BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỒ THỊ LÝ
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP TỈNH
THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỒ THỊ LÝ
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP TỈNH
THANH HÓA
Chuyên ngành : Địa lý học (Trừ địa lý tự nhiên)
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. Phạm Xuân Hậu
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi thông tin trích dẫn trong
luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tp.Hồ Chí Minh, ngày….tháng….năm 2012
Tác giả
HỒ THỊ LÝ
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS
Phạm Xuân Hậu, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tác giả trong suốt
quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tác giả chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô trong Khoa Địa lí Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm học tập,
nghiên cứu trong suốt khóa học. Quý Thầy Cô Phòng Sau đại học đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập tại trường .
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của các cơ quan: Cục Thống
kê tỉnh Thanh Hóa, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thanh Hóa, Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa đã giúp tác giả trong quá trình thu nhập số
liệu, tư liệu, các thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu.
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và những
người thân đã giúp đỡ, động viên và tạo điệu kiện cho tác giả trong suốt thời gian
học tập và thực hiện luận văn.
Tp.Hồ Chí Minh, ngày….tháng….năm 2012
Tác giả
HỒ THỊ LÝ
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng số liệu
Danh mục biểu đồ, bản đồ
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU NÔNG NGHIỆP ........................................................................... 7
1.1. Các khái niệm ............................................................................................. 7
1.1.1. Cơ cấu kinh tế ...................................................................................................... 7
1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ............................................................................. 10
1.1.3. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp ........................................................................... 13
1.1.4. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp .................................................... 13
1.2. Một số vấn đề cơ sở lí luận ........................................................................ 15
1.2.1. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tăng trưởng và phát triển
nông nghiệp ............................................................................................................... 15
1.2.2. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp ............................................................... 17
1.2.3. Tính tất yếu khách quan của chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ................... 18
1.2.3.1. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nhằm phát huy lợi thế của vùng
và địa phương ............................................................................... 18
1.2.3.2. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là cách thức chuyển giao công
nghệ ............................................................................................... 18
1.2.3.3. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nhằm nâng cao đời sống, giảm
đói nghèo....................................................................................... 19
1.2.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp .......... 19
1.2.4.1. Nhân tố tự nhiên ........................................................................... 19
1.2.4.2. Nhân tố kinh tế-xã hội ..................................................................... 20
1.2.5. Các chỉ tiêu phản ánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ................. 22
1.3. Một số vấn đề về cơ sở thực tiễn ................................................................ 25
1.3.1. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở Việt Nam .............................................. 25
1.3.2. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của một số địa phương .......................... 28
Chương 2 : THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP
TỈNH THANH HÓA ......................................................................... 32
2.1. Khái quát tỉnh Thanh Hoá .......................................................................... 32
................................................................................................................. 34
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh Hoá ..
2.2.1. Vị trí địa lý ......................................................................................................... 34
2.2.2. Các nhân tố tự nhiên ......................................................................................... 35
2.2.2.1. Địa hình ........................................................................................... 35
2.2.2.2. Tài nguyên đất ................................................................................. 36
2.2.2.3. Khí hậu ............................................................................................ 40
2.2.2.4. Nguồn nước ..................................................................................... 41
2.2.2.5. Sinh vật ........................................................................................... 42
2.2.3. Các nhân tố kinh tế-xã hội ............................................................................... 44
2.2.3.1. Dân số và lao động ....................................................................... 44
2.2.3.2. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật ....................................... 47
2.2.3.3. Đường lối chính sách phát triển nông nghiệp ............................... 52
2.2.3.4. Thị trường tiêu thụ ........................................................................ 55
2.2.3.5. Vốn đầu tư .................................................................................... 56
2.2.3.6. Phân tích lợi thế so sánh và hạn chế của các nhân tố ảnh hưởng
đến chuyển dịch cơ cấu xuất nông nghiệp .................................... 58
2.3. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa ....................... 60
2.3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung .................................................................. 60
2.3.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp ........................................................ 62
2.3.2.1. Chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt ............................................ 66
2.3.2.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành chăn nuôi ........................................... 74
2.3.3. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo thành phần kinh tế .......................... 82
2.3.4. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo lãnh thổ ............................................ 87
2.4. Đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh hoá ............ 92
2.4.1. Những kết quả đạt được ................................................................................... 92
2.4.2. Những tồn tại, yếu kém - nguyên nhân .......................................................... 94
2.4.2.1. Những tồn tại, yếu kém................................................................. 94
2.4.2.2. Nguyên nhân ................................................................................. 95
Chương 3 : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU NÔNG NGHIỆP THANH HÓA ............................................... 97
3.1. Những căn cứ xây dựng định hướng ........................................................... 97
3.1.1. Nhu cầu xã hội, thị trường ............................................................................... 97
3.1.2. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Trung ương và của tỉnh .............. 97
3.1.3. Thực trạng và điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh ............................ 98
3.2. Những định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh hoá............ 99
3.2.1. Định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh hoá ................... 99
3.2.1.1. Định hướng chung ........................................................................ 99
3.2.1.2. Xác định mô hình sản xuất nông nghiệp hợp lý ......................... 101
3.2.1.3. Định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh hoá đến
năm 2020..................................................................................... 103 3.3. Các giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh hoá
đến năm 2020 .................................................................................................. 110
3.3.1. Quy hoạch bố trí lại các ngành sản xuất nông nghiệp ................................ 110
3.3.2. Vấn đề thị trường. ........................................................................................... 110
3.3.3. Giải pháp về vốn. ............................................................................................ 110
3.3.4. Giải pháp về ruộng đất ................................................................................... 111
3.3.5. Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. ....................................... 112
3.3.6. Đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng cơ sở phục vụ sản xuất nông nghiệp 112
3.3.7. Đẩy mạnh công tác khuyến nông. ................................................................. 113
3.3.8. Các giải pháp về cơ chế chính sách .............................................................. 113
3.3.9. Sử dụng hợp lý nguồn nhân lực lao động nông thôn.................................. 114
3.3.10. Sự liên kết 4 nhà ............................................................................................ 115
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ......................................................................................... 117
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 120
PHỤ LỤC .............................................................................................................. 123
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CCNN Cơ cấu nông nghiệp
CNH-HĐH Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
DT Diện tích
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GTSX Giá trị sản xuất
KH-CN Khoa học-Công nghệ
KT-XH Kinh tế-Xã hội
NTTS Nuôi trồng thủy sản
Nxb Nhà xuất bản
SL Sản lượng
V-A-C Vườn-Ao-Chuồng
WB Ngân hàng Thế giới
WTO Tổ Chức Thương mại Thế giới
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1 Diện tích, dân số theo đơn vị hành chính tỉnh Thanh Hóa .................... 33
Bảng 2.2 Các nhóm đất chính của tỉnh Thanh Hóa năm 2009 ............................. 36
Bảng 2.3 Cơ cấu sử dụng đất Tỉnh Thanh Hóa năm 2010 ................................... 38
Bảng 2.4 Quy mô và tốc độ gia tăng dân số tỉnh Thanh Hóa ............................... 44
Bảng 2.5 Dân số, lao động tỉnh Thanh Hóa năm 2010 ......................................... 45
Bảng 2.6 Lao động đang làm việc trong khu vực nông – lâm – ngư nghiệp ........ 46
Bảng 2.7 Số vốn đầu tư cho phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa .. 578
Bảng 2.8 Cơ cấu Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) của Thanh Hóa .................... 61
Bảng 2.9 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất nông-lâm-thủy sản .............. 63
Bảng 2.10 Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa ....... 64
Bảng 2.11 Giá trị sản xuất và tốc độ phát triển ngành nông nghiệp ....................... 65
Bảng 2.12 Chuyển dịch cơ cấu diện tích ngành trồng trọt tỉnh .............................. 67
Bảng 2.13 Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất ngành ngành trồng trọt ................. 68
Bảng 2.14 Diện tích gieo trồng và sản lượng cây lương thực................................. 69
Bảng 2.15 Năng suất lúa đông xuân và lúa mùa tỉnh Thanh Hóa .......................... 69
Bảng 2.16 Diện tích, sản lượng cây lương thực có hạt ......................................... 69
Bảng 2.17 Diện tích một số cây công nghiệp hàng năm......................................... 70
Bảng 2.18 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ........................................................ 40
Bảng 2.19 Chuyển dịch cơ cấu diện tích các cây lâu năm ...................................... 72
Bảng 2.20 Tình hình phát triển chăn nuôi đàn gia cầm, gia súc ............................. 74
Bảng 2.21 Chuyển dịch cơ cấu đàn gia cầm ........................................................... 76
Bảng 2.22 Giá trị sản xuất ngành Thủy sản phân theo ngành hoạt động ............... 77
Bảng 2.23 Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản ........................................... 78
Bảng 2.24 Sản lượng thủy sản nuôi trồng tỉnh Thanh Hóa .................................... 79
Bảng 2.25 Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản Thanh Hóa ........................ 79
Bảng 2.26 Giá trị sản xuất lâm nghiệp phân theo ngành hoạt động ....................... 81
Bảng 3.1 Quy hoạch, định hướng một số cây trồng chủ lực .............................. 104
Bảng 3.2 Quy hoạch, định hướng phát triển chăn nuôi tỉnh Thanh Hóa ........... 106
Bảng 3.3 Quy hoạch đất lâm nghiệp năm 2010 và định hướng năm 2020 ......... 106
DANH MỤC BIỂU ĐỒ-BẢN ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu sử dụng đất tự nhiên tỉnh Thanh Hóa năm 2010 ..................... 40
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa năm 2010 .............. 40
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông-lâm-thủy sản tỉnh Thanh Hóa
thời kì 2000-2010 (theo giá thực tế) .................................................... 65
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu diện tích các loại cây ăn quả tỉnh Thanh Hóa năm 2006 và
2010 ..................................................................................................... 74
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hóa
Hình 2.2 Bản đồ hiện trạng đất nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa năm 2010
Hình 2.3 Bản đồ hiện trạng sản xuất ngành trồng trọt tỉnh Thanh Hóa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp là ngành đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh
tế nói chung và bảo đảm sự sinh tồn của loài người nói riêng. Nông nghiệp cung cấp
nhiều loại sản phẩm cho đời sống, nâng cao mức sống, đảm bảo an ninh lương thực
quốc gia cũng như sự ổn định chính trị xã hội của đất nước. Hiện nay cũng như
trong tương lai, nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng không ngành nào có thể
thay thế được.
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam
vẫn là một nước nông nghiệp. Năm 2005, có khoảng 60% lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, và thuỷ sản. Sản lượng nông nghiệp xuất khẩu chiếm
khoảng 30% trong năm 2005. Tuy nhiên, năng suất lao động và hiệu quả khai thác
nông nghiệp còn thấp, khả năng cạnh tranh chưa cao. Nâng cao hiệu quả của sản
xuất nông nghiệp, thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là nhiệm vụ quan
trọng đối với nước ta, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà Việt Nam đã gia nhập
WTO.
Việt Nam với hơn 70% dân số là nông thôn, kinh tế dựa chủ yếu vào ngành
nông nghiệp thì vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp đặc biệt quan trọng.
Vì việc chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp hợp lý sẽ góp phần nâng cao thu
nhập, nâng cao đời sống cho nhân dân nông thôn, đặc biệt là trong quá trình CNH-
HĐH hiện nay. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp nước ta hiện nay
còn nhiều bất hợp lý và thực sự chưa đạt được mục tiêu mà Đảng và nhà nước đã đề
ra.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nhằm phát triển một nền nông nghiệp toàn
diện đáp ứng yêu cầu về nông sản phẩm của xã hội cũng như xây dựng một ngành
nông nghiệp có cơ cấu hợp lý để phát huy mọi tiềm năng sản xuất phát triển nền
nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện
mức sống, nâng cao hiệu quả cho nền sản xuất, tích lũy vốn cho nền kinh tế. Vì vậy,
thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trên phạm vi cả nước cũng như
với từng địa phương là nhiệm vụ hàng đầu.
Thanh Hóa là tỉnh nông nghiệp, phần lớn dân số, lao động đang sinh sống và
làm việc ở khu vực nông thôn, nhiều vùng đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn,
lao động thiếu việc làm. Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nhằm xây dựng
nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng
hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo
vững chắc an ninh lương thực.
Từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Chuyển dịch cơ
cấu nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
- Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và
cơ cấu nông nghiệp Việt Nam để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất
nông nghiệp, thực trạng cơ cấu, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh
Thanh Hóa. Từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp hợp lý để phát triển bền vững ngành nông nghiệp của tỉnh.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu sản xuất nông nghiệp và
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp.
- Khảo sát, thu thập, tổng hợp tài liệu, tư liệu, phân tích lợi thế so sánh tài nguyên
nông nghiệp và thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh hóa.
- Đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
hợp lý.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp, thực
trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh hóa
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài đ sâu vào nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp (theo nghĩa hẹp) tỉnh Thanh hóa từ năm 2000 đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020.
- Nội dung: tập trung nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh
Thanh hóa trong thời gian qua, đề xuất những giải pháp để chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp với mô hình hợp lý, hiệu quả.
4. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Cho tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu cơ cấu kinh tế trong đó có
vấn đề nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. Có thể kể ra các nghiên
cứu tiêu biểu sau:
- Trương Văn Diện (tạp chí Công nghiệp số tháng 09/2005), “Bàn về cơ sở
khoa học, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở
nước ta hiện nay”. Trả lời câu hỏi tại sao phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
- Tại Viện nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh: “Chuyển dịch cơ
cấu sử dụng đất nông nghiệp phù hợp nền kinh tế hàng hóa”, tác giả có những phân
tích đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo khía cạnh ngành.
- Tại Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung Ương, “Kinh tế Việt Nam
2005”, các tác giả có những phân tích, đánh gía nền kinh tế và sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo khía cạnh ngành, lãnh thổ và thành phần kinh tế năm 2005.
- Trần Anh Phương (thông tin pháp luật dân sự 01/2009), “Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế- Thực trạng và những vấn đề đặt ra”, tác giả có những nhận định, đánh
giá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo các khía cạnh: ngành, lãnh thổ và thành phần
kinh tế, từ 2000 đến năm 2008, các giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế 2010.
- Nghiên cứu luận cứ khoa học về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các địa phương có các
công trình nghiên cứu như: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông
thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh” (2002).
Nhìn chung các công trình nghiên cứu kể trên có đề cập đến cơ cấu kinh tế,
vấn đề nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nhưng còn trên phạm vi cả
nước. Tại địa bàn nghiên cứu là tỉnh Thanh hóa thì đây là công trình nghiên cứu
một cách có hệ thống đầu tiên về vấn đề cơ cấu nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp.
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Những quan điểm chủ yếu
5.1.1 Quan điểm hệ thống, tổng hợp
Cơ cấu nông nghiệp là một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm nhiều tầng bậc
có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nghiên cứu cơ cấu nông nghiệp không thể tách
rời hệ thống kinh tế xã hội của địa phương và cả nước.
Cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh hoá cần được nghiên cứu trong mối quan
hệ tương hỗ: kinh tế-xã hội-môi trường.
5.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Nông nghiệp là ngành phân bố trên phạm vi không gian rộng lớn, trong
đó các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn
nhau. Do đó, cần phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp để xác định hướng phát triển ở hiện tại cũng như tương lai
nhằm khai thác tốt mọi tiềm năng, thế mạnh của tỉnh.
5.1.3 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Mọi sự vật đều có quá trình phát sinh, vận động và biến đổi. Vì vậy, trong quá
trình nghiên cứu đề tài này khi xem xét đánh giá cần đứng trên quan điểm lịch sử.
Áp dụng quan điểm lịch sử trong nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
Thanh hoá để thấy được nguồn gốc phát sinh, quá trình diễn biến của các yếu tố
theo thời gian, không gian trên từng địa bàn cụ thể. Từ đó đánh giá chính xác khả
năng phát triển của ngành nông nghiệp, đồng thời có được những dự báo để điều
chỉnh quá trình phát triển theo hướng tích cực, đảm bảo đạt được mục tiêu phát triển
bền vững.
5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững vừa là quan điểm vừa là mục tiêu nghiên cứu của địa
lý. Phát triển bền vững là sự phát triển không chỉ đáp ứng được nhu cầu của hiện tại
mà còn không làm tổn hại đến sự phát triển trong tương lai. Để đảm bảo đạt được
mục tiêu phát triển bền vững cần phải xem xét vấn đề hài hoà trên cả ba góc độ:
kinh tế-xã hội-môi trường.
5.1.5 Quan điểm kinh tế
Nông nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, vì vậy khi nghiên cứu quá trình
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp cần đứng trên quan điểm kinh tế.
5.2. Các Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu
Phương pháp này giúp tác giả xử lý tài liệu theo mục đích nghiên cứu của
đề tài sau khi đã thu thập được tài liệu. Phương pháp này còn giúp giảm "độ vênh"
giữa các tài liệu do được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau. Từ đó có được hệ
thống các số liệu có đủ độ tin cậy, từng bước đối chiếu và rút ra những luận điểm là
cơ sở cho những nhận định hoặc kết luận khoa học của đề tài.
5.2.2 Phương pháp thống kê toán học
Trên cơ sở số liệu đã thu thập được từ nhiều nguồn, qua quá trình nghiên
cứu đã sử dụng phương pháp thống kê như một công cụ để nhận biết những giá trị
gần đúng, xác thực nhất.Qua đó nhận biết được đặc điểm, hiện trạng cũng như xu
thế phát triển nền nông nghiệp của tỉnh.
5.2.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
Vận dụng phương pháp phân tích tổng hợp để phân tích các mối quan hệ
về không gian và thời gian, về các ngành và các lĩnh vực kinh tế để nhận biết hiện
trạng cơ cấu nông nghiệp.
5.2.4 Phương pháp bản đồ
Quá trình nghiên cứu đã sử dụng bản đồ như một phương tiện nhằm phản
ánh các kết quả nghiên cứu về các hiện tượng kinh tế xã hội của nông nghiệp Thanh
hoá
5.2.5 Phương pháp khảo sát thực địa
Mỗi đối tượng, sự vật trong nông nghiệp đều gắn liền với một không gian
nhất định. Vì vậy, để quá trình nghiên cứu có hiệu quả cần tiến hành khảo sát ngoài
thực địa. Trong đề tài này, phương pháp được sử dụng để thu thập, bổ sung tư liệu
về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cũng như hiện trạng phát triển nông nghiệp của
tỉnh.
5.2.6 Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh
Thanh hóa, để nhìn nhận đánh giá quá trình chuyển dịch một cách khách quan,
chính xác cần tiến hành lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lí và nông dân.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung chính của luận văn được trình bày qua 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp
Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Các định hướng và những giải pháp chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU NÔNG NGHIỆP
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu được dùng để chỉ cách tổ chức, cấu tạo, sự điều chỉnh các yếu tố tạo
nên một hình thể, một vật hay một bộ phận.
Sự phát triển của sản xuất dẫn đến quá trình phân công lao động xã hội. Tuỳ
thuộc vào tính chất sản phẩm, chuyên môn kỹ thuật mà chia thành từng ngành, lĩnh
vực khác nhau. Nhưng trong nền sản xuất, các ngành, lĩnh vực này không thể hoạt
động một cách độc lập mà phải có sự tương tác qua lại lẫn nhau, hỗ trợ và thúc đẩy
nhau cùng phát triển.
Từ đó đòi hỏi nhận thức đầy đủ về mối quan hệ giữa các bộ phận. Sự phân
công và mối quan hệ hợp tác trong hệ thống thống nhất là tiền đề cho quá trình hình
thành cơ cấu kinh tế.
“Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với
quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất” [ 17, tr 17]. Do
đó, khi phân tích cơ cấu, phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng,
cơ cấu chính là sự phân chia về chất và tỉ lệ về số lượng của những quá trình sản
xuất xã hội. Như vậy, cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế
với vị trí, tỉ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định
hợp thành.
“Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế với
vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định
giữa chúng hợp thành trong một khoảng thời gian nhất định” [ 29 ]. Cơ cấu
kinh tế được hình thành và phát triển dựa trên những cơ sở chủ yếu sau:
- Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan phản ánh trình độ phát triển của xã
hội và các điều kiện phát triển của một quốc gia.
- Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có
quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian và thời
gian nhất định, trong điều kiện xã hội cụ thể, hướng vào những mục tiêu đã định.
- Cơ cấu kinh tế có sự phân công lao động, có các ngành, lĩnh vực, bộ phận
kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất nhất định sẽ hình thành một cơ cấu
kinh tế với tỉ lệ cân đối tương ứng với các bộ phận, tỉ lệ đó được thay đổi thường
xuyên và tự giác theo quá trình diễn biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả
năng đáp ứng nhu cầu đó.
- Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt, cô đọng nội dung chiến lược phát triển
kinh tế-xã hội của từng giai đoạn phát triển nhất định. Nhưng không vì thế mà áp
đặt chủ quan, tự đặt cho các ngành những tỉ lệ và vị trí trái ngược với yêu cầu và xu
thế phát triển của xã hội. Mọi sự áp đặt chủ quan, nóng vội nhằm tạo ra một cơ cấu
kinh tế theo ý muốn, thường dẫn đến tai hoạ không nhỏ, bởi sai lầm về cơ cấu kinh
tế là sai lầm chiến lược, khó khắc phục, hậu quả lâu dài.
Các yếu tố tạo nên cơ cấu của nền kinh tế không ngừng thay đổi, do đó cơ
cấu kinh tế cũng thay đổi theo từng thời kì phát triển. Quá trình thay đổi đó của cơ
cấu kinh tế người ta gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nói một cách khác, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế là quá trình cơ cấu kinh tế chuyển từ trạng thái này sang trạng
thái khác. Nếu cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, hợp lý thì kết quả đem lại sẽ
có lợi cho con người và ngược lại cơ cấu kinh tế chuyển dịch sai sẽ dẫn kết quả xấu,
gây tốn kém, trở ngại, làm tri trề sự phát triển và gây lại hậu quả tệ hại cho xã hội.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó
nhu cầu của con người và tiến bộ khoa học- công nghệ có vai trò quyết định.
Khi xem xét chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xác định trạng thái cơ cấu kinh tế
tốt hay xấu để quyết định có cần chuyển dịch hay không, và nếu cần thì chuyển dịch
theo hướng nào. Nghiên cứu cơ cấu kinh tế có nhiệm vụ phân tích xem xét nền kinh
tế được cấu tạo từ những nhân tố nào, quan hệ giữa các nhân tố với nhau và với
tổng thể ra sao, nền kinh tế chịu sự tác động của môi trường xung quanh như thế
nào. Từ đó, nắm được xu hướng vận động của nền kinh tế theo từng thời kỳ để có
những tác động cần thiết, thúc đẩy hay hạn chế xu hướng tích cực hay tiêu cực,
nhằm đạt tới được các mục tiêu đã đinh trước. Nghiên cứu cơ cấu kinh tế có ý nghĩa
chỉ đạo rất lớn đối với thực tiễn xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý cho từng thời kỳ
phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá
trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất. Khi phân tích cơ cấu
kinh tế phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng, cơ cấu chính là sự
phân chia về chất và tỉ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội. Như vậy,
cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỉ trọng
tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành.
Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới các góc độ khác nhau như: cơ cấu ngành
kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế. Đây là ba bộ phận cơ bản
và có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó, cơ cấu ngành kinh tế có vị trí chủ yếu
trong cơ cấu kinh tế của mọi quốc gia.
- Cơ cấu ngành kinh tế:
Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các nhóm ngành hợp thành các tương quan tỷ
lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu
ngành phản ánh trình độ phân công lao động và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất của nền kinh tế.
Hiện nay cơ cấu ngành kinh tế được phân theo ba nhóm chủ yếu sau:
+ Nhóm ngành nông nghiệp: Gồm nông, lâm, ngư nghiệp.
+ Nhóm ngành công nghiệp: Gồm công nghiệp và xây dựng.
+ Nhóm ngành dịch vụ: Gồm thương mại và dịch vụ.
- Cơ cấu vùng kinh tế:
Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ được hình thành bởi việc bố trí sản xuất
theo không gian địa lý. Trong cơ cấu vùng kinh tế có sự biểu hiện của cơ cấu ngành
trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ. Tuỳ theo tiềm năng phát triển kinh
tế, gắn liền với sự hình thành và phân bố dân cư trên lãnh thổ để phát triển tổng hợp
hay ưu tiên một vài ngành kinh tế nào đó. Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ phản
ánh khả năng khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế – xã hội của mỗi vùng trong cơ
cấu kinh tế quốc dân thống nhất.
- Cơ cấu thành phần kinh tế:
Cơ cấu kinh tế gắn với chế độ sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất sẽ hình
thành nên cơ cấu thành phần kinh tế.
Cơ cấu theo thành phần kinh tế phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ
chức sản xuất – kinh doanh và mọi nguồn lực phát triển của mọi thành viên xã hội.
1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, cơ cấu kinh tế luôn có sự
thay đổi. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình vận động của các bộ phận, thành
phần trong nền kinh tế, là sự biến đổi phá vỡ cơ cấu cũ và sự điều chỉnh để tạo ra cơ
cấu kinh tế mới ổn định, cân đối.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình tích lũy về lượng, dẫn đến sự
biến đổi về chất của cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo yêu cầu và phương hướng tiến bộ hơn mang
tính quy luật trong điều kiện cụ thể của bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa.
Biểu hiện của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế:
Tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế tăng lên,
còn tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm xuống. Tức là tỷ trọng các ngành có năng suất
lao động lao động cao, chứa đựng hàm lượng công nghệ cao và chất xám ngày càng
lớn và tỷ trọng các ngành có năng suất lao động thấp giảm đi trong toàn bộ bức
tranh phân công lao động xã hội. Xu hướng tăng, giảm này diễn ra càng nhanh càng
tốt.
Trong nội bộ các ngành, tỷ trọng sản xuất hàng hóa cũng như tỷ lệ sản phẩm
chứa hàm lượng công nghệ cao, chứa nhiều chất xám tăng lên, làm cho độ mở của
nền kinh tế lớn lên. Độ mở của nền kinh tế càng lớn chứng tỏ nền kinh tế hội nhập
càng mạnh với bên ngoài, bên cạnh mặt tích cực của xu hướng này cũng phải chú ý
đến vấn đề phụ thuộc vào bên ngoài khi kinh tế mở cửa, khi hội nhập sâu.
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu các loại hình kinh tế cũng diễn ra đồng thời: tỷ
trọng của bộ phận kinh tế tư nhân ngày càng tăng, tỷ trọng của bộ phận kinh tế nhà
nước có thể giảm xuống tương đối, song vai trò then chốt và chủ đạo của nó trong
nền kinh tế vẫn được đảm bảo. Hình thức kinh tế hỗn hợp mà tiêu biểu là kinh tế cổ
phần sẽ trở nên thịnh hành.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ đơn giản đến phức tạp( tức là số ngành, số sản
phẩm ngày càng nhiều, phạm vi liên kết ngày càng rộng, từ ít đến nhiều, từ trong ra
ngoài), từ trạng thái có trình độ thấp sang trạng thái có trình độ cao hơn( ý nói trình
độ công nghệ và quy mô, chất lượng hàng hóa ngày một cao) nhằm đem lại lợi ích
lớn hơn như mong muốn của con người qua các thời kì phát triển. Nếu cơ cấu kinh
tế được lựa chọn sai hoặc lựa chọn đúng nhưng không đủ điều kiện cần thiết và việc
điều hành kém thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ dễ dẫn đến chiều hướng không theo
mong muốn, tức là chiều hướng xấu. Nhà nước có vai trò lớn trong chuyển dịch cơ
cấu kinh tế
Để đánh giá mức độ, kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, người
ta thường căn cứ vào các tiêu chí:
- Tỷ trọng và vị trí, tác động của các ngành phi nông nghiệp (công nghiệp,
xây dựng và dịch vụ) trong nền kinh tế.
Tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp càng cao thì cơ cấu kinh tế có trình độ
càng cao. Hiện nay, người ta thường cho rằng một nền kinh tế đang phát triển muốn
trở thành một nền kinh tế công nghiệp hoá thì phải giảm được tỷ trọng nông nghiệp
xuống dưới 20% GDP, nâng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ mỗi ngành lên mức
trên dưới 40% GDP. Đối với các nền kinh tế công nghiệp hoá cao thì tỷ trọng nông
nghiệp phải giảm dưới 10%, thậm chí dưới 5%.
- Sự liên kết giữa các ngành, giữa các lãnh thổ: Sự liên kết được thể hiện qua
mối quan hệ phối hợp hoặc cung cấp thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, dịch vụ,
cũng như kết hợp tạo ra sản phẩm cuối cùng một cách có hiệu quả. Sự thay đổi cơ
cấu vùng theo hướng công nghiệp hoá có thể được đo bằng các tiêu chí như : Mức
độ đô thị hoá, sự tăng trưởng thực tế của các khu vực công nghiệp, sự chuyển dịch
cơ cấu lao động và dân cư.
- Trình độ công nghệ và sức cạnh tranh giữa các ngành :
Trong nội bộ ngành nông nghiệp, tính chất công nghiệp hóa nông nghiệp thể
hiện ở mức độ chuyển hướng các phương pháp canh tác thủ công cổ truyền, giảm
các phương pháp canh tác thô sơ, tăng các hoạt động canh tác bằng phương pháp
công nghiệp, áp dụng cách mạng xanh, cách mạng trắng, cơ khí hoá, điện khí hoá,
tự động hoá, vi sinh hoá…
Trong công nghiệp, đó là mức độ ứng dụng khoa học – kỹ thuật, công nghệ
hiện đại vào sản xuất.
Cơ cấu kinh tế ở nước ta và các nước trên thế giới chuyển dịch theo các xu
hướng sau:
- Xu hướng chuyển dịch từ nền kinh tế tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng
hoá.
- Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng trong
công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng trong nông nghiệp.
- Xu hướng chuyển dịch từ cơ cấu nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở,
hướng xuất khẩu.
- Xu hướng chuyển dịch từ nền kinh tế với công nghệ cũ, lạc hậu, năng suất lao
động thấp, chất lượng sản phẩm kém sang nền kinh tế cơ giới hoá với công nghệ tiên
tiến, kỹ thuật hiện đại, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm cao hơn, từng bước
chuyển sang nền kinh tế tri thức với công nghệ cao, điện tử hoá, tin học hoá, tự động
hoá… và đội ngũ lao động trí tuệ đông đảo.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta trước đây trong điều kiện cơ sở hạ
tầng, trình độ khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin còn thấp kém,
kinh tế - xã hội còn lạc hậu, môi trường còn chưa bị ô nhiễm nặng. Hiện nay, Việt
Nam đã trở thành thành viên của WTO, nước ta phải thực hiện cải cách cơ bản nền
kinh tế vì chúng ta là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thế giới, mà nền kinh
tế thế giới sẽ phát triển theo hướng tiết kiệm năng lượng, bảo vệ khí hậu, bảo vệ
môi trường, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.
Qua thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta trong thời kỳ đổi mới
kinh tế trước đây và tình hình kinh tế - xã hội ở nước ta những năm gần đây, trong
điều kiện kinh tế thế giới khủng hoảng hiện nay, có thể thấy nổi lên nhiều vấn đề
quan trọng có liên quan mật thiết với nhau trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước
ta như chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành; chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, miền,
địa phương; chuyển dịch cơ cấu kinh tế doanh nghiệp; chuyển dịch cơ cấu vốn;
chuyển dịch cơ cấu lao động; chuyển dịch cơ cấu thị trường, cơ cấu thể chế kinh tế.
1.1.3. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất được hình thành sớm nhất trong
lịch sử phát triển kinh tế của nhân loại. Vì vậy, nó luôn có vai trò quan trọng trong
hoạt động của nền kinh tế quốc dân của hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là
đối với các nước đang phát triển như nước ta hiện nay. Cho nên phát triển nông
nghiệp là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội nước
ta hiện nay. Theo nghĩa rộng, nông nghiệp bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp,
còn theo nghĩa hẹp, nông nghiệp bao gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch
vụ nông nghiệp.
Cơ cấu nông nghiệp là chỉ mối quan hệ hợp thành của các sản phẩm nông
nghiệp tuỳ theo mục tiêu sản xuất của con người ở từng địa bàn cụ thể trong một
khoảng thời gian nhất định.
Nông nghiệp là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống nền kinh tế
quốc dân. Nhưng đồng thời bản thân nông nghiệp cũng là một hệ thống nhỏ được
cấu thành bởi các bộ phận khác nằm trong tổng thể hệ thống kinh tế quốc dân. Cơ
cấu nông nghiệp bao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu
lãnh thổ. Trong bản thân từng nhóm ngành nông nghiệp cũng tồn tại cơ cấu ngành.
1.1.4. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu nông nghiệp nói riêng luôn thay đổi theo
từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế không cố định. Đó là
sự thay đổi số lượng các ngành (nông, lâm, ngư nghiệp) hoặc sự thay đổi về quan hệ
tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của
một số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu sản xuất nông
nghiệp là không đồng đều.
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, là một bộ phận cấu thành
quan trọng của nền kinh tế quốc dân, nên có thể hiểu cơ cấu kinh tế nông nghiệp là
tổng thể các mối quan hệ về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận cấu thành nền
nông nghiệp diễn ra trong không gian, thời gian và điều kiện kinh tế - xã hội nhất
định.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp là quá trình chuyển dịch các
nguồn lực trong nông nghiệp nhằm gia tăng sản lượng các ngành, trong đó các
ngành có năng suất lao động cao hơn sẽ có tỷ trọng tăng và xu hướng chung đối với
sản xuất nông nghiệp của hầu hết các nước là tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản phi
lương thực, nhất là các sản phẩm chăn nuôi, thuỷ sản ngày càng tăng khi thu nhập
của dân cư tăng lên..
Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu nông nghiệp nói riêng luôn thay đổi theo
từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế không cố định. Đó là
sự thay đổi số lượng các ngành (nông, lâm, ngư nghiệp) hoặc sự thay đổi về quan hệ
tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của
một số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế là
không đồng đều.
Có thể nói, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là sự thay đổi tỉ trọng các
ngành của nông nghiệp cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng lãnh
thổ. Đây không đơn thuần là sự thay đổi vị trí mà là sự biến đổi cả về lượng và chất
trong nội bộ cơ cấu. Việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp phải dựa trên cơ sở một
cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ, lạc hậu
hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu
kinh tế cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cần được tiến hành khẩn trương. Mục
đích của chuyển dịch là tạo ra sự cân đối giữa nông nghiệp và các ngành kinh tế
khác trong nền kinh tế quốc dân. Đồng thời tạo dựng một ngành nông nghiệp có cơ
cấu hợp lý, qua đó phát huy mọi tiềm năng sản xuất, lợi thế so sánh của từng vùng,
từng miền và trên cả nước nhằm phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn,
giải quyết công ăn việc làm cho nông dân, nâng cao thu nhập và mức sống cho
người nông dân ở nông thôn.
Như vậy, chuyển dịch CCNN thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt
biểu hiện của cơ cấu (ngành, vùng, thành phần) nhằm hướng sự phát triển của toàn
bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định cho từng thời kỳ phát
triển. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp hiện nay là hướng tới nền
nông nghiệp sản xuất thâm canh, đa dạng theo hướng sản xuất hàng hóa lớn tạo ra
nhiều hàng hóa có giá trị, xu hướng chung là giảm dần tỉ trọng của ngành trồng trọt,
thay vào đó ngành chăn nuôi có xu hướng tăng phù hợp với nhu cầu của thị trường.
1.2. Một số vấn đề cơ sở lí luận
1.2.1. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tăng trưởng và
phát triển nông nghiệp
Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế là ba
khái niệm khác nhau về bản chất nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ tương tác và
hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp với tăng trưởng: tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng về
sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất
định. Nó vừa là mục tiêu, vừa là thước đo quan trọng phản ánh sự tăng lên về quy
mô sản lượng và sản lượng bình quân đầu người của một nền kinh tế. Qua đó có thể
hiểu tăng trưởng nông nghiệp là sự tăng lên về sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong
lĩnh vực nông nghiệp.
Nguồn gốc của tăng trưởng nông nghiệp dựa trên cơ sở của sự gia tăng các
nguồn lực đầu vào cơ bản đối với quá trình sản xuất nông nghiệp là đất đai, vốn, lao
động và công nghệ. Mặt khác, để đảm bảo vai trò cung cấp đủ lương thực, thực
phẩm thiết yếu cho tiêu dùng của dân cư ngày càng tăng, nguyên liệu cho phát triển
công nghiệp, vốn và ngoại tệ cho tích lũy ban đầu để đầu tư phát triển các ngành
nền kinh tế khác, đòi hỏi các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp phải không
ngừng gia tăng quy mô sản lượng, nghĩa là tăng trưởng. Tuy nhiên, mức tăng sản
lượng giữa các ngành, giữa các lĩnh vực là không giống nhau, nhờ đó tạo sự chuyển
dịch về cơ cấu giữa các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp. Nhưng nếu sự tăng
trưởng đó không được định hướng bằng một cơ cấu hợp lý, dễ dẫn tới chất lượng
tăng trưởng không cao. Ngược lại, sự đổi mới cơ cấu các ngành, các lĩnh vực trong
nông nghiệp thể hiện bằng việc bố trí lại các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản
xuất, điều chỉnh cơ cấu tích lũy và tiêu dùng, thay đổi các biện pháp tạo cung và
cầu, sẽ làm cho năng suất của các ngành, các lĩnh vực đó tăng lên và gia tăng sản
lượng.
Như vậy, có thể xem sự thay đổi cơ cấu và nhịp độ tăng trưởng kinh tế trong
nông nghiệp là hai phạm trù thay nhau mang bản chất của mối quan hệ nguyên nhân
và kết quả. Nếu nhịp độ tăng trưởng cao sẽ thúc đẩy biến đổi cơ cấu nhanh và cơ
cấu biến đổi nhanh sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội và tăng chất lượng tăng
trưởng. Do đó, cơ cấu kinh tế được xem là phương tiện để thực hiện mục đích là
thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng kinh tế và khi nói đến chuyển dịch cơ cấu tinh tế đã
bao hàm cả tăng trưởng kinh tế và ngược lại.
Ngày nay, hầu hết các nhà kinh tế học coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một
trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của một nền kinh tế [21,
tr.33]. Bởi vì, có những quốc gia đạt được mức tăng trưởng nông nghiệp rất cao
nhưng vẫn còn một bộ phận lớn người dân sống ở nông thôn có thu nhập dưới mức
nghèo đói. Đây là hệ quả của sự chuyển dịch thiếu cân đối giữa các ngành kinh tế,
giữa các thành phần kinh tế và giữa các vùng lãnh thổ của nền kinh tế đó. Mặt khác,
sự tăng trưởng nhanh chóng của nền tinh tế có thể kéo theo sự khai thác tài nguyên
thiên nhiên bừa bãi, khiến cho các nguồn tài nguyên bị kiệt quệ, làm phá vỡ cân
bằng môi trường sinh thái hoặc cùng với tăng trưởng là sự bất bình đằng về kinh tế,
chính trị và nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp bị hạ thấp hoặc mất cân đối, dẫn tới cơ
cấu xã hội bị đảo lộn và bất ổn định. Tuy nhiên, nếu chỉ nhấn mạnh đến công bằng
xã hội và bền vững môi trường tự nhiên sẽ dẫn tới phát triển dàn trải giữa các ngành
và giữa các vùng, dẫn tới tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu diễn ra chậm, không
đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vì thế, để bảo
đảm hài hòa cả mục tiêu trước mắt và lâu dài, nhiều nước chọn con đường phát triển
toàn diện thông qua tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với nâng cao chất lượng tăng
trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tóm lại, có thể thấy được mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu với tăng
trưởng và phát triển kinh tế nông nghiệp ở một số nội dung cơ bản sau:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là điều kiện cơ bản để xóa bỏ những mất cân
đối đang tồn tại, tạo ra một trình độ cân đối mới cao hơn làm tiền đề cho tăng
trưởng cao và phát triển ổn định trong nông nghiệp, nông thôn và ngược lại.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình thực hiện phân bố lại
các nguồn lực đầu vào đối với quá trình sản xuất, đó cũng chính là nguồn gốc của
tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp không chỉ thúc đẩy phân công lại
lao động xã hội bên trong lãnh thổ mà còn thúc đẩy quá trình tham gia vào hợp tác
lao động quốc tế tạo thuận lợi cho từng ngành chủ động hội nhập kinh tế khu vực và
quốc tế sâu hơn, cạnh tranh mạnh mẽ hơn, nhờ đó mà kích thích tăng trưởng và phát
triển tinh tế.
1.2.2. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Hoạt động sản xuât nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện khách quan.
Trước hết nông nghiệp khác cơ bản với các ngành khác ở chỗ tư liệu sản xuất chủ
yếu là đất đai, điều kiện tự nhiên. Ngành nào tiến hành sản xuất kinh doanh cũng
cần đất đai, nhưng không có ngành nào đất đai đóng vai trò chủ đạo như nông
nghiệp. Gắn liền với vai trò của đất đai là ảnh hưởng của thời tiết. Cũng không có
ngành nào, ngoài nông nghiệp phụ thuộc vào sự biến động thất thường của thời tiết
như vậy. Cùng với sự biến động của thời thiết, điều kiện thổ nhưỡng, độ màu mỡ
của đất đai mỗi nơi mỗi khác nên việc lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi và kỹ
thuật canh tác cũng khác nhau. Trong nông nghiệp sự khác nhau về chất lượng đất
trồng, khí hậu, nguồn nước sẵn có dẫn đến việc sản xuất chủng loại cây khác nhau
và sử dụng các biện pháp canh tác khác nhau.
Ngành nông nghiệp có đặc điểm là tỷ trọng lao động và sản phẩm trong nền
kinh tế có xu hướng giảm dần. Ở các nước đang phát triển nông nghiệp tập trung
nhiều lao động hơn hẳn với các ngành khác, trung bình thường chiếm từ 60% - 80%
lực lượng lao động xã hội. Ngược lại ở các nước phát triển tỷ lệ này không quá
10%. Về sản phẩm, giá trị sản lượng nông nghiệp ở các nước đang phát triển thường
chiếm từ 30 – 60%, trong khi ở các nước phát triển tỷ lệ này thường dưới 10%. Sự
biến động này chịu sự tác động của quy luật tiêu dùng sản phẩm và quy luật tăng
năng suất lao động.
1.2.3. Tính tất yếu khách quan của chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
1.2.3.1. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nhằm phát huy lợi thế của
vùng và địa phương
Nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế đặc biệt với các
nước đang phát triển như Việt Nam. Khu vực nông nghiệp cũng có thể là một nguồn
cung cấp vốn cho phát triển kinh tế. Với một đất nước có hơn 70% dân số ở nông
thôn, nông nghiệp thực sự đóng góp nhu cầu lâu dài về mặt phát triển kinh tế, phát
huy lợi thế tiềm năng không chỉ của cả nước mà còn đối với từng địa phương. Đẩy
mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng đồng nghĩa với việc tập trung
hướng sản xuất vào việc tạo ra những nhóm sản phẩm hàng hóa theo quy mô lớn,
công nghệ sạch, đạt chất lượng, hiệu quả và giá trị cao, gắn với chương trình mục
tiêu xây dựng nông thôn mới. Phát triển công nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn
nhanh và bền vững, nâng cao sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Khai thác
tốt tiềm năng, tạo bước đột phá trong kinh tế dịch vụ để tăng nhanh tỷ trọng trong
cơ cấu tổng thể của nền kinh tế. Huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để
phát triển.
1.2.3.2. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là cách thức chuyển giao
công nghệ
Để thực hiện chuyển dịch nhanh CCNN, nông thôn theo hướng bền vững,
cần coi trọng sự gắn kết chặt chẽ và hiệu quả giữa sản xuất nông sản nguyên liệu và
công nghiệp chế biến sâu, phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp quy mô lớn
và mở rộng dịch vụ nông thôn. CCNN phải chuyển dịch mạnh theo hướng tăng
năng lực cạnh tranh và có khả năng thích ứng linh hoạt với sự biến đổi mau lẹ của
thị trường. Đó là yêu cầu hàng đầu, quyết định cho sự phát triển. Muốn vậy, phải
nâng cấp công nghệ thông qua việc chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới
nhất đảm bảo cho sự phát triển nông nghiệp trong thời kì mới.
1.2.3.3. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nhằm nâng cao đời sống,
giảm đói nghèo
Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Các sản phẩm
của ngành nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào quan trọng của công
nghiệp chế biến qua đó sẽ nâng cao giá trị của nông sản trên thị trường đặc biệt là
hướng vào sản phẩm xuất khẩu. Qua đó tạo việc làm cho đa số lao động nông thôn.
Nông nghiệp tạo ra thu nhập chính cho bộ phận dân cư ở nông thôn góp phần nâng
cao đời sống, giảm đói nghèo.
1.2.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
1.2.4.1. Nhân tố tự nhiên
Các điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng lãnh thổ có vai trò quan
trọng trong việc hình thành và tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu nền nông nghiệp.
- Vị trí địa lý của một vùng lãnh thổ góp phần tạo ra sự hình thành và chuyển
dịch cơ cấu nông nghiệp của vùng đó.
- Các nhân tố tự nhiên: đất đai, khí hậu, nguồn nước, sinh vật…là một trong
những nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất, là điều kiện cần thiết để phát triển các
ngành nông nghiệp.
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, quan trọng và không thể thiếu của ngành
nông nghiệp. Đất đai có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố cây trồng, vật nuôi. Mỗi địa
phương có cơ cấu các loại đất khác nhau, thích hợp với các cây trồng vật nuôi khác
nhau.
Khí hậu, thời tiết ảnh hưởng đến thời vụ sản xuất, cơ cấu cây trồng, cơ cấu
mùa vụ. Nước ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nên các nông sản
nhiệt đới rất đa dạng, nếu khai thác tốt, lựa chọn các cây trồng, vật nuôi phù hợp sẽ
mang lại hiệu quả cao.
Như vậy, nước ta có nhiều điều kiện ưu đãi của thiên nhiên, có nhiều nguồn
tài nguyên thuận lợi cho phát triển và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. Tuy nhiên
tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn, do đó cần tính toán chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp để đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đó, đồng thời bảo vệ môi
trường sống cho thế hệ sau.
1.2.4.2. Nhân tố kinh tế-xã hội
Thị trường tiêu thụ
Thị trường là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến sự hình
thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn nói riêng. Nhân tố thị trường tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu các ngành
kinh tế ở nông thôn, thể hiện như sau:
- Nhu cầu của thị trường thúc đẩy sự phân công lao động xã hội, đa dạng hoá
ngành nghề ở nông thôn, khuyến khích mở rộng đầu tư trong và ngoài nước, tạo ra
sự tăng trưởng nhanh cho các ngành kinh tế ở nông thôn nói riêng và cả nước nói
chung.
- Đời sống ngày càng được nâng cao cùng với sự phát triển của nền kinh tế,
vì thế nhu cầu của con người cũng có nhiều thay đổi, chú trọng nhiều đến chất
lượng, an toàn đối với các sản phẩm nông nghiệp. Chính tác động của sự cạnh tranh
và nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao trên thị trường tạo động lực thúc đẩy ứng dụng
tiến bộ khoa học – kỹ thuật, đổi mới công nghệ. Thông qua lợi ích kinh tế thu được
sẽ tạo ra động lực chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở nước ta nói chung và Thanh
Hóa nói riêng.
Dân cư, lao động
- Dân số, lao động: được xem là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế
nói chung, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu nông nghiệp nói riêng. Dân số và
tốc độ tăng dân số của một quốc gia hay vùng lãnh thổ có ảnh hưởng đến quá trình
tăng trưởng kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhân tố này ảnh hưởng
đến sự chuyển dịch ở hai khía cạnh: là lực lượng sản xuất và thị trường tiêu thụ. Đối
với nền nông nghiệp còn dựa vào lao động nhiều như ở nước ta, có một nguồn lao
động dồi dào thì sẽ có nguồn nhân lực phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nhiều hơn.
Đồng thời các sản phẩm nông nghiệp làm ra cũng đòi hỏi nguồn tiêu thụ nhanh
chóng và rộng rãi. Vì vậy, dân cư và lao động là nhân tố rất quan trọng đối với quá
trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp.
Vốn đầu tư
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu trong quá trình sản xuất, quyết định sự
tăng trưởng, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh nông nghiệp một cách nhanh chóng.
Vốn đầu tư là chìa khoá cho mọi sự phát triển của quốc gia nói chung và địa
phương nói riêng. Không có vốn đầu tư để hiện đại hoá trang thiết bị, cơ giới hóa,
điện khí hóa, ứng dụng khoa học công nghệ mới,… thì khó có thể chuyển dịch cơ
cấu nông nghiệp một cách thuận lợi, nhanh chóng.
Tiến bộ khoa học kĩ thuật
Việc áp dụng các tiến bộ khoa học trong sản xuất nông nghiệp không chỉ làm
tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp mà còn góp phẩn hạn chế ảnh
hưởng của các điều kiện tự nhiên, nâng cao tính chủ động của sản xuất nông nghiệp,
giúp nền nông nghiệp phát triển thao chiều sâu. Tiến bộ khoa học kĩ thuật trong chế
biến nông sản làm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp, góp phần thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp, hình thành các vùng chuyên môn hóa sản xuất.
Dưới tác động của khoa học công nghệ sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất,
công nghệ, các phương pháp sản xuất mới làm tăng năng suất, chất lượng đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của thị trường, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp. Cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật
Để phát triển và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, thủy lợi hóa, cơ giới hóa
được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Các giống cây trồng, vật nuôi mới chỉ có
thể cho năng suất và hiệu quả cao khi được đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tưới tiêu,
cải tạo hệ thống đồng ruộng đảm bảo cho việc thâm canh. Phát triển kết cấu hạ tầng
tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các vùng nông sản phục vụ xuất khẩu,
đồng thời tạo ra bước chuyển biến đáng kể về năng suất, chất lượng và hiệu quả
trong sản xuất nông nghiệp.
Đường lối chính sách và xu hướng phát triển nông nghiệp
Đường lối chính sách phát triển nông nghiệp là căn cứ, cơ sở để định hướng
sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. Đảng và Nhà nước đã có nhiều
chính sách có ảnh hưởng lâu dài đối với SXNN. Tiêu biểu: Khoán 10, khoán 100,
phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại hướng ra xuất khẩu…
Đường lối chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu nông nghiệp nói riêng. Đường lối,
chính sách phù hợp với quy luật khách quan và tình hình thực tiễn sẽ đem lại hiệu
quả cao, đồng thời tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo
ngành, theo lãnh thổ và theo thành phần kinh tế diễn ra nhanh và hiệu quả.
Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế đã hình thành mạng lưới sản xuất quốc tế,
cùng với việc ứng dụng các công nghệ mới và sự phát triển mạnh mẽ của các công
ty đa quốc gia đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch sản xuất vượt xa hơn biên giới của
một vùng lãnh thổ.
Xu thế này tạo ra sự đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, thúc
đẩy hợp tác với nhau một cách toàn diện cả trong sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch
vụ và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ.
Do đó, xu thế này buộc các nước phải điều chỉnh chiến lược phát triển kinh
tế – xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp, đảm bảo cho nền
kinh tế ổn định và phát triển.
1.2.5. Các chỉ tiêu phản ánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Khi phân tích tác động của các nhân tố đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp cần chú ý phân tích cả những thay đổi về lượng (các quan hệ tỷ lệ) hay kết
quả chuyển dịch cơ cấu và những thay đổi về chất hay hiệu quả chuyển dịch do các
yếu tố tác động mang lại. Tuy nhiên, việc xác định chỉ tiêu đo lường các kết quả này
cho đến nay vẫn còn có những quan điểm khác nhau, nhưng về cơ bản gồm có các
nhóm chỉ tiêu chủ yếu dưới đây:
Nhóm tiêu chí phản ánh kết quả, hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên 3
mặt cơ bản gồm: cơ cấu GDP hoặc cơ cấu giá trị sản xuất, cơ cấu lao động và cơ
cấu hàng xuất khẩu của các ngành trong nông nghiệp. Cơ cấu GDP hoặc cơ cấu giá
trị sản xuất nông nghiệp: đây là một trong những thước đo khái quát nhất, phổ biến
nhất để đo lường, đánh giá trạng thái, xu hướng và mức độ thành công của quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh
giá gồm có :
- GDP và tỉ trọng GDP nông nghiệp trong GDP nền kinh tế (3 khu vực)
- GTSX và tỉ trọng GTSX các ngành nông nghiệp
- GTSX và tỉ trọng GTSX nội bộ các ngành nông;
- Tăng trưởng GDP và GTSX của các ngành trong nông nghiệp;
- GDP và GTSX của các ngành trong nông nghiệp bình quân đầu người.
Thông qua kết quả của các chỉ tiêu có thể rút ra những nhận định về trạng
thái chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ổn định hay không ổn định, xu hướng chuyển
dịch có đúng hướng hay không đúng hướng, mức độ chuyển dịch nhanh hay chậm
và nền kinh tế tăng trưởng cao hay thấp, bền vững hay không bền vững.Quy luật
chung là tỉ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân và tỉ
trọng đóng góp của trồng trọt trong ngành nông nghiệp có xu hướng giảm dần.
Cơ cấu lao động nông nghiệp: phản ánh tầm quan trọng của ngành trong
nông nghiệp về việc sử dụng nguồn lao động xã hội và chỉ tiêu chủ yếu được sử
dụng để đánh giá gồm có:
- Tỉ trọng lao động làm việc trong ngành nông nghiệp so với tổng lao động
đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân;
- Tỉ trọng lao động nông nghiệp làm việc trong các ngành của nông nghiệp
so với tổng lao động nông nghiệp; GDP và GTSX nông nghiệp bình quân lao động
nông nghiệp (năng suất lao động nông nghiệp); Quy luật chung là tỉ trọng lao động
nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân và tỉ trọng lao động trồng trọt cô xu hướng
giảm dần; đồng thời ngành nào có năng suất lao động cao thì ngành đó có tốc độ
tăng trưởng và tỉ trọng sản lượng đầu ra tăng.
Cơ cấu hàng xuất khẩu: phản ánh mức độ thành công của quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hội nhập và chỉ tiêu chủ yếu thường
được sử dụng để đánh giá gồm có:
- Tỉ trọng giá trị xuất khẩu hàng nông, lâm thuỷ sản trong tổng giá trị xuất
khẩu của nền tinh tế quốc dân
- Tỉ trọng giá trị xuất khẩu của từng ngành trong tổng giá trị xuất khẩu hàng
nông, lâm nghiệp và thủy sản
- Giá trị xuất khâu nông, lâm, thủy sản bình quân đầu người; Xu hướng
chung là tỉ trọng giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản sẽ giảm dần
trong tổng giá trị xuất khẩu của nền kinh tế và giá trị xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản
bình quân đầu người tăng.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tác động của các nhân tố đến chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tác động của các nhân tố đến cung: có rất nhiều
chỉ tiêu phản ánh mức độ tác động của từng nhân tố đến tố cung, dưới đây là một số
chỉ tiêu thường được sử dụng:
(l) Yếu tố vốn:
Hiệu suất sử dụng vốn đầu tư.
(2) Yếu tố lao động:
- GDP và GTSX bình quân lao động nông nghiệp (năng suất lao động):
yl = Y/L
Trong đó:
yl: Năng suất lao động nông nghiệp
Y: Tổng GDP hoặc giá trị sản xuất nông nghiệp
L: Tổng lao động nông nghiệp
(3) Yếu tố đất đai:
- Giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đất nông nghiệp.
- Diện tích đất canh tác bình quân trên 1 lao động.
(4) Khoa học và công nghệ:
- Tỉ lệ diện tích hoặc tỉ lệ hộ sử dụng giống mới.
- Chi phí sử dụng, thuê mướn máy móc, thiết bị bình quân trên 1 ha.
- Tỉ lệ diện tích tưới tiêu chủ động.
- Tỉ lệ diện tích áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến.
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tác động của các nhân tố đến cầu: tương tự như
đối với nhân tố cung, một số chỉ tiêu phổ biến được sử dụng để đo lường mức độ tác
động của các nhân tố lên tổng cầu:
- Tỉ trọng giá trị nông sản hàng hóa tiêu dùng trong nước.
- Tỉ trọng giá trị nông sản xuất khẩu so với giá trị sản xuất.
- Tỉ lệ nông sản hàng hóa tiêu thụ thông qua hợp đồng.
Các chỉ tiêu trên được tính cho toàn ngành và cho từng ngành trong nông
nghiệp để là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố đến
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ phân
tích, đánh giá nêu trên thì chỉ có thể thấy được mức độ tác động riêng rẽ của từng
yếu tố, chưa xác định được mức độ tác động và mối quan hệ giữa các yếu tố trong
quá trình tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Do đó, cần phải có
một mô hình thực nghiệm thực tế phù hợp với mục đích, yêu cầu phân tích, đánh
giá và khả năng nguồn số liệu có được.
1.3. Một số vấn đề về cơ sở thực tiễn
1.3.1. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ở Việt Nam
Từ sau đổi mới sản xuất nông nghiệp Việt Nam đã tăng trưởng nhanh và ổn
định. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng trung bình 5,5% mỗi năm. Nhờ đó, Việt
Nam đã cơ bản giải quyết được vấn đề an ninh lương thực, mở đường chuyển đổi cơ
cấu nông nghiệp và phát triển các ngành phi nông nghiệp. Từ một nền nông nghiệp
tự cấp, tự túc, năm 2004 Việt Nam đã xuất khẩu 4,2 tỷ USD nông-lâm sản, tăng
khoảng 32% so với năm 2003 và là con số cao nhất từ trước tới nay. Một số sản
phẩm nông sản xuất khẩu của Việt Nam đứng vào hàng cao nhất thế giới như hồ
tiêu, cà phê vối, gạo và điều. Mức thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn trong
vòng 10 năm trở lại đây đã tăng gấp đôi.
Nền nông nghiệp Việt Nam trong hơn 20 năm Đổi mới vừa qua (1986-2008)
đã đạt được nhiều thành tựu phát triển khả quan. Sản lượng các loại nông sản đều
tăng, nổi bật nhất là sản lượng lương thực tăng với tốc độ cao từ năm 1989 đến nay.
Năm 1989 là năm đầu tiên sản lượng lương thực vượt qua con số 20 triệu tấn, xuất
khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 310 triệu USD. Đến năm 2007 sản lượng
lương thực đã đạt đến con số kỷ lục 39 triệu tấn và đã xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo,
đạt kim ngạch 1,7 tỷ USD.
Từ một nước thường xuyên thiếu và đói, hàng năm phải nhập hàng triệu tấn
lương thực của nước ngoài, hơn thập niên qua đã trở thành nước xuất khẩu gạo
đứng thứ ba trên thế giới (sau Thái Lan và Mỹ). GDP trong lĩnh vực nông nghiệp
bình quân hàng năm tăng 3,3%; thu nhập và đời sống nhân dân ngày càng cải thiện
hơn, tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm bình quân 1,5% năm; bộ mặt nông thôn thay
đổi theo hướng văn minh; trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật của nhiều nông dân
được nâng lên cao hơn trước.
Nông nghiệp ngày càng có nhiều đóng góp tích cực hơn vào tiến trình phát
triển, hội nhập của kinh tế cả nước vào nền kinh tế toàn cầu. Năm 1986, kim ngạch
xuất khẩu nông-lâm-thuỷ sản mới đạt 400 triệu USD. Đến năm 2007 đã đạt tới 12 tỷ
USD, tăng gấp 30 lần. Nhờ có những thành tựu, kết quả đó, nông nghiệp không chỉ
đã góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị-xã hội nông thôn và nâng cao đời
sống nông dân trên phạm vi cả nước, mà nông nghiệp đã ngày càng tạo ra nhiều hơn
nữa những tiền đề vật chất cần thiết, góp phần tích cực vào sự đẩy nhanh tăng
trưởng kinh tế và đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước trong những năm qua.
Nông nghiệp tiếp tục phát triển với nhịp độ khá cao theo hướng tăng năng
suất, chất lượng và hiệu quả, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia; xuất
khẩu nông, lâm thuỷ sản tăng nhanh; trình độ KH-CN được nâng cao hơn.
Kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn được tăng cường, nhất là thuỷ lợi, giao
thông, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông
thôn.
Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới; kinh tế
nông thôn phát triển theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, góp phần
tạo việc làm và tăng thu nhập cho cư dân nông thôn.
Cơ cấu nông nghiệp có sự chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng
hóa có hiệu quả, nhằm khai thác tối đa tiềm năng của các địa phương phù hợp với
chiến lược phát triển KT-XH của đất nước. Cơ cấu các ngành kinh tế ở nông thôn
đã chuyển dịch hợp lý, tỷ trọng ngành nông – lâm - thủy sản giảm xuống còn 55%
và công nghiệp - dịch vụ đã chiếm tới 45% trong GDP cả nước. Trong sản xuất
nông nghiệp thì trồng trọt chiếm 68%, chăn nuôi 26%, dịch vụ 6% (năm 2007).
Trong trồng trọt đã chú trọng phát triển các loại cây đặc sản phù hợp với điều
kiện, tiềm năng và lợi thế của từng vùng – hình thành một số vùng chuyên canh tập
trung như cà phê, cao su, mía, lúa, cây ăn quả, rau đậu thực phẩm.
Phát triển nhanh và mạnh chăn nuôi theo hướng hiệu quả, đảm bảo tốc độ
tăng trưởng hang năm 8 – 10%, phát triển các loại gia súc, gia cầm. Sản xuất hang
hóa theo hướng tập trung quy mô lớn với các trang trại trồng trọt và chăn nuôi công
nghiệp, gắn với cơ sở chế biến. Ở một số vùng có nhiều lợi thế sẽ phát triển theo
hướng đảm bảo an toàn dịch bệnh, chủ yếu giữ vững thị trường trong nước và
hướng ra xuất khẩu. Xu hướng ngày càng tăng tỷ trọng trong cơ cấu nông nghiệp.
Thủy sản phát triển mạnh, tỷ trọng ngành ngày càng tăng, các hình thức nuôi
ngày càng phù hợp với tiềm năng từng vùng, từng địa phương, đồng thời phát triển
các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao và giá trị xuất khẩu. Đẩy mạnh nuôi cá lồng
trên biển, trên sông ở những địa phương có điều kiện phát triển.
Cơ cấu vùng nông nghiệp của cả nước có nhiều tiến bộ. Nhiều địa phương
giảm dần tỷ lệ thuần nông chuyển dịch nhanh cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm khai
thác tốt nhất lợi thế và tiềm năng của vùng. Cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo
hướng sản xuất hàng hóa, gia tăng tỷ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả, phát triển
chăn nuôi hàng hóa và phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản.
Từ sau đổi mới, kim ngạch xuất khẩu các ngành nông, lâm, thủy sản của
nước ta cũng tăng lên nhanh chóng. Năm 1999, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 3,87 tỷ
USD, chiếm 35% kim ngạch xuất khẩu cả nước, gấp 3,4 lần năm 1990, trong đó
gạo xuất khẩu 4,6 triệu tấn, tăng 2,8 lần, thủy sản xuất khẩu đạt 1 tỷ USD, gấp 5 lần
năm 1990. Giai đoạn 2001-2005, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tiếp tục
tăng mạnh, không chỉ góp phần quan trọng cho ngân sách Nhà nước, mà còn khẳng
định vị thế của nông sản Việt Nam trên trường quốc tế. Năm 2005, chỉ riêng gạo
xuất khẩu với 5,2 triệu tấn, đạt 1,4 tỷ USD, chiếm hơn # kim ngạch xuất khẩu nông
sản. Năm 2006, tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt tới 7,16 tỷ USD, gấp 1,8 lần
năm 2000, tăng 19,7% so với năm 2005, trong đó ngành thủy sản đạt hơn 3 tỷ USD,
nhiều mặt hàng chủ lực nông sản đạt trên 1 tỷ USD như gạo, cà phê, cao su, thủy
sản, đồ gỗ… mặc dù nông nghiệp năm 2006 gặp nhiều khó khăn gay gắt như bão,
lũ, gây thiệt hại 19 ngàn tỷ đồng, chủ yếu cho nông nghiệp, nông thôn, dịch vàng
lùn, lùn xoắn lá gây thiệt hại khoảng 1 triệu tấn lúa, giá cả vật tư đầu vào của sản
xuất nông nghiệp tăng cao.
Những thành tựu đã đạt được trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp Việt Nam từ sau Đổi mới đã góp phần đáng kể vào việc gia tăng thu nhập,
nâng cao đời sống nhân dân, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội
chung của đất nước.
1.3.2. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của một số địa phương
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Bình Dương
Quá trình chuyển dịch CCNN tỉnh Bình Dương giai đoạn 1997 – 2006, có sự
chuyển biến tích cực với tốc độ tăng trưởng khá cao. Nhìn chung, CCNN chuyển
dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, nhiều sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh, có
hiệu quả quả kinh tế cao được phát triển mạnh mẽ và hình thành các vùng sản xuất
chuyên môn hóa, quy mô lớn, trang thiết bị và kỹ thuật sản xuất hiện đại. Nông thôn
đã được chú trọng đầu tư, tăng cường cơ sở hạ tầng. Bộ mặt nông thôn đã có những
chuyển đổi lớn. Đời sống vật chất, tinh thần của dân cư được cải thiện.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông
nghiệp, tăng tỷ trọng ngành lâm nghiệp và thủy sản. Trong nông nghiệp, cây công
nghiệp lâu năm và cây ăn quả là sản phẩm thế mạnh có tính hàng hóa cao, chú trọng
phát triển các giống tốt, chất lượng cao và hướng tới hình thành những vùng chuyên
canh lớn. Các cây hàng năm khác như rau sạch, cây thực phẩm, cây hoa, cây cảnh
đang tăng dần tỷ trọng, đặc biệt là phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ hoa quả tươi của
các đô thị, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nước uống hoa
quả. Cây ăn quả tăng dần tỷ trọng trong cơ cấu cây trồng, trong đó chiếm ưu thế gần
như tuyệt đối là cây bưởi, măng cụt, mít. Trong cơ cấu vật nuôi, tăng tỷ trọng đàn
gà, đàn lợn và đàn bò (bò thịt, bò sữa) và giảm tỷ trọng đàn trâu với các chương
trình cải tạo giống như “sin hóa đàn bò”, “lợn hướng nạc”. Trong nội bộ ngành
thủy sản, tăng tỷ trọng nuôi thủy sản, sản phẩm nuôi trước đây cá chiếm ưu thế thì
hiện nay đã xuất hiện các loại mới, thủy sản đặc sản (ba ba, ếch, lươn, cá cảnh,…).
Quá trình chuyển dịch CCNN đã dẫn tới hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp
hàng hóa hiệu quả cao.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Đồng Nai
Chuyển dịch CCNN theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tiêu
thụ, ưu tiên phát triển các loại cây trồng – vật nuôi có năng suất, chất lượng và hiệu
quả kinh tế cao nên giá trị sản xuất nông nghiệp hàng năm của tỉnh Đồng Nai tăng
nhanh. Cụ thể giá trị sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh năm 1976 chỉ đạt 1.169 tỷ
đồng, năm 2005 đã nâng lên 5.580 tỷ đồng, tăng 470%.
Đặc biệt, do xu thế chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng
hóa, gắn với thị trường hiện nay, một số diện tích lúa không chủ động được nguồn
nước tưới và các cây trồng hàng năm hiệu quả kinh tế thấp đã chuyển sang trồng
các loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Tính đến năm
2005, Đồng Nai đã phát triển lên đến 113.000 ha cây công nghiệp lâu năm (bao
gồm 22.167 ha cà phê, 41.490 ha cao su. 41.000 ha điều, 6.850 ha hồ tiêu cùng một
số diện tích dừa, dâu tằm…) và gần 47.200 ha cây ăn trái các loại.
Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Đồng Nai không ngừng gia
tăng cả về số lượng lẫn chất lượng. Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Đồng Nai như cà
phê, hạt điều… đã được cấp giấy chứng nhận về chất lượng sản phẩm, nguồn gốc
nguyên liệu, điều kiện sản xuất và an toàn thực phẩm.
Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hình thành mô hình chăn nuôi theo kiểu
công nghiệp với quy mô lớn. Đồng Nai là nơi có rất nhiều xí nghiệp chế biến thức
ăn gia súc chất lượng cao. Hoạt động gắn với một thị trường tiêu thụ rộng lớn, bao
gồm cả các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh và Thành phố Hồ Chí Minh. Nhờ đó
ngành chăn nuôi của tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua đã phát triển khá toàn diện,
tốc độ tăng trưởng khá nhanh.
Bộ mặt nông thôn đã có sự chuyển biến tích cực, rõ nét. Giai đoạn 2001 –
2005, Đồng Nai đã vượt qua những thử thách về đầu tư hạ tầng kỹ thuật, nâng cao
dân trí và phúc lợi xã hội cho người nông dân, nhất là 16 xã nghèo đặc biệt khó
khăn.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Trà Vinh
Quá trình chuyển dịch CCNN của tỉnh Trà Vinh theo hướng đa dạng hóa các
loại cây trồng, vật nuôi, thâm canh tăng vụ nên giá trị 1ha đất canh tác hàng năm
đều tăng. Áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa, sử dụng các
giống có năng suất chất lượng cao nên năng suất lúa trung bình đạt 05 tấn /ha, cao
hơn một số tỉnh trong khu vực như: Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu.
Hình thành một số vùng chuyên canh như: mía, cây ăn trái…
Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngày càng tốt hơn: điện , thủy lợi, giao thông
vận tải ngày càng góp phần đáng kể vào việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông –
lâm – ngư nghiệp tỉnh Trà Vinh.
Tăng vụ, chuyển đổi các mô hình sản xuất và tập trung thâm canh tăng năng
suất góp phần sử dụng lao động hiệu quả hơn, tạo thêm việc làm, ổn định việc làm
cho khoảng 350 ngàn lao động trong khu vực nông nghiệp.
Tạo ra sản lượng nông sản lớn, nâng cao thu nhập góp phần quan trọng trong
chiến lược xóa đói giảm nghèo. Cung cấp khối lượng nguyên liệu lớn cho công
nghiệp chế biến, xuất khẩu, tạo động lực chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao vị thế
của tỉnh cũng như Đồng Bằng Sông Cửu Long trên thị trường xuất khẩu, thu hút
nhiều lao động nông nghiệp vào làm việc trong ngành công nghiệp chế biến.
Chương 2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP
TỈNH THANH HÓA
2.1. Khái quát tỉnh Thanh Hoá
Về tự nhiên: Thanh Hoá nằm ở cực Bắc Miền Trung, có diện tích tự nhiên
1.112.033 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 245.367 ha; đất sản xuất lâm
nghiệp 553.999 ha; đất nuôi trồng thuỷ sản 10.157 ha; đất chưa sử dụng 153.520 ha
với các nhóm đất thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây công
nghiệp và cây ăn quả. Thanh Hoá là tỉnh có ba vùng sinh thái đặc trưng: trung du
miền núi, đồng bằng và ven biển với nguồn tài nguyên thiên nhiên khá dồi dào về
đất đai, rừng, biển và khoáng sản, thuận lợi cho phát triển các ngành nông nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ và du lịch. Đến năm 2010, đất nông nghiệp là 861.911 ha,
chiếm 77,43% tổng diện tích tự nhiên. Thanh Hoá có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, có 4 hệ thống sông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Bạng, sông Yên với tổng chiều dài 881 km, tổng diện tích lưu vực là 39.756km2; tổng lượng nước trung bình hàng năm 19,52 tỉ m3.
Về KT-XH: trong năm 2011, kinh tế Thanh Hóa đạt tốc độ tăng trưởng khá;
cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực.
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2010 đạt 12,3%. Tăng trưởng kinh tế bình
quân 9,7%/năm (2001-2007). Trong đó: GDP nông, lâm, ngư nghiệp tăng
3,8%/năm. Năm 2007 tổng GDP toàn tỉnh đạt 14.503 tỷ đồng (theo giá cố định năm
1994)
- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực
Tỷ trọng ngành nông, lâm, thuỷ sản trong GDP chiếm 23,7%, giảm 0,5% so
với năm 2010.
Công nghiệp - xây dựng chiếm 41,9%, tăng 0,5%; dịch vụ chiếm 34,4%, so
với năm 2010.
- GDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2010 đạt 15.085 nghìn
đồng/năm (tương đương 810 USD).
- Tỉ lệ hộ nghèo năm 2010 là 14,85%.
Bảng 2.1 Diện tích, dân số theo đơn vị hành chính tỉnh Thanh Hóa năm 2009
Tên Diện tích (km² ) Dân số (người)
57,94 67,01 17,89 775,22 425,83 106,41 244,50 143,67 224,73 586,59 814,61 158,29 495,53 588,29 719,95 286,53 990,14 930,17 227,80 559,20 175,67 300,10 1.112,23 458,29 292,31 158,03 216,48 210.844 54.148 54.109 96.412 100.425 102.765 107.798 165.470 246.309 45.417 33.614 135.805 129.119 85.152 64.303 183.074 43.855 35.428 256.351 136.264 176.994 213.066 83.241 214.420 195.286 80.227 155.112
Thành phố Thanh Hóa Thị xã Bỉm Sơn Sầm Sơn Huyện Bá Thước Cẩm Thủy Đông Sơn Hà Trung Hậu Lộc Hoằng Hóa Lang Chánh Mường Lát Nga Sơn Ngọc Lặc Như Thanh Như Xuân Nông Cống Quan Hóa Quan Sơn Quảng Xương Thạch Thành Thiệu Hóa Thọ Xuân Thường Xuân Tĩnh Gia Triệu Sơn Vĩnh Lộc Yên Định Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thanh Hóa
- Lĩnh vực kinh tế nông nghiệp có lợi thế: Cây nguyên liệu chế biến vùng tập
trung là mía, sắn, cao su, dứa; cây xuất khẩu: cói, lạc; sản phẩm chăn nuôi là trâu,
bò, lợn.
- Về giá trị sản xuất nông nghiệp: Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 –
2007 (giá so sánh) đạt 5,6%/năm (ngành nông nghiệp 5,2%/năm, lâm nghiệp
3,8%/năm và thuỷ sản nuôi trồng 10,3%/năm).
- Cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng
tích cực: giảm tỷ trọng trồng trọt (từ 79,8% năm 2001 xuống còn 71,3% năm 2007),
tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi (từ 18,0% năm 2001 lên 26,0% năm 2007).
Tỉnh có 27 đơn vị hành chính, gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 24 huyện: Thanh
Hóa có 639 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 22 phường, 30 thị trấn và 587 xã.
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh
Hoá
2.2.1. Vị trí địa lý
Thanh Hoá thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, chạy dài từ 19018’ đến 20040’ vĩ độ bắc và trải rộng từ 104022’ đến 106004’ kinh độ đông. Chiều rộng từ tây sang đông
là 110km, từ bắc xuống nam là 100km. Ranh giới hành chính được giới hạn như
sau:
- Phía bắc tiếp giáp với các tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Sơn La (211km)
- Phía tây giáp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào
- Phía nam giáp tỉnh Nghệ An (170km)
- Phía đông giáp Biển Đông (102 km).
Tổng diện tích tự nhiên tỉnh toàn tỉnh vào khoảng 1.112.033 ha chiếm 3,37% và
đứng thứ 7 diện tích toàn quốc.
Trong tỉnh có 27 đơn vị hành chính gồm thành phố Thanh Hóa, hai thị xã: Sầm
Sơn, Bỉm Sơn và 24 huyện gồm: Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước,
Lang Chánh, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Ngọc Lặc, Thường Xuân, Thọ Xuân, Yên
Định, Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Thiệu Hóa, Đông Sơn,
Quảng Xương, Tĩnh Gia, Nông Cống, Như Thanh, Như Xuân và Triệu Sơn.
Thanh Hoá nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ, ở vị trí
cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi như: đường
sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh, các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217; cảng biển
nước sâu Nghi Sơn và hệ thống sông ngòi thuận tiện cho lưu thông Bắc Nam, với
các vùng trong tỉnh và đi quốc tế.
p ệ i h g n g n ô N ế k t ế i h t à v h c ạ o h y u Q n ệ i V
a ó H h n a h T h n ỉ t h n í h c h n à h ồ đ n ả B 1 . 2 h n ì H
: n ồ u g N
35
2.2.2. Các nhân tố tự nhiên
2.2.2.1. Địa hình
Địa hình Thanh Hoá tương đối phức tạp, rất phong phú, đa dạng thấp dần từ
tây sang đông, chia thành bốn vùng sinh thái rõ rệt. Có thể khai thác tổng hợp thế
mạnh của từng vùng để phát triển nông lâm ngư nghiệp toàn diện. Các vùng sinh
thái đó là:
- Vùng ven biển: 1.229,05 km2 ( 6 huyện, thị ), bằng 11,05% diện tích tự
nhiên toàn tỉnh, có địa hình sống trâu lượn sóng theo hướng Bắc-Nam, xen vào các
vùng cao khô cạn là những vùng trũng khó thoát nước. Là vùng có nhiều khả năng
để phát triển trồng trọt, chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là nuôi trồng thuỷ sản; phát triển
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; dịch vụ vận tải sông biển. Nổi bật là khu công
nghiệp động lực Nghi Sơn với cảng biển nước sâu và công nghiệp lọc hoá dầu.
- Vùng đồng bằng: 1.903,24 km2 ( 10 huyện, thị, thành phố ), bằng 17,12%
diện tích tự nhiên toàn tỉnh, địa hình khá bằng phẳng, rải rác có các núi đơn lẻ và
vùng thấp trũng. Đây là vùng tập trung dân cư có trình độ dân trí phát triển, là vùng
trọng điểm để phát triển nền kinh tế tổng hợp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
- Vùng Trung du, miền núi: 7.988,03 km2 ( 11 huyện ), bằng 71,83% diện
tích tự nhiên toàn tỉnh, địa hình chia cắt mạnh, hiểm trở, càng lên phía Tây độ dốc
càng lớn. Với địa hình khó khăn, kinh tế miền núi, nhất là vùng núi cao tuy có phát
triển hơn nhiều so với trước đây, nhưng so với vùng đồng bằng khoảng cách còn
lớn.
Phân theo độ dốc, địa hình Thanh Hoá như sau: - Diện tích có độ dốc 150 trở lên chiếm tới gần 63% diện tích tự nhiên của
tỉnh, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sử dụng đất, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường,
chống xói mòn. ở loại địa hình này, trừ diện tích là núi đá, số còn lại thích hợp cho
phát triển cây lâm nghiệp, cây công nghiệp lâu năm như cây công nghiệp dài ngày,
cây ăn quả và thực hiện nông lâm kết hợp.
36
- Diện tích có độ dốc nhỏ hơn 150 chiếm trên 27% diện tích tự nhiên, là đất
để phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng: Giao thông, thuỷ
lợi, xây dựng cơ bản khác, khu dân cư đô thị, nông thôn…
Ngoài ra, Thanh Hoá còn có rất nhiều đảo với tổng diện tích 810 ha với một
số đảo lớn như đảo Hòn Mê, đảo Nghi Sơn và đảo Hòn Nẹ.
Nhìn chung địa hình thích hợp cho sản xuất nông nghiệp là khu vực đồng
bằng và ven biển, do địa hình bằng phẳng, thuận lợi cho tưới tiêu.
2.2.2.2. Tài nguyên đất
Là tỉnh có diện tích lớn, đa dạng về loại đất và chất lượng. Sự biến động chất
lượng đất chủ yếu theo địa hình và khí hậu thời tiết, trình độ khai thác, tập quán
canh tác của nhân dân từng vùng. Biến động về chất lượng đất những năm gần đây
theo hướng ngày một tốt lên, đất đai được sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả hơn.
Đất đai Thanh Hoá có chất lượng trung bình so với cả nước (độ pH: 4,5-6; hàm
lượng các chất dinh dưỡng tổng số: Đạm 0,04- 0,2%; lân 0,02- 0,22 %; kali 0,3-22
%).
Bảng 2.2 Các nhóm đất chính của tỉnh Thanh Hóa năm 2009
STT Nhóm đất chính Diện tích (ha) Tỉ trọng (%)
1 Đất cát biển 20.246 1,82
2 Đất mặn 21.457 1,93
3 Đất phù sa 191.216 17,22
4 Đất glây 2.565 0,23
5 Đất đen 5.902 0,53
6 Đất xám 717.245 64,58
7 Đất đỏ 37.828 3,41
8 Đất tầng mỏng 16.536 0,05
Nguồn: Sở Tài Nguyên Môi trường tỉnh Thanh Hóa năm 2009
- Đất cát biển: Diện tích: 20.246,0 ha, chiếm 1,82 % diện tích tự nhiên của
tỉnh. Phân bố ở các huyện ven biển, là Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, TX Sầm Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia.
37
Địa hình có dạng sống trâu lượn sóng, xen giữa các vùng địa hình cao là
vùng trũng khó thoát nước.
- Đất mặn: Diện tích: 21.457,0 ha, chiếm 1,93 % diện tích tự nhiên của tỉnh.
Phân bố ở các huyện ven biển và một số diện tích ở huyện Nông Cống. Những
huyện có diện tích lớn là Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, thị xã Sầm Sơn, Quảng
Xương, Tĩnh Gia.
- Đất phù sa: Diện tích: 191.216,0 ha, chiếm 17,22 % diện tích tự nhiên của
tỉnh. Phân bố tập trung ở các huyện đồng bằng. Những huyện có diện tích lớn như:
Đông Sơn, Hà Trung, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Thiệu Hoá, Yên Định, Nga Sơn, Quảng
Xương...ở các huyện miền núi chỉ là những dải đất phù sa sông suối hay ở thung
lũng hẹp.
- Đất glây: Diện tích: 2.565,0 ha, chiếm 0,23 % diện tích tự nhiên của tỉnh.
Phân bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh. Những huyện có diện tích lớn là Hà Trung,
Nông Cống, Triệu Sơn, Hoằng Hoá...Phân bố ở địa hình thấp, ngập nước thường
xuyên trong năm và mực nước ngầm nông, bị lầy thụt, không có kết cấu, glây hoá.
Tính chất: Đất có màu xám xanh hoặc xám đen, thành phần cơ giới thịt trung
bình đến thịt nặng, đất có kết cấu dạng hạt nhỏ kém bền vững, giàu chất
hữu cơ, nghèo lân, đất chua ít đến chua, độ pHKCl từ 4,5- 6,0.
Hướng sử dụng: Những nơi giàu chất hữu cơ khai thác chế biến than bùn,
phân bón; vùng ít lầy thụt hơn nuôi trồng thuỷ sản, trồng lúa. Cải tạo bằng phương
pháp thuỷ lợi rút nước, bón thêm lân và vôi.
- Đất đen: Diện tích: 5.902,0 ha, chiếm 0,53% diện tích tự nhiên của tỉnh.
Phân bố ở Nông Cống, Triệu Sơn, Như Xuân, Như Thanh.
- Đất xám: Diện tích: 717.245,0,0 ha, chiếm 64,58% diện tích tự nhiên của
tỉnh. Phân bố chủ yếu ở các huyện miền núi, trung du Quan Hóa, Bá Thước, Như
Xuân, Thường Xuân, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Lang Chánh. Thích hợp
cho phát triển cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả.
- Đất đỏ: Diện tích: 37.828,0 ha, chiếm 3,41% diện tích tự nhiên của tỉnh.
Phân bố ở các huyện miền núi và một số huyện vùng bán sơn địa, các huyện đồng
38
bằng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ. Tập trung ở độ cao trên 700m ở các huyện Quan Hóa,
Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân, thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài
ngày, cây ăn quả, phát triển cây rừng.
- Đất tầng mỏng: Diện tích: 16.536,0 ha, chiếm 0,05% diện tích tự nhiên
của tỉnh. Phân bố ở các huyện: Triệu Sơn, Ngọc Lặc, Thường Xuân, Tĩnh Gia,
Nông Cống.
- Hiện trạng sử dụng đất: Tổng diện tích đất nông nghiệp của tỉnh là 1.113.194 ha,
trong đó đất nông nghiệp chiếm 861.911 ha, chiếm 77,44%, đất phi nông nghiệp là
162.292 ha chiếm 14,58%, đất chưa sử dụng là 88.991 ha chiếm 7,99%.
Bảng 2.3 Cơ cấu sử dụng đất Tỉnh Thanh Hóa năm 2010
STT Loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
Tổng diện tích tự nhiên 1.113.194 100
I Đất nông nghiệp 861.911 77,43
I.1 Đất sản xuất nông nghiệp 248.040 22,28
Đất trồng cây hàng năm 209.422 18,81
Đất trồng lúa 146.999 13,21
Đất có dung vào chăn nuôi 1.219 0,11
Đất trồng cây hàng năm khác 61.204 5,10
Đất trồng cây lâu năm 38.618 3,47
I.2 Đất lâm nghiệp có rừng 600.628 53,96
Rừng sản xuất 337.871 30,35
Rừng phòng hộ 180.751 16,24
Rừng đặc dụng 82.005 7,37
I.3 Đất nuôi trồng thủy sản 12.000 1,08
I.4 Đất làm muối 327 0,03
I.5 Đất nông nghiệp khác 916 0,08
II Đất phi nông nghiệp 162.292 14,58
III Đất chưa sử dụng 88.991 7,99
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa năm 2010
39
Trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, diện tích cây hàng năm là 209.422 ha
chiếm tới 84,4% trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp. Lúa là cây chiếm ưu thế lớn
nhất về diện tích cây hàng năm với 146.999 ha chiếm 70,2% .
Nhìn chung, Thanh Hóa có quỹ đất phong phú, đa dạng không chỉ thích hợp
cho sản xuất nông nghiệp mà có thể hình thành một số tiểu vùng chuyên canh hàng
hóa cao. Qui mô và tính chất đất đa dạng là điều kiện tạo nên cơ cấu cây trồng đa
7,99%
14,58%
Đất nông nghiệp
Đất phi nông nghiệp
Đất chưa sử dụng
77,43%
dạng.
Biểu đồ 2.1 : Cơ cấu sử dụng đất tự nhiên tỉnh Thanh Hóa năm 2010
Biểu đồ 2.1 cho thấy, trong cơ cấu diện tích đất tự nhiên của tỉnh, đất nông
nghiệp chiếm diện tích lớn nhất tới 77,43% , đất phi nông nghiệp 14,85% và đất
chưa sử dụng chiếm diện tích nhỏ nhất 7,99%, đây là điều kiện thuận lợi cho sự
Đất sản xuất nông nghiệp
phát triển nông nghiệp nói chung và sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nói riêng.
0.03% 1.37% 0.1%
28.8%
Đất lâm nghiệp có rừng
Đất nuôi trồng thủy sản
Đất làm muối
69.7%
Đất nông nghiệp khác
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa năm 2010
p ệ i h g n g n ô N ế k t ế i h t à v h c ạ o h y u Q n ệ i V
: n ồ u g N
0 1 0 2 m ă n a ó H h n a h T h n ỉ t p ệ i h g n g n ô n t ấ đ g n ạ r t n ệ i h ồ đ n ả B 2 . 2 h n ì H
Trong nhóm đất nông nghiệp, chủ yếu là đất lâm nghiệp có rừng, chiếm diện
tích lớn nhất 69,7%, đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 28,8% diện tích, các loại
đất khác như đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác chiếm tỉ
lệ không đáng kể.
2.2.2.3. Khí hậu
Thanh Hoá nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: Mùa hè nóng, ẩm, mưa
nhiều và chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng; mùa đông lạnh, ít mưa.
Khí hậu Thanh Hoá có những đặc trưng sau: Nền nhiệt độ cao trung bình 20 – 240C, tổng tích ôn/năm: 8.500 – 8.6000C, biên độ ngày đêm: 7-100C, biên độ năm 11-120C. Lượng mưa lớn từ 1.600 mm-2.200 mm, nhưng phân bố không đều về thời
gian và giữa các vùng, mùa mưa tập trung vào tháng 7, tháng 8, tháng 9 và tăng dần
từ Bắc xuống Nam. Mùa Đông có gió Đông Bắc, mùa hè có gió Đông Nam, đầu
mùa hè thường xuất hiện gió Tây khô nóng; tốc độ gió trung bình 1,3-2 m/s, tốc độ
gió cao nhất đo được trong bão 40 m/s, trong gió mùa Đông Bắc trên 20 m/s. Độ
ẩm không khí bình quân cả năm không dưới 85%. Tổng bức xạ bình quân năm khoảng 116,5 KCl/cm2; một năm bình quân có 267-277 ngày đảm bảo đủ ánh sáng
cho cây trồng sinh trưởng và phát triển.
Khí hậu và thời tiết chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố địa hình, chia thành 3
vùng khí hậu khác nhau: Vùng khí hậu đồng bằng và ven biển (phù hợp với yêu cầu
sinh trưởng, phát triển cây trồng, vật nuôi; thâm canh tăng vụ nhưng chịu ảnh
hưởng trực tiếp của gió bão); vùng khí hậu trung du (nóng ẩm mưa nhiều, có mùa
đông lạnh, đủ ánh sáng, tốc độ gió vừa phải thuận lợi cho việc trồng cây công
nghiệp dài ngày, cây công nghiệp ngắn ngày); vùng khí hậu núi cao (với địa hình
cao dốc, lượng mưa trung bình, nền nhiệt độ thấp mùa đông lạnh, mùa hè mát ẩm,
mưa nhiều thuận lợi cho phát triển nhiều cây trồng, vật nuôi ôn đới).
Đặc điểm khí hậu thời tiết với lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là
điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
2.2.2.4. Nguồn nước
Thanh Hóa có nguồn tài nguyên nước khá phong phú. Mạng lưới sông, hồ
khá dày và các hồ như hồ Yên Mỹ, Đập Mực, đập Bái Thượng, hồ Bến En, và hàng
trăm hồ, đập nhỏ phân bố rải rác trên địa bàn tỉnh. Thanh Hoá có 30 con sông lớn
nhỏ, thuộc bốn hệ thống sông chính:
- Sông Hoạt: Phát nguồn từ Yến Thịnh (Hà Trung) chảy ra biển tại Nga Liên
(Nga Sơn) với chiều dài 55km.
- Sông Mã phát nguồn từ Điện Biên Phủ chảy qua Sơn La, Sầm Nưa (Lào)
nhập vào Thanh Hoá tại Mường Lát. Chiều dài sông là 486 km, trong đó thuộc địa
phận Thanh Hoá là 242 km. Các sông thuộc hệ thống sông này gồm sông Luồng
(102km), sông Lò (74,5km), sông Bưởi (130km), sông Cầu Chày (87,5km), sông
Âm (79km), Sông Chu (325km).
- Sông Yên phát nguồn từ Bình Lương (Như Xuân) đến Hải Ninh (Tĩnh Gia)
dàI 94,2km. Các sông chính thuộc sông yên gồm sông Nhơm (66,9km), sông Hoàng
(81km), sông Thị Long (50,4km).
- Sông Bạng: Từ núi Nhơm đến lạch Bạng dài 34,5km.
Ngoài ra còn có các sông thuộc hệ thống sông Chu, sông Bưởi, sông Càn
(giáp Ninh Bình) - lạch Càn và sông Yên Hòa (giáp Nghệ An).
Bờ biển Thanh Hoá có chiều dài 102 km, có cảng Lễ Môn và vùng Nghi Sơn
có điều kiện xây dựng cảng sâu cho phép tàu trên 10 vạn tấn ra vào.
Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản vùng triều nước lợ ở 7 huyện, thị ven biển
là 6.125 ha chiếm 76% diện tích có khả năng nuôi trồng thủy sản. Trong đó diện
tích nuôi ổn định là 3.676 ha.
Vùng thủy văn sông Mã với diện tích của vùng khoảng 5600km2 là đường
phân thủy của cửa sông Chu, sông Cầu Chày. Vùng thủy văn sông Chu bao gồm lưu vực sông Chu, công Cầu Chày, sông Yên, sông Bạng có diện tích khoảng 4000km2.
Một vùng nữa có tổng lượng mưa khá lớn, chịu ảnh hưởng nước triều của 6
huyện ven biển là Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia, một phần Nông Cống, Đông Sơn. Diện tích của vùng khoảng 1200km2, có 6
cửa sông chính, bình quân cứ khoảng 18 - 20km bờ biển lại có một cửa sông. Đây là
một tiềm năng để phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh Thanh Hóa. Vùng này chịu
sự tác động trực tiếp của bão, áp thấp nhiệt đới và thủy triều. Biển Thanh Hoá có
chế độ nhật triều không đều, bình quân thủy triều lên xuống 1 lần/ngày. Biên độ
triều hàng ngày trung bình là 120 - 150 cm, biên độ thủy triều biến động từ 1 - 3m.
Đây là vùng có ưu thế để trồng cói, nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, nước mặn, làm
muối và trồng rừng ngập mặn phòng hộ.
Ngoài ra, với hệ thống hồ đập lớn nhỏ có tác dụng tạo nguồn nước phục vụ
sản xuất nông nghiệp, đời sống và cảnh quan môi trường.
- Tài nguyên nước ngầm: Tiềm năng nước ngầm Thanh Hoá chưa được điều
tra, đánh giá tổng thể, mới chỉ thực hiện ở một số vùng. Tuy nhiên, đứng trên quan
điểm kiến tạo địa chất: nguồn nước ngầm không phong phú lắm, phân bố không đều
trong không gian, thời gian và chưa bị ô nhiễm. Vùng triển vọng nhất có thể tiến
hành thăm dò cấp nước cho các ngành kinh tế là vùng hữu ngạn sông Mã và sông Chu, diện tích 240 km2 thuộc địa phận các huyện Yên Định, Thiệu Hoá, Đông Sơn
và Thọ Xuân. Chiều sâu hố khoan thường từ 40-80 m, khả năng khai thác mỗi hố khoan được 1.000-2.000 m3/ngày, cao có thể đạt 4.000 m3/ngày.
Nhìn chung, lượng nước phục vụ việc tưới trong mùa khô cho cây trồng chưa
đủ nhưng tỉnh đang cố gắng khắc phục tạo thuận lợi cho chuyển đổi cơ cấu nông
nghiệp.
2.2.2.5. Sinh vật
Thanh Hoá có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, với những
bãi cá, bãi tôm có trữ lượng lớn. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn, thuận lợi cho tàu
thuyền đánh cá ra vào. Đây cũng là những trung tâm nghề cá của tỉnh. Ở vùng cửa
lạch là những bãi bồi bùn cát rộng hàng ngàn ha, thuận lợi cho nuôi trồng hải sản,
trồng cói, trồng cây chắn sóng và sản xuất muối. Diện tích nước mặn ở vùng biển
đảo Mê, Biện Sơn có thể nuôi cá song, trai ngọc, tôm hùm và hàng chục ngàn ha
nước mặn ven bờ thuận lợi cho nuôi nhuyễn thể vỏ cứng như ngao, sò … Vùng biển
Thanh Hoá có trữ lượng khoảng 100.000 - 120.000 tấn hải sản, với nhiều loại hải
sản có giá trị kinh tế cao.
Thanh Hoá là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích đất có rừng là 484.246 ha, trữ lượng khoảng 16,64 triệu m3 gỗ, hàng năm có thể khai thác 50.000 - 60.000 m3. Rừng Thanh Hoá chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ thực
vật phong phú đa dạng về họ, loài; có các loại gỗ quý hiếm như: lát, pơ mu, sa mu,
lim xanh, táu, sến, vàng tâm, dổi, de, chò chỉ. Các loại thuộc họ tre nứa gồm có:
luồng, nứa, vầu, giang, tre. Ngoài ra còn có: mây, song, dược liệu, quế, cánh kiến đỏ
… Các loại rừng trồng có luồng, thông nhựa, mỡ, bạch đàn, phi lao, quế, cao su.
Thanh Hoá là tỉnh có diện tích luồng lớn nhất trong cả nước với diện tích trên
50.000 ha .
Rừng Thanh Hoá cũng là nơi quần tụ và sinh sống của nhiều loài động vật
như: hươu, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng, các loài bò sát và các loài chim … Đặc
biệt ở vùng Tây nam của tỉnh có rừng quốc gia Bến En, vùng Tây Bắc có các khu
bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, Pù Luông, Xuân Liên, là những khu rừng đặc dụng, nơi
tồn trữ và bảo vệ các nguồn gien động, thực vật quí hiếm. Tuy nhiên, do rừng bị tàn
phá và khai thác quá mức nên số lượng và chủng loại động vật hoang dã và các loại
gỗ quí ngày càng khan hiếm.
Tập đoàn giống cây trồng, vật nuôi của tỉnh khá phong phú, trong thời gian qua,
nhiều giống cây trồng, vật nuôi được xác định phù hợp với điều kiện sinh thái của
các tiểu vùng và yêu cầu phát triển nông nghiệp của tỉnh, bao gồm:
- Các giống lúa năng suất, chất lượng cao: lúa lai F1, Khang dân, Tạp giao,
Lúa lai ba dòng CT16, Nhị Ưu, Bắc Ưu, ….
- Các tập đoàn giống ngô: LVN9, LVN 4, Ngô lai đơn LVN66….và các giống
mía, lạc, cà chua…
- Các giống vật nuôi: lợn (Landrace, Duroc, Yorshire), các giống bò ( bò
vàng, lai Sind), gia cầm (Vịt Cỏ, Vịt CVSuperM, M2, gà ta, gà tam hoàng…)
Tuy nhiên, so với yêu cầu sản xuất, số giống có năng suất, chất lượng cao,
thích hợp với các vùng sinh thái còn thiếu về chủng loại và giống đảm bảo tiêu
chuẩn. Hiện nay, về giống lúa còn thiếu các giống thuần có chất lượng cao phục vụ
xuất khẩu, các giống kháng rầy, vàng lùn, lùn xoắn lá, các giống lúa có năng suất,
chất lượng cao, thích nghi với từng vùng sinh thái; giống trâu, bò thịt, bò sữa, gà
thịt có năng suất và chất lượng cao; giống nhuyễn thể, cá biển… Ngoài việc chú
trọng các biện pháp chọn lọc, lai tạo cũng cần nhập nội thêm các giống theo yêu cầu
phát triển của thị trường và điều kiện sinh thái của từng tiểu vùng.
2.2.3. Các nhân tố kinh tế-xã hội
2.2.3.1. Dân số và lao động
- Qui mô dân số: theo kết quả điều tra dân số năm 2009, Thanh Hóa có
3.400.239 người, đứng thứ ba Việt Nam, chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Mật độ dân số vào loại trung bình: giảm từ 310 người/km² (năm 1999) xuống 305
người/km² (năm 2009). Tuy nhiên, dân cư phân bố không đều, dân số tập trung
đông ở thành phố Thanh Hóa (2.253 người/km² (2009)), thị xã Sầm Sơn (2.962
người/ km²), thị xã Bỉm Sơn (851 người/km²), các huyện đồng bằng và ven biển
như: Nga Sơn, Hậu Lộc, Hà Trung,… và thưa thớt ở các huyện miền núi: Quan Sơn,
Bá Thước, Ngọc Lặc, Mường Lát…
- Tốc độ gia tăng dân số tự nhiên những năm trước đây khá cao, nhưng đã
giảm trong những năm gần đây do thực hiện tốt chính sách dân số kế hoạch hóa gia
đình. Năm 2001 tỉ lệ gia tăng tự nhiên 1,32%, năm 2005 là 1,2%, năm 2010 là
0,7%. Tốc độ gia tăng tự nhiên giảm không liên tục.
Bảng 2.4 Quy mô và tốc độ gia tăng dân số tỉnh Thanh Hóa
(giai đoạn 2001- 2010)
Chỉ tiêu 2001 2005 2008 2009 2010
Số dân (nghìn người) 3 463,9 3 436,4 3 408,8 3 404,2 3 406,8
Tỉ lệ dân nông thôn % 90,67 90,13 89,71 89,56 89,21
Gia tăng tự nhiên % 1,32 1,2 0,88 0,67 0,70
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa năm 2010
Trong 10 năm từ 1999 đến 2009, quy mô dân số giảm 0,2 %, do số dân tăng
tự nhiên không thể bù đắp được số người chuyển đi làm ăn, sinh sống ở các tỉnh,
thành phố khác.
Bảng 2.5 Dân số, lao động tỉnh Thanh Hóa năm 2010
STT Hạng mục Nghìn người
1 Tổng số dân 3.406,8
Dân số đô thị 367,5
Dân số nông thôn 3.039,3
2 Tổng lao động xã hội 2.070,0
3 Lao động phân theo khu vực kinh tế
- Nông-lâm-ngư nghiệp 1.221,3
- Công nghiệp-xây dựng 393,3
- Dịch vụ 455,4
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa năm 2010
- Lao động: Năm 2009 toàn tỉnh có 2.070 nghìn người trong độ tuổi lao
động, chiếm 59,6% dân số của tỉnh. Dân số trong độ tuổi lao động khá đông, lực
lượng lao động dồi dào. Với đặc trưng là một tỉnh thuần nông, dân số hoạt động
trong nông nghiệp rất đông 1.221,3 nghìn người, chiếm tới 72,5% lao động xã hội
năm 2010.
Thanh Hóa là tỉnh có nhiều dân tộc anh em sinh sống, trong đó người Kinh
chiếm tỷ trọng lớn nhất ( 84,75%), Mường (8,7%), Thái ( 6,0%), các dân tộc anh
em khac như H’Mông, Dao,…chiếm tỷ trọng không đáng kể. Các dân tộc ít người
sống chủ yếu ở các huyện vùng cao, biên giới, trình độ dân trí thấp, kinh tế còn
nghèo.
Phần lớn đồng bào dân tộc ít người có nguồn lực kinh tế hạn chế, trình độ
sản xuất thấp nên gặp nhiều khó khăn trong đầu tư cho sản xuất cũng như tiếp nhận
các tiến bộ khoa học kĩ thuật. Trình độ dân trí thấp và sự chênh lệch về trình độ sản
xuất giữa các cộng đồng dân cư nên hiệu quả sản xuất chưa cao, việc chuyển đổi cơ
cấu kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, tỉnh cần có những chính sách ưu tiên
phát triển các dân tộc ít người vùng núi, nâng cao dân trí, trình độ sản xuất cho lao
động trong các dân tộc ít người.
Bảng 2.6 Lao động đang làm việc trong khu vực nông – lâm – ngư nghiệp
phân theo giới (giai đoạn 2001 – 2010)
Đơn vị: nghìn người
Tổng số Nam Nữ Năm
1.267,0 508,5 758,5 2001
1.322,2 537,8 784,4 2003
1.378,5 581,5 797,0 2005
1.425,6 628,1 797,5 2007
1.470,3 686,9 783,4 2009
1.221,3 574,3 647,0 2010
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hóa năm 2010
Nhìn chung, trong giai đoạn 2001-2010, lao động nông nghiệp có xu hướng
giảm nhẹ, nhất là lao động nữ, tổng số lao động nông nghiệp giảm từ 1.267 nghìn
người (năm 2001) xuống còn 1.221,3 nghìn người (năm 2010), lao động nữ giảm từ
758,5 nghìn người xuống còn 647 nghìn người (năm 2010). Trong những năm gần
đây do lực hút lao động từ các đô thị lớn, các khu công nghiệp ngoài tỉnh rất cao, di
dân cơ học mạnh đã làm giảm sức ép về việc làm cho lao động nông thôn nhưng lại
gây ra tình trạng thiếu hụt lao động vào mùa thu hoạch. Gần đây việc cơ giới hóa
trong nông nghiệp, đưa máy móc, công nghệ vào sản xuất góp phần giảm lao động
nông nghiệp. Thời gian nông nhàn chiếm gần 30% thời gian lao động. Hàng năm,
hàng nghìn lao động ở nông thôn vào Nam ra Bắc tìm kiếm việc làm đang là hiện
tượng phổ biến hiện nay.
Bố trí đất đai hợp lý nhằm thu hút nhiều lao động có việc làm là một trong
những nội dung quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn.
Trình độ dân trí không ngừng được nâng cao. Tính đến năm 2004 đã có
100% số xã, phường, thị trấn đã hoàn thành chương trình xoá mù chữ và phổ cập
giáo dục tiểu học; số xã, phường đã hoàn thành chương trình phổ cập trung học cơ
sở là 489/633, chiếm tỷ lệ 77,1%. Người nông dân được tham dự các lớp tập huấn
về cải tiến kĩ thuật, các mô hình sản xuất tiên tiến có khả năng tiếp thu và thích nghi
với việc chuyển giao công nghệ, mức sống của người dân đang được cải thiện, nhu
cầu về các loại nông sản chất lượng cao ngày càng lớn. Đó là điều kiện thuận lợi
cho quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp.
Lao động chưa qua đào tạo chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu lao động của tỉnh,
chiếm 87,8% (năm 2010), tỉ lệ lao động có trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp trở
lên rất thấp. Số lao động qua đào tạo 12,2% năm, trong số lao động được đào tạo,
sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm khoảng 78,9% năm, tương ứng trung
cấp chiếm khoảng 14,5% và 18,3%; cao đẳng khoảng 4,6% và 6,8%; đại học trở lên
khoảng 2% và 2,6%.
Lực lượng lao động đông, nhưng số lao động được đào tạo nghề chiếm tỷ lệ
thấp. Nguồn lao động trẻ, lao động dưới 30 tuổi chiếm tỷ trong cao. Là tỉnh có đội
ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ học vấn khá. Tuy nhiên, trong cơ chế thị
trường vẫn còn thiếu các nhà doanh nghiệp giỏi kể cả trong và ngoài quốc doanh để
có thể tiếp cận nhanh chóng và thích nghi với cơ chế thị trường nhằm đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
2.2.3.2. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
* Giao thông vận tải: Trong nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa buôn bán trên thị
trường thế giới diễn ra mạnh mẽ như ngày nay thì giao thông vận tải ngày càng có
vai trò quan trọng không chỉ với riêng ngành nông nghiệp mà cả quá trình phát triển
KT-XH nói chung.
Thanh Hóa có hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường sắt, đường bộ và
đường thuỷ:
- Đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bàn Thanh Hoá dài 92km với
9 nhà ga, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá và hành khách.
- Đường bộ: Có tổng chiều dài trên 8.000 km, hệ thống quốc lộ (7 tuyến: 1A, 47,
45, 10, 217, 15 và đường Hồ Chí Minh), với tổng chiều dài 735,4km đã được nhựa
hóa 100%, nhưng quy mô còn nhỏ hẹp mới chỉ đạt cấp III đến cấp V, chưa đáp ứng
được nhu cầu vận tải ngày càng tăng.
Hệ thống quốc lộ quan trọng như: quốc lộ 1A, quốc lộ 10 chạy qua vùng
đồng bằng và ven biển, đường chiến lược 15A, đường Hồ Chí Minh xuyên suốt
vùng trung du và miền núi; Quốc lộ 45, 47 nối liền các huyện đồng bằng ven biển
với vùng miền núi, trung du của tỉnh, quốc lộ 217 nối liền Thanh Hoá với tỉnh Hủa
Phăn của nước bạn Lào. Tuy nhiên, phần lớn đường có chất lượng rất thấp, đường
nhựa chỉ chiếm 8,5%, đường đá dăm chiếm 79%, còn lại là đường đất.
Hệ thống đường tỉnh: Có 41 tuyến với tổng chiều dài 821,5km, đã nhựa
hóa khoảng 460km đạt 56%, chủ yếu là đường cấp IV đến cấp VI. Hệ thống cầu
trên các tỉnh với số lượng 149 cầu, kết cấu chủ yếu là cầu bê tông cốt thép, bê tông
cốt thép dự ứng lực và liên hợp, còn lại một số cầu tạm chưa xây dựng.
Mạng lưới đường giao thông nông thôn (đường huyện, xã, thôn bản) không
kể đường nội đồng hiện có khoảng 16.448 km bao gồm: 1.051 km đường huyện,
3.136 km đường xã, 11,316 km đường thôn xóm. Về quy mô mới đạt tiêu chuẩn
đường cấp V, cấp VI và giao thông nông thôn loại A, loại B. Đường cấp phối,
đường đất chiếm tỷ lệ cao (95%), đường bê tông, xi măng, đường nhựa chiếm tỷ lệ
thấp. Đến năm 2004 còn 14 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã thuộc huyện
miền núi và một số xã có ô tô đến được nhưng chỉ đi được một mùa.
Về mật độ mạng lưới giao thông đường bộ của Thanh Hóa là cao hơn trung
bình cả nước tính cho tất cả các loại đường.
Về tỷ lệ cứng hóa mặt đường: Quốc lộ là cao hơn cả nước, đường tỉnh và
giao thông nông thôn tỷ lệ thấp hơn cả nước.
Bình quân theo dân số: 5,2 km/1000 dân; mức bình quân chung của cả
nước là 2,7 km/1000 dân.
- Đường sông: Thanh Hoá có hơn 1.600 km đường sông, trong đó có 487 km đã
được khai thác cho các loại phương tiện có sức chở từ 20 đến 1.000 tấn. Cảng Lễ
Môn cách trung tâm Thành phố Thanh Hoá 6km với năng lực thông qua 300.000
tấn/ năm, các tàu trọng tải 600 tấn cập cảng an toàn. Cảng biển nước sâu Nghi Sơn
có khả năng tiếp nhận tàu trên 5 vạn tấn, hiện nay đang được tập trung xây dựng
thành đầu mối về kho vận và vận chuyển quốc tế.
Hệ thống đường thủy nội địa: Toàn tỉnh hiện có 30 sông kênh lớn nhỏ nằm
trong 4 hệ thống sông: Sông Mã, sông Yên, sông Hoạt, sông Bạng... Nối liền 4 hệ
thống sông thiên nhiên là hệ thống kênh đào nhà Lê chạy dọc theo vùng đồng bằng,
ven biển thông suốt từ Bắc đến Nam. Chiều dài toàn bộ hệ thống sông, kênh là 1889
km. Trong đó có 1609 km là sông thiên nhiên, 280 km là kênh đào. Khả năng khai
thác khoảng 1170 km (61,9%). Hiện nay mới đưa vào quản lý khai thác 487 km.
Việc khai thác bằng phương tiện cơ giới chưa cao (mới chiếm 20%), các phân
luồng trên sông ngòi là luồng tự nhiên, phần lớn chưa được nạo vét và quản lý.
Có hệ thống cảng sông, biển phân bố đều suốt dọc bờ biển của tỉnh, gắn liền
với các trung tâm kinh tế. Đặc biệt có cảng biển nước sâu Nghi sơn được đánh giá
là cảng biển tốt nhất khu vực Bắc Trung Bộ về công suất và độ an toàn.
- Cảng biển:
+ Cảng Lễ Môn là cảng tổng hợp, được quy hoạch là cảng biển Bắc Trung
Bộ (nhóm 2). Công suất 300.000 tấn/ năm, cho tàu 1.000 tấn ra vào, luồng tàu
16km.
+ Cảng Nghi Sơn: Thuộc cảng nhóm 2 khu vực Bắc Trung Bộ. Được quy
hoạch gồm các khu cảng chính: Khu cảng lọc hóa dầu, khu cảng tổng hợp trung
ương, khu cảng tổng hợp địa phương và các cảng chuyên dụng khác. Hiện bến số 1
công suất 500.000 tấn /năm với chiều dài 165m, cho tàu tải trọng 1 vạn tấn đã đưa
vào khai thác sử dụng và đang tiến hành xây dựng bến số 2 cho tàu 3 vạn tấn.
So với hệ thống cảng biển khu vực Bắc Trung Bộ, cảng Nghi Sơn có lợi thế
là một cảng nước sâu có thể đón tàu 30.000 tấn ra vào, trong khi đó một số cảng lớn
như cảng Cửa Lò, cảng Hải Phòng chỉ tiếp nhận được tàu 10.000 tấn. Luồng tàu của
cảng Nghi Sơn dài 2 km rất thuận tiện cho tàu cập cảng. Vị trí lại nằm khuất sau đảo
Nghi Sơn, Hòn Mê nên hạn chế được ảnh hưởng của gió bão.
- Cảng sông:
Có 104 bến sông, gồm 39 bến sông có quy mô trên 3.000 tấn/ năm, 65 bến có
quy mô dưới 3.000 tấn/ năm. Trong đó có một số bến cảng đầu mối quan trọng là
cảng Hàm Rồng, cảng hải sản Quảng Tiến, cảng hải sản Lạch Trường, cảng hải sản
Lạch Bạng, bến Hói Đào, Mộng Dường, bến Vạn Hà. Cảng Lèn công suất 1,6 triệu
tấn/năm cho tàu 1.000 tấn đã được phê duyệt quy hoạch.
- Cảng hàng không: Hiện tại sân bay dân dụng của Thanh Hóa chưa có. Mới
có 1 sân bay quân sự Sao Vàng do quân đội quản lý. Chưa có cảng hàng không dân
dụng, cũng đã hạn chế sự giao lưu để phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư.
* Hệ thống thủy lợi: Hệ thống thủy lợi phát triển khá mạnh, hệ thống kênh mương
dày đặc đảm bảo phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp, là yếu tố cơ bản góp
phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp.
- Hệ thống công trình thủy lợi chính bao gồm: Đập Bái Thượng, Yên Mỹ, Hồ
Hoàng Hóa, Tén Tần, Cống Mộng Giường…
- Hệ thống các công trình phòng chống lũ, đê biển tập trung ở các huyện ven
biển như Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoàng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia. Hệ thống đê
biển còn thấp và hẹp, chủ yếu là đất cát pha, đê mới chỉ chống được bão cấp 8-9 khi
không có triều cường.
- Hệ thống cống, bờ bao và các kênh nội đồng được kiên cố hóa có hiệu quả
rõ rệt, tiết kiệm nước và giảm thời gian lấy nước. Toàn tỉnh đã kiên cố hóa được
3.142km (2005). Tuy nhiên, do thời gian sử dụng quá lâu nên các công trình thủy
lợi chưa phát huy hết năng lực thiết kế, nhiều công trình chưa được đầu tư tu bổ, sửa
chữa.
- Năng lực tưới: Tính đến năm 2005 toàn tỉnh có 1.335 công trình (không kể
công trình tạm). Trong đó có: 394 công trình hồ chứa; 436 công trình đập dâng; 505
trạm bơm điện tưới (973 máy loại từ 500 - 8000 m3/h).
Kiên cố hoá kênh mương: Đến hết năm 2004 toàn tỉnh đã làm được 3.494 km
trong tổng số 7089 km cần kiên cố hoá, đạt 49,2%, trong đó: Kênh liên huyện, liên
xã: 696 km (đạt 46,8%), kênh nội đồng: 2.798 km (đạt 50%).
Trong số những công trình tưới trên có 6 hệ thống lớn theo thiết kế đảm bảo
tưới được từ 4000 ha đến 50.000 ha như trạm bơm Xa Loan: 4000 ha, Hồ Yên Mỹ:
5800 ha, TB Kiểu - Nam sông Mã: 14.000 ha, Hồ Sông Mực: 13.800 ha, trạm bơm
Bắc sông Mã: 19.000 ha, Đập Bái Thượng : 50.000 ha.
Năng lực tưới thiết kế: Tổng năng lực tưới theo thiết kế: 222.000 ha, phân ra:
Tưới tự chảy (Hồ, đập dâng): 119.000 ha, Tưới bơm điện: 103.000 ha. Năng lực
tưới thực tế: Tưới lúa chiêm xuân: 119.000 ha (Tưới tự chảy: 64.000 ha, Tưới bơm
điện: 55.000 ha); Tưới lúa vụ mùa: 125.000 ha (Tưới tự chảy: 67.000 ha, Tưới bơm
điện: 55.000 ha, Tưới biện pháp khác: 3.000 ha). Tưới màu và cây công nghiệp đạt
trên 30.000 ha
- Hệ thống các công trình tiêu: Toàn tỉnh Thanh Hoá có 5 vùng tiêu lớn là:
Vùng tiêu sông Yên (Nam sông Chu), vùng tiêu bắc Chu nam Mã, vùng tiêu Vĩnh
lộc, vùng tiêu Bắc sông Lèn, vùng tiêu bắc sông Mã. Với 5 vùng tiêu trên có 15 hệ
thống tiêu lớn và vừa, có các hệ thống tiêu lớn như: Trường lệ, Quảng châu, Sông
lý, Sông Hoàng, Bộ Đầu có năng lực tiêu từ 6.000 ha đến 24.000 ha.
Cho đến cuối năm 2005 toàn tỉnh có 90 trạm bơm tiêu với 442 máy bơm
loại từ 1000 m3/h - 4000 m3/h; có 600 cống tiêu trong đó có 14 cống tiêu lớn và
các cống, âu điều tiết giữa các hệ thống tiêu.
Năng lực tiêu: với số lượng các công trình trên tiêu được: 114.736 ha, trong
đó: Tiêu bằng trọng lực (Tự chảy) 86.000 ha; Tiêu bằng động lực (bơm điện)
28.736 ha. Trong số diện tích trên tiêu cho lúa được: 86.100 ha (Tiêu tự chảy
58.069 ha, tiêu bơm điện: 28.031 ha)
Hệ thống các công trình thủy lợi được quan tâm đầu tư và đang phát huy tác
dụng. Ở vùng đồng bằng, hệ thống kênh mương được kiên cố hóa nâng cao hiệu
suất tưới. Các công trình đầu mối trạm bơm, hồ đập được đầu tư đã và đang phát
huy tác dụng, cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt. ở
miền núi, thực hiện chương trình 135 đã đầu tư xây dựng thêm được 122 công
trình thủy lợi nâng cao năng lực tưới cho hơn 2300 ha. Các công trình tiêu úng cũng
được đầu tư có trọng điểm. Nâng cao năng lực tưới, tiêu chủ động cho lúa, màu ước
đạt 85% đất canh tác. Đất màu trồng mía của Thạch Thành, Như Thanh, Thọ Xuân,
Triệu Sơn, Ngọc Lặc....phần lớn chưa được tưới bằng công trình thủy lợi.
Công trình hồ thủy lợi - thủy điện Cửa Đạt sau khi hoàn thành sẽ nâng cao
đáng kể năng lực tưới cho địa bàn của các huyện hạ lưu sông Chu, vùng Tĩnh Gia,
Nông Cống, Ngọc Lặc... Công trình tiêu Đông – Thiệu – Thị được đầu tư cũng sẽ
giải quyết rất cơ bản việc tiêu nước và giải quyết vấn đề môi trường ở khu vực
trọng yếu này của tỉnh.
* Mạng lưới điện: Mạng lưới cung cấp điện của Thanh Hoá ngày càng được tăng
cường cả về số lượng và chất lượng. Hiện tại điện lưới quốc gia đã có 508 km
đường dây điện cao thế; 3.908 km đường dây điện trung thế, 4.229 km đường dây
điện hạ thế; 9 trạm biến áp 110/35/6-10 KV; 38 trạm trung gian; 2.410 trạm phân
phối. Năm 2005, điện năng tiêu thụ trên 1,2 triệu Kwh. Tiềm năng phát triển thuỷ
điện tương đối phong phú và phân bố đều trên các sông với công suất gần 800 MW.
Ngoài những nhà máy thuỷ điện lớn như Cửa Đặt, bản Uôn đang và sẽ đầu tư,
Thanh Hóa có thể phát triển nhiều trạm thuỷ điện nhỏ có công suất từ 1-2 MW.
Điện khí hoá nông nghiệp và nông thôn: Đến năm 2005, 100% số huyện, thị
được hoà mạng lưới điện quốc gia, có 94% số xã có điện với tỷ lệ 91% số hộ dùng
điện lưới quốc gia. Khả năng cung cấp điện cho sản xuất nông nghiệp chỉ đạt mức
60-70%, tuy nhiên, nguồn điện không ổn định, thường xuyên cúp điện vào mùa khô
nên khả năng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp còn hạn chế.
2.2.3.3. Đường lối chính sách phát triển nông nghiệp
- Chính sách về đất đai: Trước hết tiếp tục chỉ đạo cuộc vận động dồn điền,
đổi thửa trong các hộ nông dân từ 10-12 mảnh/hộ xuống còn 1-2 mảnh/hộ, không
còn manh mún, nhỏ lẻ để tiến hành sản xuất ra sản phẩm hàng hóa hoặc có thể dùng
"mảnh lớn" để góp cổ phần bằng ruộng đất, phục vụ sản xuất hàng hóa. Nghị định
20/2011/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 23/03/2011 quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của
Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp. Chương trình hành động số
46/CT/TU ngày 29/4/2003 của Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về việc
thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTW Đảng khóa IX "Về tiếp tục đổi
mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước".
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn lao
động trong nông nghiệp sẽ dịch chuyển ra các khu công nghiệp, thành thị, ra làm
dịch vụ…, cho nên cần tích tụ ruộng đất tạo điều kiện cho các loại hình sản xuất
nông nghiệp có quy mô lớn, hiện đại, nâng cao thu nhập, nâng cao đời sống cho
nông dân.
- Chính sách về vốn: Các cơ chế chính sách mới trong các lĩnh vực đang
được triển khai là động lực mới cho phát triển nông nghiệp, nông thôn: trong trồng
trọt chính sách miễn giảm thủy lợi phí hàng năm hỗ trợ nông dân gần 200 tỷ đồng;
trong lâm nghiệp thực hiện Quyết định 147/TTg của Thủ tướng Chính phủ hàng
năm ngân sách đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho trồng rừng; trong thủy sản thực hiện
Quyết định 289/TTg riêng năm 2009 Nhà nước hỗ trợ trên 165,828 tỷ đồng cho ngư
dân...
Những năm qua, Thanh Hoá đã ban hành, triển khai áp dụng nhiều chính
sách hỗ trợ nông dân như cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, đơn giản hóa thủ tục cho
vay, cho vay gối vụ hỗ trợ nông dân nghèo, mở rộng các hình thức cho vay vốn
trung và dài hạn cho các thành kinh tế, mua sắm máy móc, nông cụ, dịch vụ nông
nghiệp và chế biến nông sản. Dự báo đến năm 2020 vốn đầu tư cho khu vực nông
lâm thuỷ sản của tỉnh khoảng 29 nghìn tỷ đồng.
- Chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp: Địa phương phân cấp
đầu tư, xác định rõ từng loại vốn đầu tư, huy động mọi thành phần kinh tế tham gia
đầu tư cho nông nghiệp. Ngoài cơ chế, chính sách ưu đãi chung của nhà nước,
Thanh Hóa cũng đã ban hành các chính sách ưu đãi như miễn giảm thuế, ưu tiên
vay vốn, tiêu thụ sản phẩm, bảo hộ sản phẩm… khuyến khích đầu tư phát triển xuất
khẩu, chăn nuôi, sản xuất giống thuỷ sản, phát triển vùng nguyên liệu.
- Chính sách xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH cho nông nghiệp, nông
thôn: Tập trung xây dựng hệ thống thủy lợi theo quy hoạch, theo hướng phục vụ đa
mục tiêu, tu bổ, sửa chữa, khôi phục, cải tạo, nâng cấp các công trình thủy lợi hiện
có. Hoàn thiện hệ thống đê sông, đê biển, kiên cố hóa hệ thống kênh mương nội
đồng, nâng cao năng lực tưới tiêu. Trong những năm qua, từ nhiều nguồn vốn đã
triển khai mới, tu bổ và nâng cấp các công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp, thủy
sản mang tính ổn định lâu dài: ngoài công trình trọng điểm Quốc gia là công trình
thuỷ lợi, thuỷ điện cửa Đạt; đã triển khai nâng cấp hồ Yên Mỹ, xây dựng mới hồ
Hao Hao, đến hết tháng 7/2009 đã triển khai thi công 27 công trình hồ đập miền núi
và dự kiến đến hết năm 2009 tiếp tục thi công 12 công trình hồ đập nguồn vốn trái
phiếu Chính phủ, dự kiến tổng mức đầu tư 350 tỷ đồng; các công trình nâng cấp đê
biển, xử lý sạt lở bờ sông, âu tránh trú bão, cảng cá … đồng thời đang tiếp tục triển
khai các công trình vốn ODA: tiêu úng Cầu Khải, tưới Thạch Thành, kè biển Hải
Thanh, đường Xuân Qùy - Thanh Quân, đường Xuân Lâm - Phú Sơn...
- Chính sách phát triển khoa học và công nghệ: Xây dựng các trung tâm
thí nghiệm, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, các cơ sở dịch vụ nông nghiệp, các
trung tâm khuyến nông. Tăng cường ngân sách cho nghiên cứu khoa học, khảo
nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp để nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học
công nghệ sinh học, áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật tiên tiến trong sản xuất và
chế biến.
- Chính sách tiên thụ sản phẩm nông nghiệp: Thực hiện Quyết định số
80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua
hợp đồng, gắn đầu tư sản xuất với bao tiêu nông sản hàng hóa trên địa bàn tỉnh. Xây
dựng các chợ nông sản làm đầu mối trao đổi nông sản, vật tư và các dịch vụ nông
nghiệp. Hỗ trợ các doanh nghiệp về vốn để thu mua tạm trữ nông sản hạn chế tình
trạng được mùa rớt giá. Thực hiện lien kết bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm nông nghiệp. Hiện nay, 3 nhà máy đường, 2 nhà máy chế biến tinh bột sắn, 1
nhà máy dứa, công ty cao su cà phê đã ký hợp đồng đầu tư, tiêu thụ sản phẩm cho
trên 40000 hộ nông dân, tạo ra mối liên kết và cộng đồng trách nhiệm trong quá
trình từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
Các chính sách phát triển nông nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển
dịch CCNN theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hiện nay, nền nông nghiệp
đang được phát triển theo định hướng xuất khẩu và gắn với thị trường thế giới,
trong khi tình hình thế giới đang chịu tác động của khủng hoảng tài chính, biến đổi
khí hậu... vì vậy, đòi hỏi phải có sự theo dõi và điều chỉnh liên tục cơ chế, chính
sách cho phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh và thay đổi của thị trường trong và
ngoài nước.
2.2.3.4. Thị trường tiêu thụ
Trong bối cảnh gia nhập nền kinh tế thế giới, thị trường đóng vai trò cực kỳ
quan trọng tới sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp .
Thị trường ngoài nước chủ yếu là các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Liên
Bang Nga, các nước trong khu vực Đông Nam Á... Để tham gia vào thị trường thế
giới đòi hỏi các mặt hàng nông sản phải đảm bảo tiêu chuẩn về kích thước, màu sắc,
sạch và an toàn, có nhãn hiệu. Điều này đòi hỏi ngành nông nghiệp nỗ lực hơn nữa
trong sản xuất nông nghiệp, chế biến, đồng thời thực hiện những chuyển đổi cần
thiết nhằm hợp lí hóa, đa dạng hóa sản xuất kinh doanh nông sản, nâng cao năng
suất chất lượng, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phát triển nông thôn bền vững.
Sản phẩm nông nghiệp của Thanh Hóa tham gia vào thị trường thế giới là:
mía (lá mía khô), cao su, sắn (sắn củ, sắn lát, tinh bột sắn), Cói nguyên liệu (quại
cói, cói chẻ), lạc nhân, ớt, bò thịt chất lượng cao, lợn thịt (lợn sữa, lợn mảnh đông
lạnh), thuỷ sản đông lạnh (tôm, cá, cua, nghẹ, sứa), Rau câu, dong biển và các sản
phẩm chế biến từ rau câu, dong biển; thuỷ sản chế biến khác (chả cá, chả tôm, bột cá,
bột tôm)...
Ngoài ra, thị trường trong nước cũng rất quan trọng, bởi vì khi gia nhập
WTO chúng ta phải cạnh tranh gay gắt với hàng nông nghiệp của các nước. Người
nông dân, doanh nghiệp đã, đang phải đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn
như:lạm phát cao, suy giảm tăng trưởng kinh tế cùng với chính sách thắt chặt tài
khóa và tiền tệ, sự bất ổn của thị trường nông sản quốc tế, nguy cơ khủng hoảng
lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, ảnh hưởng tiêu cực của tăng giá
Sản phẩm nông nghiệp của Thanh Hóa phục vụ nhu cầu thị trường trong nước: Rau
quả (dưa chuột, ớt, hành, cà chua, mộc nhĩ, nấm và các loại rau quả khác), thực phẩm chế
biến (bánh tráng, nem), lạc, vừng, gỗ ván sàn, luồng ván sàn; đồ gỗ gia dụng , tăm tre, đũa
tre, que xuyên, chiếu tre, hàng lâm sản: mây che đan, song mây…
đầu vào, đến sinh kế của nông dân.
Nghiên cứu những tác động của thị trường nông sản để có thể đưa ra những
định hướng phát triển một cách bền vững là điều kiện hết sức quan trọng nhằm
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của Tỉnh.
2.2.3.5. Vốn đầu tư
Trong nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa quy mô lớn, vốn có vai trò rất quan
trọng không chỉ đối với phát triển mà còn là yếu tố then chốt trong quá trình chuyển
dịch CCNN. Vì vậy, không chỉ trông chờ vào nguồn ngân sách của nhà nước, tỉnh
đã huy động vốn từ mọi nguồn lực cho nông nghiệp. Kêu gọi và tạo điều kiện thuận
lợi để mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển nông nghiệp, theo tinh thần
Nghị định 61/2010/NĐ-CP, của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh
nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
Để huy động được các nguồn vốn đầu tư thực hiện đa dạng hoá đầu tư; tiếp tục
đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng; xây dựng các
cơ chế, chính sách hấp dẫn và đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư khuyến khích các
thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.
Ngoài nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, khuyến khích các doanh
nghiệp, cần huy động vốn nhàn rỗi trong dân thông qua quỹ tín dụng nông nghiệp.
Hiện nay, việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp còn rất
hạn chế, nguồn vốn mới chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu phát triển nông
nghiệp.
Vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp được huy động từ các nguồn: vốn Khu
vực kinh tế Nhà nước (vốn ngân sách Nhà nước, vốn vay). Vốn ngoài Nhà nước
(vốn doanh nghiệp, vốn dân cư) và các nguồn vốn khác. Trong đó, vốn khu vực
kinh tế nhà nước và vốn dân cư là chủ yếu, thu hút vốn từ các doanh nghiệp nước
ngoài đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp rất hạn chế.
Bảng 2.7 Số vốn đầu tư cho phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Thanh
Hóa giai đoạn 2006 – 2010 (theo giá thực tế)
Đơn vị: tỉ đồng
Năm 2006 2007 2008 2009 2010
Vốn phát triển nông– 996,8 2.064,4 3.051,8 2.035,2 2.999,3
lâm – ngư nghiệp
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa
Nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp tăng khá nhanh nhưng chưa bền vững, từ
996,8 tỉ đồng (năm 2006) lên 2.999,3 tỉ đồng (năm 2010). Tính đến năm 2010, số
vốn đầu tư vào lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp là 2.999,3 tỷ đồng, chỉ chiếm 10,4%
trong tổng số vốn đầu tư cho các ngành kinh tế. Vốn nông nghiệp chủ yếu được đầu
tư vào các lĩnh vực: sửa chữa, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, công trình thuỷ lợi;
hệ thống sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản; giao thông nông thôn, điện;
hạ tầng phục vụ chuyển đổi ruộng trũng sang trồng trọt kết hợp nuôi trồng thuỷ sản;
hạ tầng phục vụ các khu chăn nuôi tập trung; vùng nguyên liệu chế biến, nâng cấp
hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp tập trung; cơ sở hạ tầng vùng sản xuất lúa lai
F1; Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền nghề cá Lạch Trường; Trung tâm
nghiên cứu và sản xuất giống thủy sản; các tiểu dự án quản lý thiên tai; các công
trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, dự án Phát triển bền vững
nguồn lợi ven bờ của WB; dự án hệ thống đường phục vụ sản xuất lâm nghiệp, phát
triển rừng và bảo vệ rừng, ....
Hiện nay, các dự án nông nghiệp của tỉnh kêu gọi đầu tư: kênh Bắc sông
Chu, nam sông Mã; Nạo vét sông Lạch Trường; Tiêu thoát lũ sông Nhơm; các tiểu
dự án cạnh tranh ngành nông nghiệp và ngành chăn nuôi; các dự án trung tâm giống
cây trồng nông, lâm nghiệp, ...
2.2.3.6. Phân tích lợi thế so sánh và hạn chế của các nhân tố ảnh
hưởng đến chuyển dịch cơ cấu xuất nông nghiệp
Những lợi thế:
* Về mặt vị trí địa lý: Là cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam Bộ,
có vị trí tương đối thuận lợi:
- Đường sắt Bắc - Nam, Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10 chạy qua vùng đồng bằng
và ven biển của tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi giao lưu với các tỉnh và thành phố khác
trong cả nước.
- Đường chiến lược 15A, đường Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng trung du và
miền núi của tỉnh và các miền trong cả nước, tạo điều kiện thuận lợi để khai
thác vùng núi phía Tây của tỉnh nhằm tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng
trong tỉnh.
- Quốc lộ 217 nối liền tỉnh Thanh Hoá với tỉnh Hủa Phăn của nước bạn Lào
tăng cường khả năng giao lưu quốc tế.
- Có 4 hệ thống sông ngòi với 5 cửa lạch chính thông ra biển tạo thành hệ
thống giao thông thuỷ có nhiều ưu thế.
- Cảng biển Nghi Sơn có thể đón tàu 30.000 tấn, là cửa ngõ của Thanh Hoá
và khu vực thông thương với nước ngoài.
- Nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ khu vực trọng điểm kinh
tế phía Bắc ( Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh) và những tác động từ các vùng
trọng điểm kinh tế Trung Bộ, vùng trọng điểm kinh tế Nam Bộ ( Thành phố Hồ Chí
Minh – Biên Hoà - Bà Rịa – Vũng Tàu). Với sự tác động tổng hợp của các vùng
trên, Thanh Hoá có thể huy động tốt các nguồn lực để thoả mãn nhu cầu của cả
vùng Bắc Bộ và các tỉnh phía Nam.
Với vị trí địa lý đó, Thanh Hoá có thể trở thành vai trò một cực tăng trưởng
để góp phần thúc đẩy kinh tế toàn vùng phát triển. Trong những năm qua, Thanh
Hoá đã khai thác các tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế- xã hội, nền kinh tế
có sự phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng
cao. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng
sản xuất hàng hóa quy mô lớn trong nền kinh tế thị trường.
* Điều kiện tự nhiên : Tài nguyên đất, nước và khí hậu là những lợi thế để
mở rộng và phát triển ngành nông nghiệp Thanh Hóa theo hướng sản xuất hàng hoá
(lúa, rau sạch, chăn nuôi) gắn với chế biến, phục vụ cho đô thị và các vùng lân cận,
góp phần phát triển kinh tế của tỉnh. Sản xuất nông nghiệp đa dạng do có nhiều tiểu
vùng, miền; đất đai rộng, phù hợp hình thành nhiều vùng sản xuất nguyên liệu chế
biến công nghiệp tập trung. Thị trường rộng lớn không chỉ các tỉnh lân cận mà phục
vụ nhu cầu các tỉnh phía nam và xuất khẩu thuận lợi thông qua cảng nước sâu Nghi
Sơn.
Tài nguyên biển là ưu thế nổi trội của Thanh Hóa để phát triển ngành thuỷ
sản. Đặc biệt là nuôi trồng hải sản xuất khẩu tạo nguồn tích luỹ ngoại tệ đáng kể cho
nền kinh tế của tỉnh, góp phần giải quyết lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp.
Thanh Hoá có 3 vùng: Ven biển; đồng bằng, trung du và miền núi, có đủ các
điều kiện để phát triển kinh tế đa dạng, là lợi thế so sánh so với các tỉnh khác.
* Sản phẩm nông nghiệp có giá trị, độc đáo: chiếu cói, lá chuối khô, lá ớt,
lá mía khô, luồng cây, lợn thịt, gia cầm, bột cá, ngao bến tre, tôm chân trắng, các
sản phẩm mây che đan, ...
Những hạn chế
+ Quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa chưa khai thác
tốt tiềm năng của tỉnh, chưa đảm bảo sự phát triển về kinh tế với vấn đề bảo vệ môi
trường, cơ cấu ngành khai thác từ tự nhiên còn cao (thủy sản, rừng), chưa phát triển
theo chiều sâu. Năng suất lao động ngành nông, lâm nghiệp thấp nhất so với các
ngành khác khoảng 9,6 triệu đồng/người/năm (năm 2010), chỉ bằng 1/8 năng suất
lao động ngành công nghiệp, năng suất lao động ngành thuỷ sản là 26 triệu
đồng/người/năm (năm 2010). Sản xuất nông nghiệp vẫn còn mang tính tự túc,
truyền thống, manh mún, kém hiệu quả và không bền vững ... chưa chú trọng nhiều
đến sản xuất hàng hoá và tăng giá trị thu nhập trên 01 ha đất canh tác; chưa gắn kết
chặt chẽ với công nghiệp chế biến, sản phẩm thô là chính. Công tác ứng dụng khoa
học – công nghệ còn yếu kém; sức cạnh tranh kém, việc sắp xếp, đổi mới các nông,
lâm trường quốc doanh còn chậm, dịch vụ đầu ra sản phẩm chưa thực sự được quan
tâm. Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội nông thôn còn yếu kém nhất là các huyện vùng
Trung du miền núi. Khó khăn về thiên tai bão lụt hàng năm, khắc phục hậu quả sau
thiên tai, diện tích đồi núi chiếm tỉ lệ cao, đất vùng ven biển nhiễm mặn hàng năm
ảnh hưởng đến sản xuất. Sự phát triển nông nghiệp chưa đi đôi với bảo vệ môi
+ Tỷ trọng vốn đầu tư bình quân cho sản xuất nông, lâm, thuỷ sản rất thấp,
trường sinh thái.
chỉ chiếm 14,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (thời kỳ 2000-2010). Hiệu quả sử
dụng nguồn vốn chưa cao. Thu nhập của phần lớn nông dân còn thấp, nguồn vốn tự
đầu tư cho chuyển đồi sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, nhất là vùng miền núi
phía tây. Đội ngũ cán bộ khuyến nông còn mỏng chưa đáp ứng được nhu cầu sản
xuất nông nghiệp qui mô lớn.
+ Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật chưa đồng bộ, chưa đủ đáp ứng cho sản
xuất nông nghiệp hàng hoá trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường
và mở cửa hội nhập. Khả năng thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước
và nước ngoài còn hạn chế.
+ Giá cả thị trường bấp bênh, dịch bệnh, vốn đầu tư…là những khó khăn rất
lớn đối với nông nghiệp và nông dân của tỉnh.
Vì vậy, Thanh Hóa cần khai thác, phát huy tốt các lợi thế đồng thời có biện
pháp khắc phục những hạn chế, tạo điều kiện cho kinh tế – xã hội nói chung và
nông nghiệp của tỉnh nói riêng phát triển mạnh, tương xứng với tiềm năng, thế
mạnh của tỉnh.
2.3. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa
2.3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung
- Thời kì 2001-2010, CCKT của tỉnh có sự chuyển dịch theo hướng tích cực,
giảm dần tỉ trọng của ngành nông-lâm-ngư nghiệp, năm 2001 khu vực này chiếm tới
38,5% GDP của tỉnh, giảm xuống còn 33,6% năm 2010. Tỉ trọng của ngành công
nghiệp-xây dựng tăng dần từ 32,3% lên 33,1% (2001-2010) và tỉ trọng ngành dịch
vụ tăng từ 24,1% lên 34,4% cùng thời kì.
Bảng 2.8 Cơ cấu Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) của Thanh Hóa giai đoạn
2001-2010 (theo giá thực tế)
Chỉ tiêu 2001 2005 2010
Tỉ đồng % Tỉ đồng % Tỉ đồng %
Nông-lâm-ngư 4.116,0 38,5 6.052,0 27,9 12.404,9 33,6
nghiệp
Công nghiệp-xây 2.986,0 32,3 6.484,0 34,6 21.302,6 33,1
dựng
Dịch vụ 3.597,5 24,1 6.029,0 41,5 17.685,4 34,4
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Quá trình chuyển dịch CCKT của Thanh Hóa đã diễn ra theo hướng giảm
dần tỉ trọng ngành nông-lâm-ngư nghiệp, tăng tỉ trọng ngành công nghiệp-xây dựng
và dịch vụ. Sự chuyển dịch này là đúng hướng phù hợp với xu thế chung của nước
ta và trên thế giới. Sự chuyển dịch này cũng đã mang lại lợi ích to lớn cho sự phát
triển KT-XH nói chung và khắc phục những bất hợp lí của cơ cấu kinh tế cũ với tỉ
trọng ngành nông-lâm-ngư nghiệp vẫn còn cao.
Trong cơ cấu thành phần kinh tế, khu vực kinh tế nhà nước chiếm ưu thế
tuyệt đối, trong đó thành phần kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỉ trọng cao nhất trong
GDP74,4% năm (2010). Giai đoạn 2006-2010, thành phần kinh tế ngoài nhà nước
tăng về tỉ trọng (từ 69,7% năm 2006 lên 74,4% năm 2010), trong đó cao nhất là
kinh tế cá thể đóng góp 60% (2010), kinh tế nhà nước giảm từ 26,4% (2006) còn
21,7% (2010), tỉ trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn rất hạn
chế, không ổn định, tỉ trọng thấp chỉ 3,9% (2010).
Cơ cấu kinh tế Thanh Hóa có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, hiện đại,
mang lại hiệu quả cao cho từng ngành, từng khu vực kinh tế, phát huy lợi thế từng
khu vực kinh tế, từng ngành. Sự chuyển dịch không chỉ bao gồm cách thức sản xuất
mà cả phương thức quản lí kinh tế, từ đó thúc đẩy sản xuất, tăng giá trị GDP. Tuy
nhiên, nền kinh tế Thanh Hóa vẫn còn nặng về các ngành khai thác. Quá trình
chuyển dịch diễn ra chậm, năng suất lao động xã hội chưa cao, thấp nhất là khu vực
I (9,6 triệu đồng/người năm 2010), khu vực này cũng sử dụng lao động tới hơn 70%
lao động toàn tỉnh. Khu vực II và khu vực III có tốc độ tăng trưởng khá nhưng chưa
bền vững. Mặc dù nững năm gần đây giá trị ngành nông nghiệp và thủy sản tăng
khá nhanh song đời sống nông dân vẫn chưa được nâng cao, khoảng cách về thu
nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng lớn.
2.3.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
Thanh Hóa là tỉnh có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên khá thuận
lợi cho sự phát triển nông nghiệp. Trong những năm gần đây, Thanh Hóa đã nỗ lực
tập trung đầu tư cho cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ nông nghiệp. Đây cũng chính là
một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh
mẽ.
Tỉ trọng của nông nghiệp của nông nghiệp trong GDP là 33,6% năm 2010
nhưng lại tập trung tới 72,5% lao động của Tỉnh. Trong sản xuất nông nghiệp, nhờ
việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, thâm canh tăng năng suất nên
đã mang lại những kết quả tích cực, đã xuất hiện một số mô hình sản xuất hiệu quả
kinh tế cao. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng giá
trị và tỉ trọng chăn nuôi, phá thế độc canh cây lúa tăng giá trị cây màu, cây ăn quả.
Nhờ ứng dụng khoa học kĩ thuật, đặc biệt là việc sử dụng các giống mới và áp dụng
các biện pháp 3 tăng, 3 giảm, nên năng suất và sản lượng lúa tăng lên dù diện tích
có giảm, đạt gần 1,4 triệu tấn (năm 2010), diện tích cây màu tăng, đóng góp tới
1.058,1 tỉ đồng năm 2010, tốc độ phát triển khá nhanh. Chăn nuôi phát triển mạnh
theo quy mô hộ gia đình, trang trại, mô hình V-A-C. Mặc dù thị trường thiếu ổn
định, dịch bệnh gia súc, gia cầm tăng và diễn biến phức tạp nhưng các loại vật nuôi
chính vẫn được giữ vững: đàn lợn 874,5 nghìn con, đàn bò 244,8 nghìn con và đàn
gia cầm 16.731 nghìn con (năm 2010).
Năm 2010 Tỉnh đã tiến hành trồng mới và khôi phục hơn 158.981 ha rừng
nâng tổng diện tích rừng toàn tỉnh đạt 545.026 ha.
Nuôi trồng thủy sản phát triển tương đối khá ở cả ba diện tích nước mặn, lợ
và nước ngọt. Sản lượng thủy sản hang năm đều tăng, năm 2010 đạt 103.385 tấn,
xuất hiện các trang trại nuôi thủy sản theo mô hình kết hợp V-A-C. Toàn tỉnh có
13.861 ha mặt nước dành cho nuôi trồng thủy sản, trong đó diện tích nước mặn, lợ
dành cho nuôi tôm là 4.990 ha, đạt sản lượng 2.105 tấn. Nghề nuôi cá phát triển
mạnh, năng lực sản xuất, ươm, nuôi giống thủy sản được tăng cường. Năm 2010,
tỉnh đã dành 85 ha cho ươm, nuôi giống thủy sản.
Bảng 2.9 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất nông-lâm-thủy sản tỉnh
Thanh Hóa giai đoạn 2000-2010 (theo giá so sánh)
Đơn vị: tỉ đồng
Hạng mục
2000
2005
2006
2007
2010
4.345,2
4.119,2
Tổng số
5.757,9
6.224,2
6.373,2
3.620,0
3.178,4
4.720,2
5.100,3
5.175,5
324,5
420,4
361,6
393,9
418,7
Nông nghiệp
400,7
520,4
676,0
730,0
779,0
Lâm nghiệp
Thuỷ sản
100
100
Cơ cấu (%)
100,0
100,0
100,0
79,6
77,2
78,8
78,2
79,9
7,9
10,2
6,6
7,2
7,1
Nông nghiệp (%)
12,5
12,6
14,5
14,6
13,0
Lâm nghiệp (%)
Thuỷ sản (%)
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Nội bộ ngành nông nghiệp có sự chuyển dịch từ trồng trọt sang chăn nuôi.
Ngành trồng trọt vẫn giữ vai trò chủ đạo song tỉ trọng trong cơ cấu giá trị sản xuất
nông nghiệp giảm từ 77,2% năm 2001 xuống còn 70,7% năm 2010. Trong khi đó tỉ
trọng của ngành chăn nuôi tăng lên, từ 21,0% năm 2001 lên 26,6% năm 2010. Hệ
thống dịch vụ nông nghiệp (thủy lợi, giống cây trồng, vật nuôi, hệ thống bảo vệ
thực vật…) còn nhỏ lẻ và tốc độ tăng trưởng chưa vững chắc (2,7% năm 2010)
%
100%
12.5
12.6
13.8
14.5
14.6
90%
7.3
6.6
10.2
7.2
7.9
80%
70%
60%
50%
40%
78.9
78.8
78.2
77.2
79.6
30%
20%
10%
Năm
0%
2000
2003
2005
2007
2010
Nông nghiệp
Lâm nghiệp
Thủy sản
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông-lâm-thủy sản tỉnh Thanh Hóa thời kì
2000-2010 (theo giá thực tế)
Trong cơ cấu nông-lâm-thủy sản của Thanh Hóa thì nông nghiệp chiếm tỉ
trọng cao nhất và có xu hướng giảm từ 80,8% (năm 2007) còn 77,2% (năm 2010).
Thủy sản đứng thứ 2 sau nông nghiệp chiếm 12,6% (2010), lâm nghiệp chỉ chiếm tỉ
trọng nhỏ nhất 10,2% (năm 2010).
Bảng 2.10 Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa,
giai đoạn 2001-2010 (theo giá thực tế)
Đơn vị: %
Năm 2001 2003 2005 2007 2010
Tổng giá trị sản 4.665,9 5.133,3 7.500,5 9.475,8 17.774,2
xuất (tỉ đồng) (100 %) (100 %) (100 %) (100 %) (100 %)
Trồng trọt 77,2 77,3 71,0 67,8 70,7
Chăn nuôi 21,0 20,9 27,0 29,7 26,6
Dịch vụ nông 1,8 1,8 2,0 2,5 2,7
nghiệp
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Quá trình chuyển dịch nội bộ cơ cấu ngành nông nghiệp diễn ra theo hướng
giảm tỉ trọng ngành trồng trọt từ 77,2% (năm 2001) xuống 70,7% (năm 2010)
nhưng vẫn còn cao, tỉ trọng chăn nuôi tăng lên và sẽ trở thành ngành sản xuất chính,
tăng từ 21% (năm 2001) lên 26,6% (năm 2010), dịch vụ nông nghiệp tăng từ 1,8%
(năm 2001) lên 2,7% (năm 2010).
Bảng 2.11 Giá trị sản xuất và tốc độ phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Thanh
Hóa, giai đoạn 2000-2010 (theo giá so sánh)
Đơn vị: triệu đồng; %
Năm 2000 2002 2004 2006 2010 Chỉ tiêu
I. Giá trị sản xuất (triệu đồng)
Tổng số 3.620.024 4.040.167 4.534.790 5.100.300 5.441.900
-Trồng trọt 841.548 3.255.316 3.463.800 3.661.000 3.925.700
- Chăn nuôi 692.112 703.781 970.990 1.303.500 1.336.900
- Dịch vụ NN 86.364 81.070 100000 135.000 179.300
II/ Chỉ số phát triển %
Tổng số 104,3 105,5 104,6 108,1 100,6
- Trồng trọt 102,8 106,5 103,5 107,3 99,3
- Chăn nuôi 106,8 102,0 107,5 106,9 102,6
- Dịch vụ NN 148,5 98,0 115,6 151,2 115,3
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Qua bảng 2.12 ta thấy, trong cơ cấu ngành nông nghiệp, giá trị sản xuất
ngành trồng trọt là lớn nhất 3.925,7 tỷ đồng (năm 2010), tuy nhiên sự tăng trưởng
của ngành chậm nhất so với chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Giá trị ngành dịch
vụ nông nghiệp nhỏ nhất 179,3 tỷ đồng (năm 2010) nhưng lại là ngành có tốc độ
tăng trưởng cao nhất. Ngành chăn nuôi ngày càng đóng góp cao trong giá trị sản
xuất ngành nông nghiệp, và dần trở thành ngành sản xuất hàng hóa.
Cơ cấu nông nghiệp của tỉnh đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực,
ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với trồng
trọt. Tuy nhiên, hiện tại ngành chăn nuôi vẫn còn những hạn chế nhất định: nguồn
vốn đầu tư lớn cho con giống, xây dựng cơ sở chăn nuôi, dịch vụ thú y, thức
ăn…vẫn còn là mối lo ngại của người dân. Thêm vào đó, sự khó khăn của thị
trường tiêu thụ, thiên tai, dịch bệnh…do đó, những năm gần đây tỉnh đã đầu tư
mạnh cho chăn nuôi nhưng vẫn chưa đủ điều kiện để phát triển mạnh mẽ, nên xu thế
chuyển dịch vẫn chưa thực sự bền vững.
2.3.2.1. Chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt
Trồng trọt là ngành sử dụng quỹ đất lớn nhất trong nông nghiệp, đồng thời là
ngành mang lại giá trị sản phẩm lớn, chiếm 70,7% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp
của tỉnh năm 2010. Điều kiện tự nhiên của Thanh Hóa tương đối thuận lợi để phát
triển ngành trồng trọt, đặc biệt là các cây lương thực: lúa, ngô, khoai…
Những năm qua tỉnh tập trung chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng,
từng bước gắn với thị trường hàng hóa, gắn với công nghiệp chế biến, trên cơ sở
ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông
nghiệp. Hình thành các vùng chuyên canh lúa, nguyên liệu. Cùng với sự đầu tư về
cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, trình độ thâm canh được nâng lên rõ rệt. Vụ
Đông được mở rộng và trở thành vụ sản xuất chính, diện tích gieo trồng từ 11,2%
năm 2000 tăng lên 14,2% năm 2005. Tỷ lệ diện tích lúa lai cao sản từ 19,9% năm
2000 lên 41,7% năm 2005. Năng suất lúa bình quân từ 42,6% tạ/ha năm 2000 lên
52,1 tạ/ha năm 2004, năng suất ngô từ 27,3 tạ/ha năm 2000 tăng lên 38,6 tạ/ha
năm 2004. Hình thành các vùng cây nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến:
Mía đường, dứa, sắn, cao su... bước đầu đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy.
Bảng 2.12 Chuyển dịch cơ cấu diện tích ngành trồng trọt tỉnh Thanh
Đơn vị: Nghìn ha; %
Hóa giai đoạn 2001-2010
Tổng diện tích Cây hàng năm Cây lâu năm
Năm (nghìn ha) Diện tích Tỉ lệ (%) Diện tích Tỉ lệ (%)
(nghìn ha) (nghìn ha)
2001 458,1 422,2 92,1 35,9 7,9
2003 476,1 439,1 92,2 37,0 7,8
2007 478,5 448,7 93,8 29,8 6,2
2010 468,5 437,6 93,4 30,9 6,6
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Diện tích cây hàng năm có xu hướng tăng lên còn diện tích cây lâu năm giảm
xuống, giai đoạn 2001-2010 diện tích cây hàng năm tăng từ 422,2 ha lên 437,6ha.
Mặc dù tỉ trọng ngành trồng trọt giảm dần trong cơ cấu nông nghiệp nhưng
giá trị sản lượng liên tục tăng từ 3.056,2 tỉ đồng (năm 2001) lên 3.925,7 tỉ đồng
(năm 2010).
Trồng trọt cũng là một thế mạnh của tỉnh Thanh Hóa. Ngành này bao gồm:
cây hàng năm (cây lương thực và cây hàng năm), cây lâu năm (cây lâu năm và cây
ăn quả). Trong đó ưu thế thuộc về cây hàng năm (cây lương thực: lúa, ngô…) chiếm
tới 93,4% diện tích trồng trọt.
Bảng 2.13 Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất ngành ngành trồng trọt tỉnh
Thanh Hóa, giai đoạn 2001-2010 (theo giá thực tế)
Đơn vị: tỉ đồng, %
Năm
Tổng giá trị (tỉ đông) trị (tỉ Tỉ lệ (%) Tỉ lệ (%)
Cây hàng năm Giá đồng) Cây lâu năm trị (tỉ Giá đồng)
2001 2003 2007 2010 3.603,5 3.967,7 6.421,6 12.560,5 3.432,8 3.461,2 6.148,8 11.832,0 170,7 197,7 272,8 728,5 2,9 5,0 4,3 5,8
97,1 95,0 95,7 94,2 Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Cây lương thực
Diện tích cây lương thực có xu hướng tăng lên, nhờ áp dụng các tiến bộ khoa
học kĩ thuật, các giống mới nên năng suất, chất lượng ngày càng tăng.
Bảng 2.14 Diện tích gieo trồng và sản lượng cây lương thực tỉnh Thanh
Hóa giai đoạn 2006-2010
Diện tích
Sản lượng
Diện tích
Sản lượng
Diện tích
Sản lượng
Các loại 2006 2008 2010
(ha)
(nghìn
(ha)
(nghìn
(ha)
(nghìn
tấn)
tấn)
tấn)
cây
Lúa 245,3 1.398,7 254,4 1.404,3 255,1 1.396,6
Ngô 63,8 233,0 60,7 231,4 54,4 215,9
Khoai lang 15,6 96,9 13,7 86,2 11,6 75,9
Sắn 14,5 142,8 16,9 210,6 15,3 172,6
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
- Cây lúa: là cây trồng chủ lực của tỉnh, năm 2010 diện tích lúa 255,1 nghìn
ha, chiếm 82,4% tổng diện tích cây lương thực có hạt. Mặc dù diện tích có xu
hướng giảm nhẹ nhưng năng suất và sản lượng tăng nhờ áp dụng cơ giới hóa và các
biện pháp khoa học kĩ thuật, thâm canh tăng vụ, đầu tư các giống mới, phân bón
thuốc bảo vệ thực vật…Năm 2010 sản lượng lúa đạt 1.396,6 nghìn tấn, năng suất
bình quan đạt 54,7 tạ/ha.
Vùng trồng lúa tập trung ở các huyện đồng bằng: Triệu Sơn, Nông Cống,
Quảng Xương, Yên Định, Hoằng Hóa, Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Hậu Lộc, Tĩnh Gia.
Về cơ cấu mùa vụ: một năm Thanh Hóa gieo trồng hai vụ lúa là lúa đông
xuân và lúa mùa. Diện tích lúa đông xuân có xu hướng tăng nhẹ từ 118.957 ha (năm
2006) lên 121.333 ha (năm 2010), trong khi lúa mùa có xu hướng giảm từ 135.275
ha (năm 2006) xuống còn 133.760 ha (năm 2010), do năng suất lúa đông xuân cao
hơn lúa mùa.
Bảng 2.15 Năng suất lúa đông xuân và lúa mùa tỉnh Thanh Hóa
giai đoạn 2006-2010
Đơn vị: tạ/ha
Năm 2006 2007 2008 2009 2010
Lúa đông xuân 61,9 55,4 60,4 60,2 59,9
Lúa mùa 48,9 50,3 50,8 52,8 50,1
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
- Cây ngô: là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa, tuy nhiên diện
tích cây ngô có xu hướng giảm từ 63.811 ha (năm 2006) xuống 54.350 ha (năm
2010). Trong cơ cấu cây lương thực tỉ trọng của cây ngô cũng đang giảm dần do
hiệu quả kinh tế hiện tại không cao, ở các vùng đồng bằng diện tích cây ngô giảm
do chuyển sang trồng các cây rau màu, ngược lại một số huyện miền núi cây ngô lại
đang được mở rộng về diện tích.
Bảng 2.16 Diện tích, sản lượng cây lương thực có hạt và bình quân lương thực
tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2000-2010
2000 2005 2007 2010
303,9 316,0 313,8 309,5
257,5 252,2 254,4 255,1
Mục 1. Diện tích cây lương thực có hạt Trong đó: - Lúa cả năm - Ngô 46,6 65,3 59,4 54,4
1.222,5 1.477,5 2.914,8 1.612,5
2. Sản lượng lương thực Trong đó: - Thóc 1.095,8 1.233,4 1.574,6 1.396,6
lương Đơn vị Nghìn ha Nghìn ha Nghìn ha Nghìn tấn nghìn tấn Kg 349,9 404,8 460,6 3.Bình quân thực/người 473,5
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
- Cây khoai lang: cũng rơi vào trường hợp tương tự, diện tích giảm mạnh từ
15.621 ha (năm 2006) xuống 11.569 ha (năm 2010) do hiệu quả kinh tế không cao,
người dân chuyển sang trồng cây rau màu vào vụ đông xuân.
- Sắn: diện tích trồng sắn tăng nhẹ do nhu cầu của thị trường tăng về các sản
phẩm trong gia đình như bột ngọt, bột nêm…năm 2010, sản lượng đạt 172.618 tấn,
tăng hơn 20.000 tấn so với năm 2006. Bước đầu đã hình thành vùng nguyên liệu
cho 2 nhà máy Như Xuân, Bá Thước (công suất 60 tấn sản phẩm/ngày/nhà máy;
nhu cầu nguyên liệu 70.000 tấn sắn củ tươi/nhà máy/năm).
- Sản xuất rau đậu thực phẩm: năm 2005 diện tích có 31.105 ha (so với
năm 2000 tăng thêm 11.526 ha), sản lượng là 293.566 tấn. Năm 2005 sản lượng dưa
chuột muối, ớt muối, ớt đông lạnh xuất khẩu đạt 7.332 tấn, kim ngạch 3,21 triệu
USD.
- Nhóm cây công nghiệp hàng năm: diện tích các cây này có xu hướng tăng
nhẹ, tỉnh đã xác định một số cây công nghiệp hàng năm chủ yếu, phù hợp với từng
vùng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Những cây trồng chủ yếu của
nhóm là: mía, lạc, đậu tương, vừng, cói…
Bảng 2.17 Diện tích một số cây công nghiệp hàng năm tỉnh Thanh Hóa
giai đoạn 2000-2010
Đơn vị: ha
Cây công nghiệp hàng năm 2000
2007
2010
-
2.970
3.414
Vừng
-
125
19
Đay
-
5.522
4.307
14.100
16.800
Cói
15.018
Lạc
28.800
32.900
30.328
Mía
2.700
5.300
5.996
Đậu tương
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Qua bảng 2.17 cho thấy: diện tích cây đậu tương và cây vừng có xu hướng
tăng, các cây còn lại có xu hướng giảm, giảm nhiều nhất là cây đay, cói, do hiệu quả
kinh tế không cao và sự bấp bênh của thị trường.
+ Đậu tương: diện tích tăng từ 4.932 ha (năm 2006) lên 5.996ha (năm
2010), sản lượng tăng từ 6.615 tấn (năm 2006) lên 9.314 tấn (năm 2010). Sản xuất
chưa đúng khả năng, quỹ đất vụ đông, quy mô vẫn nhỏ, manh mún.
+ Thuốc lá, đay: là hai cây hàng năm có mứa giảm mạnh nhất. Diện tích đay
năm 2010 giảm gần 8 lần so với năm 2006, sản lượng giảm còn 1/9 lần chỉ còn 48
tấn năm 2010. Diện tích cây thuốc lá giảm gần ba lần từ 38 ha (năm 2006) còn 14
ha (năm 2010), sản lượng giảm từ 61 tấn còn 25 tấn cùng thời gian.
+ Mía: là cây công nghiệp ngắn ngày quan trọng của tỉnh. Trong khi đó một
số loại khác giảm mạnh thì mía giảm ít hơn. Diện tích năm 2010 là 30.328ha, giảm
1.219ha so với năm 2006. Sản lượng đạt 1.581 nghìn tấn giảm 85 nghìn tấn. Như
vậy, mía vẫn là cây trồng chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu giá trị sản xuất của nhóm
cây hàng năm, diện tích khá ổn định do nhu cầu lớn về đường mía để sản xuất các
loại thực phẩm: bánh kẹo, sữa, nước ngọt…Vùng chuyên canh cây mía tập trung ở
Thạch Thành, Ngọc Lặc, Như Thanh, Thọ Xuân, Thường Xuân, Nông Cống, Triệu
Sơn. Vùng sản xuất mía tương đối tập trung cung cấp nguyên liệu cho 3 nhà máy
đường: Lam Sơn, Nông Cống và Việt - Đài (Tổng công suất chế biến là 14 nghìn
tấn mía cây/ngày). Đến cuối năm 2005, về cơ bản vùng nguyên liệu Lam Sơn, Nông
Cống đã phát triển ổn định DT và cung cấp đủ nguyên liệu. Vùng nguyên liệu Việt -
Đài do quỹ đất thiếu nên vẫn đang trong tình trạng thiếu nguyên liệu, chỉ đạt 55-
60% công suất ép.
+ Lạc: là cây hàng năm có diện tích lớn thứ hai sau cây mía, được trồng luân
canh với lúa và đất trồng màu tập trung chủ yếu ở Tĩnh Gia, Nga Sơn, Hoằng Hóa,
Hậu Lộc. Là cây trồng xuất khẩu chủ lực hiện nay, diện tích năm 2010: 15.018 ha
,sản lượng 27.213 tấn chỉ đứng sau các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Tây Ninh, Bắc
Giang.
a ó H h n a h T h n ỉ t t ọ r t g n ồ r t h n à g n t ấ u x n ả s g n ạ r t n ệ i h ồ đ n ả B
7 0 0 2 m ă n p ệ i h g n g n ô N ế k t ế i h t à v h c ạ o h y u Q n ệ i V
: n ồ u g N
3 . 2 h n ì H
Bảng 2.18 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc tỉnh Thanh Hóa,
giai đoạn 2006-2010
Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Năng suất (tạ/ha) Năm
16.245 23.555 14,5 2006
15.605 28.825 18,5 2008
15.018 27.213 18,1 2010
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
+ Cây cói: có xu hướng giảm nhẹ do hiệu quả kinh tế không cao và thị
trường bấp bênh. Diện tích giảm từ 5.264ha (năm 2006) xuống còn 4.307ha (năm
2010), sản lượng giảm từ 37.469 tấn còn 29.458 tấn cùng thời gian. Cói được trồng
nhiều ở các huyện ven biển, đây là vùng sản xuất đặc thù: Nga Sơn, Quảng Xương.
Ngoài ra còn có cây thuốc lào, dâu tằm nhưng diện tích nhỏ, sản lượng thấp,
không mang lại lợi nhuận đáng kể cho người sản xuất.
- Cây công nghiệp lâu năm: Các cây công nghiệp lâu năm của tỉnh là: cao
su, dừa, chè, cà phê. Diện tích trồng cao su nhiều nhất và có xu hướng tăng trong
khi diện tích dừa, chè, cà phê giảm xuống.
Bảng 2.19 Chuyển dịch cơ cấu diện tích các cây lâu năm tỉnh Thanh Hóa,
năm 2006; 2008
Cây 2006 2010 Tỉ lệ
chuyển Diện tích Cơ cấu Diện tích Cơ cấu
dịch (%) (ha) (%) (ha) (%)
Tổng số 31.000 100 30.900 100
Chè 576 5,8 572 4,58 - 1,22
Cà phê 317 3,2 5 0,04 - 3,16
Cao su 6.995 70,3 10.856 86,75 + 16,75
Dừa 2.058 20,7 1.081 8,63 - 12,07
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Trong nhóm cây lâu năm có thể thấy rõ sự gia tăng vững chắc của cây cao
su. Năm 2006 diện tích cây cao su chỉ chiếm 22,6% trong diện tích cây lâu năm
nhưng đến năm 2010 đã chiếm 35,1% tổng diện tích cây lâu năm, tăng 12,5%. Cao
su được trồng chủ yếu ở các huyện Thạch Thành, Như Xuân, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc.
Các cây lâu năm còn lại diện tích giảm, giảm mạnh nhất là cây cà phê từ 317 ha
(năm 2006) còn 5 ha (năm 2010) do điều kiện tự nhiên không phù hợp cho việc phát
triển các cây này.
- Cây ăn quả
Diện tích cây ăn quả từ năm 2001 đến năm 2010 có xu hướng giảm từ 19,7
nghìn ha xuống còn 16,8 nghìn ha. Một số cây ăn quả diện tích giảm rất mạnh như
cam, nhãn do hiệu quả kinh tế không cao và điều kiện tự nhiên không phù hợp,
ngược lại diện tích trồng xoài, dứa lại tăng lên do nhu cầu của thị trường.
Ngoài ra, còn một số cây ăn quả khác như: mít, chuối nhưng diện tích và sản
lượng giảm nhiều do hiệu quả kinh tế không cao.
15.7% 1.8%
22%
29.3%
Cam
0.2%
53.5%
Xoài
29,3%
Nhãn
48.5%
Dứa
Năm 2006
Năm 2010
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu diện tích các loại cây ăn quả tỉnh Thanh Hóa năm 2006 và 2010
Như vậy, trong nhóm cây ăn quả có sự chuyển dịch về cơ cấu cây trồng. Các
loại cây phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu của thị trường, hiệu quả cao như:
dứa, xoài đang được chú trọng phát triển. Năm 2006, cây dứa mới chiếm 29,3% cơ
cấu tăng lên nhanh chóng và chiếm 53,5% (năm 2010). Đến nay, vùng nguyên liệu
dứa đang hình thành và đã có đủ cơ sở để khẳng định tính phù hợp của cây dứa
trong vùng quy hoạch cung cấp cho nhà máy chế biến thực phẩm Như Thanh. Cơ
cấu diện tích cây xoài cũng có xu hướng tăng nhẹ do nhu cầu thị trường, tăng từ
0,2% (năm 2006) lên 1,8% (năm 2010). Cam và nhãn có xu hướng giảm tỉ trọng
diện tích do hiệu quả kinh tế không cao, nhãn giảm từ 48,5% (năm 2006) còn 29,3%
(năm 2010).
2.3.2.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành chăn nuôi
Chăn nuôi là một trong hai ngành chính của nông nghiệp Thanh Hóa nhưng
nhìn chung phát triển còn chậm với tỉ trọng thấp chưa tương xứng với tiềm năng
của tỉnh, chăn nuôi vẫn chưa trở thành ngành sản xuất chính.
Tuy nhiên, cơ cấu giá trị sản xuất chăn nuôi có xu hướng gia tăng, từ 21%
(năm 2001) lên 26,6% (năm 2010).
Bảng 2.20 Tình hình phát triển chăn nuôi đàn gia cầm, gia súc của tỉnh
Thanh Hóa giai đoạn 2006-2010
Sản lượng Chỉ tiêu 2006 2008 2010
(nghìn con) Tổng số 15.521 14.342,7 18.118
Gia súc 2.021 1.786,7 1.387
Gia cầm 13.500 12.556,0 16.731
Tốc độ tăng Tổng số 100 92,4 126,3
trưởng (%)
Gia súc 100 88,4 77,6
Gia cầm 100 93,0 133,3
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Nội bộ ngành chăn nuôi cũng có xu hướng chuyển dịch theo hướng tăng tỉ
trọng đàn gia cầm từ 87% (năm 2006) lên 92,3% (năm 2010), giảm tỉ trọng đàn gia
súc từ 13,7% (năm 2006) xuống cờn,7% (năm 2010). Hiện nay, Thanh Hóa đang
tập trung xây dựng chăn nuôi trở thành ngành kinh tế hàng hóa quan trọng nhằm
đáp ứng nhu cầu thực phẩm của người dân trong tỉnh và xuất khẩu với chất lượng
ngày càng cao.
- Chăn nuôi gia súc: Gia súc chính của ngành chăn nuôi tỉnh gồm: trâu, bò,
lợn và dê.
+ Chăn nuôi lợn: Lợn là gia súc chủ yếu, được nuôi rộng rãi trong tỉnh, nhìn
chung chăn nuôi lợn mang lại giá trị kinh tế cao, tuy nhiên, do sự không ổn định của
giá cả thị trường, dịch bệnh nên số lượng đà lợn giảm từ 1.343,3 nghìn con (năm
2006) xuống còn 874,5 nghìn con (năm 2010). Mặc dù vậy lợn vẫn là vật nuôi
chính, đàn lợn được nuôi nhiều tập trung ở các huyện: Thọ Xuân, Quảng Xương,
Hoằng Hóa, Tĩnh Gia, Triệu Sơn, Thiệu Hóa. Tỷ lệ lợn ngoại và lợn lai hướng nạc
tăng từ 10,0% tổng đàn (năm 2000) lên 38 - 40% tổng đàn (năm 2005).
+ Chăn nuôi bò: là gia súc được nuôi nhiều thứ hai sau lợn, số lượng giảm
từ 387 nghìn con (năm 2006) còn 244,8 nghìn con (năm 2010) do giảm sức kéo và
vốn đầu tư nuôi bò khá lớn và dài hạn, số lượng đàn bò lai Zebu năm 2005 là
110.000 con, chiếm 32,8% tổng đàn bò.
+ Chăn nuôi trâu: đàn trâu cũng có xu hướng giảm từ 224,6 nghìn con (năm
2006) xuống còn 207,9 nghìn con (năm 2010). Nguyên nhân do điều kiện chăn thả
và việc đưa máy móc về đồng ruộng giảm sức kéo làm giảm mạnh số lượng đàn
trâu.
- Chăn nuôi gia cầm: đàn gia cầm có xu hướng tăng từ 13,5 triệu con (năm
2006) lên 16,7 triệu con (năm 2010).
Tăng trưởng
Bảng 2.21 Chuyển dịch cơ cấu đàn gia cầm tỉnh Thanh Hóa năm 2006, 2010
(%)
Năm 2006 2010
Số lượng
Cơ cấu
Số lượng
Cơ cấu
(nghìn con)
(%)
(nghìn con)
(%)
8.121 60,2 12.577 75,2 + 15 Gà
5.379 39,8 4.154 24,8 - 15 Vịt, ngan,
ngỗng
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Trong cơ cấu đàn gia cầm có sự thay đổi tỉ trọng: tỉ trọng của đàn gà cao nhất
75,2% (năm 2010), và tăng so với đàn vịt, ngan, ngỗng do nhu cầu của thị trường về
các sản phẩm từ gà ( thịt, trứng) cao. Đàn gà được nuôi rộng rãi trong tỉnh, nhiều
nhất ở các huyện: Triệu Sơn, Yên Định, Thiệu Hóa.
Nhìn chung ngành chăn nuôi ở Thanh Hóa có tốc độ tăng trưởng khá, hiện
nay người chăn nuôi đang phát triển theo qui mô trang trại, thay đổi giống ngắn
ngày chất lượng cao, cải tạo chuồng trại, góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển.
Tuy nhiên, tốc độ phát triển của ngành chăn nuôi chưa tương xứng với tiềm năng
của Tỉnh.
Như vậy, chăn nuôi đang được chú trọng đầu tư và trở thành ngành sản xuất
chính trong nông nghiệp. Những năm qua với các chương trình dự án cải tạo tầm
vóc đàn bò (sind hóa đàn bò), bò sữa, lợn hướng nạc.....Chăn nuôi theo hướng công
nghiệp, bán công nghiệp. Đã và đang xuất hiện nhiều mô hình sản xuất mới có hiệu
quả (chăn nuôi tập trung, trang trại). Cơ cấu đàn gia súc, gia cầm được cải thiện
theo hướng tích cực.
* Chuyển dịch cơ cấu ngành thủy sản
Thủy sản là ngành đứng thứ hai trong khu vực I (nông-lâm-ngư nghiệp) ở
Thanh Hóa, với lợi thế về nguồn tài nguyên phong phú, diện tích mặt nước lớn, phát
triển ở các huyện, thị ven biển. Diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ đã có
sự đầu tư lớn, hình thành vùng nuôi công nghiệp và bán thâm canh. Ngoài diện tích
chuyên nuôi trồng thuỷ sản, hiện nay đang xuất hiện mô hình lúa - cá, bước đầu đã
mang lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả sử dụng đất cao hơn. Nhìn chung trong những
năm qua ngành thủy sản của tỉnh có tốc độ phát triển tương đối khá. Giá trị sản xuất
thủy sản liên tục tăng, từ 761 tỉ đồng (năm 2001) lên 3.015 tỉ đồng (năm 2010)
Bảng 2.22 Giá trị sản xuất ngành Thủy sản phân theo ngành hoạt động
của Thanh Hóa giai đoạn 2001-2010 ( theo giá thực tế). Đơn vị: tỉ đồng; %
Hạng mục 2001 2005 2010
Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu Giá trị Cơ cấu
sản xuất (%) sản xuất (%) sản xuất (%)
(tỉ đồng) (tỉ đồng) (tỉ đồng)
Toàn 761 100 1.384 100 3.015 100
ngành
Khai thác 572 75,2 838 60,5 1.820 60,4
Nuôi 147 19,3 501 36,2 1.116 37
trồng
Dịch vụ 42 5,5 45 3,3 79 2,6
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Thời kì 2001-2010, cơ cấu ngành ngư nghiệp có sự thay đổi rõ rệt về tỉ trọng
giữa ngành nuôi trồng và khai thác thủy sản. Tỉ trọng ngành khai thác có xu hướng
giảm từ 75,2% (năm 2001) xuống còn 60,4% (năm 2010), ngành nuôi trồng có xu
hướng tăng lên đáng kể từ 19,3% (năm 2001) lên 37% (năm 2010), ngành dịch vụ
chiếm tỉ trọng nhỏ và có xu hướng giảm trong cơ cấu ngư nghiệp.
Ngành ngư nghiệp của tỉnh vẫn còn nặng về khai thác tự nhiên, mặc dù tỉ
trọng đã giảm nhưng vẫn còn ở mức cao. Vì vậy, tỉnh cần đầu tư vào việc nuôi
trồng nhiều hơn nữa.
Bảng 2.23 Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản tỉnh Thanh Hóa
giai đoạn 2001-2010
Diện tích (ha) Sản lượng (tấn) Năm
2001 10.589 13.320
2005 12.952 19.143
2010 13.861 29.473
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản cũng tăng từ 10.580 ha (năm 2001)
lên 13.861 ha (năm 2010). Sản lượng thủy sản nuôi trồng cũng tăng từ 13.320 tấn
(năm 2001) lên 29.473 tấn (năm 2010), tăng gấp hơn hai lần. Các huyện nuôi trồng
thủy sản nhiều là: Hoằng Hóa, Quảng Xương, Hậu Lộc, Hà Trung, Nga Sơn.
Trong những năm gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản có tốc độ phát triển
khá, sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng liên tục. Trong đó, sản lượng cá nuôi tăng
từ 7.450 tấn (năm 2001) lên 19.653 (năm 2010) gấp gần ba lần, tôm nuôi tăng hai
lần.
Những năm qua, nhờ áp dụng mô hình nuôi cá kết hợp trên đất trồng lúa và
mô hình V-A-C đã góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn và nâng cao thu nhập cho
người dân vùng nông thôn đồng bằng, ven biển. Ngoài việc nuôi cá ao hồ, nuôi cá
lồng trên sông, đến nay đã và đang chuyển mạnh diện tích ruộng trũng trồng lúa
năng suất thấp sang nuôi chuyên tôm, cá hoặc nuôi tôm, cá kết hợp cấy lúa. Từng
bước chuyển dần nuôi trồng thuỷ sản từ quảng canh sang bán thâm canh, thâm canh
và nuôi công nghiệp.
Sản phẩm thuỷ sản nuôi trồng chủ lực là cá, bên cạnh đó bước đầu đưa các
giống năng suất chất lượng cao vào sản xuất, đặc biệt là đã tập trung đẩy mạnh nuôi
tôm sú, cá rô phi đơn, tôm càng xanh.
Bảng 2.24 Sản lượng thủy sản nuôi trồng tỉnh Thanh Hóa
giai đoạn 2001-2010
Đơn vị: tấn
Năm Cá Tôm Thủy sản khác
2001 7.450 1.015 4.765
2005 12.716 2.190 4.237
2010 19.653 2.105 7.715
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Qua bảng 2.24, cho thấy sản lượng cá nuôi tăng mạnh từ 7.450 tấn (năm
2001) lên 19.653 tấn (năm 2010), tăng gần 3 lần giai đoạn 2001-2010, tôm nuôi
tăng từ 1.015 tấn (năm 2001) lên 2.105 tấn (năm 2010).
Như vậy, ngành thủy sản có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất
lượng, cả lĩnh vực nuôi trồng và đánh bắt. Nuôi trồng thủy sản đang chuyển dần từ
quảng canh sang thâm canh và nuôi công nghiệp, ứng dụng các tiến bộ công nghệ
mới về giống, về nuôi tôm "trên cát".... Các hình thức nuôi trồng như lúa - cá đang
được triển khai hầu hết ở các huyện đồng bằng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Việc
đánh bắt đang từng bước chuyển sang khai thác xa bờ, khai thác giữa lộng và khơi.
Tỷ trọng ngành thủy sản trong cơ cấu kinh tế nông lâm thủy sản tăng liên tục.
Bảng 2.25 Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản Thanh Hóa
giai đoạn 2000-2010
Hạng mục 2000 2005 2006 2007 2010
1. Tổng sản 48.968 73.544 79.217 83.909 103.385 lượng (tấn)
Khai thác (tấn) 36.520 54.401 57.811 60.779 73.912
Trong đó: cá 24.164 38.125 40.774 42.678 51.723
2. Diện tích 10.589 12.952 12.947 13.374 nuôi trồng (ha) 13.861
Trong đó: nuôi 5.100 7.030 7.196 7.081 7.196 cá
3. Sản lượng 12.448 19.143 21.406 23.130 nuôi trồng (tấn) 29.473
Trong đó: cá 7.472 12.716 14.158 15.218 19.653 nuôi
Nguồn: Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa
Tổng sản lượng thủy sản tăng mạnh từ 48.968 tấn (năm 2000) lên 103.385
tấn (năm 2010), sản lượng nuôi trồng tăng từ 7.472 tấn (năm 2000) lên 19.653 tấn
(năm 2010), tuy nhiên vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với sản lượng thủy sản khai
thác. Trong các loài thủy sản chủ yếu là cá, diện tích nuôi cá nhiều nhất và tăng từ
5.100 ha lên 7.196 ha (thời kì 2000-2010).
Nuôi trồng thủy sản: năm 2006, diện tích đạt 16.720 ha, từ năm 2007 đạt 17.730
ha; đang triển khai xây dựng các vùng nuôi trồng thủy sản hiệu quả, bền vững như: vùng
nuôi trồng thủy sản nước lợ xã Quảng Chính, xã Quảng Khê huyện Quảng Xương; xã
Nguyên Bình, huyện Tĩnh Gia; vùng nuôi trồng thủy sản kết hợp trồng trọt, chăn nuôi
huyện Nông Cống; vùng nuôi trồng thủy sản kết hợp trồng trọt, chăn nuôi huyện Hà
Trung.
Khai thác thủy sản có bước phát triển khá, tổng sản lượng từ 57.811 tấn năm
2006 lên 65.825 năm 2008, năm 2010 là 73.912 tấn. Năng lực đánh bắt được nâng cao,
các tàu cá khai thác xa bờ được tăng cường cả về số lượng và thiết bị kỹ thuật; nâng cao
hiệu quả và đảm bảo an toàn trong khai thác. Năm 2009, số lượng tàu khai thác 8.951 chiếc với tổng công suất 267.393 CV, tăng so với năm 2005 là 4.075 tàu và 103.393CV.
* Chuyển dịch cơ cấu ngành lâm nghiệp
Lâm nghiệp là ngành kinh tế khá quan trọng đối với các huyện miền núi tỉnh
Thanh Hóa. Vì ngành này có chức năng, nhiệm vụ đóng góp kinh tế, giải quyết việc
làm, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường góp phần phát triển kinh tế một cách
bền vững.
Chuyển dịch cơ cấu lâm nghiệp là hướng đi tất yếu hiện nay. Do đặc thù của
ngành lâm nghiệp là rừng phân bố trên phạm vi rộng lớn, trong điều kiện khó khăn
nên gắn liền với những vùng xa xôi hẻo lánh, người dân có mức sống thấp. Vì vậy,
chuyển dịch cơ cấu lâm nghiệp cần phải được xây dựng trên nguyên tắc cân bằng
giữa diện tích rừng sản xuất và rừng phòng hộ cùng với rừng đặc dụng.
Đến năm 2010 diện tích đất có rừng của Thanh Hóa là hơn 600 nghìn ha.
Trong đó rừng sản xuất 337,9 nghìn ha, rừng phòng hộ 180,8 nghìn ha, rừng đặc
dụng 82 nghìn ha, rừng tự nhiên 386 nghìn ha, rừng trồng 159 nghìn ha. Cùng với
việc trồng rừng tập trung, tỉnh đã chú trọng trồng rừng cây phân tán ven sông, ven
đường, tu bổ rừng bị chặt phá nhiều. Độ che phủ của rừng năm 2005 đạt 43,63% .
Rừng tự nhiên: Diện tích tương đối nhưng chất lượng rừng giảm sút nghiêm
trọng, các loài thực vật quý hiếm như Lim, Lát…bị khai thác kiệt quệ, số lượng còn
rất ít. Các loài cây, con quý hiếm chỉ tập trung ở các vùng sâu vùng xa, các khu bảo
tồn, vườn Quốc gia: Pù Hu, Pù Luông, Xuân Liên, Bến En và rừng Sến Tam Quy...
Hiện nay thảm thực vật, động vật rừng đã và đang được bảo vệ, ngày càng phong
phú thêm.
Rừng trồng: Có trữ lượng không lớn. Hàng năm diện tích rừng trồng được bổ
sung trên 6000 ha với tập đoàn cây trồng chủ yếu là keo, lim, lát…Đặc biệt là cây
luồng có chất lượng tốt nổi tiếng cả nước, ngày nay đang du nhập trồng nhiều loại
cây giống mới có trữ lượng gỗ khá cao.
Trữ lượng rừng: gỗ 16,64 triệu m3, tre nứa 1.100,67 triệu cây và hàng ngàn
tấn đặc sản khác. Đây là nguồn nguyên liệu phục vụ cho các cơ sở công nghiệp
giấy, gỗ, chế biến lâm sản tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Bảng 2.26 Giá trị sản xuất lâm nghiệp phân theo ngành hoạt động,
Năm
giai đoạn 2001-2010 ( theo giá thực tế)
Giá trị (triệu đồng)
Cơ cấu
Tổng
Trồng và
Khai thác
Dịch vụ
Tổng
Trồng
Khai
Dịch
số
lâm sản
lâm sản
số
và nuôi
thác
vụ lâm
nuôi
trồng
khác
trồng
lâm
sản
sản
khác
2001 440.329 147.932 281.744 10.653 100 33,6 64,0 2,4
2005 630.722 183.971 433.882 12.869 100 29,2 68,8 2,0
2010 1.677.984 575.699 1.076.682 25.603 100 34,3 64,2 1,5
Nguồn: Niêm giám thống kê Thanh Hóa năm 2010
Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp tăng rất mạnh trong giai đoạn 2001-2010,
từ 440.329 triệu đồng lên 1.677.984 triệu đồng, trong cơ cấu giá trị sản xuất lâm
nghiệp, tỉ trọng khai thác lâm sản là lớn nhất chiếm 64,2% (năm 2010). Lâm nghiệp
chuyển dịch theo hướng lâm nghiệp xã hội, chuyển từ khai thác là chủ yếu sang
trồng mới, khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ; gắn việc phát triển rừng phòng hộ với
phát triển rừng kinh tế với các cây công nghiệp, cây ăn quả tạo điều kiện cho nông
dân từng bước có thu nhập từ nghề rừng. Rừng và đất rừng được giao ổn định, lâu
dài theo Nghị định 02/CP cho nhân dân, lấy hộ gia đình làm động lực cho hoạt động
kinh doanh lâm nghiệp.
Hiện nay, tỉnh đang tập trung trồng và bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn sông
Mã và vùng ven biển để ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu. Ngoài ra, việc trồng
rừng sản xuất cần có chính sách qui hoạch vùng rừng nguyên liệu giấy, gỗ có năng
suất cao, chất lượng tốt đáp ứng mục tiêu sản xuất lâm nghiệp , chế biến gỗ ván
giấy, bột giấy. Cũng cần trồng, tạo ra và chế biến hàng hóa đặc sản từ rừng, tìm thị
trường cho các sản phẩm: mật rắn, mật ong…nhằm tạo ra hàng hóa lâm sản mới,
thay vì trồng rừng là chính nên đẩy mạnh tái sinh rừng đồng thời nâng cao thu nhập
cho người dân tham gia trồng và bảo vệ rừng.
Cho đến nay, tỉnh vẫn tiếp tục trồng rừng để tăng độ che phủ, góp phần cung
cấp gỗ cho sản xuất và hình thành các tuyến phòng hộ đầu nguồn và ven biển. Tuy
nhiên, để ổn định diện tích rừng hiện có, cần khai thác hợp lí, trồng mới, giao khoán
rừng, phòng cháy rừng, có chính sách hướng dẫn người dân kinh doanh và hưởng
lợi từ rừng, gắn quyền lợi của người dân với công tác bảo vệ rừng. Có như vậy, bảo
vệ rừng, bảo vệ môi trường, tạo môi trường sinh thái cho các loài động vật hoang
dã, phòng chống thiên tai, nâng cao thu nhập cho người trồng rừng và bảo vệ rừng
mới bền vững.
2.3.3. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo thành phần kinh tế
Trong lĩnh vực nông nghiệp, Thanh Hóa có sự tham gia đầy đủ các thành
phần kinh tế, bao gồm kinh tế nhà nước (trong đó doanh nghiệp nhà nước giữ vai
trò chủ đạo), kinh tế tập thể (phổ biến là các HTX chuyển đổi), kinh tế cá thể, tư
nhân (chủ yếu là kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại) và kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài. Để thúc đẩy nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, Thanh Hóa đã huy
động mọi nguồn lực, khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư
phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, có ba thành phần kinh tế chính tham
gia hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Thanh Hóa là kinh tế nhà nước, kinh tế cá
thể và kinh tế tư nhân.
- Kinh tế nhà nước
Kinh tế nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp bao gồm các nông trường, lâm
trường, các trạm trại và các đơn vị dịch vụ nông nghiệp khác do nhà nước sở hữu,
quản lí. Các nông trường, lâm trường, trạm trại được gọi chung là doanh nghiệp nhà
nước.
Các doanh nghiệp nhà nước tuy có những đóng góp tích cực cho sự phát
triển nông nghiệp song lại hoạt động chưa có hiệu quả do tổ chức quản lí còn thiếu
chặt chẽ, khả năng huy động vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
còn nhiều hạn chế. Vì vậy, thực hiện Nghị quyết TW3 khoá IX về sắp xếp, đổi mới
doanh nghiệp ngành nông nghiệp đã thực hiện cổ phần hoá được 10 doanh nghiệp,
sát nhập 9 công ty, xí nghiệp thuỷ nông thành 3 công ty thuỷ nông; Bàn giao 2 công
ty, 1 xí nghiệp cho các Tổng công ty của Trung ương; Chuyển đổi 12 lâm trường
quốc doanh thành Ban quản lý rừng phòng hộ; sáp nhập 06 nông trường vào Công
ty cổ phần mía đường Lam Sơn, Công ty đường Nông Cống và Công ty Cao su
Thanh Hóa. Từng bước đa dạng hoá các hình thức sở hữu; các đơn vị đã đi vào hoạt
động, sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
- Kinh tế tập thể (Hợp tác xã Nông nghiệp)
Thanh Hóa là tỉnh “đất rộng, người đông” với 11 huyện vùng núi khó khăn
và 16 huyện, thị, thành phố vùng đồng bằng ven biển kinh tế trù phú hơn. Là tỉnh có
số lượng nhiều HTX so với cả nước. Tính đến năm 2011, toàn tỉnh có 917 HTX,
trong đó có 522 HTX nông-lâm-ngư nghiệp với hơn 200.000 xã viên, hoạt động
nhằm hỗ trợ xã viê trong cung ứng vật tư và bao tiêu nông sản.
Hầu hết khu vực kinh tế hợp tác ở Thanh Hoá đều tăng trưởng khá, tiếp tục
thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, đóng góp tích cực vào các chương trình kinh tế - xã
hội của tỉnh. Nhiều HTX nông nghiệp đầu tư mua nhiều thiết bị máy móc làm các
khâu dịch vụ thâm canh lúa, phát triển các vùng lúa giống mới năng suất cao, cung
ứng đủ giống cây trồng rừng; nhiều tổ đội sản xuất trên biển hình thành, giúp nhau
bám biển dài ngày và khai thác hải sản hiệu quả.
Những năm qua, nhất là khi có Nghị quyết 13 (Hội nghị Trung ương 5, khóa
IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, nhiều tổ
chức kinh tế hợp tác và HTX trong tỉnh đã không ngừng đổi mới cách làm, tạo
chuyển biến rõ nét trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Nhờ đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng thiết yếu, chú trọng công tác khuyến nông... nhiều HTX nông nghiệp đã trở
thành “bà đỡ” vững chắc cho nông dân trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con
vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa; tích cực hỗ trợ xã viên phát triển nhiều
ngành nghề mới, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp - nông thôn. Đáng chú ý là một số HTX đã vươn lên, mở rộng quy mô sản
xuất, tìm kiếm thị trường, nâng cao hiệu quả, vai trò và vị trí của mình trong việc
định hướng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. HTX đề ra phương án hoạt
động kinh doanh có chất lượng, hiệu quả các dịch vụ đã có như: dịch vụ thủy lợi,
vật tư nông nghiệp, hỗ trợ vốn đầu tư giống cây trồng, vật nuôi, công tác khuyến
nông, bảo vệ thực vật và khuyến khích các HTX mở thêm các dịch vụ, ngành nghề
mới theo khả năng của từng HTX. Thực hiện tốt việc gắn kết phát triển kinh tế hợp
tác, HTX với chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhất
là các chương trình khuyến nông, khuyến công, chương trình quốc gia giải quyết
việc làm, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Ðẩy mạnh việc tổ chức
liên doanh, liên kết giữa các HTX với doanh nghiệp, HTX với chủ trang trại trong
việc đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu, chế biến nông sản, chuyển giao những tiến
bộ kỹ thuật nhằm bảo đảm phát triển kinh tế HTX ổn định. Mở rộng địa bàn quỹ tín
dụng nhân dân hiện có, xây dựng và vận hành tốt Quỹ hỗ trợ phát triển HTX, từng
bước đáp ứng nhu cầu vốn cho nông dân vay đầu tư phát triển sản xuất.
Tuy nhiên, số HTX làm ăn hiệu quả chưa nhiều, máy móc thiết bị chưa đồng
bộ, đội ngũ cán bộ kĩ thuật chuyên môn còn mỏng, năng lực quản lý còn hạn chế,
khả năng huy động vốn thấp chưa đủ sức cạnh tranh với các thành phần kinh tế
khác, chưa chú trọng đến thị trường tiêu thụ nông sản ổn định. Nếu khắc phục được
các hạn chế trên sẽ phát huy sức cạnh tranh của thành phần kinh tế HTX và góp
phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn.
- Kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân (kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình)
Từ sau đổi mới, kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân được công nhận là đơn vị kinh
tế tự chủ. Các đơn vị kinh tế này hoạt động một cách mạnh mẽ, sôi động, sử dụng
tốt các nguồn lực về đất, vốn…đã tạo ra một bước phát triển mới trong sản xuất
nông nghiệp. Kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân hoạt động theo hai mô hình chủ yếu là
kinh tế trang trại và kinh tế hộ gia đình. Các loại hình kinh tế trong nông nghiệp
nông thôn đã có nhiều điển hình tiến tiến, nhiều huyện phát triển các loại hình trang
trại sản xuất, mô hình trang trại tập trung theo hướng phát triển công nghiệp có sản
phẩm hàng hoá, đem lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất. Các trang trại phát
triển mạnh ở một số huyện như Yên Định, Thọ Xuân, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành...
- Kinh tế trang trại: có bước phát triển khá quan trọng: Kinh tế trang trại
phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng; năm 2009, toàn tỉnh đó có 4.146
trang trại, sử dụng 3,8% diện tích đất nông, lâm nghiệp và mang lại 6,6% tổng giá
trị sản xuất nông, lâm nghiệp, tăng trên 2,1 lần so với năm 2000. Trong đó: trang
trại trồng cây hàng năm – 1.281 (chiếm 30,9%), trang trại trồng cây lâu năm – 234
(chiếm 5,6%), trang trại chăn nuôi – 767 (chiếm 18,5%), trang trại nuôi trồng thủy
sản – 590 (chiếm 14,2%), trang trại lâm nghiệp: 418 trang trại, chiếm 10,4%; và
trang trại tổng hợp 727 trang trại, chiếm 18%.
Sự phát triển của kinh tế trang trại góp phần tích cực thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng sản
xuất hàng hóa, hình thành các vùng sản xuất tập trung, qui mô lớn, gắn sản xuất với
chế biến, tiêu thụ sản phẩm; đưa vào khai thác, sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất
đai, nhất là diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hóa. Với ưu thế dễ làm, dễ áp
dụng, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, nhiều trang trại đang là những điểm sáng,
mô hình để các hộ nông dân học tập, nhân ra diện rộng. Cùng với sự phát triển của kinh
tế trang trại, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
được đưa vào áp dụng trong thực tế có hiệu quả, nhiều nguồn vốn đầu tư được thu hút
vào sản xuất, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo bền vững cho
nhiều hộ nông dân trong tỉnh.
Với sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng, kinh tế trang trại đã
khẳng định ưu thế, tính vượt trội so với kinh tế hộ gia đình, góp phần tạo sự
chuyển biến trong nhận thức của đông đảo người dân trong tỉnh; từng bước giúp
người dân làm quen, tiếp cận với nền kinh tế thị trường.
Bên cạnh kết quả đạt được, kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh vẫn còn bộc lộ
những tồn tại, thiếu sót: sự hiểu biết về trang trại còn hạn chế, việc triển khai phát
triển kinh tế trang trại tuy có chuyển biến, nhưng còn chậm; phát triển chủ yếu do tự
phát, nhỏ lẻ, phân tán, thiếu tập trung; số lượng, chất lượng trang trại chưa tương
xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh, không đồng đều giữa các vùng miền trong tỉnh;
hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao; nhiều khó khăn về đất đai, tiền vốn, cơ sở
hạ tầng, khoa học công nghệ, trình độ quản lý, liên doanh liên kết 4 nhà, thị trường
tiêu thụ,... chưa được quan tâm giải quyết thấu đáo, kịp thời; thu nhập, hiệu quả
kinh tế, xã hội từ sản xuất trang trại chưa cao.
- Kinh tế hộ gia đình: là hình thức phổ biến nhất trong lĩnh vực nông nghiệp
tỉnh Thanh Hóa. Toàn tỉnh hiện có khoảng 782 nghìn hộ sản xuất nông nghiệp. Các
nông hộ đều cần cù sản xuất, tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm, song hiện tại,
kinh tế hộ gia đình của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn như chưa có tổ chức định
hướng sản xuất, thiếu vốn đầu tư, khả năng tiếp thu tiến bộ mới về khoa học công
nghệ hạn chế, năng lực sản xuất thấp,…nên giá thành cao, khó bán sản phẩm, thu
nhập thấp.
Tóm lại, quá trình chuyển dịch CCNN tỉnh Thanh Hóa theo thành phần kinh
tế những năm qua đã và đang diễn ra theo chiều hướng tích cực. Kinh tế nhà nước
vẫn giữ vai trò chủ đạo, đặc biệt là các vấn đề lien quan đến cơ sở hạ tầng nông
nghiệp, nông thôn. Kinh tế hợp tác cũng chuyển đổi nhằm thích ứng với những yêu
cầu mới của nền kinh tế hiện nay. Kinh tế cá thể, tư nhân phát triển vẫn mang tính
tự phát dưới tác động của yếu tố thị trường và do đó dẫn đến sự phân hóa. Trong
quá trình chuyển dịch CCNN, mỗi thành phần kinh tế đều tham gia hoạt động sản
xuất một cách tích cực nhất và đã góp phần vào quá trình chuyển dịch CCNN tỉnh
Thanh Hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.3.4. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo lãnh thổ
- Vùng ven biển gồm 6 huyện, thị (Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Sầm
Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia), có diện tích 110.655 ha, chiếm 9,95% diện tích toàn
tỉnh,với bờ biển dài 102 km, địa hình khá bằng phẳng, kiểu địa hình đặc trưng là
các dải đất cao xen với các vùng đất trũng ngập nước, chạy song song với bờ biển.
Đây là vùng đất có nhiều tiềm năng, thế mạnh và là lãnh thổ “đầu tàu” của
tỉnh, tạo khả năng “đột phá” trong phát triển kinh tế - xã hội của Thanh Hóa. Tuy
nhiên, ngoài Nghi Sơn và Sầm Sơn, các huyện còn lại có kết cấu hạ tầng kém phát
triển, dân cư mức sống thấp và có thể tạo ra sự bất ổn về phát triển kinh tế - xã hội
chung.
Là vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho trồng lúa, cói, lạc, đậu tương, rau
đậu…phát triển chăn nuôi và thủy sản theo hướng trang trại và công nghiệp, sản
xuất hàng hóa quy mô lớn. Vùng ven bờ tỉnh Thanh Hoá có tính đa dạng sinh học
cao với sự phong phú của các hệ sinh thái tạo nên sự giàu có của tài nguyên sinh vật
và có điều kiện thuận lợi để khai thác nguồn tài nguyên vi sinh vật. Dọc bờ biển
Thanh Hóa có 7 cửa sông, trong đó có 5 cửa sông lớn là: Lạch Trường, Lạch Bạng,
Lạch Sung, Lạch Ghép, Lạch Hới; với những bãi sình lầy là điều kiện thuận lợi để
hình thành hệ sinh thái ngập mặn ven biển và nuôi trồng thuỷ sản. Đặc biệt vùng lãnh hải của Thanh Hóa có diện tích 17.000 km2 với những bãi cá, bãi tôm có trữ
lượng tương đối lớn.
Vùng ven biển có ngành nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh nhất tỉnh, sản
lượng nuôi trồng tăng từ 11.083 tấn (năm 2006) lên 16.320 tấn (năm 2010), chiếm
55,4% tổng sản lượng thủy sản của toàn tỉnh.
Tuy nhiên, việc sử dụng, khai thác tài nguyên thiên nhiên vùng biển đang có
tác động xấu đối với môi trường, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, ngoài ra việc phát
triển kinh tế biển trong khu vực phái đối mặt với nhiều rủi ro và hiểm hoạ như: Sự
xâm nhập mực nước biển vào sâu trong đất liền, bão lũ, ô nhiễm môi trường…
Cơ cấu nông nghiệp vùng ven biển có sự chuyển dịch rõ rệt: giảm tỉ trọng
ngành nông nghiệp, tăng tỉ trọng ngành thủy sản. Nội bộ ngành nông nghiệp, giảm
dần tỉ trọng ngành trồng trọt, tăng giá trị và tỉ trọng ngành chăn nuôi. Trong trồng
trọt, giảm diện tích cây lương thực từ 81,4 nghìn ha (năm 2006) xuống còn 78,2
nghìn ha (năm 2010), tăng diện tích cây rau màu do nhu cầu và hiệu quả kinh tế
cao.
Trong nhóm cây lương thực, tăng diện tích cây lúa từ 67.613 ha (năm 2006)
lên 68.130 ha (năm 2010), giảm diện tích cây ngô từ 13.806 ha (năm 2006) xuống
10.060 ha (năm 2010). Sản lượng ngô lien tục giảm từ 54.346 tấn (năm 2006)
xuống còn 43.749 tấn (năm 2010). Một số cây lương thực như khoai lang, sắn có xu
hướng giảm mạnh, cây rau màu (dưa leo, cà chua) tăng cả về diện tích và sản lượng.
Trong nhóm cây công nghiệp hàng năm có sự thay đổi: Cây mía tăng nhanh
về diện tích từ 225 ha (năm 2006) lên 351 ha (năm 2010). Sản lượng tăng từ 8.009
tấn (năm 2006) lên 15.647 tấn (năm 2010). Cây vừng có xu hướng tăng do nhu cầu
thị trường cao từ 2.090 ha (năm 2006) lên 2.352 ha (năm 2010), sản lượng tăng từ
1.071 tấn (năm 2006) lên 1.784 tấn (năm 2010). Cây đậu tương có xu hướng giảm
mạnh từ 1.167 ha (năm 2006) còn 568 ha (năm 2010). Các cây công công nghiệp
hàng năm khác như đậu tương, lạc có xu hướng giảm.
Trong chăn nuôi giảm mạnh đàn gia súc, tăng đàn gia cầm. Số lượng bò giảm
từ 104,5 nghìn con (năm 2006) xuống còn 72,2 nghìn con (năm 2010), đàn lợn giảm
từ 448,6 nghìn con (năm 2006) còn 410 nghìn con (năm 2010). Đàn gia cầm tăng
nhanh từ 3.089 nghìn con (năm 2006) lên 4.191 nghìn con (năm 2010).
Ngành thủy sản là thế mạnh của vùng, sản lượng tăng mạnh từ 67.571 tấn
(năm 2006) lên 85.708 tấn (năm 2010) chiếm 82,9% sản lượng thủy sản toàn tỉnh.
- Vùng đồng bằng gồm 10 huyện, thị, thành phố (Bỉm Sơn, Hà Trung,
Thiệu Hoá, Yên Định, Đông Sơn, Thành phố Thanh Hoá, Triệu Sơn, Nông Cống,
Thọ Xuân, Vĩnh Lộc). Có diện tích đất tự nhiên là 162.341 ha, chiếm 14,61% diện
tích toàn tỉnh, được bồi tụ bởi các hệ thống Sông Mã, Sông Bạng, Sông Yên và
Sông Hoạt. Độ cao trung bình từ 5- 15m, xen kẽ có các đồi thấp và núi đá vôi độc
lập. Đồng bằng Sông Mã có diện tích lớn thứ ba sau đồng bằng Sông Cửu Long và
đồng bằng Sông Hồng. Địa hình khá bằng phẳng, nổi lên trong vùng có những dãy
núi nhỏ theo hướng từ Tây sang Đông và sát ra bờ biển; một vài nơi còn có những
núi đá, núi đất đơn lẻ. Đặc trưng của vùng đồng bằng Thanh Hoá là nằm sâu trong
đất liền, cũng có nhiều vùng trũng ngập nước, mà độ cao thấp hơn so với mực nước
biển (Hà Trung, Nông Cống, Triệu Sơn,...).
Vùng này có thuận lợi phát triển cây lương thực, cây công nghiệp, cây công
nghiệp và chăn nuôi. Phần lớn diện tích đất nông nghiệp của vùng là trồng cây
lương thực. Những năm gần đây, diện tích cây lương thực đang giảm dần, tăng dần
diện tích cây màu, phát triển chăn nuôi, đặc biệt số trang trại của vùng tăng nhanh
từ 1.190 trang trại (năm 2006) lên 1.785 trang trại (năm 2010).
Xu hướng chung trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp vùng đồng bằng là
giảm giảm tỉ trọng ngành lâm nghiệp, tăng tỉ trọng ngành nông nghiệp, thủy sản.
Trong ngành nông nghiệp, tỉ trọng ngành trồng trọt giảm, tăng tỉ trọng và giá trị
ngành chăn nuôi.
Cây lương thực có xu hướng giảm về diện tích từ 115,6 nghìn ha (năm 2006)
xuống còn 149,8 nghìn ha (năm 2010), cây ngô lại có xu hướng giảm mạnh từ
23.984 ha (năm 2006) còn 16.683 ha (năm 2010). Các cây lương thực còn lại: khoai
lang, sắn đều có xu hướng giảm mạnh.
Cây công nghiệp hàng năm có xu hướng tăng nhẹ về diện tích từ 14.240 ha
(năm 2006) lên 17.983 ha (năm 2010). Trong nhóm này, giảm diện tích cây mía gần
1000 ha từ năm 2006 đến năm 2010, do quy hoạch vùng trồng mía tập trung ở các
huyện trung du miền núi. Cây lạc lại có xu hướng tăng nhẹ từ 2.616 ha (năm 2006)
lên 2.932 ha (năm 2010), đặc biệt cây đậu tương có xu hướng tăng mạnh do nhu cầu
thị trường và phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng, diện tích tăng từ 1.954 ha
(năm 2006) lên 3.713 ha (năm 2010).
Trong chăn nuôi giảm mạnh đàn gia súc, tăng đàn gia cầm do nhu cầu sức
kéo giảm và vốn đầu tư lớn. Đàn bò giảm từ 181,6 nghìn con (năm 2006) xuống còn
99,1 nghìn con (năm 2010), là vùng nuôi nhiều bò nhất trong tỉnh. Đàn lợn giảm
nhanh từ 545,4 nghìn con (năm 2006), xuống còn 194,2 nghìn con (năm 2010) do
giá cả bấp bênh và ảnh hưởng của dịch bệnh. Đàn gia cầm có xu hướng tăng mạnh
từ 6.449 nghìn con (năm 2006) lên 8.113 nghìn con (năm 2010), là vùng có số
lượng đàn gia cầm nhiều nhất so với vùng Ven biển và Trung du miền núi, chiếm
48,5% tổng đàn gia cầm toàn tỉnh.
Sản lượng thủy sản có xu hướng tăng nhanh từ 7.728 tấn (năm 2006) lên
12.131 tấn (năm 2010) trong đó chủ yếu là thủy sản nuôi trồng chiếm 67,2% trong
cơ cấu thủy sản của vùng và ngày càng có xu hướng tăng (chủ yếu là nuôi cá nước
ngọt).
- Vùng núi và Trung du có diện tích đất tự nhiên 839.037 ha, chiếm
75,44% diện tích toàn tỉnh,độ cao trung bình vùng núi từ 600 -700m, độ dốc trên 25o; vùng trung du có độ cao trung bình 150 - 200m, độ dốc từ 15 -20o . Đặc trưng
của địa hình vùng này càng lên phía Tây độ dốc càng cao và bị chia cắt bởi các lưu
vực của các con sông. Gồm các huyện sau: Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá, Bá
Thước, Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân, Ngọc Lặc, Cẩm Thuỷ, Thạch
Thành, Như Thanh. Khu vực nông-lâm nghiệp-thuỷ sản đạt tốc độ tăng trưởng thời
kỳ 2006 – 2010 là 9,0%/năm. Được chia thành các tiểu vùng sau:
+ Tiểu vùng núi cao: Bao gồm các huyện Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá, Bá Thước, có diện tích tự nhiên: 3.503,5 km2; chiếm 41,1% diện tích tự nhiên, chủ
yếu là sản xuất lương thực, trồng cây công nghiệp ngắn ngày: lạc, đậu tương; sắn
nguyên liệu, chăn nuôi đại gia súc. Phát triển lâm nghiệp: trồng, chăm sóc và bảo vệ
rừng phòng hộ đầu nguồn sông Mã; phát triển rừng sản xuất với các cây bản địa,
rừng gỗ lớn có giá trị kinh tế cao; rừng nguyên liệu giấy; xây dựng vườn rừng đặc
dụng trồng cây dược liệu kết hợp phát triển cây bản địa tại vùng Son-Bá-Mười xã
Lũng Cao - Bá Thước.
+ Tiểu vùng núi thấp: Bao gồm các huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Lang
Chánh, Ngọc Lặc, Thường Xuân và các xã miền núi của các huyện Hà Trung, Vĩnh lộc, Triệu Sơn, Thọ Xuân, thị xã Bỉm Sơn có diện tích tự nhiên: 3.584,0 km2; chiếm
42,0% diện tích tự nhiên. Có tiềm năng sản xuất lương thực, phát triển các vùng cây
nguyên liệu công nghiệp quy mô lớn, gồm: mía, dứa, măng nguyên liệu, cao
su…chăn nuôi đại gia súc, gia súc, gia cầm với mô hình trang trại tạo khối lượng
hàng hoá lớn tham gia chương trình chăn nuôi của tỉnh, trồng rừng sản xuất đáp ứng
nguyên liệu cho các công nghiệp chế biến lâm sản, nguyên liệu giấy; trồng rừng
phòng hộ theo trục đường Hồ chí Minh, vùng đệm cho các khu bảo tồn thiên nhiên;
+ Vùng đồi phía Nam: Bao gồm các huyện Như Xuân, Như Thanh và các xã miền núi của huyện Tĩnh Gia, có diện tích tự nhiên: 1.429,3 km2, chiếm 16,8% diện
tích tự nhiên. Có thế mạnh phát triển các vùng cây nguyên liệu: mía, cao su, dứa,
sắn và sản xuất lương thực cân đối nội vùng; phát triển chăn nuôi đại gia súc, gia
cầm.
Trồng rừng phòng hộ, chăm sóc rừng đặc dụng, phát triển rừng sản xuất cung
cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ, giấy; khoanh nuôi tái sinh và phục
hồi các rừng gỗ quý hiếm như: lim, gụ, lát, sến, dổi, trắc, vàng tâm phục vụ khái
thác lâu dài.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của vùng diễn ra còn chậm, đời sống nhân
dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là những tháng giáp hạt, tình trạng đói diễn ra
thường xuyên trên diện rộng. Vì vậy, tỉnh cần có những ưu tiên đặc biệt cho sự phát
triển kinh tế xã hội của vùng nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng.
Những năm gần đây, sản lượng lương thực của vùng có tăng nhưng rất chậm
từ 306 nghìn tấn (năm 2006) lên 318 nghìn tấn (năm 2010). Diện tích cây lúa giảm
từ 54.980 ha (năm 2006) còn 53.871 ha (năm 2010), năng suất lúa không ổn định
và giảm từ 42 tạ/ha (năm 2006) xuống 41,4 tạ/ha (năm 2010), sản lượng lúa giảm từ
230.803 tấn (năm 2006) còn 223.087 tấn (năm 2010) do điều kiện không phù hợp.
Diện tích ngô tăng hơn 1000 ha từ 2.604 ha (năm 2006) lên 27.607 ha (năm 2010),
năng suất và sản lượng cũng có xu hướng tăng khá từ 75.448 tấn (năm 2006) lên
94.936 tấn (năm 2010). Cây sắn được trồng nhiều trong vùng và diện tích tăng
không ổn định từ 134. 937 tấn (năm 2006) lên 159.685 tấn (năm 2010) do hình
thành vùng nguyên liệu sắn cho các nhà máy chế biến, phù hợp với đều kiện thổ
những và là lương thực cho những tháng giáp hạt nên diện tích cây sắn tiếp tục có
xu hướng tăng.
Các cây công nghiệp hàng năm diện tích ít biến động. Cây mía được trồng
nhiều, diện tích tương đối ổn định, năm 2010, diện tích cây mía là 21.484 ha chiếm
70,8% tổng diện tích mía cả năm, diện tích có xu hướng tăng không ổn định. Ngoài
ra, diện tích một số cây công nghiệp hàng năm khác như đậu tương, lạc có xu
hướng giảm, diện tích cây vừng tăng khá nhanh do nhu cầu của thị trường tăng từ
505 ha ha (năm 2006) lên 709 ha (năm 2010).
Cây cao su là thế mạnh của vùng nằm trong dự án phát triển cây cao su của
tỉnh, diện tích tăng liên tục từ 5.450 ha (năm 2006) lên 9.588 ha (năm 2010). Tuy
nhiên, cây cao su vẫn chưa thực sự vẫn chưa làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng
trung du miền núi như dự án đề ra.
Trong cơ cấu ngành chăn nuôi số lượng đàn gia súc có xu hướng giảm do
nhu cầu về sức kéo giảm, thị trường bấp bênh và dịch bệnh. Thời kỳ 2006 – 2010,
đàn trâu giảm từ 165,6 nghìn con còn 156,3 nghìn con chiếm 72,29% cơ cấu đàn
trâu của tỉnh. Đàn bò giảm từ 349,3 nghìn con xuống 270,3 nghìn con. Đàn gia cầm
có xu hướng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu chăn nuôi của vùng,
tăng từ 3.962 nghìn con (năm 2006) lên 4.427 nghìn con (năm 2010).
Lâm nghiệp là thế mạnh của vùng, diện tích rừng trồng mới tăng gần 6.000
ha rừng thời kỳ 2006 – 2010 từ 8.620 ha (năm 2006) lên 14.543 ha (năm 2010)
chiếm 92,9% tổng diện tích rừng trồng cả nước.
Sản lượng thủy sản có xu hướng tăng nhẹ từ 3.918 tấn (năm 2006) lên 5.546
tấn (năm 2010).
2.4. Đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh hoá
2.4.1. Những kết quả đạt được
- Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân hàng năm giai đoạn 2006-
2010 đạt 4,22%, trong đó: Nông nghiệp 3,3%, Lâm nghiệp 7,54%, Thủy sản 8,7%.
- Bình quân lương thực hàng năm từ 2006-20010 là 1,641 triệu tấn, tăng so
với năm 2005 là 159 nghìn tấn và vượt mục tiêu đã đề ra. Tiếp tục thực hiện chương
trình đưa lúa lai vào gieo cấy, bình quân hàng năm đạt trên 100 nghìn ha được gieo
cấy bằng các giống lúa lai là điều kiện quan trọng để tăng năng suất lúa các năm
vừa qua.
Sản xuất vụ đông, nhất là ngô đông đã dần trở thành vụ chính của nhiều vùng
trong tỉnh, điển hình là ở vùng đất 2 lúa, đất bãi góp phần thực hiện mục tiêu lương
thực.
- Cây công nghiệp, cây thực phẩm phục vụ công nghiệp chế biến tiếp tục
được mở rộng và phát triển ổn định.
- Chăn nuôi trang trại phát triển cả về số lượng, chất lượng.
Chăn nuôi bước đầu đã có chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa với
việc triển khai các dự án cải tạo nâng cao tầm vóc đàn bò, phát triển đàn bò sữa, lợn
ngoại hướng nạc và chăn nuôi gia cầm siêu thịt, siêu trứng. Chăn nuôi đại gia súc
chuyển dịch đúng theo hướng tăng đàn bò, giảm dần đàn trâu, đàn lợn phát triển
theo hướng tăng chất lượng; chăn nuôi gia cầm đã được chú trọng. Mô hình chăn
nuôi trang trại quy mô lớn tiếp tục được mở rộng cả ở đồng bằng, miền núi góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động trong nông nghiệp, nông
thôn.
- Hoàn thành mục tiêu trồng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng. Tốc độ tăng giá trị
sản xuất lâm nghiệp bình quân 5 năm đạt 7,54%/năm vượt mục tiêu đại hội đề ra
(6,5%); tiếp tục phát triển theo hướng lâm nghiệp xã hội, khai thác hợp lý, vừa đảm
bảo được nhu cầu cần thiết sử dụng, vừa đảm bảo được nhiệm vụ tái tạo vốn rừng.
Trong 5 năm qua đã trồng mới 60.030 ha rừng, bình quân 12 nghìn ha/năm đạt mục
tiêu; thực hiện việc bảo vệ 250 ngàn ha đạt 100% mục tiêu đề ra. Cùng với việc bảo
vệ, trồng rừng mới, việc khoanh nuôi tái sinh rừng 30 nghìn ha, đạt 100% mục tiêu.
Công tác phòng chống sâu, bệnh hại rừng và phòng chống cháy rừng cũng được các
ngành, các cấp phối hợp chỉ đạo đạt hiệu quả. Sản lượng gỗ khai thác 238.615 nghìn m3, nứa giấy 224.030 tấn.
- Khai thác, nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định, một số đối tượng mới, mô
hình mới đang được tổng kết, nhân rộng. Tổng sản lượng khai thác và NTTS: từ 73.544
tấn năm 2005 lên 91.684 tấn năm 2008, và dự kiến năm 2010 là 97.000 tấn.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật được tiếp tục đầu tư phát huy hiệu quả, các cơ chế
chính sách mới trong các lĩnh vực đang được triển khai là động lực mới cho phát
triển nông nghiệp, nông thôn: trong trồng trọt chính sách miễn giảm thủy lợi phí
hàng năm hỗ trợ nông dân gần 200 tỷ đồng; trong lâm nghiệp thực hiện Quyết định
147/TTg của Thủ tướng Chính phủ hàng năm ngân sách đầu tư hàng trăm tỷ đồng
cho trồng rừng; trong thủy sản thực hiện Quyết định 289/TTg riêng năm 2009 Nhà
nước hỗ trợ trên 165,828 tỷ đồng cho ngư dân...
- Xây dựng các ngành, sản phẩm nông nghiệp sản xuất hàng hóa: phát triển
vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu: mía đường (chú trọng sản
xuất mía công nghệ cao), cao su, sắn chế biến, cói, lạc xuất khẩu. Về chăn nuôi phát
triển chăn nuôi trâu bò thịt, lợn thịt hướng nạc chất lượng cao theo hướng sản xuất
hàng hoá (phát triển vùng chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp tập trung). Về
thuỷ sản nuôi trồng: nuôi trồng thâm canh cá hướng công nghiệp, nuôi tôm sú phục
vụ xuất khẩu.
2.4.2. Những tồn tại, yếu kém - nguyên nhân
2.4.2.1. Những tồn tại, yếu kém
- Tốc độ tăng trưởng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp còn chậm, ngành nghề
nông thôn phát triển chưa tương xứng với thế mạnh của tỉnh: giá trị sản xuất nông
lâm ngư tăng bình quân thời kỳ 2006 - 2010 đạt 4,22%/năm, chưa đạt mục tiêu đề ra
(6,8%). Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành còn chậm. Cơ cấu ngành chăn nuôi
29,7% năm 2007, năm 2008 và 2009 chỉ đạt 28,2% đến 29% còn thấp xa so với mục
tiêu.
Năng suất cây trồng thấp và không đồng đều giữa các vùng, các huyện trên
địa bàn tỉnh; chưa có nhiều sản phẩm hàng hoá chủ lực đủ sức cạnh tranh với thị
trường, các sản phẩm tham gia xuất khẩu chưa nhiều, nhất là việc đưa giống mới vào
sản xuất như diện tích gieo trồng lúa lai qua 3 năm chưa có chuyển biến tích cực.
- Sản lượng cây trồng các vùng nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến
chưa ổn định vững chắc, đặc biệt là vùng nguyên liệu dứa.
- Chăn nuôi: đàn lợn có xu hướng giảm dần từ 1.343 nghìn con năm 2006,
ước năm 2009 chỉ còn 1.100 nghìn con; tỷ lệ lợn hướng nạc chỉ đạt 13%- 15% /tổng
đàn.
- Công tác bảo vệ, xây dựng và phát triển vốn rừng tuy đạt mục tiêu, nhưng
tiến độ trồng, ứng dụng tiến bộ kỳ thuật và công nghệ mới trong lâm nghiệp còn
chậm, qui hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cũng như qui hoạch phát triển 3 loại rừng
tuy đã được phê duyệt để triển khai thực hiện nhưng vẫn còn nhiều bất cập, rừng
phòng hộ chiếm tỷ lệ khá cao, tỷ lệ che phủ rừng thấp 46,1% năm 2008, chính sách
hưởng lợi của người quản lí, trồng rừng chậm được ban hành, đời sống một bộ phận
nông dân có nguồn thu nhập chính từ rừng vẫn còn khó khăn do thu nhập thấp.
- Việc đầu tư cơ sở hạ tầng cho các vùng nuôi trồng thủy sản còn chậm, thiếu
đồng bộ; trình độ, kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản còn hạn chế; con giống chủ yếu du
nhập từ tình ngoài, chất lượng kém,... nuôi trồng thủy sản phát triển chưa vững
chắc.
Các cơ sở chế biến nội địa thuộc các thành phần kinh tế tư nhân, các công ty
cổ phần tuy đã được nâng cấp, mở rộng, nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ tiêu
dùng, nhưng quy mô còn nhỏ, lẻ.
2.4.2.2. Nguyên nhân
- Sản xuất nông nghiệp trong những năm qua gặp nhiều khó khăn, bất lợi do
thời tiết khắc nghiệt; tính từ năm 2006 đến 2009 trong 3 năm, thì 2 năm 2005 và
2007 xảy ra bão lụt lớn và rét đậm, rét hại đầu 2008; dịch cúm gia cầm và dịch lợn
tai xanh đã làm thiệt hại lớn trong nông nghiệp; giá cả đầu vào như vật tư phân bón,
xăng dầu, giống mới các loại tăng nhanh, giá hàng hoá nông sản biến động mạnh.
- Một số qui hoạch vùng đã được phê duyệt nhưng chất lượng chưa cao, bố
trí sản xuất có nơi còn chồng chéo trong việc sử dụng đất đai hoặc chưa phù hợp với
cây trồng, chưa phù hợp với đối tưọng đầu tư nên ảnh hưởng đến tiến độ triển khai
thực hiện và hiệu quả của dự án như cây dứa, sắn.
- Sự chỉ đạo, điều hành một số lĩnh vực kết quả còn hạn chế, chưa triển khai
có hiệu quả công tác tổng kết thực tiễn, nhân rộng mô hình tiên tiến; chưa nghiên
cứu tập trung cao cho phát triển kinh tế miền núi.
- Cơ sở hạ tầng nhiều nơi còn thấp kém, nhất là hệ thống tiêu ở đồng bằng,
tưới ở miền núi, ven biển chưa thực sự đảm bảo yêu cầu và khả năng hạn chế thất
thiệt do thiên tai.
- Phần lớn dân cư các huyện miền núi, vùng biển đời sống còn khó khăn,
trình độ dân trí thấp, ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật
và đầu tư vào sản xuất.
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU NÔNG NGHIỆP THANH HÓA
3.1. Những căn cứ xây dựng định hướng
3.1.1. Nhu cầu xã hội, thị trường
Khi tham gia vào thị trường thế giới, hàng hóa nông sản của tỉnh sẽ tham gia
xuất khẩu vào thị trường nhiều nước. Tuy nhiên, hàng hóa phải đảm bảo tiêu chuẩn
về kích cỡ, màu sắc, sạch và đảm bảo an toàn thực phẩm, có thương hiệu, uy tín, có
khả năng cạnh tranh với hàng nông sản các nước. Việc trồng cây gì, nuôi con gì chỉ
mới dựa trên điều kiện lợi thế tự nhiên, còn sản phẩm nông nghiệp đó bán ở đâu, số
lượng bao nhiêu, chất lượng, giá cả thế nào lại do thị trường quyết định. Do vậy, đòi
hỏi ngành nông nghiệp phải nỗ lực rất lớn từ khâu sản xuất đến khâu chế biến, thị
trường tiêu thụ.
Nhu cầu của xã hội về các sản phẩm nông nghiệp ngày càng cao, không chỉ
về số lượng mà ngày nay chất lượng sản phẩm mới là yếu tố quan trọng, các sản
phẩm nông nghiệp sạch, an toàn và có thương hiệu đáp ứng nhu cầu xã hội mới
chiếm lĩnh được thị trường. Do đó, vấn đề chuyển dịch CCNN, không chỉ là vấn đề
quy hoạch vùng sản phẩm nông nghiệp tập trung mà vấn đề đầu tiên là cách tổ chức
sản xuất nền nông nghiệp như thế nào để gắn sản xuất với thị trường, đặc biệt là thị
trường thế giới. Vì muốn đi lên nền sản xuất nông nghiệp lớn, thì tất yếu phải quy
hoạch các vùng sản xuất, sản phẩm nông nghiệp tập trung, gắn các vùng này với
công nghiệp chế biến và thương mại. Nhưng nếu chỉ khoanh vùng quy hoạch đơn
giản dựa vào duy nhất điều kiện lợi thế tự nhiên mà không căn cứ vào nhu cầu thị
trường thì sự chuyển dịch CCNN không mang lại hiệu quả.
3.1.2. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Trung ương và của tỉnh
- Căn cứ nghị quyết NQ09/2000 NQ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2000 của
Chính phủ về chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
- Căn cứ quyết định QĐ158 – TTg ngày 9 tháng 10 năm 2007 của Thủ tướng
Chính phủ về phê duyệt Chương trình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc
Trung Bộ và Duyên Hải Nam Trung Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020.
- Thực hiện Quyết định số 80/TTg của Thủ tướng Chính phủ về khuyến
khích thu mua nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng, khuyến khích sản xuất nông
nghiệp gắn với vùng tiêu thụ sản phẩm.
- Quyết định 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện có
hiệu quả kế hoạch trồng rừng sản xuất; triển khai dự án phục hồi và phát triển bền
vững rừng phòng hộ.
- Nghị định 61/2010/NĐ-CP, của Chính phủ về chính sách khuyến khích
- Quyết định 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ; tiếp
doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
tục củng cố, phát triển đội tàu khai thác hải sản xa bờ, khuyến khích đóng mới các
tàu có công suất phù hợp với từng loại hình khai thác; tổ chức triển khai qui hoạch
nuôi trồng thủy sản ở các huyện, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu phát triển các đối
tượng nuôi có hiệu quả, có khả năng thâm canh.
- Quyết định 114/2009/QĐ - TTg ngày 28/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ
về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020.
- Quyết định 1190/QĐ – UBND ngày 23 tháng 4 năm 2007 của chủ tịch Ủy
Ban Nhân Dân tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển
Nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020.
3.1.3. Thực trạng và điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh
Thanh Hoá có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp hàng hoá. Với
lượng mưa lớn, nền nhiệt độ, ánh sáng dồi dào, nông nghiệp của tỉnh có điều kiện
để phát triển đa dạng. Nông nghiệp đã có bước chuyển đối cơ cấu theo hướng khai
thác lợi thế của từng vùng. Sản xuất hàng hoá gắn với thị trường, gắn phát triển
nông nghiệp với phát triển nông thôn, chuyển đối cơ cấu mùa vụ, đưa vụ đông trở
thành vụ sản xuất chính, tạo cơ sở để tăng thu nhập cho nông dân và tăng hiệu quả
sản xuất trên một đơn vị canh tác.
Thanh Hoá còn là tỉnh có thế mạnh về đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản.
Đây là ngành mang lại thu nhập cao cho nông dân vùng ven biển. Đây cũng là một
trong số ít tỉnh của cả nước còn diện tích rừng tương đối lớn. Các hoạt động về bảo
vệ môi trường từng bước được tăng cường và phát triển
Cơ cấu nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: giảm tỷ trọng
trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi. Ngành trồng trọt và chăn nuôi từng bước
chuyển dần từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá tập trung gắn với chế
biến và xuất khẩu đồng thời nâng cao giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích đất canh
tác.
Tuy nhiên, tiềm năng thế mạnh của các vùng kinh tế trung du, miền núi, ven
biển chưa được khai thác. Sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, phân tán, chưa gắn kết
chặt chẽ giữa sản xuất với tiêu thụ, hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên đất chưa
cao. Những biến động bất thường về dịch bệnh, thiên tai đang là những ẩn họa lớn;
giá vật tư nông nghiệp, giá sản phẩm nông, lâm thuỷ sản không ổn định là cản trở
lớn, ảnh hưởng đến sản xuất. Việc khắc phục hậu quả thiên tai và dịch bệnh trong 2
năm qua còn nhiều khó khăn, phải có thời gian dài mới khắc phục được hậu quả
thiệt hại.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tuy
đã được đầu tư, nhưng vẫn còn nhiều bất cập.
- Thị trường tiêu thụ còn hạn chế, sức canh tranh của các mặt hàng nông sản
trong tỉnh còn yếu kém.
- Trình độ dân trí nhiều vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn thấp, dân
nghèo, thiếu vốn đầu tư cho phát triển sản xuất, nhất là sản xuất hàng hoá tập trung
với qui mô lớn.
3.2. Những định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh hoá
3.2.1. Định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh hoá
3.2.1.1. Định hướng chung
Tiếp tục đảm bảo tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản
nhanh và bền vững, tạo sự chuyển biến căn bản về chất lượng (tăng trưởng trên
4%/năm). Cơ cấu GTSX nông nghiệp: tiếp tục tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, dịch
vụ nông nghiệp, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt. Tăng giá trị sản phẩm trên 01 ha đất
canh tác; ổn định an ninh lương thực trên địa bàn theo hướng an ninh dinh dưỡng.
Đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nông sản chế biến.
- Phát triển toàn diện ngành nông nghiệp, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp
công nghệ cao, nông nghiệp sạch hướng tới xuất khẩu, tăng nhanh giá trị thu nhập
trên một đơn vị diện tích. Đồng thời, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng phục vụ
phát triển nông nghiệp, chủ động ứng phó có hiệu quả với thiên tai.
- Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản đạt 5%/năm thời kỳ 2011 - 2015 và
5,1% thời kỳ 2016 - 2020; giảm tỷ trọng nông, lâm, thuỷ sản trong GDP từ 31,6%
năm 2005 xuống 15,5% năm 2015 và 10,1% vào năm 2020;
- Phát triển ổn định diện tích cây lương thực đến năm 2020 đạt từ 270 - 280
nghìn ha; trong đó, diện tích lúa khoảng 220 - 230 nghìn ha, ngô khoảng 50 - 60
nghìn ha; sản lượng lương thực năm 2020 đạt khoảng 1,7 triệu tấn, đảm bảo an ninh
lương thực và có lượng lương thực hàng hoá lớn. Chuyển đổi mạnh cơ cấu cây
trồng, hình thành các vùng sản xuất tập trung, các sản phẩm chủ lực; nâng diện tích
các loại cây có giá trị kinh tế cao từ khoảng 30% tổng diện tích gieo trồng năm
2010 lên trên 50% vào năm 2020;
- Phát triển các cây trồng khác: cây cao su đến năm 2015 đạt 25.000 ha; cây
mía ổn định diện tích năm 2020 khoảng 26.000 - 28.000 ha; cây lạc 22.000 - 23.000
ha năm 2020; cây cói ổn định diện tích từ 3.000 - 3.500 ha gắn với công nghiệp chế
biến.
- Phát triển mạnh chăn nuôi cả về quy mô và chất lượng đàn gia súc, gia cầm
theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông
nghiệp lên 45% năm 2015 và trên 50% năm 2020;
- Phát triển lâm nghiệp theo hướng bảo vệ, phát triển và khai thác hợp lý tài
nguyên rừng bảo đảm chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường; đồng thời, nâng cao
mức đóng góp cho nền kinh tế; phấn đấu đến năm 2020 khoanh nuôi khoảng 250 -
300 nghìn ha, trồng mới hàng năm từ 10 - 13 nghìn ha, nâng tỷ lệ che phủ rừng lên
53% - 54% năm 2015 và trên 60% năm 2020. Xây dựng các vùng rừng nguyên liệu
như vùng luồng, nguyên liệu giấy, gỗ... gắn với công nghiệp chế biến. Phát triển
lâm nghiệp toàn diện, tổ chức quản lý, chăm sóc, bảo vệ, khai thác lâm sản hợp lý;
điều chỉnh lại cơ cấu 3 loại rừng, đa dạng hóa các sản phẩm nông - lâm kết hợp gắn
với công nghiệp chế biến nâng cao giá trị sản xuất nghề rừng; tổ chức phát triển
vùng nguyên liệu giấy với qui mô 173.000 ha, bảo vệ diện tích rừng hiện có, độ che
phủ rừng đạt 53%.
- Phát triển thuỷ sản một cách toàn diện cả đánh bắt và nuôi trồng theo
hướng vừa nâng cao hiệu quả vừa đảm bảo môi trường sinh thái, tạo nguồn nguyên
liệu ổn định cho chế biến xuất khẩu. Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản cả nước
ngọt, nước lợ, nước mặn; đến năm 2015 diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 19.000 -
20.000 ha và trên 30.000 ha vào năm 2020. Kết hợp hài hòa giữa đầu tư tăng năng
lực đánh bắt xa bờ với tổ chức khai thác hợp lý các khu vực gần bờ, nâng sản lượng
khai thác lên 70 nghìn tấn năm 2015 và ổn định ở mức trên 90 nghìn tấn năm 2020.
Đưa thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn, tổ chức lại nghề khai thác thủy sản,
tăng cường các phương tiện đánh bắt, đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản, ưu tiên các đối
tượng nuôi có giá trị cao và xuất khẩu, đưa giá trị ngành thủy sản tăng với tốc độ
bình quân hàng năm 13,2%. Đẩy mạnh các dự án nuôi cá kết hợp cấy lúa, tăng diện
tích nuôi thâm canh, bán thâm canh. Mở rộng các loại hình dịch vụ phục vụ sản
xuất nông, lâm, thuỷ sản.
3.2.1.2. Xác định mô hình sản xuất nông nghiệp hợp lý
Tỉnh Thanh Hóa thực hiện quy hoạch sản xuất nông nghiệp theo hướng từng
bước hình thành các vùng chuyên canh tập trung nhằm tăng giá trị sản xuất trên
diện tích đất và phát huy lợi thế của từng địa phương. Tập trung xây dựng, phát
triển vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu: cây mía, cây cao su,
cây sắn, cói, lạc xuất khẩu. Phát triển chăn nuôi tập trung, trọng điểm là phát triển
bò thịt chất lượng cao, lợn thịt hướng nạc theo hướng sản xuất hàng hoá.
Những vùng chuyên canh được xác định như: vùng sản xuất rau an toàn, sản
xuất rau quả xuất khẩu, vùng nguyên liệu cói, vùng luồng thâm canh tập trung, vùng
sản xuất lúa năng suất cao, các vùng nguyên liệu cao su, mía, sắn, dứa... xây dựng
các vùng chuyên canh phù hợp với điều kiện và lợi thế của từng huyện. Vùng lúa
thâm canh năng suất, chất lượng và hiệu quả cao với diện tích 75.000ha tại các
huyện Yên Định Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Quảng Xương,.... Vùng sản xuất lúa lai F1
đạt 1.000ha, tạo cơ sở vững chắc đảm bảo mục tiêu lương thực từ 1,6 triệu tấn/năm
trở lên. Bên cạnh đó, ổn định vùng nguyên liệu cói 4.500ha tại các huyện ven biển
Nga Sơn, Quảng Xương gắn với khôi phục phát triển làng nghề chế biến và xuất
khẩu các sản phẩm từ cây cói, xây dựng thương hiệu cho mặt hàng chiếu cói Nga
Sơn.
Đối với các loại cây công nghiệp, lâm nghiệp phục vụ chế biến được xây
dựng vùng chuyên canh tập trung tại các huyện trung du và miền núi. Trong đó,
vùng nguyên liệu sắn với diện tích 6.000ha,vùng nguyên liệu dứa khoảng 2.000-
2.500ha, luồng 60.000ha... Chuyển đổi những diện tích mía đồi năng suất thấp sang
trồng cây cao su và cây lâm nghiệp. Mở rộng diện tích trồng cao su đạt 25.000ha
gắn với 2 nhà máy chế biến mủ cao su xuất khẩu tại huyện Cẩm Thủy và Như
Xuân… Tập trung xây dựng các mô hình trọng điểm về sản xuất cây nguyên liệu
phục vụ chế biến công nghiệp, mô hình chăn nuôi tập trung ngoài khu dân cư;
chuyển đổi ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản.
Hiện nay nông nghiệp Thanh Hóa đang phát triển theo các mô hình chủ yếu
là mô hình hợp tác xã nông nghiệp, mô hình trang trại; mô hình liên doanh-liên kết
với các doanh nghiệp, và hộ gia đình. Mỗi mô hình đã mang lại những kết quả nhất
định trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tuy nhiên trong tương lai việc xác định
mô hình hợp lý phù hợp với tình hình phụ thuộc vào điều kiện và thế mạnh của từng
vùng .
Căn cứ vào định hướng phát triển nông nghiệp đến năm 2015 và tầm nhìn
2020 có thể thấy hai mô hình: Mô hình liên doanh-liên kết với các doanh nghiệp và
mô hình kinh tế trang trại sẽ đưa sản xuất nông nghiệp lên sản xuất lớn, bởi vì: Tập
trung, tích tụ được ruộng đất không ở tình trạng nhỏ lẻ, manh mún, “dẫm chân tại
chỗ” như hiện nay. Thuận tiện cho việc tiến hành hiện đại hóa về nông nghiệp, nông
thôn (tiến hành cơ khí hóa để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm,
điện khí hóa, thủy lợi hóa, sinh học hóa, thị trường hóa v.v…). Sản xuất ra khối
lượng hàng hóa lớn mới tiêu thụ được các sản phẩm nông dân làm ra, phù hợp với
cơ chế thị trường và hội nhập.
3.2.1.3. Định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh hoá
đến năm 2020
* Định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo ngành
- Ngành trồng trọt
- Sản xuất cây lương thực:
Sản xuất lúa: Năm 2010 diện tích gieo trồng lúa 235,0 nghìn ha, giảm 17,2
nghìn ha so với năm 2005; Năm 2020 diện tích gieo trồng lúa khoảng 225-230
nghìn ha.
Sản xuất ngô: năm 2010 diện tích ngô ở mức 56 - 60 nghìn ha. Đến năm
2015, 2020 diện tích ổn định khoảng 56 nghìn ha.
- Sản xuất cây nguyên liệu chế biến công nghiệp
Vùng nguyên liệu mía chế biến công nghiệp: Tổng diện tích mía năm 2010 là
30 nghìn ha, năm 2015, 2020 giảm xuống còn 26-28 nghìn ha.
Vùng nguyên liệu sắn chế biến công nghiệp: 7 nghìn ha năm 2010 và giảm
còn khoảng 5 - 5,8 nghìn ha năm 2015, 2020.
Vùng nguyên liệu dứa: Quy hoạch vùng nguyên liệu dứa năm 2010 là 1.500
ha. Đến năm 2015 diện tích đất trồng dứa là 3.000 ha.
Phát triển cây cao su: Đến năm 2010 đạt 10.500 ha; năm 2015 đạt 18.000 ha.
- Sản xuất cây phục vụ xuất khẩu
Sản xuất lạc: Giai đoạn 2006-2010 diện tích lạc 20 - 22 nghìn ha và ổn định
diện tích lạc vững chắc trên cơ sở có thể thâm canh, đất đai phù hợp. Vùng chuyên
canh tập trung thâm canh cao ở các huyện vùng ven biển với tổng diện tích trên
10.000 ha.
Quy hoạch sản xuất cói: Diện tích ổn định 5.300 - 5.500 ha; Cố gắng mở
rộng diện tích ở những vùng có điều kiện đất đai phù hợp và cơ sở hạ tầng thuỷ lợi
thuận lợi.
Sản xuất dâu tằm: Diện tích năm 2010 là 2.000 ha và ổn định đến năm 2015.
Sản xuất đậu tương: Năm 2010 diện tích 15.000 ha, đến năm 2015 ổn định
20.000 ha trong đó chủ yếu là trồng đậu tương vụ đông.
- Sản xuất cây trồng khác:
Phát triển hoa, cây cảnh: Bố trí diện tích trồng hoa cây cảnh kết hợp với du
lịch sinh thái; ngoài ra có thể mở rộng diện tích trồng hoa, cây cảnh trong vụ đông
trên đất chuyên màu và đất lúa tại các huyện vùng đồng bằng, vùng ven các khu đô
thị, khu công nghiệp.
Bảng 3.1 Quy hoạch, định hướng một số cây trồng chủ lực tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020
Đơn vị: Diện tích: 1000 ha; Sản lượng: 1000 tấn 2020
2010
2015
TT Hạng mục
DT 294,1 235,1 115,0 120,0 59,0 12,0 15,0 20,0
SL 1582,6 1322,3 747,2 575,1 260,3 192,0 24,3 38,4
DT 286,4 230,4 112,7 118,3 56,0 11,0 20,0 22,0
SL 1619,3 1350,9 761,3 592,7 268,4 198,0 37,4 48,1
DT 283,3 227,3 111,2 116,9 56,0 10,0 20,0 22,0
SL 1664,7 1368,4 769,2 602,8 296,4 200,0 42,5 55,5
Cây lương thực Lúa cả năm Lúa Xuân Lúa mùa Ngô Sắn Đậu tương Lạc vỏ các loại
I 1 2 3 4 5
2001,0 323,4 205,0 44,3
2155,2 377,3 225,5 47,9
2288,0 425,3 246,0 47,9
28,2 30,0 20,5 5,5
26,6 32,5 20,5 5,5
30,6 27,5 20,5 5,5
6 7 8 10
Mía Rau các loại Cây ăn quả Cây cói Nguồn: Quy hoạch phát triển nông nghiệp Thanh Hoá đến năm 2015 và định
hướng 2020
Quy hoạch sản xuất rau thực phẩm: Diện tích gieo trồng năm 2010 là 27.500
ha (không tính diện tích đậu đỗ), năm 2015 có 30.000 ha.
Quy hoạch vùng sản xuất rau tập trung 3.400 ha đất ở 90 xã thuộc 25 huyện
thị vùng đồng bằng và ven biển. Vùng sản xuất rau thực phẩm chế biến xuất khẩu
năm 2010 là 3 – 3,5 nghìn ha gắn với các nhà máy, đơn vị chế biến xuất khẩu.
Sản xuất cây ăn quả: ổn định diện tích 20 - 21 nghìn ha cây ăn quả các loại,
tập trung cải tạo vườn tạp sang trồng cây ăn quả. Sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nội địa.
Ngành chăn nuôi
- Đàn bò: Đến năm 2010 đàn bò đạt 674 nghìn con (bò lai Zebu 380 nghìn
con, chiếm 60% tổng đàn). Năm 2015 đạt 900 - 1.000 nghìn con. Chăn nuôi bò thịt
chất lượng cao phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Chăn nuôi bò sữa: tiếp tục
thực hiện chương trình chăn nuôi bò sữa; đến năm 2010 là 3.000 con; năm 2015 là
10.000 con.
- Đàn trâu năm 2010 đàn trâu 236 nghìn con, năm 2015 trên 250 nghìn; tăng
trưởng chủ yếu các huyện trung du Miền núi.
- Đàn lợn năm 2010 đạt 1.900 nghìn con, năm 2015 trên 2.400 nghìn con.
Năm 2010 đưa quy mô đàn lợn chất lượng cao lên trên 40% tổng đàn; năm 2015 -
2020 đàn lợn chất lượng cao đạt trên 60% tổng đàn. Phát triển đàn lợn hướng nạc,
lợn choai, lợn sữa để xuất khẩu, tập trung tại các huyện Quảng Xương, Hoằng Hoá,
Hậu Lộc, Yên Định, Thiệu Hoá ...
- Đàn gia cầm năm 2010 đạt trên 20 triệu con, năm 2015 đạt trên 25 triệu
con.
- Chăn nuôi khác: nuôi Dê là một trong những thế mạnh chăn nuôi của
Thanh Hoá, dự kiến phát triển đàn dê năm 2015 đạt 100 nghìn con.
Xây dựng vùng sản xuất chăn nuôi tập trung xa khu dân cư để có khối lượng
sản phẩm chăn nuôi từ các vùng tập trung đạt 35 - 40% tổng GTSL chăn nuôi toàn
tỉnh (năm 2010) và đạt trên 60% (năm 2015), định hướng đến năm 2020 đạt trên
70%. Đồng thời hạn chế việc ô nhiễm môi trường sinh thái trong khu vực dân cư.
Bảng 3.2 Quy hoạch, định hướng phát triển chăn nuôi tỉnh Thanh Hóa
đến năm 2020
Đơn vị: Tổng đàn: 1000 con; SL thịt: 1000 tấn
2010 2015 2020
TT Hạng mục Tổng Tổng Tổng SL thịt SL thịt SL thịt đàn đàn đàn
Tổng SL thịt hơi 233,8 378,1 533,4
1 Đàn trâu 237,0 5,5 254,0 7,5 274,0 9,5
2 Đàn bò 674,0 11,0 1008,0 16,5 1327,0 21,8
3 Đàn lợn 1900 199,5 2395 327,4 2806 463,4
4 Đàn gia cầm 20000 17,2 25600 25,9 31700 37,8
5 Đàn Dê 83,0 0,6 100,0 0,7 130,0 0,9
Nguồn: Quy hoạch phát triển nông nghiệp Thanh Hoá đến năm 2015 và định
hướng 2020
Ngành lâm nghiệp
Phát triển lâm nghiệp theo hướng bảo vệ, phát triển và khai thác hợp lý tài
nguyên rừng, bảo đảm chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường, đồng thời nâng mức
đóng góp cho nền kinh tế. Mỗi năm khoanh nuôi tái sinh 20 - 30 nghìn ha, bảo vệ
530 nghìn ha rừng, trồng mới 17.000 ha; nâng độ che phủ rừng lên 52% vào năm
2015.
Bảng 3.3 Quy hoạch đất lâm nghiệp năm 2010 và định hướng năm 2020
Đơn vị: ha
2010 2020
566.039 232.816 83.921 249.302 629.100 193.543 80.420 355.137 Loại rừng Tổng số 1. Đất có rừng phòng hộ 2. Đất có rừng đặc dụng 3. Đất có rừng sản xuất
Nguồn : Cục Thống kê Thanh Hoá; Viện Điều tra Quy hoạch rừng
Ngành thuỷ sản nuôi trồng
Khai thác diện tích mặt nước chưa sử dụng, tiềm năng mặt nước lợ, kết hợp
nuôi thuỷ sản trên hồ, ao, chuyển đổi một phần diện tích đất lúa vùng úng trũng khó
khăn về tiêu thoát nước sang nuôi trồng thuỷ sản thuần hoặc canh tác lúa + thuỷ sản
kết hợp...
Khuyến khích phát triển nuôi thuỷ sản nước mặn trên lồng bè với các đối
tượng chính là cá mú, tôm hùm.
* Định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo vùng
Vùng ven biển
Xây dựng vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ở các huyện Hoằng Hoá,
Quảng Xương, Hậu Lộc, Tĩnh Gia, Nga Sơn. Phát triển đồng bộ cả đánh bắt, nuôi
trồng, chế biến thuỷ sản; khuyến khích đầu tư đánh bắt xa bờ gắn với bảo vệ chủ
quyền biển, đảo.
Vùng sản xuất cói tập trung: các huyện Nga Sơn, Quảng Xương
Vùng sản xuất lạc tập trung đầu tư thâm canh cao ở các huyện vùng ven biển
với tổng diện tích 10 - 10,5 nghìn ha: Tĩnh Gia, Hoằng Hoá, Hậu Lộc, Nga Sơn.
Vùng sản xuất rau thực phẩm chế biến xuất khẩu ở các huyện: Hoằng Hoá,
Hậu Lộc, Quảng Xương, Nga Sơn ...
Vùng chăn nuôi lợn hướng nạc và gia cầm
Vùng đồng bằng
Vùng chuyên canh sản xuất lúa chất lượng cao quy mô khoảng 50 nghìn ha,
tập trung ở các huyện: Triệu Sơn, Quảng Xương, Hoằng Hoá, Nông Cống, Yên
Định, Thiệu Hoá, Thọ Xuân , Đông Sơn.
Sản xuất ngô chất lượng cao tại các huyện: Thọ Xuân, Vĩnh Lộc, Đông Sơn,
Yên Định, Cẩm Thuỷ, Hoằng Hoá.
Phát triển đàn lợn hướng nạc, lợn choai, lợn sữa để xuất khẩu, tập trung tại
các huyện Yên Định, Thiệu Hoá ...
Vùng miền núi, trung du
- Xây dựng vùng cây công nghiệp chế biến
Vùng nguyên liệu mía tập trung: Nhà máy đường Lam Sơn: huyện Thọ
Xuân, Triệu Sơn, Ngọc Lạc, Thường Xuân. Nhà máy đường Nông Cống: huyện
Như Thanh, Như Xuân, Nông Cống; Nhà máy đường Việt Đài: huyện Thạch
Thành, Hà Trung, Cẩm Thuỷ.
Vùng nguyên liệu sắn chế biến công nghiệp: Nhà máy sắn Bá Thước: Huyện
Bá Thước, Quan Hoá, Lang Chánh; Nhà máy sắn Như Xuân: huyện Như Xuân,
Như Thanh, Thường Xuân, Cẩm Thuỷ.
Vùng dứa nguyên liệu: Như Thanh, Triệu Sơn, Hà Trung.
Vùng phát triển cây cao su: thuộc các huyện Như Xuân, Thạch Thành, Cẩm
Thuỷ, Ngọc Lặc, Như Thanh, Thọ Xuân, Triệu Sơn ...
Vùng trồng dâu nuôi tằm: huyện Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hoá.
Vùng nguyên liệu giấy tập trung ở các huyện: Mường Lát, Quan Sơn, Quan
Hóa, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc và Cẩm Thủy.
- Vùng phát triển chăn nuôi gia súc
Chăn nuôi bò thịt, chăn nuôi trâu thịt tập trung ở các huyện Thạch Thành,
Cẩm Thuỷ, Ngọc Lạc, Như Xuân, Thường Xuân, Bá Thước)
Đàn dê chủ yếu tập trung ở các huyện vùng trung du Miền núi như Cẩm
Thuỷ, Ngọc Lặc, Bá Thước, Quan Hoá, Quan Sơn.
* Định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo thành phần kinh tế
- Kinh tế tập thể (Hợp tác xã)
Thanh Hoá vẫn còn rất nhiều HTX, tổ hợp tác đang trong tình trạng yếu kém,
trì trệ, thụ động và không thích ứng với xu thế hội nhập. Do quy mô nhỏ, năng lực
tài chính yếu nên HTX Dịch vụ nông nghiệp chỉ tổ chức được vài ba khâu dịch vụ
như thủy lợi, máy móc, cung cấp phân bón, bảo vệ thực vật, đa phần không tích luỹ
được vốn để mở rộng dịch vụ hỗ trợ xã viên. Ở các huyện miền núi như Quan Hoá,
Lang Chánh, Mường Lát, Quan Sơn, mô hình HTX chỉ mang tính chất động viên
phong trào là chính chứ chưa thực sự khẳng định được vai trò của HTX. Vấn đề khó
khăn của các HTX hiện nay là kinh nghiệm quản lý yếu kém, thiếu vốn đầu tư, khả
năng cạn tranh với các thành phần kinh tế khác hạn chế.
Vì vậy, trong tương lai tỉnh không chủ trương mở rộng về số lượng HTX mà
tập trung xây dựng một số mô hình HTX làm ăn có hiệu quả, tránh sự đầu tư dàn
trải, tập trung những mô hình sản xuất khác có hiệu quả kinh tế hơn.
- Kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân (Kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình)
Phát triển kinh tế trang trại là chủ trương nhất quán và lâu dài của Đảng, nhà
nước, nhằm đưa sản xuất nông nghiệp nhỏ, lẻ, phân tán, lạc hậu sang sản xuất hàng
hoá, qui mô lớn, hiệu quả kinh tế cao. Phát triển kinh tế trang trại phải phù hợp với
qui hoạch phát triển kinh tế xã hội và hướng đến hình thành các vùng sản xuất
chuyên canh, qui mô lớn, sản xuất hàng hoá, gắn với nhà máy chế biến, tiêu thụ sản
phẩm và phù hợp với quá trình xây dựng nông thôn mới. Cùng với việc phát triển
các trang trại truyền thống, từng bước nghiên cứu, áp dụng, xây dựng một số loại
hình trang trại mới, hiệu quả kinh tế, xã hội cao như trang trại công nghệ cao phù
hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới.
Cụ thể, phấn đấu đến năm 2015 đạt 5.262 trang trại đủ tiêu chuẩn, trong đó
có 1.724 trang trại trồng cây hàng năm, 318 trang trại trồng cây lâu năm, 533 trang
trại lâm nghiệp, 796 trang trại chăn nuôi, 610 trang trại thuỷ sản, 1.281 trang trại
tổng hợp; tổng vốn đầu tư của các trang trại đạt 1.639 tỷ đồng, giá trị đầu tư bình
quân 01 trang trại đạt 284 triệu đồng; giá trị sản phẩm hàng hóa của các trang trại
đạt 1.496 tỷ đồng; giá trị sản xuất bình quân một trang trại đạt 507 tỷ đồng; thu
nhập bình quân của 01 trang trại đạt 96 triệu đồng; giải quyết việc làm cho trên
84.000 lao động, bình quân mỗi trang trại sử dụng 16 lao động.
Tóm lại, để thúc đẩy quá trình chuyển dịch CCNN cần phát triển mạnh kinh
tế trang trại, nông trại gia đình và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư để
phát triển nông nghiệp; tăng cường vai trò kinh tế nhà nước. Tổ chức thực hiện có
hiệu quả việc sắp xếp lại các nông, lâm trường quốc doanh. Khuyến khích việc tự
nguyện thành lập các hợp tác xã, tổ hợp tác chuyên doanh.
3.3. Các giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Thanh
hoá đến năm 2020
3.3.1. Quy hoạch bố trí lại các ngành sản xuất nông nghiệp
Quá trình chuyển dịch cơ cấu nông-lâm thủy sản ở một số địa phương còn
diễn ra tự phát không theo quy hoạch, có nguy cơ phát triển kém bền vững. Chuyển
đổi tự phát gây ra tình trạng phá vỡ quy hoạch ảnh hưởng đến quá trình phát triển
chung.
Cần có sự phối hợp chặt chẽ các dự án trên từng vùng, tránh quy hoạch
chồng chéo, quy hoạch nông nghiệp cần dựa trên cơ sở phát huy cơ chế thị trường,
gắn sản xuất nông-lâm-ngư với công nghiệp chế biến, khai thác lợi thế của từng
vùng và địa phương.
3.3.2. Vấn đề thị trường.
Để sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững, vấn đề đặt ra hiện
nay là sản xuất hàng hóa phải gắn với tiêu thụ sau thu hoạch. Trong nền sản xuất
hàng hóa quy mô lớn, thị trường có vai trò cực kì quan trọng trong việc định hướng
sản xuất và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác dự báo
thông tin thị trường hang hóa cho sản xuất. Hình thành tổ chức xúc tiến thương mại
với nhiệm vụ tư vấn, kinh doanh đối với các doanh nghiệp về thị trường trong và
ngoài nước về mặt hang, công nghệ, pháp luật kinh doanh, cơ chế, chính sách.
Từng bước hình thành cơ cấu xuất khẩu hợp lý, chú ý khai thác lợi thế so
sánh của từng vùng, từng địa phương trên cơ sở chuyên môn hóa sản xuất, phát
triển tổng hợp. Tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật, ứng dụng những tiến bộ khoa
học kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ tiên tiến trong chế biến, nâng cao chất lượng sản
phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu cao của thị trường thế giới.
Cần có chính sách trợ giá linh hoạt, chủ động và nhạy bén để giúp nông dân
ổn định sản xuất trước những biến động bất lợi về giá nông sản.
3.3.3. Giải pháp về vốn.
Khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia đầu tư,
kinh doanh trong các lĩnh vực nông nghiệp. Đẩy mạnh, tạo điều kiện thuận lợi thực
hiện sản xuất thông qua hợp đồng; thu hút nhiều nguồn vốn, công nghệ tiên tiến từ
bên ngoài phục vụ phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Tăng cường huy động các nguồn vốn đầu tư cho Nông nghiệp. Ngoài nguồn
vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vốn vào
phát triển kết cấu hạ tầng. Huy động vốn từ nhân dân thông qua quỹ tín dụng nông
dân, các nguồn vốn đầu tư nước ngoài (ODA, FDI). Triển khai các cơ chế chính
sách của tỉnh về hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp và khuyến khích các doanh
nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
Tăng cường các dự án cho nông dân vay vốn với lãi suất ưu đãi để chuyển
đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi. Cho vay theo mục tiêu, theo dự án, không cho vay
tràn lan.
Hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn để thu mua tạm trữ nhằm ổn định thị trường,
tránh tình trạng “được mùa, rớt giá”.
3.3.4. Giải pháp về ruộng đất
- Tiếp tục đổi mới quan hệ ruộng đất ở nông thôn theo hướng tích tụ, tập
trung đất đai sản xuất, gắn với phân công lao động hợp lý. Tập trung ưu tiên những
huyện có điều kiện quỹ đất để phát triển vùng sản xuất tập trung; khuyến khích phát
triển kinh tế trang trại, nông trại gia đình.
- Bố trí một phần đất xa khu dân cư, tiện lợi giao thông, dễ cách ly và đảm
bảo môi trường để hình thành những khu chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung. Bố
trí đủ đất để trồng cỏ, tạo thức ăn xanh và khu vực chăn thả phục vụ phát triển chăn
nuôi.
Thực hiện việc “dồn điền, đổi thửa”, tích tụ và tập trung ruộng đất dưới sự
quản lý chặt chẽ của nhà nước, phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu nông
nghiệp, hạn chế tình trạng cầm cố đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện
cơ giới hóa trong nông nghiệp.
Quy hoạch lại sử dụng đất, tránh tình trạng nông dân sản xuất nông nghiệp tự
phát, chạy theo phong trào, chạy theo lợi nhuận trước mắt gây thiệt hại, lãng phí tài
nguyên.
3.3.5. Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Tiếp tục ứng dụng các tiến bộ KHKT: mở rộng quy mô sản xuất giống bố,
mẹ lúa lai F1 và sản xuất giống lúa lai F1, ngô lai; du nhập, khảo nghiệm và sản
xuất các giống lúa, ngô chịu hạn cho miền núi; các tiến bộ về giống và thú y trong
chăn nuôi, giống cây lâm nghiệp, giống thủy sản.
Tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng, chuyển giao khoa học - công
nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
trong điều kiện hội nhập. Tăng cường đào tạo cán bộ, đảm bảo đội ngũ cán bộ có đủ
năng lực, trình độ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao cho sản xuất trong thời kỳ hội
nhập. Tiếp tục xây dựng các mô hình sản xuất theo công nghệ mới có năng suất,
chất lượng, hiệu quả cao, làm nòng cốt nhân ra diện rộng.
Tăng cường công tác thú y, bảo vệ thực vật, hệ thống quản lý chất lượng
giống, vật tư nông nghiệp, kiểm soát chặt chẽ việc sản xuất, kinh doanh và sử dụng
hóa chất, thuốc trừ sâu, thuốc thú y, phân bón nhằm đảm bảo an toàn cho sản xuất
và an toàn vệ sinh thực phẩm.
3.3.6. Đầu tư xây dựng phát triển hạ tầng cơ sở phục vụ sản xuất nông
nghiệp
Tăng cường đầu tư củng cố và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ
phát triển sản xuất nông nghiệp, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai: Tiếp tục đầu tư,
nâng cấp, củng cố hệ thống các công trình thuỷ lợi; hệ thống sản xuất giống cây
trồng, vật nuôi, thuỷ sản; giao thông nông thôn, điện; hạ tầng phục vụ chuyển đổi
ruộng trũng sang trồng trọt kết hợp nuôi trồng thuỷ sản; hạ tầng phục vụ các khu
chăn nuôi tập trung; hệ thống chợ đầu mối, chợ nông thôn và các cơ sở giết mổ, chế
biến nông sản tập trung; phát triển cơ điện phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ
sản.
Cần đầu tư đồng bộ, tập trung về trang thiết bị, cơ sở hạ tầng và đội ngũ cán
bộ khoa học kỹ thuật cho các trung tâm, cơ sở sản xuất giống cây trồng, vật nuôi
của tỉnh và các huyện. Đảm bảo cung cấp đủ giống tốt cho sản xuất. Đầu tư tăng
cường năng lực về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, cán bộ kỹ thuật, phương tiện hoạt
động cho các trạm bảo vệ thực vật, trạm thú y, các cơ sở phòng dịch của tỉnh và các
huyện, để đảm bảo tốt nhiệm vụ phòng dịch, phòng bệnh, cứu chữa kịp thời, và
hướng dẫn đầu tư và kỹ thuật cho người sản xuất.
Tăng cường các cơ sở, trạm trại nghiên cứu khoa học và thực nghiệm để thực
hiện tốt việc nghiên cứu thử nghiệm, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ
mới.
Triển khai cơ giới hoá sản xuất ngành trồng trọt, giảm lao động thủ công
đảm bảo tăng năng suất lao động: làm đất, cải tạo đồng ruộng; cơ giới hoá khâu tưới
tiêu; gieo trồng và chăm sóc; Cơ giới hoá khâu thu hoạch, bảo quản và chế biến
nông lâm sản ...
Xây dựng hoàn chỉnh các cảng cá, bến cá và khu tránh trú bão cho tàu thuyền
nghề cá ở vùng ven biển, cần quan tâm đầu tư xây dựng hạ tầng nghề muối.
3.3.7. Đẩy mạnh công tác khuyến nông.
Hiện nay vẫn còn một bộ phận người nông dân gặp nhiều khó khăn về điều
kiện sản xuất (vốn, điều kiện tự nhiên) và trình độ hiểu biết (về khoa học kĩ thuật
công nghệ, về thị trường). Vì vậy, đẩy mạnh công tác khuyến nông – lâm – ngư cần
được chú trọng.
Cần tập trung nghiên cứu các giống mới, các qui trình kĩ thuật nuôi trồng các
loại cây, con mới, xây dựng các mô hình thí điểm, các chương trình tập huấn kĩ
thuật sản xuất mới, hiệu quả cho nông dân, nhất là vùng miền núi phía tây.
3.3.8. Các giải pháp về cơ chế chính sách
Tổ chức thực hiện, áp dụng các chính sách phát triển sản xuất, điều chỉnh, bổ
sung các chính sách mới, nhất là trong lĩnh vực phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi và
thuỷ sản.
Tiếp tục chỉ đạo thực hiện các dự án phát triển chăn nuôi, triển khai thực hiện
qui hoạch trang trại chăn nuôi ở các huyện, xây dựng các khu chăn nuôi tập trung,
từng bước chuyển chăn nuôi hộ gia đình sang chăn nuôi bán công nghiệp và công
nghiệp để có sản phẩm hàng hoá và giảm thiệt hại do dịch bệnh. Thực hiện tốt công
tác phòng chống và kiểm dịch bệnh gia súc, gia cầm, xây dựng được các vùng chăn
nuôi an toàn dịch bệnh.
- Thực hiện các chính sách hỗ trợ du nhập, sản xuất các giống lúa, ngô chịu
hạn cho miền núi; chính sách phát triển vùng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến,
vùng chăn nuôi tập trung; chính sách cho việc xây dựng cánh đồng 50 triệu
đồng/ha/năm và hộ có thu nhập 50 triệu đồng/hộ/năm. Chính sách khuyến khích
chuyển đổi, tích tụ ruộng đất, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế trong
và ngoài nước đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là các vùng khó
khăn của tỉnh.
3.3.9. Sử dụng hợp lý nguồn nhân lực lao động nông thôn
Nhân lực là nhân tố quan trọng nhất trong sự phát triển KT-XH nói chung và
trong quá trình chuyển dịch CCNN nói riêng. Vì thế cần hết sức coi trọng vấn đề
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động. Thanh Hóa là
tỉnh có nguồn lao động dồi dào nhưng trình độ văn hóa, trình độ kĩ thuật sản xuất,
trình độ quản lí theo kinh tế thị trường, hiểu biết pháp luật,…còn hạn chế, đặc biệt
là các dân tộc ít người vùng núi, trung du phía tây. Để chuyển dịch CCNN theo
hướng CNH-HĐH cần thực hiện những chính sách đào tạo và phát triển nhân lực:
- Tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực: liên kết, phát huy khả năng
của các trường Đại học, Cao đẳng và dạy nghề trên địa bàn tỉnh; tăng cường liên kết
trong đào tạo với các trường đại học, cao đẳng trên toàn quốc. Tập trung nâng cao
năng lực đào tạo, đào tạo lại cán bộ cho các huyện, thị xã, thành phố; đào tạo cán bộ
phục vụ các xã.
- Chú trọng công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề cho lao động nông thôn,
đặc biệt là các ngành nghề truyền thống, chế biến các sản phẩm nông nghiệp cúa địa
phương. Tiến hành phân loại ngành nghề để có định hướng tốt trong việc cung cấp
thông tin về những nghành nghề có triển vọng cho người nông dân. Đào tạo nguồn
nhân lực góp phần phát triển hơn nữa nghề truyền thống để mang lại giá trị kinh tế
cao, tập trung điều chỉnh, nâng cao chất lượng đào tạo, gắn kết việc đào tạo nghề
với giải quyết việc làm cho người lao động, "lôi kéo" được các doanh nghiệp cùng
tham gia vào công tác đào tạo nghề...Nâng cao năng lực các cơ sở dạy nghề, đầu tư
cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề đảm bảo chất lượng đáp ứng nhu cầu của lao
động nông thôn. Sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn lao động tại địa phương,
nâng cao năng suất và thu nhập cho lao động nông nghiệp.
- Tiến hành đào tạo tại chỗ theo nhu cầu và lao động của địa phương nhằm
nâng cao trình độ sản xuất. Đẩy mạnh công tác thông tin và phổ biến kiến thức cho
nông dân, trước hết là kiến thức về sản xuất nông nghiệp, về ngành nghề, dịch vụ,
về thị trường tiêu thụ, … để mọi người có cơ hội, khả năng tạo việc làm, tận dụng
thời gian nông nhàn chủ động, sáng tạo tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh
và nâng cao đời sống của mình.
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ ngành nông-lâm-ngư những kiến thức về
quản lý kinh tế, thị trường, sản xuất nông nghiệp. Xây dựng kế hoạch đào tạo đội ngũ
cán bộ quản lý các HTX và các tổ chức kinh tế hợp tác.
- Có chính sách thu hút nhân tài, cán bộ, đội ngũ lao động có tay nghề, có trình
độ chuyên môn làm lực lượng nòng cốt cho các cơ sở nông nghiệp tại địa phương.
3.3.10. Sự liên kết 4 nhà
Sự liên kết này góp phần quan trọng trong việc cung ứng vật tư nông nghiệp
và tiêu thụ nông sản. Nếu có “đầu ra” ổn định, người nông dân sẽ yên tâm sản xuất,
nhất là trong sản xuất vụ đông.
Những bất cập trong tiêu thụ nông sản và cung cấp vật tư nông nghiệp ở
vùng sản xuất không tập trung hiện nay, đặt ra vấn đề cần xây dựng cơ chế phối hợp
từ sản xuất đến tiêu thụ một cách chặt chẽ giữa nông dân-nhà nước-nhà khoa học-
nhà doanh nghiệp. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường thế giới, đòi
hỏi chất lượng cao của nông sản, muốn có được điều này nông dân cần liên kết chặt
chẽ với các nhà khoa học. Sản phẩm lảm ra phải có thị trường, việc tiêu thụ nông
sản thuận lợi góp phần tạo sự ổn định trong tiêu thụ nông sản, nâng cao giá trị và
chất lượng sản phẩm ở vùng sản xuất không tập trung, giảm thiểu những rủi ro
trong sản xuất nông nghiệp, tiến tới hình thành các tiểu vùng sản xuất tập trung.
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Qua quá trình nghiên cứu về điều kiện và hiện trạng chuyển dịch CCNN tỉnh
Thanh Hóa, tác giả nhận thấy sự chuyển dịch CCNN của tỉnh diễn ra còn chậm. Để
đẩy nhanh sự chuyển dịch CCNN tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020 theo hướng hiện đại,
tác giả luận văn xin phép đưa ra một số kiến nghị sau:
- Đối với Chính Phủ: Thông qua quy hoạch sử dụng đất đai, nhất là quy hoạch
liên quan đến các kế hoạch sử dụng đất ở tầm vĩ mô, giúp cho nông dân có khả năng
sử dụng đất linh hoạt. Cung cấp thông tin chính xác (bao gồm cả thông tin dự báo)
kịp thời về thị trường và sản xuất để người dân có thể đưa ra quyết định lựa chọn sản
xuất đúng. Phát triển các hoạt động hỗ trợ như: cung cấp dịch vụ tín dụng, chuyển
giao công nghệ, phát triển thị trường đầu vào, đầu ra.
- Đối với Tỉnh Thanh Hóa: Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ
thuật, hệ thống dịch vụ nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường hệ thống khuyến nông,
chuyển giao công nghệ sản xuất cho nông dân.
- Đối với ngành nông nghiệp: xác định rõ thế mạnh, phát triển các vùng sản
xuất tập trung, nâng cao năng suất hiệu quả sản xuất nông nghiệp, phát triển sản xuất
nông nghiệp theo hướng hàng hóa. Đào tạo nâng cao trình độ quản lí và trình độ
người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. Tăng cường vốn đầu tư cho nông nghiệp:
vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật cho phát triển nông, lâm, thủy
sản, đặc biệt ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi, giao thông nông thôn. Nghiên
cứu phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, nhằm đảm bảo “đầu vào và đầu ra”
của sản phẩm nông, lâm, thủy sản để thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu. Sản xuất
nông, lâm, thủy sản phải gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của thị trường. Tăng cường đầu
tư nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả các tiến bộ khoa học công nghệ:
các trung tâm thực nghiệm, các trại giống cây trồng, vật nuôi, hệ thống phòng chống
dịch bệnh, bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản…nhằm nâng cao chất lượng sản
phẩm.
Để tạo động lực mới trong sản xuất nông nghiệp một giải pháp có ý nghĩa hết
sức quan trọng là tạo môi trường thụân lợi cho việc hình thành phát triển các hình
thức tổ chức sản xuất mới, đó là các doanh nghiệp, các trang trại, các HTX mới. Có
thể nói, sự khác biệt giữa nông nghiệp truyền thống và nông nghiệp theo hướng
hiện đại chính là sự tham gia đầu tư công nghệ, tiền vốn của doanh nghiệp và kinh
tế trang trại vào qui trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, những việc lâu nay chủ yếu
do hộ đảm nhận.
- Đối với người nông dân: Cần nâng cao trình độ và kiến thức về thị trường và
chuyển giao khoa học công nghệ, kĩ thuật sản xuất mới. Sử dụng đồng vốn sản xuất
có hiệu quả. Nâng cao khả năng tiếp cận thông tin và phản ứng nhanh với những cơ
hội của thị trường có ảnh hưởng đến kết quả sản xuất.
KẾT LUẬN
Thanh Hóa là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp. Hiện tại,
nông nghiệp là ngành có vai trò hết sức to lớn, tạo ra việc làm, đảm bảo đời sống cho
phần lớn dân cư, cung cấp lương thực, thực phẩm tại chỗ.
- Nền nông nghiệp của tỉnh có bước phát triển đáng kể, tuy tỉ trọng đóng góp
trong cơ cấu GDP toàn tỉnh của ngành nông nghiệp có giảm nhưng giá trị thực tế
ngày càng tăng. Cơ cấu ngành có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỉ trọng
nông nghiệp, tăng tỉ trọng ngành lâm nghiệp-thủy sản, từng bước đưa chăn nuôi trở
thành ngành sản xuất chính, tính hàng hóa của sản phẩm nông nghiệp ngày càng cao.
- Trên địa bàn toàn tỉnh đã hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên
môn hóa như trồng cây lương thực, cây công nghiệp, vùng chăn nuôi lợn…Tuy
nhiên, tính chuyên môn hóa của các vùng chưa cao, trình độ sản xuất thiếu đồng bộ,
sản phẩm hàng hóa chất lượng cao chưa nhiều.
- Khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên để phát triển nông nghiệp toàn diện.
Tập trung phát triển các ngành hàng có lợi thế cạnh tranh cao, đưa nhanh tiến bộ khoa
học kĩ thuật mới vào sản xuất, đặc biệt là các giống mới và công nghệ sau thu hoạch.
- Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa phát triển cây
trồng, vật nuôi, ứng dụng các giống mới vào sản xuất, tăng năng suất và chất lượng.
Từng bước nâng cao đời sống người nông dân.
- Thực hiện liên kết 4 nhà “nhà nông-nhà khoa học-nhà nước và nhà doanh
nghiệp” từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.
Nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền KT-XH của tỉnh. Vấn đề
đặt ra là phải tiến hành chuyển dịch CCNN theo hướng sản xuất hàng hoá, đa dạng
hoá sản phẩm, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến để nâng cao
năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cho nông sản. Tạo điều kiện phát triển
KT-XH của tỉnh đồng thời nâng cao đời sống nhân dân, hướng tới mục tiêu phát triển
bền vững.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Ngọc Anh (2008), Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn tỉnh
Bình Dương trong thời kỳ CNH-HĐH – Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ban dân vận Trung Ương (2002), Một số vấn đề về công tác vận động nông dân
ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Ban tư tưởng văn hóa Trung Ương (2002), Con đường công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam, Nông nghiệp và phát triển nông thôn,
Hà Nội.
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2004), Báo cáo tổng kết tình hình
chuyển dịch cớ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn sau hơn 20 năm Đổi
mới, Hà Nội.
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Kế hoạch phát triển kinh tế tập
thể 5 năm (2006-2010) trong lĩnh vực nông nghiệp, Hà Nội.
6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Một số văn bản pháp luật hiện hành về
phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nxb Lao động xã hội.
7. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2004), Dự án phát triển nuôi trồng thủy
sản khu vực Bắc Trung Bộ (Dự án VIE/97/030), Hà Nội.
8. Các Mác (1964), Góp phần phê phán chính trị học, Nxb Sự thật, Hà Nội.
9. Cục thống kê Thanh Hóa, Niên giám thống kê Thanh Hóa năm 2000.
10. Cục thống kê Thanh Hóa, Niên giám thống kê Thanh Hóa năm 2005.
12. Nguyễn Thị Cành (2004), Các mô hình tăng trưởng dự báo kinh tế lý thuyết và
11. Cục thống kê Thanh Hóa, Niên giám thống kê Thanh Hóa năm 2010.
thực nghiệm, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
13. Nguyễn Sinh Cúc (2003), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới
(1986-2002), Nxb Hà Nội
14. Trương Văn Diện (2005), “Bàn về cơ sở khoa học, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng CNH-HĐH ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Công nghiệp (09), tr 2-
5
15. Nguyễn Thị Thanh Dung, Nghiên cứu hiện trạng và định hướng chuyển dịch cơ
cấu nông nghiệp tỉnh Đồng Nai, Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh.
16. Vũ Năng Dũng (2004), Cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, bước đi, cơ chế,
chính sách trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn, Nxb
Nông Nghiệp, Hà Nội.
17. Phạm Xuân Hậu, Nguyễn Kim Hồng, Đặng Văn Phan (1995), Địa lý KT – XH
Việt Nam (tập 1), NXB giáo dục TP. HCM
18. Lê Thị Kim Liên (2011), Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Trà Vinh, thời kỳ
CNH-HĐH – Luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí
Minh.
19. Đặng Văn Phan (2008), Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam, Nxb Giáo dục
Thành phố Hồ Chí Minh.
20. Trương Thị Minh Sâm (2002), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội.
21. Lê Quốc Sử (2001), Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển kinh tế của
nông nghiệp Việt Nam theo hướng CNH-HĐH từ thế kỷ XX đến thế kỉ XXI
trong “thời đại kinh tế tri thức”, Nxb Thống Kê, Thành Phố Hồ Chí Minh.
22. Bùi Tất Thắng (2006), Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, NXB
Khoa học- Xã hội, Hà Nội.
23. Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức (2000), Giáo trình Địa lý KT – XH Việt
Nam, NXB Giáo dục.
24. Lê Thông (2005), Địa lý các tỉnh và thành phố Việt nam, tập ba (các tỉnh vùng
Tây Bắc và vùng Bắc Trung Bộ), NXB Giáo dục.
25. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thanh Hóa (2010), Báo cáo quy hoạch tổng thể KT
– XH tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020.
26. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa (2010), Báo cáo quy hoạch
tổng thể phát triển nông – lâm – ngư nghiệp tỉnh Thanh Hóa đến năm 2015
và tầm nhìn đến năm 2020.
27. Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2001), Cơ sở khoa học của
một số vấn đề chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đến năm 2010 và
tầm nhìn 2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
28. Trần Anh Phương (2009), “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế - Thực trạng và những
vấn đề đặt ra”, Thông tin Pháp luật dân sự (01), tr 3-6.
Các website:
29. www.bachkhoatoanthu.gov.vn
30. www.vukehoach.mard.vn
31. www.vies.gov.vn
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Giá trị sản xuất nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa và các tỉnh vùng Bắc
Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ (theo giá so sánh)
Đơn vị : tỉ đồng
Năm 1995 2000 2005 2010
Cả nước 82.307,1 112.111,7 137.112,0 169.503,2
Bắc Trung Bộ và Duyên hải
Nam Trung Bộ 13.928,7 17.783,9 20.971,3 25.030,0
Thanh Hoá 2.478,3 3.270,5 3.943,6 4.543,4
Nghệ An 2.279,4 2.961,8 3.704,6 4.354,5
Hà Tĩnh 1.165,8 1.525,4 1.689,5 1.822,9
Quảng Bình 494,4 627,7 763,7 942,2
Quảng Trị 413,8 726,6 880,1 975,2
Thừa Thiên Huế 563,9 655,3 736,6 844,3
Đà Nẵng 206,0 225,5 219,1 205,9
Quảng Nam 1.259,5 1.426,5 1.571,7 1.732,7
Quảng Ngãi 1.017,1 1.239,6 1.489,9 1.665,3
Bình Định 1.237,3 1.615,0 1.956,7 2.647,1
Phú Yên 805,3 916,0 1.110,4 1.271,5
Khánh Hoà 625,3 731,0 723,6 1.071,7
Ninh Thuận 553,8 604,0 593,0 929,2
Bình Thuận 828,8 1.259,0 1.588,8 2.024,1
Nguồn: Tổng Cục Thống kê Việt Nam
Phụ lục 2 Kinh phí ước tính đầu tư cho tưới đến năm 2020
Diện tích
Diện tích
Diện tích
Diện tích
Kinh phí
cần tưới
đã tưới
cần hoàn
TT
Vùng
tưới mới
ước tính
tương lai
được
chỉnh
(ha)
(tỉ đồng)
(ha)
(ha)
(ha)
1
Thượng sông Mã
38.188 14.200 2.850 16.400 1.294
2
Quán Hoá-Mai Châu 17.670 2.750 4.350 11.410 930
3
Trung lưu sông Mã
17.580 7.350 4.450 4.376 439
4
Thượng sông Bưởi
18.249 8.972 4.560 3.240 368
5
Trung lưu sông Bưởi 22.227 7.890 3.732 5.740 352
6
Hạ du sông Bưởi
6.691 4.130 2.561
- 64
7
Nam Mã - Bắc Chu 45.971 20.786 1.585 23.600 1.040
8
Thượng sông Chu
6.900 2.130 1.500 2.270 215
9
Nam sông Chu
69.471 54.348 10.300 4.823 547
10 Nam sông Lèn
19.756 17.051 1.200 706 6
11
Bắc sông Lèn
18.059 15.239 1.300 1.200 123
Tổng
280.262 155.046 38.388 73.765 5.435
Nguồn: Quy hoạch phát triển nông nghiệp Thanh Hoá đến năm 2015
và định hướng 2020
Phụ lục 3: Hiện trạng sử dụng đất tự nhiên tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2000-2010
Đơn vị: 1000 ha
TT Chỉ tiêu 2000 2005 2010
1.110,61 1113,63 1.113,19 Tổng diện tích đất tự nhiên
670,70 812,97 861,91 1 Đất nông nghiệp
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 231,18 246,40 248,04
Đất trồng cây hằng năm 220,60 209,42
Đất trồng lúa 141,78 147,00
Đất cỏ dùng vào chăn nuôi 6,06 3,84 1,22
Đất trông cây hằng năm khác 72,76 66,60 61,20
Đất trồng cây lâu năm 10,58 26,61 38,62
1.2 Đất lâm nghiệp 430,42 555,29 600,63
Đất rừng sản xuất 164,93 229,35 337,87
Đất rừng phòng hộ 208,13 240,62 180,75
Đất rừng đặc dụng 57,33 85,32 82,01
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 8,66 10,20 12,00
1.4 Đất làm muối 0,44 0,42 0,33
1.5 Đất nông nghiệp khác 0,68 0,92
85,97 149,28 162,29 2 Đất phi nông nghiệp
353,94 151,38 88,99 3 Đất chưa sử dụng
Nguồn: Sở Nông Nghiệp Phát triển nông thôn Thanh Hóa
Phụ lục 4 Các dự án đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa năm 2010
TT Tên các dự án
1 Xây dựng tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam đoạn qua Thanh Hoá
2 Dự án xây dựng Quốc lộ 1A đoạn qua tỉnh Thanh Hoá
3 Tuyến đường ven biển tỉnh Thanh Hoá
4 Tuyến đường nối các huyện phía Tây tỉnh Thanh Hoá
6 Xây dựng và hoàn thiện mạng lưới điện toàn Tỉnh
7 Hệ thống kênh Bắc - Hồ Cửa Đặt
8 Xây dựng cảng trung chuyển Đảo Mê
9 Cảng tổng hợp Nghi Sơn
Các Nhà máy cấp nước Nghi Sơn, thành phố Thanh Hoá, thị xã Bỉm Sơn, Sầm 10 Sơn, Ngọc Lặc,...
11 Đại lộ Nam Sông Mã - thành phố Thanh Hoá
12 Đường vành đai phía Tây Thành phố Thanh Hoá
13 Hệ thống đường ngang (7 tuyến) các huyện biên giới, miền núi
Xây dựng hệ thống đê, kè biển : Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng 14 Xương, Tĩnh Gia, thị xã Sầm Sơn
Xây dựng hệ thống các cảng cá, bến cá: Nga Bạch (Nga Sơn), Hoà Lộc (Hậu
15 Lộc), Hoằng Phụ (Hoằng Hoá), thị xã Sầm Sơn, Quảng Nham (Quảng Xương),
Hải Châu, Lạch Bạng (Tĩnh Gia)
Xây dựng hệ thống bến đỗ tránh trú bão cho tầu, thuyền đánh cá: kênh De
16 (Hậu Lộc); Sao Sa, kênh Choán (Nga Sơn); Quảng Thạch (Quảng Xương);
Lạch Bạng (Tĩnh Gia)
17 Dự án sống chung với lũ: Vĩnh Lộc, Thạch Thành
18 Hệ thống tiêu úng huyện Đông Sơn - thành phố Thanh Hoá
19 Phòng chống lũ quét các huyện miền núi
20 Hệ thống tiêu úng các sông: sông Nhơm, sông Hoàng, sông Lý
Dự án xây dựng hệ thống các trạm quan trắc kiểm soát tác động các chất thải - 21 bảo vệ môi trường: 27 huyện, thị xã, thành phố
22 Hệ thống quan trắc cảnh báo lũ ống, lũ quyét: 11 huyện miền núi
Dự án quy hoạch sử dụng và bảo vệ nguồn nước: 4 hệ thống sông trên địa bàn 23 Tỉnh
Nguồn: Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa

