BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
------------ ------------
NGUYỄN THỊ KHÁNH DƯ
ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH LONG
THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA-HIỆN ĐẠI HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
NGUYỄN THỊ KHÁNH DƯ
ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH LONG
THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA-HIỆN ĐẠI HÓA
Chuyên ngành: Địa lý học
Mã số: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. PHẠM XUÂN HẬU
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Xuân Hậu
đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận
văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Khoa học Công nghệ sau Đại
học, Khoa Địa lý Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện
thuận lợi trong việc học tập, trang bị kiến thức để tác giả có thể hoàn thành đề tài.
Tác giả xin chân thành cảm ơn đến các cơ quan: Cục Thống kê Vĩnh Long, Sở
Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Công thương, Ban quản lý Khu công nghiệp
tỉnh Vĩnh Long ,…đã giúp đỡ nhiệt tình, cung cấp tài liệu, số liệu, cho phép tác giả
được tham khảo nhiều tư liệu quý báu, hữu ích để hoàn thành luận văn này.
Tác giả chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người thân
đã động viên, giúp đỡ những khó khăn về tinh thần và vật chất để tác giả hoàn
Do thời gian và năng lực còn hạn chế, luận văn có thể còn nhiều thiếu sót, em
rất mong được đóng góp ý kiến của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
thành luận văn.
Tác giả luận văn
1
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục ........................................................................................................................1
Danh mục các chữ viết tắt ...........................................................................................3
Danh mục các bảng số liệu ..........................................................................................4
Danh mục các biểu đồ ................................................................................................5
Danh mục các hình, bản đồ ........................................................................................6
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................... 7 1 Lí do chọn đề tài ....................................................................................................... 7
2 Mục tiêu và nhiệm vụ ............................................................................................... 8
3 Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................. 9 4 Những công trình nghiên cứu có liên quan .............................................................. 9 5 Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu ............................................................ 10 PHẦN NỘI DUNG ................................................................................................ 14
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LAO ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA ................................................................................................................ 14 1.1 Nguồn lao động ................................................................................................... 14 1.1.1 Quan niệm về nguồn lao động ........................................................................ 14 1.1.2 Cơ cấu lao động .............................................................................................. 17 1.1.3 Nội dung phát triển nguồn nhân lực ............................................................... 19 1.1.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn lao động ............................ 21 1.1.5 Vai trò của nguồn nhân lực ............................................................................. 24 1.2 Quan niệm về sử dụng lao động .......................................................................... 28 1.2.1 Sử dụng lao động theo ngành nghề ................................................................. 28 1.2.2 Sử dụng lao động theo thành phần kinh tế ..................................................... 29 1.3 Công nghiệp hóa- hiện đại hóa............................................................................ 30 1.3.1 Khái niệm ........................................................................................................ 30 1.3.2 Về các chỉ tiêu đánh giá việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng thời kì CNH- HĐH ......................................................................................................................... 31 1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lao động và sử dụng lao động ............... 32
1.4.1 Vị trí địa lý ..................................................................................................... 32
2
1.4.2 Các nhân tố tự nhiên ....................................................................................... 32
1.4.3 Các nhân tố kinh tế xã hội ............................................................................. 33
1.5 Cơ sở thực tiễn .................................................................................................... 38
1.5.1 Sử dụng lao động tại các KCN ở Việt Nam ................................................... 38
1.5.2 Sử dụng lao động tại các KCN ở ĐBSCL ...................................................... 39
Chương 2 : THỰC TRẠNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH LONG............................................................................... 41 2.1 Khái quát về tỉnh Vĩnh Long............................................................................... 41
2.1.1 Vị trí địa lý ..................................................................................................... 41
2.1.2. Các yếu tố tự nhiên và tài nguyên .............................................................. 42
2.1.3. Các nhân tố kinh tế xã hội ............................................................................ 44 2.2 Khái quát về KCN tỉnh Vĩnh Long .................................................................... 53 2.2.1 KCN Hòa Phú ................................................................................................ 53 2.2.2 KCN Bình Minh ............................................................................................. 56 2.2.3 Tuyến công nghiệp Cổ Chiên ......................................................................... 57 2.2.4 Đánh giá tình hình hoạt động, phát triển KCN .............................................. 58 2.3 Thực trạng sử dụng lao động ở các KCN tỉnh Vĩnh Long .................................. 61 2.3.1 Về số lượng lao động ...................................................................................... 61 2.3.2 Về chất lượng lao động ................................................................................... 64 2.4 Đánh giá chung về thực trạng sử dụng lao động ................................................. 95 2.4.1 Những điểm tích cực ....................................................................................... 95 2.4.2 Những hạn chế, khó khăn ............................................................................... 96
Chương 3 : ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH LONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA-HIỆN ĐẠI HÓA ....................................................................................................................... 100 3.1 Những căn cứ đưa ra định hướng và giải pháp ................................................. 100 3.2 Định hướng về phát triển và sử dụng lao động ................................................ 110 3.3. Các nhóm giải pháp chủ yếu ............................................................................ 115 3.4 Kiến nghị .......................................................................................................... 123 PHẦN KẾT LUẬN ............................................................................................. 126 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 128
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt ATVSLĐ BHTN BHXH Tiếng Việt An toàn vệ sinh lao động Bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm xã hội Tiếng Anh Labor safety and hygiene Unemployment insurance Social insurance
BHYT Bảo hiểm y tế Health insurance
BQLCKCN Ban quản lý các khu công nghiệp Industrial management
CĐCS CNH- HĐH Công đoàn cơ sở Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
Cổ phần Doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân Đồng bằng sông Cửu Long Hợp đồng lao động Kinh tế xã hội Người lao động Nguồn nhân lực Trách nhiệm hữu hạn Thành phố Hồ Chí Minh Thỏa ước lao động tập thể Ủy ban Nhân dân Union base Industrialization- modernization Stock Enterprise Private enterprises Mekong delta Labor contract Socioeconomic Employee Human resources Liability HCM city Collective labor agreement People’s committee
CP DN DNTN ĐBSCL HĐLĐ KTXH NLĐ NNL TNHH TPHCM TƯLĐTT UBND
4
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ học vấn phổ
thông năm 2011 .................................................................................... 46
Bảng 2.2: Cơ cấu GDP của tỉnh Vĩnh Long phân theo thành phần kinh tế .......... 52
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu công nghiệp chủ yếu qua các năm .................................... 58
Bảng 2.4: Cơ cấu lao động phân theo giới tính tại các KCN giai đoạn 2008-2012
.............................................................................................................. 62
Bảng 2.5 Lao động phân theo giới tính tại các KCN năm 2011 .......................... 62
Bảng 2.6: Lao động có trình độ học vấn giai đoạn 2008-2012 ............................. 64
Bảng 2.7: Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật giai đoạn 2008-2012 ........ 65
Bảng 2.8: Các ngành nghề sản xuất kinh doanh chính ở các KCN tỉnh Vĩnh Long
.............................................................................................................. 69
Bảng 2.9: Cơ cấu lao động phổ thông phân theo ngành ở các KCN tỉnh Vĩnh
Long tháng 4/ 2012 ............................................................................... 71
Bảng 2.10: Cơ cấu lao động bản xứ và nhập cư ở các KCN giai đoạn 2008-2012 73
Bảng 2.11: Biến động lao động tại KCN qua các tháng trong 2 năm 2010-2011
.............................................................. Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.12: Biến động lao động qua các năm ở các KCN tỉnh Vĩnh Long giai đoạn
2008-2011 ............................................................................................. 78
Bảng 2.13: Tỉ lệ người lao động ở các KCN tham gia BHXH, BHYT, BHTN giai
đoạn 2009-2012 .................................................................................... 87
Bảng 2.14: Thiệt hại người và tài sản giai đoạn 2009-2012 ................................... 92
Bảng 2.15 Thông tin về doanh nghiệp đã đi vào hoạt động trong các KCN, KCX
tại thời điểm tháng 5/ 2012 ................................................................... 93
Bảng 3.1: Tổng hợp một số chỉ tiêu KTXH chủ yếu đến năm 2020 ................. 105
Bảng 3.2: Dự kiến phân bổ và đào tạo lao động ................................................. 106
Bảng 3.3: Dự báo nhu cầu lao động công nghiệp ............................................. 108
Bảng 3.4: Kế hoạch đào tạo nhân lực hàng năm tại khu vực đầu tư nước ngoài 109
5
Bảng 3.5: Chỉ tiêu đào tạo nghề giai đoạn 2011-2020 ........................................ 111
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu kinh tế tỉnh Vĩnh Long thời kì 2001 – 2010 ............................ 51
Biểu đồ 2.2: Lao động phân theo giới tính tại các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Long
giai đoạn 2008 - 2012 .......................................................................... 63
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu lao động phân theo trình độ học vấn qua các năm ................... 65
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu lao động phổ thông phân theo ngành ở các KCN năm 2012 ... 72
Biểu đồ 2.5: Lao động bản xứ và nhập cư ở các KCN năm 2008 và 2012 .............. 75
Biểu đồ 3.1: Dự báo cơ cấu lao động tỉnh Vĩnh Long............................................ 107
6
DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢN ĐỒ
Hình 1: Lược đồ vị trí tỉnh Vĩnh Long trong vùng ĐBSCL
Bản đồ 1: Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Long
Bản đồ 2: Hiện trạng các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Long năm 2010
Bản đồ 3: Hiện trạng cơ cấu lao động tại các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Long
năm 2012
Bản đồ 4: Quy hoạch các khu, cụm công nghiệp tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nguồn lao động là một trong những nhân tố quyết định tăng trưởng kinh
tế và phát triển bền vững. Chính vì vậy, nguồn lao động có chất lượng và khai
thác sử dụng lao động một cách hợp lý là một vấn đề cấp bách cần được giải
quyết, nhất là trong giai đoạn CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Bất kể
quốc gia nào cho dù có những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên
phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có đủ
khả năng khai thác các nguồn lực thì khó đạt được sự phát triển bền vững.
Xuất phát từ thực tế của đất nước trước và sau đổi mới cũng như nắm bắt
được xu hướng đầu tư, phát triển của các nước trên thế giới, Việt Nam đang đẩy
mạnh công cuộc CNH-HĐH với mục tiêu đưa đất nước từ một nước nông nghiệp lạc
hậu trở thành một nước cơ bản công nghiệp vào năm 2020. Phát triển nguồn nhân
lực là nội dung được kế thừa và phát triển từ tất cả các kỳ đại hội Đảng. Điều đó cho
thấy, nhân lực là vấn đề cực kỳ quan trọng trong các giai đoạn lịch sử. Tại Đại hội
Đảng lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Phát triển và nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến
lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ
cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan
trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững”. Do vậy, phát triển
nguồn nhân lực là yêu cầu tất yếu khách quan trong sự nghiệp CNH-HĐH của Việt
Nam cũng như vùng, địa phương và các cấp ngành.
Vĩnh Long là trung tâm của khu vực ĐBSCL, đặc điểm về kinh tế sản xuất
nông nghiệp vẫn là chủ yếu. Do đó để thúc đẩy kinh tế phát triển, Vĩnh Long luôn
8
xem việc đào tạo và phát triển nhân lực là nhiệm vụ hàng đầu. Nơi đây có lợi thế về
nguồn lao động dồi dào nhưng chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, phần lớn là lao
động phổ thông ở nông thôn, tỷ lệ qua đào tạo thấp. Với mục tiêu đẩy mạnh quá
trình phát triển kinh tế của tỉnh theo hướng CNH-HĐH, xác định cơ cấu kinh tế hợp
lý của tỉnh là dịch vụ - công nghiệp và nông nghiệp vào năm 2020, việc đầu tư phát
triển các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long được xem là nhiệm vụ rất quan trọng.
Với mục tiêu phát triển như vậy, KCN cần có đội ngũ lao động đảm bảo về số
lượng, lẫn chất lượng. Trong thời gian qua, các doanh nghiệp đã tận dụng nguồn lao
động dồi dào của tỉnh và khu vực lân cận để phục vụ sản xuất kinh doanh, góp phần
giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tăng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu, chuyển
đổi cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì sự phát triển, hoạt
động của các KCN, đặc biệt sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp đã và đang
nảy sinh nhiều vấn đề bất cập cần phải giải quyết liên quan đến quan hệ lao động, sử
dụng nguồn lao động trong KCN. Lực lượng lao động vẫn còn hạn chế về số lượng,
lẫn chất lượng. Thu nhập và đời sống công nhân còn nhiều khó khăn. Quy hoạch đầu
tư chưa đồng bộ giữa hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội. Do vậy cần phải có định
hướng đúng đắn, giải pháp chiến lược nhằm phát huy các tác động tích cực, giảm
thiểu những mặt tiêu cực nhằm góp phần phát triển bền vững lực lượng lao động
trong thời kỳ tới. Đó cũng chính là lý do mà tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Định hướng
sử dụng lao động ở các KCN tỉnh Vĩnh Long thời kỳ CNH-HĐH” để làm luận văn
tốt nghiệp cao học của mình. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở giúp cho nhà nước,
doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo hiểu rõ hơn việc đào tạo và sử dụng lao động,
đồng thời tìm ra giải pháp nào cần tập trung nhất nhằm phát triển nguồn nhân lực
cho các KCN.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ
2.1. Mục tiêu
Đúc kết những cơ sở lí luận và thực tiễn để nghiên cứu thực trạng việc sử
dụng lao động trong KCN nói riêng và tỉnh Vĩnh Long nói chung. Từ đó có định
9
hướng đúng đắn và tìm ra những giải pháp sử dụng hợp lý, hiệu quả lao động, giải
quyết việc làm đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao đời sống,
thu nhập cho NLĐ làm việc trong các KCN, đồng thời có biện pháp khắc phục giảm
thiểu những hạn chế, nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN.
2.2. Nhiệm vụ
-Tổng quan có chọn lọc một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn lao
động và sử dụng lao động.
-Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến qui mô, chất lượng và việc sử
dụng lao động của tỉnh Vĩnh Long dưới góc độ địa lý kinh tế xã hội.
-Nghiên cứu thực trạng sử dụng lao động trong các KCN tỉnh Vĩnh Long.
-Định hướng và đề xuất giải pháp ổn định số lượng, nâng cao chất lượng lao
động và sử dụng lao động hợp lý ở các KCN tỉnh Vĩnh Long.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và nội dung nghiên cứu về nguồn lao động trong các KCN trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Long, thực trạng sử dụng và hướng sử dụng trong các KCN
- Về mặt thời gian : nguồn số liệu thu thập, đối tượng khảo sát được xét
trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2012 và định hướng đến năm 2020.
- Về mặt không gian: Giới hạn nghiên cứu trong phạm vi các khu và tuyến
công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
4. Những công trình nghiên cứu có liên quan
Trong quá trình tiến hành CNH-HĐH, vấn đề đào tạo, sử dụng và phát
triển nguồn lao động phục vụ cho chiến lược phát triển KTXH trong giai đoạn nhất
định đã được rất nhiều ban, ngành từ Trung ương đến địa phương nghiên cứu và
tìm hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau: Phạm Minh Hạc “Phát triển văn hóa con
người và nguồn nhân lực thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Các
công trình nghiên cứu về phát triển NNL đối với lãnh thổ phục vụ cho chiến lược
phát triển KTXH trong một giai đoạn nhất định cũng đã được quan tâm cụ thể như
10
công trình của Trương Thị Minh Sâm, “Những luận cứ khoa học của việc phát triển
nguồn nhân lực công nghiệp cho vùng kinh tế trọng điểm phía nam”. Trần Thị
Tuyết Mai với bài viết” Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực trong chiến
lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đến năm 2010”.
Các luận văn thạc sĩ:” Lao động và sử dụng lao động ở tỉnh Đồng Nai thời
kỳ hội nhập” của Đào Thị Dung, “Lao động và sử dụng lao động thành phố Hồ Chí
Minh”, tác giả Đàm Nguyễn Thùy Dương, “Quá trình hình thành và phát triển các
khu công nghiệp và tác động của nó đến sự phân bố nguồn lao động tỉnh Bình
Dương”, tác giả Vương Minh Hùng. “Thực trạng lao động công nhân trong các khu
công nghiệp, khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh và một số giải pháp nhằm
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài”, tác giả Huỳnh Thị Thu Sương đều có sự
quan tâm đến NNL.
Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về lao động ở
KCN tỉnh Vĩnh Long dưới góc độ địa lý kinh tế xã hội. Chính vì thế, nội dung của
đề tài:”Định hướng sử dụng lao động ở các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Long thời kỳ
CNH-HĐH” đi sâu vào mảng thực trạng lao động công nhân đã và đang sử dụng
trong phạm vi doanh nghiệp thuộc các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Các phân
tích và nhận định được tác giả luận văn trình bày một cách đầy đủ, khoa học, đi từ
chi tiết đến tổng hợp nhằm giúp người đọc nhận diện một cách đầy đủ về lao động
tại các KCN của tỉnh, từ đó có những giải pháp và biện pháp khắc phục thiết thực và
kịp thời.
5. Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm nghiên cứu
5.1.1. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Tất cả các yếu tố tự nhiên và KTXH không hoạt động tách rời nhau mà
có mối quan hệ hữu cơ với nhau thúc đẩy hoặc ức chế sự phát triển của nhau.
Nghiên cứu nguồn lao động phải tính đến tất cả các yếu tố như số lượng, chất lượng,
11
cơ cấu, đào tạo, chính sách…xét trong mối quan hệ tương hỗ để xác định đặc điểm
chung trên cơ sở đặc điểm riêng của từng yếu tố.
5.1.2. Quan điểm hệ thống
Các đối tượng, hiện tượng địa lý đều có sự tác động qua lại với nhau trong
một hệ thống nhất định, khi một thành phần của hệ thống bị tác động làm nó thay
đổi phát triển thì nó gây ra những ảnh hưởng đến các thành phần khác của hệ thống,
đồng thời kéo theo các thành phần khác của hệ thống thay đổi, cuối cùng làm cho hệ
thống đó thay đổi. Hệ thống đó nằm trong hệ thống cao hơn và những thay đổi của
nó lại kéo theo sự thay đổi của hệ thống cấp cao hơn.
5.1.3. Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Nguồn lao động không chỉ phân hóa theo không gian mà còn phát triển theo
thời gian. Nguồn lao động có sự thay đổi trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Vì
vậy để lí giải nguồn lao động trong hiện tại và xác định kế hoạch phát triển, sử dụng
lao động trong tương lai, chúng ta cần quán triệt quan điểm lịch sử viễn cảnh.
5.1.4. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Khi nghiên cứu những vấn đề lao động phải dựa trên quan điểm sinh thái và
phát triển bền vững. Phát triển kinh tế, tạo việc làm cho NLĐ luôn phải đi đôi với
việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, tạo môi trường sống trong
sạch lành mạnh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thống kê
Dựa vào cơ sở những nguồn số liệu đảm bảo giá trị pháp lý được sử dụng
triệt để và khai thác tối đa phục vụ cho việc nghiên cứu. Số liệu được thu thập xử lý,
tổng hợp trên cơ sở dữ liệu và kết quả của các cuộc điều tra, thống kê của các ban,
ngành…
12
5.2.2.Phương pháp phân tích và tổng hợp
Dựa trên những thông tin có sẵn, đề tài sử dụng phương pháp này để
đánh giá tác động của nhân tố tự nhiên, KTXH đến nguồn lao động và hiện trạng sử
dụng lao động.
5.2.3. Phương pháp thực địa
Sử dụng phương pháp thực địa ngoài thu thập những số liệu thống kê, còn
tiến hành thực địa phỏng vấn người lao động nhằm kiểm tra độ chính xác của nguồn
thông tin và số liệu thu thập được.
5.2.4. Phương pháp so sánh
Phương pháp này được sử dụng để so sánh các giai đoạn phát triển của
nguồn lao động qua thời gian và theo không gian dựa trên những cơ sở dữ liệu thu
vực trong KCN Vĩnh Long. Qua đó xác định điểm mạnh, yếu của vấn đề nguồn
lao động trên địa bàn.
thập được đồng thời cũng thấy được sự biến động của nguồn lao động ở các lĩnh
5.2.5. Phương pháp bản đồ-biểu đồ
Đây là phương pháp đặc trưng của ngành địa lý dùng để khái quát hóa số
liệu, xây dựng các biểu đồ và bản đồ mang tính trực quan cao. Dựa trên những số
liệu đã thu thập và phân tích xây dựng những bản đồ, biểu đồ thích hợp để thấy rõ sự
biến động của nguồn lao động tại KCN tỉnh Vĩnh Long.
5.2.6. Phương pháp dự báo
Bằng kiến thức thực tế và những số liệu, thông tin tổng hợp để dự báo, đưa
ra những giải pháp phù hợp cho tương lai dựa trên sự phát triển có tính quy luật của
sự vật và hiện tượng.
6. Cấu trúc của đề tài
13
Nội dung kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu và phần kết luận có ba
chương nội dung chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển và sử dụng nguồn nhân
lực trong quá trình CNH-HĐH.
Chương 2: Thực trạng sử dụng lao động ở các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh
Long.
Chương 3: Định hướng sử dụng lao động ở các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh
Long thời kỳ CNH-HĐH.
14
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LAO ĐỘNG VÀ
SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA
1.1 Nguồn lao động
1.1.1 Quan niệm về nguồn lao động
Nguồn lao động là khái niệm thu nhỏ của NNL.Như vậy, trước khi bàn về
khái niệm nguồn lao động, cần tìm hiểu khái niệm NNL
NNL là tổng tiềm năng lao động của con người trong một quốc gia, một
vùng, một khu vực, một địa phương trong thời điểm cụ thể nhất định. Tiềm năng của
NNL bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực (đạo đức, lối sống, nhân cách, truyền thống,
lịch sử, văn hóa, dân tộc) của bộ phận dân số có thể tham gia vào các hoạt động
KTXH.
Theo Bộ luật Lao động thì NNL của xã hội bao gồm những người trong
độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động nhưng có khả năng sẽ tham gia lao động.
Số lượng NNL phụ thuộc vào tỉ lệ tăng dân số tự nhiên và độ tuổi lao động; chất
lượng NNL phụ thuộc vào sự nghiệp giáo dục đào tạo và thể chất NLĐ, yếu tố di
truyền, nhu cầu sử dụng lao động ở địa phương.
NNL là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và chất lượng con người với tất
cả các đặc điểm, tiềm năng và sức mạnh của nó trong quá trình phát triển KTXH. Do
vậy, các đặc trưng cơ bản của NNL có quan hệ chặt chẽ mang tính nhất quán với các
15
đặc trưng của dân số ở mỗi giai đoạn phát triển. Các đặc trưng đó bao gồm: quy mô
về số lượng; phân bố theo vùng địa lý - kinh tế, khu vực thành thị, nông thôn; cơ cấu
giới tính; cơ cấu độ tuổi, tình trạng sức khoẻ; cơ cấu trình độ học vấn; cơ cấu trình độ
chuyên môn kỹ thuật.
Nguồn lao động là toàn bộ những NLĐ dưới dạng tích cực (đang tham gia
lao động) và tiềm tàng (có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động) (theo
từ điển thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Nga)
Nguồn lao động gồm những người có khả năng lao động nhưng chưa có
nhu cầu làm việc (theo từ điển lao động Pháp)
Theo quy định của Tổng cục Thống kê khi tính toán cân đối nguồn lao
động, nguồn lao động bao gồm toàn bộ dân số trong độ tuổi lao động có khả năng
lao động và những người ngoài tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế
quốc dân.
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: Nguồn lao động là trình độ lành
nghề, kiến thức và năng lượng của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc
dưới dạng tiềm năng để phát triển KTXH trong một cộng đồng.
Theo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội: Nguồn lao động là toàn bộ
những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động
có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong
gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác.
Trong nguồn lao động người ta không tính đến lao động trẻ em. Tuổi lao
động nhìn chung được giới hạn từ 15 tuổi đến 60 hay 65 tuổi. Ở Việt Nam, độ tuổi
lao động được quy định từ 15 tuổi - 60 tuổi đối với nam và 15 tuổi - 55 tuổi đối với
nữ. Trong thực tế, không phải ai trong nguồn lao động đều tham gia vào các quá
trình lao động hay các hoạt động kinh tế. Do đó, nguồn lao động được chia làm hai:
dân số hoạt động kinh tế và dân số không hoạt động kinh tế.
• Dân số hoạt động kinh tế
Theo Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, nhóm dân số hoạt động
16
kinh tế hay còn gọi là lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15
tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc
trong một khoảng thời gian xác định.
-
Theo quan điểm thuật ngữ Pháp: lực lượng lao động là số lượng và
chất lượng của những người lao động được quy đổi theo các tiêu chuẩn trung bình
về khả năng lao động có thể sử dụng.
-
Theo quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): lực lượng lao
động là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế đang có việc làm và những
người thất nghiệp.
Lực lượng lao động tuy là một bộ phận của nguồn lao động nhưng không
đồng nhất với nguồn lao động. Do vậy, ngoài các đặc trưng về nhân khẩu, về trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn- kỹ thuật đã nêu lực lượng lao động còn bao hàm
các đặc trưng về trình độ, cơ cấu, kỹ năng, nghề nghiệp, cấu trúc đào tạo, tác phong
kỷ luật lao động, đạo đức nghề nghiệp, sự hiểu biết về luật pháp, khả năng đáp ứng
được yêu cầu phát triển CNH-HĐH đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khả năng hội nhập
với thị trường lao động trong khu vực và thế giới.
Như vậy, dân số hoạt động kinh tế tại nước ta không chỉ tính trong
nhóm dân số trong độ tuổi lao động mà còn tính cả nhóm người ngoài độ tuổi
lao động nhưng vẫn tham gia lao động. Trong nhóm dân số hoạt động kinh tế
chia ra 2 nhóm nhỏ dân số hoạt động kinh tế thường xuyên và dân số hoạt động
kinh tế không thường xuyên. Dân số hoạt động kinh tế thường xuyên: là những
người đủ 15 tuổi trở lên có tổng số ngày làm việc lớn hơn hoặc bằng 183 ngày,
ngược lại nhỏ hơn 183 ngày là dân số không hoạt động kinh tế thường xuyên. Số
người có việc làm thường xuyên chiếm tỷ lệ càng cao, điều này chứng tỏ khả
năng phát triển kinh tế của khu vực đó, đồng thời phản ánh hiệu quả của việc sử
dụng lao động.
17
• Dân số không hoạt động kinh tế
Dân số không hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ số người đủ 15 tuổi trở
lên không thuộc bộ phận có việc làm hoặc không có việc làm.
Những người này không hoạt động kinh tế do những lí do khác nhau như
đi học, nội trợ, già cả, mất sức, tàn tật và bao gồm cả những người không có nhu
cầu làm việc...
Nhìn chung, khái niệm NNL rộng hơn khái niệm nguồn lao động; bởi
NNL bao gồm cả những người ngoài độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao
động. Tuy nhiên, ở chừng mực nào đó, có thể coi nguồn lao động hay NNL đồng
nhất về số lượng, cả hai cùng bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có
khả năng lao động, cũng như tất cả người ngoài độ tuổi lao động có nhu cầu và
khả năng tham gia lao động.
Như vậy, có thể hiểu nguồn lao động là toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở
lên, đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân, những người có khả năng lao động
nhưng không có nhu cầu làm việc, những người tàn tật, mất sức lao động( bị tai nạn
trong khi lao động), những người thất nghiệp và những người thuộc tình trạng khác
(đang đi học, nội trợ).
1.1.2 Cơ cấu lao động
Cơ cấu lao động là tỷ trọng của các bộ phận lao động hợp thành nguồn
lao động. Cơ cấu lao động của một nước có thể được tìm hiểu theo nhiều tiêu chí
khác nhau, tùy vào mục đích nghiên cứu và sử dụng như: cơ cấu lao động theo
tuổi, cơ cấu lao động theo trình độ văn hóa, theo trình độ chuyên môn, cơ cấu
lao động theo ngành...Việc tìm hiểu và xây dựng một cơ cấu lao động hợp lý có
vai trò lớn trong việc sử dụng NNL hiệu quả và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh
tế của một quốc gia.
18
Cơ cấu lao động có thể được chia theo độ tuổi, giới tính, trình độ văn
hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, theo ngành, thành phần kinh tế.
*Cơ cấu lao động theo độ tuổi là sự tập hợp những nhóm người trong độ
tuổi lao động được sắp xếp theo những nhóm tuổi nhất định. Sự thay đổi kết cấu
lao động theo lứa tuổi sẽ phải phụ thuộc chủ yếu vào sự thay đổi tỷ suất sinh của
dân số. Ngoài ra, kết cấu lao động theo lứa tuổi còn phụ thuộc vào tuổi thọ, mức
sống của người dân.
*Cơ cấu lao động theo giới là sự tương quan giữa lao động nam và lao động
nữ hay tương quan giữa lao động nam hoặc lao động nữ trên tổng số lao động. Cơ
cấu lao động theo giới ảnh hưởng đến việc tổ chức sản xuất, phản ánh tính chất, đặc
điểm, loại hình công việc: đối với những ngành lao động nặng nhọc như khai
khoáng, xây dựng... lao động nam chiếm ưu thế, ngược lại, đối với những ngành lao
động mang tính chất nhẹ nhàng như dệt may, dịch vụ... lao động nữ lại chiếm ưu
thế. Ngoài ra, cơ cấu lao động theo giới còn phản ánh mức độ bình đẳng nam - nữ
và sự tiến bộ xã hội. Ở các nước kinh tế phát triển tỷ lệ lao động nữ xấp xỉ hay cao
hơn tỷ lệ lao động nam. Ở các nước đang phát triển thì ngược lại.
* Cơ cấu lao động theo trình độ văn hóa phản ánh trình độ học vấn của dân
cư và nguồn lao động. Chỉ tiêu để đánh giá trình độ văn hóa của dân số là tỷ lệ người
biết chữ và bình quân số năm đến trường. Đối với lực lượng lao động, kết cấu theo
trình độ văn hóa được tính theo từng cấp học và bình quân lớp học cao nhất tính theo
đầu người.
*Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kỹ thuật thể hiện trình độ
CNH-HĐH của một nước. Trình độ khoa học kỹ thuật càng cao, nó có tác động
mạnh mẽ vào năng suất tăng nhanh, đảm bảo sản xuất ra các sản phẩm có chất
lượng cao, giá thành hạ, hiệu quả kinh tế cao. Trong giai đoạn hiện nay, khi các sản
phẩm ngày càng chứa đựng dung lượng khoa học - kỹ thuật cao, khi đổi mới kịp
thời công nghệ, trang thiết bị sản xuất là chìa khóa cho sự thành công. Song song
việc không ngừng cải tiến khoa học-kỹ thuật ta cũng cần phải chú ý và tận dụng tối
19
* Cơ cấu lao động theo ngành là tiến hành phân bố sắp xếp lại nguồn lao
đa các nghề nghiệp vốn có truyền thống lâu đời của NLĐ.
động của một vùng, một nước (hoặc phạm vi rộng hơn) vào các ngành kinh tế khác
nhằm đảm bảo cho sự hoạt động của toàn bộ kinh tế. Sự phân chia lao động theo
ngành phản ánh tình hình và trình độ phát triển KTXH của mỗi quốc gia. Với xu
hướng phát triển KTXH như hiện nay, lao động trong khu vực sản xuất của cải vật
chất sẽ giảm xuống và ngược lại tỷ lệ lao động trong khu vực phi sản xuất vật chất
phát triển.
* Cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế phụ thuộc vào chế độ chính
trị-xã hội của mỗi quốc gia. Ở nước ta trước đây có hai thành phần kinh tế là quốc
doanh và tập thể.
1.1.3 Nội dung phát triển nguồn nhân lực
* Quan niệm về phát triển nguồn nhân lực
Quan điểm sử dụng năng lực con người của ILP, “Phát triển NNL bao hàm
không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực là làm
cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu
quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”.
Quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Phát triển NNL bao hàm
một phạm vi rộng lớn hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề, hoặc ngay cả
việc đào tạo nói chung. Quan niệm này dựa trên cơ sở nhận thức rằng, con người có
nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như
những thoả mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Sự lành nghề được hoàn
thiện nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình sống, làm việc, nhằm đáp ứng
kỳ vọng của con người.
Phát triển NNL, đó là nâng cao tri thức, sức khỏe, kỹ năng thực hành để
tăng năng suất lao động dẫn đến tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống nếu
xét ở góc độ cá nhân. Xét ở góc độ xã hội, đó là quá trình tạo dựng một lực lượng
20
lao động cả về số lượng, chất lượng và sử dụng có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu
phát triển KTXH của quốc gia, vùng lãnh thổ trong từng thời kỳ. Về chất, phải được
tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển trí tuệ, thể lực và tạo môi
trường thuận lợi cho NNL phát triển. Về lượng, phát triển NNL là gia tăng số lượng
NNL, điều này tùy thuộc vào nhiều nhân tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản. Phát
triển NNL chịu sự tác động của các yếu tố: giáo dục và đào tạo, sức khỏe và dinh
dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóng con người. Những nhân tố này luôn
gắn bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau. Trong các nhân tố, giáo dục và đào tạo vẫn
được coi là chủ yếu và quan trọng để phát triển NNL.
Như vậy, phát triển NNL là tạo tiềm năng của con người thông qua đào
tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh
thần, khai thác tối đa tiềm năng trong đó các hoạt động lao động thông qua việc
tuyển, sử dụng, tạo điều kiện về môi trường làm việc, môi trường văn hóa, xã hội
kích thích động cơ, thái độ làm việc của con người, để họ mang hết sức mình hoàn
thành nhiệm vụ.
* Phát triển về mặt số lượng
NNL của một quốc gia, vùng lãnh thổ, về mặt số lượng thể hiện ở quy mô
dân số, cơ cấu về giới và độ tuổi. Theo đó, NNL được gọi là đông về số lượng khi
quy mô dân số lớn, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao. Dưới góc độ phát triển,
không thể không xét đến tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm. Nghĩa là, về mặt số lượng,
NNL chịu ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô dân số tại thời điểm gốc và chính sách
phát triển dân số của các quốc gia và vùng lãnh thổ. Vấn đề này, hiện nay trên thế
giới đang diễn ra hai xu hướng trái ngược nhau. Đối với các quốc gia phát triển, đặc
biệt là các quốc gia ở Bắc Âu, do nhiều yếu tố: khí hậu, di truyền, nhu cầu được tự
do phát triển của mỗi cá nhân, điều kiện kinh tế và đặc biệt trợ giúp của khoa học –
kỹ thuật trong ngành y…nên tỷ lệ sinh thấp (từ 0,5% – 0,7%), trong khi đó, tuổi thọ
lại cao nên dẫn đến tình trạng già hóa NNL. Hệ quả thiếu NNL đến mức báo động.
Đối với các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các nước chậm phát triển, thì
21
ngược lại hoàn toàn. Tỉ lệ sinh ở các nước này thường khá cao (trên 1,5%/năm), điều
kiện kinh tế, chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế chậm được cải thiện, dẫn đến dư
thừa lao động. hệ quả là gia tăng thất nghiệp và gây áp lực cho việc giải quyết việc
làm.
* Phát triển về mặt chất lượng
Hiện nay, có hai quan điểm phổ biến xem xét chất lượng NNL:
Theo quan điểm thứ nhất, chất lượng NNL được thể hiện ở các mặt trí lực,
thể lực và nhân cách, thẩm mỹ và yếu tố kết cấu các mặt đó. Nghĩa là, yếu tố kết cấu
được tách riêng khi xem xét NNL.
Theo quan điểm thứ hai, chất lượng NNL thể hiện trên ba mặt: trí lực, thể
lực và nhân cách, thẩm mỹ; nghĩa là, yếu tố đã được bao hàm trong chính nội tại ba
yếu tố đó. Đối với quan điểm này, chất lượng NNL được xem xét ở đây là của một
tập hợp người, bao gồm những người trong và trên độ tuổi lao động có khả năng lao
động, thực tế đang làm việc, chưa có việc làm hoặc đang được đào tạo. Mặt khác,
khi xem xét chất lượng NNL, nếu tính riêng yếu tố kết cấu thì sẽ không thể phác họa
được một bức tranh đầy đủ về chất lượng NNL.
Do vậy, thực chất của phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng là sự
phát triển trên cả ba mặt: trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của người lao động.
Đây cũng là cơ sở để Nhà nước Việt Nam xác định: trong khi nguồn lực vật chất và
tài chính còn hạn hẹp, thì cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục – đào tạo phải
trở thành quốc sách hàng đầu .
1.1.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn lao động
Đánh giá chất lượng nguồn lao động dựa trên những tiêu chí sau:
* Về thể lực, sức khỏe vừa là mục đích đồng thời cũng là điều kiện của sự
phát triển. Sức khoẻ là sự phát triển hài hoà của con người cả về vật chất và tinh
thần. Sức khoẻ cơ thể là sự cường tráng, là năng lực lao động chân tay. Sức khoẻ
22
tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là khả năng vận động trí tuệ, biến tư
duy thành hoạt động thực tiễn. NLĐ có sức khoẻ tốt có thể mang lại năng suất lao
động cao nhờ sự bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung khi làm việc. Việc chăm sóc
sức khoẻ tốt làm tăng NNL trong tương lai bằng việc kéo dài tuổi lao động. Để đánh
giá chất lượng nguồn lao động về mặt thể lực có nhiều chỉ tiêu được áp dụng. Căn
cứ vào đó, Bộ y tế đưa ra 8 chỉ tiêu để đánh giá về thể lực chung, mắt, tai mũi họng,
răng hàm mặt, nội khoa, ngoại khoa, thần kinh tâm thần, da liễu. Từ đó xếp thành 6
loại: rất tốt, tốt, khá, trung bình, kém và rất kém.
* Về trí lực, khi tham gia vào quá trình sản xuất, con người không chỉ sử
dụng chân tay mà còn sử dụng cả trí óc. Bên cạnh sức khoẻ thì trí lực có ý nghĩa
quyết định đến năng suất và hiệu quả lao động. Trước sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học công nghệ, người lao động cần phải có trình độ học vấn cơ bản để có khả
năng tiếp thu và áp dụng công nghệ mới, làm việc chủ động, linh hoạt và sáng tạo,
sử dụng được các công cụ, phương tiện lao động hiện đại, tiên tiến. Nhân tố trí lực
của nguồn lao động thường được xem xét đánh giá trên hai khía cạnh: trình độ văn
hoá, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của NLĐ. Việc đánh giá
hai yếu tố này thường được dựa trên một số tiêu chí cơ bản: trình độ văn hoá, trình
độ chuyên môn kỹ thuật, phẩm chất tâm lý – xã hội.
Trình độ văn hóa của người lao động là sự hiểu biết của NLĐ đối với
những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội. Trình độ văn hoá được cung cấp
qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình học tập suốt đời
của mỗi cá nhân. Trong chừng mực nhất định trình độ văn hóa được biểu hiện thông
qua các quan hệ tỷ lệ về số người có trình độ trung học phổ thông, số người có trình
độ đại học và trên đại học… Trình độ văn hóa là một chỉ tiêu hết sức quan trọng, tạo
khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào thực tiễn.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là kiến thức và kỹ năng cần thiết để đảm
đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp.
23
Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó,
nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao
đẳng, đại học…có khả năng làm việc thuộc một chuyên môn nhất định. Trình độ
chuyên môn được đo bằng các tỷ lệ: tỷ lệ cán bộ trung cấp, tỷ lệ cán bộ cao
đẳng, đại học, tỷ lệ cán bộ trên đại học… Trình độ chuyên môn của NLĐ là một
trong những nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Đối
với nước ta, nhất là trong quá trình CNH-HĐH, nguồn lao động có trình độ
chuyên môn góp phần không nhỏ vào trong quá trình chuyển biến nền kinh tế
nông nghiệp sang nền kinh tế công nông nghiệp - tiếp thu các thành tựu mới về
kinh tế và xã hội. Trình độ kỹ thuật thường dùng để chỉ trình độ của người được
đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định, những kỹ năng
thực hành về công việc nhất định. Trình độ kỹ thuật được thể hiện thông qua các
chỉ tiêu về số lao động được đào tạo và lao động phổ thông; số người có bằng kỹ
thuật và không có bằng; trình độ tay nghề theo bậc thợ… Lao động kỹ thuật bao
gồm những công nhân kỹ thuật từ bậc ba trở lên cho tới những người có trình độ
trên đại học. Trình độ chuyên môn kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ với nhau
thông qua chỉ tiêu lao động được đào tạo và không được đào tạo trong tập thể
NNL.
Về phẩm chất tâm lý – xã hội, ngoài các yếu tố thể lực và trí lực, quá
trình lao động đòi hỏi người lao động phải có các phẩm chất như tính kỷ luật, tự
giác, tinh thần hợp tác, tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao…
Những phẩm chất này gắn liền với truyền thống văn hoá dân tộc. Ở Việt Nam, tính
kỷ luật và tinh thần hợp tác lao động còn nhiều nhược điểm đang gây trở ngại lớn
cho tiến trình hội nhập của đất nước. Phương pháp đánh giá chất lượng NNL về yếu
tố phẩm chất tâm lý xã hội thường được tiến hành bằng các cuộc điều tra tâm lý, xã
hội học và được đánh giá chủ yếu bằng chỉ tiêu định tính. Tuy nhiên trong từng khía
cạnh của phẩm chất này cũng có thể đánh giá bằng phương pháp thống kê và xác
định bằng các chỉ tiêu định lượng như tỷ lệ người lao động vi phạm kỷ luật về thời
gian lao động (đi muộn, về sớm, không chấp hành quy định giờ giấc lao động trong
24
thời gian làm việc), tỷ lệ số người vi phạm kỷ luật công nghệ, tỷ lệ số người bị thi
hành kỷ luật trong năm,…
*Về chỉ tiêu tổng hợp, chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP)
đã khuyến nghị và đưa ra áp dụng nhiều phương pháp để đánh giá sự phát triển con
người (HDI). Đây là tiêu chí đánh giá sự tiến bộ và phát triển của mỗi quốc gia về
con người. Chỉ số HDI được xây dựng với ba chỉ tiêu cơ bản là tuổi thọ trung bình
(số năm sống bình quân của mỗi người ở một quốc gia từ khi sinh ra đến khi chết).
Thành tựu giáo dục, được tính bằng trình độ học vấn của người dân và số năm đi học
bình quân của mỗi người dân tính từ tuổi đi học (mặt bằng dân trí). Mức thu nhập
bình quân đầu người.
Chỉ số nghèo khổ tổng hợp HPI là chỉ số đo lường các kết quả về xóa đói
giảm nghèo, bảo đảm các nhu cầu cơ bản cho tất cả mọi người. Đây cũng là một
trong những chỉ số thể hiện nâng cao chất lượng NNL; bởi giải quyết tốt vấn đề này
sẽ là cơ sở để sản xuất và tái sản xuất sức lao động. Ngoài ra còn có các chỉ tiêu cụ
thể đánh giá từng lĩnh vực, từng khía cạnh cụ thể của đời sống xã hội như: y tế, giáo
dục, dinh dưỡng, nước sạch, dân số, môi trường, văn hóa, tội phạm… Tuy nhiên để
đánh giá một cách đầy đủ và chính xác nhất về chỉ số phát triển con người, chất
lượng NNL của mỗi quốc gia thì cần phải có sự phối hợp tổng thể với các chỉ tiêu.
1.1.5 Vai trò của nguồn nhân lực
* Đối với quá trình CNH-HĐH
NNL giữ vai trò vô cùng quan trọng trong các hoạt động của tổ chức. Việc
tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo nhân viên phải dựa vào các tiêu chuẩn nhất định nhằm
đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Quản lý NNL xác định rõ vai trò của từng
cá nhân, từng thành viên trong tổ chức, lên kế hoạch phát triển NNL cho phù hợp
với quy mô của tổ chức. Do vậy, phát triển NNL sẽ không được coi là toàn diện nếu
không quan tâm đến vai trò của nguồn tài sản này.
25
Hiệu quả sử dụng NNL được đánh giá bằng mức độ toàn dụng NNL cả về
số lượng và chất lượng và thời gian được sử dụng; việc nâng cao hiệu quả sử dụng
nguồn nhân lực đồng nhất với:
Nâng cao hệ số sử dụng số lượng nhân lực; -
Nâng cao hiệu suất sử dụng nhân lực, hay giá trị tăng thêm được tạo ra -
từ việc sử dụng nhân lực;
Và nâng cao hệ số sử dụng thời gian lao động. -
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng NNL là một quá trình chịu ảnh hưởng trực
tiếp từ tình hình cung cầu trên thị trường lao động, chất lượng NNL, chính sách lao
động, việc làm và tiền lương của Nhà nước đối với nguồn lao động; theo đó, hiệu
quả sử dụng NNL sẽ đồng biến với tốc độ giải quyết việc làm, nghịch biến với tỷ lệ
thất nghiệp và phụ thuộc vào chính sách thu hút, bố trí, sử dụng và chế độ đãi ngộ.
Nếu những chính sách này hợp lý sẽ kích thích được tinh thần làm việc, phát huy
được khả năng sáng tạo của người lao động, là động lực quan trọng để nâng cao hiệu
quả và chất lượng công việc, sẽ thu hút được nhân tài cho tổ chức mình.
Do vậy, NNL có một vai trò hết sức quan trọng đến sự thành công hay thất
bại của mỗi một doanh nghiệp, mỗi địa phương và mỗi một quốc gia, nếu tạo điều
kiện cho nguồn nhân lực thể hiện tốt vai trò tiên phong của mình thì hiệu quả KTXH
sẽ không ngừng được nâng lên cả về chất và lượng, còn nếu một nguồn nhân lực
kém chất lượng thì sẽ làm cho nền kinh tế phát triển chậm hoặc thậm chí kém phát
triển và tụt hậu.
Được xác định là một điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ một hoạt động
nào trong phát triển KTXH, nguồn nhân lực luôn đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối
với sự tồn vong của mỗi quốc gia.
26
* Đối với phát triển các khu công nghiệp
NNL là lực lượng nòng cốt của các doanh nghiệp tại KCN. Việc thực hiện
phát triển lực lượng lao động chất lượng cao là vấn đề sống còn của DN bởi vì đây
là yếu tố quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm và giá thành sản phẩm.
Chất lượng tăng, giá thành hạ sẽ tạo ra sức mạnh vững chắc để các DN cạnh tranh
lành mạnh trên thị trường trong và ngoài nước.
Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực là lợi thế so sánh hàng đầu của doanh
nghiệp bởi vì nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ góp phần quan trọng trong việc duy
trì và phát triển của DN, thúc đẩy sản xuất phát triển. Đào tạo và phát triển NNL là
điều kiện quyết định để các DN có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị
trường như hiện nay. Đồng thời cũng góp phần nâng cao tính ổn định và năng động
của DN, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững
KCN.
* Đối với quá trình phát triển kinh tế- xã hội
Đối với tăng trưởng kinh tế, điều tất yếu ngoài những nguồn lực cơ bản cho
sự tăng lên về số lượng, chất lượng sản phẩm thì nguồn lực con người không chỉ làm
sống lại các yếu tố của quá trình sản xuất mà còn sáng tạo ra những tư liệu lao động
trong đó cốt lõi là công cụ lao động, những đối tượng lao động mới, những đối
tượng lao động chưa từng có trong tự nhiên.
Nói về vai trò của nguồn lực khoa học và công nghệ trong sự phát
triển KTXH, thì vai trò của NNL có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. NNL đã trở thành
nhân tố không chỉ quyết định đối với việc thực hiện thành công các mục tiêu KTXH
cả trung và dài hạn, mà đối với một số nước, việc thiếu đội ngũ cán bộ khoa học và
công nghệ giỏi còn trở thành lực cản đối với tiến trình đi tới những mục tiêu tăng
trưởng kinh tế và bền vững. Trên thế giới hiện nay, việc thành công trong tăng
trưởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên, vào vốn vật chất mà yếu
tố ngày càng chiếm vị trí quan trọng là con người và quản lý.
27
Khi phân tích các yếu tố của quá trình sản xuất và mối quan hệ giữa chúng
trong quá trình tăng trưởng kinh tế giữa các yếu tố cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Điều đặc biệt cần lưu ý là trong các nguồn lực nội sinh; nguồn lực con
người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật thì NNL được xem là
nhân tố đóng vai trò quyết định, chi phối các nhân tố khác trong quá trình tăng
trưởng. Sở dĩ như vậy bởi so với các nguồn lực khác thì đây là nguồn lực “sống”,
không chỉ làm sống lại các tư liệu sản xuất mà còn sáng tạo ra các tư liệu lao động
và đối tượng lao động mới. Hơn thế với nguồn lực con người là trí tuệ chất xám nếu
biết đào tạo, bồi dưỡng và vun đắp thì nguồn lực con người là nguồn lực vô tận,
không có giới hạn, không bị cạn kiệt như các nguồn tài nguyên khác.
Ngay cả các nhân tố liên quan đến tăng trưởng kinh tế, khoa học công nghệ, cơ
cấu kinh tế, thể chế chính trị…đều xuất phát từ nguồn lực con người. Nó là nguồn lực
chính quyết định sự tăng trưởng bởi nguồn gốc của cải xã hội là do con người tạo ra.
Đối với phát triển kinh tế- xã hội, nhân tố đóng vai trò quan trọng đối với phát
triển kinh tế trước hết đó là phát triển lực lượng sản xuất trong đó nhân tố cốt lõi là
nguồn lao động. Nguồn lực con người không chỉ có ý nghĩa đối với tăng trưởng kinh
tế mà còn đóng vai trò quyết định đối với phát triển kinh tế. Nguồn lực con người
không chỉ có ý nghĩa trong việc kết hợp các yếu tố tự nhiên, mà còn cải tạo tự nhiên
để tạo ra của cải có ích cho con người và xã hội. Chính vì vậy sự phát triển của một
quốc gia về kinh tế, chính trị, xã hội đều do con người và lấy con người là nhân tố
trung tâm của sự phát triển bền vững.
Nhân tố thứ hai liên quan đến phát triển kinh tế là quan hệ sản xuất. Quan
hệ sản xuất được thể hiện trên ba nội dung: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan
hệ về tổ chức quá trình sản xuất xã hội hay trao đổi kết quả lao động cho nhau và
quan hệ phân phối sản phẩm. Trong ba mặt của quan hệ sản xuất thì quan hệ hữu cơ
về tư liệu sản xuất là quan trọng nhất, sở dĩ như vậy vì tư liệu sản xuất nằm trong tay
ai thì người đó trực tiếp tổ chức quá trình sản xuất và người đó trực tiếp chi phối sản
phẩm.
28
Hơn thế, nguồn lực con người không chỉ là nhân tố quyết định về phát triển
kinh tế mà còn quyết định cả về mặt xã hội. Như chúng ta đều biết tổng thể các mặt
của quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở hạ tầng của một hình thái KTXH, nó quyết
định mối quan hệ giữa người với người. Do vậy, chất lượng NNL càng cao thì ý
thức xã hội càng phát triển, càng làm cho quan hệ giữa người với người càng tốt hơn
thúc đẩy sự phát triển nhanh của xã hội.
1.2 Quan niệm về sử dụng lao động
1.2.1 Sử dụng lao động theo ngành nghề
*Sử dụng lao dộng trong ngành nông - lâm ngư nghiệp
Lao động nông - lâm - ngư nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự
nhiên, năng suất tùy thuộc vào mức độ công nghiệp hóa trong nông nghiệp (cơ
giới hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa, điện khí hóa) và diễn biến thời tiết thất
thường hàng năm. Ở những nước phát triển, nông nghiệp phát triển theo hướng
nông nghiệp hàng hóa, nên việc áp dụng máy móc, kĩ thuật vào nông nghiệp là
phổ biến. Trình độ thâm canh và chuyên môn hóa cao nên tỷ lệ lao động hoạt
động trong nông nghiệp thấp. Ngược lại, ở những nước đang phát triển, như
Việt Nam, lao động tập trung chủ yếu ở khu vực này. Tính chất mùa vụ chi phối
mạnh việc làm của lao động nông nghiệp. Vào thời gian gieo trồng, thu hoạch
thì thu hút đông lao động nhưng vào lúc nông nhàn, lao động thiếu việc làm, tạo
tình trạng thất nghiệp tạm thời. Do đó trong quá trình sử dụng lao động cần đưa
ra các biện pháp để tận dụng thời gian nông nhàn cho người lao động đồng thời
tạo ra thu nhập và tránh các vấn đề về xã hội.
*Sử dụng lao động trong ngành công nghiệp - xây dựng
Lao động trong công nghiệp là loại hình lao động sản xuất tiên tiến, sử
dụng máy móc hiện đại, năng suất lao động cao. Với đặc điểm là sản xuất theo
dây chuyền, chuyên môn hóa và tự động hóa ngày càng cao, quy trình công
nghệ hiện đại, đòi hỏi người lao động phải tuân thủ các thao tác kịp thời và
chính xác. Nó tạo cho người lao động có tác phong công nghiệp và kỷ luật
29
Ngoài ra, sản xuất công nghiệp ít phụ thuộc vào tự nhiên, mang tính chất ổn
định nên cũng tạo việc làm ổn định và thường xuyên cho người lao động.
Phát triển công nghiệp sẽ tạo khả năng mở rộng thị trường lao động và tạo ra
việc làm mới. Vì vậy, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp ngày càng tăng,
đặc biệt là những nước đang phát triển đang trong quá trình công nghiệp hóa và
hiện đại hóa như nước ta. Tỷ lệ lao động trong công nghiệp của nước ta tăng từ
18% năm 2005 tăng lên 21% năm 2009 nhưng sự chuyển dịch vẫn còn chậm
nhất là trong giai đoạn hiện nay. Ở các nước phát triển, xu hướng chuyển dịch
lao động hiện nay là giảm tỷ trọng lao động trong ngành công nghiệp và xây
dựng, chuyển lao động sang ngành dịch vụ.
*Sử dụng lao động trong ngành dịch vụ.
Không giống như ngành công nghiệp và nông nghiệp, ngành dịch vụ
không trực tiếp tham gia vào qúa trình sản xuất vật chất, nhưng nó có vai trò rất
quan trọng trong việc là cầu nối và thúc đẩy các ngành sản xuất vật chất phát
triển. Cơ cấu ngành dịch vụ đa dạng bao gồm giao thông vận tải, thông tin liên
lạc, tài chính, bảo hiểm, bất động sản, y tế, giáo dục...Do đó, ngành dịch vụ có
khả năng tạo ra khối lượng việc làm lớn cho người lao động. Hiện nay, xu
hướng chung về sự phân bố lao động theo ngành là tăng tỷ lệ lao động trong
ngành dịch vụ. Tuy nhiên, ở mỗi nhóm nước có trình độ phát triển kinh tế khác
nhau, tỷ lệ lao động trong ngành này khác nhau.
1.2.2 Sử dụng lao động theo thành phần kinh tế
Sử dụng lao động theo thành phần kinh tế phụ thuộc vào chế độ chính trị
và sự đa dạng của nền kinh tế của từng quốc gia.
Trước kia nước ta chỉ có hai thành phần kinh tế là quốc doanh và tập thể.
Sau khi tiến hành Đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường, đa dạng hóa các
thành phần kinh tế, gồm 6 thành phần: Nhà nước, tập thể, cá thể, hỗn hợp và
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, tập hợp thành 3 khu vực: Nhà nước, khu vực
ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Điều này đóng vai trò vô
30
cùng quan trọng trong việc phát huy hết mọi tiềm lực của nền kinh tế, đồng thời
tạo việc làm cho người lao động, tạo điều kiện cho việc sử dụng lao động hợp lý
và hiệu quả hơn. Hiện nay, ở nước ta, đang có sự chuyển dịch lao động từ khu
vực nhà nước sang khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài. Sự chuyển dịch hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế
nước ta.
1.3 Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
1.3.1 Khái niệm
Vào thế kỷ XVII, XVIII, CNH được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ
công bằng lao động sử dụng máy móc.
Theo Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7 khoá VI và Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng Sản Việt Nam thì CNH được hiểu là quá
trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và
quản lí KTXH, từ dùng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa
trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất
lao động xã hội cao
Hiện đại hoá đất nước là xây dựng đất nước trên một kinh tế hiện đại hay nói
cách khác là phát triển đất nước trên nền kinh tế đã được áp dụng các khoa học kỹ
thuật vào trong sản xuất, nông nghiệp, công nghiệp.
Công nghiệp hóa là một phần của quá trình hiện đại hóa. Sự chuyển biến
KTXH này đi đôi với tiến bộ công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của sản xuất năng
lượng và luyện kim quy mô lớn. Công nghiệp hóa còn gắn liền với thay đổi các hình
thái triết học hoặc sự thay đổi thái độ trong nhận thức tự nhiên.
31
1.3.2 Về các chỉ tiêu đánh giá việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng thời
kì CNH-HĐH
Để đáp ứng thời kì CNH-HĐH đòi hỏi phải khai thác và phát huy cao độ tất
cả các nguồn lực trong xã hội đặc biệt là nguồn lực con người - yếu tố nội sinh có
tính chất quyết định nhất.
* Về mặt thể lực, sự nghiệp CNH - HĐH với việc áp dụng phổ biến các kỹ
thuật và công nghệ hiện đại đòi hỏi một lớp người lao động ngày càng có sức khoẻ
tốt, thể lực cường tráng, có sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng những quá trình sản xuất
liên tục, kéo dài, có các thông số nhân chủng học đáp ứng được các hệ thống thiết bị
công nghệ hiện đại được sản xuất phổ biến và trao đổi trên thị trường khu vực và thế
giới đồng thời luôn có sự tỉnh táo, sảng khoái tinh thần. Kỹ thuật và công nghệ ngày
càng tinh vi, bên cạnh đó giá trị của nhiều loại sản phẩm rất lớn nên đòi hỏi sự chính
xác và an toàn cao độ của NLĐ. Điều kiện này lại phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái
sức khoẻ của NLĐ.
* Về mặt trí lực, đây là một yêu cầu cấp thiết trong thời kì CNH-HĐH, đòi
hỏi mặt bằng dân trí của NNL phải cao, đại bộ phận lao động xã hội phải được đào
tạo về chuyên môn kỹ thuật. Các trung tâm công nghiệp, các cơ sở sản xuất với công
nghệ hiện đại và hiện đại hoá nền nông nghiệp sẽ thu hút hàng chục vạn công nhân
kỹ thuật được đào tạo ở các trường, lớp dạy nghề.
Ngoài ra, một yêu cầu không kém phần quan trọng của sự phát triển NNL
nước ta là nâng cao ý thức công dân, dân tộc, rèn luyện phong cách làm việc chuyên
nghiệp. Những phẩm chất này sẽ giúp người lao động không bị cám dỗ bởi những
mặt trái của nền kinh tế thị trường. CNH - HĐH còn đòi hỏi ý thức kỷ luật lao động
cao, tác phong làm việc khoa học - điều mà lực lượng lao động nước ta còn yếu kém
khi mà xuất phát từ một nền sản xuất nhỏ, phân tán. Cùng với sự tiến triển của xã
hội đòi hỏi phải có sự chuyển biến căn bản về phẩm chất tâm lý của NNL. Điều này
đòi hỏi người lao động phải có những phẩm chất tâm lý xã hội cơ bản: có tác phong
32
công nghiệp, ý thức kỷ luật tự giác cao; có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn;
sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng chuyển đổi công việc cao, thích
ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý.
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lao động và sử dụng lao động
1.4.1 Vị trí địa lý
Vị trí địa lý chi phối các điều kiện tự nhiên của lãnh thổ, ảnh hưởng đến
hình thức cư trú và sản xuất của con người. Sự ảnh hưởng đó thể hiện qua các yếu
tố như địa hình, khí hậu, đất, nguồn nước, sinh vật, khoáng sản...Vị trí địa lý có vai
trò quan trọng trong sự phát triển KTXH, có ảnh hưởng lớn đến nguồn lao động
cũng như sự phân bố lao động. Lịch sử phát triển kinh tế đã cho thấy, ở những khu
vực có vị trí thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế. Điều này sẽ thu
hút dân cư lao động đến sinh sống.
1.4.2 Các nhân tố tự nhiên
* Địa hình, sự phân bố các dạng địa hình ảnh hưởng đến sự phân bố dân
cư cũng như các hoạt động kinh tế, thường những khu vực có địa hình thuận lợi
như đồng bằng, bán bình nguyên hoạt động kinh tế diễn ra sầm uất, lao động tập
trung đông. Ngược lại, càng lên cao, mật độ lao động sẽ càng giảm. Ngoài ra,
địa hình còn ảnh hưởng đến cơ cấu lao động. Ở vùng đồng bằng, kinh tế phát
triển đa dạng các nhóm ngành, do đó, cơ cấu lao động cũng đa dạng. Ngược lại,
khu vực miền núi, lao động tập trung chủ yếu ở ngành nông nghiệp.
*Khí hậu chi phối hoạt động sản xuất, ảnh hưởng đến sinh hoạt dân cư và lao
động. Vùng nhiệt đới ánh sáng nhiều, nhiệt độ cao, cây trồng vật nuôi sinh trưởng
nhanh, năng suất cao, nuôi sống nhiều người nên đây cũng là nơi tập trung đông
dân cư và lao động. Về mặt sinh học, con người vùng nhiệt đới có khả năng sinh đẻ
lớn hơn vùng ôn đới và hàn đới nên mức sinh ở các nước nhiệt đới cũng thường cao
hơn, nhất là ở những nước nghèo, lạc hậu, làm cho mức gia tăng về dân số và lao
33
động lớn. Diễn biến mùa khí hậu góp phần hình thành tập quán canh tác, sinh hoạt
và kinh nghiệm sản xuất của người lao động ở từng địa phương.
* Nguồn nước là nhân tố quan trọng cho sinh hoạt của con người và các hoạt
động kinh tế. Thực tế cho thấy, xã hội loài người phát triển thường gắn liền với lưu
vực của những con sông lớn. Khu vực nào có nguồn nước phong phú, khu vực đó
dân cư tập trung đông đúc, lao động dồi dào và ngược lại.
* Khoáng sản là nhân tố không thể thiếu trong quá trình phát triển công
nghiệp. Sự phân bố của khoáng sản ảnh hưởng đến sự phân bố công nghiệp và lao
động trong công nghiệp đặc biệt là ngành công nghiệp khai khoáng. Đây là ngành
đòi hỏi lao động có sức khỏe và trình độ tay nghề nhất định. Chính vì thế những
khu vực này tỷ lệ nam thường cao hơn tỷ lệ nữ và tỷ lệ lao động có trình độ chuyên
môn cũng chiếm lệ cao hơn.
1.4.3 Các nhân tố kinh tế xã hội
* Dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư
Quy mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính của dân số ảnh hưởng trực tiếp
đến số lượng, cơ cấu tuổi, giới của nguồn lao động tham gia vào các hoạt động
KTXH. Quy mô dân số lớn, cơ cấu dân số hợp lý, chất lượng dân số cao sẽ tạo điều
kiện phát triển nguồn lao động cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Thông thường,
gia tăng dân số tự nhiên cao thì mức gia tăng nguồn lao động cao, việc bổ sung lực
lượng lao động hằng năm dồi dào. Tuy nhiên, lực lượng lao động gia tăng nhanh,
trong khi nền kinh tế tăng trưởng chậm sẽ dẫn đến hiện tượng dư lao động và thiếu
việc làm, dẫn đến các vấn đề về thất nghiệp, giảm sút chất lượng lao động, chất
lượng cuộc sống... Đây cũng là tình trạng mà các nước đang phát triển gặp phải.
Nhưng ngược lại, việc gia tăng dân số quá thấp, dẫn đến dân số và quy mô nguồn
lao động ngày càng giảm dần, dẫn đến nguy cơ thiếu lao động trầm trọng trong
tương lai, ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế của
những quốc gia này. Dân số có cấu trúc đa dạng, mỗi tập hợp dân cư có đặc điểm
34
riêng ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề phát triển và sử dụng nguồn lao động. Phát triển
nguồn lao động cần quan tâm đến cơ cấu tuổi, giới tính, tôn giáo…
Sự phân bố dân cư là kết quả của sự tác động tổng hợp của tất cả các nhân
tố tự nhiên, KTXH và lịch sử. Sự phân bố dân cư kéo theo sự phân bố nguồn lao
động. Ở những vùng có mật độ dân số thấp thì thường thiếu nguồn lao động cho sự
phát triển KTXH, không đủ các nguồn lực để khai thác tài nguyên của vùng. Trong
khi đó, ở một số vùng khác mật độ dân số cao quá cao, nguồn lao động dồi dào thì
thừa nguồn lao động nên xảy ra tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm. Hiện nay,
ở Việt Nam, việc di cư dân từ nông thôn sang thành thị làm cho khu vực thành thị
phải giải quyết bài toán hóc búa là dư thừa lao động không có tay nghề, nhưng
ngược lại khu vực nông thôn lại đang trong xu hướng thiếu lao động, đặc biệt là lao
động có tay nghề.
Truyền thống lịch sử, thói quen, tập quán, văn hóa, đạo đức, lối sống, là
những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL. Văn hóa dân cư là yếu tố có tính
chất nền cho phát triển NNL. Đặc biệt văn hóa vừa có ảnh hưởng tích cực, vừa có
những tác động tiêu cực đối với chất lượng NNL. Các giá trị tinh hoa văn hóa dân
tộc như đức tính cần cù, tiết kiệm, năng động, sáng tạo, tính cộng đồng…cần được
phát huy. Ngược lại, phong tục tập quán lạc hậu, tư tưởng tiểu nông, sản xuất nhỏ
phong kiến… sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng lao động.
* Tình hình phát triển giáo dục- đào tạo, y tế, văn hóa
Trí tuệ là nhân tố quan trọng hàng đầu của đội ngũ nguồn lao động trong
điều kiện phát triển KTXH ngày nay. Trí tuệ của nguồn lao động được thể hiện
thông qua tri thức. Tuy nhiên, tri thức chỉ trở thành nguồn lực khi nó được con
người tiếp thu, làm chủ và sử dụng chúng. Hơn nữa dù máy móc công nghệ hiện đại
đến đâu mà không có phẩm chất và năng lực, có tri thức khoa học thì không thể vận
hành để làm “sống lại” nó chứ chưa nói đến việc phát huy tác dụng của nó thông
qua hoạt động của con người. Sự nghiệp giáo dục – đào tạo góp phần quan trọng
nhất tạo nên sự chuyển biến căn bản về chất lượng của nguồn lao động.
35
• Giáo dục- đào tạo đóng vai trò quyết định trong chiến lược phát triển
con người. Thông qua giáo dục-đào tạo để nâng cao trình độ học vấn, khoa học kỹ
thuật, tổ chức quản lý và năng lực hoạt động thực tiễn của người lao động. Phát
triển nguồn lao động ở mức độ nào cũng liên quan đến quy mô, chất lượng giáo dục
và đào tạo. Trong quá trình giáo dục và đào tạo không chỉ truyền đạt những hiểu
biết về văn hóa, truyền thống lịch sử dân tộc, những kỹ năng cần thiết mà còn khơi
dậy và phát huy khả năng, năng lực sáng tạo, năng lực làm chủ những tri thức mới,
những lĩnh vực mới. Đào tạo nguồn lao động có chất lượng là tập thể các quá trình
đào tạo để đạt được trình độ trí lực và kỹ năng cần thiết phục vụ cho các hoạt động
sản xuất, trình độ học vấn của dân số trong độ tuổi lao động thông qua số năm học
văn hóa phổ thông, số năm đào tạo nghề. Bên cạnh các yếu tố về trình độ văn hóa
như tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông, trình độ chuyên môn nghề
nghiệp, lao động kỹ thuật được đào tạo chính quy; cũng như trình độ lao động được
đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học, trên đại học…Do vậy, người lao động có trình
độ cao là người đã lao động theo phương pháp tiên tiến, giỏi nghề chính và biết
thêm nghề khác, thâm nhập nhanh để vận hành được máy móc trong các điều kiện
khác nhau.
• Y tế ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động không chỉ là trí tuệ mà
còn là sức khỏe, một yêu cầu không thể thiếu để đảm bảo cho chất lượng nguồn lao
động. Sức khỏe là điều kiện để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện chủ đề
chuyển tải tri thức, biến đổi tri thức thành sức mạnh vật chất. Sở dĩ như vậy, bởi các
bộ phận cấu thành sức lao động đó là sức vóc, sức bắp thịt, sức thần kinh của một
con người… chỉ có sức khỏe tốt mới có điều kiện để tiếp thu tri thức của nhân loại,
mới có khả năng xử lý thông tin, ứng dụng tri thức của nhân loại vào thực tiễn.
• Văn hóa có khả năng hình thành nhân cách con người nói chung và
nhân cách người lao động nói riêng. Các hình thức hoạt động văn hóa như âm nhạc,
mỹ thuật, điện ảnh… vừa góp phần phục hồi sức lao động và góp phần nâng cao
trình độ thẩm mỹ, ý thức cộng đồng, tính tổ chức, kỹ năng sống,…
36
* Sự phát triển kinh tế
• Tăng trưởng kinh tế
Đây là một nhân tố rất quan trọng vì nó tác động trực tiếp đến sức mua của
xã hội, tạo điều kiện để các ngành có thể mở rộng quy mô sản xuất. Trong kinh tế
thì khi tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, kéo theo sức mua giảm sút, hàng hoá ế
ẩm, không tiêu thụ được, nhiều mặt hàng sẽ tồn kho…Điều này sẽ gây ảnh hưởng
không nhỏ đến mức tăng sản xuất của các ngành trong những năm tiếp theo. Do vậy
duy trì được mức tăng trưởng kinh tế liên tục và ổn định là nhân tố quan trọng tạo
điều kiện cho các ngành sản xuất tiếp tục phát triển.
• Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế quyết định cơ cấu lao động theo ngành và cơ cấu lao
động theo thành phần kinh tế, sự phân bố dân cư. Trong nền kinh tế nông
nghiệp, tỷ lệ lao động trong ngành nông lâm ngư nghiệp cao, năng suất lao động
thấp thường đi đôi với chất lượng lao động thấp. Đối với nền kinh tế công
nghiệp phát triển, tỷ lệ lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ cao, lao
động có trình độ và tay nghề cao - tạo đà cho sự phát triển kinh tế, tạo hiệu quả
sử dụng lao động.
Hiện nay, đang xuất hiện nền kinh tế mới là nền kinh tế tri thức, trong
đó lấy tri thức làm nền tảng, nguồn tài nguyên để phát triển kinh tế, dẫn đến sự
thay đổi lớn trong cơ cấu lao động và việc sử dụng lao động, trong đó lực lượng
lao động có trình độ đóng vai trò quyết định đến phát triển kinh tế.
Cơ cấu thành phần kinh tế càng đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho việc
giải phóng sức lao động, tận dụng hết khả năng về vốn, sức và trình độ, khả
năng cạnh tranh để tạo việc làm, tăng thu nhập cho bản thân và xã hội.
Cơ cấu lãnh thổ: ảnh hưởng đến sự phân bố lao động theo lãnh thổ và
đặc trưng cơ cấu nghề nghiệp ở từng địa phương. Sự chuyên môn hóa của vùng
kinh tế tạo nên sự chuyên môn hóa cũng như sự phân bố lao động của vùng.
37
* Các chính sách sử dụng và phát triển nguồn nhân lực
Các chính sách của nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng phát triển
và sử dụng nguồn lao động. Các đường lối đổi mới, phát triển kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, các chính sách cho NLĐ nhập
cư, đãi ngộ nhân tài, khuyến nông...không chỉ tạo điều kiện cho việc sử dụng
lao động hợp lý, hiệu quả, khai thác triệt để khả năng của từng thành phần lao
động mà còn nâng cao được chất lượng của NLĐ. Các chính sách về giáo dục
và y tế quyết định việc nâng cao chất lượng nguồn lao động cả về trí lực và thể
lực giúp thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghệ, hoàn thành quá trình CNH-
HĐH đất nước. Ngoài những yếu tố trên ảnh hưởng đến nguồn lao động và sử
dụng lao động còn có những yếu tố khác như: phong tục tập quán, dân tộc, tôn
giáo, hợp tác quốc tế...
* Thị trường lao động
Thị trường lao động có thể hiểu là nơi diễn ra quá trình tác động lẫn
nhau giữa người mua và người bán sức lao động. Thị trường lao động là nơi gặp gỡ,
giao lưu giữa cung và cầu về lao động, giữa những người tìm việc, có nhu cầu về
việc làm và những người hoặc tổ chức cần tuyển dụng. Tuy nhiên, trên thị trường
lao động, mối quan hệ cung cầu không chỉ đơn thuần giữa người mua và người bán
bằng những quy định đơn thuần về giá cả, mà còn những thỏa thuận, thương lượng
về vị trí, và thời hạn làm việc, các chế độ làm việc và nghỉ ngơi, các chính sách ưu
đãi, đào tạo...Sức lao động là một trong những yếu tố cơ bản của sản xuất. Trong
nền kinh tế thị trường, sức lao động cũng trở thành hàng hóa.
Thị trường biến đối theo thời gian và không gian, chịu nhiều tác động
của các yếu tố khác nhau như chính sách của nhà nước, xu hướng phát triển
kinh tế...Thị trường lao động có chức năng phân tích và định hướng nguồn lao
động vào các ngành, lĩnh vực kinh tế, kích thích phát triển năng lực (nhất là
kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp). Ngoài ra đây cũng là nơi đánh giá số lượng
38
cũng như chất lượng lao động. Như vậy, thị trường lao động đóng vai trò quan
trọng ảnh hưởng đến cơ cấu, sự phân bố lao động đồng thời chất lượng của
người lao động, có tác động mạnh mẽ đến những chính sách và giải pháp sử
dụng lao động có hiệu quả. Trước đây, nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế
tập trung, sức lao động bị kìm nén, không phát huy được hết khả năng, dẫn đến
việc sử dụng lao động kém hiệu quả. Kinh tế thay đổi, sức lao động được khai
thác, tạo điều kiện cho người lao động tìm việc làm, nâng cao chất lượng.
Nhưng hiện nay, thị trường sức lao động thay đổi, xu hướng cầu về nguồn lao
động có trình độ ngày càng cao, thúc đẩy vấn đề giáo dục và đào tạo phát triển,
thúc đẩy chất lượng lao động ở Việt Nam.
*Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật
Ở đâu có cơ sở hạ tầng phát triển, ở đó nền kinh tế thịnh vượng, dân cư
lao động tập trung đông. Giao thông vận tải, thông tin liên lạc là những yếu tố
quan trọng hàng đầu trong cơ sở hạ tầng. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường,
nó đảm bảo thông tin nhanh nhạy, lưu thông hàng hóa kịp thời. Muốn phân bố
lại lực lượng lao động trên lãnh thổ, phải quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng,
trước hết là đường giao thông, mạng lưới thông tin, nhà ở, sau nữa là trường
học, trạm y tế, điện, nước… Những vùng đồng bằng, những thành phố tập trung
đông người thường do cơ sở hạ tầng ở đó phát triển thuận lợi cho sản xuất và
sinh hoạt. Cơ sở hạ tầng phát triển tạo điều kiện mở mang sản xuất và dịch vụ
làm cho dân số hoạt động tăng.
1.5 Cơ sở thực tiễn
1.5.1 Sử dụng lao động tại các KCN ở Việt Nam
Về số lượng, sự phát triển các KCN giúp giải quyết việc làm cho lao động
xã hội chính vì thế số lượng lao động ngày càng tăng nhanh, ngày càng đa dạng về
cơ cấu nhưng so với yêu cầu phát triển đất nước, số lượng công nhân vẫn còn hạn
chế. Do đó, các DN phải tuyển lao động ngoại tỉnh nhiều, nhưng việc tuyển dụng và
sử dụng lao động giữa các DN còn nhiều bất cập.
39
Về cơ cấu, chủ yếu là công nhân trong các ngành công nghiệp trực tiếp sản
xuất do đó năng suất các ngành này còn thấp, cơ cấu ngành nghề bất hợp lý, công
nhân chủ yếu tập trung các doanh nghiệp nhà nước, thiếu sự đa dạng.
Về chất lượng, so với yêu cầu của CNH-HĐH đất nước thì trình độ của
công nhân còn thấp không đáp ứng được yêu cầu công việc, đặc biệt là lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Phần lớn công nhân làm việc có tính chất phổ
thông, chưa có tay nghề kỹ thuật cao. Mặt khác đại đa số công nhân nước ta xuất
phát hoặc có nguồn gốc xuất thân từ nông dân, họ chịu ảnh hưởng không nhỏ của
những thói quen của một nền sản xuất nhỏ. Thêm vào đó, cơ chế quản lí tập trung
quan liêu duy trì quá lâu đã triệt tiêu động lực, sáng tạo, tích cực của giai cấp công
nhân. Bởi vậy, tác phong lao động còn tùy tiện. Tình hình biến động lao động ở các
KCN hiện nay là rất lớn. Trong khi đó, nền công nghiệp hiện đại đòi hỏi rất cao về
tính tổ chức, kỉ luật, tác phong công nghiệp. Chính những điều này đang tạo ra
những trở ngại rất lớn trong phát huy nguồn lực con người trước hết từ đội ngũ công
nhân công nghiệp trong quá trình CNH-HĐH hiện nay ở nước ta. Trình độ chuyên
môn kỹ thuật của NLĐ chưa đồng đều, cộng với tác phong công nghiệp còn hạn chế
nên đã bộc lộ những yếu kém khi tiếp cận với công nghệ hiện đại. Năng suất, chất
lượng, hiệu quả kinh tế còn thấp. Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm
vẫn còn tồn tại. Song song đó, do quy hoạch và xây dựng các KCN không gắn với
quy hoạch đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm cho nông dân nên hậu
quả về mặt xã hội cũng rất lớn. Sinh hoạt văn hoá tinh thần, suy nghĩ của giai cấp
công nhân nước ta hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế.
1.5.2 Sử dụng lao động tại các KCN ở ĐBSCL
Hiện nay, khu vực ĐBSCL có 120 KCN với tổng diện tích khoảng 25.000
ha; tỷ lệ lấp đầy chỉ mới đạt hơn 20% số diện tích.
Xét về số lượng: các KCN tại khu vực ĐBSCL hiện cũng đang trong tình
trạng thiếu về số lượng lao động. Mặc dù lực lượng lao động trong khu vực khá dồi
dào. Theo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, lực lượng lao động nước ta hiện
40
nay có tới 73,5%, tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn. Trong đó, ĐBSCL chiếm
21,49% nhưng chỉ có 6,7% số lao động được sử dụng, làm việc trong các DN. Sự
thiếu hụt này bao gồm cả lao động phổ thông và lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật. Tình hình thiếu hụt ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh và
hiệu quả kinh tế, làm ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, mở rộng sản xuất của các DN;
đồng thời cũng ảnh hưởng đến sự thu hút đầu tư các dự án mới trong các KCN, nhất
là các dự án có sử dụng số lượng công nhân lớn.
Xét về chất lượng, lao động tại các KCN khu vực ĐBSCL cũng mang những
đặc điểm chung của lao động trong KCN cả nước. Lực lượng lao động vẫn còn thiếu
kinh nghiệm, hạn chế năng lực chuyên môn, kĩ năng giao tiếp, ngoại ngữ và tác
phong công nghiệp. Cơ cấu lao động bất hợp lý, nhất là tỷ lệ giữa thầy và thợ quá
chênh lệch. Các chỉ số về giáo dục và đào tạo, dạy nghề đều thấp hơn so với bình
quân chung cả nước. Sự phối hợp, gắn kết giữa DN và các cơ sở đào tạo nghề chưa
nhiều, trong khi đây là cách làm mang lại lợi ích cho cả hai bên. Thêm vào đó, do
lực lượng lao động nông nghiệp chưa quen với tác phong công nghiệp nên rất khó
thu hút lao động. Cấu trúc ngành nghề của KCN khá đa dạng, như các ngành công
nghiệp nhẹ, hàng tiêu dùng, thực phẩm, đồ uống, thức ăn gia súc (chiếm hơn 50%).
Ngành dệt may, da giày sử dụng nhiều lao động nhưng gia công là chính. Thu nhập
bình quân của NLĐ phổ thông nhìn chung có cải thiện, nhưng do vật giá gia tăng
nên thường không có tích lũy. Tiền lương chủ yếu để trang trãi cho các khoản chi
phí: thuê nhà ở, đi lại, ăn uống và những chi phí phát sinh. Do mức lương không bảo
đảm cuộc sống và chưa tương xứng với công sức đã bỏ ra nên công nhân thường
không gắn bó lâu dài với DN. Việc tuyển dụng và thu hút lao động đang là bài toán
khó cho các nhà đầu tư hiện nay. Bên cạnh đó, hầu hết các KCN chưa chuẩn bị các
công trình thiết yếu phục vụ đời sống cho NLĐ như: hệ thống siêu thị, chợ, trường
học, nhà trẻ, chung cư, khu vui chơi giải trí, khu văn hóa… Do đó, khi các KCN
hoạt động thì nảy sinh hàng loạt vấn đề cần phải giải quyết.
41
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH LONG
2.1 Khái quát về tỉnh Vĩnh Long
2.1.1 Vị trí địa lý
Vĩnh Long nằm ở trung tâm vùng ĐBSCL, phía Bắc giáp Tiền Giang, Đồng
Tháp; phía Đông Nam giáp Trà Vinh, Sóc Trăng; phía Đông giáp Bến Tre; phía Tây
giáp Cần Thơ, giữa hai sông Tiền và sông Hậu - cửa ngõ ra biển của các tỉnh
ĐBSCL và Campuchia. Với vị trí địa lí như trên trong tương lai Vĩnh Long là nơi hội
tụ và giao lưu giữa giao thông thủy bộ, nằm trên trục đường thủy quan trọng từ
TPHCM xuống các vùng Tây Nam sông Hậu. Nơi đây còn là cửa ngõ trong việc tiếp
nhận những thành tựu về phát triển kinh tế TPHCM và các KCN miền Đông và là
trung tâm trung chuyển hàng nông sản từ các tỉnh phía Nam lên TPHCM và hàng tiêu
dùng từ TPHCM về các tỉnh miền Tây.
Mặt khác, với hệ thống giao thông phát triển ngày càng hoàn thiện sẽ tạo
động lực cho phát triển KTXH theo các hướng trục giao thông thủy bộ đã được quy
hoạch. Trên quan hệ đối ngoại, Vĩnh Long nằm trong vùng ảnh hưởng của địa bàn
trọng điểm phía Nam. Nằm giữa hai trung tâm kinh tế quan trọng là TPHCM và
thành phố Cần Thơ. Chính nơi đây vừa là trung tâm kinh tế - khoa học kỹ thuật - văn
hóa - quốc phòng, vừa là thị trường lớn sẽ có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển
KTXH của tỉnh. Trong đó có liên quan chặt chẽ đến việc quản lí, phân bố sử dụng đất
đai. Đặc biệt là khả năng chi phối ứng dụng khoa học công nghệ của thành phố Cần
Thơ. Đây là một trong những lợi thế của Vĩnh Long trong sự phát triển kinh tế nói
chung cũng như công nghiệp nói riêng ở hiện tại và trong tương lai.
Hình 1: Lược đồ vị trí tỉnh Vĩnh Long trong vùng ĐBSCL
Bản đồ 1: Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Long
( Nguồn từ Sở Công Thương Vĩnh Long)
Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Long (nguồn Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Long)
42
2.1.2. Các yếu tố tự nhiên và tài nguyên
2.1.2.1 Khoáng sản
Vĩnh Long là tỉnh đặc biệt nghèo về tài nguyên khoáng sản, cả về số lượng
lẫn chất lượng, chủ yếu chỉ có cát sông và đất sét. Tỉnh có nguồn đất sét khá lớn,
được sử dụng cho sản xuất gạch, ngói, gốm mỹ nghệ, phân bố từ thành phố Vĩnh
Long đến Vũng Liêm. Cát được sử dụng trong xây dựng.
2.1.2.2 Sông ngòi
Hệ thống sông ngòi của Vĩnh Long khá dày đặc với những tuyến đường sông
chính như: sông Hậu (chảy qua Vĩnh Long dài 75km); Sông Tiền (dài 90km). Tất cả
đều có vị trí quan trọng trong giao thông phục vụ cho việc lưu thông hàng hóa của
tỉnh và khu vực nói chung. Đồng thời còn là nguồn cung cấp nước phục vụ tốt cho
sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản nước ngọt tạo nguồn nguyên liệu dồi dào
cho công nghiệp chế biến của địa phương phát triển. Ngoài ra, Vĩnh Long còn có
tiềm năng nguồn nước khoáng chất lượng cao, có khả năng phát triển công nghiệp,
sản xuất nước giải khát và nước tinh khiết phục vụ ngành y tế.
2.1.2.3 Địa hình
Địa hình khá bằng phẳng, hệ thống kênh rạch chằng chịt mang tính chất
vùng đồng bằng ven biển và vùng ngập lụt cửa sông. Sông Tiền và sông Hậu chảy ra
biển Đông qua vùng đất Vĩnh Long nổi lên nhiều cù lao như: An Bình, Bình Hòa
Phước, Đồng Phú, Quới Thiện, Lục Sĩ Thành ... Đây là những vùng đất trồng cây ăn
trái đặc sản phong phú, tập trung dân cư đông đúc và cũng là vùng nguyên liệu cho
phát triển công nghiệp.
Vùng có cao trình từ 1,0 đến 2,0m (chiếm 37,17% diện tích) ở ven sông
Hậu, sông Tiền, sông Mang Thít, ven sông rạch lớn cũng như đất cù lao giữa sông
và vùng giồng của huyện Vũng Liêm, Trà Ôn. Nơi đây chính là địa bàn phân bố các
điểm công nghiệp, KCN. Nhìn chung, địa hình của tỉnh Vĩnh Long khá thuận lợi cho
nền công nghiệp phát triển với cơ cấu ngành đa dạng. Tuy nhiên do địa hình tương
43
đối thấp so với mực nước biển nên hàng năm vào mùa mưa thường xảy ra lũ lụt làm
ảnh hưởng đến sản xuất công nghiệp. Do đó để khai thác hết tiềm năng này phải đảm
bảo tốt công tác cấp thoát nước và hệ thống giao thông vận tải.
2.1.2.4 Đất
Đất của Vĩnh Long được hình thành do kết quả trầm tích biển lùi Holocene
(cách đây khoảng 5.000 - 11.200 năm) dưới tác động bồi tích của sông MeKong, bao
gồm 4 loại đất chính: đất phèn có 90.779,06 ha, chiếm 68,94% diện tích đất toàn
tỉnh; đất phù sa có 40.577,06 ha, chiếm 30,81%; đất giồng cát có 212,73 ha, chiếm
0,16%; đất xáng thổi có 116,14 ha, chiếm 0,09%. Đất chưa sử dụng chỉ chiếm một tỉ
lệ thấp. Vĩnh Long còn có lượng cát sông và đất sét làm vật liệu xây dựng khá dồi dào, cát dưới lòng sông với trữ lượng khoảng 100 - 150 m3, cát được sử dụng chủ
yếu cho san lấp. Ngoài ra do nằm ở vị trí tích tụ thuận lợi nên hàng năm sông Tiền,
sông Hậu, sông Cổ Chiên luôn được bồi tụ một lượng cát lớn.Tổng trữ lượng đất sét các loại có thể khai thác được toàn tỉnh đạt 92 triệu m3.
2.1.2.5 Khí hậu
Khí hậu của tỉnh có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 5
đến tháng 10 hàng năm, lượng mưa chiếm khoảng 90% cả năm. Mùa khô thường bắt
đầu vào cuối tháng 11 đến cuối tháng 4. Trung bình mỗi ngày có từ 9 đến 10 giờ
nắng. Thời gian nắng nhất là từ tháng 1 đến tháng 3. Mùa khô mưa ít, lượng mưa của
mùa khô không vượt quá 6% lượng mưa cả năm gây nhiều khó khăn. Vĩnh Long có nền nhiệt cao. Nhiệt độ trung bình cả năm từ 270C đến 280C. Bức xạ tương đối cao, bình quân số giờ nắng là 7,5 giờ/ngày. Bức xạ quang hợp là 79.560 kcal/mm2/năm.
Thời gian chiếu sáng bình quân đạt 2.181- 2.676 giờ/năm. Nhìn chung so với khí hậu
cả nước thì khí hậu Vĩnh Long rất ít khi có khí hậu cực đoan. Điều kiện dồi dào về
nhiệt và nắng là tiền đề cho sự phát triển công nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh những
thuận lợi thì khí hậu cũng gây ra những khó khăn cho sản xuất và bảo quản trang thiết
bị sản xuất công nghiệp.
44
2.1.2.6 Địa chất
Nằm trong vùng ĐBSCL, địa chất Vĩnh Long thuộc loại trầm tích biển vào
giai đoạn trầm tích Hôlôxen, có đặc điểm nổi bật là giàu lưu huỳnh. Đây là nguyên
nhân phát sinh phèn trong lòng đất. Kiến tạo địa chất ở Vĩnh Long trải qua một thời
gian dài được bồi tụ bởi phù sa hai con sông Tiền và sông Hậu. Đất phù sa chủ yếu
là phù sa nước ngọt có bề dày tới 5m, có tầng sét nhẹ ở độ sâu từ 5 đến 20m. Nền đất
yếu, ảnh hưởng đến việc xây dựng các KCN.
2.1.2.7 Sinh vật
Điều kiện tự nhiên của Vĩnh Long là môi trường lý tưởng cho quá trình sinh
trưởng của nhiều loại giống động - thực vật. Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào cho
ngành công nghiệp chế biến nâng cao giá trị các mặt hàng xuất khẩu.
2.1.3. Các nhân tố kinh tế xã hội
2.1.3.1 Dân số
Vĩnh Long là tỉnh có dân số trẻ, quy mô dân số trong tuổi sinh đẻ chiếm tỷ
lệ cao gần 55% dân số. Theo thông tin từ cục Thống kê, năm 2010, so với các tỉnh
ĐBSCL, dân số trung bình của tỉnh là 1.026.521 người, đứng thứ 10. Diện tích là 1.504,9 km2, đứng thứ 12 trong khu vực. Năm 2011, dân số trung bình của Vĩnh
Long là 1.028.550 người. Như vậy, quy mô dân số của Vĩnh Long thuộc dạng nhỏ so
với các tỉnh trong khu vực. Tuy quy mô dân số nhỏ, nhưng do diện tích không lớn,
nên mật độ dân cư của Vĩnh Long thuộc dạng cao trong khu vực, mật độ dân số 683 người/km2 (năm 2011). Với mật độ dân số này, tỉnh Vĩnh Long đứng hàng thứ 2 ở
khu vực ĐBSCL, chỉ xếp sau thành phố Cần Thơ. Dân số chủ yếu sống ở khu vực
nông thôn, chiếm 84,5% (năm 2011); tốc độ tăng dân số khu vực nông thôn và khu
vực thành thị tương đương nhau; sự di chuyển dân số từ nông thôn ra thành thị
không lớn. Nguyên nhân của việc giảm nhẹ sự chuyển dịch dân số khỏi khu vực
nông thôn là do đã tạo được nhiều việc làm ở nông thôn.
45
2.1.3.2 Lao động và chất lượng lao động
Số người trong độ tuổi lao động năm 2011 là 695.273 người, chiếm tỷ lệ
67,6% dân số; trong đó, số người đang làm việc 609.484 người chiếm tỷ lệ 87,7% số
người trong độ tuổi lao động. Lao động tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn
(588.201 người), hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng cơ bản 72.460
người chiếm 11,9%. Mỗi năm, Vĩnh Long đã giải quyết việc làm cho khoảng 25.000
- 28.000 người có công ăn việc làm ổn định. Năm 2011 tổng số lao động được tạo
việc làm là 26.900 người, trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng là 15.750 người
chiếm 58,6%. Đây là tỷ lệ khá cao so với bình quân chung của cả nước và vùng
ĐBSCL. Đó vừa là tiềm năng song cũng là sức ép lớn về việc làm và giải quyết các
vấn đề xã hội khác. Số lao động thất nghiệp và thiếu việc làm hiện vẫn còn trên
10.000 người. Tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị chiếm 4,7%.
Cơ cấu lao động của các ngành nghề cũng thay đổi theo chiều hướng tích
cực. Tỷ lệ lao động trong khu vực nông lâm ngư nghiệp đã giảm từ 71,6% năm 2000
xuống còn 56,99% vào năm 2012; lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng
tăng từ 9% năm 2000 lên 12,1% năm 2012 và lao động trong khu vực dịch vụ tăng
từ 19,3% năm 2000 lên 30,91% năm 2012. Lực lượng lao động có xu hướng dịch
chuyển từ nông, lâm, ngư nghiệp sang công nghiệp xây dựng và dịch vụ, bình quân
hàng năm lao động dịch chuyển từ nông lâm ngư nghiệp sang công nghiệp xây dựng
khoảng 0,14% và sang dịch vụ khoảng 0,16%.
Chất lượng lao động từng bước cải thiện, tỷ lệ lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật của tỉnh từ 18,2% vào năm 2005 lên 32,8% vào cuối năm 2009. Tỷ lệ
lao động qua đào tạo năm 2001 là 9,05%, năm 2005 là 12,51% (trong đó qua đào tạo
nghề 10,5%), đến năm 2010 là 30,0% (trong đó qua đào tạo nghề 26,83%), năm
2011 tỷ lệ qua đào tạo nghề là 29,05%. Chỉ tiêu năm 2012, tuyển sinh và đào tạo
nghề cho 33.700 người (cao đẳng 250 người, trung cấp 2.550 người, sơ cấp và dạy
nghề thường xuyên cho trên 30.900 người); nâng tỷ lệ lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật lên 42%, trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề 26,5%.
46
Về trình độ học vấn, theo số liệu thống kê mẫu về lao động - việc làm của
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2003, trong tổng số lao động đang làm
việc trong các ngành nghề kinh tế của tỉnh, có 26% lao động chưa tốt nghiệp tiểu học
và không biết chữ, số lao động tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên chiếm gần 30%.
Đến năm 2012, số lao động chưa tốt nghiệp tiểu học giảm còn 18,4%, số lao động tốt
nghiệp trung học cơ sở trở lên chiếm 41%.
Bảng 2.1: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ học vấn phổ
thông năm 2011
Đơn vị: người
Tổng số Đơn vị Trình độ học vấn phổ thông
Chưa tốt Tốt nghiệp tiểu Tốt nghiệp trung Tốt nghiệp
nghiệp học chưa tốt học cơ sở chưa tốt trung học
tiểu học nghiệp trung học nghiệp trung học phổ thông
cơ sở phổ thông
586.846 Người 107.948 240.734 131.738 106.426
100 % 18,4 41 22,5 18,1
(Nguồn Sở LĐTBXH tỉnh Vĩnh Long)
2.1.3.3 Thu nhập và mức sống dân cư
Thu nhập và đời sống dân cư trong tỉnh những năm qua đã được cải thiện
từng bước. Theo Cục thống kê Vĩnh Long, năm 2011, thu nhập bình quân đầu người
một tháng là 1.570 nghìn đồng. Theo kết quả điều tra mức sống dân cư, chi tiêu bình
quân đầu người mỗi tháng trong thời kì 2005- 2010 bình quân mỗi năm tăng 18,3%.
Thu nhập tăng, chi tiêu gia tăng khuyến khích nền kinh tế phát triển đặc biệt là các
ngành sản xuất chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp điện, điện tử; viễn
thông; hóa dược phẩm ...
47
2.1.3.4 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Nhằm từng bước hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng, thúc đẩy phát triển KTXH địa
phương, từ nay đến năm 2015, tỉnh sẽ tập trung đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ
thống giao thông chính, giao thông khu vực các đô thị, trong đó tỷ lệ đất giao thông
thành phố Vĩnh Long 19%, các thị trấn 16-17%; hoàn thành chỉ tiêu cung cấp nước
sạch phủ kín các đô thị, xây dựng mới, mở rộng nâng cấp hệ thống cấp nước tập
trung tại các địa phương. Tỉnh cũng sẽ phấn đấu đạt tỷ lệ 100% dân số tại các đô thị
được cung cấp điện sinh hoạt, cung cấp đủ điện chiếu sáng công cộng cho các đô thị;
thông tin liên lạc thông suốt, phát triển ngành bưu chính viễn thông theo hướng hiện
đại, đảm bảo cung cấp đường truyền Internet tốc độ cao cho thành Phố Vĩnh Long,
đến các thị trấn; xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung.
2.1.3.5 Giao thông vận tải
Mạng lưới giao thông bao gồm: đường bộ, đường sông. Đường bộ: bao
gồm 10 tuyến đường chính với tổng chiều dài 260km trong đó có 5 tuyến quốc lộ (1,
53, 54, 57, 80) và 5 tuyến tỉnh lộ (902, 903, 904, 905, 906). Đường sông: hệ thống
sông rạch lớn, nhỏ, nằm sâu trong nội địa và thông suốt với các tỉnh đồng bằng Nam
Bộ đã tạo cho Vĩnh Long có thế mạnh trong việc vận chuyển hàng hóa và hành
khách bằng đường thuỷ với tổng chiều dài 342km gồm 13 đường sông chính và hệ
thống kênh rạch rất thuận tiện cho lưu thông hàng hóa, đi lại trong tỉnh và các nơi
trong vùng. Hai con sông chính là sông Tiền và sông Hậu. Trong giai đoạn 2010 -
2015, tỉnh Vĩnh Long sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống giao thông trên địa bàn toàn
tỉnh, trong đó tập trung hoàn thiện các tuyến thuộc hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ trên địa
bàn tỉnh như: quốc lộ 53, 54, các đường tỉnh 902, 907, 909, cải tạo nâng cấp các tỉnh
lộ 904, 905, 908. Ngoài ra trong giai đoạn này, tỉnh Vĩnh Long sẽ tiếp tục đầu tư cải
tạo nâng cấp các tuyến đường giao thông nông thôn theo tinh thần nghị quyết Trung
ương 7 phục vụ quá trình CNH nông nghiệp - nông thôn, phục vụ nhu cầu đi lại,
giao thương hàng hóa của người dân nông thôn, hoàn thiện các tuyến đường trong
khu vực nội ô thành phố Vĩnh Long, thị trấn Cái Vồn. Bến xe khách liên tỉnh cách
trung tâm thành phố khoảng 5km. Các tuyến xe ngày càng nhiều, có các tuyến đi bến
48
xe miền Tây, TPHCM, thành phố Cần Thơ, Mỹ Tho, Long Xuyên, Sa Đéc, Rạch Giá
và các nơi khác trong khu vực ĐBSCL. ..
2.1.3.6 Thông tin liên lạc
Mạng lưới thông tin liên lạc từng bước được hiện đại hóa và mở rộng. Với
trang thiết bị, công nghệ hiện đại (cáp quang và kĩ thuật số) phục vụ thông tin, liên
lạc từ Vĩnh Long với các tỉnh trong nước và quốc tế được nhanh chóng, chất lượng
cao. Mạng lưới điện thoại công cộng đã mở rộng đến 100% các xã, phủ sóng 100%
số huyện, đã và đang mở rộng thêm các dịch vụ điện thoại di động, truyền số liệu,
điện thoại dùng thẻ và internet. Nhìn chung, hệ thống thông tin liên lạc của Vĩnh
Long hiện phát triển nhanh, mạnh và rộng khắp trên toàn địa bàn tỉnh. Đây là điều
kiện tốt để thu hút đầu tư của các DN vào các khu - cụm - tuyến công nghiệp trên địa
bàn của tỉnh.
2.1.3.7 Hệ thống cung cấp điện, nước
Hệ thống điện: Hiện nay, Vĩnh Long không có nguồn điện tại chỗ mà nhận
từ lưới điện quốc gia qua trạm nguồn 220/110 KV Vĩnh Long, 100% xã phường đều
có lưới điện quốc gia. Các KCN đều có đường điện cao, trung và hạ thế đủ năng lực
phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các nhà đầu tư. Kết quả này đã góp phần
thúc đẩy quá trình phát triển KTXH một cách nhanh chóng hơn, đặc biệt là công
nghiệp. Nhìn chung, trong thời điểm hiện tại mạng lưới điện có thể đáp ứng cho nhu
cầu sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trong giai đoạn tiếp theo,
nhằm đáp ứng cho sự gia tăng sản xuất, Vĩnh Long cần có sự đầu tư mạnh hơn về hệ
thống trạm, mạng lưới phân phối điện đến các khu, cụm, tuyến công nghiệp, như
tăng cường khả năng tải điện đến KCN Hòa Phú, ... nhằm đáp ứng tốt hơn nữa về
khả năng sản xuất tại KCN.
Hệ thống cung cấp nước: Hiện nay có 8 nhà máy cấp nước đặt tại thành
phố Vĩnh Long, các thị trấn và KCN Hòa Phú. Nhà máy nước thành phố Vĩnh Long hiện nay mới chỉ đạt gần 90% công suất (công suất: 25.500m3/ ngày đêm) đảm bảo
49
90% dân số đô thị được dùng nước sạch, bình quân 150 lít/ngày đêm. Các nhà máy
nước tại các thị trấn đáp ứng nhu cầu nước cho 90% dân số đô thị với khối lượng
100 lít/ngày đêm. Cùng với các nhà máy nước toàn tỉnh hiện có 150 km đường ống
các loại. Mặc dù đã được đầu tư nâng cấp song tỷ lệ thất thoát vẫn còn nhiều, trên
28%.
Với sự đầu tư của nhà nước thông qua chương trình mục tiêu quốc gia và
của các tổ chức quốc tế và vận động nhân dân góp vốn xây dựng các chương trình
cung cấp nước sạch. Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long hiện đã có 90 trạm cấp nước tập trung với trên 100 m3 ngày đêm. Riêng năm 2006 đã có 17 công trình được đưa vào sử dụng với công suất từ 10 m3/ngày đêm đến 300 m3/ngày đêm. Cấp nước sạch cho
nhân dân vùng lũ có 24 công trình hoàn thành và đi vào sử dụng.
2.1.3.8 Đường lối chính sách
Tỉnh tiếp tục thực hiện đường lối chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
CNH-HĐH. Huy động mọi nguồn lực, tập trung khai thác tiềm năng, lợi thế để có tốc
độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, trọng tâm là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, đẩy nhanh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành nghề
dịch vụ trên cơ sở phát triển nông nghiệp toàn diện, hiện đại, phấn đấu đạt mức tăng
trưởng kinh tế ngang bằng hoặc cao hơn các tỉnh ĐBSCL. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh hàng hóa, sản xuất gắn với
chế biến và thị trường tiêu thụ. Lấp đầy các DN trong các khu, tuyến công nghiệp,
nâng cao năng lực và quy mô sản xuất, xác định ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh để
đi lên và tạo ra những bước tiến nhảy vọt. Tăng cường xúc tiến thương mại, mở rộng
thị trường tiêu thụ hàng hoá. Ứng dụng tốt khoa học công nghệ vào sản xuất, cải thiện
từng bước trình độ công nghệ trong nền kinh tế. Xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH
đồng bộ, chất lượng cao, đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá. Phát triển nền văn hóa tiên
tiến, lành mạnh làm nền tảng tư tưởng xã hội. Nâng cao chất lượng cuộc sống vật
chất và tinh thần cho nhân dân. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khai thác có
hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại. Tăng cường quốc phòng, an ninh giữ vững ổn
50
định chính trị, đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững
mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.
Tiếp tục xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần nghị quyết Trung ương
6 (lần 2), khoá VIII. Nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng Đảng viên, xây dựng lối
sống trong sạch, lành mạnh, khuyến khích làm giàu chính đáng. Xây dựng cơ sở
Đảng trong sạch vững mạnh, giữ mối quan hệ chặt chẽ với nhân dân. Đổi mới
phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, đẩy mạnh công tác vận động nhân dân.
Phát huy vai trò Mặt trận, đoàn thể các cấp, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hiện tại, Vĩnh Long đang tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, mở rộng chính sách ưu
đãi cho nhà đầu tư trong và ngoài nước như: hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật,
đào tạo NNL...
2.1.3.9 Sự phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
* Diễn biến tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm xã hội tính theo giá cố định 1994 của năm 2010 đạt
7.810 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm trong giai đoạn 2006-2010 là
11,3%, trong đó khu vực II có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất đạt 19,7% (trong 2
năm 2007 và 2008 tốc độ tăng trưởng mỗi năm là 26,8%), kế đến là khu vực III với
tốc độ tăng trưởng là 12,4%/năm và khu vực I có tốc độ tăng trưởng chậm nhất là
6,2%/năm.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh cũng như các lĩnh vực trong giai
đoạn 2006-2010 cao hơn giai đoạn 2001-2005. Các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng
và dịch vụ luôn duy trì mức tăng trưởng nhanh hơn giai đoạn trước, cho thấy kinh tế
tỉnh gần 10 năm qua tăng trưởng nhanh, đó là kết quả của quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, tập trung đẩy mạnh phát triển công nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng và
các ngành dịch vụ; là kết quả của quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông lâm ngư
trên địa bàn tỉnh.
51
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo cơ cấu ngành
Tỷ trọng khu vực nông lâm ngư trong GDP đã giảm từ 59,2% năm
2000 xuống 55,56% năm 2005 và 48,45% vào năm 2010. Tỷ trọng khu vực công
nghiệp và xây dựng tăng từ 11,93% năm 2000 lên 17,77% năm 2010 nhờ công
nghiệp phát triển mạnh trong những năm gần đây. Khu vực dịch vụ có tỷ trọng tăng
từ 28,87% năm 2000 lên 33,78% năm 2010, nhưng cơ cấu nội bộ khu vực dịch vụ đã
có bước chuyển mạnh của các dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất như thương mại, tài
chính ngân hàng, vận tải, bưu chính viễn thông...
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu kinh tế tỉnh Vĩnh Long thời kì 2001 – 2010
Năm 2010
Năm 2005
Năm 2000
34%
30%
29%
48%
56%
59%
12%
14%
18%
Khu vực I
Khu vực II
Khu vực III
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Long năm 2009 và Dự thảo báo cáo
chính trị Đảng bộ tỉnh lần thứ IX nhiệm kỳ 2010-2015)
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế
Trong giai đoạn 2001-2008, cơ cấu đóng góp của khu vực kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài ngày càng tăng, tốc độ gia tăng đầu tư của khu vực này trong giai
đoạn 2001-2010 khoảng 50%/năm; nâng cơ cấu từ 0,2% vào năm 2000 lên 2,99%
vào năm 2011. Với xu thế như vậy, ta có thể nhận thấy được sự thu hút đầu tư nước
52
ngoài vào địa phương ngày càng được đẩy mạnh. Khu vực kinh tế trong nước đóng
góp 97% vào tổng GDP của nền kinh tế toàn tỉnh, trong đó chủ yếu là sự đóng góp
của kinh tế cá thể và tư nhân. Khu vực kinh tế quốc doanh có tỷ trọng ngày càng
giảm, từ 17,1% năm 2000 xuống 15,5% vào năm 2011.
Bảng 2.2: Cơ cấu GDP của tỉnh Vĩnh Long phân theo thành phần kinh tế
Đơn vị: %
Năm 2000 2005 2011
Khu vực kinh tế trong nước 99,8 99,5 97,01
Nhà nước 17,1 17,7 15,5
Tập thể 0,5 0,3 0,41
Tư nhân 3,5 6,5 11,23
Cá thể 78,7 75,1 69,87
0,2 0,5 2,99 Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Long )
Qua thực trạng trên, Vĩnh Long đang trong giai đoạn gia tăng đầu tư mạnh
vào khu vực II, đặc biệt có sự thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Đây sẽ là
tiềm lực mạnh để có thể đầu tư và thu hút nguồn lao động chất lượng cao, xây dựng
công nghệ hiện đại và phát triển ngành công nghiệp chuyên sâu trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Long.
Vốn đầu tư của Vĩnh Long thời gian qua xét trong hai nguồn vốn trong
nước và ngoài nước đã có kết quả khả quan. Cụ thể, vốn đầu tư trong nước trong giai
đoạn 2001-2005 tăng 15,4% và nâng lên 39% trong giai đoạn 2006-2009. Chủ yếu
đầu tư phần lớn trong khu vực đầu tư phát triển, mặt khác trong giai đoạn 2006--
2009, nguồn vốn từ các DN đã bắt đầu có sự gia tăng mạnh và đầu tư vào các KCN
đang dần hình thành trên địa bàn tỉnh. Đến năm 2009, tổng vốn đầu tư nước ngoài tại
Vĩnh Long đạt khoảng 115,5 triệu USD. Trong đó, chủ yếu các nguồn vốn đến từ
Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc. Tuy nhiên, tình hình thu hút vốn đầu tư nước
ngoài tại Vĩnh Long từ 2001-2009 chưa ổn định và còn nhiều biến động do những
biến động vĩ mô của thế giới và Việt Nam.
53
2.2 Khái quát về KCN tỉnh Vĩnh Long
Hiện nay, Vĩnh long có 2 KCN Hoà Phú, Bình Minh và 01 Tuyến
công nghiệp Cổ Chiên đã triển khai và đi vào hoạt động, ngoài ra có 03 KCN đã
được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung vào danh mục các KCN dự kiến ưu
tiên thành lập mới đến năm 2015 và định hướng 2020. Đến nay đã có 30 dự án được
cấp giấy chứng nhận đầu tư, trong đó đã có 5 dự án hoàn thành xây dựng cơ bản trên
toàn bộ đất thuê và đi vào hoạt động sản xuất, 16 dự án tuy chưa sử dụng hết 100%
diện tích thuê nhưng đã đi vào hoạt động giai đoạn I, phần còn lại nằm trong kế
hoạch mở rộng từng bước của các DN, 9 dự án còn lại chưa triển khai do mới cấp
giấy chứng nhận đầu tư hoặc chưa có mặt bằng sạch. Hiện còn 126,8 ha đất công
nghiệp có thể cho thuê nhưng chưa thu hút được đầu tư, nguyên nhân là do KCN
Hòa Phú (giai đoạn II) hiện đang trong quá trình xây dựng hạ tầng, hạ tầng KCN
Bình Minh cũng chưa xây dựng hoàn chỉnh do còn vướng bồi hoàn giải tỏa.
2.2.1 KCN Hòa Phú
2.2.1.1 KCN Hòa Phú giai đoạn I
-Vị trí: nằm cạnh quốc lộ 1A ,trên trục đường chính đi Tiền Giang, An
Giang, Cần Thơ và các tỉnh phía Nam sông Hậu, quy mô 122,16 ha. Hoà Phú có vị
trí địa lý tương đối thuận lợi: cách thành phố Vĩnh Long 10km, cách thị trấn Cái Vồn
(sau này là thị xã Bình Minh) 18km, cách cảng Vĩnh Long 12km, cách cầu Cần Thơ
21km và thành Phố Hồ Chí Minh 140km.
-Cơ sở hạ tầng: đã hoàn thành hệ thống giao thông, hệ thống cống thoát
nước, hệ thống nước thải và nhà máy xử lí nước thải, các hạng mục như tường rào,
cổng KCN, hệ thống cây xanh. Tuy nhiên, các cơ sở hạ tầng xã hội chưa quy hoạch
và đầu tư tương ứng cho sự phát triển các KCN. KCN Hòa Phú không có quy hoạch
nhà ở cho công nhân.
-Về điện: nguồn điện ổn định từ đường dây 110/22KV do lưới điện quốc gia
cung cấp, đến hàng rào các doanh nghiệp.
-Thông tin liên lạc: phục vụ yêu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh của
54
Bản đồ quy hoạch các khu, cum công nghiệp tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020
(Nguồn Sở Công Thương Tỉnh Vĩnh Long)
55
doanh nghiệp.
-Các ngành nghề sản xuất như sản xuất giày thể thao, dụng cụ thể thao; sản
xuất thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản; chế biến nông sản, thực phẩm; sản xuất
hàng thủ công mỹ nghệ và may mặc; sản xuất bao bì; bê tông ly tâm; sản xuất hóa
mỹ phẩm và các sản phẩm tẩy vệ sinh...
-Tình hình đầu tư và hoạt động: tính đến thời điểm hiện nay, KCN đã thực
hiện xong giai đoạn I với diện tích là 122,16 ha, trong đó 92,41 ha để xây dựng nhà
máy, còn lại là đường nội bộ, trồng cây xanh và các công trình khác. Toàn bộ đất
cho thuê tại KCN đã được lấp đầy với 16 dự án sản xuất kinh doanh, trong đó 12 dự
án sản xuất ổn định, 1 dự án ngưng hoạt động. Tổng vốn đầu tư là 593,6 tỷ đồng và
94,61 triệu USD. Các doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất - kinh doanh ổn định,
giải quyết việc làm cho trên 10.000 lao động. Hệ thống xử lý nước thải tập trung công suất 4.000 m3/ngày-đêm đã hoàn thành, đi vào hoạt động, bảo đảm xử lý cho
toàn bộ nước thải của KCN trong tương lai. KCN đang được mở rộng thêm giai đoạn
hai, khi đó, tổng diện tích KCN sẽ là 250 ha.
2.2.1.2 KCN Hòa Phú giai đoạn II
Trên cơ sở KCN Hòa Phú giai đoạn I được lắp đầy và xem xét lợi thế,
giao thông bộ, tiềm năng thu hút đầu tư, ngành nghề, lực lượng lao động, hiệu quả
hoạt động. BQLCKCN tham mưu UBND tỉnh trình chính phủ có chủ trương số
1816/TTg-KTN ngày 29 tháng 9 năm 2009 về việc mở rộng KCN Hòa Phú, tỉnh
Vĩnh Long với diện tích 130 ha và bổ sung vào danh mục các KCN dự kiến ưu tiên
mở rộng đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, đã bồi hoàn giải tỏa được
329/421 hộ, đạt 78,15%.
Đây là KCN tập trung có quy mô trung bình và là KCN đa ngành thuộc
dạng công nghiệp sạch, ít ô nhiễm, diện tích 129,91 ha, đang triển khai dự án. Các
ngành nghề đầu tư như: chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp hàng tiêu dùng,
dệt may, giày da, thủ công mỹ nghệ, công nghiệp lắp ráp điện- điện tử, bao bì, công
nghiệp dược phẩm-mỹ phẩm, hàng gia dụng, gia công sắt thép, gia công cơ khí phục
56
vụ nông nghiệp chế tạo máy, kho bãi, dịch vụ và một số ngành nghề khác ít gây ô
nhiễm môi trường. Nguồn điện cấp cho KCN Hòa Phú giai đoạn II lấy từ trạm điện
đặt tại KCN giai đoạn II. Xây dựng trạm điện sử dụng chung cho cả KCN hai giai
đoạn, nguồn điện sử dụng lưới điện quốc gia hiện có dọc quốc lộ 1A. Hệ thống cấp
nước do công ty cấp nước Vĩnh Long cung cấp. Kết nối mạng lưới đường ống với
KCN giai đoạn I. Tổng nhu cầu cấp nước cho KCN Hòa Phú giai đoạn II sẽ có nhu
cầu sử dụng lượng nước là 4.700m /ngày đêm (do công ty cấp nước Vĩnh Long cung
cấp).
2.2.2 KCN Bình Minh
- Vị trí: thuộc xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, vị trí trung
tâm khu vực ĐBSCL, có vị trí ưu thế chiến lược phát triển kinh tế và hợp tác quốc
tế, giữa sông Tiền và sông Hậu thuộc thị trấn Cái Vồn (cảng Bình Minh thuộc phạm
vi KCN). Cảng Bình Minh được xem là cửa ngõ, nhịp cầu nối hai trung tâm kinh tế
lớn TPHCM và Cần Thơ với quốc lộ 1A đi qua. KCN Bình Minh có quy mô 163 ha,
trong đó dành 30ha khu du lịch, nhà ở chuyên gia, tổng vốn đầu tư hạ tầng là 400 tỷ
đồng. Những đặc điểm tự nhiên với nhiều vùng nguyên liệu (trái cây, rau và hoa quả
sạch, gia súc - gia cầm) đã góp phần làm cho KCN Bình Minh trở thành vị trí đầu tư
lý tưởng tại trung tâm kinh tế vùng ĐBSCL.
-Cơ sở hạ tầng: KCN Bình Minh có những thuận lợi về cả đường thủy,
đường bộ và đường hàng không. Đối với đường bộ, KCN nằm ngay cạnh quốc lộ
1A, cạnh chân cầu Cần Thơ, cầu dây dăng lớn nhất Đông Nam Á với tổng chiều dài
2.750 m nối tỉnh Vĩnh Long và Cần Thơ. Vị trí này còn là điểm đầu mối thuận lợi
trong hệ thống vận chuyển thủy nội địa - cụm cảng quốc tế Cần Thơ, có cảng nước
sâu nhằm phục vụ cho các nhà đầu tư bên trong KCN và các vùng lân cận. Cảng
Bình Minh được xây dựng ngay bên trong KCN Bình Minh có thể phục vụ tàu có tải
trọng từ 7.000 tấn đến 10.000 tấn ra vào cảng. Bên cạnh đó, KCN Bình Minh cách
sân bay Trà Nóc, Cần Thơ khoảng 30 km. Các đường dẫn nối vào KCN đang triển
khai thi công gồm: cầu Mỹ Hòa Tây nối KCN với quốc lộ 54, đường dẫn vào cầu
Cần Thơ trên quốc lộ 1A. KCN Bình Minh có quy hoạch nhà ở công nhân và chuyên
57
gia nhưng hiện nay mới có 2 DN đi vào hoạt động nên chưa tiến hành đầu tư vì số
lượng công nhân còn ít.
- Định hướng bố trí các ngành công nghiệp: các ngành công nghiệp nhẹ, ít
gây ô nhiễm, ít gây tiếng ồn, không ô nhiễm nguồn nước bao gồm chế biến
thực phẩm xuất khẩu; dệt may; lắp ráp điện- điện tử; chế biến đồ gỗ gia dụng; sản
xuất hàng tiêu dùng, hàng gia dụng, bao bì các loại; hoá dược kỹ thuật cao; sản xuất
cấu kiện tấm bao che tấm lợp; sản xuất gạch men, vật liệu trang trí nội thất; dịch vụ
trung chuyển và vận chuyển (kho bãi, cảng)...
- Tình hình đầu tư và hoạt động, công ty CP địa ốc Hoàng Quân - Mêkông
là chủ đầu tư đang triển khai xây dựng hạ tầng khu dịch vụ, nhà ở chuyên gia, đã có
một số công tác xúc tiến đầu tư để kêu gọi các DN đầu tư vào KCN Bình Minh. Hiện
có 04 nhà đầu tư thuê 6,8 ha (đạt 6% đất công nghiệp), tổng vốn đăng ký đầu tư 352
tỷ đồng, đã có 02 nhà đầu tư khởi công dự án. Qua công tác xúc tiến mời gọi đầu tư,
đến nay có 3 dự án xin thuê đất với diện tích 24,65 ha/ 92,88 ha, đạt 26,54%, số vốn
đầu tư là 663 tỷ đồng.
2.2.3 Tuyến công nghiệp Cổ Chiên
-Vị trí: nằm hai bên đường tỉnh 902, ven sông Cổ Chiên thuộc xã Thanh
Đức, Mỹ An, Mỹ Phước, huyện Long Hồ và Mang Thít, cách thành phố Vĩnh Long
3km. Các ngành nghề chủ yếu như: các ngành sản xuất gạch gốm đều tập trung ở
tuyến này, đặc biệt là huyện Mang Thít, chế biến các loại thức ăn cho gia súc, thủy
sản; sản xuất thuốc phòng chữa bệnh cho gia súc, gia cầm; vật liệu xây dựng; gốm;
sứ; kho bãi; dịch vụ; xi măng; chế biến lương thực thực phẩm; cơ khí phục vụ nông
nghiệp.
-Tình hình thu hút đầu tư, Tuyến công nghiệp Cổ Chiên có tổng diện tích là
249,5 ha; được chia thành 8 khu. Khu 4 đã có 5 công ty đầu tư với diện tích là 30,13
ha, với tổng số vốn đăng ký là 1.029 tỷ đồng và 8,3 triệu USD. Hiện nay, công ty
liên doanh dinh dưỡng Quốc tế và công ty TNHH bê tông Hùng Vương đã đi vào
hoạt động, công ty TNHH Biofeed II và DNTN Tường Vi đã có quyết định giao đất.
58
Khu 5 đã bố trí 26 cơ sở sản xuất gốm, đã có 21 cơ sở và 3 DN được giao đất đã đi
vào hoạt động. Các tiểu khu khác đều có các DN đang hoạt động sản xuất với nhiều
ngành nghề: gốm, gạch, đóng tàu, xà lan, chế biến thuỷ sản, kinh doanh vật liệu xây
dựng,..
2.2.4 Đánh giá tình hình hoạt động, phát triển KCN
2.2.4.1 Thành tựu
* Sự ra đời của KCN góp phần cho phát triển kinh tế địa phương. KCN đi
vào hoạt động đã đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, tạo nên khu vực kinh tế, dịch vụ phát
triển sôi động, đời sống nhân dân được nâng lên mọi mặt. Điều này có ý nghĩa rất
lớn đối với một địa phương nằm trong khu vực ĐBSCL.
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu công nghiệp chủ yếu qua các năm
Chỉ tiêu chủ yếu Năm 2010 Năm 2011 Đơn vị tính Năm 2005
267.188 4.438.223 6.674.110 Triệu đồng
9% 39% 42%
Người 2.676 13.753 14.070
9% 26% 25%
49% 42%
Giá trị sản xuất công nghiệp (hiện hành) Nguồn:Cục thống kê tỉnh Vĩnh Long + Chiếm tỷ trọng (so với toàn tỉnh) % Giải quyết việc làm Nguồn: BQLCKCN Vĩnh Long và Sở LĐTBXH tỉnh Vĩnh Long + Chiếm tỷ trọng (so với toàn tỉnh) % + Tốc độ tăng bình quân - Giai đoạn 2005 -2010 - Giai đoạn 2005 -2011 - Giai đoạn 2010 -2011 2%
+ Tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp KCN đã góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của tỉnh. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng khá nhanh so với giá trị
sản xuất toàn tỉnh: năm 2005 là: 267.188 triệu đồng chiếm 9%; năm 2011 là:
59
6.674.110 triệu đồng chiếm 42% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh. Tốc độ tăng
trưởng bình quân giai đoạn từ năm 2005 đến 2010 là 46%.
+Cung ứng sản phẩm hàng hoá phục vụ tiêu thụ nội địa và đẩy mạnh xuất
khẩu. Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 là 88,56 triệu USD, tăng 11,07 lần so năm
2005, năm 2011: 134 triệu USD, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 55 %/ năm.
Nhập khẩu năm 2010 là 42,08 triệu USD, tăng 5,84 lần so năm 2005, tốc độ tăng
bình quân hàng năm là 54 %/ năm. Đối với nhập khẩu, đa số các DN nhập khẩu các
trang thiết bị để cải tiến công nghệ sản xuất và các nguyên liệu nội địa hiếm, giá trị
nhập khẩu năm 2005 là 57,75 triệu USD, năm 2009 giảm xuống còn 36,64 triệu
USD, thể hiện tỷ trọng nội địa hoá ngày càng cao. Công nghệ sản xuất của các DN
thuộc các nước châu Á (Nhật Bản, Đài Loan), Châu Âu (Hà Lan, Đức) và liên doanh
liên kết trong, ngoài nước.
+ Góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách và thực hiện tốt chính sách xã
hội. Tổng doanh thu năm 2011: 6.364,37 tỷ đồng. Thuế: 50,93 tỷ đồng, tăng 18% so
với năm 2010, góp phần tích cực nguồn thu ngân sách tỉnh để tái đầu tư sản xuất
kinh doanh.
+ Tạo ra một kênh thu hút lao động có hiệu quả, góp phần giải quyết việc
làm, nâng cao đời sống nhân dân. Năm 2005 có 2.676 lao động làm việc (chiếm 9%
so với toàn tỉnh) đến năm 2011 đã giải quyết được 14.070 lao động (chiếm 25% so
với toàn tỉnh), tốc độ tăng bình quân 2005-2011 là 42%. Thu nhập và đời sống NLĐ
từng bước được cải thiện.
*Tạo sự tác động lan toả đến sự phát triển KTXH trong khu vực
Từ khi xây dựng và phát triển các KCN, người dân có cơ hội sử dụng nhiều
sản phẩm và dịch vụ chất lượng, nhanh chóng tiện lợi hơn, giá thành hạ,… đồng thời
còn cung ứng các mặt hàng nông sản thực phẩm nguyên liệu và dịch vụ phục vụ trở
lại cho các doanh nghiệp sản xuất chế biến, thúc đẩy KTXH trong khu vực phát triển
mạnh, rõ nét là cụm kinh tế xã hội các xã Phú Qưới, Lộc Hoà, Hoà Phú. KCN Hòa
60
Phú trước khi quy hoạch là vùng đất thuần nông chậm phát triển, đời sống nhân dân
còn nhiều khó khăn, hiện nay tốc độ đô thị hoá phát triển khá nhanh và trở thành khu
vực kinh tế dịch vụ phát triển sôi động, đời sống nhân dân được nâng lên, năm 2009
so năm 2005 khu vực các xã Hoà Phú, Phú Quới và Lộc Hoà tăng trên 200 cơ sở sản
xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp và 700 cơ sở thương mại dịch vụ, trong dịch
vụ có 536 cơ sở nhà trọ (trên 5.200 phòng), từ đó góp phần nâng cao đời sống và thu
nhập của nhân dân trong khu vực nói riêng và trong tỉnh nói chung.
2.2.4.2 Khó khăn, hạn chế
- Nhìn chung, các DN có quy mô sản xuất nhỏ và vừa, chậm đổi mới công
nghệ, thiếu vốn, không có đơn đặt hàng thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa ổn
định...Tuyến công nghiệp Cổ Chiên còn sử dụng công nghệ lạc hậu dẫn đến ô nhiễm
môi trường. Các KCN chưa áp dụng công nghệ thu gom và xử lý chất thải rắn. Hạ
tầng giao thông còn thiếu đồng bộ như quốc lộ 54, 53, tỉnh lộ 902.
- Trình độ tay nghề và tác phong công nghiệp của lao động phổ thông chưa
cao .Việc liên kết của DN với các trường và cơ sở đào tạo NNL theo nhu cầu và tính
chất hoạt động sản xuất kinh doanh còn hạn chế. Một số công ty sử dụng nhiều lao
động còn thường xuyên thiếu lao động. Một số DN thực hiện chính sách cho NLĐ
chưa đầy đủ và kịp thời. Nhà nước tuy có điều chỉnh lương tối thiểu vùng nhưng vẫn
còn thấp nên đời sống của NLĐ còn khó khăn. Vai trò tổ chức CĐCS có phát huy
nhưng chưa mạnh.
- Tiến độ triển khai xây dựng hạ tầng xã hội còn chậm, thiếu đồng bộ với hạ
tầng kỹ thuật. Việc đáp ứng nhu cầu điện cho các DN bị tiết giảm khá lớn vào mùa
khô gây khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh của DN.
Công tác bồi hoàn giải toả còn 6,9% các hộ ở các dự án KCN và tuyến dân
cư chưa nhận bồi hoàn và khiếu nại cần nhiều thời gian xử lý. Tiến độ triển khai
thực hiện dự án theo phân kỳ đầu tư ở một số DN còn chậm. Công tác phối hợp quản
lý các DN có vốn đầu tư nước ngoài về báo cáo tài chính còn hạn chế.
61
Tình hình an ninh trật tự, an toàn giao thông, văn minh mua bán, chợ, bến
xe,... từng bước được cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều phức tạp cần được tiếp tục chấn
chỉnh.
Năng lực công nghệ của DN sản xuất công nghiệp còn yếu, phần lớn thiết bị
sản xuất được chế tạo trong nước hoặc được tân trang và đã khấu hao hết. Nhiều DN
chưa quan tâm vào việc đổi mới quản lý công nghệ, tổ chức quản lý, nghiên cứu và
phát triển, có tâm lý chờ sự hỗ trợ của nhà nước. Trở ngại lớn đối với DN trong việc
đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ là đồng vốn lớn, nhân lực có trình độ về
chuyên môn, về quản lý.
Việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ sở còn hạn chế.
Phần lớn các cơ sở này chưa thật sự quan tâm đến bảo vệ môi trường, chưa dành
kinh phí cho việc đầu tư hệ thống xử lý chất thải, chưa đủ kiến thức chuyên môn
hoặc không đủ kinh phí xây dựng hệ thống xử lý ô nhiễm, việc đầu tư và vận hành
hệ thống xử lý khá tốn kém như đầu tư hệ thống xử lý bụi đối với lò gạch - gốm; hệ
thống xử lý nước thải công nghiệp. Trong tương lai, mâu thuẫn giữa quá trình CNH,
đô thị hóa và bảo vệ môi trường tại KCN sẽ diễn ra ngày càng gay gắt nếu tỉnh
không có các giải pháp ( giải pháp quy hoạch và kỹ thuật) bảo vệ môi trường ngay từ
bây giờ.
2.3 Thực trạng sử dụng lao động ở các KCN tỉnh Vĩnh Long
2.3.1 Về số lượng lao động
Lực lượng lao động liên tục tăng. Năm 2005, lao động làm việc trong các
KCN là 2.676 người. Số lượng lao động tăng hơn gấp 3 lần vào năm 2008 với 8.560
lao động. Chỉ trong vòng 1 năm, lực lượng lao động tăng gần gấp rưỡi. Số lượng đạt
12.075 lao động vào năm 2009. Cuối năm 2010, có 13.753 lao động, tăng 1.678 lao
động so năm 2009. Đến tháng 5 năm 2012, tổng số lao động là 14.493 người , trong
đó KCN Hòa Phú là 13.984 người chiếm 96,5%, KCN Bình Minh chiếm 0,7% với
106 người. Tuyến công nghiệp Cổ Chiên 403 người, chiếm 2,8% tổng số lao động.
62
Bảng 2.4: Cơ cấu lao động phân theo giới tính tại các KCN
giai đoạn 2008-2012
Năm Tổng lao động Lao động nữ Lao động nam
Người % Người % Người %
2008 8.560 100 6.639 77,6 1.921 22,4
2009 12.075 100 8.561 70,9 3.514 29,1
2010 13.753 100 9.627 70 4.126 30
2011 14.070 100 8.907 69 5.163 31
4/2012 14.019 100 10.486 74,8 3.533 25,2
(Số liệu xử lý từ BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long)
Xét về giới tính, qua bảng 2.4 cho thấy lao động nữ chiếm đa số trong tổng
số lao động toàn KCN. Tỉ lệ này dao động từ 69% đến 75%. Nhưng xét riêng từng
KCN thì tỉ lệ nam nữ có sự khác nhau qua bảng 2.5. Tại KCN Hòa Phú, tỉ lệ nữ
chiếm 76,1%, trong khi tỉ lệ nam chỉ chiếm 23,9%. Tuy nhiên, tỉ lệ chênh lệch này
hoàn toàn ngược lại ở KCN Bình Minh và Tuyến công nghiệp Cổ Chiên. Tỉ lệ nữ
tương ứng ở hai KCN này là 12,8% và 12,3%, trong khi tỉ lệ nam chiếm rất cao
87,2% và 87,7%.
Bảng 2.5 Lao động phân theo giới tính tại các KCN năm 2011
KCN Hòa Phú KCN Bình Minh Tuyến CN Cổ Lao động phân theo giới tính Chiên
Người % Người % Người %
Tổng số 13.621 100 78 100 317 100
10.362 10 39 1. Nữ 76,1 12,8 12,3
3.259 23,9 68 87,2 278 87,7 2. Nam
(Số liệu xử lý từ BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long)
63
Sự khác biệt cơ cấu nam nữ ở từng KCN là do phụ thuộc vào các ngành
nghề sản xuất. Các ngành sản xuất ở KCN Hòa Phú chủ yếu là những ngành công
nghiệp nhẹ, cần sự tỉ mỉ, nhẫn nại. Điều kiện này phù hợp nhiều hơn với lao động
nữ, cho nên tỷ lệ này chiếm khá cao. Các ngành nghề chủ yếu như gia công may mặc
xuất khẩu, sản xuất mì ăn liền, sản xuất bao bì, chế biến thực phẩm...Còn tại KCN
Bình Minh và Tuyến công nghiệp Cổ Chiên, hiện tại chỉ có 3 DN hoạt động với các
ngành nghề: chiếu xạ thực phẩm, dụng cụ y tế, chế biến thủy sản, nông sản, hệ thống
kho lạnh, chế biến thức ăn thủy sản, sản xuất cống bê tông rung ép.Với những ngành
nghề này thì lại phù hợp với lao động nam, cho nên tỉ lệ này chiếm rất cao trong cơ
cấu. Do KCN Hòa Phú chiếm đến 96,5% trong tổng số lao động, tỉ lệ lao động nữ tại
KCN Hòa Phú chiếm đa số nên nhìn chung tỉ lệ lao động nữ toàn KCN là chủ yếu.
Biểu đồ 2.2: Lao động phân theo giới tính tại các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh
100%
90%
22.4
25.2
29.1
30
31
80%
70%
60%
50%
40%
77.6
74.8
70.9
70
69
30%
Nam
20%
Nữ
10%
0%
năm
2012
2008
2009
2010
2011
Long giai đoạn 2008 - 2012
Xét về độ tuổi, nhìn chung, tỷ lệ lao động có tuổi tương đối trẻ, hầu hết tập
trung ở độ tuổi từ 18 đến 30. Năm 2009, độ tuổi lao động: từ 18 đến 30 chiếm 85%,
64
từ 30 đến 35 chiếm 12%. Năm 2012, độ tuổi từ 18 đến 30 chiếm đến 97%. Tại các
DN có vốn đầu tư nước ngoài, lực lượng lao động cũng tập trung chủ yếu ở độ tuổi
dưới 30, chiếm trên 60%. Từ 30 tuổi đến 40 tuổi chiếm trên 30%, còn lại là độ tuổi
ngoài 40. Với việc tuyển dụng này, các nhà đầu tư muốn sử dụng các lao động trẻ
vừa có sức khoẻ, vừa có khả năng nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật mới, đồng thời sau
khi được đào tạo tại DN, lao động trẻ có thời gian gắn bó với DN lâu hơn.
2.3.2 Về chất lượng lao động
2.3.2.1 Bậc thợ, tay nghề
* Về trình độ học vấn
Bảng 2.6: Lao động có trình độ học vấn giai đoạn 2008-2012
Năm Lao động phân theo trình độ học vấn
Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông
Tổng lao động (người)
đơn vị: người 2008 8.560 1.027 2009 12.075 1.449 14.070 2.955 2011 1/2012 14.019 1.494 đơn vị: % 12% 12% 21% 10,66% đơn vị: người 4.623 6.496 5.768 6.306 đơn vị: Đơn vị: % người 54% 2.910 53,8% 4.130 5.347 41% 44,98% 6.219 đơn vị: % 34% 33,93% 38% 44,36%
( Số liệu xử lý từ BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long)
Đa số công nhân ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông, trong đó
chiếm cao nhất là bậc trung học cơ sở. Qua các năm, tỉ lệ này có sự thay đổi theo
chiều hướng tích cực. Tỉ lệ lao động có trình độ tiểu học, trung học cơ sở có xu
hướng ngày càng giảm, tăng dần tỉ lệ lao động có trình độ trung học phổ thông. Qua
giai đoạn 2008-2012, tỉ lệ lao động có trình độ tiểu học giảm 1,34%, trung học cơ sở
giảm 9,02%, trung học phổ thông tăng 10,64%. Qua bảng 2.6 cho thấy tỉ lệ NLĐ có
trình độ tiểu học và trung học cơ sở vẫn còn chiếm tỉ lệ cao trên 50% trong cơ cấu
lao động.
65
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu lao động phân theo trình độ học vấn qua các năm
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2008
0%
11%
21%
12%
38%
34%
44%
45%
54%
41%
Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông
(Số liệu xử lý từ nguồn BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long)
*Về trình độ chuyên môn kĩ thuật
Năm
Lao động có trình độ chuyên môn
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ
kỹthuật (đơn vị: người)
thuật (đơn vị: %)
Tổng
Đại
Cao
Sơ
Qua đào
Lao
Đại
Cao
Sơ
Qua
Lao
lao
học và
đẳng
cấp
tạo
tay
động
học và
đẳng
cấp
đào
động
động
,trung
phổ
,trung
phổ
tạo
trên đại
nghề
trên
(người)
cấp
thông
cấp
thông
tay
đại
học
nghề
học
2008
8.560
158
81
2.106
5.927 1,8
3,4
288
24,6
69,2
1
2009
12.075
223
120
2.976
8.359 1,85
3,28
397
1
24,65 69,22
2011
14.070
423
-
13.085
3
4
93
562
-
1/2012 14.019
460
12.976
3,3
4,2
92,5
583
Bảng 2.7: Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật giai đoạn 2008-2012
(Số liệu xử lý từ BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long)
Qua bảng 2.7, lao động phổ thông vẫn còn chiếm đại đa số, công nhân
qua đào tạo tay nghề chiếm trên 20%, công nhân có trình độ đại học, trên đại học,
66
cao đẳng, trung cấp và sơ cấp chiếm tỉ lệ rất thấp nhưng có xu hướng tăng qua các
năm. Ngược lại, lao động phổ thông và công nhân qua đào tạo tay nghề có xu hướng
ngày càng giảm nhưng vẫn còn chiếm tỉ lệ cao (chiếm trên 90%) trong cơ cấu lao
động phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật. Năm 2012, lao động có trình độ đại
học và trên đại học chiếm 3,3%, cao đẳng, trung cấp chiếm 4,2%, trong đó tay nghề
từ bậc 1 đến bậc 7 đạt 1.47% còn lại chủ yếu là lao động phổ thông được đào tạo
huấn luyện nghề tại chỗ phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của công ty - doanh
nghiệp. Như vậy, lao động qua đào tạo chưa nhiều và lao động có tay nghề còn thiếu
nên chưa đủ chất lượng lao động cần thiết đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư trong
KCN, đặc biệt là trong giai đoạn CNH-HĐH, nhất là những ngành nghề đòi hỏi
chuyên môn kỹ thuật cao.
Do đó, để nâng cao tay nghề, UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí để tổ chức mở các
lớp bồi dưỡng tập trung ngắn ngày nhằm cung cấp nguồn lao động cho các DN như:
lớp maketing, nghiên cứu thị trường, nghiệp vụ, kiến thức áp dụng hệ thống quản lý
chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO, kiến thức quản lý và điều hành DN cho cán
bộ lãnh đạo, quản lý của DN, kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế và WTO..v.v.. Thời
gian đào tạo theo khoá (khoá từ 1 - 3 tháng và khoá từ 4 - 6 tháng). Lao động đào tạo
với thời gian từ 1- dưới 3 tháng thì mức kinh phí nhà nước hỗ trợ tối đa là
300.000đ/người/khoá. Lao động đào tạo với thời gian từ 3 tháng đến 6 tháng thì mức
kinh phí nhà nước hỗ trợ tối đa là 500.000đ/người/khóa. Phần kinh phí đào tạo còn
lại do các DN có lao động đi đào tạo tự cân đối và chi trả cho các trung tâm đào tạo
của tỉnh hoặc của huyện, thị. Số lượng lao động đào tạo tối đa không quá 200 lao
động/1DN/năm và mỗi lao động chỉ được đào tạo 1 lần trong suốt thời gian làm việc
tại DN. Các tổ chức đoàn thể mở lớp dạy nghề tại địa phương, nhằm tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho người học. Hiện trên địa bàn tỉnh có 21 cơ sở dạy nghề và có dạy
nghề, trong đó: cơ sở dạy nghề thuộc địa phương quản lý là 18 (Công lập: 01 trường
trung cấp nghề, 08 trung tâm dạy nghề, 02 trung tâm Giới thiệu việc làm có tham gia
dạy nghề, 02 trường Cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp có dạy nghề, 08 trung tâm
dạy nghề tư thục); 03 cơ sở dạy nghề thuộc Trung ương (01 trường Trung cấp nghề
67
của tỉnhvà 02 trường Cao đẳng chuyên nghiệp có dạy nghề). Hệ thống các cơ sở dạy
nghề ngày càng được quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý để đáp ứng yêu cầu đào tạo của xã hội. Trong đó, chú trọng
dạy các ngành nghề theo nhu cầu thị trường đổi mới chương trình, giáo trình và tổ
chức dạy nghề cho NLĐ. Mặt khác, tỉnh còn mở rộng, tăng cường năng lực, phạm vi
hoạt động, cung cấp thông tin về thị trường lao động và tạo điều kiện cho NLĐ tiếp
xúc với các thông tin của nhiều đơn vị sử dụng lao động, NLĐ đã có nhiều chọn lựa
thông qua hội chợ việc làm, sàn giao dịch việc làm. Tuy nhiên, việc đào tạo nghề
còn nhiều bất cập. Khó khăn lớn nhất của công tác dạy nghề ở Vĩnh Long hiện nay
là một số ngành nghề lao động chủ yếu chỉ để giải quyết việc làm trước mắt, tạo
thêm thu nhập cho người dân chứ chưa thực sự mang lại hiệu quả cao, chưa gắn liền
với chiến lược phát triển KTXH của địa phương. Tuy cơ sở dạy nghề khá nhiều
nhưng về quy mô đào tạo, số lượng ngành nghề, chất lượng còn hạn chế, chủ yếu là
nghề cắt may, đan lát, hàng thủ công mỹ nghệ... Việc dạy nghề chỉ tập trung trong
khoảng thời gian ngắn, có ngành chỉ đào tạo một tháng nên người học chỉ ở bước
đầu làm quen với nghề. Vì vậy dù đào tạo miễn phí, dễ tìm việc làm nhưng cũng
không có học viên. Thực tế, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề còn khá cao, đặc
biệt là NNL có trình độ thấp .Việc đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu của tỉnh, của khu
vực ĐBSCL. Nguyên nhân cơ bản nhất là công tác dạy nghề cho lao động chưa có
quy hoạch, chưa xây dựng được chương trình khung, chưa phù hợp với nhu cầu phát
triển KTXH của địa phương, chưa gắn với việc làm và yêu cầu của DN, nên chưa
thu hút được người đến học nghề. Vĩnh Long có đặc điểm nguồn lao động nông thôn
đa số lớn tuổi. Trình độ học vấn tương đối thấp và khả năng tiếp cận những tiến bộ
khoa học kỹ thuật mới còn chậm do đó chỉ phù hợp với các ngành nghề lao động
giản đơn. Việc dạy nghề trình độ kỹ năng tay nghề cao, có tính chuyên sâu, các nghề
có tính mũi nhọn đặc thù, có hiệu quả cao, phục vụ xuất khẩu lao động cho người lao
động chưa được phổ biến và gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, đa số NLĐ nhất là
lao động trẻ chưa có tay nghề ở vùng nông thôn có xu hướng đi làm lao động phổ
thông ở các thành phố lớn, KCN để có thu nhập ngay chứ không muốn tham gia học
68
nghề. Một số trung tâm dạy nghề công lập thuộc huyện, thành phố vẫn chưa được bổ
sung biên chế giáo viên dạy nghề theo quy định. Một bộ phận giáo viên và người
dạy nghề cho lao động nông thôn chưa đạt chuẩn về chuyên môn và nghiệp vụ sư
phạm. Hiện tại, tỉnh chú trọng đầu tư mua sắm trang thiết bị dạy nghề; tổ chức bồi
dưỡng, tập huấn, từng bước chuẩn hóa về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho đội
ngũ giáo viên dạy nghề và người làm công tác dạy nghề cho lao động.
2.3.2.2 Ngành nghề lao động
Cơ cấu ngành nghề tại các KCN tỉnh Vĩnh Long cũng rất đa dạng, từ khai
thác tài nguyên thiên nhiên đến công nghiệp chế biến. Trên cơ sở phát huy được lợi
thế về nguồn nguyên liệu sẵn có và nguồn lao động từ giản đơn đến có trình độ, các
khu KCN đã góp phần tạo ra những sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh,
thị trường trong nước và ngoài nước, đồng thời giải quyết việc làm, tăng thu nhập,
kích thích thị trường phát triển. KCN Hòa Phú tập trung sản xuất các ngành nghề
như: sản xuất giày thể thao, dụng cụ thể thao; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm, thủy
sản; chế biến nông sản, thực phẩm; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và may mặc;
sản xuất bao bì; bê tông ly tâm; sản xuất hóa mỹ phẩm và các sản phẩm tẩy vệ sinh...
KCN Bình Minh định hướng bố trí các ngành công nghiệp nhẹ, ít gây ô nhiễm, ít gây
tiếng ồn, không ô nhiễm nguồn nước bao gồm: chế biến thực phẩm xuất khẩu; dệt
may; lắp ráp điện- điện tử; chế biến đồ gỗ gia dụng; sản xuất hàng tiêu dùng, hàng
gia dụng, bao bì các loại; hoá dược kỹ thuật cao; sản xuất cấu kiện tấm bao che tấm
lợp; sản xuất gạch men, vật liệu trang trí nội thất; dịch vụ trung chuyển và vận
chuyển (kho bãi, cảng)...Tuyến công nghiệp Cổ Chiên dựa trên các lợi thế sẳn có
phát triển với nhiều ngành nghề như: gốm, gạch, đóng tàu, xà lan, chế biến thủy sản,
kinh doanh, vật liệu xây dựng, trạm xăng dầu.
69
Bảng 2.8: Các ngành nghề sản xuất kinh doanh chính ở các KCN
tỉnh Vĩnh Long
Ngành nghề sản xuất chính
Tên doanh nghiệp KCN HÒA PHÚ
STT I 1
Công ty TNHH Tỷ Xuân
Giày thể thao, giày lưu hóa, giày da và hàng dụng cụ thể thao xuất khẩu
2
Sản xuất và kinh doanh mì ăn liền
3
Sản xuất bê tông ly tâm
Sản xuất thức ăn chăn nuôi thủy sản
4 5
Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và may mặc
Công ty CP Acecook Việt Nam chi nhánh Vĩnh Long Công ty TNHH đầu tư xây dựng Tân Hải Long Công ty TNHH Biofeed Công ty CP sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Vĩnh Long
6
Công ty TNHH Á Châu
Sản xuất thức ăn chăn nuôi thủy sản, SX bao bì Sản xuất bao bì carton và giấy Chế biến khoai lang chiên xuất khẩu Chế biến nông sản, thực phẩm
7 8 9 10
Luyện và cán thép
Công ty CP Phú Long Công ty TNHH Việt Hưng Công ty TNHH Thiết Lập Công ty TNHH thép Thanh Tín Vĩnh Long
11
Công ty TNHH Phi Dũng
12
Sản xuất thức ăn thủy sản Sản xuất oxy Sản xuất thức ăn cho gia súc, thức ăn cho gia cầm, thức ăn thuỷ sản. May mặc xuất khẩu
13 14
Sản xuất hoá mỹ phẩm và các sản phẩm tẩy vệ sinh.
15
kho gốm sứ và đóng gói gốm sứ
16
Sản xuất thức ăn chăn nuôi
II 1
2
Công ty TNHH CJ VINA AGRI chi nhánh Vĩnh Long Công ty TNHH BO HSING Công ty TNHH sản xuất thương mại Đại Việt Hương chi nhánh Vĩnh Long Công ty CP gốm sứ Toàn Quốc chi nhánh Vĩnh Long Công ty TNHH sản xuất thức ăn chăn nuôi G & H KHU CÔNG NGHIỆP BÌNH MINH Công ty TNHH sản xuất lưới hàn Nam Hợp Lực Công ty CP kỹ thuật ôtôTrường Long
3
Công ty CP chiếu xạ An Phú
Sản xuất lưới thép hàn; đinh kẽm các loại Sản xuất xe ôtô chuyên dùng, nhà máy sản xuất thùng và lắp đặt thùng. Chiếu xạ thực phẩm, các mặt hàng nông sản, trái cây, thuốc đông nam dược, dụng cụ y tế…
4
Nhà máy sản xuất sinh hóa phù sa
5
Công ty TNHH MTV Sinh Hoá Phù Sa Công ty TNHH thiết bị Á Châu Mêkông Công ty CP cảng Bình Minh
Chế tạo thiết bị và cung cấp vật tư phụ tùng cho các nhà máy Kho bãi phục vụ cảng Bình Minh
6
70
7
Dự án thành lập trung tâm dạy nghề Hoàng Quân
Sửa chữa và cài đặt máy vi tính, sửa chữa điện công nghiệp, chế biến thực phẩm, kế toán doanh nghiệp và tin học văn phòng.
8
Dự án trạm cấp phát xăng dầu
Công ty TNHH MTV dầu khí Duy Linh TUYẾN CÔNG NGHIỆP CỔ CHIÊN
III 1
Công ty CP thuỷ sản Quốc tế
Chế biến thủy, nông sản, hệ thống kho lạnh, nhà máy chế biến thức ăn thủy sản
2 3
Sản xuất thức ăn chăn nuôi
Công ty TNHH Bê tông Hùng Vương Sản xuất cống bê tông rung ép Công ty liên doanh dinh dưỡng thủy sản Quốc tế (ANI)
4
Công ty TNHH Biofeed 2
Dự án đầu tư XD nhà máy SX thức ăn nuôi cá
5
Công ty TNHH Quốc Thảo – Vĩnh Long
Sản xuất, chế biến, kinh doanh xuất khẩu các loại hàng nông sản (nấm rơm, bào ngư, dứa, Astiso, …)
(Nguồn BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long)
Cơ cấu lao động theo ngành có sự khác nhau tại KCN. Qua bảng 2.9 cho
thấy tỷ lệ lao động tập trung cao ở ngành giày da và may mặc, chiếm trên 80% tổng
số lao động phổ thông trong KCN (giầy da 67,4%, may mặc 20,2 %). Ngành giày da
là ngành sử dụng lao động nhiều và hiện là ngành có tỷ trọng về giá trị sản xuất xếp
hàng thứ 3 trong toàn ngành công nghiệp của tỉnh. Sản phẩm chủ yếu của ngành là
sản xuất giày thể thao, giày dép bằng da. Ngành dệt may hiện là ngành có tỷ trọng về
giá trị sản xuất xếp hàng thứ 5 trong toàn ngành công nghiệp. Mặc dù chủ yếu vẫn là
may gia công nhưng ngành cũng đang đóng góp tích cực trong việc giải quyết việc
làm, tăng giá trị sản xuất và kim ngạch xuất khẩu. Đặc điểm sản xuất hàng dệt may
là cần vốn đầu tư tương đối ít nhưng lại thu hồi vốn nhanh và sử dụng nhiều lao
động. Mặt khác, với mục tiêu phát triển dệt may của tỉnh đến năm 2020 sản xuất đạt
50-70 triệu sản phẩm may mặc do đó, nhu cầu lao động trong thời gian tới của ngành
là rất lớn.
Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi và chế biến lương thực thực phẩm
chiếm 6,2% tổng số lao động phổ thông tại KCN. Chủ yếu chế biến các sản phẩm từ
chăn nuôi, chế biến thủy sản, chế biến rau củ quả. Ngành có thế mạnh nhiều và được
tỉnh ưu tiên đầu tư do Vĩnh Long có nguồn nguyên liệu nông, thủy sản phong phú,
71
tuy nhiên tỷ lệ đưa vào chế biến vẫn chưa cao. Ngành công nghiệp chế biến sẽ là
ngành công nghiệp chính và chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu công nghiệp Vĩnh
Long trong giai đoạn đến năm 2020. Ngành thủ công mỹ nghệ cũng góp phần giải
quyết việc làm của tỉnh, chiếm 3,3% tổng số lao động phổ thông trong KCN. Hiện
tại, ngành chưa có sự hỗ trợ cần thiết của máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại,
chủ yếu làm bằng tay. Do đó, sản phẩm tạo ra không đồng đều, khó cạnh tranh về
chất lượng, kiểu dáng và giá cả. Các ngành vật liệu xây dựng, kinh doanh hạ tầng,
chiếu xạ gốm sứ… chiếm tỉ lệ lao động thấp nhưng lại có vai trò quan trọng trong
xây dựng hạ tầng kỹ thuật phát triển KTXH ở tỉnh. Nhà nước đã không ngừng hoàn
thiện và tăng cường quản lý về chất lượng sản xuất các sản phẩm. Nhiều tiêu chuẩn,
quy chuẩn mới được áp dụng, đồng thời nhiều tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh
vực xây dựng được áp dụng, tạo sức cạnh tranh cao về chất lượng. Tuy nhiên còn
nhiều khó khăn thách thức đặt ra đối với ngành như kỹ thuật công nghệ, trình độ tay
nghề của công nhân, ô nhiễm môi trường, nguồn nguyên liệu, tình hình xuất nhập
khẩu . . .
Bảng 2.9: Cơ cấu lao động phổ thông phân theo ngành ở các KCN tỉnh Vĩnh
Long tháng 4/ 2012
STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9
Ngành %
Ngành giày da Ngành may mặc Ngành chế biến lương thực thực phẩm Ngành bao bì Ngành hóa mỹ phẩm, tẩy vệ sinh Ngành vật liệu xây dựng (cống, bêtông) Ngành thức ăn chăn nuôi Ngành thủ công mỹ nghệ Ngành khác (kinh doanh hạ tầng, chiếu xạ, gốm Số lao động Đơn vị: người 8.740 2.615 582 121 89 107 223 434 65 67,4 20,2 4,5 0,9 0,7 0,8 1,7 3,3 0,5 sứ…)
100 10 Tổng số lao động phổ thông 12.976
(Số liệu xử lý từ nguồn BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long)
72
Ngành giày da
0,7%
0,5%
Ngành may mặc
1% 3,3%
0,9%
6,2%
Ngành chế biến lương thực thực phẩm, thức ăn chăn nuôi
Ngành bao bì
20,2%
Ngành hóa mỹ phẩm, tẩy vệ sinh
67,4%
Ngành vật liệu xây dựng
Ngành thủ công mỹ nghệ
Ngành khác
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu lao động phổ thông phân theo ngành ở các KCN năm 2012
Nhìn chung, hiện tại, việc đáp ứng nhu cầu lao động cho các ngành công nghệ
cao chưa thực hiện được vì cần có thời gian. Do đó, các ngành sử dụng nhiều lao
động của địa phương vẫn phải được ưu tiên phát triển như da giày, dệt may, sản xuất
hàng thủ công mỹ nghệ. Với điều kiện thuận lợi về nguồn nguyên liệu phục vụ cho
ngành công nghiệp chế biến thủy sản - nông sản - thực phẩm, chế biến thức ăn gia
súc - thủy sản, vì thế các ngành này sẽ có điều kiện phát triển trong thời gian dài trở
thành ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh. Ngành công nghiệp mới như xi măng,
đóng và sửa chữa tàu thuyền, hóa mỹ phẩm, nhựa, bao bì, vật liệu xây dựng đang
được khuyến khích đầu tư là những ngành có khả năng phát triển cần định hướng là
ngành ưu tiên của tỉnh.
Theo dự báo, nhu cầu lao động tại tỉnh thời gian tới là rất lớn. Do trình độ
và kỹ năng lao động thấp, trong giai đoạn đến năm 2015, Vĩnh Long đầu tư phát
triển các ngành sử dụng nhiều lao động như: chế biến, may mặc, sản xuất giày dép,...
đồng thời dần định hướng và thu hút đầu tư có chọn lọc đối với một số ngành công
nghệ mới, công nghệ phù hợp với điều kiện về nguồn lực của tỉnh. Xu hướng các
73
ngành ở Việt Nam nói chung và Vĩnh Long nói riêng cũng sẽ đi theo những xu
hướng chung của thế giới. Đó là xu hướng tập trung hóa, hợp tác hóa để tạo lợi thế
kinh tế theo quy mô. Xu hướng thứ 2 là các ngành công nghiệp ngày càng sử dụng
nhiều lao động có trình độ tay nghề, kỹ thuật, giảm dần sử dụng lao động phổ thông
giản đơn. Do đó cần có sự tính toán phù hợp trong quá trình đào tạo nghề.
2.3.2.3 Nguồn gốc lao động
Nhìn chung, nguồn lao động trong nước là chủ yếu chiếm gần 99%
qua các năm, nguồn lao động nước ngoài chiếm tỉ lệ nhỏ nhưng hầu hết là nguồn lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Số liệu ở bảng 2.10 cho thấy, qua các năm,
nguồn lao động này tăng lên mặc dù vẫn còn hạn chế. Các KCN tận dụng nguồn lao
động trong tỉnh, hằng năm cung cấp từ 72% đến gần 90% lực lượng lao động của
toàn KCN. Lao động nhập cư chủ yếu ở tỉnh Đồng Tháp là 1.000 lao động. Hiện
công ty TNHH Bohsing đang tuyển lao động tỉnh Sóc Trăng khoảng trên 500 lao
động, các tỉnh khác trên dưới 200 lao động. Nguồn lao động nhập cư từ các tỉnh lân
cận dao động từ 12% đến gần 30% trong giai đoạn 2008-2012.
Bảng 2.10: Cơ cấu lao động bản xứ và nhập cư ở các KCN giai đoạn 2008-2012
Năm
Lao động
Lao động
Lao động
Tổng lao
Lao động
Lao
động
nước
trong tỉnh
ngoài tỉnh
động
trong nước
nữ
ngòai
Người % Người %
Người % Người %
Người % Người %
2008
8.560 100 8.434 98,5 126
1,5 6.639 71.8 7.421 88 1.013 12
2009
12.075 100 11.939 98,9 136
1,1 8.561 70,9 10.028 84 1.911 16
2010
13.753 100 13.612 98,9 141
1,1 9.627 70
11.161 82 2.451 18
2011
14.070 100 13.934 99
8.907 69
10.062 72 3.872 28
136
1
4/2012 14.019 100 13.876 99
10.486 74,8 11.659 83 2.217 17
143
1
(Nguồn BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long)
Nguồn lao động trong nước, nước ngoài, trong tỉnh, ngoài tỉnh tăng qua các
năm. Năm 2005, số lượng lao động trong nước 2.628 người, và 48 lao động nước
74
ngoài thì đến 2008 tăng lên 8.434 lao động trong nước, số lao động nước ngoài tăng
gần gấp 3 lần. Số lượng này tiếp tục tăng qua các năm, năm 2009 có 11.939 lao động
trong nước, tăng 57%/ năm và 136 lao động người nước ngoài, tăng 53%/năm, có
84% lao động trong tỉnh và 7,7% lao động qua đào tạo, tốc độ tăng bình quân tính
chung lao động trong nước và ngoài nước là 57%/năm. Năm 2010, trong đó 13.612
lao động trong nước (tăng 1.673 lao động), chiếm khoảng 98,9%, lao động nước
ngoài 141 người (tăng 05 lao động), tốc độ tăng lao động bình quân hàng năm vào
khoảng 64%/năm. Đến tháng 4/2012, lao động trong nước là 13.876 người, trong đó
hầu hết là lao động ở tỉnh 11.659 lao động.
75
76
người
16000
14019
13876
14000
11659
12000
Chú giải Tổng lao động
10000
8560
Lao động trong nước
8434
7421
8000
Lao động nước ngoài
Lao động trong tỉnh
6000
Lao động ngoài tỉnh
4000
2217
2000
1013
143
126
0
2008
2012
năm
Biểu đồ 2.5: Lao động bản xứ và nhập cư ở các KCN năm 2008 và 2012
(Xử lý của tác giả từ nguồn BQLKCN tỉnh Vĩnh Long)
2.3.2.4 Sự biến động nguồn lao động
Công nhân lao động tại KCN làm việc theo chế độ HĐLĐ đúng theo khái niệm giai
cấp công nhân nhưng thực tế là hàng năm số lượng công nhân tăng, giảm khá lớn
khoảng 30%. Qua bảng 2.11 và 2.12 cho thấy công nhân biến động qua từng tháng,
từng quý, từng năm. Mỗi quý biến động tăng giảm dao động từ 800-1000 người.
77
Công nhân còn biến động ở từng công ty. Số lượng công nhân tăng giảm
qua các năm. Một số công nhân bị ngừng việc, mất việc như công ty CP sản xuất
kinh doanh xuất nhập khẩu Vĩnh Long. Việc tuyển lao động của DN gặp nhiều khó
khăn. Hiện toàn KCN thiếu khoảng 7.000 lao động, riêng KCN Hòa Phú thiếu 6.000
lao động. Sự thiếu hụt này rõ rệt nhất ở các DN may mặc và giày da, điển hình công
ty TNHH Tỷ Xuân và Bohsing. Nguyên nhân chủ yếu là mức lương tối thiểu vùng
của nhà nước còn thấp, giá cả thị trường biến động tăng nên chưa thu hút được
NLĐ. Bên cạnh đó, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, chủ DN chỉ lo tập
trung cho doanh thu và lợi nhuận là chủ yếu, chưa quan tâm đến việc đào tạo nghề.
Hiện tại, các DN có quy mô sản xuất nhỏ chậm đổi mới công nghệ, thiếu vốn, không
có đơn đặt hàng, thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định ... nên ngừng sản xuất
hoặc sản xuất cầm chừng như công ty TNHH Á Châu, công ty TNHH Thanh Tín
Vĩnh Long, công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Đỗ Lộc… Ngoài ra, sự cạnh tranh
giữa các DN với nhiều sự ưu đãi khác nhau từ tiền lương, tiền thưởng, chế độ phúc
lợi cũng tác động không nhỏ tới sự biến động này. Song song đó, một số ngành nghề
sản xuất theo thời vụ nên nhu cầu lao động của DN, việc làm và thu nhập của NLĐ
không ổn định. Điều kiện làm việc và nhận thức của bản thân NLĐ cũng là một
trong những nguyên nhân tác động. Một bộ phận lao động xác định vào làm việc
trong DN chỉ là tạm thời, chưa thật sự gắn bó với công việc, với DN; đa số NLĐ là
lao động nông thôn chưa thích nghi làm việc trong điều kiện lao động mới theo tác
phong công nghiệp, ràng buộc bởi nội quy kỷ luật lao động chặt chẽ.
Tình hình thiếu hụt và biến động lao động đã ảnh hưởng nhiều đến hoạt
động sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế, làm ảnh hưởng đến tốc độ phát triển,
mở rộng sản xuất của DN; đồng thời cũng ảnh hưởng đến sự thu hút đầu tư các dự
án mới trong các KCN, nhất là các dự án có sử dụng số lượng công nhân lớn. Do đó,
để thu hút và tạo sự gắn bó lâu dài của NLĐ, các DN cần tăng lương, thực hiện các
chính sách phúc lợi xã hội như nhà ở, nhà giữ trẻ, trạm xá khám chữa bệnh, phương
tiện công cộng đi lại và các thiết chế văn hóa…để đảm bảo cuộc sống tối thiểu. Bên
cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, nâng cao trình độ, nâng mức lương
78
tối thiểu để có thu nhập tương xứng với sức lao động đã bỏ ra. Khi có sự quan tâm
của nhà nước, DN, đời sống công nhân sẽ được đảm bảo, NLĐ an tâm sản xuất, mức
ổn định lao động và năng suất công việc sẽ cao.
Bảng 2.12: Biến động lao động qua các năm ở các KCN tỉnh Vĩnh Long
giai đoạn 2008-2011
đơn vị: người
Năm
Quý
STT
Doanh nghiệp
Quý IV/ 2008
Quý IV/ 2010
Quý IV/ 2011
II/ 2012
1
Công ty CP sản xuất kinh doanh XNK Vĩnh Long
448
520
589
588
2
Công ty TNHH Tỷ Xuân
7249 7567
8818
8983
3
Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Đỗ Lộc
20
-
-
-
4
Công ty TNHH Biofeed
195
164
121
129
5
Công ty TNHH đầu tư xây dựng Tân Hải Long
34
29
34
32
6
Công ty TNHH Á Châu
69
55
2
-
7
Công ty CP Phú Long
116
137
147
151
8
Công ty TNHH Hùng Vương
865
715
610
601
9
Công ty Liên doanh dinh dưỡng Thủy sản Quốc Tế 187
175
188
213
10 DNTN Việt Hưng
33
22
20
24
11 Công ty TNHH Thiết Lập
70
83
102
101
12
572
688
756
Công ty CP chế biến Thủy sản xuất nhập khẩu Hùng Cường
13 Nhà máy bê tông Hùng Vương
40
98
121
117
14 Công ty Bohsing
2142
2611
2657
15 Công ty CP Hòa Phú
28
28
28
79
16 Công ty TNHH Phi Dũng
50
10
-
17 DNTN Huy Hưng
40
38
18 Công ty TNHH G&H
27
32
35
19 Công ty TNHH Đại Việt Hương
110
114
20 Công ty TNHH MTV An Phú-Bình Minh
73
51
46
48
21
46
Chi nhánh Công Ty TNHH CJ Vina tỉnh Vĩnh Long
44
41
22
Chi nhánh Công ty TNHH Hữu Niên tỉnh Vĩnh Long
23
50
Chi nhánh Công ty TNHH DE HUES tỉnh Vĩnh Long
21
6
24
Chi nhánh Công ty TNHH Gốm sứ Toàn Quốc tỉnh Vĩnh Long
25 Công ty CP Kỹ Thuật Ô Tô Trường Long
40
26 Công ty TNHH Thanh Tín Vĩnh Long
-
79
-
-
27 Công ty Acecook Việt Nam
532
610
815
768
28
22
28
Chi nhánh Công ty TNHH Tiến Hùng tỉnh Vĩnh Long
Tổng số lao động
9.988 13.040 15.221 15.619
( Nguồn CĐCKCN)
2.3.2.5 Về kỉ luật lao động
Ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp góp phần tạo hiệu quả và năng suất
cao trong công việc. Để phát triển, đảm bảo an toàn lao động, góp phần quản lý DN
tốt hơn, mỗi DN phải có kỷ cương kỷ luật. Điều này có lợi cho cả DN và NLĐ.
Thực tế, tại các KCN của tỉnh, trình độ tay nghề và tác phong công nghiệp của lao
động phổ thông vẫn còn thấp. Hầu hết công nhân xuất thân từ gia đình nông dân,
chưa được trang bị đầy đủ các kiến thức về chuyên môn, pháp luật nên ý thức tổ
chức kỷ luật còn nhiều hạn chế, thiếu ý thức hợp tác tại nơi làm việc. Một bộ phận
NLĐ chưa am hiểu về pháp luật lao động. Mối quan hệ giữa người sử dụng lao động
80
và NLĐ chưa tốt nên xảy ra các tranh chấp lao động và dẫn đến đình công. Điển
hình là tại công ty Tỷ Xuân (năm 2008), công ty TNHH Bohsing ( năm 2011). Các
DN chưa thực hiện theo TƯLĐTT về lương, thưởng tết, nghỉ phép năm từ đó phát
sinh việc ngừng việc tập thể của công nhân. Theo khoản 4 điều 7 của Bộ luật Lao
động :”NLĐ có quyền đình công theo quy định của pháp luật” .Bên cạnh đó,” việc
đình công do Ban chấp hành CĐCS quyết định sau khi được quá nửa tập thể lao
động tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký”[18 ]. Điều đáng nói là tất cả
các cuộc đình công, tranh chấp lao động đều bất hợp pháp, không tuân theo các quy
định của pháp luật về trình tự, thủ tục; không qua hòa giải, không có sự hướng dẫn
của CĐCS, không lấy ý kiến của NLĐ, không báo trước... trong khi phần lớn nội
dung yêu cầu của tập thể lao động trong các cuộc ngừng việc tập thể, đình công đều
chính đáng. Nguyên nhân là do sự hiểu biết về pháp luật của NLĐ còn hạn chế, tổ
chức CĐCS chưa phát huy hết vai trò của mình. Đây là vấn đề rất nhạy cảm do tác
động đến tâm lý, thu nhập, đời sống của NLĐ nên cần có sự quan tâm giải quyết kịp
thời. Để hạn chế tranh chấp lao động, đình công, các DN phải nâng cao đời sống và
cải thiện môi trường lao động cho công nhân bên cạnh công tác kiểm tra, hỗ trợ, vận
động DN nâng lương. Vì theo tình hình hiện nay, biến động giá cả ngày càng gia
tăng nên thu nhập cho NLĐ cũng cần phải được cải thiện. Thực tế cho thấy, những
DN quan tâm đến CĐCS thì tình hình lao động ổn định, không có đình công và
ngược lại.
2.3.2.6 Vấn đề an sinh xã hội cho người lao động
*Về thoả ước lao động tập thể, hợp đồng lao động
Theo qui định của Bộ luật Lao động, TƯLĐTT là văn bản thoả thuận
giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động và sử
dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động. TƯLĐTT
được thương lượng và ký kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và công
khai. Nội dung của TƯLĐTT bao gồm các điều, khoản: việc làm và đảm bảo việc
làm; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp lương;
81
định mức lao động; ATVSLĐ; BHXH; các nội dung khác mà hai bên thấy cần.
Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, tranh chấp lao động xảy ra ngày càng
nhiều, làm tổn hại đến lợi ích của các bên, cho nên TƯLĐTT là văn bản pháp lý
quan trọng nhằm đảm bảo lợi ích của cả NLĐ và người sử dụng lao động, tạo ra
những ràng buộc cả hai bên đều có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện các cam kết; góp
phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ trong DN; phòng ngừa và hạn chế
những tranh chấp lao động, xung đột lao động. Tại các khu và tuyến công nghiệp
của tỉnh, phần lớn các DN đều thực hiện đúng quy định HĐLĐ, TƯLĐTT, các chế
độ chính sách khác liên quan đến lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ. Số NLĐ
đăng ký TƯLĐTT đã tăng qua các năm. Tuy nhiên, việc chấp hành Luật Lao động
một số DN còn hạn chế. Một số DN chưa cấp sổ lao động, lương thưởng điều chỉnh
không kịp thời, tăng ca quá mức theo qui định. Do đó, lợi ích của NLĐ chưa được
đảm bảo.
Theo điều 27 của Bộ luật Lao động, HĐLĐ là sự thoả thuận giữa NLĐ và
người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa
vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. HĐLĐ được giao kết theo các loại như:
HĐLĐ không xác định thời hạn; HĐLĐ xác định thời hạn từ một năm đến ba năm;
HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm.
Tại điều 29 cũng quy định rõ HĐLĐ phải có những nội dung chủ yếu: công việc
phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làm việc, thời
hạn hợp đồng, điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động và BHXH đối với
người lao động. Tại KCN tỉnh Vĩnh Long, năm 2012, số DN ký TƯLĐTT đạt 84%;
NLĐ được ký HĐLĐ đạt 90%. Qua biểu bảng HĐLĐ giữa các DN và NLĐ được
giao kết thì phần lớn tập trung ở hợp đồng ngắn hạn chiếm 56%. Nguyên nhân là do
một bộ phận lao động xác định vào làm việc trong DN chỉ là tạm thời. Khi kết thúc hợp đồng, công nhân sẽ dễ dàng chuyển đổi sang DN khác khi cần. HĐLĐ không xác định thời hạn chiếm 39%. Hợp đồng theo thời vụ chiếm 5%. Hiện nay, việc
quản lý lao động nước ngoài đang gặp khó khăn. Việc báo cáo nguồn lao động này
phụ thuộc vào tính tự giác chấp hành pháp luật của DN và bản thân NLĐ. Thông
82
thường, các DN, tổ chức lợi dụng đưa lao động phổ thông nước ngoài vào Việt Nam
qua hình thức du lịch để tuyển vào làm thời vụ. Hai bên giao kết HĐLĐ và làm việc
có thời hạn dưới 3 tháng không cần phải xin cấp giấy phép lao động. Nguyên nhân là
do pháp luật qui định chưa rõ ràng nên tạo kẽ hở cho các DN. Tại khoản 1, điều 20
Nghị định 34/2008/NĐ-CP lại cho phép các trường hợp khác, học sinh, sinh viên,
phu nhân, phu quân, người giúp việc gia đình nếu có nhu cầu làm việc cho các DN,
tổ chức, cá nhân tại Việt Nam không phải làm hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp giấy phép
lao động. Mặt khác thông tư 08/2008/TT-BLĐTBXH chưa có hướng dẫn các đối
tượng cụ thể tại khoản 1, điều 20 Nghị định 34/2008/NĐ-CP (xem phụ lục 1).
*Môi trường lao động và an toàn lao động
Để duy trì một môi trường trong lành, thông thoáng, việc đảm bảo sản
xuất công nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường, an ninh sinh thái được đặt lên hàng đầu. KCN Hòa Phú đã có nhà máy xử lý nước thải 4.000m3 ngày/đêm đã đưa
vào hoạt động tốt, KCN Bình Minh đang khởi công xây dựng nhà máy xử lý nước thải 2.200m3 ngày/đêm. Đối với các nhà đầu tư vào KCN bắt buộc phải xây dựng hệ
thống thoát nước, xử lý nước thải nội bộ trước khi đấu nối vào hệ thống nhà máy xử
lý nước thải tập trung. Các dự án phải được đánh giá tác động môi trường trước khi
xây dựng và buộc phải tuân thủ theo các cam kết đã đề ra, thực hiện trồng cây xanh
theo quy hoạch. Những dự án được ưu tiên bao gồm những ngành nghề mang tính
sạch, ít gây ô nhiễm. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn nhiều bất cập. Việc đầu tư
xây dựng kết cấu hạ tầng một số hạng mục tiến độ chậm, thực hiện chưa đồng bộ
như trồng cây xanh chưa phủ kín diện tích, nhà máy xử lý nước thải tập trung thời
gian xây dựng kéo dài, cấp nước phục vụ sản xuất không đủ, do vậy có lúc đã làm
ảnh hưởng đến môi trường và hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.
Về môi trường làm việc, khi điều kiện lao động được đảm bảo không những
giúp công nhân đảm bảo về mặt sức khỏe mà còn giúp nâng cao năng suất lao động.
Theo điều 97”Người sử dụng lao động phải bảo đảm nơi làm việc đạt tiêu chuẩn về
không gian, độ thoáng, độ sáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về bụi, hơi, khí độc,
83
phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung và các yếu tố có hại khác. Các yếu tố
đó phải được định kỳ kiểm tra đo lường”[18]. Đồng thời,“Người sử dụng lao động
có trách nhiệm trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn lao
động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động cho NLĐ. NLĐ phải tuân thủ
các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và nội quy lao động của DN. Mọi
tổ chức và cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất phải tuân theo pháp luật về
an toàn lao động, vệ sinh lao động và về bảo vệ môi trường” [18 ]. Tuy nhiên, thực
tế, công nhân thường phải làm việc với cường độ cao, tiếp xúc với hóa chất, tiếng ồn
thường xuyên sẽ gây tác động trực tiếp tới sức khỏe NLĐ như trong các lĩnh vực:
chế biến thủy sản, dệt may,… Mặt khác, do công nghệ sản xuất, có bộ phận sản xuất
NLĐ phải đứng hoặc ngồi làm việc suốt buổi, thời gian nghỉ giải lao phải theo quy
định thường không đủ để thư giãn. Điều kiện này ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe
của lao động nữ nói riêng và NLĐ nói chung. Trong tổng lực lượng lao động thì lao
động nữ chiếm một tỷ lệ khá lớn khoảng 70%. Những tác hại cùng gánh nặng của
công việc sẽ ảnh hưởng lâu dài đến việc duy trì nòi giống cho thế hệ tương lai. Mặt
khác, đây là nguyên nhân chính gây ra một số căn bệnh nghề nghiệp mà họ mắc
phải. Bên cạnh đó, công nhân chủ yếu là ở trọ xa nhà, làm việc vất vả, thiếu vắng
tình cảm và quản lý của gia đình dẫn đến nhiều vấn đề cần phải giải quyết.
* Thời gian làm việc
Thời gian làm việc của công nhân thực hiện đúng Luật Lao động : 08
giờ/ngày chiếm 87,5% DN, trên 8 giờ/ngày chiếm 12,5%. Hiện nay, số lượng công
nhân lao động so với nhu cầu sản xuất kinh doanh của các DN còn thiếu. Thu nhập
bình quân của công nhân có cải thiện nhưng vẫn không theo kịp vật giá tăng nhanh
vì thế công nhân buộc phải tăng ca mới đủ trang trãi cho cuộc sống. Mỗi ca 08 giờ
trong đó có giờ nghỉ giải lao giữa ca ban ngày là 30 phút, ban đêm là 45 phút. Ca 1
làm việc từ 06 giờ sáng đến 14 giờ chiều, ca 2 từ 14 giờ chiều đến 22 giờ tối, ca 3 từ
giờ 22 giờ tối đến 06 giờ sáng. Việc tăng ca thực hiện chưa tốt. Tăng ca là tự nguyện
nhưng bị ràng buộc bởi quyền lợi trong việc tính chế độ. Do làm việc theo ca nên
84
sinh lý tự nhiên cơ thể người có thời gian không tương thích. Thêm vào đó thời gian
vui chơi, giải trí, tham gia các hoạt động thể thao và các sinh hoạt tinh thần khác bị
hạn chế. Vì vậy, NLĐ không có điều kiện nghỉ ngơi để tái sản xuất sức lao động dẫn
đến mệt mỏi, ảnh hưởng đến tâm sinh lý, năng suất lao động. Trong thời gian qua
công nhân bị ngất hàng loạt do dẫn truyền tâm lý. Tình hình này nếu không được cải
thiện thì NLĐ dễ bị mắc bệnh nghề nghiệp, sức khỏe, chất lượng của NLĐ sẽ giảm
sút trong một khoảng thời gian ngắn.
* Các công trình xã hội
Tiến độ triển khai xây dựng hạ tầng xã hội còn chậm, thiếu đồng bộ với hạ
tầng kỹ thuật làm nảy sinh những bất cập cần phải giải quyết: ách tắc giao thông vào
các giờ cao điểm, mất an ninh trật tự, hệ thống điện nước, y tế, bệnh viện, trường
học, hệ thống vệ sinh môi trường, nhà trẻ, nhà ở, nhà văn hoá, khu vui chơi giải trí,
khu thể dục thể thao...Để khắc phục tình trạng, tỉnh đã dành một phần khá lớn ngân
sách nhằm thực hiện hỗ trợ xây dựng hạ tầng như cầu, đường giao thông, các chợ,
bến xe, trạm xe buýt, điện chiếu sáng công cộng,…bên ngoài KCN và chỉ đạo cho
ngành Giao thông vận tải mở các tuyến xe buýt chạy thường xuyên và gia tăng số
đầu xe trong các giờ cao điểm. Một số DN trang bị xe đưa rước công nhân làm việc
ở một số tuyến đường trọng điểm,… từ đó hạn chế được tình trạng ùn tắc và mật độ
cao giao thông trong các giờ vào ca và tan ca làm việc. Các công trình phụ trợ khác
được quy hoạch gắn với khu dịch vụ Phước Yên nằm đối diện KCN qua Quốc lộ
1A. Dự án cầu vượt ngang đường đã có chủ trương của UBND tỉnh cho các chủ đầu
tư hoàn thành thủ tục để triển khai thực hiện trong thời gian tới.
Tỉnh cũng đã có chủ trương lập dự án xây dựng nhà trẻ- mẫu giáo trong các
khu tái định cư tập trung cùng với hệ thống giáo dục phổ thông các cấp và trường
trung cấp nghề, đại học hiện có, đã đáp ứng phần lớn về nhu cầu giáo dục đào tạo
của NLĐ và con em NLĐ. Khảo sát được 08/15 doanh nghiệp trong KCN Hòa Phú
công nhân có nhu cầu gửi 1.916 trẻ dưới 6 tuổi.
85
Về nhà ở, hiện tại tổng số lượng công nhân trong KCN của tỉnh chiếm trên
16.000 người. Thêm vào đó số lượng sinh viên, học viên khu vực khoảng 8000
người (sinh viên trường Đại học dân lập Cửu Long khoảng 7.000 người, học viên
trường trung cấp nghề khoảng 1.000 người). Chính vì thế nhu cầu nhà trọ là rất lớn.
Để đáp ứng tình hình thực tế, nhà nước đã triển khai quy hoạch nhà ở đồng thời các
cơ sở nhà trọ tư nhân cũng gia tăng nhanh chóng. Đối với dự án nhà ở do nhà nước
quy hoạch, tỉnh có kế hoạch phát triển nhà ở cho công nhân tại KCN theo quyết định
66/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ. Hiện tại hoàn thành 02 dự án đáp ứng khoảng
10% nhu cầu nhà ở cho công nhân. Hai dự án bao gồm công trình đã đầu tư xây
dựng trên khu đất dịch vụ phía trước KCN Hòa Phú. Công ty Cổ Phần Thầu Vân đầu
tư xây dựng 126 căn hộ phục vụ cho khoảng 600 công nhân. Công ty Cổ phần Hòa
Phú đầu tư xây dựng 85 căn hộ phục vụ cho khoảng 340 công nhân. (xem phụ lục 2)
Đồng thời tỉnh đã có chủ trương quy hoạch, kêu gọi nhà đầu tư xây dựng
nhà ở cho NLĐ, đặc biệt là công nhân có thu nhập thấp với 04 dự án mới ở các vị trí
phù hợp gần các KCN giai đoạn 2009-2015. Chủ đầu tư các dự án là BQLCKCN và
công ty Hoàng Quân. Địa điểm xã Lộc Hòa có 2 dự án với sức chứa trên 28.000
công nhân. Khu nhà ở công nhân địa điểm xã Mỹ Hòa sau khi hoàn thành sẽ đáp ứng
trên 14.000 người. Khu nhà ở địa điểm xã Mỹ An, bình quân 3 tầng, sức chứa
khoảng 4.000 người. Như vậy, khi các dự án đi vào hoạt động sẽ đáp ứng chỗ ở cho
trên 46.000 lao động. Tuy nhiên, việc thu hút nhà đầu tư gặp nhiều khó khăn, tiến độ
triển khai chậm do đây là ngành nghề có tỷ suất lợi nhuận thấp, quản lý phức tạp, tỷ
lệ cho thuê phòng thấp và không ổn định. Các dự án phải đến năm 2015 mới hoàn
thành(xem phụ lục 3).
Nhà ở ổn định cho NLĐ không chỉ có ý nghĩa xã hội mà còn ảnh hưởng
rất nhiều đến yếu tố kinh tế của DN nhưng hiện tại nhà ở do nhà nước quy hoạch chỉ
đáp ứng 10%. Vì thế, tỷ lệ NLĐ tại các KCN không có nhà ở phải thuê nhà trọ
tương đối cao. Để giải quyết nhu cầu nhà trọ, các hộ dân tận dụng các khoảng đất
trống tự có để xây dựng và làm dịch vụ nhà cho thuê. Hầu hết các hộ kinh doanh
chưa được cấp phép kinh doanh, nên việc quản lý còn khó khăn. Giá cho thuê, giá
86
điện nước còn cao so với thu nhập của công nhân. NLĐ lại có xu hướng tìm nhà trọ
có giá cho thuê phù hợp tuy nhiên giá cho thuê lại cao, quãng đường đến nơi làm
việc lại xa, thời gian cho việc đi lại nhiều. Qua khảo sát có khoảng 70% lực lượng
lao động trong các KCN tạm trú nhà trọ của các hộ dân trong phạm vi bán kính 1 đến 2 km tính từ trung tâm KCN. Diện tích bình quân của các phòng là 14m2/phòng,
giá nhà thuê dao động từ 250.000đ/ phòng/tháng đến 400.000đ/phòng/tháng cho 2
người ở. Tuy nhiên, trên thực tế, mỗi phòng cho thuê thường có từ 3 đến 4 người
thậm chí 5 người ở. Số lao động còn lại thường trú tại hộ gia đình. Đối với các cơ sở
nhà trọ tư nhân vị trí ven Quốc lộ 1A thuộc hai địa bàn xã Hòa Phú và xã Phú Quới
là khoảng 467 nhà trọ, khoảng 6.442 phòng, đáp ứng cho 25.700 người (trong đó xã
Hòa Phú 198 nhà trọ và xã Phú Quới 269 nhà trọ). Về cơ bản theo số liệu được cập
nhật đến thời điểm này lượng phòng trọ đáp ứng tương đối đủ nhu cầu cho công
nhân và sinh viên trong khu vực. Tuy nhiên chất lượng nhà trọ đa số không đạt chuẩn theo quy định (tối thiểu 5m2/người). Các tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường,
nước sạch, tiện ích sinh hoạt, an ninh trật tự ... còn nhiều nguy cơ và phức tạp cao.
Nhìn chung, việc quy hoạch phát triển các KCN chưa gắn kết chặt chẽ giữa
xây dựng hạ tầng kỹ thuật với hạ tầng xã hội (như các thiết chế văn hoá, khu thể dục
thể thao, khu vui chơi giải trí, nhà trẻ, trạm xá, nhà ở cho công nhân có thu nhập
thấp…), nên khi KCN đi vào họat động thì vấn đề nhà ở cho công nhân gặp nhiều
khó khăn; trong khi đó chủ đầu tư hạ tầng và nhà đầu tư thứ cấp chưa thật sự quan
tâm và có trách nhiệm về chỗ ở cho công nhân, nhưng Nhà nước chưa có quy định
chế tài cụ thể. Việc thu hút đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân tiến độ chậm, do
thiếu đất sạch, cơ chế ưu đãi đầu tư (việc miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; miễn,
giảm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập DN) của Nhà nước không ổn định và liên
tục; mặt khác hiệu quả đầu tư thấp, thời gian thu hồi vốn chậm, quản lý phức tạp nên
nhà đầu tư ngán ngại đầu tư vào lĩnh vực này. Đối với nhà ở tư nhân (tự phát)
thường không đủ tiêu chuẩn, việc cung cấp điện nước và vệ sinh môi trường không
đảm bảo nhưng chưa được người dân nâng cấp sửa chữa kịp thời do thiếu vốn và cơ
chế ưu đãi của Nhà nước còn rất hạn chế. Công tác quản lý nhà nước chưa được
85
Bản đồ 3: Hiện trạng cơ cấu lao động tại các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh
Long năm 2012
86
quan tâm đúng mức. Trong họat động sản xuất kinh doanh, chi phí tiền nhà cho công
nhân chưa được tính vào chi phí sản xuất hợp lý; thuế suất thu nhập doanh nghiệp
chưa khuyến khích mạnh, nhà đầu tư chưa chăm lo xây dựng nhà ở hoặc hỗ trợ chi
phí thuê nhà cho công nhân của mình. Chính sách cải cách tiền lương của Nhà nước
ngày càng phù hợp theo tình hình thực tế nhưng chậm điều chỉnh cơ cấu tiền nhà
trong tiền lương tối thiểu nên công nhân gặp nhiều khó khăn trong việc trang trãi chi
phí thuê nhà trọ.
Chính sách về y tế và chăm sóc sức khoẻ có được tăng cường thông qua
việc xây dựng bệnh viện khu vực có bác sĩ và trang thiết bị phục vụ, thường xuyên
kiểm tra định kỳ và đột xuất về vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm trong
và ngoài KCN và các chợ lân cận. Hầu hết các DN trong KCN đều có phòng y tế nội
bộ để giải quyết kịp thời những bệnh nhẹ, sơ cứu sau đó chuyển bệnh lên tuyến trên.
Tỉnh cũng đã có chủ trương giao đất cho dự án bệnh viện khu vực và sẽ được triển
khai xây dựng trong thời gian tới. Tuy nhiên hiện nay, các cơ sở y tế khu vực đều
trong tình trạng quá tải khó đảm bảo phục vụ trong điều kiện thông thường, gây khó
khăn trong việc khám, điều trị bệnh và chăm sóc sức khỏe cho công nhân. Bên cạnh
đó, số lượng nữ tập trung đông, đặc biệt là trong độ tuổi sinh đẻ chiếm đa số nên nảy
sinh nhu cầu về nhà trẻ, trạm xá là rất cao trong khi số lượng cơ sở còn hạn chế.
Đồng thời kéo theo một số hệ lụy xã hội phát sinh: sinh con nhưng không nuôi nổi
con, bỏ con…tăng gánh nặng cho xã hội. Hàng năm đã có nhiều trường hợp trẻ em
bị bỏ rơi ngay cánh cổng Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh.
* Về bảo hiểm
Vào năm 2008, tỷ lệ người tham gia BHXH chưa đầy đủ chỉ chiếm 76,3%
với 6.535 người; BHYT chiếm tỷ lệ 76.3% với 6.535 người. Tình hình có sự chuyển
biến vào năm 2011, tỉ lệ tham gia BHXH, đã tăng lên 90%, BHYT: 89% số còn lại
do lao động đang trong thời gian thử việc. Đến năm 2012, số người tham gia BHXH
là: 13.476 đạt tỉ lệ khá cao 97% trên tổng số lao động trong nước, còn 405 người
chưa đủ điều kiện tham gia BHXH (theo quy định đối tượng tham gia là NLĐ làm
87
việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên).
Số người tham gia BHYT là: 13.549 người đạt 97,6% trên tổng số lao động trong
nước, còn 332 người chưa đủ điều kiện tham gia BHYT (theo quy định đối tượng
tham gia NLĐ làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ có thời hạn từ
đủ 3 tháng trở lên). Số tham gia BHTN 13.543 người đạt 97,5% trên tổng số lao
động trong nước, còn 388 chưa đủ điều kiện tham BHTN (theo quy định đối tượng
tham gia NLĐ làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ có thời hạn từ
đủ 1 năm trở lên).
Bảng 2.13: Tỉ lệ người lao động ở các KCN tham gia BHXH, BHYT, BHTN
Năm BHXH BHYT BHTN Công ty tham gia dưới tỉ lệ
Công ty không tham gia
2009 84%
84%
6,1%
ty bê
2010 71%
71%
71%
công ty THHH Biofeed, công ty TNHH Á Châu, công ty dinh dưỡng An co, công tông Hùng Vương. công ty TNHH Á Châu, công ty TNHH G&H
2011 90%
89%
89%
công ty TNHH Á Châu (ngừng sản xuất), DNTN Huy Hưng
2012 97%
50% công ty TNHH Hùng Vương, DNTN Việt Hưng, công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Đỗ Lộc, công ty TNHH Thanh Tín Vĩnh Long. công ty TNHH Hùng Vương, công ty CP chế biến thủy sản xuất nhập khẩu Hùng Cường, công ty Bohsing, công ty TNHH Phi Dũng công ty TNHH Hùng Vương, công ty TNHH Thanh Tín Vĩnh Long, công ty CP chế biến thủy sản xuất nhập khẩu Hùng Cường 97,6% 97,5% công ty CP chế biến thủy sản
-
xuất nhập khẩu Hùng Cường
giai đoạn 2009-2012
(Số liệu xử lý từ nguồn CĐCKCN tỉnh Vĩnh Long)
Qua bảng 2.13 cho thấy những năm 2008-2011, các công ty, chủ sử dụng
lao động ngoài quốc doanh, hộ sản xuất, kinh doanh cá thể thường trốn tránh việc
tham gia BHXH, BHYT bắt buộc cho NLĐ. Có công ty không tham gia, hoặc tham
gia nhưng tỉ lệ rất thấp. Nguyên nhân là do mức đóng góp không có lợi cho DN (tỷ
88
lệ phần nộp phí BHXH, BHYT của DN 17% cao hơn NLĐ 6%), chế tài xử lý các
trường hợp vi phạm còn bất cập cả về mức xử phạt và cơ chế phối hợp khi kiểm tra,
xử lý các vi phạm. Cho nên, các chủ DN thường thỏa thuận với NLĐ bằng cách tăng
thêm lương. Đa số lao động giản đơn, có trình độ học vấn thấp, chưa nhận thức rõ về
quyền lợi BHXH, BHYT chỉ thấy quyền lợi trước mắt nên cũng đồng tình với cách
giải quyết của DN, khi ốm đau, tai nạn lao động, hết tuổi lao động phần thiệt thòi
đương nhiên thuộc về NLĐ. Do đó, các cấp có thẩm quyền cần có biện pháp chế tài
để đảm bảo quyền lợi công nhân. Đến năm 2012, số người tham gia BHXH, BHYT,
BHTN gần như là đầy đủ, còn tỉ lệ nhỏ 2,5% đến 3% là chưa đủ điều kiện tham gia.
Qua bảng số liệu cho thấy các chủ DN ngày càng đảm bảo thực hiện đúng theo Luật
Lao động. Người sử dụng lao động có chăm lo đến quyền lợi hợp pháp của NLĐ.
Quan hệ giữa NLĐ và người sử dụng lao động được cải thiện, bình đẳng hơn.
*Về văn hoá thể thao
Đây cũng là một vấn đề quan trọng nhằm thư giản, giải toả căng thẳng và
cân bằng tâm lý cho NLĐ sau giờ làm việc. Nhưng do thu nhập thấp, lại chịu áp lực
về thời gian làm việc, nên ít NLĐ có điều kiện để sinh hoạt. Các hoạt động văn hoá -
văn nghệ, thể dục - thể thao thì cũng chỉ diễn ra tại địa bàn cư trú và không phải ai
cũng có điều kiện tham gia. Còn tại nơi cư trú, số lượng thiết chế văn hóa, thể dục -
thể thao lại quá ít ỏi và nghèo nàn. Để đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí của công
nhân sau những giờ làm việc mệt mỏi, các cơ quan ban ngành: BQLCKCN, Liên
đoàn lao động, Công đoàn các KCN, Đoàn thanh niên và các doanh nghiệp KCN,…
đã có sự phối hợp nhằm tăng cường tổ chức các hoạt động hội thao, bóng đá mini,
mitting diễu hành, sinh hoạt văn hoá văn nghệ. Trong dự án tái định cư cũng đã dành
một diện tích đất để bố trí các khu thiết chế văn hoá, nhà văn hoá lao động hiện đang
lập dự án và đang kêu gọi đầu tư. Đồng thời các dịch vụ khác theo quy luật cung-cầu
ngoài xã hội quanh khu vực cũng phát triển rất sôi động như các điểm ẩm thực, giải
trí văn nghệ, thể dục thể hình, mạng internet, bóng đá, bóng chuyền, cầu lông,…
Tuy nhiên, vì số lượng công nhân quá đông nên khó đáp ứng đầy đủ. Một số cơ sở
89
dịch vụ tư nhân phát triển, nhưng giá cả dịch vụ cao, chưa mang tính đại chúng,
chưa đáp ứng tốt nhu cầu giải trí cho NLĐ. Do đó, NLĐ chưa có điều kiện cải thiện
đời sống tinh thần tương xứng với sự phát triển của các KCN, dễ bị lôi kéo vào các
hoạt động thiếu lành mạnh, các tệ nạn xã hội.
* Thu nhập của người lao động trong các KCN
Năm 2008, thu nhập của công nhân nhìn chung vẫn còn thấp. Mức lương dưới 1
triệu đồng chiếm tỷ lệ 60%, từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng chiếm 30%, mức lương
trên 2 triệu chỉ chiếm tỷ lệ 10%. Lương lao động trực tiếp cao nhất 2,5 triệu đồng/
người/ tháng, thấp nhất 1triệu đồng/người/tháng. Đến năm 2009, thu nhập của NLĐ
được tăng lên. Lương lao động trực tiếp cao nhất 3,5 triệu đồng/người/tháng và thấp
nhất 1,2 triệu đồng/người/tháng. Trong năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 108/2010/NĐ- CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với NLĐ làm việc ở
công ty, DN, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức
khác của Việt Nam có thuê mướn lao động. Nghị định này thực hiện từ ngày 01
tháng 01 năm 2011. Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, huyện Bình Minh và Long Hồ
thuộc vùng III với mức lương tối thiểu 1,17 triệu đồng đối với khu vực nước ngoài
và 1,050 triệu đồng đối với khu vực trong nước. Thu nhập bình quân của NLĐ trong
các KCN từ 1,2 đến 4,2 triệu đồng/người/tháng. Đối với DN có vốn đầu tư nước
ngoài, mức thu nhập bình quân 2,5 triệu đồng/người/tháng, mức thu nhập cao nhất
2,9 triệu đồng/người/tháng, mức thu nhập thấp nhất 2,2 triệu đồng/người/tháng. Đối
với DN trong nước, mức thu nhập bình quân 2,1 triệu đồng /người/tháng, mức thu
nhập cao nhất 2,5 triệu đồng/người/tháng, mức thu nhập thấp nhất 1,7 triệu
đồng/người/tháng. Đến 2012, lương tối thiểu vùng các DN thực hiện đúng theo qui
định 1.550.000 đồng/người/tháng đến 2.012.000 đồng/người/tháng. Tuy nhiên vẫn
còn một số DN áp dụng mức lương tối thiểu vùng chưa phù hợp với nghị định
70NĐ-CP của Chính phủ (công ty TNHH thức ăn chăn nuôi G&H), chưa xây dựng
và đăng ký thang bảng lương (công ty CP gốm sứ Toàn Quốc chi nhánh Vĩnh Long).
DN áp dụng mức lương tối thiểu cao nhất công ty CP ACECOOK Việt Nam chi
nhánh tại Vĩnh Long. Thu nhập bình quân của NLĐ trong các KCN từ 1,8 triệu
90
đồng/người/tháng đến 5,2 triệu đồng/người/tháng. Thu nhập bình quân của NLĐ
trong các KCN có sự chênh lệch giữa các ngành: ngành giầy da 3.000.000 đồng/
tháng, ngành may mặc 3.464.778 đồng/ tháng, ngành nghề thức ăn thuỷ sản
3.582.928 đồng/ tháng, ngành thủ công mỹ nghệ 2.700.000 đồng/ tháng, ngành chế
biến thực phẩm 4.300.000đồng/ tháng (xem phụ lục 4).
Mặc dù, chính sách tiền lương và các khoản thu nhập khác đã được sự quan
tâm cải thiện đáng kể nhưng đến nay tiền lương chưa đảm bảo điều kiện sống cho
NLĐ, thu nhập thiếu ổn định, chưa phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế, không
theo kịp biến động trên thực tế. Ðể tồn tại, con người nhất thiết cần có cơm ăn, áo
mặc và chỗ ở. Nhưng để phát triển, con người cần phải được đáp ứng nhiều nhu cầu
khác về giáo dục, chăm sóc y tế, an sinh xã hội, giải trí, thông tin. Song, với mức
lương như hiện tại, NLĐ chỉ đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tối thiểu. Tiền lương chủ
yếu là trang trãi cho sinh hoạt đời sống cá nhân để tái sản xuất sức lao động, chứ
chưa có tích luỹ để phát triển kinh tế gia đình. Ước tính bình quân hằng tháng, các
khoản chi phí này chiếm khoảng 80-90% so với thu nhập. Do đó, người lao động
cũng ít bồi dưỡng nâng cao thể lực và tham gia tốt các loại hình dịch vụ văn hoá, vui
chơi giải trí, rèn luyện sức khoẻ ngoài xã hội để thoải mái về mặt tâm lý. Khi tiền
lương không đủ trang trải cuộc sống, sức khỏe không bảo đảm, NLÐ khó hoàn thành
định mức công việc trong tám giờ quy định. Bên cạnh thu nhập từ tiền lương, NLĐ
còn được hỗ trợ từ các khoản thu nhập khác như tiền ăn, tiền xe, tiền nhà trọ, tiền
chuyên cần, khen thưởng đột xuất… Mức tiền ăn giữa ca từ 6.140 đồng/suất
ăn/người đến 10.000 đồng/suất ăn/người vào năm 2008. Đến năm 2012, tiền ăn giữa
ca tăng lên từ 5.000 đồng/suất ăn/người đến 18.000 đồng/suất ăn/người, thấp nhất là
nhà máy bê tông Hùng Vương, cao nhất là công ty Liên doanh dinh dưỡng thủy sản
Quốc tế(xem phụ lục 5). Tuy nhiên, do giá cả ngày càng tăng trong khi đó việc hỗ
trợ tiền ăn quá ít ở một số DN, một số DN lại không hỗ trợ tiền ăn, điều này sẽ ảnh
hưởng đến chất lượng bữa ăn, sức khỏe, năng suất lao động công nhân. Do đó cần có
sự quan tâm hơn nữa trong công tác hỗ trợ để đảm bảo hiệu quả làm việc của NLĐ
trước áp lực của giá cả và cường độ công việc.
91
* An ninh trật tự
Hầu hết các DN đã có sự phối hợp với Công an tỉnh triển khai kế hoạch số
09/KH.CAT về xây dựng cơ quan, DN an toàn về an ninh trật tự trong tình hình mới,
có 15/16 DN ký kết kế hoạch phối hợp (đạt 94%) vào năm 2011. Trong thời gian
qua, để đảm bảo tình hình an ninh trật tự trong KCN, Đồn Công an KCN Hòa Phú
đã được thành lập. Từ khi có sự phối hợp các lực lượng nghiệp vụ và chính quyền
địa phương, công tác phòng ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm đã được tăng
cường, góp phần giữ vững tình hình an ninh chính trị, đảm bảo ổn định trật tự an
toàn xã hội tại địa bàn. Tuy nhiên do địa bàn KCN là khu vực tập trung đông dân cư
nên tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Đây là nơi có điều kiện thuận lợi cho các loại đối
tượng xâm nhập, ẩn náo để hoạt động, điển hình là tại các nơi vui chơi giải trí, dịch
vụ ăn uống, trên các tuyến giao thông và các khu nhà trọ. Bên cạnh đó, việc khiếu
kiện, tranh chấp vẫn còn xảy ra chung quanh vấn đề đất đai, đền bù giải toả, ô nhiễm
môi trường, tiền công, ngày giờ công của công nhân.
Qua bảng 2.14 cho thấy các vụ có xu hướng giảm nhưng mức độ thiệt hại
tài sản vẫn còn cao. Trộm cắp tài sản có xu hướng gia tăng, trong khi đó tình hình
gây rối trật tự và đánh nhau dẫn đến thương tích có xu hướng giảm. Nguyên nhân là
do công tác phát động phong trào toàn dân tham gia phòng chống tội phạm ở một số
nơi chưa mạnh mẽ, ý thức cảnh giác của quần chúng nhân dân còn hạn chế trong
việc bảo quản, trông coi tài sản. Công tác tổ chức thực hiện các biện pháp phòng
ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm còn nhiều hạn chế, nhất là công tác nắm tình
hình quản lý địa bàn, đối tượng chưa kịp thời, tình hình trật tự an toàn xã hội còn
nhiều diễn biến phức tạp. Điều này tác động không nhỏ đến tâm lý công nhân.
92
Bảng 2.14: Thiệt hại người và tài sản giai đoạn 2009-2012
2009
2010
2011
6/2012
Các yếu tố Năm
470.410.000đ 153.053.000đ 102.650.000đ 831.280.000đ 03 vụ 01 vụ 01 vụ 12 vụ 30 vụ 68 vụ
01 vụ 02 vụ 01 vụ 64 vụ 12 vụ
01 vụ 01 vụ 02 vụ 32 vụ 40 vụ
15 vụ 68 vụ
06 vụ 02 vụ 01 vụ 124 vụ
08 vụ 91 vụ
16 vụ 03 vụ 95 vụ
02 vụ 01 vụ 01 vụ 84 vụ
Tổng thiệt hại Giết người Giết người cướp tài sản Cướp tài sản Cướp giật tài sản Trộm cắp tài sản Gây rối trật tự và đánh nhau dẫn đến thương tích Đánh bạc,tệ nạn xã hội Huỷ hoại tài sản Cố ý gây thương tích Lạm dụng tín nhiệm Dùng thủ đoạn gian dối Tai nạn khác Tổng số vụ
(Nguồn Đồn Công An KCN Hòa Phú)
* Về tổ chức quản lý-cơ quan quản lý
Cơ quan quản lý các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long là BQLCKCN Vĩnh
Long được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập số 163/ 1999/ QĐ - TTg,
ngày 09/ 8/ 1999, thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước các KCN theo
Nghị định 29/ 2008/ NĐ-CP, ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ, đồng thời
phối hợp với các ngành hữu quan giải quyết các vấn đề phát sinh theo thẩm quyền
và được uỷ quyền, chịu trách nhiệm báo cáo tình hình hoạt động về UBND tỉnh theo
định kỳ. Theo dõi, đôn đốc công ty hạ tầng triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng KCN; chỉ đạo và kiểm tra trực tiếp các DN trong lĩnh vực quản
lý chuyên môn về: đầu tư xuất nhập khẩu, quản lý doanh nghiệp lao động, quản lý
quy hoạch xây dựng và môi trường. BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long được BQLCKCN
Việt Nam và Bộ Kế hoạch-Đầu tư quản lý dọc, UBND tỉnh quản lý về cơ cấu tổ
chức bộ máy, nhân sự, biên chế, kinh phí và trụ sở giao dịch; đồng thời được UBND
tỉnh phân công một số công việc có liên quan và thực hiện cơ chế uỷ quyền giữa các
sở như: Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở Xây
93
dựng, Sở Công thương,...Trưởng ban trước đây do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm
(hiện nay uỷ quyền cho Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm). Do BQLCKCN Vĩnh Long
thuộc nhóm 2, số lượng DN ít, nên theo quy định chưa có Thanh tra viên. Hệ thống
tổ chức của ban gồm: Văn phòng, Phòng Quản lý quy hoạch đầu tư xây dựng-môi
trường, Phòng Quản lý doanh nghiệp-lao động, Phòng Quản lý đầu tư-xuất nhập
khẩu và Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng.
Hiện nay các DN trong KCN tỉnh Vĩnh Long chủ yếu gồm các loại hình: công
ty TNHH, công ty cổ phần và công ty liên doanh. Tổng số có 30 DN đã đi vào hoạt
động, với khoảng 14.493 lao động. Trong đó, chủ yếu là DN ngoài nhà nước, chiếm
2/3 tổng số DN nhưng tập trung lao động chỉ 1.451 lao động (chiếm 10% trong tổng
số lao động). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 1/3 tổng số DN nhưng
tập trung lao động rất đông 13.042 lao động ( chiếm 90% trong tổng số lao động).
KCN chưa có nhiều DN lớn, DN chủ lực cho nên chưa tạo sức đột phá trong phát
triển công nghiệp.
Bảng 2.15 Thông tin về doanh nghiệp đã đi vào hoạt động trong các KCN,
KCX tại thời điểm tháng 5/ 2012
1 - DN ngoài nhà nước
2 - DN có vốn đầu tư nước ngoài
Tiêu chí
Tổng số
Tổng số
Tổng số
tư
Công ty TNHH
100% vốn nước ngoài
Liên doanh với nhân
Công ty CP có vốn nhà nước
Liên doanh với DN Nhà nước
Trong đó: Công ty CP không có vốn CP nhà nước
6
14
6
4
0
0
30
20
10
lao
0
758
0
693
3.607
9.435
14.493
1.451
13.042
Số DN trong KCN Số động (người)
(Nguồn BQLKCN tỉnh Vĩnh Long)
94
*Tổ chức đoàn thể
Để đáp ứng cho yêu cầu CNH-HĐH đất nước, xây dựng giai cấp công nhân
lớn mạnh về mọi mặt, có tác phong công nghiệp, hiểu pháp luật, việc phát triển đoàn
viên Công đoàn, xây dựng CĐCS là yếu tố quan trọng nhằm phát triển mối quan hệ
lao động hài hoà ổn định và tiến bộ. Mặt khác, số lượng, chất lượng đoàn viên sẽ
ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động Công đoàn và hoạt động sản xuất kinh doanh
của DN. Công tác xây dựng CĐCS vững mạnh phát triển đoàn viên còn là yêu cầu
sống còn của tổ chức Công đoàn ngoài nhà nước hiện nay.
Về tổ chức Đảng, hiện nay có 2 chi bộ được thành lập tại DN. Công ty
CP Hòa Phú thuộc DN ngoài nhà nước với số lượng 11 Đảng viên. Doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài thuộc công ty TNHH Tỷ Xuân với số lượng 18 Đảng viên.
Ngoài ra còn một số công ty có 14 Đảng viên chủ yếu là sinh hoạt tại địa phương.
Các DN thành lập chi bộ đã tạo thuận lợi cho công tác chỉ đạo thực hiện tuyên
truyền phổ biến những chủ trương nghị quyết của Đảng và chính sách pháp luật của
Nhà nước đến với NLĐ, nội quy các quy chế của cơ quan, DN; tạo điều kiện thuận
lợi để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, bảo đảm lợi ích hợp
pháp của cơ quan, DN và NLĐ.
Công đoàn các KCN: được thành lập từ tháng 08/2006, với Ban chấp
hành gồm 09 thành viên. Đây là công đoàn cấp trên cơ sở có nhiệm vụ chỉ đạo, quản
lý hoạt động của CĐCS các doanh nghiệp trong các KCN theo Luật Công đoàn, Bộ
luật lao động và các quy định hiện hành đồng thời tuyên truyền sâu rộng phổ biến
chính sách pháp luật, chủ trương của Đảng và nhà nước đến NLĐ trong KCN.
Về xây dựng tổ chức Công đoàn, số lượng công nhân lao động, đoàn
viên công đoàn trong các DN ngày càng tăng nhanh. Năm 2006 số đoàn viên là
2.500 người và 3 CĐCS. Đến năm 2011, CĐCKCN có tổng số 23 DN và 2 đơn vị
hành chính, trong đó có 21 CĐCS trực thuộc. Hiện tại, đến năm 2012 có 19 CĐCS,
5 DN chưa có tổ chức công đoàn. Các CĐCS ở các DN trong KCN xây dựng được
mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, thương lượng và ký kết TƯLĐTT
95
có lợi hơn cho NLĐ và thực hiện quy chế phối hợp giữa chủ DN và Ban chấp hành
CĐCS tham gia kiểm tra giám sát thực hiện chính sách cho NLĐ (xem phụ lục 6).
Tuy nhiên, do tổ chức công đoàn mới được thành lập nên chất lượng
hoạt động chưa thật sự mạnh. Song song đó, một số cán bộ CĐCS thường thiếu kinh
nghiệm, chưa được đào tạo nghiệp vụ một cách chính quy, không nắm vững nghiệp
vụ nên hoạt động công đoàn còn nhiều điểm bất cập. Điều này sẽ ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích cho đoàn viên và NLĐ đồng thời cũng sẽ tác động đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của DN.
2.4 Đánh giá chung về thực trạng sử dụng lao động
2.4.1 Những điểm tích cực
Sự phát triển các KCN thời kỳ CNH-HĐH diễn ra với tốc độ nhanh, đi đôi
với sự phát triển này giúp giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tăng sản lượng và kim
ngạch xuất khẩu, chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Đời sống vật chất và tinh thần của công
nhân cũng đã dần được nâng cao. Lực lượng lao động có bước phát triển đáng kể về
số lượng và chất lượng, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH của tỉnh. Hằng
năm, số lượng công nhân tăng khá nhanh. Cơ cấu ngành nghề tại các KCN cũng rất
đa dạng. Trình độ, năng lực từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp.
Công tác đào tạo, dạy nghề được chú trọng giúp giải quyết việc làm, hình thành
được lực lượng công nhân trẻ có khả năng sáng tạo, nhạy bén trong tiếp thu những
thành tựu về khoa học và công nghệ mới. Sức lao động được giải phóng, đời sống
của đội ngũ công nhân ngày càng được cải thiện. Đồng thời, NLĐ cũng được sự
quan tâm, phối hợp quản lý chung của các ban, ngành có liên quan trong việc hướng
dẫn, kiểm tra, giám sát các DN thực hiện đăng ký nội quy lao động, TƯLĐTT, chính
sách đối với NLĐ. Mối quan hệ giữa chủ sử dụng lao động và NLĐ ngày càng hài
hòa về mặt lợi ích, hạn chế đình công, tranh chấp lao động. Chính sách tiền lương và
các khoản thu nhập khác đã được sự quan tâm cải thiện đáng kể. Công đoàn ngày
càng phát triển, làm tốt vai trò tập hợp, đoàn kết rộng rãi và đại diện bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ. Công đoàn đã thực hiện tốt chức năng tham
96
gia quản lý nhà nước, phối hợp với chính quyền tổ chức phong trào đồng thời tổ
chức triển khai, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, đảm bảo thực hiện Luật Lao động, các chế độ bảo hộ lao động, BHXH, chế độ
tiền lương, cùng các ngành tham gia giải quyết các kiến nghị, đề nghị của công nhân
theo đúng pháp luật quy định.
2.4.2 Những hạn chế, khó khăn
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì sự phát triển, hoạt động của các
KCN, đặc biệt sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp đã và đang nảy sinh
nhiều vấn đề bất cập cần phải giải quyết liên quan đến quan hệ lao động, sử dụng
nguồn lao động trong KCN.
Mặc dù, lực lượng lao động tăng hằng năm nhưng hiện nay, lao động làm
việc trong các KCN ở Vĩnh Long vẫn còn thiếu về số lượng và hạn chế về chất
lượng. Hiện nay số lượng công nhân lao động so với nhu cầu sản xuất kinh doanh
của các DN còn thiếu. Việc tuyển dụng và nâng cao tay nghề cho NLĐ còn bị động
do các trường dạy nghề và trung tâm chưa gắn kết được với các DN trong đào tạo.
Do đó, tình trạng thiếu hụt lao động phổ thông và lao động đã qua đào tạo ngày càng
rõ rệt nên chưa đủ chất lượng lao động cần thiết đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư
trong KCN, nhất là những ngành nghề đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao. So với yêu
cầu CNH-HĐH thì đội ngũ công nhân trong tỉnh không đồng đều về nhận thức xã
hội, giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị, ý thức tổ chức và kỷ luật lao động. Đại bộ
phận công nhân chủ yếu là lực lượng lao động giản đơn, đa số xuất thân từ nông
dân, từ sản xuất nhỏ nông nghiệp, trình độ văn hóa thấp và chưa được đào tạo cơ
bản, sự hiểu biết về chính sách và pháp luật còn hạn chế, chậm thích nghi với môi
trường làm việc và cơ chế thị trường. Tác phong công nghiệp của công nhân lao
động còn hạn chế, thiếu ý thức hợp tác tại nơi làm việc, tình trạng tự do đi lại, chấm
dứt HĐLĐ, xin nghỉ việc diễn ra với số lượng lớn. Lực lượng lao động có kinh
nghiệm và gắn bó với DN chưa nhiều.
97
Trong khi đó, quy hoạch đầu tư chưa đồng bộ giữa hạ tầng kinh tế và hạ
tầng xã hội. Quản lý Nhà nước chậm triển khai xây dựng các công trình và loại hình
dịch vụ công ích để phục vụ nhu cầu. Hạ tầng xã hội KCN chưa được xây dựng hoàn
chỉnh, như: các thiết chế văn hoá, khu thể dục thể thao, khu vui chơi giải trí, nhà trẻ,
trạm xá, nhà ở, dẫn đến đời sống tinh thần chưa được đáp ứng đầy đủ. Khi đời sống
văn hóa - tinh thần của công nhân được nâng cao sẽ tác động trực tiếp và tích cực
đến sự hình thành, phát triển ý thức chính trị của họ. Bởi vì, các phương tiện, hình
thức sinh hoạt văn hóa, tinh thần như đọc sách báo, xem ti-vi, biểu diễn văn hóa,
nghệ thuật, phim ảnh… không chỉ là phương thức giải trí mà còn là phương thức
chuyển tải thông tin, kiến thức, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước. Do
đó, Nhà nước cùng với các DN nên có cơ chế, chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để
NLĐ có được tương đối đầy đủ sách, báo, tài liệu, tranh ảnh có tính chất phổ thông
và các phương tiện nghe, nhìn khác; đồng thời, đầu tư xây dựng các thiết chế văn
hóa tại DN hoặc ở nơi trung tâm KCN.
Song song đó, một số chính sách đối với NLĐ thực hiện chưa tốt, quyền và
lợi ích hợp pháp của NLĐ chưa được đảm bảo. Mối quan hệ giữa người sử dụng lao
động và người lao động còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết như: tạo điều kiện cho
NLĐ ổn định, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, chính sách thang bảng lương,
các khoản trợ cấp. Điều kiện làm việc có mặt chưa đảm bảo sức khỏe, đời sống còn
gặp nhiều khó khăn. Thu nhập bình quân của công nhân có cải thiện nhưng đến nay
tiền lương chưa đảm bảo điều kiện sống cho người lao động, thu nhập thiếu ổn định,
chưa phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế, không theo kịp biến động trên thực tế.
Người lao động vẫn còn gặp khó khăn trong cuộc sống do áp lực giá cả và chi phí
sinh hoạt cao. Vì vậy, thu nhập của người lao động chỉ đảm bảo nhu cầu sinh hoạt
tối thiểu. Tiền lương chủ yếu là trang trãi cho sinh hoạt đời sống cá nhân nhằm tái
sản xuất sức lao động, chứ chưa có tích luỹ để phát triển kinh tế gia đình. Để nậng
cao thu nhập cho bản thân cộng với sự thiếu hụt lao động ở các DN, công nhân
thường phải tăng ca. Trong khi đó, một số DN không hỗ trợ tiền ăn, một số DN có
hỗ trợ tiền ăn nhưng so với vật giá hiện tại thì vẫn còn thấp dẫn đến chất lượng bữa
98
ăn không đảm bảo cho việc bồi bổ nâng cao sức khỏe. Thậm chí, do tăng ca thường
xuyên nên người lao động ít có điều kiện nghỉ ngơi để tái sản xuất sức lao động,
tham gia tốt các loại hình dịch vụ văn hoá, vui chơi giải trí, rèn luyện sức khoẻ ngoài
xã hội để thoải mái về mặt tâm lý. Khi nghỉ ngơi ở các nhà trọ chật hẹp, các tiêu
chuẩn, an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường phức tạp, giá thuê
nhà, và các dịch vụ (điện, nước sinh hoạt) vẫn còn cao so với thu nhập của công
nhân. Bên cạnh đó, an ninh trật tự chưa thật sự yên tâm, tình trạng người lao động bị
trấn lột hoặc hành hung còn diễn ra khá phức tạp, tác động không nhỏ đến tâm lý
công nhân.
Do những bất cập này chưa quan tâm, chưa giải quyết thỏa đáng nên xảy ra
tranh chấp lao động ở một số nơi trong KCN thời gian qua, làm ảnh hưởng đến sản
xuất kinh doanh của DN. Trong khi đó, tổ chức công đoàn mới được thành lập nên
chất lượng hoạt động chưa thật sự mạnh, chưa thể hiện là người đại diện cho quyền
và lợi ích hợp pháp của NLĐ. Mặt khác, vẫn còn một bộ phận người sử dụng lao
động chưa nhận thức đúng được lợi ích của việc thành lập tổ chức công đoàn, sợ
Công đoàn sẽ là chỗ dựa cho công nhân đấu tranh, sợ tốn kém thời gian, nhân lực lại
còn phải đóng đoàn phí (1% tổng quỹ tiền lương, tiền công của doanh nghiệp), có
những doanh nghiệp không thành lập tổ chức Công đoàn nhưng luật pháp cũng chưa
có biện pháp mạnh. Cán bộ CĐCS còn thiếu kinh nghiệm, chưa được đào tạo nghiệp
vụ, yếu về ngoại ngữ dẫn đến ngại giao tiếp nên gặp khó khăn khi đại diện cho
người lao động thương lượng với chủ doanh nghiệp (ở các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài). Những cán bộ công đoàn có năng lực, hoạt động năng nổ, dám đấu
tranh bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của người lao động thì thường bị
người sử dụng lao động tìm mọi cách vô hiệu hóa. Tổ chức Đảng tại KCN còn quá
ít, mới thành lập được 2 chi bộ nên cũng chưa phát huy được vai trò lãnh đạo trong
các doanh nghiệp. Đoàn thanh niên và Hội liên hiệp phụ nữ chưa được thành lập nên
việc phối hợp hoạt động để tuyên truyền chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, về giới, về thanh niên …còn hạn chế.
99
Cho nên, trong những năm sắp tới, nhất là giai đoạn 2010 – 2020, để thực
hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH mục tiêu đề ra là cần xây dựng đội ngũ công
nhân tỉnh nhà lớn mạnh, có ý thức giác ngộ giai cấp, có bản lĩnh chính trị vững vàng,
thông hiểu pháp luật, có tinh thần yêu nước, yêu CNXH. Song song đó, do người lao
động là chủ thể, lực lượng sản xuất hàng đầu quyết định toàn bộ quá trình sản xuất
vật chất nên cần thực hiện tốt các chính sách đối với công nhân. Đồng thời mở rộng
và nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu trước mắt cho các
KCN trong tỉnh. Phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70-80%. Về
lâu dài, nâng cao trình độ, trí thức hóa đội ngũ công nhân có khả năng tiếp cận và
làm chủ khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có
tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động cao nhằm góp phần xây dựng giai cấp
công nhân vững mạnh. Đó là điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công
cuộc đổi mới, CNH-HĐH đất nước.
100
CHƯƠNG 3
ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH LONG
THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA-HIỆN ĐẠI HÓA
3.1 Những căn cứ đưa ra định hướng và giải pháp
3.1.1 Kế hoạch phát triển KT-XH của tỉnh
* Quan điểm phát triển
- Quy hoạch phát triển KTXH tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020 phải phù hợp
với chiến lược phát triển KTXH của cả nước, quy hoạch tổng thể phát triển KTXH
vùng ĐBSCL; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với quy hoạch các ngành, lĩnh vực
(xem phụ lục 7).
-Phát huy tối đa những tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; tăng cường hội nhập
kinh tế quốc tế; từng bước củng cố nội lực, tăng dần tỷ lệ tích lũy cho nền kinh tế,
giảm thiểu thách thức tiến tới hình thành một cơ cấu kinh tế tiên tiến, mở, hài hòa
cân đối và có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
- Phát triển kinh tế gắn với phát triển y tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống
nhân dân, giảm dần tỷ lệ hộ nghèo; tập trung đào tạo NNL có chất lượng cao đáp
ứng nhu cầu thị trường, gắn phát triển NNL với phát triển và ứng dụng khoa học,
công nghệ.
- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển KTXH với xây dựng hệ thống chính trị
vững mạnh, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.
101
*Mục tiêu phát triển
Liên kết với Cần Thơ, TPHCM, phát triển thành vùng kinh tế động lực,
trung tâm kinh tế, đào tạo, văn hóa và khoa học kỹ thuật của vùng ĐBSCL, góp
phần cùng cả nước thực hiện thành công mục tiêu xây dựng nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp vào năm 2020. Xây dựng tỉnh Vĩnh Long thành vùng đô thị sinh
thái, xanh, sạch, đẹp, phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn, nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân; đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ theo
hướng công nghệ và chất lượng cao; từng bước hình thành nền kinh tế tri thức dựa
trên NNL có chất lượng; tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị
và trật tự an toàn xã hội, với mục tiêu cụ thể:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành
công nghiệp, dịch vụ; đến năm 2015 cơ cấu các ngành nông - lâm - thủy sản, công
nghiệp - xây dựng, dịch vụ trong GDP đạt 36% - 26% - 38%; đến năm 2020 tương
ứng là 23% - 32% - 45%.
- Giảm dần tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong khoảng 1%-1,1%/năm giai
đoạn 2011 - 2015 và 0,8% - 0,9%/năm giai đoạn 2016 – 2020.
Phấn đấu tạo việc làm mới cho khoảng 25.000 - 27.000 lao động/năm -
giai đoạn 2011 - 2015 và khoảng 18.000 - 20.000 lao động/năm giai đoạn 2016 -
2020; Nâng cao tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật năm 2015 là 55% (trong đó
tỷ lệ lao động qua đào tạo là 35%) và năm 2020 là 65 - 66%; tăng dần tỷ lệ lao động
phi nông nghiệp đến năm 2015 là 48% và năm 2020 là 73%.
- Đến năm 2015, số học sinh đến trường trong độ tuổi mẫu giáo đạt
80%, tiểu học đạt 100%, trung học cơ sở đạt trên 98%, trung học phổ thông đạt
63%; phổ cập mẫu giáo cho trẻ 5 tuổi; đến năm 2020, các tỷ lệ trên tương ứng là
mẫu giáo đạt 90%, trung học cơ sở đạt 100%, trung học phổ thông đạt 85%, hoàn
102
thành phổ cập giáo dục bậc trung học. Số trường các cấp đạt chuẩn quốc gia là 40%
vào năm 2015 và 50% - 60% vào năm 2020.
- Nâng cao mức sống người dân, nâng thu nhập bình quân đầu người
của người dân. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13%/năm giai đoạn 2011 -
2015 và 14,5%/năm giai đoạn 2016 - 2020; thu nhập bình quân đầu người đạt trên
1.900 USD vào năm 2015 và đạt trên 4.000 USD vào năm 2020.
- Tăng giá trị xuất nhập khẩu bình quân đầu người. Phấn đấu kim ngạch
xuất khẩu đến năm 2015 đạt 460 triệu USD, năm 2020 đạt trên 1.000 triệu USD;
thu ngân sách bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 20%/năm và 22% - 23%/năm
giai đoạn 2016 - 2020; tỷ lệ huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GDP
là 33 - 34%.
- Đẩy nhanh ứng dụng khoa học công nghệ trong tất cả các khu vực
kinh tế.
- Tăng cường đô thị hóa trên địa bàn toàn tỉnh, trước mắt, đẩy mạnh đô
thị hóa tại các khu vực kinh tế vệ tinh của tỉnh như Bình Minh, Long Hồ.
3.1.2 Chiến lược phát triển công nghiệp
Chủ trương phát triển công nghiệp trên toàn quốc, hướng đến mục
tiêu thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Phát triển công nghiệp theo
hướng tạo điều kiện cho các ngành kinh tế có lợi thế phát triển ổn định và bền vững,
hợp lý, chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ gắn với phát
triển du lịch; đặc biệt quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ tiên tiến, tạo ra các sản
phẩm có chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước;
đồng thời không gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Chính sách thu hút nguồn
lao động có trình độ cao, có tay nghề thu hút các DN có quy mô tạo tiềm lực lớn
nhằm tạo ra các đột phá tăng giá trị sản xuất công nghiệp.
Phấn đấu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 24%/năm, giai
đoạn 2016 - 2020 đạt 19,5%/năm. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp chủ
đạo sau: (xem phụ lục 8 và 9)
103
(1) Công nghiệp thực phẩm và đồ uống (chế biến các loại nông sản thực
phẩm, rau quả, nước giải khát các loại). Trên phạm vi cả nước đây cũng là những
ngành trên mười năm nay luôn duy trì mức đóng góp hàng đầu cho tăng trưởng
công nghiệp 19-29%, cơ khí nông nghiệp (máy nông nghiệp, xe cải tiến, máy bơm
các loại).
(2) Công nghiệp hóa chất, công nghiệp dược đang là những ngành có thế
mạnh hiện nay của Vĩnh Long; xét tổng thể tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ đóng góp cho
tăng trưởng công nghiệp những ngành này thuộc nhóm ngành thứ 3 trong 23 ngành
công nghiệp chế biến của tỉnh.
(3) Đất chật người đông, dân số nông thôn chiếm tỉ lệ cao đòi hỏi cần có
những nổ lực lớn về tạo việc làm cho NLĐ. Các ngành công nghiệp nhẹ thu hút
nhiều lao động (dệt, may, giày dép, da, giả da; sản xuất hàng tiêu dùng) hiện vẫn
đang giữ vị trí quan trọng trong sản xuất công nghiệp của cả nước. Trong thời gian
tới, xét về nhu cầu và xu thế, đây sẽ là những ngành phát triển mạnh ở Vĩnh Long.
(4) Nhóm các ngành sản xuất các mặt hàng máy móc, thiết bị điện, điện tử
và công nghệ cao nói chung hiện đang là những ngành mang lại đóng góp lớn cho
tăng trưởng công nghiệp, song cũng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, đội ngũ lao động lành
nghề được đào tạo tốt. Tuy nhiên, đối với ngành này có thể kêu gọi đầu tư nước
ngoài hay từ các địa bàn phát triển hơn và trên nền tảng hệ thống kết cấu hạ tầng
đảm bảo.
(5) Bên cạnh những ngành công nghiệp chủ đạo còn có những ngành công
nghiệp khả năng đóng góp thấp, tỷ lệ thuận với nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế,
nói cách khác phụ thuộc vào nhu cầu thị trường tại chỗ là chủ yếu như bàn ghế, đồ
dùng bằng gỗ, vật liệu xây dựng, điện nước…
Tập trung phát triển nhanh, hiệu quả các khu, cụm công nghiệp đã được
phê duyệt theo quyết định số 55/2007/QĐ-TTg, gắn liền với xây dựng các công
104
trình xử lý chất thải, trồng cây xanh, bảo đảm môi trường xanh, sạch, đẹp; đồng
thời phát triển đồng bộ các dịch vụ, đảm bảo điều kiện sinh hoạt cho NLĐ nhất là
nhà ở cho công nhân.
* Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 và
định hướng đến năm 2020.
Phát triển các ngành công nghiệp hiện nay nên xác định cụ thể
ngành mũi nhọn, ngành ưu tiên, ngành cơ bản để từ đó có những hướng đi đúng
cho các ngành công nghiệp trong giai đoạn 2011-2015 và từ 2016 - 2020. Do đó,
muốn xác định được mục tiêu trên, cần dựa vào các lợi thế đặc thù của tỉnh, nhất
là nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp, thủy sản, nguồn lao động và cần có sự quan
tâm đặc biệt đến những ngành có sử dụng hàm lượng chất xám cao, ít tiêu hao tài
nguyên, thân thiện với môi trường.
• Quan điểm phát triển
Hướng đến mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và trở thành tỉnh công
nghiệp vào năm 2020, bên cạnh đẩy mạnh thu hút đầu tư vào công nghiệp, mở rộng
và nâng cấp một số KCN, cụm công nghiệp hiện có, Vĩnh Long cần có sự ưu tiên
quy hoạch một số KCN, cụm công nghiệp tại một số địa bàn thuận lợi về vị trí địa
lý, nguồn nguyên liệu, giao thông bộ, thủy và gần các trung tâm kinh tế lớn. Do đó,
quan điểm và nhiệm vụ quy hoạch về KCN, cụm công nghiệp trong giai đoạn sắp tới
- Hoàn thành các khu, cụm và tuyến công nghiệp tập trung với các cơ sở
của tỉnh Vĩnh Long như sau:
hạ tầng hoàn chỉnh cùng với các chính sách ưu đãi và khuyến khích đầu tư để thu hút
- Mở rộng và phát triển thêm các khu, cụm, tuyến công nghiệp nhằm
các nhà đầu tư nhằm khai thác và nâng cao hiệu quả các nguồn lực của địa phương.
phát huy lợi thế so sánh của tỉnh về thị trường, nguyên liệu và tài nguyên khoáng sản
cho chế biến, đặc biệt là chế biến nông sản, thủy sản, tạo điều kiện phát triển NNL
và tiếp nhận sự chuyển giao công nghệ và tổ chức quản lý sản xuất nhằm nâng cao
105
-
tính cạnh tranh.
Quy hoạch xây dựng các khu, cụm, tuyến công nghiệp phải thuận lợi
giao thông đường bộ, đường thủy và các hạ tầng bến bãi, cầu cống, điện nước, vùng
nguyên liệu và NNL nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư.
Bản đồ 4 : Quy hoạch các khu, cụm công nghiệp tỉnh Vĩnh Long đến năm
2020
104
-
-
Quy mô cụm tuyến công nghiệp ở các huyện, thị từ 20ha đến 50ha
Phát triển khu, cụm và tuyến công nghiệp theo nguyên tắc phát triển
bền vững trong đó coi trọng 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường.
• Quy hoạch bố trí xây dựng các KCN của tỉnh Vĩnh Long giai đoạn
- Giai đoạn 2011-2015
2011 - 2015, định hướng 2020
Tiếp tục thu hút, kêu gọi đầu tư vào KCN Bình Minh, KCN Hòa Phú (giai
đoạn 2) và tập trung tiến hành quy hoạch thêm hai KCN gồm KCN Bình Tân thuộc
huyện Bình Tân và KCN Đông Bình thuộc huyện Bình Minh. Đây là hai dự án trọng
điểm trong giai đoạn này cụ thể:
+ KCN Bình Tân thuộc xã Thành Lợi, huyện Bình Tân. Với quy mô là
400 ha, có vị trí tiếp giáp với QL 54, tỉnh lộ 910 và cặp dọc tuyến sông Hậu, dự kiến
quy hoạch một đường nối ra quốc lộ 1A. Dự kiến nguồn vốn đầu tư khoảng 1.200 tỷ
đồng Việt Nam. Đồng thời, đường dây 110 KV điện cũng đi ngang qua KCN Bình
Tân. Vì thế, KCN Bình Tân thích hợp để bố trí loại hình công nghiệp như: chế biến
nông sản - thực phẩm, chế biến rau quả và các sản phẩm từ trái cây; chế biến thủy
sản, các sản phẩm từ chăn nuôi.
+ KCN Đông Bình thuộc địa bàn xã Đông Bình và Đông Hưng 1, Đông
Hưng 2, xã Đông Thành, huyện Bình Minh. KCN Đông Bình nằm trên quốc lộ 54,
đã có đường dây điện 110KV kéo đến KCN Đông Bình. Về vị trí, KCN Đông Bình,
cách KCN Bình Minh khoảng gần 1 km về phía Tây Nam gần sông Hậu. Với quy
mô là 350 ha, tổng mức đầu tư khoảng 1.050 tỷ đồng. KCN Đông Bình thuận lợi để
bố trí loại hình công nghiệp như: công nghiệp hàng tiêu dùng, bao bì, công nghiệp
hóa chất và sản xuất chế biến dược, vật tư y tế và một số ngành khác ít ô nhiễm môi
trường. Như vậy, tổng diện tích đầu tư vào KCN giai đoạn 2011- 2015 là 750 ha với
tổng vốn đầu tư là 2.350 tỷ đồng.
-Giai đoạn 2016-2020
KCN An Định thuộc xã An Phước, huyện Mang Thít, với quy mô
105
khoảng 200 ha. Nguồn vốn đầu tư dự kiến là 600 tỷ đồng. Các ngành công nghiệp
được bố trí gồm: chế biến nông sản - lương thực - thực phẩm, chế biến rau quả và
các sản phẩm từ trái cây;chế biến thủy sản; các sản phẩm từ chăn nuôi; công nghiệp
hàng tiêu dùng, dệt may; thủ công mỹ nghệ; công nghiệp lắp ráp điện tử; bao bì,
công nghiệp dược phẩm- mỹ phẩm; công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây
dựng; kho bãi; dịch vụ và một số ngành khác ít ô nhiễm môi trường. Như vậy, tổng
diện tích các KCN trong giai đoạn 2016-2020 là 200 ha với tổng vốn đầu tư 600 tỷ
đồng.
3.1.3 Dự báo nguồn lao động
* Dự báo về dân số tỉnh Vĩnh Long
Dân số là nhân tố quyết định tạo nên nguồn lực cơ bản để phát triển
KTXH.Vĩnh Long có tiềm năng NNL dồi dào 1.028.550 người (năm 2011). Đây là
tiềm lực lớn và quan trọng cho phát triển kinh tế. Vĩnh Long được xem là nơi có
truyền thống hiếu học, là nơi sản sinh ra nhiều lãnh đạo của đất nước. Vì thế, với
tiềm năng phát triển dân số của Vĩnh Long sẽ đẩy nhanh sự phát triển NNL, tạo
tiềm lực lớn trong phát triển công nghiệp của tỉnh trong giai đoạn 2011-2020.
Chỉ tiêu
2010
2015
2020
2011- 2015
2016- 2020
Đơn vị tính 1000 người 1000 người Triệu đồng
1.026,5 1.090,0 1.147,9 1,1% 0,7% 727,3 18% 25,5
753,2 59
783,1 122,8
1% 0,78% 16%
1000 người
5,18
5,98
Dân số Lao động trong độ tuổi Gía trị gia tăng/lao động (giá hiện hành) Khả năng giải quyết lao động bình quân hằng năm
Bảng 3.1: Tổng hợp một số chỉ tiêu KTXH chủ yếu đến năm 2020
(Nguồn Sở Công thương tỉnh Vĩnh Long)
Trong giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng dân số bình quân của tỉnh đạt
mức 1,1% và giảm còn 1% trong giai đoạn 2016-2020. Theo tốc độ tăng trưởng này
106
thì đến năm 2015, dân số của tỉnh khoảng 1.090 nghìn lao động. Đến năm 2020, dân
số khoảng 1.147,9 nghìn lao động.
* Dự báo về cung lao động
Tốc độ tăng dân số trong độ tuổi lao động tương ứng với hai giai đoạn 2011-
2015 và 2016-2020 là 0,7% và 0,78%. Theo dự báo ở bảng 3.1 thì dân số trong độ
tuổi lao động của tỉnh đến năm 2015 là 753,2 nghìn lao động, số người làm việc
khoảng 661,6 nghìn lao động. Năm 2020 là 783,1 nghìn người, trong đó khoảng
684,3 nghìn lao động đang làm việc. Qua dự báo cho thấy NNL của Vĩnh Long đang
trong giai đoạn phát triển trẻ hóa, đủ cung ứng cho các KCN trong tỉnh. Tuy nhiên,
lao động có chuyên môn đáp ứng nhu cầu của DN có thể thiếu, DN phải đào tạo lại
khi tuyển công nhân. Dân số trẻ là đội ngũ dễ dàng tiếp cận kiến thức, kỹ năng, kinh
nghiệm và là đội ngũ lao động năng động có thể tạo đột biến trong phát triển kinh tế,
đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp. Khi tiềm năng này được khai thác có hiệu quả sẽ
tạo một bước phát triển mới cho nền kinh tế.
Bảng 3.2: Dự kiến phân bổ và đào tạo lao động
vị
2020
2015
2010
Chỉ tiêu
35%
Lao động công nghiệp Số người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Số người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ Tỷ lệ so với lao động đang làm việc Theo ngành 1. • • Tỉ lệ so với lao động trong công nghiệp
50%
2. • • 3. • •
4.
• •
Đơn tính 1000 người 220,6 361,5 452,9 55% 66% % 115,2 181,5 1000 người 59,1 145,2 86,4 1000 người 29,5 80% 75% % 50% 37,2 23,6 1000 người 12,1 Xây dựng 29,7 17,7 1000 người 6,0 Số người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ % 79,8% 75% Tỉ lệ so với lao động trong xây dựng 1000 người 385,7 336,7 178,2 Nông nghiệp 117,9 62,4 1000 người 96,4 Số người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ % 35% 35% 25% Tỉ lệ so với lao động trong Nông nghiệp 1000 người 177,2 186,0 287,4 Dịch vụ 139,5 215,5 1000 người 88,6 Số người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ 75% 75% 50% % Tỉ lệ so với lao động trong dịch vụ ( Nguồn Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh Vĩnh Long thời kỳ 2011-
2020 và tầm nhìn đến năm 2030- UBND tỉnh Vĩnh Long)
107
Theo dự báo, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đến năm 2015 là 48% và năm
2020 là 73%. Đồng thời, nâng cao tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật năm 2015
là 55% ( trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo là 35%) và năm 2020 là 65 - 66%. Cụ
thể trong cơ cấu ngành thì tỉ lệ lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có sự
chuyển biến theo xu hướng càng tăng dần. Trong lĩnh vực công nghiệp, tỉ lệ này vào
năm 2010 là 50%, dự kiến năm 2015 là 75% và năm 2020 tăng lên 79,8%. Phấn đấu
tạo việc làm mới cho khoảng 25.000 - 27.000 lao động/năm giai đoạn 2011 - 2015 và
khoảng 18.000 - 20.000 lao động/năm giai đoạn 2016 – 2020. Cơ cấu lao động phân
theo ngành sẽ tăng nhanh về số lượng, đồng thời có sự chuyển dịch từ lao động trong
lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Theo đó, năng suất lao
động bình quân của lao động trong độ tuổi (theo giá hiện hành) theo thời gian cũng
có sự gia tăng mạnh. Những điều trên cho thấy, hiệu quả phát triển kinh tế của tỉnh
cũng không ngừng tăng lên.
Biểu đồ 3.1: Dự báo cơ cấu lao động tỉnh Vĩnh Long
26%
42%
28%
51%
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
21%
32%
Năm 2015 năm 2020
( Số liệu xử lý từ nguồn Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh
Vĩnh Long thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030- UBND tỉnh Vĩnh Long)
108
* Dự báo về nhu cầu sử dụng lao động ở các KCN của tỉnh
Trong giai đoạn 2010- 2015, với sự mở rộng KCN cùng với sự hình thành
mới của khoảng 15 cụm công nghiệp và những DN công nghiệp phân tán trên khắp
các địa bàn Vĩnh Long. Vì thế, nhu cầu lao động công nghiệp sẽ tăng mạnh trong
giai đoạn 2011-2015 và 2016- 2020, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến. Năm
2010, lao động công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long là 66.268 người, tăng lên
121.119 lao động vào năm 2015, đến năm 2020, tiếp tục gia tăng mạnh lên 230.547
lao động. Trong đó, phần lớn là lao động hoạt động trong lĩnh vực chế biến, đến năm
2015 và 2020, dự báo lao động hoạt động lần lượt là 102.234 lao động và 189.823
lao động.
Năm
Giá trị sản xuất công nghiệp
Dự báo lao động
(giá cố định)
Toàn
Khai
Chế biến
SX&PP
Toàn
Khai
Chế biến,
SX&PP điện,
chế tạo
điện, khí
chế tạo
khí đốt, nước
ngành
khoáng
ngành
khoáng
2010 5.700 2015 14.948 2020 34.097
6 9 4
347 1.339 3.869
đốt, nước 25 54 137
67.888 102.234 189.823
293 255 308
nóng 784 954 1.442
68.268 121.119 230.547 (Nguồn Sở Công thương tỉnh Vĩnh Long)
Bảng 3.3: Dự báo nhu cầu lao động công nghiệp
Riêng lao động ở các KCN, theo đề án mở rộng và phát triển các KCN, thì
từ nay đến năm 2020 sẽ có nhiều nhà đầu tư có công nghệ tiên tiến, suất đầu tư lớn,
phù hợp quy hoạch phát triển kinh tế của tỉnh và khu vực sẽ đầu tư tại Vĩnh Long.
Như vậy nhu cầu về lao động là rất lớn, đồng thời cũng đòi hỏi nguồn lao động phải
có trình độ, tay nghề, chất xám cao. Cụ thể, đến năm 2020 có 03 KCN mới được xây
dựng và mở rộng 01 KCN với tổng diện tích 1.079 ha, bao gồm KCN Hoà Phú giai
đoạn 2 là 129 ha, KCN Bình Tân là 400 ha, KCN Đông Bình: 350 ha, KCN An Định
với diện tích 200 ha. Lực lượng lao động dự kiến cho cả giai đoạn khoảng 120 nghìn
người. Riêng giai đoạn 2010-2015 tập trung xây dựng mới KCN Bình Tân, KCN
109
Đông Bình và mở rộng KCN Hoà Phú giai đoạn 2. Lao động dự kiến cần đáp ứng
khoảng 100 nghìn người. Giai đoạn 2016-2020, tập trung xây dựng KCN An Định.
Giai đoạn này cần lao động đáp ứng cho KCN khoảng 20 nghìn người. Việc đáp ứng
nhu cầu lao động này tập trung ở các ngành nghề: chế biến lương thực-thực phẩm,
công nghiệp tiêu dùng, dệt may, giày da, thủ công mỹ nghệ, công nghiệp lắp ráp
điện-điện tử, bao bì, công nghiệp dược-mỹ phẩm, hàng gia dụng, gia công sắt thép-
cơ khí, phục vụ nông nghiệp chế tạo máy.
Đơn vị: người
Bảng 3.4: Kế hoạch đào tạo nhân lực hàng năm tại khu vực đầu tư nước ngoài
Năm
STT
Nội dung Tổng
2012
2013
2014
2015
Nhu cầu đào tao mới Theo trình đô đào tạo Sơ cấp nghề Trung cấp nghề
Theo nhóm ngành kinh tế
Thương mại, dịch vụ
1 1.1 1.2 1.3 Trung cấp 1.4 Cao đăng 1.5 Cao đẳng nghề 1.6 Đại học và sau đại học 2 2.1 Công nghiệp - Xây dựng 2.2 2.3 Nông, lâm, ngư nghiệp và thủy
2.842 100 0 30 10 40 0 20 2.742 2.732 10 0
1.911 140 0 40 20 50 0 30 1.771 1.751 20 0
2.911 175 0 50 30 60 0 35 2.736 2.706 30 0
3.911 195 0 55 35 65 0 40 3.716 3.676 40 0
2016- 2020 4.911 220 0 60 40 70 0 50 4.691 4.641 50 0
sản
(Nguồn BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long)
Cụ thể, tại các DN có vốn đầu tư nước ngoài, nhu cầu cần đào tạo mới năm
2015 là 3.911 người, giai đoạn 2016-2020 là 4.911 người. Cụ thể, đối với lực lượng
lao động có trình độ năm 2015 là 195 người (trong đó, trung cấp nghề: 55 người,
trung cấp 35 người, cao đẳng 65 người), giai đoạn 2016-2020 là 220 người (trong
đó, trung cấp nghề: 60 người, trung cấp 40 người, cao đẳng 70 người). Theo nhóm
ngành kinh tế, năm 2015, cần 3.716 người (trong đó, lao động hoạt động công
nghiệp-xây dựng là 3.676 người, lao động hoạt động trong lĩnh vực thương mại-dịch
vụ là 40 người). Giai đoạn 2016-2020, lao động cần 4.691 người (trong đó, lao động
110
hoạt động công nghiệp-xây dựng là 4.641 người, lao động hoạt động trong lĩnh vực
thương mại-dịch vụ là 50 người).
3.2 Định hướng về phát triển và sử dụng lao động
Phát triển và nâng cao chất lượng NNL là nhiệm vụ quan trọng, là một
trong 2 khâu đột phá Nghị quyết Đại hội IX tỉnh Đảng bộ. “Nâng cao trình độ, nâng
lực của cán bộ lãnh đạo, quản lí, khoa học kỹ thuật các cấp, đáp ứng nhu cầu phát
triển giai đoạn 2010-2015 và chuẩn bị nguồn cán bộ cho giai đoạn 2015-2020”. Là
trách nhiệm chung của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị, trong đó sự lãnh đạo
của Đảng và quản lí của Nhà nước giữ vai trò quyết định, góp phần trực tiếp vào quá
trình phát triển KTXH tỉnh nhà, đến năm 2015” xây dựng Vĩnh Long thành tỉnh
trung bình khá trong khu vực”
Với mục tiêu đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm phát triển và
nâng cao chất lượng NNL, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH, góp phần
cùng cả nước chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế. Trong đó,
tập trung đào tạo và đào tạo lại, bổ sung NNL cho những ngành, lĩnh vực kinh tế, xã
hội tỉnh sau năm 2015, nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ, quản lí cho hệ thống chính
trị, các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, đào tạo nghề, phát triển đội ngũ doanh
nhân văn hóa thể thao du lịch.
3.2.1 Những định hướng
Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đúng
cán bộ, công chức đảm bảo tiêu chuẩn, trình độ năng lực và phẩm chất đạo đức, nhất
là cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Tập trung vốn cho xây dựng cơ sở vật chất đào tạo NNL
đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa công tác dạy nghề, nâng
cao chất lượng đào tạo nghề, tạo được NNL có đủ khả năng tiếp nhận công nghệ tiên
tiến, đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn phù hợp với nhu cầu
tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập. Chú trọng đào tạo sau đại học, xây dựng đội ngũ
trí thức đồng bộ trên các lĩnh vực, có chính sách thu hút nhân tài tại chỗ và bên
ngoài.
111
*Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từng bước nâng cao chất
lượng và quy mô, hiệu quả đào tạo nghề ở các cấp về trình độ (cao đẳng nghề, trung
cấp nghề, sơ cấp nghề và dạy nghề ngắn hạn) nhằm đóng góp cho mục tiêu nâng cao
chất lượng NNL của tỉnh nhà.Tiếp tục góp phần đẩy mạnh giải quyết việc làm và tạo
thêm việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm, nâng cao thu nhập cho NLĐ,
góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu ngành kinh tế, phục vụ tốt
các mục tiêu phát triển KTXH ,CNH-HĐH và hội nhập quốc tế của tỉnh nhà.
Bảng 3.5: Chỉ tiêu đào tạo nghề giai đoạn 2011-2020
Đơn vị: người
Chỉ tiêu đào tạo nghề Giai đoạn Giai đoạn
2011-2015 2015-2020
Tổng số lao động đào tạo nghề 172.700 211.500
134.000 159.000 • Đào tạo tay nghề mới
38.700 53.000 • Đào tạo lại, đào tạo nâng cao, chuyên sâu
86.900 103.400 • Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
ít nhất 70% ít nhất 80% • Tỉ lệ giải quyết việc làm sau đào tạo nghề
55% 75% • Tỉ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật
35% 50% • Tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề
(Số liệu xử lý từ nguồn Chương trình phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020-Tỉnh ủy Vĩnh Long)
*Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ doanh nhân
và quản lí DN nhằm nâng cao trình độ quản lý ,chuyên môn, kĩ thuật của đội ngũ
doanh nhân và cán bộ đội ngũ quản lý DN các ngành kinh tế, tăng cường kĩ năng
nhận thức và vận dụng kiến thức quản lý và điều hành DN theo quan điểm quản trị
hiện đại,đào tạo đội ngũ lãnh đạo quản lý DN phù hợp với xu thế phát triển của đất
nước và hội nhập quốc tế, đồng thời nâng cao những kĩ năng tư duy sáng tạo và
phương pháp làm việc khoa học, phục vụ cho việc ra các quyết định quản lý, điều
hành cốt lõi và đột phá. Đào tạo kỹ năng quản lý bậc trung, năng động, sáng tạo hỗ
112
trợ cấp quản lý bậc cao điều hành DN, nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng yêu
cầu hội nhập quốc tế.
• Đến năm 2015, tổ chức đào tạo cấp quản lý bậc trung với nội dung:
giám đốc điều hành, giám đốc kinh doanh, giám đốc tài chính, giám đốc nhân sự,
giám đốc sản xuất... với khoảng 600 lượt lãnh đạo các DN của tỉnh. Tổ chức đào
tạo và bồi dưỡng các chương trình về kỹ năng và nâng cao nghiệp vụ chuyên môn
cho khoảng 1.000 lượt cấp quản lý bậc trung, trưởng, phó phòng và phụ trách quản
lí bộ phận các DN với các chuyên đề nghiệp vụ ngoại thương, ngoại ngữ (biên dịch,
phiên dịch tiếng Anh), thiết lập và thẩm định các dự án đầu tư, kỹ năng quản lý
thực hành dành cho nhà quản lý, kỹ năng kinh doanh chuyên nghiệp, quản trị
marketing, quản đốc phân xưởng, quản lí chất lượng trong DN, khởi sự DN, nghiệp
vụ kho bãi,….
• Đến năm 2020, tiếp tục đào tạo cấp quản lý bậc trung và bậc cao cho
đối tượng là lãnh đạo các DN với số lượng 660 lượt và cấp trưởng, phó phòng với
khoảng 1100 lượt ,với các nội dung phù hợp và đáp ứng nhu cầu nâng cao NNL của
DN.
*Phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo của
các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn nhằm tạo ra NNL có phẩm chất đạo đức,
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát
triển KTXH trong tiến trình CNH-HĐH và hội nhập quốc tế.
• Đến năm 2015, thành lập 1 trường đại học đạt chuẩn cơ bản theo qui
định, trên cơ sở hợp nhất các trường: Cao đẳng Kinh tế -Tài chính, Cao đẳng cộng
đồng, Cao đẳng sư phạm. Đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục: có 100% cán bộ quản lí
các khoa đào tạo và ban giám hiệu các trường cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc
sĩ trở lên. Đội ngũ nhà giáo: có 30% giảng viên trường cao đẳng có trình độ từ thạc
sĩ trở lên, trong đó có 5% có trình độ tiến sĩ,có 55% giảng viên trường đại học có
trình độ thạc sĩ ,trong đó 15% có trình độ tiến sĩ. Toàn tỉnh đạt trung bình 200 sinh
viên/10000 dân. Có 80% sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng trên địa
bàn tỉnh ra trường có việc làm, có 50% sinh viên tốt nghiệp có trình độ C ngoại ngữ
113
và tương đương. Các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh được công nhận đạt
chất lượng theo bộ kiểm định chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng.
• Đến năm 2020,có 50% giảng viên trường cao đẳng có trình độ từ thạc
sĩ trở lên, trong đó 10% có trình độ tiến sĩ, 70% giảng viên trường đại học có trình
độ từ thạc sĩ trở lên, trong đó trình độ tiến sĩ từ 50% trở lên.
3.2.2 Định hướng sử dụng lao động trong các KCN
Chú trọng đến NNL chất lượng cao, đặc biệt là các DN nhằm đáp ứng
nhu cầu trong sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra, khuyến khích sự liên kết, phối hợp
giữa DN với các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, dạy nghề để đào tạo và
tuyển dụng, sử dụng lao động phù hợp với nhu cầu của DN và sử dụng có hiệu quả
kinh phí hỗ trợ đào tạo từ ngân sách theo quy định chung của Trung ương và chính
sách khuyến khích ưu đãi đầu tư của UBND tỉnh đã ban hành. Mở rộng liên kết,
hợp tác tranh thủ thường xuyên với các Bộ, Ngành Trung ương, hiệp hội, tổ chức
kinh tế trong và ngoài nước về các chương trình đào tạo, hội thảo chuyên đề, kịp
thời thông tin cho DN cử cán bộ tham gia. Phối hợp chặt chẽ với phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam chi nhánh Cần Thơ (VCCI Cần Thơ), Viện kinh tế
phát triển thuộc Trường Đại học Kinh tế TPHCM và Trung tâm Hỗ trợ Doanh
nghiệp Nhỏ và Vừa phía Nam thuộc Cục Phát triển Doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và
Đầu tư triển khai đào tạo các khóa ngắn hạn, dài hạn hay tập huấn chuyên đề.
-Sử dụng lao động nam, nữ
Lao động nữ sử dụng phù hợp với những ngành công nghiệp nhẹ, đòi hỏi sự
khéo léo, tỉ mỉ, cần cù như: chế biến thực phẩm, giấy bao bì, nhựa, sợi, dệt, may,
chế biến thủy sản, hải sản, nông sản, gốm sứ, sản xuất dụng cụ thể dục thể thao cao
cấp, thủ công mỹ nghệ… Mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ
phù hợp với đặc điểm về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ và có kế
hoạch tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ. Song song đó,
người sử dụng lao động có những chính sách cần thiết đối với lao động nữ. Lao
động nữ sẽ được dần cải thiện về điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề
nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần nhằm giúp
114
phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp. Lao động nữ được đảm bảo quyền lợi
khi nghỉ thai sản, các khoản trợ cấp, quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn HĐLĐ
khi mang thai. Đồng thời, Nhà nước có chính sách giảm thuế đối với người sử
dụng lao động có sử dụng nhiều lao động nữ theo quy định của pháp luật về thuế.
Lao động nam: cần phân bố ở những ngành công nghiệp nặng, đòi hỏi sự
mạnh mẽ, sức vóc như khai khoáng, xây dựng, chiếu xạ thực phẩm, dụng cụ y tế, hệ
thống kho lạnh, sản xuất cống bê tông rung ép….
-Sử dụng lao động tại chỗ, nhập cư
Đối với lao động tại chỗ, tận dụng nguồn lao động trong tỉnh vì số lượng
này rất dồi dào. Số người trong độ tuổi lao động năm 2011 là 695.273 nghìn người.
Dự kiến 2015 là 753,2 nghìn người, năm 2020 là 783,1 nghìn người. Trong đó, số
người lao động trong công nghiệp năm 2015 là 115,2 nghìn người, năm 2020 là
181,5 nghìn người( lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong công nghiệp
tương ứng năm 2015 và 2020 là 86,4 nghìn người và 145,2 nghìn người). Lao động
thất nghiệp còn chiếm rất đông, trên 10.000 người (năm 2011), cho nên cần phải
mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghề cho NLĐ, phân chia đào tạo nghề ra nhiều
cấp độ để NLĐ có thể dễ dàng được học nghề. Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa
các loại hình trường lớp dạy nghề, thúc đẩy các trường đầu tư trang thiết bị nhằm
nâng cao chất lượng giảng dạy và điều kiện thực hành cho học viên. Tạo sự liên kết
giữa các trường dạy nghề với các doanh nghiệp KCN; đào tạo theo định hướng nhu
cầu về lao động của xã hội, đào tạo gắn với sử dụng. Thực hiện việc đào tạo nghề
ngay từ khi bậc học phổ thông, tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình, phương
pháp giáo dục đào tạo, khuyến khích học sinh sáng tạo, tìm hiểu và học hỏi cái mới,
gắn với thực tế.
Đối với lao động nhập cư, thu hút nguồn lao động này góp phần cung
ứng nguồn lao động và bù đắp sự thiếu hụt lực lượng lao động, chủ yếu là lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Người sử dụng lao động đảm bảo những điều
kiện tối thiểu để họ có thể gắn bó hơn với DN, đồng thời có chính sách ưu đãi như:
115
chính sách về hộ khẩu, chính sách về giáo dục, về dịch vụ y tế và chăm sóc sức
khỏe, về cung cấp thông tin, về hỗ trợ vốn, về bảo hiểm xã hội, chính sách hỗ trợ
đào tạo, đi lại, bố trí sắp xếp lao động, trợ cấp cho lao động ngoại tỉnh khi ốm đau.
-Sử dụng lao động dài hạn, ngắn hạn, thời vụ
Đối với lao động dài hạn, lực lượng này phân bổ ở vị trí quan trọng, then
chốt, tạo sự ổn định, đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ này vì đây là điều kiện
cần thiết trong thị trường cạnh tranh như hiện nay. Đảm bảo mức trả công và các
chương trình phúc lợi để có được lao động giỏi.
Đối với lao động ngắn hạn, lực lượng này phân bổ ở những khâu không
quan trọng, có chiến lược thay thế lực lượng lao động, rà soát nguồn lao động hiện
tại và tương lai ở từng bộ phận, DN nhằm thấy rõ thừa thiếu nhân lực để bố trí lại
hoặc bổ sung, hỗ trợ NLĐ trong quá trình thử việc khi họ mới được tuyển dụng: hỗ
trợ đào tạo nghề, phúc lợi, trợ cấp, khen thưởng, hỗ trợ chi phí học tập cho những
người có cam kết phục vụ lâu dài cho xí nghiệp .
Đối với lao động thời vụ, các DN quan tâm đến ổn định việc làm, tạo thêm
việc làm mới, nâng cao thu nhập cho NLĐ cùng với việc thực hiện đầy đủ các chế
độ chính sách phúc lợi xã hội khác như: xây dựng khu cư xá công nhân, hỗ trợ nhà
trọ; xây dựng cơ sở vật chất để nâng cao đời sống tinh thần cho NLĐ, xây dựng môi
trường làm việc thân thiện, hài hòa và phát triển trong DN, đồng thời quản lý chặt
chẽ lao động nước ngoài. Do đặc trưng sản xuất công nghiệp chủ yếu là các ngành
công nghiệp nhẹ, chế biến nông sản nên về lâu về dài, khi tận dụng lao động theo
thời vụ sẽ mang lại hiệu quả rất lớn.
3.3. Các nhóm giải pháp chủ yếu
3.3.1 Nhóm giải pháp về tổ chức quản lý
Các cơ quan quản lý Nhà nước cần có sự phối hợp đồng bộ, kịp thời và nhịp
nhàng để đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần của công nhân trong KCN.
*Sở Công thương
116
-Triển khai các chủ trương nhà nước có liên quan về phát triển công
nghiệp, hỗ trợ DN đào tạo và đào tạo lại nguồn lao động thông qua hội chợ, triển
lãm, chuyển đổi công nghệ.
-Có trung tâm xúc tiến thương mại, đẩy mạnh hỗ trợ các DN có thị trường
lành mạnh, đảm bảo hàng chất lượng, lưu thông hàng hoá; quản lý thị trường; quản lý
cạnh tranh; kiểm soát độc quyền; chống bán phá giá; chống trợ cấp, bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng; thương mại điện tử; dịch vụ thương mại; hội nhập kinh tế.
- Phối hợp với các sở, ngành liên quan nhằm quy hoạch chi tiết các khu,
cụm công nghiệp tập trung để chuẩn bị địa điểm, hạ tầng trên địa bàn tỉnh. Quy
hoạch này giúp cụ thể hóa chiến lược phát triển công nghiệp của địa phương, là
động lực chính cho sự phát triển KTXH của tỉnh nhằm đẩy mạnh tiến trình thực
hiện CNH-HĐH trên toàn bộ nền kinh tế của tỉnh.
* Đối với Ban quản lý các khu công nghiệp
- Phối hợp các đoàn thể: Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ
nữ, các tổ chức Đảng: Đảng ủy khối cơ quan, DN nhằm hỗ trợ trong DN.
- Xây dựng quy chế phối hợp làm việc với các sở, ban, ngành, địa phương
có liên quan thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao theo cơ chế một cửa và
một cửa liên thông, tổ chức thực hiện tốt chính sách cho NLĐ, chăm lo đời sống vật
chất tinh thần cho công nhân lao động.
-Thực hiện đúng quy định về ký kết HĐLĐ, TƯLĐTT thực hiện nội quy
ATVSLĐ; định mức lao động, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi và theo dõi điều kiện làm
việc.
-Tổ chức tốt công tác tư vấn, giới thiệu nhu cầu lao động để NLĐ có xu
hướng bồi dưỡng, đào tạo nghề phù hợp; tăng cường đào tạo nghề, trước hết là các
ngành thu hút nhiều lao động như dệt, giày da, may mặc, chế biến lương thực, thực
phẩm... theo hướng khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời tăng cường
đào tạo ngoại ngữ, ý thức chấp hành pháp luật, tác phong công nghiệp… cho NLĐ.
117
- Có kế hoạch đào tạo từng năm đối với từng cấp lãnh đạo chủ chốt, các
chức danh, công việc chuyên môn trong ngành dựa theo tiêu chuẩn quy định của nhà
nước, của ngành công nghiệp và yêu cầu cao hơn trong giai đoạn tới đây.
- Tăng cường cung cấp các dịch vụ thông tin liên quan đến NLĐ hiện có
về số lượng, cơ cấu, chất lượng nghề, trình độ đào tạo, lao động thường xuyên, lao
động vụ việc, lao động thời vụ và nhu cầu cần tuyển dụng, đào tạo cho các cơ quan
quản lý nhà nước nhằm có sự hỗ trợ kịp thời.
- Xây dựng kế hoạch, ký hợp đồng đào tạo, tuyển dụng lao động với các cơ
sở đào tạo và đơn vị cung ứng lao động trong, ngoài tỉnh.
*Đối với các doanh nghiệp
- Cần đảm bảo môi trường làm việc an toàn, thông thoáng: vệ sinh nơi ăn
uống, nghỉ giữa ca, tăng cường trang thiết bị, phương tiện, cơ số thuốc phục vụ
công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, sức khoẻ sinh sản, khám bệnh định kỳ cho
phụ nữ, phòng chống các bệnh lây nhiễm; giữ ATVSLĐ, phòng chống cháy nổ
nhằm giúp NLĐ an tâm làm việc, phát huy năng lực sáng tạo của mình.
- Có những chính sách, kế hoạch đào tạo, phát triển nhân viên, các chính
sách khen thưởng và động viên khuyến khích các cá nhân và tập thể có đóng góp
cho DN:
+ Tổ chức các hoạt động thi nâng cao tay nghề, tôn vinh và khen thưởng
đối với tập thể và cá nhân NLĐ có sáng kiến kỹ thuật, sản xuất kinh doanh đạt chất
lượng hiệu quả và tiêu biểu trong DN.
+ Thường xuyên tổ chức các hội chợ việc làm, liên kết với các trường và
Trung tâm giới thiệu việc làm nhằm đáp ứng cho nhu cầu ngành nghề cần tuyển
dụng hiện tại và tạo nguồn cho nhu cầu tuyển dụng sắp tới.
- Thực hiện kịp thời, có hiệu quả các chính sách tiền lương, tiền thưởng, chế
độ BHXH, BHYT cho NLĐ. Đảm bảo đúng quy định về thời giờ làm việc, không
118
tăng ca quá mức và ép buộc tăng ca, nâng lên các mức phúc lợi, đảm bảo hài hoà các
lợi ích giữa DN và NLĐ.
- Đối với các DN có số lượng lao động lớn như công ty Tỷ Xuân,
Bohsing…. nên có ít nhất một cán bộ chuyên trách về các vấn đề quan hệ lao động.
Tạo điều kiện để NLĐ đưa ra ý kiến đóng góp về các hoạt động của DN.
-Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về lao động, ATVSLĐ cho công
nhân ngay từ khi DN mới đi vào hoạt động và cho công nhân mới tuyển dụng.
Đồng thời, chủ DN cũng nên tạo điều kiện để CĐCS hoạt động có hiệu quả, phải
chủ động phối hợp với Ban chấp hành CĐCS để tổ chức thương lượng, thỏa thuận
giữa các bên khi xảy ra tranh chấp lao động.
-Đối với các DN có vốn đầu tư nước ngoài, cần nên có chính sách hỗ trợ thu
nhập hoặc tăng phần phụ cấp trách nhiệm cho các cán bộ thuộc các tổ chức chính trị
- xã hội, để giúp họ yên tâm công tác và hết sức, hết lòng với NLĐ.
*Đối với các đoàn thể
-Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội của Đảng hoạt động hợp pháp
trong DN nên nghiên cứu đề xuất chủ DN thành lập chi bộ Đảng và Đoàn Thanh
niên để cùng nhau tham gia quản lý sản xuất kinh doanh của DN tạo điều kiện cho
công nhân lao động có việc làm ổn định nâng cao thu nhập.
- Hoàn thiện và nâng cao vai trò của tổ chức đại diện các bên, nhất là phát
triển và nâng cao năng lực của tổ chức Công đoàn trong KCN thực sự là người đại
diện cho NLĐ.
- Tăng cường quán triệt nâng cao nhận thức tầm quan trọng của các cấp, các
ngành về công tác xây dựng tổ chức Đảng, đoàn thể trong DN, có kế hoạch, giải
pháp cụ thể để tiếp cận DN.
119
-Cải tiến về nội dung và phương pháp làm việc của Công đoàn hướng về cơ
sở, về NLĐ, lấy bảo vệ lợi ích làm phương châm hoạt động Công đoàn, xây dựng
các quy chế, quy định, tiêu chuẩn công đoàn làm kim chỉ nam cho hoạt động Công
đoàn có hiệu quả và phối hợp với DN được tốt hơn.
- Hoạt động xây dựng CĐCS vững mạnh không thể tách rời với hoạt động
của Công đoàn cấp trên nhằm giúp cho CĐCS hoạt động đúng hướng, vững mạnh.
-Củng cố nâng chất lượng hoạt động của các CĐCS, tiếp tục thành lập
CĐCS của các DN còn lại; tập hợp thanh niên hướng vào các hoạt động học tập lao
động và sáng tạo.
- Nghiên cứu xây dựng và điều chỉnh hoàn thiện hệ thống pháp luật lao
động, Luật Công đoàn. Đặc biệt là các chế độ chính sách liên quan đến quyền và lợi
ích của NLĐ; về giải quyết tranh chấp lao động và đình công, chế độ đãi ngộ đối với
cán bộ CĐCS, nhất là chính sách tiền lương, thu nhập, khen thưởng cán bộ Công
đoàn qua việc phát triển Quỹ hỗ trợ cán bộ CĐCS khi gặp rủi ro trong việc đấu tranh
bảo vệ lợi ích cho NLĐ. Mặt khác có quy định xử lý nghiêm minh đối với DN
không thành lập Công đoàn.
3.3.2 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách
-Có cơ chế chính sách thu hút lao động có trình độ chất xám, chính sách về
thuế, đất đai đầu tư cơ sở hạ tầng nhằm thu hút đầu tư phục vụ phát triển công
- Điều chỉnh công tác tiền lương, các khoản trợ cấp phù hợp với mức sống
nghiệp đồng thời có ưu đãi đối với những dự án xây dựng các cơ sở hạ tầng.
thực tế. Ngoài việc quy định mức lương tối thiểu vùng, nhà nước cần xem xét có thể
quy định chi tiết hơn về mức lương tối thiểu cho các ngành nghề đặc thù và chính
sách trợ cấp thêm cho NLĐ như: hỗ trợ tiền ăn, ở, nhà trọ, tàu xe đi lại, học hành, trị
bệnh, vui chơi giải trí,... nhằm giải quyết bớt một phần khó khăn cho NLĐ. Có chế
độ lương đặc biệt đối với những người có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực ứng
dụng thành tựu khoa học kỹ thuật.
120
-Hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đến điều chỉnh hợp lý chế độ lao
động, đời sống vật chất, tinh thần của công nhân, ưu tiên đầu tư xây dựng các thiết
chế văn hoá phục vụ NLĐ có thu nhập thấp và hỗ trợ vốn cho DN xây dựng nhà ở,
nhà trẻ, cơ sở y tế, phát triển loại hình dịch vụ khác như chợ, siêu thị, dịch vụ tài
chính, tín dụng, thông tin liên lạc, văn phòng, kho bãi,…., cụ thể như:
+Triển khai thực hiện dự án xây dựng nhà văn hoá lao động
+Tạo điều kiện thuận lợi cho công nhân đi làm việc bằng xe đưa rước
+ Đầu tư mở cửa hàng thức ăn nhanh hoặc siêu thị.
+ Đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, đảm bảo an
ninh trật tự, tạm trú; an toàn trong sử dụng điện, nước sinh hoạt.
+Xây dựng các tụ điểm văn hoá giải trí, thể dục thể thao hiện có phát triển
đúng định hướng, đồng thời đẩy mạnh công tác xã hội hoá các loại hình văn hoá liên
kết với các thiết chế văn hoá do nhà nước đầu tư đảm bảo nhu cầu phục vụ cho công
nhân lao động và nhân dân trong khu vực.
+Cùng với việc quy hoạch mới các KCN cần chú trọng đến việc quy hoạch
các khu dân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ
trợ, dịch vụ, các công trình xã hội phục vụ đời sống NLĐ và cư dân trong khu vực.
+ Thành lập quỹ nhà ở cho công nhân từ nguồn vốn ngân sách, đóng góp
của DN, của tổ chức, cơ quan, trước mắt tập trung kêu gọi đầu tư triển khai thực
hiện dự án xây dựng nhà ở công nhân trong khu tái định cư. Các KCN quy hoạch
xây dựng mới đều phải có khu nhà ở công nhân theo tiêu chuẩn quy định. Điều
chỉnh cơ cấu tiền nhà hợp lý để NLĐ có điều kiện tích lũy thuê hoặc mua nhà ở và
trang trãi trong cuộc sống.
+Cần ưu tiên cho lao động nhập cư trong các KCN, tạo điều kiện để NLĐ
được nhập hộ khẩu chính thức khi có nguyện vọng.
121
3.3.3.1 Đối với lao động hiện có
3.3.3 Giải pháp về sử dụng lao động
-Về số lượng, hiện nay số lượng lao động vẫn còn thiếu, do đó cần tuyển
dụng với chế độ tiền lương và nhiều quyền lợi hấp dẫn cho NLĐ, cần thực hiện đào
tạo nghề cho thanh niên đến tuổi lao động và số lao động thất nghiệp, đảm bảo cho
thanh niên được học nghề để đáp ứng yêu cầu các nhà tuyển dụng.
-Về chất lượng, tăng cường đào tạo chuyên môn: mở rộng hình thức đào tạo
kèm cặp tại chỗ và theo lớp học như đào tạo tại cơ sở sản xuất, các trung tâm bồi
dưỡng đào tạo, gởi đi đào tạo ở các trường đào tạo từng công đoạn, mở các lớp tập
huấn ngắn hạn về kỹ thuật công nghệ và chuyển giao công nghệ bằng cách mời các
chuyên gia, kỹ sư giàu kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy. Song song đó, NLĐ phải cố
gắng, tiếp thu và trau dồi kiến thức một cách có hiệu quả, có chất lượng. Chỉ có tay
nghề cao, kỷ luật lao động tốt thì NLĐ mới có việc làm ổn định, nâng cao thu nhập,
chất lượng cuộc sống được đảm bảo. Các yêu cầu đào tạo khác: cần được ký hợp
đồng với các trung tâm hoặc tổ chức có chức năng thực hiện đào tạo về kỹ năng, tác
phong công nghiệp, ngoại ngữ, tin học, hiểu biết về pháp luật, chăm sóc sức khoẻ….
để NLĐ được rèn luyện, bồi dưỡng ý thức chính trị, ý thức pháp luật, từng bước trí
thức hóa, công nghiệp hoá, hiện đại hoá giai cấp công nhân.
3.3.3.2 Đối với lao động dự nguồn
Trong giai đoạn 2010-2015 và định hướng 2020, tỉnh Vĩnh Long mở rộng
KCN Hòa Phú giai đoạn II, đồng thời xây dựng thêm 3 KCN. Theo các dự án này thì
nhu cầu nguồn lao động đảm bảo về chất lượng và tăng về số lượng là cấp thiết
trong tương lai. Do đó:
-Về số lượng, cần dự kiến số lao động cần trong những năm tới nhằm cung
ứng, phát triển NNL trên cơ sở dự án xây dựng của từng KCN để có kế hoạch đào
tạo phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của DN trong tương lai, đặc biệt là những ngành
122
nghề mới; phối hợp với các tỉnh lân cận trong việc đào tạo và giới thiệu lao động
cho các doanh nghiệp KCN tỉnh Vĩnh Long; mở rộng và đa dạng hoá các hình thức
đào tạo, đảm bảo cung ứng lao động trẻ, khoẻ, đáp ứng yêu cầu nhà tuyển dụng, đào
tạo gắn với các DN, từng bước hình thành thị trường lao động thông qua các hội chợ
việc làm, sàn giao dịch lao động.
-Về chất lượng, dự kiến số lao động cần trong những năm tới và trình độ
tương ứng để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, đáp ứng nhu cầu cho DN; từng bước
xã hội hoá công tác hướng nghiệp và đào tạo nghề. Cần có mô hình đào tạo thích
hợp: mô hình kết hợp đào tạo nghề với văn hoá, mô hình đào tạo hướng nghiệp, mô
hình đào tạo bồi dưỡng; huy động bằng nhiều nguồn lực để đào tạo tay nghề cho
NLĐ như: ngân sách hỗ trợ, DN đầu tư kinh phí, các tổ chức phi chính phủ đóng
góp, đài thọ toàn phần hoặc một phần học phí cho các học viên trường nghề, các lớp
đào tạo về chuyên môn kỹ thuật và quản lý; thường xuyên có kế hoạch đào tạo, sử
dụng lao động để thông tin đến nhân dân, NLĐ được biết nhằm có kế hoạch tự đào
tạo, định hướng ngành nghề phù hợp trước khi đi học, chấp hành tốt ý thức kỷ luật
lao động, tác phong công nghiệp, luôn nâng cao trình độ, tay nghề, khả năng giao
tiếp ngoại ngữ; tiến hành liên kết giữa doanh nghiệp- nhà trường - các ngành, các
cấp để xác định nhu cầu thực của các DN nhằm tiến hành đào tạo chính quy dài hạn
để có đủ NNL cung cấp cho các DN. Sự gắn kết này nếu được thiết lập đồng bộ sẽ
đem lại lợi ích to lớn cho cả các bên. Nhà trường sẽ thực hiện được định hướng học
viên trong đào tạo, có điều kiện nhanh chóng tiếp thu công nghệ mới vào đào tạo, nâng
chất lượng nguồn lao động trong đó xen kẽ chương trình đào tạo kỹ năng làm việc,
tác phong công nghiệp, ngoại ngữ, tin học, chính sách pháp luật hiện hành cho sinh
viên…Việc liên kết này ngoài việc phối hợp với các trường trên địa bàn tỉnh, còn có thể
mở rộng liên kết với các tỉnh trong khu vực, trên phạm vi cả nước, ngoài nước. Hiện
nay trên địa bàn tỉnh có các trường đại học Cửu Long, trường trung cấp nghề Vĩnh
Long, các trung tâm đào tạo ở các huyện, thành phố,… Đây là điều kiện thuận lợi để
tổ chức đào tạo nghề theo hợp đồng cho từng DN bằng nhiều hình thức phù hợp, đáp
ứng nhu cầu thị trường. Các doanh nghiệp công bố tình hình đầu tư, nhu cầu lao
123
động và trình độ tay nghề cũng như cơ cấu nghề trong ngắn hạn và dài hạn để giúp
cho các cơ sở đào tạo có được các thông tin cần thiết, định hướng đào tạo nghề cho
công nhân. Điều này sẽ giúp DN chủ động trong việc tuyển dụng, có nguồn cung ứng
lao động đáp ứng được yêu cầu cả số lượng và chất lượng, khắc phục được tình trạng
mất cơ hội, thị phần và uy tín. Bên cạnh đó, DN cam kết sử dụng lao động và trợ giúp
công tác thực hành, nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho NLĐ,
ưu đãi, hỗ trợ các sinh viên, học sinh giỏi theo học các ngành nghề có nhu cầu trong
những năm tới. Nhà nước định hướng ưu tiên lao động vào những ngành mà DN cần
và tạo lập hành lang pháp lý thông thoáng, các cơ quan ban, ngành hỗ trợ tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho việc tuyển dụng và đạo tạo nguồn lao động.
3.4 Kiến nghị
3.4.1 Đối với Cơ quan quản lý hành chính tỉnh
*Lãnh đạo tỉnh
-Tập trung đào tạo nguồn lao động theo địa chỉ và nhu cầu từng thời kỳ để
tránh lãng phí.
-Đầu tư để nâng cấp các trường: đầu tư về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên,
chương trình..phù hợp từng thời kì nhằm đảm bảo cho việc đào tạo và cung ứng
nguồn lao động.
- Có những chính sách phát triển NNL, nâng cao tay nghề, trình độ, kỹ năng
của NLĐ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh.
*Các sở, ban, ngành liên quan
• Liên đoàn Lao động tỉnh, CĐCKCN tỉnh Vĩnh Long
-Cần phải kết hợp thành lập Đoàn thanh tra liên ngành kiểm tra DN ở KCN
về chế độ chính sách cho NLĐ đảm bảo thực hiện đúng quy định pháp luật.
124
-Kiện toàn ban chỉ đạo, phát triển và nâng cao chất lượng CĐCS, tạo điều
kiện cho công tác phát triển Đảng, thành lập chi bộ Đảng trong DN, xây dựng DN
có mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ để phát triển bền vững.
-Làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục, đầu tư kinh phí, trang bị cơ sở vật
chất kỹ thuật và từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền
viên đáp ứng cho hình thức tuyên truyền phong phú và đa.
-Tiếp tục đẩy mạnh và đổi mới thi đua yêu nước trong các DN, xét khen
thưởng hàng năm như cơ quan nhà nước nhằm tôn vinh khen thưởng các chủ DN và
NLĐ thực hiện tốt các nghĩa vụ của mình.
• Sở Lao động -Thương binh và Xã hội
Triển khai sớm quy hoạch NNL đáp ứng nhu cầu lao động cho công
nghiệp. Lên kế hoạch đào tạo nghề, đào tạo kỹ thuật cho các ngành công nghiệp
• Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ
Tăng cường công tác tổ chức vận động nhằm tuyên truyền chủ trương
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, kiến thức về giới, về thanh niên vì số
lượng đoàn viên thanh niên trong KCN rất đông.
*Ban quản lý các khu công nghiệp
- Cần được tham quan nghiên cứu học tập kinh nghiệm trong và ngoài nước,
để rút kinh nghiệm quản lý, tiếp cận công nghệ mới, liên kết đầu tư, mở rộng thị
trường,…
- Cần có Thanh tra viên để thực hiện công tác thanh tra; được quyền xử
phạt vi phạm hành chính theo quy định đối với các trường hợp vi phạm.
*Lãnh đạo các doanh nghiệp khu công nghiệp
-Phối hợp các trường, trung tâm đào tạo nghề trong tỉnh để đào tạo, tuyển
dụng và sử dụng lao động.
125
- Lập kế hoạch báo cáo cụ thể về các ngành nghề đào tạo, số lượng cần
tuyển dụng lao động theo từng giai đoạn nhằm phối hợp với lãnh đạo tỉnh, chính
quyền địa phương nắm bắt được cung – cầu và có biện pháp chỉ đạo, hỗ trợ hợp lý.
- Huy động các chuyên gia của các DN tham gia xây dựng chương trình
đào tạo, tham gia giảng dạy, đặc biệt là thực hành cơ bản.
*Chính quyền địa phương nơi có khu công nghiệp
-Sớm thành lập ban đại diện trong KCN có văn phòng làm việc cùng Công
đoàn KCN hoạt động thường xuyên nắm bắt tình hình của NLĐ trong các DN khi
xảy ra đình công ngừng việc, có mặt ban đại diện và Công đoàn hòa giải ngay,
tránh được mâu thuẫn giữa công nhân lao động và chủ DN kéo dài, vừa ảnh hưởng
sản xuất kinh doanh của DN, vừa ảnh hưởng việc làm của NLĐ.
- Tạo điều kiện mọi mặt cho nhân dân, NLĐ được học tập văn hoá, học nghề.
- Theo dõi, gắn kết với các DN đóng trên địa bàn để thúc đẩy đào tạo tại địa
phương.
- Phối hợp, xử lý, giải quyết các vấn đề môi trường, an sinh xã hội cho
NLĐ.
3.4.2 Đối với người lao động
-Tiếp thu và trau dồi kiến thức một cách có hiệu quả, có chất lượng.
- Rèn luyện ý thức chấp hành nghiêm pháp luật, ý thức tổ chức kỷ luật, lối
sống văn hoá, ý thức cộng đồng để sớm làm chủ chính mình và góp phần xây dựng
DN phát triển.
126
PHẦN KẾT LUẬN
Qua phân tích trên đã phần nào cho thấy thực trạng lao động tại các KCN
tỉnh Vĩnh Long. Sự phát triển của các KCN đã góp một phần quan trọng vào phát
triển kinh tế địa phương, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Tuy
nhiên, trong thực tế, đời sống người lao động vẫn còn gặp nhiều khó khăn, kể cả đời
sống vật chất lẫn tinh thần. Điều này ảnh hưởng đến năng suất lao động, hiệu quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và toàn KCN. Do đó, phát triển nguồn nhân
lực là yếu tố cơ bản đảm bảo cho việc cung ứng lao động trẻ, khoẻ có nghề nghiệp
chuyên môn và giải quyết việc làm, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
Trong thời kỳ CNH-HĐH, việc đáp ứng nguồn lao động ngày càng tăng về
số lượng và đảm bảo về mặt chất lượng là điều cấp thiết. Lực lượng lao động này
đòi hỏi số lượng lớn, chất lượng ngày càng cao, đảm bảo cả về thể lực và trí lực: sức
khoẻ tốt, thể lực cường tráng, có sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng quá trình sản xuất
liên tục, kéo dài, có tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật tự giác cao; có niềm say
mê nghề nghiệp chuyên môn; sáng tạo, năng động trong công việc; có khả năng
chuyển đổi công việc cao, thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và
quản lý. Song song với việc tăng về số lượng thì chất lượng của người lao động càng
được xem trọng và là nhân tố quyết định. Nếu thiếu những người lao động có chất
lượng cao thì khó có thể đáp ứng nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp trong hiện tại
lẫn tương lai. Do đó, điều quan tâm của các cấp quản lý là làm sao tạo điều kiện
thuận lợi để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho NLĐ để người lao động an
tâm tập trung sản xuất. Điều này sẽ tạo sự gắn bó lâu dài của người lao động với
doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy kinh tế tỉnh phát triển.
Để đảm bảo được điều này thì việc quy hoạch khu công nghiệp phải gắn
liền với quy hoạch phát triển nguồn lao động phù hợp, đồng thời phải chú ý việc
phân bố và đào tạo nguồn lao động có chất lượng cao trong quá trình hội nhập kinh
127
tế và phát triển KCN theo chiều sâu. Một chính sách đào tạo NNL thành công sẽ
giúp các DN trong KCN nói riêng và Vĩnh Long nói chung có cơ hội tìm được lợi
thế về nguồn nhân lực trẻ, dồi dào. Khi có sự định hướng và sử dụng nguồn lao
động có hiệu quả thì Vĩnh Long sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển công
nghiệp, góp phần cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
128
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia, (2012), Kế hoạch thực hiện 1.
chương trình hành động về giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững giai đoạn
2011-2015.
BQLCKCN,( 2011), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2011 và kế 2.
hoạch công tác năm 2012.
BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long,(5/2010), Báo cáo tổng kết 05 năm xây dựng và 3.
phát triển Khu-Tuyến công nghiệp (2005-2009) và phương hướng nhiệm vụ (giai
đoạn 2010-2015).
BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long,(2009), Báo cáo thực trạng công trình nhà ở 4.
công nhân khu công nghiệp.
BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long,(8/2011), Báo cáo thực trạng đời sống NLĐ tại 5.
các KCN.
BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long,(8/2011), Báo cáo tình hình an ninh trật tự trong 6.
KCN Hòa Phú.
BQLCKCN tỉnh Vĩnh Long,(2012), Báo cáo tổng kết thành tựu 20 năm tái 7.
lập tỉnh Vĩnh Long.
Công đoàn các KCN,(2008,2009,2010,2011,2012),Báo cáo tình hình đoàn 8.
viên, công nhân lao động CĐCS các KCN (2008,2009,2010,2011,2012)
Công đoàn các khu công nghiệp,(2010),Báo cáo tình hình phát triển đoàn 9.
viên và xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh ở công đoàn các khu công nghiệp
tỉnh.
10. Công đoàn các khu công nghiệp,(2010,),Báo cáo đánh giá thực trạng việc
hình thành tổ chức và hoạt động của tổ chức Đảng, đoàn thể tại doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế .
11. Công đoàn các khu công nghiệp,(11/2011),Báo cáo tổng kết hoạt động công
đoàn năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012.
129
12. Cục thống kê Vĩnh Long,(5/2010), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Long năm
2009.
13. Cục thống kê Vĩnh Long, (5/2012), Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Long năm
2011.
14. Đào Thị Dung (2011),Lao động và sử dụng lao động ở tỉnh Đồng Nai thời kì
hội nhập,luận văn thạc sĩ khoa học địa lí,trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí
Minh.
15. Đàm Nguyễn Thùy Dương (2004), Lao động và sử dụng lao động thành phố
Hồ Chí Minh, luận án tiến sĩ địa lí, trường đại học sư phạm Hà Nội.
PGS.TS. Phạm Xuân Hậu (1997), Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam, Đại học sư 16.
phạm thành phố Hồ Chí Minh.
17. Vương Minh Hùng(2002),Quá trình hình thành và phát triển các khu công
nghiệp và tác động của nó đến sự phân bố nguồn lao động tỉnh Bình Dương, luận
văn thạc sĩ khoa học địa lí, trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (2012), 18.
NXB Lao động Hà Nội.
Sở Công thương tỉnh Vĩnh Long,(2011),Quy hoạch phát triển công nghiệp, 19.
tiểu thủ công nghiệp tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm
2020.
Sở Giáo dục & Đào tạo,(2012), Kế hoạch phát triển và nâng cao chất lượng 20.
nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.
21. Huỳnh Thị Thu Sương,(2005),Thực trạng lao động công nhân trong các khu
công nghiệp,khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh và một số giải pháp nhằm thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế
thành phố Hồ Chí Minh.
PGS.TS Lê Thông, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (2000),Tổ chức lãnh thổ công 22.
nghiệp Việt Nam, NXBGD.
Thời báo kinh tế Việt Nam,( 2012), Kinh tế 2011-2012 Việt Nam và Thế giới. 23.
130
24. Đỗ Phú Trần Tình, (2011), Giáo trình Lập &Thẩm định dự án đầu tư Lý
thuyết-tình huống thực tế-bài tập, NXB Giao thông vận tải.
Tỉnh ủy Vĩnh Long, Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phương 25.
hướng, nhiệm vụ năm 2011.
Tỉnh ủy Vĩnh Long, Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phương 26.
hướng, nhiệm vụ năm 2012.
Tỉnh ủy Vĩnh Long,( 2010), Văn kiện đại hội IX Đảng bộ tỉnh Vĩnh 27.
Long(2010-2015).
Tỉnh ủy Vĩnh Long,(2011), Chương trình phát triển và nâng cao chất lượng 28.
nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.
Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia,( 1999), Phát triển con 29.
người từ quan niệm đến chiến lược hành động, NXB Chính trị quốc gia.
30. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long,( 2011), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế -xã hội tỉnh Vĩnh Long thời kì 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
31. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long,( 2012), Kế hoạch thực hiện chương trình
hành động về giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015.
32. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long,( 2012), Báo cáo tình hình hoạt động các
khu, tuyến công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
33. Viện nghiên cứu con người,(2003), Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.mác và Ph.Ăngghen, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội.
131
PHỤ LỤC
Phụ lục 1
Số lượng công nhân đăng ký hợp đồng lao động ở từng công ty vào năm 2012
Đơn vị: người
STT
Đơn vị CĐCS
HĐ thời vụ
HĐ ngắn hạn
HĐ không xác định thời hạn
438
107
1
30
2 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17
Công ty CP sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Vĩnh long Công ty TNHH Tỷ Xuân Công ty TNHH Biofeed Công ty TNHH đầu tư xây dựng Tân Hải Long Công ty CP Phú Long Công ty TNHH Hùng Vương Công ty LDDD Thủy sản Quốc tế An co DNTN Việt Hưng Công ty TNHH Thiết Lập Công ty CP CB Thủy sản xuất nhập khẩu Hùng Cường Nhà máy Bê tông Hùng Vương Công ty Bohsing (Đài Loan) Công ty CP Hoà Phú DNTN Huy Hưng Công ty TNHH G & H Công ty TNHH Đại Việt Hương
3.669 117 20 138 225 17 90 3 6 502 27 26 30 63
9 184 32 211 12 185 1 12 3
4.992 12 4 192 11 406 99 1.970 0 51
20
Công ty TNHH MTV An Phú-Bình Minh
21
Chi nhánh Công Ty TNHH CJ Vina tỉnh Vĩnh Long
22
Chi nhánh Công ty TNHH Hữu Niên tỉnh Vĩnh Long
23
24
22
21
4
351
417
25 26
Chi nhánh Công ty TNHH DE HUES tỉnh Vĩnh Long Chi nhánh Công ty TNHH Gốm sứ Toàn Quốc tỉnh Vĩnh Long Công ty Acecook Việt Nam Chi nhánh Công ty TNHH Tiến Hùng tỉnh Vĩnh Long
Tổng số 14.709
5.744
8.265
700
Tỉ lệ
100%
39%
56%
5%
(Nguồn CĐCKCN tỉnh Vĩnh Long)
132
133
134
135
136
137
138
139
Phụ lục 9
1.Quan điểm phát triển công nghiệp đến năm 2015 và định hướng 2020
(1) Tập trung phát triển công nghiệp, coi công nghiệp là nền tảng để phát triển
nền kinh tế, nhằm tạo sự tăng trưởng kinh tế cao, giải quyết nhiều việc làm, tăng
thu ngân sách, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trên địa bàn.
(2) Phát triển công nghiệp phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển KTXH
chung của tỉnh, của vùng ĐBSCL và của cả nước đến 2020. Trước mắt tập trung
phát triển công nghiệp ở ngành có lợi thế nhằm tạo hạt nhân, động lực để thúc đẩy
các ngành khác phát triển.
(3) Phát triển Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp(CN-TTCN) trên cơ sở phát huy
tổng hợp nguồn lực của mọi khu vực kinh tế, tạo môi trường thuận lợi để thu hút
các nguồn lực của mọi thành phần kinh tế đầu tư cho phát triển công nghiệp, trong
đó hết sức coi trọng nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
(4) Phát triển CN-TTCN đảm bảo sự ưu tiên phát triển các ngành lợi thế trong
từng giai đoạn, các ngành ưu tiên phát triển theo Quyết định 55/2007/QĐ-TTg và
phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
(5) Phát triển CN-TTCN phải bảo đảm tham gia một cách chủ động và hiệu quả
vào liên kết công nghiệp và hợp tác sản xuất giữa các doanh nghiệp, giữa các
ngành.
(6) Phát triển CN-TTCN gắn chặt với phát triển dịch vụ; phát triển công nghiệp
nông thôn, phát triển du lịch, làng nghề tạo động lực trực tiếp cho quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy nhanh quá trình đô thị
hoá.
(7) Phát triển công nghiệp gắn với các yêu cầu của phát triển bền vững, tiến bộ,
công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
(8) Phát triển công nghiệp kết hợp với yêu cầu củng cố quốc phòng và an ninh
quốc gia.
(9) Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phục vụ cho phát triển nông
140
nghiệp của địa phương
2. Mục tiêu phát triển công ng hiệp đến năm 2015 và định hướng 2020
Mục tiêu chung
Đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý của tỉnh là dịch vụ - công nghiệp và nông
nghiệp vào năm 2020. Đưa vai trò, vị trí ngành CN ngày càng tăng trong tổng thể
nền kinh tế tỉnh và của vùng.
1. Công nghiệp chế biến nông - thuỷ sản và thực phẩm- đồ uống;
2. Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu;
3. Công nghiệp vật liệu xây dựng;
4. Công nghiệp hóa chất, phân bón;
5. Công nghiệp cơ khí nông nghiệp, cơ khí đóng tàu;
Trong giai đoạn trước mắt, tập trung phát triển các ngành công nghiệp:
Sau đó, chuyển hướng ưu tiên sang phát triển những ngành công nghiệp công nghệ
cao, công nghiệp thâm dụng vốn, chất xám. Cụ thể, định hướng ưu tiên phát triển
các ngành: sản xuất máy móc, thiết bị, sản xuất thiết bị điện, điện tử, sản xuất rađio,
thiết bị truyền thông, sản xuất dụng cụ y tế, công nghệ truyền thông, dụng cụ quang
học và đồng hồ các loại.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2020
*Mục tiêu giai đoạn 2011- 2015
- Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản sản xuất công nghiệp 24% đến
25%/năm (theo giá so sánh 1994).
- Phấn đấu đưa tỷ trọng ngành công nghiệp chiếm 20% đến 25% trong GDP
của tỉnh vào năm 2015.
- Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng ngành Công nghiệp đạt 22,06%/năm.
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm
50% trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của tỉnh.
141
- Phát triển thêm 2 - 3 khu công nghiệp tập trung với quy mô từ 300 -
400ha/khu.
*Mục tiêu giai đoạn 2016- 2020
- Tiếp tục phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất Công nghiệp
đạt 22%/năm.
- Phấn đấu đưa tỷ trọng ngành công nghiệp chiếm 31% trong GDP của tỉnh
trong năm 2020.
- Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng ngành Công nghiệp đạt 18,95%/năm.
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm
50% trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của tỉnh.
3. Định hướng phát triển công nghiệp
Định hướng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đến năm 2020 sẽ phát triển
theo hai hướng sau:
Đến năm 2015, Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Vĩnh Long phát triển
chủ yếu phát huy nguồn lực về nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực của tỉnh và tập
trung phát triển những ngành công nghiệp thế mạnh như: chế biến nông lâm thủy
sản, sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu, công nghiệp vật liệu xây dựng, công
nghiệp hóa chất, phân bón và công nghiệp cơ khí đóng tàu. Tiếp tục triển khai 2
KCN mới và hoàn chỉnh 13 cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh nhằm đẩy nhanh tốc
độ phát triển công nghiệp, nâng cao tỷ lệ đóng góp công nghiệp vào nền kinh tế của
tỉnh.
Trong giai đoạn 2016-2020, từng bước định hướng phát triển công nghiệp
có lựa chọn, ưu tiên phát triển những ngành công nghiệp sử dụng nhiều vốn, công
nghiệp mới mang tính phù hợp với điều kiện phát triển của tỉnh, sử sụng công
nghiệp phù hợp với trình độ và nguồn vốn của tỉnh....

