BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ------------------------- Lý Kim Thụy

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ------***------ Lý Kim Thụy

Chuyên ngành : Địa lý học

Mã số

: 60 39 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS. PHẠM XUÂN HẬU

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

LỜI CÁM ƠN

“ Anh đến quê em đất biển Cà Mau

Có thấy xanh tươi đước rừng bát ngát…”

Câu hát ví von trên đã cho thấy vùng đất nơi cuối trời này có nhiều lợi thế về biển. Là người

con Cà Mau, tác giả đã quyết định chọn đề tài luận văn thạc sĩ của mình là “ Phát triển kinh tế biển

tỉnh Cà Mau – thực trạng và giải pháp” mong có cái nhìn mới hơn về biển quê hương.

Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, tác giả đươc sự quan tâm giúp đỡ rất nhiều từ thầy

hướng dẫn, các cơ quan ban ngành có liên quan, từ nhà trường, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…..

Đầu tiên, tác giả luận văn xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn

khoa học : thầy Phạm Xuân Hậu, thầy đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, sửa chữa để luận văn được hoàn

chỉnh như hôm nay.

Tiếp đến, tác giả xin cân thành cám ơn các thầy cô trong khoa Địa lí, phòng SĐH trường

ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh, Ban giám hiệu trường THPT chuyên Phan Ngọc Hiển và các đồng

nghiệp, đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ cho tác giả về thời gian, công việc để tác giả hoàn thành luận

văn đúng quy định.

Đồng thời, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đến các cơ quan ban ngành

cấp tỉnh: Cục thống kê tỉnh Cà Mau, Sở kế hoạch & đầu tư tỉnh Cà Mau, UBND tỉnh Cà Mau, Sở

thủy sản tỉnh Cà Mau, sở nông nghiệp tỉnh Cà Mau, thư viện tỉnh Cà Mau…….đã giúp đỡ tác giả

trong việc thu thập thông tin, số liệu cho luận văn.

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, những người luôn sát

cánh cùng tác giả trong suốt hành trình học tập và hoàn tất luận văn.

Xin chân thành cám ơn!

Cà Mau, tháng 10/2011

Tác giả luận văn

Lý Kim Thụy

MỤC LỤC

4TLỜI CÁM ƠN4T ...................................................................................................................... 3

4TMỤC LỤC4T ............................................................................................................................ 4

4TDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT4T .................................................................................. 7

4TMỞ ĐẦU4T .............................................................................................................................. 8

4T1. Lý do chọn đề tài4T .................................................................................................................................. 8

4T2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu4T ............................................................................................................ 9

4T3. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu4T ........................................................................................................... 9

4T4. Những công trình nghiên cứu liên quan4T ................................................................................................ 9

4T5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu4T ................................................................................... 10

4T6. Cấu trúc luận văn4T ............................................................................................................................... 12

4TChương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU BIỂN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN4T ................................................................................................................................... 13

4T1.1. Một số khái niệm4T ............................................................................................................................. 13

4T1.1.1.Biển và đại dương4T ..................................................................................................................... 13

4T1.1.2. Phạm vi không gian biển. 4T ......................................................................................................... 14

4T1.1.3. Quan niệm về vùng ven biển4T ................................................................................................... 16

4T1.1.4.Kinh tế biển4T .............................................................................................................................. 17

4T1.1.5.Cơ cấu kinh tế biển4T ................................................................................................................... 18

4T1.1.6. Tổ chức lãnh thổ kinh tế biển4T ................................................................................................... 19

4T1.1.7. Các loại hình kinh tế biển4T ......................................................................................................... 21

4T1.1.8. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển4T ................................................................... 28

4T1.2. Kinh nghiệm các nước về phát triển kinh tế biển4T ............................................................................. 29

4T1.3. Phát triển kinh tế biển ở Việt Nam4T ................................................................................................... 32

4T1.3.1.. Khai thác và nuôi trồng hải sản biển4T ........................................................................................ 32

4T1.3.2. Giao thông vận tải biển4T ............................................................................................................ 34

4T1.3.3.. Du lịch biển4T ............................................................................................................................ 35

4T1.3.4. Khai thác khoáng sản trên thềm lục địa và làm muối. 4T ............................................................... 36

4T1.4. Bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững kinh tế biển4T ............................................................ 37

4TChương 2: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỈNH CÀ MAU4T ................................................................................................................................... 39

4T2.1. Khái quát về tỉnh Cà Mau 4T ................................................................................................................ 39

4T2.1.1. Vị trí địa lý4T .............................................................................................................................. 39

4T2.1.2. Đặc điểm tự nhiên4T .................................................................................................................... 39

4T2.1.3. Tài nguyên thiên nhiên4T ............................................................................................................. 40

4T2.1.4. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau4T ..................................................................... 40

4T2.2. Vị trí, vai trò của kinh tế biển trong phát triển kinh tế của tỉnh Cà Mau4T............................................ 43

4T2.3. Tiềm năng phát triển kinh tế biển tỉnh Cà Mau4T ................................................................................ 46

4T2.3.1. Tiềm năng về tự nhiên4T.............................................................................................................. 46

4T2.3.2. Tiềm năng về kinh tế - xã hội4T ................................................................................................... 55

4T2.4. Những lợi thế so sánh4T ..................................................................................................................... 57

4T2.4.1. Về tự nhiên4T .............................................................................................................................. 57

4T2.4.2. Về nhân văn4T ............................................................................................................................. 58

4T2.4.3.. Khả năng hợp tác và đầu tư4T ..................................................................................................... 59

4T2.5. Những hạn chế4T ................................................................................................................................ 59

4T2.6. Thực trạng phát triển một số ngành kinh tế biển tỉnh Cà Mau4T .......................................................... 61

4T2.6.1. Ngành thủy sản biển4T ................................................................................................................. 61

4T2.6.1.4. Giá trị thu nhập4T .................................................................................................................... 68

4T2.6.2. Nông nghiệp:4T .......................................................................................................................... 72

4T2.6.3. Ngành lâm nghiệp4T .................................................................................................................... 74

4T2.6.4. Ngành vận tải4T ........................................................................................................................... 76

4T2.6.5. Ngành dịch vụ - du lịch4T ............................................................................................................ 76

4T2.6.6. Ngành khai thác và chế biến khoáng sản biển4T ........................................................................... 78

4T2.7. Vị trí của kinh tế biển trong nền kinh tế tỉnh4T .................................................................................... 80

4TBảng 2.10: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của vùng biển, ven biển và của toàn tỉnh Cà Mau năm 20094T ...................................................................................................... 81

4T2.8. Một số vấn đề phát triển kinh tế vùng biển và ven biển Cà Mau4T....................................................... 83

4T2.8.1. Vấn đề khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường4T ...................................................... 83

4T2.8.2. Vấn đề an ninh trật tự trên biển4T ................................................................................................ 85

4T2.8.3. Vấn đề bố trí tái định cư khu vực ven biển4T ............................................................................... 85

4T2.8.4. Về đầu tư xây dựng hạ tầng cụm đảo 4T ........................................................................................ 86

4TChương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỈNH CÀ MAU ĐẾN NĂM 20204T ....................................................................................................... 87

4T3.1. Căn cứ xây dựng định hướng và giải pháp4T ....................................................................................... 87

4T3.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước4T ................................................................................................ 87

4T3.1.2. Định hướng phát triển kinh tế biển và vùng biển của Việt Nam đến năm 2020. 4T ........................ 88

4T3.1.3. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020. 4T .......................................... 88

4T3.1.4. Tiềm năng và hiện trạng phát triển4T ........................................................................................... 90

4T3.1.5. Nhu cầu thị trường và trao đổi sản phẩm4T .................................................................................. 90

4T3.2. Các định hướng cụ thể4T ..................................................................................................................... 91

4T3.2.1. Tổ chức không gian phát triển kinh tế biển4T ............................................................................... 91

4T3.2.2. Định hướng phát triển các ngành kinh tế biển. 4T .......................................................................... 93

4T3.2.2.1. Phát triển ngành thủy sản4T .................................................................................................... 93

4T3.2.2.2. Phát triển ngành lâm nghiệp4T ............................................................................................... 95

4T3.2.3. Phát triển nguồn nhân lực4T ...................................................................................................... 97

4T3.2.4. Đầu tư phát triển4T ...................................................................................................................... 98

4T3.2.5. Xây dựng hệ thống chính sách quản lý, bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững. 4T ........... 98

4T3.2.6. Xây dựng hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu và dự báo phát triển kinh tế biển tỉnh Cà Mau đến năm 2020.4T ............................................................................................................................................... 100

4T3.2.7. Quốc phòng - an ninh4T ............................................................................................................. 101

4T3.3. Các giải pháp chủ yếu4T.................................................................................................................... 101

4T3.3.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách quản lí4T .................................................................................. 101

4T3.3.2.. Huy động vốn đầu tư trong và ngoài tỉnh4T ............................................................................... 102

4T3.3.3. Tổ chức các loại hình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 4T ................................................ 104

4T3.3.4. Tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế biển4T ............................................................... 104

4T3.3.5. Đẩy mạnh hợp tác liên vùng và liên quốc gia.4T ........................................................................ 105

4T3.3.6. Tiếp tục đổi mới kinh tế và đa dạng các hình thức phát triển kinh tế biển. 4T .............................. 106

4T3.3.7. Hiện đại hóa phương tiện đánh bắt, bảo quản và chế biến4T ....................................................... 106

4T3.3.8. Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm ưu thế. 4T ........................................................... 107

4T3.3.9. Xây dựng thương hiệu, tiếp thị và mở rộng thị trường4T ............................................................ 107

4T3.4. Kiến nghị4T ...................................................................................................................................... 107

4TKẾT LUẬN4T ...................................................................................................................... 110

4TTÀI LIỆU THAM KHẢO4T ............................................................................................... 111

4TPHỤ LỤC4T ......................................................................................................................... 113

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

VBVBCM Vùng biển ven biển Cà Mau

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

NGTK Niên giám thống kê

NTTS Nuôi trồng thủy sản

KTTS Khai thác thuỷ sản

BVMT Bảo vệ môi trường

HST Hệ sinh thái

BQL Ban quản lý

UBND Ủy ban nhân dân

KNXK Kim ngạch xuất khẩu

QH Quy hoạch

BQGĐ Bình quân giai đoạn

HTX Hợp tác xã

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Biển mang trong mình một nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, là môi trường nuôi sống

con người trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai. Kinh tế biển ngày càng chiếm một vai trò quan

P,(khoảng 71% diện tích bề mặt Trái

2 Toàn bộ các biển và đại dương chiếm tới 361 triệu kmP

trọng trong sự phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia có biển và kể cả các quốc gia không có biển.

đất). Thực sự, nhân loại đang sống trên những “hòn đảo khổng lồ” giữa các đại dương mênh mông

của một quả cầu nước. Hơn 6 tỷ người hiện nay đang dựa vào diện tích canh tác nhỏ hẹp của bề mặt

hành tinh để sinh sống, đồng thời chỉ mới nhận nguồn thức ăn rất nhỏ bé từ biển và đại dương.

Giờ đây nguồn của cải ở trên cạn không còn là vô tận nữa, đất liền đang mòn mỏi dần vì bị

khai thác kiệt quệ tài nguyên. Trong khi đó, cuộc sống con người đòi hỏi không chỉ nguồn thực

phẩm dồi dào mà cả các nguồn nguyên nhiên vật liệu phong phú, thậm chí cả nguồn nước ngọt. Cho

nên, chỉ có biển mới có thể mở lối thoát cho con người khỏi tình trạng bế tắc về nguyên liệu, nhiên

liệu cho sự phát triển. Và vì thế, biển trở nên có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sinh tồn của

nhân loại. Nhiều nhà kinh tế học đã cho rằng “nền kinh tế tương lai của loài người trước hết là nền

kinh tế gắn với biển”, “ thế kỉ XXI là thế kỉ vươn ra biển”. Chính vì thế mà ngày nay, hầu như tất cả

các quốc gia có biển (kể cả những quốc gia không có biển) cũng điều chú ý đến việc nghiên cứu,

2 Với diện tích hơn 3,4 triệu kmP

P, Biển Đông là một bộ phận nhỏ của Thái Bình Dương nhưng

khai thác nguồn lợi từ biển trong quá trình phát triển kinh tế đất nước.

lại có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi qua lại của những đường giao thông huyết mạch đối với

nhiều nước, nối liền khu vực Đông Bắc Á với Tây Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và vùng Vịnh

qua eo Malacca. Biển Đông là nơi có nguồn tài nguyên biển vô cùng phong phú và đa dạng.

2 khoảng 1 triệu kmP

P (rộng gấp gần 3 lần diện tích đất liền), đường bờ biển dài 3260km. Từ bao đời

Việt Nam có chủ quyền biển Đông theo công ước quốc tế, với diện tích vùng biển rộng

nay, biển đã gắn bó chặt chẽ, mật thiết với mọi hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc ta, và trở

thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước.

P là một trong những vùng biển có tiềm năng

2 biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền trên 71.000 kmP

Cà Mau, với chiều dài bờ biển từ biển Đông sang biển Tây (Vịnh Thái Lan) dài 254km, vùng

kinh tế rất đa dạng và phong phú của Tổ quốc. Cà Mau có điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế biển.

Tình hình kinh tế - xã hội vùng biển của tỉnh Cà Mau trong thời gian qua đã có bước phát triển, vừa

đóng góp đáng kể trong việc phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh, vừa kết hợp chặt chẽ với bảo

vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên, việc khai thác tiềm năng biển chưa tương xứng với giá trị vốn

có của biển trong cơ cấu kinh tế tỉnh.

Nhận thức được tầm quan trọng của nền kinh tế biển trong tương lai với sự phát triển kinh tế

biển tỉnh Cà Mau, tôi quyết định chọn đề tài : “Phát triển kinh tế biển tỉnh Cà Mau – Thực trạng

và giải pháp” nhằm góp phần nhỏ bé của mình vào việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế chung

của tỉnh.

2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục tiêu

Vận dụng cơ sở lí luận về biển và phát triển kinh tế biển của một số nước trên thế giới và

Việt Nam vào việc phân tích phần tiềm năng và thực trạng phát triển kinh tế biển tỉnh Cà Mau. Từ

đó, đưa ra phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển – đảo đến năm 2020.

2.2. Nhiệm vụ

- Tổng quan cở sở lý luận và những nội dung lien quan về nghiên cứu phát triển kinh tế biển

- Thu thập thông tin, số liệu, tư liệu, khảo sát thực tế, đánh giá nguồn lực làm cơ sở để phân

tích hiện trạng phát triển kinh tế biển tỉnh Cà Mau.

- Căn cứ vào vào hiện trạng phát triển biển của Cà Mau (thành quả và hạn chế) để đưa ra

những định hướng nhằm phát triển kinh tế biển của tỉnh trong tương lai đồng thời đưa ra những giải

pháp phát triển kinh tế biển một cách bền vững.

3. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu kinh tế biển trong khuôn khổ vùng biển tỉnh Cà Mau

- Về thời gian nghiên cứu: Trong phạm vi luận văn này, chủ yếu tôi chỉ nghiên cứu kinh tế

biển tỉnh Cà Mau giai đoạn 2000 – 2009.

- Về nội dung nghiên cứu: Phân tích tiềm năng và thực trạng khai thác tiềm năng phát triển

các ngành kinh tế biển. Đánh giá những lợi thế so sánh về điều kiện phát triển, những kết quả đạt

được và những hạn chế trong các ngành kinh tế biển làm cơ sở xây dựng định hướng phát triển đến

năm 2020 cho các ngành: thủy hải sản, du lịch biển, Công nghiệp khai thác và chế biến, vấn đề môi

trường biển.

4. Những công trình nghiên cứu liên quan

- Ở Việt Nam: Kinh tế biển có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế

của đất nước và càng được chú trọng hơn trong giai đoạn hiện tại. Chính tầm quan trọng đó nên từ

trước đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này như: “Kinh tế biển và khoa học kỹ thuật về

biển ở nước ta” của Võ Nguyên Giáp; nghiên cứu về “Địa lý biển Đông” của Nguyễn Văn Âu; hay

tìm hiểu về nguồn lợi sinh vật biển Đông của Vũ Trọng Tạng …. Hoặc các nghiên cứu mang tính

chất ngành kinh tế biển có thể kể đến “Biển và cảng biển thế giới” của Phạm Văn Giáp; “Rừng –

biển và kinh tế thủy sản” của Quang Luyện; “Địa lý kinh tế vận tải biển” của Nguyễn Khắc Duật….

. Các công trình nghiên cứu kể trên sẽ là những tài liệu tham khảo để tôi nghiên cứu đề tài “Phát

triển kinh tế biển tỉnh Cà Mau- thực trạng và giải pháp” được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn.

- Tỉnh Cà Mau: Trong tỉnh Cà Mau cho đến nay, đã có một vài nghiên cứu về kinh tế

biển, trong đó có thể kế đến nghiên cứu “Tổng quan nghề cá tỉnh Cà Mau” của Viện kinh tế

& Quy hoạch thủy sản…Ngoài ra, tỉnh đang thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội của tỉnh trong đó có nội dung về vùng biển và ven biển đến năm 2020.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

5.1.1 Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin là phương pháp

luận khoa học. Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế biển

cần xem xét nó trong sự phát triển của các ngành kinh tế khác có liên quan và trong sự vận động,

phát triển của kinh tế - xã hội theo những quy luật khách quan, trong mối quan hệ biện chứng qua

lại chặt chẽ.

5.1.2 Quan điểm hệ thống

Quan điểm này được sử dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu. Kinh tế biển là một bộ

phận của nền kinh tế chung, nó có mối quan hệ với nhiều ngành khoa học khác và trong nội bộ của

nó cũng có sự liên kết và gắn bó với nhau. Vì thế, khi nghiên cứu, chúng ta phải đặt vấn đề trong

mối quan hệ tương hỗ, tác động qua lại của các yếu tố tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh. Vì vậy,

phải coi vấn đề kinh tế biển và phát triển như là một hệ thống nằm trong hệ thống kinh tế - xã hội

hoàn chỉnh, luôn luôn vận động và phát triển không ngừng.

5.1.3 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Trong thực tế, các sự vật - hiện tượng luôn có sự phân hóa theo không gian làm cho chúng có

sự khác nhau giữa nơi này với nơi khác. Và việc nghiên cứu các vấn đề về kinh tế biển tỉnh Cà Mau

không thể tách rời vấn đề phát triển kinh tế biển của vùng và cả nước.

5.1.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Sự phát triển kinh tế biển và kinh tế - xã hội trong quá khứ, hiện tại ảnh hưởng lớn đến kinh

tế biển và kinh tế - xã hội tương lai. Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề kinh tế biển trong mối liên hệ

quá khứ - hiện tại sẽ có cơ sở vững chắc để định hướng tương lai, làm rõ được bản chất của vấn đề

theo một chuỗi thời gian, đảm bảo tính logic, khoa học và chính xác khi nghiên cứu.

5.1.5 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững

Nghiên cứu vấn đề biển phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững. Phát triển

kinh tế biển, kinh tế - xã hội phải đi đôi với sử dụng hợp lý kết hợp với bảo vệ và tái tạo tài nguyên

thiên nhiên, chống gây ô nhiễm môi trường, có sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với tiến bộ

và công bằng xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người không chỉ hiện tại mà phải

không làm ảnh hưởng đến thế hệ tương lai.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, việc vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp một cách

thuần thục sẽ mang lại nhiều lợi ích. Vì việc dựa trên việc phân tích tổng hợp nguồn tài liệu đa dạng

đã có cũng như thực tế sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về vấn đề nghiên cứu. Từ đó, chúng ta

rút ra được những nội dung tổng hợp nhất, đầy đủ nhất nhằm đáp ứng được những nhiệm vụ và

mục tiêu mà vấn đề đã đặt ra.

5.2.2 Phương pháp thực địa

Thực địa là phương pháp truyền thống được sử dụng trong các nghiên cứu nói chung và đặc

biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu các vấn đề địa lí kinh tế - xã hội nói riêng. Vì vậy, trong

quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp này để khảo sát trước khi nghiên cứu và

thực hiện kiểm tra độ chính xác, tin cậy của các nguồn tài liệu đã thu thập được. Đồng thời, quan

tâm đến các dạng thông tin: trình bày bằng văn bản, số liệu thống kê, các bản đồ, các dạng khác

(trên mạng, những cuộc điều tra,…).

5.2.3 Phương pháp bản đồ - biểu đồ

Phương pháp bản đồ là phương pháp đặc trưng của khoa học Địa lí, bởi vì mọi nghiên cứu

thuộc lĩnh vực địa lý kinh tế - xã hội đều mở đầu bằng bản đồ và kết thúc bằng bản đồ. Trên cơ sở

số liệu, xây dựng các biểu đồ thích hợp sẽ góp phần giải quyết nhiều nội dung nghiên cứu như đánh

giá các nguồn lực, phân tích hiện trạng theo ngành và theo lãnh thổ. Sử dụng phương pháp này giúp

cho các vấn đề nghiên cứu được cụ thể, trực quan và toàn diện hơn.

5.2.4 Phương pháp toán học

Đây là một phương pháp rất quan trọng vì trên cơ sở sưu tầm được những số liệu có liên

quan đến nội dung nghiên cứu, chúng ta sẽ tính toán, so sánh để rút ra được các đặc điểm về kinh tế

biển cũng như nhìn nhận, đánh giá chính xác mối quan hệ giữa kinh tế biển và phát triển kinh tế - xã

hội của tỉnh.

5.2.5 Phương pháp sử dụng hệ thông tin địa lý

Hệ thông tin địa lý (GIS) là hệ thông tin đa dạng dùng để lưu trữ, xử lý, phân tích, tổng hợp,

điều hành và quản lý những dữ liệu không gian, đồng thời cho phép lấy và trình bày thông tin dưới

dạng dễ tiếp nhận, trao đổi và sử dụng. Có thể coi đây là một công cụ hoặc là một phương pháp có

hiệu quả trong nghiên cứu địa lý kinh tế - xã hội nói chung và kinh tế biển nói riêng. Nó cho phép

chồng xếp các thông tin địa lý để xác định được những đặc trưng của các đối tượng nghiên cứu với

độ tin cậy cao.

5.2.6 Phương pháp dự báo

Đề tài sử dụng phương pháp dự báo dựa trên cơ sở xem xét, tính toán từ các số liệu đã thu

thập được và sự phát triển có tính qui luật của các sự vật, hiện tượng kinh tế biển trong quá khứ,

hiện tại và dự báo cho tương lai.

6. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về biển và phát triển kinh tế biển

Chương 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển kinh tế biển tỉnh Cà Mau

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế biển tỉnh Cà Mau

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU BIỂN VÀ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ BIỂN

1.1. Một số khái niệm

1.1.1.Biển và đại dương

Tất cả biển và đại dương trên Trái Đất đều thuộc một khối nước khổng lồ và liên tục, không

bị chia cắt chiếm tới 3/4 diện tích bề mặt Trái Đất. Và có đôi lúc chúng ta gọi của khối nước ấy là

“biển” lúc khác lại gọi là “đại dương”. Vậy thế nào là biển và thế nào là đại dương?

Theo sự tưởng tượng của người Babylon và người Ai Cập cổ thì tên gọi “đại dương” bắt

nguồn từ tên riêng của con sông thần thoại Okêan. Con sông này bao quanh các vùng đất nổi mà

hình dạng như một cái đĩa bằng phẳng. Tuy nhiên, với sự phát triển của ngành hàng hải dần dần

cho thấy rõ ràng “đại dương” không phải là một con sông bao quanh các lục địa mà đó chính là

biển.

Ngày nay, chúng ta hiểu rằng: Biển là một bộ phận biệt lập của đại dương. nó được phân biệt

bởi những đặc điểm tự nhiên, chủ yếu là bởi những đặc điểm thủy văn và khí hậu. Biển có thể nằm

giữa hai lục địa, ăn sâu vào lục địa hoặc tách ra khỏi đại dương bởi các bán đảo, đảo và địa hình

ngầm.

Điểm khác nhau cơ bản giữa biển và đại dương là kích thước, biển thì nhỏ hơn đại dương.

Ngoài ra, người ta thường nói tới biển khi có một phần của chúng là đất liền - đường bờ biển. vì

vậy, biển thường là phần mở rộng của đại dương và là phần nối của đại dương với đất liền. Và khi

biển rời xa hẳn khỏi đất liền thì lúc này người ta gọi là đại dương.

Vào những ngày đầu tiên khi khám phá thế giới, những nhà thám hiểm hay sử dụng thuật

ngữ “the seven seas” (bảy biển lớn). Bảy biển lớn được những nhà thám hiểm thời xưa biết tới bao

gồm Biển Đỏ, Địa Trung Hải, Biển Đông Phi, Biển Tây Phi, Biển Đông và phần mở rộng, Biển

Ấn Độ, Vịnh Ba Tư. Ngày nay, địa lý hiện đại chia bề mặt Trái Đất thành 5 đại dương lớn : Thái

Bình Dương (đôi khi được chia thành hai vùng Nam và Bắc), Bắc Băng Dương (hoặc đề xuất mở

rộng là Bắc Đại Dương), Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương (đôi khi được chia thành hai vùng Nam

và Bắc) và Nam Băng Dương (hoặc đề xuất mở rộng là Nam Đại Dương) cùng với rất nhiều các

biển. Cũng theo sự phân chia hiện đại này, nước từ biển sẽ chỉ được tiếp xúc với nước của một và

chỉ một đại dương (trừ trường hợp đặc biệt là biển Caspian không tiếp xúc với đại dương nào và

mọi người vẫn tranh cãi nó là hồ hay biển).

Cũng theo sự phân chia về đặc tính của sự tiếp xúc giữa lục địa và đại dương, các biển được

phân chia thành ba nhóm:

- Các biển giữa các lục địa. Các biển này được bố trí giữa hai lục địa. Cần chú ý rằng các

biển giữa các lục địa nằm ở các vòng đai đứt gãy của vỏ Trái đất, cho nên những nét đặt trưng của

các biển này là sự chia cắt mạnh mẽ của đường bờ, sự chênh lệch rõ rệt của độ sâu, hoạt động địa

chấn và hoạt động núi lửa mạnh mẽ.

- Các biển trong lục địa. Các biển này ăn sâu vào trong lục địa, nằm ở thềm lục địa và có độ

sâu không lớn.

- Các biển rìa lục địa. Các biển này được tách ra khỏi đại dương bởi các quần đảo hay bán

đảo, được nối với các đại dương trên những tuyến rộng. Các biển này được bố trí hoặc là ở thềm lục

địa với độ sâu nhỏ, hoặc là ở sườn lục địa với sự tăng nhanh đến độ sâu của đại dương.

* Như vậy, dù có những cách hiểu khác nhau về biển và đại dương nhưng nó vẫn là những

hòn nước khổng lồ bao quanh lấy lục địa. Và những quả bóng nước này đang ngày càng có vai trò

to lớn đối với sự sống và sự phát triển của xã hội loài người chúng ta.

1.1.2. Phạm vi không gian biển.

Theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 đã định ra khung pháp lý cho các

quốc gia trong việc xác định các vùng biển và quy chế pháp lý của chúng, xác định ranh giới, biên

giới trên biển giữa các quốc gia.

Theo công ước, mỗi quốc gia ven biển có năm vùng biển bao gồm: nội thủy, lãnh hải, vùng

tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Dựa vào các quy định của công ước, quốc gia ven biển xác định ra đường cơ sở để từ đó

6T- Nội thủy6T: Điều 8 của công ước Luật biển năm 1982 quy định nội thủy là toàn bộ vùng

làm cơ sở xác định phạm vi của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia.

nước tiếp giáp với bờ biển và nằm phía trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải.

Tại nội thủy, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như đối với lãnh thổ đất liền

6T- Lãnh hải6T: là vùng biển nằm ngoài đường cơ sở. Chiều rộng tối đa của lãnh hải là 12 hải lý

của mình.

(điều 3 công ước). Các quốc gia ven biển có chủ quyền đối với lãnh hải của mình. Chủ quyền đối

với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải là tuyệt đối. Chủ quyền đối với vùng trời phía

trên lãnh hải cũng là tuyệt đối. Tuy nhiên, chủ quyền ở đây không được tuyệt đối như trong nội

thủy vì ở lãnh hải của quốc gia ven biển, tàu thuyền của các quốc gia khác được quyền qua lại

6T- Vùng tiếp giáp lãnh hải6T: là vùng biển nằm ngoài và sát với lãnh hải. Chiều rộng của vùng

không gây hại.

tiếp giáp lãnh hải cũng không quá 12 hải lý. Quốc gia ven biển có quyền thi hành sự kiểm soát cần

thiết nhằm ngăn ngừa các vi phạm đối với các luật và quy định về hải quân, thuế khóa, nhập cư hay

y tế trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình; và trừng trị những vi phạm các luật và quy định nói

6T- Vùng đặc quyền kinh tế6T: là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải và có chiều rộng 200 hải

trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình (điều 33 công ước).

lý tính từ đường cơ sở. Trong vùng đặc quyền kinh tế thì quốc gia ven biển có quyền chủ quyền về

kinh tế và quyền tài phán. Quyền chủ quyền về kinh tế bao gồm các quyền đối với khai thác tài

nguyên sinh vật (điều 62), tài nguyên không sinh vật của cột nước bên trên đáy biển, của đáy biển

và lòng đất dưới đáy biển. Hoạt động khai thác tài nguyên trên vùng đặc quyền kinh tế đem lại lợi

ích cho quốc gia ven biển như khai thác năng lượng nước, hải lưu, gió…

Mọi tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn khai thác tài nguyên trên vùng đặc quyền kinh tế

phải có sự xin phép và đồng ý của quốc gia ven biển.

Quyền tài phán trên vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển bao gồm quyền lắp đặt,

sửa chữa các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị trên biển; quyền nghiên cứu khoa học biển; quyền

6T- Thềm lục địa6T: Thềm lục địa của quốc gia ven biển là phần đáy biển và lòng đất dưới đáy

bảo vệ môi trường.

biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển. Thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng tối

thiểu 200 hải lý (kể cả khi thềm lục địa thực tế hẹp hơn 200 hải lý). Các quốc gia ven biển có

quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục

địa của mình. Cần lưu ý quyền chủ quyền đối với thềm lục địa mang tính đặc quyền ở chỗ nếu

quốc gia đó không thăm dò, khai thác thì cũng không ai có quyền khai thác tại đây nếu không được

sự đồng ý của quốc gia ven biển.

Điều cần nhấn mạnh là một mặt các quốc gia ven biển được hưởng các quyền tương ứng

như đã nêu trên đối với các vùng biển của mình, nhưng mặt khác họ có nghĩa vụ tôn trọng quyền

của các quốc gia ven biển khác.

Ngoài ra, còn có vùng biển quốc tế (là vùng biển nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế của các

quốc gia ven biển). Ở vùng biển quốc tế, các quốc gia đều có quyền tự do hàng hải, tự do hàng

không, đặt dây cáp và ống ngầm, đánh bắt cá, nghiên cứu khoa học… nhưng phải tôn trọng lợi ích

của các quốc gia khác cũng như phải tuân thủ các quy định có liên quan của công ước Luật biển

năm 1982; và đáy biển quốc tế (hay còn gọi là đáy đại dương) là di sản chung của nhân loại và

không quốc gia nào có quyền đòi hỏi chủ quyền hay các quyền chủ quyền ở đáy biển quốc tế, kể

cả tài nguyên ở đó.

1.1.3. Quan niệm về vùng ven biển

Từ trước đến nay có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về biển đã đưa ra các định

nghĩa khác nhau về vùng ven biển. Dưới đây là một số định nghĩa về vùng ven biển đã được lựa

chọn tùy theo từng quốc gia và từng lĩnh vực khoa học cụ thể.

- Vùng ven biển (theo các nhà khoa học Nga) là dải ranh giới giữa đất liền và biển, đặc trưng

bởi sự có mặt phổ biến của các dạng địa hình bờ biển cổ và hiện đại. Định nghĩa này phù hợp với

nghiên cứu môi trường và tài nguyên thiên nhiên, nhưng hạn chế khi nghiên cứu về địa lý, nhân

khẩu học và kinh tế học, không nêu được những ảnh hưởng của biển đến các hoạt động kinh tế

hướng tới biển.

- Vùng ven biển (theo Joe Baker – Viện khoa học biển Australia) là dải đất rộng khoảng 3km

dọc đường bờ biển, bao gồm phần kéo dài của biển đến ranh giới ảnh hưởng của thủy triều vào

trong đất liền. Định nghĩa này đã đề cập đến tương tác biển và lục địa nhưng vẫn còn hạn chế khi

nghiên cứu về các tác động kinh tế - xã hội trong quá trình khai thác lợi thế của biển.

- Vùng ven biển (theo định nghĩa của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế) là vùng tính sâu

vào nội địa tới điểm ảnh hưởng của thủy triều lên các con sông, suối và các vùng đất ngập nước,

hoặc tính sâu vào nội địa 10 km, tùy theo khoảng cách nào lớn hơn. Định nghĩa này thiên về nghiên

cứu tài nguyên thiên nhiên. Các tác giả theo quan điểm này cũng chưa chú ý đến các vấn đề về kinh

tế - xã hội, dân cư sinh sống và khai thác các nguồn lợi biển.

Khi phân tích các tác động kinh tế - xã hội và môi tường của phần lãnh thổ sát biển với các

vùng bị nhiễm mặn cho thấy các hoạt động kinh tế - xã hội của dân cư mang những sắc thái đặc thù

gắn với nguồn lợi ven biển. Quá trình khai phá thềm lục địa, phát triển các lĩnh vực kinh tế hướng

tới mở rộng kinh tế đối ngoại qua đường hàng hải của dân cư các quốc gia có biển cho thấy các định

nghĩa chung về vùng ven biển phải đề cập không chỉ đến những tiêu chí khách quan về điều kiện tự

nhiên và tài nguyên vùng ven biển, mà còn phải phản ánh được các vấn đề về dân cư và các hoạt

động kinh tế - xã hội, đồng thời phải tuân thủ những điều luật Quốc tế và Quốc gia về xác định chủ

quyền, ranh giới và các vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia trên biển.

Như vậy, có thể phân định vùng ven biển là toàn bộ phần đất liền ven biển và các hải đảo

trên phần biển hải phận và vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia. Đó là một không gian để bố trí

các hoạt động kinh tế - xã hội hướng biển.

Thực tiển phát triển kinh tế biển nước ta cho thấy, vùng ven biển bao gồm dải các đơn vị

hành chính lãnh thổ có biển, vùng đảo và nội thủy thuộc đơn vị hành chính quản lí tương ứng và các

mối liên hệ không gian như mạng lưới giao thông, thông tin liên lạc, các cảng biển, cửa sông ven

biển, vùng bãi ngang, là cầu nối vùng nội địa với biển, đồng thời là cơ sở hậu cần cho quản lí và

khai thác các đảo – quần đảo xa bờ và ngoài khới.

1.1.4.Kinh tế biển

Kinh tế biển là một bộ phận của kinh tế chung. Và các ngành kinh tế biển ngày càng có vai

trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người. Vì thế, hiểu và định nghĩa cụ thể kinh tế

biển là việc làm rất có ý nghĩa.

Trước tiên, kinh tế biển phải được định nghĩa bằng cách tách ra giữa hoạt động biển và phi

biển.

Theo giáo sư Nguyễn Văn Hường (Tạp chí hoạt động khoa học kỹ thuật – số 5 năm 1996) đã

viết: “Kinh tế biển là một lĩnh vực bao trùm gồm nhiều ngành hoạt động liên quan đến biển như:

thủy sản, du lịch, giao thông vận tải, dầu khí,…nhằm khai thác toàn bộ lợi ích mà biển có thể mang

lại để phát triển đất nước”.

Như vậy, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản: kinh tế biển là những hoạt động kinh tế

dựa trên việc khai thác các nguồn lợi từ biển và môi trường biển.

Ngày nay, khi xem xét tới kinh tế biển, người ta thường đề cập đến kinh tế vùng ven biển ở

một mức độ cần thiết. Để có một khái niệm mang tính quy ước khi phân tích.

Quan niệm kinh tế biển theo nghĩa hẹp bao gồm 7 ngành kinh tế sau: Kinh tế Hàng hải (Vận

tải biển và Dịch vụ cảng biển); Hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản); Khai thác Dầu khí ngoài

khơi; Du lịch biển; Làm muối;Dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; Kinh tế đảo.

Quan niệm kinh tế biển theo nghĩa rộng ( quan điểm hiện nay thường dung trong phân tích

kinh tế biển): bao gồm cả các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển và các hoạt động kinh tế trực tiếp

liên quan đến khai thác biển ở dải đất liền ven biển. Với quan niệm này các hoạt động kinh tế biển

gồm có 6 lĩnh vực sau : Đóng và sửa chữa tàu biển (hoạt động này cũng được xếp chung vào lĩnh

vực kinh tế hàng hải); Công nghiệp chế biến dầu, khí; Công nghiệp chế biến thuỷ, hải sản; Cung

cấp dịch vụ biển; Thông tin liên lạc (biển); Nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực

phục vụ phát triển kinh tế biển, điều tra cơ bản về tài nguyên - môi trường biển.

Khác với kinh tế biển, kinh tế vùng ven biển là toàn bộ các hoạt động kinh tế ở dải ven biển,

có thể tính theo địa bàn các xã ven biển, các huyện ven biển hoặc cũng có thể là các tỉnh ven biển -

có biên giới đất liền tiếp giáp với biển. Nó bao gồm cả các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; công

nghiệp và dịch vụ trên phạm vi địa bàn lãnh thổ này

Hiện nay thế giới thống nhất kinh tế biển là nền kinh tế tổng thành của các ngành công

nghiệp do môi trường biển đem lại. Môi trường biển được định nghĩa là những vùng biển có chủ

quyền: mặt nước ven bờ, lãnh hải, vùng kinh tế đặc quyền. Nhưng trong các báo cáo tổng kết về

kinh tế biển hiện nay, ta chỉ thấy một bức tranh không toàn cục, chủ yếu là đánh bắt, dầu khí và vận

tải. Tại các hội thảo về kinh tế biển, người ta vẫn thấy những cái nhìn rời rạc, chưa có một nghiên

cứu tổng thể để từ đó lên kế hoạch cụ thể cho từng ngành công nghiệp biển vừa nêu. Ở các nước,

vẫn có nhiều tranh cãi trong các phép đo của từng ngành công nghiệp biển, cũng như sự đối kháng,

xung đột của các ngành, kể cả những xung đột nhất định trong nội bộ ngành. Chẳng hạn đánh bắt và

nuôi trồng xung đột với nhau vì một bên gây ô nhiễm môi trường, làm cho cá không sinh sản trong

những vùng nước gần bờ được. Chẳng hạn khai thác dầu khí, khoáng sản thường gây ô nhiễm nước

ảnh hưởng đến đời sống hải sản… nếu không tính đến bài toán phát triển bền vững qua bảo vệ môi

trường một cách hữu hiệu, biển sẽ trở thành sa mạc nước.

1.1.5.Cơ cấu kinh tế biển

Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối

ổn định hợp thành. Cơ cấu ngành (lĩnh vực) kinh tế là một bộ phận cấu thành cơ bản của nền kinh tế

quốc dân. Đây là tổng hợp các ngành (lĩnh vực) của nền kinh tế được sắp xếp theo một tương quan

tỷ lệ nhất định. Nói cách khác, cơ cấu ngành thể hiện số lượng, tỷ trọng của ngành (lĩnh vực) tạo

nên nền kinh tế.

Có rất nhiều ngành tạo thành nền kinh tế. Về đại thể, chúng được phân thành ba nhóm ngành

sau: Khu vực I: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; Khu vực II : công nghiệp và xây dựng và

Khu vực III là dịch vụ.

Xét về cơ cấu kinh tế biển, từ nhiều nghiên cứu quốc tế về biển đã đi đến tổng kết cấu trúc

kinh tế biển gồm 6 chuyên ngành chính là:

- Kinh tế cảng

- Kinh tế đóng tàu

- Kinh tế dầu khí và khai thác khoáng sản biển

- Kinh tế hải sản (đánh bắt và nuôi trồng hải sản)

- Kinh tế du lịch và dịch vụ trên biển

- Kinh tế lấn biển

Đối với Việt Nam. Cơ cấu kinh tế biển đã dần hình thành từ đơn giản đến hoàn chỉnh như

ngày nay. Dựa vào nguồn tài nguyên biển phong phú và đa dạng, qua các thời đại, người Việt Nam

đã biết khai thác và sử dụng tài nguyên phục vụ cho cuộc sống của mình, ở mức độ nhất định, trình

độ và quy mô khác nhau. Thời kỳ cổ đại, người Việt sử dụng tài nguyên biển cho đời sống, lợi dụng

thủy triều để thực hiện giao thông thương mại, trồng trọt, đánh giặc ngoại xâm. Đến thời kỳ nhà

nước phong kiến, kinh tế biển vẫn chủ yếu khai thác tài nguyên sẵn có phục vụ cuộc sống và cống

nạp cho giai cấp thống trị. Việc khai thác dần mở rộng và sâu hơn trong thời Trần và thời Lý qua

việc phát triển nghề làm muối, khẩn hoang vùng đất ven biển, đánh bắt cá và làm nước mắm. Đến

thời nhà Lê, việc phát triển giao thương qua các cửa khẩu được chú ý thông qua việc cho người

nước ngoài vào buôn bán theo các cửa khẩu Vân Đồn, Vạn Ninh, Tam Kỳ….Thời nhà Nguyễn giao

thương với nước ngoài đặc biệt được chú ý từ cách nhìn nhận đầy đủ về ý nghĩa của các cửa biển,

việc phát triển các đội thuyền vừa phục vụ cho phát triển kinh tế vừa đảm bảo an ninh. Vào thời vua

Minh Mạng, một số đạo luật về khai thác phát triển kinh tế biển vùng ven biển đã được ban hành.

Từ đó, việc tổ chức khai hoang lấn biển lập nên các vùng đất mới mở rộng bờ cõi diễn ra khá mạnh

ở Kim Sơn (Ninh Bình), Tiền Hải (Thái Bình). Từ sau năm 1945 đến 1975, kinh tế biển đã có

những bước tiến nhất định, song vẫn mang tính tự cấp, tự túc, các hoạt động chỉ diễn ra ở gần bờ với

phương tiện thô sơ, chỉ tập trung vào nghề khai thác thủy sản. Từ 1975 đến 1986 mặc dầu kinh tế

còn khó khăn nhưng Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm đến xác định chủ quyền biển và bảo vệ

tài nguyên biển, nền kinh tế biển đã thực sự được đầu tư cả về chiều rộng và chiều sâu.

Từ 1986 đến nay, cùng với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang cơ chế thị trường theo định

hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế biển được xác định với đầy đủ các lĩnh vực như: Nghề cá (đánh bắt,

nuôi trồng và chế biển), khai thác khoáng sản (dầu lửa, khí đốt, vật liệu xây dựng…), hàng hải

(đóng tàu, lập cảng, chuyên chở hàng hóa….), du lịch biển (tắm biển, lặn biển, nghỉ dưỡng….), an

ninh quốc phòng (bảo vệ, quản lí biên giới hải đảo…)

Ở nước ta, dưới quan điểm phân vùng kinh tế thì nước ta phân thành 3 loại hình kinh tế chính

là: Kinh tế đồi núi; kinh tế đồng bằng và kinh tế biển

Trong những năm gần đây, khi nước ta tiến hành quy hoạch chiến lược phát triển kinh tế biển

đã xác định 2 vùng kinh tế chính là: vùng kinh tế nội địa và vùng kinh tế biển và ven biển.

1.1.6. Tổ chức lãnh thổ kinh tế biển

Trong sách “Địa lí kinh tế - xã hội: Từ điển khái niệm – thuật ngữ” (1983) của E.B.Alaev đã

đưa ra nhận thức chung của các nhà địa lí Xô Viết về tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội như sau: “ Tổ

chức kinh tế - xã hội trong nghĩa rộng của từ này bao gồm các vấn đề liên quan đến phân công lao

động theo lãnh thổ, phân bố các lực lượng sản xuất, các sự khác biệt về vùng trong quan hệ tương

hỗ giữa xã hội và thiên nhiên, cũng như các vấn đề chính sách vùng về kinh tế - xã hội. Ở một nghĩa

hẹp hơn, nó bao gồm các phạm trù như tổ chức lãnh thổ hành chánh của Nhà nước, quản lí vùng về

sản xuất, sự hình thành các thành tạo lãnh thổ về tổ chức kinh tế, sự xác định các khách thể vùng

của quản lí, sự phân vùng về kinh tế - xã hội…”

Các nhà khoa học phương Tây theo hướng kinh tế thị trường thường sử dụng thuật ngữ tổ

chức không gian kinh tế - xã hội thì cho rằng: Có thể hiểu tổ chức không gian kinh tế - xã hội là sự

sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng nhằm sử dụng một cách

hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất kĩ thuật đã và

sẽ được tạo dựng để đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự

phát triển bền vững của một lãnh thổ.

Tổ chức lãnh thổ kinh tế biển với tư cách là một bộ phận của tổ chức không gian kinh tế - xã

hội, nó có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ

môi trường đất nước. Ngoài ra, không gian biển là không gian đặc biệt chiến lược đặc biệt quan

trọng trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Việt Nam đang trong giai đoạn chuẩn bị tiến ra biển lớn, việc tổ chức lãnh thổ kinh tế biển

trước hết thể hiện sự tương tác kinh tế lãnh thổ - lãnh hải diễn ra chủ yếu và trực tiếp ở vùng duyên

hải. Hệ quả tất yếu sẽ dẫn đến hình thành các phức thệ kinh tế lãnh thổ - lãnh hải được tổ chức theo

hướng mở trong mối tướng tác với các nước trong khu vực có cùng lợi ích trên biển Đông.

Trên tinh thần đó, tầm nhìn đến năm 2020 khi nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, mô

hình tổ chức không gian kinh tế đất liền – biển có thể định hướng như sau:

2 Diện tích 9083 kmP

P, dân số 4,9 triệu người (2005). Định hướng phát triển khu vực biển Hải Phòng –

- Vùng biển ven biển phía Bắc, gồm 23 huyện thuộc 5 tỉnh, từ Quảng Ninh đến Ninh Bình.

Quảng Ninh thành trung tâm kinh tế mạnh mà nòng cốt là cảng, công nghiệp, du lịch, là đầu tàu kéo

toàn vùng phát triển. Bên cạnh đó phát triển khu kinh tế thương mại, xây dựng tuyến đường biển,

cảng biển, khu kinh tế, các thành phố, thị trấn ven biển.

2 tỉnh, từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. Diện tích 36078 kmP

P, dân số 13,4 triệu người. Hướng phát triển

- Vùng biển và ven biển Băc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, với 73 huyện thuộc 14

kinh tế biển là: Xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển và trở

thành một trong 3 trung tâm kinh tế biển lớn nhất nước ta. Xây dựng hành lang kinh tế trên cơ sở

tuyến cao tốc Bắc – Nam, xây dựng cảng nước sâu, sân bay quốc tế, phát triển các đô thị ven biển,

xây dựng khu kinh tế tổng hợp, trong đó chú trọng đến hàng hải và du lịch.

P, dân số 1,9 triệu người (2005). Với định hướng phát

2 thành phố Hồ Chí Minh. Diện tích 2279,5 kmP

- Vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ, với 9 huyện, thị thuộc 2 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và

triển thành phố Vũng Tàu thành trung tâm kinh tế hướng ra biển, xây dựng hành lang kinh tế, các

khu công nghiệp, đặc biệt là tuyến quốc lộ 51.

- Vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ, là cửa ngõ của các tỉnh Đồng bằng song Cửu Long,

2 tích 14923,6 kmP

P, dân số 5,6 triệu người (2005). Định hướng xây dựng Phú Quốc thành trung tâm

với 33 huyện, thị thuộc 7 tỉnh, kéo dài từ Tiền Giang đến Cà Mau và Hà Tiên (Kiên Giang). Diện

kinh tế lớn, là bàn đạp hướng ra biển của tiểu vùng, hướng đến 2020 Phú Quốc trở thành trung tâm

giao thương quốc tế. Bên cạnh đó, đẩy mạnh khai thác, nuôi trồng thủy sản, phát triển công nghiệp

xi măng, công nghiệp khí – điện – đạm, du lịch biển – đảo, nghiên cứu khoa học – công nghiệp

biển, đào tạo nhân lực và phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, xây dựng trung tâm cứu hộ -

cứu nạn và bảo vệ môi trường biển, đảm bảo an ninh – quốc phòng vùng biển. Hình thành các hành

lang kinh tế ven biển phía Tây và phía Đông.

Như vậy, tổ chức kinh tế biển là một bộ phận của tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội, bộ phận

này càng có vai trò quan trọng và to lớn hơn khi không gian kinh tế nội địa ngày càng chật hẹp và

nó ảnh hưởng sâu sắc trở lại đến không gian kinh tế - xã hội chung.

1.1.7. Các loại hình kinh tế biển

- Kinh tế hàng hải: Đại dương, biển chiếm gần 71% bề mặt của hành tinh xanh. Lịch sử tiến

hóa của loài người luôn được gắn kết với biển. Văn minh nhân loại càng phát triển thì giá trị của

biển càng được tôn vinh. Ngành hàng hải ra đời, biển chẳng những là cầu nối giữa các châu lục, các

quốc gia mà còn là tài sản vô giá của Trái đất.

Từ sau những cuộc phát kiến địa lý lớn, ngành hàng hải mới chính thức ra đời và phát triển

khá nhanh cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Thế giới, với sự trao đổi hàng hóa giữa các

nước có chuyên môn hóa kinh tế khác nhau, giữa chính quốc và các nước thuộc địa, giữa các nước

có nền kinh tế phát triển và các nước kém phát triển.

Ngành vận tải biển là ngành mang tính chất kinh doanh, phục vụ trong khâu vận chuyển hàng

hải bằng đường biển và xếp dỡ hàng hóa tại cảng biển. Khâu vận chuyển có nhiệm vụ tổ chức khai

thác và kinh doanh tàu biển hoạt động trên một địa bàn rộng lớn. Khâu xếp dỡ có nhiệm vụ tổ chức

khai thác và kinh doanh các hoạt động sản xuất, phục vụ ở cảng biển.

Vận tải biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác. Ngay từ thế kỷ thứ V trước

công nguyên, con người đã biết lợi dụng biển làm các tuyến đường giao thông để giao lưu các vùng

miền, các quốc gia với nhau trên thế giới. Cho đến nay, vận tải biển được phát triển mạnh và trở

thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế.

Khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển không lớn, nhưng vì đường dài nên hiện

nay đường biển đảm đương tới 3/5 khối lượng luân chuyển hàng hóa của tất cả các phương tiện vận

tải trên Thế giới. Không chỉ có các tuyến viễn dương có ý nghĩa quan trọng, mà cả các tuyến vận tải

ven bờ cũng có ý nghĩa đối với các nước có đường bờ biển.

Các tuyến hàng hải thường được chia thành ba loại: từ cảng đến cảng (port – to – port), tuyến

con lắc (pendulum) và vòng quanh Thế giới (round the world). Các dịch vụ kiểu con lắc rất được ưa

chuộng do tính chất uyển chuyển trong dịch vụ và đặc biệt là trong thời đại chuyên chở bằng các tàu

container. Trong những năm gần đây, còn có khuynh hướng tích hợp và chuyên môn hóa các tuyến

đường biển nhờ các tàu chuyển tải đường ngắn nối các cảng lớn với nhau.

Đại dương bao la nhưng các tuyến đường hàng hải lại chỉ tập trung ở một số tuyến quan

trọng: Bắc Đại Tây Dương nối Châu Âu và Bắc Mỹ, Địa Trung Hải – Châu Á qua kênh Suez, thông

qua kênh Panama nối Châu Âu và bờ Đông Hoa Kỳ và Châu Á, đường biển Nam Phi nối Châu Âu

qua Châu Mỹ với Châu Phi, đường biển Nam Mỹ nối Châu Âu và Bắc Mỹ với Nam Mỹ, đường

Biển Bắc Thái Bình Dương nối Tây Hoa Kỳ với Nhật Bản và Trung Quốc, đường biển Nam Thái

Bình Dương từ Tây Hoa Kỳ đến Ôxtrâylia, Niu Dilân, Inđônêsia và Nam Á. Đường biển từ vùng

vịnh Pecxich qua mũi Hảo Vọng (Nam Phi) đến Châu Âu và Châu Mỹ dành riêng cho các tàu chở

dầu khổng lồ không đi qua được kênh Suez.

Vận tải đường biển là loại phương tiện vận tải hàng hóa chủ yếu nhất trong thương mại quốc

tế. Trước khi Thế giới bước vào kỷ nguyên của các chuyến bay liên lục địa thì vận chuyển hành

khách bằng tàu biển khá quan trọng, nhất là ở Bắc Đại Tây Dương, nối Châu Âu với Bắc Mỹ. Vào

năm 1838, vượt Đại Tây Dương hết 15,5 ngày (tàu Great Western), thì đến đầu thế kỷ XX chỉ còn

4,5 ngày (tàu Mauritania, 1907) và đến năm 1952 chỉ còn 3,5 ngày (tàu United States, 1952). Nhưng

cũng từ thời điểm đó, vận tải hàng không đã chiếm mất vị trí độc tôn của tàu vận tải khách xuyên

Đại Tây Dương. Hiện nay, chỉ còn một số tàu chở khách viễn dương nhằm mục tiêu du lịch, các phà

biển (ferries) hay các tàu chở khách nhỏ như các nước quần đảo Inđônêxia, Philippin, các nước

vùng Caribê. Trong khi việc chuyên chở hành khách bằng đường biển giảm sút thì việc chuyên chở

dầu mỏ, các hàng hóa khác lại tăng lên mạnh. Việc chuyên chở các loại khoáng sản, gỗ, ngũ cốc,…

vẫn còn chiếm một khối lượng lớn, từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, việc chuyên chở các loại

hàng chế biến ngày càng tăng mạnh.

Khoảng 1/2 khối lượng hàng vận chuyển trên đường biển quốc tế là dầu mỏ và các sản phẩm

dầu mỏ. Việc chở dầu bàng các tanke luôn đe dọa ô nhiễm môi trường. Toàn Thế giới có hàng trăm

tàu chở dầu có trọng tải trên 100 nghìn tấn đang hoạt động. Tàu chở dầu chở tới hơn 300 loại sản

phẩm dầu mỏ và mỡ. Mỗi khi lấy hàng, người ta xả nước, nước nóng vào các khoang để rửa sạnh

tàu rồi trút nước và cặn bẩn xuống biển. Theo đánh giá của UNEP (Chương trình môi trường của

Liên Hợp Quốc) năm 1987, thì mỗi năm các tàu chở dầu trút xuống biển 1,1 triệu tấn dầu mỏ từ

nước rửa tàu và nước trọng tải dầu, cộng thêm khoảng 500 nghìn tấn dầu do các sự cố tàu dầu.

Hiện nay, khoảng 100.000 tàu biển có trọng tải trên 100 tấn đang hoạt động khắp Thế giới,

trong đó 1/2 làm nhiệm vụ vận tải, còn 1/2 làm nhiệm vụ dịch vụ. Cùng với sự mở rộng buôn bán

quốc tế, đội tàu biển đã tăng lên cả về số lượng và trọng tải trung bình.

Trong đời sống ngành hàng hải Thế giới phổ biến hiện tượng chủ tàu mượn cờ của nước

khác, chẳng hạn gần như toàn bộ đội tanke của Libêria và Panama là thuộc về các chủ tàu Hoa Kỳ,

Hi Lạp và một số nước khác. Điều này giải thích tại sao có các quốc gia tuy không đóng vai trò lớn

trong nền kinh tế Thế giới nhưng lại có đội tàu buôn với trọng tải rất lớn.

Đội tàu buôn được chia thành tàu chở khách, tàu chở hàng (cargo ship) và tàu chở dầu

(tanke). Các tàu hàng thông thường có thể chở hàng được đóng gói, hàng rót (quặng, ngũ cốc) và cả

một số hàng lỏng (mủ cao su, dầu ăn,..). Có những tàu hàng được thiết kế chuyên dụng để chuyên

chở ô tô, ngũ cốc.

Đối với địa lý vận tải đường biển, mạng lưới các cảng biển có ý nghĩa căn bản. Cảng biển là

nơi tàu đỗ tiện lợi và an toàn, nơi có thể tiến hành bốc dỡ hàng hóa và xếp hàng mới. Thường thì các

cảng tự nhiên được xây dựng ở bờ vịnh nước sâu hay ở các cửa sông. Người ta thường phân loại các

cảng thành cảng địa phương, cảng khu vực hay cảng quốc tế, cảng chuyển tải, cảng bách hóa hay

cảng chuyên dụng.

Lịch sử của ngành đường biển thế giới cho thấy kinh tế biển luôn được coi là ngành mũi

nhọn, trong đó vai trò chủ đạo là cảng biển. Nơi nào có cảng biển, nơi đó sẽ là thành phố với kinh

tế, công nghiệp và giao thương phát triển. Cảng biển phồn vinh, kinh tế biển càng mạnh.

Cảng biển là kết cấu hạ tầng quan trọng của kinh tế hàng hải, nó phải đi trước một bước để

thúc đẩy các ngành kinh tế biển khác phát triển. Vì vậy cần phải có một quy hoạch cụ thể, phù hợp

vì hoạt động của một cảng biển tồn tại đến hàng trăm năm hoặc lâu hơn thế. Chẳng hạn cảng

Rotterdam của Hà Lan hình thành từ những năm 1860 đến nay đã gần 150 năm mà vẫn còn sầm uất,

hiện nay vẫn là cảng lớn nhất Châu Âu và còn một số cảng khác như: cảng London của Anh, cảng

Hamburg của Đức, cảng Antwerp của Bỉ cũng tương đồng ý nghĩa đó.

Cảng nằm trong một hệ thống phân phối hàng hóa. Vì vậy, để phân tích sự phát triển và hoạt

động của cảng, người ta phải quan tâm đến hậu phương (hinterland) và vùng trước cảng (foreland).

Hậu phương của cảng có thể được hiểu là một bộ phận lãnh thổ của đất nước tạo nên thị trường tự

nhiên và phục vụ cho cảng. Vùng trước cảng có thể được hiểu là vùng đất đối diện với hậu phương

của cảng qua vùng biển, nơi mà hàng hóa được chở từ đó đến cảng và ngược lại. Vùng trước cảng

xác định sự tham gia của cảng vào nền kinh tế Thế giới. Hiện trên Thế giới có khoảng 6000 – 7000

cảng đang hoạt động, nhưng chỉ khoảng 100 có ý nghĩa toàn cầu.

Cuối cùng, cần phải đề cập đến ba vị trí địa lý chiến lược cực kỳ quan trọng trong hàng hải

Thế giới hiện đại: kênh Suez (được đào cắt ngang eo đất Suez của Ai Cập, nối Đại Tây Dương với

Ấn Độ Dương), kênh Panama (cắt qua eo đất Panama rộng 50 km là con đường ngắn nhất nối Thái

Bình Dương và Đại Tây Dương) và eo biển Malacca.

- Hải sản: Nguồn lợi hải sản là thế mạnh đặc trưng của biển và khi nói về kinh tế biển không

thể không nhắc đến vai trò, vị trí của ngành. Ngành hải sản bao gồm các lĩnh vực như: khai thác,

nuôi trồng, chế biến.

Tài nguyên sinh vật biển rất phong phú, đa dạng, bao gồm nguồn lợi động vật biển (cá, tôm,

cua, các loài động vật thân mềm (mực, bào ngư, trai ngọc,…) và nhiều động vật có giá trị cả về kinh

tế và nghiên cứu đa dạng sinh học biển như: rùa biển, sứa,…) và thực vật biển (rong biển). Sức sản

xuất nguyên khai của biển khoảng 500 tỷ tấn/năm và sản lượng hàng năm đạt khoảng 600 triệu tấn.

Đây là tiềm năng rất lớn đối với ngành khai thác thủy sản của Thế giới.

Theo thống kê của FAO, hiện nay toàn Thế giới có hơn 160 quốc gia làm kinh tế thủy sản,

trong đó có hơn 20 quốc gia có sản lượng đánh bắt cá biển trên 1 triệu tấn/năm thuộc Châu Á, Châu

Âu, Châu Mỹ.

Sản lượng khai thác thủy sản từ nửa sau thế kỷ XX cho đến nay ngày càng tăng nhanh. Vào

những năm 1950, sản lượng khai thác gần 20 triệu tấn thì đến những năm đầu của thế kỷ XXI, sản

lượng thủy sản khai thác đạt gần 100 triệu tấn. Các nước có sản lượng đánh bắt thủy sản lớn nhất

Thế giới là Trung Quốc (gần 18 triệu tấn), Pêru (gần 8 triệu tấn), Hoa Kì (5 triệu tấn), Nhật Bản (4,8

triệu tấn), Inđônêxia (4,3 triệu tấn), Chilê (4 triệu tấn), Ấn Độ (3,9 triệu tấn), Liên Bang Nga (3,7

triệu tấn), Thái Lan (2,9 triệu tấn) và Na Uy (2,8 triệu tấn). Đến năm 2009, Việt Nam được đánh giá

là một trong những quốc gia có tiềm năng khai thác hải sản trên biển, xếp thứ 12 trên thế giới về

năng lực đánh bắt với sản lượng luôn ổn định ở mức 1,5 - 1,8 triệu tấn/năm.

Ngành khai thác thủy sản đòi hỏi phải có cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ. Đó là các đội tàu

đánh cá lớn với tàu chế biến đi kèm, lưới tốt, thiết bị hiện đại thăm dò luồng cá, các cảng cá, xí

nghiệp sửa chữa tàu, chế tạo ngư cụ, các cơ sở hậu cần dịch vụ,…

Tuy nhiên, việc khai thác thủy sản quá mức ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi thủy sản. Vì vậy,

vấn đề khai thác hợp lý kết hợp với bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên thủy sản có ý nghĩa to

lớn. Một số ngư trường, chẳng hạn bãi cá thu Grand Banks ngoài khơi phía đông Canada, đã bị khai

thác

vượt quá khả năng phục hồi.

Đánh bắt cá quá mức đã trở thành một vấn đề lớn. Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, hơn 25% ngư

trường trên toàn thế giới bị khai thác quá mức, 50% bị đánh bắt hết công suất và 75% cần được cấm

hoặc giảm tốc độ đánh bắt ngay lập tức để đảm bảo nguồn cá cho tương lai.

Các ngư trường khai thác thủy sản chủ yếu trên Thế Giới là Biển Bắc, Đông Bắc Đại Tây

Dương, Tây Bắc Đại Tây Dương, Trung Tâm Tây Đại Tây Dương, Tây Nam Đại Tây Dương, Bắc

Địa Trung Hải, Đông Ấn Độ Dương, Tây Bắc Thái Bình Dương, Đông và Đông Bắc Thái Bình

Dương, Tây Nam Thái Bình Dương

Tuy việc đánh bắt từ biển vẫn còn cung cấp cho Thế giới tới 2/3 sản lượng thủy sản, song

ngành nuôi trồng đã và đang phát triển nhanh với vị thế ngày càng cao. Rõ ràng, nguồn tài nguyên

biển là có giới hạn, lại đang bị con người khai thác quá mức. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng

của Thế giới, việc phát triển nuôi trồng thủy sản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng của Thế giới từ năm 1950 đến nay tăng gấp 3 lần, đạt trên 48

triệu tấn. Các loài thủy sản được nuôi ở các vùng nước lợ và nước mặn ngày càng phổ biến với

nhiều loài có giá trị cao về thực phẩm, về kinh tế đã trở thành đối tượng nuôi trồng để xuất khẩu như

tôm (tôm sú, tôm hùm,..), cua, cá…

Ngành nuôi trồng phát triển mạnh ở các nước Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản,

Philippin,…Ngoài ra còn có các nước khác như Bănglađet, Hàn Quốc, Chilê,…

Sự tăng trưởng của các hoạt động nuôi trồng, khai thác, đánh bắt, chế biến thủy hải sản là

lĩnh vực quan trọng đối với phát triển kinh tế biển, phát triển kinh tế - xã hội vùng biển. Trong đó

năng lực đánh bắt thủy sản phụ thuộc vào việc trang bị cơ giới và công suất động lực của tàu

thuyền. Và bên cạnh các hoạt động khai thác, đánh bắt hải sản tự nhiên thì việc đầu tư nuôi thủy sản

cũng đã được phát triển rộng rãi, trở thành một nghề mới có ý nghĩa quan trọng của đông đảo dân

cư vùng biển. Hoạt động nuôi trồng thủy sản đa dạng, tập trung vào các loại sản phẩm có giá trị

kinh tế cao và phù hợp với điều kiện sinh thái của mỗi địa phương. Kế đến là hoạt động chế biến

thủy hải sản, đây là biện pháp tốt nhất nhằm bảo quản các sản phẩm thủy hải sản từ hoạt động đánh

bắt và nuôi trồng.

Nguồn nguyên liệu hải sản dồi dào cung cấp cho các ngành công nghiệp chế biến, tạo một

bước khởi đầu quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm phát triển. Trên Thế giới,

ngành công nghiệp chế biến hải sản rất phát triển và ngày càng có vai trò quan trọng trong cuộc

sống con người, góp phần tăng giá trị của các nguồn tài nguyên trong lòng biển cả.

- Khai thác dầu khí ngoài khơi: Trong điều kiện thuận lợi, trải qua những biến đổi địa chất,

dầu mỏ được tạo thành tích tụ ở các lớp đá phù hợp (côlectơ) có độ nức nẻ hay có độ rỗng và có khả

năng chứa dầu. Tập hợp các vỉa dầu ở một khu vực nhất định của vỏ Trái đất tạo nên mỏ dầu. Dầu

có thể di chuyển theo các khe nứt hay lỗ rỗng của đá giúp cho việc khai thác được dễ dàng. Người ta

khai thác dầu từ các giếng với lỗ khoan hẹp khoan trong đá cho tới vỉa chứa dầu. Sau khi khoan tới

vỉa chứa dầu, dầu thô được hút lên mặt đất. Khi vỉa dầu còn đủ áp lực thì dầu theo giếng đi lên và

tràn ra mặt đất. Khi áp suất trong vỉa tuột xuống, giếng không tự phun được, người ta phải dùng

bơm. Dầu từ vỉa được hút và bơm lên các bể chứa rồi được vận chuyển bằng đường ống tới các

trung tâm lọc, hóa dầu.

Dầu mỏ và các sản phẩm của nó được dùng làm nhiên liệu chiếm vị trí số một trong số các

loại nhiên liệu do dễ sử dụng, vận chuyển và có khả năng sinh nhiệt cao (10000 – 11500 kcal/kg).

Dầu mỏ, khí đốt là nguồn năng lượng mới, chỉ thực sự được sử dụng nhiều vào nửa sau thế kỷ XX,

từ 2% năm 1860 lên 4% năm 1900, đến 26% năm 1940 và 44% năm 1960 rồi đạt cực đại vào thập

kỷ 80 gắn liền với sự phát triển của ngành giao thông vận tải, công nghiệp hóa chất, đặc biệt là hóa

dầu…Dầu mỏ được coi là “vàng đen” của đất nước.

Khí thiên nhiên trong một thời gian dài bị coi thường. Khí đồng hành ở các mỏ dầu đã bị đốt

đi một cách phí phạm. Ngày nay, khí thiên nhiên là nhiên liệu sạch, có hiệu quả, ít gây ô nhiễm môi

trường hơn so với việc sử dụng than và dầu nên được tận dụng một cách triệt để.

Trung Đông là khu vực có tiềm năng cực lớn về dầu mỏ và chiếm tới 65% trữ lượng của Thế

giới. Tiếp theo với trữ lượng nhỏ hơn nhiều là Châu Phi (9,3%), Liên Xô cũ và Đông Âu (7,9%),

Trung và Nam Mỹ (7,2%). Nếu phân theo nhóm nước thì hơn 80% trữ lượng dầu mỏ toàn cầu tập

trung ở các nước đang phát triển. Trữ lượng khí đốt nhiều nhất cũng thuộc về Trung Đông, Liên Xô

cũ và Đông Âu, Châu Phi, Viễn Đông – ASEAN.

Nhờ những tiến bộ về khoa học công nghệ mà con người ngày càng phát hiện thêm nhiều mỏ

dầu – khí mới, làm cho trữ lượng của chúng tăng lên đáng kể. Theo đánh giá của các chuyên gia, trữ

3 khoảng 190 nghìn tỉ mP

P khí đốt.

lượng ước tính của dầu mỏ từ 400 đến 500 tỉ tấn, còn trữ lượng chắc chắn khoảng 140 tỉ tấn và

Công việc thăm dò, khai thác và lọc hóa dầu đòi hỏi trình độ khoa học công nghệ cao, vốn

đầu tư lớn, khả năng quản lý giỏi về kinh tế. Vì thế, việc điều hành, quản lý công tác thăm dò khai

thác và chế biến dầu hiện nay là độc quyền của một số công ty và tập đoàn dầu khí lớn như Exxon,

Shell, Mobil, BP,…Các nước đang phát triển giàu nguồn tài nguyên này đều phải hợp tác, liên

doanh và chia sẻ quyền lợi với các công ty dầu mỏ hàng đầu Thế giới.

Dầu khí là tài nguyên mũi nhọn, có ưu thế nổi trội nhất của biển. Hiện nay, tại các khu vực

có tiềm năng dầu khí cao, đang có các hoạt động khai thác với quy mô ngày càng lớn, góp phần

quan trọng vào việc thay đổi cơ cấu năng lượng của cả Thế giới. Và khí thiên nhiên cũng là một

nguồn tài nguyên to lớn, có thể đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năng lượng của các ngành công nghiệp.

- Du lịch biển: Du lịch được hiểu là sự lữ hành để nhằm mục đích giải trí hoặc tìm hiểu.

Thường thì du khách đi thành các nhóm hoặc cá nhân.

Du lịch “là một tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan đến việc di chuyển tạm

thời của con người ra khỏi nơi ở thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi, văn

hóa, dưỡng sức,…và nhìn chung là vì những lí do không phải để kiếm sống” (WTO,1994).

Du lịch biển là ngành du lịch nhằm tận dụng các cảnh quan và sinh thái vùng ven biển đáp

ứng nhu cầu hưởng thụ cho du khách. Các tài nguyên phục vụ hoạt động du lịch biển bao gồm tài

nguyên du lịch tự nhiên (các bãi biển, hệ thống các đảo và quần đảo, nguồn nước, tài nguyên sinh

vật,…) và tài nguyên du lịch nhân văn (các lễ hội, hoạt động thể thao,…), có thể khai thác, phát

triển nhiều loại hình du lịch: tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, nghiên cứu, giải trí, thể thao,…

Kiểu địa hình ven bờ, đặc biệt là các bãi cát ven biển, đảo, thường được gọi là các bãi biển.

Địa hình tự nhiên đa dạng của dải ven biển tạo ra những thắng cảnh đẹp. Các bãi biển, hệ thống các

đảo và quần đảo đóng một vai trò quan trọng trong việc sử dụng tiềm năng tự nhiên của biển vào

mục đích nghỉ ngơi và du lịch biển.

Các bãi biển hấp dẫn du khách và thuận lợi phát triển các loại hình du lịch tắm biển, lặn biển,

0 rộng lớn, có độ dốc từ 1 – 3P

P, nước biển có độ trong suốt cao từ 3 – 5m, độ mặn từ 2,5% - 4%, đảm

thể thao biển, nghỉ dưỡng chữa bệnh cần có các điều kiện: có bãi cát trắng, mịn, chiều dài và chiều

bảo các tiêu chuẩn lý hóa sinh không bị ô nhiễm, độ sâu của bãi tắm không quá 1,5m, độ sâu của

0 3P

P, độ sâu trên 1,5m, độ mặn trên 4% hoặc nhỏ hơn 2,5%, sóng cao trên 1,5m, độ trong suốt dưới

các vùng ven bờ phát triển du lịch lặn biển thường từ 20 – 30m. Những bãi biển có độ dốc lớn hơn

0,5m, nước bị ô nhiễm đều không thuận lợi cho hoạt động tắm biển.

Ngoài ra, để phát triển du lịch biển còn cần có sự kết hợp các điều kiện địa hình với điều kiện

nước biển và khí hậu. Khí hậu ấm áp, nhiều nắng thuận lợi cho phát triển du lịch biển. Khí hậu vùng

ven biển thường là môi trường nghỉ dưỡng an toàn cho du khách. Chính sự phân bố các vùng khí

hậu khác nhau đã tạo ra mức độ thuận lợi khác nhau trong việc sử dụng các bãi biển vào mục đích

nghỉ ngơi và du lịch. Theo các nhà khí hậu học, vùng ven biển có khí hậu rất thuận lợi cho hoạt

động du lịch vì nhiệt độ ở đây cũng không quá nóng và cũng không quá lạnh như ở lục địa.

Tài nguyên sinh vật vùng ven biển đa dạng, phong phú, là tiền đề phát triển loại hình du lịch

sinh thái, tham quan, nghiên cứu khoa học như: hệ thống rừng ngập mặn, san hô,…

Bên cạnh đó, các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, các làng nghề truyền thống đã gắn chặt

với đời sống người dân vùng biển đang là một lợi thế khai thác du lịch biển, nhất là nghệ thuật ẩm

thực vùng biển, một sắc thái rất riêng của vùng biển là một tài nguyên du lịch tạo sức hấp dẫn và lôi

cuốn du khách một cách mạnh mẽ.

Tài nguyên nước ở vùng ven biển cho phép khai thác nhiều loại hình du lịch tùy thuộc vào

lưu lượng dòng chảy, chế độ sóng có thể khai thác các loại hình du lịch như tắm biển (đây là loại

hình phổ biến nhất), lặn, tham quan đáy biển hoặc các hoạt động thể thao diễn ra trên biển như

thuyền buồm, lướt ván, du thuyền,…

Hiện nay, du lịch biển đang trở thành một chiến lược phát triển của ngành du lịch, đem lại

nguồn thu lớn, góp phần tăng thu nhập cho người dân cũng như nguồn ngân sách. Theo UNWTO

(Tổ chức du lịch Thế giới), có hơn 70% số du khách rất thích đi du lịch biển.

- Làm muối: Khai thác muối biển là một nghề truyền thống và giữ vị trí quan trọng đối với

đời sống nhân dân vùng ven biển. Muối là một khoáng chất, được con người sử dụng như một thứ

gia vị. Đó là một chất rắn có dạng tinh thể, có màu từ trắng tới có vết của màu hồng hay xám rất

nhạt, thu được từ nước biển hay các 4TUmỏ muốiU4T. Muối thu được từ nước biển có các tinh thể nhỏ hoặc

lớn hơn muối mỏ. Trong tự nhiên, muối có thể thu được bằng cách cho bay hơi nước biển dưới ánh

nắng trong các 4TUruộng muốiU4T.

Tài nguyên muối và các hóa phẩm biển chủ yếu là các loại muối như: NaCl, MgCl, MgSO,

CaSO, CaCO,…Trong đó, chủ yếu là NaCl là nguồn thực phẩm tối cần thiết của cuộc sống và

nguyên liệu để điều chế các hóa phẩm công nghiệp khác từ nước biển như Magiê, Clo, Brôm, Kali

hay sản xuất axit clohydric,…

1.1.8. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển

Kinh tế biển là một phức hợp các ngành, các lĩnh vực, các bộ phận có liên và tương tác lẫn

nhau trong quá trinh phát triển. Việc phát triển kinh biển có tốt, có mang lại hiệu quả kinh tế cao

hay không còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố. Trong đó có thể kể đến một số nhân tố sau:

Thứ nhất là vị trí: Đây là điều kiện hết sức cần thiết cho mọi quốc gia trong phát triển kinh tế

biển. Vị trí này được xét ở hai góc độ, một là vị trí có biển hay gần biển: nếu có biển là điều kiện để

phát triển trực tiếp kinh tế biển, còn chỉ gần biển thì sẽ xây dựng định hướng hợp tác với quốc gia

có chủ quyền biển đó; Hai là vị trí địa lý - kinh tế biển chiến lược, một quốc gia có vị trí biển chiến

lược sẽ là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu cho phát triển kinh tế biển, ví như Việt Nam

có phần biển đặc biệt nằm trên hai tuyến hải hành và các luồng giao thương quốc tế chủ yếu của

thế giới, nhất là trong thời đại bùng nổ phát triển Châu Á – Thái Bình Dương.

Thứ hai là tiềm năng tự nhiên của vùng biển và ven biển: Đây cũng là yếu tố “cần” đồng thời

nó còn là một phần của yếu tố “đủ” cho mọi quốc gia trong phát triển kinh tế biển. Trong tiềm năng

tự nhiên có thể kể đến quy mô và chất lượng của tiềm năng. Nếu quốc gia có bờ biển dài, diện tích

lãnh hải thuộc chủ quyền rộng, khả năng tiếp cận dễ dàng đến các đại dương, có các nguồn tài

nguyên thiên nhiên giàu có, nhiều bãi biển đẹp, nhiều vịnh nước sâu…. Đó là điều kiện tốt để phát

triển tổng hợp kinh tế biển

Thứ ba là chính sách phát triển của nhà nước trong công tác nghiên cứu tổ chức quy hoạch

phát triển kinh tế biển: Đây có thể coi là nhân tố “đủ” để phát triển kinh tế biển và quyết định thành

sự sống còn của kinh tế biển. Nếu chúng ta có vị trí tốt, có tiềm năng phong phú, đa dạng …nhưng

chúng ta không chịu tìm hiểu, nghiên cứu và đưa ra một chiến lược phát triển đúng đắn thì kinh tế

biển vẫn ở dạng tiềm năng, thậm chí chưa kể đến việc mất dần nguồn lợi, tụt hậu xa so với các nước

khác.

Thứ tư là khoa học – công nghệ, đặc biệt là khoa học – công nghệ trong lĩnh vực biển. Phát

triển kinh tế biển không thể tách rời với khoa học, công nghệ vì nó là điều kiện để khai thác tốt các

tiềm năng kinh tế biển, giữ vững chủ quyền biển – đảo. Có khoa học công nghệ các lợi thế về biển

được khai thác tốt hơn, hiệu quả cao hơn….

Tóm lại: Phát triển kinh tế biển cần xem xét dưới nhiều gốc độ khác nhau và cần phân tích

mối quan hệ giữa các yếu tố tác động, nhằm đưa ra giải pháp quy hoạch thích hợp nhất, mang lại

hiệu quả cao nhất trong tiến trình phát triển.

1.2. Kinh nghiệm các nước về phát triển kinh tế biển

Thế giới hiện nay có khoảng 150 quốc gia có biển, tổng quan chung nền kinh tế biển thế giới

P Bắc

0 Hai ngành kinh tế cảng và đóng tàu được hội tụ tại 3 vùng thuộc trên dưới vĩ tuyến 40 P

có thể khái quát như sau:

như Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Hoa Kỳ, Nhật Bản.

Kinh tế khai thác dầu khí tập trung ở các nước gần Xích Đạo như: Trung Đông, Nigeria,

Indonexia, Venezuela và vịnh Mexico. Các vùng kể trên khai thác dầu thô là chủ yếu còn công

nghiệp chế biến các sản phẩm từ dầu lại chuyển đến 3 khu vực là Nhật, Tây Âu và Hoa Kỳ.

Kinh Tế thủy hải sản chiếm áp đảo là các nước Châu Á Thái Bình Dương: Nga, Nhật Bản,

Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Philipphin, Indonexia, Malaisia, Ấn Độ. Phía tây Thái Bình

Dương phải kể đến: Canada, Hoa Kỳ, Mexico, Peru, Chi Lê. Các nơi khác có nhưng sản lượng thấp,

nếu cộng cả thủy sản nước ngọt nữa thì Châu Á vẫn chiếm tỷ lệ vượt trội 60 – 65% tổng sản lượng

thủy sản toàn thế giới.

Kinh tế lấn biển nổi trội nhất là các nước Tây Âu: Hà Lan, Đức, Anh, Pháp, Đan

Mạch…Trong đó Hà Lan được coi là cường quốc số 1 về lấn biển (một phần ba diện tích Hà Lan

hiện tại là do lấn biển).

Kinh tế du lịch và dịch vụ trên biển là ngành phát triển mạnh nhưng cùng thăng trầm do rất lệ

thuộc vào tình hình kinh tế, xã hội, chính trị của mỗi quốc gia. Có khoảng 150 quốc gia có bờ biển ít

nhiều có đầu tư cho ngành kinh tế biển này, song sự thống kê hàng năm chưa được tiến hành bằng

những số liệu cụ thể.

Trong ba thập niên gần đây, các ngành kinh tế biển đều được quan tâm và phát triển mạnh

mẽ, bởi tiến ra biển là xu hướng, thậm chí còn là điều kiện sống và còn là thu nhập cho toàn xã hội.

Xét về kinh nghiệm phát triển kinh tế biển các nước trên thế giới và khu vực có thể kể đến

Trung Quốc với kinh nghiệm phát triển các khu kinh tế tự do ven biển; nhắc đến Thái Lan và

Singapo thì ưu thế phát triển hệ thống Cảng; còn Nhật Bản và Hoa Kỳ thì phát triển khai thác thủy

sản biển và hệ thống cảng biển….

- Trung Quốc: là nước liền kề với Việt Nam, đã đạt được thành tựu kinh tế vượt bậc trong ba

thập kỷ qua. Sự phát triển đó chủ yếu là nhờ đóng góp của khu vực ven biển, với động lực chính là

sự phát triển các khu kinh tế tự do ven biển. Trung Quốc đã phát triển các khu kinh tế tự do một cách

năng động và nhiều sáng tạo.

Các khu kinh tế tự do ven biển ở Trung Quốc có vai trò như các cực tăng trưởng cho phát

triển kinh tế và cơ sở thí điểm, và là công cụ cho cải cách và cho chính sách mở cửa. Đặc điểm

chung của các khu kinh tế tự do Trung Quốc là chính sách kinh tế đặc biệt và những mục tiêu đặc

biệt ở một khu vực được xác định. Tuy nhiên, loại hình mở cửa của Trung Quốc rất đa dạng. Các

khu kinh tế tự do Trung Quốc được phân loại thành khu kinh tế tự do tổng hợp, khu kinh tế tự do

chế tạo, khu kinh tế tự do dựa trên khoa học và thương mại và khu kinh tế tự do xuyên biên giới, và

rất nhiều các dạng khác nhau bao gồm các Đặc khu Kinh tế (SEZ), các Khu phát triển kinh tế và

công nghệ (TEDZ), các Khu phát triển tổng hợp (CDZ), các Khu công nghiệp cao và mới (NHIP),

các Khu thương mại tự do (FTZ), các Khu thương mại biên giới tự do (FFTZ), các Tam giác tăng

trưởng (GT), các Khu chế xuất (EPZ) và các Đặc khu hành chính và kinh tế (SAEZ).

Không những thế, các khu kinh tế tự do Trung Quốc vẫn đang không ngừng chuyển đổi mô

thức hoạt động, với các hướng chính:Từ mô hình Cửa sổ - Cơ sở - Cầu nối đến Cực Tăng trưởng;

Từ chính sách ưu đãi sang khai thác “lợi thế kinh tế và cơ cấu toàn diện”; Liên kết các khu kinh tế

tự do và khu hành chính; Chuyển đổi từ phát triển đất đai sang thúc đẩy công nghiệp và hoạt động

tài chính; Chuyển đổi một nền kinh tế hướng ra bên ngoài sang một nền kinh tế mở; Chuyển đổi từ

ngành sử dụng nhiều lao động sang ngành có hàm lượng công nghệ cao; Chuyển đổi từ sự hợp tác

trong nước sang hợp tác xuyên biên giới và xuyên quốc gia.

Bên cạnh đó, Trung Quốc còn đẩy mạnh chiến lược khai thác biển với việc hình thành các

trung tâm kinh tế biển mạnh, quy mô lớn, có sức hút và sức cạnh tranh lớn. Trung Quốc có những

bước đi bài bản trong quy hoạch, quản lý, thu hút đầu tư; Hình thành các doanh nghiệp biển hiện

đại. Các ngành, doanh nghiệp kinh tế biển của họ đã phát triển chuyên nghiệp, hiện đại, sức cạnh

tranh cao; Công nghệ biển của Trung Quốc đang phát triển khá năng động; Sự hỗ trợ mạnh của nhà

nước đối với kinh tế biển, dưới nhiều hình thức, như phân cấp quản lý, cho phép các khu kinh tế

biển được áp dụng các thể chế hiện đại, quy hoạch phát triển, hỗ trợ tài chính, sử dụng các tập đoàn

kinh tế nhà nước, chính sách tiền tệ, chính sách thương mại, quân sự, ngoại giao.

- Thái Lan: Vào những năm cuối của thập niên 90, Thái Lan nổi lên là một "con rồng" ở khu

vực châu Á, là quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới và là một trong những nuớc thu hút đầu tư

nước ngòai thành công nhất ở khu vực Đông Nam Á. Thái Lan hiểu rằng sự gia tăng của đầu tư

nước ngòai luôn đi cùng với nhu cầu về logistics. Vì thế chính phủ đã sớm định ra kế họach phát

triển dài hạn cho ngành dịch vụ logistics trên cơ sở qui họach, phát triển hệ thống cảng biển. Theo

đó các cảng, các khu công nghiệp được đưa ra xa các vùng dân cư và hướng ra biển. Bangkok được

xác định là trung tâm du lịch, kinh tế, chính trị, tài chính và dịch vụ.

Trong khi các tỉnh phía Nam như Chonburi (gồm có các thành phố Laem Chabang, khu công nghiệp

Amata, Sriracha và Pataya) và Rayong nằm gần biển được qui họach dành cho các khu công nghiệp,

các dịch vụ phụ trợ như XNK, vận tải và cảng biển. Hai yếu tố tạo nên sự đột phá trong phát triển

cảng biển của Thái lan là cơ sở hạ tầng và hệ thống hải quan. Với những bước đột phá như thế, 20

cảng container của Thái Lan được xếp vào hạng nhộn nhịp nhất thế giới (2007). Điều này cho thấy

chính sách phát triển cảng biển của Thái Lan đã thật sự phát huy tác dụng, khi mà hầu hết các họat

động trong chuỗi logistics đều được đáp ứng tốt. Bên cạnh đó để hỗ trợ cảng biển phát triển, chính

phủ Thái Lan đã triển khai hệ thống hải quan điện tử (e-customs) tại tất cả các cảng biển chính

(được đưa vào sử dụng năm

2007) thay cho hình thức thủ công trước đây, với mục tiêu rút ngắn tối đa thời gian làm thủ tục

thông quan, tạo sự thông thóang cho hàng hóa tại các cảng, đồng thời tiết kiệm đáng kể chi phí về

mặt giấy tờ hành chính cho chủ hàng. Theo đó, hệ thống e-customs (duy nhất) trên tòan quốc được

đặt tại Bangkok cho phép các đại lý vận tải, hãng tàu, công ty XNK hoặc các nhà cung cấp dịch vụ

logistics khai báo thủ tục hải quan trực tuyến (online). Để sử dụng e-customs, các nhà XNK chỉ việc

đăng ký với cục hải quan để có một địa chỉ (ID) và mật khẩu (password). Sau khi thanh

tóan một khỏan lệ phí nhất định, khách hàng sẽ nhận được phần mềm cài đặt để cài vào máy tính cái

nhân tại công ty, sau đó khách hàng có thể sử dụng ID và password để truy cập vào e-customs. Các

bước khai báo [xem phụ lục 3, bảng 3.14] cũng tương tự như ở Việt Nam, nhưng cái khác là nhanh

hơn và không cần giấy tờ. Với hệ thống e-customs, khách hàng hầu như không mất tí thời gian nào

(đối với khoảng 97% các lô hàng xuất khẩu) để hòan thành thủ tục hải quan. Chỉ khỏang 3% lô hàng

xuất khẩu mới phải cần đến hải quan kiểm tra…Qua đó có thể thấy hệ thống e-customs đã hỗ trợ

một cách tích cực cho sự phát triển của hệ thống cảng biển cũng như hệ thống logistics của Thái

Lan.

1.3. Phát triển kinh tế biển ở Việt Nam

2 Việt Nam có vùng biển rộng hơn 1 triệu kmP

P với đa dạng các loại tài nguyên sinh vật,

khoáng sản…, đường bờ biển dài 3260 km với rất nhiều lợi thế để phát triển tổng hợp kinh tế biển.

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kinh tế biển đóng góp khoảng 47% - 48% GDP

giai đoạn 2000 – 2008, trong đó GDP của riêng các ngành kinh tế biển chiếm khoảng 22% tổng

GDP cả nước. Các ngành kinh tế biển đóng góp lớn như: dầu khí 64%; hải sản 14%; vận tải biển

và dịch vụ cảng biển 11%; du lịch biển khoảng 9%. Quy mô kinh tế biển Việt Nam chỉ đạt khoảng

hơn 10 tỷ USD; trong khi sản lượng kinh tế biển của thế giới ước đạt 1 .300 tỷ USD, Nhật Bản

468 tỷ USD, Hàn Quốc 33 tỷ USD. Cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu

kém, lạc hậu. Hệ thống cảng biển nhỏ bé, manh mún, thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa

đồng bộ nên hiệu quả thấp. Các chỉ tiêu hàng thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với các

nước trong khu vực. Các ngành kinh tế liên quan trực tiếp đến khai thác biển như đóng tàu, sửa

chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thuỷ sản, thông tin liên lạc… bước đầu phát triển mạnh.

Tuy nhiên, so với thế giới, khai thác lợi thế từ biển của nước ta còn nhiều hạn chế, khó khăn và

yếu kém. Quy mô kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, giá trị tổng sản phẩm hàng năm còn

nhỏ bé, chỉ bằng 1/20 của Trung Quốc; 1/94 của Nhật Bản; 1/7 của Hàn Quốc và 1/20 kinh tế biển

của thế giới.

1.3.1.. Khai thác và nuôi trồng hải sản biển

Đây là nghề biển truyền thống có thế mạnh của nước ta. Trong số những lợi ích mà biển

mang lại, kinh tế thủy sản chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, đan xen giữa lợi ích trước mắt và lợi

ích lâu dài theo một ý nghĩa đầy đủ của nó. Vì thủy sản là nguồn tài nguyên tái tạo và kinh tế thủy

sản phát triển dựa trên nền tảng của các hệ sinh thái (HST), nên có thể khẳng đinh “còn biển, còn

thủy sản”.

Với vùng biển rộng, nguồn sinh vật đa dạng, phong phú, nguồn lợi thủy sản nước ta vào loại

phong phú trong khu vực. Ngoài cá biển là nguồn lợi chính, còn có nhiều loại đặc sản có giá trị

kinh tế cao. Số liệu thống kê cho thấy, Trữ lượng hải sản trong vùng đặc quyền kinh tế của nước

ta khoảng 3,5-4,1 triệu tấn, hàng năm có thể khai thác 1,5-1,6 triệu tấn, trong vùng biển Việt Nam

có khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng đa

dạng sinh học (ĐDSH) biển khác nhau. Đến nay đã xác định được 15 bãi cá lớn quan trọng, ngoài

ra, còn có các bãi tôm quan trọng ở vùng biển gần bờ thuộc vinh Bắc Bộ và biển Tây Nam Bộ.

Ven biển có trên 37 vạn ha mặt nước lợ, thích hợp để nuôi các loại thủy sản xuất khẩu như: cá,

tôm, cua, rong câu , . . .

Sản lượng thủy sản không ngừng tăng lên từ 2250 nghìn tấn năm 2000, 3465 nghìn tấn năm

2005 và 4847 nghìn tấn năm 2009. Trong 10 năm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, sản

lượng thuỷ sản tăng 7,7%/năm, sản lượng khai thác tăng bình quân 5%/năm. Đánh bắt hải sản đã

tạo việc làm cho hơn 5 vạn lao động đánh cá trực tiếp và 10 vạn lao động dịch vụ nghề cá. Hệ

thống hậu cần nghề cá đã có những chuyển đáng kể, đặc biệt là hệ thống các cảng cá được xây

dựng suốt dọc bờ biển. Đã triển khai các hoạt động nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản

như cấp giấy phép khai thác thuỷ sản; kiểm tra theo dõi giám sát các hoạt động nghề cá trên biển;

kiểm tra giám sát an toàn cho người và phương tiện nghề cá trên biển.

Năm 2009, sản lượng khai thác đạt 2277,7 ngàn tấn, chiếm 47% tổng sản lượng khai thác

và nuôi trồng, trong đó, 2086,7 nghìn tấn là khai thác biển. Tất cả các tỉnh giáp biển đều đẩy mạnh

đánh bắt hải sản, nhưng nghề cá ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam bộ có vai trò lớn hơn. Các tỉnh

dẫn đầu về sản lượng đánh bắt là Kiên Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu,Bình Định, Ninh Thuận và Cà

Mau. Riêng 5 tỉnh này chiếm 50% sản lượng thủy sản khai thác của cả nước.

Bên cạnh khai thác thủy sản, trong những năm gần đây việc nuôi trồng thủy sản ngày càng

phát triển và sản lượng tăng nhanh, tỉ trọng nuôi trồng cũng tăng trong cơ cấu thủy sản, năm 2009

chiếm 53% với sản lượng đạt 2569,9 nghìn tấn, Trong đó, các tỉnh ven biển đều có sản lượng nuôi

biển lớn như là Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Kiên Giang…

Như vậy, phát triển nuôi trồng và đánh bắt hải sản ở nước ta ngày càng giữ vai trò quan trọng

trong phát triển kinh tế của đất nước nói chung và công nghiệp nói riêng. Ngành công nghiệp chế

biến thuỷ sản đã trở thành ngành mũi nhọn đem lại hiệu quả kinh tế cao của ven biển nước ta.

Trong năm 2010, kim ngạch xuất khẩu thủy sản có bước phát triển mạnh, đạt 4,94 tỷ USD,

tăng 16,3% so với cùng kỳ năm 2009. Về thị trường xuất khẩu năm 2010 vẫn chủ yếu là những thị

trường truyền thống: EU, Mỹ, Nhật, Nga và một số thị trường mới là Trung Đông và Nam Mỹ.

Sản phẩm thuỷ sản Việt Nam đã có mặt tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, đứng chân

vững chắc trên các thị trường truyền thống và dần trở nên quen thuộc trên các thị trường mới. Cơ

cấu thị trường chuyển biến theo hướng tích cực. Dẫn đầu vẫn là thị trường Nhật Bản (842,6 triệu

USD) chiếm tỷ trọng 25,09%. Thị trường EU (723,5 triệu USD) đã vượt lên vị trí thứ hai, chiếm

21,55% thị phần; Mỹ (664,3 triệu USD) lùi xuống vị trí thứ ba với tỷ trọng 19,78%. Các thị trường

lớn tiếp theo phải kể đến là Hàn Quốc (210,3 triệu USD), Ôxtrâylia (126,5 triệu USD), Nga (126,4

triệu USD).

1.3.2. Giao thông vận tải biển

Nước ta có trên 3.260 km bờ biển và có nhiều vị trí có thể xây dựng hệ thống cảng biển như:

Cửa ông, Cái Lân, Nghi Sơn, Hòn La, Vũng Áng, Chân Mây, Dung Quất, Vân Phong, Thị Vải...

đủ điếu kiện cho hàng trăm triệu tấn hàng hóa thông quan mỗi năm, đồng thời đảm bảo cho ngành

sửa chữa, đóng mới phương tiện thủy và các ngành dịch vụ biển phát triển cả trong hiện tại và

tương lai. Riêng khu vực từ Vũng Tàu đến Hà Tiên do biển nông, nhiều sình lầy nên ít có khả

năng xây dựng cảng biển lớn, nhưng vẫn có thể xây dựng các cảng có quy mô vừa ở Hòn Chông,

Phú Quốc hoặc cảng sông Cần Thơ.

Việt Nam đã xây dựng được đội tàu biển quốc gia với tổng trọng tài là 2.322.703 DWT

(bình quân tăng 6,4% về số lượng và 11% về trọng tải/năm). Nòng cốt của đội tàu biển quốc gia là

đội tàu của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VINALINES), với số lượng đội tàu trọng tải khoảng

1.125.159 DWT, chiếm khoảng 50% tổng trọng tải của đội tàu quốc gia. Không chỉ tăng năng lực

vận tải mà còn có sự thay đổi cơ bản về cơ cấu, chất lượng đội tàu, tạo thêm thị trường và trực tiếp

tham gia thị trường khu vực, khách hàng nước ngoài đã sử dụng trên 50% năng lực đội tàu của Việt

Nam.

Qui mô cảng ngày càng tăng, cuối năm 2009 nước ta chỉ có hơn 149 cảng biển, thì đến nay

Việt Nam đã xây dựng được hệ thống cảng biển gồm hơn 90 cảng lớn nhỏ với 25.617 m cầu bến,

trải dài từ Nam chí Bắc; ngoài ra còn có trên 10 khu chuyển tải để tăng cường khả năng thông qua

của hàng hoá và tạo điều kiện cho những tàu có trọng tải lớn ra vào cảng dễ dàng, an toàn. Khối

lượng hàng hoá qua cảng tăng nhanh, năm 2009 tổng công suất qua cảng của Việt Nam hơn

100000 tấn/năm, tốc độ tăng bình quân 17%/năm. Bước đầu hiện đại hoá phương tiện xếp dỡ, qui

hoạch và sắp xếp lại kho bãi, xây dựng và nâng cấp thêm các cầu cảng nên năng lực xếp dỡ được

nâng cao, giải phóng tàu nhanh. Một số cảng đã và đang được nâng cấp và mở rộng như Hải

Phòng, Cái Lân, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Cần Thơ. So sánh với quốc tế, nhìn

chung quy mô cảng còn nhỏ nhưng thời gian qua hệ thống cảng biển Việt Nam đã đảm nhiệm

thông qua hầu hết lượng hàng ngoại thương của ta và hỗ trợ một phần việc trung chuyển hàng hoá

xuất nhập khẩu của Lào, góp phần đưa nước ta từng bước tiếp cận và hội nhập với khu vực và thế

giới. Hơn 80% khối lượng hàng xuất nhập khẩu được vận chuyển thông qua hệ thống cảng biển.

Trình độ, năng lực đóng, sửa chữa tàu so với trước đây đã có tiến bộ vượt bậc, hiện đại hoá

một bước theo hướng tập trung quy mô lớn, bước đầu có phân công chuyên môn hoá, vươn ra

đóng tàu cỡ lớn, chuyên dùng đạt chất lượng đăng kiểm quốc tế.

1.3.3.. Du lịch biển

0TVới hơn 3.260 km2 đường bờ biển, hơn 1 triệu km2 diện tích mặt nước biển và trên 2773

đảo ven bờ cùng hàng loạt các bãi tắm cát trắng trải dài từ Bắc chí Nam, Việt Nam đã thu hút

được nhiều du khách thập phương đến tham quan, nghỉ dưỡng. Du lịch biển đảo chiếm khoảng

70% trong họat động của ngành du lịch Việt Nam và được xem là một trong 5 hướng đột phá về

phát triển kinh tế biển và ven biển. Dọc theo bờ biển có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc

phát triển du lịch nghỉ dưỡng, trong đó có 20 bãi biển đã được đầu tư và khai thác đạt chuẩn

quốct0Tế

0TĐan xen dọc theo bờ biển là những tòa nhà biệt thự với khu phố ẩm thực và khu vực biểu

diễn dành cho các động vật dưới nước như: cá heo, hải cẩu, sư tử biển... Cùng với những công

trình trên là thảo cầm viên, hồ sinh vật biển, bể bơi, sân quần vợt, các trò chơi dưới nước và một

cù lao bãi đá đang được xây dựng trên đó là nhà hàng, chung quanh là bãi tắm... đến với các bãi

biển Tuần Châu, Cát Bà luôn mang đến cho du khách những phút giây thoải mái. 0TDọc bờ biển và

các hải đảo, nhiều nơi có tiềm năng bảo tồn thiên nhiên, và có hơn 125 bãi biển có thể phát triển

du lịch, trong đó có trên 20 bãi biển đạt quy mô và tiêu chuẩn quốc tế như Trà Cổ, Bãi Cháy, Đố

Sơn, Sầm Sơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Phú Quốc,... dọc bờ biển có các di tích lịch sử văn hóa như

cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm,... Các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết nhau tạo thành

một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới như Vinh Hạ Long. Dọc ven biển hoặc nằm cách biển

không xa còn có các trung tâm thương mại, các thành phố du lịch như Hạ Long, Hải Phòng, Đà

Năng, Nha Trang, Vũng Tàu,...

Hàng năm, vùng biển thu hút 73% số lượt khách du lịch quốc tế, với tốc động tăng trưởng

bình quân khoảng 12,6%/năm. Năm 2000 đạt 3,29 triệu người, năm 2005 đã đón khoảng 5,3 triệu

lượt người ; năm 2009 là 6,7 triệu lượt. Khách du lịch quốc tế đến các khu vực trọng điểm du lịch

tăng nhanh, riêng khu vực Quảng Ninh-Hải Phòng và Huế-Đà Nẵng tăng 41%/năm; Bà Rịa-Vũng

0TTuy nhiên, theo Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, du lịch biển Việt Nam trong một thời

Tàu tăng 22,6%.

gian dài vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch, mặc dù nguồn tài nguyên

phát triển du lịch khá đa dạng, phong phú. Một trong những nguyên nhân đó là nước ta chưa có

cảng chuyên biệt cho tàu du lịch. Bên cạnh đó, công tác quảng bá họat động du lịch biển lâu nay

vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Để hoạt động du lịch biển đạt khoảng 14-15% GDP của nền

kinh tế biển nước nhà vào 2020, du lịch Việt Nam cần có những giải pháp đồng bộ trong quy

hoạch và quản lý du lịch biển. Trong đó, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo dịch vụ du lịch biển

đặc thù là những khâu không kém phần quan trọng nhằm đẩy mạnh hoạt động du lịch biển quốc

gia.

1.3.4. Khai thác khoáng sản trên thềm lục địa và làm muối.

Các khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớn ở vùng ven biển là than, sắt, than, cát thủy

tinh và các loại vật liệu xây dựng khác.

Than đá phân bố dọc biển Hòn Gai - Cẩm Phả và kéo dài ra các đảo. Trữ lượng than đá ven

biển Quảng Ninh khoảng 3 tỷ tấn, cho phép khai thác hàng chục triệu tấn/năm, tạo ra ngành công

nghiệp chủ lực có tác động lớn đến kinh tế - xã hội vùng ven biển Đông Bắc của Tổ quốc.

Than nâu phân bố ở độ sâu từ 300 - 1000m thuộc đồng bằng sông Hồng và kéo dài ra biển

với trữ lượng dự đoán hàng trăm tỷ tấn. Đây là nguồn năng lượng dự trữ rất lớn của đất nước.

Than bùn phân bố rải rác dọc ven biển các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế,

Quảng Nam, Đà Năng, Cà Mau,... đặc biệt tập trung lớn ở U Minh với trữ lượng lên trên 100 triệu

tấn, tuy nhiên đang bị giảm sút nghiêm trọng.

Đã phát hiện hàng chục mỏ và điểm quặng sắt có quy mô khác nhau ở vùng ven biển, trong

đó quan trọng nhất là mỏ Thạch Khê với trữ lượng khoảng 580 triệu tấn, chiếm 65% trữ lượng

quặng sắt của cả nước, hàm lượng quặng sắt đạt 60-65%, đảm bảo nguyên liệu cho cơ sở luyện kim

quy mô lớn.

Sa khoáng titan phân bố rất phổ biến dọc bờ biển với trữ lượng dự đoán khoảng 13 triệu tấn,

tập trung Ở Bình Ngọc, Sầm Sơn, Kỳ Anh, Cát Khánh và Hàm Tân. Hầu hết các mỏ titan đều lộ

thiên ở những khu vực kinh tế tương đối phát triển, nguồn lao động dồi dào, giao thông thuận tiện,.

. .

Cát thủy tinh là một trong những khoáng sản ven biển có tiềm năng lớn nhất với trữ lượng

dự đoán hàng trăm tỷ tấn. Các mỏ cát thủy tinh lớn và quan trọng như Vân Hải, Ba Đồn, Nam Ô,

Thủy Triều, Hòn Gốm,... chất lượng khá tốt được sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất các loại

thủy tinh cao cấp và vật liệu khác.

Muối và các hóa chất biển chủ yếu là NaCl, là nguồn thực phẩm tối cần thiết trong cuộc

sống và là nguyên liệu điều chế các hóa phẩm công nghiệp khác. Theo đánh giá sơ bộ, tiềm năng

diện tích để phát triển đồng muối vùng ven biển nước ta rất lớn, từ 50-60 nghìn ha, trong đó

khoảng 60% tập trung ở ven biển tử Quảng Ngãi đến Bình Thuận.

Tài nguyên khác như đá vôi, đá xây dựng, đá ốp lát, cao lanh, nước khoáng… phân bố rộng

rãi ở vùng ven biển trên các đảo, có thể phát triển công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng, và có

ý nghĩa rất quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của các địa phương ven biển theo

hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Ngành dầu khí: là một trong những ngành chủ lực của kinh tế biển, có đóng góp quan trọng

đối với nền kinh tế quốc dân. Trữ lượng dầu khí của Việt Nam khoảng 3 - 4 tỷ m3 dầu quy đổi,

trong đó 0,9 - 1,2 tỉ m3 dầu và 2100 - 2800 tỷ m3 khí, ương đương2,7 tỉ thùng và 12.800 tỉ bộ khối

(Tcf), đứng ở vị trí 35 và 42 trong số các quốc gia trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam có tên trong

danh sách các nước sản xuất dầu khí trên thế giới và đứng thứ ba ở khu vực Đông Nam Á về sản

lượng khai thác dầu thô với 15-17 triệu tấn dầu và 8-10 tỷ m3 hàng năm, góp phần đảm bảo an ninh

năng.

Làm muối: Với bờ biển dài 3.260 km, bãi rộng, số giờ nắng cao là điều kiện thuận lợi cho

nghề làm muối. Ven biển n ước ta đã có 20 tỉnh thành có nghề sản xuất muối biển với tổng diện

tích 15.000 ha và trên 80 ngàn lao động nghề muối. Đã sản xuất được bình quân 800 ngàn tấn đến

1,2 triệu tấn/năm). Một số đồng muối ở miền Trung nước ta được đánh giá là muối sạch, ngon của

thế giới, có khả năng xuất khẩu với số lượng lớn muối công nghiệp và muối sách cho tiêu dùng.

Một số cánh đồng muối lớn như: Bằng La (Hải Phòng), Hải Hậu ( Hà Nam), Hậu Lộc (

Thanh Hóa), Quỳnh Lưu, Hộ Đô ( NGhệ An), Sa Huỳnh ( Quãng Ngãi), Phú Yên, Khánh Hòa,

Ninh Thuận, Bình Thuận...

1.4. Bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững kinh tế biển

Định nghĩa về sự phát triển bền vững được đưa ra đầu tiên vào năm 1987 bởi Uỷ ban Thế

giới về môi trường và phát triển WCED (World Commission on Environment and Development)

trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” (Our common future) và định nghĩa này hiện nay

được phổ biến nhất, nó được hiểu: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của

hiện tại mà không làm thiệt hại đến khả năng của các thế hệ tương lai được thỏa mãn các nhu cầu

của chính họ”.

Phát triển bền vững không chỉ là phát triển kinh tế đơn thuần mà phải được hiểu tổng quát là

nâng cao hạnh phúc của nhân dân, bao gồm nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức

khỏe và đảm bảo sự bình đẳng và các quyền lợi xã hội khác. Nội dung quan trọng của phát triển

bền vững của xã hội là bảo vệ đa dạng sinh học của trái đất và hạn chế việc làm suy giảm, cạn kiệt

các nguồn tài nguyên, nhất là các nguồn tài nguyên không tái tạo. Vì vậy để đảm bảo cho phát triển

bền vững, quá trình phát triển kinh tế phải gắn kết với yêu cầu bảo vệ môi trường: Tăng cường kinh

tế không gây suy thoái môi trường. Tăng thu nhập xã hội kết hợp với các chính sách môi trường

khôn ngoan và một thể chế xã hội vững mạnh sẽ là cơ sở giải quyết tốt cả hai vấn đề môi trường và

phát triển.

Các hệ sinh thái vùng biển và ven bờ với tính chất đa dạng sinh học cao, là nguồn vốn thiên

nhiên quý giá cho phát triển kinh tế biển phồn vinh trong thế kỉ XXI này. Nhưng đó là hệ sinh thái

mỏng manh, dễ bị suy thoái, vì vậy phát triển kinh tế biển phải dựa trên cơ sở kinh tế sinh thái, là

hướng để tiến tới phát triển bền vững. Có thể hiểu kinh tế sinh thái là một nền kinh tế phát triển bền

vững dựa trên việc phát triển cân bằng các hệ sinh thái, bảo tồn tính đa dạng sinh học và các nguồn

tài nguyên thiên nhiên khác.

Đối với kinh tế biển, việc phát triển bền vững đòi hỏi thực hiện đồng bộ nhiều yếu tố. Trước

hết, dựa trên những lợi thế về biển khai thác một cách tổng hợp kinh tế biển để nhằm mang lại hiệu

quả kinh tế cao và bảo vệ được môi trường. Tiếp đến là bảo vệ môi trường biển vì môi trường này là

một thể thống nhất không chia cắt với vùng bờ và vùng nước xung quanh, nên nếu một phần biển

nào bị ô nhiễm sẽ gây thiệt hại đến các vùng khác. Trong quá trình khai thác tổng hợp kinh tế biển

phải chú ý đến môi trường đảo vì đây là nơi có diện tích không lớn, lại tách rời đất liền, nó rất nhạy

cảm với những thay đổi. Cuối cùng là cần có sự phối hợp giữa các quốc gia láng giềng có vùng biển

chung về phát triển kinh tế biển nhằm bảo vệ môi trường biển đạt kết quả tốt, tạo nên sự phát triển

bền vững chung.

Chương 2: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN

TỈNH CÀ MAU

2.1. Khái quát về tỉnh Cà Mau

2.1.1. Vị trí địa lý

Cà Mau là mảnh đất tận cùng của Tổ quốc với 3 mặt tiếp giáp với biển: Phía Bắc giáp tỉnh

Kiên Giang (63 km); Phía Đông Bắc giáp tỉnh Bạc Liêu (75 km); Phía Đông và Đông Nam giáp

o P30' vĩ độ Bắc (thuộc xã Viên Hình dáng lãnh thổ giống như một tam giác, điểm cực Nam 8P

o An, huyện Ngọc Hiển), điểm cực Bắc 9P P33' vĩ Bắc (thuộc xã Biển Bạch An, huyện Thới Bình), điểm

o o P43' kinh P24' kinh Đông (thuộc xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi), điểm cực Tây 104P cực Đông 105P

biển Đông; Phía Tây giáp vịnh Thái Lan.

2 Tỉnh Cà Mau có diện tích tự nhiên 5.331,64 kmP

P, bằng khoảng 13% diện tích của ĐBSCL và

P chiếm

2 1,61 % diện tích cả nước. Các huyện ven biển có tổng diện tích tự nhiên là 4.024,1 kmP

Đông (thuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển)

Pnằm ở trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á, tiếp giáp với vùng biển

2 rộng khoảng 80.000 kmP

75,5% diện tích toàn tỉnh (NGTK Cà Mau năm 2008). Vùng lãnh hải đặc quyền kinh tế của Cà Mau

P, có ý nghĩa quan

2 Hòn Chuối và Hòn Đá Bạc thuộc huyện Trần Văn Thời,... với diện tích khoảng 5 kmP

của các nước: Thái Lan, Malaysia, Indonesia; có các cụm đảo Hòn Khoai thuộc huyện Ngọc Hiển,

trọng về kinh tế, quốc phòng, du lịch và thủy sản.

Các đơn vị hành chính của tỉnh bao gồm 8 huyện và một thành phố (thành phố Cà Mau) với

tổng số 101 xã, phường, thị trấn. Trong đó có 6 huyện ven biển : Trần Văn Thời, U Minh, Phú Tân,

Đầm Dơi, Năm Căn và Ngọc Hiển.

2.1.2. Đặc điểm tự nhiên

Cà Mau nằm trong khu vực đồng bằng trẻ ĐBSCL, có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp.

Chênh lệch địa hình so với mực nước biển 0,1 - 1m, trung bình 0,5 m nên khi triều cường nước mặn

có thể xâm nhập sâu vào nội đồng gây nhiễm mặn cho đất và nước ở diện rộng. Nền địa chất Cà

Mau thuộc loại trầm tích trẻ, các vật liệu tích tụ ở đây chủ yếu là các trầm tích ven biển bùn sét, bùn

- đầm lầy có nguồn gốc từ các đầm lầy ven biển, cửa sông. Thành phần trầm tích từng mặt chủ yếu

là bùn cát, bùn sét cát, màu sáng vàng, xám nâu hay xám xanh lẫn vỏ xác sinh vật. Cấp độ hạt tương

đối mịn.

PC. Độ ẩm trung bình là

0 hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao, trung bình 26,5 P

Khí khậu tỉnh Cà Mau mang đặc trưng khí hậu của vùng đồng bằng sông Cửu Long, là khí

85,6%. Khí hậu phân mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng

4 năm sau. Lượng mưa trung bình năm là 2.360mm. Lượng mưa trong mùa mưa chiếm khoảng

90% lượng mưa cả năm; tháng có lượng mưa cao nhất là từ tháng 8 đến tháng 10.

2.1.3. Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất: Cà Mau có 3 loại đất chính: đất mặn, đất phèn và đất mặn nhiễm

phèn. Nhìn chung, đất đai của Cà Mau không thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp.

Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt của tỉnh chủ yếu là nguồn nước mưa và nguồn nước đưa

từ biển vào, chứa trong hệ thống sông rạch tự nhiên, kênh thủy lợi, trong rừng ngập mặn, rừng tràm

và các ruộng nuôi thủy sản.

Tài nguyên biển: Cà Mau có bờ biển dài 254 km, vùng biển Cà Mau có nguồn tài nguyên hải

sản lớn; là một trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước, có trữ lượng lớn và đa dạng các loài hải

sản, nhiều loại có giá trị kinh tế cao như tôm, mực, ghẹ, cá hồng…

Tài nguyên rừng: Cà Mau có tổng diện tích đất lâm nghiệp 168.600 ha. Rừng Cà Mau có giá

trị kinh tế và sinh thái cao.

Tài nguyên khoáng sản: dầu khí và than bùn, muối,…tuy không lớn nhưng có giá trị kinh tế

cao.

Tài nguyên du lịch: Tỉnh Cà Mau có Mũi Cà Mau là điểm cực Nam của Tổ quốc, có ngọn Hải

đăng Hòn Khoai hùng vĩ. Với một vùng đất phù sa mầu mỡ có những khu rừng ngập nước quanh

năm; dưới tán rừng có nhiều loài loài chim, thú, thủy sản sinh sống đã tạo cho Cà Mau một cảnh

quan đặc sắc mang nét riêng của vùng đất trẻ đầy hoang sơ, mới lạ. Cà Mau có nhiều sân chim nổi

tiếng như sân chim Đầm Dơi, sân chim Chà Là và đặc biệt chim về làm tổ hàng chục nghìn con

ngay giữa lòng thành phố Cà Mau. Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành du lịch Cà

Mau

2.1.4. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau

- Về tình hình kinh tế: Tổng sản phẩm (GDP) đạt 14.504 tỷ đồng, tăng 12,2%. giai đoạn

2001-2010 có tốc độ tăng trưởng khá cao, đạt bình quân 12,81%/năm, trong đó Khu vực I (Nông –

Lâm – Ngư nghiệp) tăng bình quân 7,21%/năm, Khu vực II (Công nghiệp - Xây dựng) tăng nhanh,

đạt bình quân 20,1%/năm và Khu vực III (Thương mại và Dịch vụ) tăng 14,71%/năm.

Hình 2.1: Cơ cấu GDP tỉnh Cà Mau giai đoạn 2001 – 2010 (%)

100%

90%

80%

70%

60%

50%

40%

30%

20%

10%

0%

2001

2005

2007

2009

2010

NLTS

CN-XD

DV

( Nguồn: Niên

giám thống kê 2001 – 2010)

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng, tốc độ chuyển dịch giữa 3 khu vực diễn biến

cụ thể như sau: Cơ cấu GDP năm 2001: Khu vực I là 59,3%; Khu vực II là 20,5% và Khu vực III là

20,2%, đến năm 2010 cơ cấu trên tương ứng là: 39,9%; 35,9%; 24,2%. Như vậy, sau 10 năm, Khu

vực I giảm 19,4% còn Khu vực II tăng mạnh lên 15,4% và Khu vực III tăng 3,9%. Đặc biệt, thủy

sản luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng GDP và đóng vai là ngành kinh tế muic nhọn, kim ngạch

xuất khẩu thủy sản tiếp tục giữ vị thế hàng đầu cả nước.

Bình quân GDP đầu người tăng, năm 2009 đạt 1030 USD/người so với năm 2005 đạt 582

USD/người, tăng gấp 1,77 lần. Tuy nhiên, bình quân GDP năm 2009 của tỉnh vẫn thấp hơn trung

bình cả nước.

Thu ngân sách liên tục tăng trong 10 năm và vượt chỉ tiêu dự toán, tốc độ tăng thu đạt bình

quân 20,78%/năm. Năm 2001 thu ngân sách trên địa bàn đạt 333,02 tỷ đồng, đến năm 2010 đã tăng

lên 1.859 tỷ đồng.

Chi ngân sách cũng liên tục tăng qua 9 năm. Nếu như năm 2001 mức chi đạt 677,87 tỷ đồng,

thì đến năm 2009 tăng lên 2.863 tỷ đồng (gấp 4,22 lần).

Thu chi ngân sách luôn mất cân đối (thu không đủ chi), song tỷ lệ thu chi ngân sách địa

phương tăng dần từ 49,86% lên 64,93%.

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của tỉnh từ 232,0 triệu USD năm 2000, tăng lên 760

triệu USD năm 2010. Trong đó đóng góp chủ yếu vào kim ngạch xuất khẩu của tỉnh là nhóm hàng

thủy sản (chiếm trên 98%).

Đầu tư nước ngoài tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 1996 - 2009 có 5 dự án đầu tư trực tiếp với tổng

số vốn đăng ký là hơn 10 triệu USD. Riêng năm 2007 có 2 dự án đầu tư của Australia được cấp

phép với số vốn 8,000 triệu USD. Trong đó có một dự án đầu tư vào công nghiệp chế biến với số

vốn 3,000 triệu USD.

- Về tình hình xã hội: Dân số trung bình năm 2000 là 1.055.500 người, năm 2005 là

1.219.500 người và năm 2010 khoảng 1.212.089 người, như vậy sau 10 năm dân số của tỉnh tăng

thêm 156.589 người, tương đương dân số một huyện, bình quân mỗi năm số dân tăng thêm bằng

quy mô dân số của một xã. Dân số trong 10 năm tăng 16,68%, trung bình hàng năm tăng 1,38%, cao

hơn mức tăng dân số của vùng đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước (đồng bằng sông Cửu

Long giai đoạn 2001-2005 tăng 1,11%, của cả nước là 1,33%). Mật độ dân số trung bình năm 2010

là 229 người/km2,so với của vùng đồng bằng sông Cửu Long là 435 người/km2 và của cả nước là

256 người/km2. Như vậy mật độ dân số của tỉnh Cà Mau chỉ bằng 52,6% so với mật độ dân số của

vùng và bằng 89,5% mật độ dân số cả nước).

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm giảm dần, năm 1996 là 1,99%, đến năm 2005 giảm

xuống còn 1,52%, năm 2006 là 1,46% và năm 2010 còn khoảng 1,01%; mức giảm tỷ lệ sinh trung

bình hàng năm đạt 0,5%o. Tổng tỷ suất sinh đã giảm mạnh và đã gần đạt mức sinh thay thế, hiện

còn 1,63%.

Dân số khu vực thành thị (các phường, thị trấn) tăng từ 196.797 người năm 1996 lên 245.696

người năm 2005 và năm 2009 khoảng 247.471 người, tỷ lệ tăng bình quân hàng năm 2,49% (so với

của vùng là 4,35%). Như vậy tỷ lệ dân số thành thị của tỉnh Cà Mau so với dân số chung thấp hơn

so với bình quân toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước (20,7% và 26,97%), tốc độ đô

thị hoá của tỉnh Cà Mau chậm hơn.

Dân số của tỉnh Cà Mau có cơ cấu tương đối trẻ hơn so với toàn vùng đồng bằng sông Cửu

Long và cả nước, mặc dù những năm gần đây tỷ lệ sinh đã giảm khá nhanh; số người từ 0-17 tuổi

chiếm 43,18% tổng dân số.

Cũng như cả nước và cả vùng, tỉnh Cà Mau có cơ cấu đa dân tộc, trong tỉnh có 20 dân tộc

khác nhau, người Kinh chiếm chủ yếu (gần 97%), người Khmer chiếm gần 2% người Hoa chiếm

0,95%. Những hộ đồng bào dân tộc Khmer thường định cư ở địa bàn các xã vùng sâu vùng xa, đời

sống còn nhiều khó khăn.

Lực lượng lao động năm 2009 của tỉnh là 811.700 người, chiếm 64,24% dân số ; trong đó số

có khả năng lao động là 724.758 người. Số người đang tham gia làm việc trong các ngành kinh tế xã

hội của tỉnh là 640.902 người, tăng trên 170 ngàn người so với năm 1995 và tăng 23 ngàn người so

với năm 2000.

Trình độ học vấn và kỹ thuật nguồn nhân lực của tỉnh Cà Mau tương đối thấp, chưa đạt mức

bình quân cả nước. Đồng thời, lao động của tỉnh chủ yếu làm nông nghiệp, quen tác phong làm việc

tự do, chưa có tác phong sản xuất công nghiệp, ý thức chấp hành kỷ luật lao động thấp, hạn chế về

ngoại ngữ nên gặp khó khăn về khả năng cạnh tranh trong thị trường lao động xã hội và phân công

lao động xã hội. Đây là cản trở lớn trong tiến trình công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế quốc tế về

lao động.

* Qua phân tích về dân số và nguồn nhân lực của tỉnh Cà Mau cho thấy chất lượng nguồn

nhân lực của tỉnh Cà Mau còn thấp hơn so với vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước; cơ cấu

lao động chuyển dịch chậm, tỷ trọng lao động ở các ngành nông ngư lâm nghịêp còn cao nên năng

suất lao động xã hội thấp và tăng chậm. Đây là những thách thức rất lớn đối với yêu cầu phát triển

kinh tế - xã hội của tỉnh Cà Mau.

2.2. Vị trí, vai trò của kinh tế biển trong phát triển kinh tế của tỉnh Cà Mau

- Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế: Giai đoạn 2001-2005: Qua tổng hợp số liệu báo

cáo tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội các năm của UBND 6 huyện ven biển tỉnh Cà Mau:

tổng giá trị tăng thêm năm 2000 của vùng biển đảo VBVBCM đạt khoảng 2.140 tỷ đồng (giá so

sánh năm 1994), chiếm 47% GDP toàn tỉnh; năm 2005 đạt khoảng 3.550 tỷ đồng, chiếm 46% GDP

toàn tỉnh; bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2005 tăng trưởng kinh tế của VBVBCM chỉ đạt

khoảng 10,65% (so với tốc độ tăng trưởng GDP của toàn tỉnh trong giai đoạn này là 11,18%). Giai

đoạn 2001-2005 là giai đoạn nền kinh tế Cà Mau cũng như VBVBCM chưa có tác động trực tiếp

của cụm dự án Khí điện đạm và các dự án đầu tư lớn khác của Trung ương, sự tăng trưởng kinh tế

của vùng kinh tế nội địa (chỉ chiếm 25% diện tích tự nhiên và khoảng 40% dân số toàn tỉnh) nhưng

với trung tâm công nghiệp thương mại thành phố Cà Mau đã thể hiện sự vượt trội hơn so với

VBVBCM (năm 2005, riêng kinh tế trên địa bàn thành phố Cà Mau chiếm 34% GDP toàn tỉnh).

Trong giai đoạn này, kinh tế vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau tăng chậm hơn kinh tế vùng

nội địa của tỉnh vì kinh tế ngư nông lâm nghiệp của VBVBCM chiếm tỷ trọng lớn (trước năm 2005,

tỷ trọng các ngành khu vực I của các huyện ven biển đều chiếm gần 70%, có huyện chiếm tới trên

70%), trong khi ở vùng nội địa kinh tế công nghiệp và dịch vụ đã phát triển và chiếm tỷ trọng khá

lớn (năm 2005 tỷ trọng khu vực I của thành phố Cà Mau chỉ còn khoảng 11%).

Giai đoạn từ năm 2006 đến nay: với sự thực hiện đầu tư và vận hành các dự án lớn trong dự

án Cụm Khí điện đạm Cà Mau (thuộc địa bàn huyện U Minh của VBVBCM) và dự án Công nghiệp

tàu thủy Năm Căn (thuộc huyện Năm Căn), đặc biệt là 2 nhà máy điện với tổng công suất 1.500MW

đã trở thành động lực phát triển kinh tế của VBVBCM cũng như toàn tỉnh Cà Mau. GDP toàn tỉnh

năm 2006 đạt 9.198 tỷ đồng, tăng 19%; trong đó riêng giá trị tăng thêm của VBVBCM đạt khoảng

4.550 tỷ đồng, tăng 28% so với năm 2005. Từ khi nhà máy điện Cà Mau 1 hoạt động năm 2007 và

nhà máy điện Cà Mau 2 hoạt động năm 2008 đã tạo ra sự tăng trưởng kinh tế rất cao; năm 2007

GDP trên địa bàn tỉnh đạt 9189 tỷ đồng, tăng 12%. Riêng GDP VBVBCM đạt khoảng 5120 tỷ đồng

văn 2007 và ước đạt khoảng 6080 tỷ đồng năm 2008, tăng bình quân 17,8%/năm. Tốc độ tăng

trưởng kinh tế VBVBCM giai đoạn 2006 - 2008 đạt khoảng 17,1% (so với bình quân toàn tỉnh đạt

15,1%). Như vậy có thể thấy từ năm 2006 kinh tế của tỉnh Cà Mau cũng như VBVBCM đã tăng

trưởng nhanh hơn nhờ các dự án công nghiệp lớn ở vùng ven biển, dẫn đến cả giai đoạn 2001-2007

cũng đạt mức tăng trưởng cao; trong đó vùng ven biển có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn bình

quân toàn tỉnh.

GDP bình quân đầu người của vùng ven biển và vùng biển tăng lên khá nhanh trong những

năm gần đây, năm 2000 đạt 4,14 triệu đồng (giá thực tế), năm 2005 đạt 7,41 triệu đồng; năm 2007

đạt 10,84 triệu đồng và năm 2010 13,0 triệu đồng. Quy đổi theo tỷ giá hối đoái năm 2000 đạt

khoảng 320 USD, năm 2005 đạt 487 USD, năm 2006 đạt 605 USD, năm 2007 đạt khoảng 680 USD

và năm 2010 ước đạt khoảng 850 USD. Như vậy, mặc dù gần đây kinh tế VBVBCM có tốc độ tăng

cao, nhưng GDP bình quân đầu người của vùng vẫn còn thấp hơn so với bình quân toàn tỉnh (so

sánh với toàn tỉnh tương ứng các năm là 361 USD - 580 USD - 680 USD, 770 USD và 1030 USD).

Điều đó cho thấy xuất phát điểm kinh tế và mức thu nhập bình quân của vùng ven biển và vùng biển

là thấp hơn so với bình quân toàn tỉnh.

- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế chung của VBVBCM đã có bước

chuyển dịch tích cực, tỷ trọng các ngành ngư nông nghiệp đã giảm từ 59,26% năm 2000 xuống còn

52,46% năm 2005 và đến năm 2010 giảm còn 41,37%; ngược lại tỷ trọng công nghiệp xây dựng và

dịch vụ của toàn tỉnh được từng bước tăng lên, từ 40,74% năm 2000 tăng lên 47,54% vào năm 2005

và năm 2010 đã đạt được 46,43%. Tỷ trọng của 2 khu vực công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh

tế VBVBCM đã chiếm trên 50%, đó là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế khá rõ nét.

Tỷ trọng kinh tế công nghiệp xây dựng đã tăng từ 11,73% năm 2000 lên 22,29% năm 2006 và

23,4% vào năm 2008. Tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng của VBVBCM tăng nhanh trong 2-3

năm gần đây là kết quả của việc triển khai các dự án công nghiệp lớn ở các huyện U Minh, Năm

Căn như dự án Cụm Khí điện đạm Cà Mau, dự án nhà máy đóng tàu Vinashin; đây cũng chính là

yếu tố tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay VBVBCM cũng như toàn tỉnh Cà Mau có tốc độ tăng

trưởng kinh tế cao và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh nhưng chưa đảm bảo tính bền vững, vì yếu

tố tăng trưởng chứa đựng rất lớn giá trị đầu tư xây dựng.

Về cơ cấu thành phần kinh tế, xét về tỷ trọng đóng góp vào GDP thì xu hướng chung là khu

vực kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng chiếm tỷ trọng lớn do thực hiện sắp xếp cổ phần hoá các

doanh nghiệp nhà nước và chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước. Đối với

VBVBCM thời gian trước năm 2005 cũng như vậy, nhưng trong 3 năm gần đây do thực hiện một số

dự án lớn của các Tập đoàn kinh tế trên địa bàn nên tỷ trọng kinh tế Nhà nước đã tăng lên đáng kể,

riêng năm 2006 - 2009 ước tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước chiếm khoảng 20% (so với toàn tỉnh

chiếm khoảng 16,9%). Khu vực kinh tế cá thể tiểu chủ và tư bản tư nhân chiếm tỷ trọng lớn (chiếm

gần 80%), khu vực kinh tế tập thể còn rất nhỏ bé.

Về phân bổ phát triển theo địa bàn trong tỉnh, bước đầu đã hình thành khá rõ nét một số điểm

tăng trưởng, đó là thành phố Cà Mau, khu vực Khánh An huyện U Minh, thị trấn Năm Căn, thị trấn

Sông Đốc, tạo ra tứ giác phát triển ở quy mô cấp tỉnh gồm Khánh An - VBVBCM - Năm Căn -

Sông Đốc. Xét riêng trên khu vực VBVBCM đã hình thành một tam giác phát triển là Khánh An -

Năm Căn - Sông Đốc.

- Nâng cao vai trò của kinh tế biển trong nền kinh tế tỉnh Cà Mau

Qua phân tích các nội dung về tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho thấy

VBVBCM ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế tỉnh (cả về tỷ trọng và động lực phát

triển), cụ thể:

Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển trong nền kinh tế tỉnh đang có sự tăng lên rõ nét, năm

2000 chiếm tỷ trọng 47% GDP toàn tỉnh, năm 2005 chiếm 46%, nhưng từ năm 2006 trở lại đây tỷ

trọng kinh tế biển trong nền kinh tế toàn tỉnh ngày càng tăng lên, năm 2006 chiếm 49,5% và năm

2007 chiếm 50%, năm 2008 chiếm 52% và năm 2010 chiếm khoảng 56%. Đây cũng là xu hướng

phát triển của nội tại nền kinh tế tỉnh Cà Mau và trong thời gian tới cũng theo xu hướng như vậy vì

các dự án động lực được triển khai ở các huyện ven biển như: Khu kinh tế Năm Căn, các khu công

nghiệp Khánh An, Sông Đốc.

Nếu xét về quan hệ tương quan thì vùng kinh tế nội địa của tỉnh cũng bị phụ thuộc nhiều vào

kinh tế VBVBCM. Công nghiệp thành phố Cà Mau cũng như hai huyện còn lại phát triển dựa chủ

yếu trên cơ sở nguyên liệu từ vùng biển và ven biển.

Vùng biển và ven biển có đóng góp lớn vào nguồn hàng xuất khẩu, thu ngoại tệ, chủ yếu là

hàng thủy hải sản. Mặc dù số nhà máy chế biến thủy sản hiện nằm ở VBVBCM ít hơn trong vùng

nội địa (chủ yếu ở khu vực thành phố Cà Mau), nhưng nguồn thủy sản nguyên liệu cho chế biến

xuất khẩu chủ yếu do các huyện ven biển cung cấp. Nhờ vậy đã tạo ra kim ngạch xuất khẩu lớn cho

tỉnh (năm 2005 đạt 509,9 triệu USD, năm 2006 đạt 579, 4 triệu USD, năm 2007 ước đạt 604 triệu

USD,năm 2010 760 triệu USD, đứng đầu kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản của nước).

Đóng góp về thu ngân sách: Tổng thu ngân sách 6 huyện ven biển năm 2005 là 168,77 tỷ

đồng; năm 2006 thu 188,78 tỷ đồng và năm 2009 thu 243,3 tỷ đồng, chiếm 47 - 48% tổng thu ngân

sách của 9 huyện thành phố (chưa kể một số nguồn trên địa bàn các huyện do Văn phòng Cục thuế

tỉnh thu). Nếu tính cả các nguồn do Văn phòng Cục thuế Cà Mau thu thì tỷ trọng thu ngân sách trên

địa bàn 6 huyện đạt cao hơn khá nhiều, riêng dự án Cụm điện đạm Cà Mau năm 2007 nộp ngân sách

trên 120 tỷ đồng, năm 2008 ước nộp ngân sách 300 tỷ đồng.

Các cụm đảo bước đầu được đầu tư phát triển kinh tế du lịch, hậu cần nghề cá như cảng cá

Hòn Khoai, bến lên xuống đảo Hòn Chuối nhưng chưa phát huy hiệu quả, quy hoạch du lịch cụm

đảo Hòn Khoai đang xúc tiến nhưng chưa hoàn thành, riêng du lịch ở đảo Đá Bạc đang phát huy

được lợi thế.

Nhìn chung về tăng trưởng và quy mô kinh tế VBVBCM ngày càng có vai trò lớn trong kinh

tế của tỉnh. Hệ thống kết cấu hạ tầng, giao thông ven biển đang được xây dựng và kiên cố hóa, tạo

điều kiện phát triển kinh tế và giao lưu với các địa bàn khác trong khu vực.

Quốc phòng an ninh trên biển được đảm bảo, các lực lượng an ninh đã thực hiện tốt nhiệm vụ

quản lý và bảo vệ chủ quyền trên biển, ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển của người dân

được nâng lên, hiện tại tỉnh có trên 3.500 phương tiện với gần 19.000 lao động nghề biển là một lực

lượng rất quan trọng để kết hợp bảo vệ an ninh và chủ quyền vùng biển.

2.3. Tiềm năng phát triển kinh tế biển tỉnh Cà Mau

2.3.1. Tiềm năng về tự nhiên

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020, tỉnh Cà Mau

có hai vùng kinh tế gồm: vùng kinh tế nội địa và vùng kinh tế biển và ven biển (VBVBCM).

Việc xác định hợp lý ranh giới Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau là vấn đề rất quan trọng

để có thể phát huy và quản lý có hiệu quả các nguồn tài nguyên biển. Việc phân vùng kinh tế trong

những quy hoạch trước đây của tỉnh không ăn khớp với địa giới hành chính huyện, hay việc xác

định quy mô của vùng kinh tế ven biển còn nhỏ (chỉ gồm huyện Ngọc Hiển, Năm Căn và một số xã

ven biển) đã gây ra không ít khó khăn trong việc điều tra, thống kê các nguồn tài nguyên thiên nhiên

và xã hội, quá trình quản lý, khai thác và đặc biệt là so sánh trình độ phát triển của VBVBCM với

các địa bàn khác trong tỉnh, hoặc so sánh về phát triển kinh tế biển của tỉnh với kinh tế biển của các

tỉnh khác trong cả nước.

Theo Quy hoạch, vùng kinh tế biển và ven biển bao gồm toàn bộ vùng biển, các cụm đảo và

đất liền của 6 huyện ven biển (U Minh, Trần Văn Thời, Phú Tân, Năm Căn, Ngọc Hiển và Đầm

P, chiếm 75% diện tích toàn tỉnh (5.329

2 diện tích đất liền của vùng biển và ven biển rộng 4.022 kmP

2 kmP

P); dân số khoảng 719.000 người (số liệu điều tra năm 2009), bằng 60% dân số của tỉnh, mật độ

P, bằng 79% mật độ bình quân toàn tỉnh. Tỉnh có 03 cụm đảo gần bờ là

2 trung bình 179 người/kmP

Dơi), với 22 xã, thị trấn. Tổng chiều dài bờ biển 254 km, bằng 8% chiều dài bờ biển cả nước; tổng

cụm đảo Hòn Khoai (diện tích 577 ha, đỉnh cao nhất 318m), cụm đảo Hòn Chuối (diện tích 14,5 ha,

đỉnh cao nhất 165m) và cụm đảo Hòn Đá Bạc (diện tích 6,3 ha, đỉnh cao nhất 24m). Như vậy,

VBVBCM là toàn bộ phần biển, đảo và đất liền ven biển của tỉnh Cà Mau, trừ 3 đơn vị hành chính

còn lại nằm ở trung tâm và phía Bắc tỉnh là các huyện Thới Bình, Cái Nước và thành phố Cà Mau.

Từ ranh giới rõ ràng như trên, không gian kinh tế biển tỉnh Cà Mau có nhiều điều kiện phát

huy lợi thế của mình trong sự phát triển kinh tế chung của tỉnh.

- Khí hậu, thủy văn: Theo bản đồ phân vùng dự báo thời tiết biển của đài Khí tượng thủy

văn Trung ương, thời tiết vùng biển Cà Mau thuộc các vùng: từ Bình Thuận đến Cà Mau, vùng Nam

Biển Đông (đối với vùng biển phiá Đông); từ Cà Mau đến Kiên Giang, vùng Vịnh Thái Lan (vùng

biển phiá Tây). Thông thường trong mùa mưa, trên các vùng biển thường có mưa rào, tốc độ gió cấp

3 - 4, tầm nhìn xa trên 10 km. Chế độ gió ở ngoài vùng biển cũng như ở trong đất liền, trong mùa

mưa hướng gió thịnh hành là gió Tây Nam, mùa khô thịnh hành hướng gió Đông Bắc. Tuy nhiên

trong trong cơn dông thường tốc độ gió tăng lên cấp 5 -6, giật trên cấp 6, biển động, tầm nhìn xa

giảm xuống 4-10 km trong mưa; trong mùa khô, thời tiết trên các vùng biển tốt hơn. Tuy nhiên, khi

có những tác động của các dải áp thấp, dải hội tụ nhiệt đới hoạt động thì thời tiết trên vùng biển có

thể diễn biến xấu bất thường, có thể xảy ra hiện tượng lốc xoáy, vòi rồng. Riêng ở vùng Nam Biển

Đông (khu vực quần đảo Trường Sa), khí hậu thời tiết có khác biệt hơn so với các vùng biển ven bờ,

hiện tượng dồng trên vùng biển này khá phổ biến trung bình trên 130 ngày/năm có gió mạnh từ cấp

6 trở lên, nhất là trong mùa mưa. Nhiều năm trước, ở vùng biển ở Cà Mau cũng như cả vùng Đồng

bằng sông Cửu Long ít khi có bão, nhưng trong những năm gần đây mật độ bão và áp thấp nhiệt đới

đổ bộ vào khu vực Nam Bộ có chiều hướng gia tăng, những cơn bão đi vào vùng biển Nam Bộ

thường là những cơn bão cuối mùa. Trong vòng hơn 10 năm trở lại đây, đã có khá nhiều cơn bão và

áp thấp nhiệt đới đi vào vùng biển từ Bình Thuận đến Cà Mau và từ Cà Mau đến Kiên Giang, gây

thiệt hại lớn về người và tài sản hoặc ảnh hưởng đến hoạt động khai thác hải sản trên biển của ngư

dân (cơn bão số 8(Ernie) tháng 11/1996 gió cấp 6, cơn bão số 5 (Lida) tháng 10/1997 gió cấp 8, cơn

bão số 4 (Chip) tháng 11/1998 gió cấp 6, bão Rumbia tháng 12/2000, bão Muifa tháng 11/2004, bão

số 9 (Durian) tháng 12/2006 gió cấp 7-8. Bão, áp thấp nhiệt đới, gió chướng (gió mùa đông bắc) kết

hợp với triều cường và dòng triều mạnh còn gây ra xói lở ven biển nghiêm trọng, ở Cà Mau sạt lở

ven biển mạnh nhất là đoạn từ Gành Hào xã Tân Thuận huyện Đầm Dơi đến Rạch Vàng (xã Tân Ân

huyện Ngọc Hiển), mức độ lở trung bình khoảng 30 m/năm. Chế độ dòng chảy vùng biển Đông

luôn thay đổi cả về hướng và tốc độ,tốc độ dòng chảy tương đối nhỏ (10-15cm/s). Chế độ dòng chảy

ở biển Tây mang tính chất cục bộ và có tốc độ yếu hơn, tốc độ dòng chảy nhỏ (6-12cm/s). Chế độ

sóng: hướng sóng thường trùng với hướng gió, mùa gió Đông Bắc cấp sóng chủ yếu là cấp 3-4, đôi

khi lên cấp 5-6.

Trong mùa khô, nắng hạn kéo dài làm tăng nguy cơ cháy rừng tràm, nhất là những vùng rừng

tràm có than bùn; nắng hạn cũng làm cho độ mặn nước sông và trong đầm nuôi tôm tăng cao (có khi

lên đến trên 40%o) làm cho tôm nuôi chậm lớn và dễ phát sinh dịch bệnh.

Những diễn biến phức tạp về thời tiết trên vùng biển đã ảnh hưởng nhiều đến hoạt động khai

thác thủy hải sản, đe dọa an toàn cho ngư dân, làm giảm hiệu quả các chuyến khai thác biển.

Như vậy, về cơ bản vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau có khí hậu ôn hoà hơn các vùng

khác, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản.

Ngoài ra, do ảnh hưởng của 2 chế độ thủy triều và có nhiều cửa sông ăn thông ra biển, nên

toàn bộ phần diện tích đất liền của VBVBCM đều bị nhiễm mặn và chế độ truyền triều rất phức tạp.

Từ khi chuyển đổi sản xuất sang nuôi tôm, nhiều cống đập được mở thông, làm cho quá trình truyền

triều càng vào sâu trong đất liền. Chế độ thủy triều đã được người dân tận dụng trong đời sống, sản

xuất như giao thông đi lại theo con nước, lấy nước và thoát nước cho các vùng đầm nuôi tôm.

Nhưng do chế độ truyền triều không đều của Biển Đông và vịnh Thái Lan đã hình thành một số

vùng giáp nước, là những khó khăn cho giải pháp thủy lợi phục vụ sản xuất. Đối với giao thông, chế

độ thuỷ triều cản trở không nhỏ cho việc vận chuyển hàng hoá và đi lại của dân cư.

Thủy triều đưa nước biển vào ra thường xuyên, mang theo một lượng phù sa lớn làm nhanh

bồi lắng ở các sông, kênh thủy lợi, việc nạo vét kênh mương thủy lợi rất tốn kém, phải đầu tư

thường xuyên, nhất là ở một số cửa sông lớn trong tỉnh như Cái Đôi Vàm, Khánh Hội, Sông Đốc.

Ngoài ra, trong mùa khô (mùa gió chướng) nước biển dâng cao, gây tình trạng tràn mặn, ảnh hưởng

đến sản xuất và đời sống, vì vậy công tác ngăn mặn chống tràn là việc phải làm hàng năm của địa

phương.

- Địa hình biển, đảo và ven biển: Địa hình đáy biển vùng biển Cà Mau tương đối bằng

phẳng, độ dốc đáy biển thấp, ít chướng ngại vật. Chất đáy chủ yếu là bùn - cát mịn, bùn - vỏ sò. Độ

sâu vùng biển không lớn (là vùng biển nông): biển Tây (vịnh Thái Lan) độ sâu không quá 65m,

đường đẳng sâu 24m cách bờ biển Tây trung bình 42 hải lý, cách bờ biển Đông trung bình 28 hải lý;

đường đẳng sâu 50m cách bờ biển Đông 120-150 hải lý. Nhìn chung độ sâu, chất đáy vùng biển Cà

Mau thuận tiện cho việc khai thác hải sản.

Địa hình vùng ven biển thấp, nếu giữ nguyên độ cao tự nhiên chỉ phù hợp cho các loại cây

chịu ngập nước như rừng ngập mặn, rừng tràm, lúa nước, nuôi thủy sản. Việc trồng cây ăn trái, xây

dựng kết cấu hạ tầng và các công trình dân dụng, khu dân cư đòi hỏi phải chi phí tôn cao mặt bằng

rất lớn.

Do có nhiều sông rạch là lợi thế về giao thông đường thủy và nuôi trồng thuỷ hải sản, nhưng

là hạn chế rất lớn đối với phát triển giao thông đường bộ, phát sinh nhiều cầu cống, là một trong

những nguyên nhân làm giao thông đường bộ của tỉnh chậm phát triển. Đồng thời phần lớn diện tích

các huyện ven biển thuộc dạng ngập nước, nền đất yếu nên việc xây dựng các công trình kết cấu hạ

tầng và xây dựng dân dụng rất tốn kém, chi phí xử lý nền móng cao; tính ổn định của các công trình

xây dựng bị hạn chế, thường bị lún nền. Bên cạnh đó, các hiện tượng sạt lở khu vực này cũng rất

phức tap. Bãi bồi phục vụ phát triển nuôi trồng hải sản, trồng rừng, sông sạt lở gây nguy hại cho các

công trình kiến trúc, hạ tầng, đô thị, đất canh tác .v.v..Đây cũng là những trở ngại cho việc phát triển

đô thị vùng ven biển (hạn chế khả năng phát triển khu đô thị cao tầng, tốn kém nhiều trong đầu tư

xây dựng hạ tầng đô thị).

Trong vùng biển của tỉnh Cà Mau có 3 cụm đảo gần bờ, bao gồm:

Cụm đảo Hòn Khoai, thuộc địa bàn hành chính xã Tân Ân huyện Ngọc Hiển, cách đất liền

khoảng 20km, bao gồm 5 hòn đảo nhỏ nằm kề nhau là Hòn Khoai, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi, Hòn

Tượng và Hòn Đá Lẻ với tổng diện tích các đảo 577 ha. Trong đó đảo Hòn Khoai là đảo lớn và cao

nhất, diện tích 410 ha, dài 3,56 km, chỗ rộng nhất 1,7km, đỉnh cao nhất 318m. Trên đảo còn nhiều

rừng nguyên sinh, độ che phủ trên 90%. Ven theo đảo phiá dưới nước độ dốc thoải (0,5 đến 1%),

gần đảo dọc theo dải núi là những bãi đá ngầm có bề rộng từ 20 đến 40m. Ở 2 phiá của đảo (Đông

và Tây) có 2 bãi lớn và nhỏ, có thể đầu tư xây dựng thành các khu neo đậu trú bão cho tàu cá. Trên

3 mP

P (từ nguồn nước mưa).

đảo có nguồn nước ngọt chất lượng tốt (suối Bà Đầm), có trữ lượng nước hàng năm khoảng 10 triệu

Đảo Hòn Chuối: thuộc địa bàn thị trấn Sông Đốc huyện Trần Văn Thời, cách cửa Sông ông

Đốc 35km về phiá Tây Nam, diện tích đảo 14,5 ha, chiều dài đảo khoảng 1,6km, chỗ rộng nhất

700m, đỉnh cao nhất 165m. Địa hình đảo phần lớn là vách đá dốc, địa hình phức tạp, trên sườn núi

có rừng cây thưa phát triển trên nền đá phong hoá. Vùng nước xung quanh đảo tương đối sâu, sát

đảo là 4-5m, cách đảo 100m có độ sâu 10 - 15m. ở 2 phiá Tây và Đông của đảo cũng đã hình thành

2 điểm cập tàu cá của ngư dân trong 2 muà khác nhau.

Đảo Đá Bạc, thuộc địa bàn xã Khánh Bình Tây huyện Trần Văn Thời, cách bờ 400m, diện

tích đảo 6,3 ha, đỉnh cao nhất 24m, trên đảo có nhiều cây rừng nguyên thủy.

- Tài nguyên đất: Theo tài liệu điều tra đánh giá tài nguyên đất Vùng biển và ven biển tỉnh

Cà Mau của Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp Miền Nam: đất các huyện ven biển nói

riêng và ở Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau nói chung được hình thành trên các trầm tích trẻ, tuổi

holocene, như trầm tích sông hoặc sông-biển hỗn hợp, trầm tích sông - đầm lầy, trầm tích biển -

đầm lầy, trầm tích biển và trầm tích đầm lầy, vì vậy phần lớn diện tích bị phèn mặn. Nhìn chung đất

đai là đất trẻ, mới được khai phá sử dụng, có độ phì trung bình khá, hàm lượng chất hữu cơ cao

nhưng do bị nhiễm phèn mặn nên có những hạn chế đối với sản xuất nông nghiệp.

Các nhóm đất chính:

Nhóm đất cát giồng, tập trung ở khu vực dọc ven bãi Khai Long huyện Ngọc Hiển. Nhóm đất

này có thể sử dụng để trồng rau màu thực phẩm hoặc cây ăn quả.

Nhóm đất mặn, phân bố ở nhiều địa bàn trong tỉnh (huyện Đầm Dơi, Phú Tân, Trần Văn

Thời) là vùng đất có thành phần cơ giới mịn hơn, không có tầng phèn tiềm tàng hoặc phèn hoạt

động, toàn bộ đất mặn ở khu vực ven biển đều do nhiễm mặn từ nước biển với những mức độ mặn

khác nhau như mặn nặng, mặn trung bình và mặn ít. Nhóm đất này chủ yếu được sử dụng cho phát

triền rừng ngập mặn ven biển, nuôi tôm nước mặn và nước lợ, một số ít diện tích được lên liếp trồng

cây ăn trái.

- Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt của VBVBCM chủ yếu là nguồn nước mưa và nguồn

nước đưa từ biển vào, chứa trong hệ thống sông rạch tự nhiên, kênh thủy lợi, trong rừng ngập mặn,

rừng tràm và các ruộng nuôi thủy sản. Theo vùng quy hoạch sản xuất nông nghiệp, nguồn nước mặt

ở Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau đã có sự phân chia khá rõ:

Nguồn nước mặt phục vụ sản xuất cây con là nước ngọt chủ yếu còn lại ở khu vực rừng tràm

U Minh hạ, vùng sản xuất nông nghiệp phía Bắc huyện Trần Văn Thời. Đây là nguồn nước mưa

được giữ tại chỗ, là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và một phần

cho sinh hoạt, nhờ đó có một số diện tích có thể sản xuất lúa 2 vụ, rau màu thực phẩm, cây công

nghiệp.

Nguồn nước mặt là nước lợ, nước mặn, đây là nguồn nước được đưa vào từ biển, hoặc được

pha trộn với nguồn nước mưa. Trong mùa khô, độ mặn nước sông và nước trong các ruộng tôm tăng

cao, trung bình từ 20-30%o, trong một số vùng đầm nuôi tôm độ mặn có thể lên đến 40%o. Thường

ở những vùng cửa sông nước có độ mặn cao hơn, càng vào sâu trong nội đồng độ mặn càng giảm.

Trong mùa mưa độ mặn giảm nhanh (cả nước sông và trong các đầm nuôi tôm), một số vùng có

điều kiện rửa mặn, giữ ngọt tốt có thể sản xuất luân canh một vụ lúa trên đất nuôi tôm trong mùa

mưa.

Tài nguyên đất kết hợp với nguồn nước mặn, nước lợ là tiềm năng lớn để phát triển nuôi

trồng thủy sản trong nội đồng. Ngoài ra, ở Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau có tiềm năng lớn để

nuôi thủy hải sản.

Nguồn nước ngầm: theo kết quả điều tra của Liên đoàn Bản đồ địa chất Miền Nam, nước

ngầm ở tỉnh Cà Mau có trữ lượng lớn, chất lượng đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp.

P/ngày,

3 Tổng trữ lượng tiềm năng khai thác nước ngầm của tỉnh Cà Mau khoảng 6 triệu mP

3 trong đó của tầng I là 0,64 triệu mP

3 P/ngày, tầng II là 1,2 triệu mP

3 P, tầng III là 1,53 triệu mP

P, tầng IV là

3 P, tầng V là 0,9 triệu mP

3 P, tầng VI là 0,75 triệu mP

P. Hiện nay nước ngầm ở tỉnh đang khai

3 1 triệu mP

Có 7 tầng chứa nước dưới đất theo thứ tự như sau:

thác chủ yếu ở tầng II và tầng III và tầng IV (đối với giếng nước lẻ của hộ dân chủ yếu khai thác ở

tầng II và tầng III

P/ngày, trong đó riêng khai thác tại thành phố Cà Mau và

3 nước toàn tỉnh phải đạt khoảng 152.000mP

3 các thị trấn, các khu công nghiệp lên tới trên 100.000mP

P/ngày. Nếu quá trình khai thác nước ngầm

Dự báo đến năm 2020, áp lực khai thác sử dụng nguồn nước ngầm là rất lớn, sản lượng cấp

không được quy hoạch hợp lý sẽ dẫn đến phá vỡ cân bằng tự nhiên giữa các tầng nước, có thể nước

mặn ở tầng I sẽ thấm xuyên xuống các tầng dưới gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Đồng thời nếu

khai thác nước không đúng quy hoạch các tầng nước thì có thể ảnh hưởng đến nền móng các công

trình xây dựng.

- Tài nguyên rừng: Toàn bộ rừng của Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau tập trung ở các

huyện ven biển và các cụm đảo gần bờ. Theo kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng năm 2006,

VBVBCM có diện tích đất lâm nghiệp là 108.025 ha, trong đó diện tích có rừng là 96.350,3 ha; diện

tích chưa có rừng 11.674,7 ha. Năm 2009 diện tích có rừng tập trung ước đạt 99.000 ha.

Tổng diện tích có rừng tập trung của khu vực ven biển tính đến 31/12/2006 là 90.125 ha, năm

2009 đạt 92.000 ha, tỷ lệ che phủ của rừng bằng 22,4% diện tích tự nhiên, Trong đó: Đất rừng đặc

dụng 17.830,7 ha, diện tích có rừng là 17.551,7 ha; Đất rừng phòng hộ 26.132,6 ha, diện tích có

rừng là 25.151,6 ha; Đất rừng sản xuất 64.061,7 ha, diện tích có rừng 53.647 ha. Ngoài ra, trên cụm

đảo Hòn Khoai và Hòn Chuối có 583 ha rừng.

P; trong

3 trữ lượng thấp, nguy cơ cháy rừng rất cao. Tổng trữ lượng rừng hiện có khoảng 2,2 triệu mP

3 đó trữ lượng rừng tràm khoảng 1,44 triệu mP

3 P và trữ lượng rừng ngập mặn khoảng 770.000mP

P (bình

3 P/ha, riêng rừng ngập mặn bình quân chỉ đạt 12mP

P/ha).

3 quân trữ lượng rừng chỉ đạt khoảng 22mP

Tuy nhiên, giá trị thuần kinh tế của rừng Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau không cao do

- Tài nguyên sinh vật biển - đảo,ven biển

Đa dạng về hệ sinh thái: vùng biển Tây Nam Bộ nói chung và VBVBCM nói riêng là vùng

biển có nguồn tài nguyên và hệ sinh thái đa dạng, phong phú. Các hệ sinh thái biển và ven biển có

giá trị quan trọng như điều hoà khí hậu, là nơi cư trú, sinh đẻ và ươm nuôi nhiều loài thủy sinh,

nhiều hệ sinh thái có năng suất sinh học cao như rừng ngập ven biển, vùng bãi bồi ven biển, vùng

cửa sông của VBVBCM thuộc loại giàu tiềm năng bảo tồn như vùng bãi bồi, các khu rừng đặc

dụng, vườn Quốc gia Mũi Cà Mau.

Trong hệ sinh thái ven biển của tỉnh Cà Mau, có vườn quốc gia Mũi Cà Mau (thuộc địa bàn

huyện Ngọc Hiển và huyện Năm Căn) với diện tích 41.861 ha, đây là hệ sinh thái rừng ngập mặn tự

nhiên (hệ sinh thái cửa sông, ven biển) có giá trị rất cao về đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên,

môi trường. Đây là một trong những địa điểm quan trọng thuộc chương trình quốc gia về bảo tồn đa

dạng sinh học của Việt Nam. Vườn quốc gia Mũi Cà Mau có giá trị bảo tồn nguồn gen quý hiếm (22

loài thực vật ngập mặn, 13 loài thú, 74 loài chim, 17 loài bò sát và 133 loài động vật phiêu sinh).

Nguồn lợi thủy hải sản: Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau là một trong những ngư trường

trọng điểm của cả nước, có trữ lượng thủy hải sản lớn và đa dạng về loài, nhiều loài có giá trị kinh

tế cao như tôm biển, mực, một số loài cá có giá trị như cá thu, cá mú, cá chim.

Theo tài liệu của Phân viện Quy hoạch thủy sản phiá Nam (Bộ Thủy sản), ở vùng biển Tây

Nam Bộ có khoảng 237 loài cá thuộc 137 giống và 82 họ. Tại dải nước 30-50 m nước và 50-100 m

nước ở vùng biển Tây Nam Bộ, sinh khối cá đáy xấp xỉ như nhau và sinh khối toàn vùng xa bờ

khoảng 119.770 tấn và ít có biến động theo mùa. Trữ lượng cá của vùng biển này khoảng 478.680

tấn, khả năng khai thác 223.000 tấn. ở độ sâu dưới 30 m, trữ lượng cá là 153.000 tấn, khả năng khai

thác khoảng 72.000 tấn.năm; ở vùng biển xa bờ độ sâu trên 30m nước trữ lượng khoảng 325.600

tấn, khả năng khai thác 150.600 tấn (trong đó cá đáy khoảng 48.800 tấn và cá nổi khoảng 101.800

tấn).

Ngoài khai thác đánh bắt thủy hải sản, lợi thế vùng biển đã tạo cho Vùng biển và ven biển

tỉnh Cà Mau có diện tích nuôi thủy sản nước lợ, nước mặn lớn nhất nước; mặt nước vùng bãi triều

ven biển, ven đảo cũng là tiềm năng lớn để phát triển nuôi thủy hải sản. Vùng biển và ven biển tỉnh

Cà Mau có thể giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động làm nghề khai thác hải sản, là cơ sở

để phát triển các ngành công nghiệp cơ khí đóng mới, sửa chữa tàu thuyền, công nghiệp chế biến

thuỷ sản xuất khẩu, các dịch vụ phục vụ khai thác thủy hải sản, phục vụ vận tải, dịch vụ dầu

khí .v.v..

- Tài nguyên khoáng sản

Dầu khí: ở thềm lục địa Tây Nam (nhất là trong vùng vịnh Thái Lan) có tiềm năng lớn về

dầu khí, có nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, quan trọng nhất là bể Malay - Thổ Chu, gồm

nhiều lô thăm dò khai thác dầu khí (từ lô 36 đến lô 51, các lô A, lô B, vùng thoả thuận thương mại

giữa Việt Nam và Malaysia PM-3CAA và vùng mới phân định giữa Việt Nam và Thái Lan), đây là

3 Thổ Chu khoảng 380 triệu mP

P dầu quy đổi (theo đánh giá của PetroVietNam), trữ lượng đã phát hiện

3 P, riêng trữ lượng khí đã phát hiện khoảng 212 tỷ mP

P, sản lượng khai thác khoảng

3 khoảng 230 triệu mP

3 trên 10 tỷ mP

P/năm. Đây là nguồn tài nguyên quý của đất nước, là điều kiện để phát triển công nghiệp

những lô có trữ lượng và tiềm năng đáng kể về khí thiên nhiên. Tiềm năng dầu khí của bể Malay -

vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng (cụm dự án Khí điện đạm Cà

Mau, khu công nghiệp Khánh An…).

Cát ven biển: từ Giá Lồng Đèn đến Mũi Cà Mau dài 56 km (huyện Ngọc Hiển) có bãi cát

nằm sát ven biển với bề rộng bãi cát khoảng 1km. Đây là bãi cát có trữ lượng không lớn, cát mịn và

lẫn nhiều chất mùn bã, không có ý nghĩa khai thác công nghiệp lớn, mục đích chủ yếu là để phát

triển du lịch bãi cát ven biển (bãi Khai Long). Tuy nhiên cũng cần tiếp tục khảo sát để có thể khai

thác ở những địa điểm phù hợp phục vụ nhu cầu cát san lấp xây dựng.

Than bùn: vùng than bùn U Minh hạ của VBVBCM là một trong những vùng chứa than bùn

lớn nhất Việt Nam, tập trung chủ yếu ở khu vực vườn quốc gia U Minh hạ. Tổng diện tích có chứa

than bùn còn lại (sau các vụ cháy rừng lớn năm 1982 và năm 2002) là 5.640 ha. Đây là đầm than

rộng, khá đồng nhất về điều kiện hình thành cũng như về chất tạo than. Do bị cháy nhiều lần, trữ

lượng than bùn đã giảm nghiêm trọng, hiện còn khoảng 14,1 triệu tấn (giảm gần 12 lần so với năm

1976), trong đó trữ lượng đã thăm dò là 4,8 triệu tấn. Theo nhiều chuyên gia, đây là vùng có túi

phèn tiềm tàng lớn, việc khai thác than cần phải được nghiên cứu, đánh giá đồng bộ về hiệu quả

kinh tế cũng như những hậu quả về môi trường, tránh bị ô nhiễm phèn và những tác hại về môi

trường khác.

Sét gạch ngói và sét Ceramic: VBVBCM có tiềm năng lớn về sét gạch ngói và sét ceramic,

qua khảo sát điều tra các điểm ở các xã: Khánh Lâm, Khánh Bình, Khánh Bình Tây, Khánh Lộc,

Khánh Bình Đông (và các xã ngoài VBVBCM thuộc thành phố Cà Mau, huyện Thới Bình và Cái

P. Về chất lượng đạt yêu cầu sản xuất gạch ngói xây dựng

3 cho tổng trữ lượng khoảng 250 triệu mP

Nước như: An Xuyên, Tân Thành, Tắc Vân, Trí Phải, Hồ Thị Kỷ, Lương Thế Trân và Tân Hưng)

hoặc làm thân gạch Ceramic (phối liệu với các loại sét khác), tỷ lệ sét có thể sử dụng làm thân gạch

ceramic đạt khoảng 30 - 40% lượng sét khai thác. Đây là nguồn nguyên liệu để phát triển công

nghiệp vật liệu xây dựng, nhất là trong điều kiện VBVBCM có thể sử dụng nhiên liệu bằng nguồn

khí đốt tự nhiên (Khu công nghiệp Khánh An). Tuy nhiên, việc khai thác đất sét phải được quy

hoạch cụ thể và có các giải pháp hạn chế tác động môi trường (gây mất đất bằng sản xuất, giải thoát

phèn ra môi trường đất và nước).

- Tiềm năng phát triển du lịch:

Du lịch sinh thái: với diện tích rừng ngập mặn và rừng tràm rộng lớn, có 2 vườn quốc gia

(Mũi Cà Mau và U Minh hạ), có các vườn chim tự nhiên là những điều kiện để phát triển du lịch

sinh thái. Hiện nay, du lịch rừng ngập mặn Mũi Cà Mau đang được đầu tư theo dự án du lịch

chuyên đề quốc gia. Nhờ đó, sản phẩm du lịch sinh thái của VBVBCM ít bị trùng lặp với các tỉnh

khác trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long (chủ yếu là sinh thái miệt vườn).

Du lịch biển đảo: với chiều dài bờ biển 254 km, có một số bãi cát ven bờ (Giá Lồng Đèn,

Khai Long), các cồn bồi lắng cửa sông, các cụm đảo gần bờ như Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Đá

Bạc là tiềm năng để khai thác du lịch biển đảo.

Ngoài tài nguyên du lịch thiên nhiên, còn có các tiềm năng về du lịch văn hoá vật thể và phi

vật thể khác như: thưởng thức nghệ thuật đờn ca tài tử, tìm hiểu văn hoá dân gian, tham dự các lễ

hội, thăm quan các di yích lịch sử trên địa bàn tỉnh.

Tuy nhiên, các tài nguyên du lịch của VBVBCM hiện chủ yếu còn ở dạng tiềm năng, chưa

được đầu tư nhiều. Để sớm khai thác có hiệu quả đòi hỏi phải đẩy nhanh đầu tư kết cấu hạ tầng,

nhất là giao thông đường bộ, các doanh nghiệp cần có những ý tưởng mới về các sản phẩm du lịch,

mô hình kinh doanh du lịch...

2.3.2. Tiềm năng về kinh tế - xã hội

- Về kinh tế: Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau nằm trong vòng cung biển các nước Đông

Nam Á, có vùng biển tiếp giáp hầu hết biển các nước trong khu vực. Đây cũng là nơi có tuyến

đường biển quan trọng và thuộc loại nhộn nhịp hàng đầu thế giới Trong tương lai, nếu kênh đào Kra

(Thái Lan) được xây dựng thì tuyến đường biển này sẽ đi qua Vịnh Thái Lan, qua vùng biển Cà

Mau, mở ra cơ hội phát triển mạnh trên các lĩnh vực như: vận tải quốc tế, các dịch vụ biển, sửa chữa

tàu biển và thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác phát triển. Mặt khác, đây là vùng có tiềm năng lớn về

dầu khí và hệ thống ống dẫn dầu, khí đốt của các nước ASEAN, tạo điều kiện thuận lợi trong hợp

tác thăm dò, khai thác và kinh doanh sản phẩm từ dầu khí.

Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau có mối quan hệ với các hành lang kinh tế trong vùng và

khu vực: trong dự án Tiểu vùng Mê kông mở rộng (GMS), vùng biển và ven biển Cà Mau được xác

định nằm trong Hành lang phát triển phía Nam (Bangkok - Phnompenh - Hà Tiên - Cà Mau); trong

Quy hoạch tổng thể phát kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan,

vùng biển và ven biển Cà Mau nằm trong hành lang kinh tế ven biển phía Nam; trong vùng biển

Tây Nam Bộ, vùng biển và ven biển Cà Mau nằm trong hành lang kinh tế ven biển Đông. Trong đó,

huyện Năm Căn đều là điểm đến của các tuyến hành lang kinh tế này.

Xét về cực tăng trưởng, vùng biển và ven biển Cà Mau nằm trong tiểu vùng Cà Mau - Cần

Thơ - An Giang - Kiên Giang, một trong 04 tiểu vùng kinh tế của Đồng bằng sông Cửu Long. Trong

Quy hoạch tổng thể phát kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan,

vùng biển và ven biển Cà Mau được kết nối trong các tam giác phát triển du lịch như Cà Mau -

Rạch Giá - Phú Quốc; Cà Mau - Cần Thơ - Hà Tiên.

Địa hình đất liền VBVBCM tương đối đơn giản, phần đất liền bằng phẳng và thấp, không có

núi, cao trình phổ biến từ 0,5 - 1m so với mặt nước biển, đồng thời bị chia cắt nhiều bởi hệ thống

sông rạch chằng chịt, tạo sự liên thông giữa biển Đông và biển Tây. Các cụm đảo Hòn Khoai, Hòn

Chuối, Hòn Đá Bạc nằm gần bờ có ý nghĩa quan trọng cả về kinh tế và quốc phòng an ninh.

VBVBCM đang và sẽ là tâm giao của nhiều hành lang kinh tế, nhiều tuyến đường thuỷ bộ

quan trọng, liên kết kinh tế nước ta nói chung và kinh tế tỉnh Cà Mau nói riêng với các địa bàn lân

cận và với các nước trong khu vực. Việc xây dựng VBVBCM trở thành vùng kinh tế động lực, có

các khu đô thị và hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, các khu kinh tế, khu công nghiệp được hình

thành là những điều kiện cần thiết để tranh thủ cơ hội và thu hút vốn đầu tư phát triển, phục vụ thiết

thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống dân cư trên địa bàn VBVBCM và

của tỉnh Cà Mau nói chung.

- Về dân cư – lao động

Dân số trung bình Vùng biển và ven biển Cà Mau (VBVBCM) năm 2001 là 686,5 ngàn

người, năm 2010 là 720,8 ngàn người, tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2010 là 1,6%, cao

hơn tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm của toàn tỉnh trong cùng kỳ (1,22%/năm), của ĐBSCL

(1,11%/năm) và của cả nước(1,33%/năm). Tỷ trọng dân số của vùng so với toàn tỉnh cũng tăng từ

58,5% năm 2001 lên 59,6% năm 2009. Tỷ lệ giới tính trong dân số đang ở trạng thái tương đối cân

2 Mật độ dân số trung bình toàn vùng năm 2010 là 189 người/kmP

P, của toàn tỉnh là 226

2 người/kmP

2 P(so với vùng ĐBSCL là 441 người/kmP

2 P và của cả nước là 262 người/kmP

P). P

PNhư vậy, mật

bằng. Tỷ lệ giới tính tương đối cân bằng, tỷ lệ dân số nữ năm 2009 là 50,7%.

độ dân số của VBVBCM chỉ bằng 78,9% so với mật độ dân số của tỉnh, bằng 42% mật độ trung

bình ĐBSCL và 72% mật độ dân số của cả nước.

Xét về xu thế, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm giảm dần trên quy mô toàn tỉnh và ở

VBVBCM, song đã có sự phân bố lại trong nội bộ các vùng trong tỉnh. Tỷ lệ tăng cơ học ở các

huyện VBVBCM cao hơn (gồm cả di dân từ trong tỉnh và từ các tỉnh khác đến).

Dân số trong tuổi lao động của VBVBCM năm 2009 là 486,5 ngàn người, bằng 62,6% dân

số, trong đó số người đang tham gia làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 392,1 ngàn người,

tăng trên 40 ngàn người so với năm 2000.

Người dân vùng ven biển từ lâu đã có kinh nghiệm khai thác biển đặc biệt là đánh bắt và

nuôi trồng thủy hải sản. Bên cạnh đó họ đã biết sử dụng các sản phẩm từ biển để làm nên các đặc

sản nổi tiếng như nghề làm khô cá biển, làm muối... Cà Mau từ lâu đã nổi tiếng với các loại khô

biển như tôm khô, các loại cá khô....

- Giao thông: Trong những năm gần đây, hệ thống giao thông của Cà Mau nói chung và của

VBVBCM nói riêng đã được cải thiện đáng kể, trên địa bàn tỉnh đã hình thành những trục giao

thông quan trọng có tính chất trục xương sống cho hệ thống giao thông chung, đó là trục Bắc - Nam

từ Quốc lộ 63 - VBVBCM - Năm Căn (quốc lộ 63 và quốc lộ 1A) và một số trục ngang theo hướng

Đông - Tây như Cái Đôi Vàm - Cái Nước - Đầm Đơi; Sông Đốc - Rạch Ráng - Tắc Thủ... Giao

thông nông thôn từ huyện xuống xã, giao thông đến các ấp cũng đang phát triển khá nhanh. Chính

vì thế, việc vận chuyển các sản phẩm từ biển đến thị trường ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.

- Cơ sở vật chất kỹ thuật: Số phương tiện đánh bắt thủy sản trên biển được bổ sung không

ngừng, đồng thời thiết bị trên tàu ngày càng hiện đại hơn tào điều kiện đánh bắt tốt hơn. Ngoài số

lượng tàu cá của tỉnh trên 3.500 chiếc thì vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau còn rất nhiều tàu

thuyền từ các tỉnh khác đến khai thác thuỷ hải sản, vì vậy yêu cầu đầu tư hạ tầng nghề cá và dịch vụ

hậu cần nghề cá là rất cần thiết. Hiện nay tỉnh đang đầu tư xây dựng cảng cá Hòn Khoai, cảng cá

Sông Đốc, cơ sở hạ tầng nghề cá tại đảo Hòn Chuối (nguồn vốn Chương trình Biển Đông và Hải

đảo), xây dựng khu neo đậu tránh trú bão Sông Đốc và đầu tư 2 tàu hậu cần nghề cá. Tuy nhiên tiến

độ xây dựng chậm nên các công trình này chưa phát huy được hiệu quả như dự kiến.

- Hệ thống lưới điện, thông tin liên lạc: Điện được tập trung đầu tư phát triển nhanh, đến

nay tất cả các xã ven biển và trong vùng đều có điện lưới quốc gia, đến cuối năm 2010 đã có 89,2%

số hộ dân được sử dụng điện lưới (so với 93% của toàn tỉnh và 95,3% của vùng nội địa của tỉnh). Từ

đó tạo điều kiện phát triển các cơ sở chế biến mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

2.4. Những lợi thế so sánh

2.4.1. Về tự nhiên

So với các khu vực ven biển khác ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long hay các địa bàn khác

trong cả nước, VBVBCM có nhiều lợi thế về tiềm năng phát triển kinh tế, trong đó nổi bật là:

P, bình quân chiều sâu từ biển vào nội địa khoảng 15-16 km, VBVBCM là địa bàn có diện tích

2 kmP

Với chiều dài bờ biển 254 km (7,8% chiều dài bờ biển cả nước) và diện tích đất liền 4022

vào loại rộng lớn, có đủ diện tích về đất đai để phát triển, kể cả đủ diện tích để xây dựng phát triển

các khu kinh tế tổng hợp ở ven biển (như đề án thành lập Khu kinh tế Năm Căn). VBVBCM nằm ở

trung tâm Đông Nam Á, vùng biển tiếp giáp với biển của hầu hết các nước trong khu vực và cách

không xa các trung tâm phát triển, các đô thị trong khu vực. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc

tế, đây là cơ hội để các nền kinh tế trong khu vực có thể khai thác, tận dụng các cơ hội phát triển của

nhau, cùng mang lại lợi ích cho mỗi bên.

VBVBCM có những tài nguyên thiên nhiên rất đặc trưng như khí hậu, thuỷ văn, đất đai, rừng

ngập mặn ven biển, nguồn nước thuận lợi cho phát triển nông lâm ngư nghiệp, đặc biệt là nuôi trồng

thuỷ sản, phát triển du lịch sinh thái, du lịch biển đảo. Vùng biển và ven biển Cà mau nằm trong

vùng biển Tây Nam Bộ, chứa đựng nhiều loại tài nguyên thiên nhiên phong phú và có ý nghĩa chiến

lược trong tương lai như dầu khí, tuyến vận tải và dịch vụ biển… Dầu khí khu vực biển Tây nam

đang được khai thác, phục vụ phát triển ngành năng lượng và công nghiệp hoá dầu của đất nước, tạo

điều kiện phát triển các ngành công nghiệp khác như các ngành công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ dầu khí.

Do hệ thống dẫn dầu và khí của các nước trong khu vực đang được nối mạng nên tiềm năng phát

triển công nghiệp hoá dầu là rất lớn ở khu vực VBVBCM (rất hấp dẫn các nhà đầu tư lớn). Mặc dù

VBVBCM không có khả năng phát triển các cảng biển nước sâu, nhưng với các cửa sông lớn thì

tiềm năng phát triển cảng khu vực và cảng dịch vụ là rất lớn. Trong tương lai, khi Năm Căn và Hòn

Khoai liên kết thành hành lang chuyển tải hàng hoá, việc liên kết với các tuyến vận tải quốc tế sẽ dễ

dàng hơn.

2.4.2. Về nhân văn

Các dự án lớn của các nước Tiểu vùng MêKông mở rộng (GMS) đang liên kết các hành lang

kinh tế trong khu vực từ Nam Ninh (Trung Quốc) đến Singapore và hành lang kinh tế ven biển phía

Nam từ Băngkok - Phnômpênh - Hà Tiên đến Cà Mau; liên kết các trung tâm kinh tế lớn, các cảng

biển dọc ven biển Thái Lan, Malaysia, Singapore, Thái lan, Campuchia và Việt Nam, tạo ra các

"cực tăng trưởng" mạnh với các ngành kinh tế dựa vào lợi thế của biển là chủ yếu. Sự liên kết dọc

theo các hành lang kinh tế chắc chắn sẽ tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế biển và ven biển

của Cà Mau với tư cách là một điểm mốc của hành lang.

Các chủ trương của Đảng và Chính phủ như Nghị quyết số 21NQ/TW ngày 20/01/2003,

Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 17/02/2005 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 09/NQ-TW ngày

9/2/2007 của Bộ Chính trị về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.v.v. Quy hoạch tổng thể phát

triển kinh tế - xã hội Đồng bằng sông Cửu Long, quy hoạch phát triển kinh tế vùng biển và ven biển

Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan đến năm 2020 đều xác định Cà Mau như một cực tăng trưởng ở

ĐBSCL và nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm thứ tư của cả nước đang được nghiên cứu xây dựng

ở ĐBSCL.

Trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Cà Mau thời kỳ đến năm 2020

VBVBCM được xác định như vùng kinh tế động lực của tỉnh, điểm kết nối hai hành lang kinh tế

Cần Thơ - Cà Mau - Năm Căn và Cà Mau - Hà Tiên. Sự hình thành Khu Khí điện đạm Cà Mau -

một dự án trọng điểm quốc gia, Đề án thành lập Khu kinh tế Năm Căn trở thành hiện thực đang từng

bước làm nổi bật hơn vị trí, vai trò của VBVBCM trong quá trình phát triển đi lên của Cà Mau và cả

vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Việc đánh giá cao vị trí, vai trò của VBVBCM xuất phát từ một

nền tảng căn bản đó là những lợi thế về biển, đảo, bờ biển và các tài nguyên biển tiềm tàng, vị trí

của biển thuộc VBVBCM trong khu vực Đông Nam Á. Đề cao vai trò động lực của Cà Mau trên

thực tế là đề cao vai trò của biển đảo Cà Mau. Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận chủ trương cho

nghiên cứu Đề án thành lập Khu kinh tế Năm Căn, cho quy hoạch 4 Khu công nghiệp với quy mô

2 Với dân số trên 1 triệu người, mật độ dân số trung bình 232 người/kmP

P, nguồn lao động trẻ,

diện tích lớn là những cơ hội để tỉnh Cà Mau có thể phát triển nhanh trong thời gian tới.

nhạy bén, thích ứng nhanh với các cơ chế kinh tế mới và những điều chỉnh thị trường do yêu cầu hội

nhập kinh tế quốc tế là một lợi thế của VBVBCM có thể khai thác trong kỳ quy hoạch.

2.4.3.. Khả năng hợp tác và đầu tư

Chúng ta biết rằng, hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới đều là những nước có biển và

nền kinh tế biển mạnh. Tiến ra xa biển và phát triển kinh tế biển là chiến lược ưu tiên, là cơ hội

thách thức của nhiều quốc gia có biển. Thế kỷ XXI được Liên Hiệp quốc ghi nhận là thế kỷ của đại

dương, phát triển bền vững biển và vùng ven biển là mục tiêu và là những thách thức đối với cả thế

giới. Các quốc gia có biển trên thế giới đã và đang xúc tiến xây dựng chiến lược, kế hoạch hành

động khai thác vùng biển một cách hợp lý.

Đối với vùng biển nước ta nói chung và vùng biển Tây Nam Bộ nói riêng có vị trí địa lý và

chính trị hết sức trọng yếu, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng.

Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định: “Trở thành một nước mạnh về biển là mục

tiêu chiến lược xuất phát từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt

Nam và vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh quốc phòng, có nhiều lợi

thế phát triển, là cửa mở của cả nước để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài. Khai

thác tối đa các lợi thế của vùng biển và ven biển, kết hợp với quốc phòng an ninh, tạo thế và lực để

phát triển mạnh về kinh tế - xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc.

Trong xu hướng phát triển đó, kinh tế biển Cà Mau có nhiều điều kiện phát triển nhanh và

mạnh. Khả năng hợp tác và đầu tư, xuất nhập khẩu ngày càng lớn hơn. Với những thành tựu phát

triển kinh tế trong vài năm trở lại đây, Cà Mau đã thực sự là điểm đến của các nhà đầu tư cả trong

và ngoài nước. Chất lượng lao động không ngừng được nâng cao, chính sách mở cửa thông thoáng,

sở vật chất hạ tầng của tỉnh ngày càng hoàn thiện với hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh (tuyến

quốc lộ 1 gắn với cà nước, các tuyến đường gắn với khu vực ĐBSCL...). Đặc biệt là việc đưa vào

hoạt động khu công nhiệp khí điện đạm đã nâng cao hơn nữa vị trí, vai trò của tỉnh Cà Mau trong sự

phát triển.

Bên cạnh đó, khả năng hợp tác trong xuất khẩu của Cà Mau còn rất lớn. Từ lâu bạn bè trong

nước và thế giới đã biết khá nhiều về mặt hàng tôm xuất khẩu của Cà Mau, và vị thế này vẫn đang

được phát huy. Ngoài ra, các sản phẩm khác hiện nay cũng đang được xúc tiến mạnh mẽ và đầu tư

thích đáng để khả năng xuất khẩu cao hơn.

2.5. Những hạn chế

- Về tự nhiên: Tài nguyên biển là rất to lớn, nhưng cũng đã và đang xuất hiện nhiều thách

thức đối với tài nguyên, môi trường vùng biển và ven biển: Tình trạng khai thác tài nguyên biển quá

mức và lãng phí, khai thác ven bờ quá nhiều đã được cảnh báo từ lâu nhưng chưa được giải quyết có

hiệu quả, số phương tiện làm nghề khai thác gây sát hại nguồn lợi hải sản lớn; chưa coi trọng lợi ích

và nguồn thu nhập lâu dài; Chất lượng môi trường biển và vùng ven bờ tiếp tục bị suy giảm khá

nhanh, tình trạng ô nhiễm do nguồn nước thải sản xuất và sinh hoạt không được xử lý đổ trực tiếp ra

sông, biển, hiện nay ở vùng cửa sông, ven biển bắt đầu bị ô nhiễm dầu do có quá nhiều phương tiện

thủy hoạt động, nhiều cơ sở kinh doanh xăng dầu ở ven sông; Tính đa dạng sinh học bị suy giảm,

diện tích rừng ngập mặn ven biển giảm nhiều so với 20 - 30 năm trước, tình trạng khai thác trái

phép vùng bãi bồi vẫn rất phức tạp; Hạn chế lớn nhất của vùng biển Cà Mau là vùng biển bồi, nông

nên không có khả năng xây dựng cảng biển nước sâu, vùng nước biển gần bờ đục, bãi biển sình lầy

nên không thuận lợi cho nuôi một số loài hải sản, du lịch tắm biển...; trong vùng biển không có các

dãy núi tạo thành vùng vịnh để tránh trú bão cho tàu thuyền, ngư dân cũng như bảo vệ các công

trình hạ tầng và sản xuất (nhất là nuôi hải sản trên biển)

- Về kinh tế - xã hội: Kinh tế biển và vùng ven biển phát triển có tốc độ nhanh nhưng xuất

phát điểm thấp hơn và cơ cấu kinh tế chậm tiến bộ hơn bình quân toàn tỉnh, thể hiện ở bình quân

GDP/người và tỷ trọng kinh tế công nghiệp, dịch vụ còn thấp hơn khá nhiều. Đây là một trong

những khó khăn và thách thức đối với mục tiêu Chiến lược Biển đến năm 2020 (GDP bình quân đầu

người của vùng ven biển bằng 1,3 - 1,5 lần so với bình quân chung). Các nguồn thu ngân sách nhà

nước còn nhỏ bé, chưa hình thành và nuôi dưỡng được những nguồn thu lớn, toàn bộ 6 huyện ven

biển chưa tự cân đối được thu - chi ngân sách (cân đối thu - chi do huyện quản lý hàng năm chỉ đảm

bảo được khoảng 50% tổng chi ngân sách huyện). Cơ cấu ngành nghề kinh tế biển chưa hợp lý và

đang ở trình độ thấp, chủ yếu chỉ gồm khai thác, nuôi trồng thủy hải sản và một vài điểm du lịch

nhỏ, chưa có điều kiện để vươn ra khơi xa; cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu

kém. Khai thác thủy hải sản chủ yếu là khai thác ven bờ, có tới 40% số phương tiện khai thác hải

sản có công suất dưới 40CV.

Kết cấu hạ tầng vùng ven biển, đảo còn rất yếu kém, nhiều công trình hạ tầng thiết yếu như

đê biển, giao thông ven biển, các trục tuyến giao thông kết nối giữa các cụm kinh tế ven biển và

giao thông kết nối từ ven biển vào vùng nội địa đầu tư còn hạn chế cả về mật độ tuyến và quy mô

cấp đường, riêng bờ biển phía Đông chưa có tuyến đường nào kết nối vào phía trong, các đô thị ven

biển mới ở giai đoạn hình thành, các công trình cảng vận tải, cảng cá đầu tư chậm và kéo dài...

chính vì vậy các trung tâm kinh tế ven biển chưa đủ mạnh, chưa đảm đương được vai trò trung tâm

để tiến ra biển.

Công tác điều tra cơ bản về biển, đảo còn rất hạn chế, nhiều lĩnh vực chưa có tài liệu, số liệu

điều tra để làm cơ sở hoạch định kế hoạch khai thác. Khoa học, công nghệ biển còn yếu, môi trường

biển và vùng ven biển ở nhiều nơi bị ô nhiễm do tình trạng xả dầu thải xuống sông biển, sự cố ô

nhiễm tràn dầu đã xuất hiện, diện tích và trữ lượng rừng ven biển suy giảm so với trước do phát

triển nuôi tôm, tình trạng sạt lở ven biển diễn ra khá nghiêm trọng.

Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, chưa đủ sức vươn ra biển khơi, sẽ là những hụt hẫng

lớn cho việc thu hút đầu tư, khai thác tiềm năng kinh tế vùng ven biển và vùng biển.

Các vấn để xã hội ở vùng ven biển còn nhiều bức xúc, đời sống một bộ phận khá đông người

dân vùng ven biển còn khó khăn và chịu nhiều rủi ro, mật độ dân số vùng ven biển thấp hơn so với

vùng nội địa; các cụm tuyến dân cư ven biển chậm được đầu tư xây dựng.

Tình trạng di dân tự do đến các khu vực ven biển, cửa sông, rừng phòng hộ khá cao, việc giải

quyết sắp xếp tái định cư mới chỉ đạt kết quả bước đầu, tình trạng tái định cư ở ngoài đê biển, cửa

sông vẫn chưa được giải quyết một cách cơ bản (riêng ngoài đê biển Tây và các cửa sông hiện có

gần 2.300 hộ đang sinh sống). Tỷ lệ hộ nghèo các huyện ven biển cao hơn bình quân toàn tỉnh. Theo

kết quả điều tra năm 2009, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 10,53% (chưa điều chỉnh theo trượt giá),

nhưng riêng huyện U Minh là 19,27%, huyện Phú Tân là 10,74%.

Điều kiện giao thông phục vụ cơ động vùng ven biển còn hạn chế, sẽ gặp khó khăn trong cơ

động, sơ tán dân trong các trường hợp cấp thiết như thiên tai, địch hoạ.

- Về thu hút đầu tư: Điều kiện thu hút đầu tư chưa được chuẩn bị tốt đang là cản trở lớn,

làm mất đi những cơ hội đầu tư, đó là chưa tìm được nguồn đầu tư hạ tầng các khu cụm công

nghiệp, chưa có quỹ đất sạch cho các doanh nghiệp triển khai các dự án.

Trước những khó khăn, tồn tại nêu trên, các cấp ban ngành tỉnh cần có một chiến lược đúng

đắn, kịp thời để vực dậy nền kinh tế biển vốn giàu tiềm năng này.

2.6. Thực trạng phát triển một số ngành kinh tế biển tỉnh Cà Mau

2.6.1. Ngành thủy sản biển

2 thác rộng khoảng 80.000kmP

P) có trữ lượng lớn và đa dạng các loại hải sản có giá trị kinh tế cao.

Với điều kiện bờ biển dài trên 254km, ngư trường khai thác rộng lớn (diện tích thăm dò, khai

Đồng thời, diện tích mặt nước lớn ở các ao hồ, kênh rạch và ruộng lúa…Nên tỉnh Cà Mau có rất

nhiều điều kiện phát triển thủy hải sản nói chung và thủy sản biển nói riêng. Theo thống kê của Sở

thủy sản Cà Mau, trữ lượng cá vùng biển Cà Mau ước khoảng 650.000 tấn, khả năng cho phép hàng

năm khai thác từ 200.000 – 250.000 tấn /năm

Ngành thủy sản tỉnh Cà Mau có một vị trí quan trọng trong ngành thủy sản cả nước và phát

triển đồng đều ở cả lĩnh vực nuôi trồng, khai thác và chế biến. Diện tích và sản lượng nuôi trồng

thủy sản của tỉnh.

2.6.1.1. Nuôi trồng thủy sản: Tỉnh Cà Mau nói chung, VBVBCM nói riêng là địa bàn có

tiềm năng lớn về nuôi thủy sản, nhất là nuôi tôm nước lợ. Các điều kiện về diện tích mặt nước, đất

đai, điều kiện nguồn nước, thời tiết khí hậu tương đối thuận lợi cho nuôi thủy sản.

Bảng 2.1:Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản phân theo huyện ven biển (Đơn vị: ha)

2005 2006 2007 2008 2009 2010

Toàn tỉnh 278.241 275.195 290.749 293.223 294.659 296.300

VBVBCM 191.935 190.68 202.486 204.145 205.033 206.445

U Minh 22.200 19.291 22.277 23.501 24.465 25.200

Trần Văn Thời 28.600 28.690 31.644 29.558 29.630 29.800

Phú Tân 33.495 33.495 33.495 35.405 35.154 35.154

Đầm Dơi 61.128 62.063 65.708 65.712 65.718 65.717

Năm Căn 24.000 24.000 25.678 25.677 25.666 25.673

Ngọc Hiển 22.512 23.141 23.684 24.292 24.400 24.901

( Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau từ 2005 – 2011)

Diện tích nuôi trồng thủy sản (chủ yếu là nuôi tôm) của VBVBCM phân bổ ở cả 6 huyện với

tổng diện tích 206,445 nghìn ha, chiếm 69,7% diện tích toàn tỉnh.(năm 2010). Huyện có diện tích

nuôi lớn là Đầm Dơi với khoảng 65 nghìn ha, tiếp đến là các huyện Phú Tân,Trần Văn Thời, Năm

Căn, U Minh và cuối cùng là Ngọc Hiển với 24,901 nghìn ha.

Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng của VBVBCM liên tục tăng từ 58,9 ngàn tấn năm 2000 lên

98,76 ngàn tấn năm 2007 và 169,5 nghìn tấn năm 2010 chiếm 75,8% sản lượng nuôi toàn tỉnh.

Trong đó tôm từ 29,7 ngàn tấn lên 62,7 ngàn tấn trong cùng thời kỳ, chiếm 72,5% sản lượng nuôi

trồng của toàn tỉnh.

Bảng 2.2:Sản lượng thủy sản nuôi trồng phân theo các huyện ven biển

năm 2008, 2009, 2010

(Đơn vị: tấn)

2008 2009 2010

Toàn tỉnh 174.402 188.670 233.356

VBVBCM 118.451 132.051 169.496

U Minh 13.250 14.550 17.920

Trần Văn Thời 15.773 21.350 21.279

Phú Tân 19.201 23.087 27.214

Đầm Dơi 39.577 44.620 64.546

Năm Căn 12.193 13.570 17.215

Ngọc Hiển 18.457 14.874 21.324

( Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau từ 2010)

Trong các loại thủy sản nuôi, tôm là loại được nuôi trồng lớn nhất, kế đến là cá. Hình thức

nuôi tôm chủ yếu là chuyên canh và nuôi tôm kết hợp trồng rừng, một số diện tích nuôi luân canh

với trồng 1 vụ lúa. Ngoài nuôi tôm, các hộ nông dân đã từng bước thực hiện nuôi đa con kết hợp với

nuôi tôm như nuôi cua, cá đang được nuôi nhân rộng. Cá đồng là nguồn lợi của VBVBCM, năm

2001 đạt 22 ngàn tấn, chiếm tới 77,3% sản lượng cá nuôi của toàn tỉnh. Nhưng từ sau chuyển đổi

sản xuất, diện tích nuôi cá đồng đã giảm mạnh nên sản lượng cũng giảm theo, thấp nhất là 12,1 ngàn

tấn năm 2002, sau đó tăng dần trở lại và đạt 27 ngàn tấn năm 2009 (bằng 53,4% sản lượng toàn

tỉnh). Năm 2001 sản lượng cá nuôi của U Minh là 11, 7 ngàn tấn, chiếm 50% sản lượng toàn tỉnh

thì năm 2009 chỉ còn trên 3,3 ngàn tấn. Ở các huyện khác sản lượng cá tăng nhưng không nhiều. Vì

vậy, sản lượng toàn vùng mới đạt gần mức năm 2001. Gần đây, nhiều hộ phát triển nuôi các loài cá

có giá trị kinh tế cao, địa bàn nuôi tập trung ở rừng tràm U Minh và huyện Trần Văn Thời.

Nuôi hải sản trên biển chưa phát triển, vùng mặt nước ven biển hiện mới chỉ nuôi thí điểm một

số loài nhuyễn thể như nghêu, nhưng hiệu quả không cao (ở vùng bãi Khai Long), nguồn lợi giống

tự nhiên bị khai thác quá mức.

+ Nuôi tôm sú: Tôm sú được nuôi ở hầu hết các huyện trong tỉnh, chủ yếu nuôi trong ao đất

với các hình thức nuôi chuyên canh, nuôi xen canh với rừng, nuôi luân canh với lúa, nuôi trong

vườn theo mô hình VAC, nuôi kết hợp nhiều đối tượng, nuôi đơn loài; nuôi theo hình thức thâm

canh, bán thâm canh, quảng canh cải tiến. Trong đó các mô hình nuôi xen canh tôm - rừng, luân

canh tôm - lúa, hay mô hình nuôi kết hợp tôm - cua - cá, tôm - sò...đã và đang thu được những kết

quả đáng khích lệ.

+ Nuôi nghêu: Những năm gần đây giá nghêu thịt tăng cao, phong trào nuôi nghêu phát triển

mạnh khu vực ven biển các tỉnh Bến Tre, tiền Giang, Trà Vinh với các mô hình: tổ hợp tác, hợp tác

xã đã thu được những kết quả rất lớn. Nghêu có thể nuôi ở khu vực ven biển các huyện Ngọc Hiển,

Phú Tân, Năm Căn,... Mô hình nuôi nghêu hợp tác xã đã hình thành ở khu vực bãi Khai Long huyện

Ngọc Hiển, tuy nhiên quy mô phát triển chưa lớn, cách thức quản lý còn nhiều hạn chế trong khi

tiềm năng còn rất nhiều. Năm 2010 diện tích nuôi nghêu, sò huyết của tỉnh mới chỉ đạt khoảng

2.000 ha.

+ Nuôi sò, hàu: Nuôi hàu nằm ở khu vực cửa sông, ven biển, quy mô nuôi nhỏ và nuôi bằng

lồng sắt thả bè theo hình thức bám chùm (tiêu biểu là mô hình nuôi của HTX Đất Mũi, của ông

Nguyễn Thành Công, ấp Lạch Vàm, xã Đất Mũi, Ngọc Hiển,...). Nuôi sò thường kết hợp trong ao

nuôi tôm sú, nuôi bãi bồi khu vực ven biển các huyện Phú Tân, Ngọc Hiển. Nguồn giống được cung

cấp chủ yếu từ khai thác tự nhiên. Đây là hai đối tượng có giá trị kinh tế, dễ nuôi tuy nhiên diện tích

sản lượng còn thấp, do đó mới chỉ cung cấp cho thị trường nội địa. Trong tương lai sẽ mở rộng diện

tích nuôi 2 đối tượng này để tăng giá trị cũng như đa dạng hóa đối tượng nuôi. Khu vực ven biển

Tây Cà Mau (Trần Văn Thời, Phú Tân, Năm Căn và Ngọc Hiển và U Minh) là nơi có tiềm năng

nuôi hai đối tượng này,tuy nhiên hiện tại ở đây mới chỉ nuôi ở qui mô nhỏ lẻ, chưa được đầu tư để

khai thác một cách ổn định; các hộ khu vực ven biển chủ yếu khai thác nguồn giống tự nhiên để

cung cấp cho các vùng nuôi khác và một phần để nuôi thương phẩm tại chỗ, hiệu quả sản xuất chưa

được đánh giá đầy đủ, nhưng nhìn chung hầu hết các hộ nuôi đều có lãi.

- Nuôi thủy sản khác: Chủ yếu nuôi cua, cá kèo, cá chẽm,… hình thức quảng canh, nuôi kết

hợp với tôm sú, nuôi lồng bè. Tận dụng diện tích mặt nước và thủy triều lên xuống để thu giống tự

nhiên và có thả thêm giống nhân tạo, không sử dụng thức ăn trong suốt quá trình nuôi. Hình thức

nuôi này có ở hầu hết khu vực ven biển của tỉnh.

2.6.1.2. Khai thác thủy sản biển

Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau là một trong những ngư trường lớn, trọng điểm của cả

nước, điều kiện thời tiết cơ bản thuận lợi, đảm bảo cho khai thác quanh năm. Khai thác thủy sản ở

Cà Mau chỉ tập trung chủ yếu ở mảng khai thác biển (khai thác hải sản-KTHS). Các hoạt động khai

thác thủy sản nội địa với quy mô sản xuất nhỏ, ít mang tính chất sản xuất hàng hóa. Do vậy, việc

phân tích và tính toán quy hoạch tập trung cho lĩnh vực khai thác thủy hải sản biển.

Cà Mau có lượng tàu thuyền khai thác hải sản khá hùng hậu về cả số lượng và công suất

(đứng thứ hai ĐBSCL, xếp sau tỉnh Kiên Giang). Năm 2009 có 4.941 chiếc với tổng công suất

367.903 CV.

Nhìn chung đội tàu khai thác thủy hải sản trong giai đoạn 2001 - 2009 liên tục tăng (tăng

bình quân 0,8%), loại tàu có công suất <50 Cv tăng 0,79%, tàu công suất lớn từ 400 Cv trở lên chỉ

chiếm 0,67 % nhưng có tốc độ tăng trưởng rất cao 26,42%. Trong cơ cấu tàu thuyền khai thác thủy

hải sản thì tàu nhỏ (công suất < 90 cv) vẫn chiếm số lượng lớn nhưng tỉ trọng đã giảm từ 77% năm

2001 xuống còn 66% năm 2007; giai đoạn 2008-2009 thực hiện quyết định 289 QĐ-TTg của Thủ

tướng Chính phủ về việc hỗ trợ xăng dầu cho ngư dân nên tỉ trọng tàu thuyền nhỏ tăng mạnh trở lại

đạt 76-77%. Tàu có công suất lớn (công suất ≥90 cv) chiếm ưu thế trong cơ cấu công suất, số lượng

và tỉ trọng ngày càng tăng trong giai đoạn 2001-2007 từ 23-32%, nhưng 2 năm 2008-2009 tỷ trọng

loại tàu thuyền này giảm do mức tăng số lượng tàu thuyền nhỏ ở mức cao.

Bảng 2.3: Sản lượng khai thác thủy sản tỉnh Cà Mau giai đoạn 2000 – 2010

(Đơn vị: nghìn tấn)

Năm SLKT-NT Khai thác thủy sản

Tổng Tổng cá Tôm Mực

2000 197,836 124697 93524 13856 9054

2001 214,742 127054 90087 12678 24289

2002 209,627 121313 100017 9642 11654

2003 223,330 131413 106207 11217 13989

2004 241,195 138009 108961 11881 17167

2005 254,259 134173 105259 11784 17130

2006 276,010 137867 103857 10788

2007 291,359 141670 98081 12911

2008 313,115 138713 101281 11682

2009 334,420 145750 103453 14950

2010 387,070 153714 108712 15113

(Nguồn: thống kê của sở thủy sản tỉnh Cà Mau - 2011)

Trong giai đoạn 2001-2010, nghề khai thác hải sản đóng góp xấp xỉ 128 - 153 nghìn tấn/năm.

Năm 2009 sản lượng đạt 145.750 tấn (cá chiếm 71%, tôm chiếm 10%, mực và hải sản khác chiếm

19% so với bình quân tổng sản lượng). Năm 2010 sản lượng khai thác thủy sản vùng biển và ven

biển đạt 153,351 nghìn tấn, chiếm 99,8% sản lượng toàn tỉnh. Tuy sản lượng khai thác hàng năm

vẫn gia tăng nhưng tỉ trọng sản lượng khai thác đang giảm dần do sản lượng nuôi trồng thủy sản

tăng.

Hình 2.2: Sản lượng thủy sản khai thác VBVBCM giai đoạn 2005-2010 (nghìn tấn)

Nghìn tấn

153.351

155

150

145.325

145

140.496

138.144

140

136.832

133.227

135

130

125

Năm

120

2005

2006

2007

2008

2009

2010

Sản lượng thủy sản khai thác của VBVBCM giai đoạn 2005 – 2010 nhìn chung tăng, riêng

năm 2008 sản lượng giảm đôi chút do ảnh hưởng của thời tiết. Huyện có sản lượng khai thác lớn

nhất trong thời gian gần đây là Trần Văn Thời, Ngọc Hiển, U Minh và thấp nhất là huyện Năm Căn.

Bảng 2.4:. Sản lượng thuỷ sản khai thác phân theo huyện ven biển (Tấn)

2008 2009 2010 2005 2006 2007

134.173 137.687 141.670 138.713 145.750 153.714 Toàn tỉnh

VBVBCM 133.227 136.832 140.496 138.144 145.325 153.351

Huyện U Minh 18.873 20.773 18.770 18.500 19.534 22.371

Huyện Trần V Thời 70.287 69.237 69.709 69.404 72.221 72.158

Huyện Phú Tân 16.500 18.471 17.855 17.857 19.449 17.080

Huyện Đầm Dơi 6.194 9.334 10.870 10.498 11.830 13.547

Huyện Năm Căn 2.443 2.607 2.692 2.485 3.186 3.510

Huyện Ngọc Hiển 18.930 16.410 20.600 19.400 19.105 24.685

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau 2005- 2010)

Trong các đối tượng khai thác chính thì sản lượng cá tăng trưởng ổn định, các loại thủy sản

khác diễn biến tăng giảm thiếu ổn định. Sản lượng cá biển năm 2009 đạt khoảng 103.482 ngàn tấn,

so với sản lượng năm 2001 là 90.087 tấn; sản lượng tôm biển hàng năm khai thác ở mức khoảng 11

- 13 ngàn tấn. Sản lượng khai thác biển tăng chủ yếu do tăng năng lực khai thác biển sau bão số 5

và chương trình đánh bắt xa bờ.

Trong các nghề khai thác biển ở tỉnh Cà Mau, ngoài số phương tiện nhỏ khai thác gần bờ (te,

xiệp chiếm 18,6%) còn có tới gần 40% số phương tiện làm nghề cào và đóng đáy biển là những

nghề gây sát hại nguồn lợi thủy sản, làm cho nguồn lợi ngư trường suy giảm nhanh chóng, dẫn đến

hiệu quả chung của lĩnh vực khai thác biển ngày càng giảm.

Những năm gần đây, do giá nhiên liệu tăng cao, thời tiết diễn biến phức tạp và nguồn lợi ngư

trường suy giảm nên hiệu quả khai thác biển thấp, đời sống lao động nghề biển khó khăn. Tuy

nhiên, ngoài ý nghĩa kinh tế, với số lao động trên biển khoảng gần 19.000 người là lực lượng quan

trọng, góp phần bảo vệ an ninh, chủ quyền vùng biển Tây Nam Bộ. Vì vậy, cần tiếp tục có các giải

pháp, chính sách để hỗ trợ phát triển nghề khai thác biển vì mục đích kinh tế, xã hội và an ninh quốc

phòng.

2.6.1.3. Chế biến thủy sản

Công nghiệp chế biến thủy hải sản đạt sản lượng cao, chế biến tôm xuất khẩu chiếm phần lớn

giá trị sản lượng ngành công nghiệp của VBVBCM, năm 2006 đạt trên 11100 tấn, năm 2007 đạt

khoảng 16000 tấn và năm 2009 khoảng 16000 tấn. Tuy nhiên so với nguồn nguyên liệu mới chỉ chế

biến khoảng 7%; còn lại chủ yếu được chế biến ở các nhà máy đặt tại vùng kinh tế nội địa.

Tính đến năm 2009, toàn tỉnh Cà Mau có 30 nhà máy chế biến thủy sản với tổng công suất

thiết kế khoảng 120.000 tấn/năm. Phần lớn các nhà máy này nằm trong nội địa. Trình độ công nghệ

chế biến thủy sản của tỉnh thuộc vào hạng tiên tiến trong khu vực, các chủng loại máy móc thiết bị

khá hiện đại được nhập từ nước ngoài với tỷ trọng: IQF (đông nhanh rời, băng chuyền xoắn) 23%;

AB (đông gió và hầm đông) 14% và CF (đông tiếp xúc) 63%. Hệ thống kho lạnh đáp ứng nhu cầu

bảo quản nguyên liệu và thành phẩm trước khi xuất xưởng. Hầu hết các doanh nghiệp áp dụng

chương trình quản lý chất lượng theo HACCP, một số đạt tiêu chuẩn ISO. Sản phẩm của các doanh

nghiệp được xuất khẩu sang hầu hết các thị trường, kể cả những thị trường “khó tính” như Mỹ và

EU.

Sản lượng chế biến thủy sản VBVBCM năm 2009 đạt 85.741 tấn, trong đó tôm đông lạnh

chiếm đa số với sản lượng 69.598 tấn (chiếm 81%), tiếp theo là bột cá và thủy sản khác. Tỷ trọng

sản phẩm dùng cho xuất khẩu chiếm 93%, còn lại 7% tiêu dùng nội địa. Do dây chuyền công nghệ

được nâng cấp nên tỷ trọng hàng giá trị gia tăng được cải thiện từng năm. Đến năm 2009, tỷ trọng

sản phẩm giá trị gia tăng chiếm 47% trên tổng sản lượng tôm chế biến, tăng 29% so với năm 2000.

Việc chế biến thủy sản ở các huyện ven biển hiện nay chủ yếu mang tính sơ chế, bảo quản

tạm, còn chế biển thành phẩm phải đưa vào nội địa. Ngoài ra, ngư dân ven biển còn chế biến cá khô,

tôm khô tạo thành thương phẩm nổi tiếng của tỉnh.

Chế biến thủy sản phát triển không những giải quyết công ăn việc làm cho cho một số lượng

lớn lao động địa phương (khoảng 17.000 lao động) mà còn tạo ra động lực cho nông ngư dân gia

tăng sản xuất thủy sản, tạo nguồn nguyên liệu cho chế biến tiêu thụ. Vai trò quan trọng của chế biến

thủy sản sẽ tiếp tục được khẳng định trong thời gian tới, đặc biệt khi Việt Nam hội nhập sâu rộng

hơn vào nền kinh tế thế giới.

2.6.1.4. Giá trị thu nhập

Thu nhập từ sản xuất thủy sản tăng liên tục từ 2005 đến 2010 với hơn 6 nghìn tỉ đồng. Năm

2010 giá trị thủy sản đạt gần 16 tỷ đồng trong đó giá trị từ nuôi trồng chiếm 78,2%.

Trong giai đoạn 2000-2010, xuất khẩu thủy sản Cà Mau sang Nhật Bản giảm từ 50% xuống

còn 28%; sang Mỹ tăng dần từ 15% lên 20%. Mặc dù có xu hướng giảm nhưng Nhật Bản vẫn là thị

trường chiếm tỷ trọng lớn nhất của thủy sản Cà Mau trong giai đoạn này.

Triệu đồng

18000000

15915088

16000000

13725105

14000000

12372780

11755775

12000000

10728876

9671144

10000000

8000000

6000000

4000000

2000000

Hình 2.3: Giá trị sản xuất thủy sản Cà Mau giai đoạn 2005-2010 (triệu đồng)

Năm

0

2005

2006

2007

2008

2009

2010

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau 2005- 2010)

Thị trường EU có xu hướng giảm trong giai đoạn 2000-2004, nhưng tăng trở lại trong giai

đoạn 2005-2009, đạt tổng khối lượng nhập khẩu năm 2009 là 14.045,8 tấn, đưa tốc độ tăng trưởng

bình quân sản lượng xuất sang EU cả giai đoạn (2000-2009) đạt 14,2%/năm. Sự tăng trưởng trở lại

của thị trường EU có sự đóng góp đáng kể của Đức và các nước EU khác.

Bên cạnh những thị trường truyền thống như Mỹ, EU và Nhật Bản, các doanh nghiệp xuất

khẩu thủy sản của tỉnh không ngừng tiếp tục mở rộng thị trường sang các nước khác, trong đó

Ôxtrâylia, Trung Quốc và Hàn Quốc,… là những thị trường còn rất nhiều tiềm năng.

Với sự gia tăng về khối lượng xuất khẩu đã đem lại sự gia tăng tương ứng về giá trị xuất

khẩu. Cụ thể là từ năm 2000-2009, KNXK thủy sản của tỉnh tăng gấp hơn 3 lần và đạt tốc độ tăng

bình quân 15%/năm, thật đáng khích lệ.

Bảng 2.5: Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản tỉnh Cà Mau (tấn)

Stt Thị trường

2000

2002

2004

2006

2009

1

Nhật Bản

12.515,0 14.814,0 22.944,0 22.953,3 21.535,8

2 Mỹ

3.668,1

14.249,0 16.235,0 17.967,8 15.603,0

3

Các nước EU

4.852,1

875,0

8.532,3

14.045,8

790,0

Bỉ

1.533,9

323,0

149,0

645,8

1.187,7

-

Hà Lan

1.096,8

18,0

0,0

287,4

476,4

-

Ý

1.105,8

380,0

75,0

1.026,9

1.011,2

-

Đức

244,7

93,0

376,0

178,2

989,3

-

Anh

683,6

0,0

0,0

154,6

109,0

-

Các nước EU khác

187,3

61,0

190,0

6.239,4

10.564,9

-

Úc

132,2

353,0

2.205,0

4.385,4

3.400,0

4

Ca-na-đa

0,0

12,0

1.017,0

1.052,0

2.324,1

5

Hồng Kông

600,4

869,0

610,0

1.375,9

1.215,2

6

Hàn Quốc

334,6

2.026,0

850,0

638,2

2.527,7

7

Thái Lan

40,4

626,0

523,0

1.237,4

1.311,4

8

Đài Loan

51,0

43,0

137,0

935,8

1.557,4

9

10 Xinh-ga-po

133,5

32,0

357,5

1.043,0

633,1

11 Thuỵ sĩ

33,6

16,0

154,0

363,5

158,6

12 Trung Quốc

7,0

0,0

74,0

1.503,4

28,9

13 Các nước khác

2.772,7

782,0

3.611,0

5.737,6

11.028,0

Tổng (trực tiếp)

25.140,6 34.697,0 50.193,0 65.636,3 76.772,7

*

Xuất ủy thác

1.681,4

138,5

185,0

83,9

20,1

1

Bán dứt ngoài tỉnh

4.974,3

4.926,2

9.439,0

4.650,5

2.506,0

2

Tổng cộng

31.796,3 39.761,7 59.817,0 70.370,7 79.298,9

*

(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2010)

Mặc dù giá xuất khẩu bình quân có sự biến động (tăng giảm) qua từng năm song vẫn có xu

hướng tăng lên trong giai đoạn 2000-2009. Trong thời gian tới, cần tiếp tục tăng đơn giá bình quân

các mặt hàng xuất khẩu bằng cách nâng cao tỷ trọng hàng giá trị gia tăng.

40%

700,0

35%

600,0

30%

500,0

25%

400,0

Hình 2.4: Tốc độ tăng trưởng KNXK thủy sản Cà Mau GĐ 2000-2008

)

%

(

20%

D S U u ệ i r T

300,0

15%

200,0

10%

100,0

5%

0,0

0%

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

Tăng trưởng (%/năm)

KNXK (triệu USD)

(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2009)

2.6.1.5. Những khó khăn và tồn tại

Trong nuôi trồng: Mặc dù nuôi thủy sản ở VBVBCM đã được khẳng định là một nghề sản

xuất chủ lực, mang lại hiệu quả kinh tế cao, sản lượng nuôi (nhất là sản lượng tôm) những năm sau

năm 2000 tăng nhanh so với trước, nhưng lĩnh vực theo chiều rộng, thiếu bền vững, còn phụ thuộc

nhiều vào thiên nhiên, yếu tố tăng sản lượng chủ yếu là do mở rộng diện tích, năng suất tăng không

nhiều. Tính bình quân sản lượng tôm nuôi tăng từ năm 2000 đến 2008 thì 88,7% do tăng diện tích

và 11,3% còn lại là do tăng năng suất. Nhìn chung, việc quy hoạch cũng quản lý quy hoạch nuôi

tôm chưa chưa sát với thực tế, gây nhiều bất cập; việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào

sản xuất chưa nhiều, quy trình sản xuất phần lớn còn lạc hậu, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Đầu tư

cho phát triển nuôi thủy sản còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, nhất là hệ thống thủy lợi

phục vụ nuôi thủy sản chưa đồng bộ, chưa có tiểu vùng thủy lợi nào được đầu tư khép kín theo quy

hoạch, dẫn đến chất lượng nguồn nước vùng đầm nuôi chưa đảm bảo là nguyên nhân phát triển

thiếu bền vững, tình trạng tôm nuôi bị chết vẫn xảy ra. Việc sản xuất con giống mới chủ yếu là con

tôm và tuy đã đáp ứng đủ về số lượng, nhưng chất lượng chưa đảm bảo. Nguồn giống các loài nuôi

khác còn phụ thuộc nhiều vào nguồn giống tự nhiên. Cơ cấu nuôi chưa đa dạng, vẫn chủ yếu là con

tôm sú nên độ rủi ro cao và hiện đang bị sản phẩm tôm thể chân trắng cạnh tranh mạnh, nuôi thủy

sản mặt nước bãi triều ven biển và trên biển chưa phát triển. Công nghệ, kỹ thuật nuôi còn lạc hậu,

khả năng cung ứng con giống chất lượng tốt chưa đáp ứng yêu cầu; việc quản lý và bảo vệ môi

trường trong nuôi thủy sản chưa chặt chẽ là những nguyên nhân dẫn đến phát triển thiếu bền vững.

Trong khai thác biển: ngư trường và các nguồn lợi hải sản vùng khơi chưa có số liệu điều

tra đánh giá chính xác về trữ lượng và khả năng cho phép khai thác, việc quy hoạch phương tiện và

cơ cấu nghề khai thác hợp lý chậm được thực hiện, việc chuyển đổi phương tiện khai thác ven bờ

còn lúng túng; kỹ thuật bảo quản sản phẩm còn lạc hậu, hạ tầng nghề cá đầu tư kéo dài, chậm phát

huy hiệu quả.

Trong chế biến: Bên cạnh những thuận lợi và thành tích đạt được, để chế biến thuỷ sản tiếp

tục phát huy thế mạnh sẵn có và tạo động lực cho nghề nuôi trồng và khai thác thuỷ sản phát triển,

ngành chế biến thuỷ sản cần giải quyết một số khó khăn cơ bản sau:

- Sự mất cân đối giữa sản xuất nguyên liệu với chế biến tiêu thụ chưa được giải quyết một

cách căn cơ. Tình trạng thừa thiếu nguyên liệu vẫn tồn tại và gây ra sự mất ổn định trong sản xuất.

Hiện nay đầu tư vào chế biến thuỷ sản như một trào lưu và còn bị động. Các doanh nghiệp chủ yếu

dựa vào nguồn nguyên liệu thu mua của nông ngư dân mà chưa tạo ra mối liên kết chặt chẽ hoặc

chủ động xây dựng vùng nguyệu liệu cho riêng mình.

- Vấn đề đa dạng hoá sản phẩm còn hạn chế, mặc dù các doanh nghiệp của tỉnh rất mạnh

trong chế biến mặt hàng tôm xuất khẩu nhưng còn bỏ ngỏ các mặt hàng khác như cá, nhuyễn thể.

Do vậy chưa tận dụng được triệt để nguồn nguyên liệu tại chỗ sẵn có của tỉnh, gây lãng phí tài

nguyên. Trong thời gian tới, tỉnh cần xây dựng một số nhà máy chế biến cá, nhuyễn thể, đặc biệt là

nguồn nguyên liệu này từ đánh bắt hiện nay rất dồi dào nhưng chưa được bảo quản tốt dẫn đến suy

giảm chất lượng, hao hụt,...

- Mặc dù tỉnh quy hoạch một số khu công nghiệp tập trung cho CBTS nhưng tiến độ còn

chậm do còn vướng mắc trong công tác giải toả di dời, do vậy chưa tạo được môi trường thuận lợi

nhất để các nhà đầu tư ổn định sản xuất kinh doanh. Do đó, trong thời gian tới, bên cạnh việc tăng

cường giải toả di dời, tỉnh cần tạo nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu

công nghiệp tập trung, nhanh chóng đưa chế biến thuỷ sản vào sản xuất ổn định.

- Phần lớn các nhà máy chế biến thủy sản của Cà Mau mặc dù có đầu tư hệ thống xử lý nước

thải nhưng đã lạc hậu và hoạt động kém hiệu quả, chất lượng xử lý nước thải chưa đảm bảo gây nên

tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại nhiều nơi, đặc biệt là các cơ sở chế biến vỏ đầu tôm.

Do vậy, khắc phục ô nhiễm môi trường trong thời gian tới phải được đặt lên hàng đầu, coi đó như

một “tấm giấy thông hành” quan trọng để bước vào các thị trường lớn.

- Vấn đề sử dụng kháng sinh hoá chất thiếu kiểm soát dẫn đến chất lượng sản phẩm không

đảm bảo theo yêu cầu của các thị trường, đặc biệt là các thị trường có yêu cầu cao như Mỹ, EU,...

nguy cơ mất thị trường là rất lớn. Đặc biệt cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp giải

quyết triệt để nạn bơm chích tạp chất vào tôm nguyên liệu.

Bên cạnh đó, để chế biến thuỷ sản phát triển cần phải có cơ chế vốn đầu tư thông thoáng. Các

ngân hàng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vay vốn sản xuất kinh doanh, đặc biệt là những doanh

nghiệp có uy tín, có “thương hiệu” với các hợp đồng xuất khẩu được ký kết.

2.6.2. Nông nghiệp:

Trước khi chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông - ngư nghiệp, giá trị sản xuất nông nghiệp giai

đoạn 1996 - 2000 tăng khá, năm 2000 đạt 890 tỷ đồng (giá cố định 1994); tuy nhiên sau chuyển đổi,

giá trị sản xuất nông nghiệp đã giảm đi gần 30%, và từ năm 2003 tăng dần trở lại nhưng năm 2007

cũng chỉ đạt 727 tỷ đồng, năm 2010 đạt khoảng 1332 tỉ đồng, bình quân mỗi năm tăng 1,7%/năm,

chỉ đóng góp khoảng 9,5% vào tăng trưởng của GDP trên địa bàn.

Nguyên nhân giảm giá trị sản xuất nông nghiệp chủ yếu là giảm ngành trồng trọt, từ 760 tỷ

đồng năm 2000 (giá cố định 1994) xuống còn 550 tỷ đồng năm 2005 và năm 2007 đạt 604 tỷ đồng,

năm 2010 đạt 911 tỷ đồng (giá cố định 1994), đồng thời ngành chăn nuôi cũng giảm mạnh từ 129 tỷ

đồng năm 2000 xuống 78 tỷ đồng năm 2002, 120 tỷ đồng năm 2007, nhưng các năm sau liên tục

tăng, năm 2010 đạt 289 tỷ đồng (giá cố định 1994).

+ Cây lúa: vẫn là cây trồng chính, tuy nhiên trong giai đoạn 2000-2010 diện tích canh tác lúa

trên quy mô toàn tỉnh bị giảm mạnh từ 178.133 ha năm 2000 xuống còn 80.664 ha năm 2007 và

tăng liên tục các năm kế tiếp đến năm 2010 diện tích đạt 125.897 ha, chiếm khoảng 25% diện tích

đất nông nghiệp. Mặc dù đã thực hiện thâm canh, tăng vụ nhưng diện tích lúa vẫn bị giảm tới 62 ha,

sản lượng giảm 33%. Đối với VBVBCM tình hình khá hơn, diện tích gieo trồng lúa chỉ bị giảm

30,5% và sản lượng giảm 31,7%. Tuy nhiên, sự sụt giảm bất ngờ chỉ xảy ra ở năm 2001.

Từ 2002 diện tích và sản lượng cây lương thực nói chung và cây lúa nói riêng dần dần tăng

trở lại. Sản lượng lúa năm 2001 đạt 259,1 ngàn tấn tăng lên 296 ngàn tấn năm 2007 và 2010 tăng

lên 499 nghìn tấn. Diện tích trồng lúa hiện đang tập trung chủ yếu ở các huyện Trần Văn Thời, U

Minh, phần còn lại không đáng kể ở rải rác các huyện Phú Tân, Đầm Dơi. Tuy nhiên, trong 37.669

tấn sản lượng tăng thêm năm 2006 so với 2001 thì có tới 58,3% là đóng góp do tăng diện tích gieo

trồng, chỉ có 41,7% là do tăng năng suất.

+ Ngô là cây lương thực chiếm chỉ chiếm 0,2% sản lượng lương thực nhưng ở Cà Mau trồng

chính vẫn ở khu vực VBVBCM (khoảng 90%).

+ Rau đậu các loại phát triển khá, năm 2000 đạt 2716 ha tăng lên 4358 ha năm 2005, năm

2006 đạt 4463 ha, tập trung chủ yếu ở huyện Trần Văn Thời (2.869 ha), còn lại phân bố ở các huyện

khác, trung bình từ 200 - 400 ha/huyện, đã giải quyết được phần lớn nhu cầu rau thực phẩm trong

tỉnh. Về sản lượng, VBVBCM chiếm tới 73,3% sản lượng rau đậu của toàn tỉnh.

+ Cây mía: giai đoạn 2000-2010 diện tích mía phát triển khá nhanh nhưng không đáng kể,

chỉ chiếm 6% diện tích toàn tỉnh năm 2001 tăng lên 7% năm 2003 và 9% và năm 2010 tăng 18,6 % .

Từ năm 2007, diện tích mía có xu hướng giảm nhẹ từ 1887 ha xuống 1803 ha ( 2010) vì nông dân tự

phát phá mía chuyển sang trồng luá. Diện tích mía chủ yếu tập trung ở huyện Trần Văn Thời và U

Minh.

+ Cây dừa: diện tích cây dừa tập trung ở các huyện Phú Tân, Trần Văn Thời, Đầm Dơi

nhưng đã giảm nhanh sau chuyển đổi sản xuất, diện tích dừa khu vực VBVBCM đã giảm từ 6916

ha năm 2000 giảm xuống còn 5.938 ha năm 2007 nhưng từ 2007 đến nay diện tích tăng liên tục

7893 (2008), 8087 (2009) và 8089 (2010).

Chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng giảm hơn giai đoạn trước năm 2000, do chuyển đổi sang

nuôi tôm nên điều kiện phát triển đàn heo, đàn gia cầm không còn thế mạnh như trước. Ngoài ra,

nhiều đợt dịch bệnh liên tiếp xẩy ra trong những năm qua đã làm giảm đáng kể đàn gia súc, gia cầm,

đặc biệt là đàn gia cầm trên địa bàn.

+ Đàn heo: đàn heo giảm từ 154.222 con năm 2000 xuống còn khoảng 106.554 con năm

2001, nhưng sau đó tăng dần trở lại đến năm 2007 đạt 149.480 con, chiếm 71% đàn heo của toàn

tỉnh. Các huyện có đàn heo nhiều vẫn là những huyện có sản lượng lúa khá như Trần Văn Thời

(năm 2007 có khoảng 72.000 con), U Minh (15.200 con), Đầm Dơi (23.100 con) còn lại các huyện

khác quy mô đàn heo khoảng trên dưới 20 ngàn con. Heo nuôi chủ yếu theo quy mô hộ gia đình, số

hộ nuôi quy mô trang trại không nhiều (toàn tỉnh chỉ có 3 hộ nuôi heo có quy mô kinh tế trang trại).

Nhìn vào xu thế, đàn heo khu vực VBVBCM ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong toàn tỉnh.

+ Đàn gia cầm giảm sút rất nhanh, từ 1,58 triệu con năm 2000 giảm còn khoảng 704,8 ngàn

con vào cuối năm 2007. Đàn gia cầm được nuôi chủ yếu ở các huyện Trần Văn Thời (490 ngàn

con), huyện U Minh (84 ngàn con), Phú Tân (60 ngàn con), Đầm Dơi (32ngàn con), Ngọc Hiển 18,4

ngàn con.

+ Đàn trâu hiện chỉ còn khoảng 300 con chiếm khoảng 56% đàn trâu toàn tỉnh và tập trung

chủ yếu ở huyện U Minh, Trần Văn Thời. do diện tích có điều kiện chăn thả thu hẹp (nước mặn) và

do cơ khí hoá sản xuất nông nghiệp.

Như vậy, quy mô sản xuất nông nghiệp đã giảm nhiều do chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Nhưng

hạn chế chủ yếu của ngành nông nghiệp là việc thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi chậm, chưa đưa

được những giống mới có giá trị vào sản xuất, diện tích lúa luân canh trên đất nuôi tôm đạt thấp và

sản xuất không ổn định, hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết. Giá trị sản xuất/ha đất canh tác nông

nghiệp (không kể diện tích chuyên nuôi thủy sản) tăng chậm, bình quân khoảng 683 USD (11 triệu

đồng)/ha năm 2000 tăng lên 825 USD (13,6 triệu đồng)/ha năm 2007.

2.6.3. Ngành lâm nghiệp

Nhận thức được tầm quan trọng của rừng, đặc biệt là vai trò phòng hộ môi trường, bảo vệ sản

xuất nên trong những năm qua tỉnh Cà Mau đã tập trung cho công tác khôi phục và phát triển rừng

bằng nhiều nguồn lực.

Bảng 2.6: Diện tích một số loại rừng qua các năm 2005, 2007, 2009 (Đơn vị: Ha)

2009 2005 2007

6.350 4.413 3.594

3.083 1.133 1.302

11.887 9.200 13.836

271 100 - Diện tích rừng trồng tập trung - Ha Diện tích trồng cây phân tán - Ha Diện tích rừng được chăm sóc - Ha Diện tích rừng được tu bổ - Ha

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau 2005- 2010)

Qua bảng trên ta thấy, mặc dù tỉnh đã tích cực trong các biện pháp bảo vệ rừng và trồng

rừng, nhưng trong những năm gần đây kết quả chưa được tốt lắm. Người dân vùng ven biển thường

chặt phá rừng để lấy đất nuôi tôm, hiện tượng cháy rừng… làm diện tích mất rất lớn.

Bảng 2.7: Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành phân theo huyện ven biển (Đơn vị: Triệu đồng)

2007 2008 2009 2010

171.227 120.704 180.504 127.116

32.054 44.780 3.284 5.056 35.530 32.456 33.490 47.970 3.475 5.289 36.892 34.843 Toàn tỉnh VBVBCM Huyện U Minh Huyện Trần Văn Thời Huyện Phú Tân Huyện Đầm Dơi Huyện Năm Căn Huyện Ngọc Hiển 177.446 124.577 48.367 47.395 3.291 9.676 15.848 24.883 168.240 116.349 31.035 43.669 3.383 5.009 33.253 29.095

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau 2007- 2010)

Hình 2.5: Giá trị sản xuất lâm nghiệp VBVBCM và toàn tỉnh giai đoạn 2007 – 2010

(Triệu đồng)

Triệu đồng

200

180

160

140

120

Toàn tỉnh

100

VBVBCM

80

60

40

20

Năm

0

2007

2008

2009

2010

3 2.201 ha, khai thác, cải tạo 2.265 ha/3.650 ha được cấp phép, sản lượng khai thác 130.854 mP

P,

Vùng biển và ven biển đi đầu trong phát triển rừng. Năm 2010, thực hiện trồng rừng mới

doanh thu 51,5 tỷ đồng. Cũng năm 2010, Chế biến lâm sản Phân trường Sông Trẹm sản xuất và

cung cấp ra thị trường các mặt hàng gỗ gia dụng (sản phẩm chủ yếu là bàn ghế gia dụng) đạt doanh

thu 455 triệu đồng; hiện có 06 hợp tác xã và một cơ sở chế biến than đước sản lượng đạt 1.300 tấn,

doanh thu 6,5 triệu đồng. So với giá trị sản xuất lâm nghiệp toàn tỉnh qua các năm thì tỉ trọng không

thay đổi nhiều, chỉ giao động khoảng 69% - 71%. Huyện có giá trị sản xuất lâm nghiệp lớn nhất là

Trần Văn Thời và thấp nhất là huyện Phú Tân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất lâm nghiệp và công tác khôi phục quản lý bảo vệ

rừng cũng còn một số khó khăn, đó là:

+ Mục tiêu phát triển quỹ rừng đạt thấp, kết quả trồng mới rừng không đủ bù đắp cho diện

tích khai thác, rừng bị cháy và chuyển mục đích sử dụng đất, vì vậy diện tích có rừng bị giảm. Phần

lớn các hộ chưa đảm bảo được tỷ lệ quy định giữa trồng rừng và sản xuất ngư nông kết hợp trong

đất lâm nghiệp được giao (do có nhiều hộ có diện tích đất được giao nhỏ).

+ Việc triển khai chủ trương tách sản xuất nông nghiệp ra khỏi rừng tràm, đất nuôi tôm ra

khỏi rừng ngập mặn vẫn còn lúng túng, thiếu kế hoạch và giải pháp cụ thể, nhiều hộ chưa đồng tình.

+ Dân cư trong khu vực đất rừng còn phân tán, nhất là ở khu vực rừng tràm do phương thức

giao đất khoán rừng cho các hộ trước đây theo hướng liền canh - liền cư, liền ruộng - liền rừng, dẫn

đến sản xuất không bền vững, kém hiệu quả, dân cư phân tán. Đời sống các hộ dân làm nghề rừng

còn khó khăn, chưa được giải quyết toàn diện và đồng bộ, tỷ lệ hộ nghèo ở địa bàn các xã có rừng

còn cao (ở khu vực rừng tràm trên 28%).

2.6.4. Ngành vận tải

Vùng biển và ven biển Cà Mau (VBVBCM) có vận tải đường thủy phát triển mạnh, vận tải

đường bộ bước đầu phát triển. Khối lượng vận chuyển hành khách năm 2005 đạt lượt người, năm

2007 đạt 34,6 triệu lượt người và năm 2009 đạt trên 31 triệu 39 triệu lượt người, tăng bình quân

hàng năm 14,9%/năm trong 3 năm 2005-2009, luân chuyển hành khách đạt trên 567,8 triệu lượt

người/km, năm 2009 đạt 670 triệu lượt người/km; tăng bình quân 16%. Khối lượng vận tải hàng hoá

năm 2009 đạt 345 nghìn tấn, tăng bình quân 8% (không kể khối lượng vận tải hàng hoá và hành

khách do các đơn vị bên ngoài thực hiện).

Riêng vận tải biển hiện nay mới hình thành chưa có số liệu chính thức. Tuy nhiên trong

tương lai ngành vận tải này đã không ngừng đóng góp vai trò của mình vào phát triển kinh tế chung

của tỉnh.

2.6.5. Ngành dịch vụ - du lịch

Dịch vụ - du lịch vùng biển và ven biển Cà Mau (VBVBCM) có bước phát triển khá nhanh,

đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu sản xuất kinh doanh và đời

sống nhân dân. Tổng giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ năm 2005 đạt khoảng 740 tỷ đồng, năm

2007 đạt 996 tỷ đồng (giá so sánh 94). Tăng trưởng của khu vực dịch vụ có xu thế tăng dần, trong

năm năm 2001-2005 tăng bình quân 14,87%/năm, năm 2006 là 17% và năm 2007 là 15,6% và bình

quân đóng góp khoảng 25% cho tăng trưởng kinh tế của khu vực VBVBCM.

Cơ cấu các ngành dịch vụ đã có sự chuyển dịch, bên cạnh các ngành dịch vụ truyền thống đã

hình thành và phát triển một số ngành dịch vụ mới như bảo hiểm, kinh doanh bất động sản tuy nhiên

các ngành dịch vụ truyền thống vẫn chiếm tỷ trọng cao như thương mại, khách sạn nhà hàng, vận

tải, bưu chính viễn thông.

- Thương mại: Khối lượng hàng hoá VBVBCM lưu thông tăng liên tục với tốc độ cao, với sự

tham gia của tất cả các thành phần kinh tế nhất là kinh tế tư nhân. Năm 2010 toàn khu vực có 11300

cơ sở thương mại, khách sạn nhà hàng, chiếm 45% số cơ sở của toàn tỉnh, tăng bình quân

16,6%/năm. Số cơ sở tập trung nhiều ở các huyện Trần Văn Thời, Năm Căn, Đầm Dơi, mỗi huyện

khoảng 24 ngàn cơ sở , các huyện còn lại khoảng 11-12 ngàn cơ sở. Trên địa bàn VBVBCM đã hình

thành 2 trung tâm thương nghiệp là Năm Căn và Sông Đốc; các cụm thương nghiệp tại các thị trấn,

các cụm kinh tế ven biển; Phương thức kinh doanh ngày càng đa đạng, mạng lưới kinh doanh rộng

khắp tới các vùng nông thôn ven biển. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2005 đạt khoảng

3000 tỷ đồng, năm 2006 đạt 3612 tỷ đồng, năm 2010 đạt 4700 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm

21%/năm. Mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ bình quân đầu người đã tăng từ 4 triệu đồng/người năm

2005 lên 6,6 triệu đồng /người năm 2010. Tuy nhiên, mạng lưới điểm kinh doanh thương mại, dịch

vụ còn chứa đựng yếu tố tự phát, cơ sở vật chất kỹ thuật các chợ, trung tâm thương mại chưa được

đầu tư đúng mức, một số cơ sở còn tạm bợ, không an toàn, những vùng nông thôn sâu, vùng ven

biển mức độ lưu thông hàng hoá còn thấp...

- Du lịch: Hiện nay, ngành Du lịch tỉnh đã lập quy hoạch một số khu du lịch trọng điểm và

đã được UBND phê duyệt như Khu Công viên văn hóa Du lịch Mũi Cà Mau, Khu Du lịch Khai

Long, Khu Du lịch Vườn quốc gia U Minh hạ, cụm du lịch đảo Đá Bạc, Lâm ngư trường 184.v.v...

Hệ thống khách sạn, nhà hàng được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp bằng vốn của các thành phần

kinh tế. Tuy nhiên, chưa có những khách sạn đạt tiêu chuẩn ở VBVBCM.

Lượng khách du lịch tăng nhanh, năm 2005 số khách du lịch đến VBVBCM khoảng 120

ngàn lượt người, năm 2006 là 145 ngàn lượt và năm 2010 khoảng 170 ngàn lượt người, tương

đương khoảng 30% số lượt khách tới Cà Mau. Chủ yếu là khách du lịch nội địa, còn lượng khách

quốc tế không đáng kể.

Hạn chế: Việc đầu tư khai thác tiềm năng du lịch mới ở bước đầu, du lịch khu vực VBVBCM

chưa tạo được thương hiệu riêng, lượng khách quốc tế, khách ngoài tỉnh đến còn ít, số ngày lưu trú

bình quân thấp. Hoạt động kinh doanh du lịch chưa đồng bộ, sản phẩm du lịch chưa phong phú,

ngoài dịch vụ lưu trú và ăn uống thì các khách sạn ở VBVBCM có rất ít các dịch vụ bổ sung. Tốc

độ tăng doanh thu du lịch nhanh nhưng quy mô còn nhỏ, mức đóng góp cho nền kinh tế chưa nhiều.

Việc liên kết hoạt động giữa du lịch và các ngành khác chưa đồng bộ, sự phối hợp để khai thác du

lịch chưa được chú trọng. Nguồn nhân lực làm du lịch còn hạn chế về kỹ năng giao tiếp, ý thức

phục vụ khách, ngoại ngữ.

- Dịch vụ bưu chính - viễn thông: Mạng lưới bưu chính - viễn thông tiếp tục được mở rộng

và hiện đại hoá, các dịch vụ bưu chính - viễn thông phát triển nhanh.

Về bưu chính, đến cuối năm 2010 trên địa bàn VBVBCM có 29 bưu cục, 35 điểm Bưu điện

văn hóa xã và nhiều đại lý, điểm giao dịch chuyển phát, bán kính phục vụ bình quân là 3,98 km,

trung bình 11.397 người/1 điểm phục vụ bưu chính (so với bình quân cả nước là 3,33 km và 8.793

người/điểm phục vụ). Mạng vận chuyển bưu chính phục vụ hoạt động khá tốt, các đường thư hoạt

động ổn định. Các dịch vụ bưu chính truyền thống và nhiều dịch vụ mới đã được khai thác tại các

bưu cục và điểm bưu điện văn hoá xã, sản lượng dịch vụ bưu chính tăng trưởng nhanh: bưu phẩm

trong nước tăng bình quân 16%, phát hành báo chí tăng bình quân 15%, thư điện chuyển tiền tăng

10%, doanh số tiết kiệm bưu điện tăng bình quân hàng năm 35-36%/năm.

Về viễn thông: mạng truyền dẫn viễn thông của tỉnh đang từng bước chuyển nhanh sang cáp

quang hoá. Mạng điện thoại di động hiện có 6 mạng với tổng số 108 trạm thu phát sóng di động,

một số mạng như Vinaphone, Viettel đã đạt mật độ 7 km/1trạm thu phát sóng.

- Các dịch vụ tài chính ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, văn hoá thể thao đều có bước phát

triển, cơ bản đáp ứng các yêu cầu sản xuất và đời sống: Dịch vụ ngân hàng đã cơ bản đáp ứng yêu

cầu về vốn và thanh toán cho phát triển sản xuất kinh doanh, với chất lượng dịch vụ cao, đảm bảo

chính xác, an toàn và bảo mật, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn

của nền kinh tế được liên tục; các dịch vụ mới như thẻ thanh toán, chuyển tiền điện tử, thanh toán

liên ngân hàng điện tử đã phát triển rất nhanh. Các tổ chức tín dụng đã cơ bản đáp ứng nhu cầu đầu

tư phát triển của các thành phần kinh tế, nhất là cho vay chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thu mua hàng

thủy sản xuất khẩu; Các dịch vụ tài chính như dịch vụ kế toán, kiểm toán, thẩm định giá, xổ số kiến

thiết, mua bán nợ... hoạt động có hiệu quả, đóng góp đáng kể nguồn thu ngân sách địa phương (thu

xổ số kiến thiết); Dịch vụ bảo hiểm đã cơ bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

tham gia bảo hiểm, góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế xã hội, ổn

định đời sống nhân dân.

2.6.6. Ngành khai thác và chế biến khoáng sản biển

- Dầu khí: Đối với Cà Mau trong vài năm qua, ngành công nghiệp khai thác và chế biến dầu

khái ( chủ yếu là khí) đã mang lại nguồn lợi kinh tế lớn cho tỉnh, với sự phát triển của nhà máy khí –

điện – đạm. Nói đến ngành công nghiệp này phải nói đến các dự án khai thác, sử dụng nguồn khí

2TĐây là dự án sử dụng nguồn khí thiên nhiên khai thác từ giàn BR-B thuộc vùng chồng lấn

thiên nhiên của tỉnh.

giữa Việt Nam và Malaixia lấy từ các mỏ thuộc vùng biển Tây Nam Bộ, bao gồm các mỏ khu vực

PM3 – CAA, 46 Cái Nước và dự kiến từ một số các cấu tạo đã phát hiện và tiềm năng thuộc các lô

2TDự án đường ống dẫn khí PM3- Cà Mau dài 325km, đường kính 18 inch, bao gồm 198 km

46, 50, 51 để sản xuất điện và đạm. 1T2T

đặt dưới biển và 27km đặt trên đất liền có công suất 2 tỷ m3 khí một năm với tổng số vốn đầu tư

299,37 tỷ USD do Xí nghiệp liên doanh Vietsopetro tổng thầu EPC. Công trình đã được bàn giao

cho PV Gas đưa vào vận hành ổn định cung cấp nhiên liệu khí cho 2 tổ máy GT11 và GT12 của nhà

máy điện khí đạm Cà Mau 1 để phát điện thương mại từ ngàu 10/5/2007. Tính đến hết năm 2010, hệ

thống đường ống dẫn khí PM3 – Cà Mau đã cung cấp cho 2 nhà máy nhiệt điện khí Cà Mau 1 và 2

trên 3,6 tỷ m3 khí, sản xuất 19 tỷ kWh điện. 1T2T 1T2TRiêng năm 2010, Công ty đã tổ chức khai thác, thu

gom, vận chuyển vào bờ cung cấp an toàn cho 2 nhà máy nhiệt điện khí Cà Mau 1 và 2 trên 1,56 tỷ

2TCông ty Khí đang thực hiện kế hoạch dự án “Tăng cường công suất đường ống dẫn khí PM3

m3 khí, đạt tổng doanh thu trên 7.024 tỷ đồng, nộp ngân sách Nhà nước 615 tỷ đồng.

- Cà Mau, từ 2 tỷ m3/năm lên 2,2 tỷ m3/năm; đảm bảo an ninh, an toàn, hiệu quả hệ thống đường

ống dẫn khí PM3- Cà Mau để cấp khí ổn định với công suất tối đa cho 2 nhà máy nhiệt điện khí Cà

Mau 1 và 2 trong năm 2011 với sản lượng khí tăng 17,6% so với năm ngoái , đồng thời hoàn thiện

2T- Làm muối: Đây là nghề truyền thống của người dân Minh Hải cũ ( gồm Cà Mau và Bạc Liêu). Từ

hợp đồng mua bán khí cho nhà máy Đạm Cà Mau.

khi tách tỉnh đến nay, vùng muối của Cà Mau chỉ còn lại ở ấp Lưu Hoa Thanh, xã Tân Thuận,

2TLàm muối phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, nếu có nắng nhiều thì muối sẽ đạt năng suất cao

huyện Đầm Dơi với diện tích không lớn, giao động từ 120 – 170 ha của khoảng 60 hộ ven biển.

hơn. Muối ở đây rất trắng so với muối Bạc Liêu và một số nơi khác. Năng suất và sản lượng muối

của Cà Mau tăng liên tục từ 2006 đến 2010, sản lượng tăng 8.040 tấn, tăng 210,7 %, năng suất tăng

2TBảng 2.8:Diện tích, sản lượng và năng suất muối ven biển tỉnh Cà Mau

2Tgiai đoạn 2006 - 2010

30 tấn/ha.

Diện tích (ha) Tổng sản lượng (tấn) Năng suất (tấn/ha) Năm

2006 121 7.260 60

2007 121 7.260 60

2008 165 10.725 65

2009 170 11.050 65

2T( Nguồn: thống kê của UBND huyện Dầm Dơi từ 2006 – 2010)

2THình 2.6: Tổng sản lượng muối ven biển tỉnh Cà Mau giai đoạn 2006 – 2010 (Tấn)

2010 170 15.300 90

Tấn

18000

15300

16000

14000

12000

11050

10725

10000

7260

7260

8000

6000

4000

2000

Năm

0

2006

2007

2008

2009

2010

2.7. Vị trí của kinh tế biển trong nền kinh tế tỉnh

Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, giai đoạn 2001-205 đạt mức tăng trưởng

bình quân 10,65%/năm, trong đó các ngành nông lâm ngư nghiệp là 8,95%/năm. So với bình quân

toàn tỉnh thì giai đoạn này kinh tế VBVBCM tăng trưởng thấp hơn (toàn tỉnh tăng 12,35%) và tương

đương so với bình quân của vùng Đồng bằng sông cửu Long (là 10,5%). Tuy nhiên khi các dự án

động lực của VBVBCM khởi động thì tăng trưởng kinh tế đã nhanh hơn bình quân toàn tỉnh (bình

quân giai đoạn 2001-2010 tăng 13,27% so với toàn tỉnh tăng 12,39%). Chất lượng tăng trưởng cũng

đã có những chuyển biến bước đầu, sự đóng góp của khu vực công nghiệp và dịch vụ vào tăng

trưởng kinh tế ngày càng cao. Các sản phẩm chủ lực của VBVBCM là thủy hải sản đã cạnh tranh

được trên thị trường quốc tế. Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, thu nhập bình

quân đầu người tăng từ 320 USD năm 2000 tăng lên 487 USD năm 2005, 680 USD năm 2007 và

850 USD năm 2010 (so với bình quân toàn tỉnh là 580 USD, 770 USD và 1000 USD).

Bảng 2.9: Cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau và VBVBCM năm 2010( Đơn vị: %)

Cơ cấu ngành Tỉnh Cà Mau VBVBCM

Ngư – nông – lâm nghiệp 39,88 49,5

Công nghiệp và xây dựng 35,94 29,3

Dịch vụ 24,18 21,2

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau 2011)

Cơ cấu kinh tế VBVBCM tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng khu vực phi

nông nghiệp đã tăng lên đáng kể, từ 11,73% năm 2000 lên 22,3% năm 2005 và 29,3% vào năm

2010. Trong từng lĩnh vực, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển đổi cơ cấu sản

xuất, gắn sản xuất với thị trường để nâng cao hiệu quả (chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm, tăng

tỷ trọng chế biến hàng thủy sản giá trị gia tăng).

Huy động được nguồn lực khá lớn cho đầu tư phát triển, nhất là nguồn lực của dân. Nếu

không kể dự án khí điện đạm và dự án nhà máy đóng tàu thì cơ cấu đầu tư của VBVBCM vẫn chủ

yếu tập trung vào nuôi trồng, chế biến thủy sản, xây dựng hạ tầng giao thông thủy lợi và nhà ở. Đã

có nhiều dự án đầu tư vào công nghiệp chế biến, khu dân cư đô thị, xây dựng kinh doanh thương

mại du lịch. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư và có bước phát triển khá nhiều

so với giai đoạn trước, làm tăng năng lực của nhiều ngành, lĩnh vực.

Bảng 2.10: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của vùng biển, ven biển và của toàn tỉnh

Cà Mau năm 2009

Chỉ tiêu Đơn vị VBVBCM Toàn tỉnh

Dân số trung bình Người 744125 1212089

2 KmP

Diện tích tự nhiên 4.022 5.329

2 Người/kmP

Mật độ dân số trung bình 183 226

Tổng số hộ dân Hộ 152.909 253.836

Lao động đang làm việc Người 380.084 620.862

Tốc độ tăng trưởng kinh tế % 28 19

% GDP của vùng/toàn tỉnh % 50 100

GDP/người USD 680 770

Diện tích nuôi thủy sản Ha 169.883 251.856

Sản lượng thủy hải sản Tấn 231.400 276.010

Trong đó: Sản lượng tôm Tấn 74.200 99.231

Diện tích trồng luá Ha 85.289 115.409

Sản lượng lương thực Tấn 286.000 404.000

Tổng số học sinh các cấp Học sinh 120.804 214.831

BQ số giường bệnh/1 vạn dân Giường 13,3 20,7

BQ số bác sỹ/1 vạn dân Người 2,8 4,57

Tỷ lệ hộ nghèo % 18 15

Tỷ lệ độ thị hoá % 13 20,5

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau 2010)

Văn hoá - xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt, nhất là giải quyết việc làm xoá đói giảm nghèo, tỷ

lệ hộ nghèo giảm nhanh (từ 28% năm 1998 xuống còn 7% vào năm 2005, theo chuẩn hộ nghèo mới

năm 2005 còn 19,2% và năm 2006 còn 17%, cuối năm 2007 còn 15%). Công tác chăm sóc sức khoẻ

nhân dân được chú trọng, mạng lưới y tế được mở rộng, công tác y tế dự phòng có nhiều cố gắng

trong phòng và đẩy lùi dịch bệnh. Giáo dục phát triển đồng đều ở các cấp học, bậc học. Bình đẳng

về giới có tiến bộ, vai trò người phụ nữ trong xã hội được nâng lên. Chính sách xã hội, đặc biệt là

các chính sách đối với đồng bào dân tộc được quan tâm chăm lo, tạo điều kiện cho đời sống đồng

bào dân tộc thiểu số (Khmer) ngày càng được cải thiện.

Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường tạo điều kiện thuận lợi để

phát triển kinh tế xã hội, công tác phòng chống tệ nạn xã hội và tội phạm được đẩy mạnh hơn. Cải

cách thủ tục hành chính có chuyển biến, kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan Nhà nước được nâng

lên.

Tổng giá trị tăng thêm (GDP) năm 2000 của vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau đạt 2.140 tỷ

đồng (giá so sánh năm 1994), chiếm 47% GDP toàn tỉnh; năm 2005 đạt 3.550 tỷ đồng, chiếm 46%

GDP toàn tỉnh. Bình quân hàng năm của giai đoạn 2001 - 2005 tăng 10,65% (so với toàn tỉnh tăng

11,18%). Giai đoạn này chưa có tác động của Cụm Khí - Điện - Đạm và các dự án khác của Trung

ương, nên tăng trưởng thấp và chậm hơn vùng nội địa.

Từ năm 2006 đến nay, với sự đầu tư và vận hành Cụm Khí - Điện - Đạm Cà Mau đã tạo

động lực phát triển kinh tế vùng ven biển, GDP năm 2009 của vùng chiếm 62,35% toàn tỉnh, tăng

4,68% so với năm 2005 (GDP năm 2010 đang được Cục Thống kê tỉnh tách ra từ GDP chung của

tỉnh), trong đó:

Tỷ trọng khu vực nông, lâm, thủy sản của vùng kinh tế biển chiếm 75,41% của toàn tỉnh; Tỷ

trọng khu vực công nghiệp, xây dựng của vùng kinh tế biển chiếm 61,37% trong toàn tỉnh; Tỷ

trọng dịch vụ của vùng kinh tế biển chiếm 59,12% trong cơ cấu khu vực dịch vụ của tỉnh.

Vùng biển và ven biển đã đóng góp lớn vào nguồn hàng xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu

của tỉnh. Năm 2010, sản lượng chế biến hàng thủy sản của tỉnh đạt 93.000 tấn (trong đó có 83.000

tấn tôm), tăng 10,5% so với năm 2009, đạt 101% kế hoạch; kim ngạch xuất khẩu đạt 760 triệu USD

(chủ yếu là xuất khẩu thủy sản), tăng 17,8% so với năm 2009, đạt 105,6% kế hoạch.

Nhìn chung: Kinh tế vùng biển, ven biển của tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, nhất

là từ khi cụm Khí - Điện - Đạm đi vào hoạt động. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng,

tỷ trọng khu vực công nghiệp, dịch vụ tăng lên đáng kể; sản xuất nông nghiệp đã chuyển đổi cơ cấu

sản xuất gắn với thị trường; đã huy động được nguồn vốn khá lớn cho đầu tư phát triển; kết cấu hạ

tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư và phát triển. Văn hóa - xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt,

nhất là giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh. Chính sách an sinh xã

hội, nhất là đối với đồng bào dân tộc và gia đình chính sách được thực hiện tốt. A2Tn ninh chính trị, an

ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Kinh tế phát triển nhanh, nhưng do xuất phát điểm thấp và cơ cấu kinh tế chậm tiến bộ so

bình quân toàn tỉnh, nên đây là khó khăn, thách thức đối với việc thực hiện mục tiêu Chiến lược

Biển đến năm 2020. Toàn bộ 06 huyện ven biển chưa tự cân đối được thu, chi ngân sách. Cơ cấu

ngành nghề kinh tế biển chủ yếu là khai thác, trong đó số phương tiện khai thác ven bờ chiếm đa số;

nuôi trồng thủy sản và một vài điểm du lịch nhỏ, chưa có điều kiện để vươn xa bờ. Nguồn lợi thuỷ

sản, môi trường sinh thái bị suy giảm so với trước đây; tình trạng vi phạm quy định về bảo vệ nguồn

lợi thuỷ sản, vi phạm vùng biển nước ngoài vẫn còn tái diễn. Kết cấu hạ tầng vùng biển, ven biển,

đảo còn rất yếu kém, chưa đảm bảo yêu cầu kết nối phát triển và vươn ra biển, giao thông phục vụ

cơ động vùng ven biển còn hạn chế, sẽ gặp khó khăn cho việc sơ tán khi xảy ra tình trạng cấp thiết.

Điều kiện thu hút đầu tư chưa được chuẩn bị tốt (thiếu quỹ đất sạch, chậm đầu tư hạ tầng khu công

nghiệp) làm mất cơ hội đầu tư. Công tác điều tra cơ bản về biển, đảo còn rất hạn chế. Đời sống dân

cư vùng ven biển tuy được cải thiện nhưng còn nhiều khó khăn; các cụm tuyến dân cư ven biển

chậm được đầu tư xây dựng; tình trạng di dân tự do nhiều, việc sắp xếp tái định cư mới chỉ đạt kết

quả bước đầu, tình trạng tái chiếm đê biển, cửa sông để ở chưa được giải quyết một cách cơ bản.

2.8. Một số vấn đề phát triển kinh tế vùng biển và ven biển Cà Mau

2.8.1. Vấn đề khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường

Đến nay, toàn tỉnh có 4.994 phương tiện khai thác thủy sản, với tổng công suất 381.895 CV.

Trong đó số phương tiện hoạt động khai thác ven bờ (công suất dưới 30 CV) là 3.487 phương tiện,

chiếm gần 70% tổng số phương tiện. Năm 2010, đội tàu của tỉnh đã khai thác đạt 144.360 tấn, đạt

103% kế hoạch; trong đó sản lượng tôm đạt 13.980 tấn, xấp xỉ đạt 100% kế hoạch. Bên cạnh khai

thác thuỷ sản, tỉnh đã triển khai các mô hình nuôi thuỷ sản ven biển và khu vực cửa sông như: nuôi

hàu lồng, nuôi nghêu, sò huyết, đã góp phần tăng thêm thu nhập cho các hộ dân.

Tổ chức triển khai mô hình khai thác thủy sản theo Tổ, Đội trên biển cho các huyện ven

biển. Đến nay, tỉnh đã thành lập được đội tàu dịch vụ hậu cần nghề cá, với số lượng 153 tàu; đội tàu

cứu hộ, cứu nạn trong ngư dân gồm 70 tàu, với 710 thuyền viên; Đội tàu an toàn, với số lượng 83

chiếc, 332 thuyền viên tham gia; xây dựng được 3.914 lực lượng dân quân ven biển; đồng thời bố trí

09 vị trí cho tàu neo đậu tránh trú bão. Qua đó, kịp thời hỗ trợ nhau trong sản xuất, phòng, chống

thiên tai và giữ gìn an ninh trật tự trên biển.

Tỉnh đã triển khai thực hiện tốt Quyết định số 289/QĐ-TTg ngày 18/3/2008 của Thủ tướng

Chính phủ ban hành một số chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách,

hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân; Quyết định số 965/QĐ-TTg ngày 21/7/2008 sửa đổi, bổ sung

Quyết định số 289/QĐ-TTg. Tổng cộng đã giải ngân hỗ trợ cho ngư dân được 4.514 hồ sơ, tương

ứng với 4.514 tàu cá, chiếm 94,7% tổng số tàu đã đăng ký, với tổng số tiền 102,966 tỷ đồng. Trong

đó, hỗ trợ dầu được 4.514 hồ sơ của tàu cá, với số tiền 102,172 tỷ đồng; bảo hiểm thân tàu 1.003

tàu, với số tiền 0,488 tỷ đồng; bảo hiểm tai nạn thuyền viên: 8.418 người, với số tiền 0,306 tỷ đồng.

Để tăng cường năng lực cho đội tàu khai thác của tỉnh vươn ra xa bờ, từng bước giảm dần

các nghề sát hại nguồn lợi thuỷ sản, đồng thời bảo vệ tốt môi trường sinh thái, tỉnh đã triển khai các

công việc sau:

Tăng cường đào tạo thuyền viên tàu cá và triển khai các dự án chuyển đổi từ nghề khai thác

sát hại nguồn lợi thuỷ sản sang các nghề phù hợp khác. Cụ thể như triển khai Đề án hỗ trợ đào tạo

các chức danh trên tàu cá tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010-2012 (riêng năm 2010 đã mở được 69 lớp

cho 3.171 thuyền viên); xây dựng và triển khai thực hiện 03 dự án ưu tiên thuộc Chương trình Bảo

vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản tỉnh Cà Mau giai đoạn 2007- 2010 và định hướng đến 2020 và

một số dự án khác về chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khai thác thuỷ sản.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về vị trí, vai trò chiến

lược của biển để tích cực thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà

nước trong các hoạt động khai thác, quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản; bảo vệ tài nguyên, môi

trường vùng ven biển, đảo, tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường biển, ven biển

như: tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng ngập

mặn ven biển; quản lý chặt chẽ và xử lý nghiêm các hoạt động sản xuất - kinh doanh gây ô nhiễm

môi trường thải từ đất liền ra biển; chủ động phòng, tránh các sự cố môi trường biển và ven biển,

nhất là ứng phó có hiệu quả sự cố tràn dầu.

Thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường trong quá trình lập, thẩm

định, phê duyệt và tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án đầu tư theo

quy định của nhà nước, bảo đảm phát triển bền vững, không vì lợi ích trước mắt mà gây hậu quả

nghiêm trọng, lâu dài về môi trường.

Nhìn chung công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản và bảo vệ môi trường được các cấp, các

ngành thực hiện tốt, ý thức của người dân và doanh nghiệp từng bước được nâng lên. Qua đó, người

dân ven biển tích cực tham gia các hoạt động tái tạo nguồn lợi thuỷ sản, nhiều doanh nghiệp đã triển

khai các dự án xử lý chất thải, nước thải.

2.8.2. Vấn đề an ninh trật tự trên biển

Các ngành chức năng của tỉnh thường xuyên hướng dẫn tọa độ ranh giới biển giữa Việt Nam

với các nước trong khu vực, thủ tục hợp tác với nước ngoài trước khi đưa phương tiện đi khai thác;

đồng thời tích cực tuyên truyền, vận động ngư dân không vi phạm vùng biển các nước, nhưng tình

trạng ngư dân vi phạm vùng biển nước ngoài để khai thác hải sản còn diễn biến phức tạp. Nguyên

nhân chủ yếu do nguồn lợi thuỷ sản ở vùng biển nước ngoài dồi dào, lợi nhuận khai thác cao. Từ

năm 2000 đến nay, toàn tỉnh có 220 phương tiện bị nước ngoài bắt giữ, tịch thu tàu, tài sản và phạt

tù ngư dân, chủ yếu là các nước Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Inđônêsia, đã gây thiệt hại rất lớn

về tài sản và tinh thần của ngư dân. Riêng năm 2010, có 39 phương tiện, cùng 419 thuyền viên của

Cà Mau bị bắt giữ.

Về hợp tác khai thác với nước ngoài: Đến nay, ngư dân thông qua môi giới để đưa 55 tàu,

với 590 sang khai thác hải sản tại Malaysia. Đây là hình thức hợp tác giữa ngư dân Việt Nam với

ngư dân Malaysia, không được Malaysia công nhận chính thức, nên khả năng bị lừa mất tàu và bị

bắt xảy ra cao. Nguyên nhân ngư dân không thực hiện đúng quy định hợp tác khai thác thuỷ sản với

nước ngoài là thủ tục phức tạp, tốn nhiều thời gian và chi phí, điều kiện phương tiện, thuyền viên

không đáp ứng được yêu cầu của nước sở tại.

Về tàu nước ngoài vi phạm vùng biển Việt Nam: Năm 2010, Bộ đội Biên phòng Cà Mau

phát hiện 02 phương tiện của Campuchia và Singapore vi phạm chủ quyền vùng biển nước ta,

nguyên nhân do thời tiết xấu.

2.8.3. Vấn đề bố trí tái định cư khu vực ven biển

Tỉnh Cà Mau đã rà soát, điều chỉnh quy hoạch bố trí dân cư nông thôn trên địa bàn tỉnh giai

đoạn 2006-2015 (phê duyệt tại Quyết định số 333/QĐ-UBND ngày 28/5/2007); theo đó, Tỉnh sẽ

hình thành 35 cụm, tuyến dân cư mới trên địa bàn 8 huyện trong tỉnh, số lượng dân cư bố trí, sắp

xếp lại là 13.873 hộ, trong đó: ổn định tại chỗ 5.142 hộ, di chuyển từ ngoài vào vùng dự án 8.731 hộ

(gồm dân cư vùng sạt lở 1.485 hộ, vùng đặc biệt khó khăn 2.631 hộ, dân cư sống trong khu vực rất

xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng 2.534 hộ, dân di cư tự do

cư trú trong khu vực rừng phòng hộ rất xung yếu 2.081 hộ). Trong 3 năm (2006-2008), tỉnh đã bố trí

được 475 hộ với 2.128 nhân khẩu (Năm 2009 bố trí được thêm 221 hộ, 942 nhân khẩu).

Nhìn chung đời sống của các hộ gia đình tái định cư đã được cải thiện, nhất là về cơ sở hạ

tầng phục vụ sản xuất và đời sống, các hộ đã có điều kiện tiếp cận đến các dịch vụ xã hội, dịch vụ

sản xuất; nhà ở được xây dựng khang trang hơn; vệ sinh môi trường đã được cải thiện; đối với

những hộ gia đình ở trong vùng có nguy cơ thiên tai, sạt lở đất.. đã được bảo đảm an toàn về tính

mạng và tài sản; đối với các hộ tái định cư thuộc các dự án được bố trí đất sản xuất thì cuộc sống đã

được cải thiện rõ rệt.

2.8.4. Về đầu tư xây dựng hạ tầng cụm đảo

Tỉnh đã triển khai 06 dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cụm đảo, với tổng mức đầu tư 185,2 tỷ

đồng, từ nguồn vốn Chương trình biển Đông - Hải đảo. Kết quả như sau:

Dự án cảng cá Hòn Khoai: Tổng mức đầu tư 28,4 tỷ đồng, bao gồm 02 gói thầu, hiện tỉnh

đang triển khai thi công.

Dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại đảo Hòn Chuối: Tổng mức đầu tư 15,6 tỷ đồng, đã

thi công hoàn thành Bến Đông và Bến Tây của gói thầu số 1, nhưng bị sự cố ở Bến Tây, hiện nhà

thầu đang tiến hành xử lý sự cố và thi công gói thầu 2.

Dự án đầu tư (bổ sung) tàu công tác cho dự án đầu tư cơ sở hạ tầng đảo Hòn Chuối: đang

điều chỉnh tổng mức đầu tư.

Dự án xây dựng cảng cá Sông Đốc: Cơ bản đã thi công xong, hiện còn gói thầu 4 về thiết bị

xử lý nước thải, phòng cháy, chữa cháy, thông tin liên lạc, đèn báo cảng và thiết bị điện dự phòng

đang thi công.

Dự án đầu tư xây dựng các tuyến đường trên đảo Hòn Khoai: đang trong giai đoạn chuẩn bị

đầu tư

Dự án đầu tư xây dựng bến cặp tàu tại Bãi Nhỏ - đảo Hòn Khoai: tổng mức đầu tư 44 tỷ

đồng, gồm đường, cầu dẫn, cầu chính, hiện tỉnh đang chọn đơn vị rà phá bom mìn.

Tiếp tục triển khai thực hiện 03 dự án chuyển tiếp, với tổng mức đầu tư 154,6 tỷ đồng, từ

nguồn vốn khu tránh trú bão tàu thuyền nghề cá gồm: Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá Rạch

Gốc, huyện Ngọc Hiển; bến cá kết hợp khu neo đậu trú bão cho tàu cá cửa biển Khánh Hội, huyện

U Minh; xây dựng bến cá kết hợp với khu neo đậu trú bão tại cửa biển Cái Đôi Vàm, huyện Phú

Tân.

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN

TỈNH CÀ MAU ĐẾN NĂM 2020

3.1. Căn cứ xây dựng định hướng và giải pháp

3.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước

- Bối cảnh quốc tế: Lịch sử phát triển của thế giới cho thấy nhân tố biển có vị trí đặc biệt

nổi bật đối với các quốc gia có biển kể cả các quốc gia không có biển. Với xu hướng gia tăng tốc độ

tăng trưởng kinh tế và sức ép về dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên trên đất liền ngày

càng bị cạn kiệt và các vấn đề mang tính toàn cầu đang nổi lên có liên quan đến sự sống còn của con

người đều liên quan chặt chẽ đến biển. Do những lợi ích về kinh tế, xã hội, chính trị, an ninh và

quốc phòng mà biển đem lại cho các quốc gia ngày càng lớn và đa dạng nên đã phát sinh nhiều mâu

thuẫn về quyền lợi biển, gây ra những tranh chấp phức tạp về chủ quyền và lợi ích trên biển.

Nhiều vùng chồng lấn trên biển lâu nay trở thành đối tượng tranh chấp, điển hình là ở khu

vực biển Đông và nhiều vùng biển khác trên thế giới. Nhiều nước đã và đang xây dựng chiến lược

tiến ra biển hay củng cố sức mạnh quân sự của mình trên biển nhằm duy trì khả năng kiểm soát đối

với các hoạt động trên biển và đại dương. Tuy nhiên, hoà bình, hợp tác vẫn là quá trình chủ đạo, hội

nhập kinh tế quốc tế vẫn là xu thế tất yếu, chi phối toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra ở mỗi khu

vực và mỗi nước. Song song với quá trình này là nhu cầu phát triển vận tải viễn dương, tiến ra khai

thác các loại tài nguyên biển phục vụ nhu cầu phát triển của các quốc gia.

Trong khu vực ASEAN, các nước trong khối ASEAN (trừ Lào) đều là những quốc gia có

biển, đây là khu vực phát triển năng động, và là một nhân tố quan trọng đối với hoà bình, hợp tác

phát triển trong khu vực. Các quốc gia này cũng đang quan tâm hướng sự phát triển ra biển; trong

mối quan hệ khu vực về biển cũng đang có những vấn đề về đấu tranh và hợp tác vì sự phát triển

của mỗi quốc gia.

- Bối cảnh trong nước: Nước ta là một nước có biển, đang phát triển và còn nghèo, mật độ

dân số cao; hiện có khoảng 1/3 dân số của cả nước sinh sống ở ven biển và trực tiếp chịu ảnh hưởng

của biển (trong đó có vùng VBVBCM), nhưng số người sống nhờ các hoạt động kinh tế liên quan

đến biển thì thấp hơn, chỉ chiếm khoảng 40% dân số ven biển. Trong khi nguồn tài nguyên trên đất

liền của nước ta có hạn, nhiều loại tài nguyên đang có nguy cơ bị cạn kiệt, để tiếp tục khả năng phát

triển bền vững của đất nước ở mức 8-9%/năm trong 10-15 năm tới, tránh tình trạng tụt hậu xa hơn

về kinh tế thì việc tiến ra biển, khai thác các nguồn tài nguyên biển, phát triển các ngành và lĩnh vực

kinh tế liên quan đến biển và vùng ven biển là một đòi hỏi cấp thiết, cần được quán triệt ở tất cả các

cấp, các ngành. Điều này càng bức xúc hơn, khi là một quốc gia có biển, có mật độ bờ biển cao

nhưng tỷ lệ khai thác và sử dụng các loại tài nguyên biển ở nước ta còn quá thấp. Vì vậy cùng với

bối cảnh và xu thế chung của các quốc gia trên thế giới và khu vực, đòi hỏi nước ta cũng phải hướng

sự phát triển ra biển. Định hướng đó đã được xác định trong Nghị quyết của Ban chấp hành Trung

ương Đảng về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020. Với yêu cầu chung là: Phát huy vai trò

động lực của các lĩnh vực kinh tế liên quan đến biển và vùng ven biển đối với tăng trưởng kinh tế;

Hướng phát triển ra biển để mở cửa và hội nhập là yêu cầu khẩn thiết vì nước ta đang ở vào thế xuất

phát muộn, vì vậy phải tăng cường hơn nữa khả năng vươn ra biển và xác định đây là một động lực

quan trọng thúc đẩy các vùng khác trong đất liền phát triển; Tăng cường quốc phòng an ninh và đảm

bảo toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên biển.

3.1.2. Định hướng phát triển kinh tế biển và vùng biển của Việt Nam đến năm

2020.

Về lâu dài, quyết tâm xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển; trước mắt trở

thành quốc gia mạnh về kinh tế biển, có cơ cấu ngành nghề hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh

và hiệu quả cao; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển với bảo vệ vững chắc quyền lợi biển

quốc gia.

Phát triển đi đôi với bảo vệ, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển với bảo đảm vững chắc chủ

quyền quốc gia trên biển, bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái biển.

Coi phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển và vùng ven biển là một trong những nhiệm vụ

cơ bản, coi vùng duyên hải là động lực quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Phát triển

kinh tế kết hợp với phát triển xã hội.

Khơi dậy tiềm năng to lớn của biển, hướng sự quan tâm và đóng góp nguồn lực của toàn dân

để vùng biển và ven biển trở thành “vùng kinh tế mở”. Phát huy triệt để và có hiệu quả các nguồn

lực bên trong, kết hợp với tranh thủ sự hợp tác và thu hút các nguồn lực từ bên ngoài theo nguyên

tắc cùng có lợi, tôn trọng chủ quyền, tích cực hội nhập.

3.1.3. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020.

Phát triển kinh tế với tốc độ cao, bền vững, đẩy nhanh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng. Phấn

đấu đến năm 2015 hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp; đến năm 2020

xây dựng Cà Mau trở thành một tỉnh có kinh tế - xã hội phát triển, đóng góp tích cực vào sự phát

triển của vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước; đời sống nhân dân được cải thiện và nâng

cao; an ninh và quốc phòng luôn bảo đảm.

Tập trung đầu tư phát triển mạnh về kinh tế biển gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường biển.

- Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn đến năm 2010 đạt

13,3%; giai đoạn 2011 - 2015 đạt 13,7% và giai đoạn 2016 - 2020 đạt 14,2%. GDP bình quân đầu

người năm 2010 đạt khoảng 962 USD, năm 2015 đạt 1.670 USD và năm 2020 đạt khoảng 3.000

USD. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, cụ thể: năm 2010 nông nghiệp 39,7%,

công nghiệp 32%, dịch vụ 28,3%; đến năm 2015 nông nghiệp 28,7%, công nghiệp 37,8%, dịch vụ

33,5%; đến năm 2020 nông nghiệp 19,6%, công nghiệp 43,5%, dịch vụ 36,9%. Tỷ lệ huy động vào

ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh năm 2010 khoảng 9% GDP, năm 2015 khoảng 12% GDP và

năm 2020 khoảng 15% GDP. Tổng vốn đầu tư xã hội hàng năm huy động đạt từ 38% - 40% GDP.

Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt khoảng 1 tỷ USD; năm 2015 đạt 1,4 tỷ USD - 1,5 tỷ USD; năm

2020 đạt 1,8 tỷ USD - 2 tỷ USD. Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người năm 2010 đạt 750 USD;

năm 2015 đạt 980 USD - 1.000 USD và năm 2020 đạt 1.200 USD - 1.300 USD. Phấn đấu năm 2020

có 100% số hộ dân được sử dụng điện; năm 2010 có 35 - 40 máy điện thoại/100 người dân, năm

2020 đạt 50 - 55 máy/100 người dân. 100% dân số đô thị và 80% dân số nông thôn được sử dụng

nước sinh hoạt hợp vệ sinh vào năm 2010, đến năm 2020 giải quyết cơ bản nhu cầu về nước sinh

hoạt cho dân cư đô thị và nông thôn.

- Trong đó, kinh tế VBVB tỉnh Cà Mau đến năm 2020: Xây dựng vùng biển và ven biển trở

thành vùng kinh tế phát triển năng động và là địa bàn kinh tế động lực của tỉnh Cà Mau, góp phần

thực hiện các mục tiêu Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần thực hiện

Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng

biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kỳ đến năm 2020.

Phấn đấu tăng trưởng kinh tế bình quân khoảng 16,5%, trong đó: giai đoạn 2011 - 2015 là

16,2% và giai đoạn 2016 - 2020 khoảng 18,5%. Tỷ trọng kinh tế của vùng năm 2015 chiếm 55% và

năm 2020 chiếm khoảng 66% GDP toàn tỉnh.

GDP bình quân đầu người năm 2015 khoảng 1.760 USD và năm 2020 khoảng 3.750 USD.

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ của vùng năm 2015 là 40,1% - 32,4%

- 27,5% và năm 2020 là 24,7% - 43,9% - 31,4%. Tổng vốn đầu tư xã hội huy động hàng năm đạt từ

45% - 50% GDP của vùng.

Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng ven biển và các cụm đảo gồm: hệ thống giao

thông ven biển và giao thông kết nối với vùng nội địa, cảng biển, cảng sông, đê biển, hạ tầng nghề

cá, hệ thống cấp thoát nước, công trình phòng chống thiên tai…

Xây dựng các trung tâm kinh tế ven biển trên cơ sở phát triển đô thị ven biển, Khu kinh tế

Năm Căn, các khu công nghiệp và du lịch ven biển.

Phát triển hợp lý kinh tế trên các cụm đảo gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, xây dựng

các cụm đảo thành những cơ sở, kết cấu hạ tầng ngoài biển, phục vụ mục tiêu kinh tế và quốc

phòng, an ninh.

Giải quyết tốt các vấn đề văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân vùng ven biển và cư

dân trên biển.

Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh; góp phần

bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, thềm lục địa và lãnh hải.

Phát triển vùng biển và ven biển của tỉnh theo hướng bền vững, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

và môi trường.

3.1.4. Tiềm năng và hiện trạng phát triển

Cà Mau có nhiều tiềm năng về phát triển kinh tế biển, vùng biển rộng, đường bờ biển dài, với

nhiều tài nguyên sinh vật, khoáng sản, du lịch....cho phép phát triển các ngành kinh tế biển như thủy

hải sản, giao thông biển, khai thác và chế biến khoảng sản biển....

Tuy nhiên, kinh tế biển của tỉnh từ trước đến nay vẫn chủ yếu dựa vào nguồn lợi sinh vật

biển – thủy hải sản, các ngành kinh tế biển khác còn đang bỏ ngỏ. Chính vì thế, tỉnh cần có chiến

lược quy hoạch phát triển kinh tế biển để phát huy tiềm năng vốn có của tỉnh về lĩnh vực này, đồng

thời cải thiện thực trạng đưa kinh tế biển có bước tiến xa hơn.

3.1.5. Nhu cầu thị trường và trao đổi sản phẩm

Biển từ lâu đã gắn bó với con người với những sản phẩm vật chất lẫn tinh thần. Biển cho con

người tôm, cá, hải sản, muối…cung cấp nguồn thực phẩm bổ dưỡng, giàu vi lượng. Ngoài ra biển

còn cho các loại khoáng sản phát triển công nghiệp như dầu khí, cát… Biển cho những cảnh đẹp,

mát mẽ để con người có thế vui chơi, nghi ngơi lấy lại sức lực sau những giờ làm việc căng thẳng…

Nhu cầu của con người ngày càng tăng lên mà đất liền ngày dần mất đi khả năng cung cấp.

Vì thế nhu cầu đối với biển ngày càng tăng lên, đặc biệt là nhu cầu thì trường về sản phẩm thủy sản

đáp ứng đời sống hàng ngày. Thị trường trong nước cũng như ngoài nước ngày càng mở rộng và ưa

chuộng các sản phẩm từ vùng biển Cà Mau với đặc sản là tôm đông lạnh. Trong tương lai, các sản

phẩm từ biển Cà Mau sẽ đa dạng hơn và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thị trường.

Trên thế giới, nhu cầu thực phẩm thủy sản và mức tiêu thụ trên đầu người, theo dự báo của

Trung tâm Thủy sản Thế giới, năm 2020, nhu cầu thủy sản toàn thế giới vào khoảng 183,4 triệu tấn,

trong đó các nước đang phát triển sẽ chiếm tới 77% tổng lượng tiêu thụ thủy sản toàn cầu và 79%

tổng sản lượng thủy sản thế giới.

Nhu cầu về thức ăn cho động vật và gia cầm làm từ thủy sản và dầu cá sẽ tăng 1,1%/(năm

2008-2010) và 0,5% (năm 2010-2015). Lượng thủy sản cần thiết để đáp ứng nhu cầu sản xuất thức

ăn cho động vật và cho các mục đích phi thực phẩm khác trên toàn thế giới khoảng 45,4 triệu tấn

vào năm 2015.

Trong nước, dự báo nhu cầu tiêu thụ thủy sản ở thị trường trong nước sẽ đạt 2,18 triệu tấn

vào năm 2015 và đến năm 2020 con số này là 2,61 triệu tấn. Thực tế cho thấy, ở Việt Nam nhu cầu

tiêu dùng thủy sản tỷ lệ thuận với mức thu nhập của người tiêu dùng, người có thu nhập càng cao thì

nhu cầu tiêu dùng hàng thủy sản càng tăng, đặc biệt đối với các mặt hàng thủy sản cao cấp.

Trong giai đoạn 2010-2020, nhập khẩu thủy sản của Việt Nam cũng sẽ tăng về sản lượng do

tăng nhu cầu tiêu dùng trong nước và cần nguyên liệu để chế biến tái xuất phục vụ nhu cầu chế biến

xuất khẩu. Dự báo nhập khẩu thủy sản của Việt Nam phần lớn từ các nước châu Á sẽ tăng từ 8-10%

mỗi năm trong giai đoạn 2010-2015 và tăng lên 10-12% vào năm 2020. Tổng giá trị nhập khẩu sẽ

vào khoảng 190 triệu USD vào năm 2015 và tăng gấp đôi vào năm 2020.

3.2. Các định hướng cụ thể

3.2.1. Tổ chức không gian phát triển kinh tế biển

- Không gian vùng ven biển : Đối với không gian này, sự cần thiết là xác định các tiểu vùng

để tạo hướng quy hoạch phát triển riêng dựa trên nét đặc thù của vùng và mang lại hiệu quả kinh tế

cao. Với quan điểm đó, không gian vùng ven biển có định hướng tổ chức như sau:

+ Đẩy mạnh tốc độ phát triển các tiểu vùng sản xuất nông nghiệp ven biển : gồm các

huyện Đầm Dơi, Ngọc Hiển, Năm Căn, Phú Tân, một phần phía nam Sông Ông Đốc huyện Trần

Văn Thời và U Minh Hạ, với cơ cấu nông nghiệp tổng hợp theo hệ sinh thái nước ngọt, nước lợ và

nước mặn.

+ Xây dựng, phát triển đô thị và các trung tâm kinh tế ven biển : Tập trung phát triển các

đô thị động lực Sông Đốc và đô thị Năm Căn, đồng thời phát triển mở rộng và hình thành mới một

số đô thị ven biển khác như : đô thị cửa biển Khánh Hội, đô thị ven biển Cái Đôi Vàm huyện Phú

Tân, đô thị ven biển Đất Mũi, đô thị Khánh Bình Tây, đô thị mới Khánh An... hình thành các khu

kinh tế, các trung tâm kinh tế ven biển và các cụm đô thị dân cư quan trọng như Vàm Đầm, Cái Bẹ,

Rạch Gốc, Tân Lộc, Tam Giang.... Tập trung đầu tư hạ tầng để sớm đạt các tiêu chí cơ bản của đô

thị loại IV và mở rộng không gian đô thị về phía đông sông Cái Nai. Đồng thời phải phát triển đồng

bộ hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị (giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, các công trình xử lý chất

thải rắn và các công trình công cộng khác…) đảm bảo điều kiện sống và làm việc ngày càng tốt hơn

cho dân cư đô thị.

+ Các tuyến kinh tế ven biển: Theo Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, vùng ven

biển tỉnh Cà Mau nằm trong hành lang kinh tế ven biển phiá Đông (Bạc Liêu - Gành Hào - Cà Mau

- Năm Căn) của vùng biển Tây Nam Bộ, đồng thời cũng là vùng tiếp cận của hành lang kinh tế ven

biển phiá Tây (Rạch Giá - Hà Tiên). Trong quá trình phát triển, tỉnh Cà Mau cần tổ chức phát triển

mạnh cả vùng ven biển Đông và ven biển Tây. Sự kết nối các đô thị, các trung tâm kinh tế ven biển

của tỉnh thông qua các tuyến giao thông ven biển tạo ra các tuyến kinh tế ven biển. Định hướng phát

triển kinh tế ven biển của tỉnh chủ yếu là công nghiệp chế biến thủy hải sản, dịch vụ khai thác biển,

dịch vụ du lịch...

Tuyến kinh tế ven biển phía Tây với hạt nhân là trung tâm hướng ra biển Sông Đốc và các thị

trấn ven biển Cái Đôi Vàm, Khánh Hội, và các trục hành lang ngang nối với thành phố Cà Mau là

Cà Mau - U Minh - Khánh Hội, Cà Mau - Sông Đốc, Cà Mau - Cái Đôi Vàm. Tập trung phát triển

đánh bắt và chế biến hải sản, du lịch, dịch vụ vận tải, dầu khí.v.v.., kết hợp với kinh tế hải đảo (Hòn

Chuối, Hòn Đá Bạc).

Tuyến kinh tế ven biển phía Đông sẽ rõ nét hơn khi tuyến đê Biển Đông và tuyến đường ven

biển được xây dựng, kết nối với đê biển Bạc Liêu đã hình thành, kéo dài từ Gành Hào đi Ngọc Hiển.

Do các tuyến đường Đầm Dơi - Tân Thuận, Đầm Dơi - Vàm Đầm - Hố Gùi, đường trên đê biển dự

kiến xây dựng và nâng cấp vào giai đoạn 2011 - 2020 nên trước mắt tập trung đầu tư các công trình

giao thông từ Năm Căn đến Tân Ân và Đất Mũi, từng bước xây dựng phát triển khu kinh tế Năm

Căn, khu công nghiệp Năm Căn, các ngành du lịch, các ngành cơ khí tàu thuyền, dịch vụ vận tải,

dịch vụ thăm dò dầu khí... ở khu vực này.

Các tuyến kinh tế ven biển được phát triển trên cơ sở gắn với các tuyến giao thông kết nối từ

thành phố Cà Mau (là đô thị trung tâm và đô thị động lực, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá

của tỉnh Cà Mau và của vùng bán đảo Cà Mau) đến các đô thị, các trung tâm kinh tế ven biển thông

qua các tuyến giao thông Tắc Thủ - Rạch Ráng - Sông Đốc; Cái Nước - Vàm Đình - Cái Đôi Vàm;

Cà Mau - Đầm Dơi; Cà Mau - U Minh - Khánh Hội; Cà Mau - Năm Căn - Đất Mũi.

- Không gian vùng biển: Không gian vùng biển rộng lớn, là không gian phát triển nghề cá,

thăm dò khai thác dầu khí, hàng hải, bảo tồn biển... trong đó:

+ Phát triển nghề cá: Tổ chức lại nghề cá, khai thác phải gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy hải

sản (nghiêm cấm đánh bắt tôm cá ở khu vực bãi bồi), từng bước chuyển đổi ngành nghề, giảm thiểu

các nghề sát hại nguồn lợi thủy sản, chuyển một số tàu cá sang làm dịch vụ nghề cá, chuyển mạnh

sang khai thác xa bờ.

+ Hàng hải: Xây dựng cảng Năm Căn để có thể tiếp nhận tàu 5.000 DWT vận chuyển hàng

hóa phục vụ xuất khẩu của tỉnh và một số tỉnh vùng phía nam Sông Hậu, tiếp nhận các tàu du lịch

để liên kết khai thác các tour du lịch biển đảo.

+ Đẩy mạnh thăm dò khai thác dầu khí: Đồng thời kết hợp chặt chẽ với các đơn vị Trung

ương thực hiện hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí.

- Không gian các cụm đảo: Phát triển du lịch trên đảo dựa trên hiện trạng tài nguyên, điều

kiện tự nhiên của các đảo, quá trình đầu tư khai thác du lịch không làm thay đổi hiện trạng, di tích

lịch sử trên đảo cũng như không làm suy giảm diện tích, trữ lượng rừng trên đảo dẫn đến cạn kiệt

nguồn nước, bảo vệ phòng chống cháy rừng nghiêm ngặt.

Xây dựng kết cấu hạ tầng ở các cụm đảo như bến tàu, đường giao thông trên đảo, công trình

cấp nước, cấp điện, thông tin liên lạc, các công trình y tế, giáo dục phục vụ cho ngư dân thông qua

Chương trình Biển Đông - Hải Đảo.

Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế đảo với tăng cường củng cố an ninh quốc phòng.

Tăng cường lực lượng và xây dựng các công trình phục vụ phòng thủ, tác chiến trên biển đảo theo

quy hoạch. Khuyến khích các đơn vị trên đảo tham gia kết hợp làm kinh tế trên đảo.

3.2.2. Định hướng phát triển các ngành kinh tế biển.

3.2.2.1. Phát triển ngành thủy sản

Tăng cường đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa, có năng

suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, có cơ cấu sản phẩm đa dạng và thương hiệu, đáp ứng

nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tiếp tục giữ vững là ngành có kim ngạch xuất khẩu cao

và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh.

Tăng cường nuôi trồng thủy sản nước lợ và nước mặn các huyện ven biển vùng phía Nam Cà

Mau như: huyện Đầm Dơi (60 - 61 ngàn ha), huyện Phú Tân (33-34 nghìn ha), huyện Năm Căn (22-

20 nghìn ha), huyện Ngọc Hiển (20-22 ngàn ha).

Nuôi hải sản ở mặt nước ven biển và ven đảo: cần tiến hành từng bước, từ thử nghiệm đến

nhân ra diện rộng để đầu tư một cách phù hợp về loài nuôi, công nghệ, kỹ thuật, thị trường và khả

năng vốn đầu tư và khả năng thích ứng với điều kiện tự nhiên (nhất là nuôi cá lồng bè trên biển).

Đối với vùng bảo tồn nghiêm ngặt bãi bồi ven biển thuộc vườn quốc gia.

Phấn đấu đến năm 2020 VBVBCM có diện tích nuôi trồng thủy sản các loại khoảng 195.000

ha, trong đó nuôi mặt nước biển đảo khoảng 5.000 ha, nuôi trong nội địa khoảng 190.000 ha, sản

lượng thủy sản đạt 445.000 tấn.

Phát triển khai thác thuỷ sản hợp lý, chuyển dịch nhanh cơ cấu nghề khai thác ven bờ, từng

bước chuyển từ nghề khai thác ven bờ sang nghề khai thác xa bờ. Phát triển các mô hình quản lý

cộng đồng và tổ chức kinh tế tập thể (HTX hoặc Tổ hợp tác) trong nghề khai thác. Tiến hành phân

chia các tuyến biển và phân cấp quản lý cho các địa phương ven biển.

Quản lý chặt chẽ số lượng các hàng đáy biển, đáy ở cửa sông, từng bước giảm số lượng hàng

đáy, đến năm 2020 chấm dứt nghề đóng đáy biển để bảo vệ nguồn lợi thủy hải sản.

Phát triển đồng bộ các cơ sở hậu cần nghề cá dọc ven biển và trên một số đảo quan trọng để

hỗ trợ và làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân mở rộng khai thác các vùng biển khơi. Đầu tư nâng

cấp mở rộng các cảng cá quan trọng, nhất là các cảng cá kết hợp với khu neo đậu tránh gió bão cho

tàu thuyền như: Cà Mau, Sông Đốc, Hòn Khoai, Khánh Hội,...

+ Phân vùng và tổ chức khai thác:

Vùng biển và hải đảo: phát triển khai thác hải sản trên cả 3 tuyến: tuyến bờ, tuyến lộng và

tuyến khơi; trong đó chú trọng phát triển mạnh khai thác ở tuyến khơi. Trong đó, đảo Hòn Khoai và

đảo Hòn Chuối phát triển các cơ sở hạ tầng, cảng cá phục vụ khai thác xa bờ.

Tuyến bờ: được tính từ bờ biển đến đường nối liền các điểm cách bờ biển 6 hải lý. Sử dụng

một số lượng tàu nhất định có công suất nhỏ (công suất từ 15 ÷ 30 Cv) khai thác tại vùng ven bờ

thuộc các huyện Ngọc Hiển, Phú Tân, Đầm Dơi và Trần Văn Thời

Tuyến lộng: tính từ đường cách bờ biển 6 hải lý đến đường nối liền các điểm cách bờ biển

24 hải lý; Sử dụng nhóm tàu khai thác có công suất từ 45 ÷ 60 Cv, thực hiện khai thác các loài cá

nổi.

Tuyến khơi: Sử dụng đội tàu có công suất lớn có thể đánh bắt thời gian dài ngoài tuyến lộng

nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Vùng nước cửa sông, ven biển: vùng cửa sông chảy ra biển phát triển toàn diện các lĩnh vực

thủy sản: khai thác, nuôi trồng, chế biến, cảng cá và dịch vụ thủy sản ở các huyện U Minh, Trần

Văn Thời, Phú Tân, Ngọc Hiển, Năm Căn và Đầm Dơi.

3.2.2.2. Phát triển ngành lâm nghiệp

Phát triển lâm nghiệp đồng bộ từ khôi phục bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng, làm

giàu vốn rừng, khai thác lâm sản gắn với khai thác du lịch sinh thái trên cơ sở thực hiện chủ trương

xã hội hoá nghề rừng. Tập trung khôi phục bảo vệ để ổn định diện tích có rừng, nâng độ che phủ của

rừng lên 24 - 28%; từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế của các đơn vị lâm nghiệp.

Khôi phục và bảo vệ rừng ngập mặn là nhiệm vụ hàng đầu đảm bảo diện tích rừng phòng hộ

ven biển.

Bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có trên các cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối và Đá Bạc để

phục vụ vào các mục tiêu sinh thái, du lịch, nghiêm cấm khai thác cây rừng trên đảo.

Thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (đối tượng chủ yếu là rừng phòng hộ, đặc

dụng và hỗ trợ giống rừng sản xuất, cây phân tán). Tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, quy

hoạch sắp xếp và ổn định đời sống dân cư trong khu vực đất rừng.

Khuyến khích đầu tư kinh doanh rừng theo mô hình tổng hợp, gắn trồng rừng, bảo vệ rừng

với chế biến lâm sản, phát huy thế mạnh kinh doanh du lịch sinh thái của rừng, nhất là tại các vườn

quốc gia Mũi Cà Mau và U Minh hạ. Phát động rộng rãi nhân dân trồng cây phân tán để tăng độ che

phủ, nhất là ở các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung.

3.2.2.3. Phát triển các ngành công nghiệp biển

Phát triển công nghiệp là cơ sở để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và nâng cao năng

suất lao động trong các ngành kinh tế. Tiếp tục phát triển đa dạng các ngành công nghiệp chế biến

thủy sản, nông lâm sản. Thu hút phát triển một số ngành công nghiệp mới, có hàm lượng khoa học

công nghệ cao để nâng cao hiệu quả kinh tế, đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế.

Phấn đấu tăng tỉ trọng của các ngành công nghiệp và xây dựng. Từng bước chuyển đổi cơ

cấu các phân ngành công nghiệp theo hướng tiếp tục phát triển những ngành công nghiệp có tiềm

năng như: chế biến thủy sản xuất khẩu, đồ dùng gia đình (sắt, nhôm, gỗ), cơ khí đóng mới và sửa

chữa tàu thuyền, gia công, lắp ráp đồ gia dụng, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp năng lượng,

hoá chất (chủ yếu là công nghiệp Khí - Điện - Đạm).

- Công nghiệp chế biến thủy hải sản

Tiếp tục đầu tư chiều sâu cho các nhà máy chế biến thủy sản hiện có, sản xuấtnhững sản

phẩm tinh chế, đa dạng hoá mặt hàng để nâng cao giá xuất khẩu sản phẩm công nghiệp, gắn với mở

rộng thị trường tiêu thụ. Xây dựng thêm một số nhà máy mới.

- Công nghiệp dầu khí

Chú trọng đầu tư phát triển ngành công nghiệp dầu khí ở Cà Mau và trong vùng biển Tây

Nam Bộ nói chung, tạo nền tảng thúc đẩy nhiều ngành công nghiệpvà dịch vụ khác phát triển, đồng

thời tạo bước đột phá trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng theo hướng CNH,

HĐH.

Đặc biệt chú trọng việc mở rộng quy mô khai thác tại vùng biển chồng lấn với Malaysia để

P khí, đáp ứng đủ nguyên liệu cho khu công nghiệp khí -

3 PM3 lên 2-3 triệu tấn dầu thô và 4-5 tỷ mP

khai thác có hiệu quả tài nguyên của khu vực này. Đến năm 2020 nâng công suất khai thác tại lô

điện - đạm Cà Mau và các cơ sở chế biến khí khác, đồng thời xuất khẩu. Tiếp tục hoàn thiện đường

ống dẫn khí từ vùng biển Tây Nam vào bờ để cung cấp cho nhà máy điện Ô Môn, Trà Nóc... và các

cơ sở chế biến khí khác trong vùng và các tỉnh lân cận thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

- Công nghiệp cơ khí tàu thuyền

Tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực các cơ sở đóng mới và sửa chữa tầu cá hiện có, chủ yếu

đóng mới tàu có công suất lớn phục vụ đánh bắt xa bờ. Xây dựng một số cơ sở sửa chữa và đóng

mới tàu cá tại Sông Đốc, Năm Căn, Hòn Khoai (Cà Mau)... Tạo điều kiện thuận lợi để Tập đoàn

Vinasin sớm hoàn thành xây dựng và đưa vào sản xuất. Từng bước xây dựng Năm Căn thành trung

tâm công nghiệp đóng tàu biển quy mô lớn của vùng ĐBSCL và khu vực, đáp ứng nhu cầu đóng

mới và sửa chữa tàu vận tải biển, sửa chữa container, sửa chữa các cấu kiện dàn khoan và đóng mới

tàu khai thác, tàu du lịch, tàu chuyên dụng khác trong vùng.

3.2.2.4. Phát triển ngành du lịch

Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau là vùng có tiềm năng du lịch rất phong phú và đa dạng cả

về tự nhiên (rừng ngập nước, vườn quốc gia, các bãi biển, các đảo ven bờ, hệ thống kênh rạch, cảnh

quan miệt vườn…), nhân văn (các di tích lịch sử văn hoá - cách mạng, lễ hội truyền thống, làng

nghề). Vì vậy, cần tập trung phát triển nhanh và bền vững du lịch, gắn kết chặt chẽ với du lịch các

địa bàn lân cận và toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long, sớm đưa du lịch thực sự trở thành ngành

kinh tế mũi nhọn, có vai trò quan trọng và đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế, đặc biệt trong

thời gian tới khi thị trường du lịch trong nước và quốc tế mở rộng.

Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, đầu tư xây dựng hạ tầng các khu du lịch nhất

là hệ thống giao thông dịch vụ du lịch, nâng cao chất lượng các cơ sở lưu trú. Đẩy mạnh thực hiện

xã hội hoá phát triển du lịch đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Phát triển đa dạng các loại hình du lịch như: du lịch tắm biển và nghỉ dưỡng biển, tham quan

các danh thắng và các khu di tích, vui chơi giải trí, thể thao (cả thể thao biển và thể thao núi), du

lịch hội nghị, hội thảo, du lịch câu cá, câu mực trên biển, lặn biển...Ưu tiên phát triển các loại hình

du lịch và thể thao giải trí cao cấp cả trên biển và trên đảo như: lặn biển, du thuyền, lướt ván, leo

núi, chơi golf và các khu vui chơi tổng hợp, giải trí cao cấp.

Thực hiện quy hoạch chi tiết các khu du lịch, điểm, tuyến du lịch trọng điểm có ý nghĩa quốc

gia và quốc tế, tạo ra những sản phẩm du lịch đa dạng, đặc sắc, chất lượng cao, có sức thu hút mạnh

đối với du khách, nhất là khách quốc tế.

Phối hợp với các địa phương trong vùng đồng bằng sông Cửu Long để hình thành các tam

giác phát triển du lịch trong khu vực như: Cà Mau - Hà Tiên - Cần Thơ; Rạch Giá - Hà Tiên - Châu

Đốc; Rạch Giá - Cà Mau - Phú Quốc nhằm kết nối du lịch vùng ven biển với các vùng nội địa. Hợp

tác với các nước trong khu vực để hình thành các tour du lịch quốc tế.

3.2.2.5. Phát triển ngành vận tải biển

Đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống cảng sông, cảng biển Năm Căn và hệ thống bến bãi

đáp ứng yêu cầu vận chuyển hành khách, hàng hoá. Tập trung nâng cấp cải tạo cảng biển hiện có

Năm Căn đạt công suất 700-800 ngàn tấn/năm, tiếp nhận tàu dưới 5.000 tấn vào năm 2020. Xây

dựng cảng trung chuyển và dịch vụ cảng tại Hòn Khoai nhằm hỗ trợ, nâng cao hiệu quả sử dụng

cảng Năm Căn, đồng thời khai thác tuyến đường biển Quốc tế trong trường hợp kênh đào Kra của

Thái Lan được thực hiện, tạo thành một hành lang tiến ra biển Cà Mau-Năm Căn-Hòn Khoai. Nâng

cấp cải tạo một số bến phà như Bến phà thị trấn Năm Căn (quốc lộ 1A), bến phà thị trấn Sông Đốc.

3.2.3. Phát triển nguồn nhân lực

Đầu tư thích đáng thúc đẩy nâng cao trình độ nguồn nhân lực trong quản lí, sản xuất, xuất

nhập khẩu

Đẩy mạnh công tác hướng nghiệp trong các trường trung học trên địa bàn huyện, tạo cơ hội

cho thanh niên, học sinh học nghề và tham gia vào các nghề như đánh bắt, nuôi trồng chế biến thủy

sản, du lịch, đóng tàu.... Liên kết với các nhà đầu tư đào tạo nghề và sử dụng lao động của địa

phương.

Tranh thủ tuyển chọn nhiều học sinh và lao động tham gia học nghề ở Trung tâm Dạy nghề

khu vực thành phố Cà Mau; Đồng thời có chính sách thu hút đội ngũ lao động đã được đào tạo

chuyên sâu đang làm việc ở các nơi khác về phục vụ, xây dựng quê hương vùng biển.

Tiếp tục thực hiện chương trình đào tạo nghề phổ thông cho thanh niên nông thôn, cần tập

trung vào các nghề có yêu cầu sử dụng tại địa phương. Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động

của hợp tác xã thủy sản, tiếp tục nghiên cứu hình thành các tổ chức kinh tế hợp tác, hợp tác xã trên

lĩnh vực đánh bắt, nuôi trồng thủy, hải sản.

3.2.4. Đầu tư phát triển

Tăng cường nguồn vốn đầu tư của nhà nước, đồng thời vận động vốn đầu tư của các doanh

nghiệp và cá nhân. Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi đầu tư để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài

(FDI) dưới các hình thức đầu tư trực tiếp, liên doanh.

Vận động tranh thủ them nguồn vốn ODA để phát triển hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị,

bảo vệ môi trường, đào tạo nguồn nhân lực.

3.2.5. Xây dựng hệ thống chính sách quản lý, bảo vệ môi trường biển và phát triển

bền vững.

- Chính sách quản lí: Phối hợp thực hiện dự án tổng thể điều tra cơ bản và quản lý tài

nguyên, môi trường biển và ven biển VBVBCM nhằm, đánh giá hiện trạng và dự báo xu thế biến

đối môi trường trong quá trình phát triển. Xây dựng hoàn thiện hệ thống quan trắc môi trường biển

và ven biển nhằm quản lý chặt chẽ tài nguyên môi trường trong vùng.

Thực thi việc bảo vệ môi trường như: Thuế môi trường, các quy định về xử phạt, bồi

thường.. đối với những trường hợp làm giảm sút tài nguyên và ô nhiễm môi trường biển, ven biển

và các hải đảo. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các tàu thuyền trên biển. Có quy định chặt chẽ về

thẩm định, luận chứng các phương án bảo vệ môi trường trong quá trình xét duyệt các dự án phát

triển, nhất là đối với các công trình có thể gây ô nhiễm lớn như hoá chất, cảng biển, đóng tàu, nhiệt

điện. Tổ chức kiểm tra, đánh giá tác động môi trường đối với tất cả các dự án phát triển kinh tế - xã

hội, các dự án hợp tác đầu tư và các công trình có quy mô vừa và lớn.

Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở các cấp các ngành, đào tạo đội

ngũ cán bộ làm công tác quản lý môi trường. Đẩy mạnh công tác giáo dục môi trường trong toàn thể

nhân dân, kể cả ở thành thị và nông thôn. Các cấp chính quyền địa phương trong vùng cân quan tâm

tuyên truyền giáo dục và hướng dẫn cụ thể cho các cơ quan, xí nghiệp cùng toàn thể nhân dân có

nhận thức đúng đắn về bảo vệ tài nguyên môi trường và tham gia tích cực vào phong trào bảo vệ tài

nguyên môi trường, nhất là tài nguyên môi trường biển và ven biển.

- Định hướng bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững kinh tế biển tỉnh cà Mau:

Cần coi bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn; là nhân tố bảo đảm chất lượng cuộc

sống của nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an

ninh quốc gia trong vùng và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu,

vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, vì vậy đầu tư cho bảo vệ môi

trường cũng chính là đầu tư cho phát triển bền vững.

+ Bảo vệ và phát triển nguồn lợi biển: Quản lý chặt chẽ các hoạt động khai thác hải sản

trong vùng, đặc biệt là ở vùng triều và các khu vực ven bờ. Xử lý nghiêm các trường hợp khai thác

bằng chất nổ, sung điện, hoá chất... và các ngư cụ mang tính hủy diệt nguồn lợi.

Xây dựng lực lượng kiểm ngư đồng bộ từ cấp vùng đến cấp địa phương với phương tiện và

các trang thiết bị đủ mạnh để kiểm soát và quản lý chặt chẽ mọi hoạt động khai thác hải sản trong

vùng.

+ Bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn.

Xây dựng và triển khai thực hiện các đề án cụ thể về sử dụng lâu bền và khôi phục hệ sinh

thái tại các khu rừng ngập mặn. Mở rộng các mô hình nuôi tôm sinh thái kết hợp với bảo vệ, phát

triển rừng ngập mặn. Ưu tiên đầu tư ch công tác bảo vệ phòng chống cháy rừng, khôi phục và phát

triển rừng ngập mặn, đặc biệt là ở các khu vực U Minh, Đầm Dơi và bán đảo Cà Mau nói chung.

Bảo vệ nghiêm ngặt các vườn Quốc gia đã được thiết lập như: vườn Quốc gia U Minh, Đất

Mũi; các khu bảo tồn thiên nhiên, các Sân chim và các hệ sinh thái đất ngập nước trong vùng... Quy

hoạch xây dựng một số Khu bảo tồn khác nhằm bảo vệ và khôi phục các nguồn gien quý hiếm và

các hệ sinh thái đặc thù của khu vực, đồng thời kết hợp tham quan du lịch.

+ Bảo vệ môi trường biển và bờ biển.

Phối hợp cùng các đơn vị chức năng ngăn chặn và đối phó kịp thời với các sự cố tràn dầu do

khai thác, vận chuyển dầu, cũng như do hoạt động vận tải biển và các hoạt động ở cảng gây ra.

Chú trọng công tác phòng chống xói lở bờ biển và trên các đảo, nhất là khu vực từ Gành Hào

đến Rạch Gốc (đặc biệt là cửa Bồ Đề) thuộc bờ Đông của VBVBCM... bảo đảm an toàn cho các

công trình kinh tế, quốc phòng, cũng như cho sản xuất và đời sống của dân cư ven biển. Xây dựng

hoàn chỉnh hệ thống đê biển, kết hợp trồng cây chắn sóng bảo vệ đê. Có kế hoạch hộ đê, di dân, bảo

vệ tài sản cho những đoạn bờ biển xung yếu trước mùa mưa bão.

3.2.6. Xây dựng hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu và dự báo phát triển kinh tế biển tỉnh

Cà Mau đến năm 2020.

- Về tăng trưởng kinh tế: Phấn đấu tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 16,5% vào năm

2020 (trong đó giai đoạn 2011-2015 tăng 16,2% và giai đoạn 2016-2020 tăng khoảng 18,5%).

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế phải chuyển dịch tích cực theo hướng tăng

nhanh tỷ trọng kinh tế công nghiệp và dịch vụ. Dự báo cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp, xây dựng

- dịch vụ của vùng đến năm 2015 là 40,1% - 32,4% - 27,5%; đến năm 2020 là 24,7% - 43,9% -

31,4% (so với mục tiêu cơ cấu kinh tế toàn tỉnh năm 2020 là 19,6% - 43,5% - 36,9%).

- Về quy mô kinh tế: vùng biển và ven biển so với của toàn tỉnh Cà Mau, năm 2010 chiếm

khoảng 49,3% GDP toàn tỉnh, năm 2015 tăng lên 55% và năm 2020 chiếm khoảng 66% GDP toàn

tỉnh (Định hướng Quy hoạch tổng thể tỉnh xây dựng tỷ trọng vùng kinh tế biển và ven biển chiếm

65%).

- Về huy động ngân sách: Phấn đấu thu ngân sách trên địa bàn vùng biển và ven biển năm

2015 đạt khoảng 2.700 tỷ đồng, chiếm 60% tổng thu ngân sách trên địa bàn và năm 2020 thu

khoảng 6.000 tỷ đồng.

Tổng vốn đầu tư xã hội hàng năm huy động đạt khoảng 45% - 50% GDP của vùng. Tăng

cường vận động nguồn vốn ODA phục vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng và vốn

của các thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp, dịch vụ.

- Về văn hóa, tiến bộ xã hội: Cần nhanh chóng hoàn thiện các cơ sở văn hóa thể thao, trường

học, y tế và các công trình phúc lợi khác. Đảm bảo nhu cầu sinh hoạt. Giải quyết lao động, nâng cao

chất lượng cuộc sống.

- Về môi trường: thu gom xử lý chất thải rắn ở các đô thị ven biển đạt 90% vào năm 2015 và

đạt 100% vào năm 2020; chất thải y tế được thu gom, xử lý hợp vệ sinh đạt 100% trước năm 2015.

- Dân số và lao động: Thực hiện chính sách dân số, tăng nguồn lao động có chất lượng cao,

hạn chế tối đa tình trạng thất nghiệp và giải quyết việc làm.

Dân số trong tuổi lao động dự kiến năm 2015 là 528-530 ngàn người và năm 2020 khoảng

550-555 ngàn người, chiếm 63% dân số. Lao động tham gia hoạt động kinh tế năm 2015 dự kiến

khoảng 480 ngàn và năm 2020 trên 500 ngàn người. Trong đó số người có việc làm trong các ngành

kinh tế quốc dân tương ứng là khoảng 434, 464 à 487 ngàn người. Bình quân mỗi năm tạo việc làm

cho khoảng từ 5 đến 6 ngàn người

3.2.7. Quốc phòng - an ninh

- Phát triển hiện đại các lực lượng quản lý và bảo vệ biển, đảo: Cần có sự quan tâm tổ

chức, đầu tư trang thiết bị cho các lực lượng quản lý và bảo vệ biển đảo thuộc vùng biển, ven biển

Việt Nam nói chung và VBVBCM nói riêng như: Bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, hải quân, không

quân và một số lực lượng khác như pháo binh, tăng - thiết giáp, đặc công, thông tin… cũng cần

được tổ chức phù hợp với trang thiết bị vũ khí, phương tiện hiện đại để có đủ khả năng bảo đảm chi

viện chiến đấu cho các lực lượng quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo xa. Ngoài ra, cần chú trọng xây

dựng lực lượng dân quân tự vệ, hình thành thế trận quốc phòng toàn dân trên biển. Tổ chức chặt chẽ

lực lượng dân quân tự vệ trên các đảo và tuyến ven biển để phối hợp với các lực lượng khác trong

nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo.

- Thực hiện tốt phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng - an ninh

Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh là quy luật tất yếu khách

quan không chỉ trên đất liền mà cả trên biển, đảo. Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng

- an ninh vừa là quan điểm vừa là giải pháp hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ

tổ quốc trên biển, đảo nói chung và khu vực VBVBCM nói riêng. Văn kiện Đại hội IX đã nhấn

mạnh "Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, giữa quốc phòng và an ninh với kinh tế

trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội". "Phối hợp hoạt động quốc

phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại". Đây là một quan điểm và nguyên tắc cơ bản trong việc

tăng cường và củng cố quốc phòng - an ninh của Đảng ta.

3.3. Các giải pháp chủ yếu

3.3.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách quản lí

Thực hiện các hình thức để nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò chiến lược của biển đối với

phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh trong các cấp, các ngành và trong nhân dân. Tập

trung phổ biến về Luật Biển quốc tế và Công ước của Liên Hợp quốc về biển năm 1982, về Chiến

lược biển Việt Nam đến năm 2020; các vấn đề về bảo vệ môi trường, tài nguyên biển; định hướng

phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng biển và ven biển; phổ biến

quyền lợi và những biện pháp quản lý, phối hợp giữa các lực lượng trên biển để bảo vệ chủ quyền

vùng biển của nước ta, đồng thời không vi phạm chủ quyền vùng biển nước ngoài.

Hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế tổ chức khai thác biển phù hợp với tính đa dạng và

đặc thù của tài nguyên biển, cũng như tính đa dạng về ngành nghề, về thành phần, về quy mô và

trình độ trong khai thác sử dụng tài nguyên biển và phát triển kinh tế biển.

Ccần xúc tiến nhanh việc xây dựng bộ Luật biển của nước ta, từ đó cụ thế hóa thành những

văn bản pháp quy làm cơ sở cho việc tổ chức và quản lý thống nhất các hoạt động kinh tế biển trong

khuôn khổ hệ thống pháp luật chung của Nhà nước.

Phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thực hiện các dự án điều tra cơ bản, các chương

trình nghiên cứu tổng hợp về biển để xác lập luận cứ khoa học và cơ sở pháp lý trong quản lý, khai

thác tài nguyên biển và ven biển một cách hợp lý, có hiệu quả.

Thực hiện hợp tác phát triển với các nước trong khu vực và các tổ chức quốc tế theo quy

định, trong đó tập trung vào các lĩnh vực: hàng hải, du lịch biển và kinh tế đảo, khai thác hải sản;

bảo vệ tài nguyên môi trường, ứng phó với các sự cố môi trường; tìm kiếm cứu nạn trên vùng biển,

phòng chống và ngăn chặn cướp biển.

Xác định các công trình, các địa bàn ưu tiên và quy mô ưu tiên để kêu gọi vốn đầu tư của

mọi thành phần kinh tế trong, ngoài khu vực.

3.3.2.. Huy động vốn đầu tư trong và ngoài tỉnh

Nâng cao chất lượng và đổi mới các hoạt động tài chính ngân hàng trong vùng. Tạo các cơ

chế phù hợp để mở rộng hình thức tự bổ sung vốn của các doanh nghiệp và thu hút các nguồn vốn

nhàn rỗi trong dân và vốn đầu tư nước ngoài. Khuyến khích các ngân hàng, các tổ chức tín dụng

trong và ngoài nước mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện trên địa bàn. Đơn giản hoá các thủ tục

cấp phát nhằm cải thiện môi trường đầu tư.

Tận dụng các nguồn vốn trong dân, doanh nghiệp và của các tổ chức quần xã hội khác.v.v..

Sử dụng vốn đầu tư đúng mục đích theo dự án thông qua đấu thầu, giảm tình trạng lãng phí, thất

thoát vốn nhất là trong khâu thi công xây dựng. Lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án

đang triển khai trên địa bàn để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.

- Đối với nguồn vốn từ ngân sách nhà nước: Cần quan tâm nuôi dưỡng các nguồn thu,

nguồn tín dụng ưu đãi hỗ trợ đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Cần

tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và có các biện pháp khuyến khích tiết kiệm cho đầu tư

phát triển, tăng tỷ lệ tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế.

Tăng cường công tác quản lý đầu tư, quản lý thu chi ngân sách, đảm bảo huy động đúng mức

các nguồn thu từ các thành phần kinh tế theo chính sách thuế hiện hành. Thực hiện tốt các biện pháp

thanh tra, kiểm tra, giám sát để tránh thất thoát, lãng phí.

- Đối với nguồn vốn tín dụng: Áp dụng chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng thông qua sự

can thiệp của nhà nước vào thị trường bằng công cụ lãi suất tín dụng, hướng luồng vốn vào các

ngành, các lĩnh vực ưu tiên. Tiếp tục cải cách hành chính, mở rộng các hình thức cho vay và các đối

tượng cho vay; đơn giản hoá các thủ tục cho vay, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và

các thành phần kinh tế tiếp cận được nguồn vốn tín dụng.

- Nguồn vốn đầu tư trong dân và doanh nghiệp: Tăng cường thu hút nguồn vốn trong dân,

khuyến khích doanh nghiệp và các cá nhân đầu tư kinh doanh sản xuất và đóng góp công ích dưới

các hình thức bằng sức lao động hoặc bằng tiền của, kết hợp cùng với nguồn vốn Nhà nước xây

dựng cơ sở vật chất hạ tầng và thực hiện chính sách xã hội. Khuyến khích huy động các nguồn lực,

tài sản, tiền của nhàn rỗi trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh làm giàu cho cá nhân và đóng

góp cho xã hội.

- Nguồn vốn ODA: Cần phối hợp chặt chẽ với các Bộ ngành TW và các tổ chức quốc tế để

tranh thủ vận động các dự án ODA, trong đó ưu tiên vào các lĩnh vực như: phát triển hạ tầng kinh tế

và xã hội (điện, giao thông, cấp thoát nước, các công trình công cộng, y tế, giáo dục...); các dự án về

môi trường, phòng chống thiên tai, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cộng đồng; về phát

triển nông nghệp, nông thôn gắn với xoá đói giảm nghèo... Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA.

- Đối với nguồn vốn FDI: Đổi mới cơ chế thu hút FDI, xây dựng cơ chế, chính sách đồng

bộ để thu hút nguồn vốn FDI phù hợp với quá trình hội nhập. Tạo mọi điều kiện thuận lợi và thông

thoáng (chính sách đất đai, giải phóng mặt bằng, xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hoá hệ

thống kết cấu hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính...).

Điều chỉnh cơ cấu thu hút đầu tư FDI phù hợp, hướng nguồn vốn FDI vào các lĩnh vực ưu

tiên để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Kết hợp nhiều hình thức liên doanh liên kết, kể cả hình thức 100% vốn nước ngoài đối với

các dự án lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của vùng như các khu du lịch, khu vui

chơi giải trí cao cấp...

Tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư nước ngoài. Đẩy mạnh hơn nữa công tác quảng bá,

giới thiệu ra nước ngoài về các tiềm năng thế mạnh của vùng, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước

ngoài tiếp cận thông tin. Nâng cao chất lượng xây dựng danh mục gọi vốn FDI vào địa bàn.

- Đối với các nguồn vốn khác: Mở rộng các hình thức đầu tư như BOT, BT và các hình

thức khác để thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đẩy mạnh việc tuyên

truyền, kêu gọi, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là những người xuất thân hoặc có

nhân thân đang sinh sống ở các địa phương trong địa bàn về đầu tư phát triển sản xuất và dịch vụ tại

quê nhà với những cơ chế, chính sách ưu đãi thích hợp.

3.3.3. Tổ chức các loại hình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực trong các ngành, nghề về kinh tế biển như: cơ khí đóng tàu,

thuỷ sản, du lịch biển, hàng hải, máy thủy. Kết hợp đào tạo dạy nghề bằng nhiều hình thức, vừa đào

tạo tại chỗ, vừa gửi đi đào tạo ở trong nước và ở nước ngoài. Có chính sách ưu đãi đối với cán bộ

khoa học kỹ thuật về công tác ở xã ven biển, các cụm đảo.

Tăng cường công tác thông tin thị trường lao động, phát triển các trung tâm giới thiệu việc

làm, giao dịch việc làm để gắn cung - cầu lao động trong tỉnh, trong vùng và lao động ở nước ngoài.

Đẩy mạnh hơn nữa công tác dạy nghề bằng nhiều hình thức như đào tạo tại các trường, các

trung tâm, truyền nghề trực tiếp. Đầu tư phát triển mạng lưới trường dạy nghề trên địa bàn.

3.3.4. Tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế biển

Củng cố kiện toàn Ban chỉ đạo về biển đảo của tỉnh để chỉ đạo xây dựng các chương trình, kế

hoạch về phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển đã đề ra trong quy hoạch. Giao cho Sở kế

hoạch và đầu tư chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, UBND các huyện ven biển lồng ghép các mục

tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện quy hoạch vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các

ngành, các huyện ven biển, các kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm, hàng năm của tỉnh; cân đối các

nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội cùng biển và ven biển của tỉnh; tham mưu cho UBND tỉnh

kiến nghị và phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương đầu tư các dự án do Bộ quản lí.

Đối với Sở tài nguyên và Môi trường cần chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành có lien quan,

UBND các huyện ven biển phối hợp thực hiện các dự án điều tra có bản tài nguyên và môi trường

biển, nghiên cứu khoa học biển, tổng hoạp tình hình quản lí, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ

môi trường biển, các cụm đảo và tình hình hợp tác quốc tế về biển ; đề xuất triển khai các trương

trình, dự án quản lí, bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng biển, đảo của tỉnh.

Các Sở ban ngành , UBND các huyện ven biển tiến hành rà soát quy hoạch ngành, quy hoạch

tổng thể các huyện cho phù hợp với định hướng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng

biển và ven biển của tỉnh.

Hàng năm, trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch, đề xuất điều chỉnh, bổ sung quy

hoạch cho phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu phát triển, giao cho Sở kế hoạch và đầu tư làm

đầu mối tổng hợp, báo cáo cho UBND tỉnh.

Đồng thời, cần quán triệt tình thần, chủ trương của quy hoạch phát triển tổng hợp kinh tế

biển tỉnh đến năm 2020 đến rộng rãi trong nhân dân, đặc biệt là người dân vùng biển, ven biển và

đảo để họ biết và nhận thức thực hiện.

3.3.5. Đẩy mạnh hợp tác liên vùng và liên quốc gia.

Vùng biển Cà Mau nằm trong vùng biển Tây Nam Bộ, có chung đường biên giới trên biển

với một số nước trong khu vực nên việc tham gia thực hiện hợp tác phát triển với các nước trong

khu vực và các tổ chức quốc tế liên quan trong khuôn khổ đề án chung của cả nước là rất quan

trọng.

Theo Đề án hợp tác quốc tế về biển đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại

Quyết định số 80/2008/QĐ-TTg ngày 13/6/2008 đã xác định những lĩnh vực cần tăng cường hợp tác

là: Thuỷ sản (điều tra, khai thác và quản lý nguồn lợi hải sản, nhất là nguồn lợi ở các vùng biển

khơi, đánh giá những tác động có khả năng làm suy giảm các nguồn lợi hải sản); Thăm dò khai thác

dầu khí; Du lịch biển và ven biển; Nghiên cứu khoa học và công nghệ về biển; Nghiên cứu môi

trường biển và những tác động đối với môi trường biển (tăng cường hợp tác quốc tế để gìn giữ và

bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn); Tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; Bảo đảm an toàn, an ninh trên biển

và nhiều lĩnh vực hợp tác khác.

Những lĩnh vực hợp tác tại vùng biển Cà Mau sẽ được thực hiện trên cơ sở phối hợp tổ chức

của các Bộ, Ngành Trung ương. Đối với tỉnh Cà Mau các hoạt động hợp tác quốc tế về biển cần tập

trung là:

- Về du lịch biển và kinh tế đảo: hợp tác với các nước trong khu vực (Campuchia, Thái lan)

mà điểm đến là du lịch đảo Hòn Khoai, bãi biển Khai Long hoặc du lịch theo tuyến đường ven biển

phiá Nam (dự án tiểu vùng Mekông mở rộng).

- Hợp tác khai thác nguồn lợi hải sản trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của các nước, đàm phán

đưa tàu cá sang khai thác kinh doanh ở vùng biển các nước theo thỏa thuận.

- Hợp tác trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên môi trường (điều tra, đánh giá môi trường, dự báo

thiên tai, đánh giá tác động của các hoạt động khai thác nguồn lợi biển.v.v..). Ưu tiên hợp tác quốc

tế trong lĩnh vực xử lý chất thải, xử lý các sự cố tràn dầu; tham gia "Hệ thống quan trắc trái đất toàn

cầu" để dược chia sẻ thông tin giám sát, cảnh báo thiên tai và môi trường, xây dựng hệ thống các

điểm quan trắc môi trường trên địa bàn của tỉnh...

- Hợp tác với các lực lượng chức năng của các nước liên quan trong lĩnh vực tìm kiếm cứu

nạn trên vùng biển, hợp tác phòng chống và ngăn chặn cướp biển, vận chuyển hàng hoá và buôn bán

bất hợp pháp.

- Dịch vụ phục vụ thăm dò, khai thác dầu khí, dịch vụ kinh doanh dầu khí, nối mạng hệ thống

đường ống dẫn khí ASEAN (tăng cường nguồn cung cho khu công nghiệp Khí Điện Đạm Cà Mau

trong giai đoạn tiếp theo);

- Về Kinh tế hàng hải, tham gia hợp tác trong các dịch vụ cảng, góp phần mở rộng dịch vụ

hàng hải ra nước ngoài (sau khi cảng Năm Căn được nâng cấp), nâng cao tỷ lệ vận chuyển hàng hóa

xuất nhập khẩu qua cảng Năm Căn; tham gia vào thị trường cơ khí tàu thủy (đặc biệt các loại tàu

nhỏ và vừa), nâng cao tỷ lệ nội địa hóa các tàu; tham gia vào thị trường lao động hàng hải (đào tạo

xuất khẩu thuyền viên, sỹ quan hàng hải...).

Tăng cường hợp tác quốc tế về biển theo Quyết định số 80/2008/QĐ-TTg ngày 13/6/2008

của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh cần tổ chức phối hợp giữa các huyện ven biển, với các huyện vùng

nội địa và thành phố Cà Mau, hợp tác với các địa phương khác trong vùng, trong nước, các Tập

đoàn kinh tế lớn để phát triển kinh tế - xã hội, trước hết là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, là đơn vị đã

và đang đầu tư các dự án lớn trên địa bàn tỉnh, thông qua hợp tác để triển khai các dự án đầu tư,

tranh thủ sự thu hút đầu tư (Tập Đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đang hợp tác với nhiều tập đoàn

quốc tế lớn).

3.3.6. Tiếp tục đổi mới kinh tế và đa dạng các hình thức phát triển kinh tế biển.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế nhiều thành phần phải được coi là một trong những quan điểm

cơ bản của quá trình đổi mới kinh tế. Cần có những cơ chế chính sách khuyến khích và đảm bảo

quyền bình đẳng trong sản xuất kinh doanh giữa các thành phần kinh tế trong phát triển kinh tế biển

thuộc trong nước và ngoài nước với khuôn khổ pháp luật chung.

Có chính sách khuyến khích thực hiện đa dạng hoá các hình thức phát triển kinh tế biển để

thu hút được mọi nguồn vốn đầu tư trong xã hội.

Đa dạng hoá hình thức sở hữu trong kinh tế tập thể, hình thành các Tổ hợp tác, Hợp tác xã,

Liên minh hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã trong các loại hình kinh tế biển. Tạo điều kiện thuận lợi

cho kinh tế tư nhân đầu tư phát triển trong lĩnh vực kinh tế biển, không hạn chế về quy mô, ngành

nghề, lĩnh vực, địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn.

3.3.7. Hiện đại hóa phương tiện đánh bắt, bảo quản và chế biến

Việc đầu tư đóng mới tàu thuyền được căn cứ xác định trên thực tế tình hình hoạt động khai

thác, chế biến xuất khẩu thương mại và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thủy sản. Tập trung tiến hành

nâng cấp số lượng tàu hiện có, đóng mới các tàu có công suất lớn để đánh bắt.

Đầu tư phát triển đội tàu đánh bắt xa bờ, trang bị các thiết bị hiện đại, phương tiện đánh bắt

và bảo quản sản phẩm.

3.3.8. Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm ưu thế.

Trong thời gian tới, tỉnh cần xây dựng một số nhà máy chế biến cá, nhuyễn thể, đồng thời

không ngừng cải tiến, áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm.

Có chính sách đầu tư thích đáng trong việc đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản

phẩm từ biển. Đặc biệt quan tâm đến sản phẩm tôm là mặt hang chủ lực của tỉnh, đáp ứng nhu cầu

thị trường đặc biệt là những thị trường lớn.

3.3.9. Xây dựng thương hiệu, tiếp thị và mở rộng thị trường

Tiến hành tuyên truyền, quảng bá các thế mạnh của vùng, quảng bá vị trí, vai trò và khả năng

thu hút đầu tư vào các khu, địa bàn kinh tế động lực, các khu, cụm công nghiệp, các khu du lịch

trọng điểm. Có chính sách khuyến khích (chính sách về đất đai, hỗ trợ vốn...) đối với các doanh

nghiệp đầu tư xây dựng hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn VBVBCM.

Không ngừng mở rộng thị trường, cả thị trường ttrong và ngoài nước thông qua các hoạt

động quảng cáo, tiếp thị và xây dựng thương hiệu…

Tích cực thực hiện quan điểm đa thị trường, đa sản phẩm, đa phương thức mua bán phù hợp

với quy luật thị trường, đáp ứng luật của WTO.

Tổ chức các hoạt động quảng cáo, tiếp thị tốt nhằm thu hút sự quan tâm của đông đảo các

thành phần dân cư trong địa phương và các vùng lân cận. Khuyến khích người dân tham gia vào các

hoạt động quảng bá. Hình thành câu lạc bộ các ngành nghề nhằm phối hợp trong thông tin thị

trường, có tác động như sàn giao dịch và thông tin mới về các loại sản phẩm, đặc biệt là những đặc

sản trên địa bàn các huyện trong tỉnh.

3.4. Kiến nghị

Dựa trên định hướng đã có, kiến nghị lãnh đạo và các cơ quan liên quan của tỉnh tiếp tục xây

dựng phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội cho các huyện ven sông, ven biển.

Trên cơ sở đó phát huy các tiềm năng của từng vùng và xác định nhu cầu và thứ tự ưu tiên cho việc

xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hình thành các vùng chuyên canh, bố trí cụm dân cư, hình thành

các khu trung tâm xã.

Đối với các địa phương – huyện có biển cần thực hiện tốt quy hoạch của tỉnh, đồng thời tham

mưu cho các cơ quan có liên quan để hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - Xã hội cho

từng xã có biển.

Đối với các ngành khai thác biển cần có sự quan tâm, kịp thời chỉ đạo phát huy những thuận

lợi và khắc phục những khó khăn nhất định.

Trong lĩnh vực thủy sản: triển khai xây dựng dự án quy hoạch các vùng nuôi thủy sản tập

trung nhằm tạo điều kiện cải tạo hệ thống môi trường, kiểm soát dịch bệnh, phát triển các giống loại

nuôi phù hợp với thị trường. Trong lĩnh vực đánh bắt thủy sản: khuyến khích và có chính sách hỗ

trợ cho các tàu đánh bắt xa bờ đầu tư phương tiện để chế biến tại chổ, quản lý tốt chất lượng sản

phẩm sau đánh bắt. Hình thành các tổ hợp tác khai thác biển nhằm gia tăng hiệu quả đánh bắt kết

hợp với bảo đảm trật tự, an toàn, an ninh vùng biển; hoàn thành các dự án neo đậu trú bão cho tàu

cá. Đồng thời, đẩy mạnh hợp tác mở rộng ngành nghề chế biến thủy sản. Tiếp tục hỗ trợ xây dựng

dự án sử dụng vốn vay từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm. Xây dựng và phát triển các làng nghề.

Tạo điều kiện cho các loại hình kinh tế hợp tác phát triển- đặc biệt là đối với các khu vực nuôi trồng

và đánh bắt thủy - hải sản, phát huy hình thức liên doanh, liên kết, xây dựng các chính sách ưu đãi

đầu tư.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục mở rộng chương trình đào tạo kỹ thuật viên nuôi thủy sản trình độ

từ sơ cấp, trung cấp với hướng ưu tiên hỗ trợ cho các lao động trong độ tuổi trong vùng nuôi và đặc

biệt là phải có sự quan tâm đúng mức đối với các sinh viên thuộc ngành thủy sản đang theo học

cũng như việc thu hút họ sau khi tốt nghiệp về công tác tại địa phương với các chính sách ưu đãi

thích hợp.

Về du lịch, cần đầu tư hoàn chỉnh các khu du lịch ven biển và đảo. Mở rộng và phát triển

thêm các tuyến du lịch sinh thái, du lịch văn hóa. Đề nghị Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh ban hành chính

sách ưu đãi đầu tư về du lịch

Đối với sản xuất lâm nghiệp: kiến nghị việc xây dựng dự án thi công đê bao ven biển ngăn

triều cường, sạt lở ven hai huyện U Minh và Trần Văn Thời. Kết hợp làm ranh đai rừng phòng hộ và

các vùng nuôi thủy sản vừa đáp ứng được nhu cầu giao thông, quốc phòng và bảo vệ đai rừng phòng

hộ. Thực hiện trồng rừng trên các cồn (cồn Ngang, cồn Vượt) để hình thành rừng sinh thái ngập

mặn, bảo vệ môi trường ven sông – ven biển một cách bền vững.

Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế- xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường. Xây dựng

hoàn chỉnh hệ thống xử lý môi trường cho các vùng chuyên canh.Tiếp tục tiến hành điều tra và nghiên

cứu các chỉ tiêu cơ bản liên quan đến hiện trạng các vùng trên bờ và ngoài biển, làm cơ sở cho công

tác quản lý, khai thác các tiềm năng kinh tế và bảo vệ môi trường.

Đối với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khác: kiến nghị Tỉnh ưu tiên bố trí vốn xây dựng và

nâng cấp các công trình hạ tầng phúc lợi công cộng cho các huyện, xã ven biển.

Đối với nhân dân địa phương có biển, cần tạo điều kiện tốt nhất để họ có thể bám biển, sống

với biển và làm giàu từ biển. Đồng thời nâng cao ý thức về bảo vệ biển đối với toàn thể nhân dân ở

biển và không ở biển.

KẾT LUẬN

Thế kỷ 21 được thế giới xem là “Thế kỷ của đại dương”, nó được thể hiện qua sự quan tâm của tất

cả các quốc gia trên thế giới có biển hay không có biển.

Việt Nam ta là một quốc gia biển, xây dựng một nước mạnh về biển là chủ trương đúng đắn và

thiết thực nhằm khai thác tốt các tiềm năng giàu có của mình trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại

hóa.

Cà Mau, tỉnh cuối cùng cực nam tổ quốc, với nhiều lợi thế về vùng biển, ven biển và đảo đang

chuyển mình thay đổi cùng sự thay đổi của đất nước. Phần lớn sự phát triển của quê hương Cà Mau là nhờ

vào biển, nhưng vị trí đó chưa xứng với những gì vốn có của một vùng đất biển.

Phát triển kinh tế biển tỉnh Cà Mau, trước hết là phát triển khai thác và nuôi trồng thủy hải sản,

phát triển giao thông nói chung và giao thông biển nói riêng, khai thác khoáng sản thềm lục địa, đặc biệt là

dầu khí, mở mang du lịch và phát triển lâm nghiệp… Sau nữa là phát triển các ngành dịch vụ, đảm bảo

cho các hoạt động kinh tế biển hoạt động một cách đồng bộ. Đồng thời, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở mang

công nghiệp đóng và sữa chửa tàu thuyền, chế biến hải sản, hoàn thành công trình khí điện đạm, xây dựng

bến bãi kho tàng cũng như phát triển các loại hình dịch vụ khác.

Để thực hiện thành công Chiến lược biển đã đề ra cũng như phát triển kinh tế biển tỉnh Cà

Mau, trước hết cần nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân về vị trí, vai trò của biển và thực

hiện một số giải pháp đồng bộ sau: Hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý và khai thác biển; Huy

động nguồn vốn đầu tư trong và ngoài huyện cho phát triển kinh tế biển; Đào tạo và phát triển

nguồn nhân lực; Đa dạng hóa phương tiện đánh bắt, bảo quản và chế biến; Quảng cáo, tiếp thị và

mở rộng thị trường; Tổ chức thực hiện quy hoạch kinh tế biển; Quy hoạch về du lịch biển; Đẩy

Thực hiện tốt những điều trên, đó là cơ sở cho kinh tế biển Cà Mau phát triển, đóng góp

tích cực vào nền kinh tế của tỉnh, của cả nước, tạo điều kiện trực tiếp đưa nền kinh tế nước ta

hội nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế.

mạnh hợp tác liên vùng….

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Đức An (2008), Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam tài nguyên và phát triển, Nxb Hà Nội.

2. Nguyễn Văn Âu (2002), Địa lý biển Đông, Nxb ĐHQG Hà Nội.

3. Bộ kế hoạch và đầu tư &Viện chiến lược phát triển(1996), Báo cáo tổng hợp: Quy hoạch tổng

thể phát triển kinh tế biển và các hải đảo Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội.

4. Báo cáo tổng hợp tỉnh Cà Mau (2008): Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh

Cà Mau đến năm 2020.

5. Công ty cổ phần thông tin kinh tế đối ngoại (2006), Cà Mau thế và lực mới trong thế kỷ XXI ,

Nxb Chính trị Quốc gia.

6. Cục thống kê tỉnh Cà Mau, niên giám thống kê tỉnh Cà Mau từ năm 2000 đến 2011.

7. Nguyễn Khắc Duật (1987), Địa lý kinh tế vận tải biển, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội.

8. Võ Nguyên Giáp (1987), Kinh tế biển và khoa học kỹ thuật về biển ở nước ta, Nxb Nông

nghiệp.

9. Sở thủy sản tỉnh Cà Mau (2008), Báo cáo tổng hợp: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã

hội vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau thời kỳ đến năm 2020.

10. Phạm Văn Giáp (chủ biên), Phan Bạch Châu, Nguyễn Ngọc Huệ (2002), Biển và cảng biển Thế

giới, Nxb Xây dựng, Hà Nội.

11. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, NXB ĐHQG Hà Nội.

12. Quang Luyện, Rừng – biển và kinh tế thủy sản, Viện kinh tế trung tâm khoa học xã hội và nhân

văn quốc gia.

13. Sở Ngoại vụ & du lịch Cà Mau, Cẩm nang xúc tiến du lịch - thương mại và đầu tư Cà Mau, Nxb

Thông Tấn.

14. Tài liệu tập huấn: Phương pháp quy hoạch phát triển vùng ven biển, Chương trình hợp tác

Việt Nam – Thụy Điển (PCM), Tiểu dự án 5, Đồng Hới, 1997.

15. Vũ Trung Tạng (1979), Nguồn lợi sinh vật biển Đông, NXB KH&KT.

16. Dương Trí Thảo và Đoàn Nam Hải biên dịch (2004), Kinh tế học quản lý nghề cá, Nxb

Nông nghiệp.

17. Lý Thái Thuận (1990), Biển – Cái nôi của sự sống, NXB Long An.

18. Nguyễn Đức Tuấn (2001), Địa lý kinh tế học, Nxb Thống kê.

19. Nguyễn Minh Tuệ,Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Phạm Xuân Hậu, Nguyễn Kim Hồng (1996), Địa

lý du lịch, Nxb TP.HCM.

20. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông (2005), Địa lý kinh tế - xã hội đại

cương, Nxb ĐHSP.

21. Vũ Bội Tuyền, Sản xuất muối biển theo phương pháp phơi nước, Bộ lương thực thực phẩm.

22. Vương Toàn Thuyên (2006), Kinh tế vận tải biển, trường đại học hàng hải Việt Nam 13. Luật

biển.

23. Trần Đức Thịnh (2008), Vũng vịnh ven bờ Việt Nam và tiềm năng sử dụng, Nxb Hà Nội.

24. Viện kinh tế & Quy hoạch thủy sản (2004), Tổng quan nghề cá tỉnh Cà Mau.

25. Tạp chí kinh tế và dự báo, số 8/2007.

26. Trích từ tạp trí Biển Việt Nam, các số năm 2008,2009,2010, 6 tháng 2011.

27. Trích từ báo 28Sài Gòn giải phóng ngày 6/10/2000, trang 1, Hội thảo phát triển kinh tế biển

Việt Nam, hiện trạng, những mục tiêu và giải pháp.

28. Trích từ báo Tài nguyên và môi trường, ngày 1/9/2007, số 9, Bảo vệ môi trường biển cần một

hệ thống giải pháp đồng bộ.

29. Calinkin (G.F), Chế độ vùng biển, Nxb Giao thông vận tải.

30. Đubinxki, Những công nghệ tiên tiến vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, Nxb Giao

thông vận tải.

31. L.P.Subaev (1982), Địa lý tự nhiên đại cương, tập 3, Đào Trọng Năng (dịch), Nxb Giáo dục.

32. Jaques Vernier (1992), Môi trường sinh thái, Trương Thị Chí, Trần Chí Đạo (dịch), Nxb

Thế giới, Hà Nội.

32. Tổng cục thống kê Việt Nam.

34. Bùi Thị Hải Yến (chủ biên), Phạm Hồng Long (2007), Tài nguyên du lịch, Nxb Giáo dục.

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỈNH CÀ MAU 1.1. Băng truyền chế biến thủy sản xuất khẩu

1.2. Chế biến tôm đông lạnh xuất khẩu

1.3. Rừng đước Năm Căn và rừng tram U Minh

1.4. Cá khô Sông Đốc

1.5. Cá trình biển Cà Mau

1.6. Mũi Cà Mau

1.7. Tàu đánh Cá cửa biển Khánh Hội – U Minh - CÀ MAU

1.8. Muối và cánh đồng muối ở huyện Đầm Dơi – Cà Mau

1.9. Điểm du lịch Hòn Đá Bạc – Trần Văn Thời – Cà Mau

1.10. Du lịch Mũi Cà Mau

PHỤ LỤC 2: CÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.1. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tỉnh Cà Mau giai đoạn 2000 – 2010 (nghìn tấn)

Năm SLKT-NT Nuôi trồng thủy sản

Tổng Tổng Cá Tôm

2000 197,836 73139 31597 35377

2001 214,742 87688 28949 55330

2002 209,627 88314 21927 60619

2003 223,330 91917 23481 62241

2004 241,195 103186 23509 72936

2005 254,259 120086 31530 81100

2006 276,010 138323 40530 88443

2007 291,359 149725 50530 89737

2008 313,115 174402 70575 94291

2009 334,420 188760 78159 99600

2010 387,070 233356 85312 108044

2.2.Sản lượng thuỷ sản khai thác phân theo ngành hoạt động giai đoạn 2005 – 2010 (Tấn)

Chia ra

Khai thác biển

Tổng số Trong đó: Khai thác nội địa Tổng số Tôm Cá

2005 2006 2007 2008 2009 2010 134.173 137.687 141.670 138.713 145.750 153.714 134.173 137.687 141.670 138.713 145.750 153.714 105.259 103.857 98.081 101.281 103.453 108.712 11.784 10.788 12.911 11.682 14.950 15.133 - - - -

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau 2005- 2010).

2.3. Giá trị sản xuất thuỷ sản theo giá thực tế phân theo ngành hoạt động giai đoạn

2005 – 2009 ( triệu đồng)

Chia ra

Tổng số Dịch vụ thủy sản Nuôi trồng Khai thác

9.671.144 10.728.876 11.755.775 12.372.780 13.725.105 15.915.088 7.383.644 8.342.623 9.227.459 9.795.435 10.7928.70 12.460.602 2.196.978 2.301.404 2.423.286 2.458.205 2.589.005 2.850.036 90.522 84.849 105.030 119.140 343.230 604.450 2005 2006 2007 2008 2009 2010

2.4. Giá trị thủy sản theo giá thực tế giai đoạn 2000 – 2009 (tỷ đồng)

Chia ra Tổng số

( Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2000 – 2009).

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 26498.9 32198.8 37130.8 43464.5 53977.7 63549.2 74338.9 89509.7 110510.4 125930.0 Khai thác 14737.7 15356.6 15848.2 17279.7 19706.6 22770.9 25144.0 29411.1 41894.9 48450.0 Nuôi trồng 11761.2 16842.2 21282.6 26184.8 34271.1 40778.3 49194.9 60098.6 68615.5 77480.0

2.5. Bảng cân đối thu chi ngân sách tỉnh Cà Mau (Đvt: tỷ đồng)

Danh mục 2001 2002 2005 2006 2007 2009

Thu Ngân sách 333,02 585,38 795,669 955,026 1.132,384 1.859

Chi Ngân sách 667,87 785,96 1.515,567 1.820,023 1.819,83 2.863

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau 2001- 2009).

Cân đối thu chi(%) 49,86 74,48 52,50 52,47 62,25 64,93

2.6. Sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng giai đoạn 2000 – 2009 ( nghìn tấn)

Chia ra Tổng số

2250.5 2434.7 2647.4 2859.2 3142.5 3465.9 3720.5 4197.8 4602.0 4847.6 Khai thác 1660.9 1724.8 1802.6 1856.1 1940.0 1987.9 2026.6 2074.5 2136.4 2277.7 Nuôi trồng 589.6 709.9 844.8 1003.1 1202.5 1478.0 1693.9 2123.3 2465.6 2569.9 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009

( Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2000 – 2009).

2.7. Sản lượng thủy sản phân theo loại hình khai thác giai đoạn 2000 – 2009

Chia ra

Tổng số

Khai thác biển

(nghìn tấn)

Khai thác nội địa

Tổng số

Trong đó: Cá

2000

1660.9

1419.6

1075.3

241.3

1724.8

1481.2

1120.5

243.6

2001

1802.6

1575.6

1189.6

227.0

2002

1856.1

1647.1

1227.5

209.0

2003

1940.0

1733.4

1333.8

206.6

2004

1987.9

1791.1

1367.5

196.8

2005

2026.6

1823.7

1396.5

202.9

2006

2074.5

1876.3

1433.0

198.2

2007

2136.4

1946.7

1475.8

189.7

2008

2277.7

2086.7

1568.8

191.0

2009

( Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2000 – 2009).

Năm

2.8. So sánh một số tiêu chí của VBVBCM

Tiêu chí So với tỉnh Vùng biển Tây Cả nước

Cà Mau Nam Bộ

Chiều dài bờ biển (km) 254 737 3.260

Tỷ lệ dân số các huyện ven biển (%) 59,8 30,43 33

2 Số km bờ biển /100kmP

Pđất liền

4,76 1,85 1

(Nguồn: Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội VBVBCM đến năm 2020)

2.9. Tổng sản phẩm (GDP) và cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau (Đvt: tỷ đồng)

BQ

Stt Danh mục 2001 2005 2007 2009 ‘01-09’

(%/năm)

lâm - ngư - xây

lâm - ngư - xây

lâm - ngư - xây

1 - - - 2 - - - 3 - - - GDP (giá 1994) Nông – Công nghiệp Thương mại - dịch vụ GDP (giá hiện hành) Nông – Công nghiệp Thương mại - dịch vụ Cơ cấu GDP (%) Nông – Công nghiệp Thương mại - dịch vụ 4.965.86 2.671.56 1.114.44 1.179.85 6.604.69 3.825.00 1.400.52 1.379.17 100,00 59,27 20,48 20,25 7.673.66 3.563.48 1.992.07 2.118.10 11.213.8 5.882.27 2.715.22 2.616.39 100,00 52,46 24,21 23,33 10.328.8 4.225.02 3.245.84 2.857.98 16.073.7 7.324.55 5.042.14 3.707.00 100,00 45,57 31,37 23,06 13.021.3 4.661.63 4.823.42 3.536.32 20.494.0 8.505.81 7.043.20 4.945.07 100,00 35,79 37,04 27,15 12,81 7,21 20,10 14,71

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau 2001, 2009).

2.10. Dân số năm 2010 chia theo huyện, thành phố Dân số

Tỷ trọng Địa bàn Mật độ DS Số

TT (Người) (%) (người/km2)

100.00 Toàn tỉnh 226 1212089

1 Thành phố Cà Mau 218443 18.02 863

2 Huyện U Minh 135034 11.14 210

3 Huyện Thới Bình 102215 8.43 129

4 Huyện Trần Văn Thời 187132 15.44 260

5 Huyện Cái Nước 137846 11.37 331

6 Huyện Đầm Dơi 104408 8.61 225

7 Huyện Năm Căn 182332 15.04 221

8 Huyện Phú Tân 66216 5.46 131

9 Huyện Ngọc Hiển 78418 6.47 107

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau 2010)

2.11. Các đô thị hiện có và dự kiến đến năm 2020

STT Tên đô thị Tính chất đô DS nội thị năm Loại đô thị

thị 2020 1000 ng năm 2020

Các đô thị hiện có I

Thị xã Sông Đốc TX thuộc tỉnh 1 70-80 IV

Thị xã Năm Căn TX thuộc tỉnh 2 40-45 IV

Thị trấn U Minh huyện lỵ 3 12-13 V

Thị trấn Trần Văn Thời huyện lỵ 4 18-20 V

Thị trấn Đầm Dơi huyện lỵ 5 9-10 V

Thị trấn Cái Đôi Vàm huyện lỵ 6 18-20 V

II Các đô thị dự kiến

Thị trấn Tân Ân huyện lỵ 1 10-12 V

Thị trấn Đất Mũi Du lịch 2 14-15 V

Thị trấn Thanh Tùng huyện lỵ 3 7-8 V

Thị trấn Hàm Rồng Công nghiệp 4 6-7 V

Thị trấn Hố Gùi TS, DV 5 5-6 V

Thị trấn Khánh Hội TS, DV 6 8-10 V

Thị trấn Khánh An CN, DV 7 8-10 V

Thị trấn Tam Giang DV, TS 8 5-6 V

Khánh Bình Tây DL 9 7-8 V

( Nguồn: Quy hoạch tổng thế phát triển kinh tế - xã hội VBVBCM đến năm 2020)

2.12. Cơ cấu sản lượng NTTS phân theo huyện/thị đến năm 2020 (Đvt: tấn) BQGĐ (%/năm)

Quy hoạch

Địa phương

Loại hình nuôi

2020

2011-15

2016-20

2015

Tp. Cà Mau

Thới Bình

U Minh

Trần Văn Thời

Cái Nước

Phú Tân

Đầm Dơi

Năm Căn

Ngọc Hiển

Tổng

13,8 26,2 -1,0 1,8 6,8 0,0 0,4 5,5 -0,4 1,5 7,8 -0,1 16,9 16,9 9,6 9,6 15,1 15,7 3,7 11,1 11,1 16,6 16,6 6,5 13,2 -0,2

1,3 1,7 0,3 1,5 3,0 0,7 1,1 6,5 -0,1 2,2 6,0 0,8 1,8 1,8 3,7 3,7 1,6 1,6 2,1 4,2 4,2 10,4 10,4 2,8 4,2 0,5

Tổng Nuôi mặn, lợ Nuôi nước ngọt Tổng Nuôi mặn, lợ Nuôi nước ngọt Tổng Nuôi mặn, lợ Nuôi nước ngọt Tổng Nuôi mặn, lợ Nuôi nước ngọt Tổng Nuôi mặn, lợ Nuôi nước ngọt Tổng Nuôi mặn, lợ Nuôi nước ngọt Tổng Nuôi mặn, lợ Nuôi nước ngọt Tổng Nuôi mặn, lợ Nuôi nước ngọt Tổng Nuôi mặn, lợ Nuôi nước ngọt Tổng cộng Nuôi mặn, lợ Nuôi nước ngọt

22.000 16.000 6.000 76.800 26.200 50.600 54.500 11.100 43.400 58.400 16.700 41.700 27.700 27.700 0 25.100 25.100 0 56.800 54.800 2.000 19.200 19.200 0 51.600 51.600 0 392.000 248.300 143.700

20.600 14.700 5.900 71.400 22.600 48.800 51.700 8.100 43.600 52.500 12.500 40.000 25.300 25.300 0 20.900 20.900 0 52.500 50.700 1.800 15.600 15.600 0 31.400 31.400 0 341.900 201.800 140.100

2.13. Các chỉ tiêu phát triển ngành Thủy sản của VBVBCM đến năm 2020

Năm Năm TT Các chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 2015 2020

DT nuôi thủy sản các loại 192000 193000 195000 Ha

+ Nuôi mặt nước biển đảo 2000 3.000 5.000 Ha

+ Nuôi trong nội địa 190000 190000 190000 Ha

Trong đó: Nuôi tôm 166000 166000 166000 Ha

Nuôi cá 24000 24000 24000 Ha

I Sản lượng thủy sản 330000 380000 445000 Tấn

Trong đó: Tôm 115300 125000 158000 Tấn

Sản lượng nuôi trồng thủy sản Tấn 180000 200000 265000

Trong đó: Tôm Tấn 96000 113000 137000

Sản lượng khai thác thủy sản Tấn 150000 180000 180000

sông biển

Trong đó: Tôm Tấn 10.000 10.000 10.000

III Phương tiện khai thác sông

biển

Số lượng hàng đáy sông, biển Cái 3000 1000 -

Số tàu thuyền 3500 3300 3000

Trong đó: loại trên 90CV Chiếc 1050 1000 1000

Loại dưới 30CV Chiếc 800 600 500

(Nguồn: tính toán trên cơ sở Số liệu thông kê và quy hoạch phát triển KT-XH VBVBCM đến năm 2020)

2.14. Quy hoạch sản lượng khai thác và sản lượng cá biển theo huyện (Đvt: tấn)

Quy hoạch

Danh mục

Ước 2010

2015

2020

2010

2020

Tỷ trọng (%) 2015

- - 20.500 63.500 - 15.500 9.500 2.000 19.000

- - 22.500 70.400 - 17.500 9.900 2.200 22.500

Sản Lượng Khai Thác Toàn Tỉnh TP. Cà Mau Huyện Thới Bình Huyện U Minh Huyện Trần V Thời Huyện Cái Nước Huyện Phú Tân Huyện Đầm Dơi Huyện Năm Căn Huyện Ngọc Hiển Sản lượng Cá biển Toàn Tỉnh TP. Cà Mau Huyện Thới Bình Huyện U Minh Huyện Trần V Thời Huyện Cái Nước Huyện Phú Tân Huyện Đầm Dơi Huyện Năm Căn Huyện Ngọc Hiển

145.000 130.000 130.000 - - 20.500 63.000 - 15.000 9.500 2.000 20.000 103.000 100.000 100.000 - - 5.500 55.000 - 13.500 9.000 1.600 15.400

- - 5.700 55.000 - 13.500 9.000 1.600 15.200

- - 6.050 57.000 - 13.850 9.300 1.700 15.100

100 - - 15,52 48,55 - 12,07 6,83 1,52 15,52 100 - - 5,87 55,34 - 13,45 9,03 1,65 14,66

100 - - 15,77 48,85 - 11,92 7,31 1,54 14,62 100 - - 5,70 55,00 - 13,50 9,00 1,60 15,20

100 - - 15,77 48,46 - 11,54 7,31 1,54 15,38 100 - - 5,50 55,00 - 13,50 9,00 1,60 15,40

( Nguồn: Quy hoạch thủy sản tỉnh Cà Mau đến năm 2020)

2.15. Dân số và cân đối nguồn lao động

Tăng trưởng

Chỉ tiêu

Đơn vị

2006

2010

2015

2020

bình quân

2006-

2011-

2016-

2010

2015

2020

1. Dân số trung bình

1000người 736.8

786.1

855.6

925.0

1.51% 1.71% 1.57%

Trong đó: Thành thị

1000người 96.47 118.36 158.24

202.43

4.7%

6.0% 5.05%

Tỷ lệ so tổng dân số

13%

15%

18%

22%

%

Nông thôn

1000người 640.3

667.7

697.4

722.6

1.0%

0.9% 0.71%

Tỷ lệ so tổng dân số

87%

85%

82%

78%

%

2.Dân số nông lâm ngư

1000người 491.8

534.2

557.9

564.5

582.0

3. Dân số trong tuổi l/đg 1000người 457.9

500.0

544.8

2.11% 1.73% 1.33%

(%) so tổng dân số

%

62.1% 63.6% 63.7%

62.9%

4. Phân phối nguồn l/đg 1000người 485.4

530.0

577.4

617.0

- Không tham gia HĐ KT 1000người

64.7

75.1

81.8

87.4

3.38% 1.73% 1.33%

Tỷ lệ so lực lượng lao

%

13.3% 14.2% 14.2%

14.2%

động

+Trong đó: Học sinh, học

1000người 233.5

255.0

277.8

296.8

chuyên nghiệp

- Tham gia hoạt động k/

1000người 420.7

454.9

495.6

529.5

1.91% 1.73% 1.33%

tế

Tỷ lệ so lực lượng lao

%

86.7% 85.8% 85.8%

85.8%

động

+ Có việc làm

1000người 402.8

439.9

479.3

512.1

2.11% 1.73% 1.33%

Tỷ lệ so lực lượng lao

%

95.8% 96.7% 96.7%

96.7%

động

+Không có việc làm

1000người

17.9

15.0

16.3

17.5

-3.11% 1.73% 1.33%

Tỷ lệ so với lực lượng lao

%

4.5%

3.5%

3.5%

3.5%

động xã hội (thất nghiệp)

Hệ số sử dụng thời gian

%

90.0% 95.0% 95.0%

95.0%

lao động ở nông thôn b/q

( Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội VBVBCM đến năm 2020)

2.16. Đầu tư nâng cấp các phương tiện khai thác thủy sản

Quy hoạch Ước Stt Danh mục Đvt 2010 2015 2020

1 Tổng số tàu thuyền Chiếc 4.950 4.800 4.800

" - Khai thác ven bờ 3.750 3.400 3.000

" - Khai thác Xa bờ 1.200 1.400 1.800

Cv * CS xa bờ 240.000 308.000 450.000

Cv 2 Tổng Công suất 367.903 450.000 600.000

Công suất BQ Cv/chiếc 93,8 125,0 74,3

Nhóm công suất

- < 50Cv Cv 3.450 3.000 2.600

" 310 400 300 - 50-<90 Cv

" 185 200 300 - 90-<150 Cv

" 970 1.050 1.200 - 150-<400 Cv

" 35 150 400 - > 400 Cv

100 90 3 Tàu cần đóng mới Ch/năm

Công suất Cv/năm 30.000 31.500

4 Tàu dịch vụ trên biển Chiếc 135 140 150

Công suất Cv 31.125 32.500 38.000

( Nguồn: Quy hoạch thủy sản đến năm 2020)

2.17. Các chỉ tiêu chính khai thác thuỷ sản Cà Mau đến năm 2020

Stt

Danh mục

Đvt

2010

2015

2020

BQGĐ (%/năm) 2011-2015 2016-2020

Tấn " " " Tấn Tấn Tỷ.đ "

145.000 103.000 14.800 27.200 40.000 105.000 2.600 1.050

130.000 100.000 11.000 19.000 40.000 90.000 3.250 1.600

130.000 100.000 11.000 19.000 40.000 90.000 4.650 2.300

-0,7% -0,6% -0,7% -1,1% 0,0% -3,0% 6,1% 10,1%

0,0% 0,0% 0,0% 0,0% 0,0% 0,0% 7,4% 8,0%

" "

1.800 727 26.500

2.255 1.050 27.500

3.230 1.615 29.000

7,5% 10,2% 0,7%

7,4% 8,0% 1,1%

1 Sản lượng - Cá - Tôm - Hải sản khác * Gần bờ * Xa bờ 2 GTSX (giá hh) GT tăng thêm 3 GTSX (giá 94) GT tăng them 4 Lao động

Ng

( Nguồn: Quy hoạch thủy sản tỉnh Cà Mau đến năm 2020)

2.18. Quy hoạch cơ cấu nghề khai thác hải sản đến năm 2020

Quy hoạch BQGĐ (%/năm) Ước Danh mục Đvt

2011- 20 2011- 15 2016-20

2010 2015 2020

4.950 4.800 4.800 -0,34 -0,77 0,00

Tàu khai thác Chiếc

Họ lưới Kéo -nt- 435 430 430 -0,13 -0,29 0,00

Họ lưới Vây -nt- 90 95 100 1,18 1,36 1,29

Họ lưới Rê -nt- 2.635 2.545 2.600 -0,15 -0,87 0,54

Họ Câu -nt- 1.125 1.130 1.130 0,05 0,11 0,00

Họ Te, Xiệp -nt- 340 300 260 -2,94 -3,08 -3,51

Họ cố định -nt- 190 170 150 -2,59 -2,74 -3,08

Họ nghề khác -nt- 135 130 130 -0,42 -0,94 0,00

( Nguồn: Quy hoạch thủy sản đến năm 2020)