon Hà Nội lại viết: "Thế nhưng mà những cái quà đó đã đem đến cho lòng ta
bao nhiêu sự đắm say, bao nhiêu thú vị, bao nhiêu cảm giác mông lung nhã lịch! Ta cầm lấy
mà thấy như ôm một chút hương hoa của đất nước vào lòng. Ai đã bảo ăn uống là một nghệ
thuật? Hơn thế nữa, ăn uống là cả một nền vãn hóa đấy" [8; 51-52].
Điểm để phân biệt cái "tôi" của ba nhà văn Vũ Bằng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân là ở cách
tiếp cận và mô tả các món ăn của mỗi người. "Nếu Thạch Lam hay hình dung món ăn như một
tấc phẩm nghệ thuật hiện ngay ra trước mắt ta trong khoảng thời gian từ khi nó được hoàn
thành là miếng ăn cho đến khi nó được ăn, thì Nguyễn Tuấn mô tả miếng ăn như một quá trình
từ khâu chế biến đến khi bày dọn và thưởng thức, còn Vũ Bằng lại đặc biệt chú trọng đến sự
khoái khẩu, khoái cái "khẩu cái" của người háu ăn" [20; 68].
Vũ Bằng hay viết về miếng ăn, món ăn. Với ông, miếng ăn phải là miếng ăn trước đã.
Ông thường viết về mỗi miếng ăn với tất cả sự háo hức, sốt ruột của một người háu ăn. Đây là
một đoạn miêu tả tâm trạng sốt ruột, bức bối nhưng không thể bỏ đi được của người đi ăn phở
trước một anh hàng phở nổi tiếng, có bộ mặt "không chơi được" (chữ của Nam Cao)"Hàng năm
bảy chục người, hàng tám chín chục người đứng vòng lấy gánh hàng của anh ta, chật cả cái hè
đường để mua ăn, để đòi ăn- phải, họ đòi ăn thật- mà anh ta cứ làm như thể không trông thấy
gì, không nghe thấy gì.
Anh ta cứ thản nhiên, thái thịt, dốc nước mắm, rưới nước dùng- ai đợi lâu, mặc; ai phát
bẳn lên, mặc; mà ai chửi, anh ta cũng mặc (...).
Ghét quá. Thế thì thuê một cái nhà rộng, mượn thêm người làm cố phải lợi không? Hay là
điều đình với xưởng củi người ta đề cho một gian, bày mấy cái bàn, cái ghế, có người trông
nom, tính tiền cẩn thận có phải không mất mát không?
Mặc cho ông cứ nói, anh phở Tráng không trả lời- nhất là không bao giờ cười.
51
Trông mà lộn ruột, muốn tát cho một cái. Chết một nỗi ghét người thì thế, nhưng đến cái
phở của anh ta muốn ghét, không tài nào ghét được" [8; 62-63].
Đọc Hà Nội 36 phố phường ta có cảm tưởng khi viết tác phẩm này, Thạch Lam như một
thi sĩ rong chơi đang dạo khắp phố phường Hà Nội. Ông nhìn Những biển hàng và nhận xét
Người ta viết chữ Tây trên những biển hàng ấy như thế nào. Thi sĩ ấy lại lạc vào các ngõ phố,
lặng lẽ ngắm nhìn và thưởng thức những Hàng quà rong, những Quà Hà Nội từ cơm nắm, bún
chả, bún sườn... đến phở, bánh tôm, cốm Vòng... Để rồi với tất cả lòng yêu mến, trân trọng
"trước những gì bé nhỏ nhất của cõi đời", ông đã làm thơ bằng văn xuôi về nó. Đôi khi cao
hứng, ông còn làm thơ về những người bán những món quà đó nữa. Hàng nước cô Dần là một
ví dụ :
... "Cô hàng nước Việt Nam- dù ở dưới bóng đa, bên ruộng lúa, hay ở dưới mái hiên của
thành phố, ở đâu cũng vậy, miệng cười tươi của cô hàng là dây liên lạc khắp cả mọi người. Cô
hàng nước Việt Nam, từ xưa đến nay đã chiếm một địa vị quan hệ trong lịch sử, và trong văn
chương: đã có nhiều tiểu thuyết bắt đầu ở một hàng nước và kết cục cũng ở đấy" [56; 186].
Nhìn cô hàng nước của hiện tại, nhà thơ của chúng ta băn khoăn tự hỏi và cũng tự trả lời:
"Một hai năm nữa, lớn lên đi lấy chồng, ai là người thay cô trông nom ngôi hàng nước
của "Hà Nội là động tiên sa " ? Cô bé em cô, hẳn vậy, sẽ ngồi bán hàng thay chị, lại que diêm,
điếu thuốc, miếng trầu- để kéo dài mãi mãi cái phong vị bình dân và mộc mạc của cô hàng
nước cùng với các cô hàng xén kĩu kịt đi chợ Đông, chợ Đoài, là cái tinh hoa thuần túy của
người Việt Nam từ xửa xưa đến giờ" [56; 187].
Trước miếng ăn, nếu Thạch Lam hiện ra như một thi nhân thì Nguyễn Tuân hiện ra như
một tao nhân. Các tác phẩm viết về miếng ăn của ông đều thể hiện "tính uyên bác", "chiều rộng
và chiều sâu văn hóa" [68; 148]. Ông viết về các món ăn như một nhà khảo cứu chuyên môn.
Để viết về phở, ông bắt đầu từ việc tìm hiểu nguồn gốc của chữ phò đến tên các hàng phở, hiệu
phở; lịch sử của nó và cách chế biến... Điều đáng chú ý là, dưới mắt ông, tất cả mọi chi tiết liên
quan đến món quà như tên hiệu, quá trình chế biến... đến sự thưởng thức đều được ông nhìn
nhận bằng con mắt của một nghệ sĩ. Nói theo cách nói của nhà phê bình Phan Ngọc: Nguyễn
Tuân đã nâng phương diện của kĩ thuật thành phương diện của mĩ thuật. Đây là đôi điều ông
viết trong bài Phở:
52
"Người ta bảo chữ phở là xuất xứ từ chữ "ngưu nhục phấn " và ta đã Việt Nam hóa chữ
phấn thành chữ phở. Chữ phở nguyên là một danh từ, còn chuyển thành một hình dung từ; cái
mũ phở. Chữ nghĩa của ta hay thật...
- Phở cũng có qui luật của nổ. Như tên các hàng phở hiệu phở. Tên người bán phở
thường chỉ dùng một tiếng, lấy ngay cái tên cúng cơm người chủ hoặc tên con mà đặt làm tên
gánh tên hiệu (...) cái tên càng độc, âm ngắn cộc, càng đáng cho người mua tin cậy, cái tên
một chữ như một nhát dao thái xuống thịt chín..." [97; 39- 40- 41].
Và đây là ít dòng trích ương bài Cốm: "Ai khó tính và cầu kì màu sắc cứ nổi gì thì nói
nhưng theo tôi cái màu xanh của cốm Vòng là thứ màu xanh đẹp hơn cả cái màu xanh của
ngọc thạch, cốm xanh đậm ấy mà lại lá sen xanh phấn làm đĩa đựng càng thấy mình cùng tạo
vật sao mà nó chan hòa cảm thông đến được như thế. cốm rờn lên một niềm vui bất tận xanh,
mà trên mặt đó lại cho chằng lên một múi lạt chữ thập nhuốm đỏ cánh sen để gửi đến ngõ nhà
người yêu, để đặt trên bàn tiệc cưới, đám hỏi, thì quả cái màu xanh thật là màu xanh của
nguyện vọng hạnh phúc" [97; 866-868]...
Còn Vũ Bằng thì khác, ông viết về các "miếng ngon Hà Nội" khi thì bằng cái háo hức của
người háu ăn (Phở); khi thì bằng tất cả sự khoái chá thật thà, không điệu bộ, không giấu diêm
của một thường nhân: "Ăn một chén cơm chỉ có chan nước lã không thôi, mà điểm mấy quả cà
Nghệ thanh thanh, mặn mặn, cắn cứ giòn tanh tách, anh sẽ thấy là đương mệt mỏi, người cũng
tỉnh ra liền và ăn một, anh cũng phải cứ ăn hai, ăn ba mới chịu" [5; 95] hay "Người chưa ăn
bao giờ ăn thử một miếng lại muốn ăn hai, còn người đã biết ăn rồi thì phải nói rằng trông
thấy thịt chó mà không được ăn thì buồn bã ủ ê, nếu không muốn nói là bủn rủn chân tay, bắt
chán đời muốn chết (...) Nhắm một miếng dồi, lại đưa cay một tạp rượu, rồi khẽ lấy hai ngón
tay nhón một ngọn rau húng điểm vào một vị hăng hăng, man mát cho tất cả cái bùi, cái béo,
cái cay, cái mát, cái hăng quện lấy nhau, anh sẽ nói với tôi cảm tưởng của anh ra thế nào..."
[8; 171].
Nhưng thường thì Vũ Bằng hiện ra trước miếng ăn như một thi nhân nhiều hơn là thường
nhân. Ông thường ngắm nhìn miếng ăn bằng cái nhìn của một nghệ sĩ và ông thưởng thức nó
theo cái cách của một người sành ăn, thích ăn ngon nhưng không đến nỗi khó tính. Với bánh
đúc, món quà dân dã, "ăn vào cũng thấy hay hay", ông viết:
53
"Bánh trông mịn mặt, chung quanh mỏng, giữa phồng trông như da thịt mát rợi của
người đàn bà mới tắm. cắn một miếng thật ngọt, rồi vừa nhai vừa ngẫm nghĩ, ta thấy rằng ta
đã tạo hạnh phúc lạ lùng cho cái khẩu cái của ta! Nổ ngầy ngậy mà khổng béo, giòn vừa vừa
thôi, mà lại thoang thoảng một mùi nồng rất nhè nhẹ của nước vôi. Song le tất cả những cồng
trình trác tuyệt đố có nghĩa gì đâu, nếu hạnh phúc đó không được chấm vào một chén tương
nhỏ hạt, vàng sánh, dìu dịu, ngọt lừ" [8; 90-91].
Vũ Bằng cũng nói đến cốm Vòng, một món quà của Hà Nội 36 phố phường mà trước đây
Thạch Lam đã nói đến và sau này Nguyễn Tuân cũng không quên viết về nó. Với ông, cốm là
"một món quà trang nhã của Thần Nông đem từ những đồng quê bát ngát của tổ tiên ta để lại
cho ta (...) Vì thế ăn miếng cốm cho ra miếng cốm, người ta cũng cần phải tỏ ra một chút thanh
lịch, cao quý. Phải biết tiếc từng hạt rơi, hạt vãi, và nhất là phải ăn từng chút một, lấy ngón tay
nhón lấy từng chút một, chứ không được phũ phàng.
Ta vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ đến tính chất thơm của cốm thoang thoảng mùi lúa
đòng đòng, tính chất ngọt của cốm phiêu phiêu như khí trời trong sạch ta sẽ thấy rằng ăn một
miếng cốm vào miệng là ta nuốt cả hương thơm của những cánh đồng quê của ông cha ta vào
lòng. Dịu dàng biết chừng nào! Mà cảm khái nhường bao!" [8; 111].
Tương tự như vậy, với bánh cuốn, ngô rang, khoai lùi... Vũ Bằng cũng đều viết với tất cả
niềm say mê, trân trọng; đều thể hiện bằng những trang viết lấp lánh tài hoa, bộc lộ rõ cái "tôi"
nội cảm tinh tế, thính nhạy- như một nét riêng dễ nhận của giọng điệu và phong cách Vũ Bằng .
1.3. Sự đan xen hài hòa giữa hiện thực cuốc sống và tấm lòng nhà văn.
Trong văn xuôi nghệ thuật, hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn khổng phải được pha
trộn như kiểu trung hòa, mang tính chất "chiết trung" mà nó luôn đan xen hài hòa trong nhau.
Sự đan xen hài hòa giữa hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn; giữa tự sự và trữ tình đã
mang lại một chất lượng mới cho văn xuôi nghệ thuật. Điểm nổi trội của loại hình văn xuôi
nghệ thuật không phải là ở hiện thực cuộc sống hay tấm lòng nhà văn mà nó nằm ngay trong sự
đan xen, trong sự kết hợp hài hòa giữa hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn, giữa tự sự và
trữ tình. Ta khó có thể vạch một đường ranh giới rạch ròi, dứt khoát để chỉ ra đâu là hiện thực
cuộc sống, đâu là tấm lòng nhà văn mà cả hai yếu tố nấy đều chuyển hóa vào nhau; thông qua
nhau mà phát huy hiệu quả nghệ thuật.
54
Vào những năm 1932- 1945, Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh với một loạt những
truyện ngắn: Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Làng , Quê mẹ, chị Yên, Trong lòng mẹ... đã
mở ra một xu hướng sáng tạo đầy triển vọng: du nhập yếu tố lãng mạn, trữ tình vào văn xuôi
làm cho văn xuôi trở nên mềm mại, thấm đẫm chất thơ, có khả năng diễn tả những rung động
nhỏ nhất, tinh tế nhất của tâm hồn con người. Bằng cách này, ba nhà văn trên đã khơi một dòng
riêng, với một vị trí riêng khó lẫn trong nền văn học dân tộc.
Cách mạng tháng Tám thành công chưa bao lâu thì thực dân Pháp trở lại xâm lược. Lúc
này cả nước là chiến trường, toàn dân là chiến sĩ. Các văn nghệ sĩ của chúng ta đều nhập cuộc,
các sáng tác của họ đều mang hơi thở của thời đại, của lịch sử. Văn học hiện đại Việt nam giai
đoạn này vì thế, chủ yếu được sáng tác theo "khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn" [70;
44] với âm hưởng chung là hùng hồn, tha thiết.
Nhà văn Vũ Bằng của chúng ta cũng nhập cuộc nhưng theo một ngả riêng. Các sáng tác
của ông từ 1945 trở đi, là một sự nối tiếp xu hướng sáng tạo của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ
Dzếnh ở giai đoạn trước. Ông đã tự tạo cho mình một bộ mặt văn học riêng, độc đáo, khó lẫn
trong nền vãn học hiện đại Việt Nam từ 1945 trở về sau.
Giống như bao nhà văn hiện đại Việt Nam đầu thế kỷ XX, Vũ Bằng cũng chịu ảnh hưởng
của văn học Pháp. Theo Tô Hoài, "Vũ Bằng mê Dostoỉevsky và Sêkhôp, anh là mọt sách,
chuyên tìm những tác giả xa lạ như Ch.Phitne với truyện "Thông hành giả" và Groan Phôn đet,
"Phố mèo câu cá"" [20; 112]. Vũ Bằng đặc biệt tâm đắc với Phố mèo câu cá. Giữa Vũ Bằng và
tác giả Phố mèo câu cá có nhiều điểm tương đồng. Tiểu thuyết Phố mèo câu cá phần nào là sự
tự truyện của Groan Phôn đet- một nhà văn nữ gốc Rumani. Phố mèo câu cá xoay quanh câu
chuyện cuộc đời anh thợ giầy nghèo kiết xác. Anh quê ở Bucaret, vì nghèo khó phải tha hương,
sa vào ngôi nhà tối om trong hẻm Mèo câu cá ở Pa ri. Cái hẻm rặt nhữhg nhà trọ tồi tàn, đi ra đi
vào những ông những bà hoàng tộc thất thế sau chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918. sống ở
Pa ri nhưng tâm trí vợ chồng người thợ giầy lại luôn hướng về Bucaret quê hương. Nỗi nhớ ấy
ngày càng trở nên nhức nhối đến không chịu được.
Thế rồi sau bao nhiêu năm, họ cũng dành dụm được suất tiền tàu về Bucaret. Lúc ấy, cả
hai vợ chồng đều đã lớn tuổi "Khi đoàn tàu dừng ở lại cái ga đầu tiên vào nước Rumani, cả hai
55
vợ chồng bàng hoàng từ trên tàu bước xuống. Người chồng nằm rúc đầu vào búi cỏ, nhìn ra
khoảng trời quê xanh bồi hồi. Người vợ giàn giụa nước mắt" [20; 108].
Còn Vũ Bằng, hầu hết các sáng tác của ông từ 1945 trở về sau đều ít nhiều có hơi hướng
tự truyện mà mỗi trang trong đó "là một u uẩn, một ước mong tức tưởi không tới được, không
bao giờ tới được, không thể cầu được ước thấy" [20; 109]. Đành rằng có học tập, có ảnh hưởng
nhưng để có được những trang viết, những tác phẩm thật sự là của mình như vậy, Vũ Bằng đã
điều khiển ngòi bút, đã múa ngòi bút bằng chính sự thúc đẩy của cảm xúc và tài năng của mình.
Ngay từ những năm 1941- 1942, khi viết Khảo về tiểu thuyết, Vũ Bằng đã mượn câu nói của
André Gide để khuyên những người cầm bút: "chớ nên tưởng rằng một người khác cổ thể tìm
chân lý cho ta; hem thể, bạn phải lấy việc đó làm xấu hổ. Nếu ta tìm đồ ăn cho bạn, bạn sẽ
không đói đề ăn thức ăn của ta, nếu ta giải giường cho bạn, bạn sẽ không buồn ngủ để ngủ trên
giường của ta" [9; 1156]. Có thể nói, thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc và tinh thần sáng
tạo nghệ thuật không ngừng của Vũ Bằng đã đem đến cho văn xuôi dân tộc một sắc diện mới,
đầy triển vọng.
Sự kết hợp hài hòa giữa hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn là một biểu hiện cơ bản
của đặc điểm thẩm mĩ loại hình văn xuôi nghệ thuật. Yếu tố hiện thực đi vào vãn xuôi nghệ
thuật thường không còn cái xù xì góc cạnh của "chất văn xuôi đời sống" mà nó là những hiện
thực được lắng lọc, được vang âm, được phản chiếu qua lăng kính chủ quan là tâm hồn nhà
văn. Từ trên cơ sở vững chãi của hiện thực, tấm lòng, tình cảm của nhà văn đã nảy sinh nên nó
không chủ quan, hời hợt, thoáng qua hoặc thoát li, tiêu cực. Khi hiện thực cuộc sống và tấm
lòng nhà văn kết hợp hài hòa, đan xen nó sẽ tạo nên những bài thơ bằng văn xuôi mượt mà,
duyên dáng, đằm thắm một phong vị trữ tình.
Hiện thực xã hội, hiện thực của những cảnh đời và số phận trong các tác phẩm của Vũ
Bằng thường không là hiện thực trực tiếp, đơn nhất mà nó đã được phản chiếu qua tâm hồn
thương cảm, xót xa của nhà văn và chính bút pháp trữ tình đã khiến nhà văn lọc bỏ hầu hết
những yếu tố nặng nề, nghiêm ngặt của hiện thực. Các tác phẩm của Vũ Bằng thường không đi
sâu vào những bất công, ngang trái, những xung đột đối kháng đầy kịch tính. Nó là tâm lý ôn
nhuận, giống như sự tự kìm chế, sự hòa giải khi chạm đến những vấn đề xã hội tế nhị. Hướng
tới cuộc sống của những con người bất hạnh với một niềm cảm thương, trân trọng dường như
56
là một dấu ấn của sự pha trộn giữa hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn trong các sáng tác
của Vũ Bằng. Ở các sáng tác Giai đoạn mới, Bát cơm, Ở đây bán sách cũ, Vườn xuân tơi bời lá
reo, Người Hà Nội nhớ người Hà Nội hiện thực về cuộc sống nghèo khổ, về sự tha hóa hay số
phận mong manh của con người trong một xã hội thời chiến đều hiện lên thông qua cái "tôi"
nội cảm, giàu lòng trắc ẩn. Đọc những truyện này, chúng ta có cảm tưởng tâm hồn tác giả
giống như một cây đàn mà các sợi dây của nó đều đã được căng, sấn sàng rung lên trước bất cứ
ngọn gió nào của cuộc đời, dù là nhỏ nhất. Vì thế, chỉ cần một chiếc lá rụng giữa "vườn xuân"
cũng đủ mở ra ữong ông cả một trường liên tưởng đầy ắp những chi tiết của cuộc đời thực cùng
cảm xúc:
"Trong cái phút hấp hối đau thương của kiếp lá, chứng có những vẻ mặt lạ lùng đặc biệt:
tròn trăn và rám nắng, đó là những thiếu phụ trông chồng vò võ mà không có đường hồng tiên;
gầy yểu và bàng bạc, đó là những người huyết xấu, đau tim; xấu xa co quắp, đó là những
người mẹ già tựa của chờ con; ùa vàng rách nát, đó là những sương phụ mất chồng về đây
sống một cái đời rầu rĩ ỉ còn những lá đương xanh thì bị sâu đục hết còn là gì? Nếu không là
cả một lớp con gái đàn bà hiện nay đớn chích "trồng cái sầu lên làm gối, thổi khối hậu để làm
cơm?" [20; 345].
Trong Đất khách, một trong những sáng tác hay nhất của Vũ Bằng về đề tài người hồi cư,
hiện thực đời sống tù túng, bế tắc của những người "dinh-tê" lúc ấy chủ yếu được cảm nhận
thông qua tâm trạng, suy nghĩ của người chồng và người vợ. Cuộc sống của họ thật nặng nề,
tuyệt vọng. Trong lòng mỗi nhân vật đều chất chứa bao niềm u uất, khó giãi bày. Cuộc sống,
tâm trạng của họ có tác dụng gợi nhớ đến tình thế "tiến thoái lưỡng nan" của một bộ phận
không nhỏ nhân dân ta sau ngày toàn quốc kháng chiến.
Hướng tới cuộc sống của nhữỉig con người một thời bị "tai tiếng" bởi dư luận chung của
cộng đồng với tấm lòng cảm thông, trìu mến; hướng tới cái khung cảnh không gian tràn ngập
bóng tối của chia li, mất mát, của loạn lạc binh đao bằng cái nhìn có phần thi vị, văn xuôi nghệ
thuật của Vũ Bằng trở nên ý vị, duyên dáng khi khám phá ra vẻ đẹp tâm hồn của những con
người bất hạnh; văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng càng trở nên duyên dáng, ý vị hơn khi hướng
tới cái "tôi" của chính mình.
57
Các tác phẩm Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng đều được viết ra
xuất phát từ hiện thực- một hiện thực có tác dụng gợi nhớ. Hiện thực ấy có thể là một trận mưa
đầu mùa trút nước xuống phố phường Sài Gòn, có thể là một buổi chiều trở gió, có thể là "vào
khoảng năm tàn tháng hết, ở miền Nam nước Việt có những buổi tối đìu hiu lạnh như mùa thu
đất Bắc"... Ngay trong đối tượng gợi nhớ đã có sự hiện diện của yếu tố cảm xúc - yếu tố trữ
tình. Đấy là chưa kể, bắt đầu từ đối tượng gợi nhớ, mạch cảm xúc của nhà thơ bay bổng, trào
dâng lên ngọn bút rồi đậu xuống từng câu văn, từng hình ảnh, tạo nên những bài "thơ của niềm
thương nhớ" [20; 150].
Khởi đầu nỗi nhớ trong các sáng tác của Vũ Bằng có thể từ nhiều nguồn nhưtig điểm
dừtig của nỗi nhớ chỉ là một. Đó là người vợ tâm man, chịu thương chịu khó, tự coi mình là cái
bến đợi cho người đàn ông đoảng tính, ham chơi, lạc phách, bất thường bất chợt biết trở về.
Người vợ ấy cũng chính là một kho ca dao cổ tích thuộc làu. Bao câu ca, bao tích truyện được
cất lên từ cái miệng xinh của người vợ, đưa cả hai thoát khỏi cõi thế, nhập vào cõi mộng...
Trong hoài niệm của Vũ Bằng về quê hương, gia đình, mọi vật, mọi việc đều hiện lên lung linh
huyền ảo trong sự xen cài giữa thực và mộng, giữa hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn.
Các tác phẩm của ông, vì thế, là những bài ca dài về tình yêu quê hương, đất nước; tình yêu gia
đĩnh.
Sự đan xen hài hòa giữa hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn đã làm cho văn xuôi
nghệ thuật xích lại gần thơ trong sự gợi cảm, làm cho văn xuôi trở nên sâu sắc, dễ hiểu hơn. Sự
kết hợp, xen cài này đã tạo cho văn xuôi nghệ thuật có thêm một ưu thế trong việc khám phá,
biểu đạt những uẩn ức của lòng người; trong việc diễn tả những tinh tế của tâm hồn. Đó là sự
ghi nhận những đóng góp của Vũ Bằng cho sự tiến triển của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam.
So với văn xuôi hay thơ trữ tình, văn xuôi nghệ thuật có nhiều ưu thế trong việc khám phá
và thể hiện cuộc sống và con người trong mọi chiều kích của nó. Riêng với Vũ Bằng, văn xuôi
nghệ thuật của ông đã từ những điều rất nhỏ, rất bình thường của cuộc sống đời thường mà gợi
thức những hoài vọng xa xôi, những nuối tiếc da diết, những trăn trở và cả những uẩn ức của
lòng người. Tất ca đều tự nhiên, chân thành và trong sáng như nước suối từ các khe đá róc rách
chảy ra. Sau mỗi trang viết của ông, người đọc thêm một lần bồi hồi, rung cảm hoặc trân trọng,
58
nâng niu... từng chút, từng chút những suy nghĩ, tình cảm tốt đẹp hoặc từng "con cá, lá rau" mà
thiên nhiên, đất trời đã dành cho người Việt mình.
Cùng với Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh; bằng ngòi bút tài hoa và trái tim nhân hậu,
đa cảm, Vũ Bằng đã sáng tạo ra nhiều tác phẩm văn học có giá trị như Thương nhớ mười hai,
Miếng ngon Hà Nội, góp phần làm phong phú thêm nền văn xuôi hiện đại Việt Nam.
Hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn vốn là những đặc điểm riêng biệt, khi "chung
sống" hòa hợp cùng nhau dưới một mái nhà sẽ kéo theo không ít những thay đổi khác. Ở những
chương tiếp theo, luận văn sẽ tiếp tục tìm hiểu những đặc điểm tương ứng với những biến thái
thay đổi này dưới góc độ thi pháp:
Hình tượng con người, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật cùng ngôn ngữ và
giọng điệu.
59
CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI, THỜI GIAN VÀ KHÔNG
GIAN NGHỆ THUẬT TRONG VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT CỦA VŨ
BẰNG
2.1. Hình tượng con người:
Một trong những chức năng quan trọng của văn học là phản ánh cuộc sống với khuôn mặt
muôn màu ngàn vẻ của nó. Khi phản ánh cuộc sống, nhà văn thường thể hiện một cách nhìn,
một cách lý giải, một cách tiếp cận đối với con người, bởi con người là trung tâm của bức tranh
cuộc sống. Vì thế, trong các yếu tố thể hiện đặc sắc về sự phát triển của văn học, con người
trong văn học là yếu tố có ý nghĩa hơn cả. Từ bao đời nay, con người luôn luôn vừa là đối
tượng nhận thức chủ yếu của văn học, vừa là cái đích để sáng tạo văn học hướng tới. Văn học
với đặc trưng riêng của mình có khả năng khám phá, thâm nhập vào thế giới tâm hồn phong
phú, phức tạp và đầy bí ẩn của con người bằng những hình tượng, hình ảnh, bằng những âm
thanh nhằm mục đích giáo dục, cảm hóa con người. Nền văn học chân chính là nền văn học
quan tâm đến số phận, cuộc đời con người; là nền văn học bằng cách riêng của nó, đấu tranh
cho quyền được hạnh phúc của con người.
Tìm hiểu một nền văn học, một giai đoạn hay một tác phẩm văn học không thể bỏ qua
việc tìm hiểu hình tượng con người tức là "tìm xem nhà văn đã lý giải, quan niệm đối tượng đó
như thế nào, sử dụng hệ thống các phương tiện thể hiện phù hợp ra sao, và cuối cùng, tất cả
những điều đó cho phép tác giả thể hiện đối tượng với một chiều sâu nào, phát hiện thêm ở
đâu" [85; 89].
Như trong chương trên chúng tôi đã trình bày, do tính chất đặc thù của nhiệm vụ mà Cách
mạng giao phó, Vũ Bằng không có điều kiện công khai đóng góp sức lực và tài năng cho hai
cuộc kháng chiến của dân tộc như bao văn nghệ sĩ khác. "Chiến trường" nơi ổng sống, chiến
đấu và sáng tác cũng là chiến trường đặc biệt. Đối tượng mà ông thường xuyên tiếp xúc cũng
không phải là tập thể của những công, nông, binh. Vì thế, hình tượng con người trong các tác
phẩm văn học của ông thuộc một "tuýp" khác so với xu thế chung của văn học hiện đại Việt
Nam sau cách mạng tháng Tám. Nếu con người trong văn học Việt Nam sau cách mạng tháng
60
Tám là "con người tập thể chuyển hóa", con người "cá nhân của tập thể" và "con người xả
thân" (chữ của Trần Đình sử) thì con người trong các sáng tác của Vũ Bằng sau 1945 là con
người cá nhân. Đây là con người cá nhân bị đẩy vào cái thế kẹt "tiến thoái lưỡng nan" của lịch
sử và dư luận nên nó mang một hình hài, sắc diện riêng, không lẫn vào đâu được: Con người
lạc loài, cô đơn và con người đau khổ trong nỗi niềm khắc khoải không nguôi.
2.1.1. Con người lạc loài, cô đơn:
Con người là sản phẩm tuyệt vời của tạo hóa, là "tổng hòa các mối quan hệ xã hội". Ngay
từ thời nguyên thủy, sự tồn tại của mỗi cá nhân đã gắn liền với sự tồn tại của bầy đàn, của cộng
đồng người. Tính cách, bản chất "người" trong mỗi người được hình thành và tồn tại trên cái
nền tảng vững chắc là cộng đồng, là xã hội. Khi bị tách ra khỏi cộng đồng của mình vì một lý
do nào đó, con người hoặc tự giác hoặc không tự giác sẽ trỏ nên chới với, mất phương hướng.
Con người buộc phải tha hóa, phải khác đi để sinh tồn nếu như không muốn chấm dứt sự tồn tại
của mình cũng giống như một cái cây bị bứng ra khỏi thổ ngơi thích hợp, đem trồng sang một
khoảnh đất khác. Vũ Bằng và hầu hết các nhân vật trong các sáng tác của ông đều rơi vào
trường hợp như vậy.
Bà Nhiêu Lương (Giai đoạn mới) là ví dụ đầu tiên. Khi còn "ở nhà quê" bà là một con
người chủ động. Bà chủ động trong cuộc sống riêng của mình, chủ động trong xử sự với người
khác. Nói cách khác bà là bà- một người phụ nữ nông dân tốt bụng, chất phác, không vụ lợi.
Gia đình ông Phán "tản cư về Kim Bồng, không có chỗ ở" thì bà "mời về ở chung một nhà" [20;
253]. Nghĩ rằng "Một năm loạn bằng một vạn năm bình ai có muốn đâu thế này" [20; 253] nên
bà đã làm tất cả những gì có thể làm để giúp đỡ ông bà Phán trong lúc khó khăn. Trong bà
không hề gỢn lên sự suy tính một ngày nào đó ông bà Phán sẽ trả ơn cho mình.
Thế rồi bà theo vợ chồng ông Phán hồi cư về Hà Nội. Ở Hà Nội, vị thế của bà dần dần
thay đổi theo sự đổi thay trong cái nhìn về bà của vợ chồng ông Phán. Từ con người chủ động
bà trở thành kẻ bị động, trở thành cái gai trong con mắt ông bà Phán, thành trò hề cho lũ trẻ.
Trong nhà ông bà Phán, bà là một kẻ lạc loài, cô đơn "Chẳng ai buồn để ý" [20; 250]. Cũng
may bà không thuộc loại người sống nội tâm; ưa mổ xẻ, phân tích những tình cảm, suy nghĩ
của mình vì thế, ta có cảm tưởng cuộc sống ây với bà chẳng những không nặng nề mà còn là
niềm an ủi, tự hào vì "ăn ở phúc đức" nên "được trời đền cho" [20; 251].
61
Sống trong một xã hội loạn lạc, lắm đổi thay, lại tách khỏi cộng đồng, con người dễ trở
nên hèn đi, co mình lại, nhỏ bé hơn. Đó cũng là trường hợp của nhân vật Trần Minh Phú trong
Người chứng. Ông Phú và bác Tuân vốn có quan hệ họ hàng, ''Ngoài cái tình họ hàng ra, hai
người này còn là đôi bạn chí thân từ bé (...) Bây giờ về, mỗi người ở một chốn, nhưng chả tối
nào là không gặp nhau ..." [20; 279]. Bác Tuấn bị bắt oan, cần có người làm chứng- người ấy
chỉ có thể là ông Phú. Vì sợ tù tội, mất việc, ông Phú đã phủ nhận sự thực, không làm chứng
cho bác Tuấn. Ông thường tự bào chữa cho hành động hèn nhát của mình bằng suy nghĩ: “Ta
không thể làm khác được. Nhận Tuấn là bạn nhất định là mình chết lây. Và ngay lúc đó có thể
bị giữ luôn lại, để đưa sang nhà đá” [20; 284]. Sự hèn nhát khiến ông sau khi lạy ông thẩm vân
đa “không nhìn Tuấn, không nhìn ai, không nhìn gì cả, đi ra cửa về” [20; 283]. Ông đi như
chạy trốn. Sau đó, ông sống trong trạng thái đầy mâu thuẫn: vừa ân hận vừa không ân hận; vừa
sợ vợ biết hành động hèn nhát của mình lại vừa sợ liên lụy với Tuấn. Cuối cùng, ông tìm đến
giấc ngủ để quên đi “cõi đời này- một cõi đời có Tội Ác, có Nhục Nhã và Hèn Nhát ngự trị”
[20; 285]. Sự mâu thuẫn trong tư tưởng của ông Phú vừa thể hiện tính phức tạp của cái "tôi" cá
nhân của nhân vật vừa chứng tỏ đây là ỉnột cái "tôi" có ý thức. Chính sự ý thức của cái "tôi" đã
"đẩy" ông Phú ngày càng rời xa cộng đồng mà mình đang sống. Ở công sở, ông như cái xác
không hồn; về nhà ông gắt con, cự vợ. Việc ồng tìm quên trong giấc ngủ là biểu hiện tập trung
của sự trốn tránh, thoát ly của cái "tôi" cá nhân trước những vấn đề phức tạp mà cuộc sống đặt
ra.
Nếu bà Nhiêu Lương đơn giản trong suy nghĩ nên không ý thức được cái nặng nề của kiếp
sống lạc loài, ông Phú còn có chút liêm sỉ để ý thức sự hèn nhát và tội ác do sự hèn nhát của
mình gây ra khiến người đọc "giận thì giận mà thương thì thương" thì nhân vật Lưu Bình (Tiếp
theo và hết truyện Lưu Bình-Dương Lễ), ông Đổng (Tất cả để chiến thắng) lại khiến chúng ta
ghê tởm và khinh bĩ bởi sự chủ động tha hóa của họ. Cơ hội và vô sỉ là hai nét bản chất chính
trong con người Lưu Bình và ông Đổng tuy cách thể hiện bản chất ấy ở mỗi nhân vật có khác.
Vì vô sỉ, Lưu Bình đã đáp lại tấm chân tình của Dương Lễ bằng sự quay quắt, tráo trở: Lưu
Bình đã báo phòng nhì đến bắt Dương Lễ, trong khi đó thì hắn đến nhà Dương Lễ, khuyên nhủ
và đe dọa nhằm ép Châu Long về ở với mình. Bản tính vô sỉ đã mở đường, tạo điều kiện cho
tính cơ hội có cơ phát triển. Trước đây, Lưu Bình đã lợi dụng uy tín và sự giúp đỡ của Dương
62
Lễ làm nhiều điều bậy bạ, tai tiếng. Nay Dương Lễ vào thành, nhờ Lưu Bình giúp đỡ, Lưu Bình
đã lợi dụng cơ hội này để thăng tiến, kiếm chác.
Với ông Đổng (Tất cả để chiến thắng) thì khác, ông đạp bằng mọi lời chê trách, bàn tán,
dư luận, ông đã “thắng cả tư dục cá nhân” để đạt cái đích của mình: Có ba mươi sáu vạn để
xây một cái nhà thật oách. Viết về hai nhân vật này, ngòi bút của Vũ Bằng mang hơi hướng của
Nguyễn Công Hoan: ông ít miêu tả tâm lý, nếu có "thì tâm lý được miêu tả một cách biến hóa"
[83; 31].
Dựng lên các nhân vật: ông bà Phán, bà Nhiêu Lương, Lưu Bình, ông Đổng... với những
nét riêng độc đáo, Vũ Bằng đã chỉ cho chúng ta thấy tính chất phức tạp của các đô thị tạm bị
chiếm lóc bấy giờ. Đồng thời với việc lên án những con người tha hóa, mất nhân cách, Vũ
Bằng còn giới thiệu với chúng ta những gương mặt, những cuộc đời khác đáng thương, đáng
thông cảm hơn.
ĐÓ là ông cháu ông từ già (ơ đây bán sách cữ) cô đơn, lạc lõng trong vùng tạm chiếm:
Con dâu bị bom chết, con trai đi kháng chiến. Còn lại hai ông cháu với nỗi lo cơm áo thường
nhật. Thất nghiệp rồi túng thiếu không làm thay đổi lối sống của người tự ữọng trong ông:
Cháu ông có thèm, có đói cũng không thể hòa vào đám ăn mày đi cướp đồ cúng, ông còn chút
lực tàn thì "lấy báo đi bán rao ngoài đường" [20; 264]. Ông cháu ông từ cũng là những con
người cô đơn, lạc loài nhưng là những kẻ cô đơn, lạc loài đáng thương và đáng trân trọng.
Nhân vật xưng "tôi" trong câu chuyện một phần có tính chất tự truyện Có một người cũng
biết cười hiện lên như một thân phận lạc loài. Nhân vật này đã ý thức rất rõ khoảng cách giữa
mình với những gì thân thiết, gắn bó với mình cả về không gian lẫn thời gian. Khoảng cách
không gian ở đây không đơn thuần là không gian địa lí với "Đường đất cách nhau chỉ độ tám
chín ngày đường" mà còn là không gian tâm tưởng, không gian của sự thức nhận của tâm hồn.
Nơi nhân vật đã một thời gắn bó là "nơi khói lửa, tuyệt mù tăm tích với các anh em đồng bào
đang chiến đấu" [20; 311]. Khoảng cách thời gian được giới hạn bằng một con số cụ thể:"ba
năm chín tháng". Điều đó cũng có nghĩa là nhân vật xưng "tôi" nhớ rất rõ thời điểm có tính
chất chuyển giao của hai thân phận, hai con người trong một cuộc đời. Trước thời điểm này là
một cái "tôi" hòa trong cộng đồng, cái "tôi" sống giữa những người đồng chí, gần gũi thân thiết
như anh em một nhà. Cái "tôi" ấy biểu hiện trong cách nói, cách xưng hô của người kể chuyện:
63
"bọn chúng tôi","chúng tôi","mọi người trong bọn chúng tôi" "về phần chúng tôi","các anh"...
[20; 312 -316 -318]. Sau thời điểm này là một cái "tôi" lạc lõng, không sao hòa nhập được vào
cái không gian văn hóa lai căng, ô hợp "chói lọi bao nhiêu ánh sáng, thơm ngát bao nhiêu
hương hoa, vang lừng bao nhiêu nhã nhạc của bao nhiêu đĩ đực và đĩ cái (...) máy truyền thanh
vang um những điệu kèn nên thơ và giật gân..." [20; 311-312].
Sự tự ý thức về thân phận lạc loài được Vũ Bằng thể hiện thấm thìa, có chiều sâu hơn ở
truyện ngắn Đất khách. Đôi vợ chồng hồi cư trong truyện giống như những người đang đuối
sức giữa dòng sông cuộc đời. Họ chới với giữa hai bờ thực và mơ. Bờ thực là cuộc sống hiện
tại ở Hà Nội có "xe ô tô đi chuyển cả đất. Tiếng hát cứ oang oang (...) Người ta sung sướng
sang trọng quá'' [20; 341]. Còn bờ mơ, không phải mơ về tương lai, mà là mơ về quá khứ, mơ
được trở về sống trong quá khứ, như quá khứ- một quá khứ rất gần, gắn liền với ngôi nhà "cùng
cái sân đất rộng thênh thếnh" [20; 338], với những nếp sống, sinh hoạt quen thuộc ấm áp tình
làng nghĩa xóm. Với cả hai bờ ấy, vợ chồng họ chẳng mấy hy vọng bám níu được. Với bờ thực,
họ "đâm ra sợ không dám đi quá bước", Còn với bờ mơ thì họ băn khoăn trong nỗi niềm tuyệt
vọng "Làm thế nào về quê được nữa, nếu cứ đánh nhau mãi như thế này !?". Trong khuôn khổ
hơn 4 trang truyện dành để nói về cuộc sống hồi cư ở Hà Nội, tác giả đã 4 lần để cho đôi vợ
chồng hồi cư liên tưởng, đối sánh cuộc sống hiện tại ở Hà Nội với cuộc sống trước đây ở nhà, ở
nhà quê trong niềm nuối tiếc, ân hận:
-"Bây giờ khó khăn qua ( ...) Trong cái gian nhà trống huếch trống hoác, tối tối phải co
quắp ôm lấy nhau mà ngủ, hai đứa bé ngột ngạt nhớ lại cái sân đất rộng thênh thênh ở nhà
quê. Đi ra đến đầu ngõ, bao nhiêu là đồng ruộng. Lúa mọc xum xuê. Người chết cũng ít vì
thỉnh thoảng mới trông thấy một cái mả. Còn ở đây !..." [20: 338]...
Hà Nội với đôi vợ chồng ấy mãi mãi chỉ là đất khách, "Họ sống nhờ đất khách" [20; 341].
Là một nhà văn, nhà báo yêu nước, Vũ Bằng đã chấp hành sự phân cổng của cách mạng
hồi cư về thành. Sự trỏ về này đành rằng đã gây nhiều tai tiếng, đã dẫn đến sự hiểu lầm, xa lánh
của anh em văn nghệ sĩ đối với Vũ Bằng khiến cho ông nhiều lúc không tránh khỏi trạng thái tự
dằn vặt; thậm chí phải sống trong mặc cảm, day dứt không nguôi nhưng ở một phương diện
nào đó, nó cũng tạo cho ông những điều kiện nhất định trong sinh hoạt, trong sáng tác. Trong
nhiều tác phẩm của Vũ Bằng, khoảng cách giữa cái "tôi" nhân vật với cái "tôi" trữ tình- cái"tôi"
64
của Vũ Bằng thường rất gần. Đọc Bát cơm, chúng ta có cảm tưởng Vũ Bằng đang sống cuộc
đời của nhân vật và nhân vật tự nó đang nói giùm ông những điều ông trăn trở, suy nghĩ và
hướng tới. Nhân vật chính của truyện là cái vong lạc loài. Dù ở đâu, cảm giác lạc loài cũng
thường trực trong nàng. Nếu vợ chồng ông Phán, bà Nhiêu Lương (Giai đoạn mới); ông Đổng
(Tất cả để chiến thắng), ông Phú (Người chứng) vì tha hóa mà trở nên lạc loài, cách biệt với
mọi người thì cái vong nữ này vì bản chất vị tha mà ở đâu cũng thấy không yên tâm, không yên
lòng. Được ở “Thiên Đình, Kinh Đô của Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc thực sự” [20; 304]
nhưng cái vong ấy lại "không ngớt khóc thầm" [20; 304] vì "biết rằng ở dưới đất, chồng con
con khổ sở" [20; 304]. Nàng mong muốn được cùng chồng con san sẻ những vất vả khó khăn
của cuộc đời và coi đó là niềm hạnh phúc của mình.
Nếu hạnh phúc là sự sẻ chia, thông cảm từ hai phía thì khi xuống ừần, được ở cạnh chồng
con, thiếu phụ nọ cũng không thật hạnh phúc vì nàng đến được với chồng con, nhận rõ tình
cảnh cụ thể của họ nhưng họ thì không thể nhận ra sự hiện diện của nàng, thậm chí "Lúc người
thiếu phụ lách vào trong căn lều, nàng cảm giác chồng mình hơi rùng mình [20; 307].
Thế rồi chồng và con thiếu phụ "chết một cách oan ức, căm hờn" vì bom giặc. Ba cái
vong được sứ giả dắt về trời. Những tưởng từ đây họ sẽ được hạnh phúc trọn vẹn bên nhau.
Nhưhg không, ở thiên đình, ba cái vong ấy vẫn hướng về hạ giới với tất cả tấm lòng gắn bó của
mình: họ vẫn giữ cách sinh hoạt như khi còn ở dưới trần và thường hối hận "rằng mình đã sung
sướng quá và ăn nhiều quá" [20; 309]. Chi tiết cuối cùng của tác phẩm: "Bữa nào, thằng nhỏ
cũng để ở trước của một bát cơm cứu tế (..) cổ đề như thế thì mới yên tâm mà đêm mới cổ thể
yên giấc được" [20; 309] có tác dụng tô đậm khát khao muốn được hòa nhập, được góp phần
vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc của những người vì lý do nào đó bị tách ra khỏi dòng
chảy chung của cả cộng đồng.
Trong Người Hà Nội nhớ người Hà Nội tồn tại một cái "tôi" xa lạ, khó chịu trước những
cảnh lố lăng, ngày một rời xa nền văn hóa truyền thống của dân tộc. Đồng thời, cái "tôi" ấy có
khi lại hướng vào chính mình, tự phân tích, mổ xẻ và dằn vặt: "ta lại có khi tưởng tượng rằng
chính mình ta đã dự một phần tội ác nào vào trong các việc làm đau khổ đồng bào, làm sa đọa
xã hội" [20; 348]. Quả thực, cái "tôi" ở trong một thế hết sức chênh vênh. Đang tồn tại nhưng
không hòa được vào cái xã hội văn minh đô thị vùng tạm chiếm hiện tại, hướng về những con
65
người đau khổ, nạn nhân của chiến tranh và của xã hội ấy thì lại có khi tự thấy mình "đã dự
một phần tội ác" gây ra cái khổ cho những con người mình yêu thương, bênh vực. Đấy là một
cái "tôi" đặc biệt, cô đơn, chỉ nảy sinh khi bị đẩy vào một thế kẹt của cuộc đời, vào một hoàn
cảnh rất đặc biệt, kiểu như hoàn cảnh của Vũ Bằng lúc ấy.
Chúng ta đều biết, xã hội Việt Nam đã bị xáo trộn và thay đổi nhiều kể từ khi có sự tiếp
xúc với nền văn minh văn hóa phương Tây, đặc biệt là nền văn hóa Pháp. Sự tiếp xúc với nền
văn minh phương Tây khiến cho nền văn hóa Việt Nam có sự cấu trúc lại theo hướng hiện đại
trên cơ sở những căn cốt nền tảng. Quá trình tiếp xúc và biến đổi này có hai mặt: ỏ mặt tích cực
nỗ thúc đẩy nền văn hóa Việt Nam phát triển, nhanh chóng hòa nhập vào nền văn minh, văn
hóa của toàn cầu; Ở mặt tiêu cực, nó gây ra những cảnh huống trớ trêu, những thảm kịch đau
lòng. Sau 1954, miền Nam nước ta lại tiếp xúc với nền văn minh văn hóa Mỹ. Sự tiếp xúc này
đi liền với sự hiện diện ồ ạt của hàng vạn, hàng vạn binh lính Mỹ đủ khắp màu da, đủ mọi quốc
tịch cùng lối sống gấp do bản chất của cuộc chiến tranh xâm lược quy định đã dẫn đến sự xáo
trộn lớn trong đời sống văn hóa của miền Nam nước Việt. Mặt tiếu cực của nền văn minh văn
hóa kiểu Mỹ như được nhân rộng hơn lên, sức công phá của nó đối với những nền tảng đạo đức
truyền thống cũng mạnh hơn, dẫn đến khuôn mặt "người" của mỗi cá nhân cũng thay đổi, biến
hóa khó lường. Việc đề cao con người cá nhân, giải phóng và phát huy tận độ năng lực cá nhân,
khẳng định cái tôi cá nhân chính đáng ở nhiều nơi, nhiều lúc đã được thay bằng sự hiện diện
của chủ nghĩa cá nhân cực đoan, tàn nhẫn, vị kỷ và vô cảm. Tại các đô thị, nếp sống giản dị,
trọng tình trọng nghĩa cổ truyền nhiều khi phải chịu lép vế trước lối sống chạy theo đồng tiền,
ăn chơi, phá phách và sa đọa. Những quan hệ cơ bản cùng những nguyên tắc đạo lý tối thiểu
của con người bị vi phạm một cách nghiêm trọng.
Là một cây bút có gốc nhân đạo sâu sắc, luôn tôn trọng những giá trị văn hóa cổ truyền,
Vũ Bằng thông qua những sáng tác của mình dựng lên bức tranh toàn cảnh về cái xã hội đô thị
Sài Gòn những năm giặc Mỹ chiếm đóng và tất nhiên, trung tâm của bức tranh ây, trung tâm
cua cuộc sông ây, luôn là những con người đáng thương, nạn nhân của nền văn minh văn hóa
kiểu Mỹ. Đó là nhân vật ông Tý (Người làm mả vợ), nhân vật người cha (Đợi con), nhân vật
Trần Kiên Hai (Cái thích kỳ lạ của người đàn bà thời loạn)... Những nhân vật ấy, mỗi người
một cuộc đời, một số phận. Họ giống nhau ở chỗ cùng tồn tại trong lòng một chế độ xã hội. Và,
hạnh phúc đều đã từng một lần mỉm cười trước mỗi nhân vật nhưng tiếc thay, trong cái xã hội
66
văn minh kiểu Mỹ ở Sài Gòn những năm ấy, cái của quý hiếm này chợt đến chợt đi khác nào
cơn gió thoảng, chẳng cách gì níu kéo được. Còn lại là những dằn vặt, đau đớn... đè nặng lên
mỗi số phận.
Trong tập truyện kí Người làm mả vợ (1973), những người lương thiện, đạo đức không
được sống yên ổn, hạnh phúc. Họ luôn bị đẩy vào trạng thái cân não, căng thẳng từ đó dẫn đến
những hành động ngoài sự kiểm soát của lý trí. Ở xã hội này, lòng tin vào con người, vào cuộc
sống luôn bị xói mòn, thử thách, làm cho con người trở lên chao đảo, mất phương hướng. Cuộc
đời ông Trần Tý (Người làm mả vợ) từ khi lấy vợ giống như một trò ú tim để nắm bắt cho được
hạnh phúc- cái hạnh phúc gia đình nhỏ bé, bình dị. Hạnh phúc với ông thoắt hiện, thoắt tan
biến. Khi biết cái chết oan khuất của kỹ sư Văn, đành rằng trong ông là cả sự hối hận lớn: hối
hận vì đã giết oan một người, hối hận vì đã hiểu lầm vợ nhưng trong nỗi hối hận thứ hai, ở một
góc khuất của nó, người đọc cảm thấy một chút gì vui, một chút gì như an ủi vỗ về, củng cô"
niềm tin vào con người đối với ông. Chút xíu đó có thể gọi là hạnh phúc. Tiếc thay, niềm hạnh
phúc mong manh, nhỏ nhoi ấy đã nhanh chóng tan biến, vỡ vụn bởi thực tế nghiệt ngã, phũ
phàng. Cái tưởng là hạnh phúc của ông Tý chỉ là ảo tưởng. Mãi mãi, trong cuộc đời, ông Tý chỉ
là một kẻ lạc loài, cô đơn.
Trong Cái thích kỳ lạ của một người đàn bà thời loạn, có lẽ không phải ngẫu nhiên mà
Vũ Bằng lại xây dựng nhân vật Kiên Hai là một người đàn ông rất"quỷnh", nhu nhược, hèn
kém; một kẻ nô lệ của một tình yêu đơn phương, mù quáng. Nếu là một người đàn ông khác,
bình thường hơn một chút, chắc chắn câu chuyện không thể diễn tiến như thế. Đặt hai nhân vật
Châu và Kiên Hai cạnh nhau, dọc suốt chiều dài câu chuyện, tác phẩm góp tiếng nói phê phán
những ý thức bệnh hoạn, trên cả sự quá quắt- sản phẩm trực tiếp của lối sống văn minh kiểu
Mỹ tại các đô thị miên Nam trước 1975. Tác phẩm cũng đồng thời là lời khẳng định: những
người bình thường, muốn tồn tại được trong xã hội đó, nếu không tha hóa theo chiều hướng
xấu, nghĩa là cũng trỏ nên bệnh hoạn thì cũng phải hèn đi, chai sạn đi, thậm chí phải chối bỏ cả
danh dự và lòng tự trọng. Trường hợp Trần Kiên Hai là một ví dụ điển hình.
Nhắc đến Vũ Bằng, người ta không thể không nói đến hai tác phẩm:Thương nhớ mười hai
và Miếng ngon Hà Nội - Hai bài thơ bằng văn xuôi nổi tiếng của ông. Trong hai tác phẩm văn
xuôi nghệ thuật này, hình tượng con người tác giả hiện lên khá rõ nét. Trước hết, đó là con
67
người lạc loài, cô đơn trong các mối quan hệ: với cuộc sống hiện tại, với thiên nhiên, với những
người xung quanh...
Cuộc di cư 1954 là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu những đổi thay lớn trong cuộc
sống cũng như cảm quan nghệ thuật của Vũ Bằng. Trước đó, ông đã tắm mình trong nền văn
hóa truyền thống Bắc bộ, "thụ cảm và thâu nhận nó với tất cả thiên bẩm tự nhiên và nấng lực
cá nhân một cách mạnh mẽ và sung mãn nhất" [20; 60]. Điều đó cũng có nghĩa là nền văn hóa
truyền thống Bắc Việt đã là máu trong máu ông, là động lực, là cái vốn để ông sống và sáng
tác. Vì thế, cuộc di cư vào Nam của Vũ Bằng không chỉ là chuyện của khoảng cách địa lí, của
những thay đổi về thời tiết, khí hậu... mà là "một sự gián cách về không gian văn hóa" [20; 61].
Ông đã nhiều lần tự an ủi: "Cùng là đất nước, đi đâu mà chẳng thể?" [5; 9]. Tức là ông cũng cố
hòa hợp, cũng nỗ lực thích nghi với cuộc sống ở mảnh đất phương Nam này nhưng kết quả của
bốn mươi năm sống gắn bó với Hà Nội nói riêng, với môi trường tự nhiên và xã hội của miền
Bắc nói chung, nhiều lúc đã đánh bật mọi nỗ lực, mọi cố gắng hòa nhập trong ông. Để rồi,
trong Thương nhớ mười hai và Miếng ngon Hà Nội ông hiện ra là chính ông chứ không phải ai
khác. Ông hiện ra là một cá nhân nhỏ bé, muốn thực hiện nhiều điều nhưng không thể thực
hiện được nên đành thu mình vào cái vỏ ốc của chính mình để từ đó suy ngẫm, phân tích, mổ
xẻ chính tư tưởng, tình cảm của mình; để từ đó thả hồn về xứ Bắc thân thương, mơ về mái ấm
gia đình trong niềm hoài niệm không nguôi, không dứt.
Chưa ở đâu cái "tôi" cô đơn lại hiện lên rõ nét như trong Thương nhớ mười hai, Miếng
ngon Hà Nội và Món lạ Miền Nam. Cái "tôi" cô đơn ấy thường ẩn hiện sau gần 40 từ ngữ khác
nhau được Vũ Bằng dùng để chỉ ngôi thứ nhất như người khách xa nhà, người xa nhà, người lữ
khách, người mắc bệnh lưu lý, người nặng nợ lưu ly, người thiên lý tương tư... (Phụ lục 2). Tự
gọi mình bằng những từ ngữ trên chứng tỏ Vũ Bằng ý thức rất rõ thực trạng cô đơn, lạc loài của
mình. Cách tự nhận ây của Vũ Bằng đã gợi liên tưởng đến "tuýp" người lữ thứ trong thơ ca cổ
điển phương Đông. Có điều, trong thơ ca cổ điển phương Đông, người lữ thứ thường được đặt
trong vũ trụ rộng lớn; trong một không gian mênh mông còn Vũ Bằng của chúng ta lại luôn
cảm thây bị mất tự do trong môi trường tù tưng, ngột ngạt của nền văn minh đô thị lai căng
kiểu Mỹ. Mọi cái liên quan đến nền văn minh ấy đều gợi nên trong ông một cảm giác khó chịu,
đều khiến ông bực bội. Nếu người lữ khách, trong hành trình lưu lạc trên đường thiên lí,
thường ngắm cảnh sinh tình, thường nhớ quê hương, gia đình, nhớ những kỷ niệm gắn bó một
68
thời... thì Vũ Bằng thường thấy nhớ nhà, nhớ quê khi bị rơi vào tình trạng đối nghịch với môi
trường sống mà ông đã từng gắn bó. Từ "cái nắng chói chang, làm cho đôi mắt mờ, đầu nhức"
của Sài Gòn [5; 24], Vũ Bằng nhớ đến "cái mùa xuân thần thánh" với "cái rét ngọt ngào" của
đất Bắc. Nhìn "những người đi vội vã, chán chường, mệt mỏi" [5; 25] trên các đường phố Sài
Gòn, Vũ Bằng lại liên tưởng đến cái phong cách lúc nào cũng bình tĩnh, trầm mặc, sẩn sàng
"c/ỉơỉ" lại những thử thách của ười trong khi vẫn sống một đời sống nội tâm phong phú của
người Bắc... Bệnh tương tư của Vũ Bằng, vì thế, về cơ bản, khác với bệnh tương tư của các nhà
thơ cổ điển.
Con người cô đơn, lạc loài trong Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội và Món lạ
miền Nam còn thể hiện qua sự ý thức của nhà văn về nơi mình đang sống. Mặc dù đã tự an ủi
rằng đâu cũng là đất nước mình nhưng trong tác giả, ở đây, ở trong đây, ở Sài Gòn... với ở Hà
Nội, ở miền Bắc, ở Bắc... luôn được phân định một cách rõ ràng, rạch ròi. Ở đây, ở trong đây, ở
Sài Gòn... là cái nắng, nóng như thiêu như đốt của vùng nhiệt đới gần xích đạo. Đã thế kiểu nhà
đô thị lại chật chội với những mái bê tông hoặc mái tôn, đường phố thì ồn ào, nhịp sống lúc nào
cũng gấp gấp, vội vàng: “Người tử tế lo làm lụng vội vàng để kiếm sống đã đành, ngay các cổ
tứ thời lấy ngoại kiều “ngồi trên đống tiền” cũng vội; các xe hơi chạy vội, cái kèn xe bóp vội,
uống rượu cũng vội, xoa mạt chược cũng vội, và nếu đôi khi có tập uống chén trà Tàu, bắt
chước ngâm bài "Hoàng Hạc" cũng cứ vội luôn” [5; 28]. Ở Sài Gòn còn có những cơn mưa
chợt đến chợt đi giống như một cô gái đỏng đảnh cùng những món ăn thức uống không quen,
không hợp khẩu vị... Tất cả được Vũ Bằng nói đến với thái độ vừa cố chịu đựng, thích nghi vừa
có cái gì như là bực bội, khó chịu vì không hòa hợp, không thích nghi được. Thành ra ông là kẻ
xa lạ, là người khách xa nhà giữa Sài Gòn đô hội.
Trong khi đó, ở Hà Nội, ở miền Bắc, ở Bắc, mọi cái sao gần gũi, thân thương đến thế. Vũ
Bằng yêu cả cái nóng lẫn cái mưa đất Bắc. Đặc biệt, "Ở Bắc Việt (...) còn biết bao nhiêu hội hè,
mà hội nào cũng ý vị, mà cũng nên thơ, mà cũng hấp dẫn người ta..." [5;70].
Bắc Việt trong Thương nhớ mười hai hiện lên thật thơ mộng, huyền diệu. Nó vừa gần lại
vừa xa. Nó thuộc về một thời đã qua, khó có thể quay lại để vùi mình trong đó. Nhà văn của
chúng ta ở vào khoảng giữa, ở vào thế kẹt giữa hai thời: Quá khứ thân thương nhưng đã tuột
khỏi tầm tay; hiện tại thì xa lạ, khó hòa nhập. Nhà văn chỉ còn biết đắm mình trong nỗi nhớ.
69
Nếu trong Vườn xuân tơi bời lá reo, Người Hà Nội nhớ người Hà Nội nỗi nhớ chỉ là những
mảnh vụn, mơ hồ, thấp thoáng đằng sau câu chữ thì đến những tác phẩm: Thương nhớ mười
hai, Miếng ngon Hà Nội và Món lạ miền Nam nỗi nhớ ấy hiện lên với đầy đủ hình hài, lớp
lang, có máu có thịt. Đây là nỗi nhớ một vùng đất với đủ mười hai tháng giêng, hai, ba, bốn ...
Kia là nỗi nhớ những miếng ngon đã từng nếm ữải, gắn với nó là cả nền văn hóa ẩm thực cổ
truyền rất đáng tự hào; Và cả khi tò mò thưởng thức những "món lạ" của vùng đất mình đang
sống, tác giả vẫn không thôi nhớ về cái "thuở bé" khi còn "sống ở Thủ đô Bắc Việt" [9; 602].
Nỗi nhớ ấy giống như con nước của một dòng sông khi đầy, khi vơi; khi cuồn cuộn, xoắn xuýt;
lúc êm đềm, yên ả. Đó là những cảm xúc rất thực của một tấm lòng- tấm lòng của kẻ tha hương
lữ thứ luôn đau đáu hướng về quế hương, luôn mong muốn được trở về quê hương.
Viết về miếng ăn của hai vùng đất, Vũ Bằng có hai cách đặt tên tác phẩm khác nhau.
Miếng ăn của Hà Nội- của vùng đất nơi ông sinh ra và lớn lên, nơi toàn bộ tuổi thơ, tuổi trẻ và
sự lập thân của ông diễn ra, ông gọi là "miếng ngon" bởi theo ông "ngon hay không là ở tự lòng
mình" [8; 598]. Còn miếng ăn của miền Nam, ông gọi là những "món lạ". Nó "lạ" có lẽ trước
hết vì nó là những miếng ăn được làm từ những sản vật của một vùng đất còn mới mẻ, xa lạ đối
với ông. Nó "lạ" có lẽ còn vì nó được làm ra không phải từ đôi tay của "người đàn bà tấm
mẳn" hay của "người đàn bà Bắc" [5; 28] nào đó mà nó được làm ra từ đôi bàn tay của "cô gái
bé miền quê Sa Đéc", của những cô Ba, cô Tư, cô Năm... những người đàn bà miền Nam
"thành thật" [8; 600]. Với những miếng "lạ" như thế, Vũ Bằng không thể ăn một cách háo hức,
vồ vập theo kiểu của người háu ăn; càng không thể thưởng thức theo kiểu kĩ lưỡng, cầu kì của
người sành ăn, thích ăn ngon. Ông tiếp cận với miếng ăn miền Nam theo kiểu của người tò mò,
muốn khám phá nhưng vẫn còn dè chừng, cảnh giác. Nghĩa là ông muốn hòa nhập, muốn hội
nhập nhưng từ trong sâu thẳm của tiềm thức, những miếng ăn miền Nam vẫn cứ là lạ thế nào
đối với ông. Hãy xem ông viết về món "Đuông":
"Tôi ăn đuông cũng vậy: miếng đầu kinh kinh, nhưng liều nhai thử xem sao, đến miếng
thứ hai - ờ này, nó ngay ngậy beo béo, nghe hay đáo để..." [8; 663].
Với các món thịt chuột, cháo cóc, dơi huyết cũng tương tự như vậy. Trong khi đó, ông kể
về các miếng ngon Hà Nội như là làm thơ về nó. Ở chương 1, chúng ta đã xem những "bài thơ"
ông viết về quả cà Nghệ, về thịt chó, bánh đúc, cốm Vòng. Ta còn có thể đọc được nhiều bài
70
thơ nữa của ông về những miếng ngon khác của Bắc Việt trong Miếng ngon Hà Nội. Ở bài nào,
ta cũng đều bắt gặp một thái độ trân trọng, nâng niu hết mực. Đọc Miếng ngon Hà Nội nhiều
lúc ta tưởng như đang thấy Vũ Bằng vừa thưởng thức các món quà của Hà Nội vừa luôn miệng
xuýt xoa "Ngon không chịu nổi". Nghĩ thế để thấy thông cảm hơn, thương hơn cho thân phận
cô đơn của Vũ Bằng ngay cả khi ông đang tiếp cận với nền văn hóa ẩm thực phương Nam, với
các Món lạ miền Nam.
Càng cô đơn nơi đất khách quê người, Vũ Bằng càng đắm mình trong niềm hoài niệm về
quá khứ, về quê hương, về nền văn hóa Bắc Việt với tất cả nỗi nhớ thương canh cánh. Vì vậy,
trong các tác phẩm của Vũ Bằng từ 1945 trở về sau, bên cạnh con người lạc loài cô đơn, chúng
ta còn bắt gặp một con người lo âu, đau khổ trong nỗi niềm khắc khoải không nguôi.
2.1.2. Con người lo âu, đau khổ trong nỗi mềm khắc khoải không nguôi.
Từ thế kỷ xvni trở đi, dưới sự bùng nổ dữ dội của ý thức cá nhân, con người đã vươn lên
để tìm hiểu, thức nhận về bản thân mình và cả cộng đồng. Trong quá trình vươn lên ấy, con
người đã nhận thức rất rõ số phận hết sức mong manh của mình và của người. Họ nhận thấy
những cuộc đời đang ngụp lặn trong đói khổ, bất công, ngang trái, trong chiến tranh với máu và
nước mắt.. Họ cũng cảm thấy bản thân mình bị cuốn vào cái vòng xoáy nghiệt ngã đó của cuộc
đời, không sao cưỡng lại được. Con người cảm thấy xót xa, thương người và thương mình hơn.
Họ thương cuộc đời chung trước mắt, thương những cuộc đời cụ thể xung quanh. Nhìn đâu họ
cũng thấy những cảnh thương tâm đau lòng. Họ buộc hồn mình với mọi người, họ đau cái đau
của đời như cái đau của chính bản thân mình. Vũ Bằng trong các sáng tác văn xuôi nghệ thuật
của ông đã hiện lên là một người như thế.
2.1.2.1. Con người lo âu, đau khổ.
Thần thoại Hy Lạp có câu chuyện về người đàn bà chỉ vì không thắng nổi sự tò mò
thường thấy ở con người đã đem tai họa đến cho loài người, khiến con người phải luôn đối mặt
với khó khăn, bất hạnh; phải chịu nhiều đau khổ hơn là được hưởng thái bình, yên vui. Điều đó
cũng có nghĩa là cuộc sống có nhiều cái để con người phải lo toan. Để sống được ở đời, con
người phải trải thân theo những lo toan ấy. Ở vào thời loạn lạc chiến tranh, con người càng có
nhiều cái để lo: lo ăn lo mặc, lo bệnh tật ốm đau, lo bom lo đạn... Với những người hồi cư, di
cư và nói chung là những người dân nghèo sống trong các đô thị giặc tạm chiếm, những mối lo
71
ây như được nhân lên. Đơn giản là vì họ tồn tại trong lòng một chế độ xã hội có nhiều nét đặc
thù so với chế độ xã hội chung mà cả dân tộc đang sống. Lại nữa, họ tồn tại trong xã hội ấy như
là những cá nhân cô đơn, lạc loài, họ khó tìm được sự chia sẻ ở những người chung quanh. Vì
thế, cái gánh lo của họ vốn đã nặng lại như nặng hơn.
Vũ Bằng là một người hồi cư rồi di cư, ông đã sống ở Hà Nội rồi Sài Gòn, những đô thị
lớn trong thời giặc tạm chiếm nên hơn ai hết, ông ý thức rất rõ về sự thường trực của cái cảm
giác bất an trong lòng những người dân trong vùng giặc tạm chiếm.
Trong dòng người hồi cư, ngoài nhữtig người vốn trước đây sinh sống ở Hà Nội, còn có
những người sinh ra và lớn lên ở những vùng quê yên tĩnh, có nhà của, ruộng vườn hẳn hoi
nhưng cầm lòng không đậu trước những lời đồn thổi về một cuộc sống thiên đường ở Hà Nội,
"kiếm tiền cứ như là vỗ tay" đã bồng bế, dắt díu nhau "dinh tê", về Hà Nội, chỉ có một số rất ít
những người hồi cư có được cuộc sống khá giả, ổn định (vợ chồng ông Phán trong Giai đoạn
mới, Lưu Bình trong Tiếp theo và hết truyện Lưu Bình- Dương Lễ), số còn lại thường rơi vào
tình cảnh giật gấu vá vai, lo ăn từng ngày cùng bao điều phải lo khác. Người vợ anh say rượu
(Bữa cỗ) đã "đau ốm từ lúc hồi cư đến giờ" [20; 323]. Vì không có điều kiện mỗi ngày dẫn diệu
đi xin thuốc ở nhà thương thí và cũng không có tiền "đến cắt thuốc ông lang" nên người vợ ấy
đã "nằm chết còng queo" trong khi chồng đi vắng, để lại cho anh say rượu ba đứa con với
"những món nợ người ta đòi từ sáng" [20; 323].
Trong Đất khách, người chồng "dinh-tê" “không bị bắt, nhưng cũng mất ít tiền cho những
người đến dậm dọa y” [20; 337]. Điều này sẽ không xảy ra nếu gia đình họ không hồi cư, vẫn
sống ở quê hương mình, bên những người hàng xóm hay chuyện, có cuộc sống không khác
cuộc sống của họ bao nhiêu. Như thế cũng có nghĩa là cuộc sống hồi cư có thêm nhiều điều
khiến họ phải lo toan, phải tìm cách đối phó. Nếu ở quê nhà, họ có thể san sẻ với bất kì ai từ
việc nhỏ là "chuyện thóc cao gạo kém''' đến chuyện lớn, chuyện chung là "tây họ xé mất hiệp
định sơ bộ rồi", thì ở Hà Nội, tồn tại trong họ toàn là những nỗi lo vặt vãnh, gắn với những sinh
hoạt hàng ngày của họ và họ cũng không biết chia sẻ cùng ai vì "Ở Hà Nội (...) Ai biết phận
người ấy. Người ta sống cô chích và xa lạ (...) ốm đau, chết chóc một mình" [20; 340].
Có thể nói, tình trạng phổ biến của người dân nghèo hồi cư lúc ấy là tình trạng "một chốn
bốn quê". Bà vợ một ông tham công chính (Người Hà Nội nhớ người Hà Nội ) bị kẹt trong
72
thành, không có cách nào quay về thì "lo cho hai cháu ở ngoài ấy quá" [20; 352]. Người thiếu
phụ (Bát cơm) ở Thiên Đình thì lo cho chồng con ở dưới thế không biết sống chết ra sao; khi cả
gia đình đoàn tụ trên Thiên Đình thì nàng lại băn khoăn: "Lúc này không biết hàng ngày, các
chiến sĩ có đủ ăn cầm hơi đánh giặc, giữ nước không?" [20; 309].
Đọc Đất khách, ta có cảm tưởng con người âu lo đã đánh bật hết những cảm giác thư thái,
dễ chịu trong đôi vợ chồng hồi cư. Người chồng ban ngày đi kéo xe bò "Mệt đứt hơi, đứt ruột",
tối về rảnh "thường thấy lồng buồn vẩn vơ" [20; 338]; có nhiều điều khổ ải chất chứa ưong
lòng, anh muốn nói ra cho nhẹ đi, ngặt nỗi "mật thám như rươi, nó mà nghe thấy thì bỏ mẹ".
Anh đành chọn giải pháp câm lặng, câm lặng ngay cả khi "Hai vợ chồng dắt con đi ở trong
buổi chiều" [20; 341]. Để rồi, hằng đêm, những ý nghĩ, những điều định nói nhưng không được
nói ra ấy đã đọng lại, kết tinh và hiện lên thành những cơn ác mộng, tiếp tục hành hạ anh trong
cõi mơ.
Cùng chung tâm trạng nặng nề với chồng, lòng người vợ hồi cư không nguôi lo lắng. Hết
lo chuyện ăn tiêu, lại lo "đi vay đi mượn" để trả Hội Đồng An Dân. Hết lo cuộc sống ở đây, ở
Hà Nội lại lo cuộc sống ở nhà quê: "Chẳng biết bông sợi bán có còn được giá nữa không? Tây
nó tràn về Trừ, Chảy, nhà Cả Du sống hay là chết? Con gái, con dâu có đứa nào bị Tây đen-
vạch-mặt hãm hiếp không?"... [20; 338]. Người vợ ấy không chỉ lo cho hiện tại mà còn băn
khoăn khi nghĩ đến tương lai: "không biết rồi sẽ ra thế nào" [20; 338]. Rõ ràng, trong cuộc
sống hồi cư, giây phút hạnh phúc thong dong dễ gì có được. Con người cứ phải sống trong thấp
thỏm, lo đói, lo khát, lo tên rơi đạn lạc... số phận họ hết sứcmong manh. Ở họ, ranh giới của sự
sống và cái chết không phân định rạch ròi, họ đang sống đó nhưng nguy cơ của cái chết lại gần
kề. Không có cái gì và không ái có thể bảo đảm đời sông cho họ. Còn tương lai, với họ sao mà
mịt mù, xám xịt đến thế.
Trong Đất khách, hình ảnh ngôi mộ và bãi tha ma cứ ữở đi trở lại như một thứ ám ảnh
định mệnh, như là dự cảm về cái chết của những người hồi cư. Cứ tưởng về Hà Nội sẽ có một
cuộc sống khác, khá hơn. Nào ngờ... Cuộc sống của đôi vợ chồng ấy cứ nặng nề diễn tiến trong
nỗi ám ảnh không nguôi về một tương lai xám xịt, héo ùa.
Đến chuyện Người chứng, trạng thái bất an, căng thẳng đã trở thành căn bệnh kinh niên
đối với ông Trần Minh Phú. Chỉ mới "Vừa trông thấy người đưa giấy đi xe đạp đến, ông Phú
73
lỉnh cảm ngay có một cái gì bất thường xảy ra đây". Vì "Những thứ giấy này không làm cho ai
yên tâm bao giờ. Nó đến bất thình lình như một sự đe dọa và làm cho bất cứ ai cũng phải sỉu
người ra" [20; 275]. Đã thế, giấy đưa hôm nay mà "mãi tận chiều mai mới đến hầu, chỉ nghĩ vớ
va vớ vẩn thế này hay thế nọ mà chết óc (...) Nhưng rồi, cái kì hẹn kia cũng tới: Ông Phú đi đến
cái công sở có thư gọi mình, trước một tiếng đồng hồ, trong khi bà vợ ở nhà hương đăng hoa
quả lễ xì xà xì xụp ở trước ban thờ quan tướng" [20; 276]. Như bao người hồi cư khác, vợ
chồng ông Phú luôn phập phồng lo sợ một điều không may nào đó sắp đổ ụp xuống đầu mình,
họ luôn "nghĩ đến vỡ óc ra xem mình đã có làm điều gì phạm tội không; ức thuyết lộn xộn ở
trong đầu như thể những con gián hôm dở trời" [20; 275]. Nghĩa là thần kinh của họ luôn căng
như sợi dây đàn, họ sống khổ sống sở trong lo âu, thấp thỏm. Trong tình thế ấy, ông Phú chọn
giải pháp phủ nhận sạch trơn mọi mối quan hệ có thực với bạn bè thân thiết hòng tìm sự yên
ổn, thanh thản cho chính mình. Ông tự nhủ: "cứ làm như không biết là ổn nhất" [20; 278].
Thực tế, ông Phú đã lầm. Việc ông phủ nhận một sự thực là bác Tuấn có đến nhà ông
trước cơ quan chức trách đã không mang đến cho ông sự thanh thản như ông mong ước. Nếu
trước đây, lo lắng điều gì, ông cũng đều có thể san sẻ với vợ, nỗi lo vì thế giảm đi một nửa.
Còn nay, sau sự kiện gặp nhà chức trách, ông hoàn toàn cô độc. Ông sợ vợ biết chuyện sẽ
khinh bĩ mình. Ông luôn phải đối diện với chính mình. Căng thẳng tới độ không chịu được, ông
trốn vào giấc ngủ như một sự giải thoát. "Ông ngủ suốt đêm, ông ngả trưa, ông ngủ cả ngày
chả nhật" [20; 285].
Nhìn chung, nhân vật trong các sáng tác của Vũ Bằng là nhân vật tâm trạng, nhân vật cảm
xúc hơn là nhân vật hành động, nhân vật sự kiện. Tiếp xúc với các nhân vật của Vũ Bằng,
người ta thấy ông là nhà văn trọng bản ngã- cái bản ngã của mình và của người, ơ điểm này Vũ
Bằng có sự gặp gỡ với Thạch Lam, tuy hai người có hai phong cách biểu hiện cụ thể khác
nhau. Giống như Thạch Lam, Vũ Bằng đã lấy việc diễn tả đúng và thấu đáo cái tâm lý uyển
chuyển làm cứu cánh nghệ thuật cho truyện của mình. Và ông, trong một vài trường hợp, đã tỏ
ra là người có tài trong biểu hiện và diễn tả tâm lý. sở dĩ có sự gặp gỡ này có lẽ vì nhân vật của
Thạch Lam và Vũ Bằng đều là những con người nhỏ bé, sinh ra với tầm vóc bình thường. Họ
không có khả năng làm thay đổi hay tự tạo ra hoàn cảnh theo tinh thần lãng mạn chủ nghĩa; họ
cũng không phải là những kẻ đói khát, cùng đường do bị hà hiếp theo tinh thần hiện thực chủ
nghĩa. Có khác chăng, những con người bé nhỏ, bình thường của Thạch Lam thì được đặt trong
74
cuộc sống đời thường, giữa dòng chảy chung của cuộc đời; còn nhân vật của Vũ Bằng lại bị
bứng khỏi cộng đồng, quăng mình vào một không gian vân hóa khác cho nên những nhân vật
của Thạch Lam luôn chứa đựng một thế giới cảm tính, cảm giác, cảm tưởng đời thường còn thế
giới ấy của những con'người nhỏ bé trong sáng tác của Vũ Bằng vừa bình thường lại vừa khác
thường. Nó chất chứa nhiều giông bão, bi kịch hơn. Con người trong sáng tác của Vũ Bằng, vì
thế, không chỉ là những con người đau khổ vì cô đơn, lạc loài, mà nhiều khi, con người ấy còn
đắm mình trong những nỗi niềm khắc khoải không nguôi.
2.1.2.2. Con người trong nỗi niềm khắc khoải không nguôi
Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ bùng nổ giống như một
cơn lốc đã cuốn tất cả vào vòng xoáy dữ dội của nó. Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt ấy, cuộc
sống con người cũng trở nên khác thường. Người ta ít nghĩ đến chuyện ăn ngon, mặc đẹp;
người ta ít nghĩ đến nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tinh thần. Con người cá nhân bị thu lại, tan biến
hoặc ẩn mình trong con người tập thể- cộng đồng. Suốt một thời gian dài, con người lịch sử-
chính tri, con người cộng đồng đã trở thành nhân vật trung tâm của văn học với nhiệm vụ cao
nhất là bảo vệ đất nước. Con người cộng đồng luôn mang trong mình ánh hào quang rực rỡ của
chân lý, chính nghĩa, của niềm tin tưởng tuyệt đối vào tương lai tươi sáng. Các sáng tác của văn
học hiện đại Việt Nam từ 1945 đến 1975, vì thế, trở thành những phát ngôn nhân đanh cộng
đồng, nhân danh dân tộc trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh. Cũng vì thế, các nhà văn
cách mạng (ở giai đoạn này) nói chung, khó có thể định hình được phong cách riêng với cách
nhìn riêng, cách thể hiện riêng của mình. Vũ Bằng là một trường hợp ngoại lệ. Nếu con người
trong văn học cách mạng nói chung được đặt trong một không gian rộng lớn có tính toàn cầu,
được tự do bay bổng thì con người trong các sáng tác của Vũ Bằng lại bị đặt trong những hoàn
cảnh trớ trêu, trong một thế kẹt khó lòng cục cựa. Nếu con người trong văn học Cách mạng
xuất hiện trong tư thế hiên ngang của những con người đi tới:
"Ngực dám đón những phong ba dữ dội
Chân đạp bùn không sợ các loài sên "[51; 125].
thì con người trong các sáng tác của Vũ Bằng thường xuất hiện với tâm tư trĩu nặng. Đó là
những con người cá nhân, cá thể; là những con người của cuộc sống thời chiến với những nỗi
niềm khắc khoải không nguôi, không dứt.
75
Quy luật của vạn vật là "sinh, lão, bệnh, tử". Ở từng chặng của quá ưình tồn tại, vạn vật
nói chung, con người nói riêng luôn phải đối mặt với bao thử thách khó khăn. Thực tế ấy đã
làm nảy sinh bao điều lo sợ cho tất cả những ai đã từng làm "người", tức là đã tồn tại một cách
có ý thức - ý thức về sự tồn tại của mình, ý thức về trách nhiệm của mình đối với cuộc đời, với
những người thân thích... Bình thường, người ta sợ thiếu thốn, đói rét, ốm đau, loạn lạc... Khi
tuổi càng lớn, sức khỏe không còn dồi dào nữa, người ta lại càng có nhiều điều khác nữa để mà
lo, mà sợ. Đặc biệt, con người rất sợ chết và hay nghĩ về cái chết. Con người sẽ ra sao sau khi
chết? Liệu có còn kiếp sau cho con người đầu thai như đạo Phật vẫn dạy? Nếu không, chết rồi
con người sẽ đi về đâu? Từ bao đời, những câu hỏi ấy luôn được đặt ra và mãi mãi vẫn là một
ẩn số. Chết vì già cả, bệnh tật đã đáng sợ; chết vì tên rơi đạn lạc lại còn kinh hoàng, đáng sợ
hơn. Bà Nhiêu Lương làm sao có thể tránh khỏi những nỗi sợ rất người đó? Vì vậy, mặc dù hết
nói lại nghĩ: "Vào cái thời buổi loạn li này, ăn ở phúc đức cũng được trời đền cho thật" [20;
251] nhưng ở một góc khác trong tâm hồn, bà lo sợ bị ông bà Phán đuổi đi "Bởi vì đuổi thì biết
đì đâu, ăn vào đâu, ở vào đâu? Mà về quê thì chết vì bom đạn. Ấy là nói về được nhưng thực ra
biết đường đâu mà về? Lấy tiền đâu mà về?" [20; 256]. Mọi ngả đường để trở về với con người
thật của mình đã bị chặn đứng. Bà Nhiêu Lương đành cúi đầu, buông xuôi, bất lực, mặc cho số
phận đẩy đưa: "Chửi thế nào cũng chịu. Ở thế nào cũng chịu" [20; 256]. Con người ấy, đáng
thương hơn đáng giận.
Nếu bà Nhiêu-Lương tránh né những bài toán của cuộc đời bằng cách nịnh nọt ông bà
Phán thì ông Phú lại trốn chạy bằng cách khác. Vì sợ bị mất việc thì "cả nhà chết đói dứ đừ ra
(...) Mà chính mình cũng đến chết rã xương ra trong ngục"[20; 280] nên ông Phú đã dối mình,
phản bạn. Từ đó, trong ông có thêm nhiều cái khác để sợ: sợ vợ khinh bỉ, sợ phải đối diện với
tội ác mà mình gây ra cho bạn ... Cuối cùng ông trốn chạy tất cả bằng việc vùi mình vào trong
giấc ngủ. Với người bình thường, giấc ngủ là cần thiết. Nó là sự giải tỏa những căng thẳng, mệt
mỏi cho con người sau nhiều giờ lao động mệt nhọc; nó là hoạt động phục vụ cho việc tái sản
xuất sức lao động của con người. Giấc ngủ chỉ thực sự có ích khi con người sử dụng nó đúng
lúc, đúng "liều". Còn ngược lại, nổ sẽ trở thành kẻ thù của sức khỏe và trí tuệ. Ông Phú trong
Người chứng đã lạm dụng giấc ngủ. Ông coi việc "ngủ lì tù tì như thế" là một thứ thần dược để
ông quên hẳn “cỡi đời này- cõi đời có Tội Ác , có Nhục Nhã và Nhất Hèn ngự trự” [20; 285].
76
Nhân vật ông Phú đã hoàn toàn bế tắc. Hành động trốn vào giấc ngủ là biểu hiện tập trung, cao
độ của sự cô đơn, căng thẳng và tuyệt vọng của nhân vật.
Ở truyện Đất khách, nỗi niềm tuyệt vọng của đôi vợ chồng hồi cư lại trải dài, lan tỏa trên
toàn bộ câu chuyện. Đôi vợ chồng ấy đã từng cùng nhau xây giấc mộng đẹp về cuộc sống ở Hà
Nội. Nhưtig thực tế khó khăn của cuộc sống hồi cư đã nhanh chóng xua tan những ảo tưởng, dự
định tốt đẹp. Nhìn ra xung quanh, họ không tìm thấy cái gì khả dĩ sẻ chia nỗi niềm của mình.
Hà Nội tấp nập ồn ào mà xa lạ. Những người ở chung nhà với họ thì cãi nhau, thù ghét nhau
"đã lâu lắm rồi" [20; 339]. Họ ở trong tình thế "đi thì cũng dở, ở không xong" (Hồ Xuân
Hương). Mọi nỗi lo lắng, niềm u uất, sự dằn vặt... họ đều gửi gắm ở bãi tha ma cùng những
ngôi mộ.
Cuộc sống ở các đô thị miền Nam trước 1975 với những con người sa đọa, tha hóa không
chỉ làm tổn hại đến nền văn hóa truyền thống của dân tộc mà còn kéo theo biết bao hệ lụy khác.
Người chồng trong Đợi con là một trong những nạn nhân khốn khổ của nền văn minh đô thị
kiểu Mỹ ấy. vốn là một người con nhà giàu có, trải qua những biến động lớn của thời cuộc:
"chế độ cũ cáo chung, rồi Nhật đến, rồi Việt Minh về, rồi Tây đi và sau hết là hiệp định Giơ
Neo, một phần lớn dân Bắc di cư vào Nam" [20; 388], cuộc đời anh đã ngoặt sang một ngã rẽ
khác, tối tăm, u ám hơn: tiền hết lại mắc bệnh nan y; vợ đi làm sở Mỹ nhiều tiền coi anh chỉ là
người thừa. Điểm tựa duy nhất và cuối cùng của anh là đứa con gái thì đã bị vợ cùng gia đình
vợ tìm cách li gián... Ở bên bờ vực của cuộc đời, ở giữa lằn ranh mỏng manh của sự sống và cái
chết, con người bất hạnh ấy luôn khắc khoải mong chờ có một ngày được gặp lại đứa con, dù
chỉ một lần, để giãi bày cùng con những u uẩn, lo lắng của lòng mình. Trên đường đến cõi chết,
con người ấy vẫn không thôi cầu nguyện, anh "nguyện cầu cho con không bao giờ yếu đuối,
nguyện cầu cho con không bao giờ đi lầm đường, nguyện cầu cho con không bao giờ bị chấn
nản hay thất vọng" [20; 392]. Tức là anh cầu mong, anh ao ước, hy vọng cuộc đời của con anh
sẽ sung sướng, hạnh phúc, sẽ không bao giờ bị đẩy vào tình thế bi kịch như anh hiện giờ.
Nếu Đợi con trải ra theo chiều rộng sự tuyệt vọng của một kiếp người thì Người làm mả
vợ lại xoáy vào chiều sâu cái bi kịch, sự khủng hoảng tinh thần của một người đàn ông vốn có
nhiều phẩm chất đáng trân trọng: nhân hậu, vị tha, thương yêu vợ hết mực... Ông Trần Tý là
nạn nhân của sự sa đọa, tha hóa. Cụ thể hơn, chính người vợ tha hóa, sa đọa với cách "sống
77
loạn" [20; 383] đã dồn đẩy ông tới chân tường của sự phản kháng. Hành động giết người của
ông Tý trong cả hai trường hợp đều là sự phản ứng đối với nền văn minh xác thịt kiểu Mỹ. Ông
Trần Tý của những năm Mỹ chiếm đóng miền Nam đã vô tình giẫm lên vết chân của anh Pha
(Bước đường cùng- Nguyễn Công Hoan), của Chí Phèo (Chí Phèo-Nam Cao). Có khác chăng,
trong Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan để cho anh Pha vào tù và Nam Cao thì để Chí
Phèo tự sát sau khi giết kẻ thù, trả được mối hận lớn của đời mình; còn trong Người làm mả vợ,
sau lần giết người thứ nhất, ông Trần Tý mai danh ẩn tích, bỏ đi Tân Đảo. Đến sau lần giết
người thứ hai, tác giả cũng như chúng ta chẳng biết ông Tý đi đâu, còn sống hay đã chết? Tất
cả chỉ là những sự phỏng đoán mơ hồ. Chẳng ai dám quả quyết rằng cái bi kịch của cuộc đời
những người như ông Tý sẽ không lặp lại trong lòng đô thị Sài Gòn trước 1975.
Nếu hành động giết người lần thứ nhất của ông Tý có thể hiểu là kết quả của sự ghen
tuông mù quáng thì hành động giết người lần thứ hai của ông lại là biểu hiện cụ thể của sự sụp
đổ hoàn toàn của lòng tin vào những điều tốt đẹp ở đời. Một khi lòng tin đã hoàn toàn sụp đổ
cũng có nghĩa là con người đã bị đẩy đến cái giới hạn cuối cùng, cái nấc thang cuối cùng của sự
tuyệt vọng, bế tắc.
Nếu phải đến sau 1975, Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Dương Hướng và một số nhà văn
khác mới nhận diện lại cuộc chiến tranh dưới cái nhìn nhân bản thì Vũ Bằng ngay từ các sáng
tác Đất khách, Bát cơm ... đã cho mọi người thấy rằng: dù là cuộc chiến tranh chính nghĩa cần
thiết phải tiến hành thì trong khúc ngoặt của lịch sử ấy, những tổn thất, đau thương mà con
người phải gánh chịu là điều không thể tránh khỏi. Chiến tranh đã mang đến cho con người sự
khổ đau lớn, có tính chất toàn diện cả về vật chất lẫn tinh thần. Những mảnh đời trong nhiều
tác phẩm của Vũ Bằng đã để lại những dư âm ngậm ngùi như những nhát cứa sắc ngọt trong
lòng bất cứ ai còn biết xúc động trước nỗi đau của con người. Thương nhớ mười hai - một tuyệt
bút của Vũ Bằng, có thể coi là sự thể hiện tập trung nhất những khổ đau, mất mát về tinh thần
của con người trong một xã hội thời chiến. Nổi lên trong tác phẩm là một cái "tôi" trữ tình đa
cảm, luôn đắm chìm trong sầu muộn, thương nhớ không nguôi về một vùng văn hóa Bắc Việt,
về một mái ấm gia đình. Nhiều lúc, người đọc có cảm tưởng cái "tôi" ấy đang cố vùng vẫy
hòng vượt thoát khỏi tình trạng tuyệt vọng, bế tắc mà cuộc sống phũ phàng thời chiến đã dành
cho mình.
78
Như bao người Bắc di cư lúc ấy, chia tay vợ con xuống tàu vào Nam, Vũ Bằng chắc cũng
tưởng rằng sau hai năm hiệp thương thông nhất, gia đình lại được đoàn tụ. Vì thế, giai đoạn đầu
của thời kì "ngày Nam đêm Bắc" của Vũ Bằng tràn đầy tin tưởng và hi vọng. Đến khi Vũ Bằng
viết Thương nhớ mười hai, niềm tin tưởng ấy đã bớt dần vẻ tròn trịa. Chẳng gì cũng đã sáu năin
mà Vũ Bằng thì không còn trẻ nữa mặc dù chưa thể gọi là già. Ông không còn cái bồng bột của
tuổi trẻ để có thể tin tưởng chắc chắn rằng mình sẽ làm được tất cả mọi điều nếu mình muốn.
Trong Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt, Vũ Bằng viết:
"Người khách xa nhà nằm ngửa mặt lên trần, mơ lại những ngày xuân đã mất và cảm như
tất cả những cái vui đẹp, say sưa đó thuộc vào một tiền kiếp xa xôi" [5; 32- 33].
Thường trực trong giấc ngủ chập chờn của "người sầu xứ", "người khách xa nhà" là
"bóng một người đàn bà đẹp, mặc áo xanh". Người đàn bà đẹp mặc áo xanh ấy đã "cúi xuống
lau trán cho người mê ngủ", đã thủ thỉ "như xa như gần ở bên tai" "người sầu xứ":
"Vui và buồn ở đời là tuần hoàn cả. Tất cả bí quyết của sự sống là biết tin tưởng và đợi
chờ, vì tin tưởng và đợi chờ thì cái gì mà chẳng đến!" [5; 33-34]. Ngay "trong cơn mơ thiêm
thiếp", "người sầu xứ" thấy người đàn bà đó quen quen. Điều mà người đàn bà ừong mộng nói
với "người sầu xứ" chính là điều những "người sầu xứ" nói chung thường trăn trở, nung nấu.
Người đàn bà trong mộng nói với "người mê ngủ" hay chính "người mê ngủ" đang lòng tự nhủ
lòng: "Tất cả bí quyết của sự sống là biết tin tưởng và đợi chờ"!
Ở chương này, hình tượng "người đàn bà đẹp mặc áo xanh" được nhắc tới 5 lần. Nếu
"người sầu xứ" là con người của tình cảm, con người của niềm thương nỗi nhớ không nguôi thì
"người đàn bã đẹp mặc áo xanh" lại là con người'của lí trí. Người đàn bà ây không đao to búa
lớn. Lời người đàn bà ấy nhỏ nhẹ nhưng rành rẽ như giảng giải, như phân tích. Nghe lời người
ấy, vòng tay nhân vật trữ tình "khép lại" và "trăng non ở ngoài của sổ cũng phải thẹn thùng"
[5; 35]. Ở đây, hình tượng "người đàn bà đẹp mặc áo xanh" vừa là nhân vật tưởng tượng, vừa
như là sự phân thân của cái "tôi" trữ tình của nhân vật. "Người đàn bà đẹp mặc áo xanh" hướng
tới cái "tôi" trữ tình của nhân vật, còn nhân vật thì hướng tới "em yêu" trong nỗi niềm khắc
khoải, thoáng một chút gì như mòn mỏi, tuyệt vọng:
"Em yêu ơi, sống là tin tưởng và chờ đợi, nhưng biết rằng mái tốc người ta có còn xanh
mãi được chăng? " [5; 35].
79
Có thể nói, "người đàn bà đẹp mặc áo xanh" và "em yêu" tuy hai mà một-là sự kết tinh,
hiện hình của niềm thương nhớ, khắc khoải không nguôi trong lòng người xa xứ là Vũ Bằng.
Theo thời gian, niềm tin vào sự trở về có lúc như bị vơi đi đồng thời nỗi niềm nhớ thương
khắc khoải càng trở nên nhức nhối, đớn đau. Hình tượng con người đã cô đơn, nhỏ bé lại bé
nhỏ, cổ đơn hơn trong nỗi niềm khắc khoải tưởng như vô cùng, vô tận ấy. Vũ Bằng có bao
nhiêu cách để chỉ con người này. Khi là người xa nhà, mười khách xa nhà, người đàn ông lác
phách, người sầu xứ: lúc là người thiên lý tương tư. người mắc bênh lưu lí. người khách tương
tư cố lí, người lữ khách... ( Phụ lục 2). Mỗi cách gọi có một ý vị, một hàm ý riêng nhưng tất cả
đều giống nhau ở một điểm: con người ấy luôn ý thức rất rõ tình trạng cô đơn, đau khổ của
mình. Có lẽ, chẳng còn gì đau khổ hơn khi người ta tự ý thức về sự đau khổ và cô đơn của
mình. Hình tượng con người đau khổ, cô đơn ấy cứ trở đi, trở lại trong Thương nhớ mười hai
như là sự gợi nhắc đến hình tượng con người thất chí, buồn hận trong thơ chữ Hán của Nguyễn
Du. Có khác chăng, con người thất chí, đau đời troơng thơ chữ Hán của Nguyễn Du là con
người của thời đại trước. Cái đau, cái buồn của con người ấy là sự thể hiện tính chất bi của một
cá nhân có nhiều thất vọng, bất mãn trong cuộc đời: Buồn vì đói nghèo, bệnh tật, già nua; buồn
hận vì bản thân không làm được gì giúp người, giúp đời... Còn ở các sáng tác của Vũ Bằng là
một con người cô đơn, đau khổ của thời hiện đại, của một xã hội loạn lạc bởi chiến tranh. Con
người ấy luôn canh cánh một nỗi niềm, một ao ước rất bình dị, không lớn nhưng trong hoàn
cảnh đất nước đang bị chia cắt, sao mà khó thực hiện đến thế: "trở về chốn chôn nhau cắt rốn"
[5; 324], "trở về phần tử một ngày- một ngày thôi cũng được" [5; 55].
Trong Thương nhớ mười hai kiểu kết câu "Biết đến bao giờ...?", “Biết bao giờ”. "Không
biết đến bao giờ..." được lặp lại đến 8 lần kiểu như:
- "Biết đến bao giờ người lữ khách mới lại được thấy lại cái tháng hai ngày xưa của nẻo
Bắc cách mấy muôn trùng thương nhớ?" [5; 47]...
Quan sát 8 lần sử dụng những kiểu kết cấu trên, chúng tôi thấy: Cũng là sự pha trộn giữa
nỗi khắc khoải nhớ thương với niềm hy vọng nhưng càng về cuối tác phẩm- cũng có nghĩa là
xuôi theo chiều dài của thời gian xa cách dằng dặc, niềm tin tưởng, thiết tha cứ vơi dần, kém
tươi đi. Nổi lên, đọng lại trong thẳm sâu tâm hồn của kẻ tha hương là một sự khắc khoải, khắc
khoải đến mòn mỏi, đớn đau.
80
Chúng ta biết Thương nhớ mười hai được khơi nguồn từ nỗi nhớ về 12 tháng của Bắc
Việt. ứng với mỗi tháng, Vũ Bằng viết một bài khá dài, ta tạm coi là một chương. Riêng Tết,
ông dành hẳn một chương. Thành thử cuốn sách có 13 chương với trên 300 trang, ở 12 chương
đầu, con người cô đơn, tội nghiệp ấy còn tìm cách thể hiện, dãi bày nỗi niềm của mình, còn có
lúc băn khoăn tự hỏi "có ai biết rằng tôi nhớ lại những gì không? (...) có ai biết rằng tôi đã
trông thấy những gì và nghĩ những gì không?...'" [5; 166-167]. Tức là con người ây còn tìm
thấy điểm tựa, còn có cái để tin, để hướng tới. Và cũng ở 12 chương đầu, nỗi niềm ấy trải ra ở
mọi phía, theo bề rộng của thời gian, không gian và của cả các mối quan hệ. Đến chương Tết,
nỗi niềm ấy đọng lại, kết tính trong một câu hỏi "Bao giờ về? Phải, bao giờ về". Và điều đáng
nói là kể từ khi nhận được tin vợ chết (Tháng 10 gió bấc mưa phùn), người khách xa nhà chẳng
"cồn biết thú tội với ai, thú tội cách gì, mà còn ai nữa để mà thú tội" nên "đành giấu kín câu hỏi
tròm lòng". Vì thế, nỗi nhức nhối vì những uẩn ức từ lâu chất chứa trong lòng, từ nay, càng trở
nên nhức nhối, nặng nề hơn. Gần cuối tác phẩm nổi lên một con người cổ đơn, trống rỗng- như
là đỉnh điểm của hình tượng con người đau khổ, cô đơn:
... "Ngao ngán cho thân mình, y có lúc không còn mong gì nữa, không còn thèm gì nữa.
Mong gì bây giờ? Mà còn thèm gì bây giờ? (...) Bao nhiêu ấm cúng, bao nhiêu yêu thương, bao
nhiêu an ủi đã chết rồi, bây giờ chỉ còn lại một cái gì trống rỗng mênh mông, một cái gì nhạt
nhẽo không làm rung động được khứu giác, một cái gì ghê rợn thoang thoảng mùi bệnh tật và
chết chóc" [5; 265-266].
Nhìn chung, hình tượng con người nghệ thuật trong các tác phẩm văn xuôi nghệ thuật của
Vũ Bằng phản ánh rất rõ nét quan niệm nghệ thuật của ông. Do bị tách khỏi môi trường chung,
có tính chất phổ biến của các văn nghệ sĩ cùng thời, dẫn đến cuộc sống riêng tư, cá nhân cũng
có nhiều nét đặc thù, khác biệt so với cuộc sống chung của hầu hết nhân dân ta lúc ấy nên cái
nhìn con người của Vũ Bằng không hoàn toàn là cái nhìn hiện đại mà thường có sự kết hợp với
cái nhìn truyền thống. Con người trong các tác phẩm của ông có khi là con người truyền thống
với những ước mơ bay bổng, với tâm hồn lãng mạn hòa nhập cùng thiên nhiên đất trời, tắm
mình trong nền văn hóa truyền thống của dân tộc. Đồng thời, đó cũng là con người thời chiến.
Cuộc sống thời chiến không chỉ ràng buộc con người với miếng cơm, manh áo. Nó còn là nỗi
ám ảnh về cái chết có thể áp đến bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu. Nó còn là những hệ lụy trực tiếp
hoặc gián tiếp của cuộc sống thời chiến: sự tha hóa, lối sống gấp, dư luận nghiệt ngã của: cộng
81
đồng... Do đó, con người đời thường với những buồn thương, lo lắng, dằn vặt, xót xa ... đã trở
thành nét thể hiện chính trong văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng, làm cho các sáng tác của ông
có một diện mạo riêng, không lẫn vào đâu được.
2.2. Thời gian và không gian nghệ thuật.
2.2.1. Thời gian nghệ thuật:
Thời gian là một phạm trù triết học, là hình thức tồn tại của thế giới, của vật chất. Thời
gian tự nhiên vận động và phát triển theo quy luật một chiều: đi tới và mang tính khách quan.
Trong tác phẩm nghệ thuật, thời gian được tái tạo lại, mang tính chất chủ quan của tác giả. Bởi
phụ thuộc vào tính chất chủ quan của tác giả nên thời gian nghệ thuật mang tính chất tự do hơn,
nói như Trần Đình Sử "trong nghệ thuật, thời gian có thể rong ruổi ngược xuôi một cách tự do"
[85; 39].
Trong văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng, thời gian được vận hành theo suy nghĩ, cảm xúc
chủ quan của tác giả. Qua đó, người đọc có thể hiểu được tâm trạng, tình cảm cùng bao điều
khác nữa ở ông.
Thời gian nghệ thuật trong các sáng tác ngắn như Giai đoạn mới, Ở đây bán sách cũ, Cây
hoa hiên bên bờ sông Na, Bát cơm, Bữa cơ... thường là thời gian lịch sử khách quan. Vũ
Bằng thường đặt nhân vật của mình trong dòng lịch sử chung với các sự kiện: kháng chiến toàn
quốc bùng nổ, tản cư, hồi cư... để nhân vật triển khai hành động và thể hiện tính cách. Khoảng
cách giữa các sự kiện thường khá xa. Xen giữa các sự kiện là thời gian nội tâm, thời gian tâm
lý. Con người hoặc chỉ sống với thời hiện tại, ít hồi tưởng quá khứ (trường hợp bà Nhiêu
Lương trong Giai đoạn mới, trường hợp ông cháu ông từ trong Ở đây bán sách cũ...), hoặc
sống gắn bó với quá khứ, luôn hoài vọng về quá khứ (trường hợp Thạch Liễu trong Cây hoa
hiên bên bờ sông Nà). Nếu như trong Mùa lạc (Nguyễn Khải), Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài),
Mảnh trăng cuối rừng (Nguyền Minh Châu)...tương lai ít được nói đến bởi nó thường sáng sủa
và là một cái gì rõ ràng, không cần bàn cãi thì trong các sáng tác của Vũ Bằng, tương lai ít
được nói đến lại vì lẽ khác. Con người trong các sáng tác của ông là con người của thời loạn
lạc, đã thế họ lại sống tách biệt, gần như thoát hẳn khỏi vòng ảnh hưởng của cộng đồng. Mòn
mỏi vì những lo toan thường nhật cùng những ân hận, day dứt, tiếc nuối, họ ít nghĩ đến tương
lai. Và tương lai nếu có được nhắc đến thì cũng thường mù mịt, gắn liền với sự khắc khoải, lo
82
âu. Bà Nhiêu Lương (Giai đoạn mới) lo sợ bị ông bà Phán đuổi "Bởi vì đuổi thì biết đi đâu, ăn
vào đâu, ở đâu? Mà về quê thì chết vì bom đạn" [20; 256]. Với vợ chồng người hồi cư trong
Đất khách, về quê là tương lai, là giải pháp tốt nhất giúp họ chấm dứt cuộc sống ngột ngạt, tù
túng và nặng nề ở Hà Nội- nơi đất khách. Vậy mà họ lại hướng về quê trong sự trăn trở, băn
khoăn, trong nỗi niềm tuyệt vọng:
"Làm thế nào về quê hương được nữa, nếu cứ đánh nhau mãi thế này !" [20; 341].
Có thể nói, thời gian nghệ thuật trong các sáng tác ngắn của Vũ Bằng diễn tiến khá chậm
chạp, uể oải. Nó thường gợi ương người đọc niềm cảm thông, xót xa cho những kiếp người đau
khổ vì chiến tranh loạn lạc.
Ở các tác phẩm văn xuôi nghệ thuật dài hơi: Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam, đặc
biệt ở Thương nhớ mười hai, hình tượng thời gian được khắc họa đậm nét, mang rõ dấu ấn cá
nhân tác giả. Ở những tác phẩm này, Vũ Bằng có nói đến tương lai. Nếu Nguyễn Du ương thơ
chữ Hán chỉ có 2 lần đề cập đến tương lai mà là tương lai gần, tương lai cá nhân thì Vũ Bằng
trong Thương nhớ mười hai nói đến tương lai nhiều hơn: 8 lần tương lai được nói đến trong sự
băn khoăn, khắc khoải kiểu như: Biết đến bao giờ..., Không biết đến bao giờ... và 6 lần tương
lai được nhắc đến qua lời cầu nguyện, ao ước. Tương lai mà Vũ Bằng hướng tới thường là một
tương lai chung; ở đó, con người cá nhân hòa vào không khí, thiên nhiên, vào đất trời... quê
hương hoặc được hưởng hạnh phúc của cuộc sống thời bình: "vợ được gặp chồng, anh được
gặp em, tình nhân được gặp tình nhân, ở đời không còn bao giờ có sự chia cây rụng lá, tan của
nát nhà, sinh li tử biệt..." [5; 326].
Khi nói đến tương lai, nhiều lúc Vũ Bằng đã vượt lên trên những bi kịch có tính chất cá
nhân để nói tiếng nói chung của mọi người, của đồng loại. Phẩm chất chiến sì trong tâm hồn thi
sĩ của Vũ Bằng một phần thể hiện ở đó.
Trong các tác phẩm này, Vũ Bằng có nói tới hiện tại nhiữig không nhiều. Hiện tại thường
chi được điểm qua bằng vài nét thưa thoáng, bàng bạc có tác dụng gợi nhớ, khiến người đọc dễ
có cảm tưởng Vũ Bằng là người của cõi mơ, là con người hoài niệm hơn là con người của hiện
tại.
83
Vũ Bằng hay nói về đêm, về chiều và đặc biệt là chiều mưa. Giai đoạn mới kết thúc bằng
câu nói mê hằng đêm của bà Nhiêu Lương; ông tô già trong Ở đây bán sách cũ hết kế sinh nhai
đành mang hòm sách cũ của người con trai ở hậu phương ra bán. "Chính hôm bắt đầu bán là
một hôm mưa dầm" [20; 260]. Anh say rượu (Bữa cỗ) trở về nhà gặp cảnh vợ chết nằm còng
queo vào "khoảng mười một giờ khuya" [20; 321]. Truyện Đất khách dài chưa đầy 11 trang
mà chiều, buổi chiều được nhắc đến 3 lần; tối, khuya, lên đèn được nhắc đến 4 lần; đêm, bóng
tối, tối tối, tối được nhắc đến 7 lần và mưa được nhắc đến 1 lần... Ở Thương nhớ mười hai, các
từ trên xuất hiện nhiều hơn, thường xuyên hơn.
Trong các sáng tác của Vũ Bằng, các yếu tố chỉ thời gian như: chiều, mưa, đêm có lẽ
không chỉ để nói nỗi buồn, cái lắng đọng của suy tư như phần lớn các thi sĩ (Huy Cận, Xuân
Diệu...) vẫn dùng. Hình như nó còn hàm chứa một cái gì khác, vừa chung lại vừa riêng, giống
như là cảm quan nghệ thuật của tác giả về cuộc đời- không phải cuộc đời chung của cả một dân
tộc đang hào hứng xuống đường, "ra trận" với sức mạnh tổng hợp của "bốn mươi thế kỷ"(Tố
Hữu) mà là cuộc đời riêng của một lớp người bị dồn đẩy vào một thế kẹt của lịch sử, vào thế
"tiến thoái lưỡng nan". Vì thế âm hưởng của nó buồn hơn, da diết hơn, sâu lắng hơn và cũng tê
tái lòng người- cả người trong cuộc lẫn người thưởng thức tác phẩm- hơn.
Từ hiện tại với bất cứ cái gì cũng đều có thể gợi nhớ, nhân vật trong các tác phẩm của Vũ
Bằng thường mơ về quá khứ, nhớ về quá khứ. So với hiện tại, quá khứ được nói đến nhiều hơn.
Trong các sáng tác của Vũ Bằng, quá khứ hiện lên khá tròn trịa với tất cả sự hơn hẳn của nó. Vì
vậy, dòng thời gian quá khứ được Vũ Bằng chọn như một phương tiện để chuyển tải những uẩn
ức sâu kín của cõi lòng.
Trong sáng tác văn xuôi nghệ thuật, Vũ Bằng đã chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của thơ
Đường. Có điều, Vũ Bằng là con người của thời hiện đại nên cách biểu hiện của ông có khác.
Thơ Đường thường nói nhiều đến quá khứ, thường hoài niệm về cái đẹp. Vũ Bằng rất trân
trọng cái đẹp, đặc biệt là cái đẹp của quá khứ, cái đẹp của truyền thống. Thời gian ương các tác
phẩm của ông thường quay ngược chiều véc tơ trở về với những kỷ niệm êm đẹp của một thời
chưa xa lắm với những lễ hội, những phong tục truyền thống.
Con người hiện đại thường sống với thời bây giờ và hướng tới tương lai. Còn Vũ Bằng, vì
gắn bó quá sâu đậm với quá khứ nên ông luôn từ thời hiện tại, từ bây giờ, giờ đây mà dõi về
84
quá khứ, về ngày trước, ngày xưa với tất cả sự luyến tiếc, nhớ nhung canh cánh. Nguyễn Du
ngày xưa đã mượn Kiều để thể hiện sự gắn bó với quá khứ của mình, Vũ Bằng thì khác, chủ
thể của sự gắn bó với quá khứ luôn luôn hiện diện trực tiếp qua mỗi trang văn của ông. Trong
Đất khách là mụ. đến Miếng ngon Hà Nội rồi Thương nhớ mười hai là tôi... ở các sáng tác của
Vũ Bằng, những từ ngữ nhớ, yêu, thương, mến thương xuất hiện khá nhiều. Mỗi từ có những
nghĩa khác nhau nhưng chúng lại liên kết với nhau trong một chỉnh thể là tác phẩm, là các sáng
tác của Vũ Bằng để cùng góp phần làm sáng tỏ những uẩn ức của lòng ông.
Có thể nói, thời gian ký ức, thời gian hoài niệm luôn trải ra với Vũ Bằng. Thời gian
hoài niệm, thời gian ký ức cũng thâu tóm toàn bộ nền văn hóa truyền thống Bắc Việt, thâu tóm
hình ảnh những người thân trong gia đình, đặc biệt là hình ảnh người vợ. Vũ Bằng hay nhắc
đến người vợ với nhiều cách gọi khác. Khi thì tác giả gọi thẳng tên rất tha thiết Quỳ ơi, lúc là
người vợ, người đàn bà Bắc, là em yêu... Dù gọi theo cách nào, tác giả cũng đều không hề giấu
diêm tình cảm tri âm, gắn bó và trân trọng đối với người bạn chiếu chăn của mình...
Giống như thơ cổ, trong Thương nhớ mười hai Vũ Bằng đã 54 lần nói đến trăng. Bóng
trăng, ánh trăng với Vũ Bằng thật gần gũi, thân thiện, đặc biệt là trăng của quá khứ. Quá khứ
với Vũ Bằng lúc nào cũng đẹp, trăng trong quá khứ cũng vậy. Trăng của quá khứ, trong tâm
khảm của Vũ Bằng luôn là ánh trăng có hồn, ánh trăng đa tình. Trăng trong quá khứ được nhắc
đến 52 lần. Nhiều lần ánh trăng ấy hiện lên như một nhân chứng, chứng giám những ngày hạnh
phức tràn đầy của Vũ Bằng trên đất Bắc, cũng giống như "vầng trăng vằng vặc giữa trời" năm
nào đã chứng giám cho lời thề thốt yêu đương của Kim Trọng-Thúy Kiều :
"Anh ơi, mở của sổ ra cho trăng chiếu thật nhiều vào giường của đôi lứa chúng mình..."
[5; 128].
Nguyễn Du trong thơ chữ Hán cũng hay nói đến trăng. Giống như Vũ Bằng, Nguyễn Du
đã có lúc dùng những hình ảnh đẹp, tứ lạ để nổi về trăng: cái sáng trong vằng vặc, cái độ tròn
thật tròn (Quỳnh Hải nguyên tiêu), trăng như hộp gương, như vành cung tráng sĩ (Sơ nguyệt).
Nhiứig ngay cả lúc đêm thật đẹp, trăng thật tròn, sáng hết độ sáng của nó... Nguyễn Du vẫn
cảm thấy rầu rĩ và cảnh vẫn buồn tê tái:
Hoại bích nguyệt minh bàn tích dịch (U cư II)
85
(Vách nát trăng sáng rắn mối leo quanh)
Còn trong các sáng tác của Vũ Bằng thì khác, giữa người và cảnh nói chung; giữa người
và trăng nói riêng luôn có sự tương đồng, hòa hợp. Trăng trong sáng, huyền diệu, tình tứ bên
cạnh người cũng lâng lâng một niềm vui hạnh phúc như trong huyền thoại:
"Trong một năm, không có mùa nào trăng lại sáng và đẹp như trăng thu. (...) Vợ chồng
dắt nhau đi trong ánh trăng lúc ấy cảm thấy mình đi trên trần mà dường như có cánh ở dưới
chân, không bước mà có cái gì đẩy chấn đi nhè nhẹ vào trong cõi mê li thần thoại" [5; 172-
173].
Nhiều khi, mối quan hệ giữa trăng và người lại là mối quan hệ tri âm tri kỉ, con người
"nghe rõ ràng có tiếng trăng thủ thỉ thì thầm" [5; 31].
Trong Thương nhớ mười hai chỉ có 2 lần Vũ Bằng nói đến trăng của hiện tại. Khi ây, tác
giả không miêu tả kĩ ánh trăng. Chúng ta có cảm tưởng Vũ Bằng chỉ dùng trăng như một cái cớ
để bật đẩy những gì đang dồn nén, chất chứa trong tâm tư, để cho bớt cái gánh nặng đang trì
kéo tâm hồn, trì kéo mỗi bước đi của người lữ thứ. Lần thứ nhất nói đến trăng hiện tại là vào
một đêm tháng tư:
"Người tỉnh rượu lúc canh tàn nhìn trăng rồi cúi đầu nhớ cố hương, lúc ấy thèm cái thú
tắm suối của một ngày xa xôi ở xứ Mường vùng Việt Bắc, thèm không biết thế nào mà nói" [5;
78].
Câu văn có 39 chữ, chỉ có một chữ trăng mà có đến hai chữ thèm, một chữ nhớ, ấy là
chưa kể đến tư thế cúi đầu của người tỉnh rượu. Những tưỏng chẳng phải bàn nhiều, ai cũng có
thể cảm được cái tâm trạng chới với, cổ đơn, nhớ thương da diết của kẻ xa nhà lúc canh tàn.
Lần thứ hai là một đêm tháng tám. Nhà văn đã nói với trăng như nói với một người bạn:
"Trăng thu, mây thu, gió thu ơi, trăng đẹp quá, mây cao quá, gió buồn quá, người nhớ
nhà van xin trăng đừng đẹp quá, mây đừng xanh quá, gió đừng buồn quá vì càng đẹp, càng
xanh, càng buồn thì người xa nhà lại càng day dứt nhớ đến phong vị Giang Nam, không có
cách gì khuây khỏa được trăm sầu nghìn giận" [5; 196].
Cũng chỉ trong một câu văn mà đến 6 lần từ quá được sử dụng. Hình như đây là lần đầu
tiên giữa Vũ Bằng và thiên nhiên có khoảng cách, lần đầu tiên ánh trăng đã tuột khỏi tầm với
86
của Vũ Bằng. Có khoảng cách nhưng không hề đối lập bởi "người xa nhà" luôn tìm cách quên
đi nỗi buồn lưu lí, vậy mà ánh trăng kia cùng bầu trời và ngọn gió lại vô tình, cứ buồn, cứ đẹp
có lẽ đẹp như ánh trăng xưa khiến cho vết thương lòng của "người xa cách Bắc Việt", từ lâu,
chưa kịp khép miệng lại thêm một lần nhức nhối, đớn đau. Vì thế, "người nhớ nhà" van xin
trăng, mây rồi gió hãy bớt đẹp, bớt buồn hơn.
Trong các sáng tác của Vũ Bằng ta luôn bắt gặp sự liên tưởng, đối sánh giữa bây giờ và
ngày trước, giữa hiện tại và quá khứ. Trong quá trình đối sánh, quá khứ bao giờ cũng giành
được phần hơn: được nói nhiều hơn, kĩ hơn và cũng tha thiết hơn. Cán cân tình cảm trong Vũ
Bằng đã nghiêng hẳn về phía quá khứ, về miền hoài niệm. Từng dòng chữ, câu văn trong các
tác phẩm của Vũ Bằng luôn nhưng nhức một nỗi niềm thương nhớ. Nỗi nhớ thương quay quắt
ấy không chỉ gián cách ương thời gian mà còn "gián cách trong không gian" [20; 165].
2.2.2. Không gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật bao giờ cũng gắn liền với cảm xúc và mang ý nghĩa nhân sinh. Vì
gắn liền với cảm xúc và mang ý nghĩa nhân sinh nên không gian nghệ thuật không đơn giản là
không gian vật chất với ba chiều mà chủ yếu là chiều không gian tâm tưởng, không gian của
cảm xúc, của hồi tưởng, của ước vọng. Nói cách khác đó là hình tượng không gian. "Cấu trúc
của không gian tỉnh thần bao giờ cũng được xác định bởi chỗ đứng của tác giả với điểm nhìn,
trồng đó điều cần lưu ý là các chiều không gian chỉ là những dữ kiện" [85; 50].
2.2.2.1 Không gian nghệ thuật trong các sáng tác của Vũ Bằng có nhiều điểm khá độc
đáo. Ở các tác phẩm như Bát cơm, Cây hoa hiên bên bờ sông Na, Đám cưới hai u hồn ở chùa
Dâu... là một không gian có dáng dấp của không gian trong văn học trung cổ. Đó là không gian
nhiều tầng, nhiều thứ bậc kiểu Dương Từ Hà Mậu (Nguyễn Đình Chiểu). Trong tác phẩm Bát
cơm không có địa ngục để trừng trị những kẻ ác nhưng lại có trần gian với những kiếp người
đau khổ vì tên bay đạn lạc; có thiên đường dành cho những oan hồn, nạn nhân của chiến tranh.
Trong Cây hoa hiên bên bờ sông Na có hai cõi dành cho một kiếp người: Cõi sống với bao đau
khổ, oan ức; cõi chết để báo ân trả oán, để thực hiện những điều mà ở cõi sống những con
người yếu đuối, thấp cổ bé họng không có điều kiện, không được phép thực hiện. Đám cưới hai
u hồn ở chùa Dâu là câu chuyện về những oan hồn, là niềm hi vọng, tin tưởng vào cuộc sống
hạnh phúc vĩnh viễn ở thế giới bên kia của những con người khốn khổ trong cuộc sống nơi trần
87
thế. Với niềm tin tưởng chắc chắn rằng: "Đời thực rộng nhưng quanh đi quẩn lại vẫn gặp nhau,
ở hiền lại gặp lành, ở phức lại gặp đức, hết bĩ cực rồi phải tới thái lai, không ai lại gối đầu tay
cho tới sáng" [10; 22], Vũ Bằng đã để cho hai nhân vật Thạch và Mai Chi được ở cạnh nhau,
yêu thương nhau mãi mãi ở thế giới bên kia như một lẽ tất nhiên bởi lúc sống, họ yêu thương
nhau nhưng lại "không được ở với nhau" [10; 26].
Trên một phương diện nào đó, sự tồn tại của các nhân vật trong Bát cơm, Cây hoa hiên
bên bờ sông Na, Đám cưới hai u hồn ở chùa Dâu ... .nơi trần thế có nhiều chỗ gặp gỡ với cuộc
sống của Vũ Bằng trong thực tế: cùng là nạn nhân của chiến tranh, cùng chịu nhiều thiệt thòi,
mất mát... Xây dựng hình tượng không gian với nhiều thứ bậc phải chăng là một cách để Vũ
Bằng tự củng cố, tự khẳng định niềm tin vào ngày hội ngộ, niềm tin rồi thần hạnh phúc sẽ mỉm
cười với mình?
2.2.2.2. Cuộc sống thời chiến với nhiều tai ương, hiểm họa luôn bổ chụp xuống đầu
người, không chừa một ai đã khiến con người luôn sống trong trạng thái thấp thỏm, bất an.
Trong hoàn cảnh ấy, người ta thường có xu hướng kiếm tìm một chỗ nấp, một điểm tựa hòng
chở che, bảo vệ mình thoát khỏi sự bủa vây, dồn đuổi của hiểm họa, tai ương. Vũ Bằng không
phải là một trường hợp ngoại lệ. Vì thế, trong các sáng tác của ông, người ta luôn thấy xuất
hiện một không gian có tác dụng chở che cho con người. Không gian ấy có khi là mái nhà,
có khi là không gian văn hóa Bắc Việt cổ truyền...
Không gian trong các tác phẩm của Vũ Bằng biểu hiện trước hết ở ngôi nhà. Ngôi nhà với
mỗi người Việt Nam luôn là một cái gì gần gũi, thiêng liêng. Nhà không chỉ là nơi che mửa,
che nắng, nó còn là mái ấm, là nơi chở che cho con người trước những gió mưa, bão tố của
cuộc đời. Nhưng nó chỉ thực sự là mái ấm, là nơi chở che khi nó là mái nhà của chính mình, khi
ữong mái nhà ấy con người thực sự được hạnh phúc. Trong các sáng tác ngắn của Vũ Bằng,
những ngôi nhà thực sự là mái ấm của con người thì hoặc là “bị thiêu ra tro” vì "tàu bay bỏ
bom lửa" (Giai đoạn mới) hoặc là thuộc về quá khứ, ở quê nhà (Đất khách). Hiện tại con người
vẫn tồn tại trong những căn nhà nhưng không gian này không thể là một nơi ấm áp, đáng tín
cậy có thể giúp họ rũ bỏ tất cả mọi ưu tư, phiền muộn. Bà Nhiêu Lương (Giai đoạn mới) của
hiện tại cũng sống trong một ngôi: nhà nhưng là ngôi nhà của người khác- nhà ông bà Phán.
Trong ngôi nhà ấy, vào ban ngày, khi thì bà "ở trong bếp" lúc "ngồi một xó"; tối đến, bà "ngủ
88
trong một manh chiếu giải trên hè gạch" [20; 251]. Chỉ bấy nhiêu chi tiết cũng đủ nói lên thân
phận cùng cuộc sống tạm bợ, bấp bênh của bà khi hồi cư về thành. Trong Người chứng, ngôi
nhà là nơi để ông Phú trốn chạy cuộc sống hiện tại. Một khi đã ở trong tình thế của kẻ chạy
trốn, con người khó có thể có được những giây phút thư thái, thanh thản. Ở Đất khách, "gian
nhà trống hếch trống hoác" của hiện tại chẳng đủ độ ấm cần có để làm dịu đi nỗi nhớ cồn cào
"cái sân đất rộng thênh thênh ở nhà quê" cùng nhiều cơn bão lòng khác của đôi vợ chồng hồi
cư nọ.
Tác phẩm Người Hà Nội nhớ người Hà Nội đề cập đến bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu số
phận. Ấy vậy mà chỉ có 2 lần tác giả nói đến nhà của hai người: Lần thứ nhất là cái nhà "tan
tành" của bà vợ một ông tham công chính. Lần thứ hai là "cái buồng để xe trong căn nhà đổ
phố chợ Hôm" [20; 353] đang được người thiếu phụ cô chích xin để ở. Không biết cái buồng
"vừa đủ để một cái xe ô tô bé nhất" [20; 353] ấy có thể mang lại sự bình yên cho con người
khốn khổ, đáng thương kia "trong thời tao loạn này" không?
Trong các sáng tác ngắn của Vũ Bằng chỉ có một túp lều khả dĩ đem lại hạnh phúc cho
con người. Đó là túp lều của ba cái vong trong truyện ngắn Bát cơm. Tiếc thay, đó là một túp
lều ở trên thiên đình và cả ba cái vong tồn tại ương táp lều đó cũng không hoàn toàn hạnh phúc.
Họ luôn thấy "hơi hối rằng mình đã sung sướng quá và ăn nhiều quá" [20; 309]. Rõ ràng, trong
cuộc sống thời chiến, hạnh phúc là một cái gì quá xa xỉ, luôn vượt khỏi tầm với của con người.
Hạnh phúc chỉ có thể đạt được ở trong cõi mơ. Và ngay cả khi ấy, nó cũng chưa hẳn đã là hạnh
phúc trọn vẹn.
Ở các tác phẩm dài hơi Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam
người ta thấy xuất hiện hai ngôi nhà. Đúng hơn là một ngôi nhà và một cái gọi là nhà. Một cái
thuộc về quá khứ, còn cái kia là của hiện tại. Tác giả thường xuất phát từ cái gọi là nhà của
hiện tại để nói về ngôi nhà trong quá khứ. Ngôi nhà trong quá khứ được tác giả nói kỹ, nói
nhiều. Trong Thương nhớ mười hai ngôi nhà ấy được nhắc đến không dưới 20 lần. Đó là ngôi
nhà của tuổi thơ có "các con chim bé nhỏ ríu ran tập hót ở trên các ngọn cây chung quanh
nhà" [5; 103]. Ở đó, mỗi khi xuân về tết đến, có những chú bé "tranh giành nhau những bức
tranh gà lợn đố, có khi đến đánh nhau nhưng rút cuộc thì anh em thoa thuận dán đầy cả lên
tưởng để ngắm chung và làm như thế thì nhà tôi đương bình thường, vụt hiện ngay ra một
89
quang cảnh Tết vui tươi khác thường, tưng bừng nhộn nhịp không chịu được" [5; 301-302].
Không chỉ gắn với tháng ngày êm đềm của tuổi thơ vô tư, ngôi nhà trong quá khứ còn gắn liền
với những kỉ niệm đẹp đẽ, thơ mộng một thời của nhân vật xưng tôi- người khách xa nhà bên
"người vợ tấm mẳn"- "người đàn bà Bắc" đảm đang, vén khéo.
Vũ Bằng hay nói đến không khí gia đình, đến những sinh hoạt giải trí dân dã trong ngôi
nhà đó. Đó "là bầu không khí gia đình đoàn tụ êm đềm, trên kính dưới nhường" khiến cho lòng
người "ấm lạ, ấm lùng, tuy miệng chẳng nói ra nhưng trong lòng thì cảm như có không biết
bao nhiêu là hoa nở, bướm ra ràng mờ hội liên hoan" [5; 20]; đó là "những đêm mùa xuân lành
lạnh, gia đình cùng anh em bè bạn đóng cửa lại uống rượu, đánh bài, rồi đến lúc tàn canh thì
cùng xúm lại quanh bàn ăn chè lam, uống chè mạn sen" [5; 100].
Nói về ngôi nhà trong quá khứ, về cách nói, Vũ Bằng phần nào chịu ảnh hưởng cách miêu
tả của thơ cổ: "trong thơ cổ không miêu tả ngôi nhà, người ta miêu tả ngôi nhà bằng cái của. Vì
sao? Bởi chính cái của vừa mở vào thế giới con người vừa mở vào vũ trụ. Cho nên trong thơ cổ
của không đóng (để con người giao tiếp với vũ trụ) song cũng là song thưa, để thế giới vào với
con người?" [87; 57].
Ngôi nhà của quá khứ trong Thương nhớ mười hai cũng thường mở của: "Sáng dậy, nằm
dài nhìn qua cửa sổ thấy những vết xanh tươi hiện ở chân trời, mình cảm thấy rạo rực một
niềm vui sáng sửa" [5; 20].
"Không khí mát mẻ thế này, đóng của ở trong nhà uổng quá" [5; 12]...
Con người trong ngôi nhà đó luôn có nhu cầu giao hòa cùng thiên nhiên, luôn muốn tắm
mình trong thiên nhiên để tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên, để nhân lên nhiều lần cái hạnh
phúc mà họ đang có trong tay. Thế nhưng khi cần họ vẫn đóng của. Họ thường đóng của khi tối
đến, đêm về, "các nhà đều đóng cửa" [5; 50], hay vào "những đêm mùa xuân lành lạnh". Hành
động đóng của của họ thường là có chủ ý. Nếu trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, con người
thường đóng của vì không muốn hòa nhập cùng vũ trụ thì trong Thương nhớ mười hai của Vũ
Bằng, con người đóng của là vì muốn hưởng trọn vẹn cái chiều sâu của hạnh phúc gia đình sau
khi đã tìm thấy niềm vui trong sự giao tiếp với vũ trụ, với bạn bè.
90
Trong khi ngôi nhà của quá khứ là nơi chở che, chắp cánh cho những ước mơ của con
người bay cao, bay mãi thì cái gọi là nhà ở hiện tại, trong các sáng tác của Vũ Bằng, lại thường
kéo người ta xuống, gò người ta vào trong cái khuôn của những cảm giác trống rỗng mênh
mông hoặc bức bối khó chịu. Chỉ có 2 lần tác giả dùng từ nhà để chỉ cái không gian nhỏ hẹp
của hiện tại. Lần thứ nhất là nhà xi-nê, cái nhà chung, có tính chất công cộng. Con người đến
đó là để tìm những giây phút thư giãn, thoải mái nhưng không được bởi "nhà xi-nê thì chật
hẹp" lại "được" đặt trong một khung cảnh lớn là "bốn mùa nắng chói". Nó chỉ làm cho con
người càng da diết nhớ cái "tháng ba đầm ấm ngày xưa" [5; 69-70]. Lần thứ hai là cái nhà- nơi
che nắng che mưa cho con người ở hiện tại. Cái nhà ấy, khi "mở của rộng ra (...) thấy tạt lại
một mùi gì nhạt nhẽo: có lẽ đổ là mùi chăn hôi chiếu móc" [5; 266]. Con người trong nhà đó
chán chường, mệt mỏi, cô đơn và trống rỗng: "anh không buồn đóng của lại nữa, gục đầu
xuống cởi giày nhưng để nguyên quần áo lăn ra giường và lấy nửa cái chăn đắp vào ngực cho
đỡ lạnh" [5; 266].
Nếu ngôi nhà trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du "hiện hữu giữa trần gian như cái lồng
chật hẹp tồi tàn kiềm hãm những đôi cánh ước mơ bay bổng" [102; 15] thì trái lại, ngôi nhà
ương Thương nhớ mười hai- đặc biệt là ngôi nhà của quá khứ thường tạo cho con người cảm
giác ấm áp, hạnh phúc. Có thể nói, ngôi nhà của quá khứ trong các sáng tác của Vũ Bằng chính
là trạm dừng chân để con người có thể tương thông với đất trời và đất ười, qua ngôi nhà mà
dang rộng vòng chở che, giúp con người nhân lên nhiều lần cái hạnh phúc mà họ đang có trong
tay. Đây là một nét rất riêng của văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng.
Trong các sáng tác của Vũ Bằng còn có một không gian đặc biệt nữa: Không gian văn
hóa Bắc Bộ. Nó đặc biệt vì nó là không gian tâm tưởng, không gian hoàn toàn thuộc về cõi
nhớ. Nếu ngôi nhà là không gian hẹp gắn với mỗi gia đình, với cuộc đời của những con người
có quan hệ huyết thống thì không gian văn hóa Bắc Bộ là một không gian rộng lớn, liên quan
đến nhiều cuộc đời, đến những lễ hội, lễ Tết, đến nền văn hóa ẩm thực truyền thống.
Trước hết, đó là một không gian trải dài theo mùa tháng. Là một người mà cái hồn văn
hóa Bắc Việt đã hóa thành máu chạy khắp cơ thể, hơn ai hết, Vũ Bằng rất nhạy cảm trước thiên
nhiên đất trời xứ Bắc. Ông như nghe thấy rất rõ nhịp bước của thời gian qua từng thay đổi rất
nhỏ của không khí, cảnh vật từng mùa, từng tháng. Ông đã viết về 12 tháng trong năm, đặc biệt
91
về cái lạnh, cái rét ngọt ngào, tình tứ của xứ Bắc với tất cả sự say mê. Viết về thiên nhiên xứ
Bắc, Vũ Bằng đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của thi pháp thơ Đường, của thơ ca cổ điển Việt Nam.
Không gian môi trường sinh thái Bắc Việt trong các sáng tác của Vũ Bằng thường cao rộng,
chan hòa ánh sáng. Ở đó, "con người ít bị vướng vào các quan hệ thường nhật mà luôn chan
hòa vào không gian, lẫn mình vào không gian có nhiều khoảng hư không ấy" [20; 81].
Với người Việt Nam nói chung, với người xứ Bắc nói riêng, lễ Tết' và lễ hội là cái gì đó
rất thiêng liêng và quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân cũng như đời sống của cả cộng
đồng. Những nghi lễ và phong tục trong lễ Tết "thể hiện rõ quan niệm về sự hòa đồng giữa con
người với thiên nhiên, về mối quan hệ mật thiết giữa Trời- Đấu Người, về mối quan hệ gắn bó
giữa sự vận hành của vũ trụ với sự vận hành của xã hội" [24; 175]. Trong Thương nhớ mười
hai Vũ Bằng có nhắc đến những ngày hội: hội hát trống quân trong đêm trung thu ở Vĩnh Phúc,
các đám hội làng ở các vùng đồng bằng Bắc Bộ ương tháng giêng... Ngòi bút của ông tỏ ra đặc
biệt say sưa khi nói về lễ hội của đồng bào các dân tộc vùng cao. Dưới ngòi bút của ông, các lễ
hội vùng cao được nhìn nhận, khai thác ở vẻ đẹp trẻ trung, tình tứ của nó.
Viết Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội là một cách để Vũ Bằng giãi bầy những
uẩn ức sâu kín của cõi lòng. Như thế cũng có nghĩa là ông cầm bút dưới sự điều khiển của tâm
trạng, cảm xúc hoàn toàn có tính cá nhân. Cho nên, bằng một cách tự nhiên nhất, ngòi bút của
ông giành sự ưu tiên cho lễ Tết. Dưới ngòi bút tài hoa của Vũ Bằng, không khi lễ Tết đã đọng
lại Mong từng trang văn. Đó là không khí bận rộn chuẩn bị đón Tết, là cái háo hức của trẻ thơ,
là phút thiêng liêng khi đón giao thừa với bao điều kiêng kỵ ai cũng đã thuộc lòng: "không
được quét nhà, vì sợ đuổi thần tài ra cửa, không được đánh vỡ chén bát để tránh đổ vỡ suốt
năm, không được khâu vá vì kim chỉ tượng trưng cho công việc làm ăn vất vả" [5; 307]...
Không gian lễ Tết trong các sáng tác của Vũ Bằng là không gian nhỏ nhưng ấm áp bởi lễ Tết
bao hàm trong nó bao ý nghĩa thiêng liếng. Con người Việt Nam, trong năm, có thể đi ngược
về xuôi, tất tả kiếm ăn, kiếm sống nhưng Tết đến, cách nào cũng phải tìm đường về quê. "Vì
quê ăn Tết, đối với tất cả người Việt Nam tức là trở về nguồn cội để cảm thông với ông bà tổ
tiên, với anh em họ hàng, với đồng bào thôn xóm; về quê ăn Tết tức là để tỏ cái tinh thần lạc
quan ra chung quanh mình, tỏ tình thương yêu cởi mở và biểu 'dương những tinh thần, những
kỷ niệm thắm thiết vì lâu ngày mà quên mất đi" [5; 276].
92
Là người hiểu rất rõ ý nghĩa của việc về quê ăn Tết, oái ăm thay, có đến ba mươi năm liền
Vũ Bằng không được về quê ăn Tết và cũng chẳng bao giờ được về quê ăn Tết nữa. Ông chỉ
còn biết gửi gắm nỗi nhớ về lễ Tết qua những trang văn. Nhớ về lễ Tết, với tất cả người Việt
Nam, trong đó có Vũ Bằng, là nhớ về gia đình với những người thân yêu: ông bà, cha mẹ, vợ
con..: Nỗi nhớ Tết trong Vũ Bằng luôn gắn liền với hình ảnh người vợ. Chỉ riêng trong phần
Tháng Chạp, nhớ ơi chợ Tết hình ảnh người vợ được nhắc đến 45 lần trên 36 trang sách với tất
cả sự bận rộn, lo toan của người đàn bà đảm đang, vén khéo. Như vậy, với Vũ Bằng, nhớ Tết
đồng nghĩa với nhớ về người vợ; mà nhớ về người vợ là nhớ đến gia đình với không khí đầm
ấm của nó.-Thành ra, ở Vũ Bằng, nỗi nhớ Tết và nhổ nhà đã hòa làm một. Nói về Tết một cách
tường tận, giàu cảm xúc với tất cả tính chất linh thiêng của nó; viết về người vợ như viết về
một người tình và hơn cả người tình, trong văn chương Việt Nam, hiện tương ấy không phải là
phổ biến. Đây cũng là một nét riêng trong phong cách sáng tác của Vũ Bằng.
Hướng về không gian văn hóa Bắc Việt, Vũ Bằng không chỉ hướng về thiên nhiên hòa
thuận, diễm tình giống như một mĩ nhân; hướng về những lễ hội, lễ Tết gắn với các phong tục,
tập quán cùng các trò giải trí dân gian, trò diễn dân gian mà ông còn hướng tới nền văn hóa ẩm
thực Bắc Bộ. Vũ Bằng viết say sưa, viết như làm thơ về nền văn hóa ẩm thực Bắc Việt với các
món ăn dân dã. Vũ Bằng viết hay, viết thành công về những miếng ngon Hà Nội vì nó hợp với
"khẩu cái" của ông; và sâu xa hơn, có lẽ vì nó được làm ra từ những sản vật quê hương xứ Bắc-
nơi ông sinh ra, lớn lên, gắn bó cả bốn chục năm trời; nó là những sản phẩm được làm ra từ
những đôi tay khéo léo của những "người đàn bà Bắc", của "người vợ tấm mẳn" chịu thương,
chịu khó của ông. Nhớ những món ăn dân dã, quen thuộc với những người đi xa là nhớ cả một
nếp sống đã hằn sâu troốg tim óc. Với Vũ Bằng không chỉ có thế, nhớ những miếng ngon Hà
Nội là ông nhớ đến mái ấm gia đình, nhớ đến người vợ Bắc mà ông hết lòng yêu thương và
không nguôi nhung nhớ trong những năm xa cách. Có thể nói, trong nỗi nhớ của Vũ Bằng, tình
yêu quê hương đất nước, yêu con cá lá rau của quê nhà đã hòa trong tình yếu gia đình, vợ con.
Đây cũng là dấu ấn Á Đông trong tâm thức Vũ Bằng.
Trong các tác phẩm văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng còn xuất hiện một không gian khác:
không gian mồ mả, bãi tha ma. Đây là loại không gian dành cho người chết. Trong truyện ngắn
Đất khách, hình tượng không gian này lặp lại đến 14 lần như một dự cảm, một nỗi ám ảnh về
một tương lai không mấy sáng sủa dành cho những người hồi cư. ở truyện Người làm mả vợ,
93
ngôi mộ là biểu tượng của một dự định tốt đẹp: "chuộc lại điều lầm lỗi đã làm" [20; 378].
Nhưng thực tế có nhiều khúc quanh đến không ngờ, ngôi mộ mãi mãi không được xây. Điều đó
cũng có nghĩa là cái dự định tốt đẹp kia đã bị phá vỡ từ trong trứng nước bởi không gian văn
hóa ở các đô thị miền Nam trước 1975 không phải là những mái che ấm áp. Nếu không gây cho
người ta cái cảm giác khó chịu vì ngột ngạt, bức bối hay cái cảm giác cô đơn, lạc lõng thì nó
cũng không đủ sức nâng đỡ, vực con người đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Xét một cách toàn
diện, loại không gian này xuất hiện không nhiều, chứng tỏ cảm hứng chủ đạo chi phối các sáng
tác của Vũ Bằng về cơ bản không phải là cảm hứng bi quan yếm thế.
Nhìn chung, không gian nghệ thuật trong các sáng tác văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng,
dù ở bình diện khoáng đạt rộng lớn hay trong khuôn khổ hạn hẹp, thường là không gian có tác
dụng chở che, nâng đỡ cho con người. Sự đối lập về không gian ở hai thì hiện tại và quá khứ có
tác dụng làm nổi bật tình trạng đáng thương, đáng cảm thông của con người ở thời hiện tại.
Đắm chìm trong kiếp sống biệt li với những nhớ thương sầu muộn ở thời hiện tại, như một lẽ
tất nhiên, con người sẽ đau đáu dõi về một miền cao rộng mênh mông mà ấm áp tình người,
tình đời trong quá khứ. Hướng về không gian trong quá khứ là hướng về cội nguồn, về những
truyền thống tốt đẹp mà tổ tiên ông bà để lại cho chúng ta. Đặc sắc có tính nhân văn trong các
sáng tác của Vũ Bằng một phần thể hiện ở đó.
Quan sát thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật ữong các sáng tác của Vũ Bằng
người ta có thể hiểu ý đồ sáng tạo và quan niệm của tác giả về cuộc đời, về con người. Thời
gian nghệ thuật và khổng gian nghệ thuật không chỉ có tác dụng làm nền cho tác phẩm mà nó
vừa mang tính nghệ thuật, vừa mang tính nội dung, biểu đạt chủ đề tư tưởng của tác phẩm, thể
hiện cái nhìn, cảm hứng của nhà văn. Thời gian và không gian nghệ thuật trong các sáng tác
của Vũ Bằng luôn ở trong thế đối sánh, đan xen. Vũ Bằng thường sử dụng phương pháp "đòn
bẩy", dùng cái này để nói cái kia. Chính xác hơn, ông thường xuất phát từ cái này, từ hiện tại,
từ nơi này- Sài Gòn, ở đây, ở miền Nam để bật sang cái kia, để trở về với quá khứ, trở về với
Hà Nội, với đất Bắc, Bắc Việt thân yêu. Cán cân tình cảm của ông luôn nghiêng về quá khứ, về
những gì thuộc đất Bắc. Dưới ánh sáng huyền ảo của niềm hoài niệm, mọi cái thuộc về quá khứ
bao giờ cũng tròn trịa, đáng yêu và quên rũ. Đằng sau cái vẻ đẹp hoàn hảo của thời gian và
không gian là một trái tim luôn nhức nhối vì nhớ thương, tín tưởng, hi vọng xen lẫn với khổ
đau, sầu muộn vì tuyệt vọng, lo lắng. Vũ Bằng là người rất có ý thức trong sử dụng ngôn ngữ
94
và giọng điệu để thể hiện ý đồ sáng tác và quan niệm nghệ thuật của mình về con người và
cuộc đời.
95
CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG DIỆU "TRONG VĂN XUÔI
NGHỆ THUẬT CỦA VŨ BẰNG
Văn xuôi nghệ thuật là sự đan xen, hòa kết giữa hiện thực cuộc sống và tấm lòng nhà văn.
Văn xuôi nghệ thuật có khuynh hướng tự sự phi cốt truyện để tìm vào nội tâm, tìm vào cảm
giác. Trong văn xuôi nghệ thuật, tư thế của nhà văn là tư thế của một chủ thể sáng tạo giàu cá
tính, mang màu sắc chủ quan rõ rệt.
Ở các sáng tác văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng cũng vậy, người ta thấy ít "truyện", ít
"hành động" trong khi đó nó lại rất giàu không khí tâm trạng và luôn thấm đẫm màu sắc trữ
tình. Bàng bạc, man mác trong từng câu, từng dòng, từng tác phẩm của ông luôn là một nỗi
niềm thương nhớ không nguôi, một khao khát, ưóc nguyện chân thành khó có thể thực hiện
được trong hoàn cảnh cụ thể lúc ấy. Lời văn nghệ thuật trong các tác phẩm của ông vì vậy, có
một vẻ đẹp riêng với một sức hấp dẫn riêng khá độc đáo. vẻ đẹp đó đã làm nên phong cách
ngôn ngữ của riêng của ông: giọng thủ thỉ tâm tình, tự nhiên và gần gũi; dồi dào cảm giác và
giàu nhạc tính, nhạc điệu.
3.1. Một giọng văn thủ thỉ tâm tình:
Giọng điệu là một trong những yếu tố nghệ thuật có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên
phong cách của nhà văn. Nhà văn có tài là nhà văn có giọng điệu riêng, không lẫn với ai. Nam
Cao với một loạt các tác phẩm viết về người trí thức nghèo, người nông dân nghèo đã tạo cho
mình một giọng điệu riêng. Đó là sự tổng hòa của những cực đối nghịch: bi và hài, trữ tình và
triết lý, cụ thể và khái quát. Khi sáng tác, Nam Cao thường đứng từ bên trong những cuộc đời,
những số phận con người để luận bàn, phán xét về xã hội, về cuộc đời. Vì thế giọng văn của
Nam Cao khi rền rĩ, ai oán; lúc chì chiết, nghẹn ngào, thống thiết đầy kịch tính. Tiếp xúc với
các nhân vật của Nam Cao, người ta có cảm tưởng như sờ vào những con người thực của cuộc
đời bởi nó không chỉ có da, có thịt, mà mỗi nhân vật vẫn còn vẹn nguyên những vị đắng của
cuộc đời.
Còn Vũ Bằng, ông không chỉ đúng từ bên trong những cuộc đời, những số phận để xem
xét, luận bàn như Nam Cao mà ông còn từ cái "tôi" nội cảm của mình mà bộc bạch, giãi bày.
96
Cái "tôi" nội cảm ở Vũ Bằng do hoàn cảnh riêng nên có nhiều khác biệt so với cái "tôi" thường
thấy trong văn học hiện đại. Vì thế, giọng điệu trong các sáng tác của Vũ Bằng, vừa quen lại
vừa lạ, khá độc đáo.
3.1.1. Trước hết, câu văn trong các tác phẩm của Vũ Bằng khá tợ nhiên, gần gũi, thân
mật, ít trau chuốt. Ông thường chọn lối đi thẳng, đi trực tiếp vào câu chuyện, vào tâm trạng
nhân vật. Chẳng hạn, trong truyện ở đây bán sách cũ ông mở đầu thế này:
"Cứ đằng thẳng ra, ông cụ cố thể sống như thế mà không cần phải dở cái hòm kia ra làm
gì. Nhà chỉ vẻn vẹn có hai ông cháu..." [20; 257].
Đoạn văn làm chúng ta có cảm tưởng ông đang nói chuyện với mình về một người thứ ba
nào đó mà chúng ta mới biết sơ sơ hoặc gặp ở đâu đó rồi. Khoảng cách giữa người kể chuyện
với người nghe chuyện, đọc chuyện vì thế được rút ngắn đến mức li tưởng.
Còn trong truyện Bữa Cỗ, Vũ Bằng lại mở đầu bằng lời độc thoại nội tâm: "Mặc chứ! Ở
nhà buồn bỏ mẹ, lại không cổ cái gì ăn. Người ta giàu, ăn cỗ trồng trăng vui vẻ, mình nịnh họ
vài câu, họ gọi mình cho chén, lại "đét xe " bánh dẻo, bánh nướng, tội cóc gì không chén... [20-
321].
Nhân vật nói với mình nhưng thực ra là nói với độc giả, hướng tới độc giả. Vì thế, trong
người đọc, cảm giác đang đọc truyện được thay thế bằng cảm giác đang nói chuyện với một
người bằng xương, bằng thịt hẳn hoi. Có lẽ chẳng còn gì gần gũi, thân thiết bằng.
Ở các tác phẩm: Đất khách, Tiếp theo và hết truyện Lưu Bình- Dương Lễ, Thương nhớ
mười hai ta cũng bắt gặp những kiểu dẫn chuyện giản dị như vậy. Nói thế không có nghĩa là Vũ
Bằng chỉ có một lối mòn duy nhất để dẫn người đọc vào tác phẩm. Là người đọc nhiều, biết
nhiều, Vũ Bằng đã tích lũy được nhiều kiến thức, nhiều kinh nghiệm từ những người đi trước
và vận dụng khá thuần thục trong những trường hợp cần thiết. Đọc các sáng tác của Vũ Bằng,
có lúc ta còn bắt gặp lối kể chuyện mào đầu kiểu Thạch Lam. Chúng ta thử quan sát hai phần
mở đầu truyện sau:
- "Cuộc đời có nhiều cái chế riễu đắng cay và đau đớn làm cho chúng ta đột nhiên hiểu
cái ý nghĩa chua xót và sâu xa. Tôi sẽ kể câu chuyện dưới đây làm chứng cho sự ấy" [58; 114].
97
-"Hầu hết chúng ta đều có thành kiến là những người làm lớn đều tinh khôn, mưu mẹo và
biết đối phó một ách hợp tình hợp lý mỗi khi cần. Vì quan niệm như thế, người ta cho rằng
những ông làm to đều là những người thông thạo, thào vát, ma lanh. Sự thực nhiều khi trái
ngược hẳn thế.
Có người bảo rằng một số lớn các ông "làm nên" được chính là vì "quỷnh", bởi vì nếu
người ta chọn người làm việc mà lại khôn ngoan tài giỏi thì nó bướng bỉnh, lì lợm, không chịu
nghe lời cấp trên bảo nhỏ. Trái lại chọn lựa những anh ma bùn, cả quỳnh, nó biết thân nó dốt,
nó ngu thì nhất nhất nó nghe theo lời chỉ bảo và thi hành nhiệm vụ một cách triệt để trung
thành. Như thế tốt hơn và đỡ gây hậu họa.
Tôi quen biết một ông trong bọn đó..." [20; 393].
Cả hai mở chuyện bằng những câu chữ khá mộc mạc, đời thường. Có cảm tưởng như cả
hai ông nghĩ như thế nào, nói thế ấy, không phải cân nhắc, lựa chọn nhiều. Từ hai ví dụ trên và
từ việc đọc những tác phẩm khác nữa của Thạch Lam và Vũ Bằng như: Một cơn giận; Sợi tóc;
Người đầm; Người lính cũ...(Thạch Lam) Truyện của một người cũng biết cười; Ăn tết thủy
tiên; Một chục bạc, một trận đòn, một kiếp người (Vũ Bằng) người ta thấy dấu ấn phong cách
của mỗi nhà văn in khá đậm ngay từ những phần mở truyện gần giống nhau ấy: Văn của Thạch
Lam thường gọn, cô đọng; văn của Vũ Bằng cụ thể, chi tiết, nghiêng về giảng giải nhiều.
3.1.2. Trong các sáng tác của Vũ Bằng có nhiều câu văn ít làm duyên, làm dáng, nó
thường có vẻ nôm na do sử dụng rất nhiều ngôn ngữ đời thường:Đây là ít câu trích trong
truyện ngắn Tiếp theo và hết truyện Lưu Bình- Dương Lễ:
"Lặn ngòi noi nước về được đến Hà Nam, chàng đã chạy đi đủ các nơi có thẩm quyền để
vận động cho Lưu Bình" [20; 287]
"Vả chăng, ở cái thời buổi bi ba bi bét này, ai lại dại mà ngồi ở nhà tiếp chuyện một ông
bạn ở hậu phương ra- mà ông bạn hậu phương ấy mình lại thừa biết thuộc thành phần nào,
trong kháng chiến ( ...) Lớ vớ có người nào trông thấy mà đi trình báo với Tây thì liệu có
còn sống mà ăn sắn hay không?" [20; 291].
Còn đây là ít câu trích trong tác phẩm văn xuôi trữ tình dài hơi Thương nhớ mười hai:
98
"Nắng như điên, thế mà anh lại lên cơn yêu Sài Gòn muốn đi nhởn nha ngắm cảnh thì
phải ước đoán, lúc về, nếu không thành lợn quay ít ra anh cũng "trúng", phải cạo gió rồi uống
Càn khôn tán, Càn cơ tán vài phong là xoàng" [2; 74]
"Gớm thay là cái xứ Bắc Việt mền thương, không giàu bằng ai, không sang bằng ai mà
sao lại sản xuất được cái cà, cái dưa, cái tương, cái mắm ngon "quỉ khóc thần sầu" đến thế[20;
95]...
Chúng ta hãy quan sát thêm ít đoạn văn khác trong một số sáng tác của Tô Hoài trước
1945 :
“Con gái không có mẹ là chứa đoảng” [45; 33].
và :
- "Con gái bây giờ đoảng cả" [43; 123].
Hay :
"Ngoài hiên suốt dọc, các bác đến làm giúp lúc này bây giờ ăn đỡ. Ngoài sân một dãy dài
những đàn bà và trẻ bé. Có mụ ngồi xem xệp, đứa con ngủ lắc lư trong lòng mà cũng và lấy và
đề- Đàn bà, trẻ con cả xóm kéo đến, ăn như trống đánh" [45; 88].
Đối chiếu những đoạn văn trên của hai tác giả chúng ta nhận thấy: khi sáng tác, cả hai đều
sử dụng nhiều vốn ngôn ngữ trong lời ăn tiếng nói hàng ngày ỉ của nhân dân. Cũng là sử dụng
vốn ngôn ngữ trong lời ăn tiếng nói của nhân dân nhưng Tô Hoài có xu hướng sử dụng những
ngôn ngữ có tính địa phương trong phạm vi hẹp, ông hay sử dụng những yếu tố khẩu ngữ đặc
trưng của một vùng quê: vùng Nghĩa Đô quê ông. Từ đoảng trong tiếng phổ thông được dùng
với nghĩa là "vụng về, không khéo léo" hay "hão huyền, không nên việc". Trong những ví dụ
trên, Tô Hoài lại dùng với nghĩa gần giống như là "hư hỏng". Còn "ăn như trống đánh" là một
thành ngữ riêng mà người Nghĩa Đô quen dùng để chỉ việc ăn nhanh, ăn vội vàng.
Trong khi đó, Vũ Bằng có xu hướng sử dụng những ngôn ngữ có tính địa phương trong
phạm vi rộng- những phương ngữ Bắc Bộ. Điều này ít nhiều cũng khiến độc giả cảm thấy văn
chương Vũ Bằng gần gũi hơn.
99
Ngoài ra, khi tả hay kể, Vũ Bằng thường không hề dấu giếm những nhận xét hay cảm xúc
của mình. Trong các sáng tác của Vũ Bằng, đặc biệt trong Thương nhớ mười hai và Miếng
ngon Hà Nội, ta còn hay bắt gặp những từ và nhóm từ yêu quá, thương quá, nhớ quá, ngon đáo
để, vui đáo đề, sướng quá, sướng không chịu nổi, ngon lạ, ngon lùng, trông mà lộn ruột, ăn
cũng ác lắm..Ví dụ như:
"Trông mà lộn ruột muốn tát cho một cái" [8; 63].
Hay:
"Rõ ràng là mình đương buồn muốn chết, người cứ ủ rũ ra, mà "làm một bữa" vào, chỉ
giây lát là "nó sướng tỉnh cả người ra", "không chịu được" [8; 168]...
Cách phát biểu trực tiếp những suy nghĩ, cảm xúc này dễ khiến ta có suy nghĩ văn chương
của Vũ Bằng không thể nôm na, giản dị hơn được nữa. Vì vậy, nó cũng không thể chân thật
hơn được nữa. Có thể nói, việc sử dụng ngôn ngữ đời thường của phương ngôn Bắc bộ đã tạo
nên tính hiện thực sinh động cho tác phẩm Vũ Bằng. Ở những ví dụ trên những từ ngữ, những
thành ngữ như: lặn ngòi noi nước, bi ba bi bét, ai lại dại, lớ vớ, sống mà ăn sẳn, nắng như
điên, đi nhởn nha, thành lợn quay, gớm thay, cái dưa, cái cà, cái tương, cái mắm, ngon "quỷ
khóc thần sầu"... đích thị là thứ ngôn ngữ tầng lớp bình dân Bắc Bộ. sử dụng thành thạo lớp từ
ngữ này trong các tác phẩm văn chương là một nét phong cách của Vũ Bằng. ở điểm này, Vũ
Bằng gần với Tô Hoài mặc dù về mặt đề tài, mỗi người có một sở trường khác nhau.
Đọc các sáng tác của Vũ Bằng, ta có cảm tưởng ông là một người hay chuyện, không gặp
người quen thì thôi, đã gặp thì hết chuyện này đến chuyện kia, miên man, khó lòng dứt ra được.
Điều này đã ảnh hưởng rất nhiều đến kết cấu của các sáng tác Vũ Bằng, đặc biệt là các sáng tác
dài hơi kiểu như Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam... Đó là kiểu
kết cấu tâm trạng; kiểu kết cấu này "không chấp nhận hình thức tuyến tính thời gian của nội
dung miêu tả”[20; 79] mà nó phụ thuộc vào cảm xúc, tâm trạng của người viết. Trong Tháng tư
mơ đi tắm suối Mường ông bắt đầu bằng cảm giác khó chịu vì cái "nắng như điên" của Sài Gòn
tháng tư. Từ cái nắng miền Nam, ông nghĩ đến bệnh tê thấp, đến ười nóng tháng tư của đất
Bắc. Rồi ông nhớ lại "những ngày tay chống gậy, vai mang ba lô, anh lang thang trên các nẻo
đường đất nước để sổng cái đời lí tưởng" [5; 78]. Ngòi bút của ông dừng lại ở cái kỷ niệm
"ngày nào mình cũng đi tắm suối ở xứ Mường" [5; 78] và giảng giải ý nghĩa của nó: "Tắm như
100
thế không phải là tắm cho cái thân thể tục tằn này mà tắm luôn cho cả đôi mắt, tắm nốt cả cái
tâm hồn phiền toái của mình vì vừa tắm, vừa ba lơn, vừa trò chuyện, mình mới thấy cô gái
Mường đáng yêu biết nhường nào, chân thực biết nhường nào" [5; 79-80]. Đến đây mới hết
7/27 chương sách. Từ đây, Vũ Bằng lại dẫn chúng ta dong đuổi ngược về quá khứ, đến với bài
thơ Đêm mùa hạ của Nguyễn Khuyến; trở lại cái thuở tác giả "còn là đứa trẻ lên năm lên sáu,
đi ra ven hồ, tìm đến các bãi cỏ, dưới các gốc cây để đái vào những cái lỗ con con bắt dế" [5;
84]. Ông miên man nhớ về tiếng ve, nghĩ về "cái kiếp ve ve nghệ sĩ" [5; 86] và ông nhớ ra rằng
"cũng và cữ này đây, ở Bắc Việt bắt đầu có vải" [5; 86],-"Nhớ cũng vào một mùa vải như thế
này, hai vợ chồng rảnh cùng đi về Vụ Bản thuê một căn nhà rơm để nghỉ mát...'" [5; 91-92]. Từ
mùa vải, Vũ Bằng nhớ đến tiếng chim tu hú, nhớ đến chén cơm mùa hè ăn với cà rồi ông tiếp
tục cắt nghĩa: "nhớ đến quả cà Nghệ hay là miếng cà bát dầm tương ăn đúng vào lúc hè, có
phải đâu là chỉ là nhớ cà mà thôi, mà chính nhớ đến người vợ tao khang..." [5; 96]. Cứ thế,
theo mạch cảm xúc, ông nói với chúng ta về nỗi nhớ chén chè đậu, chè bà cốt, chè lam của đất
Bắc để rồi kết thúc bằng câu chuyện về người vợ "khéo đón ý chồng nấu đôi chén chè để hai vợ
chồng cùng thưởng thức trong bầu không khí lắng đọng của ban đêm có tiếng ve kêu lẫn với lời
oán trách của con tất xuất" [5; l01].
Ở các chương Tháng Ba, rét nàng Bân; Tháng Năm, nhớ nhót, mận, rượu nếp và lá
móng... (Thương nhớ mười hai) hay Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam ta cũng luôn tìm
thấy kiểu kết cấu tâm ữạng như vậy. Bình thường, kiểu kết cấu này nếu lặp đi lặp lại dễ làm
độc giả "mỏi chân", khó có thể đọc một hơi cho hết tác phẩm. Các sáng tác của Vũ Bằng thì
không thế. Điều đó có nhiều lí do. Trước hết, kết cấu trong từng sáng tác, từng phần (chương)
sách của Vũ Bằng khá chặt chẽ. Trong một phần (chương) ông có thể nói nhiều chuyện nhưng
tất cả các chuyện đều tập trung hướng vào chủ đề chính. Chẳng hạn, trong ví dụ trên, rõ ràng là
ông nói nhiều chuyện nhưng tất cả những chuyện ấy đều là những chuyện của tháng tư, thuộc
về tháng tư, có thể là tháng tư ở quá khứ hay trong hiện tại. ở các chương sách khác, tình hình
diễn ra cũng tương tự như vậy.
Lí do thứ hai, có lẽ là vì Vũ Bằng, mặc dù là người có vẻ ưa dông dài nhưng về cơ bản,
ông là người "nói chuyện" rất có duyên. Ông đã chọn được một lối nói dễ đi vào lòng người:
lối nói kiểu tâm sự, tâm tình. Đọc các sáng tác của Vũ Bằng ta có cảm tưởng đang nghe ông nói
101
chuyện. Có thể là ông nói chuyện với một nhân vật tưởng tượng nào đó. Truyện có một người
cũng biết cười là một tác phẩm có tính chất tự truyện. Đây là đoạn mở đầu của nó:
"Ông Lê Văn Sĩ về đây ngày đầu tháng đã gặp tôi và cho biết đến thượng tuần tháng
mười, bà sẽ qua chơi Bắc Việt.
Tôi làm thể nào để tả được nỗi vui sướng khỉ được tin người ban cũ vẫn khang trang vui
vẻ như xưa- nhất là lại biết rằng bà vẫn còn nhớ đến tôi và lại mong muốn cho tôi cái hân hạnh
được một phần nhỏ mọn vào cái tác phẩm của bà đương soạn cho ra đời" [20; 310].
Ở đoạn trích trên và ở cả tác phẩm, nhân vật chính đã xiừig tôi và gọi người đối diện
là bà, người bạn cũ.
Trong Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam ông cũng xưng tôi
và gọi người nói chuyện tưởng tượng là anh, ông, bà, cô Năm, cô Bảy ...Ví như:
"Cô Năm đã ra thăm ngoài Bắc lần nào chưa nhỉ? (...) Bánh đây là bánh tôm. Nhưng kì
lắm cô Năm à- nói cô đừng buồn, chớ quả thực là tôi thấy cái bánh tôm chiên bán ở tiệm, ở
quán, ở chợ trong mười một quận đô thành nó vẫn thế nào, chớ không như cái bánh tôm ở
đường Cổ Ngư Hà Nội" [5; 106]: Hay:
"Đậu mềm, tương dịu ngọt, bánh đúc mỡ màng, cầm tay mà ăn vào một buổi trưa hè
thanh nhã, xa xa có tiếng ve kêu rền rền- không tôi đoán chắc với ông rằng: ta có thể ăn thế
mãi mà không biết chán" [8; 91].
Cũng có khi ông xưng tôi nhưng không gọi tên người đối diện tưởng tượng khiến người
đọc có cảm tưởng ông đang nói chuyện với mình, rằng mình đang được tham dự trực tiếp vào
câu chuyện của ông. Chẳng hạn như:
"Tôi đố ai tìm được một thứ sản phẩm gì của đất nước mà biểu dương được tinh thần của
những cuộc nhân duyên giữa trai gái như hồng và cốm!" [8; 106]. Có trường hợp ông xưng
anh, người chồng và gọi người đối diện là em, là Quì:
"Quì ơi, bây giờ em ở đâu? Tại cái xứ có nhiều loại kèn xe hơi cực kì tối tân này, em có
biết rằng người chồng thỉnh thoảng trông ra nắng tháng tư lại nhớ đến một buổi trưa tiền kiếp,
chúng ta đang dựa gốc cây thiêm thiếp, sực nghe thấy con chim tu hú, đều mở cả mắt ra để
cùng tìm xem con chim tu hú ở đâu mà kêu to như thể ở chính bên tai ta vậy?" [5; 92].
102
Những lúc như vậy, người đọc hiểu Vũ Bằng đang đắm chìm trong nỗi nhớ, đang bay
bổng trong cõi mơ. Người đọc thấy thương hơn, tội nghiệp hơn-cho con người đang nói chuyện
với mình. Sợi dây tình cảm giữa tác giả- người kể-chuyện với độc giả vì thế, thêm một lần nữa
được thắt chặt.
Nhiều lúc Vũ Bằng không hề xưng danh nhưng người đọc vẫn thấy'rất rõ cái "tôi" của
người kể chuyện đang lấp ló đâu đây. Con người chu đáo ấy đang giảng giải, đang khuyên nhủ,
động viên mọi người. Đây là một đoạn trích trong Món lạ miền Nam:
"Làm lươn phải tuốt bằng tro, và mổ ruột bằng dao tre, không đụng đến nước lạnh thì ăn
vào không lo đau bụng; làm vịt thì phải bỏ hai cục hôi đi, thịt nó mới thơm; thì làm dơi, bỏ mấy
cục xạ bằng đầu ngón tay út của trẻ con đi, ta có thể chắc chắn là không còn hôi hám mảy may
gì nữa. Lột da, bỏ ruột, rồi chặt ra từng miếng ướp muối, hành, tiêu, sả, anh đưa cái tô lên mà
ngửi sẽ thấy thơm mát như thịt gà giò" [8; 682- 683].
Nổi bật trong các sáng tác văn xuôi nghệ thuật dài hơi của Vũ Bằng là việc ông sử dụng
khá linh hoạt từ anh. Trong tiếng Việt, anh vốn là một danh từ dùng để chỉ "người con trai
cùng một thế hệ trong gia đình, trong họ nhưng thuộc hàng trên". Nó cũng được dùng thay thế
cho đại từ ở ngôi thứ nhất (thay cho tôi, tao): ngôi thứ hai (thay cho mày). Khi anh được dùng
thay thế cho đại từ ở ngôi thứ nhất và thứ hai số ít, nó thường gợi cảm giác thân mật, gần gũi. ở
các sáng tác của Vũ Bằng, từ anh ít khi được dùng như một danh từ. Nó thường xuất hiện với
tư cách là một đại từ. Khi Vũ Bằng hướng nội, ông dùng anh như một đại từ ở ngôi thứ nhất.
Trong Thương nhớ mười hai, cách dùng này lặp lại 83 lần, chủ yếu ở những lời độc thoại nội
tâm, khi suy nghĩ, tình cảm của Vũ Bằng hướng về những kỉ niệm đẹp của ông với "người vợ
tấm mẳn" mà ông hết lòng yêu thương. Ví như:
"Anh nhớ... hình như đã có một thời kì, anh cũng say như thế. À, phải rồi, đó là lúc hai vợ
chồng mới gặp nhau, mới yêu nhau, cùng ngồi trên một bãi cỏ ven hổ Bảy Mẫu thả chân xuống
nước và cùng ngây ngất vì hương gió ngát mùi sen thơm dội về ban đêm" [5; 127].
Ở Miếng ngon Hà Nội, Vũ Bằng cũng có khi dùng anh như một đại từ ở ngôi thứ nhất
nhưng không thường xuyên so với Thương nhớ mười hai (Phụ lục 3). Dưới đây là một ví dụ:
103
"Một buổi chiều mùa đông, hoa rét trở về với mưa xanh, gió thu, anh bước vào nhà, tự
nhiên thấy ngào ngạt một mùi thơm..." [8; 203].
Đến Món lạ miền Nam, phần lớn từ anh này được thay thế bằng từ tôi trung tính. Vì thế,
so với Thương nhớ mười hai thì Món lạ miền Nam ít mượt mà, mềm mại hơn. Ngay từ phần
Dựng đã xuất hiện một loạt chữ tôi:
"Tôi bỏ nhà đi lang bạt từ lúc mười bảy tuổi. Đến Sài Gòn dạo đó, tôi ăn nem Thủ Đức,
thưởng thức phá lẩu Lồ Ô, ăn tóp mỡ nhiễm đường ở Sa Đéc, nếm suông ở Cây Mai, thịt bò
bảy món Bà Hom, mì Cột Đèn Năm ngọn.
Rồi đến kì này, trở lại quê ngoại mến thương, tôi đã thưởng thức nhiều món hơn (...) Mãi
đến gần đây, tôi mới nhận ra rằng hương vị của những miếng ngon không hoàn toàn do nơi
khẩu cái...'' [8; 597-598].
Đến khi nói về từng miếng ăn cụ thể của miền Nam, Vũ Bằng xưng tôi nhiều hơn:
"Tôi vốn không phải là người ưa cá. Đến tận lúc lớn lên, tôi tập mãi mới biết ăn chả cá;
ngoài ra cá kho, cá rán, cá chưng hay canh cá nấu với rau cải bỏ mấy lát gừng, tôi ăn không
chịu, chỉ bời lẽ có thành kiên cá tanh, nhất là cá mặn, cá mắm thì tôi sợ quá.
Vậy mà một hôm kia, tôi đã liều ăn khô" [8; 659].
Thường thì Vũ Bằng dùng anh với tư cách đại từ chỉ ngôi thứ hai số ít, khi ấy, ta có cảm
tưởng Vũ Bằng đang nói chuyện riêng với ta, chỉ với riêng ta thôi, rất thân mật, gần gũi. Đây là
một đoạn ông nói về thời tiết tháng tư của đất Bắc:
"Anh có thể dạo như thế chừng nửa tiếng đồng hồ rồi mới về tắm rửa và làm công
chuyện. Đời ngọt ngào trầm lặng và thong thả. Chừng chín mười giờ, nắng hoe lên, trời bắt
đầu nong nóng, nhưng đời sống trầm lặng không làm anh đổ mồ hôi sôi nước mắt. Vừa làm
việc, anh vẫn có thì giờ pha một ấm trà tầu nhấp giọng cho đỡ khát nước cả ngày. Anh có thì
giờ trò chuyện tâm tình với các bạn quen và nếu mệt, tôi mời anh làm như tôi khi còn nhỏ, bắc
một cái chõng tre, tìm một chỗ mát nhất trong nhà, ngửa mặt nhìn lên trời xem mây bay, ăn củ
khoai lang vàng đầy nhựa rồi thiu thiu ngủ lúc nào không biết" [8; 83].
Và, mỗi khi khám phá ra một Món lạ miền Nam, Vũ Bằng lại muốn san sẻ cùng bạn đọc.
Ông không chỉ giới thiệu với độc giả hương vị của ''món lạ" đó mà còn bằng sự hiểu biết của
104
mình, nói với người đọc cách làm ra món đó nữa. Ông cũng chẳng hề giấu điếm sự khâm phục
của mình đối với những người đã góp phần làm nên các Món lạ miền Nam:
"Anh ơi, anh ơi, muốn nói cách mấy đi nữa, anh cũng không thể nào quan niệm được cái
tài săn chuột của người nhà quê với tất cả sự thâm hiểu về đặc tính vật lí, về tập quán và bản
năng phản ứng của họ về loài chuột”[8; 632].
Ngày xưa, khi sáng tác Truyện Kiều, Nguyễn Du đã tỏ rõ bản lĩnh của một tài năng bậc
thầy trong sử dụng ngôn từ. Ai đã từng đọc Truyện Kiều, hẳn không thể quên được hai câu thơ
tả tâm trạng Thúy Kiều sau khi tiếp các khách làng chơi ở lầu xanh của Tú Bà:
"Khi tỉnh rượu, lức tàn canh
Giật mình, mình lại thương mình xót xa."
Sau này, trong bài thơ dài Việt Bắc, Tố Hữu đã kế thừa thành quả ấy và vận dụng khá
sáng tạo để tạo ra một tứ thơ mới:
"Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu."
Nếu cái mình ở câu Kiều trên là cái mình cô đơn, cô độc đến trơ trọi giữa-mênh mông ười
đất, thì cái mình trong Việt Bắc ở ví dụ trên là cái mình nồng nàn, đầm ấm, có nhau. Mỗi cái là
sản phẩm của một thời đại khác nhau nên có cái hay riêng, cái giá trị riêng của nó.
Đến Vũ Bằng, tài năng của ông phần nào thể hiện ở việc sử dụng một cách linh hoạt, khéo
léo từ anh. Ông không chỉ dùng từ anh trong tư cách là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và ngôi
thứ hai số ít. Trong nhiều trường hợp, độ nhòe, sự thâm nhập giữa chủ thể kể ở các ngôi có sự
hòa trộn, hòa nhập. Hiện tượng này gần như không thấy xuất hiện ở những nhà văn có cùng
kiểu sáng tác với Vũ Bằng như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh. Ta hãy quan sát ví dụ sau:
"Gặp một buổi chiều rảnh rỗi, ngồi ở của sổ trông ra trời nước mênh mông, mà lòng lại
rầu rầu một tí, sầu sầu một tí vì nhớ đến người yêu bạt ngàn mây khói, anh nâng một li rượu
“độc ẩm” nhắm một miếng khô lăng- trình nướng vừa chín tới, anh sẽ cảm thấy như mình đã
trả thù được đời. Anh nhai khô, cho rượu và khô "liên hiệp " lại với nhau, "hòa đồng " với
105
nhau, tạo thành một vị the the, ngọt ngọt, anh sẽ thấy thế là ... hết, ở đời không còn gì đáng kể
nữa, "đời đã hại mình thì mình vui với rượu và khô: đỡ quá!" [8; 645-646]
Ở ví dụ trên, trước hết, chúng ta gặp một anh ở ngôi thứ hai số ít, anh này đang nghe Vũ
Bằng nói về món khô miền Nam. Đồng thời, một anh nữa ở ngôi thứ nhất số ít cũng xuất hiện
bởi cái ý nghĩ trả thù đời bằng rượu và khô vì "đời đã hại mình" chắc chắn, có một lúc nào đó
đã là ý nghĩ của Vũ Bằng. Từ ví dụ trên và rất nhiều ví dụ khác ở rải rác trong ba tác phẩm dài
hơi: Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam, có thể khẳng định: Trong
các sáng tác của Vũ Bằng, nhiều lúc cái "tôi" chủ thể đã hòa vào cái "tôi" nhân vật; cái "tôi" ấy
lại được gọi bằng anh, xưng anh nên giá trị biểu cảm của nó càng cao hơn. Cũng từ các sáng
tác của Vũ Bằng, chúng ta cũng nhận thấy rằng: cái "tôi" chủ thể thường bắt đầu bằng việc
hướng ngoại, hướng ra thiên nhiên, vạn vật để phô diễn, giảng giải. Cuối cùng, bằng cách này
hay cách khác, cái "tôi" chủ thể cũng trở về với chính những suy nghĩ, tình cảm thực của lòng
mình, giống như Thúy Kiều, sau khi bán mình, nghĩ đến lời thề cùng Kim Trọng, đã cậy nhờ
em, tâm sự với em rồi tâm sự cùng chàng Kim trong tưởng tượng. Càng nói, Kiều càng thấy
thương mình hơn, đau cho mình hơn. Miêu tả thành công nỗi đau khổ thống thiết của nàng
Kiều một cách sâu sắc và tinh tế, Nguyễn Du đã để lại một đoạn độc thoại nội tâm vào loại
"độc nhất vô nhị" trong vặn học thế giới.
Trở lại với Vũ Bằng, cái cách sử dụng linh hoạt từ anh trong tư cách là đại từ ở hai ngôi
thứ nhất và thứ hai số ít đã tạo cho văn ông một khuôn mặt riêng, một giọng riêng rất khó lẫn:
giọng thủ thỉ tâm tình thật gần gũi, bình dị.
Ở trên, chúng ta đã nói, trong các sáng tác của Vũ Bằng có những câu văn ít làm duyên
làm dáng. Cùng với những câu văn nôm na, bình dị ấy là việc sử dụng linh hoạt các đại từ nhân
xưng. Đặc biệt, việc sử dụng đại từ anh trong thế đan xen, hòa hợp giữa ngôi thứ nhất và ngôi
thứ hai số ít đã tạo cho giọng văn Vũ Bằng một vẻ phong tình khá độc đáo. Chẳng những thế,
nói đến văn Vũ Bằng, người ta còn nói đến những câu văn giàu sức biểu cảm, những câu văn
dồi dào cảm giác.
106
3.2. Những câu văn dồi dào cảm giác.
Vũ Bằng là người sống thiên về trực cảm, nghĩ và viết bằng trực cảm nên, bằng sức biểu
hiện của ngôn từ, những trang viết, câu văn của ông thường dồi dào cảm giác. Ở điểm này, Vũ
Bằng có sự gặp gỡ với Thạch Lam tuy cách biểu hiện cụ thể của mỗi người mỗi khác.
Nếu đa số các truyện ngắn của Thạch Lam được bắt đầu hay xoay quanh một cảm giác,
cảm tưởng nào đó (Đứa con đầu lòng, Một cơn giận, Đói, Dưới bóng hoàng lan...) thì hiện
tượng này ở Vũ Bằng lại không phải là phổ biến. Qua khảo sát 25 tác phẩm được sáng tác từ
1945 trở về sau của Vũ Bằng, chúng tôi chỉ thấy có 3 truyện được bắt đầu như thế. Đó là cảm
giác sướng “hẩng cả mặt lên”, "sướng tê đi giây lát" của mụ Nhiêu Lương khi "nghe thấy có
người ở Hà Nam hồi cư, nói chuyện bỏ bom ở Kim Bồng, (...) nghe thấy cả làng Kẹo bị Tây đốt
phá, có vô số đần bà bị hãm hiếp" (Giai đoạn mới). Đó là cảm giác ngạc nhiên vì "chưa từng
thấy một chuyện táo tợn, lạ lùng như vậy" của Lưu Bình (Tiếp theo và hết truyện Lưu Bình
Dương Lễ). Và đó còn là linh cảm "có một cái gì bất thưởng xảy ra" của ông Phú khi "trông
thấy người đưa giấy đi xe đạp đến" (Người chứng).
Cũng như vậy, trong khi quá nửa truyện ngắn của Thạch Lam kết thúc bằng một cảm
giác, cảm tưởng nào đó kiểu như: "Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xổi. Không biết,
như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiểu sáng một vùng đất nhỏ" [67; 152] hay: "Diên bàng
hoàng và lạnh lẽo cả người, chàng hình như thấy một cái sức mạnh vô cùng đến chia rẽ Mai
với chàng" [58; 208] thì trong 25 sáng tác được khảo sát của Vũ Bằng chỉ có Giai đoạn mới kết
thúc theo kiểu này. Câu chuyện khép lại bằng trạng thái "giật mình đánh thót một cái" và
những câu nói mê "Ấy, ông chủ gọi!", "Ấy, bà chủ gọi!" của bác Nhiêu Lương. Còn lại, xuyên
suốt hầu hết các sáng tác dài và ngắn của Vũ Bằng là một dòng cảm giác chảy trôi miên man
giữa hai bờ thực và mơ, hiện tại và quá khứ. Hiện tượng này, trong các sáng tác của Thạch Lam
không phải là phổ biến, ta chỉ có thể bắt gặp ở rất ít tác phẩm như Hai đứa trẻ, Dưới bóng
hoàng lan, Buổi sớm.
Trong Đất khách là dòng cảm giác pha trộn giữa u uất với tiếc nuối, ân hận. Vườn xuân
tơi bời lá gieo, Người Hà Nội nhớ người Hà Nội là nỗi niềm xót xa trước cảnh lá rụng lìa cành,
"Bèo nổi, mây chìm" trong một xã hội thời chiến. Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội
thực chất chỉ là những dòng cảm giác, cảm xúc miên man, không nguôi, không đứt của một kẻ
107
tha hương nặng lòng với quá khứ. Nói như Vũ Bằng "chỉ là đánh dấu những ấn tượng hiện ra
trong trí óc những buổi mây chiều gió sớm, "sầu biệt li vơi sáng đầy chiều " thâu nhận được
trong những khi lạc bước trên những hẻo đường chật ních những người bận rộn bên cạnh
những ngoại kiều ăn mặc như phường chèo, nói líu lô buồn nỗi khó nghe!" [5; 16].
Vì thế, giống như Thạch Lam, đọng lại trong những câu văn, trang viết của Vũ Bằng
khổng phải là những tư tưởng, tính cách mà là những cảm giác, cảm tưởng, những nỗi niềm.
Những cảm giác, cảm tưởng và nỗi niềm đó xuất phát từ "Con tim của người khách tương tư cố
lý cũng đau ốm y như là-gỗ mục" [5; 9] nên khi đến với độc giả, nó có sức mê hoặc lòng người
rất lâu, rất sâu, đặc biệt là Thương nhớ mười hai - một trong những tác phẩm được coi là xuất
sắc nhất của văn học hiện đại Việt Nam, một trong mười tác phẩm được nhà văn Triệu Xuân-
người biên tập Tuyển tập Vũ Bằng chọn mang vào thế kỷ XXI. Để có thể viết được "những câu
văn như cổ ma ám, từng dòng, từng dòng như bị một thế lực siêu nhiên vừa hành hạ, vừa chắp
cánh cho tâm hồn, cho cõi lòng để bao nhiêu tài hoa biển thành niềm thương nhớ thấu trời,
thấu đất!" [8; 5-6] cần phải tập hợp nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến sự gia công lựa chọn,
sắp xếp những ngôn từ có khả năng gợi cảm giác ở nhiều cấp độ khác nhau của Vũ Bằng. Đặc
điểm này khiến cho các sáng tác của ông có những điểm riêng từ cách lựa chọn, cấu tạo từ ngữ
cho đến cách đặt câu, xây dựng hình ảnh so sánh...
Đọc truyện ngắn cùa Thạch Lam, người ta dễ dàng nắm bắt được không khí, cảm giác
chung của toàn truyện khi mới "chạm" nhẹ đến đầu đề của nó: Gió lạnh đầu mùa, Nắng trong
vườn, Dưới bóng hoàng lan, Đêm trăng sáng... Tình hình sẽ diễn ra tương tự nếu ta điểm qua
một số sáng tác của Vũ Bằng: Đất khách, Vườn xuân tơi bời lá reo, Người Hà Nội nhớ người
Hà Nội, Thương nhớ mười hai ... hay tên các phần trong Thương nhớ mười hai như: Tháng
Giêng, mơ về trăng non rét ngọt; Tháng hai, tương tư hoa đào; Tháng tư, mơ đi tắm suối
Mường... Và cũng mới chỉ điểm qua tên các sáng tác của hai người, chúng ta có thể thấy ngay
phần nào sự khác biệt trong văn phong của hai tác giả ấy. Đọc văn Thạch Lam, người ta thường
bắt gặp những lớp từ, những cụm từ đoán định để miêu tả những trạng thái, những hoài niệm
mơ hồ, khó nắm bắt. Kiểu như:
"Liên thơ dại nhớ lại quãng đời nàng từ lúc lấy chồng. Bảy tám năm qua, mà Liên tưởng
như lâu lắm, hình như đã hết nửa đời người" [58; 135].
108
"Hình như có một chút nước mắt vừa rơm rớm ở mi nàng(...) Huệ không biết, nàng
chỉ mang máng cảm giác một sự gì trong mát, tươi nõn" [58; 232].
Còn trong các sáng tác của Vũ Bằng, các từ diễn tả hoạt động tâm lí được lặp lại với một
tần số rất cao: nhớ, yêu, thương,thèm, vui, nhớ lại, buồn... Gắn liền với các từ này thường là
những trạng thái cụ thể của tâm lí. Vì vậy, tuy lặp lại với một tần số rất cao, chúng không hề
gây cảm giác đơn điệu. Có chăng nó chỉ mở rộng phạm vi hoạt động của trạng thái tâm lí, mở
ra nhiều tầng, nhiều lớp của cái "tôi" nội cảm phong phú, phức tạp của chủ thể trữ tình. Từ đó
khắc tạc vào lòng người một nỗi nhớ, niềm thương đến quặn thắt, nhức nhối về một vùng văn
hóa Bắc Việt, về nơi chôn nhau cắt rốn nghìn trùng xa cách. Chẳng hạn, cũng là nhớ nhưng ở
mỗi ưường hợp là một nỗi nhớ cụ thể khác nhau. Trong Tháng tư mơ đi tắm suối Mường là
"nhớ lại cái tiếng ve kêu rền rền đặc biệt ở Hà Nội ngày xưa" [5; 87] "nhớ da diết, nhớ tê mê
đến cái tiếng của con chim tu hú" [5; 92]. Đến Tháng tám, ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ
cộng tri thu là nỗi nhớ quay quắt "nhớ không cách gì quên được cái đêm Trung thu năm ấy, hai
vợ chồng quấn quýt tơ hồng, cùng dắt tay đi qua cầu Bồ Đề sang bên kia sông, vào trong một
cái quán, ngồi ăn miếng bánh đậu xanh, uống chén nước chè tươi..." [5; 180]. Qua Tháng Một,
thương về những ngày nhể bọng con râu rồng "người ta cũng nhớ mưa rét tháng một ở quê
hương mình đến thế là cùng" [5; 247].
Trong các sáng tác dài hơi, Vũ Bằng đã tận dụng mọi khả năng của phép so sánh, đặc biệt
là các so sánh có từ nối như. Phép so sánh là một lối diễn tả truyền thống, thông dụng nhưng
cũng chính là nơi người ta có thể tìm tíiấy^những dấu vết của thẩm mi thời đại hay của phong
cách ngôn ngữ cá nhân. Phép so sánh thường làm cho sự vật, hiện tượng trở nên rõ ràng qua sự
đối chiếu, sự tương đồng giữa cái so sánh và cái được so sánh. cấu trúc so sánh thường là xác
định tương đồng về hai đối tượng: A (cái so sánh) và B (cái được so sánh), nối A và B thường là
các từ so sánh: như, tựa như, chừng như...
Ở giai đoạn trước, Thạch Lam và Hồ Dzếnh đều hay dùng lối so sánh. Trong những câu
văn so sánh của Hồ Dzếnh, A (cái so sánh) thường là các vật thể vô tri hay những âm sắc vô
hình, B (cái được so sánh) thường là tâm trạng buồn thương. Chẳng hạn:
109
-"Tôi lắng nghe từng tiếng bánh gỗ, long lở và rời rạc như cái thanh thể đã đến lúc tàn
của nhà tôi. Thỉnh thoảng, một cơn gió thổi tạt qua cánh đồng, cùng lúc đem theo lên một cái
gì như xa xôi, bát ngát" [21; 98].
Nếu các câu văn so sánh của Hồ Dzếnh thường gợi không khí ấn tượng thì những câu văn
so sánh của Thạch Lam với lối kết cấu đặc biệt mà cả A và B đều là những cảm giác (những
cảm giác này được cảm nhận bằng cả thân xác lẫn tâm linh), lại nghiêng về cảm giác, dồi dào
khả năng gợi tả về cảm giác. Ví dụ:
-"Thanh thấy tâm hồn nhẹ nhõm tươi mát như vừa tắm ở suối" [58; 222].
Đến Vũ Bằng, những câu văn so sánh trong các sáng tác của ông gần với nhữìig câu văn
so sánh của Thạch Lam hơn. Chúng ta hãy quan sát hai ví dụ sau:
-"Một cái thú giang hồ êm ái như nhung và không cần uống rượu mạnh cũng nghe như
lòng mình say sưa một cái gì đó- có lẽ là sự sống!" [5; 18].
-"Những cánh ruộng gần bể lúc đổ đầy rươi: con cái bụng căng lên những trứng, thèm
khát ái tình như giống vật đến ngày "con nước không thể ngồi yên một chỗ, phải nhở nha đi
dạo chơi trong ruộng (và có khi quá chân đi cả ra sông); cũng như tiểu thư đi "bát phố" để
kiếm kẻ giương cung bắn cho một phát tên ... tình" [8; 121].
Quả là về hình thức, những câu văn so sánh của Vũ Bằng khá giống những câu văn so
sánh của Thạch Lam vì cả hai vế A (cái so sánh) và B (cái được so sánh) đều là những cảm giác
nhưng đi vào chi tiết từng kết cấu, chúng ta thấy có đôi điểm khác biệt. Thứ nhất, vế B (cái
được so sánh) trong câu văn Vũ Bằng, về số lượng từ thường nhiều hơn, như luôn nhằm giảng
giải, lí giải cho rõ cái cảm giác, cảm nhận được nêu ra ở A (cái so sánh); trong khi đó, ở câu
văn của Thạch Lam, những cảm giác nêu ra ở B thường ngắn gọn, có tính chất gợi mở.
Điểm khác biệt thứ hai là: câu trúc câu văn so sánh của Thạch Lam thường là "A như B"
còn cấu trúc câu văn so sánh của Vũ Bằng cũng có khi như vậy nhưng thường là "A như B, như
B”. Với cấu trúc kiểu này, câu văn so sánh của Vũ Bằng có khả năng truyền tải nhiều thông tin
hơn ngoài cái cảm giác mà vếA đã nêu ra. Có lẽ vì hai lí do trên nến cùng là những câu văn dồi
dào khả năng gợi tả về cảm giác nhưng nếu những câu văn của Thạch Lam nghiêng về gợi hơn
tả thì những câu văn so sánh của Vũ Bằng khó có thể nói một cách chính xác nó gợi hơn tả hay
110
tả hơn gợi. Chỉ biết rằng, đọc những câu văn so sánh của Thạch Lam, người ta dễ có cảm tưởng
như đang đứng trước một bông hoa vừa hè nở còn nghe những câu văn so sánh của Vũ Bằng,
người ta lại có cảm tưởng đang được chiêm ngưỡng một bông hoa ở độ thật là hoa với vẻ đẹp
tròn trịa của nó.
Ngoài những câu văn so sánh kiểu "A như B", "A như B, như B", thỉnh thoảng ta còn thấy
Vũ Bằng đảo trật tự cấu trúc so sánh thành "...như B, A". Ví như:
“Cũng như đọc một áng văn hay, gấp sách lại mà còn dư âm phảng phất, còn suy nghĩ,
còn trầm mặc, người ta ăn phở xong cũng đắn đo ngẫm nghĩ, rồi có khi đem ra thảo luận với
anh em, nhất là các công chức và các tay thương gia rỗi thì giờ thì lại luận bàn kĩ lắm” [8; 60-
61].
Khi đảo trật tự cấu trúc câu so sánh, Vũ Bằng không chỉ phát huy tác dụng của phép so
sánh mà ông còn nhấn mạnh, làm rõ hơn cái cảm giác, cảm tưởng ngõ hầu giúp người đọc "nói
được lên một mối hoài cảm" "vẫn chất chứa ở bên lòng". Nghĩa là ông muốn kiếm tìm sự đồng
cảm, đồng điệu nơi độc giả thông qua những câu văn, trang viết của mình. Con người tác giả,
qua những trang văn, hiện lên cô đơn, đáng được cảm thông biết chừng nào.
Để tạo nên những câu văn giàu khả năng gợi tả các cảm giác, Vũ Bằng còn thường xuyên
sử dụng biện pháp tu từ ngữ nghĩa đồng nghĩa kép. Đấy là biện pháp tu từ trong đó người ta
dùng những từ ngữ đồng nghĩa hay gần nghĩa để diễn tả đầy đủ hơn những khía cạnh khác nhau
của một hiện tượng, trạng thái để làm chính xác thêm nội dung cơ bản của phát ngôn và tăng
cường hơn tính cảm xúc của nó. Trong Thương nhớ mười hai Vũ Bằng viết:
"Cứ từ mười hai tháng tám là ngày bày cỗ, tôi sướng như điên, có đêm thao thức đến một
hai giờ khuya không ngủ được. Đi hết hàng Thiếc xem những cái tàu bay tàu thủy, lại rẽ ra
hàng Mã xem những con giống, quay xuống hàng Gai xem đèn và sư tử, rồi lại quành ra hàng
Trống để đứng ngắm nghía xem nên về nhà để xin tiền mua cái trống nào, tôi oán ức bổ mẹ bắt
phải lên giường đi ngủ...".
Ở ví dụ trên có hai nhóm từ đồng nghĩa, gần nghĩa: thao thức, không ngủ được và đi
hết, rẽ ra, quay xuống, quành ra. Sự sắp xếp những từ ngữ này liên tiếp nhau, kết hợp với điệp
111
từ xem làm cho người đọc dễ dàng thức nhận một cách trọn vẹn cái tâm trạng háo hức, vui
sướng của đứa trẻ khi Tết Trung Thu đang về.
Để diễn tả tình cảnh đáng thương, tâm trạng bất an của người vợ hồi cư (Đất khách), Vũ
Bằng cũng sử dụng những từ ngữ dồng nghĩa và gần nghĩa:
"Người vợ, yếu đuối hơn, ốm mấy phen tưởng chết, nhưng rồi lại khỏi. Mụ không rên
rẩm, nhưng lòng chán ngán vô cùng" [20; 338].
Ngoài những ví dụ nêu trên, dọc theo các sáng tác của Vũ Bằng, chúng ta còn có thể gặp
rất nhiều trường hợp tương tự như vậy. Có thể nói, nhờ việc thường xuyên sử dụng phép đồng
nghĩa kép mà câu vãn của Vũ Bằng hiện lên có da có thịt hơn, dồi dào khả năng gợi tả cảm giác
hơn.
Như vậy, câu văn của Vũ Bằng nghiêng về cảm giác. Những trang viết của ông không chỉ
dồi dào sức gợi tả về cảm giác mà hơn thế nữa, nhiều khi, từ những cảm giác được gợi ra nó
còn dẫn dắt người đọc về những vùng miền khác nhau của cõi nhớ- một cõi nhớ mênh mông
đến vô cùng với một cái "tôi" nội cảm, đa cảm. Có lẽ, đấy là một trong những đặc điểm quan
trọng, góp phần làm nên "những câu văn như có ma ám" ( Triệu Xuân), có sức hút mê hồn với
những ai đã từng đọc văn Vũ Bằng, đặc biệt là Thương nhớ mười hai.
3.3. Những trang viết giàu nhạc tính, nhạc điệu.
Theo Nguyễn Phan cảnh "văn xuôi trữ tình tồn tại như một dạng đặc biệt của văn bản
nghệ thuật. Kể cũng khá nghịch lí là nhẽ ra văn xuôi các văn bản phải hướng đến ngữ cảnh và
do đó phải làm việc bằng hệ kết hợp. Nhưng văn xuôi trữ tình ngược lại đã làm việc chủ yếu
bằng sự lựa chọn. Và vì thế hình tượng câu vãn do các văn bản này dựng lên sẽ không còn
mang tính chất tạo hình nữa. Bản chất của văn xuôi trữ tình là ở đây, nó thuộc dạng biểu hiện
của nghệ thuật ngôn từ" [13; 58].
Do nặng về ưu thế biểu cảm và "thuộc dạng biểu hiện của nghệ thuật ngôn từ" nên văn
xuôi trữ tình thường giàu nhạc tính, nhạc điệu. Văn xuôi trữ tình của Vũ Bằng là một ví dụ tiêu
biểu. Văn xuôi trữ tình của Vũ Bằng giàu nhạc tính, nhạc điệu trước hết là vì tâm hồn nhà văn
lúc nào cũng nồng nàn, da diết nhố người, nhớ cảnh- những người, những cảnh thuộc một
không gian khác, thuộc một
112
vùng văn hóa khác đang ngày một vượt xa tầm với của tác giả. Ở trong một hoàn cảnh
đặc biệt về tâm lí, tình cảm như vậy, Vũ Bằng luôn nỗ lực tìm một giải pháp tốt nhất để giãi
bày, giải tỏa những nỗi niềm cánh cánh, chất chồng trong lòng mình. Một trong những giải
pháp ấy là phép lặp, sự lặp lại.Văn xuôi tự sự rất kị sự lặp lại nhưng chỗ tối kị này lại là sức
mạnh của văn xuôi trữ tình để tạo ra tiết điệu, nhạc cảm cho tâm trạng và âm hưởng trữ tình
của tác phẩm. Vũ Bằng đã tỏ ra nhanh nhạy và tài ba trong việc khai thác tác dụng của là phép
lặp, sự lặp lại (còn gọi là phép điệp).
Ở giai đoạn trước, Hồ Dzếnh đã khai thác phép lặp để tạo ra tiết điệu, nhạc cảm cho tâm
trạng và âm hưởng trữ tình cho tác phẩm. Ông đã diễn tả sự dõi mong đến vô vọng của nhân
vật chị đỏ Đương bằng những câu văn giàu sức truyền cảm thế này:
"Xa- Xa và xa. Lòng chị đỏ Đương tưởng tượng làm sao ra cái màu mênh mông của biển
cả để với qua đổ một người đã mang đi nửa cuộc đời của chị" [104; 483].
Trong Hai đứa trẻ Thạch Lam cũng sử dụng phép lặp để tạo không khí cho câu chuyện:
"Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng
ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong của hàng hơi tối muỗi đã bắt đầu vo ve "...[61; 143]
Nhìn chung, Thạch Lam và Hồ Dzếnh có sử dụng phép lặp trong các sáng tác của mình
nhưng không nhiều. Trong khi đó hiện tượng này ở các sáng tác của Vũ Bằng lại là phổ biến.
Vũ Bằng hay sử dụng lối điệp từ, điệp ngữ. Lặp lại nhiều trong các sáng tác của ông là các từ
ngữ nhớ, yêu, thương tôi, ta, anh, ở đây, bây giờ, ngày xưa... Trong đó, từ nhớ được tác giả
dùng khá linh hoạt, như một điệp khúc có thứ lớp phân minh với nhiều hàm nghĩa khác. Chúng
ta hãy quan sát một số ví dụ sau:
-“Bây giờ, người xa cách Bắc Việt lâu ngày cũng vậy: ăn một tố hủ tíu thì nhớ đến phở
Bắc "chính cống" ăn vào buổi sáng rét căm căm; trồng thấy cua bể thì nhớ đến bát canh cua
đồng nấu với rau rút và khoai sọ; gặp một ngày bão rớt thì lòng lại buồn rười rượi, nhớ đến
thu sơ gió mát, hoa vàng...” [5; 15].(1)
-"Tôi còn nhớ mãi những buổi tôi mưa phùn gió bấc ở trong cái làng đồng chiêm lầy lội,
lúc còn tản cư vùng Hà Nam"... [8; 139].(2)
113
-"Ngọn gió lạ lùng! ơ đâu cũng thê, nó làm cho lòng người nao nao nhưng ở hậu phương
thì cái buồn ấy làm cho ta tê tái quá, não cả lòng cả ruột. Nhớ không biết bao nhiêu! Mà nhớ
gì? Nhớ tất cả, mà không nhớ gì rõ rệt!" [8; 102].(3)
-"Trông thấy cốm, ta nhớ đến những dải thóc nếp hoa vàng man mác, có những cô gái
vừa hát vừa làm ; trông thấy trà mạn sen, thấy ruốc, ta nhớ đến những người mẹ già thương
con, những cô em gái thương anh, những người yêu thương người yêu, ngồi giã ruốc, sấy chè
gửi cho nhau..." [8; 132]. (4)
-"Người ta nhớ nhà, nhớ cửa, nhớ những nét mặt thương yêu, nhớ những con đường đã đi
về năm trước, nhớ người bạn chiểu chăn dắt tay nhau đi trên những con đường vắng vẻ ngào
ngạt mùi hoa càu, hoa bưởi." [5; 12]. (5)
-"Hỡi người khách xa nhà, một chiều đìu hiu, đương gió nồm mà chuyển ra gió heo may,
hỏi có nhớ đến buổi quây quần vợ vợ, con con ở dưới bóng đèn, bên một mâm cơm có một bát
giả cầy hay một bát hầu lốn nghi ngút khói, hoặc một đĩa cá kho khế (hay kho củ cải) ăn với
rau diếp thái nhỏ tăn như sợi chỉ" [8; 216]. (6)
Ở ví dụ (1) từ nhớ lặp lại 3 lần. Nhớ ở đây có thể hiểu là nhớ lại. Đến ví dụ (2), từ nhớ có
nghĩa là ghi nhớ. Sang ví dụ (3), điệp từ nhớ diễn tả một tâm trạng-Tâm trạng rối bời ngổn
ngang những nỗi nhớ, nhiều nỗi nhớ, khó lòng có thể tách bạch một cách rạch ròi của người ở
hậu phương mỗi độ thu về. Qua ví dụ (4), điệp từ nhớ vừa có thể hiểu là nhớ lại, vừa diễn tả
một cảm giác- cái cảm giác về sự thiếu vắng cái quen thuộc, thân thuộc trong đời sống hàng
ngày. Cảm giác này thường xuất hiện trong lòng những kẻ tha hương khi gặp những hoàn cảnh,
những sự vật quen thuộc nào đó. Trong ví dụ (5), từ nhớ lặp lại đến 5 lần. Cùng với phép liệt
kê, điệp từ nhớ đã khắc, đã chạm vào lòng người nỗi nhớ. Một nỗi nhớ cụ thể, da diết, không
nguôi, không dứt. Cuối cùng là ví dụ (6). Ở đây, nhớ được cảm nhận, được hiểu là sự tổng hợp
của tất cả các nghĩa trên: vừa là nhớ lại, ghi nhớ, vừa là tâm trạng, cảm giác cộng với nỗi
nhớ...
Vũ Bằng cũng hay sử dụng những điệp ngữ. Trong các sáng tác dài hơi, người ta hay bắt
gặp các điệp ngữ: ta nhớ, tôi nhớ, ở Bắc Việt, ở miền Bắc, ở miền Nam. Khi sử dụng các điệp
ngữ này Vũ Bằng hoặc nhằm nhấn mạnh, khẳng định chủ thể trữ tình, khẳng định cái tôi nội
cảm phong phú, đa dạng:
114
- Ta nhớ đến ngô rang khi thấy gió lạnh đìu hiu; ta nhớ đến bát rượu nấu với niễng vào
những ngày ẩm thấp nặng nề, tức bực muốn mưa mà không mưa được; ta nhớ đến bát canh rau
cần ngọt xót nấu với tôm Thanh khi thấy lá rụng đầu thu thấy mưa ngấu, ta nhớ đến sấu dầm
và ta nhớ đến cá rô đầm Sét mỗi khi thấy mùa sen trở lại" [8; 216].
hoặc nhằm nhấn mạnh sự thức nhận của chủ thể trữ tình về tình trạng tha hương, cô độc, lẻ loi
của mình :
Ở Bắc Việt, tháng ba có tết Hàn Thực kiêng dùng lửa, chỉ ăn ròng đồ lạnh"[5;70]
-"Ờ phải, cũng vào cỡ này đây, ở Bắc Việt bắt đầu có vải" [5; 88].
-"Ở miền Nam, tôi đã thử ăn cơm rượu, ăn không, và có khi ăn lẫn cả với xôi" [5; 113].
Ngoài ra, trong các trang viết của Vũ Bằng, người ta còn thấy lặp đi lặp lại các từ ngữ,
hình ảnh: trăng, người đàn ông, người chồng, người vợ. Sự lặp đi lặp lại các từ ngữ, hình ảnh
kể trên luôn đồng nghĩa với sự trở đi trở lại của những nỗi nhớ, nỗi niềm. Những nỗi nhớ, nỗi
niềm không nguôi không dứt ấy, bản thân nó đã là những điệp khúc giàu sức ngân vang, đủ làm
nhức nhối trái tim của kẻ xa nhà, của người tha hương. Cộng thêm sức ngân của âm, của từ;
cộng thêm tác dụng của những phép lặp mà những trang viết- thực chất là tiếng lòng của Vũ
Bằng, vốn đã giàu nhạc tính, nhạc điệu lại thêm du dương, mềm mại, giàu nhạc tính, nhạc điệu
hơn.
Ở cấp độ câu, chúng ta thấy câu văn của Vũ Bằng có nhiêu điểm khác biệt. Trước hết Vũ
Bằng hay sử dụng kiểu câu dài. ở điểm này, câu văn của Vũ Bằng khá gần với câu văn của
Nguyễn Minh Châu sau 1980. Đọc các sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1980 chúng ta hay
bắt gặp những câu văn kiểu như thế này:
"Khoác hờ chiếc áo da vào bên vai ngồi co ro trên tháng xe, lão đau đáu đưa mắt nhìn
cái khoảng cổ đã trụi hết lông và sần sùi da cóc của con vật trên đó chiếc ách cổ đang siết chặt
lấy làm phất ra những tiếng lộc cộc trong đêm vắng, và một khoảng bóng tối đen kịt cứ như
đóng đinh vào phía trước mặt con bồ, một khoảng bóng tối dường như quá sâu, quá dày, còn
lâu mới chọc thủng và dưới chân lão Khùng và con vật, tất cả cỏ cây, đất đai đều đang còn
nồng nàn trong giấc ngủ say như chết, những con chim sâu đang lẩn lút trong đám cỏ may
115
cũng chưa hề kêu chích chích, lão chỉ nghe tiếng côn trùng tỉ tê rất xa, và bốn phía trái đất
dường như đang còn mịt mùng chìm đắm trong khoảng tối của âm ty" [15; 604-605].
Cảm nhận đầu tiên của chúng tôi là câu văn trên khá hiện đại. Qua câu-văn kiểu này,
Nguyễn Minh Châu có thể chuyên chở được nhiều tầng ý nghĩa và người đọc, để cảm nhận
được hết ý tứ của nó phải liên tưởng, suy ngẫm rất nhiều. Tiện đây, chúng ta hãy đọc ít câu
trong các sáng tác của Vũ Bằng. Đây là một câu trong Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt
(Thương nhớ mười hai):
"Anh có thể đạp cỏ trên Hồ Gươm, đợi đến sâm sẩm tối ra ngồi ở Thủy Tạ nhìn các cô gái
đẹp như tiên mặc áo nhung, áo len trăm mầu ngàn sắc, in bóng hình xuống đáy nước lung
linh; anh có thể vào một nhà hát thưởng vài khẩu trống, "mở quả mứt" phong bao cho các chị
em, rồi uống với mỗi em một li rượu " lấy may", anh có thể vào một ngôi chùa nhang khói nghi
ngút, đưa mắt nhìn xem có cô nào thực xinh thì quì ngay xuống bên cạnh cầu Trời khấn Phật
cho cô càng ngày càng đẹp và trong năm lấy được một người chồng xứng y như ... anh vậy" [5;
18-19]. (1)
Còn đây là một câu trong Miếng ngon Hà Nội:
-"Miếng ngon của Hà Nội phải đâu là mấy thứ đó mà thôi, Hà Nội ngon là ngon từ cái
dưa, quả cà, trách mắm; Hà Nội ngon là ngon từ bát canh hoa lí nấu suông, mấy cái trứng cày
chưng lên ăn với gạo Mễ Trì hay đĩa rau muống xào có gia thêm một chút mắm tôm; Hà Nội
ngon là ngon từ miếng cá thu kho với nước mía ăn với gạo tám thơm vào đầu đông, mấy bìa
đậu sống ở Phú Thụy chấm với" [8; 213- 214]. (2)
Và đây là lời cầu nguyện của nhân vật sư Phổ Giác trong Đám cưới hai u hồn ở chùa
Dâu:
"Đất nước này trong mấy chục năm nay đã trải qua không biết bao nhiêu cuộc biến thiên
đứt ruột nát lòng/: người chết như rạ/, máu tuôn lai láng/, của nhà tan nát/, thân thích lìa tan
//(3). Lạy Trờư, Phật/, Thánh/, Thần/, lạy đức Phật từ bi cứu khổ cứu nạn/, thương xót chứng
sinh thập loại chiếu ánh sáng thiên thần /để đem lại hòa khí cho quần chu tứ hảư, trút sạch não
phiền/, rửa không thù oản/ để. cho những người còn sống yêu thương nhau/, trút bỏ hết nỗi
ghen ghét/, uất hận /mà những người chết cũng được an vui nơi chín suối/, không phải lang
116
tháng nay đây mai đó/ ở đầu khe ngọn suối, ở điểm cỏ bóng cây/, ở cuối sông đầu chợ//. [10;
16]. (4)
Tất cả đều là những câu văn dài, gần với câu văn truyền thống. Câu (1) dài tới 124 chữ,
gồm ba vế; mỗi vế bấy đầu bằng nhóm từ anh có thể. Đến câu (2), đoạn câu Hà Nội ngon là
ngon từ được lặp lại đến ba lần, kết hợp với những đoạn câu- những thành phần mở rộng có
tính liệt kê ở đằng sau. Sang câu (3), là việc lặp lại thành phần mở rộng để minh họa cho ý văn
đã trải qua không biết bao nhiêu cuộc biến thiên đứt ruột nát lòng. Điều đáng chú ý là cấu trúc
của phần lặp lại khá cân xứng, theo tỉ lệ 4/4/4/4 làm cho bước văn trở nên nhịp nhàng, lời văn
chậm rãi như một lời kể rành rọt về những điều đã được khắc cốt ghi xương. Và trong câu (4)
là sự khai thác tác dụng của lối trùng vị ngữ kết hợp với việc lặp lại thành phần mở rộng, lặp từ
ngữ ( ở, ở+ từ chỉ vi trí, nơi chốn (đầu, cuối, điếm cỏ bóng cây)) và việc vận dụng thành ngữ
dân gian (nay đây mai đó). Cũng ương câu (4) còn có sự đan xen giữa những bước văn ngắn
với những bước văn dài làm cho câu văn trở nên nhịp nhàng, cân đối mà không đơn điệu.
Minh họa cho kiểu câu dài, có kết cấu đăng đối của Vũ Bằng, chúng tôi xin dẫn ra hai ví
dụ:
-"Ai không vui duyên hương lửa, ai ôm trong lòng vạn lý tình, ai tiễn người đi mãi mãi
không về, ai nhìn khói sóng mà nghĩ đến người bạt ngàn mây nước, ai nhớ ai cùng xây mộng
ước mơ nhưng vì trời chẳng chiều người mà phải gầy khúc đàn cho kẻ khác nghe, vào những
ngày mưa Ngấu như thế, hỏi có đau không, hỏi có sầu không?" [5; 143].
"Các oan hồn, phảng phất u minh, nghe thấy tiếng mổ trong trời đất tối tăm tụ tập chung
quanh chùa để nghe kinh: Có những kẻ trước đây lăm le thay đổi non sông nhưng gặp phải vận
cùng thế khuất; có những kẻ màn lan trướng huệ gặp phen thay đổi sơn hà chỉ còn mảnh lá che
thân; có những kẻ lâu đài phượng các bây giờ không còn ai bát nước nén nhang; có những kẻ
vào sông ra bể, đem thân chôn giáp vào lòng kình nghê, có những kẻ mắc oan đoàn tù rạc, gửi
mình vào chiếu xác một manh; có những kẻ chìm sông lạc suối, có những người gieo giếng,
thắt dây; có những đứa trẻ lỗi giờ sinh phải lìa cha mẹ từ tấm bé, không có ai bồng bế xót
xa..." [10; 23].
117
Những câu văn trên đều sử dụng biện pháp sóng đôi. Đó là biện pháp tu từ cú pháp dựa
trên sự cấu tạo giống nhau giữa hai hay nhiều câu hoặc hai hay nhiều bộ phận của câu. Biện
pháp này có tác dụng tăng cường giá trị giao tiếp và giá tri biểu cảm của lời nói; làm cho nhịp
văn nhanh hơn, dồn dập hơn, giúp người đọc dễ dàng cảm nhận nhịp đập của cảm xúc, của tâm
trạng người cầm bút.
Có thể hiểu việc chọn những câu văn dài có kết cấu đăng đối làm phương tiện chủ yếu để
diễn đạt của Vũ Bằng là việc làm nếu không phải là có ý thức thì cũng là việc làm thể hiện rõ
sở trường, phù hợp với "tạng" người của ông. Với ngòi bút tài hoa, ông đã tạo cho những câu
văn của mình một dáng vẻ cân đối, nhịp nhàng, uyển chuyển, khá duyên dáng. Nói như Văn
Giá, đó là "những câu văn được bố trí theo cách đăng đối, hô ứng nhịp nhàng, mang đảng dấp
biền ngẫu, đưa lại cảm giác du dương, đắm đuối..." [20; 82].
Ngoài ra, cũng ở cấp độ câu, Vũ Bằng còn hay sử dụng lối điệp kiểu câu. Có một số kiểu
câu được Vũ Bằng hay dùng đi dùng lại. Thứ nhất là kiểu câu có kết cấu: Nhớ... tức là... , Đã
nhớ ... là nhớ tất cả: nhớ... , Nhớ ... chính là nhớ.... Riêng trong Tháng Tư mơ đi tắm suối
Mường (Thương nhớ mười hai) kiểu câu này được lặp lại đến 4 lần. Ví như:
- "Nhớ đến như thế, tức là nhớ lại cả một thiểu thời lúc còn mặc áo maga đi học, vừa đi
vừa tung tăng chiếc giày da Đức Mậu lên trời vì đi giày nóng chân quá,, giẫm đất nó thảnh
thơi, mát mẻ hơn" [5; 82].
Ở các chương khác của Thương nhớ mười hai kiểu câu này còn được lặp lại ít nhất là 5
lần nữa. Việc lặp lại kiểu câu này là cái cách để Vũ Bằng liệt kê, kể tên những kỉ niệm, những
hĩnh ảnh, sự việc đã hằn sâu trong kí ức, tường tận đến từng chi tiết mà không làm cho câu văn
trở nên nhàm vì đơn điệu; đồng thời đây cũng là một cách để tác giả nhấn mạnh, giảng giải một
cách cặn kẽ ý nghĩa, nội dung của từ nhớ, nỗi nhớ. Sự lặp lại của kiểu câu trên làm cho nhịp
văn trở nên nhịp nhàng, thong thả, nhiều khi lại gieo vào lòng người đọc cái cảm giác du
dương, êm ái như đang nghe một điệu dân ca mềm mại, quen thuộc.
Kiểu câu: Nhớ từ (từng) ... nhớ đi, nhớ từ .... nhớ lai, nhớ từ ... nhớ lên, nhớ từ ... nhớ
xuống hoặc thương mến từ ..thương mến lau yêu mến từ ... yêu mến xuống... cũng được Vũ
Bằng sử dụng nhiều. Trong Thương nhớ mười hai ông viết:
118
"Nhớ từng những con đường mưa bay riêu riêu cùng vợ đi nhởn nha ven hồ Bảy Mầu nhớ
đi, nhớ những đêm trèo lên ngọn đồi trên đường về Pháp Vân hái một trái cam vừa ăn vừa
nghe tiếng trống chèo ở xa xa vọng về mà nhớ lại" [5; 48]. Và:
"Hà Nội ngon không mãi chỉ ngon về những miếng ngon đặc biệt, nhưng ngon từ cách ăn
uống ngon đi, ngon từ cách rao hàng quà ngon xuống, ngon từ cách trình bày ngon tới, ngon từ
cách thái miếng thịt, chia miếng bánh ngon lui" [8; 212].
Kiểu câu trên với sự xuất hiện nhiều lần của các từ nhớ, yêu, thương mến, ngon... cộng
với sự liên kết chặt chẽ của các từ chỉ phương hướng: đi, lại, lên, xuống đã làm cho "các trang
văn của Vũ Bằng câu chữ cứ miên man, si mê nhưng nhức nỗi yêu đắm đuối (...) Các câu văn
cứ kéo dài, chồng chất, hối hả, xoắn cuộn, hổn hển dội lên từng đột không dứt" [20; 149]. Sự
lặp đi lặp lại của kiểu câu trên-làm cho các trang văn của Vũ Bằng thêm giàu nhạc tính, nhạc
điệu. Đọc những trang văn của Vũ Bằng, lắng nghe sức ngân của nó, nhiều khi người đọc tự
hỏi: Đây là nhạc điệu của văn chương hay nhạc điệu của tấm lòng, nỗi nhớ? Có lẽ là cả hai.
Còn một kiểu câu nữa, hay trở đi trở lại trong vãn Vũ Bằng. Đó là kiểu câu: Tôi yêu ... yêu
nhất ...., ... thương nhất..., ... mê nhất..., ...thú nhất..., Tài nhất...
... Đây là vài câu trích trong Thương nhớ mười hai:
- "Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần và tôi cũng xây
mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân không phải là vì thế..." [5; 18].
-"Nhưng mê nhất là hát tuồng" [5; 30].
-"Tài nhất là điểm này: chả cá ăn không tanh" [8; 167].
Kiểu câu này với một phần câu có kết cấu gồm: 1 từ chỉ cảm giác (hoặc nhân xét) + "
nhất" thường làm cho câu văn được ngắt ra, kéo dài, nhấn mạnh ở từ nhất. Ý tứ của câu, vì thế
thường dồn tụ lại ở phần câu có kết câu đặc biệt đó. Nói cách khác, phần câu đặc biệt này chính
là tiêu điểm, điểm nhấn của câu. Việc lặp lại kiểu câu trên trong các trang văn của Vũ Bằng có
lẽ không phải là vô tình. Có một điều chắc chắn là qua việc lặp lại kiểu câu này, tác giả đã thể
hiện cái "tôi" nội cảm phong phú, tài hoa và đa tình của mình.
Ở các sáng tác văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng, câu hỏi tu từ được sử dụng nhiều (Phụ
lục 4). Đây là câu, về hình thức là câu hỏi mà thực chất là câu khẳng định hoặc phủ định có
119
cảm xúc. Nó thường không đòi hỏi câu trả lời mà chỉ nhằm tăng cường tính diễn cảm của phát
ngôn: khêu gợi trí tưởng tượng và sự chú ý của người nghe, người đọc; nâng cao giọng điệu
cảm xúc, thay đổi hơi văn, điều hòa âm điệu ... Vũ Bằng đã thành công khi sử dụng loại câu
này. Ông sử dụng khá linh hoạt cả câu hỏi tu từ có ý nghĩa khẳng định lẫn câu hỏi tu từ có ý
nghĩa phủ định, có ý nghĩa mời mọc, gợi ý thiết tha ... Đây là một câu trong Thương nhớ mười
hai:
"Có phải là tại mình thương yêu phần tử nên yêu luôn từ bông hoa mà yêu xuống đến trái
cây, yêu từ cái lá hòe lăn tăn mà yêu lan sang chùm hoa mộc!" [5; 47].
Nhiều khi Vũ Bằng đã chủ động sắp xếp nhiều câu hỏi tu từ ở cạnh nhau, làm cho nhịp
văn trở nên nhanh hơn, dồn dập hơn, tập trung sự chú ý của người nghe, người đọc hơn. Ví dụ:
"Kì chưa, thế thì họ khống lễ giao thừa à? Họ không kiêng cữ à? Họ không cần biết xông
đất là gì à? Họ khoa học như Mỹ, không tin dị đoan chăng? Hay là khói lửa và sự chật vật
trong cuộc sống đã làm lệch lạc đầu óc họ?" [5; 299-300].
Thường thì Vũ Bằng đặt những câu hỏi tu từ bên cạnh những câu văn kiểu khác, chủ yếu
là câu kể; liên kết chúng trong một chỉnh thể là đoạn văn. Nhờ sự kết hợp chặt chẽ này mà nhịp
diệu trong những trang văn của Vũ Bằng luôn biến hóa, mềm mại, uyển chuyển và giàu khả
năng biểu cảm, gợi cảm. Đây là một đoạn văn trong tác phẩm Vườn xuân tơi bời lá gieo:
"Lá rụng. Lá rụng. Bụi hồng bay khắp tứ vi. Nào đâu là những nu tầm xuân xanh biếc ở
trong ca dao? Nào đâu là hoa mơ, hoa mận ở trong câu hát ví? Nào đâu nụ hồng chớm
nở? Giò lan ngâm ý xuân? Những mầu liễu xanh rờn như mái tóc người gái đẹp? Khắp đó đây,
sự tiếp tục của cái chết chóc mùa đông vẫn kéo dài. Lá rụng. Lá rụng thêm nhiều ở mùa xuân''
[20; 343- 344].
Như vậy, một trong những điểm để phân biệt văn phong Vũ Bằng với văn phong các tác
gia văn xuôi cùng thời như Thạch Lam, Hồ Dzếnh hay với văn phong Nguyễn Minh Châu sau
1980 chính là ở những trang văn giàu nhạc tính,-nhạc điệu của ông. Chính đặc tính này đã kéo
văn xuôi Vũ Bằng xích lại gần với thơ hơn trong sự hòa phối nhuần nhụy giữa nhạc điệu của
tâm hồn với nhạc điệu thoát ra từ câu chữ, khiến cho những trang viết của ổng thường không
chải chuốt nhưng vẫn có hồn, có sức mê hoặc lòng người đến lạ kì.
120
KẾT LUẬN
1- Sau khi Tổng Cục II- Bộ Quốc phòng có Giấy xác nhận (ra ngày 01.3.2000) nhà văn
Vũ Bằng là chiến sĩ tình báo Cách mạng hoạt động suốt từ 1951 đến 30.4.1975, vấn đề Vũ
Bằng và các sáng tác của ông đã trở thành một hiện tượng văn học, thu hút được sự quan tâm,
chú ý của nhiều người yêu văn học nước nhà. Đây là một vấn đề lớn, đòi hỏi phải đầu tư nhiều
thời gian và sự góp sức của nhiều người bởi sự nghiệp sáng tác của Vũ Bằng "trên cả lĩnh vực
báo chí và văn chương rất đồ sộ về số lượng, tuy nhiên về chất lượng rất "thượng vàng hạ
cám", cổ cái có giá trị nhật báo, nhất thời, có cái cổ giá trị trong một quãng thời gian hoặc lâu
dài; và có những đỉnh cao làm vinh dự cho nền văn học dân tộc" [19; 7].
Riêng trên lĩnh vực văn chương nghệ thuật, ngay từ những năm mới vào nghề, dù tuổi đời
còn rất trẻ (mới ngoài hai mươi), Vũ Bằng đã tỏ ra là người khá nghiêm túc, ưa tìm tòi, khám
phá và đổi mới. Ông đã lọt vào "mắt xanh" của nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan, được Vũ
Ngọc Phan xếp vào đội ngũ những "Nhà văn hiện đại" của Việt Nam.
Theo thời gian, ngòi bút của Vũ Bằng ngày một vững vàng, ông lặng lẽ góp cho đời một
giọng văn, một chất văn riêng, rất Vũ Bằng nên khó lẫn lộn khi đặt giữa bao giọng văn khác.
2. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Vũ Bằng nhận nhiệm vụ bí mật nên đã hồi cư (1948)
rồi di cư (1954). Cuộc sống của một nhà văn đồng thời là chiến sỹ tình báo với nhiều ràng buộc
cùng các hệ lụy của nó đã có ảnh hưởng lớn đến cảm quan nghệ thuật của Vũ Bằng. Nếu như
trước kia, nhìn cuộc đời ông thấy nó "thường bình dị, xuôi đuột, không có khúc mắc như các
tiểu thuyết gia thường kể" [20; 143] thì giờ đây, do luôn bị chi phối bởi nhiều tâm trạng, cảm
xúc đan xen lẫn lộn: nhớ thương, nuối tiếc, mong mỏi, mặc cảm, lo âu... nến mọi vật, mọi việc
dưới ngòi bút của ông thường hiện lên lung linh, huyền ảo, thực mơ khó phân biệt. Như một lẽ
tự nhiên, cùng với Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Vũ Bằng đường hoàng chiếm lĩnh một loại hình văn
học khá đặc biệt: văn xuôi nghệ thuật giàu tính trữ tình. Nhiều tác phẩm thuộc loại hình này
của ông đã neo đậu trong tâm hồn độc giả: Thương nhớ mười hai, Miếng ngon Hà Nội...
3. Văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng trước hết có sự kết hợp hài hòa giữa hiện thực cuộc
sống và tấm lòng nhà văn, giữa tự sự và trữ tình. Hầu hết các sáng tác văn xuôi nghệ thuật của
Vũ Bằng đều viết về các vùng giặc tạm chiếm trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tiêu
biểu là Hà Nội và Sài Gòn. Nhân vật chính trong các sáng tác của ông thường là những người
121
hồi cư và di cư có cuộc đời bất hạnh. Họ bị đẩy vào thế kẹt của lịch sử, vào tình thế "tiến thoái
lưỡng nan". Họ muốn thay đổi số phận nhưtig vận may không mỉm cười, không để ý tới; họ
muốn nhắm mắt, buông xuôi nhưng cuộc đời lại chẳng chiều lòng người. Vì vậy, trong họ luôn
nhức nhối biết bao nỗi niềm.
Đọc các sáng tác văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng độc giả luôn có cảm tưởng như đang
tiếp xúc, chứng kiến những chuyện đời, những tâm trạng mang dấu ấn riêng của nhà văn. Các
tác phẩm của ông đã mở ra một cách nhìn mới về một đối tượng đã từng chịu nhiều rìu búa của
dư luận: cái nhìn cảm thông, trân trọng của người trong cuộc đối với những người hồi cư, di cư.
Viết về hiện thực bằng ngòi bút có sự đan xen, phối hòa giữa hiện thực cuộc sếng và tấm lòng
nhà văn, Vũ Bằng đã đưa chúng ta đến với cuộc sống quẩn quanh, ngột ngạt với bao điều uẩn
ức của những người hồi cư; đến với cuộc sống ồn ào, vội vã ở đô thành Sài Gòn trước 1975.
Đồng thời nhà văn với tấm lòng nhân hậu, với trái tim nhạy cảm, đa cảm của một nghệ sĩ, đã
chỉ ra những vẻ đẹp tiềm ẩn trong tâm hồn của những con người bất hạnh. Và bằng sự ưu tiên
cho việc thể hiện cái "tôi" nội cảm, Vũ Bằng còn chắp cánh cho trí tưởng tượng của độc giả,
đưa người đọc về với một vùng văn hóa truyền thống Bắc Việt, với phong tục, tập quán, những
lễ hội, lễ Tết giàu tính nhân văn. Đây là một trong những điểm rất riêng, tạo nên phong vị riêng
cho văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng.
4.Một trong những cái làm nên phong cách Vũ Bằng chính là hình tượng con người trong
các sáng tác của ông. Đi vào thế giới văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng, chúng ta phát hiện hình
tượng con người với tầm nhìn sâu rộng về cuộc đời, về bản thân và thế giới xung quanh. Con
người lạc loài, cô đơn là sản phẩm tất yếu của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể:.Chiến tranh loạn
lạc, con người bị tách khỏi cộng đồng, quăng thân vào một nền văn hóa khác hoàn toàn xa lạ.
Con người cố gắng hòa nhập nhiữig cả điều kiện chủ quan lẫn khách quan đều không tạo cho
họ bất cứ một cơ hội nào. Vì thế, con người luôn đắm chìm trong lo âu, đau khổ; trong nỗi
niềm khắc khoải không nguôi. Con người lo âu, đau khổ trong nỗi niềm khắc khoải không
nguôi ở các sáng tác của Vũ Bằng được vẽ lên, đắp lên bằng những chi tiết thực nhất, cụ thể
nhất. Thường trực trong lòng họ là cảm giác bất an, là niềm tin về ngày đoàn tụ luôn bị thử
thách bởi sự chảy trôi của thời gian cùng khói lửa của chiến tranh và sự xa cách.
122
Cùng với "con người tập thể", "con người xả thân" (Trần Đình Sử) trong tư thế đứng
thẳng, đi tới của vãn học Việt Nam hiện đại nói chung, con người lạc loài, cô đơn với nỗi niềm
khắc khoải không nguôi của Vũ Bằng là sự bổ sung cần thiết, làm cho chân dung văn học dân
tộc ở thế kỷ XX cụ thể, rõ hơn và đầy đủ hơn. Đây chính là một trong những đóng góp không
nhỏ của Vũ Bằng đối với nền vãn học dân tộc.
5.Thời gian và không gian nghệ thuật cũng là một trong những dấu hiệu để phân biệt văn
phong Vũ Bằng với văn phong của các tác giả khác. Thời gian trong các sáng tác văn xuôi nghệ
thuật của Vũ Bằng chủ yếu là thời gian tâm trạng, thời gian kí ức. Nó diễn tiến chậm chạp, uể
oải và luôn gắn liền với những kỉ niệm, nuối tiếc, những mong mỏi thiết tha. Đây là hình tượng
thời gian mang rõ dấu ấn cá nhân tác giả. Nó vừa cổ điển vừa hiện đại, rất riêng biệt và độc đáo
nếu được đặt ương một cái mặt bằng chung là vãn học hiện đại Việt Nam thế kỉ XX.
Không gian trong các sáng tác nghệ thuật của Vũ Bằng cũng thường là không gian tâm
trạng. Không gian ấy khi trải ra mênh mông, khi thu lại nhỏ hẹp. Không gian ở hiện tại thường
tạm bợ, nhỏ hẹp, không đủ sức chơ che cho những tâm hồn luôn bất an vì lo lắng, sợ hãi bởi
chiến tranh loạn lạc. Không gian chật chội tù túng ấy của hiện tại luôn gợi nhắc đến không gian
rộng lớn mênh mông trong quá khứ. Đó là không gian ấm áp và thân thiết, đủ sức đem lại niềm
vui, niềm hạnh phúc cho mỗi con người... Tất cả đã tạo cho văn Vũ Bằng có cái buồn xa vắng,
chất chứa nỗi niềm hoài niệm về quá khứ, về quê hương.
6.Nói đến văn phong Vũ Bằng, người ta thường nói đến một giọng văn thủ thỉ kiểu tâm
tình. Câu chữ trong văn ông thường lấy từ ngôn ngữ của cuộc đời thường, nôm na, bình dị. Vũ
Bằng hay sử dụng những yếu tố ngôn ngữ đặc trưng của vùng quê Bắc Việt theo cách riêng của
ông- cách của một con người vừa đa tình, tài hoa kiểu nghệ sĩ lại vừa bộc trực, chân thật. Điều
này đã góp phần tạo cho văn ông một vẻ duyên dáng riêng, hấp dẫn đến lạ lùng.
7.Văn của Vũ Bằng rất dồi dào khả năng gợi tả những cảm giác, cảm tưởng. Những cảm
giác, cảm tưởng thường được nẩy sinh trên cơ sở những dòng hoài niệm triền miên về quá khứ,
về quế hương. Ông đã phát huy mọi khả năng tạo hình, gợi cảm của tiếng Việt để diễn tả tốt
nhất những điều mình muốn diễn tả, Ông hay sử dụng và sử dụng thành công phép so sánh,
nhằm cụ thể hóa những cảm giác, cảm tưởng của mình. Chẳng những thế, ông còn chủ động
tạo nên những câu văn dài, có thành phần mở rộng làm cho các trang viết của ông trở nên giàu
123
nhạc tính, nhạc điệu; rút ngắn khoảng cách giữa thơ và văn xuôi trong một loại hình văn học
độc đáo: văn xuôi nghệ thuật, ở trên địa hạt này, Vũ Bằng đã phát huy tận độ tác dụng của phép
lặp. Ông đã sử dụng linh hoạt và sáng tạo nhiều phép điệp trong các sáng tác của mình từ điệp
từ, điệp ngữ đến điệp cấu trúc... khiến cho người đọc luôn có cảm tưởng ông đang làm thơ bằng
văn xuôi, ông đã thơ hóa văn xuôi.
8. Ngay từ những năm ba mươi đầu thế kĩ XX, với những tác phẩm đầu tay, Vũ Bằng đã
khẳng định một lối đi mới, một phong cách riêng trong sáng tác văn chương nghệ thuật. Theo
thời gian và trải qua những thử thách nghiệt ngã của cuộc đời, ngòi bút tài hoa của người chiến
sĩ Vũ Bằng ngày một thêm vững vàng, chắc chắn với những nét độc đáo không lẫn vào đâu
được.
Tất cả những điều chúng tôi trình bày ở trên mới chỉ là những kết quả của bước đầu khám
phá, tìm hiểu một phần đặc điểm phong cách Vũ Bằng; mới chỉ là những "phác thảo" (Văn
Giá) về đặc điểm văn xuôi nghệ thuật của Vũ Bằng. Những kết quả nhận xét trên chắc chắn còn
chủ quan, thiếu chặt chẽ do sự hạn chế về khả năng chuyên sâu và điều kiện thời gian cũng như
nguồn tài liệu. Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý, trao đổi của các thầy, các cô cùng bạn
bè xa gần.
124
THƯ MỤC
1- Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
2-Lại Nguyên Ân (sưu tầm và biên soạn) (Ì997),Ví? Trọng Phụng tài năng và sự thật, Nxb
Văn học, Hà Nội.
3-Lại Nguyên Ân (1998), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
4-Vũ Bằng (1997), Cai, Nxb Hải Phòng.
5-Vũ Bằng (2000), Thương nhớ mười hai, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
6-Vũ Bằng (2000), Miếng ngon Hà Nội, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
7-Vũ Bằng (1989), Món lạ miền Nam, Nxb Đồng Nai.
8-Vũ Bằng (2000), Tuyển tập I, Nxb Văn học, Hà Nội.
9-Vũ Bằng (2000), Tuyển tập II, Nxb Văn học, Hà Nội.
10-Vũ Bằng (2000), Tuyển tập IU, Nxb Văn học, Hà Nội.
11-Nam Cao (1975), Nam Cao tác phẩm, Nxb Vãn học, Hà Nội.
12-Nam Cao (1986), Truyện ngắn chọn lọc, Nxb Văn học, Hội văn hóa nghệ thuật Hà
Nam Ninh, Hà Nội.
13-Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb ĐH và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà
Nội.
14-Nguyễn Minh Châu (1983), Người đàn bà trên chuyến tầu tốc hành, Nxb Tác phẩm
mới, Hà Nội.
15-Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội.
16-Văn Giá (1998), Đi tìm chỗ đứt gẫy trong lí lịch nhà văn Vũ Bằng, Báo Tiền Phong
chủ nhật số 47.
125
17-Văn Giá (1998), Đâu là sự thật về chỗ đứt gãy trong lí lịch nhà văn Vũ Bằng, Báo Tiền
Phong chủ nhật số 49.
18-Văn Giá (1999), Mối tình giữa nhà văn Vũ Bằng với người phụ nữ Kinh Bắc Nguyễn
Thị Quì, Báo Tiền Phong chủ nhật số 6-7-8.
19-Văn Giá (2000), Kết thúc một giai đoạn tìm kiếm Vũ Bằng và những nối tiếp, Báo
Văn nghệ số 7.
20-Văn Giá (2000), Vũ Bằng bên trời thương nhớ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
21-Hồ Dzếnh (1990), Chân trời cũ, Nxb Tổng hợp An Giang.
22-Hồ Dzếnh (1998), Tác phẩm chọn lọc, Nxb Văn học, Hà Nội.
23-Xuân Diệu (1987), Tuyển tập Xuân Diệu, Nxb Văn học, Hà Nội.
24-Chu Xuân Diên (1999), Cơ sở Văn hóa Việt Nam, ĐHQG TP Hồ Chí Minh.
25-Nguyễn Du (1978), Thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Nxb Văn học, Hà Nội.
26-Lê Tiến Dũng (1998), Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
27-Phan Cự Đệ (chủ biên)(1988), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 29A,Nxb KHXH, Hà
Nội.
28-Phan Cự Đệ (1997), Vãn học lãng mạn Việt Nam (1930-1945), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
29-G.N.Pospelov (chủ biên)(1985), Dân luận nghiên cứu văn học (2 tập), Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
30-Nguyễn Hải Hà (chủ biên)(1991), Văn li, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
31-Nam Hà (1992), Sự thật chiến tranh và tác phẩm văn học viết về chiến tranh, Tạp chí
Văn nghệ quân đội số 7.
32-Lê Bá Hán (chủ biên)(1992), Từ điển thuật ngữ vãn học, Nxb Giáo dục, Hà-Nội.
33-Lê Thị Đức Hạnh (1993), Mấy nét về màu sắc dân tộc trong sáng tác Thạch Lam, Tạp
chí Sông Hương số 6.
126
34-Lê Thị Đức Hạnh (1977), Nghệ thuật viết truyện ngắn Nguyên Công Hoan, TCVH số
4.
35-Vũ Hạnh (1986), Bút máu, NxbVăn học, Hà Nội.
36-Nguyễn Văn Hạnh (1977), Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn
con người, TCVH số 5-6.
37-Nguyễn Văn Hạnh (1979), Suy nghĩ về văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
38-Nguyễn Văn Hạnh- Huỳnh Như Phương (1996), Lí luận văn học- vấn đề và suy nghĩ,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
39-Hoàng Ngọc Hiến (1999), Năm bài giảng về thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
40-Hoàng Ngọc Hiến (1990), Văn học học văn, Trường CĐSP TP Hồ Chí Minh, Trường
viết văn Nguyễn Du, Hà Nội.
41-Nguyễn Hòa (1989), Suy nghĩ về vấn đề con người trong văn học viết về chiến tranh,
Văn nghệ số 81.
42-Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục , Hà Nội.
43-Tô Hoài (1943), Giăng thề, Nxb Tân Dân, Hà Nội.
44-Tô Hoài (1987), Tuyển tập Tô Hoài /, Nxb Văn học, Hà Nội.
45-Tô Hoài (1994), Tuyển tập Tô Hoài li, Nxb Văn học, Hà Nội.
46-Tô Hoài (1994), Tuyển tập Tô Hoài HI, Nxb Văn học, Hà Nội.
47-Bùi Quang Huy (1993), Vũ Bằng một đời mê mải, Báo Phụ nữ thứ bảy Thành phố Hồ
Chí Minh số 34.
48-Phạm Thu Hương (1993), Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn
Thạch Lam, Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 6.
49-Phạm Thu Hương (1995), Hồ Dzếnh và niềm khắc khoải giữa đôi bờ xứ sở, TCVH, Số
6.
50-Dương Hướng (1991), Bến không chồng, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
51-Tố Hữu (1974), Thơ Tố Hữu, Nxb Giáo dục Giải phóng.
127
52-Nguyễn Hoành Khung (chủ biến) (1989-1994), Văn xuôi lãng mạn Việt Nam (8 tập),
Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.
53-Phạm Khải (1989), Nhà văn Hồ Dzếnh, Báo Người Hà Nội số Tết Kỷ Tỵ.
54-Nguyễn Thị Dư Khánh (1995), Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
55-Lê Đình Kỵ (1984), Tim hiểu văn học, Nxb TP Hồ Chí Minh.
56-Thạch Lam (1998), Hà Nội 36 phố phường, Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí Minh.
57-Thạch Lam (1988), Tuyển tập, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
58-Thạch Lam (1998), Thạch Lam văn và đời, Nxb Hà Nội.
59-Tôn Phương Lan và Lại Nguyên Ân (1991), Nguyễn Minh Châu con người và tác
phẩm, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
60-Đinh Trọng Lạc (chủ biên) (1993), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
61-Đinh Trọng Lạc (2000), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
62-Kim Lân (1996), Tuyển tập Kim Lân, Nxb Văn học, Hà Nội.
63-Phong Lê (1984), Văn học Việt Nam và đề tài chiến tranh, Tạp chí văn học số 81.
64-Phong Lê và nhiều tác giả khác (1979), Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước, Nxb
KHXH, Hà Nội.
65-Phong Lê (1997), Văn học trên hành trình của thế kỷ XX, Nxb ĐH Quốc Gia, Hà Nội.
66-Nguyễn Kim Liên (1994), Những bức thư chắp mối, Báo Văn nghệ số 21.
67-Hoàng Như Mai (chủ biên)(1991), Văn học 11, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
68-Hoàng Như Mai (chủ biên)(1998), Văn học 12, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
69-Nguyễn Đãng Mạnh (chủ biên) (1984), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 30A, Nxb
KHXH và Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh.
70-Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) (1992), Văn 12, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
128
71-Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
72-Nguyễn Đăng Mạnh (1979), Nhà văn tư tưởng và phong cách, Nxb Tác phẩm mới, Hà
Nội.
73-Nguyễn Đăng Mạnh- Nguyễn Đình Chú- Nguyễn An (1993), Tác giả văn học Việt
Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
74-Nguyễn Đăng Mạnh (1993), Văn và dạy học văn, Nxb Thanh Hóa.
75-M.B. Khrapchencô (1979), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học,
Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
76-M.B. Khrapchencô (1985), Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người, Nxb KHXH, Hà
Nội.
77-Hồ Chí Minh (1975), Văn Hồ Chủ Tịch, Nxb GD Giải Phóng.
78-Phan Ngọc (1992), Ảnh hưởng của văn học Pháp tới văn học Việt Nam giai dọn 1932-
1945, Tạp chí Sông Hương số 2.
79-Phùng Quí Nhâm (1991), Thẩm định văn học, Nxb Văn nghệ TP Hồ Chị Minh.
80-Phùng Quí Nhâm- Lâm Vinh (1994), Tiếp cận văn học, ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
81-Bảo Ninh (1991), Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận tình yêu), Nxb Hội nhà vãn, Hà
Nội.
82-Vũ Ngọc Phan (1989), Nhà vãn hiện đại (2 tập), Nxb KHXH, Hà Nội.
83-Trần Đình sử (1993), Giáo trình thi pháp học, Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh.
84-Trần Đình Sử (1993), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Bộ giáo dục đào tạo, Vụ
giáo viên.
85-Trần Đình Sử (1987), Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
86-Trần Đình Sử (1995), Những thế giới nghệ thuật thơ, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
87-Trần Đình Sử (1996), Lí luận phê bình văn học, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
129
88-Đào Thản (1994), Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện trong văn xuôi, Tạp chí
văn học, Hà Nội, số 2.
89-Bùi Việt Thắng (1994), Văn xuôi gần đây và quan niệm con người, Tạp chí văn học,
Hà Nội, số 4.
90-Thanh Tịnh (1994), Quê mẹ, Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí Minh.
91-Lê Ngọc Trà (1994), Lí luận văn học, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh.
92-Ngọc Trai (1987), Sự khám phá về con người Việt Nam qua truyện ngắn, Tạp chí văn
nghệ quân đội số l0.
93-Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Đại học và
trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
94-Nguyễn Tuân (2000), Nguyễn Tuân toàn tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội.
95-Nguyễn Tuân (2000), Nguyễn Tuân toàn tập n, Nxb Văn học, Hà Nội.
96-Nguyễn Tuân (2000), Nguyễn Tuân toàn tập m, Nxb Văn học, Hà Nội.
97-Nguyễn Tuân (2000), Nguyễn Tuân toàn tập IV, Nxb Văn học, Hà Nội.
98-Nguyễn Quốc Trung (1999), Nhà văn Vũ Bằng từng là chiến sĩ tình báo, Báo Văn
nghệ , Hà Nội, số 19-20-21.
99-Victor Hugo (1977), Những người khốn khổ (4 tập), Nxb Văn học, Hà Nội.
100-Viện ngôn ngữ (1994), Từ điển thành ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
101-Triệu Xuân (1999), Nhà văn Vũ Bằng, tài hoa và cô đơn..., Báo Văn nghệ số 28.
102-Lê Thu Yến (2000), Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Nxb Thanh
niên.
103-Nhiều tác giả (1975), Bút máu, Nxb Văn nghệ giải phóng.
104-Nhiều tác giả (1997), Tổng tập văn học Việt Nam (tập 29 D), Nxb KHXH,Hà Nội.
105-Nhiều tác giả (2000), Tô Hoài, về tác gia tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
106-Nhiều tác giả (1996), Tiếng nói tri âm, Nxb Trẻ TP Hồ chí Minh.
130
107-Nhiều tác giả (1999), Cánh bướm và đóa hướng dương, Nxb Hải Phòng.
108-Nhiều tác giả (1995), Thanh Tịnh Văn và đời, Nxb Thuận Hóa.
109-Nhiều tác giả (1998), Nguyễn Công Hoan- Nguyễn Tuân, Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí
Minh.
110-Nhiều tác giả (2000), Nguyễn Công Hoan tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
111-Nhiều tác giả (1983), Nhà văn bàn về nghề văn, Hội văn học nghệ thuật Quảng Nam
Đà Nẵng.
131
PHỤ LỤC
132
133
134
135
136

