BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ---------------------------------- Lê Xinh Nhân
TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THỦY SẢN BẾN TRE
Chuyên ngành: Địa Lý Học Mã số: 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. TRẦN VĂN THÔNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
LỜI CẢM ƠN
Được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các Thầy Cô giáo, sự hổ trợ của các bạn bè, đồng nghiệp và sự động viên của gia đình. Sau ba năm học tập và nghiên cứu đến nay tác giả đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình.
Để có được thành công này, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Thầy TS. Trần Văn Thông – người đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu nhà trường, Phòng Khoa Học – Công Nghệ Sau Đại Học và Khoa Địa Lý trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập, trang bị kiến thức để hoàn thành luận văn.
Đồng thời, xin chân thành cảm ơn Sở Giáo Dục và Đào Tạo tỉnh Bến Tre, trường THPT CheGuevara, trường THPT Chuyên Bến Tre, các thầy cô cùng các bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả thực hiện công việc học tập và nghiên cứu của mình.
Bên cạnh đó, tác giả luận văn cũng chân thành cảm ơn tới các Cơ Quan, Ban Ngành như: Cục Thống Kê Bến Tre, UBND tỉnh Bến Tre, Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Bến Tre,… đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp các tư liệu, số liệu tham khảo quý báu, hữu ích để tác giả hoàn thành tốt luận văn.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và những người thân đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện thuận lợi giúp tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả luận văn Lê Xinh Nhân
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bán thâm canh Bộ thủy sản Bộ Quy tắc ứng xử của FAO (Code of Conduct)
BTC BTS CoC CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa ĐBSCL EU
thực lương thế giới (Food anh Argiculture FAO
GAP GDP
HACCP
Đồng bằng sông Cửu Long Liên minh châu Âu (European Union) Tổ chức Organization of the united nation) Thực hành nuôi tốt (Good Aquaculture Practice) Tổng thu nhập quốc nội (Gross Domestic Product) Hệ thống phân tích mối nguy hiểm và kiểm soát điểm tới hạn (Hazard Analysis Crititical Control Point) Hợp tác xã Kinh tế – xã hội
RAP
HTX KT – XH NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nuôi trồng thủy sản NTTS Thực hành nuôi có trách nhiệm (Responsible Aquaculture Practice) Thức ăn công nghiệp Ủy ban nhân dân Thành phố Thị xã Vệ sinh an toàn thực phẩm Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization) TACN UBND TP TX VSATTP WTO
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, đời sống của người dân Bến Tre nói riêng, cả nước nói chung không ngừng được cải thiện. Tuy nhiên, trong xu thế phát triển, hòa nhập với các vùng miền trong cả nước và thế giới; nông nghiệp, nông thôn trong tỉnh vẫn còn lắm khó khăn. Sản xuất bấp bênh, luẩn quẩn cái vòng được mùa mất giá, được giá mất mùa, nhiều hộ nông dân ở vùng sâu, vùng xa thiếu vốn sản xuất, phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn; đời sống vật chất, tinh thần của nhiều bà con nông dân vùng sâu vùng xa chậm được cải thiện.
Bến Tre là một tỉnh thuộc đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) được ban tặng khá nhiều từ thiên nhiên, vùng đất mà người ta quen gọi với cái tên rất thân mật “đất lành”. Quả thật không phải hữu danh, đây là vùng đồng bằng châu thổ màu mỡ được bồi đấp phù sa bởi các nhánh sông Tiền, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên trước khi nó lặng lẽ đổ vào biển lớn, đây là một vựa trái cây lớn, vùng tiềm năng nuôi trồng thủy sản (NTTS) của khu vực. Thế nhưng trong nhịp sống hối hả của cuộc sống hiện đại, người dân Bến Tre vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, luôn trăn trở với chính sản phẩm của họ làm ra mà chủ yếu là mặt hàng nông sản.
Thủy sản là một trong những thế mạnh lớn của tỉnh trong quá trình hội nhập hiện nay. Toàn tỉnh hiện có khoảng 42.089 ha diện tích mặt nước nuôi thủy sản với tổng sản lượng nuôi trồng năm 2008 lên đến hơn 157.018 tấn, chiếm khoảng 65,7% tổng sản lượng thủy sản của tỉnh. Nhưng hiện nay nghề NTTS của tỉnh được đánh giá là phát triển không bền vững, hầu hết các hộ nuôi thủy sản của tỉnh vẫn đang loay hoay tự bươn chải để phát triển mà chưa có những quy hoạch cụ thể nào cho sự phát triển bền vững trong điều kiện đất nước đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện nay việc qui hoạch vùng nuôi thủy sản của tỉnh còn khá nhiều bất cập, tỉnh có qui hoạch nhưng lại không công bố rộng rãi cho dân biết để cho người nông dân thực hiện theo đúng qui hoạch, dẫn đến tình trạng nông dân mạnh ai nấy đầu tư NNTS theo hình thức tự phát, đến khi có thông báo vi phạm qui hoạch thì chuyện đã rồi, tỉnh đành phải điều chỉnh theo người dân. Trong lúc các địa phương đang loay hoay qui hoạch vùng nuôi thủy sản thì giữa người nuôi thủy sản và các nhà máy chế biến cũng nẩy sinh rất nhiều mâu thuẩn, trên lý thuyết giữa người nuôi thủy sản và nhà máy chế biến phải luôn luôn cùng nhau nhìn về một hướng để phát triển nhưng thực tế không như vậy, người thu mua và người nuôi luôn vì cái lợi của bản thân mà không hề để ý tới sự phát triển trong tương lai. Trong khi bài toán “phát triển thủy sản của
tỉnh như thế nào là bền vững?” vẫn chưa có lời giải thì những ngày gần đây người nuôi và doanh nghiệp chế biến thủy sản lại đối mặt với một vấn nạn: giá thức ăn chăn nuôi tăng lên từng ngày, chất lượng thủy sản và môi trường nuôi ngày càng suy thoái dần, khiến cho giá cả nhiều mặt hàng thủy sản của tỉnh giảm sút rất mạnh trên thị trường.
Hằng ngày trên các phương tiện truyền thông đại chúng như: báo chí, đài phát thanh truyền hình cũng đã đề cập rất nhiều về vấn đề này thế nhưng vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khoa học thật sự nào đi sâu vào việc nghiên cứu làm sao để ngành hàng thủy sản Bến Tre thực sự có một chổ đứng vững chắc trên thị trường trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề phát triển thủy sản Bến Tre hiện nay là rất cần thiết và thiết thực. Kết quả những nghiên cứu mang tính định hướng này sẽ là cơ sở để xác định giá trị thực sự của mặt hàng thủy sản ĐBSCL nói chung và của Bến Tre nói riêng. Nếu điều này được thực thi sẽ là một động lực rất lớn cho vấn đề qui hoạch phát triển thủy sản tỉnh trong tương lai, đồng thời nó sẽ góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo cho người dân Bến Tre.
Trong thực tế đó, các vấn đề nghiên cứu được đặt ra như sau: - Đánh giá các tiềm năng và thực trạng phát triển thủy sản của tỉnh. - Phân tích các mặt đã đạt được cũng như các mặt còn hạn chế. - Giải thích nguyên nhân dẫn tới những yếu kém trong năng lực cạnh tranh mặt hàng
thủy sản như hiện nay.
- Đề xuất các định hướng và giải pháp cần thiết nhằm nâng cao giá trị mặt hàng thủy sản đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của môi trường sinh thái tự nhiên đa dạng của tỉnh trong tương lai.
Để giải quyết các vấn đề nêu trên, tác giả luận văn đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tiềm
năng và định hướng phát triển bền vững thủy sản Bến Tre”.
2. Mục đích nghiên cứu
Tổng quan có chọn lọc các cơ sở lý luận về những thời cơ và thách thức của ngành thủy
sản nước ta trong thời kỳ hội nhập mà cụ thể hơn là ngành thủy sản tỉnh Bến Tre.
Khái quát có hệ thống về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của tỉnh và đồng thời đưa ra
những nhận xét, đánh giá chung.
Tổng hợp và đánh giá các tiềm năng, thành tựu cũng như các yếu kém của ngành thủy
sản Bến Tre trong giai đoạn gần đây.
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và thực trạng phát triển của ngành thủy sản hiện nay trên địa bàn tỉnh. Hướng vào phân tích, đánh giá thực trạng phát triển ngành thủy sản tỉnh so với
tiềm năng hiện có và đồng thời nêu lên một số giải pháp mang tính định hướng nhằm phát triển ngành thủy sản Bến Tre phát huy lợi thế là một trong những ngành kinh tế thế mạnh của tỉnh, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao về mặt kinh tế xã hội và môi trường sinh thái trong tương lai.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu và vận dụng lý thuyết phát triển bền vững để phân tích thực trạng phát triển ngành thủy sản tỉnh Bến Tre (khai thác, nuôi trồng và chế biến tiêu thụ sản phẩm thủy sản) những năm qua theo quan điểm phát triển bền vững.
Tìm hiểu vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế xã hội và môi trường sinh thái của
Việt Nam nói chung và Bến Tre nói riêng.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành thủy sản của tỉnh đồng thời nêu lên các mâu thuẫn phát sinh giữa phát triển kinh tế thủy sản với bảo vệ môi trường, cũng như các vấn đề thủy sản đang bức xúc hiện nay.
Nghiên cứu hiện trạng phát triển ngành thủy sản Bến Tre. Đưa ra một số giải pháp mang
tính định hướng cho việc phát triển bền vững ngành thủy sản Bến Tre đến năm 2020.
4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các loại thủy sản đặc trưng có thế mạnh của tỉnh, hiện nay mang lại giá trị xuất khẩu cao chủ yếu là tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh, cá da trơn (tra, basa).
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trong giới hạn các huyện có tiềm năng và thế mạnh cho việc phát triển thủy sản, phân tích các tiềm năng về tài nguyên tự nhiên – kinh tế xã hội (KT – XH) để phát triển ngành thủy sản, đánh giá thực trạng phát triển của ngành trong thời gian gần đây. Trên cơ sở phân tích tiềm năng, đánh giá thực trạng phát triển. Đề xuất các giải pháp, phương hướng phát triển cho ngành thủy sản của tỉnh trong thời gian tới, phát triển nhưng đảm bảo không gây tác hại đến môi trường, làm hủy hoại tính đa dạng sinh học của các giống loài, cũng như sự đa dạng của môi trường sinh thái của tỉnh.
Về không gian, đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi các huyện trong tỉnh có tiềm năng và thế mạnh cho việc phát triển thủy sản như: Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú, Chợ Lách, Mỏ Cày Nam,…
Về thời gian, đề tài tập trung, điều tra, thu thập số liệu, nghiên cứu và phân tích trong giai
đoạn từ năm 2000 trở lại đây.
5. Lịch sử nghiên cứu
ĐBSCL nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng có rất nhiều lợi thế và tiềm năng cho việc phát triển ngành thủy sản. Trong những năm gần đây, thủy sản của vùng đã khẳng định là một trong những những ngành sản xuất hàng hóa xuất khẩu thế mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội rất cao, góp phần tích cực vào công cuộc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở các vùng ven biển, tạo ra nhiều việc làm, góp phần giải quyết được nguồn lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tăng nguồn thu nhập cho người dân, đồng thời tạo điều kiện cho việc phát triển một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần.
Cùng với nhiều tỉnh thành khác trong khu vực như An Giang, Cà Mau, Kiên Giang, Đồng Tháp,… Bến Tre là một tỉnh cuối nguồn sông Cửu Long, với rất nhiều tiềm năng cho việc phát triển ngành thủy sản đặc biệt là ngành NTTS với cả 3 hệ sinh thái ngọt, lợ, mặn. Hiện nay, sản phẩm thủy sản của tỉnh đã từng bước khẳng định trên thị trường không những trong nước mà còn cả các thị trường khó tính như Tây Âu, Hoa Kỳ,… Nhưng chính vì do sự phát triển phần nhiều còn mang tính tự phát, nên ngành thủy sản sự phát triển thủy sản của tỉnh chưa mang lai hiệu quả kinh tế đúng với tiềm năng, chưa đảm bảo được tính bền vững trong tương lai.
Tiềm năng phát triển thủy sản là rất lớn, song về lâu dài cũng cần tính đến hiệu quả kinh tế với sự phát triển bền vững. Sự phát triển bền vững cần phải thể hiệu đầy đủ cả 3 mặt: hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Trên cơ sở đó, chúng ta cần phải có những giải pháp mang tính khả thi cho ngành thủy sản trong tương lai. Do đó, những năm gần đây đã có không ít công trình nghiên cứu về vấn đề thủy sản Việt Nam, ĐBSCL.
“Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản Việt Nam thời kỳ 1999 – 2010” do thủ
tướng chính phủ phê duyệt Quyết định số 224/1999 ngày 08/12/1999.
Đề án “Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội ngành thủy sản thời kỳ 2000 – 2010” của
Bộ Thủy sản.
Đề tài khoa học cấp bộ “Những giải pháp về thị trường cho sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam” của PGS – TS. Võ Thanh Chu (chủ biên) cùng nhóm tác giả thuộc trường Đại học Kinh tế Thành phồ Hồ Chí Minh thực hiện.
“Quy hoạch phát triển NTTS ở ĐBSCL đến năm 2015 và định hướng năm 2020” Viện
Kinh tế và quy hoạch thủy sản thuộc Bộ Thủy sản.
Luận án tiến sĩ “Phát triển bền vững ngành thủy sản Đồng bằng Sông Cửu Long đến
năm năm 2015” của Ths. Lâm Văn Mẫn.
Một số bài tham luận có liên quan đến việc phát triển bền vững ngành thủy sản tại các
cuộc Hội thảo khoa học như:
“Hoạt động khoa học công nghệ thủy sản vì sự phát triển Đồng bằng sông Cửu Long”
của Bộ Thủy sản.
“Để nuôi trồng thủy sản xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn ở Đồng bằng Sông Cửu Long” của PGS – TS. Hà Xuân Thông – Nguyên Viện trưởng Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản.
“Đẩy nhanh phát triển nuôi trồng thủy sản phát triển hiện đại, hiệu quả bền vững” của PGS – TS. Hà Xuân Thông – Nguyên Viện trưởng Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản.
“Khoa học công nghệ trong sự phát triển thủy sản bền vững ở Đồng bằng Sông Cửu Long” của Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Duy Hòa – Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II.
“Những bước phát triển mới trong kinh tế Nông – Lâm – Ngư nghiệp vùng Đồng bằng Sông Cửu Long – Một số giải pháp chủ yếu” của Nguyễn Thị Vân, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
“Vai trò của thủy sản trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn vùng lũ Đồng bằng Sông Cửu Long” của Nguyễn Thanh Phong – khoa thủy sản, trường Đại học Cần Thơ.
“Giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của gạo và thủy sản – Những sản phẩm chủ lực của Đồng bằng Sông Cửu Long” của TS. Trần Xuân Hiển, trường Chính trị Tôn Đức Thắng, tỉnh An Giang.
“Liên kết trong sản xuất kinh doanh thủy sản – Tiền đề cho sự phát triển bền vững” của Nguyễn Thị Trâm Anh và Nguyễn Thị Kim Anh – khoa kinh tế, trường Đại học Nha Trang.
“Môi trường và vấn đề phát triển bền vững ngành thủy sản” của Hoàng Hoa Hồng –
trường Đại học Nha Trang.
“Quá trình phát triển và định hướng của ngành thủy sản Bến Tre sau hai năm gia
nhập WTO” của Trần Thị Thu Nga – PGĐ Sở Nông nghiệp và PTNT Bến Tre.
Ngoài ra, hiện nay ngành thủy sản cũng được quan tâm và thực hiện nghiên cứu từ các dự án, hãng thông tấn báo chí, viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản, đài phát thanh truyền hình tỉnh,
trung tâm truyền hình Việt Nam tại thành phố Cần Thơ hoặc của sinh viên các trường: Đại học Nông Lâm Tp. HCM, Đại học Thủy Sản Nha Trang, khoa nông nghiệp trường Đại học Cần Thơ, Đại học Huế, Đại học Trà Vinh,… Tuy nhiên, phần lớn các công trình đó chưa đi sâu khai thác và nghiên cứu kỹ về vấn đề phát triển thủy sản trong điều kiện đất nước đang hội nhập quốc tế mà chỉ bước đầu cho việc nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của vấn đề thủy sản – chủ yếu là nhằm mục đích nâng cao năng suất cho việc nuôi trồng thủy sản (NTTS). Diễn hình như các công trình: “Bệnh học thủy sản” công bố năm 2008, của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I; “Quản lý chất lượng nước nuôi trồng thủy sản” công bố 2008 của Đại học Cần Thơ; “Kỹ thuật nuôi nhuyễn thể” công bố 2008,…
Ngày nay, với việc Việt Nam chính thức gia nhập WTO, chúng ta không phải chỉ sản xuất sản phẩm mà chúng ta có tiềm năng mà cần tạo ra sản phẩm thị trường cần, sản phẩm phải đáp ứng được nhu cầu thị trường. Do đó, vấn đề nghiên cứu về thủy sản hướng xuất khẩu của Bến Tre thật là một đề tài khá hấp dẫn cần phải được quan tâm đầy đủ trong tình hình hiện nay. Riêng vấn đề phát triển thủy sản Bến Tre trong thời kỳ hội nhập hiện nay thì vẫn chưa có một công trình thật sự nào được nghiên cứu một cách chi tiết, tuy nhiên cũng có rất nhiều bài viết của sinh viên, định hướng quy hoạch của huyện về các vấn đề có liên quan đến thủy sản như:
“Khảo sát mô hình nuôi tôm sú thâm canh tại huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre” của Phạm Nguyễn Phương Thảo, 2005. Luận văn tốt nghiệp khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm, Tp Hồ Chí Minh.
“Quy hoạch chi tiết nuôi thủy sản đến năm 2010 của huyện Ba Tri – Bến Tre” của
Phòng Thủy sản huyện Bình Đại.
“Quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản huyện Thạnh Phú – Bến Tre gia đoạn 2003 –
2010” của Hội đồng nhân dân huyện Thạnh Phú.
Các công trình nghiên cứu, đề tài khoa học trên là những tư liệu tham khảo quý giá cho tác giả khi thực hiện luận văn: “Tiềm năng và định hướng phát triển bền vững thủy sản Bến Tre”.
6. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1. Quan điểm nghiên cứu
6.1.1. Quan điểm hệ thống
Đối tượng nghiên cứu của địa lý KT – XH khá rộng lớn, liên quan tới nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh có quy mô và bản chất khác nhau, nhưng lại tương tác chặt chẽ với nhau. Vì vậy các nhà nghiên cứu địa lý KT – XH phải sử dụng thường xuyên nhất quán các quan điểm tiếp cận hệ thống.
Kinh tế thủy sản nghiên cứu tổng hợp thể lãnh thổ sản xuất trong một hệ thống các mối quan hệ tác động qua lại với nhau với môi trường xung quanh. Vì vậy khi nghiên cứu vấn đề thủy sản tỉnh Bến Tre được coi là một hệ thống KT - XH thống nhất, được xem xét đánh giá quá trình phát triển KT - XH của tỉnh và sự kết hợp hài hòa với vùng ĐBSCL và cả nước.
Ở đây lãnh thổ Bến Tre với tư cách là một hệ thống lớn, bao gồm nhiều phân hệ có quy
mô khác nhau tùy từng cấp huyện, xã,…
Dù ở quy mô nào, trên mỗi bộ phận lãnh thổ cũng đều có ít nhất 3 phân hệ tác động qua
lại, quy định và phụ thuộc lẫn nhau. Đó là các phân hệ tự nhiên, dân cư và kinh tế.
6.1.2. Quan điểm tổng hợp – lãnh thổ
Địa lý KT - XH là một khoa học tổng hợp nghiên cứu không gian lãnh thổ KT – XH liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó khi nghiên cứu các nguồn lực nhằm phát triển KT – XH của tỉnh Bến Tre chúng ta cần phải xem xét nó trong một chỉnh thể chung của vùng và cả nước; giải quyết mối quan hệ giữa sự phát triển với việc nâng cao chất lượng, cũng như việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong tương lai. Đồng thời tìm kiếm những mặt tối ưu, định ra các giải pháp cụ thể nhằm phát huy lợi thế của ngành thủy sản dưới cái nhìn khách quan và tổng hợp tạo động lực phát triển KT – XH của tỉnh nhà.
6.1.3. Quan điểm lịch sử - phát triển
Ngành thủy sản cũng như bao ngành kinh tế khác, nó cũng luôn luôn vận động và phát triển không ngừng theo thời gian. Tùy theo từng giai đoạn nhất định mà nó có các nguồn lực và thế mạnh khác nhau tạo nên những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngảnh. Đánh giá đúng chiều hướng phát triển, sự thay đổi của ngành qua từng giai đoạn trong quá khứ, hiện tại đó là một tiền đề thuận lợi cho phép chúng ta dự báo viễn cảnh cho sự phát triển của ngành trong tương lai.
6.1.4. Quan điểm kinh tế và phát triển bền vững
Quan điểm kinh tế được coi trọng trong nghiên cứu địa lý KT – XH. Quan điểm này thể hiện thông qua một chỉ tiêu kinh tế cụ thể như tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh tế,… Trong cơ
chế thị trường, sản xuất phải đem lại lợi nhuận song cần tránh xu hướng phải đạt cái mục tiêu kinh tế bằng mọi giá.
Kinh tế thủy sản cũng không nằm ngoài mục tiêu trên chúng ta thúc đẩy sự phát triển thủy sản nhằm góp phần phát triển kinh tế tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung, nhưng chúng ta cũng cần phải tính đến mục tiêu lâu dài, sự phát triển bền vững trong tương lai chứ không phải chỉ vì mục tiêu trước mắt mà bất chấp tất cả.
Quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo sự bền vững về cả 3 mặt
kinh tế, xã hội và môi trường.
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phương pháp phân tích tổng hợp và nghiên cứu hệ thống
Đối tượng nghiên cứu của địa lý KT – XH nói chung và của ngành thủy sản nói riêng là những hệ thống động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử có bản chất khác nhau, thường xuyên tác động qua lại, mang tính thang cấp rỏ rệt. muốn hiểu rõ những đặc điểm và tính quy luật vận động, hành vi của chúng, cần phân tích các mối liên hệ đa dạng, đa chiều bên trong và bên ngoài hệ thống về các mặt số lượng, cường độ, mức độ chặt chẽ,…
Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng trong đề tài nghiên cứu. Phương pháp này được sử dụng nghiên cứu những đối tượng có mối quan hệ đa chiều và thường xuyên có sự biến động theo thời gian và không gian như ngành sản xuất và nuôi trồng thủy sản.
6.2.2. Phương pháp điều tra thực địa
Đây là một phương pháp truyền thống, đặc trưng của ngành địa lý học. Sử dụng phương pháp này giúp cho ta tránh được những kết luận, quyết định chủ quan, vội vàng, thiếu cơ sở thực tiễn. Phương pháp này nhằm bổ sung và kiểm tra, đánh giá lại những thông tin cần thiết cho quá trình phân tích, xử lý số liệu trước thực hiện đề tài nhằm đảm cao tính chính xác khoa học cao cho đề tài. Trên thực tế, số liệu thống kê của ngành thủy sản đôi khi còn nhiều bất cập, chồng chéo và chưa thống nhất giữa các địa phương, đồng thời bổ sung kịp thời những nội dung mới được phát hiện trong quá trình khảo sát thực địa.
6.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này nghiên cứu về mặt định định lượng của các chỉ tiêu phát triển trong ngành thủy sản. Những thông tin, số liệu có liên quan tới ngành của vùng được thu thập làm cơ sở cho việc xử lý, phân tích và đánh giá nhằm thực hiện những mục tiêu của đề tài đã đề ra.
Phương pháp này cho phép tổng hợp hóa, đơn giản hóa các thông số hoạt động, các mối liên hệ đa dạng, phức tạp của các đối tượng nghiên cứu ngành thủy sản trong thực tiễn, làm nổi bậc các đặc trung cơ bản, quy luật vận động của đối tượng và điều khiển tối ưu, phương hướng phát triển của chúng.
6.2.4. Phương pháp dự báo định hướng
Phương pháp này giúp ta định hướng chiến lược, xác định các mục tiêu và kịch bản phát triển trước mắt và lâu dài của các đối tượng nghiên cứu ngành thủy sản một cách khách quan, có cơ sở khoa học, phù hợp với các điều kiện và xu thế phát triển thực tại.
Để đánh giá và xác định các vấn đề trong nội dung có liên quan, dựa trên các nguyên nhân, hệ quả và tính chất hệ thống trong việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ nông nghiệp, từ đó dự báo sự phát triển của ngành trong tương lai.
6.2.5. Phương pháp bản đồ - biểu đồ
Phương pháp truyền thống này cũng được sử dụng phổ biến trong quá trình nghiên cứu địa lý học nối chung và nhiều môn khoa học cơ bản khác trong đó nó được xem là một phương pháp khá hữu dụng và trực quan trong nghiên cứu thủy sản. Các quá trình nghiên cứu có thể khởi đầu và kết thúc bằng một bản đồ - biểu đồ. Vì đây là “ngôn ngữ” tổng hợp, ngắn gọn, trực quan của các đối tượng nghiên cứu.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm có 3 chương chính sau: Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển thủy sản ở tỉnh Bến Tre. Chương 3: Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ ngành thủy sản tỉnh Bến Tre đến năm 2020.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan về ngành thủy sản
1.1.1. Các khái niệm cơ bản về thủy sản
Thủy sản là những loại động vật sống dưới nước như cá, nhuyễn thể, giáp xác,… có thể
qua hay không thông qua khâu nuôi trồng và dùng làm thực phẩm.
Ngư nghiệp là những công việc có liên quan đến quá trình khai thác, nuôi trồng và phát triển nguồn lợi các sinh vật trong nước. Khi nói tới ngư nghiệp thì phải hiểu nó gồm 3 hoạt động cơ bản: khai thác, NTTS và chế biến tiêu thụ sản phẩm thủy sản.
Hộ Thủy sản là những hộ có toàn bộ hoặc phần lớn lao động thường xuyên tham gia trực
tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy sản.
Ngành thủy sản bao gồm nuôi trồng và đánh bắt là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.
Khai thác và đánh bắt thủy sản Khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và
các vùng nước tự nhiên khác.
Nuôi trồng thủy sản Nuôi trồng thủy sản: là hình thức nuôi trồng các giống loài động thực vật sống ở trong
nước, đem lại cho con người về dinh dưỡng, y dược, thưởng ngoạn,…
Nuôi thủy sản thâm canh: là phương thức nuôi trồng thủy sản chủ yếu dựa trên việc đầu
tư tư liệu sản xuất và kỹ thuật cho một đơn vị diện tích thủy vực nhằm đạt năng suất cao.
Nuôi thủy sản quảng canh: là phương thức nuôi trồng thủy sản chỉ dựa vào thức ăn tự
nhiên có sẵn trong vùng nước, áp dụng trong điều kiện hạn chế về đầu tư vốn và kỹ thuật.
Nuôi lồng bè: là hình thức nuôi thủy sản thường áp dụng ở các vùng trung và hạ lưu các sông nước ngọt; hoặc nuôi thủy sản ở các eo, vịnh kín thuộc vùng nước nông gần bờ và ven các đảo. Là phương thức nuôi tập trung theo hướng công nghiệp, tạo ra sản phẩm hàng, năng suất cao, sản lượng lớn.
Nuôi thủy sản xen canh: là hình thức nuôi trồng kết hợp trong cùng một môi trường, có thể tận dụng nhiều đối tượng nuôi trong cùng một môi trường nuôi, hay NTTS xen canh với lúa hoặc cây ăn trái, cùng một môi trường nuôi tùy vào điều kiện thời tiết có thể nuôi các đối tượng nuôi khác nhau (chẳng hạn khu vực ven biển ở môi trường nước lợ mùa khô nuôi tôm sú, mùa
mưa có thể nuôi cá kèo hay cua biển). Đây là hình thức nuôi mang lại hiệu quả kinh tế khá cao trong thời gian gần đây.
Chế biến và tiêu thụ sản phẩm thủy sản Công nghiệp chế biến là hoạt động nối tiếp sản phẩm của ngành khai thác, nuôi trồng, nó không chỉ bảo tồn, giữ gìn chất lượng nguyên liệu mà còn nâng cao giá trị động thời tạo ra những sản phẩm có giá trị sử dụng cao. Nhờ đó đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu thị trường tốt hơn, thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Sản phẩm thủy sản là thực phẩm trong đó thủy sản là thành phần đặc trưng. Sản phẩm thủy sản tươi là sản phẩm thủy sản còn nguyên con, hoặc đã qua sơ chế, chưa
được xữ lý với bất kỳ hình thức nào để bảo quản, ngoài việc làm lạnh.
Sản phẩm thủy sản chế biến là những sản phẩm thủy sản đã qua các hình thức chế biến như xữ lý nhiệt, hun khói, ướp muối, sấy khô hoặc kết hợp các hình thức trên, có phối chế hoặc không phối chế với phụ gia, thực phẩm khác.
Sản phẩm thủy sản đông lạnh là sản phẩm thủy sản cấp động, khi đã ổn định nhiệt độ
trung tâm sản phẩm 8 – 180c hoặc thấp hơn. 1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của ngành thủy sản
Thủy sản là một bộ phận của nông nghiệp theo nghĩa rộng, cho nên ngành thủy sản có những đặc điểm tương tự những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nói chung. Tuy nhiên do tính chất đặc thù của đối tượng lao động nên ngoài những đặc điểm chung trong ngành thủy sản còn có những nét đặc thù riêng.
1.1.2.1. Đối tượng sản xuất là các sinh vật sống trong nước.
Các loài động thực vật sống trong môi trường nước mặt là đối tượng sản xuất của ngành thủy sản. Môi trường nước mặt cho sản xuất thủy sản gồm có biển và các mặt nước trong lục địa. Những sinh vật sống trong môi trường nước, với tính cách là đối tượng lao động của ngành thủy sản, có một số điểm đáng lưu ý như sau:
- Khó xác định chính xác trữ lượng thủy sản có trong một ao hồ hay ngư trường. Đặc biệt ở các vùng nước mặt rộng lớn, các sinh vật có thể di chuyển tự do trong ngư trường hoặc di cư từ nơi này đến nơi khác không phụ thuộc vào ranh giới hành chính. Hướng di chuyển của các luồng tôm cá chịu tác động của nhiều nhân tố như thời tiết, khí hậu, dòng chảy và đặc biệt là nguồn thức ăn tự nhiên.
- Các loài sinh vật trong nước sinh trưởng và phát triển chịu sự tác động nhiều của điều kiện thời tiết, khí hậu, dòng chảy và địa hình thủy văn,… Trong NTTS, cần có những điều kiện
thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài thủy sản như: tạo dòng chảy bằng máy bơm, tạo oxy bằng quạt sục nước,… Trong hoạt động khai thác và đánh bắt thủy hải sản, tính mùa vụ của từng loại thủy sản như sinh sản theo mùa, di cư theo mùa,… phụ thuộc vào thời tiết, điều kiện thủy văn đã tạo nên tính phức tạp về mùa vụ cả về không gian và thời gian. Điều này tạo nên cơ sở khách quan của việc hình thành và phát triển nhiều ngành nghề khai thác khác nhau của ngư dân.
- Các sản phẩm thủy sản sau khi được thu hoạch hoặc đánh bắt đều rất dễ bị ươn thói, hư hỏng vì chúng là sản phẩm sinh vật đã bị tách khỏi môi trường sống. Để tránh tổn thất trong sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến và kinh doanh tiêu thụ sản phẩm.
- Cần có nghiên cứu cơ bản để nắm vững các quy luật sinh trưởng và phát triển từng giống, loài thủy sản như quy luật sinh sản, sinh trưởng, di cư, quy luật cạnh tranh quần đoàn, các tập tính ăn hay tự vệ,…
1.1.2.2. Thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế
Các loại mặt nước bao gồm: sông, hồ, ao, mặt nước ruộng, cửa sông, biển,… gọi chung là thủy vực được sử dụng vào việc nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Tương tự như ruộng đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, thủy vực là tư liệu sản xuất đặc biệt, chủ yếu không thể thay thế của ngành thủy sản. Không có thủy vực sẽ không có sản xuất thủy sản.
1.1.2.3. Ngành thủy sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp, tính liên ngành cao
Với tính cách là ngành sản xuất vật chất, ngành thủy sản bao gồm nhiều ngành sản xuất cụ thể có tính chất tương đối khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như: khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ thủy sản. Khi trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, các hoạt động sản xuất nói trên chưa có sự tách biệt rõ ràng, thậm chí còn lồng vào nhau. Ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ của sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội làm cho các hoạt động sản xuất thủy sản được chuyên môn hóa ngày càng cao. Các hoạt động chuyên môn hóa khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ thủy sản có trình độ và quy mô khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường và mỗi hoạt động lại dưa trên nền tảng nhất định về cơ sở vật chất kỹ thuật và phương pháp công nghệ, tạo nên những chuyên ngành chuyên môn hóa hẹp có tính độc lập tương đối. Tuy vậy do đặc điểm của sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thủy sản, tính liên kết vốn có của các hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ
thủy sản lại đòi hỏi phải gắn bó các ngành chuyên môn hóa hẹp nói trên trong một thể thống nhất, ở trình độ cao hơn mang tính liên ngành.
Tính hỗn hợp và tính liên ngành cao của những hoạt động sản xuất có tính chất khác nhau tạo thành cơ cấu sản xuất của ngành thủy sản. Cơ cấu sản xuất ngành thủy sản hay còn gọi là cơ cấu ngành. Cơ cấu ngành thủy sản được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất, hình thành nên hai bộ phận sản xuất chủ yếu là NTTS và công nghiệp thủy sản với những chức năng khác nhau:
NTTS là bộ phận sản xuất có tính chất nông nghiệp, thường được gọi là ngành NTTS, có chức năng duy trì, bổ sung tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản để cung cấp sản phẩm trực tiếp cho tiêu dùng và là nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến.
Công nghiệp thủy sản là bộ phận sản xuất có tính công nghiệp bao gồm khai thác và chế biến thủy sản. Những hoạt động này có nhiệm vụ khai thác nguồn lợi thủy sản và chế biến chúng thành các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội và xuất khẩu.
Ngoài ra, để phục vụ cho sản xuất kinh doanh còn có các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ khác như: đóng mới, sửa chữa tàu thuyền, sản xuất nước đá, sản xuất bao bì, ngư cụ,… Tất cả các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ cùng với nuôi trồng và công nghiệp thủy sản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành cơ cấu ngành thủy sản. (xem thêm phần phụ lục 2.
Cơ cấu chuyên môn hóa hẹp trong cơ cấu ngành thủy sản Việt Nam) 1.1.2.4. Sản xuất kinh doanh thủy sản đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao
Hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt chế biến thủy sản đều đòi hỏi đầu tư ban đầu khá lớn như đầu tư vào đào ao, giống, tàu thuyền đánh bắt. Do vậy, nhà nước cần phải xây dựng và thực hiện chính sách cho vay vốn theo các chương trình phát triển riêng của ngành.
Sản xuất nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên nhất là điều kiện về thủy văn, bão, lũ,… Đối với những quốc gia như nước ta các hoạt động của thiên tai gây thiệt hại rất lớn cho các hoạt động của ngành thủy sản. Từ đó cho thấy việc sản xuất kinh doanh thủy sản có mức độ rủi ro trong đầu tư tương đối lớn.
1.1.3. Vai trò của ngành thủy sản
Đối với hầu hết các nước, ngành thủy sản có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt đối với những quốc gia có vùng biển và vùng nội địa phong phú. Việt Nam là nước có mặt biển rộng với hơn 3200km chiều dài đường bờ biển, tổng diện tích biển nước ta khoảng 1 triệu
km2, hệ thống sông, hồ, suối khá phong phú trên đất liền. Phát triển ngành thủy sản có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta.
1.1.3.1. Ngành thủy sản cung cấp những thực phẩm quý cho tiêu dùng của người dân, cung cấp nguồn nguyên liệu cho sự phát triển của các ngành khác.
Các kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về dinh dưỡng đã khẳng định hầu hết các loại thủy sản đều là loại thực phẩm giàu đạm, dễ tiêu hóa, phù hợp với sinh lý dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi. Càng ngày thủy sản càng được tin tưởng như một loại thực phẩm ít gây bệnh (tim mạch, béo phì, ưng thư,…). Xét về thành phần dinh dưỡng cho thấy: so với các loại thực phẩm từ thịt khác thì thủy sản có chứa ít chất mỡ hơn, nhiều chất khoáng hơn nhưng chất đạm vẫn cao. Chúng ta có thể nhận thấy như sau:
Bảng 1.1. So sánh thành phần các chất dinh dưỡng của thịt bò so với một số loại thủy sản.
Loại thực phẩm Tỉ lệ đạm (%) Tỉ lệ mỡ (%) Chất khoáng (%)
Thịt bò 16.2 – 19.2 11 – 28 0.8 – 1.0
Cá thu 18.6 0.4 1.2
Cá mối 16.4 1.6 – 2.3 1.2
Cá hồng 17.8 5.9 1.4
Nguồn: Kết quả nghiên cứu của các chuyên gia dinh dưỡng Ngành thủy sản còn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến và một số ngành công nghiệp khác. Nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành chế biến thực phẩm gồm tôm, cá, nhuyễn thể, rong biển,… Các nguyên liệu thủy sản còn được sử dụng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược phẩm, mỹ nghệ,…
Ngoài ra, ngành thủy sản cung cấp một phần thức ăn cho chăn nuôi, đặc biệt cho chế biến thức ăn trong công nghiệp. Bột cá và các phế phẩm, phụ phẩm thủy sản chế biến là nguồn thức ăn giàu đạm được sử dụng làm thức ăn phục vụ cho chăn nuôi gia súc, gia cầm. Theo tính toán của FAO, hàng năm có khoảng trên 25% sản lượng thủy sản được sử dụng trực tiếp vào chế biến thức ăn cho chăn nuôi. Ở nước ta, nhu cầu sử dụng bột cá cho chế biến thức ăn gia súc ngày càng tăng. Năm 1996, các cơ sở sản xuất thức ăn gia súc ở nước ta sản xuất được 10.000 tấn bột cá làm thức ăn cho chăn nuôi, đến năm 2000 con số này đã đạt gần 40.000 tấn.
1.1.3.2. Ngành thủy sản phát triển sẽ đóng góp quan trọng trong tăng trưởng của toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp nói chung.
Ngành thủy sản là ngành kinh tế có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng. Vì vậy, phát triển mạnh ngành thủy sản, đặc biệt phát triển công nghiệp chế biến thủy sản sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp.
Trong những năm qua, tỷ trọng đóng góp của của khu vực nông – lâm – thủy sản vào tốc độ tăng trưởng chung có xu hướng giảm dần và hiện chỉ còn đóng góp khoảng 10%. Đây là xu hướng phù hợp với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước. Mặc dù, tỉ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp nhưng tỉ trọng đóng góp của ngành thủy sản lại tăng lên. Đó là kết quả của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong khu vực nông – lâm – thủy sản theo hướng tích cực.
Bảng 1.2. Giá trị và cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (GDP) phân theo ngành kinh tế qua các năm
Năm
2000
2005
2008
2009
Ngành kinh tế
%
%
%
%
Nghìn tỷ đồng
Nghìn tỷ đồng
Nghìn tỷ đồng
176.0 20.97
329.9 22.21
Nông nghiệp Trong đó: NN – L.Nghiệp Thủy sản
Nghìn tỷ đồng 108.4 24.54 21.17 3.37
93.5 14.9
143.0 33.0
17.04 3.93
219.4 110.5
14.77 7.44
346.8 20.88 13.30 220.9 7.58 125.9
Công nghiệp
162.2 36.72
344.2 41.02
591.6 39.84
667.3 40.16
Dịch vụ
171.1 38.74
319.0 38.01
563.5 37.95
647.3 38.96
Tổng
441.7 100.0
839.2 100.0
1485.0 100.0
1661.4 100.0
Nguồn: Niên giám thống kê 2009 – Tổng cục thống kê.
1.1.3.3. Thủy sản tham gia vào xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước
Đối với các quốc gia có tiềm năng về thủy vực và nguồn lợi thủy sản, phát triển ngành thủy sản sẽ tạo ra một nguồn hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Năm 2009 kim ngạch xuất khẩu thủy sản nước ta đạt trên 4.3 tỷ USD (gấp 40 lần so với năm 1986, tăng bình quân 17%/năm, trong vòng 24 năm qua Việt Nam đã xuất khẩu được 34 tỷ USD, thủy sản trở thành có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 4 của nước ta (sau dầu thô, dệt may và giày da). (Xem thêm phần phụ lục 3. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam năm 2008)
Hiện nay, sản phẩm thủy sản Việt Nam có mặt trên thị trường hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ trên Thế giới, trong đó có cả những thị trường khó tính như Hoa Kỳ, Tây Âu, Nhật Bản,… Tuy nhiên, thì quy mô còn nhỏ bé, vì vậy chúng ta cần phải tiếp tục khai thác mạnh các
thị trường này, đồng thời tìm kiếm mở rộng các thị trường khác. Như vậy, ngành thủy sản có thể coi là ngành tuyên phong trong quá trình đổi mới, gặt hái nhiều thành công và đã có một vị trí khá quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế của nước ta.
Bảng 1.3. Tổng sản lượng và giá trị xuất khẩu của thủy sản Việt Nam
Giá trị sản xuất thủy sản Giá trị xuất khẩu thủy sản
Năm tỷ đồng triệu USD Tổng sản lượng thủy sản (nghìn tấn)
2250.5 3142.5 3465.9 4197.8 4602.0 4847.6 2000 2004 2005 2007 2008 2009 26498.9 53977.7 63549.2 89509.7 110510.4 125930.0 1.5 2.4 2.7 3.8 4.5 4.3 % tăng trưởng so với năm 2000 100.0 203.7 239.8 337.8 417.0 475.2 % tăng trưởng so với năm 2000 100.0 160.0 180.0 253.3 300.0 286.7
Nguồn: Niên giám thống kê 2009 – Tổng cục thống kê.
1.1.3.4. Phát triển ngành thủy sản góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Với nhiều lợi thế thuận lợi về diện tích mặt nước và nguồn lợi thủy sản. Do đó, phát triển mạnh mẽ ngành thủy sản nước ta sẽ góp phần vào việc phát triển KT – XH đất nước nói chung và KT – XH nông thôn nói riêng.
- Về mặt kinh tế, những địa phương thuộc duyên hải Trung Bộ và Tây Nam Bộ, phát triển thủy sản là con đường làm giàu của các chủ trang trại NTTS, các chủ tàu cá. Ở các địa phương không có tiềm năng về biển, đặc biệt là vùng nông thôn ngoại thành phát triển chăn nuôi thủy đặc sản là bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn đem lại hiệu quả khá cao. - Về mặt xã hội, ở các vùng nghèo, vùng sâu, vùng cao, phát triển chăn nuôi thủy sản ao, hồ, sông, suối tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào dân tộc; trợ giúp cho việc xóa bỏ tập quán du canh du cư của đồng bào. Việc sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thủy sản tại chổ ở các vùng này còn góp phần trực tiếp cải thiện dinh dưỡng bữa ăn, làm tăng sức khỏe cho người lớn và giảm suy dinh dưỡng cho trẻ em. Ngoài ra, phát triển các trạm tàu khai thác thủy sản xa bờ còn góp phần tăng cường an ninh quốc phòng cho vùng biên giới biển đảo của Tổ quốc. Đối với một số vùng biển, vùng ngập nước ven biển hay trong đất liền, phát triển thủy sản cũng góp phần vào phát triển ngành du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, ẩm thực trong du lịch và du lịch văn hóa.
Trong tương lai, việc NTTS theo hướng bền vững còn có những đóng góp quan trọng trong vấn đề vệ sinh môi trường (ăn ấu trùng muỗi, ăn các hợp chất hữu cơ, tham gia diệt trừ sâu bệnh trong mô hình lúa – cá, lúa – tôm,…). NTTS còn là bộ phận quan trọng trong các mô hình vườn – ao – chuồng (VAC), vườn – rừng – ao – chuồng (VRAC),…
Nói tóm lại, ngành thủy sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nói chung và trong đời sống hàng ngày của nhân dân nói riêng. Tầm quan trọng của nó thể hiện ở việc tham gia vào cải thiện cơ cấu bữa ăn với các thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao; đóng góp vào nền kinh tế, tạo ra các mặt hàng xuất khẩu tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia, đồng thời góp phần vào trong vấn đề giải quyết việc làm cho một bộ phận người lao động của xã hội.
1.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thủy sản
1.1.4.1. Các nhân tố tự nhiên
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm, một số vùng có khí hậu cận nhiệt (khu vực miền Bắc nước ta), có đường bờ biển dài hơn 3260 km từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang), diện tích vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng hơn 226.000 km2, có diện tích vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km2, trong vùng biển Việt Nam có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ, là nơi có thể cung cấp các dịch vụ hậu cần cơ bản, trung chuyển sản phẩm đánh bắt, đồng thời làm nơi neo đậu cho tàu thuyền trong những chuyến ra khơi; Ở một số đảo có các rạn đá, là nơi tập trung nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế,… Dọc bờ biển nước ta còn có những bãi triều, đầm phá, cửa sông (trong đó hơn 10.000 ha đang quy hoạch NTTS) và ven bờ biển có trên 400.000 ha rừng ngập mặn; Ven bờ có nhiều đảo và vụng, vịnh tạo điều kiện hình thành các bãi cho cá đẻ. Bên cạnh đó, trong đất liền còn có khoảng 1.5 triệu ha diện tích mặt nước, có thể NTTS trong đó có 120.000 ha hồ ao nhỏ, mương vườn, 244.000 ha hồ chứa mặt nước lớn, 446.000 ha ruộng úng trũng, nhiễm mặn, cấy lúa 1 hoặc 2 vụ bấp bệnh, và 635.000 ha vùng triều.
Sự phát triển của ngành thủy sản phụ thuộc rất nhiều vào mức độ an toàn của môi trường tài nguyên thủy sinh vật. Nước ta được quốc tế coi là điểm nóng về đa dạng sinh học, có khoảng 10% tổng số các loài được mô tả trên thế giới (xấp xỉ 12.000 loài thực vật và 7.000 loài động vật đã được xác định). Đa dạng sinh học của Việt Nam có giá trị đặc biệt với mức độ đặc hữu cao của nó và tập trung chủ yếu ở các vùng biển và ven biển, điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế đất nước nói chung và ngành thủy sản nói riêng. Vùng biển nước ta được đánh giá là có nguồn lợi thủy sản khá phong phú. Tổng sản lượng hải sản khoảng 3.9 – 4.0 triệu tấn, cho phép khai thác hàng năm khoảng 1.9 triệu tấn. Biển nước ta có hơn 2000 loài cá, trong có khoảng 100
loài có giá trị kinh tế; 1647 loài giáp xác, có hơn 100 loài tôm, trong đó có nhiều loài có giá trị xuất khẩu cao; nhuyển thể có hơn 2500 loài, rong biển hơn 600 loài. Ngoài ra còn nhiều loài đặc sản khác.
Nước ta có nhiều ngư trường, trong đó 4 ngư trường trọng điểm đã được xác định là: ngư trường Cà Mau – Kiên Giang (ngư trường vịnh Thái Lan), ngư trường Ninh Thuận – Bình Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu, ngư trường Hải Phòng – Quảng Ninh (ngư trường vịnh Bắc Bộ) và ngư trường quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa.
Đây được coi là tiền đề khá thuận lợi cho sự phát triển ngành thủy sản nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi cũng có những khó khăn do điều kiện địa hình và thuỷ vực phức tạp, hàng năm có nhiều mưa bão, lũ, vào mùa khô lại hay bị hạn hán đã gây không ít những khó khăn và cả những tổn thất to lớn cho ngành thuỷ sản.
1.1.4.2. Các nhân tố xã hội 1.1.4.2.1. Đường lối chính sách phát triển thủy sản
Nghề thuỷ sản đã được hình thành từ lâu. Nước ta có nguồn lao động giàu kinh nghiệm đánh bắt và nuôi trồng, giá nhân công thấp hơn so với khu vực và thế giới. Hiện nay Nhà nước đang coi thuỷ sản là ngành kinh tế mũi nhọn, do đó có nhiều chính sách khuyến khích đầu tư để đẩy mạnh sự phát triển của ngành.
Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra 3 mục tiêu chương trình kinh tế lớn là: sản xuất lương thực – thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu. Vận dụng quan điểm, chủ trương này trong thời gian qua ngành thủy sản đã tích cực đầu tư cho các hoạt động nuôi trồng cũng như chế biến các sản phẩm thủy sản, tạo ra được một khối lượng hàng hóa lớn có chất lượng, đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong nước, góp phần vào việc xuất khẩu tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia.
Từ năm 1995 đến nay, ngoài văn kiện của 2 kỳ Đại hội Đảng khóa VIII và khóa IX nêu rỏ chủ trương, đường lối phát triển của thủy sản, còn có hàng trăm văn bản, chính sách có liên quan đến phát triển ngành thủy sản được ban hành. Cụ thể các chính sách này có thể diễn giải như sau:
Các chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ: “Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng CNH – HĐH”. Với đường lối chỉ đạo này đã có sự tác động rất lớn đến ngành thủy sản, đó là nâng cao giá trị của ngành thủy sản trong việc phát triển toàn diện ngành nông nghiệp.
Ngày 15/06/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 09/2000/NQ-CP về một số chủ
trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Nghị quyết đã đánh giá các thành tựu trong sản xuất nông nghiệp, bao gồm nông – lâm – thủy sản, đồng thời đề ra những định hướng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của nước ta trong 10 năm tới. Trong đó, kinh tế thủy sản phát triển theo định hướng là chú trọng vào việc nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ thủy sản, đặc biệt là NTTS theo hướng phát triển bền vững.
Định hướng phát triển các ngành kinh tế và các vùng trong chiến lược phát triển KT – XH 2001 – 2010 tại Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX cũng đã đề cập: Phát huy lợi thế về thủy sản tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên vị trí hàng đầu trong khu vực. Phát triển mạnh các ngành NTTS nước ngọt, mặn, lợ, nhất là nuôi tôm theo phương thức tiến bộ, hiệu quả và bền vững môi trường.
Chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản, từ khi có Quyết định 103/2000/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển giống thủy sản và Quyết định 112/2004/QĐ- TTg về phê duyệt Chương trình phát triển giống thủy sản đến năm 2010 thì số lượng trại tôm giống và cá giống tăng lên nhanh chóng trong cả nước, nhất là ở khu vực ĐBSCL. Đặc biệt với sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, công tác kiểm dịch, quản lý trại tôm, cá giống được coi trọng hơn.
Chính sách phát triển NTTS, ngày 08/12/1999 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 224/1999/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản thời kỳ 1999 – 2010” với mục tiêu phát triển NTTS sản nhằm đảm bảo an ninh thực phẩm và tạo nguồn nguyên liệu chủ yếu cho xuất khẩu. Phấn đấu đến năm 2010 tổng sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt trên 2.000.000 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2.500.000.000 USD, tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 2 triệu người; góp phần tích cực vào phát triển KT – XH đất nước và an ninh ven biển.
Chính sách khuyến ngư, hiện nay hầu như tỉnh nào cũng có Trung tâm khuyến ngư. Trong các năm qua, thông qua các cuộc hội thảo, tập huấn, thực hiện các điểm trình diễn, cấp phát các tiều liệu hướng dẫn kỹ thuật NTTS đã hỗ trợ đắc lực cho việc phát triển ngành thủy sản.
Chính sách hỗ trợ vốn đầu tư cho ngành thủy sản, theo Quyết định 02/2001/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ vốn đầu tư từ quỹ hổ trợ phát triển đối với các dự án sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu nông nghiệp, theo đó các dự án NTTS khi được xem xét hiệu quả và khả năng trả nợ sẽ quyết định mức cho vay nhưng tối đa không vượt quá 90% tổng vốn đầu tư của dự án. Ngoài ra, đối với các dự án thuộc chương trình 224 và chương trình 112 còn được đầu tư cho quy hoạch NTTS và giống thủy sản, xây dựng các khu bảo tồn biển, bảo tồn thủy sản nội địa. Tổng
số vốn đầu tư NTTS cả nước là 1.382.2 tỷ đồng, riêng ĐBSCL chiếm 27,43% tổng số vốn đầu tư của cả nước.
Ngoài các chính sách trên, ngày 04/02/2005 Bộ trưởng Bộ thủy sản đã ban hành Quyết định 219/QĐ-BTS Phê duyệt Chương trình hành động của ngành thủy sản về “Chất lượng và thương hiệu cá tra, cá basa Việt Nam 2005 – 2010”. Mục tiêu của chương trình là phấn đấu đến năm 2010 đạt sản lượng 1 triệu tấn cá tra, cá basa và giá trị kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ cá tra, cá basa đạt 800 triệu USD, chiếm tỉ trọng trên 30% kim ngạch xuất khẩu của thủy sản nước ta.
Chương trình hành động quốc gia về phát triển bền vững ngành thủy sản trong điều kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) giai đoạn 2010 – 2020, chương trình hành động này ban hành kèm theo Quyết định số 3298/QĐ-BNN-HTQT ngày 16/11/2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Mục tiêu của chương trình này là nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả của ngành thủy sản trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng thực phẩm thủy sản, tăng lợi thế cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế; góp phần công tác xóa đói, giảm nghèo cho các hộ nông dân sinh sống bằng nghề thủy sản ở các vùng nông thôn và ven biển.
Gần đây, ngày 26/02/2010 Bộ NN & PTNT đã ban hành Thông tư số 09/2010/TT- BNNPTNT về yêu cầu đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) trong chế biến các sản phẩm cá tra, basa xuất khẩu. Thông tư này sẽ tạo một bước đột phá cho việc xâm nhập hàng thủy sản của nước ta vào các thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản,…
Nói tóm lại, chúng ta có thể thấy rằng, ngành thủy sản rất được Đảng và nhà nhà nước ta quan tâm phát triển nhằm vào mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, góp phần đáng kể vào xuất khẩu. Mục tiêu là phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững môi trường sinh thái, bảo đảm sản xuất và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn.
1.1.4.2.2. Dân cư và nguồn lao động
Năm 2008 nước ta có 44.915,8 nghìn lao động trong đó lao động trực tiếp trong ngành thủy sản là 1.684,3 nghìn lao động chiếm 3.75% cơ cấu lao động của cả nước. Nhìn chung, lực lượng lao động trong ngành thủy sản có truyền thống về đánh bắt và nuôi trong thủy sản, trong đó cũng có không ít đội ngũ là chuyên gia kỹ sư có trình độ tay nghề cao. Lực lượng lao động này đã đóng góp không nhỏ vào việc phát triển của ngành thủy sản trong thời gian qua.
Tuy nhiên, nguồn lao động tuy số lượng đông nhưng chất lượng lao động vẫn còn rất
nhiều bất cập và hạn chế, trình độ tay nghề thấp, rất ít lao động đã qua các lớp đào tạo chuyên sâu chủ yếu là do nghề truyền nghề, thiếu kiến thức về đánh bắt, nuôi trồng, chế biến theo hướng bền vững ngành thủy sản.
1.1.4.2.3. Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật
Phương tiện đánh bắt thủy sản Tàu thuyền đánh bắt: trong khai thác thủy sản, từ một nghề thủy công, quy mô nhỏ, hoạt động gần bờ chuyển sang một nghề kinh tế lớn, kinh tế hàng hóa. Do đó, việc bắt nhịp của chúng ta còn khá nhiều hạn chế, đa phần là các loại tàu đánh bắt thủy sản gần bờ, con số tàu đánh bắt thủy sản xa bờ trong những năm gần đây tuy có tăng lên đến năm 2008 cả nước có 22.529 chiếc với tổng công suất là 3.326,1 nghìn CV nhưng đa phần là tàu gỗ, số lượng tàu cá có đủ điều kiện đánh bắt trên các hải phận quốc tế còn hạn chế.
Ngư cụ: hiện nay chưa có một chương trình nào thống kê đầy đủ và chi tiết các loại ngư cụ dùng để khai thác thủy sản của nước ta hiện nay, nhưng trên thực tế số loại ngư cụ dùng để đánh bắt thủy hải ở nước ta rất là đa dạng và phong phú nhất là đối với khai thác thủy sản nội địa như: câu, chày, lưới, vó, đăng, đáy,… còn đối với khai thác hải sản thì chủ yếu là các loại lưới kéo, lưới vây ánh sáng, lưới rê, nghề câu.
Giống thủy sản Giống thủy sản của nước ta trong thời gian qua đã có những bước tiến đáng kể, chúng ta đã có khả năng tự chủ động được một số giống có chất lượng tốt như cá tra, cá rô phi đơn tính, cá điêu hồng,… Việc sản xuất thành công một số loại giống thủy sản đã đáp ứng cơ bản phần nào về nhu cầu giống thủy sản. Bên cạnh đó, Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến việc đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất giống thủy sản; đào tạo cán bộ chuyên gia đầu ngành như: thành lập Trung tâm quốc gia giống thủy sản, trung tâm giống thủy sản cấp 1, trung tâm giống thủy sản các tỉnh, các khu vực sản xuất giống tập trung. Công tác sản xuất giống thủy sản đang từng bước được xã hội hóa. Ở ĐBSCL thì khoa thủy sản thuộc Đại học Cần Thơ là một trung tâm có sự hổ trợ rất lớn cho nghề nuôi thủy sản của ĐBSCL trong thời gian qua không những về giống và cả việc áp dụng thử nghiệm và chuyển giao các quy trình kỹ thuật nuôi có hiệu quả kinh tế cao cho bà con NTTS.
1.1.4.2.4. Thị trường
Từ khi mặt hàng thủy sản nước ta đã tìm được sân chơi trên thị trường thế giới thì thị trường xuất khẩu thủy sản nước ta đã ngày càng được mở rộng không ngừng. Cả nước hiện nay đã có hơn 200 doanh nghiệp được đưa vào danh sách được phép xuất khẩu vào thị trường EU, Hoa Kỳ; hơn 300 doanh nghiệp được phép xuất khẩu vào thị trường Hàn Quốc; có 34 cơ sở
được phép xuất khẩu vào thị trường Nga. Hiện nay, sản phẩm thủy sản nước ta không những có mặt tại các quốc gia Bắc Mỹ, EU mà còn góp mặt tại các thị trường khác như Nhật Bản, một số nước châu Phi, Nam Mỹ,…
Bên cạnh thị trường nước ngoài thì thị trường thương mại thủy sản nội địa gần đây cũng có những dấu hiệu phát triển khả quan với hàng nghìn chợ đầu mối chuyên cung cấp và phân phối hàng thủy sản các loại, với quy mô và loại hình rất đa dạng và phong phú như: chợ trên biển, chợ bán lẻ truyền thống, hệ thống các siêu thị,… đã tạo thành mạng lưới tiêu thụ thủy sản, đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng đa dạng của hơn 83 triệu dân Việt Nam mỗi ngày.
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều khó khăn và vướng mắc đặt ra cho ngành thuỷ sản nước ta đó là hoạt động sản xuất vẫn còn mang tính tự cấp, tự túc, công nghệ sản xuất thô sơ, lạc hậu, sản phẩm tạo ra chất lượng chưa cao. Nguồn lao động tuy đông nhưng trình độ văn hoá kỹ thuật không cao, lực lượng được đào tạo chiếm tỷ lệ nhỏ, hầu hết chỉ dựa vào kinh nghiệm do đó khó theo kịp sự thay đổi của điều kiện tự nhiên và nhu cầu thị trường. Cuộc sống của lao động trong nghề vẫn còn nhiều vất vả và bấp bênh, không tạo được sự gắn bó với nghề.
Nhưng về cơ bản có thể khẳng định rằng nước ta có tiềm năng dồi dào để phát triển
ngành thuỷ sản thành một ngành kinh tế quan trọng.
1.1.5. Xu hướng phát triển ngành nuôi trồng thủy sản trên thế giới
Ngành thủy sản thế giới, đặc biệt là NTTS thế giới trong mấy chục năm gần đây lại là ngành cung cấp thực phẩm có tốc độ phát triển nhanh nhất. Năm 1950 chỉ đạt sản lượng chưa đầy 1 triệu tấn thì năm 2004 đạt gần 60 triệu tấn và chiếm 1/2 sản lượng thủy sản làm thực phẩm của thế giới và đóng góp giá trị khoảng 70,3 tỷ USD (FAO, 2006).
Sản lượng NTTS của thế giới chủ yếu nằm trong các nước đang phát triển. Các nước này
đã chiếm tới 90% sản lượng NTTS của thế giới, trong đó riêng Trung Quốc đã chiếm tới 67%.
NTTS đã được phát triển trong mọi môi trường nuôi, với rất nhiều giống loài được nuôi, tuy nhiên nuôi biển phát triển mạnh mẽ nhất. Trong sản lượng nuôi thủy sản thế giới năm 2004 thì sản lượng nuôi biển chiếm 30,2 triệu tấn (50,9%), nước ngọt 25,8 triệu tấn (43,4%), nuôi nước lợ 3,4 triệu tấn (5,7%).
Trong nuôi nước lợ thì tôm chiếm 63,1%, cá chiếm 34% mà chủ yếu là cá măng biển
và cá rô phi.
Trong nuôi nước ngọt, sản lượng nước ngọt chủ yếu là cá (94%).
Trong sản lượng nuôi trồng biển thì nhuyễn thể chiếm 42,9%, rong tảo chiếm 45,9%,
sản lượng cá nuôi không đáng kể 2,2%.
Về giá trị sản phẩm nuôi trồng: Cá chiếm 47,4% về sản lượng nhưng cho giá trị 53,9%. Giáp xác chiếm 6,2% về sản lượng nhưng cho giá trị 20,4%. Nhuyễn thể chiếm 22,3% về sản lượng nhưng cho giá trị 14,2%. Rong tảo chiếm 23,4% về sản lượng nhưng cho giá trị 9,7%. Năm 2004 đã có tới 246 họ và 336 loài thủy sản được nuôi trồng, trong đó số loài nuôi
đa dạng nhất là ở châu Á (86 họ, 204 loài).
Rất nhiều loài thủy sản được nuôi trồng cho mục đích tiêu dùng tại thị trường nội địa
và chỉ có một số loài nuôi phục vụ xuất khẩu.
Những loài cá nuôi quan trọng nhất: các loài truyền thống, rô phi,…
Sở dĩ NTTS gia tăng mạnh mẽ một phần cũng vì nhờ sản phẩm của NTTS ngày nay cũng
Bên cạnh thủy sản nuôi làm thực phẩm, nuôi cá dùng làm vật trang trí và phục vụ giải trí cũng ngày càng gia tăng và có vị trí đáng kể trong thương mại thủy sản thế giới. Giá trị cá cảnh năm 2000 (FAO) ở thị trường bán buôn đã lên tới 900 triệu USD và trên thị trường bán lẻ đã lên tới 3 tỷ USD. giống như nhiều loại hàng thủy sản khai thác được cuốn hút vào quá trình toàn cầu hoá.
Theo dự báo của Trung tâm thủy sản thế giới, đến năm 2010 nhu cầu thủy sản toàn thế giới vào khoảng 156.723 ngàn tấn, trong đó nhu cầu thủy sản thực phẩm chiếm 81,8% và nhu cầu thủy sản phi thực phẩm chiếm 18,2%; đến năm 2020 nhu cầu khoảng 183.357 ngàn tấn. Nhu cầu thủy sản bình quân đầu người trên toàn thế giới là 18,4 kg/người/năm vào năm 2010 và 19,1 kg/ngưòi/năm vào năm 2015. Trong đó các loại cá là 13,7 kg và 14,3 kg/người/năm; nhuyễn thể và thủy sản khác là 4,7 – 4,8 kg/người/năm. Trong số các mặt hàng thủy sản, các mặt hàng cá da trơn, cá hồi, cá ngừ và cá biển vẫn đóng vai trò chính và sẽ tăng ở mức 3,8%. Tôm cũng sẽ tăng nhưng chỉ ở mức 2,5% trong giai đoạn đến năm 2010, sau đó tăng ít hơn. Cá rô phi có cơ hội mở rộng thị trường do nhu cầu ngày càng cao và giá bán ổn định. Nhu cầu tiêu thụ thủy sản thế giới từ nay đến 2020 tiếp tục tăng mạnh. Riêng sản phẩm cá tra được nhiều nước nhập khẩu quan tâm vừa là nguồn thực phẩm vừa là nguồn nguyên liệu chế biến xuất khẩu sang các thị trường khác. Đồng thời, một số thị trường thủy sản trên thế giới đang ngày càng được mở rộng: Ba Lan, Nga, các nước Nam Mỹ, khu vực châu Á,… sẽ là cơ hội tốt để Việt Nam phát triển nuôi tôm, cá tra và nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tế khác.
Trong mọi tình huống phát triển dự tính có thể xảy ra, nhu cầu thực phẩm thủy sản trên toàn thế giới ngày càng gia tăng và số lượng xuất khẩu ra ngày càng giảm. Trong đó, lượng cung gia tăng ở hầu hết các vùng trên thế giới đều trong chờ được đáp ứng bởi sản phẩm từ NTTS. Sự thiếu trầm trọng hàng thủy sản cung cấp cho thị trường thế giới, đặc biệt là cho các nước phát triển, thậm chí cả đối với những nước hiện nay đang xuất khẩu rất lớn sản phẩm thủy sản thì đến năm 2020 họ cũng sẽ phải nhập nhiều hơn xuất nếu như môi trường suy thoái và nghề cá của họ phát triển chậm lại so với vài thập kỷ qua. Điều đó hoàn toàn có thể xảy ra vì ở các nước khi có thu nhập cao thì tỷ trọng người làm nông nghiệp trong đó có người làm nghề cá sẽ giảm đi rất nhanh do những cơ hội làm việc và thu nhập khác nhiều hơn, mặt khác dân chúng lại có nhiều tiền để gia tăng lượng thủy sản tiêu dùng, nhất là đối với những hàng hoá thủy sản có giá trị cao, vốn vẫn được coi là các thực phẩm sa xỉ cao cấp.
1.1.6. Thực trạng phát triển ngành thủy sản Việt Nam
1.1.6.1. Những thành tựu
Hơn 20 năm qua, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, ngành thuỷ sản Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, toàn diện, cả về khai thác, nuôi trồng và chế biến xuất khẩu, liên tục tăng trưởng với tốc độ cao. Thuỷ sản đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Năm 2009 sản lượng đã đạt trên 4,8 triệu tấn (gấp hơn 6 lần năm 1986) lớn hơn sản lượng thịt từ chăn nuôi gia súc và gia cầm, nuôi trồng tăng mạnh, đạt trên 2,5 triệu tấn (gấp hơn 20 lần năm 1986, tăng bình quân 14%/năm trong 24 năm qua), không những cung cấp khối lượng thực phẩm lớn, có giá trị dinh dưỡng cao cho nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày càng tăng, mà còn đẩy mạnh chế biến xuất khẩu. Với sự năng động sáng tạo của hàng trăm doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt ở 160 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 4,2 tỷ USD (gấp 40 lần so năm 1986, tăng bình quân 17%/năm, 24 năm qua chúng ta đã xuất khẩu được 34 tỷ USD), trở thành ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 4 của nước ta (sau dầu thô, dệt may và giày da). Kết quả này đã đưa Việt Nam trở thành 1 trong 5 nước xuất khẩu thuỷ sản hàng đầu thế giới. Cùng với những thành quả của công cuộc đổi mới và những chính sách hỗ trợ của nhà nước, thu nhập và đời sống của lao động nghề cá ngày càng được cải thiện, góp phần tích cực vào xoá đói, giảm nghèo, phát triển nông thôn vùng ven biển. Nhiều chuyên gia quốc tế cho rằng sự phát triển của thủy sản Việt Nam là điều kỳ diệu, với các bằng chứng sau:
Sản lượng cá tra nuôi đạt 1 triệu tấn, là nước đứng đầu thế giới về nuôi loài cá này.
Năm 2009 sản lượng NTTS đạt trên 2.5 triệu tấn đứng thứ 3 thế giới. Sản lượng tôm
nuôi đạt khoảng 0,4 triệu tấn đứng thứ 3 thế giới.
Xuất khẩu thủy sản thứ 5 thế giới. Thị trường thủy sản mở rộng được tới 160 nước và vùng lãnh thổ Biểu đồ 1.1. Sự tăng trưởng sản lượng thủy sản Việt Nam thời kỳ 1995 – 2009.
Biểu đồ thể hiện sản lượng thủy sản Việt Nam thời kỳ 1995 - 2009
Khai thác
Nuôi trồng
Nghìn tấn
4847.6
5000
4602.0
4197.8
4500
4000
3465.9
3500
2859.2
3000
2250.5
2500
1730.4
2000
1584.4
1500
1000
500
0
1995
1997
2000
2003
2005
2007
2008
2009 Năm
Nguồn: Niên giám thống kê 2009 – Tổng cục thống kê.
Năm 2009, tổng sản lượng khai thác thủy sản của cả nước ước đạt 2.277 nghìn tấn, tăng 3,5% so với kế hoạch, tăng 6,8% so với năm 2008; trong đó sản lượng khai thác biển đạt 2.068 nghìn tấn, tăng 3,4% so với kế hoạch, tăng 6,8% so với cùng kỳ (sản lượng khai thác nội địa cả năm đạt 209 nghìn tấn). Cả năm 2009, sản lượng NTTS cũng tăng 7,0% so với kế hoạch và tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2008 với 2.569 nghìn tấn (trong đó tháng 12/2009 ước đạt 162 nghìn tấn).
Trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản, giá trị từ thủy sản nuôi trồng ngày càng tăng lên. Năm 2000 giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản nuôi trồng chỉ chiếm 41,51%, giai đoạn 2006 – 2007, giá trị sản phẩm thủy sản từ nuôi trồng chiếm trên 60% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. NTTS đã tạo ra nhiều mặt hàng có sức cạnh tranh cao xuất khẩu sang nhiều thị trường khu vực và thế giới, mang lại giá trị kim ngạch xuất khẩu ngày càng lớn.
Hiện có hàng chục loài thủy sản được nuôi ở những vùng sinh thái khác nhau. Cơ cấu loài nuôi trong nhiều năm qua có sự thay đổi lớn, được bổ sung rất nhiều loài mới. Mặc dù vậy, ở môi trường nước lợ, nước mặn đối tượng nuôi chính vẫn là tôm sú, tôm chân trắng, tôm hùm, cua biển, nghêu, sò huyết, ốc hương, rong biển. Các thủy vực nước ngọt, đối tượng nuôi chính là cá tra, tôm càng xanh, và các loài cá nước ngọt truyền thống,… Cá tra là đối tượng nuôi đứng thứ 2 sau tôm sú trong giai đoạn 2000 – 2004, đến năm 2005 đã phát triển mạnh mẽ, vượt lên chiếm hàng đầu về sản lượng. Hai đối tượng nuôi chủ lực là cá tra và tôm sú hàng năm có sản lượng chiếm khoảng 60% - 65% trong tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng của cả nước. Khối lượng sản lượng lớn là một ưu thế để sản phẩm thủy sản trở thành hàng hoá tiêu thụ trên thị trường, nhất là xuất khẩu sang các thị trường quốc tế.
Hoạt động NTTS đã tạo việc làm, tăng thêm thu nhập cho hàng triệu người, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội, nhất là đối các địa phương ven biển, hải đảo. Theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006, từ năm 2001 đến năm 2006, số hộ thủy sản trong cả nước tăng từ 512.342 lên 692.197 hộ; số lao động thủy sản năm 2006 là gần 1,4 triệu, chiếm 4,56 % tổng số lao động nông lâm nghiệp và thủy sản, tăng 1,11 % so với năm 2001, trong khi lao động nông nghiệp giảm 10,39 %.
Những thành tựu đó nói lên tiềm năng và khả năng to lớn cũng như thế mạnh không thể phủ nhận lợi ích của NTTS của Việt Nam và đó là một ngành kinh tế nông nghiệp mũi nhọn, là một cơ hội và cần thiết cho việc gia tăng đầu tư để tạo lập một sự gia tăng bền vững, đóng góp cho sự phồn vinh của đất nước. (Xem thêm phần phụ lục 4. Kết quả đạt được của chương trình nuôi đến năm 2007)
1.1.6.2. Những khó khăn và tồn tại
Tiềm năng phát triển thuỷ sản của nước ta là rất lớn cả về khai thác hải sản, đặc biệt là khả năng mở rộng diện tích và tăng năng suất nuôi trồng, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng và hiệu quả. Tuy nhiên sản xuất và kinh doanh thuỷ sản của Việt Nam vẫn còn không ít bất cập, yếu kém như:
- Mặc dù đã có chương trình nhưng NTTS ở nhiều nơi còn phát triển tự phát, chưa tuân thủ quy hoạch hoặc công tác quy hoạch chưa theo kịp tiến độ phát triển, chưa đủ sức thuyết phục, chưa đủ chi tiết và căn cứ khoa học. Việc quy hoạch chi tiết các vùng NTTS, thiết kế các vùng nuôi thủy sản tập trung còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Tính khả thi của một số quy hoạch chưa cao. Quy hoạch các nhóm sản phẩm chủ lực đến nay mới đang triển khai xây dựng. Công tác tổ chức thực hiện quy hoạch còn yếu. Việc giám sát thực hiện quy hoạch chưa tốt hoặc không tổ chức giám sát. Các quyết định phát triển NTTS cũng như phát triển các
ngành kinh tế khác không tôn trọng quy hoạch đã được duyệt, nẩy sinh mâu thuẫn về KT – XH trong cộng đồng.
- Nghề khai thác nhìn chung vẫn trong tình trạng qui mô nhỏ, khai thác gần bờ, tàu thuyền và phương tiện khai thác chậm đổi mới; các dịch vụ hậu cần chậm phát triển, chưa đáp ứng kịp yêu cầu và nâng cao hiệu quả khai thác xa bờ.
- Chưa bảo đảm đủ giống tốt và kỹ thuật nuôi trồng tiên tiến cho những đối tượng nuôi chủ lực. Việc quản lý đối với các cơ sở sản xuất giống chưa chặt chẽ, kiểm soát chất lượng giống chỉ dừng lại ở kiểm dịch; phần lớn lượng giống cung cấp cho nuôi thâm canh và quảng canh cải tiến không kiểm soát được. Nhiều giống các loài thuỷ sản quý hiếm còn khai thác trong tự nhiên để nuôi trồng chưa chủ động sản xuất nhân tạo được.
- Tỷ lệ diện tích nuôi trồng theo phương thức công nghiệp còn ít; việc tổ chức liên kết sản xuất giữa nuôi trồng, khai thác với thu mua, bảo quản, chế biến tiêu thụ còn nhiều hạn chế, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao.
- Việc nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ vào phát triển ngành thuỷ sản còn
chậm, hiệu quả thấp, chưa được quan tâm đúng mức.
- Đời sống của người lao động nghề cá còn nhiều khó khăn. - Việc đầu tư trong ngành thủy sản còn nhiều dàn trải và không đồng bộ. Cơ sở hạ tầng
phục vụ cho NTTS còn yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là hạ tầng thủy lợi.
- Sản xuất kinh doanh thuỷ sản của Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, nhất là khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu do hàm lượng khoa học – công nghệ trong các sản phẩm thủy sản còn thấp, xu hướng bảo hộ thương mại, cùng với thiên tai, dịch bệnh, biến đối khí hậu đặc biệt là nước biển dâng mà Việt Nam được dự báo là một trong số ít các nước bị chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.
1.2. Lý luận cơ bản về sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội
1.2.1. Phát triển và phát triển bền vững
1.2.1.1. Khái niệm về phát triển bền vững
Phát triển là một trong những quy luật tất yếu của nhân loại, của mọi thời đại, của mọi quốc gia. Khái niệm phát triển bền vững ra đời rất muộn màng, lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1987 trong báo cáo “tương lai của chúng ta” của ủy ban môi trường và phát triển của ngân hàng thế giới (World Bank – WB).
Vừa phát triển Vừa phát triển kinh tế kinh tế vừa phát triển vừa phát triển VH XH VH XH
Các mục tiêu Các mục tiêu kinh tế kinh tế
Các mục tiêu Các mục tiêu VH- XH VH- XH
Phát triển bền vững Phát triển bền vững như là khối cộng như là khối cộng đồng của các giá trị đồng của các giá trị KT – VH – MT KT – VH – MT
Liên kết Liên kết kinh tế - môi kinh tế - môi trường trường
Bảo vệ Bảo vệ với với bình đẳng bình đẳng
Các mục tiêu Các mục tiêu môi trường môi trường
Hình 1. Sơ đồ Wenn minh họa cho sự phát triển bền vững
Phát triển bền vững không chỉ là phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội một cách bền vững nhờ khoa học công nghệ tiên tiến mà còn đảm bảo những điều kiện môi trường cho con người sinh sống đang tồn tại và cho cả thế hệ mai sau (những người đang sống và những người sẽ sống). Trong phát triển bền vững, điều cần chú ý nhất là thỏa mãn các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến sự thỏa mãn những nhu cầu trong tương lai, đảm bảo sử dụng đúng mức và ổn định tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống.
1.2.1.2. Cơ sở của phát triển bền vững
Giảm đến mức thấp nhất sự cạn kiệt tài nguyên môi trường: đất, nước ngọt, các thủy vực, rừng ngập mặn,… đảm bảo sử dụng lâu dài các tài nguyên không tái tạo được bằng cách tái chế, tránh lãng phí, sử dụng ít hoặc thay thế chúng.
Bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo tồn tính di truyền của các loài động, thực vật nuôi trồng cũng như hoang dã. Đảm bảo việc sử dụng lâu bền bằng cách quản lý phương thức và mức độ sử dụng, làm cho các nguồn tài nguyên đó vẫn còn có khả năng tự phục hồi.
Duy trì các hệ sinh thái thiết yếu, đảm bảo cho cuộc sống cộng đồng và nên nhớ rằng sức
chịu đựng của hệ sinh thái trên trái đất là có hạn.
Khai thác nhưng phải đặt điều kiện duy trì các hệ sinh thái tự nhiên lên hàng đầu. Hoạt động khai thác nằm trong khả năng chịu đựng của trái đất. Đồng thời, phục hồi lại môi trường đã bị suy thoái, giữ gìn sự cân bằng các hệ sinh thái.
1.2.1.3. Các chỉ tiêu phát triển bền vững
Để so sánh, nhận xét, đánh giá mức độ phát triển bền vững có thể sử dụng một số chỉ tiêu
mang tính định lượng sau:
(1) Chỉ tiêu đo lường chất lượng cuộc sống: đó là chỉ tiêu phát triển con người ( Human
Development Indexes – HDI), bao gồm:
Thu nhập quốc dân tính theo đầu người, biểu thị bằng chỉ số GDP. Tuổi thọ trung bình đối với nam giới và nữ giới. Học vấn biểu thị bằng tỉ lệ người biết chữ, số năm đi học. Tự do trong các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Chất lượng môi trường, mức độ ô nhiễm (nặng, vừa và không ô nhiễm. (2) Chỉ tiêu về tính bền vững sinh thái: Một xã hội được coi là bền vững sinh thái khi: Nó bảo tồn hệ sinh thái phụ trợ cuộc sống và đa dạng sinh học. Đảm bảo rằng việc sử dụng tài nguyên tái tạo được là bền vững và giảm thiểu việc
làm suy thoái tài nguyên không tái tạo được.
Nằm trong khả năng chịu tải của các hệ sinh thái phụ trợ.
1.2.1.4. Tiếp cận sinh thái đối với phát triển bền vững
Sử dụng và điều chỉnh bản chất tổng thể và năng suất của hệ sinh thái nhằm bảo đảm: Tính phục hồi Năng suất sinh học Tính bền vững Ở Việt Nam, quan niệm về phát triển bền vững lần đầu tiên được ghi nhận trong bản kế hoạch Quốc gia về môi trường và Phát triển bền vững do Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 12/06/1991. Bản kế hoạch đó cũng chỉ ra rõ mục tiêu cần hướng tới là thỏa mãn những nhu cầu về vật chất, tinh thần và văn hóa cho các thế hệ hiện tại và tương lai.
1.2.2. Phát triển bền vững qua một số nghiên cứu của Việt Nam
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào những khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90. Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ.
Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh. Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể đến là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như:
“Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Công trình này đã tiếp thu và thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật.
“Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững. Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hóa, đã tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987), mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của World Bank.
“Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam – giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành. Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các nước: Trung Quốc Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường. Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam.
Chủ đề này cũng được bàn luận sôi nổi trong giới khoa học xã hội với các công trình như: “Đổi mới chính sách xã hội – Luận cứ và giải pháp” (1997) của Phạm Xuân Nam. Trong công trình này, tác giả làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan điểm phát triển bền vững: Phát triển xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, và cuối cùng là chỉ báo quốc tế về phát triển.
Trong một bài viết gần đây đăng trên Tạp chí Xã hội học (2003) của tác giả Bùi Đình Thanh với tiêu đề “Xã hội học Việt Nam trước ngưỡng của thế kỷ XXI” tác giả cũng chỉ ra 7 hệ chỉ báo cơ bản về phát triển bền vững: Chỉ báo kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị, tinh thần, trí tuệ, văn hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế. Nhìn chung các công trình nghiên cứu này có một điểm chung là thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo Brundtland, tuy nhiên cần nói thêm rằng những thao tác này còn mang tính liệt kê, tính thích ứng của các chỉ báo với thực
tế Việt Nam, cụ thể là ở cấp độ địa phương, vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vẫn chưa được làm rõ.
1.3. Cơ sở khoa học của phát triển bền vững ngành thủy sản
1.3.1. Một số quan niệm về phát triển bền vững ngành thủy sản
Hoạt động thủy sản thường chịu rủi ro rất cao trước các diễn biến của điều kiện tự nhiên và các tác động của con người, đồng thời bản thân các hoạt động của ngành thủy sản cũng đã làm nẩy sinh các vấn đề môi trường rất khác nhau. Vì thế, con đường đúng đắn nhất để phát triển ngành thủy sản là hướng tới bền vững.
Nguồn lợi thủy sản và nguồn tài nguyên phải được sử dụng lâu dài, vừa thỏa mãn được nhu cầu kinh tế trước mắt (tăng thị phần xuất khẩu và mức tiêu thụ thủy sản nội địa) trong khả năng chịu tải của các hệ sinh thái môi trường, vừa duy trì được nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau.
Phát triển bền vững ngành thủy sản bao gồm các nội dung như sau: Phát triển ngành thủy sản đạt hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo lợi ích lâu dài, tránh được sự suy thoái và đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng lớn cho các thế hệ trong tương lai. Phát triển một nghề cá một cách có trách nhiệm mà nước ta đã cam kết với cộng đồng quốc tế.
Duy trì chất lượng môi trường và bảo toàn các chức năng các hệ thống tài nguyên thủy
sản, các hệ sinh thái thủy vực, các hệ sinh thái biển và ven bờ.
Đảm bảo quyền lợi cộng đồng dân cư hưởng thụ nguồn lợi thủy sản, cân bằng với mức hưởng thụ nguồn lợi với các thế hệ mai sau. Góp phần xóa đói giảm nghèo cho ngư dân.
Tối ưu hóa việc sử dụng đa mục tiêu các hệ thống tài nguyên liên quan tới thủy sản, giảm thiểu môi thuẩn lợi ích và các tác động của các ngành khác đến tính bền vững của nguồn lợi thủy sản.
1.3.2. Một số chỉ tiêu đánh giá bền vững của phát triển thủy sản
Các chỉ số về năng lực đánh bắt, bao gồm số lượng tàu, công suất và thời gian đánh bắt; loại và số lượng ngư cụ dùng để đánh bắt. Các chỉ số thu hoạch hoặc nguồn lợi, bao gồm khối
lượng các cập bến, năng suất đánh bắt trên mỗi đơn vị khai thác (CPUE), sinh khối, thành phần đánh bắt, số loài khai thác, ngư trường, kích cỡ trung bình và kích cỡ trưởng thành.
Các chỉ tiêu sử dụng diện tích đất đai, năng suất, sản lượng nuôi trồng. Các phương thức
và mô hình nuôi thủy sản. Các vấn đề công nghệ chế biến và thị trường tiêu thụ sản phẩm,…
Các chỉ tiêu về KT – XH, bao gồm giá trị cập bến, doanh số trên mỗi đơn vị khai thác (RPUE), xuất khẩu và nhập khẩu (số lượng và giá trị), mức tiêu thụ thủy sản tính trên đầu người, đầu tư cho nghề cá, số lượng ngư dân, trình độ học vấn, nguồn vốn cũng như thu nhập của ngư dân.
Các chỉ số về môi trường sinh thái như: tình hình trữ lượng nguồn lợi, rạn san hô, rừng
ngập mặn, tình hình ô nhiễm môi trường và đa dạng sinh học,…
1.3.3. Tính cấp thiết của vấn đề phát triển bền vững ngành thủy sản
1.3.3.1. Tác động của ngành thủy sản đối với môi trường sinh thái
Thủy sản là một trong những ngành hàng tạo ra nhiều sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nước ta, góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, tạo động lực cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của ngành nếu không có những biện pháp quản lý thích hợp thì nó cũng gây ra nhiều hậu quả xấu đến môi trường sinh thái cũng như sự suy giảm nguồn tài nguyên thủy sản. Tác động chính của ngành thuỷ sản tới môi trường sinh thái và tài nguyên thuỷ sản thông qua hoạt động của ba ngành sản xuất khai thác hải sản, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến thuỷ sản. Trong khuôn khổ đề tài chưa có khả năng phân tích đầy đủ được các tác động này, đề tài chỉ đưa ra một số nhận định về tác động của hoạt động ngành thủy sản đến môi trường sinh thái và nguồn tài nguyên thủy sản.
1.3.3.1.1. Tác động từ hoạt động khai thác hải sản
Xu hướng biến động xấu của nguồn lợi hải sản Trong giai đoạn 2000 – 2008 tốc độ tăng số lượng tàu đánh bắt hải sản xa bờ bình quân hàng năm là 14,7% và tổng cộng suất tăng bình quân 14,3%/năm. Cùng với mật độ tàu thuyền khai thác tăng là hiện tượng khai thác bằng các ngư cụ phạm pháp: mắt lưới quá nhỏ, mìn, điện, chất hoá học,… đều gây nên tác động xấu tới nguồn lợi hải sản và môi trường biển. Kết quả của nhiều cuộc điều tra đều cho thấy tới hơn 50% số ngư dân được phỏng vấn đều cho rằng sản lượng khai thác có xu hướng giảm. Mặc dù những con số này không phản ánh chính xác được sự suy giảm nguồn lợi từ hoạt động khai thác hải sản nhưng vẫn có thể
khẳng định rằng khuynh hướng này chắc chắn đang đe dọa tính bền vững của nguồn lợi hải sản.
Tăng hàm lượng xianua và dầu trong môi trường nước biển: Theo Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000 của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường thì từ năm 1999, do ngư dân bắt đầu sử dụng xianua trong khai thác nên có tới 50% số mẫu khảo sát cho thấy có hàm lượng xianua vượt quá giới hạn cho phép. Mặt khác, với mật độ tàu thuyền khai thác lớn thì lượng chất thải, dầu, nước dằn tàu xả ra môi trường nước xung quanh cũng là một vấn đề gây nên ô nhiễm môi trường biển. Bên cạnh đó là các sự cố, tai nạn hàng hải đều là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường biển, phá huỷ môi trường sống thuỷ sinh. Tổng lượng dầu xâm nhập vào môi trường biển Việt Nam năm 1992 là 7.380 tấn, năm 1995 là 10.020 tấn và năm 2000 con số này đã là 17.650 tấn.
Suy giảm mạnh các rạn san hô, vượt quá chỉ số an toàn cho phép: Tình trạng dùng chất nổ và cả xianua trong khai thác hải sản đã đe dọa 85% diện tích rạn san hô ở Việt Nam. Những nghiên cứu từ 1994 đến 1997 cho thấy chỉ còn khoảng 1% rạn san hô ở Việt Nam được xếp loại tốt.
1.3.3.1.2. Tác động từ hoạt động nuôi trồng thuỷ sản
Nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ được xác định như là một hướng phát triển mang tính đột phá của ngành thuỷ sản với mục tiêu tăng tỷ lệ sử dụng mặt nước tiềm năng cho NTTS cũng như tăng hơn nữa sản lượng NTTS. Vì vậy rất nhiều diện tích rừng ngập mặn, đất trồng lúa đã và đang được chuyển đổi sang làm đầm nuôi tôm, cùng với các chất thải từ ao nuôi đã trở thành những nguy cơ t i ề m ẩ n gây ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng cho các vùng ven biển.
Diện tích rừng ngập mặn ngày càng giảm mạnh: Tác động trước tiên có thể kể đến là việc phát triển NTTS làm thu hẹp diện tích rừng ngập mặn. Năm 1943 cả nước có gần 400.000 ha rừng ngập mặn, trong đó rừng ngập mặn ven biển Nam Bộ chiếm tới 250.000 ha. Do chiến tranh và do con người tàn phá, bao gồm cả việc phá rừng ngập mặn để làm đầm nuôi tôm, đến năm 2001 cả nước chỉ còn chưa tới 150.000 ha rừng ngập mặn, trong đó 70% là rừng trồng, chất lượng rừng ở mức nghèo kiệt. Mất rừng ngập mặn đi đôi với mất nơi sinh trưởng của các loài tôm, cá; không những ảnh hưởng tới môi trường mà còn dẫn đến tình trạng suy giảm nguồn lợi hải sản.
Tình trạng ô nhiễm và nhiễm mặn nguồn nước: Theo điều tra, hầu hết các hộ gia đình NTTS đều không tiến hành xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường, trong khi phần lớn họ đều sử dụng các hoá chất trong quá trình nuôi. Thậm chí ngay cả khi không sử dụng hoá chất thì các chất thức ăn dư thừa, các chất hữu cơ cũng có thể là nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước. Các loại phân bón, thức ăn nhân tạo,… sử
dụng trong NTTS, đặc biệt là trong nuôi lồng bè ở các vùng với mật độ lồng cao đã làm cho môi trường nước nuôi ở đây bị ô nhiễm nặng, gây ra dịch bệnh không những cho thuỷ sản nuôi mà còn cho cả con người sử dụng nguồn nước ô nhiễm này trong sinh hoạt.
Hiện nay nuôi tôm trên cát đang là một hướng mở mới cho ngành NTTS, tuy nhiên do phát triển chưa có quy hoạch nên mới trong một thời gian ngắn đã có hiện tượng suy giảm và nhiễm mặn nguồn nước ngầm tại các vùng sử dụng nước ngầm cho nuôi tôm. Có tới 41% số hộ gia đình nuôi tôm được điều tra tại Ninh Thuận cho rằng chất lượng nguồn nước bị xấu đi và hiện tượng nhiễm mặn nguồn nước ngọt trở nên khá phổ biến (có những ao nuôi tôm có nguồn nước ngọt có độ mặn lên tới 16-17). Ô nhiễm và nhiễm mặn nguồn nước là một vấn đề hết sức nghiêm trọng vì nó vừa ảnh hưởng đến sản xuất lại vừa ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt và sức khoẻ của con người
Xu hướng thay đổi cảnh quan môi trường: Việc đào vuông nuôi công nghiệp đã tác động không nhỏ đến cảnh quan môi trường, đây là sự thay đổi theo chiều hướng tiêu cực mà trước hết là mất dần lớp phủ thảm thực vật, thay đổi chiều hướng dòng chảy. Ðây là một điều rất đáng lo ngại cho chất lượng môi trường sinh thái cũng như việc phát triển NTTS một cách bền vững.
1.3.3.1.3. Tác động từ chế biến thuỷ sản
Ngành chế biến thuỷ sản cũng gây ra khá nhiều tác hại cho môi trường bằng số lượng lớn nước thải (10 – 12 triệu m3/năm) và chất thải rắn và phế thải (khoảng 170.000 – 180.000 tấn/năm). Ngoài ra, số lượng lớn tiếng ồn, độ ẩm, nhiệt, khí thải, mùi có nguồn gốc từ các hoạt động chế biến thuỷ sản cũng là một nguyên nhân đáng kể ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường xung quanh và cả sức khoẻ người lao động.
Ngành chế biến đã có các bước cải thiện tích cực trong công tác bảo vệ môi trường như nâng cấp, cải tạo nhà xưởng, đầu tư đổi với trang thiết bị, công nghệ, áp dụng quy phạm sản xuất tốt – GMP, quy phạm vệ sinh tốt – SSOP, chương trình quản lí chất lượng HACCP, thực hiện các tiêu chuẩn ngành, quản lí vệ sinh an toàn thực phẩm trong cả quá trình từ khâu nuôi trồng cho tới khâu tiêu thụ sản phẩm cuối cùng. Tuy nhiên, do phần lớn các xí nghiệp chế biến đã được xây dựng từ lâu, điều kiện tài chính hạn hẹp, công nghệ và thiết bị xử lí lại quá đắt tiền cộng với công tác quản lí môi trường còn lỏng lẻo nên kết quả là hiện nay chỉ có rất ít cơ sở trong tổng số các cơ sở chế biến thuỷ sản trong cả nước có hệ thống xử lí nước thải đáp ứng yêu cầu chất lượng nước thải sau xử lí.
Ngành thuỷ sản của Việt Nam vẫn đang tiếp tục phát triển một cách nhanh chóng nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng của thị trường tiêu dùng cả trong nước và trên thế
giới. Tuy nhiên, để ngành có thể phát triển một cách bền vững và toàn diện thì cũng cần có một quy hoạch phát triển toàn diện và mang tính bền vững. Trong đó, chắc chắn yếu tố bảo vệ môi trường phải được đặt vào vị trí xứng đáng của nó. Có như vậy, ngành thuỷ sản mới vừa có thể tiếp tục thu được những thành tựu to lớn hơn nữa và đồng thời vẫn đảm bảo được yếu tố phát triển bền vững.
1.3.3.2. Nguyên nhân gây ô nhiểm môi trường trong việc phát triển ngành thủy sản
- Nghề cá truyền thống Việt Nam phát triển mang tính “tự phát”, qui mô sản xuất nhỏ lẻ, quản lý theo hộ gia đình, đầu tư ít cho công nghệ, ít quan tâm đến môi trường. Nhận thức của lao động sản suất thủy sản về các vấn đề phát triển bền vững và nghề cá có trách nhiệm rất mờ nhạt.
- Công tác qui hoạch phát triển và chính sách quản lý nghề cá chưa theo kịp nhu cầu thực tế của thị trường và của người dân. Việc xây dựng kế hoạch phát triển từ ngành đến địa phương theo xu hướng là: Chạy theo sản lượng, không coi trọng giá trị; Coi trọng khai thác tài nguyên, ít cân nhắc đến lợi ích môi trường cho sự phát triển bền vững; Chỉ chú ý đến lợi ích ngành mình, địa phương mình, ít chú ý đến lợi ích ngành khác, địa phương khác và người khác.
- Thiếu hệ thống chính sách đồng bộ, liên ngành quản lý các vùng nước ven biển, các vùng đất ngập nước – nơi mà các hệ sinh thái có ý nghĩa quan trọng đối với nguồn giống và đa dạng sinh học thủy sinh – cơ sở để phát triển thủy sản bền vững.
- Mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển bền vững với tình trạng sản xuất tự phát, qui mô sản xuất nhỏ lẻ; Mâu thuẫn giữa nhu cầu đánh bắt xa bờ với trang bị kỹ thuật, công nghệ sản xuất lạc hậu, thiếu thông tin về ngư trường nguồn lợi; Mâu thuẫn giữa phát triển NTTS thâm canh với vấn đề ô nhiễm môi trường, xử lý chất thải vùng nuôi, dịch bệnh; Mâu thuẫn giữa chuyển đổi nghề nghiệp với nghèo đói và khó khăn sinh kế.
Trong quá trình phát triển, ngành thủy sản Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức, rủi ro do sự suy kiệt nguồn lợi thủy sản ở một số khu vực, mất đa dạng sinh học trong các thủy vực, ô nhiễm và suy thoái môi trường nuôi, giảm nguồn giống tự nhiên, cộng đồng dân cư còn nghèo và nhận thức về PTBV còn hạn chế. Chính vì vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, thay đổi mô hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thủy sản theo hướng thân thiện với môi trường, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, an sinh xã hội và an toàn sinh thái là điều kiện và mục tiêu để PTBV ngành thủy sản.
1.3.4. Kinh nghiệm một số nước về phát triển bền vững ngành thủy sản
Thủy sản ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới.
Tuy nhiên, hầu hết các nước có ngành kinh tế thủy sản phát triển điều nhận thấy rằng: số lượng và chủng loại các loài thủy sản ngày càng có xu hướng cạn kiệt dần. Số lượng tàu cá ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng nhưng sản lượng khai thác ngày càng có xu hướng giảm dần. Ðể khắc phục tình trạng này và để đảm bảo an ninh thực phẩm cho quốc gia, nhiều khối liên kết kinh tế, nhiều quốc gia khai thác hải sản đã có hàng loạt các biện pháp kiên quyết và đồng bộ nhằm ngăn chặn nạn suy giảm và cạn kiệt nguồn lợi. Sau đây tác giả xin nêu một số rất ít các biện pháp của các quốc gia có ngành thủy sản phát triển chủ yếu về lĩnh vực khai thác và đây cũng là ngành gây tác động mạnh nhất đến sự cạn kiệt nguồn lợi thủy sản trong thời gian qua.
* EU: Nghề cá giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chính sách an ninh thực phẩm của EU nên từ lâu họ đã biết rằng nguồn lợi của họ rất hạn chế, trong khi nhu cầu ngày càng tăng cao. Việc nguồn lợi hải sản của EU cạn kiệt nhanh trong thập kỷ 90 vừa qua buộc họ phải thi hành ngay các biện pháp quyết liệt.
Biện pháp cấp “quota” cho từng nước thành viên được thi hành đầu tiên, nhưng kết quả thu được bị hạn chế vì để phục vụ cho lợi ích riêng, nhiều quốc gia thành viên không theo đúng các hạn mức cho phép. Tiếp theo EU tiến hành thông qua Uỷ ban Nghề cá EU cấp quota theo từng đối tượng riêng biệt cho từng vùng biển và từng quốc gia, tuy nhiên kết quả vẫn hạn chế vì EU không có khả năng kiểm tra được việc thi hành của tàu cá các nước trên biển và ở các cảng cá của cả khối.
Gần đây EU đưa ra chính sách mới là cắt giảm hạm tàu cá đi 30% sau 6 năm và chia thành 2 bước: 1999 – 2002 cắt giảm 15%, từ 2002 – 2005 cắt tiếp 15%. Bên cạnh đó họ rất chặt chẽ trong việc cấp giấy phép đóng tàu cá mới, kiên quyết loại bỏ các tàu cũ, lạc hậu.
Ngoài ra họ còn tích cực trợ giúp tài chính cho công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản. Trước sức ép của dư luận, EU tuyên bố sẽ loại bỏ hẳn nghề lưới rê từ năm 2005. Ðây là việc làm rất khó khăn cho EU vì lưới rê cá thu và rê cá tuyết là các nghề quan trọng cho sản lượng lớn.
* Trung Quốc: Tuy sản lượng khai thác tăng rất nhanh và đạt con số rất lớn, nhưng Trung Quốc cảm nhận khá sớm về tình trạng nguồn lợi ven bờ bị cạn kiệt nhanh chóng. Biểu hiện là nguồn lợi cá đáy và tôm he ở các vùng biển phía Bắc bị cạn kiệt nhanh chóng.
Các biện pháp chủ yếu là: Loại bỏ hẳn nghề lưới kéo đáy sát bờ (từ 3 hải lý trở vào), đưa nghề lưới kéo đáy ra khơi, ra viễn dương và sang vùng biển các nước; cấm hẳn việc khai thác trong 2 tháng liền vào mùa sinh sản của hải sản ở từng vùng biển riêng; cải tổ triệt để và hiện đại hoá hạm tàu cá; tích cực thả con giống vào biển và đã thành công ngoài mong đợi về việc khôi phục và tăng nhanh nguồn lợi tôm he và nghề khai thác đối tượng này (sản lượng
tôm khai thác tăng nhanh tới 1 triệu tấn/năm); tăng cường pháp chế và quản lý nghề cá; giữ mức tăng sản lượng khai thác thuỷ sản bằng O.
* Canada: Vào đầu thập kỷ 90 vừa qua, đứng trước tình trạng nguồn lợi cá đáy, tôm hùm là 2 đối tượng khai thác quan trọng nhất bị suy giảm và có nguy cơ cạn kiệt nhanh, Canada đã thi hành chính sách kiên quyết nhất trong lịch sử khai thác hải sản thế giới. Họ cấm hẳn nghề khai thác cá tuyết trong 2 năm liền. Ðây là quyết định rất khó khăn vì sẽ giảm sản lượng đi gần 50%, giảm xuất khẩu hơn 50% và làm cho hàng vạn ngư dân thành thất nghiệp. Tuy nhiên, các khó khăn lớn đều được khắc phục. Nguồn lợi cá tuyết, tôm hùm được khôi phục rất nhanh chóng. Năm 1995 việc khai thác theo “quota” được khôi phục và đến nay sản lượng của họ đã gần được như trước khi có việc cấm khai thác.
* Hoa Kỳ: Tuy có nguồn lợi hải sản rất lớn và phong phú, nhưng Hoa Kỳ coi công tác bảo vệ và xử dụng hợp lý nguồn lợi này là một trong những chính sách lớn về an ninh thực phẩm quốc gia.
Trước hết, họ loại bỏ dần dần và cuối cùng là hoàn toàn đối với tàu cá nước ngoài vào khai thác ở vùng biển 200 hải lý của Hoa Kỳ (trước đây có rất nhiều tàu cá nước ngoài vào đánh bắt).
Tiếp theo, họ tiến hành cải tổ triệt để hạm tàu cá với việc siết chặt việc đăng ký và cấp giấy phép; loại bỏ tàu nhỏ cũ nát và làm các nghề tiêu diệt nguồn lợi; trợ giúp tài chính cho ngư dân đóng tàu cá mới hiện đại; xây dựng hạm tàu lưới kéo cỡ lớn để khai thác cá tuyết ở biển Alasca; xây dựng hạm tàu lưới vây cá ngừ rất lớn và hiện tại để khai thác chủ yếu ở biển quốc tế; giảm dần dần sản lượng khai thác hải sản qua từng năm. Nhờ có các chính sách và biện pháp đó mà sản lượng khai thác của Hoa Kỳ ổn định.
* Các nước Ðông Nam Á: Theo đánh giá của FAO, mặc dù sản lượng khai thác của các quốc gia Ðông Nam Á có sự tăng trưởng, nhưng tình hình nguồn lợi không có gì sáng sủa. Phần lớn các đối tượng khai thác quan trọng đã bị khai thác tới giới hạn, nguồn lợi ven bờ bị cạn kiệt, chỉ còn khả năng tăng sản lượng ở ngoài khơi với một số đối tượng nhất định như mực, một số loài cá ngừ.
Công tác bảo vệ nguồn lợi hải sản được ASEAN rất quan tâm. Nhiều hội thảo, hội nghị, nghị quyết, biên bản đã được tiến hành và được công bố. Có sự nhất trí cao trong các nước thành viên và công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản. Tuy nhiên, việc thực thi các biện pháp còn hạn chế và hiệu quả chưa cao.
Chỉ có Malaysia làm tốt hơn cả công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản. Hệ thống cập nhật số liệu và thông tin về tình trạng nguồn lợi, về sản lượng khai thác của từng tàu cá, từng
bang, từng cảng cá, sự hoạt động của từng tàu cá đều được theo dõi chặt chẽ, được thống kê đầy đủ. Các số liệu thu thập đều được xử lý nhanh chóng và tập trung. Ngoài ra, họ còn quản lý rất chặt chẽ tàu cá, quy định chỉ được sử dụng 23 loại công cụ khai thác, chuyển dần nghề khai thác từ bờ Tây sang bờ Ðông Indonesia đã cấm hẳn nghề lưới kéo đáy từ năm 1985 để bảo vệ hệ sinh thái rất giàu có và phong phú quanh hàng trăm hòn đảo. Họ quy định cho ngư dân chỉ được sử dụng 17 loại công cụ khai thác. Tuy nhiên, gần đây do khó khăn về kinh tế nên công tác bảo vệ nguồn lợi này thực hiện rất khó khăn.
Nguồn lợi ven bờ của Thái Lan đã bị cạn kiệt từ lâu, nên họ cũng rất quan tâm tới vấn đề bảo vệ hệ sinh thái ven bờ, gần đây họ đã cấm hẳn việc khai thác ven bờ trong thời hạn ngắn ở từng địa phương, cấm khai thác từng đối tượng riêng lẻ (như cá chỉ vàng ở vịnh Thái Lan), tích cực đưa hạm tàu cá ra vùng biển quốc tế ở Ấn Ðộ Dương, Thái Bình Dương, liên doanh với các nước để vào khai thác.
Nhìn chung, các biện pháp được thực thi để bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản
một cách hiệu quả hiện nay gồm:
Cấp quota cho từng quốc gia, cấp quota cho từng loài, cắt giảm hạm tàu cá theo kế
hoạch (EU).
Cấp quota cho từng loài quan trọng (Hoa Kỳ, Canada, Peru, Chile, Nauy, Nhật Bản). Mô hình hoá hạm tàu cá và hiện đại hoá hạm tàu cá (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, EU). Cấm khai thác từng thời gian, từng địa điểm (Trung Quốc, Peru, Chile, Thái Lan). Phát triển nuôi nhân tạo các loài quý hiếm bị cạn kiệt để thay thế dần việc khai thác
(Nauy, Nhật Bản, Ðài Loan, Trung Quốc, Indonesia, Philippin, Chile).
Thả con giống nhân tạo vào biển để duy trì và phát triển nguồn lợi, khôi phục lại
nghề khai thác (Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canada, Nga).
1.3.5. Một số mô hình nuôi thủy sản hiệu quả
Đa dạng hóa mô hình nuôi là một trong những chương trình phát triển trọng điểm của ngành thủy sản nước ta. Trong suốt thời gian qua ngoài các mô hình nuôi quảng canh, quy mô nhỏ, không được đầu tư đúng mức đã được thay thế bằng các mô hình nuôi thâm canh, năng suất cao đã đóng góp quan trọng vào việc làm gia tăng sản lượng thủy sản trong cả nước.
1.3.5.1. Mô hình nuôi luân canh, xen canh cá tôm trong ruộng lúa
Lợi ích của mô hình nuôi luân canh, xen canh cá tôm trong ruộng lúa: Kết hợp đa dạng hoá sản phẩm trên ruộng lúa
Cá, tôm ăn sâu rầy, hạn chế dịch bệnh của lúa, hạn chế dùng thuốc trừ sâu. đảm bảo cân bằng hệ sinh thái giữa các quần thể sinh vật trong ruộng. Đồng thời tạo sản phẩm lúa, thủy sản sạch, tạo ra môi trường lành mạnh cho người sản xuất và an toàn cho người sử dụng.
Mang lại hiệu quả kinh tế cao ở những vùng đất trũng, tăng thu nhập cho người nông
dân, tăng nguồn thực phẩm cho xã hội. Giải quyết một phần lao động nhàn rỗi
1.3.5.2. Mô hình nuôi cá lồng bè
Nuôi cá lồng hay bè là kỹ thuật nuôi tăng sản mang tính công nghiệp. Cá được nuôi trên bè đặt trên các dòng sông nước chảy liên tục, do đó cung cấp đầy đủ oxy cho nhu cầu sống và phát triển của cá, vì vậy có thể nuôi với mật độ cao. Bè thường có kích thước lớn và nuôi với số lượng nhiều. Lồng có kích thước nhỏ hơn bè nhiều lần, chủ yếu là nuôi các loài có giá trị kinh tế và bán giá cao. Nuôi cá bè có những đặc tính ưu việt sau:
Tận dụng được mặt nước không tốn đất đào ao, xây trại nuôi. Năng xuất cao, sản xuất mang tính công nghiệp. Dễ kiểm soát và thu hoạch, đảm bảo an toàn, tránh thất thoát, hao hụt, ngăn chặn được
dịch hại của cá. Cá tăng trưởng nhanh, rút ngắn được thời gian nuôi.
Giá trị ngày công lao động tương đối cao so với những nghề nông nghiệp khác. Ngoài ra ĐBSCL có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi cá lồng, bè: Thuận lợi về điều kiện thủy lý hoá của sông Cửu Long. Thuận lợi về nguồn thức ăn cho cá nuôi: thực phẩm trồng trọt, chăn nuôi phong phú,
đa dạng, gần các xí ngiệp công nghiệp thực phẩm, chế biến đông lạnh.
Nhiều đối tượng cá nuôi thích hợp cho nuôi cá bè.
(xem thêm phần phụ lục 5. Kích thước một số loại lồng bè)
1.3.5.3. Mô hình nuôi xen canh tôm càng xanh trong mương vườn
Đây là một mô hình nuôi mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, phù hợp với diện tích đất canh tác quy mô nhỏ của nhiều hộ nông dân trong thời gian gần đây. Mô hình này đang được phát triển rộng rãi tại các tỉnh thuộc ĐBSCL như Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long,… Lợi ích của mô hình nuôi này là:
Tiềm năng về diện tích nuôi trồng ở ĐBSCL là rất lớn, có thể tận dụng được các
mương trong vườn cây ăn trái hay vườn dừa.
Vốn đầu tư không lớn, có thể dụng được nguồn giống từ tự nhiên.
Thức ăn có thể tận dụng được từ tự nhiên như: ốc bươu vàng, cua, còng, khoai mì,
trùn quế,… đây là những nguồn thức ăn rẻ tiền, dễ kiếm.
Ít xãy ra dịch bệnh, cung cấp được những sản phẩm thủy sản sạch, đảm bảo chất
lượng môi trường.
Giải quyết được việc làm cho nhà vườn trong thời gian nông nhàn. Mang lại hiệu quả
kinh tế khá cao, nhu cầu của thị trường về sản phẩm tôm càng xanh là rất lớn.
(Hiệu quả từ mô hình này có thể tham khảo thêm tại phần phụ lục)
1.4. Một số khái niệm chung về hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa
Hội nhập kinh tế
Hội nhập kinh tế là việc gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau. Khái niệm này được Béla Balassa đề xuất từ thập niên 1960 và được chấp nhận chủ yếu trong giới học thuật và lập chính sách. Nói rõ hơn, hội nhập kinh tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu.
Toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa là quá trình liên kết các quốc gia trên thế giới về nhiều mặt, từ kinh tế đến văn hóa, khoa học,… Toàn cầu hóa kinh tế có tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của nền kinh tế - xã hội thế giới. Đây là một quá trình gắn liền với sự phát triển và tiến bộ xã hội diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trên quy mô toàn cầu; là quá trình biến đổi sâu sắc, toàn diện các mối quan hệ kinh tế, văn hóa, khoa học, môi trường,… của thế giới trên quy mô toàn cầu.
Kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau
theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, nếu lượng cầu hàng hóa cao hơn lượng cung, thì giá cả hàng hóa sẽ tăng lên, mức lợi nhuận cũng tăng khuyến khích người sản xuất tăng lượng cung. Người sản xuất nào có cơ chế sản xuất hiệu quả hơn, thì cũng có tỷ suất lợi nhuận cao hơn cho phép tăng quy mô sản xuất, và do đó các nguồn lực sản xuất sẽ chảy về phía những người sản xuất hiệu quả. Những người sản xuất có cơ chế sản xuất kém hiệu quả sẽ có tỷ suất lợi nhuận thấp, khả năng mua nguồn lực sản xuất thấp, sức cạnh tranh kém sẽ bị đào thải.
Thực tế đó đặt ra rất nhiều vấn đề cho ngành thủy sản nước ta cần phải giải quyết, bản thân ngành thủy sản nước ta xuất phát từ sản xuất nhỏ lẽ, sản phẩm không thất sự đa dạng cho nên sức cạnh tranh nhìn chung là rất thấp. Nếu chúng ta không có những hướng đi đúng thì ngành thị sản nước ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi thị trường đòi hỏi những sản phẩm không chỉ đảm bảo tốt chất lượng, đồng thời sản phẩm đó có gây tác hại môi trường hay không.
1.5. Những cơ hội và thách thức của ngành thủy sản Việt Nam thời kỳ hội nhập
Thủy sản là một trong những ngành kinh tế đem lại kim ngạch xuất khẩu cao cho Việt Nam, năm 2008 xuất khẩu thủy sản đạt 4,5 tỉ USD với sản lượng trên 4,5 triệu tấn, với tốc độ tăng trưởng bình quân 18%/năm. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hàng thủy sản đã có mặt ở khoảng 160 thị trường trên thế giới. Sau khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), mặt hàng thủy sản càng có điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Tuy nhiên, ngành thủy sản cũng gặp phải không ít thách thức từ việc áp dụng các qui định của WTO. Bộ Thủy sản cho rằng: “Việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ làm xuất hiện nhiều
nhân tố mới. Yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục khai thác tốt các tiềm năng, đầu tư phát triển có hiệu quả, bền vững và tiếp tục hội nhập nhanh với thủy sản khu vực và quốc tế”.
1.5.1. Cơ hội
Nhìn một cách tổng quát, hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam chính thức là thành viên của WTO, điều đó sẽ mang lại cơ hội cho sản phẩm thủy sản Việt Nam trong việc thâm nhập thị trường thế giới, do các nước biết đến Việt Nam nhiều hơn, doanh nhân các nước sẽ quan tâm hơn đến xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam, trong đó có sản phẩm thủy sản. Có điều kiện thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài; tranh thủ công nghệ sản xuất tiên tiến đẩy mạnh công nghiệp hóa và tăng cường năng lực ngành kinh tế thủy sản vốn còn non yếu. Với công nghệ nuôi trồng và khai thác thủy sản mới và tiên tiến của các nước du nhập vào nước ta sẽ giảm thiểu được các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và suy thoái nguồn lợi, tạo ra điểm mạnh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tạo cơ hội mở mang ngành nghề ở các vùng nông thôn, vùng xa xôi hẻo lánh.
Bên cạnh đó, sự ưu đãi hơn về thuế quan, xuất xứ hàng hoá, hàng rào phi thuế quan và những lợi ích về đối xử công bằng, bình đẳng sẽ tạo điều kiện để hàng thủy sản Việt Nam có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Đồng thời cũng là cơ hội để các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hơn đến đầu tư vào phát triển thủy sản tại Việt Nam.
Tính đến thời điểm hiện tại, thì từ chỗ không có tên trên bản đồ xuất khẩu thủy sản thế giới, ngành thủy sản Việt Nam đã có những bước tiến tốt, vươn lên vị trí thứ 7 trong top các
nước có kim ngạch xuất khẩu thủy sản lớn nhất, sản phẩm thủy sản Việt Nam đã có mặt gần 100 thị trường nước ngoài.
1.5.2. Thách thức
Một khi Việt Nam đã hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia vào WTO, thủy sản Việt Nam, bên cạnh những cơ hội thì đương nhiên thủy sản nước ta cũng gặp không ít các khó khăn và thách thức.
Việt Nam là nước đang phát triển, nên khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản còn yếu, trình độ quản lý còn nhiều bất cập, trong khi các yêu cầu về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm của các nước thường xuyên thay đổi và ngày càng đòi hỏi khắt khe. Chúng ta đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản theo chiều rộng mà chưa có sự quan tâm đúng mức theo chiều sâu gắn chặt với sự ổn định của nguồn nguyên liệu.
Sự mất cân đối giữa khu vực sản xuất nguyên liệu và khu vực chế biến xuất khẩu, cụ thể hơn là khu vực sản xuất nguyên liệu chưa đáp ứng được nhu cầu của khu vực chế biến xuất khẩu cả về số lượng cũng như chất lượng sản phẩm, sản lượng và chất lượng sản phẩm thủy sản sau thu hoạch còn rất yếu, các nhà máy chế biến thủy sản của ta còn nhỏ bé, manh mún, yếu kém về năng lực sản xuất.
Sự hiểu biết của các doanh nghiệp về luật pháp quốc tế, nhất là hiểu rõ về pháp luật trong tranh chấp thương mại còn rất hạn chế, điều này ảnh hưởng khá lớn tới năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Công tác đào tạo cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật tuy đã được quan tâm nhưng do hạn chế về kinh phí và kinh nghiệm nên chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng.
Việt Nam là nước đang phát triển nên nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đang gặp rất nhiều khó khăn về vốn, công nghệ và kinh nghiệm, bên cạnh đó kỹ năng và trình độ quản trị của nhiều doanh nghiệp thủy sản chưa đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế và còn rất thấp so với các đối thủ.
Hệ thống cơ sở hạ tầng cho sản xuất kinh doanh thủy sản (hệ thống thủy lợi, các chợ thủy sản đầu mối, các trung tâm thương mại thủy sản) chưa có hoặc còn yếu, cộng với khả năng cạnh tranh thấp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ là thách thức lớn trong việc giữ được thị trường trong nước.
Vấn đề thương hiệu của thủy sản Việt Nam cũng được coi là một thách thức lớn, vì hiện nay các mặt hàng thủy sản Việt Nam được xuất khẩu thông qua các nhà nhập khẩu và được phân phối dưới nhiều thương hiệu khác nhau, vừa không quảng bá được sản phẩm, vừa có thể gây ra những rắc rối như vụ “cá basa” thành “cá mú” ở thị trường Mỹ vừa qua.
Mặt khác, những tác động về xã hội nẩy sinh như khoảng cách giàu nghèo, tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng do yêu cầu lao động kỹ thuật cao,… và chính người dân sẽ bị thua thiệt nhiều nhất.
1.6. Chính sách phát triển bền vững ngành thủy sản Bến Tre thời kỳ hội nhập
Từ đầu những năm 2000 cho đến nay, Bến Tre đã hoạch định và triển khai thực hiện các chương trình phát triển thủy sản với mục tiêu phát triển hiệu quả, bền vững và an toàn vệ sinh và chất lượng sản phẩm.
Về xây dựng thể chế: đã xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy nhằm vào các hoạt động quản lý an toàn môi trường, hạn chế dịch bệnh, an toàn vệ sinh và chất lượng sản phẩm thủy sản, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hạn chế các mối nguy cơ gây mất cân bằng sinh thái và gây ô nhiễm môi trường; đồng thời cũng xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển cộng đồng, mở rộng việc thực hiện cơ chế đồng quản lý.
Về đào tạo nâng cao năng lực: thông qua các chương trình dự án như các dự án ODA, chương trình FSPS II, dự án IFAD, các dự án của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ; ngành thủy sản Bến Tre đã tiến hành thực hiện các chương trình đào tạo nâng cao năng lực các thành viên trong dây chuyền sản xuất.
- Các đối tượng đào tạo: cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, cán bộ thanh tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm, người sản xuất, người thu mua, người sơ chế bảo quản sản phẩm, người cung ứng dịch vụ hậu cần, chính quyền địa phương, Tổ liên kết hợp tác, Hợp tác xã và cộng đồng ngư dân,…
- Các chủ đề đào tạo: lập kế hoạch, quản lý kế hoạch; rà soát, điều chỉnh quy hoạch; kiểm tra, kiểm soát, quản lý an toàn vệ sinh và chất lượng sản phẩm; áp dụng ISO trong quản lý hành chính; nghiên cứu ứng dụng hoàn thiện qui trình kỹ thuật nuôi có kiểm soát; xây dựng thể chế quản lý và tổ chức lại sản xuất theo những mô hình quản lý cộng đồng; xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật và thương mại vào sản xuất; xây dựng, quản lý và quảng bá thương hiệu sản phẩm; xây dựng nguyên tắc áp dụng các tiêu chuẩn bảo tồn giống loài thủy sản và bảo vệ tính đa dạng sinh học; nội dung của các hiệp định WTO; chiến lược phát triển nguồn nhân lực; rà soát điều chỉnh và áp dụng qui phạm pháp luật,…
Về tổ chức quản lý: đã thực hiện phân cấp quản lý đến huyện, xã và các tổ chức quản lý cộng đồng trên các lĩnh vực: quản lý quy hoạch, môi trường, dịch bệnh, chất lượng con giống,
hoá chất, thức ăn, mạng lưới cán bộ tư vấn kỹ thuật và dịch vụ, kỹ thuật nuôi, sản xuất giống, thu mua, sơ chế và bảo quản sản phẩm sau thu hoạch, bảo tồn đa dạng sinh học,…
Về tổ chức sản xuất: đã tổ chức sản xuất theo các mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã, tập đoàn, trang trại, thành lập các tổ chức ban quản lý vùng nuôi, các tổ liên kết sản xuất bền vững để khuyến khích và tăng cường vai trò đồng quản lý của cộng đồng vào các lĩnh vực kể trên.
Về kỹ thuật: đã áp dụng tiêu chuẩn HACCP, ISO 9001 phiên bản 2000 cho các nhà máy chế biến đã có EU CODE, áp dụng quy chuẩn thực hành nuôi thủy sản tốt , nuôi thủy sản có trách nhiệm (GAP, BMP, COC) vào đối tượng tôm sú, cá tra, tôm chân trắng; thực hiện chương trình kiểm soát thu hoạch nhuyễn thể hai mãnh vỏ, kiểm soát dư lượng hoá chất và kháng sinh, kiểm tra tạp chất trên nguyên liệu đầu vào, kiểm tra chất lượng con giống, kiểm tra xử lý dịch bệnh và ô nhiễm môi trường, kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm trên các phương tiện tàu cá, cảng cá, các cơ sở thu mua,…
Về kiểm soát quản lý chất lượng: đã hình thành Phòng quản lý chất lượng an toàn vệ sinh và thú y thủy sản trực thuộc Chi cục Bảo vệ nguồn lợi Thủy sản tỉnh để hướng dẫn người sản xuất thực hiện các quy định về tiêu chuẩn ngành và hệ thống văn bản pháp luật nhà nước các cấp. Thành lập cơ quan Thanh tra Thủy sản trực thuộc Sở Thủy sản để thực hiện chức năng kiểm tra giám sát và xử lý vi phạm.
Về xúc tiến thương mại: ngành Thủy sản với sự tài trợ của các tổ chức phi chính phủ đang trong quá trình đánh giá điều kiện để công nhận tiêu chuẩn MSC (Marine Stewardship Council) cho con nghiêu Bến Tre. Hướng dẫn cho Công ty FAQUIMEX áp dụng các tiêu chuẩn GAP, BMP, CoC cho con tôm sú và cá tra; thực hiện qui trình truy xuất nguồn gốc con tôm sú, cá tra, nghiêu để xác lập thương hiệu.
Chương 2 ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN THỦY SẢN Ở TỈNH BẾN TRE
2.1. Tổng quan chung về Bến Tre
Bến Tre là một trong 13 tỉnh thành phố của vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), được hợp thành bởi 3 cù lao lớn: cù lao An Hoá, cù lao Bảo và cù lao Minh do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Ba Lai và sông Cổ Chiên) bồi tụ qua nhiều thế kỷ tạo thành.
Nhìn trên bản đồ, tỉnh Bến Tre có hình rẻ quạt, đầu nhọn nằm ở thượng nguồn, các nhánh sông lớn như nan quạt xòe rộng ra ở phía đông. Theo kết quả niên giám thống kê tỉnh 2008, diện tích tự nhiên của tỉnh là 2.360,2 km2, chiếm khoảng 5.8% diện tích tự nhiên vùng ĐBSCL, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 181.406 ha chiếm khoảng 76,86%; vùng lãnh hải rộng khoảng 20.000 km2.
Tỉnh Bến Tre có dáng hình gần như một tam giác cân, có trục Tây Bắc – Đông Nam, nằm trong giới hạn tọa độ địa lý từ 9048’ đến 10020’ vĩ độ Bắc, từ 105057’ đến 106048’ kinh độ Đông. Về ranh giới đại lý, Tỉnh Bến Tre, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía Tây và Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, có ranh giới chung là sông Cổ Chiên, phía Đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển khoảng 65 km.
Bến tre là một vựa trái cây lớn của ĐBSCL với nhiều sản vật và hoa quả có giá trị kinh tế cao như: sầu riêng, măng cụt, vú sữa,…, cây công nghiệp thì có cây dừa, đây là xứ sở của cây dừa với diện tích gần khoảng 40.000ha. Ngoài ra, Bến Tre cũng còn là vùng đất giàu có về nguồn tài nguyên thủy sản các loại như: cá thiều, cá mối, cá cơm,… Ngành thủy sản của tỉnh là một trong những ngành rất được quan tâm chú trọng phát triển trong thời gian gần đây, nó đã thật sự trở thành một ngành xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng của người dân Bến Tre, đặc biệt là các hộ nông dân ở 3 huyện ven biển.
Dân số Bến Tre đến năm 2008 là 1.355.724 người, chiếm 7.7% dân số vùng ĐBSCL, mật số dân số trung bình 574 người/km2, cao hơn mật độ trung bình của ĐBSCL là 436 người/km2. Toàn tỉnh được chia thành 9 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh và 8 huyện là: Châu Thành, Bình Đại, Ba Tri, Giồng Trôm, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Chợ Lách, Thạnh Phú; trong đó bao gồm 7 thị trấn, 9 phường và 147 xã), thành phố Bến Tre là trung tâm hành chính, kinh tế và văn hóa của tỉnh.
Bến Tre mang những nét đặc thù văn hóa của miệt vườn Nam Bộ, gắn bó với sông nước, người dân Bến Tre sống hiền hòa, giản dị với ruộng đồng, cây trái. Bến Tre cũng là vùng đất mang bản sắc văn hóa rất đặc trưng vùng ĐBSCL, đó là những lời ca, điệu hò lý Nam Bộ.
2.2. Vị trí của ngành thủy sản trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Nghề thủy sản ở Bến Tre đã có truyền thống từ rất lâu đời, từ khi con người đầu tiên đến khai thác vùng đất này, nhưng đó chỉ là nghề cá mang tính chất thủ công, thô sơ, chủ yếu là khai thác đánh bắt tự nhiên nhằm phục vụ cho nhu cầu bữa ăn hằng ngày.
Cùng với đà phát triển của kinh tế, ngành thủy sản không những chỉ là ngành nhằm cải thiện bữa ăn hằng ngày cho người dân mà nó đã trở thành một ngành kinh tế thế mạnh của tỉnh trong việc cung cấp nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, tạo ra các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu có giá trị, tăng nguồn thu ngoại tệ cho tỉnh nhà góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo cho người dân trong tỉnh, đặc biệt là các huyện ven biển.
Với những thế mạnh về nguồn tài nguyên thủy sản tự nhiên cũng như những điều kiện thuận lợi phục vụ cho việc NTTS, từ đó trong những năm qua ngành thủy sản đã giải quyết được việc làm cho lực lượng lao động đáng kể trên địa bàn tỉnh. Một ví dụ diễn hình chẳng hạn như vào năm 2007 ngành thủy sản đã tạo ra công ăn việc làm cho 59.214 lao động trong tổng số 704.567 lao động của toàn tỉnh, chiếm tỉ lệ là 8.4%. Qua đó góp phần làm tăng thêm thu nhập của bà con nông dân lao động. Đồng thời thủy sản cũng là ngành giúp chuyển dịch cơ cấu đáng kể, chính nhờ vào việc phát triển NTTS đã làm cho sản lượng thủy sản tỉnh nhà tăng lên đáng kể, từ đó các ngành kinh tế khác phục vụ cho ngành thủy sản cũng phát triển song hành như: chế biến thức ăn chăn nuôi thủy sản, dịch vụ thú y thủy sản, công nghiệp chế biến sản phẩm thủy sản, đại lý phân phối,… từng bước đã thay đổi dần bộ mặt nông thôn, góp phần nâng cao mức sống của người dân, đây là bước phát triển hoàn toàn phù hợp với xu thế của thời đại “ly nông mà không ly hương”.
Với đà tăng trưởng dân số như hiện nay thì nhu cầu về khai thác nguồn tài nguyên từ thiên nhiên là rất lớn, không ngoài khả năng đó thì con người có thể khai thác làm tổn thương nghiêm trọng đến nguồn tài nguyên thủy sản, từ thực tế trên cho thấy nếu chúng ta thực hiện tốt công tác phát triển ngành thủy sản tỉnh nhà thì nó không những đem lại giá trị kinh tế lớn, mà nó còn góp phần tái tạo, bảo vệ nguồn tài nguyên thủy sản của tỉnh nói riêng, của cả nước nói chung, bảo vệ tính đa dạng sinh học cũng như hệ thống rừng ngập mặn ven biển rất đa dạng và phong phú của tỉnh nhà.
Thủy sản cũng có thể nói đây là một ngành tạo mối quan hệ với các ngành kinh tế trong tỉnh, tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác, góp phần vào việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư đưa khoa học công nghệ hiện đại vào phục vụ sản xuất; Mở rộng, giao lưu kinh tế giữa các vùng miền trong nước cũng như với thế giới góp phần cải thiện mối quan hệ về thương mại, tạo điều kiện cho người dân trong tỉnh có điều kiện tiếp cận với các tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại, giao lưu học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Đặc biệt, trong quá trình phát triển ngành NTTS, nó cũng tạo ra một điều kiện khá lý tưởng cho việc phát triển các hoạt động du lịch sinh thái như: tham quan các mô hình nuôi tôm sú xen với phát triển rừng ngập mặn, nuôi cá phục vụ cho các hoạt động du lịch giải trí, phục vụ nhu cầu về ẩm thực trong du lịch,… Nói tóm lại, ngành thủy sản của tỉnh có một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế của tỉnh, góp phần làm tăng tính bền vững cho nền kinh tế của tỉnh trong tương lai.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, sự phát triển kinh tế của Bến Tre trong đó có sự đóng góp đáng kể của ngành thủy sản, nó góp phần vào sự phát triển chung của kinh tế cả nước, giữ vững định hướng XHCN trong việc vận dụng cơ chế thị trường, tạo nguồn lực để phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư hiện đại hóa trang thiết bị sản xuất, tạo nên mối quan hệ khắng khít giữa các ngành, nâng cao giá trị của nông nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, gắn sự nghiệp CNH – HĐH đất nước với quá trình phát triển Nông – Lâm – Thương nghiệp – Dịch vụ hợp lý.
2.3. Đánh giá tiềm năng phát triển ngành thủy sản Bến Tre
2.3.1. Điều kiện tự nhiên
Bến Tre là một tỉnh ven biển nằm trong khu vực châu thổ ĐBSCL với diện tích ở vào khoảng 2.360,2 km2, chiếm 5,8% diện tích khu vực, có đường bờ biển kéo dài trên 65 km, kết hợp với hệ thống sông ngòi nội địa chằng chịt có tổng chiều dài hơn 382 km, được bắt nguồn từ hệ thống sông Mê-Kông và đổ ra biển Đông thông qua bốn cửa sông chính: Cổ Chiên, Ba Lai (hiện nay thông qua cống đập Ba Lai), Hàm Luông và sông Tiền (sông Cửa Đại). Thiên nhiên đã ưu đãi tạo cho Bến tre một vùng lãnh hải trên 20.000 km2 với hệ đa dạng sinh học của vùng cửa sông ven biển rất phong phú, thuận lợi cho nghề khai thác đánh bắt thủy hải sản và gần 60.000 ha mặt nước có khả năng NTTS ở cả 3 vùng sinh thái ngọt, lợ, mặn.
Đến năm 2007, có diện tích 42.098 ha mặt nước đã đưa vào nuôi thủy sản các loại, ước tính diện tích này năm 2008 là 42.089 ha; ngành thủy sản Bến Tre đã chọn 05 đối tượng nuôi chủ lực của tỉnh tập trung đầu tư phát triển để tham gia vào thị trường xuất khẩu đó là nghêu,
cá tra, tôm sú, tôm thẻ chân trắng và tôm càng xanh. Ngoài ra còn xây dựng cho người nuôi nhiều đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh như cá mú, cá bống tượng, cá rô phi, cá điêu hồng, cá kèo, cá lóc đồng, lươn, ếch, baba, cá sấu,…
2.3.1.1. Địa hình
Tỉnh Bến Tre có dáng hình gần như một tam giác cân, có trục Tây Bắc – Đông Nam, cạnh đáy tiếp giáp với biển Đông có chiều dài khoảng 65 km, hai cạnh hai bên là sông Tiền và sông Cổ Chiên.
Bến Tre mang đặc trưng cơ bản của ĐBSCL, địa hình khá bằng phẳng, chênh lệch tuyệt đối giữa điểm thấp nhất và điểm cao nhất khoảng 3,5m. Địa hình có xu thế thấp dần từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam và nghiêng ra biển, được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của dòng sông Cửu Long trên nền đá cổ. Có thể chia địa hình Bến Tre thành 3 vùng:
Vùng thấp có cao độ <1 m, bị ngập nước khi triều lên, bao gồm một số vùng đất ruộng ở lòng chảo, các cù lao, bãi bồi ven sông, biển,… thích hợp cho việc NTTS các loại như cá da trơn, nghêu, hoặc các hình thức canh tác kết hợp.
Vùng có địa hình trung bình, cao độ từ 1 – 2 m, ít bị ngập khi triều cường lên (chỉ bị ngập khi gặp triều cường tháng 11, 12), chiếm khoảng 90% diện tích toàn tỉnh, thích hợp cho việc trồng lúa, lên líp làm vườn kết hợp với nuôi các loài thủy sản nước ngọt như: nuôi tôm càng xanh với trồng cây ăn trái hoặc dưới các mương vườn dừa,… Vùng có địa hình cao, trãi dài từ Chợ Lách đến Châu Thành, nằm về phía Bắc và Tây Bắc của thành phố Bến Tre. Cao độ tuyệt đối có nơi đạt trên 5m, nhưng phần lớn từ 3 – 3,5 m. Phần đất cao thường là các giồng cát, nuỗng cát dấu vết của các bờ biển cổ,… thích hợp cho việc canh tác rau, màu; là nơi tụ điểm dân cư vùng biển. Đa số địa danh ở vùng có địa hình cao đều mang thêm từ Giồng ở phía trước như: Giồng Tre, Giồng Trôm, Giồng Mù U,…
Nhìn chung, địa hình Bến Tre thích hợp cho việc tổ chức sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, có xu thế lấn dần ra biển theo hướng Tây – Tây Nam tại các cửa sông (Ba Lai và Cổ Chiên) bởi các tác động tổng hợp giữa các dòng hải lưu ven bờ và phù sa sông đổ ra biển. Tốc độ bình quân lấn biển hàng năm 9,25 km2. Đặc biệt, trong năm 2001, khu vực ven biển đã xuất hiện một số cồn đất mới hình thành, còn bị ngập nước và chỉ hiện rõ khi nước triều thấp. Khu vực bãi triều này là một điều kiện khá lý tưởng cho việc tổ chức sản xuất nghiêu của tỉnh, một trong những mặt hàng thủy sản thế mạnh của tỉnh hiện nay. Vào ngày 10/11/2009, Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) đã công bố ngành nuôi và khai thác nghiêu tại Bến Tre đã được Hội
đồng Bảo tồn biển quốc tế (Marine Stewardship Council – MSC) cấp chứng nhận MSC ngày 09/11/2009.
Bên cạnh địa hình đất liền trên 3 dãi cù lao, thì trên các nhánh sông còn có hệ thống các
cồn nhỏ (dân địa phương gọi là các cù lao) như:
Trên sông Cổ Chiên có cồn Phú Đa (Chợ Lách), Thành Long (Mỏ Cày Nam),… Trên sông Hàm Luông có cồn Tiên Lợi (Châu Thành), Hưng Phong còn gọi là cù lao
Ốc (Giồng Trôm), cù lao Linh (Giồng Trôm), cù lao Đất (Ba Tri),… Trên sông Tiền có cồn Phụng (Châu Thành), cù lao Tấu (Bình Đại),… Hệ thống các cù lao này, ngoài giá trị về trồng cây ăn trái kết hợp với du lịch sinh thái miệt vườn, thì trong thời gian gần đây trên các dãy cù lao cũng là điều kiện lý tưởng để hình thành các vuông nuôi cá da trơn quy mô công nghiệp phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến cá da trơn xuất khẩu. Bước đầu thì mô hình này cũng mang lại giá trị kinh tế khá. Hiện nay tỉnh đã có những quy hoạch bước đầu tại một số cù lao như: cồn Bần (Thành Thới B – Mỏ Cày Nam), cù lao Tấu (Bình Đại), cồn Tiên Lợi (Châu Thành),…
2.3.1.2. Khí hậu
Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, nhưng lại nằm ngoài ảnh hưởng của tính chất lạnh khô từ gió mùa Đông Bắc, nên nền tảng nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình năm dao động từ 25.50C – 28.90C. Trong năm không tháng nào nhiệt độ trung bình dưới 250C. Hằng năm, mặt trời đi qua thiên đỉnh 2 lần vào ngày 16/4 và 27/7. Tổng số giờ nắng trong năm lớn, trung bình là 2000 giờ. Do vị trí nằm gần như song song với các luồng gió mùa hè thổi từ biển vào, nên lượng mưa trung bình năm thấp hơn một số tỉnh khác trong khu vực trung bình 1500 – 1700mm/năm, mưa tập trung từ tháng 5 – 11 hằng năm, các tháng 1,2,3 rất ít mưa và hầu như không có mưa.
Tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng gián tiếp của gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, giữa 2 mùa gió Tây Nam và Đông Bắc là 2 thời kỳ chuyển tiếp có hướng gió thay đổi vào các tháng 11 và tháng 4 tạo nên 2 mùa rõ rệt. Mùa gió Đông Bắc là thời kỳ khô hạn, mùa gió Tây Nam là thời kỳ mưa ẩm.
Do gần biển và có hệ thống sông ngòi chằng chịt, nên độ ẩm tương đối ở Bến Tre nhìn chung khá cao, trung bình từ 77 – 88%, các huyện ven biển có độ ẩm tương đối từ 83 – 91%; sự chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít nhất khoảng 11%. Vào mùa khô độ ẩm của tỉnh vào khoảng 77 – 80%, riêng vùng ven biển khoảng 79 – 84%. Vào mùa mưa, độ ẩm khoảng 83 – 88%, ven biển từ 85 – 91%.
Mặc dù, với vị trí nằm tiếp giáp với biển Đông, nhưng Bến Tre ít chịu ảnh hưởng của bão, vì nằm ngoài vĩ độ thấp (bão thường xảy ra từ vĩ độ 150 Bắc trở lên). Ngoài ra, nhờ có gió đất liền nên biên độ dao động ngày đêm giữa các khu vực bị giảm bớt. Thỉnh thoảng vào thời điểm giao mùa giữa mùa khô với mùa mưa và ngược lại xuất hiện các cơn gió xoáy, gió lốc làm nước biển dâng cao tràn sâu vào nội đồng gây thiệt hại cho mùa màng, hoa màu.
Khí hậu Bến Tre cũng cho thấy thích hợp với nhiều loại cây trồng. Ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm thuận lợi cho sự quang hợp và phát dục của cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, ngoài thuận lợi trên Bến Tre cũng gặp những khó khăn do thời tiết nóng ẩm nên thường có nạn sâu bệnh, dịch bệnh, và nấm mốc phát sinh, phát triển quanh năm.
Trở ngại đáng kể trong nông nghiệp là vào mùa khô, lượng nước từ thượng nguồn đổ về giảm nhiều và gió chướng mạnh đưa nước biển sâu vào nội địa, làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng đối với các huyện gần phía biển và ven biển. Nhưng trở ngại này, trong những năm gần đây chúng ta đã khắc phục được phần nào nhờ vào sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng – vật nuôi phù hợp, trong đó nổi bật lên là vấn đề NTTS của các huyện ven biển. Diễn hình như các mô hình lúa – tôm bước đầu đã mang lại hiệu quả rất tốt, góp phần vào việc phát triển kinh tế chung của tỉnh.
Biểu đồ 2.1. Nhiệt độ, lượng mưa của Bến Tre năm 2008.
Lượng mưa
Nhiệt độ
độ C
mm
29
400
28.5
1747 mm
350
28
300
27.5
250
27
26.5
200
26
150
25.5
100
25
50
24.5
24
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Tháng
Nguồn: Vẽ từ số liệu Cục thống kê tỉnh Bến Tre
Với nền tảng khí hậu như trên thì Bến Tre cũng như những tỉnh khác trong khu vực có tiềm năng để phát triển ngành nuôi trồng cũng như đánh bắt thủy sản, do chúng ta có khả năng tính toán được tương đối chính xác tính mùa vụ trong sản xuất vì sự biến động khí hậu trong năm là không lớn, không có những trường hợp thất thường của thời tiết, đồng thời Bến Tre có đường bờ biển dài nhưng với vị trí gần với xích đạo nên khả năng xảy ra ra bão trong năm là không lớn, chỉ có những tháng cuối năm là hay có bão nhưng số lượng và tính chất của bão là không lớn lắm nên việc đánh bắt thủy sản có thể hoạt động được quanh năm.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây Bến Tre cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu toàn cầu nên thời tiết luôn có những biến đổi thất thường khó có thể dự đoán chính xác được, sự ấm dần lên của khí hậu cũng làm cho gia tăng tình hình dịch bệnh, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất của nhiều hộ sản xuất trong tỉnh. Do đó, để đảm bảo sự phát
triển bền vững của ngành trong tương lai thì đòi hỏi sự đóng góp rất lớn của các nhà làm công tác dự báo, để tránh những thiệt hại đáng tiếc có thể xãy ra.
2.3.1.3. Thổ nhưỡng
Đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre khá đa dạng, phong phú, có thể phân thành 4 nhóm chính:
Nhóm đất phù sa, nhóm đất mặn, nhóm đất phèn và nhóm đất giồng cát.
Nhóm đất phù sa: Chiếm khoảng 84% diện tích canh tác, chia làm 2 nhóm phụ: Đất phù sa ngọt: chiếm khoảng 34% diện tích với 5 loại đất, tập trung ở phía Tây Bắc
của tỉnh.
Đất phù sa nhiễm mặn: chiếm khoảng 50% diện tích, tập trung chủ yếu ở các huyện ven biển: Bình Đại, Thạnh Phú, Ba Tri,… Trong đó, loại đất phù sa nhiễm mặn ít và mặn trung bình đang được cải tạo từng bước theo quy hoạch phát triển thủy lợi và có nhiều triển vọng thâm canh nông nghiệp. Các loại đất phù sa mặn nhiều thích hợp cho việc phát triển rừng ngập mặn và NTTS.
Nhóm đất phèn: Chiếm khoảng 9,4% diện tích, phân bố rãi rác trên toàn địa bàn tỉnh. Đất phát sinh từ các nguồn gốc bưng, trũng hay sông cổ. Hiện đang canh tác các loại cây như: lúa, mía, dừa,… và một phần còn hoang hóa. Hiện tỉnh triển khai kế hoạch cải tạo để khai thác tiềm năng.
Nhóm đất cát: Chủ yếu là đất giồng cát, chiếm khoảng 6,8% diện tích, được phân bố ở khắp các huyện trong tỉnh, nhưng tập trung nhiều nhất ở các huyện Ba Tri, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Tp Bến Tre.
2.3.1.4. Thuỷ văn
Do nằm ở vị trí giáp biển, Bến Tre chịu ảnh hưởng bởi 2 chế độ thủy văn: triều biển và
nguồn nước từ các nhánh sông của hệ thống sông Cửu Long đổ về.
Tỉnh Bến Tre có hệ thống sông rạch phát triển, với 4 nhánh sông lớn của sông Tiền (thuộc hệ thống sông Cửu Long) là sông Mỹ Tho (sông Tiền), Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên, tổng chiều dài sắp xỉ 300 km. Ngoài ra, còn hệ thống kênh rạch nối các sông lớn với nhau thành mạng lưới chằng chịt. Tổng lưu lượng nước các sông thuộc hệ thống sông Tiền lên đến 30 tỷ m3/năm; vào mùa lũ chiếm 80%, tức gấp 4 lần lưu lượng mùa khô.
Sông Mỹ Tho (sông Tiền): chạy suốt theo chiều dọc của tỉnh, chiều dài khoảng 83 km,
lưu lượng nước vào mùa lũ khoảng 6.480 m3/s; vào mùa khô khoảng 1.598 m3/s.
Sông Ba Lai: tổng chiều dài khoảng 59 km, lưu lượng nước vào mùa lũ khoảng 240
m3/s, vào mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau) khoảng 59 m3/s.
Sông Hàm Luông: có chiều dài khoảng 71 km, là con sông lớn nằm trọn vẹn trong địa giới tỉnh Bến Tre, lòng sông rộng và sâu nên cung cấp lưu lượng nước dồi dào nhất so với các sông khác. Vào mùa lũ, lưu lượng nước vào khoảng 3.360 m3/s, mùa khô khoảng 828 m3/s.
Sông Cổ Chiên: nằm về phía Nam của tỉnh, có chiều dài khoảng 82 km, là ranh giới tự nhiên giữa Bến Tre với các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long. Lưu lượng nước vào mùa lũ khoảng 6.000 m3/s; vào mùa khô lưu lượng nước khoảng 1.480 m3/s.
Ngoài ra, còn nhiều kênh rạch chính nối các sông lớn trên với nhau thành một mạng lưới chằng chịt. Theo thống kê của tỉnh, có khoảng 46 kênh rạch chính với tổng chiều dài trên 300 km; trong đó quan trọng nhất là các kênh Giao Hòa (Châu Thành – Bình Đại), Mỏ Cày, Cái Cấm, Vàm Thơm (Mỏ Cày Nam), Băng Cung, Eo Lói, Khém Thuyền (Thạnh Phú), Bến Tre, Sơn Đốc (Tp. Bến Tre – Giồng Trôm), Vàm Hồ, Cây Da, Mương Đào, Ba Tri (Ba Tri),…
Nhìn chung, chế độ thủy văn ở Bến Tre thích hợp cho việc bố trí sản xuất nông nghiệp, trong có có hoạt động NTTS, trung bình mỗi ngày có 2 lần nước lên và 2 lần nước xuống, tạo thuận lợi về nguồn nước cho sinh hoạt và công tác tưới tiêu, đồng thời phục vụ cho việc NTTS. Tuy nhiên, nguồn nước thường bị nhiễm mặn vào mùa khô và nhiễm bẩn do khai thác quá mức, sẽ gây khó khăn trong việc cung cấp nước sinh hoạt cũng như trong sản xuất trong tương lai, ảnh hướng đến năng suất các loại thủy sản nuôi.
2.3.1.5. Tài nguyên thủy sản
* Thực vật nổi: Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy ở các vùng cửa sông Bến Tre có khoảng 278 loài tảo đơn bào, thuộc các nhóm tảo silic, tảo lam, tảo giáp,… Về số lượng, mật độ tảo biến động từ 114.000 – 3.103.000 tế bào/m3 ở ven biển, càng đi sâu vào nội địa mật độ tảo càng giảm đi. Mật độ các thực vật nổi là điều kiện lý tưởng cung cấp nguồn thức ăn tự nhiên cho các loại thủy sản tự nhiên sống trong nước.
Động vật sống dưới nước ở Bến Tre rất phong phú. Đáng lưu ý khu vực cửa sông là vùng có năng suất sinh học cao, do bị chi phối bởi cả sông và biển. Ở đây, có sự hiện diện của rừng ngập mặn, mà lá và trái của các loài thực vật là vật liệu khởi đầu cho chuỗi thức ăn hoại sinh. Mặt khác, do tác động cơ học của dòng chảy đã tạo nên một sự khuấy động nước, đó là điều kiện cho xác bã hữu cơ và chất dinh dưỡng ở đáy được đưa lên trên, tiếp tục được phiêu sinh sử dụng. Trong khi đó, sinh vật ở đây cũng rất phong phú nhờ nguồn dinh dưỡng do các dòng sông từ phía thượng nguồn mang về liên tục, tạo thức ăn dồi dào cho tôm cá.
* Động vật nổi:
Trước hết, cần nói qua các thực vật nổi (tảo nổi), mắc xích thức ăn đầu tiên trong thủy vực của tôm, cá và các thủy sinh vật khác. Các công trình nghiên cứu trong nhiều năm qua cho biết ở vùng cửa sông Bến Tre có khoảng 280 loài tảo đơn bào. Trong mùa khô, chúng xâm nhập và chiếm lĩnh các dạng thủy vực ở sâu trong nội địa. Tuy nhiên, càng vào sâu nội địa số lượng và tính đa dạng của tảo cũng giảm đi do nước bị ngọt hoá, trừ một số loài có biên độ sinh thái rộng sống cả ở môi trường biển và môi trường sông. Độ đục của nước ở sâu trong nội địa cũng ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển của phiêu sinh, do đó mật độ của tế bào trên 1m3 nước cũng giảm đi đáng kể. Nhiều đại diện tảo là thức ăn trực tiếp của ấu trùng tôm.
Động vật nổi sử dụng tảo, vi sinh vật làm thức ăn – mắc xích thức ăn thứ hai của thủy vực và đến lượt nó lại là thức ăn cho tôm cá. Các kết quả điều tra ghi nhận được các loại trùng bánh xe khoảng 12 loài, nhóm có cơ thể lớn hơn như râu ngành gồm 11 loài và chân chèo gồm 10 loài. Về mật độ, có sự biến động khá lớn theo mùa: mật độ động vật nổi mùa khô cao gấp 10 lần so với mùa mưa. Trong không gian xê dịch, mật độ động vật nổi tăng dần từ sông ra biển. Trung bình cứ 1m3 nước sông chứa khoảng 22.000 con, khi ra đến cửa sông con số cực đại là 280.000 con trong 1m3 (tăng gấp 12,5 lần) rồi giảm đi khi ra biển khơi, nơi có độ muối cao. Sự tập trung số lượng động vật nổi ven bờ tỷ lệ thuận với sự phát triển phong phú của khu vực hệ thực vật nổi. Trong số các động vật nổi, nhóm chiếm ưu thế nhất và quyết định chất lượng thức ăn cho cá và các động vật không xương sống lớn khác là nhóm Copepoda.
* Động vật đáy: Đó là nhóm sinh vật sử dụng tảo, vi sinh vật, động vật nổi, mùn bã làm thức ăn, sống chui rúc ở nền đáy của thủy vực. Nhóm động vật đáy là nguồn thức ăn của loài cá đáy ăn tạp, lệch về phía động vật, hoặc đơn thuần ăn động vật.
Về thành phần, các kết quả điều tra cho thấy động vật đáy ở Bến Tre thuộc 3 nhóm chính: loại thân mềm (mollusca), giun đất (annelia) và tiết túc (arthopoda), trong đó chủ yếu là lớp giáp xác chân bụng, loại hai mảnh vỏ - những động vật đại diện điển hình cho môi trường mặn, lợ.
Về sinh khối, các kết quả khảo sát ban đầu cho thấy sinh lượng động vật đáy trung bình ở vùng cửa sông của tỉnh là 33,4 g/m3. Đây là con số tương đối cao, cho thấy tiềm năng của việc phát triển thủy sản ở đây. Nhiều đại diện của động vật đáy là khối lượng khai thác phục vụ cho nghề NTTS vùng nước lợ ven biển, mà trọng tâm là nghề nuôi tôm: tôm sú, tôm bạc, tôm gân, tôm đất,…
Các loài cá: Các công trình nghiên cứu, khảo sát ở sông và ven biển tỉnh Bến Tre đã phát hiện được 120 loài cá thuộc 43 họ, nằm trong 15 bộ cá. Bộ cá vược chiếm ưu thế cả về họ (21 họ) lẫn về loài (54 loài), bộ cá trích chiếm 2 họ gồm 15 loài, bộ cá bơn có 3 loài. Căn cứ vào điều kiện sinh thái, có thể phân thành các nhóm sau đây: a. Nhóm cá nước lợ gồm các loài thường xuyên sống ở môi trường lợ, mặn thường là những loài có kích thước nhỏ như cá kèo, cá bống cát, cá phi,… Các loại cá đáy ở vùng cửa sông hoặc trong các đầm là đối tượng đánh bắt của các nghề cá thủ công ven biển như nghề đóng đáy. Số lượng cá này chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong toàn bộ sản lượng cá đánh bắt hàng năm trong tỉnh.
b. Nhóm cá biển di cư vào vùng nước lợ, đôi khi cả vùng nước ngọt, gồm nhiều loại, được phân bố rộng ở các vùng ven bờ sông, gồm có loại cá sống nổi thuộc họ cá trích, loại sống ở đáy ăn động vật đáy như cá đối, cá bống dừa,…
c. Nhóm cá nước ngọt sống trong sông rạch, thường xâm nhập vùng nước lợ vào mùa mưa, khi lưu lượng của nước sông tương đối lớn. Đó là loại cá mè vinh, cá mè dãnh, cá rô biển, cá trê vàng,…
d. Nhóm cá sống trên đồng ruộng, mà các loài đại diện là cá lóc, cá rô, cá trê trắng, cá sặc. Cách chia dân gian thường phân định cá đồng thành hai loại cá đen và cá trắng. Loại cá đen có sức chịu đựng dai hơn, có thể sống trong một thời gian nhất định ở mật độ cao.
e. Các loại tôm, qua các cuộc điều tra, đã nhận diện được 20 loại trong địa bàn tỉnh Bến Tre, trong đó tôm biển có 12 loài (thuộc 5 họ) và 8 loài tôm nước ngọt (thuộc 2 họ). Về tôm nước mặn, thì tôm tự nhiên hiện diện phổ biến nhất là tôm thẻ (pénaeas merguiensis), còn tôm được nuôi phổ biến là tôm sú (pénaeus monodon). Đặc điểm sinh học của tôm thẻ: là loại tôm có giá trị xuất khẩu, phân bố phổ biến ở vùng cửa sông, ven biển, xung quanh các khu rừng ngập mặn có nền đáy bùn, hoặc bùn cát với ngưỡng mặn tối thiểu là 3‰, lý tưởng nhất là 10‰. Nhiệt độ thích hợp để tôm sinh trưởng là từ 200 – 300C, mặt nước thoáng, thủy vực rộng, có thể nhận đầy đủ ánh sáng trực tiếp. Tôm thẻ sinh sản ngoài biển, ấu trùng trải qua nhiều lần lột xác thành tôm con, rồi định hướng đi vào bờ sinh sống ở các vùng trũng, đầm, kênh, rạch. Ban ngày, tôm thẻ ẩn nấu dưới cây cỏ thủy sinh, và khi nhiệt độ cao lại lùi xuống, sống trong bùn. Đến đêm, tôm vào ven bãi hoặc ven rừng ngập mặn để tìm thức ăn. Phổ thức ăn của tôm thẻ rất rộng, chủ yếu là các loại giun nhiều tơ (polichaeta), các loại tảo silic và mùn bã hữu cơ vốn là các sản phẩm trực tiếp hay gián tiếp của rừng ngập mặn. Sau nhiều lần lột xác, tôm thẻ trưởng thành và sẽ di cư ra biển để sinh sản (riêng tôm bạc và tôm đất có thể sinh sản ở vùng cửa sông)
và sau đó ra ở hẳn ngoài biển. Tôm mẹ lại tiếp tục đi vào nội địa ở rừng ngập mặn, nơi có nguồn thức ăn phong phú để sinh trưởng và phát triển cho đến giai đoạn trưởng thành.
Ở nước ngọt, con tôm càng xanh là một đặc sản có giá trị kinh tế cao, được phân bố trên một diện tích khá rộng trong tỉnh Bến Tre. Nếu có biện pháp bảo vệ tốt và khai thác có phương pháp, đây là nguồn lợi thủy sản quan trọng. Hiện nay, việc nuôi tôm càng xanh trong mương, đập với các biện pháp dẫn dụ, lôi cuốn tôm giống đã bước đầu đạt những hiệu quả đáng khích lệ.
Hiện nay, nguồn tài nguyên thủy sản đang có xu hướng giảm cả về số lượng lẫn số loài
do nhiều nguyên nhân như:
Việc lạm dụng khai thác nguồn tài nguyên thủy sản cho nhu cầu phát triển kinh tế, thể hiện qua việc sử dụng bừa bãi các dụng cụ đánh bắt: lưới mùng, ghe cào, thuốc nổ, thuốc hóa học,…
Khai thác rừng ngập mặn bừa bãi làm cho diện tích ngày càng giảm ảnh hưởng đến
nguồn cung cấp thức ăn và nơi sinh sản của chúng, nhất là các loài tôm, cua,…
Môi trường nước ngày càng xấu đi, do sử dụng các loại thuốc hóa học, dầu mỡ, chặt
phá rừng ngập mặn,… trong quá trình tổ chức sản xuất.
2.3.2. Điều kiện kinh tế xã hội
2.3.2.1. Dân cư và lao động
Dân số Bến Tre đến năm 2008 là 1.355.724 người, chiếm 7.7% dân số vùng ĐBSCL, mật số dân số trung bình 574 người/km2, cao hơn mật độ trung bình của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là 436 người/km2.
Sự phân bố dân cư của tỉnh chưa thật sự đồng đều, mật độ dân cư ở các huyện ven biển còn thưa hơn so với các huyện khác, đây cũng là một khó khăn đối với các huyện ven biển vì đây là khu rất có tiềm năng về đánh bắt, NTTS. Tỉ lệ dân thành thị của tỉnh tuy những năm gần đây có tăng lên nhưng vẫn còn ở mức thấp, trung bình tỉ lệ dân thành thị năm 2008 là 9.8%, đều đó cũng chứng tỏ Bến Tre vẫn là một tỉnh kinh tế nông nghiệp là chủ yếu.
Người dân Bến Tre đa phần sống bằng nghề nông, tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn, tính đến năm 2008 khoảng 90% dân cư sống ở nông thôn. Toàn tỉnh năm 2008 có khoảng 716.084 đang lao động chiếm 52.8% dân số của tỉnh, đa phần dân số tập trung trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chiếm tới 82%. Như nhiều tỉnh khác ở ĐBSCL, tỉnh có lực lượng lao động khá dồi dào, nguồn lao động có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong ngành đánh bắt, NTTS do đây là một tỉnh ven biển và có truyền thống nghề cá từ khá lâu,
cũng như trong công cuộc đổi mới người dân trong tỉnh cũng rất cần cù, siêng năng, chịu khó học hỏi, tự mài mò sáng kiến ra rất nhiều kinh nghiệm trong sản xuất thủy sản nói riêng và trong sản xuất nông nghiệp nói chung. Vì thế có thể nói, nguồn lao động của tỉnh cũng là một tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế thủy sản của tỉnh nhà.
Với lực lượng lao động nghề cá bao gồm hàng chục hàng ngư dân có tay nghề truyền thống hàng trăm năm qua, với bản tính thông minh, chất phát, lao động cần cù, dạn dày kinh nghiệm. Chính lực lượng lao động này đang ngày đêm bám ngư trường thông qua các hoạt động nuôi trồng, khai thác, bảo tồn và bảo quản sản phẩm; Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy hải sản,… góp phần vào phát triển KT – XH và giữ vững an ninh quốc phòng trên vùng biên giới biển. Theo thống kê của tỉnh thì lực lượng lao động trong ngành thủy sản trong những năm gần đây có dấu hiệu tăng tương đối khá, tính đến thời điểm năm 2008 toàn tỉnh có 58.364 đang lao động trong ngành thủy sản, tăng gấp 3,8 lần so với năm 2000, chiếm 4.3% lực lượng đang lao động của tỉnh, lực lượng lao động này làm việc trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau như: khai thác thủy sản, NTTS, chế biến thủy sản (làm việc cho các nhà máy đông lạnh, sản xuất nước mắm, làm khô,…), sản xuất con giống, các lĩnh vực khác phục vụ cho ngành thủy sản.
Tuy nhiên, chúng ta cần nhìn nhận một điều rằng, tuy lực lượng lao động trong ngành thủy sản chiếm tỉ lệ khá lớn nhưng đa phần là lao động làm thuê, trình độ tay nghề còn rất thấp, phần lớn chưa qua đào tạo chuyên môn sâu mà chỉ là nghề truyền nghề là chủ yếu, cộng thêm phần lớn các hộ nông dân hoạt động ngành thủy sản (đặc biệt là nuôi trồng) thì còn nghèo, thiếu rất nhiều vốn trong sản xuất, nếu trong quá trình nuôi mà họ bị thất thì khả năng tái đầu tư sản xuất là rất thấp, cũng như việc đầu tư nuôi theo đúng các quy trình kỹ thuật nuôi hiện đại còn hạn chế do thiếu vốn, cho nên họ chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế trước mắt mà chưa thật sự quan tâm đến tác động của môi trường sinh thái xung quanh. Đây cũng là một khó khăn không nhỏ đối với vấn đề phát triển ngành thủy sản bền vững của Bến Tre trong tương lai.
Bảng 2.1. Lao động thủy sản Bến Tre năm 2008 phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Chỉ tiêu Tổng Sơ cấp, công nhân Trung cấp nghề Cao đẳng, đại học Trên đại học Chưa qua đào tạo
Người 55.434 1.558 566 706 99 58.364
% 94,92 2,67 1,21 0,17 100
0,97 Nguồn: Tổng hợp từ Cục Thống kê tỉnh Bến Tre. Một dấu hiệu đáng mừng là trong những năm gần đây, tỉnh đã có những chính sách thuận lợi cho công tác đào tạo cán bộ có trình độ đại học thủy sản ngày càng nhiều. Từ năm 2000 đến
nay đã tổ chức đào tạo tại các trung tâm của tỉnh khoảng 500 kỹ sư, 745 trung cấp, gần 1.000 công nhân kỹ thuật cho hoạt động khai thác, NTTS và chế biến xuất khẩu.
2.3.2.2. Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật
* Giống thủy sản Để đáp ứng cho nghề nuôi thủy sản hiện đại trong giai đoạn hiện nay thì công tác sản xuất giống cũng là khâu có tính chất quyết định đến sản lượng và chất lượng của vật nuôi. Trong những năm gần đây được sự quan tâm và giúp đỡ của Đảng và nhà nước cũng như các cấp chính quyền có liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất giống sạch bệnh, có chất lượng cung cấp cho các hộ nuôi không những trên địa bàn tỉnh mà còn cung cấp cho các địa bàn lân cận.
Hiện nay, tỉnh đã chủ động về một số giống thủy sản nước ngọt như cá điêu hồng, cá trê, ếch,… và gần đây ngày 15/11/2009 Trung tâm giống thủy sản Bến Tre kết hợp với Trung tâm giống thủy sản An Giang đã tổ chức thành công việc sản xuất giống cá tra nhân tạo đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế SQF1000CM (Safe Quality Food – Tiêu chuẩn đảm bảo an toàn và chất lượng nuôi trồng thủy sản áp dụng cho nông hộ), đây là một thành công lớn trong việc chủ động được nguồn giống cá tra tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi cá tra trên địa bàn tỉnh.
Đối với giống tôm càng xanh, ngoài việc khai thác nguồn tôm giống tự nhiên thì hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có được 14 trại sản xuất giống tôm càng xanh. Đa số trại sản xuất giống điều xây dựng đúng kỹ thuật, có đầy đủ trang thiết bị, có nguồn giống tôm bố mẹ tự nhiên đạt tiêu chuẩn, sinh sản tốt, tỷ lệ tôm đẻ và chuyển post thành công đạt từ 70 – 90%. Từ đầu năm 2007 đến nay, lượng tôm giống sản xuất ước đạt trên 23 triệu 300 ngàn post, đáp ứng được một phần nhu cầu post chất lượng cao cho người nuôi. Tuy nhiên, lượng con giống này chỉ đáp ứng phần nào về nguồn tôm càng xanh giống của tỉnh vì hiện nay nhu cầu giống tôm này là rất lớn, đặc biệt là con giống có kích cở từ 30 – 50 con/kg để phục vụ cho mô hình nuôi xen canh trong các mương vườn đang phát triển mạnh (tôm post thì không thích hợp cho mô hình này vì tỉ lệ hao hụt khá lớn).
Đối với giống các loại tôm biển mà diễn hình là tôm sú và tôm thẻ chân trắng (vật nuôi thủy sản có diện tích lớn nhất trên địa bàn tỉnh), tuy số lượng các trung tâm chuyên sản xuất giống tôm biển không nhiều chủ yếu là do các doanh nghiệp trực tiếp sản xuất và quản lý. Trong đó, trung tâm sản xuất giống Huy Thuận tại Bình Đại – Bến Tre là một trong những địa chỉ đáng tin cậy, nơi chuyên cung cấp giống tôm nuôi sạch bệnh có chất lượng cao. Từ năm 2007, trung tâm đã áp dụng thành công công nghệ sản xuất sạch theo đúng quy trình sản xuất
tôm sú giống, 100% mẫu xét nghiệm đều đạt chuẩn. Hiện công ty đã có 7 trại (135 bể ương cung cấp 500 triệu post/năm (tôm sú và tôm thẻ chân trắng), công ty đang đầu tư xây dựng, định hướng mở rộng trong tương lai là 15 trại (300 bể ương) có thể cung ứng 1 tỷ post/năm, đủ để cung ứng giống tôm nuôi sạch bệnh cho bà con nông dân trên địa bàn tỉnh hiện nay.
Đối với con nghiêu thì hiện nay nhu cầu về giống để cung cấp cho đại bàn tỉnh cũng như việc xuất bán cho các tỉnh miền Trung là rất lớn, nhưng hiện nay chúng ta chỉ khai thác nghiêu giống tự nhiên, sản lượng khai thác bình quân từ 400 – 500 tấn/năm, có năm đạt 1.000 tấn/năm. Tuy nhiên nếu chúng ta đặt mục tiêu khai thác quá nhiều thì sẽ dẫn đến hậu quả rất xấu có thể cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên này, vì thế chúng ta khai thác nhưng đồng thời cũng có biện pháp bảo vệ hợp lý, tránh gây thiệt hại đến môi trường sinh thái.
Tóm lại, vấn đề giống trên địa bàn tỉnh hiện nay tuy có bước phát triển đáng kể, tuy nhiên cũng còn gặp rất nhiều vấn đề bất cập như thiếu một số loại giống thủy sản chủ lực, con giống không đảm bảo chất lượng,… nên cũng cần phải tổ chức lại khâu sản xuất và cung ứng con giống chất lượng, sạch bệnh đồng thời giá rẻ cho người nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh.
* Khả năng ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong sản xuất Đa số hộ nuôi thủy sản trên địa bàn tỉnh có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất thủy sản quy mô nhỏ, nhưng trong thời gian gần đây nhờ sự hướng dẫn và chuyển giao công nghệ của các cán bộ khuyến ngư cấp cơ sở kết hợp với khả năng ham học hỏi của người nuôi nên kỹ thuật nuôi thủy sản của nhiều hộ nuôi đã có những bước phát triển đáng kể, không ít hộ nuôi đã thành công nhờ những mô hình nuôi cải tiến của mình.
Khi nền kinh tế tỉnh bước sang giai đoạn kinh tế thị trường với những cạnh tranh khốc liệt, để thích ứng được thì người nuôi cũng cần phải chuyển sang hình thức nuôi công nghiệp hoặc nuôi quảng canh cải tiến. Do đó, cũng cần có sự giúp đỡ hơn nữa của các cấp chính quyền, các nhà khoa học, các doanh nghiệp để các hộ nuôi đủ khả năng thích ứng với môi trường cạnh tranh như hiện nay.
* Cơ sở chế biến thức ăn Tuy tỉnh có một tiềm năng khá lớn về nguồn nguyên liệu phục vụ cho chế biến thức ăn trong NTTS như bột tấm cám, các loại cá tạp, các phụ phẩm từ sản xuất nông nghiệp,… đây là những sản phẩm rẽ tiền từ đó giảm chi phí đầu tư nhưng chất lượng cũng không thua kém nhiều so với nuôi bằng thức ăn công nghiệp, nhưng các loại thức ăn này chỉ thích hợp với đa phần các hộ nuôi thủy sản quy mô nhỏ hoặc nuôi dưới hình thức quảng canh. Đứng trước những nhu cầu mới, để đáp ứng hình thức nuôi thâm canh công nghiệp, thì nếu chỉ dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên không thì chưa đủ, nên cũng cần có sự hổ trợ đắt lực từ sản phẩm thức ăn công nghiệp.
Nhu cầu thức ăn công nghiệp phục vụ cho NTTS của tỉnh hiện nay là rất lớn, ước tính dựa trên diện tích nuôi như hiện nay thì nhu cầu về thức ăn công nghiệp lên tới khoảng 100.000 tấn thức ăn mỗi năm.
Thị trường thức ăn đáp ứng cho nhu cầu sản xuất công nghiệp hiện không thiếu, chủ yếu là nhập từ bên ngoài chính vì thế giá thành khá cao và lại có sự biến đổi thất thường về giá. Chẳng hạn như việc giá thức ăn tăng cao trong thời gian gần đây, nó đã có những tác động bất lợi khá lớn đến nhiều hộ nuôi. Vì thế, giải quyết tốt vấn đề thức ăn cho NTTS, đảm bảo sự yên tâm cho người nuôi cũng là một vấn đề cũng nên cần chú trọng đến trong giai đoạn hiện nay.
* Cơ sở chế biến thủy sản Thủy sản Bến Tre là một ngành kinh tế mới phát triển mạnh trong thời gian gần đây, tuy nhiên đến nay toàn tỉnh đã có 9 nhà máy chuyên về lĩnh vực sản xuất kinh doanh mặt hàng thủy sản, trong đó có 3 nhà máy đạt tiêu chuẩn HACCP được phép xuất khẩu trực tiếp sản phẩm thủy sản sang thị trường Châu Âu. Ngoài ra, hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh còn rất nhiều các cơ sở sản xuất kinh doanh các mặt hàng thủy sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa như: sản xuất khô mực, cá khô các loại, nước mắm, mắm,… tuy nhiên hầu hết các cơ sở này chưa có thương hiệu mạnh trên thi trường. Trong tương lai để nâng cao tính cạnh tranh cho các mặt hàng thủy sản tỉnh thì tất yếu cần phải tích cực phấn đấu thành lập nên các thương hiệu, tạo điều kiện để người tiêu dùng có thể dể dàng tiếp cận được sản phẩm thủy sản của tỉnh.
* Dịch vụ thủy sản Chính nhờ các sự phát triển của các dịch vụ thủy sản trong thời gian gần đây đã tạo tiền đề, một động lực vô cùng to lớn cho sự phát triển của ngành thủy sản. Bến Tre xác định ngành thủy sản là một trong những ngành quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp của tỉnh sau cây dừa và cây ăn trái. Dịch vụ thủy sản bao gồm các dịch vụ cung cấp thức ăn cho NTTS như tấm cám, cá biển, thức ăn chế biến từ công nghiệp, dịch vụ cung cấp thú y cho thủy sản, dịch vụ phổ biến kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ trong việc NTTS, các dịch vụ vận tải phục vụ cho thủy sản,… Hoạt động thủy sản của tỉnh chỉ mới xuất hiện và phổ biến rộng rãi trong thời gian gần đây nhưng đây là lĩnh vực có tốc độ phát triển khá nhanh cả về số lượng và chất lượng, giá trị đóng góp của nó không ngừng cải thiện và từng bước tăng lên đáng kể trong tổng giá trị của ngành thủy sản. Tuy giá trị sản xuất ngành dịch vụ thủy sản tăng liên tục qua các năm nhưng tốc độ phát triển chưa thật sự ổn định, nó phụ thuộc nhiều vào nhu cầu thị trường, chưa đủ lực để chi phối đối với các lĩnh vực khác của ngành.
Bảng 2.2. Cơ cấu giá trị sản xuất ngành dịch vụ thủy sản Bến Tre qua các năm.
Dịch vụ thủy sản
Năm Tổng số
Giá trị sản xuất (triệu đồng) % so với tổng ngành thủy sản Tốc độ tăng trưởng (%)
2001 1741518 183 0.011 3.4
2003 2096307 12022 0.573 4209
2004 2828319 13189 0.466 9.7
2005 3162744 33827 1.070 156.5
2007 4350716 39106 0.899 -42.8
2008 5848546 62309 1.065 59.3
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bến Tre.
* Tàu thuyền đánh bắt Tính đến thời điểm năm 2008 toàn tỉnh đã có 4.191 số tàu thuyền cơ giới tham gia trực tiếp vào việc đánh bắt thủy sản, với công suất đánh bắt bình quân là 96,4 CV/chiếc, trong đó có đến 1.167 tàu đánh bắt hải sản xa bờ, trung bình mỗi chiếc tàu đánh bắt xa bờ có công suất 305,2 Cv/chiếc, với tổng sản lượng khai thác khoảng 78.000tấn/năm. Nhìn chung thì tổng số tàu đánh bắt thủy sản trong những năm qua có sự biến động theo chiều hướng tăng nhưng tốc độ tăng không đáng kể, nhưng một điều đáng quan tâm là số lượng tàu đánh bắt sử dụng động cơ nhỏ đã có chiều hướng giảm đi đáng kể, thay vào đó là đội ngũ tàu có công suất lớn và khả năng đánh bắt xa bờ, tốc độ tăng của số lượng và công suất tàu đánh bắt xa bờ là rất đáng kể. chẳng hạn như vào năm 2000 toàn tỉnh chỉ có 355 tàu đánh bắt xa bờ với công suất trung bình là 111,9 Cv/chiếc, đến năm 2008 thì con số tàu đánh bắt xa bờ đã lên đến 1.167 chiếc với công suất trung bình là 305,2 Cv/ chiếc tăng khoảng 3,3 lần về số lượng và khoảng 2,7 lần về công suất.
2.3.2.3. Đường lối chính sách
Xét về mặt tổng thể, tính đến thời điểm hiện nay Bến Tre vẫn là một tỉnh kinh tế nông nghiệp. Vì thế, cho nên trong các mục tiêu chiến lược phát triển bền vững của tỉnh ở từng giai đoạn đều rất chú trọng đến việc phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, trong đó đặc biệt chú trọng vào việc phát triển 3 ngành đó là: kinh tế vườn (cây dừa, cây ăn trái), chăn nuôi gia súc và đặc biệt là ngành thủy sản. Trong định hướng chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2010, tỉnh đã đề ra mục tiêu là: “Phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản đảm bảo hiệu quả, ổn định và bền vững. Ưu tiên phát triển NTTS để tạo nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu. Khai thác và mở rộng diện tích mặt nước nuôi thủy sản trên cả 3 vùng mặn, lợ, ngọt
theo quy hoạch. Phát triển đánh bắt thủy sản, chủ yếu là khai thác xa bờ với các ngành nghề có hiệu quả cao; khai thác có hiệu quả các ngư trường phù hợp với ngành nghề đánh bắt kết hợp với bảo vệ nguồn lợi thủy sản một cách hợp lý; chú trọng công nghệ bảo quản sản phẩm, hệ thống hậu cần dịch vụ, lưu thông hàng hóa tiện lợi, hiệu quả”.
Để thực hiện tốt mục tiêu này, tỉnh chủ trương vừa đẩy mạnh sản xuất công nghiệp và dịch vụ, nhưng đồng thời cũng cần phải quan tâm đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp, khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng cường các hoạt động chăn nuôi hoặc các hình thức kết hợp, trong đó đặc biệt chú trọng vào hoạt động ngành thủy sản một trong những thế mạnh của tỉnh trong thời gian gần đây.
Thực tế, vấn đề thủy sản trong những năm gần đây rất được chú trọng quan tâm của các cấp chính quyền. Hằng ngày, trên phương tiện phát thanh truyền hình của tỉnh đều giành thời gian cho chuyên mục thủy sản thời lượng khoảng 20 phút phát vào các buổi tối và đều có phát lại vào buổi sáng.
Các vấn đề mà tỉnh đặc biệt quan tâm về ngành thủy sản hiện nay đó là làm cách nào để phát huy tối đa nguồn lực để từng bước nâng cao về chất lượng cũng như giá trị của các sản phẩm thủy sản, đặc biệt là vấn đề phát triển thủy sản bền vững trong tương lai, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích kinh tế trước mắt và vấn đề môi trường sinh thái trong tương lai.
Ngay từ những ngày đầu khi ngành thủy sản mới bắt đầu hình thành và phát triển, đặc biệt là nuôi tôm đang có chiều hướng phát triển mạnh, nhiều hộ đã kinh doanh các dịch vụ thức ăn và thú y nhưng chưa có giấy phép hoặc chưa qua đào tạo phát triển mạnh, đều đó đã ảnh hưởng xấu đến chất lượng tôm nuôi gây ô nhiểm môi trường nuôi thủy sản, gây tác hại đến sự phát triển nền kinh tế thủy sản của địa phương. Ngày 29/12/1999 UBND tỉnh Bến Tre đã ban hành Chỉ thị số 28/CT – UB về việc tăng cường công tác quản lý thức ăn và thuốc thú y thủy sản trên địa bàn tỉnh.
Để bảo vệ nguồn lợi thủy sản, UBND tỉnh đã ban hành các chỉ thị như: Chỉ thị số 15/2002/CT – UB về việc tăng cường quản lý các hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh; Chỉ thị số 20/2005/CT – UB về việc quản lý tàu thuyền nhỏ hoạt động khai thác thủy sản ven bờ, trong đó có quy định nhấn mạnh kể từ ngày 01/10/2005 không được phát triển thêm tàu thuyền khai thác thủy sản có chiều dài lớn nhất dưới 15m. Các chỉ thị trên cũng cho thấy tỉnh đã kiên quyết đối với các hoạt động mang tính hủy diệt, tổn hại đến môi trường sinh thái, khuyến khích các hoạt động khai thác xa bờ, công suất lớn, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành thủy sản trên địa bàn tỉnh trong tương lai.
Nhận thấy, nghề nuôi thủy sản tỉnh nhà chưa thật sự bền vững, tình trạng nuôi thủy sản không đúng quy hoạch và không đúng lịch thời vụ theo khuyến cáo của ngành thủy sản, đã làm cho mầm bệnh đốm trắng luôn tồn tại trong môi trường tự nhiên và có nguy cơ phát triển thành dịch bệnh cho tôm nuôi khi điều kiện thời tiết không thuận lợi. Để phòng ngừa có hiệu quả dịch bệnh trong NTTS, hạn chế thiệt hại về tài sản cho nhân dân, góp phần phát triển ổn định nghề nuôi thủy sản tỉnh nhà. UBND tình đã ban hành Chỉ thị số 10/2004/CT – UB về việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh, nhằm đảm bảo lợi ích lâu dài cho nghề nuôi thủy sản của tỉnh.
Riêng đối với cá da trơn (cá tra, cá basa) là một trong những mặt hàng thủy sản phát triển khá mạnh trong thời gian gần đây, tuy không bằng về diện tích và sản lượng như các tỉnh khác trong khu vực như An Giang, Đồng Tháp,… nhưng cá da trơn cũng là một tiềm năng rất lớn của tỉnh. Nhận thấy rất nhiều bất cập đối với mặt hàng thủy sản này, đồng thời nhằm đảm bảo việc nuôi cá da trơn trên địa bàn tỉnh đi vào nề nếp, phát triển nuôi cá da trơn trên theo hướng an toàn, hiệu quả, bền vững, góp phần thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, UBND tỉnh Bến Tre đã phê duyệt Quy hoạch hoạch chi tiết nuôi cá da trơn tỉnh Bến Tre đến năm 2020, theo Quyết định số 2440/QĐ-UBND ngày 12-12-2008.
Theo quy hoạch được phê duyệt, các địa bàn được phép nuôi các da trơn đến năm 2020 bao gồm một số địa phương hội đủ điều kiện nuôi thuộc các huyện Chợ Lách, Châu Thành, Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc, Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú. Trong đó, vùng nuôi chuyên canh (trong ao đất và lồng bè) được phân bố trên địa bàn các huyện Chợ Lách, Châu Thành, Mỏ Cày Nam, Giồng Trôm và các xã vùng trên của huyện Bình Đại.
Bên cạnh quyết định trên, để đảm bảo chất lượng nguồn giống cá da trơn sạch bệnh. Trung tâm giống thủy sản Bến Tre đã phối hợp với trung tâm giống thủy sản An Giang để tổ chức thực hiện dự án: “Chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá tra nhân tạo”, tổng kinh phí để thực hiện dự án khoảng 1,4 tỷ đồng. Mục tiêu của dự án ngoài việc tạo ra nguồn giống cá tra sạch bệnh, chất lượng tốt, dự án còn tham gia vào việc đào tạo nguồn nhân lực, chuyên môn cho trung tâm thủy sản Bến Tre có kiến thức ứng dụng công nghệ sản xuất giống cá tra theo tiêu chuẩn quốc tế SQF 1000 CM, cũng như các quy trình thủ tục đăng ký chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế SQF 1000 CM trên sản phẩm cá tra bột và cá tra giống. Từ đề này, Trung tâm giống thủy sản Bến Tre hoàn toàn chủ động sản xuất giống cá tra theo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế; hình thành các cơ sở sản xuất giống cá tra đạt chất lượng trên địa bàn tỉnh theo hướng quy hoạch; tạo nghề mới, mang lại giá trị kinh tế cao cho nghề nuôi cá tra trên địa bàn tỉnh, góp phần đưa ngành kinh tế thủy sản Bến Tre phát triển ổn định, bền vững trong tương lai.
Còn đối với con nghiêu một trong những mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh có tỉnh hiện nay. Nhằm mục đích phát triển nghề nuôi nghêu hiệu quả và bền vững, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi nhằm mở rộng mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, khai thác tốt tiềm năng đất đai, bãi bồi ven biển; đồng thời đảm bảo an toàn giống loài thuỷ sản nội địa, đặc biệt là các loài nhuyễn thể hai mãnh vỏ. UBND tỉnh đã có Quy định về việc sản xuất, ương giống và nuôi nghiêu thương phẩm trên địa bàn tỉnh Bến Tre, đây là quy định được ban hành kèm theo Quyết định số 16/2009/QĐ – UBND ngày 10 tháng 9 năm 2009 của UBND tỉnh. Quy định đã chỉ rỏ từ khâu khai thác con giống đến việc ương nuôi con giống cũng như việc nuôi nghiêu thương phẩm và có những quy hoạch cụ thể cho cả địa bàn nuôi, nhằm phát triển bền vững con nghiêu của tỉnh trong tương lai, đảm bảo hài hòa giữa lợi ích kinh tế và môi trường.
Thời gian gần đây, nhận thấy tình hình dịch bệnh đốm trắng đã xuất hiện rãi rác các vùng nuôi, gây thiệt hại không nhỏ đến các hộ nuôi tôm biển. Ngày 13/08/2009 UBND tỉnh đã ra Quyết định số 14/2009/QĐ – UBND về việc quy định lịch thời vụ nuôi tôm biển trên địa bàn tỉnh. Tiến hành thu hoạch dứt điểm vụ nuôi tôm sú năm 2009. Hoàn chỉnh và tổ chức thực hiện tốt Quy hoạch nuôi tôm thẻ chân trắng trên địa bàn tỉnh. Theo đó, từ 15/9 đến 15/11/2009 các tổ chức, cá nhân không được thả giống tôm biển để nuôi với mọi hình thức; từ 16/11/2009 đến 15/01/2010 cho phép được thả giống tôm sú nuôi với hình thức quảng canh, tôm rừng, nhưng không được thả giống tôm biển để nuôi với hình thức thâm canh, bán thâm canh; từ 16/01 đến 15/02/2010 không được thả giống tôm biển để nuôi với mọi hình thức mà phải đến 16/02/2010 mới cho phép được tiếp tục thả giống tôm biển để nuôi.
Ngoài ra, bên cạnh sự quan tâm đến việc số lượng đánh bắt và NTTS trên địa bàn tỉnh, thì tỉnh cũng rất quan tâm đến chất lượng của nguồn thủy sản, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành, gia tăng giá trị của các sản phẩm thủy sản, giúp cho các hộ NTTS yên tâm trong sản xuất. Ngày 28/7/2008, UBND tỉnh cũng đã có Thông báo số 3034/UBND – CNLTS đến tất cả các sở ban ngành có liên quan trên địa bàn tỉnh về việc tăng cường kiểm soát chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản. Nhằm mục đích, hướng dẫn cho người nuôi, các tàu đánh cá, các cơ sở thu mua, chế biến thủy sản tuyệt đối không sử dụng các hóa chất, kháng sinh bị cấm sử dụng, thực hiện nghiêm ngặt các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm; từng bước hướng dẫn người nuôi thực hiện nuôi thủy sản theo hướng BMP, GAP, CoC (thực hành nuôi thủy sản tốt, an toàn),…
2.3.2.4. Thị trường
Thủy sản đang ngày càng trở thành món ăn ưa thích của mọi tầng lớp xã hội, sản phẩm thủy sản chế biến của tỉnh hằng năm đều tăng 20 – 30 %/năm, kim ngạch xuất khẩu 2007 tăng
23% so với năm 2005. Thị trường xuất khẩu thủy sản của Bến Tre đang ngày càng mở rộng thị phần vào các quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Nếu năm 2005 thủy sản Bến Tre chỉ tham gia xuất khẩu đến 28 quốc gia và vùng lãnh thổ thì đến năm 2007 đã xuất khẩu đến 43 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, bao gồm các nước đang phát triển ở Châu Á, Nam Mỹ và các nước phát triển của khối EU, các nước Bắc Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,…
2.3.3. Những cơ hội và thách thức của ngành thủy sản Bến Tre sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Căn cứ Hiệp định GATT (tiền thân của WTO) được xây dựng bao gồm 2 nội dung trong sản xuất thủy sản là rào cản kỹ thuật (TBT – Technical Barrier to Trade) và rào cản an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh động thực vật (SPS – Sanitary and Phytosanitary Requirements) kết hợp thực trạng phát triển của Bến Tre hiện nay. Việc chính thức gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã mở ra cho ngành thủy sản tỉnh nhiều cơ hội mới và thách thức cũng không ít.
2.3.3.1. Cơ hội
Ngành thủy sản nước ta nói chung và ngành thủy sản của tỉnh Bến Tre nói riêng có tiềm năng rất lớn để đẩy nhanh tốc phát triển các đối tượng nuôi xuất khẩu có giá trị như tôm, nghêu, cá da trơn,… đồng thời tạo ra các sản phẩm đặc thù với thị trường rộng lớn và ngày càng phát triển và mở rộng.
Thủy sản Bến Tre là ngành hàng có hàm lượng công nghệ cao, chất lượng tốt, có uy tín trong nhiều năm qua xuất phát từ quá trình tổ chức quản lý sản xuất đáp ứng được yêu cầu an toàn dịch bệnh (áp dụng cơ chế quản lý tổng hợp có sự tham gia của cộng đồng), an toàn vệ sinh chất lượng sản phẩm (kiểm soát thu hoạch nhuyễn thể, kiểm soát dư lượng kháng sinh), áp dụng đúng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế (GAP, BMP, HACCP, ISO),… nên đã loại trừ được kháng sinh hoá chất độc hại, hạn chế dịch bệnh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Đây là cơ hội cho thủy sản Bến Tre có đủ lực để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thúc đẩy việc thành lập cho các thương hiệu sản phẩm thủy sản Bến Tre, tạo dựng được uy tín trên thị trường, từ đó sẽ tạo nên một động lực để đưa ngành thủy sản ngày càng phát triển, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển KT – XH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, góp phần tạo ra nhiều việc làm, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bà con nông dân.
2.3.3.2. Thách thức
Thủy sản Bến Tre luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh. Tuy nhiên, hiện nay thủy sản đang đứng trước khó khăn phải đối mặt với những rào cản kỹ thuật từ phía nhà nhập khẩu, đặc biệt là luật mới: Luật IUU (Quy định về hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định) bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/2010. Theo luật này, các sản phẩm thủy sản nhập khẩu vào EU phải có giấy chứng nhận đánh bắt. Cơ quan chức năng của nước có tàu đánh bắt phải xác nhận thủy sản đánh bắt được trên tàu là phù hợp với quy định của pháp luật và các quy định quốc tế về quản lý và bảo tồn nguồn lợi thủy sản. Đặc biệt, luật nêu rõ các quốc gia thành viên EU phải áp dụng việc xử phạt ở mức tối thiểu gấp 5 lần giá trị của sản phẩm thủy sản sai phạm thu hồi được khi phát hiện vi phạm quy định nói trên,… Những quy định nghiêm ngặt đã và đang trở thành rào cản lớn đối với xuất khẩu thủy sản của tỉnh, bởi quy mô sản xuất vốn nhỏ lẻ và manh mún, doanh nghiệp chủ yếu thu mua thủy sản qua hệ thống trung gian nên việc thực hiện ghi chép nguồn gốc xuất xứ đầy đủ cho các lô hàng khi xuất đi là điều không thể thực hiện được. Do vậy để kiểm soát được chất lượng là điều không phải dễ.
Bên cạnh đó, diện tích nuôi thủy sản phát triển quá nhanh so với quy hoạch, hình thức nuôi tự phát vẫn diễn ra mạnh, từ đó khó có thể kiểm soát được tình hình dịch bệnh, chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm, nếu như sản phẩm đầu vào không tốt thì sản phẩm thủy sản của tỉnh khó có thể đủ lực để cạnh tranh trên thị trường. Gia nhập tức là chúng ta phải có nhiều đối thủ cạnh tranh hơn, nếu muốn tồn tại thì tất yếu phải có sản phẩm chất lượng cao, đa dạng, đáp ứng được phần lớn thị hiếu của người tiêu dùng, nhưng trên thực tế sản phẩm thủy sản Bến Tre chưa thực sự đa dạng và phong phú, chủ yếu là xuất khẩu dạng đông lạnh, chưa tận dụng được hết tiềm năng về giá trị sản phẩm.
Nhu cầu thủy sản tăng về số lượng và chất lượng, nắm bắt được tình hình đó, người đổ vào nuôi thủy sản mà thiếu tính quy hoạch đồng bộ hoặc tỉnh chưa có quy hoạch hợp lý, điều đó tác động đến môi trường sinh thái nuôi thủy sản trong tương lai, đặc biệt là môi trường sinh thái rừng ngập mặn ven biển.
Sản lượng thủy sản tăng lên hằng năm nhưng tốc đó tăng đó là chưa thật sự hợp lý, nó chỉ tăng về số lượng nhưng về chất lượng cần phải xem xét lại mà thị trường thế giới thì cần những sản phẩm có chất lượng cao. Muốn sản phẩm có chất lượng cao thì đòi hỏi cần có vốn lớn, mà điều đó là vấn đề hiện nay tỉnh đang gặp rất nhiều khó khăn. Bến Tre không chỉ thiếu vốn cho đầu tư sản xuất mà còn thiếu cả đội ngũ cán bộ có trình độ tay nghề cao, cơ sở sản xuất giống sạch bệnh, cũng như các hệ thống cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho phát triển ngành.
2.4. Thực trạng phát triển ngành thủy sản Bến Tre
2.4.1. Đánh giá chung
2.4.1.1. Diện tích nuôi thủy sản
Bến Tre là một tỉnh ven biển nằm trong trong khu vực châu thổ ĐBSCL với điều kiện tự nhiên giàu tiềm năng cho các hoạt động khai thác, NTTS. Vì thế, trong những năm gần đây diện tích NTTS của tỉnh đã có tăng liên tục, với tốc độ tăng trung bình là vài trăm hecta. Các huyện ven biển vẫn là những khu vực giàu tiềm năng, có diện tích nuôi và tốc độ tăng trưởng mạnh nhất, tập trung ở các huyện như Thạnh Phú, Bình Đại, Ba Tri, chỉ tính riêng 3 huyện này đã chiếm khoảng 90% tổng diện tích NTTS của toàn tỉnh. Đây là những khu vực phổ biến nuôi các loại thủy sản môi trường mặn, lợ như tôm sú, nghêu, tôm thẻ chân trắng,…với hình thức nuôi khá đa dạng từ thâm canh công nghiệp, bán thâm canh đến các hình thức nuôi xen canh, xen canh giữa các loài hoặc xen canh với lúa,…
Ngoài diện tích NTTS môi trường mặn lợ thì tỉnh cũng có những khu vực quy hoạch nuôi các loại thủy sản nước ngọt với diện tích chiếm khoảng 10% tổng diện tích và có dấu hiệu tăng mạnh trong thời gian gần đây. Hình thức nuôi thủy sản ở môi trường này trước đây chủ yếu là nuôi thả lang hoặc nuôi ghép, nuôi trong ao, mương vườn cây ăn trái. Trong những năm gần đây, thì hình thức nuôi đã có những dấu hiệu chuyển biến tích cực như chuyển sang các hình thức nuôi lồng bè, ao theo hướng thâm canh công nghiệp với những loại thủy sản diễn hình như tôm càng xanh, cá da trơn (chủ yếu là cá tra), cá lóc, cá rô, cá điêu hồng,… khu vực nuôi chủ yếu là ở các triền sông, các bãi bồi trên các dải cù lao, trong các mương vườn cây ăn trái, vườn dừa, tập trung nhiều ở các huyện như Châu Thành, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Chợ Lách. Bảng 2.3. Diện tích nuôi trồng thủy sản của tỉnh qua các năm. (đơn vị ha)
2000 2005 2007 2008
29.253 42.310 41.864 42.089 Tổng số
Phân theo môi trường nuôi - Môi trường mặn, lợ - Môi trường nước ngọt 23.877 5.376 37.149 5.161 36.154 5.710 35.127 6.962
Phân theo huyện, thị - Thị xã Bến Tre - Châu Thành - Chợ Lách - Mỏ Cày (Nam & Bắc) - Giồng Trôm - - - - - 129 928 196 1.877 440 105 1.087 304 1.949 385 105 1.126 357 2.036 673
- Bình Đại - Ba Tri - Thạnh Phú - - - 15.980 5.117 17.643 16.210 4.655 17.178 15.885 4.619 17.288
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bến Tre Bến tre có 3 vùng sinh thái nước ngọt, lợ và mặn, cả 3 vùng đều có thể nuôi thủy sản với các đối tượng nuôi khác nhau. Tổng diện tích nuôi thủy sản năm 2008 là 42.089 ha (so với kế hoạch đạt 100%), trong đó chiếm diện tích lớn nhất là nuôi tôm sú với 31.462 ha chiếm 74,7% diện tích nuôi thủy sản trên toàn tỉnh, trong đó diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh là 5.597 ha. Ngoài con tôm sú thì tỉnh Bến Tre hiện có khoảng 3.018 ha nuôi tôm càng xanh tập trung nhiều nhất là ở Mỏ Cày (Nam & Bắc) và một phần huyện Thạnh Phú, với hình thức nuôi chủ yếu là trong các mương vườn, nuôi xen canh trong ruộng lúa, nuôi luân vụ trong ao nuôi tôm sú hoặc trên các bãi bồi ven sông,… Ngành thủy sản Bến Tre lấy đối tượng xuất khẩu làm gốc, đồng thời mở rộng đối tượng tiêu thụ nội địa có giá trị kinh tế cao, có thị trường rộng mở. Hiện nay, tỉnh tập trung vào 5 đối tượng nuôi chủ yếu là tôm sú, tôm càng xanh, nghiêu, cá tra, tôm thẻ chân trắng. Ngoài diện tích nuôi tôm chiếm tỉ lệ lớn nhất thì hiện nay diện tích nuôi nghiêu cũng chiếm tỉ lệ rất đáng kể. Nghiêu là một trong những vật nuôi của tỉnh chiếm giá trị lớn nhất so với các tỉnh thành khác trong khu vực và cũng như so với cả nước.
Ở nước ta, các tỉnh có khả năng phát triển ngành nuôi nghiêu là không nhiều. Với Bến Tre, diện tích tiềm năng phát triển nhuyễn thể 2 mãnh vỏ này khá lớn khoảng 15.000 ha đất bãi bồi, cồn nổi. Diện tích đã nuôi tính đến nay là 4.200 ha, ngoài ra còn có khoảng 7.800 ha đang khai thác nghiêu thịt và nghiêu giống. Còn đối với con tôm thẻ chân trắng của tỉnh, từ khi Bộ NN&PTNT cho phép thả nuôi ở các tỉnh ĐBSCL từ tháng 02/2008, do đó diện tích thả nuôi ở Bến Tre chưa nhiều. Đến nay diện tích tôm thẻ chân trắng khoảng 170 ha chủ yếu trên các diện tích ao nuôi tôm sú không còn phù hợp hoặc nuôi xen canh một vụ tôm sú một vụ tôm thẻ chân trắng.
Trong những năm gần đây, cá da trơn (chủ yếu là cá tra) đã trở thành cá nước ngọt nuôi chủ yếu ở ĐBSCL, trong đó diện tích thả nuôi cá da trơn của Bến Tre tuy chưa lớn nhưng có tốc độ phát triển khá nhanh với hình thức nuôi chủ yếu là nuôi công nghiệp trong các ao ven các bãi bồi và nuôi lồng bè. Tính đến năm 2008 toàn tỉnh đã có 650 ha nuôi cá da trơn chủ yếu tập trung ở các huyện Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày Nam. Bên cạnh việc tập trung phát triển 5 loại thủy sản chủ lực thì tỉnh cũng còn chú ý đến một số vật nuôi khác như cá chẽm, cá mú, cá bóng tượng, cá kèo, cá điêu hồng, cá rô phi dòng Gift, cua biển, sò huyết, baba, cá sấu, ếch, cá lóc, cá trê vàng,… nhưng về diện tích của các vật nuôi này chưa lớn lắm, do được nuôi với quy
mô nhỏ lẻ, rải rác một vài nơi trong tỉnh, thị trường tiêu thụ sản phẩm hạn chế. Năm 2008 tổng diện tích nuôi các loài thủy sản khác của tỉnh là 2.589 ha chiếm 6,2% tổng diện tích nuôi thủy sản của toàn tỉnh.
0.4%
Biểu đồ 2.2. Cơ cấu về diện tích nuôi các loài thủy sản ở Bến Tre năm 2008
Tổng diện tích nuôi thủy sản 42.089 ha
1.5%
6.2%
10.0%
7.2%
74.7%
Tôm sú
Tôm càng xanh Nghêu Cá Tra
Tôm thẻ chân trắng Các loại khác
Nguồn: Sở thủy sản Bến Tre
2.4.1.2. Sản lượng thủy sản
Do các điều kiện thiên nhiên có tiềm năng lớn của tỉnh kết hợp với thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản trong những năm gần đây liên tục được mở rộng, sản phẩm thủy sản trở thành nguồn thực phẩm quý, giàu chất dinh dưỡng, được nhiều người ưa chuộng và sử dụng làm thực phẩm thường xuyên trong các bữa ăn hằng ngày. Bên cạnh đó, cùng với sự đa dạng của các giống loài thủy sản, sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các ngành công nghiệp chế biến thức ăn, tận dụng được các phụ phẩm từ cá tạp, cua, ốc,… để chế biến thành thức ăn cho NTTS. Cho nên sản lượng thủy sản của tỉnh đã có dấu hiệu tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây, nhất là sản lượng từ hoạt động nuôi trồng. Năm 2000 tổng sản lượng thủy sản của tỉnh chỉ đạt được 116.395 tấn, trong đó ngành khai thác là 66.025 tấn chiếm 56,7%, ngành nuôi trồng đóng
góp 50.370 tấn chiếm 43,3%. Đến năm 2008 tổng sản lượng thủy sản đã có tốc độ tăng đáng kể đạt 238.407 tấn tăng lên gấp khoảng 2 lần, tốc độ tăng liên tục qua các năm, trừ năm 2003 do những bất ổn về tình hình về thời tiết kết hợp về sự biến động của thị trường xuất khẩu, nhưng nhìn chung tổng sản lượng thủy sản tăng trưởng khá mạnh qua các năm, với mức tăng trung bình là 9,97%/năm, tốc độ tăng trưởng mạnh nhất đặc biệt vào các năm gần đây, chẳng hạn vào năm 2007 có tốc độ tăng trưởng là 21,3%, năm 2008 là 35,6%. Biểu đồ 2.3. Sản lượng thủy sản của Bến Tre qua các năm (đơn vị: tấn)
Tấn
300000
Khai thác
Nuôi trồng
238407
250000
200000
175757
144945
137381
150000
134200
132272
129049
127714
116395
100000
50000
0
Năm
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bến Tre Bên cạnh tốc độ tăng trưởng nhanh về tổng sản lượng thủy sản thì một chuyển dịch theo hướng tích cực giữa sản lượng nuôi trồng và đánh bắt, trong những năm gần đây, sản lượng nuôi trồng liên tục tăng và dần dần chiếm tỉ trọng cao hơn so với sản lượng khai thác. Đây là sự chuyển dịch theo hướng khá tích cực, nếu như trước đây hơn 50% đóng góp cho tổng sản lượng thủy sản là từ hoạt động khai thác thì trong giai đoạn hiện nay tỉ trọng sản lượng khai thác đã giảm đáng kể đến năm 2008 tỉ trọng ngành khai thác chỉ còn chiếm 34,1% so với 65,9% tỉ trọng từ hoạt động nuôi trồng. Đều cũng chứng tỏ ngành thủy sản Bến Tre đang có những bước đi tương đối vững chắc trong tương lai, vì trữ lượng thủy sản tự nhiên đang có xu hướng giảm mạnh do một phần chúng ta khai thác quá mức, một phần là do chúng ta khai thác bằng các ngư cụ nằm ngoài danh mục cho phép khai thác thủy sản. Những năm gần đây, tỉnh có phương châm đẩy nhanh tốc độ phát triển thủy sản trong tổng cơ cấu nông nghiệp của tỉnh, đưa ngành thủy
sản trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng của tỉnh bên cạnh các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp được chế biến từ cây dừa.
Nếu chỉ xét riêng về mặt NTTS thì đóng góp của các loại cá vẫn cao hơn con tôm, tỉ trọng càng có xu hướng mở rộng đối với hai loại thủy sản chủ lực này và sự phát triển của sản lượng cá có tốc độ tăng liên tục và tương đối ổn định hơn so với con tôm. Nhưng nếu xét về mặt sản lượng thì hoàn toàn không thể hiện đầy đủ ý nghĩa được, vì sản lượng cá tăng liên tục với tốc độ tăng trung bình hằng năm là 45,8%, nếu xét trong hai năm trở lại đây thì tốc độ này cao hơn nhiều chẳng hạn năm 2008 có tốc độ tăng trưởng 108,8%, tuy sản lượng cá nuôi cao nhưng giá trị của các loại cá đều thấp hơn rất nhiều so với tôm do giá trị của tôm là rất cao.
Bảng 2.4. Giá cả của một số loài thủy sản chưa qua chế biến của tỉnh trên thị trường hiện nay
205.000 (loại I) 125.000 (loại I) 68.000 – 87.000 46.000 – 80.000
5. Tôm càng xanh 6. Tôm sú 7. Tôm thẻ chân trắng 8. Tôm đất
14.500 – 15.400 20.000 – 21.000 50.000 – 65.000 30.000 – 31.000
1. Cá tra 2. Cá điêu hồng 3. Cá kèo 4. Cá lóc
Loại thủy sản Giá (đồng/kg) Loại thủy sản Giá (đồng/kg)
Nguồn: Tổng hợp từ thị trường Bến Tre tháng 12/2009 Bên cạnh sự tăng trưởng mạnh của sản lượng thủy sản nuôi trồng thì hoạt động khai thác đánh bắt thủy sản của tỉnh cũng đóng góp không nhỏ vào tổng sản lượng chung của tỉnh, khác với một số tỉnh thành khác trong khu vực như Cà Mau, Kiên Giang,... thì hoạt động đánh bắt thủy sản của tỉnh không phải là một thế mạnh. Tuy nhiên hằng năm cũng đóng góp khoảng hơn 40% cơ cấu tổng sản lượng, những năm gần đây thì tuy tốc độ phát triển có tăng nhưng ở mức thấp trung bình khoảng 2,8%/năm, trong đó tăng tương đối ở hoạt động khai thác trên biển, tốc độ tăng trung bình là 3,3%/năm, còn đối với ngành khai thác thủy sản nội địa thì hầu như liên tục giảm, đặc biệt là vào những năm gần đây, chẳng hạn vào năm 2007 giảm 17,7%/năm, năm 2008 giảm 10,5%/năm. Còn nếu xét về cơ cấu so với ngành nuôi trồng thì đã giảm đáng kể, cá biệt vào năm 2008 chỉ chiếm 34,1% cơ cấu.
Nguyên nhân của sự sụt giảm về mặt cơ cấu là do đây là một nghề truyền thống, phương tiện đánh bắt của ngư dân tương đối đa dạng, nhưng hiệu quả đánh bắt không cao, số lượng tàu đánh bắt xa bờ tuy có tăng mạnh trong thời gian gần đây nhưng số lượng vẫn còn ít do thiếu về nguồn vốn, kết hợp với sự biến động thất thường về thời tiết, giá cả xăng dầu tăng lên hàng ngày nên số lượng đánh bắt liên tục giảm, rất nhiều ngư dân phải bỏ nghề do không đủ vốn để tái đầu tư cho hoạt động đánh bắt. Trong tổng sản lượng đánh bắt thì chủ yếu là khai thác trên
biển, những năm gần đây chiếm gần như 90% về sản lượng khai thác, hoạt động khai thác nội địa, chủ yếu là trên các sông rạch tự nhiên, phần lớn đây là hình thức khai thác thủ công, sử dụng phương tiện đánh bắt thô sơ, không kể một ít người còn sử dụng các dụng đánh bắt mang tính chất hủy diệt như sử dụng điện trong đánh bắt, lưới mùn, “câu vịt”,... hoạt động khai thác này đã ảnh hưởng đáng kể đến số lượng các loài thủy sản nội địa, đồng thời ảnh hưởng đến vấn đề môi trường sinh thái, làm mất đi tính cân bằng vốn có của các hệ động thực vật dưới nước. Do đó, nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng suy giảm mạnh và dần dần cạn kiệt.
Biểu đồ 2.4. Sản lượng đánh bắt thủy sản và tốc độ tăng trưởng sản lượng đánh bắt thủy sản Bến Tre qua các năm
Tốc độ (%)
Sản lượng (tấn)
90000
15.0
80000
10.0
70000
60000
5.0
50000
40000
0.0
30000
20000
-5.0
10000
-10.0
0
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
Năm
Biển
Nội địa
Tốc độ tăng trưởng
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bến Tre Nhìn chung, sản lượng đánh bắt thủy sản trên địa bàn tỉnh tập trung chủ yếu các huyện ven biển như Ba Tri, Bình Đại, riêng 2 huyện này đã chiếm khoảng 90% tổng sản lượng thủy sản khai thác của tỉnh, Thạnh Phú cũng có tỉ lệ đóng góp đáng kể, năm 2008 là 4,7%, đây cũng là những huyện có lịch sử khai thác nghề cá từ lâu đời, chủ yếu là các hoạt động khai thác, đánh bắt các loại cá biển, còn đối với những huyện còn lại chủ yếu là hoạt động khai thác các loại cá, tôm nước ngọt. Tuy nhiên như đã trình bày ở trên thì sản lượng khai thác ở đây không nhiều và có xu hướng giảm dần do sự suy giảm số lượng, mà nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động khai thác quá mức để đáp ứng về nhu cầu thực phẩm hằng ngày cho bữa ăn với số lượng dân số đông và tăng nhanh như hiện nay, đồng thời sự suy giảm này cũng bắt nguồn từ các hoạt động gây ô nhiễm nguồn nước của con người từ các hoạt động sản xuất công nghiệp hoặc nông nghiệp. Hậu quả không những nhanh chóng làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản tự nhiên mà còn ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và sản lượng của hoạt động nuôi thủy sản do nguồn nước ô nhiễm và suy giảm các sinh vật phù du có trong nước đây cũng là nguồn thức ăn quan trọng cho các loài nuôi trồng.
Bảng 2.5. Sản lượng thủy sản khai thác phân theo huyện, thị
Năm 2005 2008
Sản lượng (tấn) Cơ cấu (%) Sản lượng (tấn) Cơ cấu (%)
TX. Bến Tre Châu Thành Chợ Lách Mỏ Cày Giồng Trôm Bình Đại Ba Tri Thạnh Phú 26 4.423 157 1.739 427 33.689 31.256 2.322 0,04 5,97 0,21 2,35 0,58 45,50 42,21 3,14 18 1.073 54 574 584 39.616 35.643 3.827 0,02 1,32 0,07 0,71 0,72 48,67 43,79 4,70
Tổng 74.039 100,00 81.389 100,00
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bến Tre
2.4.1.3. Giá trị sản xuất thủy sản
Cùng với kinh tế vườn, thủy sản đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của Bến Tre. Năm 2008, tổng sản lượng thủy sản đạt 238.407 tấn, trong đó sản lượng thủy sản nuôi đạt 157.018 tấn chiếm 65,9%, giá trị sản xuất thủy sản đạt 5.848.546 triệu đồng, giá trị ngoại tệ xuất khẩu thủy sản 70,098 triệu USD, chiếm 38,1% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, chỉ đứng sau các sản phẩm từ cây dừa. Điều đó cho thấy sự phát triển nhanh chóng của ngành thủy sản tỉnh nhà, sự phát triển của ngành có vai trò rất lớn trong việc phát triển kinh tế của tỉnh nhà, đồng thời giải quyết được vấn đề lao động, việc làm; Đảm bảo cung cấp đủ nguồn thực phẩm, tăng cường các chất dinh dưỡng cần thiết, nhất là hàm lượng protein từ thủy sản rất có lợi cho sức khỏe con người.
Nhìn chung, đến giai đoạn hiện nay thì giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng cao và lớn nhất trong tổng giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, nhưng tỉ trọng này đang có xu hướng giảm, vào năm 2000 giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm tới 69,93% trong tổng giá trị sản xuất của ngành thì đến năm 2008 thì tỉ lệ này đã giảm chỉ còn 62,45%, trong khi đó tỉ trọng của ngành thủy sản đã dấu hiệu tăng trong những năm gần đây vào năm 2000 thủy sản chỉ chiếm 29,85%, đến năm 2008 thì con số này đã lên tới 37,20%; còn nếu xét tổng giá trị sản xuất kinh tế qua các năm thì chúng ta nhận thấy rằng, tổng giá trị của sản xuất nông nghiệp đều giảm qua các năm nhưng chỉ tính riêng ngành thủy sản thì lại tăng qua các năm, chẳng hạn vào năm 2000 giá trị sản xuất của thủy sản đạt 1.619,5 tỉ đồng chiếm 17,46% trong tổng giá trị sản xuất của tỉnh thì đến năm 2008 giá trị sản xuất của thủy sản đạt 5.848,6 tỉ đồng chiếm 17,86%. Điều này đã cho chúng ta thấy được sự chuyển biến mạnh mẽ của ngành thủy sản, sự phát triển
mạnh mẽ của ngành thủy sản đã tác động tích cực đến sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng tăng tăng tỉ trọng của các ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, giảm tỉ trọng của ngành trồng trọt.
Bảng 2.6. Cơ cấu và giá trị sản xuất phân theo ngành kinh tế của tỉnh Bến Tre qua các năm (đơn vị: tỉ đồng)
2000 2005 2008
Tỉ đồng % Tỉ đồng % Tỉ đồng %
8746,5 50,05 48,02 58,5
Nông, lâm, ngư nghiệp Trong đó: 5425,1 15722,6
- Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản 3739,6 66 1619,5 5521,4 62.4 3162,7 31,59 0,36 18,10 9818,7 55,4 5848,6 29,99 0,17 17,86 40,33 0,71 17,46
Công nghiệp 2091,0 22,50 4913,0 28,11 9057,5 27,66
Dịch vụ 1757,5 18,95 3816,6 21,84 7965,2 24,32
Tổng 9273,6 100 17476,1 100 32745,3 100
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bến Tre Giá trị sản xuất thủy sản Bến Tre giai đoạn từ năm 2000 – 2008 tăng liên tục qua các năm, trong cơ cấu giá trị sản xuất thủy sản ở giai đoạn đầu từ ngành khai thác chiếm tỉ trọng khá cao năm 2000 chiếm 65,69%, qua các năm trở lại đây mặc dù giá trị vẫn tăng nhưng về tỉ trọng đã có xu hướng giảm mạnh đến năm 2008 chỉ còn chiếm 22,75%, trong khi đó ngành nuôi trồng ở giai đoạn đầu chiếm tỉ trọng nhỏ chỉ bằng khoảng ½ so với ngành khai thác nhưng thời gian gần đây thì tỉ trọng ngành này liên tục tăng mạnh và tương đối ổn định qua các năm đến giai đoạn hiện nay thì ngành nuôi trồng là ngành chiếm tỉ trọng cao nhất, chiếm tới 76,18%. Điều đó đã cho thấy sự chuyển biến mạnh mẽ trong ngành thủy sản tỉnh, từ một ngành thủy sản đa phần dựa vào khai thác tự nhiên thì gần đây thế mạnh của ngành đó chính là nuôi trồng, nuôi trồng đã trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành thủy sản, đây thực sự là dấu hiệu tốt, vì nhu cầu thủy sản của trị trường trong nước cũng như ngoài nước luôn tăng trong thời gian qua, đáp ứng nhu cầu này bằng cách nuôi trồng là một việc làm hoàn toàn hợp lý, nó không chỉ đem lại giá trị kinh tế cao mà còn đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành trong tương lai, giúp chúng ta khai thác hết tiềm năng tự nhiên phục vụ vào việc phát triển kinh tế chung của tỉnh.
Biểu đồ 2.5. Giá trị sản xuất của ngành thủy sản Bến Tre qua các năm.
Triệu đồng
5848546
6000000
Khai thác Nuôi trồng Dịch vụ
5000000
4350716
4000000
3746673
3162743
2828319
3000000
2096307
1929596
2000000
1741518
1619529
1000000
0
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008 Năm
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bến Tre
Ngoài ra, qua biểu đồ cũng cho thấy rằng, giá trị sản xuất của ngành dịch vụ thủy sản tuy chiếm tỉ lệ rất nhỏ, thực tế thì giá trị của ngành dịch vụ thủy sản trong giai đoạn này là không đáng kể, đóng góp không lớn, tuy nhiên cũng nhận thấy rằng nó có tốc độ tăng trưởng khá mạnh và chiếm tỉ lệ ngày càng nhiều từ 0,01% năm 2000 lên 1,07% năm 2008. Tốc độ tăng trưởng của ngành của này so với ngành nuôi trồng tuy rất nhanh nhưng chưa thật sự ổn định, điều đó cũng thể hiện phần nào vào hoạt động chế biến xuất khẩu thủy sản của tỉnh còn phụ thuộc rất lớn vào thị trường. Bến Tre chưa đủ khả năng để tự chủ động về thị trường, kết hợp với những biến đổi của giá cả, cùng với nhu cầu nuôi trồng của bà con, vì thực tế sự phát triển của ngành dịch vụ phụ thuộc rất lớn vào ngành nuôi trồng, bản thân ngành này phát triển được là do nhu cầu của nuôi trồng, đây cũng là một hạn chế không nhỏ đối với ngành thủy sản trong tương lai cho nên cũng cần có biện pháp để giải quyết tốt vấn đề trên, đảm bảo sự phát triển bền vững thủy sản tỉnh nhà.
2.4.1.4. Khai thác và đánh bắt thủy sản
Hoạt động khai thác và đánh thủy sản cũng là một ngành truyền thống có từ lâu đời của tỉnh, giai đoạn trước 2000 thì đánh bắt đã cung cấp một lượng thủy sản khá lớn cho tỉnh, nhưng
ở giai đoạn đó ngành thủy sản chưa thật sự phát triển mạnh. Cùng với sự phát triển của ngành thủy sản thì sự đóng góp của ngành đánh bắt là không nhỏ, trong đó đánh bắt đã cung cấp một số loại thủy sản rất có giá trị mà ngành nuôi trồng hiện nay chưa thực hiện được như mực, cá ngừ, cá thu,… đồng thời đánh bắt còn có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nguồn thực phẩm thủy sản hằng ngày cho đại đa số người dân của tỉnh vì giá tương đối rẽ, cung cấp nguyên liệu cho ngành sản xuất nước mắn, khô, cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến thức ăn gia súc, thủy sản.
Năm 2008 toàn tỉnh có 4.191 tàu thuyền hoạt động trong ngành thủy sản với công sức bình quân là 96,4 Cv/chiếc, trong đó 1.167 tàu hoạt động đánh bắt xa bờ với công suất bình quân 305,2 Cv/ chiếc, với sản lượng khai thác 81.389 tấn, trong đó sản lượng khai thác các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao hàng năm đều tăng. Đội ngũ tàu thuyền hoạt động trong thời gian gần đây cũng có tốc độ tăng khá, đặc biệt là tàu có công suất lớn, đánh bắt trên biển dài ngày. Số tàu đánh bắt xa bờ tập trung chủ yếu ở 2 huyện là Ba Tri và Bình Đại, chỉ tính riêng 2 huyện này đã chiếm tới 97,4% (Bình Đại 428 chiếc, Ba Tri 709 chiếc), còn lại Châu Thành (16 chiếc), Thạnh Phú (13 chiếc), Mỏ Cày (1 chiếc), các huyện còn lại không có tàu đánh bắt xa bờ. Các thiết bị phục vụ cho công tác khai thác dài ngày trên biển, dò tìm luồng cá,… hậu cần thủy sản đã được hiện đại hóa. Còn riêng đối với hoạt động đánh bắt nội địa thì Thạnh Phú là huyện có số lượng tàu nhiều nhất 675 chiếc, huyện Mỏ Cày cũng có số lượng tương đối lớn 531 chiếc, hầu hết các huyện trong tỉnh đều có tàu thuyền đánh bắt nội địa, chủ yếu là tàu thuyền nhỏ, tàu gỗ khai thác trên các sông hoặc ven bờ. Hiện nay, chủ trương của tỉnh là hạn chế đóng mới đối với các loại phương tiện này, khuyến khích ngư dân khai thác xa bờ, nhằm bảo vệ, hạn chế cạn kiệt tình trạng nguồn tài nguyên thủy sản nội địa và ô nhiễm môi trường.
Biểu đồ 2.6. Số tàu thuyền và sản lượng khai thác thủy sản của Bến Tre
Số tàu (chiếc)
Sản lượng (tấn)
4500
80000
4000
70000
3500
60000
3000
50000
2500
40000
2000
30000
1500
20000
1000
10000
500
0
0
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008 Năm
Tổng SL
SL_KT biển
TS tàu
Tàu KT xa bờ
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bến Tre
Qua biểu đồ còn cho thấy, sản lượng thủy sản khai thác biển luôn chiếm tỉ lệ lớn khoảng hơn 95% và tăng dần qua các qua các năm, sản lượng khai thác thủy sản nội địa chiếm tỉ lệ rất thấp và có xu hướng giảm dần qua các năm, vào năm 2000 sản lượng khai thác nội địa chiếm tỉ lệ 4,72% đến năm 2008 tỉ lệ này chỉ còn 1,41%. Điều này cho thấy sự chuyển biến trong ngành khai thác thủy sản đang có xu hướng chuyển dần khai thác xa bờ, hạn chế tối đa khai thác nội địa, mặc khác, sự giảm sút sản lượng khai thác thủy sản nội địa cho thấy rằng sự suy giảm nguồn tài nguyên của tỉnh nhà do tình trạng khai thác vượt quá giới hạn cho phép, sự hủy hoại nghiêm trọng tài nguyên dẫn đến cạn kiệt, ô nhiễm môi trường nước do các hoạt động sản xuất của con người,… điều này rất đáng lo ngại cho sự phát triển của ngành thủy sản trong tương lai, môi trường nội thủy là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động NTTS, đây là hoạt động mà mục tiêu của tỉnh hướng đến. Vấn đề ô nhiễm và cạn kiệt tài nguyên trong nước (các sinh vật phù du, tảo,… là nguồn thức ăn tự nhiên rất quan trọng cho NTTS) dẫn tới vấn đề dịch bệnh cho ao nuôi, tăng chi phí đầu tư, sản lượng ao nuôi giảm,…
Trong tổng số sản lượng khai thác biển thì chiếm phần lớn vẫn là các loại cá, chiếm tỉ lệ hơn 70%, nhưng chủ yếu là các loại cá biển nhỏ như cá nục, cá bạc má, các loại cá tạp vì thế giá trị kinh tế chưa cao, các loại có giá trị kinh tế cao như cua, ghẹ, mực chiếm tỉ lệ rất thấp, điều này thể hiện giá trị sản xuất của thủy sản khai thác còn thấp. Chẳng hạn như năm 2008, tổng sản
lượng thủy sản tỉnh là 238.047 tấn, trong đó khai thác là 81.389 tấn chiếm 34,1% về sản lượng, giá trị sản xuất thủy sản là 5.848.546 triệu đồng, trong đó khai thác đạt 1.330.602 triệu đồng chỉ chiếm tỉ lệ 22,75% về giá trị.
2.4.2. Thực trạng chế biến và tiêu thụ thủy sản Bến Tre
Chế biến thủy sản
Hiện nay toàn tỉnh đã có được 9 nhà máy hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thủy sản, trong đó có 3 nhà máy chuyên sản xuất kinh doanh các sản phẩm thủy sản phục vụ cho xuất khẩu, cả 3 nhà máy này đều đạt được các tiêu chí như: ISO 9001, HACCP, GMP,… trực tiếp xuất khẩu sang nước ngoài, một trong ba nhà máy đã thành lập được thương hiệu thủy sản Bến Tre đó là công ty cổ phần chế biến lâm thủy sản Bến Tre với thương hiệu Faquimex. Hiện nay, Faquimex đứng trong top 15 công ty xuất khẩu thủy sản đạt doanh thu cao nhất của nước ta, sản phẩm của công ty chủ yếu là tôm và cá tra chế biến đông lạnh xuất khẩu với thị trường chính là EU. Sự lớn mạnh của các công ty chế biến thủy sản trong thời gian qua đã có vai trò rất lớn trong việc nâng cao giá trị của các sản phẩm thủy sản, đồng thời các công ty này đã góp phần giải quyết một lượng lớn lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh, năm 2008 chỉ tính riêng 9 công ty này đã cung ứng việc làm cho 3.913 lao động, với mức thu nhập trung bình cho mỗi người lao động là 1.694.000 đồng/tháng.
Tổng sản phẩm chế biến xuất khẩu của tỉnh đã tăng liên tục trong giai đoạn từ năm 2000 – 2008, với tốc độ tăng trung bình 2,8%/năm. Tuy nhiên, cơ cấu các sản phẩm chế biến của tỉnh cũng có những thay đổi đáng kể trong thời gian qua, nếu giai đoạn trước năm 2000 thì phần lớn sản phẩm xuất khẩu là con tôm thì đã có những thay đổi đáng kể tỉ trọng tôm đông lạnh xuất khẩu có xu hướng giảm mạnh, trong khi đó tỉ trọng cá đông lạnh và nghiêu đông lạnh có xu hướng tăng, đặc biệt là cá đông lạnh (fillets cá da trơn) – đây là loài thủy sản mới được thả nuôi trong giai đoạn hiện nay bước đầu đã mang lại hiệu quả khá.
Bảng 2.7. Cơ cấu giá trị các sản phẩm chế biến xuất khẩu của Bến Tre
2007 2008 Năm
Tấn
2000 Tấn % 899 0 271 0 76,8 2.218 0,0 3.758 23,2 2.799 503 0,0
Sản phẩm Tôm đông lạnh Cá đông lạnh Nghiêu đông lạnh Thủy sản khác Tổng 2005 Tấn Tấn % 23,9 680 40,5 11.953 4.353 30,2 294 5,4 1170 100.0 9278 100.0 % 3,9 203 69,2 20.884 4.571 25,2 230 1,7 17280 100.0 % 0,8 80,7 17,6 0,9 25888 100.0
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bến Tre.
Thị trường tiêu thụ
Đối với các sản phẩm thủy sản của tỉnh hiện nay, thị trường tiêu thụ chủ yếu, đem lại giá trị kinh tế cho ngành đó là xuất khẩu, còn đối với thị trường trong nước thì chủ yếu là bán dưới dạng sản phẩm tươi sống hoặc xuất sang các tỉnh khác để chế biến.
Mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu của Bến Tre là cá fillets (tra, basa), tôm đông lạnh (tôm sú, tôm càng xanh, tôm thẻ), các sản phẩm chế biến từ nghiêu,… tính đến nay các sản phẩm thủy sản của tỉnh đã có mặt trên thị trường của trên 33 quốc gia chủ yếu là EU như Italia, Hà Lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Liên Bang Nga,… nhiều nhất là Ba Lan và Liên Bang Nga chỉ tính riêng 2 thị trường này thì đã chiếm khoảng 45% sản lượng và 25,5% giá trị cá fillets xuất khẩu.
2.4.3. Thực trạng phát triển các loại thủy sản chủ lực của Bến Tre
2.4.3.1. Tôm sú
Tôm sú là một trong số loại vật nuôi đã làm thay da đổi thịt đối với bà con các huyện ven biển của tỉnh trong thời gian qua, góp phần tích cực vào công tác xóa đói giảm nghèo, đem lại một diện mạo mới cho các vùng quê ven biển. Nhưng trong thời gian gần đây số hộ giàu lên từ con tôm sú đã có dấu hiệu giảm đáng kể, không ít hộ còn phải lao đao vì con tôm sú do những diễn biến phức tạp về giá cả, tình hình dịch bệnh, giá thức ăn tăng cao dẫn tới thua lỗ. Tuy nhiên con tôm sú vẫn được tỉnh đánh giá là 1 trong 5 đối tượng nuôi thủy sản của tỉnh trong tương lai.
Bảng 2.8. Thực trạng phát triển con tôm sú Bến Tre giai đoạn 2000 – 2008.
2005 2006 2003 2007
Chỉ tiêu Diện tích nuôi tôm sú (ha)
5852 2322 6466 5189 244
Nuôi TC & BTC Nuôi QC & nuôi xen
Sản lượng (tấn) 2000 2008 18940 27791 32718 31149 31717 31462 5597 18696 25469 26252 25960 25865 25865 10101 12731 25081 20160 23717 21265
Nguồn: Sở thủy sản Bến Tre Diện tích nuôi tôm sú tập trung chủ yếu ở 3 huyện ven biển là Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú. Tuy diện tích nuôi tôm sú của tỉnh có tăng qua các năm, với tốc tăng trung bình khoảng 8%/năm nhưng diện tích phát triển nuôi tôm sú chưa thật sự ổn định điều đó xuất phát thực tế hiện nay là đa phần người nuôi tôm sú chưa có kinh nghiệm, không nắm bắt được tình hình diễn biến của thời tiết, thị trường, chỉ chạy theo nhu cầu lợi nhuận trước mắt nên có những năm diện tích nuôi tôm sú phát triển với tốc độ ồ ạt dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu, người nông dân bị thua lổ, một số hộ sản xuất phải treo ao. Điều này một phần lỗi cũng xuất phát từ các cấp cơ
quan có thẩm quyền khi chưa có kế hoạch chi tiết, quy hoạch vùng nuôi cụ thể hoặc có quy hoạch nhưng chưa hợp lý cho người nuôi. Một điều nữa là môi trường nuôi tôm sú tỉnh là rất lớn nhưng hiện nay đang bị suy thoái mạnh do chưa có những biện pháp quản lý chặt chẽ đối với những hộ nuôi, một số khu vực ao nuôi tại các huyện như Bình Đại, Ba Tri,… hiện nay không thể nào phát triển nuôi tôm sú vì đã bị suy thoái rất nặng, chỉ có thể tận dụng để nuôi tôm thẻ chân trắng hoặc các loại cá nước lợ vào mùa mưa tuy nhiên tình trạng cũng không mấy khả quan lắm. Một điểm nữa là phần lớn là diện tích nuôi hiện nay là nuôi dưới hình thức bán thâm canh và xen canh với các loại vật nuôi khác, kết hợp khâu quản lý chưa tốt cho nên năng suất nuôi cũng còn thấp, khả năng xảy ra dịch bệnh là rất lớn, diện tích nuôi thâm canh chỉ chiếm khoảng 20% chủ yếu là do các công ty chế biến thủy sản hoặc do các thương nhân đầu tư nuôi, tổng lợi nhuận từ con sú là rất lớn nhưng lợi nhuận này không thuộc về người nông dân.
Nếu chỉ nhìn tổng thể từ phía lợi nhuận của con tôm sú tỉnh mang lại trong thời gian qua thì rất lớn, đây là một sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh. Tuy nhiên, những lợi nhuận này phần lớn không thuộc người nông dân mà nó thuộc về các công ty có mức độ đầu tư lớn, nuôi thâm canh, còn về phía người nông dân thì chủ yếu là sản xuất với quy mô nhỏ, nuôi quảng canh là chính, lợi thuận thu được không thật sự bền vững, đặc biệt là với những diễn biến thất thường của tình hình thời tiết, khí hậu hiện nay. Đồng thời do thiếu vốn đầu tư cũng như kinh nghiệm trong việc xử lý khi nuôi kết hợp với giá thức ăn liên tục tăng cao trong thời gian gần đây đã khiến cho rất nhiều hộ nuôi lâm vào tình cảnh khó khăn. Tiềm năng cho nghề nuôi tôm sú của tỉnh hiện nay vẫn còn rất lớn, nhưng vấn đề là chúng ta cần có những giải pháp hợp lý để cho tôm sú thật sự phát triển bền vững, đặc biệt là mang lại nguồn thu nhập cho chính người nông dân chứ không phải là các thương gia từ các thành phố. Phát triển bền vững con tôm sú chính là mang lại giá trị kinh tế cao cho tất cả các hộ nông dân địa phương, trên cơ sở đó góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo, giúp người nông dân vươn lên làm giàu, đó là một trong những yếu tố cho sự phát triển bền vững kinh tế thủy sản nói riêng và kinh tế của tỉnh nhà nói chung trong tương lai.
2.3.4.1. Cá da trơn (chủ yếu là cá tra)
Nghề nuôi cá da trơn (chủ yếu cá tra) tại Bến Tre chỉ mới phát triển trong thời gian gần đây nên diện tích thả nuôi chưa nhiều, năm 2008 là 650 ha, nhưng cái được là chất lượng cá nuôi ở đây rất cao, thịt cá trắng, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Bến Tre cũng đã có quy hoạch vùng nuôi cụ thể trên các cồn ở huyện Châu Thành, Mỏ Cày (Nam & Bắc), Chợ Lách,… đó là nền tảng tốt để phát triển bền vững nghề nuôi loại cá da trơn này.
Diện tích nuôi (ha)
Sản lượng (tấn)
Biểu đồ 2.7. Diện tích và sản lượng cá da trơn Bến Tre thời kỳ 2005 – 2008.
Tấn
Ha
700
120000
600
100000
500
80000
400
60000
300
40000
200
20000
100
0
0
2005
2006
2007
2008
Năm
Nguồn: Sở NN&PTNT Bến Tre
Nghề nuôi cá da trơn xuất phát từ các tỉnh đầu nguồn của ĐBSCL như Đồng Tháp, An Giang,… tại Bến Tre cá da trơn (chủ yếu là cá tra) chỉ mới bắt đầu phát triển từ năm 2005 trở lại đây. Tuy là vật nuôi mới của tỉnh nhưng có tốc độ phát triển khá nhanh và được đánh giá là một trong 5 vật nuôi thủy sản chủ lực của tỉnh. Năm 2005 toàn tỉnh chỉ có 57,9 ha nuôi với tổng sản lượng là 4.500 tấn/năm, đến năm 2008 diện tích nuôi của tỉnh tăng lên 650 ha với tổng sản lượng hơn 100.025 tấn/năm, tăng gấp 11,2 lần về diện tích và 22,2 lần về sản lượng, điều đó cũng cho thấy rằng không những diện tích nuôi mà năng sức nuôi cũng tăng lên đáng kể.
Khác với các vật nuôi chủ lực khác, cá tra chủ yếu nuôi theo hướng công nghiệp với quy mô mỗi trại nuôi tương đối lớn, có quy hoạch khá cụ thể cho từng vùng nuôi, ở giai đoạn đầu cá tra chỉ được nuôi với hình thức nuôi lồng bè ở môi trường nước ngọt, tập trung ở sông Tiền thuộc địa phận huyện Châu Thành và một phần sông Cổ Chiên thuộc địa phận huyện Chợ Lách. Hiện nay, bên cạnh hình thức nuôi lồng bè thì hình thức nuôi ao đang phát triển khá mạnh và chiếm phần lớn diện tích nuôi cá tra của tỉnh, tập trung ở các bãi bồi ven các sông lớn hoặc trên
các dãy cù lao như cồn Bần (Mỏ Cày Nam), cù lao Ốc, cù lao Linh (Giồng Trôm), cồn Tiên Lợi (Châu Thành), cù lao Tấu (Bình Đại). Bên cạnh, phát triển nuôi cá tra ở môi trường nước ngọt thì cá tra hiện nay cũng được đưa vào nuôi thử nghiệm trong môi trường nước lợ với hình thức nuôi xen canh (yêu cầu giống phải có kích thước lớn và mật độ thả thưa), bước đầu mô hình nuôi này cũng mang lại hiệu quả kinh tế khá, hình thức nuôi chủ yếu là nuôi luân canh trong ao đất, phân bố ở một số xã thuộc thuộc các huyện ven biển.
Tuy nhiên, cũng như các tỉnh khác có phát triển cá da trơn thì hiện nay nghề nuôi cá da trơn của tỉnh cũng đang gặp khá nhiều khó khăn. Do việc phát triển diện tích nuôi một cách ồ ạt mà không chú trọng đúng mức tới công tác bảo vệ môi trường cũng như việc dự báo chính xác nguồn nguyên liệu nên thời gian gần đây một số vùng nuôi đang có dấu hiệu suy thoái về môi trường nước, đặc biệt là tình trạng khủng hoảng về nguồn cá nguyên liệu mà diễn hình như vào đầu năm 2008 do ảnh hưởng của thị trường xuất khẩu, giá cá liên tục giảm, giá thức ăn tăng cao, các nhà máy chế biến trong tỉnh chỉ có thể thu mua được khoảng ½ sản lượng cá nguyên liệu, dẫn tới tình trạng thua lỗ rất lớn.
Nhận thấy được giá trị của con cá da trơn cũng như những thách thức đặt ra, Bến Tre vẫn xác định cá tra vẫn là vật nuôi chủ lực của tỉnh, để đảm bảo việc nuôi cá da trơn trên địa bàn tỉnh đi vào nề nếp, phát triển nghề nuôi cá da trơn theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững. UBND tỉnh đã có quy hoạch chi tiết nuôi cá da trơn đến năm 2020 trên cơ sở phát triển nuôi ở những nơi phù hợp, có sự kiểm tra, quản lý chặt chẽ từ khâu sản xuất con giống đến khâu chế biến tiêu thụ sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường.
2.4.3.3. Tôm càng xanh
Không giống như tôm sú hay cá da trơn là những đối tượng quan tâm của những người có đồng vốn lớn, tôm càng xanh (người dân địa phương hay gọi là tôm càng) thực sự là vật nuôi cho những người ít vốn, ít đất canh tác và có thể nuôi đều khắp. Tôm càng xanh có nhiều ưu điểm là có thể nuôi xen trong các mương vườn dừa, vườn cây ăn trái, nuôi được ở ao, đìa, bãi bồi ven sông, nuôi xen canh trong ruộng lúa, ao chuyên canh,… đây là vật nuôi tương đối an toàn, không bị lỗ vốn do ít dịch bệnh, chính vì vậy nên không cần sử dụng hóa chất diệt khuẩn nên không lo môi trường bị ô nhiễm như những vật nuôi khác. Tôm càng là động vật ăn tạp, phàm ăn, có thể ăn nhiều loại thức ăn tận dụng như tấm gạo, củ khoai, củ mì hay các loại thức ăn dễ tìm mà rẻ tiền như ốc bươu vàng, cá vụn, ruột gà vịt, ruốc,… Tôm càng xanh nuôi được ở nhiều vùng sinh thái ngọt, lợ và vùng sông nơi cửa biển có độ mặn đến 15‰.
Trong điều kiện tự nhiên ở Bến Tre, nguồn giống tôm càng xanh rất phong phú, có thể bắt được do đắp đập tràn, cắm chà ven sông rạch, chài lưới hoặc đặt lọp, đăng bãi,... thời gian
có thể đánh bắt trong năm được từ 6 tháng đến 8 tháng. Đồng thời, hiện nay, toàn tỉnh Bến Tre đã có được 14 trại sản xuất giống tôm càng xanh, trong đó có 10 trại thuộc các nông hộ. Hầu hết các nông hộ điều tiếp nhận và ứng dụng tốt việc chuyển giao quy trình công nghệ sản xuất giống tôm càng xanh do ngành thuỷ sản thực hiện, đáp ứng phần nào về nhu cầu nguồn giống chất lượng cao cho hộ nuôi. Một điều đáng mừng nữa là tôm thương phẩm trong nhiều năm gần đây giá luôn ổn định ở mức cao từ 150.000 – 205.000 đ/kg tôm loại I (khoảng 130g/con).
Bảng 2.9. Diện tích và sản lượng nuôi tôm càng xanh Bến Tre giai đoạn 2000 – 2008.
Năm 2000 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Chỉ tiêu
Diện tích (ha) 3.181 1.967 2.056 2.022 2.250 2.245 3.018
Sản lượng (tấn) 1.473 1.217 837 1.015 1.287 1.205 1.464
Nguồn: Sở thủy sản Bến Tre Qua bảng số liệu cho thấy diện tích nuôi tôm càng xanh giai đoạn từ 2000 – 2005 có xu hướng giảm, kèm theo đó là sự sụt giảm về sản lượng nuôi trồng, điều đó được lý giải là do trước năm 2005 diện tích nuôi tôm càng xanh chủ yếu là nuôi thả tự nhiên trong các mương vườn, sử dụng nguồn giống hoàn toàn tự nhiên nên diện tích nuôi thống kê khá lớn, tính ổn định về sản lượng không cao. Chuyển sang giai đoạn từ năm 2005 đến nay thì diện tích và sản lượng tôm càng xanh có dấu hiệu tăng trở lại nhưng chiếm tỷ lệ không lớn so với con tôm sú, hiện nay diện tích nuôi tôm càng xanh chỉ chiếm khoảng 10% so với diện tích nuôi tôm sú và hơn 7% so với tổng diện tích nuôi thủy sản của tỉnh, đóng góp về sản lượng cũng chưa cao và còn nhiều biến động lớn do hình thức nuôi chủ yếu là nuôi xen quy mô nhỏ lẽ và một phần là khai thác từ tự nhiên, hình thức nuôi thâm canh công nghiệp hay quảng canh cải tiến chiếm tỉ lệ rất ít.
Tuy chiếm tỷ lệ không cao cả về diện tích nuôi và sản lượng nhưng sự đóng góp về mặt giá trị là không nhỏ, bởi sản phẩm tôm càng xanh rất được ưa chuộng và có thị trường tiêu thụ rộng lớn và ngày càng mở rộng, đồng thời giá sản tôm càng xanh xu hướng tăng giá mạnh và ổn định trong thời gian gần đây, nếu như năm 2000 giá tôm càng xanh thương phẩm loại I dao động từ 110.000 – 120.000 đồng/kg thì hiện nay giá tăng gần như gấp đôi tôm càng xanh thương phẩm loại I có giá khoảng 200.000 đồng/kg và luôn cung không đủ cầu.
Tôm càng xanh được nuôi chủ yếu trong các mương vườn dừa, vườn cây ăn trái tập trung ở các huyện như Mỏ Cày (Nam & Bắc), Chợ Lách, Châu Thành và một số xã ở Thạnh Phú. Diện tích tiềm năng của tỉnh cho nuôi tôm càng xanh còn rất lớn, Bến Tre hiện đưa gần 5.200 ha mặt nước vào nuôi tôm càng xanh xuất khẩu với sản lượng ước tính hàng năm trên 1.500 tấn.
Hiện nay, phong trào nuôi tôm càng xanh đang phát triển khá mạnh trên cả 3 vùng sinh thái ngọt, lợ, mặn của Bến Tre, bước đầu cho thấy hiệu quả kinh tế khá lớn do chi phí vốn đầu tư ít, khả năng rủi ro, dịch bệnh không lớn, giá cả ổn định. Hình thức nuôi cũng được đa dạng như nuôi trong ao mương vườn, nuôi xen canh trong ruộng lúa, nuôi luân vụ trong ao nuôi tôm sú (vào mùa mưa) hoặc trên các bãi bồi ven sông,… trong đó, phổ biến nhất là mô hình nuôi xen trong mương vườn (3 – 4 vụ/năm), mô hình 1 vụ tôm càng xanh kết hợp với 2 vụ lúa/năm (vùng nước ngọt), 1 vụ tôm sú + 1 vụ tôm càng xanh + 1 vụ lúa mùa trung vụ/năm tại vùng nước lợ hoặc nước mặn ven biển,… Bình quân năng suất tôm càng xanh nuôi ghép trong các mô hình trên đạt từ 150 – 300 kg/ha đã giúp cho người hộ nông dân đạt ngưỡng sản xuất từ 70 – 100 triệu đồng/năm, góp phần rất lớn vào công tác xóa đói giảm nghèo bền vững, đặc biệt đối các hộ ít vốn và ít đất canh tác.
Việc phát triển nghề nuôi tôm càng xanh là một bước phát triển tốt, sự nổ lực của tỉnh nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi thủy sản, phá được thế độc canh từ đó giảm được rủi ro, đồng thời tăng thêm nguồn hàng hóa xuất khẩu cũng như nguồn lợi nhuận khá cao cho người nuôi. Chỉ tỉnh riêng con càng xanh mỗi năm người dân Bến Tre đã thu thêm từ 120 – 150 tỉ đồng.
Tuy nhiên, nguồn lợi nhuận từ con tôm càng xanh là rất lớn và cũng được biết từ lâu nhưng đến hiện nay thì phong trào nuôi tôm càng xanh vẫn chưa phát triển đều khắp và người nông dân chưa mạnh dạn đầu tư, điều đó xuất phát từ thực tế là hình thức nuôi chủ yếu ở đây là nuôi xen, thả lang nên đòi hỏi nguồn con giống phải có kích cở lớn từ 40 – 50 con/kg, nguồn giống tôm càng xanh mặc dù trung tâm giống thủy sản tỉnh có thể sản xuất nhân tạo thành công đủ cung cấp nhưng đây chỉ sản xuất tôm post mà loại này thì không phù hợp với hình thức nuôi xen vì tỉ lệ hao hụt rất lớn. Do vậy, nguồn giống tôm càng xanh hiện chủ yếu là khai thác tự nhiên mà số lượng cũng khan hiếm, đôi lúc tôm không có chất lượng, có nhiều tôm càng sào. Nếu khắc phục được tình trạng này thì tôm càng xanh thật sự là sự lựa chọn đúng hướng cho sự phát triển bền vững ngành thủy sản tỉnh nhà trong tương lai.
2.4.3.4. Nghêu
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, nghêu là nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú có nguồn gốc từ xa xưa ở Bình Đại. Ở nước ta, các tỉnh có thể nuôi nghêu được là không nhiều. Hiện nay, Bến Tre đang đứng đầu cả nước về phát triển nghề nuôi nghêu. Toàn tỉnh có khoảng 10 hợp tác xã (HTX) thủy sản nghêu với 8.744 hộ xã viên và 35 tập đoàn nuôi. Bến Tre có diện tích tiềm năng phát triển nghề nuôi và khai thác nghêu thịt và nghiêu giống khá lớn tập trung ở 3 huyện ven biển là Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú khoảng 15.000 ha đất bãi bồi và cồn nổi. Diện tích đã nuôi năm 2008 là 4.200 ha và khai thác là 7.800 ha đất được nhà nước giao. Sản
lượng thu hoạch bình quân 9.000 tấn/năm đối với nghêu thịt, cao điểm lên đến 37.000 tấn/năm và nghêu giống là bình quân hơn 400 – 500 tấn/năm, cao điểm hơn 1.000 tấn/năm và ngày càng phát triển với mật độ dày và quy mô rộng hơn.
Thời gian qua, nghề nuôi nghêu đã góp phần giải quyết cho hàng chục ngàn lao động nghèo ven biển. Từ khi con nghêu được thị trường châu Âu công nhận là sản phẩm sạch, đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh và mới đây ngày 09/11/2009 con nghiêu Bến Tre đã được cấp chứng nhận MSC của Hội đồng Bảo tồn biển quốc tế, đó là điều kiện tốt quyết định để con nghêu Bến Tre đến được với thị trường các quốc gia phát triển như Nhật, Singapore, HongKong và các nước EU dễ dàng hơn.
Hiện nay, thị trường tiêu thụ sản phẩm nghiêu thịt tăng từ 10 – 15%. Giá nghêu tăng từ 10 – 15% (nghêu thịt), 20 – 30% (nghêu giống). Mặt khác, sản lượng nghêu giống trong tỉnh ngày càng tăng do khai thác có chú trọng đến việc bảo tồn đàn nghêu bố mẹ. Tuy nhiên, công tác quản lý, bảo vệ còn nhiều khó khăn. Do yêu cầu thị trường ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, công tác thực hiện qui trình truy xuất nguồn gốc thường xuyên được kiểm tra bởi các nước nhập khẩu ngày càng khắt khe hơn. Cho nên, cần phải có sự gắn kết chặt chẽ trách nhiệm và quyền lợi của các thành viên trong chuỗi sản xuất. Việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Giống không đủ cung cấp cho các địa phương dẫn đến tình trạng tranh chấp nguồn lợi con giống, đôi lúc dẫn tới tình trạng trộm nghiêu giống. Công tác hỗ trợ phát triển cộng đồng chưa được các địa phương chú trọng đúng mức. Cơ chế đồng quản lý chưa được phát huy tốt dẫn đến nguồn lợi nghêu bị thất thoát. Sự am hiểu về mục tiêu phát triển bền vững và giá trị của công việc đánh giá tiêu chuẩn MSC chưa nhiều trong ngư dân và các cấp lãnh đạo một số địa phương. Do vậy, việc bảo vệ phát triển bền vững cũng như uy tín trên thương trường chưa được nâng cao.
Tiêu chí MSC sẽ được đánh giá chứng nhận lại sau 5 năm. Do vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần quan tâm hơn nữa về xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức quản lý, hệ thống thể chế, chính sách nhằm hổ trợ cho quá trình phát triển con nghiêu. Các cộng đồng ngư dân phải tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm trong tổ chức nuôi và khai thác nghiêu, đừng vì những lợi ích trước mắt mà để mất đi lợi ích lâu dài. Nếu được tổ chức tốt, con nghiêu Bến Tre sẽ đóng góp rất lớn trong việc nâng cao chất lượng cuốc sống cộng đồng và góp phần xây dựng KT – XH địa phương.
2.4.3.5. Tôm thẻ chân trắng
Trước đây, Bến Tre cũng đã tiến hành mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng tại huyện Ba Tri trên diện tích 15 ha và đạt hiệu quả rất cao, đến 10 – 12 tấn/ha. Trong khi chờ hướng dẫn từ Bộ
Thủy sản và không để cơ hội đầu tư của nông dân bị chậm trễ, Sở Thủy sản Bến Tre đã đưa ra quy hoạch tạm thời một số vùng nuôi, quy chế nuôi để trình tỉnh phê quyệt và triển khai đến người dân. Bến Tre vẫn xem con tôm sú là đối tượng nuôi chủ lực và tôm chân trắng chỉ nuôi ở một giới hạn cho phép. Sau khi tiến hành rà soát và lập phương án phát triển tôm chân trắng, kế hoạch của tỉnh là sẽ phát triển 1.000 ha nuôi tôm chân trắng ở các huyện ven biển. Do mới được Bộ NN&PTNN cho phép thả nuôi tại các tỉnh ĐBSCL từ tháng 02/2008 nên diện tích nuôi tại Bến Tre chưa nhiều. Đến nay diện tích thả nuôi tôm chân trắng chỉ khoảng 170 ha, chủ yếu trên diện tích ao nuôi không còn phù hợp với nuôi tôm sú. Hiện tại tôm nuôi phát triển khá tốt và đang được xem là đối tượng để thay thế cho tôm sú ở những vùng nuôi không thuận lợi.
Hiện nay khu vực thả nuôi tôm thẻ chân trắng tập trung ở các huyện ven biển. Huyện Bình Đại nuôi tập trung phía sau cống đập Ba Lai thuộc các vùng nuôi tôm sú thâm canh trước đây nay không còn phù hợp nữa. Huyện Ba Tri tại các vùng nuôi tôm sú thâm canh trước đây nay đã bị suy thoái về môi trường nhưng vẫn còn đảm bảo điều kiện nuôi tôm thẻ chân trắng ở các xã Bảo Thuận, Tân Xuân, một phần xã Tân Thủy và An Thủy, tuy nhiên diện tích nuôi ở đây thì chưa nhiều so với huyện Bình Đại. Ngoài ra, tôm thẻ chân trắng còn được nuôi tại các xã như Thạnh Phong, Thạnh Hải thuộc huyện Thạnh Phú. Nói chung, tỉnh cũng đặc biệt quan tâm đối với việc phát triển con tôm thẻ chân trắng và đánh giá đây là một vật nuôi thủy sản chủ lực thay thế cho các vùng nuôi tôm sú kém hiệu quả trước đây.
2.5. Những kết luận rút ra từ tiềm năng và thực trạng phát triển của thủy sản Bến Tre
Cùng với phát triển kinh tế vườn, thủy sản hiện là ngành kinh tế quan trọng của Bến Tre, trong những năm qua nhờ vào hoạt động thủy sản nhất là trong lĩnh vực NTTS đã đem lại một diện mạo mới cho các làng quê thuộc các huyện ven biển, góp phần quan trọng trong chính sách chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng tích cực, góp phần rất lớn vào công cuộc xóa đói giảm nghèo.
Được sự quan tâm của các cấp chính quyền trong quá trình phát triển ngành thủy sản bước đầu đạt được những thành tựu khá, tất cả các mặt như diện tích nuôi trồng, sản lượng, số lượng tàu thuyền đánh bắt thủy sản đều có dấu hiệu tăng và chiếm tỉ trọng tương đối trong khu vực ĐBSCL, chẳng hạn vào năm 2008 tổng diện tích NTTS của tỉnh là 42,1 nghìn ha đứng thứ 5 trong khu vực, tổng số tàu thuyền đánh bắt xa bờ là 1.167 chiếc chiếm 19,8% số lượng tàu đánh bắt xa bờ của ĐBSCL, công suất tàu đánh bắt xa bờ trung bình là 356,2 nghìn Cv chỉ đứng sau tỉnh Kiên Giang, tổng sản lượng thủy sản đạt 238.407 tấn, giá trị xuất khẩu thủy sản của
tỉnh đạt 5.849 tỉ đồng, trong đó thủy sản nuôi trồng là 4.446 tỉ đồng (76% giá trị thủy sản xuất khẩu của tỉnh), chiếm khoảng 38% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.
Biểu đồ 2.8. Giá trị xuất khẩu thủy sản Bến Tre thời kỳ 2000 – 2008
Giá trị (triệu US D)
80
70
70
61.9
60
55.2
46.7
50
36.5
40
30
17.6
20
10.9
10.6
10.2
10
0
Năm
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre
So với những tỉnh thành khác trong khu vực thì ngành thủy sản Bến Tre cũng chỉ đứng ở mức thấp mặc dù Bến Tre là tỉnh có rất nhiều tiềm năng cho việc phát triển một ngành thủy sản tổng hợp với cả 3 môi trường sinh thái ngọt – lợ mặn, chúng ta chưa thật sự phát huy hết tiềm năng vốn có, bên cạnh đó còn xãy ra tình trạng phát triển theo kiểu tràn lan thiếu quy hoạch cho nên cũng gặp không ít những khó khăn, với tình hình như hiện nay thì sự phát triển ngành thủy sản của tỉnh chưa thật sự tương xứng với tiềm năng của mình, ngành thủy sản chưa thật sự phát triển bền vững.
Tàu đánh bắt xa bờ
Sản lượng TS
GTSX thủy sản
Diện tích mặt nước NTTS
Tấn
%
Tỉ đồng %
%
Bảng 2.10. Tổng hợp, so sánh hoạt động ngành thủy sản Bến Tre so với một số tỉnh trong khu vực ĐBSCL năm 2008.
Nghìn ha 12.6 42.1 134.6
1.68 5.60 17.89
Số lượng (chiếc) 723 1167 2052
Công suất TB (Cv) 225.6 305.2 383.3
173106 238407 428485
6.41 8.82 15.86
1644.4 2458.2 4841.9
4.85 7.25 14.29
Tiền Giang Bến Tre Kiên Giang
67.7 125.6 293.2 76.4
3623.2 6.27 4364.3 7.59 11.44 6611 43.60 10348.1
Sóc Trăng Bạc Liêu Cà Mau Tỉnh khác ĐBSCL
223 350 1265 109 5889
9.00 16.70 38.98 10.16 752.2 100.00
10.69 169500 303.6 12.88 205151 276.3 19.51 194.5 309189 213.8 1178089 30.53 295.4 2701927 100.00 33891.1 100.00 Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê năm 2008. Thực tế cho thấy rằng tiềm năng cho phát triển ngành thủy sản Bến Tre so với các tỉnh thành khác trong khu vực là không hề thua kém, nếu xét về diện tích mặt nước NTTS thì Bến Tre xếp hạng thứ 5 chiếm 5,6% toàn vùng; còn về số lượng tàu đánh bắt xa bờ xếp hạng 3 chiếm 19.8% với công suất trung bình mỗi tàu lớn hơn cả công suất tàu trung bình của khu vực; sản lượng thủy sản toàn tỉnh cũng tương đối lớn chiếm 15.86% toàn khu vực, đứng thứ 4 khu vực. Tuy vậy, giá trị sản xuất thủy sản của tỉnh hiện chưa tương xứng với tiềm năng trên, hiện chỉ còn ở mức rất thấp so với các tỉnh thành khác. Do đó, khâu yếu của tỉnh hiện nay là trong lĩnh vực dịch vụ thủy sản, cụ thể là khâu sản xuất, chế biến và xuất khẩu thủy sản. Nếu như không giải quyết tốt khâu này mà lại hướng tới mục tiêu tăng về số lượng như hiện nay thì khó có thể đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành trong tương lai.
Ngành thủy sản của tỉnh tuy có những bước phát triển đáng kể trong những năm gần đây, tuy nhiên để đủ năng lực tranh và tồn tại bền vững trong tương lai thì ngành thủy sản của tỉnh chưa làm được. Có rất nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan dẫn tới trình trạng trên như:
- Tình hình dịch bệnh vẫn còn diễn ra hằng năm với tỷ lệ 5 – 10% trên tổng diện tích nuôi tôm sú, cá tra, tôm chân trắng của tỉnh, môi trường ô nhiễm được khắc phục chưa tốt, công tác bảo vệ nguồn tài nguyên biển và tài nguyên nước chưa đạt hiệu quả tích cực; một ít sản phẩm từ tàu cá, chợ cá, ao nuôi còn sử dụng hoá chất kháng sinh mặc dù chưa vượt quá giới hạn, một số sản phẩm chế biến chưa được mã hoá theo hồ sơ truy xuất nguồn gốc; còn nhiều vùng nuôi và một vài đối tượng nuôi chủ lực của tỉnh chưa áp dụng quy phạm thực hành nuôi tốt; một số sản phẩm chủ lực của tỉnh chưa có thương hiệu hàng hoá; chưa thể hiện đầy đủ tính trung thực (mọi thông tin về sản phẩm cần được ghi trên nhản) cho các sản phẩm thủy sản, sản phẩm chưa thể hiện được tính khả dụng; các thể chế đã được xây dựng nhưng chưa chặt chẽ và hệ thống tổ chức bộ máy chưa đủ năng lực để thực thi có hiệu quả các chương trình an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh, hạn chế ô nhiểm môi trường,…
- Trong lĩnh vực khai thác đây là nghề truyền thống của tỉnh nhưng trong quá trình khai thác thì việc sử dụng các chất hóa học, xung điện, chất nổ,… gây hủy diệt hàng loạt dẫn còn
diễn ra khá phổ biến, gây hậu quả nghiêm trọng, làm cho nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng cạn kiệt dần, các biện pháp giáo dục, xử lý còn lỏng lẻo và nhiều bất cập.
- Trong lĩnh vực nuôi trồng thì giá cả thức ăn, chi phí đầu tư, giống, thuốc thú y,… luôn biến động theo chiều hướng tăng trong khi đó giá sản phẩm thủy sản thì theo chiều hướng ngược lại làm cho rất nhiều hộ nuôi không có lãi hoặc có lãi rất thập thậm chí thua lổ.
- Khả năng cạnh tranh của hàng hóa thủy sản Bến Tre chưa cao vì mẫu mã chủng loại không đa dạng chưa đáp ứng kịp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Sự yếu kém trong lĩnh vực phân phối và tìm kiếm thị trường của các doanh nghiệp, do đó không nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng để kịp thời điều chỉnh phù hợp.
- Sự thiếu hụt về nguồn vốn đầu tư nhưng bản thân thì việc đầu tư cũng còn khá nhiều bất cập, chủ yếu là phát triển theo chiều rộng chứ chưa mang tính chiều sâu, chưa phát huy tốt các nguồn lực từ các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động của ngành.
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC LÃNH THỔ NGÀNH THỦY SẢN TỈNH BẾN TRE ĐẾN NĂM 2020
3.1. Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển thủy sản Bến Tre
Trình độ ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong hoạt động ngành thủy sản đang từng bước cải thiện theo hướng hiện đại, tàu cá được trang bị hiện đại, chủ động sản xuất giống nuôi nhân tạo, thành công trong các mô hình nuôi thủy sản, ứng dụng các công nghệ mới về bảo quản, chế biến sản phẩm, chất thất thoát sau thu hoạch, sản phẩm ngày càng phù hợp với thị trường tiêu thụ, các dịch vụ hậu cần cho ngành thủy sản tương đối tốt; chủ động áp dụng các chương trình an toàn, vệ sinh, chất lượng sản phẩm thủy sản theo HACCP, ISO,…
Trình độ lao động nghề cá ngày càng được nâng cao, quá trình đô thị hóa phát triển, đặc
biệt thị xã Bến Tre đã được công nhận là thành phố loại 3 trực thuộc tỉnh vào tháng 08/2009.
Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm thủy sản tăng cả thị trường trong nước và quốc tế, đặc biệt là các sản phẩm từ con tôm và cá da trơn. Đây được xem là một trong những thế mạnh của thủy sản tỉnh trong thời gian qua.
Môi trường và cơ chế huy động vốn đầu tư trong và ngoài nước sẽ được cải thiện theo hướng thuận lợi cho người sản xuất khi Việt Nam hội nhập WTO. Tính cạnh tranh và sức tiêu thụ sẽ tăng, kèm theo sự rủi ro về thiên tai, nguy cơ tụt hậu sẽ xãy ra nếu như Bến Tre không quyết tâm phấn đấu vươn lên.
Cầu Rạch Miễu bắc qua sông Tiền nối Tiền Giang với Bến Tre đã được hoàn thành và sắp tới 17/01/2010 sẽ tiến hành thông xe kỹ thuật cầu Hàm Luông, chính thức đưa vào sử dụng ngày 25/4/2010. Đó là một tiền đề thuận lợi trong việc giao lưu và thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển KT – XH chung của tỉnh và của ngành thủy sản.
Bên cạnh những thuận lợi thì trong tương lai, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì sự phát triển của ngành thủy sản Bến Tre cũng gặp không ít những khó khăn, các khó khăn này đều xuất phát từ thực tế là kinh tế của tỉnh hiện đang còn ở mức thấp so với các tỉnh thành khác trong khu vực cũng như cả nước, đa số hộ dân trong tỉnh là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, trình độ còn thấp, vốn đầu tư không lớn. Cơ sở hạ tầng và vật chất phục vụ cho ngành thủy sản đã từng bước cải thiện nhưng chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của ngành.
Bên cạnh đó, nếu xét từ phía hoạt động NTTS thì chúng ta chưa thật sự chủ động về nguồn con giống có chất lượng cao, nguồn cung cấp sản lượng thủy sản bấp bênh, chưa thật sự đảm bảo tốt về chất lượng sản phẩm thủy sản đầu vào. Về phía các doanh nghiệp thì tính đa dạng các mặt hàng thủy sản chưa cao, khả năng cạnh tranh trên thị trường thấp, đặc biệt là khi chúng ta gia nhập WTO vì sản phẩm thủy sản tỉnh có thương hiệu mạnh rất ít, sản phẩm tiêu thị trên thị trường chủ yếu là dưới dạng sơ chế, hàng thô. Về phía các cấp chính quyền thì vẫn chưa có quy hoạch nào mang tính chiến lược lâu dài.
Mặc khác, vẫn còn tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về nguồn vốn và lực lượng lao động có tay nghề, trình độ chuyên môn sâu, chuyên gia kỹ thuật đầu ngành. Môi trường đánh bắt cũng như NTTS đang bị suy thoái rất mạnh. Đây là điểm đặc biệt báo động cho sự phát triển của ngành, vì hiện nay đã có rất nhiều vùng nuôi tôm công nghiệp ở địa bàn một số các xã ven biển đã không phát triển nghề nuôi tôm nữa vì những vấn đề về môi trường đang suy thoái trầm trọng ở đây.
3.2. Các định hướng phát triển bền vững thủy sản Bến Tre thời kỳ hội nhập
Thời gian qua, mặc dù sản lượng thủy sản của tỉnh đã tăng liên tục qua các năm cả về sản lượng nuôi trồng lẫn đánh bắt. Tuy nhiên, gần đây những rủi ro về thị trường, môi trường và dịch bệnh thủy sản xãy ra ngày càng nhiều và có biểu hiện lan rộng, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất của ngành và các địa phương, đến đời sống cộng đồng dân cư. Các vấn đề xã hội trong phát triển thủy sản cũng nẩy sinh và có phần phức tạp hơn.
Trước tình hình đó, chúng ta cần phải nhìn nhận một cách hệ thống và khoa học trên cơ sở dung hòa giữa lợi ích kinh tế và những tổn thất về môi trường sinh thái, một mặt chúng ta tiếp tục phấn đấu đưa ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, mặt khác phải bảo đảm
phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản đảm bảo cho việc sử dụng lâu dài trong tương lai. Phát triển ngành thủy sản bền vững tức là đảm bảo cân bằng giữa các lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường.
* Về kinh tế: - Tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế thủy sản gắn với CNH - HĐH và chuyển
đổi cơ cấu kinh tế.
- Huy động các tổ chức và các thành phần kinh tế đầu tư phát triển ngành thủy sản theo
hướng sản xuất hàng hóa lớn nhằm tạo ra các sản phẩm sức cạnh tranh cao trên thị trường.
- Phát triển ngành thủy sản phải xuất phát từ lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên theo vùng sinh thái, về các nguồn lực và yếu tố phát triển của ngành trong bối cảnh kinh tế hội nhập.
- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế thủy sản phải hướng vào việc khai thác hiệu quả tiềm năng
và phù hợp với năng lực của các hệ thống tài nguyên và hệ sinh thái thủy vực.
- Phát triển kinh tế thủy sản phải gắn chặt với chiến lược phát triển kinh tế của các ngành
liên quan và với nhiệm vụ đảm bảo an ninh, quốc phòng.
* Về xã hội: - Gắn phát triển ngành thủy sản với cải thiện đời sống của đại đa số cộng đồng nông dân nghề cá và với mục tiêu xóa đói giảm nghèo cho các cộng đồng người dân nông thôn. Hạn chế tối đa tình trạng mất cân bằng lợi ích kinh tế giữa các thành phần tham gia hoạt động ngành thủy sản, đặc biệt cần phải bảo vệ tối đa quyền lợi cho người nông dân.
- Nâng cao nhận thức cho cộng đồng về phát triển bền vững nghề cá. - Thay đổi chất lượng nguồn nhân lực toàn ngành để nâng cao trình độ quản lý và khả năng tiếp thu kiến thức cũng như công nghệ mới trong các lĩnh vực sản xuất thủy sản, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH - HĐH ngành thủy sản.
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước của ngành, đẩy mạnh cải cách hành chính trên cơ sở tăng cường giao quyền sử dụng, sở hữu và quản lý nguồn lợi thủy sản xuống cơ sở và cộng đồng lao động nghề cá.
- Bảo đảm và tăng cường quyền của người dân trong quá trình quản lý và tạo điều kiện để
người dân thật sự “biết, bàn, làm và kiểm tra” các hoạt động thủy sản cấp cơ sở.
* Về môi trường: - Bảo toàn các quá trình sinh thái quan trọng đối với phát triển thủy sản lâu dài của tỉnh
trong tương lai.
- Bảo tồn và phục hồi các loài thủy sản quý hiếm và các hệ sinh thái thủy vực quan trọng
đối với đa dạng sinh học thủy sinh vật và nguồn lợi thủy sản.
- Đưa các vấn đề môi trường vào giai đoạn sớm của quá trình phát triển thủy sản (giai đoạn quy hoạch), xúc tiến quản lý tổng hợp nghề cá và tăng cường ý thức trách nhiệm của các ngành khác tác động vào thủy sản.
- Đẩy mạnh sản xuất sạch hơn trong các hoạt động sản xuất thủy sản: sản phẩm thủy sản sạch, giống thủy sản sạch bệnh, vùng nuôi an toàn (truy xuất nguồn gốc sản phẩm rỏ ràng), quy định Quota cho vùng khai thác hải sản,…
- Áp dụng các công cụ giám sát, kiểm định môi trường trong các hoạt động thủy sản (quan trắc – cảnh báo môi trường và dịch bệnh, đánh giá tác động thủy sản tới môi trường, đánh giá tính bền vững của môi trường sinh thái,…)
3.3. Mục tiêu chính của ngành thủy sản đến năm 2020
Tổng sản lượng thủy sản 377.801 tấn (khai thác là 100.000 tấn, nuôi trồng là 277.801 tấn), trong đó có 96.104 tấn tôm (của nuôi là 87.701 tấn). Chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu là 58.023 tấn, trong đó có 42.561 tấn tôm. Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản khoảng 280,204 triệu USD.
Tổng diện tích NTTS là 65.000 ha trong đó có 54.570 ha nuôi tôm, tiếp tục chú trọng phát triển diện tích nuôi tôm càng xanh, đặc biệt là các hình thức nuôi kết với các mương trong vườn dừa, vườn cây ăn trái.
Tổng số tàu thuyền đánh bắt thủy sản khoảng 2.180 chiếc, trong đó số tàu thuyền đánh
bắt xa bờ chiếm khoảng 50%, với công suất bình quân trên 350 Cv/chiếc tàu đánh bắt xa bờ.
Phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản đảm bảo hiệu quả, ổn định và bền vững. Ưu tiên phát triển nuôi thủy sản để tạo nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu. Khai thác và mở rộng diện tích mặt nước nuôi thủy sản trên cả 3 vùng mặn, lợ, ngọt theo quy hoạch. Đa dạng hoá các đối tượng nuôi, chú trọng các đối tượng có giá trị kinh tế cao. Triển khai quy hoạch, xây dựng các vùng nuôi thủy sản xuất khẩu ổn định với các hình thức đầu tư, quản lý thích hợp; kết hợp hài hoà giữa các cấp độ kỹ thuật nuôi: thâm canh, bán thâm canh, quảng canh, nuôi sinh thái và các mô hình nuôi chuyên, nuôi xen, nuôi luân canh trên ruộng lúa, trong vườn dừa, hoặc lâm ngư kết hợp. Tiếp tục xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng nuôi thâm canh, bán thâm canh theo quy hoạch, ưu tiên đầu tư hệ thống thủy lợi cho các vùng nuôi trọng điểm. Mở rộng các cơ sở sản xuất giống hiện có, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất giống. Có chính sách hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư xây dựng trại
sản xuất tôm giống, nhằm cung cấp đủ nguồn giống tốt cho nhu cầu nuôi. Tăng cường công tác khuyến ngư, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các qui trình kỹ thuật tiên tiến cho người nuôi; chủ động phòng chống dịch bệnh, bảo vệ môi trường cho vùng nuôi.
Phát triển đánh bắt thủy sản, chủ yếu là khai thác xa bờ với các ngành nghề có hiệu quả cao; khai thác có hiệu quả các ngư trường phù hợp với ngành nghề đánh bắt kết hợp với bảo vệ nguồn lợi thủy sản một cách hợp lý; chú trọng công nghệ bảo quản sản phẩm, hệ thống hậu cần dịch vụ, lưu thông hàng hoá tiện lợi, hiệu quả.
Để ngành thủy sản của tỉnh phát triển bền vững trong tương lai và có một chổ đứng vững chắc trên thị trường trong nước cũng như thế giới, thật sự là ngành mang lại giá trị kinh tế cao, đồng thời góp phần trong công cuộc phát triển kinh tế của tỉnh nhà. Trước hết, chúng ta tiếp tục phát triển ngành NTTS với mọi hình thức, lựa chọn phương pháp và đối tượng nuôi phải phù hợp với môi trường sinh thái cũng như trình độ của người dân trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục hỗ trợ đẩy mạnh NTTS phục vụ cho mục đích xóa đói giảm nghèo, phục vụ có những nông dân ít vốn, tạo việc làm và thu nhập cho đại bộ phận người dân nông thôn. Bên cạnh đó cũng cần nên quan tâm đúng mức đến việc đẩy mạnh đến khâu chế biến sản phẩm phục vụ cho xuất khẩu vì đây là khâu rất quan trọng góp phần nâng cao giá trị của ngành thủy sản
3.3.1. Đối với hoạt động khai thác
Hoạt động khai thác thuỷ sản tiếp tục phát triển theo chiều sâu, ổn định khai thác sản lượng khai thác hải sản ven bờ ở mức 30.000 tấn/năm. Tăng sản lượng và cải thiện sản lượng (tôm, mực, cá kinh tế,…) của hải sản khai thác xa bờ vào năm 2010 là 53.700 tấn lên 67.500 tấn vào năm 2020 (tăng thêm 14.000 tấn, bình quân 1.400 tấn/năm). Ổn định tổng sản lượng khai thác hải sản ở mức 100.000 tấn/năm cho các năm sau 2020 vì nguồn lợi thủy sản không thể tăng mãi được, đồng thời thay đổi cách bảo quản chóng thất thoát sau thu hoạch nâng cao chất lượng sản phẩm khai khác để tăng thêm giá trị.
Tiếp tục đầu tư và nâng cấp đội tàu đánh bắt thủy sản xa bờ, hạn chế việc đăng ký đối với tàu có công suất nhỏ dưới 45 Cv/chiếc, thay thế dần các loại tàu có công suất từ 75 – 140 Cv/chiếc bằng cách đóng mới các loại tàu có công suất từ 300 – 600 Cv/chiếc, đồng thời cải tiến các hệ thống trang thiết bị liên lạc, định vị (kể cả các thiết bị định vị luồng cá), nghiêm cấm việc đánh bắt mang tính hủy diệt (sử dụng xung điện, mìm, hóa chất,…), không được khai thác vào mùa sinh sản, các loài tàu đánh bắt có kích thước mắc lưới nhỏ hơn quy định (xem phần phụ lục 6, 7).
Đối với các hoạt động cơ khí, sữa chữa và đóng mới tàu thuyền phục vụ cho việc khai thác thủy sản giai đoạn từ nay đến 2020 tiếp tục đầu tư vốn khoảng 10 tỷ đồng để đổi mới trang thiết bị nhằm hiện đại hóa 4 cơ sở đóng tàu hiện có (mỗi huyện ven biển 1 cơ sở và thành phố Bến Tre 1 cơ sở, nâng công suất đóng mới và sữa chữa trên 100 chiếc/năm.
Đối với cơ sở sản xuất nước đá phục vụ cho nghề cá thì đến năm 2010 nhu cầu nước đá tăng thêm so với 2005 khoảng 48.000 tấn, nếu chọn quy mô 25.000 tấn/1 cơ sở/năm thì sẽ đầu tư thêm 2 cơ sở nữa. Đến năm 2020, nhu cầu nước đá bảo quản tăng thêm 10.000 tấn/năm, nếu chọn công suất 12.000 tấn/ 1 cơ sở/năm thì cần đầu tư thêm 1 cơ sở nữa. Tổng cơ sở đầu tư mới là 5 (mỗi huyện ven biển 1 cơ sở, huyện Châu Thành 1 cơ sở và 1 cơ sở ở thành phố Bến Tre.
3.3.2. Đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản
Hiện nay, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thủy sản là rất lớn kết hợp với tiềm năng của tỉnh cho nên việc đẩy mạnh việc phát triển NTTS, nâng cao tỉ trọng ngành nuôi trồng so với ngành khai thác là mục tiêu hướng đến của ngành.
Diện tích nuôi thủy sản vào năm 2010 là 49.147 ha, phấn đấu đến năm 2020 đạt diện tích là 65.000 ha bao gồm nuôi tôm là 45.570 ha (trong đó nuôi tôm càng xanh là 7.323 ha), nuôi cá là 14.750 ha; hình thức nuôi bè là 150 ha. Tổng sản lượng là 227.801 tấn, trong đó tôm là 81.701 tấn, cá 12.487 tấn, thủy sản khác (nghêu) 112.100 tấn, nuôi bè là 6.000 tấn.
Diện tích và sản lượng nuôi tôm tập trung ở 3 huyện ven biển là Ba Tri, Bình Đại và
Thạnh Phú chiếm khoảng 76.8% về diện tích. Bảng 3.1. Diện tích nuôi thủy sản (ha) theo quy hoạch phân theo cấp huyện
Năm Tổng Châu Thành Bình Đại Tp. BT Giồng Trôm Ba Tri Chợ Lách Mỏ Cày (N & B) Thạnh Phú
2.250 7.849 1.912 2.273 17.424 2010 49.147 1.544 15.051 844
3.650 11.429 3.562 3.923 20.472 2020 65.000 3.044 18.026 894
Nguồn: Sở thủy sản Bến Tre. Nhu cầu về giống thủy sản các loại (chưa kể nghiêu) theo phương án quy hoạch thì đến năm 2010 là 6.7997 triệu con giống các loại. Đến năm 2020 là 11.169 triệu con giống trong đó, tôm là 10.577 triệu con, cá là 572 triệu con và các loại thủy sản khác là 20 triệu con. Nhu cầu về
thức ăn phục vụ cho NTTS theo phương án là 86.247 tấn thức ăn công nghiệp vào năm 2010, đến năm 2020 là 158.331 tấn thức ăn công nghiệp trong đó, thức ăn cho tôm là 138.157 tấn, cá là 17.751 tấn và các loại thủy sản khác là 403 tấn. Theo quy hoạch thì đến năm 2020 có khoảng 80% diện tích nuôi thủy sản sử dụng thức ăn công nghiệp, 100% diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh công nghiệp đều sử dụng thức ăn công nghiệp.
Bến Tre đã xác định 5 vật nuôi thủy sản chủ lực của tỉnh trong lương lai của tỉnh là tôm sú, tôm càng xanh, cá da trơn, tôm thẻ chân trắng và nghiêu. Hiện nay, trong số 5 vật nuôi đó tỉnh đã có quy hoạch khá chi tiết đối với cá da trơn và tôm thẻ chân trắng theo định hướng phát triển bền vững đến năm 2020 cụ thể như sau:
* Đối với cá da trơn: Theo quy hoạch được phê duyệt dựa trên Quyết định số 2440/QĐ-UBND ngày 12/12/2008. Tổng diện tích quy hoạch đến năm 2020 là 2.897 ha, trong đó diện tích quy hoạch nuôi chuyên canh trong ao đất là 1.842 ha, diện tích nuôi lồng bè là 32 ha, diện tích nuôi luân canh ở vùng nước lợ là 1.023 ha. Tổng sản lượng quy hoạch đến năm 2020 là 291.900 tấn, trong đó nuôi chuyên canh là 193.410 tấn, nuôi lồng bè 26.880 tấn và nuôi luân canh là 71.610 tấn. Các địa bàn được phép nuôi các da trơn đến năm 2020 bao gồm một số địa phương hội đủ điều kiện nuôi. Trong đó, vùng nuôi chuyên canh (trong ao đất và lồng bè) được phân bố trên địa bàn các huyện Chợ Lách, Châu Thành, Mỏ Cày (Nam &Bắc), Giồng Trôm và các xã vùng trên của huyện Bình Đại.
(Xem bảng 3.2. Phân vùng quy hoạch chi tiết nuôi cá da trơn trên địa bàn tỉnh đến năm
2020, trang 116).
Bảng 3.2. Phân vùng quy hoạch chi tiết nuôi cá da trơn trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.
1. Vùng nuôi chuyên canh
Diện tích nuôi (ha) Huyện Địa bàn phân bố theo xã Ao đất Lồng bè
Chợ Lách 562 16
Phú Phụng, Vĩnh Bình, Long Thới, Sơn Định, Hòa Nghĩa, Phú Sơn, Tân Thiềng, Hưng Khánh Trung.
Châu Thành 421 16
Tân Phú, Phú Đức, Phú Túc, An Khánh, Tân Thạch, Quời Sơn, Giao Hòa, Tiên Long, Tiên Thủy.
Giồng Trôm 405 0 Sơn Phú, Phước Long, Hưng Phong, Thạnh Phú Đông, Hưng Lễ.
255 0 Mỏ Cày (Nam&Bắc) Thạnh Ngãi, Tân Thành Bình, Thành Thới A, Cẩm Sơn, Hương Mỹ.
Bình Đại 199 0 Tam Hiệp, Long Định, Phú Thuận, Vang Quới Tây, Vang Quới Đông, Phú Vang.
1.842 32 33 xã thuộc 6 huyện Tổng cộng
2. Vùng nuôi luân canh
Thạnh Phú 370 0 Thới Thạnh, Hòa Lợi, Bình Thạnh, An Nhơn, Mỹ An, An Thạnh, An Điền.
Ba Tri 200 0 An Hòa Tây, An Đức, An Hiệp
Bình Đại 453 0 Định Trung, Bình Thới, Bình Thắng
0 1.023 13 xã thuộc 3 huyện ven biển Tổng cộng
Nguồn: Sở NN & PTNT tỉnh Bến Tre. Việc phát triển nuôi cá da trơn theo sự phân vùng trên địa bàn từng huyện được triển khai chặt chẽ, có kiểm soát của cơ quan chức năng chuyên ngành. Để thực hiện phát triển quy hoạch đồng bộ, cơ quan chức năng chuyên ngành và các địa phương trong vùng quy hoạch phải xây dựng các dự án phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống thủy lợi, lưới điện phục vụ sản xuất, hệ thống giao thông, hậu cần dịch vụ,… Song song đó, các ngành liên quan cũng tham gia hỗ trợ việc triển khai thực hiện tốt quy hoạch chung bằng các giải pháp về vốn và nguồn vốn đầu tư, giống, thức ăn, giải pháp kỹ thuật, thủy lợi, cơ chế chính sách, thị trường tiêu thụ, phát triển và đào tạo nguồn nhân lực, giải pháp về môi trường,…
* Đối với tôm thẻ chân trắng: Nhằm phát triển nuôi tôm chân trắng trên địa bàn tỉnh theo hướng ổn định và bền vững, góp phần thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế trong lĩnh vực NTTS. Ngày 24/5/2010, UBND tỉnh Bến Tre đã ban hành Quyết định số 1196/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết nuôi tôm chân trắng trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2020. Tổng diện tích quy hoạch đến năm 2020 là 5.450 ha. Được phân bố trên địa bàn các huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú. Cụ thể như sau:
* Huyện Bình Đại: tổng diện tích quy hoạch đến năm 2010 là 500 ha, đến năm 2015 là 1.080 ha, đến năm 2020 là 2.050 ha được phân bố ở các xã: Đại Hòa Lộc, Thạnh Trị, Thạnh Phước, Thới Thuận, Thừa Đức.
* Huyện Ba Tri: tổng diện tích quy hoạch đến năm 2010 là 300 ha, đến năm 2015 là 1.000 ha, đến năm 2020 là 1.500 ha được phân bố ở các xã: Tân Xuân, Bảo Thạnh, Bảo Thuận, An Thủy.
* Huyện Thạnh Phú: diện tích quy hoạch đến năm 2010 là 200 ha, đến năm 2020 là 1.900
ha được phân bố ở các xã: An Nhơn, Giao Thạnh, Thạnh Phong, Thạnh Hải.
Ngoài ra, đối với các vùng đã quy hoạch nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh trước đây, mà không có quy hoạch nuôi tôm chân trắng như dự án này cũng có thể phát triển nuôi tôm chân trắng nếu chủ đầu tư thực hiện tốt các điều kiện kỹ thuật và được UBND tỉnh cho phép. Về tổng sản lượng quy hoạch đến năm 2010 là 8.800 tấn, đến năm 2015 là 32.880 tấn, đến năm 2020 là 63.500 tấn.
Để thực hiện tốt việc triển khai quy hoạch đã đề ra, cần phải phát triển nuôi tôm chân trắng theo sự phân vùng trên địa bàn từng huyện, có kiểm soát của cơ quan chức năng chuyên ngành về tổ chức kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện; phát triển cơ sở hạ tầng như hệ thống thủy lợi, lưới điện phục vụ sản xuất, hệ thống giao thông, hậu cần dịch vụ,... thông qua hình thức xây dựng dự án để thực hiện phát triển quy hoạch đồng bộ; triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm thực hiện tốt quy hoạch gồm: giải pháp về vốn và nguồn vốn đầu tư, giống, thức ăn, kỹ thuật, thủy lợi, cơ chế chính sách, thị trường tiêu thụ, phát triển và đào tạo nguồn nhân lực, đảm bảo môi trường và bố trí hình thức sản xuất.
3.3.3. Đối với hoạt động chế biến, xuất khẩu thủy sản
Tổng sản lượng chế biến xuất khẩu thủy sản đến năm 2010 là 27.341 tấn, đến năm 2020 nâng tổng sản lượng chế biến lên 58.023 tấn, trong đó tôm 42.561 tấn tăng 73,35% chủ yếu là tôm sú nuôi 35.772 tấn tăng 61,65%, tôm càng xanh 3.758 tấn tăng 6,48%. Đa dạng hóa các mặt hàng chế biến xuất khẩu bao gồm: tôm, cá, mực, nghiêu, cua ghẹ và các loại thủy sản khác.
Bảng 3.3. Giá trị kim ngạch và cơ cấu xuất khẩu thủy sản theo phương án quy hoạch.
2010 2020 Năm
Danh mục Tỉ trọng (%) Tỉ trọng (%) Giá trị (100USD) Giá trị (100USD)
Tôm Trong đó, 247.897 88,47 593.948 89,80
Tôm sú Tôm càng xanh Các loại khác 208.982 23.324 15.591 74,58 8,32 5,57 515.114 51.859 26.975 77,88 7,84 4,08
Cá các loại 577 0,21 888 0,13
Cá đông lạnh XK 12.026 4,29 27.229 4,12
Mực 6.734 2,40 11.700 1,77
Nghiêu 9.881 3,53 14.667 2,22
Cua, ghẹ 3.064 1,09 12.989 1,96
Thủy sản khác 25 0,01 19 0.00
Tổng 280.205 100,00 661.439 100,00
Nguồn: Sở thủy sản Bến Tre. Ngoài ra, để tăng giá trị của các sản phẩm xuất khẩu thì cũng cần phải cân đối nhu cầu đầu tư thêm công xuất của các nhà máy chế biến, nhu cầu cấp đông, nâng tổng công suất của các nhà máy đông lạnh đến năm 2010 là 27.341 tấn sản phẩm đông lạnh xuất khẩu/năm. Năm 2020 là 58.023 tấn sản phẩm đông lạnh xuất khẩu/năm.
3.3.4. Đối với lao động thủy sản
Lao động là một mắc xính quan trọng và góp phần tạo nên sự thành công của hoạt động tất cả các ngành nói chung và của ngành thủy sản nói riêng. Hiện nay, lao động thủy sản của tỉnh không chỉ yếu về số lượng mà chất lượng cũng còn rất hạn chế. Để ngành thủy sản tỉnh nhà phát triển trong giai đoạn tới thì nhu cầu lao động là rất lớn nhất là lao động lành nghề, có trình độ chuyên môn sâu trong các lĩnh vực của ngành. Cụ thể theo phương án quy hoạch đến năm 2020 như sau:
- Khai thác, cơ khí, hậu cần, dịch vụ thủy sản là 15.898 người, trong đó khai thác là 13.398
người
- Nuôi trồng thủy sản thì lao động chuyên nghiệp 45.744 người trong đó nuôi tôm là
43.531 người còn lại là lao động trong các lĩnh vực nuôi.
- Lao động trong lĩnh vực chế biến sản phẩm thủy sản là 12.327 người, trong đó lao động chế biến xuất khẩu là 7.278 người (59,04%), chế biến nội địa là 4.179 người, dịch vụ chế biến tiêu thụ 870 người.
- Nhu cầu lao động quản lý và sự nghiệp là 175 người, trong đó có ít nhất là 125 người có
trình độ từ trung cấp, đại học trở lên.
- Tổng nhu cầu lao động nghề cá là 74.144 người trong đó khoảng 30% lượt người (22.243
người) có qua đào tạo, tập huấn chuyên môn kỹ thuật.
3.3.5. Đối với vốn đầu tư thủy sản
Vốn là một nhu cầu không thể thiếu cho việc đầu tư phát triển ngành thủy sản nhất là trong thời kỳ hội nhập cạnh tranh nhu hiện nay, cụ thể về nhu cầu nguồn vốn theo phương án quy hoạch của tỉnh như sau:
Vốn đầu tư cho khai thác, cơ khí, hậu cần dịch vụ thủy sản: Tổng số vốn đầu tư cho giai đoạn 2010 – 2020 là 3.395 tỷ đồng, bình quân 339,5 tỷ đồng/năm, trong đó nguồn vốn từ ngân sách khoảng 37 tỷ đồng.
Nhu cầu vốn phục vụ cho hoạt động NTTS tỉnh Bến Tre đến năm 2020 theo dự kiến là 3.118.067 triệu đồng, trong đó nguồn vốn lấy từ ngân sách là 18%, từ quỹ tín dụng dài hạn: 25%, tín dụng thương mại: 15%, tự huy động: 35%, nước ngoài: 7%.
Vốn cho hoạt động chế biến thủy sản, chủ yếu là tập trung cho việc củng cố và nâng cấp các xí nghiệp cấp đông giai đoạn 2010 – 2020 là 287.227 triệu đồng, vốn đầu tư cho hoạt động chế biến tiêu thụ nội địa là 85.567 triệu đồng.
Vốn nhu cầu cho thủy lợi phục vụ NTTS đến năm 2020 theo định hướng của tỉnh là
73.475 triệu đồng, số tiền này ngoài vốn thủy lợi chung của Bến Tre.
3.4. Một số giải pháp phát triển bền vững thủy sản Bến Tre thời kỳ hội nhập
Sản xuất thuỷ sản được Bến Tre xác định là một trong những ngành mũi nhọn để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp – nông thôn và là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh.
Theo Sở NN & PTNT tỉnh Bến Tre, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của tỉnh năm 2008 đạt khoảng 70 triệu USD, chiếm hơn 37% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, chiếm 1,55 % tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước.
Năm 2009, ngành thủy sản của tỉnh tuy có những bước phát triển khá nhưng vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn con giống có chất lượng, thiếu vốn, giá cả nguyên liệu đầu vào như thức ăn thủy sản, thuốc thú y,… Một trong những giải pháp nhằm phát triển bền vững
ngành hàng thủy sản của tỉnh là tập trung rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển NTTS, gắn sản xuất với yêu cầu của thị trường. Đây là yêu cầu cấp thiết nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu thủy sản chế biến và tiêu dùng đạt mức hợp lí tránh tình trạng cung vượt quá cầu, khắc phục tình trạng khủng hoảng nguồn nguyên liệu. Đối với người nuôi thì phải tổ chức lại sản xuất theo hướng quản lý cộng đồng thông qua việc thành lập các hợp tác xã cùng liên kết với nhau trong việc ứng dụng các qui trình nuôi tiên tiến (GAP, CoC,…) để sản phẩm đảm bảo chất lượng cao và an toàn theo yêu cầu thị trường với giá thành hợp lý. Ngành nông nghiệp cần phải thực hiện lại việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển thuỷ sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 trong đó chú trọng đến đối tượng chủ lực mang tính đột phá của tỉnh là tôm càng xanh, nghêu, tôm thẻ chân trắng, cá da trơn, tôm sú,… Tỉnh cần có các chính sách khuyến khích nhân rộng các mô hình hợp tác xã, hội nghề cá,… qua đó hình thành và quản lí chặt chẽ chuỗi cung ứng sản phẩm thuỷ sản làm đầu mối hợp đồng với các doanh nghiệp chế biến, đảm bảo cung ứng nguồn nguyên liệu sạch, chất lượng cao và giá cả hợp lí nhằm tăng lợi thế cạnh tranh của hàng thuỷ sản đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Tỉnh cần có kế hoạch gắn kết việc xây dựng cơ sở hạ tầng chế biến xuất khẩu thuỷ sản với tăng cường đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ quản lí và đội ngũ kĩ thuật đảm bảo phát triển ngành thuỷ sản theo hướng CNH – HĐH, tận dụng các gói kích cầu của Chính phủ để đầu tư các dự án nâng cao năng lực sản xuất, tăng cường trang thiết bị chế biến thủy sản theo hướng hiện đại để góp phần nâng cao năng lực chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu, tạo ra các sản phẩm chất lượng cao có khả năng thâm nhập vào các thị trường khó tính như Hoa Kỳ, Tây Âu, Đông Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản,…
Trong thời gian tới, Bến Tre cần phải giữ sự ổn định, uy tín ở các thị trường hiện có, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh việc khai thác thị trường mới như Nga, Ucraina, Ai Cập,… đồng thời đa dạng sản phẩm hướng đến thị trường nội địa, chú trọng khâu quảng bá thương hiệu mặt hàng thủy sản đối với người tiêu dùng trong nước nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ cho ngành hàng thủy sản.
3.4.1. Giải pháp về tổ chức và quy hoạch
Trong thời buổi hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, để bất cứ một ngành kinh tế nào có thể cạnh tranh hiệu quả trên thị trường thì khâu mang tính chất quyết định nhất là công tác tổ chức, quy hoạch. Chúng ta phải đánh giá đúng tiềm năng thực tế cho ngành thủy sản tỉnh Bến Tre là gì? nhu cầu của thị trường như thế nào? để từ đó mới đi đến kết luận là nên phải phát triển những loại vật nuôi nào, với số lượng là bao nhiêu? đồng thời phải dung hòa được giữa lợi
ích kinh tế và tổn thất của môi trường, thực tế trong thời gian qua ngành thủy sản của tỉnh có những bước phát triển tốt nhưng tính bền vững là chưa cao. Để cho ngành thủy sản tỉnh phát triển bền vững trong tương lai thì về tổ chức, quy hoạch cần phải thực hiện các nhiệm vụ như:
- Điều chỉnh, tập trung rà soát, bổ sung hoàn chỉnh quy hoạch các vùng nuôi thủy sản phù hợp với các điều kiện tự nhiên sinh thái của tỉnh. Quy hoạch các vùng nuôi thủy sản hài hòa với các quy hoạch phát triển nông, lâm, thủy lợi; thống nhất các phương án sử dụng tối ưu nhất diện tích đất: ngập mặn, ruộng nhiễm mặn, ruộng trũng cấy lúa kém hiệu quả, đất bải bồi ven sông rạch,… Từ đó tiến hành quy hoạch cụ thể, bố trí cơ sở hạ tầng cho từng vùng nuôi, quy hoạch vùng nuôi an toàn để bảo vệ môi trường và tránh hiện tượng phát triển tự phát theo phong trào, không kiểm soát được, đây là những nguyên nhân dẫn tới tình trạng phát triển thiếu tính bền vững của ngành thủy sản trong thời gian qua.
- Rà soát lại toàn bộ các khu vực NTTS thâm canh, bán thâm canh có tính công nghiệp đã có, lên phương án cải tạo các hệ thống nuôi theo hướng hiện đại, xác định các nhu cầu hỗ trợ đầu tư cải tạo các khu vực này từ phía chính quyền.
- Quy hoạch tổng thể và chi tiết các khu NTTS có tính công nghiệp mới (chuyển từ hệ thống nuôi quảng canh trước đây sang hoặc chuyển đổi từ đất sản xuất các sản phẩm nông nghiệp khác kém hiệu quả). Thiết kế các vùng nuôi tập trung công nghiệp. Quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết các khu vực nuôi biển trên cơ sở đánh giá sức tải môi trường.
- Lập hồ sơ thiết kế chi tiết cho tất cả các vùng nuôi tập trung, quy hoạch và thiết kế chi
tiết thủy lợi phục vụ NTTS ở các vùng nuôi tập trung.
- Quy hoạch mạng lưới chế biến và thương mại các sản phẩm thủy sản cho từng địa
phương.
Nhiệm vụ này này thuộc về UBND và Sở NN & PTNN, Sở Thủy sản (hiện nay vừa mới sát nhập vào Sở NN & PTNN) của tỉnh triển khai các dự án, trực tiếp tham gia thực hiện, kiểm tra và đánh giá.
3.4.2. Giải pháp đảm bảo chất lượng thương phẩm cho các cơ sở nuôi thủy sản
Sản phẩm muốn khả năng cạnh tranh tốt nhất thiết sản phẩm đó phải có chất lượng, mà sản phẩm muốn có chất lượng tốt thì nguồn cung cấp nguyên liệu đầu phải đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm. Để đạt được tiêu chuẩn này thì đầu tiên là cơ sở nuôi phải đảm bảo các tiêu chí sau:
- Cơ sở nuôi phải được xây dựng trong vùng quy hoạch do UBND tỉnh phê duyệt, như vậy chúng ta mới quản lý tốt tình hình dịch bệnh; hệ thống ao được thiết kế hoàn chỉnh gồm: hệ
thống cấp, thoát nước, hệ thống ao lắng có tổng diện tích lớn hơn 15% tổng diện tích mặt nước nuôi, hệ thống ao xử lý nước thải có tổng diện tích lớn hơn 10% tổng diện tích mặt nước nuôi; ao (hoặc khu vực) chứa bùn với diện tích lớn hơn 5% tổng diện tích mặt nước nuôi.
- Đối với tôm chân trắng hệ thống ao nuôi phải tách biệt với tôm sú, vì hai vật nuôi này có đặc tính sinh trưởng khác nhau, cách xử lý ao nuôi không giống nhau nếu không tách biệt có thể làm cho các vuông nuôi tự lây bệnh lẫn nhau. Chúng ta có thể tận dụng các vuông nuôi tôm sú để nuôi tôm thẻ nhưng trước khi thả nuôi cần phải xử lý ao theo đúng quy trình kỹ thuật như nạo vét đáy ao, phơi ao, xử lý nước,… ngược lại khi chuyển lại nuôi tôm sú thì cũng cần phải đúng quy trình trên.
- Cơ sở nuôi có nhà kho bảo quản thức ăn, thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học, vật tư, khu vực hành chính, nhà ở cho công nhân,… khuyến khích xây dựng phòng xét nghiệm và nơi ương thủy sản giống (đối với cá); nhà vệ sinh nên xây dựng tách biệt với khu vực nuôi; ngoài hệ thống quạt nước, dụng cụ cho ăn, cơ sở nuôi cần trang bị dụng cụ đo các yếu tố môi trường để kịp thời xử lý đối với các trường hợp bất thường của ao nuôi (nếu có).
- Giống trước khi thả nuôi phải được xét nghiệm để xác định giống không bị nhiễm các bệnh nguy hiểm, khuyến kích định kỳ trong vụ nuôi lấy mẫu thủy sản xét nghiệm các bệnh nguy hiểm.
- Tất cả dụng cụ, thiết bị, con người… từ bên ngoài vào khu vực nuôi được kiểm soát vệ sinh và bệnh dịch. Nếu phát hiện thủy sản nuôi có dấu hiệu bị bệnh phải khoanh vùng, chữa trị kịp thời và dập dịch – khử trùng, đồng thời thực hiện các biện pháp tránh lây lan cho ao nuôi lân cận và môi trường bên ngoài.
- Thức ăn, thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học sử dụng phải nằm trong danh mục cho phép lưu hành tại Việt Nam, phải đảm bảo chất lượng, được bảo quản theo từng nhóm chủng loại riêng biệt, không có tác động xấu vào môi trường và không là nguồn lây nhiễm chéo.
- Tất cả các ao nuôi sau vụ nuôi phải được làm vệ sinh, tất cả lượng cặn bã, bùn đáy ao được đưa vào khu vực chứa bùn, khuyến khích dùng chế phẩm sinh học để cải tạo lại đáy ao. Đồng thời nên có thời gian nghỉ (cắt vụ) giữa hai vụ nuôi nếu nuôi trên cùng một đối tượng.
- Tất cả hồ sơ trong suốt quá trình nuôi phải được lưu giữ gồm: hồ sơ theo dõi nguồn nguyên liệu đầu vào như: thuốc, con giống, thức ăn; hồ sơ theo dõi diễn biến đợt sản xuất như: lịch sản xuất trại, nhật ký; hồ sơ mua giống (có giấy xác nhận xuất xứ nguồn gốc tôm giống đối với tôm chân trắng), kiểm dịch khi mua giống, hồ sơ gồm: giấy chứng nhận kiểm dịch, phiếu kết quả xét nghiệm các bệnh nguy hiểm (đối với tôm sú và tôm chân trắng).
Nếu như chúng ta thực hiện tốt khâu nguyên liệu đầu vào thì giá trị sản phẩm thủy sản sẽ cao hơn nhiều và luôn có thị trường tiêu thụ ổn định, thực hiện tốt công tác này không chỉ góp phần tăng giá trị kinh tế của ngành thủy sản mà nó còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo cho yếu tố phát triển bền vững trong tương lai. Trách nhiệm của công tác này trước hết là thuộc về các cơ sở nuôi thủy sản, tuy nhiên các cấp chính quyền cũng cần có sự hổ trợ cần thiết về kỹ thuật, khâu kiểm tra, đánh giá để cùng nhau thực hiện tốt.
3.4.3. Giải pháp về đầu tư và huy động vốn đầu tư
Vốn là một trong những vấn đề khó khăn của Bến Tre nhất là trong thời kỳ hội nhập như hiện nay, không chỉ người nông dân đang rất cần vốn để tái đầu tư trong sản xuất, mà cả các doanh nghiệp chế biến cũng đang thiếu vốn rất lớn. Về vấn đề vốn cần phải nghiên cứu để tạo ra nguồn tài chính đủ phục vụ cung ứng vốn vay với lãi suất thấp cho bà con nông dân và cộng đồng các doanh nghiệp chế biến của tỉnh theo hướng:
- Xây dựng chính sách huy động vốn phù hợp, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển NTTS, tạo nguồn vốn lớn để thực hiện các dự án thủy lợi phục vụ các vùng NTTS tập trung, trước mắt là cho các vùng nuôi tôm và nuôi cá da trơn.
- Kêu gọi các thành phần kinh tế, các cộng đồng doanh nghiệp kể cả ở nước ngoài tham gia vào việc đầu tư hoạt động của ngành thủy sản với hình thức cổ phần hóa theo phương thức: nhà nước thì tham gia vào công tác tổ chức, quản lý; các doanh nghiệp đóng góp vốn; kỹ sư tham gia vào việc cung cấp kỹ thuật công nghệ nuôi hay sản xuất; người nông dân đóng góp diện tích đất và công sức.
- Xây dựng chính sách tín dụng cho NTTS phù hợp hơn, đủ đảm bảo cho người nuôi quy mô hàng hóa có đủ vốn sản xuất, đồng thời mạnh dạn đầu tư cho các hộ nghèo tham gia NTTS quy mô vừa và nhỏ vay vốn sản xuất để tạo cơ hội cho họ tham gia hưởng lợi từ NTTS hàng hóa.
- Tăng nguồn vốn vay trung hạn và dài hạn phù hợp với chu trình NTTS, đặc biệt là cho xây dựng cơ sở hạ tầng. Thời gian vay vốn ít nhất là 3 năm đối với phần lớn các đầu tư cho NTTS. Số lượng vốn vay cần phải đủ lớn cho nhu cầu đầu tư của người dân. Thủ tục vay vốn cần được đơn giản hơn, giảm bớt phiền hà cho người vay. Ưu tiên đầu tư vốn cho phát triển các vùng và đối tượng nuôi phục vụ cho nhu cầu chế biến các sản phẩm thủy sản có giá trị kinh tế cao và được thị trường ưa chuộng.
- Khuyến khích các Ngân hàng tham gia đầu tư vào các dự án NTTS, chế biến thủy sản xuất khẩu, hổ trợ vốn vay với lãi suất thấp cho bà con nông dân có đủ vốn để đầu tư sản xuất theo quy trình kỹ thuật hiện đại.
- Tranh thủ các nguồn tài trợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế để có thêm nguồn vốn đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp phát triển NTTS, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trên các lĩnh vực: phòng ngừa dịch bệnh, xử lý môi trường nuôi,…
3.4.4. Giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Lực lượng cán bộ kỹ thuật có chuyên môn cao trong ngành NTTS của tỉnh hiện nay còn thiếu nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển trong thời gian tới vì vậy việc đào tạo cán bộ kỹ thuật nhất là cán bộ kỹ thuật có chuyên môn cao là một trong những giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng và hiệu quả của phát triển. Việc đào tạo cán bộ kỹ thuật cần tập trung vào các hướng sau:
Đào tạo cán bộ trên đại học gồm tiến sỹ, thạc sỹ có chuyên môn sâu và cao về các lĩnh vực phục vụ phát triển NTTS, hình thức đào tạo có thể là ở trong nước hoặc nước ngoài. Tỉnh cần có những chính sách hỗ trợ hợp lý về kinh phí cũng như việc làm ổn định cho các chuyên gia yên tâm trong học tập và công tác của mình. Tăng cường năng lực cho trung tâm hướng nghiệp và đào tạo nghề của tỉnh trong các lĩnh vực có liên quan tới hoạt động của ngành thủy sản cả về phương tiện dạy học, đào tạo nâng cao năng lực giáo viên, cơ sở trường lớp, thí nghiệm, thực tập và điều kiện ăn ở của học viên. Thuê mướn giảng viên của các trường Đại học khác có chuyên môn về ngành thủy sản như Đại học Nha Trang, Đại học Cần Thơ, Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh,… về trực tiếp hướng dẫn và đào tạo cho các cán bộ đang hoạt động trong ngành thủy sản hiện nay. Chương trình đào tạo cần được cải tiến phù hợp hơn với nhu cầu của thực tế trên địa bàn tỉnh. Hỗ trợ ngân sách đào tạo người địa phương thành các cán bộ kỹ thuật ngành thủy sản về làm công tác khuyến ngư hoặc phát triển và quản lý ngành thủy sản tại địa phương. Đào tạo ngắn hạn và đào tạo lại để cập nhật kiến thức cho cán bộ kỹ thuật nuôi trồng, sản xuất giống và quản lý nuôi trồng tại cơ sở. Hình thức đào tạo và đào tạo lại nên theo hướng đào tạo ngắn và trung hạn tuỳ theo đối tượng đào tạo. Đặc biệt, cần tổ chức các lớp tập huấn ngắn ngày cho các bà con nông dân về kỹ thuật sản xuất giống, công nghệ
nuôi thủy sản sạch bệnh và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh nhà. Công nhân kỹ thuật và lực lượng sản xuất chính cần phải được đào tạo vừa cơ bản vừa thường xuyên do các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ NTTS thường diễn ra rất nhanh. Vì vậy nên đưa các trường nghiệp vụ phát triển NTTS về sát với các vùng nuôi hoặc tổ chức các lớp học tại chỗ tập trung ngắn hạn tại các địa phương có hoạt động NTTS phát triển mạnh. Các trường này có thể mở các lớp đào tạo mới hoặc nâng cao trình độ ngắn ngày kết hợp với khuyến ngư.
3.4.5. Giải pháp về giống
Giống là một nhân tố quan trọng nhất quyết định sự thành bại của quá trình phát triển của nuôi thủy sản. Việc phát triển NTTS cả về quy mô, năng suất, tính đa dạng, khả năng phát triển bền vững và tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường phần lớn do những thành tựu về giống quyết định. Do vậy:
- Trước hết phải củng cố, tăng cường, nâng cao khả năng nghiên cứu và sản xuất giống của hệ thống trung tâm sản xuất giống thủy sản của tỉnh, các hệ thống trung tâm sản xuất của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh quản lý để các trung tâm sản xuất giống này đủ sức nghiên cứu, lai tạo, du nhập giống mới đáp ứng nhu cầu phát triển; đủ sức lưu giữ bảo tồn nguồn gen, bảo tồn và nhân nuôi lâu dài nguồn giống ông bà, bố mẹ cung cấp cho các địa phương cũng như xuất bán cho các khu vực lân cận trong khu vực.
- Hỗ trợ cho việc chuyển dần từng bước sang xã hội hoá việc nghiên cứu và sản xuất nguồn thủy sản bố mẹ và giống thủy sản. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư và cải tiến các trại chuyên sản xuất và cung ứng con giống có chất lượng cao. Đặc biệt là các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu nên nghiên cứu đầu tư vào lĩnh vực này song song với việc quy hoạch đầu tư nuôi thủy sản thương phẩm, đây là nguồn nguyên liệu sạch, chủ động cho các nhà máy chế biến.
- Triển khai một số đề án nghiên cứu chuyên đề giống thủy sản, hoàn thiện những quy trình công nghệ đã được chuyển giao trong những năm qua. Những đề án chính trong lĩnh vực sản xuất giống cần thực hiện trong thời gian từ nay đến năm 2020 bao gồm:
Nghiên cứu để bảo tồn, nuôi dưỡng đàn giống bố mẹ khỏe, sạch bệnh để cung ứng cho các trại sản xuất giống. Đầu tư nhiệm vụ này nên giao cho trung tâm giống thủy
sản của tỉnh trực tiếp quản lý và thực hiện với sự hổ trợ vốn từ ngân sách của tỉnh hoặc mời các công ty chế biến xuất khẩu trên địa bàn tham gia đầu tư vốn.
Nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ nuôi vỗ thành thục tôm sú, tôm thẻ
chân trắng bố mẹ và sản xuất giống có chất lượng cao.
Nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ nuôi vỗ tôm càng xanh từ dạng post lên dạng tôm xô để phục vụ tốt mô hình nuôi xen canh đang là thế mạnh của tỉnh hiện nay (trọng lượng trung bình từ 30 đến 50 con/kg).
Nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính, cá
da trơn thích nghi tốt trong môi trường sinh thái mặn, lợ ven biển.
Nâng cao chất lượng giống một số loài cá nuôi nước ngọt chủ lực chủ lực của tỉnh
trong thời gian qua như cá lóc đồng, cá rô đồng, cá trê vàng, cá lăng vàng,…
Xây dựng các khu bảo tồn các bãi nghiêu và sò huyết giống của tỉnh tập trung ở 3
huyện ven biển
Thả một số loại giống thủy sản vào môi trường tự nhiên nhằm để tạo ra nguồn giống bố mẹ tự nhiên, đồng thời lưu giữ và duy trì tính đa dạng sinh học về thủy sản của tỉnh, đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.
3.4.6. Giải pháp về khoa học công nghệ nuôi trồng thủy sản
Trong quá trình phát triển bền bền vững ngành thủy sản của tỉnh trong tương lai đặc biệt là từ khâu nuôi trồng, để tránh những tổn thất đáng tiếc như đã trãi qua trong những thời qua thì việc tăng cường đầu tư khoa học công nghệ tiên tiến trong tất cả các khâu NTTS là bước đi vững chắc, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững. Thực tế thì việc áp dụng khoa học công nghệ trong các khâu NTTS của tỉnh trong thời gian qua còn rất là hạn chế, chỉ mới bước đầu áp dụng đối với các mô hình nuôi thủy sản với quy mô lớn và công nghiệp do các công ty đầu tư, còn đối với đại đa số các hộ nông dân thì còn rất ít, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm là chính. Do đó, cần phải tiếp tục hỗ trợ và tăng cường cho công tác nghiên cứu khoa học công nghệ, nhập khẩu công nghệ tiên tiến để chủ động sản xuất, đảm bảo chất lượng, số lượng đáp ứng nhu cầu các loại giống nuôi chủ yếu, đồng thời nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo một số loài thủy chủ lực.
Kiểm tra, đánh giá tổng hợp các nhân tố tự nhiên, KT – XH, nhân lực và trình độ kỹ thuật, nhằm chọn lựa các phương thức NTTS hợp lý và tối ưu cho từng hệ sinh thái khác nhau trên địa bàn tỉnh. Chọn lựa các công nghệ tốt nhất cho NTTS quy mô nhỏ của các hộ nghèo ở
vùng nông thôn là cần ít vốn đầu tư, rủi ro thấp và hoàn vốn nhanh. Các công nghệ này cần phải đơn giản, dễ áp dụng, mở rộng và đóng góp vào việc đáp ứng nhu cầu thủy sản ở địa phương
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong nghiên cứu lai tạo chọn giống nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt và đáp ứng được các nhu cầu về vệ sinh an toàn dịch bệnh trong quá trình nuôi để hạn chế rủi ro. Chính sách xuất nhập các loại giống thủy sản cần phải có những nghiên cứu kỷ và đồng bộ nhằm hạn chế tối đa việc lây lan dịch bệnh cũng như đảm bảo các vấn đề về cân bằng sinh thái tự nhiên trên địa bàn tỉnh.
Tăng cường nghiên cứu hoàn thiện công nghệ các công nghệ mới về xử lý môi trường; chuẩn đoán bệnh, các biện pháp phòng trừ dịch bệnh; công nghệ sản xuất thức ăn, chế phẩm sinh học; thuốc thú y cho thủy sản, các hoá chất dùng trong nuôi trồng và xử lý môi trường, công nghệ lưu giữ, bảo quản sống, vận chuyển sống; công nghệ bảo quản sau thu hoạch, chế biến các loại sản phẩm thủy sản nuôi trồng.
Tiếp tục chuyển đổi và nâng cấp các tiêu chuẩn ngành về các đối tượng nuôi thành tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn quốc gia để phù hợp với yêu cầu quản lý; xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật mới trong NTTS; Xây dựng quy chế công nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ trong NNTS; đẩy nhanh việc ứng dụng kỹ thuật tiến bộ, sản xuất nhiều sản phẩm giá trị gia tăng, tạo khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản tỉnh trên thị trường quốc tế.
Hỗ trợ đầu tư thích hợp cho các nghiên cứu và quảng bá các mô hình nuôi thủy sản đạt hiệu quả kinh tế cao, ít rủi ro và phù hợp với khả năng đầu tư của đại bộ phận người nông dân Bến Tre hiện nay. Đồng thời khuyến khích hình thành các trang trại cổ phần NTTS trên cơ sở nhà nước thì đảm bảo về tài chính, nông dân góp vốn bằng đất đai, kỹ sư thì góp kiến thức khoa học công nghệ nuôi, giống, các doanh nghiệp thì đóng góp vốn, tìm kiếm thị trường hoặc trang thiết bị cần thiết cho quá trình nuôi nhằm mục đích đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
3.4.7. Giải pháp về hoạt động chế biến xuất khẩu
Trước hết phải điều tra, thống kê lại các nhà máy đang hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản xuất khẩu để từ đó rà soát lại quy hoạch xây dựng lại hế thống nhà máy chế biến của tỉnh, trên cơ sở đó điều chỉnh lại quy hoạch cho phù hợp với yêu cầu và tình hình mới. Tỉnh cần phải đặt nên các tiêu chuẩn cho việc xây dựng các nhà máy chế biến thủy sản, nhất là đối với các nhà máy chế biến thủy sản phục vụ cho xuất khẩu cần căn cứ vào tiêu chuẩn HACCP để quy định, hướng dẫn cho các nhà đầu tư, các công ty tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo cho nhà
máy cung cấp ra thị trường những sản phẩm sạch và hạn chế tối đa việc ảnh hưởng tới môi trường sinh thái của địa phương.
Tiếp theo, tỉnh cần hình thành nên các nhóm liên kết trong cộng đồng các doanh nghiệp chế biến. Tuy nhiên, việc tổ chức này cần nên tính toán thật kỹ để có sự phát triển mạnh và vững chắc, nguyên tắc tổ chức là tôn trọng tính tự nguyện, tự giác, không bắt buột hay đặt ra những tiêu chuẩn về số lượng quá lớn mà không đảm bảo được về mặt chất lượng. Một khi tổ chức được thì hạn chế rất lớn đối với việc tranh mua, đẩy giá lên cao khi hiếm hàng hoặc hạ giá xuống thấp khi không tìm được thị trường tiêu thụ, tình cảnh này vẫn xãy ra rất thường xuyên trong thời gian qua, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho hoạt động cho ngành phát triển thiếu tính bền vững.
Công nghệ chế biến là một trong những khâu rất quan trọng trong việc đem lại nguồn giá trị kinh tế lớn cho ngành thủy sản. Bến Tre cũng là một tỉnh có truyền thống về chế biến thủy sản nhưng sản phẩm chế biến có thể tiêu thụ mạnh trên thị trường tính tới thời điểm này là chưa nhiều, hiện toàn tỉnh chỉ mới có 3 công ty chuyên chế biến sản phẩm thủy sản xuất khẩu còn lại là các cơ sở nhỏ chủ yếu là sơ chế, sản phẩm chỉ tiêu thụ trong thị trường nội địa, chính vì thế đã hạn chế phần nào giá trị của ngành thủy sản trong thời gian qua.
Trong tương lai để đảm bảo sự phát triển bền vững thì thiết nghĩ chúng ta cũng cần quan tâm đặc biệt đến khâu chế biến, đảm bảo không chỉ cung cấp được những sản phẩm sạch, mà chất lượng phải thơm ngon, bổ dưỡng và đa dạng, phù hợp với đại đa số người tiêu dùng. Để thực hiện được mục tiêu đưa ngành thủy sản phát triển bền vững, đem lại sự giàu có cho người dân địa phương thì Bến Tre cần tính đến việc đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các nhà máy chế biến với công nghệ tiên tiến, đảm bảo cung cấp sản phẩm an toàn, đồng thời cũng tạo nên các vùng nguyên liệu phù hợp cho các nhà máy. Điều này có nghĩa là mỗi nhà máy cũng cần có những vùng nguyên liệu riêng đảm bảo đủ nguồn nguyên liệu cho nhà máy hoạt động liên tục đúng với công sức của mình, tránh tình trạng thiếu hoặc thừa nguồn nguyên liệu như trong thời gian qua, giữa nhà máy chế biến và người nuôi cùng nhau nhìn về một hướng, nhà máy nên lập nên kế hoạch chế biến hàng năm, hạn chế việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các nhà máy với nhau, điều này sẽ dẫn tới việc tăng giá cả đầu vào, đồng nghĩa giá cả đầu ra cũng tăng theo, rất dễ dẫn tới tình trạng đẩy giá lên quá cao sẽ khó tìm kiếm thị trường tiêu thụ, kết quả người chịu nhiều thua thiệt nhất cũng lại là người nông dân. Thiết nghĩ điều này tỉnh nên có chính sách định hướng trước cho các nhà máy thành những quy định rõ ràng, cụ thể.
Một điều đáng nói nữa là, tuy chúng ta có số lượng sản phẩm lớn nhưng giá trị vẫn còn thấp đó chính là do ở khâu sản phẩm của chúng ta, sản phẩm chủ yếu ở dạng thô, chỉ mới qua
sơ chế thì làm sao có giá trị cao được. Thời gian tới các nhà máy nên tích cực chuyển dần từ xuất khẩu sản phẩm thô, sơ chế sang sản phẩm tinh chế bằng công nghệ tiên tiến, sản phẩm có thể được sử dụng ngay. Do đó về cơ bản cần phải:
- Đầu tư năng cấp dây chuyền công nghệ mới và hiện đại. - Đầu tư đổi mới các thiết bị chuyên dùng cho việc vệ sinh an toàn chất lượng của sản
phẩm
- Cải tiến mẫu mã, bao bì đóng gói sản phẩm thị thủy sản, kéo dài thời gian bảo sản
phẩm
- Tích cực đầu tư cho các sản phẩm có thế mạnh truyền thống từ người nông dân như:
tôm khô, nước mắm,…
- Đẩy mạnh việc chế biến các sản phẩm đóng gói, đồ hộp - Phát triển công nghệ sau thu hoạch - Gia tăng tỉ trọng các nhà máy áp dụng những tiêu chuẩn chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế như: an toàn – HACCP, SQF1000; chất lượng – ISO9000, SQF2000; môi trường ISO14001,…
Một vấn đề nữa là việc sắp xếp, quy hoạch các nhà máy chế biến phải phù hợp với vùng nguyên liệu nhằm hạn chế tới mức thấp nhất chi phí vận chuyển, đồng thời các nhà máy này cũng phải phù hợp với quy hoạch phát triển chung của khu vực ĐBSCL.
3.4.8. Giải pháp về phát triển thị trường
Thị trường là một trong những yếu tố động lực làm nâng cao giá trị của hàng hóa thủy sản chúng ta hiện nay. Tuy nhiên, vấn đề thị trường tiêu thụ thủy sản tỉnh cũng gặp không ít những khó khăn. Để giải quyết tốt vấn đề này cần tiếp tục củng cố và mở rộng thêm thị trường, chú ý tập trung khai thác và củng cố niềm tin cho các thị trường mà hiện nay các doanh nghiệp đang có như: Italia, Hà Lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha,… đồng thời mở rộng thêm các thị trường mới như Trung Quốc, Trung Đông, Australia, các quốc gia Nam Mỹ, Châu Phi, trong nên chú trọng đặc biệt đối với thị trường các quốc gia Châu Á mà hiện nay các doanh nghiệp đang bán được với giá tương đối cao như: Nhật Bản, HongKong, Malaysia, Thái Lan,…
Ngoài việc phát triển chế biến phục vụ xuất khẩu còn cần đặc biệt chú ý tới phát triển công nghiệp chế biến thủy sản cho thị trường nội địa, tăng khả năng chế biến cho nhiều loại nguyên liệu. Đồng thời, các doanh nghiệp chế biến trong vùng luôn đổi mới công nghệ để đa dạng hoá mặt hàng, phát triển mặt hàng mới nhằm mở rộng thị trường, đáp ứng các đòi hỏi khắt khe và luôn đổi mới của thị trường, chú trọng đến các loại sản phẩm ăn nhanh, thời gian bảo
quản được lâu. Đặc biệt, cần chọn tư vấn có năng lực tốt để giúp các doanh nghiệp nắm chắc được các thủ tục về pháp lý nơi mà các doanh nghiệp bán sản phẩm của mình, hạn chế việc bị kiện bán phá giá như đã từng xãy ra đối với thị trường Hoa Kỳ trong thời gian qua.
Cải tiến mẫu mã bao bì hàng hóa, gấp rút tiến hành xây dựng thương hiệu và nhãn mác cho các loại sản phẩm thủy sản thế mạnh của tỉnh nhằm đem lại lợi thế cạnh tranh cao hơn trên thị trường. Đồng thời, thông qua các kênh truyền thông nhất là mạng internet để quảng bá thương hiệu, lưu ý rằng chúng ta chỉ đưa thông tin đúng với sự thật, đảm bảo cung cấp hàng đúng với những gì quảng cáo, có như thế mới đảm bảo được ưu tín cho những hợp động dài hạn.
3.4.9. Giải pháp về bảo vệ môi trường sinh thái
Bảo vệ môi trường trong phát triển NTTS Bến Tre là vấn đề cực kỳ quan trọng cần được giải quyết từ vấn đề quy hoạch sản xuất canh tác, phương thức canh tác gắn liền với tổ chức sản xuất canh tác NTTS và thị trường tiêu thụ, sản xuất nuôi trồng gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ môi trường và quan trọng là nâng cao vai trò quản lý của nhà nước về bảo vệ môi trường đối với lĩnh vực NTTS và vai trò của cộng đồng đối với nhiệm vụ bảo vệ môi trường.
Tỉnh cần nhanh chóng hoàn thiện quy hoạch chi tiết NTTS gắn liền với quy hoạch bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái, thực hiện tốt quy hoạch thủy lợi cho phát triển thủy sản, tăng cường tính khả thi của nhiệm vụ quan trắc và dự báo chất lượng môi trường và dịch bệnh trong NTTS.
Đẩy nhanh công tác nghiên cứu cơ bản về sức chịu tải môi trường sinh thái tỉnh để làm
căn cứ cho việc xây dựng chính sách phát triển thủy sản bền vững.
Khẩn trương lập các phương án quy hoạch tổng thể cho vùng, trong đó NTTS là một ngành kinh tế chủ lực. Nhanh chóng hoàn thiện quy hoạch môi trường trên cơ sở phân vùng sinh thái nhạy cảm với các vùng tiềm năng trong phát triển các mô hình canh tác thủy sản nước mặn, nước ngọt và nước lợ... theo các cấp độ từ thấp tới cao như nuôi trồng thủy sản tự nhiên, mật độ thấp, mô hình hợp sinh thái,... cho đến nuôi thâm canh, nuôi công nghiệp để bảo đảm cho phát triển lâu dài và bền vững NTTS của tỉnh.
Có kế hoạch tái tạo rừng phòng hộ đến một diện tích đủ rộng có tác dụng như một hệ
thống lọc tự nhiên để xử lý ô nhiễm môi trường.
Tăng cường năng lực hệ thống giám sát môi trường phục vụ NTTS, phối hợp liên ngành
trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường.
Tăng cường nghiên cứu khoa học công nghệ trong NTTS, đặc biệt chú trọng nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học xử lý môi trường, áp dụng các qui trình nuôi thân thiện với môi trường.
Nhanh chóng triển khai nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học về môi trường, công nghệ vi sinh xử lý nước thải. Trong thực tiễn sản xuất, một số công ty có tiềm lực về vốn đầu tư, kỹ thuật công nghiệp NTTS đã xác lập được các mô hình nuôi thủy sản công nghiệp, nhưng vẫn xử lý được các vấn đề chất thải phát sinh, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường. Trong nuôi trồng thâm canh, nuôi công nghiệp, vấn đề bảo vệ môi trường cần tập trung xử lý chất thải NTTS bằng các giải pháp như: Dùng các chế phẩm sinh học để xử lý triệt để các thành phần độc hại ô nhiễm có trong nước thải, chất thải thành các chất an toàn sinh thái. Các chế phẩm sinh học này là các vi khuẩn yếm khí, hiếu khí, các xạ khuẩn, nấm men,… để xử lý lượng thức ăn dư thừa, các thất thải trong ao nuôi, các nguồn bùn cặn đáy ao nuôi,…
Xây dựng hệ thống quan trắc và cảnh báo môi trường. Đồng thời, xây dựng và triển khai thực hiện và giám sát việc thực hiện các quy hoạch vùng, tiểu vùng, quy hoạch vùng nuôi an toàn, từ khâu chọn địa điểm đến hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản.
Ứng dụng công nghệ vi sinh, biogas để xử lý chất thải hữu cơ tại các bến cảng cá nhằm làm giảm tác động gián tiếp lên môi trường các khu nuôi. Tập trung đầu tư phát triển vào công nghệ sinh học, coi đây là mũi nhọn nhằm đi tắt đón đầu tạo ra các công nghệ tiên tiến. Thông qua ứng dụng công nghệ sinh học, giải quyết các vấn đề bức xúc hiện nay trong NTTS và bảo quản thủy sản, đặc biệt trong giải quyết các vấn đề dịch bệnh, các tác động giữa nuôi thủy sản với môi trường sinh thái, loại bỏ được các hóa chất, thuốc bị cấm trên thị trường, từ đó xây dựng công nghệ tiên tiến cho nuôi hàng hóa một số đối tượng thủy sản chủ lực hiện nay.
Phổ cập, truyền bá kiến thức về kỹ thuật và giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường
cho cộng đồng, thực hiện đồng quản lý môi trường thủy sản.
3.4.10. Giải pháp về thức ăn, hóa chất và thuốc thú y trong NTTS
Trong bối cảnh hội nhập, tự do hóa thương mại, kinh tế thị trường và cạnh tranh khốc liệt hiện nay việc thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, mở rộng liên doanh liên kết là cần thiết, trên cơ sở đó tranh thủ các kinh nghiệm về kỹ thuật và quản lý để chủ động xây dựng cơ
sở sản xuất thức ăn NTTS gắn với vùng nguyên liệu bột tôm, bột cá để hoàn thiện hệ thống liên hoàn nhằm tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và tối đa hóa lợi nhuận trong chuỗi giá trị cho tỉnh.
Từng bước hiện đại hóa nghề sản xuất thức ăn cho nuôi trồng, xây dựng và hoàn thiện công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp hệ số thấp cho tất cả những đối tượng nuôi chủ lực phục vụ xuất khẩu trên cơ sở sử dụng nguyên liệu sẵn có của địa phương.
Đẩy mạnh xây dựng nhà máy chế biến thức ăn công nghiệp, chuyên sản xuất các loại
thức ăn viên nổi phục vụ nuôi tôm nước lợ, tôm càng xanh, cá da trơn,…
Tăng cường tuyên truyền tập huấn miễn phí về kinh nghiệm, kỹ thuật quản lý thức ăn trong ao nuôi và cách sử dụng thuốc hóa chất trong NTTS đến 100% các hộ sản xuất. Đồng thời, tăng cường kiểm tra kiểm soát các cơ sở kinh doanh thuốc hóa chất và việc sử dụng thuốc, hóa chất tại các vùng NTTS; xử phạt nghiêm các tổ chức cá nhân vi phạm các qui định về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc hóa chất trong NTTS.
Tăng cường kiểm soát mạnh mẽ việc nhập khẩu thức ăn công nghiệp và thuốc hóa chất, có cơ chế kiểm soát về giá để người dân không bị lực lượng “môi giới” đẩy giá đầu vào lên cao. Khuyến khích người nuôi sử dụng các loại thuốc hóa chất thân thiện với môi trường, hiệu quả và an toàn trong NTTS.
3.5. Các giải pháp hổ trợ phát triển bền vững ngành thủy sản Bến Tre thời kỳ hội nhập
3.5.1. Liên kết trong sản xuất kinh doanh thủy sản
Quá trình toàn cầu hóa và thương mại hóa đã tạo điều kiện cho thương mại thủy sản phát triển. Tuy nhiên chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản bị ảnh hưởng bởi mối quan tâm của người tiêu dùng liên quan đến chất lượng và vệ sinh thực phẩm cũng như tính bền vững của các phương pháp sơ chế và chế biến. Ngoài ra, người tiêu dùng có thể yêu cầu cao hơn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc xuất xứ, sản phẩm thân thiện môi trường. Điều đó đã thúc đẩy việc phát triển các quy định, tiêu chuẩn và hiệp định có liên quan đến thực hành sản xuất tốt (GAP), quản lý sản phẩm tốt (GMP), hiệp định các biện pháp vệ sinh kiểm dịch động thực vật (SPS) và hệ thống giám định phù hợp để đảm bảo phản ứng kịp thời và tuân thủ chất lượng, mà ta thường gọi là rào cản kỹ thuật.
Thương mại thủy sản thế giới vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho những nhà sản xuất quy mô nhỏ ở các nước đang phát triển, đó là những ngư dân, người nuôi. Họ là những người hạn chế về cơ hội tiếp cận nguồn lợi, thị trường và thông tin cũng như hạn chế về vốn để đáp ứng những ràng buột của thị trường và chấp nhận đổi mới công nghệ. Vì vậy họ có thể bị loại ra khỏi thương mại quốc tế. Con đường duy nhất để giúp họ tham gia vào thương mại thủy sản là
tổ chức lại hệ thống sản xuất theo mô hình liên kết chuỗi nhằm thắt chặt quan hệ giữa các nhà sản xuất và quan hệ giữa các chủ thể trong chuỗi (nhà sản xuất, sơ chế, chế biến, phân phối và bán lẻ) giá trị thủy sản quốc gia và thế giới.
Liên kết ngang (Hiệp hội)
Ngư dân/ Người nuôi
Ngư dân/ Người nuôi
Ngư dân/ Người nuôi
Nhà mua bán trung gian
Viện/Trường nghiên cứu
Ngân hàng
Nhà chế biến
L i ê n k ế t d ọ c
Nhà bán buôn
Tổ chức bảo hiểm
Nhà bán lẻ
CQ. cấp giấy chứng nhận
Hình 2. Sơ đồ liên kết dọc và ngang trong ngành thủy sản
Tổ chức liên kết ngang giữa các người nuôi và liên kết dọc giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng, cụ thể giữa nhà mua bán trung gian và nhà chế biến hoặc giữa hiệp hội và nhà chế biến. Nếu như liên kết ngang nhằm chia sẻ rủi ro thì liên kết dọc nhằm thiết lập mối quan hệ tin cậy. Trong đó, cơ chế để thúc đẩy liên kết ngang là hình thành hiệp hội nghề nghiệp, còn cơ chế thúc đẩy liên kết dọc là thông qua hợp đồng kinh tế. Điều kiện cần và đủ để thực hiện liên kết dọc là phải có vai trò đầu tàu của các doanh nghiệp chế biến và sự tham gia của các chủ thể khác như: Viện/Trường nghiên cứu, Ngân hàng, Tổ chức bảo hiểm, Cơ quan cấp giấy chứng nhận,… đây là đòn bẩy hữu ích cho việc trải rộng rủi ro và nâng cao việc đổi mới. Để chủ động có nguồn nguyên liệu dồi dào, đảm bảo chất lượng đưa vào chế biến cũng như sản phẩm sau chế biến được thị trường chấp nhận và thuận lợi trong việc mở rộng kênh tiêu thụ, yêu cầu đặt ra là thành phẩm phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giá cả hợp lý. Muốn được điều đó, các doanh nghiệp chế biến thủy sản Bến Tre phải chủ động xây dựng mối liên kết chặt chẽ với
người sản xuất ra nguyên liệu, dịch vụ cung cấp thức ăn, dịch vụ thú y, giống,… là người đầu tàu của mối liên kết đó trên cở sở đồng thuận giữa người cung cấp nguyên liệu và nhà máy chế biến, một sự đồng thuận tự nguyện. Sự đồng thuận đó dựa trên một tiêu chuẩn quốc tế được áp dụng và chứng nhận độc lập để có thể đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của hệ thống truy xuất nguồn gốc xuất xứ, đòi hỏi của thị trường.
Hiệp hội NTTS nhằm liên kết các hộ nuôi theo đối tượng cùng loài và có thể đảm nhận thêm chức năng quản lý các khâu từ đầu vào đến đầu ra gồm nguồn nước, con giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản, môi trường, phòng trừ dịch bệnh, đồng thời thực hiện liên kết tiêu thụ sản phẩm với các doanh nghiệp chế biến sẽ tạo được sự chủ động và kiểm soát được vùng nuôi, quản lý chất lượng con giống, thức ăn, tăng khả năng phòng dịch, ổn định năng suất nuôi, tăng hiệu quả kinh tế, tạo việc làm ổn định, nâng cao đời sống và duy trì hoạt động thủy sản lâu dài. Thực hiện yêu cầu “sạch từ ao nuôi đến bàn ăn” dựa trên 4 hợp phần khác nhau: - Về kinh tế: liên kết chuỗi dựa trên quan điểm lợi ích – chi phí và hướng về người tiêu dùng. Để đạt hiệu quả và có khả năng sinh lời, các công ty phải thiết lập liên kết với các chủ thể trong chuỗi, nhờ vậy việc sản xuất và phân phối sẽ đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng, có khả năng thiết lập hệ thống kiểm soát chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Về môi trường: phương pháp sản xuất, thương mại và phân phối sản phẩm thủy sản phải gắn với bảo vệ môi trường (bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ hệ sinh thái, xử lý chất thải, vật liệu đóng gói,…)
- Về công nghệ: áp dụng công nghệ trong sản xuất, dịch vụ hậu cần, thông tin và truyền thông nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và kiểm soát dòng chảy của sản phẩm thủy sản thông qua quản lý chuỗi cung ứng như GAP, GMP, HACCP, ISO.
- Về luật pháp và xã hội: chấp hành các quy định về sản xuất, thương mại và phân phối
có tính quốc gia và quốc tế.
Kinh tế
Công nghệ
Thị trường TG
Nhà bán buôn
Nhà bán lẻ
Người nuôi
Nhà chế biến
Nhà mua bán trung gian
Nhà bán lẻ
Thị trường nội địa
Xã hội – pháp luật
Môi trường
Hình 3. Chuỗi giá trị sản phẩm nuôi trồng thủy sản Việt Nam trong môi trường kinh doanh
3.5.2. Tăng cường năng lực khuyến ngư và thông tin
Thông tin là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng trong điều kiện hội nhập hiện nay, thông tin giúp cho nhà sản xuất tìm kiếm được những thị trường phù hợp, thông tin giúp cho người sản xuất, nhất là những người nông dân biết mình cần phải sản xuất vật nuôi gì, số lượng bao nhiêu là phù hợp với tình hình thực tế, thông tin còn là điều kiện sống còn đối với các bà con ngư dân đi biển. Vì vậy, tăng cường năng lực khuyến ngư và thông tin việc làm tỉnh cần phải thực hiện ngay nếu muốn sản phẩm thủy sản tỉnh nhà đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới hiện nay. Để thực hiện tốt công tác trên thì tỉnh cần phải thực hiện triệt để các chính sách như:
- Tiếp tục xây dựng các mô hình khuyến ngư, nhân rộng các mô hình tốt trong sản xuất; thực hiện tốt các chính sách khuyến khích các nhà khoa học trong và ngoài ngành chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất có năng suất, chất lượng và hiệu quả.
- Thành lập các trạm khuyến ngư cấp huyện ở tất cả các huyện trong tỉnh, ở các xã nên có đội kỹ thuật thủy sản và cán bộ khuyến ngư, mỗi ấp nên có 1 mô hình trình diễn mẫu cho nhân dân làm theo.
- Tăng cường đáng kể nhân viên khuyến ngư được huấn luyện có bài bản và thường xuyên được đổi mới kiến thức, các nhân viên này vừa có nhiệm vụ hướng dẫn vừa có nhiệm vụ theo dõi môi trường, chất lượng nước và tình hình sức khoẻ tôm, cá ở địa bàn hoạt động của mình (<100 ha). Chi phí cho nhân viên khuyến ngư (có thể chọn từ nông dân sản xuất giỏi) do người nuôi đóng góp, có sự hỗ trợ một phần từ chính quyền địa phương.
- Cần xây dựng Chương trình khuyến ngư ở các đài truyền thanh huyện và truyền hình tỉnh, lắp đặt hệ thống truyền thanh và tăng cường các biện pháp truyền thông như bản tin nhanh, loa phóng thanh công cộng, vô tuyến địa phương theo giờ hàng ngày truyền bá kiến thức thông tin về công nghệ và kỹ thuật NTTS.
- Thành lập hoặc củng cố các chi hội nuôi thủy sản để nhanh chóng thu thập thông tin từ cơ
sở và phản hồi cũng như tham gia công tác khuyến ngư và tín dụng cho các hội viên.
- Khuyến khích các khu vực nuôi tập trung thành lập các phòng thí nghiệm chuẩn đoán dịch bệnh và kiểm soát môi trường các ao nuôi, nước các kênh rạch, chẩn đoán dịch bệnh (tổ kỹ thuật của xã).
- Tăng cường năng lực, cập nhật và nâng cao kiến thức thường xuyên cho cán bộ khuyến ngư cấp cơ sở, bổ sung cán bộ kỹ thuật, xây dựng mạng lưới cộng tác viên khuyến ngư, đầu tư nâng cấp trang thiết bị phục vụ công tác khuyến ngư.
- Xây dựng mạng lưới khuyến ngư để cập nhật và trao đổi thông tin về kỹ thuật, công
nghệ, quản lý, dịch bệnh,… về NTTS.
- Hỗ trợ phát hành các tờ tin NTTS, tạp chí thủy sản của Hội nghề cá đến các cơ sở và địa
phương trên địa bàn toàn tỉnh (theo mạng lưới bưu điện văn hoá).
3.5.3. Giải pháp thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản
Do tính chất của ngành thủy sản tỉnh hiện nay đang có xu hướng chuyển dần sang hướng chuyên môn hóa và tập trung cao ở một số khu vực nhất định nhằm đem lại số lượng sản phẩm lớn và sạch bệnh. Do đó, để đáp ứng được nhu cầu trên nên công tác thủy lợi cũng là một trong các công trình có ý nghĩa chiến lược trong việc phát triển NTTS tỉnh, việc tập trung đầu tư xây dựng và hoàn thiện hạ tầng cơ sở phục vụ NTTS đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng theo hướng sản xuất hàng hóa, đặc biệt hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ NTTS, đồng thời phục vụ mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái là một nhiệm vụ thiết yếu cũng cần nên thực hiện ngay.
Một số giải pháp chung về thủy lợi phục vụ NTTS trong giai đoạn tới như sau: Đầu tư và vận hành hiệu quả hệ thống kiểm soát nước mặn và nước ngọt cố định và tạm thời ở các huyện Bình Đại, Ba Tri, một phần của Giồng Trôm (chủ yếu là thông qua cống đập Ba Lai).
Chủ động xây dựng hệ thống xử lý nước cấp và thoát ngay tại vùng nuôi, quy định tạm thời về chế độ xử lý môi trường trước khi xả ra ngoài môi trường tự nhiên. Quy định ao nuôi phải có ao bùn, ao xử lý nước thải, nước thải phải được xử lý trước khi thải ra ngoài môi trường tự nhiên, vì phần lớn hệ thống kênh dẫn nước là hệ thống hở, vì thế nếu không thực hiện tốt khâu này thì khả năng lang tràn dịch bệnh là rất lớn. Xây dựng hệ thống thủy lợi nội đồng phục vụ theo từng yêu cầu của các mô hình tôm
sú – lúa, cá/tôm nước ngọt kết hợp kinh tế vườn và chuyên thủy sản.
Bên cạnh đó, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể như sau: - Đẩy mạnh việc nạo vét, mở rộng kênh tiêu và kênh cấp nước phục vụ NTTS. - Đối với các huyện ven biển (đặc biệt vùng nuôi lúa – tôm) có kênh cấp thoát nước chung nhưng cấp và thoát tách biệt theo thời gian và tạo dòng chảy cấp và thoát trên kênh chỉ có một chiều. Khi nước thủy triều lên, cống đầu kênh sẽ mở cho nước vào kênh, lúc này các ao nuôi sẽ lấy nước vào ao vì có nguồn nước sạch và nước có cao độ lớn. Đồng thời cống cuối kênh sẽ đóng không cho nước vào kênh. Dòng chảy trong kênh lúc này có chiều từ đầu kênh đến cuối kênh. Khi nước thủy triều rút, cống đầu kênh sẽ đóng lại, còn cống cuối kênh sẽ mở, nước sẽ từ trong kênh chảy ra, các ao nuôi sẽ đồng loạt thoát nước ra kênh vì mực nước trong kênh hạ. Dòng chảy trong kênh lúc này cũng có chiều từ đầu kênh tới cuối kênh.
- Cải tạo các cống ngăn mặn thành các cống tự động hai chiều hoặc xây dựng cống hai chiều mới lấy nước mặn vào mùa nuôi tôm và trữ nước ngọt vào mùa trồng lúa tạo dòng chảy trong kênh một chiều. Hiện tại các cống ngăn mặn có nhiệm vụ là cho tiêu thoát nước từ trong đồng ra, ngăn không cho nước mặn vào đồng. Do vậy muốn lấy nước mặn vào để nuôi tôm là không thực hiện được. Nếu như cải tiến cống có thể mở được chiều ngược lại cho nước biển vào thì dùng một cống cho nước biển vào đồng theo một chiều chảy vào. Nước mặn sẽ cung cấp cho các ao nuôi và thải ra một kênh nhưng không quay được chiều ngược lại vì cống chỉ có một chiều lấy nước và có một cống khác chỉ cho thoát một chiều ra biển (cống hiện tại đang vận hành). Như vậy, quy trình nước sẽ đi một chiều trên tất cả các kênh. Khi vào mùa cấy lúa thì cống lại làm nhiệm vụ ngược lại.
- Giải pháp dùng hệ thống thủy lợi nối kết các ao nuôi và ruộng lúa, vườn cho các mô hình nuôi cá tra, tôm càng xanh tạo môi trường sinh thái, phát triển bền vững: xây dựng hệ
thống kênh cấp cho hoạt động NTTS, đồng thời xây dựng hệ thống kênh thoát nước, sau đó sử dụng nguồn nước để tưới cho các hoạt động nông nghiệp, các ruộng lúa hoặc cây trồng khác sẽ lấy nguồn nước và bùn trên vừa để canh tác vừa làm nhiệm vụ xử lý chất thải cho NTTS.
3.6. Đề xuất, kiến nghị
Hỗ trợ nâng cao năng lực: đối tượng chủ yếu là cộng đồng ngư dân, nhà sản xuất, nhà quản lý nhằm hiểu rõ luật pháp và thông lệ quốc tế; áp dụng tốt qui trình, qui chuẩn, qui phạm để phát triển sản xuất bền vững; áp dụng có hiệu quả mô hình đồng quản lý và chuỗi liên kết giá trị trong sản xuất; đào tạo cán bộ có đủ năng lực, trình độ để tiếp cận với khoa học công nghệ và thị trường.
Hợp tác đầu tư: Hợp tác nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ trên nhiều lĩnh vực phát triển thủy sản bền vững: Các cơ sở sản xuất giống, cơ sở kiểm nghiệm, cơ sở chế biến thủy sản, cơ sở sản xuất thức ăn với hàm lượng công nghệ cao. Chuyển giao khoa học công nghệ xử lý thải từ các vùng nuôi tôm công nghiệp, các cơ sở chế biến, chuyển giao công nghệ sản xuất giống, nuôi các đối tượng mới thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu bảo tồn hệ đa dang sinh học vùng cửa sông ven biển Bến Tre
Thể chế - chính sách: Hoàn thiện đồng bộ khung pháp lý chuyên ngành và phân giao trách nhiệm rõ ràng, dứt khoát tránh chồng chéo. Quan tâm hơn đối với chính sách quản lý cộng đồng, xây dựng chuỗi liên kết sản xuất nhằm quản lý và quảng bá thương hiệu sản phẩm; hợp tác đầu tư; xúc tiến thương mại, tạo mọi điều kiện thuận lợi để ngư dân tiếp cận với thị trường trong nước và quốc tế; phát triển mô hình quản lý cộng đồng theo cơ chế đồng quản lý để phát triển bền vững.
Mọi nỗ lực của ngành thủy sản Bến Tre trong thời gian qua cũng chỉ là bước đầu góp phần cùng ngành thủy sản của Việt Nam, trong tư thế vươn mình cùng trăm sông đỗ về biển lớn. Hiện tại và trong tương lai ngành thủy sản Bến Tre vẫn luôn sẵn sàng tiếp nhận mọi sự quan tâm hợp tác đầu tư, hổ trợ của các cấp các ngành, các tổ chức kinh tế, khoa học, xã hội trong và ngoài nước đã, đang và sẽ tiếp sức cùng Bến Tre vượt qua những thách thức trước mắt và trong chặng đường tương lai, để mãnh đất nghèo khó nhưng giàu tiềm năng này sớm vượt qua khó khăn thách thức, vững bước đi lên cùng cả nước, cả thế giới bước vào thời đại mới văn minh và phát triển.
PHẦN KẾT LUẬN
Qua thực tế tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích tiềm năng và thực tế phát triển của ngành
thủy sản của tỉnh, tác giả luận văn rút ra ra được các kết luận sau:
Bến Tre là một tỉnh thuộc ĐBSCL với sự đa dạng về môi trường sinh thái, với 3 vùng nước ngọt, lợ, mặn, cả 3 vùng đều có thể phát triển nghề nuôi trồng thủy sản với nhiều đối tượng nuôi khác nhau. Bên cạnh đó, với chiều dài đường bờ biển là 65km, vùng biển tương đối giàu về các giống loài thủy sản có giá trị kinh tế cao, đây cũng là một tiềm năng rất lớn cho các hoạt động đánh bắt thủy sản. Có thể nói Bến Tre là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển ngành thủy sản cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Kinh tế thủy sản đang đem lại một diện mạo mới cho bộ mặt các làng quê Bến Tre. Thủy sản đã góp phần nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, là động lực thúc đẩy sự phát triển KT – XH của tỉnh, chuyển dịch theo hướng CNH – HĐH và nâng cao vị trí của tỉnh trong khu vực, đồng thời phát triển ngành thủy sản còn góp phần rất lớn trong công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư địa phương.
Mặc dù, trong quá trình phát triển ngành kinh tế thủy sản tỉnh nhà cũng gặp không ít những khó khăn, thực tế ngành thủy sản của tỉnh chưa thực sự phát huy hết lợi thế của tỉnh, những khó khăn trong việc phát triển thủy sản của tỉnh xuất phát từ việc chúng ta thiếu vốn, yếu kém về trình độ khoa học công nghệ hiện đại, sự cạnh tranh gây gắt ttrong quá trình hội nhập của một quốc gia yếu như nước ta hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường sinh thái. Từ đó ảnh hưởng đến công tác tổ chức quy hoạch sản xuất hợp lý mang lại giá trị kinh tế cao, hài hòa với công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản và phát triển bền vững trong tương lai.
Bước vào giai đoạn mới, ngành thủy sản của tỉnh cũng có rất nhiều cơ hội để phát triển đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập toàn cầu hóa như hiện nay, với nhiều đạo lực khắc khe trong khâu xuất khẩu, mà xuất khẩu là một khâu góp phần rất lớn nâng cao giá trị kinh tế của ngành. Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững ngành thủy sản, cân bằng giữa lợi ích kinh tế và môi trường sinh thái trong tương lai. Nhất thiết chúng ta cần có những giải pháp đồng bộ khoa học, trước hết là xác định đúng tiềm năng của tỉnh, loại thủy sản chủ lực cho mỗi thời kỳ, hiện nay là con tôm sú, tôm càng xanh, tôm thẻ chân trắng, cá da trơn, nghiêu; kế đến cần phải tính đến việc quy hoạch vùng nuôi phù hợp tránh trường hợp xâm hại, hủy hoại tính đa dạng môi trường sinh thái của tỉnh. Nâng cao giá trị thủy sản xuất khẩu, nghiên cứu ứng dụng những thành tựu tiên tiến trong sản xuất thủy sản đảm bảo cung cấp những sản phẩm sạch, chất lượng cao, đồng thời tranh thủ việc thu hút nguồn vốn từ các thành
phần kinh tế đầu tư cho phát triển của ngành cũng là những giải pháp mà chúng ta cần phải quan tâm thực hiện triệt để.
Với những thành tựu mà ngành thủy sản Bến Tre đã đạt được trong thời gian qua, một phần là nhờ vào những tiềm năng của tỉnh cùng với những chính sách chỉ đạo sáng suốt và tận tình quan tâm giúp đỡ của các cấp lãnh đạo tỉnh, bên cạnh đó là nhờ vào sự cần cù lao động, học hỏi và sáng tạo của bà con nông dân những người trực tiếp tham gia nuôi trồng, ngày đêm bám giữ ngư trường, những người công nhân miệt mài lao động trong các nhà máy chế biến. Trong thời đại mới nếu chúng ta nếu nắm bắt các cơ hội và hạn chế tối đa những thách thức đặt ra thì tin chắc rằng, ngành thủy sản Bến Tre sẽ có những bước phát triển bền vững, ngày càng đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển KT – XH của tỉnh nói riêng và của cả nước nói chung, thủy sản thật sự xứng đáng với tiềm năng vốn có của Bến Tre.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Trâm Anh, Nguyễn Thị Kim Anh (2008), “Liên kết trong kinh doanh thủy sản – Tiền đề cho sự phát triển bền vững”, Khoa kinh tế - trường Đại học Nha Trang.
2. Nguyễn Văn Âu (1999), “Địa lý tự nhiên biển Đông”, Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội.
3. Bộ NN & PTNT (04/2009), “Quy hoạch và phát triển nuôi trồng thủy sản vủng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”, Bộ NN & PTNT.
4. Bộ NN & PTNT (11/2009), “Chương trình hành động quốc gia về phát triển bền vững ngành thủy sản trong điều kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới giai đoạn 2010 – 2012”, Bộ NN & PTNT.
5. Các tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam: Tài liệu thảo luận số 1, “Hội
nhập kinh tế quốc tế, khả năng cạnh tranh và đời sống nông thôn ở Việt Nam”, Hà Nội, tháng 04/2002.
6. GS. TSKH. Lê Huy Bá (chủ biên) – Vũ Chí Hiếu – Võ Đình Long (2006), “Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững”, Nxb Khoa học và kỹ thuật.
7. Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc – Ngân Hàng Thế Giới (1993), “Quy hoạch tổng thể Đồng bằng Sông Cửu Long – Việt Nam”.
8. Cục thống kê Bến Tre (2009), “Niên giám thống kê”, Bến Tre 9. Dự án VIE/07/030, “Hướng dẫn phát triển quản lý nuôi trồng thủy sản
dựa vào tổ cộng đồng tự quản”, Hà Nội tháng 07/2004.
10. Nguyễn Minh Đức (2001), “Vai trò của việc phát triển nuôi thủy sản quy
mô nông hộ nhỏ trong xóa đói giảm nghèo – Một nghiên cứu từ chương trình mở rộng thủy sản ở nông thôn Việt Nam”, Khoa thủy sản, Đại học Nông Lâm.
11. Hứa Thị Phượng Liên (2005), “Thủy sinh đại cương”, Khoa Nông nghiệp
và TNTN, Đại học An Giang.
12. TS. Phạm Xuân Hậu (2002), “Địa lý kinh tế – xã hội Việt Nam”, Khoa
Địa lý, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ CHí Minh.
13. Hoàng Hoa Hồng (2007), “Môi trường và vấn đề phát triển bền vững
ngành thủy sản”, trường Đại học Nha Trang.
14. Hội khoa học đất Việt Nam (2000), “Đất Việt Nam”, Nxb Nông nghiệp
Hà Nội.
15. Trần Thị Thu Nga (11/2008), “Quá trình phát triển và định hướng của ngành thủy sản Bến Tre sau hai năm gia nhập WTO”, Sở NN & PTNT Bến Tre.
16. PGS. TS. Đặng Văn Phan (2007), “Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội Việt
Nam”, Tài liệu lưu hành nội bộ.
17. PGS. TS. Đặng Văn Phan (2008), “Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt
Nam”, Nxb Giáo dục.
18. PGS. TS. Đặng Văn Phan (chủ biên) – PGS. TS. Nguyễn Kim Hồng
(2007), “Địa lý KT – XH thời kỳ hội nhập”, Nxb Giáo dục.
19. Nguyễn Thanh Phương, “Vai trò của thủy sản trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn vùng lũ Đồng bằng sông Cửu Long”, Hội thảo chuyển dịch sản xuất ngày 05/11/2002 tại Cần Thơ.
20. Nguyễn Thanh Phương và Ts Trần Ngọc Hải (2005), “Tổng quan hiện trạng và xu hướng phát triển tôm càng xanh thế giới và Việt Nam”, Khoa Thủy Sản – Đại học Cần Thơ
21. Nguyễn Xuân Thắng chủ biên (07/2007), Toàn cầu hóa kinh tế và hội
nhập kinh tế quốc tế đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
22. PGS. TS. Vũ Đình Thắng, GVC. KS. Nguyễn Viết Trung (2005), “Giáo
trình kinh tế thủy sản”, Nhà xuất bản LĐ – XH, Hà Nội.
23. PGS. TS. Hà Xuân Thông (2007), “Đẩy nhanh phát triển nuôi trồng thủy sản phát triển hiện đại, hiệu quả bền vững”, Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản.
24. Thông tin chuyên đề (03/2001), “Một số thông tin về nuôi và kinh doanh
thủy sản thân mềm hai vỏ”, Trung tâm Tin học – Bộ Thủy sản.
25. Thông tin chuyên đề (01/2002), “Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản thế giới: Tình hình hiện tại và xu hướng phát triển”, Trung tâm Tin học – Bộ Thủy sản.
26. Thông tin chuyên đề (02/2003), “Một số vấn đề về sử dụng và phát triển
bền vững nguồn lợi thủy sản”, Trung tâm Tin học – Bộ Thủy sản.
27. Thông tin chuyên đề (02/2004), “Tác động của phát triển thủy sản đến
nền kinh tế Việt Nam”, Trung tâm Tin học – Bộ Thủy sản.
28. Thông tin chuyên đề (03/2004), “Phát triển bền vững định nghĩa, đánh
giá định tính và định lượng”, Trung tâm Tin học – Bộ Thủy sản.
29. Thông tin chuyên đề (02/2005), “Phát triển nuôi tôm bền vững. Hiện trạng, cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”, Trung tâm Tin học – Bộ Thủy sản.
30. Tổng cục thống kê, “Niên giám thống kê”, 2006, 2007, 2008. 31. UBND tỉnh Bến Tre (07/2003), “Quyết định số 2108/2003/QĐ-UBND về việc khai thác thủy sản tại vùng nước ven biển và nội địa tỉnh Bến Tre”, Bến Tre.
32. UBND tỉnh Bến Tre (08/2004), “Chỉ thị số 10/2004/CT-UB về việc áp
dụng các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh thủy sản”, Bến Tre.
33. UBND tỉnh Bến Tre (08/2005), “Chỉ thị số 20/2005/CT-UBND về việc quản lý tàu thuyền nhỏ hoạt động khai thác thủy sản ven bờ”, Bến Tre. 34. UBND tỉnh Bến Tre (07/2008), “Chỉ thị số 3034/UBND-CNLTS về việc tăng cường kiểm soát chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm thủy sản”, Bến Tre.
35. UBND tỉnh Bến Tre (11/2008), “Chỉ thị số 14/2008/CT-UBND về việc
cho phép tiếp tục sản xuất, kinh doanh và thả nuôi tôm biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre”, Bến Tre.
36. UBND tỉnh Bến Tre (12/2008), “Quyết định số 2440/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết nuôi cá da trơn tỉnh Bến Tre đến năm 2020”, Bến Tre.
37. UBND tỉnh Bến Tre (02/2009), “Quyết định số 02/2009/QĐ-UBND về việc sản xuất giống và nuôi tôm thẻ chân trắng trên địa bàn tỉnh Bến Tre”, Bến Tre.
38. UBND tỉnh Bến Tre (09/2009), “Quyết định số 16/2009/QĐ-UBND về
việc quản lý sản xuất, ương giống và nuôi nghiêu thương phẩm trên địa bàn tỉnh Bến Tre”, Bến Tre.
39. Vụ nuôi trồng thủy sản (2007), “Hiện trạng và các giải pháp phát triển
nuôi trồng thủy sản bền vững tại các tỉnh Nam Bộ”, Vụ NTTS.
Tài liệu được đăng tải trên các website
1. Bài viết của Bộ trưởng Bộ NN & Phát triển Nông thôn, Nông nghiệp Đồng
bằng Sông Cửu Long chủ động hội nhập kinh tế Thế Giới, 18/07/08.
2. GS. Nguyễn Văn Luật – Cử nhân. Nguyễn Thị Thu Hiền, Nông nghiệp
cạnh tranh thời hội nhập WTO.
3. Thời báo kinh tế Việt Nam, Nông sản Việt Nam bất lợi vì tỷ giá,
10/11/2008.
4. thongtinthuongmaivietnam.com.vn, Nông sản chủ lực cũng lao đao,
20/10/2008.
5. www.un.org.vn, Hội nhập kinh tế quốc tế, khả năng cạnh tranh và đời
sống nông thôn ở Việt Nam.
6. www.fistenet.gov.vn, Trung tâm tin học thủy sản. 7. www.bentre.org.vn, UBND tỉnh Bến Tre.
Tài liệu từ các CD-Rom
- World Development Indicators 2007. - Niên giám thống kê năm 2006.
PHỤ LỤC
Phụ lục 1.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG THỦY SẢN CỦA TỈNH
Cá tra giống
Tôm càng xanh khi thu hoạch Tôm thẻ chân trắng khi thu hoạch
Mô hình tổng thề cấu tạo của lưới vây
Cấu tạo và hệ thống bố trí đèn trong lưới đăng
Mô hình tổng quát cấu tạo của lưới rê tầng đáy
Ao nuôi tôm sú
Bè nuôi cá da trơn
Thu hoạch nghiêu tại Thới Thuận – Bình Đại
Thu hoạch tôm sú tại Ba Tri
Công nhân đang chế biến thủy sản tại nhà máy FAQUIMEX – Bến Tre
Món ăn từ nghiêu
Món cá tra fillet
Phụ lục 2
CƠ CẤU CHUYÊN MÔN HÓA HẸP TRONG CƠ CẤU NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM
Ngành công nghiệp thủy sản
Ngành nuôi trồng thủy sản Ngành khai thác Ngành chế biến Các ngành phụ trợ và phục vụ
tàu
Chế biến đông lạnh
Nuôi thủy sản nước ngọt thác các Khai sản phẩm nuôi trồng
- Đóng sửa thuyền - Sản xuất sửa chữa ngư cụ
Chế biến hỗn hợp Nuôi trồng nước lợ
- Dịch vụ vận chuyển - Dịch vụ cảng, kho lạnh
Đánh bắt hải sản Chế biến hàng Nuôi trồng hải sản khô - Sản xuất nước đá - Sản xuất bao bì
Chế biến nước mắm Sản xuất thức ăn cho nuôi trổng
Phụ lục 3 KIM NGẠCH XUẤT KHẨU MỘT SỐ MẶT HÀNG CHỦ YẾU CỦA VIỆT NAM NĂM 2008
Mặt hàng
Tổng số Trong đó:
Cơ cấu (%) 100 17.5 15.9 8.2 7.7 4.9 4.5 3.9 3.1 2.9 2.1 Giá trị (triệu USD) 48561.4 8487.6 7732 3999.5 3763.4 2384.6 2165.2 1916.7 1490.2 1393.8 999.8 1. Dầu thô 2. Dệt, may 3. Giày dép 4. Thủy sản 5. Gỗ, sản phẩm từ gỗ 6. Điện tử, máy tính 7. Cà phê 8. Gạo 9. Cao su 10. Than đá
Nguồn: Niên giám thống kê 2008 – Tổng cục thống kê.
Phụ lục 4
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA CHƯƠNG TRÌNH NUÔI ĐẾN NĂM 2007
Nội dung Đơn vị Chỉ tiêu 2010 Thực hiện 2007 (**) 2007 so với 2010 (%)
Ha 1.000.000 1.065.000 106,5 Diện tích nuôi trồng
Tấn 2.000.000 2.093.220 104,66 Sản lượng nuôi trồng Trong đó:
- Tôm nước lợ Tấn 375.000 104,16 360.000
- Cá biển Tấn 200.000 15.000 7,50
- Nhuyễn thể Tấn 380.000 230.000 60,52
- Rong biển Tấn 50.000* 25.000* 50,00
- Tôm càng xanh Tấn 60.000 22.000*** 36,67
- Thủy sản nước ngọt Tấn 870.000 1.316.220 152,28
- Thủy sản khác Tấn 110.000 120.000 109,1
104,0 1000 USD 2.500.000 2.600.000 Giá trị kim ngạch XK
Người Lao động 2.000.000
(*) Sản lượng khô, tỷ lệ tươi/khô=11*** (**) Theo báo cáo số 206/BCKH-NTTS của Cục Nuôi Trồng Thủy sản
ngày 28/4/2008
Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu thống kê của Bộ NN & PTNT
Phụ lục 5
KÍCH THƯỚC MỘT SỐ LOẠI LỒNG BÈ NUÔI THỦY SẢN
Loại bè Loài cá thả Kích thước Dài x rộng x cao (m) Lượng cá thả (con)
Cá da trơn, lóc lông, lăng chỉ vàng,… Truyền thống
15 x 5 x 2.5 12 x 4.5 x 2.5 10 x 4 x 2 8 x 3.5 x 2 30.000 20.000 15.000 12.000
Hiện đại 15 x 12 x 3 20 x 10 x 4.5 50.000 100.000 Cá hú, cá da trơn, lăng chỉ vàng,…
Lồng Cá bóng tượng, cá chình,…
3 x 2 x 1.5 4 x 3 x 1.75 6 x 4 x 2 1.500 3.000 4.000
Nguồn: tổng hợp
Phụ lục 6
QUI ĐỊNH KÍCH THƯỚC MẮT LƯỚI NHỎ NHẤT TẠI PHẦN TẬP
TRUNG CÁ CỦA NGƯ CỤ KHAI THÁC THỦY HẢI BIỂN (Kèm theo Thông tư 01/2000/TT-BTS ngày 28-4-2000 của Bộ Thủy sản)
STT CÁC LOẠI NGƯ CỤ
KÍCH THƯỚC MẮT LƯỚI 2a (mm) KHÔNG NHỎ HƠN
1 Rê trích 28
2 Rê thu ngừ 90
3 Rê mòi 60
4 Rê tôm he: - rê 3 lớp lưới Rê tôm he: - rê 1 lớp dưới 44 44
5 Rê tôm hùm 120
6 18 Vây rút chì, vó mành, rút, rùng, xăm bãi hoạt động ngoài vụ cá cơm
7 10
Các loại lưới đánh cá cơm (gồm có dây rút chì, vó mành, rút, rùng, xăm bãi, pha xúc hoạt động trong vụ cá cơm
8
Lưới kéo cá: - Thuyền thủ công và tàu lắp máy dưới 60cv - Tàu lắp máy từ 60cv đến 150cv - Tàu lắp máy từ 150cv trở lên 23 34 40
9
Lưới kéo tôm: - Thuyền thủ công và tàu lắp máy dưới 33cv - Tàu lắp máy từ 33cv trở lên 20 30
10 Các loại đăng 20
11 Đáy hàng cạn, đáy cửa sông, te, xiệp, xịch 18
12 Đáy biển hàng khơi 20
Phụ lục 7
QUI ĐỊNH KÍCH THƯỚC MẮT LƯỚI NHỎ NHẤT TẠI PHẦN TẬP TRUNG CÁ CỦA NGƯ CỤ KHAI THÁC THỦY SẢN NƯỚC NGỌT (Kèm theo Thông tư 01/2000/TT-BTS ngày 28-4-2000 của Bộ Thủy sản)
STT CÁC LOẠI NGƯ CỤ
KÍCH THƯỚC MẮT LƯỚI 2a (mm) KHÔNG NHỎ HƠN
Lưới vây (lưới giựt, bao cá...) 1 18
2 - Lưới kéo (thủ công, cơ giới) - Lưới kéo cá cơm 20 10
3
- Lưỡi rê (lưới bén...) - Lưới rê (cá cơm) - Lưới rê (cá linh) 40 10 15
4 Vó (càng, gạt...) 20
5 Chài các loại 15
6 Đăng 18
7 Đáy 18
Phụ lục 8
HIỆU QUẢ MỘT SỐ MÔ HÌNH NUÔI THỦY SẢN 1. Mô hình nuôi xen canh tôm càng xanh trong vườn dừa (vườn cây ăn trái)
Diện tích vườn: 5000 m2 Diện tích ao mương có thể tận dụng thả nuôi là khoảng 650 – 670 m2 Chi phí cho việc cải tạo ao nuôi: 200.000 – 250.000 đồng Yêu cầu đối với tôm thả nuôi phải có kích thước lớn (khoảng 40 con/kg) Mật độ thả nuôi khoảng 1.5 con/m2 Số lượng thả nuôi khoảng 1000 con tức khoảng 25 kg tôm giống Chi phí tiền giống: 1.2 – 1.5 triệu đồng Thời gian nuôi: 90 – 100 ngày Tỉ lệ sống: 70 – 75% Chi phí tiền thức ăn: 2.1 – 2.5 triệu đồng Tổng chi phí cho một vụ nuôi: 3.5 – 4 triệu đồng/vụ nuôi (tổng chi phí cho một vụ nuôi trên thực tế thường nhỏ hơn so với với mức dự toán do hầu hết các hộ nuôi đều sử dụng một lượng lớn nguồn con giống và thức ăn tự nhiên).
Sản lượng tôm thu hoạch: Loại I: 50 kg, với giá hiện nay khoảng 200.000 đồng/kg (10 triệu) Loại II: 20 kg, với giá hiện này khoảng 125.000 đồng/kg (2.5 triệu) Lãi trung bình cho một vụ nuôi sau khi hết tất cả các chi phí là khoảng 8.5 triệu/vụ nuôi. Mỗi năm nuôi được 3 vụ, do đó người làm vườn ngoài khoảng thu nhập từ vườn thì có thêm thu nhập từ 24 – 25 triệu đồng nhờ vào nuôi xen tôm càng xanh dưới các mương vườn.
2. Mô hình nuôi tôm trong ruộng lúa
Nuôi tôm trong ruộng lúa là hình thức canh tác kết hợp giữa trồng trọt và thủy sản. Phương thức nuôi này không những làm giảm diện tích sản xuất mà còn góp phần tăng thu nhập trên một mảnh đất, nuôi tôm trong ruộng lúa chẳng những không giảm năng suất lúa mà còn có sản phẩm tôm. Yêu cầu đối với hình thức nuôi này như sau:
- Ruộng nuôi cần có bờ chắc chắn giữ được nước, ngăn chặn sự xâm nhập của địch hại, mặt ruộng thấp dể dàng cấp và tiêu nước. Thời gian ngập nước trên
ruộng (10 – 30 cm) càng dài càng tốt để tôm có thời gian lên ruộng sinh trưởng nhưng cũng tùy theo giai đoạn phát triển của cây lúa mà mức nước giữ sẽ khác nhau.
- Ruộng nuôi tốt nhất là hình chữ nhật diện tích từ 0.1- 1 ha, thông thường 0.2 – 0.5 ha Mỗi ruộng có ít nhất là một cống sao cho thay được càng nhiều nước vào lúc nước rong thì càng tốt. Bên cạnh đó có thể dùng cống để thu thêm tôm giống từ bên ngoài vào.
Hệ thống mương bao rất quan trọng đây sẽ là nơi trú của tôm lúc nhiệt độ cao hay phun thuốc trừ sâu, mương bao có kích thước cỡ 2 – 3m, sâu 1 – 2m dốc về phía cống, ngoài ra cũng nên đào thêm các mương phụ theo dạng bàn cờ rộng 1 – 1.5m, sâu 0.8 – 1m tổng diện tích mương so với diện tích ruộng nên từ 15 – 25 % là phù hợp.
Mùa vụ: trong năm có 2 vụ lúa chính là Đông – Xuân và Hè – Thu Mật độ thả: ở ruộng nuôi do diện tích mương giới hạn nên mật độ thả thấp
3 – 4 con/m2 (tôm giống 25 – 30g/con).
Đối với mô hình nuôi tôm trong ruộng lúa chúng ta có thể kiểu thu tỉa sau 4 – 5 tháng nuôi kể từ khi thả giống hay thu toàn bộ. Năng suất nuôi đạt trung bình khoảng 350 – 800 kg/ha/vụ hay đôi khi đạt trên 1 tấn/ha/vụ tùy mô hình.
Lãi trung bình cho một vụ nuôi sau khi hết tất cả các chi phí cũng tương tự như mô hình nuôi xen trong vườn dừa (vườn cây ăn trái) vì cũng tuong tự chi phí cho một vụ nuôi thấp do có thể tận dụng nguồn thức ăn trong tự nhiên hay bổ sung một số phụ phẩm nông nghiệp như khoai mì, tấm, gạo,… Tuy nhiên thì đối với mô hình nuôi này chỉ thực hiện được khoảng 2 vụ/năm.

