BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

________________

Trương Thị Gấm

Chuyên ngành : Địa lí học

Mã số : 60 31 95

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

LUẬN VĂN THẠC SĨ ÐỊA LÝ HỌC

TS. NGUYỄN ĐỨC TUẤN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới TS.

Nguyễn Đức Tuấn - người đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình

nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Tác giả xin cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Khoa học Công nghệ và sau Đại

học các Thầy Cô khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh,

Ban Giám Hiệu trường THPT Nhơn Trạch huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai đã tạo

điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.

Tác giả trân trọng cảm ơn các cơ quan của tỉnh Đồng Nai: Sở Kế hoạch và

Đầu tư, Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài nguyên và Môi

Trường, Cục Tống kê Đồng Nai, Ban Quản lý khu công nghiệp Đồng Nai…đã giúp

đỡ tác giả trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu và thông tin có liên quan đến nội

dung nghiên cứu.

Cuối cùng, tác giả xin gởi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và

đồng nghiệp…đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên

cứu và hoàn thành luận văn.

Đồng Nai năm 2009

Tác giả

Trương Thị Gấm

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Đồng Nai từ lâu được biết đến như là vùng đất của công nghiệp, đặc biệt hấp

dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đồng Nai không chỉ có vị trí địa lý

thuận lợi mà còn nổi tiếng với Khu kỹ nghệ Biên Hòa, được thành lập đầu tiên trong

cả nước từ năm 1963 và nay là khu công nghiệp Biên Hòa 1. Tiếng lành đồn xa, từ

khu công nghiệp đầu tiên đó, Đồng Nai đã trở thành thương hiệu hấp dẫn nhiều nhà

đầu tư trong và ngoài nước và con số dự án đầu tư vào các khu công nghiệp Đồng

Nai cứ thế gia tăng. Từ lợi thế này, Đồng Nai luôn là địa phương đi đầu trong lĩnh

vực xây dựng và phát triển khu, cụm công nghiệp. Các khu công nghiệp của Đồng

Nai phát triển mạnh cả về số lượng, khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài lẫn

diện tích đất cho thuê. Một số khu công nghiệp như: Biên Hoà 1, Biên Hoà 2, Nhơn

Trạch 2... đã cho thuê hết diện tích, trong đó Biên Hoà 2 là khu công nghiệp thành

công nhất cả nước trong lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài. Đồng Nai cũng là một

trong số ít địa phương thu hút được nhiều dự án có quy mô vốn trên 100 triệu USD.

Vốn đầu tư nước ngoài đã thật sự trở thành nguồn lực quan trọng để đầu tư phát

triển sản xuất, tạo nguồn thu ngân sách lớn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa

phương, nhất là đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,

hiện đại hóa. Thành công của các khu công nghiệp tại Đồng Nai được các bộ, ngành

trung ương đánh giá cao và huyện Nhơn Trạch được coi là điển hình của Đồng Nai

về công nghiệp hóa nông thôn thông qua hình thức phát triển khu công nghiệp. Với

9 khu công nghiệp đang hoạt động, Nhơn Trạch chuyển mình từ một huyện thuần

nông trở thành một thành phố công nghiệp với các khu đô thị, khu thương mại lớn,

kết cấu hạ tầng phát triển nhanh và ổn định.. Đô thị mới Nhơn Trạch với 9 KCN ra

đời trên diện tích 3.500 ha trở thành vùng đất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong

và ngoài nước. Những năm gần đây, Nhơn Trạch luôn là địa phương dẫn đầu trong

các huyện thị của tỉnh Đồng Nai về thu hút đầu tư nước ngoài trong phát triển công

nghiệp. Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp đã tác động mạnh

mẽ đến sự phát triển kinh tế-xã hội, môi trường của địa phương và thành phố Nhơn

Trạch tương lai. Làm thế nào để thu hút nhiều vốn đầu tư vào các khu công nghiệp

nhưng vẫn đảm bảo phát triển bền vững về kinh tế- xã hội, môi trường là một thách

thức lớn đối với chính quyền địa phương và là vấn đề cần được quan tâm, nghiên

cứu. Giải quyết được vấn đề này sẽ góp phần vào thực hiện tốt mục tiêu phát triển

kinh tế - xã hội của huyện Nhơn Trạch.trong hiện tại và tương lai.Vì thế tác giả đã

chọn đề tài “ Định hướng phát triển các khu công nghiệp huyện Nhơn Trạch tỉnh

Đồng Nai trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” làm đề tài nghiên cứu.

2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục tiêu

- Đánh giá tiềm năng phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch

tỉnh Đồng Nai.

- Đánh giá tác động của các khu công nghiệp đến tình hình phát triển kinh tế -

xã hội, môi trường của huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai, đề xuất những định

hướng và giải pháp trên cơ sở phát huy lợi thế của thành phố công nghiệp tương lai

nhằm phát triển các khu công nghiệp của địa phương theo hướng phát triển bền

vững.

2. 2. Nhiệm vụ

- Tổng quan cơ sở lý luận về khu công nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng, nguyên

tắc phát triển, tiêu chí đánh giá hiệu quả và thực trạng phát triển khu công nghiệp ở

nước ta.

- Phân tích tiềm năng phát triển công nghiệp đồng thời cho thấy vai trò của các

khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, môi trường của địa phương.

- Căn cứ vào hiện trạng phát triển các khu công nghiệp từ đó định hướng và đề

xuất các giải pháp phát triển bền vững.

3. Nội dung và phạm vi nghiên cứu

3.1. Nội dung

Đề tài tập trung vào :

- Tiềm năng phát triển công nghiệp của Nhơn Trạch.

- Hiện trạng phát triển của các khu công nghiệp Nhơn Trạch.

- Tác động tích cực và tiêu cực của các khu công nghiệp đến tình hình phát

triển kinh tế, xã hội, môi trường địa phương.

- Định hướng phát triển các khu công nghiệp đến năm 2020.

- Các giải pháp và kiến nghị phát triển khu công nghiệp theo hướng bền vững.

3.2. Không gian – thời gian

- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu các khu công nghiệp đang hoạt

động trên địa bàn huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai. Các khu công nghiệp được đề

cập bao gồm Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2, Nhơn Trạch 3, Nhơn Trạch 5, Nhơn

Trạch 6, Nhơn Trạch 2- Lộc Khang, Nhơn Trạch 2- Nhơn Phú, Dệt may Nhơn

Trạch, khu công nghiệp Ông Kèo. Đề tài không đề cập đến các cụm tiểu thủ công

nghiệp.

- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu quá trình phát triển các khu công nghiệp trên

địa bàn huyện Nhơn Trạch từ năm 2001 đến nay. Sau năm 2001, một số khu công

nghiệp đi vào hoạt động ổn định và đạt hiệu quả cao có tác động mạnh mẽ đến tình

hình phát triển kinh tế-xã hội, môi trường của địa phương.

4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp đã lôi cuốn nhiều tác giả quan

tâm nghiên cứu cả về lý luận lẫn đánh giá thực tiễn từ đầu những năm 90 cho đến

nay. Năm 1993 Lưu Vũ Mai đã cho xuất bản quyển kinh nghiệm của thế giới và

khả năng phát triển khu chế xuất ở Việt Nam chuyên đề thông tin. Năm 1995, Văn

Thái thực hiện một công trình đánh giá tổng kết toàn bộ các khu chế xuất Việt

Nam, bên cạnh việc xem xét và đúc kết kinh nghiệm từ một số khu chế xuất trên thế

giới. Cũng trong năm này, Lê Văn Nin đưa ra một công trình nghiên cứu về cơ sở

hình thành, phát triển các khu công nghiệp tập trung ở Việt Nam. Năm 2002 Bộ

kế hoạch và đầu tư – cơ quan đại diện phía Nam xuất bản cuốn khu chế xuất và

khu công nghiệp ở các tỉnh phía Nam. Tháng 3/2003 Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ

chức hội nghị tổng kết tình hình hoạt động các khu công nghiệp và vạch ra phương

hướng phát triển. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Thạc sĩ Lê Thị Hường (và các cộng

tác viên) trường Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh tháng 5/2004 : Các khu công

nghiệp – khu chế xuất Việt Nam, hiệu quả hoạt động và xu hướng phát triển. Kỷ

yếu Hội nghị - Hội thảo quốc gia “15 năm (1991-2006) xây dựng và phát triển các

khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam” của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tháng

7/2006.

Về phía tỉnh Đồng Nai có: Đề tài “ Tổng kết quá trình xây dựng phát triển

các khu công nghiệp và thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” của Tỉnh uỷ-

UBND tỉnh Đồng Nai năm 2005, Kỹ Sư Võ Thanh Lập quyền Trưởng Ban Quản lý

các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai năm 2007 với “ Xây dựng hệ thống tiêu chí

xếp hạng các khu công nghiệp Đồng Nai”, đề tài “Phân tích hiệu quả hoạt động

của các doanh nghiệp trên địa bàncác khu công nghiệp Nhơn Trạch giai đoạn

2001-2005 và những dự báo cho giai đoạn 2006-2010” của Kiều Thị Mỹ Linh

trường Đại Học Lạc Hồng và “ Phân tích tình hình thu hút vốn đầu tư vào các

khu công nghiệp Nhơn Trạch giai đoạn 2001-2006 và dự áo đến năm 2010” của

Huỳnh Thị Kim Hương trường Đại học Lạc Hồng. Ngoài ra còn có một số bài báo

trong và ngoài tỉnh Đồng Nai viết về huyện Nhơn Trạch với nhiều khu công nghiệp

phát triển có hiệu quả và một thành phố công nghiệp Nhơn Trạch tương lai.

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và chi

tiết về thực trạng phát triển các khu công nghiệp trên đia bàn huyện Nhơn Trạch

tỉnh Đồng Nai. Các công trình trên sẽ là những tài liệu tham khảo quý giá để tác giả

nghiên cứu đề tài “ Định hướng phát triển các khu công nghiệp huyện Nhơn

Ttrạch tỉnh Đồng Nai trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài nghiên cứu

5. 1. Ý nghĩa khoa học

Góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng các khu công

nghiệp tại một huyện của tỉnh Đồng Nai thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

nói riêng, ở Việt Nam nói chung.

5. 2. Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, Ban quản lý KCN, khu

chế xuất những ý kiến đóng góp cho việc hoàn thiện hệ thống pháp lý cũng như

những giải pháp thiết thực để thu hút vốn đầu tư đặc biệt là đầu tư nước ngoài, hạn

chế tối đa những vấn đề mà hầu hết các khu công nghiệp nước ta hiện nay đang mắc

phải. Đồng thời, thông qua đề tài cung cấp cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài

nước cơ sở nhận định tình hình đầu tư tại địa phương từ đó có chiến lược đầu tư

thích hợp nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho mình và góp phần thúc đẩy

phát triển kinh tế của huyên nói riêng và của cả nước nói chung.

6. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

6.1. Quan điểm

6.1.1. Quan điểm hệ thống

Các khu công nghiệp huyện Nhơn Trạch được coi là hệ thống lãnh thổ được

đặt trong một hệ thống lớn hơn, đó là hệ thống các khu công nghiệp của tỉnh Đồng

Nai, có quan hệ với các khu công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu,

Bình Dương…và cả nước. Khi đánh gía các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát triển

khu công nghiệp Nhơn Trạch phải đặt trong sự ảnh hưởng chung của các điều kiện

ảnh hưởng đến các trung tâm công nghiệp ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và

cả nước.

6.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Đối tượng nghiên cứu là các khu công nghiệp. Chúng được phân bố trên một

không gian nhất định và có đặc trưng lãnh thổ riêng. Áp dụng quan điểm tổng hợp -

lãnh thổ cho phép xem xét các yếu tố trong mối quan hệ tác động lẫn nhau, phát

hiện ra quy luật phát triển, các nhân tố trội tác động đến sự phát triển các khu công

nghiệp. Vì vậy việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp ở Nhơn Trạch nếu

có sự kết hợp tổng lực các yếu tố tự nhiên, kinh tế-xã hội, đường lối chính sách phát

triển của địa phương…sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển các khu công nghiệp một

các nhanh chóng và hiệu quả.

6.1.3. Quan điểm lịch sử viễn cảnh

Những tác động của sự biến đổi kinh tế xã hội tới sự hình thành và phát triển

các khu công nghiệp là quá trình lâu dài, vận động theo thời gian. Hiện trạng phát

triển các khu công nghiệp và xu hướng phát triển là cơ sở đề xuất giải pháp quản lý

và phát triển các khu công nghiệp trong tương lai.

6.1.4. Quan điểm phát triển bền vững

Trong quá trình phát triển các khu công nghiệp sẽ xuất hiện nhiều vấn đề về

sinh thái và phát triển bền vững, các vấn đề như xử lý nước thải, rác thải, khói

thải…Vì vậy dựa trên quan điểm này mới có thể định hướng phát triển sao cho một

mặt phát huy sức mạnh tổng hợp để phát triển các khu công nghiệp có hiệu quả

đồng thời đảm bảo môi trường sinh thái.

6.2. Phương pháp nghiên cứu

6.2.1. Phương pháp phân tích thông tin

Thông tin thu được từ nguồn niên giám thống kê, từ báo chí và các phương

tiện thông tin đại chúng khác được sắp xếp, kiểm tra mức độ chính xác của các

nguồn thông tin và phân loại, phân tích các thông tin đã được thu thập.

6.2.2. Phương pháp thống kê

Các tài liệu thống kê được thu thập và triệt để khai thác bởi vì đây là các tài

liệu có “giá trị pháp lý”. Các tài liệu được thu thập nhiều nguồn khác nhau như Sở

Công nghiệp Đồng Nai, Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai, Ban quản lý các khu

công nghiệp Đồng Nai, UBND tỉnh Đồng Nai, UBND huyện Nhơn Trạch, Phòng

kinh tế huyện Nhơn Trạch và các website có liên quan…để so sánh, tìm ra nguyên

nhân phát triển các khu công nghiệp Nhơn Trạch.Từ đó đưa ra kết luận và khả năng

phát triển trong tương lai.

6.2.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Trong nghiên cứu các vấn đề địa lý nói chung và các vấn đề về địa lý kinh tế

xã hội nói riêng thì phương pháp bản đồ, biểu đồ rất quan trọng và là đặc thù của

khoa học địa lý. Các bản đồ, biểu đồ trong đề tài cho phép ta thể hiện kết quả

nghiên cứu một cách sinh động hơn. Các bản đồ trong đề tài được thành lập trên cơ

sở phần mềm Mapinfo

6.2.4. Phương pháp thực địa

Đây là phương pháp cần thiết. Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đã đến

tham quan thực tế các khu công nghiệp của huyện, các cơ quan ban ngành và địa

điểm có liên quan.

6.2.5. Phương pháp phỏng vấn chuyên gia, nhà quản lý

Thu thập ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý và những người có kinh

nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu về quá trình phát hình thành và phát triển các khu

công nghiệp, đồng thời phân tích sự liên quan của nó đến những vấn đề phát triển

kinh tế-xã hội. Qua những ý kiến của chuyên gia cho phép tác giả có những nhận

định khách quan, chủ quan về sự phát triển các khu công nghiệp và những dự kiến

các biện pháp khách quan, thiết thực và hiệu quả hơn.

7. Cấu trúc luận văn

Tên đề tài: “ Định hướng phát triển các khu công nghiệp huyện Nhơn Trạch

tỉnh Đồng Nai trong thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa”. Đề tài gồm có 3

phần: mở đầu, nội dung và kết luận. Phần nội dung gồm có 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về khu công nghiệp

Chương 2: Thực trạng phát triển các khu công nghiệp huyện Nhơn Trạch

tỉnh Đồng Nai

Chương 3 Định hướng và giải pháp phát triển các khu công nghiệp huyện

Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai đến năm 2020

Ngoài ra, đề tài còn có phần phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP

1.1.Khu công nghiệp

1.1.1.Khái niệm

Khu công nghiệp (KCN) với tư cách là một hình thức của tổ chức lãnh thổ

công nghiệp cùng với các hình thức khác (điểm công nghiệp, cụm công nghiệp, trung

tâm công nghiệp, vùng công nghiệp…) được hình thành và phát triển ở một số nước

tư bản vào những năm giữa thế kỷ XX. Nó được hiểu là một khu vực đất đai có ranh

giới nhất định do nhà tư bản sở hữu, trước hết là xây dựng cơ sở hạ tầng và sau đó

là xây dựng xí nghiệp để bán. Ở các nước châu Á, và ASEAN, KCN ra đời vào giữa

sau của thế kỷ XX (Singapor năm 1951, Đài Loan 1966, Hàn Quốc 1970, Thái Lan

1972…) Ở nước ta, hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp này được hình thành

vào đầu thập niên 90 của thế kỉ XX. Dù tên gọi ở mỗi nước khác nhau, nhưng về

bản chất đó là KCN.

Có nhiều quan niệm khác nhau về KCN. Theo quan niệm thông thường, KCN

là khu vực có tính chất độc lập trong đó có các doanh nghiệp (DN) chuyên sản xuất

hàng hoá và thực hiện các hoạt động dịch vụ và có chế độ quản lý riêng. Khu chế

xuất (KCX) là khu chuyên sản xuất hàng giành cho xuất khẩu, ở đó áp dụng nhiều

biện pháp ưu đãi như miễn thuế (xuất-nhập khẩu, thuế tài sản…) và tự do mua bán.

Theo định nghĩa đơn giản của Peddle (1993), “khu công nghiệp là một khoảng đất

tương đối rộng, chia nhiều lô và được xây dựng hạ tầng và hưởng lợi thế vị trí liền

kề nhau”.

KCN theo quan niệm của địa lý Liên Xô trước đây là hình thức tổ chức lãnh

thổ công nghiệp nhưng chưa thực sự thống nhất về nội dung và những đặc trưng

chủ yếu. Các nhà khoa học của trường Đại học Tổng hợp Matxcơva đưa ra định

nghĩa sau : “Khu công nghiệp là sự tập hợp theo lãnh thổ của những điểm công

nghiệp, tạo thành sự thống nhất kinh tế và nền tảng là các ngành công nghiệp lớn

có ý nghĩa toàn quốc và các ngành phục vụ có liên quan”.

Ở nước ta, trong Nghị định 192/CP ngày 25/12/1994 của chính phủ đã chỉ rõ:

KCN do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản

xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có

dân cư sinh sống.

Còn theo Hội Đồng Nghiên Cứu Phát Triển Quốc Tế về KCN (WEPZA) là tất

cả các khu vực được chính phủ các nước cho phép thành lập và hoạt động như cảng

tự do, khu mậu dịch tự do, KCN tự do hoặc bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu

vực khác được tổ chức này công nhận. Như vậy, quan niệm của WEPZA là một

quan niệm rất rộng và nó đòi hỏi các chính sách quản lý có độ linh hoạt cao và mức

độ "tự do hoá" khá lớn.

Tuy nhiên, cũng có quan niệm cho rằng KCN là một khu vực phụ (subregion)

không nhất thiết phải có sự ngăn cách biệt lập và trên thực tế có nhiều tập đoàn và

tổ hợp công nghiệp với một chuỗi đồ sộ các xí nghiệp, nhà máy liên kết với nhau

trên một khu vực rộng lớn và việc bố trí mặt bằng các khu sản xuất trên quy mô lớn

như vậy hình thành một loại hình tổ chức mới của KCN mà không nhất thiết phải có

một quy chế đặc thù.

Như vậy, có thể xác định KCN là một khu vực có ranh giới rõ rệt với những

thế mạnh về vị trí địa lí, về tự nhiên, kinh tế để thu hút đầu tư, hoạt động với cơ cấu

hợp lí giữa các DN công nghiệp và dịch vụ có liên quan thuộc nhiều thành phần

kinh tế nhằm đạt hiệu quả cao của từng DN nói riêng và tổng thể cả KCN nói

chung.

Có nhiều thuật ngữ đồng nghĩa với KCN như sau:

Các thuật ngữ đồng nghĩa với khu công nghiệp

1. Industrial Zones ( Khu công nghiệp)

2. Industrial Parks (Công viên công nghiệp)

3. Industrial Cluster (Cụm công nghiệp)

4. Industrial Processing Zones (Khu chế biến công nghiệp)

5. Export Processing Zones (Khu chế xuất)

6. Business Parks (Công viên thương mại)

7. Science and Research Parks (Công viên khoa học và nghiên cứu)

8. High – Tech Centers (Trung tâm công nghệ cao)

9. Bio- Technology Parks (Công viên công nghệ sinh học)

10. Eco- Industrial Parks (Công viên công nghiệp sinh thái)

Nguồn: Quản lý môi trường các khu công nghiệp, INFOTERRA, 2000

1.1.2. Mục tiêu của KCN

Theo các tài liệu của Liên Hiệp quốc và WEPZA, các KCN trên thế giới ra đời

nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) để tăng xuất khẩu, thu hút ngoại tệ,

tranh thủ kỹ thuật mới, đi đôi với chuyển giao công nghệ giải quyết nạn thất nghiệp,

tăng lượng người có công ăn việc làm trong và ngoài khu, học tập và áp dụng cách

quản lý kinh tế tiên tiến, tăng các khoản thu ngoại tệ cho thuê đất và cung ứng các

loại dịch vụ. Mục đích quan trọng của KCN là sử dụng hiệu quả quỹ đất thúc đẩy

sự phát triển các vùng, mở ra khả năng phát triển sản xuất công nghiệp ở trong

nước, tăng xuất khẩu, thay đổi cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng tỷ lệ hàng công

nghiệp. KCN là một bộ phận gắn liền của chính sách mở cửa ra thế giới bên ngoài

tăng cường các quan hệ trao đổi kinh tế, kỹ thuật đa phương.

Ngoài ra, phát triển các KCN cũng thúc đẩy việc hình thành và phát triển các

đô thị mới, phát triển các ngành công nghiệp thượng nguồn và dịch vụ, tạo điều

kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích

quốc gia, trong đó việc tăng thu nhập và tạo việc làm cho người lao động, góp phần

xóa đói giảm nghèo và đào tạo phát triển nguồn nhân lực; xây dựng phát triển kết

cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật và hạ tầng xã hội cho sự phát triển của đất nước.

1.1.3.Tính tất yếu khách quan của việc hình thành KCN

Việc hình thành các KCN mang tính tất yếu trong từng giai đoạn lịch sử ở các

quốc gia khác nhau.

Các nước tư bản muốn thông qua việc xây dựng các KCN để tăng cường xuất

khẩu cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, đồng thời khai thác triệt

để các nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của các nước.

Đối với các nước đang phát triển, trong quá trình CNH với chiến lược hướng

về xuất khẩu, các KCN, KCX được hình thành nhằm mục đích thu hút vốn đầu tư,

công nghệ và kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển., giải quyết việc làm,

tăng nguồn hàng xuất khẩu.... Hiện nay các nước đang phát triển đang ở giai đoạn

đầu của quá trình CNH-HĐH, các nguồn lực cần thiết cho đầu tư phát triển là rất

hạn chế. Chính vì vậy việc mở rộng hợp tác với nước ngoài tạo cơ hội thu hút vốn

đầu tư. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là cần có môi trường đầu tư hấp dẫn để tạo động lực

thu hút các nhà đầu tư. Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn thì không thể

cùng một lúc tạo ra môi trường thuận lợi trên toàn quốc, nên việc tạo ra những khu

vực có diện tích nhỏ để tập trung những điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư, tạo khả

năng thu hút nguồn vốn nước ngoài là điều cần thiết và khả thi. Bên cạnh đó việc

hình thành các KCN cũng là cơ hội để phát huy sức mạnh nội lực của đất nước

trong quá trình CNH-HĐH. Thực tế cho thấy vai trò quan trọng trong việc phát huy

nội lực và tận dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp phát

triển đất nước. Vì vậy sự ra đời của các KCN là một bước đi đúng đắn cho các nước

đang phát triển trên con đường phát triển và hội nhập.

1.1.4. Đặc điểm chung của KCN

Khu công nghiệp có một số đặc điểm chính sau đây:

- Có ranh giới rõ ràng với quy mô đất đai đủ lớn với vị trí địa lí thuận lợi (gần

sân bay, bến cảng, đường sắt, đường ô tô…).

- Tập trung tương đối nhiều xí nghiệp công nghiệp cùng sử dụng chung cơ sở

hạ tầng sản xuất xã hội, được hưởng quy chế ưu đãi riêng khác với các xí nghiệp

phân bố ngoài KCN (như giá thuê đất, thuế quan, chuyển đổi ngoại tệ…), không có

dân cư sinh sống.

- Có Ban quản lí thống nhất để thực hiện quy chế quản lí, đồng thời có sự phân

cấp rõ ràng về quản lí và tổ chức sản xuất. Về phía các xí nghiệp, khả năng hợp tác

sản xuất phụ thuộc vào việc tự liên kết với nhau của từng DN. Còn việc quản lí Nhà

nước được thể hiện ở chỗ Nhà nước chỉ quy định những ngành (hay loại xí nghiệp)

được khuyến khích phát triển và những ngành (hoặc loại xí nghiệp) không được

phép đặt trong KCN vì các lí do nhất định (như môi trường sinh thái, hay an ninh

quốc phòng).

- Các KCN rất khác nhau về tính chất và về loại hình. Vì thế để tiện lợi cho

việc phân loại, có thể căn cứ vào một số tiêu chí cụ thể như vị trí địa lí, tính chất

chuyên môn hoá, cơ cấu và đặc điểm sản xuất, quy mô, sự độc lập hay phụ thuộc,

trình độ công nghệ…Nói cách khác, dựa vào mỗi chỉ tiêu sẽ có từng cách phân loại

các KCN.

1.1.5.Phân loại KCN

- Về vị trí địa lí, các KCN được hình thành ở những khu vực khác nhau. Do

vậy, có thể phân ra các KCN nằm ở trung du hay vùng núi, các KCN ven biển, các

KCN dọc theo quốc lộ, các KCN nằm trong các thành phố lớn.

- Về tính chất chuyên môn hoá, cơ cấu và đặc điểm, có thể chia ra: các KCN

chuyên môn hoá (trên cơ sở xí nghiệp chuyên môn hoá sử dụng một loại nguyên

liệu cơ bản), các KCN tổng hợp (cơ cấu đa dạng với nhiều ngành sản xuất), hoặc

các KCN sản xuất chủ yếu để xuất khẩu hay còn gọi là KCX.

- Về quy mô, tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, vị trí địa lí và sự hấp dẫn đối với

các nhà đầu tư (trong và ngoài nước), có thể chia thành các KCN có quy mô lớn,

các KCN có quy mô vừa và các KCN có quy mô nhỏ.

Ở nước ta, quy mô về diện tích của KCNTT có thể quy định như sau:

+ Quy mô lớn: trên 300 ha;

+ Quy mô vừa: từ 150 đến 300 ha;

+ Quy mô nhỏ: dưới 150 ha.

- Về trình độ công nghệ, có thể chia ra một số loại KCN tuỳ thuộc vào trình độ

khoa học và công nghệ của các xí nghiệp phân bố trong KCN. KCN gồm các xí

nghiệp có trình độ công nghệ tiên tiến thì gọi là khu công nghệ cao và ngược lại.

1.1.6. Các loại hình KCN phổ biến

Hiện nay, 5 loại hình KCN thường thấy nhất ở các nước bao gồm: KCN hỗn

hợp, KCX, khu công nghệ cao, khu kinh tế tổng hợp, và xu thế hiện nay đặc biệt ở

các nước phát triển là hướng tới xây dựng KCN sinh thái. Dù theo cách gọi thế nào,

chúng đều có hai đặc điểm chung là: (1) cùng địa điểm và (2) cấu trúc quản lý.

- Khu công nghiệp hỗn hợp : KCN hỗn hợp là nơi tập trung nhiều cơ sở sản

xuất với nhiều loại hình công nghiệp khác nhau và có đặc điểm của một KCN như

đã định nghĩa ở trên.

- Khu chế xuất : là KCN tập trung các DN chế xuất chuyên sản xuất hàng

xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất

khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc

Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.

- Khu công nghệ cao (KCNC) : là khu kinh tế kỹ thuật đa chức năng, có ranh

giới xác định, do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, nhằm nghiên cứu –

phát triển và ứng dụng công nghệ cao và sản xuất, kinh doanh sản phẩm công nghệ cao. Trong KCNC có thể có KCX, kho ngoại quan, khu bảo thuế và khu nhà ở. 1

- Khu kinh tế tổng hợp (KKTTH) : KKTTH là những KCN được phát triển

theo kế hoạch đã được phê chuẩn có tích hợp chức năng công nghiệp, kết hợp với

khu vực dân cư, khu vực thương mại và tiện nghi hỗ trợ. Trong KKTTH lấy thương

mại dịch vụ và sản xuất làm trọng tâm, cân đối nhau và thúc đẩy nhau phát triển.

Vùng Phát triển Kinh tế và Công nghệ Dalian (Trung Quốc) là một ví dụ điển hình

về KKTTH.

- Khu công nghiệp sinh thái (KCNST) khái niệm sinh thái công nghiệp vẫn

còn “non trẻ” và chưa có một định nghĩa thống nhất. Tuy nhiên khái niêm phổ biến

trên thế giới hiện nay về KCNST là KCN kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất công

nghiệp và bảo vệ môi trường. Trong đó, nhiều nhà máy hoạt động độc lập nhưng

liên kết với nhau một cách tự nguyện hình thành hệ công sinh giữa các nhà máy với

nhau và với môi trường. Đây là mô hình mang lại nhiều lợi ích trong việc bảo tồn

tài nguyên, môi trường, đồng thời có lợi cho nhà sản xuất do giảm chi phí về

nguyên vật liệu, năng lượng, chi phí sản xuất, bảo hiểm, giảm trách nhiệm pháp lý

1 Quy chế khu công nghệ cao – ban hành kèm theo Nghị định 99/2003/NĐ-CP ngày 28/08/2003 của Chính Phủ.

về bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện chất lương sản phẩm.

1.1.7. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc hình thành và phát triển KCN

Có hai nhóm yếu tố tác động đến việc hình thành và phát triển KCN là nhóm

yếu tố bên trong (vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên, các trung tâm kinh tế và đô

thị, kết cấu hạ tầng, khả năng đầu tư và thị trường trong nước…) và nhóm yếu tố

bên ngoài (vốn đầu tư và thị trường nước ngoài, quan hệ chính trị và chính sách

toàn cầu…). Tất nhiên hai nhóm này có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó

nhóm thứ nhất có vai trò quyết định, còn nhóm thứ hai có ý nghĩa rất quan trọng đối

với từng giai đoạn và từng địa phương.

1.1.7.1 Nhóm yếu tố bên trong

a. Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên

Trong 10 yếu tố quyết định sự thành công của KCN, nhất là KCX mà WEPZA

tổng kết, thì có hai yếu tố liên quan đến vị trí địa lí (gần tuyến giao thông, bến cảng)

và tài nguyên thiên nhiên (đảm bảo đủ nguồn nước công nghiệp).

Vị trí địa lý có ảnh hưởng quan trọng đối với việc xây dựng các KCN, trước

hết tạo ra những thuận lợi hoặc khó khăn cho việc trao đổi, tiếp cận giữa các địa

phương, các vùng trên cả nước. Vị trí địa lý là lợi thế so sánh trong việc thu hút đầu

tư và từ đó tạo điều kiện cho sự ra đời các loại hình KCN, KCX. Trong trường hợp

này vị trí địa lý mang ý nghĩa chiến lược đối với tổ chức lãnh thổ công nghiệp nói

riêng, sự phát triển kinh tế nói chung.

Ngoài hai yếu tố trên, tất nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có trong

nước cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển các KCN. Trong

điều kiện của nền kinh tế thị trường, sản phẩm ra đời đòi hỏi phải có khả năng cạnh

tranh cao, nghĩa là đảm bảo chất lượng cao, giá thành hạ.. Để có giá thành rẻ nguồn

nguyên liệu tại chỗ có vai trò đặc biệt quan trọng. Điều này thường trông cậy vào

nguồn tài nguyên trong nước, khoáng sản…nhưng tất nhiên phải thỏa mãn được yêu

cầu về “đầu vào” của sản phẩm (số lượng, chất lượng, mẫu mã nguyên liệu…).

b. Trung tâm kinh tế và đô thị

Các đô thị cũng thường là các trung tâm kinh tế với ý nghĩa khác nhau (quốc

gia, vùng, địa phương). Các đô thị, nhất là các thành phố lớn, chứa đựng nhiều yếu

tố thuận lợi cho việc ra đời và phát triển các KCN, đồng thời có sức thu hút mạnh

mẽ đối với các nhà đầu tư. Nhìn chung, các đô thị có những thuận lợi chủ yếu sau

đây:

- Có nguồn lao động dồi dào, nhất là lao động có chất lượng cao.

- Sẵn có cơ sở công nghiệp hỗ trợ, phục vụ cho KCN.

- Tập trung kết cầu hạ tầng và cơ sở vật chất phục vụ công nghiệp.

- Các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, dạy nghề, ngân hàng, tài chính…

- Đầu mối giao thông thuận lợi…

c. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò nhất định đối với

việc tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Nó có thể là tiền đề thuận lợi hay cản trở sự phát

triển công nghiệp nói chung và tổ chức lãnh thổ công nghiệp nói riêng. Hệ thống cơ

sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp

bao gồm hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, mạng lưới cung cấp điện,

nước, các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở công nghiệp … góp phần đảm bảo các mối liên

hệ sản xuất, kinh tế, kỹ thuật giữa vùng nguyên liệu với nơi sản xuất, giữa các nơi

sản xuất với nhau và giữa nơi sản xuất với địa bàn tiêu thụ sản phẩm.

d. Vốn đầu tư trong nước

Một trong những mục tiêu của việc xây dựng các KCN tập trung, đặc biệt là

KCX là thu hút vốn ĐTNN. Trong điều kiện hầu hết các nước đang phát triển, đã

nảy sinh mâu thuẫn đáng kể; Muốn lôi kéo được vốn ĐTNN vào các KCN, trước

hết phải bỏ vốn đầu tư trong nước (ĐTTN) xây dựng hạ tầng, việc đầu tư này khá

tốn kém trong khi nguồn vốn còn hạn chế.

e.Nguồn lao động

Nguồn lao động vừa là lực lượng sản xuất vừa là thị trường tiêu thụ. Nguồn

lao động là lực lượng sản xuất chủ yếu, là một trong những điều kiện quan trọng

phát triển và phân bố công nghiệp. Những KCN cần nhiều lao động như dệt, may,

chế tạo máy… thường phân bố ở nơi đông dân cư. Chất lượng của người lao động

như trình độ học vân, trình độ tay nghề và chuyên môn kĩ thuật cũng có ảnh hưởng

rất lớn đến việc xây dựng và đáp ứng những thành tựu của khoa học và kỹ thuật đối

với những xí nghiệp công nghiệp.

g. Chính sách phát triển KCN

Chính sách có ảnh hưởng trực tiếp, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát

triển của các KCN. Chính vì vậy cần thiết phải có một chính sách phát triển đúng

đắn, tạo điều kiện cho KCN phát triển.

1.1.7.2. Nhóm yếu tố bên ngoài

a. Vốn đầu tư nước ngoài

Trong khi các nước đang phát triển thiếu vốn thì các công ty xuyên quốc gia

lại có nguồn vốn lớn, đang tìm môi trường đầu tư để đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Phần lớn các KCN, KCX ra đời nhờ các khoảng vay ngân hàng để xây dựng kết cấu

hạ tầng.

Gần đây nổi lên xu hướng phát triển mạnh nguồn vốn đầu tư trực tiếp của

nước ngoài (FDI) vào các nước đang phát triển để xây dựng các KCN. Tuy nhiên,

điều kiện đầu tư phức tạp hơn. Nếu như trước đây, các KCN chỉ cần xây dựng kết

cấu hạ tầng sản xuất (giao thông và phương tiện vận chuyển, cấp điện, nước…) là

đủ cơ sở để thu hút nguồn vốn FDI, thì ngày nay lại đòi hỏi cả yêu cầu phát triển ở

mức độ nhất định về con người và công nghệ.

b.Thị trường quốc tế

Thị trường quốc tế là một trong những nhân tố hàng đầu tác động đến việc ra

đời của các KCN, nhất là KCX. Điều đó được thể hiện ở một vài phương diện sau

đây:

Trước hết là về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Các nhà đầu tư vào KCX với

mục tiêu cơ bản là sản xuất hàng xuất khẩu. Do đó thị trường tiêu thụ, trong chừng

mực nhất định, chi phối quy mô, cường độ và hướng sản xuất của các KCX.

Sau đó là về thị trường nguyên liệu. Phần nhiều các KCN, đặc biệt là KCX

trên thế giới có quan hệ chủ yếu với thị trường quốc tế về nguyên liệu,Việt Nam

cũng không nằm ngoài xu hướng ấy.

Cuối cùng là sự cạnh tranh trên thị trường quốc tế giữa các KCN, KCX. Về

mặt đó, KCN, KCX được coi như một sản phẩm quốc tế và đang có sự cạnh tranh

gay gắt về địa điểm đầu tư. Thị trường KCN, KCX được hình thành do sự tác động

qua lại của quan hệ cung – cầu.

c.Quan hệ chính trị và chính sách toàn cầu

Quan hệ chính trị và chính sách toàn cầu của các nước phát triển có ảnh hưởng

mạnh mẽ đến khả năng hình thành các KCN, KCX tại các nước đang phát triển. Sự

tác động của các yếu tố này được thể hiện qua các mặt chủ yếu sau:

- Điều kiện ưu đãi vốn, nhất là vốn ODA và các khoản vay ngân hàng để xây

dựng kết cấu hạ tầng tại các KCN.

- Điều kiện về đầu vào (nguyên liệu, trang thiết bị, máy móc) và đầu ra ( thị

trường tiêu thụ sản phẩm)

- Khả năng chuyển giao công nghệ.

Như vậy sự hình thành và phát triển các KCN chịu sự tác động mạnh mẽ bởi

các yếu tố bên trong bao gồm: Vị trí địa lí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các

nhân tố kinh tế - xã hội (KT-XH); các nhân tố này giữ vai trò là tiền đề và động lực

của hoạt động, phát triển KCN. Các yếu tố bên ngoài có vai trò thúc đẩy mạnh mẽ

quá trình đó diễn ra nhanh chóng hơn, đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Trong một số

trường hợp cụ thể, yếu tố bên ngoài chi phối mạnh mẽ và thậm chí có thể có ý nghĩa

quyết định.

1.2.Vai trò của KCN trong sự nghiệp CNH-HĐH ở Việt Nam

Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh việc thực hiện công cuộc CNH-

HĐH, nhằm thực hiện mục tiêu trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã

hội. Do vị trí và tầm quan trọng của CNH-HĐH trong sự nghiệp phát triển kinh tế

và đảm bảo mục tiêu chính trị của đất nước, nên qua qua tất cả các kỳ Đại hội, Đảng

ta luôn luôn xác định: CNH-HĐH là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ

lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam

một lần nữa xác định mục tiêu của CNH-HĐH là: “ Xây dựng nước ta trở thành một

nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ

sản xuất tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất , đời sống vật

chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ, văn minh. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta

trở thành một nước công nghiệp”

Về mặt lý luận, trên cơ sở tổng kết các quan niệm từ trước tới nay, Hội nghị

lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã đưa ra quan niệm mới về

CNH-HĐH, đây cũng chính là quan niệm được sử dụng một cách phổ biến ở nước

ta trong giai đoạn hiện nay: “CNH-HĐH được hiểu là quá trình chuyển đổi căn bản,

toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý xã hội và tâm lý từ sử

dụng lao động thủ công là chủ yếu sang sử dụng một cách phổ biến lao động với tay

nghề có công nghệ và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của

công nghiệp, tiến bộ khoa học và công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.

Quan niệm này khẳng định tính tất yếu khách quan của quá trình CNH-HĐH trong

thời kỳ quá độ, Đồng thời cho chúng ta thấy được vai trò vô cùng quan trọng của

việc phát triển công nghiệp và khoa học công nghệ nhằm thực hiện thành công sự

nghiệp CNH-HĐH.

Thực tiễn việc thực hiện CNH-HĐH ở nước ta cho thấy, để thực hiện thành

công sự nghiệp này, Đảng và Nhà nước ta đã chọn con đường rút ngắn, đi tắt, đón

đầu bằng nhiều phương thức khác nhau. Phát triển các KCN, KCX là một phương

thức quan trọng để góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp này.

Có thể nói các KCN ở nước ta ra đời và phát triển cùng với chính sách đổi mới

do Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI khởi xướng và gắn liền với công

cuộc CNH-HĐH đất nước. Phát triển KCN có ý nghĩa to lớn đối với quá trình

CNH-HĐH, thể hiện chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Đó là chủ trương

“ Quy hoạch vùng, trước hết là các địa bàn trọng điểm, các khu chế xuất, khu kinh

tế, khu công nghiệp tập trung”. Từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII Ban Chấp

hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1994 và được tiếp tục khẳng định

tại văn kiện Đại hội IX của Đảng về chiến lược phát triển KT-XH 2001-2010: “ Quy

hoạch phân bố công nghiệp hợp lý trên cả nước. Phát triển có hiệu quả các khu

công nghiệp, khu chế xuất; xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm

công nghiệp lớn và khu kinh tế mở ”

1.2.1. Sự cần thiết phát triển KCN trong tiến trìnhCNH-HĐH ở nước ta

Từ thực tiễn và lý luận về CNH-HĐH, một số tiền đề cần thiết để đẩy nhanh

quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam đó là: vốn tích lũy; đào tạo đội ngũ cán bộ khoa

học kỹ thuật, công nhân lành nghề và cán bộ quản lý kinh doanh; phát triển kết cấu

hạ tầng và cuối cùng là đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, vai trò của

Nhà nước. Phát triển các KCN, KCX là một trong những giải pháp để tạo dựng các

tiền đề nói trên cho sự nghiệp CNH-HĐH. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là

KCN là giải pháp duy nhất, chỉ có thể thực hiện giải pháp này mới có thể thực hiện

CNH-HĐH thành công, hay nói cách khác sẽ là vội vàng nếu kết luận KCN, KCX

là giải pháp tất yếu của quá trình CNH-HĐH. Về nguyên tắc, bằng con đường này

hay con đường khác, chúng ta có thể có được các tiền đề nói trên. Nhưng phát triển

KCN là một giải pháp tổng hợp, mang tính toàn diện để giải quyết đồng thời về

vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý, là con đường tối ưu để tiến đến mục tiêu

trang bị cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Do đó, bằng việc phát triển các KCN

chúng ta có thể rút ngắn và đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH.

Mặt khác chúng ta thực hiện CNH-HĐH trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội

nhập kinh tế quốc tế, nên sự vận động của tất cả các thành phần kinh tế trên các lĩnh

vực của nền kinh tế không thể tách rời xu thế này. Do đó để nền kinh tế phát triển

vững chắc, bên cạnh việc hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động, chúng ta cần

bảo đảm tính độc lập trong kinh tế; có một đường lối phát triển riêng được xây dựng

trên cơ sở điều kiện thực tế của đất nước. Phát triển KCN có thể thực hiện đồng thời

cả 2 mục tiêu trên:

- Thứ nhất, KCN được hiểu là một vùng lãnh thổ đặc biệt có những điều kiện

thuận lợi về cơ sở hạ tầng sẵn có cùng với nhiều chính sách ưu đãi đầu tư được áp

dụng. Đây sẽ là một nơi lý tưởng cho các nhà đầu tư, trong đó có các nhà

ĐTNN.Cùng với dòng vốn nước ngoài đầu tư vào KCN, các công nghệ tiên tiến,

hiện đại trên thế giới, trình độ quản lý của đôi ngũ cán bộ quản lý DN, trình độ tay

nghề của công nhân theo các chuẩn mực quốc tế sẽ được du nhập vào Việt Nam.

Đây cũng chính là những nhân tố góp phần để nước ta thực hiện việc chủ động hội

nhập kinh tế quốc tế. Thực chất của quá trình toàn cầu hóa chính là quá trình phân

công lao động trên phạm vi quốc tế theo hướng chuyên môn hóa và tập trung hóa.

Phát triển KCN chính là một cách để chúng ta tham gia vào quá trình phân công lao

động quốc tế.

- Thứ hai, KCN là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi và nhiều ưu đãi, đồng thời

cũng được quản lý chặt chẽ bởi hệ thống pháp luật. Tại KCN, các nhà đầu tư vừa

được tự do kinh doanh vừa phải tuân thủ chặt chẽ pháp luật Việt Nam. Qua hoạt

động của các DN- KCN trong và ngoài nước, KCN thiết lập được mối liên kết kinh

tế theo vùng , theo ngành ngành trên phạm vi trong nước và quốc tế, từ đó giúp

chúng ta khai thác được các nguồn lực sẵn có, phát huy được những lợi thế so sánh,

đồng thời huy động được các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển kinh tế. Như vậy,

với mô hình KCN chúng ta vừa phát huy được các yếu tố nội lực, vừa tận dụng

được các yếu tố bên ngoài để phát triển. KCN bảo đảm cho việc chủ động hội nhập

kinh tế quốc tế và khu vực mà vẫn giữ được thế chủ động và độc lập của nền kinh tế

đất nước.

KCN là mô hình kinh tế đã được áp dụng phổ biến trên thế giới. Ở các nước

phát triển châu Âu và Bắc Mỹ, có một thời kỳ các nước này đã đẩy mạnh việc phát

triển các KCN và rất chú trọng vai trò của KCN trong quá trình phát triển kinh tế.

Kinh nghiệm phát triển mô hình KCN ở các nước này cho thấy, phát triển KCN là

một giải pháp tối ưu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự phát triển công

nghiệp quốc gia. Có thể nói thành công của các KCN đã góp phần không nhỏ để các

nước này trở thành những nước có nền kinh tế phát triển như hiện nay. Các nước

công nghiệp mới phát triển NICs như Hàn Quốc, Trung Quốc cũng như các nước

đang phát triển ở Đông Nam Á hiện nay đã và đang triển khai việc việc xây dựng và

phát triển các KCN, khu kinh tế và đều gặt hái những thành công đáng kể.

Tóm lại, thành công của KCN đã được khẳng định trên thế giới và bước đầu

được khẳng định ở Việt Nam, như một đòn bẩy quan trọng để đẩy nhanh tiến trình

CNH-HĐH đất nước. KCN là nơi tập trung các nguồn lực để phát triển kinh tế, là

nơi diễn ra sự phân công lao động xã hội ở trình độ cao, thực hiện các mối liên kết

kinh tế quốc tế. Phát triển KCN là phù hợp với xu thế kinh tế thế giới, phù hợp với

chủ trương ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, phát huy năng lực của mọi thành

phần kinh tế trong và ngoài nước của Đảng và Nhà nước ta.

1.2.2.Vai trò của KCN trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

Kể từ khi KCX Tân Thuận, KCN đầu tiên của nước ta thành lập và phát triển

năm 1991 tại TP. Hồ Chí Minh đến tháng 9/2008 cả nước có 194 KCN được thành

lập với tổng diện tích đất tự nhiên 46.588 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có

thể cho thuê đạt 30.239 ha, chiếm 64,95% tổng diện tích đất quy hoạch. Trong đó,

110 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất quy hoạch 26.382 ha và 84

KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng

diện tích đất quy hoạch 20206 ha. Các KCN, KCX phân bố ở 52 tỉnh, thành phố

trên cả nước; tập trung ở 3 vùng kinh tế trọng điểm với tổng diện tích đất quy hoạch

chiếm trên 60% tổng diện tích các KCN cả nước; vùng Đông Nam Bộ có 75 KCN

(22.352 ha), Đồng bằng sông Hồng có 42 KCN (10.046 ha); Đồng bằng sông Cửu

Long có 28 KCN (5.027 ha). Sau gần 20 năm xây dựng và phát triển các KCN đang

từng bước thể hiện rõ vai rò không thể thay thế của nó trong tiến trình CNH-HĐH

đất nước. Các KCN đã góp phần đáng kể vào việc hoàn thiện hệ thống cơ sỡ hạ

tầng, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp nói riêng và của toàn bộ nền

kinh tế nói chung.

1.2.2.1. Huy động một lượng vốn lớn, từ nhiều nguồn để phát triển kinh tế

Thực tiễn nền kinh tế Việt Nam cho thấy nhân tố hàng đầu nếu không nói là

quan trọng nhất đối với CNH-HĐH cũng như đối với nền kinh tế là phải có vốn.

Muốn cho sự nghiệp CNH-HĐH được tiến hành với tốc độ nhanh cần phải có cơ

chế, chính sách và biện pháp huy động vốn nhiều nhất, quản lý và sử dụng vốn có

hiệu quả nhất. KCN đi liền với với nó là một hệ thống các cơ chế chính sách thu hút

đầu tư tương đối đồng bộ. Trong những năm qua đã huy động được một lượng vốn

rất lớn cho nền kinh tế.

Trước hết là huy động vốn trong nội bộ nền kinh tế: đây là nguồn vốn có tính

chất quyết định, là nhân tố nội lực. Những năm đầu xây dựng KCN, do chưa nhận

thức được tầm quan trọng của KCN trong việc huy động nguồn vốn bên trong,

chúng ta xem nhẹ việc thu hút các DN trong nước đầu tư vào KCN nên số dự án và

tổng vốn đầu tư còn rất hạn chế. Chỉ vài năm gần đây, vai trò của khu vực trong

nước mới được chú trọng, dòng vốn ĐTTN trong KCN tăng đáng kể, số dự án trong

nước gần bằng với khu vực có vốn ĐTNN. Đến tháng 9/2008, các KCN đã thu hút

được 3100 dự án trong nước với tổng số vốn đầu tư 195.000 tỉ đồng. Kết quả này

cho thấy tiềm lực của khu vực kinh tế trong nước và là kết quả của chủ trương phát

huy nội lực để xây dựng và phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước.

Thứ hai là huy động vốn của khu vực có vốn ĐTNN: Trong điều kiện nền kinh

tế tích lũy nội bộ còn thấp thì thu hút được nhiều vốn ĐTNN là rất quan trọng. KCN

là một giải pháp hữu hiệu nhằm huy động vốn của DN có vốn FDI. Thực tế từ khi

xây dựng KCN cho đến nay, số dự án và tổng vốn ĐTNN vào KCN không ngừng

gia tăng và chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong tổng vốn FDI đầu tư trên cả nước.

Đến tháng 9/2008 các KCN cả nước nước đã thu hút được trên 3.200 dự án có vốn

ĐTNN với tổng vốn đầu tư gần 31,5 tỷ USD. Có thể nói KCN là nơi chính sách ưu

đãi đối với khu vực có vốn ĐTNN đươc thể hiện rõ nét nhất, các nhà ĐTNN nhìn

chung cảm thấy yên tâm hơn khi đầu tư vào KCN, bởi lẽ trong KCN có một hệ

thống kết cấu hạ tầng hiện đại, một môi trường pháp lý thuận lợi và thông thoáng, là

nơi có cơ chế “một cửa, tại chỗ” được thực thi rõ ràng nhất. Đây chính là những lợi

thế chủ yếu để thu hút nhà ĐTNN của KCN.

1.2.2.2. KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề

mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH

Có được những đóng góp trên phải kể đến vai trò to lớn của khu vực có vốn

ĐTNN trong KCN. Cùng với dòng vốn của khu vực có vốn ĐTNN đầu tư vào các

dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà ĐTNN còn đưa vào Việt Nam

những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại. Mặc dù nhiều công

nghệ so với trình độ công nghệ trên thế giới còn ở mức trung bình, nhưng cũng

phần nào nâng cao trình độ công nghệ hiện có của Việt Nam. Đó là chưa kể tới

những dự án công nghiệp kỹ thuật cao (phần lớn của Nhật Bản) đầu tư vào KCN,

như Công ty TNHH Canon Việt Nam, Matbuchi Motor, Orion Hanel…, các dự án

này đã du nhập vào Việt Nam những công nghệ hiện đại nhất trên thế giới, ở những

lĩnh vực mà chúng ta còn yếu kém và cần khuyến khích phát triển như cơ khí chính

xác, điện tử…

KCN là nơi tập trung các DN công nghiệp và dịch vụ công nghiệp. Về mặt

lượng, đương nhiên KCN góp phần nâng cao tỷ trọng ngành công nghiệp trong tổng

GDP của các ngành kinh tế tạo ra trên cả nước, tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp

do các DN – KCN tạo ra luôn tăng qua các năm từ 13%năm 2000 lên 26,4% năm

2004, 28% năm 2005 và 32% năm 2008. Nhưng quan trọng hơn, về mặt chất, KCN

đã thu hút được các dự án có hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao như dầu khí, sản

xuất ô tô, xe máy, dụng cụ văn phòng, cơ khí chính xác, vật liệu xây dựng…Mặc dù

số lượng các dự án trong KCN còn ít (chiếm 5-10% số dự án), nhưng cũng góp

phần phát triển các ngành nghề mới, đa dạng hóa cơ cấu ngành nghề công nghiệp.

Các dự án đầu tư vào KCN chủ yếu tập trung vào các ngành công ngiệp nhẹ như:

dệt may, da giày…và công nghiệp chế biến thực phẩm (chiếm trên 50% tổng số dự

án), đây là các dự án thu hút nhiều lao động và có tỷ lệ xuất khẩu cao. Các ngành

công nghiệp nhẹ, chế biến thực phẩm là những ngành truyền thống, đã có từ lâu ở

nước ta, nhưng các dự án trong KCN đã góp phần nâng cấp các ngành này về dây

chuyền công nghệ, chất lượng sản phẩm.

Ngoài ra phải kể đến đóng góp của KCN vào nâng cao tỷ trọng các ngành dịch

vụ công nghiệp như dịch vụ tư vấn, thiết kế xây dựng, bảo hiểm, bưu chính viễn

thông…Đây là những dịch vụ có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế và giá trị

gia tăng khá, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Tóm lại, KCN đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH,

cả về mặt chất và lượng. Mặc dù còn có bất hợp lý trong cơ cấu ngành nghề công

nghiệp, tỷ trọng các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp kỹ thuật cao còn thấp

và còn tồn tại những hậu quả do các công nghệ chưa hiện đại du nhập vào Việt Nam

nhưng những đóng góp của KCN vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước là không

thể phủ nhận.

1.2.2.3.KCN đã tạo ra một lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao,

thích ứng với nền công nghiệp hiện đại, một đội ngũ cán bộ có trình độ quản lý

giỏi

Phát triển KCN để tạo ra nhiều việc làm là một trong những mục tiêu quan

trọng của nước ta. Mặc dù việc thu hút nguồn nhân lực làm việc chưa phải là lớn,

hiện hơn 1 triệu người, nhưng điều quan trọng là số lao động này được tiếp cận với

công nghệ hiện đại, môi trường làm việc có kỷ luật cao, đã rèn được những kỹ năng

và bản lĩnh làm việc thích ứng với một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại. Các DN

trong KCN , đặc biệt là các DN có vốn ĐTNN đã đào tạo được một đội ngũ công

nghiệp tiên tiến, có tác động lan tỏa và nâng cao trình độ của đội ngũ lao động Việt

Nam. Ngoài ra, các DN trong KCN còn thu hút một lượng lớn người lao động Việt

Nam vào các vị trí quản lý DN, đội ngũ này được tiếp xúc với phương thức quản trị

DN tiên tiến, hiện đại, kỹ năng marketing, quản lý tài chính, tổ chức nhân sự...Đội

ngũ này khi chuyển đi làm việc tại các DN Việt Nam, hoặc tự mình khởi sự DN sẽ

áp dụng phương thức quản lý tiên tiến đã được tiếp thu vào hoạt động của DN mình.

Từ đó sẽ nâng cao hiệu quả của DN, vừa truyền đạt những kiến thức quản lý cho

người lao động Việt Nam khác.

Như vậy, xét trên các góc độ, vai trò của KCN không chỉ dừng lại ở việc đào

tạo đội ngũ lao động có trình độ lao động cao mà quan trọng hơn là tác động lan

truyền của nó tới các DN Việt Nam khác. Các KCN đã thực sự đóng góp vào việc

nâng cao trình độ chung của lao động nước ta.

1.2.2.4.KCN đóng góp đáng kể vào giá trị sản xuất công nghiệp, vào kim

ngạch xuất nhập khẩu và ngân sách cả nước

Các KCN Việt Nam trong gần 20 năm xây dựng và phát triển đã đóng góp một

tỉ trọng ngày càng lớn trong tổng giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp cả

nước. Nếu như năm 2001, giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) do các KCN tạo

ra đạt hơn 4,5 tỉ USD chiếm 15% GTSXCN cả nước, năm 2005 đạt 14 tỉ USD

chiếm 28% GTSXCN cả nước thì đến năm 2008 đã đạt được 26 tỉ USD gấp 5,7 lần

năm 2001 và chiếm 32 % giá trị sản xuất công nghiệp cả nước. Như vậy các KCN

đã đóng góp đáng kể vào việc tăng trưởng công nghiệp và nâng cao tỉ trọng ngành

công nghiệp trong GDP. Đây là biểu hiện rõ nét nhất về mặt lượng của việc chuyển

dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH.

Phần lớn các DN – KCN, đặc biệt các DN có vốn ĐTNN sản xuất hàng công

nghiệp chủ yếu để xuất khẩu, năm 2008 kim ngạch xuất khẩu của các DN – KCN

đạt hơn 6 tỉ USD gấp 2 lần năm 2001 và chiếm 19% trong tổng giá trị xuất khẩu cả

nước và 29% giá trị hàng công nghiệp xuất khẩu. Riêng các DN trong nước, mặc dù

đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu còn nhỏ bé, nhưng các DN đã góp phần tạo

nguồn hàng để giải quyết nhu cầu thị trường trong nước, giảm bớt việc nhập khẩu

hàng hóa để phục vụ sản xuất. Các DN trong KCN đã góp phần cân đối lại cán cân

thương mại theo hướng gia tăng xuất khẩu, giảm bớt nhập khẩu những mặt hàng

trong nước có thể sản xuất được. Các DN trong KCN đã đóng góp nhất định vào

nguồn thu ngân sách Nhà nước. Năm 2008 nộp ngân sách 450 triệu USD gấp 3,6

lần so với năm 2001.

1.2.2.5. KCN góp phần phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng của đất nước

Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng là điều kiện quan trọng và cần thiết của nền

kinh tế quốc dân. Để thu hút đầu tư vào KCN, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu

tư trong việc triển khai nhanh dự án, ngoài các chính sách ưu đãi về tài chính và

quản lý thuận lợi của Nhà nước, cơ sở hạ tầng kỹ thuật các KCN đáp ứng yêu cầu

của các nhà đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng. Việc thu hút đầu tư xây dựng và kinh

doanh hạ tầng KCN có ý nghĩa về nhiều mặt:

- Thứ nhất, huy động một nguồn vốn lớn để đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu

hạ tầng KCN. Đến tháng 5/2008 cả nước có 186 dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ

tầng KCN trong đó 110 dự án đã cơ bản hoàn thành xây dựng kết cấu hạ tầng, đi

vào vận hành và thu hút đầu tư. Tổng vốn đầu tư thực hiện luỹ kế của các dự án đã

vận hành đạt gần 600 triệu USD và 18.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 60% tổng vốn

đầu tư cơ sở hạ tầng đăng ký. Hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào khá

đồng bộ và hiện đại trong KCN, bao gồm cả hệ thống điện nước, bưu chính viễn

thông, không chỉ có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho các DN hoạt động mà còn

có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế của địa phương nơi có KCN.

- Thứ hai, hệ thống kết cấu hạ tầng thuận lợi trong KCN sẽ có tác dụng thu hút

vào KCN, nhanh chóng lấp đầy diện tích đất trong KCN. Thực hiện được mục tiêu

của việc xây dựng KCN là thu hút đầu tư lấp đầy KCN.

1.2.2.6. KCN góp phần nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan Nhà

nước về quản lý KCN

KCN là mô hình mới ở Việt Nam nên việc triển khai mô hình này trong thời

gian qua đã xuất hiện nhiều vấn đề bất cập trong quản lý Nhà nước về KCN, như

phân cấp, ủy quyền trong KCN, thủ tục hành chánh trong đầu tư vào KCN, các vấn

đề về thuế…Thực tế phát triển KCN cho chúng ta nhiều bài học về quản lý Nhà

nước về KCN nói riêng và quản lý Nhà nước nói chung. Đến nay bộ máy quản lý

KCN đã hình thành một cách thống nhất từ trung ương tới địa phương bao gồm Bộ

Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan quản lý KCN cấp trung ương và các ban quản lý

KCN cấp tỉnh. Việc quản lý KCN đang diễn ra theo xu hướng phân cấp mạnh mẽ

cho ban quản lý các KCN cấp tỉnh trong việc quản lý hoạt động đầu tư trong KCN.

KCN cũng là nơi có điều kiện để thực hện tốt cơ chế “một cửa, tại chỗ”, tạo thuận

lợi tối đa cho nhà đầu tư khi làm thủ tục đầu tư vào KCN. KCN cũng là nơi cho các

cơ quan Nhà nước thử nghiệm các chính sách và ngày càng hoàn thiện các chính

sách đó cho phù hợp với thực tế.

1.2.2.7.Thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa

Các KCN tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các DN mới trên địa bàn

ở địa phương, tăng cường khả năng thu hút vốn ĐTTN và vốn ĐTNN, mỡ rộng quy

mô sản xuất ở địa phương, tạo công ăn việc làm mới, đặc biệt là việc làm gián tiếp

cho người lao động ở địa phương cũng như các vùng lân cận.

Ngoài ra việc phát triển KCN đã góp phần hình thành nhiều khu đô thị mới

mang lại văn minh đô thị, góp phần cải thiện đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cho

khu vực rộng lớn được đô thị hóa. Ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, dải công

nghiệp dọc quốc lộ 5: Sài Đồng, Phố Nối, Nam Sách, Hải Phòng, Nomura, Đình

Vũ; dọc quốc lộ 18: Bắc Thăng Long, Tiên Sơn, Quế Võ đang dần hình thành các

đô thị mới như Long Biên, Đông Anh, Sóc Sơn, Nam Thăng Long của Hà Nội; đô

thị Vật Cách, Đình Vũ của Hải Phòng….Ở miền Trung khu đô thị đang dần lộ rõ

với KCN Nghi Sơn, Hoàng Mai, khu kinh tế Dung Quất với nhà máy lọc dầu số 1,

các cơ sở hóa chất, luyện kim…gắn với thành phố Vạn Tường sẽ tạo thế và lực mới

cho Quảng Ngãi nói riêng và các tỉnh miền Trung nói chung. Tại TP. Hồ Chí Minh

từ năm 1991 đến nay, với KCX Tân Thuận, 5 cụm đô thị dọc tuyến đường Bắc Nhà

Bè-Nam Bình Chánh đã xuất hiện đô thị mới Nam Sài Gòn. Ngoài ra còn nhiều đô

thị mới gắn với KCN đã và đang hình thành, góp phần cải thiện bộ mặt nông thôn

nước ta.

Tóm lại, mô hình KCN ở nước ta được triển khai gần 20 năm đã khẳng định

được vai trò to lớn của nó trong sự nghiệp CNH-HĐH. KCN góp phần huy động

nguồn vốn lớn cho phát triển kinh tế, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, nâng cao

trình độ của đội ngũ lao động thích ứng với với nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH. Mặc dù KCN còn bộc lộ những

hạn chế về nhiều mặt nhưng xét về lâu dài phát triển KCN là cần thiết, là một trong

những phương thức căn bản để rút ngắn, đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH trong bối

cảnh toàn cầu hóa. Bước đầu trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội,

thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trỏ thành nước công nghiệp.

1.3.Các nguyên tắc phát triển, tiêu chí đánh giá hiệu quả và thực trạng phát triển

KCN ở Việt Nam

1.3.1.Các nguyên tắc phát triển

Quá trình hội nhập kinh tế sâu rộng và khẩn trương hơn đặt Việt Nam trước

nhiều thử thách, nhất là trong bối cảnh đất nước có điểm xuất phát là một nước

nông nghiệp với hơn 60% lao động và 70% dân số sống ở nông thôn, cùng với

những yếu tố kém trong công tác quản lý còn tồn tại bắt nguồn từ cơ chế kinh tế kế

hoạch hoá tập trung. Điều này đòi hỏi để phát huy tác dụng của các KCN, cần phải

có sự nhìn nhận một cách thống nhất, khách quan các nhân tố hình thành KCN, các

tiêu chí đánh giá KCN cũng như tác động và đặc biệt là các trở ngại trong việc phát

triển các KCN, mới có thể có giải pháp xử lý thích hợp. Có như vậy, các KCN mới

thực sự đóng góp thích đáng vào sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta có chất lượng và

bền vững. Trên cơ sở thực tiễn của Việt Nam, một số nguyên tắc hình thành và phát

triển KCN ở các địa phương như sau:

- Có khả năng xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi, có hiệu quả, có đất để mở

rộng. Quy mô KCN và quy mô xí nghiệp công nghiệp phải phù hợp với đặc điểm

công nghệ chính gắn với điều kiện kết cấu hạ tầng.

- Có khả năng cung cấp nguyên liệu trong nước hoặc nhập khẩu tương đối

thuận tiện, có cự ly vận tải thích hợp cả nguyên liệu và sản phẩm.

- Có thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước.

- Có khả năng đáp ứng nhu cầu về lao động với chi phí tiền lương thích hợp.

- Sử dụng đất hợp lý, có dự trữ đất để phát triển các KCN với quy hoạch đô

thị và phân bố dân cư.

- Đảm bảo các điều kiện kết cấu hạ tầng cả trong và ngoài hàng rào, sử dụng

có hiệu quả đất để xây dựng các xí nghiệp trong KCN.

- Giải quyết tốt mâu thuẫn giữa nhu cầu, lợi ích (lợi nhuận) của nhà đầu tư với

đảm bảo mục tiêu định hướng chiến lược phát triển KT-XH và công nghiệp của cả

nước, không bị gò bó bởi địa giới hành chính.

- Đảm bảo kết hợp tốt giữa xây dựng KCN và yêu cầu bảo vệ an ninh-quốc

phòng trong bố trí tổng thể và trên từng địa bàn đối với từng KCN.

1.3.2.Các tiêu chí đánh giá hiệu quả KCN

Quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao ban hành kèm theo Nghị định số

36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ được ban hành, đã quy định những đặc điểm

cụ thể của các KCN, những tiêu chí cụ thể mà các KCN phải đáp ứng. Quy chế nêu

rõ: “khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp chuyên

sản xuất hàng công nghiệp và các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới

xác định, không có dân cư sinh sống…” (Điều 2) và các vấn đề cần xem xét khi cơ

quan chức năng thẩm định dự án thành lập KCN như: vấn đề quy hoạch KCN; cơ sở

hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN; khu dân cư phục vụ công nhân, lao động

trong KCN, trường học, cơ sở khám chữa bệnh phục vụ KCN (Điều 4).

Từ những kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện công tác quản lý nhà

nước về KCN và qua quá trình nghiên cứu về KCN, Lê Thế Giới (Tạp chí Khoa học

và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 4 (27) 2008) đã đưa các tiêu chí đánh giá KCN

trên cơ sở tiên lượng đến phát triển KCN như là một hệ thống và xác định tiêu chí

phát triển KCN với tư cách là một điểm quy hoạch.

1.3.2.1. Các tiêu chí đánh giá nội tại KCN

a. Chất lượng qui hoạch KCN

Tiêu chí này nhằm đảm bảo tính chất bền vững ngay từ giai đoạn đầu của quá

trình qui hoạch, sử dụng và phát triển KCN. Nó thể hiện ở tính hợp lý, đồng bộ,

khoa học, thực tiễn và hiệu quả trong qui hoạch các yếu tố chủ đạo của KCN như

xác định các lĩnh vực và ngành thu hút đầu tư, đất đai, các khu chức năng, cơ sở hạ

tầng kỹ thuật, điện, nước, thông tin, viễn thông, dịch vụ,... nhằm đạt được các mục

tiêu kinh tế, bảo vệ và cải thiện môi trường, và thu hút lao động.

b. Vị trí địa lý của KCN

Lợi thế về bố trí địa lý của KCN là tiền đề giúp cho các DN đạt được hiệu quả

kinh tế theo vị trí. Các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, gần các trục

đường giao thông, bến cảng nhà ga, sân bay, sự hấp dẫn về thị trường các yếu tố

đầu vào (nguyên vật liệu, nguồn nhân lực) và thị trường tiêu thụ sản phẩm,... có ảnh

hưởng quan trọng đến sự lựa chọn đầu tư của các DN.

c. Diện tích đất và tỉ lệ lấp đầy KCN

Tiêu chí này được xem xét căn cứ vào mục tiêu qui hoạch và điều kiện hoạt

động của KCN (vị trí địa lý, yêu cầu của các ngành công nghiệp, khả năng phát

triển và các điều kiện về giao thông vận tải, nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu

thụ (nội địa, xuất khẩu). Mức độ sử dụng đất KCN đo bằng tỉ lệ diện tích KCN đã

cho các DN thuê so với tổng diện tích KCN.

d. Tổng số vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện

Tổng số vốn đăng ký và tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện trong tổng số vốn đăng ký

của các DN- FDI và trong nước vào KCN; vốn đầu tư bình quân của một dự án và

vốn đầu tư bình quân trên một ha đất.

e.Kết quả và hiệu quả hoạt động của các DN trong KCN

Các chỉ tiêu cụ thể: tổng doanh thu; tổng giá trị gia tăng; tỷ lệ giá trị gia tăng

so với tổng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu và tỉ trọng trong tổng kim ngạch xuất

khẩu cả nước; thu nhập bình quân tính trên 1 đơn vị lao động, trên 1 ha.

g.Trình độ công nghệ và ứng dụng công nghệ trong các DN của KCN

- Trình độ công nghệ của các DN- FDI, các DN trong nước trong KCN.

- Trình độ công nghệ của từng ngành, nhóm ngành mà các DN FDI trong KCN

tham gia hoạt động (lạc hậu, trung bình, tiên tiến).

- Kỹ năng, năng lực sử dụng công nghệ của các DN trong KCN

- Thông tin về công nghệ (tài liệu hướng dẫn sử dụng, các bí quyết công nghệ)

- Năng lực quản lý điều hành, tổ chức trong hoạt động công nghệ.

- Xuất xứ của công nghệ (năm và nước sản xuất).

- Qui mô và tỉ lệ chi phí cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D:

Research and Development) trong doanh thu theo ngành của các các DN - FDI, các

DN trong nước.

h.Phạm vi, qui mô hoạt động, trình độ chuyên môn hoá và liên kết kinh tế

Bao gồm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế theo phạm vi (economies

ofscope) hay chuyên môn hóa và hiệu quả kinh tế theo qui mô (economies of scale)

trong hoạt động của KCN.

- Tổng doanh thu của KCN và doanh thu một số ngành công nghiệp chủ yếu

trong KCN.

- Tỉ lệ doanh thu của các ngành công nghiệp chủ yếu có liên quan, mặt hàng

chuyên môn hóa trong tổng doanh thu của KCN.

- Về mức độ liên kết kinh tế: tỉ lệ số DN có liên kết kinh tế với nhau trong

KCN và tỉ lệ số DN có liên kết với bên ngoài trong tổng số DN- KCN.

i. Khả năng đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư

Tiêu chí này phản ánh mức độ hấp dẫn nội bộ của KCN đối với các nhà đầu tư

và được thể hiện cụ thể bằng các chỉ tiêu: mức độ bảo đảm của hệ thống cơ sở hạ

tầng kỹ thuật và dịch vụ đáp ứng yêu cầu hoạt động của các DN trong KCN.

1.3.2.2. Các tiêu chí đánh giá tác động lan tỏa của KCN

a.Tác động lan tỏa về mặt kinh tế

- Tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, địa

phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đóng góp vào ngân sách địa

phương.

+ Thu nhập bình quân đầu người tính cho toàn khu vực hoặc địa phương,

so với mức chung của cả nước;

+ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương có KCN: tỉ trọng về doanh

thu, giá trị gia tăng, vốn sản xuất, lao động tính theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế.

+ Đóng góp của KCN cho ngân sách địa phương: qui mô và tỷ lệ thu ngân

sách địa phương từ KCN; số lượng và chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật

của địa phương có KCN.

- Tác động nâng cao năng lực cạnh tranh của DN Việt Nam: Sự xuất hiện của

các DN FDI là một nhân tố thúc đẩy cạnh tranh, có thể buộc DN trong nước rời

khỏi thị trường hoặc phải điều chỉnh cơ cấu để thích nghi với môi trường cạnh tranh

mới. Nếu biết tận dụng mối liên kết kinh tế với các DN- FDI trong trao đổi các hàng

hóa trung gian và các yếu tố khác, các DN trong nước hoàn toàn có khả năng vươn

ra thị trường xuất khẩu.

- Tác động thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam

+ Mức tăng sản lượng và số việc làm tăng thêm của DN trong nước liên kết

với DN- FDI.

+ Mức độ phát tán tri thức và kỹ năng giữa DN- FDI và DN trong nước.

b.Tác động lan tỏa về mặt công nghệ

- Mức độ đổi mới công nghệ của các DN trong nước trong KCN.

- Mức độ đổi mới công nghệ của từng ngành, nhóm ngành sản xuất.

- Khả năng tiếp thu và ứng dụng bí quyết công nghệ được chuyển giao của DN.

- Năng lực quản lý điều hành, tổ chức trong hoạt động công nghệ.

- Tỉ lệ doanh thu từ hoạt động R&D trong tổng doanh thu của các DN trong KCN.

- Tốc độ tăng doanh thu hàng năm từ hoạt động R&D.

c.Tác động lan tỏa về mặt xã hội

Chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng xã hội của KCN được tập trung vào các chỉ tiêu

về khả năng giải quyết việc làm của KCN cho lao động địa phương:

- Sử dụng lao động địa phương: quy mô và tỷ lệ lao động địa phương so với

tổng số lao động làm việc trong KCN.

- Số người tham gia cung cấp dịch vụ cho KCN trong tổng số lao động địa

phương.

- Ảnh hưởng của KCN đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động của địa phương.

- Mức độ tham gia vào đào tạo nghề và tiếp nhận lao động, trong đó, đối với

lao động địa phương và lao động từ nơi khác đến.

- Thực hiện các qui tắc sử dụng lao động của quốc gia và quốc tế .

- Việc phát triển vốn con người (trình độ, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề

nghiệp, thái độ ứng xử, khả năng hợp tác và làm việc theo nhóm,...)

e.Tác động lan tỏa về mặt bảo vệ môi trường

- Mức độ khai thác hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên;

- Mức độ giải quyết vấn đề ô nhiễm KCN (hệ thống xử lý chất thải tập trung),

đặc biệt các KCN gần khu dân cư.

- Mức độ ứng dụng công nghệ sạch và công nghệ ít gây ô nhiễm môi trường.

- Có Báo cáo môi trường của các DN trong KCN.

1.3.3. Thực trạng phát triển KCN ở Việt Nam

1.3.3.1. Trên phạm vi cả nước

Sau gần 20 năm phát triển mô hình KCN nước ta đã gặt hái được những thành

tựu to lớn, khẳng định vai trò quan trọng trong công cuộc CNH-HĐH, hội nhập với

nền kinh tế khu vực và thế giới. KCN thực sự là sản phẩm mới của thời kì CNH-

HĐH cùng hòa vào thành tựu chung của cả nước trên con đường phát triển KT-XH

đất nước. Mục tiêu phát triển KT-XH nước ta đến năm 2020 trở thành nước công

nghiệp theo hướng hiện đại, vì thế trên con đường CNH-HĐH không thể thiếu vai

trò quan trọng của công nghiệp trong đó có việc phát triển các KCN, KCX cho nên

hiệu quả kinh tế, vốn đầu tư và tính bền vững cả về kinh tế, môi trường sinh thái xã

hội và môi trường văn hóa của các KCN, KCX có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Tuy nhiên nhìn vào thực trạng xây dựng và hoạt động của các KCN, KCX của nước

ta bộc lộ nhiều bất cập, thiếu bền vững thể hiện ở những vấn đề sau:

- Thứ nhất, công tác quy hoạch phát triển KCN, KCX còn thiếu đồng bộ:

Việc phân bố các KCN giữa các vùng còn bất hợp lý. Thành lập quá nhiều KCN

trong một vùng dẫn đến hình thành các KCN có chức năng tương tự nhau ở các địa

phương tạo ra tình trạng cạnh tranh gay gắt, tự phát, chạy đua theo “phong trào”

thành lập, thu hút đầu tư vào KCN không phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển

KT-XH của vùng, quy hoạch phát triển KCN cả nước. Điều này khiến cho các địa

phương không khai thác được những lợi thế riêng có, những lợi thế so sánh trong

việc phát triển KCN. Mặt khác công tác quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch

chưa ăn khớp nhau. Nhiều quy hoạch được duyệt, thậm chí đã xây dựng kết cấu hạ

tầng thì địa phương lại thay đổi quy hoạch về diện tích, ranh giới gây ra sự hoài

nghi về tính ổn định môi trường và hiệu lực của các cơ quan quản lý Nhà nước.

- Thứ hai, tình trạng tự phát trong việc thu hút vốn đầu tư còn diễn ra phổ

biến: Để khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào KCN,

các cấp ngành đã không ngừng hoàn thiện các chính sách ưu đãi, thủ tục đầu tư đơn

giản hơn so với bên ngoài. Nhưng hiện tại nổi lên một thực tế là các địa phương

đang ra sức “ganh đua, cạnh tranh” để thu hút các nguồn vốn đầu tư vào địa phương

mình. Nhiều địa phương đã ban hành những ưu đãi riêng “xé rào” để thu hút đầu

tư., chấp nhận dùng ngân sách địa phương bù lỗ. Điều này ảnh hưởng tới ngân sách

Nhà nước, thậm chí còn dẫn đến tình trạng chèn lấn, ngáng chân nhau trong việc thu

hút đầu tư, làm giảm hiệu quả KCN, không tận dụng lợi thế của các địa phương, các DN.

- Thứ ba, cơ cấu đầu tư còn nhiều bất cập: Hầu hết các dự án hoạt động

trong KCN đều là các dự án công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, tiêu

dùng...rất ít những dự án có công nghệ tiên tiến, hiện đại như điện, điện tử, vật liệu

mới. Đây là vấn đề đáng quan ngại bởi vì nếu không thu hút và phát triển được

những ngành có công nghệ cao thì mãi mãi chúng ta là người tụt hậu và gia công

cho nước ngoài. Hơn nữa trong thời gian gần đây nguồn vốn ĐTNN có xu hướng

giảm sút. Quy mô bình quân một dự án có chiều hướng năm sau thấp hơn năm trước

cho thấy KCN nước ta vẫn chưa đủ sức hấp dẫn những nhà đầu tư từ các công ty

xuyên quốc gia, nắm giữ những công nghệ gốc, sản xuất những sản phẩm có hàm

lượng chất xám cao. Hiện có hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư vào

KCN Việt Nam nhưng trong đó 80% số dự án và 85% tổng số vốn đầu tư do chủ

đầu tư là các nước Đông Á và Đông Nam Á còn các quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ -

những nước có kỹ thuật cao và công nghệ tiên tiến chiếm tỉ lệ khiêm tốn trong cơ

cấu vốn đầu tư.

- Thứ tư, thiếu lao động có trình độ cao: Hiện nay đang tồn tại một nghịch lý

trong việc cung cấp lao động cho các DN trong KCN. Các DN có nhu cầu tuyển

dụng lớn, lao động có kỹ thuật, tay nghề cao, kỹ luật lao động tốt... nhưng đa số lực

lượng lao động của các địa phương không đáp ứng được.Theo số liệu điều tra hầu

hết lao động ở các địa phương có KCN chưa đáp ứng trình độ chuyên môn, không

quen với môi trường lao động công nghiệp, chưa đáp ứng những yêu cầu của công

nghệ quản lý, sản xuất hiện đại. Trình độ đại học và trên đại học trong các KCN chỉ

chiếm 4,5% tổng số lao động, công nhân kỹ thuật qua đào tạo chiếm 31%, do đó tỉ

lệ thất nghiệp của các địa phương có KCN vẫn ở mức cao trong khi các DN lại thiếu

lao động.

- Thứ năm, quản lý và sử dụng đất trong KCN còn nhiều hạn chế: Trong các

KCN ở nước ta hiện nay việc phát triển hạ tầng kỹ thuật được tiến hành theo hình

thức Nhà nước giao đất cho DN phát triển hạ tầng thuê đất để đầu tư cơ sở hạ tầng

hoặc thuê lại đất đã đầu tư cơ sở hạ tầng. DN muốn đầu tư vào KCN phải thuê lại

đất đã xây dựng hạ tầng của DN phát triển hạ tầng. Do đó giá thuê đất trong KCN

bao gồm giá đất thô cộng với chi phí giải tỏa, chi phí đầu tư xây dựng hạ tầng và lợi

nhuận của DN. Do đó không tính được quyền cho thuê đất thô (của Nhà nước) với

quyền cho thuê hạ tầng (của DN phát triển hạ tầng), dẫn đến hiện tượng một số DN

hạ tầng đầu cơ đất. Điều này làm cho Nhà nước không chi phối được giá thuê đất,

và khi Nhà nước có chính sách thu hút bằng các việc miễn, giảm tiền thuê đất thì

khó có thể can thiệp một cách trực tiếp và cụ thể. Mặt khác, công tác đền bù giải

phóng mặt bằng ở các KCN thời gian qua còn nhiều bất cập, hạn chế. Vừa phức tạp,

vừa tốn nhiều thời gian, tiền bạc, nhiều KCN phải mất 2-3 năm mới đền bù, giải tỏa

xong. Điều này đã đẩy chi phí xây dựng tăng lên, dẫn đến giá cho thuê đất tăng cao,

làm giảm tính hấp dẫn của các KCN.

- Thứ sáu, xuất hiện nhiều vấn đề bức xúc xung quanh các KCN: Việc phát

triển các cơ sở hạ tầng bên ngoài hàng rào KCN không theo kịp với sự phát triển

KCN như giao thông, nhà ở, các công trình giáo dục, y tế ... phục vụ người lao

động. Nhà ở là vấn đề gay gắt nhất do công nhân làm việc trong các KCN phần lớn

là dân nhập cư. Vấn đề môi trường trong và xung quanh các KCN cũng đặt ra nhiều

vấn đề cần giải quyết. KCN là nơi tập trung lớn các nhà máy, xí nghiệp nếu chất

thải không được xử lý tốt sẽ làm môi trường bị ô nhiễm trên diện rộng, ảnh hưởng

đến sức khỏe của người lao động và nhân dân nơi có KCN. Thế nhưng do phát triển

không đồng bộ theo quy hoạch và chưa quan tâm đúng mức nên ô nhiễm môi

trường ở hầu hết các KCN đang trong tình trạng báo động, đe dọa sự phát triển bền

vững trong thời gian tới.

1.3.3.2. Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Bảng 1.1. Diện tích các KCN Đồng Nai trong vùng KTTĐPN và cả nước tháng 9/2008

STT Địa phương Số lượng Diện tích (ha)

1 2 3 4 5 6 7 8

Nguồn: Báo cáo năm 2008, Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Ban Quản lý các KCN Việt Nam

TP.Hồ Chí Minh Bà Rịa-Vũng Tàu Đồng Nai Bình Dương Bình Phước Tây Ninh Long An Tiền Giang Vùng KTTĐPN Cả nước 12 8 29 22 2 2 14 4 93 194 2728 4698 9076 6312 309 394 2816 875 26524 46084 Diện tích cho thuê (ha) 1230 3753 6002 4390 198 261 1847 580 18765 29735 Diện tích đã thuê (ha) Diện tích Tỉ lệ 90.73 83,72 59,67 47,43 43,94 77,01 28,05 17,93 58,18 49,43 1116 3142 3581 2082 174 201 518 104 10918 14.946

Tính đến cuối tháng 9/2008, tỉnh Đồng Nai đã có 29 KCN được thành lập gồm

17 khu đã vận hành (5835 ha), 9 khu đã thành lập và đang xây dựng cơ bản (2121

ha) và 3 khu mới thành lập với tổng diện tích là 9076 ha, tỉ lệ diện tích đã cho thuê

tại 29 KCN đạt 67,22% diện tích dành cho thuê. Ngoài các KCN đã và đang chuẩn

bị thành lập Đồng Nai còn có hơn 2.460 ha đã được UBND Tỉnh trình Chính phủ

xin bổ sung quy hoạch phát triển các KCN đến năm 2020. Nếu chỉ tính riêng các

KCN theo qui hoạch dự kiến trên (chưa tính các cụm công nghiệp tại địa phương)

thì đến năm 2020, tỉnh Đồng Nai sẽ có 36 KCN với tổng diện tích khoảng 12.227 ha

Như vậy, về quy hoạch Đồng Nai dẫn đầu cả nước và vùng kinh tế trọng điểm

phía Nam (KTTĐPN) số lượng và diện tích các KCN:

- Số lượng KCN: Đồng Nai chiếm 14,95% của cả nước và 30,21% của vùng

KTTĐPN

- Diện tích KCN: Đồng Nai chiếm và 19,69% cả nước và 34,21% vùng

KTTĐPN

Về hiệu quả đầu tư:

- Tỉ lệ lấp đầy bình quân bao gồm các KCN đã vận hành và đang xây dựng cơ

bản là 59,43% cao hơn cả nước và vùng KTTĐPN.

- Dự án đầu tư: thu hút 1076 dự án chiếm 16,71% cả nước (3200 dự án nước

ngoài, 3100 dự án trong nước); 34,72 % vùng kinh tế trọng điểm phía Nam ( 1801

dự án nước ngoài, 1232 dự án trong nước).

- Vốn đầu tư: tổng số vốn đầu tư luỹ kế 12920 triệu USD trong đó 11549 triệu

USD là vốn đầu tư nước ngoài chiếm 36,66% vốn đầu tư của cả nước (31,5 tỉ USD)

và 62,26% vốn đầu tư của vùng KTTĐPN (18,549 tỉ USD). Đồng Nai đứng thứ 3 cả

nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài sau TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội.

- Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 45.865.530 tỉ đồng chiếm 72,19% giá trị sản

xuất công nghiệp toàn tỉnh.

- Tổng doanh thu đạt 6,943 tỉ USD trong đó xuất khẩu 3,598 tỉ USD chiếm

hơn 90% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, nộp ngân sách nhà nước 159 triệu USD,

giải quyết việc làm cho 320.252 lao động.

- Hiện có 33 quốc gia và vùng lãnh thổ đến đầu tư đa số là các nuớc đến từ

châu Á, trong đó tập trung vào một số quốc gia như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản

(chiếm 70% số dự án, chiếm trên 40% số vốn).

- Thu hút đầu tư chủ yếu tập trung trên địa bàn TP. Biên Hoà, huyện Nhơn

Trạch, huyện Long Thành và huyện Trảng Bom.

Cũng như các KCN cả nước các KCN Đồng Nai vẫn còn nhiều hạn chế như:

- Việc quy hoạch phát triển các KCN vẫn chưa thực sự hợp lý, chưa tính tới

khả năng đầu tư và dự báo xu hướng đầu tư trên các địa bàn của tỉnh.

- Các KCN vẫn tập trung quá nhiều tại một số địa bàn như TP. Biên Hòa, các

huyện Long Thành, Nhơn Trạch, dẫn đến tình trạng quá tải về lao động, nhà ở, dịch

vụ phục vụ người lao động. Trong khi đó, tại một số địa bàn khác có điều kiện để

phát triển KCN và yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế như các huyện Tân Phú, Định

Quán, Vĩnh Cửu lại chưa được chú trọng phát triển.

- Việc thành lập cùng lúc nhiều KCN, làm cho công tác giải tỏa đền bù gặp

nhiều khó khăn, gây ra tình trạng khiếu kiện kéo dài ở một số nơi, ảnh hưởng đến

tiến độ xây dựng hạ tầng và giao đất cho các nhà đầu tư.

- Việc xây dựng các công trình kỹ thuật ngoài hàng rào như giao thông, cấp

thoát nước ... chưa thực hiện được đồng bộ để kết nối với các hạng mục bên trong

của một số KCN (Hố Nai, Nhơn Trạch...) đã ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư.

- Còn có nhiều DN trong KCN vi phạm Luật Bảo vệ môi trường, thải các chất

thải ra môi trường không qua xử lý, dẫn đến mức độ ô nhiễm nghiêm trọng trên các

lưu vực sông Đồng Nai và sông Thị Vải. Theo thống kê, tại Đồng Nai hiện có 21/29

KCN hoạt động mới chỉ có 10 KCN có nhà máy xử lý nước thải tập trung xử lý được 26.000 m3 nước thải/ ngày, còn 42.000 m3 chưa qua xử lý, có 8 KCN đang tiến

hành xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung. Hiện 9/29 KCN gây ô nhiễm

nghiêm trọng và đáng chú ý là nhiều công ty đã xả nước thải trực tiếp xuống sông

như các công ty: Vedan, Civic, Mía đường La Ngà, Men Mauri...

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI

2.1. Khái quát về huyện Nhơn Trạch

Nhơn Trạch là một huyện được tách ra từ huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai

vào ngày 1/9/1994 theo Nghị định số 51/NĐ-CP của Chính phủ. Huyện có 12 xã

gồm: Phước Thiền, Hiệp Phước, Phú Hội, Long Tân, Phú Thạnh, Đại Phước, Phú

Hữu, Phú Đông, Phước Khánh, Vĩnh Thanh, Long Thọ, Phước An với diện tích tự nhiên là 410,89 km2 chiếm 6,97% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh. Là một địa

phương nằm trong vùng KTTĐPN, có vị trí trung tâm và tiếp giáp với các đô thị

lớn, năng động là TP Hồ Chí Minh , Biên Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu với hệ thống

giao thông đường bộ, đường thủy rất thuận lợi trong việc phát triển kinh tế: được

các sông lớn như Đồng Nai, Lòng Tàu, Thị Vải bao quanh; gần quốc lộ 51 Biên

Hòa đi Bà Rịa - Vũng Tàu. Nhơn Trạch còn gần sân bay quốc tế Long Thành đã có

kế hoạch dự kiến xây dựng. Đồng thời điều kiện địa chất, thủy văn của Nhơn Trạch

thuận lợi cho việc xây dựng các công trình lớn cũng như cho sản xuất, đời sống.Với

những thuận lợi như trên, Nhơn Trạch đã trở thành vùng đất hấp dẫn đối với các nhà

đầu tư trong và ngoài nước.

Do đó, ngày 7.5.1996 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 323/TTg

phê duyệt, quy hoạch tổng thể đô thị mới Nhơn Trạch cho phép xây dựng tại đây

một thành phố công nghiệp nhằm thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước.Với

9 KCN trên diện tích 3500 ha và một cụm công nghiệp 100 ha từ một huyện thuần

nông, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, Nhơn Trạch đang thay da đổi thịt

từng ngày để trở thành trung tâm công nghiệp, thương mại - dịch vụ, du lịch, giáo

dục - đào tạo và khoa học công nghệ của tỉnh Đồng Nai và vùng KTTĐPN. Những

năm gần đây, Nhơn Trạch luôn là địa phương dẫn đầu trong các huyện thị của tỉnh

Đồng Nai về thu hút đầu tư nước ngoài trong phát triển công nghiệp.

Ngày 21/12/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 284/2006/QĐ-TTg

về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng đô thị mới Nhơn Trạch đến

năm 2020. Theo đó, đô thị mới Nhơn Trạch bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính

huyện có diện tích là 41.089 ha. Đây là một trong các trung tâm công nghiệp,

thương mại – dịch vụ, du lịch, giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tỉnh Đồng

Nai và vùng KTTĐPN, hướng phát triển đạt tiêu chí của đô thị loại II và tương lai là

loại I. Đây chính là động lực quan trọng thúc đẩy Nhơn Trạch tiến dần lên mục tiêu

CNH-HDH. Từ đây, một thành phố mới bắt đầu định hình trên một vùng đất thuần

nông.

2.2. Tiềm năng phát triển công nghiệp của huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai

2.2.1.Tiềm năng phát triển công nghiệp của huyện Nhơn Trạch

* Vị trí địa lí

Huyện Nhơn Trạch nằm ở phía tây nam tỉnh Đồng Nai, phía bắc giáp huyện

Long Thành cùng tỉnh, phía tây bắc, tây và nam giáp TP.Hồ Chí Minh, phía đông

nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Một đoạn sông Đồng Nai- Nhà Bè là ranh giới

giữa TP. Hồ Chí Minh và huyện Nhơn Trạch. Một đoạn sông Thị Vải là ranh giới

giữa tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và huyện Nhơn Trạch, có tọa độ địa lý từ 106°45’16” -

107°01’55” kinh Đông và 10°31’33” - 10°46’59” vĩ Bắc.

Nhơn Trạch nằm ở trung tâm của ba cực phát triển vùng KTTĐPN là TP.Hồ

Chí Minh - Đồng Nai - Vũng Tàu, gần các cảng lớn, các tuyến giao thông quan

trọng. Cận kề quốc lộ 51, đường cao tốc Sài Gòn - Vũng Tàu nằm trên trục xa lộ

xuyên Á, sân bay quốc tế Long Thành (dự kiến), cảng Thị Vải… và có sông Đồng

Nai như một thủy lộ gắn kết với TP.Hồ Chí Minh.

Nhơn Trạch nằm cạnh Quận 2 và Quận 9 TP. Hồ Chí Minh, một trung tâm lớn

về kinh tế, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, đầu mối giao

thông và giao lưu quốc tế lớn nhất cả nước, có lực lượng lao động có tay nghề khá

dồi dào, có nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ. Nhơn Trạch có

thể sử dụng lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật, lao động có tay nghề cao từ TP. Hồ

Chí Minh....

Với vị trí thuận lợi như trên, Nhơn Trạch có lợi thế so sánh cao hơn so với

nhiều huyện trong tỉnh và ngoài tỉnh. Do đó cần phải phát huy lợi thế này trong phát

triển kinh tế của huyện, cùng với các yếu tố khác cần tạo mọi điều kiện đẩy nhanh

nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, hoà nhập vào sự phát triển chung của tỉnh

Đồng Nai.

* Khí hậu

Nhơn Trạch có đặc điểm khí hậu chung của vùng Đông Nam Bộ, giống khí

hậu của TP. Hồ Chí Minh. Thời tiết ổn định, điều hoà, ít chịu ảnh hưởng của bão. Nhiệt độ trung bình năm là 26 - 270C, độ ẩm: không khí trung bình từ 78 – 82%.

lượng mưa trung bình từ 1800 - 2000 mm .

* Địa hình

Nhơn Trạch có hai dạng địa hình chính là đồi núi thấp và đồng bằng ven sông.

Dạng địa hình đồi núi thấp: phân bố tập trung tại khu vực phía đông bắc, với

diện tích 12.585 ha chiếm 30,7% tổng diện tích toàn huyện. Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 10 đến 30m (cao nhất 32 m). Độ dốc phổ biến từ 3-50, tiêu

thoát nước thuận lợi, nền móng tốt, thuận lợi cho xây dựng cơ sở hạ tầng và các

KCN.

Dạng địa hình đồng bằng ven sông: Vùng này chiếm khoảng 52,3% tổng diện

tích tự nhiên, tập trung ở 3 khu vực phía bắc:, khu vực nằm trong hệ thống thủy lợi

Ông Kèo và khu vực phía nam

* Thuỷ văn

Nhơn Trạch có nhiều sông suối lớn, là ranh giới với các huyện xung quanh.

Phía bắc và phía tây có sông Đồng Nai và sông Nhà Bè. Sông Thị Vải nằm ở phía

đông nam của huyện. Ngoài các sông trên, tại các khu vực đất thấp có nhiều sông

suối nhỏ và kênh rạch. Các kênh rạch nằm trong một hệ thống nối liền với nhau,

chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều. Các sông lớn ở đây có khả năng lớn về

vận tải thuỷ, hiện có nhiều dự án xây dựng cảng lớn ở đây như: Chùm cảng trên

sông Thị Vải, Lòng Tàu và Nhà Bè.

* Địa chất - công trình

Hiện nay chưa có bản đồ đánh giá địa chất công trình tại Nhơn Trạch, tuy

nhiên qua các công trình đã xây dựng có thể nhận xét :

- Khu vực đồi úp : Cường độ chịu tải của đất 1,5 - 2,5 kg/cm2 rất thuận tiện

cho việc thi công nền móng công trình và không phải đóng cọc gia cố móng, do vậy

giảm đáng kể chi phí xây dựng.

- Khu vực đất thấp: nền đất yếu, cường độ chịu nén dưới 0,5 kg/cm2.

* Nguồn nước

Nguồn nước mặt chủ yếu của huyện là hệ thống sông Đồng Nai. Theo số liệu quan trắc lưu lượng trung bình 312m3/s, lưu lượng tháng cao nhất (tháng 9) 1.083m3/s. Chất lượng nước khá tốt ở khu vực phía Bắc, mức độ nhiễm mặn tăng

dần về phía hạ lưu. Có thể sử dụng nguồn nước mặt dồi dào này cho phát triển kinh

tế xã hội của huyện.

Nguồn nước ngầm trong huyện khá dồi dào, tại huyện đã khoan thăm dò 20

giếng và khoan khai thác 5 giếng với lưu lượng 10-20m3/h/giếng.

* Đất

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 41.089 ha, chiếm 6,97% diện tích tự

nhiên của tỉnh. Theo đánh giá chung đất ở Nhơn Trạch có 4 loại cơ bản gồm nhóm

đất phù sa, nhóm đất ngập mặn, nhóm đất cát và nhóm đất xám. Trong đó nhóm đất

xám là thuận lợi hơn cả cho xây dựng các KCN và dân cư

* Rừng

Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai, năm

2007 toàn huyện có 7215 ha rừng trong đó có 5000 ha ha rừng tự nhiên và 2215 ha

rừng trồng có khả năng cung cấp nguồn nguyên liệu và vật liệu xây dựng cho các

KCN. Rừng tự nhiên chủ yếu là rừng ngập mặn thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn

Long Thành - Nhơn Trạch nằm trên địa bàn 4 xã: Long Phước, Phước Thái (huyện

Long Thành) và Phước An, Long Thọ (huyện Nhơn Trạch) có tổng diện tích tự

nhiên gần 8.000 ha. Theo thống kê sơ bộ, rừng ngập mặn Long Thành - Nhơn Trạch

có 84 loài thực vật bậc cao với 72 chi, 38 họ và là nơi trú ngụ của nhiều loài chim,

thú, thủy sản. Ngoài lợi ích kinh tế lớn, khu vực hạ nguồn sông Đồng Nai còn có

chức năng chống xói mòn đất, ngăn việc đất đai bị rửa trôi ra biển và có khả năng tự

làm sạch môi trường.

* Khoáng sản

Có thể khai thác cát ven sông Đồng Nai đáp ứng cho nhu cầu xây dựng

các KCN và các cơ sở hạ tầng khác.

2.2.2. Các yếu ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp

* Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KCN

Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII năm 1994 đã đề ra yêu cầu về

“Quy hoạch các vùng, trước hết là các địa bàn trọng điểm, các khu chế xuất, khu

kinh tế đặc biệt, khu công nghiệp tập trung”. Báo cáo của Ban chấp hành Trung

ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng về chiến

lược phát triển KT-XH năm 2001-2005 tiếp tục khẳng định: “Quy hoạch phân bố

hợp lý công nghiệp trên cả nước. Phát triển có hiệu quả các khu công nghiệp, khu

chế xuất, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn

và khu kinh tế mở”.

Thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển các KCN, KCX, Chính phủ đã

ban hành hàng loạt các văn bản tạo khung pháp lý cho việc phát triển KCN, KCX

như: Quy chế KCN - KCX, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Thương mại,

Luật Đầu tư, Luật Bảo vệ môi trường… Tiếp theo đó, Chính phủ đã hình thành một

hệ thống Ban quản lý KCN, KCX cấp tỉnh nhằm giúp Chính phủ quản lý các KCN,

KCX. Cho đến nay, cả nước đã có 54 Ban quản lý KCN, KCX cấp tỉnh được thành

lập. Các bộ, ngành ủy quyền cho Ban quản lý KCN, KCX cấp tỉnh thực hiện các

nhiệm vụ quản lý nhà nước. Cơ chế ủy quyền này đã hình thành cơ chế quản lý hiệu

quả “một cửa, tại chỗ”, rút ngắn được thủ tục hành chính, giải tỏa tâm lý cho các

nhà đầu tư vào KCN, KCX.

Về phía tỉnh Đồng Nai để có được sự thu hút đầu tư vững chắc tỉnh đã ban

hành, thực hiện nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi đặc biệt như: Thực hiện cơ chế

quản lý “một cửa, tại chỗ” thông qua Ban quản lý các KCN Đồng Nai (đối với dự

án trong các KCN được Chính phủ phê duyệt ) và Sở Kế hoạch và Đầu tư (đối với

các địa bàn còn lại). Đồng Nai thực sự là địa phương đi đầu trong việc thự hiện cơ

chế “một cửa, tại chỗ”với phương châm “chính quyền đồng hành cùng doanh

nghiệp”. Các nhà đầu tư chỉ cần liên hệ các cơ quan trên sẽ được hướng dẫn và

được hổ trợ tất cả các vấn đề có liên quan. Thời hạn cấp giấy phép đầu tư không

quá 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp dự án khuyến khích đầu

tư, giấy phép đầu tư được cấp không quá 5 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

DN được nhiều ưu đãi khi đầu tư vào các KCN, ví dụ như : Miễn tiền thuê đất trong

thời gian xây dựng cơ bản, được miễn hoặc giảm tiền thuê đất trong trường hợp gặp

khó khăn phải tạm dừng dự án. Sau khi hoàn thành xây dựng cơ bản, DN được miễn

tiền thuê đất trong 7 năm (đối với dự án đầu tư vào địa bàn khó khăn), dự án thuộc

danh mục ngành nghề khuyến khích đầu tư và danh mục ngành nghề đặc biệt

khuyến khích đầu tư), được miễn 11 năm (đối với dự án thuộc địa bàn đặc biệt khó

khăn)…Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, Đồng Nai tiếp tục đề nghị

Chính phủ cho phép một số KCN của tỉnh được hưởng quy chế như các KCN miền

núi và một số KCN ưu tiên khác. Tỉnh cũng đề nghị Chính phủ dành ngân sách hợp

lý để hình thành Quỹ xúc tiến đầu tư và cho phép tỉnh thí điểm hình thành Quỹ đào

tạo có sự đầu tư của Nhà nước và đóng góp từ các DN trên địa bàn, nhằm đáp ứng

nhu cầu nguồn nhân lực cho các DN.

Về phía huyện Nhơn Trạch trong thời kỳ đầu mới tách huyện, bộ máy quản lý

Nhà nước huyện có nhiều hạn chế như: đội ngũ cán bộ chuyên môn thiếu và yếu,

chưa có cán bộ am hiểu về việc xúc tiến, tiếp nhận dự án đầu tư…Nhưng với sự hỗ

trợ của UBND tỉnh và các ngành tỉnh, huyện Nhơn Trạch đã có nhiều nỗ lực tự thân

để phối hợp cùng tỉnh trong việc mời gọi đầu tư. Không kể bất cứ thời gian nào, khi

nhà đầu tư có nhu cầu thì Nhơn Trạch sẵn sàng đáp ứng. Nhơn Trạch đã tích cực tạo

mọi điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư đi thực tế để chọn lựa địa điểm dự án; hỗ

trợ cho các nhà đầu tư nhanh chóng hoàn thành hồ sơ thủ tục trong thời gian sớm

nhất.

* Tình hình phát triển kinh tế

Bảng 2.1. Tăng trưởng GDP của huyện Nhơn Trạch giai đoạn 2001-2008

Tốc độ tăng trưởng BQ (%) Các ngành kinh tế 2001-2005 2006-2008 2001-2008

Đồng Nai 12,86 14,75 13,40

- Nông nghiệp 4,6 5,2 4,7

- Công nghiệp 16,1 16,9 16,3

- Dịch vụ 12,3 15,2 13,1

Nhơn Trạch 15,21 17,1 15,8

- Nông nghiệp 5,07 3,7 4,7

- Công nghiệp 22,24 21,0 21,9

- Dịch vụ 15,7 20,1

13,99 Nguồn: “Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đến

năm 2015 có tính đến năm 2020” - Sở Công Thương Đồng Nai.

Hiện nay từ một huyện thuần nông, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn,

Nhơn Trạch đang thay đổi từng ngày để trở thành trung tâm công nghiệp, thương

mại - dịch vụ, du lịch, giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ của tỉnh Đồng Nai

và vùng KTTĐPN. Trong những năm qua, kinh tế huyện phát triển với tốc độ cao.

- Khu vực công nghiệp và xây dựng: Giai đoạn 2001-2008 đạt tốc độ tăng

trưởng bình quân đều và khá cao (bình quân trên 21%/năm), là khu vực có tốc độ

tăng trưởng cao nhất so với các khu vực còn lại, trong đó giai đoạn 2001-2005, do

thu hút ĐTNN trên địa bàn huyện, nhiều nhà ĐTNN đầu tư vào huyện Nhơn Trạch

(số dự án đầu tư nước ngoài tăng nhanh từ 45 dự án năm 2001 tăng lên 213 dự án

năm 2005) góp phần tăng nhanh sự phát triển kinh tế công nghiệp trên địa bàn, tốc

độ tăng trưởng bình quân GDP công nghiệp giai đoạn này khá cao trên 22,2%/năm.

Giai đoạn 2006 – 2008, tình hình đầu tư phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện

tiếp tục duy trì và phát triển mạnh, do đó tốc độ tăng trưởng vẫn duy trì mức

21%/năm, cao hơn bình quân chung toàn ngành công nghiệp của tỉnh (toàn tỉnh tăng

16,9%/năm).

- Khu vực dịch vụ: Tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn 2001-2008 là

15,7%/năm; giai đoạn 2001-2005 là 13,99%/năm. Tốc độ này chưa tương xứng so

với tốc độ phát triển của khu vực công nghiệp (giai đoạn 2001-2005 là 22,24%/năm

và giai đoạn 2001-2008 là 21,88%/năm). Giai đoạn 2006 – 2008, khu vực dịch vụ

đã có những bước phát triển khá mạnh, tốc độ bình quân đạt 20,1%/năm, điều này

cho thấy tín hiệu khởi sắc của khu vực dịch vụ của huyện trong thời gian tới.

- Khu vực nông nghiệp: Trong những năm qua do việc đẩy nhanh quá trình

CNH-HĐH và đô thị hóa, khu vực nông nghiệp vốn là chủ yếu trên địa bàn huyện

đã có xu hướng giảm dần tỷ trọng. Tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn 2001-

2008 là 4,68%/năm, trong đó giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 5,07%/năm và

giai đoạn 2006 – 2008 giảm còn bình quân 4,7%/năm.

Nhìn chung thời gian qua, so với sự phát triển nhanh về công nghiệp và tốc độ

đô thị hóa…, sự chuyển dịch của nông nghiệp nông thôn và sự phát triển của

thương mại - dịch vụ chưa phù hợp, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu thực tế, phục vụ

phát triển công nghiệp. Dịch vụ phát triển chậm so với tiềm năng và khả năng có thể

khai thác được. Thương mại chỉ mang tính kinh doanh hộ gia đình, quy mô nhỏ, lẻ

và tự phát. Tỷ trọng dịch vụ có giá trị gia tăng cao phát triển chậm như: tài chính,

tín dụng, tư vấn, bảo hiểm…, hoặc chất lượng còn thấp như dịch vụ viễn thông, vận

tải… Du lịch và dịch vụ nhà trọ hình thành mang nặng tính tự phát và còn trong

tình trạng yếu kém về cơ sở vật chất lẫn phương thức hoạt động… Là một đô thị

mới, thời gian qua chủ yếu phát triển mạnh về công nghiệp, dịch vụ phục vụ phát

triển công nghiệp chưa phát triển mạnh... do đó ít nhiều cũng đã ảnh hưởng đến tình

hình phát triển công nghiệp.

* Cơ sở hạ tầng

- Giao thông

+ Đường bộ: Mạng lưới đường bộ đã được chú trọng xây dựng nhưng còn

chậm. Tất cả các xã đều có đường ô tô đến trung tâm xã, trong đó có 7 xã có đường

nhựa, 5 xã có đường cấp phối. Tổng số chiều dài đường huyện là 261,702 km, trong

đó huyện quản lý 146,172 km, xã quản lý 115,530 km, trong đó: Đường nhựa có

69,440 km, đạt 27% tổng chiều dài đường huyện (huyện quản lý 64,94 km, chiếm

94% tổng đường nhựa của huyện). Đường cấp phối có 113,132 km, đạt 43% tổng

chiều dài đường huyện (huyện quản lý 81,132 km, chiếm 81% tổng đường cấp phối

của huyện). Đường đất có 71,030 km, đạt 27% tổng chiều dài đường huyện, trong

đó toàn bộ là xã quản lý. Nhìn chung chất lượng đường còn thấp hơn nhiều so với

yêu cầu phát triển KT-XH của huyện

+ Đường sông: Có 4 tuyến đường sông có thể lưu thông tàu trọng tải

lớn, trong đó có 2 tuyến có thể lưu thông tàu 3000 tấn, 1 tuyến có thể lưu thông tàu

5000 tấn, 1 tuyến có thể lưu thông tàu 1000 tấn. Hiện nay đã có cảng Tuy hạ (quân

đội quản lý). Cơ sở vật chất kỹ thuật của các cảng này chưa có gì đáng kể, phạm vi

phục vụ hẹp.

* Hệ thống cấp điện

- Hệ thống lưới điện: Hiện có đường dây mạch kép rẽ nhánh từ đường dây

110 KV Bà Rịa-Long Bình đến trạm Nhơn Trạch dài 2,5 km (dây A-185). Lưới 15

KV bao gồm 3 tuyến với tổng chiều dài 100 km, cấp điện cho các trạm biến áp

15KV/0,4K với tổng dung lượng 4220 KVA. Riêng KCN tập trung 2700 ha đã được

cấp riêng từ trạm biến áp T1.

- Nguồn điện:

+ Hai nhà máy điện Nhơn Trạch 1và Nhơn Trạch 2 do Tập đoàn Dầu khí

Quốc gia Việt Nam đầu tư xây dựng tại xã Phước Khánh. Đây là 2 nhà máy nằm

trong tổng thể quy hoạch khu Trung tâm điện lực Nhơn Trạch với tổng công suất

thiết kế 2.600 MW sẽ trở thành trung tâm điện lực và là điểm hòa mạng các dự án

điện khí, cung cấp cho khu vực phía Nam. Dự kiến nhà máy điện Nhơn Trạch 1 sẽ

hoà vào mạng lưới điện quốc gia vào quý I/2009. Nhà máy nhiệt điện Nhơn Trạch 2

đang thi công theo quy hoạch giai đoạn 2007-2011 sẽ đảm bảo cho nhu cầu phát

triển các KCN và đô thị Nhơn Trạch trong tương lai.

+ Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ nằm cạnh KCN Nhơn Trạch là trung tâm

điện lực lớn nhất nước có tổng công suất 1.090 MW cung cấp 30% sản lượng điện

toàn hệ thống điện quốc gia.

- Tỷ lệ hộ sử dụng điện đến nay là 98% tổng số hộ sử dụng.

Nhìn chung mạng lưới điện cấp cho sinh hoạt chất lượng còn tốt nhưng do

phải dẫn từ nguồn ở xa nên thất thoát nhiều. Đối với điện cho sản xuất có nhiều

thuận lợi so với các địa bàn khác do gần nguồn cung cấp. Tuy nhiên, với sự thiếu

hụt sản lượng điện chung toàn quốc hiện nay thì Nhơn Trạch ít nhiều cũng chịu ảnh

hưởng, nhất là đối với sản xuất công nghiệp.

* Hệ thống cấp nước

Toàn huyện có 2 nhà máy nước gồm nhà máy nước ngầm Tuy Hạ công suất 10.000m3/ngày đêm, nhà máy nước Nhơn Trạch công suất 200.000m3/ngày đêm.

Nhà máy nước Nhơn Trạch là một công trình có quy mô lớn, được Nhà nước đầu tư

bằng nguồn vốn ODA của Nhật Bản, với kinh phí thực hiện của giai đoạn I là 500

tỷ đồng, cung cấp nước sạch lấy từ Nhà máy nước Thiện Tân về cung cấp cho các

KCN, các khu dân cư của đô thị mới Nhơn Trạch. Bên cạnh đó, hàng chục ngàn hộ

khác ở khắp các địa bàn của 12 xã trong huyện còn khai thác, sử dụng nguồn nước

ngầm từ các giếng đào, giếng khoan trong phạm vi gia đình. Đến cuối năm 2008

toàn huyện có 95% hộ sử dụng nước sạch.

* Thông tin liên lạc

Đã lắp đặt 1 tổng đài điện tử Starex 384 số ở trung tâm huyện và 1 tổng đài

Panasonic 32 số ở xã Đại Phước. Lắp đặt thiết bị truyền dẫn viba AWA 1504-60

kênh và đặt ở Đại Phước thiết bị Viba ít kênh loại VH-30-1 kênh. Phủ sóng phát

thanh truyền hình xuống đến tất cả các xã, các xã đều có điện thoại đến UBND xã.

Tổng số máy điện thoại trên địa bàn là 11.066 máy, đạt tỷ lệ 9,2 máy/100 dân. Trên

địa bàn có 4 bưu cục, 9 điểm bưu điện văn hóa xã, 2 điểm điện thoại công cộng,

99% các xã trên địa bàn đều có máy điện thoại, 10/12 xã đã sử dụng dịch vụ

Internet.

* Nguồn nhân lực

- Dân số: Dân số trung bình năm 2008 là 130.215 người. Tỷ lệ tăng dân số tự

nhiên 1,11%. Mật độ dân số bình quân là 317 người/km2.

- Lao động: Số người trong độ tuổi lao động hiện nay là 84.245 người, chiếm

61% tổng dân số. Lao động hiện đang làm việc trong các thành phần kinh tế là

71.246 người, chiếm 54,7% tổng dân số. Năm 2008, tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn là

2%; tỷ lệ lao động đào tạo trên tổng lao động đang làm việc là 39,11%. Lao động

làm việc trong ngành công nghiệp hiện chiếm tỷ trọng cao (chiếm 38%); lao động

trong ngành nông nghiệp chiếm 32%; lao động các ngành dịch vụ chiếm 30%.

Những năm vừa qua đã có sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công

nghiệp và dịch vụ. Nguyên nhân chủ yếu là do các KCN đã thu hút lực lượng lao

động từ nơi khác đến, làm cho số lao động trong sản xuất công nghiệp tăng nhanh.

* Giáo dục- đào tạo

Tính đến hết tháng 6/2008 toàn huyện có 03 trường mầm non đạt chuẩn quốc

gia, 10 trường mẫu giáo, 14 trường tiểu học, 11 trường trung học cơ sở, 02 trường

trung học phổ thông, 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên, 01 Trung tâm dạy nghề,

01 Trung tâm tổng hợp kỹ thuật hướng nghiệp, 01 trường trung học kỹ thuật công

nghiệp. Hiện 12/12 xã có Trung tâm học tập cộng đồng với tổng số 1.133 giáo viên,

tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn 91%. Tỷ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%, học sinh tốt

nghiệp tiểu học vào lớp 6 là 99,9%, tốt nghiệp THCS 100%, vào lớp 10 đạt trên

85%, cấp THPT có tỷ lệ đậu tú tài là 57,0 %. Huyện tiếp tục duy trì xóa mù chữ,

phổ cập giáo dục tiểu học, hoàn thành phổ cấp giáo dục THCS đạt 100% và phổ cập

bậc trung học đạt 50% .

*.Các yếu tố quan hệ vùng

- Nhơn Trạch có vị trí nằm ở trung tâm vùng KTTĐPN, là địa bàn hấp dẫn, thu

hút nhiều nhất các nhà ĐTNN. Dự báo trong vòng 10 năm tới, vùng KTTĐPN tiếp

tục là địa bàn dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư phát triển kinh tế và phát triển đô

thị, tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể đạt bình quân trên 11- 12%/năm từ nay đến

2015 và trên 10%/năm trong giai đoạn tiếp theo đến 2020.

- Cơ hội đột phá phát triển KT-XH khi tuyến cầu đường Quận 9 (TP.Hồ Chí

Minh) - Nhơn Trạch nối liền nội thành TP.Hồ Chí Minh với Nhơn Trạch được xây

dựng trong giai đoạn sau 2010. Khi đó lợi thế so sánh thu hút đầu tư phát triển kinh

tế nhất là dịch vụ và đô thị của Nhơn Trạch sẽ cao hơn khu vực đô thị trung tâm của

vùng KTTĐPN, dự kiến vốn đầu tư thu hút được sẽ tăng lên gấp khoảng 3 - 4 lần

mức hiện nay, đồng thời Nhơn Trạch sẽ nhanh chóng phát triển thành một đô thị lớn

về dịch vụ và công nghiệp của vùng KTTĐPN với qui mô dân số có thể lên đến 50 -

60 vạn người đến 2020.

- Cơ hội đột phá phát triển khi tuyến đường cao tốc Biên Hoà - Vũng Tàu và

tuyến cao tốc TP.Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây được xây dựng sẽ kết nối

thông suốt Nhơn Trạch với TP.Biên Hoà (trung tâm công nghiệp), TP.Vũng Tàu

(trung tâm du lịch) của vùng KTTĐPN và Nhơn Trạch với Quốc lộ 1A, Quốc lộ 20

đi khu vực Tây Nguyên. Dự kiến lợi thế thu hút đầu tư phát triển kinh tế và đô thị

của Nhơn Trạch sẽ tăng lên gấp 2 - 3 lần mức hiện nay, Nhơn Trạch sẽ nhanh chóng

phát triển thành một đô thị đối trọng với TP.Biên Hoà và TP.Vũng Tàu trong tuyến

hành lang kinh tế Biên Hoà - Vũng Tàu của vùng KTTĐPN, qui mô dân số nội thị

có thể lên đến 40 - 45 vạn người vào 2020.

- Cơ hội đẩy mạnh phát triển cùng với TP.Hồ Chí Minh (cảng Sài Gòn) và Bà

Rịa - Vũng Tàu (cảng Cái Mép) trở thành một trong 3 đầu mối giao thương đường

biển của vùng KTTĐPN khi cảng Gò Dầu được nâng cấp (giai đoạn từ nay đến

2010) và cảng Phước An được xây dựng (giai đoạn 2011- 2015) thành cảng biển có

thể tiếp nhận tàu 30.000 DWT của tỉnh, kết nối với cảng Cái Mép (Bà Rịa -Vũng

Tàu) tạo thành cụm cảng biển cửa ngõ trên sông Thị Vải của vùng KTTĐPN. Dự

kiến khi cảng Gò Dầu (cảng Gò Dầu A và B) và cảng Phước An được nâng cấp, xây

dựng và đi vào hoạt động toàn bộ, khả năng thông quan có thể lên tới trên 10 triệu

tấn/năm, dịch vụ cảng biển và vận chuyển - kho vận trên địa bàn có thể đóng góp 2

- 2,5% tốc độ tăng trưởng kinh tế và 4 - 5% tốc độ tăng trưởng dịch vụ của Nhơn

Trạch trong giai đoạn sau 2010. Nhơn Trạch có thể phát triển thành phố cảng và

thương mại đến 2020.

- Tiềm năng, lợi thế về mở rộng giao lưu, hợp tác trong khu vực tam giác

TP.Hồ Chí Minh - Biên Hoà - Vũng Tàu để phát triển KT-XH và xây dựng kết cấu

hạ tầng, đô thị. Nằm giáp nội thành TP.Hồ Chí Minh - một trung tâm lớn về kinh tế,

công nghiệp, thương mại, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, đầu mối giao thông và giao

lưu quốc tế lớn nhất cả nước, có lực lượng lao động có tay nghề khá dồi dào, có

nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ, nhất là khi tuyến cầu đường

Quận 9, TP.Hồ Chí Minh - Nhơn Trạch được xây dựng, Nhơn Trạch có tiềm năng

lợi thế giao lưu, hợp tác thu hút đầu tư trên nhiều lĩnh vực với thành phố nhất là về

phát triển nguồn nhân lực, dịch vụ đào tạo, chuyển giao công nghệ, tài chính - ngân

hàng, thương mại, du lịch và phát triển đô thị. Tiềm năng về mở rộng giao lưu, hợp

tác với TP.Vũng Tàu để phát triển du lịch, với đô thị công nghiệp Phú Mỹ (cách 10

km) để phát triển công nghiệp. Liên kết với TP.Biên Hoà và huyện Long Thành để

phát triển công nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng và đô thị, hình thành và phát triển

khu vực tam giác trọng điểm kinh tế và đô thị của tỉnh là Biên Hoà - Nhơn Trạch -

Long Thành.

2.2.3. Đánh giá tiềm năng phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn

Trạch tỉnh Đồng Nai

Lîi thÕ vÒ vÞ trÝ ®Þa lý – kinh tÕ: §©y lμ mét lîi thÕ lín cña Nhơn Trạch. N»m

trong vïng KTTPN, gÇn c¸c c«ng tr×nh míi, quan träng nh− c¸c tuyÕn ®−êng cao

tèc, tuyÕn ®−êng s¾t Biªn Hßa - Bμ RÞa, Vòng Tμu, s©n bay quèc tÕ Long Thμnh, cÇu

quận 9 ®i qua Nhơn Trạch, hÖ thèng c¶ng ThÞ V¶i lÇn l−ît ®−îc ®Çu t− vμ ®i vμo sö

dông, hÖ thèng c¬ së h¹ tÇng trªn ®Þa bμn huyện trë nªn hoμn thiÖn vμ g¾n kÕt víi

bªn ngoμi h¬n, sÏ ngμy cμng thuËn lîi cho Nhơn Trạch ph¸t triÓn. GÇn TP. Hå ChÝ

Minh, lμ mét trung t©m kinh tÕ, v¨n ho¸, khoa häc kü thuËt vμ ®μo t¹o lín cña vïng

vμ c¶ n−íc, cã kh¶ n¨ng cung cÊp nguån nh©n lùc, c¸c dÞch vô khoa häc, kü thuËt,

tμi chÝnh ng©n hμng, cung cÊp c¸c lo¹i s¶n phÈm c«ng nghÖ cao, ®ång thêi còng lμ

mét thÞ tr−êng tiªu thô hμng ho¸ lín cña công nghiệp tỉnh Đồng Nai nói chung và

Nhơn Trạch nói riêng. Víi lîi thÕ trªn, sÏ gióp cho Nhơn Trạch ngμy cμng thu hót

nhiÒu dù ¸n ®Çu t− trong vμ ngoμi n−íc, thuËn lîi cho viÖc giao th−¬ng hμng ho¸

trong n−íc vμ thÕ giíi.

TiÒm n¨ng vÒ tμi nguyªn, thiªn nhiªn như: ®Êt, n−íc, rừng… cña Nhơn Trạch

kh«ng chØ thuËn lîi cho ph¸t triÓn c«ng nghiÖp víi quy m« lín mμ cßn cã thÓ ph¸t

triÓn nhiÒu vïng nguyªn liÖu cho c«ng nghiÖp chÕ biÕn phôc vô tiªu dïng vμ xuÊt khÈu.

Ngμnh c«ng nghiÖp Nhơn Trạch ®ang cã mét n¨ng lùc s¶n xuÊt ®¸ng kÓ, cã

quy m« ®øng thø 2 c¶ tỉnh sau TP. Biên Hoà. Sù t¨ng nhanh tû träng c«ng nghiÖp

thÓ hiÖn n¨ng lùc s¶n xuÊt c«ng nghiÖp cña huyện ®· ®−îc t¨ng lªn gÊp nhiÒu lÇn c¶

vÒ quy m« vμ ngμnh nghÒ. Bªn c¹nh ®ã, ®éi ngò c«ng nh©n, l·nh ®¹o qu¶n lý ®−îc

tr−ëng thμnh c¶ vÒ sè l−îng vμ chÊt l−îng sÏ gióp Nhơn Trạch thùc hiÖn nh÷ng môc

tiªu chiÕn l−îc trong giai ®o¹n tíi.

Huyện Nhơn Trạch được quy hoạch là trung tâm công nhiệp, dịch vụ, khoa

học kỹ thuật, du lịch… quan trọng của tỉnh Đồng Nai và vùng KTTĐPN nên đã

được Trung ương và tỉnh ưu tiên đầu tư phát triển nhất là cơ sở hạ tầng. Tính đến

nay nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng từ ngân sách đạt hơn 4 tỉ USD cao nhất tỉnh.

Bªn c¹nh nh÷ng thuËn lîi kÓ trªn, Nhơn Trạch còng ®ang ®øng tr−íc kh«ng Ýt

nh÷ng khã kh¨n:

- Cơ sở hạ tầng đang trong giai đoạn xây dựng, nhiều dự án đầu tư qui mô lớn

và có ý nghĩa quan trọng như cầu Quận 9 bắc qua Nhơn Trạch, khu vực trung tâm

huyện, khu dân cư, trung tâm thương mại… còn chậm triển khai, phần lớn còn nằm

trên giấy.

- Xuất phát từ một huyện thuần nông nên t×nh tr¹ng thiÕu lao ®éng ®−îc ®μo

t¹o, lao ®éng cã tr×nh ®é kü thuËt cao ®Ó tham gia sản xuất công nghiệp nhất là

trong c¸c ĐTNN đầu tư nước ngoài cã c«ng nghÖ tiªn tiÕn.

- Søc c¹nh tranh cña s¶n phÈm ch−a cao, việc ®æi míi c«ng nghÖ còn chậm

làm hạn chế khả năng hội nhập với các địa phương khác trong cả nước và thế giới.

- T×nh h×nh thu hót ĐTNN ngμy cμng gÆp nhiÒu khã kh¨n do ảnh hưởng của

khủng hoảng kinh tế toàn cầu và sự c¹nh tranh gay g¾t cña c¸c ®Þa ph−¬ng khác

trong và tỉnh đặc biệt là với TP. Biên Hoà, Vũng Tàu và TP. Hồ Chí Minh. C¸c dù

¸n n−íc ngoμi ngày càng có quy m« nhá, Ýt cã dù ¸n c«ng nghÖ cao.

- Khu vùc dÞch vô nãi chung cßn kÐm ph¸t triÓn, c¸c dÞch vô phôc vô ph¸t

triÓn c«ng nghiÖp còn nhiều hạn chế.

- Sù liªn kÕt kinh tÕ víi Tp. Hå ChÝ Minh vμ c¸c địa phương khác trong tỉnh

®· ®−îc chó ý, nh−ng ch−a cã sù phèi hîp chÆt chÏ vμ hiÖu qu¶ cao trong mét kh«ng

gian kinh tÕ thèng nhÊt.

2.3.Thực trạng phát triển các KCN

2.3.1.Vị trí, quy mô, cơ sở hạ tầng KCN

2.3.1.1. Vị trí KCN

a. KCN tập trung 2.700 ha: là một trong những KCN chính của tỉnh

Đồng Nai nằm trên địa bàn các xã: Hiệp Phước, Long Tân, Long Thọ, Phước An và

Phú Hội, có vị trí trung tâm đối với các thành phố lớn của vùng KTTĐPN là địa

điểm đầu mối quan trọng cho việc phát triển KT-XH, giao thông của vùng cũng như

việc phát triển trung tâm công nghiệp và thương mại của thành phố mới Nhơn

Trạch. Đây là KCN đa ngành bao gồm nhiều hạng mục, công trình quan trọng

tương hỗ lẫn nhau cùng các dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư hoàn thiện và đầy đủ. KCN

Nhơn Trạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và UBND tỉnh ký Quyết định

thành lập có vị trí thuận lợi để phát triển công nghiệp như sau:

- Nằm ở vị trí trung tâm đối với các TP lớn của vùng KTTĐPN cách trung tâm

TP.Biên Hoà khoảng 40 km; cách trung tâm TP. Hồ Chí Minh 30 km, trong tương

lai khi dự án đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây đi vào hoạt

động thì khoảng cách từ các KCN tới TP. Hồ Chí Minh được rút ngắn chỉ còn

khoảng 24km; cách TP.Vũng Tàu 50 km… là những khoảng cách tương đối lý tưởng

cho các nhà đầu tư.

- Nằm ở vị trí đầu mối giao thông quan trọng của vùng KTTĐPN:

+ Cách Quốc lộ 51 khoảng 5 km nối Biên Hoà – Vũng Tàu, cách tuyến

cao tốc dự kiến TP. Hồ Chí Minh –Vũng Tàu khoảng 7 km. Dự kiến trong tương lai

đường chính TP. Nhơn Trạch nối với TP. Hồ Chí Minh và sân bay quốc tế mới

Long Thành sẽ đi qua các KCN Nhơn Trạch.

+ Cách cảng hiện hữu của TP. Hồ Chi Minh như cảng Sài Gòn, Bến Nghé,

Tân Cảng, Cát Lái khoảng 25 km, cảng Gò Dầu 15km và cảng Phú Mỹ 22km, cách

cảng trung chuyển quốc tế Vũng Tàu 50 km. Nằm trên tuyến đường thuỷ sông Sâu

và sông Nhà Bè là tuyến quan trọng nhất lưu thông các tàu từ biển vào các cảng của

TP. Hồ Chí Minh.

+ Cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất khoảng 50 km, sân bay quốc tế mới

Long Thành 10 km – một khoảng cách rất lý tưởng.

b. KCN Ông Kèo 800 ha : nằm dọc tuyến đê Ông Kèo thuộc địa bàn xã

Phước Khánh. Phía đông KCN tiếp giáp với khu dân cư đô thị mới Nhơn Trạch,

khoảng cách từ trung tâm KCN đến trung tâm đô thị mới Nhơn Trạch 10 km, một

bán kính vẫn còn trong phạm vi liên hệ phục vụ. Đặc biệt phía tây KCN tiếp giáp

với sông Lòng Tàu, sông Đồng Tranh. Đây là tuyến đường thuỷ có tính chất quốc tế

thuận lợi xây dựng cảng. KCN mang tính chất cảng, kho bải container, cơ khí sửa

chữa, đóng tàu, sản xuất container, công nghiệp gắn với đường thuỷ và ít ảnh hưởng

đến môi trường sinh thái.

Nhơn Trạch có vị trí nằm gần trung tâm vùng là TP. Hồ Chí Minh giáp Quận 2,

9, Nhà Bè, Cần Giờ… nên khi các KCN, KCX trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh đã

được lấp đầy chi phí thuê đất trở nên cao, môi trường ô nhiễm nặng thì nhà đầu tư

buộc phải chấp nhận lan toả ra các vị trí lân cận khu vực T.P Hồ Chí Minh. Do đó

các KCN Nhơn Trạch được xem là một điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư.

2.3.1.2. Quy mô KCN

Huyện Nhơn Trạch được quy hoạch là thành phố công nghiệp với KCN tập

trung 2.700 ha (gọi chung là KCN Nhơn Trạch). Ngoài ra còn có KCN Ông Kèo

800 ha và cụm tiểu thủ công nghiệp 100 ha. Hiện có 9 KCN trong đó 3 khu được

Chính phủ phê duyệt và 6 khu được UBND tỉnh Đồng Nai ký quyết định thành lập

với tổng diện tích quy hoạch 3.500 ha. Quy mô diện tích các KCN Nhơn Trạch đa

số thuộc loại lớn :

- Loại quy mô lớn trên 300 ha có 6 khu chiếm 83,47% bao gồm : Nhơn Trạch

1, 2, 3, 5, 6. Đặc biệt KCN Ông Kèo có diện tích lớn nhất tỉnh được quy hoạch chi

tiết là 823 ha.

- Loại quy mô vừa trên 150 ha có 2 khu chiếm 10,19% bao gồm: Dệt may

Nhơn Trạch, Nhơn Trạch 2- Nhơn Phú.

- Loại quy mô nhỏ dưới 150 ha có1 khu chiếm 6,34%: Nhơn Trạch 2- Lộc

Khang chiếm 37,82% tổng diện tích các KCN của tỉnh Đồng Nai.

STT

Khu công nghiệp

Quyết định thành lập

QH chung (ha)

QH chi tiết (ha)

Nhơn Trạch 1

1

430

Nhơn Trạch 2

2

347

Nhơn Trạch 3 (gđ 1)

337

3

Nhơn Trạch 3 (gđ 2)

351

Nhơn Trạch 5

4

302

Nhơn Trạch 6

5

315

2.700

Dệt May Nhơn Trạch

6

184

Nhơn Trạch 2-Nhơn Phú

7

183

70

Nhơn Trạch 2- Lộc Khang

8

9

823

Ông Kèo

800

Bảng 2.2.Quy hoạch diện tích các KCN Nhơn Trạch

Tổng cộng

3.500

3.342

Số 715/TTg ngày 30/08/1997 Số 462/TTg ngày 02/07/1997 Số 464/TTg ngày 02/07/1997 Số 913/QĐCT- UBT ngày 28/03/2003 Số 3578/QĐCT- UBTngày 06/10/2003 Số 2044/QĐCT-UBT ngày 01/06/2005 Số 1860/QĐCT-UBT ngày 26/06/2003 Số 5220/QĐCT-UBT ngày 16/12/2005 Số 2443/QÑUBND ngaøy 03/3/2006 Số 4722/QĐUBND ngaøy 12/3/2008

Nguồn: “Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đến năm 2015 có tính đến năm 2020” - Sở Công Thương Đồng Nai

Với diện tích 3500 ha các KCN Nhơn Trạch dẫn đầu về diện tích các KCN của

4000

3500

3500

3000

2500

2000

2000

tỉnh Đồng Nai.

a h

1408

1337

1500

1000

331

264

177

500

109

54

54

0

T ân P hú

Biên H oà

Lo ng T hành

Lo ng K h ánh

Biểu đồ 2.1. Diện tích KCN của các huyện, thị tỉnh Đồng Nai năm 2000

2.3.1.3. Cơ sở hạ tầng

a. Cơ sở hạ tầng trong hàng rào KCN

- Giao thông: Các KCN gồm Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2, Nhơn Trạch 3

(giai đoạn 1): đã đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đường giao thông. Hầu hết là

đường bêtông nhựa dùng cho xe có tải trọng trên 40 tấn chiều rộng 8m, 12m và 16m

có hè đường cho người đi bộ kết hợp với hệ thống chiếu sáng, cây xanh tạo cảnh

quan sạch đẹp. Các tuyến đường trong nội bộ khu song song và vuông góc với các

trục giao thông chính của thành phố mới như 319, 25B, 25C, 25D…Nhìn chung

đường nội bộ trong các KCN này đã kết nối tốt với giao thông bên ngoài, rất thuận tiện.

Các KCN gồm Nhơn Trạch 3 (giai đoạn 2), Nhơn Trạch 5, Dệt may Nhơn

Trạch, Nhơn Trạch 2 - Lộc Khang, Nhơn Trạch 2- Nhơn Phú …hệ thống đường

giao thông đang hoàn thiện. KCN Nhơn Trạch 6, KCN Ông Kèo đang triển khai xây

dựng đường giao thông nội bộ. Tổng chiều dài đường được xây trong nội bộ các

KCN Nhơn Trạch là 58.804 m, KCN Ông Kèo là 38.240m.

- Hệ thống cấp điện

KCN Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2, Nhơn Trạch 3 Nguồn cung cấp chính từ

trạm biến áp 110/22KV Tuy Hạ công suất 103MVA và hệ thống lưới điện phân

phối 22KV do IDICO-UDICO là chủ đầu tư. Trạm biến áp được cấp điện 110KV

từ 3 nguồn điện từ lưới điện quốc gia gồm 1 nguồn từ trạm biến áp 220/110 KV

Long Bình, 1 nguồn từ Nhà máy Điện Phú Mỹ và 1 nguồn từ Nhà máy Thủy điện

Hàm Thuận - Đa Mi. Do vậy việc cung cấp điện ổn định, an toàn, thường xuyên

24/24h cho các nhà đầu tư trong các KCN.

- Các KCN gồm Nhơn Trạch 5, KCN dệt may Nhơn Trạch: điện được cung

cấp từ lưới điện quốc gia qua trạm biến áp 40 MVA.

Từ giữa tháng 5/2008 đến nay, tình hình vận hành nguồn điện và hệ thống lưới

điện quốc gia gặp nhiều khó khăn nên hệ thống điện quốc gia trên địa bàn liên tục

xảy ra tình trạng thiếu công suất vào giờ cao điểm.Tình trạng cúp điện vào giờ cao

điểm gây trở ngại cho sản xuất của các KCN.

* Hệ thống cấp nước

Nhu cầu dùng nước của các KCN rất lớn khoảng 200.000 m3/n:ày đêm,

nguồn nước cung cấp cho các nhà đầu tư từ nhiều nguồn đảm bảo cung cấp nước

liên tục 24/24 giờ tới hàng rào KCN.

- Nhà máy nước Thiện Tân 2 sử dụng nước sông Đồng Nai thông qua trạm tăng áp Nhơn Trạch công suất 200.000 m3/ngày đêm; tương lai sẽ nâng công suất lên khoảng 300.000 - 350.000 m3 /ngày đêm.

- Nhà máy nước ngầm Tuy Hạ của khu công nghiệp Nhơn Trạch I công suất 10.000 m3 /ngày đêm do Công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị (UDICO) xây

dựng.

Toàn bộ các KCN Nhơn Trạch sử dụng nước từ hai nguồn cung cấp trên, riêng

KCN Ông Kèo sử dụng nước ngầm và nước mặt khai thác tại chỗ được xây dựng

cục bộ tại từng nhà máy, nước thô sử dụng chưa qua xử lý.

* Thoát nước thải và xử lý nước thải

Các KCN gồm KCN Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2, Nhơn Trạch 3, Dệt may

Nhơn Trạch đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng các thông số kỹ thuật

đều chưa đạt tiêu chuẩn quy định như màu sắc, COD, BOD, chất rắn lơ lửng, dầu

mỡ khoáng, chì, coliform... vượt tiêu chuẩn cho phép.

KCN Nhơn Trạch 1: có nhà máy xử lý nước thải chung cho toàn KCN với

công suất 4.000 m3/ ngày đêm theo tiêu chuẩn TCVN 5945-1995. Hệ thống xử lý

nước thải của KCN Nhơn Trạch I đang trong giai đoạn hoạt động thử nghiệm từ tháng 10/2005, mới chỉ thu gom được 1.500m3/ngày đêm, còn 2.500m3 vẫn thải trực

tiếp vào hệ thống thoát chung ra sông Thị Vải do vẫn còn một số nhà máy chưa xây

dựng 2 hệ thống nước thải, nước mưa riêng biệt, cho nên chưa đấu nối vào hệ thống

thóat nước của KCN. Đối với hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN Nhơn

Trạch 1, tuy hoạt động ổn định, nhưng qua kiểm tra cho thấy nước thải chưa đạt tiêu

chuẩn môi trường

KCN Nhơn Trạch 2: đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung công suất 5.000 m3/ngày đêm theo tiêu chuẩn TCVN 5945-1995, đang chuẩn bị đấu nối

nước thải của các DN trong KCN vào nhà máy xử lý nước thải tập trung để chạy

thử. Hiện trong KCN Nhơn Trạch 2 chỉ có 1/3 số DN có hệ thống xử lý nước thải

cục bộ, còn lại 2/3 số DN xử lý bằng bể tự hoại, chỉ có ½ số DN đồng ý đấu nối

vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN, do vậy nhà máy xử lý nước thải

tập trung của KCN Nhơn Trạch 2 chưa đủ lượng nước để vận hành. Điều đáng lưu ý

là tại KCN Nhơn Trạch 2 có nhiều DN sản xuất thép, xi mạ, dệt nhuộm nhưng vẫn

chưa có hệ thống xử lý nước thải cục bộ mà chỉ xử lý bằng bể tự hoại.

KCN Nhơn Trạch 3: Hiện có ½ số DN đầu tư hệ thống xử lý nước thải cục bộ

và đã đấu nối hệ thống thoát nước nội bộ vào hệ thống thu gom chung của KCN đưa

về xử lý tại nhà máy xử lý nước thải của KCN Nhơn Trạch 3. KCN Nhơn Trạch 3

đang làm các thủ tục xin cấp phép cho nhà máy xử lý nước thải đi vào hoạt động chính thức với công suất thiết kế xử lý được 2.000m3/ngày đêm theo tiêu chuẩn

TCVN 5945-1995.

KCN Dệt may Nhơn Trạch : do công ty Cổ phần đầu tư Vinatex - Tân Tạo

đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung đã đạt 40% giá trị khối lượng

công trình. Hiện đã thi công xong hệ thống đường ống thu gom nước thải. Nhà máy xử lý nước thải có công suất thiết kế 6.000 m3/ngày đêm theo tiêu chuẩn TCVN

5945-1995, sẽ khởi công vào ngày 23/2/2009, dự kiến hoàn thành vào 23/12/2009

và đưa vào sử dụng..

Các KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung: Nhơn Trạch 2 - Lộc

Khang, Nhơn Trạch 2 - Nhơn Phú, Nhơn Trạch 5, Nhơn Trạch 6, Ông Kèo.

Như vậy trong 9 KCN mới chỉ có 4 KCN đã đầu tư xây dựng nhà máy xử lý

nước thải tập trung, trong đó có 03 khu đi vào vận hành. Điều đáng quan tâm hiện

nay là có một số KCN chưa có điểm tiếp nhận nguồn nước thải, đó là KCN Nhơn

Trạch 5, Nhơn Trạch 2- Lộc Khang, Nhơn Trạch 2 - Nhơn Phú, Nhơn Trạch 6, KCN

Ông Kèo. Đáng lo ngại là các KCN đã thu hút nhiều nhà máy đi vào hoạt động

nhưng việc xây dựng nhà máy xử lý nước thải vẫn còn nằm trên giấy. Nhiều DN

trong KCN chưa tự giác thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường, chỉ thực hiện

chống chế khi có các cơ quan chuyên ngành thanh tra, kiểm tra. Đây là tình trạng

chung của các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, vì vậy ngày 17- 07-2008 Ban Quản

lý các KCN Đồng Nai đã có văn bản số 702/KCNĐN- QHMT gửi các Công ty kinh

doanh hạ tầng KCN thông báo trong năm 2009 Ban quản lý các KCN sẽ không xem

xét cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án đầu tư vào các KCN chưa có hệ

thống xử lý nước thải tập trung.

* Thông tin liên lạc

Hệ thống thông tin liên lạc cho các KCN Nhơn Trạch là hệ thống viễn thông

hoàn chỉnh được ghép nối vào mạng viễn thông của bưu điện tỉnh Đồng Nai, có khả

năng kết nối đồng bộ với mạng viễn thông quốc gia. Hệ thống công nghệ thông tin

hiện đại đã đáp ứng nhu cầu viễn thông với nhiều loại hình được cung cấp từ mạng

lưới của tỉnh được kéo đường dây đến tận KCN. Ngoài mạng lưới bưu điện huyện,

một số KCN như Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2, Nhơn Trạch 3 đã chủ động liên kết

với các tổ chức, công ty bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin để phục vụ

các nhà đầu tư. KCN Nhơn Trạch 1 có hệ thống thông tin liên lạc đầy đủ đảm bảo liên

lạc trong nước và quốc tế dễ dàng .

* Hệ thống cây xanh

Thực trạng hệ thống cây xanh trong các KCN trong thời gian qua chưa được

các KCN quan tâm đúng mức ngoài KCN Nhơn Trạch 1 đã đạt được 100% diện tích

cây xanh theo qui hoạch. KCN Nhơn Trạch 2 đạt được tỷ lệ 60%, các KCN còn lại

chưa thực hiện được.

* Đánh giá chung về cơ sở hạ tầng trong KCN

Việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật các KCN Nhơn Trạch không đồng đều. Các

KCN đã hoàn thành các hạng mục đầu tư theo Quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt

như KCN Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2, Nhơn Trạch 3 (giai đoạn 1). Hệ thống hạ

tầng của các KCN trên bao gồm cấp điện, cấp nước, thoát nước mưa, nhà máy xử lý

nước thải, cây xanh cho cảnh quan KCN, đường giao thông …đến tận chân hàng

rào cho nhà đầu tư. Các tiện ích hạ tầng khác như khu trung tâm dịch vụ… đang

được triển khai và hoàn thiện nhằm xây dựng KCN đồng bộ, khang trang, sạch đẹp

trong khu vực. Các KCN Nhơn Trạch 3 (giai đoạn 2), Nhơn Trạch 5, Dệt May

Nhơn Trạch, Nhơn Trạch 2-Lộc Khang, Nhơn Trạch 2-Nhơn Phú đang tích cực

hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật của KCN để đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư. Một số

KCN như Ông Kèo, Nhơn Trạch 6 do thời gian thành lập chưa lâu hiện mới đang

triển khai xây dựng các hạng mục thiết yếu như đền bù, san lấp mặt bằng, đường

giao thông nội khu, hệ thống điện, nước… Nhìn chung cơ sở hạ tầng trong hàng

rào các KCN Nhơn Trạch cơ bản đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư nhất là

hệ thống đường giao thông trong nội bộ KCN khá khang trang và thông thoáng.

b. Cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào KCN

Việc xây dựng các công trình kỹ thuật - xã hội ngoài hàng rào KCN vẫn chưa

được thực hiện đồng bộ để kết nối với các hạng mục bên trong các KCN. Việc xây

dựng các hạng mục ngoài hàng rào KCN như giao thông, thoát nước, trung tâm

thương mại, dịch vụ vui chơi giải trí cho công nhân… chưa theo kịp tiến độ xây

dựng các công trình bên trong KCN ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư của các DN

trong KCN.

* Giao thông đường bộ

Các tuyến giao thông quan trọng hiện hữu nối các KCN với các địa phương

lân cận gồm:

- Quốc lộ 51: Tuyến Quốc lộ 51 nối Quốc lộ 1 tại Biên Hoà đi về phía nam

xuyên suốt huyện Long Thành, qua Bà Rịa và kết thúc tại Vũng Tàu. Đây là tuyến

đường quan trọng góp phần đáng kể trong nền kinh tế của Nhơn Trạch. Tuyến quốc

lộ 51 cách KCN Nhơn Trạch 5 km là tuyến duy nhất nối TP.Hồ Chí Minh - T.P

Biên Hoà - TP.Vũng Tàu

- Trục lộ 769 : Là trục đường 25A cũ, quanh co liên tục, có chiều dài khoảng

33 km, bắt đầu từ bến phà Cát Lái, xã Phú Hữu qua địa bàn các xã như Đại Phước,

Phú Đông, Phú Thạnh, Long Tân, Phú Hội, Phước Thiền và cắt Quốc lộ 51 tại ngã

ba Cầu Xéo – huyện Long Thành. Con đường này giúp rút ngắn khoảng cách từ

TP.Hồ Chí Minh đi Vũng Tàu vài chục km. Sau khi có quyết định những loại xe cỡ

nhỏ phải đi qua đường phà Cát Lái để tránh quá tải cho cầu Đồng Nai thì con đường

này đã trở nên quá tải.

- Hương lộ 19 có chiều dài khoảng trên 33 km, đi qua 07 xã, gồm: Phước

Thiền, Hiệp Phước, Long Thọ, Phước An, Vĩnh Thanh, Phú Đông và Đại Phước.

Tuyến đường này được trải nhựa từ năm 2004 và là cầu nối quan trọng liên thông

giữa các xã trên địa bàn huyện Nhơn Trạch – Đồng Nai.

- Đường 25B dài 22 km được xây dựng năm 2003 quy hoạch lộ giới 80 m là

một trong những tuyến đường chính của thành phố mới, nối liền trung tâm huyện và

các KCN Nhơn Trạch tập trung với quốc lộ 51.

Sự phát triển quá nhanh của các KCN khiến cho các con đường không thể đáp

ứng tải trọng và mật độ phương tiện giao thông vì thế nhiều con đường đã xuống

cấp nghiêm trọng như đuờng 769, đoạn qua địa bàn xã Phú Hữu, Đại Phước, Phú

Thạnh, hay bị quá tải nhất là giờ cao điểm đường hương lộ 19, đường 25B. Hiện

nay để nối liền các KCN Nhơn Trạch với trung tâm TP. Hồ Chí Minh phải theo

quốc lộ 51 và quốc lộ 1A dài hơn 80km.

* Giao thông đường thuỷ

Cảng hiện hữu gồm có:

- Cảng Cát Lái: Tại khu này có độ sâu 12-14m bảo đảm cho tàu 5.000 tấn.

- Cảng Thành Tuy Hạ: độ sâu của sông 4-7m đảm bảo cho tàu 1-2.000 tấn.

- Cảng Gò Dầu A trên sông Thị Vải: cách quốc lộ 51, phía bên phải hướng từ

Biên Hòa đi Vũng Tàu 2 km. Hiện tại, cỡ tàu lớn nhất tiếp nhận được khoảng 2.000

tấn; tương lai sau khi nạo vét luồng là 10.000 tấn

- Cảng Gò Dầu B trên sông Thị Vải: cách quốc lộ 51, phía bên phải hướng từ

Biên Hòa đi Vũng Tàu 2,5 km; đã đưa vào khai thác và sẽ nâng cấp lên đạt công

suất thiết kế 10 triệu tấn/năm có khả năng tiếp nhận tàu 15.000 tấn

Nhìn chung giao thông đường thuỷ thuận lợi, hệ thống cảng đáp ứng nhu cầu

phát triển của các KCN.

* Hệ thống thoát nước

Nan giải nhất ở Nhơn Trạch hiện nay là vấn đề thoát nước. Nhiều KCN và khu

dân cư hiện chưa có hệ thống thoát nước.Theo báo cáo của UBND huyện Nhơn

Trạch, quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước và xử lý nước thải của đô thị Nhơn

Trạch hiện đang chờ được phê duyệt, riêng báo cáo đầu tư xây dựng công trình vẫn

đang trong giai đoạn... tiến hành lập cho toàn hệ thống để kêu gọi vốn đầu tư ODA.

Để giải quyết vấn đề thoát nước thải, Nhơn Trạch đang triển khai 4 dự án, đó là dự

án tuyến thoát nước dải cây xanh ở KCN Nhơn Trạch 1, dự án thoát nước đường

25C, dự án nạo vét tạm kênh thoát nước cuối đường số 2 và dự án tuyến thoát nước

đường số 2 thuộc KCN Nhơn Trạch 3 từ trung tâm huyện đến hương lộ 19. Nhưng

đến nay, việc triển khai các dự án này đang gặp khó khăn do tình trạng nước thải

của một số KCN có hệ thống đấu nối với đường thoát nước ra tới rạch Bà Ký gây ô

nhiễm môi trường nặng nề cho khu vực này.

* Dịch vụ thương mại, du lịch, giải trí

Đã gần 15 năm kể từ khi Chính phủ có quyết định phê duyệt quy hoạch Nhơn

Trạch là đô thị công nghiệp mới nhưng đến nay, có thể nói Nhơn Trạch vẫn chưa ra

dáng của một đô thị thực sự. Nhơn Trạch là địa phương duy nhất của tỉnh Đồng Nai

không có thị trấn làm trung tâm, không có chợ huyện, chưa có siêu thị phục vụ nhu

cầu mua sắm của nhân dân và công nhân nói riêng, thiếu hầu hết các nơi vui chơi

giải trí công cộng: công viên, sân thể thao, nhà hát, rạp chiếu phim…Hoạt động

dịch vụ trên địa bàn huyện chủ yếu do các hộ kinh doanh cá thể đảm nhận mang

tính chất nhỏ lẻ và tự phát.

* Nhà ở cho công nhân

Năm 2008, tổng số lao động ở các KCN Nhơn Trạch 46.381 người. Dự báo số

lao động đến năm 2020 là 250.000 người trong đó 70% là lao động nhập cư nên

nhu cầu có chổ ở để sinh sống và làm việc của họ hiện nay là rất lớn nhưng khả

năng đáp ứng của địa phương thì rất hạn chế. Thực trạng này cho thấy nhà ở cho

công nhân các KCN đang là vấn đề bức xúc. Đây cũng là tình hình chung của các

địa phương tập trung nhiều KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Hầu hết công nhân lao

động ngoại tỉnh không có chỗ ở ổn định, phải thuê nhà trọ mỗi tháng mỗi người chi

từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng để trả tiền thuê nhà và điện, nước. Bình quân 2- 3 lao động thuê chung một phòng cấp 4 khoảng 10m2. Có thể nói, sự phát triển cơ

sở hạ tầng, nhà ở, thiết chế văn hóa không theo kịp tốc độ phát triển nhanh chóng

của quá trình đầu tư, phát triển KCN đã khiến hàng nghìn công nhân lao động phải

sống trong các khu nhà trọ tạm bợ.

* Đánh giá chung về cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào KCN

Thực tế các KCN luôn xây dựng phát triển trước và việc xây dựng các công

trình ngoài hàng rào phục vụ cho các KCN chưa đáp ứng được nhu cầu cũng như

không theo kịp tốc độ phát triển của các KCN. Hệ thống tiếp nhận nước mưa, nước

thải từ các KCN ra các lưu vực đến nay vẫn chưa được triển khai thực hiện, làm ảnh

hưởng nhiều đến việc xây dựng cũng như đấu nối hạ tầng hoàn chỉnh của các KCN.

Phần lớn những hạng mục đầu tư ngoài hàng rào đều yêu cầu vốn lớn, sử dụng

nguồn ngân sách và liên quan đến đền bù giải tỏa, thủ tục đầu tư theo qui trình do

đó những vấn đề trên sẽ không thể giải quyết sớm. Hệ thống dịch vụ chưa đáp ứng

được nhu cầu nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động như nhà ở,

nơi mua sắm, vui chơi giải trí... Nhìn chung các KCN đang hoạt động trong tình

trạng các hạ tầng thiết yếu đáp ứng ở mức thấp, các công trình phúc lợi xã hội phục

vụ cho lực lượng lao động trong KCN còn rất thiếu.

2.3.2. Hiệu quả hoạt động của các KCN Nhơn Trạch giai đoạn 2001-2008

2.3.2.1. Thu hút vốn đầu tư

a.Vốn đầu tư

Tính đến giữa tháng 12/2008 trên địa bàn huyện Nhơn Trạch có 288 dự án đầu

tư với tổng số vốn đăng ký là 4,914 tỉ USD chiếm 38,03% tổng số vốn đầu tư vào

các KCN của tỉnh Đồng Nai, trong đó vốn ĐTNN có 212 dự án chiếm 4620,2 triệu

USD và 76 dự án trong nước chiếm 293,8 triệu USD. Tổng số vốn đầu tư vào các

KCN Đồng Nai ngày càng tăng trong đó các KCN Nhơn Trạch giữ vị trí dẫn đầu.

Trong giai đoạn 2001-2008 trung bình mỗi năm các KCN Nhơn Trạch thu hút

khoảng 38,59 % số vốn đầu tư vào các KCN Đồng Nai.

Bảng 2.3: Vốn đầu tư vào các KCN Đồng Nai giai đoạn 2001-2008

KCN Nhơn Trạch KCN Đồng Nai Năm

Vốn (triệu USD) Dự án Vốn (triệu USD) Dự án 342 364 505 629 717 840 893 1076 3630 4969 5910 6644 7225 8633 9347 12920 1696 1854 2155 2401 2832 2980 3749 4914 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008

45

40

38.22

35

31.07

30

29.37

25.86

25.81

25

45 79 106 143 213 234 266 288 Nguồn: Tổng hợp vốn và dự án trong 29KCN - Thống kê đến tháng 12/2008, Ban Quản lý các KCN Đồng Nai

%

20

19.49

17.95

16.24

15

12.42 11.42

10

9.32

8.74

8.23

5.23

5

0

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

Nhơn Trạch

Đồng Nai

Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng vốn đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Tốc độ thu hút vốn đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch ngày càng tăng nhưng

chậm hơn so với tốc độ tăng của tỉnh. Tốc độ thu hút vốn đầu tư trung bình của các

KCN Nhơn Trạch giai đoạn 2001-2008 là 14,63%/năm so với các KCN Đồng Nai

cùng thời kỳ là 17,79%/năm.

- Vốn đầu tư bình quân của một dự án

Bảng 2.4: Vốn đầu tư bình quân một dự án của các KCN Nhơn Trạch so

với KCN Đồng Nai giai đoạn 2001-2008

ĐVT: Triệu USD/Dự án

KCN Nhơn Trạch Đồng Nai 2001 37.69 15 2002 23.46 12.9 2003 20.33 11.7 2004 16.79 10.56 2005 13.3 10.08 2006 12.74 10.28 2007 13.00 10.47 2008 17.06 12

Nguồn: Vốn đầu tư tính trên dự án trong 29 KCN - Thống kê đến tháng 12/2008,

Ban Quản lý các KCN Đồng Nai

Giai đoạn 2001-2008. vốn đầu tư bình quân của một dự án vào các KCN Nhơn

Trạch có quy mô đạt 19,30 triệu USD cao gấp 1,66 lần của tỉnh (11,62 triệu

USD/dự án). Quy mô dự án bình quân giai đoạn 2001-2008 luôn vượt 10 triệu

USD/dự án là ngưỡng của dự án có quy mô lớn, có những năm vượt trên 20 triệu

USD/dự án như năm 2001:đạt 37,688 triệu USD, năm 2002 đạt 23 triệu USD. Tuy

nhiên quy mô dự án đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch giảm dần nguyên nhân do

ngày càng có nhiều DN vừa và nhỏ đầu tư. Từ 2006 -2008 quy mô dự án có tăng lên

do tác động bởi Việt Nam điều chỉnh chính sách gia tăng mức độ cam kết, hội nhập

sâu rộng vào kinh tế thế giới và chủ trương của tỉnh trong việc thu hút dự án có

công nghệ kỹ thuật cao.

Vốn đầu tư bình quân một dự án của một số KCN Nhơn Trạch cao hơn nhiều

so với các KCN khác của tỉnh, trong đó KCN Nhơn Trạch 3 đạt số vốn đầu tư cao nhất.

Bảng 2.5 :Vốn đầu tư trung bình một dự án trong các KCN Đồng Nai năm 2008

FDI Trong nước Vốn bình Khu công STT quân (Triệu Vốn Vốn Dự án Dự nghiệp USD/dự án) (TriệuUSD) (TriệuUSD) án

114 1314 Amata 1 11,53 - -

27 182 Biên Hòa 1 2 4,38 73 256

103 1784 Biên Hòa 2 3 14,71 28 144

66 727 Nhơn Trạch 1 4 9,3 20 72

51 1211 Nhơn Trạch 2 5 19,28 14 42

Nguồn: Thu hút vốn đầu tư của 29KCN - Thống kê năm 2008, Ban Quản lý KCN Đồng Nai

53 1844 Nhơn Trạch 3 6 28,57 15 99

- Vốn đầu tư bình quân trên một ha diện tích đất cho thuê

Bảng 2.6: Vốn đầu tư trên một ha đất cho thuê của các KCN Nhơn Trạch

KCN Nhơn Trạch

KCN Đồng Nai

Năm

Vốn (Triệu USD)

Diện tích thuê(ha)

Triệu USD/ha

Vốn (Triệu USD)

Diện tích thuê (ha)

Triệu USD/ha

2001

1696

201

3630

1082,96

8,43

3,44

2002

1854

413,34

4969

1271,43

4,49

4,02

2003

2155

586,66

5910

1497,47

3,67

4,09

2004

2401

623,64

6644

1941,14

3,27

4,38

2005

2832

746,86

7225

2124,73

3,79

3,4

2006

2980

864,53

8633

2391,50

3,45

3,6

2007

3749

1092,75

9347

3094.14

3,43

3,02

2008

4914

1558,91

12920

3556,66

3,15

3,63

Nguồn: Diện tích cho thuê trong 29 KCN - Thống kê đến tháng12/2008, Ban

Quản lý KCN Đồng Nai

Vốn đầu tư bình quân trên một ha diện tích đất cho thuê của các KCN Nhơn

Trạch bình quân đạt 4,21triệu USD/ha, cao hơn so với các KCN Đồng Nai là 3,7

triệu USD./ha. Tốc độ thu hút vốn đầu tư trên diện tích đất cho thuê ngày càng giảm

điều này cho thấy hiệu quả đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch chưa cao.

Bảng 2.7:Vốn đầu tư bình quân trên một ha diện tích đất cho thuê ở các KCN

Đồng Nai năm 2008

KCN

Diện tích thuê (ha)

Amata Biên Hòa 1 Biên Hòa 2 Nhơn Trạch 1 Nhơn Trạch 2 Nhơn Trạch 3 Long Thành Hố Nai Vốn (Triệu USD) 1314 438 1928 799 1253 1943 622 556 197,46 248 261 274,79 257,24 316,98 210,01 129,29 Vốn bình quân (Triệu USD/ha) 6,65 1,77 7,39 2,9 4,87 6,13 2,96 4,3

Nguồn: Tình hình thực hiện dự án trong 29 KCN - Thống kê năm 2008, Ban Quản lý KCN Đồng Nai

Tính đến cuối năm 2008, vốn đầu tư bình quân trên một ha diện tích đất cho

thuê của một số KCN Nhơn Trạch thấp hơn các KCN của tỉnh như KCN Amata,

KCN Biên Hoà 2. KCN Biên Hoà 2 được đánh giá là KCN hoạt động ổn định và có

hiệu quả nhất của tỉnh Đồng Nai với tỉ lệ lấp đầy 100%. Tuy nhiên so với một số

KCN khác của tỉnh, các KCN Nhơn Trạch vẫn ở vị trí cao hơn.

b. Các hình thức vốn đầu tư

Vốn đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch chủ yếu là vốn ĐTNN (FDI) với tỉ trọng

4620.203

3461.217

2747.643

2366.787

2021.521

2251.932

1574.1071728.31

trên 90 % tổng số vốn đầu tư.

D S U u ệ i r T

121.893 125.69 133.479 149.068 198.213 232.357 287.783 322.797

5000 4500 4000 3500 3000 2500 2000 1500 1000 500 0

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

FDI

Trong nước

Biểu đồ 2.3 : Các hình thức vốn đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch

Dòng vốn ĐTNN vào các KCN Nhơn Trạch tăng nhanh và nhanh hơn vốn

ĐTTN. Tốc độ tăng trung bình của vốn ĐTNN trong các KCN Nhơn Trạch giai

đoạn 2001-2008 là 14,85%/năm, trong khi vốn ĐTTN cùng thời kỳ là 13,38%/năm.

%

40

35

33.48

32.97

30

25

25.97 23.64

20

16.97

17.23 16.09

15

12.17

11.68 11.4

10

9.8

6.2

5.1

5

3.11

0

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

Đầu tư nước ngoài

Đầu tư trong nước

Biểu đồ 2.4 : Tốc độ tăng vốn đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch

c. Các quốc gia đầu tư

Hiện có 17 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch trong

đó Đài Loan, Hàn Quốc, Malaixia, Nhật Bản là các quốc gia có vốn đầu tư nhiều

nhất.

Bảng 2.8: Các quốc gia đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch giai đoạn 2001-2008

ĐVT: Triệu USD

Năm Đài Loan Hàn Quốc Malaysia Tổng số

ViệtNam Nhật Bản

2001 333.575 587 572.713 121.893 56.442 1696

2002 402.785 660.812 575.713 125.69 56.442 1854

2003 652.803 702.365 579.803 133.479 57.142 2155

2004 731.115 721.825 659.303 149.068 57.142 2401

2005 860.953 835.746 665.325 198.213 57.142 2832

2006 894.652 890.326 668.064 232.357 57.142 2980

2007 674.306 287.783 57.142 3749

2008 4914 1135.217 931.572 1473.152 1103.171 681.802 293.797 58.492

Nguồn: Tình hình thực hiện dự án trong 29 KCN phân theo các quốc gia đầu tư -

Thống kê đến tháng 12/2008, Ban Quản lý KCN Đồng Nai

Bảng 2.9 : Vốn đầu tư của một số quốc gia vào các KCN Nhơn Trạch năm 2008

STT Quốc gia KCN Đồng Nai KCN Nhơn Trạch so với KCN Đồng Nai

Vốn Vốn Dự án Dự án

(Triệu Triệu Tỉ Số Tỉ trọng

USD) USD trọng % lượng %

1 Đài Loan 3076.004 261 1473,152 47,89 74 28,35

2 Hàn Quốc 2320.502 196 1103,171 47,54 78 39,80

3 Nhật Bản 1524.990 81 58.492 3,84 05 6,17

4 Malaysia 886.163 29 681.802 76,94 07 24,13

Nguồn: Tình hình thực hiện dự án trong 29 KCN phân theo các quốc gia đầu tư-

Thống kê năm 2008, Ban Quản lý KCN Đồng Nai

- Đài Loan: có số lượng vốn đầu tư nhiều nhất trong các quốc gia đầu tư vào

các KCN Nhơn Trạch. Năm 2008 tổng số vốn đầu tư của Đài Loan đạt 1473,152

triệu USD chiếm 47,89 % tổng số vốn đầu tư vào các KCN Đồng Nai và 31,88%

vào các KCN Nhơn Trạch với 74 dự án, trung bình mỗi dự án đạt 19,90 triệu USD.

Công ty TNHH Hưng nghiệp Formosa 100% vốn Đài Loan vừa điều chỉnh tăng vốn

thêm 160 triệu USD lên gần 1,12 tỷ USD trở thành doanh nghiệp có vốn đầu tư lớn

nhất tại Đồng Nai. Đây là lần tăng vốn thứ 8 của công ty kể từ đi vào hoạt động

năm 2004.Vốn đầu tư của Đài Loan có tốc độ tăng cao nhất trong các quốc gia đầu

- Hàn Quốc: có số lượng vốn đầu tư đứng thứ hai trong các quốc gia đầu tư

tư vào các KCN Nhơn Trạch bình quân đạt 21,64%/năm.

vào các KCN Nhơn Trạch. Năm 2008 tổng số vốn đầu tư của Hàn Quốc đạt

1103,171 triệu USD chiếm 47,54% tổng số vốn đầu tư vào các KCN Đồng Nai và

23,87% vào các KCN Nhơn Trạch với 78 dự án, trung bình mỗi dự án đạt 14,14

triệu USD.Vốn đầu tư của Hàn Quốc vào các KCN Nhơn Trạch có xu hướng tăng

nhanh, tốc độ thu hút vốn đầu tư hàng năm khá cao đạt 8,37%/năm

- Malaysia: Malaysia có số lượng vốn đầu tư đứng thứ ba nhưng có quy mô

dự án lớn nhất trong các quốc gia đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch bình quân mỗi

dự án đạt 97,4 triệu USD. Năm 2008 tổng số vốn đầu tư của Malaysia đạt 681,802

triệu USD chiếm 76,94 % tổng số vốn đầu tư vào các KCN Đồng Nai và 13,87%

vào các KCN Nhơn Trạch với 7 dự án. Vốn đầu tư của Malaysia vào các KCN

Nhơn Trạch có xu hướng giảm, tốc độ thu hút vốn đầu tư bình quân đạt 2,15%/năm.

- Việt Nam: Việt Nam có số lượng vốn đầu tư đứng thứ tư trong các quốc gia

đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch nhưng có tốc độ tăng vốn đầu tư khá nhanh. Tốc

độ tăng trung bình giai đoạn 2001-2008 đạt 12,14%/năm. Năm 2008 tổng số vốn

đầu tư của Việt Nam đạt 293,797 triệu USD chiếm 5,98 % tổng số vốn đầu tư vào

các KCN Nhơn Trạch với 76 dự án, trung bình mỗi dự án đạt 3,87 triệu USD. Vốn

đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung có xu hướng tăng.

- Nhật Bản: Nhật Bản có số lượng vốn đầu tư đứng thứ năm trong các quốc

gia đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch. Năm 2008 tổng số vốn đầu tư của Nhật Bản

đạt 58,492 triệu USD chiếm tổng số vốn đầu tư 3,84% vào các KCN Đồng Nai và

1,27 % vào các KCN Nhơn Trạch với 5 dự án, trung bình mỗi dự án đạt 11,10 triệu

USD.Vốn đầu tư của Nhật Bản tăng rất chậm từ năm 2002 đến năm 2007 đạt

0,2%/năm. Năm 2008 vốn đầu tư tăng nhưng không nhiều đạt 2,36%. Tốc độ tăng

vốn đầu tư của Nhật Bản thấp nhất trong tất cả các quốc gia, bình quân đạt

0,45%/năm. Ở Đồng Nai,vốn đầu tư của Nhật Bản tập trung nhiều nhất vào các

700

573.6

548.1

600

500

400

300

234.6

KCN: Biên Hoà 2, Amata, Loteco

D S U u ệ i r T

200

58.5

100

40.75

7.1

3.2

0

Amata

Loteco

Gò Dầu Hố Nai

Biên Hoà 1

Biên Hoà 2

Nhơn Trạch

Khu công nghiệp

Biểu đồ 2.5: Vốn đầu tư của Nhật Bản vào KCN Đồng Nai năm 2008

- Các nước khác: Bao gồm Singapo, Trung Quốc, Thái Lan, Lào,

Samoa, Brunei, Đan Mạch, Thuỵ Sĩ, Israel, Balan, Hoa Kỳ, Anh, Pháp... Năm 2008

tổng số vốn đầu tư của các quốc gia này đạt 1303,586 triệu USD chiếm 23,13%

tổng số vốn đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch với 108 dự án, quy mô mỗi dự án

trung bình đạt 5,75 triệu USD. đầu

Như vậy nguồn vốn đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch chủ yếu là vốn ĐTNN

chiếm 94,02% tổng số vốn đầu tư với các quốc gia đầu tư đến từ châu Á như Đài

Loan, Hàn Quốc, Malaysia. Các KCN Nhơn Trạch không thu hút được nhiều vốn

đầu tư từ Nhật Bản so với những KCN khác trên địa bàn tỉnh Đồng Nai như Biên

Hoà 2 (15 dự án), Amata (44 dự án), Loteco (14 dự án)…Từ năm 2001 đến nay

Nhật bản vẫn duy trì 5 dự án. Năm 2005 xuất hiện một số nước mới đầu tư vào các

KCN Nhơn Trạch nhưng tổng số vốn còn thấp, qui mô dự án nhỏ. Đối với các DN

trong nước số dự án ngày càng tăng tuy nhiên các dự án có qui mô nhỏ và qui mô

dự án ngày càng giảm. Trừ Nhật Bản và Hoa Kỳ, các quốc gia đầu tư vào các KCN

Nhơn Trạch đều có trình độ phát triển không quá chênh lệch so với Việt Nam do đó

công nghệ được chuyển giao từ những nước này có sự tương xứng nhất định với

23.13%

31.88%

1.27%

5.98%

13.87%

23.87%

Đài Loan Hàn Quốc Malaysia Việt Nam Nhật Bản Các nước khác

trình độ lao động của địa phương.

Biểu đồ 2.6:Vốn đầu tư của các quốc gia vào các KCN Nhơn Trạch năm 2008

d.Ngành đầu tư

Bảng 2.10: Vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp giai đoạn 2001 – 2008

ĐVT: Triệu USD

Các ngành khác Chế biến nông sản Chế biến gỗ Khai thác và sản xuất VLXD Hoá chất

Dệt may, may, giày dép Năm 2001 1292.923 2002 1347.497 2003 1570.242 2004 1613.162 2005 1954.21 2061.72 2006 2159.18 2007 2462.47 2008 20.2 9.92 20.2 70.02 20.3 74.8 20.7 88.28 20.9 97.01 25.3 102.24 361.203 39.54 714.734 56.24 37.465 53.525 62.866 143.37 146.97 153.25 219.23 280.83 5.7 5.7 5.7 7.81 8.76 20.56 36.2 Cơ khí 121.512 121.512 128.212 144.065 204.209 212.184 452.047 693.746 213.98 235.726 292.881 385.722 401.711 416.41 497.24 669.78

Tổng số 1696 1854 2155 2401 2832 2980 3749 4914 Nguồn: Phân ngành vốn đầu tư trong 29 KCN - Thống kê đến tháng 12/2008,

Ban Quản lý KCN Đồng Nai

Theo 9 nhóm các ngành công nghiệp chủ yếu chung của toàn tỉnh như hiện

nay thì đến năm 2008 ngành công nghiệp trên địa bàn các KCN Nhơn Trạch có sự

hiện diện đầy đủ các ngành, trong đó có một số ngành mới hình thành sau năm 2000

như ngành công nghiệp giấy và sản phẩm từ giấy (chủ yếu là sản phẩm từ giấy như

bao bì…); ngành công nghiệp điện - điện tử và ngành công nghiệp sản xuất điện và

phân phối nước. Tình hình thu hút đầu tư các ngành giai đoạn 2001 – 2008 trên địa

bàn các KCN như sau:

- Ngành dệt, may, giày dép: là ngành thu hút vốn đầu tư cao nhất trong số

các ngành nghề thu hút đầu tư tại các KCN Nhơn Trạch. Năm 2005 vốn đầu tư của

của ngành dệt, may và giày dép là 1954,21 triệu USD chiếm 69% trong tổng số vốn

đầu tư. Trong mỗi năm của giai đoạn 2001-2005, vốn đầu tư của tất cả các ngành

còn lại không quá 500 triệu USD trong khi đó vốn đầu tư của ngành dệt sợi luôn cao

hơn 1000 triệu USD. Đặc biệt 3 năm từ 2006-2008, vốn đầu tư của ngành dệt sợi

tăng trên mức 2000 triệu USD.Tăng trưởng vốn đầu tư bình quân thời kỳ 2001 -

2008 là 9,65%/năm, trong đó giai đoạn 2001 - 2004 là 5,75%/năm và giai đoạn

2005 - 2008 tăng lên 13,44%/năm. Năm 2008 vốn đầu tư đạt 2462,47 triệu USD

chiếm 50,11 % tổng số vốn của tất cả các ngành thu hút đầu tư vào các KCN Nhơn

Trạch. Điều này cho thấy ngành dệt, may và giày dép hiện đang đóng một vai trò

quan trọng trong phát triển công nghệp của huyện mà còn quan trọng đối với ngành

dệt, may và giày dép toàn tỉnh.

- Ngành khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng: là ngành có tốc độ tăng

vốn đầu tư cao nhất trong các ngành đầu tư vào KCN với tốc độ tăng bình quân

124,6%/năm, trong đó giai đoạn 2001- 2004 là 157,5%, giai đoạn 2005-2008 giảm

xuống còn 94,12%. Tốc độ tăng cao nhất vào năm 2002 là 705,85% tức là từ 9,92

triệu USD vào năm 2001 tăng lên 70,02 triệu USD vào năm 2002. Số lượng vốn đầu

tư vào ngành khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng tiếp tục tăng từ năm 2003 đến

năm 2005, từ năm 2006 đến 2008 tăng rất nhanh, mỗi năm số lượng vốn vượt trên

100 triệu USD là do trong giai đoạn này nhiều DN đi vào sản xuất ổn định so với

giai đoạn mới đầu tư, xuất phát điểm thấp nên tăng nhanh. Năm 2008 vốn đầu tư đạt

714,734 triệu USD chiếm 14,55% tổng vốn đầu tư của các ngành công nghiệp trong

các KCN

- Ngành công nghiệp cơ khí: đứng thứ 3 sau ngành sau ngành dệt may, giày

dép và ngành khai thác- sản xuất vật liệu xây dựng về thu hút vốn đầu tư. Đây là

ngành có tốc độ tăng vốn khá nhanh đạt 28,72%/năm, giai đoạn 2001-2004 vốn đầu

tư tăng chậm 4,47%/năm nhưng đến giai đoạn 2005-2008 tăng rất nhanh đạt

52,97%/năm, cao nhất vào năm 2007đạt 113,04%. Nguyên nhân tăng nhanh là do

xuất phát điểm thấp, ngoài ra các DN đi vào sản xuất ổn định, phát huy công suất và

nhiều DN đầu tư mới. Năm 2008 vốn đầu tư đạt 693,746 triệu USD chiếm 14,11 %

tổng số vốn đầu tư vào các KCN. Từ năm 2001 đến năm 2008 vốn đầu tư của ngành

tăng 18,5 lần.

- Ngành hoá chất, cao su, plastic: đây là ngành có tốc độ tăng vốn đầu tư cao

đứng thứ hai sau ngành khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng với tốc độ tăng vốn

trung bình đạt 33,28%/năm, trong đó giai đoạn 2001-2004 đạt 47,09%/năm, giai

đoạn 2005-2008 giảm còn 19,48%/năm. Tốc độ vốn đầu tư tăng cao nhất vào năm

2004 là 128,05%, đến năm 2008 giảm còn 28,1%. Nguyên nhân giảm là do việc hạn

chế đầu tư các ngành công nghiệp gây ô nhiễm của UBND tỉnh. Năm 2008 tổng số

vốn đầu tư của ngành công nghiệp hoá chất là 280,83 triệu USD chiếm 5,72 % tổng

số vốn đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch.

- Ngành chế biến nông sản-thực phẩm: Ngành có số lượng vốn đầu tư ít

nhưng tốc độ tăng vốn đầu tư khá nhanh bình quân đạt 22,85%/năm. Trong giai

đoạn 2002-2004 vốn đầu tư của ngành không tăng nhưng đến giai đoạn 2005-2008

tốc độ tăng vốn đầu tư rất nhanh đạt 39,98%/năm, cao nhất vào năm 2007 đạt

56,28%. Nguyên nhân tăng nhanh vốn đầu tư là do đây là ngành mới, điểm xuất

phát thấp, nhiều DN nước ngoài đầu tư. Năm 2008 tổng số vốn đầu tư của ngành

công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm là 36,2 triệu USD chiếm 0,73 % tổng số

vốn đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch.

- Ngành công nghiệp chế biến gỗ: là ngành có tốc độ thu hút vốn đầu tư thấp

hơn so với các ngành công nghiệp khác trong các KCN bình quân đạt 15,27%/năm

Trong giai đoạn 2001-2004 vốn đầu tư của ngành tăng không đáng nhưng đến giai

đoạn 2005-2008 tốc độ tăng vốn đầu tư khá nhanh đạt 29,92%/năm, cao nhất vào

năm 2007 đạt 56,28%. Nguyên nhân tăng nhanh vốn đầu tư là do đây là ngành

ngành mới, nhiều DN nước ngoài đầu tư và thị trường được mở rộng. Năm 2008

tổng số vốn đầu tư của ngành công nghiệp chế biến gỗ là 56,24 triệu USD chiếm

1,14% tổng số vốn đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch.

- Các ngành công nghiệp khác ( giấy và các sản phẩm từ giấy, điện-điện

tử…) tốc độ thu hút vốn đầu tư chậm hơn so với các ngành công nghiệp khác trong

các KCN bình quân đạt 16%/năm,cao nhất vào năm 2004 đạt 31,7%. Trong giai

đoạn 2001-2004 vốn đầu tư của ngành có tốc độ tăng trung bình đạt 16,53%/năm,

giai đoạn 2005-2008 tốc độ tăng vốn đầu tư giảm còn 15,48%/năm. Nguyên nhân

giảm tốc độ tăng vốn đầu tư là do các ngành khác tăng nhanh. Năm 2008 tổng số

vốn đầu tư của ngành công nghiệp khác là 669,78 triệu USD chiếm 13,63 % tổng số

Dệt may

VLXD

11.32%

0.78%

Chế biến gỗ

11.84%

Hoá chất

Cơ khí

6.08%

53.29%

Chế biến nông sản

1.22%

Các ngành khác

15.47%

vốn đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch.

Biểu đồ 2.7: Vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp trong các KCN Nhơn Trạch

Như vậy trong các ngành công nghiệp chủ yếu thì có 4 ngành chiếm tỷ trọng

lớn, gồm: (1) ngành công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng chiếm

15,47%; (2), ngành dệt, may và giày dép chiếm 53,29%, (3) ngành công nghiệp hoá

chất chiếm 6,08%; và (4) ngành công nghiệp cơ khí chiếm 14,11 %. Tỷ trọng vốn

đầu tư của 4 ngành này chiếm tới 88,95% tổng số vốn đầu tư của các KCN, trong

đó riêng ngành dệt, may và giày dép chiếm quá nửa 53,29%. Qua phân tích trên cho

thấy công nghiệp trên địa bàn huyện thời gian qua chủ yếu phát triển mạnh về

ngành dệt may và giày dép (trong đó ngành dệt là chủ yếu) phù hợp với nguồn lực

của địa phương như là lực lượng lao động đông trình độ chưa cao, giá rẽ. Tuy

nhiên, những năm gần đây đã có sự chuyển dịch theo hướng phát triển các ngành

công nghiệp có hàm lượng chất xám, kỹ thuật cao, có giá trị gia tăng cao như ngành

công nghiệp cơ khí, ngành điện - điện tử… Các ngành công nghiệp thu hút nhiều

lao động như dệt, may, giày dép có xu hướng giảm (từ 76,23% năm 2001, giảm

53,29% năm 2008 - giảm khoảng hơn 20%)... Đây là xu hướng chuyển dịch phù

hợp với định hướng phát triển chung của công nghiệp tỉnh Đồng Nai.

e.Vốn đầu tư trên từng địa bàn khu công nghiệp

Bảng 2.11: Vốn đầu tư của từng KCN Nhơn Trạch giai đoạn 2001-2008

Các khu công nghiệp Nhơn Trạch

Năm

1

2

3

5

6

Dệt may

Nhơn Phú

Ông Kèo

2001 370,67

812,61

512,8

Lộc Khang

2002 447,09

852,52

554,52

2003 493,13

879,11

783,2

2004 560,25

904,43

914,16

22,85

2005 650,22

930,93

953,74

23,1

2006 669.34

963.56

1010.42

45.85

2007 723.57

1107.7

1509.14

93

2008 799.24

1253.19

1943.14

364.2

-

65.12

20.3

71

398.2

ĐVT:Triệu USD

Nguồn: Vốn đầu tư trong từng KCN Nhơn Trạch - Thống kê đến tháng 12/2008,

Ban Quản lý KCN Đồng Nai

Vốn đầu tư vào từng KCN không đều, tập trung nhiều nhất vào các KCN

Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2 và Nhơn Trạch 3.

- KCN Nhơn Trạch 1: KCN Nhơn Trạch 1 được thành lập năm 1997, đã đi

vào hoạt động ổn định từ năm 2001. Tính đến năm 2008, tổng vốn đầu tư vào KCN

Nhơn Trạch 1 là 799,4 triệu USD chiếm 16,26% tổng vốn đầu tư vào các KCN

Nhơn Trạch. Tốc độ tăng vốn đầu tư vào KCN Nhơn Trạch 1 trung bình giai đoạn

2001-2008 là 10,27%/năm.

- KCN NhơnTrạch 2: KCN Nhơn Trạch 2 được thành lập vào năm 1997 và

hoạt động ổn định vào năm 2001. Năm 2008 KCN Nhơn Trạch 2 có vốn đầu tư là

1253,19 triệu USD chiếm 25,5% tổng số vốn đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch.

Tốc độ thu hút vốn đầu tư vào KCN Nhơn Trạch 2 trung bình giai đoạn 2001-2008

là 5,7%/năm thấp hơn tốc độ tăng trung bình của KCN Nhơn Trạch 1

(10,27%/năm).

- KCN Nhơn Trạch 3: KCN Nhơn Trạch 3 gồm 2 giai đoạn quy hoạch, giai

đoạn 1 vào năm 1997 và đã phủ kín diện tích cho thuê (năm 2003), giai đoạn 2 vào

năm 2003. Năm 2008 KCN Nhơn Trạch 3 có vốn đầu tư là 1943,14 triệu USD

chiếm 39,54% tổng số vốn đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch. Tốc độ thu hút vốn

đầu tư vào KCN Nhơn Trạch 3 trung bình giai đoạn 2001-2008 là 19,31%/năm cao

nhất so với tốc độ tăng trung bình của KCN Nhơn Trạch 1 và Nhơn Trạch 2.

- Các KCN còn lại do thời gian thành lập gần đây nên vốn đầu tư chưa cao tuy

nhiên đều có xu hướng tăng.

Như vậy trong giai đoạn từ 2001-2008 vốn đầu tư tập trung chủ yếu vào KCN

Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2 và Nhơn Trạch 3. Trong đó KCN Nhơn Trạch 3 có tốc

0.4%

1.4%

Nhơn Trạch 1

Nhơn Trạch 2

8.1%

1.3%

16.3%

7.4%

Nhơn Trạch 3

Nhơn Trạch 5

Dệt may

25.5%

Nhơn Phú

39.5%

Lộc Khang

Ông Kèo

độ thu hút vốn đầu tư cao nhất và liên tiếp dẫn đầu các KCN giai đoạn 2004-2008.

Biểu đồ 2.8: Vốn đầu tư vào từng KCN Nhơn Trạch năm 2008

So với các KCN khác của tỉnh, KCN Nhơn Trạch 3 là KCN có vốn đầu tư cao

2500

1943

1928

2000

1314

1500

1253

799

1000

nhất dẫn đầu các KCN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai:

D S U u ệ i r T

622

556

438

500

0

Hố Nai

Amata Biên Hòa 1

Biên Hòa 2

Nhơn Trạch 1

Nhơn Trạch 2

Nhơn Trạch 3

Long Thành

Khu công nghiệp

Biểu đồ 2.9: So sánh vốn đầu tư một số KCN Đồng Nai năm 2008

2.3.2.2.Tỉ lệ lấp đầy

Bảng 2.12: So sánh tiền thuê đất trong các KCN ở Đồng Nai năm 2008 Tên KCN

Giá thuê đất có hạ tầng (USD/m2/năm) Từ năm thứ 6 5 năm đầu

Diện tích (ha) Giá đất Phí hạ tầng Giá đất Phí hạ tầng

42 USD/m2/ 39 năm

Giá thương lượng Giá thương lượng

0,40 0,80 2,25 1,00 0,05 22USD/50năm 1,00 1,00 1,45 0,09 1,45 0,09 1,45 0,09 1,45 0,09 1,45 0,09 1,45 0,09

361 100 335 365 510 184 227 230 430 350 720 302 184

Amata Loteco Biên Hoà 1 Biên Hoà 2 Long Thành Gò Dầu Sông Mây Hố Nai Nhơn Trạch 1 Nhơn Trạch 2 Nhơn Trạch 3 Nhơn Trạch 5 Dệt may Nhơn Trạch Định Quán 54 0,40 0,80 2,25 0,50 0,05 22USD/50năm 0,75 1,00 1,01 0,09 1,01 0,09 1,01 0,09 1,01 0,09 1,01 0,09 0,09 1,01 31 USD/m2/48 năm Giá thương lượng Giá thương lượng

Nguồn: Ưu đãi đầu tư trong các KCN - Sở Kế hoạch và Đầu tư Đồng Nai

So với nhiều KCN khác trên địa bàn tỉnh như Amata, Long Thành… giá thuê

đất và phí hạ tầng của các KCN Nhơn Trạch có nhiều ưu đãi hơn đã tạo sức hấp dẫn

các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Tính đến cuối năm 2008, diện tích đã được thuê trong các KCN Nhơn Trạch

đạt 1.558,91 ha chiếm 68,20% tổng diện tích đất có thể cho thuê 2.285,65 ha. Tuy

nhiên tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp giữa các KCN không đồng đều. Một số KCN có

tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp 100% như KCN Nhơn Trạch 2, Nhơn Trạch 3 (giai

đoạn 1), Nhơn Trạch 1 đạt 88,28%, trong khi đó một số KCN đã được thành lập khá

lâu nhưng tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp còn thấp như KCN Nhơn Trạch 3 (giai đoạn

2) thành lập năm 2003 nhưng chỉ có 37,85%, KCN Nhơn Trạch 6 đến nay vẫn chưa

thu hút được dự án đầu tư.

Bảng 2.13:Tỉ lệ lấp đầy của từng KCN Nhơn Trạch năm 2008

DT ñaõ cho thueâ STT KCN

DT (ha) Ha %

1 NhơnTraïch 1 430 DT cho thueâ (ha) 311.25 274.79 88.28

2 3

Nhơn Traïch 2 Nhơn Traïch 3 (giai ñoạn 1) Nhơn Traïch 3 (giai ñoạn 2) Nhôn Traïch 5 Deät may Nhơn Trạch Nhôn Traïch 6 Nhơn Trạch 2- Nhôn Phuù Nhơn Trạch 2- Loäc Khang OÂng Keøo 4 5 6 7 8 9

257.24 233.85 227.55 205.00 121.00 220.29 126.31 42.54 502.82 2285.65 257.24 233.85 86.13 159.66 92.03 0.00 4.32 27.00 386.10 1558.91 347 337 351 302 184 315 183 70 823 3396 Toång coäng

100.00 100.00 37.85 77.88 76.06 0.00 3.42 63.47 76.79 68.20 Nguồn: Diện tích cho thuê trong 29 KCN - Thống kê đến tháng 12/2008, Ban

Quản lý KCN Đồng Nai

Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là việc xây dựng hạ

tầng kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư. Ngoài ra, một số KCN mới

được thành lập năm 2006 đang trong giai đoạn xây dựng hạ tầng kỹ thuật nên tỷ lệ

lấp đầy đất công nghiệp còn thấp như Nhơn Trạch 2-Nhơn Phú 3,42%. Riêng KCN

Ông Kèo tuy mới được thành lập tháng 3/2008 nhưng do trước đó đã có nhiều dự án

đầu tư nên tỉ lệ lấp đầy khá cao đạt 76,79%.

Tuy diện tích đất cho thuê đạt cao nhưng nhìn chung các DN thuê đất chưa

khai thác hết diện tích đất đã thuê. Nhiều DN thuê nhưng còn để dự phòng và phân

kỳ đầu tư thành nhiều giai đoạn mở rộng và phát triển sản xuất, nên thực tế diện tích

cho sản xuất công nghiệp đối với các DN đã thuê đất còn nhiều tiềm năng cho phát

triển công nghiệp trong thời gian tới. Do đó, với diện tích đã quy hoạch đủ để Nhơn

Trạch phát triển công nghiệp đến năm 2020.

2.3.2.3.Giá trị sản xuất công nghiệp

Bảng 2.14: Giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2001-2008

ĐVT:Triệu đồng

GTSXCN Nhơn Trạch

GTSXCN Đồng Nai KCN KCN

Năm Toàn tỉnh Toàn huyện

Tỉ trọng so tỉnh Tỉ trọng so huyện Tốc độ tăng (%) Tốc độ tăng (%)

2001 20643752 97.65 9.36 1401325 1368325 14619490

2002 24027010 21.10 28.88 93.10 9.96 1894079 1763479 17704782

2003 28723190 23.39 30.47 97.64 10.53 2356440 2300740 21845453

2004 35101788 26.20 24.66 97.75 10.40 2943000 2868000 27568796

2005 42476435 23.76 24.83 97.24 10.49 3681500 3580000 34119788

2006 51905400 24.69 23.11 97.71 10.36 4510324 4407213 42542262

2007 63538530 07.81 22.76 96.92 11.80 5582352 5410324 45865530

2008 72424704 13.02 26.66 51835612 6963411 6852673

98.41 13.22 Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch năm

2015 có tính đến năm 2020 - Sở Công Thương Đồng Nai

Năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) trong các KCN Nhơn

Trạch (giá so sánh 1994) đạt 6,852673 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 98,41% GTSXCN

trên địa bàn huyện và chiếm 13,22% GTSXCN của các KCN Đồng Nai. Nhìn

chung tỉ trọng GTSXCN trong các KCN Nhơn Trạch còn khiêm tốn trong

GTSXCN của các KCN tỉnh Đồng Nai nhưng có xu hướng tăng dần. Năm 2001

chiếm 9,36% đến năm 2008 tăng lên 13,2%.

Tốc độ sản xuất công nghiệp trong các KCN Nhơn Trạch có xu hướng tăng

trong những năm gần đây nhanh hơn so với sản xuất công nghiệp của các KCN

Đồng Nai. Tốc độ tăng trung bình của công nghiệp trong các KCN Nhơn Trạch giai

đoạn 2001-2008 đạt 22,67%/năm, trong khi của KCN Đồng Nai trong cùng thời kỳ

là 17,5%/năm.

40

24.69

23.76

26.2

30

28.88

26.66

30.47 23.39

22.76

21.1

%

20

24.83 23.11

24.66

13.02

10

7.81

0

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

Năm

Đồng Nai

Nhơn Trạch

Biểu đồ 2.10: Tốc độ sản xuất công nghiệp của các KCN

Với tốc độ tăng nhanh hơn, rõ ràng các KCN Nhơn Trạch đã tạo được bước

đột phá trong phát triển công nghiệp của huyện Nhơn Trạch nói riêng và của tỉnh

Đồng Nai nói chung. Giá trị công nghiệp của các KCN huyện Nhơn Trạch trong

ngành công nghiệp huyện chiếm tỷ trọng áp đảo trên 90%. Điều này cho thấy vai trò

100%

97.75

98.41

97.71

97.64

97.24

97.65

96.92

80%

93.1

60%

40%

20%

0%

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

Trong KCN Ngoài KCN

quan trọng của các KCN trong phát triển công nghiệp của huyện Nhơn Trạch.

Biểu đồ 2.11: Tỉ trọng sản xuất công nghiệp của các KCN Nhơn Trạch

2.3.2.4. Doanh thu và xuất khẩu

Bảng 2.15. Tốc độ tăng doanh thu của KCN Nhơn Trạch và KCN Đồng Nai

ĐVT: Triệu USD

2001 2002 1025 1674 2003 2215 2005 4212

2004 3621 63.32 32.32 63.48 16.32 19.04

2008 2006 2007 5014 6102 6943.3 13.79 21.7 180.6 203.7 302.6 407.8 507.2 743.5 936.4 1206.4 28.83 12.79 48.55 34.77 24.37 46.59 25.94

Doanh thu KCN Đồng Nai Tốc độ tăng (%) KCN Nhơn Trạch Tốc độ tăng (%) Nguồn:Thông tin tổng hợp từ 29 KCN- Thống kê đến tháng 12/2008, Ban Quản lý

các KCN Đồng Nai

Doanh thu của các KCN Nhơn Trạch tăng không đều bình quân giai đoạn

2001-2008 đạt 27,73%/năm thấp hơn của tỉnh (28,75%/năm), trong đó năm 2003

tốc độ tăng doanh thu đạt mức cao nhất 48,55%, thấp nhất vào năm 2001 chỉ đạt

12,79%. Năm 2008 toàn tỉnh có tốc độ tăng 13,79% nhưng các KCN Nhơn Trạch

tăng 28,83%.

Doanh thu của các KCN Nhơn Trạch chiếm tỉ trọng thấp trong doanh thu của

các KCN Đồng Nai. Từ năm 2002 đến năm 2008 tỉ lệ đóng góp doanh thu cho tỉnh

của các KCN Nhơn Trạch không vượt quá 20%/năm, bình quân giai đoạn 2001-

17.69

17.38

14.83

13.66

14.35

12.17

12.04

11.26

100% 90% 80% 70% 60% 50% 40% 30% 20% 10% 0%

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

KCN Nhơn Trạch KCN Đồng Nai

2008 đạt 14,17%/năm.

Biểu đồ 2.12: Doanh thu của các KCN Nhơn Trạch trong KCN Đồng Nai

Điều này cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DN trong KCN chưa

cao do tập trung nhiều DN dệt may và giày dép có doanh thu thấp, cơ sở hạ tầng của

đa số KCN chưa hoàn thiện nên phí thu được từ cung cấp dịch vụ trong hàng rào

KCN tương đối thấp. Mặt khác nhiều dự án đăng ký đầu tư nhưng chậm triển khai,

nhất là các dự án ĐTNN làm ảnh hưởng đến doanh thu chung của các KCN. Mặc dù

còn có những khó khăn nhất định từ tình hình sản xuất trong nước, từ những bất ổn

của thị trường thế giới, từ các đối tác xuất khẩu đặc biệt là các rào cản thương mại

của các thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ...nhưng tình hình xuất nhập khẩu của các

DN- KCN không ngừng tăng tuy luôn ở tình trạng nhập siêu.

Bảng 2.16 : Xuất nhập - khẩu của các doanh nghiệp KCN Nhơn Trạch

ĐVT: Triệu USD

2001 2002 2003 2004 2005 2006 89.8

2007 2008 97.5 148.7 223.4 253.4 271.3 335.5 684.0 Xuất khẩu Nhập khẩu 142.5 169.4 212.3 295.1 340.5 511.2 796.6 992.2 Nguồn: Thông tin tổng hợp từ 29 KCN - Thống kê đến tháng 12/2008, Ban Quản lý

các KCN Đồng Nai

Kim ngạch xuất khẩu tăng liên tiếp từ 89,8 triệu USD năm 2001 lên 684 triệu

USD năm 2008 tức tăng 7,6 lần so với năm 2001. Bên cạnh đó kim ngạch nhập

khẩu cũng tăng lên tương ứng: năm 2001 đạt 142,5 triệu USD lên 992.2 triệu USD

năm 2008 tức tăng 6,97 lần so với năm 2001. Tỉ trọng xuất khẩu của các KCN trong

giá trị xuất khẩu công nghiệp của huyện luôn chiếm tỉ trọng áp đảo trên 99%. Năm

2001, các KCN chiếm 99,56% giá trị xuất khẩu của toàn huyện, đến năm 2008 tỉ lệ

này là 99,69%, trong đó hơn 90% giá trị xuất khẩu thuộc về khu vực FDI luôn có

thế mạnh về công nghệ và thị trường. Đây cũng là một trong những vấn đề thể hiện

khả năng vươn tới thị trường xuất khẩu của các DN có vốn trong nước còn nhiều

hạn chế. Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu hiện nay chủ yếu là công nghiệp dệt may, giày

dép chiếm 80,8%; công nghiệp cơ khí 13,4%; công nghiệp chế biến gỗ 2,4%; điện -

điện tử 1,8%; các ngành khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, hoá chất, cao su,

plastic có xuất khẩu nhưng không đáng kể (chiếm dưới 1%). Thị trường xuất khẩu

các sản phẩm của các KCN Nhơn Trạch chủ yếu là các nước châu Á (Nhật Bản,

Hàn Quốc, Singapore...), châu Âu (EU) và đặc biệt là Hoa Kỳ. Nhập khẩu chủ yếu

là nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và gia công hàng xuất khẩu như sợi, hoá chất,…

và máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất.

2.3.2.5.Thu hút lao động

Bảng 2.17: So sánh số lượng lao động trong KCN Nhơn Trạch với KCN

Đồng Nai

2006 38112

2002 18405

2003 26816

2005 36239

2007 2004 2001 11584 43798 32021 76123 110321 152896 190322 226740 265875 294132

2008 46381 320252

KCN Nhơn Trạch Đồng Nai Nguồn: Thông tin tổng hợp từ 29 KCN- Thống kê đến tháng 12/2008, Ban Quản lý

ĐVT: Người

các KCN Đồng Nai

Số lượng lao động trong các KCN Nhơn Trạch ngày càng tăng, trong đó lao

động nhập cư chiếm trên 70% .Nếu tính cả số lao động gián tiếp, tổng số lao động

làm việc trong các KCN Nhơn Trạch có thể lên đến 50 000 người. Trung bình giai

đoạn 2001-2008 cứ mỗi ha đất công nghiệp tạo ra khoảng 46 chỗ làm cho lao động

trực tiếp và 50 lao động gián tiếp

Năng suất lao động trong các KCN huyện Nhơn Trạch năm 2008 là 110,8 triệu

đồng/lao động, cao hơn năng suất lao động toàn ngành công nghiệp tỉnh Đồng Nai

(95,3 triệu đồng/lao động). Trong đó, năng suất lao động của khu vực ĐTNN cao

nhất 114,9 triệu đồng/lao động do có sự đầu tư trình độ khoa học kỹ thuật công

nghệ cao; khu vực Trung ương năng suất lao động thấp nhất 25 triệu đồng/lao động

do có quy mô nhỏ, hiệu quả kinh doanh chưa cao so với vai trò vị trí của DN nhà

nước trong nền kinh tế, tình trạng thiếu vốn, khả năng cạnh tranh còn hạn chế; năng

suất lao động khu vực ngoài quốc doanh là 43 triệu đồng/lao động, năng suất này

phản ánh đúng với trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ thấp, chưa huy động được

nhiều nguồn vốn của khu vực kinh tế này.

Chất lượng lao động tại các KCN Nhơn Trạch nhìn chung còn thấp.Tỷ lệ lao

động qua đào tạo trên tổng lao động đang làm việc trong các KCN Nhơn Trạch là

39,11% trong đó chỉ có 60% lao động qua đào tạo là đáp ứng được yêu cầu nhà

tuyển dụng và các DN đều phải tổ chức đào tạo lại; đây là lực lượng lao động cung

ứng chung cho các DN có yêu cầu trình độ trung bình, do đó chất lượng nguồn cung

lao động thấp cũng làm ảnh hưởng lớn đến định hướng thu hút các ngành công nghệ

cao của huyện. Hiện nay, tại các DN- KCN Nhơn Trạch trình độ của người lao động

2.51%

5.8%

5.35%

4.37%

CĐ-ĐH

32.23%

Trung cấp

60.89%

54.2%

34.65%

Công nhân kĩ thuật

Lao động phổ thông

được phân chia theo tỷ lệ như sau:

KCN Nhơn Trạch. KCN Đồng Nai

Biểu đồ 2.13: Chất lượng lao động của các KCN Nhơn Trạch và KCN

Đồng Nai

Với khoảng 1500 học sinh học lớp 12 tốt nghiệp hàng năm từ 3 trường: THPT

Nhơn Trạch, THPT Phước Thiền, Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Nhơn

Trạch được xem là nguồn cung cấp lao động chính của huyện nhưng cũng chỉ đáp

ứng 1/3 nhu cầu lao động trong các KCN, mỗi năm thiếu khoảng 5.000 lao động.

2.3.3. Tác động của các KCN đến tình hình kinh tế - xã hội, môi trường của địa

phương

2.3.3.1. Tác động tích cực

a.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng công nghiệp hoá

Bảng 2.18: Cơ cấu GDP của huyện Nhơn Trạch theo ngành kinh tế

( % GDP, tính theo giá hiện hành)

2001 2003 2005 2008 Thay đổi sau 12 năm Cơ cấu kinh tế 1995

Tổng số ( %) 100 100 100 100 100

Nông nghiệp 59.00 35,39 28.80 22.00 16.00 - 43.00

Công nghiệp 28.20 41.43 46.50 52.00 54.80 26.60

Dịch vụ 12,80 23,18 24,70 26.00 29,20 6.40

Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đến năm

2015 có tính đến năm 2020 - Sở Công Thương Đồng Nai

Từ một huyện thuần nông, sau hơn 10 năm tái lập (1994-2007), Nhơn Trạch đã

bứt phá đi lên với ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng hơn 50% trong cơ cấu kinh tế.

Hiện nay, công nghiệp là thế mạnh của huyện, là yếu tố quan trọng hàng đầu để góp

phần tăng trưởng GDP:

Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch theo đúng định hướng đề ra, so với năm 1995

đến năm 2008 tỷ trọng ngành công nghiệp từ 28,2% tăng lên 54,8% tức tăng gần 2

lần; tỷ trọng ngành dịch vụ từ 12,8% tăng lên 29,2% và tỷ trọng ngành nông nghiệp

tiếp tục giảm từ 59 % xuống còn 16%. Cơ cấu kinh tế trên cho thấy nền kinh tế của

huyện Nhơn Trạch có sự chuyển biến về chất theo hướng công nghiệp - dịch vụ.

Với mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm trên 15% đã nâng GDP bình

quân đầu người ngày càng cao: 2,14 triệu đồng năm 1995; 7,72 triệu đồng năm

2004, 12,4 triệu đồng năm 2007 và 15,3 triệu đồng năm 2008.

Nhơn Trạch đang từng bước chuyển mình đi lên vững chắc, sự chuyển dịch cơ

cấu kinh tế như trên sẽ tạo tiền đề thúc đẩy nền kinh tế tiếp tục phát triển mạnh

trong các năm tiếp theo, góp phần đóng góp vào sự thành công mục tiêu của tỉnh đó

là trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, tạo điều kiện

thuận lợi hình thành và phát triển đô thị mới Nhơn Trạch.

b. Hình thành hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho phát triển công

nghiệp và phát triển đô thi

Thời gian qua, cùng với sự phát triển của KCN, hệ thống hạ tầng kỹ thuật của

huyện đã có bước phát triển mạnh.

- Với đô thị mới Nhơn Trạch, sự hình thành và phát triển các KCN quyết định

sự hình thành và phát triển đô thị, đồng thời sự phát triển các khu chức năng khác

của đô thị có tác dụng thúc đẩy công nghiệp hoá nhanh hơn và hoàn thiện đô

thị.Việc đầu tư xây dựng các KCN và hệ thống cảng trước hết là tạo lập một phần

không gian đô thị mới Nhơn Trạch (3.500 ha/41.089,1 ha chiếm 8,52% diện tích

xây dựng đô thị). Đây là tác động trước tiên và quan trọng.

- Hệ thống lưới điện đã phát triển mạnh mẽ. Trước năm 1990, nguồn điện cung

cấp cho Nhơn Trạch chủ yếu từ trạm biến áp 220/110 KV Long Bình. Hiện nay

nguồn điện được cung cấp từ 3 nguồn:1 nguồn từ trạm biến áp 220/110 KV Long

Bình, 1 nguồn từ Nhà máy Điện Phú Mỹ và 1 nguồn từ Nhà máy Thủy điện Hàm

Thuận - Đa Mi với tổng dung lượng đạt 4220 KVA, chưa kể các trạm biến áp

chuyên dùng do các doanh nghiệp tự đầu tư (KCN Nhơn Trạch 1 là KCN đầu tiên

trên cả nước tự đầu tư xây dựng trạm biến áp 110/22KV phục vụ cho các nhà đầu tư

trong KCN, nhà máy nhiệt điện Formosa công suất 150 MV do công ty TNHH

Hưng Nghiệp Formosa Đài Loan thuộc KCN Nhơn Trạch 3 làm chủ đầu tư ).

Chính sự phát triển mạnh mẽ của các KCN Đồng Nai nói chung và KCN Nhơn

Trạch nói riêng từ năm 1999, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam đã có quyết định

thành lập Công ty Điện lực Đồng Nai trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam.

- Hệ thống cấp nước đã từng bước được đầu tư xây dựng đồng bộ đáp ứng nhu

cầu phát triển KCN và dân cư đô thị. Trước khi các KCN được thành lập nguồn

nước sử dụng lấy từ các giếng khoan, giếng đào. Hiện nay nguồn nước được cung

cấp chủ yếu từ 2 nhà máy gồm nhà máy nước ngầm Tuy Hạ công suất 10.000m3/ngày đêm, nhà máy nước Nhơn Trạch công suất 200.000m3/ngày đảm bảo

cung cấp nước cho các KCN và các khu dân cư.

- Mạng lưới bưu chính viễn thông từ chỗ lạc hậu về kỹ thuật, nghèo nàn về

dịch vụ đến nay đã thay đổi đáng kể (bưu điện Nhơn Trạch được tách ra từ bưu điện

Long Thành và chính thức đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh ngày 01/ 10/

1994). Năm 1991 số máy điện thoại sử dụng bình quân là 0,8máy /100 dân, đến

giữa năm 2008 đạt 13,9 máy/100 dân.

- Hệ thống giao thông phát triển khá nhanh và thông suốt. Sau ngày giải

phóng, Nhơn Trạch chỉ có 2 con đường duy nhất ôm trọn 12 xã đó là tỉnh lộ 25

(đường nhựa) và tỉnh lộ 319 (đường đá đỏ). Hiện nay tất cả các xã đều có đều có

đường nhựa và có đường ô tô đến trung tâm huyện.Từ một huyện thuần nông, người

dân Nhơn Trạch đã quen dần với sự xuất hiện của những con đường mới, thậm chí

có những nơi còn làm trước những con đường nội bộ trong KCN để đón các nhà

đầu tư. Nhiều khu cảng lớn đang định hình như cảng Gò Dầu- Phước An trên sông

Thị Vải, cảng Phú Hữu trên sông Nhà Bè- Lòng Tàu...

c. Đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực công nghiệp của địa phương

Cùng với dòng vốn ĐTNN và hoạt động sản xuất tập trung trong một địa bàn

tương đối thuận lợi với nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù, các DN trong KCN

đã tiếp nhận nhiều công nghệ tiên tiến hiện đại trên thế giới. Hiện nay chưa có

nghiên cứu, báo cáo đánh giá cụ thể và chi tiết về trình độ kỹ thuật - công nghệ trên

địa bàn các huyện của Đồng Nai nói chung và huyện Nhơn Trạch nói riêng. Các

đánh giá khoa học về hiện trạng công nghệ ngành công nghiệp mới tập trung đánh

giá theo chuyên ngành là chính như: ngành công nghiệp chế biến nông sản thực

phẩm; hoá chất; cơ khí;... mà chưa đánh giá chi tiết theo địa bàn (các huyện, thị xã

Long Khánh và TP. Biên Hoà). Tuy nhiên, trên cơ sở các điều tra theo địa bàn có

thể đánh giá về trình độ kỹ thuật - công nghệ của ngành công nghiệp trên địa bàn

huyện.

Theo đánh giá hiện trạng công nghệ tỉnh Đồng Nai năm 2005 cho chúng ta cái

nhìn tổng quan nhất về trình độ kỹ thuật – công nghệ của ngành công nghiệp toàn

tỉnh. Chỉ số “Hệ số đóng góp của công nghệ” (TCC) có giá trị trên trung bình

(TCC=0,6218). Trong đó các chỉ số thành phần “Kỹ thuật” (T), “Con người” (H),

“Thông tin” (I), “Tổ chức” (O) có giá trị tương ứng (0,8022; 0,3948; 0,7369;

0,6667). Hai thành phần T (Technoware) và I (Infoware) đạt ở mức khá, nhưng

thành phần H (Humanware) đạt thấp.

Trong các thành phần kinh tế, thành phần kinh tế có vốn ĐTNN có hệ số đóng

góp công nghệ khá cao, cao hơn bình quân chung toàn ngành. Hệ số TCC của các

DN có vốn ĐTNN là 0,6351, trong đó thành phần kỹ thuật (T) cao nhất là 0,8188

trong các thành phần kinh tế. Điều này cho thấy DN có vốn ĐTNN luôn có trình độ

kỹ thuật công nghệ khá tiên tiến, cao hơn so với các DN trong nước. Các DN trên

địa bàn huyện Nhơn Trạch chủ yếu là các DN- ĐTNN, do đó có thể đánh giá trình

độ kỹ thuật – công nghệ của ngành công nghiệp trên địa bàn huyện chủ yếu là tiên

tiến.

Bảng 2.19: So sánh trình độ công nghệ của công nghiệp Nhơn Trạch với Đồng Nai

TCC T H I O Danh mục

Toàn tỉnh 0,6218 0,8022 0,3948 0,7369 0,6667

Huyện Nhơn Trạch 0,6246 0,792 0,4228 0,7717 0,6438

Chênh lệch 0,0028 -0,0102 0,028 0,0348 -0,0229

Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đến năm

2015 có tính đến năm 2020 - Sở Công Thương Đồng Nai

Hệ số đóng góp công nghệ ngành công nghiệp trên địa bàn huyện là

TCC=0,6246, cao hơn bình quân chung của ngành công nghiệp toàn tỉnh. Tuy

nhiên, thành phần công nghệ (T) của ngành 0,792 thấp hơn bình quân chung do trên

địa bàn tập trung đến trên 70% là DN ngành dệt, may và giày dép; là ngành có trình

độ kỹ thuật thấp hơn so các ngành khác.

Tóm lại, có thể đánh giá trình độ kỹ thuật – công nghệ của các DN trong KCN

công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch nhìn chung đạt trên mức trung bình,

phần lớn đạt mức tiên tiến. Trong các địa phương, Nhơn Trạch là huyện xếp cao

đứng thứ 2 về chỉ số đóng góp công nghệ TCC, xếp sau huyện Long Thành

(TCC=0,6415). Đối với thành phần công nghệ thì Nhơn Trạch xếp thứ 3 sau Long

Thành và TP. Biên Hoà.

d. Tạo việc làm, đào tạo tay nghề; tăng thu nhập cho người lao động

Hàng năm số lao động được giải quyết việc làm khoảng trên 5.000 người,

giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức 3%, tăng tỷ lệ sử dụng lao động ở nông

thôn. Từ khi thành lập cho đến nay các KCN đã tạo công ăn việc làm trực tiếp và

gián tiếp cho 50.000 lao động, tác động tích cực đến việc thực hiện các chính sách

xã hội trên địa bàn. Lao động làm việc tại các KCN Nhơn Trạch phần lớn là lực

lượng lao động trẻ độ tuổi trung bình từ 18-25 tuổi, chủ yếu là dân từ các nơi khác

đến (chiếm 70 % tổng số lao động làm việc tại các KCN) và trước đó hầu như

không có nghề (vừa tốt nghiệp phổ thông thậm chí chưa tốt nghiệp nhưng không có

điều kiện để theo học các chương trình học vấn cao hơn) hoặc làm các nghề lao

động giản đơn, theo vụ mùa. Chính vì thế sự ra đời các KCN Nhơn Trạch với các

nhà máy, xí nghiệp đã tạo nhiều cơ hội tìm việc làm cho người lao động, giải quyết

được tình trạng thất nghiệp. Người lao động còn được đào tạo nhiều ngành nghề

khác nhau: may mặc, điện tử, hàn, tiện...dần dần nâng cao trình độ tay nghề. Có thể

coi quá trình đào tạo tại DN là quá trình đào tạo nghề nhanh nhất, hiệu quả nhất vì

người lao động được thực hành và ứng dụng ngay các trang thiết bị máy móc bên

cạnh việc chỉ dẫn các thao tác và lý thuyết từ chính cán bộ quản lý, chuyên gia tại

DN. Nhu cầu tuyển dụng lao động của các DN là động lực để ngườí lao động phấn

đấu học tập, rèn luyện tay nghề. Đa số người lao động nhập cư đều có xu hướng

theo học các lớp ban đêm để nâng cao trình độ học vấn, trình độ tay nghề nhằm cải

thiện thu nhập, cải thiện vị thế... Việc đào tạo nghề cũng đuợc các DN quan tâm,

ngoài việc đào tạo tại chỗ, hàng năm các DN đã cử từ 1.000 - 2.000 lao động đi đào

tạo ngắn hạn ở nước ngoài (03 tháng ), hoặc đi lao động tại Công ty mẹ (0l năm),

khi về nước sẽ là đội ngũ lao động cốt cán của DN. Việc người Việt Nam lần luợt

được chuyển giao các chức vụ quan trọng trước đây do người nước ngoài nắm giữ

hầu hết đều diễn ra trong các DN.

Thu nhập bình quân người lao động ở các KCN Nhơn Trạch khoảng từ

750.000 đồng - 950.000 đồng (không kể cán bộ quản lý, kỹ thuật), cá biệt có một

vài DN mức lương từ 2,5 - 4 triệu đồng/tháng. Ngoài lương, tùy theo điều kiện của

mỗi DN còn có tiền thưởng chuyên cần (100.000 đồng - 200.000 đồng/tháng), tiền

ăn giữa ca (3 .000 - 5 .000đồng/phần ăn/ngày), phụ cấp trách nhiệm - chuyên môn

(50.000 - 200.000 đồng/tháng), phụ cấp đi lại (50.000 - 90.000 đồng/tháng)... Điều

này đã nâng cao tính kỷ luật và khuyến khích sự chuyên cần của nguời lao động.

e. Góp phần phát triển quan hệ hợp tác trong nước và nước ngoài

Quá trình xây dựng và phát triển các KCN, Nhơn Trạch có quan hệ gắn kết với

các địa phương khác trong tỉnh và vùng KTTĐPN, tham dự các chương trình hợp

tác bảo vệ nguồn nước sông Đồng Nai, phát triển tổng thể quy hoạch vùng, cũng

như dự kiến hình thành các khu đô thị, các công trình dịch vụ phục vụ chung cho

toàn vùng…Ngoài ra nhằm đẩy nhanh quá trình thu hút vốn đầu tư và phát triển TP.

Nhơn Trạch, được sự chấp thuận của Chính phủ và UBND tỉnh Đồng Nai, huyện đã

thiết lập mối quan hệ hợp tác song phương với một số tỉnh, thành phố trong khu vực

và một số nước trên thế giới. Nội dung quan hệ chủ yếu trên các lĩnh vực kinh tế,

văn hoá, khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo và bảo vệ môi trường.

Các DN trong KCN đã góp phần vào sự hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nước

ta thực hiện chính sách mở cửa và đang trong quá trình hội nhập, do vậy Chính phủ

nói chung và chính quyền địa phương Nhơn Trạch nói riêng không ngừng cải thiện

môi trường pháp lý để thu hút đầu tư.

Mặt khác, việc phát triển các KCN ở Nhơn Trạch cũng đã tạo điều kiện phát

triển các hoạt động dịch vụ, thương mại phục vụ KCN như nhà ở, ăn uống, chợ,

phát triển tiểu thủ công nghiệp….và làm gia tăng giá trị đất của địa phương. Nhơn

Trạch ngày nay đã thành một địa danh nổi tiếng với hàng loạt các KCN và một khu

đô thị mới là một trong những địa chỉ được các nhà đầu tư quan tâm.

2.3.3.2.Tác động tiêu cực

Vấn đề ô nhiễm môi trường công nghiệp và tác động môi trường xã hội đang

là một trong những vấn đề bức xúc không phải chỉ trên địa bàn huyện mà là tình

hình chung trên địa bàn tỉnh. Hàng loạt các vấn đề về nhà ở cho công nhân, giải

quyết tệ nạn, áp lực di dân kéo theo quá tải hạ tầng, kẹt xe, thiếu nước sạch... Hàng

loạt ngành công nghiệp “không sạch” và thâm dụng lao động như dệt may, cơ khí

đang “bành trướng” ở Nhơn Trạch, kéo theo bài toán xử lý nước thải, môi trường

cần phải giải quyết; ô nhiễm môi trường nhất là ô nhiễm nước kênh rạch, nước sông

do chất thải công nghiệp và sinh hoạt đang có xu hướng tăng lên, chưa khắc phục

được kịp thời, 8 KCN liên hoàn đang hoạt động đều nằm cận kề trung tâm thành

phố mới. Một số KCN chưa xây dựng đồng bộ hệ thống xử lý môi trường tập

trung… là những vần đề cần được ưu tiên quan tâm hàng đầu trong thời gian tới.

a. Ô nhiễm môi trường trong và ngoài KCN

Nhơn Trạch là một huyện đang phát triển mạnh công nghiệp, đứng thứ 2 toàn

tỉnh sau TP. Biên Hòa. Bên cạnh đó, chính phủ đã quyết định đầu tư Nhơn Trạch

thành một thành phố trong tương lai. Song chính điều này, môi trường đang là một

vấn đề quan trọng, hiện nay tình hình ô nhiễm môi trường đang ở mức báo động,

Nhơn Trạch chưa có hệ thống thoát nước hoàn chỉnh. Nước thải sinh hoạt và nước

thải KCN xả vào các mương, rạch và tự thấm không qua xử lý làm ô nhiễm nước

kênh, rạch và nước sông. Hệ thống khu thu gom và xử lý rác thải cho toàn địa bàn

chưa hình thành, các KCN chưa có khu xử lý rác, DN tự xử lý bằng cách đốt tại chỗ

hoặc bán kèm phế liệu gây tác động không nhỏ đến vệ sinh môi trường. Hiện trên

địa bàn mới có 1 hợp tác xã dịch vụ môi trường thu gom rác thải sinh hoạt ở một số

xã xung quanh KCN Nhơn Trạch, đối với các xã còn lại việc thu gom rác do xã tự

tổ chức và quản lý.

Thực tế cho thấy việc xử lý nước thải trong các KCN Nhơn Trạch gặp rất

nhiều khó khăn do công trình xử lý nước thải thường xây dựng sau khi DN đi vào

hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí có KCN thu hút được rất nhiều nhà máy

hoạt động nhưng vẫn chưa có nhà máy xử lý nước thải. Việc quy hoạch hạ tầng kỹ

thuật và xử lý môi trường ở các KCN Nhơn Trạch chưa theo kịp tốc độ phát triển,

dẫn đến không ít bất cập, trong đó đáng kể là vấn đề thoát nước thải công nghiệp ở

các KCN và cho cả trung tâm TP.Nhơn Trạch tương lai. Giữa các KCN của Nhơn

Trạch ngay từ đầu không có một quy hoạch chung về hệ thống thoát nước, hầu như

mỗi đơn vị kinh doanh hạ tầng khi được giao đất xây dựng KCN đều đi theo hướng

thoát nước riêng. Sau thời gian dài các KCN hoạt động, nhiều khu vực dân cư, sông

suối bị ô nhiễm và ngập úng cục bộ, trong đó sông Thị Vải - nguồn tiếp nhận nước

thải của hầu hết các KCN - đến nay đã trở thành dòng sông bị ô nhiễm nghiêm trọng

nhất ở Đồng Nai cũng như khu vực KTTĐPN. Theo quy định của Bộ Tài nguyên và

Môi trường, mỗi nhà máy khi đầu tư vào KCN tập trung đều phải có hệ thống xử lý

nước thải cục bộ; các công ty kinh doanh hạ tầng KCN trước khi kêu gọi đầu tư

phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung; khi lấp đầy 30% diện tích thì hệ

thống xử lý nước thải tập trung phải đi vào hoạt động. Sau năm 2007, các KCN phải

xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung song hành với các hạng mục công trình

hạ tầng khác (dù là xây dựng cơ bản) mới được phép kêu gọi đầu tư. Quy định là

thế, nhưng thực tế, nhiều KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung; có KCN

lấp đầy đến 70-80% diện tích vẫn chưa làm hệ thống xử lý nước thải tập trung.

Hoặc một vài KCN, hệ thống nước thải tuy hoạt động ổn định, nhưng do tính toán

và tiên lượng lượng nước thải chưa đúng với thực tế xả thải, dẫn đến hệ thống xử lý

quá tải, hiệu quả xử lý không cao như hệ thống xử lý nước thải của KCN Nhơn

Trạch 2.

Qua khảo sát tình hình ô nhiễm môi trường tại các KCN trên địa bàn huyện

cho thấy tình hình ô nhiễm môi trường tập trung ở 3 KCN đó là KCN Nhơn Trạch

1, KCN Nhơn Trạch 2, KCN Nhơn Trạch 3.

KCN Nhơn Trạch 1 hiện đã có 83 dự án đã đi vào hoạt động, bao gồm nhiều

ngành nghề. Trong đó, ngành dệt nhuộm và thuộc da là 2 loại hình công nghiệp có

nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Dù KCN này đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải với công suất thiết kế 4.000 m3/ngày nhưng hệ thống này hiện đang trong giai đoạn vận hành thử nghiệm, và cũng chỉ xử lý được 1.500 m3/ngày. Khối lượng nước thải còn lại chưa qua xử lý khoảng 2.500 m3/ngày vẫn được thải trực tiếp vào

hệ thống thoát chung, chảy ra kênh Bà Ký đổ vào sông Thị Vải. Nước thải có các

thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép. Đặc biệt, hàm lượng chất độc N-NH3

vượt trên 22 lần và Florua vượt 26 lần, tổng coliform vượt 2.600 lần so với tiêu

chuẩn cho phép.

KCN Nhơn Trạch 2 có 51 dự án đầu tư đã đi vào hoạt động, các loại hình công

nghiệp chính gồm dệt nhuộm, cơ khí, điện tử và mỹ phẩm. Đây là KCN có lượng

nước thải lớn nhất trong tổng số các KCN trên lưu vực sông Thị Vải. Mặc dù báo

cáo của đơn vị quản lý cho biết khối lượng nước thải hằng ngày KCN thải ra là 9.000 m3, nhưng theo kiểm tra thì khối lượng nước thải thực tế là 9295 m3/ngày. Điều đáng nói là công suất của nhà máy xử lý nước thải chỉ đạt 5000 m3/ngày. Một

số nhà máy, đặc biệt là các nhà máy dệt nhuộm đã xây dựng hệ thống xử lý nước

thải cục bộ nhưng không có cơ sở nào đạt tiêu chuẩn cho phép và nước thải khi thải

ra sông Thị Vải (qua Rạch Miễu thuộc ấp 3, xã Long Thọ) có màu nâu đen, bốc mùi

hôi thối nồng nặc,các thông số ô nhiễm hữu cơ cao và độ màu trong nước cao gấp

gần 8 lần và màu nước gần đồng nhất với nước sông Thị Vải.

KCN Nhơn Trạch 3 có 63 nhà máy đang hoạt động. Nhà máy xử lý nước thải công suất 2.000 m3/ngày (thuộc giai đoạn 2 của KCN) đang trong giai đoạn chạy

thử. Chất lượng nước thải chưa đạt tiêu chuẩn môi trường, hàm lượng các chất

Cyanua và vi khuẩn khá cao, trong đó hàm lượng Coliform vượt tiêu chuẩn 9.200

lần.

KCN Dệt may Nhơn Trạch : do Công ty Cổ phần đầu tư Vinatex - Tân Tạo

đầu tư kinh doanh hạ tầng hiện nay các DN trong KCN này đã đầu tư hệ thống xử lý

nước thải cục bộ. Hệ thống xử lý nước thải tập trung đã hoàn thành các thủ tục thẩm

định về xây dựng và công nghệ và đang khẩn trương xây dựng, công suất thiết kế 6.000 m3/ngày, tiêu chuẩn TCVN 5945-1995.

Các KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung gồm Nhơn Trạch 2 -

Lộc Khang, Nhơn Trạch 2 - Nhơn Phú, Ông Kèo, Nhơn Trạch 5, Nhơn Trạch 6.

Nước thải từ các nhà máy đã và chưa qua xử lý đều được xả thẳng lên bề mặt đất

trong KCN và thẩm thấu xuống đất có nguy cơ đe doạ đến các giếng nước ngầm

được khai thác tại phương.

b. Quá tải nhu cầu về lao động,nhà ở và dịch vụ cho người lao động

Hiện nay vấn đề thiếu hụt lao động làm việc trong các KCN nhất là lao động

qua đào tạo có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là vấn đề rất bức xúc của các DN.

Khó khăn chung của DN hiện nay khi tuyển dụng lao động qua đào tạo tại các cơ sở

là chất lượng và mức độ đáp ứng của người lao động đối với việc làm chưa cao.

Theo số liệu thống kê hiện nay các KCN huyện Nhơn Trạch thiếu khoảng 5.000 lao

động. Một số DN thiếu trầm trọng nhân lực như Công ty Formosa thiếu 1000 lao

động, Công ty Dệt may Eclar Việt nam thiếu 2.000 lao động, Công ty Hwaseung

tuyển không hạn chế số lượng,… Do nguồn lao động khan hiếm nên hiện nay việc

tuyển dụng tại các DN diễn ra thường xuyên để bù đắp lượng lao động thiếu hụt và

nghỉ việc kể cả cách thức tuyển dụng cũng có thay đổi, ví dụ tiêu chuẩn tuyển dụng

không yêu cầu bằng cấp, đi về các địa phương khác tổ chức tuyển dụng, sẵn sàng

chi tiền phí giới thiệu lao động…

Dịch vụ nhà trọ cũng phát triển ngày một tăng, nhưng đến nay vẫn chưa đủ

đáp ứng nhu cầu. Năm 2008, số lao động tập trung tại các KCN trên địa bàn huyện

đã lên tới 46381 người, trong khi số nhà trọ có khoảng 8.275 phòng chỉ đáp ứng

cho khoảng 20.000 người. Trong tình hình hiện nay, nhà trọ do tư nhân xây dựng là

một loại hình dịch vụ chiếm tỷ trọng cao. Qua khảo sát có thể thấy, loại nhà trọ này

cực kỳ tạm bợ, không đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của người lao động.

không có nơi vui chơi giải trí. Các yếu tố thiết yếu cho cuộc sống như diện tích, vệ

sinh, môi trường, điện, nước đều thiếu thốn hoặc dưới mức tối thiểu làm ảnh hưởng

tới chất lượng và hiệu quả công việc, đặc biệt là đảm bảo sức khoẻ để người lao

động có thể làm việc lâu dài và tái sản xuất mở rộng sức lao động. Mặt khác tình

hình nhà ở như trên đã trở thành môi trường cho các loại tệ nạn xã hội phát triển

như: tình hình trị an không đảm bảo, nạn trộm cắp xảy ra thường xuyên, quan hệ

nam nữ thiếu lành mạnh, nạn cờ bạc hút hít diễn ra phổ biến…Ngoài ra do không

thuê được nhà ở gần KCN nhiều người lao động buộc phải thuê nhà ở xa, thường

xuyên phải đi sớm về muộn bằng các phương tiện tự có, chủ yếu là xe đạp và xe

máy nên phải tiêu tốn thêm khá nhiều chi phí, sức khoẻ và những rủi ro trên đường

như tai nạn giao thông, bị trấn lột ..

Theo khảo sát của Bộ Lao động- Thương Binh và Xã hội mới đây, cứ trung

c.Vấn đề việc làm cho người bị thu hồi đất để xây dựng các KCN

bình một hộ nơi thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có việc làm và

mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc làm trong nông

nghiệp. Như vậy với việc quy hoạch 3.500 ha các KCN tập trung và 100 ha khu tiểu

thủ công nghiệp ở Nhơn Trạch thì sẽ có 46.800 người phải chuyển đổi nghề nghiệp,

trong số đó hiện nay nhiều người vẫn chưa có có việc làm và rơi vào tình trạng thất

nghiệp toàn phần.

Nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của nông dân bị thu

hồi đất ở địa phương một phần là do sự phát triển của các KCN và thương mại- dịch

vụ chưa đáp ứng đủ nhu cầu giải quyết việc làm cho người lao động. Sự phát triển

của các KCN chưa gắn liền với công tác đào tạo nghề, chưa chuẩn bị những điều

kiện cần thiết cho người dân có đất bị thu hồi chuyển đổi nghề nghiệp. Điều đó làm

cho một số lượng lớn dân cư ở các địa phương tập trung nhiều KCN như Phước

Thiền, Hiệp Phước, Long Tân, Phú Hội…không có khả năng tìm cho mình một

công việc mới.

Bên cạnh đó, bản thân của người lao động vốn có nhiều hạn chế về năng lực

và trình độ văn hoá cũng như trình độ chuyên môn nghề nghiệp, chưa hình thành

được tác phong công nghiệp nên không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao

động. Không ít người sau một thời gian được nhận vào làm việc tại các nhà máy, do

không đáp ứng được yêu cầu công việc nên buộc phải thôi việc và lại rơi vào tình

trạng không có việc làm. Điều này gây khó khăn cho chính bản thân người lao động

đồng thời cũng gây khó khăn cho các DN trong việc thu hút lao động và ổn định sản

xuất.

d.Việc đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng KCN còn chậm ảnh hưởng đến

sản xuất và đời sống người dân

Cho dù Nhà nước đã có chính sách đền bù cho các hộ bị lấy đất, song trong

thực tế, khung giá đất nông nghiệp đã được Nhà nước quy định rất thấp, còn giá các

loại đất chuyên dùng lại rất cao, việc thực hiện chính sách giải tỏa, đền bù chưa

được giải quyết một cách thỏa đáng nên người dân chưa thực sự sẵn sàng trả lại đất,

thậm chí còn phản đối, khiếu kiện rất phức tạp, tập trung nhiều ở các KCN Nhơn

Trạch 6, KCN Ông Kèo. Bên cạnh đó việc chậm xây dựng các khu tái định cư đã

ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng hạ tầng kỹ thuật các KCN.

e.Các tệ nạn xã hội

Huyện Nhơn Trạch đang được coi là một Biên Hòa thứ 2 ở tỉnh Đồng Nai về

phát triển KCN. Phần lớn công nhân ở KCN từ khắp mọi miền tập trung về đây và

hầu hết lại không đăng ký tạm trú. Các đối tượng phạm pháp hình sự và tệ nạn xã

hội thì xem đó là cơ hội để "làm ăn", nổi lên là tình hình trộm cắp tài sản của các

công ty và cướp giật tài sản. Bên cạnh đó, trật tự công cộng quanh các công ty, xí

nghiệp rất phức tạp, nhất là vào thời điểm tan ca thường gây ra ùn tắc giao thông.

Ban Giám đốc Công an tỉnh Đồng Nai và chỉ huy Công an huyện Nhơn Trạch

rất quan tâm đến tình hình an ninh trật tự ở KCN và chỉ đạo cho Công an KCN phải

chủ động phòng ngừa đấu tranh, ngăn chặn không để các hành vi phạm tội xảy ra,

sử dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ tấn công truy quét liên tục các loại tội

phạm hình sự và tệ nạn xã hội. Trong năm 2008, Đồn Công an KCN Nhơn Trạch đã

phát hiện 140 vụ phạm pháp hình sự, bắt 147 đối tượng; thu hồi nhiều tài sản có giá

trị.

2.4. Đánh giá tương quan giữa tiềm năng và hiện trạng phát triển các KCN

trên địa bàn huyện Nhơn Trạch

Qua phân tích về tiềm năng và hiện trạng phát triển các KCN trên địa bàn

huyện Nhơn Trạch cho thấy khả năng sản xuất kinh doanh của các KCN rất lớn

nhưng trong quá trình khai thác và phát triển còn nhiều bất cập, thiếu bền vững và

chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.

- Về công tác quy hoạch, việc hình thành và xây dựng các KCN trên địa bàn

huyện Nhơn Trạch thời gian qua phù hợp với quy hoạch phát triểnKT-XH của

huyện; có tính đến mối quan hệ phát triển liên vùng của vùng KTTĐPN. Ngành

nghề thu hút đầu tư vào các KCN đã được chú trọng, tuy nhiên việc quy hoạch phát

triển các KCN chưa thực sự hợp lý về ngành nghề, nhiều khu bố trí mang tính tổng

hợp, đa ngành, chưa tính tới khả năng thu hút đầu tư và dự báo xu hướng đầu tư

từng lĩnh vực, ngành hàng.

- Nhơn Trạch đã tận dụng được lợi thế thuận lợi về vị trí địa lý, kết cấu hạ

tầng, thị trường để xúc tiến, vận động thu hút đầu tư vào các KCN nhưng việc tập

trung thu hút nguồn vốn đầu tư các quốc gia đến từ châu Á cho thấy sức thu hút đầu

tư chưa lan toả rộng, phụ thuộc vào nguồn vốn của vài quốc gia trong vùng. Có thể

nói KCN Nhơn Trạch là KCN của Đài Loan và Hàn Quốc, trình độ công nghệ của

các DN đến từ các quốc gia này không quá chênh lệch so với các DNViệt Nam.

- Vốn đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch dẫn đầu toàn tỉnh và ngày càng tăng

tuy nhiên vốn đầu tư thực hiện chưa cao. Vốn đầu tư thực hiện bình quân mỗi năm

chưa tới ½ tổng số vốn đầu tư đăng ký (khoảng 34,35%). Quy mô các dự án ngày

càng giảm, ngày càng có nhiều DN vừa và nhỏ đầu tư

- Tỉ lệ lấp đầy các KCN cao hơn tỉ lệ chung của toàn tỉnh nhưng vẫn còn các

KCN tỉ lệ lấp đầy rất thấp như Nhơn Trạch 2-Nhơn Phú 3,42%, Nhơn Trạch 6 chưa

có dự án đầu tư.

- GTSXCN trong GTSXCN toàn tỉnh chưa cao chiếm 13,22% năm 2008. Nhìn

tổng thể các nhóm ngành trong các KCN Nhơn Trạch thì ngành dệt may, giày dép

chiếm tỷ trọng cao nhất (74,41%) trong cơ cấu giá trị sản xuất toàn ngành công

nghiệp huyện Nhơn Trạch. Đây là ngành sử dụng nhiều lao động nhất nhưng mang

lại giá trị gia tăng không cao.

- Cơ sở hạ tầng bên trong hàng rào KCN chưa xây dựng đồng bộ nhất là hệ

thống xử lý nước thải, trong 9 KCN chỉ có 4 KCN có hệ hống xử lý nước thải tập

trung (1 khu vận hành chính thức, 2 khu đang còn trong giai đoạn thử nghiêm, 1 khu

trong giai đoạn xây dựng), 5 khu còn lại chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

- Các dự án chủ yếu mang tính gia công lắp ráp ở các ngành nghề sử dụng

nhiều lao động như: dệt may, da giày, lắp ráp điện tử...Việc sử dụng nhiều lao động

kéo theo nhiều vấn đề phải giải quyết cho lao động nhập cư như: nhà ở, an ninh,

tính ổn định của nguồn nhân lực.

- Số dự án thuộc ngành nghề có mức độ ô nhiễm cao nhiều, đặc biệt là các dự

án nhuộm, thuộc da, cơ khí có xi mạ, sản xuất thuốc trừ sâu, hoá chất. Trong số các

dự án hoạt động trong KCN còn nhiều dự án có công nghệ lạc hậu, thuộc dạng các

cá nhân nhỏ lẻ đầu tư nên công nghệ không mới, hao tốn nhiên liệu và gây ô nhiễm,

bên cạnh đó là một số KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải nên môi trường trong

và ngoài KCN bị ô nhiễm nặng.

- Nhu cầu lao động của các KCN đang thiếu trầm trọng, chất lượng lao động

chưa cao, các công trình công cộng phục vụ cho đời sống của người lao động như

chợ, trường học, bệnh viện, công viên, khu văn hóa thể thao...không đáp ứng kịp thời.

Tóm lại dựa vào lợi thế so sánh hơn các địa phương khác trong tỉnh nhất là vị

trí địa lý và ưu thế của một thành phố tương lai, các KCN Nhơn Trạch đã góp phần

quan trọng vào phát triển công nghiệp của địa phương và của tỉnh nhưng vẫn còn

bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu bền vững do những nguyên nhân sau:

- Việc quy hoạch phát triển các KCN chưa thực sự hợp lý, chưa tính tới khả

năng đáp ứng về nhân lực và cơ sở hạ tầng bên ngoài hàng rào KCN. Các KCN tập

trung quá đông tại địa bàn dẫn tới tình trạng quá tải nhu cầu về lao động, nhà ở và

dịch vụ cho người lao động. Việc xây dựng các công trình kỹ thuật ngoài hàng rào

tại một số KCN vẫn chưa được thực hiện đồng bộ để kết nối với các hạng mục bên

trong các KCN. Các hạng mục ngoài hàng rào KCN như hạ tầng giao thông, thoát

nước chưa theo kịp tiến độ xây dựng các công trình bên trong KCN là một bất cập,

ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư nhất là các dự án có mô lớn, sử dụng nhiều lao

động …

- Mặc dù công tác bảo vệ môi trường và xử lý nước thải đã từng bước được

chú trọng, việc đôn đốc các công ty phát triển hạ tầng KCN và DN- KCN trên địa

bàn thực hiện nghiêm túc các quy chuẩn về xử lý chất thải vẫn chưa được thực hiện

triệt để, chưa có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc

thanh tra, kiểm tra thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường, dẫn đến tình trạng

nhiều DN trong KCN vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường. Trong tổng số 9

KCN đã đi vào hoạt động chỉ có 4 KCN xây dựng nhà máy xử lý nước thải. Nhiều

DN trong KCN chưa tự giác thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường, chỉ thực

hiện chống chế khi có các cơ quan chuyên ngành thanh tra, kiểm tra. Trong năm

2008, các đoàn thanh tra, kiểm tra môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường và

Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai đã phát hiện 94 DN trong KCN vi phạm

Luật bảo vệ môi trường ở các mức độ khác nhau. Thực trạng trên dẫn tới kết quả là

khu vực sông Đồng Nai và Thị Vải đã bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi chất thải từ các

DN, ảnh hưởng tới môi trường xung quanh và nguồn nước sinh hoạt của dân cư khu

vực này.

- Công tác đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng các KCN còn chưa thực hiện

tốt, gây ra tình trạng khiếu kiện kéo dài ở một số nơi, ảnh hưởng đến tiến độ xây

dựng hạ tầng kỹ thuật các KCN và giao đất cho các doanh nghiệp KCN. Công tác

bồi thường, giải toả ở các KCN Nhơn Trạch-Nhơn Phú, và Nhơn Trạch 6 được thực

hiện chậm và chưa kiên quyết.

- Cơ chế quản lý ”một cửa, tại chỗ” của Ban quản lý KCN được thực hiện triệt

để và phát huy có hiệu quả, công tác xúc tiến đầu tư đã được chú trọng thực sự hấp

dẫn các nhà đầu tư tuy nhiên việc mời gọi đầu tư vào các KCN vẫn phụ thuộc nhiều

vào các công ty phát triển cơ sở hạ tầng KCN. Nhà nước tuy có tham gia trong việc

định hướng và quy hoạch ngành nghề mời gọi đầu tư, tuy nhiên vẫn còn bị động và

không thể giám sát toàn bộ hoạt động kinh doanh của các công ty hạ tầng. Thực tế,

trong nhiều KCN Nhơn Trạch vẫn tồn tại một số dự án được cấp phép đầu tư vào

những lĩnh vực không theo đúng định hướng và quy hoạch KCN lúc ban đầu của

các cơ quan quản lý Nhà nước. Hơn nữa, do mục đích chính là lấp đầy diện tích các

KCN, các công ty kinh doanh cơ sở hạ tầng đã mời gọi các nhà đầu tư theo xu

hướng lấp đầy KCN càng nhiều càng tốt, không phân biệt ngành nghề, loại hình, đối

tượng, quốc gia đầu tư, suất đầu tư trên diện tích đất cho thuê… mà chưa chú ý

nhiều đến các yếu tố có liên quan để phục vụ cho sự phát triển bền vững của KCN

cũng như nền kinh tế của địa phương.

- Nhà đầu tư chưa được thông tin đầy đủ về các KCN mà mình sẽ dự kiến đầu

tư. Nhiều nhà đầu tư cho rằng đây là khâu yếu kém của chính quyền địa phương

trong công tác xúc tiến và mời gọi đầu tư. Hiện nay, thông qua các công ty cơ sở hạ

tầng hoặc các hoạt động tư vấn đầu tư, sự lựa chọn KCN để đầu tư của các DN

nước ngoài đôi lúc mang tính may rủi hoặc bị lệ thuộc vào ý kiến chủ quan của bên

cung cấp thông tin. Điều này dễ gây ngộ nhận cho nhà đầu tư sau khi hoàn thành

việc xây dựng nhà máy và đi vào hoạt động. Một số DN đã bức xúc cho rằng mình

đã không được cung cấp thông tin chính xác hoặc Nhà nước không tuân thủ những

cam kết trong mời gọi đầu tư…

Trên đây là những cản trở lớn trong tiến trình xúc tiến đầu tư và tạo sự tin

tưởng cho các nhà đầu tư vào các KCN trên địa bàn huyện Nhơn Trạch. Do đó trong

thời gian tới, Nhơn Trạch cần có những định hướng phát triển và các giải pháp cụ

thể nhằm phát triển các KCN theo hướng bền vững.

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

NHƠN TRẠCH ĐẾN NĂM 2020

3.1. Cơ sở định hướng phát triển các KCN Nhơn Trạch đến năm 2020

Định hướng phát triển các KCN trên địa bàn huyện Nhơn Trạch dựa vào định

hướng phát triển công nghiệp được thể hiện tại Quyết định số 283/QĐ-UBND ngày

18/01/2008 của UBND tỉnh Đồng Nai về “Quy hoạch phát triển công nghiệp trên

huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai đến năm 2015, có tính đến năm 2020” như sau:

3.1.1. Quan điểm

Ngành công nghiệp huyện Nhơn Trạch là một ngành kinh tế chủ lực của địa

phương, góp phần làm tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy các ngành nông nghiệp và

dịch vụ phát triển. Trên cơ sở quan điểm và mục tiêu phát triển KT-XH của huyện,

quan điểm phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đến năm 2015, có

tính đến 2020 như sau:

- Phát triển công nghiệp huyện Nhơn Trạch thành một ngành kinh tế chủ đạo,

phù hợp với quan điểm phát triển tổng thể KT-XH của huyện Nhơn Trạch đến năm

2010 và định hướng đến năm 2020, phù hợp với quy hoạch phát triển công nghiệp

của tỉnh để phát triển bền vững và chủ động hội nhập.

- Phát triển công nghiệp theo hướng tăng nhanh các ngành công nghiệp có hàm

lượng chất xám, công nghệ và kỹ thuật cao; các ngành có giá trị gia tăng cao, giảm

dần các ngành sử dụng nhiều lao động.

- Phát triển công nghiệp chủ động hội nhập với khu vực và thế giới, tham gia

một cách hiệu quả vào liên kết công nghiệp và hợp tác sản xuất giữa các DN, giữa

các ngành.

- Phát triển công nghiệp trên cơ sở phát huy tổng hợp nguồn lực của mọi khu

vực kinh tế, trong đó động lực phát triển là khu vực dân doanh và ĐTNN.

- Tập trung chuẩn bị nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp thông qua việc

phát triển đa dạng các loại hình đào tạo và trên cơ sở nhu cầu thực tế. Quan tâm

phát triển nguồn nhân lực trình độ cao phục vụ phát triển công nghiệp và chủ động

tham gia vào quá trình phân công lao động khu vực và quốc tế.

- Phát triển công nghiệp kết hợp chặt chẽ với phát triển các ngành kinh tế khác,

với bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh, quốc phòng.

3.1.2.Mục tiêu

Phát triển ngành công nghiệp trên địa bàn huyện thành một ngành kinh tế chủ

lực, trên cơ sở phát huy năng lực sản xuất các sản phẩm hiện có, đáp ứng thị trường

trong nước và xuất khẩu, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành hàng trong tiến

trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đẩy mạnh thu hút đầu tư sản xuất các sản

phẩm mới, công nghệ cao, hiện đại... góp phần thúc đẩy phát triển Nhơn Trạch trở

thành một trung tâm công nghiệp lớn của tỉnh Đồng Nai và của vùng KTTĐPN.

3.1.2.1. Về quy mô:

GTSXCN (giá cố định 1994) đến năm 2010 đạt 15.515 tỷ đồng, đến 2015 là

41.930 tỷ đồng và đến năm 2020 là 108.763 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994).

Như vậy, đến năm 2015, GTSXCN tăng gấp gần 3 lần năm 2010 và năm 2020 tăng

gấp gần 3 lần năm 2015.

3.1.2.2.Về tốc độ:

- Dự báo tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp:

+ Tốc độ phát triển GTSXCN thời kỳ 2006 - 2010 là: 25%; trong đó: Tốc

độ phát triển GTSXCN thời kỳ 2008 - 2010 là: 23,58%

+ Tốc độ phát triển GTSXCN thời kỳ 2011 - 2015 là: 22%

+ Tốc độ phát triển GTSXCN thời kỳ 2016 – 2020 là: 21%.

- Dự báo tốc độ tăng trưởng GTSXCN theo thành phần kinh tế:

+ Công nghiệp khu vực nhà nước: Giai đoạn 2008 – 2010; 2011 - 2015 và

2016 - 2020 lần lượt tăng: 25%; 20% và 60%.

+ Công nghiệp khu vực dân doanh: Giai đoạn 2008 – 2010; 2011 - 2015 và

2016 - 2020 lần lượt tăng: 30%; 25% và 22%.

+ Công nghiệp ĐTNN: Giai đoạn 2008 – 2010; 2011 - 2015 và 2016 - 2020

lần lượt tăng: 22,6%; 22% và 20,6%.

3.1.2.3. Về cơ cấu:

Cơ cấu GTSXCN theo thành phần kinh tế:

- Công nghiệp khu vực nhà nước: Đến năm 2010, 2015 và 2020 lần lượt chiếm

0,5%; 0,5% và 1,9%.

- Công nghiệp khu vực dân doanh: Đến năm 2010, 2015 và 2020 lần lượt

chiếm 2,6; 3% và 3,1%.

- Công nghiệp ĐTNN: Đến năm 2010, 2015 và 2020 lần lượt chiếm 96,9%;

96,6% và 95%.

3.1.3. Định hướng phát triển

Với định hướng phát triển ngành công nghiệp đến 2020 quan tâm chuyển dịch

cơ cấu các ngành công nghiệp chủ yếu theo hướng kêu gọi, ưu tiên, khuyến khích

đầu tư vào các ngành công nghiệp mũi nhọn có kỹ thuật cao, các sản phẩm có hàm

lượng chất xám, có giá trị gia tăng cao như ngành công nghiệp cơ khí, công nghiệp

sản xuất máy móc thiết bị điện, điện tử, công nghệ thông tin, viễn thông, sản xuất

vật liệu mới... nhằm đưa công nghệ mới vào sản xuất. Phát triển các ngành công

nghiệp hỗ trợ tăng tỷ lệ nội địa hoá gắn với các ngành sản xuất linh kiện, phụ liệu,

sửa chữa, bảo dưỡng... tạo sự chuyển dịch mạnh mẽ các ngành công nghiệp này để

tạo bước chuyển biến mạnh về chất trong phát triển công nghiệp Đồng Nai... Do đó,

định hướng phát triển ngành công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch như sau:

1. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp, mở rộng qui mô sản xuất đi đôi

với chuyển đổi cơ cấu sản phẩm theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, hàm lượng

công nghệ.

2. Ưu tiên phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp công nghệ cao, hiện đại

trong lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử, cơ khí chế tạo, sinh học, hoá phẩm, vật

liệu mới, phát triển công nghiệp phụ trợ cho các ngành công nghiệp chủ yếu..., các

ngành công nghiệp sử dụng nhiều vốn.

3. Khuyến khích phát triển, đầu tư theo chiều sâu các ngành công nghiệp sử

dụng nhiều lao động như dệt may, giày dép, chế biến gỗ... trên cơ sở DN hiện có.

Sau 2010, không thu hút các dự án đầu tư mới thuộc các ngành sản xuất dệt nhuộm,

giày da, may mặc, chế biến gỗ, hoá chất có nguy cơ gây ô nhiễm cao (hoá chất cơ

bản: A xít, xút...) vào các KCN trên địa bàn huyện (trừ những khu đã được xác định

là KCN chuyên ngành dệt may và giày dép). Hạn chế các dự án sử dụng nhiều lao

động thuộc các ngành nghề khác.

4. Trên cơ sở định hướng chung về phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện

Nhơn Trạch, định hướng ưu tiên tập trung phát triển 4 ngành công nghiệp chủ lực

trên địa bàn huyện từ nay đến 2020 như sau:: cơ khí, điện – điện tử, hoá chất, dệt,

may và giày dép.

3.2. Định hướng phát triển các KCN Nhơn Trạch đến năm 2020

3.2.1. Định hướng chung

Quyết định số 1107/2006/QĐ-TTg ngày 21/08/2006 của Thủ tướng Chính phủ

về việc Phê duyệt Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm

2015 và định hướng đến năm 2020 với mục tiêu tổng quát là: “ Hình thành hệ thống

các khu công nghiệp chủ đạo có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia,

đồng thời hình thành các khu công nghiệp có quy mô hợp lý để tạo điều kiện phát

triển công nghiệp, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại những địa phương có tỷ

trọng công nghiệp trong GDP thấp. Đưa tỷ lệ đóng góp của các khu công nghiệp

vào tổng giá trị sản xuất công nghiệp từ trên 24% hiện nay lên khoảng 39-40% vào

năm 2010 và tới trên 60% vào giai đoạn tiếp theo. Tăng tỷ lệ xuất khẩu hàng công

nghiệp của các khu công nghiệp từ 19,2% giá trị xuất khẩu toàn quốc hiện nay lên

khoảng 40% vào năm 2010 và cao hơn vào các giai đoạn tiếp theo”.

Trên cơ sở mục tiêu phát triển các KCN Việt Nam, định hướng quy hoạch

các KCN tỉnh Đồng Nai và định hướng phát triển công nghiệp của huyện; định

hướng phát triển các KCN trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đến năm 2015, có tính

đến 2020 như sau:

- Phát triển các KCN Nhơn Trạch tương xứng với vị trí, tiềm năng, thế mạnh

về công nghiệp nhằm thúc đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH của địa phương.

- Phát huy lợi thế, chủ động nắm bắt cơ hội phát triển công nghiệp với nhịp độ

cao nhằm tạo chuyển biến và đẩy nhanh tốc độ xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển

đô thị mới Nhơn Trạch.

- Phát triển các KCN kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển

con người, nâng cao điều kiện sinh hoạt và sản xuất cho người lao động, giải quyết

công bằng xã hội, khắc phục chênh lệch mức sống giữa các bộ phận dân cư.

- Phát triển các KCN đi kèm với bảo vệ và giữ gìn môi trường sinh thái, sử

dụng tiết kiệm tài nguyên, quỹ đất, đảm bảo phát triển bền vững.

- Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phát triển KT-XH với nhiệm vụ quốc phòng - an

ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

3.2.2. Định hướng cụ thể

3.2.2.1. C¬ së h¹ tÇng

a. Cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào KCN

Việc phát triển cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào các KCN nằm trong quy hoạch đô

thị mới Nhơn Trạch đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ. Theo quy hoạch, đô

thị mới Nhơn Trạch bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính huyện có diện tích là

41.089,1 ha. Đây là một trong các trung tâm công nghiệp, thương mại – dịch vụ, du

lịch, giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tỉnh Đồng Nai và vùng KTTĐPN

hướng phát triển đạt tiêu chí của đô thị loại II và tương lai là loại I. Dự báo dân số

đến năm 2010 khoảng 265.000 người và đến năm 2020 khoảng 600.000 người.

* Giao thông

- Đường bộ: Đường cao tốc Biên Hoà - Vũng Tàu nằm phía Đông đô thị mới

Nhơn Trạch; Đường vành đai 2 TP. Hồ Chí Minh từ Quận 9 qua huyện Cần Giờ đi

về phía Tây Nam đô thị mới; Đường cao tốc liên vùng nối từ đường vành đai 2 TP.

Hồ Chí Minh với đường cao tốc Biên Hoà - Vũng Tàu;

- Đường thuỷ: xây dựng cảng hàng hoá Phước An tại sông Thị Vải, khu c¶ng

Phó H÷u (đo¹n s«ng §ång Nai vμ s«ng Lßng Tμu, Nhμ BÌ), khu c¶ng ¤ng Kèo,

cảng du lịch trên sông Đồng Tranh, sông Đồng Nai và các cảng khác triển khai theo

Quy hoạch nhóm cảng biển số 5 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

- Đường sắt: dự trữ quỹ đất cho tuyến đường sắt phía Nam đường cao tốc liên

vùng (tuyÕn ®−êng s¾t vμnh ®ai tõ BÕn Løc – Long An ®i qua Nhμ BÌ – Nh¬n

Tr¹ch – Long Thμnh

Mạng lưới giao thông trên địa bàn Nhơn Trạch được xây dựng quy hoạch mới

hoàn toàn với chỉ tiêu hiện đại phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế kết nối

với hệ thống giao thông quốc gia và liên vùng. Các đường chính cách nhau 100-

1200 m, giữa các đường chính TP là các đường chính khu vực. Mạng lưới đường

chính đô thị sẽ có hình bán khuyên xuyên tâm (so với KCN 2700 ha). Mật dộ đường chính 2,5-3km/km2.

* CÊp n−íc

- Nhu cÇu dïng n−íc: C¨n cø vμo tiªu chuÈn dïng n−íc sinh ho¹t khu nội thị

q=150 lít/người/ngày, khu ngoại thị q = 120 lÝt/ng−êi/ngμy (dự báo dân số đến năm

2010: khoảng 265.000 người, trong đó dân số nội thị khoảng 150.000 người; năm

2020: khoảng 600.000 người, trong đó dân số nội thị khoảng 450.000 người víi

diÖn tÝch 22.700 ha); n−íc KCN tËp trung qcn = 50 m3/ha/ngμy vμ nÕu tÝnh c¶ dÞch

vô 15% vμ tû lÖ thÊt tho¸t 28% th× tæng nhu cÇu n−íc tÝnh to¸n cho ®« thÞ vμ c«ng

nghiÖp trªn toμn huyện Nhơn Trạch đến năm 2020 lμ: Q = 350.000 m3/ngμy.

- Kh¶ n¨ng cung cÊp n−íc

+ Sử dụng nguồn nước sông Đồng Nai cấp cho nhà máy nước Thiện Tân 2 thông qua trạm tăng áp Nhơn Trạch công suất 200.000 m3/ngày; tương lai sẽ nâng công suất lên khoảng 300.000 - 350.000 m3/ngày;

+ Nhà máy sử dụng nguồn nước ngầm của KCN Nhơn Trạch I (công suất

10.000 m3/ngày);

+ Nhà máy sử dụng nguồn nước ngầm của Công ty Xây dựng cấp nước

Đồng Nai (công suất 20.000 m3/ngày).

+ Ngoμi ra cã mét sè nguån n−íc lÊy tõ Bμ RÞa – Vòng Tμu (KCN Gß

DÇu) h¬n 10.000 m3/ngμy ®ªm, dù kiÕn nhμ m¸y n−ớc Formosa (KCN Nhơn Trạch

3) 60.000 m3/ngμy ®ªm... nh− vËy kh¶ n¨ng hoμn toμn ®¸p øng nhu cÇu.

* Cấp điện

- Điện sinh hoạt (đến năm 2020) khu vực nội thị: 1.500 kWh/người/năm; khu

vực ngoại thị: 700 kWh/người/năm; Điện cấp cho công trình công cộng trong khu

vực nội thị: lấy bằng 40% chi tiêu điện sinh hoạt.Điện cấp cho các KCN: 250

kW/ha. Phụ tải điện đến năm 2020: khoảng 1.307.090 kW;

- Nguồn cung cấp điện: Lưới điện quốc gia thông qua tuyến cao thế 220 kV từ

nhà máy điện Phú Mỹ đến; Nhà máy điện Formosa 300 MW thuộc KCN Nhơn

Trạch 3; Nhà máy điện Nhơn Trạch 1và Nhơn Trạch 2 sử dụng khí 2.600 MW tại

Ngã ba sông Đồng Tranh và sông Lòng Tàu thuộc KCN Ông Kèo.

* Thoát nước

- Chỉ tiêu thoát nước thải công nghiệp 40 m3/ha. Tổng lưu lượng nước thải công nghiệp khoảng 144.000 m3/ngày. Thiết lập hệ thống thoát nước khu dân cư riêng và

KCN riêng, nước thải được đưa tới trạm xử lý làm sạch đạt tiêu chuẩn rồi xả ra sông

rạch.

- Nước thải của các nhà máy, xí nghiệp nằm trong khu vực nội thị yêu cầu xử lý

cục bộ đạt tiêu chuẩn vệ sinh giới hạn B trước khi thải ra hệ thống cống đô thị. Các

KCN xây dựng khu xử lý tập trung. Nước thải được xử lý cục bộ từng nhà máy và

sau đó xử lý tại trạm làm sạch tập trung. Sau khi xử lý nước thải phải đạt tiêu chuẩn

vệ sinh giới hạn A trước khi xả ra môi trường;

- Rác thải công nghiệp độc hại đưa về bãi rác của tỉnh tại xã Giang Điền huyện

Trảng Bom

* Thông tin liên lạc: Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin có công

nghệ hiện đại, chất lượng. Thay thế dần các tổng đài độc lập, Viba hóa toàn bộ

mạng truyền dẫn, các kênh dẫn, nâng dung lượng kênh sự dụng, các tuyến cáp treo

hiện hữu trong tương lai sẽ được ngầm hóa trên các tuyến trục giao thông nội thị.

* Nhà ở cho công nhân

UBND tỉnh Đồng Nai đang triển khai chương tình phát triển quỹ nhà ở xã hội

trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020. Dự

án này đang được triển khai thí điểm tại huyện Nhơn Trạch và TP. Biên Hòa (400

căn ở Tp.Biên Hòa, 100 căn ở huyện Nhơn Trạch); gồm 10 khối nhà (mỗi khối 50

căn) trên diện tích 2 ha đất cho 1.000 người với số vốn đầu tư 100 tỷ đồng. Mục tiêu

đề án đưa ra bố trí chỗ ở phù hợp theo tiêu chuẩn nhà ở xã hội cho 15% tổng số

công nhân lao động làm việc tại các KCN tập trung, KCX, khu công nghệ cao trên

địa bàn có nhu cầu về nhà ở (còn lại tỷ lệ 85% do dân cư tham gia đầu tư kinh

doanh nhà trọ theo chủ trương xã hội hóa của Trung ương và UBND tỉnh). Hiện nay

có nhiều dự án xây dựng nhà ở cho công nhân sẽ được triển khai trong thời gian tới:

- Dự án khu nhà ở xã Long An toạ lạc tại xã Long An, huyện Long Thành tỉnh

Đồng Nai. Khu nhà ở Long An nằm trong quy hoạch phát triển TP mới Nhơn Trạch

nhằm đáp ứng cho nhu cầu nhà ở cho chuyên gia và công nhân của các KCN: Nhơn

Trạch 1, Nhơn Trạch 2, Nhơn Trạch 3, Nhơn Trạch 5, Nhơn Trạch 6 và KCN Dệt may (Vinatex Tân Tạo) tổng diện tích khu nhà khoảng 21.500m2.

- Dự án khu nhà ở công nhân 10 ha tại khu dân cư ngã tư Hiệp Phước do

Công ty Cồ phần Đầu tư phát triển nhà và đô thị (IDICO) chủ đầu tư.Với quy mô 10

ha, được thiết kế là khu đô thị cao cấp phù hợp với quy hoạch chung của khu đô thị

mới Nhơn Trạch cùng định hướng phát triển không gian trên trục đường cao tốc TP.

Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, với một không gian kiến trúc hiện đại và

đầy đủ các công trình tiện ích, khu vui chơi giải trí, trường học, trung tâm thương

mại dịch vụ, …

- Công ty Lắp máy 45-1 với dự án xây dưng khu dân cư và nhà ở cho công

nhân diện tích 6,2 ha

- Công ty TNHH Vạn Phúc với dự án xây dựng khu nhà ở cho công nhân và chuyên gia trên diện tích 9.275 m2 tại ấp xóm Hố, xã Phú Hội phục vụ được cho

khoảng 2.172 người.

b. Cơ sở hạ tầng trong hàng rào KCN

Hoàn thiện cơ sở hạ tầng bên trong hàng rào KCN tạo ra môi trường công

nghiệp xanh, sạch, văn minh nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các

DN.

- Đường giao thông: Trên cơ sở TP mới Nhơn Trạch, mạng lưới đường KCN

sẽ hoàn thiện theo tiêu chuẩn của một TP hiện đại. KCN chiếm một góc của TP nên

mạng lưới đường chính của KCN cũng là các tuyến đường chính của TP. Tổng

chiều dài đường được quy hoạch trong nội bộ các KCN tập trung 2700ha là 63350

m, KCN Ông Kèo là 38240 m, tải trọng đường đạt trung bình 30 tấn, chiều rộng lộ

giới 80 m (đường chính thành phố), 30-60 m (đường nội bộ bộ KCN), tốc độ giao thông đạt trung bình 60 km/giờ, mật độ đường 2,3km/km2 chiếm 8% đất toàn KCN,

ước tính kinh phí hoàn thành 464 tỉ đồng.

- Hệ thống cấp nước: Từ nay đến năm 2020 sẽ xây dựng thêm các nhà máy

nước ngầm sau

+ Nhà máy nước ngầm số 2: công suất 10.000 m3/ngày, diện tích 1 ha đặt

tại KCN Nhơn Trạch 2 phục vụ KCN Nhơn Trạch 2.

+ Nhà máy nước ngầm số 3: công suất 10.000 m3/ngày, diện tích 1 ha đặt

tại KCN Nhơn Trạch 3, phục vụ KCN Nhơn Trạch 3.

+ Nhà máy nước ngầm số 4: công suất 10.000 m3/ngày, diện tích 1,5 ha đặt

tại phía nam KCN Nhơn Trạch 2 và KCN Nhơn Trạch 3 phục vụ KCN Nhơn Trạch

2 và KCN Nhơn Trạch 3.

+ Nhà máy nước ngầm số 5: công suất 5.000 m3/ngày, diện tích 0,5 ha đặt

tại trung tâm huyện phục vụ khu dân cư trung tâm huyện lỵ Nhơn Trạch .

Kinh phí thực hiện các dự án trên ước tính khoảng 180,030 tỉ đồng

- Hệ thống cấp điện: Ngoài trạm biến áp 110/22KV Tuy Hạ công suất

103MVA nhận 3 nguồn điện từ lưới điện quốc gia sẽ xây dựng quanh các KCN một

mạch vòng 110KV và 7 trạm biến thế 110/22KV( T1 đến T7) công suất mỗi trạm từ

3 x 40MVA đến 5 x 40MVA

+ Trạm T1 - 110/22KV- 4 x 40MVA: cấp điện cho phần đất công nghiệp

thuộc Công ty phát triển Công nghiệp và khu dân cư gần quốc lộ 51.

+ Trạm T2 - 110/22KV- 4 x 50MVA: cấp điện cho phần đất công nghiệp

thuộc Công ty Xây lắp 2 Đồng Nai và một phần khu dân cư ở phía bắc thành phố.

+ Trạm T7- 110/22KV- 4 x 40MVA: cấp điện cho phần đất công nghiệp

thuộc Công ty Tín Nghĩa Đồng Nai.

+ Trạm T5 - 110/22KV- 5 x 40 MVA và trạm T6 - 110/22KV- 5 x 40

MVA: cấp điện cho phần đất công nghiệp còn lại của KCN.

Từ các trạm biến thế 110/22KV trên sẽ có các tuyến trung thế 22KV đưa điện

đến các phụ tải. Theo quy hoạch chung của thành phố hệ thống điện sẽ sử dụng cáp

ngầm đi dọc theo các tuyến giao thông, dự toán tổng kinh phí thực hiện 542,79 tỉ

đồng.

- Hệ thống thoát nước thải và nhà máy xử lý nước thải: Các KCN Nhơn

Trạch 2 - Lộc Khang, Nhơn Trạch 2 - Nhơn Phú, Ông Kèo, Nhơn Trạch 5, Nhơn

Trạch 6 sẽ hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung

+ Nhà máy xử lý nước thải: KCN Nhơn Trạch 2- Nhơn Phú: sẽ khởi công

xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung vào tháng 5/2009 với công suất thiết kế 4.000m3/ngày đêm theo tiêu chuẩn TCVN 6984-2001 của Bộ Khoa học công nghệ

và Môi trường. Tổng kinh phí đầu tư 18 tỷ đồng, dự kiến đến tháng 11/2009 sẽ hoàn thành giai đoạn 1 công suất 2.000m3/ngày đêm và hoàn tất vào tháng 02/2010. KCN Nhơn Trạch 2- Lộc Khang (1.400m3/ ngày đêm), KCN Nhơn Trạch 5 ( 4.000 m3/ngày đêm), KCN Nhơn Trạch 6 (1.000m3/ngày đêm), KCN Ông Kèo (3.000m3/ngày đêm) theo tiêu chuẩn TCVN 6984-2001 của Bộ Khoa học công nghệ

và Môi trường.sẽ hoàn thành việc xây dựng cuối năm 2010.

+ Hệ thống thoát nước thải: là mạng lưới cống tự chảy đi qua tất cả các

nhà máy để thu gom nước bẩn; tổng chiều dài các tuyến cống của KCN tập trung là

39.050 m, KCN Ông Kèo là 22.840 m ; tổng kinh phí thực hiện 21, 032 tỉ đồng.

- Hệ thống cây xanh: hoàn thành diện tích cây xanh theo quy hoạch 450 ha

chiếm 13,46% tổng diện tích các KCN bao gồm

+ Cây xanh cách ly giữa KCN Nhơn Trạch và khu đô thị mới cũng như khu

dân cư nông thôn xung quanh diện tích 120 - 350 ha. tạo hành lang bảo vệ theo tiêu

chuẩn quy phạm đối với khu dân cư.

+ Cây xanh cách ly giữa các KCN, là hành lang bảo vệ các tuyến cao thế và

đường dẫn khí đốt. Dãi cây xanh này nằm trên các tuyến đường chính 25B, 25C,

25D và các tuyến đường dọc chính của KCN. Các dãy cây xanh này nằm trong nội

bộ KCN và có diện tích 90 – 100 ha.

+ Cây xanh công viên, vườn hoa trong KCN chiếm khoảng 50 ha

Bên cạnh đó, hệ thống đèn chiếu sáng, bãi đỗ xe cho KCN, trạm phòng cháy

chữa cháy, khu sinh hoạt văn hoá-văn nghệ thể thao cho công nhân.... cũng được

hoàn thiện nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư và người lao động.

3.2.2.2. Đất đai cho phát triển các KCN

Bảng 3.1: Diện tích cho thuê trong các KCN Nhơn Trạch đến năm 2020

STT KCN

Diện tích dùng cho thuê (ha) 2015 2020

1 2010 324 Nhơn Trạch 1 DT QH (ha) 430 345.5 365.5

2 273.6 Nhơn Trạch 2 347 294.95 311.95

262.6 Nhơn Trạch 3 (giai đoạn 1) 337 286.45 306.45 3 280.8 Nhơn Trạch 4 (giai đoạn 2) 351 298.4 300.4

4 211.6 Nhơn Trạch 5 302 246.7 286.1

5 141.2 Dệt May Nhơn Trạch 184 156.4 167.3

7 105.2 Nhơn Trạch 6 315 207.75 282.12

7 133.4 Nhơn Trạch 2 – Nhơn Phú 183 158.5 170.2

8 45.5 Nhơn Trạch 2 – Lộc Khang 70 59.6 61.1

9 643.4 Ông Kèo 823 689.55

2421.3 Tổng cộng 3342 2743.8 700.55 2951.67

Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đến năm

2015 có tính đến năm 2020, Sở Công Thương Đồng Nai.

Diện tích cho thuê đến thời điểm 31/12/2008 khoảng 1.512,120 ha, tuy nhiên,

nếu xét về quy mô GTSXCN trên địa bàn huyện mang lại đến cuối tháng 12/2008 là

8.377 tỷ đồng. Như vậy, nếu không tính độ trễ của các dự án mới đầu tư thì bình

quân 1 ha đất đã cho thuê đạt trên 5,54 tỷ đồng GTSXCN (8.377/1.512). Với quy

mô như hiện nay cho thấy giá trị sản xuất trên 1 đơn vị diện tích đã cho thuê còn rất

thấp so với mặt bằng chung toàn tỉnh (toàn tỉnh khoảng 16,8 tỷ đồng/ha). Điều này

cho thấy nhiều DN trên địa bàn mới thuê đất đầu tư, chưa phát huy diện tích đất đã

thuê trong phát triển sản xuất. Nếu lấy mức bình quân chung hiện nay của 2 khu

KCN đã lấp đầy và sản xuất ổn định là Biên Hoà 1 và Biên Hoà 2 là 50 tỷ đồng giá

trị sản xuất công nghiệp/1ha đất cho thuê thì với diện tích đã cho thuê như hiện nay

có thể sẽ đạt được 1 lượng giá trị sản xuất công nghiệp bằng 9 lần hiện tại của Nhơn

Trạch, tương đương với khoảng trên 75.000 tỷ đồng. Như vậy, quy hoạch phát triển

công nghiệp trên địa bàn huyện đến 2020 với mục tiêu đạt giá trị sản xuất công

nghiệp khoảng trên 100.000 tỷ đồng. Nếu lấy mức quy mô 50 tỷ đồng/ 1 ha thì đến

năm 2020 Nhơn Trạch cần khoảng 2.000 ha diện tích đất cho thuê.

Với nhu cầu về đất đai cho phát triển công nghiệp đến 2020 khoảng 2.900 ha

đất cho thuê, trong khi đó hiện tại diện tích đất cho thuê đã quy hoạch khoảng 3.000

ha, như vậy hoàn toàn có thể đáp ứng cho nhu cầu về diện tích phát triển công

nghiệp đến năm 2020 trên địa bàn huyện. Do đó định hướng về quy hoạch khu, cụm

công nghiệp trên địa bàn đến năm 2020 là không quy hoạch thêm khu, cụm công

nghiệp mới, giữ nguyên diện tích đất đã quy hoạch.

Hiện nay, diện tích đất đai cho phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện chủ

yếu tập trung ở các KCN và cụm công nghiệp. Với 9 KCN đã được phê duyệt (8

khu cũ đã hoạt động theo quy chế KCN, 1 khu mới phê duyệt) có tổng diện tích

3.342 ha. Bên cạnh đó, huyện đã quy hoạch 1 cụm công nghiệp với diện tích 100 ha

(diện tích cho thuê khoảng 30 ha), đã giới thiệu địa điểm hết cho các nhà đầu tư và

có 4 nhà máy đang hoạt động. Như vậy, tổng diện tích đất đã quy hoạch cho phát

triển công nghiệp trên địa bàn huyện đến năm 2020 khoảng 3.600 ha (không tính

diện tích của các cơ sở sản xuất nằm ngoài khu, cụm công nghiệp).

3.2.2.3. Vốn đầu tư

Dự báo tổng vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện giai

đoạn 2008 – 2020 là 121.312 tỷ đồng, tương đương với 11,028 tỷ USD (theo giá

quy đổi 1994), chiếm 26,8% tổng vốn đầu tư công nghiệp toàn tỉnh cùng giai đoạn.

Bảng 3.2. Dự báo nhu cầu vốn đầu tư phát triển công nghiệp đến năm 2020

Nhu cầu vốn đầu tư (Triệu USD)

STT

Danh mục

2008-2020

2008- 2010

2011- 2015

2016- 2020

Toàn Tỉnh

3528

12251

25364

41143

I

Huyện Nhơn Trạch

762

2867

7398

11028

II

Chia theo nhóm ngành:

37

172

320

529

1

Ngành khai thác và SXVLXD

9

75

264

348

2

Ngành chế biến nông sản, thực phẩm

319

746

824

1890

3

Ngành dệt, may, giày dép

12

53

25

89

4

Ngành chế biến gỗ

11

110

407

529

5

Ngành giấy, sản phẩm từ giấy

163

694

2308

3164

6

Ngành hoá chất, cao su, plastic

165

689

2137

2990

7

Ngành cơ khí

47

328

1102

1477

8

Ngành điện - điện tử

0,24

1

11

12

9

Ngành điện - nước

Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đến năm 2015 có tính đến năm 2020, Sở Công Thương Đồng Nai

. Trên cơ sở dự báo vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện

giai đoạn 2008 – 2020, tổng hợp dự báo tình hình thu hút vốn đầu tư cho phát triển

các KCN trên địa bàn huyện như sau:

Bảng 3.3: Vốn đầu tư luỹ kế đến năm 2020

Giai đoạn 2008-2010 2011-2015 2016-2020

Vốn đầu tư luỹ kế (triệu USD) 5.000 8.000 11.000

Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đến năm

2015 có tính đến năm 2020, Sở Công Thương Đồng Nai

Thêi gian qua, nguån vèn ®Çu t− v(cid:31)o các KCN chñ yÕu tõ n−íc ngoμi, th«ng

qua thu hót ®Çu t− trùc tiÕp. Giai ®o¹n 1995– 2005 tû träng nguån vèn ĐTNN

chiÕm gần 100%. Hiện nay, vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp trên địa bàn

huyện chủ yếu cũng là ĐTNN chiếm đến 98,8%, trong nước chỉ chiếm 1,2%.

Dù b¸o thêi gian tíi, nguån vèn ĐTNN tiÕp tôc chiÕm vai trß quan träng trong

viÖc ph¸t triÓn các KCN trên địa bàn huyện Nhơn Trạch, c¬ cÊu nguån vèn nh− sau:

Bảng 3.4. Cơ cấu hình thức vốn đầu tư đến năm 2020

N¨m Cơ cấu vốn đầu tư 2005 2008 2015 2020 2010

100 10,0 90,0 100 1,2 98,8 100 5,0 95,0 100 20,0 80,0 100 1,0 99,0

Tæng sè (%) - §Çu t− trong n−íc - §Çu t− n−íc ngoài Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đến năm

2015 có tính đến năm 2020, Sở Công Thương Đồng Nai

Do đó, dự báo cơ cấu nguồn vốn này đến năm 2020 là 80% vốn ĐTNN và

20% vốn ĐTTN.

Với nhu cầu nguồn vốn cho phát triển công nghiệp của huyện trong thời gian

tới là rất lớn, trong đó nguồn vốn ĐTNN là chính, vì thế cần tập trung các giải pháp

tạo điều kiện thuận lợi để thu hút ĐTNN, nhất là các tập đoàn lớn, các công ty đa

quốc gia (TNT) có tiềm lực vốn lớn, công nghệ hiện đại vào đầu tư. Các giải pháp

tập trung vào tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, hạ tầng kỹ thuật..., và

nhất là nguồn nhân lực cho phát triển.

3.2.2.4. Lao động

Trên cơ sở tổng hợp dự báo nhu cầu về lao động cho phát triển các ngành công

nghiệp chủ yếu trên địa bàn huyện giai đoạn 2008 – 2020, dự báo nhu cầu lao động

cho phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện như sau:

- Dự báo đến năm 2020, lao động công nghiệp trên địa bàn huyện là 280.000

người, chiếm 20% lao động công nghiệp toàn tỉnh, cụ thể:

+ Giai đoạn 2008-2010 các ngành nghề thu hút nhiều lao động vẫn tiếp tục

phát triển do mới đầu tư phát huy năng lực và hiện tại tiếp tục đầu tư theo vốn đã

đăng ký, dự báo đến năm 2010 lao động ngành công nghiệp trên địa bàn huyện là

77.350 người, tăng thêm 42.523 người so năm 2005, chiếm 13,0% trong cơ cấu lao

động toàn ngành công nghiệp, tốc độ tăng lao động bình quân giai đoạn 2008-2010

là 22,2%/năm.

Bảng 3.5. Dự báo nhu cầu lao động công nghiệp huyện Nhơn Trạch đến năm 2020

Tổng số lao động (người)

Danh mục

STT

2010

2015

2020

Tốc độ tăng bình quân (%) 2008- 2010

2006- 2010

2011- 2015

2016- 2020

77,350 152,000 280,000

21.4

18.7

14.5

13.0

3,017

4,408

5,600

14.3

7.9

4.9

8.2

1

774

2,280

5,600

8.2

24.1

19.7

8.9

2

Ngành Ngành khai thác và SXVLXD Ngành chế biến nông sản, thực phẩm

3

53,372

82,080 121,520

19.1

14.4

9.0

8.2

Ngành dệt, may, giày dép

4

1,547

2,280

2,800

2.3

10.3

8.1

4.2

Ngành chế biến gỗ

5

774

1,520

4,200

22.1

16.1

14.5

22.5

Ngành giấy,sản phẩm từ giấy

6

7,735

24,320

50,400

77.3

59.3

25.7

15.7

Ngành hoá chất, cao su, plastic

7

7,735

22,800

56,000

30.1

39.4

24.1

19.7

Ngành cơ khí

8

2,321

12,160

33,600

8.6

98.6

39.3

22.5

Ngành điện - điện tử

9

77

152

280

51.7

28.6

14.5

13.0

Ngành điện - nước

Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đến năm

2015 có tính đến năm 2020, Sở Công Thương Đồng Nai

+ Giai đoạn 2011 – 2015, với việc bước đầu phát triển mạnh các ngành

công nghệ hiện đại, công nghệ, các ngành nghề sử dụng nhiều vốn, dự báo đến năm

2015, lao động ngành công nghiệp trên địa bàn huyện là 152.000 người, tăng thêm

74.650 người so năm 2010, chiếm 16,0% trong cơ cấu lao động toàn ngành công

nghiệp, tốc độ tăng lao động bình quân giai đoạn 2011-2015 là 14,5%/năm.

+ Giai đoạn 2016-2020 tiếp tục duy trì phát triển mạnh các ngành công

nghệ hiện đại, công nghệ, các ngành nghề sử dụng nhiều vốn, dự báo đến năm 2020,

lao động ngành công nghiệp trên địa bàn huyện là 280.000 người, tăng thêm

128.000 người so năm 2015, chiếm 20,0% trong cơ cấu lao động toàn ngành công

nghiệp, tốc độ tăng lao động bình quân giai đoạn 2016-2020 là 13%/năm.

Trên cơ sở tổng hợp dự báo nhu cầu về lao động cho phát triển công nghiệp

trên địa bàn huyện giai đoạn 2008 – 2020, dự báo nhu cầu lao động cho phát triển

các KCN trên địa bàn huyện như sau:

Bảng 3.6: Dự báo lao động trong các KCN Nhơn Trạch đến năm 2020

N¨m Lao động 2005 2008 2015 2020 2010

36.239 150.000 250.000 75.000 46.383

147.000 200.000 5.000 3.000 35.255 984 45.163 1220 73.000 2000

Tæng sè (người) Trong n−íc N−íc ngoài Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn Trạch đến năm

2015 có tính đến năm 2020, Sở Công Thương Đồng Nai.

Với nhu cầu về lao động công nghiệp trên địa bàn huyện là rất lớn, đây cũng là

một trong những khó khăn lớn nhất trong phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện

trong thời gian tới. Để đáp ứng được nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp

trên địa bàn huyện, cần phải có sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành từ trung

ương đến địa phương. Bên cạnh đó là vai trò quyết định là của các DN trong việc

tạo việc làm, thu nhập thoả đáng cho người lao động, cũng như các điều kiện về

phúc lợi, đời sống tinh thần.

3.2.2.5. Các ngành công nghiệp chủ yếu

Trên cơ sở định hướng chung về phát triển công nghiệp trên địa bàn huyện

Nhơn Trạch, định hướng ưu tiên tập trung phát triển 4 ngành công nghiệp chủ lực

trên địa bàn huyện từ nay đến 2020 theo thứ tự như sau:

- Ngành công nghiệp cơ khí: Đẩy mạnh thu hút đầu tư vào ngành cơ khí để đến

năm 2020 ngành cơ khí là một trong những ngành chủ lực, chiếm tỷ trọng cao trong

cơ cấu ngành công nghiệp của huyện. Các sản phẩm tập trung vào cơ khí lắp ráp và

chế tạo thiết bị, phụ tùng ô tô; cơ khí chế tạo máy móc thiết bị, kết cấu kiện kim

loại; sản xuất kim loại; cơ khí sửa chữa phương tiện vận tải, đóng và sửa chữa tàu

thuyền; sản phẩm cơ khí tiêu dùng;...

- Ngành công nghiệp điện – điện tử: Đa dạng hóa ngành công nghiệp điện -

điện tử; thu hút và tập trung vào các công ty sản xuất linh kiện, máy móc thiết bị

điện; công nghệ thông tin, viễn thông hiện đại; thu hút và tập trung vào các công ty

sản xuất linh kiện, thiết bị điện, điện tử đòi hỏi nhiều vốn và kỹ thuật; thúc đẩy xuất

khẩu ở các công ty sản xuất sản phẩm dân dụng hiện đang sản xuất thay thế nhập

khẩu; thu hút và phát triển các công ty liên quan tới phần mềm...; và các máy móc,

thiết bị điện phục vụ các ngành sản xuất khác.

- Ngành công nghiệp hoá chất: Phát triển công nghiệp hóa chất trên địa bàn

huyện để thành ngành công nghiệp chủ lực không chỉ của huyện mà của toàn tỉnh;

kết nối với các dự án sản xuất hoá chất lớn, các dự án lọc hoá dầu, khí thiên nhiên.

Phát triển ngành công nghiệp hoá chất trên cơ sở có chọn lọc về sản phẩm, công

nghệ... với điều kiện bảo đảm tuyệt đối về môi trường. Định hướng vào sản xuất các

sản phẩm, gồm: Hoá chất tổng hợp; khí thiên nhiên, khí công nghiệp, khí hiếm; sản

phẩm cao su, nhựa, sợi tổng hợp... kỹ thuật cao; dược phẩm, hoá mỹ phẩm; hoá chất

tổng hợp phục vụ công nghiệp dệt, may, giày dép...

- Ngành công nghiệp dệt, may và giày dép: Với định hướng giảm dần tỷ trọng

của ngành trong cơ cấu ngành công nghiệp trên địa bàn huyện, tuy nhiên, từ nay đến

năm 2020 ngành dệt, may và giày dép vẫn là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu

các ngành công nghiệp trên địa bàn huyện, đây vẫn là ngành chủ lực của công

nghiệp huyện và có tác động trực tiếp đến tăng trưởng công nghiệp trên địa bàn

huyện. Do đó định hướng phát triển của ngành là tập trung đầu tư chiều sâu, phát

triển các DN hiện có; không phát triển thêm DN mới, để gia tăng giá trị và chất

lượng sản phẩm. Đa dạng hoá sản phẩm ngành dệt, may và giày dép để đáp ứng nhu

cầu trong nước và xuất khẩu.

3.3. Giải pháp phát triển các KCN Nhơn Trạch đến năm 2020

3.3.1. Giải pháp về đầu tư và thu hút đầu tư

Nhu cầu vốn đầu tư vào các KCN trên địa bàn huyện Nhơn Trạch dự kiến giai

đoạn 2008-2020 khoảng 11tỷ USD, chiếm 27% vốn đầu tư của các KCN Đồng Nai.

Đây là nguồn vốn lớn, trong đó chủ yếu vẫn là nguồn vốn thu hút từ ĐTNN là

chính. Do đó, giải pháp về đầu tư chủ yếu tập trung vào tạo những điều kiện thuận

lợi để thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp trên địa bàn

huyện, cụ thể:

- Tập trung đầu tư hạ tầng kỹ thuật đồng bộ các KCN, tạo điều kiện về mặt

bằng đất đai cho thu hút đầu tư các dự án lớn. Cần đầu tư xây dựng thực hiện hệ

thống giao thông đường bộ, các hệ thống đã được Trung ương phê duyệt quy hoạch

như cảng hàng hóa Nhơn Trạch, cảng du lịch Đồng Tranh, hệ thống cảng KCN Ông

Kèo… Qua đó phát triển các dịch vụ phục vụ như vận chuyển, sửa chữa cơ khí…

Triển khai nhanh những dự án hạ tầng kết nối trực tiếp Nhơn Trạch với vùng

KTTĐPN. Sớm khởi động các dự án lớn như: cầu đường quận 9 - Tp.HCM đến

Nhơn Trạch, đường cao tốc Tp.HCM - Long Thành - Dầu Giây. Việc hoàn thành

sớm các công trình này sẽ gắn kết chặt chẽ hơn nữa Nhơn Trạch với các trung tâm

đô thị lớn, nâng cao sức hút đầu tư vào địa bàn.

- Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN trong các KCN tiếp tục

đầu tư, phát triển sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất. Để thực hiện được vấn đề

trên, cần thực hiện tốt phương châm “Chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp”,

trong đó cần ưu tiên tập trung giải quyết những khó khăn, vướng mắc của các DN

về các chế độ chính sách (thuê đất, thuế, xuất nhập khẩu...), về nguồn nhân lực. Hỗ

trợ các điều kiện về cơ sở hạ tầng (điện, nước, giao thông, thông tin liên lạc...), đất

đai mở rộng sản xuất, xây dựng nhà ở công nhân và các vấn đề có liên quan như

đưa rước công nhân, đào tạo nguồn nhân lực...

- Trên cơ sở xác định danh mục các dự án đầu tư vào các KCN trên địa bàn

huyện, cần có phân loại và chọn lọc dự án để thực hiện công tác xúc tiến đầu tư có

trọng tâm, trọng điểm. Thực hiện đẩy mạnh việc vận động và xúc tiến đầu tư, trong

đó tập trung thu hút các tập đoàn lớn, có tiềm lực về vốn, công nghệ, thương hiệu...

đầu tư vào các ngành nghề mũi nhọn, như: các dự án ngành cơ khí, ngành điện -

điện tử, hoá chất.

- Tiếp tục thực hiện tốt và tăng cường cải tiến thủ tục hành chính, đảm bảo

nhanh gọn và thuận lợi cho các nhà đầu tư, vì đây là một trong những nguyên nhân

thành công trong thu hút đầu tư của Nhơn Trạch nói riêng và Đồng Nai nói chung

trong thời gian qua. Rà soát, bổ sung cơ chế chính sách để tiếp tục hoàn thiện môi

trường đầu tư, kinh doanh, chú trọng cơ chế chính sách đặc thù phát huy được lợi

thế và vai trò của địa bàn.

3.3.2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực

Thời gian qua, nguồn nhân lực là một trong những khó khăn lớn nhất trong

phát triển các KCN trên địa bàn huyện. Nguồn nhân lực không những thiếu lớn về

số lượng mà cả về chất lượng. Nhiều dự án không thể phát triển và mở rộng sản

xuất do thiếu nguồn nhân lực. Đây không những là khó khăn cho phát triển công

nghiệp trong hiện tại, mà ngày càng khó khăn cho tương lai khi Nhơn Trạch là địa

bàn đang phát triển mạnh về công nghiệp. Do đó giải pháp về nguồn nhân lực cho

phát triển các KCN đóng một vai trò quan trọng hàng đầu, nhất là nguồn nhân lực

có tay nghề, có trình độ kỹ thuật để phục vụ phát triển các ngành cơ khí, điện – điện

tử, hoá chất… Để đạt được mục tiêu quy hoạch, phát triển nguồn nhân lực được coi

là ưu tiên tập trung theo hướng sau:

- Sớm thực hiện chương trình nhà ở xã hội nhằm giải quyết tốt nhà ở cho các

đối tượng có thu nhập thấp trên địa bàn. Giải quyết tốt vấn đề nhà ở sẽ góp phần ổn

định cuộc sống của người lao động, từ đó người lao động an tâm làm việc, tích cực

lao động sản xuất. Phát triển các loại hình dịch vụ có chất lượng, phục vụ cho nhu

cầu phát triển các KCN như dịch vụ nhà trọ, phục vụ bữa ăn cho công nhân, dịch vụ

xuất nhập khẩu, vận chuyển, bốc dỡ hàng hóa, vận chuyển công cộng (xe buýt,

taxi), các dịch vụ nhà hàng, khách sạn, dịch vụ vui chơi giải trí... Đây là một trong

những yếu tố tạo sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư và người lao động đến với địa

phương và giữ được lực lượng lao động hiện tại đang có những biến động lớn trên

địa bàn tỉnh cũng như các vùng cả nước. Đối với giải pháp này, ngoài vai trò hỗ trợ

của nhà nước, chính quyền địa phương, bản thân các DN đóng vai trò quyết định

trong việc duy trì, thu hút nguồn nhân lực bằng chính những chính sách của riêng

mình, DN biết kết hợp hài hoà giữa lợi ích của DN và lợi ích của người lao động thì

người lao động sẽ gắn bó chặt chẽ với DN.

- Tạo nguồn cung lao động cho các KCN là giải pháp quyết định đến việc hình

thành lực lượng lao động cho những năm tới. Để thực hiện được vấn đề này cần có

sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân

lực từ trung ương đến địa phương với các DN, có sự liên kết hỗ trợ về nguồn nhân

lực giữa các địa phương trong cả nước, tạo điều kiện chuyển dịch về lao động giữa

các địa phương trong và ngoài tỉnh. Cần nghiên cứu hình thành chương trình hợp

tác, liên kết về lao động giữa các địa phương và DN, nhằm hỗ trợ DN có đủ nguồn

nhân lực phục vụ phát triển… Đây là một trong những giải pháp quan trọng để thu

hút, tạo thêm lực lao động mới cho ngành công nghiệp trên địa bàn huyện nói riêng

và toàn tỉnh nói chung.

- Đẩy nhanh triển khai xây dựng các trường đại học, cao đẳng theo quy hoạch

để sớm đưa các cơ sở này đi vào hoạt động nhằm đào tạo lực lượng lao động có

chuyên môn ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên

sâu cần thiết Tạo mọi điều kiện để phát triển, hợp tác với nhiều cơ sở dạy nghề

nhằm cung cấp lực lượng công nhân lao động lành nghề đáp ứng yêu cầu lao động

của các DN trên địa bàn. Cùng với phát triển các cơ sở dạy nghề công lập, thực hiện

việc phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề thông qua việc khuyến khích các tổ chức,

cá nhân có điều kiện mở ra cơ sở dạy nghề, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ, giáo viên dạy nghề. Thực hiện liên kết giữa 3 nhà (Nhà nước, Nhà doanh nghiệp

và Nhà trường) trong việc đào tạo nghề. Đổi mới chương trình, công nghệ đào tạo

phù hợp với yêu cầu cung cấp nhân lực cho các KCN.

- Hoàn thiện các chính sách liên quan đến thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực,

trong đó đặc biệt là các chính sách như: khuyến khích người lao động tham gia vào

đào tạo chuyên môn kỹ thuật; phát triển và điều chỉnh thị trường lao động (phát

triển hệ thống cung ứng, tư vấn việc làm; chính sách tác động lên cung - cầu và

quan hệ cung - cầu lao động, chính sách di chuyển lao động trên thị trường lao

động...), tiền lương và tiền công đối với hệ thống những người làm công tác đào tạo,

dạy nghề và lao động chuyên môn kỹ thuật cao, ưu tiên đối với học sinh học các

nghề tuy nền kinh tế có nhu cầu nhưng khó thu hút học sinh (nghề kém hấp dẫn,

nghề nặng nhọc, độc hại...).

- Tiếp tục nghiên cứu hình thành thị trường lao động trên phạm vi cả nước,

vùng và trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh công tác hỗ trợ của nhà nước về tạo nguồn lao

động cho các DN thông qua tăng cường vai trò của các Trung tâm Xúc tiến việc

làm, thường xuyên tổ chức có hiệu quả Hội chợ việc làm… nhằm phát triển thị

trường lao động và tạo điều kiện cho DN và người lao động có điều kiện hợp tác

với nhau.

3.3.3. Giải pháp về thị trường

3.3.3.1.Đối với thị trường trong nước

Với vị trí địa lý thuận lợi nằm ở phía tây nam tỉnh Đồng Nai, giáp với tỉnh Bà

Rịa Vũng Tàu và TP. Hồ Chí Minh - trung tâm vùng KTTĐPN, là vùng tiêu thụ sản

phẩm lớn. Với vị trí này, Nhơn Trạch có lợi thế so sánh cao hơn so với nhiều huyện

trong tỉnh và ngoài tỉnh. Do đó các DN cần đẩy mạnh việc tiêu thụ trong nước đối

với những sản phẩm hàng hoá là những sản phẩm có lợi thế của địa phương so với

các địa phương khác.

- Nhơn Trạch là địa phương có ngành dệt may phát triển và chiếm tỷ trọng lớn

trong cơ cấu công nghiệp của huyện, tuy nhiên sản phẩm dệt may phục vụ xuất

khẩu rất lớn, tiêu thụ trong nước chiếm khoảng 18% doanh thu. Do chưa thật sự

quan tâm đến thị trường trong nước nên số DN gặt hái thành công chỉ đếm trên đầu

ngón tay, do đó mục tiêu của ngành dệt may trong thời gian tới là phải tìm cách để

tăng thị phần tại thị trường trong nước.

- Về phía DN, cần tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ nội địa,

khẳng định vị trí của mình trên thị trường nội địa. Liên kết hợp tác và hỗ trợ chặt

chẽ giữa chính quyền thông qua công tác xúc tiến thương mại, với nhà sản xuất, với

kênh phân phối và người tiêu dùng. Phát triển thị trường nội địa sẽ góp phần hạn

chế nhập siêu, vừa góp phần vào chủ trương kiềm chế lạm phát vừa giúp DN vượt

qua khó khăn.

- Để tạo điều kiện cho các DN mở rộng thị trường trong nước, về phía địa

phương, trên cơ sở chương trình xúc tiến thương mại chung, cần đẩy mạnh việc hỗ

trợ, quảng bá cho các DN thông qua việc tổ chức tham gia hội chợ triển lãm trong

nước theo từng chuyên ngành.

3.3.3.2.Đối với thị trường nước ngoài

Hiện nay kim ngạch xuất khẩu của các KCN chiếm khoảng trên 90% doanh

thu xuất khẩu ngành công nghiệp toàn huyện, do đó xác định thị trường xuất khẩu là

thị trường hết sức quan trọng. Thị trường trong nước mặc dù sẽ gia tăng sức tiêu thụ

do kinh tế nước ta phát triển nhưng vẫn bị giới hạn bởi phạm vi của một quốc gia

mà thôi. Do đó, để phát triển mạnh trong thời gian tới thì thị trường xuất khẩu của

các KCN vẫn là thị trường nước ngoài. Dự báo đến những năm 2015, 2020 kim

ngạch xuất khẩu của ngành công nghiệp sẽ chiếm tỷ trọng 60 – 70% doanh thu tiêu

thụ, do đó giải pháp về thị trường xuất khẩu của các KCN cần tập trung:

- Tiếp tục khai thác thị trường truyền thống là các nước châu Á, châu Âu…

bên cạnh đó cần đẩy mạnh khai thác các thị trường mới như châu Mỹ, châu Úc,

Phi… để đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu . Tận dụng khả năng về thị trường,

thương hiệu… của các công ty, tập đoàn đa quốc gia để đưa sản phẩm công nghiệp

tham gia và thị trường tiêu thụ toàn cầu, nhất là các sản phẩm ngành dệt, cơ khí,

điện - điện tử.

- Cung cấp thông tin miễn phí về thị trường trong và ngoài nước thông qua các

cơ quan quản lí nhà nước, bộ phận xúc tiến thương mại của tỉnh. Hỗ trợ cung cấp

thông tin về thị trường và công khai các chương trình xúc tiến thương mại hàng

năm của Trung ương cho các DN tham gia. Mở rộng quan hệ hợp tác thông qua

công tác đối ngoại, thường xuyên tổ chức các đoàn công tác nghiên cứu, tìm hiểu

thị trường, tạo mọi điều kiện cho các DN nghiên cứu, mở rộng thị trường tiêu thụ.

- Đối với những DN đủ điều kiện được ưu tiên đăng ký chương trình xúc tiến

thương mại, tham gia hội chợ, triển lãm chuyên ngành được hỗ trợ một phần kinh

phí. Nguồn và mức kinh phí hỗ trợ này được thực hiện thông qua chương trình xúc

tiến thương mại của tỉnh hàng năm. Đối với các hội chợ, triển lãm do ngành Công

Thương và các ngành khác chủ trì, DN có nhu cầu gửi hàng phù hợp với chương

trình, ngân sách hỗ trợ 100% chi phí. Các hỗ trợ đối với các DN được thực hiện

theo chương trình xúc tiến thương mại hàng năm của tỉnh và theo đúng những quy

định của chính phủ tại Quyết định số 279/2005/QĐ-TTg ngày 03/11/2005 về việc

ban hành quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia

giai đoạn 2006 – 2010.

- Về phía các DN, giải pháp thị trường xuất khẩu là một trong những giải pháp

quan trọng để giúp các DN phát triển nhanh, khi thị trường trong nước sức mua còn

thấp. Sự hỗ trợ của nhà nước không thể thay thế vai trò chủ động của DN trong việc

tìm kiếm thị trường xuất khẩu. Để thực hiện giải pháp này, các DN cần tăng cường

công tác nghiên cứu thị trường thế giới, vận dụng linh hoạt các hình thức thông tin,

quảng cáo, Web, Internet... để giới thiệu sản phẩm của mình với thị trường thế giới.

Chú trọng việc đào tạo đội ngũ cán bộ xúc tiến thương mại giỏi, am hiểu kinh doanh

quốc tế và giao dịch thương mại.

3.3.4.Giải pháp về khoa học công nghệ

Giải pháp khoa học - công nghệ là giải pháp quan trọng trong phát triển bền

vững ngành công nghiệp, do vậy cần khuyến khích ứng dụng khoa học công nghiệp

mới vào sản xuất kinh doanh, sử dụng công nghệ tiên tiến, giảm thiểu ô nhiễm môi

trường. Hiện nay, trình độ công nghệ của các DN trong các KCN nhìn chung đạt

mức trung bình tiên tiến do có nhiều nhà ĐTNN đầu tư. Trong giai đoạn hội nhập

kinh tế khu vực và quốc tế, để đảm bảo sự tồn tại, sống còn và nâng cao khả năng

cạnh tranh, các DN phải nâng cấp công nghệ.

- Đối với các dự án đầu tư mới cần áp dụng công nghệ tiên tiến, kiên quyết

không nhập khẩu công nghệ và thiết bị đã lạc hậu. Chú trọng đầu tư công nghệ theo

hướng hiện đại hoá, tự động hoá quy trình sản xuất, sử dụng công nghệ khép kín,

đảm bảo tốt hơn môi trường quản lý, giảm tiêu hao năng lượng vật tư.

- Các DN được hỗ trợ xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến và

bảo hộ tài sản trí tuệ trong quá trình hội nhập (nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công

nghiệp, tên gọi xuất xứ hàng hoá, giải pháp hữu ích và sáng chế, xây dựng thương

mại điện tử theo mô hình B2C, xây dựng Website...) theo quy định tại chương trình

số 8395/CTr-HTQT và số 8396/CTr-HTQT ngày 26/12/2005 của Ban Hợp tác Kinh

tế Quốc tế tỉnh. Cho vay không lãi suất từ Quỹ khuyến khích phát triển khoa học,

công nghệ để các DN sản xuất sản phẩm thực hiện dự án hoàn thiện công nghệ (sản

xuất thử nghiệm sản phẩm mới, quy trình mới...).

- Các DN sản xuất sản phẩm thuộc nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực của

tỉnh giai đoạn 2006 – 2010 được ưu tiên hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lí chất

lượng tiên tiến, ưu tiên nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ vào sản

xuất. Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh Đồng Nai

giai đoạn 2006 – 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 955/QĐ-UBND ngày

18/4/2007 của UBND tỉnh Đồng Nai với mức hỗ trợ được thực hiện tại Quy định hỗ

trợ DN tham gia chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh

Đồng Nai giai đoạn 2006 – 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 64/QĐ-UBND của

UBND tỉnh Đồng Nai.

- Các DN thuộc đối tượng hỗ trợ khuyến công theo quy định tại Nghị định số

134/2004/NĐ-CP ngày 09/06/2004 của Chính phủ về khuyến khích phát triển công

nghiệp nông thôn, được ưu tiên hỗ trợ kinh phí liên quan đến các hoạt động khoa

học - công nghệ, như: Chuyển giao công nghệ, sản xuất thử nghiệm, xây dựng mô

hình trình diễn kỹ thuật... với mức hỗ trợ theo quy định tại Thông tư liên tịch số

36/2005/TTLT-BTC-BCN, ngày 16/5/2005 của Bộ Tài chính - Bộ Công nghiệp về

Hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động

khuyến công.

- Hỗ trợ cung cấp thông tin về công nghệ, thiết bị cho các DN nhất là các DN

vừa và nhỏ nhằm tạo điều kiện cho các DN tiếp cận công nghệ mới, sản xuất những

sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường. Tiếp tục phối hợp và liên kết chặt chẽ

với các Trường đại học,Viện nghiên cứu, các nhà sản xuất thiết bị... thực hiện hỗ trợ

kỹ thuật sản xuất và triển khai có hiệu quả và chuyên nghiệp các hội chợ công nghệ,

thiết bị, tổ chức các hội thảo về công nghệ, thiết bị... cho các nhà đầu tư lựa chọn

phù hợp.

- Tổ chức thức hiện tốt Nghị định 11/2005/NĐ-CP ngày 02/02/2005 của Chính

phủ về chuyển giao công nghệ, đưa công tác thẩm định công nghệ vào nề nếp, đảm

bảo quyền lợi của bên bán công nghệ và các DN nhận chuyển giao công nghệ.

3.3.5. Giải pháp về môi trường

Vấn đề môi trường với phát triển công nghiệp đang là vấn đề được xã hội

hết sức quan tâm. Phát triển công nghiệp trong bối cảnh hiện nay phải gắn chặt với

bảo vệ môi trường là một yêu cầu bức thiết, đảm bảo cho các KCN trên địa bàn

huyện phát triển bền vững. Trong thời điểm Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào

nền kinh tế khu vực và thế giới, việc bảo vệ môi trường để phát triển bền vững của

đất nước, tạo thuận lợi cho hội nhập có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

- Trên cơ sở định hướng ngành nghề, lĩnh vực thu hút đầu tư vào các KCN trên

địa bàn huyện theo quy hoạch, cần thực hiện chặt chẽ việc lựa chọn dự án, ngành

nghề ít ô nhiễm, công nghiệp sạch. Lựa chọn đầu tư công nghệ và trang thiết bị

công nghệ sản xuất hiện đại, tiến tiến theo hướng tự động hoá, nhằm giảm thiểu tối

đa ô nhiễm môi trường, tăng năng xuất lao động, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

- Tập trung đầu tư hệ thống xử lý môi trường hoàn thiện và đồng bộ đối với

DN và đối với các KCN theo quy hoạch, đảm bảo các KCN phải hoàn chỉnh hệ

thống xử lý môi trường tập trung, chất thải phải đạt tiêu chuẩn quy định khi thải vào

môi trường tự nhiên. Đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải đô thị, KCN, bảo

đảm 100% KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung đến 2010. Hoàn thành xây

dựng cơ bản hệ thống thoát và xử lý nước thải thành phố mới Nhơn Trạch vào giai

đoạn 2011 - 2015.

- Thực hiện nghiêm túc các quy định về pháp luật bảo vệ môi trường, như:

Đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường của dự án; đầu tư xây

dựng và vận hành có hiệu quả các công trình xử lý môi trường; khuyến khích hỗ trợ

các DN áp dụng mô hình tích hợp các hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn

ISO 14000; quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000, hệ thống quản lý an

toàn sức khoẻ và an toàn nghề nghiệp OHSAS 18001;...

- Thực hiện đầy đủ công tác theo dõi, quan trắc, đo đạc và quản lý các chỉ tiêu

môi trường; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định bảo vệ môi trường của

doanh nghiệp. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường đối với các dự

án , thực hiện tốt công tác thẩm định công nghệ, đánh giá tác động môi trường đối

với các dự án công nghiệp. Xứ lý nghiêm minh các dự án vi phạm, đảm bảo cho

KCN phát triển bền vững.

- Mỗi DN sản xuất cần nghiên cứu hình thành bộ phận: An toàn, Vệ sinh, Môi

trường nhằm đảm bảo và phát triển hệ thống chất lượng, thường xuyên theo dõi vận

hành, bảo trì và nâng cấp dây chuyền sản xuất và hệ thống xử lý môi trường, ứng

phó với sử cố môi trường có thể sảy ra,... Chịu sự giám sát của cộng đồng trong quá

trình hoạt động sản xuất, xử lý các loại chất thải phát sinh; thực hiện chế độ thông

tin báo cáo theo định kỳ về hoạt động môi trường cho cơ quan quản lý về môi

trường theo phân cấp và công bố thông tin đến cộng động dân cư được biết.

- Tiếp tục thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại văn bản số 8599/UBND-

CNN ngày 11/12/2006 về việc tạm thời không cấp phép đầu tư và hạn chế đầu tư

các loại hình công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường lưu vực sông Thị

Vải; văn bản số 3678/UBND-KT ngày 14/5/2008 về việc xem xét cấp phép đối với

một số loại hình đầu tư trên địa bàn huyện, văn bản số 702/KCNĐN- QHMT ngày

17/07/2008 của Ban Quản lý các KCN Đồng Nai về việc không cấp giấy phép cho

các dự án đầu tư vào các KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

3.3.6. Giải pháp nâng cao năng lực quản lý Nhà nước

Việc nâng cao năng lực quản l ý ngành là rất cần thiết trong quá trình phát triển

công nghiệp, giúp các KCN đi đúng định hướng quy hoạch, một số giải pháp nâng

cao năng lực quản l ý như sau:

- Thường xuyên tổ chức nâng cao trình độ quản lý Nhà nước về lĩnh vực công

nghiệp cho Ban Quản lý các KCN để cập nhật, bổ sung các kiến thức mới, nhằm

quản lý tốt hơn, cũng như vận dụng kiến thức mới trong công tác phát triển công

nghiệp.

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước của các

ngành và chính quyền địa phương. Tập trung thực hiện cải cách thủ tục hành chính

theo hướng tạo những điều kiện thuận lợi cho nhân dân, cho các nhà đầu tư trong và

ngoài nước.

3.4.Kiến nghị

1. Nhơn Trạch sẽ trở thành một đô thị lớn của tỉnh Đồng Nai trong tương lai,

do đó cần ưu tiên nhiều hơn nữa nguồn vốn đầu tư của ngân sách tỉnh cho huyện để

đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc,

giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ... tạo điều kiện cho phát triển các KCN nói

riêng và phát triển KT-XH của tỉnh nói chung, coi Nhơn Trạch là một trong những

trọng điểm về kinh tế của tỉnh.

2. Tập trung xử lý vấn đề môi trường, đẩy nhanh tiến độ xử lý ô nhiễm trên

sông Thị Vải để phát triển kinh tế và hàng hóa được lưu thông theo đường thủy

thuận lợi. Ban Quản lý các KCN Đồng Nai kiên quyết không cấp giấy phép đầu tư

cho các DN thuộc các KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

3. Nâng cao nhận thức cộng đồng nhất là các khu vực dân cư xung quanh các

KCN- đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp nạn ô nhiễm từ các KCN bằng cách hỗ

trợ, chia sẻ công khai thông tin bảo vệ môi trường các KCN tạo điều kiện thông tin

cho việc giám sát, phản biện xã hội ở lĩnh vực này.

4. Tỉnh phối hợp cùng với TP.Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Bộ

ngành Trung ương đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình hạ tầng trọng điểm đã

có chủ trương xây dựng trong khu vực tam giác phát triển TP.Hồ Chí Minh –

TP.Biên Hoà - TP.Vũng Tàu, như: Tuyến cầu đường Quận 9 - TP. Hồ Chí Minh -

Nhơn Trạch; Tuyến cao tốc Biên Hoà - Vũng Tàu; Xây dựng, nâng cấp cảng Phước

An, Phú Hữu... để tạo điều kiện đột phá phát triển cho khu vực và Nhơn Trạch.

5. Đẩy mạnh phát triển khu tiểu thủ công nghiệp 100 ha tại xã Phú Thạnh –

Vĩnh Thanh đã được quy hoạch nhằm hỗ trợ cho các KCN. Hiện nay, tỉ lệ lấp đầy

cụm tiểu thủ công này còn rất thấp. Phát triển các làng nghề thủ công của địa

phương như làm bún, nấu rượu, sản xuất nước đá, làm bánh kẹo...nhằm tạo việc làm

tăng thu nhập cho người dân đặc biệt là những người có đất bị thu hồi do phát triển

các KCN.

KẾT LUẬN

Với mục đích mong muốn vận dụng kiến thức đã có để tìm hiểu và đóng góp

vào sự phát triển KT-XH của địa phương, tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Định

hướng phát triển các khu công nghiệp huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai trong

thời kỳ CNH-HĐH”. Qua quá trình nghiên cứu, tác giả đã rút ra một số kết luận

như sau:

1. Xây dựng và phát triển các KCN, KCX là một hình thức mới của tổ chức

sản xuất công nghiệp theo lãnh thổ. Qua quá trình phát triển KCN, KCX đã khẳng

định được vai trò là lực lượng công nghiệp mạnh, là “mũi nhọn đột phá”, là con

đường tối ưu để rút ngắn và đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH đất nước và tham gia

nền kinh tế toàn cầu. Phát triển các KCN là một trong những mô hình phát triển

kinh tế quan trọng và đặc biệt phù hợp với các nước đang phát triển trong việc thu

hút vốn ĐTNN, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp, đổi mới công nghệ, tạo

việc làm, tăng nguồn hàng xuất khẩu, đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH…Đề tài đã tổng hợp được những lí luận liên

quan đến KCN…Từ những khái quát tình hình phát triển các KCN ở Việt Nam làm

cơ sở cho việc đánh giá, đề xuất định hướng và các giải pháp tổ chức lãnh thổ công

nghiệp một cách hiệu quả các KCN trên địa bàn huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai

thuộc vùng KTTĐPN

2. Huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai là địa phương có tiềm năng lớn để phát

triển công nghiệp với lợi thế tiếp giáp với các đô thị lớn, năng động là TP. Hồ Chí

Minh, Biên Hòa, Vũng Tàu và được Chính phủ quyết định quy hoạch đến năm 2020

trở thành một trong các trung tâm công nghiệp, thương mại - dịch vụ, du lịch, giáo

dục - đào tạo và khoa học - công nghệ của tỉnh Đồng Nai và vùng KTTĐPN, là đầu

mối quan trọng về giao thông vận tải của vùng. Vì thế các KCN đã ra đời và khai

thác có hiệu quả lợi thế so sánh với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh.

Nghiên cứu quá trình phát triển các KCN huyện Nhơn Trạch giai đoạn 2001-2008

cho thấy vai trò quan trọng của các KCN đối với sự phát triển công nghiệp của tỉnh

Đồng Nai và vùng KTTĐPN. Hiệu quả bước đầu của các KCN Nhơn Trạch đã phản

ánh việc chọn quy hoạch và phát triển KCN làm mô hình phát triển kinh tế trọng

điểm là chủ trương đúng đắn của tỉnh Đồng Nai phù hợp với xu thế và chủ trương

của Chính phủ trong việc định hướng phát triển chung của đất nước. Đồng thời

cũng thấy rõ sự tác động mạnh mẽ của các KCN đến sự phát triển KT-XH, môi

trường của địa phương Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển các KCN, huyện

Nhơn Trạch đã có bước phát triển vượt bậc về nhiều nhiều mặt. Từ một huyện thuần

nông Nhơn Trạch trở thành địa bàn trọng điểm phát triển công nghiệp và góp phần

to lớn vào sự phát triển KT-XH của tỉnh Đồng Nai, đời sống vật chất tinh thần của

người dân ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên bên cạnh đó hoạt động đầu tư vào

các KCN cũng mang lại nhiều vấn đề bức xúc thể hiện tính chất thiếu bền vững

như: nạn ô nhiễm môi trường, tình trạng quá tải về nhu cầu lao động, nhà ở và các

dịch vụ tiện ích phục vụ cho công nhân, tình trạng tăng dân số cơ học kéo theo các

tệ nạn xã hội…

3. Trên cơ sở nghiên cứu quá trình phát triển của các KCN huyện Nhơn Trạch

từ năm 2001-2008, tác giả đã đưa ra những định hướng và dự báo về tình hình phát

triển đến năm 2020. Các định hướng tập trung vào vấn đề vốn đầu tư, xây dựng cơ

sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN, phát triển nguồn nhân lực, thị trường,

khoa học công nghệ, cơ chế chính sách …nhằm phát triển các KCN thành hệ thống

hoàn chỉnh theo hướng chuyên ngành đóng vai trò chủ đạo dẫn dắt sự phát triển

công nghiệp của địa phương, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH đưa Nhơn

Trạch trở thành trung tâm công nghiệp lớn của Đồng Nai và vùng KTTĐPN. Để đạt

được những mục tiêu trên, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp mang tính định

hướng nhằm phát triển bền vững các KCN và KT-XH, môi trường của địa phương

trong thời gian tới.

Mặc dù đã cố gắng nhưng do hạn chế về trình độ nghiên cứu của tác giả nên

luận văn chỉ mới dừng lại ở mức độ đánh giá khái quát chưa đi sâu vào phân tích và

lý giải vì thế không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong các Thầy Cô, các chuyên

gia, các bạn đồng nghiệp góp ý để luận văn có giá trị hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban Quản lý các KCN Đồng Nai (2007), Xây dựng tiêu chí xếp hạng các khu

công nghiệp Đồng Nai, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp tỉnh,

Đồng Nai.

2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2006), 15 năm (1991-2006) xây dựng và phát triển các

khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội nghị - Hội thảo

quốc gia , Long An.

3. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2001), Báo cáo tình hình phát triển các khu công

nghiệp trên cả nước năm 1999, 2000, 2001, 2002.

4. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2004), Đề án điều chỉnh quy hoạch phát triển các khu

công nghiệp tập trung ở Việt Nam đến năm 2010 với tầm nhìn năm 2020.

5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), Phát triển các khu công nghiệp –khu chế xuất ở

Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Kỷ yếu hội thảo khoa

học, Hà Nội.

6. TS. Mai Ngọc Cường (1993), Các khu chế xuất Châu Á Thái Bình Dương và

Việt Nam, NXB Thống kê Hà Nội.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần

thứ 7 khóa VII.

8. Huỳnh Thị Kim Hương (2005), Phân tích tình hình thu hút vốn đầu tư vào các

khu công nghiệp Nhơn Trạch giai đoạn 2001-2006 và dự áo đến năm 2010,

Báo cáo khoa học, Trường Đại Học Lạc Hồng, Đồng Nai.

9. Thạc sĩ Lê Thị Hường và các cộng tác viên (2004), Các khu công nghiệp-khu

chế xuất Việt Nam hiệu quả hoạt động và xu thế phát triển, Đề tài nghiên

cứu khoa học cấp Bộ, Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.

10. Kiều Thị Mỹ Linh (2005), Phân tích hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp

trên địa bàn các khu công nghiệp Nhơn Trạch giai đoạn 2001-2005 và

những dự báo cho giai đoạn 2006-2010, Báo cáo khoa học, Trường Đại

Học Lạc Hồng, Đồng Nai.

11. PGS.TS.Vũ Chí Lộc (2003),Các giải pháp phát triển thị trường hàng hóa nhằm

phát triển sản xuất trong các khu công nghiệp ở Việt Nam, Đề tài khoa học

cấp Bộ, Hà Nội.

12. Lưu Vũ Mai (1993), Kinh nghiệm của thế giới và khả năng phát triển khu chế

xuất ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia.

13. Lưu Vũ Mai ( 1995), Những giải pháp kinh tế cho sự phát triển các khu công

nghiệp kỹ thuật cao ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia.

14. PGS.TS. Đặng Văn Phan, PGS.TS. Nguyễn Kim Hồng (2006), Địa lý kinh tế xã

hội Việt Nam thời kỳ hội nhập, NXB Giáo dục TP.HCM

15. PGS.TS Đặng Văn Phan (2001), Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - hiện trạng

chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân bố dân cư, lao động, NXB Giáo dục,

TP. HCM.

16. Quyết định số 2382/QĐ-UBND ngày 31/7/2007 về việc phê duyệt Quy hoạch

tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai đến

năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

17. Quyết định số 283/QĐ-UBND ngày 18/01/2008 của UBND tỉnh Đồng Nai về

việc phê duyệt Quy hoạch phát triển Công nghiệp trên địa bàn huyện Nhơn

Trạch đến năm 2015, có xét đến năm 2020.

18. Lê Bá Thảo (2000), Việt Nam-lãnh thổ các vùng địa lý, NXB Thế giới.

19. Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức (2002), Địa lí kinh tế- xã hội Việt Nam,

Tập I, NXB Giáo dục Hà Nội.

20. GS.TS Võ Thanh Thu (2005), Nghiên cứu những giải pháp phát triển các khu

công nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay, Đề tài khoa học cấp

Nhà nước.

21. Lê Thông (2000), Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Việt Nam, NXB Giáo dục

Hà Nội.

22. Lê Thông, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Minh Tuệ (2004), Địa lý kinh tế xã hội

Việt Nam, NXB Đại Học Sư phạm.

23. Lê Thông (2006), Địa lý ba vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam, NXB Giáo

dục, TP.HCM.

24. Tỉnh ủy-UBND tỉnh Đồng Nai (2005), Tổng kết quá trình xây dựng phát triển

các khu công nghiệp và thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Đồng Nai,

Đồng Nai.

25. Viện sĩ, TSKH Nguyễn Chơn Trung ,PPGS.TS Trương Giang Long (2004),

Phát triển các khu công nghiệp-khu chế xuất trong quá trình CNH-HĐH,

NXB Chính trị Quốc gia

26. TS. Vũ Anh Tuấn, Phát triển khu công nghiệp-khu chế xuất những vấn đề đặt

ra, Tạp chí Phát triển kinh tế tháng 2/2004.

27. TS.Nguyễn Đức Tuấn (2001), Địa lý kinh tế học, NXB Thống kê TP.HCM.

28. Ngô Tuấn (1998), Phân tích giá cho thuê đất tại tại một số khu công nghiệp TP.

Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐH Kinh tế TP.

Hồ Chí Minh.

29. Viện Chiến lược phát triển, Bộ kế hoạch và đầu tư (1995), Xây dựng các mô

hình khu công nghiệp tập trung ở Việt Nam trong giai đoạn 1994-2010, Hội

thảo khoa học, Hà Nội.

Website:

1. Ban Quản lý KCN Đồng Nai: http www.diza.vn

2. Ban Quản lý KCN Việt Nam: http www.khucongnghiep.com.vn

3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: http www.mpi.gov.vn

4. Bộ Công nghiệp Việt Nam: http www.moi.gov.vn

5. Bộ Khoa học và Công nghệ: http www. most.gov.vn

Phụ lục 1:Tình hình xây dựng hạ tầng, cho thuê đất tại các KCN tỉnh Đồng Nai Tính đến ngày 31/10/2008

Dieän tích ñaõ cho thueâ

Stt KCN

Caáp nöôùc (m3/ngaøy)

Caáp ñieän (MVA)

Dieän tích (ha)

Dieän tích duøng cho thueâ (ha)

(Ha)

(%)

Coâng trình xöû lyù nöôùc thaûi (m3/ngaøy)

Toång voán ñaõ ñaàu tö haï taàng (Trieäu USD)

Dieän tích ñang thu huùt ñaàu tö

1

Amata (gñ 1& 2)

494

314.08

197.46

62.87

33.62

80 + 12,8

8,000

5,000

116.62

2

Bieân Hoøa II

365

261.00

261.00

100.00

15.82

15,000

4,000

63

0.00

3

Goø Daàu

184

136.70

136.70

100.00

7.62

3,000

500

40

0.00

4

Loteco

100

71.58

71.58

100.00

20.01

40 + 3.2

13,000

6,500

0.00

Hoá Nai (gñ 1)

226

151.17

129.29

85.53

4.87

2,000

21.88

5

41

Hoá Nai (gñ 2)

271

149.96

0.00

149.96

Soâng Maây (gñ 1)

250

178.13

131.89

74.04

6.41

5,000

40

46.25

6

Soâng Maây (gñ 2)

224

155.87

0.00

155.87

7

N.Traïch I

430

311.25

274.79

88.28

16.29

12,000

2,000

36.47

8

N.Traïch II

347

257.24

257.24

100.00

11.97

5,000

0.00

10,000

103

N.Traïch III (gñ 1)

337

233.85

233.85

100.00

(5,000)

0.00

9

41.54

N.Traïch III (gñ 2)

351

227.55

83.13

36.53

2,000

144.42

10

Bieân Hoøa I

335

248.48

248.48

100.00

16.82

2x40

25,000

0.00

11

Long Thaønh

488

282.74

210.01

74.28

22.56

15,000

5,000

63

72.73

12

Tam Phöôùc

323

214.74

214.74

100.00

12.52

2,000

1,500

40

0.00

13 An Phöôùc

130

91.00

0.00

1.25

91.00

(40)

14 Nhôn Traïch V

302

205.00

159.66

77.88

12.30

45.34

(40)

15 Deät may NT

184

121.00

86.00

71.07

7.80

35.00

25

16 Ñònh Quaùn

54

37.80

37.80

100.00

2.33

0.00

17 Nhôn Traïch VI

315

220.29

0.00

8.96

220.29

18 N.Trạch II- Nhôn Phuù

183

126.31

4.32

3.42

16.71

121.99

19 N.Trạch II- Loäc Khang

70

42.54

27.00

63.47

4.05

15.54

25

20 Xuaân Loäc

109

63.88

29.35

45.95

4.88

34.53

40

21

Thaïnh Phuù

177

124.15

58.15

46.84

0.16

66.00

22

Baøu Xeùo

500

328.08

306.53

93.43

10.99

(40) + 63

21.55

23

Taân Phuù

34.98

0.00

2.68

54

34.98

24 Agtex Long Bình

27.62

24.23

87.73

43

3.39

Long Đức

25

283

183.29

0.00

2.31

183.29

26 OÂng Keøo

823

502.82

386.10

76.79

116.72

27

Long Khaùnh

264

169.06

0.00

169.06

28 Giang Ñieàn

529

324.63

29 Daàu Giaây

331

205.74

Toång coäng

9,076

6,002.53

3,569.29

59.46

284.45

1902.87

Nguồn: Ban Quản lý KCN Đồng Nai

Ghi chuù: - Chưa tính 5 DA (2,75 ha) ñaàu tö vaøo cuïm 71 ha An Phöôùc - Soá lieäu tính ñeán döï aùn Cty TNHH Ponaflex ngaøy 17/10/2008 - Chöa tính dieän tích KCN Giang Ñieàn 529 ha vaø KCN Daàu Giaây 331 ha (ñöôïc thaønh laäp ngaøy 27/8/2008) - KCN Thaïnh Phuù ñieàu chænh qui hoaïch chi tieát taêng dieän tích ñaát daønh cho thueâ (QÑ soá 459/QÑ-UBND ngaøy 31/01/2008) - KCN Nhôn Traïch II - Nhôn Phuù ñieàu chænh qui hoaïch chi tieát taêng dieän tích ñaát daønh cho thueâ (QÑ soá 1853/QÑ-UBND ngaøy 10/6/2008)

Phụ lục 2: Dự án FDI do Ban quản lý KCN Đồng Nai cấp giấy phép đầu tư vào các KCN Nhơn Trạch năm 2008 Tính đến ngày 31/12/2008

Tên dự án

Quốc tịch KCN

STT

Số GP

Ngày cấp

Vốn đăng ký (USD)

Diện tích (m2)

1

472043000368

08/01/2008 Cty TNHH Giyeon Vina Machinery

15,000

1,800,000

Hàn Quốc

2

472043000377

22/01/08

Cty TNHH AJU Việt Nam

98,280

17,000,000

Hàn Quốc

Dệt may NT Nhơn Trạch II

3

472043000379

22/01/08

37,369

12,500,000

Brunei

Cty TNHH Coating Fine Chemical Việt Nam

4

472043000392

04/02/08

Cty TNHH Gold On Vina

1,000,000

Hàn Quốc

5

472023000396

04/02/08

Cty TNHH Towa Việt Nam

17,000

4,200,000

Nhật Bản

6

472023000399

05/02/08

Cty TNHH Công Thành Đạt

64,000

10,000,000

Mỹ

7

472043000400

05/02/08

Cty TNHH MiJu Việt Nam

20,000

4,000,000

Hàn Quốc

8

472023000405

25/02/08

Cty TNHH Daidong Vina Logipack

200,000

Hàn Quốc

9

472023000406

28/02/08

Cty TNHH TNV

17,000

3,000,000

Mỹ

10

472043000408

03/3/08

1,400,000

Hàn Quốc

Cty TNHH Dae-do Paper Tube Việt Nam

11

472023000418

21/3/08

Cty TNHH GM Tech Vina

21,300

1,000,000

Hàn Quốc

12

472023000424

01/4/08

Cty TNHH Phospin

10,000

700,000

Hàn Quốc

13

472043000436

14/4/08

Cty TNHH Iljin Việt Nam

22,262

2,200,000

Hàn Quốc

14

472023000440

17/4/08

11,830

2,427,330

Hàn Quốc

Cty TNHH Polytec (chuyển trụ sở từ Tp. HCM)

15

472043000443

21/4/08

40,746

10,000,000

Cty TNHH Rohm and Haas Việt Nam Đan Mạch

Nhơn Trạch V Nhơn Trạch III Nhơn Trạch III Nhơn Trạch II Dệt may NT Dệt may NT Nhơn Trạch II Dệt may NT Nhơn Trạch II Nhơn Trạch I Nhơn Trạch II-Nhơn Phú Nhơn Trạch V Nhơn Trạch III

16

472043000449

24/4/08

Cty TNHH KBR Vina

22,784

38,920,000

Hàn Quốc

Nhơn Trạch II

17

472043000454

02/5/08

Cty TNHH Hoá chất HS Việt Nam

10,000,000

Hàn Quốc

Nhơn Trạch I

18

472023000456

05/5/08

34,190

10,000,000

Nhơn Trạch II

Cty TNHH Noroo-Nanpao Paints & Coatings (Việt Nam)

Hàn Quốc- Cayman Island

19

472023000512

17/6/08

Cty TNHH E.Z Sports Vina

2,000,000

Hàn Quốc

472023000620

07/8/08

Cty TNHH MS Metal Vietnam

2,103,400

20

Hàn Quốc

472043000656

8/9/08

Cty TNHH Dong Yang Inc Vina

21

800,000

Hàn Quốc

Cty TNHH Công nghiệp JKF

1,400,000

472043000672

22

19/9/08

Đan Mạch

Cty TNHH Ever Metro

6,000,000

472023000703

Hàn Quốc

23

5/11/08

Nhơn Trạch I Dệt may NT Dệt may NT Dệt may NT Nhơn Trạch II

180,000

24

472043000722 23/12/08 Cty TNHH Ju Fu

Trung Quốc

Dệt may Nhơn Trạch

TỔNG

431,761

142,830,730

Nguồn: Ban Quản lý KCN Đồng Nai

Phụ lục 3:Dự án trong nước do Ban quản lý KCN Đồng Nai cấp giấy phép đầu tư năm 2008 Tính đến ngày 31/12/2008

STT

Số GP

Ngày

Tên dự án

KCN

Diện tích

Quốc tịch

Vốn đký (VND)

47212000362

7/1/2008

1

60,000

266,696,313,895

Việt Nam Dệt may NT

47221000414

12/3/2008

2

Ông Kèo

1,458,154,210,000

Việt Nam

47211000483

26/5/2008

Việt Nam

175,414,000,000

3

Dệt may Nhơn Trạch

47212000489

2/6/2008

Việt Nam

41,500

160,000,000,000

4

Nhơn Trạch III-giai đoạn 2

5

47221000507

16/6/2008

Việt Nam

11,040

30,000,000

Nhơn Trạch II

20,000

70,000,000,000

6

47211000581

11/7/2008

Việt Nam

Nhơn Trạch I

Nhà máy ắc quy Pinaco- Nhơn Trạch Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN Ông kèo Công trình nhà xưởng sản xuất và cho thuê của Công ty CP Việt Tiến Đông Á Chi nhánh Công ty TNHH Thương Mại Dược phẩm Y Khoa Nhà máy sản xuất lắp ráp xe gắn máy của Công ty CP Ô tô Xe máy Tuấn Minh Chi nhánh Cty TNHH Thanh Thuý V&T tại KCN Nhơn Trạch I

7

472023000647

29/8/2008

Việt Nam

20,971

70,000,000,000

Cty TNHH Chế biến Thực phẩm Thương mại Pha Lê

Nhơn Trạch II - Nhơn Phú

8

47221000716

9/12/2008

325,000,000,000

Nhơn Trạch 3

Dự án Đầu tư kinh doanh Xây dựng cơ sở hạ tầng KCN Nhơn Trạch III-giai đoạn 2

Cộng

153,511 2,525,294,523,895

Nguồn: Ban Quản lý KCN Đồng Nai

Phụ lục 6: MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CÁC KCN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI

Trụ sở Ban quản lý KCN Đồng Nai –DIZA Địa chỉ: Số 26, đường 2A, KCN Biên Hòa II, Tp. Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai. Điện thoại: 061.3892378/ 061.3993221, Fax: 061.3892379, Email: diza@diza.vn,Website: www.diza.vn

Cổng vào KCN Nhơn Trạch đi từ Quốc lộ 51

Cổng vào KCN Nhơn Trạch 2

Cổng vào KCN Nhơn Trạch 2- Nhơn Phú

Trạm biến áp Tuy Hạ - KCN NhơnTrạch 1

Một góc KCN Nhơn Trạch 1

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai

KCN NHƠN TRẠCH

KCN ÔNG KÈO

Nguồn: Sở Công Thương Đồng Nai

SƠ ĐỒ VỊ TRÍ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NHƠN TRẠCH

Nguồn: Atlat Đồng Nai, NXB Bản Đồ năm 2008