BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

______________________

Ngô Thị Yến Nhi

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

______________________

Ngô Thị Yến Nhi

Chuyên ngành : Địa lý học (trừ địa lý tự nhiên)

Mã số : 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. Phạm Xuân Hậu

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

LỜI CÁM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự

giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, các giáo sư giảng dạy các chuyên đề, giúp cho

tác giả thu hoạch được rất nhiều kiến thức cần thiết và bổ ích.

Tác giả luận văn cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học

PGS. TS. Phạm Xuân Hậu đã tận tình chỉ dẫn trong suốt thời gian thực hiện và hoàn

thành luận văn, cảm ơn Ban Giám Hiệu trường ĐHSP, Phòng Công Nghệ và sau đại

học, Khoa Địa Lý đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận văn,

cảm ơn chân thành đến các sở, ban, ngành:

- Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Long An

- Phòng Tài nguyên môi trường huyện Đức Hòa

- Cục thống kê tỉnh Long An

- Phòng thống kê huyện Đức Hòa

- Ủy ban nhân dân huyện Đức Hòa.

Những cơ quan trên đã cung cấp các tư liệu quý giá cho tác giả trong quá trình thực

hiện đề tài nghiên cứu của mình; cảm ơn những người thân và bạn bè đồng nghiệp

đã chia sẽ khó khăn, động viên trong quá trình hoàn thành luận văn.

Tác giả luận văn

Ngô Thị Yến Nhi

MỤC LỤC

Trang phụ bìa Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các hình MỞ ĐẦU.............................................................................................................................. 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP ............................................................................................................................................... 9 1.1. Một số khái niệm .............................................................................................. 9 1.1.1. Công nghiệp ............................................................................................... 9 1.1.3. Phát triển bền vững .................................................................................. 14 1.1.4. Phát triển khu công nghiệp bền vững ...................................................... 16 1.1.5. Công nghiệp hóa và hiện đại hóa. ............................................................ 19 1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến KCN ..................................................................... 23 1.2.1. Nhóm yếu tố bên trong ............................................................................ 23 1.2.2. Nhóm yếu tố bên ngoài ............................................................................ 26 1.3. Vai trò của KCN ............................................................................................ 27 1.4. Cơ sở thực tiễn ................................................................................................ 28 1.4.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia công nghiệp ở Châu Á ...................... 28 1.4.2. Sự phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam ............................................. 31 1.4.3. Sự phát triển khu công nghiệp ở Đông Nam Bộ ..................................... 34 1.4.4. Sự phát triển khu công nghiệp ở Long An............................................... 35 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở ĐỨC HÒA (LONG AN) ................................................................................................. 37 2.1. Khái quát về huyện Đức Hòa ......................................................................... 37 2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển KCN huyện Đức Hòa tỉnh Long An. 38 2.2.1. Vị trí địa lý ............................................................................................... 38 2.2.2. Các nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên....................................... 41 2.2.3. Các nhân tố kinh tế - xã hội ..................................................................... 51 2.3. Thực trạng phát triển các KCN huyện Đức Hòa tỉnh Long An. .................... 61 2.3.1. Tổng quát về tình hình phát triển kinh tế của huyện Đức Hòa ................ 63 2.3.2. Tình hình phát triển các KCN .................................................................. 66 2.3.3. Tỉ lệ lắp đầy của các khu công nghiệp huyện Đức Hòa .......................... 70 2.3.4. Thực trạng hoạt động của các khu công nghiệp ...................................... 72 2.3.5. Doanh thu của các KCN .......................................................................... 85 2.3.6. Sử dụng lao động trong các khu công nghiệp ......................................... 88 2.4. Đánh giá chung về hoạt động của các KCN ................................................... 91 2.4.1. Những thành tựu ...................................................................................... 91

2.4.2. Những hạn chế ......................................................................................... 92 Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐỨC HÒA (LONG AN) ĐẾN 2020 ......................................... 94 3.1 Những căn cứ để đưa ra định hướng ............................................................... 94 3.1.1. Kế hoạch phát triển kinh tế của tỉnh Long An đến 2020 ......................... 94 3.1.2. Nhu cầu xã hội về sản phẩm hàng hóa .................................................... 97 3.1.3 Thực trạng chiến lược phát triển kinh tế huyện Đức Hòa ........................ 98 3.2. Định hướng phát triển bền vững các khu công nghiệp huyện Đức Hòa ........ 99 3.2.1. Phát triển về quy mô .............................................................................. 99 3.2.2. Cơ cấu ngành ....................................................................................... 100 3.2.3. Công nghệ và sản phẩm ....................................................................... 101 3.2.4. Sử dụng lao động ................................................................................. 102 3.2.5. Kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước .................................................... 103 3.2.6. Vấn đề bảo vệ môi trường phát triển theo hướng bền vững ................ 104 3.2.7. Thiết lập mối liên kết khu vực, tỉnh, vùng (kỹ thuật, lao động, trao đổi

sản phẩm, hàng hóa, sử dụng công trình công cộng..) ........................ 106 3.3. Các giải pháp phát triển ................................................................................ 107 3.3.1. Thực hiện các bước chuyển dịch phù hợp với yêu cầu ....................... 107 3.3.2. Kêu gọi đầu tư, nhanh chóng lấp đầy các khu công nghiệp ................ 110 3.3.3. Kết hợp tuyển dụng lao động chất lượng cao với tổ chức đào tạo, bồi

dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý ....................................... 111

3.3.4. Thực hiện các kết hợp chặt chẽ, thường xuyên về vốn, kỹ thuật, cơ sở hạ

tầng, lao động với các đơn vị, vùng lân cận và tỉnh, nước ngoài…cho phát triển ...................................................................................................... 112

3.3.5. Chủ động thực hiện và vận động người lao động và cộng đồng địa

phương bảo vệ môi trường sản xuất, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội các khu công nghiệp và nơi cư trú ............................................ 113 3.4. Một số kiến nghị - đề xuất ............................................................................ 116 KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 119 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 121 PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CN : Công nghiệp

CNH : Công nghiệp hóa

HĐH : Hiện đại hóa

CCN : Cụm công nghiệp

KCN : Khu công nghiệp

GTSXCN : Giá trị sản xuât công nghiệp

KCNC : Khu công nghệ cao

TCLTCN : Tổ chức lãnh thổ công nghiệp

TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

VKTTĐPN : Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

BVMT : Bảo vệ môi trường

QLMT : Quản lý môi trường

PTBV : Phát triển bền vững

K/CCN : Khu cụm công nghiệp

UBND : Ủy Ban nhân dân

TN & MT : Tài nguyên và môi trường

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 1.1

: Tổng hợp số lượng KCN dự kiến phát triển đến năm 2015 trên phạm vi

cả nước ............................................................................................................ 33

Bảng 2.1

: Diện tích, số hộ, dân số và mật độ dân số huyện Đức hòa năm 2011 ............ 40

Bảng 2.2

: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Đức Hòa năm 2011 .................................. 46

Bảng 2.3

: Phân phối lượng mưa hàng năm tại huyện Đức Hòa ...................................... 47

Bảng 2.4

: Phân phối lưu lượng nước trong năm ............................................................. 48

Bảng 2.5

: Lao động và cơ cấu lao động xã hội của huyện Đức Hòa giai đoạn

2007 -2011 ...................................................................................................... 52

Bảng 2.6

: Lao động công nghiệp phân theo thành phần kinh tế năm huyện Đức

Hòa giai đoạn 2007 -2011 .............................................................................. 53

Bảng 2.7

: Lao động công nghiệp huyện Đức Hòa theo ngành công nghiệp năm

2011 ................................................................................................................ 54

Bảng 2.8

: Tỉ lệ lắp đầy của các KCN trên địa bàn huyện Đức Hòa ................................ 70

Bảng 2.9

: Tên một số Doanh nghiệp trong KCN Đức Hòa 3 ......................................... 79

Bảng 2.10 : Doanh thu của các doanh nghiệp DDI trong các KCN huyện Đức Hòa

năm 2011 ........................................................................................................ 85

Bảng 2.11 : Doanh thu của các doanh nghiệp FDI trong các KCN huyện Đức Hòa

năm 2011 ........................................................................................................ 85

Bảng 2.12 : Cơ sở sản xuất công nghiệp ở huyện Đức Hòa ( năm 2007-2011) ................. 86

Bảng 2.13 : Giá trị sản xuất công nghiệp của huyện năm 2010 và 2011 ........................... 86

Bảng 2.14 : Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến của huyện Đức Hòa năm

2010-2011 ....................................................................................................... 87

Bảng 2.15 : Tình hình sử dụng lao động của các KCN huyện Đức Hòa năm 2012

(tính 6 tháng đầu năm) .................................................................................... 89

Bảng 2.16 : Số lao động qua đào tạo và chưa qua đào tạo của các KCN huyện Đức

Hòa ................................................................................................................. 90

DANH MỤC CÁC HÌNH

Biểu đồ 2.1. Cơ cấu GDP huyện Đức Hòa năm 2005 ......................................................... 64

Biểu đồ 2.2. Cơ cấu GDP huyện Đức Hòa năm 2010 ......................................................... 64

Biểu đồ 2.3. Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của huyện Đức Hòa (năm 2011) ............ 88

Biểu đồ 2.4. Lao động công nghiệp của huyện Đức Hòa giai đoạn 2007-2011 .................. 89

BIỂU ĐỒ

BẢN ĐỒ

Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Đức Hòa ........................................................... 39

Hình 2: Bản đồ hiện trạng phân bố các khu công nghiệp huyện Đức Hòa ............. 71

Hình 3: Bản đồ định hướng phát triển các khu công nghiệp huyện Đức Hòa đến

năm 2020 ................................................................................................... 93

1

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Long An là vùng đất anh hùng xứng đáng với danh hiệu tám chữ vàng đã được

Trung ương ban tặng “TRUNG DŨNG KIÊN CƯỜNG, TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC”

thời chống Mỹ.

Đã hơn 35 năm sau ngày Đại Thắng 30 - 4 – 1975, tiếp tục dưới ngọn cờ vẻ

vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ngày càng phát triển trong thế vững

vàng tiến lên chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì ấm no

hạnh phúc của nhân dân. Cùng với khí thế đó Long An cũng từng ngày đổi mới. Để

tiếp tục đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa của tỉnh trong thời gian tới, Nghị quyết

Đại hội Đảng bộ tỉnh Long An lần thứ IX đã xác định mục tiêu tổng quát đến năm

2015 là khai thác tốt tiềm năng , lợi thế của tỉnh, thu hút có hiệu quả các nguồn lực

để phát triển kinh tế nhanh, bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để

đạt được mục tiêu này, hiện nay tỉnh đang khẩn trương thực hiện 4 chương trình đột

phá của tỉnh đến năm 2015, trong đó 2 chương trình nhằm mục tiêu tạo đột phá

trong phát triển công nghiệp như sau:

1. Chương trình phát triển đồng bộ nguồn nhân lực- giải quyết việc làm – giảm

nghèo nhằm đẩy mạnh nghề theo nhu cầu xã hội, đào tạo nhân lực cho các ngành,

lĩnh vực mũi nhọn, quan tâm đầy đủ nghề cho lao động nông thôn, tạo mọi điều

kiện giải quyết ngày càng nhiều việc làm cho người lao động.

2. Chương trình huy động mọi nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông ,

điện nước, phục vụ phát triển công nghiệp (CN) nhằm tập trung huy động các

nguồn vốn từ kinh tế để đầu tư cơ sở hạ tầng, chú trọng các hình thức đầu tư BT,

BOT, PPP; trong đó chú trọng huy động vốn từ các doanh nghiệp đang có dự án đầu

tư tại tỉnh theo hướng chia sẽ một phần chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng đối với các cơ

sở hạ tầng có lợi cho doanh nghiệp đang có dự án đầu tư tại tỉnh theo hướng chia sẽ

một phần chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng đối với các cơ sở hạ tầng có lợi cho doanh

nghiệp khi hoàn thành.

2

Long An là một tỉnh CN nổi bật trong vài năm gần đây. Luôn đứng trong top

10 về chỉ số cạnh tranh và vốn đầu tư nước ngoài FDI. CN đã tồn tại từ khá lâu

được biết đến với những sản phẩm: Dệt may, thực phẩm chế biến, xây dựng... CN

chiếm khoảng 40% giá trị trong nền kinh tế tỉnh. Tập trung chủ yếu ở: Đức Hoà,

Bến Lức, Tân An, Cần Đước, Cần Giuộc. Riêng 5 huyện, thành phố này đã chiếm

hơn 70% sản lương CN của tỉnh.

Các năm qua Long An tập trung phát triển CN chủ yếu là các huyện Đức Hoà,

Bến Lức tập trung nhiều khu CN lớn bậc nhất cả nước. Mạng lưới cơ sở hạ tầng

phát triển nhanh và đồng bộ cũng là một thế mạnh của nền CN Long An. Một vài

khu CN lớn: Đức Hoà 1, Đức Hoà 2( Xuyên Á), Tân Đức (huyện Đức Hoà), các

KCN Thuận Đạo, Vĩnh Lộc 2, Thạnh Đức, Nhựt Chánh (huyện Bến Lức), các KCN

Tân Kim, Long Hậu (huyện Cần Giuộc), các KCN Cầu Tràm (huyện Cần Đước).

Trong các KCN đã đi vào hoạt động và một số KCN đang triển khai công tác giải

phóng mặt bằng (GPMB) của giai đoạn 2 là Đức Hoà 1, Xuyên á, Tân Đức, Thuận

Đạo và Long Hậu..

Đức Hòa là một trong những huyện nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng

điểm (KTTĐ) của tỉnh Long An, là mũi đột phá trong lĩnh vực công nghiệp. Hiện

nay toàn huyện có 7 khu công nghiệp (KCN) và 11 cụm công nghiệp (CCN) diện

tích đất CN được phê duyệt quy hoạch là 6371 ha thu hút hơn 500 nhà đầu tư thứ

cấp đăng ký vào các khu cụm công nghiệp tập trung và đã có hơn 200 doanh

nghiệp vừa và nhỏ đi vào hoạt động. Ngoài ra còn có trên 10 dự án đầu tư sản xuất

trực tiếp với ngành nghề may mặc và giày da nằm ngoài các khu cụm công nghiệp

với vốn đầu tư chủ yếu 100% vốn nước ngoài nằm rải rác ở các xã, và có trên 15

nhà máy và cơ sở sản xuất gạch thuộc địa bàn xã Lộc Giang, An Ninh Đông đã đi

vào hoạt động .

Bên cạnh việc phát triển CN của huyện nhằm thúc đẩy xây dựng nền kinh tế

huyện vững mạnh thì đi đôi là việc bảo vệ môi trường phải làm thế nào phát triển

CN theo hướng bền vững là một vấn đề được quan tâm hàng đầu hiện nay.

3

Làm thế nào để phát huy hết tiềm năng vốn có của huyện trong phát triển CN

mà vừa đảm bảo sự phát triển theo hướng bền vững là một vấn đề cấp bách hàng

đầu của huyện trong giai đoạn hiện nay với tính chất cấp thiết của đề tài nên em

chọn đề tài “Định hướng phát triển bền vững các khu công nghiệp huyện Đức

Hòa (tỉnh Long An) thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa”

2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục tiêu

- Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển CN vào việc đánh giá tiềm

năng, nguồn lực phát triển CN nói chung và các KCN nói riêng trên địa bàn huyện

Đức Hòa tỉnh Long An và những tác động của các KCN đến tình hình phát triển

kinh tế -xã hội, môi trường của huyện .

- Đưa ra định hướng và giải pháp nhằm phát triển các KCN của huyện theo

hướng bền vững.

2. 2. Nhiệm vụ

- Khái quát cơ sở lý luận về KCN, các nhân tố ảnh hưởng, nguyên tắc phát

triển, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và thực trạng phát triển KCN trên thế giới, khu vực

và ở nước ta, cơ sở lý luận về phát triển bền vững.

- Phân tích nguồn lực phát triển CN của huyện đồng thời cho thấy thành tựu

đạt được của các KCN và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển kinh tế-xã hội,

môi trường của địa phương.

- Căn cứ vào hiện trạng phát triển các KCN từ đó định hướng và đề xuất các

giải pháp phát triển bền vững các KCN của huyện.

3. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung tập trung

- Phân tích tiềm năng, nguồn lực phát triển CN của Đức Hòa.

- Đánh giá thực trạng phát triển của các khu CN Đức Hòa.

- Tác động tích cực và tiêu cực của các KCN đến tình hình phát triển kinh tế,

xã hội, môi trường địa phương.

- Định hướng phát triển các KCN theo hướng bền vững.

4

- Các giải pháp và kiến nghị phát triển KCN theo hướng bền vững.

Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các KCN đang hoạt động trên

địa bàn huyện Đức Hòa của tỉnh Long An. Các khu công nghiệp được đề cập bao

gồm Đức Hòa 1, Đức Hòa 2 (Xuyên Á), Đức Hòa 3, Tân Đức, Tân Đô, Hải Sơn,

Đại Lộc.

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu quá trình phát triển các KCN trên địa bàn

huyện Long An từ năm 2005 đến nay. Vì từ sau năm 2005, một số KCN đi vào hoạt

động ổn định và đạt hiệu quả cao có tác động mạnh mẽ đến tình hình phát triển kinh

tế-xã hội, môi trường của địa phương.

4. Những công trình nghiên cứu có liên quan

Sự hình thành và phát triển các KCN đã lôi cuốn nhiều tác giả quan tâm

nghiên cứu cả về lý luận lẫn đánh giá thực tiễn từ đầu những năm 90 cho đến nay.

Năm 1993 Lưu Vũ Mai đã cho xuất bản quyển kinh nghiệm của thế giới và khả

năng phát triển khu chế xuất ở Việt Nam chuyên đề thông tin. Năm 1995, Văn Thái

thực hiện một công trình đánh giá tổng kết toàn bộ các khu chế xuất Việt Nam, bên

cạnh việc xem xét và đúc kết kinh nghiệm từ một số khu chế xuất trên thếgiới. Cũng

trong năm này, Lê Văn Nin đưa ra một công trình nghiên cứu về cơ sở hình thành,

phát triển các KCN tập trung ở Việt Nam. Năm 2002 Bộ kế hoạch và đầu tư – cơ

quan đại diện phía Nam xuất bản cuốn khu chế xuất (KCX) và KCN ở các tỉnh

phía Nam. Tháng 3/2003 Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hội nghị tổng kết tình

hình hoạt động các khu công nghiệp và vạch ra phương hướng phát triển. Đề tài

nghiên cứu cấp Bộ của Thạc sĩ Lê Thị Hường (và các tác viên) trường Đại học kinh

tế TP. Hồ Chí Minh tháng 5/2004 : Các KCN – KCX Việt Nam, hiệu quả hoạt

động và xu hướng phát triển. Kỷ yếu Hội nghị - Hội thảo quốc gia “15 năm (1991-

2006) xây dựng và phát triển các KCN,KCX ở Việt Nam” của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư tháng 7/2006.

Về phía huyện Đức Hòa có bài báo cáo: “ Đẩy mạnh thu hút đầu tư vào KCN

trên địa bàn huyện Đức Hòa” của anh Lê Thanh Tuấn – Phòng Tài nguyên và môi

trường huyện Đức Hòa.

5

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và chi

tiết về định hướng phát triển bền vững các KCN trên đia bàn huyện Đức Hòa tỉnh

Long An. Các công trình trên sẽ là những tài liệu tham khảo quý giá để tôi nghiên

cứu đề tài “Định hướng phát triển bền vững các khu công nghiệp huyện Đức Hòa

tỉnh Long An”.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học

Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng các KCN tại

huyện Đức Hòa của tỉnh Long An phát triển theo hướng bền vững vì Đức Hòa là

huyện nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Long An. Long An lại là tỉnh

thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phát triển CN theo hướng bền vững đây

là xu hướng chung của nhân loại hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài này góp phần cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, Ban quản lý

KCN, những ý kiến đóng góp cho việc hoàn thiện hệ thống pháp lý cũng như những

giải pháp thiết thực để thu hút vốn đầu tư đặc biệt là đầu tư nước ngoài, hạn chế tối

đa những vấn đề mà hầu hết các KCN nước ta hiện nay đang mắc phải đó là vấn đề

môi trường.

Đồng thời, thông qua đề tài cung cấp cho các nhà đầu tư kể cả trong và ngoài

nước có cơ sở nhận định tình hình đầu tư tại địa phương từ đó có chiến lược đầu tư

thích hợp t¨ng cuêng hiÖu qu¶ cña ho¹t ®éng c«ng nghiÖp và c¶i thiÖn m«i truêng

đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của huyện,

tỉnh nói riêng và của cả nước nói chung.

6. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

6.1. Quan điểm

6.1.1. Quan điểm hệ thống

Các KCN huyện Đức Hòa được coi là hệ thống lãnh thổ được đặt trong một

hệ thống lớn hơn, đó là hệ thống các KCN của tỉnh Long An có quan hệ với các

KCN của thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Dương…và cả nước. Khi đánh

6

gía các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát triển KCN Đức Hòa phải đặt trong sự ảnh

hưởng chung của các điều kiện ảnh hưởng đến các trung tâm CN ở vùng kinh tế

trọng điểm phía Nam và cả nước.

6.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Đối tượng nghiên cứu là các KCN. Chúng được phân bố trên một không gian

nhất định và có đặc trưng lãnh thổ riêng. Áp dụng quan điểm tổng hợp - lãnh thổ

cho phép xem xét các yếu tố trong mối quan hệ tác động lẫn nhau, phát hiện ra quy

luật phát triển, các nhân tố trội tác động đến sự phát triển các KCN. Vì vậy việc

hình thành và phát triển các KCN ở Đức Hòa nếu có sự kết hợp tổng lực các yếu tố

tự nhiên, kinh tế-xã hội, đường lối chính sách phát triển của địa phương…sẽ tạo

điều kiện cho sự phát triển các KCN một cách nhanh chóng và hiệu quả.

6.1.3. Quan điểm lịch sử viễn cảnh

Những tác động của sự biến đổi kinh tế xã hội tới sự hình thành và phát triển

các KCN là quá trình lâu dài, vận động theo thời gian. Hiện trạng phát triển các

KCN và xu hướng phát triển là cơ sở đề xuất giải pháp quản lý và phát triển theo

hướng bền vững các KCN trong tương lai.

6.1.4. Quan điểm phát triển bền vững

Công nghiệp hóa là một quá trình tất yếu trong phát triển kinh tế. Nhưng trong

quá trình phát triển các KCN sẽ xuất hiện nhiều vấn đề có ảnh hưởng đến sinh thái

và vấn đề phát triển bền vững cho các thế hệ mai sau, các vấn đề thường gặp khi

phát triển ngành CN như xử lý nước thải, rác thải, khói thải…Vì vậy phải định

hướng mục tiêu cơ bản là tăng cường hiệu quả của hoạt động CN và cải thiện môi

trường: giảm thiểu sử dụng tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo, giảm thiểu các

tác động xấu môi trường, duy trì hệ sinh thái tự nhiên của khu vực,…dựa trên quan

điểm này mới có thể định hướng phát triển như thế nào nhằm phát huy sức mạnh

tổng hợp để phát triển các KCN có hiệu quả đồng thời đảm bảo môi trường sinh

thái.

7

6.2. Phương pháp nghiên cứu

6.2.1. Phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin

Thông tin được thu thập từ nguồn niên giám thống kê, từ sách, báo chí và các

phương tiện thông tin đại chúng khác sau đó được nghiên cứu, kiểm tra mức độ

chính xác, phân tích sau đó sắp xếp và phân loại, các thông tin đã được thu thập.

6.2.2. Phương pháp thống kê

Thu thập các tài liệu thống kê và khai thác thông tin một cách triệt để bởi vì

đây là các tài liệu có “giá trị pháp lý”. Các tài liệu được thu thập từ nhiều nguồn

khác nhau như Phòng Môi Trường và Tài Nguyên huyện Đức Hòa , Ban quản lý

các khu công nghiệp Đức Hòa, UBND tỉnh Long An, UBND huyện Đức Hòa,

Phòng kinh tế huyện Đức Hòa và các website có liên quan…để so sánh, tìm ra

nguyên nhân, thực trạng phát triển các KCN Đức Hòa, vấn đề bảo vệ môi trường

trong các KCN như thế nào . Từ đó đưa ra kết luận khả năng phát triển trong tương

lai và định hướng phát triển các KCN theo hướng bền vững.

6.2.3. Phương pháp sử dụng bản đồ, biểu đồ

“Mọi nghiên cứu của khoa học địa lý đều bắt đầu bằng bản đồ và kết thúc

bằng bản đồ”. Phương pháp sử dụng bản đồ, biểu đồ là phương pháp đặc thù của

khoa học địa lý. Khi tiến hành nghiên cứu các vấn đề địa lý nói chung và các vấn đề

về địa lý kinh tế xã hội nói riêng thì phương pháp sử dụng bản đồ, biểu đồ là rất

quan trọng và không thể nào thiếu được trong nghiên cứu các vấn đề địa lý.

Các bản đồ, biểu đồ trong đề tài nghiên cứu cho phép việc thể hiện kết quả

nghiên cứu một cách cụ thể và sinh động hơn. Các bản đồ trong đề tài được thành

lập chủ yếu dựa trên cơ sở phần mềm Mapinfo

6.2.4. Phương pháp thực địa

Phương pháp thực địa là phương pháp cần thiết và không thể thiếu trong quá

trình hoàn thành luận văn. Trong quá trình thực hiệc đề tài tôi đã đến tham quan

thực tế các KCN của huyện, và tìm hiểu qua một số người làm việc tại các KCN các

cơ quan ban ngành và các địa điểm có liên quan đến việc thực hiện đề tài.

Thực địa để xác định đối tượng và không gian nghiên cứu.

8

Thực địa kiểm tra kết quả nghiên cứu và thực tế.

6.2.5. Phương pháp chuyên gia, nhà quản lý

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi luôn nhận được sự hướng dẫn tận tình

của PGS.TS Phạm Xuân Hậu, của các thầy cô trong khoa Địa Lý và các ý kiến của

các chuyên gia của tỉnh, nhà quản lý và những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực

nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển các KCN, đồng thời phân tích

những ảnh hưởng của nó đến những vấn đề phát triển kinh tế-xã hội. Qua những ý

kiến của chuyên gia giúp tôi có những nhận định khách quan, chủ quan về sự phát

triển các KCN và những dự kiến các giải pháp khách quan, thiết thực và hiệu quả

hơn về phát triển các KCN của huyện theo hướng phát triển bền vững.

6.2.6. Phương pháp so sánh

Trên cơ sở phân tích so sánh để rút ra những lợi thế và những hạn chế của sự

vật và hiện tượng (đối tượng nghiên cứu) để xác định, lựa chọn tối ưu cho quá trình

nghiên cứu

Dựa trên số liệu của các KCN ta có thể nhận xét , so sánh xem KCN nào phát

triển nhất và so sánh sự phát triển qua các năm thay đổi như thế nào.

9

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

1.1. Một số khái niệm

1.1.1. Công nghiệp

- Công nghiệp (CN) là bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân. Nó tạo ra

tư liệu sản xuất, tiến hành khai thác tài nguyên và chế biến chúng thành sản phẩm

phục vụ cho sản xuất và đời sống.

- CN là một ngành độc lập của nền sản xuất xã hội đã xuất hiện cùng với việc

nghề thủ công tách khỏi nông nghiệp, khi nghề thủ công trở thành nghề nghiệp chủ

yếu của một số người nhất định. Trải qua giai đoạn hiệp tác lao động giản đơn và

công trường thủ công, nghề thủ công đã biến thành nền CN đại cơ khí, tách khỏi

nông nghiệp

- Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc: CN là một tập hợp các hoạt động sản

xuất với những đặc điểm nhất định thông qua các quá trình công nghệ để tạo ra sản

phẩm. Hoạt động CN bao gồm cả 3 loại hình: CN khai thác tài nguyên, CN chế biến

và các dịch vụ sản xuất theo sau nó.

- CN hiện đại là ngành sản xuất vật chất lớn nhất và chủ đạo. Nó được cấu

thành từ hàng trăm nghìn xí nghiệp thuộc nhiều ngành CN khác nhau. Nhằm quản

lý và kế hoạch hóa sản xuất CN cần phân chia CN một cách có căn cứ khoa học. Có

nhiều cách phân chia dựa theo những căn cứ khác nhau.

* Phân chia CN theo công dụng kinh tế của sản phẩm là cách phân chia quan

trọng nhất.

Việc phân chia này nói lên tác dụng của sản phẩm CN trong sản xuất và tiêu

dùng, nói lên sự tương quan giữa sản xuất và tiêu dùng trong quá trình tái sản xuất

mở rộng.

Sản phẩm CN bao gồm các tư liệu sản xuất và các vật phẩm tiêu dùng, phù

hợp với điều đó người ta chia CN thành hai bộ phận lớn nhất: CN sản xuất các tư

liệu sản xuất (Nhóm A) hay công nghiệp nặng và CN sản xuất các vật phẩm tiêu

dùng (Nhóm B) hay công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm

10

Khi xếp thành một ngành sản xuất nào đó vào nhóm A hay B, người ta xuất

phát từ chỗ sản phẩm của nó được tiêu thụ chủ yếu ở đâu: trong lĩnh vực sản xuất

hay sinh hoạt.

* Trên cơ sở tính đồng nhất của công dụng sản phẩm sản xuất ra hay căn cứ

vào tính chất chung của nguyên liệu được sử dụng, hoặc dựa vào tính chất giống

nhau của các quá trình công nghệ. Người ta chia toàn bộ ngành CN thành các nhóm

ngành chẳng hạn như CN luyện kim, CN gia công, kim loại, CN chế biến gỗ, CN

sản xuất vật liệu xây dựng, CN nhẹ và CN thực phẩm.

* Căn cứ vào tính chất của sự tác động vào đối tượng lao động, người ta chia

công nghiệp nói chung thành CN khai thác và CN chế biến.

Tác dụng của cách phân loại này là nhằm nghiên cứu quan hệ tỷ lệ và cân đối

giữa khai thác và chế biến.

- Trong CN khai thác: Con người tác động trực tiếp lên tự nhiên và nhận được

từ lòng đất, từ rừng và từ nước nguyên liệu cho CN chế biến, vật liệu xây dựng,

nhiên liệu và thủy năng. Người ta xếp vào ngành CN khai thác các ngành CN khai

thác mỏ, khai thác gỗ, đánh cá, các nhà máy thủy điện…

- CN chế biến: Chế biến nguyên liệu nhận được từ CN khai thác và từ CN sản

phẩm thô dùng hoặc làm vật liệu sản xuất tiếp hoặc làm ra vật phẩm tiêu dùng.

Ngành này bao gồm luyện kim, chế tạo máy, hóa chất, dệt, CN thực phẩm và các

ngành CN khác.

Ngoài 3 cách phân biệt loại trên còn có các loại phân loại ngành CN khác căn

cứ vào các tiêu thức khác như: Dựa theo trình độ trang bị kỹ thuật, CN được chia

thành CN hiện đại, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp. Dựa vào quan hệ sở hữu về

tư liệu sản xuất CN được phân thành CN quốc doanh, CN công tư hợp doanh, hợp

tác xã, doanh nghiệp tư nhân…Dựa theo cấp quản lý, sản xuất CN được chia thành

CN trung ương và CN địa phương.

Cơ cấu công nghiệp: là tổng hợp những bộ phận hợp thành quá trình sản xuất

CN và mối liên hệ sản xuất giữa các bộ phận đó biểu hiện bằng tỷ trọng của từng bộ

phận so với toàn bộ sản phẩm CN tính theo giá trị tổng sản lượng.

11

Cơ cấu ngành CN không phải là bất biến. Nó thay đổi do ảnh hưởng của các yếu tố

kinh tế, xã hội, lịch sử, tiến bộ khoa học kỹ thuật, trình độ phát triển của sự hợp tác

kinh tế và sự phân công lao động quốc tế, nguồn tài nguyên thiên nhiên…

CN có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân, đặc biệt

trong sự nghiệp CNH của các nước đang phát triền trong đó có Việt Nam. CN có

vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế.

CN thúc đẩy nông nghiệp và dịch vụ phát triển theo hướng CNH- HĐH, CN góp

phần đắc lực vào việc thay đổi phương pháp tổ chức, phương pháp quản lý sản xuất

và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.

CN tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm

thay đổi sự phân công lao động và giảm mức độ chênh lệch về trình độ phát triển

giữa các vùng.

CN có khả năng tạo ra nhiều sản phẩm mới mà không ngành sản xuất vật chất

nào sánh được, đồng thời góp phần vào việc mở rộng sản xuất, thị trường lao động

và giải quyết việc làm.

CN đóng góp vào tích lũy của nền kinh tế và nâng cao đời sống của nhân

1.1.2. Khu công nghiệp (KCN).

Có nhiều quan niệm về KCN

KCN theo quan niệm của địa lý Xô Viết là một hình thức tổ chức lãnh thổ CN,

nhưng chưa thật sự thống nhất về nội dung và những đặc trưng chủ yếu.

* Các nhà khoa học của trường Đại học Tổng hợp Matxcova đưa ra một số

quan niệm khác nhau. Có thể dẫn ra một vài định nghĩa cụ thể.

KCN là sự kết hợp theo lãnh thổ của những điểm công nghiệp ở gần nhau

được quy tụ về một hay một vài trung tâm công nghiệp và bị chi phối bởi các nhân

tố phân bố CN đồng nhất.

Một định nghĩa khác cho rằng KCN là sự tập trung theo lãnh thổ của những

điểm CN, tạo thành sự thống nhất kinh tế với nền tảng là các ngành CN lớn có ý

nghĩa toàn quốc và các ngành phục vụ có liên quan.(Iu.G.Xautx kin,1981).

12

Hoặc KCN là một đối tượng sản xuất phức tạp kết hợp hàng loạt nhân tố kinh

tế, xã hội, tự nhiên có quan hệ với nhau về loại hình và mục đích (Xêmênôv,1981)

Nhìn chung các quan niệm nêu trên thật không rõ ràng và cụ thể.

* Quan niệm của một số nhà khoa học thuộc Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô

trước đây tương đối rõ hơn:

KCN bao gồm một nhóm trung tâm CN phân bố gần nhau và kết hợp với

nhau bằng việc cùng chung chuyên môn hóa, mạng lưới vận tải thống nhất và

những mối liên hệ sản xuất chặt chẽ (1981)

Về đại thể có 3 tiêu chuẩn xác định một KCN

Thứ nhất: KCN phải gồm một số trung tâm CN. Từ đây có thể nhận thấy rằng,

quy mô lãnh thổ của nó rất lớn mà ít nhất có hai trung tâm CN trở lên. Mỗi trung

tâm lại gồm một số cụm công nghiệp gắn với một thành phố.

Thứ hai: Các trung tâm CN phải phân bố gần nhau và gắn bó với nhau trên cơ

sở cùng hướng chuyên môn hóa. Tất nhiên trong tiêu chuẩn này cũng còn nhiều

điểm không rõ ràng.

Thứ ba: Có mạng lưới vận tải thống nhất và các mối liên hệ sản xuất chặt chẽ.

Các mối liên hệ kinh tế - sản xuất giữa các trung tâm tạo thành một KCN bao gồm:

- Liên hệ trực tiếp về mặt phối hợp sản xuất, cùng tham gia vào quá trình tạo

ra một loại sản phẩm, hoặc về mặt chế biến phế liệu của nhau, hay điều phối nhân

lực cho nhau.

- Liên hệ gián tiếp về mặt sử dụng chung một nguồn nguyên liệu, nhiên liệu,

động lực, mạng lưới vận tải…

Quan niệm về KCN ở Việt Nam.

So với khái niệm của khoa học địa lý Xô Viết, KCN ở Việt Nam là một hình

thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp hoàn toàn khác. Trong nghị định 192/CP ngày

25-12-1994 của chính phủ đã nêu: KCN được quy định trong quy chế này là KCN

(hay KCN tập trung) do chính phủ thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên

sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất CN không có dân cư

sinh sống.

13

Như vậy, có thể xác định KCN là một khu vực có ranh giới rõ rệt và những thế

mạnh về tự nhiên, kinh tế, xã hội kết cấu hạ tầng để thu hút đầu tư, hoạt động với cơ

cấu hợp lý, giữa các doanh nghiệp CN và dịch vụ có liên quan thuộc nhiều thành

phần kinh tế nhằm đạt hiệu quả cao của từng doanh nghiệp nói riêng và tổng thể các

doanh nghiệp nói chung.

KCN có một số đặc điểm chính sau đây:

- Tập trung tương đối nhiều xí nghiệp CN trên một khu vực có ranh giới rõ

ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng sản xuất và xã hội.

- Các xí nghiệp nằm trong KCN được hưởng quy chế ưu đãi riêng, khác với

các xí nghiệp phân bố ngoài KCN.

- Có ban quản lý thống nhất để thực hiện quy chế quản lý.

- Có sự phân cấp về quản lý và tổ chức sản xuất. Về phía các xí nghiệp, khả

năng hợp tác sản xuất phụ thuộc vào việc tự liên kết với nhau của tùng doanh

nghiệp.Việc quản lý nhà nước được thể hiện ở chỗ Nhà nước chỉ quy định những

ngành (hay loại xí nghiệp) được khuyến khích phát triển và những ngành (hay loại

xí nghiệp) không được đặt trong KCN vì lý do môi trường sinh thái hoặc an ninh

quốc phòng.

- Các KCN rất khác nhau về tính chất và về loại hình. Thí dụ, có KCN chỉ

xoay quanh một loại nguyên liệu nhất định với chuyên môn hóa thống nhất, trong

khi đó lại có KCN tổng hợp với nhiều loại hình xí nghiệp; hay có KCN lớn, trung

bình, nhỏ, hoặc có KCN đã hình thành hay đang trong quá trình hình thành…

- Để thuận lợi cho việc phân loại các KCN có thể đưa ra một số tiêu chí cụ thể

như: vị trí địa lý, tính chất chuyên môn hóa, cơ cấu và đặc điểm sản xuất, quy mô,

sự độc lập hay phụ thuộc trình độ công nghệ.

- Về vị trí địa lý: các KCN được hình thành ở những địa bàn khác nhau.Vì thế

có thể phân ra KCN nằm ở trung du hay vùng núi, KCN ven biển, KCN dọc theo

quốc lộ, KCN nằm trong các thành phố lớn…

- Về tính chất chuyên môn hóa, cơ cấu và đặc điểm sản xuất, có thể chia ra:

KCN chuyên môn hóa (trên cơ sở xí nghiệp chuyên môn hóa sử dụng một loại

14

nguyên liệu cơ bản như than, điện, luyện kim, hóa chất), KCN tổng hợp (cơ cấu đa

dạng với nhiều ngành sản xuất) hoặc KCN sản xuất chủ yếu để xuất khẩu (khu chế

xuất).

- Về quy mô tùy thuộc vào điều kiện đất đai, vị trí thuận lợi và sự hấp dẫn đối

với các nhà đầu tư (trong và ngoài nước), có thể chia thành: KCN có quy mô lớn,

KCN có quy mô vừa KCN có quy mô nhỏ.

Ở nước ta, quy mô của KCN có thể quy ước như sau:

+ Quy mô lớn: trên 300 ha.

+ Quy mô vừa:từ 150 ha đến 300 ha.

+ Quy mô nhỏ: dưới 150 ha.

- Về tính chất độc lập hay phụ thuộc (tương đối), có KCN nằm ngoài các hình

thức tổ chức lãnh thổ CN cao hơn nó và có KCN là một bộ phận của trung tâm hay

dải CN (như khu Đông Anh và các khu mới như Bắc Thăng Long, Sóc Sơn…) hoặc

nằm trên các địa bàn trọng điểm (KCN thuộc Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng,

Quảng Ninh…)

- Về trình độ công nghệ, có thể chia ra một số loại KCN, tùy thuộc vào trình

độ khoa học và công nghệ của các xí nghiệp phân bố trong KCN. Có KCN tập trung

các xí nghiệp có trình độ công nghệ tiên tiến và được goi là KCN kỹ thuật cao.

Ngược lại có KCN chỉ có các xí nghiệp với trình độ kỹ thuật và công nghệ trung

bình, thậm chí có cả các xí nghiệp thủ công.

1.1.3. Phát triển bền vững

- Theo Đại tự điển Tiếng Việt: “phát triển” được hiểu là quá trình vận động,

tiến triển theo hướng tăng lên.

- Theo Tự điển bách khoa Việt Nam: “phát triển” là phạm trù triết học chỉ ra

tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới. Phát triển là 1 thuộc tính

phổ biến của vật chất. Mọi sự vật, hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong

trạng thái bất biến mà trải qua hàng loạt các trạng thái khác nhau từ khi xuất hiện

đến lúc tiêu vong. Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các

mặt đối lập.

15

- Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển đưa ra định nghĩa về Phát triển

bền vững như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu

hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng làm thỏa mãn nhu cầu của chính thế

hệ mai sau.”

- Theo Tổ chức ngân hàng phát triển Châu Á: “Phát triển bền vững là 1 loại

hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao

chất lượng môi trường. Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế

hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu

của thế hệ trong tương lai

* Nội dung phát triển bền vững

Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằng những

tiêu chí nhất định về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và

chất lượng môi trường.

- Bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng

trưởng kinh tế với phát triển văn hóa xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với

việc sử dụng các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, đặc biệt

chú trọng phát triển công nghệ sạch và năng lượng sạch.

- Bền vững về xã hội là xây dựng một xạ hội mà trong đó nền kinh tế tăng

trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội; giáo

dục – đào tạo, y tế, bình đẳng giới, giải quyết công ăn việc làm, khai thác tìn năng

tri thức bản địa và phúc lôi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi

đối tượng trong xã hội.

- Bền vững về tài nguyên, môi trường là các dạng tài nguyên môi trường tái

tạo được sử dụng trong khả năng chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số

lượng lẫn chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo được phải sử dụng tiết kiệm

và hợp lý nhất. Mội trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên

nhiên,…) và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường

sống, lao động và học tập của con người,…) không bị các hoạt động của con người

làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt

16

được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được đảm bảo, con người được

sống trong môi trường sạch sẽ,…Các tiêu chí nói trên là những điều kiện cần và đủ

để đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, nếu thiếu một trong những điều kiện

đó thì sự phát triển đứng trước nguy cơ mất bền vững.

1.1.4. Phát triển khu công nghiệp bền vững

* Quan điểm về phát triển bền vững các khu công nghiệp

Nội hàm của phát triển bền vững KCN không nằm ngoài ba mục tiêu của phát

triển bền vững là phát triển có hiệu quả về kinh tế; phát triển hài hòa về mặt xã hội,

nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động; và khai thác hợp lý, sử dụng tiết

kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường trong và

ngoài KCN. Về khía cạnh lý thuyết cũng như thực tiễn, có hai vấn đề cần làm rõ khi

thảo luận về việc xây dựng hệ thống đánh giá phát triển bền vững KCN Việt Nam.

Thứ nhất, trên góc độ quản lý nhà nước cũng như góc độ tiếp thị năng lực thu

hút đầu tư của các KCN, tác giả bài viết chia sẻ với luận điểm cho rằng phải đánh

giá tính bền vững trong phát triển các KCN, đặc biệt trong điều kiện ở Việt Nam, do

quá trình hình thành và phát triển các KCN chưa được lâu, mục tiêu chủ yếu tập

trung vào việc thu hút vốn đầu tư, cơ chế chính sách và các định chế quản lý các

KCN chưa nhất quán và thiếu đồng bộ, chưa có chuẩn qui định và chuẩn đánh giá

về KCN, việc điều hành công tác quản lý KCN còn nhiều bất cập, các điều kiện

hình thành các KCN là khác nhau nên chúng cũng có những thuận lợi và khó khăn

khác nhau. Do đó, cần thiết phải xây dựng hệ thống đánh giá phát triển bền vững

KCN Việt Nam để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách và quản lý hoạt động

của các KCN.

Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới việc kiểm định sự thành công của KCN lại

được thực hiện chủ yếu thông qua sự đánh giá trực tiếp các doanh nghiệp hoạt động

trong KCN theo các bộ tiêu chí phát triển bền vững khá chặt chẽ, và chúng tương

đối tương đồng với nhau. Kết quả đánh giá các doanh nghiệp trong KCN theo một

bộ tiêu chí thống nhất, theo chúng tôi, là một công cụ tham chiếu quan trọng về tính

bền vững trong quá trình phát triển của KCN. Việt Nam cần sớm xây dựng bộ tiêu

17

chí đánh giá doanh nghiệp trên cơ sở tham khảo các bộ tiêu chí đang được áp dụng

phổ biến trên thế giới như Bộ tiêu chí Phát triển bền vững Dow Jones và Bộ tiêu chí

của Tổ chức Sáng kiến toàn cầu GRI. Bên cạnh việc đánh giá từng doanh nghiệp

theo bộ tiêu chí thống nhất, hệ thống đánh giá phát triển bền vững KCN ở Việt

Nam, hiển nhiên, cũng cần thể hiện được các yếu tố phát triển bền vững của các

doanh nghiệp trong KCN. Quan điểm này của tác giả bài viết được thể hiện trong

các tiêu chí đề xuất để đánh giá sự phát triển bền vững KCN Việt Nam.

Thứ hai, sự phát triển bền vững của một KCN không chỉ phản ánh thông qua

những kết quả đạt được theo các tiêu chuẩn bền vững nội tại của KCN, mà còn phải

được thể hiện ở vai trò tạo ra các tác động lan tỏa tích cực đối với các các nhóm lợi

ích liên quan (các doanh nghiệp đối tác, địa phương, khu vực có KCN).

Tác động lan tỏa (spillover effect), còn được gọi là hiệu ứng lan tỏa, được các

nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới đề cập từ cuối những năm 70 của thế kỷ 20, khi

bàn về ảnh hưởng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và của các công ty đa

quốc gia tới các nước tiếp nhận đầu tư, mà thường là các nước kém phát triển hơn,

nhưng có nguồn lao động rẻ và một số lợi thế về thị trường tiêu thụ. Khái niệm tác

động lan tỏa được sử dụng trước hết để đề cập đến những ảnh hưởng tích cực của

FDI đối với nền kinh tế của các nước tiếp nhận đầu tư. Tác động lan tỏa của các

KCN được thể hiện trên ba khía cạnh khác nhau đối với doanh nghiệp trong nước,

cả trong và ngoài KCN: (1) Vai trò của FDI tại các KCN trong việc chuyển giao

công nghệ và phương pháp quản lý tiên tiến cho các doanh nghiệp liên kết trong

nước; (2) FDI thúc đẩy việc nâng cao trình độ của nguồn nhân lực trong nước để

tiếp nhận và áp dụng hiệu quả các công nghệ sản xuất và kinh nghiệm quản lý; (3)

Vai trò của KCN thúc đẩy mối liên kết ngược (backward linkage) giữa các doanh

nghiệp FDI với các nhà cung ứng trong nước. Mối liên kết này thường được thể

hiện ở hai dạng: nguyên liệu đầu vào tại địa phương và nguồn cung cấp linh kiện,

phụ tùng trong nước từ các doanh nghiệp của ngành CN phụ trợ. Việc hình thành và

phát triển mối liên kết ngược này phụ thuộc rất nhiều vào phạm vi và trình độ của

các ngành CN trong nước. Trên thực tế, tác động lan toả của KCN được thể hiện

18

trên các mặt: tạo sự chuyển biến tích cực trong cơ cấu ngành kinh tế theo định

hướng xuất khẩu; hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và xã hội cho khu

vực có KCN; góp phần giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề xã hội,

giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động, hạn chế ô nhiễm và

cải thiện môi trường trong quá trình phát triển KCN. Như vậy, từ các phân tích trên

đây, phát triển bền vững KCN ở Việt nam phải được xem xét trên hai mặt: (1) Mức

độ bền vững trong hoạt động của KCN thông qua hiệu quả kinh doanh cao của các

doanh nghiệp trong KCN, và (2) Tác động lan toả tích cực của KCN đến hoạt động

kinh tế, xã hội và môi trường của các doanh nghiệp, ngành, địa phương, khu vực có

KCN.

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững khu công nghiệp

Với cách tiếp cận vấn đề phát triển bền vững KCN như trên, hệ thống đánh giá

được xác định theo hai nhóm tiêu chí: Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững

KCN và các tiêu chí đánh giá tác động lan tỏa của KCN. Các tiêu chí này có thể đo

lường trực tiếp bằng các phương pháp định lượng hoặc đánh giá định tính theo các

thang điểm đo lường thích hợp

* Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững nội tại khu công nghiệp

- Vị trí địa lý của khu công nghiệp

- Chất lượng qui hoạch khu công nghiệp

- Diện tích đất và tỉ lệ lấp đầy KCN

- Tổng số vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện

- Kết quả và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN

- Trình độ công nghệ và ứng dụng công nghệ trong các doanh nghiệp của KCN

- Phạm vi, qui mô hoạt động, trình độ chuyên môn hoá và liên kết kinh tế

- Khả năng đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư

* Các tiêu chí đánh giá tác động lan tỏa của khu công nghiệp

- Tác động lan tỏa về mặt kinh tế

19

+ Tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

ngành, địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đóng

góp vào ngân sách địa phương

+ Tác động nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam

+ Tác động thúc đẩy sự phát triển của ngành CN phụ trợ Việt Nam

- Tác động lan tỏa về mặt công nghệ

- Tác động lan tỏa về mặt xã hội

- Tác động lan tỏa về mặt bảo vệ môi trường

1.1.5. Công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

* Quan niệm về công nghiệp hóa.

Từ góc độ kinh tế học chính trị, khái niệm công nghiệp hóa (CNH) được phát

biểu như sau: CNH là quá trình cải biến nền kinh tế nông nghiệp dựa trên nền tảng

kỹ thuật thủ công mang tính hiện vật, tự cấp – tự túc thành nền kinh tế công nghiệp

– thị trường. Đây cũng là trục kinh tế của quá trình xây dựng một xã hội dựa trên

nền văn minh công nghiệp. Cải biến kỹ thuật tạo dựng nền công nghiệp lớn (khía

cạnh vật chất - kỹ thuật) và phát triển kinh tế thị trường (khía cạnh cơ chế, thể chế)

là hai mặt của quá trình CNH.

Theo khái niệm này, CNH được xem là quá trình có hai nội dung, hay nói

đúng hơn có 2 mặt cơ bản.

Thứ nhất: CNH là quá trình chuyển biến căn bản trình độ kỹ thuật của nền

kinh tế, từ trình độ thủ công chuyển sang trình độ cơ khí; biến nền kinh tế nông

nghiệp thành nền kinh tế CN. Trình độ của nền công nghiệp không cố định theo một

chuẩn mực công nghệ - kỹ nghệ “cứng” mà được nâng cao, được hiện đại hóa theo

sự tiến triển của thời đại. Đây cũng là quá trình tạo lập nền tảng vật chất kỹ thuật

(lực lượng sản xuất) của phương thức sản xuất mới.

Thứ hai: CNH còn là quá trình cải biến thể chế và cấu trúc nền kinh tế. Hình

thái hiện vật của nền kinh tế được thay thế bằng hình thái xã hội hóa (hình thức giá

trị). Theo logic này, CNH cũng chính là quá trình cải biến hệ thống thể chế và cơ

20

chế kinh tế, từ nền kinh tế hiện vật - khép kín, tự túc sang nền kinh tế trao đổi lao

động – xã hội hóa dựa trên sự phân công lao động xã hội phát triển mạnh mẽ.

Với nội hàm như vậy: CNH chính là quá trình thay đổi phương thức phát triển

của nền kinh tế.

CNH có thể được hiểu như là một quá trình gia tăng tính phức hợp của nền

kinh tế, trong đó có các hoạt động sản xuất ngày càng được chuyên môn hóa theo

hướng tiến bộ công nghệ. Các chỉ số thường được sử dụng để đo mức độ CNH cho

các nước đang phát triển là các chỉ số về cơ cấu ngành kinh tế, tỷ lệ lao động trong

khu vực chế biến và chất lượng lao động, các chỉ số phản ánh cơ cấu xuất khẩu, các

chỉ số đến vai trò của FDI trong nền kinh tế. Điều đáng lưu ý là mức độ CNH cần

được so sánh theo mức độ thời gian và trên bình diện quốc tế. Về cơ bản quan niệm

của Việt Nam không khác cách hiểu chung về CNH như đã nêu ở trên.

Trong sự phân biệt chung nhất, đã từng tồn tại 2 mô hình CNH khác nhau về

chất. Đó là CNH tư bản chủ nghĩa và CNH xã hội chủ nghĩa. Sự khác biệt giữa 2

mô hình CNH này được quy về sự khác biệt về nền tảng sở hữu, biểu hiện ra thành

sự khác biệt của cơ chế vận hành nền kinh tế: cơ chế thị trường và cơ chế kế hoạch

hóa tập trung. Đây chính là sự khác biệt phương thức phân bổ các nguồn lực để tiến

hành CNH, điểm cốt lõi phân biệt 2 mô hình CNH. Trong khi đó về mặt nguyên tắc,

lại không thể lấy sự khác biệt về cấu trúc ngành – sản phẩm để phân biệt CNH tư

bản chủ nghĩa (CNH trong điều kiện kinh tế thị trường) với CNH xã hội chủ nghĩa

(CNH trong điều kiện kế hoạch hóa tập trung). Kinh nghiệm lịch sử cho thấy chính

sự khác biệt này là yếu tố quyết định thành công của quá trình CNH. Sự sụp đỗ của

các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chứng tỏ CNH trong khuôn khổ cơ chế kế

hoạch hóa tập trung thông qua cơ chế này nhìn dài hạn và bền vững không phải là

phương thức hữu hiệu để giải quyết các vấn đề phát triển trong giai đoạn chuyển từ

nền kinh tế lạc hậu sang nền kinh tế phát triển (hiện đại) do vậy, cũng không phải là

phương thức thích hợp để đạt các mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

21

Mở rộng hơn nữa cách tiếp cận này có thể chỉ ra sự khác biệt giữa mô hình

CNH hướng ngoại – dựa vào xuất khẩu và mô hình CNH hướng nội – định hướng

thay thế nhập khẩu (khép kín).

Về dài hạn, hai mô hình CNH nói trên mang lại kết quả phát triển khác nhau.

Cho đến nay, kinh nghiệm lịch sử thế giới xác nhận: mô hình CNH hướng ngoại –

dựa vào xuất khẩu mang lại kết quả tích cực rõ rệt và có triển vọng hơn hẳn so với

mô hình CNH hướng nội – thay thế nhập khẩu. Trong trường hợp này, kết luận rút

ra rằng: kết quả của quá trình CNH tùy thuộc quyết định vào cơ chế phân bổ nguồn

lực, do áp dụng cơ chế khuyến khích cạnh tranh (nguyên tắc mở cửa – hướng ngoại)

hay do áp dụng cơ chế hạn chế cạnh tranh (chế độ bảo hộ - hướng nội).

Từ các kinh nghiệm lịch sử trên, có cơ sở thực tiễn để rút ra 2 nhận xét:

- Để CNH thành công nhất thiết phải đồng thời phát triển kinh tế thị trường và

dựa vào cơ chế thị trường để phân bổ các nguồn lực, giải quyết tốt mối quan hệ giữa

thị trường và nhà nước, nhà nước và doanh nghiệp, nội lực và ngoại lực.

Nguyên nhân thất bại của CNH, ngoài việc do áp dụng mô hình CNH không

dựa vào thị trường (phủ nhận thị trường như trong trường hợp mô hình kế hoạch

hóa tập trung) còn do thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của nhà nước nhằm khắc phục

“thất bại” thị trường.

Trong lịch sử, sự thất bại của công cuộc CNH ở một số nước thường bắt

nguồn từ một trong số (hay đồng thời) các nguyên nhân sau.

+ Bỏ qua hay xem nhẹ một trong hai mặt nói trên của quá trình CNH: hoặc để

nhà nước can thiệp quá mức, xem nhẹ vai trò của thị trường hoặc ngược lại, để mặt

thị trường tự điều tiết kinh tế của Nhà nước.

+ Thiếu một mô hình, chiến lược CNH thích hợp để kết hợp, phối hợp tối ưu

hai mặt, hai nội dung đó trong những điều kiện phát triển cụ thể của từng quốc gia.

* Hiện đại hóa

Theo cách hiểu phổ biến hiện nay hiện đại hóa (HĐH) là quá trình chuyển

biến từ tính chất truyền thống cũ sang trình độ tiền tiến hiện đại. Về ý nghĩa kinh tế

HĐH được giải thích là quá trình chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống sang

22

xã hội hiện đại bắt đầu từ thế kỷ XVII đến nay và vẫn còn chưa kết thúc. Có người

chia quá trình HĐH thành hai giai đoạn: HĐH lần thứ nhất tương ứng với thời kỳ

CNH cổ điển (theo kiểu nước Anh và Châu Âu hai thế kỷ trước) và HĐH lần thứ

hai tương ứng với thời kỳ tri thức hóa (kết hợp tin học hóa, toàn cầu hóa kinh tế và

kinh tế hóa tri thức)

Nói ngắn gọn: HĐH Thay thế những máy móc cũ, lạc hậu bằng những máy

móc mới, hiện đại

CNH là một phần của quá trình HĐH. Sự chuyển biến kinh tế-xã hội này đi

đôi với tiến bộ công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của sản xuất năng lượng và luyện

kim quy mô lớn. CNH còn gắn liền với thay đổi các hình thái triết học hoặc sự thay

đổi thái độ trong nhận thức tự nhiên. Dầu vậy, những thay đổi về mặt triết học là

nguyên nhân của CNH hay ngược lại thì vẫn còn tranh cãi.

Ở nước ta hiện nay thường dùng cụm từ CNH, HĐH với cách hiểu là “Công

nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn kết với nhau trong cùng một quá trình, ngay từ đầu và

trong suốt trong các giai đoạn phát triển”. Ở đây CNH được hiểu theo nghĩa rộng,

không chỉ giới hạn ở khía cạnh kinh tế, mà còn cả về mặt xã hội văn hóa.

Hiện nay ở Việt Nam nước ta CNH, HĐH là nhiệm vụ trọng tâm, có tác động

mạnh mẽ đến toàn bộ quá trình phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam trong giai

đoạn tới. Từ năm 1986 đến nay,Đảng và Nhà nước đã đề xuất và triển khai chiến

lược đổi mới, dành nhiều nguồn lực để thực hiện CNH, HĐH một cách nhanh

chóng, bền vững và có hiệu quả. Trước sức ép của toàn cầu hóa và quá trình hội

nhập kinh tế quốc tế cũng như trước những đòi hỏi của cuộc cách mạng khoa học kỹ

thuật và công nghệ đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, nhiều thách thức mới

đang nảy sinh, đòi hỏi quá trình CNH phải được đẩy mạnh. Liệu có thể có và nếu có

thì làm thế nào để có thể thực hiện được một chiến lược CNH rút ngắn là một câu

hỏi lớn đang đặt ra với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Trong quá trình xây dựng và phát triển CN là một nội dung then chốt. Vì vậy

khi nghiên cứu về CNH, HĐH, không thể không nghiên cứu sự phát triển cũng như

phương hướng, giải pháp phát triển CN.

23

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến KCN

1.2.1. Nhóm yếu tố bên trong

* Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên.

Trong 10 yếu tố quyết định sự thành công của KCN, nhất là khu chế xuất

(KCX) mà Hiệp hội KCX thế giới tổng kết, thì có 2 yếu tố liên quan đến vị trí địa lý

(gần các tuyến giao thông, bến cảng) và tài nguyên thiên nhiên (đảm bảo đủ nguồn

nước công nghiệp).

Thực tiễn chỉ ra rằng, sự thành công của KCN, KCX thường gắn liền với mức

độ thuận lợi về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên (tài nguyên thiên nhiên). Ví dụ:

KCX Cao Hùng (Đài Loan), một trong các KCX đạt được những kết quả tốt nhất,

có vị trí địa lý lý tưởng, gần cả đường bộ, đường biển và đường hàng không. Nó

nằm trên cầu cảng (số 33 – 38) của cảng Cao Hùng, cách sân bay quốc tế Hsiokong

khoảng 20 phút đi bằng ô tô và thông ra đường cao tốc. Hàng hóa ra vào KCX rất

thuận lợi và nhanh chóng, vừa đỡ tốn thời gian, vừa giảm được chi phí vận tải.

Thuận lợi về nguồn nước cũng tương tự như vậy, nhất là đối với các ngành tiêu thụ

nhiều nước.

Ở nước ta có khoảng 100 địa điểm có thể xây dựng được KCN thì chỉ có thể

trên dưới 40 nơi thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư (trong và ngoài nước) do có vị trí

địa lý thuận lợi và gần nguồn nước. Chúng tập trung chủ yếu ở 3 nhóm khu vực sau

đây:

- Các khu vực ven biển, gần cảng, có mạng lưới giao thông thuận lợi, không

khó khăn lắm về nước ngọt.

- Các khu vực phụ cận thành phố lớn, giao thông rất thuận lợi (đường ô tô,

đường sắt, đường hàng không), đảm bảo đủ nguồn nước.

- Các khu vực tuy xa thành phố lớn, nhưng giao thông thuận lợi, nguồn nước

tốt, có khả năng hình thành các đô thị mới, đồng thời sẽ là nơi đón nhận những giải

tỏa công nghiệp từ các thành phố.

Ngoài hai yếu tố nói trên, tất nhiên các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có

trong nước cũng là các yếu tố có ảnh hưởng đến việc hình thành và phá triển các

24

KCN…Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, sản phẩm làm ra đòi hỏi phải có

khả năng cạnh tranh cao, nghĩa là đảm bảo chất lượng cao, giá thành hạ. Để có giá

thành rẻ, nguồn nguyên liệu tại chỗ có vai trò đặc biệt quan trọng. Điều này thường

trông cậy vào nguồn tài nguyên trong nước, nhưng tất nhiên phải thỏa mãn được

yêu cầu về “đầu vào” của sản phẩm (số lượng, chất lượng, mẫu mã nguyên liệu…)

* Các trung tâm kinh tế và đô thị.

Ở nước ta, các đô thị cũng thường là các trung tâm kinh tế với ý nghĩa khác

nhau (quốc gia, vùng, địa phương). Các đô thị, nhất là các thành phố lớn, chứa đựng

nhiều yếu tố thuận lợi cho việc ra đời phát triển các KCN, đồng thời có sức thu hút

mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư.

Nhìn chung, các đô thị tập trung một số nơi thuận lợi chủ yếu sau đây:

- Có nguồn lao động dồi dào, nhất là lao động có chất lượng cao (trình độ

chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng tiếp thu kỹ thuật mới).

- Sẵn có các cơ sở công nghiệp hỗ trợ (về phụ tùng, linh kiện hay bán thành

phẩm) phục vụ cho KCN.

- Tập trung kết cấu hạ tầng (giao thông vận tải, thông tin liên lạc, khả năng

cung cấp điện nước…) và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công nghiệp.

- Có các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, dạy nghề, ngân hàng, tài chính…

* Nhu cầu xã hội về những sản phầm công nghiệp.

Hiện nay những sản phẩm công nghiệp yêu cầu ngày càng cao hơn. Sản phẩm

phải đạt chất lượng ngày càng tốt hơn và năng xuất sản phẩm phải ngày càng cao.

Đặc biệt để có sản phẩm công nghiệp được tiêu thụ tại thị trường trong nước

nói chung và ngoài nước nói riêng yêu cầu đòi hỏi sản phẩm công nghiệp phải có

chất lượng sản phẩm cao, mẫu mã đẹp, giá thành hợp lý…Vì vậy các doanh nghiệp

trong huyện phải áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới, kể cả công nghệ cao

…mới đủ sức cạnh tranh với sản phẩm cùng loại sản xuất ở địa phương khác hoặc

hàng nhập khẩu được bán ở thị trường trong nước.

25

* Kết cấu hạ tầng.

Kết cấu hạ tầng là một trong những yếu tố hàng đầu đối với việc thu hút vốn

đầu tư để hình thành KCN. Thực tiễn xây dựng KCN ở nước ta cho thấy, kết cấu hạ

tầng càng tốt thì khả năng hình thành KCN càng cao. Một số nơi có nhiều điều kiện

thuận lợi, thí dụ có thể hình thành cảng nước sâu (như dọc duyên hải miền Trung),

nhưng các nhà đầu tư chưa mặn mà do sự hạn chế về kết cấu hạ tầng.

Ngoài kết cấu hạ tầng sản xuất còn phải kể đến kết cấu hạ tầng xã hội. Sự kết hợp

hài hòa giữa chúng với nhau có vai trò rất quan trọng đối với việc xây dựng và phát

triển các KCN.

* Vốn đầu tư trong nước.

Một trong những mục tiêu của việc xây dựng các KCN tập trung, đặc biệt

KCX là thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, cũng

giống như hầu hết các nước đang phát triển, đã nảy sinh mâu thuẩn đáng kể: Muốn

lôi kéo được vốn nước ngoài vào các KCN, trước hết phải bỏ vốn trong nước để xây

dựng kết cấu hạ tầng. Nguồn vốn này bao gồm việc đầu tư kết cấu hạ tầng trong

hàng rào (đường nội khu, cung cấp điện, cấp thoát nước…) và ngoài hàng rào của

KCN (đường nối KCN với quốc lộ, lưới điện quốc gia, nguồn nước…) việc đầu tư

này khá tốn kém mà nước ta lại vẫn còn nghèo.

* Chính sách phát triển kinh tế của tỉnh, huyện.

Chính sách công nghiệp bao gồm mọi hoạt động nhằm thúc đẩy ngành công

nghiệp phát triển, với hai thành tố cơ bản: sự can thiệp chức năng và can thiệp có

trọng điểm. Sự can thiệp chức năng nhằm khắc phục những nhược điểm của cơ chế

thị trường nhưng không tạo ra những ưu thế cho chủ thể kinh tế khác. Sự can thiệp

có trọng điểm được thiết kế để tạo điều kiện thuận lợi cho những hoạt động cụ thể

nhằm khắc phục những khiếm khuyết trong phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.

Trong thực tiễn, chính sách công nghiệp sẽ tác động và ảnh hưởng trực tiếp

đến cơ cấu và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Chính sách phát triển kinh tế của tỉnh, huyện có thể thúc đẩy hay kiềm hãm sự

phát triển công nghiệp của địa phương đó.

26

1.2.2. Nhóm yếu tố bên ngoài

* Vốn đầu tư nước ngoài.

Trong khi các nước đang phát triển thiếu vốn thì các công ty xuyên quốc gia

lại có nguồn vốn lớn, đang tìm môi trường đầu tư để đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Phần lớn KCN hay KCX ra đời nhờ các khoản vay ngân hàng để xây dựng kết cấu

hạ tầng.

Theo dự báo các nước công nghiệp phát triển (OECD) có khả năng đầu tư vào

các nước đang phát triển bình quân 0,4% GDP của họ (ở các nước Bắc Âu khoảng

1%). Tổng viện trợ ODA song phương hàng năm của các nước công nghiệp mới

(NICS) cho các nước đang phát triển trong những năm tới có thể lên tới 70- 75 triệu

USD (nước ta có thể tranh thủ được khoảng 600-800 triệu USD).

Gần đây nổi lên xu hướng phát triển mạnh nguồn vốn đầu tư trực tiếp của

nước ngoài FDI vào các nước đang phát triển để xây dựng các KCN. Tuy nhiên

điều kiện đầu tư phức tạp hơn. Nếu như trước đây, các KCN chỉ cần xây dựng kết

cấu hạ tầng sản xuất (giao thông và phương tiện vận chuyển, cấp điện, nước…) là

đủ cơ sở để thu hút nguồn vốn FDI, thì ngày nay lại yêu cầu cả trình độ phát triển ở

mức độ nhất định về con người và công nghệ.

Việt Nam dẫu sao vẫn là một thị trường hấp dẫn các nhà đầu tư. Vì thế, khả

năng thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài hàng năm có thể lên tới vài tỷ USD.

* Thị trường quốc tế.

Thị trường thế giới là một trong những yếu tố hàng đầu tác động đến việc ra

đời của các KCN, nhất là các KCX. Điều đó được biểu hiện ở một vài phương diện

sau đây:

- Trước hết là về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Các nhà đầu tư vào KCX với

mục tiêu cơ bản là sản xuất hàng xuất khẩu.Do đó thị trường tiêu thụ trong

chừng mực nhất định, chi phối quy mô, cường độ và hướng sản xuất của các

KCX.

- Sau đó là về thị trường nguyên liệu. Phần nhiều KCN, đặc biệt là KCX trên

thế giới có quan hệ chủ yếu với thị trường quốc tế về mặt nguyên liệu.

27

- Cuối cùng là sự cạnh tranh trên thị trường quốc tế giữa các KCN, KCX. Về

mặt nào đó, KCN,KCX được coi như một sản phẩm quốc tế và đang có sự

cạnh tranh gay gắt về địa điểm đầu tư. Thị trường KCN, KCX được hình thành

do sự tác động qua lại của hệ thống cung- cầu. Hiện nay có quá nhiều nước

mời chào đầu tư vào KCN,KCX. Vì vậy sự thành công của nó trong việc thu

hút các nhà đầu tư phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh trên thị trường KCN,

KCX thế giới.

* Quan hệ chính trị và chính sách toàn cầu

Quan hệ chính trị và chính sách toàn cầu của các nước phát triển có ảnh hưởng

mạnh mẽ đến khả năng hình thành các KCN tại các nước đang phát triển. Sự

tác động của yếu tố này thể hiện trên các mặt chủ yếu sau đây:

- Điểu kiện ưu đãi về vốn nhất là vốn ODA và các khoản vay ngân hàng để xây

dựng kết cấu hạ tầng (sản xuất, xã hội) tại các KCN.

- Điều kiện về đầu vào (nhập nguyên liệu, trang thiết bị, máy móc) và đầu ra (thị

trường tiêu thụ sản phẩm).

- Khả năng chuyển giao công nghệ

1.3. Vai trò của KCN

* Vai trò của KCN

Góp phần tăng trưởng kinh tế.

Các KCN góp phần thúc đẩy và tăng trưởng kinh tế địa phương, tạo điều kiện

cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành các ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển

kinh tế các vùng nông thôn, đáp ứng nhu cầu an cư lạc nghiệp cho các doanh nghiệp

đầu tư ở Đức Hòa. Ngoài ra các KCN còn góp phần giải quyết các vấn đề về môi

trường, thúc đẩy năng lực, khoa học công nghệ

Góp phần phát triển ngoại thương .

Hàng hoá được sản xuất tại các KCN không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu

dùng trong nước mà sẽ thâm nhập sang các thị trường nước ngoài như EU, Nhật

Bản, Mỹ... do đó các KCN sẽ góp phần phát triển mặt hàng, mở rộng thị trường,

phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu.

28

Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực nông thôn.

Do hầu hết các KCN đều nằm ở nông thôn nên nó không chỉ góp phần thúc

đẩy kinh tế ở khu vực này mà còn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần giải quyết

việc làm, tạo thu nhập ổn định, tăng năng suất chất lượng và hiệu quả cho lao động

nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người lao động mà còn phá vỡ tính

khép kín của làng, xã, nâng cao trình độ dân trí cho người lao động địa phương và

làm giảm bớt khoảng cách của sự cách biệt với các khu vực khác.

Phát huy nội lực của các thành phần kinh tế.

Việc hình thành các KCN đã tạo mặt bằng sản xuất, kích thích sự tham gia

của các doanh nghiệp (kể cả trong nước và nước ngoài) vào hoạt động trong các

KCN. Bên cạnh các KCN tập trung, các KCN vừa và nhỏ đã thu hút được rất nhiều

các doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần phát huy nội lực của các thành phần kinh tế

ngoài quốc doanh.

1.4. Cơ sở thực tiễn

1.4.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia công nghiệp ở Châu Á

Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế - kinh nghiệm Nhật Bản

– Hội nhập quốc tế và chính sách phát triển: viêc gia nhập các định chế phát

triển quốc tế luôn đặt ra hai thái cực đối với nền kinh tế Nhật Bản. Lo âu, trì hoãn

và tích cực để phát triển thị trường thế giới. Trước các nghĩa vụ khi tham gia vào

các định chế quốc tế và khả năng yếu kém cạnh tranh của nền kinh tế Nhật Bản

trong thời kỳ đầu của CNH, chính phủ Nhật Bản đã lên kế hoạch một cách tỉ mĩ để

giảm bớt thách thức, đồng thời nỗ lực nắm bắt thời cơ trong quá trình mở cửa và hội

nhập. Chính sách phát triển công nghiệp của Nhật Bản là tập trung phát triển các

ngành CN có tiềm năng cạnh tranh tương lai trên thị trường thế giới để điều chỉnh

cơ cấu ngành CN. Các ngành có lợi thế cạnh tranh tương lai là những ngành có khả

năng tăng nhanh năng suất lao động qua việc dễ tiếp thu công nghệ và nhu cầu tăng

khi thu nhập tăng. Với cơ cấu công nghiệp mới, các chính sách hỗ trợ của Chính

phủ qua thuế và tín dụng cũng được soạn thảo nhằm trợ giúp phát triển và hoàn

thiện cơ cấu ngành CN theo mục tiêu mong muốn. Ngoài ra, sự thỏa hiệp của Chính

29

phủ và cộng đồng kinh doanh qua các hình thức thảo luận và định hướng phát triển

luôn được duy trì. Để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa công nghiệp Nhật

Bản, Chính phủ có những chính sách và biện pháp sát nhập các công ty để có qui

mô lớn hơn với khả năng cạnh tranh mạnh hơn.

– Đẩy mạnh xuất khẩu của Nhật Bản thành công do hai đặc trưng. Một là khả

năng tổ chức và nỗ lực của các công ty, hai là chính sách hỗ trợ của Chính phủ.

Hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản do các công ty thương mại hàng đầu đảm nhận.

Các công ty thương mại kinh doanh tổng hợp, đa dạng hóa hình thức kinh doanh và

cơ cấu tổ chức hợp lý. Sự đa dạng và tổng hợp của các công ty thương mại nhằm

tránh rủi ro trong môi trường kinh doanh quốc tế và cơ cấu hợp lý tạo ra sự năng

động trong môi trường kinh doanh toàn cầu. Chính sách hỗ trợ xuất khẩu của Chính

phủ dưới hai hình thức chủ yếu là miễn giảm thuế cho các công ty xuất khẩu và

thành lập các cơ quan xúc tiến xuất khẩu nhằm cung cấp thông tin và những hướng

dẫn kịp thời cho doanh nghiệp.

– Tuyển chọn nguồn nhân lực quản lý: Theo quan niệm Nhật Bản, quan chức

nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng đối với thành công của chiến lược phát

triển quốc gia. Hàng năm, Nhật Bản đều tổ chức các kỳ thi công chức hết sức

nghiêm túc để lựa chọn nhà quản lý và cán bộ chuyên môn. Tiêu chuẩn lựa chọn

cán bộ dựa trên nền tảng duy nhất là năng lực chuyên môn thông qua kết quả học

tập trong các trường đại học uy tín nhất đất nước. Tính chất nghiêm túc của kỳ thi

và tiêu chuẩn trúng tuyển đã tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cho phép Nhật

Bản có được các chính sách và thực hiện chính sách phát triển kinh tế một các hiệu

quả. Chương trình đào tạo công chức nhà nước của Nhật Bản cũng rất thực tế, tùy

thuộc từng đối tượng, các giai đoạn đào tạo đều gắn liền với mục tiêu duy nhất -

chuyên nghiệp về kỹ năng quản lý và vững vàng về lý luận kinh tế phát triển.

Công nghiệp hóa và thu hút đầu tư nước ngoài - kinh nghiệm của Thái lan

– Có thể nhận thấy sự kết hợp khéo léo giữa mục tiêu CNH và thu hút đầu tư

nước ngoài tại Thái Lan. Chính sách thu hút FDI của Thái Lan rất năng động, liên

tục được điều chỉnh để thích nghi với từng thời kỳ phát triển đất nước. Điểm nổi bật

30

của chính sách này là thông thoáng và bộ máy thực hiện rất có hiệu quả.

– Thái Lan luôn xác định nước thu hút đầu tư trọng điểm, từ đó, xây dựng các

bộ phận chuyên trách riêng biệt cho từng nguồn xuất xứ của nhà đầu tư. Chính sự

chuyên môn hóa và tổ chức này đã đáp ứng nhu cầu cụ thể của các nhà đầu tư nước

ngoài có quốc tịch khác nhau.

Công nghệ và chuyển giao kỹ thuật- kinh nghiệm Hàn Quốc

– Chính sách du nhập công nghệ nước ngoài có hai nội dung cơ bản, một là cố

gắng đưa kỹ thuật và công nghệ vào Hàn Quốc bằng các hợp đồng nhập khẩu công

nghệ, bằng sáng chế kỹ thuật, tránh đầu tư trực tiếp. Hai là, hạn chế tỷ lệ góp vốn

của đối tác nước ngoài dưới 49% nếu phải du nhập công nghệ trực tiếp. Do vậy,

Chính phủ đã ban hành qui chế giám sát cần thiết để lựa chọn công nghệ tiên tiến

với giá cả của thị trường thế giới.

– Để hoàn chỉnh chính sách du nhập công nghệ nước ngoài, Chính phủ Hàn

Quốc đặc biệt chú trọng đào tạo nguồn nhân lực để tiếp thu, học hỏi và phát triển

công nghệ. Ngoài ra, đầu tư của Chính phủ vào nghiên cứu và phát triển với mục

tiêu là phát triển và hoàn thiện các công nghệ được du nhập từ nước ngoài và thành

lập các cơ quan quản lý, các viện nghiên cứu để phổ biến, khai thác và hướng dẫn

chuyển giao công nghệ.

* Việt Nam tiến hành CNH trong khi một số nước tiên tiến lại đang trong quá

trình phi nông nghiệp hóa, tức là họ đã và đang chuyển sang những ngành CN công

nghệ cao, công nghệ sạch thay vì phát triển những ngành CN hao phí quá lớn về

nhân lực và nguyên vật liệu, gây ô nhiễm môi trường hiện nay. Dù vậy đối với một

nền kinh tế mà nông nghiệp còn chiếm ưu thế như Việt Nam thì CNH, với tư cách

là giai đoạn lịch sử quan trọng của sự phát triển lực lượng sản xuất, vẫn là quá trình

tất yếu, không thể bỏ qua. Một khi đã không thể bỏ qua tiến trình CNH, thì vấn đề

con lại là phải lựa chọn mô hình CNH thế nào để tận dụng được “lợi thế của người

đi sau” , bỏ qua một số bước đi, rút ngắn thời kỳ CNH, HĐH và giảm bớt đau khổ

so với các nước đi trước. Với việc rút kinh nghiệm từ những mô hình CNH của

những nước đi trước, việc xác định mô hình CNH hiện nay cần phải quán triệt các

31

quan điểm cơ bản sau:

- Mô hình CNH phải bám sát xu thế vận động của kinh tế thế giới nhằm khai

thác tối đa những cơ hội do toàn cầu hóa và kinh tế tri thức tạo ra.

- Mô hình CNH phải tạo điều kiện để vừa khai thác được lợi thế của mình,

vừa tận dụng được những cơ hội do thời đại tạo ra

- Mô hình CNH phải cho phép tránh được những thất bại mà các mô hình có

trước đã gặp phải và chắt lọc được những gì là thành công từ các mô hình đó

- Mô hình CNH ở nước ta hiện nay phải vừa cho phép phát triển nhanh hướng

tới “dân giàu, nước mạnh” vừa đảm bảo sự ổn định chính trị, an ninh và an toàn cho

cuộc sống giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Mô hình CNH phải hương tới sự phát triển bền vững

- Mô hình CNH phải được rút ngắn bước đi và thời gian so với các nước đi

trước.

1.4.2. Sự phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam

CNH là xu hướng tất yếu của các nước trong quá trình phát triển. Ở nước ta,

chủ trương CNH đã được đề ra từ năm 1960 trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ ba

và liên tục được thực hiện cho đến nay.

Để góp phần thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, từng

bước tổ chức lãnh thổ công nghiệp theo quy hoạch, tránh xu hướng tự phát, “ Quy

hoạch tổng thể phát triển các KCN đến năm 2010” đã được Thủ tướng chính phủ

phê duyệt theo quyết định số 519/TTg ngày 6/8/1996.

Chúng ta biết rằng, trở thành một nước công nghiệp đòi hỏi phải có một nền

công nghiệp phát triển ở trình độ cao cả về năng lực sản xuất, trình độ kỹ thuật công

nghệ, hình thức tổ chức sản xuất... Kinh nghiệm phát triển của nhiều nước và từ

thực tiễn phát triển của Việt Nam cho thấy, tổ chức sản xuất công nghiệp tập trung

tại các KCN đã thật sự mang lại nhiều hiệu quả to lớn không chỉ riêng cho sự phát

triển của ngành công nghiệp, mà còn đổi mới cả nền kinh tế - xã hội ở một quốc gia,

nhất là đối với các nước đang phát triển. Thành công của sự nghiệp công nghiệp

hóa, hiện đại hóa gắn liền với sự hình thành và phát triển của các KCN.

32

Năm 1991, khu chế xuất Tân Thuận được thành lập “khai sinh” ra mô hình

các KCN trong chiến lược xây dựng phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Từ đó

đến nay với nhiều cơ chế, chính sách liên quan đến việc thành lập, hoạt động của

các KCN được ban hành, điều chỉnh đã tạo ra hành lang pháp lý cho sự ra đời và

phát triển các KCN trên địa bàn cả nước. Tính đến nay (năm 2010), Việt Nam đã có

250 KCN được thành lập, trong đó có 170 KCN (chiếm 68% tổng số KCN của cả

nước) đã đi vào hoạt động, số còn lại đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện.

Các KCN chủ yếu được thành lập ở ba vùng kinh tế trọng điểm (vùng kinh tế trọng

điểm phía bắc; vùng kinh tế trọng điểm phía nam; vùng kinh tế trọng điểm miền

trung), song cho đến nay cả nước có 57 tỉnh, thành phố có KCN được thành lập.

Hiện nay, các KCN đã thu hút được 8.500 dự án đầu tư trong và ngoài nước với

tổng vốn đăng ký khoảng 70 tỉ USD, trong đó vốn đầu tư nước ngoài hơn 52 tỉ

(chiếm 30% FDI cả nước), còn lại là vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước.

Nếu tính về giá trị sản xuất công nghiệp, các KCN hiện nay đã đóng góp hơn 30%

giá trị công nghiệp của cả nước đã tạo việc làm cho hơn 1,5 triệu lao động trực tiếp

và hàng vạn lao động gián tiếp. Ngoài ra, các KCN phát triển đã kéo theo sự đầu tư

về cơ sở hạ tầng (điện, đường, nước...). Những kết quả này cho thấy vai trò quan

trọng của KCN góp phần cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ðó là thúc

đẩy sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu; thu hút vốn đầu tư; nộp ngân sách Nhà

nước; tạo công ăn việc làm cho người lao động; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh

tế; nâng trình độ công nghệ sản xuất; tạo sản phẩm có sức cạnh tranh, v.v. Như vậy,

các KCN thật sự là một động lực mạnh mẽ của sự nghiệp CNH - HĐH

Nhìn chung các KCN đã, đang và sẽ thu hút vốn đầu tư ở trong và ngoài nước,

sản xuất ra nhiều sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tạo thêm

việc làm và nâng cao chất lượng lao động, mở rộng việc chuyển giao công nghệ tiên

tiến, góp phần hình thành các đô thị mới và giảm bớt sự chênh lệch vùng.

Việt Nam tuy có nhiều hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp: Điểm công

nghiệp, Cụm công nghiệp, Khu công nghiệp tập trung (gọi tắt là Khu công nghiệp),

Khu công nghệ cao, Trung tâm công nghiệp, Dải công nghiệp, Địa bàn (vùng) công

33

nghiệp trọng điểm, Vùng công nghiệp. Nhưng tại sao vẫn tập trung vào xây dựng

phát triển KCN là chính vì:

- KCN là một mô hình phát triển kinh tế quan trọng đối với một nước đang

phát triển như Việt Nam.

- Giải quyết các vấn đề xã hội có liên quan, đặc biệt là vấn đề việc làm cho

người lao động (nguồn lao động của nước ta dồi dào đủ khả năng đáp ứng cho KCN

cả về số lượng và chất lượng).

- Sử dụng hợp lí và có hiệu quả nhất các nguồn lực của của nước ta (điều kiện

 Về hiện trạng các KCN hiện có theo nghiên cứu của Viện chiến lược phát

tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, xã hội...)

triển – Bộ Kế hoạch và đầu tư (1995) có thể phân chúng thành 5 nhóm sau đây:

- KCN dựa trên cơ sở một xí nghiệp liên hợp.

- KCN được hình thành dựa vào các xí nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ về kỹ

thuật và công nghệ theo một chu trình sản xuất năng lượng.

- KCN bao gồm các xí nghiệp chỉ sử dụng chung (một phần hoặc toàn bộ) kết

cấu hạ tầng sản xuất và xã hội, mà không có mối liên hệ chặt chẽ về công nghệ.

- KCN dựa trên nền tảng chuyên môn hóa khai khoáng và các xí nghiệp dịch

vụ có liên quan (cơ khí, sàng tuyển, tinh luyện, chế biến thực phẩm...)với việc sử

dụng chung kết cấu hạ tầng và có sự quản lý thống nhất.

- KCN tập trung công nghiệp hình thành do sự tập hợp ngẫu nhiên của các xí

nghiệp trên cùng một lãnh thổ.

Bảng 1.1: Tổng hợp số lượng KCN dự kiến phát triển

đến năm 2015 trên phạm vi cả nước

Vùng

Cả nước Miền núi Băc Bộ Đồng bằng Sông Hồng Duyên Hải miền Trung Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long 2007 152 6 39 17 3 66 21 2015 205 25 45 30 15 60 30 TT 1 2 3 4 5 6

Nguồn: Giáo trình giảng dạy-Tổ chức lãnh thổ công nghiệp, Phạm Xuân Hậu(2010)

34

* Đánh giá các kết quả cụ thể đạt được về các KCN ở nước ta.

KCN được hình thành trong lịch sử đã đem lại một số kết quả cụ thể sau:

+ Nhìn chung, KCN được hình thành ở các đô thị, trên các đầu mối giao

thông, gần cơ sở nguyên liệu, năng lượng...Chúng phân bố tương đối rộng rãi trên

các vùng lãnh thổ dọc chiều dài đất nước và có ý nghĩa to lớn trong quá trình phát

triển kinh tế - xã hội.

+ Một số KCN trở thành hạt nhân để hình thành các đô thị (hay các trung tâm

CN) như khu Việt Trì, Thái Nguyên...và có khả năng tác động đến sự phát triển

kinh tế của các khu vực xung quanh.

+ Nhiều KCN đã tạo lập được các mối liên hệ sản xuất, tận dụng một phần phế

liệu, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội và hoàn thành sứ mạng lịch sử trong công

cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

1.4.3. Sự phát triển khu công nghiệp ở Đông Nam Bộ

- Với tiềm năng sẵn có về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguồn dầu mỏ và

khí đốt, các loại khoáng sản về vật liệu xây dựng, nguồn lao động dồi dào, có tay

nghề đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KCN.

- Công nghiệp của Đông Nam Bộ (ĐNB) có vai trò quan trọng trong phát

triển CN cả nước và nền kinh tế của vùng, góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh

tế theo hướng CNH – HĐH tạo ra các sản phẩm mũi nhọn, gắn với thị trường và

tăng sức cạnh tranh.

- Giá trị sản xuất CN của ĐNB tăng liên tục từ 98.541 tỉ đồng (giá so sánh

1994) năm 2000 lên 230.084 tỉ đồng năm 2006.

- ĐNB tập trung tới 1/2 số lượng các KCN hiện có trên lãnh thổ Việt Nam.

Các KCN phân bố tương đố đều giữa các tỉnh, song tập trung nhất là ở TP. Hồ Chí

Minh, Đồng Nai, Bình Dương. Tính đến tháng 8/2007, theo số liệu của vụ quản lý

KCN và KCX – Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trên địa bàn vùng ĐNB đã hình thành 61

KCN, và 3 KCX với tổng diện tích tự nhiên là trên 16,4 nghìn ha và diện tích đã

cho thuê là 6.423 ha, chiếm 50,7% diện tích tự nhiên các KCN của cả nước và

56,3% diện tích đã cho thuê. Tính bình quân trên 1KCN của vùng về diện tích là

35

256 ha, diện tích đã cho thuê là 100 ha, thu hút 3,7 triệu USD và 69,6 tỉ đồng đầu tư

cơ sở hạ tầng, thu hút 7.606 lao động trên 1 KCN và 31,3 lao động/ha đất KCN

- Về cơ cấu công nghiệp theo 3 nhóm ngành lớn: ưu thế thuộc về nhóm ngành

công nghiệp chế biến với gần 80% giá trị sản xuất công nghiệp với các ngành chủ

chốt là điện tử - tin học, thực phẩm – đồ uống, cơ khí, dệt – may, da – giày, công

nghiệp khai thác chiếm 13,3% mà chủ yếu là khai thác dầu thô và khí thiên nhiên,

còn nhóm ngành sản xuất, phân phối điện, ga, nước chiếm 6,7% .

1.4.4. Sự phát triển khu công nghiệp ở Long An

Năm 1997 trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính bùng phát tại khu vực

Châu Á. Hai KCN đầu tiên của tỉnh Long An là KCN Đức Hòa I và KCN Đức Hòa

2 (Xuyên Á) được thành lập với tổng diện tích 121,68 ha. Sau đó 1 năm Ban quản

lý KCN tỉnh Long An được thành lập tại quyết định số 43/ QĐ- TTg ngày

23/02/1998 của Thủ tướng Chính phủ và đi vào hoạt động.

Đến năm 2000, trong quy hoạch phát triển KCN cả nước Long An vẫn có 2

KCN như trước nhưng quy mô đã tăng với diện tích 700 ha. Tuy nhiên với áp lực

phát triển đô thị và công nghiệp tại Tp Hồ Chí Minh và nguy cơ thiếu hụt lao động

tại các KCN của Đồng Nai và tỉnh Bình Dương, làn sóng đầu tư kinh doanh hạ tầng

KCN đã tràn về tỉnh Long An. Làn sóng này đã kéo 30 doanh nghiệp đăng ký 34 dự

án đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN tại Long An. Trước nhu cầu này quy hoạch phát

triển KCN được điều chỉnh và đến năm 2005 tỉnh được quy hoạch 6 KCN với tổng

diện tích 1.774,66 ha.

Đến nay sau 14 năm hình thành và phát triển toàn tỉnh Long an có 23 KCN

nằm trong quy hoạch phát triển các KCN cả nước đến năm 2015 và định hướng đến

năm 2020 với tổng diện tích 9.758,06 ha với 47 dự án đầu tư hạ tầng KCN (kể cả dự

án KCN mở rộng) và 39 chủ đầu tư hạ tầng (KCN Đức Hòa III có 14 dự án đầu tư

hạ tầng KCN) trong đó có 5 KCN do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm

chủ đầu tư hạ tầng

Trong 23 KCN của tỉnh có 13 KCN đã được thành lập với tổng diện tích

4.503,98 ha gồm: KCN Đức Hòa I, Xuyên Á, Tân Đức, Thuận Đạo, Vĩnh lộc II,

36

Nhựt Chánh, Tân Kim, Long Hậu, Đông Nam Á, Cầu Tràm, An Nhựt Tân, Phú An

Thạnh và một số KCN của KCN Đức Hòa III (Đức Hòa III – Minh Ngân, Resco,

Song Tân,Thái Hòa, Hồng Đạt, Anh Hồng, Slico, Việt Hóa, Liên Thành, Cali, Long

Đức, Mười Đây), trong tổng số 16 KCN đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư với

tổng diện tích 5.335, 43 ha với tổng vốn đầu tư 113,36 triệu USD và !%.365,99 tỷ

đồng.

Hiện tại đã có 12 KCN đang hoạt động: Đức Hòa I, Xuyên Á, Tân Đức, Thuận

Đạo, Nhựt Chánh, Tân Kim, Long Hậu, Cầu Tràm, Phú An Thạnh, Vĩnh Lộc II, An

Nhựt Tân và một số KCN của KCN Đức Hòa III (Thái Hòa, Việt Hóa, Anh Hồng,

Minh Ngân).

Còn lại các KCN: Thế Kỷ, Nam Tân Lập, Tân Bửu Long Hiệp, An Nhựt Tân

II, Đại Lộc, Hựu Thạnh, Phú Long, Long Hậu III và một phần diện tích của Đức

Hòa III nằm trong quy hoạch phát triển của KCN cả nước đến 2015 với tổng diện

tích 4.990,55 ha (diện tích gồm cả phần quy hoạch mở rộng của 2 KCN đã thành lập

là KCN Thuận Đạo, Tân Kim)

37

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN

CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở ĐỨC HÒA (LONG AN)

2.1. Khái quát về huyện Đức Hòa

Đức Hòa nguyên là tên gọi của một thôn trong 74 thôn của tổng Long Hưng,

huyện Tân Long, phủ Tân Bình, trấn Phiên An (Gia Định thành công chí, tập trung,

trang 34). Khi tỉnh Chợ Lớn được thành lập (1909), Đức Hòa là tên của 1 trong 5

làng của tổng Cầu An Hạ. Năm 1913, tên Đức Hòa mới được chính thức đặt cho

một đơn vị hành chính cấp quận gồm hai tổng Cầu An Hạ và Cầu An Thượng. Năm

1964, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam bộ ra quyết định hợp nhất hai huyện

Đức Hòa và Đông Thành (huyện Đức Huệ ngày nay) lấy tên là Đức Hòa Thành,

thuộc tỉnh Gia Định Ninh (Chợ Lớn – Tây Ninh – Gia Định hợp lại). Năm 1956, khi

tỉnh Chợ Lớn nhập với Tân An. Từ đó đến nay, tuy có một vài thay đổi về địa giới

hành chính, nhưng tên Đức Hòa vẫn không thay đổi.

- Huyện Đức Hòa có diện tích tự nhiên: 42.775,65 ha (chiếm 9,25% diện tích

tự nhiên tỉnh Long an), ở về phía Tây Bắc và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm

của tỉnh Long An (kể từ ngày 22/6/2003). Dân số bình quân năm 2009: 216.355

người năm 2011: 217.797 người (chiếm 15% dân số toàn tỉnh và là huyện có số dân lớn nhất tỉnh Long An). Mật độ dân số: 509 người/km2(năm 2011)

- Đức Hòa có ranh giới hành chính:

 Phía Bắc giáp huyện Trảng Bàng (tỉnh Tây Ninh) và huyện Củ Chi (TP. Hồ

Chí Minh).

 Phía Nam giáp huyện Bến lức.

 Phía Đông giáp huyện Hóc Môn và huyện Bình Chánh (TP. Hồ Chí Minh).

 Phía Tây giáp huyện Đức Huệ.

Huyện Đức Hòa có 17 xã và 3 thị trấn. Đức Hòa cũng là huyện duy nhất của

tỉnh có 3 thị trấn: Đức Hòa, Hiệp Hòa, Bàu Trai.

Do những đặc điểm về đất đai và giao thông thuận lợi kinh tế Đức Hòa khá

phong phú và đa dạng. Ngoài lúa, Đức Hòa còn có nhiều loại cây công nghiệp như:

38

đậu phộng, mía, thơm, dưa hấu...Ngoài ra Đức Hòa có nhiều điều kiện thuận lợi cho

đầu tư phát triển công nghiệp – thương mại, dịch vụ. Những tín hiệu đầu tiên đánh

dấu sự phát triển của lĩnh vực công nghiệp, góp phần vào sự thay đổi cơ cấu kinh tế

của huyện là khi chính phủ phê duyệt cho phép hình thành 2 KCN: Đức Hòa 1,

Đức Hòa 2 (nay đổi tên thành KCN Xuyên Á), với tổng diện tích 600 ha.

Những năm sau đó, lĩnh vực công nghiệp của huyện không ngừng phát triển,

thu hút đầu tư được đẩy mạnh. Tính đến nay, huyện Đức Hòa có diện tích đất công

nghiệp được duyệt trên là 6212 ha, gồm có 07 khu công nghiệp 5070 ha và 11 cụm

công nghiệp có diện tích 1142 ha. Ngoài ra, có 02 cụm công nghiệp Lý Khương xã

Đức Hòa Hạ và Trung Thành Phát xã Đức Hòa Đông với diện tích 242ha, có quy

hoạch nhưng chưa có chỉ tiêu sử dụng đất công nghiệp và một số dự án đầu tư khu

dân cư, tái định cư – thương mại dịch vụ có diện tích 1516 ha, được quy hoạch tại

các xã vùng trung và vùng hạ của huyện.

2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển KCN huyện Đức Hòa tỉnh Long An.

2.2.1. Vị trí địa lý

Đức Hòa là một huyện vùng cao nằm phía Tây Bắc tỉnh Long An và nằm

trong vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Long An.

- Phía Đông giáp thành phố Hồ Chí Minh, Phía Tây giáp huyện Đức Huệ, phía

Nam giáp huyện Bến Lức, phía Bắc giáp huyện Trảng Bàng (Tây Ninh).

- Dân số: 217,797 người (2011). Chiếm 15% dân số toàn tỉnh

- Diện tích: 42.770,06 ha (2011). Chiếm 9,52% diện tích tự nhiên toàn tỉnh

Hành chính Đức Hòa có 20 đơn vị hành chính cấp xã/phường trong đó có 3 thị

trấn và 17 xã:

39

Người thực hiện: Ngô Thị Yến Nhi

40

Bảng 2.1: Diện tích, số hộ, dân số và mật độ dân số huyện Đức Hòa năm 2011

Số hộ

Tổng số Thị trấn Hậu Nghĩa Thị trấn Đức Hoà Thị trấn Hiệp Hoà Xã Lộc Giang Xã An Ninh Đông Xã An Ninh Tây Xã Hiệp Hoà Xã Tân Phú Xã Hoà Khánh Tây Xã Hoà Khánh Đông Xã Hoà Khánh Nam Xã Tân Mỹ Xã Đức Lập Thượng Xã Đức Lập Hạ Xã Hựu Thạnh Xã Đức Hoà Thượng Xã Đức Hoà Hạ Xã Mỹ Hạnh Bắc Xã Mỹ Hạnh Nam Xã Đức Hoà Đông Mật độ dân số (Người/ km2 ) 509 1.216 1.860 737 710 423 441 501 324 302 657 479 330 507 432 327 717 543 320 697 544 Dân số trung bình 217.797 15.111 12.874 7.408 11.957 7.623 9.519 9.477 8.944 8.990 9.773 7.689 12.037 9.655 11.445 10.418 15.764 12.524 10.433 12.213 13.943 57.879 3.940 3.241 1.977 3.214 2.077 2.580 2.567 2.419 2.423 2.570 1.983 3.149 2.623 2.970 2.698 4.209 3.418 2.768 3.367 3.686

Diện tích (km2) 427,7006 12,4290 6,9220 10,0563 16,8391 18,0132 21,5961 18,9147 27,5724 29,7528 14,8738 16,0373 36,4798 19,0275 26,5093 31,8728 21,9729 23,0489 32,6188 17,5196 25,6443 Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đức Hòa năm 2011

Vị trí của Đức Hòa đã tạo được những lợi thế lớn cho phát triển:

- Vị trí trung chuyển giữa bậc thềm phù sa cổ vùng Đông Nam bộ và vùng

phù sa mới vùng ĐBSCL, do đó được xem như cửa ngõ phía Tây Bắc của vùng

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) tiếp giáp với trung tâm vùng kinh tế trọng

điểm phía Nam và hướng về vùng kinh tế biên giới Tây Ninh. Với vị trí địa lý này,

huyện Đức Hòa thuộc một phần địa bàn phát triển các khu công nghiệp dọc theo

trục đường Xuyên Á và kênh Thầy Cai, kênh An Hạ. Ngoài ra, TP Hồ Chí Minh là

41

trung tâm tiêu thụ lớn và cũng là nguồn ngoại lực về vốn đầu tư, công nghệ cho

huyện Đức Hòa

- Các trục giao thông thủy bộ đi qua địa bàn huyện rất thuận lợi, nối kết vùng

lũ ĐBSCL về TP. Hồ Chí Minh và lộ Xuyên Á theo nhiều hướng tiếp cận.

- Hệ thống đường bộ nối liền với TP. Hồ Chí Minh và đường thủy liên vùng

là sông Vàm Cỏ Đông, giao thông thủy vành đai: kênh Thầy Cai, kênh An Hạ, kênh

Xáng.

- Nằm trong vành đai giãn nở công nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm phía

Nam và chịu ảnh hưởng trực tiếp của TP. Hồ Chí Minh – thị trường tiêu thụ lớn

nhất nước, trung tâm công nghiệp, kinh tế thương mại và dịch vụ, cực tăng trưởng

của địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, do vậy huyện Đức Hòa có nhiều lợi thế

trong quá trình công nghiệp hóa và chuyển đổi nhanh nền kinh tế thuần nông sang

công nghiệp – dịch vụ và nông nghiệp.

- Là vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, Đức

Hòa có nhiều cơ hội thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập với kinh

tế trong vùng, nhất là đối với TP. Hồ Chí Minh. TP. Hồ Chí Minh là thị trường tiêu

thụ hàng hóa công nghiệp lớn nhất Việt Nam.

2.2.2. Các nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Địa chất

Huyện Đức Hòa thuộc tỉnh Long An, nằm ở rìa Đông Nam của đới Đà Lạt.

Đây là đới kiến tạo - sinh khoáng tương đối độc lập, có móng là vỏ lục địa tiền

Cambri, bị sụt lún trong Jura sớm - giữa và trải qua chế độ rìa lục địa vào Mesozoi

muộn. Vào cuối Mesozoi và trong Kainozoi, đới Đà Lạt bị hoạt hóa mạnh mẽ.

Trong Neogen - Đệ tứ phần lãnh thổ này tham gia vào bồn trũng MêKông bị sụt lún

mạnh và lấp đầy bởi trầm tích lục nguyên.

Các thành tạo trầm tích sông gồm cuội, sỏi, sạn, cát, sét, kaolin hệ tầng Củ Chi

phân bố chủ yếu trên diện tích các xã Lộc Giang, Đức Lập Thượng, Mỹ Hạnh Bắc,

Hòa Khánh Đông, An Ninh Tây.

42

Ngoài ra, các thành tạo trầm tích Holocen trung - thượng gồm các trầm tích

sông (cát, bột, sét), sông - đầm lầy (bột, sét, di tích thực vật, than bùn), chúng là các

trầm tích thềm, bãi bồi và tích tụ lòng sông cũng được phân bố trên địa bàn huyện.

Chính điều kiện địa chất như trên đã tạo nên tính chất đất ở huyện Đức Hòa

thuộc nhóm đất phù sa cổ.

Địa hình

Đức Hòa đặc trưng cho vùng rìa chuyển tiếp giữa giồng phù sa cổ với đồng

bằng ven sông Vàm Cỏ Đông và bưng phèn, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông

Nam. Nơi có đỉnh cao nhất là Lộc Giang. Đức Hòa có địa hình dạng bậc thang phù

sa cổ, địa hình biến đổi khá liên tục phức tạp nên đồng ruộng có kích thước nhỏ,

gây khó khăn cho cơ giới hóa bằng máy kéo lớn.

Do địa hình thấp ven sông và bưng phèn bị chia cắt mạnh bởi mật độ sông

rạch tự nhiên nên vào mùa mưa dễ bị dòng chảy mạnh gây xói mòn rửa trôi làm đất

bị bạc màu. Hiện nay, vùng này bị ảnh hưởng của ngập lũ, úng do mưa vào triều

cường, việc đầu tư vào hệ thống đê, cống kiểm soát lũ rất tốn kém, dẫn đến sản xuất

nông lâm sản tại khu vực vùng ven sông và bưng phèn gặp rất nhiều khó khăn.

Theo độ cao, lãnh thổ huyện được phân thành 4 tiểu vùng:

- Tiểu vùng 1: Địa hình cao (8 - 4 m) gồm các xã Lộc Giang, An Ninh Đông,

An Ninh Tây, Tân Mỹ.

- Tiểu vùng 2: Địa hình hơi cao (4 - 3 m), độ dốc nhỏ và bằng phẳng, gồm các

xã: Mỹ Hạnh Nam, Mỹ Hạnh Bắc, Đức Lập Hạ, Đức Lập Thượng, Hiệp Hòa và

một phần Tân Phú.

- Tiểu vùng 3: Địa hình hơi cao (3 - 1,5 m), độ dốc không đáng kể, gồm khu

vực thị trấn Hậu Nghĩa và các xã Hựu Thạnh, Đức Hòa Hạ, Hòa Khánh Tây, Hòa

Khánh Nam, Hòa Khánh Đông.

- Tiểu vùng 4: Địa hình thấp trũng dưới 1,5 m, gồm các khu vực ven sông

Vàm Cỏ Đông như Tân Phú, Hòa Khánh Tây, Hòa Khánh Nam, Hựu Thạnh ... và

một phần khu vực ven kênh mới như Tân Mỹ, Đức Lập Hạ, Mỹ Hạnh Bắc, Đức

Hòa Đông. Do địa hình khá bằng phẳng, nền đất tương đối ổn định nên việc xây

43

dựng các công trình hạ tầng cơ sở tại huyện Đức Hòa ít gặp khó khăn hơn các

huyện khác trong tỉnh.

Đặc điểm khí hậu

Đức Hòa mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với các trị số khí hậu là: - Nhiệt độ trung bình cao đều trong năm (27,70C), tổng tích ôn lớn

(9.9720C/năm).

- Nắng nhiều (2.604 giờ/năm), tổng lượng bức xạ trung bình khá lớn (146

kcal/cm2/ngày)

- Một năm chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa thực sự bắt đầu ngày 15/V và

kết thúc ngày 24/X, tổng số ngày trong mùa mưa thực sự: 164 ngày/ năm, với tổng

lượng mưa 1.625mm (chiếm 80,25% lượng mưa cả năm). Mùa khô thực sự bắt đầu

ngày 5/ XII và kết thúc ngày 22/ IV, tổng số ngày trong mùa khô thực sự là 139

ngày/ năm.

- Độ ẩm không khí trung bình: 80,79%

- Gió nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa 2 vùng khí hậu Đông Nam Bộ và

Tây Nam Bộ nên hướng gió trên địa bàn huyện thay đổi liên tục trong năm, tuy

nhiên cũng hình thành 2 mùa gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam.

- Đức Hòa thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đặc tính chuyển tiếp

Đông và Tây Nam Bộ. Do đó, nhiệt độ tại đây cao đều trong năm, lượng mưa lớn và

phân hóa theo mùa, ít gió bão và không có mùa đông lạnh.

Chế độ thủy văn

Sông Vàm Cỏ Đông là sông lớn chạy dọc theo ranh giới giữa huyện Đức Hòa

và huyện Đức Huệ. Sông bắt nguồn từ Campuchia chảy qua các tỉnh Tây Ninh,

Long An, đổ ra biển qua cửa Soài Rạp. Phần qua huyện Đức Hòa dài hơn 40 km,

rộng trung bình 17 m, độ dốc lòng sông 0,21%. Sông Vàm Cỏ Đông không chỉ là

tuyến đường thủy quan trọng của huyện Đức Hòa và tỉnh Long An mà còn là tuyến

đường thủy vành đai của địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam. Sông Vàm Cỏ Đông

là một trong những nguồn nước chính cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất cho khu

vực phía Tây của Huyện. Các kênh rạch khác của Huyện phần lớn bắt đầu từ sông

44

Vàm Cỏ Đông và ăn sâu vào các xã trong địa bàn Huyện, trừ kênh An Hạ chảy qua

huyện Đức Hòa nối sông Vàm Cỏ Đông với hệ thống kênh rạch thành phố Hồ Chí

Minh, còn lại đều là kênh rạch nội huyện như:

- Tuyến kênh Nhà Thờ bắt đầu từ sông Vàm Cỏ Đông, chạy song song với

đường tỉnh 7(đường tỉnh 822), dài 3,5 km, rộng trung bình 12 m, sâu trung bình 2m.

- Kênh rạch Nhum bắt đầu từ sông Vàm Cỏ Đông và kết thúc tại nơi giao

nhau với đường đất Tân Phú.

- Kênh Cầu Duyên - Hốc Thơm bắt đầu từ sông Vàm Cỏ Đông và kết thúc tại

đường tỉnh 10 (đường tỉnh 825), dài 5 km, rộng trung bình 12 m, sâu trung bình 3m.

- Kênh số 2 bắt đầu từ sông Vàm Cỏ Đông và kết thúc tại đường tỉnh 9

(đường tỉnh 824), dài 5,8 km, rộng trung bình 12 m, sâu trung bình 3 m.

- Kênh sông Tra bắt đầu từ sông Vàm Cỏ Đông và kết thúc tại ngã ba Láng

Pha, dài 2 km, rộng trung bình 32 m, sâu trung bình 4 m.

- Kênh chợ Đức Hòa bắt đầu từ ngã ba Láng Pha và kết thúc tại chợ Đức Hòa,

dài 3 km, rộng trung bình 32 m, sâu trung bình 4 m.

- Kênh Láng Pha bắt đầu từ ngã ba Láng Pha và kết thúc tại đường tỉnh 10,

dài 4,8 km, rộng trung bình 20 m, sâu trung bình 3,5 m.

- Kênh Láng Ven - Bảy Quang bắt đầu từ ngã ba Láng Ven và kết thúc tại

đường Đức Lập – Tua 1, dài 3 km, rộng trung bình 12 m, sâu trung bình 2 m …

Các kênh, rạch trên không chỉ có tác dụng dẫn nước ngọt từ sông Vàm Cỏ

Đông vào sâu trong nội đồng mà còn tạo thành một hệ thống giao thông thủy cho

phép các tàu thuyền có trọng tải từ 5 đến 30 tấn ra vào an toàn.

Sông rạch Đức Hòa chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của

biển Đông (qua sông Vàm Cỏ Đông và Sài Gòn). Biên độ triều biến đổi lớn theo

không gian và theo chu kỳ ngày, tháng, mùa trong năm nhưng biến đổi không lớn.

Tháng có biên độ triều lớn nhất là tháng 4. Tuy nhiên đỉnh triều cường vào các

tháng 10, 11, thời gian ngập liên tục từ 20 - 30 ngày với mức ngập sâu 0,3 - 0,5 m

gây ngập úng ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp.

45

Tài nguyên đất

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện theo thống kê năm 2011 là 427,7006 km2. Huyện Đức Hòa đặc trưng cho vùng rìa chuyển tiếp giữa giồng phù sa cổ với

đồng bằng ven sông Vàm Cỏ Đông và bưng phèn, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông

Nam. Địa hình thấp ven sông và bưng phèn bị chia cắt mạnh bởi mật độ sông rạch

tự nhiên. Vào mùa mưa dễ bị dòng chảy mạnh gây xói mòn, rửa trôi làm đất bị bạc

màu. Hiện nay, vùng này bị ảnh hưởng của ngập lũ, úng do mưa và triều cường.

Việc đầu tư vào hệ thống đê, cống kiểm soát lũ rất tốn kém, dẫn đến sản xuất nông

lâm sản tại khu vực vùng ven sông và bưng phèn gặp rất nhiều khó khăn.

Tài nguyên đất huyện Đức Hòa được chia thành 3 nhóm chính:

- Nhóm đất phèn: Phân bố dọc theo sông Vàm Cỏ Đông và kênh Thái Mỹ,

tổng diện tích chiếm 29% trong tổng diện tích đất huyện. Đất tại những vị trí này có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét, nồng độ độc tố Cl-, SO2-, Al3+, Fe3+ trong đất

cao, làm mất cân đối nghiêm trọng NPK. Đất tại đây thường bị ngập úng vào mùa

mưa. Đất chỉ thích hợp cho việc trồng lúa, mía.

- Nhóm đất xám: Nằm ở vùng trung tâm huyện, dọc theo tỉnh lộ 10, kéo dài từ

Lộc Giang đến thị trấn Đức Hòa, diện tích chiếm khoảng 48% trong tổng diện tích

đất huyện.

- Nhóm đất phù sa bồi: Tổng diện tích chiếm khoảng 23% trong tổng diện tích

đất huyện. Đất tại những khu vực này có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ,

kết cấu rời rạc, khả năng giữ nước, giữ phân kém, phản ứng chua, hàm lượng dưỡng

chất thấp do rửa trôi mạnh. Đất ít thích hợp với cây lúa nhưng rất thích hợp với các

loại hoa màu như cây họ đậu, cây thuốc lá ... Phần lớn diện tích đất phù sa cổ hiện

còn thiếu nguồn nước tưới trong mùa khô nên khó thâm canh, tăng vụ.

Phần lớn diện tích đất của huyện Đức Hòa được xếp vào loại đất xấu (nghèo

chất dinh dưỡng và nồng độ độc tố cao, trừ đất phèn thủy phân) nên sản xuất nông

nghiệp đang cần sự đầu tư lớn. Song, kết hợp giữa yêu cầu hoạt động sinh lý của

một số cây con và tính chất đất, thấy rằng cây đậu phộng, thuốc lá và rau là thích

hợp. Nhìn chung, canh tác ở đây chủ yếu là dựa vào nguồn nước mưa. Trong điều

kiện diễn biến

46

Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Đức Hòa năm 2011

Loại đất Diện tích (ha)

Tổng diện tích I. Đất nông nghiệp 1. Đất trồng cây hàng năm 1.1. Đất trồng lúa, rau màu 1.2. Đất trồng cây hàng năm khác 2. Đất vườn tạp 3. Đất trồng cây lâu năm 4. Đất sử dụng vào chăn nuôi 5. Đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản II. Đất lâm nghiệp có rừng 1. Rừng tự nhiên 2. Rừng trồng III. Đất chuyên dùng 1. Đất xây dựng 2. Đất giao thông 3. Đất thủy lợi và mặt nước chuyên dùng 4. Đất sản xuất kinh doanh (phi nông nghiệp) 5. Đất di tích lịch sử, văn hóa 6. Đất quốc phòng, an ninh 7. Đất nghĩa trang, nghĩa địa 8. Đất chuyên dùng khác 9. Đất tôn giáo, tín ngưỡng

IV. Đất ở 1. Đất ở thành thị 2. Đất ở nông thôn V. Đất sông, suối và mặt nước chuyên dùng 1. Đất bằng chưa sử dụng 2. Đất có mặt nước chưa sử dụng 3. Sông, ngòi 42.775,65 29.373,63 27.012,08 21.894,38 5.117,70 2.286,02 38,39 391,147 286,68 0 286,68 8.511,88 1.508,10 1.243,58 5.240,52 3,57 6,32 256,94 260,92 32,02 3.582,46 420,31 3.162,15 617,00 617,00

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đức Hòa năm 2011

Diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện là 33.554,78 ha chiếm 78,45%

diện tích đất tự nhiên của huyện vào năm 2006. Diện tích này ngày càng có xu

hướng giảm dần, đất chuyển sang mục đích chuyên dùng, đất ở và phát triển công

nghiệp. Năm 2011 diện tích đất nông nghiệp đã giảm còn 29.373,63 ha chiếm

47

68,7% diện tích đất tự nhiên của huyện. Theo thống kê diện tích đất chuyên dùng

tăng lên đáng kể mà chủ yếu là đất dùng trong công nghiệp từ 5.516,16 ha (năm

2006) tăng lên 8.511,88 ha (2011).

Qua bảng trên chúng ta có thể thấy đất bằng chưa sử dụng không còn. Điều

này chứng tỏ diện tích đất chưa sử dụng, nhất là diện tích đất bằng không còn, do đó

huyện cần có kế hoạch quy hoạch và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này.

Tài nguyên nước

- Nước mưa: Nguồn nước của huyện chủ yếu dựa vào nước mưa và nước

sông Vàm Cỏ Đông cung cấp. Lượng mưa hàng năm tuy lớn nhưng phân bố không

đều trong năm, lượng nước thường tập trung vào mùa mưa, cường độ mưa lớn làm

nước trở nên dư thừa gây chảy tràn bề mặt đất gò dẫn đến hiện tượng rửa trôi, xói

mòn đất. Còn tại những vùng thấp, lượng nước lớn kết hợp với lũ và đỉnh triều cao

nên gây ngập úng đồng ruộng.

Ngược lại, mùa khô chỉ chiếm 15% lượng mưa hàng năm nên không thể canh

tác nhờ nước mưa được. Mùa mưa ở đây bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, lượng

mưa chiếm khoảng 85% lượng mưa cả năm, trong đó tập trung nhiều vào tháng 8, 9

và tháng 10.

Bảng 2.3: Phân phối lượng mưa hàng năm tại huyện Đức Hòa

Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Cả

năm

Lượng

mưa TB 16 7 18 82 255 227 259 205 318 353 148 62 1970

(mm)

Nguồn: Phân viện Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ

- Nước mặt: Dòng sông chính dài: 260 km, phần sông Vàm Cỏ Đông là ranh

giới phía Tây Nam của huyện Đức Hòa. Đây là đoạn trung lưu, chảy qua thị trấn

Hiệp Hòa, sông rộng khoảng 200 m, sâu 17 m với lưu lượng bình quân qua các

tháng đo tại trạm Hiệp Hòa như sau:

48

Bảng 2.4: Phân phối lưu lượng nước trong năm

Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

lượng 15,5 66 95 59 133 304 180 41,2 22,9 19,6 10,1 9,1 Lưu (m3/s)

Nguồn: Phân viện Khảo sát Quy hoạch thủy lợi Nam Bộ

Sông Vàm Cỏ Đông trước năm 1987 là “dòng sông chết” về mùa khô, độ mặn

4g/l qua cửa sông Rạch Tràm hàng chục km, khi đó hầu như người dân không thể

sử dụng nguồn nước này vào mục đích sản xuất cũng như sinh hoạt. Nhưng từ khi

có nước bổ sung từ hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng thì tình hình nhiễm mặn của nước

sông đã được cải thiện. Hồ Dầu Tiếng xả nước qua kênh Tây xuống rạch Bến Đá đổ

vào sông Vàm Cỏ Đông nên vùng nhiễm mặn đã bị đẩy lùi xuống Xuân Khánh.

Hiện nay, vùng nước sông Vàm Cỏ Đông chảy qua thị trấn Hiệp Hòa đã được xem

là ngọt hóa.

- Nước ngầm: Theo tài liệu nghiên cứu của Liên đoàn Địa chất Thủy văn lập

cho vùng đồng bằng sông Cửu Long tỷ lệ 1/500.0000 và các kết quả khoan khai

thác của chương trình nước sạch nông thôn trước năm 2003 cho thấy: nguồn nước

ngầm của huyện có cả ở độ sâu nhỏ hơn 100 m và độ sâu trên 200 m. Trữ lượng

nước ngầm chưa được đánh giá chính xác nhưng chất lượng nước tương đối tốt.

Hiện nay, hầu như mới chỉ có nước ngầm tầng mặt (độ sâu nhỏ hơn 100 m) đang

được khai thác.

Tận dụng nguồn nước ngầm người dân đã đào, khoan hơn 45.000 giếng (chủ

yếu khai thác nước ngầm tầng nông), phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất nông

nghiệp. Do khai thác tùy tiện, không quản lý được việc đào, khoan giếng và lưu

lượng khai thác, nên đến nay thực tế nguồn nước ngầm đã bị tụt áp (2.5 – 3,0 m) lưu

lượng giảm và nguy cơ cạn kiệt nước ngầm đã quá rõ và rất đáng báo động, một số

nơi không còn nước để bơm tưới (khoảng 2000 giếng); thậm chí tại một số khu vực

xã An Ninh Đông, An Ninh Tây, Lộc Giang, Tân Mỹ còn rất ít nước ngầm.

49

Nước ngầm sử dụng lãng phí và kém hiệu quả. Vì vậy phải sớm có giải pháp

quản lý bảo vệ và khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước ngầm, ngăn

chặn hữu hiệu các tác nhân làm suy giảm và ô nhiễm nguồn nước ngầm.

Tài nguyên rừng

Diện tích rừng huyện Đức Hòa giảm liên tục về quy mô, theo thống kê đến

năm 2005 chỉ còn 902,03 ha đến năm 2009 chỉ còn 205,45 ha, trong đó chủ yếu là

rừng trồng. Cây rừng chủ yếu là tràm và cây bạch đàn. Rừng trồng tập trung chủ

yếu tại các vùng phía Đông huyện với mục tiêu cải tạo đất trũng, phèn là chính. Do

ít được chăm sóc và bảo vệ nên rừng trồng ngày càng nghèo và cạn kiệt, trữ lượng

gỗ không đáng kể.

- Rừng cây có tuổi từ 3 – 7 tuổi, đường kính thân cây trung bình 4 – 8 cm.

- Loại cây phổ biến là: tràm, bạch đàn, keo lá tràm, xà cừ, tre, trúc, tầm

vông…

- Động vật dưới tán rừng hầu như không còn các loài thú hoang dã mà chỉ còn

số loài thủy sinh, chim, cò … thuộc loài không quý hiếm và cũng đang đứng trước

nguy cơ cạn kiệt do môi trường thay đổi và việc khai thác không chú ý đến tái sinh

và phục hồi.

* Sự hình thành các vùng sản xuất trên lãnh thổ

Trên phương diện điều kiện tự nhiên và phân bố sản xuất, có thể thấy Đức

Hòa có 3 vùng: vùng 1 (khu vực phát triển công nghiệp và dịch vụ tập trung), vùng

2 (khu vực nông nghiệp trên bậc thềm phù sa cổ) và vùng 3 (khu vực nông nghiệp

ven sông Vàm Cỏ Đông). Trên quan điểm có đối chiếu đến các trục phát triển và

trung tâm phát triển tổng hợp kinh tế xã hội, đồng thời thuận lợi hơn trong công tác

quản lý hành chánh và kinh tế của địa bàn, có thể chia địa bàn huyện Đức Hòa

thành 3 vùng phát triển tổng hợp kinh tế - xã hội

- Vùng 1: vùng Tây Bắc. Diện tích 12.190 ha, chiếm 29% diện tích và 30%

dân số, bao gồm các xã Lộc Giang, An Ninh Đông, An Ninh Tây, Tân Mỹ, Hiệp

Hòavà TT Hiệp Hòa.

50

Phát triển kinh tế hiện trạng: chủ yếu là nông nghiệp (cây trồng cạn, lúa, đại

gia súc), công nghiệp chủ yếu chỉ phát triển một ít tại TT Hiệp Hòa; một số diện

tích khai thác vật liệu xây dựng

Trục phát triển: hướng ra tuyến lộ Xuyên Á về khu công nghiệp Trảng Bàng

và khu kinh tế biên giới Tây Ninh (ĐT.821); ngoài ra còn có một tuyến phụ hướng

về Khu đô thị Tây Bắc Củ Chi (ĐT.822)

Trung tâm phát triển: TT Hiệp Hòa (đô thị ven sông Vàm Cỏ Đông và cũng là

trung tâm công nghiệp của vùng), có tác động đến xã Hiệp Hòa, và một phần xã Tân

Mỹ, Tân Phú, An Ninh Tây, An Ninh Đông. Trung tâm xã Lộc giang có nhiều tiềm

năng phát triển như là một trung tâm thương mại dịch vụ có tác động đến xã An

Ninh Tây và An Ninh Đông

- Vùng 2: vùng trung tâm. Diện tích 14.620 ha, chiếm 34% diện tích và 33%

dân số, bao gồm các xã Đức Lập Thượng, Đức Lập Hạ, Tân Phú, Hòa Khánh Tây,

Hòa Khánh Đông, Hòa Khánh Nam và TT Hậu Nghĩa.

Phát triển kinh tế hiện trạng: chủ yếu là nông nghiệp (cây trồng cạn, lúa, đại

gia súc), công nghiệp bắt đầu phát triển mạnh ven kênh Thầy Cai

Trục phát triển: hướng ra Khu đô thị Tây Bắc Củ Chi (ĐT.823), đồng thời nối

với vùng ĐBSCL qua trục N2

Trung tâm phát triển: TT Hậu Nghĩa (đô thị vùng và cũng là đô thị trung tâm

huyện), hiện mang hình thái của đô thị thương mại - dịch vụ, có tác động đến các xã

chung quanh và có một phần tác động đáng kể đối với vùng Tây Bắc

- Vùng 3: vùng Đông Nam. Diện tích 15.960 ha, chiếm 37% diện tích và

37% dân số, bao gồm các xã Mỹ Hạnh Bắc, Mỹ Hạnh Nam, Đức Hòa Thượng, Đức

Hòa Hạ, Đức Hòa Đông, Hựu Thạnh và TT Đức Hòa.

Phát triển kinh tế hiện trạng: nông nghiệp còn chiếm vị trí khá quan trọng,

công nghiệp phát triển rất mạnh ven kênh Thầy Cai và kênh An Hạ

Trục phát triển: hướng về trung tâm TP Hồ Chí Minh (ĐT.824 và ĐT.825) và

hướng về QL.1A (ĐT.824)

51

Trung tâm phát triển: TT Đức Hòa (đô thị vùng nhưng có hoạt động kinh tế đô

thị lớn nhất huyện), hiện mang hình thái của đô thị hậu cần phục vụ dân cư công

nghiệp, có tác động đến các xã chung quanh và có một phần tác động đáng kể đối

với một số xã vùng trung tâm

2.2.3. Các nhân tố kinh tế - xã hội

* Dân số và lao động

- Dân số của huyện là 217.797 người năm 2011, dự kiến sẽ tăng 235.240

người năm 2015 (bình quân tăng 1,25%/năm) và 249.735 người năm 2020 (tăng

bình quân 1,20%/năm). Trong đó, dân số cơ học đến huyện Đức Hòa dự kiến

khoảng trên dưới 11.250 người.

Theo thống kê năm 2001 huyện Đức Hòa có 194.497 người, dân tộc Kinh là

chính, trong đó nữ 100.069 người chiếm 51,45% dân số toàn huyện. Đến năm

2006, dân số toàn huyện tăng lên 205.143 người, trong đó dân số nữ là 104.416

người (chiếm 50,9%). Năm 2011 dân số toàn huyện là 217.797 người, trong đó nữ

là 111.109 người (chiếm 51%). Dân số đô thị năm 2011 là 35.393 người (chiếm

16,3%), dự báo năm 2015 là 59.123 người (chiếm 25%) và năm 2020 là 70.504

người (chiếm 28%) do mở rộng thị trấn Hậu Nghĩa và thị trấn Đức Hòa. Dân số tại nông thôn là 182.404 người (2011), mật độ dân số của huyện là 509 người/km2, cao nhất là thị trấn Đức Hòa 1862 người/km2, thị trấn Hậu Nghĩa 1216 người/km2 và thị trấn Hiệp Hòa 737người/km2.

Nguồn lao động năm 2011 là 145.329 người, chiếm 66,7% dân số. Tỷ lệ tăng

dân số tự nhiên giảm từ 2,45% năm 1991 xuống còn 1,6% năm 1997, 1,1% năm

2006 và 0,93% năm 2011.

Đức Hòa là đơn vị có tỷ lệ tăng dân số tự nhiên thấp so với mức trung bình

của toàn tỉnh. Là huyện tiếp giáp TP. HCM song chất lượng nguồn nhân lực chưa

được nâng cao, phần lớn lực lượng lao động chưa được đào tào qua trường lớp, lao

động giản đơn vẫn giữ vai trò chính trong các hoạt động kinh tế của huyện.

52

Bảng 2.5: Lao động và cơ cấu lao động xã hội của huyện Đức Hòa

giai đoạn 2007 -2011

Đơn vị tính: người

2007 2008 2009 2010 2011

A. Nguồn lao động 139.338 141.213 143.272 144.835 145.329

1. Số người trong độ tuổi lao động 129.205 130.933 132.849 134.201 134.675

Có khả năng lao động 127.215 128.849 130.776 132.107 132.544

Mất khả năng lao động 1.990 2.030 2.073 2.094 2.131

2. Số người ngoài độ tuổi thực tế có 10.133 10.269 10.423 10.634 10.654

tham gia lao động

Trên độ tuổi lao động 6.938 7.031 7.136 7.280 7.298

Dưới độ tuổi lao động 3.195 3.238 3.287 3.354 3.356

B. Phân phối nguồn lao động

1. Lao động đang làm việc trong 116.190 117.742 119.458 120.705 121.140

các ngành kinh tế

2. Số người trong độ tuổi có khả 9.028 9.149 9.249 9.350 9.360

năng lao động đang đi học

Học phổ thông 6.679 6.769 6.830 6.905 6.910

Học chuyên môn nghiệp vụ, học 2.349 2.380 2.419 2.445 2.450

nghề 9.481 9.608 9.772 9.879 9.885

3. Số người trong độ tuổi có khả

năng lao động làm nội trợ 690 699 716 724 728

4. Số người trong độ tuổi có khả

năng lao động không làm việc.

5. Số người trong độ tuổi có khả 1.959 1.985 2.004 2.083 2.085

năng lao động đang không có việc

làm

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đức Hòa năm 2011)

53

- Đức Hòa là huyện đông dân nhất của tỉnh Long An. Dân số của huyện

217.797 người (năm 2011). Nguồn lực lao động dồi dào, có thể nói đủ đáp ứng nhu

cầu về nguồn lao động cho huyện nhà trong lĩnh vực phát triển kinh tế.

+ Nguồn lao động tăng lên theo từng năm.

+ Số người trong độ tuổi lao động cũng tăng lên theo từng năm.

Bảng 2.6: Lao động công nghiệp phân theo thành phần kinh tế năm

huyện Đức Hòa giai đoạn 2007 -2011

Đơn vị tính: người

Phân theo thành phần kinh tế 2007 2008 2009 2010 2011

Tổng số 19.801 24.651 29.899 32.494 35.813

1. Khu vực kinh tế trong nước 5.859 6.224 10.498 11.924 14.243

1.1.Nhà nước

Trung ương quản lý

Tỉnh, thành phố quản lý

Huyện, quận quản lý 52 56 221 220 230

1.2. Tập thể

1.3. Tư nhân 476 460 1.549 2.684 3.078

1.4. Cá thể 2.208 3.211 3.195 3.150 4.965

1.5. Hỗn hợp 3.123 2.497 5.533 5.870 5.970

2. Khu vực kinh tế có vốn đầu 13.943 18.427 19.401 20.570 21.570

tư nước ngoài.

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đức Hòa năm 2011)

+ Lao động công nghiệp của huyện tăng lên theo từng năm

+ Lao động trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cao hơn số lao

động trong khu vực kinh tế trong nước.

54

Bảng 2.7: Lao động công nghiệp huyện Đức Hòa

theo ngành công nghiệp năm 2011

Đơn vị tính: người

Phân theo ngành công nghiệp 2007 2008 2009 2010 2011

Tổng số 19.801 24.651 29.899 32.494 35.813

Công nghiệp khai thác 24 40 48 48 53

Công nghiệp chế biến 19.752 24.586 29.776 32.371 35.685

Công nghiệp sản xuất và phân 25 25 75 75 75

phối điện, khí đốt và nước.

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đức Hòa năm 2011)

Nguồn lao động trong công nghiệp chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế

biến là chính hơn 99%, còn lại lao động trong công nghiệp khai thác và trong công

nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt không đáng kể.

* Cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật

- Giao thông đường bộ: Đức Hòa đã và đang được tỉnh Long An và Bộ giao

thông vận tải đầu tư tập trung xây dựng các tuyến đường chính nối với TP. Hồ Chí

Minh và xuống Đồng Tháp Mười,…để tạo động lực thu hút các nhà đầu tư trong và

ngoài nước vào các KCN của huyện cũng như từng bước đô thị hóa 3 thị trấn và các

trung tâm xã.

Hệ thống đường bộ trên địa bàn huyện cơ bản đã hình thành nên bộ khung trên

cơ sở tuyến trục dọc là ĐT 825 và các tuyến Trục ngang: ĐT 821, ĐT 822, ĐT 823,

ĐT 824. Trong đó, ĐT 825 có vai trò quan trọng kết nối các tuyến đường tỉnh với

đường huyện, kết nối 2 thị trấn Hậu Nghĩa và Đức Hòa.

Toàn bộ 17 xã và 3 thị trấn đều có đường ô tô đến được trung tâm và đã được

nhựa hóa. Các tuyến nối Đức Hòa với TP.Hồ Chí Minh, Trảng Bàng (Tây Ninh) và

về Bến Lức là các tuyến đường quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã

hội và nâng cao đời sống cho người dân Đức Hòa.

Theo thống kê đến năm 2010, hệ thống đường bộ Đức Hòa có:

+ 1 tuyến quốc lộ đi qua địa bàn huyện với tổng chiều dài: 5,6 km

55

+ 9 tuyến đường tỉnh đi qua địa bàn huyện với tổng chiều dài: 115,9 km

+ 19 tuyến đường huyện với tổng chiều dài: 103,4 km

+ 297 tuyến đường xã với tổng chiều dài: 429,9 km

So sánh các chỉ tiêu về mật độ đường và tỷ lệ nhựa hóa hiện nay của huyện

Đức Hòa so với các huyện – thành phố khác của tỉnh Long An như sau:

+ Mật độ đường trên 1.000 dân đạt 3,2km/1.000 dân, xếp thứ sáu so với các

huyện và thành phố của tỉnh Long An.

+ Tỷ lệ nhựa hóa đạt 18,8%; trong đó, đường tỉnh nhựa hoá 63,7%, đường

huyện nhựa hóa 31,7% và đường xã nhựa hóa 2,3%.

Nhìn chung mạng lưới giao thông đường bộ trên địa bàn huyện Đức Hòa khá

phát triển; nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa và giao lưu kinh tế bước đầu được

cải thiện.

- Đường thủy: Hệ thống giao thông đường thủy quan trọng trên địa bàn huyện

Đức Hòa là sông Vàm Cỏ Đông chạy dọc theo ranh giới phía Tây dài 69 km. Đây là

tuyến giao thông thủy liên vùng nối Đông Nam Bộ với Đồng bằng sông Cửu Long

(ĐBSCL) và là tuyến đường thủy vành đai Tây Nam của Vùng KTTĐPN.

Ngoài ra, còn có các tuyến kênh Thầy Cai nối liền với hệ Thống Rạch Tra –

sông Sài Gòn, được xem là tuyến đường thủy vành đai Tây Bắc của nội thành TP.

Hồ Chí Minh; hệ thống kênh An Hạ nối với hệ thống đường thủy vành đai Nam của

TP. Hồ Chí Minh.

Hệ thống giao thông thủy nội huyện gồm có:

+ Kênh Xáng Nhà Thờ: Trên địa bàn thị trấn Hiệp Hòa, điểm đầu là sông

Vàm Cỏ Đông – điểm cuối tại xã Hiệp Hòa. Chiều dài: 3,5 km, mặt kênh rộng:

12m, độ sâu bình quân: 2m. Phương tiện vận tải có trọng tải 5 – 20 tấn có thể lưu

thông.

+ Kênh Rạch Nhum: Điểm đầu là sông Vàm Cỏ Đông – điểm cuối giao với

đường Tân phú – Hốc Thơm. Chiều dài: 3,0 km, mặt kênh rông: 14m, độ sâu bình

quân: 3,5m. Cho phép các phương tiện vận tải thủy có trọng tải từ 25 – 35 tấn lưu

thông.

56

+ Kênh Cầu Duyên – Hốc Thơm: Điểm đầu là sông Vàm Cỏ Đông – điểm

cuối là kênh Cầu Duyên. Tuyến dài: 5,8km, mặt kênh rộng:12m, độ sâu bình quân:

3,0m. Phương tiện vận tải thủy có trọng tải từ 20 – 30 tấn lưu thông an toàn.

+ Kênh Sông Tra: Điểm đầu là sông Vàm Cỏ Đông – điểm cuối tại ngã ba

Láng Pha. Chiều dài: 2,0km, mặt kênh rộng: 12m, độ sâu bình quân: 4,0m. Cho

phép các phương tiện vận tải thủy có trọng tải từ < 50 tấn lưu thông an toàn.

+ Kênh Ba Sa – Gò Mối: Điểm đầu giao với sông Vàm Cỏ - điểm cuối tại ĐT

825. Chiều dài: 4,8 km, mặt kênh rộng: 20m, độ sâu bình quân: 3,5m. Các phương

tiện vận tải thủy có trọng tải từ < 50 tấn có thể lưu thông.

+ Kênh Láng Ven – Bảy Quang: Điểm đầu tại cầu Láng Pha – điểm cuối tại

đường Đức Lập – Tua 1. Chiều dài: 3,0 km, mặt kênh rộng: 12m, độ sâu bình quân

2,0m. Cho phép các phương tiện vận tải thủy có trọng tải < 10 tấn lưu thông

Tóm lại, hệ thống giao thông thủy trên địa bàn huyện Đức Hòa tương đối dày

đặc, chủ yếu tập trung ở các xã phía Tây. Song, ngoài sông Vàm Cỏ Đông, chỉ có

một số tuyến kênh rạch chính có thể khai thác vận tải thủy.

Trong 5 năm gần đây, huyện được Nhà nước và chính quyền địa phương quan tâm

đầu tư nâng cấp, cải tạo các tuyến đường giao thông nối các khu đô thị với các xã và

huyện trong và ngoài tỉnh Long An. Các tuyến đường chính được trải nhựa hoặc

bêtông hóa, các tuyến đường nhỏ thì được rải sỏi, đá …

- Cấp nước

Trong điều kiện nguồn nước mặt nhiễm mặn vào mùa khô (sông Vàm Cỏ

Đông), bị chua phèn và ô nhiễm (kênh Thầy Cai), đồng thời do 2/3 diện tích nằm

trên địa bàn thềm phù sa cổ, trữ lượng nước ngần tầng nông (<100m) khá phong

phú, phần lớn hộ dân trên gò thềm đều phải sử dụng giếng khoan tầng nông.

Nguồn nước sinh hoạt tập trung chỉ cung cấp tại khu vực đô thị, khu tái định

cư và các cụm dân cư vượt lũ, bao gồm 11 trạm cấp nước:

+ Công suất 600 m3/ngày đêm: TT hậu Nghĩa, TT Đức Hòa, TT Hiệp Hòa. + Công suất 300 m3/ngày đêm: Khu dân vượt lũ An Ninh Tây, Tân Phú, Hòa

Khánh Tây, Hòa Khánh Nam, khu tái định cư Hựu Thạnh.

57

+ Công suất 100 m3/ngày đêm: khu dân cư Tân Phú, Hòa Khánh Tây, Hựu

Thạnh. Các cơ sở công nghiệp trong khu công nghiệp chủ yếu sử dụng nguồn nước

ngầm tầng sâu > 200m. Người dân phải khoan giếng sâu khoảng vài chục mét để

lấy được nguồn nước sạch sử dụng. Tuy nhiên đến nay, chất lượng của nguồn nước

giếng khoan này vẫn chưa được đảm bảo yêu cầu về vệ sinh an toàn và chất lượng.

Theo số liệu điều tra, số lượng giếng khoan hiện có tại huyện Đức Hòa khoảng

50.000 giếng với độ sâu từ 150 – 250 m, có nhiều hộ khai thác từ 2 - 4 giếng để lấy nước sản xuất, mỗi giếng từ 5 - 10 m3/ngày đêm đảm bảo đủ cấp nước vào mùa khô.

Nhìn chung, hộ sử dụng nước sạch (cung ứng theo trạm và các giếng khoan từng

hộ) toàn huyện hiện nay đạt khoảng 71,9%.

- Thoát nước

Nhìn chung, hệ thống thoát nước tại các thị trấn, các KCN và các cụm dân cư

lớn hiện nay còn kém, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước mặt tại các

nhánh kênh rạch, đặc biệt tại địa bàn tiêu thoát nước rất kém thuộc lưu vực của

kênh Thầy Cai và kênh An Hạ.

Tại khu vực trung tâm xã phường thường chỉ xây dựng hệ thống mương nhỏ

để thoát nước thải chợ, phần lớn nước mưa đều chảy tràn.

- Điện

Hiện nay nguồn cung cấp điện cho Đức Hòa được nhận chủ yếu từ trạm Đức

Hòa và một phần từ trạm Đức Huệ. Đến nay lưới điện quốc gia đã phủ khắp các xã

và thị trấn, đáp ứng yêu cầu sinh hoạt và bước đầu đảm bảo điện cho các ngành

công nghiệp – nông nghiệp và dịch vụ. Tỷ lệ số hộ dùng điện đến nay là 99,29%

(năm 2006 đạt 98,6%)

Lưới điện: (đường dây và trạm biến áp) xây dựng theo các tuyến giao thông,

khu dân cư và KCN, cụm công nghiệp là chính nên tạo nhiều điều kiện thuận lợi và

đảm bảo đủ điều kiện để sản xuất công nghiệp.

- Thông tin liên lạc

Mạng lưới bưu chính viễn thông Huyện hiện có 2 bưu cục cấp 3 tại thị trấn

Hậu Nghĩa và thị trấn Đức Hòa, và 17 bưu điện văn hóa xã.

58

Về viễn thông, tổng số máy lắp đặt đến cuối năm 2005 đạt 11.229 số, gấp 3,4

lần năm 2000, tuy nhiên mật độ còn rất thấp, chỉ đạt 5,5 máy /100 dân, trong đó có

đến 80% tại trung tâm các thị trấn. Điện thoại di động hiện cũng được sử dụng khá

rộng rãi trên địa bàn huyện, chất lượng sóng tốt.

- Vốn đầu tư

Do chính sách đổi mới của Đảng, nhà nước nên tình hình thu hút nhà đầu tư

vào các KCN, CCN huyện Đức Hòa cũng đạt được một số kết quả như sau:

Công nghiệp và xây dựng phát triển nhanh khẳng định được vai trò động lực

của nền kinh tế huyện, tình hình triển khai và thu hút đầu tư trong và ngoài nước

tăng rất khả quan, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có đến nay được 121

dự án với số vốn đăng ký 1.173 triệu USD phân bố tập trung chủ yếu trong các

K/CCN của huyện, về doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước có 1.370 doanh

nghiệp với vốn đăng ký 197.945 tỷ đồng và trên 7.600 hộ với số vốn đăng ký 718 tỷ

đồng.

Hiện tại có 7 KCN với diện tích 4.383 ha và 17 CCN với diện tích 2.063 ha,

đến nay có 3.237 ha đang được triển khai giải phóng mặt bằng, diện tích đã giao,

cho thuê trong các K/CCN là 2.843 ha và cho các cơ sở kinh doanh là 360 ha các

chủ đầu tư tiến hành san lấp đầu tư kết cấu hạ tầng. Vốn các doanh nghiệp đầu tư

vào các K/CCN tương ứng từ 2005-2012 với 2.543 ha và 360 ha đối với cơ sở kinh

doanh đã được san lấp trong đó có 1.880 ha đã hoàn chỉnh hạ tầng tương ứng theo

suất đầu tư của tỉnh (3.650 triệu/ha) được 6.862 tỷ và khoảng 1.003 ha đã san lắp

xong tương ứng 800 tỷ cùng với kinh phí đền bù giải phóng mặt bằng 2.264 tỷ thì

tổng cộng được khoảng 9.926 tỷ đồng.

Các KCN, CCN trên địa bàn huyện Đức Hòa tạo điều kiện cho việc chuyển

dời các cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm ra ngoại thành của khu vực TP. Hồ

Chí Minh. Cùng với sự phát triển các KCN tập trung và việc mở thêm các khu, cụm

công nghiệp vừa và nhỏ trong những năm gần đây, với sự hỗ trợ rất tích cực từ phía

TP. Hồ Chí Minh, tỉnh Long An nên một số doanh nghiệp trong nội đô tìm kiếm

59

được mặt bằng sản xuất, có điều kiện mở rộng sản xuất, thực hiện một bước quá

trình di chuyển ra ngoại thành, vào các KCN theo chủ trương của Chính phủ.

* Thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp:

- Thị trường trong nước: Định hướng thị trường tiêu thụ các sản phẩm công

nghiệp của huyện Đức Hòa là các tỉnh Đông Nam Bộ, nhất là TP. Hồ Chí Minh và

tỉnh Long An, gồm có sản phẩm giày da, may mặc…

+ Theo dự báo, dân số vùng Đông Nam Bộ đến năm 2015 là: 15,6 triệu người

và sẽ đạt 17,0 triệu người vào năm 2020. Theo tính toán của các nhà hoạch định

kinh tế chiến lược, tốc độ tăng tiêu thụ hàng năm của vùng này từ nay đến năm

2020 sẽ càng tăng cao hơn

+ TP. Hồ Chí Minh: là nơi tiêu thụ sản phẩm công nghiệp mạnh vì dân đông

đúc (năm 2009 là 7,17 triệu người, có thu nhập gấp 2,5 lần bình quân cả nước, hơn

2 triệu dân nhập cư, người lao động nước ngoài) và đồng thời khách du lịch cũng

đông ( có hơn 2,5 triệu lượt khách du lịch nước ngoài và gần 5,0 triệu lượt khách du

lịch trong nước). Theo nghiên cứu dự báo thị trường TP. Hồ Chí Minh của các

chuyên gia trong và ngoài nước đều thống nhất nơi đây là thị trường có sức mua lớn

với số lượng hàng hóa nói chung, đặc biệt là các sản phẩm may mặc, giày da…

Do đó ngành công nghiệp và thương mại phải đặc biệt coi trọng xây dựng và

khai thác hiệu quả thị trường TP. Hồ Chí Minh thông qua hợp tác, hợp đồng liên

doanh, liên kết nhằm phát triển sản phẩm chất lượng cao.

+ Theo dự báo, năm 2015 dân số toàn tỉnh Long An có 1,60 triệu người; trong

đó dân số sống ở thành thị 505.000 người và ở nông thôn: 1.095.000 người. Đến

năm 2020, dân số toàn tỉnh: 1,70 triệu người trong đó dân số sống ở thành thị

6215.000 người và ở nông thôn: 1.079.000 người. Nhu cầu tiêu dùng ngày càng

tăng cao

- Thị trường ngoài nước: Tìm thị trường hướng ngoại, đất nước đang trong quá

trình hội nhập, và đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới

(WTO) là điều kiện rất thuận lợi để các doanh nghiệp của huyện, thông qua các tổ

chức kinh tế trong nước, hoặc thông qua hoạt động xúc tiến thương mại để tiếp xúc

60

với các đối tác nước ngoài tìm kiếm và mở rộng thị trường ra nước ngoài, đây

không chỉ là cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu mà còn là điều kiện để thu hút các

nguồn vốn bên ngoài đầu tư vào huyện. Xây dựng mạng lưới dịch vụ: Khai thác, thu

mua, chế biến, vận chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất, đến địa chỉ tiêu thụ, để vừ chủ

động tìm đầu ra cho hàng hoá xuất khẩu, vừa thu hút lao động tham gia làm dịch vụ

một cách linh hoạt. Xây dựng mối liên hệ kinh tế giữa vùng nguyên liệu với các nhà

máy chế biến để tạo đầu ra ổn định, cho các vùng sản xuất ổn định thị trường.

* Đánh giá chung các nhân tố ảnh hưởng

+ Về lợi thế so sánh

- Đức Hòa đã được Chính phủ, các bộ và cơ quan ngang bộ, cấp ủy chính

quyền tỉnh Long An nói chung và huyện Đức Hòa nói riêng đã và đang tiếp tục ban

hành các chương trình kế hoạch hành động, cơ chế chính sách mới nhằm triển khai

đúng và thực hiện có kết quả các quan điểm, mục tiêu nhiệm vụ phát triển công

nghiệp tỉnh Long An cũng như của huyện Đức Hòa đến năm 2020

- Có vị trí thuận lợi đó là sự hỗ trợ bên ngoài cũng là lợi thế lớn trong phát

triển công nghiệp của huyện là bởi ở ngay trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam,

được xác định là một trong những thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp lớn

nhất cả nước. Đặc biệt Đức Hòa tiếp giáp với TP. HCM là trung tâm kinh tế, khoa

học-công nghệ, dịch vụ - thương mại và tài chính,…nên Đức Hòa cần xem đây là

nguồn ngoại lực quan trọng trong quá trình phát triển.

- Nguồn lao động dồi dào và tăng lên theo hằng năm đủ đáp ứng nhu cầu lao

động cả về số lượng và chất lượng cho ngành công nghiệp của huyện.

- Tài nguyên thiên nhiên nhìn chung khá phong phú và đa dạng không thuận

lợi lắm cho phát triển nông nghiệp nhưng tạo nhiều lợi thế cho phát triển công

nghiệp

- Kết cấu cơ sở hạ tầng kỹ thuật đã và đang được nâng cấp, xây dựng mới

vừa tạo tiền đề vừa là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp.

+ Về mặt hạn chế

- Khả năng tiêu thoát nước tại khu vực trũng ven kênh Thầy Cai - An Hạ rất

61

kém, do đó rất nhạy cảm đối với phát thải công nghiệp và khó cải thiện các vấn đề

môi trường.

- Nguồn nước mặt đảm bảo chất lượng sinh hoạt trước mắt chủ yếu được

cung ứng từ sông Vàm Cỏ Đông; trong khi đó địa bàn phát triển công nghiệp lại

thuộc lưu vực của kênh Thầy Cai - An Hạ là khu vực đang bị chua phèn và nhiễm

bẩn nguồn nước mặt.

- Nguồn nước ngầm tầng nông hiện đã giảm sút nhanh cung lượng trong khi

trữ lượng nước ngầm tầng sâu chưa được xác định.

- Đất khu vực ven sông Vàm Cỏ Đông và kênh Thầy Cai - An Hạ có độ phì

hiện tại thấp do nhiễm chua phèn, cần phải cải tạo và đạt hiệu quả canh tác không

cao. Địa bàn phát triển công nghiệp kênh Thầy Cai - An Hạ là khu vực có đặc điểm

địa chất công trình kém, giá hành xây dựng cao

- Tài nguyên sinh vật nhìn chung là nghèo và đang bị giảm sút mạnh.

- Với vị trí tiếp giáp trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và trung

tâm công nghiệp hóa, ngoài những lợi thế đã kể, cần lưu ý khả năng bị thu hút

nguồn nhân lực sang nơi khác.

2.3.1. Tổng quát về tình hình phát triển các KCN của tỉnh Long An

2.3. Thực trạng phát triển các KCN huyện Đức Hòa tỉnh Long An.

Khái quát về tăng trưởng kinh tế tỉnh Long An năm 2011

Tổng sản phẩm GDP năm 2011 ước đạt 14.337 tỷ đồng (theo giá so sánh 1994). Tốc

độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 12,2%. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 29,56

triệu đồng (năm 2010 là 23,2 triệu đồng)

Tốc độ tăng trưởng của các khu vực như sau: khu vực I chiếm 36,7% giảm 0,1% so

với năm 2010; khu vực II chiếm 33,5% tăng 0,2% so với năm 2010; khu vực III

chiếm 29,8% giảm 0,1% so với năm 2010.

Kết quả trên một số lĩnh vực kinh tế chủ yếu tỉnh Long An năm 2011 .

- Khu vực nông, lâm, thủy sản (khu vực I): Uớc cả năm tăng trưởng đạt 5,2%,

cao hơn so với kế hoạch 1,0 – 1,2%, trong đó nông nghiệp tăng 5,7%, lâm

nghiệp tăng 1,4% và thủy sản tăng 3,4%.

62

- Khu vực công nghiệp, xây dựng (khu vực II): Ước cả năm tăng trưởng

17,5%. Trong đó khu vực công nghiệp tăng 17,6% và khu vực xây dựng tăng

17,0%

- Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện năm 2011 đạt 23.113 tỷ đồng.

Trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm 28,5% cơ cấu GTSXCN toàn tỉnh

và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 71,5%.

- Khu vực thương mại – dịch vụ (khu vực III): Ước cả năm tăng trưởng

12,0%. Trong đó thương mại tăng 11,5% và dịch vụ tăng 12,4%.

- Về đầu tư phát triển: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2011 ước đạt

15.000 tỷ đồng, chiếm 34,8% GDP. Các nguồn vốn xây dựng cơ bản ước đến

năm 2011, giá trị khối lượng thực hiện và giá trị giải ngân đạt 100% kế

hoạch.

- Hoạt động tài chính, tiền tệ: Công tác quản lý, điều hành thu, chi ngân sách

nhà nước chặt chẽ, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Ước

thu ngân sách nhà nước năm 2011 đạt 4.533 tỷ đồng (vượt 31% dự toán tỉnh

giao. Hầu hết các khoản thu đều vượt xa so với dự toán là thu xuất nhập

khẩu, thu tiền sử dụng đất, thu sổ số kiến thiết.

* Tình hình phát triển các KCN tỉnh Long An

Tính đến tháng 6 năm 2012, toàn tỉnh có 30 KCN nằm trong quy hoạch phát

triển các KCN cả nước đến 2015 và định hướng đến 2020 với tổng diện tích

10.903ha với 54 dự án đầu tư hạ tầng KCN (kể cả dự án KCN mở rộng) và 46 chủ

đầu tư hạ tầng (KCN Đức Hoà III có 14 dự án đầu tư hạ tầng KCN), trong đó có 6

khu công nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm chủ đầu tư hạ tầng.

Trong 30 KCN của tỉnh có 19 KCN đã được thành lập với tổng diện tích

5.753,27 ha gồm: KCN Đức Hoà I, Xuyên Á, Tân Đức, Tân Đô, Hải Sơn, Vĩnh Lộc

2, Nhựt Chánh, Phú An Thạnh, Thịnh Phát, Thuận Đạo, Cầu Tràm, Cầu cảng Phước

Đông, Tân Kim, Long Hậu, Đông Nam Á, An Nhựt Tân, Long Hậu – Hòa Bình,

Phúc Long và một số KCN của KCN Đức Hoà III (Đức Hoà III-Minh Ngân, Resco,

63

Song Tân, Thái Hoà, Hồng Đạt, Anh Hồng, Slico, Việt Hoá, Liên Thành, Cali Long

Đức, Mười Đây, Long Việt), trong tổng số 22 KCN đã được cấp Giấy chứng nhận

đầu tư với tổng diện tích 6.618,46 ha, với tổng vốn đầu tư 113,36 triệu USD và

19.884,051 tỷ đồng.

Hiện tại đã có 16 KCN đang hoạt động: KCN Đức Hoà I, Xuyên Á, Tân

Đức, Thuận Đạo, Nhựt Chánh, Tân Kim, Long Hậu, Cầu Tràm, Phú An Thạnh,

Vĩnh Lộc 2, Thịnh Phát, Tân Đô, Hải Sơn, Long Hậu – Hòa Bình, Phúc Long và

một số KCN của KCN Đức Hoà III (Thái Hoà, Việt Hoá, Anh Hồng, Hồng Đạt,

Resco, Slico).

2.3.1. Tổng quát về tình hình phát triển kinh tế của huyện Đức Hòa

Theo văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đức Hòa lần thứ X cho thấy:

GDP giai đoạn 2005 – 2010 có tốc độ tăng bình quân là 18,5%/ năm, so với Nghị

quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đức Hòa lần thứ IX đặt ra là 23%/năm, nên

khả năng tích lũy và tái đầu tư, trong đó có đầu tư cho nông nghiệp là rất hạn chế.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Tỷ trọng khu vực II (công

nghiệp – xây dựng) từ 40,32% năm 2005 tăng lên 43,40% năm 2010 và tương ứng

tỷ trọng khu vực I (nông – lâm – thủy sản) từ 31,61% giảm xuống còn 17,40%(

giảm – 14,21%). GDP bình quân đầu người/ năm đã tăng từ 5,507 triệu đồng lên

19,947 triệu đồng (tăng gấp 3,5 lần).

64

28.07

31.61

40.32

KV I KV II KV III

Biểu đồ 2.1. Cơ cấu GDP huyện Đức Hòa năm 2005

17.4

39.2

43.4

KV I KV II KV III

Biểu đồ 2.2. Cơ cấu GDP huyện Đức Hòa năm 2010

Tổng thu ngân sách giai đoạn 2006 – 2010 ước thu được: 1.507 tỷ đồng, bình

quân tăng 56%/ năm (giai đoạn 2001- 2005 thu được: 473,454 tỷ đồng, tốc độ tăng

bình quân 18,8%/năm). Hoạt động thu chi ngân sách có nhiều tiến bộ và hàng năm

đều vượt chỉ tiêu kế hoạch tỉnh giao.

Đến năm 2010, trên địa bàn huyện Đức Hòa có 100 dự án có vốn đầu tư nước

ngoài với số vốn đăng ký 973 triệu USD và 1.070 doanh nghiệp trong nước có vốn

đăng ký 147.945 tỷ đồng, trên 7.600 hộ kinh doanh cá thể với số vốn đăng ký 518 tỷ

đồng,…góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, chuyển dịch mạnh mẽ cơ

cấu kinh tế và cơ cấu lao động (giai đoạn 2005 – 2010 đã chuyển gần 1500 lao động

nông nghiệp sang công nghiệp, hiện nay lao động phi nông nghiệp chiếm 49,97%

tổng lao động của huyện.)

65

Đảng bộ và chính quyền huyện Đức Hòa đã tập trung thực hiện có hiệu quả

giải pháp thu hút đầu tư phát triển công nghiệp. Diện tích đã giao, cho thuê trong

các K/CCN tính đến năm 2010 là: 2.543 ha/6.464 ha quy hoạch và các cơ sở kinh

doanh là: 340 ha. Đối với khu dân cư, đã có 6 khu dân cư do ngân sách Nhà nước

đầu tư với diện tích: 48,16 ha, 10 khu dân cư do các doanh nghiệp đầu tư với diện

tích: 730 ha.

Kinh tế tư nhân trên địa bàn huyện Đức Hòa phát triển nhanh về số lượng và

chất lượng, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn và cùng với kinh tế

tư nhân tạo nguồn lực to lớn cho đầu tư phát triển kinh tế huyện (tổng vốn đầu tư

của 2 thành phần này trên 15.000 tỷ đồng)

Kinh tế trang trại, kinh tế tập thể bước đầu phát triển đã góp phần nâng cao

hiệu quả sản xuất nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho nông dân. Riêng kinh tế Nhà

nước ngày càng giảm tỷ trọng do trong quá trình sắp xếp lại và khả năng cạnh tranh

hạn chế trong nền kinh tế thị trường (cơ cấu các thành phần kinh tế năm 2005/2010

thứ tự là: kinh tế cá thể: 50%/37%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: 25,6%/

33,0%; kinh tế tư nhân: 6,1%/25,0%; kinh tế Nhà nước: 17,7%/4,0% và kinh tế tập

thể: 0,6%/1,0%.

Tổng vốn đầu tư đề ra trong kế hoạch 2005 – 2010 trên địa bàn huyện là:

12.166 tỷ đồng; trong đó vốn trung ương: 466 tỷ đồng, vốn ngân sách tỉnh: 284 tỷ

đồng, ngân sách huyện, xã: 340 tỷ đồng và các thành phần kinh tế, nhân dân tham

gia đầu tư: 11.112 tỷ đồng. Ước thực hiện huy động vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ

tầng là: 11.130 tỷ đồng, đạt 91,48% kế hoạch; trong đó vốn trung ương: 760 tỷ đồng

(vượt 294 tỷ đồng), vốn ngân sách tỉnh: 344 tỷ đồng (vượt 96 tỷ đồng), vốn ngân

sách huyện, xã: 252 tỷ đồng (thấp hơn 88 tỷ đồng).

- Như vậy, trong 5 năm (2005- 2010) kinh tế của huyện Đức Hòa phát triển

khá toàn diện ở tất cả các khu vực, đây là giai đoạn có mức tăng trưởng GDP cao.

Song so với tiềm năng và lợi thế còn chưa tương xứng, Nhìn chung tăng trưởng

kinh tế với mức độ khá cao nhưng thiếu bền vững. Đặc biệt, phân bố không gian

xây dựng các K/CCN, khu dân cư đô thị, đất ở nông thôn có một số nơi chưa đúng

66

với quy hoạch được duyệt; mức độ ô nhiễm môi trường đất nước có chiều hướng

tăng.

- Thu ngân sách tăng mạnh song vẫn chưa đủ cân đối với chi (năm 2011 thu

ngân sách huyện: 343, 047 tỷ đồng, chi ngân sách địa phương: 460,618 tỷ đồng);

trong khi nhu cầu vốn đầu tư xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế có

yêu cầu rất lớn nên xem đây là một hạn chế để tính toán tốc độ tăng trưởng kinh tế

giai đoạn 2011 – 2020 sao cho phù hợp với khả năng về vốn đầu tư trong đó có khu

vực công nghiệp – xây dựng.

2.3.2. Tình hình phát triển các KCN

* Trước 2000:

Nhìn chung kinh tế huyện trước năm 2000 chủ yếu đầu tư và phát triển nông

nghiệp là chủ yếu chưa có những dự án và đầu tư phát triển công nghiệp. Nông

nghiệp vẫn chiếm vai trò chính và chủ đạo.

- Về trình độ sản xuất và dịch vụ: Đức Hoà là huyện có nhiều tiềm năng đất

đai cho phát triển đô thị và phát triển công nghiệp, tuy nhiên quá trình phát triển của

huyện chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Trình độ sản xuất còn dựa vào tiềm

năng thiên nhiên là chính, vì vậy sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành chính trong các

hoạt động kinh tế của huyện. Tuy vậy sản xuất nông nghiệp vẫn còn ở trình độ thấp.

Giá trị sản lượng bình quân cho 1 ha còn ở mức thấp so với trung bình toàn tỉnh do

hệ số sử dụng đất và năng xuất cây trồng thấp.

- Các ngành thương mại, dịch vụ kém phát triển mặc dù huyện có nhiều tiềm

năng và điều kiện thuận lợi cho phát triển như: nằm kề TP. HCM- một thị trường

lớn tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và là nơi có khả năng cung cấp các sản phẩm

tiêu dùng cho huyện Đức Hoà.

Các hoạt động thương mại- dịch vụ đều do các hộ gia đình và tư nhân tự tổ

chức, chưa có sự chỉ đạo của các tổ chức quản lý nhà nước.

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn phát triển chậm, phần lớn các cơ sở

công nghiệp trên địa bàn đều thuộc tỉnh quản lý, cơ sở tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ

cả về qui mô sản xuất và giá trị sản xuất. Các cơ sở liên doanh với nước ngoài và

67

các tỉnh triển khai hoạt động còn chậm, còn mang tính chất dự trữ đất là chính.

Trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất trong công nghiệp còn lạc hậu,

chủ yếu còn dùng sức người.

Các khu công nghiệp trên địa bàn huyện tuy đã được phép cho xây dựng, song

quá trình triển khai chậm do những nguyên nhân của cuộc hủng hoảng tiền tệ tại

Châu Á và do nguyên nhân nền kinh tế cả nước có sự chững lại.

Đức Hòa tuy là một huyện tiếp giáp với TP. HCM nhưng hệ thống cơ sở hạ

tầng của huyện bộc lộ nhiều yếu kém, chưa tương xứng với yêu cầu đòi hỏi của sự

nghiệp CNH - HĐH.

Mạng lưới giao thông vận tải đã vươn tới các xã, các KCN, Đức Hoà là hai

trong số 14 huyện, thành phố có 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã, tuy

nhiên mật độ đường còn thưa, chất lượng đường còn xấu, hệ thống cầu chưa được

cải tạo vì vậy xe có trọng tải lớn không đi lại được.

Hệ thống cấp thoát nước chưa được phát triển, toàn huyện chưa có nhà máy

nước qua xử lý, số hộ dùng nước giếng đạt 97%. Hệ thống thoát nước chưa được

xây dựng kiên cố, còn dựa vào điều kiện tự nhiên là chính.

Về chất lượng các vấn đề xã hội: Nhìn chung nhân dân huyện Đức Hoà có

mức sống cao hơn một số huyện trong tỉnh song vẫn ở mức trung bình của tỉnh,

mức thu nhập bình quân đầu người của huyện ước khoảng 18 triệu đồng/người/năm,

(2011) chỉ bằng 80% mức trung bình của tỉnh. Số hộ nghèo là 3.866 hộ chiếm

10,1% số hộ trong huyện. Trong số các hộ nghèo có tới 82,7% thuộc khu vực nông

thôn. Số thuộc diện chính sách, già cả, neo đơn thuộc diện các hộ nghèo chiếm

15,6% tổng số hộ nghèo.

* Từ năm 2000 đến nay.

Nhận thấy Đức Hòa là một trong những huyện thuộc vùng phát triển kinh tế

trọng điểm của tỉnh Long An với nhiều điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển

công nghiệp – thương mại dịch vụ. Chính vì thế mục tiêu phát triển CN đã được xác

định và đưa vào Nghị Quyết Đại hội huyện Đảng bộ lần thứ VI (nhiệm kỳ 1990 –

1995). Đến Đại hội huyện Đảng bộ lần thứ VII nhiệm kỳ (1996 – 2000), lĩnh vực

68

CN bắt đầu có những chuyển biến rõ nét hơn. Những tín hiệu đầu tiên đánh dấu sự

phát triển của lĩnh vực CN, góp phần vào sự thay đổi cơ cấu kinh tế của huyện là

khi Chính phủ phê duyệt cho phép huyện hình thành 2 KCN Đức Hòa 1 và Đức Hòa

2 (nay đổi tên thành KCN Xuyên Á) với tổng diện tích 600 ha.

Những năm sau đó lĩnh vực CN của huyện không ngừng phát triển, thu hút

đầu tư được đẩy mạnh. Tính đến nay trên địa bàn huyện diện tích đất CN được phê

duyệt quy hoạch là 6212 ha, gồm có 07 KCN 5070 ha và 11 CCN có diện tích 1142

ha. Ngoài ra, có 02 cụm công nghiệp Lý Khương xã Đức Hòa Hạ và Trung Thành

Phát xã Đức Hòa Đông với diện tích 242ha, có quy hoạch nhưng chưa có chỉ tiêu sử

dụng đất CN và một số dự án đầu tư khu dân cư, tái định cư – thương mại dịch vụ

có diện tích 1516ha. Các dự án trên đã bồi thường được hơn 4.700ha, số hộ đã nhận

bồi thường hơn 11.000 lượt hộ, san lấp mặt bằng được 2.600 ha, thu hút hơn 500

nhà đầu tư thứ cấp đăng ký vào các K/CCN tập trung và đã có khoảng 200 nhà máy

đã đi vào hoạt động sản xuất. Riêng 02 cụm công nghiệp xã Đức Hòa Hạ (cụm công

nghiệp Lý Khương) và xã Đức Hòa Đông (cụm công nghiệp Trung Thành Phát) có

khoảng 150 doanh nghiệp vừa và nhỏ đi vào hoạt động (số liệu kê biên, bồi thường

nêu trên chưa tính các dự án đường giao thông thuộc vốn ngân sách nhà nước).

Ngoài ra, còn có trên 10 dự án đầu tư sản xuất trực tiếp với ngành nghề may mặc và

giầy da nằm ngoài các K/CCN với vốn đầu tư chủ yếu 100% vốn nước ngoài nằm

rãi rác ở các xã Đức Hòa Thượng, Đức Lập Hạ, Đức Lập Thượng, Hòa Khánh Tây,

Hòa Khánh Nam, có trên 15 nhà máy và cơ sở sản xuất gạch thuộc địa bàn xã Lộc

Giang, An Ninh Đông đã đi vào hoạt động. Song song, với các dự án tỉnh tiếp nhận

đầu tư thì UBND huyện cũng cho chủ trương thỏa thuận địa điểm trên 370 hộ kinh

doanh cá thể với các ngành nghề thương mại – dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp nằm

rãi rác trên các xã, thị trấn.

- Từ những kết quả quy hoạch phù hợp với điều kiện của địa phương, những

vùng đất được chọn quy hoạch CN chủ yếu là những vùng đất sản xuất nông nghiệp

có năng suất thấp (vùng đất trồng tràm, bàng, cói…) nên ít ảnh hưởng đến diện tích

đất ở và nhà ở của dân, từ đó đã thu hút được nhiều doanh nghiệp đến đầu tư triển

69

khai dự án nên đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế bình quân của huyện giai đoạn

2006-2010 đạt 18,5%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh sang hướng phát triển

công nghiệp – thương mại và dịch vụ trên nền tảng phát triển nông nghiệp. Thu

nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 19,947triệu đồng/người/năm tăng so với

năm 2005 là 14,242 triệu đồng/người/năm, đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ

phận nông dân được cải thiện, về giáo dục và y tế ngày càng phục vụ được tốt hơn.

Đồng thời, hàng năm huyện tổ chức đào tạo nghề và giải quyết việc làm được

khoảng 7000 lao động của địa phương. Thu ngân sách năm sau cao hơn năm trước,

trung bình thu ngân sách nhà nước tăng 5,6% mỗi năm (giai đoạn 2006-2010). Với

các ngành nghề chủ yếu như: May mặc, da giày, nhựa, bao bì, cơ khí…giải quyết

được một lượng lao động đáng kể của đia phương.

- Xác định CN là khâu đột phá trong phát triển kinh tế nên trong thời gian tới,

huyện Đức Hòa tiếp tục có những định hướng như tập trung công tác thu hút đầu tư,

phát triển hạ tầng KCN về mạng lưới giao thông, hệ thống điện, cung cấp nước sinh

hoạt, khu xử lý chất thải công nghiệp…Để bảo đảm tính bền vững lâu dài, huyện

đang ưu tiên thu hút phát triển ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh như : công

nghệ cao sử dụng ít lao động, chú trọng công nghệ chế biến và sản xuất hàng xuất

khẩu, các ngành CN phục vụ phát triển nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn

gắn với bảo vệ môi trường.

- Trong thời gian qua cùng với việc đẩy nhanh phát triển CN, huyện cũng thực

hiện nhiều giải pháp bảo đảm đời sống người dân trong diện phải thu hồi đất và

thực hiện đảm bảo an sinh xã hội. Trước hết thực hiện nghiêm túc chính sách bồi

thường đất nông nghiệp, hoa màu trên đất cho người dân. Các quy định về đơn giá

bồi thường đất, tài sản trên đất và các khoản hỗ trợ khác…được công khai, dân chủ

và nhận được sự đồng thuận cao của nhân dân. Huyện cũng thực hiện giải pháp

chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm cho lao động nông thôn bị thu hồi đất, tư

vấn và giới thiệu việc làm cho đối tượng này, khuyến khích các doanh nghiệp tuyển

dụng người địa phương.

70

- Ngoài ra huyện còn hổ trợ đời sống xây dựng các công trình phúc lợi thiết

yếu, đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội, xây dựng các khu tái định cư bảo đảm người

dân có nơi ổn định trên vùng đất mới để an tâm làm ăn sinh sống. Bên cạnh 6 khu

dân cư do ngân sách Nhà Nước đầu tư, trên địa bàn còn có 10 khu dân cư do các

doanh nghiệp đầu tư với diện tích 730 ha. Huyện đã huy động được sự tham gia

rộng lớn của toàn xã hội trong việc chăm lo gia đình chính sách và bảo đảm thực

hiện tốt an sinh xã hội, đặc biệt là phát huy mối quan hệ với quận huyện giáp ranh

và hội đồng hương Đức Hòa tại TP. Hồ Chí Minh. Trong nhiệm kỳ 2005 – 2010,

huyện đã lập hồ sơ giải quyết chế độ cho trển 3.000 đối tượng chính sách và hỗ trợ

nhà ở cho trên 250 đối tượng nghèo; vận động xây dựng 431 căn nhà tình nghĩa và

853 căn nhà đại đòan kết, thực hiện trợ cấp cho người cao tuổi, trẻ em mồ côi, cơi

nhỡ, cấp bảo hiểm cho người nghèo, người tàn tật…

2.3.3. Tỉ lệ lắp đầy của các khu công nghiệp huyện Đức Hòa

Bảng 2.8: Tỉ lệ lắp đầy của các KCN trên địa bàn huyện Đức Hòa

DT có khả

DT đã cho

Đơn vị: % Tỷ lệ

Diện tích

STT

Tên KCN

năng cho

thuê,đăng

lấp đầy

thành lập

(ha)

thuê (ha)

ký thuê

(%)

KCN Đức Hoà 1

274.2300

183.4600

82.8538

45.16%

1

2137/GP

70.0000

46.6800

46.6800

100.00%

Giai đoạn 1

1.1

2137/GPĐ3

204.2300

136.7800

36.1738

26.45%

Giai đoạn 2

1.2

305.9157

198.6400

94.7985

47.72%

KCN Xuyên Á

2

944/QĐ-TTg

50.0000

20.5000

20.5000

100.00%

Giai đoạn 1

2.1

1194/QĐ-TTg

255.9157

178.1400

74.2985

41.71%

Giai đoạn 2

2.2

543.3536

366.6800

262.4875

71.58%

KCN Tân Đức

3

1409/QĐ-UBND

273.0000

188.7000

169.8300

90.00%

Giai đoạn 1

3.1

1829/QĐ-UBND

270.3536

177.9800

92.6575

52.06%

Giai đoạn 2

3.2

KCN Đức Hoà

4

634.4166

403.7590

77.1460

19.11%

III

3416/QĐ-UBND

5

KCN Hải Sơn

366.4884

275.6938

127.7257

46.33%

3573/QĐ-UBND

6

KCN Tân Đô

208.0432

162.0215

19.0267

11.74%

(Nguồn: Ban Quản Lý khu kinh tế tỉnh Long An năm 2011 )

71

Người thực hiện: Ngô Thị Yến Nhi

72

Nhìn vào bảng tỉ lệ lắp đầy các KCN huyện Đức Hòa chúng ta có thể thấy

- Tỉ lệ lắp đầy chung trung bình của 6 khu là 40,27% (vì KCN Đại Lộc chưa

hoạt động đang xây dựng cơ sở hạ tầng)

- Tỉ lệ lắp đầy nhìn chung còn khá thấp so với diện tích.

- Tỉ lệ lắp đầy có sự khác nhau giữa các KCN. KCN Tân Đức có tỉ lệ lắp đầy

cao nhất là 71,58% . KCN Tân Đô có tỉ lệ lắp đầy thấp nhất là 11.74%

2.3.4. Thực trạng hoạt động của các khu công nghiệp

Hiện nay trên địa bàn huyện Đức Hòa có 7 KCN. Trong đó có 5 KCN đã

chính thức đi vào hoạt động còn lại 2 khu chưa hoạt động.

1/ Khu công nghiệp – dân cư Tân Đức: do Công ty cổ phần đầu tư Tân

Đức làm chủ đầu tư tại xã Đức Hòa Hạ và Hựu Thạnh với tổng diện tích 1169 ha.

Vùng đất này chủ yếu trồng mía và lúa có năng suất thấp nên việc quy hoạch phát

triển công nghiệp là phù hợp.

* Phát triển Khu công nghiệp với tổng diện tích 569,07 ha tại xã Hựu

Thạnh và xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa.

- Giai đoạn 1: Diện tích 276,01 ha, Công ty đã được cho thuê đất với diện

tích 252,91 ha, đã hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật. Hiện tại Công ty tiếp nhận được 89

doanh nghiệp thứ cấp vào đầu tư, trong đó đã xây dựng và đi vào hoạt động là 40

doanh nghiệp, đang xây dựng là 28 doanh nghiệp, còn lại chưa xây dựng.

- Giai đoạn 2: diện tích 293 ha, Công ty đã được giao đất với diện tích là

275.34 ha, san lấp mặt bằng khoảng 200ha đang xây dựng hạ tầng kỹ thuật để tiếp

nhận đầu tư (hiện nay có 11 nhà đầu tư đăng ký). Tọa lạc tại xã Đức Hòa Hạ, huyện

Đức Hòa, là nơi có nhiều thuận lợi.

- Tiếp giáp: Đường tỉnh 830 và 825 đi Quốc lộ 1A, TPHCM và các tỉnh

Đồng bằng Sông Cửu Long thuận lợi, nhanh chóng. Giáp sông Vàm Cỏ Đông

thông ra Biển Đông và thuận tiện đi đường thủy đến Thành phố HCM, các Tỉnh

Đồng bằng Sông Cửu Long và các khu vực khác. Trong KCN có Cảng sông Vàm

Cỏ Đông 33 ha thuận lợi cho việc xuất nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp

trong KCN Tân Đức.

73

- Dự án xây dựng khu dân cư 422 ha liền kề khu công nghiệp có khả năng

phục vụ chổ ở cho trên 58.000 người. Hiện đang triển khai giai đoạn 1 quy mô

74,22 ha với hệ thống hạ tầng kỹ thuật thuận lợi:

+ Đường nội bộ bê tông nhựa được bố trí cho mỗi khu đất bảo đảm cho

các loại xe thuận tiện ra vào khu công nghiệp và kết nối với các trục đường giao

thông chính.

+ Hệ thống trạm cung cấp điện 110KV/22KV=2x63MVA dẫn đến hàng rào

các xí nghiệp

+ Cấp nước từ nhà máy cấp nước KCN công suất 48.000 m3/ngày

+ Hệ thống thoát nước thải riêng biệt tập trung đến khu xử lý nước thải tập

trung của KCN.

+ Hệ thống thông tin liên lạc với 5.000 đường kết nối nội địa và quốc

tế; tổng đài KCN có dung lượng 22.000 port đáp ứng nhu cầu viễn thông với tất cả

các loại hình hiện có trên thế giới.

- Ngành nghề thu hút đầu tư: CN chế biến thực phẩm, thức ăn gia súc, chế

tạo lắp ráp cơ khí, điện tử, CN sản xuất hàng tiêu dùng, CN vật liệu xây dựng, CN

dệt nhuộm và CN giấy

- Tỉ lệ lắp đầy: KCN Tân Đức có tỉ lệ lắp đầy lớn nhất so với các KCN khác

trên địa bàn của huyện là 71,58% ở giai đoạn 1 là 90,00% và giai đoạn 2 là 52,06%.

Nhìn chung tỉ lệ lắp đầy của KCN Tân Đức tương đối ổn định và có xu hướng ngày

càng lắp đầy hơn .

- Tình hình sử dụng lao động : Số người lao động của toàn khu cao nhất so

với các KCN của huyện là 7,200 người. Trong đó lao động của doanh nghiệp nước

ngoài là 3,750 người chiếm 52% và lao động trong nước: 3450 người chiếm 48%.

- Vốn đầu tư trong và ngoài nước:

+ Vốn đầu tư trong nước là: 2.146.411.110.282 đồng năm 2011 tăng lên

2.164.162.420.435 năm 2012.

+ Vốn đầu tư ngoài nước là: 64,734,296.40 USD năm 2011 và tăng lên

66,980,254.80 USD năm 2012

74

Như vậy vốn đầu tư trong nước và ngoài nước có tăng lên nhưng tương đối chậm.

* Khu dân cư – thương mại – dịch vụ Tân Đức.

Dự án đầu tư khu dân cư, vui chơi giải trí, tái định cư đầu tư với diện tích

600 ha tại xã Đức Hòa Hạ và xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa. Riêng dự án Khu

cảng Hựu Thạnh 33 ha chưa triển khai, tỉnh đã đồng ý cho điều chỉnh chừa lại 100

m đầu cặp đường tỉnh 830 và đường ra sông Vàm Cỏ Đông của dự án, để người dân

không phải giải tỏa di dời, ổn định cuộc sống.

2/ Khu công nghiệp Đức Hòa 1: do Công ty Cổ phần Khai thác Hạnh Phúc

làm chủ đầu tư diện tích 274 ha tại xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa. Vùng đất

này sản xuất nông nghiệp có năng suất thấp, chủ yếu trồng tràm nên việc quy hoạch

phát triển công nghiệp là phù hợp. Đến nay toàn khu đã bồi thường được khoảng

245ha, san lấp mặt bằng được khoảng 150ha và được cho thuê đất là 103,3ha. Về

thu hút đầu tư được 73 nhà đầu tư thứ cấp (33 doanh nghiệp nước ngoài, 40 DN

trong nước), trong đó có 55 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, 18 DN đang triển

khai xây dựng. Tại ấp 5, xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, một vị trí có nhiều

thuận lợi.

+ Giáp ranh TPHCM dọc theo Đường tỉnh 825 cách trung tâm TP Hồ Chí

Minh 18 km,

+ Cách sân bay Tân Sơn Nhất 25 km và cách Tân Cảng 28 km.

+ Cách Quốc lộ 1A 12 km và cách Quốc lộ 22 (đường Xuyên Á) 13km.

+ Nằm giữa 3 khu dân cư lớn là Thị trấn Đức Hòa (Long An), Thị trấn Bình

Chánh và Quận 6 Tp.Hồ Chí Minh.

- Hạ tầng kỹ thuật:

+ Đường nội bộ bê tông nhựa được bố trí cho mỗi khu đất bảo đảm cho các loại

xe vận chuyển container ra vào thuận lợi.

+ Hệ thống điện trung thế thuộc mạng lưới quốc gia dẫn đến hàng rào các xí

nghiệp, với giá 815đ/KW (chưa VAT)

+ Cấp nước từ nguồn nước ngầm do công ty đầu tư khai thác cấp nước trực tiếp đến từng doanh nghiệp với giá 4.000 đồng/m3

75

+ Hệ thống thoát nước thải được lắp đặt đến từng xí nghiệp để thu gom tập

trung đến nhà máy xử lý nước thải.

- Ngành nghề thu hút đầu tư: công nghiệp nhẹ ít gây ô nhiễm môi trường như chế

biến nông thủy sản, sản xuất các sản phẩm phục vụ nông nghiệp, hàng tiêu dùng và

vật liệu xây dựng.

- Tỉ lệ lắp đầy: KCN Tân Đức có tỉ lệ lắp đầy lớn nhất so với các KCN khác trên

địa bàn của huyện là 45.16% ở giai đoạn 1 là 100,00% và giai đoạn 2 là 26,45%.

Nhìn chung tỉ lệ lắp đầy của KCN Đức Hòa 1 đã lắp kín ở giai đoạn 1 nhưng giai

đoạn 2 thì chỉ mới 26,45%. Nên các doanh nghiệp cần có chính sách thu hút đầu tư

trong và ngoài nước đển nhanh chóng lắp đầy KCN này.

- Tình hình sử dụng lao động: Số người lao động của toàn khu đứng thứ 2 so với

các KCN của huyện là 5,618 người. Trong đó lao động của doanh nghiệp nước

ngoài là 3,188 người chiếm 57% và lao động trong nước: 2,430 người chiếm 43%.

- Vốn đầu tư trong và ngoài nước:

+Vốn đầu tư trong nước là: 1.407.162.149.461 đồng năm 2011 và tăng lên

1.598.507.289.075 đồng năm 2012.

+Vốn đầu tư ngoài nước là: 102,725,011.99 USD năm 2011 và tăng lên

106,443,298.41USD năm 2012.

Như vậy có thể thấy vốn đầu tư trong ngoài nước tăng lên rõ rệt

3/ Khu công nghiệp Dân cư Xuyên Á (Đức Hòa 2): do Công ty Cổ phần

Ngọc Phong làm chủ đầu tư tại xã Mỹ Hạnh Bắc, huyện Đức Hòa.

Giai đoạn 1: 50ha. Quyết định số 944/QĐ-TTg ngày 08/11/1997

Diện tích đất công nghiệp: 23,4214ha. Đã cho thuê: 20,50ha

Giai đoạn 2: 255,6ha. Quyết định số: 1194/QĐ-TTg ngày 17/12/2002

Diện tích đất công nghiệp 142,4832ha. Đã cho thuê 15,39 ha

Địa điểm: xã Mỹ Hạnh Bắc, huyện Đức Hoà, Long An.

Cách Thị trấn Đức Hòa 8 km và cách trung tâm TPHCM 22 km; cách sân bay

Tân Sơn Nhất 18 km, cách Tân Cảng 25 km, cảng Sài gòn 28 km.

76

Hạ tầng kỹ thuật:

+ Đường nội bộ bê tông nhựa 2 làn xe được bố trí với khoảng cách giữa các

trục đường trung bình từ 200m đến 400 m tạo thành các lô đất đảm bảo cho các loại

xe vận chuyển container ra vào thuận lợi.

+ Hệ thống điện trung thế thuộc mạng lưới quốc gia dẫn đến hàng rào các xí

nghiệp

+ Nhà máy xử lý nước ngầm tại chỗ công suất 12.000m3/ngày cung cấp nước

trực tiếp

+ Hệ thống thoát nước thải riêng biệt tập trung đến trạm xử lý nước thải theo

tiêu chuẩn và công nghệ Nhật Bản.

Ngành nghề thu hút đầu tư: công nghiệp chế biến nông sản; chế tạo lắp ráp

cơ khí, máy móc,

lắp ráp linh kiện điện tử; công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp dệt,

nhuộm,văn phòng phẩm, y tế, thể thao

Dự án đầu tư khu công nghiệp với diện tích 483 ha.

+ Giai đoạn 1: Diện tích 50 ha, còn 25 hộ nằm ven đường tỉnh 824 chưa

nhận tiền, Công ty đã chuyển tiền gửi ngân hàng nhưng chưa bố trí tái định cư do

chưa hoàn chỉnh hạ tầng khu tái định cư.

Về hạ tầng như đường giao thông, điện, thông tin liên lạc, hệ thống xử lý

nước thải đã xây dựng tương đối hoàn chỉnh.

+ Giai đoạn 2: Diện tích 256 ha đã bồi thường cơ bản xong. Công ty đã san

lấp mặt bằng được khoảng 100 ha, đang triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng đạt

khoảng 70% diện tích.

+ Giai đoạn 3: Diện tích 177 ha, Công ty đã tự thỏa thuận bồi thường được

khoảng 80 ha và đang tiến hành công tác bồi thường.

- Tỉ lệ lắp đầy: KCN Tân Đức có tỉ lệ lắp đầy khoảng là 47,72% ở giai đoạn 1 là

100,00% và giai đoạn 2 là 41,71%. Nhìn chung tỉ lệ lắp đầy của KCN Tân Đức

tương đối ổn định ở giai đoạn 1 và chỉ chưa được 50% ở giai đoạn 2.Vì vậy phải có

chính sách thích hợp nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước

77

- Tình hình sử dụng lao động: Số người lao động của toàn khu là 3,875

người. Số lượng lao động này chỉ bằng 1/2 số người lao động của KCN tân Đức.

Trong đó lao động của doanh nghiệp nước ngoài là 2,566 người chiếm 66% và lao

động trong nước: 1,309 người chiếm 34%.

- Vốn đầu tư trong và ngoài nước:

+Vốn đầu tư trong nước là: 465.286.935.465 đồng năm 2011 tăng lên

416.776.204.335 đồng năm 2012. Như vậy vốn đầu tư trong nước có tăng lên nhưng

tương đối chậm.

+Vốn đầu tư ngoài nước là: 25,653,297.40 USD năm 2011 và tăng lên

25,653,297.40 USD năm 2012

Về môi trường: dự án giai đoạn 1 và 2 đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường

thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường. Riêng hệ thống xử lý nước thải đã hoàn thành 3.000m3/ngày.đêm và đang xây dựng thêm 1 nhà máy xử lý nước thải 10.000m3/ngày đêm.

Tính đến nay, Công ty đã bồi thường cho dân được khoảng 380ha, đã san lấp

mặt bằng được khoảng 150ha. Thu hút được 76 doanh nghiệp thứ cấp (21 DN nước

ngoài, 55 DN trong nước), trong đó đang hoạt động là 14 doanh nghiệp; đang xây

dựng nhà xưởng là 20; đã đăng ký nhưng chưa xây dựng là 42 doanh nghiệp.

* Đối với khu tái định cư tại xã Mỹ Hạnh Nam:

Giai đoạn 1 với diện tích 32ha, san lấp xong mặt bằng, đã xây dựng hạ tầng

được 80% diện tích để phân lô, giao nền cho dân tái định cư. Đến nay đã cho dân

đăng ký được 500 nền nhưng chỉ có 01 hộ dân vào xây dựng nhà ở do hạ tầng kỷ

thuật, điện nước của khu tái định cư chưa hoàn chỉnh.

4/ Khu công nghiệp Đức Hòa 3

Ngày 31/12/2008, UBND tỉnh ban hành quyết định số 3467/QĐ-UBND thành

lập khu công nghiệp Việt Hoá-Đức Hoà 3 tại xã Đức Lập hạ, huyện Đức Hoà, tỉnh

Long An. Diện tích khu công nghiệp 83,21509 ha, do Công ty TNHH một thành

viên Phát triển Kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp Phú Mỹ Vinh làm chủ đầu tư.

Khu công nghiệp Việt Hoá-Đức Hoà 3 được tổ chức và hoạt động theo quy định tại

78

Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính Phủ quy định về khu công

nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.

- Vị trí: xã Đức Lập Hạ và xã Mỹ Hạnh Bắc, huyện Đức Hòa.

Giáp ranh và cách trung tâm TP.HCM 25 km. Giao thông bộ nối liền và cách

Quốc lộ 22 (tuyến đường Xuyên Á) 9 km. Nằm giữa 3 cụm dân cư lớn Thị trấn Đức

Hòa, Thị trấn Hậu Nghĩa (Long An) và Thị trấn Củ Chi (TP.Hồ Chí Minh)

- Ngành nghề thu hút đầu tư :

+ Ngành CN chế biến khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng.

+ Ngành CN cơ khí: chế tạo thiết bị phụ tùng cho các ngành CN, chế tạo sản

phẩm phục vụ ngành giao thông vận tải, luyện kim, động lực và các thiết bị nâng

chuyển, gia công kim loại...

+ Ngành CN điện tử - công nghệ thông tin : sản xuất thiết bị tin học, sản xuất

sản phẩm điện tử dân dụng, lắp ráp điện tử...

+ Ngành CN tiêu dùng : công nghiệp dệt, may, thêu, da giày, túi xách, CN

nhuộm, CN nhựa, CN gốm sứ thủy tinh cao cấp, CN chế biến nông, lâm, thủy - hải

sản, CN thực phẩm, CN hóa chất, mỹ phẩm, hương liệu, gỗ, giấy, bao bì carton ...

+ Ngành CN nhẹ khác như sản xuất trang thiết bị dùng cho dạy học hoặc dụng

cụ thể thao, sản xuất vật liệu cao cấp, cao su, keo dán, polyme...

+ Các ngành CN khác sử dụng ít nước và ít gây ô nhiễm môi trường.

Khu công nghiệp Đức Hòa 3 được Chính phủ phê duyệt thành lập với diện tích

là 2.300 ha tập trung chủ yếu dọc theo Kênh Thầy Cai thuộc xã Đức Lập Hạ và Mỹ

Hạnh Bắc, đất khu vực này chủ yếu trồng tràm, bàng, cói có năng suất thấp, ít có

nhà ở của dân nên rất phù hợp cho việc phát triển CN và thuận lợi cho việc bồi

thường GPMB. Toàn khu đã thu hút được 14 chủ đầu tư với diện tích là

1.892ha/2.300ha.

- Tỉ lệ lắp đầy: KCN Đức Hòa 3 có tỉ lệ lắp đầy thấp so với các KCN khác

trên địa bàn của huyện với tỉ lệ lắp đầy chung là 19,11%. Trong các KCN nhỏ của

các doanh nghiệp đang hoạt động ở đây thì chỉ có KCN Đức Hòa 3- Việt Hóa có tỉ

lệ lắp đầy cao hơn những khu khác 48,64% còn những KCN khác có tỉ lệ lắp đầy rất

79

thấp thậm chí là chỉ 1.74% ở KCN Đức Hòa 3- Resco ở giai đoạn 1 là 100,00% và

giai đoạn 2 là 41,71%. Vì vậy phải có chính sách thích hợp nhằm thu hút đầu tư

trong và ngoài nước.

- Tình hình sử dụng lao động : Số người lao động của toàn khu còn thấp so

với các KCN của huyện là 1255 người. Trong đó lao động của doanh nghiệp nước

ngoài là 7,82 người chiếm 62% và lao động trong nước: 473 người chiếm 38%.

- Vốn đầu tư trong và ngoài nước:

+Vốn đầu tư trong nước là: 301.287.189.295 đồng năm 2011 tăng lên

378.370.010.317đồng năm 2012. Như vậy vốn đầu tư trong nước có tăng lên nhưng

tương đối chậm.

+Vốn đầu tư ngoài nước là: 92,263,393.77 USD năm 2011 và tăng lên

103,199,290.92 USD năm 2012

Toàn khu đến nay đã san lấp mặt bằng được khoảng 400 ha, chỉ có khoảng 40

nhà đầu tư thứ cấp đăng ký (15 DN nước ngoài, 25 DN trong nước) và đã có 10

doanh nghiệp đi vào hoạt động, còn lại đang chuẩn bị xây dựng nhà xưởng, cụ thể :

Bảng 2.9: Tên một số Công ty trong KCN Đức Hòa 3

Tên Công ty Sản phẩm chủ yếu Dự án tiếp nhận đầu tư

Anh Hồng Phú Mỹ Vinh Thái Hòa Diện tích quy hoạch (ha) 54,9 ha 88 ha 100 ha 5 5 12 Số doanh nghiệp đã hoạt động 3 3 3 thực ion,

0 0 2 Dệt may Dệt, dây giày, bia Nước phẩm, nước khoáng Thuốc trừ sâu

40 ha 300 ha 100 ha 295 ha 91 ha

Đức Lợi Song Tân Hồng Đạt KCN và đô thị Resco Liên Thành Long An Long Đức Thép Mười Đây Long V Sài Gòn Long An Minh Ngân Dệt kim Đông Phương 1 Đang đầu tư hạ tầng Đang san lắp mặt bằng 162,68 ha Đang chi trả bồi thường Đang san lắp mặt bằng Đang triển khai xây dựng hạ tầng Đang đầu tư hạ tầng Đang san lắp mặt bằng Thu hồi 137 ha 100 185,4 138,05 265,60

Nguồn: Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Long An năm 2011

80

5/ Khu Công nghiệp Hải Sơn

Vị Trí

+ Tiếp giáp Đường tỉnh 830 và 825 đi Quốc lộ 1A, TPHCM và các tỉnh Đồng

bằng Sông Cửu Long thuận lợi, nhanh chóng.

+ Giáp sông Vàm Cỏ Đông thông ra Biển Đông và thuận tiện đi đường thủy

đến Thành phố HCM, các Tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và các khu vực khác.

+ Trong khu công nghiệp có Cảng sông Vàm Cỏ Đông 33 ha thuận lợi cho việc

xuất nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp trong KCN Hải Sơn.

+ Cách Trung tâm TPHCM 20 km và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất 20 km,

cách Thị trấn Bến Lức và đường cao tốc Sài Gòn – Trung Lương 15 km.

Hạ tầng kỹ thuật

Địa chất rất tốt bao gồm đất, sét, sỏi, dưới tầng móng do đó chi phí đầu tư để

xây dựng nhà xưởng giảm, thấp so với các khu vực khác là 30%. Đường chính dẫn

vào KCN rộng 26m, bao gồm lề, hai bên vỉa hè có cây xanh nhiều bóng mát, các

đường phụ rộng 22m.

Đầu tư kinh doanh khu công nghiệp

Công ty TNHH Hải Sơn là chủ đầu tư cơ sở hạ tầng với hình thức giao đất có

đóng tiền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng toàn bộ cho các doanh nghiệp đến

đầu tư. Tất cả các chi phí đóng tiền sử dụng đất do công ty Hải Sơn chi trả và chịu

trách nhiệm lập thủ tục đăng ký giấy phép kinh doanh và thủ tục chuyển quyền sử

dụng đất trong thời gian sớm nhất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh

nghiệp có nhiều cơ hội để chọn điểm dừng là khu công nghiệp Hải Sơn. Bên cạnh

đó giá chuyển nhượng hợp lý so với các khu vực khác.

*Dự án đầu tư hạ tầng công nghiệp với diện tích 458 ha tại xã Đức Hòa

Hạ, huyện Đức Hòa.

- Giai đoạn 1: Diện tích 41 ha, đã hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật, có trên 25

doanh nghiệp vào đầu tư đã lấp đầy 100% diện tích, đã đi vào hoạt động.

- Giai đoạn 2: Diện tích 76 ha, đã san lấp 100% diện tích, triển khai tương

đối hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật. Công ty đã tiếp nhận được 34 doanh nghiệp vào

81

đầu tư với 90% diện tích đã đăng ký.

- Giai đoạn 3: Diện tích 197 ha, đã bồi thường đạt 100% diện tích. Công ty

đang triển khai san lấp mặt bằng đạt 60ha. Hiện nay đã có trên 40 nhà đầu tư thứ

cấp đăng ký.

- Giai đoạn 4: diện tích 144 ha, đã bồi thường 81% diện tích. Hiện còn

33/166 hộ chưa nhận tiền bồi thường, Công ty chuyển tiền mở sổ tiết kiệm cho từng

trường hợp cụ thể.

- Về thu hút đầu tư: hiện nay có trên 80 nhà đầu tư thứ cấp đăng ký vào

KCN, đã giao mặt bằng được 56 nhà đầu tư và có 21 nhà đầu tư thứ cấp đi vào hoạt

động, giải quyết được hơn 3.500 lao động.

-Về môi trường: Công ty đã xây dựng xong hệ thống xử lý nước thải và đang

đi vào hoạt động với công suất 2.000m3/ngày-đêm.

- Tỉ lệ lắp đầy: KCN Hải Sơn có tỉ lệ lắp đầy tương đối cao so với các KCN

khác trên địa bàn của huyện với tỉ lệ lắp đầy chung là 46,33% nhưng vẫn

chưa đạt 50%. Vì vậy phải có chính sách thích hợp nhằm thu hút đầu tư trong

và ngoài nước.

- Tình hình sử dụng lao động: Số người lao động của toàn khu đứng thứ 3 so

với các KCN của huyện là 4764 người. Trong đó lao động của doanh nghiệp

trong nước ngoài là 4764 người chiếm 100% và không có lao động nước

ngoài.

- Vốn đầu tư trong và ngoài nước:

+Vốn đầu tư trong nước là: 277.535.242.214 đồng năm 2011 tăng lên

551.097.779.418 đồng năm 2012. Như vậy vốn đầu tư trong nước có tăng lên gấp 2

lần so với năm trước.

+Vốn đầu tư ngoài nước là: Những doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở đây

chưa có. Vì thế KCN Hải Sơn cần có những biện pháp mạnh mẽ nhằm thu hút đầu

tư trực tiếp từ nước ngoài.

6/ Khu Công nghiệp Tân Đô

Do Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Tân Đô đầu tư hạ tầng công nghiệp

82

với diện tích 310 ha tại xã Đức Hòa Hạ, đã bồi thường diện tích khoảng

287ha/310ha. Hiện nay còn 05 hộ chưa nhận tiền bồi thường, huyện đang chỉ đạo

tập trung giải quyết

Công ty đã san lấp mặt bằng được hơn 250ha, có 30 nhà đầu tư đăng ký đầu

tư với diện tích 60ha. Công ty đã được giao đất đất đợt 1 với diện tích 172,57 ha.

Về triển khai hạ tầng kỷ thuật, Công ty đã thi công xong cầu bắt qua kênh An Hạ và

các trục đường chính trong khu công nghiệp.

Vị Trí

- Phía Bắc giáp kênh An Hạ

- Phía Đông Nam giáp kênh Xáng nhỏ

- Phía Tây giáp Cụm công nghiệp Hải Sơn.

- Nằm giáp ranh huyện Bình Chánh, Tp.HCM

- Cách trung tâm Tp.HCM 17km, cách sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất 25km,

gần trung tâm Thị trấn Đức Hoà. Vậy KCN Tân Đô được kết nối với các đường

giao thông trọng yếu như: QL1A, đường Xuyên Á, đường Cao tốc Sài Gòn – Trung

Lương, Tỉnh lộ 825, 830…

- Cách sông Vàm Cỏ Đông 4 km nên giao thông đường thuỷ rất thuận tiện cho

việc vận chuyển hàng hoá, vật tư từ KCN đến các Cảng, các tỉnh lân cận và

Campuchia.

Cơ sở hạ tầng

- Hệ thống giao thông nội bộ: Với tổng chiều dài gần 30km, trải nhựa bê tông

nóng, chịu tải cao, được kết nối với hệ thống giao thông ngoại vi thông qua Tỉnh lộ

10. Các trục đường chính với lộ giới từ 42m, 30m đến 18m, được qui hoạch hợp lý,

có giải cây xanh ngăn cách, vỉa hè thông thoáng tạo thành hệ thống giao thông nội

bộ liên hoàn.

- Đường giao thông ngoại vi: KCN Tân Đô nằm cạnh các tỉnh lộ 824, 825

(TL.10) và 830 được nối liền với hệ thống giao thông huyết mạch như đường Hồ

Chí Minh, Quốc lộ 1A, đường Xuyên Á… sẽ giúp cho việc vận chuyển vật tư, hàng

hoá ra vào KCN thuận lợi. Bên cạnh đó KCN còn nằm sát dòng kênh An Hạ thông

83

ra sông Vàm Cỏ Đông là một lợi thế giao thông đường thuỷ đi các tỉnh miền Tây và

Campuchia.

- Hệ thống điện công nghiệp, hệ thống thoát nước mưa, thoát nước thải, hệ

thống thông tin liên lạc, Phòng cháy chữa cháy… được đưa đến tận hàng rào các

nhà máy, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt

trong toàn KCN.

- Đặc biệt nguồn nước sạch được dẫn về từ Tp.HCM do chính Công ty CP

ĐT&XD Tân Đô đầu tư hệ thống ống dẫn với công suất lớn, đủ cung ứng nhu cầu

của KCN Tân Đô và các KCN lân cận.

- Tỉ lệ lắp đầy: KCN Tân Đức có tỉ lệ lắp đầy thấp nhất so với các KCN khác

trên địa bàn của huyện với tỉ lệ lắp đầy chung của khu hiện nay là 11,74%. Vì mới

có quyết định thành lập vào năm 2011 nên tỉ lệ lắp đầy quá còn thấp. KCN đang kêu

gọi đầu tư nên BQL khu kinh tế, và chính quyền địa phương phải có chính sách

thích hợp nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước.

- Tình hình sử dụng lao động: Số người lao động của toàn khu nhất nhất so

với các KCN trong huyện chỉ mới có 43 người. Trong đó lao động của doanh

nghiệp nước ngoài là 0 người lao động trong nước: 43 người.

7/ Khu công nghiệp Đại Lộc: do Công ty Cổ phần Đại Lộc Long An làm chủ đầu

Dự án Khu dân cư CN Đại Lộc: diện tích 50 ha tại xã Mỹ Hạnh Nam tọa lạc

giữa khu vực có nhiều KCN đã hình thành và hoạt động hiệu quả, thuộc KCN Đức

Hòa I, với các điều kiện về vị trí rất thuận lợi: Cách tỉnh lộ 825 chỉ 4km. Con đường

này hiện đang được Nhà nước đầu tư nâng cấp và mở rộng. Khi công trình hoàn

thành sẽ mang đến sự thay đổi lớn về giao thông, hàng hóa sẽ dễ dàng vận chuyển

đến các cảng biển một cách thuận tiện và nhanh chóng.

Sau khi Công ty Đại Lộc đầu tư xây dựng đoạn đường xuyên qua KCN dự

kiến hoàn thành vào quý I-2012, khoảng cách đến với tỉnh lộ 824 (tỉnh lộ 9 trước

đây) chỉ còn 2km sau đó kết nối với Quốc lộ 22, rút ngắn thời gian di chuyển từ

KCN đến Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất (TPHCM) còn 30 phút.

84

Công ty cổ phần Đại Lộc rất chú trọng trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ

thuật KCN một cách đồng bộ với chất lượng cao nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu và

quyền lợi của khách hàng.

Khu công nghiệp có tính chất là KCN nhẹ và nặng, nhưng chủ yếu phát triển

các cơ sở CN nhẹ và CN kỹ thuật cao, ít gây ô nhiễm, như may mặc, dệt kim; gia

công cơ khí; cơ khí chế tạo máy; sản xuất bao PP, hạt nhựa; sản xuất hàng tiêu

dùng; các sản phẩm tẩy rửa, hóa mỹ phẩm; sản xuất tơ sợi, dệt; sản xuất gốm sứ và

thủy tinh các loại; nhựa gia dụng; công nghệ thực phẩm; trạm trộn bê tông; sản xuất

các loại máy móc, phụ tùng phục vụ ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và CN.

Các ngành CN kỹ thuật cao, chế biến lương thực, thực phẩm: sản xuất các loại

công cụ, phụ tùng, linh kiện phục vụ ngành CN điện tử, phương tiện thông tin, viễn

thông; CN dược phẩm, thiết bị y tế; sản xuất các loại nước giải khát; chế biến các

loại lương thực, thực phẩm. Khu dân cư CN Đại Lộc được quy hoạch với 4 khu vực

bao gồm: nhà máy, kho ngoại quan, thương mại phức hợp và dân cư.

Vị trí : Thuộc KCN Đức Hoà Đông, cách đường Tỉnh 825 (tỉnh lộ 10 cũ)

khoảng 4 Km và cách Thị Trấn Đức Hoà khoảng 6 Km, cách đường Xuyên Á 10

Km, cách Quốc Lộ 1A 11 Km, cách đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương 16 Km

cách trung tâm TP.HCM khoảng 22 Km

Đầu tư hạ tầng CN với diện tích 350 ha tại xã Đức Hòa Đông, huyện Đức

Hòa. Trung tâm phát triển quỹ đất huyện đã triển khai kê biên thực địa xong, đang

áp giá lập phương án bồi thường chuẩn bị chi trả cho dân.

Đến ngày 17/8/2011, UBND huyện Đức Hòa nhận được văn bản số 08/CV-

ĐLLA.11 ngày 16/8/2011 của Công ty Cổ phần Đại Lộc Long An, nội dung Công

ty xin được giản tiến độ chi trả bồi thường cho người dân, cụ thể như sau:

-Ngày 01/3/2012, Công ty chuyển tiền vào tài khoản của Trung tâm phát

triển quỹ đất huyện để chi trả bồi thường cho dân dự án Khu tái định cư 50 ha tại xã

Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa.

-Ngày 01/6/2012, chi trả bồi thường dự án khai thác hầm đất 38 ha tại xã

Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa.

85

- Ngày 01/01/2013, chi trả bồi thường dự án Khu công nghiệp, (cụ thể kèm

theo văn bản số 08/CV-ĐLLA.11)

UBND huyện có văn bản số 2413/UBND-KT ngày 24/8/2011 trình xin chủ

trương UBND tỉnh về trường hợp xin của Công ty nêu trên.

2.3.5. Doanh thu của các KCN

Bảng 2.10: Doanh thu của các doanh nghiệp DDI

trong các KCN huyện Đức Hòa năm 2011

Đơn vị tính: đồng

Doanh Thu

Tên KCN Tổng cộng Doanh thu xuất khẩu

Tân Đức Đức Hòa 1 Xuyên Á Đức Hòa 3 Hải Sơn Tân Đô Đại Lộc 1,001,224,749,422 5,621,341,968,606 323,527,979,636 287,597,302,225 615,671,047,135 0 0 38,012,577,967 132,745,947,677 61,470,934,626 234,000,000 198,997,839,528 0 0 Doanh thu tiêu thụ trong nước 963,212,171,455 5,488,596,020,928 262,057,036,010 287,363,302,225 452,673,207,607 0 0

(Nguồn: xử lý số liệu từ Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Long An năm 2011)

Qua bảng trên có thể thấy doanh thu của các doanh nghiệp DDI trong KCN

Đức Hòa 1 là cao nhất, tiếp đến là KCN Tân Đức, Hải Sơn, Xuyên Á, KCN Tân Đô

chưa đi vào hoạt động còn KCN Đại Lộc thì đang xây dựng cơ sở hạ tầng.

Bảng 2.11: Doanh thu của các doanh nghiệp FDI trong các KCN

huyện Đức Hòa năm 2011

Đơn vị tính: USD

Doanh Thu

Tên KCN Tổng cộng Doanh thu xuất khẩu

Tân Đức Đức Hòa 1 Xuyên Á Đức Hòa 3 Hải Sơn Tân Đô Đại Lộc 17,287,746.79 265,391,550.13 100,153,758.99 16,180,610.65 0 0 0 Doanh thu tiêu thụ trong nước 10,269,687,53 244,387,641,54 57,908,435.54 14,827,533,68 0 0 0 7,018,059.26 21,003,908.59 42,245,323.45 1,353,076.97 0 0 0

(Nguồn: xử lý số liệu từ Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Long An năm 2011)

86

- Giá trị sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh Long An (2011) là 70.476.527

triệu đồng. Huyện Đức Hòa chiếm 19.3% giá trị sản xuất công nghiệp trong tổng số

13 huyện và 1 thành phố của tỉnh của toàn tỉnh.

- Doanh thu của các KCN trong huyện (tính cả doanh nghiệp DDI và FDI) là

ước đạt khoảng 8.687.292 triệu đồng chiếm khoảng 64% gía trị công nghiệp của

toàn huyện, và doanh thu các KCN của huyện chiếm 12,3 % giá trị sản xuất công

nghiệp của toàn tỉnh (2011).

- Số cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện tăng liên tục qua các năm.

Giai đọan từ năm 2007 đến 2010 số cơ sở có tăng lên nhưng không nhiều trung bình

mỗi năm khoảng 42 cơ sở . Riêng đến năm 2011 số cơ sở đã giảm xuống 14 cơ sở

so với 2010 nguyên nhân là do các cơ sở gặp nhiều khó khăn và làm ăn thua lỗ.

Bảng 2.12: Cơ sở sản xuất công nghiệp ở huyện Đức Hòa ( năm 2007-2011)

Năm 2007 2008 2009 2010 2011

Cơ sở 1 649 1 693 1 753 1 775 1 761

Nguồn Niên giám thống kê huyện Đức Hoà năm 2011

Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện tăng nhanh chóng năm 2010 là

7.558.326 triệu đồng (2011) đã tăng lên 13.626.394 triệu đồng (2011). Trong đó

công nghiệp chế biến chiếm tỉ lệ lớn nhất là 99,85% (năm 2011). Các ngành công

nghiệp khác chiếm tỉ lệ không đáng kể, qua việc quan sát bảng 2.13 có thể thấy

công nghiệp khai thác mỏ khoảng 0,05% còn lại công nghiệp sản xuất và phân phối

điện nước chỉ chiếm 0,1%

Bảng 2.13: Giá trị sản xuất công nghiệp của huyện năm 2010 và 2011

ĐVT: Triệu đồng

Giá trị sản xuất công nghiệp Năm 2010 Năm 2011

7.558.326 13.626.394 Tổng số:

3.132 5.646 Công nghiệp khai thác mỏ

7.547.445 13.606.778 Công nghiệp chế biến

7.747 13.970

Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước

(Nguồn: xử lý từ niên giám thống kê huyện Đức Hòa năm 2011)

87

Riêng ngành công nghiệp chế biến nhìn chung sản phẩm rất đa dạng, trong đó

có nhiều mặt hàng chiếm GTSX lớn so với các mặt hàng sản xuất khác như: sản

xuất than cốc, hóa chất, sản xuất thực phẩm và đồ dùng, sản phẩm dệt, sản xuất sản

phẩm từ kim loại, sản xuất trang phục, sản xuất sản phẩm hàng da, sản xuất giấy và

các sản phẩm bằng giấy …

Bảng 2.14: Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến của huyện Đức Hòa

năm 2010-2011

ĐVT: Triệu đồng

Công nghiệp chế biến Năm 2010

Tổng số Sản xuất thực phẩm và đồ dùng Sản xuất thuốc lá thuốc lào Sản xuất sản phẩm dệt Sản xuất trang phục Sản xuất sản phẩm hàng da, giả da Sản xuất sản phẩm gỗ và lâm sản Sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy Xuất bản, in và sao bản ghi Sản xuất than cốc, hóa chất Sản xuất sản phẩm cao su và plastic Sản xuất sản phẩm từ khoáng, phi kim loại khác Sản xuất sản phẩm từ kim loại và sản xuất kim loại Sản xuất máy móc, thiết bị điện Sản xuất thiết bị, điện tử Sản xuất sửa chữa xe có động cơ Sản xuất phương tiện vận tải khác Sản xuất giường tủ, bàn ghế Sản xuât sản phẩm khác 7.547.445 831.512 9.696 507.133 627.232 611.268 103.764 589.092 8.843 2.027.320 949.045 294.380 796.108 63.449 64.049 650 50 32.752 31.102 Năm 2011 13.606.778 1.499.294 17.480 914.259 1.130.774 1.101.994 187.066 1.062.015 15.942 3.654.852 1.710.938 530.708 1.435.224 114.386 115.468 1.172 90 59.045 56.071

(Nguồn niên giám thống kê huyện Đức Hòa năm 2011)

Qua bảng trên chúng ta có thể thấy ngành công nghiệp chế biến của huyện

phát triển tương đối mạnh mẽ giá trị sản xuất của đa số các ngành năm sau luôn

tăng hơn năm trước rất nhiều có ngành còn tăng hơn gần gấp đôi so với năm trước

88

như: sản xuất thiết bị, điện tử; sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy; xuất bản, in

và sao bản ghi; sản xuất sản phẩm hàng da, giả da; sản xuất sản phẩm hàng da, giả

da…

Biểu đồ 2.3. Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của huyện Đức Hòa (năm 2011)

8.8

11

10.5

6.7

8.3

12.6

8.1

8

26

Thực phẩm, đồ dùng Sản phẩm dệt Trang phục Hàng da, giả da Giấy, sản phẩm bằng giây Sản xuất than cốc, hóa chất Sản xuất sản phẩm cao su, plastic Sản xuất sản phẩm từ kim loại, sản xuất kim loại Ngành khác

Qua biểu đồ GTSXCN của huyện Đức Hòa cho thấy các ngành công nghiệp

chủ lực của huyện là sản xuất than cốc, hóa chất, sản xuất thực phẩm và đồ dùng,

sản xuất hóa chất và sản xuất sản phẩm từ kim loại…Đây là những ngành sử dụng

nhiều lao động. Như vậy cũng đồng nghĩa với việc công nghiệp đang phát triển theo

chiều rộng. Đây là những ngành sử dụng nhiều lao động, năng suất thấp, chủ yếu là

những ngành có trình độ công nghệ không cao, thậm chí còn rất lạc hậu. Do vậy khả

năng cạnh tranh của hàng hóa còn thấp về số lượng, chất lượng, mẫu mã và gía

thành.

2.3.6. Sử dụng lao động trong các khu công nghiệp

• Phân công lao động sản xuất theo ngành

Lao động trong các ngành công nghiệp của huyện là 19.801 người (2007) tăng

lên 35.813 người (2011). Số lượng người lao động trong ngành công nghiệp tăng

gần gấp 1,8 lần trong vòng 5 năm.

89

Lao động công nghiệp trên địa bàn huyện cũng chủ yếu tập trung vào ngành

công nghiệp chế biến là chính qua việc quan sát bảng 2.7 ở trên

Người

35813

40000

32494

35000

30000

24651

25000

29899

19801

20000

15000

10000

5000

0

Năm

2007

2008

2010

2011

2009

Biểu đồ 2.4: Lao động công nghiệp của huyện Đức Hòa giai đoạn 2007-2011

Bảng 2.15: Tình hình sử dụng lao động của các KCN huyện Đức Hòa năm 2012

(tính 6 tháng đầu năm)

Theo dõi trên từng KCN

STT 1

2

3

4 5

6

KCN Đức Hòa 1 Lao động của DN nước ngoài Lao động của DN trong nước KCN Xuyên Á Lao động của DN nước ngoài Lao động của DN trong nước KCN Tân Đức Lao động của DN nước ngoài Lao động của DN trong nước KCN Đức Hòa 3 Lao động của DN nước ngoài Lao động của DN trong nước KCN Hải Sơn Lao động của DN nước ngoài Lao động của DN trong nước KCN Tân Đô Lao động của DN nước ngoài Lao động của DN trong nước KCN Đại Lộc

Đơn vị (người) 5,618 3,188 2,430 3,875 2,566 1,309 7,200 3,750 3,450 1,255 782 473 4,764 0 4,764 43 0 43 0

7 (Nguồn: xử lý từ số liệu nguồn lao động của Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Long An

năm 2012)

90

Qua bảng trên có thể nhận xét như sau:

- Số người lao động ở các KCN chênh lệch khá lớn.

- Lao động của doanh nghiệp nước ngoài chiếm số lượng tương đối lớn hơn

doanh nghiệp trong nước ở các KCN như: Đức Hòa 1, Xuyên Á, Đức Hòa 3,

Tân Đức.

Bảng 2.16: Số lao động qua đào tạo và chưa qua đào tạo

của các KCN huyện Đức Hòa

Lao động qua đào tạo Số lao

động Công Lao động Cao Đại học, Tên KCN Tổng số chưa nhân kỹ được đào đẳng, trên đại qua đào thuật bậc tạo nghề tại trung cấp học tạo 3/7 trở lên công ty

Đức Hòa 1 5618 512 591 240 411 3864

Tân Đức 7200 403 438 241 377 5741

Xuyên Á 3875 179 237 242 38 3179

Đức Hòa 3 1255 206 136 103 55 755

Hải Sơn 4764 132 153 566 0 3913

Tân Đô 43 17 7 21

(Nguồn: xử lý từ số liệu nguồn lao động của Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Long

An năm 2012)

Nhìn chung lao động đã qua đào tạo của các KCN chưa cao tỉ lệ trung bình

chung lao động đã qua đào tạo của các KCN chưa đến 30% (chưa tính đến KCN

Tân Đô vì chưa hoạt động) . KCN Đức Hòa 1 số lao động qua đào tạo chiếm 31%

số lao động của toàn khu, Tân Đức chiếm 20%, Xuyên Á 18%, Đức Hòa 3 khoảng

40%, Hải Sơn là 18% .

Số lao động chưa qua đào tạo trung bình của các KCN chiếm tỉ lệ khá cao

72,5%. Trong đó số lao động chưa qua đào tạo của KCN Xuyên Á và Hải Sơn

chiếm tỉ lệ cao nhất so với các khu khác trong huyện là 82%

91

2.4. Đánh giá chung về hoạt động của các KCN

2.4.1. Những thành tựu

- Quy hoạch sử dụng đất phù hợp với thực tế, những vùng đất quy hoạch

phát triển công nghiệp chủ yếu là vùng đất hoang hóa, sản xuất nông nghiệp có

năng suất thấp như KCN Đức Hòa 1-2-3 giáp ranh TP. Hồ Chí Minh thuộc các xã

Đức Lập Hạ, Mỹ Hạnh Bắc, Mỹ Hạnh Nam và Đức Hòa Đông, KCN Tân Đức xã

Đức Hòa Hạ và Hựu Thạnh nên tạo điều kiện thuận lợi trong công tác giải phóng

mặt bằng, được người dân đồng tình rất cao. Phát huy được hiệu quả sử dụng đất

của những vùng đất bưng hoang, có năng suất thấp.

- Tiến độ giải phóng mặt bằng, xây dựng các khu được thực hiện khá nhanh,

các dự án triển khai hiệu quả được sự đồng thuận của dân đối với các dự án.

- Thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư hạ tầng vào thực hiện dự án tạo điều

kiện phát triển kinh tế xã hội ở địa phương nên quy hoạch sử dụng đất phải điều

chỉnh bổ sung nhiều lần để tạo điều kiện thu hút đầu tư.

- Lựa chọn được các nhà đầu tư có đủ khả năng tài chính để thực hiện dự án

nên tiến độ triển khai hạ tầng nhanh và đã thu hút được nhiều nhà đầu tư thứ cấp

vào xây dựng nhà máy để hoạt động sản xuất giải quyết được lượng lớn lao động

của địa phương như: Công ty Hạnh Phúc, Công ty Tân Đức, Hải Sơn…. Nên đã thu

hút được nhiều nhà đầu tư thứ cấp vào xây dựng nhà máy đi vào hoạt động.

- Sự phát triển của các KCN diễn ra tương đối ổn định trong các KCN diện

tích lắp đầy ngày càng tăng, thu hút được nhiều nhà đầu tư.

- Vấn đề môi trường trong các KCN của huyện cũng tương đối ổn định. Đa

số các KCN đều có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, và có hệ thống xử lý nước

thải tốt. Như KCN Đức Hòa 3 có nhà máy cấp thoát nước Phú Mỹ Vinh có khả năng cấp 15.000m3 nước /ngày và dự định trong tương lai sẽ là 80.000m3 nước/ngày

có đủ nước để cấp cho các KCN trong huyện như: Đức Hòa 1, Xuyên Á...

- Hiệu quả đạt được khá ổn định GTSXCN năm sau luôn tăng cao hơn so với

năm trước

92

- Cơ cấu lao động được chuyển dịch đúng hướng, lao động có việc làm ngày

càng tăng, đời sống người bị thu hồi đất nhìn chung từng bước được cải thiện, nhiều

người sử dụng tiền bồi thường ngày càng hiệu quả.

-Nhìn chung đầu năm 2011, qua khảo sát thực tế tại các KCN đã có nhiều

khởi sắc, các nhà đầu tư từng bước triển khai san lắp mặt bằng, đầu tư hạ tầng kỷ

thuật thu hút đầu tư.

2.4.2. Những hạn chế

- Vẫn còn KCN còn triển khai chậm như: Dự án khu KCN Xuyên Á hiện

nay còn 25 hộ chưa bàn giao mặt bằng.

- Tiến độ đầu tư hạ tầng kỷ thuật khu tái định cư giai đoạn 2 của Công ty Cổ

phần Đầu tư Tân Đức rất chậm.

- Quy hoạch san lấp mặt bằng khu – cụm công nghiệp đối với những vùng

không thể san lấp bằng cát như khu công nghiệp Đức Hòa 2 – 3, các cụm công

nghiệp xã Đức Hòa Đông, khu dân cư Hồng Phát xã Đức Lập Thượng còn diễn ra

chậm.

- Nguồn nước ngầm, khai thác bừa bãi gây tình trạng thiếu nước và ô nhiễm

nặng.

- Nước thải công nghiệp của một số ngành công nghiệp đang gây ô nhiễm

nặng còn ảnh hưởng đến chất lượng môi trường ở khu vực lân cận nhà máy.

- Rác thải công nghiệp, nhất là rác thải nguy hại vẫn chưa được thu gom ngay

và chưa có hệ thống xử lý triệt để.

- Hiện nay, công tác quản lý môi trường tại các KCN đã được sự quan tâm của

chính quyền địa phương và các sở ban ngành nhưng vẫn chưa đúng mức.

- Các cơ sở công nghiệp không có cán bộ chuyên trách về môi trường hoặc

năng lực của cán bộ chuyên trách môi trường còn hạn chế vì thế công tác môi

trường gặp nhiều khó khăn.

- Chính sách phát triển kêu gọi đầu tư, sử dụng lao động chưa hấp dẫn.

- Các nhà đầu tư trong và ngoài nước chưa tập trung cao cho các KCN nên làm

giảm tiến độ thực hiện.

93

Người thực hiện: Ngô Thị Yến Nhi

94

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HUYỆN ĐỨC HÒA

(LONG AN) ĐẾN 2020

3.1 Những căn cứ để đưa ra định hướng

3.1.1. Kế hoạch phát triển kinh tế của tỉnh Long An đến 2020

Long An sẽ trở thành một tỉnh công nghiệp phát triển (khu vực công nghiệp-

xây dựng chiếm trên 50% GDP của tỉnh). Từ nay đến 2020, Tỉnh đặt mục tiêu tăng

nhanh quy mô công nghiệp lên hàng đầu. Tập trung mọi nguồn lực đầu tư, đẩy

nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hẹp khoảng

cách về trình độ phát triển với các tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, của

cả nước trên cơ sở CNH, HĐH

Phát triển giáo dục đào tạo, y tế, giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội bức xúc

nhất là giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, từng bước tăng cường cơ sở hạ

tầng kinh tế – xã hội và tạo các tiền đề cần thiết khác để đi vào giai đoạn phát triển

cao hơn. Phát triển kinh tế đi đôi với xử lý, cải tạo và bảo vệ môi trường.

Giữ vững ổn định chính trị và an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh

vững mạnh, xây dựng biên giới láng giềng hữu nhị với nước bạn Cam-Pu-Chia.

Đồng thời thực hiện quy hoạch phát triển các ngành kinh tế trên quan điểm

- Tăng về qui mô và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Long An đang trên đà phát triển,

tỉnh đặt mục tiêu phấn đấu tăng trưởng với tốc độ cao, tăng nhanh về số lượng

và quy mô công nghiệp. Khai thác tối đa các nguồn lực, rút ngắn khoảng cách về

trình độ phát triển với các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

- Phát triển cần có ưu tiên, không dàn trải: Vì nguồn lực có hạn nên đầu tư của

tình cần tập trung, ưu tiên cho các vùng phát triển công nghiệp trước. Khi các

vùng công nghiệp phát triển tốt đóng góp trở lại ngân sách và tỉnh sẽ ưu tiên tái

phân bổ đầu tư vào các vùng khó khăn.

95

- Phát triển trong hội nhập và gắn với thị trường: Hiện Việt Nam đã chính thức gia

nhập vào WTO. Kinh tế cả nước sẽ hội nhập hơn nữa vào nền kinh tế khu vực

và thế giới. Phát triển tỉnh cần đặt trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập và gắn với

thị trường. Quan điểm cạnh tranh, hội nhập là lấy hiệu quả làm thước đo.

- Gắn với phát triển vùng: Định hướng phát triển của tỉnh gắn với phát triển vùng,

nhất là với TP.HCM và Vùng KTTĐPN. Khai thác tối đa lợi thế của tỉnh trong

phát triển vùng.

- Phát triển kinh tế phải đi đôi với nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, thực hiện

công bằng xã hội: Bên cạnh việc chú trọng tăng nhanh quy mô kinh tế về mặt số

lượng, vấn đề chất lượng phát triển cần được quan tâm đúng mức.

- Gắn phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng – an ninh

trên địa bàn. Đây là 2 nhiệm vụ chiến lược có tính nguyên tắc, xuyên suốt, do đó

gắn các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh với việc củng cố quốc phòng

an ninh. Đảm bảo quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Tỉnh

trong mọi tình huống, tạo ý thức thường trực trong nhận thức cũng như trong

hoạt động thực tiễn.

Với các mục tiêu cụ thể là:

* Kinh tế.

- Tăng trưởng kinh tế: phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng

năm khoảng 15% cho cả giai đoạn 2006-2020. Trong đó: Khu vực I tăng trưởng

5,5%; Khu vực II tăng 20,3% và Khu vực III là 15,2%.

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: dự kiến cộng thêm yếu tố trượt giá trong từng khu

vực kinh tế, đến năm 2010, Khu vực I chiếm 25-26%; Khu vực II chiếm 42-

43%; Khu vực III chiếm 30-31%. Đến năm 2020, khu vực I chiếm 10-11%, khu

vực II chiếm 54-55%, khu vực III chiếm 35-36%.

- Đầu tư: để đảm bảo tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 15%/năm giai đoạn

2006-2020, tỉ lệ đầu tư/GDP phấn đấu đạt từ 47-49%.

- Thu chi ngân sách: đảm bảo tốc độ tăng thu và chi ngân sách cao hơn tốc độ

tăng trưởng GDP, đạt ít nhất là 15%/năm (đã trừ đi lạm phát) cho cả giai đoạn

96

2006-2020.

- Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu: Tốc độ tăng trưởng bình quân kim ngạch xuất

khẩu đạt bình quân 25%/năm cho cả giai đoạn 2006-2020.

* Phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

- Qui mô dân số tỉnh Long An dự ước năm 2020 khoảng 1.700.000 người, tốc độ

tăng dân số bình quân giai đoạn 2006-2020 là 1,24%/năm.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2010 đạt trên 40%, đến năm 2020 đạt trên

60%.

- Tỷ lệ phổ cập trung học cơ sở toàn tỉnh đạt 100% vào năm 2007. Tỷ lệ phổ cập

trung học phổ thông đạt 100% các huyện thị vào năm 2020.

- Năm 2010 số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào cao đẳng và đại học là

20-25%, vào trung học chuyên nghiệp là 20% và đào tạo nghề từ 50-60%.

- Tăng tỷ lệ sinh viên cao đẳng, đại học lên đạt 150 sinh viên/1.000 dân.

- Tỷ lệ bác sĩ trên 1 vạn dân đạt 7 bác sĩ/10.000 dân (2010) và 8 bác sĩ/10.000 dân

(2020).

- Ttỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng đến năm 2020 giảm còn dưới 12%.

- Tỷ lệ xã có bác sĩ đạt 100% vào năm 2015.

- Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia đến năm 2010 xuống còn dưới 7%,

đến năm 2020 còn dưới 1%.

- Tỷ lệ hộ được cung cấp điện đạt 100% năm 2020.

- Tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng nước sạch đạt 100% vào năm 2020.

- Năm 2020 tỷ lệ che phủ chung đạt 20,7%, trong đó riêng của rừng đạt 19%.

- Đẩy mạnh công tác phòng, chống các tệ nạn xã hội. Tăng nhanh số xã phường

trong sạch, vững mạnh, không có tệ nạn xã hội. Tăng cường vai trò của các tổ

chức, đoàn thể trong công tác phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm, tệ nạn xã

hội.

- Tăng cường tiềm lực quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an

toàn xã hội; duy trì và phát triển mối hệ hợp tác, hữu nghị với nước bạn láng

giềng Campuchia.

97

3.1.2. Nhu cầu xã hội về sản phẩm hàng hóa

* Nhu cầu nhân dân địa phương về sản phẩm hàng hóa công nghiệp:

Nhu cầu nhân dân trong sử dụng sản phẩm công nghiệp ngày càng cao và phải

đạt chất lượng tốt đặc biệt chú tâm nhiều đến sản phẩm may mặc, chế biến thực

phẩm, đồ uống. Hiện nay những người tiêu dùng yêu cầu sản phẩm công nghiệp

phải có chất lượng sản phẩm cao, mẫu mã đẹp, giá thành hợp lý…

Vì vậy các doanh nghiệp trong huyện phải áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công

nghệ mới, kể cả công nghệ cao …mới đủ sức cạnh tranh với sản phẩm cùng loại sản

xuất ở địa phương khác hoặc hàng nhập khẩu được bán ở thị trường trong nước.

* Nhu cầu của nước ngoài về sản phẩm công nghiệp.

Người nước ngoài thật sự quan tâm đến sản phẩm công nghiệp dêt, may mặc

và chế biến của Đức Hòa vì nó đảm bảo chất lượng và chủng loại rất phong phú và

đa dạng.

* Qui hoạch các KCN với địa bàn cư trú, để khai thác tối đa tìm năng.

Bên cạnh việc phát triển các KCN thì huyện còn phát triển các địa bàn cư trú

nhằm khai thác tối đa tìm năng phát triển các ngành công nghiệp bên cạnh đó còn

sử dụng một cách hiệu quả nguồn lao động của địa phương.

* Ngành công nghiệp

Ngành công nghiệp chủ lực: Giai đoạn 2011-2020: chế biến thủy sản, dệt may,

da giày, điện-điện tử, hóa chất, xây dựng. Các ngành công nghiệp mũi nhọn là công

nghiệp cơ khí và công nghiệp phụ trợ.

Ngành công nghiệp cơ bản: Giai đoạn 2011-2020: công nghiệp chế biến thực

phẩm và đồ uống.

* Quy hoạch các khu, cụm công nghiệp tập trung

Theo dự án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất tỉnh Long An đến năm 2010 đã

được HĐND tỉnh thống nhất thông qua tại kỳ họp thứ 10 khóa VII ngày 6/7/2006

(Nghị quyết số 08/2006/NQ-HĐND ngày 6/7/2006) thì tổng diện tích đất công

nghiệp tỉnh Long An đến năm 2010 là 15.333 ha và dự kiến đến năm 2020 là 15.835

ha.

98

Quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đã được

UBND Tỉnh phê duyêt tại Quyết định số 3161/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 với

tổng diện tích các cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đến năm 2020 là 127

cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp với diện tích 22.360,91 ha trong đó đến

năm 2010 là 7.644,1 ha, từ năm 2011 đến năm 2015 là 9.130,26 ha và từ năm 2016

đến 2020 là 5.586,54 ha.

3.1.3 Thực trạng chiến lược phát triển kinh tế huyện Đức Hòa

 Huy động cao nhất các nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa, hiện

đại hóa công nông nghiệp, xây dựng môi trường và nền tảng hạ tầng công nông

nghiệp, thương mại dịch vụ

 Gắn phát triển kinh tế xã hội của huyện với kinh tế xã hội của các huyện thị

trong tỉnh, các tỉnh thành trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đặc biệt là với

TP. Hồ Chí Minh, tiếp tục phát triển các mặt văn hóa nâng cao đời sống vật chất

tinh thần nhân dân ngày càng cao.

 Định hướng đầu tư chiến lược là :

- Nâng cấp thị trấn Hậu Nghĩa và thị trấn Đức Hòa lên đô thị loại 4 trước

năm 2015. Huyện Đức Hòa sẽ là một cửa ngõ quan trọng của tỉnh tiếp cận TP Hồ

Chí Minh -trung tâm của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam- và là một mũi đột phá

cho phát triển kinh tế xã hội tỉnh.

- Huyện Đức Hòa sẽ được đầu tư thành một huyện công nghiệp hóa, đầu

mối thương mại dịch vụ, … của khu vực Tây Bắc Long An.

- Đẩy nhanh tốc độ xây dựng hoàn chỉnh các khu công nghiệp trên địa bàn

huyện; xây dựng mới khu công nghiệp Đức Hòa Đông với quy mô 500 ha, tạo sức

hút kinh tế và đầu tư trong và ngoài huyện, hoạt động vừa độc lập vừa bổ trợ cho

nhau, kể cả làm vệ tinh hữu hiệu cho các khu công nghiệp Tây Bắc của TP Hồ Chí

Minh.

- Nhanh chóng xây dựng hoàn chỉnh các khu dân cư đô thị công thương

nghiệp Hậu Nghĩa, Hiệp Hòa, khu đô thị công nghiệp Đức Hòa với hạt nhân là

các thị trấn Hậu Nghĩa, Hiệp Hòa, Đức Hòa kết hợp các thị tứ vệ tinh Đức Lập, Mỹ

99

Hạnh, Đức Hòa Hạ, Hựu Thạnh, Lộc Giang...

- Tại vùng ven các đô thị, hình thành vành đai xanh nông nghiệp phục vụ

dân cư khu đô thị và khu cụm công nghiệp, kết hợp tạo sinh thái cảnh quan, trên nền

rau màu thực phẩm, hoa kiểng, cây ăn trái, chăn nuôi.

- Khu vực nông thôn phát triển nông nghiệp sinh thái đa dạng trên nền cây

lúa, đậu phộng, rau màu thực phẩm, chăn nuôi gắn liền với bảo quản, sơ chế nhỏ.

Đầu tư cho khu vực nông thôn là phát triển mạnh cơ giới hóa, hoàn chỉnh hệ thống

thủy lợi và điện khí hóa; hoàn chỉnh mạng lưới giao thông, xây dựng cầu kiên cố

đạt giá trị vận tải hàng hóa; phát triển hệ thống cấp nước sạch, công nghệ thông tin,

phát triển bưu chính viễn thông; nâng cao thu nhập trên mỗi đơn vị diện tích; tăng

cường đào tạo tay nghề cho lao động để chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch

vụ; phát triển mạnh tiểu thủ công nghiệp, mạng lưới bảo quản - sơ chế cho công

nghiệp.

3.2. Định hướng phát triển bền vững các khu công nghiệp huyện Đức Hòa

Phát triển công nghiệp dịch vụ bền vững gắn với phát triển nông nghiệp, xây dựng

nông thôn mới, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, giải quyết có

hiệu quả các vấn đề xã hội bức xúc. Huyện ủy chọn 3 giải pháp tối ưu để phát huy

thế mạnh của huyện công nghiệp đó là: đầu tư đào tạo nguồn nhân lực theo hướng

năng cao trình độ chuyên môn và năng lực quản lý cán bộ trong hệ thống chính trị

từ huyện đến xã thị trấn; phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; khai thác có

hiệu quả nguồn tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường phát triển công nghiệp gắn

hiệu quả kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội.

3.2.1. Phát triển về quy mô

- Tổng diện tích đất phi nông nghiệp (kể cả sông rạch) khoảng 11.800 ha năm

2020, trong đó đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 4.994 ha, trong đó có

khoảng trên 4.500 ha khu cụm công nghiệp, 117 ha đất vật liệu xây dựng

- Số cơ sở sản xuất công nghiệp năm 2020 là 2.454 sử dụng trên 30.511 lao động.

- Phấn đấu đến năm 2015 thu hút, lấp đầy trên 60% diện tích đất công nghiệp tại

các KCN đã được giao đất, cho thuê đất.

100

- Tiếp tục duy trì và phát triển với quy mô lớn hơn sẽ góp phần tích cực vào quá

trình tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

- Định hướng và khuyến khích phát triển CN mới trong các KCN để đạt hiệu quả

bởi vì: Tiết kiệm về cơ sở hạ tầng và tiết kiệm chi phí quản lý, quản lý tốt về mặt

môi trường, cung cấp có hiệu quả các dịch vụ vì các nhà máy, xí nghiệp ngoài các

KCN, rải rác khắp nơi có thể gây thêm ghánh nặng chi phí lên các dịch vụ công, gây

ô nhiễm cho môi trường, bất tiện cho dân cư.

- Tập trung đầu tư mở rộng thêm cho KCN Tân Đức vì diện tích lấp đầy tương

đối ổn định và cao nhất so với các KCN khác.

- Đầu tư mạnh cho KCN Đức Hòa 3 vì khu này đã bước vào hoạt động rất lâu

nhưng tỉ lệ lắp đầy vẫn còn thấp chỉ mới 19,11%. Trong tương lai đây là một trong

những KCN đầy tiềm năng của huyện.

- Cụm công nghiệp Hoàng Gia sẽ trở thành KCN Hoàng Gia phấn đấu từ nay

đến năm 2020.

- Dự án triển khai khu công nghệ cao tại xã Đức Lập Thượng và Tân Mỹ.

3.2.2. Cơ cấu ngành

Trong định hướng này, trước mắt huyện lấy CN chế biến làm trọng tâm cho

phát triển, nhanh chóng đầu tư chiều sâu thích hợp với trình độ lao động, tiến lên

công nghiệp hóa. KCN Tân Đức và Xuyên Á là 2 KCN chế biến nổi trội trong

huyện với các ngành như: CN chế biến thực phẩm, thức ăn gia súc, chế tạo lắp ráp

cơ khí, điện tử, công nghệ sản xuất hàng tiêu dùng, CN vật liệu xây dựng, chế biến

nông sản…

Các ngành CN mũi nhọn là chế biến với chất lượng cao các sản phẩm từ

ngành nhựa, ngành hóa chất, ngành cơ khí chế tạo, cơ khí phụ trợ để phục vụ các

ngành khác và phục vụ dân sinh; gia công xuất khẩu may mặc, giày các loại; sản

xuất các loại vật liệu xây dựng, và đặc biệt là các ngành thủ công truyền thống về

đan mây tre mỹ nghệ

Trong cơ cấu công nghiệp năm 2020, ngành lương thực thực phẩm đồ uống

chiếm 21,4%, ngành hóa chất chiếm 24%, ngành nhựa chiếm 22,7%, ngành cơ kim

101

khí, điện, điện tử chiếm 10,9%, ngành dệt-may-da chiếm 12,5%, ngành công nghiệp

khác chiếm 4,9%, ngành vật liệu xây dựng chiếm 4,5%, các ngành còn lại chiếm tỷ

trọng rất nhỏ.

3.2.3. Công nghệ và sản phẩm

Công nghệ

- Nhìn chung các KCN của huyện cần đầu tư theo chiều sâu, đổi mới thiết bị

công nghệ.

- Đối với các cơ sở và các ngành công nghiệp quy mô tập trung và công nghệ

tiên tiến, trong điều kiện có nhu cầu từ các doanh nghiệp, phối hợp với Sở Khoa học

và Công nghệ, các cơ sở nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ các cấp hỗ trợ

cho các doanh nghiệp trong việc vận hành thích nghi công nghệ, tư vấn chọn và

thẩm định công nghệ. Đồng thời khuyến khích, tạo điều kiện cho các cơ sở xây

dựng tiêu chuẩn hóa.

- Đối với các cơ sở có quy mô từ nhỏ đến trung bình, tổ chức các mô hình ứng

dụng, cải tiến và bổ sung các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới cho 8-10

doanh nghiệp trọng điểm của huyện và triển khai nhân rộng mô hình theo hệ thống

khuyến công.

- Đồng thời kết hợp với ngành khoa học - công nghệ cấp tỉnh tổ chức thẩm

định và triển khai đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp cấp huyện

- Đối với các cơ sở phân tán có quy mô nhỏ, các doanh nghiệp có sản phẩm

hoặc ngành nghề truyền thống, hỗ trợ phát triển khoa học - công nghệ

- Giữ nhiệm vụ tiêu chuẩn hóa chất lượng và đo lường, xây dựng thương hiệu

và bảo vệ sở hữu công nghiệp.

Sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2020 nông sản chế biến, nước chấm,

nước đá, rượu, đường, thức ăn thủy sản, thức ăn gia súc, chế biến súc sản, quần áo

may sẵn, giày các loại, túi xách, bao bì các loại, sản phẩm cơ khí, sản phẩm hóa

chất, cưa xẻ gỗ, sản phẩm nhựa, nước, hàng thủ công mỹ nghệ …

KCN Đức Hòa 1 với sản phẩm chủ lực là chế biến nông thủy sản, sản xuất

hàng tiêu dùng.

102

KCN Xuyên Á với sản phẩm chủ lực là công nghiệp chế biến nông sản, chế

tạo lắp ráp cơ khí, máy móc, công nghiệp dệt, nhuộm.

KCN Đức Hòa 3 với sản phẩm chủ lực là dệt may và đồ uống (bia, nước ion

đóng chai)

KCN Tân Đức: Công nghiệp chế biến thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, CN

dệt và CN giấy.

- Yêu cầu đối với sản phẩm CN trong quá trình CNH và HĐH là nâng cao năng suất

và chất lượng sản phẩm, hàng hóa CN chủ lực trên cơ sở áp dụng các giải pháp

quản lý, ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ, đầu tư nhằm tạo chuyển dịch cơ

bản từ năng suất, chất lượng thấp, giá trị gia tăng thấp, công nghệ thấp sang năng

suất, chất lượng và giá trị tăng cao, công nghệ có hàm lượng khoa học cao, tăng giá

trị nội địa hóa góp phần nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp

trong tốc độ tăng sản phẩm trong nước; một số sản phẩm, hàng hóa CN có thể tham

gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn

kỹ thuật; áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng,

các mô hình tiên tiến, quy trình sản xuất tiên tiến để nâng cao năng suất và chất

lượng sản phẩm, hàng hóa CN.

3.2.4. Sử dụng lao động

Dân số Huyện dự kiến sẽ tăng từ 217.797 người năm 2011 lên 248.932

người năm 2020. Dân số phi nông nghiệp tăng nhanh từ 46,6% năm 2005 lên 51,4%

năm 2010, 66,3% năm 2015 và đạt khoảng 78,4% năm 2020.

Lao động trong độ tuổi cũng sẽ chuyển biến tích cực:

- Lao động khu vực 1 sẽ giảm tỷ lệ sử dụng từ 58,2% năm 2005 còn 52,8%

năm 2010, 50,3% năm 2015 và 42,8% năm 2020, vừa hoạt động nông nghiệp, vừa

tiểu thủ công nghiệp hoặc thương mại dịch vụ;

- Lao động khu vực 2 tăng nhanh từ 13,1% (2005) lên 16,0% (2010), 21,0%

(2015) và 30,7% (2020);

- Lao động khu vực 3 tăng từ 10,1% (2005) lên 10,8% (2010), 12,8% (2015)

và 15,7% (2020);

103

Phấn đấu đến năm 2020

- Có khoảng 5.000 học viên theo học các trường công nhân kỹ thuật

- Có khoảng 3.700 học sinh theo học các trung học chuyên nghiệp.

- Tăng cường mở các lớp Bổ túc văn hóa nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ

và nhân dân.

Về đào tạo, trên địa bàn huyện hiện có 1 Trường trung cấp nghề Đức Hòa và

Trung tâm tổng hợp kỹ thuật - hướng nghiệp Đức Hòa. Huyện khuyến khích tư

nhân đầu tư các Trung tâm dạy nghề theo hướng xã hội hóa, đào tạo thích nghi với

nhu cầu của các KCN.

Dự báo số lao động được đào tạo đến năm 2020 là 85.332 người, chiếm 54,3%

lao động trong độ tuổi, trong đó công nhân có bằng cấp chứng chỉ 24,4%, trung học

chuyên nghiệp 14,5%, cao đẳng đại học và trên đại học 6,3%.

3.2.5. Kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước

Đầu tư phát triển là một trong những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và

giải quyết nhiều vấn đề xã hội vì hoạt động này trực tiếp làm tăng tài sản cố định,

tài sản lưu động, tài sản trí tuệ và số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực;

đồng thời góp phần vào việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm

nâng cao mức sống dân cư và mặt bằng dân trí; bảo vệ môi trường sinh thái và đưa

các chương trình kinh tế xã hội khác vào cuộc sống.

Do nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư phát triển như vậy nên huyện

Đức Hòa phải có những chính sách và giải pháp khơi dậy nguồn nội lực và tranh thủ

các nguồn lực từ bên ngoài để huy động vốn đầu tư phát triển cho các KCN của

huyện.

Mục tiêu phát triển các KCN ở Đức Hòa đến năm 2015 là xúc tiến các nhà đầu

tư KCN phải xây dựng hoàn chỉnh tầng 7 KCN Đức Hòa, KCN Xuyên Á, KCN Tân

Đức, KCN Đức Hòa 3, KCN Tân Đô…, thu hút các dự dự án đầu tư để cơ bản lấp

đầy diện tích các KCN trên và 50% diện tích KCN đi vào hoạt động. Đến năm 2015

các KCN Đức Hòa phấn đấu thu hút khoảng 3000- 4000 dự án đầu tư, tạo ra từ

80.000- 90.000 việc làm; nộp ngân sách từ 1000- 1500 tỷ đồng.

104

Chỉ số ICOR đạt 3,11 trong giai đoạn 2006-2010, 2,88 trong giai đoạn 2011-

2016 và 2,16 trong giai đoạn 2016-2020; bình quân đạt 2,36.

Khuynh hướng đầu tư trong khu vực tư trên địa bàn cũng tỏ ra rất lành mạnh

khi mức đầu tư tăng bình quân 12,3%/năm trong toàn thời kỳ 2006-2020, trung bình

chiếm 73,9% tổng đầu tư, trong đó có sự tham gia tích cực của đầu tư trong tỉnh và

doanh nhân trong nước trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và thương mại,

đặc biệt là của doanh nhân nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp.

Đầu tư của ngân sách địa phương tăng bình quân 14,0%/năm trong toàn thời

kỳ 2006-2020. Bình quân trong 15 năm, đầu tư của ngân sách địa phương chỉ chiếm

2,6% tổng đầu tư.

Đầu tư của ngân sách trung ương và tỉnh thông qua tỉnh tăng bình quân

13,3%/năm trong toàn thời kỳ 2006-2020. Bình quân trong 15 năm, đầu tư của ngân

sách cấp trên chiếm 23,5% tổng đầu tư.

Để đạt mục tiêu đó, trong thời gian tới, cần coi trọng việc huy động các nguồn

vốn trong nước (vốn địa phương, vốn ngân sách trung ương, vốn từ các thành phần

kinh tế và vốn từ các tầng lớp dân cư). Đồng thời huy động tối đa nguồn vốn đầu tư

nước ngoài.

3.2.6. Vấn đề bảo vệ môi trường phát triển theo hướng bền vững

- Các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu KCN, các cơ sở sản xuất, kinh

doanh, dịch vụ, chăn nuôi khi xây dựng mới phải đầu tư xây dựng các công trình xử

lý chất thải đạt tiêu chuẩn theo quy định. Những cơ sở đã xây dựng trước đây phải

nhanh chóng đầu dứt nạn đổ rác và xả nước thải chưa qua xử lý vào sông, rạch,

kênh, mương, ao, hồ (với các giải pháp kiểm tra, giám sát, xử lý đồng bộ và thích

ứng); đồng thời quy hoạch xây dựng bãi rác trung chuyển, tổ chức đăng ký và phân

loại rác; nghiên cứu tư xử lý chất thải, đồng thời phải xin giấy phép về môi trường.

- Kiểm tra việc thu gom và xử lý chất thải công nghiệp và chất thải y tế.

- Hạn chế việc sử dụng hóa chất trong canh tác nông ngư nghiệp.

105

- Khắc phục nạn ô nhiễm ở các cơ sở tiểu thủ công nghiệp phân tán trong

khu vực dân cư; khuyến khích và hỗ trợ từng bước di dời hoặc chuyển đổi mục đích

sản xuất - kinh doanh.

- 100% các cơ sở chăn nuôi phải xây dựng hệ thống túi, hầm biogas xử lý

chất thải.

- Đảm bảo 100% các tuyến lộ, sân trường. trạm y tế, cơ quan, đơn vị đóng

trên địa bàn Huyện có trồng cây xanh che phủ.

- Triển khai và thực hiện nghiêm Luật bảo vệ môi trường và các văn bản

pháp quy có liên quan đến việc bảo vệ môi trường trên toàn huyện.

- Các đơn vị chức năng phải thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công trong

các lĩnh vực bảo vệ môi trường.

- Phòng ngừa ô nhiễm, giảm thiểu và cải thiện các tác động ảnh hưởng từ quá

trình phát triển kinh tế xã hội là mục tiêu cần đạt được để đảm bảo sự phát triển bền

vững huyện Đức Hòa đến năm 2020.

- Bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước mặt, nước ngầm. Đồng

thời có chính sách quản lý nguồn tài nguyên này đảm bảo cho lợi ích lâu dài và bền

vững.

- Để công tác bảo vệ môi trường được thực hiện một cách nghiêm túc, tự

nguyện và hiệu quả thì công tác tăng cường năng lực quản lý và nâng cao nhận thức

của người dân về bảo vệ môi trường là rất quan trọng. Đây là mục tiêu lớn cần đạt

được nhằm đảm bảo sự phát triển huyện Đức Hòa được lâu dài và an toàn.

* Bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

- Nhanh chóng giải quyết và xử lý triệt để các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm

môi trường nghiêm trọng, phấn đấu đến năm 2015 các cơ sở này đều có hệ thống xử

lý nước thải đạt tiêu chuẩn khi xả thải ra môi trường.

- Đến năm 2015 phải hoàn thành việc di dời các cơ sở chế biến, sản xuất có

mức độ ô nhiễm cao nằm dọc kênh Thầy Cai, trong khu vực đông dân hay khu vực

gần nguồn nước, vùng sinh thái nhạy cảm đến các KCN đã quy hoạch hoặc bắt buộc

phải xử lý đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả thải ra môi trường xung quanh.

106

- Đến 2015, phấn đấu đạt từ 70% cơ sở sản xuất được thay đổi công nghệ

tiên tiến ít gây ô nhiễm môi trường và đến năm 2020 phấn đấu đạt 100% các cơ sở

đều sử dụng công nghệ hiện đại tiên tiến, thân thiện môi trường.

- Đảm bảo đến năm 2015, 100% các cơ sở hoạt động sản xuất công nghiệp

và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện xây dựng và đưa vào hoạt động hệ thống

xử lý chất thải (khí thải, nước thải), đảm bảo yêu cầu về chất lượng nước thải và khí

thải trước khi thải ra môi trường.

- Đến năm 2020, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống quan trắc chất lượng không

khí và chất lượng môi trường nước xung quanh các KCN theo hình thức bán tự

động.

- Đến năm 2020, phải đảm bảo 100% chất thải rắn công nghiệp và chất thải

nguy hại được thu gom và xử lý triệt để.

- Áp dụng mô hình quản lý theo hệ thống tiêu chuẩn ISO 9000 và ISO 14000

để quản lý và bảo vệ môi trường công nghiệp.

3.2.7. Thiết lập mối liên kết khu vực, tỉnh, vùng (kỹ thuật, lao động, trao đổi

sản phẩm, hàng hóa, sử dụng công trình công cộng..)

Huyện Đức Hòa có nhiều cơ hội phát triển một nền công nghiệp bền vững bởi

vì:

- Huyện Đức Hòa nằm sát TP.Hồ Chí Minh và kề cận với tỉnh Tây Ninh:

Trung tâm huyện Đức Hòa (thị trấn Hậu Nghĩa) cách thành phố Tân An (tỉnh Long

An): 57 km, TP.Hồ Chí Minh: 44 km và cách huyện Bến Lức: 41km, huyện Trảng

Bàng: 20km, huyện Củ Chi:13km, huyện Hóc Môn:20 km, huyện Bình Chánh

38km,…

Đức Hòa có thể tận dụng lợi thế để phát triển sản xuất công nghiệp về nhiều

lĩnh vực như:

+ Vùng KTTĐPN, trong đó có TP.Hồ Chí Minh, là thị trường tiêu thụ sản

phẩm công nghiệp với số lượng nhất Việt Nam đặc biệt là các mặt hàng may mặc;

hơn nữa với cự ly vận chuyển ngắn nên cước phí vận chuyển thấp, tỉ lệ sản phẩm

hao hụt hầu như không có. Đức Hòa đang và sẽ trở thành một trong những nguồn

107

cung cấp các sản phẩm công nghiệp cho các khu đô thị, nhất là TP.Hồ Chí Minh.

Trong đó sản phẩm hàng hóa chủ lực là:

+ TP.Hồ Chí Minh là trung tâm khoa học – công nghệ, có thể hợp tác liên kết

chuyển giao ở Đức Hòa, và giúp Đức Hòa đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

nhằm phục vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

+ Đức Hòa còn có trục đường tỉnh lộ 822, nối cửa khẩu Tho Mo (Xã Mỹ

Thạnh Tây – huyện Đức Huệ) với TP. Hồ Chí Minh (là tuyến đường gần nhất nối

TP.Hồ Chí Minh với cửa khẩu biên giới quốc gia), cộng với đường N2 sắp hoàn

thành sẽ tạo cho sản phẩm công nghiệp của Đức Hòa được vận chuyển đi tiêu thụ dể

dàng ở những thị trường rộng mở hơn.

3.3. Các giải pháp phát triển

3.3.1. Thực hiện các bước chuyển dịch phù hợp với yêu cầu

* Cơ cấu các ngành kinh tế chuyển dịch theo đúng hướng: Kinh tế của

huyện có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp

và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp

Diện tích đất nông nghiệp sẽ thu hẹp dần nhưng chuyển nhanh hơn sang nông

nghiệp hướng thị kỹ thuật cao, dân số tăng trưởng trên cơ sở tăng tự nhiên được

kiểm soát, dự kiến đạt 248.932 người năm 2020.

Nền kinh tế huyện sẽ phát triển nhanh ở giai đoạn 2006-2010, sau đó phát

triển “nóng” trong giai đoạn 2011-2015 và giai đoạn 2016-2020, có nhiều đột biến

về CN cũng như về thị trường, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng CN là

mũi nhọn.

- GDP trên địa bàn tăng bình quân 20,1%/năm trong giai đoạn 2006-2010,

21,5%/năm trong giai đoạn 2011-2015 và 25,4%/năm trong giai đoạn 2016-2020,

bình quân tăng 22,3%/năm trong 15 năm.

Riêng GDP/người của địa phương đạt 389 USD năm 2010 (nếu tính theo giá

hiện hành là 588 USD), 1.775 USD năm 2020.

- Tiết kiệm năm 2020 đạt 22,1% GDP, chỉ số ICOR bình quân là 2,36; tiêu thụ

108

trong dân chiếm 74,9% GDP.

- Chỉ số phát triển con người là 0,878, đạt mức phát triển trung bình cao theo

tiêu chuẩn Ngân hàng Thế giới.

- Cơ cấu kinh tế trên địa bàn năm 2015 là 8,0% - 72,7% - 19,3%, năm 2020 là

3,2% - 81,7% - 15,1%. Huyện Đức Hòa là huyện CN với cơ cấu kinh tế Công

nghiệp – Thương mại dịch vụ và Nông nghiệp.

- Nhu cầu vốn đầu tư trong thời kỳ dự toán là 86.453 tỷ đồng theo giá hiện

hành (33.575 tỷ đồng theo giá so sánh 1994, tương đương 3.052 triệu USD), do

Trung ương và Tỉnh đầu tư theo phân công phân cấp chiếm 23,3%, các doanh

nghiệp trong ngoài tỉnh và huyện chiếm 15,2%, các doanh nghiệp có vốn nước

ngoài chiếm 46,5%, ngân hàng cho vay chiếm 11,9% và ngân sách huyện chiếm

2,7%, trong đó huyện thiếu khoảng 349 tỷ đồng cần được tỉnh hỗ trợ.

* Lao động trong ngành công nghiệp cũng sẽ chuyển biến theo hướng tích cực:

Dân số phi nông nghiệp tăng nhanh từ 46,6% năm 2005 lên 51,4% năm

2010, 66,3% năm 2015 và đạt khoảng 78,4% năm 2020.

- Lao động khu vực 1 sẽ giảm tỷ lệ sử dụng từ 58,2% năm 2005 còn 52,8%

năm 2010, 50,3% năm 2015 và 42,8% năm 2020, vừa hoạt động nông nghiệp, vừa

tiểu thủ công nghiệp hoặc thương mại dịch vụ;

- Lao động khu vực 2 tăng nhanh từ 13,1% (2005) lên 16,0% (2010), 21,0%

(2015) và 30,7% (2020);

- Lao động khu vực 3 tăng từ 10,1% (2005) lên 10,8% (2010), 12,8% (2015 )

và 15,7% (2020)

Xây dựng quy hoạch và đẩy mạnh chiến lược phát triển hợp lý, hiện đại 3

ngành kinh tế quan trọng (Công nghiệp – Nông nghiệp - Dịch vụ)

* Về công nghiệp

Cần tập trung đầu tư theo chiều sâu: Huy động tối đa nguồn vốn (cả trong

nước và nước ngoài) đầu tư, mua mới những thiết bị, máy móc tiên tiến nhằm đưa

vào ứng dụng trong các ngành kinh tế.

109

Đặc biệt chú trọng đầu tư trong các ngành CN nhẹ và CN chế biến. Từ đó tạo

tiền đề phát triển CN nặng.

Tập trung sản xuất những mặt hàng có khả năng xuất khẩu.

Công nghiệp hoá nông thôn: Tạo dựng thị trường để các loại hình kinh tế đều

có điều kiện tham gia và phát triển

Áp dụng khoa học công nghệ để phát triển các ngành CN tạo ra tư liệu sản

xuất luyện kim, hoá chất, cơ khí, điện tử.

Vận dụng hiệu quả công nghệ thông tin vào mọi lĩnh vực.

- Đầu tư nghiên cứu và hợp tác chế tạo dể tiến tới sản xuất thành công máy

công cụ, các dây chuyền chế biến, các loại máy phục vụ cho công nghiệp. Tăng khả

năng chế tạo các loại máy móc sử dụng trong công nghiệp chế biến và nông nghiệp.

- Phát triển khu công nghệ cao. Tự sản xuất linh kiện, phụ kiện, các loại máy

công nghệ, Áp dụng hiệu quả công nghệ thông tin. Đổi mới công nghệ, giảm nhập

khẩu tăng lượng hàng xuất khẩu

- Đẩy mạnh CN chế biến nông- lâm- thuỷ sản, đầu tư công nghệ để sản phẩm

của ngành này đạt chất lượng tốt đủ điều kiện cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

* Thực hiện tốt sự phân công lao động xã hội và chuyển dịch cơ cấu lao động

theo ngành đã định:

- Đào tạo theo chuyên ngành, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực sản xuất kinh

doanh cho người lao động .

- Phân công hợp lý lao động theo từng khả năng tới các ngành kinh tế, đào tạo

nhiều nhân lực cho ngành công nghiệp và dịch vụ có trình độ chuyên môn cao.

- Thực hiện nhất quán nền kinh tế nhiều thành phần: Tạo điều kiện thông

thoáng để các thành phần kinh tế phát triển tốt. Trong đó kinh tế nhà nước đi đầu hỗ

trợ cho các thành phần kinh tế khác.

- Liên tục cập nhật đổi mới kỹ thuật công nghệ.

- Hoàn thiện và tiếp tục đổi mới chính sách quản lý, cơ chế của Nhà Nước.

Tạo điều kiện cho chuyển dịch nhanh chóng.

110

3.3.2. Kêu gọi đầu tư, nhanh chóng lấp đầy các khu công nghiệp

*Tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài:

- Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành công

nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến tinh, công nghiệp phục vụ

phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các lĩnh vực công nghệ thông tin, điện

tử, các ngành có lợi thế cạnh tranh gắn với công nghệ hiện đại.

- Đẩy mạnh việc vận động và xúc tiến đầu tư, đảm bảo quản lý xuyên suốt từ

khâu tiếp nhận dự án đến khi dự án đi vào hoạt động hiệu quả. Trong đó tập trung

hướng thu hút vào các tập đoàn lớn, có tiềm lực về vốn, công nghệ, thương hiệu...

hướng đầu tư vào các ngành nghề như cơ khí chế tạo, công nghiệp điện điện tử, lĩnh

vực công nghệ cao, vật liệu mới.

- Tham gia chương trình vào các chương trình xúc tiến có tính vùng, chủ

động tiếp nhận các nguồn vốn bên ngoài.

- Xây dựng danh mục dự án cần tập trung xúc tiến kêu gọi đầu tư, tập trung

vào một số lĩnh vực cụ thể.

* Đẩy mạnh phát triển công nghiệp tại địa bàn nông thôn:

- Để đẩy mạnh việc phát triển CN tại địa bàn nông thôn, góp phần chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, phát huy nội lực, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, hình

thành quỹ khuyến công từ nguồn ngân sách nhà nước và huy động sự đóng góp của

của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước... tạo điều kiện hỗ trợ các hoạt động

phát triển CN trên địa bàn nông thôn.

- Củng cố và phát triển lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, xây dựng hệ

thống giải pháp hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực, vốn chuẩn bị đầu tư, ứng dụng

khoa học công nghệ, tiếp thị, phát triển thị trường... từ các nguồn quỹ khuyến công.

- Phát triển cơ khí phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. Tăng cường

chính sách hỗ trợ đầu tư sản xuất máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp. Chính sách

hỗ trợ về vay vốn và thị trường. Chính sách về khuyến khích, hỗ trợ chuyển giao

công nghệ, ứng dụng công nghệ mới phục vụ chế tạo thiết bị cơ khí nông nghiệp và

chế biến nông, lâm sản.

111

3.3.3. Kết hợp tuyển dụng lao động chất lượng cao với tổ chức đào tạo, bồi

dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý

Tỉnh hỗ trợ ngân sách đài thọ công tác đào tạo nghiệp vụ chuyên môn cơ bản

về quản lý (đô thị, kế toán, kế hoạch, hành chánh văn thư, quản lý nhân sự …) và

đưa vào sử dụng lao động theo hướng phi nông nghiệp.

Tỉnh hỗ trợ ngân sách đài thọ toàn phần hoặc một phần học phí cho các học

viên trường nghề, các lớp đào tạo thợ chuyên môn kỹ thuật và quản lý, trước mắt

phục vụ cho các K/CCN, lâu dài cho xuất khẩu lao động, đặc biệt có chính sách ưu

đãi cho lao động từ nông nghiệp chuyển sang.

Có chính sách nhập cư vào huyện ưu tiên cho người có trình độ chuyên môn

kỹ thuật nghiệp vụ, người có trình độ học vấn cao (đặc biệt là các chuyên gia tư vấn

các mặt công nghệ, kinh tế, thị trường, luật pháp, đào tạo), người có vốn, chuyển

dịch nhanh cơ cấu dân số theo hướng phi nông nghiệp.

Phát triển và nâng cao rõ chất lượng nguồn nhân lực

Tiếp tục nâng cao mặt bằng dân trí, bồi dưỡng nhân tài theo hướng giáo dục

toàn diện các mặt đạo đức, tri thức và thể chất, tạo lợi thế so sánh về nguồn lực đáp

ứng yêu cầu CNH, HĐH.

Củng cố vững chắc thành quả phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ, nhất

là vùng sâu, vùng xa; hoàn thành phổ cập trung học cơ sở vào năm 2007; những nơi

có điều kiện phấn đầu thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục trung học phổ thông.

Bảo đảm chuẩn đào tạo, đẩy mạnh xã hội hoá vực này. Khuyến khích phát

triển hình thức giáo dục ngoài công lập. Tiếp tục chuẩn hoá đội ngũ giáo viên và cán

bộ quản lý.

Đào tạo lao động đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế, chú ý phát triển

nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số ngành mũi nhọn gửi đào tạo nước ngoài.

Đào tạo nhân lực cho thanh niên nông thôn để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế

và cơ cấu lao động.

Tổ chức các lớp học dài hạn, ngắn hạn, trong nước, ngoài nước, học ngoài giờ,

trong giờ làm việc…nhằm nâng cao chất lượng tay nghề công nhân.

112

Mở rộng quy mô và hình thức đào tạo, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm

2015 đạt 50%. 100% xã có Trung tâm học tập Cộng đồng

Huy động các nguồn lực tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học

theo hướng chuẩn quốc gia. Tăng cường thiết bị dạy và học cho các trường học, đẩy

mạnh việc đưa công nghệ thông tin vào nhà trường. Đầu tư hoàn thành hệ thống cơ

sở dạy nghề, đảm bảo cung ứng đầy đủ trang thiết bị học tập, thực hành.

Tiếp tục đầu tư chuẩn hoá trường học các cấp. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục

nhất là đối với giáo dục mầm non. Xây dựng các trường Đại học, Trung học chuyên

nghiệp ở tỉnh Long An, đầu tư mới, mở rộng và nâng cao chất lượng dạy và học các

trường dạy nghề của tỉnh.

Từng bước đầu tư nâng cấp và mở rộng mạng lưới trường trung cấp nghề

Đức Hòa, và các trung tâm dạy nghề của huyện theo quy hoạch.

Đầu tư nâng cấp xây dựng hệ thống các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng

nghiệp và giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng.

Trường trung cấp nghề Đức Hòa cần nghiên cứu để sớm hình thành các lĩnh

vực nghề nghiệp cao cấp nhằm đào tạo những ngành nghề cần phải đầu tư lớn, yêu

cầu kỹ thuật cao, nghành nghề mang tính đăc thù của nền kinh tế tri thức.

3.3.4. Thực hiện các kết hợp chặt chẽ, thường xuyên về vốn, kỹ thuật, cơ sở hạ

tầng, lao động với các đơn vị, vùng lân cận và tỉnh, nước ngoài…cho phát triển

Tổ chức thực hiện tốt chương trình công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,

công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa,…Những công nghệ kể trên phải

được trang bị hiện đại và đầy đủ.

Tiếp tục phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, đảm bảo đủ khả

năng lựa chọn và làm chủ được công nghệ tiên tiến.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp,

nhất là công tác giống cây trồng, vật nuôi nhằm tăng năng suất, hiệu quả trên đơn vị

diện tích. Chú trọng đổi mới thiết bị công nghệ.

Đức Hòa mũi đột phá trong lĩnh vực công nghiệp của tỉnh: Tiếp tục đầu tư

hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng ngoài hàng rào các KCN, hệ thống giao thông liên

113

vùng, hệ thống cảng và hệ thống đô thị hiện đại gắn kết với phát triển các loại hình

dịch vụ phục vụ các KCN. Phát triển mạnh hệ thống đào tạo nghề phục vụ cho

CNH. Hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn.

Khai thác có hiệu quả lợi thế tương đối về vị trí địa lý và vành đai vòng

ngoài của vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, là vùng dãn nở CN của TP.

Hồ Chí Minh. Phát triển vành đai công nghiệp vùng phụ cận thành phố, xây dựng

các KCN hướng vào CN chế biến hàng nông sản và sản xuất hàng công nghệ thực

phẩm, phục vụ tốt thị trường trong nước và hướng dần sang thị trường nước ngoài.

Phát huy động lực, đồng thời tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài nhằm gia

tăng hơn nữa các tiềm lực về quy mô, công nghệ, thiết bị và năng lực cạnh tranh,

đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng trong nước và hướng đến xuất khẩu.

Phục vụ tốt CNH-HĐH, trước hết là hỗ trợ các sản phẩm chủ lực trong các

khâu trước

3.3.5. Chủ động thực hiện và vận động người lao động và cộng đồng địa

phương bảo vệ môi trường sản xuất, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội các

khu công nghiệp và nơi cư trú

Hiện trạng môi trường phân theo loại hình ô nhiễm

- Đối với nước mặt: Tại khu vực nông thôn nhìn chung tình trạng nước mặt vẫn

còn tốt, tại một số điểm tập trung dân cư và chăn nuôi với quy mô lớn, nước

mặt bắt đầu có vấn đề nhiễm bẩn hữu cơ và vi sinh cục bộ.

Tại khu vực phát triển CN và đô thị tình trạng ô nhiễm nước mặt bắt đầu phát

sinh trầm trọng, đặc biệt trên các kênh nhánh thuộc lưu vực của kênh Thầy Cai và

kênh An Hạ, vốn là 2 kênh có khả năng tiêu thoát nước rất kém và chịu tác động

phát thải của các cơ sở công nghiệp trên địa bàn huyện Đức Hòa lẫn các KCN của

TP. Hồ Chí Minh. Các mẫu nước thu được trên các kênh này năm 2004 cho thấy

các chỉ tiêu ô nhiễm đều vượt tiêu chuẩn môi trường nước mặt và có khả năng tăng

nhanh trong thời gian tới do hiện trạng các cơ sở công nghiệp vẫn chưa có hệ thống

xử lý nước thải và tình hình phát triển dân cư tự phát chung quanh các KCN.

114

- Biện pháp:

+ Tiết kiệm nước, không khai thác bừa bãi, không xã nước làm ô nhiễm

+ Các nhà máy trong các KCN phải có hệ thống xử lý nước thải, chất thải rắn

+ Xử lý nghiêm khắc những đơn vị vi phạm môi trường.

+ Lập kế hoạch tổng thể về xử lý môi trường trong các khu và huyện.

- Môi trường không khí: Tại các KCN, ven trục lộ giao thông và các khu dân cư

tập trung bị ô nhiễm khá cao về bụi và tiếng ồn. Tại khu vực nông thôn, ngoại trừ

các ô nhiễm mùi cục bộ tại các cơ sở chăn nuôi tập trung, tình trạng môi trường

không khí còn tốt.

- Đặc biệt đối với khu vực sản xuất công nghiệp phải giảm tiếng ồn, khói

bụi,không sử dụng máy móc lạc hậu vì các vấn đề bụi và tiếng ồn, đặc biệt là ô

nhiễm nước mặt trên lưu vực của kênh Thầy Cai và kênh An Hạ bắt đầu ở mức báo

động.

Giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho người dân

địa phương.

Xây dựng chương trình truyền thông về nâng cao nhận thức BVMT trong mọi

tầng lớp nhân dân.

+ Sinh hoạt tổ dân ở ấp, xã

+ Phát động phong trào gom rác thải

+ Nhắc nhở mọi người xung quanh

+Đưa nội dung vào các bài học

+ Sinh hoạt ngoài trời

+ Các trò chơi

Đẩy mạnh và đưa công tác giáo dục BVMT vào các hệ thống giáo dục và đào

tạo, phù hợp với công tác BVMT và PTBV nền kinh tế tại địa phương.

Tăng cường nâng cao nhận thức về BVMT và PTBV cho từng cán bộ công

nhân viên chức trong bộ máy quản lý Nhà nước, các doanh nghiệp trong và ngoài

nước thông qua các buổi hội thảo, tập huấn, bồi dưỡng nói chuyện chuyên đề, đào

tạo dài và ngắn hạn trong và ngoài nước.

115

Tổ chức các buổi tập huấn về môi trường cho lực lượng dân quân địa

phương, nhằm hỗ trợ trong việc kiểm tra, giám sát các hoạt động BVMT.

Tổ chức các tuần lễ tuyên truyền về BVMT hàng năm, ngày Chủ nhật xanh,

ngày Thứ bảy tình nguyện và xây dựng các công trình điển hình về BVMT để nhân

rộng và phát triển trong nhân dân.

Tổ chức các diễn đàn doanh nghiệp thân thiện môi trường, mục đích nhằm

nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp, khuyến khích và tạo điều kiện cho

doanh nghiệp tham gia vào công tác QLMT. Các buổi hội thảo, tọa đàm chuyên đề

về quản lý và BVMT như: vấn đề môi trường đối với sức cạnh tranh của doanh

nghiệp và sự PTBV của nền kinh tế, khuyến khích doanh nghiệp tham gia QLMT,

áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn và tiêu chuẩn môi trường ISO 14000, các

cuộc thi tìm hiểu về môi trường trong công nhân, người dân địa phương.

Quản lý thường xuyên kiểm tra và kiểm soát nước thải tại các K/CCN và các

cơ sở sản xuất nằm ngoài K/CCN

- Điều tra và đánh giá mức độ gây ô nhiễm của các cơ sở sản xuất công nghiệp và

tiểu thủ công nghiệp nằm ngoài KCN.

- Lập kế hoạch và chính sách khuyến khích các đơn vị sản xuất di dời vào các KCN.

- Xây dựng quy định, chính sách và kế hoạch buộc các cơ sở sản xuất và KCN xây

dựng trạm xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường.

- Định kỳ quan trắc, phân tích mẫu nước thải các KCN.

- Xử lý thật nghiêm khắc các đơn vị không tuân thủ quy định.

- Khuyến khích các đơn vị sản xuất hay đổi công nghệ, tái sử dụng nguồn nước theo

phương châm sản xuất sạch hơn.

116

3.4. Một số kiến nghị - đề xuất

3.4.1. Với lãnh đạo tỉnh Long An và cơ quan có liên quan

- UBND tỉnh cần tập trung chỉ đạo các Sở, ngành, đòan thể tỉnh, UBND các

huyện, thành phố, thị xã có liên quan hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc đào tạo và

cung ứng lực lượng lao động đó cũng là giải pháp quan trọng để giải quyết việc

làm, xóa đói giảm nghèo và cũng là một cách thức quan trọng kêu gọi đầu tư của

tỉnh.

- Phòng TN & MT, phòng xây dựng nghiên cứu tạo quỹ đất xây dựng nhà ở

cho công nhân lao động, đây là một vấn đề bức xúc ở hầu hết các KCN.

- Thực hiện nghị quyết Trung ương III, tiếp tục sắp xếp lại, nâng cao hiệu quả

đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, giải phóng nhanh các nguồn lực từ các doanh

nghiệp Nhà nước kém hiệu quả.

- Tăng cường và hổ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khuyến khích các thành

phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư vào phát triển kết cấu hạ tầng. Thực hiện nhanh

việc cải cách hành chính đối với khu vực quản lý hành chính Nhà nước, tinh giảm

biên chế, mở rộng áp dụng khóan chi hành chính để có điều kiện tăng lương cho

công chức Nhà nước, thực hiện cơ chế trả lương cho công chức căn cứ vào hiệu quả

công việc; áp dụng cơ chế tự trang trải kinh phí đổi với đơn vị sự nghiệp có thu.

3.4.2. Với ban quản lý các khu công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

- Có kế hoạch cụ thể nhằm hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng

là một trong những tiền đề và điều kiện tiên quyết đảm bảo cho tăng trưởng nhanh,

phát triển bền vững của vùng. Vì vậy, đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng phải được

ưu tiên và đi trước một bước.

- Phát triển cơ sở hạ tầng cũng phải đảm bảo tính đồng bộ, từng bước hướng

đến hiện đại vùng với các dịch vụ văn minh, với tầm nhìn rộng trong quan hệ với

các vùng lân cân.

- Bố trí các công trình cơ sở hạ tầng phải nằm trong quy hoạch tồ chức lãnh

thổ, phải đáp ứng được các nhu cầu phát triển của các KCN, khu vực dân cư và đô

thị,…đảm bảo quốc phòng và an ninh.

117

- Đề xuất những giải pháp đặc biệt về cơ chế và chính sách để huy động nguồn

vốn lớn cho xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng.

- Tiếp tục cải tạo tiến tới hiện đại mạng lưới giao thông, xây dựng phương án

hoàn thiện mạng lưới giao thông của huyện.

- Nâng cấp các công trình cấp thoát nước, từng bước phát triển theo quy hoạch

hiện đại. Cải tạo hệ thống thoát nước, xử lý nước thải đảm bảo không gây ô nhiễm

môi trường. Xây dựng các khu vực chứa chất thải, các nhà máy xử lý chất thải rắn

cho các đô thị.

3.4.3. Đối với doanh nghiệp

- Thường xuyên quan hệ chặt chẽ gắn bó với địa phương, các cơ quan có liên

quan như phòng Lao động Thương binh và Xã hội, Ban quản lý các KCN, Công

đoàn các KCN… nhằm tháo gở những khó khăn trong quá trình hoạt động.

- Xóa bỏ cơ chế xét duyệt quỹ lương, cho phép doanh nghiệp được quyền trả

lương cho người lao động trên cơ sở hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Các doanh nghiệp trong KCN phải cần tập trung nổ lực bảo vệ và cải thiện

tài nguyên môi trường, đảm bảo cho mọi người dân trong vùng đều được sống trong

môi trường trong sạch và lành mạnh.

- Các doanh nghiệp trong KCN phải đầu tư xây dựng các công trình xã hội

ngoài hàng rào KCN thỏa đáng.

- Phải quan tâm đến đời sống của người lao động tại các KCN như: tiền lương,

tiền thưởng, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, ăn ở, sinh hoạt, văn hóa, học tập, chăm

sóc sức khỏe cho người lao động và cả gia đình người lao động để tạo ra môi trường

sinh thái an toàn cả về vệ sinh đời sống, cả về sự phát triển toàn diện của con người

trong xã hội công nghiệp.

- Phải phát triển các cụm dân cư hoàn chỉnh song song với việc phát triển các

KCN

- Tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi cho công nhân trong KCN được tiếp thu

những công nghệ mới và hiện đại của các nước tiên tiến trong các tỉnh lân cận, khu

vực và thế giới

118

3.4.4. Với lãnh đạo và nhân dân địa phương nơi có khu công nghiệp

- Trước hết cần có biện pháp khuyến khích toàn xã hội và các nhà đầu tư trong

nước và nước ngoài đầu tư cho sản xuất kinh doanh. Tập trung hướng đầu tư phục

vụ mục tiêu phát triển CN của huyện, nhằm khai thác tốt nhất tiềm năng, lợi thế của

huyện.

- Có chính sách hỗ trợ mạnh cho, ban lãnh đạo cần thực hiện đổi mới cơ cấu

đầu tư và phương thức đầu tư, ưu tiên phát triển các lĩnh vực then chốt như: đẩy

mạnh công nghiệp chế biến, hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng của huyện, đào tạo

nguồn nhân lực có chất lượng cao và phải đầu tư bảo vệ môi trường.

- Giúp các doanh nghiệp thực hiện đào tạo nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn

nhân lực có chất lượng cao thuộc các lĩnh vực sản xuất, các ngành mũi nhọn của

huyện (CN chế biến, điện tử, sản xuất phần mềm tin học, tự động hóa…)

- Khuyến khích nhân dân địa phương có những ý thức và hành vi tích cực

trong vấn đề bảo vệ môi trường của huyện. Tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên

địa phương được học nghề tại huyện nhà nhằm tận dụng nguồn lao động trẻ trong

huyện.

- Vùng tiến hành sắp xếp lại hệ thống các cơ sở đào tạo nghề đặc biệt là trường

trung cấp nghề Đức Hòa trên huyện theo hướng chú trọng đào tạo các ngành kinh

tế, kĩ thuật phục vụ cho phát triển các ngành công nghiệp của huyện. Số lượng đào

tạo phải đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp và sau đào tạo sẽ có năng lực làm

việc ngay, không mất thời gian học việc, thử việc và thích nghi nhanh với công

việc. Theo kịp các ngành nghề mới phát triển, tạo nền để năng cao chuyên sâu vào

khoa học kỹ thuật ứng dụng.

119

KẾT LUẬN

Về lí luận

Như vậy có thể khẳng định Đức Hòa là một vùng đất đầy tiềm năng với

nhiều lợi thế về vị trí địa lý, nguồn nhân lực, khả năng thu hút đầu tư… trong phát

triển công nghiệp. Trong quá trình phát triển từ một nền nông nghiệp là chủ yếu,

nhưng đến nay kinh tế huyện đã phát triển với nền công nghiệp tương đối mạnh

theo hướng bền vững. Công nghiệp đã thực sự góp phần rất lớn vào sự tăng truởng

kinh tế của huyện, giúp huyện chuyển dịch cơ cấu theo đúng hướng tăng tỉ trọng

khu vực 2 và khu vực 3 giảm tỉ trọng khu vực 1, giải quyết việc làm, nâng cao đời

sống cho người lao động và cộng đồng dân cư địa phương. Tuy nhiên, trong quá

trình phát triển vẫn còn những bất cập về qui mô, chất lượng, hiệu quả, môi trường

và mối liên kết liên vùng. Ngày nay, trên quan điểm phát triển bền vững, không gây

thiệt hại ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai chúng ta không xem nhẹ lợi ích nào

trong cả 3 lợi ích là: kinh tế - xã hội – môi trường.

Về thực trạng

Nhìn chung các KCN của huyện có tỷ lệ lấp đầy diện tích còn khá thấp. Các

khu công nghiệp đã xây dựng hạ tầng tương đối hoàn chỉnh nhưng thu hút các

doanh nghiệp vào vẫn còn ít. Tỉ lệ lắp đầy cao nhất là Khu công nghiệp Tân Đức

được 71,58% diện tích, còn lại các khu khác như Xuyên Á 47,72%, Hải Sơn

46,33%, Đức Hòa 1 chỉ có 45,16%...

Quy mô, vốn đầu tư của các doanh nghiệp còn thấp, đa số các doanh nghiệp

đầu tư vốn trung bình từ 50-100 tỷ đồng. Còn vốn trên 200 tỷ đồng không nhiều.

Ngành nghề đầu tư của các doanh nghiệp ít đa dạng chủ yếu là gia công, và

lắp ráp như; may mặc, giầy da, ép nhựa... Về công nghiệp chế tạo và những ngành

kỹ thuật cao thì rất ít chỉ có vài doanh nghiệp.

Số lượng các doanh nghiệp nước ngoài thuê đất trong các khu, cụm công

nghiệp tập trung ít đã làm cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động

tương đối tách rời, việc phối hợp, hiệp tác, trao đổi học tập kinh nghiệm quản lý và

120

trình độ khoa học công nghệ với các nhà đầu tư nước ngoài do đó bị hạn chế nhất

định.

Cùng với việc thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ có trình độ kỹ thuật và

công nghệ thấp, thậm chí cả các doanh nghiệp kinh doanh các ngành sử dụng nhiều

lao động thủ công, dễ gây ô nhiễm môi trường, làm quá tải hệ thống cơ sở hạ tầng

kỹ thuật và hạ tầng xã hội vốn đã trong tình trạng phát triển thấp.

Giá trị sản xuất công nghiệp của huyện chiếm 19,3% trong tổng giá trị sản

xuất công nghiệp của toàn tỉnh. Trong đó CN chế biến chiếm tỉ lệ lớn nhất 99,85%

(năm 2011).

Số lượng lao động đã qua đào tạo của các KCN nhìn chung chưa cao, tỉ lệ

trung bình lao động đã qua đào tạo của các KCN chưa đến 30%

Vì vậy, việc xây dựng các định hướng phát triển công nghiệp theo hướng bền vững

về kinh tế - xã hội – môi trường nói chung và các khu công nghiệp nói riêng là hết

sức cần thiết để đưa huyện Đức Hòa phát triển thành một trong những huyện có sức

mạnh về công nghiệp, về thường mại và dịch vụ và là huyện công nghiệp của tỉnh

Long An. Vì thế đòi hỏi chính quyền các cấp và cộng đồng dân cư địa phương phải

chung sức, chung tay phát triển hoàn thiện các khu công nghiệp đáp ứng yêu cầu

thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại.

121

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Long An (2011), Báo cáo về các khu công nghiệp

đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Long An.

2. Bộ kế hoạch và đầu tư (2006), kỷ yếu hội nghị - hội thảo quốc gia:15 năm

(1991 – 2006) xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở

Việt nam, Nxb Long An.

3. Chi cục thống kê huyện Đức Hòa (2011), Niên giám thống kê huyện Đức Hòa.

4. Hoàng Công Dũng, Công nghiệp hóa, đô thị hóa TP. Hồ Chí Minh và tác động

của nó đối với kinh tế- xã hội - Hội thảo khoa học của học viên cao học và

nghiên cứu sinh (2010).

Phạm Xuân Hậu (2010), Giáo trình giảng dạy – Tổ chức lãnh thổ công 5.

nghiệp.

6. Lê Văn Khoa (Chủ biên), Môi trường và phát triển bền vững, Nxb giáo dục

Hà Nội.

7. Đỗ Hoài Nam (chủ biên) (2010), Mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo

định hướng xã hội chủ nghĩa con đường và bước đi, Nxb khoa học xã hội Hà

Nội.

8. Thạch Hương – Lưu Quang Tuyến (chủ biên) (1989), Địa chí Long An, Nxb

Long An và Nxb Khoa học xã hội.

9. Đặng Văn Phan (2010), Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ hội nhập,

Trường đại học Cửu Long.

10. Đặng Văn Phan (2007), Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Việt Nam, Bản đánh

máy.

11. Một số bài báo Long An

Ngô Đăng Thành (chủ biên) (2010), Các mô hình công nghiệp hóa trên thế 12.

giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia Hà Nội.

13. Nguyễn Đức Thành (chủ biên) (2010), Lựa chọn để tăng trưởng bền vững,

Nxb Tri thức.

122

14. Tổng cục thống kê (2006), Động thái và thực trạng kinh tế - xã hội, Nxb

Thống kê.

15. Lê Thông (chủ biên) (2009), Địa lý ba vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam, Nxb

giáo dục Hà Nội.

16. Trần Văn Thông (2003), Địa lý kinh tế Viêt Nam, Nxb thống kê

17. Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (2000), Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Việt

Nam,Nxb giáo dục Hà Nội.

18. Nguyễn Văn Thường (chủ biên) (2004), Một số vấn đề kinh tế - xã hội Việt

Nam, Nxb Chính trị quốc gia

19. Nguyễn Minh Tuệ 1995, Một số vấn đề về địa lý công nghiệp, Nxb giáo dục

Hà Nội.

20. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2005), Địa lý kinh tế xã hội đại cương, Nxb đại

học sư phạm Hà Nội.

21. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2009), Địa lý các vùng kinh tế Việt Nam, Nxb

giáo dục Hà Nội.

22. Ủy ban nhân dân huyện Đức Hòa (2011), Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng

thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Đức Hòa đến năm 2020.

Ủy ban nhân dân huyện Đức Hòa - Phòng nông nghiệp và phát triển nông 23.

thôn (2011). Quy hoạch phát triển nông nghiệp đến năm 2020.

24. Ủy ban nhân dân tỉnh Long An (2010) – Nghiên cứu quy hoạch tổng thể phát

triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Các Wedside 25.

1

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bảng tỉ lệ lắp đầy của các khu công nghiệp huyện Đức Hòa

DT có khả

DT đã

Diện tích

Tên khu công

Tỷ lệ lấp đầ

Ngày cấp phép

QĐ thành lập

Ngày cấp

STT

năng cho

chothuê,đăng

(ha)

nghiệp

(%)

thuê (ha)

ký thuê

1

KCN Đức Hoà 1

274.2300

183.4600

82.8538

45.16%

1.1

Giai đoạn 1

5/27/2010

2137/GP

11/1/1999

70.0000

46.6800

46.6800

100.00%

1.2

Giai đoạn 2

5/28/2010

2137/GPĐ3

12/27/2005

204.2300

136.7800

36.1738

26.45%

2

KCN Xuyên Á

305.9157

198.6400

94.7985

47.72%

2.1

Giai đoạn 1

5/15/2009

944/QĐ-TTg

11/8/1997

50.0000

20.5000

20.5000

100.00%

2.2

Giai đoạn 2

5/16/2009

1194/QĐ-TTg

12/17/2002

255.9157

178.1400

74.2985

41.71%

3

KCN Tân Đức

543.3536

366.6800

262.4875

71.58%

3.1

Giai đoạn 1

5/21/2004

1409/QĐ-UBND

5/21/2004

273.0000

188.7000

169.8300

90.00%

3.2

Giai đoạn 2

6/3/2008

1829/QĐ-UBND

7/11/2008

270.3536

177.9800

92.6575

52.06%

KCN Đức Hoà

4

III

634.4166

403.7590

77.1460

19.11%

8/19/2011

3416/QĐ-UBND

10/28/2011

5

KCN Hải Sơn

366.4884

275.6938

127.7257

46.33%

10/6/2011

3573/QĐ-UBND

11/9/2011

6

KCN Tân Đô

208.0432

162.0215

19.0267

11.74%

(Nguồn: BQL khu kinh tế tỉnh Long An – năm 2011 )

2

Phụ lục 2: Vốn đầu tư thực hiện và doanh thu của các doanh nghiệp DDI trong

các KCN huyện Đức Hòa năm 2011

VỐN ĐẦU DOANH DOANH TỔNG STT TÊN KCN TƯ THỰC THU XUẤT THU TT NỘI DOANH THU HIỆN KHẨU ĐỊA

KCN Đức

Cty Cổ phần Đồng

123,675,000,000

0

287,552,000,000

287,552,000,000

1

Xanh

TNHH

6,686,141,638

0

6,686,141,638

2

Cty

Panatech

101,756,011,950

101,756,011,950

3

Cty CP Vật tư -

Xăng dầu

Cty TNHH US.

5,000,000,000

0

30,040,012,617

30,040,012,617

4

Chemical

Cty TNHH An

10,000,000,000

1,451,680,638

300,757,705,682

302,209,386,320

5

Nông

Cty TNHH SX-TM

7,546,696

4,935,023

4,935,023

0

6

Địa Cầu

Cty

TNHH

200,000,000

3,178,700,000

3,178,700,000

0

7

DV&VS

môi

trường Hạnh Phúc

8

Cty TNHH SX-

20,000,000,000

53,439,581,111

7,645,911,897

61,085,493,008

TM Việt Thái

Dương

9

Viễn thông Long

2,118,950,909

0

3,827,904,261

3,827,904,261

An

10

Cty TNHH SX-TM

68,000,000,000

1,405,563,404

114,287,503,501

115,693,066,905

Thiên Quỳnh

11

CN Cty CP thuốc

1,800,000,000

0

22,375,311,650

22,375,311,650

BVTV Việt Trung

12

Cty TNHH Tấn

21,410,134,078

0

Đạt

13

Cty TNHH TM SX

19,611,000,000

5,196,518,131

78,192,334,205

83,388,852,336

DV Tân Nam Phát

Hòa 1

3

14

Công

ty TNHH

15,000,000,000

0

Tân Tiền Phong

15

Cty TNHH Sơn

67,028,000,000

0

112,784,000,000

112,784,000,000

Nero

16

CN Cty CP Quốc

135,000,000,000

0

129,539,250,577

129,539,250,577

tế Hòa Bình

17

Cty TNHH TM-SX

2,500,000,000

0

Ngọc Tân Kiên

18

Cty TNHH Trường

465,375,880,363

0

443,793,653,895

443,793,653,895

Sơn Sài Gòn

19

Cty TNHH Thép

375,935,637,415

64,566,462,755 2,561,413,344,735

2,625,979,807,490

Việt Nga

20

Cty TNHH 1tv

20,000,000,000

0

24,780,584,404

24,780,584,404

Gold Ocean

21

Cty CP Thiết bị

30,000,000,000

0

959,651,338,183

959,651,338,183

điện Phước Thạnh

22

Cty TNHH Thép

14,500,000,000

0

146,678,192,000

146,678,192,000

Nam

23

Công

ty TNHH

10,000,000,000

0

160,337,326,348

160,337,326,348

Thạnh Hưng

Tổng cộng

1,407,162,149,461 132,745,947,677 5,488,596,020,928

5,621,341,968,605

KCN Xuyên Á

24

DNTN

Cảnh

5,725,971,181

0

Thành

25

Cty TNHH Minh

12,000,000,000

59,689,907,104

59,689,907,104

0

Long

26

Doanh nghiệp

13,778,086,075

4,571,857,730

4,571,857,730

0

nhân Việt Phú

27

Cty TNHH Kim

14,439,843,400

18,631,985,344

18,631,985,344

0

Thành Hưng

0

28

CN Cty TNHH SX

XNK Thiên Hà

0

29

DNTN TM-DV-

5,000,000,000

KT

A

Đông

Nguyên

30

Cty TNHH TM SX

15,500,000,000

0

35,708,291,278

35,708,291,278

S.G.S

4

31

DNTN Phúc Trang

5,000,000,000

959,827,700

959,827,700

0

32

Cty TNHH Kim

0

0

0

khí Thịnh Văn

33

Cty TNHH Kim

8,900,000,000

29,270,314,173

73,768,273

29,344,082,446

Thịnh Vượng

34

Cty TNHH TM-

8,672,481,809

0

11,250,052,912

11,250,052,912

DV-XD-CK

TB

nâng Anh Tuấn

35

Cty TNHH SX-TM

11,349,000,000

1,970,307,850

24,895,259,900

26,865,567,750

Phong Niên

36

Cty CP Công nghệ

3,500,000,000

0

Cao su Latex

37

Cty TNHH Dệt

5,000,000,000

0

nhuộm Thuần Thái

Thịnh

38

Cty TNHH Quang

9,900,000,000

0

42,518,298,175

42,518,298,175

Minh Thành

39

Cty TNHH Dệt

14,719,400,000

0

may Nam Trường

Thịnh

40

Cty CP Lê Việt

55,000,000,000

0

41

Cty TNHH 1tv

4,000,000,000

4,606,702,280

4,606,702,280

0

SX-TM-DV Trần

Thành Tâm

42

Cty TNHH Đức

13,502,153,000

903,557,900

903,557,900

0

Minh

43

Cty TNHH 1tv Dệt

200,000,000,000

28,442,545,845

12,104,472,449

40,547,018,294

kim Đông Phương

44

Cty TNHH Bao Bì

11,000,000,000

1,787,766,758

36,858,855,765

38,646,622,523

Uy Tín

45

CN Cty CP Châu

42,800,000,000

5,454,545,000

5,454,545,000

0

Âu Vina

46

Cty TNHH SX-TM

5,500,000,000

3,829,654,200

3,829,654,200

0

Lộ Đức

Tổng cộng

465,286,935,465

61,470,934,626

262,057,036,010

323,527,970,636

KCN Tân Đức

47

Cty TNHH SX-TM

16,497,939,000

0

5

Siêu Thành

48

Cty TNHH SX TM

5,200,000,000

0

3,756,000,000

3,756,000,000

DV Liên Huy

Hoàng

49

Cty TNHH SX TM

14,500,000,000

0

DV Ôtô Quyền

50

Công

ty TNHH

8,394,663,657

2,908,853,140

9,279,120,692

12,187,973,832

Khánh Xương

51

Cty Thiết bị điện

8,000,000,000

0

Thành Long

52

Cty TNHH 1tv

11,232,300,060

22,616,287,000

22,616,287,000

0

Quốc Hưng

53

Cty TNHH Hoàn

6,000,000,000

7,644,400,334

7,644,400,334

0

thiện vải Trần Hiệp

(Thuận

Thành

Hùng)

54

Cty CP Sợi Sài

35,891,041,561

18,345,027,622

116,640,684,310

134,985,711,932

Gòn Long An VN

55

Cty CP Sợi An

10,000,000,000

0

71,133,827,999

71,133,827,999

Việt

Cty CP Đức Bảo

18,000,000,000

56

0

Cty TNHH Bao bì

5,000,000,000

2,008,324,979

17,569,990,513

19,578,315,492

57

Hoàng Thành

Cty TNHH Ý Vinh

14,800,000,000

9,271,520,543

9,271,520,543

58

0

Cty TNHH Nhựa

59

0

Tân Hóa - Long

An

60

Cty TNHH SX-TM

5,000,000,000

0

Quý Sơn

61

Cty TNHH Bao bì

7,000,000,000

14,287,927,626

3,973,958,646

18,261,886,272

Ngọc Diệp

62

Cty TNHH Thực

6,591,399,125

0

phẩm dinh dưỡng

Miền Nam

63

CN Cty TNHH DV

0

4,925,907,213

4,925,907,213

KD VP&NX Tân

Tạo

6

64

Cty TNHH Phước

20,000,000,000

0

Toàn Hưng

65

Cty TNHH SX-

3,000,000,000

0

38,709,464,458

38,709,464,458

TM-DV

Vương

Thành

66

Cty

TNHH

4,400,000,000

0

9,091,900,920

9,091,900,920

TM&SX Vũ An

67

Xí nghiệp Bao bì

121,000,000,000

462,444,600

433,639,398,817

434,101,843,417

Liksin

68

Cty TNHH Hàn

116,050,393,502

16,404,859,403

16,404,859,403

Gia

69

Cty CP Truyền

201,502,000,000

0

10,281,000,000

10,281,000,000

thông Việt Nam

70

Cty CP Phát triển

1,471,220,985,377

172,881,539,697

172,881,539,697

Đô thị Việt Nam

71

Cty CP Kim cương

18,300,000,000

14,600,000,000

14,600,000,000

0

Á Châu

72

Cty CP Thực phẩm

8,830,388,000

792,310,910

792,310,910

0

và Thức uống Việt

73

Cty TNHH Bao bì

10,000,000,000

0

Lĩnh Nam

Tổng cộng

2,146,411,110,282

38,012,577,967

963,212,171,455

1,001,224,749,422

KCN Đức Hòa 3

86

Cty TNHH SX -

19,600,500,000

0

TM Văn Minh

87

Cty TNHH Lan

119,737,515,050

0

182,031,410,440

182,031,410,440

Anh Hoa Cương

88

Cty TNHH Gốm

15,000,000,000

7,880,902,954

7,880,902,954

0

sứ Phương Đông

89

CN Cty CP Nước

19,654,463,343

0

Hoàng Minh

90

Cty CP Hóa chất

13,800,000,000

0

20,263,094,663

20,263,094,663

Hà Long

91

Cty TNHH SX-KD

10,000,000,000

234,000,000

6,136,000,000

6,370,000,000

Duy Hưng

92

Cty CP Cấp nước

80,000,000,000

0

1,354,903,620

1,354,903,620

Phú Mỹ Vinh

7

93

Cty TNHH Phương

23,494,710,902

0

69,696,990,548

69,696,990,548

Yến

Tổng cộng

301,287,189,295

234,000,000

287,363,302,225

287,597,302,225

KCN Hải Sơn

96

Cty TNHH Việt

15,652,082,800

301,192,200

60,229,528,421

60,530,720,621

Hải

97

Cty TNHH SX-

50,000,000,000 132,551,598,290

44,825,746,370

177,377,344,660

TM-DV

Cường

Vinh

98

Cty TNHH SX-TM

55,633,159,414

51,400,000

16,321,773,683

16,373,173,683

Kim Hồng Lợi

99

Cty TNHH Huy

16,000,000,000

0

4,377,483,199

4,377,483,199

Hoàng 288

100

Cty TNHH SX-

14,000,000,000

0

132,540,701,808

132,540,701,808

TM-DV

Hải

Phương

101

Cty TNHH SX-TM

27,000,000,000

0

73,860,428,932

73,860,428,932

Thái Quang

102

Cty TNHH Hải

4,000,000,000

65,939,449,038

634,943,400

66,574,392,438

Sơn An Lạc

103

Cty CP Quốc

6,500,000,000

45,565,702,754

45,565,702,754

0

Thăng

104

Cty TNHH SX-TM

22,700,000,000

1,266,318,700

1,266,318,700

0

Thành Quốc Thái

105

Cty CP Nhựa

50,000,000,000

41,935,299,365

41,935,299,365

0

Thành Công

106

Cty TNHH Nhà

2,000,000,000

4,459,020,390

4,459,020,390

0

thép Hoàng Hà

107

Cty TNHH SX-TM

200,000,000

9,215,980,000

9,215,980,000

0

Kiệt Nhi

108

Cty TNHH Hóa

8,000,000,000

154,200,000

10,566,293,942

10,720,493,942

chất Hùng Xương

109

Cty TNHH TM

5,850,000,000

0

6,873,986,643

6,873,986,643

DV Việt Ý

Tổng cộng

277,535,242,214 198,997,839,528

452,673,207,607

651,671,047,135

8

Phụ lục 3: Tổng vốn đầu tư xây dựng và phát triển các KCN huyện Đức Hòa

(tháng 5 năm 2012)

Đơn vị tính: Tỉ đồng

Tổng vốn đầu tư KCN đã Vốn đầu tư đã

STT Tên KCN đăng ký (vốn đầu tư theo thực hiện tính luỹ

4182.0132

1555.137

Giấy chứng nhận đầu tư) kế đến kỳ báo cáo

KCN Đức Hòa III

568.45

560

1

KCN Tân Đô

2

KCN Đức Hòa 1

1574

1236

3 300 477

KCN Tân Đức

2000

1050

4

KCN Hải Sơn

1,853

0

5

KCN Đại Lộc

6

(Nguồn: xử lý số liệu từ Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Long An)

9

Hình 1: Lễ khánh thành nhà máy cấp nước Đức Hòa 3

Hình 2: Hệ thống lên men bia của nhà máy bia saporo – Đức Hòa 3

10

Hình 4: Hình ảnh của khu đô thị sinh thái Tân Đô trong tương lai

Hình 3: Quang cảnh mặt tiền của Ban Quản Lý KCN Việt Hóa – Đức Hòa 3

11

Hình 5: Quang cảnh mặt tiền của công ty bia Sapporo trong khu công nghiệp

Hình 6: Hệ thống giao thông đường nhựa trong Khu công nghiệp Đức Hòa 3